filename stringlengths 4 100 | text stringlengths 0 254k |
|---|---|
danh sách ngôn ngữ.txt | Dưới đây là danh sách ngôn ngữ trên thế giới theo tên.
== Tham khảo ==
== Xem thêm ==
Danh sách các nước theo ngôn ngữ nói
Danh sách ngôn ngữ theo tổng số người sử dụng
== Liên kết ngoài == |
ekaterina valeryevna makarova.txt | Ekaterina Valeryevna Makarova (tiếng Nga: Екатери́на Вале́рьевна Мака́рова; sinh ngày 7 tháng 6 năm 1988) là một vận động viên quần vợt chuyên nghiệp người Nga. Thứ hạng cao nhất mà tay vợt này từng đạt được là hạng 8 thế giới vào tháng 5 năm 2015. Là chủ nhân của 3 chức vô địch grand slam đôi là chức vô địch đôi nam nữ tại Mỹ Mở rộng năm 2012 (cùng với Bruno Soares), chức vô địch đôi nữ tại Pháp Mở rộng năm 2013 và chức vô địch Mỹ mở rộng năm 2014 (cùng với Elena Vesnina).
== Sự nghiệp ==
Bắt đầu chơi tennis năm 6 tuổi. Và chơi chuyên nghiệp từ năm 15 tuổi.
=== 2009 ===
Makarova khởi đầu năm 2009 bằng hàng loạt các trận thua tại vòng 1 ở các giải đấu tại Sydney, Paris, Dubai và thua tại vòng 2 giải Úc Mở rộng và tại BNP Parisbas Open. Cô có trận chung kết WTA đầu tiên trong sự nghiệp là tại Grand Prix SAR La Princess Lalla Meryem nhưng thua trước Anabel Medina-Garrigues và trận chung kết Estoril Open, thua Yanina Wickmayer sau khi thắng Maria Kirilenko và Anna Lena-Grönefeld.
Makarova tiếp tục thua tại vòng 1 Pháp Mở rộng, Aegon Classic và vòng 2 của Wimbledon.
== Tham khảo == |
ai là triệu phú.txt | Ai là triệu phú là phiên bản tiếng Việt của trò chơi truyền hình nổi tiếng của Anh Who Wants to Be a Millionaire?, do Đài Truyền hình Việt Nam thực hiện. Chương trình bắt đầu được phát sóng ngày 4 tháng 1 năm 2005 và người dẫn chương trình là nhà báo Lại Vǎn Sâm. Mục đích chính của trò chơi là giành chiến thắng bằng cách trả lời chính xác 15 câu hỏi của chương trình.
Từ tháng 9 năm 2010 đến hết tháng 6 năm 2011, Ai là triệu phú lên sóng phiên bản có tên Ai là triệu phú: Ghế nóng với sự thay thế hoàn toàn về luật chơi. Đến tháng 7 năm 2011, Ai là triệu phú trở về phiên bản cũ.
== Luật chơi ==
=== Vòng thử nghiệm ===
Trong mỗi lượt chơi, 6 ứng cử viên sẽ tham gia một phần trả lời nhanh trước khi chọn ra người chơi chính cho chương trình. Họ phải trả lời một câu hỏi bằng cách sắp xếp các phương án A, B, C, D theo thứ tự đáp án đúng của chương trình. Thời gian tối đa để hoàn thành câu trả lời là 20 giây. Người trả lời đúng và nhanh nhất sẽ được chọn làm người chơi chính ngồi trên chiếc "ghế nóng" ở giữa sân khấu cùng với người dẫn chương trình. Tuy nhiên, trong các chương trình đặc biệt, vòng này đã được bỏ.
=== Chính thức ===
Sau khi được chọn làm người chơi chính, người chơi phải trả lời 15 câu hỏi với cấp độ từ dễ đến khó, không giới hạn thời gian suy nghĩ trả lời. Mỗi câu hỏi đều được gắn với một mức tiền thưởng quy định. Người chơi cần phải vượt qua 3 mốc quan trọng là câu số 5 (mốc quan trọng 1), câu số 10 (mốc quan trọng 2) và câu số 15 (mốc "TRIỆU PHÚ") mà khi vượt qua các mốc này, họ chắc chắn có được số tiền thưởng tương ứng của các câu hỏi đó
Khi đã nghe xong mỗi câu hỏi và sử dụng các quyền trợ giúp, người chơi có quyền rời khỏi cuộc chơi hoặc đấu tiếp. Nếu quyết định rời khỏi cuộc chơi, người chơi sẽ ra về với số tiền tương ứng với số câu hỏi họ mới vượt qua trước đó. Nếu quyết định đấu tiếp mà trả lời sai, số tiền thưởng sẽ bị xuống mốc quan trọng trước đó và người chơi sẽ phải ra về với số tiền này. Nếu trả lời sai khi chưa vượt qua mốc quan trọng đầu tiên, người chơi sẽ ra về mà không nhận được tiền thưởng của chương trình. Nếu trả lời đúng hết tất cả 15 câu hỏi của chương trình, người chơi sẽ trở thành "Triệu Phú", nhận được tấm séc với trị giá giải thưởng tương ứng với câu thứ 15 của chương trình.
Sau khi người chơi ngồi ghế nóng kết thúc lượt chơi của mình, nếu thời gian vẫn còn, những người còn lại sẽ tiếp tục trả lời một câu hỏi nhanh khác cho đến khi hết thời lượng chương trình. Nếu người chơi chính chưa hoàn thành xong mà thời lượng đã hết, người chơi chính sẽ tiếp tục cuộc chơi của mình trong chương trình khác.
=== Các sự trợ giúp ===
Người chơi có 4 sự trợ giúp sau có thể được sử dụng bất cứ lúc nào nếu họ không biết câu trả lời hoặc chưa chắc chắn với suy nghĩ của mình. Trong một câu hỏi, người chơi có quyền dùng nhiều sự trợ giúp, nhưng các quyền trợ giúp chỉ được sử dụng một lần.
50:50: Máy tính bỏ đi 2 phương án sai để người chơi chọn một trong 2 phương án còn lại.
Gọi điện thoại cho người thân: Người chơi liên lạc tới một trong số các số điện thoại đã đăng ký với chương trình từ trước lúc bắt đầu, và hỏi ý kiến của người ở đầu dây bên kia trong khoảng thời gian quy định là 30 giây.
Hỏi ý kiến khán giả trong trường quay: Mỗi khán giả trong trường quay đều được trang bị thiết bị máy tính để đưa ra phương án mình chọn. Khi chọn sự trợ giúp này, người chơi sẽ nhận được kết quả trợ giúp dưới dạng biểu đồ phần trăm số khán giả lựa chọn từng phương án.
Tư vấn tại chỗ: Khán giả nào trong trường quay nào cho rằng mình biết câu trả lời có thể giơ tay để trợ giúp cho người chơi. 3 khán giả sẽ được chọn (gọi là tổ tư vấn) để người chơi hỏi ý kiến và đưa ra quyết định. Những người trợ giúp không nhất thiết đưa ra câu trả lời giống nhau. Hiện tại phần thưởng là 600 000 đồng, chia đều cho những khán giả trả lời đúng.
Sự trợ giúp thứ tư này chỉ mới được đưa vào chương trình từ ngày 20 tháng 5 năm 2008 và chỉ có bắt đầu từ câu hỏi số 6.
=== Các chương trình đặc biệt nhân dịp lễ hội ===
Ai là triệu phú cũng đã tổ chức các chương trình đặc biệt để kỉ niệm các ngày lễ trong năm ở Việt Nam như Ngày Quốc tế thiếu nhi - 1 tháng 6, Ngày Nhà giáo Việt Nam - 20 tháng 11, Tết Âm Lịch - ngày Mùng 1 tháng Giêng, Ngày cuối năm, v.v
Trong các chương trình đặc biệt này, luật chơi có sự thay đổi: hai người chơi sẽ cùng ngồi trên ghế nóng thay vì chỉ có một người. Một người trong hai người chơi này là người chơi đã vượt qua vòng trả lời nhanh, còn người kia là người thân hoặc có mối quan hệ quen biết với người kia. Hai người sẽ cùng thảo luận và thống nhất để đưa ra phương án trả lời cho câu hỏi. Người chơi chính là nhân vật được kỉ niệm ngày đặc biệt và trong mọi trường hợp, quyền quyết định thuộc về người chơi chính. Cho đến nay, Ai là triệu phú đã sản xuất khá nhiều chương trình có luật chơi đặc biệt kiểu như vậy.
Từ 2015, Trong những chương trình đặc biệt của "Ai là triệu phú"có mời những người chơi chính là những người nổi tiếng, tuy hai người ngồi ghế nóng giờ chỉ còn một người chơi đặc biệt ngồi ghế nóng nhưng luật chơi không thay đổi
== Thang tiền thưởng ==
=== Kỉ lục của chương trình ===
Điểm đặc biệt ở Ai Là Triệu Phú là dù có luật chơi đơn giản, nhưng cho đến nay, chưa có thí sinh ngồi ghế nóng nào trở thành "triệu phú", giành được tờ séc với trị giá giải thưởng tương ứng với câu hỏi thứ 15 của chương trình. Trong một số của Ai Là Triệu Phú phát sóng trên truyền hình vào ngày 9 tháng 9 năm 2008, Nguyễn Lê Anh đã trở thành người đầu tiên trong lịch sử của chương trình vượt qua được câu hỏi thứ 14 và giành được tấm séc với trị giá giải thưởng tương ứng là 80.000.000 đồng. Sau đó, Nguyễn Lê Anh đã có suy luận về đáp án cho câu số 15 hoàn toàn đúng, đưa ra suy nghĩ của mình về phương án đúng ngay từ khi vừa nghe xong câu hỏi nhưng lại chọn cách an toàn là dừng cuộc chơi, đánh mất cơ hội trở thành "Triệu Phú" đầu tiên trong lịch sử chương trình. Với kỉ lục này, Nguyễn Lê Anh đã lập ra kỉ lục mới cho Ai là triệu phú là vượt qua 14/15 câu hỏi, phá kỉ lục của Phạm Văn Hoan 2 năm trước là 13/15 câu.
Kỉ lục trên lại được lặp lại sau đó không lâu vào chương trình phát sóng ngày 18 tháng 11 năm 2008. Trong chương trình đặc biệt kỉ niệm Ngày Nhà giáo Việt Nam, cặp người chơi thầy - trò Bùi Thị Hà Thanh và Đào Hồng Vũ cũng đã vượt qua câu số 14, đem về giải thưởng 80.000.000 đồng từ chương trình.
Ngày 7 tháng 9 năm 2010, bác Ngô Đức Đương đã vượt qua câu 11 của Ai là triệu phú - Ghế nóng, giành giải thưởng 25.000.000 đồng.
Ngày 12 tháng 04 năm 2011, anh Lê Văn Tuân (quê quán ở Thanh Hoá) vượt qua câu 14 của Ai là triệu phú - Ghế nóng, dành giải thưởng 80.000.000 đồng
Ngày 17 tháng 5 năm 2011, Đỗ Xuân Đức đã vượt qua câu hỏi số 13 của Ai là triệu phú - Ghế nóng, giành giải thưởng 50.000.000 đồng.
Cũng trong tháng 5, có 1 người chơi quê quán ở Quảng Ninh đã vượt qua câu hỏi số 15 của Ai là triệu phú - Ghế nóng, giành giải thưởng cao nhất - 120.000.000 đồng
== Ai là triệu phú: Ghế nóng ==
1 phiên bản khác của Ai là triệu phú trở lại từ 7 tháng 9 năm 2010 đến 28 tháng 6 năm 2011. Phiên bản này từ năm 2009 đã được sản xuất theo bản quyền của Úc: Millionaire Hot Seat. Các đất nước khác trên thế giới cũng đã từng mua bản quyền phát sóng.
Có 6 người chơi. Trước khi ghi hình họ trả lời một câu hỏi (về dữ liệu số). Người nào trả lời gần đáp án nhất sẽ được chọn vị trí trước, gần thứ 2 được chọn vị trí 2, tương tự người trả lời gần đáp án thứ 3; 4; 5. Người trả lời xa đáp án nhất bắt buộc ngồi vị trí còn lại.
Lúc ghi hình, họ chọn vị trí ngồi cho mình theo thứ tự. Người đầu tiên lên ghế nóng khi bắt đầu câu 1.
Có 15 câu hỏi với cấp độ khó ngẫu nhiên. Người chơi phải trả lời chúng. Khi có một câu hỏi khó, họ có quyền trợ giúp: Chuyển. Người tiếp theo bắt buộc trả lời câu hỏi người trước để lại (không được chuyển) và mỗi người chỉ có 1 lần chuyển. Nếu trả lời đúng, đi tiếp câu tiếp theo. Nếu trả lời sai khi vượt qua câu 5, người đó bị loại, thưởng 5.000.000 đồng (khi chưa vượt qua câu 5 thì không thưởng), đồng thời mức tiền thưởng cao nhất bị đi xuống 1 nấc.
Thời gian trả lời câu hỏi:
15 giây cho 5 câu hỏi đầu.
30 giây cho 5 câu hỏi tiếp theo.
45 giây cho 5 câu hỏi cuối.
Người chiến thắng là người trả lời đúng câu 15 hoặc người đó vẫn còn trụ lại trên ghế nóng.
== Nhà tài trợ chính ==
2005 - 2009: P&G
2011 - 5/2014: BIDV
5/2014 - nay: Không có nhà tài trợ
== Chú thích ==
== Liên kết ngoài ==
Trang chủ của Who Wants to Be a Millionaire? (tiếng Anh) |
22 tháng 6.txt | Ngày 22 tháng 6 là ngày thứ 173 (174 trong năm nhuận) trong lịch Gregory. Còn 192 ngày trong năm.
== Sự kiện ==
217 TCN – Ptolemaios IV Philopator của Ai Cập đánh bại Antiochos III của Seleukos trong trận Raphia.
618 – Sau khi Tùy Dạng Đế bị sát hại, các quan lại triều Tùy ở Lạc Dương lập Dương Đồng làm hoàng đế.
1527 – Fatahillah trục xuất lực lượng Bồ Đào Nha khỏi bến cảng Sunda Kelapa, được cho là mốc thời gian hình thành Jakarta.
1633 – Toà án dị giáo tại Roma buộc Galileo Galilei công khai từ bỏ quan điểm Mặt Trời là trung tâm của Vũ trụ thay vì Trái Đất, và bỏ tù ông.
1815 – Napoléon Bonaparte thoái vị lần thứ hai.
1941 – Chiến tranh thế giới thứ hai: Đức Quốc xã tấn công trên toàn bộ tuyến biên giới phía Tây của Liên Xô, khởi đầu Chiến dịch Barbarossa.
1944 – Chiến tranh thế giới thứ hai: Hồng quân Liên Xô khai hỏa Chiến dịch Bagration tại Byelorussia, sớm hơn một ngày theo lệnh của Stalin.
1969 – Sông Cuyahoga tại bang Ohio, Hoa Kỳ bắt lửa, dẫn đến một loạt chương trình kiểm soát ô nhiễm.
2009 – Do giảm dần đều về doanh số vì sự xuất hiện của nhiếp ảnh kỹ thuật số, công ty Eastman Kodak tuyên bố ngừng bán phim dương bản Kodachrome, kết thúc 74 năm tồn tại như một biểu tượng trong ngành nhiếp ảnh.
== Sinh ==
1900 - Trần Trinh Huy, tay chơi nổi danh nhất trong số các Công tử Bạc Liêu
1903 - John Dillinger, giang hồ người Mỹ
1944 - Peter Asher, ca sĩ, nhạc sĩ guitar Mỹ
1946 - Eliades Ochoa, nhạc sĩ guitar Cuba
1949 - Meryl Streep, diễn viên Hollywood
1962 - Châu Tinh Trì, diễn viên người Hồng Kông
1978 - Dan Wheldon, vận động viên đua xe người Anh
1987 - Lee Min Ho, diễn viên, ca sĩ Hàn Quốc
1987 - Minh Hằng, diễn viên, ca sĩ Việt Nam
== Mất ==
1933 - Henry Birkin, tay đua xe Anh (s. 1896)
1970 - Đặng Thùy Trâm, bác sĩ, liệt sĩ Việt Nam (s. 1942).
== Ngày lễ và kỷ niệm ==
== Tham khảo == |
polypropylen.txt | Polypropylen là một loại polymer là sản phẩm của phản ứng trùng hợp propylen.
== Đặc tính ==
Tính bền cơ học cao (bền xé và bền kéo đứt), khá cứng vững, không mềm dẻo như PE, không bị kéo giãn dài do đó được chế tạo thành sợi. Đặc biệt khả năng bị xé rách dễ dàng khi có một vết cắt hoặc một vết thủng nhỏ.
Trong suốt, độ bóng bề mặt cao cho khả năng in ấn cao, nét in rõ.
PP không màu không mùi,không vị, không độc. PP cháy sáng với ngọn lửa màu xanh nhạt, có dòng chảy dẻo, có mùi cháy gần giống mùi cao su.
Chịu được nhiệt độ cao hơn 100oC. Tuy nhiên nhiệt độ hàn dán mí (thân) bao bì PP (140oC), cao so với PE - có thể gây chảy hư hỏng màng ghép cấu trúc bên ngoài, nên thường ít dùng PP làm lớp trong cùng.
Có tính chất chống thấm O2, hơi nước, dầu mỡ và các khí khác.
== Công dụng ==
Dùng làm bao bì một lớp chứa đựng bảo quản thực phẩm, không yêu cầu chống oxy hóa một cách nghiêm nhặt.
Tạo thành sợi, dệt thành bao bì đựng lương thực, ngũ cốc có số lượng lớn.
PP cũng được sản xuất dạng màng phủ ngoài đối với màng nhiều lớp để tăng tính chống thấm khí, hơi nước, tạo khả năng in ấn cao, và dễ xé rách để mở bao bì (do có tạo sẵn một vết đứt) và tạo độ bóng cao cho bao bì.
Dùng làm chai đựng nước, bình sữa cho bé, hộp bảo quản thực phẩm
Một số sản phẩm làm từ nhựa PP có khả năng chịu nhiệt tốt dùng được trong lò vi sóng
== Ký hiệu ==
Trên sản phẩm sử dụng nguyên liệu chính từ PP sẽ được ký hiệu bằng số 5 được đặt trong một hình tam giác cân
== Tham khảo ==
== Liên kết ngoài ==
Phương tiện liên quan tới Polypropylene tại Wikimedia Commons |
ipad (thế hệ thứ ba).txt | Thế hệ thứ ba của máy tính bảng iPad (thường được gọi vắn tắt là iPad 3) là máy tính bảng được sản xuất và phát hành bởi công ty Apple Inc.. Chiếc iPad 3 này được bổ sung thêm chế độ Retina, con chip A5X, chế độ màn hình HD 1080p, tương tác giọng nói và 4G.
== Chú thích == |
giải nobel vật lý.txt | Giải Nobel về vật lý là một trong những giải Nobel được trao hàng năm cho các nhà vật lý và thiên văn có những khám phá và những đóng góp nổi trội trong lĩnh vực vật lý hàng năm.
Diễn tiến về các sự nghiên cứu và phát minh dẫn đến các giải Nobel về vật lý được tóm tắt dưới đây. Trong khi tất cả các nhà vật lý đã đoạt giải này từ 1901 đến nay được liệt kê tại Danh sách những người đoạt giải Nobel Vật lý.
== Quá trình xét giải ==
Thomas Edison và Nikola Tesla, hai nhà phát minh nổi tiếng Thế giới cuối thế kỉ 19 và 20 được coi là những ứng cử viên nặng ký cho Giải Nobel Vật lý năm 1915, nhưng không ai trong số họ giành được giải thưởng này cho dù cả hai đều đóng góp rất lớn cho sự tiến bộ của khoa học và kỹ thuật. Nhiều người tin rằng ủy ban xét giải đã loại cả hai người do những mâu thuẫn cá nhân giữa hai nhà phát minh này, nhiều bằng chứng cho thấy cả Edison và Tesla bằng cách này hay cách khác đã tìm cách hạ thấp những cống hiến và sự xứng đáng đoạt giải của người kia, đồng thời thề sẽ từ chối giải nếu phải cùng nhận hoặc nhận sau địch thủ của mình—như đồn đại của giới truyền thông. Dù sao thì cũng rất đáng tiếc khi trong danh sách những người nhận giải không có tên Tesla và Edison. Cần biết rằng lúc này Tesla đang rất cần hỗ trợ về tài chính, chỉ một năm sau khi được đề cử không thành, ông đã lâm vào cảnh phá sản
Nhà Vật lý nữ người Áo Lise Meitner đã đóng góp rất lớn vào việc phát hiện ra hiện tượng phân hạch năm 1939 nhưng không bao giờ được nhận Giải Nobel Vật lý. Trong thực tế, chính bà chứ không phải Otto Hahn, người được nhận Giải Nobel Hóa học năm 1944 "vì tạo ra nguyên tố mới nhờ phản ứng phân hạch", đã lần đầu tiên đề cập đến hiện tượng phân hạch đồng vị phóng xạ sau khi phân tích các dữ liệu thí nghiệm và cùng Otto Robert Frisch áp dụng thành công mẫu giọt chất lỏng của Niels Bohr để giải thích hiện tượng này. Nhiều người cho rằng Meitner không được trao giải vì tình trạng trọng nam khinh nữ phổ biến đầu thế kỉ 20 trên Thế giới và ngay trong thành phần ủy ban xét giải, đã dẫn đến những cống hiến của bà bị xem nhẹ và gạt khỏi danh sách trao giải.
Giải Nobel Vật lý năm 1956 được trao cho William Shockley, John Bardeen và Walter Brattain "vì phát minh transistor" trong khi thực tế đã có nhiều phát minh trước đó liên quan đến việc hình thành transistor như các mẫu transistor hiện đại do Julius Edgar Lilienfeld đăng ký bằng sáng chế từ năm 1928.
Ngô Kiện Hùng là nhà Vật lý nữ được mệnh danh "Đệ nhất phu nhân của Vật lý", "Marie Curie của Trung Quốc", bà đã chứng minh bằng thực nghiệm sự vi phạm bảo toàn tính chẵn lẻ năm 1956 và là phụ nữ đầu tiên được nhận Giải Wolf cho Vật lý. Tuy vậy đến tận khi mất năm 1997, bà vẫn không được xét trao Giải Nobel Vật lý . Chính Ngô Kiện Hùng đã đề cập thí nghiệm của mình với Lý Chính Đạo và Dương Chấn Ninh, giúp cho hai nhà Vật lý này chứng minh thành công lý thuyết về sự vi phạm bảo toàn tính chẵn lẻ trong phân rã điện tử. Lý và Dương đã được nhận Giải Nobel Vật lý vì công trình này, tương tự trường hợp của Meitner, dư luận đã chỉ trích việc ủy ban không đồng trao giải cho Ngô Kiện Hùng như là một biểu hiện của việc trọng nam khinh nữ trong xét giải của Ủy ban Giải Nobel.
Năm 1974 giải được trao cho Martin Ryle và Antony Hewish "vì những nghiên cứu tiên phong trong lĩnh vực Vật lý thiên văn vô tuyến". Hewish được trao Giải Nobel Vật lý với lý do riêng là đã phát hiện ra xung tinh, nhưng thực tế thì nhà Vật lý này ban đầu đã giải thích những tín hiệu thu được là liên lạc của "những người nhỏ bé da xanh" ("Little Green Men", ám chỉ người ngoài hành tinh) với Trái Đất. Sự giải thích chính xác chỉ đến khi David Staelin và Edward Reifenstein phát hiện ra một xung tinh ở tâm của Tinh vân con cua (Crab Nebula). Sau đó, Fred Hoyle và nhà thiên văn Thomas Gold đã giải thích chính xác pulsar là những sao neutron quay rất nhanh trong từ trường mạnh nên bức xạ sóng vô tuyến đều đặn và mạnh như là việc phát ánh sáng của một ngọn hải đăng. Jocelyn Bell Burnell, học trò do Hewish hướng dẫn, cũng không được xét trao giải, mặc dù cô là người đầu tiên đề cập đến các nguồn sóng vô tuyến từ ngoài vũ trụ mà sau đó được chứng minh là bắt nguồn từ các pulsar. Một trường hợp tương tự cũng liên quan đến Vật lý thiên văn là Giải Nobel Vật lý năm 1978, năm đó hai người chiến thắng là Arno Allan Penzias và Robert Woodrow Wilson "vì đã phát hiện ra bức xạ phông vũ trụ" (CMB), trong khi ban đầu chính bản thân hai người này cũng không thể hiểu được tầm quan trọng to lớn của phát hiện này và cũng không giải thích được chính xác nguồn gốc của các tín hiệu tìm thấy.
Trong những năm gần đây, Giải Nobel Vật lý cũng không thoát khỏi chỉ trích từ giới khoa học và dư luận. Giải năm 1997 được trao cho Chu Đệ Văn, Claude Cohen-Tannoudji và William Daniel Phillips "vì đã phát triển phương pháp làm lạnh và bẫy nguyên tử bằng laser" trong khi những công trình tương tự đã được các nhà Vật lý Nga thực hiện từ hơn một thập kỉ trước đó.
== Lịch sử ==
=== Bối cảnh giải Nobel Vật lý ===
Alfred Nobel đã viết trong di chúc cuối cùng rằng ông để dành tài sản và lấy lãi hàng năm để lập nên 5 giải Nobel (vật lý, hóa học, hay y học, văn học, và hòa bình) cho "những ai, trong những năm trước khi giải được trao đó, đã đưa đến những lợi ích nhất cho con người.", và …Giải thưởng cho vật lý và hóa học sẽ do viện Hàn lâm Thụy Điển trao tặng. Dù Nobel đã viết nhiều di chúc trong suốt cuộc đời của ông, bản di chúc cuối cùng được viết gần 1 năm trước khi ông qua đời, và ký tại Câu lạc bộ Na Uy-Thụy Điển ở Paris ngày 27 tháng 11 năm 1895. Nobel dành 94% tổng giá trị tài sản của mình, 31 triệu krona Thụy Điển (tương đương 186 triệu USD thời điểm năm 2008), để thiết lập 5 Giải Nobel. Do mức độ hoài nghi quanh di chúc này, mãi đến ngày 26 tháng 4 năm 1897 thì Quốc hội Na Uy mới phê duyệt.
=== Từ vật lý cổ điển đến vật lý lượng tử ===
Năm 1901, khi giải Nobel đầu tiên được trao thì các lĩnh vực của vật lý cổ điển đã dựa trên một nền tảng vững chắc do các nhà vật lý và hóa học vĩ đại của thế kỉ 19 tạo nên. Tuy vậy, sự thỏa mãn về bức tranh vật lý đó kéo dài không được bao lâu. Thời điểm bước sang thế kỉ mới là thời điểm quan sát các hiện tượng mà vật lý lúc bấy giờ không lý giải được và những ý tưởng cực mới về cơ sở của vật lý lý thuyết được đưa ra.
==== Tia X và phóng xạ ====
Một trong những hiện tượng không giải thích được của vài năm cuối cùng của thế kỉ 19 đó là việc Wilhelm Conrad Röntgen, người được trao giải Nobel vật lý đầu tiên (1901) phát hiện ra tia X vào năm 1895. Năm 1896 Henri Becquerel phát hiện ra hiện tượng phóng xạ và hai vợ chồng nhà bác học Marie và Pierre Curie tiếp tục nghiên cứu bản chất của hiện tượng này. Nhờ công trình về hiện tượng phóng xạ, Becquerel và vợ chồng Curie được trao giải Nobel năm 1903. Cùng với công trình của Ernest Rutherford (người đoạt giải Nobel về hóa học năm 1908) người ta hiểu rằng thực ra nguyên tử bao gồm một hạt nhân rất nhỏ chứ không phải như từng được nghĩ như trước đây là một phần tử không có cấu trúc.
==== Cấu trúc nguyên tử ====
Năm 1897, J.J. Thomson (Joseph John Thomson) phát hiện các tia phát ra từ ca-tốt trong một ống chân không là những hạt có mang điện tích. Ông đã chứng minh rằng các tia này gồm những hạt rời rạc mà sau này chúng ta gọi là các hạt điện tử (hay electron). Ông đã đo tỉ số giữa khối lượng của hạt với điện tích (âm) của hạt đó và thấy rằng giá trị đó chỉ bằng một phần rất nhỏ so với giá trị dự đoán của các nguyên tử mang điện. Và ngay sau đó người ta thấy rằng các hạt có khối lượng nhỏ bé mang điện tích âm đó phải là những viên gạch cùng với hạt nhân mang điện tích dương đã tạo nên tất cả các loại nguyên tử. Thomson nhận giải Nobel năm 1906. Trước đó một năm (1905), Philipp E.A. von Lenard đã làm sáng tỏ rất nhiều tính chất thú vị của những tia phát ra từ ca-tốt như là khả năng đi sâu vào những tấm kim loại và tạo ra huỳnh quang. Sau đó, vào năm 1912, Robert A. Millikan lần đầu tiên đo chính xác điện tích của điện tử bằng phương pháp giọt dầu (tiếng Anh: oil-drop), và việc này dẫn ông đến giải Nobel năm 1923. Millikan cũng được trao giải cho những công trình về hiệu ứng quang điện.
==== Sự phá sản của ê-te ====
Vào đầu thế kỉ 20, Albert Abraham Michelson đã phát triển một phương pháp giao thoa, theo phương pháp này thì khoảng cách giữa hai vật thể có thể được đo bằng số các bước sóng ánh sáng (hoặc là những phần nhỏ của chúng). Điều này làm cho việc xác định chiều dài chính xác hơn trước đó rất nhiều. Dùng chiếc giao thoa kế đó, Michelson và Edward Morley đã tiến hành một thí nghiệm nổi tiếng (Thí nghiệm Michelson-Morley, thí nghiệm đó kết luận rằng vận tốc ánh sáng không phụ thuộc vào chuyển động tương đối của nguồn ánh sáng và người quan sát. Thí nghiệm này bác bỏ giả thuyết trước đó coi ê-te là môi trường truyền ánh sáng. Michelson nhận giải Nobel năm 1907.
==== Nguyên tử và từ trường ====
Các cơ chế phát xạ ánh sáng bởi các hạt tải điện đã được Hendrik Lorentz nghiên cứu. Ông cũng là người đầu tiên áp dụng các phương trình Maxwell vào việc dẫn điện trong vật chất. Lý thuyết của ông có thể được áp dụng vào bức xạ gây ra bởi dao động giữa các nguyên tử, và vào bối cảnh đó, lý thuyết có thể giải thích một thí nghiệm cực kì quan trọng. Vào năm 1896, Pieter Zeeman khi nghiên cứu về các hiệu ứng điện từ của ánh sáng đã tìm ra một hiện tượng quan trọng, đó là các vạch phổ của natri khi bị đốt cháy trong một từ trường mạnh bị tách thành một vài thành phần. Hiện tượng này có thể được giải thích rất chi tiết bằng lý thuyết của Lorentz khi lý thuyết này được áp dụng cho các dao động của các điện tử. Lorentz và Zeeman chia nhau giải Nobel năm 1902. Sau đó, Johannes Stark chứng minh ảnh hưởng trực tiếp của điện trường lên phát xạ ánh sáng nhờ việc phát ra một chùm các nguyên tử (chùm tia a-nốt gồm các nguyên tử hoặc phân tử) trong một điện trường mạnh. Ông đã quan sát được sự tách phức tạp của các vạch phổ cũng như dịch chuyển Doppler phụ thuộc và vận tốc của nguồn phát. Stark nhận giải Nobel năm 1919.
==== Ứng dụng của tia X và xác định cấu trúc lớp điện tử ====
Bắt đầu từ giữa thế kỉ 19, người ta đã có một tài liệu thực nghiệm đó là những vạch phổ đặc trưng phát ra trong những vùng khả kiến từ những loại nguyên tử khác nhau. Bức xạ tia X đặc trưng do Charles Glover Barkla (giải Nobel năm 1917) phát hiện bổ sung thêm cho tài liệu đó. Barkla phát hiện điều đó sau khi Max von Laue (giải Nobel năm 1914) xác định bản chất sóng của bức xạ và nhiễu xạ tia X. Phát hiện của von Laue trở thành một nguồn thông tin quan trọng về cấu trúc bên trong của nguyên tử. Karl Manne Georg Siegbahn nhận thấy rằng đo phổ tia X đặc trưng của tất cả các nguyên tố sẽ cho biết một cách có hệ thống các lớp điện tử kế tiếp được thêm vào như thế nào khi đi từ các nguyên tố nhẹ tới các nguyên tố nặng. Ông đã thiết kế các quang phổ kế cực kì chính xác cho mục đích này. Và nhờ đó sự khác nhau về năng lượng của các lớp điện tử khác nhau cũng như các quy tắc cho việc dịch chuyển bức xạ giữa các lớp đó được xác định. Ông nhận giải Nobel vật lý năm 1924. Tuy vậy, hóa ra là để hiểu sâu hơn cấu trúc của nguyên tử, người ta cần nhiều hơn rất nhiều những khái niệm thông thường của vật lý cổ điển mà lúc bấy giờ, khó ai có thể tưởng tượng nổi.
==== Sự ra đời của thuyết lượng tử ====
Vật lý cổ điển coi chuyển động là liên tục cũng như việc trao đổi năng lượng cũng là liên tục. Vậy thì tại sao các nguyên tử lại phát ra những bức xạ có một đỉnh cực đại? Wilhelm Wien nghiên cứu về bức xạ của vật đen (tiếng Anh: black body) từ những vật rắn nóng (tương phản với bức xạ của các nguyên tử khí có phân bố tần số liên tục). Sử dụng điện động học cổ điển, ông đi tới một biểu thức cho phân bố tần số của bức xạ này và cho sự dịch chuyển của bước sóng có cường độ cực đại khi nhiệt độ của một vật đen bị thay đổi (định luật dịch chuyển Wien, rất hiệu quả trong việc xác định nhiệt độ của Mặt Trời chẳng hạn). Ông được trao giải Nobel năm 1911.
Tuy vậy, Wien không thể rút ra một công thức phân bố phù hợp với thực nghiệm cho cả hai vùng bước sóng dài và bước sóng ngắn. Vấn đề đó không được giả quyết cho đến khi Max Planck đưa ra một ý tưởng hoàn toàn mới là năng lượng phát xạ chỉ phát ra từng lượng gián đoạn có một giá trị nhất định gọi là lượng tử. Một lượng tử năng lượng bằng hằng số Planck nhân với tần số của lượng tử đó. Đây được coi là sự ra đời của vật lý lượng tử. Wien nhận giải Nobel năm 1911 và Planck nhận giải Nobel năm 1918. Các bằng chứng quan trọng chứng minh ánh sáng phát ra theo từng lượng tử năng lượng cũng được củng cố bằng lời giải thích của Albert Einstein về hiệu ứng quang điện (được Heinrich Rudolf Hertz quan sát lần đầu tiên vào năm 1887), hiệu ứng này cho thấy ánh sáng không chỉ được phát ra theo từng lượng tử mà còn được hấp thụ theo từng lượng tử. Hiệu ứng quang điện bao gồm phần mở rộng của lý thuyết Planck. Einstein nhận giải Nobel vật lý năm 1921 về hiệu ứng quang điện và về những đóng góp cho vật lý lý thuyết.
Trong các thí nghiệm sau này, James Franck và Gustav Ludwig Hertz đã chứng minh hiệu ứng quang điện ngược (tức là khi một điện tử va chạm với một nguyên tử thì cần một năng lượng tối thiểu để sinh ra các lượng tử ánh sáng với năng lượng đặc trưng phát ra từ va chạm đó) và chứng minh tính đúng đắn của lý thuyết Planck và hằng số Planck. Franck and Hertz cùng nhận giải Nobel năm 1926. Cũng vào khoảng thời gian đó, Arthur Compton (người nhận nửa giải Nobel vật lý năm 1927) nghiên cứu sự mất mát năng lượng của quang tử (lượng tử sóng điện từ) tia X khi tán xạ lên các hạt vật chất và cho thấy rằng các lượng tử của chùm tia X có năng lượng lớn hơn năng lượng của ánh sáng nhìn thấy 10.000 lần và chúng cũng tuân theo các quy tắc lượng tử. Charles Thomson Rees Wilson (xem dưới đây) nhận một nửa giải Nobel năm 1927 vì tạo ra dụng cụ quan sát tán xạ năng lượng cao có thể được dùng để chứng minh tiên đoán của Compton.
==== Mô hình nguyên tử của Bohr ====
Niels Bohr làm việc với mô hình hành tinh nguyên tử trong đó các điện tử quay xung quanh hạt nhân. Ông thấy rằng các vạch phổ sắc nét phát ra từ các nguyên tử có thể được giải thích nếu cho rằng điện tử quay xung quanh hạt nhân trên các quỹ đạo tĩnh đặc trưng bởi một mô-men góc bị lượng tử hóa. Ông cũng cho thấy năng lượng phát xạ chính bằng sự khác nhau giữa các trạng thái năng lượng bị lượng tử hóa đó. Giả thiết ông đưa ra có xuất phát điểm từ vật lý cổ điển hơn là từ lý thuyết của Planck. Mặc dầu giả thiết trên chỉ giải thích được một số đặc điểm đơn giản của quang phổ và nguồn gốc của nó nhưng người ta cũng sớm chấp nhận nó vì phương pháp của Bohr là một điểm khởi đầu đúng đắn, ông nhận giải Nobel năm 1922.
==== Lưỡng tính sóng-hạt ====
Năm 1923, Louis de Broglie (Louis-Victor P. R. de Broglie) đã phát biểu rằng các hạt vật chất cũng có những tính chất sóng và rằng sóng điện từ cũng thể hiện những tính chất của các hạt dưới dạng các quang tử. Ông đã phát triển các công thức toán học cho tính lưỡng tính này, trong đó có một công thức mà sau này gọi là bước sóng de Broglie cho các hạt chuyển động. Các thí nghiệm ban đầu của Clinton Davisson đã chỉ ra rằng thực ra các điện tử thể hiện tính chất phản xạ giống như các sóng khi đập vào một tinh thể và các thí nghiệm này được lặp lại nhiều lần chứng minh giả thiết lưỡng tính của de Broglie. Một thời gian sau George Paget Thomson (con trai của J.J. Thomson) đã đưa ra nhiều thí nghiệm đã được cải tiến rất nhiều cho biết hiện tượng tán xạ khi các điện tử năng lượng cao đi sâu vào trong các tấm kim loại. De Broglie nhận giải Nobel năm 1929 và sau đó Davisson và Thomson chia nhau giải Nobel năm 1937. Erwin Schrödinger phát triển thêm ý tưởng của de Broglie và viết một bài báo cơ bản về Lượng tử hóa như là một bài toán trị riêng vào đầu năm 1926. Ông đã tạo ra một cái gọi là cơ học sóng. Nhưng một năm trước đó Werner Heisenberg đã bắt đầu một phương pháp toán học hoàn toán khác gọi là cơ học ma trận và bằng cách đó ông cũng thu được các kết quả tương tự như các kết quả mà Schrödinger đưa ra sau đó. Lý thuyết này cũng ngụ ý rằng có những giới hạn tự nhiên trong việc xác định chính xác đồng thời các đại lượng vật lý Hệ thức bất định Heisenberg. Heisenberg được trao giải Nobel năm 1932 cho sự phát triển của cơ học lượng tử, trong khi đó Schrödinger và Paul Dirac cùng nhận giải vào năm sau đó. Dirac sửa đổi các công thức khi tính đến lý thuyết tương đối hẹp của Einstein và cho thấy rằng một lý thuyết như vậy không chỉ bao gồm những thông số tương ứng cho sự tự quay của điện tử xung quanh mình, gọi là spin, mà còn tiên đoán sự tồn tại của một loại hạt hoàn toàn mới gọi là các phản hạt có khối lượng bằng khối lượng của điện tử nhưng mang điện tích dương. Phản hạt đầu tiên của điện tử do Carl David Anderson (được trao một nửa giải Nobel năm 1936) phát hiện năm 1932 được gọi là phản điện tử (positron).
==== Nguyên lý loại trừ ====
Max Born, thầy của Heisenberg vào những năm đầu của thập niên 1920 có những đóng góp quan trọng về miêu tả toán học và giải thích vật lý. Ông nhận một nửa giải Nobel vào năm 1954 cho công trình của ông về ý nghĩa thống kê của hàm sóng. Wolfgang Pauli đã đưa ra nguyên lý loại trừ (mỗi trạng thái lượng tử chỉ có thể có một điện tử mà thôi) dựa trên cơ sở lý thuyết bán cổ điển của Bohr. Sau này, người ta cũng thấy nguyên lý Pauli liên quan đến tính đối xứng của hàm sóng của các hạt có spin bán nguyên nói chung gọi là các fermion để phân biệt với các hạt boson có spin là một số nguyên lần của hằng số Plank chia cho 2*pi. Nguyên lý loại trừ có nhiều hệ quả quan trọng trong nhiều lĩnh vực của vật lý và Pauli nhận giải Nobel năm 1945.
Năm 1947, Polykarp Kusch tìm ra rằng mô-men từ của một điện tử không có giá trị đúng như Dirac tiên đoán mà khác với một đại lượng rất nhỏ. Vào cùng thời gian đó Willis Lamb cũng nghiên cứu một vấn đề tượng tự về spin của điện tử tương tác với các trường điện từ bằng việc nghiên cứu cấu trúc siêu tinh tế của quang phổ phát ra từ nguyên tử hydrogen. Ông quan sát thấy rằng sự tách cấu trúc siêu tinh tế luôn luôn sai khác với giá trị của Dirac một lượng đáng kể. Kusch và Lamb cùng nhận giải Nobel năm 1955.
==== Điện động lực học lượng tử và sắc động lực học lượng tử ====
Trong điện động lực học lượng tử (còn được biết theo chữ viết tắt tiếng Anh là QED - quantum electrodynamics), lý thuyết nhiễu loạn lượng tử miêu tả các hạt tích điện tương tác thông qua trao đổi các quang tử. Mô hình cũ của điện động lực học lượng tử chỉ bao gồm trao đổi quang tử riêng lẻ, nhưng Sin-Itiro Tomonaga, Julian Schwinger và Richard Feynman nhận ra rằng tình huống lại phức tạp hơn rất nhiều vì tán xạ điện tử-điện tử có thể bao gồm trao đổi một vài quang tử. Một điện tích điểm trần trụi không tồn tại trong bức tranh của họ. Điện tích luôn tạo ra một đám các cặp hạt-phản hạt ảo ở xung quanh nó, do đó, mô men từ hiệu dụng của nó thay đổi và thế năng Coulomb cũng bị biến đổi tại các khoảng cách ngắn. Các tính toán từ mô hình này đã tái tạo lại các dữ liệu thực nghiệm của Kusch và Lamb với một độ chính xác ngạc nhiên và mô hình điện động lực học lượng tử mới được coi là một lý thuyết chính xác nhất đã từng có. Tomonaga, Schwinger và Feynman cùng nhận giải Nobel vật lý năm 1965. Phát triển này của điện động lực học lượng tử lại có một tầm quan trọng vĩ đại nhất cho cả việc miêu tả các hiện tượng vật lý năng lượng cao. Khái niệm sinh cặp từ trạng thái chân không của một trường lượng tử là một khái niệm cơ sở trong lý thuyết trường hiện đại của các tương tác mạnh và của sắc động lực học lượng tử (quantum chromodynamics).
==== Khám phá về tính đối xứng ====
Khía cạnh cơ bản khác của cơ học lượng tử và lý thuyết trường lượng tử là tính đối xứng của các hàm sóng và các trường. Năm 1956, Lý Chính Đạo (Tsung-Dao Lee) và Dương Chấn Ninh (Chen Ning Yang) đã chỉ ra rằng các tương tác vật lý có thể không tuân theo đối xứng gương. Điều này có nghĩa là tính chất chẵn lẻ của hàm sóng, ký hiệu là P, không được bảo toàn khi hệ bị đặt dưới một tương tác như vậy và tính chất đối xứng gương có thể bị thay đổi. Lý và Dương cùng nhận giải Nobel năm 1957. James Watson Cronin và Val Logsdon Fitch phát hiện sự phân rã của hạt meson K vi phạm nguyên lý bảo toàn điện tích và tính chẵn lẻ năm 1964 và họ cùng nhau nhận giải Nobel năm 1980.
Năm 1960, khi Sheldon Lee Glashow, Abdus Salam và Steven Weinberg đưa ra lý thuyết thống nhất tương tác yếu và tương tác điện từ. Họ cùng nhau chia giải Nobel năm 1979 về lý thuyết thống nhất này và đặc biệt là tiên đoán của họ về một loại tương tác yếu đặc biệt được điều hòa bởi dòng neutron đã được thực nghiệm kiểm chứng mới gần đây. Giải Nobel vật lý cuối cùng của thế kỷ 20 được trao cho Gerardus 't Hooft và Martinus J. G. Veltman. Họ đã tìm ra cách để tái chuẩn hóa lý thuyết điện-yếu, và loại bỏ các điểm kỳ dị trong các tính toán lượng tử.
=== Từ thế giới vi mô đến thế giới vĩ mô ===
==== Thuyết tương đối ====
Một mối liên hệ khác liên kết các thực thể nhỏ nhất và lớn nhất trong vũ trụ của chúng ta là lý thuyết tương đối của Albert Einstein. Einstein đưa ra thuyết tương đối hẹp của mình lần đầu tiên vào năm 1905 với phương trình cho biết mối liên hệ giữa khối lượng và năng lượng E = mc². Và vào thập kỷ tiếp theo, ông tiếp tục đưa ra thuyết tương đối rộng liên hệ lực hấp dẫn với cấu trúc của không gian và thời gian. Tất cả các tính toán khối lượng hiệu dụng của các hạt năng lượng cao, của các biến đổi năng lượng trong phân rã phóng xạ cũng như các tiên đoán của Dirac về sự tồn tại của phản hạt, đều dựa trên lý thuyết tương đối của ông. Lý thuyết tương đối rộng là cơ sở cho các tính toán chuyển động trên thang vĩ mô của vũ trụ, kể cả giả thiết về tính chất của hố đen. Einstein nhận giải Nobel vào năm 1922 lại do công trình về hiệu ứng quang điện thể hiện bản chất hạt của ánh sáng.
==== Các đồng vị ====
Ernest Rutherford và Frederick Soddy (Nobel hóa học 1921) đưa ra lý thuyết biến tố. Họ đã theo dõi rất chi tiết một chuỗi các phân rã phóng xạ khác nhau và so sánh năng lượng phát ra với sự thay đổi về khối lượng của hạt nhân mẹ và hạt nhân con. Họ tìm thấy rằng hạt nhân thuộc một nguyên tố hóa học có thể có các khối lượng khác nhau và họ đã tìm ra các đồng vị. Một giải Nobel cũng được trao vào năm 1922 cho Francis William Aston về việc tách quang phổ - khối lượng của một số lớn các đồng vị của các nguyên tố không phóng xạ. Cùng lúc đó Marie Curie cũng nhận giải Nobel lần thứ hai (lần này về hóa học) về phát hiện ra các nguyên tố hóa học radi và poloni.
Khối lượng của các đồng vị đều là một số nguyên lần khối lượng của proton, hạt proton do Rutherford phát hiện lần đầu tiên khi ông chiếu tia alpha và hạt nhận nguyên tử nitơ. Nhưng các đồng vị không thể chỉ được tạo thành từ các proton được vì mỗi nguyên tố hóa học chỉ có một giá trị tổng điện tích hạt nhân. Thông thường các proton chỉ chiếm không đến một nửa khối lượng hạt nhân, điều đó có nghĩa là một số thành phần không mang điện cũng có mặt trong hạt nhân. James Chadwick lần đầu tiên tìm thấy chứng cứ cho hạt đó, gọi là hạt neutron khi ông nghiên cứu các phản ứng hạt nhân năm 1932. Ông nhận giải Noebel vật lý năm 1935.
Ngay sau phát hiện của Chadwick, Enrico Fermi và một số người khác cũng bắt tay vào nghiên cứu neutron như là một phương pháp để tạo ra các phản ứng hạt nhân mà có thể gây ra phóng xạ "nhân tạo". Fermi thấy rằng xác suất của các phản ứng hạt nhân cảm ứng (không bao gồm biến đổi nguyên tố) tăng lên khi neutron bị làm chậm đi và điều này cũng đúng cho các nguyên tố nặng giống như với các nguyên tố nhẹ, trái ngược với phản ứng của các hạt mang điện (ví dụ như proton) cảm ứng. Ông nhận giải Nobel vật lý năm 1938.
==== Vật lý hạt nhân ====
Một nhánh của vật lý gọi là vật lý hạt nhân đã được hình thành dựa trên giả thiết hạt nhân được tạo thành từ các proton và neutron và một vài thành tựu quan trọng đã được ghi nhận bằng các giải Nobel. Ernest Lawrence, người nhận giải Nobel vật lý năm 1939 đã xây máy gia tốc đầu tiên trong đó các hạt được gia tốc dần dần bằng việc gia tăng năng lượng cho hạt sau mỗi vòng quay trong từ trường. Sir John Cockcroft và Ernest Walton đã gia tốc các hạt bằng việc tác động trực tiếp một điện thế rất cao và các ông cũng được trao giải vào năm 1951 cho công trình nghiên cứu về biến tố.
Otto Stern nhận giải Nobel vật lý năm 1943 cho các phương pháp thực nghiệm của ông để nghiên cứu tính chất từ của hạt nhân, đặc biệt là xác định mô men từ của proton. Isidor I. Rabi làm tăng độ chính xác lên hai bậc trong việc xác định mô men từ của hạt nhân bằng kỹ thuật cộng hưởng tần số vô tuyến, và do đó, ông nhận giải Nobel vật lý năm 1944. Sau đó, vào nửa cuối của thế kỷ một vài nhà vật lý lý thuyết được trao giải cho những công trình về mô hình hóa lý thuyết các hệ nhiều hạt như: Eugene Wigner, Maria Goeppert-Mayer và J. Hans D. Jensen vào năm 1963 và Aage Niels Bohr, Ben Roy Mottelson và Leo James Rainwater vào năm 1975.
==== Vật lý năng lượng cao ====
Ngay từ năm 1912 Victor F. Hess (giải Nobel năm 1936 cùng với Carl David Anderson) thấy rằng các bức xạ có khả năng đi sâu vào vật chất có thể đến với chúng ta từ khoảng không ngoài vũ trụ. Bức xạ vũ trụ này được ghi nhận bằng các buồng ion hóa và sau này là buồng mây Wilson. Các tính chất của các hạt có thể phỏng đoán từ các vạch cong của các hạt để lại trong buồng ion hóa dưới tác dụng của từ trường ngoài rất lớn. Theo cách đó, Anderson đã phát hiện ra phản điện tử (positron). Anderson và Patrick Blackett cho thấy rằng, tia gamma có thể sinh ra các cặp điện tử-phản điện tử (electron-positron) và ngược lại, điện tử và phản điện tử có thể hủy nhau tạo ra chính tia gamma bị mất đi. Blackett nhận giải Nobel vật lý năm 1948 cho việc phát triển buồng mây sau này và các phát minh mà ông đã thực hiện để làm việc đó.
Mặc dù sau này, các máy gia tốc được phát triển nhiều, bức xạ vũ trụ vẫn là nguồn chủ yếu của các hạt năng lượng cao trong vài thập kỷ (và hạt từ bức xạ vũ trụ có năng lượng lớn hơn năng lượng của các hạt tạo ra từ các máy gia tốc lớn nhất trên Trái Đất, mặc dù cường độ của bức xạ vũ trụ rất nhỏ) và nó đã cung cấp những hình ảnh ban đầu của một thế giới hạ hạt nhân mà lúc bấy giờ con người hoàn toàn chưa biết. Một loại hạt mới gọi là meson mu được phát hiện năm 1937 có khối lượng xấp xỉ 200 lần khối lượng điện tử (nhưng nhẹ hơn proton 10 lần). Năm 1946, Cecil Frank Powell đã làm sáng tỏ hiện tượng trên và cho rằng thực ra là có hơn một loại hạt như vậy tồn tại. Một trong số đó có tên là meson pion phân rã thành một hạt khác gọi là meson mu. Powell nhận giải Nobel vật lý năm 1950.
==== Hạt cơ bản ====
Năm 1935, Hideki Yukawa giả thiết rằng lực tương tác mạnh có thể được truyền bằng các hạt trao đổi, giống như lực điện từ được giả thiết được truyền thông qua trao đổi các quang tử ảo trong lý thuyết trường lượng tử. Yukawa cho rằng một hạt như vậy phải có khối lượng khoảng 200 lần khối lượng của điện tử để giải thích tầm tác dụng ngắn của lực tương tác mạnh mà thực nghiệm tìm ra. Hạt meson pi mà Powell tìm ra có các tính chất phù hợp để có thể là hạt Yukawa. Ngược lại, hạt meson mu lại có các tính chất hoàn toàn khác (và tên của nó sau này được đổi thành muon). Yukawa nhận giải thưởng Nobel vật lý năm 1949. Mặc dù các nghiên cứu sau này chỉ ra rằng cơ chế của lực tương tác mạnh phức tạp hơn bức tranh của Yukawa rất nhiều nhưng ông vẫn được coi là tiên phong trong nhiên cứu các hạt truyền tương tác mạnh. David J. Gross, H. David Politzer và Frank Wilczeck là chủ nhân của giải Nobel vật lý năm 2004 với những khám phá về lực hạt nhân mạnh. Nghiên cứu của họ chỉ ra rằng, không giống như các lực khác, lực tương tác mạnh lại suy yếu đi khi hai quark tiến về một chỗ. Hiện tượng đó giống như thể các hạt được nối với nhau bằng một dải cao su, mà lực kéo giữa chúng càng mạnh khi chúng càng ở xa nhau. Phát hiện của ba nhà nghiên cứu này, công bố năm 1973, đã dẫn đến lý thuyết về sắc động lực học lượng tử - lý thuyết góp phần quan trọng cho sự ra đời của Mô hình Chuẩn.
Vào cuối những năm 1950, các máy gia tốc có thể đạt năng lượng vài tỉ eV (electron-volt), tức là các cặp hạt với khối lượng bằng khối lượng của proton có thể được tạo ra từ chuyển đổi năng lượng-khối lượng. Phương pháp này được nhóm nghiên cứu của Owen Chamberlain và Emilio Segrè sử dụng khi lần đầu tiên họ đã xác định và nghiên cứu phản proton vào năm 1955 (học chia nhau giải Nobel năm 1959). Các máy gia tốc năng lượng cao cũng cho phép cũng cho phép nghiên cứu cấu trúc của proton và neutron chi tiết hơn trước đó rất nhiều và Robert Hofstadter có thể phân biệt chi tiết cấu trúc điện từ của các nucleon nhờ quan sát tán xạ của chúng lên các điện tử năng lượng cao. Ông nhận nửa giải Nobel vật lý năm 1961.
Sự tồn tại của hạt neutrino tiên đoán từ lý thuyết của Pauli vào những năm 1930 cũng đã được ghi nhận. Các bằng chứng trực tiếp thực nghiệm đầu tiên về hạt neutrino được Clyde Cowan và Frederick Reines cung cấp vào năm 1957 nhưng mãi đến năm 1995, công trình đó mới được trao một nửa giải Nobel (lúc đó Cowan đã chết, ông chết năm 1984). Neutrino cũng có mặt trong các quá trình liên quan đến tương tác yếu (như là phân rã của hạt beta và hạt meson pi thành hạt muon) và khi cường độ chùm hạt tăng lên, các máy gia tốc có thể tạo ra các chùm neutrino thứ cấp. Leon M. Lederman, Melvin Schwartz và Jack Steinberger đã phát triển phương pháp này vào những năm 1960 và chứng minh rằng hạt neutrino đi kèm trong phân rã meson pi thành muon không đồng nhất với các neutrino liên quan đến các điện tử trong phân rã hạt beta, chúng là hai hạt riêng biệt gọi là hạt neutrino điện tử và neutrino muon. Giải Nobel vật lý năm 2002 được trao cho Riccardo Giacconi, Masatoshi Koshiba và Raymond Davis Jr. vì có công thu được các hạt neutrino, khẳng định bằng thực nghiệm sự có mặt của hạt này.
Hạt điện tử (e-), hạt muon (μ), neutrino điện tử (νe), neutrino muon (νμ) và các phản hạt của chúng đã được tìm thấy và chúng thuộc cùng một lớp gọi là lepton. Các hạt trên không tương tác bởi lực tương tác mạnh; ngược lại, các hạt proton, neutron, meson và hyperon (tập hợp các hạt có khối lượng lớn hơn khối lượng của proton) lại được xác định bởi lực tương tác mạnh. Các hạt lepton được mở rộng khi Martin Lewis Perl và nhóm nghiên cứu của ông đã phát hiện ra hạt lepton tau có khối lượng lớn hơn điện tử và muon. Perl chia giải Nobel với Reines vào năm 1995.
==== Hạt quark ====
Tất cả các lepton vẫn được coi là các hạt cơ bản, tức là chúng giống như các điểm và không có cấu trúc nội, nhưng đối với proton,... thì lại không phải vậy. Murray Gell-Mann và nhiều người khác cố gắng phân loại các hạt tương tác rất mạnh (gọi là các hadron) thành các nhóm có các liên hệ và kiểu tương tác giống nhau. Gell-Mann nhận giải Nobel năm 1969. Hệ thống của ông dựa trên giả thiết rằng tất cả các hạt đều được tạo thành từ các hạt nguyên tố gọi là các hạt quark. Bằng chứng thực về việc các nucleon được tạo thành từ các hạt giống như quark đến từ công trình của Jerome Isaac Friedman, Henry Way Kendall và Richard Edward Taylor. Họ "nhìn thấy" các hạt cứng bên trong các lepton khi nghiên cứu tán xạ không đàn hồi của các điện tử lên các lepton. Do đó, họ cùng nhau chia giải Nobel năm 1990.
Người ta hiểu rằng tất cả các hạt tương tác mạnh đều được tạo thành từ các quark. Vào giữa những năm 1970, một hạt có thời gian sống rất ngắn được phát hiện một cách độc lập bởi nhóm của Burton Richter và Samuel C. C. Ting. Đó là một loại hạt quark chưa được biết vào lúc đó và được đặt tên là quark đẹp (charm). Hạt quark này không có mối liên hệ nào đến hệ thống các hạt cơ bản và Richter và Ting chia nhau giải Nobel năm 1976. Mô hình chuẩn trong vật lý hạt phân chia các hạt thành 3 họ, họ thứ nhất gồm: 2 quark (và các phản quark) và hai lepton, trong mỗi lepton đều có các quark thuận và nghịch, điện tử và neutrino điện tử; họ thứ hai gồm: quark lạ (strange) và quark đẹp, muon và neutrino muon; họ thứ ba gồm: quark thuận, quark nghịch, tau và tau neutrino. Các hạt truyền tương tác trong tương tác điện yếu là photon, Z boson và W boson; trong tương tác mạnh là các hạt gluon.
Năm 1983, Carlo Rubbia và nhóm nghiên cứu của ông đã chứng minh sự tồn tại của các hạt W và Z bằng buồng va chạm proton-phản proton với năng lượng đủ cao để tạo ra các hạt rất nặng đó. Rubbia chia giải năm 1984 với Simon van der Meer, người có những phát minh quan trọng trong việc xây dựng buồng va chạm đó. Họ cũng suy đoán rằng có các hạt khác có thể được tạo ra tại các năng lượng cao hơn năng lượng của các máy gia tốc hiện thời, nhưng đến giờ không có bằng chứng thực nghiệm nào về điều đó.
==== Vũ trụ học ====
Mô hình vụ nổ lớn (Big Bang) miêu tả một kịch bản có thể cho sự tiến hóa của vũ trụ tại những thời điểm đầu tiên. Một trong những tiên đoán của mô hình đó là sự tồn tại của nền bức xạ vũ trụ đã được Arno Allan Penzias và Robert Woodrow Wilson tìm ra vào năm 1960. Họ cùng nhận giải Nobel vật lý năm 1978.
Hans Bethe lần đầu tiên miêu tả chu kì hiđrô và cacbon trong đó năng lượng được giải phóng trong các ngôi sao bởi sự kết hợp của proton thành hạt nhân hêli. Vì đóng góp này, ông nhận giải Nobel vật lý vào năm 1967.
Subrahmanyan Chandrasekhar đã tính toán lý thuyết quá trình tiến hóa của các ngôi sao, đặc biệt là các ngôi sao sẽ kết thúc cuộc đời của mình ở một trạng thái gọi là sao lùn trắng. Dưới một số điều kiện đặc biệt, sản phẩm cuối cùng có thể là sao neutron, một vật thể cực đặc trong đó tất cả các proton biến thành neutron. Trong các vụ nổ siêu sao, các nguyên tố nặng được tạo ra trong quá trình tiến hóa của các sao sẽ bay vào trong khoảng không vũ trụ. William Alfred Fowler đã làm sáng tỏ rất chi tiết cả về mặt lý thuyết và thực nghiệm các phản ứng hạt nhân quan trọng nhất trong các ngôi sao và sự hình thành các nguyên tố nặng. Fowler và Chandrasekhar cùng nhận giải Nobel vật lý năm 1983.
Thiên văn vô tuyến cung cấp các thông tin về các vật thể vũ trụ mà chúng ta không thể quan sát được bằng phổ quang học. Sir Martin Ryle đã phát triển một phương pháp trong đó các tín hiệu từ vài kính thiên văn đặt cách xa nhau có thể kết hợp với nhau để làm tăng độ phân giải của bản đồ nguồn sóng radio từ bầu trời. Antony Hewish và nhóm nghiên cứu của ông đã thực hiện một phát minh rất ngẫu nhiên vào năm 1964 khi sử dụng kính thiên văn của Ryle: các vật thể không xác định gọi là pulsar phát ra các xung tần số sóng vô tuyến với tốc độ lặp lại rất xác định. Ryle và Hewish chia giải Nobel vật lý năm 1974.
Năm 1974 cuộc tìm kiếm pulsar là đối tượng chính của các nhà thiên văn vô tuyến, nhưng một bất ngờ khác đã đến vào mùa hè năm đó khi Russell Alan Hulse và Joseph Hooton Taylor, Jr. đã chú ý đến sự điều biến chu kì của tần số các xung của một pulsar mới được phát hiện gọi là PSR 1913+16. Đó chính là pulsar đôi đầu tiên được ghi nhận, nó được đặt tên như vậy bởi vì sao neutron phát ra sóng radio là một thành phần trong một hệ sao đôi có kích thước gần bằng nhau. Các quan sát trên 20 năm về hệ sao này cho thấy bằng chứng của sóng hấp dẫn. Sự suy giảm của tần số quay rất phù hợp với các tính toán dựa trên lý thuyết của Einstein về mất mát năng lượng gây ra do phát ra sóng hấp dẫn. Hulse và Taylor chia nhau giải Nobel vật lý vào năm 1993. Tuy vậy việc thu trực tiếp sóng hấp dẫn trên Trái Đất vẫn chưa được thực hiện.
=== Từ đơn giản đến phức tạp ===
==== Hạt nhân nguyên tử ====
Để đơn giản hóa, người ta coi hạt nhân nguyên tử, theo một phép gần đúng bậc một, được tạo thành từ các hạt nucleon. Mô hình đầu tiên về cấu trúc hạt nhân là mô hình các lớp hạt nhân do Maria Goeppert-Mayer và Johannes D. Jensen đưa ra vào cuối những năm 1940. Họ nhận thấy rằng ít nhất đối với các hạt nhân với hình gần như hình cầu thì các nucleon bên ngoài cùng cũng lấp đầy các mức năng lượng giống như các điện tử trong nguyên tử. Tuy vậy, trật tự của các nucleon lại khác với các điện tử và được xác định bởi một thế năng chung và bởi sự kết cặp spin-quỹ đạo rất mạnh của các lực hạt nhân. Mô hình của họ giải thích tại sao hạt nhân lại đặc biệt ổn định với một số xác định (con số kì diệu) các proton. Họ chia nhau giải Nobel vật lý năm 1963 cùng với Eugene Wigner, người đã công thức hóa các nguyên lý đối xứng cơ bản rất quan trọng trong vật lý hạt nhân và vật lý hạt.
Hạt nhân có số nucleon khác với con số kì diệu thì lại không phải là hình cầu. Niels Bohr đã từng nghiên cứu mô hình giọt chất lỏng áp dụng cho các hạt nhân bị biến dạng như vậy (có thể có dạng hình e-líp), và vào năm 1939 người ta thấy rằng nếu kích thích các hạt nhân bị biến dạng mạnh có thể dẫn đến sự phân chia hạt nhân, tức là hạt nhân bị phá vỡ thành hai mảnh lớn. Otto Hahn nhận giải Nobel hóa học năm 1944 cho phát hiện quá trình mới này. Hình phi cầu của hạt nhân biến dạng sinh thêm các bậc tự do cũng giống như sự dao động tập thể của các hạt nhân. James Rainwater, Aage Bohr (con trai của Niels Bohr) và Ben Mottelson đã phát triển các mô hình miêu tả các kích thích hạt nhân và họ cùng nhận giải Nobel vật lý năm 1975.
Các mô hình về hạt nhân được nhắc đến trên đây không chỉ dựa trên các nguyên lý chung, có tính định hướng mà còn dựa trên các thông tin ngày càng tăng về phổ hạt nhân. Harold C. Urey đã phát hiện ra deuterium, một đồng vị nặng của hydrogen và, vì thế, ông được trao giải Nobel về hóa học vào năm 1934. Fermi, Lawrence, Cockcroft và Walton, được nhắc đến ở phần trước, đã phát triển các phương pháp để tạo ra các đồng vị hạt nhân không bền. Edwin M. McMillan và Glenn T. Seaborg nhận giải Nobel hóa học năm 1951 vì đã mở rộng bảng đồng vị hạt nhân tới các nguyên tố nặng nhất. Năm 1954, Walther Bothe và Max Born (được nhắc đến ở trên) nhận giải Nobel vật lý vì phát triển phương pháp trùng hợp cho phép những người nghiên cứu quang phổ có thể lựa chọn các chuỗi bức xạ hạt nhân có liên quan từ phân rã hạt nhân.
==== Nguyên tử ====
Một bài toán có từ lâu vẫn chưa được giải quyết là các vấn đề toán học liên quan đến các tương tác lẫn nhau giữa các điện tử sau khi tính đến lực hút của các hạt nhân mang điện tích dương. Một khía cạnh của vấn đề này đã được đề cập bởi một trong những người đạt giải Nobel hóa học mới đây (1998), đó là Walter Kohn. Ông đã phát triển phương pháp hàm mật độ có thể áp dụng vào các nguyên tử tự do cũng như áp dụng cho các điện tử trong các phân tử và trong chất rắn.
Vào đầu thế kỉ 20, bảng tuần hoàn nguyên tố hóa học vẫn chưa hoàn thiện. Lịch sử ban đầu của giải Nobel bao gồm các phát hiện một số các nguyên tố còn thiếu. Lord Rayleigh đã chú ý đến những dị thường về khối lượng nguyên tử tương đối khi các mẫu ôxy và nitơ được tách trực tiếp từ không khí quanh ta chứ không phải tách chúng từ các thành phần hóa học. Ông kết luận rằng khí quyển phải có chứa thành phần chưa biết, đó là nguyên tố argon, có khối lượng nguyên tử là 20. Ông nhận giải Nobel vật lý năm 1904, cùng năm với Sir William Ramsay nhận giải Nobel hóa học vì đã tách được nguyên tố hêli.
Trong nửa cuối của thế kỉ 20, đã có một sự phát triển vượt bậc về phổ và độ chính xác nguyên tử, mà nhờ đó người ta có thể đo được các dịch chuyển giữa các trạng thái nguyên tử, hoặc phân tử, rơi vào vùng vi sóng hoặc vùng ánh sáng khả kiến. Vào những năm 1950, Alfred Kastler (giải Nobel năm 1966) và các đồng nghiệp cho thấy các điện tử trong các nguyên tử có thể được đặt vào các trạng thái kích thích lọc lựa bằng các sử dụng ánh sáng phân cực. Sau phân rã phóng xạ, ánh sáng phân cực cũng có thể làm cho spin của các nguyên tử ở trạng thái cơ bản định hướng.
Cảm ứng dịch chuyển tần số vô tuyến đã mở ra các khả năng đo một cách chính xác hơn trước rất nhiều các tính chất của các trạng thái bị lượng tử hóa của các điện tử trong nguyên tử. Một hướng phát triển song song đã dẫn đến việc phát hiện ra maser và laser dựa trên khuếch đại phát xạ kích thích sóng vô tuyến trong các trường sóng điện từ ở vùng vi sóng và khả kiến – các hiệu ứng mà về mặt nguyên lý đã được tiên đoán từ các phương trình của Einstein vào năm 1917 nhưng đã không được quan tâm đặc biệt cho đến tận đầu những năm 1950.
Charles H. Townes đã phát triển maser đầu tiên vào năm 1958. Nikolay G. Basov và Aleksandr M. Prokhorov đã thực hiện công trình lý thuyết về nguyên lý maser. Maser đầu tiên sử dụng một dịch chuyển kích thích trong phân tử ammonium. Nó đã phát ra bức xạ vi sóng mạnh không giống như các bức xạ tự nhiên (với các quang tử có các pha khác nhau). Độ sắc nét của tần số của maser ngay lập tức trở thành một công cụ quan trọng trong kĩ thuật, xác định thời gian và các mục đích khác. Townes nhận nửa giải Nobel vật lý năm 1964, Basov và Prokhorov chia nhau một nửa giải còn lại.
Đối với bức xạ khả kiến, sau này laser được phát triển trong một số phòng thí nghiệm. Nicolaas Bloembergen và Arthur L. Schawlow được nhận nửa giải Nobel năm 1981 cho công trình nghiên cứu về phổ laser chính xác của các nguyên tử và phân tử. Một nửa giải của năm đó được trao cho Kai M. Siegbahn (con trai của Manne Siegbahn), người đã phát triển một phương pháp có độ chính xác cao trong việc xác định phổ nguyên tử và phân tử dựa vào các điện tử phát ra từ các lớp điện tử bên trong khi bị tác động của chùm tia X có năng lượng đã được xác định. Phổ điện tử của ông được sử dụng làm công cụ phân tích trong rất nhiều ngành của vật lý và hóa học.
Norman F. Ramsey đã phát triển các phương pháp chính xác dựa trên sự hưởng ứng của các điện tử tự do trong chùm nguyên tử với trường điện từ tần số vô tuyến, Wolfgang Paul đã phát minh ra các bẫy nguyên tử tạo thành từ các điện trường và từ trường tác động lên toàn bộ thể tích mẫu. Nhóm nghiên cứu của Hans G. Dehmelt là những người đầu tiên cách ly được các hạt riêng lẻ (trong trường hợp này là các phản điện tử) cũng như là các nguyên tử riêng lẻ trong các bẫy như vậy. Lần đầu tiên, các nhà thực nghiệm có thể "giao tiếp" được với các nguyên tử riêng biệt bằng các tín hiệu vi sóng và laser. Điều này cho phép nghiên cứu các khía cạnh mới của tính chất cơ học lượng tử và làm tăng độ chính xác hơn nữa trong việc xác định tính chất nguyên tử và chuẩn hóa thời gian. Paul và Dehmelt nhận một nửa giải Nobel năm 1989 và nửa còn lại được trao cho Ramsey.
Bước cuối cùng trong tiến bộ này là làm cho các nguyên tử trong các bẫy như vậy chuyển động chậm đến mức, ở trạng thái cân bằng nhiệt trong môi trường khí, chúng có thể tương ứng với nhiệt độ chỉ vài micro Kenvin. Điều đó được thực hiện bằng cách cho chúng vào để làm nguội bằng laser thông qua một tập hợp các hệ thống được thiết kế rất thông minh do Steven Chu, Claude Cohen-Tannoudji và William D. Phillips thực hiện khi nhóm này nghiên cứu thao tác lên các nguyên tử thông qua quá trình va chạm với các quang tử laser. Công trình của họ được nhìn nhận bằng giải Nobel năm 1997.
==== Phân tử và plasma ====
Các phân tử tạo thành từ các nguyên tử. Chúng tạo ra mức phức tạp tiếp theo khi nghiên cứu các hệ nhiều hạt. Nhưng các nghiên cứu phân tử thường được coi như một nhánh của hóa học và hiếm khi được trao giải Nobel về vật lý. Chỉ có một ngoại lệ đó là công trình của Johannes Diderik van der Waals, ông đã đưa ra các phương trình trạng thái của các phân tử cho chất khí khi tính đến tương tác lẫn nhau giữa các phân tử và sự giảm thể tích tự do gây ra bởi kích thước hữu hạn của chúng. Các phương trình van der Waals là những điểm rất quan trọng trong việc miêu tả quá trình ngưng tụ của các chất khí thành chất lỏng. Ông nhận giải Nobel vật lý năm 1910. Jean B. Perrin nghiên cứu chuyển động của các hạt nhỏ phân tán trong nước và nhận giải Nobel năm 1926. Nghiên cứu của ông cho phép khẳng định lý thuyết thống kê của Einstein về chuyển động Brown cũng như các định luật điều khiển quá trình cân bằng của các hạt phân tán trong chất lỏng khi chịu tác dụng của trọng lực.
Năm 1930, Sir C. Venkata Raman nhận giải Nobel vật lý cho các quan sát của ông chứng tỏ rằng ánh sáng tán xạ từ các phân tử bao gồm các thành phần có tần số bị dịch chuyển tương ứng với ánh sáng đơn sắc. Sự dịch chuyển này gây bởi sự tăng hoặc giảm năng lượng đặc trưng của phân tử khi chúng thay đổi chuyển động quay hoặc dao động. Phổ Raman nhanh chóng trở thành nguồn thông tin quan trọng cung về cấu trúc và động học phân tử.
Plasma là trạng thái khí của vật chất trong đó các nguyên tử hoặc phân tử bị ion hóa rất mạnh. Lực điện từ giữa các ion dương và giữa các ion và điện tử đóng một vai trò nổi trội, điều này làm tăng tính phức tạp khi nghiên cứu plasma so với nguyên tử hoặc phân tử trung tính. Năm 1940, Hannes Alfvén đã chứng minh rằng một loại chuyển động tập thể mới, gọi là sóng từ-thủy động lực học có thể được sinh ra trong các hệ plasma. Các sóng này đóng một vai tròn quan trọng xác định tính chất của plasma, trong phòng thí nghiệm cũng như trong khí quyển Trái Đất và trong vũ trụ. Alfvén nhận nửa giải Nobel năm 1970.
==== Vật lý chất rắn ====
===== Cấu trúc tinh thể =====
Các tinh thể được đặc trưng bởi sự sắp xếp đều đặn của các nguyên tử. Sau khi phát hiện ra tia X không lâu, Max von Laue nhận thấy rằng, các tia X bị tán xạ khi đi qua các tinh thể chất rắn giống như ánh sáng đi qua một cách tử quang học. Có hiện tượng này là do bước sóng của tia X thông thường trùng với khoảng cách giữa các nguyên tử trong chất rắn. Sir William Henry Bragg (cha) và William Lawrence Bragg (con) lần đầu tiên dùng tia X để đo khoảng cách giữa các nguyên tử và phân tích sự sắp xếp hình học của các nguyên tử trong các tinh thể đơn giản. Vì các công trình tiên phong trong việc nghiên cứu tinh thể học bằng tia X, họ được trao giải Nobel vật lý, Laue năm 1914 và cha con Bragg năm 1915.
Cấu trúc của tinh thể là trạng thái ổn định nhất trong nhiều trạng thái rắn mà nguyên tử có thể được sắp xếp tại nhiệt độ và áp suất thông thường. Vào những năm 1930, Percy W. Bridgman đã phát minh ra các dụng cụ mà nhờ đó có thể nghiên cứu sự thay đổi cấu trúc tinh thể, tính chất điện, từ, nhiệt của chất rắn dưới áp suất cao. Rất nhiều tinh thể thể hiện các chuyển pha dưới các điều kiện đặc biệt như vậy. Sự sắp xếp hình học của các nguyên tử bị thay đổi đột ngột tại áp suất nhất định. Bridgman nhận giải Nobel vật lý năm 1946 cho các phát minh trong lĩnh vực vật lý áp suất cao.
Vào những năm 1940, nhờ sự phát triển của các máy phản ứng phân rã hạt nhân, các nhà thực nghiệm có thể thu được các neutron năng lượng thấp. Người ta cũng thấy rằng, giống như tia X, các neutron cũng rất hiệu quả trong việc xác định cấu trúc tinh thể bởi vì bước sóng de Broglie của hạt nhân cũng cỡ khoảng cách giữa các nguyên tử trong chất rắn. Clifford G. Shull đã có nhiều đóng góp cho sự phát triển kĩ thuật nhiễu xạ neutron trong việc xác định cấu trúc tinh thể, và cũng cho cho biết rằng, sự sắp xếp của các mô men từ nguyên tử trong các vật liệu có trật tự từ có thể làm tăng nhiễu xạ neutron, cung cấp một công cụ rất mạnh để xác định cấu trúc từ.
Shull nhận giải Nobel vật lý năm 1994 cùng với Bertram N. Brockhouse, chuyên gia về một khía cạnh khác của tán xạ neutron trên chất rắn: khi các neutron kích thích kiểu dao động tử mạng trong tinh thể gây ra suy giảm năng lượng. Do đó, Brockhouse đã phát triển máy phổ neutron 3 chiều, nhờ đó có thể thu được toàn vẹn các đường cong tán sắc (năng lượng của dan động tử mạng là một hàm của véc tơ sóng). Các đường cong tương tự có thể thu được đổi với dao động tử từ (magnon).
===== Tính chất từ của chất rắn =====
John H. Van Vleck có đóng góp đặc biệt cho lý thuyết từ học trong chất rắn vào những năm sau khi cơ học lượng tử ra đời. Ông đã tính toán các ảnh hưởng của liên kết hóa học lên các nguyên tử thuận từ và giải thích sự phụ thuộc vào nhiệt độ và từ trường ngoài của tính chất từ. Đặc biệt ông đã phát triển lý thuyết trường tinh thể của các hợp chất của các kim loại chuyển tiếp, đó là điều vô cùng quan trọngtrong việc tìm hiểu các tâm hoạt động trong các hợp chất dùng cho vật lý laser cũng như sinh học phân tử. Ông cùng nhận giải Nobel vật lý với Philip Warren Anderson và Sir Neville Francis Mott (xem dưới đây).
Các nguyên tử từ có thể có các mô men từ sắp xếp theo cùng một phương trong một thể tích nhất định (vật liệu như vậy được gọi là vật liệu sắt từ), hoặc các mô men có cùng độ lớn nhưng lại sắp xếp đan xen thuận rồi đến nghịch (vật liệu nghịch từ, vật liệu phản sắt từ), hoặc sắp xếp đan xen nhưng độ lớn lại khác nhau (vật liệu ferri từ). Louis E. F. Néel đã đưa ra các mô hình cơ bản miêu tả các vật liệu phản sắt từ và ferri từ, đó là các thành phần quan trọng trong nhiều dụng cụ chất rắn. Các vật liệu đó được nghiên cứu rất nhiều bằng kĩ thuật nhiễu xạ neutron đã nói trên đây. Néel nhận một nửa giải Nobel vật lý năm 1970.
Trật tự của các nguyên tử trong tinh thể chất rắn cũng như rất nhiều loại trật tự từ khác nhau là những ví dụ của các hiện tượng trật tự nói chung trong tự nhiên khi các hệ tìm thấy sự sắp xếp sao cho có lợi về mặt năng lượng bằng cách chọn những trạng thái đối xứng nhất định. Các hiện tượng tới hạn, là các hiện tượng mà tính đối xứng sắp bị thay đổi (ví dụ khi nhiệt độ thay đổi chẳng hạn), có tính phổ quát cao cho các loại chuyển pha khác nhau, mà trong đó bao gồm cả chuyển pha từ. Kenneth G. Wilson, người nhận giải Nobel vật lý năm 1982, đã phát triển một lý thuyết gọi là lý thuyết tái chuẩn hóa cho các hiện tượng tới hạn liên hệ với các chuyển pha, một lý thuyết còn được ứng dụng trong lý thuyết trường của vật lý hạt cơ bản.
Năm 2007, giải Nobel Vật lý được trao Albert Fert và Peter Grunberg cho thành tựu phát minh ra hiệu ứng từ điện trở khổng lồ, một hiệu ứng quan trọng cho sự phát triển của kỹ thuật máy tính, và là nền tảng cho một ngành mới ra đời là spintronics.
===== Tinh thể lỏng =====
Các tinh thể lỏng tạo ra một lớp vật liệu đặc biệt có rất nhiều đặc tính lý thú, trên cả quan điểm tương tác cơ bản trong chất rắn cũng như các ứng dụng kĩ thuật. Pierre-Gilles de Gennes đã phát triển lý thuyết cho tinh thể lỏng và sự chuyển giữa các pha có độ trật tự khác nhau. Ông cũng sử dụng cơ học thống kê để mô tử sự sắp xếp và động lực học của các chuỗi polymer, và bằng cách đó cho thấy rằng các phương pháp được phát triển cho các hiện tượng trật tự trong các hệ đơn giản có thể được khái quát hóa cho các hệ phức tạp có mặt trong chất rắn mềm. Vì đóng góp đó, ông nhận giải Nobel vật lý năm 1991.
Một dạng chất lỏng đặc biệt đã được quan tâm nghiên cứu đó là chất lỏng hêli. Tại áp suất thông thường, hêli là chất hóa lỏng ở nhiệt độ thấp nhất. Hêli cũng có hiệu ứng đồng vị mạnh nhất, từ hêli (4) hóa lỏng ở nhiệt độ 4,2 Kelvin, cho đến hêli (3) hóa lỏng ở nhiệt độ 3,2 Kelvin. Heike Kamerlingh Onnes là người đầu tiên hóa lỏng hêli vào năm 1909. Ông nhận giải Nobel vật lý năm 1913 cho các kết quả của hêli lỏng và cho các nghiên cứu của ông về tính chất của vật chất tại nhiệt độ thấp. Lev D. Landau đã đưa ra các khái niệm cơ bản (ví dụ như chất lỏng Landau) liên quan đến các hệ nhiều hạt trong chất rắn và áp dụng các khái niệm đó vào lý thuyết hêli lỏng để giải thích các hiện tượng đặc biệt của hêli (4) như là hiện tượng siêu chảy (xem dưới đây), kích thích roton và các hiện tượng âm học. Ông được trao giải Nobel năm 1962.
===== Tại nhiệt độ cực thấp =====
Vào những năm 1920 và 1930, Pyotr L. Kapitsa đã phát triển một số kĩ thuật thực nghiệm để thực hiện và nghiên cứu các hiện tượng ở nhiệt độ thấp. Ông nghiên cứu nhiều khía cạnh của hêli (4) lỏng và cho thấy rằng hêli lỏng có tính siêu chảy (tức là chảy không có ma sát) khi nhiệt độ thấp hơn 2,2 Kelvin. Sau này hiện tượng siêu chảy được hiểu là sự thể hiện của mối liên hệ lượng tử giữa hiện tượng ngưng tụ Bose-Einstein (được tiên đoán bằng lý thuyết vào năm 1920) và nhiều tính chất giống như trạng thái siêu dẫn của điện tử trong một số chất dẫn điện đặc biệt. Kapitsa được trao một nửa giải Nobel vật lý năm 1978. Năm 2001, Eric A. Cornell và Carl E. Wieman đã quan sát hiện tượng ngưng tụ Bose-Einstein khi làm lạnh 2000 nguyên tử rubidium đến nhiệt độ chỉ bằng 2 phần tỉ độ trên nhiệt độ không tuyệt đối. Độc lập với hai nhà vật lý trên, Wolfgang Ketterle đã thực hiện các thí nghiệm với nguyên tử natri và ông đã tiến hành với một số nguyên tử lớn hơn và thu được nhiều kết quả hơn. Ông chứng minh rằng hai trạng thái ngưng tụ có thể lan truyền vào nhau và do đó giao thoa với nhau giống như giao thoa của sóng nước khi chúng ta ném hai hòn đá giống nhau xuống nước cùng một lúc. Ketterle tạo ra một luồng các hạt ngưng tụ có tính chất giống laser nhưng khác ở chỗ laser loại này được tạo thành từ hạt vật chất chứ không phải tại thành từ hạt ánh sáng.
Hêli (3) thì lại thể hiện các hiện tượng đặc biệt, vì mỗi hạt nhân hêli có spin khác không chứ không giống như hêli (4). Do đó, nó giống như là các hạt fermion và không bị ngưng tụ Bose-Einstein như các hạt boson. Tuy vậy, giống như các vật liệu siêu dẫn (xem dưới đây), các cặp hạt có spin bán nguyên có thể tạo thành các hạt giả boson và có thể bị ngưng tụ gây nên trạng thái siêu chảy. Hiện tượng siêu chảy của hêli (3) xảy ra tại nhiệt độ thấp hơn của hêli (4) hàng ngàn lần và đã được David M. Lee, Douglas D. Osheroff và Robert C. Richardson phát hiện ra, họ nhận giải Nobel vật lý năm 1996. Họ đã quan sát thấy các pha siêu chảy khác nhau cho thấy cấu trúc xoáy phức tạp và các hiện tượng lượng tử rất thú vị.
===== Phát xạ điện tử của chất rắn =====
Các điện tử trong chất rắn có thể bị định xứ ở xung quanh các nguyên tử của chúng trong các chất cách điện, hoặc chúng có thể chuyển động qua lại giữa các vị trí của các nguyên tử trong các chất dẫn điện hoặc chất bán dẫn. Vào đầu thế kỉ 20, người ta biết rằng các kim loại có thể phát ra các điện tử khi bị nung nóng, nhưng người ta không biết điện tử phát ra là do bị kích thích nhiệt hay là do các tương tác hóa học với môi trường khí xung quanh. Bằng các thực nghiệm tiến hành trong môi trường có chân không cao, cuối cùng, Owen W. Richardson đã xác định rằng sự phát xạ của điện tử là do hiệu ứng nhiệt và ông cũng thiết lập định luật phân bố của các điện tử theo vận tốc. Và do đó, Richardson nhận giải Nobel năm 1928.
===== Siêu dẫn =====
Năm 1911, Heike Kamerlingh Onnes đã thấy rằng điện trở của thủy ngân giảm xuống nhỏ hơn một phần tỷ giá trị bình thường khi bị làm lạnh thấp hơn một nhiệt độ chuyển pha Tc khoảng 4 Kelvin. Như được nhắc ở phần trên, ông đã nhận giải Nobel năm 1913. Tuy vậy, một thời gian dài người ta không hiểu tại sao các điện tử có thể chuyển động mà không bị cản trở trong các chất siêu dẫn tại nhiệt độ thấp. Nhưng vào đầu những năm 1960, Leon N. Cooper, John Bardeen và J. Robert Schrieffer đã đưa ra lý thuyết dựa trên ý tưởng là các cặp điện tử (có spin và hướng chuyển động ngược nhau) có thể giảm một lượng năng lượng Eg bằng cách chia sẻ một cách chính xác cùng một độ biến dạng của mạng tinh thể khi chúng chuyển động. Các cặp Cooper này hành động giống như các hạt boson. Sự tạo cặp này cho phép chúng chuyển động như một chất lỏng liên kết, không bị ảnh hưởng khi các kích thích nhiệt (có năng lượng là kT) nhỏ hơn năng lượng tạo thành khi kết cặp (Eg). Lý thuyết BCS này được trao giải Nobel vật lý năm 1972.
Đột phá trong việc hiểu cơ sở cơ học năng lượng này dẫn đến các tiến bộ trong các mạch siêu dẫn: Brian D. Josephson đã phân tích sự dịch chuyển của các hạt tải điện giữa hai kim loại siêu dẫn được ngăn cách bởi một lớp vật liệu dẫn điện thường rất mỏng. Ông tìm thấy rằng pha lượng tử xác định tính chất dịch chuyển là một hàm dao động của điện thế bên ngoài đặt lên chuyển tiếp này. Hiệu ứng Josephson có các ứng dụng quan trọng trong các phép đo chính xác vì nó thiết lập mối liên hệ giữa điện thế và tần số. Josephson nhận một nửa giải Nobel vật lý năm 1973. Ivar Giaever, người đã phát minh và nghiên cứu các tính chất chi tiết của chuyển tiếp đường ngầm này (một hệ thống điện tử dựa trên chất siêu dẫn) chia nhau nửa giải còn lại với Leo Esaki cho công trình nghiên cứu về hiệu ứng đường ngầm trong chất bán dẫn (xem dưới đây). Giải Nobel vật lý năm 2003 được trao cho Alexei A. Abrikosov, Vitaly L. Ginzburg và Anthony J. Leggett vì có những đóng góp để cải thiện hiểu biết của con người về hiện tượng siêu dẫn và siêu lỏng.
Mặc dầu có khá nhiều các hợp kim và hợp chất siêu dẫn được phát hiện trong khoảng 75 năm sau phát hiện của Kamerlingh-Onnes, hiện tượng siêu dẫn mãi được xem như là hiện tượng chỉ xảy ra tại nhiệt độ thấp, với nhiệt độ chuyển pha siêu dẫn thấp hơn 20 Kelvin. Cho nên khi J. Georg Bednorz và K. Alexander Müller cho thấy rằng ôxít lanthan-đồng có pha thêm bari có nhiệt độ chuyển pha là 35 Kelvin thì mọi người rất ngạc nhiên. Và ngay sau đó, các phòng thí nghiệm khác công bố các hợp chất có cấu trúc tương tự như thế có tính siêu dẫn ở nhiệt độ khoảng 100 Kelvin. Phát hiện về siêu dẫn nhiệt độ cao này khởi động một làn sóng trong vật lý hiện đại: tìm hiểu có chế có bản cho tính siêu dẫn của các vật liệu đặc biệt này. Bednorz and Müller nhận giải Nobel năm 1987.
===== Tính chất điện của chất rắn =====
Chuyển động của các điện tử trong kim loại ở trạng thái dẫn điện bình thường đã được mô hình hóa về lý thuyết đến một độ phức tạp chưa từng có từ khi có mặt của cơ học lượng tử. Một trong những bước tiến lớn ban đầu là việc đưa vào khái niệm sóng Bloch, hàm sóng được lấy tên của nhà vật lý Felix Bloch (người nhận nửa giải Nobel vật lý năm 1952 cho công trình nghiên cứu về cộng hưởng từ). Một khái niệm quan trọng nữa là chất lỏng điện tử trong các chất dẫn điện do Lev Landau (xem phần hêli lỏng). Philip Warren Anderson đã có những đóng góp quan trọng vào lý thuyết cấu trúc điện tử của các kim loại, đặc biệt là các bất đồng nhất trong các hợp kim và các nguyên tử từ tạp chất trong các kim loại. Neville Francis Mott đã nghiên cứu các điều kiện chung cho tính dẫn điện của điện tử trong chất rắn và đưa ra các công thức xác định các điểm mà một chất bán dẫn biến thành một chất dẫn điện (chuyển pha Mott) khi thành phần hoặc các thông số bên ngoài bị thay đổi. Anderson và Mott chia nhau một nửa giải Nobel năm 1977 và một nửa giải được trao cho John H. Van Vleck cho các nghiên cứu lý thuyết về cấu trúc điện tử của các hệ từ và mất trật tự.
===== Tính chất nhiệt của chất rắn =====
Một giải Nobel vật lý trước đây (1920) đã được trao cho Charles E. Guillaume cho phát hiện cho thấy rằng giãn nở nhiệt của một số thép-nikel (hợp kim được gọi là invar) bằng không. Giải Nobel này được trao chủ yếu bởi tầm quan trọng của các hợp kim invar trong các phép đo chính xác được dùng trong vật lý, ngành đo đạc và đặc biệt là thước mét chuẩn được đặt ở Paris. Các hợp kim này được dùng rất rộng rãi trong các dụng cụ có độ chính xác cao như là đồng hồ,... Các cơ sở lý thuyết về sự phụ thuộc vào nhiệt độ của độ giãn nở chỉ mới được giải thích gần đây. Và mới đây (1998), Walter Kohn nhận giải Nobel hóa học cho các phương pháp của ông khi xử lý các tương quan trao đổi lượng tử, mà nhờ đó người ta có thể vượt qua các giới hạn trong tính toán cấu trúc điện tử trong chất rắn và các phân tử.
===== Chất bán dẫn =====
Trong các chất bán dẫn, độ linh động của các điện tử bị giảm đi rất mạnh do có sự tồn tại của vùng cấm năng lượng đối với các điện tử, gọi là các khe năng lượng. Sau khi người ta hiểu được vai trò cơ bản của các tạp chất cho điện tử và nhận điện tử trong silicon siêu sạch (và sau này còn có các vật liệu khác), các chất bán dẫn được sử dụng làm các bộ phận trong điện kĩ thuật. William B. Shockley, John Bardeen (xem thêm lý thuyết BCS) và Walter H. Brattain đã tiến hành các nghiên cứu cơ bản về siêu dẫn và đã phát triển transistor loại một. Đó là bình minh của kỉ nguyên linh kiện điện tử. Họ cùng nhận giải Nobel năm 1956.
Sau này Leo Esaki đã phát triển đi ốt đường ngầm, một linh kiện điện tử có điện trở vi phân âm, đó là một tính chất kĩ thuật rất thú vị. Nó tạo thành từ hai chất bán dẫn pha tạp loại n và loại p, có một đầu chuyển dư điện tử và một đầu khác thiếu điện tử. Hiệu ứng đường ngầm xuất hiện khi điện thế dịch lớn hơn khe năng lượng trong các chất bán dẫn. Ông chia giải Nobel vật lý năm 1973 với Brian D. Josephson.
Với kĩ thuật hiện đại, người ta có thể tạo các màng mỏng cấu trúc xác định từ các vật liệu bán dẫn và chúng thể tiếp xúc trực tiếp với nhau. Với cấu trúc không đồng nhất như vậy, con người không bị giới hạn vào các khe năng lượng trong các chất bán dẫn như silicon hoặc germani nữa. Herbert Kroemer đã phân tích lý thuyết về độ linh động của các điện tử và lỗ trống trong các chuyển tiếp không đồng nhất. Lý thuyết của ông dẫn đến việc tạo ra các transistor với các đặc trưng được cải tiến rất nhiều mà sau này gọi là HEMT (transistor có độ linh động điện tử cao). Các HEMT rất quan trọng đối với các linh kiện điện tử tốc độ cao ngày nay. Kroemer cũng giả thiết rằng các cấu trúc không đồng nhất kép có thể tạo điều kiện cho hoạt động của laser, cùng khoảng thời gian với Zhores I. Alferov đưa ra ý tưởng như thế. Sau này Alferov đã tạo ra laser bán dẫn xung đầu tiên vào năm 1970. Sự kiện này là điểm khởi đầu của kỉ nguyên các dụng cụ quang điện hiện này đang dùng trong các đi ốt laser, đầu đọc đĩa CD, đầu đọc mã vạch và cáp quang viễn thông. Và gần đây, Alferov và Kroemer chia nhau một nửa giải Nobel vật lý năm 2000, nửa giải còn lại về tay Jack S. Kilby, đồng phát minh mạch điện tử tích hợp (xem phần sau Vật ly và Kĩ thuật).
Khi áp một thế điện cực lên các hệ cấu trúc không đồng nhất, người ta có thể tạo ra các màng ngược, trong đó các hạt tải điện chỉ chuyển động trong không gian hai chiều. Các màng như vậy lại hóa ra có các tính chất rất thú vị và kì lạ. Năm 1982, Klaus von Klitzing phát hiện ra hiệu ứng Hall lượng tử. Khi một từ trường mạnh đặt vuông góc với mặt phẳng của màng giả hai chiều, thì các điều kiện lượng tử lại không tăng một cách tuyến tính với sự tăng của từ trường mà lại tăng một cách nhảy bậc ở biên của mẫu. Điện trở Hall giữa các bậc này có giá trị h/ie2 trong đó i là các số nguyên tương ứng với các quỹ đạo điện tử bị lượng tử hóa. Hiệu ứng này cho phép có thể đo tỉ số giữa các hằng số cơ bản rất chính xác, nó có hệ quả quan trọng trong kĩ thuật đo lường, von Klitzing nhận giải Nobel vật lý năm 1985.
Một ngạc nhiên nữa đến ngay sau khi Daniel C. Tsui và Horst L. Störmer thực hiện các nghiên cứu kĩ hơn về hiệu ứng Hall lượng tử sử dụng các màng ngược trong các vật liệu siêu sạch. Trạng thái ổn định xuất hiện trong hiệu ứng Hall không chỉ đối với từ trường tương ứng với sự lấp đầy của các quỹ đạo bởi một, hai, ba v.v. giá trị điện tích của điện tử mà còn đối với các điện tích không nguyên! Điều này chỉ có thể được hiểu dựa vào một khái niệm về chất lỏng lượng tử mới mà ở đó chuyển động của các điện tử độc lập có điện tích e được thay thế bởi các kích thích trong một hệ nhiều hạt mà hệ này cư xử (trong một từ trường mạnh) như thể các điện tích có giá trị e/3, e/5,... tham gia vào. Robert B. Laughlin phát triển lý thuyết miêu tả trạng thái mới của vật chất này và chia giải Nobel vật lý năm 1998 với Tsui and Störmer.
===== Hiệu ứng Mossbauer =====
Đôi khi các phát hiện trong một lĩnh vực của vật lý lại hóa ra có các ứng dụng quan trọng trong các lĩnh vực vật lý khác. Một ví dụ liên quan đến vật lý chất rắn đó là quan sát của Rudolf L. Mössbauer vào cuối những năm 1950. Hạt nhân của nguyên từ hấp thụ có thể bị kích thích cộng hưởng bởi các tia gamma phát ra từ các nguyên tử phát xạ được chọn một cách hợp lý khi các nguyên tử trong cả hai trường hợp được bắn ra sao cho sự giật lùi của chúng loại trừ nhau. Năng lượng bị lượng tử hóa của hạt nhân trong điện từ trượng nội của chất rắn đó có thể được xác định vì năng lượng đó tương ứng với các vị trí khác nhau của sự cộng hưởng mà sự cộng hưởng này rất sắc nét. Hiệu ứng Mössbauer này là cơ sở của phổ Mossbauer, nó trở nên quan trọng trong việc xác định cấu trúc điện từ của nhiều vật liệu và Mössbauer nhận một nửa giải Nobel vật lý năm 1961 cùng với R. Hofstadter.
=== Vật lý và kỹ thuật ===
Giải Nobel 1912 đã được trao cho Nils Gustaf Dalén cho phát minh về van mặt trời tự động được dùng rộng rãi trong các cột mốc và phao trong ngành hàng hải. Phát minh đó dựa trên sự khác nhau về bức xạ nhiệt từ các vật có độ phản xạ ánh sáng khác nhau. Hiệu ứng này được dùng để ngắt nguồn cấp khí tự động vào ban ngày và làm giảm nhiều nhu cầu bảo dưỡng trên biển.
Khoảng đầu thế kỉ 20, Gabriel Lippmann đã phát triển một phương pháp chụp ảnh màu sử dụng hiệu ứng giao thoa ánh sáng. Phương pháp của Lippmann mất nhiều thời gian phơi sáng. Sau này phương pháp đó bị thay thế bởi các kĩ thuật nhiếp ảnh khác nhưng nó lại có nhiều ứng dụng trong kĩ thuật tạo ảnh ba chiều chất lượng cao.
Trong hiển vi quang học, Frits Zernike cho thấy rằng thậm chí các vật hấp thụ bức xạ rất yếu (trong suốt khi nhìn bằng mắt thường) có thể nhìn thấy được nếu chúng tạo thành từ những vùng có hệ số khúc xạ ánh sáng khác nhau. Trong kính hiển vi nhạy pha của Zernike, người ta có thể phân biệt các vệt sáng có pha bị thay đổi khi đi qua các vùng không đồng nhất. Kính hiển vi loại này có tầm quan trọng đặc biệt trong việc quan sát các mẫu sinh học. Zernike nhận giải Nobel vật lý năm 1953. Vào những năm 1940, Dennis Gabor đề ra nguyên lý ảnh ba chiều. Ông tiên đoán rằng nếu tia sáng tới có thể giao thoa với tia phản xạ từ một mảng hai chiều thì có thể tạo được một ảnh ba chiều của vật thể. Tuy vậy, việc thực hiện ý tưởng này phải đợi đến khi laser được phát hiện. Laser có thể cung cấp ánh sáng cố kết cần thiết cho quan sát hiện tượng giao thoa nói ở trên. Gabor nhận giải Nobel năm 1971.
Hiển vi điện tử có ảnh hưởng sâu rộng trên nhiều lĩnh vực khoa học tự nhiên. Ngay sau khi C. J. Davisson và G. P. Thomson phát hiện ra bản chất sóng của điện tử, người ta nhận thấy rằng bước sóng ngắn của điện tử năng lượng cao có thể làm tăng độ phân giải so với hiển vi quang học. Ernst Ruska tiến hành các nghiên cứu cơ bản về quang điện tử và thiết kế kính hiển vi điện tử truyền qua đầu tiên hoạt động vào những năm đầu của thập niên 1930. Ruska nhận một nửa giải Nobel vật lý vào năm 1986, nửa giải còn lại được chia đều cho Gerd Binnig và Heinrich Rohrer, hai người đã phát triển một phương pháp khác hẳn để thu được các bức ảnh với độ phân giải cực cao. Phương pháp của họ được ứng dụng trong nghiên cứu về mặt chất rắn và dựa trên hiệu ứng đường ngầm của các điện tử. Các điện tử của các nguyên tử ở một đầu kim loại rất nhọn có thể chui sang các nguyên tử trên bề mặt chất rắn khi đầu nhọn kim loại đó được di chuyển đến rất gần bề mặt (khoảng 1 nm). Bằng cách giữ cho dòng điện tử chui ngầm đó cố định và di chuyển đầu nhọn theo bề mặt chất rắn, người ta có thể có được bức ảnh ba chiều của bề mặt chất rắn cần nghiên cứu. Bằng phương pháp này, ta có thể nhìn thấy từng nguyên tử trên bề mặt.
Viễn thông là một trong những thành tựu kĩ thuật vĩ đại của thế kỉ 20. Vào những năm 1890, Guglielmo Marconi đã làm thí nghiệm với sóng điện từ của Heinrich Rudolf Hertz mới được phát hiện vào lúc đó. Ông là người đầu tiên liên lạc một trong những trạm phát sóng trên mặt đất với một ăng ten đặt trên cao có vai trò tương tự như một trạm thu sóng. Trong khi các thí nghiệm đầu tiên của Hertz được tiến hành trong phạm vi phòng thí nghiệm thì Marconi đã mở rộng khoảng cách truyền tín hiệu đến vài km. Carl Ferdinand Braun đưa mạch cộng hưởng vào các máy phát dao động của Hertz. Độ hòa âm và khả năng tạo các dao động mạnh không bị chặn làm tăng dải truyền sóng, và vào năm 1901 Marconi đã thành công trong việc thu phát sóng vô tuyết vượt Đại Tây Dương. Marconi và Braun cùng nhận giải Nobel vật lý năm 1909. Vào thời điểm này, người ta vẫn không hiểu làm thế nào mà sóng vô tuyến có thể truyền với những khoảng cách xa. Sir Edward V. Appleton đã chứng minh bằng thực nghiệm rằng một giả thiết trước đó của Oliver Heaviside và Arthur Edwin Kennelly cho rằng sóng vô tuyến bị phản xạ giữa các lớp không khí có độ dẫn khác nhau trong khí quyển là đúng. Appleton đã đo giao thoa của sóng trực tiếp và sóng phản xạ với các bước sóng khác nhau và có thể xác định độ cao của các lớp Heaviside, hơn nữa ông còn tìm ra một lớp nữa cao hơn lớp Heaviside gọi là các lớp Appleton. Appleton nhận giải Nobel vật lý năm 1947.
Các tiến bộ trong vật lý hạt nhân và vật lý hạt phụ thuộc rất nhiều vào kĩ thuật cao (và đôi khi lại thúc đẩy kĩ thuật phát triển). Điều này được minh họa bằng các công trình của John Cockcroft và Ernest Walton cho việc phát triển máy gia tốc tĩnh điện tuyến tính và các công trình của Ernest Lawrence cho phát triển cyclotron tĩnh điện tuyến tính. Việc ghi nhận các hạt năng lượng cao cũng là một thử thách kĩ thuật, thành công trong vấn đề đó đã được ghi nhận bằng vài giải Nobel.
Giải Nobel vật lý năm 1958 được chia cho Pavel A. Cherenkov, Il'jia Frank và Igor Y. Tamm cho các phát hiện và giải thích của họ về hiệu ứng Cherenkov. Đó là sự phát xạ ánh sáng trong một nón có góc mở đặc biệt xung quanh hướng của hạt mang điện, khi vận tốc của nó vượt vận tốc ánh sáng trong môi trường mà nó chuyển động. Vì góc nón này có thể được sử dụng để xác định vận tốc của hạt, công trình của các nhà vật lý này nhanh chóng trở thành cơ sở cho sự phát triển các đầu thu rất hiệu quả.
Việc nhìn thấy đường đi của các hạt trong các phản ứng là cần thiết để giải thích các sự kiện xảy ra khi năng lượng cao. Các thí nghiệm ban đầu với năng lượng tương đối thấp sử dụng các vết để lại trên giấy ảnh. Charles T. R. Wilson đã phát triển một buồng, trong đó các hạt có thể nhìn thấy vì chúng để lại các vết do ion hóa khí. Trong buồng Wilson, khí có thể giãn nở rất nhanh, điều này làm giảm nhiệt độ và dẫn đến hóa đặc hơi xung quanh các điểm bị ion hóa, các hạt này có thể nhìn thấy khi chiếu sáng mạnh. Wilson nhận nửa giải Nobel vật lý năm 1927 với Arthur H. Compton.
Các bước tiến tiếp theo trên cùng hướng nghiên cứu nói trên đã được thực hiện khi Donald A. Glaser phát minh ra buồng bọt. Vào những năm 1950, các máy gia tốc đã đạt năng lượng từ 20 – 30 tỉ eV và các phương pháp thu hạt trước đó không còn phù hợp nữa; độ dài của các vết khí đã quá dài đối với buồng Wilson. Các hạt nhân nguyên tử trong buồng bọt (thường chứa hiđrô lỏng) được dùng như các cái bia, và vết do hạt tạo thành có thể được theo dõi. Tại nhiệt độ hoạt động, chất lỏng bị quá nóng và bất kì một hiện tượng gián đoạn nào, như vùng ion hóa, ngay lập tức hình thành các bọt nhỏ. Luis W. Alvarez đã tiến hành các cải tiến quan trọng đặc biệt là các cải tiến liên quan đến kĩ thuật ghi và phân tích dữ liệu. Công trình của ông đã đóng góp vào việc mở rộng số các hạt cơ bản, đặc biệt là các "cộng hưởng", cái sau này được hiểu là các trạng thái kích thích của các hệ gồm các quark và gluon. Glaser nhận giải Nobel vật lý năm 1960 và Alvarez năm 1968. Bước phát triển mới nhất về đầu thu các hạt này được nhìn nhận bằng một giải Nobel (1992) là công trình của Georges Charpak. Ông đã nghiên cứu chi tiết quá trình ion hóa trong chất khí và đã sáng tạo ra buồng dây, một đầu thu chứa khí trong đó các dây được bố trí dày đặc để thu các tín hiệu điện gần các điểm ion hóa, nhờ đó có thể quan sát được đường đi của hạt. Buồng dây và các biến thể của nó, buồng chiếu thời gian và một số tổ hợp tạo thành từ buồng dây/phát xung ánh sáng/Cherenkov tạo thành các hệ thống phức tạp cho phép tiến hành các nghiên cứu chọn lọc cho các hiện tượng cực hiếm (như việc hình thành các quark nặng), tín hiệu của các hiện tượng này thường bị lẫn trong các nền nhiễu mạnh của các tín hiệu khác.
Giải Nobel đầu tiên của thiên niên kỉ mới (2000) được trao cho Jack S. Kilby vì các thành tựu đặt nền tảng cho công nghệ thông tin hiện nay. Vào năm 1958, ông đã chế tạo mạch tích hợp đầu tiên mà trong đó các chi tiết điện tử được xây dựng trong một thực thể duy nhất tạo thành từ vật liệu bán dẫn, sau này gọi là các chip. Điều này mở ra con đường thu nhỏ kích thước và sản xuất hàng loạt các mạch điện tử. Kết hợp với việc phát triển các linh kiện dựa trên các cấu trúc không đồng nhất miêu tả trước đây (nhờ đó mà Alferov và Kroemer được nhận một nửa giải Nobel), mạch tích hợp dẫn đến cuộc cách mạng công nghệ thông tin đã thay đổi rất nhiều xã hội của chúng ta ngày nay.
== Ngoài lề ==
Đặc điểm nổi bật của Giải Nobel Vật lý là các công trình nằm trong phần lý do trao giải thường đã được công bố trước đó rất lâu, trong một số trường hợp có thể lên tới hai hoặc ba thập kỷ, nhất là đối với các công trình, tiên đoán lý thuyết đòi hỏi có thực nghiệm kiểm chứng. Vì vậy tuổi trung bình khi nhận giải của 179 nhà khoa học (tính đến hết năm 2006) là khá cao, gần 53 tuổi. Cho đến nay, người nhiều tuổi nhất khi được trao Giải Nobel Vật lý là Raymond Davis Jr., ông nhận giải Nobel năm 2002 khi đã 88 tuổi, đây cũng là kỉ lục về độ tuổi của một người được trao Giải Nobel nói chung. Raymond Davis Jr. được nhận giải vì những đóng góp của ông trong thí nghiệm thu neutrino Mặt Trời, một thí nghiệm đã được tiến hành từ thập niên 1970. Được tưởng thưởng cho cống hiến của mình sau gần 30 năm, nhà khoa học này đã bắt đầu có triệu chứng của bệnh Alzheimer, và ông mất không lâu sau đó vào năm 2006. Những trường hợp nhận giải muộn như Raymond Davis Jr. không phải là hiếm, có thể kể tới nhà Vật lý Vitaly Ginzburg được trao Giải Nobel Vật lý năm 2003 khi đã 87 tuổi cho nghiên cứu lý thuyết từ những năm 1950, hay Pyotr Leonidovich Kapitsa được trao giải năm 1978 khi đã 84 tuổi.
Tuy nhiên cũng có một vài cá nhân ngoại lệ được trao giải khi còn rất trẻ, cho đến nay người ít tuổi nhất khi được nhận Giải Nobel Vật lý là William Lawrence Bragg, ông được trao giải năm 1915 khi mới 25 tuổi, là một trong những người trẻ nhất từng được trao Giải Nobel. William Bragg được đồng trao giải cùng chính cha của ông là William Henry Bragg, đây là một trong số ba cặp cha con cùng được trao giải Nobel, hai cặp cha con còn lại là Niels Bohr (bố, trao năm 1922) - Aage Bohr (con, trao năm 1975) và J. J. Thomson (bố, trao năm 1906) - George Paget Thomson (con, trao năm 1937). Ngoài ra còn một cặp vợ chồng cùng được trao giải này là Pierre Curie và Maria Skłodowska-Curie, hai người nhận Giải Nobel Vật lý năm 1903. Cũng cần biết thêm rằng gia đình nhà Curie là gia đình nhận nhiều giải Nobel nhất cho tới nay với 4 người, ngoài ông bà Pierre và Marie Curie, con gái của hai người là Irène Joliot-Curie và chồng bà là Frédéric Joliot-Curie cũng được trao Giải Nobel Hóa học năm 1935.
Người được trao giải muộn nhất sau khi công bố công trình có lẽ là nhà Vật lý người Canada Bertram Brockhouse, ông được trao Giải Nobel Vật lý năm 1994 cho những nghiên cứu về Vật lý chất rắn từ những năm 1950, tức là sau khoảng 40 năm Brockhouse mới được tưởng thưởng cho những đóng góp của mình. Trong khi đó cũng có những công trình được trao giải rất sớm, đặc biệt là các công trình thực nghiệm, ví dụ điển hình là Giải Nobel Vật lý năm 1984, khi hai người nhận giải Carlo Rubbia và Simon van der Meer được trao giải vì những đóng góp quyết định trong thí nghiệm UA1 dò được hạt W chỉ một năm trước đó.
Người duy nhất cho đến nay được nhận hai Giải Nobel Vật lý là John Bardeen, ông được trao giải năm 1956 vì những đóng góp trong việc phát minh ra transistor và năm 1972 cho những nghiên cứu về siêu dẫn.
Trong lịch sử Giải Nobel Vật lý, mới chỉ có hai nhà Vật lý nữ được trao giải, đó là Maria Skłodowska-Curie (trao năm 1903) và Maria Goeppert-Mayer (trao năm 1963), ngoài ra đã có một số nhà khoa học nữ đã trượt giải một cách đáng tiếc như Ngô Kiện Hùng hoặc Lise Meitner. Vì vậy, dư luận đã từng nhiều lần chỉ trích Ủy ban Giải Nobel vì cho rằng giữa các thành viên của ủy ban vẫn tồn tại tình trạng "trọng nam khinh nữ".
Philipp Lenard, người được trao Giải Nobel Vật lý năm 1905 sau đó đã trở thành cố vấn cho Adolf Hitler trong cương vị người đứng đầu ngành Vật lý "của người Aryan", ông này đã góp phần truyền bá tư tưởng phân biệt chủng tộc trong khoa học và coi thuyết tương đối của Albert Einstein chỉ là trò lừa bịp và không đáng được trao giải Nobel, vì vậy năm 1921, Einstein chỉ được nhận Giải Nobel vì những đóng góp trong giải thích hiện tượng quang điện chứ không phải vì thuyết tương đối vốn nổi tiếng hơn nhiều. Johannes Stark, một nhà Vật lý Đức gốc Bavaria được trao giải Nobel năm 1919, sau này cũng đóng vai trò quan trọng trong cuộc vận động chống "nền Vật lý Do Thái" của Đức Quốc xã.
William Bradford Shockley được đồng trao giải năm 1956 "vì phát minh ra transistor", sau khi được trao giải ông này đã lại trở thành người ủng hộ nhiệt tình cho thuyết ưu sinh mà sau đó được chứng minh là sai lầm hoàn toàn.
Triệu Trung Nghiêu khi là một nghiên cứu sinh ở Caltech năm 1930 đã lần đầu tiên dò được positron thông qua phản ứng hủy cặp electron-positron, tuy vậy ông đã không nhận ra bản chất của thí nghiệm này. Sau đó Carl D. Anderson đã được trao Giải Nobel Vật lý năm 1936 nhờ việc phát hiện ra positron khi sử dụng cùng một nguồn đồng vị (thorium carbide, ThC) như Triệu. Mãi về sau, Anderson mới thừa nhận rằng thí nghiệm của Triệu Trung Nghiêu đã giúp ông tìm ra positron. Tuy vậy Triệu chết năm 1998 mà không bao giờ được nhận giải Nobel vì đóng góp của mình.
Mặc dù nhà Vật lý người Brasil César Lattes là nhà nghiên cứu và tác giả chính của bài báo lịch sử trên tờ Nature về việc mô tả hạt cơ bản pion, Giải Nobel Vật lý năm 1950 lại chỉ được trao cho giám đốc phòng thí nghiệm của Lattes là Cecil Powell. Có điều này là do đến tận thập niên 1960, Ủy ban Giải Nobel thường chỉ xét giải cho người đứng đầu nhóm nghiên cứu hoặc phòng thí nghiệm.
== Danh sách các giải thưởng Nobel Vật lý ==
== Tham khảo ==
Các giải Nobel: 100 năm đầu tiên, Agneta Wallin Levinovitz và Nils Ringertz biên tập, nhà xuất bản ĐH Imperial và World Scienctific ấn hành năm 2001. Xem bài dịch tiếng việt.
Quỹ Hỗ trợ Nobel – Trang chính thức của giải Nobel
Những người đoạt giải tưởng Nobel vật lý
== Đọc thêm ==
Stephen Hawking, The Universe in a Nutshell, Bantam, 2001.
Bản tiếng Việt: Vũ trụ trong một vỏ hạt; xem online
== Chú thích ==
== Tham khảo ==
== Xem thêm ==
Vật lý học
Thiên văn học
== Liên kết ngoài ==
Giải nobel vật lý 2008 |
5 tháng 8.txt | Ngày 5 tháng 8 là ngày thứ 217 (218 trong năm nhuận) trong lịch Gregory. Còn 148 ngày trong năm.
== Sự kiện ==
25 – Lưu Tú xưng đế, tức Hán Quang Vũ Đế, mở đầu triều Đông Hán, sau đó tiếp tục đánh bại các thế lực khác và thống nhất Trung Quốc.
1000 – Henry I lên ngôi quốc vương Anh tại Tu viện Westminster.
1392 – Sau khi lật đổ Cung Nhượng Vương của Cao Ly, tướng Lý Thành Quế lên ngôi quốc vương, khởi đầu vương triều Triều Tiên.
1783 - Núi Asama tại Nhật Bản phun trào mạnh, là một nguyên nhân dẫn đến Nạn đói lớn thời Tenmei.
1962 – Nelson Mandela bị cảnh sát bắt giữ với lời buộc tội kích động đình công và ra nước ngoài khi chưa được phép, ông phải ở trong tù cho đến năm 1990.
1966 - The Beatles phát hành album nổi tiếng, Revolver.
1964 – Trong Chiến tranh Việt Nam, sau sự kiện vịnh Bắc Bộ, Hoa Kỳ tiến hành Chiến dịch Mũi Tên Xuyên, ném bom Miền Bắc Việt Nam.
2011 – Yingluck Shinawatra được Quốc hội Thái Lan bầu làm thủ tướng, bà là nữ thủ tướng đầu tiên trong lịch sử quốc gia này.
== Sinh ==
1567 - Date Masamune là một samurai,daimyo Nhật Bản (m. 1636)
1802 - Niels Henrik Abel, nhà toán học Nauy (m. 1829)
1850 - Guy de Maupassant là nhà văn viết truyện ngắn người Pháp (m. 1893)
1862 - Joseph Merrick, được biết đến với cái tên "Người Voi" (m. 1890)
1866 - Carl Harries, nhà hóa học người Đức (m. 1923)
1872 - Oswaldo Cruz, bác sĩ người Brasil (m. 1917)
1908 - Harold Holt, Thủ tướng thứ 17 của nước Úc (m. 1967)
1911 - Robert Taylor, diễn viên người Mỹ (m. 1969)
1912 - Cha Pierre, linh mục Công giáo người Pháp (m. 2007)
1930 - Neil Armstrong, phi hành gia người Mỹ
1968 - Marine Le Pen, chính khách Pháp
1976 - Thúy Nga (diễn viên hài), diễn viên người Việt Nam
1980 - Wayne Bridge, cầu thủ bóng đá người Anh
1982 - Ryu Seung Min, vận động viên bóng bàn người Hàn Quốc
1985 - Salomon Kalou, cầu thủ bóng đá người Bờ Biển Ngà
== Mất ==
882 - Vua Louis III của Pháp (s. 863)
1778 - Charles Clémencet, nhà sử học Pháp (s. 1703)
1880 - Ferdinand Ritter von Hebra, bác sĩ người Áo (s. 1816)
1895 - Friedrich Engels, triết gia người Đức (s. 1820)
1957 - Heinrich Otto Wieland, nhà hóa học người Đức đoạt giải Nobel (s. 1877)
1992 - Honda Sōichirō, người sáng lập hãng xe Nhật Honda (s. 1906)
1962 – Marilyn Monroe, huyền thoại điện ảnh Mỹ (s. 1926)
== Những ngày lễ và kỷ niệm ==
1964, Ngày truyền thống của Quân chủng Hải quân Nhân dân Việt Nam
== Tham khảo == |
ấn độ.txt | Ấn Độ (tiếng Hindi: भारत(Bhārata), tiếng Anh: India), tên gọi chính thức là Cộng hòa Ấn Độ, là một quốc gia tại Nam Á. Đây là quốc gia lớn thứ bảy về diện tích, và đông dân thứ nhì trên thế giới với trên 1,31 tỷ người. Ấn Độ tiếp giáp với Ấn Độ Dương ở phía nam, biển Ả Rập ở phía tây-nam, và vịnh Bengal ở phía đông-nam, có biên giới trên bộ với Pakistan ở phía tây; với Trung Quốc, Nepal, và Bhutan ở phía đông-bắc; và Myanmar cùng Bangladesh ở phía đông. Trên Ấn Độ Dương, Ấn Độ lân cận với Sri Lanka và Maldives; thêm vào đó, Quần đảo Andaman và Nicobar của Ấn Độ có chung đường biên giới trên biển với Thái Lan và Indonesia.
Tiểu lục địa Ấn Độ là nơi xuất hiện văn minh lưu vực sông Ấn cổ đại, có các tuyến đường mậu dịch mang tính lịch sử cùng những đế quốc rộng lớn, và trở nên giàu có về thương mại và văn hóa trong hầu hết lịch sử lâu dài của mình. Đây cũng là nơi bắt nguồn của bốn tôn giáo lớn: Ấn Độ giáo, Phật giáo, Jaina giáo và Sikh giáo; trong khi Do Thái giáo, Hỏa giáo, Cơ Đốc giáo và Hồi giáo được truyền đến vào thiên niên kỷ thứ nhất sau Công nguyên và cũng giúp hình thành nền văn hóa đa dạng của khu vực. Khu vực dần bị thôn tính và chuyển sang nằm dưới quyền quản lý của Công ty Đông Ấn Anh từ đầu thế kỷ 18, rồi nằm dưới quyền quản lý trực tiếp của Anh Quốc từ giữa thế kỷ 19. Ấn Độ trở thành một quốc gia độc lập vào năm 1947 sau một cuộc đấu tranh giành độc lập dưới hình thức đấu tranh bất bạo động do Mahatma Gandhi lãnh đạo.
Nền kinh tế Ấn Độ lớn thứ 7 thế giới xét theo GDP danh nghĩa (năm 2016) và lớn thứ ba thế giới xét theo sức mua tương đương (PPP). Sau các cải cách kinh tế dựa trên cơ sở thị trường vào năm 1991, Ấn Độ trở thành một trong số các nền kinh tế lớn có mức tăng trưởng nhanh nhất; và được nhận định là một nước công nghiệp mới. Tuy nhiên, quốc gia này vẫn tiếp tục phải đối diện với những thách thức từ nghèo đói, tham nhũng, kém dinh dưỡng, y tế công thiếu thốn, và chủ nghĩa khủng bố. Ấn Độ là một quốc gia vũ khí hạt nhân và là một cường quốc trong khu vực, có quân đội thường trực lớn thứ ba và xếp hạng tám về chi tiêu quân sự trên thế giới. Ấn Độ là một nước cộng hòa lập hiến liên bang theo thể chế nghị viện, gồm có 29 bang và 7 lãnh thổ liên bang. Ấn Độ là một xã hội đa nguyên, đa ngôn ngữ và đa dân tộc. Đây cũng là nơi có sự đa dạng về loài hoang dã trong nhiều khu vực được bảo vệ.
== Từ nguyên ==
Thuật ngữ địa lý Bharat (भारत, phát âm [ˈbʱaːrət̪] ()), được Hiến pháp Ấn Độ công nhận là một tên gọi chính thức của quốc gia, được sử dụng trong nhiều ngôn ngữ Ấn Độ với các biến thể. Bharat bắt nguồn từ tên của Bharata, một nhân vật thần học được kinh thánh Ấn Độ giáo mô tả là một hoàng đế truyền thuyết của Ấn Độ cổ đại. Hindustan ([ɦɪnd̪ʊˈst̪aːn] ()) có nguồn gốc từ một từ trong tiếng Ba Tư có nghĩa là "Vùng đất của người Hindu"; trước năm 1947, thuật ngữ này ám chỉ một khu vực bao trùm lên bắc bộ Ấn Độ và Pakistan. Nó đôi khi được sử dụng để biểu thị toàn bộ Ấn Độ.
Trong các thư tịch Trung Quốc, thời nhà Hán gọi khu vực là "Thân Độc" (身毒), hay "Thiên Trúc" (天竺). Tên gọi Ấn Độ (tiếng Trung: 印度; bính âm: Yìndù) xuất hiện lần đầu trong "Đại Đường Tây Vực ký" của cao tăng Huyền Trang đời nhà Đường.
Tên gọi India bắt nguồn từ Indus, từ này lại bắt nguồn từ một từ tiếng Ba Tư cổ là Hinduš. Thân từ của thuật ngữ tiếng Ba Tư bắt nguồn từ tiếng Phạn Sindhu, là tên gọi bản địa có tính lịch sử của sông Ấn (Indus). Người Hy Lạp cổ đại gọi người Ấn Độ là Indoi (Ινδοί), có thể dịch là "người của Indus".
== Lịch sử ==
=== Ấn Độ cổ đại ===
Người hiện đại về phương diện giải phẫu được cho là đến Nam Á từ 73-55.000 năm trở lại đây, song các hài cốt được xác nhận của giống người này chỉ có niên đại sớm nhất là từ 30.000 năm trước. Tại nhiều nơi trên tiểu lục địa Ấn Độ, người ta phát hiện được các di chỉ nghệ thuật trên đá gần cùng thời với thời đại đồ đá giữa, bao gồm các chỗ ở hang đá Bhimbetka tại Madhya Pradesh. Khoảng năm 7000 TCN, các khu định cư thời đại đồ đá mới đầu tiên được biết đến đã xuất hiện trên tiểu lục địa, tại Mehrgarh và các di chỉ khác ở đông bộ Pakistan. Chúng dần phát triển thành văn minh thung lũng sông Ấn, là nền văn hóa đô thị đầu tiên tại Nam Á; và phát triển hưng thịnh trong khoảng thời gian 2500–1900 TCN tại Pakistan và tây bộ Ấn Độ. Nền văn minh này tập trung quanh các thành thị như Mohenjo-daro, Harappa, Dholavira, và Kalibangan, và dựa trên các hình thức sinh kế đa dạng, nền văn minh này có hoạt động sản xuất thủ công nghiệp mạnh cùng với mậu dịch trên phạm vi rộng.
Trong giai đoạn 2000–500 TCN, xét theo khía cạnh văn hóa, nhiều khu vực tại tiểu lục địa chuyển đổi từ thời đại đồ đồng đá sang thời đại đồ sắt. Vệ-đà là những thánh kinh cổ nhất của Ấn Độ giáo, chúng được soạn trong giai đoạn này, và các nhà sử học phân tích chúng để thừa nhận về một nền văn hóa Vệ-đà ở vùng Punjab và phần thượng của đồng bằng sông Hằng. Hầu hết các sử gia cũng nhận định trong giai đoạn này có một vài làn sóng người Ấn-Arya nhập cư đến tiểu lục địa từ phía tây-bắc. Chế độ đẳng cấp xuất hiện trong giai đoạn này, tạo nên một hệ thống thứ bậc gồm các tăng lữ, quân nhân, nông dân tự do, tuy nhiên loại trừ người dân bản địa bằng cách gán cho công việc của họ là thứ ô uế. Trên cao nguyên Deccan, bằng chứng khảo cổ từ thời kỳ này khẳng định sự tồn tại của tổ chức chính trị ở một giai đoạn tù bang. Tại nam bộ Ấn Độ, một lượng lớn các bia kỷ niệm cự thạch có niên đại từ thời kỳ này cho thấy có một sự tiến triển lên cuộc sống định cư, ngoài ra còn có các dấu vết về nông nghiệp, bể tưới tiêu, và thủ công truyền thống nằm không xa đó.
Vào cuối giai đoạn Vệ-đà, khoảng thế kỷ 5 TCN, các tù bang nhỏ ở đồng bằng sông Hằng và tây-bắc thống nhất thành 16 quả đầu quốc và quân chủ quốc lớn, chúng được gọi là các mahajanapada. Đô thị hóa nổi lên và các tính chất chính thống trong thời kỳ này cũng hình thành nên các phong trào tôn giáo không chính thống, hai trong số đó trở thành các tôn giáo độc lập. Phật giáo dựa trên lời dạy của Tất-đạt-đa Cồ-đàm, thu hút các môn đồ từ tất cả các tầng lớp xã hội trừ tầng lớp trung lưu; ghi chép biên niên sử về cuộc đời của Phật là trung tâm trong việc khởi đầu lịch sử thành văn tại Ấn Độ. Đạo Jaina nổi lên trong thời kỳ của người mô phạm của nó là Mahavira. Tại một thời kỳ mà đô thị thêm phần thịnh vương, cả hai tôn giáo đều duy trì sự từ bỏ như một tư tưởng, và cả hai đều hình thành các truyền thống tu viện lâu dài. Về mặt chính trị, vào thế kỷ 3 TCN, Vương quốc Magadha (Ma Kiệt Đà) sáp nhập hoặc chinh phục các quốc gia khác để rồi nổi lên thành Đế quốc Maurya (Khổng Tước). Đế quốc Maurya từng kiểm soát hầu hết tiểu lục địa ngoại trừ vùng viễn nam, song các khu vực lõi của nó nay bị phân ly bởi các khu vực tự trị lớn. Các quốc vương của Maurya được biết đến nhiều với việc xây dựng đế quốc và quản lý sinh hoạt công cộng một cách quả quyết, như Ashoka từ bỏ chủ nghĩa quân phiệt và ủng hộ rộng rãi "Phật pháp".
Văn học Sangam viết bằng tiếng Tamil tiết lộ rằng vào giai đoạn từ 200 TCN đến 200 CN, nam bộ bán đảo nằm dưới quyền quản lý của các triều đại Chera, Chola, và Pandya, các triều đại này có quan hệ mậu dịch rộng rãi với Đế quốc La Mã cũng như với khu vực Tây và Đông Nam Á. Ở bắc bộ Ấn Độ, Ấn Độ giáo khẳng định quyền kiểm soát phụ quyền trong gia đình, khiến phụ nữ tăng thêm tính lệ thuộc. Đến thế kỷ 4 và 5, Đế quốc Gupta được hình thành tại đồng bằng sông Hằng với một phức hệ về hành pháp và phú thuế, trở thành hình mẫu cho các vương quốc sau này tại Ấn Độ. Dưới chế độ Gupta, Ấn Độ giáo hồi phục dựa trên cơ sở lòng sùng đạo thay vì quản lý lễ nghi và bắt đầu khẳng định được mình. Sự phục hồi của Ấn Độ giáo thể hiện qua việc nở rộ các công trình điêu khắc và kiến trúc, những thứ trở nên quen thuộc trong một giới tinh hoa đô thị. Văn học tiếng Phạn cổ điển cũng nở rộ, và khoa học, thiên văn học, y học, toán học Ấn Độ có các tiến bộ đáng kể.
=== Ấn Độ trung đại ===
Thời kỳ Ấn Độ trung đại đầu kéo dài từ năm 600 đến năm 1200, có đặc điểm là các vương quốc mang tính khu vực và đa dạng văn hóa. Khi người cai trị phần lớn đồng bằng Ấn-Hằng từ 606 đến 647 là Hoàng đế Harsha cố gắng khuếch trương về phía nam, ông chiến bại trước quân chủ của triều Chalukya ngự trị tại Deccan. Khi người thừa tự của Harsha nỗ lực khuếch trương về phía đông, ông ta chiến bại trước quân chủ của Pala ngự trị tại Bengal. Khi triều Chalukya nỗ lực khuếch trương về phía nam, họ chiến bại trước triều Pallava ở xa hơn về phía nam, triều Pallava lại đối đầu với triều Pandya và triều Chola ở xa hơn nữa về phía nam. Không quân chủ nào trong giai đoạn này có thể thiết lập nên một đế quốc và kiểm soát liên tục các vùng đất nằm xa vùng lãnh thổ lõi của mình. Trong thời kỳ này, các mục dân có đất đai bị phát quang để phát triển kinh tế nông nghiệp được thu nhận vào trong xã hội đẳng cấp, trở thành tầng lớp thống trị phi truyền thống mới. Hệ thống đẳng cấp do đó bắt đầu thể hiện những khác biệt giữa các vùng.
Trong thế kỷ 6 và 7, các bài thánh ca cầu nguyện đầu tiên được sáng tác bằng tiếng Tamil. Toàn Ấn Độ mô phỏng theo điều đó và khiến cho Ấn Độ giáo tái khởi, và toàn bộ các ngôn ngữ hiện đại trên tiểu lục địa có sự phát triển. Các vương thất lớn nhỏ tại Ấn Độ cùng các đền thờ mà họ bảo trợ thu hút một lượng rất lớn các thần dân đến kinh thành, các kinh thành cũng trở thành những trung tâm kinh tế. Các đô thị thánh đường với kính cỡ khác nhau bắt đầu xuất hiện khắp nơi khi Ấn Độ trải qua một quá trình đô thị hóa nữa. Đến thế kỷ 8 và 9, các ảnh hưởng của Ấn Độ được nhận thấy tại Đông Nam Á, khi mà văn hóa và hệ thống chính trị Nam Á được truyền bá ra các vùng đất mà nay là một phần của Myanmar, Thái Lan, Lào, Campuchia, Việt Nam, Malaysia, và Java. Các thương nhân, học giả, và đôi khi là quân nhân Ấn Độ tham gia vào sự truyền bá này; người Đông Nam Á cũng có sự chủ động, nhiều người lưu lại một thời gian trong các trường dòng Ấn Độ và dịch các văn bản Phật giáo và Ấn Độ giáo sang ngôn ngữ của họ.
Các thị tộc du cư Trung Á sử dụng kỵ binh và có các đội quân đông đảo được thống nhất nhờ dân tộc và tôn giáo, sau thế kỷ 10 họ liên tiếp tràn qua các đồng bằng ở tây-bắc của Nam Á, cuối cùng hình thành nên Vương quốc Hồi giáo Delhi vào năm 1206. Vương quốc này kiểm soát phần lớn bắc bộ Ấn Độ, tiến hành nhiều hoạt động đánh phá xuống nam bộ Ấn Độ. Mặc dù chính quyền Hồi giáo ban đầu phá vỡ giới tinh hoa Ấn Độ, song các thần dân phi Hồi giáo của vương quốc này phần lớn vẫn duy trì được luật lệ và phong tục riêng của họ. Vương quốc Hồi giáo Delhi nhiều lần đẩy lui quân Mông Cổ trong thế kỷ 13, cứu nguy Ấn Độ khỏi cảnh tàn phá giống như ở Trung và Tây Á. Vương quốc trở thành nơi định cư của những quân nhân bỏ trốn, người có học, pháp sư, thương gia, nghệ sĩ, thợ thủ công từ khu vực Trung và Tây Á, tạo nên một nền văn hóa Ấn-Hồi hổ lốn ở bắc bộ Ấn Độ. Các cuộc đột kích của Vương quốc Hồi giáo Delhi và sự suy yếu của các vương quốc khu vực ở nam bộ Ấn Độ tạo điều kiện cho Đế quốc Vijayanagara bản địa hình thành. Đế quốc phương nam này theo một truyền thống Shiva giáo mạnh mẽ và xây dựng nên kỹ thuật quân sự vượt lên trên Vương quốc Hồi giáo Delhi, kiểm soát được phần nhiều Ấn Độ Bán đảo, và có ảnh hưởng đến xã hội nam bộ Ấn Độ trong một thời gian dài sau đó.
=== Ấn Độ cận đại ===
Đầu thế kỷ 16, bắc bộ Ấn Độ khi đó nằm dưới quyền cai trị của các quân chủ mà phần lớn theo Hồi giáo, song một lần nữa lại sụp đổ trước tính linh động và hỏa lực vượt trội của một thế hệ các chiến binh Trung Á mới. Đế quốc Mogul ra đời song không nghiền nát các xã hội địa phương, mà thay vào đó là cân bằng và bình định họ thông qua các thủ tục quản trị mới cùng giới tinh hoa cầm quyền vốn có đặc điểm đa dạng và bao dung, tạo ra một nền cai trị có hệ thống hơn, tập trung hóa và thống nhất. Nhằm tránh xiềng xích bộ lạc và bản sắc Hồi giáo, đặc biệt là dưới thời Akbar, người Mogul đoàn kết đế chế rộng lớn của họ thông qua lòng trung thành đối với một hoàng đế có địa vị gần như thần thánh, biểu đạt một nền văn hóa Ba Tư hóa. Các chính sách kinh tế quốc gia của Mogul, vốn có phần lớn nguồn thu đến từ nông nghiệp và yêu cầu các khoản thuế phải trả theo tiền bạc được quản lý chặt, khiến cho các nông dân và thợ thủ công tiến vào những thị trường lớn hơn. Đế quốc giữ được tình hình tương đối hòa bình trong phần lớn thế kỷ 17, và đây là một yếu tố giúp mở rộng kinh tế Ấn Độ, kết quả là sự bảo trợ lớn hơn đối với hội họa, các loại hình văn chương, dệt, và kiến trúc. Các nhóm xã hội mới kết hợp tại bắc bộ và tây bộ Ấn Độ, như Maratha, Rajput, và Sikh, giành được tham vọng về quân sự và quản trị dưới chế độ Mogul, và thông qua cộng tác hoặc tai họa, họ thu được cả sự công nhận và kinh nghiệm quân sự. Sự mở rộng thương mại dưới chế độ Mogul giúp cho giới tinh hoa thương mại và chính trị Ấn Độ mới dọc theo các bờ biển nam bộ và đông bộ nổi bật lên. Khi đế quốc tan rã, nhiều người trong giới tinh hoa này có thể theo đuổi và kiểm soát được công việc của họ.
Đầu thế kỷ 18, khi mà ranh giới giữa thống trị thương mại và chính trị ngày càng bị lu mờ, một số công ty mậu dịch phương Tây, bao gồm Công ty Đông Ấn Anh, thiết lập nên các tiền đồn ven biển. Công ty Đông Ấn Anh có quyền kiểm soát đối với các vùng biển, tiềm lực lớn hơn, có khả năng huấn luyện quân sự cùng công nghệ tiến bộ hơn, do vậy thu hút một bộ phận giới tinh hoa Ấn Độ. Nhờ đó, Công ty Đông Ấn Anh gặp thuận lợi trong việc giành quyền kiểm soát đối với vùng Bengal vào năm 1765 và gạt các công ty châu Âu khác ra ngoài lề. Công ty Đông Ấn Anh tiếp tục tiếp cận được sự giàu có của Bengal, và sau khi tăng cường sức mạng và quy mô quân đội thì Công ty có năng lực thôn tính hoặc khuất phục hầu hết Ấn Độ vào thập niên 1820. Ấn Độ sau đó không còn là nhà xuất khẩu hàng hóa chế tạo như một thời gian dài trước đó, mà trở thành một nơi cung cấp nguyên liệu cho Đế quốc Anh, và nhiều sử gia xem đây là lúc thời kỳ thực dân tại Ấn Độ bắt đầu. Đương thời, do quyền lực kinh tế bị Nghị viện Anh Quốc tước bỏ một cách nghiêm trọng và do bản thân trên thực tế là một cánh tay nối dài của chính phủ Anh Quốc, Công ty Đông Ấn Anh bắt đầu có ý thức hơn trong việc tiến vào các hoạt động phi kinh tế như giáo dục, cải cách xã hội, và văn hóa.
=== Ấn Độ hiện đại ===
Các sử gia xem thời kỳ hiện đại của Ấn Độ bắt đầu từ giai đoạn 1848-1885. Việc bổ nhiệm James Broun-Ramsay làm Toàn quyền của Công ty Đông Ấn Anh vào năm 1848 chuẩn bị cho những thay đổi cốt yếu đối với một quốc gia hiện đại. Chúng bao gồm củng cố và phân ranh giới chủ quyền, sự giám sát của người dân, và giáo dục cho công dân. Các biến đổi về công nghệ như đường sắt, kênh đào, và điện báo được đưa đến Ấn Độ không lâu sau khi chúng được giới thiệu tại châu Âu. Tuy nhiên, sự bất mãn đối với Công ty cũng tăng lên trong thời kỳ này, và Khởi nghĩa Ấn Độ 1857 bùng nổ. Cuộc khởi nghĩa bắt nguồn từ những oán giận và nhận thức đa dạng, bao gồm cải cách xã hội kiểu Anh, thuế đất khắc nghiệt, và đối đãi tồi của một số địa chủ giàu có và phiên vương, nó làm rung chuyển nhiều khu vực ở bắc bộ và trung bộ Ấn Độ và làm lung lay nền móng của Công ty Đông Ấn Anh. Mặc dù cuộc khởi nghĩa bị đàn áp vào năm 1858, song nó khiến cho Công ty Đông Ấn Anh giải thể và chính phủ Anh Quốc từ đó trực tiếp quản lý Ấn Độ. Những người cai trị mới công bố một nhà nước nhất thể và một hệ thống nghị viện từng bước theo kiểu Anh song có hạn chế, nhưng họ cũng bảo hộ các phó vương và quý tộc địa chủ nhằm tạo ra một thế lực hộ vệ phong kiến để chống lại bất ổn trong tương lai. Trong các thập niên sau đó, hoạt động quần chúng dần nổi lên trên khắp Ấn Độ, cuối cùng dẫn đến việc thành lập Đảng Quốc đại Ấn Độ vào năm 1885.
Sự phát triển nhanh chóng của kỹ thuật cùng với thương mại hóa nông nghiệp trong nửa sau thế kỷ 19 gây nên các khó khăn kinh tế: nhiều nông dân nhỏ trở nên phụ thuộc vào các nhu cầu của các thị trường xa xôi. Số lượng nạn đói quy mô lớn gia tăng, và có ít công việc công nghiệp được trao cho người Ấn Độ. Tuy nhiên, nó cũng có những tác động tích cực: trồng trọt mang tính thương mại, đặc biệt là ở vùng Punjab mới được khơi kênh, khiến sản lượng lương thực dành cho tiêu dùng nội địa gia tăng. Hệ thống đường sắt giúp cung cấp đồ cứu tế đến những nơi bị nạn đói nguy cấp, giảm đáng kể chi phí vận chuyển hàng hóa, và giúp ích cho ngành công nghiệp non trẻ của Ấn Độ. Có khoảng một triệu người Ấn Độ phục vụ cho Anh Quốc trong Chiến tranh thế giới thứ nhất, và sau cuộc chiến này là một thời kỳ mới. Thời kỳ này mang dấu ấn với các cải cách của Anh Quốc song cũng có các áp chế về luật pháp, với việc người Ấn Độ mãnh liệt hơn trong việc yêu cầu quyền tự trị, và với việc bắt đầu một phong trào bất bạo động bất hợp tác - trong đó Mohandas Karamchand Gandhi trở thành lãnh tụ và biểu tượng. Trong thập niên 1930, Anh Quốc ban hành các cải cách lập pháp một cách chậm chạp; Đảng Quốc đại Ấn Độ giành chiến thắng trong các cuộc bầu cử. Thập niên tiếp theo chìm trong các cuộc khủng hoảng: Ấn Độ tham gia vào Chiến tranh thế giới thứ hai, Đảng Quốc đại kiên quyết bất hợp tác, và một đợt bột phát chủ nghĩa dân tộc Hồi giáo. Tất cả đều bị ngăn lại với việc Ấn Độ giành được độc lập vào năm 1947, song bị kiềm chế do thuộc địa này phân chia thành hai quốc gia: Ấn Độ và Pakistan.
Để khẳng định hình ảnh là một quốc gia độc lập, hiến pháp Ấn Độ được hoàn thành vào năm 1950, xác định Ấn Độ là một nền cộng hòa thế tục và dân chủ. Trong 60 năm kể từ đó, Ấn Độ trải qua cả những thành công và thất bại. Đất nước này vẫn duy trì một chế độ dân chủ với các quyền tự do dân sự, một Tòa án tối cao hoạt động tích cực, và một nền báo chí độc lập ở mức độ lớn. Tự do hóa kinh tế bắt đầu từ thập niên 1990, và tạo ra một tầng lớp trung lưu thành thị có quy mô lớn, biến Ấn Độ thành một trong những nền kinh tế phát triển nhanh nhất thế giới, và tăng cường ảnh hưởng địa chính trị của mình. Phim, âm nhạc, và giảng đạo của Ấn Độ đóng một vai trò ngày càng lớn trong văn hóa toàn cầu. Tuy nhiên, Ấn Độ phải đương đầu với các vấn đề như nghèo nàn ở cả thành thị lẫn nông thôn; từ xung đột liên quan đến tôn giáo và đẳng cấp; từ quân nổi dậy Naxalite được truyền cảm hứng từ tư tưởng Mao Trạch Đông; từ chủ nghĩa ly khai tại Jammu và Kashmir và tại Đông Bắc. Có tranh chấp lãnh thổ chưa được giải quyết với Trung Quốc, từng leo thang thành Chiến tranh Trung-Ấn vào năm 1962; và các cuộc chiến tranh biên giới với Pakistan bùng phát vào các năm 1947, 1965, 1971, và 1999. Sự đối đầu hạt nhân Ấn Độ–Pakistan lên đến đỉnh vào năm 1998.
== Địa lý ==
Ấn Độ bao trùm phần lớn tiểu lục địa Ấn Độ và nằm trên đỉnh của mảng kiến tạo Ấn Độ- một phần của mảng Ấn-Úc. Các quá trình địa chất học xác định được của Ấn Độ bắt đầu từ 75 triệu năm trước, khi đó tiểu lục địa Ấn Độ một bộ phận của siêu lục địa phương nam Gondwana và bắt đầu trôi giạt về phía đông-bắc qua Ấn Độ Dương (khi đó còn chưa thành hình) kéo dài trong 50 triệu năm. tiểu lục địa sau đó va chạm và hút chìm bên dưới mảng Á-Âu đẩy lên cao dãy Himalaya có độ cao lớn nhất hành tinh. Dãy Himalaya hiện tiếp giáp với Ấn Độ ở phía Bắc và Đông-Bắc. Tại đáy biển cũ nằm ngay phía nam dãy Himalaya, kiến tạo mảng hình thành nên một máng rộng lớn để rồi dần bị trầm tích từ sông bồi lấp; hình thành nên đồng bằng Ấn-Hằng hiện nay. Ở phía tây có hoang mạc Thar, dãy núi cổ Aravalli chia cắt hoang mạc này với đồng bằng Ấn-Hằng.
Mảng Ấn Độ gốc còn lại hiện là phần Ấn Độ bán đảo, đây là phần cổ nhất và có địa chất ổn định nhất của Ấn Độ; viễn bắc của phần này là các dãy Satpura và Vindhya tại trung bộ Ấn Độ. Hai dãy song song này chạy từ bờ biển Ả Rập thuộc bang Gujarat ở phía tây đến cao nguyên Chota Nagpur có nhiều than thuộc bang Jharkhand ở phía đông. Ở phía nam, ở hai bên sườn tây và đông của cao nguyên Deccan là các dãy núi ven biển được gọi là Ghat Tây và Ghat Đông; cao nguyên có các thành hệ đá cổ nhất của quốc gia, một vài trong số đó có trên 1 tỷ năm tuổi. Ấn Độ nằm ở bắc Xích đạo, từ 6°44' đến 35°30' vĩ Bắc (37°6' nếu tính cả vùng tuyên bố chủ quyền tại Kashmir) và từ 68°7' đến 97°25' kinh Đông.
Ấn Độ có đường bờ biển dài 7.517 kilômét (4.700 mi); trong đó, 5.423 kilômét (3.400 mi) thuộc Ấn Độ bán đảo và 2.094 kilômét (1.300 mi) thuộc các dãy đảo Andaman, Nicobar, và Lakshadweep. Theo biểu đồ thủy văn học của Hải quân Ấn Độ, bờ biển lục địa của quốc gia gồm: 43% là bãi biển cát; 11% là bờ đá, gồm cả vách đá; và 46% là bãi bùn hay bãi lầy.
Các sông lớn bắt nguồn từ dãy Himalaya về căn bản chảy qua lãnh thổ Ấn Độ gồm có sông Hằng và Brahmaputra, cả hai đều đổ nước vào vịnh Bengal. Các chi lưu quan trọng của sông Hằng bao gồm Yamuna và Kosi; độ dốc quá nhỏ của sông Kosi thường dẫn đến các trận lụt nghiêm trọng và thay đổi dòng chảy. Các sông chính ở phần bán đảo có độ dốc lớn hơn nên giúp ngăn ngừa nạn lụt, gồm có Godavari, Mahanadi, Kaveri, và Krishna, chúng đều đổ nước vào vịnh Bengal; trong khi Narmada và Tapti đổ nước vào biển Ả Rập. Các địa điểm đặc biệt của vùng ven biển Ấn Độ là đồng lầy nước mặn Kutch ở tây bộ Ấn Độ và đồng bằng phù sa Sundarbans (chia sẻ với Bangladesh) ở đông bộ Ấn Độ. Ấn Độ có hai quần đảo lớn: Lakshadweep, gồm các đảo san hô vòng ở ngoài khơi bờ biển tây-nam Ấn Độ; còn Quần đảo Andaman và Nicobar là một dãy núi lửa trên biển Andaman.
Khí hậu Ấn Độ chịu ảnh hưởng mạnh từ dãy Himalaya và hoang mạc Thar, các cơn gió mùa vào mùa hè và mùa đông có sự tác động từ hai nơi này và mang ý nghĩa quan trọng về kinh tế và văn hóa. Himalaya ngăn gió hạ giáng lạnh từ Trung Á thổi xuống, giữ cho phần lớn tiểu lục địa Ấn Độ ấm hơn so với những nơi khác cùng vĩ độ. Hoang mạc Thar đóng một vai trò quyết định trong việc hút gió mùa mùa hè tây-nam chứa nhiều hơi ẩm từ tháng 6 đến tháng 10, cung cấp phần lớn lượng mưa của Ấn Độ. Bốn nhóm khí hậu lớn chi phối tại Ấn Độ: nhiệt đới mưa, nhiệt đới khô, cận nhiệt đới ẩm, núi cao.
=== Môi trường ===
Tại Ấn Độ, các vấn đề chủ yếu về môi trường bao gồm suy thoái rừng và suy thoái đất nông nghiệp; cạn kệt tài nguyên nước, khoáng sản, rừng, cát và đá; suy thoái môi trường; các vấn đề về y tế công; mất đa dạng sinh học; các hệ sinh thái mất khả năng phục hồi và an ninh sinh kế cho người nghèo. Tuy nhiên, theo các dữ liêu thu thập được và nghiên cứu tác động môi trường của các chuyên gia Ngân hàng Thế giới, từ năm 1995 đến năm 2010, Ấn Độ là một trong những nước có sự tiến bộ nhanh nhất thế giới trong việc giải quyết các vấn đề môi trường và cải thiện chất lượng môi trường.
=== Đa dạng sinh học ===
Ấn Độ nằm trong vùng sinh thái Indomalaya và gồm có ba điểm nóng đa dạng sinh học. Ấn Độ là một trong 17 quốc gia đa dạng sinh vật siêu cấp, có 8,6% tổng số loài thú, 13,7% tổng số loài chim, 7,9% tổng số loài bò sát, 6% tổng số loài lưỡng cư, 12,2% tổng số loài cá, và 6,0% tổng số loài thực vật có hoa. Ấn Độ có nhiều loài đặc hữu, chiếm tỷ lệ 33%, và nằm tại các vùng sinh thái như rừng shola. Môi trường sống trải dài từ rừng mưa nhiệt đới của quần đảo Andaman, Ghat Tây, và Đông Bắc đến rừng tùng bách trên dãy Himalaya. Giữa chúng là rừng sala sớm rụng ẩm ở đông bộ Ấn Độ; rừng tếch sớm rụng khô ở trung bộ và nam bộ Ấn Độ; và rừng gai do keo Ả Rập thống trị nằm ở trung bộ Deccan và tây bộ đồng bằng sông Hằng. Dưới 12% đất đai của Ấn Độ có rừng rậm bao phủ. Sầu đâu là một loài cây quan trọng tại Ấn Độ, được sử dụng rộng rãi trong thảo dược nông thôn Ấn Độ. Cây đề xuất hiện trên các ấn ở di chỉ Mohenjo-daro, Đức Phật giác ngộ dưới gốc của loài cây này.
Nhiều loài tại Ấn Độ bắt nguồn từ các taxon có nguồn gốc từ Gondwana- nơi mà mảng Ấn Độ tách ra từ hơn 106 triệu năm trước. Ấn Độ bán đảo sau đó di chuyển đến và va chạm với siêu lục địa Laurasia và khởi đầu sự trao đổi loài trên quy mô lớn. Việc khởi đầu kỷ nguyên núi lửa và thay đổi khí hậu vào 20 triệu năm trước dẫn đến tuyệt chủng hàng loạt. Các loài thú sau đó tiến vào Ấn Độ từ châu Á thông qua hai hành lang động vật địa lý học đi vòng qua sườn dãy Himalaya đang nổi lên. Do đó, trong khi 45,8% số loài bò sát và 55,8% số loài lưỡng cư là đặc hữu, thì chỉ có 12,6% số loài thú và 4,5% số loài chim là đặc hữu. Ấn Độ có 172 loài động vật bị đe dọa theo chỉ định của IUCN, hay 2,9% số loài gặp nguy hiểm.
Việc loài người tràn ngập và tàn phá sinh thái trong những thập niên gần dây khiến các loài hoang dã gặp nguy hiểm cực kỳ lớn. Hệ thống các vườn quốc gia và khu bảo tồn khởi đầu từ năm 1935, và sau đó được mở rộng về căn bản. Năm 1972, Ấn Độ ban hành Luật bảo vệ loài hoang dã và Dự án Hổ để bảo vệ những vùng hoang vu cốt yếu; Đạo luật Bảo tồn rừng được ban hành vào năm 1980 và sửa đổi bổ sung vào năm 1988. Ấn Độ có hơn 500 khu bảo tồn loài hoang dã và 13 khu dự trữ sinh quyển, bốn trong số đó là một phần của Hệ thống khu dự trữ sinh quyển thế giới; 25 khu đất ngập nước được đăng ký nằm dưới Công ước Ramsar.
== Chính trị ==
Ấn Độ được xem là nền dân chủ đông dân nhất trên thế giới. Đây là một nước cộng hòa nghị viện với một hệ thống đa đảng, có sáu chính đảng cấp quốc gia được công nhận, bao gồm Đảng Quốc đại Ấn Độ và Đảng Bharatiya Janata (Đảng Nhân dân Ấn Độ), và trên 40 chính đảng cấp địa phương. Đảng Quốc đại được nhận định là có tư tưởng trung-tả hay là "tự do" trong văn hóa chính trị Ấn Độ, còn Đảng Bharatiya Janata có tư tưởng trung-hữu hay là "bảo thủ". Trong hầu hết giai đoạn từ 1950 — tức khi Ấn Độ lần đầu tiên trở thành một nước cộng hòa — đến cuối thập niên 1980, Đảng Quốc đại nắm giữ đa số ghế trong Quốc hội. Tuy nhiên, kể từ đó, Đảng Quốc đại ngày càng chia sẻ nhiều hơn vũ đài chính trị với Đảng Bharatiya Janata, cũng như với các chính đảng cấp địa phương mạnh khác trong các một liên minh đa đảng.
Trong ba cuộc tổng tuyển cử đầu tiên tại nước Cộng hòa Ấn Độ, tức vào các năm 1951, 1957, và 1962, Đảng Quốc đại do Jawaharlal Nehru lãnh đạo đã dễ dàng giành chiến thắng. Khi Jawaharlal Nehru qua đời vào năm 1964, Lal Bahadur Shastri trở thành thủ tướng trong một thời gian ngắn; người kế vị sau khi Lal Bahadur Shastri qua đời năm 1966 là Indira Gandhi, người này lãnh đạo Đảng Quốc đại giành chiến thắng trong cuộc bầu cử năm 1967 và 1971. Sau khi quần chúng bất mãn vì tình trạng khẩn cấp mà bà tuyên bố vào năm 1975, Đảng Quốc đại thất cử vào năm 1977; đa số cử tri khi đó bỏ phiếu cho Đảng Janata mới thành lập và phản đối tình trạng khẩn cấp. Chính phủ của Đảng Janata kéo dài hơn ba năm. Đảng Quốc đại lại được bầu lên nắm quyền vào năm 1980, và trải qua thay đổi trong hàng ngũ lãnh đạo vào năm 1984 khi Indira Gandhi bị ám sát; kế nhiệm bà là người con trai Rajiv Gandhi, người này dễ dàng giành chiến thắng trong cuộc tổng tuyển cử cùng năm đó. Đảng Quốc đại lại thất cử vào năm 1989 trước một liên minh Mặt trận Quốc gia, lãnh đạo liên minh này là Đảng Janata Dal mới thành lập và liên minh với Mặt trận Cánh tả; chính phủ của liên minh này tồn tại chưa đầy hai năm. Các cuộc bầu cử lại được tổ chức vào năm 1991; lần này không đảng nào giành được đa số tuyệt đối. Tuy nhiên, Đảng Quốc đại có thể thành lập nên một chính phủ thiểu số do P. V. Narasimha Rao lãnh đạo với địa vị là đảng đơn lẻ lớn nhất.
Sau cuộc tổng tuyển cử năm 1996 là hai năm bất ổn chính trị, một vài liên minh đoản mệnh chia sẻ quyền lực. Đảng Bharatiya Janata lập nên một chính phủ tồn tại một thời gian ngắn trong năm 1996; sau đó là hai chính phủ do liên minh Mặt trận Thống nhất thành lập. Năm 1998, Đảng Bharatiya Janata có thể thành lập nên một liên minh thắng lợi là Liên minh Dân chủ Quốc gia do Atal Bihari Vajpayee lãnh đạo. Chính phủ Liên minh Dân chủ Quốc gia trở thành chính phủ phi Quốc đại, chính phủ liên minh đầu tiên hoàn tất nhiệm kỳ 5 năm. Trong cuộc tổng tuyển cử năm 2004, một lần nữa không có đảng nào giành đa số tuyệt đối, song lần này Đảng Quốc đại nổi lên với địa vị là đảng đơn lẻ lớn nhất, họ thành lập một liên minh thắng lợi là Liên minh Cấp tiến Quốc gia (UPA). Liên minh nhận được sự ủng hộ của các đảng tả khuynh và các thành viên quốc hội phản đối Đảng Bharatiya Janata. Liên minh Cấp tiến Quốc gia trở lại nắm quyền sau cuộc tổng tuyển cử năm 2009 với số ghế cao hơn, và không còn cần phải có sự ủng hộ từ các đảng cộng sản tại Ấn Độ. Năm đó, Manmohan Singh trở thành thủ tướng đầu tiên được tái cử cho một nhiệm kỳ 5 năm liên tiếp kể từ thời Jawaharlal Nehru. Trong tổng tuyển cử năm 2014, đảng Bharatiya Janata trở thành chính đảng đầu tiên kể từ năm 1984 giành được đa số ghế và có thể cầm quyền mà không cần sự ủng hộ từ các chính đảng khác.
=== Chính phủ ===
Ấn Độ là một liên bang với một hệ thống nghị viện nằm dưới sự khống chế của Hiến pháp Ấn Độ. Đây là một nước cộng hòa lập hiến với chế độ dân chủ đại nghị, trong đó "quyền lực đa số bị kiềm chế bởi các quyền thiểu số được bảo vệ theo pháp luật". Chế độ liên bang tại Ấn Độ xác định rõ sự phân chia quyền lực giữa chính phủ liên bang và các bang. Chính phủ tuân theo sự kiểm tra và cân bằng của Hiến pháp. Hiến pháp Ấn Độ có hiệu lực vào ngày 26 tháng 1 năm 1950, trong lời mở đầu của nó có viết rằng Ấn Độ là một nước cộng hòa có chủ quyền, xã hội, thế tục, dân chủ. Mô hình chính phủ của Ấn Độ theo truyền thống được mô tả là "bán liên bang" do trung ương mạnh và các bang yếu, song kể từ cuối thập niên 1990 thì Ấn Độ đã phát triển tính liên bang hơn nữa do kết quả của các thay đổi về chính trị, kinh tế và xã hội.
Biểu tượng quốc gia
Chính phủ liên bang gồm ba nhánh:
Hành pháp: Tổng thống Ấn Độ là nguyên thủ quốc gia và được một đại cử tri đoàn quốc gia bầu gián tiếp với một nhiệm kỷ 5 năm. Thủ tướng Ấn Độ đứng đầu chính phủ và thi hành hầu hết quyền lực hành pháp. Thủ tướng do tổng thống bổ nhiệm, và theo quy ước là người được chính đảng hoặc liên minh đảng phải nắm giữ đa số ghế trong hạ viện ủng hộ. Nhánh hành pháp của chính phủ Ấn Độ gồm có tổng thống, phó tổng thống, và Hội đồng Bộ trưởng do thủ tướng đứng đầu. Người được bổ nhiệm làm bộ trưởng phải là một thành viên trong các viện của quốc hội. Trong hệ thống quốc hội Ấn Độ, hành pháp lệ thuộc lập pháp; thủ tướng và hội đồng Bộ trưởng chịu trách nhiệm trực tiếp trước hạ viện của quốc hội.
Lập pháp: Cơ quan lập pháp của Ấn Độ là lưỡng viện quốc hội. Quốc hội Ấn Độ hoạt động theo một hệ thống kiểu Westminster và gồm có thượng viện được gọi là Rajya Sabha ("Hội đồng các bang") và hạ viện được gọi là Lok Sabha ("Viện Nhân dân"). Rajya Sabha là một thể chế thường trực gồm có 245 thành viên phục vụ trong nhiệm kỳ 6 năm được đặt so le. Hầu hết họ được bầu gián tiếp từ các cơ quan lập pháp bang và lãnh thổ và số lượng tương ứng với tỷ lệ dân số của bang so với dân số quốc gia. 543 thành viên của Lok Sabha được bầu trực tiếp theo thể chế phổ thông đầu phiếu; họ đại diện cho các khu vực bầu cử riêng rẽ trong nhiệm kỳ 5 năm. Hai thành viên còn lại của Lok Sabha do tổng thống chỉ định từ cộng đồng người Anh-Ấn, trong trường hợp tổng thống quyết định rằng cộng đồng này không được đại diện tương xứng.
Tư pháp: Ấn Độ có bộ máy tư pháp độc lập gồm ba cấp nhất thể, gồm: Tòa án Tối cao do Chánh án đứng đầu, 25 tòa thượng thẩm, và một lượng lớn tòa án sơ thẩm. Toà án Tối cao có thẩm quyền ban đầu đối với các vụ án liên quan đến các quyền cơ bản và tranh chấp giữa các bang và Trung ương; nó có quyền chống án đối với các tòa án thượng thẩm. Nó có quyền công bố luật và vô hiệu hóa các luật liên bang hay bang mà trái với hiến pháp. Tòa án Tối cao cũng là cơ quan diễn giải cuối cùng của hiến pháp.
=== Phân vùng ===
Ấn Độ là một liên bang gồm 29 bang và 7 lãnh thổ liên bang. Toàn bộ các bang, cùng các lãnh thổ liên bang Puducherry và Delhi, bầu nên cơ quan lập pháp và chính phủ theo hệ thống Westminster. Năm lãnh thổ liên bang còn lại do Trung ương quản lý trực tiếp thông qua các quản trị viên được bổ nhiệm. Năm 1956, dựa theo Luật Tái tổ chức các bang, các bang của Ấn Độ được tái tổ chức dựa trên cơ sở ngôn ngữ. Kể từ đó, cấu trúc các bang phần lớn vẫn không thay đổi. Mỗi bang hay lãnh thổ liên bang được chia thành các huyện. Các huyện chia tiếp thành các tehsil và cuối cùng là các làng.
Các bang
Lãnh thổ liên bang
== Quan hệ ngoại giao và quân sự ==
Kể từ khi độc lập vào năm 1947, Ấn Độ duy trì các quan hệ thân mật với hầu hết các quốc gia. Trong thập niên 1950, Ấn Độ ủng hộ mạnh mẽ quá trình phi thực dân hóa tại châu Phi và châu Á, đóng một vai trò lãnh đạo trong Phong trào Không liên kết. Vào cuối thập niên 1980, quân đội Ấn Độ can thiệp ra nước ngoài theo lời mời của các quốc gia láng giềng: một hoạt động gìn giữ hòa bình tại Sri Lanka từ năm 1987 đếm năm 1990; và một cuộc can thiệp vũ trang để ngăn chặn một nỗ lực đảo chính tại Maldives. Ấn Độ có các mối quan hệ căng thẳng với Pakistan; hai quốc gia từng bốn lần tiến tới chiến tranh vào các năm 1947, 1965, 1971 và 1999. Ba trong số bốn cuộc chiến diễn ra trên lãnh thổ tranh chấp Kashmir, còn cuộc chiến năm 1971 diễn ra sau khi Ấn Độ ủng hộ nền độc lập cho Bangladesh. Sau khi tiến hành chiến tranh với Trung Quốc vào năm 1962 và với Pakistan vào năm 1965, Ấn Độ theo đuổi các mối quan hệ quân sự và kinh tế gần gũi với Liên Xô; Liên Xô là nước cung ứng vũ khí lớn nhất cho Ấn Độ vào cuối thập niên 1960.
Ngoài việc tiếp tục mối quan hệ chiến lược với Nga, Ấn Độ có quan hệ quân sự ở phạm vi rộng với Israel và Pháp. Trong những năm gần đây, quốc gia này đóng vai trò then chốt trong Hiệp hội Nam Á vì sự Hợp tác Khu vực và Tổ chức Thương mại Thế giới. Ấn Độ cung cấp 100.000 nhân viên quân sự và cảnh sát để phục vụ trong 35 hoạt động gìn giữ hòa bình của Liên Hiệp Quốc. Ấn Độ tham gia vào Hội nghị cấp cao Đông Á, G8+5, và nhiều diễn đàn đa phương khác. Ấn Độ có các mối quan hệ kinh tế gần gũi với các khu vực Nam Mỹ, châu Á, và châu Phi; theo đuổi một chính sách "Hướng Đông" mà theo đó mưu cầu tăng cường quan hệ đối tác với các quốc gia ASEAN, Nhật Bản, và Hàn Quốc xoay quanh nhiều vấn đề, song đặc biệt là các vấn đề liên quan đến đầu tư kinh tế và an ninh khu vực.
Sau khi Trung Quốc tiến hành vụ thử nghiệm hạt nhân vào năm 1964, và liên tục hăm dọa can thiệp hỗ trợ Pakistan trong cuộc chiến năm 1965, Ấn Độ tin rằng cần phải phát triển vũ khí hạt nhân. Ấn Độ tiến hành vụ thử nghiệm vũ khí hạt nhân đầu tiên của mình vào năm 1974 và tiếp tục tiến hành vụ thử nghiệm dưới lòng đất vào năm 1998. Bất chấp các chỉ trích và trừng phạt quân sự, Ấn Độ không ký kết cả Hiệp ước cấm thử hạt nhân toàn diện và Hiệp ước không phổ biến vũ khí hạt nhân, cho rằng chúng thiếu sót và phân biệt đối xử. Ấn Độ duy trì chính sách hạt nhân "không sử dụng trước tiên" và phát triển năng lực bộ ba hạt nhân như một phần của học thuyết "răn đe tối thiểu đáng tin cậy" của mình. Ấn Độ phát triển một hệ thống phòng thủ tên lửa đạn đạo, và hợp tác với Nga nhằm phát triển một loại máy bay chiến đấu thế hệ thứ năm. Các dự án quân sự bản địa khác liên quan đến việc thiết kế và bổ sung hàng không mẫu hạm lớp Vikrant và tàu ngầm hạt nhân lớp Arihant.
Sau khi kết thúc Chiến tranh Lạnh, Ấn Độ tăng cường hợp tác về kinh tế, chiến lược và quân sự với Hoa Kỳ và Liên minh châu Âu. Năm 2008, Hoa Kỳ và Ấn Độ ký kết một thỏa thuận hạt nhân dân sự. Mặc dù đương thời Ấn Độ là quốc gia sở hữu vũ khí hạt nhân và không phải là một bên của Hiệp ước không phổ biến vũ khí hạt nhân, song quốc gia này nhận được miễn trừ từ Cơ quan Năng lượng Nguyên tử Quốc tế và Nhóm các nhà cung cấp hạt nhân, Ấn Độ do vậy thoát khỏi các hạn chế trước đây đối với công nghệ và thương mại hạt nhân. Như một hệ quả, Ấn Độ trở thành quốc gia thứ sáu sở hữu vũ khí hạt nhân trên thực tế. Ấn Độ sau đó ký kết các thỏa thuận hợp tác liên quan đến năng lượng hạt nhân dân sự với Nga, Pháp, Anh Quốc, và Canada.
Tổng thống Ấn Độ là thống soái tối cao của lực lượng vũ trang quốc gia; với 1,6 triệu quân tại ngũ và xếp thứ ba thế giới trên tiêu chí này. Quân đội Ấn Độ gồm có lục quân, hải quân, và không quân; các tổ chức phụ trợ gồm có Bộ tư lệnh chiến lược (Strategic Forces Command) và ba nhóm bán quân sự: Đội quân súng trường Assam, Lực lượng biên cảnh đặc chủng, và Lực lượng bảo vệ bờ biển Ấn Độ. Ngân sách quốc phòng chính thức của Ấn Độ vào năm 2011 là 36,03 tỷ đô la Mỹ, chiếm 1,83% GDP. Đối với năm tài chính 2012–2013, ngân sách dự thảo là 40,44 tỷ đô la Mỹ. Theo một báo cáo của SIPRI năm 2008, phí tổn quân sự hàng năm của Ấn Độ dựa theo sức mua đứng ở mức 72,7 tỷ đô la Mỹ, Năm 2011, ngân sách quốc phòng hàng năm tăng 11,6%, song đây chưa bao gồm các ngân quỹ đến với quân đội thông qua các nhánh khác của chính phủ. Năm 2012, Ấn Độ là nước nhập khẩu vũ khí lớn nhất thế giới; từ năm 2007 đến năm 2011, tiền mua vũ khí của Ấn Độ chiếm 10% tổng phí tổn dành cho mua sắm vũ khí quốc tế. Phần lớn chi tiêu quân sự tập trung vào phòng thủ chống Pakistan và chống lại ảnh hưởng ngày càng gia tăng của Trung Quốc tại Ấn Độ Dương.
== Kinh tế ==
Theo Quỹ Tiền tệ quốc tế, năm 2016, tổng sản phẩm nội địa là 2.250.990 USD (đứng thứ 7 trên thế giới, đứng thứ 3 châu Á sau Trung Quốc và Nhật Bản), nền kinh tế Ấn Độ có GDP danh nghĩa là 1,604 tỷ đô la Mỹ; và có GDP theo sức mua tương đương là 7,224 tỷ đô la Mỹ. Ấn Độ có tốc độ tăng trưởng GDP trung bình đạt 5,8% mỗi năm trong hai thập niên qua, và đạt mức 6,1% trong giai đoạn 2011–12, Ấn Độ là một trong các nền kinh tế tăng trưởng nhanh nhất thế giới. Tuy nhiên, Ấn Độ đều xếp hạng trên 100 thế giới về GDP danh nghĩa bình quân đầu người và GDP PPP bình quân đầu người. Cho đến năm 1991, tất cả các chính phủ Ấn Độ đều theo chính sách bảo hộ do chịu ảnh hưởng từ các nền kinh tế xã hội chủ nghĩa. Sự can thiệp và sắp đặt của nhà nước là phổ biến, tạo nên một bức tường lớn ngăn cách kinh tế Ấn Độ với thế giới bên ngoài. Một cuộc khủng hoảng sâu sắc về cán cân thanh toán vào năm 1991 buộc đất nước phải tự do hóa nền kinh tế; kể từ đó Ấn Độ chuyển đổi chậm hướng về một hệ thống thị trường tự do với việc nhấn mạnh cả ngoại thương và dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài. Mô hình nền kinh tế Ấn Độ trong thời gian gần đây phần lớn là tư bản chủ nghĩa. Ấn Độ trở thành một thành viên của WTO từ ngày 1 tháng 1 năm 1995.
Ấn Độ có lực lượng lao động gồm 486,6 triệu người theo số liệu năm 2011. Lĩnh vực dịch vụ chiếm 55,6% GDP, lĩnh vực công nghiệp chiếm 26,3% và lĩnh vực nông nghiệp chiếm 18,1%. Các nông sản chính của Ấn Độ là lúa gạo, lúa mì, hạt có dầu, bông, đay, chè, mía, và khoai tây. Các ngành công nghiệp chính của Ấn Độ là dệt, viễn thông, hóa chất, dược phẩm, công nghệ sinh học, chế biến thực phẩm, thép, thiết bị vận tải, xi măng, khai mỏ, dầu mỏ, máy móc, và phần mềm. Năm 2008, Ấn Độ chiếm 1,68% giá trị ngoại thương toàn cầu; Năm 2011, Ấn Độ là nước nhập khẩu lớn thứ 10 và nước xuất khẩu lớn thứ 19 trên thế giới. Các mặt hàng xuất khẩu chính của Ấn Độ bao gồm các sản phẩm dầu mỏ, hàng dệt may, đồ kim hoàn, phần mềm, sản phẩm công nghệ, hóa chất, và gia công đồ da thuộc. Các mặt hàng nhập khẩu chính gồm dầu, máy móc, ngọc, đá quý, phân bón, và hóa chất. Từ năm 2001 đến năm 2011, đóng góp của các mặt hàng hóa dầu và công nghệ vào giá trị xuất khẩu tăng từ 14% lên 42%.
Mức lương theo giờ tại Ấn Độ tăng gấp đôi trong thập niên đầu của thế kỷ 21. Khoảng 431 triệu người Ấn Độ thoát nghèo kể từ năm 1985; các tầng lớp trung lưu của Ấn Độ được dự tính sẽ đạt khoảng 580 triệu người vào năm 2030.
Năm 2010, Ấn Độ xếp hạng 51 về năng lực cạnh tranh toàn cầu, xếp hạng 7 về trình độ phát triển của thị trường tài chính, xếp hạng 24 về lĩnh vực ngân hàng, xếp hạng 44 về trình độ phát triển trong kinh doanh và xếp thứ 39 về cách tân, đứng trước một số nền kinh tế tiến bộ. Năm 2009, 7 trong số 15 công ty gia công phần mềm hàng đầu thế giới đặt tại Ấn Độ, do vậy đất nước này được nhìn nhận là nơi gia công phần mềm thuận lợi thứ hai sau Hoa Kỳ. Thị trường tiêu dùng của Ấn Độ hiện lớn thứ 11 thế giới, và dự kiến sẽ lên vị trí thứ 5 vào năm 2030. Đến cuối tháng 5 năm 2012, Ấn Độ có 960,9 triệu thuê bao điện thoại, và sau quý đầu tiên của năm 2013, Ấn Độ vượt qua Nhật Bản để trở thành thị trường điện thoại thông minh lớn thứ ba trên thế giới sau Trung Quốc và Hoa Kỳ.
Ngành công nghiệp ô tô của Ấn Độ tăng trưởng nhanh thứ hai thế giới, doanh số bán hàng nội địa tăng 26% trong giai đoạn 2009–10, và doanh số xuất khẩu tăng 36% trong giai đoạn 2008–09. Công suất điện năng của Ấn Độ là 250 GW, trong đó 8% là năng lượng tái tạo. Đến cuối năm 2011, ngành công nghiệp công nghệ thông tin của Ấn Độ tạo việc làm cho 2,8 triệu chuyên viên, tạo ra doanh thu gần 100 tỷ đô la Mỹ, tức bằng 7,5% GDP của Ấn Độ và đóng góp 26% kim ngạch xuất khẩu của Ấn Độ.
Ngành công nghiệp dược phẩm của Ấn Độ nằm trong số các thị trường mới nổi quan trọng của công nghiệp dược phẩm thế giới. Thị trường dược phẩm Ấn Độ dự kiến đạt doanh thu 48,58 tỷ đô la Mỹ vào năm 2020. Ấn Độ chiếm 60% thị phần ngành công nghiệp sinh dược phẩm.
Mặc dù tăng trưởng kinh tế ấn tượng trong các thập niên gần đây, Ấn Độ tiếp tục phải đối mặt với các thách thức về kinh tế-xã hội. Ấn Độ là nơi có số lượng người nhiều nhất sống dưới chuẩn nghèo quốc tế (1,25 đô la Mỹ/ngày) của Ngân hàng Thế giới, tỷ lệ này giảm từ 60% năm 1981 xuống 42% năm 2005. 48% số trẻ em Ấn Độ dưới 5 tuổi bị thiếu cân, một nửa số trẻ em dưới năm tuổi bị suy dinh dưỡng mãn tính, và tại các bang Madhya Pradesh, Andhra Pradesh, Bihar, Chhattisgarh, Haryana, Jharkhand, Karnataka, và Uttar Pradesh, chiếm 50,04% dân số Ấn Độ, 70% số trẻ em từ 6 tháng đến 59 tháng bị thiếu máu. Kể từ năm 1991, bất bình đẳng kinh tế giữa các bang của Ấn Độ liên tục phát triển: sản phẩm nội địa ròng bình quân đầu người cấp bang của các bang giàu nhất vào năm 2007 gấp 3,2 lần so với các bang nghèo nhất. Tham nhũng tại Ấn Độ được cho là gia tăng đáng kể. Nhờ tăng trưởng mà GDP danh nghĩa bình quân đầu người của Ấn Độ tăng lên nhanh chóng kể từ năm 1991, tuy nhiên nó luôn ở mức thấp hơn so với các quốc gia đang phát triển khác tại châu Á như Indonesia, Iran, Malaysia, Philippines, Sri Lanka, hay Thái Lan, và được dự báo sẽ vẫn tiếp tục như vậy trong tương lai gần.
== Nhân khẩu ==
Với dân số 1.210.193.422 người theo điều tra tạm thời năm 2011, Ấn Độ là quốc gia đông dân thứ hai trên thế giới. Tốc độ tăng trưởng dân số của Ấn Độ giảm xuống còn trung bình 1,76% mỗi năm trong giai đoạn 2001–2011, từ mức 2,13% mỗi năm trong thập niên trước (1991–2001). Tỷ suất giới tính theo điều tra năm 2011 là 940 nữ trên 1.000 nam. Tuổi bình quân của cư dân Ấn Độ là 24,9 theo điều tra năm 2001. Trong cuộc điều tra dân số hậu thuộc địa đầu tiên, tiến hành vào năm 1951, Ấn Độ có 361,1 triệu người. Các tiến bộ về y tế trong suốt 50 năm vừa qua cùng với năng suất nông nghiệp gia tăng (Cách mạng xanh) khiến dân số Ấn Độ gia tăng nhanh chóng. Ấn Độ tiếp tục phải đối mặt với một số thách thức liên quan đến sức khỏe cộng đồng. Theo Tổ chức Y tế thế giới, 900.000 người Ấn Độ tử vong mỗi năm do uống nước bị nhiễm bẩn hay hít khí bị ô nhiễm. Có khoảng 50 bác sĩ trên 100.000 người Ấn Độ. Số người Ấn Độ sinh sống tại thành thị tăng trưởng 31,2% từ 1991 đến 2001. Tuy nhiên, theo số liệu năm 2001, có trên 70% cư dân Ấn Độ sinh sống tại các vùng nông thôn. Theo điều tra dân số năm 2001, có 27 đô thị trên 1 triệu dân tại Ấn Độ; trong đó Delhi, Mumbai, Kolkata, Chennai, Bangalore, Hyderabad, Ahmedabad, và Pune là các vùng đô thị đông dân nhất. Tỷ lệ biết chữ năm 2011 là 74,04%: 65,46% đối với nữ giới và 82,14% đối với nam giới. Kerala là bang có tỷ lệ người biết chữ cao nhất; còn bang Bihar có tỷ lệ người biết chữ thấp nhất.
Ấn Độ là nơi có hai nhóm ngôn ngữ lớn: Ấn-Arya (74% cư dân nói) và Dravidia (24%). Các ngôn ngữ khác được nói tại Ấn Độ thuộc các ngữ hệ Nam Á và Tạng-Miến. Ấn Độ không có ngôn ngữ quốc gia. Tiếng Hindi có số lượng người nói lớn nhất và là ngôn ngữ chính thức của chính phủ. Tiếng Anh được sử dụng rộng rãi trong kinh doanh và hành chính và có địa vị "ngôn ngữ phó chính thức"; và có vị thế quan trọng trong giáo dục, đặc biệt là trong môi trường giáo dục đại học. Mỗi bang và lãnh thổ liên bang có một hoặc nhiều hơn các ngôn ngữ chính thức, và hiến pháp công nhận cụ thể 21 "ngôn ngữ xác định" (scheduled languages). Hiến pháp công nhận 212 nhóm bộ lạc xác định, họ chiếm tỷ lệ 7,5% trong dân số quốc gia. Điều tra dân số năm 2001 đưa ra số liệu là 800 triệu người Ấn Độ (80,5% tổng dân số) là tín đồ Ấn Độ giáo, Ấn Độ giáo do vậy là tôn giáo lớn nhất tại Ấn Độ, sau đó là Hồi giáo (13,4%), Kitô giáo (2,3%), Sikh giáo (1,9%), Phật giáo (0,8%), Jaina giáo (0,4%), Do Thái giáo, Hỏa giáo, và Bahá'í giáo. Ấn Độ có số tín đồ Ấn Độ giáo, Sikh giáo, Jaina giáo, Hỏa giáo, Bahá'í giáo đông nhất thế giới, và có số tín đồ Hồi giáo lớn thứ ba thế giới, đồng thời là quốc gia có đông người Hồi giáo nhất trong số các quốc gia mà họ không chiếm đa số.
== Văn hóa ==
Lịch sử văn hóa Ấn Độ kéo dài hơn 4.500 năm. Trong thời kỳ Vệ Đà (k. 1700 – 500 TCN), các nền tảng của triết học, thần thoại, văn học Ấn Độ giáo được hình thành, ngoài ra còn có sự hình thành của nhiều đức tin và thực hành vẫn tồn tại cho đến nay, chẳng hạn như Dharma, Karma, yoga, và moksha. Ấn Độ có sự đa dạng về mặt tôn giáo, trong đó Ấn Độ giáo, Sikh giáo, Hồi giáo, Kitô giáo, và Jaina giáo nằm trong số các tôn giáo lớn của quốc gia. Ấn Độ giáo là tôn giáo chiếm ưu thế, được định hình thông qua nhiều trường phái mang tính lịch sử về tư tưởng, bao gồm các tư tưởng trong Áo nghĩa thư, kinh Yoga, phong trào Bhakti, và từ triết học Phật giáo.
=== Nghệ thuật và kiến trúc ===
Phần nhiều kiến trúc Ấn Độ, bao gồm Taj Mahal, các công trình theo kiến trúc Mogul, và kiến trúc Nam Ấn, là sự pha trộn giữa các truyền thống bản địa cổ xưa với các phong cách nhập ngoại. Kiến trúc bản xứ cũng mang tính vùng miền cao. Học thuyết Vastu shastra dịch theo nghĩa đen là "khoa học xây dựng" hay "kiến trúc", và được gán cho những người mang tước vị Mamuni Mayan, khám phá xem các quy luật của thiên nhiên ảnh hưởng thế nào đến chỗ ở của con người; nó sử dụng các điều chỉnh hình học và định hướng chính xác để phản ánh nhận thức về cấu trúc vũ trụ. Khi áp dụng trong kiến trúc đền Ấn Độ giáo, nó chịu ảnh hưởng từ Shilpa Shastras, một loạt các văn bản mang tính nền tảng có hình dạng thần thoại học cơ bản là Vastu-Purusha mandala- một hình vuông là hiện thân của "tuyệt đối". Taj Mahal được xây dựng tại Agra từ năm 1631 đến năm 1648 theo lệnh của Hoàng đế Shah Jahan để tưởng nhớ hoàng hậu của ông, nó được liệt vào danh sách di sản thế giới của UNESCO với miêu tả "viên ngọc quý của nghệ thuật Hồi giáo tại Ấn Độ và một trong những kiệt tác được khắp nơi ca tụng thuộc về di sản thế giới." Từ các yếu tố của kiến trúc Ấn-Hồi, Anh Quốc phát triển thành kiến trúc Ấn-Saracen phục hưng vào cuối thế kỷ 19.
=== Văn học ===
Các tác phẩm văn học sớm nhất tại Ấn Độ được biên soạn từ khoảng năm 1400 TCN đến 1200 TCN, chúng được viết bằng tiếng Phạn. Các tác phẩm nổi bật trong nền văn học tiếng Phạn này bao gồm các sử thi như Mahabharata và Ramayana, các tác phẩm kịch của tác gia Kālidāsa như Abhijnanasakuntalam, và thơ ca như Mahakavya. Cuốn sách nổi tiếng về quan hệ tình dục là Kama Sutra (Dục kinh) cũng được viết bằng tiếng Phạn. Văn học Sangam phát triển từ năm 600 TCN đến năm 300 TCN tại Nam Ấn Độ, bao gồm 2.381 bài thơ, được xem như một tiền thân của văn học Tamil. Từ thế kỷ 14 đến thế kỷ 18, các truyền thống văn học của Ấn Độ trải qua một giai đoạn thay đổi mạnh mẽ do sự xuất hiện của các thi nhân sùng đạo như Kabir, Tulsidas, và Guru Nanak. Điểm đặc trưng của văn học giai đoạn này là thể hiện một hình ảnh đa dạng và rộng lớn về tư tưởng và biểu lộ tình cảm; như một hệ quả, các tác phẩm văn học Ấn Độ trung đại có sự khác biệt đáng kể so với các tác phẩm truyền thống cổ điển. Đến thế kỷ 19, các tác gia Ấn Độ đi theo mối quan tâm mới về các vấn đề xã hội và mô tả tâm lý. Trong thế kỷ 20, văn học Ấn Độ chịu ảnh hưởng từ các tác phẩm của thi nhân và tiểu thuyết gia người Bengal Rabindranath Tagore.
=== Nghệ thuật biểu diễn ===
Âm nhạc Ấn Độ có các phong cách truyền thống và khu vực khác biệt. Âm nhạc cổ điển gồm có hai thể loại và các nhánh dân gian khác nhau của chúng: trường phái Hindustan ở bắc bộ và Carnatic ở nam bộ. Các loại hình phổ biến được địa phương hóa gồm filmi và âm nhạc dân gian: baul bắt nguồn từ Bengal với truyền thống hổ lốn là một loại hình âm nhạc dân gian được biết đến nhiều. Khiêu vũ Ấn Độ cũng có các loại hình dân gian và cổ điển đa dạng, trong số những vũ điệu dân gian được biết đến nhiều, có Bhangra của Punjab, Bihu của Assam, Chhau của Tây Bengal và Jharkhand, Garba và Dandiya của Gujarat, Sambalpuri của Odisha, Ghoomar của Rajasthan, và Lavani của Maharashtra. Tám loại vũ điệu, trong đó nhiều loại đi kèm với các hình thức kể chuyện và yếu tố thần thoại được Viện Âm nhạc, Vũ đạo, Hí kịch Quốc gia ban cho địa vị vũ đạo cổ điển. Chúng gồm có Bharatanatyam của bang Tamil Nadu, Kathak của Uttar Pradesh, Kathakali và Mohiniyattam của Kerala, Kuchipudi của Andhra Pradesh, Manipuri của Manipur, Odissi của Odisha, và Sattriya của Assam. Sân khấu tại Ấn Độ pha trộn các loại hình âm nhạc, vũ điệu, ứng khẩu hay đối thoại. Sân khấu Ấn Độ thường dựa trên thần thoại Ấn Độ giáo, song cũng vay mượn từ các mối tình từ thời trung cổ hay các sự kiện xã hội và chính trị, và gồm có bhavai của Gujarat, Jatra của Tây Bengal, Nautanki và rRamlila ở Bắc Ấn Độ, Tamasha của Maharashtra, Burrakatha của Andhra Pradesh, Terukkuttu của Tamil Nadu, và Yakshagana của Karnataka.
=== Điện ảnh ===
Ngành công nghiệp điện ảnh Ấn Độ tạo ra nghệ thuật điện ảnh đông người xem nhất thế giới. Các truyền thống điện ảnh địa phương tồn tại trong các ngôn ngữ gồm Assam, Bengal, Hindi, Kannada, Malayalam, Punjab, Gujarat, Marath, Oriya, Tamil, và Telugu. Điện ảnh nam bộ Ấn Độ chiếm tới 75% doanh thu phim toàn quốc. Truyền hình tại Ấn Độ khởi đầu từ năm 1959 như một phương tiện truyền thông quốc doanh, và được mở rộng chậm chạp trong hai thập niên sau. Sự độc quyền của nhà nước đối với truyền hình kết thúc vào thập niên 1990, và kể từ đó các kênh truyền hình vệ tinh ngày càng góp phần hình thành văn hóa đại chúng của xã hội Ấn Độ. Ngày nay, truyền hình là phương tiện truyền thông đi sâu vào xã hội Ấn Độ nhất; các ước tính cho thấy vào năm 2012 có trên 554 triệu khán giả truyền hình, 462 triệu có kết nối vệ tinh hoặc/và kết nối cáp, lớn hơn các loại hình truyền thông đại chúng khác như báo chí (350 triệu), phát thanh (156 triệu) hay internet (37 triệu).
=== Xã hội ===
Xã hội truyền thống Ấn Độ được xác định theo đẳng cấp xã hội, hệ thống đẳng cấp của Ấn Độ là hiện thân của nhiều xếp tầng xã hội và nhiều hạn chế xã hội tồn tại trên tiểu lục địa Ấn Độ. Các tầng lớp xã hội được xác định theo hàng nghìn nhóm đồng tộc thế tập, thường được gọi là jāti, hay "đẳng cấp". Ấn Độ tuyên bố tiện dân là bất hợp pháp vào năm 1947 và kể từ đó ban hành các luật chống phân biệt đối xử khác và khởi xướng phúc lợi xã hội, tuy vậy nhiều tường thuật vẫn cho thấy rằng nhiều Dalit ("tiện dân cũ") và các đẳng cấp thấp khác tại các khu vực nông thôn tiếp tục phải sống trong sự cách ly và phải đối mặt với ngược đãi và phân biệt. Tại những nơi làm việc ở đô thị của Ấn Độ, tại các công ty quốc tế hay công ty hàng đầu tại Ấn Độ, tầm quan trọng của hệ thống đẳng cấp bị mất đi khá nhiều. Các giá trị gia đình có vị trí quan trọng trong văn hóa Ấn Độ, và các gia đình chung sống gia trưởng đa thế hệ là quy tắc tiêu chuẩn tại Ấn Độ, song các gia đình hạt nhân cũng trở nên phổ biến tại những khu vực thành thị. Đại đa số người Ấn Độ, với sự ưng thuận của họ, kết hôn theo sự sắp xếp của cha mẹ hay các thành viên khác trong gia đình. Hôn nhân được cho là gắn liền với sinh mệnh, và tỷ lệ ly hôn rất thấp. Tảo hôn tại Ấn Độ là việc phổ biến, đặc biệt là tại các vùng nông thôn; nhiều nữ giới tại Ấn Độ kết hôn trước độ tuổi kết hôn hợp pháp là 18. Nhiều lễ hội tại Ấn Độ có nguồn gốc tôn giáo, trong đó có Chhath, Giáng sinh, Diwali, Durga Puja, Bakr-Id, Eid ul-Fitr, Ganesh Chaturthi, Holi, Makar Sankranti hay Uttarayan, Navratri, Thai Pongal, và Vaisakhi. Ấn Độ có ba ngày lễ quốc gia được tổ chức trên toàn bộ các bang và lãnh thổ liên bang: Ngày Cộng hòa, ngày Độc lập, và Gandhi Jayanti.
=== Trang phục ===
Bông được thuần hóa tại Ấn Độ từ khoảng 4000 TCN, và y phục truyền thống Ấn Độ có sự khác biệt về màu sắc và phong cách giữa các vùng và phụ thuộc vào các yếu tố khác nhau, bao gồm khí hậu và đức tin. Phong cách y phục phổ biến gồm phục trang được xếp nếp như sari cho nữ giới và dhoti hay lungi cho nam giới. Các loại phục trang được khâu cũng phổ biến, như shalwar kameez cho nữ giới và kết hợp kurta–pyjama hay quần áo kiểu Âu cho nam giới. Việc đeo đồ kim hoàn tinh tế, được làm theo hình hoa thật thời Ấn Độ cổ đại, là một phần của truyền thống kéo dài từ khoảng 5.000 năm; người Ấn Độ cũng đeo đá quý như một thứ bùa.
=== Thể thao ===
Tại Ấn Độ, một số môn thể thao bản địa truyền thống vẫn còn khá phổ biến, chẳng hạn như kabaddi, kho kho, pehlwani và gilli-danda. Một số hình thái sơ khởi của võ thuật châu Á, như kalarippayattu, musti yuddha, silambam, và marma adi, bắt nguồn tại Ấn Độ. Cờ vua thường được cho là có nguồn gốc từ Ấn Độ với tên gọi chaturanga, môn thể thao này đang lấy lại tính đại chúng bằng sự gia tăng số Đại kiện tướng người Ấn Độ. Pachisi là tiền thân của parcheesi, Akbar Đại đế từng chơi trò này trên một kì trường khổng lồ bằng cẩm thạch.
Việc đội tuyển Davis Cup Ấn Độ và các đội tuyển quần vợt khác tại Ấn Độ cải thiện được kết quả vào đầu thập niên 2010 khiến môn thể thao này gia tăng tính đại chúng tại nước này. Ấn Độ có sự hiện diện tương đối mạnh trong các môn thể thao bắn súng, và giành một vài huy chương tại Thế vận hội, Giải vô địch bắn súng Thế giới, và Đại hội thể thao Thịnh vượng chung. Ấn Độ cũng thành công trên cấp độ quốc tế trong các môn gồm cầu lông, quyền Anh, và đấu vật. Bóng đá là môn thể thao phố biến tại Tây Bengal, Goa, Tamil Nadu, Kerala, và các bang đông-bắc.
Ấn Độ có một Liên đoàn quản lý môn khúc côn cầu, đội tuyển khúc côn cầu quốc gia Ấn Độ từng giành chiến thắng trong Giải vô địch khúc côn cầu thế giới năm 1975, và tính đến năm 2012, Ấn Độ giành được tổng cộng 8 huy chương vàng, một huy chương bạc, và hai huy chương đồng Thế vận hội. Ấn Độ cũng đóng một vai trò quan trọng trong việc đại chúng hóa môn cricket, và đây là môn thể thao phổ biến nhất tại quốc gia này. Đội tuyển cricket quốc gia Ấn Độ giành chiến thắng tại các giải vô địch cricket thế giới năm 1983 và 2011.
Ấn Độ từng tổ chức hoặc đồng tổ chức một vài sự kiện thể thao quốc tế: Á vận hội năm 1951 và 1982, vòng chung kết Giải vô địch Cricket thế giới năm 1987, 1996 và 2011; Đại hội thể thao Á-Phi năm 2013; Giải khúc côn cầu nam thế giới năm 2010; Đại hội thể thao khối Thịnh vương chung năm 2010. Các sự kiện thể thao quốc tế được tổ chức thường niên tại Ấn Độ bao gồm Chennai Open, Mumbai Marathon, Delhi Half Marathon, và Indian Masters. Cuộc đua Indian Grand Prix đầu tiên diễn ra vào cuối năm 2011. Ấn Độ có truyền thống là quốc gia chiếm ưu thế tại Đại hội Thể thao Nam Á.
== Chú thích ==
== Tham khảo ==
Tổng quan
Từ nguyên
Lịch sử
Địa lý
Đa dạng sinh học
Chính trị
Ngoại giao và quân sự
Kinh tế
Nhân khẩu
Văn hóa
== Liên kết ngoài ==
Cổng thông tin quốc gia của Chính phủ Ấn Độ
Mục “India” trên trang của CIA World Factbook.
Ấn Độ tại DMOZ
Sơ lược Ấn Độ từ BBC News
Mục từ Ấn Độ trên Encyclopædia Britannica
Ấn Độ trên Thư viện Thông tin Chính phủ UCB
Wikimedia Atlas của India, có một số bản đồ liên quan đến India. |
bộ khoa học và công nghệ việt nam.txt | Bộ Khoa học và Công nghệ là cơ quan của Chính phủ Việt Nam thực hiện chức năng quản lý nhà nước về khoa học và công nghệ, bao gồm: hoạt động khoa học và công nghệ; phát triển tiềm lực khoa học và công nghệ; sở hữu trí tuệ; tiêu chuẩn đo lường chất lượng; năng lượng nguyên tử, an toàn bức xạ và hạt nhân; quản lý nhà nước các dịch vụ công trong lĩnh vực thuộc Bộ quản lý theo quy định của pháp luật.
Bộ trưởng hiện nay là ông Chu Ngọc Anh
== Lịch sử ==
Sắc lệnh số 016-SL ngày 4/3/1959 của Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa thành lập Ủy ban Khoa học Nhà nước
1965, Uỷ ban Khoa học Nhà nước tách thành 2 cơ quan: Ủy ban Khoa học và Kỹ thuật Nhà nước và Viện Khoa học Xã hội Việt Nam
1990, Uỷ ban Khoa học và Kỹ thuật Nhà nước đổi tên thành Ủy ban Khoa học Nhà nước
12/10/1992 đổi tên thành Bộ Khoa học, Công nghệ và Môi trường
8/2002, Bộ Khoa học và Công nghệ
== Lãnh đạo Bộ ==
=== Lãnh đạo qua các thời kỳ ===
Xem thêm: Danh sách Bộ trưởng Khoa học và Công nghệ Việt Nam
=== Lãnh đạo đương nhiệm ===
Bộ trưởng Chu Ngọc Anh Ủy viên Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam khóa XII.
Thứ trưởng
TS. Trần Việt Thanh, Phó Bí thư Đảng uỷ Bộ, kiêm nhiệm Cục trưởng Cục Sở hữu trí tuệ, nguyên Chánh Văn phòng Bộ Khoa học và Công nghệ
TS. Trần Văn Tùng - Bí thư Đảng ủy bộ - nguyên Vụ trưởng Vụ Tổ chức cán bộ- Bộ KH và CN
TS. Trần Quốc Khánh, nguyên Vụ trưởng Vụ Tổ chức cán bộ, Bộ Khoa học và Công nghệ
TS. Phạm Công Tạc - nguyên Chánh Văn phòng Bộ Khoa học và Công nghệ
Ông Phạm Đại Dương, kiêm Trưởng ban Quản lý khu công nghệ cao Hòa Lạc.
== Cơ cấu tổ chức ==
Vụ Khoa học Xã hội và Tự nhiên.
Vụ Khoa học và Công nghệ các ngành kinh tế - kỹ thuật.
Vụ Đánh giá, Thẩm định và Giám định công nghệ.
Vụ Công nghệ cao.
Vụ Kế hoạch -Tổng hợp.
Vụ Tài chính.
Vụ Hợp tác quốc tế.
Vụ Pháp chế.
Vụ Phát triển KH&CN địa phương.
Vụ Thi đua - Khen thưởng.
Vụ Tổ chức cán bộ.
Thanh tra Bộ.thanhtra.most.gov.vn
Văn phòng Bộ.
Cục công tác phía Nam Bộ KH&CN tại thành phố Hồ Chí Minh
Cục Ứng dụng và Phát triển công nghệ.
Cục Phát triển Thị trường và Doanh nghiệp Khoa Học và Công nghệ.
Cục Sở hữu trí tuệ.
Cục Năng lượng Nguyên tử
Cục Thông tin Khoa học và Công nghệ quốc gia.
Cục An toàn bức xạ và hạt nhân.
Tổng cục Tiêu chuẩn Đo lường Chất lượng.
Ban Quản lý Khu công nghệ cao Hoà Lạc.
== Các tổ chức sự nghiệp thuộc Bộ ==
Viện Chiến lược và Chính sách Khoa học và Công nghệ (NISTPASS).
Văn phòng các Chương trình trọng điểm cấp nhà nước.
Trung tâm Tin học.
Báo Khoa học và Phát triển - Cơ quan ngôn luận của Bộ Khoa học và Công nghệ.
Tạp chí Khoa học và Công nghệ Việt Nam.
Trường Quản lý Khoa học và Công nghệ.
Viện Ứng dụng Công nghệ (NACENTECH).
Viện Năng lượng nguyên tử Việt Nam (VAEC).
Viện Khoa học sở hữu trí tuệ (VIPRI).
Viện đánh giá khoa học và định giá công nghệ.
Trung tâm nghiên cứu và phát triển hội nhập khoa học và công nghệ quốc tế. (VISTIP)
Trung tâm Nghiên cứu và Phát triển vùng.
Trung tâm Nghiên cứu và Phát triển truyền thông Khoa học và Công nghệ.
Tạp chí Tia Sáng.
Văn phòng Công nhận các tổ chức chứng nhận chất lượng.
Văn phòng đăng ký hoạt động Khoa học và Công nghệ.
Nhà xuất bản Khoa học và Kỹ thuật.
== Các Doanh nghiệp thuộc Bộ ==
Công ty Công nghệ Điện tử, Cơ khí và Môi trường (EMECO).
Công ty Cổ phần Phát triển Đầu tư Công nghệ (FPT).
Công ty Cổ phần Ứng dụng Khoa học và Công nghệ (MITEC).
Công ty Cổ phần Xuất nhập khẩu Kỹ thuật (TECHNIMEX).
Công ty Cổ phần Sở hữu Công nghiệp (INVESTIP).
Công ty Xuất nhập khẩu Công nghệ mới (NACENIMEX).
== Danh hiệu ==
Huân chương Sao Vàng (2009)
Huân chương Hồ Chí Minh (2004)
Huân chương Độc lập hạng nhất (1999).
== Chú thích ==
== Liên kết ngoài ==
Trang chủ của Bộ Khoa học và Công nghệ Việt Nam |
đồng bằng sông cửu long.txt | Bài này nói về phần đồng bằng châu thổ sông Mekong trên lãnh thổ Việt Nam. Để xem toàn bộ vùng châu thổ này sông này, xem Mê Kông
Vùng đồng bằng sông Cửu Long là một vùng cực nam của Việt Nam, còn được gọi là Vùng đồng bằng Nam Bộ hoặc miền Tây Nam Bộ hoặc theo cách gọi của người dân Việt Nam ngắn gọn là Miền Tây, có 1 thành phố trực thuộc trung ương là thành phố Cần Thơ và 12 tỉnh: Long An (2 tỉnh Long An và Kiến Tường cũ), Tiền Giang (tỉnh Mỹ Tho cũ), Bến Tre, Vĩnh Long, Trà Vinh, Hậu Giang (tỉnh Cần Thơ cũ), Sóc Trăng, Đồng Tháp (2 tỉnh Sa Đéc và Kiến Phong cũ), An Giang, Kiên Giang (tỉnh Rạch Giá cũ), Bạc Liêu và Cà Mau.
Theo số liệu của Tổng cục Thống kê Việt Nam năm 2011, tổng diện tích các tỉnh, thành thuộc Đồng bằng sông Cửu Long là 40.548,2 km² và tổng dân số của các tỉnh trong vùng là 17.330.900 người. Nó chiếm 13% diện tích cả nước nhưng hơn 19% dân số cả nước, tốc độ tăng trưởng cao hơn cả nước (năm 2015 tăng 7,8% trong khi cả nước tăng 6,8%). Chỉ riêng cây lúa đã chiếm 47% diện tích và 56% sản lượng lúa cả nước; xuất khẩu gạo từ toàn vùng chiếm tới 90% sản lượng. Chưa kể thủy sản chiếm 70% diện tích, 40% sản lượng và 60% xuất khẩu của cả nước,... Tuy nhiên, Đồng bằng sông Cửu Long đứng về phương diện thu nhập vẫn còn nghèo hơn cả nước: thu nhập bình quân đầu người với mức 40,2 triệu đồng (cả nước là 47,9 triệu đồng/người/năm).
== Địa lý ==
Đồng bằng sông Cửu Long là một bộ phận của châu thổ sông Mê Kông có diện tích 39.734 km². Có vị trí nằm liền kề vùng Đông Nam Bộ, phía Bắc giáp Campuchia, phía Tây Nam là vịnh Thái Lan, phía Đông Nam là Biển Đông.
Các điểm cực của đồng bằng trên đất liền, điểm cực Tây 106°26´(xã Mỹ Đức, Thị xã Hà Tiên, tỉnh Kiên Giang), cực Đông ở 106°48´(xã Tân Điền, huyện Gò Công Đông, tỉnh Tiền Giang), cực Bắc ở 11°1´B (xã Lộc Giang, huyện Đức Hoà, tỉnh Long An) cực Nam ở 8°33´B (huyện Đất Mũi, huyện Ngọc Hiển, tỉnh Cà Mau). Ngoài ra, còn có các đảo xa bờ của Việt Nam như đảo Phú Quốc, quần đảo Thổ Chu, hòn Khoai.
Vùng đồng bằng sông Cửu Long của Việt Nam được hình thành từ những trầm tích phù sa và bồi dần qua những kỷ nguyên thay đổi mực nước biển; qua từng giai đoạn kéo theo sự hình thành những giồng cát dọc theo bờ biển. Những hoạt động hỗn hợp của sông và biển đã hình thành những vạt đất phù sa phì nhiêu dọc theo đê ven sông lẫn dọc theo một số giồng cát ven biển và đất phèn trên trầm tích đầm mặn trũng thấp như vùng Đồng Tháp Mười, tứ giác Long Xuyên – Hà Tiên, tây nam sông Hậu và bán đảo Cà Mau.
Cách đây khoảng 8.000 năm, vùng ven biển cũ trải rộng dọc theo triền phù sa cổ thuộc trầm tích Pleistocen từ Hà Tiên đến thềm bình nguyên Đông Nam Bộ. Sự hạ thấp của mực nước biển một cách đồng thời với việc lộ ra từng phần vùng đồng bằng vào giai đoạn cuối của thời kỳ trầm tích Pleistocen. Một mẫu than ở tầng mặt đất này được xác định bằng C14 cho thấy nó có tuổi tuyệt đối là 8.000 năm (Ngộ, 1988). Sau thời kỳ băng hà cuối cùng, mực mước biển dâng cao tương đối nhanh chóng vào khoảng 3–4 m trong suốt giai đoạn khoảng 1.000 năm (Blackwelder và những người khác, 1979), gây ra sự lắng tụ của các vật liệu trầm tích biển ở những chỗ trũng thấp của châu thổ; tại đây những sinh vật biển như hàu (Ostrea) được tìm thấy và việc xác định tuổi tuyệt đối của chúng bằng C14 cho thấy trầm tích này được hình thành cách đây khoảng 5.680 năm (Ngộ, 1988).
Dưới những ảnh hưởng của môi trường biển và nước lợ, thực vật rừng ngập mặn dày đặc đã bao phủ toàn vùng này, chủ yếu là những cây đước (Rhizophora sp.) và mắm (Avicennia sp.). Những thực vật chịu mặn này đã tạo thuận lợi cho việc giữ lại các vật liệu lắng tụ, làm giảm sự xói mòn do nước hoặc gió, và cung cấp sinh khối cho trầm tích châu thổ (Morisawa M., 1985), và rồi những đầm lầy biển được hình thành. Tại vùng này, cách đây 5.500 năm trước công nguyên, trầm tích lắng tụ theo chiều dọc dưới điều kiện mực nước biển dâng cao đã hình thành những cánh đồng rộng lớn mang vật liệu sét. Sự lắng tụ kéo dài của các vật liệu trầm tích bên dưới những cánh rừng Đước dày đặc đã tích lũy dần để hình thành một địa tầng chứa nhiều vật liệu sinh phèn (pyrit).
Mực nước biển dâng cao, bao phủ cả vùng như thế hầu như hơi không ổn định và bắt đầu có sự giảm xuống cách đây vào khoảng 5.000 năm (Pons L. J. và những người khác, 1982). Sự hạ thấp mực nước biển dẫn đến việc hình thành một mực nước biển mới, sau mỗi giai đoạn như thế thì có một bờ biển mới được hình thành, và cuối cùng hình thành nên những vạt cồn cát chạy song song với bờ biển hiện tại mà người ta thấy ở vùng đồng bằng sông Cửu Long. Một cồn cát chia cắt vùng Đồng Tháp Mười và vùng trầm tích phù sa được xác định bằng C14 cho thấy có tuổi tuyệt đối vào khoảng 4.500 năm (Ngộ, 1988).
Sự hạ dần của mực nước kèm theo những thay đổi về môi trường trong vùng đầm lầy biển, mà ở đây những thực vật chịu mặn mọc dày đặc (Rhizophora sp., Avicinnia sp.) được thay thế bởi những loài thực vật khác của môi trường nước ngọt như tràm (Melaleuca sp.) và những loài thực thực vật hoang dại khác (Fimbristylis sp.,Cyperus sp.). Sự ổn định của mực nước biển dẫn đến một sự bồi lắng trầm tích ven biển khá nhanh với vật liệu sinh phèn thấp hơn (Pons L. J. và những người khác, 1989).
Sự tham gia của sông Cửu Long đóng vai trò rất quan trọng trong suốt quá trình hình thành vùng châu thổ. Lượng nước trung bình hàng năm của sông này cung cấp vào khoảng 4.000 tỷ m³ nước và vào khoảng 100 triệu tấn vật liệu phù sa (Morgan F. R., 1961), những mảnh vỡ bị bào mòn từ lưu vực sông, mặc dù một phần có thể dừng lại tạm thời dọc theo hướng chảy, cuối cùng được mang đến cửa sông và được lắng tụ như một châu thổ (Morisawa, 1985). Những vật liệu sông được lắng tụ dọc theo sông để hình thành những đê tự nhiên có chiều cao 3–4 m, và một phần của những vật liệu phù sa phủ lên trên những trầm tích pyrit thời kỳ Holocen với sự biến thiên khá rộng về độ dày tầng đất vùng và không gian vùng (Pons L. J. và csv., 1982). Các con sông nằm được chia cắt với trầm tích đê phù sa nhưng những vùng rộng lớn mang vật liệu trầm tích biển chứa phèn tiềm tàng vẫn còn lộ ra trong vùng đầm lầy biển (Moormann, 1961). Tuy nhiên, độ chua tiềm tàng không xuất hiện trong vùng phụ cận của những nhánh sông gần cửa sông mà tại đây ảnh hưởng rửa bởi thủy triều khá mạnh. Ngược lại, vùng châu thổ sông Sài Gòn, nằm kế bên hạ lưu châu thổ sông Mekong, được biểu thị bởi một tốc độ bồi lắng ven biển khá chậm do lượng vật liệu phù du trong nước sông khá thấp và châu thổ này bị chia cắt bởi nhiều nhánh sông thủy triều và do bởi những vành đai thực vật chịu mặn thì rộng lớn hơn vành đai này ở vùng châu thổ sông Mekong, và kết quả là trầm tích của chúng chứa nhiều axít tiềm tàng (Moormann và Pons, 1974).
Theo công bố của Bộ Tài nguyên và Môi trường (Việt Nam), khoảng 40% vùng đồng bằng sông Cửu Long có thể bị ngập trong nước biển do biến đổi khí hậu. Bên cạnh đó do ảnh hưởng của hiện tượng Elnino, nhiều vùng ven biển của Đồng bằng sông Cửu Long gặp tình trạng hạn hán và nước mặn xâm nhập sâu vào nội địa.
Ngoài ra tác động ở thượng nguồn như nạn phá rừng và một loạt các đập nước đang đưa vào kế hoạch ở Hoa lục, Lào, và Campuchia đã giảm thiểu lượng phù sa bồi đắp ở các cửa sông, khiến vùng ven biển bị ngập dần. So với năm 1990 khi sông Cửu Long đưa 160 triệu tấn phù sa ra biển thì số lượng vào năm 2015 chỉ còn 75 triệu tấn, giảm hơn phân nửa. Lượng phù sa dù ra đến gần biển cũng bị trút bớt vì con người dùng sỏi cát vào các công trình xây cất, gây thiệt hại trầm trọng đến viễn cảnh sống còn của vùng đồng bằng.
=== Phạm vi lưu vực ===
Đồng bằng châu thổ sông Cửu Long là vùng đồng bằng thấp và đồng bằng ngập nước, nằm hoàn toàn trong lãnh thổ Việt Nam. Nó được giới hạn trong phạm vi các dòng sông, kênh, rạch, tự nhiên hoặc nhân tao chảy trong lãnh thổ Việt Nam, nhận nước từ 2 dòng chính sông Mekong (từ sông Hậu Giang và sông Tiền Giang), đổ ra biển Đông và vịnh Thái Lan (cũng là một phần của biển Đông).
Về phía tây, Đồng bằng sông Cửu Long được giới hạn bởi sông Châu Đốc và kênh Vĩnh Tế một dòng kênh nhân tạo chảy dọc theo biên giới Việt Nam-Campuchia, nhận nước sông Hậu Giang qua sông Châu Đốc tại thành phố Châu Đốc đổ nước ra vịnh Thái Lan, giới hạn một vùng đất thấp ngập nước theo mùa gọi là tứ giác Long Xuyên.
Ở khu vực giữa hai dòng sông Hậu và sông Tiền, Đồng bằng sông Cửu Long được giới hạn đầu nguồn bởi các dòng kênh nối ngang tại 2 huyện thị đầu nguồn Tân Châu và An Phú của tỉnh An Giang như kênh Vĩnh An,...
Về phía đông bắc và đông, Đồng bằng sông Cửu Long được giới hạn bằng hàng loạt các dòng sông kênh rạch liên thông với nhau, chảy dọc theo biên giới Việt Nam-Campuchia, (giới hạn vùng đất trũng khác ngập nước theo mùa là vùng Đồng Tháp Mười), và đều là phân lưu của sông Mekong: hoặc trực tiếp của dòng chính sông Tiền Giang, hay nhận nước gián tiếp qua một phân lưu chính của Mekong là Preak Banam đổ ra biển Đông qua sông Vàm Cỏ Tây (sông Vàm Cỏ) và các cửa của sông Cửu Long. Giới hạn phía đông bắc và đông của Đồng bắng sông Cửu Long là các dòng sông kênh rạch sau: sông Sở Thượng (chảy trên biên giới Việt Nam-Campuchia, nhận nước sông Mekong qua Preak Banam), sông Sở Hạ (chảy trên biên giới Việt Nam-Campuchia, nhận nước sông Mekong qua Preak Trabeak phân lưu của Preak Banam), rạch Cái Cỏ (chảy trên biên giới Việt Nam-Campuchia, là ranh giới phía bắc của Đồng Tháp Mười, nhận nước sông Mekong qua Preak Trabeak một thượng lưu của sông Sở Hạ và rạch Long Khốt), rạch Long Khốt (nhận nước sông Mekong qua Preak Trabeak và Cái Cỏ, thượng nguồn của sông Vàm Cỏ Tây), sông Vàm Cỏ Tây (nhận nước sông Mekong qua rạch Long Khốt và các kênh rạch nối thông với sông Tiền Giang), sông Vàm Cỏ (nhận nước sông Mekong qua sông Vàm Cỏ Tây và các kênh rạch nối thông với sông Tiền Giang), và cuối cùng là sông Soài Rạp (nhận nước sông Mekong qua sông Vàm Cỏ). Các sông Vàm Cỏ Tây, Vàm Cỏ, Soài Rạp mặc dù thuộc hệ thống sông Sài Gòn-Đồng Nai, là hệ thống sông thuộc địa bàn Miền Đông Nam Bộ, nhưng chúng là những dòng sông cuối cùng nhận nước từ sông Mekong về phía đông, đồng thời một trong số chúng (sông Soài Rạp) là ranh giới tự nhiên của 2 tỉnh phía đông Đồng bằng sông Cửu Long là Long An và Tiền Giang với tỉnh thành phía tây của Miền Đông Nam Bộ là Thành phố Hồ Chí Minh, nên lưu vực các sông rạch này (chính là địa bàn tỉnh Long An) cũng là địa bàn ranh giới tận cùng phía đông của Đồng bằng sông Cửu Long với Miền Đồng Nam Bộ.
== Lịch sử hành chính ==
=== Thời chúa Nguyễn và thời Tây Sơn ===
Nam Bộ xưa được gọi là xứ Đồng Nai. Mùa xuân năm Mậu Dần (1698), chúa Nguyễn sai Nguyễn Hữu Cảnh sang kinh lược Cao Miên, lấy đất Nông Nại đặt làm phủ Gia Định. "Đất Nông Nại" hay "phủ Gia Định" khi ấy gồm chung cả Nam Bộ.
Tháng 8 mùa thu năm Giáp Ngọ (1714), vua phong cho một người Hoa gốc ở Lôi Châu, tỉnh Quảng Đông làm Tổng binh trấn Hà Tiên. Theo sách Hoàng Việt Giáp Tý niên biểu thì năm Mậu Tý 1708, chúa Minh trao cho Mạc Cửu chức Tổng binh Hà Tiên.
Mùa xuân năm Nhâm Tý (1732), khổn súy Gia Định chia đất ấy lập làm châu Định Viễn, dựng dinh Long Hồ (tục gọi là dinh Cái Bè).
Năm Bính Tý (1756), Nghi biểu hầu Nguyễn Cư Trinh tâu xin chuẩn hứa cho vua Chân Lạp Nặc Nguyên chuộc tội, lấy đất hai xứ Xoài Rạp, Tầm Đôn (có lẽ là vùng Gò Công và Đồng Tháp Mười ngày nay) bổ sung vào châu Định Viễn.
Năm 1757, nhận hiến thêm hai đất Trà Vinh và Ba Thắc và vùng Tầm Phong Long. Nhân đó, Nguyễn Cư Trinh tâu xin dời dinh Long Hồ qua xứ Tầm Bào. Lại đem xứ Sa Đéc đặt làm đạo Đông Khẩu, xứ Cù Lao ở Tiền Giang đặt làm đạo Tân Châu, xứ Châu Đốc ở Hậu Giang đặt làm đạo Châu Đốc.
Trên nửa thế kỷ (1698-1757), các chúa Nguyễn đã đặt xong cơ sở hành chính trên khắp địa bàn Nam Bộ.
Tháng 10 mùa đông năm Kỷ Hợi 1779, Nguyễn Ánh cho họa địa đồ chia cắt địa giới 3 dinh Trấn Biên (Biên Hòa), Phiên Trấn (Gia Định) và Long Hồ (Vĩnh Long, An Giang) cho liên lạc nhau. Nhân đó, lấy địa bàn tọa lạc tại xứ Mỹ Tho đặt làm dinh Trường Đồn, để lỵ sở Giồng Cai Yến.
Vậy là cuối thế kỷ XVIII, toàn Nam Bộ chia ra 4 dinh: Trấn Biên, Phiên Trấn, Long Hồ, Trường Đồn và trấn Hà Tiên (coi như 5 đơn vị tỉnh ngày nay).
Năm Canh Thân (1800), đổi Gia Định phủ làm Gia Định trấn gồm dinh Phiên Trấn, dinh Trấn Biên, dinh Vĩnh Trấn (Long Hồ), dinh Trấn Định (Trường Đồn) và trấn Hà Tiên.
=== Thời nhà Nguyễn độc lập ===
==== Trước năm 1832 ====
Ngày 12 tháng 1 năm Mậu Thìn (1808), đổi Gia Định trấn làm Gia Định thành. Gia Định thành cai quản 5 trấn ở trong nam là Phiên An (Phiên Trấn cũ), Biên Hòa (Trấn Biên cũ), Định Tường (Trấn Định cũ), Vĩnh Thanh (Vĩnh Trấn cũ) và Hà Tiên, lại kiêm quản thêm trấn Bình Thuận ở phía bắc Biên Hòa. Trong đó, địa bàn toàn bộ các trấn Định Tường, Vĩnh Thanh, Hà Tiên và một phần trấn Phiên An cùng thuộc khu vực Đồng bằng sông Cửu Long ngày nay.
Sau đây là tình hình phân ranh hành chính các trấn Phiên An, Định Tường, Vĩnh Thanh và Hà Tiên cùng thuộc Gia Định thành hồi năm 1808:
Trấn Phiên An gồm 1 phủ là Tân Bình và 4 huyện: Bình Dương, Tân Long, Phước Lộc, Thuận An
Trấn Vĩnh Thanh gồm 1 phủ là Định Viễn và 3 huyện: Vĩnh An, Vĩnh Bình, Tân An
Trấn Định Tường gồm 1 phủ là Kiến An và 3 huyện: Kiến Đăng, Kiến Hưng, Kiến Hòa
Trấn Hà Tiên gồm 2 huyện (chưa đặt phủ): Long Xuyên, Kiên Giang
Theo Gia Định thành thông chí, tình hình phân chia hành chính Gia Định thành hồi năm 1820 có một vài thay đổi như sau:
Trấn Phiên An gồm 1 phủ là Tân Bình và 4 huyện: Bình Dương, Tân Long, Phước Lộc, Thuận An
Trấn Định Tường gồm 1 phủ là Kiến An và 3 huyện: Kiến Đăng, Kiến Hưng, Kiến Hòa
Trấn Vĩnh Thanh gồm 1 phủ là Định Viễn và 4 huyện: Vĩnh Bình, Vĩnh An, Vĩnh Định, Tân An
Trấn Hà Tiên gồm 2 huyện (chưa đặt phủ): Long Xuyên, Kiên Giang
==== Sau năm 1832 ====
Vua Minh Mạng năm 1832 đã đặt ra Nam Kỳ và chia thành 6 tỉnh nên gọi là Nam Kỳ Lục tỉnh hay Lục tỉnh. Đó là các tỉnh: Phiên An, năm 1836 đổi thành Gia Định (tỉnh lỵ là tỉnh thành Sài Gòn), Biên Hòa (tỉnh lỵ là tỉnh thành Biên Hòa), Định Tường (tỉnh lỵ là tỉnh thành Mỹ Tho) ở miền Đông; Vĩnh Long (tỉnh lỵ là tỉnh thành Vĩnh Long), An Giang (tỉnh lỵ là tỉnh thành Châu Đốc) và Hà Tiên (tỉnh lỵ là tỉnh thành Hà Tiên) ở miền Tây.
Trong số 6 tỉnh ở Nam Kỳ lúc bấy giờ thì có 4 tỉnh ở khu vực đồng bằng sông Cửu Long (miền Tây Nam Bộ) ngày nay, bao gồm: Định Tường, Vĩnh Long, An Giang và Hà Tiên. Ngoài ra, một phần đất đai của tỉnh Gia Định lúc bấy giờ cũng nằm trong khu vực đồng bằng sông Cửu Long, tương đương với một phần các tỉnh Long An và Tiền Giang (vùng đất Gò Công) ngày nay. Thượng và hạ lưu của sông Vàm Cỏ Tây (cho tới đoạn ngã ba sông Bảo Định), cùng với sông Bảo Định là ranh giới giữa hai tỉnh Gia Định và Định Tường.
Nam Kỳ lục tỉnh hồi năm 1840, theo tài liệu của Trương Vĩnh Ký, ở đây mạn phép không kể tỉnh Biên Hòa thuộc khu vực Đông Nam Bộ ngày nay:
Tỉnh Gia Định gồm 4 phủ, 9 huyện:
Phủ Tân Bình (Sài Gòn) gồm 3 huyện: Bình Dương (Sài Gòn), Bình Long (Hóc Môn), Tân Long (Chợ Lớn). Phủ này nay đều thuộc địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh thuộc Miền Đông Nam Bộ.
Phủ Hòa Thạnh (Gò Công) gồm 2 huyện: Tân Hòa (Gò Công), Tân Thạnh (Kỳ Son). Huyện Tân Hòa nay thuộc tỉnh Tiền Giang. Huyện Tân Thạnh, ở phía bờ nam sông Vàm Cỏ Tây đối diện huyện Cửu An, nay thuộc địa bàn thành phố Tân An và toàn bộ huyện Châu Thành tỉnh Long An.
Phủ Tân An (Vũng Gù) gồm 2 huyện: Cửu An (Vũng Gù), Phước Lộc (Cần Giuộc). Huyện Cửu An là vùng đất nằm kẹp giữa hai dòng Vàm Cỏ Tây và Vàm Cỏ Đông từ Tân Trụ đến Thủ Thừa, nay thuộc địa bàn Tân Trụ, Tân An, Thủ Thừa, Bến Lức, và có thể cả Thạnh Hóa của tỉnh Long An. Huyện Phước Lộc nay là các huyện Cần Đước, Cần Giuộc và một phần huyện Bến Lức tỉnh Long An.
Phủ Tây Ninh gồm 2 huyện: Tân Ninh (Tây Ninh), Quang Hóa (Bến Cầu, Trảng Bàng). Ngày nay một phần huyện Mộc Hóa (phần phía đông sông Vàm Cỏ Tây), thị xã Kiến Tường, và có thể là một phần các huyện Thạnh Hóa, Đức Hòa, Đức Huệ của tỉnh Long An nguyên là đất huyện Quang Hóa phủ Tây Ninh.
Tỉnh Định Tường gồm 2 phủ, 4 huyện (nay nằm hoàn toàn trong khu vực Đồng bằng sông Cửu Long):
Phủ Kiến An (chợ Cai Tài) gồm 2 huyện: Kiến Hưng (giồng Trấn Định), Kiến Hòa (Chợ Gạo)
Phủ Kiến Tường (Cao Lãnh) gồm 2 huyện: Kiến Phong (Cái Bè), Kiến Đăng (Cai Lậy)
Tỉnh Vĩnh Long gồm 4 phủ, 8 huyện (nay nằm hoàn toàn trong khu vực Đồng bằng sông Cửu Long):
Phủ Định Viễn (Vĩnh Long) gồm 2 huyện: Vĩnh Bình (Long Hồ), Vĩnh Trị (Vũng Liêm)
Phủ Hoằng An (Ba Vác) gồm 2 huyện: Tân Minh (Ba Vác), Duy Minh (Rạch Nước Trong)
Phủ Hoằng Đạo (Bến Tre) gồm 2 huyện: Bảo Trị (Bến Tre), Bảo An (Cái Bông)
Phủ Lạc Hóa (Trà Vinh) gồm 2 huyện: Trà Vinh (Trà Vinh), Tuân Ngãi (Cầu Ngang, Mương Đục)
Tỉnh An Giang gồm 3 phủ, 8 huyện (nay nằm hoàn toàn trong khu vực Đồng bằng sông Cửu Long):
Phủ Tuy Biên (Châu Đốc) gồm 2 huyện: Tây Xuyên (Cái Vừng, Ba Rách, Long Xuyên), Phong Phú (Cần Thơ)
Phủ Tân Thành (Sa Đéc) gồm 3 huyện: Vĩnh An (Sa Đéc), Đông Xuyên (Cái Vừng), An Xuyên (Nha Mân)
Phủ Ba Xuyên (Sóc Trăng) gồm 3 huyện: Phong Nhiêu (Bãi Xàu), Phong Thạnh (Nhu Gia), Vĩnh Định
Tỉnh Hà Tiên gồm 3 phủ, 7 huyện:
Phủ Quảng Biên (Cần Vọt) gồm 2 huyện: Khai Biên (phía Cần Vọt), Vĩnh Trường (phía Cần Vọt). Phủ này nay thuộc lãnh thổ Campuchia.
Phủ An Biên (Hà Tiên) gồm 3 huyện: Hà Châu (Hà Tiên), Long Xuyên (Cà Mau), Kiên Giang (Rạch Giá), nay phần lớn nằm trong khu vực Đồng bằng sông Cửu Long.
Phủ Tịnh Biên (Thất Sơn, Xà Tón) gồm 2 huyện: Hà Dương (Linh Quỳnh), Hà Âm (Giang Thiềng). Huyện Hà Âm nằm phía bờ bắc kênh Vĩnh Tế, nay thuộc lãnh thổ Campuchia. Huyện Hà Dương nay là các huyện Tịnh Biên và Tri Tôn của tỉnh An Giang.
Năm 1855, tình hình các tỉnh này lại có một số thay đổi nhỏ và không đáng kể như sau:
Tỉnh Gia Định gồm 3 phủ, 9 huyện:
Phủ Tân Bình gồm 3 huyện: Bình Dương, Bình Long, Tân Long
Phủ Tân An gồm 2 huyện: Cửu An, Phước Lộc, Tân Hòa, Tân Thạnh
Phủ Tây Ninh gồm 2 huyện: huyện Tân Ninh (nay thuộc địa bàn tỉnh Tây Ninh Việt Nam và tỉnh Svay Rieng Campuchia), và huyện Quang Hóa. Tỉnh Tây Ninh ngày nay, nằm ở khu vực Miền Đông Nam Bộ, chiếm phần lớn đất đai nguyên là của phủ Tây Ninh.
Tỉnh Định Tường gồm 2 phủ, 4 huyện:
Phủ Kiến An gồm 2 huyện: Kiến Hưng, Kiến Hòa
Phủ Kiến Tường gồm 2 huyện: Kiến Phong, Kiến Đăng
Tỉnh Vĩnh Long gồm 3 phủ, 8 huyện:
Phủ Định Viễn gồm 2 huyện: Vĩnh Bình, Vĩnh Trị
Phủ Hoằng Trị gồm 4 huyện: Bảo Hựu, Bảo An, Tân Minh, Duy Minh
Phủ Lạc Hóa gồm 2 huyện: Trà Vinh, Tuân Ngãi
Tỉnh An Giang gồm 3 phủ, 10 huyện:
Phủ Tuy Biên gồm 4 huyện: Tây Xuyên, Phong Phú, Hà Dương, Hà Âm
Phủ Tân Thành gồm 3 huyện: Vĩnh An, Đông Xuyên, An Xuyên
Phủ Ba Xuyên gồm 2 huyện: Phong Nhiêu, Vĩnh Định
Tỉnh Hà Tiên gồm 1 phủ là An Biên với 3 huyện: Hà Châu, Long Xuyên, Kiên Giang. Ngày nay, trừ một phần nhỏ đất nguyên thuộc huyện Hà Châu (vùng giáp biên giới Việt Nam-Campuchia thuộc các huyện Kampong Trach, Banteay Meas của tỉnh Kam pốt) được Pháp cắt trả cho Camphuchia những năm 1870, còn lại phần lớn đất phủ An Biên tỉnh Hà Tiên giai đoạn này, thì đều nằm trong địa bàn khu vực Đồng bằng sông Cửu Long, phần lớn thuộc các tỉnh Kiên Giang, Cà Mau, một phần các tỉnh Hậu Giang, Bạc Liêu.
Đặc biệt, lúc bấy giờ trên toàn vùng đất Nam Kỳ nói chung và khu vực Đồng bằng sông Cửu Long ngày nay nói riêng, tên gọi các địa danh hành chính từ cấp tỉnh, cấp phủ, cấp huyện cho đến cấp thôn, cấp ấp đều được sử dụng bằng những mỹ từ Hán Việt. Tuy nhiên, ngoài tên gọi địa danh hành chính dùng chính thức trong các giấy tờ, văn kiện vốn được gọi theo bằng các mỹ từ Hán Việt, mỗi thôn xã còn có tục danh bằng tên Nôm nữa. Tên gọi các tục danh này chỉ được gọi phổ biến trong dân gian và không hề được dùng chính thức trong các văn bản hành chính vào thời nhà Nguyễn lúc bấy giờ. Chẳng hạn, thôn Tân An thuộc huyện Phong Phú, phủ Tuy Biên, tỉnh An Giang còn có tên tục danh bằng tiếng Nôm là "Cần Thơ"; thôn Mỹ Trà thuộc tổng Phong Thạnh, huyện Kiến Phong, phủ Kiến Tường, tỉnh Định Tường có thêm tên gọi trong dân gian là "Cao Lãnh"; thôn Thuận Tắc thuộc tổng Hòa Lạc Hạ, huyện Tân Hòa, phủ Tân An, tỉnh Gia Định còn được gọi là "Gò Công"...
=== Thời Pháp thuộc ===
==== Giai đoạn 1862-1867 ====
Ngày 17 tháng 2 năm 1859, thực dân Pháp đưa quân đội xâm chiếm thành Gia Định (cũng gọi là thành Sài Gòn). Ngày 28 tháng 2 năm 1861), thực dân Pháp chiếm được tỉnh Gia Định và đến ngày 12 tháng 4 năm 1861 thì chiếm xong tỉnh Định Tường. Tuy nhiên, mãi đến ngày 18 tháng 12 năm 1861, chúng mới chiếm được tỉnh Biên Hòa (ngày nay thuộc vùng Đông Nam Bộ).
Ngày 5 tháng 6 năm 1862, triểu đình Huế phải ký Hòa ước Nhâm Tuất nhượng cho Pháp 3 tỉnh miền Đông Nam Kỳ là Biên Hòa, Gia Định và Định Tường. Năm 1867, Pháp vi phạm "hòa ước", đem quân chiếm nốt 3 tỉnh miền Tây Nam Kỳ là Vĩnh Long, An Giang và Hà Tiên. Sau đó, thực dân Pháp xóa bỏ lề lối cai trị cũng như cách phân chia địa giới hành chính phủ huyện cũ của triều đình nhà Nguyễn.
Sau khi chiếm nốt 3 tỉnh miền Tây Nam Kỳ, ngày 5 tháng 6 năm 1867, thực dân Pháp ra nghị định chia 6 tỉnh Nam Kỳ ra 24 hạt tham biện (arondissemnent). Viên cai trị hạt là tham biện (inspecteur, sau đổi là administrateur). Lúc đầu Pháp gọi département thay cho phủ, gọi arrondissement thay cho huyện. Lỵ sở của hạt gọi là "châu thành", có chức năng như một "trung tâm hành chính" của hạt. Sau khi thành lập các thị xã với chức năng "tỉnh lỵ", nó chiếm một phần diện tích của "châu thành", phần diện tích còn lại vẫn giữ tên cũ là quận Châu Thành và sau này là huyện Châu Thành. Bắt đầu từ năm 1912, địa danh Châu Thành chính thức được đặt tên cho nhiều đơn vị hành chính cấp quận ở các tỉnh Nam Kỳ.
Khoảng năm 1868, toàn vùng đất Nam Kỳ có hai mươi bảy inspection (lúc này tiếng Việt gọi là "hạt thanh tra", "địa hạt thanh tra", "khu thanh tra" hay "tiểu khu thanh tra", do Thanh tra cai trị). Ban đầu, hạt Thanh tra tạm gọi tên theo tên các phủ huyện cũ, sau đó mới đổi tên gọi theo địa điểm đóng trụ sở kể từ ngày 16 tháng 8 năm 1867.
Ngày 17 tháng 2 năm 1863, thực dân Pháp tiến hành lập hạt thanh tra Tây Ninh (lỵ sở đặt tại Tây Ninh) trên địa bàn phủ Tây Ninh của tỉnh Gia Định. Từ ngày 11 tháng 2 năm 1864, phủ Tây Ninh có hai huyện trực thuộc là Quang Hóa và Tân Ninh. Ngày 3 tháng 2 năm 1866, thành lập hạt thanh tra Quang Hóa trên địa bàn huyện Quang Hóa của phủ Tây Ninh do tách ra từ hạt thanh tra Tây Ninh (lỵ sở đặt tại Trảng Bàng).
Ngày 9 tháng 11 năm 1864, thực dân Pháp lần lượt cho thành lập các hạt Thanh tra sau đây trên địa bàn tỉnh Gia Định (lúc này vẫn còn giữ tên là tỉnh Gia Định như cũ):
Hạt thanh tra Tân Long: trên địa bàn huyện Tân Long của phủ Tân Bình (lỵ sở đặt tại Chợ Lớn)
Hạt thanh tra Tân An: trên địa bàn hai huyện Cửu An và Tân Thạnh của phủ Tân An (lỵ sở đặt tại Tân An)
Hạt thanh tra Phước Lộc: trên địa bàn huyện Phước Lộc của phủ Tân An (lỵ sở đặt tại Cần Giuộc)
Hạt thanh tra Tân Hòa: trên địa bàn huyện Tân Hòa của phủ Tân An (lỵ sở đặt tại Gò Công)
Ngày 3 tháng 6 năm 1865, Pháp lại lần lượt cho thành lập các hạt Thanh tra sau đây trên địa bàn tỉnh Định Tường (lúc này cũng vẫn còn giữ tên là tỉnh Định Tường như cũ):
Hạt thanh tra Kiến An hay Kiến Hưng: trên địa bàn huyện Kiến Hưng của phủ Kiến An (lỵ sở đặt tại Mỹ Tho)
Hạt thanh tra Kiến Hòa: trên địa bàn huyện Kiến Hòa của phủ Kiến An (lỵ sở đặt tại Chợ Gạo)
Hạt thanh tra Kiến Đăng: trên địa bàn huyện Kiến Đăng của phủ Kiến Tường (lỵ sở đặt tại Cai Lậy)
Hạt thanh tra Kiến Tường hay Kiến Phong: trên địa bàn huyện Kiến Phong của phủ Kiến Tường (lỵ sở ban đầu đặt tại Cao Lãnh và sau đó lại dời đến Cần Lố (ngã ba sông Cần Lồ với sông Tiền Giang))
Ngày 15 tháng 6 năm 1867, ngoại trừ vùng đất huyện Hà Châu chưa đặt hạt thanh tra vì địa bàn nhỏ hẹp, thực dân Pháp cũng thành lập các hạt Thanh tra sau đây trên địa bàn tỉnh Hà Tiên:
Hạt thanh tra Kiên Giang: trên địa bàn huyện Kiên Giang (lỵ sở đặt tại Rạch Giá)
Hạt thanh tra Long Xuyên: trên địa bàn huyện Long Xuyên (lỵ sở đặt tại Cà Mau)
Tại vùng đất tỉnh Vĩnh Long cũng lần lượt thành lập các hạt thanh tra sau:
Hạt thanh tra Định Viễn: trên địa bàn phủ Định Viễn (lỵ sở đặt tại Vĩnh Long)
Hạt thanh tra Hoằng Trị: trên địa bàn phủ Hoằng Trị (lỵ sở đặt tại Bến Tre)
Hạt thanh tra Lạc Hóa: trên địa bàn phủ Lạc Hóa (lỵ sở đặt tại Trà Vinh)
Tại tỉnh An Giang có 3 hạt thanh tra sau:
Hạt thanh tra Tuy Biên: trên địa bàn phủ Tuy Biên (lỵ sở đặt tại Châu Đốc)
Hạt thanh tra Tân Thành: trên địa bàn phủ Tân Thành (lỵ sở đặt tại Sa Đéc)
Hạt thanh tra Ba Xuyên: trên địa bàn phủ Ba Xuyên (lỵ sở đặt tại Sóc Trăng)
Ngày 1 tháng 8 năm 1867, Pháp thấy vùng đất Cà Mau còn vắng vẻ nên đã bãi bỏ hạt thanh tra Long Xuyên, sáp nhập địa bàn này tức vùng đất Cà Mau vào hạt thanh tra Kiên Giang và coi luôn vùng đất huyện Long Xuyên cũ.
==== Giai đoạn 1867-1871 ====
Ngày 16 tháng 8 năm 1867, thực dân Pháp chính thức đổi tên gọi tất cả các địa danh cấp tỉnh và hạt thanh tra theo tên gọi địa điểm nơi đặt lỵ sở tỉnh hoặc hạt thanh tra. Các tên gọi mới này chính là tục danh bằng tên Nôm của các thôn xã nơi đặt lỵ sở tỉnh hoặc hạt thanh tra vốn trước đây vào thời nhà Nguyễn độc lập lại không được dùng chính thức trong các văn bản hành chính. Như vậy, cũng kể từ đây, chính quyền thực dân Pháp đã dần dần chính thức hóa các tên gọi địa danh bằng tiếng Nôm này bằng những văn bản hành chính; đồng thời hầu hết các tên gọi địa danh cũ cấp tỉnh, cấp phủ và cấp huyện và sau này là các hạt thanh tra bằng những mỹ từ Hán Việt của thời nhà Nguyễn cũng dần bị xóa bỏ hoàn toàn. Các tên gọi mới bằng tục danh chữ Nôm của các hạt thanh tra này cũng chính là tên gọi các tỉnh và các quận trực thuộc các tỉnh ở Nam Kỳ nói chung và vùng Đồng bằng sông Cửu Long sau này và cho đến tận ngày nay, hầu hết các tỉnh, các huyện và thành phố trực thuộc đều vẫn còn giữ lại các tên gọi địa danh này.
Tuy nhiên, do ở hạt thanh tra Tân An chính quyền thực dân Pháp liên tục dời lỵ sở hạt ban đầu từ Cai Tài, sau đó đến năm 1863 dời về thôn Nhơn Thạnh và sau cùng lại dời về đóng tại Vũng Gù vào năm 1869 cho đến tận ngày nay, vì thế tên gọi hạt thanh tra Tân An vẫn được giữ lại và không hề bị thay đổi. Ngoài ra, các tên gọi Vĩnh Long, Trà Vinh, Đông Xuyên (sau này lại đổi thành Long Xuyên cho đến ngày nay) và Hà Tiên vốn là các địa danh cũ bằng những mỹ từ Hán Việt của thời nhà Nguyễn nhưng lúc bấy giờ cũng được sử dụng tiếp tục và không bị thay đổi, xóa bỏ do trước đây tại các thôn xã là nơi đặt lỵ sở của các hạt này lại không có xuất hiện các tên gọi bằng tục danh chữ Nôm trong dân gian. Đồng thời, cũng từ năm 1900 thì các địa danh Tân An, Vĩnh Long, Trà Vinh, Long Xuyên và Hà Tiên cũng chính thức trở thành tên gọi các tỉnh cũng như tên gọi tỉnh lỵ ở Nam Kỳ dưới thời Pháp thuộc.
Cụ thể, vào thời điểm này, thực dân Pháp đổi tên tỉnh Gia Định thành tỉnh Sài Gòn, đổi tên tỉnh Định Tường thành tỉnh Mỹ Tho và đổi tên tỉnh An Giang thành tỉnh Châu Đốc; đồng thời cũng đổi tên gọi tất cả các hạt Thanh tra ở Nam Kỳ cụ thể như sau:
Tỉnh Sài Gòn gồm các hạt thanh tra:
Hạt thanh tra Tân An: vẫn giữ nguyên tên gọi cũ
Hạt thanh tra Chợ Lớn: đổi tên từ hạt thanh tra Tân Long
Hạt thanh tra Cần Giuộc: đổi tên từ hạt thanh tra Phước Lộc
Hạt thanh tra Gò Công: đổi tên từ hạt thanh tra Tân Hòa
Hạt thanh tra Tây Ninh: lấy tên phủ cũ thay cho tên huyện cũ Tân Ninh
Hạt thanh tra Trảng Bàng: đổi tên từ hạt thanh tra Quang Hóa
Tỉnh Mỹ Tho gồm các hạt thanh tra:
Hạt thanh tra Mỹ Tho: đổi tên từ hạt thanh tra Kiến An hay Kiến Hưng
Hạt thanh tra Chợ Gạo: đổi tên từ hạt thanh tra Kiến Hòa
Hạt thanh tra Cai Lậy: đổi tên từ hạt thanh tra Kiến Đăng
Hạt thanh tra Cần Lố: đổi tên từ hạt thanh tra Kiến Tường hay Kiến Phong
Tỉnh Vĩnh Long gồm các hạt thanh tra:
Hạt thanh tra Vĩnh Long: đổi tên từ hạt thanh tra Định Viễn
Hạt thanh tra Bến Tre: đổi tên từ hạt thanh tra Hoằng Trị
Hạt thanh tra Trà Vinh: đổi tên từ hạt thanh tra Lạc Hóa
Tỉnh Châu Đốc gồm các hạt thanh tra:
Hạt thanh tra Châu Đốc: đổi tên từ hạt thanh tra Tuy Biên
Hạt thanh tra Sa Đéc: đổi tên từ hạt thanh tra Tân Thành
Hạt thanh tra Sóc Trăng: đổi tên từ hạt thanh tra Ba Xuyên
Tỉnh Hà Tiên gồm:
Hạt thanh tra Hà Tiên
Hạt thanh tra Rạch Giá: đổi tên từ hạt thanh tra Kiên Giang
Ngày 4 tháng 12 năm 1867, tách vùng đất cù lao Minh của hạt thanh tra Bến Tre để thành lập hạt thanh tra Mỏ Cày, với lỵ sở đặt tại chợ Mỏ Cày. Đồng thời, huyện Phong Phú cũng được tách ra khỏi hạt thanh tra Sa Đéc để thành lập mới hạt thanh tra Cần Thơ, với lỵ sở đặt tại Cần Thơ.
Cũng trong năm 1867, thực dân Pháp lại cho thành lập thêm hạt thanh tra Đông Xuyên, với lỵ sở đặt tại khu vực chợ Đông Xuyên, trên cơ sở tách ra từ hạt thanh tra Châu Đốc, có địa bàn tương ứng với một phần các huyện Đông Xuyên và Tây Xuyên cũ. Tuy nhiên, sau khi đàn áp xong cuộc khởi nghĩa Bảy Thưa vào năm 1873, lần đầu tiên Gia Định Báo đã dùng từ "Long Xuyên" thay cho "Đông Xuyên". Theo nghị định ngày 5 tháng 1 năm 1876, hạt Long Xuyên được chính thức dùng thay cho tên gọi "Đông Xuyên" trước đó.
Đồng thời, cũng tách vùng đất huyện Tuân Ngãi thuộc phủ Lạc Hóa, tỉnh Vĩnh Long trước đây để thành lập hạt thanh tra Bắc Trang, với lỵ sở đặt tại Bắc Trang.
Ngày 5 tháng 12 năm 1868, hạt thanh tra Cai Lậy bị giải thể, sáp nhập địa bàn vào hạt thanh tra Mỹ Tho kể từ ngày 15 tháng 12 năm 1868. Ngày 23 tháng 2 năm 1869, Hạt thanh tra Chợ Gạo bị giải thể, sáp nhập địa bàn vào hạt Thanh tra Mỹ Tho.
Ngày 20 tháng 10 năm 1869, hạt thanh tra Cai Lậy được lập lại. Ngày 8 tháng 9 năm 1870, giải thể hạt thanh tra Cần Lố và sáp nhập địa bàn vào các hạt thanh tra Sa Đéc và Cái Bè. Cũng nhân sự kiện này, vì lý do an ninh nên dời trụ sở tới chợ Cái Bè nên lại đổi tên gọi hạt thanh tra Cai Lậy trước đó là hạt thanh tra Cái Bè.
Tháng 4 năm 1870, chính quyền Pháp ở Nam Kỳ (đứng đầu là Thống đốc Nam Kỳ) cùng với triều đình vương quốc Cao Miên do Pháp bảo hộ (đứng đầu là vua Norodom I) bắt đầu đàm phán ký kết thỏa ước phân định biên giới. Chính thức điều chỉnh lại biên giới giữa Cao Miên (Campuchia) với Nam Kỳ thuộc Pháp (Cochinchine Française) thay đổi lớn so với biên giới Cao Miên-Nam Kỳ Lục tỉnh tại 2 khu vực: địa phận các hạt thanh tra Trảng Bàng, Tây Ninh (tức vùng lồi Mỏ vịt, nằm kẹp giữa thượng nguồn hai con sông Vàm Cỏ Tây và Vàm Cỏ Đông) thành ra phủ (khet) Svay Téap (ký kết ngày 9 tháng 7 năm 1870), và vùng bờ bắc kênh Vĩnh Tế địa bàn các hạt Hà Tiên, Châu Đốc nhập vào (khet) Tréang, cắt từ đất Nam Kỳ trả về cho Cao Miên.
==== Giai đoạn 1871-1900 ====
Từ ngày 5 tháng 6 năm 1871, inspection đổi thành arrondissement (lúc này tiếng Việt gọi là "hạt tham biện", "địa hạt tham biện", "khu tham biện" hay "hạt"). Đứng đầu arrondissement là administrateur, tiếng Việt gọi là Chính tham biện. Dinh hành chính gọi là tòa tham biện nhưng dân cũng quen gọi là tòa bố (giống như dinh quan bố chính của nhà Nguyễn cũ). Tham biện dưới quyền Thống đốc đóng ở Sài Gòn. Giúp việc Chính tham biện là hai phó tham biện; thư ký địa hạt cũng gọi là bang biện tức là secrétaire d’arrondissement. Cũng nhân thời điểm này, toàn vùng đất Nam Kỳ nói chung giảm còn 18 hạt, do giải thể và sáp nhập nhiều hạt thanh tra lại với nhau, cụ thể như sau:
Giải thể hạt Trảng Bàng, nhập địa bàn vào hạt Chợ Lớn và hạt Tây Ninh
Giải thể hạt Cần Giuộc, nhập địa bàn vào hạt Chợ Lớn và hạt Tân An
Giải thể hạt Cai Lậy, nhập địa bàn vào hạt Mỹ Tho
Giải thể hạt Cái Bè, nhập địa bàn vào hạt Vĩnh Long
Giải thể hạt Bến Tre, nhập địa bàn vào hạt Mỏ Cày
Giải thể hạt Bắc Trang, nhập địa bàn vào hạt Trà Vinh
Giải thể hạt Cần Thơ, nhập địa bàn vào hạt Sa Đéc
Tách vùng đất Cà Mau ra khỏi hạt Rạch Giá và sáp nhập vào hạt Sóc Trăng
Tách vùng đất tổng Hưng Long và một phần tổng Mộc Hóa nguyên trước đây thuộc tỉnh Định Tường để sáp nhập vào hạt Tân An
Chia địa bàn tổng Phong Thạnh trước đó thuộc hạt thanh tra Cần Lố và sau đó thuộc về hạt thanh tra Sa Đéc lần lượt cho 3 hạt thanh tra: Châu Đốc, Long Xuyên và Sa Đéc
Ngày 2 tháng 11 năm 1871, dời lỵ sở từ chợ Mỏ Cày về chợ Bến Tre nên hạt Mỏ Cày lại đổi tên thành hạt Bến Tre.
Ngày 18 tháng 12 năm 1871, thực dân Pháp lại tách vùng đất Cà Mau ra khỏi hạt Sóc Trăng để nhập vào hạt Rạch Giá như cũ.
Ngày 30 tháng 4 năm 1872, tách một phần đất đai của các hạt Sa Đéc, Vĩnh Long và Trà Vinh để thành lập hạt Trà Ôn, với lỵ sở đặt tại Trà Ôn, có địa bàn chiếm phần đất vùng đất huyện Phong Phú thuộc tỉnh An Giang vào thời nhà Nguyễn độc lập và sau đó từng có một thời gian ngắn thuộc về hạt thanh tra Cần Thơ.
Năm 1874, hạt Phú Quốc được thành lập, nhưng vì kinh tế không phát triển được nên một năm sau phải giải thể và sáp nhập vào hạt Hà Tiên.
Ngày 14 tháng 5 năm 1875, tách vùng đất thuộc hạt thanh tra Cái Bè cũ tồn tại trước năm 1871 ra khỏi hạt Vĩnh Long và sáp nhập vào hạt Mỹ Tho.
Ngày 5 tháng 1 năm 1876, thực dân Pháp chia Nam Kỳ thành 4 khu vực hành chính lớn, gọi là circonscription administrative, mỗi khu vực lại được chia nhỏ thành các "hạt" hay "tiểu khu" (arrondissement). Ngoại trừ khu vực Sài Gòn là ở miền Đông Nam Bộ, vùng đồng bằng sông Cửu Long lúc bấy giờ có 3 khu vực hành chính như sau:
Khu vực Mỹ Tho có 4 tiểu khu: Mỹ Tho, Gò Công, Tân An và Chợ Lớn;
Khu vực Vĩnh Long có 4 tiểu khu: Vĩnh Long, Bến Tre, Trà Vinh và Sa Đéc;
Khu vực Bassac (Ba Thắc, còn gọi là Hậu Giang) có 6 tiểu khu: Châu Đốc, Hà Tiên, Long Xuyên, Rạch Giá, Trà Ôn và Sóc Trăng.
Ngày 23 tháng 2 năm 1876, Thống đốc Nam Kỳ ra Nghị định mới giải thể hạt Trà Ôn, đồng thời lấy huyện Phong Phú và một phần huyện An Xuyên và Tân Thành để lập hạt tham biện Cần Thơ với thủ phủ là Cần Thơ. Hạt Cần Thơ thuộc khu vực Bassac (Hậu Giang).
Ngày 18 tháng 7 năm 1882, Thống đốc Nam Kỳ lập thêm một hạt (tiểu khu) mới là hạt tham biện Bạc Liêu thuộc khu vực Bassac (Ba Thắc) trên cơ sở tách vùng đất Cà Mau (gồm 3 tổng) của hạt tham biện Rạch Giá hợp với vùng đất Bạc Liêu (gồm 2 tổng) của hạt tham biện Sóc Trăng trước đó, với lỵ sở của hạt đặt tại Bạc Liêu.
Ngày 12 tháng 1 năm 1888, hạt Hà Tiên bị giải thể và cho thuộc về hạt tham biện Châu Đốc, đồng thời hạt Rạch Giá cũng bị giải thể và sáp nhập vào địa bàn hạt Long Xuyên. Đến ngày 27 tháng 12 năm 1892, hạt tham biện Hà Tiên và hạt tham biện Rạch Giá đều được phục hồi trở lại, tuy nhiên địa bàn hạt tham biện Hà Tiên lúc bấy giờ chỉ còn là vùng đất huyện Hà Châu thuộc tỉnh Hà Tiên cũ.
==== Sau năm 1900 ====
Ngày 20 tháng 12 năm 1899, Toàn quyền Đông Dương ra Nghị định đổi tên gọi "hạt" hay "hạt tham biện" thành "tỉnh" (province) kể từ ngày 1 tháng 1 năm 1900. Đặc biệt, lúc bấy giờ tên tỉnh và tên gọi tỉnh lỵ ở các tỉnh miền Tây Nam Kỳ luôn trùng nhau, dế nhớ, rất thuận tiện trong sinh hoạt và làm việc. Như vậy ở miền Tây Nam Kỳ lúc bấy giờ có 15 tỉnh như sau: Chợ Lớn, Tân An, Mỹ Tho, Gò Công, Vĩnh Long, Bến Tre, Trà Vinh, Sa Đéc, Châu Đốc, Long Xuyên, Rạch Giá, Hà Tiên, Cần Thơ, Sóc Trăng, Bạc Liêu.
Ban đầu, dưới tỉnh (province) là cấp tổng (canton), dưới tổng là cấp làng (village) và dưới làng là các ấp (hemeau) trực thuộc. Ngoại trừ tên gọi các tỉnh và thêm vào đó là tên gọi các ấp có thể là tục danh chữ Nôm cũ và cũng có thể là những từ Hán Việt; còn tên gọi các tổng và các làng lúc bấy giờ đều được sử dụng bằng những mỹ từ Hán Việt cũ như trước đây. Đồng thời, chính quyền thực dân Pháp cũng cho thành lập thêm một số tổng mới và làng mới trên cơ sở chia tách từ các tổng cũ, làng cũ. Tuy nhiên, việc phân chia sắp xếp hành chính này, trong đó cấp tổng trực tiếp thuộc cấp tỉnh của chính quyền thực dân Pháp đã không mang lại nhiều thành công và hiệu quả cho chúng trong chính sách cai trị thực dân và bóc lột thuộc địa.
Chính vì vậy, từ đầu thập niên 1910, thực dân Pháp lập thêm cấp quận (circonscription) và cơ sở phái viên hành chính (délégation administrative), cấp hành chính trung gian giữa tỉnh và tổng; đứng đầu là viên Chủ quận (Chef de la circonscription) và vị Phái viên hành chính (Délégué administratif) tương ứng. Lúc bấy giờ, ngoại trừ tỉnh Bạc Liêu, thực dân Pháp đều thành lập quận Châu Thành (circonscription de chef-lieu) ở các tỉnh Tây Nam Kỳ. Quận Châu Thành là nơi đặt tỉnh lỵ của tỉnh đó (tỉnh lỵ chỉ thuộc địa phận một làng nhất định thuộc quận này). Riêng ở tỉnh Gò Công, thực dân Pháp lại không thành lập các quận, các tổng trực thuộc tỉnh. Ngoại trừ quận Châu Thành, tên gọi các quận khác thường được lấy theo tên gọi nơi đặt quận lỵ, có khi là tên chợ theo chữ Nôm hoặc Việt hóa tên gọi dân gian theo tiếng Khmer trước đó (chẳng hạn: Cai Lậy, Cái Bè), có khi lại lấy theo tên làng theo chữ Hán Việt (chẳng hạn: Vĩnh Lợi, Vĩnh Châu). Ngoài ra, cũng có một vài tổng nâng lên thành quận và lấy tên gọi cấp tổng trước đó (chẳng hạn: Phú Quốc, Mộc Hóa).
Thời Pháp thuộc, các đơn vị hành chính trực thuộc trong một tỉnh được phân chia, sắp xếp như sau: dưới tỉnh (province) là quận (circonscription), dưới quận là tổng (canton), dưới tổng là làng (village), dưới làng là ấp (hemeau). Sự phân chia, sắp xếp này được duy trì, thực hiện ở cả vùng nông thôn lẫn thành thị. Tên tỉnh và tên quận thường lấy theo tên gọi chữ Nôm, còn tên đơn vị hành chính cấp tổng, làng và ấp thường lấy theo tên gọi chữ Hán Việt.
Thực dân Pháp chủ trương tiết kiệm ngân sách nên cho đến năm 1945 đã có nhiều lần sáp nhập các làng lại với nhau, do vậy vào năm 1945 nếu so sánh với giai đoạn trước thì tổng số làng trong toàn miền Tây Nam Kỳ nói chung và trong từng tỉnh nói riêng đã giảm. Đối với trường hợp ghép tên do sáp nhập làng, người Pháp chủ trương: lấy một từ ở tên mỗi làng, khi ghép lại đặt trước hoặc sau tùy từng trường hợp, miễn nghe thuận tai là được (chẳng hạn: ba làng Thân Nhơn, Cửu Viễn và Nghĩa Hữu ở tỉnh Mỹ Tho nhập lại thành một làng Thân Cửu Nghĩa; sáu làng Tân Phú Đông, Tân Qui Đông, Tân Qui Tây, Tân Hưng, Vĩnh Phước và Hòa Khánh ở tỉnh Sa Đéc nhập lại thành một làng Tân Vĩnh Hòa...).
Từ ngày 9 tháng 2 năm 1913 có ba tỉnh bị giải thể và sáp nhập vào tỉnh khác như sau:
Tỉnh Gò Công sáp nhập vào tỉnh Mỹ Tho
Tỉnh Hà Tiên sáp nhập vào tỉnh Châu Đốc
Tỉnh Sa Đéc sáp nhập vào tỉnh Vĩnh Long
Đến ngày 9 tháng 2 năm 1924, tỉnh Gò Công, Tỉnh Hà Tiên và tỉnh Sa Đéc được tái lập trở lại.
Ngày 18 tháng 12 năm 1928, Toàn quyền Đông Dương ra Nghị định thành lập các thành phố cấp III trực thuộc các tỉnh cùng tên gọi: Bạc Liêu, Cần Thơ, Rạch Giá và Mỹ Tho có Ủy ban thành phố, dưới quyền một viên Thị trưởng do chủ tỉnh bổ nhiệm và có ngân sách riêng. Tuy nhiên, các đô thị này vẫn được gọi phổ biến hơn bằng danh xưng là các "thị xã".
Ngày 16 tháng 1 năm 1930, Pháp chia địa bàn thị xã Rạch Giá (trực thuộc tỉnh Rạch Giá) thành 5 khu vực để đánh thuế. Ngày 30 tháng 4 năm 1934, Pháp nâng thị xã Rạch Giá lên thành thành phố Rạch Giá và chia địa bàn thành 3 khu phố.
Ngày 22 tháng 12 năm 1932, địa bàn thị xã Bạc Liêu (trực thuộc tỉnh Bạc Liêu) được chia thành 6 khu phố, bao gồm 5 khu phố nội thị và 1 khu phố ngoại thị.
Ngày 30 tháng 11 năm 1934, chính quyền thực dân Pháp lại sắp xếp đất đai thị xã Cần Thơ (trực thuộc tỉnh Cần Thơ) thành 5 khu phố và 1 khu phố ngoại ô để thu thuế thổ trạch.
Ngày 31 tháng 1 năm 1935, Toàn quyền Đông Dương lại tiếp tục ra Nghị định thành lập thành phố Long Xuyên là thành phố cấp III trực thuộc tỉnh Long Xuyên. Tuy nhiên, sau này cũng vẫn gọi phổ biến hơn là thị xã Long Xuyên.
Ngày 16 tháng 12 năm 1938, Mỹ Tho được công nhận là thị xã hỗn hợp (còn gọi là Hiệp xã) trực thuộc tỉnh Mỹ Tho. Ngày 29 tháng 7 năm 1942, thực dân Pháp chia địa bàn Hiệp xã Mỹ Tho thành 4 khu hành chánh.
=== Giai đoạn 1945-1954 ===
Ngày 23 tháng 9 năm 1945, quân Pháp đã dần dần chiếm lại được các tỉnh thành ở Nam Kỳ và thiết lập lại bộ máy thống trị cũ ở đây, đồng thời dựng nên các chính quyền tay sai thân Pháp như Cộng hòa Tự trị Nam Kỳ và sau đó là Quốc gia Việt Nam do Cựu hoàng Bảo Đại làm Quốc trưởng. Chính vì vậy, trong giai đoạn 1945-1954 do có sự tồn tại song song của hai chính quyền là Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và chính quyền tay sai do thực dân Pháp dựng nên, cho nên sự phân chia sắp xếp hành chính ở khu vực này cũng khác nhau theo hai chính quyền đối lập như trên.
==== Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ====
Sau Cách mạng tháng Tám năm 1945, chính quyền kháng chiến của Việt Minh do Việt Nam Dân chủ Cộng hòa lãnh đạo ban đầu có thay đổi tên gọi một số tỉnh trong 14 tỉnh ở miền Tây Nam Bộ, chủ yếu là đặt tên tỉnh theo tên của anh hùng dân tộc chống Pháp ở địa phương trước đây. Trong đó, tỉnh Tân An đổi tên thành tỉnh Nguyễn Trung Trực, tỉnh Gò Công đổi tên thành tỉnh Trương Công Định, tỉnh Mỹ Tho đổi tên thành tỉnh Thủ Khoa Huân, tỉnh Bến Tre đổi tên thành tỉnh Đồ Chiểu. Ngày 9 tháng 10 năm 1945, Hội đồng Chính phủ ra Quyết nghị các kỳ, thành phố, tỉnh và phủ, huyện trong cả nước Việt Nam vẫn giữ tên như cũ, không dùng tên danh nhân để đặt cho các đơn vị hành chính, gây trở ngại trong việc thông tin liên lạc.
Cũng từ năm 1945, danh xưng cấp hành chính "kỳ" được đổi thành "bộ". Như vậy, Nam Kỳ chính thức được đổi thành Nam Bộ cho đến nay và lúc bấy giờ được chia thành 3 khu vực nhỏ hơn: Đông Nam Bộ, Trung Nam Bộ và Tây Nam Bộ. Trong đó, vùng Đồng Bằng sông Cửu Long ngày nay thuộc về 2 khu vực là Trung Nam Bộ và Tây Nam Bộ khi đó.
Đồng thời, cấp tổng cũng được bãi bỏ, các làng gọi là "xã". Ở khu vực Trung Kỳ và Bắc Kỳ, do chính quyền thực dân Pháp cho đến năm 1945 vẫn duy trì phân chia hành chính "phủ", "huyện", "thôn" giống như thời nhà Nguyễn độc lập và cũng không thực hiện quá trình hợp nhất các thôn làng lại với nhau nhiều lần giống như ở Nam Kỳ, cho nên sau năm 1945, chính quyền Việt Minh đã quyết định hợp nhất nhiều thôn lại với nhau để thành lập mới các xã, nghĩa là bên dưới cấp xã là các thôn trực thuộc. Tuy nhiên, còn ở khu vực Nam Kỳ nói chung và vùng Đồng bằng sông Cửu Long nói riêng, do chính quyền thực dân Pháp đã nhiều lần thực hiện quá trình hợp nhất các thôn làng lại với nhau, cho nên chính quyền Việt Minh đã quyết định chuyển đổi các làng cũ trở thành các "xã", bên dưới các xã vẫn gồm các ấp trực thuộc như cũ.
Ngày 15 tháng 10 năm 1945, Theo Sắc lệnh của Chủ tịch Hồ Chí Minh, toàn quốc được phân chia lại thành 9 chiến khu, cũng gọi là khu. Trong đó, vùng Đồng bằng sông Cửu Long ngày nay thuộc về Khu 8 (lúc bấy giờ thuộc về khu vực Trung Nam Bộ) và Khu 9 (lúc bấy giờ thuộc về khu vực Tây Nam Bộ):
Khu 8 có 5 tỉnh: Tân An, Mỹ Tho, Gò Công, Bến Tre, Sa Đéc.
Khu 9 có 9 tỉnh: Châu Đốc, Hà Tiên, Long Xuyên, Rạch Giá, Bạc Liêu, Trà Vinh, Vĩnh Long, Cần Thơ, Sóc Trăng.
Ngày 12 tháng 9 năm 1947, theo chỉ thị số 50/CT của Ủy ban kháng chiến hành chính Nam Bộ (chính quyền Việt Nam Dân chủ Cộng hòa), lúc bấy giờ có sự thay đổi sắp xếp hành chính của tỉnh Châu Đốc và tỉnh Long Xuyên, thành lập các tỉnh mới có tên là Long Châu Tiền và Long Châu Hậu như sau:
Tỉnh Long Châu Tiền nằm ở phía bờ trái (tả ngạn) sông Hậu, hai bên sông Tiền và thuộc Khu 8
Tỉnh Long Châu Hậu nằm ở phía bờ phải (hữu ngạn) sông Hậu và thuộc Khu 9
Ngày 25 tháng 3 năm 1948, Chủ tịch Hồ Chí Minh ban hành Sắc lệnh số 148-SL quy định các danh từ "phủ", "châu", "quận" đều được bãi bỏ. Cấp trên cấp xã và dưới cấp tỉnh thống nhất gọi là "huyện". Cũng từ năm 1948, theo các Quyết định của Ủy ban kháng chiến hành chính Nam Bộ, các xã là nơi đặt tỉnh lỵ của mỗi tỉnh cũng được nâng cấp thành các "thị xã" trực thuộc tỉnh (các làng này trước năm 1945 đều thuộc quận Châu Thành của tỉnh đó, ngoại trừ tỉnh Bạc Liêu không có quận Châu Thành mà là quận Vĩnh Lợi), còn quận Châu Thành được chuyển thành huyện Châu Thành. Như vậy, lúc bấy giờ tất cả các tỉnh ở miền Tây Nam Bộ đều có một thị xã tỉnh lỵ trực thuộc.
Đến tháng 10 năm 1950 tỉnh Long Châu Hậu hợp nhất với tỉnh Hà Tiên thành tỉnh Long Châu Hà và thuộc về Khu 9. Tháng 6 năm 1951, tỉnh Long Châu Tiền hợp nhất với tỉnh Sa Đéc thành tỉnh Long Châu Sa và thuộc về Khu 8.
Ngày 27 tháng 6 năm 1951, Ủy ban kháng chiến hành chính Nam Bộ đã thay đổi sắp xếp hành chính nhiều tỉnh ở miền Tây Nam Bộ như sau:
Tỉnh Rạch Giá bị giải thể và bị xé lẻ, nhập vào các tỉnh Bạc Liêu, Cần Thơ, Sóc Trăng
Hợp nhất 3 tỉnh: Mỹ Tho, Tân An, Gò Công thành một tỉnh có tên là tỉnh Mỹ Tho.
Hợp nhất 2 tỉnh Vĩnh Long và Trà Vinh lại thành một tỉnh có tên là tỉnh Vĩnh Trà.
Hợp nhất 2 tỉnh Bà Rịa và Chợ Lớn lại thành một tỉnh có tên là tỉnh Bà Rịa - Chợ Lớn
Ngày 12 tháng 10 năm 1951, theo Nghị định số 252/NB-51 của Ủy ban kháng chiến hành chính Nam Bộ, các Khu ở Nam Bộ đều bị giải thể, đồng thời chia Liên khu Nam Bộ ra làm hai Phân liên khu:
Phân liên khu Miền Đông, gồm 5 tỉnh: Gia Định Ninh, Thủ Biên, Bà Rịa - Chợ Lớn, Mỹ Tho, Long Châu Sa
Phân liên khu Miền Tây, gồm 6 tỉnh: Bến Tre, Vĩnh Trà, Cần Thơ, Sóc Trăng, Bạc Liêu, Long Châu Hà
==== Quốc gia Việt Nam ====
Tuy nhiên, những việc thay đổi hành chính này lại không được chính quyền Quốc gia Việt Nam của Bảo Đại lúc bấy giờ công nhận. Đến năm 1954, chính quyền Việt Minh đều khôi phục lại tất cả các tỉnh có từ năm 1945 trở về trước.
Trong giai đoạn 1945-1954, chính quyền Quốc gia Việt Nam ở Nam Kỳ lại tiến hành dời địa điểm nơi đặt quận lỵ của một số quận và đổi tên các quận này theo tên goi nơi đặt quận lỵ mới, đồng thời cũng thành lập thêm một số quận mới. Chẳng hạn, vào năm 1947, họ thành lập thêm quận Lấp Vò thuộc tỉnh Long Xuyên; thành lập thêm các quận Tân Hiệp và Vĩnh Kim thuộc tỉnh Mỹ Tho. Hoặc là do dời quận lỵ từ làng An Hóa về làng Bình Đại nên đổi tên quận An Hóa thuộc tỉnh Mỹ Tho thành quận Bình Đại.
Ngày 29 tháng 12 năm 1952, Thủ tướng chính phủ lâm thời Quốc gia Việt Nam ban hành Nghị định số 807-Cub/MI quyết định công nhận 5 đô thị tỉnh lỵ sau ở miền Tây Nam Kỳ trở thành 5 thị xã hỗn hợp (commune mixte) trực thuộc 5 tỉnh cùng tên gọi: Bạc Liêu, Cần Thơ, Rạch Giá, Mỹ Tho và Long Xuyên.
=== Giai đoạn 1954-1956 ===
=== Giai đoạn 1956-1975 ===
==== Chính quyền Việt Nam Cộng hòa ====
Thời Việt Nam Cộng hòa (1954-1975), khu vực miền Tây Nam Bộ được gọi là Tây Nam Phần. Sau năm 1956, các "làng" gọi là "xã". Các đơn vị hành chính trực thuộc trong một tỉnh được phân chia, sắp xếp như sau: dưới "tỉnh" là "quận", dưới "quận" là "tổng", dưới "tổng" là "xã", dưới "xã" là "ấp". Sự phân chia, sắp xếp này được duy trì, thực hiện ở cả vùng nông thôn lẫn thành thị. Từ năm 1962, chính quyền bỏ dần, đến năm 1965 thì bỏ hẳn cấp "tổng", các "xã" trực tiếp thuộc các "quận".
Ban đầu, chính quyền Quốc gia Việt Nam và sau đó là Việt Nam Cộng hòa vẫn duy trì tên gọi tất cả các tỉnh đã có từ thời Pháp thuộc ở miền Tây Nam Phần.
Ngày 17 tháng 2 năm 1956, Tổng thống Việt Nam Cộng hòa Ngô Đình Diệm đồng loạt ban hành các Sắc lệnh về việc thành lập các tỉnh mới ở miền Tây Nam Phần có tên như sau: Tam Cần, Phong Thạnh, Mộc Hóa.
Sắc lệnh số 16-NV thành lập tỉnh Tam Cần bao gồm một phần đất của các tỉnh Cần Thơ, Vĩnh Long, Trà Vinh trước đó. Tỉnh lỵ đặt tại Trà Ôn. Cuối năm 1956 tỉnh Tam Cần bị giải thể.
Sắc lệnh số 21-NV thành lập tỉnh Mộc Hóa bao gồm phần lớn đất đai của tỉnh Tân An trước đó. Tỉnh lỵ đặt tại Mộc Hóa.
Sắc lệnh số 22-NV thành lập tỉnh Phong Thạnh bao gồm một phần đất của các tỉnh Châu Đốc, Long Xuyên và Sa Đéc trước đó. Tỉnh lỵ đặt tại Cao Lãnh.
Đến ngày 9 tháng 3 năm 1956, chính quyền Việt Nam Cộng hòa lại ban hành Sắc lệnh số 32-NV cho thành lập thêm tỉnh Cà Mau, trên cơ sở tách đất từ tỉnh Bạc Liêu trước đó. Tỉnh lỵ đặt tại Cà Mau.
Ngày 28 tháng 8 năm 1956, chính quyền Việt Nam Cộng hòa ban hành Dụ số 50 về việc bãi bỏ quy chế thị xã. Theo quyết định này, bãi bỏ Dụ số 13 ban hành ngày 30 tháng 5 năm 1954 về quy chế thị xã. Những thị xã hiện đặt dưởi quy chế trên, từ nay sẽ theo chế độ thôn xã, và được quản tri bởi một ủy ban hành chính do tỉnh trường bồ nhiệm. Theo đó, tiến hành giải thể các thị xã hỗn hợp là Bạc Liêu, Cần Thơ, Rạch Giá, Mỹ Tho và Long Xuyên vốn được lập nên trước đó.
Ngày 22 tháng 10 năm 1956, Tổng thống Việt Nam Cộng hòa Ngô Đình Diệm ký Sắc lệnh số 143-NV để " thay đổi địa giới và tên Đô thành Sài Gòn – Chợ Lớn cùng các tỉnh và tỉnh lỵ tại Việt Nam". Địa giới và địa danh các tỉnh ở miền Nam thay đổi nhiều, một số tỉnh mới được thành lập. Theo Sắc lệnh này, địa phận Nam Phần của Việt Nam Cộng Hoà gồm Đô thành Sài Gòn và 22 tỉnh, riêng ở miền Tây Nam Phần bao gồm 11 tỉnh có tên như sau: An Xuyên, Ba Xuyên, An Giang, Kiên Giang, Phong Dinh, Vĩnh Long, Kiến Hòa, Vĩnh Bình, Kiến Phong, Kiến Tường, Định Tường. Các tỉnh mới này được thành lập trên cơ sở đổi tên tỉnh hoặc do hợp nhất 2 tỉnh lại với nhau, cụ thể như sau:
Hợp nhất tỉnh Chợ Lớn và tỉnh Tân An lại thành tỉnh Long An
Hợp nhất tỉnh Mỹ Tho và tỉnh Gò Công lại thành tỉnh Định Tường
Hợp nhất tỉnh Long Xuyên và tỉnh Châu Đốc lại thành tỉnh An Giang
Hợp nhất tỉnh Sóc Trăng và tỉnh Bạc Liêu lại thành tỉnh Ba Xuyên
Hợp nhất tỉnh Rạch Giá và tỉnh Hà Tiên lại thành tỉnh Kiên Giang
Giải thể tỉnh Sa Đéc, sáp nhập vào địa bàn tỉnh Vĩnh Long
Đổi tên tỉnh Cà Mau thành tỉnh An Xuyên
Đổi tên tỉnh Cần Thơ thành tỉnh Phong Dinh
Đổi tên tỉnh Bến Tre thành tỉnh Kiến Hòa
Đổi tên tỉnh Trà Vinh thành tỉnh Vĩnh Bình
Đổi tên tỉnh Phong Thạnh thành tỉnh Kiến Phong
Đổi tên tỉnh Mộc Hóa thành tỉnh Kiến Tường
Giữ nguyên tên tỉnh Vĩnh Long
Tên các tỉnh lỵ lúc bấy giờ cũng bị thay đổi như sau:
Bến Tre đổi tên thành Trúc Giang (tỉnh lỵ tỉnh Kiến Hòa)
Trà Vinh đổi tên thành Phú Vinh (tỉnh lỵ tỉnh Vĩnh Bình)
Sóc Trăng đổi tên thành Khánh Hưng (tỉnh lỵ tỉnh Ba Xuyên)
Cà Mau đổi tên thành Quản Long (tỉnh lỵ tỉnh An Xuyên)
Riêng tên các tỉnh lỵ sau đây thì vẫn được giữ nguyên và không bị thay đổi: Mỹ Tho (tỉnh lỵ tỉnh Định Tường), Cần Thơ (tỉnh lỵ tỉnh Phong Dinh), Rạch Giá (tỉnh lỵ tỉnh Kiên Giang), Long Xuyên (tỉnh lỵ tỉnh An Giang), Tân An (tỉnh lỵ tỉnh Long An), Mộc Hóa (tỉnh lỵ tỉnh Kiến Tường), Vĩnh Long (tỉnh lỵ tỉnh Vĩnh Long), Cao Lãnh (tỉnh lỵ tỉnh Kiến Phong).
Ngày 24 tháng 10 năm 1956, Tổng thống Việt Nam Cộng hòa Ngô Đình Diệm ký sắc lệnh phân chia lại địa giới các quân khu, theo đó thành lập mới Đệ ngũ Quân khu, gồm có 13 tỉnh: Long An, Kiến Tường, Kiến Phong, Định Tường, Kiến Hòa, Vĩnh Long, Vĩnh Bình, An Giang, Phong Dinh, Ba Xuyên, Kiên Giang, An Xuyên và Côn Sơn.
Ngày 5 tháng 4 năm 1959, thiết lập tòa đại biểu chính phủ Việt Nam Cộng hòa tại tây nam Nam Phần, bao gồm các tỉnh: An Xuyên, Long An, Định Tường, Kiến Tường, Kiến Phong, Kiến Hòa, Vĩnh Bình, Vĩnh Long, An Giang, Kiên Giang, Phong Dinh, Ba Xuyên. Trụ sở đặt tại Cần Thơ.
Ngày 16 tháng 4 năm 1959, Tổng thống Việt Nam Cộng hoà ký sắc lệnh phân chia lại địa giới một số quân khu, theo đó Đệ ngũ Quân khu gồm có 12 tỉnh: Kiến Tường, Kiến Phong, Định Tường, Kiến Hòa, Vĩnh Long, Vĩnh Bình, An Giang, Phong Dinh, Ba Xuyên, Kiên Giang, An Xuyên và Côn Sơn. Riêng Quân khu Thủ đô gồm có: Thủ đô Sài Gòn, tỉnh Gia Định, tỉnh Long An.
Ngày 21 tháng 1 năm 1961, Tổng thống Ngô Đình Diệm ban hành Sắc lệnh số 244-NV cho thành lập thêm tỉnh Chương Thiện trên cơ sở tách một phần đất đai từ các tỉnh Phong Dinh (các quận Đức Long và Long Mỹ), Kiên Giang (các quận Kiên Long và Kiên Hưng) và Ba Xuyên (quận Phước Long). Tỉnh lỵ có tên là Vị Thanh.
Ngày 15 tháng 10 năm 1963, Tổng thống Việt Nam Cộng hòa Ngô Đình Diệm lại ban hành Sắc lệnh số 124-NV thành lập tỉnh Hậu Nghĩa từ phần đất tách ra của các tỉnh Long An (các quận Đức Hòa và Đức Huệ), Gia Định (quận Củ Chi) và Tây Ninh (quận Trảng Bàng). Tỉnh lỵ đặt tại Bàu Trai, nhưng lúc này lại có tên gọi mới là Khiêm Cường.
Ngày 1 tháng 11 năm 1963, chính quyền Đệ nhất Cộng hòa của Việt Nam Cộng hòa bị lật đổ, Tổng thống Ngô Đình Diệm bị ám sát. Chính phủ mới của Việt Nam Cộng hòa được thành lập, tiến hành chia tách và trả lại tên gọi cho một vài tỉnh vốn đã bị giải thể và sáp nhập vào các tỉnh khác trước đây, cụ thể như sau:
Ngày 20 tháng 12 năm 1963, Thủ tướng Chính phủ lâm thời Việt Nam Cộng hòa ban hành Sắc lệnh số 36-TTP tái lập tỉnh Gò Công. Tỉnh lỵ có tên là Gò Công.
Ngày 8 tháng 9 năm 1964, Thủ tướng Chính phủ Việt Nam Cộng hòa đồng loạt ban hành các Sắc lệnh tái lập tỉnh, quy định các tỉnh này chính thức đi vào hoạt động kể từ ngày 1 tháng 10 năm 1964 như sau:
Sắc lệnh số 245-NV tái lập tỉnh Bạc Liêu. Tỉnh lỵ có tên là Bạc Liêu
Sắc lệnh số 246-NV tái lập tỉnh Châu Đốc. Tỉnh lỵ có tên là Châu Phú
Ngày 24 tháng 9 năm 1966, Chủ tịch Ủy ban lãnh đạo Quốc gia thuộc chính quyền Việt Nam Cộng hòa Ban hành Sắc lệnh số 162-SL/ĐUHC tái lập tỉnh Sa Đéc. Tỉnh lỵ có tên là Sa Đéc. Tỉnh Sa Đéc chính thức đi vào hoạt động kể từ ngày 23 tháng 12 năm 1966.
Ngày 9 tháng 12 năm 1965, Chủ tịch Uỷ ban Hành pháp chính quyền Việt Nam Cộng hòa là Nguyễn Cao Kỳ đã ký ban hành Nghị định phân chia Nam Việt Nam thành 4 vùng chiến thuật, Quân khu Thủ đô và Đặc khu Rừng Sác. Theo đó, Vùng 4 Chiến thuật, gồm có 15 tỉnh: Kiến Tường, Định Tường, Gò Công, Kiến Hòa, Kiến Phong, Vĩnh Long, Vĩnh Bình, Châu Đốc, An Giang, Kiên Giang, Phong Dinh, Chương Thiện, Bạc Liêu, Ba Xuyên, An Xuyên. Tháng 7 năm 1970, các "Vùng chiến thuật" được đổi tên trở lại thành các "Quân khu", trong đó có Quân khu 4 với Bộ chỉ huy đặt ở Cần Thơ.
Thời Việt Nam Cộng hòa, tên gọi quận Châu Thành ở một số tỉnh miền Tây Nam Phần bị thay đổi thành tên gọi quận khác như sau:
Quận Châu Thành ở tỉnh Gò Công bị giải thể, chia ra thành 2 quận là Hòa Lạc và Hòa Tân;
Quận Châu Thành ở tỉnh Kiến Hòa (tỉnh Bến Tre cũ) bị đổi tên thành quận Trúc Giang (sau khi đã tách ra và thành lập quận Hàm Long);
Quận Châu Thành ở tỉnh Sa Đéc bị đổi tên thành quận Đức Thịnh (sau khi đã tách ra và thành lập quận Đức Tôn);
Quận Châu Thành ở tỉnh Châu Đốc bị đổi tên thành quận Châu Phú (sau khi đã tách ra và thành lập quận An Phú);
Quận Châu Thành ở tỉnh Kiên Giang (tỉnh Rạch Giá cũ) bị đổi tên thành quận Kiên Thành (sau khi đã tách ra và thành lập quận Kiên Tân);
Quận Châu Thành ở tỉnh Ba Xuyên (tỉnh Sóc Trăng cũ) bị đổi tên thành quận Mỹ Xuyên (sau khi đã tách ra và thành lập quận Thuận Hòa);
Quận Châu Thành ở tỉnh An Xuyên (tỉnh Cà Mau cũ) bị đổi tên thành quận Quản Long.
Năm 1970, Thủ tướng chính quyền Việt Nam Cộng hòa là ông Trần Thiện Khiêm đã ban hành các Sắc lệnh cho cải biến và tái lập lập ở miền Tây Nam Phần 3 thị xã tự trị trực thuộc chính quyền Trung ương Việt Nam Cộng hòa, tương đương cấp tỉnh lúc bấy giờ là thị xã Mỹ Tho, thị xã Cần Thơ và thị xã Rạch Giá. Cụ thể như sau:
Ngày 30 tháng 9: ban hành Sắc lệnh số 114-SL/NV cải biến xã Điều Hòa thuộc quận Châu Thành, tỉnh Định Tường thành "thị xã Mỹ Tho"
Ngày 30 tháng 9: ban hành Sắc lệnh số 115-SL/NV cải biến xã Tân An và các phần đất phụ cận (bao gồm xã Thuận Đức, ấp Lợi Nguyên thuộc xã An Bình và ấp Bình Nhựt thuộc xã Long Tuyền) thuộc quận Châu Thành, tỉnh Phong Dinh thành "thị xã Cần Thơ".
Ngày 20 tháng 11: ban hành Sắc lệnh số 144-SL/NV cải biến hai xã Vĩnh Thanh Vân và An Hòa thuộc quận Kiên Thành, tỉnh Kiên Giang thành "thị xã Rạch Giá"
Ngày 7 tháng 6 năm 1971, chính quyền Việt Nam Cộng hòa ban hành Nghị định số 585-NĐ/NV thành lập tại thị xã Cần Thơ 2 quận lấy tên là quận 1 (quận Nhứt) và quận 2 (quận Nhì). Địa phận của 2 quận này được phân chia thành 8 khu phố trực thuộc. Trong đó quận 1 (quận Nhứt) có 5 khu phố: An Lạc, An Cư, An Nghiệp, An Hòa, An Thới và quận 2 (quận Nhì) có 3 khu phố: Hưng Lợi, Hưng Phú, Hưng Thạnh.
Ngày 7 tháng 6 năm 1971, chính quyền Việt Nam Cộng hòa cũng ban hành Nghị định chia địa phận thị xã Rạch Giá thành 6 khu phố trực thuộc: Vĩnh Thanh Vân, Vĩnh Thanh, Vĩnh Lạc, Vĩnh Hiệp, An Hoà, Phó Cơ Điều.
Ngày 10 tháng 6 năm 1971, Tổng trưởng Nội vụ chính quyền Việt Nam Cộng hòa ban hành Nghị định số 493-BNV/HCĐP/26/ĐT/NĐ chia địa phận thị xã Mỹ Tho thành 6 khu phố trực thuộc: 1, 2, 3, 4, 5, 6.
Ngày 22 tháng 8 năm 1972, Tổng trưởng Nội vụ chính quyền Việt Nam Cộng hòa lạo ban hành Nghị định số 553BNV/HCĐP/NÐ, đối các danh xưng khu phố của thị xă thành "phường".
==== Chính quyền Cách mạng ====
Tuy nhiên, chính quyền Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam (sau này là Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam) và Việt Nam Dân chủ Cộng hòa hầu như không công nhận tên gọi các tỉnh mới ở miền Tây lúc bấy giờ, mà thay vào đó vẫn sử dụng các tên gọi tỉnh cũ trước đây. Riêng tên gọi các tỉnh Long An, An Giang, Kiến Phong và Kiến Tường thì vẫn được chính quyền Cách mạng sử dụng. Cụ thể như sau:
Thành lập mới các tỉnh Kiến Phong và Kiến Tường có địa giới hành chính giống như phía VNCH
Hợp nhất tỉnh Chợ Lớn và tỉnh Tân An lại thành tỉnh Long An
Hợp nhất tỉnh Mỹ Tho và tỉnh Gò Công lại thành tỉnh Mỹ Tho (VNCH gọi là tỉnh Định Tường)
Hợp nhất tỉnh Long Xuyên và tỉnh Châu Đốc lại thành tỉnh An Giang
Hợp nhất tỉnh Sóc Trăng và tỉnh Bạc Liêu lại thành tỉnh Sóc Trăng (VNCH gọi là tỉnh Ba Xuyên)
Hợp nhất tỉnh Rạch Giá và tỉnh Hà Tiên lại thành tỉnh Rạch Giá (VNCH gọi là tỉnh Kiên Giang)
Giải thể tỉnh Sa Đéc, sáp nhập vào địa bàn tỉnh Vĩnh Long
Giữ nguyên tên gọi các tỉnh: Cần Thơ, Bến Tre, Trà Vinh, Cà Mau, Vĩnh Long
Năm 1957, địa bàn miền Tây Nam Bộ tương ứng với Khu 8 và Khu 9, bao gồm 12 tỉnh: Long An, Kiến Tường, Kiến Phong, Mỹ Tho, Vĩnh Long, Bến Tre, Trà Vinh, An Giang, Cần Thơ, Rạch Giá, Sóc Trăng, Cà Mau.
Tháng 8 năm 1968, tái lập tỉnh Gò Công trên cơ sở tách ra từ tỉnh Mỹ Tho. Năm 1971, thành lập tỉnh Châu Hà trên cơ sở tách đất từ tỉnh An Giang và tỉnh Rạch Giá. Tháng 11 năm 1973, tái lập tỉnh Bạc Liêu trên cơ sở tách ra từ tỉnh Sóc Trăng.
Tháng 5 năm 1974, giải thể các tỉnh An Giang, Châu Hà và Kiến Phong để tái lập các tỉnh có tên là Long Châu Hà, Long Châu Tiền và Sa Đéc. Tỉnh Sa Đéc lúc này cũng nhận lại phần đất đã bị sáp nhập vào tỉnh Vĩnh Long từ năm 1957.
Năm 1967, Trung ương Cục miền Nam quyết định tách thị xã Mỹ Tho ra khỏi tỉnh Mỹ Tho để thành lập thành phố Mỹ Tho trực thuộc Khu 8. Năm 1969, tách thị xã Cần Thơ ra khỏi tỉnh Cần Thơ để giao cho Khu 9 quản lý. Đến năm 1972, nâng thị xã Cần Thơ lên trở thành thành phố Cần Thơ trực thuộc Khu 9.
Sau ngày 30 tháng 4 năm 1975, chính quyền quân quản Cộng hòa miền Nam Việt Nam lúc bấy giờ vẫn duy trì tên gọi các tỉnh trực thuộc Khu 8 và Khu 9 như cũ cho đến đầu năm 1976. Lúc này, chính quyền Cách mạng cũng bỏ danh xưng "quận" có từ thời Pháp thuộc và lấy danh xưng "huyện" ("quận" và "phường" dành cho các đơn vị hành chánh tương đương khi đã đô thị hóa).
Vào thời điểm này, Khu 8 và Khu 9 ở miền Tây Nam Bộ có các tỉnh, thành phố trực thuộc như sau:
Thành phố Mỹ Tho, thành phố Cần Thơ
15 tỉnh: Long An, Kiến Tường, Mỹ Tho, Gò Công, Vĩnh Long, Bến Tre, Trà Vinh, Sa Đéc, Long Châu Tiền, Long Châu Hà, Cần Thơ, Rạch Giá, Sóc Trăng, Bạc Liêu, Cà Mau
Ngày 20 tháng 9 năm 1975, Bộ Chính trị ra Nghị quyết số 245-NQ/TW về việc bỏ khu, hợp tỉnh trong toàn quốc "nhằm xây dựng các tỉnh thành những đơn vị kinh tế, kế hoạch và đơn vị hành chính có khả năng giải quyết đến mức cao nhất những yêu cầu về đẩy mạnh sản xuất, tổ chức đời sống vật chất, văn hóa của nhân dân, về củng cố quốc phòng, bảo vệ trị an, và có khả năng đóng góp tốt nhất vào sự nghiệp chung của cả nước". Theo Nghị quyết này, các tỉnh hợp lại sẽ đề nghị Nhà nước quyết định tên và tỉnh lỵ của tỉnh mới. Lúc này, các tỉnh ở miền Tây Nam Bộ ban đầu dự kiến sẽ hợp nhất lại như sau:
Tỉnh Cà Mau, tỉnh Bạc Liêu và hai huyện Vĩnh Thuận, An Biên của tỉnh Rạch Giá (trừ hai xã Tây Yên và Đông Yên)
Tỉnh Long Châu Hà, tỉnh Rạch Giá và huyện Thốt Nốt của tỉnh Cần Thơ
Tỉnh Cần Thơ, tỉnh Sóc Trăng, tỉnh Vĩnh Long, tỉnh Trà Vinh và thành phố Cần Thơ
Tỉnh Long Châu Tiền, tỉnh Sa Đéc và tỉnh Kiến Tường
Tỉnh Mỹ Tho, tỉnh Gò Công, tỉnh Long An, tỉnh Bến Tre và thành phố Mỹ Tho
Nhưng đến ngày 20 tháng 12 năm 1975, Bộ Chính trị lại ra Nghị quyết số 19/NQ điều chỉnh lại việc hợp nhất tỉnh ở miền Nam Việt Nam cho sát với tình hình thực tế. Theo đó hợp nhất các tỉnh sau đây thành những tỉnh mới:
Tỉnh Cà Mau và tỉnh Bạc Liêu
Tỉnh Cần Thơ (gồm cả huyện Thốt Nốt), tỉnh Sóc Trăng và thành phố Cần Thơ
Tỉnh Vĩnh Long và tỉnh Trà Vinh
Tỉnh Mỹ Tho, tỉnh Gò Công và thành phố Mỹ Tho
Tỉnh Long An và tỉnh Kiến Tường
Tây Long Châu Tiền và Long Châu Hà (tỉnh An Giang cũ bao gồm của tỉnh Long Xuyên, tỉnh Châu Đốc trừ huyện Thốt Nốt)
Tỉnh Sa Đéc và tỉnh Kiến Phong cũ
Tỉnh Bến Tre vẫn để thành tỉnh riêng
Tỉnh Rạch Giá cũ (bao gồm cả các huyện Hà Tiên, Phú Quốc và Châu Thành A của tỉnh Long Châu Hà) vẫn để thành tỉnh riêng
=== Từ năm 1976 đến nay ===
Tháng 2 năm 1976, Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam đã ra Nghị định về việc giải thể Khu, hợp nhất tỉnh ở miền Nam. Các tỉnh ở miền Tây Nam Bộ lúc này được hợp nhất như sau:
Tỉnh Long An (gồm tỉnh Long An và tỉnh Kiến Tường cũ). Tỉnh lỵ: thị xã Tân An
Tỉnh Tiền Giang (gồm tỉnh Mỹ Tho, tỉnh Gò Công và thành phố Mỹ Tho cũ). Tỉnh lỵ: thành phố Mỹ Tho
Tỉnh Cửu Long (gồm tỉnh Vĩnh Long và tỉnh Trà Vinh cũ). Tỉnh lỵ: thị xã Vĩnh Long
Tỉnh Hậu Giang (gồm tỉnh Cần Thơ, tỉnh Sóc Trăng và thành phố Cần Thơ cũ). Tỉnh lỵ: thành phố Cần Thơ
Tỉnh Đồng Tháp (gồm tỉnh Sa Đéc và tỉnh Kiến Phong cũ). Tỉnh lỵ: thị xã Sa Đéc
Tỉnh An Giang (gồm một số huyện của tỉnh Long Châu Hà, hai huyện của tỉnh Long Châu Tiền, một huyện của tỉnh Sa Đéc và toàn bộ tỉnh An Giang cũ trước chia ra nay nhập lại giữ tên An Giang). Tỉnh lỵ: thị xã Long Xuyên
Tỉnh Kiên Giang (gồm tỉnh Rạch Giá và ba huyện của tỉnh Long Châu Hà cũ). Tỉnh lỵ: thị xã Rạch Giá
Tỉnh Minh Hải (gồm tỉnh Cà Mau và tỉnh Bạc Liêu cũ). Tỉnh lỵ: thị xã Minh Hải (tên gọi mới của thị xã Bạc Liêu)
Tỉnh Bến Tre. Tỉnh lỵ: thị xã Bến Tre
Ngày 17 tháng 5 năm 1984, Hội đồng Bộ trưởng ban hành Quyết định số 75-HĐBT về việc đổi tên thị xã Minh Hải thành thị xã Bạc Liêu thuộc tỉnh Minh Hải. Ngày 18 tháng 12 năm 1984, Hội đồng Bộ trưởng ra Quyết định số 170-HĐBT về việc chuyển tỉnh lỵ tỉnh Minh Hải từ thị xã Bạc Liêu về thị xã Cà Mau. Từ đó, tỉnh lỵ tỉnh Minh Hải đặt tại thị xã Cà Mau cho đến cuối năm 1996.
Ngày 26 tháng 12 năm 1991, Quốc hội Việt Nam ban hành Nghị quyết về việc chia lại một số tỉnh trong cả nước nói chung và miền Tây Nam Bộ nói riêng, cụ thể như sau:
Chia tỉnh Hậu Giang thành 2 tỉnh, lấy tên là tỉnh Cần Thơ và tỉnh Sóc Trăng:
Tỉnh lỵ tỉnh Cần Thơ đặt tại thành phố Cần Thơ
Tỉnh lỵ tỉnh Sóc Trăng đặt tại thị xã Sóc Trăng
Chia tỉnh Cửu Long thành 2 tỉnh, lấy tên là tỉnh Vĩnh Long và tỉnh Trà Vinh:
Tỉnh lỵ tỉnh Vĩnh Long đặt tại thị xã Vĩnh Long
Tỉnh lỵ tỉnh Trà Vinh đặt tại thị xã Trà Vinh
Ngày 29 tháng 4 năm 1994, Chính phủ Việt Nam ban hành Nghị định số 36-CP về việc di chuyển tỉnh lỵ tỉnh Đồng Tháp từ thị xã Sa Đéc về thị xã Cao Lãnh.
Ngày 6 tháng 11 năm 1996, Quốc hội Việt Nam lại ban hành Nghị quyết về việc chia tỉnh Minh Hải thành hai tỉnh là tỉnh Cà Mau và tỉnh Bạc Liêu:
Tỉnh lỵ tỉnh Bạc Liêu đặt tại thị xã Bạc Liêu
Tỉnh lỵ tỉnh Cà Mau đặt tại thị xã Cà Mau
Ngày 26 tháng 11 năm 2003, Quốc hội Việt Nam ban hành Nghị quyết số 22/2003/QH11 về việc chia và điều chỉnh địa giới hành chính một số tỉnh. Theo đó, chia tỉnh Cần Thơ thành thành phố Cần Thơ trực thuộc trung ương và tỉnh Hậu Giang. Tỉnh lỵ tỉnh Hậu Giang đặt tại thị xã Vị Thanh.
== Các tỉnh và thành phố ==
Thành phố Cần Thơ
Nguồn: Tổng cục Thống kê Việt Nam.
Hiện nay, hầu hết các đô thị vốn trước đây là thị xã tỉnh lỵ của một tỉnh ở vùng đồng bằng sông Cửu Long đều đã trở thành các thành phố trực thuộc tỉnh (ngoại trừ thành phố Cần Thơ trực thuộc trung ương từ đầu năm 2004). Trong đó, tỉnh An Giang có hai thành phố là Long Xuyên và Châu Đốc, tỉnh Đồng Tháp có hai thành phố là Cao Lãnh và Sa Đéc.
Trong suốt thời kỳ từ đầu năm 1976 cho đến năm 1999, toàn vùng đồng bằng sông Cửu Long chỉ có hai thành phố (lúc bấy giờ đều là thành phố trực thuộc tỉnh) là Cần Thơ và Mỹ Tho. Từ năm 1999 đến nay, lần lượt các thị xã được nâng cấp trở thành các thành phố trực thuộc tỉnh.
Các thành phố lập trước năm 1975:
Thành phố Mỹ Tho: lập ngày 24 tháng 08 năm 1967 theo Quyết định của Trung ương Cục miền Nam
Thành phố Cần Thơ: lập vào tháng 8 năm 1972 theo Quyết định của chính quyền Cộng hòa miền Nam Việt Nam
Các thành phố lập từ năm 1999 đến nay:
Thành phố Long Xuyên: lập ngày 01 tháng 03 năm 1999 theo Nghị định số 09/1999/NĐ-CP
Thành phố Cà Mau: lập ngày 14 tháng 04 năm 1999 theo Nghị định số 21/1999/NĐ-CP
Thành phố Rạch Giá: lập ngày 26 tháng 07 năm 2005 theo Nghị định số 97/2005/NĐ-CP
Thành phố Cao Lãnh: lập ngày 16 tháng 01 năm 2007 theo Nghị định số 10/2007/NĐ-CP
Thành phố Sóc Trăng: lập ngày 08 tháng 02 năm 2007 theo Nghị định số 22/2007/NĐ-CP
Thành phố Vĩnh Long: lập ngày 10 tháng 04 năm 2009 theo Nghị định số 16/NĐ-CP
Thành phố Bến Tre: lập ngày 11 tháng 08 năm 2009 theo Nghị định số 34/NQ-CP
Thành phố Tân An: lập ngày 24 tháng 08 năm 2009 theo Nghị định số 38/NQ-CP
Thành phố Trà Vinh: lập ngày 04 tháng 03 năm 2010 theo Nghị định số 11/NQ-CP
Thành phố Bạc Liêu: lập ngày 27 tháng 08 năm 2010 theo Nghị định số 32/NQ-CP
Thành phố Vị Thanh: lập ngày 23 tháng 09 năm 2010 theo Nghị định số 34/NQ-CP
Thành phố Châu Đốc: lập ngày 19 tháng 07 năm 2013 theo Nghị định số 86/NQ-CP
Thành phố Sa Đéc: lập ngày 14 tháng 10 năm 2013 theo Nghị định số 113/NQ-CP
Hiện nay, ở vùng Đồng bằng sông Cửu Long có 2 đô thị loại I: thành phố Cần Thơ (trực thuộc Trung ương), thành phố Mỹ Tho (thuộc tỉnh Tiền Giang). Các thành phố là đô thị loại II: thành phố Long Xuyên, thành phố Châu Đốc (thuộc tỉnh An Giang), thành phố Rạch Giá (thuộc tỉnh Kiên Giang), thành phố Cà Mau (thuộc tỉnh Cà Mau), thành phố Bạc Liêu (thuộc tỉnh Bạc Liêu), thành phố Trà Vinh (thuộc tỉnh Trà Vinh). Các thành phố còn lại hiện nay đều là các đô thị loại III trực thuộc tỉnh.
== Nhân khẩu học ==
Dân cư ở vùng Đồng bằng sông Cửu Long đa số là người Kinh. Khu vực này trước đây từng là một phần của Đế quốc Khmer, do đó là vùng tập trung người Khmer nhiều nhất bên ngoài nước Campuchia. Người Khmer sống chủ yếu ở Trà Vinh, Sóc Trăng và người Chăm theo đạo Hồi sống ở Tân Châu, An Giang. Một lượng trung bình người Hoa sống ở Kiên Giang và Trà Vinh. Dân số vùng Đồng bằng sông Cửu Long là 17,33 triệu người vào năm 2011.
Dân số vùng Đồng bằng sông Cửu Long tăng chậm trong những năm gần đây, chủ yếu do di cư đi nơi khác. Dân số vùng tăng 471.600 người từ năm 2005 đến 2011, trong khi đó 166.400 người di cư chỉ trong năm 2011. Tương tự như vùng duyên hải miền Trung, đây là một trong những nơi tăng dân số chậm nhất nước. Tỷ lệ tăng dân số trong khoảng 0,3% đến 0,5% từ năm 2008 đến 2011, trong khi đó tỷ lệ tăng dân số vùng Đông Nam Bộ lân cận là 2%. Tỷ lệ tăng dân số cơ học trong vùng là âm trong những năm này. Tỷ lệ sinh của vùng cũng khá thấp, ở mức 1,8 trẻ em trên mỗi người phụ nữ vào năm 2010 và 2011, giảm từ 2,0 năm 2005.
== Khí hậu ==
Đây là vùng có khí hậu cận xích đạo nên thuận lợi phát triển ngành nông nghiệp (mưa nhiều, nắng nóng) đặc biệt là phát triển trồng lúa nước và cây lương thực.
Theo nghiên cứu của Trường Đại học Cần Thơ thì biến đổi khí hậu và hiện tượng hâm nóng toàn cầu sẽ làm mực nước biển dâng lên. Nếu dâng một mét thì 20% đồng bằng châu thổ sẽ bị đe dọa. Dâng hai mét diện tích đồng bằng sông Cửu Long sẽ bị xóa còn phân nửa, ảnh hưởng trầm trọng đến đời sống 15 triệu dân.
Năm 2016, Đồng bằng sông Cửu Long hứng chịu đợt hạn hán và xâm nhập mặn nặng nề nhất trong vòng 100 năm, gây thiệt hại hơn 160.000ha lúa, tương đương 800.000 tấn lúa bị mất trắng, với mỗi gia đình có diện tích sản xuất khoảng 0,5ha, thì xâm nhập mặn đã làm khoảng 300.000 hộ gia đình (khoảng 1,5 triệu người) trong những tháng qua không có thu nhập. Các tỉnh bị thiệt hại nặng nhất là Kiên Giang (hơn 54.000 ha), Cà Mau (gần 50.000 ha), Bến Tre (gần 14.000 ha), Bạc Liêu (gần 12.000 ha)... Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn đã phải công bố tình trạng thiên tai đặc biệt nghiêm trọng. Theo Thứ trưởng Bộ Tài nguyên - môi trường Trần Hồng Hà, ngoài những nguyên nhân như mùa mưa năm 2015 đến muộn và kết thúc sớm, nguyên nhân chính là các vấn đề ở thượng nguồn dòng chảy. Theo Bộ Tài nguyên - môi trường, các hồ chứa trên dòng chính ở phía Trung Quốc có dung tích khoảng 23 tỉ m3, các hồ chứa trên những sông nhánh khoảng 20 tỉ m3. Tổng dung tích này tác động rất lớn đến việc điều tiết nước và lưu lượng dòng chảy về phía hạ lưu. Trong dịp Tết Nguyên đán ở Trung Quốc, nhu cầu năng lượng giảm nên họ tích nước, do vậy vào thời điểm này lượng nước giảm đáng kể, sau đó dòng chảy tăng lên (khi các hồ xả nước để chạy thủy điện). “Tôi khẳng định đây là nguyên nhân cơ bản” - ông Hà nói.
== Kinh tế ==
=== Tài nguyên ===
Đồng bằng sông Cửu Long không giàu khoáng sản. Khoáng sản chủ yếu là than bùn và đá vôi. Ngoài ra đồng bằng còn có các khoáng sản vật liệu xây dựng như sét gạch ngói, cát sỏi....
Tài nguyên rừng cũng giữ những vai trò quan trọng, đặc biệt là hệ thống rừng ngập mặn ven biển lớn nhất Việt Nam, trong đó hệ thống rừng ngập mặn Mũi Cà Mau được công nhận là khu dự trữ sinh quyển thế giới, bên cạnh đó là những cánh rừng tràm ở U Minh Cà Mau, Đồng Tháp với một hệ thống sinh học vô cùng đa dạng.
=== Nông nghiệp ===
Mặc dù diện tích canh tác nông nghiệp và thủy sản chưa tới 30% của cả nước nhưng miền Tây đóng góp hơn 50% diện tích lúa, 71% diện tích nuôi trồng thủy sản, 30% giá trị sản xuất nông nghiệp và 54% sản lượng thủy sản của cả nước. Lúa trồng nhiều nhất ở các tỉnh An Giang, Long An, Đồng Tháp, Tiền Giang. Diện tích và sản lượng thu hoạch chiếm hơn 50% so với cả nước. Bình quân lương thực đầu người gấp 2.3 lần so với lương thực trung bình cả nước. Nhờ vậy nên Đồng bằng sông Cửu Long là nơi xuất khẩu gạo chủ lực của cả đất nước. Ngoài ra cây ăn quả còn đặc sản nổi tiếng của vùng, với sự đa dạng về số lượng, cũng như chất lượng ngày càng được nâng cao
Nghề nuôi vịt đàn phát triển mạnh, nuôi nhiều ở Đồng Tháp, Hậu Giang, Bạc Liêu, Cà Mau và Sóc Trăng.
=== Thủy sản ===
Sản lượng thủy sản chiếm 50% cả nước, nhiều nhất ở các tỉnh Cà Mau, Bạc Liêu, Kiên Giang và An Giang. Kiên Giang là tỉnh có sản lượng thủy sản săn bắt nhiều nhất, 239.219 tấn thủy sản (năm 2000). An Giang là tỉnh nuôi trồng thủy sản lớn nhất vùng với sản lượng 80.000 tấn thủy sản (năm 2000). Nghề nuôi trồng và đánh bắt thủy hải sản đang phát triển mạnh, theo quy mô công nghiệp.
=== Công nghiệp ===
Ngành công nghiệp phát triển rất thấp, chủ yếu là ngành chế biến lượng thực. Cần Thơ là trung tâm công nghiệp của cả vùng bao gồm các ngành nhiệt điện, chế biến lương thực, luyện kim đen, cơ khí, hóa chất, dệt may và vật liệu xây dựng.
=== Dịch vụ ===
Khu vực dịch vụ của vùng Đồng bằng sông Cửu Long bao gồm các ngành chủ yếu: xuất nhập khẩu, vận tải thủy và du lịch. Xuất khẩu gạo chiếm 80% của cả nước. Giao thông đường thủy giữ vai trò quan trọng nhất.
Du lịch biển chủ yếu ở Kiên Giang với thắng cảnh đẹp ở Hà Tiên, Phú Quốc. Du lịch tâm linh với nhiều chùa đẹp ở Châu Đốc, Sóc Trăng, Bạc Liêu.
Du lịch sinh thái bắt đầu khởi sắc như du lịch trên sông nước, vườn, khám phá các cù lao. Du lịch bền vững bước đầu hình thành với sự thành công của khu nghỉ dưỡng bền vững Mekong Lodge tại Tiền Giang và nhiều địa phương khác như Bến Tre, Vĩnh Long, Cà Mau, Đồng Tháp. Tuy nhiên chất lượng và sức cạnh tranh của các khu du lịch không đồng đều và còn nhiều hạn chế.
=== Vùng Kinh tế trọng điểm Đồng bằng sông Cửu Long ===
Vùng kinh tế trọng điểm vùng đồng bằng sông Cửu Long là tên gọi khu vực phát triển kinh tế động lực ở miền Tây Nam Bộ Việt Nam, gồm các tỉnh, thành phố: Cần Thơ, An Giang, Kiên Giang và Cà Mau. Đề án thành lập vùng kinh tế trọng điểm này đã được Thủ tướng Chính phủ Việt Nam phê duyệt ngày 16 tháng 4 năm 2009 bằng Quyết định số 492/QĐ-TTg ngày 16 tháng 4 năm 2009.
Theo Quyết định này, đến năm 2020, vùng kinh tế trọng điểm này sẽ là trung tâm lớn về sản xuất lúa gạo, nuôi trồng, đánh bắt và chế biến thủy sản, đóng góp lớn vào xuất khẩu nông thủy sản của cả nước. Ngoài ra, vùng kinh tế này còn đóng vai trò quan trọng trong chuyển giao công nghệ sinh học, cung cấp giống, các dịch vụ kỹ thuật, chế biến và xuất khẩu các sản phẩm nông nghiệp cho cả vùng đồng bằng sông Cửu Long.
== Hạ tầng ==
Mạng lưới đường bộ từng bước được quy hoạch, nâng cấp, xây mới theo dạng "ô bàn cờ", bao gồm các trục dọc, ngang và hệ thống đường vành đai liên kết với nhau một cách hợp lý. Nhiều trục quốc lộ đã và đang được nâng cấp, xây mới, trong đó đáng kể có dự án mở rộng quốc lộ 1A đoạn Trung Lương - Cần Thơ; xây dựng đường cao tốc TP Hồ Chí Minh - Trung Lương; tuyến đường nam sông Hậu, tuyến Quản Lộ - Phụng Hiệp... Nhiều cầu lớn vượt sông trên quốc lộ 1A đã được đầu tư, xây mới như cầu Mỹ Thuận vượt sông Tiền, cầu Cần Thơ vượt sông Hậu, cầu Rạch Miễu nối Tiền Giang với đất dừa Bến Tre,... Những cây cầu này xóa đi cảnh chen chúc lộn xộn, mất thời gian, thiếu an toàn tại các bến phà vốn tồn tại hàng thế kỷ nay, đồng thời trở thành điểm tham quan thu hút khách du lịch bởi quy mô và kiến trúc đẹp, hiện đại. Ðến nay những "anh hai lúa" có thể thỏa mãn ước mơ được đi trên những máy bay hiện đại, ngắm nhìn những cánh đồng thẳng cánh cò bay. Ðó cũng là nhờ việc quan tâm đầu tư, quy hoạch các sân bay trong vùng trên nguyên tắc bảo đảm kết nối vùng với các sân bay quốc tế và phân bố đều trong khu vực, nhất là các tỉnh nằm trong vùng kinh tế trọng điểm Đồng bằng sông Cửu Long. Cùng với việc nâng cấp một số hạng mục các cảng hàng không Rạch Giá, Cà Mau, Phú Quốc,... sân bay quốc tế Cần Thơ đã hoàn thành với sức chứa 2,5 triệu hành khách/năm và có thể khai thác được các loại máy bay lớn như B747, B777. Hiện Cảng hàng không quốc tế Phú Quốc mới giai đoạn I đang được thi công, sau khi hoàn thành sẽ thuận lợi hơn cho người dân trên đảo gần với đất liền và thu hút nhiều khách trong và ngoài nước đến với đảo xa. Cùng với đường bộ, đường hàng không, hệ thống đường sông Đồng bằng sông Cửu Long đã và đang được đầu tư nâng cấp một cách đáng kể, nhất là các tuyến sông chính, kết hợp với hệ thống đường thủy do các địa phương quản lý đã góp phần nâng cao khả năng kết nối khu vực với các cảng sông, biển. Từ TP Hồ Chí Minh, bằng phương tiện thủy, hàng hóa và hành khách có thể đi qua Ðồng Tháp Mười và Tứ giác Long Xuyên đến Hà Tiên, Cà Mau... Nông sản hàng hóa vùng Đồng bằng sông Cửu Long sẽ đến nhanh hơn với các trung tâm kinh tế lớn của cả nước.
Cầu Cần Thơ là cầu dây văng bắt ngang qua sông Hậu, được hoàn thành vào ngày 12 tháng 4 năm 2010. Trước đó ba năm, một tai nạn lúc xây dựng đã làm 55 người chết và làm bị thương hơn 100 người. Cầu được xây dựng để thay thế cho phà và kết nối quốc lộ 1A. Cầu Cần Thơ bắt ngang qua hai tỉnh Vĩnh Long và thành phố Cần Thơ. Chi phí xây dựng ước tính là 4.842 tỷ đồng (khoảng 342,6 triệu đô la Mỹ), và là cây cầu mắc nhất Việt Nam lúc mới hoàn thành.
Ban Quản lý các Dự án đường thủy nội địa phía Nam đã tổ chức họp sơ kết, đánh giá kết quả thực hiện “Dự án phát triển cơ sở hạ tầng giao thông Đồng bằng sông Cửu Long” (Dự án WB 5) giai đoạn 1.
Dự án WB 5 sử dụng vốn ưu đãi của Ngân hàng Thế giới (WB), vốn viện trợ của Chính phủ Australia ủy thác qua WB và vốn đối ứng của Chính phủ Việt Nam với tổng nguồn vốn 312,02 triệu USD.
Khởi công năm 2007, đến nay dự án đã giải ngân 165 triệu USD (chiếm 53% tổng vốn đầu tư), cơ bản hoàn thành bốn gói thầu xây lắp trên Quốc lộ 53, 54; hoàn thành nạo vét 63 km trong 253 km kênh cấp 3.
Hiện 13 tỉnh Đồng bằng sông Cửu Long đang thi công 32 công trình giao thông do địa phương quản lý; trong đó các công trình thuộc bảy tỉnh An Giang, Bến Tre, Hậu Giang, Đồng Tháp, Tiền Giang, Sóc Trăng và Vĩnh Long đã hoàn thành. Các công trình, hạng mục còn lại đang trong giai đoạn hoàn chỉnh thiết kế kỹ thuật hoặc đang thi công, dự kiến sẽ hoàn thành vào năm 2016.
Dự án WB 5 giai đoạn 1 được chia làm bốn hợp phần. Hợp phần A: nâng cấp, cải tạo các tuyến Quốc lộ 53, 54, 91 đạt tiêu chuẩn cấp 2, cấp 3 và cấp 4 đồng bằng (tổng chiều dài 98 km); xây dựng lại mặt đường bằng hai lớp bêtông nhựa nóng trên lớp móng cấp phối đá dăm; thay thế các cầu trên tuyến bằng cầu dầm bêtông cốt thép.
Hợp phần B: nạo vét, nâng cấp hai tuyến hành lang đường thuỷ quốc gia tổng chiều dài 356 km gồm hành lang phía Bắc xuyên Đồng Tháp Mười và Tứ Giác Long Xuyên; hành lang duyên hải phía Nam, đoạn Giá Rai-Bạc Liêu-Đại Ngãi đạt tiêu chuẩn cấp 3, nâng cấp các cầu hiện hữu trên kênh bằng cầu dầm bêtông cốt thép.
Hợp phần C: nâng cấp 205 km tỉnh lộ thuộc 13 tỉnh Đồng bằng sông Cửu Long; cải tạo một số tuyến đường thủy địa phương và bến bốc xếp. Hợp phần D: đầu tư hỗ trợ thể chế cho Bộ Giao thông vận tải và các tỉnh.
Dự án WB 5 được thực hiện nhằm cải thiện hệ thống giao thông, giảm thiểu tắc nghẽn, làm thông suốt các tuyến đường bộ và đường thủy then chốt tại Đồng bằng sông Cửu Long góp phần đi lại, lưu thông hàng hóa giảm chi phí vận chuyển từ nơi sản xuất đến thị trường tiêu thụ và các đầu mối xuất khẩu; đồng thời hỗ trợ phát triển kinh tế-xã hội, xóa đói, giảm nghèo trong khu vực.
== Văn hóa ==
=== Âm nhạc ===
Vùng này là cái nôi của nghệ thuật đờn ca tài tử, nghệ thuật sân khấu cải lương.
Là nguồn cảm hứng cho rất nhiều ca khúc âm hưởng dân ca Nam bộ với nhiều nhạc sĩ nỗi tiếng như: Bắc Sơn, Thanh Sơn, Trúc Phương,...
=== Văn học và phim ảnh ===
Lục Vân Tiên của Nguyễn Đình Chiểu là tác phẩm nổi tiếng về con người hào khí, nghĩa hiệp; từ đó trở thành nghệ thuật đọc thơ Lục Vân Tiên.
Nhiều bộ phim được sản xuất ở vùng này để miêu tả nền văn minh của Đồng bằng sông Cửu Long. Một số phim nổi tiếng có thể kể ra như Mùa len trâu và Cánh đồng bất tận, Hương phù sa,...
Sơn Nam, Vương Hồng Sển, Lê Vĩnh Hòa, Đoàn Giỏi, Nguyễn Quang Sáng, Trang Thế.... đã viết nhiều quyển sách nổi tiếng về cuộc sống ở vùng Đồng bằng.
== Thư mục ==
=== Tiếng Anh ===
Steffen Gebhardt, Juliane Huth, Nguyen Lam Dao, Achim Roth, Claudia Kuenzer: A comparison of TerraSAR-X Quadpol backscattering with RapidEye multispectral vegetation indices over rice fields in the Mekong Delta, Vietnam. In: International Journal of Remote Sensing. 33(24) 2012, 7644-7661.
Claudia Kuenzer, Huadong Guo, Patrick Leinenkugel, Juliane Huth, Xinwu Li, Stefan Dech: Flood and inundation dynamics in the Mekong Delta: an ENVISAT ASAR based time series analyses. In print at: Remote Sensing. 2012.
Patrick Leinenkugel, Thomas Esch, Claudia Kuenzer: Settlement detection and impervious surface estimation in the Mekong delta using optical and SAR data. In: Remote Sensing of Environment. 115(12) 2011, 3007-3019.
=== Tiếng Việt ===
Võ Thị Thu Vân và Lê Phát Quới, Đánh giá mối quan hệ các yếu tố tự nhiên và thảm thực vật vùng đất ngập nước của VQG Tràm Chim, Khóa luận tốt nghiệp cử nhân, Khoa Môi trường, Đại học Bách Khoa Tp. HCM, 2006.
Lê Phát Quới, Formation of Acid Sulphate Soils in the Lower Mekong Delta, Vietnam. Viện Địa chất, Đại học Ghent, Bỉ, 1995.
Lê Phát Quới, Study on Degarded Grey Soil (Plinthosols) in the Plain of Reeds, Lower Mekong Delta, Vietnam. Luận văn Thạc sĩ, Đại học Ghent, Bỉ, 1995.
== Ghi chú ==
== Tham khảo ==
== Xem thêm ==
Vùng kinh tế trọng điểm vùng đồng bằng sông Cửu Long
Vùng Tây Bắc (Việt Nam)
Vùng Đông Bắc (Việt Nam)
Đồng bằng sông Hồng
Bắc Trung Bộ (Việt Nam)
Nam Trung Bộ (Việt Nam)
Tây Nguyên
Đông Nam Bộ (Việt Nam)
== Liên kết ngoài ==
The WISDOM Project, a Water related Information System for the Mekong Delta
Quyết định 1581/QĐ-TTg năm 2009 về việc phê duyệt quy hoạch xây dựng vùng đồng bằng sông Cửu Long đến năm 2020 và tầm nhìn đến năm 2050 do Thủ tướng Chính phủ ban hành
Ảnh vệ tinh
PBS
McLeod - Ibiblio
Hệ thống canh tác
WebGIS quản lý tài nguyên nước
Đồng Bằng Sông Cửu Long, Nhà xuất bản Tổng Hợp 1984, Lê Minh |
đội bóng đá thể công.txt | Đội bóng đá Thể Công (trước đây có thời gian mang tên Câu lạc bộ Thể dục Thể thao Quân đội) là một câu lạc bộ bóng đá cũ của Việt Nam. Đây cũng là câu lạc bộ lâu đời và giàu truyền thống nhất Việt Nam trước khi Bộ Quốc phòng Việt Nam quyết định giải thể đội vào năm 2009. Thể Công là câu lạc bộ có thành tích tốt nhất trong lịch sử bóng đá Việt Nam và có nhiều người hâm mộ nhất cả nước.
== Lịch sử ==
Ngày 23 tháng 9 năm 1954, thể theo chỉ định của Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị vào lúc đó là Nguyễn Chí Thanh, đoàn công tác Thể dục Thể thao Quân đội (Thể Công) được thành lập.. Thể Công vốn là tên viết tắt của cụm từ "Thể dục thể thao công tác đội". Hạt nhân đầu tiên của đội gồm 23 cán bộ chiến sĩ của Trường Lục quân Việt Nam được chia làm ba đội: bóng đá 11 cầu thủ, bóng rổ 5 người và bóng chuyền 6 người. Ngoài ra cả ba đội bóng còn có một cầu thủ dự bị đặc biệt đó là ông Lý Đức Kim vừa biết đá bóng, vừa biết bóng rổ, bóng chuyền, vừa có khả năng làm y tá, vừa hậu cần giỏi. Ông kiêm luôn các chức năng hỗ trợ trên. 11 cầu thủ bóng đá Thể Công đầu tiên chơi theo đội hình chiến thuật W - M gồm: Thủ môn Lê Nhâm; Trung vệ Nguyễn Văn Hiếu; Hậu vệ phải Phạm Ngọc Quế; Hậu vệ trái Nguyễn Thiêm; Tiền vệ phải Ngô Xuân Quýnh; Tiền vệ trái Phạm Mạnh Soạn; Tả biên Trương Vinh Thăng; Hữu biên Nguyễn Bá Khánh; Trung phong Nguyễn Văn Bưởi (Đội trưởng); Hộ công phải Nguyễn Thông (Kiêm luôn Huấn luyện viên); Hộ công trái Vũ Tâm (tức Phạm Vinh).
Hơn một tháng sau, ngày 25 tháng 10, trong trận bóng đá đầu tiên được tổ chức từ ngày giải phóng thủ đô Hà Nội tại sân vận động Hàng Đẫy, Thể Công đã có trận đấu đầu tiên trong lịch sử của mình gặp đội Trần Hưng Đạo, gồm các cầu thủ xuất thân từ giới lao động Thủ đô. Đội giành chiến thắng với tỉ số 1 - 0 với bàn thắng duy nhất của trận đấu được ghi ngay từ giây thứ 30 do công của trung phong đội trưởng Nguyễn Văn Bưởi.
Đến năm 1955, giải bóng đá đầu tiên của toàn Miền Bắc được tổ chức tại Hải Phòng với tên gọi "Giải Hoà Bình", đội Thể Công tham gia hai đội hình A và B. Cả hai đội đều giành chức vô địch của hai hạng A và B.
Từ năm 1955 đến năm 1979, Thể Công luôn là đội bóng mạnh quốc gia với 13 lần vô địch giải bóng đá Miền bắc Việt Nam. Ngoài ra Thể Công còn có rất nhiều trận thắng vẻ vang khắp Quốc tế như 2 trận thắng đội Bát Nhất (đội bóng mạnh nhất Trung Hoa lúc đó) hay thắng cả đội tuyển Cuba rất mạnh... Thể Công không chỉ là đội bóng mạnh ở miền bắc Việt Nam mà còn gây tiếng vang lớn trong làng bóng đá các nước Xã hội Chủ nghĩa thời bấy giờ . Trong khoảng thời gian đấy, lứa cầu thủ tiêu biểu của Thể Công là lứa Nguyễn Thế Anh (Ba Đẻn), Nguyễn Cao Cường, Quản Trọng Hùng, Vương Tiến Dũng, Nguyễn Trọng Giáp, Vũ Mạnh Hải,... với đa số là lứa cầu thủ trẻ được đi tập huấn dài hạn ở Triều Tiên năm 1967 và khi về nước họ là những cầu thủ tiêu biểu, xuất sắc hàng đầu Quốc gia. [1]
Sau khi đất nước thông nhất và có giải Vô địch Quốc gia (tiền thân của V-League), Thể Công vẫn luôn là đội bóng mạnh nhất Việt Nam với 5 lần vô địch. Các cầu thủ Thể Công luôn là nòng cốt của đội tuyển Quốc gia và đóng góp rất nhiều cầu thủ trong lứa thế hệ vàng của bóng đá Việt Nam như thủ môn Trần Tiến Anh, các cầu thủ Đỗ Mạnh Dũng, Nguyễn Mạnh Cường, Nguyễn Hồng Sơn, Trương Việt Hoàng, Nguyễn Đức Thắng, Phạm Như Thuần, Triệu Quang Hà, Đặng Phương Nam, Vũ Công Tuyền... Thể Công là đội bóng trụ lâu nhất ở V-League khi tới năm 2004 đội mới bị xuống hạng (năm 1979 Thể Công không tham dự giải)
Tròn 50 năm thành lập, năm 2004, câu lạc bộ xếp thứ 11/12 giải vô địch bóng đá Việt Nam 2004 và phải xuống hạng nhất. Từ mùa giải sau, câu lạc bộ đổi tên thành Thể Công Viettel (Viettel là tên giao dịch của Tổng Công ty Điện tử Viễn thông Quân đội) và chịu sự quản lý một phần của đơn vị này. Tuy nhiên, nhiều ý kiến đề nghị câu lạc bộ nên trở lại tên gọi cũ.
Ngày 1 tháng 9, Thể Công chính thức giành quyền lên V-League sau khi thắng Tây Ninh với tỷ số 5-3. Ngay sau đó, đội bóng chính thức trở lại tên gọi cũ - Thể Công.
Tính tới nay Thể Công là câu lạc bộ giàu truyền thống nhất Việt Nam với 5 lần vô địch V-League cùng với đó là 13 lần vô địch giải hạng A miền Bắc và vô số giải thưởng khác. Câu lac bộ luôn sản sinh ra nhiều tài năng kiệt xuất của bóng đá Việt Nam cũng như khu vực. Thể Công cũng là câu lạc bộ có đội ngũ cổ động viên đông đảo nhất Việt Nam với các cổ động viên từ Bắc vào Nam.
Ngày 22 tháng 9 năm 2009 (trước ngày kỷ niệm 55 năm thành lập Đoàn thể thao Thể Công) Bộ Quốc phòng đã quyết định xóa tên Thể công.
Tháng 11 năm 2009, sau khi Bộ Quốc phòng ký quyết định xóa tên Thể Công, Bộ đã giao cho Tổng công ty viễn thông Viettel quản lý. Không lâu sau, Viettel đã chuyển giao lại đội hình 1 về Thanh Hóa, chỉ còn quản lý đội hình 2 thi đấu ở giải hạng nhất quốc gia năm 2010 dưới tên gọi Trung tâm bóng đá Viettel. Kết thúc mùa giải 2010, đến lượt đội hình 2 cũng được chuyển giao cho Câu lạc bộ bóng đá Hà Nội T&T và đổi tên thành câu lạc bộ Hà Nội.
Ngày 23 tháng 9 năm 2011 nhân kỷ niệm lần thứ 57 ngày thành lập câu lạc bộ,hàng trăm cán bộ, cầu thủ, cổ động viên mọi thế hệ từng là người của Thể Công đã quyết định khởi động "chiến dịch" thu thập 1 triệu chữ ký ủng hộ trên cả nước để kiến nghị Bộ Quốc phòng về việc thành lập lại đội bóng Thể Công
== Sân vận động ==
Hơn 40 năm lịch sử của Thể Công gắn liền với sân vận động Cột Cờ, một sân vận động nhỏ nằm giữa Thủ đô Hà Nội, cách không xa Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh và tòa nhà Quốc hội. Đầu những năm 2000, Thể Công lần lượt sử dụng sân Hàng Đẫy rồi sân Mỹ Đình làm sân nhà.
1954-1998: Sân Cột Cờ
1999-2005: Sân Hàng Đẫy
2006-2008: Sân Mỹ Đình
2009: Sân Hàng Đẫy
== Thành tích ==
=== Đội bóng đá ===
V League: 5
1981-1982, 1982-1983, 1987, 1990 và 1998
Giải hạng A miền Bắc: 13
1956, 1958, 1968, 1969, 1971, 1972, 1973, 1974, 1975, 1976, 1977, 1978 và 1979
Cúp bóng đá Việt Nam:
Á quân (3): 1992, 2004 và 2009
Siêu cúp bóng đá Việt Nam: 1
1998
Giải hạng nhất: 1
2007
Dunhill Cup:
Hạng ba 1998
Vô địch môn bóng đá thuộc Đại hội Thể dục Thể thao toàn quốc: 1
2002
U21: 3
1997, 1998, 1999
U18: 2
1998, 2002, 2009; vào chung kết: 1997
U15:
Vào chung kết: 2002
Vô địch: 2015
U13:
2011 (Viettel)
Cúp bóng đá quân đội ASEAN: 1
2004; vào chung kết: 1999
SKDA
Hạng ba: 1989
Hạng 2 Việt Nam (Thể Công B - Trung tâm đào tạo bóng đá Viettel)
Hạng nhì 2009
Hạng 3 Việt Nam (Thể Công B - Trung tâm đào tạo bóng đá Viettel)
2008
=== Đội bóng chuyền ===
Giải vô địch bóng chuyền Việt Nam:
2005, 2007
== Các gương mặt xuất sắc ==
== Thành tích tại AFC Champions League ==
== Logo của câu lạc bộ ==
== Xem thêm ==
Câu lạc bộ bóng đá Lam Sơn Thanh Hóa
Trung tâm bóng đá Viettel
== Chú thích ==
== Liên kết ngoài ==
Hồ sơ các cầu thủ và ban huấn luyện Thể Công tham dự V-League 2009
Diễn đàn chính thức của Hội Cổ động viên Thể Công |
bermuda.txt | Bermuda (phát âm là Bờ-miu-đờ hay được biết đến là Béc-mu-đa; tên chính thức, Quần đảo Bermuda hoặc Đảo Somers) là một lãnh thổ hải ngoại của Anh nằm trong Bắc Đại Tây Dương. Nằm về phía bờ đông Hoa Kỳ, cách khoảng 1770 km về phía đông bắc của Miami, Florida và 1350 km (840 mi) về phía nam của Halifax, Nova Scotia. Cách Bermuda gần nhất (đất liền) là Cape Hatteras, Bắc Carolina, khoảng 1030 km (640 mi) về phía tây-tây bắc. Nó là lãnh thổ hải ngoại còn lại của Anh lâu đời nhất và đông dân cư nhất, được Anh quốc định cư một thế kỷ trước khi có Đạo luật Liên minh tạo nên Vương quốc Anh.
Mặc dù thường được diễn tả bằng số ít trong tiếng Anh, lãnh thổ bao gồm khoảng 138 đảo, với tổng diện tích là 53,3 km² (20,6 sq. mi.). Liệt kê các đảo này thường rất phức tạp, vì nhiều đảo có nhiều hơn một tên (cũng như toàn bộ quần đảo, ngoài hai tên chính, còn được biết đến với các tên "La Garza", "Virgineola", và "Đảo Quỷ"). Mặc cho diện tích đất hạn chế, vẫn có xu hướng có nhiều tên nơi chốn được lặp lại; ví dụ, có hai đảo có tên "Long Island", ba vịnh có tên "Long Bay" và thị trấn St. George nằm trong khu St. George trên đảo St. George (mỗi cái được biết đến với tên St. George's), trong khi thủ đô của Bermuda, Thành phố Hamilton, nằm ở Khu Pembroke, chứ không phải khu Hamilton, trên hòn đảo lớn nhất, "Đảo Chính", mà đôi khi còn được gọi là "Bermuda" (hay "Bermuda Lớn").
Bermuda có nền kinh tế thịnh vượng, với một lĩnh vực tài chính và công nghiệp du lịch lớn khiến nó trở thành quốc gia có GDP đầu người cao nhất thế giới vào năm 2005. Nó có khí hậu cận nhiệt đới, bãi biển màu hồng, và đại dương xanh da trời.
== Xem thêm ==
Tam giác Bermuda
== Tham khảo ==
== Liên kết ngoài ==
Wikimedia Atlas của Bermuda, có một số bản đồ liên quan đến Bermuda.
Bermuda Government (official government website)
“Bermuda”. Foreign and Commonwealth Office. Bản gốc lưu trữ ngày 12 tháng 8 năm 2003.
Bermuda Dept. of Tourism (Bermuda Government website)
Trang chủ Bermuda International Airport
Bermuda Maritime Museum, a maritime museum housed in the historic Dockyard, dedicated to public education and historical, archaeological and heritage research.
Roots Web: Ships of Bermuda (genealogy resource)
Bermuda National Trust, a body dedicated to the preservation of historic and environmental sites of interest, including several museums.
Large map of Bermuda
Bermuda's role in the War of 1812, chronicles Bermuda's little-known role in the American War of 1812
Bermuda Online (directory of 120+ Bermuda-related websites)
US Department Of State Post Report for Bermuda.
Bermuda Sun, a twice-weekly newspaper.
The Royal Gazette, a daily newspaper, published since 1828.
Mục “Bermuda” trên trang của CIA World Factbook.
Association of Bermuda International Companies. |
sân vận động thống nhất.txt | Sân vận động Thống Nhất là một sân vận động nằm ở số 138 Đào Duy Từ, Phường 6, Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh.
== Lịch sử ==
=== Thời Pháp thuộc ===
Năm 1929, Ủy hội Thành phố (Commission municipale) của Thành phố Chợ Lớn (Ville de Cholon) đã quyết định cho khởi công xây dựng một sân vận động trên địa bàn thành phố. Năm 1931, sân vận động được hoàn thành và được gọi là sân Renault, theo tên của Philippe Oreste Renault, Tham biện hạng 1, Chủ tịch Ủy hội Thành phố Chợ Lớn kiêm Chủ tỉnh Chợ Lớn. Ban đầu, sân chỉ mới có khán đài chính, chưa có các khán đài phụ. Tất cả đều theo kiến trúc mới như các sân bên Pháp, mái che được đúc bằng xi măng, cốt thép, các bậc ngồi có trên 20 bậc, từ dưới lên cao trông rất quy mô, đó là chưa kể những hàng ghế xếp riêng trong một khu vực đẹp dành cho quan chức. Sân được xem là một công trình thể thao đồ sộ, được coi như lớn nhất Đông Dương lúc bấy giờ.
Sân được khánh thành ngày 18 tháng 10 năm 1931 và được mở đầu bằng trận giao hữu giữa đội Cảnh sát Chợ Lớn và Ngôi sao Gia Định. Kết quả trận đấu, Cảnh sát Chợ Lớn thắng Ngôi sao Gia Định 1-0.
Kể từ khi được khánh thành, sân là nơi diễn ra nhiều trận thi đấu bóng đá giữa những đội bóng hàng đầu của Nam Kỳ và sau là Nam phần Việt Nam như các đội bóng người Việt Ngôi sao Gia Định, Hoa kiều Chợ Lớn, Cảnh sát Sài Gòn… hay các đội của người Pháp như Cercle Sportif Saigonnais, Stade Militaire hay Transitaire…
=== Thời Việt Nam Cộng hòa ===
Năm 1959, sân được chỉnh trang, nâng cấp lớn lại theo tiêu chuẩn quốc tế thời bấy giờ. Khán đài chính được nới rộng thêm, các khán đài phụ cũng được bổ sung, nâng sức chứa của sân lên 16.000 người, trang bị giàn đèn chiếu sáng hiện đại. Công việc cải tạo nâng cấp mãi đến tháng 10 năm 1960 mới hoàn thành. Sân cũng được đổi tên thành Sân vận động Cộng Hòa. Theo nhiều tài liệu khi nhận, trong trận cầu đầu tiên sau khi sân mới được khánh thành, nữ nghệ sĩ Thanh Nga được mời đá quả bóng đầu tiên trước khi trận thi đấu giữa hai đội bóng đá Quan thuế của Tổng cục Quan thuế và AJS của Cảnh sát Quốc gia. Hình ảnh này sau đó được lan truyền trên các báo, được cho là góp phần làm tăng thêm danh tiếng cho nữ nghệ sĩ này.
Năm 1967, sân một lần nữa được cải tạo và nâng cấp. Suốt thời gian từ 1955 đến 1975, đây là địa điểm thi đấu của các giải khu vực, châu lục, tiếp đón nhiều đội danh cầu nước ngoài đến để học tập và trao đổi kinh nghiệm. Sân cũng chứng kiến nhiều trận thi đấu lịch sử của nền bóng đá Việt Nam Cộng hòa như
Giải bóng đá vô địch Thiếu niên châu Á lần thứ 6 – 1964 (từ ngày 18 tháng 4 đến 28 tháng 4)
Trận thi đấu giành quyền vào vòng loại bóng đá trong kỳ Thế vận hội Mùa hè 1964 giữa Đội tuyển bóng đá quốc gia Việt Nam Cộng hòa và Đội tuyển bóng đá quốc gia Do Thái. Kết quả chung cuộc Đội tuyển bóng đá quốc gia Việt Nam Cộng hòa thắng với tỷ số 2-0 và giành quyền được vào thi đấu vòng loại.
Trận thi đấu vòng loại bóng đá trong kỳ Thế vận hội Mùa hè 1964 giữa Đội tuyển bóng đá quốc gia Việt Nam Cộng hòa và Đội tuyển bóng đá quốc gia Nam Hàn trước 30.000 khán giả. Sau 2 trận thi đấu (28 tháng 6 và 30 tháng 6 năm 1964), kết quả chung cuộc Đội tuyển bóng đá quốc gia Việt Nam Cộng hòa thua với tỷ số 4-3 và bị loại.
Trận bóng đá đầu tiên của 2 đội bóng nữ Nam Phương và Nhị Trưng (3-0) vào ngày 23 tháng 6 năm 1974.
Năm 1966 sau khi đội tuyển Việt Nam Cộng hòa đoạt giải đá banh Merdeka ở Malaysia thì cúp vô địch bằng vàng được lưu trữ ở trụ sở Tổng cuộc Túc cầu trong sân vận động Cộng Hòa. Cúp này thất lạc sau khi sự kiện 30 tháng 4 năm 1975 năm 1975, và cho đến ngày nay vẫn chưa xác định lưu lạc ở đâu.
Trong tài liệu mật "A Study of the Use of Terror by the Vietcong" của MACVSOG lưu hành nội bộ tháng 5 năm 1966, có nhắc đến vụ đánh bom được 2 Việt Cộng thực hiện tại sân Cộng hòa ngày 4 tháng 10 năm 1965 khiến 11 người thiệt mạng, cùng 42 người bị thương. Theo báo Tuổi Trẻ, người thực thiện vụ đánh bom là biệt động Thành Lê Tấn Quốc (Chín Quốc), ông đã cho nổ 2 trái mìn ĐH 10 cách nhau 3 phút và tiêu diệt 2 nhóm đối phương tại đây. Một số báo khác dẫn theo trang phunutoday.vn lại cho biết vụ đánh bom được thực hiện bởi tổ biệt động Thành gồm Huỳnh Văn Minh (chỉ huy), Bùi Thị Anh, Huỳnh Công Khánh (Sáu Vĩnh) và Võ Thị Lớn (Út Thu) thực hiện. Theo thông tin này thì vụ đánh bom được thực hiện vào lúc 11 giờ 30 ngày 1 tháng 10 năm 1965, dùng 2 trái mìn ĐH 10, đặt tại 2 địa điểm và cho nổ cách nhau 2 phút, nhắm vào các cảnh sát dã chiến đang huấn luyện tại đây. Vụ nổ làm 49 cảnh sát dã chiến chết và bị thương, trong đó có 10 người chết ngay trong vụ nổ đầu tiên.
=== Sau năm 1975 ===
Sau khi chính quyền lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam kiểm soát hoàn toàn miền Nam, ngày 2 tháng 9 năm 1975, một trận thi đấu giao hữu giữa đội Hải Quan (với nòng cốt là các cầu thủ của đội Quan Thuế cũ) với đội Ngân hàng (với nòng cốt là các cầu thủ của đội Việt Nam Thương Tín cũ) được tổ chức tại đây với sự có mặt của Chủ tịch Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Nguyễn Hữu Thọ. Trận đấu được tổ chức dưới bầu không khí nghi kỵ của người dân đối với chính quyền mới vì thành phần 2 đội bóng là các viên chức cũ của Việt Nam Cộng hòa, trong đó không ít người từng là quân nhân, cảnh sát cũ. Một số lời đồn đại sẽ có cuộc "tắm máu" tập thể tại đây. Tuy nhiên, trận đấu vẫn được tổ chức thành công với tỉ số 3-1 nghiêng về các viên chức Hải quan và cũng không có cuộc tắm máu nào xảy ra. Hành động này được đánh giá là một thủ thuật thành công của chính quyền mới nhằm thu phục nhân tâm. Sau trận đấu này, sân cũng được đổi sang tên mới là Sân vận động Thống Nhất và giữ tên gọi này cho đến tận ngày nay.
Ngày 7 tháng 11 năm 1976, trận thi đấu giao hữu giữa Đội bóng đá Tổng cục Đường sắt và Đội bóng đá Cảng Sài Gòn được tổ chức tại đây. Đây là cuộc chạm trán đầu tiên giữa bóng đá hai miền sau ngày thống nhất đất nước. Kết quả trận đấu là 2-0 với phần thắng nghiêng về đội Tổng cục Đường sắt.
Qua các mùa giải, kể từ khi Giải vô địch quốc gia Việt Nam được tổ chức lần đầu tiên năm 1980 cho đến trước khi giải chuyên nghiệp được tổ chức, đây là sân nhà của các đội Cảng Sài Sòn, Hải Quan, Sở Công nghiệp, Công an TpHCM… Sau khi Giải Vô địch Quốc gia chuyên nghiệp đầu tiên được tổ chức, qua các mùa giải, sân được chọn là sân nhà của các đội chuyên nghiệp Cảng Sài Sòn (sau là Thép Miền Nam - Cảng Sài Gòn rồi Câu lạc bộ bóng đá Thành phố Hồ Chí Minh, Công an TpHCM (sau chuyển thành Ngân hàng Đông Á), Navibank Sài Gòn, Sài Gòn Xuân Thành, Sài Gòn FC.
== Thiết kế và sử dụng ==
Trước năm 2003, sân Thống Nhất là sân bóng đá lớn nhất và hiện đại nhất Việt Nam, được chọn làm Sân vận động Quốc gia (National Stadium). Thập niên 1990, sân một lần nữa được cải tạo, nâng cấp lên sức chứa 25.000 người, và bổ sung thêm công năng thi đấu thể thao đa năng. Mãi đến năm 2003, khi sân Mỹ Đình được xây dựng xong với sức chứa 40.000 người, vai trò Sân vận động Quốc gia của sân Thống Nhất mới kết thúc.
Năm 2005, sân một lần nữa được sửa chữa lớn để chuẩn bị phục vụ cho Đại hội Thể dục Thể thao toàn quốc lần thứ V năm 2006. Tuy nhiên, đợt sửa chữa lớn này đã gây ra nhiều tai tiếng khi chất lượng cải tạo quá tệ hại và thời gian thi công kéo dài. Mãi đến cuối tháng 6 năm 2007, sân mới được báo cáo cải tạo xong tất cả các hạng mục với tổng kinh phí phát sinh lên đến 14 tỷ đồng. Tuy nhiên, chất lượng hạ tầng kém của sân vẫn để lại nhiều tiếng xấu cho đến thời điển hiện tại.
Trong suốt các mùa giải bóng đá, sân luôn được chọn là sân nhà của từ 1 đến 2 đội bóng đang thi đấu tại Giải bóng đá vô địch quốc gia. Riêng liên tiếp trong 3 mùa giải 2013, 2014, 2015, không có đội bóng đang thi đấu ở Giải bóng đá vô địch quốc gia chọn sân Thống Nhất làm sân nhà. Mãi đến mùa giải V-League 2016, một đội bóng nhập khẩu từ Hà Nội vào Thành phố Hồ Chí Minh là Sài Gòn FC mới sử dụng sân Thống Nhất làm sân nhà. Bên cạnh đó, Câu lạc bộ bóng đá Thành phố Hồ Chí Minh vốn thi đấu ở giải hạng nhất được thăng hạng và sẽ được thi đấu ở V-League 2017.
== Chú thích ==
== Liên kết ngoài == |
in god we trust.txt | "In God we trust", nghĩa tiếng Việt là "Chúng ta tin vào Thượng đế" hay "Chúng ta tín thác vào Chúa", đây là một tiêu ngữ (motto) của Hoa Kỳ được Quốc hội Hoa Kỳ chọn vào năm 1956. Dòng chữ này xuất hiện đầu tiên vào năm 1957 được in trên mặt lưng tờ tiền có mệnh giá một đô (USD) của Hợp chúng quốc Hoa Kỳ.
== Lịch sử ra đời ==
Cụm từ này có nguồn gốc trong "Star-Spangled Banner", tạm dịch là "Lá cờ ánh sao chói lọi", tên bài quốc ca của Hoa Kỳ, được viết trong cuộc chiến tranh năm 1812. Trích nguyên cả cụm từ: " Và điều này là phương châm của chúng tôi: Thiên Chúa là sự tin tưởng của chúng tôi". ("And this be our motto: "In God is our trust!")..
Khi cuộc nội chiến Hoa Kỳ (1861 - 1865) nổ ra, vì nhu cầu tài chánh, Quốc hội Hoa Kỳ biểu quyết và cho phát hành các tờ giấy bạc có mệnh giá năm, mười, và hai mươi đô la vào năm 1861.. Tờ 1 đô la đầu tiên ra đời năm 1862. Tờ một trăm đô cỡ lớn (189x79mm) cũng ra đời vào năm đó. Đến năm 1928 nó được thu gọn lại(157x66mm) như tất cả các mệnh giá khác. Ở mặt lưng của tất các tờ đô la hiện hành của Hoa Kỳ đều có 4 chữ In God We Trust ở phía trên, riêng tờ hai đô in ở phía dưới.
Trên đồng xu Hoa Kỳ, cụm từ này xuất hiện từ năm 1864
Theo nhật báo L'Osservatore Romano của Toà thánh Vatican. Đầu tháng 11 năm 2011, hạ viện Hoa Kỳ đã thông qua một nghị quyết tái khẳng định việc sử dụng tiêu ngữ của Mỹ: " In God We Trust ", đã được in trên tất cả các tờ giấy bạc của ngân hàng quốc gia. Các dân biểuHạ viện Mỹ, nơi đảng Cộng hòa chiếm đa số, đã thông qua nghị quyết với 396 phiếu thuận và 9 phiếu chống. Trước đó tiêu ngữ này đã được khẳng định 1 lần bởi một đạo luật năm 2002, vốn ngăn cấm bất kỳ sự thay đổi nào trong quy định trước đó. Vào năm 2006, Thượng viện đã tái khẳng định lại tiêu ngữ này.
== Các tranh luận ==
Từ "God" có thể dịch ra là "Thượng đế", "Chúa", "Thần thánh"... chỉ Đấng Tối cao trong tín ngưỡng. Theo ý hiểu đó, "God" có thể hiểu là Đức Phật, Thiên Chúa, Đức Allah hay bất cứ vị thần thánh nào, điều đó "còn tùy thuộc vào niềm tin, tôn giáo và tín ngưỡng của mỗi người". Tuy nhiên nhiều người đã đặt câu hỏi về tính hợp pháp của câu tiêu ngữ này vì họ cho rằng nó vi phạm Hiến pháp Hoa Kỳ cấm chính phủ thông qua các đạo luật thiên vị dành riêng cho một tôn giáo..
Nhưng theo Bộ Ngân khố Hoa Kỳ thì tiêu ngữ "In God we trust" đã được đặt trên tiền Hoa Kỳ chủ yếu là để "tăng tầm ảnh hưởng tôn giáo trong cuộc nội chiến".. Các Đạo luật ngày 22 tháng 4 1864 hay ngày 03 Tháng Ba năm 1865 được Quốc hội Hoa Kỳ thông qua đều quy định "câu tiêu ngữ 'In God We Trust' phải được in trên tất cả các đồng tiền vàng, bạc và giấy."
Giáo sĩ Hồi giáo Feisal Abdul Rauf đã viết: cụm từ "In God We Trust " đã có tầm ảnh hưởng với Hồi giáo học. Trong hai câu thơ từ kinh Qur'an: "Chúa của chúng tôi, chúng tôi đã thực sự nghe lời kêu gọi về đức tin, vì vậy chúng tôi đã tin tưởng... " (Kinh Qur'an 3:193) hoặc "lời nhắn cho các tín hữu tin tưởng vào Thiên Chúa, hiện hữu trong anh em..." (Kinh Qur'an 2:285). Cũng cùng một suy nghĩ, Melkote Ramaswamy, một học giả Hindu Mỹ, viết rằng sự hiện diện của cụm từ "In God We Trust " trên tiền tệ của nước Mỹ là một lời nhắc nhở rằng "có Thiên Chúa ở khắp mọi nơi, cho dù chúng ta có tin hay không ".
Ra ngoài các cuộc tranh cãi, các nhà lãnh đạo đảng Cộng hòa thì cho rằng, với thực tế ngày nay khi nghị quyết về việc khẳng định sử dụng
tiêu ngữ "In God we trust" của quốc hội:
== Sự phổ biến của " In God We Trust " ==
Ngoài việc được in trên tiền tệ của Hoa Kỳ, loại tiền tệ được sử dụng phổ biến nhất trên thế giới. " In God We Trust " còn được một số bang như Florida, Georgia gắn trên lá cờ của tiểu bang, hoặc được khắc lên tòa nhà thủ phủ bang Pennsylvania như là câu tiêu ngữ riêng của tiểu bang mình.
Trong lĩnh vực văn hóa việc đưa "In God We Trust" vào phim ảnh hay văn học đã trở thành phổ biến. Stryper đã đặt tên cho album thứ ba của mình là "In God We Trust". Trong bộ phim "Oh, GOD", Thiên Chúa, do George Burns đóng đã nói với đệ tử miễn cưỡng Jerry Landers, do John Denver thủ vai, "In God We Trust, All Others Pay Cash".
== Xem thêm ==
Đô la Mỹ
The Star-Spangled Banner
Đối với Thiên Chúa, không có gì là không thể làm được
== Ghi Chú ==
== Liên kết ngoài ==
In God We Trust: 148 Years And Counting
The U.S. National Mottos: Their history & constitutionality |
vườn quốc gia dartmoor.txt | Vườn quốc gia Dartmoor là một vùng đồng hoang ở miền nam Devon, Anh. Nó bao phủ diện tích 954 km2 (368 sq mi).
Đá granit mà hình thành vùng cao này có niên đại từ kỷ Than đá. Vùng đồng hoang này có nhiều đỉnh đồi có đá granit trồi lên được gọi là mỏm núi, cung cấp môi trường sống cho động vật hoang đã ở Dartmoor. Điểm cao nhất là High Willhays, 621 m (2.037 ft) trên mực nước biển. Khu vực này có rất nhiều cổ vật khảo cổ học.
Dartmoor được quản lý bởi Ban quản lý vườn quốc gia Dartmoor, có 22 thành viên từ Hội đồng hạt Devon, hội đồng quận địa phương và chính phủ.
Một số phần của Dartmoor đã và đang được sử dụng để quân đội luyện bắn trong hơn 200 năm gần đây. Công chúng có quyền tiếp cận phần lớn Dartmoor (bao gồm cả vùng dành cho tập bắn bị hạn chế tiếp cận) và nó là một điểm du lịch nổi tiếng.
== Địa lý ==
=== Địa chất ===
Dartmoor bao gồm khu vực đá hoa cương lớn nhất ở vương quốc Anh, với diện tích bề mặt 625 km2 (241 sq mi), mặc dù hầu hết chúng nằm dưới bề bùn lắng đọng. Đá hoa cương (hoặc cụ thể hơn là đá adamellit) xâm nhập ở độ sâu dưới dạng pluton xung quanh đá trầm tích trong khoảng thời gian kỷ Than đá, khoảng 309 triệu năm trước. Có dị thường trọng lực đáng kể liên quan đến đá pluton. Đo đạc dị thường đã giúp xác định hình dáng và khối lượng đá ở sâu dưới đất.
=== Mỏm núi ===
Dartmoor được biết đến với những mỏm núi – thường là những mỏm đá hoa cương tròn. Các mỏm núi này là nơi tổ chức sự kiện hàng năm gọi là thách thức mười mỏm, khoảng 2400 người từ 14 đến 19 tuổi đi bộ 56, 72 hoặc 88 km giữa mười mỏm đá trên nhiều tuyến đường khác nhau.
=== Sông ===
Vùng đất cao của Dartmoor hình thành lưu vực cho nhiều sông ở Devon. Cũng như hình phong cảnh, những truyền thống cung cấp một nguồn sức mạnh cho moor ngành công nghiệp như khai thác thiếc và khai thác đá.
Tên gọi của vùng đồng hoang này đến từ tên sông Dart, đó bắt nguồn từ sông Đông Dart và Tây Dart và sau đó nhập thành một con sông ở Dartmeet. Nó rời vùng đồng hoang ở Buckfastleigh, chảy qua Totnes nơi nó trở thành cửa cắt khía dài tới biển Dartmouth.
== Khí hậu ==
Cũng giống như các vùng còn lại ở Tây Nam Anh, Dartmoor có khí hậu ôn đới và thường ẩm ướt hơn các vùng có cùng độ cao khác ở Anh. Ở Princetown, gần trung tâm vùng đồng hoang có độ cao 453 mét (1.486 ft), tháng 1 và 2 là những tháng lạnh nhất và có nhiệt độ trung bình thấp nhất là 1 °C (34 °F). Thnasg 7 và 8 là hai tháng ấm nhất có nhiệt độ trung bình cao nhất lên đến 18 °C (64 °F).
== Bảo tồn ==
Qua quãng thời gian lịch sử con người, vùng này đã bị khai thác cho nhiều mục đích công nghiệp. Trong các năm gần đây, đã có tranh cãi xung quanh việc khai thác đá kết của Imerys và Sibelco, người mà trước đây đã khai thác kaolinit. Đã có cấp phép từ Chính phủ Anh nhưng gần đây họ vẫn chịu áp lực từ các tổ chức công cộng như hiệp hội bảo tồn Dartmoor.
== Thị trấn và làng ==
Dartmoor có số dân định cư là 33.000, nó tăng lên đáng kể trong mùa du lịch cao điểm. Khu định cư lớn nhất trong công Viên Quốc gia là Ashburton (với dân số khoảng 3.500), Buckfastleigh, Moretonhampstead, Princetown, Yelverton, Horrabridge, South Brent, Christow, và Chagford.
== Các địa danh ==
Hồ chứa Avon Dam
Mỏm núi đen Beare
Mỏm núi Bowerman's Nose
Nhà thờ Brentor
Tu viện Buckfast
Hồ chứa Burrator
Thác Canonteign
Lâu đài Drogo
Lăng mộ Childe
Nhà thờ ở South Tawton
Đồi Cosdon
Vũng Cranmere
Vũng Crazywell Cross
Hồ nhân tạo Crazywell
Dartmeet – Điểm sông Tây Dart và đông Dart gặp nhau
Nhà tù Dartmoor
Kênh Devonport Leat
Đường thuỷ Sevonport Leat
Vũng Duck
Đập và hồ chứa nước Fernworthy
Cầu Fingle
Mỏm núi Great Links
Vòng đá Grey Wethers
Grimspound
Đường tàu điện granit Haytor
Haytor Rock
Đỉnh High Willhays
Mỏm núi Hound
Nghĩa trang Jay
Hẻm Lydford
Nuns Cross
Powdermills, Cherrybrook
Đường sắt Rattlebrook
Mỏm núi Rippon Rifle Range
Vòng đá Scorhill
Thung lũng Skaigh
Kênh Tavistock
Nhà nghỉ Warren House
Wheal Betsy
Widgery Cross
Khách sạn White Hart
== Các hoạt động giải trí ==
Hoạt động lâu đời nhất ở vùng đồng hoang là đi bộ trên đồi.
Chèo thuyền kayak và chèo thuyền phổ biến trên sông do lượng mưa cao và chất lượng cao của chúng, mặc dù vì các lý du môi trường những tháng mùa đông bị hạn chế tiếp cận. Sông Dart là nơi tụ tập nổi tiếng nhất, nhất là vùng được biết đến với tên The Loop. Các sông khác bao gồm Erme, Tavy, Plym và Meavy.
Các hoạt động khác bao gồm leo núi đá trên mỏm núi đá hoa cương, một trong số các địa điểm nổi tiếng là Haytor, mỏm núi Hound và Dewerstone; cưỡi ngựa, có thể thực hiện ở nhiều địa điểm; đi xe đạp (nhưng không được đi trong vùng đất hoang; và câu cá cá hồi nâu, cá hồi biển và cá hồi hoang dã—mặc dù nhiều cá sông trên Dartmoor là thuộc sở hữu tư nhân, vẫn có nhiều nơi được phép câu.
=== Trung tâm du khách ===
Trung tâm du khách chính nằm ở thị trấn Princetown và có trưng bày về lịch sử Dartmoor, văn hóa và động vật hoang dã cũng như những thay đổi về nghệ thuật của địa phương. Các trung tâm du khách nằm ở Postbridge và Haytor cung cấp thông tin, bản đồ, sách hướng dẫn và các vật dụng để khám phá khu vực.
== Xem thêm ==
Địa chất ở Anh
Bảo tàng cuộc sống Dartmoor
== Tham khảo ==
== Nguồn ==
== Liên kết ngoài ==
Ban quản lý vườn Quốc gia Dartmoor
Vườn quốc gia Dartmoor tại DMOZ |
chi thài lài.txt | Chi Thài lài hay chi Trai (danh pháp khoa học: Commelina) là một chi thực vật một lá mầm, được gọi chung với tên gọi cây "thài lài" với chu kỳ sống rất ngắn của hoa của chúng. Cây thài lài châu Á (Commelina communis) là một loại cỏ dại phổ biến ở đông bắc Hoa Kỳ. Nó mọc rất nhanh và phát triển tốt trong môi trường của các khu vườn bị bỏ hoang. Thông thường người ta hay nhìn thấy nó mọc troing vườn cùng với cây dừa cạn (chi Vinca), có lẽ là do sự giống nhau ở bề ngoài của thân cây và lá của chúng làm cho chúng khó bị nhổ đi hơn.
== Đặc điểm ==
Môi trường sinh sống ưa thích: Ưa nắng hoặc nơi có bóng râm ở mức độ vừa phải. Màu hoa: Lam nhạt đến tím ánh lam nhạt. Lá: thường xanh. Các loài cây này hấp dẫn ong, bướm và/hoặc chim. Nhu cầu về nước: Tưới nước đều đặn; nhưng không ưa thích môi trường quá ẩm ướt.
== Một số loài ==
Chi này hiện biết có 170 loài. Một số loài cụ thể như sau:
Commelina abliqua
Commelina africana - Thài lài châu Phi
Commelina auriculata
Commelina benghalensis - Thài lài Benghal
Commelina caroliniana
Commelina communis - Thài lài châu Á
Commelina condensata
Commelina coelestis (syn. Commelina tuberosa)
Commelina cyanea
Commelina dianthifolia
Commelina diffusa
Commelina erecta (syn. Commelina elegans)
Commelina forskaolii (syn. Commelina forskaolaei)
Commelina gambiae
Commelina hasskarlii
Commelina hirtella
Commelina kotschyi
Commelina latifolia
Commelina leiacarpa
Commelina lukei
Commelina maculata
Commelina mascarenica
Commelina nigritana
Commelina nudiflora
Commelina pallida
Commelina paludosa
Commelina rufipes
Commelina sellowiana
Commelina sphaerorrhizoma
Commelina standleyi
Commelina subalbescens
Commelina suffruticosa
Commelina texcocona
Commelina tuberosa
Commelina undulata
Commelina virginica
== Hình ảnh ==
== Chú thích ==
== Tham khảo ==
Dữ liệu liên quan tới Commelina tại Wikispecies
Phương tiện liên quan tới Commelina tại Wikimedia Commons |
kiến trúc tân cổ điển.txt | Kiến trúc tân cổ điển là một phong cách kiến trúc được tạo ra bởi phong trào tân cổ điển bắt đầu vào giữa thế kỷ 18, thể hiện cả trong chi tiết của nó như là một phản ứng chống lại kiến trúc Rococo mang đậm phong cách trang trí tự nhiên, trong công thức kiến trúc của nó như là một quả tự nhiên của một số tính năng cổ điển hóa Cuối Baroque. Ở dạng tinh khiết nhất của nó là một phong cách chủ yếu bắt nguồn từ kiến trúc của Hy Lạp cổ điển và kiến trúc của kiến trúc sư Ý Andrea Palladio. Trong hình thức, kiến trúc tân cổ điển nhấn mạnh vào bức tường chứ không phải là ve phối hợp màu sáng và tối và duy trì bản sắc riêng biệt cho mỗi bộ phận của nó.
== Nguồn gốc ==
Siegfried Giedion, cuốn sách đầu tiên (1922) có tiêu đề gợi ý "Late Baroque và Lãng mạn cổ điển", khẳng định sau,. "Louis XVI phong cách hình thành trong hình dạng và cấu trúc kết thúc của xu hướng cuối baroque, cổ điển phục vụ như là khuôn khổ của nó." Trong ý nghĩa tân cổ điển trong kiến trúc có ý nghĩa liên tưởng và đẹp như tranh vẽ, vui chơi giải trí của một thế giới xa xôi bị mất,, đó là, như Giedion cho thấy, đóng khung trong nhạy cảm lãng mạn.
Trí tuệ, tân cổ điển là triệu chứng của một mong muốn quay trở lại "tinh khiết" cảm nhận của Rome, nhận thức mơ hồ ("lý tưởng") của nghệ thuật Hy Lạp cổ đại Hy Lạp cổ đại và, đến một mức độ thấp hơn, thế kỷ 16 Renaissance cổ điển, đó cũng là một nguồn cho kiến trúc Baroque muộn học.
Nhiều đầu kiến trúc tân cổ điển thế kỷ 19 chịu ảnh hưởng của các bản vẽ, dự án Étienne-Louis Boullée và Claude Nicolas Ledoux. Các bản vẽ chì nhiều Boullée và sinh viên của ông mô tả kiến trúc hình học phụ tùng giả lập Đời đời của vũ trụ. Liên kết giữa các ý tưởng Boullée và quan niệm của Edmund Burke tuyệt vời. Ledoux giải quyết các khái niệm của nhân vật kiến trúc, duy trì một tòa nhà ngay lập tức nên giao chức năng của nó để người xem hiểu theo nghĩa đen những ý tưởng như làm phát sinh "kiến trúc parlante".
Có một sự căng thẳng chống Rococo có thể được phát hiện trong một số châu Âu [[kiến trúc của thế kỷ 18 trước đó, đại diện một cách sống động nhất trong Palladian kiến trúc của Georgia Anh và Ireland, mà còn nhận ra trong một tĩnh mạch classicizing của kiến trúc Baroque Cuối ở Paris (Perrault 's đông phạm vi của Louvre), trong Berlin, và ngay cả trong Rome, Alessandro Galilei 'mặt tiền cho S. Giovanni Laterano. Nó là một kiến trúc mạnh mẽ tự kiềm chế, học tập có chọn lọc "tốt nhất" Roman mô hình, ngày càng có sẵn để nghiên cứu chặt chẽ thông qua các phương tiện truyền thông của kiến trúc khắc của các bản vẽ đo sống sót của kiến trúc La Mã.
== Đặc điểm ==
cao tân cổ điển là một phong trào quốc tế. Mặc dù tân cổ điển kiến trúc sử dụng các từ vựng cùng cổ điển như kiến trúc Baroque muộn, nó có xu hướng nhấn mạnh phẩm chất phẳng của nó, chứ không phải là khối lượng tác phẩm điêu khắc. Chiếu và suy thoái kinh tế và các hiệu ứng của họ ánh sáng và bóng tối bằng phẳng hơn, điêu khắc phù điêu, điêu phẳng hơn và có xu hướng enframed trong những trụ gạch, dạng viên hoặc các tấm. Các tính năng cá nhân xác định rõ ràng là bị cô lập hơn là interpenetrating, tự trị và đầy đủ trong bản thân mình.
Kiến trúc tân cổ điển quốc tế đã được minh họa trong Karl Friedrich Schinkel 'các tòa nhà, đặc biệt là các Old Bảo tàng ở Berlin, SirJohn Soane]]' s Ngân hàng của Anh ở London và mới xây dựng Nhà Trắng và Capitol Washington, DC trong Hoa Kỳ. Kiến trúc sư Scotland Charles Cameron tạo ra nội thất nguy nga Italianate Đức sinh ra Catherine II Đại đế St. Petersburg.
Ý bám Rococo cho đến khi chế độ Napoleon mang khảo cổ học mới cổ điển, được chấp nhận như một tuyên bố chính trị của trẻ, tiến bộ, đô thị Ý với khuynh hướng cộng hòa.
== Xu hướng khu vực ==
=== Tây Ban Nha ===
[Tây Ban Nha | Tây Ban Nha] tân cổ điển tính với con số của Juan de Villanueva, những người thích nghi Burke 's thành tích tuyệt vời và vẻ đẹp cho các yêu cầu của địa phương Tây Ban Nha và lịch sử. Ông đã xây dựng các Charles III, những người có ý định làm cho Madrid Thủ đô của Nghệ thuật và Khoa học. Rất gần với bảo tàng, Villanueva xây dựng Đài quan sát thiên văn. Ông cũng thiết kế một số nhà mùa hè cho các vị vua trong El Escorial và Aranjuez và xây dựng lại Quảng trường chính của Madrid, trong số các công trình quan trọng khác. Villanueva của học sinh mở rộng các phong cách tân cổ điển ở Tây Ban Nha.
=== Khối thịnh vượng chung Ba Lan-Litva ===
Trung tâm của Ba Lan cổ điển được Warsaw dưới sự cai trị của người cuối cùng Ba Lan vua Stanisław Tháng Tám Poniatowski. Đại học Vilnius là một trung tâm quan trọng của kiến trúc tân cổ điển ở Đông Âu, dẫn đầu bởi giáo sư đáng chú ý của kiến trúc Marcin Knackfus, Laurynas Gucevičius và Karol Podczaszyński. Phong cách được thể hiện trong các tòa nhà công cộng chính, chẳng hạn như Đài quan sát của trường Đại học, Vilnius Nhà thờ và tại tòa thị chính. Nổi tiếng nhất kiến trúc sư và nghệ sĩ, những người làm việc trong Ba Lan-Litva Commonwealth Dominik Merlini, Jan Chrystian Kamsetzer, Szymon Bogumił Zug, Jakub Kubicki, Antonio Corazzi, Efraim Szreger, Christian Piotr Aigner và Bertel Thorvaldsen.
== Thiết kế nội thất ==
Phần Lan thị trấn đều được xây dựng bằng gỗ, thường là trong phong cách tân cổ điển. (Studio W Runeberg trên Porvoo) Trong nhà, tân cổ điển đã thực hiện một khám phá nội thất La Mã chính hãng, lấy cảm hứng từ các rediscoveries tại Pompeii]] và Herculaneum, đã bắt đầu vào cuối thập niên 1740, nhưng chỉ đạt được một đối tượng rộng trong 1760s, với đầu tiên khối lượng sang trọng của phân phối kiểm soát chặt chẽ của "Lê Antichità di Ercolan" cổ vật của Herculaneum cho thấy rằng ngay cả classicizing nhất nội thất của các Baroque, hay nhất "La Mã" phòng William Kent được dựa trên vương cung thánh đường và đền "bên ngoài" kiến trúc, quay bên ngoài: hình tam giác ed khung cửa sổ trở thành mạ vàng gương, lò sưởi đứng đầu với lĩnh vực ngôi đền, bây giờ tất cả trông khá khoa trương và vô lý. Nội thất mới tìm cách để tái tạo một "đích thực Roman và thực sự nội thất" từ vựng, sử dụng phẳng hơn, các họa tiết nhẹ hơn, điêu khắc trong thấp rìa giống như cứu trợ hoặc sơn monotones "en camaïeu" ("Những khách mời như"), huy chương bị cô lập hoặc bình hoặc đổ vỡ hoặc "bucraniahoặc màu sắc họa tiết đá khác, bị đình chỉ trên swags nguyệt quế hay ru-băng, với các arabesques mảnh chống lại nguồn gốc, có lẽ," Pompeiian đỏ "hoặc mang lại màu nhạt, hoặc. Phong cách tại Pháp bước đầu đã được một phong cách Paris, "bệnh gút grec" (tiếng Hy Lạp hương vị ") không phải là một phong cách tòa án. Chỉ khi vị vua trẻ tham gia lên ngôi năm 1774 Marie Antoinette, thời trang Nữ hoàng yêu của mình, mang lại "Louis XVI của Pháp Louis XVI" phong cách để tòa án.
== Quy hoạch Thành phố ==
La Mã cổ đại được sử dụng một chương trình hợp nhất cho quy hoạch thành phố cho cả hai tiện lợi quốc phòng và dân sự, tuy nhiên, nguồn gốc của chương trình này quay trở lại nền văn minh thậm chí còn lớn tuổi. Tại cơ bản nhất của nó, hệ thống lưới điện của đường phố, một diễn đàn trung tâm với các dịch vụ thành phố, hai đại lộ chính khá rộng, và các đường phố thường xuyên chéo đặc trưng của thiết kế La Mã rất hợp lý và có trật tự. Mặt tiền cổ đại và bố trí xây dựng được định hướng để các mẫu thiết kế thành phố và họ có xu hướng làm việc theo tỷ lệ với tầm quan trọng của các tòa nhà công cộng.
Nhiều người trong số những quy hoạch đô thị mô hình theo cách của họ vào hiện đại đầu tiên [[quy hoạch thành phố của thế kỷ 18. Ví dụ đặc biệt bao gồm Karlsruhe và Washington DC. Không phải tất cả các thành phố lên kế hoạch và các khu vực lân cận kế hoạch được thiết kế trên các nguyên tắc tân cổ điển, tuy nhiên. Mô hình đối lập có thể được tìm thấy trong thiết kế Hiện đại được minh chứng bằng Brasilia, Garden thành phố di chuyển, levittowns, đô thị mới.
== Giai đoạn muộn ==
Từ khoảng 1800 một làn sóng tươi ví dụ kiến trúc Hy Lạp, nhìn thấy thông qua các môi trường khắc và chạm khắc, đã đưa ra một động lực mới để tân cổ điển được gọi là kiến trúc Hy Lạp RevivalHy Lạp Revival. tân cổ điển tiếp tục là một lực lượng chính trong [[nghệ thuật học tập thông qua các thế kỷ 19 và hơn thế nữa-một phản đề liên tục lãng mạn hoặc Gothic sự hồi sinh s-mặc dù từ cuối thế kỷ 19 nó đã thường được xem là chống hiện đại, hoặc thậm chí phản động, trong giới có ảnh hưởng quan trọng. Đến giữa thế kỷ 19, một số thành phố châu Âu - đặc biệt là St Petersburg, Athens, Berlin và Munich - đã được chuyển thành bảo tàng tảng thật sự của kiến trúc tân cổ điển.
Tontine Crescent]], Boston, 1793-1794, by Charles Bulfinch]]
=== Hoa Kỳ ===
Trong các nước cộng hòa mới, Robert Adam 'cách tân cổ điển đã được thích nghi với phong cách địa phương cuối 18 và đầu thế kỷ 19, có tên là "Liên bang kiến trúc]]". Một trong những người tiên phong của phong cách này là tiếng Anh sinh ra Benjamin Henry Latrobe, thường được ghi nhận như là kiến trúc sư chuyên nghiệp đầu tiên của Mỹ và là cha của kiến trúc Mỹ. Baltimore Vương cung thánh đường, Giáo hội Công giáo La Mã đầu tiên tại Hoa Kỳ, được coi là của nhiều chuyên gia kiệt tác của Latrobe.
Việc sử dụng rộng rãi của tân cổ điển trong kiến trúc Mỹ, cũng như chế độ cách mạng Pháp, và giọng nam cao chung của chủ nghĩa duy lý liên kết với phong trào, tất cả tạo ra một liên kết giữa tân cổ điển và chủ nghĩa cộng hòa và chủ nghĩa cực đoan trong các nước châu Âu. Gothic Revival có thể được xem như là một cố gắng trình bày một người theo chánh thể quân chủ và bảo thủ thay thế cho tân cổ điển.
Trong kiến trúc Mỹ sau thế kỷ 19, tân cổ điển là một trong những biểu hiện của các Mỹ Renaissance phong trào, "ca" 1880-1917. Biểu hiện cuối cùng của nó là kiến trúc Beaux-Arts (1885-1920), và cuối cùng, các dự án công cộng lớn tại Hoa Kỳ Lincoln Memorial (1922), National Gallery ở Washington, DC (1937), và Bảo tàng Lịch sử tự nhiên 's Roosevelt Memorial (1936).
Ngày nay có một phong trào ngày càng tăng đối với một sự hồi sinh của Kiến trúc cổ điển được chứng minh bởi các nhóm như Viện Kiến trúc cổ điển và cổ điển Mỹ Trường Kiến trúc tại Đại học Notre Dame, hiện đang dạy một chương trình hoàn toàn cổ điển.
=== Kiến trúc tân cổ điển ở Washington DC và Virginia ===
Kiến trúc tân cổ điển là sự phản ánh phong cách nghệ thuật Hy Lạp và La Mã trong các tổ chức khác nhau và các công trình công cộng. Điều này là hiển nhiên nhất trên Washington DC và Virginia Hoa Kỳ.
==== Các khái niệm chính ====
Tân cổ điển: sự quan tâm làm sống lại trong những lý tưởng cổ điển và các hình thức có ảnh hưởng đến xã hội châu Âu và Mỹ thông qua tư tưởng, chính trị và nghệ thuật trong thế kỷ 18 và 19 Thuật ngữ này đề cập đến nghệ thuật các hình thức tạo ra sau nhưng lấy cảm hứng từ thời cổ đại. Thời kỳ này bắt nguồn từ sự chuyển động cổ điển
Cổ điển: khoảng thời gian mà các nguyên tắc, phong cách Hy Lạp và La Mã và đã được phản ánh trong xã hội.
Tuy nhiên, không nhầm lẫn hai thời kỳ như các điều khoản hoán đổi cho nhau. Cổ điển đề cập đến nghệ thuật với sản xuất trong thời cổ hoặc lấy cảm hứng từ nó sau đó trong khi tân cổ điển luôn luôn đề cập đến nghệ thuật lấy cảm hứng từ thời cổ đại, nhưng tạo ra sau đó.
==== Lịch sử ====
Giai đoạn tân cổ điển nổi lên như một phản ứng với sự ra đời của một quốc gia mới. Năm 1783, tàn phá Cách mạng Mỹ kết thúc và xây dựng một quốc gia mới bắt đầu. Thành lập Fathers, đặc biệt là Thomas Jefferson nhìn về phía nguồn cảm hứng mà sẽ xác định các quốc gia giải phóng Họ quay đầu của họ đối với thành Rome cổ đại. Việc tạo ra một bản sắc dân tộc kéo dài khoảng một thế kỷ
Tân cổ điển nổi lên sau khi những khám phá của thành phố La Mã cổ đại như Herculaneum và Pompeii . Vì vậy, trước khi tân cổ điển đến Mỹ, nó phát triển rực rỡ ở châu Âu. Do mối quan hệ chặt chẽ với Anh và London (đã kích thích quan tâm đến hương vị tân cổ điển), tân cổ điển đã trở thành một hiện tượng xuyên lây lan trên đại dương.
Ví dụ của kiến trúc tân cổ điển trong hầu hết các thành phố lớn tại Hoa Kỳ.
==== Ảnh hưởng La Mã cổ đại ====
Di sản La Mã đã tồn tại kể từ khi thành lập năm 753 trước Công nguyên cho đến bây giờ thông qua kiến trúc, cụ thể hơn, các công trình công cộng. Kiến trúc La Mã rất nhiều ảnh hưởng đến thiết kế của các tổ chức khác nhau đáng kể trong thế giới phương Tây, đặc biệt là tại Hoa Kỳ của Mỹ (Washington DC và Virginia). Kiến trúc sư Mỹ đã được lấy cảm hứng từ tân cổ điển vì mục đích thẩm mỹ, động cơ chính trị và phong trào trí tuệ. Các Giáo Phụ sáng lập hy vọng sẽ tạo ra một bản sắc dân tộc để ràng buộc các nước cộng hòa mới và công dân của nó thông qua kiến trúc . Ngoài ra, các kiến trúc sư muốn làm cho sự tương tự giữa các quốc gia non trẻ và đế quốc Rome, đặc biệt là trong thiết kế của các tòa nhà chính phủ.
===== Chính trị =====
Tại La Mã cổ đại, chính trị là một sự kết hợp của dân chủ và cộng hòa Người La Mã đã sử dụng ý tưởng kiểm tra và cân bằng với 3 chi nhánh của chính phủ (điều hành (chính phủ), lập pháp và tư pháp) Người La Mã cũng phát triển các nguyên tắc của pháp luật, công lý và tự do hệ thống chính trị cổ đại này kéo dài gần 482 năm, nó đã có một thời gian dài cuộc sống.
Như một kết quả của thành công này, các Giáo Phụ sáng lập nhìn về phía Hy Lạp và Rome để tìm cảm hứng chính trị. Các nguyên tắc La Mã đã trở thành nguyên tắc Mỹ và các Điều đầu tiên trong Mỹ Hiến pháp chỉ dựa vào thành lập của ba ngành này trong nền chính trị Mỹ. Cuối cùng, kiến trúc sư Mỹ và các chính trị gia muốn phản ánh tuổi thọ và thành công của chính trị La Mã của riêng mình, mà còn trong các cơ sở công cộng của họ hoạt động chính trị diễn ra. Các hình thức cổ điển đề nghị giá trị dân chủ được coi là thành phần thiết yếu trong sự phát triển của dân tộc.
===== Thẩm mỹ =====
Trong kiến trúc La Mã, công trình công cộng có thể được mô tả bởi đơn giản của hình thức hình học và hùng vĩ của quy mô cùng với việc sử dụng đáng kể của các cột và sử dụng chung của các bức tường trống Bên cạnh đó nguồn cảm hứng chính trị, Mỹ muốn xây dựng một nước được trực quan hấp dẫn như thời La Mã cổ đại.
Kiến trúc sư Mỹ cũng muốn các tòa nhà của nước cộng hòa mới được hơi thở takingly đẹp trong khi thể hiện một sự hùng vĩ, yên tĩnh, thanh thản. Trình tự, đơn giản, rõ ràng và lý do của một quốc gia tự do được đẹp phản ánh trong xã hội bởi vì di tích thể hiện các đặc điểm như vậy trong bản thân mình quá Thưởng của vẻ đẹp cũng được xem như là một thành phần quan trọng trong việc tạo ra Hoa Kỳ.
===== Trí tuệ =====
Người La Mã cổ đại tin rằng lý do và trật tự. Không chỉ chính trị Mỹ bị ảnh hưởng nhưng cũng có những lý tưởng của họ. Do đó, những lý tưởng tân cổ điển tràn ngập và kiến trúc nghệ thuật Mỹ. Các kiến trúc tân cổ điển cho rằng đạo đức học và đạo đức: có giá khác và các thành phần cần thiết cho sự tăng trưởng của Mỹ là một nước cộng hòa
==== Ví dụ đáng chú ý ====
"Tại Washington:
Hoa Kỳ Capitol Building
Một tòa nhà chính phủ mà Quốc hội tổ chức các cuộc họp của mình và tạo ra luật mới. Nó được xây dựng từ 1792-1830 với những thiết kế của William Thornton, Benjamin Latrobe và Charles Bulfinch công trình công cộng này chắc chắn là một ví dụ về kiến trúc tân cổ điển thế kỷ 19. Ngoại thất được làm hoàn toàn bằng đá cẩm thạch Ngoài ra, tổ chức được dựa trên để Corinthian (một trong ba phong cách của các cột cùng với Doric và Ionic), là đặc điểm được trang trí công phu nhất với cột mảnh mai trang trí với lá và cuộn cây có gai địa trung hải trung tâm nằm một mái vòm sắt đúc. Nội thất được lót với những bức tường trơn tru và kho tiền. Ngoài ra, một con số nổi bật được thể hiện giữa các con số La Mã trên trần mái vòm. Các phong thần Washington mô tả các vị thần và nữ thần La Mã với George Washington, anh hùng khác của Mỹ.
Thomas Jefferson thậm chí đã viết rằng việc xây dựng "làm say đắm mắt và phán quyết của tất cả như để lại không có nghi ngờ... ưu tiên trên tất cả đã được sản xuất... Nó là đơn giản, đẹp cao quý, phân phối xuất sắc và kích thước vừa phải."
Tòa nhà Capitol là một ví dụ của tổ chức hoành tráng, thiết kế của tòa nhà này theo phong cách tân cổ điển như vậy ngụ ý những lý tưởng chính trị của La Mã cổ đại cũng.
Jefferson Memorial
Một đài tưởng niệm dành riêng cho nhớ Thomas Jefferson, Tổng thống thứ ba của Hoa Kỳ và một trong những người sáng lập của quốc gia, người soạn thảo Tuyên ngôn Độc lập Thiết kế cho dinh thự này đã thu hút cảm hứng từ [[Pantheon, Rome| Pantheon tại Rome
Một số tính năng bao gồm: mái vòm tròn chữ ký, Thông tư hàng cột, và để Corinthian tưởng niệm hầu như hiên cùng với sự khác biệt tỷ lệ thuận với chỉ nhẹ. Jefferson là con số nổi bật được kết hợp cũng giống như người dân La Mã hiển thị công khai bức tượng của các vị thần và nữ thần khác nhau của họ.
"Trong Virginia":
Monticello (thứ hai phiên bản)
Sau khi thời gian Jefferson ở Pháp, ông đã xây dựng lại ngôi nhà của mình, Monticello, được xây dựng từ 1768 đến 1809 (giữa các phiên bản đầu tiên và thứ hai) Nó được coi là một trong những "ví dụ tốt nhất của các đầu Revival kiến trúc cổ điển phong cách tại Hoa Kỳ" Jefferson hình dung nhà mình để monumentalized. Ngôi nhà được mở rộng, sảnh được thay thế và mỗi tầng tăng gấp đôi kích thước Các cửa sổ của tầng thứ nhất và thứ hai được bọc trong khung dài để bao hàm sự ảo tưởng của tòa nhà chỉ có một câu chuyện., nó mang lại cho ấn tượng rằng ngôi nhà khổng lồ Jefferson đã đi đến độ dài lớn để làm cho nhà của mình một biểu tượng của phong trào kiến trúc truyền thống tiếng Anh. Có những đặc tính cổ điển là tốt, chẳng hạn như hàng hiên và một mái vòm hình bát giác và đơn giản là cột
Trong năm 1987, ngôi nhà này đã được chọn là một di sản thế giới trang web của UNESCO
Monticello này cho thấy niềm đam mê của Jefferson của tân cổ điển và những nỗ lực của mình để đại diện cho phong cách ngay cả trong nhà riêng của mình.
Đại học Virginia
Thiết kế bởi Thomas Jefferson, ông đã từ chối sử dụng thiết kế truyền thống. Ông kêu gọi tổ chức một "làng học thuật" và từ một cái nhìn cây anh đào, trường đại học trông giống như ba mặt của một hình chữ nhật. "làng" được tạo ra để cung cấp một không gian học tập chia sẻ và cho học sinh để theo đuổi "cuộc sống của tâm"
Ở một bên của khuôn viên trường, có một Pantheon lấy cảm hứng từ rotunda (một tòa nhà tròn với một mái vòm) nơi đặt thư viện Tòa nhà này đại diện cho sự giác ngộ của tâm trí con người Bật liền kề chết hai hàng năm gian hàng riêng biệt Mỗi gian hàng là một giáo sư và kỷ luật trong trường đại học, họ đã A hiên kết nối mỗi gian hàng .
Jefferson muốn trường đại học được dựa trên "tự do vô hạn của tâm trí con người" Đây là một ví dụ về cách cổ điển lý tưởng đã được phản ánh từ một phần kiến trúc.
Virginia State Capitol
Tổ chức chính phủ cũng được thiết kế bởi Thomas Jefferson mình và bắt đầu xây dựng vào năm 1785 xây dựng nhà nước dựa trên Roman Maison Carrée Nimes, Pháp, một ngôi đền dành riêng cho Lucius và Gaius Caesar, thông qua con trai của Augustus dinh thự này là tòa nhà đầu tiên được trực tiếp dựa trên một ngôi đền cổ. Cũng giống như nhiều những ví dụ khác, các cột được xây dựng trong để Corinthian. Ngoài ra còn có một hàng hiên bao quanh xây dựng với các cột đều đặn cuối cùng kết nối với -trụ bổ tường, cột hình chữ nhật nhô ra từ các bức tường.
Xây dựng nhà nước này cũng thể hiện mong muốn phản ánh phong cách của các tổ chức La Mã cổ đại để trực quan đại diện cho niềm tin có giá trị của cổ
==== Danh sách của các tổ chức kiến trúc khác (khắp nước Mỹ) ====
Washington Monument (Washington, D.C.)
Nhà Trắng (Washington, D.C.)
Nhà Quốc hội Massachusetts (Boston, Massachusetts)
Họ Crescent (Boston, Massachusetts)
Washington Arch (New York, New York)
Beacon Hill Memorial Cột (Boston, Massachusetts)
Ngân hàng thứ hai của Hoa Kỳ (Philadelphia, Pennsylvania)
Bank of Pennsylvania (Philadelphia, Pennsylvania)
Philadelphia Stock Exchange (Philadelphia, Pennsylvania)
Giáo hội Monumental (Richmond, Virginia)
Virginia Nhà nước trại cải tạo (Richmond, Virginia)
Vương cung thánh đường Baltimore (Baltimore, Maryland)
== Tham khảo == |
liên bang đông dương.txt | |
song pe.txt | Song Pe là một xã thuộc huyện Bắc Yên, tỉnh Sơn La, Việt Nam.
Xã có diện tích 84,14 km², dân số năm 1999 là 3.922 người, mật độ dân số đạt 47 người/km².
== Chú thích ==
== Tham khảo ==
Song Pe là xã vùng III của huyện Bắc Yên, trung tâm xã nằm cách huyện lỵ 10 km về phía Tây; có tổng diện tích tự nhiên là 8.326,97 ha, 1037 hộ, 4970 khẩu, gồm có 10 bản và 5 Dân tộc anh em cùng sinh sống, trong đó dân tộc Mường chiếm 74,5% DS; dân tộc Dao chiếm 13% DS; dân tộc Mông chiếm 9,9% DS; dân tộc Kinh chiếm 1,4 % DS; dân tộc Thái chiếm 1,2 % DS. Xã phân chia thành 2 vùng: 5 bản vùng cao và 5 bản vùng thấp. Về danh giới hành chính giáp với các xã như sau: Phía Đông giáp Thị Trấn Bắc Yên, xã Hồng Ngài; phía Tây giáp xã Tạ Khoa; phía Nam giáp xã Chiềng Sại, xã Đá Đỏ huyện Phù Yên; phía Bắc giáp xã Chim Vàn, xã Phiêng Ban. Nghề nghiệp chủ yếu là sản xuất nông lâm nghiệp kết hợp, xác định cây màu là cây lương thực chủ yếu, cùng với chăn nuôi và một số ngành nghề phụ tăng thêm thu nhập. Tình hình an ninh chính trị, luôn được giữ vững, ổn định; trình độ dân trí không đồng đều; số hộ nghèo của xã năm 2014 là 30,6 %. |
hệ ngôn ngữ nhật bản.txt | Hệ ngôn ngữ Nhật Bản hay ngữ hệ Nhật Bản là một nhóm ngôn ngữ nhỏ tất cả đều tập trung tại quần đảo Nhật và đã phát triển độc lập với các ngôn ngữ khác sau nhiều thế kỷ. Hệ ngôn ngữ Nhật Bản được chia ra làm 2 nhóm chính: tiếng Nhật và Nhóm Lưu Cầu (Ryukyuan). Chi tiếng Nhật chỉ gồm duy nhất tiếng Nhật. Chi Lưu Cầu (Ryukyu) chia làm 2 nhóm ngôn ngữ, một nhóm bao gồm trực tiếp các ngôn ngữ thành viên và nhóm còn lại tiếp tục phân thành 2 nhánh ngôn ngữ (hay trong một số trường hợp còn được định danh là tiểu nhóm ngôn ngữ, tùy thuộc vào mức độ chính xác của từng định nghĩa chi, nhóm, nhánh khác nhau đang được sử dụng). Hệ ngôn ngữ Nhật Bản có 12 ngôn ngữ thành viên, tất cả trong số đó đều đang được duy nhất những cư dân đang sống trên đất Nhật sử dụng.
Tuy các ngôn ngữ thuộc hệ này đã được phát triển biệt lập, nhiều nhà ngôn ngữ học vẫn đang tìm kiếm các liên hệ giữa chúng với các ngôn ngữ khác. Một thuyết được để ý nhất đề nghị xếp hệ này cùng với một ngôn ngữ đã mai một – tiếng Goguryeo – vào Nhóm Fuyu. Một thuyết khác nhắc đến những điểm giống nhau về ngữ pháp giữa các ngôn ngữ trong hệ này và tiếng Triều Tiên – tuy không giải thích được về sự khác biệt về từ vựng.
== Sơ đồ của Hệ ngôn ngữ Nhật Bản ==
Sự phân chia cụ thể của hệ ngôn ngữ này là như sau:
Hệ ngôn ngữ Nhật Bản
Tiếng Nhật
Nhóm ngôn ngữ Lưu Cầu (Ryukyuan)
Nhóm Yểm-Xung (Amami-Okinawa)
Nhánh phía Bắc:
tiếng Yểm Mĩ (Amami-Oshima)
Hỉ Giới (Kikai)
Đức Chi Đảo (Toku-No-Shima).
Nhánh phía Nam:
Xung Vắng Lương Bộ (Oki-No-Erabu)
Xung Thằng (Okinawa)
Quốc Đầu (Kunigami)
Dữ Luận (Yoron).
Nhóm Tiên Đảo (Sakishima):
Cung Cổ (Miyako)
Bát Trọng Sơn (Yaeyama)
Dữ Na Quốc (Yonaguni).
Nhiều nhà ngôn ngữ học lại có ý kiến khác về nhóm Lưu Cầu như sau đây:
Nhóm ngôn ngữ Lưu Cầu (Ryukyuan)
Nhóm Yểm Mĩ (Amami)
Các giọng bắc: Ốc Cửu Đảo (Yakushima), Bắc Đại Đảo (Bắc Oshima)
Các giọng nam: Dữ Luận (Yoron), Nam Đại Đảo (Nam Oshima)
Nhóm Xung Thằng (Okinawa)
Giọng Quốc Đầu (Kunigami), hay Bắc Xung Thằng (Bắc Okinawa)
Giọng Xung Thằng (Okinawa), hay Nam Xung Thằng (Nam Okinawa)
Nhóm Cung Cổ (Miyako)
Nhóm Bát Trọng Sơn (Yaeyama)
Nhóm Dữ Na Quốc (Yonaguni)
Trong các ngôn ngữ trên, tuyệt đại đa số là được sử dụng bởi một thiểu số rất ít người, một số ngôn ngữ chỉ có vài trăm người sử dụng. Ngoài tiếng Nhật, duy có một ngôn ngữ có số người sử dụng gần 1 triệu là tiếng miền Trung Okinawa (xem thêm Bàn đồ Okinawa, 1990). Tất cả 11 ngôn ngữ còn lại đều không thể dùng để giao tiếp với tiếng Nhật vì sự dị biệt tới mức không hiểu nổi giữa các ngôn ngữ này.
== Các ngôn ngữ chính ==
Bảng dưới tóm tắt một số đặc điểm của các ngôn ngữ chính trong hệ ngôn ngữ Nhật:
== Tham khảo ==
Số liệu do S. Wurm và S. Hattori công bố vào năm 1981.
Số liệu do M. Shibatani công bố vào năm 1990.
James Patric, Academic Publications, Toba, Sueyoshi, 1983.
Tư liệu năm 2000 của tổ chức WCD
== Xem thêm ==
Ngôn ngữ tại Nhật Bản
Tiếng Nhật Bản
Tiếng Ainu
Người Ainu
== Liên kết ngoài ==
Tiếng Nhật http://japanese.about.com/ |
kinh tế nhật bản.txt | Kinh tế Nhật Bản là một nền kinh tế thị trường phát triển. Quy mô nền kinh tế này theo thước đo GDP với tỷ giá thị trường lớn thứ hai trên thế giới sau Mỹ, còn theo thước đo GDP ngang giá sức mua lớn thứ ba sau Mỹ và Trung Quốc.
Trải qua nhiều biến động trong suốt lịch sử, cuối cùng, kinh tế Nhật Bản đã và đang tăng trưởng, nhưng cũng nảy sinh không ít vấn đề. Vào thế kỉ 16 - 17, kinh tế Nhật Bản chủ yếu là nông nghiệp trồng lúa nước và đánh bắt cá.
Công nghiệp bắt đầu phát triển sau cuộc Phục hưng Minh Trị vào giữa thế kỉ 19 (năm 1868). Bước sang thế kỉ 20, ngành công nghiệp của Nhật Bản đã phát triển rõ rệt. Trong suốt đầu thế kỉ 20, các ngành công nghiệp được ưa chuộng và phát triển nhất là sắt thép, đóng tàu, chế tạo vũ khí, sản xuất xe cộ. Nhờ các ngành này mà quân đội Nhật Bản bành trướng ra ngoài. Trong số những vùng mà Nhật chiếm được, đáng chú ý nhất là Mãn Châu Lý của Trung Hoa và Triều Tiên.
Mặc dù ưu thế ban đầu nghiêng về Nhật Bản. Tuy nhiên, đến năm 1945, nước này nằm trong tầm ném bom của đối phương. Máy bay ném bom của quân Đồng minh đã tàn phá nhiều thành phố. Đáng chú ý nhất là vụ ném bom nguyên tử Hiroshima và Nagasaki đã gây ra sức tàn phá lớn trên quy mô rộng. Sau vụ ném bom, các thành phố và nhà máy bắt đầu tái thiết lại.
Vận mệnh của Nhật thay đổi sau khi Chiến tranh Triều Tiên nổ ra vào năm 1950. Mỹ muốn Nhật sản xuất vũ khí để cung cấp cho lực lượng ủng hộ Nam Triều Tiên. Sản lượng công nghiệp, đặc biệt trong các lĩnh vực như sắt thép và đóng tàu, tăng nhanh chóng. Nhờ sự hỗ trợ tài chính của Mỹ và quyết tâm khôi phục lại đất nước, đến khi Chiến tranh Triều Tiên kết thúc vào năm 1953, nhiều nhà máy mới đã được xây dựng. Sau sự bùng nổ kinh tế, các hãng điện tử hàng đầu thế giới đã xuất hiện như Sony, Panasonic hay Honda.
Nền kinh tế của Nhật Bản phát triển chưa được bao lâu thì bỗng nhiên suy thoái. Trong những năm gần đây, rất nhiều công ty bị phá sản - hơn 17.000 công ty. Đây cũng là điều dẫn đến tỉ lệ thất nghiệp tăng. So với các nước phương Tây thì tỉ lệ thất nghiệp của Nhật ít hơn nhiều, nhưng nếu xét theo tiêu chuẩn Nhật Bản thì con số đó lại cao - 5,2% vào năm 2003. Trong số những người bị thất nghiệp, rất nhiều người đã phải ngủ ngoài đường vì không có nhà, hay thậm chí là tự tử. Trước tình hình đó, Nhật Bản đang cố khắc phục để xây dựng lại nền kinh tế tốt hơn.
== Lịch sử kinh tế Nhật Bản ==
Với sự tăng trưởng thần kỳ qua ba giai đoạn, Nhật Bản là một trong số các quốc gia được nghiên cứu nhiều nhất về lịch sử kinh tế. Giai đoạn đầu tiên bắt đầu từ sự thành lập thành phố Edo (năm 1603) dẫn đến sự phát triển toàn diện của kinh tế nội địa. Giai đoạn thứ hai chính từ cuộc cải cách Minh Trị Duy Tân (năm 1868) đưa nước Nhật trở thành cường quốc đầu tiên ở châu Á sánh được với các quốc gia châu Âu. Trong giai đoạn cuối cùng, từ sự thất trận trong Thế Chiến thứ hai (năm 1945) đảo quốc này đã vươn mình trở nên kinh tế lớn thứ hai thế giới.
=== Giao lưu với châu Âu (thế kỉ 16) ===
Những người châu Âu thời Phục Hưng đã thán phục Nhật khi họ đến đây vào thế kỷ 16. Đảo quốc này được đánh giá là có rất nhiều kim loại quý, chủ yếu dự trên những tính toán của Marco Polo về các lâu đài và đến thờ được mạ vàng, về sự phong phú của các quặng mỏ lộ thiên từ các miệng núi lửa khổng lồ. Các quặng này được khai thác triệt để và trên quy mô lớn và Nhật đã từng là nhà xuất khẩu lớn các kim loại chì và bạc vào thời kỳ Công nghiệp.
Nước Nhật thời Phục Hưng cũng được đánh giá là một xã hội phong kiến phức tạp với một nền văn hóa đặc sắc và nền kỹ thuật tiền công nghiệp mạnh mẽ. Đất nước tập trung đông dân số ở thành thị và thậm chí có những trường Đại học Phật giáo lớn hơn cả các học viện ở phương Tây như Salamanca hoặc Coimbra. Các nhà nghiên cứu châu Âu về thời đại này có vẻ đồng ý rằng người Nhật "chẳng những vượt trội tất cả các dân tộc phương Đông mà còn ưu việt hơn cả người Tây Phương" (Alessandro Valignano, 1584, "Historia del Principo y Progresso de la Compania de Jesus en las Indias Orientales).
Những du khách Tây Phương đầu tiên đã rất ngạc nhiên về chất lượng của hàng thủ công và dụng cụ rèn đúc. Điều này xuất phát từ việc bản thân nước Nhật khá khan hiếm những tài nguyên thiên nhiên vốn dễ tìm thấy ở Âu Châu, đặc biệt là sắt. Do đó, người Nhật nổi tiếng tiết kiệm đối với tài nguyên nghèo nàn của họ, càng ít tài nguyên họ càng phát triển các kỹ năng để bù đắp.
Các tàu Bồ Đào Nha đầu tiên (thường khoảng 4 tàu kích cỡ nhỏ mỗi năm) đến Nhật chở đầy tơ lụa, gốm sứ Trung Hoa. Người Nhật rất thích những thứ này, tuy nhiên họ lại bị cấm giao dịch với Trung Quốc do các Hoàng đế Trung Hoa muốn trừng phạt các Oải Khấu thường xuyên cướp bóc duyên hải nước mình. Sau đó, người Bồ Đào Nha, được gọi là Nanban (Nam Man) chớp lấy cơ hội này đóng vai trò trung gian thương mại ở châu Á.
=== Thời kỳ Edo (1603–1868) ===
Trong những thập kỷ cuối cùng của mậu dịch Nam Man, nước Nhật đã có tương tác mạnh mẽ với các cường quốc Tây Phương về mặt kinh tế và tôn giáo. Khởi đầu của thời kỳ Edo trùng với những thập kỷ này khi Nhật đã đóng những chiến thuyền vượt đại dương theo kiểu Tây phương đầu tiên như thuyền buồm 500 tấn San Juan Bautista chuyên chở phái bộ ngoại giao Nhật do Hasekura Tsunenaga dẫn đầu đến Mỹ rồi sau đó đến châu Âu. Cũng trong giai đoạn đó, chính quyền Mạc Phủ đã trang bị khoảng 350 chu ấn thuyền có ba cột buồm và được vũ trang để phục vụ việc mua bán ở châu Á. Các nhà phiêu lưu người Nhật, như Yamada Nagamasa đi lại rất năng động khắp Á Châu.
Để loại trừ ảnh hưởng của Thiên chúa giáo, Nhật tiến vào một thời kỳ cô lập gọi là sakoku với nền kinh tế ổn định và tăng trưởng nhẹ.
Phát triển kinh tế trong suốt thời kỳ Edo bao gồm đô thị hóa, gia tăng vận tải hàng hóa bằng tàu, mở rộng thương mại nội địa và bắt đầu mua bán với nước ngoài, phổ biến thương nghiệp và thủ công nghiệp. Thương mại xây dựng rất hưng thịnh song hành với các cơ sở ngân hàng và hiệp hội mậu dịch. Các lãnh địa chứng kiến sự tăng mạnh dần trong sản xuất nông nghiệp và sự lan rộng của ngành thủ công ở nông thôn.
Khoảng giữa thế kỷ 18, dân số Edo đã đạt hơn 1 triệu người trong khi Osaka và Kyoto mỗi nơi cũng có hơn 400,000 cư dân. Nhiều thành thị xây xung quanh các thành quách cũng phát triển. Osaka và Kyoto trở thành những trung tâm thương mại và thủ công đông đúc nhất trong khi Edo là trung tâm cung ứng thực phẩm và nhu yếu phẩm cho người tiêu dùng thành thị.
Lúa gạo là nền tảng của nền kinh tế, các lãnh chúa phong kiến (daimyo) thu thuế từ nông dân dưới dạng gạo với thuế suất cao khoảng 40% vụ thu hoạch. Gạo được bán ở các chợ fudasashi ở Edo. Để sớm thu tiền, các đại danh sử dụng các hợp đồng tương lai để bán gạo chưa được thu hoạch. Những hợp đồng này tương tự như loại hợp đồng tương lai thời hiện đại.
Dưới thời này, Nhật Bản dần dần tiếp thu khoa học và công nghệ phương Tây (gọi là Lan học, hay "rangaku", "học vấn của người Hà Lan") qua thông tin và những cuốn sách của thương nhân Hà Lan ở Dejima. Lĩnh vực học tập chính là địa lý, dược học, khoa học tự nhiên, thiên văn học, nghệ thuật, ngôn ngữ, cơ học ví dụ như nghiên cứu về các hiện tượng điện, và khoa dược học, với ví dụ về sự phát triển của đồng hồ Nhật Bản, hay wadokei, chịu ảnh hưởng của kỹ thuật phương Tây.
=== Giữa 2 cuộc chiến tranh thế giới ===
Trong suốt những thập niên đầu thế kỷ 20, Nhật Bản bành trướng ra bên ngoài. Quân đội Nhật đã chiếm được những vùng lãnh thổ rộng lớn, đáng chú ý nhất là Triều Tiên và Mãn Châu Lý của Trung Quốc.
Đến tháng 12 năm 1941, Nhật Bản tấn công căn cứ hải quân Mỹ ở Trân Châu cảng, Hawaii. Mỹ tham gia Chiến tranh Thế giới thứ hai, chống lại Nhật và Đức. Ban đầu, ưu thế nghiêng vệ Nhật Bản, nhưng đến năm 1945, các thành phố của nước này đã ở trong tầm ném bom của đối phương. Phần lớn các ngành công nghiệp Nhật Bản trở thành mục tiêu ném bom của quân Đồng Minh. Máy bay ném bom của quân Đồng minh đã tàn phá các thành phố lớn như Tokyo, Niigata, Osaka, Fukuoka, Hiroshima và Nagasaki. Năm 1945, sau khi Nhật Bản bại trận, các nhà công nghiệp của nước này bắt đầu quá trình tái tiết các nhà máy.
=== Sau chiến tranh (từ 1945 tới 1985) ===
Sau chiến tranh, Nhật Bản bắt đầu hồi phục kinh tế. Từ năm 1950, Chiến tranh Triều Tiên nổ ra cũng là lúc mà ngành công nghiệp của Nhật Bản phát triển đến kinh ngạc. Mỹ muốn Nhật sản xuất vũ khí để ủng hộ Nam Triều Tiên. Sản lượng công nghiệp, đặc biệt trong các lĩnh vực đóng tàu và sản xuất sắt thép tăng nhanh chóng. Sau khi cuộc chiến kết thúc, Nhật bắt đầu xây dựng các nhà máy và khu công nghiệp mới.
Ngoài kỹ năng về lao động và quản lý, Nhật Bản còn có những lợi thế khác. Nước này có nhiều nhà máy cho năng suất cao, đem lại lợi nhuận và nằm ở những vị trí vô cùng thuận lợi. Các nhà máy quy mô lớn ở miền duyên hải có thể nhập khẩu nguyên liệu với số lượng lớn từ vùng nào có giá nguyên liệu rẻ nhất. Sản lượng và doanh thu từ thép tăng vọt. Đóng tàu và các ngành công nghiệp khác cũng phát đạt. Trong đó, có một số ngành mới như điện tử, sản xuất ô tô, đồ điện cũng bắt đầu phát triển. Từ những ngành công nghiệp trên, các nhãn hiệu hàng đầu thế giới bắt đầu xuất hiện như Sony, Panasonic và Honda.
Sự phát triển rất nhanh của nền kinh tế Nhật Bản trong giai đoạn 1952-1973 bắt nguồn từ một số nguyên nhân cơ bản sau:
Nhân tố lịch sử: Kể từ Minh Trị duy tân đến trước thế chiến thứ 2, Nhật Bản đã có 70 năm phát triển đất nước theo mô hình hiện đại và đã trở thành cường quốc số 1 châu Á trong thập niên 1930. Dù bị tàn phá nặng nề trong thế chiến, nhưng những nhân tố và kinh nghiệm quý báu của Nhật Bản vẫn còn nguyên vẹn, họ có thể tận dụng kinh nghiệm này để nhanh chóng xây dựng lại nền kinh tế.
Nhân tố con người: trước thế chiến thứ 2, Nhật Bản đã có đội ngũ chuyên gia khoa học và quản lý khá đông đảo, có chất lượng cao. Dù bại trận trong thế chiến 2 nhưng lực lượng nhân sự chất lượng cao của Nhật vẫn còn khá nguyên vẹn, họ đã góp phần đắc lực vào bước phát triển nhảy vọt về kỹ thuật và công nghệ của đất nước. Người Nhật được giáo dục theo những luân lý của Nho giáo với những đức tính cần kiệm, kiên trì, lòng trung thành, tính phục tùng… vẫn được đề cao. Nhờ đó, giới quản lý Nhật Bản đã đặc biệt thành công trong việc củng cố kỷ luật lao động, khai thác sự tận tụy và trung thành của người lao động.
Mức tích lũy cao thường xuyên, sử dụng vốn đầu tư có hiệu quả cao: những năm 1950, 1960, tiền lương nhân công ở Nhật rất thấp so với các nước phát triển khác (chỉ bằng 1/3 tiền lương của công nhân Anh và 1/7 tiền lương công nhân Mỹ), đó là nhân tố quan trọng nhất để đạt mức tích lũy vốn cao và hạ giá thành sản phẩm. Ngoài ra, Nhật Bản đã chú ý khai thác và sử dụng tốt nguồn tiết kiệm cá nhân. Từ 1961-1967, tỷ lệ gửi tiết kiệm trong thu nhập quốc dân là 18,6% cao gấp hơn hai lần của Mỹ (6,2%) và Anh (7,7%)
Nhật Bản không có quân đội nên có thể giảm chi phí quân sự xuống mức dưới 1% tổng sản phẩm quốc dân, nguồn lực đó có thể chuyển sang phát triển kinh tế.
Tiếp cận và ứng dụng nhanh chóng những tiến bộ khoa học-kỹ thuật: trước thế chiến thứ 2, Nhật Bản đã là một cường quốc về khoa học, công nghệ. Sau chiến tranh, nhân tố này tiếp tục được phát huy.
Tình hình quốc tế có nhiều thuận lợi: Trong các cuộc chiến tranh ở Triều Tiên và Việt Nam, Chính phủ Mỹ đã có hàng loạt đơn đặt hàng với các công ty của Nhật Bản về trang bị, khí tài và các đồ quân dụng khác. Từ năm 1950 đến 1969, Nhật Bản đã thu được 10,2 tỷ USD các đơn đặt hàng của Mỹ (tương đương 70 tỷ USD theo thời giá 2015). Trong giai đoạn này, 34% tổng giá trị hàng xuất khẩu sang Mỹ và 30% giá trị hàng nhập của Nhật là từ thị trường Mỹ. Có thể nói nhu cầu về hàng hóa của Mỹ cho các cuộc chiến tranh ở Triều Tiên và Việt Nam là hai “ngọn gió thần” đối với nền kinh tế Nhật Bản.
Tuy nhiên, nền kinh tế Nhật Bản cũng đã phải đối mặt với những mâu thuẫn gay gắt:
Sự mất cân đối nghiêm trọng giữa các vùng kinh tế: Phần lớn công nghiệp tập trung ở các đô thị phía Đông nước Nhật, trong khi đó các vùng phía Tây và các vùng nông nghiệp vẫn còn trong tình trạng lạc hậu. Nhiều nhà kinh tế phương Tây nhận xét rằng có hai nước Nhật: một nước Nhật rất hiện đại ở các đô thị và một nước Nhật cũ kỹ ở các vùng nông thôn.
Sự phát triển của nền kinh tế Nhật Bản phụ thuộc nhiều vào bên ngoài cả về thị trường tiêu thụ hàng hóa và nguồn cung cấp nguyên liệu. Khi giá nguyên liệu tăng, kinh tế bị tác động mạnh.
Mâu thuẫn xã hội ngày càng gay gắt do các công ty vì chạy theo lợi nhuận nên đã hạn chế những chi phí cho phúc lợi xã hội, duy trì lề lối làm việc khắc nghiệt khiến người làm công bị áp lực nặng nề, dẫn tới nạn tự sát và thanh niên ngại kết hôn và sinh con. Về lâu dài, mâu thuẫn này sẽ phát tác làm kinh tế dần trì trệ đi (tới cuối thế kỷ 20, tình trạng già hóa dân số đã thực sự trở thành vấn đề nghiêm trọng tại Nhật Bản)
=== Trì trệ (từ 1985 tới nay) ===
Nhưng nền kinh tế của Nhật Bản đang phát triển thịnh vượng nhưng rồi cũng bộc lộ ra những điểm yếu của nó. Sau thời kì kinh tế "bong bóng" 1986-1990, từ năm 1991 kinh tế Nhật Bản phát triển ì ạch. Trong những năm 1992-1995 tốc độ tăng trưởng hàng năm chỉ đạt 1,4%, năm 1996 là 3,2%.
Đặc biệt, từ 1997, và nhất là từ đầu 1998, kinh tế Nhật bị lâm vào suy thoái nghiêm trọng nhất kể từ sau cuộc khủng hoảng dầu lửa năm 1974 đến nay với những biểu hiện khủng hoảng hệ thống tài chính tiền tệ, đồng Yen, chứng khoán giảm giá mạnh, nợ xấu khó đòi tăng cao, sản xuất trì trệ và tỉ lệ thất nghiệp hoàn toàn đạt con số kỷ lục trong 45 năm nay (5,5% tháng 12 năm 2002). Năm 1997, GDP tăng trưởng âm 0,7%, năm 1998 là âm 1,8%. Cuộc suy thoái kinh tế lần này của Nhật chủ yếu mang tính chất cơ cấu liên quan đến mô hình phát triển của Nhật đang bị thách thức với một môi trường đã thay đổi khác trước. Vấn đề phục hồi kinh tế thông qua đẩy mạnh cải cách cơ cấu kinh tế, tài chính, ngân hàng đang là một vấn đề cấp bách đặt ra trước mắt đối với chính phủ Nhật.
Nhật Bản đang xúc tiến 6 chương trình cải cách lớn trong đó có cải cách cơ cấu kinh tế, giảm thâm hụt ngân sách, cải cách khu vực tài chính và sắp xếp lại cơ cấu chính phủ... Cải cách hành chính của Nhật được thực hiện từ tháng 1 năm 2001. Dù diễn ra chậm chạp nhưng cải cách đang đi dần vào quỹ đạo, trở thành xu thế không thể đảo ngược ở Nhật Bản và gần đây đã đem lại kết quả đáng khích lệ, nền kinh tế Nhật đã phục hồi và có bước tăng trưởng trở lại, tuy nhiên trong giai đoạn 2005 - 2015, kinh tế Nhật vẫn chỉ đạt được tốc độ tăng trưởng rất chậm, trung bình 1% mỗi năm.
== Nông nghiệp ==
Sườn núi ở Nhật Bản thường quá dốc để có thể canh tác trong khi phần lớn đồng bằng giờ đây lại được sử dụng để phát triển đô thị hay cho mục đích công nghiệp. Với những nơi đất đai có độ dốc vừa phải, người ta phải tạo thành ruộng bậc thang để trồng trọt. Nhật Bản có lượng mưa lớn và thời tiết ở hầu hết các đảo ngoại trừ Hokkaido đều ấm áp, thế nhưng đất nước này lại phải hứng chịu các trận bão vào đầu mùa thu và tuyết rơi dày trong mùa đông. Ở miền duyên hải, các vùng đồng bằng có thể đương đầu với nguy cơ sóng thần đôi lúc xảy ra và một vài vùng núi là nạn nhân của những đợt núi lửa phun trào.
Dù trong hoàn cảnh khó khăn như vậy, trồng trọt vẫn giữ vai trò rất quan trọng đối với kinh tế Nhật Bản. Giữ vai trò chủ đạo trong ngành nông nghiệp là việc canh tác lúa nước. Tuy nhiên, nhiều trang trại có quy mô nhỏ. Hầu hết nông dân làm việc bán thời gian và phần lớn việc đồng áng do phụ nữ đảm nhận.
Lúa nước cần có những điều kiện đặc biệt để sinh trưởng. Thóc thường được gieo trong nhà kính cho đến khi nảy mầm thành mạ. Sau đó, mạ sẽ được cấy với điều kiện rễ mạ phải cách mặt nước ít nhất 10 cm. Ngoài ra còn cần tới các công trình thủy nông để đáp ứng việc tưới tiêu cho các cánh đồng. Cuối cùng, sang mùa thu thì lúa chín và trước khi được gặt về lúa đã ngả màu nâu vàng như lúa mì. Lúa nước trồng được khắp nơi trên Nhật Bản. Tuy nhiên, lúa hầu hết được trồng ở miền cực nam và tại đây có nhiều vùng chuyên canh tác lúa như Niigata.
Mặc dù lúa nước rõ ràng là cây trồng quan trọng nhất ở Nhật Bản, nhưng người Nhật canh tác cả các loại ngũ cốc khác, như là lúa mạch để cung cấp rượu bia. Rất nhiều loại rau quả, như cà chua, dưa chuột, khoai lang, rau diếp, táo, củ cải và quả anh đào cũng được gieo trồng. Chè cũng được trồng nhiều ở Nhật Bản, đặc biệt là ở các thửa ruộng bậc thang trên sườn núi. Sản phẩm chính từ chè là trà xanh hay ocha, được người dân khắp nơi trong nước sử dụng. Chè được trồng chủ yếu ở phía nam đảo Honshu.
== Ngư nghiệp ==
Suốt trong nhiều năm, số cá Nhật Bản đánh bắt được lớn hơn bất kỳ một quốc gia nào trên thế giới. Người Nhật cũng tiêu thụ một lượng lớn cá và các hải sản. Tuy nhiên, trong những năm gần đây, Nhật Bản cũng như các quốc gia có ngành ngư nghiệp phát triển khác đều phải chứng kiến tình trạng cạn kiệt của các ngư trường ven biển và xa bờ.
Ngư nghiệp Nhật Bản tuột dốc do trữ lượng cá ở các vùng nước ven biển cạn kiệt và những quy định quốc tế về hạn chế đánh bắt cá ở các vùng biển sâu. Hiện nay ngư nghiệp nước này chỉ còn xếp thứ ba trên thế giới. Để bù đắp sản lượng cá thiếu hụt, Nhật Bản phát triển ngành nuôi trồng thuỷ sản. Nước này còn tăng số lượng hàng thuỷ hải sản nhập khẩu, năm 2002 đạt 3,88 triệu tấn. Cá vẫn đóng vai trò quan trọng trong bữa ăn và chiếm gần 40% lượng protein động vật được hấp thụ của người Nhật – con số này cao hơn nhiều so với hầu hết các nước phương Tây.
Sự sụt giảm số tàu đánh cá đã tác động mạnh tới nhiều cộng đồng ngư dân. Trong vòng 30 năm qua, số việc làm trong ngành ngư nghiệp đã giảm gần một nửa và đến năm 2002 chỉ còn 243.330 việc làm. Các cộng đồng ngư dân chịu ảnh hưởng nhiều vấn đề, từ sự phản đối của các tổ chức bảo vệ môi trường cho đến ô nhiễm nước. Tuy nhiên vấn đề chính là do sự đánh bắt bừa bãi ở ven bờ. Cá bị đánh bắt quá nhiều dẫn đến mất cân bằng hệ sinh thái. Hệ quả là số tàu đánh cá giảm, kéo theo sự hình thành những khu thất nghiệp ở một số vùng ven bờ.
== Công nghiệp ==
Công nghiệp là một trong những ngành kinh tế quan trọng nhất Nhật Bản. Trong công nghiệp, các ngành được ưa chuộng và phát triển nhất bao gồm: đóng tàu, điện tử, sản xuất đồ gia dụng, sản xuất ô tô và kim loại màu. Từ những năm cuối thế kỉ 20, ngành công nghiệp của Nhật đã phát triển rõ rệt. Bước sang thế kỉ 21, công nghiệp Nhật Bản luôn thay đổi. Các khu công nghiệp lớn tập trung ở Vành đai Thái Bình Dương bao gồm: Keihin (Ở vùng đồng bằng Kanto), Chukyo (Tập trung quanh Nagoya), Hanshin (Osaka), Setouchi (Bao quanh Hiroshima) và Kitakyushu (Bao quanh Kitakyushu và Fukuoka). Trong đó, vùng Keihin là quan trọng nhất và chiếm 42% sản lượng công nghiệp Nhật Bản. Vùng này có nhiều ngành công nghiệp truyền thống như hóa dầu, thép và sản xuất ô tô. Đồng thời đây cũng có ngành dệt may. Song hành cùng các ngành truyền thống là những khu công nghiệp điện tử và công nghệ cao. Các công ty có trụ sở ở đây bao gồm: NEC, Hitachi, Canon, Intel và Sanyo.
Các khu công nghiệp còn lại là Chukyo, Hanshin, Setouchi và Kita-Kyushu. Trong đó, các khu Chukyo, Hanshin và Setouchi chủ yếu là các ngành công nghiệp truyền thống như: dầu mỏ, dệt may, in ấn và sắt thép. Còn Kita-Kyushu lại là nơi có nhiều ngành công nghiệp nặng lâu đời. Trước kia, vùng này là mỏ than địa phương nằm trên đồi. Ngày nay, Kita-Kyushu là khu công nghiệp với các ngành sắt thép, đóng tàu và dầu mỏ.
Ngoài các khu công nghiệp trên, còn có nhiều khu công nghiệp khác nằm ngoài Vành đai Thái Bình Dương bao gồm một số khu công nghiệp nhỏ nằm ở phía bắc Kanto và nằm ven bờ biển Nhật Bản như khu Hokuriku (Nằm ở Niigata và Nagano, Chubu).
== Thương mại và dịch vụ ==
Thương mại và dịch vụ là hai ngành quan trọng của Nhật Bản, riêng ngành dịch vụ chiếm 73,3% GDP của nước này.
=== Thương mại ===
Nhật Bản là một trong những quốc gia thương mại lớn nhất trên thế giới. Từ năm 1945, thương mại xuất khẩu tăng trưởng đáng kể và đến năm 2003 đạt giá trị 54,55 nghìn tỷ yên. Hiện nay lợi nhuận mà Nhật Bản thu được từ xuất khẩu đã lớn hơn chi tiêu cho nhập khẩu và thặng dư thương mại vào năm 2003 đạt 10,19 nghìn tỷ yên. Sự mất cân bằng trong cán cân thương mại với Nhật đã khiến nhiều nước lo ngại. Các nước này cho rằng Nhật Bản đã dựng lên các rào cản đối với hàng hoá nhập khẩu từ các quốc gia khác. Nhật Bản đã có một số động thái tích cực để giải quyết vấn đề này, ví dụ như trong vòng 20 năm qua hỗ trợ tài chính của chính phủ cho nông dân đã giảm xuống. Điều này đồng nghĩa với việc người nông dân trồng lúa ở các nước khác có thể bán được sản phẩm của họ ở Nhật.
=== Dịch vụ ===
Lao động trong các ngành bán lẻ và dịch vụ của Nhật tăng rất nhanh. Trong khi đó, số người làm việc trong ngành công nghiệp chế tạo và nông nghiệp giảm xuống. Sự chuyển dịch về lực lượng lao động nói trên một phần là do những tiến bộ về công nghệ. Giờ đây ở các nông trang và trong các nhà máy, các loại máy móc tinh vi và robot đảm nhiệm một cách nhanh chóng và hiệu quả những công việc có tính lặp đi lặp lại, đơn giản và nguy hiểm. Đồng nghĩa với những công việc như vậy ngày càng giảm. Tốc độ đô thị hoá tăng kéo theo sự gia tăng nhu cầu về các dịch vụ hỗ trợ như giao thông, viễn thông và những ngành dịch vụ công cộng. Ngành giải trí và du lịch tăng trưởng mạnh mẽ.
=== Mua sắm ===
Số lượng lớn những người làm việc trong các ngành dịch vụ là sự phản ánh về xã hội tiêu dùng của Nhật Bản. Người Nhật rất thích mua sắm; trên thực tế, việc mua sắm đang được xem như một thứ tôn giáo hiện đại của nước này. Vào mỗi Chủ nhật, tại nhiều đại lộ, ô tô không được lưu thông để những đoàn người mua sắm có thể đi lại dễ dàng hơn. Dù vậy, vào giờ nghỉ trưa của các ngày chủ nhật, việc mua bán tại siêu thị có thể bị chậm lại.
Nỗi ám ảnh mua sắm kể trên là kết quả từ sự thịnh vượng của Nhật Bản – khi đất nước trở nên phồn vinh hơn thì người dân có nhiều tiền để tiêu xài hơn. Trong thập niên 1960, ba thứ tài sản quý giá, tính trên bình quân số hộ là máy giặt, tủ lạnh và ti vi. Đến thập niên 1980, ba thứ này nhường chỗ cho xe hơi, máy điều hoà và ti vi màu. Những hàng hoá khác như piano, giường kiểu phương Tây, điện thoại di động và máy tính xách tay đã trở nên phổ biến. Mặc dù trang phục truyền thống như áo kimono đã thông dụng trở lại nhưng người Nhật bây giờ hầu hết là mặc trang phục phương Tây như quần jeans, áo khoác và áo thun.
=== Ngành du lịch ===
Người Nhật là một trong những dân tộc ưa thích du lịch nhất trên thế giới và dành một phần đáng kể trong thu nhập khả dụng của họ cho các kỳ nghỉ ở nước ngoài. Thế nhưng ngành du lịch trong nước của Nhật Bản lại không mấy thu hút khách nước ngoài. Năm 2003, có đến 13,30 triệu lượt người Nhật đi du lịch nước ngoài trong khi chỉ có 5,21 triệu du khách đến Nhật Bản. Năm 2002, nước này xếp thứ 32 trên thế giới về du lịch nội địa, thấp hơn so với nhiều quốc gia láng giềng ở Đông Nam Á như Singapore và Malaysia. Hiện nay, hầu hết khách du lịch tới Nhật Bản là người Đài Loan, Mỹ, Hàn Quốc và Anh.
== Giao thông vận tải và thông tin liên lạc ==
Cảnh quan địa lý của Nhật Bản, cùng với nhiều hiểm hoạ thiên nhiên của nước này là một thách thức đáng kế đối với sự phát triển của mạng lưới thông tin liên lạc. Mặc dù vậy, người Nhật đã đầu tư rất nhiều tiền của để cải thiện cơ sở hạ tầng về giao thông vận tải. Hệ thống vận tải nổi tiếng nhất của Nhật Bản là mạng lưới tàu cao tốc, được gọi là shinkansen.
Chính phủ Nhật thấy phải có một hệ thống tàu cao tốc. Những đường ray mới được thiết kế để cho phép có thêm nhiều tuyến chạy thẳng trong cả nước và những đoàn tàu tốc hành được sản xuất dựa trên công nghệ tiên tiến nhất thời bấy giờ. Các con tàu này hội đủ các yếu tố về tốc độ, đúng giờ, đáng tin cậy và thoải mái. Tàu shinkansen vẫn là một trong những đoàn tàu nhanh nhất thế giới và mới đây mới bị tàu TGV của Pháp vượt qua.
Tuy nhiên, những loại tàu cao tốc khác không phải là shinkansen vẫn được đầu tư đáng kể, chẳng hạn như tàu siêu tốc Sonic chạy trên tuyến đường ngoằn nghoèo ở đông Kyushu, nối Hakata và Oita. Hệ thống vận tải đô thị cũng được cải thiện. Mỗi thành phố lại có các hệ thống vận tải khác nhau – xe điện ở Okayama và Hiroshima, tàu điện ngầm ở Kyoto và xe lửa chạy trên một đường ray ở Kita-Kyushu.
== Những thách thức về kinh tế ==
Vào cuối thập niên 1980, những người làm việc cho các tập đoàn lớn đã trải qua một thời kỳ đặc biệt. Quan hệ chủ thợ tốt đẹp. Giới chủ trả lương tăng lên theo tuổi tác và còn các khoản phúc lợi khác như tiền hưu trí và chăm sóc y tế. Đổi lại, nhân viên trung thành, hợp tác với người chủ và làm việc chăm chỉ. Năng suất nhờ đó được nâng cao, khiến cho Nhật Bản có thể cạnh tranh với các nước có chi phí lao động thấp hơn.
Tuy nhiên, nền kinh tế đã trì tệ trong suốt thập niên 1990. Kể từ năm 1996, GNP của Nhật sụt giảm và đến nay vẫn chưa hồi phục. Trái lại, các vụ phá sản và gánh nặng nợ nần của các tập đoàn lại tăng lên. Tình trạng đó buộc các công ty phải cắt giảm chi phí. Song, sa thải lao động không phải là biện pháp ứng phó truyền thống của Nhật Bản mỗi khi khó khăn về kinh tế.
=== Tác động của nạn thất nghiệp ===
Kể từ năm 1990, số người thất nghiệp đã tăng gấp đôi. Con số này vẫn thấp hơn nhiều nếu đem so với các tiêu chuẩn phương Tây, nhưng nếu xét theo các tiêu chuẩn của Nhật Bản, tình trạng thất nghiệp gia tăng đã gây ra một số hậu quả nghiêm trọng. Số vụ tự tử tăng lên rõ rệt. Tổng chi phí phúc lợi xã hội tăng từ 47.220 tỷ yên lên tới 81.400 tỷ yên vào năm 2001. Các vụ phạm pháp cũng tăng khá nhanh, từ 1.637.000 vụ vào năm 1990 lên đến 2.790.000 vụ vào năm 2003.
=== Những người vô gia cư ===
Thất nghiệp là thảm hoạ đối với một số người ở Nhật Bản. Trong một xã hội coi trọng tính hữu ích và tỷ lệ thất nghiệp rất thấp, một số người đã không thể bày tỏ với gia đình về số phận bi đát của họ. Để giữ được sự tôn trọng của mọi người, họ tiếp tục rời nhà vào mỗi sáng và trở về khi trời tối mịt, cho đến khi tiền tiết kiệm của họ hết nhẵn và họ buộc phải giãi bày tình cảnh của mình với những người thân. Những người khác lại gia nhập vào đội ngũ "những kẻ sa cơ lỡ vận" ở những khu như Airin ở khu thương mại của Osaka, tại đó họ sống dựa vào sự bố thí của các tổ chức từ thiện. Một số người ngủ trên đường phố hoặc trong công viên ở các thành phố lớn như Tokyo chẳng hạn. Công viên Hibiya ở Tokyo là một ví dụ. Những nơi trú ngụ khác là các cây cầu ở Kyoto, các bến tàu và các ga điện ngầm ở các thành phố lớn. Một vài kẻ kém may mắn đó chỉ có một vài dụng cụ thiết yếu, song một số người vô gia cư lại được sống trong ngôi nhà tạm dựng bằng vải bạt với khá nhiều dụng cụ gia dụng – một số trong số đó còn có cả điện. Thế nhưng còn có những số phận bi đát hơn nhiều. Nghiện ngập, hoặc thậm chí là tự tử là những hậu quả khi người ta mất đi kế sinh nhai, tài sản và sự tôn trọng của mọi người.
== Chú thích ==
== Xem thêm ==
Ngân hàng Nhật Bản
Yên Nhật
== Tham khảo ==
Lưu Ngọc Trịnh (1998), Kinh tế Nhật Bản- Những bước thăng trầm trong lịch sử, Nhà xuất bản Thống kê, Hà Nội. |
jo-wilfried tsonga.txt | Jo-Wilfried Tsonga (sinh 17 tháng 4 năm 1985) là một vận động viên quần vợt chuyên nghiệp người Pháp. Hiện nay anh là tay vợt xếp thứ sáu của ATP.
Tsonga sinh tại Le Mans. Anh có mẹ là người Pháp và cha là người Congo. Cha của Tsonga đến Pháp trong thập niên 1970 để thi đấu bóng ném. Tsonga có người em họ là Charles N'Zogbia, hiện là tiền vệ của câu lạc bộ Wigan Athletic. Anh là thành viên của Câu lạc bộ quần vợt Paris (TCP), một câu lạc bộ có tiếng ở Paris.
Tsonga bắt đầu nổi tiếng từ Giải quần vợt Úc Mở rộng 2008. Trong giải đấu này, dù không phải là hạt giống nhưng anh đã lọt vào đến trận chung kết. Để vào đến chung kết anh đã đánh bại 4 hạt giống, trong đó có trận thắng 3 séc trắng trước tay vợt số 2 thế giới lúc đó là Rafael Nadal ở bán kết. Tsonga chỉ chịu thua tay vợt số 3 Novak Djokovic ở chung kết sau 4 séc. Séc đầu tiên trận chung kết anh đã thắng. Đó cũng là séc đấu duy nhất Djokovic chịu thua ở giải này.
Tsonga giành danh hiệu ATP Masters Series đầu tiên tại Paris Masters 2008. Nhờ chiến thắng ở giải này mà Tsonga lần đầu tiên giành quyền tham dự một giải Masters Cup (năm 2008 tại Thượng Hải, Trung Quốc).
Năm 2011 đánh dấu sự trở lại của Tsonga sau chấn thương.Nổi bật là trận thắng lịch sử của anh trước Roger Federer ở tứ kết Wimbledon khi Tsonga đã bị dẫn trước 2 séc.Vào bán kết gặp Djokovic đang ở phong độ cao Tsonga đã thất bại sau 4 séc đấu.Sau đó ở giải master Motreal Tsonga tiếp tục đánh bại Federer ở tứ kết nhưng lại tiếp tục thua Novak Djokovic ở bán kết.Sau đó ở US Open Tsonga đã thi đấu ổn định và lần đầu tiên góp mặt ở tứ kết nhưng rồi anh phải dừng bước trước Federer sau 3 séc trắng.
Vào cuối mùa giải ở 2 giải Indoor Moselle và Viena Tsonga đã xuất sắc giành chiến thắng ở 2 giải này và kết thúc cơn khát danh hiệu kéo dài gần 2 năm kể từ chức vô địch tại Tokyo mở rộng năm 2009. Với phong độ cao và ổn định Tsonga lần thứ hai được góp mặt tại ATP World Tour Finals tổ chức tại London.
== 2013 ==
Tsonga vào được vòng tứ kết tại giải Australian Open 2013 nhưng bị thua Roger Federer ở hiệp 5. Tại giải Pháp Mở rộng 2013, Tsonga hạ dễ Roger Federer 3 hiệp liên tiếp, và như vậy trở thành vận động viên Pháp đầu tiên vào được vòng bán kết kể từ Gael Monfils năm 2008, và cũng là vận động viên tennis thứ hai sau Rafael Nadal mà đã thắng Federer tại cả 2 giải Wimbledon và Roland Garros.
== Chú thích == |
hải quân hoàng gia anh.txt | Hải quân Hoàng gia Anh là lực lượng lâu đời nhất trong Lực lượng Vũ trang Anh. Từ đầu thế kỷ 18 đến giữa thế kỷ 20, Hải quân Anh là lực lượng hải quân lớn nhất và mạnh nhất trên thế giới, đóng vai trò chủ yếu trong việc thiết lập nên một Đế quốc Anh có sức mạnh vượt trội trong thế kỷ 19 đến đầu thế kỷ 20. Trong Chiến tranh thế giới thứ hai, Hải quân Hoàng gia có khoảng 900 tàu hoạt động. Trong Chiến tranh lạnh, nó đã thay đổi nhiệm vụ chính, trở thành lực lượng chống tàu ngầm, chống lại các tàu ngầm của Liên Xô. Khi Liên Xô tan rã, vai trò của nó trong thế kỷ 21 đã trở lại như ban đầu và tập trung vào hoạt động chủ yếu ở các vùng nước sâu trên toàn cầu.
Hải quân Hoàng gia Anh hiện nay, xét về trọng lượng của các hạm tàu, là lực lượng hải quân lớn thứ 2 trong NATO. Hải quân Anh hiện có khoảng 91 hạm tàu đang hoạt động, gồm các tàu sân bay, tàu ngầm hạt nhân, các tàu chống mìn và các tàu tuần tra.
== Lịch sử ==
=== 900–1500 ===
=== 1500–1707 ===
=== 1707–1914 ===
=== 1914–1945 ===
=== Thời kỳ hậu chiến và thế kỷ 21 ===
== Hải quân Hoàng gia Anh ngày nay ==
=== Các hạm đội ===
Xét về số lượng tàu và kích cỡ các tàu, Hải quân Hoàng gia đã bị suy yếu từ những năm 1960. Các số liệu sau, không tính tới việc tăng lên về mặt công nghệ hiện đại trong tàu hải quân, mà chỉ đưa ra sự suy giảm chung của các hạm đội. Bảng sau là sự suy giảm về số lượng các tàu từ năm 1960.
== Vai trò hiện nay ==
Hiên nay Hải quân Hoàng gia Anh có nhiệm vụ bảo vệ lợi ích của Vương quốc Anh cả trong và ngoài nước, thực hiện chính sách quốc phòng và chính sách đối ngoại của chính phủ Hoàng gia Anh. Hải quân Anh cũng đóng vai trò quan trọng trong sự đóng góp của Anh đối với NATO.
== Xem thêm ==
Hải quân
Danh sách hải quân
== Tham khảo ==
== Liên kết ngoài ==
Official Website of the Royal Navy
The Navy List 2006 - list of all serving officers.
Sea Your History Website from the Royal Naval Museum - Discover detailed information about the Royal Navy in the 20th century.
Navy News - Royal Navy Newspaper
UK Military News & Information Portal
The Marine Society College of the Sea
The service registers of Royal Naval Seamen 1873 - 1923
Royal Navy in World War 1, Campaigns, Battles, Warship losses
Royal Navy in World War 2, Campaigns, Battles, Warship losses
Royal and Dominion Navies, Victoria Cross at Sea, 1940-45
Bản mẫu:Royal Navy ships Bản mẫu:British Military |
daniela hantuchová.txt | Daniela Hantuchová (sinh 23 tháng 4 năm 1983 tại Poprad, Tiệp Khắc, nay là Slovakia) là một vận động viên quần vợt chuyên nghiệp người Slovakia.
Trong sự nghiệp của mình cô từng 4 lần giành Cup vô địch Grand Slam ở nội dung đôi nam nữ, tuy nhiên lại chưa một lần đoạt ngôi vị đó ở nội dung đơn. Lần cô vào sâu nhất ở một giải Grand Slam nội dung đơn là giải Úc mở rộng 2008 khi cô vào tơí bán kết.
Tính đến tháng 3-2008 cô đang xếp thứ 10 trên bảng xếp hạng của WTA.
Ngoài việc là một tay vợt chuyên nghiệp thì cô cũng là một người mẫu thời trang
== Tiểu sử ==
Hantuchová sinh tại Poprad, Tiệp Khắc (giờ là Slovakia) có cha là nhà khoa học máy tính Igor và mẹ là Marianna, một nhà độc dược học.
Khi cha mẹ cô ly dị năm 2003, sức đánh của Hantuchová tạm thời xuống dốc. Tại giải Wimbledon năm đó, cô đã không thể ghi điểm quyết định và đã khóc trên sân đấu. Cô cũng gặp phải vấn đề về cân nặng trong thời kỳ đó. Cô từng bị nghi mắc chứng biếng ăn nhưng đã bác bỏ điều đó.
Hantuchová nói được ba thứ tiếng (tiếng Slovak, tiếng Anh và tiếng Đức), và được đào tạo để trở thành một nhạc công piano cổ điển. Cô được coi là người của chủ nghĩa hoàn hảo và tự tạo rất nhiều áp lực khi tập luyện. Cô từng đậu đại học ở Slovakia nhưng gác lại để tập trung vào quần vợt.
Cô xuất hiện trên tạp chí Sports Illustrated Swimsuit Edition năm 2009 cùng với Maria Kirilenko và Tatiana Golovin trong một bộ ảnh mang tên Volley of the Dolls.
== Grand Slam đôi nam nữ (5) ==
=== Vô địch (4) ===
=== Thua (1) ===
== Grand Slam đôi nữ (2) ==
=== Thua (2) ===
== WTA tour ==
=== Thắng đơn nữ (3) ===
=== Thua (6) ===
=== Thắng đôi (8) ===
== Giải ITF (4) ==
=== Đơn (3) ===
=== Đôi (1) ===
== Thống kê các giải ==
== Tham khảo == |
cô đơn.txt |
== Tham khảo ==
Cô đơn hay cô độc, đơn côi là một trạng thái tâm lý của con người theo đó một người không chủ động hoặc từ chối hoặc tự cô lập, cách ly trong mối quan hệ xã hội và thiếu tiếp xúc với người khác cho dù đó là gia đình, bạn bè thân thiết, vợ chồng, con cái... Nó có thể xuất phát từ mối quan hệ xấu đi, sự lựa chọn có chủ ý, bệnh truyền nhiễm phải cách ly, rối loạn tâm thần, rối loạn thần kinh hoặc các trường hợp khác. Một số dấu hiệu và hậu quả của cô đơn do cách ly hoàn toàn thường là cảm giác thiếu thốn, lo lắng, cảm giác ảo tưởng, thậm chí là không còn nhận thức về thời gian.
Cô đơn trong một thời gian ngắn (tạm lánh, lánh xa) thường có giá trị như là một thời gian khi người ta có thể làm việc, suy nghĩ hay nghỉ ngơi mà không bị quấy rầy và có thể đạt được mong muốn vì lợi ích riêng tư. Cô đơn không nhất thiết phải là một khái niệm được hiểu theo nghĩa tiêu cực. Nó có thể có rất nhiều lợi ích để dành thời gian một mình để suy ngẫm, nhận thức hay thiền từ đó có thể nhận thức được nhiều vấn đề, đời sống. Cô đơn là đề tài trữ tình trong thơ ca, văn chương, âm nhạc, phim ảnh, hội họa...
== Xem thêm ==
Tự kỷ
Trầm cảm
Ẩn sĩ |
lomanaltes eductalis.txt | Hypena eductalis là một loài bướm đêm thuộc họ Erebidae. Nó được tìm thấy ở Saskatchewan tới Nova Scotia phía nam đến Florida và Texas.
It was formerly placed in a separate genus, Lomanaltes.
Sải cánh dài khoảng 25 mm. Có hai lứa trưởng thành một năm in much of phần phía đông của its range.
Ấu trùng ăn the underside of the leaves of cây tổng quán sủi.
== Liên kết ngoài ==
Owlet Caterpillars of Eastern North America (Lepidoptera: Noctuidae)
Images
== Chú thích == |
sân bay luton london.txt | Sân bay Luton London (IATA: LTN, ICAO: EGGW) tên trước đây là Sân bay quốc tế Luton là một trong các sân bay quốc tế phục vụ Vùng đô thị Đại Luân Đôn (các sân bay kia là sân bay Heathrow sân bay quốc tế Gatwick London). Sân bay này nằm ở thị xã Luton, Bedfordshire, Anh. Trong năm 2008, lần đầu tiên có hơn 10 triệu hành khách qua sân bay này trong một năm. Năm 2010, sân bay này phục vụ 8,7 triệu lượt khách. và có cự ly 30,5 NM (56,5 km; 35,1 mi) north so với Trung tâm London. Sân bay có cự ly 2 mi (3,2 km) so với giao lộ 10a của M1 motorway. Đây là sân bay lớn thứ 4 phục vụ London, sau Heathrow, Gatwick và Stansted, và là một trong 5 sân bay quốc tế của London cùng với sân bay Thành phố London. Sân bay này phục vụ như là một cơ sở cho hãng Easy Jet, Monarch Airlines, Thomson Airways, Ryanair. Phần lớn các tuyến đường phục vụ ở châu Âu, mặc dù có một số điều lệ và các tuyến đường dự kiến tới các điểm đến tại Bắc Phi và châu Á.
== Hãng hàng không và tuyến bay ==
=== Hành khách ===
=== Hàng hóa ===
== Tham khảo == |
sagamihara.txt | Thành phố Sagamihara (相模原市, Tương Mô Nguyên thị) là thành phố đông dân thứ ba và rộng thứ hai trong tỉnh Kanagawa và là một Đô thị cấp quốc gia của Nhật Bản.
Thành phố được thành lập từ năm 1954, tọa lạc tại bồn địa Sagamihara, ở phía bắc của tỉnh Kanagawa. Hiện quy mô dân số của thành phố đã lên tới trên 70 vạn người, lớn nhất trong các đô thị trung tâm vùng ở Nhật Bản. Thành phố có kế hoạch trở thành một đô thị quốc gia của Nhật Bản vào năm 2010.
Tiếp giáp với Tōkyō, Sagamihara có sự liên kết về giao thông và kinh tế rất chặt chẽ với Tōkyō. Từ Sagamihara đến trung tâm của Tōkyō chỉ mất chừng 30 phút đi tàu điện. Tuy vậy, Sagamihara là một khu dân cư. Chức năng đô thị văn phòng của nó kém phát triển.
== Tham khảo == |
jarrow roofing boldon community association f.c..txt | Jarrow Roofing Boldon Community Association Football Club là một câu lạc bộ bóng đá đến từ Boldon Colliery, gần Sunderland, Anh. Đội bóng được thành lập năm 1987 và gia nhập Wearside Football League Division Two năm 1991. Năm 1996, câu lạc bộ được thăng hạng Northern Football League. Họ vào được bán kết FA Vase năm 2005. Hiện tại đội bóng đang thi đấu ở Northern Football League Division One.
Huấn luyện viên hiện tại, Richie McLoughlin, cũng là người sáng lập, chủ tịch, và xây dựng sân vận động với thành viên của ủy ban – McLoughlin là huấn luyện viên kể từ năm 1987.
== Lịch sử ==
Jarrow Roofing Boldon Community Association được thành lập năm 1987 và khởi nghiệp ở South Tyneside Senior League, vô địch ngay mùa đầu tiên tham gia và lên chơi ở Tyneside Amateur League. Sau 3 mùa giải thành công họ lên chơi tiếp ở Wearside League Division Two năm 1991 và được thăng hạng Division One sau khi về đích thứ hai trong mùa giải đầu tiên thi đấu.
Mùa giải 1995–96, câu lạc bộ đứng thứ hai ở Division One và được thăng hạng Northern Football League Division Two. Rồi họ tiếp tục được thăng hạng Division One trong mùa đầu tiên khi về đích thứ 3 chung cuộc, trong khi đó cũng vô địch Craven Cup sau khi đánh bại Shotton Comrades 4–0 trong trận chung kết. Sau 11 ở hạng đấu cao nhất, một mùa giải bao gồm cả việc vào bán kết FA Vase ở mùa giải 2004–05, cuối cùng thất bại trước Didcot Town, Roofing bị xuống lại Division Two cuối mùa giải 2007–08. Roofing trở lại Division One sau 2 mùa giải khi về đích thứ 3. Mùa giải 2011–12, câu lạc bộ xếp thứ 20 và lại về với Division Two.
Sau khi cán đích thứ 4 ở mùa giải 2012–13 và hụt mất quyền lên hạng do thua hiệu số bàn thắng bại, Roofing trở lại Division One một năm sau đó. The Roofers cũng vô địch Ernest Armstrong Memorial Cup bằng việc đánh bại Washington với tỷ số 1–0.
== Danh hiệu ==
Wearside League Division One
Á quân 1995–96
Wearside League Division Two
Á quân 1991–92
Monkwearmouth Cup
Vô địch 1994–95
Craven Cup
Vô địch 1997
Ernest Armstrong Memorial Cup
Vô địch 2013–14
== Kỉ lục ==
Vị thứ cao nhất giải đấu
Thứ 6 ở Northern League, Division One (Cấp độ 8), 2003–04
FA Cup
Vòng loại 2 2009–10, 2013–14
FA Vase
Bán kết 2004–05
Số khán giả đến cổ vũ đông nhất
1,100 – với Didcot Town, Lượt về Bán kết FA Vase, 26 tháng 3 năm 2005.
== Tham khảo ==
== Liên kết ngoài ==
Website chính thức |
núi lửa.txt | Núi lửa là núi có miệng ở đỉnh, qua đó, từng thời kỳ, các chất khoáng nóng chảy với nhiệt độ và áp suất cao bị phun ra ngoài. Núi lửa phun là một hiện tượng tự nhiên trên Trái Đất hoặc các hành tinh vẫn còn hoạt động địa chấn khác, với các vỏ thạch quyển di chuyển trên lõi khoáng chất nóng chảy. Khi núi lửa phun, một phần năng lượng ẩn sâu trong lòng hành tinh sẽ được giải phóng.
Trên thế giới, Indonesia, Nhật Bản và Mỹ được xem là ba nước có nhiều núi lửa đang hoạt động nhất, theo thứ tự giảm dần về mức độ hoạt động.
== Kiến tạo mảng ==
=== Ranh giới mảng phân kỳ ===
Tại các sống núi giữa đại dương, hai mảng kiến tạo tách giãn xa nhau. Vỏ đại dương mới đang được thành tạo từ đá nóng chảy nguội lạnh từ từ và đang hóa đá. Lớp vỏ mỏng ở các sống núi giữa đại dương do lực kéo của các mảng kiến tạo. Sự giải phóng áp lực do sự mỏng dần của lớp vở gây ra sự giãn nở đoạn nhiệt, và sự tan chảy từng phần của manti gây ra hiện tượng núi lửa và tạo thành vỏ đại dương mới. Hầu hết ranh giới tách giãn nằm ở đáy của các đại dương, do đó hầu hết hoạt động núi lửa là dưới đáy biển và hình thành đáy biển mới. Black smoker là các mạch dưới biển sâu là ví dụ về kiểu hoạt động này dưới biển. Nới sống núi giữa đại dương ở trên mực nước biển, thì các đảo núi lửa được hình thành, ví dụ như Iceland.
=== Ranh giới mảng hội tụ ===
Các đới hút chìm là những nơi mà hai mảng, thường là mảng lục địa và mảng đại dương, va nhau. Trong trường hợp này, mảng đại dương bị hút xuống bên dưới mảng lục địa. Trong quá trình tan chảy dòng? (flux melting), nước được giải phóng từ mảng nằm dưới, nhiệt độ tan chảy của nêm nằm trên manti, tạo thành magma. Mácma này có khuynh hướng rất nhớt do thành phần của nó có chứa nhiều silica, vì vậy chúng thường không lên đến bề mặt và nguội lạnh dưới sâu. Khi nó lên đến bề mặt, thì hình thành núi lửa. Các ví dụ điển hình cho kiểu này là núi Etna và các núi lửa thuộc vành đai lửa Thái Bình Dương.
=== "Điểm nóng" ===
Các "điểm nóng" là tên gọi chung để chỉ các núi lửa hình thành từ mantle plume. Đặc điểm để nhận dạng chúng là các cột vật liệu nóng dâng lên từ ranh giới giữa manti-lõi. Chúng được cho là nóng do sự tan chảy với thể tích lớn, và được trộn lẫn trong không gian của chúng. Do các mảng kiến tạo di chuyển trên các cột magma này, mỗi núi lửa sẽ hình thành bên trên theo một chuỗi nhất định sau đó núi lửa di chuyển đến nơi khác và núi lửa mới lại hình thành ngay vị trí đó. Quần đảo Hawaii được cho là hình thành theo kiểu này, cũng như đồng bằng sông Snake, với Yellowstone Caldera là một phần của bảng Bắc Mỹ hiện nằm trên điểm nóng. Tuy nhiên, thuyết này hiện đang bị chỉ trích.
== Tổng quan ==
Hầu hết núi lửa và động đất xảy ra dọc theo ranh giới của hàng chục mảng thạch quyển khổng lồ trôi nổi trên bề mặt Trái Đất. Một trong những vành đĩa nơi động đất và phun trào núi lửa xảy ra nhiều nhất là quanh Thái Bình Dương, thường được gọi là Vành đai núi lửa Thái Bình Dương. Nó gây ra các vụ chấn động và nung nóng trải dài từ Nhật Bản tới Alaska và Nam Mỹ.
Vào năm 2000, các nhà khoa học đã ước tính ít nhất 500 triệu người sống gần khu vực núi lửa hoạt động, tương đương với dân số toàn thế giới vào đầu thế kỷ 17.
Trong 500 năm qua, có ít nhất là 300.000 người đã chết vì núi lửa. Từ năm 1980 đến 1990, núi lửa đã làm thiệt mạng ít nhất 26.000 người.
Núi lửa đang hoạt động lớn nhất thế giới hiện nay đang nằm ở châu Mỹ. Đó là núi lửa Mauna Loa, cao 4.171 mét so với mực nước biển. Núi lửa Mauna Loa ở quần đảo Hawaii, giữa Thái Bình Dương. Mauna Loa có đường kính vĩ đại 100 km. Ngoài 4.171 mét trên mực nước biển, chân núi nằm ở sâu hơn 5.000 mét dưới lòng Thái Bình Dương. Vì vậy, chiều cao thực sự của núi lửa đang hoạt động lớn nhất thế giới là trên 9.000 mét. Với chiều cao đó nó thậm chí còn cao hơn đỉnh núi Everest.
Hiện tại (2014) Việt Nam không có núi lửa nào đang phun. Tuy nhiên trong lịch sử, cùng với vận động vỏ Trái Đất trong khu vực (Đông Dương, Đông Nam Á) đã có nhiều đợt núi lửa phun trào còn để lại vết tích trong kiến trúc địa lý. Ngày 15 tháng 2 năm 1923, cù lao Hòn thuộc Phan Thiết đã xảy ra động đất làm rung chuyển nhà cửa, kéo dài 1 tuần; thủy thủ trên tàu Vacasamaru của Nhật phát hiện một đám khói đen dựng đứng, kèm theo một cột hơi dày đặc bốc cao hơn 2.000 m cùng với những tiếng nổ mạnh phát ra từng đợt. Đến ngày 20 tháng 3 cùng năm, động đất và núi lửa phun lại xảy ra lần nữa.
Mặt Trăng của Trái Đất hiện không quan sát thấy núi lửa nào lớn đang hoạt động. Núi lửa Tvashtar trên vệ tinh Io của Sao Mộc là một trong những núi lửa còn hoạt động lớn nhất hệ Mặt Trời và do đó, lớn nhất vũ trụ hiện quan sát được.
== Núi lửa và động đất ==
Những trận động đất thường để lại các dư chấn, có thể gây ra sóng thần.Động đất có thể làm dịch chuyển các mảng địa chất gây nên các vụ phun trào núi lửa.
Quan sát từ thực địa nhiều vùng và suy luận rằng: Núi lửa, động đất, đứt gãy đều do sự hoạt động của các khối xâm nhập nông á núi lửa trẻ.Quan sát thấy núi lửa luôn nằm tại giao điểm của 4 đứt gãy. Do đó có thể nói: Núi lửa sinh ra động đất và đứt gãy. Đến lượt mình, các đứt gãy lại tạo điều kiện cho núi lửa chui ra mặt đất tại điểm yếu nhất của vỏ quả đất: nơi giao điểm của 4 đứt gãy. Động đất sẽ có cường độ mạnh nhất tại giao điểm của 4 đứt gãy và trên nóc của các khối xâm nhập nông á núi lửa trẻ giàu quặng kim loại. Nhờ đó có thể dùng các phương pháp địa vật lý hàng không (từ và trọng lực hàng không bằng máy bay và vệ tinh) để xác định tâm của các khối xâm nhập nông á núi lửa - cũng đồng thời là tâm chấn động đất đã xảy ra hoặc có thể tái hoạt động.
=== Phân loại núi lửa ===
Theo hình thức hoạt động, núi lửa được chia thành 3 loại
Núi lửa đang hoạt động
Núi lửa đang hồi dung nham
Núi lửa đã không hoạt động nữa
== Các núi lửa đáng chú ý ==
Dưới đây là 16 ngọn núi lửa đáng chú ý theo IAVCEI:
Dòng được tăng lề
== Hình ảnh ==
== Xem thêm ==
Động đất
Sóng thần
== Chú thích ==
== Đọc thêm ==
Marti, Joan and Ernst, Gerald. (2005). Volcanoes and the Environment. Cambridge University Press. ISBN 0-521-59254-2.
Macdonald, Gordon and Agatin T. Abbott. (1970). Volcanoes in the Sea. University of Hawaii Press, Honolulu. 441 p.
Ollier, Cliff. (1988). Volcanoes. Basil Blackwell, Oxford, UK, ISBN 0-631-15664-X (hardback), ISBN 0-631-15977-0 (paperback).
Haraldur Sigurðsson, ed. (1999) Encyclopedia of Volcanoes. Academic Press. ISBN 0-12-643140-X. This is a reference aimed at geologists, but many articles are accessible to non-professionals.
Cas, R.A.F. and J.V. Wright, 1987. Volcanic Successions. Unwin Hyman Inc. 528p. ISBN 0-04-552022-4
== Liên kết ngoài ==
"Các thời kỳ hoạt động núi lửa ở miền Bắc Việt Nam", bài trên "Tạp chí Địa chất" của Phạm Đức Lương
Chùm ảnh về núi lửa Merapi ở Indonesia phun ngày 14 tháng 5 năm 2006
Núi lửa Merapi và mê tín
Ảnh núi lửa phun trào
Núi lửa dưới biển
Núi lửa và quá trình hình thành sự sống
Năm dạng phun của núi lửa
Núi lửa vùi lấp thành phố Pompeii |
hình ảnh.txt | Xem các nghĩa khác tại Hình ảnh (định hướng)
Một bức hình, tấm ảnh, hay hình ảnh thứ ghi lại hay thể hiện/tái tạo được cảm nhận thị giác, tương tự với cảm nhận thị giác từ vật thể có thật, do đó mô tả được những vật thể đó.
== Đặc điểm ==
Hình ảnh có thể có hai chiều, như thể hiên trên tranh vẽ trên mặt phẳng, hoặc ba chiều, như thể hiện trên tác phẩm điêu khắc hoặc hologram. Hình ảnh có thể được ghi lại bằng thiết bị quang học – như máy ảnh, gương, thấu kính, kính viễn vọng, kính hiển vi do con người tạo ra, hoặc bởi các cơ chế tự nhiên, như mắt người hay mặt nước.
Hình ảnh có thể được dùng theo nghĩa rộng, thể hiện bản đồ, đồ thị, nghệ thuật trừu tượng. Với nghĩa này, hình ảnh có thể được tạo ra mới hoàn toàn, thay vì ghi chép lại, bằng cách vẽ, tạc tượng, in ấn hay xây dựng bằng đồ họa máy tính.
Hình ảnh tưởng tượng xuất hiện trong suy nghĩ của con người, tương tự như trí nhớ.
Hình ảnh chuyển động có thể là phim, video, hoạt hình.
== Xem thêm ==
Hoạt hình
Đồ họa máy tính
== Tham khảo ==
== Liên kết ngoài ==
The B-Z Reaction: The Moving or the Still Image?
FACE: Friends of Active Copyright Education
Library of Congress – Format Descriptions for Still Images
Image Processing – Online Open Research Group |
windows xp.txt | Windows XP là một hệ điều hành do Microsoft sản xuất dành cho các máy tính cá nhân chạy trên các bộ xử lý x86 và IA-64 (mã phiên bản là 5.1), hướng tới các máy tính dùng trong gia đình và kinh doanh, máy tính xách tay, và trung tâm phương tiện. Tên "XP" là cách viết ngắn gọn của "experience". Windows XP là hệ điều hành kế nhiệm của cả Windows 2000 và Windows Me, và là hệ điều hành đầu tiên của Microsoft hướng đến người tiêu dùng được xây dựng trên nhân và kiến trúc của Windows NT. Windows XP được ra mắt vào ngày 25 tháng 10 năm 2001, và cho tới tháng 1 năm 2006, trên 400 triệu bản đã được bán ra, theo như ước tính của một chuyên gia IDC. XP được kế nhiệm bởi Windows Vista, được phát hành cho các nhà bán lẻ vào ngày 8 tháng 11 năm 2006, và phát hành rộng rãi vào ngày 30 tháng 1 năm 2007. Việc bán trực tiếp Windows XP qua kênh bán lẻ và OEM đã ngưng vào ngày 30 tháng 6 năm 2008, mặc dù vẫn có thể mua được Windows XP từ các Nhà xây dựng hệ thống (OEM nhỏ hơn bán máy tính lắp ráp) cho đến ngày 31 tháng 7 năm 2009 hoặc bằng cách mua Windows Vista Ultimate hoặc Business rồi hạ cấp xuống Windows XP.
== Tình trạng ==
Microsoft đã ngừng hỗ trợ cập nhật cho Windows XP vào ngày 8 tháng 4 năm 2014, tuy nhiên họ vẫn cho phép người dùng tiếp tục cập nhật thông qua PCMover Express.
== Các phiên bản ==
Windows XP bao gồm các phiên bản sau:
Starter Edition: Phiên bản rút gọn, lược bỏ các tính năng cao cấp, không cầu kì về giao diện, gọn nhẹ, thích hợp với các máy netbook có cấu hình thấp.
Home Edition: Lược bỏ một số tính năng nâng cao như Backup.
Professional: có đầy đủ các tính năng của tất cả các phiên bản kia cộng lại, giúp người dùng có được một sức mạnh toàn năng trong trao đổi thông tin và giải trí mọi lúc mọi nơi, hướng tới các cá nhân, tổ chức muốn một giải pháp trọn vẹn cho việc hoạt động máy vi tính của họ. Các chức năng kết nối mạng văn phòng cũng như kết nối mạng đầy đủ, hướng tới các công ty lớn, các doanh nhân thường xuyên làm việc với máy vi tính để trao đổi dữ liệu.
Phiên bản phổ biến của hệ điều hành này là Windows XP Home Edition, nhắm đến người dùng gia đình, và Windows XP Professional, cung cấp thêm một số tính năng như hỗ trợ tên miền Windows Server và hỗ trợ hai bộ vi xử lý vật lý, nhắm đến người dùng cần chức năng, kinh doanh và khách hàng là công ty lớn. Windows XP Media Center Edition có thêm các tính năng giải trí đa phương tiện nâng cao khả năng ghi hình và xem các chương trình TV, xem phim DVD, và nghe nhạc. Windows XP Tablet PC Edition được thiết kế để chạy các ứng dụng dùng bút cảm ứng xây dựng trên nền hệ Máy tính bảng. Windows XP sau đó còn được phát hành thêm cho hai kiểu kiến trúc nữa, Windows XP 64-bit Edition dành cho các bộ xử lý IA-64 (Itanium) và Windows XP Professional x64 Edition dành cho x86-64. Cũng có Windows XP Embedded, một phiên bản là bộ phận cấu thành của Windows XP Professional, và các phiên bản dành riêng cho từng thị trường như Windows XP Starter Edition.
Windows XP nổi tiếng nhờ tính ổn định và hiệu năng được nâng cao so với các phiên bản 9x của Microsoft Windows. Nó có giao diện người dùng đồ họa được thiết kế lại đáng kể, một sự thay đổi mà theo Microsoft là thân thiện với người dùng hơn các phiên bản trước của Windows. Một khả năng quản lý phần mềm mới có tên Side-by-Side Assembly được giới thiệu để tránh trường hợp "DLL hell" (một trường hợp tai họa cho các phiên bản 9x hướng người tiêu dùng của Windows. Nó cũng là phiên bản Windows đầu tiên sử dụng tính năng kích hoạt sản phẩm để chống lại các bản sao chép bất hợp pháp, một sự hạn chế không thích hợp với một số người dùng và những người ủng hộ quyền riêng tư. Windows XP cũng bị một số người dùng chỉ trích vì các lỗ hổng bảo mật, tích hợp quá nhiều các ứng dụng mặc định như Internet Explorer 6 và Windows Media Player. Các phiên bản sau với Service Pack 2, và Internet Explorer 7 đã giải quyết một số các lo ngại này.
Trong quá trình phát triển, dự án được đặt tên mã là "Whistler", đặt theo Whistler, British Columbia, nơi nhiều nhân viên Microsoft trượt tuyết tại khu trượt tuyết Whistler-Blackcomb.
Vào cuối tháng 2 năm 2009, Windows XP vẫn là hệ điều hành được sử dụng nhiều nhất trên thế giới với thị phần 63.53% (đã giảm nhiều so với con số 85% vào tháng 12 năm 2006).
== Thị trường ==
Hai phiên bản lớn nhất là Windows XP Home Edition, thiết kế cho người dùng gia đình, và Windows XP Professional, dành cho doanh nghiệp và người dùng yêu cầu chức năng. XP Professional có các tính năng nâng cao mà người dùng gia đình bình thường sẽ không dùng đến. Tuy nhiên, các tính năng này không nhất thiết là không tồn tại trong XP Home. Chúng thường được tắt, nhưng vẫn ở đó và có thể hoạt động. Các phiên bản này được bán lẻ tại các quầy bán phần mềm máy tính, và được cài đặt sẵn trên các máy tính do những nhà sản xuất máy tính lớn bán ra. Vào giữa năm 2008, cả hai phiên bản này vẫn tiếp tục được bán. Phiên bản thứ ba, có tên gọi Windows XP Media Center Edition được giới thiệu vào năm 2002 và được cập nhật hàng năm cho đến năm 2006 để bổ sung các tính năng phương tiện kỹ thuật số mới, phát truyền hình và Media Center Extender. Không giống bản Home và Professional, nó không được bán ở các kệ bán lẻ, mà chỉ bán thông qua các kênh OEM, hoặc được cài đặt sẵn trên các máy tính được quảng bá là "máy tính trung tâm giải trí".
Ngoài ra, còn có hai phiên bản 64-bit khác, một được thiết kế đặc biệt cho các máy trạm trên nền Itanium, ra mắt vào năm 2001 trong cùng khoảng thời gian với các phiên bản Home và Professional, nhưng đã bị dừng phát hành một vài năm sau đó khi hãng bán phần cứng Itanium dừng bán các máy thuộc dòng máy trạm do số lượng bán ra thấp. Cái còn lại, có tên là Windows XP Professional x64 Edition, hỗ trợ cho bộ mở rộng x86-64 của kiến trúc Intel IA-32. x86-64 do AMD hiện thực với tên "AMD64", có trong các con chip Opteron và Athlon 64 của AMD, và được Intel hiện thực với tên "Intel 64" (trước đây có tên IA-32e và EM64T), có trong Pentium 4 trở về sau.
Windows XP Tablet PC Edition được giới thiệu dành cho một loại máy tính notebook/laptop được thiết kế đặc biệt có tên là máy tính bảng. Nó tương thích với màn hình cảm ứng, hỗ trợ ghi chép viết tay và màn hình nằm đứng.
Microsoft cũng phát hành Windows XP Embedded, một phiên bản dành một số thiết bị điện tử người dùng cụ thể, hộp tiếp sóng, kiosk/ATM, thiết bị y tế, máy trò chơi điện tử cầm tay, quầy thu tiền, và các thành phần VoIP. Vào tháng 7 năm 2006, Microsoft phát hành Windows Fundamentals for Legacy PCs, một phiên bản thin client của Windows XP Embedded nhắm đến các đời máy cũ (như dòng Pentium nguyên thủy). Nó chỉ dành cho các khách hàng Bảo hiểm Phần mềm. Hệ điều hành này dành cho những khách hàng doanh nghiệp muốn nâng cấp lên Windows XP để tận dụng tính bảo mật và khả năng quản lý của nó, nhưng không đủ tiền để mua phần cứng mới.
=== Các phiên bản dành cho các thị trường nhất định ===
Windows XP Starter Edition là một phiên bản giá thấp của Windows XP dành cho các thị trường Thái Lan, Thổ Nhĩ Kỳ, Malaysia, Indonesia, Nga, Ấn Độ, Colombia, Brasil, Argentina, Peru, Bolivia, Chile, México, Ecuador, Uruguay và Venezuela. Nó tương tự như Windows XP Home, nhưng giới hạn cho những phần cứng cấp thấp, chỉ có thể chạy 3 chương trình một lúc, và có một số tính năng khác được mặc định tắt hoặc gỡ bỏ. Các phiên bản của mỗi quốc gia cũng được đình chỉnh dành riêng cho quốc gia đó, trong đó có hình nền là địa điểm nổi tiếng tại quốc gia đó, các tính năng trợ giúp được bản địa hóa để giúp đỡ những người không biết tiếng Anh, và các thiết lập mặc định khác giúp dễ dùng hơn so với khi cài đặt Windows XP thông thường. Ví dụ như phiên bản Malaysia có hình nền là không ảnh của Kuala Lumpur.
Vào tháng 3 năm 2004, Ủy ban châu Âu đã phạt Microsoft 497 triệu euro và ra lệnh cho công ty này phải cung cấp một phiên bản Windows không có Windows Media Player. Ủy ban kết luận rằng Microsoft "đã vi phạm luật cạnh tranh của Liên minh châu Âu bằng cách đẩy sự độc quyền trong thị trường hệ điều hành dành cho máy tính để bàn sang thị trường dành cho hệ điều hành máy chủ phục vụ nhóm làm việc và trình chơi nhạc". Sau khi kháng án không thành vào năm 2004 và 2005, Microsoft đã có thỏa thuận với Ủy ban sẽ phát hành một phiên bản thể theo bàn án của tòa, Windows XP Edition N. Phiên bản này không có Windows Media Player, thay vào đó, nó khuyến khích người dùng tự chọn và tải về trình chơi nhạc của riêng họ. Microsoft muốn đặt tiên cho phiên bản này là Reduced Media Edition, nhưng tổ chức thi hành của EU đã phản đối và đề nghị tên Edition N, với chỉ N có nghĩa là "not with Media Player" (không có Media Player) cho cả phiên bản Home và Professional của Windows XP. Vì nó được bán ngang giá với phiên bản có Windows Media Player, Dell, Hewlett-Packard, Lenovo và Fujitsu Siemens đã không dùng nó trong sản phẩm. Tuy nhiên, Dell có đưa ra hệ điều hành này một thời gian ngắn. Tỷ lệ người dùng hệ điều hành này thấp, với chỉ 1.500 đơn vị được bán cho OEM, và không thấy có báo cáo về số lượng bán cho người tiêu dùng.
Vào tháng 12 năm 2005, Ủy ban Thương mại Công bằng Hàn Quốc đã yêu cầu Microsoft bán các phiên bản Windows XP và Windows Server 2003 không có Windows Media Player hoặc Windows Messenger. Giống như phán quyết của Ủy ban châu Âu, phán quyết này dựa trên hoàn cảnh Microsoft đã lạm dụng vị trí thống trị của mình trong thị trường để đẩy các sản phẩm khác vào tay người dùng. Tuy nhiên, không giống như quyết định của châu Âu, Microsoft còn bị buộc phải rút các phiên bản Windows không phù hợp ra khỏi thị trường Hàn Quốc. Quyết định này khiến cho Microsoft phải phát hành các biến thể "K" và "KN" của các phiên bản Home và Professional vào tháng 8 năm 2006.
Cũng cùng năm đó, Microsoft cũng phát hành hai phiên bản Windows XP Home Edition nhắm tới mô hình ra giá dựa trên thuê bao và trả tiền khi xài. Các phiên bản này, được phát hành như một phần của sáng kiến FlexGo của Microsoft, được dùng kèm với một thành phần phần cứng để hạn chế thời gian sử dụng Windows. Thị trường mục tiêu là những nền kinh tế đang nổi như Brasil hay Việt Nam.
=== Ngôn ngữ ===
Windows XP có nhiều phiên bản ngôn ngữ. Ngoài ra, gói MUI và Language Interface Pack dùng để dịch giao diện người dùng cũng có ở một số ngôn ngữ.
== Các tính năng mới và được cải tiến ==
Windows XP đã ra mắt một số tính năng mới cho dòng Windows, trong đó có:
Tiến trình khởi động và ngủ đông nhanh hơn
Khả năng loại bỏ một trình điều khiển thiết bị mới hơn để thay bằng một trình cũ hơn (có tên driver rollback), nếu khi cập nhật trình điều khiển cho ra kết quả không mong muốn
Một giao diện mới, được cho là thân thiện với người dùng hơn, trong đó có nền tảng để phát triển các chủ đề (theme) cho môi trường để bàn
Fast user switching, cho phép người dùng lưu trạng thái hiện tại và các ứng dụng đang mở để cho phép người dùng khác đăng nhập mà không làm mất thông tin
Cơ chế hiển thị font ClearType, được thiết kế để tăng tính dễ đọc trên các màn hình LCD và các màn hình tương tự
Tính năng Remote Desktop, cho phép người dùng kết nối với một máy tính đang chạy Windows XP Pro thông qua mạng hoặc Internet và truy cập các ứng dụng, tập tin, máy in, và thiết bị của máy đó
Hỗ trợ hầu hết các loại modem DSL và kết nối mạng không dây, cũng như nối mạng thông qua FireWire và Bluetooth.
== Giao diện người dùng ==
Windows XP đưa ra một giao diện người dùng đồ họa dựa trên tác vụ mới. Trình đơn Start và khả năng tìm kiếm được thiết kế lại và thêm vào nhiều hiệu ứng hình ảnh, trong đó có:
Hình chữ nhật lựa chọn màu xanh mờ trong Explorer
Đổ bóng cho tên biểu tượng trên màn hình desktop
Thanh ngang dựa trên tác vụ trong các cửa Explorer ("tác vụ thường dùng")
Khả năng nhóm các nút trên thanh tác vụ đại diện cho các cửa sổ của một ứng dụng thành một nút duy nhất
Khả năng khóa thanh tác vụ và các thanh công cụ khác để ngăn các thay đổi vô ý
Làm nổi bật các chương trình vừa mới thêm vào trình đơn Start
Tạo bóng dưới các trình đơn (Windows 2000 có bóng dưới con trỏ, nhưng không có bóng dưới trình đơn)
Windows XP phân tích tác động của các hiệu ứng hình ảnh lên hiệu năng và dùng nó để xác định có nên kích hoạt chúng không, do đó ngăn ngừa các tính năng mới ngốn quá nhiều tài nguyên xử lý. Người dùng cũng có thể điều chỉnh các thiết lập này. Một số hiệu ứng, như trộn alpha (trong suốt rồi giảm dần), được xử lý hoàn toàn bởi các loại card đồ họa mới. Tuy nhiên, nếu card đồ họa không có khả năng trộn alpha, hiệu năng có thể bị ảnh hưởng đáng kể, và Microsoft khuyến cáo nên tắt tính năng này bằng tay. Windows XP thêm các khả năng để Windows có thể sử dụng "Kiểu Thị giác" để thay đổi giao diện người dùng. Tuy nhiên, các kiểu thị giác phải được Microsoft ký tên mã hóa thì mới chạy được. Luna là tên của kiểu thị giác mới đi kèm với Windows XP, và được kích hoạt mặc định đối với các máy có bộ nhớ RAM video hơn 64 MiB. Luna dùng để chỉ một kiểu thị giác cụ thể, chứ không phải tất cả các tính năng giao diện mới của Windows XP. Một số người dùng "vá" tập tin uxtheme.dll hạn chế khả năng sử dụng kiểu thị giác trên Windows XP.
Ngoài các chủ đề đi kèm với Windows XP, có một chủ đề trước đó không được phát hành với thanh tác vụ màu xanh đen và thanh cửa sổ tương tự với Windows Vista có tên "Royale Noir" có sẵn để tải về, mặc dù nó không chính thức. Microsoft đã chính thức phát hành một phiên bản chỉnh sửa của chủ đề này với tên chủ đề "Zune", để chào mừng sự ra mắt máy chơi nhạc bỏ túi Zune vào tháng 11 năm 2006. Sự khác nhau duy nhất là cảm giác bóng như gương kèm với một thanh tác vụ màu đen thay vì màu xanh đen và nút Start màu cam thay vì màu xanh lá cây. Ngoài ra, chủ đề "Royale" của Media Center, được kèm trong các phiên bản Media Center, cũng có sẵn để tải về và có thể dùng trên mọi phiên bản Windows XP.
Hình nền mặc định, Bliss, là ảnh phong cảnh ở Thung lũng Napa bên ngoài Napa, California theo định dạng BMP, có những ngọn đồi và bầu trời xanh với các đám mây tầng tích và mây ti.
Giao diện Windows 2000 "cổ điển" cũng có thể dùng thay thế nếu muốn. Một số tiện ích của bên thứ ba có thể dùng để bổ sung hàng trăm kiểu thị giác. Microsoft đã cấp phép công nghệ cho hãng tạo ra WindowBlinds và Stardock để tạo ra các kiểu thị giác trong XP.
== Yêu cầu hệ thống ==
Yêu cầu hệ thống của Windows XP Home và Professional như sau:
Chú giải 1: Mặc dù đây là tốc độ bộ xử lý tối thiểu mà Microsoft đưa ra để chạy Windows XP, vẫn có thể cài đặt và chạy hệ điều hành trên các bộ xử lý IA-32 cũ hơn như Pentium không có bộ lệnh MMX hoặc SSE.
Chú giải 2: "Với nhiều công việc như duyệt Web, thư điện tử, và các hoạt động khác, 64 MB RAM sẽ cung cấp trải nghiệm người dùng tương đương hoặc cao hơn Windows Me chạy trên cùng phần cứng".
== Các gói dịch vụ ==
Microsoft thỉnh thoảng phát hành các service pack dành cho hệ điều hành Windows cũng hãng để sửa các lỗi và thêm tính năng. Mỗi service pack là một gói lớn gồm tất cả các service pack trước đó cùng với những bản vá, do đó chỉ cần cài đặt những service pack mới nhất. Bạn cũng không cần phải gỡ bỏ các service pack cũ hơn trước khi cài một bản service pack mới.
Các chi tiết về service pack phía dưới chỉ dùng cho phiên bản 32-bit. Windows XP Professional x64 Edition dựa trên Windows Server 2003 Service Pack 1 và đã được gọi là "SP1" trong thuộc tính hệ thống ngay bản phát hành đầu tiên. Nó được cập nhật cùng bản service pack lẫn vá khẩn cấp chung với phiên bản x64 của Windows Server 2003.
=== Gói dịch vụ 1 ===
Gói dịch vụ 1 (SP1) dành cho Windows XP được phát hành vào ngày 9 tháng 9 năm 2002. Nó có các bản sửa lỗi bảo mật hậu-RTM và bản sửa lỗi khẩn cấp, các cập nhật tương thích, hỗ trợ tùy chọn .NET Framework, kích hoạt các công nghệ dành cho thiết bị mới như máy tính bảng, và một phiên bản Windows Messenger 4.7 mới. Tính năng mới đáng chú ý nhất là hỗ trợ USB 2.0 và tiện ích Set Program Access and Defaults nhắm đến những sản phẩm ẩn nằm ở giữa. Người dùng có thể điều khiển ứng dụng mặc định sẽ sử dụng cho các hoạt động như lướt web và tin nhắn nhanh, cũng như ẩn truy cập đến một số chương trình đóng gói của Microsoft. Tiện ích này lần đầu tiên xuất hiện trong hệ điều hành Windows 2000 Service Pack 3. Bản Service Pack này mặc định hỗ trợ SATA và ổ cứng có dung lượng hơn 137GB (hỗ trợ LBA). Máy ảo Java của Microsoft, không có trong phiên bản RTM, đã xuất hiện trong bản Service Pack này. Sự hỗ trợ cho IPv6 cũng được ra mắt trong Service Pack này.
Vào ngày 3 tháng 2 năm 2003, Microsoft phát hành Service Pack 1a (SP1a). Lần phát hành này bỏ đi máy ảo Java của Microsoft do kết quả vụ kiện với Sun Microsystems.
=== Gói dịch vụ 2 ===
Gói dịch vụ (SP2) (tên mã "Springboard") được phát hành vào ngày 6 tháng 4 năm 2004 sau một vài lần trì hoãn, tập trung vào tính bảo mật. Không giống như các service pack khác, SP2 bổ sung nhiều chức năng mới cho Windows XP, trong đó có tường lửa nâng cao, tăng cường hỗ trợ Wi-Fi, như tương thích với mã hóa WPA, với tiện ích thuật sĩ, trình khóa quảng cáo popup dành cho Internet Explorer 6, và hỗ trợ Bluetooth. Màn hình chào mừng mới xuất hiện trong quá trình khởi động nhân đã bỏ các phụ đề "Professional", "Home Edition" và "Embedded" vì Microsoft đã giới thiệu thêm các phiên bản Windows XP khác trước khi phát hành SP2. Thanh đang tải màu xanh lá cây trong Home Edition và màu vàng trong Embedded được thay bằng thanh màu xanh, như trong bản Professional và các phiên bản khác của Windows XP, như vậy màn hình khởi động của tất cả các phiên bản hệ điều hành đã hoàn toàn giống nhau. Màu sắc ở những chỗ khác, như Control Panel và các công cụ Help and Support, vẫn giữ nguyên như trước.
Service Pack 2 cũng thêm các cải tiến bảo mật mới, bao gồm chỉnh sửa lớn đối với trình tường lửa đi kèm được đổi tên thành Windows Firewall và đã được kích hoạt mặc định, Data Execution Prevention, hỗ trợ phần cứng tốt hơn trong NX bit có thể ngăn được một số dạng tấn công tràn bộ đệm. Ngoài ra, hỗ trợ socket thô cũng bị loại bỏ (để hạn chế thiệt hại do máy tính ma tạo ra). Hơn thế, bản service pack này đã cải tiến một số tính năng bảo mật cho email và duyệt web. Windows XP Service Pack 2 đưa vào Windows Security Center, hiển thị tổng quan tình trạng bảo mật của hệ thống, trong đó có tình trạng của phần mềm diệt virus, Windows Update, và Windows Firewall mới. Các ứng dụng diệt virus và tường lửa của bên thứ ba có thể giao tiếp với Security Center mới này.
Vào ngày 10 tháng 8 năm 2007, Microsoft thông báo một cập nhật nhỏ cho Service Pack 2, có tên Service Pack 2c (SP2c). Bản cập nhật này sửa vấn đề có quá ít khóa sản phẩm cho Windows XP. Bản cập nhật này chỉ dành cho các nhà xây dựng hệ thống từ nhà phân phối của họ cho Windows XP Professional và Windows XP Professional N. SP2c phát hành vào tháng 9 năm 2007.
=== Gói dịch vụ 3 ===
Windows XP Gói dịch vụ 3 (SP3) được phát hành cho nhà sản xuất vào ngày 21 tháng 4 năm 2008 và cho công chúng thông qua Microsoft Download Center và Windows Update vào ngày 6 tháng 5 năm 2008.
Bộ service pack này bắt đầu tự động yêu cầu người dùng cập nhật thông qua Automatic Update vào ngày 10 tháng 7 năm 2008. Microsoft đã đăng một bản tổng quan về các tính năng trong đó liệt kê chi tiết các tính năng mới có thể tải độc lập như các bản cập nhật cho Windows XP, cũng như các tính năng backporting từ Windows Vista. Trong SP3, có tổng cộng 1.174 lỗi được sửa. Service Pack 3 có thể cài đặt trên hệ thống bằng Internet Explorer 6 hoặc 7, và Windows Media Player phiên bản 9 trở lên. Internet Explorer 7 không đi kèm trong SP3.
==== Các tính năng mới trong Gói dịch vụ 3 ====
Tự động bật chức năng dò lỗ đen
Trình Network Access Protection
Ủy nhiệm thư Security Service Provider
Tùy chọn bảo mật dễ hiểu hơn giao diện Group Policy/Local Security Policy
Bản Microsoft Kernel Mode Cryptographic Module được cập nhật, được chứng nhận FIPS 140-2 (giải thuật SHA-256, SHA-384 và SHA-512)
Cài đặt mà không đòi khóa sản phẩm khi cài đặt trên các phiên bản bán lẻ và OEM
==== Các bản cập nhật đã phát hành trước đó ====
Service Pack 3 cũng đưa vào một số bản cập nhật quan trọng trước đó dành cho Windows XP, nhưng đã không kèm trong SP2 gồm:
Windows Imaging Component
Cập nhật IPSec Simple Policy để đơn giản hóa việc khởi tạo và bảo trì các bộ lọc IPSec
Background Intelligent Transfer Service (BITS) 2.5
MSXML 6.0 SP2 và XMLLite
Microsoft Management Console 3.0
Cập nhật Dịch vụ Credential Roaming (Digital Identity Management Service)
Remote Desktop Protocol 6.1
Peer Name Resolution Protocol 2.1
Cập nhật Network Diagnostics
Cập nhật WPA2 Update (KB893357)
Mặc dù đến nay các bản service pack đều mang tính tích lũy, khi cài đặt SP3 trên hệ điều hành Windows XP có sẵn vẫn yêu cầu máy tính ít nhất đã phải cài đặt Service Pack 1.
Service Pack 3 có các bản cập nhật cho các thành phần hệ điều hành của phiên bản Windows XP Media Center Edition (MCE) và Windows XP Tablet PC Edition, và cập nhật bảo mật cho.NET Framework phiên bản 1.0, được kèm trong những SKU của Windows XP này. Tuy nhiên, nó không kèm theo các cập nhật cho ứng dụng Windows Media Center trong Windows XP MCE 2005, SP3 cũng bỏ đi các cập nhật bảo mật cho Windows Media Player 10, mặc dù trình duyệt này được kèm trong Windows XP MCE 2005 . Address Bar DeskBand trên Thanh tác vụ không còn kèm trong SP3 do hạn chế về pháp lý.
== Vòng thời gian hỗ trợ ==
Việc hỗ trợ cho Windows XP không có service pack đã kết thúc vào ngày 30 tháng 9 năm 2004 và hỗ trợ cho Windows XP Service Pack 1 và 1a kết thúc vào ngày 10 tháng 10 năm 2006.
Windows XP Service Pack 2 được nghỉ vào ngày 13 tháng 7 năm 2010, gần sáu năm sau khi ra đời. Theo thời gian biểu do Microsoft công bố, công ty sẽ ngừng việc cấp phép Windows XP cho các hãng OEM và ngưng việc bán lẻ hệ điều hành vào ngày 30 tháng 6 năm 2008, 17 tháng sau khi phát hành Windows Vista. Tuy nhiên, hãng đã công bố một ngoại lệ vào ngày 3 tháng 4 năm 2008, đối với các hãng OEM cài đặt cho các máy PC giá cực thấp (ULCPC) thì hoặc là hạn chót là 30 tháng 6 năm 2010, hoặc một năm sau khi ra mắt phiên bản dành cho máy khách đầu tiếp theo của Windows, Windows 7—tùy theo ngày nào đến sau.
Vào ngày 14 tháng 4 năm 2009, Windows XP bắt đầu giai đoạn "Hỗ trợ mở rộng" và kéo dài trong 5 năm cho đến ngày 8 tháng 4 năm 2014.
== Các chỉ trích phổ biến ==
=== Vấn đề bảo mật ===
Windows XP thường xuyên bị chỉ trích vì sự nhạy cảm với phần mềm độc hại, virus, trojan, và sâu. Các vấn đề bảo mật tựu trung lại đều bị quy về lý do là một cách mặc định, người dùng luôn nhận được một tài khoản quản trị cung cấp quyền truy cập không giới hạn đến những thứ nằm sâu trong hệ thống. Nếu tài khoản quản trị đó bị xâm nhập, không còn thứ gì có thể ngăn cản việc điều khiển máy tính bị lây nhiễm đó.
Windows, với thị phần rất lớn, từ trước tới nay luôn là mục tiêu lý tưởng của những kẻ viết virus. Các lỗ hổng bảo mật thường không lộ diện cho đến khi chúng bị khám phá, gây khó khăn để phòng ngừa. Microsoft đã nói rằng việc phát hành các bản vá để sửa các lỗ hổng bảo mật thường lại chính là nguyên nhân phát tán sự khai thác các lỗ hổng tương tự, vì các cracker sẽ khám phá ra những vấn đề mà miếng vá đó sẽ sửa chữa, rồi sau đó thực hiện tấn công các hệ thống chưa được vá. Microsoft khuyến cáo tất cả các hệ thống cần bật chức năng tự động cập nhật để ngăn ngừa hệ thống khỏi bị tấn công do vì một lỗi chưa được vá, nhưng một số phòng ban IT của doanh nghiệp cần phải kiểm tra các bản cập nhật trước khi cài chúng lên toàn hệ thống để dự đoán các vấn đề tương thích với những phần mềm tự viết và các cơ sở hạ tầng. Thời gian trì hoãn này cũng kéo dài khoảng thời gian thiếu an toàn của hệ thống khi có một bản vá được phát hành.
=== Hiệu năng của giao diện người dùng ===
Những lời chỉ trích cho rằng giao diện người dùng mặc định của Windows XP (Luna) đã tăng thêm sự hỗn loạn về hình ảnh và hao phí không gian màn hình trong khi không đưa ra chức năng nào mới và chạy còn chậm hơn. Những người dùng than phiền như vậy có thể chuyển lại về chủ đề Windows Cổ điển.
=== Sự tích hợp các tính năng của hệ điều hành ===
Theo vụ Hoa Kỳ kiện Microsoft mà kết quả là Microsoft bị tuyên bố có trách nhiệm trong việc lạm dụng tính độc quyền trong thị trường hệ điều hành để lấn lướt các đối thủ trong thị phần khác, Windows XP đã chuốc lấy rắc rối khi tích hợp các ứng dụng người dùng như Windows Media Player và Windows Messenger vào hệ điều hành, cũng như mối liên kết chặt chẽ giữa chúng với dịch vụ Windows Live ID.
=== Tương thích ngược ===
Một số người dùng chuyển từ Windows 9x sang XP không thích việc Windows XP thiếu hỗ trợ DOS. Mặc dù XP có khả năng chạy các chương trình DOS trong máy DOS ảo, nó vẫn gặp vấn đề khi chạy các chương trình DOS cũ. Điều này xảy ra chủ yếu do nó là một hệ thống Windows NT và không dùng DOS làm hệ điều hành nền tảng, và rằng kiến trúc Windows NT khác biệt với Windows 9x. Một số chương trình DOS không thể chạy thực sự trên XP, đáng chú ý nhất là các chương trình dựa vào việc truy cập trực tiếp vào phần cứng, có thể chạy trong các trình giả lập, như DOSBox, hoặc các máy ảo, như VMware, Microsoft Virtual PC hay VirtualBox.
=== Kích hoạt và xác minh sản phẩm ===
==== Kích hoạt sản phẩm ====
Để giảm tình trạng vi phạm bản quyền, Windows XP đã giới thiệu chức năng kích hoạt sản phẩm. Việc kích hoạt đòi hỏi máy tính hoặc người dùng phải kích hoạt sản phẩm với Microsoft (có thể trực tuyến hoặc qua điện thoại) trong một khoản thời gian nhất định để có thể tiếp tục sử dụng hệ điều hành. Nếu hệ thống máy tính của người dùng có sự thay đổi—ví dụ, nếu hai hoặc nhiều thành phần hệ thống tương ứng khác được nâng cấp—Windows sẽ quay trở lại trạng thái chưa kích hoạt và sẽ yêu cầu kích hoạt lại trong một khoảng thời gian quy định trước. Nếu người dùng cố gắng tái kích hoạt quá nhiều lần hệ thống sẽ từ chối kích hoạt trực tuyến. Người dùng khi đó phải liên hệ với Microsoft qua điện thoại, để giải thích tại sao điều đó xảy ra, rồi mới lấy được một mã kích hoạt mới.
Tuy nhiên, việc kích hoạt chỉ áp dụng cho những bản sao Windows dành cho nhà bán lẻ và "hãng lắp ráp hệ thống". Những bản "OEM trung thành" (được các hãng máy tính lớn sử dụng) dùng cách thay thế là khóa một chữ ký đặc biệt trong BIOS máy tính (và sẽ yêu cầu kích hoạt nếu hệ điều hành được chuyển sang một hệ thống có bo mạch chủ không có chữ ký) và các bản cấp phép theo gói thì không cần phải kích hoạt gì cả. Vô hình trung điều hành đã dẫn tới việc những kẻ vi phạm bản quyền chỉ cần sử dụng những bản sao cấp phép theo gói kèm với các khóa cấp phép theo gói được phán tán rộng rãi trên Internet.
==== Kiểm tra khóa sản phẩm ====
Bên cạnh việc kích hoạt, các bản service pack Windows XP sẽ từ chối cài đặt trên các hệ thống Windows có khóa sản phẩm được nhận biết là đang được dùng phổ biến trong các bản cài đặt phi pháp. Những khóa sản phẩm này thực ra là duy nhất trong mỗi một bản Windows đóng hộp (hoặc đóng gói) và ghi kèm trong tài liệu hướng dẫn sử dụng, nhưng một số khóa sản phẩm đã bị đăng lên Internet rồi sau đó được sử dụng trong nhiều bản cài đặt phi pháp. Các service pack còn chứa một danh sách các khóa kiểu này và sẽ không cập nhật các bản Windows XP đang dùng chúng.
Microsoft đã phát triển một bộ máy xác minh khóa mới dành cho Windows XP Service Pack 2 có thể kiểm tra các khóa lậu, thậm chí nhũng khóa chưa từng được sử dụng trước đây. Sau khi bị những nhà tư vấn bảo mật phản đối vì sợ việc từ chối không cho các máy vi phạm cài các bản cập nhật bảo mật có thể dẫn đến hậu quả rộng cho cả những người sở hữu hợp pháp, Microsoft đã quyết định tắt cơ chế xác minh khóa mới này. Service Pack 2 chỉ kiểm tra một danh sách nhỏ các khóa thường dùng như trong Service Pack 1. Điều này có nghĩa là tuy Service Pack 2 không cài trên các bản Windows sử dụng tập khóa sao chép cũ, những máy dùng khóa mới được đăng vẫn có thể cập nhật hệ thống của họ được.
==== Windows Genuine Advantage ====
Trong nỗ lực nhằm kiềm chế vi phạm bản quyền dựa trên các khóa cấp phép theo gói bị rò rỉ hoặc tạo ra trên mạng, Microsoft đã cho mắt Windows Genuine Advantage (WGA). WGA bao gồm hai phần, một công cụ xác minh phải dùng khi tải một số thứ từ Microsoft và một hệ thống thông báo người dùng. WGA dành cho Windows được tiếp nối bằng các hệ thống xác minh dành cho Internet Explorer 7, Windows Media Player 11, Windows Defender, và Microsoft Office 2007. Gần đây Microsoft đã gỡ bỏ xác minh WGA ra khỏi bản cài đặt Internet Explorer 7 nói rằng mục đích của sự thay đổi này là để đưa IE7 đến với mọi người dùng Windows.
Nếu khóa giấy phép bị đánh giá là không thật, nó sẽ hiển thị một màn hình mè nheo thường xuyên yêu cầu người dùng mua giấy phép từ Microsoft. Thêm vào đó, người dùng bị hạn chế khi truy cập vào Microsoft Update để tải các bản cập nhật bảo mật, và như vậy, các bản cập nhật nâng cao mới và các sản phẩm Microsoft khác sẽ không thể được tải về hoặc cài đặt nữa. Vào ngày 26 tháng 8 năm 2008, Microsoft đã phát hành chương trình kích hoạt WGA mới hiển thị một màn hình nền màu đen nếu máy tính không vượt qua được cuộc xác minh. Hình nền có thể được đổi, nhưng sẽ quay về đen sau 60 phút.
Những chỉ trích phổ biến đối với WGA gồm có việc Microsoft miêu tả nó là "Bản cập nhật bảo mật tối quan trọng", khiến cho Automatic Updates mặc định tải nó về mà người dùng không tài nào can thiệp được, hành vi của nó giống như một phần mềm gián điệp liên tục "gọi về" Microsoft mỗi khi máy tính kết nối vào Internet, việc không thông báo cho người dùng cuối viết WGA đang thực sự làm cái gì sau khi được cài đặt (đã được sửa trong bản cập nhật 2006), không cung cấp một phương cách gỡ bỏ hợp lý trong suốt bản thử nghiệm beta (người dùng được cung cấp hướng dẫn gỡ bỏ bằng tay nhưng không hoạt động cho đến bản chính thức), và sự nhạy cảm của nó đối với sự thay đổi hệ thống phần cứng dẫn đến đòi tái kích hoạt liên tục đối với một số nhà phát triển.
Nói một cách thẳng thắn, việc tải về hay cài đặt Thông báo đều không phải bắt buộc; người dùng có thể thay đổi thiết lập của Automatic Updates của họ để cho phép họ chọn tải về và cài đặt bản cập nhật nào. Nếu bản cập nhật đã được tải về rồi, người dùng có thể chọn không chấp nhận EULA bổ sung đi theo Thông báo. Trong cả hai trường hợp đó, người dùng cũng có thể yêu cầu bản cập nhật không được hiển thị nữa. Các Cập nhật Bảo mật Tối quan trọng mới hơn vẫn có thể cài đặt mà không hiển thị yêu cầu WGA nữa. Tuy nhiên thiết lập này sẽ chỉ có tác dụng trên phiên bản hiện tại của Thông báo, do đó nó có thể xuất hiện lại nếu có phiên bản mới. Vào năm 2006, Microsoft đã có dính líu tới một vụ kiện ở California, về việc công ty đã vi phạm các luật chống phần mềm gián điệp của tiểu bang với chương trình Windows Genuine Advantage Notifications của nó.
==== 'Bẻ khóa' bảo vệ ====
Những chương trình "tạo khóa", thường được gọi là "keygen", hiện có để tạo ngẫu nhiên các khóa sản phẩm của Windows XP (do đó, không còn các khóa thường dùng để có thể cấm) rồi sau đó kích hoạt Windows mà không cần phải liên hệ với Microsoft. Những khóa này có thể có hoặc không cho phép người dùng nhận được các bản cập nhật mặc dù Microsoft đã cho phép tải về và cài đặt các bản cập nhật bảo mật quan trọng thông qua Windows Update và trang tải về của nó, thậm chí trong các bản ăn cắp bản quyền và không thật của Windows. Ngoài ra, cũng tồn tại nhiều phiên bản WGA bị bẻ khóa, cho phép một máy tính đang chạy một bản Windows không chính hãng vẫn được xem là bản thật và có thể truy cập tất cả bản cập nhật và cải tiến củ Windows.
== Đánh giá người dùng ==
Windows XP được xem là một trong những HĐH thành công nhất của Microsoft."Giới IT vẫn rất thích hệ điều hành Windows XP, họ nói rằng nó rất tốt và không muốn từ bỏ nó."
== Xem thêm ==
Danh sách các hệ điều hành
So sánh các hệ điều hành
Lịch sử hệ điều hành
== Sách ==
Microsoft Windows XP Plain & Simple - J. Joyce and M. Moon, Microsoft Press, USA, 2005. ISBN 0-7356-2112-8
== Chú thích ==
== Liên kết ngoài ==
Trang chủ Microsoft Windows XP
Sử dụng hệ điều hành Windows XP
Microsoft Windows XP Reviewers Guide - August 2001 (PDF format)
Làm sao để cài đặt Windows XP
Windows XP Việt Nam (tiếng Việt) |
nottinghamshire.txt | Nottinghamshire là một hạt của Anh. Nottinghamshire nằm ở đông trung bộ Anh, giáp biên giới Nam Yorkshire phía tây bắc, Lincolnshire, phía đông, Leicestershire ở phía nam, và Derbyshire về phía tây. Thủ phủ truyền thống của hạt là thành phố Nottingham, mặc dù Hội đồng quận có trụ sở tại West Bridgford trong các quận của Rushcliffe, tại một vị trí nhìn đối diện với Nottingham trên sông Trent.
Các quận, huyện của Nottinghamshire gồm có Ashfield, Bassetlaw, Broxtowe, Gedling, Mansfield, Newark và Sherwood, và Rushcliffe. Thành phố Nottingham hành chính một phần của Nottinghamshire giữa năm 1974 và 1998, nhưng bây giờ là một cơ quan đơn nhất, còn lại một phần của Nottinghamshire cho mục đích nghi lễ.
Đến năm 2006, ước tính dân số của hạt chỉ hơn 1.000.000 người. Hơn một nửa dân số của quận trong thành thị Nottingham (trong đó tiếp tục vào Derbyshire). Khu vực thành thị có dân số khoảng 650.000 người, mặc dù ít hơn một nửa sống trong ranh giới thành phố.
== Tham khảo == |
đội tuyển bóng đá quốc gia singapore.txt | Đội tuyển bóng đá quốc gia Singapore là đội tuyển cấp quốc gia của Singapore do Hiệp hội bóng đá Singapore quản lý.
Trận thi đấu quốc tế đầu tiên của đội tuyển Singapore là trận gặp đội tuyển Hàn Quốc vào năm 1953. Thành tích tốt nhất của đội cho đến nay là vị trí thứ tư của đại hội Thể thao châu Á 1966 cùng với 4 lần vô địch AFF Cup giành được vào các năm 1998, 2004, 2007, 2012. Đội đã một lần tham dự cúp bóng đá châu Á là vào năm 1984 với tư cách là chủ nhà. Tại giải năm đó, đội chỉ thắng một trận trước Ấn Độ, hòa một trận trước Iran, thua hai trận trước Trung Quốc và UAE, do đó dừng bước ở vòng bảng.
== Danh hiệu ==
Vô địch Đông Nam Á: 4
Vô địch: 1998; 2004; 2007; 2012
Hạng ba: 2008
Bóng đá nam tại Asiad:
Hạng tư: 1966
Bóng đá nam tại SEA Games:
1983; 1985; 1989
1975; 1991; 1993; 1995; 2007; 2009; 2013
Hạng tư: 1973; 1981; 1997; 1999
== Thành tích quốc tế ==
=== Giải vô địch bóng đá thế giới ===
== Cúp bóng đá châu Á ==
1956 - Không tham dự
1960 - Không vượt qua vòng loại
1964 - Không tham dự
1968 - Không vượt qua vòng loại
1972 - Không tham dự
1976 đến 1980 - Không vượt qua vòng loại
1984 - Vòng 1
1988 - Không tham dự
1992 đến 2015 - Không vượt qua vòng loại
== Giải vô địch bóng đá Đông Nam Á ==
1996 - Vòng bảng
1998 - Vô địch
2000 - Vòng bảng
2002 - Vòng bảng
2004 - Vô địch
2007 - Vô địch
2008 - Bán kết
2010 - Vòng bảng
2012 - Vô địch
2014 - Vòng bảng
2016 - Vòng bảng
== Đội hình ==
Đội hinh dưới đây được triệu tập tham dự trận giao hữu gặp Afghanistan và vòng loại Asian Cup 2019 gặp Bahrain vào các ngày 23 và 28 tháng 3 năm 2017.
Số liệu thống kê tính đến ngày 28 tháng 3 năm 2017 sau trận gặp Bahrain.
=== Triệu tập gần đây ===
= Liên kết ngoài =
Đội tuyển bóng đá quốc gia Singapore trên trang chủ của FIFA
== Tham khảo == |
fiji.txt | Fiji (tiếng Fiji: Matanitu Tu-Vaka-i-koya ko Viti, Tiếng Việt: Cộng hòa Quần đảo Phi-gi) là một đảo quốc tại châu Đại Dương, thuộc phía nam Thái Bình Dương, phía tây Vanuatu, phía đông Tonga và phía nam Tuvalu. Đảo quốc này bao gồm 322 đảo. Có 2 đảo chính là Viti Levu và Vanua Levu, chiếm khoảng 87% dân số.
== Lịch sử ==
Quần đảo này do A. Tasman khám phá năm 1643, J. Cook thám hiểm năm 1774, trở thành thuộc địa của Anh năm 1874. Fiji giành được độc lập năm 1970 và là thành viên của Khối Liên hiệp Anh.
Người Ấn Độ, con cháu của những người lao động trước đây do thực dân Anh đem sang để trồng mía, kiểm soát quyền hành về kinh tế và người Fiji bản địa vẫn là những người chủ sở hữu đất đai. Đảng Liên minh của người Fiji cầm quyền từ năm 1970, nhưng bị mất đa số phiếu trong cuộc tuyển cử năm 1987.
Tuy nhiên, Đại tá Sitiveni Rabuka, được sự ủng hộ của các thủ lĩnh người Fiji theo chủ nghĩa truyền thống, đã chiếm quyền và tuyên bố thành lập nền cộng hòa. Fiji bị tẩy chay khỏi Khối liên hiệp Anh và gia nhập lại năm 1997.
Tháng 5 năm 1999, lãnh đạo nghiệp đoàn, Mahendra Pal Chaudbry, đại diện cho liên minh với đa số thành viên thuộc đảng Lao động, giành thắng lợi trong cuộc bầu cử Quốc hội và thay thế Sitiveni Rabuka lãnh đạo Chính phủ. Tháng 5 năm 2000, thủ tướng, các viên chức trong Chính phủ và các đại biểu Quốc hội bị bắt làm con tin trong một cuộc đảo chính theo sự xúi giục của George Speight. Ít lâu sau, G. Speight tự tuyên bố trở thành quyền Thủ tướng và lập Chính phủ mới. Trước tình hình khủng hoảng này, Thủ tướng M. Pal Chaudhry đồng ý từ chức. Tuy nhiên, nhóm đảo chính từ chối phóng thích các con tin và đe dọa sẽ giết họ nếu lực lượng quân đội trung thành với Chính phủ ra tay can thiệp.
Nguyên thủ quốc gia và những thủ lĩnh các bộ tộc thuộc Đại hội đồng lên án cuộc đảo chính nhưng không kết án động cơ của nhóm đảo chính, đồng ý ân xá cho những người tham gia đảo chính và lập một chính phủ chuyển tiếp. Việc những thủ lĩnh quân sự gốc người Melanesia bãi bỏ hiến pháp đa sắc tộc kéo theo việc tẩy chay Fiji ra khỏi Khối liên hiệp Anh.
Chuẩn Đô đốc Frank Bairimarama ban bố tình trạng thiết quân luật, nắm lại quyền kiểm soát tình hình trong nước và bổ nhiệm Ratu Epeli Nailatihau làm Thủ tướng. Năm 2001, Tòa thượng thẩm Fiji lập lại Hiến pháp năm 1997 trong đó bảo đảm quyền bình đẳng giữa người Melanesia và người Fiji.
== Chính trị ==
Fiji chính là thuộc địa của Anh và trở thành nước Cộng hòa vào năm 1987. Hiện nay Fiji đang trong quá trình cải cách chính trị theo hướng dân chủ hóa. Tổng thống có nhiệm kỳ 5 năm. Quốc hội gồm Hạ viện và Thượng viện.
Các đảng chính ở Fiji là Đảng Liên minh - Alliance Party (AP); Công đảng Fiji (Fiji Labour Party) và Đảng Liên đoàn Quốc gia.
Trong nhiều năm qua, mâu thuẫn giữa người Fiji bản địa và người Fiji gốc Ấn đã gây ra tình trạng bất ổn thường xuyên, là nguyên nhân chính của 4 cuộc đảo chính quân sự tại Fiji. Cuộc đảo chính gần đây nhất diễn ra vào năm 2006. Tại cuộc đảo chính này, Tư lệnh quân đội, tướng Bai-ni-ma-ra-ma, lật đổ Thủ tướng Qarase, lên nắm quyền, trở thành Thủ tướng lâm thời.
Ngày 9 tháng 4 năm 2009, Toà án Tối cao Fiji tuyên bố chính quyền lâm thời của Thủ tướng (kiêm Tổng tư lệnh quân đội) Bai-ni-ma-ra-ma, người đã lãnh đạo cuộc đảo chính năm 2006 lật đổ Thủ tướng dân bầu Qarase là bất hợp pháp. Toà án cũng ra phán quyết yêu cầu trong khi chờ đợi tổ chức Tổng tuyển cử, Tổng thống Fiji không được bổ nhiệm cả ông Bai-ni-ma-ra-ma và ông Qarase làm Thủ tướng tạm quyền. Ngay sau đó, ông Bai-ni-ma-ra đã tuyên bố từ chức Thủ tướng lâm thời.
Ngày 10 tháng 4 năm 2009, Tổng thống Fiji Ra-tu I-loi-lô ra tuyên bố miễn nhiệm tất cả các thẩm phán của Toà án tối cao, bãi bỏ hiến pháp, tự tái bổ nhiệm mình làm Tổng thống, hoãn Tổng tuyển cử đến năm 2014, đồng thời ban bố tình trạng khẩn cấp 30 ngày trên cả nước. Sang ngày 11 tháng 4 năm 2009, Tổng thống I-loi-lô tuyên bố tái bổ nhiệm ông Bai-ni-ma-ra-ma làm Thủ tướng tạm quyền trong vòng 5 năm. Cùng ngày, ông Bai-ni-ma-ra-ma và toàn bộ nội các cũ đã tuyên thệ nhậm chức trở lại.
== Đối ngoại ==
Fiji duy trì quan hệ hữu nghị và hợp tác với tất cả các nước. Fiji một mặt tiếp tục duy trì quan hệ truyền thống với Anh (thuộc Liên hiệp Anh), mặt khác coi trọng quan hệ với các nước Nam Thái Bình Dương và phát triển quan hệ với các nước lớn có tầm quan trọng về kinh tế với Fiji; đồng thời đang vận động để tham gia APEC và quay lại với Thịnh vượng chung.
Fiji tích cực hoạt động trong Diễn đàn Nam Thái Bình Dương (the South Pacific Forum) và là trụ sở của nhiều tổ chức trong khu vực, trong đó có Ban thư ký của Diễn đàn NTBD, trường Đại học NTBD... Fiji là thành viên của Liên hợp quốc.
Fiji có quan hệ lịch sử lâu đời với Úc và New Zealand. Fiji giữ lập trường chống lại các vụ thử hạt nhân cũng như chứa chất thải hạt nhân tại khu vực Thái Bình Dương.
Trong những năm gần đây, Fiji đang cố gắng đa dạng hóa quan hệ đối ngoại, chú trọng thúc đẩy quan hệ với khu vực Đông Nam Á, châu Á.
== Phân chia hành chính ==
Fiji được chia thành 4 khu vực hành chính và chúng được chia tiếp thành 14 tỉnh và một khu phụ thuộc:
Trung tâm gồm 5 tỉnh là Naitasiri, Namosi, Rewa, Serua và Tailevu
Đông gồm 3 tỉnh là Kadavu, Lau, Lomaiviti và khu phụ thuộc Rotuma.
Bắc gồm 3 tỉnh là Macuata, Cakaudrove và Bua, nằm toàn bộ trên đảo Vanua Levu.
Tây gồm 3 tỉnh là Ba, Nadroga-Navosa và Ra.
== Địa lý ==
Fiji có 322 đảo lớn và vừa (trong đó 106 đảo có cư dân sinh sống) cùng 522 đảo nhỏ. Hai đảo quan trọng nhất là Viti Levu và Vanua Levu. Các đảo này có địa hình miền núi, với các đỉnh cao tới 1.300 m (4.250 ft), được che phủ bởi rừng nhiệt đới. Viti Levu là nơi có thủ đô Suva, và là nơi sinh sống của gần 75% dân số. Các thành thị quan trọng khác có Nadi (nơi có sân bay quốc tế), và thành pố lớn thứ hai là Lautoka (nơi có nhà máy đường lớn và hải cảng). Các thị trấn chính tại Vanua Levu là Labasa và Savusavu. Các đảo và nhóm đảo khác bao gồm Taveuni và Kadavu (đảo lớn thứ ba và thứ tư), nhóm Mamanuca (ngay ngoài khơi Nadi) và nhóm Yasawa, là các điểm đến thu hút du khách, nhóm Lomaiviti nằm ngoài khơi Suva, và nhóm Lau hoang vắng. Rotuma, khoảng 500 km (310 dặm Anh) ở phía bắc quần đảo, có địa vị hành chính đặc biệt tại Fiji. Quốc gia nằm gần Fiji nhất là Tonga. Khí hậu tại Fiji là nhiệt đới nóng suốt cả năm.
== Kinh tế ==
Nông nghiệp tập trung vào các loại cây trồng phục vụ xuất khẩu (mía, lúa, sắn, dừa, củ từ). Bên cạnh nghề đánh bắt cá biển truyền thống, các ngành công nghiệp dệt và công nghiệp chế biến nông thực phẩm phát triển mạnh.
Quần đảo Fiji có các mạch quặng chứa vàng (đảo Viti Levu) và măng gan. Thủ đô Suva trở thành một phi cảng và hải cảng quan trọng đối với các tuyến đường ở Thái Bình Dương, tạo điều kiện phát triển du lịch. Trường đại học Nam Thái Bình Dương được xây dựng ở thủ đô Suva và được các nước trong vùng tài trợ.
Fiji, được thiên nhiên phú cho rừng, khoáng sản và các nguồn tài nguyên cá, là một trong các nền kinh tế phát triển nhất tại các đảo Thái Bình Dương, mặc dù vẫn chủ yếu là các lĩnh vực tự cung tự cấp. Fiji đã trải qua một thời kỳ phát triển nhanh trong các thập niên 1960 và 1970 nhưng bị đình trệ trong thập niên 1980. Đảo chính năm 1987 đã làm nền kinh tế suy yếu hơn. Tự do hóa kinh tế trong những năm sau đảo chính đã tạo ra một sự bùng nổ trong công nghiệp may mặc và một tốc độ phát triển đều đặn mặc dù có sự không vững chắc trong phát triển của việc phát canh đất trong công nghiệp mía đường. Sự đáo hạn của các hợp đồng thuê mướn đất cho các trang trại mía đường (cùng với sự suy giảm hiệu quả của các trang trại và xí nghiệp) đã dẫn tới sự sụt giảm trong sản xuất đường mặc dù được trợ giá. Trợ cấp mía đường được Liên minh châu Âu tài trợ và Fiji là quốc gia hưởng lợi nhiều hàng thứ hai từ nguồn này, chỉ sau Mauritius.
Đô thị hóa và mở rộng trong lĩnh vực dịch vụ đã góp phần vào tăng trưởng của GDP gần đây. Xuất khẩu đường và công nghiệp du lịch phát triển nhanh— với 430.800 du khách trong năm 2003 và tăng mạnh trong những năm sau đó — là các nguồn chính để thu hút ngoại tệ. Fiji phụ thuộc nhiều vào du lịch để có thu nhập. Chế biến đường chiếm một phần ba các hoạt động công nghiệp. Các vấn đề dài hạn bao gồm đầu tư thấp và quyền sở hữu tài sản không chắc chắn. Biến động chính trị tại Fiji đã ảnh hưởng tiêu cực lên nền kinh tế, làm nó suy giảm 2,8% năm 2000 và chỉ tăng 1% năm 2001. Mặc dù lĩnh vực du lịch đã phục hồi nhanh, với lượng du khách đến đã phục hồi lại ngang mức trước đảo chính ngay trong năm 2002, nhưng nó chỉ tạo ra sự phục hồi kinh tế khiêm tốn. Sự phục hồi này tiếp tục trong năm 2003 và 2004 nhưng chỉ có 1,7% năm 2005 và 2,0% năm 2006. Mặc dù lạm phát thấp, nhưng chính sách về tiền tệ của Ngân hàng trung ương Fiji đã nâng mức lạm phát từ 1% thành 3,25% trong tháng 2 năm 2006 do các e ngại về sự tiêu dùng thái quá bằng tín dụng. Lãi suất thấp cũng không tạo ra được sự đầu tư lớn hơn để xuất khẩu. Tuy nhiên, đã có sự bùng nổ về nhà cửa do việc hạ thấp lãi suất vay thế chấp thương mại.Tòa nhà cao nhất Fiji là tòa nhà 14 tầng của Ngân hàng trung ương Fiji tại Suva, được khánh thành năm 1984. Trung tâm thương mại trung tâm Suva, mở cửa tháng 11 năm 2005, ban đầu được dự kiến xây cao hơn tòa nhà của Ngân hàng trung ương với 17 tầng, nhưng đã có sự thay đổi thiết kế vào phút cuối làm cho tòa nhà của Ngân hàng trung ương vẫn là cao nhất cho tới năm 2009.
Tôn giáo ở Fiji gồm: Cơ Đốc giáo, Hồi giáo và Ấn Độ giáo
== Liên kết ngoài ==
Chính quyền
Website chính thức của chính quyền Fiji
Website chính thức của nghị viện Fiji
Lãnh tụ quốc gia và các thành viên nội các
Thông tin chung
Fiji tại CIA World Factbook
Fiji tại UCB Libraries GovPubs
Fiji tại Open Directory Project
Du lịch
Bulafiji.com: Website của Ủy ban Du khách Fiji
Fijiguide.com: Chỉ dẫn về du lịch và văn hóa Fiji
Khác
The Fiji Times: Tin tức, thể thao và thời tiết từ tờ báo hàng đầu Fiji
Các tài liệu liên quan tới Fiji tại Diplomacy Monitor
Dự án Fiji tại Seacology
== Ghi chú == |
lê thánh tông.txt | Lê Thánh Tông (chữ Hán: 黎聖宗; 25 tháng 8 năm 1442 - 30 tháng 1 năm 1497), là hoàng đế thứ năm của nhà Lê sơ trong lịch sử Việt Nam. Lê Thánh Tông trị vì từ năm 1460 đến năm 1497, tổng cộng 38 năm, là vị hoàng đế trị vì lâu nhất thời Lê sơ và cũng là một trong những vị hoàng đế cai trị trong thời kỳ hòa bình lâu nhất nhất trong lịch sử Việt Nam. Ông hầu như luôn được các nhà sử học và người dân xem là vị hiền đế tài đức hiếm có trong lịch sử dân tộc.
Trong thời kỳ cầm quyền của Lê Thánh Tông, nhà nước Đại Việt quật khởi mạnh mẽ thực sự, phát triển rực rỡ ở mọi phương diện từ kinh tế, văn hóa, xã hội, giáo dục, quân sự và mở rộng đáng kể lãnh thổ của mình sau nhiều cuộc chiến với các nước xung quanh như Chiêm Thành, Ai Lao và Bồn Man. Các thành tựu về nội trị và đối ngoại của Lê Thánh Tông đã đưa Đại Việt trở thành một cường quốc lớn mạnh trong khu vực Đông Nam Á, cũng như đã khiến thời kỳ phong kiến, Quân chủ chuyên chế Việt Nam đạt đến đỉnh cao, hoàng kim nhất của nó, trước và sau không có thời kỳ phong kiến nào đạt được sự thịnh vượng như thời này. Thời kỳ này thường được gọi là thời kỳ Hồng Đức thịnh trị.
== Thân thế và niên thiếu ==
Lê Thánh Tông có tên húy Tư Thành (思誠), tên sử dụng trong các văn kiện ngoại giao với nhà Minh là Lê Hạo (黎灝), hiệu Thiên Nam động chủ (天南洞主), Đạo Am chủ nhân (道庵主人), Tao Đàn nguyên súy (騷壇元帥), là con trai thứ tư của Lê Thái Tông. Mẹ của ông là Ngô Thị Ngọc Dao, người làng Động Bàng, huyện Yên Định, phủ Thanh Hóa. Cha bà là Ngô Từ, gia thần của Lê Thái Tổ, làm đến chức Thái bảo. Chị gái Ngô Thị Ngọc Dao tên Xuân, vào hầu Lê Thái Tông ở hậu cung. Ngô Thị Ngọc Dao theo chị vào nội đình, vua Lê Thái Tông thấy liền gọi vào cho làm cung tần.
Tháng 6, năm Đại Bảo thứ nhất (1440), Ngô thị nhập cung khi 14 tuổi, được phong làm Tiệp dư (婕妤), ở tại Khánh Phương Cung. Sinh thời Ngô Tiệp dư sùng Phật giáo thường cầu tự, một hôm mộng thấy thượng đế ban cho một vị tiên đồng, bèn có mang. sinh Lê Tư Thành vào ngày 20 tháng 7 âm lịch (25 tháng 8 dương lịch) năm Đại Bảo thứ 3 (1442).
Khi Lê Tư Thành sinh ra, ông được sách Đại Việt sử ký toàn thư miêu tả: ’’Thiên tư tuyệt đẹp, thần sắc khác thường, vẻ người tuấn tú, nhân hậu, rạng rỡ, nghiêm trang, thực là bậc thông minh xứng đáng làm vua, bậc trí dũng đủ để giữ nước’’
Năm Thái Hòa thứ 3 (1445), Lê Tư Thành được phong làm Bình Nguyên vương (平原王), làm phiên vương vào ở kinh sư, học cùng các vương khác ở Kinh diên. Các quan ở Kinh diên như Trần Phong thấy Bình Nguyên vương dáng điệu đường hoàng, thông minh hơn hẳn người khác, nên họ cho ông là bậc khác thường. Bình Nguyên vương lại càng sống kín đáo, không lộ vẻ anh minh ra ngoài, chỉ vui với sách vở cổ kim, nghĩa lý thánh hiền, ưa điều thiện, thích người hiền, chăm chẵm không biết mệt mỏi. Bình Nguyên vương được thái hậu Nguyễn Thị Anh yêu mến như con đẻ, và được Lê Nhân Tông coi như người em hiếm có
== Lên ngôi ==
Ngày 3 tháng 10 âm lịch năm 1459, niên hiệu Diên Ninh thứ 6, Lạng Sơn vương Lê Nghi Dân đang đêm bắc thang lên tường thành, rồi chia làm ba đường lẻn vào cung cấm làm binh biến. Vua Lê Nhân Tông và Hoàng thái hậu Nguyễn Thị Anh bị giết, Lê Nghi Dân lên ngôi hoàng đế, đặt niên hiệu là Thiên Hưng (天興). Nghi Dân phong Bình Nguyên vương Tư Thành làm Gia vương (嘉王), và sai dựng phủ Gia Hưng bên trái nội cung để Tư Thành ở.
Lê Nghi Dân lên ngôi, tin dùng các nịnh thần, sát hại bề tôi cũ và thay đổi pháp chế, cho nên không được lòng dân và các đại thần, văn võ. Một nhóm các trọng thần là Lê Ê, Lê Thụ, Đỗ Bí, Lê Ngang muốn binh biến lật đổ Thiên Hưng Đế (Lê Nghi Dân) nhưng việc bị bại lộ, tất cả đều bị giết
Sau đó, các huân hựu đại thần gồm Thái phó Á quận hầu Nguyễn Xí, Đinh Liệt, Nhập nội kiểm hiệu Á thượng hầu Lê Lăng, Tư mã tham dự triều chính Đình thượng hầu Lê Niệm, Tổng tri ngự tiền hậu quân Á hầu Lê Nhân Thuận, Tổng tri ngự tiền trung quân Quan nội hầu Lê Nhân Khoái, Tổng tri ngự tiền thiện trạo doanh quân Quan phục hầu Trịnh Văn Sái, Thiêm tri Bắc đạo quân dân bạ tịch Trịnh Đạc, Điện tiền ty đô chỉ huy Nguyễn Đức Trung, thiết đột tả quân đại đội trưởng Nguyễn Yên, Nhập nội đại hành khiển Lê Vĩnh Trường,....cùng bàn với nhau làm binh biến, lật đổ Lê Nghi Dân
Ngày 6 tháng 6, năm Canh Thìn (1460), các quan vào ngồi ở nghị sự đường ngoài cửa Sùng vũ. Nguyễn Xí, Đinh Liệt xướng nghĩa giết hai người cầm đầu là Đồn, Ban trước Nghị sự đường. Sau đó, hai ông sai đóng các cửa, mỗi người đem cấm binh dẹp nội loạn, giết bè đảng của Trần Lăng hơn 100 người. Binh biến thành công, nhóm đại thần bàn với nhau rằng:
Ngày 8 tháng 6 âm lịch năm 1460, Gia vương Lê Tư Thành lên ngôi ở điện Tường Quang, lấy niên hiệu là Quang Thuận (光順) và ban chiếu đại xá thiên hạ. Ông cũng truy tặng miếu hiệu, thụy hiệu cho mẹ con Lê Nhân Tông và lập bài vị thờ hai người họ trong Thái miếu..
Tháng 7 âm lịch năm 1460, Lê Thánh Tông muốn đảm bảo an ninh trong nội cung, đề phòng sự tái diễn của vụ ám sát Lê Nhân Tông, nên ông ban lệnh cho quan lại, nhân viên ở Nội mật viện cùng các cung nhân rằng: "Từ nay về sau, nếu thấy chiếu chỉ và các việc cung thì không được lén lút tiết lộ ra trước cho người ngoài và con thân thích".
Ngày 1 tháng 10 âm lịch năm 1460, Lê Thánh Tông sai các quan là Nguyễn Nhật Thăng, Phan Duy Trình và Nguyễn Tự đi sứ sang Minh, xin sắc phong ông làm quốc vương An Nam.
== Trị vì ==
==== Thưởng phạt những người chống Lê Nghi Dân ====
Sau khi lên ngôi hoàng đế, Lê Thánh Tông đã thăng quan chức cho những người thực hiện đảo chính Lê Nghi Dân thành công để đưa Lê Thánh Tông lên ngôi như Nguyễn Xí, Đinh Liệt, Lê Niệm,.. Nhà vua còn ban tặng ruộng đất cho 30 công thần của cuộc đảo chính, trong đó sử sách cho biết Nguyễn Xí và Đinh Liệt đều nhận 350 mẫu ruộng, Lê Lăng được nhận 300 mẫu, Lê Niệm nhận 200 mẫu, Lê Nhân Thuận nhận 150 mẫu, Lê Thọ Vực, Nguyễn Sư Hồi và Lê Nhân Khoái đều nhận 130 mẫu. Nhưng với những người tham gia vụ đảo chính Nghi Dân trước đó bị thất bại và bị Nghi Dân giết như Lê Ê, Lê Thụ, Đỗ Bí, Lê Ngang, khi Nguyễn Xí đề nghị truy phong tiết liệt cho họ thì Lê Thánh Tông không chấp thuận, ngược lại vào tháng 10 năm 1460, ông còn ban ý chỉ coi việc họ binh biến thất bại như tội thần:
Đã xem hết tờ tâu, trong ấy có xin cho bọn Lê Ê, Lê Thụ, Đỗ Bí, Lê Ngang theo như lệ công thần đã mất, nhưng câu ấy còn có thể bẻ lại được, là vì khoảng năm Diên Ninh, Đỗ Bí, Lê Ê ở chức cao nhất vào hàng tể thần; Lê Ngang, Lê Thụ tay cầm cấm quân, giữ việc an nguy, đáng lẽ phải dẹp yên giặc loạn, chuyển nguy thành an mới phải, thế mà chỉ biết sắp gà vào trong nồi mà để cá kình lọt ra ngoài lưới. Đến sau mưu việc không kín, đến nỗi phải phơi thây ở bên đường. Đó lại thêm một tội khác trong các tội của bọn Bí, Ngang, có khác gì tội giết vua của Triệu Thuẫn ngày xưa, sau được để cùng với những công thần đã mất?
Với công thần Lê Lăng tham gia cùng Nguyễn Xí, sau khi biết Lăng từng có ý lập con thứ hai của Lê Thái Tông là Cung vương Khắc Xương, Lê Thánh Tông cũng kết án xử tử Lê Lăng vào năm 1462.
=== Luật pháp ===
Bộ Quốc triều hình luật của nhà Hậu Lê đã được hoàn thiện trong thời Lê Thánh Tông, nên còn được gọi là Luật Hồng Đức. Với bộ luật này, Đại Việt đã hình thành một nhà nước pháp quyền sơ khởi và thuộc loại sớm trên thế giới.
Lê Thánh Tông đã lấy những quan điểm của Nho giáo làm hệ tư tưởng, chỉ đạo việc biên soạn, ban hành luật pháp, nhằm thể chế hoá một nhà nước phong kiến Đại Việt, với truyền thống nhân nghĩa, lấy dân làm gốc.
Bộ luật Hồng Đức được lưu lại đến ngày nay bao gồm 13 chương với 700 điều, nội dung cơ bản của bộ luật như sau:
Giữ cho đất nước luôn ở thế chủ động đối phó với giặc ngoại xâm lược;
Giữ nghiêm kỷ cương, phép nước;
Chấn hưng nông nghiệp, coi nông nghiệp là nền tảng của sự ổn định kinh tế xã hội;
Mở rộng giao lưu khuyến khích thủ công nghiệp, thương nghiệp lành mạnh;
Bảo vệ quyền sở hữu tài sản của muôn dân, chống tham nhũng triệt để, chống sự lạm quyền và ức hiếp dân chúng.
Khuyến khích nuôi dưỡng thuần phong mỹ tục và phát triển kinh tế
Bênh vực và bảo vệ quyền lợi phụ nữ;
Bảo vệ quyền lợi của vua và quan lại, bảo vệ quyền lợi của giai cấp thống trị địa chủ phong kiến
Lê Thánh Tông là người thực hiện nghiêm chỉnh pháp luật đã ban hành. Một lần, ông đã thu lại quyền chỉ huy của tổng quân đô đốc Lê Thiệt vì con trai Lê Thiệt là Bá Đạt phóng ngựa trên đường phố giữa ban ngày và dung túng gia nô đánh người. Lê Thánh Tông thường bảo với các quan rằng:
=== Quân sự ===
Ngay từ khi mới lên ngôi, vào tháng 7 âm lịch năm 1460, Lê Thánh Tông đã chỉ thị cho các tổng quản, chỉ huy các vệ quân năm đạo và quân các phủ, trấn rằng: "Có quốc gia là phải có võ bị. Nay phải tuân theo trận đồ nhà nước đã ban, trong địa phận của vệ mình, phải chỉnh đốn đội ngũ, dạy cho quân lính phép đi, đứng, đâm, đánh, hiểu được hiểu lệnh, tiếng chuông, tiếng trống khiến cho binh lính tập quen cung tên, không quên võ bị". Ông cũng thường thân chinh đi tuần phòng ở các vùng biên ải xa xôi cùng với binh lính và là tấm gương tốt cho các quan phụ trách võ bị. Dấu tích trong một lần tuần tra tại khu vực cửa biển và vùng biển Hạ Long là một bài thơ đề trên vách núi đá mà sau này dân Đại Việt gọi tên là núi Bài Thơ ở thành phố Hạ Long ngày nay.
Tiếp nối chính sách của các triều vua trước, Lê Thánh Tông thực hiện phép ngụ binh ư nông để vừa đảm bảo nhân lực cho việc sản xuất nông nghiệp, vừa đảm bảo số quân cần thiết để bảo vệ quốc gia. Ông đã căn dặn tổng quản các vệ quân năm đạo rằng: "Hễ có quốc gia là phải có võ bị. Những lúc rỗi việc làm ruộng, phải ngừng những việc không cần kíp, cứ ngày rằm hằng tháng, thì vào phiên để điểm mục, liệu cắt quân nhân vào những việc như giữ cửa nhà, điếm canh, kiếm cỏ lợp nhà, nuôi voi... Còn thì trước đó một, hai ngày, phải theo các trận đồ nhà nước ban xuống, ở ngay địa phận của vệ mình đóng, tiến hành chỉnh đốn đội ngũ, dạy quân lính những phép ngồi, đứng, tiến, lui, tập nghe những tiếng hiệu lệnh chiêng trống, cho quân lính quen với cung tên, không quên việc võ bị. Đến ngày thứ tư trở đi, mới sai làm tạp dịch. Nếu quan nào không biết để tâm răn dạy, rèn tập quân lính, dám sai chúng làm các việc tạp nhiễu thì cứ xử biếm chức hoặc bãi chức".
Việc canh phòng và khuyến khích các quan lại ở biên cương thường cảnh giác với các âm mưu xâm nhập và xử lý kịp thời các sự việc lãnh thổ với bên ngoài ở thời ông là rất chặt chẽ và cẩn thận nên triều đình nhà Minh rất tôn trọng và có phần e ngại. Trong Đại Việt Sử ký Toàn thư còn nhắc đến việc Lê Thánh Tông ra sắc chỉ cấm người vùng biên giới giao thiệp với người nước ngoài, và yêu cầu cảnh giác với lực lượng nội gián là các gia nô người Ngô (số người nhà Minh tự nguyện xin được ở lại sau khi bị bắt làm tù binh trong cuộc khởi nghĩa của Lê Thái Tổ trước đây).
Theo các sử gia, thì vũ khí quân sự dưới thời Lê Thánh Tông đã có những tiến bộ vượt bậc, do vốn có các kỹ thuật và sáng chế cùng kĩ năng chế tạo vũ khí cực kì tinh xảo của Đại Việt thời nhà Hồ về vũ khí tầm xa như hỏa thương, hỏa hổ, súng thần công,... hợp với số vũ khí khá tân tiến thu được trước đây trong cuộc kháng chiến với nhà Minh đã tạo nên cho Đại Việt một kho vũ khí đa dạng và hùng mạnh, có thể vượt xa so với vũ khí châu Âu cùng thời về sát thương và chất lượng.
Lê Thánh Tông rất chú ý đến việc tích trữ lương thảo ở các vùng biên cương để sử dụng cho quân lương khi cần thiết. Một nghệ thuật làm lương khô thời Lê Thánh Tông được sử sách ghi lại là một kỹ thuật đặc biệt của Đại Việt, đó là đồ (hấp) thóc chín và sấy khô. Loại lương khô này có thể cất giữ vài năm không bị mất phẩm chất và rất tiện cho việc vận chuyển và sử dụng trong chiến tranh, đặc biệt là dùng cho quân đội viễn chinh.
Nhà vua cải tổ quân đội mạnh mẽ về mặt tổ chức, trước đó quân đội chia làm 5 đạo vệ quân, nay đổi làm 5 phủ đô đốc. Mỗi phủ có vệ, sở. Bên cạnh còn có 2 đạo nội, ngoại, gồm nhiều ti, vệ, tổng cộng khoảng 30 vạn quân. Ngoài tổ chức quân thường trực, Lê Thánh Tông còn chú ý lực lượng quân dự bị ở các địa phương. 43 điều quân chính là luật quân đội Lê Thánh Tông ban hành cho thấy kỷ luật quân đội của ông rất nghiêm ngặt, có sức chiến đấu cao.
=== Hành chính ===
Lên nắm triều chính, Lê Thánh Tông nhanh chóng chấm dứt tình trạng chia rẽ của triều đình. Ông làm việc không biết mệt mỏi, làm gương cho các quan lại. Lê Thánh Tông khẩn trương tổ chức củng cố và xây dựng nền hành chính Đại Việt mạnh mẽ, táo bạo.
Nhà nước phong kiến tập quyền qua các đời từ nhà Trần chỉ có 4 bộ: Hình, Lại, Binh, Hộ. Đời vua Lê Thái Tổ chỉ có 3 bộ: Lại, Lễ, Dân (tức Hộ Bộ). Lê Thánh Tông tổ chức thành sáu bộ:
Lại Bộ: Trông coi việc tuyển bổ, thăng thưởng và thăng quan tước;
Lễ Bộ: Trông coi việc đặt và tiến hành các nghi lễ, tiệc yến, học hành thi cử, đúc ấn tín, cắt giữ người coi giữ đình, chùa, miếu mạo;
Hộ Bộ: Trông coi công việc ruộng đất, tài chính, hộ khẩu, tô thuế kho tàng.
Binh Bộ: Trông coi việc binh chính, đặt quan trấn thủ nơi biên cảnh, tổ chức việc giữ gìn các nơi hiểm yếu và ứng phó các việc khẩn cấp;
Hình Bộ: Trông coi việc thi hành luật, lệnh, hành pháp, xét lại các việc tù, đày, kiện cáo;
Công bộ: Trông coi việc xây dựng, sửa chữa cầu đường, cung điện thành trì và quản đốc thợ thuyền phát triển kinh tế.
Về cơ cấu chính quyền các cấp, ông đã tiến hành xóa bỏ hệ thống tổ chức hành chính cũ thời Lê Thái Tổ từ 5 đạo đổi thành 13 đạo (thừa tuyên).
Dưới thời Lê Thánh Tông, các quan chỉ được làm việc tối đa đến tuổi 65 và ông bãi bỏ luật cha truyền con nối cho các gia đình có công - công thần. Ông tôn trọng việc chọn quan phải là người có tài và đức.
==== Phân chia hành chính ====
Gồm 13 thừa tuyên (năm 1490 đổi làm xứ) như sau:
Nam Sách gồm (Hải Dương, Hải Phòng ngày nay), quản lĩnh 4 phủ, 18 huyện;
Thiên Trường (Sơn Nam) gồm (Thái Bình, Nam Định, Hưng Yên ngày nay), quản lĩnh 11 phủ, 42 huyện;
Quốc Oai (Sơn Tây) gồm Hà Tây, Sơn Tây, Vĩnh Phúc ngày nay), quản lĩnh 6 phủ, 24 huyện;
Bắc Giang (Kinh Bắc) gồm (Bắc Giang, Bắc Ninh ngày nay), quản lĩnh 4 phủ, 19 huyện;
An Bang là (Quảng Ninh ngày nay), quản lĩnh 1 phủ, 3 huyện, 4 châu;
Tuyên Quang gồm (Tuyên Quang, Hà Giang ngày nay), quản lĩnh 1 phủ, 2 huyện, 5 châu;
Hưng Hóa gồm (Phú Thọ, Yên Bái ngày nay), quản lĩnh 3 phủ, 4 huyện, 17 châu;
Lạng Sơn gồm (Lạng Sơn ngày nay), quản lĩnh 1 phủ, 7 châu;
Thái Nguyên (Ninh Sóc) gồm (Thái Nguyên, Bắc Kạn và Cao Bằng ngày nay), quản lĩnh 3 phủ, 8 huyện, 7 châu;
Thanh Hóa gồm (Thanh Hóa, Ninh Bình ngày nay), quản lĩnh 4 phủ, 16 huyện, 4 châu;
Nghệ An gồm (Nghệ An, Hà Tĩnh ngày nay), quản lĩnh 8 phủ, 18 huyện, 2 châu;
Thuận Hóa gồm (Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên-Huế ngày nay), quản lĩnh 2 phủ, 7 huyện, 4 châu;
Quảng Nam gồm (Bình Định, Quảng Ngãi và Quảng Nam ngày nay)
Đạo thừa tuyên Quảng Nam được bổ sung sau cùng sau khi Đại Việt chiếm được miền bắc của Chiêm Thành (1471)
Lại đổi Trung đô phủ làm Phụng Thiên, quản lĩnh 2 huyện.
==== Địa chí và bản đồ ====
Tập bản đồ thời Hồng Đức còn lại có Hồng Đức bản đồ (洪 德 版 圖), An Nam quốc Trung đô tịnh tam thập thừa tuyên hình thế đồ thư (安南國中都並三十承宣形勢圖書), An Nam địa chí (安 南 地 輿 志), Thiên hạ bản đồ (天 下 本 圖), Toản tập Thiên Nam lộ đồ thư (纂集天南路圖書) vẽ năm Hồng Đức 21 (1490),...
Gồm bản đồ toàn quốc, bản đồ Trung Đô (Thăng Long) và 13 bản đồ thuộc 13 thừa tuyên (Thanh Hóa, Nghệ An, Sơn Nam, Sơn Tây, Kinh Bắc, Hải Dương, Thái Nguyên, Tuyên Quang, Hưng Hóa, Lạng Sơn, An Bang, Thuận Hóa, Quảng Nam), trong đó có ghi rõ 49 châu, 181 huyện, 53 phủ, các núi, sông, thành trì, đường sông, đường bộ, đường biển. Trong số 49 bản đồ, có 14 bản đồ đời Lê, trong đó phần đa đều tiếp thu từ bản đồ được vẽ vào thời Hồng Đức.
Nhóm thứ nhất gồm các bản đồ hình thế, dùng cho việc quản lý hành chính hoặc học tập, như Bản quốc dư đồ, Bắc Kỳ các tỉnh toàn đồ... Ở loại bản đồ này, người vẽ thường quan tâm đến các chi tiết như cương vực, ranh giới các tỉnh, phủ, huyện, sông, biển, núi, thành trì, nơi đô hội...
=== Kinh tế ===
Lê Thánh Tông còn đặc biệt quan tâm các chính sách nhằm phát triển kinh tế như: sửa đổi luật thuế khóa, điền địa, khuyến khích nông nghiệp, mở đồn điền,kêu gọi người phiêu tán về quê,đặt ra luật quân điền chia đều ruộng đất cho mọi người. Chủ trương trọng nông của Lê Thánh Tông còn được tỏ rõ qua việc nhà vua tự mình cầu đảo vào những lúc trời không mưa, hạn hán.
Những nỗ lực nhằm xây dựng phát triển Đại Việt của Lê Thánh Tông đã được kiểm chứng qua các bài chiếu, chỉ dụ do ông trực tiếp chấp bút và ban bố, như Chiếu khuyến nông, Chiếu lập đồn điền, Chiếu định quan chế, v.v...
Các ngành nghề thủ công nghiệp và xây dựng dưới thời trị vì của Lê Thánh Tông cũng phát triển rực rỡ. Nghề in và làm giấy ở Đại Việt đạt một trình độ cao của thế giới thời bấy giờ. Số lượng sách in thời này khá đồ sộ. Đặc biệt nhất thời kỳ này là thành tựu trong công nghệ chế tạo vũ khí và đồ sắt chiếm ưu thế. Đồ gốm, sứ thời Lê sơ phát triển đạt được độ tinh xảo và hoa văn đẹp. Việc giao thương buôn bán đã chắp cánh cho đồ gốm thời này đi xa và hiện nay bộ sư tập về đồ gốm Lê sơ cũng rất phong phú.
Thương mại và giao dịch buôn bán với các lân bang phát triển mạnh, cùng với bước chân viễn chinh xa xôi của đội quân đế chế Đại Việt. Để tạo thuận tiên cho việc mua bán Lê Thánh Tông đã từng khuyến dụ các quan rằng:
Có thể dưới thời Lê Thánh Tông, phiên chợ được mở mang nhiều.
Chính nhờ sự quan tâm đến việc phát triển thương nghiệp nên nền nông nghiệp đã phát triển mạnh mẽ. Các nghề thủ công như: Dệt lụa, ươm tơ, dệt vải, nghề mộc, nghề chạm, nghề đúc đồng cũng phát triển. Kinh đô Thăng Long 36 phố phường sầm uất, nhộn nhịp tồn tại phát triển đến tận ngày nay. Phường Yên Thái làm giấy, Phường Nghi Tàm dệt vải lụa, Phường Hà Tân nung vôi, Phường Hàng Đào nhuộm điều, Phường Ngũ Xá đúc đồng, Phường gạch và gốm sứ Bát Tràng và nhiều phường khác nữa, v.v...
Nhờ những cải cách tích cực này mà nền kinh tế Đại Việt nhanh chóng dược phục hồi và phát triển.
=== Giáo dục ===
Cùng với việc xây dựng thiết chế mới, Lê Thánh Tông đẩy mạnh phát triển giáo dục, đào tạo nhân tài. Ngoài Hàn lâm viện, Quốc sử viện, nhà Thái học, Quốc Tử Giám là những cơ quan văn hóa, giáo dục lớn, Lê Thánh Tông còn cho xây kho bí thư chứa sách, đặc biệt đã sáng lập Hội Tao Đàn bao gồm những nhà văn hóa có tiếng đương thời mà Lê Thánh Tông là Tao Đàn chủ soái.
Dưới thời ông, việc thi cử và học tập thường xuyên và rất nhiều tiến sĩ và trạng nguyên đỗ đạt và thành danh. Ông khởi xướng lập bia Tiến sĩ và tiến hành cho dựng để ghi danh, tôn vinh những người tài và đức của dân tộc Đại Việt ở Văn Miếu-Quốc Tử Giám và các thế hệ, các triều đình sau này tiếp tục bổ sung các tấm bia vinh danh mới.
Đặc biệt ông rất tích cực trong cải tổ giáo dục, có những chính sách mới về thi cử và tránh gian lận trong thi cử. Nhiều lần ông đích thân chấm bài làm và khảo lại các bài thi có nghi ngờ.
=== Văn hóa ===
==== Chính sách văn hóa ====
Lê Thánh Tông trị vì Đại Việt 38 năm và dưới thời ông nho học trở nên chiếm ưu thế, ông đã cho ra lệnh soạn nhiều tác phẩm có giá trị văn hóa xã hội. Các bia tiến sĩ ở Văn Miếu - Quốc Tử Giám được bắt đầu dựng vào thời đại của ông không chỉ có ý nghĩa về lĩnh vực giáo dục, mà chúng thực sự là các công trình văn hóa nghệ thuật đặc sắc, lưu lại tới ngày nay trở thành di sản văn hóa thế giới.
Việc biên soạn Lịch sử được Lê Thánh Tông ý thức hơn hết, với tư cách là những công cụ để nối liền đạo thống; khôi phục xây dựng kho tư liệu sử liệu dân tộc sau giai đoạn bị triệt tiêu văn hóa, sách vở thời thuộc Minh. Năm 1479 vua Lê Thánh Tông đã ra chỉ dụ lệnh cho Ngô Sĩ Liên biên soạn bộ Đại Việt sử ký toàn thư. Nhà vua cũng đã nhiều lần ra chiếu sưu tầm tư liệu, sách vở và dã sử trong dân gian.
Vào năm 1483, Lê Thánh Tông chủ biên bộ sách Thiên Nam dư hạ tập (天南餘暇集) sai các văn thần như Đỗ Nhuận, Nguyễn Trực biên soạn. Sách được biên soạn theo loại sách hội yếu, thông điển, gồm 100 quyển ghi chép đầy đủ các chế độ, luật lệ, văn thư, điển lệ, các giấy tờ văn thư hành chính (như chiếu, dụ, cáo, sắc...). Hiện nay, bộ sách thất lạc gần hết, chỉ còn lại 10 tập chép tay viết về các mảng quan chế, điều luật, bản đồ, sớ văn; Thơ, văn, điển lệ, điều luật, chinh chiến, quan chức, thiên văn, địa lý, lịch sử… của nhà Lê, từ Lê Thánh Tông trở về trước. Cụ thể như sau:
1. Điều luật và Quan chế.
2. Bình thi văn.
3. Liệt truyện, Tạp thức.
4. Khảo sử.
5. Thi tập; Đối liên.
6. Phú tập.
7. Thi tiền tập; Chinh tây kỉ hành; Minh lương cẩm tú và Quỳnh uyển cửu ca.
8. Chinh Chiêm Thành sự vụ; Chinh Tây kỉ hành.
9. Điển lệ; Phú tập.
10. Thiên hạ bản đồ; Quan chế.
==== Sáng tác văn thơ ====
Lê Thánh Tông là một nhà thơ và phê bình văn học, vừa sáng tác văn thơ, vừa nghiên cứu, phê bình. Cuối thế kỉ XV, ông sáng lập ra Hội Tao đàn và làm chủ soái. Hội Tao đàn ra đời đánh dấu bước phát triển cao về văn chương đương thời.Thơ văn của ông chứa đựng tinh thần yêu nước và tinh thần dân tộc sâu sắc. Ông sáng tác nhiều tác phẩm có giá trị như: Quỳnh uyển cửu ca, Châu cơ thắng thưởng, Chinh tây kỉ hành, Minh lương cẩm tú, Văn minh cổ xúy, Cổ tâm bách vịnh...tất cả khoảng trên 300 bài (bằng chữ Hán), Hồng Đức quốc âm thi tập (bằng chữ Nôm).
Những trước tác của Hội Tao đàn được ghi chép bằng chữ Hán trong bộ sách:
Thiên Nam dư hạ tập,
Quỳnh uyển cửu ca (瓊 苑 九 歌)
Minh lương cẩm tú (明 良 錦 繡): Gồm 18 bài, phần đa vịnh các cửa biển từ cửa Thần Phù đến Hải Vân quan.
Văn minh cổ súy (文明鼓吹): Tập thơ Lê Thánh Tông cùng các hoàng tử và triều thần viết nhân dịp về bái yết sơn lăng, viếng thăm lăng mộ hoàng tộc để tỏ lòng hiếu kính tổ tiên, cầu cho quốc thái dân an.
Chinh Tây kỷ hành (征西紀行): Tập thơ nhật ký theo lộ trình tiến đánh Chiêm Thành từ năm 1470 đến 1471, gồm 30 bài.
Cổ Tâm bách vịnh (古心百詠): Tập thơ họa thơ vịnh sử của nhà Nho đời Minh là Tiên Tử Nghĩa. Các từ thần là Thân Nhân Trung, Đỗ Nhuận phụng bình. Thơ đều làm theo thể ngũ ngôn tuyệt cú.
Châu cơ thắng thưởng (珠璣勝賞): Vần thơ châu ngọc được viết khi du ngoạn cảnh núi sông danh thắng của đất nước, như chùa Sài Sơn, núi Chiếu Bạch, động Long Quang,... gồm 20 bài.
Anh hoa hiếu trị (英華孝治)
Cổ kim cung từ thi tập (古今宮詞詩集)
Xuân vân thi tập (春雲詩集): 1 tuyển tập các tác phẩm thơ của Lê Thánh Tông, không rõ thời điểm biên tập.
Số lượng tác phẩm thi văn của Lê Thánh Tông thực tế có thể còn nhiều hơn, nhưng còn lại đến nay chỉ có khoảng 350 bài.
Ngoài thơ chữ Hán, Lê Thánh Tông còn có khá nhiều thơ Nôm, tập trung chủ yếu trong Hồng Đức quốc âm thi tập (洪 德國音詩集). Hiện vẫn chưa có con số thống kê chính xác các bài thơ Nôm của ông. Nhưng bài văn Nôm Thập giới cô hồn quốc ngữ văn (十戒孤魂國語文) có thể coi là bài văn biền ngẫu có giá trị bậc nhất của thế kỷ XV.
Trong đó, không chỉ ghi chép thơ văn, mà còn ghi chép về lý luận phê bình văn học, về lịch sử, kinh tế, quan chế, địa lý v.v...
Lê Thánh Tông là người dẫn đầu phong trào mới này, cả về nghệ thuật thể hiện, cả về tư tưởng triết học. Thánh Tông di thảo là dấu mốc quan trọng ghi nhận bước trưởng thành của truyện ký Đại Việt viết bằng chữ Hán, ra đời trước cả tập "Truyền kỳ mạn lục" của Nguyễn Dữ (thế kỷ 16).
Lê Thánh Tông khuyến khích các quan lại và tự mình tích cực sử dụng chữ Nôm như một sự tự tôn và tự cường. Trong một bài thơ Nôm, Lê Thánh Tông tự trình bày mình:
Trống dời canh còn đọc sách
Chiêng xế bóng chửa thôi chầu.
=== Tôn giáo ===
Dưới thời Hậu Lê nói chung, và trong thời vua Lê Thánh Tông nói riêng, Phật giáo bị đẩy lui xuống sinh hoạt ở các làng xã, trong khi đó, Nho giáo lại được coi trọng và lên ngôi, đặc biệt là khu vực triều đình và giới Nho học. Đó là đặc điểm chính của thời kỳ này. Mặt khác do trước đó chịu sự tận diệt của nhà Minh nên nhiều chùa chiền, cung điện và các Phật tử phát triển rực rỡ ở các triều đại nhà Lý, nhà Trần đã bị xóa bỏ. Bên cạnh đó, Lê Thánh Tông cũng đánh giá cao đạo Phật và trong bộ "Hồng Đức quốc âm thi tập" của ông có nhiều bài vịnh ca ngợi vai trò của các chùa như Trấn Quốc, Tu Mộng... trong việc thúc đẩy sự phát triển của đất nước. Ngoài ra, trạng nguyên Lương Thế Vinh – một trong những trọng thần của Thánh Tông – cũng là một người theo Phật giáo.
Nho giáo cũng đóng góp một cách đáng kể vào tín ngưỡng và cách xây dựng một nhà nước phong kiến tập quyền vững chắc và phát triển.
=== Coi trọng người hiền tài ===
Ở Văn Miếu-Quốc Tử Giám, Trường đại học đầu tiên của xã hội phong kiến Việt Nam, trên một tấm bia đá, có ghi một danh sĩ nổi tiếng thời nhà Lê, đó là Thân Nhân Trung, người quê Việt Yên, Bắc Giang. Ông có sớ dâng vua "Chiêu nạp hiền tài" và cho rằng "Hiền tài là nguyên khí quốc gia". Sự kiện này được khắc trên bia đá dựng thời Lê Thánh Tông. Điều này nói lên rằng, ông là người rất trọng dụng nhân tài và thực tế dưới thời trị vì của ông, những người tài thường được trọng dụng và đã cùng ông đoàn kết xây dựng một Đại Việt trong yên vui, ngoài yên ổn, dân chúng rất mến mộ vị Hoàng đế của mình.
Ông ngưỡng mộ và dễ tha thứ lỗi lầm cho các bậc tài đức, một đoạn ghi chép sau đây sẽ nói thêm về điều này. Một lần ông trách cứ cựu thần Ngô Sĩ Liên, Nghiêm Nhân Thọ: "Ta mới coi chính sự, sửa mới đức độ, tuân theo điển cũ của thánh tổ thần tông, nên mới tế giao vào đầu mùa xuân. Các ngươi lại bảo tổ tông tế giao cũng không đáng theo! Các ngươi bảo nước ta đời xưa là hàng phiên bang, thế là các ngươi theo đạo chết, mang lòng không vua". Tuy nói vậy, Lê Thánh Tông vẫn trọng dụng Ngô Sĩ Liên và giao cho ông phụ trách soạn Đại Việt Sử Ký Toàn Thư. Bên cạnh dưới thời ông cũng có các học giả khác như, nhà toán học Trạng nguyên Lương Thế Vinh, với tác phẩm Đại thành Toán pháp; Phan Phu Tiên, với tác phẩm Bản thảo thực vật toát yếu v.v...
Lê Thánh Tông bắt đầu cho phép tôn vinh việc học bằng các cuộc lễ xướng danh (lễ đọc tên người thi đậu), lễ vinh quy bái tổ (lễ đón rước người thi đậu về làng) và nhất là lệ khắc tên và lý lịch tiến sĩ vào bia đá Văn Miếu (Năm 1484 giao cho Lễ bộ thượng thư Quách Đình Bảo trọng trách chủ trì soạn khắc bia đá, cả thẩy 10 bia đá đầu tiên tương ứng với 10 khoa thi, bắt đầu từ khoa thi Nhâm Tuất 1442 đến khoa thi 1484). Vì thế khuyến khích mọi tầng lớp cư dân đua nhau học hành để tên tuổi được ghi vào bảng vàng, để gia môn được vinh dự và để làng quê được vinh hiển.
Như thế công việc giáo dục Nho học đã trở thành nếp. Ngoài trường Quốc Tử Giám và các viện lớn ra còn có các trường học ở các đạo, phủ, thừa với rất đông học trò. Các kỳ thi được các sĩ tử khắp nơi hưởng ứng.
=== Minh oan Nguyễn Trãi ===
Nguyễn Trãi và gia đình ông đã bị tru di tam tộc vào năm 1442 trong vụ án Lệ Chi Viên. Sau vụ án này, vua Lê Nhân Tông (1443-1459) đã khẳng định lại công lao sự nghiệp của Nguyễn Trãi: Nguyễn Trãi là người trung thành giúp đức Thái Tổ dẹp yên giặc loạn, giúp đức Thái Tông sửa sang thái bình. Văn chương và đức nghiệp của Nguyễn Trãi, các danh tướng của bản triều không ai sánh bằng. Nhưng Lê Nhân Tông vẫn chưa minh oan cho Nguyễn Trãi.
Năm 1464, Lê Thánh Tông đã chính thức minh oan cho Nguyễn Trãi. Ông ca ngợi Nguyễn Trãi là Ức Trai tâm thượng quang Khuê tảo, truy tặng tước Tán Trù Bá, ban cho con là Anh Vũ chức huyện quan. Năm 1467, Lê Thánh Tông ra lệnh sưu tầm di cảo thơ văn Nguyễn Trãi. Việc làm này có thể đã góp phần bảo tồn một phần quan trọng các di sản văn hóa mà Nguyễn Trãi đã để lại.
Lê Thánh Tông như đã tạc bia cho Nguyễn Trãi bằng câu thơ:
Ức Trai tâm thượng quang Khuê tảo
Tạm dịch:
Tâm hồn Ức Trai sáng tựa sao Khuê
hay là: Văn chương Ức Trai lòng soi sáng
Nhiều người hiểu sai khi dịch nghĩa "Ức Trai tâm thượng quang khuê tảo" là "Lòng Ức Trai sáng tựa sao khuê", dịch chính xác phải là "văn chương Ức Trai lòng soi sáng", với ý ca ngợi văn chương chứ không phải nhân cách Nguyễn Trãi.
=== Mở rộng Đại Việt ===
==== Nam tiến ====
Năm 1452, Ma Ha Quý Do được vua Minh Đại Tông phong làm quốc vương Chiêm Thành. Sau đó Quý Do bị Bàn La Trà Duyệt, người ở Thị Nại sát hại và cướp ngôi. Trà Duyệt chết, truyền ngôi cho em là Trà Toàn (Pau Kubah). Trà Toàn được sử sách Việt Nam mô tả là: "hung hãn, hoang dâm, bạo ngược".
Trà Toàn bỏ tiến cống nhà Lê, thường xâm lấn biên giới phía nam Đại Việt. Năm 1470, Trà Toàn sai sứ thần sang cầu viện nhà Minh, thân hành đem 10 vạn quân thủy, bộ cùng voi ngựa đến đánh úp Hóa Châu. Viên tướng trấn giữ Hóa Châu Phạm Văn Hiển chống không nổi, phải đóng cửa thành chống giữ, cho người phi ngựa đem văn thư cáo cấp về kinh đô Thăng Long.
Tháng 10 năm 1470, Lê Thánh Tông sai Nguyễn Đình Mỹ và Quách Đình Bảo đem việc Chiêm Thành đánh úp biên giới sang thông báo với nhà Minh.
Lê Thánh Tông quyết định chinh phạt, sát nhập lãnh thổ Chiêm Thành vào Đại Việt. Ông báo cáo với dân chúng trong nước biết một cách công khai và rõ ràng về lý do xuất quân, bằng chiếu thư đánh Chiêm. Ông lệnh cho Đinh Liệt và Lê Niệm đem 10 vạn quân xuất phát đi trước (28/11/1470). 10 ngày sau nhà vua thân hành đốc xuất 15 vạn thủy quân xuôi vào đất Chiêm Thành.
Quân Đại Việt liên tiếp tiến quân, cuối cùng vây được kinh thành Đồ Bàn. Tháng 3 năm 1471, kinh đô Đồ Bàn của Chiêm Thành thất thủ. Theo Đại Việt Sử Ký Toàn Thư, hơn 30.000 người Chiêm bị bắt, 40.000 lính Chiêm Thành đã tử trận. Vua Trà Toàn cũng bị bắt và được Thánh Tông tha chết.
Bấy giờ 1 tướng Chiêm là Bô Trì Trì chạy về đất Phan Lung, cử sứ sang cống và xin xưng thần với Đại Việt. Theo Việt Nam Sử Lược, vua Thánh Tông có ý muốn làm cho Chiêm Thành yếu đi, mới chia đất Chiêm ra làm 3 nước, phong 3 vua: 1 nước gọi Chiêm Thành, 1 nước nữa là Hóa Anh và 1 nước nữa là Nam Phan.
Sau khi Trà Toàn bị bắt, em là Trà Toại trốn vào núi, sai người sang cầu cứu nhà Minh và xin phong vương. Được tin, Lê Thánh Tông sai Lê Niệm đem 3 vạn quân vào đánh, Trà Toại bị bắt giải về kinh. Về sau, vua nhà Minh sai sứ sang bảo Lê Thánh Tông phải trả đất cho Chiêm Thành, nhưng ông nhất quyết không chịu.
Sau chiến thắng, Lê Thánh Tông thực hiện chính sách mới, bình định và Việt hóa dân chúng người Chiêm Thành và sát nhập lãnh thổ miền bắc Chiêm Thành (từ đèo Hải Vân tới bắc Phú Yên ngày nay) vào Đại Việt. Tháng 6 năm 1471, lãnh thổ miền bắc Chiêm Thành được lập thành thừa tuyên Quảng Nam và vệ Thăng Hoa.
==== Tây tiến ====
Sau khi Đại Việt đánh hạ Chiêm Thành, nhiều vương quốc láng giềng phía Tây bắt đầu cử sứ thần đến ra mắt và đưa cống phẩm. Nhà Minh cũng dè dặt phản đối việc làm của Lê Thánh Tông.
Năm 1478, có tù trưởng xứ Bồn Man là Cầm Công làm phản, ngầm xin sự trợ giúp của vương quốc Lan Xang. Lan Xang điều binh quấy nhiễu châu Quy Hợp của Đại Việt.
Cùng năm 1478, vào tháng 7 Lê Thánh Tông quyết định xuống chiếu đánh dẹp mặt trận phía Tây, liền sai Thái uý Lê Thọ Vực cùng các tướng Trịnh Công Lộ, Lê Đình Ngạn, Lê Lộng và Lê Nhân Hiếu chia quân 18 vạn quân làm 5 đạo đi theo các đường:
Đường An Tây,
Đường Thuận Mỗi,
Đường phủ Thanh Đô
Đường phủ Trà Lân,
Đường phủ Ngọc Ma.
Cuộc chiến diễn ra ác liệt tại các mặt trận, quân Đại Việt thế mạnh hơn đã tiến sâu đánh lui, tiêu diệt; bắt sống nhiều cánh quân tướng lĩnh của Lan Xang. Buộc triều đình, hoàng tộc của vua Xaiyna Chakhaphat phải bỏ chạy. Quân đội Đại Việt tiến vào kinh thành Luang Prabang, lấy đây làm bàn đạp để tiến sang phía Tây tiếp tục truy kích quân Lan Xang. Quân Đại Việt tiếp tục đuổi quân Lan Xang tới sông Kim Sa giáp với Miến Điện. Quân Đại Việt toàn thắng.
Khi tin thắng trận của cánh quân phía Bắc tới nhà vua đại giá trở về. Đầu năm 1479, nhà vua sau đó tiếp tục sai Lê Niệm thống suất 30 vạn quân tiêu diệt hoàn toàn lực lượng kháng cự của Cầm Công tại Bồn Man. Quân đội Đại Việt vượt qua được cửa ải, đốt phá các thành trì kháng cự, thiêu hủy kho tàng. Cầm Công bỏ chạy rồi chết. Dân Bồn Man khi đó đa phần bị chết đói, 9 vạn hộ chỉ còn 2.000 người bèn đầu hàng. Nhà vua bèn cho Cầm Đông (họ hàng của Cầm Công) làm Tuyên úy đại sứ để thu phục, đặt lại quan cai trị như trước nhưng sau Cầm Đông cũng lại làm phản.
Gây nên cuộc chiến Lan Xang là cũng vì họ Cầm ở Bồn Man muốn làm phản Đại Việt.
=== Quan hệ với Trung Quốc ===
Đại Việt bấy giờ có lệ xưng thần với nhà Minh, nhưng vua Lê Thánh Tông vẫn hết lòng phòng bị mặt bắc. Thỉnh thoảng có những thổ dân sang quấy nhiễu, thì lập tức vua cho quan quân lên dẹp yên và cho sứ sang Trung Quốc để phân giải mọi sự cho minh bạch. Có lần được tin có người nhà Minh đem quân qua địa giới, Thánh Tông liền cho người do thám thực hư.
Lời của vua Lê Thánh Tông từng nói với triều thần đã được ghi rõ trong Đại Việt sử ký toàn thư:
"Một thước núi, một tấc sông của ta, lẽ nào lại nên vứt bỏ? Ngươi phải kiên quyết tranh biện, chớ cho họ lấn dần. Nếu họ không nghe, còn có thể sai sứ sang phương Bắc trình bày rõ điều ngay lẽ gian. Nếu ngươi dám đem một thước núi, một tấc đất của Thái tổ làm mồi cho giặc, thì tội phải tru di!" (lời của vua Lê Thánh Tông nói với các quan phụ trách biên cương năm 1473, được chép trong Đại Việt sử ký toàn thư.)
Ông thường bảo với triều thần:
Nhà vua có lòng vì nước như thế, nên nhà Minh dẫu có muốn dòm ngó cũng chẳng dám làm gì. Vả lại quân Đại Việt bấy giờ đi đánh Lào, Chiêm nên thanh thế bao nhiêu, nhà Minh cũng phải lấy lễ nghĩa mà đãi Đại Việt, quan hệ giữa hai nước vẫn được hoà bình..
== Qua đời ==
Theo Đại Việt Sử Ký Toàn Thư, năm 1497, Lê Thánh Tông lâm bệnh phù thũng. Quý phi Nguyễn Hằng, con gái của công thần Nguyễn Đức Trung, vốn bị thất sủng xa lánh lâu ngày, lấy cớ vào thăm bệnh rồi ngầm bôi thuốc vào tay, xoa lên những chỗ loét của ông. Do đó, bệnh ông càng nặng thêm và băng hà ở điện Bảo Quang.
Lê Thánh Tông ở ngôi 38 năm, hưởng thọ 56 tuổi và được an táng ở Chiêu Lăng (昭陵). Tương truyền, ngày hôm ấy, ấn thần và gươm thần đều biến mất. Ông được tôn miếu hiệu là Thánh Tông (聖宗). Thụy hiệu là Sùng Thiên Quảng Vận Cao Minh Quang Chính Chí Đức Đại Công Thánh Văn Thần Vũ Đạt Hiếu Thuần Hoàng Đế (崇天廣運高明光正至德 大功聖文神武達孝淳皇帝), đời sau gọi là Thánh Tông Thuần hoàng đế (聖宗淳皇帝), hay Lê Thuần Hoàng (黎淳皇), Lê Thuần Hoàng Đế (黎淳皇帝), Lê Thuần Đế (黎淳帝), Thuần Hoàng (淳皇), Thuần Đế (淳帝).
Lê Thánh Tông mất, Thái tử Lê Tranh lên thay, tức là Lê Hiến Tông.
== Nhận định ==
Sách Đại Việt Sử ký Toàn thư có chép lại bình luận của một số sử thần về Lê Thánh Tông, đa phần nhận xét rất tích cực:
Sử gia thời Pháp thuộc Trần Trọng Kim cũng đánh giá trong cuốn Việt Nam sử lược rằng:
== Gia quyến ==
Cha: Lê Thái Tông Lê Nguyên Long.
Mẹ: Quang Thục Văn hoàng hậu Ngô Thị Ngọc Dao (光淑文皇后吳氏; 1421 - 1496).
Hậu phi:
Huy Gia hoàng hậu Nguyễn thị (徽嘉淳皇后阮氏; 1441 - 1505), hay Trường Lạc hoàng hậu, húy là Hằng (晅), nguyên sơ phong là Quý phi, mẹ ruột của Lê Hiến Tông. Bà chưởng quản hậu cung, đứng đầu chúng phi tần của Thánh Tông.
Nhu Huy hoàng hậu Phùng thị (柔徽淳皇后馮氏; 1444 - 1489), húy là Diệm Quý (琰貴), nguyên là Chiêu nghi của Thánh Tông, sinh ra Kiến vương Lê Tân. Con cháu là Lê Tương Dực truy tôn làm Hoàng hậu.
Minh phi Phạm thị (明妃范氏; 1448 - 1498), con gái của đô đốc Phạm Văn Liêu. Sinh ra Lôi Ý công chúa, Lan Minh công chúa và Tống vương Lê Tung.
Kính phi Nguyễn thị (敬妃阮氏; 1444 - 1485), người thuộc huyện Lôi Dương, Thanh Hoá. Cha bà là Đô đốc thiêm sự Đề đốc vệ Thần Vũ Nguyễn Đức Nghị (阮德毅). Bà mồ côi cha từ nhỏ, được Thái bảo Giản Cung hầu Lê Hưu (黎休) nhận làm con. Bà sinh ra Minh Kính công chúa, về sau được nhận Quảng vương Lê Táo làm con thờ tự.
Quý phi Nguyễn thị (貴妃阮氏), người xã Hòa Thược, huyện Kim Trà. Xuất thân bình dân, khi Thánh Tông hoàng đế đi đánh Chiêm Thành đã ghé qua vùng này, thấy bà có nhan sắc mà nạp về cung. Bà sinh ra Triệu vương Lê Thoan.
Tu dung Nguyễn thị (修容阮氏), người xã Bối Khê, huyện Thanh Oai, con gái Quan trung thư lệnh Nguyễn Trực. Năm 1472, tuyển vào cung, được đổi tên là Cẩn Kính. Tháng 8 năm 1491, thăng làm Dung hoa. Năm 1492, thăng làm Tiệp dư. Năm 1495, ban cho làm Tu dung.
Tài nhân Nguyễn thị (才人阮氏; 1444 - 1479), người làng Thiên Mỗ, huyện Từ Liêm. Cha là Thái trung đại phu thượng thư tự khanh Hộ bộ tả thị lang Nguyễn Đình Hy (阮廷禧), mẹ là Chu phu nhân. Bà sinh ra Phúc vương Lê Tranh.
Hậu duệ:
Lê Tranh [黎鏳], tức Hiến Tông Duệ hoàng đế (憲宗睿皇帝), mẹ là Huy Gia hoàng hậu.
Lương vương Lê Tuyên [梁王黎銓].
Tống vương Lê Tung [宋王黎鏦], sinh năm 1466, mẹ là Phạm Minh phi.
Đường vương Lê Cảo [唐王黎鎬].
Lê Tân [黎鑌], tức Đức Tông Kiến hoàng đế (德宗建皇帝), mẹ là Nhu Huy hoàng hậu.
Phúc vương Lê Tranh [福王黎錚], mẹ là Nguyễn Tài nhân.
Diễn vương Lê Thông [演王黎鏓].
Nghĩa vương Lê Cảnh [義王黎耿].
Ứng vương Lê Chiêu [應王黎昭].
Quảng vương Lê Táo [廣王黎鐰], mẹ không rõ, được Nguyễn Kính phi nhận nuôi.
Trấn vương Lê Hình [鎮王黎鋞].
Triệu vương Lê Thoan [肇王黎鋑], mẹ là Nguyễn Quý phi.
Kinh vương Lê Kiện [荆王黎鍵], được Thánh Tông rất yêu quý, sau này loạn Uy Mục Đế, không rõ kết cục.
Ngoài ra, ông còn có 20 công chúa. Chỉ biết đến Lôi Ý công chúa Lê Oánh Ngọc (雷懿公主黎莹玉) và Lan Minh công chúa Lê Lan Khuê (兰明公主黎兰圭) đều do Phạm Minh phi sinh ra. Một hoàng nữ nữa là Minh Kính công chúa Lê Thụy Hoa (明敬公主黎瑞华), con gái của Nguyễn Kính phi.
== Chú thích ==
== Tham khảo ==
Đại Việt Sử Ký Toàn Thư (bản điện tử)
Việt Nam Sử Lược (bản điện tử)
Vietnam: Borderless Histories. Nhung Tuyết Trần & Anthony Reid. University of Wisconsin Press. 2004
Kho báu Tiền cổ Đại Việt. Bảo tàng lịch sử Việt Nam Hà Nội, 2006
Viện Sử học (2007) Lịch sử Việt Nam, tập 4, Nhà xuất bản Khoa học xã hội
Đại Việt mở rộng về phía Tây, Nam trên BBC Vietnamese
Bùi Duy Tân (1999), Khảo và luận về một số tác gia-tác phẩm văn học trung đại Việt Nam, tập 1, Hà Nội: Nhà xuất bản Khoa học giáo dục
== Xem thêm ==
== Liên kết ngoài ==
Lê Thánh Tông tại Từ điển bách khoa Việt Nam
Gốm Lê Sơ
Chùa Dục Khánh - nơi ra đời của vua Lê Thánh Tông |
tín ngưỡng dân gian việt nam.txt | Tín ngưỡng dân gian Việt Nam, còn gọi là tín ngưỡng truyền thống Việt Nam, là tín ngưỡng bản địa của các dân tộc sống trên lãnh thổ Việt Nam.
== Đặc điểm tín ngưỡng – tôn giáo Việt Nam ==
Việt Nam nằm ở trung tâm khu vực nhiệt đới ẩm gió mùa, thiên nhiên tương đối phong phú, đa dạng. Thời xa xưa, người Việt sống chủ yếu dựa vào việc khai thác tự nhiên. Vì vậy, việc thờ cúng các vị thần tự nhiên (nhiên thần) đã sớm gần gũi với họ. Hơn nữa, Việt Nam lại là ngã ba đường nơi giao lưu của nhiều tộc người, của nhiều luồng văn minh. Hai yếu tố đó làm cho Việt Nam trở thành một quốc gia đa tôn giáo, tín ngưỡng. Tính đa thần ấy không chỉ biểu hiện ở số lượng lớn các vị thần mà điều đáng nói là, các vị thần ấy cùng đồng hành trong tâm thức một người Việt. Điều đó dẫn đến một đặc điểm của đời sống tín ngưỡng – tôn giáo của người Việt đó là tính hỗn dung tôn giáo. Trước sự du nhập của các tôn giáo ngoại lai, người Việt không tiếp nhận một cách thụ động mà luôn có sự cải biến cho gần gũi với tư tưởng, tôn giáo bản địa. Vì vậy, ở nước ta, trong khi các tôn giáo vẫn phát triển thì các tín ngưỡng dân gian vẫn giữ vai trò quan trọng trong đời sống tâm linh của người dân.
Cũng chính vì tính hỗn dung tôn giáo ấy mà người Việt thể hiện sự bàng bạc trong niềm tin tôn giáo. Đa số người Việt đều có nhu cầu tôn giáo, tuy nhiên, phần đông trong số đó không là tín đồ thành kính của riêng một tôn giáo nào. Một người vừa có thể đến chùa, vừa có thể đến phủ miễn là việc làm ấy mang lại sự thanh thản về tinh thần cho họ, có thể thoả mãn điều họ cầu xin. Vì thế, nhiều nhà nghiên cứu cho rằng, một đặc điểm trong đời sống tín ngưỡng - tôn giáo của người Việt là tính dụng. Tôn giáo là để phục vụ nhu cầu cần thiết, trực tiếp của họ trong cuộc sống.
== Phân loại tín ngưỡng Việt Nam ==
=== Tín ngưỡng phồn thực ===
Thời xa xưa, để duy trì và phát triển sự sống, ở những vùng sinh sống bằng nghề nông cần phải có mùa màng tươi tốt và con người được sinh sôi nảy nở. Để làm được hai điều trên, những trí tuệ sắc sảo sẽ tìm các quy luật khoa học để lý giải hiện thực và họ đã xây dựng được triết lý âm dương, còn những trí tuệ bình dân thì xây dựng tín ngưỡng phồn thực (phồn nghĩa là nhiều, thực nghĩa là nảy nở). Tín ngưỡng phồn thực ở Việt Nam được thể hiện ở hai dạng: thờ cơ quan sinh dục của cả nam lẫn nữ (như linga, yoni) và thờ hành vi giao phối, khác biệt với một số nền văn hóa khác như Ấn Độ chẳng hạn, chỉ thờ sinh thực khí của nam mà thôi.
==== Thờ cơ quan sinh thực khí ====
Thờ sinh thực khí (sinh = đẻ, thực = nảy nở, khí = công cụ) là hình thái đơn giản của tín ngưỡng phồn thực. Nó phổ biến ở hầu hết các nền văn hóa nông nghiệp trên thế giới. Nhưng khác với hầu hết các nền văn hóa khác là chỉ thời sinh thực khí nam, tín ngưỡng phồn thực Việt Nam thờ sinh thực khí của nam lẫn nữ. Việc thờ sinh thực khí được tìm thấy ở trên các cột đá có niên đại hàng ngàn năm trước Công nguyên. Ngoài ra nó còn được đưa vào các lễ hội, lễ hội ở làng Đồng Kỵ (Bắc Ninh) có tục rước cặp sinh thực khí bằng gỗ vào ngày 6 tháng giêng, sau đó chúng được đốt đi, lấy tro than chia cho mọi người để lấy may.
==== Thờ hành vi giao phối ====
Ngoài việc thờ sinh thực khí, tín ngưỡng Việt Nam còn thờ hành vi giao phối, đó là một đặc điểm thể hiện việc chú trọng đến các mối quan hệ của văn hóa nông nghiệp, nó đặc biệt phổ biến ở vùng Đông Nam Á. Các hình nam nữ đang giao phối được khắc trên mặt trống đồng tìm được ở làng Đào Thịnh (Yên Bái), có niên đại 500 trước Công nguyên. Ngoài hình tượng người, cả các loài động vật như cá sấu, gà, cóc,... cũng được khắc trên mặt trống đồng Hoàng Hạ (Hòa Bình).
Vào dịp hội đền Hùng, vùng đất tổ lưu truyền điệu múa "tùng dí", thanh niên nam nữ cầm trong tay các vật biểu trưng cho sinh thực khí nam và nữ, cứ mối tiếng trống "tùng" thì họ lại "dí" hai vật đó lại với nhau. Phong tục "giã cối đón dâu" cũng là một biểu hiện cho tín ngưỡng phồn thực, chày và cối là biểu tượng cho sinh thực khí nam và nữ. Ngoài ra một số nơi còn vừa giã cối (rỗng) vừa hát giao duyên.
==== Trống đồng - biểu hiện của tín ngưỡng phồn thực ====
Vai trò của tín ngưỡng phồn thực lớn tới mức ngay cả chiếc trống đồng, một biểu tượng sức mạnh của quyền lực, cũng là biểu tượng toàn diện của tín ngưỡng phồn thực:
Hình dáng của trống đồng phát triển từ cối giã gạo
Cách đánh trống theo lối cầm chày dài mà đâm lên mặt trống mô phỏng động tác giã gạo
Tâm mặt trống là hình Mặt Trời biểu trưng cho sinh thực khí nam, xung quanh là hình lá có khe rãnh ở giữa biểu trưng cho sinh thực khí nữ
Xung quanh mặt trống đồng có gắn tượng cóc, một biểu hiện của tín ngưỡng phồn thực (xem thêm Con cóc là cậu ông trời)
=== Tín ngưỡng sùng bái tự nhiên ===
Do là một đất nước nông nghiệp nên việc sùng bái tự nhiên là điều dễ hiểu. Điều đặc biệt của tín ngưỡng Việt Nam là một tín ngưỡng đa thần và âm tính (trọng tình cảm, trọng nữ giới). Có giả thuyết cho rằng đó là do ảnh hưởng của chế độ mẫu hệ thời xưa tại Việt Nam. Các vị thần ở Việt Nam chủ yếu là nữ giới, do ảnh hưởng của tín ngưỡng phồn thực như đã nói ở trên nên các vị thần đó không phải là các cô gái trẻ đẹp như trong một số tôn giáo, tín ngưỡng khác mà là các bà mẹ, các Mẫu. (Xem thêm Đạo Mẫu).
==== Thờ Tam phủ, Tứ phủ ====
Tam phủ là danh từ để chỉ ba vị thánh thần: Bà Trời (hay Mẫu Thượng Thiên), Bà Chúa Thượng (hay Mẫu Thượng Ngàn), Bà Nước (hay Mẫu Thoải). Tứ phủ gồm ba vị Mẫu trên cộng thêm Mẫu Địa phủ. Các Mẫu cai quản những lĩnh vực quan trọng nhất của một xã hội nông nghiệp. Về sau do ảnh hưởng của văn hóa Trung Hoa nên có thêm Ngọc Hoàng, Thổ Công và Hà Bá. Thần Mặt Trời là vị thần quan trọng nhất, có mặt trên tất cả các trống đồng. Việc thờ trời ở Việt Nam có trước ở Trung Quốc.
==== Thờ Tứ pháp ====
Tứ pháp là danh từ để chỉ các bà thần Mây-Mưa-Sấm-Chớp, đại diện cho các hiện tượng tự nhiên có vai trò quan trọng trong xã hội nông nghiệp. Sau này khi Phật giáo vào Việt Nam thì nhóm các nữ thần này được biến thành Tứ pháp với truyền thuyết về Phật Mẫu Man Nương. Tứ pháp gồm:
Pháp Vân (thần mây) thờ ở chùa Bà Dâu
Pháp Vũ (thần mưa) thờ ở chùa Bà Đậu
Pháp Lôi (thần sấm) thờ ở chùa Bà Tướng
Pháp Điện (thần chớp) thờ ở chùa Bà Dàn
Ảnh hưởng của Tứ Pháp ở Việt Nam rất lớn, nhiều lần triều đình nhà Lý phải rước tượng Pháp Vân về Thăng Long để cầu mưa.
==== Thờ động vật và thực vật ====
Khác với nhiều nền văn hóa khác nhau là thờ các con vật có sức mạnh như hổ, sư tử, chim ưng,... tín ngưỡng Việt Nam thờ các con vật hiền lành hơn như trâu, cóc, rắn, chuột, chó, mèo, voi,.... các con vật đó gần gũi với cuộc sống của người dân của một xã hội nông nghiệp. Người dân còn đẩy các con vật lên thành mức biểu trưng như Tiên, Rồng. Theo truyền thuyết thì tổ tiên người Việt thuộc "họ Hồng Bàng" (có nghĩa là một loài chim nước lớn), thuộc giống "Rồng Tiên". Con rồng lần đầu tiên xuất hiện ở vùng Nam Á, sau đó mới được phổ biến ở Trung Quốc rồi đến các nước phương tây. Con rồng có đầy đủ đặc tính của lối tư duy nông nghiệp: tổng hợp của cá sấu, rắn; sinh ra ở dưới nước nhưng lại có thể bay lên trời mà không cần cánh; có thể vừa phun nước vừa phun lửa. Có rất nhiều địa danh Việt Nam có tên liên quan đến rồng như Thăng Long, Hàm Rồng,...
Thực vật được tôn sùng nhất là cây lúa, có Thần Lúa, Hồn Lúa, Mẹ Lúa,... đôi khi ta thấy còn thờ Thần Cây Đa, Cây Cau,...
=== Tín ngưỡng sùng bái con người ===
Ngoài phồn thực, tự nhiên, tín ngưỡng Việt Nam rất coi trọng con người.
==== Hồn và vía ====
Người Việt xưa cho rằng con người gồm phần thể xác và phần linh hồn. Một số dân tộc Đông Nam Á coi linh hồn gồm "hồn" và "vía". Vía được hình dung như phần trung gian giữa thể xác và hồn. Người Việt cho rằng người có ba hồn, nam có bảy vía và nữ có chín vía. Ba hồn gồm: Tinh (sự tinh anh trong nhận thức), Khí (năng lượng làm cho cơ thể hoạt động) và Thần (thần thái của sự sống). Bảy vía ở đàn ông cai quản hai tai, hai mắt, hai lỗ mũi và miệng. Chín vía ở nữ giới cai quản bảy thứ như ở nam giới cộng thêm hai vía nữa. Hai vía này có nhiều cách giải thích. Chúng có thể là núm vú có vai trò quan trọng trong nuôi con. Tuy nhiên có cách giải thích khác (xem thêm chín vía). Người Việt thường có câu nói nam có "ba hồn bảy vía" còn nữ có "ba hồn chín vía", cũng là từ các quan niệm trên mà ra.
Hồn và vía dùng thể xác làm nơi trú ngụ, trường hợp hôn mê ở các mức độ khác nhau được giả thích là vía và hồn rời bỏ thể xác ở các mức độ khác nhau. Nếu phần thần của hồn mà rời khỏi thể xác thì người đó chết. Khi người chết, hồn nhẹ hơn sẽ bay sang kiếp khác còn vía nặng hơn sẽ bay là mặt đất rồi tiêu tan. Thế nên mới có những câu ngạn ngữ như: "hồn xiêu phách lạc" (phách tức là vía; ở đây muốn nói trạng thái run sợ, mất chủ động), "sợ đến mức hồn vía lên mây"...
Khi chết là hồn đi từ cõi dương gian đến cõi âm ty, cõi đó cũng được tưởng tượng có nhiều sông nước như ở cõi dương gian nên cần phải đi bằng thuyền nên nhiều nơi chôn người chết trong những chiếc thuyền.
==== Tổ tiên ====
Người Việt là một trong những dân tộc có tục thờ cúng tổ tiên sâu đậm và sớm nhất, nó gần như trở thành một tôn giáo: Đạo ông bà.
Thà đui mà giữ đạo nhà
Còn hơn sáng mắt cha ông không thờ.
(Nguyễn Đình Chiểu, Lục Vân Tiên)
Người phương tây coi trọng ngày sinh thì người Việt coi trọng ngày mất. Họ cho rằng người đã mất đi về nơi chín suối. Bàn thờ tổ bao giờ cũng được đặt ở nơi trang trọng nhất. Ngày xưa khi cúng lễ bao giờ cũng có nước (hoặc rượu) cùng với những đồ tế lễ khác như vàng mã. Sau khi cúng xong thì đem đốt vàng mã rồi đổ rượu hoặc nước lên đống tro tàn—khói bay lên trời, nước hòa với lửa thấm xuống đất—theo họ như thế tổ tiên mới nhận được. Hành động đó được cho là sự hòa quyện Nước-Lửa (âm dương) và Trời - Đất - Nước (tam tài) mang tính triết lý sâu sắc.
==== Tổ nghề ====
Tổ nghề là một hoặc nhiều người có công lớn đối với việc sáng lập và truyền bá một nghề nào đó. Do đó được các thế hệ sau tôn trọng và suy tôn là làm người sáng lập vì đã có công tạo ra nghề, gọi là Tổ nghề (hoặc thánh sư). Tổ nghề chỉ là những con người bình thường, nhưng lại được người đời sau tôn thờ vì đã có công sáng tạo ra nghề, truyền lại cho các thế hệ sau.
==== Thành hoàng làng ====
Ở phạm vi gia đình, người Việt thờ tổ tiên và Thổ Công, ở phạm vi làng xã, người Việt thờ Thành hoàng. Giống như Thổ công, Thành hoàng cai quản và quyết định họa phúc của một làng. Không có làng nào ở Việt Nam mà không có Thành hoàng.
Những người được thờ thường là những người có tên tuổi và địa vị, có công lao đối với làng đó. Tuy nhiên một số làng còn thờ những người lý lịch không rõ ràng gì như trẻ con, ăn xin, ăn mày, trộm cắp... nhưng họ chết vào "giờ thiêng" (Giờ xấu theo mê tín dị đoan).
==== Vua tổ ====
Ở phạm vi quốc gia, người Việt thờ Vua tổ, đó là Vua Hùng. Nơi thờ phụng ở Phong Châu, Phú Thọ. Ngày giỗ tổ là ngày 10 tháng 3 âm lịch.
==== Tứ bất tử ====
Người Việt còn thờ bốn vị thánh bất tử, đó là Tản Viên, Thánh Gióng, Chử Đồng Tử và Liễu Hạnh.
Tản Viên biểu hiện cho ước vọng chiến thắng thiên tai, lụt lội; Thánh Gióng biểu hiện cho tinh thần chống giặc ngoại xâm; Chử Đồng Tử biểu hiện cho cuộc sống phồn vinh về vật chất; Liễu Hạnh biểu hiện cho cuộc sống phồn vinh về tinh thần của người dân Việt Nam.
==== Danh nhân và Anh hùng ====
Ngoài ra, tại Việt Nam có rất nhiều đền thờ các vị danh nhân như vua Đinh Tiên Hoàng, Lương Thế Vinh, Trần Hưng Đạo (Tín ngưỡng Đức Thánh Trần),....
=== Tín ngưỡng sùng bái Thần linh ===
==== Thổ Địa ====
==== Thần Tài ====
==== Táo Quân ====
==== Hà Bá ====
==== Môn Quan ====
==== Phúc Lộc Thọ ====
== Xem thêm ==
Tôn giáo tại Việt Nam
== Tham khảo ==
== Liên kết ngoài ==
Tín ngưỡng sùng bái tự nhiên
Tín ngưỡng sùng bái con người
Văn hóa Việt Nam |
hạ nghị viện vương quốc liên hiệp anh và bắc ireland.txt | Hạ Nghị viện Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland, cũng gọi ngắn gọn là Hạ viện Anh, là hạ nghị viện trong Quốc hội Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland, và hiện nay là viện quan trọng hơn trong Nghị viện. Tên chính thức là Viện Thứ dân (House of Commons). Quốc hội cũng bao gồm Quốc vương và Thượng Nghị viện (Viện Quý tộc).
Hạ Nghị viện là cơ quan dân cử, gồm 650 nghị viên được gọi là các Thành viên Quốc hội (tiếng Anh: Members of Parliament, viết tắt MPs). Các nghị viên Hạ viện được bầu theo chế độ đa số tương đối (first past the post) và có nhiệm kỳ hạn chế, phục vụ đến khi Hạ Nghị viện bị giải tán (mỗi nhiệm kỳ tối đa là 5 năm). Mỗi nghị viên Hạ viên được bầu bởi một khu vực bầu cử và đại biểu cho khu vực ấy. Đa số các bộ trưởng trong chính phủ Anh đều từ Hạ Nghị viện, và từ năm 1902, tất cả các Thủ tướng cũng vậy, trừ nhiệm kỳ rất ngắn của ông Alec Douglas-Home năm 1963. Ông Douglas-Home được mời thành lập chính phủ mới lúc đang là Bá tước Home đời thứ 14, nhưng trong vài ngày, ông từ bỏ tước hiệu quý tộc và trở thành nghị viên Hạ viện.
== Tham khảo ==
== Liên kết ngoài ==
Nghị viện Vương quốc Anh – website chính thức
Đài truyền hình trực tiếp của Nghị viện |
erbi.txt | Erbi là một nguyên tố hóa học thuộc nhóm Lantan, được ký hiệu Er và có số nguyên tử là 68. Nó là kim loại màu trắng bạc khi được cô lập nhân tạo, còn ở dạng tự nhiên nó luôn được tìm thấy trong các hợp chất với các nguyên tố khác trên Trái Đất. Nó là nguyên tố đất hiếm đi cùng với các nguyên tố đất hiếm khác trong khoáng vật gadolinit ở Ytterby, Thụy Điển.
Các nguyên lý ứng dụng của Erbi liên quan đến màu hồng của ion Er3+, các ion này có tính huỳnh quang đặc biệt hữu ích trong các ứng dụng laser nhất định. Kính Erbi-doped hoặc các tinh thể có thể được sử dụng làm dụng cụ khuếch đại quang học, ở đây các ion erbi (III) được bơm quang ở khoảng 980 nm hoặc 1480 nm và sau đó phát ánh sáng kích thích ở 1530 nm. Quá trình này tạo ra sự khuếch đạo quang học laze đơn lẻ cơ học bất cho các tín hiệu truyền trong sợi quang học. Bước sóng 1550 nm đặc biệt quan trọng đối với thông tin quang vì các sợi quang học kiểu đơn tiêu chuẩn có sự mất mát cực tiểu ở bước sóng riêng biệt này. Thêm vào đó các laser sợi quang học, có nhiều ứng dụng trong quang học (i.e. dermatology, dentistry) dùng các bước sóng ion erbi 2940 nm (xem Er:Laser YAG), được hấp thụ mạnh trong nước (hệ số hấp thụ khoảng 12.000/cm).
== Tính chất ==
=== Tính chất vật lý ===
Nguyên tố kim loại erbi tinh khiết hóa trị 3 dễ uốn (hoặc dễ định hình), mềm ổn định trong không khí, và không bị ôxy hóa nhanh như những kim loại đất hiếm khác. Các muối của nó có màu hồng, và nguyên tố này có các dãi phổ hấp thụ đặc trưng đối với ánh sáng nhìn thấy, tử ngoại, và hồng ngoại gần. Các tính chất còn lại giống với hầu hết các nguyên tố đất hiếm khác. Its Setquioxyt của nó được gọi là erbia. Các tính chất của Erbi đặc trưng bởi số lượng và loại tạp chất có mặt trong nó. Erbi chưa thấy có bất kỳ vai trò sinh học nào, nhưng người ta cho rằng nó có thể kích thích trao đổi chất.
Erbi có tính sắt từ dưới 19 K, phản sắt từ giữa 19 và 80 K, và thuận từ trên 80 K.
Erbi có thể tạo thành các cụm nguyên tử Er3N hình cánh quạt, với khoảng cách giữa các nguyên tử erbi là 0,35 nm. Các cụm này có thể được cô lập bằng cách gộp chúng vào trong các phân tử fullerene, được xác nhận bằng kính hiển vi điện tử truyền qua.
=== Tính chất hóa học ===
Kim loại erbi bị xỉn chậm trong không khí và dễ cháy để tạo thành erbi(III) ôxít:
4 Er + 3 O2 → 2 Er2O3
Erbi có khả năng cho điện tử (độ dươngg điện) và phản ứng chậm với nước lạnh và khá nhanh trong nước nóng tạo thành erbi hydroxit:
2 Er (r) + 6 H2O (l) → 2 Er(OH)3 (dd) + 3 H2 (k)
Kim loại Erbi phản ứng với tất cả halogen:
2 Er (r) + 3 F2 (k) → 2 ErF3 (r) [hồng]
2 Er (r) + 3 Cl2 (k) → 2 ErCl3 (r) [tím]
2 Er (r) + 3 Br2 (k) → 2 ErBr3 (r) [tím]
2 Er (r) + 3 I2 (k) → 2 ErI3 (r) [tím]
Erbi dễ hòa tan trong axít sulfuric loãng tạo thành các dung dịch chứa các ion Er(III) hydrat hóa, tồn tại dạng phức hydrat màu vàng [Er(OH2)9]3+:
2 Er (r) + 3 H2SO4 (dd) → 2 Er3+ (dd) + 3 SO42- (dd) + 3 H2 (k)
=== Đồng vị ===
Erbi tự nhiên là hợp phần của 6 đồng vị ổn định: Er-162, Er-164, Er-166, Er-167, Er-168, và Er-170 với Er-166 là phổ biến nhất chiềm 33,503%. 29 đồng vị phóng xạ đã được nghiên cứu, trong đó đồng vị ổn định nhất là Er-169 có chu kỳ bán rã 9,4 ngày, Er-172 49,3 giờ, Er-160 28,58 giờ, Er-165 10,36 giờ, và Er-171 7,516 giờ. Tất cả các đồng vị phóng xạ còn lại có chu kỳ bán rã nhỏ hơn 3,5 giờ, và đa số trong đó có chu kỳ bán rã nhỏ hơn 4 phút. Nguyên tố này có 13 meta state, với mức ổn định nhất Er-167m (t½ 2,269 giây).
Các đồng vị của erbi có khối lượng nguyên tử từ 142,9663 u (Er-143) đến 176,9541 u (Er-177). Cơ chế phân rã chính trước đồng vị ổn định phổ biến Er-166, là bắt điện tử, và sau là phân rã beta. Các sản phẩm phân rã chính trước Er-166 là các đồng vị nguyên tố 67 (holmi), và các sản phẩm chính sau là các đồng vị nguyên tố 69 69 (thuli).
== Lịch sử ==
Erbi được Carl Gustaf Mosander phát hiện năm 1843. Mosander đã tách "yttria" từ khoáng vật gadolinit thành 3 phần gọi là yttria, erbia, và terbia. He đặt tên nguyên tố mới theo tên làng Ytterby, nơi có hàm lượng yttria và erbi tập trung nhiều. Tuy nhiên, erbia và terbia đã bị nhẫm lẫn vào thời điểm đó. Sau năm 1860, terbia được đổi tên thành erbia và sau năm 1877 nguyên tố được cho là erbia đã được đổi tên thành terbia. Er2O3 khá tinh khiết được tách ra một cách độc lập vào năm 1905 bởi Georges Urbain và Charles James. Kim loại nguyên chất đã không được tạo ra một cách hợp lý mãi cho đến năm 1934 khi Klemm và Bommer khử clorua khan bằng hơi kali. Chỉ trong thập niên 1990 giá erbi ôxít từ Trung Quốc giảm thấp đến mức erbi được dùng làm kính màu nghệ thuật.
== Phân bố ==
Nồng độ erbi trong vỏ Trái Đất chiếm khoảng 2,8 mg/kg và trong nước biển là 0,9 ng/L.. Với nồng độ này, nó được xếp thứ 45 về độ phong phú của các nguyên tố trong vỏ Trái Đất, và phổ biến hơn nguyên tố thường gặp là chì.
Giống như các nguyên tố đất hiếm khác, nguyên tố này không bao giờ có mặt trong tự nhiên ở dạng tự do (tự sinh), nó được tìm thấy phổ biến trong các quặng cát monazit. Về mặt lịch sử, nó rất khó và đắt để tách ra khỏi các nguyên tố đất hiếm khác trong các quặng của chúng, nhưng công nghệ trao đổi ion đã phát triển vào cuối thế kỷ 20 đã làm giảm chi phí sản xuất của tất cả kim loại đất hiếm và các hợp chất hóa học của chúng.
Các nguồn erbi thương mại chủ yếu từ các khoáng vật xenotim và euxenit, và gần đây, trong sét hấp phụ ion ở miền nam Trung Quốc; hệ quả là ngày nay Trung Quốc trở thành nhà cung cấp chủ yếu nguyên tố này trên toàn cầu. Trong các loại mỏ hàm lượng yttri cao này, yttri chiếm khoảng 2/3 tổng khối lượng và erbia chiếm khoảng 4-5%. Khi các quặng này hòa tan trong axit, erbia sinh ra đủ ion để tạo ra màu hồng đặc trưng cho dung dịch. Màu này tương tự như những gì Mosander và những người nghiên cứu trước đây về nhóm lantan đã thấy trong các chiết tách của họ từ khoáng vật gadolinit ở Ytterby.
== Sản xuất ==
Các khoáng vật được nghiền mịn cho phản ứng với axit clohydric hoặc axit sulfuric để chuyển các oxit đấy hiếm không hòa tan thành các clorua hoặc sulfat hòa tan. Nước lọc axit được trung hòa từng phần bằng natri hydroxit có pH 3-4. Thori kết tủa ở dạng hydroxit và được tách ra. Sau đó dung dịch được xử lý với ammoni oxalat để chuyển các đất hiếm thành các dạng oxalat không hòa tan tương ứng. Các oxalat được chuyển thành ôxit bằng cách xử lý nhiệt. Các ôxit được hòa tan trong axit nitric không bao gồm một trong các thành phần chính là ceri, do ôxit của nó không hòa tan trong HNO3. Sau đó dung dịch được xử lý bằng magie nitrat để tạo ra hỗn hợp muối kép kết tinh của các kim loại đất hiếm. Các muối này được tách ra bằng trao đổi ion. Trong quá trình này, các ion đất hiếm được hấp thụ vào loại nhữa trao đổi ion thích hợp qua trao đổi với các ion hydro, ammoniac hoặc đồng có mặc trong nhựa. Các ion đất hiếm sau đó được rửa chọn lọc ra khỏi nhựa bở các chất phức phù hợp. Kim loại Erbi thu được từ các ôxit và muối của nó bằng cách nung với canxi ở 1450 °C trong môi trường argon.
== Ứng dụng ==
Các ứng dụng hàng ngày của Erbi rất đa dạng. Nó thường được dùng làm bộ lọc ảnh, và do có khả năng đàn hồi nên nó được dùng làm phụ gia luyện kim. Các ứng dụng khác gồm:
Dùng trong công nghệ hạt nhân làm cần điều khiển hấp thụ neutron.
Khi cho thêm vào vanadi ở dạng hợp kim, erbi làm giảm độ cứng và tăng khả năng làm việc.
Erbi ôxit có màu hồng, và đôi khi được dùng làm chất tạo màu cho kính, zircon lập phương và porcelain. Kính sau d8o1 thường được dùng làm kính mát và trang sức rẻ.
Các sợi quang học thủy tinh silica chứa tạp chất được sử dụng rộng rãi trong thông tin quang học. Các sợi quang học tương tự có thể được dùng để tạo ra các tia laser quang. Sợi quang học hai tạp chất Er và Yb được dùng trong laser Er/Yb năng lượng cao, đang thay thế từ từ các laser CO2 trong các ứng dụng hàn cắt kim loại. Erbi cũng có thể được sử dụng trong các bộ khuếch đại ống dẫn sóng erbi.
Hợp kim erbi-niken Er3Ni có nhiệt dung riêng cao bất thường ở nhiệt độ heli lỏng và được dùng trong dàn lạnh cryo; một hỗn hợp 65% Er3Co và 35% Er0,9Yb0,1Ni theo thể tích sẽ cải thiện nhiện dung riêng nhiều hơn.
Nhiều ứng dụng trong y học (i.e. dermatology, dentistry) dùng tia ion erbi 2940 nm, sóng được hấp thụ cao trong nước. Khi năng lượng laser tích tụ trong mô ở phần nông là cách phẫu thuật laser, và việc tạo hơi nước hiệu quả bằng bằng laser để loại bỏ vôi răng trong nha khoa.
== Chú ý ==
Giống như các nguyên tố nhóm Latan khác, các hợp chất erbi có độc tính từ thấp đến trung bình, mặc dù độc tính của chúng chưa được nghiên cứu chi tiết.
== Xem thêm ==
Terbi
Ytterbi
Yttri
== Tham khảo ==
== Đọc thêm ==
Guide to the Elements – Revised Edition, Albert Stwertka, (Oxford University Press; 1998) ISBN 0-19-508083-1
== Liên kết ngoài ==
WebElements.com – Erbium (also used as a reference)
It's Elemental – Erbium
Chemical Elements: Erbium http://www.chemicalelements.com/elements/er.html |
hệ sinh thái.txt | Hệ sinh thái là một hệ thống mở hoàn chỉnh, bao gồm tập hợp các quần xã sinh vật và khu vực sống của sinh vật còn được gọi là sinh cảnh.
== Đặc điểm ==
Hệ sinh thái có thể hiểu là bao gồm quần xã sinh vật (động vật, thực vật, vi sinh vật) và môi trường vô sinh (ánh sáng, nhiệt độ, chất vô cơ...)
Tùy theo cấu trúc dinh dưỡng tạo nên sự đa dạng về loài, cao hay thấp, tạo nên chu trình tuần hoàn vật chất (chu trình tuần hoàn vật chất hiện nay hầu như chưa được khép kín vì dòng vật chất lấy ra không đem trả lại cho môi trường đó.
Hệ sinh thái có kích thước to nhỏ khác nhau và cùng tồn tại độc lập (nghĩa là không nhận năng lượng từ hệ sinh thái khác).
Hệ sinh thái là đơn vị cơ bản của sinh thái học và được chia thành hệ sinh thái nhân tạo và hệ sinh thái tự nhiên. Đặc điểm của hệ sinh thái là một hệ thống hở có 3 dòng (dòng vào, dòng ra và dòng nội lưu) vật chất, năng lượng, thông tin.
Hệ sinh thái cũng có khả năng tự điều chỉnh để duy trì trạng thái cân bằng, nếu một thành phần thay đổi thì các thành phần khác cũng thay đổi theo ở mức độ nào đó để duy trì cân bằng, nếu biến đổi quá nhiều thì sẽ bị phá vỡ cân bằng sinh thái.
== Các đặc trưng ==
Vòng tuần hoàn vật chất:
-Trong hệ sinh thái, chu trình của vật chất đi từ môi trường bên ngoài vào cơ thể sinh vật, rồi từ sinh vật này sang sinh vật kia theo chuỗi thức ăn, rồi lại phân hủy thành các chất vô cơ đi ra môi trường được gọi là vòng tuần hoàn sinh-địa-hóa. -Nguồn năng lượng từ bức xạ mặt trời đến được Trái Đất thì chỉ khoảng 50% đi vào hệ sinh thái, số còn lại chuyển thành nhiệt năng (phản xạ). -Sinh vật sản xuất chỉ sử dụng 1% tổng năng lượng tiếp nhận này để chuyển sang dạng hóa năng dự trữ dưới dạng chất hữu cơ nhờ quá trình quang hợp. -Cứ qua mỗi bậc dinh dưỡng thì chỉ 10% năng lượng được tích lũy và chuyển lên bậc tiếp theo, còn 90% thất thoát dưới dạng nhiệt, như vậy càng lên cao năng lượng tích lũy càng giảm. - Khi sinh vật chết đi, phần năng lượng dưới dạng chất hữu cơ ở cơ thể được vi sinh vật phân hủy và sử dụng, 90% thất thoát dạng nhiệt. => Dòng năng lượng trong hệ sinh thái không tuần hoàn.
Sự tiến hóa của hệ sinh thái:
- Phát sinh và phát triển để đạt được trạng thái ổn định lâu dài - tức trạng thái đỉnh cực (climax). Quá trình này gọi là sự diễn thế sinh thái.
Cân bằng sinh thái:
- Là sự ổn định về số lượng cá thể của quần thể ở trạng thái ổn định, hướng tới sự thích nghi cao nhất với điều kiện môi trường. - Các hệ sinh thái tự nhiên đều có cơ chế tự điều chỉnh để đạt trạng thái cân bằng. Cân bằng sinh thái dưới sự tác động bởi yếu tố bên ngoài là cân bằng mới. -Con người co tác động lớn đến quá trình cân bằng của hệ sinh thái tự nhiên, nhưng tác động chủ yếu theo mặt tiêu cực đến sự cân bằng của hệ sinh thái.
=== Các dòng năng lượng ===
Năng lượng là một phương thức sinh ra công, năng lượng không tự nhiên sinh ra mà cũng không tự nhiên mất đi mà nó chỉ chuyển hóa từ dạng này sang dạng khác (Định luật bảo toàn năng lượng).
Dựa vào nguồn năng lượng hệ sinh thái được chia thành:
Hệ sinh thái nhận năng lượng từ ánh sáng Mặt Trời: rừng, biển, đồng cỏ tự nhiên v.v.
Hệ sinh thái nhận năng lượng môi trường và năng lượng tự nhiên khác bổ sung: như hệ sinh thái cửa sông được bổ sung từ nhiều nguồn nước. Hệ sinh thái vùng trũng cũng vậy.
Hệ sinh thái nhận năng lượng ánh sáng mặt trời và nguồn năng lượng do con người bổ sung: như hệ sinh thái nông nghiệp, đồng cỏ chăn nuôi, vườn cây lâu năm: cây ăn quả, cây công nghiệp: chè, cao su, cà phê, dâu tằm...
Hệ sinh thái nhận năng lượng chủ yếu là năng lượng công nghiệp như: điện, nguyên liệu...
Năng lượng trong hệ sinh thái gồm các dạng:
Quang năng chiếu vào không gian hệ sinh thái,
Hóa năng là các chất hóa sinh học của động vật và thực vật.
Động năng là năng lượng làm cho hệ sinh thái vận động như: gió, vận động của động vật, thực vật, nhựa nguyên, nhựa luyện,
Nhiệt năng làm cho các thành phần hệ sinh thái có nhiệt độ nhất định: nhiệt độ môi trường, nhiệt độ cơ thể.
=== Năng suất ===
Các hệ sinh thái có 2 loại năng suất:
Năng suất sơ cấp: đó là năng suất của sinh vật sản xuất (thực vật, rong, tảo)
Năng suất thứ cấp: đó là năng suất của sinh vật tiêu thụ
Năng suất được tính là: Gam chất khô/m²/ngày.
=== Chu trình tuần hoàn ===
Môi trường Sinh vật sản xuất → Sinh vật tiêu thụ → Sinh vật phân hủy
Sinh vật sản xuất hay sinh vật tự dưỡng là những sinh vật mà thông qua phản ứng quang hợp có thể chuyển hoá các thành phần vô cơ thành các dạng vật chất hữu cơ. Năng lượng Mặt Trời thông qua quang hợp đã liên kết các phần tử vô cơ thành các phần tử hữu cơ.
Sinh vật tiêu thụ hay sinh vật dị dưỡng là những sinh vật không có khả năng quang hợp. Những sinh vật này tồn tại dựa vào nguồn thức ăn ban đầu do sinh vật tự dưỡng tạo ra.
Sinh vật phân hủy là sinh vật dị dưỡng sống hoại sinh bao gồm các loại nấm, vi khuẩn. Chúng tiếp nhận nguồn năng lượng hoá học khi sinh vật khác phân hủy và bẻ gãy các phân tử hữu cơ để tồn tại và phát triển. Sinh vật phân hủy thải vào môi trường những chất đơn giản hoặc những nguyên tố hoá học mà lúc đầu các vật sản xuất sử dụng để tổng hợp các chất hữu cơ.
Môi trường: các chất vô cơ (bao gồm cả các nguyên tố sinh học: N, C, H, O, Cu, Zn,.. các nguyên tố vi lượng tham gia vào enzim), chất khí (N2, O2, CO2...), nước.
=== Tiến hóa ===
Hệ sinh thái cũng có quá trình tiến hóa, từ bập thấp đến bậc cao, sinh vật tác động đến môi trường, môi trường thay đổi tác động trở lại sinh vật, giữa sinh vật và môi trường gắn bó với nhau.
Quá trình tiến hóa: Hệ sinh thái trẻ → Hệ sinh thái già → Hệ sinh thái cao đỉnh
Khi hệ sinh thái đạt tới đỉnh cao thì cân bằng sinh thái tự nhiên được thiết lập (cân bằng giữa sinh vật-môi trường, sinh vật sản xuất-sinh vật tiêu thụ, sinh vật ký sinh-sinh vật ký chủ, vật mồi-vật ăn thịt
Con người là yếu tố rất quan trọng có thể tác động làm thay đổi hệ sinh thái.
=== Sự chuyển hoá vật chất ===
Chuỗi thức ăn: Là một dãy bao gồm nhiều loài sinh vật, mỗi loài là một mắt xích thức ăn, mỗi mắt xích thức ăn tiêu thụ mắt xích trước nó và lại bị mắt xích phía sau tiêu thụ.
Trong một hệ sinh thái luôn xảy ra sự trao đổi vật chất và năng lượng trong nội bộ quần xã, giữa các quần xã với các thành phần bên ngoài của nó.
Chuỗi thức ăn tổng quát có dạng: SVSX → SVTT bậc 1 → SVTT bậc 2 → SVTT bậc 3 →... → SV phân hủy.
Lưới thức ăn: Tổng hợp những chuỗi thức ăn có quan hệ với nhau trong hệ sinh thái. Mỗi loài trong quần xã không chỉ liên hệ với một chuỗi thức ăn mà có thể liên hệ với nhiều chuỗi thức ăn.
Bậc dinh dưỡng: Bao gồm những mắt xích thức ăn trong cùng một nhóm sắp xếp theo các thành phần của cùng một chuỗi thức ăn bao gồm SVSX, SVTT bậc 1, SVTT bậc 2,...
Chu trình sinh-địa-hoá: Trong hệ sinh thái vật chất luôn vận chuyển, biến đổi trong các chu trình từ cơ thể sống vào trong môi trường và ngược lại. Chu trình này gọi là chu trình sinh-địa-hoá.
Chu trình H2O: Nước tồn tại ở 3 dạng rắn-lỏng-hơi tuỳ vào nhiệt độ của môi trường. Nó chủ yếu ở biển và đại dương (chiếm 97,6%) và tồn tại ở thể rắn khoảng 1,7%. Nước hoà tan các chất, vận chuyển các chất, mang theo nhiều chất dinh dưỡng cho đời sống động thực vật. Nước từ bề mặt các ao, hồ, biển nhờ năng lượng ánh sáng mặt trời bốc hơi vào khí quyển, lên cao hơi nước gặp lạnh ngưng tụ lại rồi rơi xuống đất. Nó chu chuyển trên phạm vi toàn cầu tạo nên cân bằng nước và tham gia điều hoà khí hậu hành tinh.
Chu trình C: Là thành phần cơ bản của protein, CxHx và nhiều phân tử cần thiết khác cho sự sống. Cacbon tồn tại trong tự nhiên dưới dạng CO2, CaCO3,... Thực vật hấp thụ CO2 trong quá trình quang hợp chuyển thành chất hữu cơ trong sinh vật sản xuất. Các vật chất này thường được dùng làm nguyên liệu hô hấp tế bào. Qua quá trình hô hấp và bài tiết C trở lại môi trường dưới dạng hợp chất vô cơ.
Chu trình N: Nitơ là một nguyên tố quan trọng trong qua trình trao đổi chất của Hệ sinh thái, là thành phần cấu trúc không thể thiếu được của axit amin, enzim, hormone, axit nucleic, lưu giữ trạng thái di truyền cho cơ thể. Nitơ tồn tại trong không khí chiếm khoảng 79% dưới dạng N2. Phân tử này bền vững, thực vật không hấp thụ được. Để phá vỡ N2 và kết hợp với nguyên tố khác như O, H cần nhiệt độ và áp suất lớn. Nhờ một số hiện tượng tự nhiên như sấm chớp, các oxit nitơ được tạo thành từ N2 và O2 cùng với nước mưa rơi xuống làm giàu N cho Hệ sinh thái.
Chu trình P: P là một trong những chất quan trọng bậc nhất trong hệ thống sinh học. Tỷ lệ phóspho so với các chất khác trong cơ thể thường lớn hơn tỷ lệ như thế bên ngoài mà cơ thể có thể kiếm được và nguồn của chúng. Do vậy phôt pho trở thành yếu tố sinh thái vừa mang tính giới hạn, vừa mang tính điều chỉnh.Thực vật đòi hỏi phôt pho vô cơ cho dinh dương. Đó là orthophophat. Trong chy trình khoáng điển hình, phósphat sẽ được chuyển cho sinh vật sử dụng và sau đó lại được giải phóng do quá trình phân hủy.
=== Một số hệ sinh thái ===
Thường gặp đó là:
Hệ sinh thái nông nghiệp
Hệ sinh thái rừng
Hệ sinh thái biển
Hệ sinh thái ao hồ
Hệ sinh thái đồng cỏ tự nhiên
Hệ sinh thái đô thị.
== Đọc thêm ==
Quần xã
== Tham khảo ==
== Liên kết ngoài ==
Hệ sinh thái nông nghiệp
Dàn ý về môn sinh thái học
Các hệ sinh thái và khu hệ sinh vật biển
Các dự án GEF về các hệ sinh thái |
câu chuyện đồ chơi 2.txt | Câu chuyện đồ chơi 2 là bộ phim hoạt hình Mỹ sản xuất năm 1999.
== Nội dung ==
Woody chuẩn bị được tham dự trại hè cao bồi cùng với cậu chủ Andy, tuy nhiên cánh tay phải của anh vô tình bị gãy. Andy quyết định để anh ở nhà và mẹ của cậu đặt Woody lên giá. Ngày hôm sau, Woody phát hiện ra Wheezy, một chú chim cánh cụt đồ chơi squeaky toy bị bỏ quên trên giá hàng tháng liền vì bị hỏng chút chít. Khi mẹ Andy mang Wheezy xuống dưới nhà để bán đồ cũ, Woody quyết định cứu chú. Mặc dù cứu được chú chim cánh cụt nhưng Woody vô tình bị một nhà sưu tập đồ chơi tham lam lấy trộm, đưa về căn hộ ở tầng 23, tầng trên cùng một chung cư cao tầng. Buzz Lightyear và các đồ chơi khác của Andy đã xác định danh tính tên trộm là một nhà kinh doanh có tên Al McWhiggin, chủ cửa hàng đồ chơi có tên Al's Toy Barn. Buzz, Hamm, Mr. Potato Head, Slinky Dog và Rex lập nên một nhóm đi cứu Woody.
Tại căn hộ của Al, Woody biết được rằng anh chính là một vật sưu tập có giá trị từ một chương trình rối trên truyền hình trong thập niên 1950 có tên gọi Woody's Roundup và đang có kế hoạch bị bán cho một bảo tàng đồ chơi ở Tokyo. Các đồ chơi khác trong chương trình này: Jessie, chú ngựa của Woody là Bullseye và Stinky Pete đều háo hức được đi, nhưng Woody muốn quay về nhà vì anh vẫn là một đồ chơi của Andy. Jessie lấy làm thất vọng vì bảo tàng chỉ hứng thú với bộ sưu tập đầy đủ, có Woody và họ sẽ lại bị cất vào kho nếu Woody không đi cùng. Khi cánh tay Woody bị gãy rời ra, anh cố gắng lấy lại nó từ túi áo của Al và tẩu thoát nhưng thất bại vì ai đó đã bật ti vi của Al lên khi ông ta đang ngủ. Sáng hôm sau, một thợ sửa đồ chơi đã đến khâu lại cánh tay và lau chùi Woody. Anh biết được rằng Jessie từng là đồ chơi yêu thích của một cô bé tên Emily, giờ đã lớn và bỏ Jessie đi. Stinky Pete cảnh cáo Woody rằng điều tương tự cũng sẽ xảy ra khi Andy lớn lên, do đó anh nên đến bảo tàng. Điều này đã thuyết phục được Woody ở lại khi tin rằng mọi đồ chơi đến một lúc nào đó đều bị chủ của chúng loại bỏ.
Trong khi đó, Buzz và những đồ chơi khác đã đến được cửa hàng Al's Toy Barn. Khi tìm kiếm Woody, Buzz bị một Buzz thế hệ mới với thắt lưng tiện dụng cầm tù trong một hộp đựng đồ chơi. Buzz thế hệ mới này nghĩ anh ta đích thực là một siêu nhân, đã gia nhập vào nhóm giải cứu và làm các đồ chơi tưởng rằng đó vẫn là Buzz cũ. Sau khi biết được kế hoạch của Al, các đồ chơi tìm đường lên được căn hộ của ông ta bằng đường thang máy. Sau một thời gian, Buzz thực tự giải thoát và đuổi theo nhóm bạn, đã vô tình giải phóng đồ chơi Zurg. Zurg liền đuổi theo nhằm tiêu diệt Buzz. Sau khi các đồ chơi tìm được Woody, Buzz nhập bọn và chứng tỏ được rằng mình mới là đồ chơi của Andy. Thế nhưng Woody từ chối về nhà. Buzz nhắc Woody về mục đích thực sự của một đồ chơi và cảnh báo anh rằng nếu vào bảo tàng thì anh sẽ không bao giờ được trẻ con chơi nữa. Sau khi xem cảnh một cậu bé chơi với mình trên truyền hình, Woody thay đổi ý kiến và đề nghị các đồ chơi Roundup đi cùng với mình trở về nhà Andy. Tuy nhiên Stinky Pete không đồng ý và chặn Woody lại. Pete cũng là người khiến ý định tẩu thoát của Woody thất bại vào đêm hôm trước. Ông ta muốn tới Nhật Bản vì là một đồ chơi ế, nằm mãi trên giá và không được ai mua. Do đó Al trở lại và mang các đồ chơi ra sân bay để đến Nhật.
Các đồ chơi của Andy đuổi theo Al nhằm giải cứu Woody còn Buzz mới chọn việc ở lại với Zurg, người đối chất với họ trên thang máy và nhận ra mình là cha của Buzz. Cùng với ba đồ chơi Aliens, họ lấy trộm một chiếc xe tải chở hàng của Pizza Planet và đi theo Al đến tận sân bay. Họ vào tận hệ thống băng chuyền tải hành lý để giải cứu Woody. Khi ngăn chặn Woody chạy trốn, Stinky Pete đã làm rách tay của Woody, nhưng đã bị các đồ chơi của Andy nhét vào một ba lô Barbie của một cô bé, để trở thành đồ chơi của cô bé đó. Các đồ chơi đã cứu được Bullseye, nhưng Jessie bị chui vào thùng hàng để lên máy bay tới Nhật Bản. Với sự hỗ trợ của Buzz và Bullseye, Woody giải cứu được Jessie và các đồ chơi lên đường trở về nhà.
Khi Andy trở về nhà sau trại hè, cậu chấp nhận Jessie, Bullseye và các Alien là đồ chơi mới, nghĩ rằng mẹ cậu đã mua chúng. Cậu cũng sửa lại tay cho Woody. Các đồ chơi biết được trên truyền hình rằng công việc kinh doanh của Al bị ảnh hưởng vì thất bại trong vụ bán các đồ chơi Roundup. Woody nói với Buzz rằng anh không lo lắng nếu Andy bỏ rơi anh, vì nếu có điều đó xảy ra thì anh và Buzz vẫn tiếp tục ở bên nhau. Kết thúc phim là Wheezy, với giọng đã được sửa, trình diễn bài hát "You've Got a Friend in Me" theo phong cách Frank Sinatra.
== Sản xuất ==
Toy Story 2 vốn chỉ là dự án phim được sản xuất để in thành video. Nhưng khi chiếu thử vài cảnh, các nhà làm phim thấy rất ưng ý nên chuyển thành dự án phim phát hành ngoài rạp. Rất nhiều ý tưởng dành cho Toy Story nhưng chưa thành nay được áp dụng trong phần tiếp theo. Ngoài ra, trong Toy Story 2 có rất nhiều cảnh được lặp lại giống như phần đầu. Ví dụ như đoạn Jessie đụng độ với Woody, anh chàng cao bồi nằm dưới đất, còn cô nàng gan dạ chống chân lên lưng anh ta, bẻ quặt cánh tay ra sau. Cảnh này hoàn toàn trùng hợp với chi tiết Buzz Lightyear đánh nhau với Woody trong trạm xăng trong Toy Story 1. Rồi Buzz Lightyear hét lên với Woody rằng: "Anh là một món đồ chơi!" giống như cách Woody quát vào mặt Buzz ở phần đầu.
Nếu để ý kỹ, khán giả sẽ thấy khá nhiều chi tiết liên quan đến phim hoạt hình A Bug’s Life xuất hiện trong Toy Story 2. Đầu tiên là bộ lịch treo trong phòng của Andy có hình ảnh các nhân vật của A Bug’s Life. Rồi đến cuốn truyện mà bà Potato Head đọc cho đám trẻ chính là A Bug’s Life. Và chú sâu bướm Heimlich trong hoạt hình này cũng có một "vai diễn" với Toy Story 2, nó bò lên chiếc ghế trước khi bị Buzz cắt đôi ra. Còn trong kho của Al Whigghin thì la liệt đồ chơi hình nhân vật A Bug’s Life. Đây là chuyện thường thấy đối với các tác phẩm "cùng lò".
Toy Story 2 cũng giành được thành công rực rỡ không kém gì phần đầu. Tác phẩm được đề cử một giải Oscar cho Ca khúc trong phim hay nhất và giành một Quả Cầu Vàng năm 1999 cho Bộ phim hay nhất. Chiến thắng này một lần nữa khẳng định tên tuổi của Pixar, một hãng nổi tiếng trong lĩnh vực sản xuất hoạt hình 3D.
== Lồng tiếng ==
Tom Hanks as Woody
Tim Allen as Buzz Lightyear/New Buzz
Joan Cusack as Jessie
Kelsey Grammer as Stinky Pete
Don Rickles as Mr. Potato Head
Jim Varney as Slinky Dog
Wallace Shawn as Rex
John Ratzenberger as Hamm
Annie Potts as Bo Peep
Wayne Knight as Al McWhiggin
John Morris as Andy
Laurie Metcalf as Andy's Mom
Estelle Harris as Mrs. Potato Head
R. Lee Ermey as Sarge
Jodi Benson as Tour Guide Barbie
Jonathan Harris as Geri the Cleaner
Joe Ranft as Wheezy
Andrew Stanton as Emperor Zurg
Jeff Pidgeon as Squeeze Toy Aliens
== Đoàn làm phim ==
Directed by John Lasseter
Co-Directed by Lee Unkrich và Ash Brannon
Produced by Helene Plotkin and Karen Robert Jackson
Executive Producer Sarah McArthur
Story by Pete Docter, Andrew Stanton, John Lasseter và Ash Brannon
Screenplay by Andrew Stanton, Rita Hsiao, Doug Chamberlain and Chris Webb
Music by Randy Newman
Story Supervisors Dan Jeup and Joe Ranft
Edited by Lee Unkrich, Edie Bleiman and David Ian Salter
Sound Designer Gary Rydstrom
== Tham khảo ==
== Liên kết ngoài ==
Website chính thức
Câu chuyện đồ chơi 2 tại Internet Movie Database
Toy Story 2 tại Big Cartoon DataBase
Câu chuyện đồ chơi 2 tại Allmovie
Câu chuyện đồ chơi 2 tại Rotten Tomatoes
Câu chuyện đồ chơi 2 tại Metacritic
Câu chuyện đồ chơi 2 tại Box Office Mojo
Bản mẫu:GoldenGlobeBestMotionPictureMusicalComedy 1981-2000 Bản mẫu:Annie Award for Best Animated Feature Bản mẫu:Toy Story
Bản mẫu:Barbie movies Bản mẫu:Randy Newman |
chủ nghĩa thực dụng.txt | Chủ nghĩa thực dụng (gốc từ tiếng Hy Lạp cổ πραγμα, sinh cách là πραγματος — «việc làm, hành động»; tiếng Anh: pragmatism), còn gọi là là chủ nghĩa hành động, là một thuật ngữ thông tục để chỉ lối hành xử dựa trên tình hình thực tế được biết đến, do đó hành động thiết thực được đặt trên lý lẽ có tính lý thuyết. Trong chủ nghĩa thực dụng, chân lý của một lý thuyết được đánh giá bởi thành công thực tế của nó, cho nên hành động thực dụng không gắn liền với nguyên tắc bất biến.
Trong triết học, đó là một trường phái được Charles Sanders Peirce và William James lập ra từ cuối thế kỷ 19 và được John Dewey, George Herbert Mead và George Santayana, tiếp tục triển khai trong thế kỷ 20. Những ý tưởng của Dewey và Mead cũng tạo cơ sở cho trường phái Xã hội học Chicago. Trường phái này đã có tầm ảnh hưởng sâu rộng vào đời sống - xã hội Mỹ và trở thành học thuyết triết học đặc trưng của Mỹ thời kỳ này. Theo chủ nghĩa thực dụng, những hậu quả thiết thực và ảnh hưởng của một hành động sống hay một sự kiện tự nhiên xác định tầm quan trọng của một tư tưởng. Theo đó kiến thức của con người đối với con người thực dụng có thể sai lầm (fallibilism). Do đó chân lý của một tuyên bố hoặc ý kiến (lòng tin) được xác định do kết quả mong đợi hoặc có thể có của một hành động. Việc thực hành của con người được hiểu như một nền tảng cũng như triết học lý thuyết (đặc biệt trong nhận thức luận và bản thể học), vì nó được giả định rằng, cả kiến thức lý thuyết xuất phát từ việc xử lý thực tế các sự việc và vẫn còn phụ thuộc vào điều này. Trong tư tưởng căn bản triết học tồn tại giữa các vị trí của từng cá nhân thực dụng những khác biệt đáng kể, những điểm tương đồng là cùng dùng những phương pháp thực dụng hơn là những lý thuyết thống nhất. Triết gia William James cho là, muốn biết một ý tưởng đúng hay sai thì phải dựa trên kết quả thực nghiệm chứ không phải chỉ dựa trên luận lý viễn vông.
Cùng với chủ nghĩa thực chứng (positivism), chủ nghĩa cấu trúc (structuralism), chủ nghĩa duy khoa học (scientism)...trong khuynh hướng khoa học hay duy lý hiện đại, chủ nghĩa thực dụng chủ trương con đường thứ 3 trong triết học, vượt qua cả chủ nghĩa duy vật lẫn chủ nghĩa duy tâm, bác bỏ cả những vấn đề cơ bản của triết học vốn được đặt ra suốt nhiều thế kỷ qua, gắn các vấn đề của triết học với các vấn đề cụ thể của khoa học, nhất là khoa học thực nghiệm.
== Chú thích ==
== Tham khảo ==
Bộ giáo dục và đào tạo: "Giáo trình Triết học Mác-Lênin",Nhà xuất bản chính trị quốc gia,Hà Nội,2004,tr.513-520.
E.E.Nexmeyanov, "Triết học hỏi & đáp" (Viện triết học dịch). |
danh sách trường đại học tại thành phố hồ chí minh.txt | Sau đây là danh sách các trường đại học và học viện tại Thành phố Hồ Chí Minh (xếp theo thứ tự ABC). Danh sách này gồm có các trường có trụ sở chính tại Thành phố Hồ Chí Minh và các trường có cơ sở 2 tại đây:
Tổng cộng có:
50 trường Đại học (37 trường công lập và 13 trường dân lập)
6 Học viện
== Chú thích ==
(*): Ngoài công lập
== Tham khảo ==
== Liên kết ngoài ==
Bộ Giáo dục và Đào tạo - Vụ Đại học và Sau Đại học |
windows calendar.txt | Windows Calendar là ứng dụng lịch bàn có trong Windows Vista và Windows Server 2008. Chương trình hỗ trợ định dạng iCalendar nguyên bản, và có khả năng xuất bản lịch hay mua lịch thông qua các ứng dụng dựa trên web dùng các giao thức HTTP và WebDAV. Calendars cũng có thể xuất ra các ổ đĩa chia sẻ trong mang.
Windows Calendar có các ô để xem thông tin, bao gồm Ngày, Tuần (5 và 7 ngày) và Tháng, ngoài ra còn hỗ trợ lịch làm việc. Windows Calendar cho phép tạo hơn 100 lịch với mỗi người dùng.
Windows Calendar có thể mở rộng bằng cách sử dụng các API trong CF4 Developer kit.
Ở Windows Server 2008, mặc định Windows Calendar không được cài đặt; nó sẽ có nếu thành phần "Desktop Experience" được cài dặt.
== Xem thêm ==
Chức năng mới của Windows Vista
Danh sách trình quản lý thông tin cá nhân
== Tham khảo == |
anselm thành canterbury.txt | Anselm của Canterbury (khoảng 1033-21 tháng 4 năm 1109), còn gọi là Anselm thành Aosta theo nơi sinh của ông, hay Anselm xứ Bec theo tu viện, là một tu sỹ, nhà triết học, giám chức giáo hội dòng Biển Đức. Ông là tổng giám mục Canterbury từ năm 1093 đến năm 1109. Được coi là người sáng lập triết học kinh viện, ông đã có ảnh hưởng lớn đến nền thần học phương Tây. Không chỉ lưu tâm đến hàng quý tộc, Anselm còn để ý và lo lắng cho người nghèo. Ông là người đầu tiên trong Giáo hội chống đối việc buôn bán nô lệ.
== Cuộc đời ==
Anselm thành Canterbury ra đời tại thành phố Aosta thuộc Vương quốc Burgundy. Khi được 20 tuổi, Anselm rời đến thủ đô Paris của Pháp. Vào năm 1059, ông đến Normandy vì danh tiếng của Lanfranc. Năm sau, Anselm trở thành tu sĩ.
Năm 1063, Anselm được lựa chọn là phó bề trên của Tu viện Caen. 15 năm sau, khi tu viện trưởng của Tu viện Bec là Herluin qua đời, ông lại được chọn là tu viện trưởng. Trong khoảng thời gian Anselm cầm quyền, Bec là trung tâm học tập nổi tiếng, dù cho ông không quan tâm nhiều đến việc thu hút sinh viên từ bên ngoài vào.
Khi 60 tuổi, ông được bổ nhiệm làm Tổng giám mục của Canterbury vào năm 1093. Lúc đầu việc bổ nhiệm ông bị vua Anh là William Rufus chống đối nhưng sau đó phải chấp nhận. Sau cùng Anselm phải đi lưu đày cho đến khi Rufus từ trần năm 1100. Henry I của Anh, là em và là người kế vị Rufus gọi về nước Anh. Tuy nhiên, Anselm lại bất đồng với Henry về việc nhà vua nhúng tay vào các vấn đề của hàng giám mục, do đó ông lại phải đi lưu đày 3 năm ở Roma.
Và ngài đã được Hội đồng quốc gia Westminster thông qua đạo luật cấm buôn bán con người. Ông qua đời ở Canterbury, Anh quốc năm 1109, và được phong thánh năm 1494.
== Sự nghiệp ==
=== Tóm tắt chung ===
Nói chung, tư tưởng của Anselm đậm chất tính thần thánh. Đặc điểm nổi bật nhất trong triết học của Anselm thành Cantubury đó là chủ nghĩa kinh viện. Anselm nổi tiếng với nghiên cứu về chứng lý hữu thể luận về sự hiện hữu của Thượng đế. Về thần học, nói chúng Anselm luôn ca ngợi Thượng đế như một sự hoàn hảo, vĩnh hằng, một chân lý bất diệt; toàn thể mọi sự vật đều phải tuân theo Ngài.
=== Các tư tưởng ===
==== Suy nghĩ về triết học ====
===== Chứng lý hữu thể luận =====
Đây là nhận thức có xuất phát từ kinh nghiệm tôn giáo của Anselm. Theo ý của Anselm, bất kỳ một hữu thể nào nếu muốn hoàn hảo thì phải có sự hiện hữu. Suy ra, Thượng đế phải có sự hiện hữu vì Ngài là một sự hoàn hảo. Trọng tâm của luận cứ nằm trong câu nói nổi tiếng sau đây: "Không thể quan niệm một cái gì đó lớn hơn nó được". Diễn giải câu này, ta có thể nói là không có một ý niệm nào có thể cao hơn Thượng đế mà con người có thể nghĩ ra được. Đây cũng là một cách kết luận rằng sự hiện hữu phải xuất phát từ yếu tính. Chúng ta có thể hiểu hơn về hữu thể luận trong suy nghĩ của Anselm qua hai đoạn trích sau.
===== Khác =====
Ngoài những nghiên cứu về hữu thể luận, Anselm là tác giả của chứng lý vũ trụ luận và cứu cánh luận về sự hiện hữu của Thượng đế.
==== Suy nghĩ về thần học ====
===== Đồng quan điểm với Augustine về Plato =====
Ở điểm này, Anselm chịu ảnh hưởng không hề nhỏ từ Augustine xứ Hippo. Ảnh hưởng này còn lớn đến nỗi Anselm được gọi là một "Augustine thứ hai". Danh xưng mà người đời dành cho ông này quả là không sai, bởi vì cũng giống như Augustine, Anselm tin rằng những ý tưởng biệt lập của Plato có hiện hữu. Chưa hết, khởi điểm tư tưởng của cả Augustine và Anselm đều cùng chung những nguyên tắc. Giải thích ra có nghĩa là các tín lý Cơ đốc giáo phải tin đã, rồi mới được giải thích và tranh luận. Tuy chịu ảnh hưởng từ Augustine và mượn tư tưởng của Augustine, Anselm đã dùng một phép biện chứng sắc bén và mang tinh thần đạo đức để nói về tư tưởng trên.
===== Tội lỗi của con người và sự công chính của Thượng đế =====
Anselm đã nói rằng tội lỗi của con người đã xúc phạm sự công chính của Thượng đế. Và chừng nào sự công chính của Ngài chưa trở lại, chừng đó Ngài sẽ không cứu rỗi con người. Thế nên, Jesus được phái xuống, chết đi và sống lại là sự chuộc lại sự công chính của Thượng đế. Đến đây, Anselm đã xây dựng một trong những lý thuyết về sự đền tội đáng chú ý nhất lịch sử.
=== Ảnh hưởng ===
Chứng cứ hữu thể luận của Anselm tác động rất lớn đến nhiều người. Kitô giáo đã xây dựng chủ nghĩa duy lý cho mình và cả đức tin về sự mặc khải. Thế nên, sinh thời, Anselm cũng vướng phải những bất mãn của một số người. Ngoài ra, những ai theo chủ nghĩa duy tâm đã khái quát lý luận này của Anselm để tạo một cơ sở cho tư tưởng của bản thân mình.
Lý thuyết về sự đền tội của Anselm đã là đối tượng để Giáo hội Chính thống giáo Đông phương chỉ trích, thậm chí nó là một trong những căn cứ để phân biệt Kitô giáo phương Đông và Kitô giáo phương Tây.
=== Các tác phẩm ===
Độc thoại
Phi lộ
Tại sao Thượng đế Làm Người?
== Chú thích == |
gia luật phổ tốc hoàn.txt | Da Luật Phổ Tốc Hoàn (tiếng Trung: 耶律普速完; bính âm: Yēlǜ Pǔsùwán), em gái của Liêu Nhân Tôn Da Luật Di Liệt, là người thống trị thứ tư của Tây Liêu. Khi Liêu Nhân Tông mất năm 1163, do con trai còn nhỏ tuổi, đã di chiếu lại cho muội là Da Luật Phổ Tốc Hoàn quyền quản lý quốc sự, cải nguyên thành Sùng Phúc (崇福), hiệu là Thừa Thiên Thái hậu.
Chồng của bà là Tiêu Đóa Lỗ Bất (蕭朵魯不), bà cùng em trai của chồng là Phác Cổ Chỉ Sa Lý tư thông, để chồng làm Đông Bình vương, sau đó giết chết ông ta. Năm Sùng Phúc thứ 14 (1177), cha của Tiêu Đóa Lỗ Bất là Phụ Oát Lý Lạt đem binh bao vây cung, bắt chết Phổ Tốc Hoàn và Phác Cổ Chỉ Sa Lý. Con trai của Liêu Nhân Tông là Da Luật Trực Lỗ Cổ kế vị, tức Tây Liêu Mạt Đế, cải nguyên thành Thiên Hi.
== Tham khảo ==
Liêu sử-quyển 30 |
s.txt | S, s là chữ thứ 19 trong phần nhiều chữ cái dựa trên Latinh và là chữ thứ 23 trong chữ cái tiếng Việt.
Trong bảng mã ASCII dùng ở máy tính, chữ S hoa có giá trị 83 và chữ s thường có giá trị 115.
Trong hệ đo lường quốc tế:
s là ký hiệu cho giây.
S là ký hiệu cho siemens.
Trong hóa sinh học, S là biểu tượng cho serine.
Trong hóa học, S là ký hiệu cho lưu huỳnh.
Trong vật lý, S là ký hiệu cho proton.
Trong tin học, <s> là một thẻ HTML để vẽ một vạch ngang xóa bỏ lên trên chữ (strike out).
Trong toán học, S thường dùng để chỉ một tổng số.
Theo mã số xe quốc tế, S được dùng cho Thụy Điển (Sweden).
S được gọi là Sierra trong bảng chữ cái âm học NATO.
Trong bảng chữ cái Hy Lạp, S tương đương với Σ và s tương đương với σ (nếu đứng cuối chữ thì phải dùng ς).
Trong bảng chữ cái Cyrill, S tương đương với С và s tương đương với с.
== Tham khảo == |
sky sports.txt | Sky Sports là tên của một nhóm các kênh truyền hình thể thao được vận hành bởi vệ tinh chính của công ty truyền hình trả tiền ở Vương quốc Liên hiệp Anh và Ai-len, British Sky Broadcasting. Sky Sports là nhãn hiệu truyền hình thể thao thống trị ở Vương quốc Anh và Ai-len. Nó đã đóng một vai trò lớn trong việc phát triển thương mại của thể thao nước Anh kể từ năm 1990, đôi khi đóng một vai trò lớn trong việc gây ra sự thay đổi trong cách tổ chức phát sóng chương trình thể thao, đặc biệt là khi nó giúp đỡ Premier League tách ra từ Giải bóng đá hạng nhất vào năm 1992.
Sky Sports 1, 2, 3 và 4 có thể xem như là một gói kênh truyền hình đứng đầu của gói Sky cơ bản. Các kênh này cũng có thể sử dụng ở tất cả các vệ tinh gần, cáp và hệ thống phát thanh truyền hình IPTV tại Anh quốc và Ai-len. Không giống như các kênh khác, Sky Sports News được cung cấp như một phần của gói cơ bản và cũng có chương trình phát sóng trên Freeview. Sky Sports có lẽ được biết đến nhiều nhất với mức độ phủ sóng của Premier League rất rộng.
== Hình ảnh ==
== Tham khảo ==
== Liên kết ngoài ==
Website chính thức
Football rights hat-trick for Sky BBC News, Ngày 28 tháng 4 năm 2006
Sky Sports Boost for Speedway Sport Business, Ngày 9 tháng 3 năm 2006
Sky Sports snub sees three Brits get stripped of titles SecondsOut.com
Sky Sports drafts in Flintoff for cricket coverage promotion Brand Republic, Ngày 15 tháng 2 năm 2006
EU tackles Premier League TV deals BBC News, Ngày 17 tháng 8 năm 2005
Sky unveils high-definition shows BBC News, Ngày 22 Tháng 11 Năm 2005
ITV and Sky rapped over World Cup BBC News, Ngày 12 tháng 8 năm 2002 |
ngũ đại hồ.txt | Ngũ Đại Hồ (tiếng Anh: Great Lakes, tức là "các hồ lớn") là năm hồ lớn nằm trên hay gần biên giới Canada–Hoa Kỳ. Đây là nhóm hồ nước ngọt lớn nhất trên thế giới, và hệ thống Ngũ Đại Hồ – sông Saint Lawrence là hệ thống nước ngọt lớn nhất trên thế giới. Đôi khi năm hồ này được gọi biển nội địa.
== Địa lý ==
== Các hồ lớn ==
Cách thuật nhớ phổ biến để nhớ lại tên của các hồ là chữ "HOMES" (tiếng Anh: "các nhà"), tức là Huron, Ontario, Michigan, Erie và Superior, nhưng cách này không có thứ tự đặc biệt nào. Những cách khác, thí dụ như Sister Mary Hates Ecumenical Overtures ("Xơ Maria ghét những ca khúc khởi đầu của nhà thờ") hay She Made Harry Eat Onions ("Bà ấy bắt Harry phải ăn hành"), xếp các hồ từ phía tây đến phía đông.
Theo quan điểm thủy học, hai hồ Michigan và Huron cùng trộn lẫn với nhau nên đôi khi được coi như một hồ: hồ Michigan-Huron. Khi tính như vậy thì hồ Michigan-Huron lớn hơn hồ Superior theo diện tích mặt nước, nhưng vẫn nhỏ hơn theo tổng thể tích nước.
Hồ thứ sáu cũng thuộc hệ thống Ngũ Đại Hồ là hồ Saint Clair. Hồ này nhỏ hơn năm hồ kia nhiều, nằm giữa hồ Huron và hồ Erie, và không được coi như một trong những "đại hồ". Hệ thống này cũng bao gồm những sông nối các hồ với nhau: sông Saint Mary giữa hồ Superior và hồ Huron, sông Saint Clair giữa hồ Huron và hồ St. Clair, sông Detroit giữa hồ Saint Clair và hồ Erie, và sông Niagara và thác Niagara giữa hồ Erie và hồ Ontario. (Hồ Michigan được nối với hồ Huron theo eo Mackinac.) Một số đảo lớn và một bán đảo chia ra hồ Huron thành hồ chính và vịnh Georgian.
Các hồ nằm giáp tỉnh bang Ontario (trừ hồ Michigan), và các tiểu bang Minnesota, Wisconsin, Michigan (trừ hồ Ontario), Illinois, Indiana, Ohio, Pennsylvania và New York. Bốn trong năm hồ này tạo nên biên giới Mỹ-Canada; riêng hồ Michigan nằm trọn trong nước Mỹ. Sông Saint Lawrence, một phần là biên giới quốc tế, là thủy lưu táo nước chính của các hồ này – vì các hồ nối liền với nhau – và chảy qua Québec và bán đảo Gaspé trước khi đổ vào Bắc Đại Tây Dương.
Nhóm hồ này có vào khoảng 35.000 đảo trên Ngũ Đại Hồ rải rác, bao gồm đảo Manitoulin trên hồ Huron, đảo lớn nhất trên vùng nước nội địa; và đảo Royale trên hồ Superior, đảo lớn nhất trên hồ lớn nhất. Hai đảo này lớn đủ để có hồ riêng trên đảo.
Ngày nay, 20% dung tích nước ngọt trên thế giới nằm trong nhóm hồ này: gần 23.000 km³ (5.473 dặm khối). Nhóm hồ này chứa đựng đủ nước để phủ cả 48 tiểu bang lục địa nước Mỹ dưới 2,9 mét nước (hay 9,5 foot nước). Tổng diện tích mặt nước của các hồ này là 244.000 km² (94.250 dặm vuông) – lớn hơn cả tiểu bang New York, New Jersey, Connecticut, Rhode Island, Massachusetts, Vermont và New Hampshire cộng lại. Nếu kéo ra từ đầu đến cuối, đường bờ hồ của các hồ có thể bao quanh gần nửa Trái Đất theo đường xích đạo.
Đường biển Saint Lawrence và Đường nước Ngũ Đại Hồ mở vùng Ngũ Đại Hồ ra cho những tàu đi biển. Tuy nhiên, vì những tàu đi biển ngày càng dùng các contenơ lớn hơn – tàu không đi lọt các cửa kênh ở những đường kênh này – khiến việc chuyên chở trên các đại hồ này phần bị hạn chế. Tuy chúng rất rộng, nhưng phần lớn của Ngũ Đại Hồ đóng đá vào mùa đông, nên hàng hải phần nhiều ngừng lại vào mùa đó. Tuy nhiên, có một số tàu phá băng chạy trên nhóm hồ này để mở đường giao thông.
Nhóm hồ này ảnh hưởng đến thời tiết ở vùng chung quanh chúng, ví dụ như hiệu ứng hồ vào mùa tuyết. Vào mùa đông, hơi ẩm của gió từ phía tây có thể gây ra nhiều mưa tuyết, nhất là gần bờ biển về phía đông, như là ở Michigan, Ontario và New York. Trời không cần phải có mây khi có mưa tuyết do hiện tượng này. Lần nổi tiếng nhất là trận Bão tuyết năm 1977, trong đó gió mạnh thổi tuyết từ hồ Erie phủ ngập Buffalo, New York dưới lớp tuyết dày. Các hồ cũng giảm bớt nhiệt độ của vùng ven hồ ít nhiều vì hồ có khả năng hấp nhiệt vào mùa hè, rồi tỏa nhiệt từ từ vào mùa thu. Vì nhiệt độ được dung hòa nên có hiện tượng "vành đai trái cây" gần hồ và việc trồng trọt công nghiệp cung ứng được hoa quả cho thị trường.
== Xem thêm ==
Great Lakes Megalopolis
== Chú thích == |
saro lerwick.txt | Saunders-Roe A.36 Lerwick là một loại tàu bay của Anh, do hãng Saunders Roe Limited (Saro) thiết kế chế tạo.
== Quốc gia sử dụng ==
Canada
Không quân Hoàng gia Canada
Anh Quốc
Không quân Hoàng gia
== Tính năng kỹ chiến thuật (Saro Lerwick) ==
Dữ liệu lấy từ Saunders Roe and Saro Aircraft since 1917
Đặc điểm tổng quát
Kíp lái: 6
Chiều dài: 63 ft 71⁄2 in (19,40 m)
Sải cánh: 80 ft 10 in (24,64 m)
Chiều cao: 20 ft 0 in (6,10 m)
Diện tích cánh: 845 ft² (78,5 m²)
Trọng lượng có tải: 28.400 lb (12.880 kg)
Trọng lượng cất cánh tối đa: 33.200 lb (15.060 kg)
Động cơ: 2 × Bristol Hercules II, 1.375 hp (1.026 kW) mỗi chiếc
Hiệu suất bay
Vận tốc cực đại: 214 mph (186 knot, 345 km/h)
Vận tốc hành trình: 166 mph (144 knot, 267 km/h)
Tầm bay: 1.540 dặm (1.339 nmi, 2.479 km)
Trần bay: 14.000 ft (4.270 m)
Vận tốc lên cao: 880 ft/phút (4,50 m/s)
Trang bị vũ khí
Súng: 1 súng máy Vickers K.303 in (7,7 mm)
2 súng máy Browning 0.303 in (7.7 mm)
Bom: 2.000 lb (900 kg) bom hoặc bom chống tàu ngầm
== Xem thêm ==
Máy bay có tính năng tương đương
PBY Catalina
Martin PBM Mariner
Dornier Do 24
Danh sách khác
Danh sách máy bay quân sự giữa hai cuộc chiến tranh thế giới
Danh sách máy bay trong Chiến tranh Thế giới II
Danh sách máy bay của RAF
Danh sách thủy phi cơ và tàu bay
== Tham khảo ==
=== Ghi chú ===
=== Tài liệu ===
== Liên kết ngoài ==
British Aircraft Directory
The Lerwick on History of War
British Aircraft of WW2
Lerwick on the site of the RCAF |
nvidia.txt | nVIDIA (NASDAQ: NVDA, phát âm / ɛnvɪ.di.ə /), một tập đoàn đa quốc gia, chuyên về phát triển bộ xử lý đồ họa (GPU) và công nghệ chipset cho các máy trạm, máy tính cá nhân, và các thiết bị di động. Công ty có trụ sở tại Santa Clara, California, trở thành một nhà cung cấp chính của các mạch tích hợp (ICS) như là đơn vị xử lý đồ họa (GPU) và chipset đồ họa được sử dụng trong thẻ, và bàn giao tiếp trò chơi video và bo mạch chủ của máy tính cá nhân.
== Các dòng sản phẩm ==
Danh mục sản phẩm của nVIDIA bao gồm vi xử lý đồ họa, vi xử lý liên lạc không dây, chipset máy tính để bàn, và phần mềm nghe nhìn kỹ thuật số. nVIDIA được cộng đồng người dùng máy tính biết đến chủ yếu nhờ dòng sản phẩm GeForce, bao gồm một dòng chip đồ họa riêng biệt trong các card đồ họa ngoài và công nghệ đồ họa tích hợp được sử dụng trong bo mạch chủ nForce, dòng máy chơi game Xbox đầu tiên của Microsoft, và PlayStation 3 của Sony.
Sau đây là một số dòng sản phẩm tiêu biểu nhất của hãng:
GeForce - Bộ xử lý đồ họa dành cho game thủ, nVIDIA được biết đến nhiều nhờ dòng sản phẩm này
Quadro - Bộ xử lý đồ họa dành cho máy trạm CAD và sáng tạo nội dung kỹ thuật số
Tegra - Chip hệ thống cho các thiết bị di động
Tesla - GPU dành riêng cho các ứng dụng đồ họa cao cấp trong các lĩnh vực chuyên nghiệp và khoa học
nForce - Chipset bo mạch chủ cho bộ xử lý AMD Athlon và Duron
== Lịch sử công ty ==
Có ba người đồng sáng lập công ty này:
Hoàng Nhân Huân - Jen-Hsun HuangCEO Tính đến năm 2016, một người Mỹ gốc Đài Loan, trước đó là Giám đốc của CoreWare ở LSI Logic và một bộ vi xử lý thiết kế tại AMD.
Chris Malachowsky, một kỹ sư điện tử làm việc tại Sun Microsystems.
Curtis Priem, cựu kỹ sư cao cấp và nhà thiết kế chip đồ họa của Sun Microsystems.
== Tham khảo ==
== Liên kết ngoài ==
Trang chủ
Trang tải drivers
Trang cộng đồng Game thủ GeForce.com
Nvidia Việt Nam |
escazú (tổng).txt | Escazú là một tổng trong tỉnh San José, Costa Rica. Tổng này có diện tích 34,49 km², dân số năm 2008 là 60201 người..
== Tham khảo == |
miền bắc (việt nam).txt | Miền Bắc Việt Nam là một khái niệm để chỉ vùng địa lý ở phía bắc nước Việt Nam. Tuy nhiên, tùy theo từng thời điểm lịch sử và thói quen sử dụng mà khái niệm này đôi lúc còn được dùng để chỉ các vùng lãnh thổ chính trị khác nhau một cách không chính thức.
Miền Bắc Việt Nam có thể là
Phân định địa lý đồng nghĩa với Bắc Bộ Việt Nam
Phân định hành chính đồng nghĩa với Bắc Kỳ hay Bắc Thành của nhà Nguyễn và thời Pháp thuộc và là một trong 3 vùng lãnh thổ chính (gồm Bắc Bộ, Trung Bộ và Nam Bộ) của Việt Nam.
Phân định chính trị phía bắc vĩ tuyến 17 năm 1954-1976 do Việt Nam Dân chủ Cộng hòa quản lý.
Ngày nay, miền Bắc được hiểu là phần lãnh thổ các tỉnh từ Hà Giang tới Ninh Bình.
== Các tiểu vùng ==
Theo cách phân chia hiện nay thì miền Bắc Việt Nam, còn được gọi là Bắc Bộ, bao gồm các tỉnh ở phía bắc tỉnh Thanh Hóa.Theo các cách phân chia về địa lý và kinh tế thì miền Bắc gồm các tiểu vùng như sau:
=== Theo địa lý tự nhiên ===
Vùng lãnh thổ này miền Bắc được chia thành 3 vùng lãnh thổ nhỏ:
Tây Bắc bộ (bao gồm 6 tỉnh: Lào Cai, Yên Bái, Điện Biên, Hoà Bình, Lai Châu, Sơn La). Vùng này chủ yếu nằm ở hữu ngạn sông Hồng. Riêng Lao Cai, Yên Bái đôi khi vẫn được xếp vào tiểu vùng đông bắc.
Đông Bắc bộ (bao gồm 9 tỉnh: Hà Giang, Cao Bằng, Bắc Kạn, Lạng Sơn, Tuyên Quang, Thái Nguyên, Phú Thọ, Bắc Giang, Quảng Ninh.)
Đồng bằng sông Hồng (bao gồm 10 tỉnh: Bắc Ninh, Hà Nam, Hà Nội, Hải Dương, Hải Phòng, Hưng Yên, Nam Định, Ninh Bình, Thái Bình, Vĩnh Phúc.)
=== Theo quy hoạch vùng kinh tế ===
Dựa theo các quy hoạch phát triển kinh tế thì miền Bắc gồm có 3 vùng kinh tế:
Vùng Hà Nội (bao gồm 10 tỉnh: Thái Nguyên, Phú Thọ, Bắc Giang, Hoà Bình, Bắc Ninh, Hà Nam, Hà Nội, Hải Dương, Hưng Yên, Vĩnh Phúc). Thủ đô Hà Nội là đô thị trung tâm của vùng.
Vùng duyên hải Bắc Bộ (bao gồm 4 tỉnh: Quảng Ninh, Hải Phòng, Thái Bình, Nam Định.)
Miền núi phía bắc (bao gồm 10 tỉnh: Hà Giang, Cao Bằng, Lào Cai, Bắc Kạn, Lạng Sơn, Tuyên Quang, Yên Bái, Điện Biên, Lai Châu, Sơn La). Các trung tâm của khu vực miền núi phía bắc còn lại là các thành phố Lạng Sơn, Điện Biên Phủ, Sơn La, Lào Cai.
Miền núi phía bắc ở cách phân chia thứ hai gồm 2 tiểu vùng tây bắc Bộ (không tính Hòa Bình thuộc vùng Hà Nội) và đông bắc Bộ (không tính Quảng Ninh thuộc vùng duyên hải Bắc Bộ và Thái Nguyên, Phú Thọ, Bắc Giang thuộc vùng Hà Nội) theo cách phân chia thứ nhất. Vùng duyên hải Bắc Bộ có Hải Phòng là đô thị trung tâm và là một trong 5 thành phố trực thuộc trung ương và 10 đô thị loại 1.
== Các khái niệm khác ==
phía bắc, là cách gọi để chỉ khái niệm phân chia đất nước thành 2 phần Nam và Bắc. Các tỉnh phía bắc là khái niệm để chỉ toàn bộ các tỉnh miền Bắc và một phần các tỉnh thuộc phía bắc miền Trung.
Theo quan niệm lâu đời của người Việt Nam thì vùng lãnh thổ miền Bắc Việt Nam được tính từ khu vực tỉnh Hà Tĩnh lên phía bắc. Quan niệm này xuất phát từ thời Trịnh Nguyễn phân tranh vào giữa thế kỷ 17. Ranh giới này trước đây thậm chí còn được xác định rõ ràng bởi sông Gianh. Tuy nhiên ngày nay chỉ còn khái niệm là vùng lãnh thổ nhỏ phía bắc tỉnh Quảng Bình.
Từ năm 1954 trở đi, khái niệm miền Bắc Việt Nam được dùng để chỉ vùng lãnh thổ do chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa kiểm soát, kể từ phía bắc vĩ tuyến 17, với ranh giới tự nhiên là sông Bến Hải, nay tương ứng với vùng lãnh thổ phía bắc tỉnh Quảng Trị. Khái niệm này bắt nguồn từ Hiệp định Genève năm 1954 quy định vùng lãnh thổ tạm thời của 2 bên tham chiến tại Việt Nam. Ranh giới này tồn tại đến tận năm 1975 thì bị hủy bỏ, nhưng khái niệm này vẫn còn được sử dụng nhiều trong dân gian và các tài liệu văn bản.
== Các tên gọi khác ==
=== Đàng Ngoài ===
Tên gọi này bắt nguồn từ thời Trịnh - Nguyễn phân tranh vào thế kỷ 17, với ranh giới xác định là ở phía bắc sông Gianh (nay thuộc Quảng Bình). Do đặc điểm cả hai vùng lãnh thổ tuy trên thực tế thuộc 2 chính quyền khác nhau, nhưng về danh nghĩa vẫn cùng một quốc gia Đại Việt. Tên gọi Đàng Ngoài thường được dùng để chỉ vùng do chúa Trịnh kiểm soát, vốn nằm gần Trung Quốc hơn nên mới có tên gọi này. Giai đoạn này, các thương nhân ngoại quốc thường dùng tên gọi Tonkin, Tonquin, Tongkin hoặc Tongking để chỉ vùng lãnh thổ này.
=== Bắc Hà ===
Tên gọi Bắc Hà xuất hiện cùng thời với tên gọi Đàng Ngoài. Nó có nghĩa đơn giản là phía bắc con sông, ở đây hàm ý chỉ con sông Gianh. Tuy nhiên, tên gọi này sử dụng phổ biến hơn tên gọi Đàng Ngoài vào cuối thế kỷ 18 và được sử dụng cho đến đầu thế kỷ 19.
=== Bắc Thành ===
Tên gọi Bắc Thành dùng để chỉ một đơn vị hành chính cấp cao hơn tỉnh, được vua Gia Long đặt ra từ năm 1802. Vùng lãnh thổ của Bắc Thành gồm 11 trấn (5 nội trấn và 6 ngoại trấn), tương đương cấp tỉnh, tính từ khu vực Ninh Bình trở lên phía bắc. Tổng trấn đầu tiên của Bắc Thành là Nguyễn Văn Thành. Danh xưng Bắc Thành được sử dụng cho đến tận năm 1831, khi vua Minh Mạng bãi bỏ cơ quan hành chính này.
=== Bắc Kỳ ===
Bắc Kỳ là tên gọi thừa hưởng từ tên gọi Bắc Thành từ năm 1831, tuy nhiên chỉ còn ý để chỉ vùng lãnh thổ thuộc Bắc Thành quản lý trước kia, vì các trấn đã được vua Minh Mạng đổi thành tỉnh và đặt dưới sự cai quản trực tiếp của triều đình. Sau khi người Pháp chiếm được quyền kiểm soát toàn bộ lãnh thổ Việt Nam, họ đã sử dụng tên gọi Tonkin để chỉ vùng lãnh thổ này.
=== Bắc Bộ ===
Sau cuộc đảo chính Pháp tại Đông Dương ngày 9 tháng 3 năm 1945, quân đội Nhật đã tuyên bố trao lại quyền độc lập cho Đế quốc Việt Nam. Song song với quá trình thanh lập chính phủ, vua Bảo Đại cũng cho phân vùng lãnh thổ Việt Nam thành 3 khu vực, và đặt các chức quan Khâm sai thay mặt nhà vua để cai quản từng vùng. Bắc Bộ là khu vực tương ứng với Bắc Kỳ cũ.
Tên gọi Bắc Bộ được sử dụng lâu dài cho đến ngày nay.
=== Bắc Phần ===
Tên gọi Bắc Phần ra đời vào khoảng năm 1949, sau khi chính phủ Pháp và cựu hoàng Bảo Đại ký thỏa ước thành lập Quốc gia Việt Nam. Quốc gia Việt Nam được phân thành 3 đơn vị hành chính cấp Phần, là một cấp cao hơn tỉnh, đứng đầu là một Thủ hiến do Quốc trưởng chỉ định. Vùng lãnh thổ Bắc Phần tương ứng với vùng lãnh thổ của Bắc Bộ vào năm 1945.
Sắc lệnh số 143-A/TTP của Phủ Tổng thống Việt Nam Cộng hòa ngày 23/10/1956 đã quy định gọi Bắc Việt, Trung Việt, Nam Việt tương ứng là Bắc Phần, Trung Phần, Nam Phần.
== Xem thêm ==
Bắc Bộ
Bắc Kỳ
Miền Trung Việt Nam
Miền Nam Việt Nam
== Tham khảo == |
chu kỳ bán rã.txt | Chu kỳ bán rã hay chu kỳ nửa phân rã là thời gian cần để một đại lượng biến đổi với thời gian theo hàm suy giảm số mũ đạt đến lượng bằng một nửa lượng ban đầu. Thời gian này thường được ký hiệu là T1/2.
Khái niệm này xuất hiện lần đầu trong phân rã hạt nhân. Mỗi chất phóng xạ, cứ sau mỗi chu kỳ bán rã, một nửa số nguyên tử của chất ấy biến đổi thành chất khác. Về sau, khái niệm này đã được áp dụng cả trong nhiều môn học khác.
Bảng bên cho thấy phần trăm của lượng còn lại sau các thời gian bằng số nguyên lần chu kỳ bán rã.
== Công thức ==
Nếu N thể hiện đại lượng biến đổi theo hàm suy giảm số mũ của thời gian t:
N
(
t
)
=
N
0
e
−
λ
t
{\displaystyle N(t)=N_{0}e^{-\lambda t}\,}
với
N
0
{\displaystyle N_{0}}
là giá trị ban đầu của N khi t=0
λ là một hằng số dương (hằng số phân rã).
Chu kỳ bán rã là
t
1
/
2
{\displaystyle t_{1/2}\,}
thỏa mãn:
N
(
t
1
/
2
)
=
N
0
⋅
1
2
{\displaystyle N(t_{1/2})=N_{0}\cdot {\frac {1}{2}}}
suy ra:
N
0
⋅
1
2
=
N
0
e
−
λ
t
1
/
2
{\displaystyle N_{0}\cdot {\frac {1}{2}}=N_{0}e^{-\lambda t_{1/2}}\,}
e
−
λ
t
1
/
2
=
1
2
{\displaystyle e^{-\lambda t_{1/2}}={\frac {1}{2}}\,}
−
λ
t
1
/
2
=
ln
1
2
=
−
ln
2
{\displaystyle -\lambda t_{1/2}=\ln {\frac {1}{2}}=-\ln {2}\,}
t
1
/
2
=
ln
2
λ
{\displaystyle t_{1/2}={\frac {\ln 2}{\lambda }}\,}
Chu kỳ bán rã bằng khoảng 69.3% thời gian sống trung bình.
== Ví dụ ==
=== Vật lý ===
Ngoài phân rã hạt nhân, chu kỳ bán rã còn xuất hiện trong các quá trình điện học như mạch RC hay mạch RL circuit; ở đó, hằng số phân rã λ là nghịch đảo của hằng số thời gian τ của mạch. Với các mạch RC và RL đơn giản, λ bằng RC (tích điện trở và điện dung hay L/R (thương của độ tự cảm trên điện trở).
=== Hóa học ===
Trong phản ứng hóa học, lấy theo chuyển hóa bậc một, λ là hằng số tốc độ phản ứng.
=== Dược học ===
Trong dược học chu kỳ bán rã của thuốc hay chất được cơ thể hấp thụ là thời gian để lượng thuốc giảm đi một nửa so với ban đầu, nhờ vào các quá trình hấp thụ và chuyển hóa khác nhau. Đây là một hằng số quan trọng của các loại thuốc trong dược học và thường được gọi là thời gian bán thải, ký hiệu bởi t1/2.
N=No/2t/T
== Đa phân rã ==
Đại lượng phân rã có thể là tích của nhiều quá trình phân rã với các hằng số phân rã khác nhau. Ví dụ, xét quá trình phân rã với hai hằng số phân rã λ1 λ2, tương tự trên, ta có chu kỳ bán rã
T
1
/
2
{\displaystyle T_{1/2}}
tương ứng là:
T
1
/
2
=
ln
2
λ
1
+
λ
2
{\displaystyle T_{1/2}={\frac {\ln 2}{\lambda _{1}+\lambda _{2}}}\,}
hay biểu diễn theo các chu kỳ bán rã riêng lẻ
T
1
/
2
=
t
1
t
2
t
1
+
t
2
{\displaystyle T_{1/2}={\frac {t_{1}t_{2}}{t_{1}+t_{2}}}\,}
== Xem thêm ==
Phân rã hạt nhân
Thời gian bán thải
== Tham khảo == |
robin hood.txt | Robin Hood là một nhân vật anh hùng trong văn học dân gian của Anh. Một cung thủ và kiếm thủ cừ khôi, ông được biết đến với việc "cướp của người giàu chia cho người nghèo". Trong các bộ phim, Robin Hood thường được mô tả mặc bộ trang phục màu xanh lá cây, được gọi là màu xanh Lincoln. Một vài tài liệu thì cho rằng Robin Hood thường mặc áo màu đỏ tươi, đó là lý do tại sao ông có tên Robin (chim cổ đỏ).
Robin Hood trở thành nhân vật truyện dân gian nổi tiếng từ thời trung cổ, cho tới ngày nay vẫn là một trong những nhân vật truyền thuyết nổi tiếng thông qua truyền hình, các bộ phim và các tác phẩm văn học hiện đại. Những tài liệu cổ xưa cho rằng Robin Hood chỉ là một người bình dân, nhưng ông thường được mô tả như là một quý tộc bị tước đoạt đất đai và bị biến trở thành một người sống ngoài vòng pháp luật bởi thủ đoạn của một hạt trưởng độc ác.
== Chú thích == |
chiếu dời đô.txt | Chiếu dời đô hay Thiên đô chiếu (遷都詔) là một đoạn văn được Ngô Sĩ Liên ghi lại sớm nhất ở thế kỷ XV trong sách Đại Việt sử ký toàn thư, bài văn này được cho rằng do vua Lý Thái Tổ ban hành vào mùa xuân năm 1010 để chuyển kinh đô của nước Đại Cồ Việt từ Hoa Lư (Ninh Bình) ra thành Đại La (Hà Nội). Theo ý kiến GS Trần Quốc Vượng, Chiếu dời đô đã khẳng định được vai trò của kinh đô Thăng Long, là tác phẩm khai sáng văn học triều Lý. Tuy nhiên, chiếu dời đô chưa nêu bật được tinh thần dân tộc và khát vọng độc lập, hơn nữa ngôn ngữ sử dụng trong văn bản này mang đượm màu sắc dị đoan, phong thủy.
== Văn bản ==
Bản chữ Hán:
昔商家至盤庚五遷。周室迨成王三徙。豈三代之數君徇于己私。妄自遷徙。以其圖大宅中。爲億万世子孫之計。上謹天命。下因民志。苟有便輒改。故國祚延長。風俗富阜。而丁黎二家。乃徇己私。忽天命。罔蹈商周之迹。常安厥邑于茲。致世代弗長。算數短促。百姓耗損。万物失宜。朕甚痛之。不得不徙。
况高王故都大羅城。宅天地區域之中。得龍蟠虎踞之勢。正南北東西之位。便江山向背之宜。其地廣而坦平。厥土高而爽塏。民居蔑昏墊之困。万物極繁阜之丰。遍覽越邦。斯爲勝地。誠四方輻輳之要会。爲万世帝王之上都。
朕欲因此地利以定厥居。卿等如何。
Bản phiên âm Hán-Việt:
Tích Thương gia chí Bàn Canh ngũ thiên, Chu thất đãi Thành Vương tam tỉ. Khởi Tam Đại chi sổ quân tuẫn vu kỷ tư, vọng tự thiên tỉ. Dĩ kỳ đồ đại trạch trung, vi ức vạn thế tử tôn chi kế; thượng cẩn thiên mệnh, hạ nhân dân chí, cẩu hữu tiện triếp cải. Cố quốc tộ diên trường, phong tục phú phụ. Nhi Đinh Lê nhị gia, nãi tuẫn kỷ tư, hốt thiên mệnh, võng đạo Thương Chu chi tích, thường an quyết ấp vu tư, trí thế đại phất trường, toán số đoản xúc, bách tính hao tổn, vạn vật thất nghi. Trẫm thậm thống chi, bất đắc bất tỉ.
Huống Cao Vương cố đô Đại La thành, trạch thiên địa khu vực chi trung; đắc long bàn hổ cứ chi thế. Chính Nam Bắc Đông Tây chi vị; tiện giang sơn hướng bối chi nghi. Kỳ địa quảng nhi thản bình, quyết thổ cao nhi sảng khải. Dân cư miệt hôn điếm chi khốn; vạn vật cực phồn phụ chi phong. Biến lãm Việt bang, tư vi thắng địa. Thành tứ phương bức thấu chi yếu hội; vi vạn thế đế vương chi thượng đô
Trẫm dục nhân thử địa lợi dĩ định quyết cư, khanh đẳng như hà?
Bản dịch tiếng Việt:
Xưa nhà Thương đến đời Bàn Canh năm lần dời đô, nhà Chu đến đời Thành Vương ba lần dời đô, há phải các vua thời Tam Đại; ấy theo ý riêng tự tiện dời đô. Làm như thế cốt để mưu nghiệp lớn, chọn ở chỗ giữa, làm kế cho con cháu muôn vạn đời, trên kính mệnh trời, dưới theo ý dân, nếu có chỗ tiện thì dời đổi, cho nên vận nước lâu dài, phong tục giàu thịnh. Thế mà hai nhà Đinh, Lê lại theo ý riêng, coi thường mệnh trời, không noi theo việc cũ Thương Chu, cứ chịu yên đóng đô nơi đây, đến nỗi thế đại không dài, vận số ngắn ngủi, trăm họ tổn hao, muôn vật không hợp. Trẫm rất đau đớn, không thể không dời.
Huống chi thành Đại La, kinh đô cũ của Cao Vương, ở vào nơi trung tâm trời đất, được thế rồng cuộn hổ ngồi, chính giữa nam bắc đông tây, tiện nghi núi sông sau trước. Vùng này mặt đất rộng mà bằng phẳng, thế đất cao mà sáng sủa, dân cư không khổ thấp trũng tối tăm, muôn vật hết sức tươi tốt phồn thịnh. Xem khắp nước Việt đó là nơi thắng địa, thực là chỗ tụ hội quan yếu của bốn phương, đúng là nơi thượng đô kinh sư mãi muôn đời.
Trẫm muốn nhân địa lợi ấy mà định nơi ở, các khanh nghĩ thế nào?
(Bản dịch của Viện Khoa học Xã hội Việt Nam, in trong Đại Việt sử ký toàn thư, Nhà Xuất bản Khoa học Xã hội, Hà Nội, 1993)
== Ý nghĩa ==
Có ý kiến cho rằng chiếu dời đô đã thể hiện những ý tứ sâu sắc, tầm nhìn thời đại của một vị vua Đại Cồ Việt 1000 năm về trước khi ông chọn Đại La làm kinh đô mới để mưu nghiệp lớn, tính kế phồn vinh, trường kỳ cho muôn đời sau. Bản chiếu nêu bật được vai trò kinh đô Thăng Long xứng đáng là trung tâm chính trị, kinh tế, văn hoá của quốc gia. Thời gian sau đó, Thăng Long vẫn là kinh đô của các triều Trần, nhà Hậu Lê, nhà Mạc, Lê Trung Hưng và đang là Thủ đô của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Thăng Long thực sự là "nơi kinh đô bậc nhất của đế vương muôn đời".
Nhận xét về kinh đô Thăng Long, sử gia Ngô Thì Sĩ trong Đại Việt sử ký tiền biên viết:
"Núi là vạt áo che, sông là dải đai thắt, sau lưng là sông nước, trước mặt là biển, địa thế hùng mạnh mà hiếm, rộng mà dài, có thể là nơi vua ở hùng tráng, ngôi báu vững bền, hình thể Đại Việt không nơi nào hơn được nơi này".
Tuy nhiên bên cạnh đó cũng có ý kiến cho rằng chiếu dời đô lại nổi bật những nhược điểm khiến nó không thể trở thành một áng văn tiêu biểu của dân tộc Việt Nam, thể hiện ở các yếu tố sau:
Tinh thần dân tộc: là văn bản khai sinh ra kinh đô Thăng Long nhưng chiếu dời đô không đề cập đến truyền thống đấu tranh giành độc lập dân tộc mà các triều vua Việt Nam trước đó đã gây dựng. Bản chiếu cũng không nêu vai trò của kinh đô Hoa Lư và các kinh đô trước đó như Phong Châu, Mê Linh, Long Biên. Việc này có thể lý giải do đây là dời đô, chứ không phải đấu tranh giữ nước. Lúc này đất nước cần thái bình, trăm dân cần no ấm, vậy thì vai trò của kinh đô Hoa Lư đã hết. Đồng thời ta thấy vai trò của những Phong Châu, Mê Linh, Long Biên đều là trấn giữ đất nước khỏi giặc thù, tương tự Hoa Lư. Trong bản chiếu, Lý Thái Tổ lấy việc làm của các triều đại của cường quyền đế quốc Trung Hoa để noi theo, Vua gọi đô hộ Cao Biền là "Cao Vương", gọi thành Đại La là "đô cũ". Điều này khiến chiếu dời đô chưa toát nên được tinh thần dân tộc chủ đạo mà các áng văn khác như Nam quốc sơn hà ("sông núi nước Nam vua Nam ở") và Bình Ngô Đại Cáo ("từ... Đinh, Lý, Trần bao đời gây nền độc lập") đã có. Chiếu dời đô chỉ có ý nghĩa trong nội bộ quốc gia mà không thể ảnh hưởng ở tầm quốc tế.
Khát vọng độc lập: Các nhà nghiên cứu đều cho rằng việc lập đô của các nhà Đinh và nhà Tiền Lê là phù hợp với điều kiện lịch sử bấy giờ, không phải là tự theo ý riêng, thiển cận. Trong bối cảnh vừa thoát khỏi thời Bắc thuộc, chính quyền còn non trẻ, kinh đô Cổ Loa không còn trấn áp được loạn cát cứ thì việc lập đô ở Hoa Lư trở lên lợi hại hơn cả. Người Việt đã xây dựng kinh đô Hoa Lư của riêng mình mà không theo một hình mẫu nào của Trung Hoa.. Sự kiện ban Chiếu dời đô vừa khẳng định vừa phủ định vai trò của kinh đô Hoa Lư. Tuy nhiên việc vua Lý Thái Tổ chê trách nhà Tiền Lê có thể hiểu được, vì khi Lý Công Uẩn lên ngôi, nhà Lê đã suy và không còn là tấm gương nên noi theo, nói tới nữa. Sự xuất hiện của chiếu dời đô là bằng chứng cho thấy đất nước đã phát triển sang trang mới. Là mốc son đánh dấu lịch sử hình thành thủ đô Hà Nội của Việt Nam trên cơ sở, nền tảng kinh đô Hoa Lư.
Màu sắc dị đoan, phong thuỷ: Chiếu dời đô được viết với nội dung mang đượm màu sắc đầy dị đoan, phong thuỷ. Tuy nhiên, nhận định này không hợp lý vì trong bất kì lần dời đô nào ở nước ta cũng phải dựa theo thế phong thuỷ mà định, ví dụ như Vua Hùng tìm đất đóng đô dựng nước. Và phong thuỷ không liên quan đến quan điểm dị đoan, mê tín; thực chất đây là một bộ môn khoa học về môi trường sống, một nhánh của kiến trúc. Chẳng qua do cách giải thích của các thầy phong thuỷ nên nó bị đánh đồng với mê tín dị đoan.
Không phù hợp với đạo lý dân tộc: Lý Thái Tổ ám chỉ các triều vua nhà Đinh, nhà Tiền Lê tự theo ý riêng mình mà vận mệnh ngắn ngủi trong khi chính ông là người thừa hưởng nền tảng độc lập mà các triều đại này để lại. Quan điểm này không phù hợp với đạo lý uống nước nhớ nguồn của người Việt. Thực tế rất nhiều anh hùng đã giành độc lập như Hai Bà Trưng, Lý Nam Đế, Ngô Quyền,... mà triều đại do họ gây dựng tồn tại rất ngắn nhưng lịch sử luôn đánh giá công bằng. Bản chiếu dời đô cũng không thấy sự xuất hiện của vị vua Việt Nam nào được vua Lý nêu tới. Nhưng như đã biết, vốn triều nhà Tiền Lê đã suy yếu, dân chúng oán thán, việc Lý Công Uẩn mượn cớ nhà Tiền Lê mệnh không dài, cũng chỉ là thuận theo lòng dân mà thôi.
Việc xuất hiện bài chiếu có ý nghĩa rất nhiều đối với lịch sử Hoa Lư và Thăng Long. Nó làm nên tính chất trọng đại của hành trình 1000 năm lịch sử. Đó là một áng văn của thời khắc lịch sử từ Hoa Lư đến Thăng Long - một bước ngoặt hào hùng của dân tộc Việt Nam.
== Hành trình dời đô ==
Hơn 1 năm sau khi lên ngôi Hoàng đế, tháng 7 năm Canh Tuất, Lý Thái Tổ bắt đầu dời đô từ Hoa Lư về Đại La. Việc tìm đất, nghị bàn đến việc chuẩn bị để dời đô diễn ra tương đối khẩn trương. Từ Hoa Lư về thành Đại La có thể đi theo đường bộ hoặc theo đường thuỷ. Sử cũ không ghi chép chi tiết nhà Lý dời đô bằng đường nào. Các nhà nghiên cứu đã kết luận: nhà Lý dời đô bằng đường thuỷ. Và chỉ có dời đô bằng đường thuỷ thì mới an toàn và tải được cả bộ máy triều đình đông đảo cùng vật chất bảo đảm đồ sộ đi kèm. Ca dao vùng Hoa Lư ngày nay còn lưu truyền về sự tiếc nguối của người dân cố đô khi tiễn đoàn thuyền dời đô cũng như tâm trạng của thái tử Lý Phật Mã như sau:
Dập dìu cánh hạc chơi vơi
Tiễn thuyền Vua Lý đang dời kinh đô
Khi đi nhớ cậu cùng cô
Khi về lại nhớ cá rô Tổng Trường
Năm Thái Bình thứ 7 (976) dưới thời vua Đinh Tiên Hoàng đã có việc buôn bán với nước ngoài bằng thuyền. Khi Lý Công Uẩn dời đô cũng cần đưa đội thuyền đi theo. Đoàn thuyền xuất phát từ bến Ghềnh Tháp (nay là khu vực trước phủ Vườn Thiên và nhà bia Lý Thái Tổ ở khu di tích cố đô Hoa Lư). Rồi thuyền vào sông Sào Khê, qua cầu Đông, cầu Dền ở Hoa Lư để ra bến đò Trường Yên vào sông Hoàng Long xuôi về Gián Khẩu thì rẽ vào sông Đáy. Từ sông Đáy lại xuôi dòng rẽ vào sông Châu Giang. Cắt qua Hà Nam đoàn thuyền xuôi sông Hồng, rồi ra sông Tô Lịch sau cửa thành Đại La.
Như vậy hành trình dời đô đi qua 6 con sông khác nhau, trong đó các hành trình trên sông Sào Khê, sông Hoàng Long, sông Châu Giang là đi xuôi dòng, trên sông Đáy, sông Hồng, sông Tô Lịch là đi ngược dòng.
== Từ Hoa Lư tới Thăng Long ==
Khác với các kinh đô chính thống khác ở Việt Nam, kinh đô Hoa Lư có một vai trò lịch sử đặc biệt: là nơi đánh dấu sự ra đời kinh thành Thăng Long - Hà Nội, thủ đô hiện tại của đất nước Việt Nam. Mốc son Lý Thái Tổ dời đô từ Hoa Lư về Thăng Long mà bằng chứng là chiếu dời đô được xác định là thời điểm khai sinh lịch sử thủ đô mặc dù với việc mở rộng diện tích phần lớn các vùng đất đế đô của Việt Nam có trước Hoa Lư như Mê Linh (Hai Bà Trưng), Long Biên (nhà Tiền Lý), Cổ Loa (nhà Ngô) nay đều thuộc về Hà Nội.
Hoa Lư gắn liền với sự nghiệp của 2 vua đầu triều đại nhà Lý. Vua Lý Thái Tổ được triều đình Hoa Lư tiến cử lên ngôi thay nhà Tiền Lê. Vì thế mà hệ thống chính trị và cơ sở vật chất của kinh thành Thăng Long sau này đều thừa hưởng từ kinh đô Hoa Lư trước đó. Để tưởng niệm công lao đặt nền móng xây dựng độc lập tự chủ của đất nước và nhớ đến Cố đô Hoa Lư, nhà Lý đã xây dựng nhiều công trình kiến trúc giống ở Hoa Lư tại khu vực ở Thăng Long mà chúng vẫn tồn tại đến tận nay như: Ô Cầu Dền, phố Tràng Tiền, phố Cầu Đông, chùa Một Cột, ngã ba Bồ Đề, cống Trẹm, tháp Báo Thiên, phố Đình Ngang... Sách Đại Nam nhất thống chí quyển XIV tỉnh Ninh Bình, mục cổ tích chép: "Đô cũ nhà Đinh, nhà Lê ở xã Trường Yên Thượng và Trường Yên Hạ về phía tây bắc huyện Gia Viễn, có nội thành và ngoại thành, có cửa xây bằng đá, lại có các danh hiệu: cầu Đông, cầu Dền, cầu Muống, Tràng Tiền, chùa Tháp, chùa Nhất Trụ,... nền cũ vẫn còn. Về sau Lý Thái Tổ dời đô đến Thăng Long đều dùng theo các danh hiệu ấy...".
== Xem thêm ==
Lý Công Uẩn
Hoa Lư
Cố đô Hoa Lư
Thăng Long
== Chú thích ==
== Liên kết ngoài ==
Chiếu dời đô tại Từ điển bách khoa Việt Nam
Từ kinh đô Hoa Lư đến kinh đô Thăng Long: Tầm nhìn xuyên thế kỷ
Đại Việt Sử ký toàn thư, kỷ nhà Lý
Bản lưu trữ chiếu dời đô dạng text tại thư viện Quốc gia Việt Nam |
surakarta.txt | Surakarta (tên trước đây, được dân địa phương gọi là Solo) là một thành phố ở Indonesia, có dân số khoảng 500.000 dân, ở tỉnh Trung Java. cách Yogyakarta 65 km về phía Đông-Bắc và 100 km phía Đông-Nam của Semarang. Thành phố này đã là một trung tâm quyền lực trong thế kỷ 18 của vua Mataram Sultanate. Đây là quê hương của đương kim tổng thống Indonesia Joko Widodo.
== Tham khảo == |
dị ứng.txt | Dị ứng là một rối loạn quá mẫn của hệ miễn dịch. Phản ứng dị ứng xảy ra để chống lại các chất vô hại trong môi trường được gọi là chất gây dị ứng, các phản ứng này xảy ra nhanh chóng và có thể dự đoán được.
Thực tế, dị ứng là một trong bốn hình thức của chứng quá mẫn cảm và được gọi là quá mẫn loại I (xảy ra tức thì). Nó kích hoạt quá mức các tế bào bạch cầu mast và một loại kháng thể được gọi là IgE, dẫn đến một phản ứng viêm nặng thông thường bao gồm chàm, phát ban, sốt, lên cơn hen suyễn, ngộ độc thức ăn,dị ứng xi măng và phản ứng với nọc độc của côn trùng chích như ong, muỗi, kiến...
Dị ứng nhẹ rất phổ biến, gây ra các triệu chứng như viêm kết mạc dị ứng, ngứa và chảy nước mũi. Ở một số người, dị ứng nặng với các chất gây dị ứng trong môi trường và thức ăn hoặc một số loại thuốc y dược có thể gây phản ứng phản vệ (sốc phản vệ) đe dọa đến tính mạng.
Để chẩn đoán chứng dị ứng, người ta phải thực hiện các thử nghiệm trên da để xem mức độ phản ứng với các chất gây dị ứng hoặc phân tích máu kiểm sự hiện diện và nồng độ của kháng thể IgE. Điều trị dị ứng bao gồm tránh tiếp xúc với các tác nhân gây dị ứng, sử dụng các thuốc chống dị ứng, steroid (thuốc kháng viêm) hoặc các loại thuốc khác.
== Triệu chứng ==
Nhiều chất gây dị ứng là các hạt trong không khí như bụi hoặc phấn hoa. Trong những trường hợp này, các triệu chứng phát sinh tại các khu vực tiếp xúc với không khí, chẳng hạn như mũi, mắt và phổi. Ví dụ, viêm mũi dị ứng, nguyên nhân gây kích ứng mũi, hắt hơi, ngứa và đỏ mắt . Hít chất gây dị ứng cũng có thể dẫn đến các triệu chứng hen, do thu hẹp đường hô hấp (co thắt phế quản), phổi bị tiết dịch nhầy, khó thở, ho và thở khò khè.
Ngoài những chất gây dị ứng trong không khí, nguyên nhân gây phản ứng dị ứng có thể do một số loại thực phẩm, do côn trùng đốt, hay phản ứng với các thuốc như aspirin và thuốc kháng sinh như penicillin. Các triệu chứng của dị ứng thực phẩm (ngộ độc thực phẩm) bao gồm đau bụng, đầy hơi, nôn mửa, tiêu chảy, da phát ban, ngứa và sưng. Dị ứng thực phẩm hiếm khi gây ra hô hấp (hen) phản ứng, hay viêm mũi.
Bị côn trùng chích, hay dị ứng thuốc kháng sinh và một số loại thuốc nhất định có thể gây ra một phản ứng dị ứng rất nguy hiểm còn gọi là sốc phản vệ, nhiều cơ quan trong cơ thể có thể bị ảnh hưởng, bao gồm hệ tiêu hóa, hệ thống hô hấp, và hệ tuần hoàn. Tùy thuộc vào mức độ nghiêm trọng, sốc phản vệ có thể gây ra các phản ứng ngoài da, co thắt phế quản, phù nề, hạ huyết áp hôn mê và tử vong.
== Nguyên nhân ==
Nguyên nhân chủ yếu bao gồm di truyền, giới tính, chủng tộc, và độ tuổi, trong đó yếu tố di truyền được xem là nguyên nhân chú yếu gây nên dị ứng. Tuy nhiên, thời gian gần đây tỷ lệ mắc các rối loạn dị ứng mà không thể được giải thích bằng yếu tố di truyền đang có chiều hướng gia tăng là do bốn thay đổi chính trong môi trường sống hiện nay: tiếp xúc với các bệnh truyền nhiễm trong thời thơ ấu, ô nhiễm môi trường, các loại chất gây dị ứng, và chế độ ăn uống thay đổi.
=== Dị ứng thực phẩm ===
Một trong những bệnh dị ứng thực phẩm phổ biến nhất là nhạy cảm với đậu phộng (lạc). Dị ứng đậu phộng có thể rất nghiêm trọng, đặc biệt đối với trẻ em ở tuổi đi học. Các loại hạt, bao gồm hồ đào, quả hồ trăn, hạt thông, quả óc chó là các chất gây dị ứng thông thường. Những người mắc bệnh có thể nhạy cảm với một, hoặc nhiều loại hạt cây.
Sữa bò, dê, cừu cũng là một thực phẩm phổ biến gây dị ứng, và nhiều người bị còn mẫn cảm với các sản phẩm sữa như pho mát. Nguyên nhân là do cơ thể không dung nạp lactose.
Các loại thực phẩm khác có chứa các protein gây dị ứng bao gồm đậu nành, lúa mì, cá (ngừ..), hải sản (cua, ghẹ, tôm, sò, ốc...), trái cây (bơ, sầu riêng...), rau, gia vị (bột ngọt, tiêu), màu tổng hợp và tự nhiên, hóa chất phụ gia và gà.
=== Dị ứng với các tác nhân không phải là thực phẩm ===
Nhựa cao su (latex) có thể gây ra phản ứng da, hô hấp, và hệ thống trung gian IgE. Tỷ lệ dị ứng cao su trong dân số được cho là ít hơn một phần trăm. Trong một nghiên cứu, một trong 800 bệnh nhân phẫu thuật (0,125%) báo cáo có nhạy cảm với cao su, mặc dù mức độ nhạy cảm của các nhân viên y tế đối với cao su cao hơn, từ 7-10%.
Phản ứng phổ biến nhất với latex là viêm da tiếp xúc dị ứng, các phản ứng xuất hiện như da bị khô và tổn thương vùng tiếp xúc. Phản ứng này thường kéo dài 48-96 giờ. Ra mồ hôi hoặc cọ xát ở khu vực đeo găng tay làm các tổn thương trầm trọng thêm, có thể dẫn đến loét phản ứng.
Bệnh nhân bị dị ứng với cao su cũng có thể có nhạy cảm với quả bơ, kiwi, và hạt dẻ, những bệnh nhân này thường bị ngứa và nổi mề đay cục bộ. Chỉ thỉnh thoảng có những dị ứng thức ăn gây ra các phản ứng hệ thống.
=== Cơ sở di truyền ===
Có khoảng 70% các cặp song sinh cùng trứng bị các bệnh dị ứng chung, 40% các cặp song sinh khác trứng có cùng một loại dị ứng. Cha mẹ mắc các bệnh dị ứng, thì con cái của họ nguy cơ bị dị ứng cao hơn so với các trẻ khác. Một số dị ứng, tuy nhiên lại không cùng kiểu gen; ví dụ cha mẹ bị dị ứng với đậu phộng thì con có thể bị dị ứng với cỏ phấn hương. Có nghĩa là khả năng phát triển bệnh dị ứng được kế thừa và liên quan đến một bất thường trong hệ thống miễn dịch, nhưng các chất gây dị ứng cụ thể thì không có tính kế thừa.
Nguy cơ dị ứng nhạy cảm và phát triển các bệnh dị ứng khác nhau với từng độ tuổi, một số nghiên cứu chỉ ra rằng mức độ IgE cao nhất trong thời thơ ấu và giảm nhanh chóng trong độ tuổi từ 10 đến 30. Yếu tố chủng tộc cũng liên quan, người ta cho rằng di truyền là nguyên nhân gây bệnh hen suyễn ở những người châu Á, Tây Ban Nha, và những người gốc Phi châu.
=== Giả thuyết về vấn đề vệ sinh ===
Các bệnh dị ứng là do phản ứng miễn dịch không thích hợp với kháng nguyên vô hại của một phản ứng miễn dịch qua trung gian TH2. Các vi khuẩn và virus trước hết sẽ gây ra một đáp ứng miễn dịch không qua trung gian TH1 sau đó mới chuyển sang phản ứng TH2. Vì cơ thể chúng ta tiến hóa để đối phó với một mức độ nhất định các tác nhân gây bệnh, cho nên khi một cá nhân sống trong môi trường vô trùng không tiếp xúc với các cấp độ gây bệnh, hệ thống miễn dịch sẽ tấn công các kháng nguyên vô hại và vì thế các đối tượng lành tính như phấn hoa cũng gây kích hoạt một phản ứng miễn dịch TH2.
Các giả thuyết về vấn đề vệ sinh hình thành để giải thích các kết quả khi quan sát về dị ứng phấn hoa và bệnh chàm, người ta thấy rằng các trẻ em ở gia đình một con dễ mắc các bệnh dị ứng này nhiều hơn trẻ em ở các gia đình đông con. Các giả thuyết này đã được rộng rãi điều tra dịch tễ học và đã trở thành một khung lý thuyết quan trọng cho việc nghiên cứu các rối loạn dị ứng. Nó được sử dụng để giải thích sự gia tăng các bệnh dị ứng đã được nhìn thấy kể từ khi công nghiệp hóa, và tỷ lệ mắc các bệnh dị ứng cao ở các nước phát triển.
=== Các yếu tố môi trường ===
Các nước công nghiệp tỷ lệ người mắc bệnh cao hơn so với các nước có truyền thống nông nghiệp, ở các thành phố, đô thị có tỷ lệ người bị dị ứng cao hơn so với nông thôn.
Tiếp xúc với các độc tố làm các tế bào bạch cầu trong máu giảm sản xuất các cytokine kháng viêm như TNF-α, IFNγ, interleukin-10, và interleukin-12.
Nghiên cứu gần đây đã chỉ ra rằng một số ký sinh trùng, chẳng hạn như giun đường ruột (ví dụ như giun móc), có thể tiết ra chất hóa học vào thành ruột sau đó thẩm thấu vào mạch máu để đàn áp hệ miễn dịch và ngăn chặn cơ thể tấn công chúng. Điều này đưa đến một giả thuyết rằng lý thuyết đồng sự tiến hóa của con người và ký sinh trùng đã dẫn đến một hệ thống miễn dịch cân bằng. Nếu không có các ký sinh trùng này, hệ thống miễn dịch trở nên không cân bằng và quá nhạy cảm. Tuy nhiên, các nghiên cứu để hỗ trợ lý thuyết này là trái ngược nhau, với một số nghiên cứu thực nghiệm tại Trung Quốc và Ethiopia cho thấy sự gia tăng dị ứng ở những người bị nhiễm giun đường ruột.
=== Phản ứng cấp tính ===
Trong giai đoạn đầu của dị ứng, một phản ứng quá mẫn type1 chống lại chất gây dị ứng mà nó gặp lần đầu, gây ra một phản ứng trong một loại tế bào miễn dịch gọi là lympho bào TH2. Những lympho bào TH2 này tương tác với các lympho bào khác gọi là tế bào B có vai trò sản xuất kháng thể. Tương tác này kích thích các tế bào B bắt đầu sản xuất một số lượng lớn một loại kháng thể được gọi là IgE. IgE tiết ra lưu thông trong máu và gắn vào một thụ thể IgE đặc hiệu (một loại thụ thể gọi là FcεRI Fc) trên bề mặt của các loại tế bào miễn dịch gọi là tế bào mast và basophils, cả hai đều tham gia vào các phản ứng viêm cấp tính.
Nếu sau đó cơ thể xảy ra tiếp xúc với các chất gây dị ứng tương tự, các chất gây dị ứng có thể liên kết với các phân tử IgE được tổ chức trên bề mặt của các tế bào mast hoặc basophils. Liên kết chéo của các thụ thể IgE và Fc xảy ra khi nhiều hơn một thụ thể IgE phức tạp tương tác với các phân tử gây dị ứng, và kích hoạt các tế bào mast và basophils. Kích hoạt này trải qua một quá trình gọi là degranulation, lúc đó từ thể hạt của các tế bào này phóng thích ra histamine và các chất hóa học gây viêm trung gian khác (cytokin, interleukins, leukotrienes và prostaglandin) vào các mô xung quanh gây ra một số hiệu ứng có hệ thống, chẳng hạn như giãn mạch, bài tiết chất nhầy, kích thích thần kinh và sự co cơ trơn. Điều này dẫn đến sổ mũi, ngứa, khó thở, và sốc phản vệ. Tùy thuộc vào các chất gây dị ứng, cá nhân, và phương thức giới thiệu, các triệu chứng có thể tác động trên toàn hệ thống (sốc phản vệ kinh điển), hoặc cục bộ hoá, bệnh suyễn là cục bộ hoá hệ thống hô hấp và bệnh chàm là cục bộ hóa thể hạ bì.
=== Phản ứng giai đoạn cuối ===
Sau khi các phản ứng hóa học cấp tính trung gian giảm dần, phản ứng giai đoạn cuối thường có thể xảy ra. Điều này là do sự di cư của bạch cầu như bạch cầu trung tính, lympho, bạch cầu ái toan và các đại thực bào trở lại vị trí ban đầu. Phản ứng thường thấy 2-24 giờ sau khi các phản ứng ban đầu xuất hiện.
== Chẩn đoán ==
Trước khi chẩn đoán chắc chắn bệnh nhân bị dị ứng, cần lưu ý các dấu hiệu phản ứng xuất hiện cũng có thể do các nguyên nhân khác. Khi chẩn đoán các bệnh hen suyễn, viêm mũi, sốc phản vệ, hoặc các dị ứng khác, người ta sẽ có một số phương pháp để phát hiện các tác nhân gây bệnh dị ứng đó.
=== Kiểm tra phản ứng trên da (Skin testing) ===
Để đánh giá sự hiện diện của chất gây dị ứng tức là kháng thể IgE đặc hiệu, thử nghiệm dị ứng da là ưu tiên hơn các xét nghiệm dị ứng trong máu bởi vì nó nhạy và cụ thể hơn, thao tác đơn giản, và ít tốn kém.. Một lượng nhỏ các chất gây dị ứng bị nghi ngờ hoặc các chất chiết xuất (từ phấn hoa, cỏ, protein mite, đậu phộng,...) được tiêm bằng ống chích hoặc dùng 1 miếng kim loại hay nhựa đâm nhẹ vào các ô nhỏ trên da, các ô này đã được đánh dấu bằng bút mực màu (loại mực dùng cho bút nên được lựa chọn cẩn thận, vì nó cũng có thể gây ra một phản ứng dị ứng riêng). Nếu bệnh nhân bị dị ứng với chất nào trong những chất thử thì phản ứng viêm có thể nhìn thấy (da ửng đỏ) sẽ xuất hiện trong vòng 30 phút đến một giờ sau.
=== Xét nghiệm máu ===
Các phương pháp thử máu cũng phát hiện dị ứng với các chất cụ thể. Loại phương pháp thử nghiệm mức độ của IgE có trong huyết thanh của bệnh nhân. Điều này có thể được xác định thông qua việc sử dụng phương pháp phóng xạ miễn dịch và phép đo màu. Xét nghiệm phóng xạ bao gồm các thử nghiệm như phương pháp thử (Rast), trong đó sử dụng kết nối IgE (anti-IgE) các kháng thể có gắn nhãn bằng các đồng vị phóng xạ để xác định số lượng các cấp độ của kháng thể IgE trong máu. Các phương pháp khác sử dụng công nghệ mới so sánh màu sắc tại nơi có đồng vị phóng xạ.
== Điều trị ==
Trong thời gian gần đây, đã có những cải tiến rất lớn trong các thực hành y tế dùng để điều trị chứng dị ứng. Điều trị và phòng bệnh dị ứng chỉ đơn giản là tránh hoặc giảm tiếp xúc với các chất gây dị ứng. Tuy nhiên, nếu bệnh nhân bị dị ứng với phấn hoa hoặc các chất truyền dẫn trong không khí thì việc tránh tiếp xúc này rất khó thực hiện.
=== Liệu pháp dùng thuốc ===
Một số thuốc đối kháng được sử dụng để ngăn chặn dị ứng, hoặc tránh kích hoạt các tế bào và các quá trình gây dị ứng. Chúng bao gồm thuốc kháng histamine, glucocorticoids, epinephrine (adrenaline), theophylline và natri cromolyn.
=== Liệu pháp miễn dịch ===
Bệnh nhân được tiêm các chất gây dị ứng với liều tăng dần. Điều này có thể làm giảm mức độ nghiêm trọng hoặc loại bỏ hoàn toàn quá mẫn. Liệu pháp này làm lệch tiến độ sản xuất kháng thể IgG, để ngăn chặn sản xuất quá mức IgE trong atopys. Các nghiên cứu đã chứng minh hiệu quả lâu dài và hiệu quả phòng ngừa của liệu pháp miễn dịch trong việc làm giảm sự phát triển của dị ứng mới.
Một hình thức thứ hai của miễn dịch liên quan đến việc tiêm tĩnh mạch các kháng thể kháng IgE (Anti-IgE) dòng đơn. Các kháng thể này sẽ gắn kết với các kháng thể IgE tự do hoặc IgE đã liên kết với tế bào B. Tuy nhiên, kháng thể Anti-IgE sẽ không gắn kết với các IgE đã liên kết với thụ thể Fc trên basophils và các tế bào mast, vì điều này sẽ kích thích các phản ứng dị ứng.
Một dạng thứ ba là miễn dịch dưới lưỡi, là một liệu pháp đường miệng,lợi dụng sự miễn dịch yếu đối với các kháng nguyên không gây bệnh như các loại thực phẩm và vi khuẩn thường trú. Liệu pháp này hiện đang chiếm 40% các trị liệu dị ứng ở châu Âu.
== Dịch tễ học ==
Ở thế giới phương Tây, rất nhiều bệnh liên quan đến viêm như bệnh tiểu đường loại 1, viêm thấp khớp, sốt, hay dị ứng và hen suyễn đã tăng trong vòng 2-3 thập kỷ qua. Bệnh hen suyễn dị ứng và các rối loạn dị ứng khác tăng nhanh trong các quốc gia công nghiệp vào những năm 1960 và 1970, và gia tăng nhiều hơn nữa trong những năm 1980 và 1990, trong khi đó tỷ lệ dị ứng ở các nước đang phát triển nói chung vẫn còn thấp hơn nhiều.
Mặc dù yếu tố di truyền về cơ bản là nguyên nhân chính gây bệnh dị ứng, tuy nhiên số người bị dị ứng gia tăng nhanh trong thời gian quá ngắn không thể nào là do sự thay đổi cơ sở di truyền, chỉ có thể giải thích lý do chính đó là do sự thay đổi môi trường và lối sống. Một số giả thuyết giải thích về tỷ lệ gia tăng này là do tăng khả năng tiếp xúc lâu năm với các chất gây dị ứng do thay đổi nhà ở, tăng thời gian ở trong nhà, và những thay đổi trong vệ sinh cùng với những thay đổi chế độ ăn uống, béo phì và lười tập thể dục đã dẫn đến việc suy giảm kích hoạt cơ chế kiểm soát hệ thống miễn dịch.
Các giả thuyết vệ sinh cho rằng mức sống cao và điều kiện vệ sinh quá tốt cho thấy nhiều trẻ em khi mới sinh sẽ giảm nguy cơ nhiễm trùng do vi khuẩn và virus, cho nên khi trưởng thành sẽ dẫn đến rối loạn các phản ứng miễn dịch: bỏ qua phản ứng TH1 mà đi thẳng đến phản ứng TH2 một cách tự do và làm tăng dị ứng.
Bằng chứng gần đây đã tập trung sự chú ý về tầm quan trọng của môi trường vi sinh đường ruột, cho thấy việc tiếp xúc với thực phẩm và các tác nhân gây bệnh ở đường tiêu hóa, chẳng hạn như viêm gan A, Toxoplasma gondii, và Helicobacter pylori (các bệnh này có xu hướng phổ biến ở các nước đang phát triển), có thể làm giảm nguy cơ dị ứng hơn 60%, ngoài ra người ta còn nhận thấy một mối quan hệ giữa việc tăng nhiễm các ký sinh trùng và sự giảm mắc bệnh hen suyễn.
== Chú thích ==
== Liên kết ngoài ==
Viêm mũi dị ứng
Các bệnh dị ứng ngoài da
Các bệnh dị ứng thường gặp |
sân vận động gò đậu.txt | Sân vận động Gò Đậu (tỉnh Bình Dương) là một sân bóng đá có diện tích hơn 4 ha, nằm tại góc đường 30/4 và Đại lộ Bình Dương (trung tâm TP. Thủ Dầu Một). Sân có 4 khán đài với sức chứa khoảng 18.250 chỗ ngồi. Đây là sân nhà của câu lạc bộ Becamex Bình Dương, hiện đang thi đấu tại Giải bóng đá vô địch quốc gia và TDC Bình Dương.
== Chú thích == |
đá.txt | Bài này nói về đá như là một tập hợp tự nhiên của các khoáng vật, các nghĩa khác xem Đá (định hướng).
Đá là tổ hợp có quy luật của các loại khoáng vật, có thể là một thể địa chất có lịch sử hình thành riêng biệt. Cách phân loại tổng quát nhất dựa trên nguồn gốc thành tạo gồm đá macma, đá trầm tích và đá biến chất. Đôi khi thiên thạch được xem là một nhóm đá riêng có nguồn gốc từ vũ trụ.
Với thời gian đời người đá không có sự biến đổi nhưng chúng có thể bị biến đổi bởi các quá trình địa chất diễn ra trong thời gian rất dài. Chu trình thạch học mô tả các giai đoạn mà các loại đá được hình thành và biến chuyển từ dạng này sang dạng khác. Đá mácma hình thành khi dung nham đông nguội trên bề mặt hoặc kết tinh ở dưới sâu. Các đá trầm tích được hình thành từ quá trình lắng đọng vật liệu, rồi nén ép thành đá. Trong khi đá biến chất có thể hình thành từ các loại đá mácma, đá trầm tích hay các loại đá biến chất có trước dưới tác động của nhiệt độ và áp suất.
Đá là một loại vật liệu gắn liền với lịch sử phát triển của loài người. Từ thời đại đồ đá con người đã biết dùng đá để làm vũ khí tự vệ, săn bắn, công cụ sản xuất. Đặc biệt, đá được dùng trong xây dựng những công trình mà ngày nay chúng trở nên nổi tiếng như Kim tự tháp, Angkor Wat, thành Babylon, El-Djem, Colisée, Bourgogne, Épidayre.
== Chu trình đá ==
Chu trình thạch học hay còn gọi là vòng tuần hoàn của đá nằm ở lớp thạch quyển thuộc vỏ Trái Đất. Cũng giống như nước hay nhiều loại hợp chất khác, chúng biến đổi tuần tự theo một chu trình xác định và quay vòng một cách có hệ thống tạo nên vòng tuần hoàn khép kín.
Các đá mácma được kết tinh bên dưới lớp vỏ từ mácma nóng hoặc được đưa lên trên mặt để hình thành đá núi lửa. Các quá trình bóc mòn, phong hóa diễn ra trên bề mặt làm đá vỡ ra được mang đi nơi khác lắng đọng lại ở những môi trường có năng lượng thấp như hồ, biển, vv... Sau khi lắng đọng thường do áp lực của chính bản thân vật liệu làm các vật liệu trầm tích bị cố kết để hình thành nên đá trầm tích. Một khi các đá trầm tích hoặc mác ma chịu tác động của môi trường có nhiệt độ hoặc áp suất cao hoặc cả hai yếu tố trên làm cho chúng bị biến đổi về cả thành phần và cấu trúc để tạo ra các đá biến chất. Cả ba loại đá này đều có thể bị hút chìm vào bên trong manti ở các đới hút chìm và tan chảy thành mácma lỏng, và cứ thế quá trình tiếp tục tuần hoàn.
Các đá cũng như thế, chúng cũng biến đổi tuần tự theo những chu trình xác định dưới những điều kiện tác động về hóa lý khác nhau từ môi trường như bị phong hóa, lắng đọng, nóng chảy, kết tinh, đông kết..vv. Ta có thể khởi đầu vòng tuần hoàn từ vật liệu magma có trong lòng đất.
(1) Magma → Đá magma phun trào → Trầm tích → Đá trầm tích → Đá biến chất → magma
(2) Magma → Đá magma xâm nhập → Trầm tích → Đá trầm tích → Đá biến chất → magma
Đây có thể coi là hai vòng tuần hoàn lớn vì ngoài ra còn có các vòng tuần hoàn nhỏ hơn cũng xuất phát từ vật liệu ban đầu là magma. Nhưng những vòng tuần hoàn nhỏ này có đường đi ngắn hơn, bỏ qua một số đá nào đó.
(3) Đá magma → Đá magma phun trào → Đá biến chất → magma
(4) Đá magma → Đá magma xâm nhập → Đá biến chất → magma
(5) Đá biến chất (có thể xuất phát từ thiên thạch)→ Trầm tích → Đá trầm tích → Đá biến chất → magma
(6) Đá trầm tích (có thể xuất phát từ thiên thạch)→ Trầm tích → Đá trầm tích → Đá biến chất → magma
== Đá mácma ==
Đá mácma được hình thành từ kết quả nguội lạnh, đông cứng của dung dịch silicat nóng chảy (dung dịch macma) và được chia (theo nguồn gốc thành tạo) làm hai loại macma chính: macma xâm nhập và macma phun trào. Macma này có thể có nguồn gốc từ manti của Trái Đất hoặc từ các loại đá đã tồn tại trước đó bị nóng chảy do các thay đổi nhiệt độ áp suất cực cao. Khoảng 64,7% thể trích vỏ Trái Đất được cấu tạo bởi các đá mácma, trong đó, 66% là basalt và gabro, 16% là granit, và 17% granodiorit và diorit. Chỉ có 0,6% là syenit và 0,3% peridotit và dunit. Vỏ đại dương là 99% basalt, một loại đá có thành phần mafic. Granit và các đá tương tự cấu tạo nên phần lớn vỏ lục địa. Trên 700 loại đá mácma đã được miêu tả lại, phần lớn trong chúng được tạo ra gần bề mặt lớp vỏ Trái Đất. Các loại đá mácma chiếm khoảng 95% toàn bộ phần phía trên của lớp vỏ Trái Đất, nhưng chúng phân bố phổ biến hơn ở bên dưới lớp đá trầm tích và đá biến chất tương đối mỏng nhưng phân bố rộng.
=== Thành phần hóa học & khoáng vật ===
Người ta dựa vào thần phần hóa học của đá mácma, đặc biệt là silic điôxít (SiO2) để phân ra thành các đá bazo, trung tính và axit. Ngoài ra, việc phân loại theo thành phần hóa có thể gồm siêu mafic, mafic (tương đương với bazo) hay đá sẫm màu, trung tính và felsic (tương đương với axit) hay đá sáng màu. Xu hướng ngày nay người ta dùng cách gọi mafic, felsic để tránh nhầm lẫn với tính chất axit, bazo trong hóa học. Thuật ngữ felsic được hình thành khi ghép các từ fel của fenspat (tiếng Anh là Felspar) và si của silic. Từ mafic cũng hình thành theo cách tương tự: ma của magiê và f của ferrum (chỉ sắt) trong tiếng Latinh. Các đá felsic là các đá sáng màu do chứa nhiều natri và kali hơn so với các đá mafic. Các đá felsic có nhiệt độ nóng chảy thấp hơn nhưng bền hơn trong điều kiện phong hóa so với đá mafic.
Chuỗi phản ứng Bowen miên tả quá trình mácma nguội lạnh và trình tự kết tinh các khoáng vật để hình thành các loại đá. Chuỗi phản ứng của Boween gồm hai nhánh, nhánh bên phải được gọi là chuỗi phản ứng không liên tục, còn nhánh bên trái được gọi là chuỗi phản ứng liên tục. Nhánh không liên tục bắt đầu kết tinh ở 1200 độ C đứng đầu là olivin - một khoáng vật rất giàu sắt và magie, tiếp theo là pyroxen, amphibol, và biotit. Quá trình kết tinh này làm hàm lượng SiO2 trong phần còn lại của mácma tăng cao. Trong khi đó, nhánh liên tục bên phải bắt đầu là plagioclase giàu canxi có tên gọi là anorthit, từ đây, thành phần canxi của khoáng vật này bị thay thế liên tục bằng natri để tạo ra plagioclase giàu natri-anbit. Tiếp theo muscovit và fenspat giàu SiO2 được kết tinh ở nhiệt độ thấp hơn. Thạch anh là sản phẩm kết tinh cuối cùng trong chuỗi phản ứng trên ở nhiệt độ 750 độ C.
=== Kiến trúc ===
Đá mácma có các kiến trúc khác nhau tùy theo môi trường mà chúng thành tạo. Các đá có hạt thô đồng đều là do quá trình nguội lạnh từ từ khi đó các khoáng vật có thời gian để hình thành những tinh thể, loại kiến trúc này được gọi là hiển tinh. Các đá có kiến trúc hiển tinh thường đặc trưng cho môi trường thành tạo dưới mặt đất, như granit, diorit hoặc gabro. Còn các đá nguội lạnh nhanh, các khoáng vật không có thời gian kết tinh như đá núi lửa thường có các kiến trúc ban tinh, vi tinh, ẩn tinh hoặc thủy tinh như ryolit, andesit hay bazan. Đối với các đá có kiến trúc ban tinh, sự xuất hiện các hạt tinh thể to là do chúng được hình thành từ trước dưới sâu và được mang lên trên bề mặt qua quá trình phun trào. Một số loại đá phun trào hình thành nên cấu trúc lỗ hổng hoặc cấu trúc bọt, các cấu trúc này đặc trưng cho các dung nham có chứa nhiều chất bốc (hơi nước, CO2) ở áp suất cao, khi lên đến bề mặt áp suất bị giảm nên pha khí tách ra khỏi pha lỏng, và kết quả là để lại những lỗ rỗng trong khối đá.
=== Các loại đá mácma ===
Đá mácma chia theo thành phần SiO2 và theo môi trường thành tạo được miêu tả trong bảng bên dưới.
==== Đá mácma xâm nhập ====
Đá mácma xâm nhập được thành tạo khi dung dịch macma nguội đi và các tinh thể khoáng vật kết tinh chậm bên trong vỏ Trái Đất. Các tinh thể kết tinh rõ ràng, các đá loại này thường có cấu tạo đặc sít. Sự kết tinh của dung dịch mácma trong giai đoạn sau có môi trường thuận lợi để hình thành loại đá có kích thước hạt rất to như pegmatit. Các đá xâm nhập có mặt trong các dãy núi cổ và hiện đại, tuy nhiên chúng chỉ có trên các lục địa.
==== Đá mácma phun trào ====
Đá mácma phun trào được thành tạo khi dung dịch mácma phun trào lên trên bề mặt đất; có sự giải phóng các chất khí có trong dung dịch macma một cách mãnh liệt, các đá macma phún xuất thường có cấu tạo rỗng xốp.
Trên mặt đất, do nguội lạnh nhanh, macma không kịp kết tinh, hoặc chỉ kết tinh được một bộ phận với kích thước tinh thể rất nhỏ, chưa hoàn chỉnh, còn đại bộ phận tồn tại ở dạng vô đình hình, trong đá có lẫn nhiều bọt khí (do đang sôi và bị nguội lạnh nhanh): đó là dạng macma phún xuất chặt chẽ. Ví dụ Đá diabazơ, bazan, andezit. Có tính chất rỗng nhẹ, cứng và rất giòn. Sử dụng làm cốt liệu cho bê tông nhẹ, dụng làm phụ gia hoạt tính cho bê tông và xi măng…
Khi macma đang sủi bọt, gặp lạnh đông lại nên rất xốp và nhẹ, hoặc phần macma bị phun lên cao, bay xa, nguội nhanh, hơi nước, khí thoát ra nhiều nên có kết cấu rỗng vụn, lỗ nhỏ: đó là dạng macma phún xuất rời rạc. Ví dụ Tro, túp núi lửa, túp dung nham. Tính chất nhẹ. Dùng làm phụ gia trơ cho bê tông và xi măng. Ngoài các núi lửa trên đất liền, một lượng lớn đá này hình thành một cách liên tục ở các sống núi giữa đại dương.
==== Đá mạch ====
Đá mạch là các loại đá xâm nhập khi mácma đi lên theo các khe nứt kiến tạo, đứt gãy hoặc các đá có trước bị yếu đi do các yếu tố kiến tạo. Các quá trình hình thành loại đá này có thể xảy ra trên cạn hoặc dưới đáy biển. Quá trình kết tinh có thể xảy ra ở các cấp áp suất và nhiệt độ đa dạng tùy thuộc vào vị trí và thế nằm của chúng.
=== Thế nằm của đá ===
==== Những yếu tố ảnh hưởng đến dạng nằm của đá magma ====
+ Hoạt tính của magma: Hoạt tính của magma liên quan tới tác dụng hóa học của magma. Hoạt tính của magma được thể hiện thông qua hàm lượng chất bốc, độ nhớt, trọng lực, áp suất thủy tĩnh...
- Chất bốc (khí trong magma): Những magma giàu chất bốc sẽ xuất hiện các lực đưa magma xuyên vào đá vây quanh dễ dàng hơn magma nghèo chất bốc.
- Hoạt tính liên quan đến trọng lực do sự chênh lệch tỷ trọng giữa đá magma và đá vây quanh: khiến cho magma di chuyển vào đá vây quanh khi có điều kiện thuận lợi.
- Hoạt tính cũng liên quan đến áp suất thủy tĩnh (là áp suất của các khối đá trên đè xuống các khối đá dưới) do đó mà magma ở dưới độ sâu càng lớn thì có áp suất thủy tĩnh càng lớn và lò magma luôn có xu hướng dâng lên các tầng trên của Vỏ Trái đất để tạo nên các thể xâm nhập dạng vỉa, nấm...
- Hoạt tính của magma liên quan đến sự phá huỷ các cân bằng tướng khí lỏng của magma, magma có áp suất khí cao khi dâng lên phần nông của Vỏ Trái Đất, áp suất mái giảm đi có thể gây nổ và tạo các ống nổ.
- Hoạt tính của magma liên quan đến độ nhớt của magma và độ nhớt này ảnh hưởng đến hình dạng của thể đá magma: độ nhớt của magma phụ thuộc vào thành phần hóa học của magma, magma có độ nhớt càng thấp thì càng dễ chảy tràn và ngược lại (magma bazơ có độ nhớt thấp thì khi đưa lên bề mặt thường chảy tràn còn magma axit có độ nhớt cao thì thường tạo khối).
Yếu tố ngoại sinh bao gồm:
+ Hoạt động kiến tạo: Các hoạt động kiến tạo mức độ khác nhau sẽ tạo các đường dẫn khác nhau, từ đó sẽ dẫn đến hình dạng khác nhau của các thể đá magma.
+ Đặc điểm địa hình và đá vây quanh.
==== Dạng nằm của các đá magma xâm nhập ====
- Thể nền (batolit): bất chỉnh hợp với đá vây quanh, phình ra ở phía dưới và không có đáy. Kích thước thường rất lớn, tới hàng ngàn km2.
- Thể cán: giống thể nền, chỉ khác kích thước nhỏ hơn, diện tích lộ không quá 100-200km2.
- Thể vỉa: do magma có áp lực xuyên vào khoảng giữa hai lớp đá, nó có hai mặt tiếp xúc song song, đường đưa magma lên là những khe nứt, đứt gãy. Kích thước rất khác nhau, bề dày từ vài chục mét đến hàng trăm mét. Chỉnh hợp với đá vây quanh
- Thể nấm: giống hình cái nấm hoặc bánh dày, phân biệt với thể vỉa do kích thước tương đối (chiều dày:chiều rộng>1:8), ngoài rìa mỏng dần so với phần trung tâm. Thường là các thể xâm nhập nông, nằm chỉnh hợp với đá vây quanh.
- Thể thấu kính, thể chậu: thường nằm kẹp giữa các nếp uốn, do khối nhỏ magma xuyên vào vỏ Trái đất rồi bị cuốn theo chuyển động dẻo, chúng thường không có rễ, chỉnh hợp với đá vây quanh.
- Thể tường: nằm dốc đứng bất chỉnh hợp với đá vây quanh, kích thước từ vài chục mét đến hàng trăm km.
==== Dạng nằm của đá magma phun trào ====
- Dạng dòng dung nham.
- Dạng lớp phủ.
- Dạng vòm, kim, tháp.
== Đá trầm tích ==
Phần lớn lớp vỏ trái đất được cấu tạo bởi các đá mácma và đá biến chất, ước tính chúng chiếm khoảng 90-95% trong 16 km tính từ bề mặt trái đất. Dù vậy, hầu hết bề mặt trái Đất được bao phủ bởi trầm tích. Về cơ bản tất cả đáy biển được phủ bởi trầm tích, và 70-80% các lục địa được bao phủ bởi các đá trầm tích. Hầu hết các hóa thạch được phát hiện trong trầm tích, đá trầm tích và đá biến chất từ đá trầm tích, chúng là các dấu hiện quan trọng cho việc tìm hiểu các điều kiện môi trường mà trước đây từng tồn tại trên bề mặt Trái Đất. Các nguồn năng lượng như dầu mỏ, khí thiên nhiên, than đá và urani được chiết tách từ đá trầm tích.
Đá trầm tích được tạo ra từ sự lắng đọng của các mảnh vụn hoặc các chất hữu cơ, hay các chất kết tủa hóa học (các chất còn lại sau quá trình bay hơi), được nối tiếp bằng sự kết đặc của các chất cụ thể và quá trình xi măng hóa. Quá trình xi măng hóa có thể diễn ra tại hoặc gần bề mặt Trái Đất, đặc biệt là đối với các loại trầm tích giàu cacbonat.
=== Đặc điểm ===
Do được hình thành trong các điều kiện môi trường năng lượng thấp nên đá trầm tích có các đặc điểm chung là:
Có tính phân lớp rõ rệt, chiều dày, màu sắc, thành phần, độ lớn của hạt, độ cứng... của các lớp cũng khác nhau.
Cường độ nén theo phương vuông góc với các lớp luôn luôn cao hơn cường độ nén theo phương song song với thớ.
Đá trầm tích không đặc, chắc bằng đá mácma (do các chất keo kết thiên nhiên không chèn đầy giữa các hạt hoặc do bản thân các chất keo kết co lại). Vì thế cường độ của đá trầm tích thấp hơn, độ hút nước cao hơn. Một số loại đá trầm tích khi bị hút nước, cường độ giảm đi rõ rệt, có khi bị tan rã trong nước. Đá trầm tích rất phổ biến, dễ gia công nên được sử dụng khá rộng rãi.
=== Phân loại ===
Do sự tích tụ, lắng đọng hay kết tủa trong nước của các khoáng chất, của đất đá bị phong hóa, vỡ vụn tích lũy thành khối mà thành. Dựa vào nguồn gốc hình thành có 3 loại:
==== Đá trầm tích mảnh vụn ====
Đá trầm tích mảnh vụn hay trầm tích cơ học được hình thành từ các sản phẩm vụn nát sinh ra trong quá trình phong hóa các loại đá có trước tích tụ lại mà thành. Về cấu tạo, đá mảnh vụn gồm hai hợp phần là các mảnh vụn và xi măng gắn kết các mảnh vụn đó lại. Phần mảnh vụn là các hạt có nhiều kích thước khác nhau, và thành phần khác nhau; còn xi măng là các hạt có kích thước nhỏ hơn cỡ hạt sét như xi măng sét, xi măng vôi hoặc xi măng silic. Một số đá trầm tích mảnh vụn thường gặp như dăm kết, cuội kết, sa thạch.
==== Đá trầm tích hóa học ====
Đá trầm tích hóa học tạo thành do các khoáng chất hòa tan trong nước lắng đọng, kết tủa lại, như đá vôi dolomit. thạch cao, anhydrit, tup đá vôi…
Đá vôi chiếm khoảng 10-15% của các loại đá trầm tích của trái đất. Cacbonat canxi, CaCO3, có tồn tại ở hai loại khoáng vật là canxit và aragonit. Đá vôi có thể được hình thành trong nhiều cách khác nhau, canxi cacbonat có thể được kết tủa từ nước biển bão hòa, hoặc sinh học, động vật có vỏ đá vôi để lại vỏ. Có cả động vật hình thành khung xương aragonit và động vật hình thành khung xương canxit, và tùy thuộc vào loại động vật sinh sống ở một hốc đá vôi có thể khác nhau đáng kể giữa các địa điểm.
Loại phổ biến nhất của các loại đá kết tủa hóa học là evaporit, được hình thành khi nước giàu muối hòa tan bị bốc hơi. Khi bay hơi nồng độ muối tăng cho đến khi nước được bão hòa và muối bắt đầu kết tủa. Một lượng lớn các đá evaporit hình thành khi biển bốc hơi trong khu vực Địa Trung Hải trong suốt thế Miocene và dọc theo bờ Biển Chết ngày nay. Các loại khoáng evaporit gồm thạch cao (CaSO4·2H2O), thạch cao khan (CaSO4) và halit (NaCl).
==== Đá trầm tích hữu cơ ====
Trầm tích hữu cơ tạo thành do sự tích tụ xác động vật, thực vật như đá vôi, đá vôi vỏ sò, đá phấn, đá diatomit, trepen… Trầm tích hữu cơ thường bị các vi sinh vật tiêu thụ ôxy phá hủy. Tuy nhiên, nếu lượng oxy không đủ, vi sinh vật không thể phá hủy toàn bộ nguyên liệu, và nó có thể tạo thành một tảng đá hữu cơ. Các loại đá này có thể được hình thành cả trên các lục địa và đại dương. Ví dụ về một môi trường lục địa là than và biển là đá phiến dầu. Thành phần của hợp chất carbon và carbon có thể lên tới 25% và hàm lượng lưu huỳnh có thể lên tới 12%.
==== Đá trầm tích núi lửa ====
Đá hình thành do mảnh vụn của núi lửa lắng đọng và nén ép thành đá như tuff.
== Đá biến chất ==
Đá biến chất được tạo ra từ sự thay đổi của bất kỳ loại đá nào (bao gồm cả đá biến chất đã hình thành trước đó) đối với các điều kiện thay đổi của môi trường như nhiệt độ và áp suất so với các điều kiện nguyên thủy mà các loại đá đó được hình thành. Các điều kiện nhiệt độ và áp suất này luôn luôn cao hơn so với các chỉ số của chúng ở bề mặt Trái Đất, và phải đủ cao để có thể thay đổi các khoáng chất nguyên thủy thành các dạng khoáng chất khác hoặc thành các dạng khác của cùng một khoáng chất (ví dụ bằng sự tái kết tinh).
Mức độ biến chất của đá có thể được miêu tả qua một số tướng, mỗi tướng đặc trưng bởi một số loại đá có khoáng sản đi kèm trong một giới hạn nhiệt độ và áp suất nhất định. Lý thuyết về tướng biến chất được nhà địa chất Phần Lan, Pentti Eskola đưa ra năm 1915, lý thuyết này là sự phát triển tiếp theo của công trình phiến biến chất được Viktor M. Goldschmidts đưa ra từ thập niên 1900.
Trong trường hợp nhiệt độ là yếu tố chính thì biến chất xảy ra theo đường màu xanh lá cây (hình bên) tạo ra đá biến chất tướng amphibolit và granulit. Trong trường hợp va mảng mà yếu tố chi phối là áp lực thì tạo nên tướng đá phiến lam và eclogit.
=== Môi trường biến chất ===
Biến chất khu vực xảy ra trong khu vực rộng lớn, chẳng hạn như các dãy núi. Khi các mảng kiến tạo hội tụ và các tầng trên của các lớp gấp lại và ép xuống làm những lớp đá hình thành trước bị lún sâu hơn, bên trên là những lớp trầm tích mới tích tụ dần gây nên áp lực và nhiệt độ gia tăng. Điều này dẫn đến cả hai quá trình tái kết tinh và thay đổi cấu trúc. Loại đá này có tính phân phiến (lớp mỏng) nên tính chất cơ học kém hơn đá mácma. Ví dụ Đá gơnai (do đá granit tái kết tinh), phiến sét (do sự biến chất của đất sét dươi áp lực cao).
Biến chất tiếp xúc xảy ra khi đá nằm bên cạnh một khối mácma bị ảnh hưởng bởi nhiệt từ mácma. Kích thước của mácma ảnh hưởng đến khoảng cách mà khối đá có trước bị biến chất. Trong một thể magma lớn, giống như một thể batolit lớn có thể đến vài km, thì lớp biến chất tiếp xúc có thể chỉ vài cm. Biến chất tiếp xúc xảy ra ở tất cả các độ sâu trong lớp vỏ, nhưng là rõ ràng nhất khi nó xảy ra gần bề mặt, bởi vì áp lực thấp, và độ lệch nhiệt độ quá lớn. Vì biến chất tiếp xúc không liên quan đến bất kỳ áp lực nào tác động lên nên các tinh thể không định hướng theo bất kỳ hướng nào. Ví dụ đá hoa (do tái kết tinh đá vôi và đá đôlômit dưới tác dụng của nhiệt độ và áp suất cao mà thành), thạch anh (biến chất từ cát)…
Biến chất nhiệt dịch xảy ra khi dòng nhiệt dịch nóng xen vào trong các khe nứt làm ảnh hưởng đến khối đá có trước. Điều này thường xảy ra trong các khe nứt của các hoạt động lửa, vì điều này góp phần ra nhiệt cần thiết.
Biến chất va chạm xảy ra khi thiên thạch va chạm bề mặt đất, do động năng rất lớn của thiên thạch được chuyển thành nhiệt và áp suất trong đá bị va chạm. Trong một số trường hợp, những tác động này tạo thành các coesit, một loại silica mật độ lớn, và thậm chí hình thành các hạt kim cương nhỏ. Sự hiện diện của các khoáng chất như trên cho thấy rằng ít nhất là thiên thạch đã tạo ra áp lực và nhiệt độ gây biến đổi phần trên cùng, nơi mà các khoáng vật thường được hình thành.
=== Cấu tạo ===
Cấu tạo đặc trưng của đá biến chất là phân phiến, đó là sự sắp xếp có định hướng của các khoáng vật dưới tác động của áp suất chính trong quá trình hình thành đá biến chất, ví dụ như đá gneiss, đá phiến lam, đá phiến lục. Phương áp lực sẽ vuông góc với mặt phẳng chứa các phiến. Dựa vào đặc điểm này, người ta có thể tái hiện lại môi trường kiến tạo vào lúc mà đá đó được hình thành. Tuy nhiên, không phải đá biến chất nào cũng có cấu tạo phân phiến. Các đá không có cấu tạo phân phiến như quartzit, đá hoa, đá sừng.
== Thiên thạch ==
Thiên thạch là một loại đá có nguồn gốc trong không gian chứ không phải hình thành trên Trái Đất. Một số thiên thạch có thể là dấu tích còn sót lại từ sự hình thành hệ Mặt Trời cách nay hơn 4,6 tỷ năm. Thiên thạch thường bao gồm khoáng vật silicat (95%) và rất nhiều hợp kim sắt - niken, hoặc sự kết hợp cả hai (5%).
Thiên thạch sắt bao gồm hợp kim sắt-niken và chiếm khoảng 3,8% của tất cả thiên thạch. Chúng được cho là bao gồm các vật liệu từ lõi của các tiểu hành tinh bị gián đoạn. Thiên thạch sắt rơi vào ba nhóm tùy thuộc vào thành phần niken/sắt và cấu trúc tinh thể; hexahedriter chứa 4-6% niken, octahedriter chứa 6-12% niken và ataxiter chứa nhiều hơn 12% niken. Cấu trúc tinh thể của hexahedriter giống như một hình chữ nhật, octahedriter có mô hình lục giác và ataxiter không có cấu trúc tinh thể khác nhau.
Thiên thạch sắt đá bao gồm một hỗn hợp xấp xỉ bằng hợp kim sắt-niken và khoáng chất silicat và tương ứng với khoảng 0,5% của tất cả các thiên thạch được biết đến. Chúng được cho là thành tạo từ vật liệu từ khu vực tiếp giáp giữa lõi thiên thể và lớp vỏ của nó.
== Sử dụng ==
Đá là một loại vật liệu gắn liền với lịch sử phát triển của loài người. Thời tiền sử, bắt đầu thời đại đồ đá con người đã biết dùng đá để làm vũ khí tự vệ, săn bắn, công cụ sản xuất. Những công trình bằng đá nổi tiếng như kim tự tháp, Angkor Wat, thành Babylon, El-Djem (Tuynizi), Colisée (Ý), Bourgogne (Pháp), Épidayre (Hy Lạp), vv.
=== Làm vật liệu xây dựng ===
Là sản phẩm sản xuất từ đá thiên nhiên bằng phương pháp gia công cơ học hoặc do phong hóa tự nhiên như: đá hộc, đá tấm (phiến), đá dăm, cát...
Từ đá thiên nhiên có thể chế tạo một số chất kết dính như xi măng (đá vôi+ đất sét+ nung + clinker, nghiền +PG XM), vôi (nung đá vôi CaCO3), thạch cao xd CaSO4.0.5H2O (nung đá thạch cao CaSO4.2H2O) …
Vật liệu đá xây dựng được sử dụng rộng rãi nhờ có những ưu điểm sau:
Cường độ chịu nén cao, Rn cao.
Bền vững trong môi trường sử dụng.
Dùng để trang trí như đá hoa, đá granit (hay đá hoa cương), đá gabro, đá biến chất tái kết tinh và một số loại đá phiến.
Giá thành thấp, tận dụng được nguồn nguyên liệu địa phương.
Bên cạnh đó còn có một số nhược điểm: khối lượng thể tích lớn, quá trình gia công phức tạp, vận chuyển và thi công khó khăn.
Tính chất các đá làm vật liệu xây dựng bao gồm trọng lượng thể tích và cường độ ở trạng thái khô, như các loại nhẹ (trọng lượng < 1800 kg/m3 và có mác tương ứng 5, 10, 15, 75, 100, 150 kG/cm2) thường dùng xây tường cho nhà cần cách nhiệt; loại nặng (> 1800 kg/m3 và có mác tương ứng 100, 150, 200, 400, 600, 800, 1000 kG/cm2) dùng trong các công trình chịu lực, công trình thủy công để xây móng, tường chắn, lớp phủ bờ kè, ốp lát…
Theo hệ số mềm, các đá được chia thành 4 cấp:? 0.6; 0.6 - 0.75; 0.75 - 0.9;và? 0.9.
Theo yêu cầu sử dụng và mức độ gia công
Đá hộc: gia công theo phương pháp nổ mìn. Dùng để xây móng nhà, tường chắn, trụ cầu,
Đá đẽo thô, vừa, kỹ tùy theo yêu cầu sử dụng của công trình.
Đá kiểu: được chọn lọc kỹ, chất lượng cao, dùng để trang trí cho các công trình.
Đá phiến: để ốp lát, trang trí.
Đá dăm: làm cốt liệu trộn bê tông.
== Xem thêm ==
Địa chất học
Thạch học
Danh sách khoáng vật
Danh sách các loại đá
Khai thác đá
Thạch luận
Cự thạch (Megalith)
Kè đá
== Chú thích ==
== Tham khảo ==
Andréasson, Per-Gunnar (2006). Geobiosphere, an Introduction (bằng tiếng Svenska) . ISBN 91-44-03670-1. Bảo trì CS1: Ngôn ngữ không rõ (link) Bảo trì CS1: Văn bản dư (link)
Stanley Chernicoff; Ramesh Venkatakrishman (1995). Geology: An Introduction to Physical Geology. Worth Publisher. ISBN 0-87901-451-2.
Crawford, Mark J. (1998). Physical Geology (bằng tiếng Anh). ISBN 0-8220-5335-7.
Spicar, Erich (1995). Mineral och Bergarter (bằng tiếng Svenska). ISBN 91-534-1385-7. Bảo trì CS1: Ngôn ngữ không rõ (link)
Selley Richard C., Cocks L. R. M., Plimer I. R. (2005). Encyclopedia of geology (bằng tiếng Anh). Amsterdam: Elsevier Academic Press. ISBN 0-12-636380-3.
Tarbuck (2008). Earth -an introduction to physical geology (bằng tiếng Anh). Pearson Prentice Hall. ISBN 0132410664.
Woods, Karen M. (2009). Physical Geology Laboratory Manual (bằng tiếng Anh). Kendall/Hunt Publishing Company. ISBN 978-0-7575-6114-6.
Hồ Sĩ Giao, Nguyễn Sĩ Hội và Trần Mạnh Xuân (1997). Khai thác mỏ vật liệu xây dựng. Nhà xuất bản Giáo dục.
Hồ Sĩ Giao (1996). Cơ sở công nghệ khai thác đá. Nhà xuất bản Giáo dục.
Roberts, Dar. “Rocks and classifications”. Department of Geography, University of California, Santa Barbara. Truy cập ngày 11 tháng 11 năm 2012.
== Liên kết ngoài == |
lia fáil.txt | Lia Fáil (phát âm tiếng Ireland: [ˌlʲiːə ˈfɔːlʲ], tạm dịch là "Tảng đá định mệnh"), là một tảng đá đặt tại Đồi Tấn Phong (tiếng Ireland: an Forrad) ở đồi Tara tại hạt Meath, Ireland. Tảng đá này là nơi diễn ra nghi lễ đăng quang của vua Ireland ngày xưa. Một tên khác của nó là "Tảng đá đăng quang của Tara". Theo truyền thuyết, tất cả những vị vua của Ireland cho tới Muirchertach mac Ercae (chết năm 534 CN) đều đã làm lễ đăng quang tại nơi này.
== Nguồn gốc theo truyền thuyết ==
Theo thần thoại Ireland, có nhiều "thuyết" khác nhau nói về nguồn gốc của Lia Fáil. Tuyển tập thi ca Lebor Gabála Érenn (niên đại vào thế kỷ thứ 8) viết rằng viên đá này được mang tới bởi một chủng tộc thần thánh tên là "dân tộc của nữ thần Danu" (Tuatha Dé Danann). Chủng tộc này được cho là đã đến khu vực của "những hòn đảo phía Bắc" để học phép thuật và kỹ năng siêu việt từ bốn thành phố Falias, Gorias, Murias và Findias. Từ đó, họ lại đến Ireland mang theo bốn bảo vật của các thành phố đó. Trong đó tảng đá Định Mệnh Lia Fáil là của thành phố Falias.
Một số tác phẩm sử biên niên của Scotland như các tác phẩm của John of Fordun và Hector Boece từ thế kỷ thứ 13 xem Lia Fáil ngang hàng với tảng đá cùng tên ở Scotland. Họ cho rằng tảng đá Định mệnh bị đưa khỏi Tara vào khoảng năm 500 CN khi Thượng vương Ireland là Murtagh MacEirc đem nó cho ông cậu của mình là Fergus mượn để Fergus làm lễ đăng quang ngôi vua của nước Dalriada, lúc này đang bao hàm phần rìa phía Tây của Scotland và Đông Bắc Uladh (Ulster). Không lâu sau khi Fergus lên ngôi ở Scotland, ông và quần thần tử nạn trong một trận bão biển ngoài khơi của Antrim, còn tảng đá thì nằm lại Scotland. Vì vậy Murtagh MacEirc là người cuối cùng được sử sách ghi lại là vua làm lễ đăng quang tại tảng đá Định Mệnh. Tuy nhiên sử gia William Forbes Skene đã bình luận rằng các truyền thuyết của người Scotland thường nói rằng tảng đá Định Mệnh đi từ Ireland sang Scotland, trong khi truyền thuyết Ireland nói điều ngược lại.
Người ta cho rằng Lia Fáil mang một quyển năng ma thuật, nếu như một người có tư cách làm Thượng vương Ireland chân chính đặt chân lên tảng đá, tảng đá sẽ cất lên một tiếng kêu lớn thể hiện niềm vui. Tảng đá cũng được cho là có khả năng cải lão hoàn đồng vị vua và giúp ông ta trường thọ, trị vì dài lâu. Căn cứ theo Lebor Gabála Érenn, Cú Chulainn đã chém đứt đôi tảng đá này khi nó không chịu phát ra tiếng động, khi người được ông bảo hộ là Lugaid Riab nDerg đặt chân lên. Từ khi đó tảng đá không bao giờ phát ra tiếng kêu nữa, trừ trường hợp của vua Conn Cétchathach.
=== Cái tên "Hòn đảo Định mệnh" ===
Theo truyền thuyết, vì Ireland là nơi tọa lạc của tảng đá Định Mệnh, nên tộc người của thần Danu đã gọi Ireland là "Hòn đảo Định mệnh" (Inis Fáil, với inis là đảo và fáil là định mệnh), từ cái tên đó, ngày nay người Ireland cũng dùng chữ 'Fál' để ám chỉ tổ quốc của mình. Ngoài ra chữ Fál trong tiếng Anh còn có nghĩa là hàng rào, bờ giậu, hay nghĩa là vua chúa, người cai trị. Vì vậy, cái tên Lia Fáil cũng có thể được hiểu là "Tảng đá của Ireland". Và chữ Inisfail, tức Hòn đảo Định mệnh, là một cách nói lãng mạn trữ tình để ám chỉ về Ireland, nó dùng giống như chữ Erin trong một số tác phẩm ái quốc và lãng mạn của Ireland vào thế kỷ 19 và đầu thế kỷ 20, ví dụ như bài thơ Inisfail của Aubrey Thomas de Vere.
Và cái tên Fianna Fáil, tức "chiến binh Định mệnh" (fianna có nghĩa là "chiến binh") là biệt hiệu của binh đoàn tình nguyện Ireland, xuất hiện trên đồng phục của quân đội Ireland, là từ mở đầu đoạn điệp khúc của quốc ca Ireland, và là tên của đảng Fianna Fáil.
== Bị phá hoại ==
Vào tháng 6 năm 2012, tảng đá bị đập phá, bị tổn hại ở 11 vị trí do bị đập bằng búa. Vào tháng 5 năm 2014, lại có kẻ phá hoại tảng đá bằng cách xịt sơn xanh và đỏ lên ít nhất một nửa bề mặt của đá.
== Xem thêm ==
Omphalos
Tảng đá định mệnh (Scotland)
Tảng đá Mora
Tảng đá Vương công
Excalibur
Tảng đá Blarney
De Shíl Chonairi Móir
== Chú thích ==
== Tham khảo ==
Campbell, Ewan. "Royal Inauguration in Dál Riata and the Stone of Destiny." In The Stone of Destiny: artefact and icon, ed. Richard Welander et al. Society of Antiquaries of Scotland, Monograph series 22. Edinburgh: Society of Antiquaries of Scotland, 2003. 43–59.
FitzPatrick, Elizabeth. Royal Inauguration in Gaelic Ireland c. 1100–1600. Woodbridge, 2004.
Nitze, William A. "The Siege Perilleux and the Lia Fáil or 'Stone of Destiny'." Speculum 31 (1956): 258 ff.
Ó Broin, Tomás. "Lia Fáil: fact and fiction in tradition." Celtica 21 (1990): 393–401.
== Liên kết ngoài ==
The History of Ireland, Geoffrey Keating, pp205-212 |
bình nguyên hoa bắc.txt | Bình nguyên Hoa Bắc hay đồng bằng Hoa Bắc (giản thể: 华北平原; phồn thể: 華北平原; bính âm: Huáběi Píngyuán, Hán Việt: Hoa Bắc bình nguyên) được tạo thành từ trầm tích của Hoàng Hà và là đồng bằng phù sa lớn nhất tại Đông Á. Bình nguyên có giới hạn ở phía bắc là Yên Sơn và phía tây là Thái Hành Sơn. Ở phía nam, nó giao với Bình nguyên Trung hạ du Trường Giang. Từ đông bắc đến đông nam, bình nguyên lần lượt giáp với Bột Hải, vùng cao nguyên của bán đảo Sơn Đông, và Hoàng Hải. Hoàng Hà chảy qua trung tâm của bình nguyên rồi đổ ra Bột Hải.
Dưới đập Tam Môn Hạp và đập Tiểu Lãng Để ở thung lũng sông cuối cùng trước khi vào bình nguyên Hoa Bắc, một đồng bằng rộng lớn đã dần được tạo ra từ phù sa Hoàng Hà trong hàng thiên niên kỉ. Bình nguyên Hoa Bắc trải rộng ra phần lớn các tỉnh Hà Nam và Hà Bắc và Sơn Đông và hợp với đồng bằng Trường Giang ở phía bắc hai tỉnh Giang Tô và An Huy. Hoàng Hà uốn khúc qua vùng đồng bằng phì nhiêu và đông dân cư trước khi đổ ra Bột Hải. Đây là một trong các vùng nông nghiệp quan trọng nhất của Trung Quốc với các loại cây trồng như ngô, lúa miến, lúa mì vụ đông, rau, và bông.
Phần phía nam của bình nguyên theo thói quen thường được gọi là Trung Nguyên (tiếng Trung: 中原; bính âm: Zhōngyuán), cái nôi của nền văn minh Trung Hoa. Bình nguyên có diện tích 409,500 kilômét vuông (158,109 sq mi), hầu hết diện tích thấp hơn 50 mét (160 ft) so với mực nước biển. Thủ đô Bắc Kinh nằm ở rìa đông bắc của bình nguyên, Thiên Tân, một thành phố công nghiệp và cảng biển quan trọng, nằm ở bờ biển phía đông bắc.
== Tiểu vùng ==
Căn cứ vào đặc điểm khác nhau của các khu vực, có thể chia bình nguyên Hoa Bắc thành 4 á bình nguyên:
Bình Nguyên hạ du Liêu Hà, có ranh giới là Sơn Hải Quan, tạo thành do trầm tích phù sa của Liêu Hà, có nhiều đầm lầy, có nơi bị nhiễm mặn, nhiệt độ bình quân thấp, song vào mùa hè có thể trồng lúa gạo, các cây lượng thực chủ yếu là lúa miến, lúa gạo và ngô.
Bình nguyên Hải Hà ở phía nam của Yên Sơn, phía bắc Hoàng Hà và phía đông của Thái Hành Sơn. Bình nguyên do trầm tích phù sa của Hải Hà và Hoàng Hà tạo nên, do vậy cũng gọi là bình nguyên Hoàng Hải. Đây là khu vực sản xuất lương thực và sợi bông trọng yếu của Trung Quốc, từ năm đến bắc cả thảy dài 500 km nên còn gọi là "Thiên Lý bình nguyên". Các cây lương thực chủ yếu là lúa mì, ngô.
Bình nguyên Hoàng Phiếm, nằm giữa bình nguyên Hải Hà và bình nguyên Hoài Bắc, do trầm tích phù sa Hoàng Hà tạo nên, có nhiệt độ cao, thích hợp cho các cây trồng chống cát ưa nhiệt sinh trưởng. Các cây trồng chính là bông, lạc, lúa gạo...
Bình nguyên Hoài Bắc, ở phía bắc Hoài Hà, phía nam khu Hoàng Phiếm, do các trầm tích từ các trận lũ lụt của Hoàng Hà và Hoài Hà bồi đắp nên, có nhiệt độ cao, tài nguyên nước dồi dào. Trước đây thường phải hứng chịu các trận lũ lụt của Hoàng Hà, lắng động dòng chảy Hoài Hà, khiến nạn đói xảy ra thường xuyên. Về sau, Hoài Hà được nạo vét và bình nguyên Hoài Bắc trở thành khu vực sản xuất lúa gạo chủ đạo của Trung Quốc.
== Ý nghĩa lịch sử ==
Địa lý của vùng bình nguyên Hoa Bắc đã có ảnh hưởng sâu sắc đến văn hóa và chính trị. Không giống như các khu vực ở phía nam của Trường Giang, bình nguyên không bị chia cắt nhiều bởi các dãy núi và có khá ít sông, và do vậy việc liên lạc bằng ngựa là khá nhanh chóng. Kết quả, ngôn ngữ tương đối đồng nhất, tương phản với tình trạng có nhiều ngôn ngữ hay phương ngữ ở miền nam Trung Quốc. Ngoài ra, nhờ có khả năng thông tin liên lạc nhanh chóng nên trung tâm chính trị của Trung Quốc có xu hướng được đặt ở đây.
Do đất đai màu mỡ của vùng bình nguyên Hoa Bắc dần dần chuyển sang vùng thảo nguyên và sa mạc ở Trung Á nên không có ranh giới tự nhiên giữa các vùng, bình nguyên dễ dàng bị xâm lược từ Trung Á, Bắc Á và Mãn Châu và điều này đã thúc đẩy việc xây dựng Vạn Lý Trường Thành.
Mặc dù đất đai của bình nguyên Hoa Bắc màu mỡ song khí hậu lại khó tiên định trước và là nơi giao nhau của luồng khí ẩm từ Thái Bình Dương và luồng khí khô từ vùng nội địa châu Á. Điều này khiến bình nguyên dễ bị lũ lụt cũng như hạn hán. Hơn nữa, sự bằng phẳng của đồng bằng sẽ khiến nó phải hứng chịu các trận lụt lớn khi các công trình thủy lực bị hư hỏng. Nhiều sử gia cho rằng yếu tố này đã thúc đẩy sự phát triển của một nhà nước Trung Quốc tập trung hóa nhằm quản lý các kho thóc, bảo trì các công trình thủy lực và chống lại các bộ lạc du mục.
== Xem thêm ==
Hoa Bắc
== Tham khảo ==
== Liên kết ngoài ==
Encyclopædia Britannica: "North China Plain" |
bán đảo ý.txt | Bán đảo Ý hay bán đảo Apennini (tiếng Ý: Penisola italiana hay Penisola appenninica) là một trong ba bán đảo lớn của Nam Âu (hai bán đảo còn lại là Iberia và Balkan), trải dài 1.000 km (620 mi) từ thung lũng Po ở phía bắc đến Địa Trung Hải ở phía nam. Hianhf dạng của bán đảo khiến nó có biệt danh là Lo Stivale (Giày ống/ủng). Ba bán đảo nhỏ tạo nên hình dạng đặc trưng này là Calabria, Salento và Gargano.
Từ thời Hoàng đế La Mã Augustus (kết thúc thế kỷ 1 TCN), ranh giới phía bắc của bán đảo đã được lập trên đường phân nước của dãy Alpes, tuy nhiên về mặt địa lý ranh giới này trung với một đường kéo dài từ sông Magra đến sông Rubicone, phía bắc của dãy Appennini Tuscany-Emilia, không bao gồm thung lũng Po và sườn phía nam của dãy Alpes.
Gần như toàn bộ bán đảo thuộc chủ quyền của Cộng hòa Ý, phần nhỏ còn lại là San Marino và Vatican. Ngoài ra, Sicilia, Elba, Malta (một quốc gia độc lập), và các đảo nhỏ hơn, như Palagruža, thuộc về Croatia, thường được coi là đảo ngoài khơi bờ biển bán đảo và được nhóm lại về mặt địa lý với bán đảo.
Bán đảo Ý được bao bọc bởi biển Tyrrhenus ở phía tây, biển Ionia ở phía nam, và biển Adriatic ở phía đông. Xương sống của bán đảo là dãy núi Apennini, vốn cũng tạo nên một tên của bán đảo. Bờ biển của bán đảo hầu hết là các vách đá. Vị trí chiến lược của bán đảo Ý nằm giữa trung tâm châu Âu và Địa Trung Hải khiến nó từng phải chịu nhiều cuộc xâm lược.
Bán đảo chủ yếu của khí hậu Địa Trung Hải, mặc dù ở các vùng đồi núi có khí mật mát hơn, thảm thực vật tự nhiên của bán đảo bao gồm rừng cây bụi (macchia) dọc theo bờ biển và rừng rụng lá và hỗn hợp rụng lá và lá kim trong vùng nội lục.
== Các quốc gia ==
== Xem thêm ==
Italia (đế quốc La Mã)
== Tham khảo == |
new zealand.txt | New Zealand (phiên âm tiếng Việt: Niu Di-lân; phát âm tiếng Anh: /njuː ˈziːlənd/) là một đảo quốc tại khu vực tây nam của Thái Bình Dương. Trên phương diện địa lý, New Zealand gồm hai đảo lớn chính là đảo Bắc và đảo Nam, và một số đảo nhỏ.
New Zealand nằm cách Úc khoảng 1.500 kilômét (900 mi) về phía đông qua biển Tasman và cách Nouvelle-Calédonie, Fiji, và Tonga khoảng 1.000 kilômét (600 mi) về phía nam. Do vị trí cách biệt, New Zealand nằm trong số những phần đất cuối cùng có con người đến định cư. Trong thời gian cô lập vắng bóng con người, New Zealand duy trì một nền sinh thái đa dạng có nhiều loài đặc hữu của các nhóm động vật, nấm, thực vật. Thủ đô của New Zealand là Wellington, còn thành phố đông cư dân nhất là Auckland.
Người Polynesia định cư tại New Zealand vào năm 1250–1300 CN và phát triển văn hóa Maori đặc trưng. Năm 1642, nhà thám hiểm Abel Tasman là người châu Âu đầu tiên trông thấy New Zealand. Đến năm 1840, Hoàng gia Anh Quốc và người Maori ký kết Hiệp định Waitangi, biến New Zealand thành một thuộc địa của Anh Quốc. Ngày nay, đa số trong dân số 4,5 triệu của New Zealand có huyết thống châu Âu; người Maori bản địa là dân tộc thiểu số đông dân cư nhất, tiếp đến là người châu Á và người các đảo Thái Bình Dương. Do vậy, văn hóa New Zealand chủ yếu bắt nguồn từ người Maori và những người định cư Anh Quốc ban đầu, và gần đây được mở rộng do nhập cư gia tăng. Các ngôn ngữ chính thức là tiếng Anh, tiếng Maori và ngôn ngữ ký hiệu New Zealand, trong đó tiếng Anh chiếm ưu thế. Ngành xuất khẩu len từng thống trị kinh tế New Zealand, song hiện nay xuất khẩu các sản phẩm bơ sữa, thịt, và rượu vang, cùng với du lịch gia tăng tầm quan trọng.
Trên phương diện quốc gia, quyền lập pháp được trao cho một Nghị viện đơn viện được bầu cử, trong khi quyền chính trị hành pháp do Nội các thi hành, đứng đầu là Thủ tướng. Nữ vương Elizabeth II là nguyên thủ quốc gia, đại diện cho bà là một Toàn quyền. Ngoài ra, New Zealand được tổ chức thành 11 hội đồng khu vực và 67 cơ quản lãnh thổ nhằm phục vụ mục đích cai quản địa phương. Vương quốc New Zealand cũng bao gồm Tokelau (một lãnh thổ phụ thuộc); quần đảo Cook và Niue (các quốc gia tự trị có liên kết tự do với New Zealand); và Lãnh thổ phụ thuộc Ross mà New Zealand tuyên bố chủ quyền tại khu vực Nam Cực. New Zealand là một thành viên của Liên Hiệp Quốc, Thịnh vượng chung các Quốc gia, ANZUS, OECD, Diễn đàn Quần đảo Thái Bình Dương và APEC.
== Từ nguyên ==
Nhà thám hiểm người Hà Lan Abel Tasman trông thấy New Zealand vào năm 1642 và gọi nó là Staten Landt, cho rằng nó liên thông với một đại lục cùng tên tại mũi phía nam của Nam Mỹ. Năm 1645, một nhà vẽ bản đồ người Hà Lan đổi tên lãnh thổ là Nova Zeelandia theo tên tỉnh Zeeland của Hà Lan. Nhà thám hiểm người Anh Quốc James Cook sau đó Anh hóa danh xưng thành New Zealand.
Aotearoa (thường được dịch thành "miền đất của đám mây trắng dài") hiện là danh xưng của New Zealand trong tiếng Maori. Không rõ người Maori có một danh xưng cho toàn bộ quốc gia trước khi người châu Âu đến hay không, do Aotearoa nguyên bản chỉ ám chỉ đảo Bắc. người Maori có một số tên truyền thống cho hai đảo chính, trong đó có Te Ika-a-Māui (con cá của Māui) cho đảo Bắc và Te Waipounamu (nguồn nước của Pounamu) hoặc Te Waka o Aoraki (xuồng của Aoraki) cho đảo Nam. Những bản đồ ban đầu của người châu Âu thể hiện các đảo Bắc (đảo Bắc), Trung (đảo Nam) và Nam (Stewart). Năm 1830, các bản đồ bắt đầu sử dụng Bắc và Nam nhằm phân biệt hai đảo lớn nhất và đến năm 1907 thì điều này trở thành tiêu chuẩn được công nhận. Năm 2009, Ủy ban Địa lý New Zealand phát hiện rằng các danh xưng đảo Bắc và đảo Nam chưa từng được chính thức hóa, và các danh xưng cùng danh xưng thay thế được chính thức hóa vào năm 2013, chúng lần lượt được định danh là North Island hoặc Te Ika-a-Māui, và South Island hoặc Te Waipounamu.
== Lịch sử ==
New Zealand là một trong các đại lục cuối cùng có người đến định cư. Theo phương pháp carbon phóng xạ, bằng chứng về phá rừng và ADN ti thể biến thiên trong cư dân Maori cho thấy New Zealand được định cư lần đầu bởi người Đông Polynesia trong khoảng 1250-1300, kết thúc một loạt hành trình kéo dài qua các đảo tại Nam Thái Bình Dương. Trong các thế kỷ sau, những người định cư này phát triển một văn hóa riêng biệt mà nay gọi là Maori. Cư dân được chia thành iwi (bộ tộc) và hapū (thị tộc), các bộ tộc và thị tộc đôi thi hợp tác, đôi khi cạnh tranh hoặc chiến đấu với nhau. Trong một thời điểm, một nhóm người Maori di cư đến quần đảo Chatham rồi phát triển một văn hóa Moriori riêng biệt tại đó.
Người châu Âu đầu tiên được ghi nhận đã tiếp cận New Zealand là nhà thám hiểm người Hà Lan Abel Tasman cùng thủy thủ đoàn của ông vào năm 1642. Trong một đối đầu thù địch, bốn thành viên trong thủy thủ đoàn bị hạ sát và có ít nhất một người Maori bị trúng đạn. Người châu Âu không đến lại New Zealand cho đến năm 1769, khi nhà thám hiểm người Anh Quốc James Cook vẽ lên bản đồ hầu như toàn bộ đường bờ biển. Sau James Cook, một số tàu săn cá voi, săn hải cẩu, và giao dịch của người châu Âu và Bắc Mỹ đến New Zealand. Họ giao dịch thực phẩm, công cụ bằng kim loại, vũ khí và các hàng hóa khác để đổi lấy gỗ, thực phẩm, đồ tạo tác, và nước. Việc giới thiệu khoai tây và súng hỏa mai đã cải biến nông nghiệp và chiến tranh của người Maori. Khoai tây giúp đảm bảo dư thừa lương thực, tạo điều kiện cho các chiến dịch quân sự kéo dài và liên tục hơn. Kết quả là các cuộc chiến tranh bằng súng hỏa mai giữa các bộ tộc, với trên 600 trận chiến từ năm 1801 đến 1840, làm thiệt mạng 30.000-40.000 người Maori. Kể từ đầu thế kỷ 19, các nhà truyền giáo Cơ Đốc bắt đầu hoạt động tại New Zealand, cuối cùng cải biến tôn giáo hầu hết cư dân Maori. Trong thế kỷ 19, cư dân Maori suy giảm đến khoảng 40% so với mức trước khi có tiếp xúc với người châu Âu; các dịch bệnh được đem đến là yếu tố chủ yếu.
Năm 1788, Arthur Phillip đảm nhiệm chức vụ Thống đốc New South Wales và yêu sách New Zealand là bộ phận của New South Wales. Năm 1832, Chính phủ Anh Quốc bổ nhiệm James Busby là Công sứ Anh Quốc đầu tiên tại New Zealand và đến năm 1835, sau một tuyên bố của Charles de Thierry về dự kiến người Pháp định cư, Liên hiệp các bộ tộc New Zealand gửi một Tuyên ngôn độc lập đến Quốc vương William IV của Anh Quốc để yêu cầu bảo hộ. Náo động không ngừng và tình trạng pháp lý mơ hồ của Tuyên ngôn độc lập thúc đẩy Bộ Thuộc địa Anh Quốc phái William Hobson đi tuyên bố chủ quyền của Anh Quốc và đàm phán một hiệp định với người Maori. Hiệp định Waitangi được ký kết lần đầu tiên tại Bay of Islands vào ngày 6 tháng 2 năm 1840. Nhằm phản ứng trước cuộc đua thương mại khi Công ty New Zealand nỗ lực thiết lập một khu định cư độc lập tại Wellington và những người Pháp định cư "mua" lãnh thổ tại Akaroa, Hobson tuyên bố chủ quyền của Anh Quốc đối với toàn bộ New Zealand vào ngày 21 tháng 5 năm 1840. Với việc ký kết Hiệp định Waitangi và tuyên bố chủ quyền, số người nhập cư bắt đầu gia tăng, đặc biệt là từ Anh Quốc.
New Zealand nguyên là bộ phận của thuộc địa New South Wales, song trở thành một thuộc địa riêng vào ngày 1 tháng 7 năm 1841. Thuộc địa có chính phủ đại diện vào năm 1852 và Nghị viện New Zealand khóa 1 họp vào năm 1854. Năm 1856, thuộc địa được tự quản một cách hữu hiệu, được chịu trách nhiệm đối với toàn bộ các vấn đề nội bộ trừ chính sách thổ dân. (Quyền kiểm soát chính sách thổ dân được cấp vào giữa thập niên 1860.) Sau những lo ngại rằng đảo Nam có thể tạo thành một thuộc địa riêng biệt, Thủ tướng Alfred Domett đề nghị một giải pháp là dời đô từ Auckland đến một địa phương nằm gần eo biển Cook. Wellington được lựa chọn do nơi này có cảng và vị trí trung tâm, nghị viện chính thức họp lần đầu tại đây vào năm 1865. Do số lượng người nhập cư gia tăng, xung đột về lãnh địa dẫn đến các cuộc chiến tranh New Zealand trong thập niên 1860 và 1870, kết quả là người Maori bị tổn thất và sung công nhiều vùng đất. Năm 1893, New Zealand trở thành quốc gia đầu tiên trên thế giới trao quyền bầu cử cho toàn bộ nữ giới
Năm 1907, theo thỉnh cầu của Nghị viện New Zealand, Quốc vương Edward VII tuyên bố New Zealand là một quốc gia tự trị trong Đế quốc Anh, phản ánh tình trạng tự quản tại đây. Năm 1947, New Zealand phê chuẩn Đạo luật Westminster, xác nhận rằng Quốc hội Anh Quốc không còn có thể ban hành luật cho New Zealand mà không được New Zealand tán thành. New Zealand tham dự các vấn đề quốc tế, chiến đấu cho Đế quốc Anh trong thế chiến thứ nhất và thứ hai và chịu tổn thất trong Đại khủng hoảng. Sự đình trệ khiến cử tri bầu ra một chính phủ Lao động đầu tiên, và thiết lập một quốc gia phúc lợi toàn diện và một kinh tế bảo hộ. New Zealand trải qua phát triển thịnh vượng sau Chiến tranh thế giới thứ hai và người Maori bắt đầu rời bỏ sinh hoạt nông thôn truyền thống của họ và chuyển đến các thành thị nhằm tìm công việc. Hình thành một phong trào phản kháng của người Maori, trong đó chỉ trích chủ nghĩa châu Âu trung tâm và hoạt động nhằm giành công nhận lớn hơn cho văn hóa Maori và Hiệp định Waitangi. Năm 1975, một Tòa án Waitangi được thiết lập nhằm điều tra những cáo buộc về việc vi phạm Hiệp định, và tòa án này được cho phép điều tra các bất bình trong lịch sử.
== Chính trị ==
=== Chính phủ ===
New Zealand là một quốc gia quân chủ lập hiến dân chủ đại nghị, song hiến pháp đảo quốc là bất thành văn. Elizabeth II là Nữ vương của New Zealand và là nguyên thủ quốc gia. Đại diện cho Nữ vương là Toàn quyền, bà bổ nhiệm toàn quyền theo khuyến nghị của thủ tướng. Toàn quyền có thể thi hành các quyền lực đặc quyền của quân chủ, như tái xét các vụ tố tụng bất công và tiến hành bộ nhiệm các bộ trưởng, đại sứ và các công chức quan trọng khác, và trong những tình huống hiếm hoi là quyền dự bị (như quyền giải tán Nghị viện hay từ chối ngự chuẩn một đạo luật thành luật). Quyền lực của Nữ vương và Toàn quyền bị hạn chế theo những ràng buộc hiến pháp và họ không thể thi hành một cách thông thường khi không có khuyến nghị của Nội các.
Nghị viện New Zealand nắm quyền lập pháp và gồm Nữ vương và Chúng nghị viện. Nghị viện từng có một thượng viện mang tên là Hội đồng Lập pháp, song cơ cấu này bị bãi bỏ vào năm 1950. Quyền lực tối cao của Nghị viện đối với Vương quốc và các cơ quan chính phủ khác được thiết lập tại Anh theo Đạo luật Quyền lợi 1689 và được phê chuẩn thành luật tại New Zealand. Chúng nghị viện được tuyển cử theo hình thức dân chủ và một chính phủ được tạo thành từ đảng hoặc liên minh chiếm đa số ghế. Nếu không thể thành lập chính phủ đa số, một chính phủ thiểu số có thể được lập nên nếu nhận được đủ số phiếu ủng hộ. Toàn quyền bổ nhiệm các bộ trưởng theo khuyến nghị của thủ tướng, thủ tướng theo tục lệ là thủ lĩnh nghị viện của đảng hoặc liên minh nắm quyền. Nội các gồm các bộ trưởng và do thủ tướng lãnh đạo, đây là cơ quan quyết định chính sách cao nhất trong chính phủ và chịu trách nhiệm quyết định các hành động quan trọng của chính phủ. Theo quy ước, các thành viên trong nội các bị ràng buộc với trách nhiệm tập thể đối với các quyết định của nội các.
Các thẩm phán và quan chức tư pháp được bổ nhiệm một cách phi chính trị và theo các quy định nghiêm ngặt về nhiệm kỳ nhằm giúp duy trì độc lập hiến pháp với chính phủ. Về mặt lý thuyết, điều này cho phép bộ máy tư pháp giải thích luật chỉ dựa theo pháp luật do Nghị viện ban hành mà không có các ảnh hưởng khác đối với quyết định của họ. Xu mật viện tại Luân Đôn là tòa thượng tố tối cao của quốc gia cho đến năm 2004, khi mà nó bị Tòa Tối cao New Zealand mới thành lập thay thế. Bộ máy tư pháp do Chánh án đứng đầu, gồm tòa án thượng tố, tòa cao đẳng, và các tòa cấp dưới.
Hầu như toàn bộ các tổng tuyển cử nghị viện tại New Zealand từ năm 1853 đến 1993 được tổ chức theo hệ thống đa số chế. Các cuộc bầu cử từ năm 1930 bị chi phối bởi hai chính đảng là Quốc gia và Công đảng. Kể từ tổng tuyển cử năm 1996, một hình thức đại diện tỷ lệ gọi là tỷ lệ thành viên hỗn hợp (MMP) được sử dụng. Theo hệ thống MMP, mỗi cử tri bỏ hai phiếu; một ghế cho ghế khu tuyển cử (gồm một số khu dành cho người Maori), và phiếu còn lại bầu cho một đảng. Kể từ tổng tuyển cử năm 2005, có 70 ghế khu tuyển cử (với 7 khu tuyển cử Maori từ năm 1996), và 50 ghế còn lại được phân dựa theo tỷ lệ phiếu của các đảng, song một đảng giành được một ghế khu tuyển cử hoặc 5% tổng số phiếu cho đảng mới có tư cách có những ghế này. Từ tháng 3 năm 2005 đến tháng 8 năm 2006, New Zealand trở thành quốc gia duy nhất trên thế giới có nữ giới nắm giữ toàn bộ chức chức vụ cao nhất (nguyên thủ quốc gia, toàn quyền, thủ tướng, chủ tịch nghị viện, và chánh án).
=== Quan hệ đối ngoại và quân sự ===
Thời kỳ đầu thuộc địa, New Zealand cho phép Chính phủ Anh Quốc quyết định ngoại thương và chịu trách nhiệm về chính sách đối ngoại. Các hội nghị đế quốc năm 1923 và 1926 quyết định rằng New Zealand nên được phép đàm phán các hiệp ước chính trị của mình và hiệp định thương mại đầu tiên được phê chuẩn vào năm 1928 với Nhật Bản. Ngày 3 tháng 9 năm 1939, New Zealand liên minh với Anh Quốc và tuyên chiến với Đức, Thủ tướng Michael Savage tuyên bố rằng, "Nơi nào họ đi, chúng ta đi; Nơi nào họ dừng chân, chúng ta dừng chân."
Năm 1951, Anh Quốc bắt đầu gia tăng tập trung vào các lợi ích của mình tại châu Âu, trong khi New Zealand cùng với Úc và Hoa Kỳ tham gia hiệp định an ninh ANZUS. Ảnh hưởng của Hoa Kỳ đối với New Zealand bị suy yếu sau các kháng nghị về Chiến tranh Việt Nam, việc Hoa Kỳ từ chối cảnh cáo Pháp sau vụ chìm tàu Rainbow Warrior, bất đồng về các vấn đề môi trường và giao dịch nông nghiệp cùng chính sách phi hạt nhân của New Zealand. Mặc dù Hoa Kỳ đình chỉ các bổn phận ANZUS song hiệp định vẫn có hiệu lực giữa New Zealand và Úc- là quốc gia có xu hướng chính sách đối ngoại tương đồng trong lịch sử. Tiếp xúc chính trị mật thiết giữa hai quốc gia, với các hiệp định mậu dịch tự do và hiệp định vãng lai tự do mà theo đó cho phép các công dân đến, sinh sống, và làm việc tại hai quốc gia mà không bị hạn chế. Năm 2013, có khoảng 650.000 công dân New Zealand sống tại Úc, tức khoảng 15% dân số của New Zealand.
New Zealand hiện diện mạnh mẽ tại các đảo quốc Thái Bình Dương. Một phần lớn viện trợ của New Zealand đến với các quốc gia này và nhiều người các đảo quốc Thái Bình Dương nhập cư đến New Zealand để tìm công việc. Di cư thường trú được quy định theo Kế hoạch hạn ngạch Samoa 1970 và Hạng mục Tiếp nhận Thái Bình Dương 2002, theo đó cho phép 1.100 công dân Samoa và 750 công dân các đảo quốc Thái Bình Dương khác trở thành thường trú nhân tại New Zealand mỗi năm. Một kế hoạch lao động thời vụ dành cho di cư tạm thời được thi hành vào năm 2007, và trong năm 2009 có khoảng 8.000 công dân các đảo quốc Thái Bình Dương được thuê theo kế hoạch này. New Zealand tham gia Diễn đàn Quần đảo Thái Bình Dương, APEC và Diễn đàn khu vực ASEAN (gồm cả Hội nghị cấp cao Đông Á). New Zealand cũng là một thành viên của Liên Hiệp Quốc, Thịnh vượng chung các Quốc gia, OECD
Lực lượng Phòng vệ New Zealand có ba nhánh: Hải quân Hoàng gia New Zealand, Lục quân New Zealand và Không quân Hoàng gia New Zealand. Nhu cầu quốc phòng của New Zealand ở mức khiêm tốn do ít có khả năng chịu tấn công trực tiếp,. New Zealand tham gia chiến đấu trong hai thế chiến, với các chiến dịch nổi bật là Gallipoli, Crete, El Alamein và Cassino. Chiến dịch Gallipoli đóng một phần quan trọng trong việc bồi dưỡng bản sắc quốc gia của New Zealand và củng cố truyền thống ANZAC với Úc.
Ngoài Chiến tranh Việt Nam và hai thế chiến, New Zealand còn tham gia chiến đấu trong Chiến tranh Triều Tiên, Chiến tranh Boer thứ hai, Tình trạng khẩn cấp Malaya, Chiến tranh vùng Vịnh và Chiến tranh Afghanistan. Đảo quốc đóng góp quân cho một số sứ mệnh duy trì hòa bình khu vực và toàn cầu, như tại Síp, Somalia, Bosnia và Herzegovina, Sinai, Angola, Campuchia, biên giới Iran–Iraq, Bougainville, Đông Timor, và Quần đảo Solomon.
=== Chính phủ địa phương và lãnh thổ ngoại vi ===
Những người châu Âu định cư ban đầu phân chia New Zealand thành các tỉnh với một mức độ tự trị nhất định. Do áp lực tài chính và mong muốn hợp nhất đường sắt, giáo dục, bán đất và các chính sách khác, chính phủ tập trung hóa và các tỉnh bị bãi bỏ vào năm 1876. Do đó, New Zealand hiện không được chia thành các thực thể dưới cấp quốc gia. Các tỉnh được ghi nhớ trong các ngày lễ công cộng cấp khu vực và thi đấu thể thao.
Kể từ năm 1876, các hội đồng khác nhau quản lý các khu vực địa phương theo luật định của chính phủ trung ương. Năm 1989, chính phủ tái tổ chức chính quyền địa phương thành cấu trúc hai tầng hiện tại với các hội đồng khu vực và cơ quan lãnh thổ. 249 khu tự quản tồn tại vào năm 1975 nay được hợp nhất thành 67 cơ quan lãnh thổ và 11 hội đồng khu vực. Vai trò của các hội đồng khu vực là nhằm chỉnh đốn "môi trường tự nhiên với tầm quan trọng đặc biệt là quản lý tài nguyên", trong khi các cơ quan lãnh thổ chịu trách nhiệm về xử lý nước thải, cung cấp nước, đường sắt địa phương, cấp phép xây dựng và các sự vụ địa phương khác. Năm trong số các hội đồng lãnh thổ là cơ quan nhất thể và cũng đóng vai trò hội đồng khu vực. Các cơ quan lãnh thổ gồm 13 hội đồng thành phố, 53 hội đồng huyện, và hội đồng Quần đảo Chatham. Về mặt chính thức, hội đồng Quần đảo Chatham không phải là một cơ quan nhất thể, song nó thực hiện nhiều chức năng của một hội đồng khu vực.
New Zealand là một trong 16 vương quốc trong Thịnh vượng chung. Vương quốc New Zealand là lãnh thổ bao gồm các khu vực mà Nữ vương New Zealand có chủ quyền và gồm có New Zealand, Tokelau, Lãnh thổ phụ thuộc Ross, Quần đảo Cook và Niue. Quần đảo Cook và Niue là những quốc gia tự quản có liên kết tự do với New Zealand. Nghị viện New Zealand không thể thông qua pháp luật cho các quốc gia này, chỉ có thể hành động nhân danh họ trong các vấn đề đối ngoại và quốc phòng với sự tán thành của họ. Tokelau là một lãnh thổ phi tự quản, sử dụng quốc kỳ và quốc huy của New Zealand, song được quản lý bởi một hội đồng gồm ba nguyên lão (đến từ mỗi rạn san hô vòng). Lãnh thổ phụ thuộc Ross là lãnh thổ mà New Zealand tuyên bố yêu sách tại châu Nam Cực, New Zealand vận hành trạm nghiên cứu Căn cứ Scott tại đây. Luật Công dân New Zealand đối đãi bình đẳng với toàn bộ vương quốc, do đó hầu hết người sinh tại New Zealand, Quần đảo Cook, Niue, Tokelau và Lãnh thổ phụ thuộc Ross trước năm 2006 là các công dân New Zealand. Có thêm các điều kiện áp dụng cho những người sinh từ năm 2006 trở đi.
== Nhân khẩu ==
Dân số New Zealand khoảng 4,5 triệu. New Zealand là một quốc gia chủ yếu đô thị, với 72% cư dân sống tại 16 khu vực đô thị chính và 53% cư dân sống tại bốn thành phố lớn nhất: Auckland, Christchurch, Wellington, và Hamilton. Các thành phố của New Zealand thường được xếp hạng cao trong các đánh giá đáng sống quốc tế. Tuổi thọ dự tính của người New Zealand vào năm 2012 là 84 năm đối với nữ giới, và 80,2 năm đối với nam giới. Tuổi thọ dự tính khi sinh được dự báo tăng từ 80 năm đến 85 năm vào 2050 và tỷ suất tử vong trẻ sơ sinh được dự kiến giảm. Tỷ suất sinh của New Zealand là 2,1, tương đối cao so với một quốc gia phát triển, và sinh sản tự nhiên đóng góp một phần đáng kể vào tăng trưởng dân số. Do đó, New Zealand có cơ cấu dân số trẻ so với hầu hết các quốc gia công nghiệp hóa, với 20% cư dân New Zealand 14 tuổi hoặc trẻ hơn. Đến năm 2050, dân số được dự báo tăng đến 5,3 triệu, tuổi trung bình tăng từ 36 lên 43 và tỷ lệ người từ 60 tuổi trở lên tăng từ 18% lên 29%.
Trong điều tra nhân khẩu năm 2013, 74,0% cư dân New Zealand được xác định là dân tộc Âu, và 14,9% là người Maori. Các dân tộc chính khác gồm người châu Á (11,8%) và người Thái Bình Dương (7,4%). Cư dân trở nên đa dạng hơn trong các thập niên gần đây: năm 1961, điều tra nhân khẩu cho thấy rằng dân cư New Zealand gồm 92% là người châu Âu và 7% là người Maori, còn các dân tộc thiểu số châu Á và Thái Bình Dương chia sẻ 1% còn lại.
Công dân New Zealand thường được gọi không chính thức là "Kiwi" trong cả tầm quốc tế và địa phương. Từ mượn Pākehā từ tiếng Maori được sử dụng để chỉ những người New Zealand có huyết thống châu Âu, song những người khác bác bỏ tên gọi này. Ngày nay, từ Pākehā ngày càng được sử dụng nhiều để chỉ toàn bộ người New Zealand không có huyết thống Polynesia.
Người Maori là dân tộc đầu tiên đến New Zealand, tiếp theo họ là những người châu Âu định cư ban đầu. Sau khi thuộc địa hóa, những người nhập cư chủ yếu đến từ Anh Quốc, Ireland và Úc do các chính sách hạn chế tương tự như chính sách Úc da trắng. Cũng có một lượng đáng kể người Hà Lan, Dalmatia, Ý, và Đức, cùng với những người châu Âu nhập cư gián tiếp từ Úc, Bắc Mỹ, Nam Mỹ, và Nam Phi. Sau Đại khủng hoảng, các chính sách được nới lỏng và người nhập cư tăng tính đa dạng. Năm 2009–10, Cơ quan nhập cư New Zealand phê chuẩn mục tiêu chấp thuận hàng năm 45.000–50.000 thường trú nhân, tức mỗi năm có một người nhập cư mới trên 100 người New Zealand. Trên 25% cư dân New Zealand sinh tại hải ngoại, với đa số (52%) sống tại khu vực Auckland. Vào cuối thập niên 2000, châu Á vượt qua Anh Quốc và Ireland trong tiêu chí nguồn nhập cư hải ngoại lớn nhất; theo điều tra nhân khẩu năm 2013, 31,6% cư dân New Zealand sinh tại hải ngoại là được sinh tại châu Á (chủ yếu là tại Trung Quốc, Ấn Độ, Philippines và Hàn Quốc), trong khi 26,5% được sinh tại Anh Quốc và Ireland. Úc, các đảo Thái Bình Dương, và Nam Phi cũng là những nguồn nhập cư đáng kể.
Tiếng Anh là ngôn ngữ chiếm ưu thế tại New Zealand, với trên 98% cư dân nói. Tiếng Anh New Zealand tương đồng với tiếng Anh Úc và nhiều người Anh ngữ đến từ Bắc Bán cầu gặp khó khăn với trọng âm. Khác biệt nổi bật nhất giữa tiếng Anh New Zealand và các phương ngôn tiếng Anh khác là các biến đổi trong tiền nguyên âm ngắn: âm "i"- ngắn (như trong "kit") tập trung hướng về âm schwa ("a" trong "comma" và "about"); âm "e" ngắn (như trong "dress") biến đổi hướng đến âm "i"- ngắn; và âm "a"- ngắn (như trong "trap") biến đổi thành âm "e"- ngắn. Sau Chiến tranh thế giới thứ hai, người Maori gặp trở ngại trong việc nói ngôn ngữ của họ trong các trường học và công sở, và ngôn ngữ này chỉ còn là một ngôn ngữ cộng đồng tại vài khu vực hẻo lánh. Tiến Maori gần đây trải qua một quá trình phục hồi, và được tuyên bố là một ngôn ngữ chính thức của New Zealand vào năm 1987, và được khoảng 4,1% cư dân nói. Tiếng Samoa là một trong những ngôn ngữ được nói phổ biến nhất tại New Zealand (2,3%), tiếp đến là tiếng Pháp, Hindi, Quảng Đông và Quan thoại. Ngôn ngữ ký hiệu New Zealand được khoảng 28.000 người sử dụng, nó được tuyên bố là một ngôn ngữ chính thức của New Zealand vào năm 2006.
Xã hội New Zealand nằm vào hàng thế tục nhất trên thế giới, song Cơ Đốc giáo là tôn giáo chiếm ưu thế. Trong điều tra nhân khẩu năm 2006, 55,6% dân số tự xác định bản thân là tín đồ Cơ Đốc giáo, trong khi 34,7% khác biểu thị rằng họ không theo tôn giáo nào (tăng từ 29,6% vào năm 2001) và khoảng 4% là thành viên của các tôn giáo khác. Các giáo phái Cơ Đốc chủ yếu là Anh giáo (14,8%), Công giáo La Mã (13,6%), Trưởng Lão (10,7 %) và Giám Lý (5%). Cũng có một số lượng đáng kể tín đồ Cơ Đốc giáo tự xác định bản thân gắn bó với giáo hội Ngũ Tuần, Báp-tít, và Thánh hữu Ngày sau. Theo số liệu điều tra, các tôn giáo thiểu số quan trọng gồm có Ấn Độ giáo, Phật giáo, và Hồi giáo. người Maori bản địa có khuynh hướng liên kết với các giáo hội Trưởng Lão và Thánh hữu Ngày sau, song điều tra nhân khẩu thể hiện rằng các tôn giáo Ringatū và Rātana có nền tảng tại New Zealand trải qua sự phát triển đáng kể.
=== Giáo dục ===
Giáo dục tiểu học và trung học là bắt buộc đối với thiếu niên từ 6 đến 16 tuổi, và đa số nhập học từ 5 tuổi. Có 13 năm học phổ thông và theo học tại trường công được miễn phí đối với các công dân và thường trú nhân New Zealand từ sinh nhật thứ 5 đến khi kết thúc năm sau sinh nhật thứ 19. New Zealand có tỷ lệ người lớn biết chữ đạt 99%, và trên một nửa dân số từ 15 đến 29 tuổi có một trình độ đại học-cao đẳng. Có 5 loại học viện bậc đại học-cao đẳng thuộc sở hữu chính phủ: đại học, đại học giáo dục, trường bách nghệ, đại học chuyên nghiệp, và wānanga, cùng với hệ thống giáo dục tư. Trong dân số thành niên, có 14,2% có bằng cử nhân hoặc cao hơn, 30,4% có trình độ cao nhất là một dạng bằng cấp trung học, và 22,4% không có bằng cấp chính thức. Chương trình đánh giá học sinh quốc tế (PISA) của OECD xếp hạng hệ thống giáo dục của New Zealand tốt thứ 7 trên thế giới, trong đó học sinh thể hiện đặc biệt tốt năng lực đọc, toán học, và khoa học.
== Môi trường ==
=== Địa lý ===
New Zealand tọa lạc lân cận trung tâm của thủy bán cầu, gồm hai đảo chính và một số đảo nhỏ hơn. Hai đảo chính là đảo Bắc và đảo Nam tách biệt nhau qua eo biển Cook rộng 22 kilômét (14 mi) tại điểm hẹp nhất. Trong số các đảo nhỏ, năm đảo lớn nhất có cư dân là đảo Stewart, Chatham, Great Barrier, d'Urville và Waiheke. Các đảo của New Zealand nằm giữa các vĩ độ 29° và 53°N, và các kinh độ 165° và 176°Đ.
New Zealand nằm dọc theo trung bắc-đông bắc dài trên 1600 km, với chiều rộng tối đa là 400 kilômét (250 mi)), với đường bờ biển dài khoảng 15.000 km (9.300 mi) và tổng diện tích đất là 268.000 kilômét vuông (103.500 sq mi) Do các đảo nằm ở khu vực xa xôi và đường bờ biển dài, New Zealand có tài nguyên hải dương phong phú. Vùng đặc quyền kinh tế của đảo quốc đứng hàng đầu thế giới về diện tích, gấp hơn 15 lần diện tích đất.
New Zealand có địa hình đa dạng, nằm trên ranh giới giữa mảng Thái Bình Dương và mảng Ấn-Úc. Đảo Nam là đại lục lớn nhất của New Zealand, dãy Alps phương Nam chạy dọc chiều dài của đảo. Trên đảo có 18 đỉnh cao trên 3.000 mét (9.800 ft), đỉnh cao nhất trong đó là Aoraki / Cook với cao độ 3.754 mét (12.316 ft). Những núi dốc của khu vực Fiordland và những vịnh hẹp sâu là dấu tích từ sự đóng băng phổ quát trong kỷ băng hà tại góc tây nam của đảo Nam. Đảo Bắc ít đồi núi hơn song có đặc trưng là hiện tượng núi lửa. Đới núi lửa Taupo tạo thành một cao nguyên núi lửa lớn, có đỉnh cao nhất đảo Bắc là Ruapehu (2.797 mét (9.177 ft)). Trên cao nguyên còn có hồ lớn nhất đảo quốc, mang tên hồ Taupo, là một hồ miệng núi lửa của một trong những siêu núi lửa hoạt động tích cực nhất trên thế giới.
=== Khí hậu ===
New Zealand có khí hậu hải dương ôn hòa và ôn đới (Köppen: Cfb), với nhiệt độ trung bình năm dao động từ 10 °C (50 °F) ở phía nam đến 16 °C (61 °F) ở phía bắc. Nhiệt độ cao nhất trong lịch sử là 42,4 °C (108,32 °F) tại Rangiora, Canterbury và thấp nhất trong lịch sử là −25,6 °C (−14,08 °F) tại Ranfurly, Otago. Điều kiện khác biệt rõ rệt từ mưa rất nhiều tại West Coast của đảo Nam đến gần như bán khô hạn tại Trung Otago và bồn địa Mackenzie của nội lục Canterbury và bán nhiệt đới tại Northland. Trong số bảy thành thị lớn nhất, Christchurch là nơi khô hạn nhất, trung bình chỉ nhận được 640 milimét (25 in) mưa mỗi năm, còn Auckland là nơi mưa nhiều nhất với lượng mưa gần gấp đôi. Auckland, Wellington và Christchurch mỗi năm đều nhận được trung bình trên 2.000 giờ nắng. Các bộ phận miền nam và tây nam của đảo Nam có khí hậu mát hơn và nhiều mây hơn, với khoảng 1.400-1.600 giờ nắng; các bộ phận miền bắc và đông bắc của đảo Nam là khu vực có nắng nhiều nhất nước với 2.400-2.500 giờ. Mùa tuyết rơi thường là khoảng từ đầu tháng 6 cho đến đến tháng 10 tại đảo Nam, và là hiện tượng ít phổ biến tại đảo Bắc.
=== Đa dạng sinh học ===
Sự biệt lập về địa lý của New Zealand trong 80 triệu năm và yếu tố địa sinh học của đảo đã góp phần hình thành các loài động vật, thực vật và nấm đặc trưng của quốc gia này. Chúng hoặc là đã tiến hóa từ sự sống trong thời kỳ Gondwana hoặc một số ít sinh vật đã đến các bờ biển theo bằng cách bay đến, trôi dạt hoặc được mang đi qua biển. Có khoảng 82% thực vật có mạch bản địa của New Zealand là loài đặc hữu, với khoảng 1.944 loài, thuộc 65 chi và bao gồm một họ đặc hữu. Số loài nấm được ghi nhận ở New Zealand, bao gồm các loài hình thành từ địa y không được biết đến không được tính trong số này là loài đặc hữu, nhưng theo một ước tính có khoảng 2300 loài nấm gốc địa y ở New Zealand và 40% là loài đặc hữu. Hai loại rừng chính gồm chủ yếu là các cây lá rộng nổi bật bởi podocarp, hoặc đặc trưng bởi sồi miền nam thuộc khí hậu lạnh hơn. Các loại thực phủ còn lại bao gồm đồng cỏ, loài chính là tussock.
Trước khi con người đến định cư, ước tính có 80% mặt đất được rừng che phủ, riêng chỉ có high alpine, ẩm ướt, khu vực cằn cỗi và núi lửa không có cây. Chặt phá rừng mạnh mẽ sau khi con người đến định cư với khoảng phân nửa lớp phủ thực vật bị mất đi do đốt sau khi người Polynesia định cư. Hầu hết rừng còn lại sau khi người châu Âu đến định cư đều bị chặt để làm nơi chăn nuôi gia súc, làm cho độ che phủ rừng chỉ còn 23%.
Các khu rừng lúc đó chủ yếu là chim, và thiếu các loài thú săn mồi làm cho một số loài như kiwi, kakapo và takahē đã tiến hóa không thể bay được. Khi con người đến, các thay đổi liên quan đến môi trường sống, và sự du nhập của các loài chuột, chồn và các loài động vật có vú khác đã dẫn đến sự tuyệt chủng của nhiều loài chim, như moa và đại bàng Haast.
Các loài động vật bản địa khác có mặt ở đây như bò sát (tuatara, skink và gecko), ếch, nhện (katipo), côn trùng (weta) và ốc sên. Một số loài như wren và tuatara chỉ có mặt ở đây vì thế chúng được gọi là hóa thạch sống. Ba loài dơi (một đã tuyệt chủng) từng là biểu tượng các loài thú trên cạn bản địa của New Zealand mãi cho đến khi phát hiện bộ xương của chúng năm 2006 từ loài động vật có vú kích thước cỡ con chuột độc đáo ít nhất 16 triệu năm. Tuy vậy, các loài thú biển cũng khá phong phú, chiếm gần phân nủa các loài cá voi trên thế giới (cá voi, cá heo, và porpoise) và một lượng lớn các loài hải cẩu được ghi nhận trong các vùng biển của New Zealand. Nhiều loài chim biển sinh sản ở New Zealand, 1/3 trong chúng là đặc trưng của quốc gia này. Chim cánh cụt được tìm thấy ở New Zealand nhiều hơn bất kỳ quốc gia nào khác.
Kể từ khi con người đến định cư, gần phân nửa các loài động vật có xương sống đã tuyệt chủng, bao gồm ít nhất 51 loài chim, 3 ếch, 3 kỳ đà, 1 cá nước ngọt, và một loài dơi. Các loài khác đang bị đe dọa tuyệt chủng hoặc diện tích phân bố giảm mạnh. Tuy nhiên, các nhà bảo tồn New Zealand đã đi tiên phong khi áp dụng nhiều biện pháp để giúp các loài bị đe dọa tuyệt chủng này hồi phục, bao gồm các khu bảo tồn trên đảo, khống chế loài gây hại, chuyển khu vực sinh sống hoang dã, nuôi dưỡng, và phục hồi hệ sinh thái trên đảo và các khu vực được chọn bảo tồn khác. Theo chỉ số hoạt động môi trường năm 2012, New Zealand được xem là có những động thái mạnh mẽ trong việc bảo vệ môi trường, xếp hạng thứ 14 trên tổng số 132 quốc gia được đánh giá.
== Kinh tế ==
New Zealand có một kinh tế thị trường phát triển hiện đại và thịnh vượng. Đơn vị tiền tệ là dollar New Zealand, được gọi phi chính thức là "dollar Kiwi"; nó cũng được lưu thông tại quần đảo Cook, Niue, Tokelau, và quần đảo Pitcairn. New Zealand xếp hạng 6 theo Chỉ số phát triển con người 2013, xếp thứ tư theo Chỉ số tự do kinh tế 2012 của Quỹ Di sản, và xếp thứ 13 theo Chỉ số sáng tạo toàn cầu 2012 của INSEAD.
Trong lịch sử, các ngành công nghiệp khai thác tài nguyên đóng góp quan trọng cho kinh tế New Zealand, tùy từng thời điểm khác nhau mà tập trung vào đánh bắt hải cẩu, đánh bắt cá voi, lanh, vàng, gôm kauri, và gỗ bản địa. Cùng với sự phát triển của tàu đông lạnh trong thập niên 1880, các sản phẩm thịt và bơ sữa được xuất khẩu đến Anh Quốc, ngành này đặt cơ sở cho tăng trưởng kinh tế mạnh mẽ tại New Zealand. Nhu cầu cao về nông sản từ Anh Quốc và Hoa Kỳ giúp người New Zealand đạt được tiêu chuẩn sinh hoạt cao hơn cả Úc và Tây Âu trong các thập niên 1950 và 1960. Năm 1973, thị trường xuất khẩu của New Zealand suy giảm khi Anh Quốc gia nhập Cộng đồng châu Âu và các yếu tố phức hợp khác như khủng hoảng dầu mỏ 1973 và khủng hoảng năng lượng 1979 dẫn đến một cuộc suy thoái kinh tế nghiêm trọng. Tiêu chuẩn sinh hoạt tại New Zealand xuống thấp hơn tại Úc và Tây Âu, và đến năm 1982 thì New Zealand có thu nhập bình quân đầu người thấp nhất trong toàn bộ các quốc gia phát triển theo nghiên cứu của Ngân hàng Thế giới. Từ năm 1984, các chính phủ nối tiếp nhau tiến hành tái cấu trúc kinh tế vĩ mô với quy mô lớn, chuyển biến nhanh chóng New Zealand từ một kinh tế bảo hộ cao độ sang một kinh tế mậu dịch tự do.
Tỷ lệ thất nghiệp đạt đỉnh là trên 10% vào năm 1991 và 1992, sau Thứ Hai Đen 1987, song giảm xuống mức 3,4% vào năm 2007. Tuy nhiên, Khủng hoảng tài chính 2007–08 có tác động nghiêm trọng đến New Zealand, GDP giảm trong 5 quý liên tiếp, sự giảm sút kéo dài nhất trong hơn 30 năm, và tỷ lệ thất nghiệp tăng lên 7% vào cuối năm 2009. New Zealand trải qua một loạt "chảy máu chất xám" từ thập niên 1970 và hiện tượng này vẫn tiếp diễn cho đến nay. Gần một phần tư số người lao động có kỹ năng cao sống tại hải ngoại, hầu hết là tại Úc và Anh Quốc, đây là tỷ lệ cao nhất trong các quốc gia phát triển. Tuy nhiên, trong những năm gần đây, "chảy máu chất xám" lại đưa đến New Zealand những người chuyên nghiệp được giáo dục từ châu Âu và các quốc gia kém phát triểm hơn.
New Zealand phụ thuộc cao độ vào mậu dịch quốc tế, đặc biệt là nông sản. Xuất khẩu chiếm đến 24% sản xuất, khiến New Zealand dễ bị thiệt hại do giá hàng hóa quốc tế và suy thoái kinh tế toàn cầu. Ngành xuất khẩu chính của đảo quốc là nông nghiệp, ngư nghiệp, lâm nghiệp, và khai mỏ, chúng chiếm khoảng một nửa kim ngạch xuất khẩu. Các đối tác xuất khẩu chính của New Zealand là Úc, Hoa Kỳ, Nhật Bản, Trung Quốc, và Anh Quốc. Lĩnh vực dịch vụ là lĩnh vực lớn nhất trong kinh tế New Zealand, tiếp theo là chế tạo và xây dựng, rồi đến trang trại và khai thác nguyên liệu thô. Du lịch đóng một vai trò quan trọng trong kinh tế New Zealand, đóng góp 15,0 tỷ $ cho tổng GDP quốc gia và đóng góp 9,6% tổng lực lượng lao động trong năm 2010.
Lông cừu là nông sản xuất khẩu chính của New Zealand vào cuối thế kỷ 19. Thậm chí cho đến tận thập niên 1960, loại hàng hóa này vẫn chiếm hơn 1/3 thu nhập từ xuất khẩu, song kể từ đó giá trị của nó giảm tương đối so với các hàng hóa khác và lông cừu không còn sinh lợi đối với nhiều nông dân. Ngược lại, chăn nuôi bò sữa gia tăng, với số lượng bò sữa tăng gấp đôi từ năm 1990 đến năm 2007, trở thành nguồn xuất khẩu lớn nhất của New Zealand. Trong năm đến tháng 6 năm 2009, các sản phẩm bơ sữa chiếm 21% (9,1 tỷ $) tổng kim ngạch xuất khẩu, và công ty lớn nhất toàn quốc là Fonterra kiểm soát gần 1/3 giao dịch bơ sữa quốc tế. Các nông sản xuất khẩu chính khác trong năm 2009 là thịt, lông cừu, quả và cá. Ngành công nghiệp rượu vang của New Zealand đi theo xu hướng tương tự như bơ sữa, số ruộng nho tăng gấp đôi trong cùng thời kỳ, lần đầu tiên vượt qua xuất khẩu lông cừu vào năm 2007.
Năm 2008, dầu mỏ, khí đốt và than đá đóng góp khoảng 69% tổng cung cấp năng lượng của New Zealand, 31% đến từ năng lượng tái tạo, chủ yếu là thủy điện và năng lượng địa nhiệt.
Mạng lưới giao thông tại New Zealand gồm có 93.805 kilômét (58.288 mi) đường bộ, với 199 kilômét (124 mi) đường cao tốc, và 4.128 kilômét (2.565 mi) đường sắt. Các thành thị chính được liên kết bằng dịch vụ xe buýt, song ô tô cá nhân là phương thức giao thông chủ yếu. Hệ thống đường sắt được tư hữu hóa vào năm 1993, song chính phủ tái quốc hữu hóa chúng theo giai đoạn từ năm 2004 đến năm 2008. Doanh nghiệp quốc doanh KiwiRail hiện vận hành hệ thống đường sắt, ngoại trừ dịch vụ đường sắt đô thị Auckland do Transdev vận hành. Hệ thống đường sắt chạy dọc chiều dài quốc gia, song hầu hết các tuyến nay chuyên chở hàng thay vì chở khách. Hầu hết du khách quốc tế đến bằng đường hàng không và New Zealand có sáu cảng hàng không quốc tế, song nay chỉ có các sân bay Auckland và Christchurch có liên kết trực tiếp với các quốc gia ngoài Úc hay Fiji.
Bưu điện New Zealand được độc quyền trong lĩnh vực viễn thông cho đến năm 1989, khi mà Telecom New Zealand được thành lập, công ty này ban đầu là doanh nghiệp quốc doanh song được tư hữu hóa vào năm 1990. Telecom đổi tên thành Spark New Zealand vào năm 2014, Spark NZ vẫn sở hữu phần lớn hạ tầng viễn thông, song gia tăng cạnh tranh từ các nhà cung cấp khác. Liên minh Viễn thông Quốc tế xếp hạng New Zealand đứng thứ 12 trong phát triển hạ tầng thông tin và truyền thông, tăng bốn bậc từ năm 2008 đến 2010.
== Văn hóa ==
Người Maori ban đầu phỏng theo văn hóa Đông Polynesia nhiệt đới phù hợp với các thách thức liên quan đến môi trường lớn hơn và đa dạng hơn, cuối cùng phát triển văn hóa đặc trưng của mình. Tổ chức xã hội phần lớn là cộng đồng cùng gia đình (whanau), thị tộc (hapu) và bộ tộc (iwi) do một tù trưởng (rangatira) cai trị và địa vị của nhân vật này do cộng đồng tán thành. Những người nhập cư Anh Quốc và Ireland đem các khía cạnh trong văn hóa của họ đến New Zealand và cũng ảnh hưởng đến văn hóa Maori, đặc biệt là giới thiệu Cơ Đốc giáo. Tuy nhiên, người Maori vẫn nhìn nhận lòng trung thành với các nhóm bộ tộc là một bộ phận quan trọng trong bản sắc của mình, và vai trò của quan hệ họ hàng đối với người Maori cũng tương tự như các dân tộc Polynesia khác. Gần đây, văn hóa Mỹ, Úc, châu Á và các văn hóa châu Âu khác cũng gây ảnh hưởng đến New Zealand. Văn hóa Polynesia phi Maori cũng hiện diện, lễ hội Polyneis lớn nhất thế giới là Pasifika nay là một sự kiện thường niên tại Auckland.
Sinh hoạt chủ yếu mang tính nông thôn trong thời kỳ đầu tại New Zealand khiến người New Zealand bị hình dung là thô kệch, giải quyết vấn đề một cách siêng năng. Sự khiêm tốn được mong đợi và được thúc đẩy thông qua hội chứng ghen tị. Từng có thời New Zealand không được nhìn nhận là một quốc gia tri thức. Từ đầu thế kỷ 20 cho đến cuối thập niên 1960, văn hóa Maori bị đàn áp do nỗ lực đồng hóa người Maori với người New Zealand gốc Anh Quốc. Trong thập niên 1960, khi trình độ giáo dục được nâng lên và các thành thị được khoách trương văn hóa đô thị bắt đầu chiếm ưu thế. Thậm chí ngay cả khi đa số cư dân hiện sống trong các thành thị, phần lớn tác phẩm mỹ thuật, văn học, phim, hài kịch của New Zealand vẫn có chủ đề nông thôn.
Là một phần trong quá trình hồi sinh văn hóa Maori, các nghề thủ công truyền thống là khắc và dệt nay được thực hành phổ biến hơn và các nghệ sĩ người Maori gia tăng về số lượng và ảnh hưởng. Hầu hết tác phẩm khắc của người Maori mô tả nhân vật, thường là với ba ngón tay với một cái đầu chi tiết giống với tự nhiên hoặc một cái đầu kỳ cục. Kiến trúc Maori trước khi tiếp xúc với người da trắng gồm các nhà hội họp được chạm khắc (wharenui), những nhà này ban đầu được thiết kế nhằm có thể xây dựng, cải biến lại liên tục nhằm đáp ứng các ý tưởng hoặc nhu cầu khác nhau.
Vị trí cô lập của đảo quốc trì hoãn ảnh hưởng của các xu hướng nghệ thuật châu Âu, cho phép các nghệ sĩ bản địa phát triển phong cách đặc trưng riêng theo chủ nghĩa khu vực. Trong các thập niên 1960 và 1970, nhiều nghệ sĩ kết hợp các kỹ thuật Maori và phương Tây, tạo nên các hình thức nghệ thuật độc nhất.
Áo choàng của người Maori được làm từ sợi lông mịn và được trang trí bằng hoa văn hình tam giác, hình thoi và các dạng hình học khác màu đen, đỏ, và trắng. Người châu Âu đưa nghi thức thời trang Anh đến New Zealand, và cho đến thập niên 1950 thì hầu hết mọi người mặc đồ chỉnh tề trong các dịp lễ hội. Tiêu chuẩn thời trang từ đó được nới lỏng và thời trang New Zealand có tiếng là tự nhiên, thực dụng và mờ nhạt. Tuy nhiên, công nghiệp thời trang địa phương phát triển đáng kể từ năm 2000, một số nhãn hiệu được công nhận ở tầm quốc tế.
Người Maori nhanh chóng tiếp nhận chữ viết làm phương tiện chia sẻ ý tưởng, và nhiều câu chuyện và bài thơ truyền khẩu của họ được chuyển sang hình thức văn bản. Hầu hết văn học tiếng Anh ban đầu nhập từ Anh Quốc và phải đến thập niên 1950, khi mà thị trường phát hành địa phương gia tăng thì văn học New Zealand mới bắt đầu được biết đến phổ biến. Mặc dù phần lớn vẫn chịu ảnh hưởng từ các xu hướng và sự kiện toàn cầu, song các nhà văn trong thập niên 1930 bắt đầu phát triển các câu chuyện ngày càng tập trung vào trải nghiệm của họ tại New Zealand. Trong giai đoạn này, văn học biến hóa từ một hoạt động mang tính báo chí sang theo đuổi tính học thuật hơn. Sự kiện tham gia các thế chiến khiến một số nhà văn New Zealand có một nhãn quan mới về văn hóa New Zealand và văn học địa phương phát triển mạnh mẽ thời hậu chiến cùng với sự mở rộng các đại học.
=== Truyền thông và giải trí ===
Âm nhạc New Zealand chịu ảnh hưởng từ các thể loại blues, jazz, country, rock and roll và hip hop, nhiều thể loại được hiểu một cách độc đáo tại New Zealand. người Maori phát triển các thánh ca và ca khúc truyền thống từ nguồn gốc Đông Nam Á cổ đại của họ, và sau nhiều thế kỷ cô lập đã tạo nên một âm điệu "đơn điệu" và "hiu quạnh" độc đáo. Sáo và kèn được sử dụng làm nhạc cụ hoặc làm công cụ báo hiệu trong chiến tranh hoặc những dịp đặc biệt. Những người định cư ban đầu đem đến âm nhạc dân tộc của họ, với các đội kèn đồng và hợp xướng trở nên phổ biến, các nhạc sĩ bắt đầu lưu diễn tại New Zealand trong thập niên 1860. Các đội kèn trống trở nên phổ biến trong đầu thế kỷ 20. Ngành công nghiệp thu âm New Zealand bắt đầu phát triển từ 1940 trở đi và nhiều nhạc sĩ New Zealand thu được thành công tại Anh Quốc và Hoa Kỳ. Một số nghệ sĩ người Maori phát hành các bài hát bằng tiếng Maori và hình thức nghệ thuật dựa trên truyền thống Maori mang tên kapa haka (ca vũ) được hồi sinh. Giải thưởng âm nhạc New Zealand được Recorded Music NZ tổ chức thường niên; giải thưởng được tổ chức lần đầu vào năm 1965.
Phát thanh lần đầu xuất hiện tại New Zealand vào năm 1922 và đối với truyền hình là năm 1960. Số lượng phim New Zealand gia tăng đáng kể trong thập niên 1970. Năm 1978, Ủy ban Điện ảnh New Zealand bắt đầu hỗ trợ các nhà làm phim địa phương và nhiều phim tiếp cận được với khán giả thế giới, một số nhận được công nhận quốc tế. Các phim New Zealand đoạt doanh thu cao nhất gồm: Boy, The World's Fastest Indian, Once Were Warriors, và Whale Rider. Việc bãi bỏ các quy định trong thập niên 1980 khiến số lượng đài phát thanh và truyền hình gia tăng đột biến. Truyền hình New Zealand chủ yếu phát sóng các chương trình của Hoa Kỳ và Anh Quốc, cùng với một số lượng lớn các chương trình của Úc và địa phương. Cảnh quan đa dạng và kích thước nhỏ của đảo quốc, cộng thêm khích lệ của chính phủ, giúp khuyến khích các nhà sản xuất quay các bộ phim có ngân sách lớn tại New Zealand. Ngành công nghiệp truyền thông New Zealand do một số công ty chi phối, hầu hết thuộc sở hữu ngoại quốc, song nhà nước duy trì quyền sở hữu đối với một số đài truyền hình và phát thanh. Từ năm 2003 đến 2008, Phóng viên không biên giới luôn xếp hạng tự do báo chí của New Zealand trong 20 vị trí đầu tiên. Năm 2011, New Zealand xếp hạng 13 toàn cầu về tự do báo chí theo đánh giá của Freedom House, đứng thứ hai tại châu Á-Thái Bình Dương.
=== Thể thao ===
Hầu hết các môn thể thao chủ yếu được chơi tại New Zealand có nguồn gốc Anh Quốc. Bóng bầu dục liên hiệp được nhìn nhận là môn thể thao quốc gia và thu hút hầu hết khán giả. Golf, bóng lưới, quần vợt và cricket đạt tỷ lệ người thành niên tham gia cao nhất, trong khi bóng đá là môn thể thao hàng đầu trong giới trẻ. Các trận du đấu bóng bầu dục thắng lợi đến Úc và Anh Quốc vào cuối thập niên 1880 và đầu thập niên 1900 đóng một vai trò ban đầu trong việc thấm nhuần một bản sắc dân tộc. Đua ngựa cũng là một môn thể thao đại chúng và trở thành bộ phận của văn hóa "bầu dục, đua và bia" trong thập niên 1960. Sự tham gia của người Maori trong các môn thể thao châu Âu đặc biệt rõ rệt trong bóng bầu dục và đội tuyển quốc gia trình diễn một hiệu lệnh truyền thống Maori mang tên haka trước các trận dấu quốc tế.
New Zealand có các đội tuyển thi đấu quốc tế trong các môn bóng bầu dục liên hiệp, bóng lưới, cricket, bóng bầu dục liên minh, và bóng mềm, và có truyền thống thi đấu tốt trong ba môn phối hợp, rowing, yachting và đua xe đạp. New Zealand tham dự Thế vận hội Mùa hè vào năm 1908 và 1912 trong một đội tuyển chung với Úc, và lần đầu tham dự độc lập vào năm 1920. Quốc gia này xếp hạng cao theo tỷ lệ huy chương trên dân số trong các kỳ Thế vận hội gần đây. Đội tuyển bóng bầu dục liên hiệp nam quốc gia New Zealand có thành tích tốt nhất trong lịch sử bóng bầu dục quốc tế New Zealand nổi tiếng với các môn thể thao mạo hiểm, du lịch mạo hiểm và truyền thống leo núi mạnh mẽ. Các môn thể thao ngoài trời khác như đua xe đạp, câu cá, bơi, chạy, đi bộ, chèo xuồng, săn, thể thao trên tuyết, và lướt sóng cũng phổ biến. Môn thể thao truyền thống Polynesia là đua chèo xuồng waka ama ngày càng phổ biến và hiện là một môn thể thao quốc tế với các đội tuyển từ khắp Thái Bình Dương.
== Chú thích ==
== Tham khảo ==
=== Thư mục ===
=== Đọc thêm ===
== Liên kết ngoài ==
Te Ara, từ điển bách khoa về New Zealand
Trang chính của chính phủ New Zealand
Statistics New Zealand - Thống kê chính thức
www.zoomin.co.nz Bản đồ New Zealand
Wikimedia Atlas của New Zealand, có một số bản đồ liên quan đến New Zealand. |
xoáy thuận nhiệt đới.txt | Xoáy thuận nhiệt đới là các hệ thống bão (storm system) quay nhanh đặc trưng bởi một trung tâm có áp suất thấp, gió mạnh và cấu trúc mây dông xoắn ốc tạo ra mưa lớn. Phụ thuộc vào vị trí và cường độ, xoáy thuận nhiệt đới được đề cập đến bằng các tên gọi khác nhau như hurricane hay typhoon (tạm dịch: bão cuồng phong), bão nhiệt đới (tropical storm), bão xoáy (cyclonic storm), áp thấp nhiệt đới (tropical depression), hay đơn giản là xoáy thuận (cyclone).
Xoáy thuận nhiệt đới thường hình thành trên đại dương hay những vùng biển lớn có nhiệt độ nước tương đối ấm. Chúng thu thập năng lượng thông qua sự bay hơi của nước từ bề mặt đại dương, nguồn năng lượng này khác so với xoáy thuận ngoại nhiệt đới, những hệ thống lấy nhiên liệu chủ yếu từ sự tương phản nhiệt độ theo chiều ngang (horizontal temperature contrasts). Những cơn gió xoáy mạnh của xoáy thuận nhiệt đới là kết quả của sự bảo toàn momen động lượng truyền đạt bởi sự tự quay của Trái Đất khi những dòng khí thổi vào bên trong hướng tới trục quay. Do vậy, chúng hiếm khi hình thành trong phạm vi từ vĩ độ 5°B đến 5°N hai bên xích đạo. Xoáy thuận nhiệt đới thường có đường kính trong khoảng từ 100 đến 4000 km.
Nhiệt đới đề cập đến xuất xứ địa lý của xoáy thuận nhiệt đới, khi mà chúng hầu như chỉ hình thành trên những vùng biển nhiệt đới. Xoáy thuận đề cấp đến tính chất gió xoáy tự nhiên của chúng, với gió thổi ngược chiều kim đồng hồ ở Bắc bán cầu và thuận chiều kim đồng hồ ở Nam bán cầu. Sự đối nghịch trong hoàn lưu này là do điểm khác biệt trong hiệu ứng Coriolis về hướng gió giữa hai bán cầu.
Bên cạnh gió mạnh và mưa, xoáy thuận nhiệt đới còn có khả năng tạo ra lốc xoáy, những đợt sóng lớn, và nước biển dâng gây thiệt hại. Chúng thường suy yếu rất nhanh trên đất liền nơi mà chúng bị chia cắt khỏi nguồn cung cấp năng lượng chủ yếu. Vì lý do đó, những vùng ven biển đặc biệt dễ bị tổn thương do xoáy thuận nhiệt đới đổ bộ hơn nhiều so với những vùng nội địa, sâu trong đất liền. Tuy nhiên, mưa lớn cũng có thể gây lũ lụt nghiêm trọng trong đất liền, và nước biển dâng có thể tạo ra lũ lụt mở rộng sâu vào bên trong tới 40 km từ đường bờ biển. Mặc dù những tác động của xoáy thuận nhiệt đới đến vùng đông dân cư thường là nghiêm trọng, nhưng chúng cũng có thể làm giảm tình trạng khô hạn. Xoáy thuận nhiệt đới nhiều khi còn mang năng lượng nhiệt ra khỏi vùng nhiệt đới đến những vĩ độ ôn đới, điều này có thể đóng một vai trò quan trọng điều chỉnh khí hậu trong khu vực và toàn cầu.
== Cấu trúc vật lý ==
Xoáy thuận nhiệt đới là một vùng áp suất tương đối thấp trên tầng đối lưu, với sự xáo trộn áp suất lớn nhất diễn ra tại vị trí có độ cao thấp gần bề mặt. Trên Trái Đất, mức áp suất ghi nhận được tại trung tâm của xoáy thuận nhiệt đới là một trong những mức thấp nhất từng quan trắc được tại mực nước biển. Môi trường gần tâm xoáy thuận nhiệt đới là ấm hơn xung quanh tại mọi độ cao, do đó chúng có đặc tính như một hệ thống "lõi ấm".
=== Trường gió ===
Trường gió gần bề mặt của xoáy thuận nhiệt đới đặc trưng bởi dòng không khí quay nhanh quanh tâm hoàn lưu đồng thời tỏa tròn vào bên trong. Tuy nhiên, tại rìa phía ngoài của cơn bão, không khí gần như yên tĩnh, do sự tự quay của Trái Đất, không khí có momen động lượng tuyệt đối khác 0. Khi không khí thổi vào trong, chúng bắt đầu chuyển động xoáy (ngược chiều kim đồng hồ ở Bắc bán cầu, và theo chiều kim đồng hồ ở Nam bán cầu) để bảo toàn momen động lượng. Đến một khoảng bán kính bên trong, dòng không khí bắt đầu thăng lên đến đỉnh tầng đối lưu. Bán kính này thường trùng khớp với bán kính trong của thành mắt bão, là nơi có gió gần bề mặt mạnh nhất của cơn bão, do đó, nó được biết đến như là bán kính gió tối đa. Khi ở trên cao, dòng khí thổi ra khỏi tâm bão, tạo ra một màn mây ti.
Quá trình đã đề cập trước đó dẫn đến kết quả là trường gió có cấu trúc gần như đối xứng trục: vận tốc gió là thấp ở tâm, tăng lên nhanh chóng khi di chuyển ra phía ngoài đến vùng bán kính gió tối đa, và sau đó ngày một giảm dần khi đi ra vùng có bán kính lớn hơn. Tuy nhiên, trường gió thường thể hiện sự biến thiên theo không gian và thời gian, như là có thể tăng giảm kích thước phụ thuộc vào các yếu tố môi trường xung quanh và bản thân cơn bão. Theo chiều thẳng đứng, gió mạnh nhất là ở gần bề mặt và phân rã tại độ cao trong phạm vi tầng đối lưu.
=== Mắt và trung tâm ===
Tại vùng trung tâm của một xoáy thuận nhiệt đới trưởng thành, không khí chìm hơn là thăng lên. Với một cơn bão đủ mạnh, không khí có thể chìm trong một lớp đủ sâu để ngăn chặn sự hình thành mây, bằng cách đó, mắt bão sắc nét được tạo ra. Thời tiết bên trong mắt thường yên bình và không có mây, mặc dù biển có thể động cực kỳ dữ dội. Mắt thường có dạng tròn, và đường kính điển hình là vào khoảng 30 – 65 km, mặc dù đã từng quan sát được những con mắt nhỏ bề rộng chỉ 3 km hay là lớn đến 370 km.
Vùng mây bao quanh rìa của mắt được gọi là thành mắt bão. Thành mắt bão thường mở rộng ra phía ngoài cùng với độ cao, giống như một sân vận động bóng đá; hiện tượng này đôi khi được đề cập đến như là hiệu ứng sân vận động. Thành mắt bão cũng là nơi tìm thấy những cơn gió mạnh nhất, không khí thăng lên với tốc độ nhanh nhất, mây đạt đến độ cao lớn nhất, và sự ngưng tụ - hay lượng ẩm là nhiều nhất. Tổn thất do gió nặng nề nhất xảy ra là khi thành mắt bão của một xoáy thuận nhiệt đới di chuyển qua phía trên đất liền.
Trong những cơn bão yếu hơn, mắt bão có thể bị che khuất bởi một khối mây dày đặc ở trung tâm (central dense overcast - CDO), đó là màn mây ti trên tầng cao kết hợp với vùng mây dông mạnh tập trung gần tâm của xoáy thuận nhiệt đới.
Thành mắt bão có thể biến đổi theo thời gian trong sự hình thành của chu trình thay thế thành mắt bão, hiện tượng này là một phần của những xoáy thuận nhiệt đới cường độ mạnh. Những dải mây mưa phía ngoài có thể tổ chức thành hình dạng tròn như một "chiếc nhẫn" mây dông di chuyển chậm vào phía trong, và chúng được tin rằng đã lấy đi lượng ẩm và momen động lượng của thành mắt bão ban đầu. Khi thành mắt bão đầu tiên suy yếu, xoáy thuận nhiệt đới cũng sẽ suy yếu tạm thời. Cuối cùng thành mắt bão phía ngoài sẽ thay thế cho thành mắt bão trước tại thời điểm cuối của chu trình, và từ đó cơn bão có thể tăng cường trở lại, có thể đạt đến hoặc thậm chí vượt qua cường độ tối đa lúc trước phụ thuộc chủ yếu vào yếu tố điều kiện môi trường.
=== Cường độ ===
"Cường độ" bão được định nghĩa là sức gió, hay là vận tốc gió tối đa trong cơn bão. Vận tốc này được lấy trong khoảng thời gian 1 phút hoặc 10 phút tại độ cao tham chiếu tiêu chuẩn là 10 m. Sự lựa chọn một khoảng thời gian trung bình, cũng như cách thức quy ước tên gọi theo từng cấp độ của bão, là khác nhau giữa các trung tâm dự báo và khu vực đại dương - nơi xoáy thuận nhiệt đới hình thành.
Nếu có cơ hội, xoáy thuận nhiệt đới có thể trải qua một trạng thái khí tượng được biết đến như là một sự tăng cường độ nhanh chóng (rapid intensification), hay một giai đoạn mà trong đó vận tốc gió tối đa tăng lên nhanh chóng trong một quãng thời gian ngắn. Trung tâm Bão Quốc gia Hoa Kỳ định nghĩa sự tăng cường độ nhanh chóng là khi vận tốc gió duy trì liên tục trong 1 phút tối đa của một xoáy thuận nhiệt đới tăng lên ít nhất 30 knot (35 dặm/giờ, 55 km/giờ) trong khoảng thời gian 24 tiếng. Để cho hiện tượng này có thể xảy ra cần phải có một số điều kiện. Nhiệt độ nước biển phải cực kỳ ấm (gần bằng hoặc trên 30 °C, 86 °F), và nước ở nhiệt độ này phải đủ sâu để những con sóng không làm nước lạnh phía dưới trồi lên trên bề mặt. Độ đứt gió (wind shear) phải thấp; khi mà độ đứt gió cao, sự đối lưu và hoàn lưu của xoáy thuận sẽ bị gián đoạn. Thông thường, phải có mặt một xoáy nghịch (antycyclone) trên tầng đối lưu cao ở trên cơn bão cũng như để cho áp suất cực thấp trên bề mặt hình thành, không khí phải thăng lên rất nhanh trong thành mắt bão của cơn bão, và một xoáy nghịch trên tầng cao sẽ giúp điều chỉnh dòng khí này thoát ra một cách hiệu quả.
=== Kích thước ===
Có nhiều chuẩn đo phổ biến để xác định kích cỡ của xoáy thuận nhiệt đới. Trong đó phổ biển nhất là sử dụng bán kính gió tối đa, bán kính gió 34 knot (tức là vùng bán kính có gió bão, vận tốc gió lớn hơn 34 knot), bán kính đường đẳng áp kín phía ngoài xa nhất (ROCI), và bán kính gió tan biến. Một chuẩn đo bổ sung là bán kính mà tại đó trường xoáy tương đối của xoáy thuận giảm xuống đến 1×10−5 s−1.
Trên Trái Đất, kích cỡ của xoáy thuận nhiệt đới trải dài trên một khoảng rộng, từ 100 đến 2000 km khi đo bằng bán kính gió tan biến. Xoáy thuận nhiệt đới trên Tây Bắc Thái Bình Dương là lớn nhất và trên Đông Bắc Thái Bình Dương là nhỏ nhất. Nếu bán kính của đường đẳng áp kín phía ngoài xa nhất nhỏ hơn 2 vĩ độ (222 km), ta có một xoáy thuận nhiệt đới "rất nhỏ". Bán kính từ 3 đến 6 vĩ độ (333 – 670 km) được xem là trung bình. Xoáy thuận nhiệt đới có kích thước "rất lớn" khi mà ROCI lớn hơn 8 vĩ độ (888 km). Những quan trắc chỉ ra kích cỡ chỉ nhỏ nếu liên quan đến các biến như cường độ bão (vận tốc gió tối đa), bán kính gió tối đa, vĩ độ, và cường độ tiềm năng tối đa.
Kích thước đóng một vai trò quan trọng trong sự điều chỉnh mức độ thiệt hại gây ra bởi một cơn bão. Nếu tất cả những yếu tố khác là như nhau, một cơn bão lớn hơn sẽ tác động đến một khu vực rộng lớn hơn trong một khoảng thời gian dài hơn. Bên cạnh đó, trường gió rộng gần bề mặt có thể tạo ra nước biển dâng cao hơn do sự kết hợp của chiều dài sóng lớn hơn, thời gian dài hơn và sự tăng cường thiết lập các cơn sóng. Ví dụ như cơn bão Sandy tấn công miền Đông nước Mỹ trong năm 2012 là một trong những cơn bão gây thiệt hại lớn nhất trong lịch sử nước Mỹ do kích thước rất lớn của nó.
Hoàn lưu phía trên của những cơn bão mạnh mở rộng trong phạm vi tầng đối lưu của khí quyển, tại khu vực vĩ độ thấp là 15.000 - 18.000 m.
== Vật lý và năng lượng học ==
Trường gió trong không gian ba chiều của một xoáy thuận nhiệt đới có thể được phân tách thành hai bộ phận: một hoàn lưu sơ cấp (hoàn lưu cơ bản) và một hoàn lưu thứ cấp. Hoàn lưu sơ cấp là phần chuyển động luân chuyển của dòng thổi; nó là hoàn toàn tròn. Hoàn lưu thứ cấp là phần chuyển động đảo ngược của dòng thổi (vào - lên - ra - xuống), nó có hướng tỏa tròn và theo chiều thẳng đứng. Hoàn lưu sơ cấp là nơi tồn tại gió mạnh nhất và chịu trách nhiệm về những tổn thất lớn nhất mà một cơn bão gây ra, trong khi hoàn lưu thứ cấp quản lý năng lượng học của cơn bão.
=== Hoàn lưu thứ cấp: một động cơ nhiệt Carnot ===
Nguồn năng lượng chủ yếu của một xoáy thuận nhiệt đới là lượng nước bốc hơi từ bề mặt đại dương, chúng ngưng tụ lại thành những đám mây và mưa khi không khí nóng ẩm bay lên cao và lạnh đi đến độ bão hòa. Năng lượng học của hệ thống có thể được lý tưởng hóa như một động cơ nhiệt Carnot khí quyển. Đầu tiên, dòng không khí thổi vào gần bề mặt thu thập năng lượng nhiệt chủ yếu thông qua sự bay hơi của nước tại nơi có nhiệt độ bề mặt đại dương ấm (trong quá trình bay hơi, nước biển lạnh đi và không khí ấm lên). Thứ hai, dòng khí ấm bay lên và lạnh dần đi trong phạm vi thành mắt bão trong khi tổng hàm lượng nhiệt được bảo tồn. Thứ ba, dòng khí thổi ra ngoài và mất nhiệt qua bức xạ nhiệt vào không gian tại nhiệt độ của tầng đối lưu lạnh. Cuối cùng, không khí chìm xuống và ấm lên tại rìa phía ngoài của cơn bão khi tổng hàm lượng nhiệt vẫn được bảo tồn. Giai đoạn một và ba là gần như đẳng nhiệt, trong khi giai đoạn hai và bốn là gần như đẳng entropy. Dòng thổi đảo ngược vào - lên - ra - xuống được biết đến như là hoàn lưu thứ cấp. Quan điểm Carnot cung cấp một giới hạn trên cho vận tốc gió tối đa mà một cơn bão có thể đạt được.
Các nhà khoa học ước tính một xoáy thuận nhiệt đới tỏa ra năng lượng nhiệt từ 50 đến 200 exajoule (1018 J) một ngày, tương đương với khoảng 1 PW (1015 watt). Mức năng lượng tỏa ra này tương đương 70 lần mức tiêu thụ năng lượng của toàn bộ con người trên Trái Đất và 200 lần công suất phát điện trên toàn cầu, hay tương đương với việc một quả bom nguyên tử có đương lượng 10 megaton nổ mỗi 20 phút.
=== Hoàn lưu sơ cấp: những cơn gió xoáy ===
Dòng thổi xoáy sơ cấp trong một xoáy thuận nhiệt đới là kết quả từ sự bảo toàn momen động lượng bởi hoàn lưu thứ cấp. Momen động lượng tuyệt đối (trong khí tượng học) trên một hành tinh quay
M
{\displaystyle M}
được tính như sau:
M
=
1
2
f
r
2
+
v
r
{\displaystyle M={\frac {1}{2}}fr^{2}+vr}
trong đó
f
{\displaystyle f}
là tham số Coriolis,
v
{\displaystyle v}
là vận tốc gió phương vị, và
r
{\displaystyle r}
là bán kính đến trục quay. Vế đầu tiên bên phải là thành phần momen động lượng hành tinh chiếu lên trục thẳng đứng (trục quay). Vế thứ hai bên phải là momen động lượng tương đối của hoàn lưu đối với trục quay. Vì momen động lượng hành tinh biến mất tại xích đạo (nơi mà
f
=
0
{\displaystyle f=0}
), nên xoáy thuận nhiệt đới hiếm khi hình thành trong phạm vi vĩ độ 5 gần xích đạo (từ 5°B đến 5°N).
Khi những dòng khí thổi tỏa tròn vào bên trong ở mực thấp, chúng bắt đầu chuyển động xoáy để bảo toàn momen động lượng. Tương tự, khi mà dòng khí xoáy nhanh thổi tỏa tròn ra phía ngoài ở gần tầng đối lưu, vòng xoay của nó giảm dần và cuối cùng thay đổi dấu hiệu tại nơi có bán kính đủ lớn. Kết quả là một cấu trúc theo chiều dọc đặc trưng bởi một xoáy thuận mạnh tại mực thấp và một xoáy nghịch mạnh gần tầng đối lưu; theo sự cân bằng gió nhiệt, điều này phù hợp với một hệ thống có trung tâm ấm hơn môi trường xung quanh tại mọi độ cao ("lõi ấm"). Theo như cân bằng thủy tĩnh, lõi ấm chuyển đổi thành áp suất thấp hơn ở trung tâm tại mọi độ cao, với sự giảm áp suất tối đa xảy ra ở vị trí trên bề mặt.
== Các khu vực lớn và trung tâm cảnh báo liên quan ==
Có sáu Trung tâm Khí tượng Chuyên ngành Khu vực (RSMC) trên thế giới. Các tổ chức này được chỉ định bởi Tổ chức Khí tượng Thế giới và họ có trách nhiệm theo dõi, ban hành các bản tin, cảnh báo, và thông báo về các xoáy thuận nhiệt đới nằm trong khu vực họ chịu trách nhiệm. Bên cạnh đó, có sáu Trung tâm Cảnh báo Xoáy thuận nhiệt đới (TCWC) cung cấp các thông tin trong phạm vi các vùng nhỏ hơn. RSMC và TCWC không phải là những tổ chức duy nhất cung cấp thông tin công khai về xoáy thuận nhiệt đới. Trung tâm Cảnh báo Bão Liên hợp (JTWC) cũng ban hành những thông báo tại tất cả các khu vực xoáy thuận nhiệt đới trừ Bắc Đại Tây Dương nhằm phục vụ cho mục đích của Chính phủ Mỹ. Cục quản lý Thiên văn, Địa vật lý và Khí quyển Philippines (PAGASA) cũng ban hành những thông báo và đặt tên cho những xoáy thuận nhiệt đới tiến gần đến Philippines trên khu vực Tây Bắc Thái Bình Dương để bảo vệ mạng sống và tài sản cho công dân nước họ. Trung tâm Bão Canada (CHC) ban hành những thông báo về xoáy thuận nhiệt đới và tàn dư của chúng dành cho công dân Canada khi chúng tác động đến đất nước này.
Vào ngày 26 tháng 3 năm 2004, Xoáy thuận Catarina đã trở thành xoáy thuận Nam Đại Tây Dương đầu tiên từng được ghi nhận và sau đó nó đã tấn công miền Nam Brazil với sức gió tương đương bão cấp 2 trong thang bão Saffir-Simpson. Khi mà xoáy thuận này hình thành ngoài phạm vi có thẩm quyền của các trung tâm cảnh báo khác, các nhà khí tượng học Brazil ban đầu đã xem nó như một xoáy thuận ngoại nhiệt đới, nhưng về sau đã phân loại nó là nhiệt đới.
== Sự hình thành ==
Trên Trái Đất, xoáy thuận nhiệt đới hoạt động mạnh nhất vào cuối mùa hè, thời điểm mà sự chênh lệch giữa nhiệt độ ở trên cao và nhiệt độ bề mặt nước biển là lớn nhất. Tuy nhiên, mỗi khu vực lại có một hình mẫu mùa bão riêng. Tính trên toàn cầu, tháng 5 là tháng xoáy thuận nhiệt đới ít hoạt động nhất, ngược lại tháng 9 là tháng hoạt động mạnh nhất. Tháng 11 là tháng duy nhất mà toàn bộ các khu vực xoáy thuận nhiệt đới cùng trong giai đoạn hoạt động chính thức.
=== Thời gian ===
Trên khu vực Bắc Đại Tây Dương, mùa bão phân biệt diễn ra từ ngày 1 tháng 6 đến 30 tháng 11, đỉnh điểm là vào cuối tháng 8 đầu tháng 9. Tính trung bình theo thống kê, ngày 10 tháng 9 là thời điểm đạt đỉnh của mùa bão Đại Tây Dương. Vùng Đông Bắc Thái Bình Dương có giai đoạn hoạt động mở rộng hơn, nhưng khung thời gian cũng tương tự như Đại Tây Dương. Khu vực Tây Bắc Thái Bình Dương chứng kiến xoáy thuận nhiệt đới hoạt động quanh năm, đỉnh điểm vào đầu tháng 9 và tối thiểu là tháng 2. Trên Bắc Ấn Độ Dương, bão thường xuất hiện từ tháng 4 đến tháng 12, đỉnh điểm là tháng 5 và tháng 11. Còn ở Nam Bán cầu, mùa bão thường chính thức bắt đầu từ ngày 1 tháng 11 cho đến hết tháng 4, đỉnh điểm là giữa tháng 2 đầu tháng 3; dù vậy xoáy thuận nhiệt đới có thể xuất hiện quanh năm và thời điểm bắt đầu cho một năm là ngày 1 tháng 7.
== Cấu trúc chung ==
Một cơn bão nhiệt đới trưởng thành bao gồm một hoàn lưu ngang gần đối xứng và một hoàn lưu đứng. Các hoàn lưu này đôi khi được gọi là hoàn lưu sơ cấp và hoàn lưu thứ cấp. Sự kết hợp của 2 hoàn lưu tạo thành một dạng chuyển động xoáy ốc. Không khí hội tụ theo hình xoắn ốc vào khu vực trung tâm của bão ở mực thấp, hầu hết dòng thổi vào bị giới hạn trong lớp biên mỏng có độ dày cỡ 500 m đến 1000 m.
Mắt bão là khu vực trong tâm của bão, nơi không có mây hoặc ít mây, lặng gió, có dòng giáng yếu. Thông thường chỉ có những cơn bão mạnh trường thành mới hình thành mắt bão rõ nét.
Hoàn lưu sơ cấp của xoáy thuận nhiệt đới mạnh nhất ở các mực thấp tại vùng mây thành mắt bão và giảm dần theo cả độ cao và bán kính. Trường nhiệt độ thể hiện một cấu trúc lõi nóng với nhiệt độ lớn nhất ở trong mắt bão do sự giải phóng ẩn nhiệt khi không khí nâng lên trong thành mây mắt bão.
Dòng thổi ra của xoáy thuận nhiệt đới nằm ở nửa trên tầng bình lưu với hoàn lưu xoáy nghịch ở ngoài bán kính vài trăm km.
== Cơ chế ==
=== Sự hình thành ===
Bão hình thành được phải hội đủ các điều kiện cần thiết như nhiệt độ của nước biển phải cao (tính từ mặt nước đến độ sâu hơn 50 mét ít nhất là trên 26.5 °C): Những nơi có bão biển thường ở trong vùng biển nhiệt đới ở cả hai bán cầu: Bán cầu Bắc và Bán cầu Nam, khí áp của khí quyển phải cực thấp để thu hút năng lượng từ các khu vực áp cao chung quanh và bão phải được duy trì nghĩa là không bị vật cản khi có lực ma sát (như khi đổ bộ vào đất liền). Do đó, bề mặt đại dương hoặc biển nhiệt đới, trong khoảng 10⁰ - 30⁰ vĩ tuyến Bắc và Nam, ở phía Tây các đại dương, nơi có lực Coriolis mạnh và có hiện tượng các dương lưu nóng duy trì nhiệt độ cao cho bão hình thành. Khu vực tam giác Bermuda (Tam Giác Quỷ) ở miền Tây Đại Tây Dương là một thí dụ điển hình, nơi có nhiều siêu bão cấp hành tinh.
=== Sự tăng cường ===
Năng lượng của bão được tăng cường vì nhiều nguyên nhân: Do các luồng không khí ẩm từ các khu áp cao xung quanh hút vào, hoặc do kết hợp với sóng Đông, nơi có các khu áp thấp nhiệt đới xâm nhập vào áp cao chí tuyến, hoặc mạnh lên khi đi vào vùng có dòng biển nóng... Thường thì năng lượng của bão biển giảm khi đi vào đất liền vì tốc độ của gió giảm đi do ma sát với đất liền.
== Quỹ đạo ==
Tâm bão nhiệt đới thường di chuyển theo quỹ đạo parabol, ở bắc bán cầu, vào giai đoạn mới hình thành, hầu hết các cơn bão đều di chuyển theo hướng tây, sau đó tiếp tục di chuyển theo hướng tây bắc và giai đoạn sau cùng, nếu không bị suy yếu, sẽ di chuyển theo hướng đông bắc. Ở nam bán cầu, ban đầu bão di chuyển về hướng tây, sau chuyển về tây nam, rồi đến hướng đông nam. Nhưng cũng có những cơn bão di chuyển theo quỹ đạo rất phức tạp, nói chung quỹ đạo của bão phụ thuộc vào sự phân bố khí áp bề mặt trong khu vực lân cận.
== Dự báo ==
== Tác động ==
== Các xoáy thuận nhiệt đới tiêu biểu ==
Bão Bhola năm 1970 là cơn bão có sức hủy diệt gây ra hậu quả nặng nề nhất trong lịch sử. Bão đã đổ bộ vào vùng đồng bằng sông Hằng ở Ấn Độ và Bangladesh, làm ít nhất 300 nghìn người đã chết, 100 nghìn người mất tích, và ảnh hưởng đến gần 1 triệu người. Ở Trung Quốc, bão Nina năm 1975 gây mưa lớn đã làm vỡ đập Bản Kiều và giết chết hơn 100 nghìn người. Siêu bão năm 1780 ở khu vực Bắc Đại Tây Dương đã giết chết khoảng 22.000 người ở Antilles Lesser.. Bão nhiệt đới Thelma vào tháng 11 năm 1991 đã giết chết hàng ngàn người Philippines. Cơn bão Katrina đổ bộ vào Hoa Kỳ làm 1.836 người chết, thiệt hại tài sản lên tới 81,2 tỉ USD (2008), với tổng thiệt hại hơn 100 tỉ USD (2005). Bão Mitch làm 10.000 người thiệt mạng ở Mỹ Latinh.
Siêu bão dữ dội nhất trong lịch sử là siêu bão Tip ở Tây Bắc Thái Bình Dương năm 1979, với mức áp suất thấp kỉ lục là 870 hPa (652,5 mmHg) và tốc độ gió duy trì cực đại 165 hải lý trên giờ (85 m/s) (tức 310 km/h duy trì gió trong 1 phút).. Bão Keith ở Thái Bình Dương và cơn bão Camille và Allen ở Bắc Đại Tây Dương cũng có cùng sức gió với bão Tip. Siêu bão Nancy năm 1961 đã ghi nhận tốc độ gió kỉ lục 185 hải lý trên giờ (95 m/s) (tức 346 km/h duy trì gió trong 1 phút), nhưng nghiên cứu gần đây cho thấy tốc độ gió từ những năm 1940 đến những năm 1960 đã đo sức gió quá cao, không chính xác, do vậy bão Nancy có thể có sức gió thấp hơn. Bão Paka năm 1997 ở Guam được ghi nhận gió giật lên tới 205 hải lý (105 m/s) (tức 378 km/h).
Siêu bão Tip còn giữ kỉ lục là cơn bão lớn nhất với sức gió trên 64 km/h trải rộng với đường kính 2170 km. Cơn bão nhỏ nhất được ghi nhận, cơn bão nhiệt đới Marco, hình thành trong tháng 10 năm 2008, ở vịnh Mexico với sức gió trên 64 km/h trải rộng với đường kính 37 km.
Bão John là cơn bão nhiệt đới tồn tại lâu nhất và có đường đi dài nhất, kéo dài 31 ngày trong năm 1994 đi được 13280 km. Bão Rewa năm 1993-1994 có đường đi dài nhất ở Nam Bán Cầu, 8920 km.
== Chú thích ==
== Liên kết ngoài ==
Định nghĩa về bão biển nhiệt đới |
ơ.txt | Ơ, ơ là ký tự thứ 19 trong bảng chữ cái tiếng Việt.
Trong tiếng Việt, ơ là từ cảm thán thể hiện sự ngạc nhiên giống từ ô, ví dụ: "Ơ! sao nó vẫn chưa về?"
== Tham khảo == |
báo đốm.txt | Báo đốm châu Mỹ (Danh pháp khoa học: Panthera onca) được biết đến với cái tên tiếng Anh phổ biến là Jaguar là một trong bốn loài lớn nhất của họ nhà Mèo bên cạnh sư tử, hổ và báo hoa mai, có nguồn gốc ở Nam Mỹ và Trung Mỹ và là loài duy nhất trong số bốn loài này ở khu vực châu Mỹ. Báo đốm còn là loài mèo lớn nhất châu Mỹ, chúng là loài mèo có lực cắn mạnh nhất và có phương pháp tấn công vào đầu nạn nhân thay vì cổ họng.
Mặc dù báo đốm Mỹ có ngoại hình tương tự báo hoa mai (Leopard) và có quan hệ họ hàng gần với loài này, chúng cũng rất giỏi leo trèo, nhưng có các tập tính gần với hổ hơn (nhất là tập tính thích nước). Sự khác biệt giữa báo đốm và báo hoa mai ở chỗ là các khoanh đốm của báo đốm to hơn va bên trong khoanh đốm có các chấm đen vì vậy mới gọi là báo "đốm", chúng có cặp chân ngắn và lùn hơn, đuôi ngắn hơn so với báo hoa mai có thân hình dong dỏn cao và đuôi dài hơn, các khoanh đốm của báo hoa mai chụm lại giống như hình bông hoa mai.
== Từ nguyên ==
Trong tiếng Anh, từ jaguar có nguồn gốc từ tiếng Tupi-Guarani ở Nam Mỹ. Theo các nhà thám hiểm châu Âu thời kỳ đầu thì jaguara có nghĩa là "con thú có thể giết chết con mồi chỉ bằng một cú nhảy". Tên nguyên thủy và có gốc hoàn toàn bản xứ của loài này là jaguarete. Kỳ lạ là từ jagua có nghĩa là "chó" trong tiếng Guarani. Jaguar cũng là tước hiệu của hoàng tử hay công chúa hay của vua đang cai trị của người Maya chẳng hạn như của bộ tộc Lenca. Sự phổ biến rộng rãi của báo đốm Mỹ không có nghĩa là chúng không phải đối diện họa diệt chủng trong tương lai gần. Ở một số khu vực, số lượng của chúng này đang bị suy giảm, chủ yếu là do bị mất nơi sống, đặc biệt là trong các rừng mưa nhiệt đới và những khu vực có đồng cỏ bị chuyển thành đất gieo trồng.
Do hoa văn trên người nó tương đối giống loài báo hoa, thể hình gần giống loài hổ mà rất nhiều người châu Mỹ chưa từng nhìn thấy hổ và báo chính cống, nên gọi nó là Hổ châu Mỹ (Amerikanischer Tiger) hoặc Báo châu Mỹ. Hai cái tên này được sử dụng đến tận ngày nay. Ở Mỹ, chúng cũng thường được gọi là hổ châu Mỹ để phân biệt với những con báo Mỹ nhỏ hơn hoặc báo sư tử, mà cũng đã được tìm thấy ở Louisiana vào thời điểm đó.
== Đặc điểm ==
Chiều dài của báo đốm Mỹ dao động trong khoảng 1,1 tới gần 1,9 mét, cao khoảng 70 cm tính tới vai, và có trọng lượng khoảng 57 đến 113 kg. Báo đốm Mỹ có cấu trúc quai hàm khỏe nhất trong họ nhà Mèo. Màu nền của chúng thông thường là màu vàng-da cam, với hàng loạt các vòng hay hình hoa thị bên hông và các đốm trên đầu và cổ. Có thể phân biệt chúng với báo đốm hoa mai theo các đốm trong các hoa thị. Nếu báo bị nhiễm hắc tố thì nó có thể sinh ra các báo con hoàn toàn đen (mặc dù khi nhìn gần vẫn thấy các đốm). Các con này được gọi là báo đen, nhưng đây không phải là một loài riêng biệt.
Quai hàm đặc biệt khỏe cho phép báo đốm phát triển phương pháp giết con mồi khác với các loài khác thuộc họ nhà mèo: cắn và đâm thủng sọ con mồi. khác với một số họ hàng loài mèo của chúng như sư tử, hổ, loài này sẽ kết liễu nạn nhân bằng cách cắn vào vùng xương thái dương. Báo đốm Mỹ có thể chạy nhanh tới 70 km/h nhưng không bền, nên chúng thường kiên trì rình mồi và ít khi tham gia vào các cuộc đua dài hơi. Báo đốm Mỹ là những kẻ săn mồi cô độc, chúng không đi săn với những con báo khác ngoài mùa sinh sản. Chủ yếu chúng săn bắt các con mồi lớn. Quai hàm khỏe của chúng cho phép chúng săn bắt hươu, nai, chuột lang nước và lợn lòi Pecari, thậm chí là cá sấu và trăn nhưng chúng là những kẻ cơ hội và sẽ ăn mọi thứ từ ếch, thằn lằn đến chuột hay chim, cá cũng như thú nuôi trong gia đình.
Báo đốm Mỹ đực đạt đến độ tuổi trưởng thành khi chúng từ 3 đến 4 năm tuổi, báo cái sớm hơn chừng một năm. Báo cái sẽ sinh tối đa 4 con sau từ 90 đến 110 ngày mang thai, nhưng không quá 2 con non sẽ lớn đến độ trưởng thành. Khi vừa sinh ra, con non nhắm mắt và chúng chỉ có thể nhìn được sau khoảng 2 tuần. Chúng sẽ sống cùng mẹ trong khoảng 2 năm trước khi bỏ đi để thiết lập lãnh thổ riêng, lãnh thổ này có thể đạt tới 25–150 km2, phụ thuộc vào mức độ tập trung của các con mồi. Trong điều kiện nuôi nhốt, báo đốm Mỹ có thể sống tới 20 năm.
== Phân bố ==
Báo đốm Mỹ sinh sống chủ yếu ở các rừng mưa nhiệt đới từ miền nam và miền trung châu Mỹ tới México, nhưng ít khi nhìn thấy chúng ở các vùng núi. Được biết đến với khả năng bơi lội và leo trèo rất tốt, chúng thích sống ở ven sông, trong các đầm lầy và trong các khu rừng rậm nhiều con mồi. Người ta ít khi quan sát thấy báo đốm Mỹ ở phía bắc cũng như ở phía tây nam của nước Mỹ, đặc biệt là ở Arizona. Theo lịch sử, các khu vực lãnh thổ của báo đốm Mỹ từng trải dài về phía bắc tới tận miền nam California và miền tây Texas.
== Chú thích == |
keo vàng.txt | Cây keo vàng (Danh pháp khoa học: Acacia pycnantha), còn gọi là Mimosa vàng (từ tiếng Pháp: Mimosa doré) là một loài thực vật thuộc họ Đậu, phân họ Trinh nữ, chi Keo. Cây cao 8 m (25 ft) và có cuống lá dẹt thay vì lá thật. Cuống lá hình lưỡi liềm, dài từ 9 đến 15 cm (3,5–9 in), và rộng 1 đến 3,5 cm (0,5 -1,5 in). Hoa vàng, thơm, phát triển nhiều vào cuối đông và mùa xuân. Câu thụ phấn chéo nhờ một số loài chim thuộc họ Ăn mật và chi Acanthiza. Những loài chim này hút mật, rồi cọ phải những bông hoa khác, mang phấn hoa đi theo. Loài này phân bố ở đông nam nước Úc từ bán đảo Eyre phía Nam của Nam Úc vào phía tây tiểu bang Victoria và phía Bắc vào nội địa khu vực phía nam New South Wales và Lãnh thổ Thủ đô Úc. Cây được tìm thấy trong các tầng dưới của rừng bạch đàn mở trên đất khô, nông. cây được trồng ở khu vực trong tất cả các tiểu bang phía nam của Úc cũng như Nam Phi và California.
Năm 1842, Thomas Mitchell phát hiện ra loài khi thu thập các loại mẫu vật, còn George Bentham đã mô tả loài. Vỏ cây Acacia pycnantha tạo ra chất tannin nhiều hơn bất cứ loài cây keo khác, dẫn đến việc khai thác thương mại sản xuất hợp chất này. Nó đã được trồng rộng rãi làm cây cảnh và sản xuất hoa, nhưng nó lại là cây dại ở Nam Phi, Tanzania, Ý, Bồ Đào Nha, Sardinia, Ấn Độ, Indonesia, New Zealand, cũng như Miền đông nước Úc, Tasmania và New South Wales. Acacia pycnantha đã được bầu chọn là quốc hoa chính thức của Úc vào năm 1988, và đã là biểu tượng in trên tem bưu chính của Úc.
== Mô tả ==
Loài Acacia pycnantha thường mọc thành cây nhỏ, cao từ 3 đến 8 m (10 – 25 ft), mặc dù theo báo cáo ở Morocco, loài cây có thể cao lên đến 12 m (40 ft). Vỏ cây thường có màu nâu đậm hoặc xám mịn lúc còn bé và nhăn lại và sần sùi khi đã già. Cành không có hoa hoặc phủ hoa trắng. Các cây trưởng thành không có lá thật nhưng có cuống lá dẹt từ từ các cành, có màu xanh lá cây sáng hoặc tối. Cuống lá hình lưỡi liềm, dài từ 9 đến 15 cm (3,5 – 9 in), và rộng từ 1 đến 3,5 cm (0,5 - 1,5 in). Khi trưởng thành cuống mới sạm màu đồng thiếc. Quan sát thực địa tại công viên bảo tồn Hale cho thấy phần lớn cây trưởng thành vào mùa xuân và mùa hè (ở Úc) từ tháng 10 đến tháng 1.
Chồi hoa ở quanh năm trên những cây trưởng thành mới, nhưng chỉ bắt đầu từ tháng 11 đến tháng 5. Hoa nở từ tháng 7 đến tháng 9 (từ cuối mùa đông đến đầu mùa hè) đó là vì các chồi sau này phát triển nhanh hơn đỉnh điểm là tháng 7 và tháng 8. Những chùm hoa vàng tươi mọc thành nhóm từ 40 đến 80 bông, chùm dài 2,5 – 9 cm (1 - 3,5 in) phát sinh từ kẽ chồi. Mỗi bông hoa cấu trúc giống như quả bóng, được bao phủ bởi 40 đến 100 bông hoa nhỏ hơn có năm cánh và nhị hoa dài, khiến đầu hoa có lông mỏng.
Sau khi quá trình ra hoa kết thúc, vỏ túi hạt hình hơi bẹt, thẳng hoặc cong, dài 5 – 14 cm (2 - 5,5 in), rộng 5–8 mm. Lúc cây bé, vỏ túi hạt màu xanh lá cây, khi trưởng thành có màu nâu sẫm và hơi khít lại giữa các hạt, tạo thành một chuỗi. Các hạt thuôn dài có độ dài 5,5 – 6 mm, màu đen bóng, áo hạt có hình chùy, xuất hiện vào tháng 12 và tháng 1, khi vỏ túi đã chín.
Một số loài tương tự là cây keo mại châu (Acacia obliquinervia), cây keo vàng ven bờ biển (Acacia leiophylla) và cây keo vàng dạng vòng hoa (Acacia saligna). Acacia obliquinervia có cuống lá màu xám xanh, ít hoa, và vỏ hạt rộng hơn (1,25-2,5 cm (1/2–1 in)). Acacia leiophylla có cuống lá nhạt màu. Acacia saligna có cuống lá dài, hẹp hơn.
== Quá trình phân loại ==
Nhà thực vật học George Bentham mô tả chính thức Acacia pycnantha lần đầu tiên trên Tạp chí Thực vật học London năm 1842. Nhà thám hiểm Thomas Mitchell thu thập các loại mẫu vật ở phía bắc bang Victoria giữa thị trấn Pyramid Hill và sông Loddon. George Bentham nghĩ đây là loài liên quan đến Acacia leiophylla, mà ông mô tả ở bài báo tương tự. Tính ngữ pycnantha có nguồn gốc từ tiếng Hy Lạp "pyknos" (dày đặc) và "anthos" (hoa), ám chỉ đến các cụm dày đặc của loài hoa, tạo nên cụm hoa hình cầu. Nhà thực vật học Queensland Les Pedley phân loại lại loài như Racosperma pycnanthum vào năm 2003, khi ông đề xuất đặt gần hết các chi cây ở Úc vào chi mới có tên là Racosperma. Tuy nhiên, tên này được coi là đồng nghĩa với tên gốc.
Johann Georg Christian Lehmann mô tả Acacia petiolaris vào năm 1851 từ một cây trồng tại Vườn thực vật Hamburg từ hạt giống được cho là từ Thuộc địa sông Swan (Perth). Năm 1855, Carl Meissner mô tả Acacia falcinella lấy từ Port Lincoln. Năm 1864, Bentham phân loại cả hai loài là Acacia pycnantha như trong cuốn sách Flora australiensis của mình, mặc dù ông đã phân loại 1 phân loài của angustifolia dựa trên các dữ liệu từ Vịnh Spencer, với cuống lá dẹt hơn và ít chùm hoa. Tuy nhiên, không có phân loài được công nhận hiện nay.
Năm 1921, Joseph Maiden mô tả Acacia westonii mọc từ sườn phía bắc và phía tây núi Jerrabomberra gần Queanbeyan ở New South Wales. Ông thấy nó giống tương tự, nhưng thực chất là khác A. pycnantha, do đó ông không phân ra loài khác. Đồng nghiệp của ông là Richard Hind Cambage đã trồng và nghiên cứu cây giống và phát hiện ra cây có thân dài hơn nhiều so với A. pycnantha, và cuống lá xuất hiện ba nhị chứ không phải là một như các loài khác. Nó được xem là đồng nghĩa của A. pycnantha.
Tên thường được đặt là cây keo vàng, cây keo xanh, cây keo đen và cây keo lá rộng. Thổ dân vùng Ebenezer Misson ở ngoại ô Wergaia phía tây bắc Victoria gọi chúng là cây phù thủy.
Phép lai của loài được biết đến trong tự nhiên và trồng trọt. Trong khu rừng Whipstick gần Bendigo ở Victoria, lai giả định với cây keo Whirrakee (Acacia williamsonii) đã xác định; tương tự với cây keo hakea (Acacia hakeoides). Phép lai với cây keo bạc Queensland (Keo lá tròn) mọc lên ở châu Âu đã được đặt tên là Acacia x siebertiana và Acacia x deneufvillei.
== Phân bố và môi trường sống ==
Cây keo vàng được tìm thấy ở vùng đông nam nước Úc từ phía nam của bán đảo Eyre đến dãy núi Flinders, khắp tiểu bang Victoria và phía Bắc vào nội địa phía Nam của New South Wales và Lãnh thổ Thủ đô Úc. Cây được tìm thấy trong các tầng dưới của rừng bạch đàn mở trên đất khô, nông.
Loài cây đã trở nên vượt quá phạm vi phân bố ban đầu ở Úc và trở thành một loài xâm lấn ở nhiều nơi khác. Tại bang New South Wales, nó mọc nhiều ở thành phố Sydney và các vùng Duyên hải miền Trung của bang. Tại bang Tasmania, nó đã lan rộng ở phía đông của bang và trở thành cỏ dại trong bụi rậm gần thủ phủ Hobart. Tại Tây Úc, nó được tìm thấy trong dãy Darling và phía tây vành đai wheatbelt cũng như ở thi trấn Esperance và Kalgoorlie.
Ngoài nước Úc, cây còn xuất hiện ở Nam Phi, Tanzania, Ý, Bồ Đào Nha, Sardinia, Ấn Độ, Indonesia và New Zealand. Nó hiện diện ở California, nhưng không được xem xét để được tính là phân bố ở đó. Ở Nam Phi, nó đã được trồng từ năm 1858 và 1865 để ổn định cồn cát và sản xuất chất tannin, nhưng đã lan ra theo đường nước vào rừng, núi và đồng bằng fynbos, và các khu vực biên giới giữa fynbos và karoo. Các túi mật của hoa đã hình thành loài ong bắp cày Trichilogaster signiventris' đã được tìm thấy ở Nam Phi, đã giúp cân bằng hệ sinh thái và đã làm giảm khả năng sinh sản của cây trong suốt phạm vi của chúng. Ong trưởng thành đẻ trứng vào đầu nụ hoa trong mùa hè, nở tháng năm và tháng sáu. Ấu trùng gây ra sự hình thành của các mụn cây và ngăn chặn sự phát triển hoa. Cành cây có thể bị gãy dưới sức nặng của các mụn cây. Ngoài ra, loài mọt hạt keo Melanterius compactus xuất hiện năm 2001 cũng góp phần cân bằng hệ sinh thái.
== Hệ sinh thái ==
Mặc dù các loài cây thường bị chết do cháy, nhưng loài cây này trưởng thành có thể phát triển thành bụi chống cháy. Hạt giống có thể tồn tại trong đất trong hơn 5 năm, nảy mầm kể cả khi bị cháy.
Giống như keo khác, Acacia pycnantha hấp thụ nitơ từ không khí. Đây là nơi vi khuẩn rhizobia hình thành nốt sần rễ, nơi làm cho nitơ ở dạng hữu cơ và do đó giúp cây mọc trên đất bạc màu. Một cuộc nghiên cứu thực địa trên khắp nước Úc và Nam Phi nhận thấy rằng các vi sinh vật rất đa dạng về mặt di truyền, thuộc chủng khác nhau của các loài Bradyrhizobium japonicum và chi Burkholderia ở cả hai nước. Hiện chưa rõ liệu cây keo vàng đã được kèm theo các vi khuẩn này sang lục địa châu Phi hay gặp quần thể mới có.
Tự không tương thích, Acacia pycnantha không thể tự thụ tinh và yêu cầu các cây phải thụ phấn chéo nhau để tạo hạt. Điều này tạo thuận lợi cho các loài chim. Đã có các thí nghiệm ngăn chim khỏi hoa cho được kết quả là làm giảm đáng kể số lượng hạt giống. Tuyến mật nằm trên cuống lá, chúng càng ở gần hoa nở thì càng hoạt động. Chúng tạo mật hoa cho chim hút ngay trước hoặc trong quá trình ra hoa. Trong khi hút, chim cọ phải đầu hoa khiến phấn hoa dính trên thân và rơi vào nhiều cây. Một số loài Họ Ăn mật, bao gồm các loài Melithreptus lunatus, Lichenostomus chrysops, Phylidonyris novaehollandiae, và đôi khi cả Lichenostomus penicillatus, Phylidonyris pyrrhopterus, và Acanthorhynchus tenuirostris đã được quan sát khi kiếm ăn. Các loài chim khác bao gồm các loài Zosterops lateralis, Acanthiza lineata, Acanthiza reguloides và Acanthiza pusilla. Khi hút mật hoa, chim thường ăn côn trùng trên các tán lá. Ong mật, ong bản địa, kiến và ruồi cũng bu vào tuyến mật, nhưng thường không tiếp xúc với hoa. Sự hiện diện của loài Acacia pycnantha tỉ lệ thuận với số vẹt Lathamus discolor trú đông trong rừng box-ironbark ở trung tâm Victoria, mặc dù vẫn chưa rõ vai trò của vẹt đối với loài.
Gỗ dùng làm lương thực cho ấu trùng của bọ cánh cứng nhiều màu như Agrilus assimilis, Agrilus australasiae và Agrilus hypoleucus. Ấu trùng của một số loài bướm ăn lá bao gồm các loài như Hypochrysops ignita, Jalmenus icilius, Jalmenus lithochroa và Theclinesthes miskini. Ong bắp cày thuộc chi Trichilogaster có dạng u sưng ở đầu hoa, phá vỡ hạt cây và loài Acizzia acaciaepycnanthae, một loài rầy hút nhựa từ lá. Acacia pycnantha bị các loài nấm gỉ trong chi Uromycladium romycladiumi ảnh hưởng đến cuống lá và cành. Các loài nấm bao gồm Uromycladium simplex hình thành mụn mủ và Uromycladium tepperianum gây u sưng nâu và đen để rồi dẫn đến cái chết của cây chủ. Hai loài nấm nữa đã được phân lập từ bệnh đốm lá trên Acacia pycnantha là Seimatosporium arbuti và Monochaetia lutea.
== Công dụng ==
Keo vàng đã được trồng ở các vùng ôn đới trên thế giới để lấy chất tannin trong vỏ cây, vì nó cung cấp năng suất cao nhất trong tất cả các cây keo. Cây có thể cho thu hoạch tannin khi trồng được 7-10 năm. Buôn bán gỗ bị giới hạn bởi kích thước nhỏ của cây, nhưng nó có giá trị cao như làm gỗ nhiên liệu. Những bông hoa thơm đã được sử dụng để làm nước hoa, và sản xuất mật ong ở các khu vực ẩm ướt. Tại miền nam châu Âu, nó là một trong những loài được trồng cho thương mại hoa và bán như là "cây mimosa". Giống như nhiều loài khác của cây keo, Acacia pycnantha chảy nhựa cao su khi ấn mạnh vào thân cây. Được ăn bởi thổ dân Úc, nhựa cao su được nghiên cứu và có thể thay thế có thể cao su thường vốn được sử dụng trong ngành công nghiệp thực phẩm.
== Gieo trồng ==
Cây keo Vàng trồng ở Úc và xuất hiện ở Bắc bán cầu vào giữa những năm đầu của thế 19. Dù vòng đời loài tương đối ngắn, từ 15 đến 30 năm, nó vẫn được trồng rộng rãi vì mùi hoa thơm, màu hoa vàng rực rỡ. Ngoài việc trồng làm cây cảnh, cây còn được trồng để chắn gió và để kiểm soát xói mòn. Cây được trồng cùng với cây cao su đường (Eucalyptus cladocalyx) làm chắn gió hai lớp. Một hình thức gieo trồng rộng rãi ban đầu được thu thập trên núi Arapiles ở miền tây Victoria là lấy hoa, với hoa thơm xuất hiện từ tháng tư đến tháng bảy. Loài có sức chịu đựng sương giá, thích nghi với các điều kiện đất đai vì loài thoát nước tốt. Loài chịu đựng được những loại đất nặng ở vùng khí hậu khô, cũng như độ mặn của đất nhẹ. Nó có thể bị úa lá trong đất đá vôi có tính kiềm. Loài chịu được hạn, chỉ cần lượng mưa 370–550 mm (10–20 in) vào mùa đông là có thể trồng trọt. Khi gieo trồng, loài rất dễ bị mọc mụn cây. Trước khi trồng, cần nhúng hạt giống vào nước nóng để làm mềm lớp cứng phủ bên ngoài hạt.
== Biểu tượng và văn hóa ==
Mặc dù loài keo, và đặc biệt là loài keo vàng, xưa đã là biểu tượng hoa chính thức của Úc trong nhiều năm, nó đã không được đồng ý trong hai trăm năm. Cho đến năm 1988, cây keo vàng chính thức được thông qua như là biểu tượng hoa của Australia. Điều này đã được công bố bởi Toàn quyền Ninian Stephen trong công báo Chính phủ công bố vào ngày 1 tháng 9. Vợ của Thủ tướng Úc tên là Hazel Hawke đã đánh dấu buổi lễ quốc gia bằng việc trồng cây keo vàng tại Vườn Quốc gia Australia. Năm 1992, chính thức tuyên bố ngày 1 tháng 9 là "Ngày loài keo quốc gia".
Phù hiệu áo giáp của Úc bao gồm một vòng hoa của cây keo, tuy nhiên, không chính xác là cây keo vàng. Tương tự như vậy, các màu xanh lá cây và vàng được sử dụng bởi đội thể thao quốc tế Australia đã được lấy cảm hứng từ màu sắc của keo nói chung, chứ không phải là keo vàng.
Loài này được miêu tả trên một con tem chú thích "keo" như là một phần của một bộ tem Úc 1959-1960 gồm hoa bản địa Úc. Năm 1970, một con tem 5c dán nhãn "Golden Wattle" đã được ban hành để bổ sung cho một tập hợp trước đó miêu tả các biểu tượng hoa của Australia. Để đánh dấu Ngày Quốc Khánh Úc vào năm 1990, một con tem 41c dán nhãn "Acacia pycnantha" đã được ban hành. Một con tem dán nhãn "Golden Wattle", với giá trị của 70c, được ban hành vào năm 2014.
== Xem thêm ==
· Danh sách các thực vật in trên tem của Australia.
== Chú thích ==
== Tham khảo ==
Dữ liệu liên quan tới Keo vàng tại Wikispecies
Phương tiện liên quan tới Acacia pycnantha tại Wikimedia Commons |
vô lê (bóng đá).txt | Vô lê là một thuật ngữ trong bóng đá để chỉ một kỹ thuật đá bóng rất phức tạp, thường dùng trong các pha dứt điểm, dù đôi khi nó cũng được dùng trong các pha chuyền bóng.
== Khái quát ==
Trong tiếng Việt, từ "vô lê" bắt nguồn từ "volée" trong tiếng Pháp. Đây được xem là một trong những kỹ thuật đẹp mắt nhất trong bộ môn bóng đá. Một cú đá được gọi là "vô lê" khi quả bóng được sút bằng chân ngay ở trên không trung. Để thực hiện một pha "vô lê" có thể cực kỳ khó khăn vì để bóng đi trúng vào mục tiêu thì nó phải đòi hỏi có sự phối hợp ăn ý giữa chân và mắt và cả thời gian.
Trình tự một cú đá "vô lê" là khi quả bóng đang bay lên không trung và cầu thủ đang ở vị trí thuận lợi hoặc đang di chuyển đến vị trí đó. Khi bóng rơi đến đúng tầm chân thì cầu thủ lúc này sẽ thực hiện cú sút ở các tư thế nghiêng người và tung người để đá nối trước khi quả bóng chạm mặt đất. Kỹ thuật này hoàn toàn khác với kỹ thuật đệm nối bóng được thực hiện khi cầu thủ chỉ đệm chân để làm thay đổi hướng bóng ở tư thế nghiêng người.
Trong tấn công, "vô lê" được dùng khi đội bóng gặp khó khăn trong việc ghi bàn. Vì một cú đá "vô lê" chính xác và đúng uy lực sẽ không cho thủ môn đối phương một cơ hội nào để cản phá. "Vô lê" còn được sử dụng trong chuyền bóng nhưng rất ít vì nó khá khó kiểm soát trong khi việc chuyền bóng lại đòi hỏi điều ngược lại. Thậm chí nó còn được đưa vào trong việc phòng ngự khi cầu thủ cần phá bóng ra thật xa.
Một vài thuật ngữ khác mà ngày nay vẫn còn được sử dụng trong tiếng Việt dù ít thông dụng hơn thuật ngữ "vô lê" là Ngả bàn đèn hay Xe đạp chổng ngược. Thực tế, đây là một kỹ thuật biến thể của "vô lê", được thực hiện khi cầu thủ tung người lên khỏi mặt đất và ở tư thế xoay lưng lại so với cầu môn. Vì mức độ khó cao hơn kỹ thuật "vô lê" bình thường, nên nó rất hiếm khi được sử dụng, trừ một vài trường hợp đặc biệt trong thi đấu hoặc biểu diễn kỹ thuật không thi đấu trước khán giả.
== Xem thêm ==
Ngả người móc bóng
== Tham khảo ==
== Liên kết ngoài ==
BBC SPORT | Football | Skills | Volleying Technique
basic definition |
pbs.txt | PBS (tiếng Anh Public Broadcasting Service, có nghĩa "Dịch vụ Truyền thông Công cộng") là mạng truyền thông công cộng bất vụ lợi có 349 đài truyền hình làm thành viên ở Hoa Kỳ, cũng có một số đài truyền hình cáp ở Canada. Tuy thuật ngữ "truyền thông" cũng bao gồm dịch vụ radio, PBS chỉ cung cấp các chương trình tivi; radio thì nước Mỹ có NPR, American Public Media, và PRI.
PBS được thành lập năm 1969, lúc đó nó nối nghiệp nhiều chức năng của tổ chức đi trước, Truyền hình Giáo dục Quốc gia (National Educational Television, NET), tổ chức đó hợp nhất với đài WNDT tại Newark, New Jersey để trở thành WNET. PBS bắt đầu truyền hình vào thứ hai, ngày 5 tháng 10 năm 1970. Năm 1973, nó hợp nhất với Educational Television Stations.
PBS là đoàn thể tư nhân và bất vụ lợi, các đài thành viên làm chủ. Tuy nhiên, các hoạt động của nó được cấp vốn bởi Corporation for Public Broadcasting (CPB), một tổ chức riêng do chính phủ liên bang cấp vốn. Trụ sở chính của PBS ở Thành phố Crystal, Virginia.
== Chú thích ==
== Liên kết ngoài ==
Trang chủ (tiếng Anh) |
họ cự đà.txt | Họ Cự đà, danh pháp khoa học Iguanidae, là một họ thằn lằn bao gồm cự đà (nhông gai lưng) và các loài họ hàng của nó.
== Hình ảnh ==
== Tham khảo ==
== Liên kết ngoài ==
Family Iguanidae |
đại bồn địa hoa kỳ.txt | Đại Bồn địa hay Lòng chảo lớn (tiếng Anh: The Great Basin) là một vùng rộng lớn và khô cằn ở miền tây Hoa Kỳ. Ranh giới của nó tùy thuộc vào cách mà người ta định nghĩa cho nó. Định nghĩa phổ biến nhất của nó là bồn địa (hay lòng chảo) tiêu nước liền nhau. Nó gần như nằm giữa dãy núi Wasatch ở Utah và Sierra Nevada và không có một thủy lộ tự nhiên nào thông ra biển. Vì thế nó là một bồn địa khép kín. Hoang mạc Đại Bồn địa được định hình bởi vùng phạm vi của các loài thực vật đặc trưng và bao phủ một vùng khá khác biệt (nhỏ hơn). Vùng văn hóa Đại Bồn địa là nơi cư ngụ của một số bộ lạc Shoshonean, mở rộng xa về phía bắc và phía đông hơn bồn địa thủy văn. "Xứ bồn địa và rặng núi" là một vùng địa lý được dễ dàng nhận ra nhất trong Đại Bồn địa nhưng nó lại mở rộng vào trong Hoang mạc Sonoran và Hoang mạc Mojave.
== Mô tả ==
Cao nguyên núi liền núi rộng 200.000 dặm Anh (520.000 km²) bao phủ phần lớn Nevada và hơn phân nửa Utah cũng như một phần của các tiểu bang California, Idaho, Oregon và Wyoming. Đại Bồn địa không phải là một bồn địa đơn độc mà đúng hơn là một loạt các lưu vực nước nối tiếp nhau có ranh giới ở phía tây cạnh các lưu vực của sông Sacramento-sông San Joaquin và sông Klamath, ranh giới phía bắc cạnh các lưu vực của sông Columbia-sông Snake, ranh giới phía nam và phía đông cạnh các lưu vực của sông Colorado (Hoa Kỳ)-sông Green (Utah).
Các lưu vực nước bên trong Đại Bồn địa gồm có:
Hồ Great Salt - Utah, Idaho, Wyoming (được cấp nước bởi một số sông gồm có sông Bear, sông Jordan và sông Weber)
Hoang mạc Hồ Great Salt - Utah, Nevada
Thung lũng Hamlin - Nevada, Utah
Thung lũng Snake - Utah, Nevada
Thung lũng Pine - Utah
Thung lũng Tule - Utah
Thung lũng Rush - Utah
Thung lũng Tooele - Utah
Thung lũng Skull - Utah
Lạch Pilot - Nevada, Utah
Lạch Thousand Springs - Nevada, Utah
Thung lũng Curlew - Utah, Idaho
Hồ Sevier - Utah
Hoang mạc Escalante - Utah, Nevada
Sông Beaver - Utah
Humboldt Sink - Nevada (mạng lưới sông Humboldt, the longest river in the Great Basin)
Hoang mạc Black Rock - Nevada, Oregon
Hoang mạc Lạch Smoke - Nevada, California
Hồ Massacre - Nevada, California
Hồ Continental - Nevada, Oregon
Hồ Pyramid - Nevada, California (mạng lưới Hồ Tahoe qua Sông Truckee)
Hồ Winnemucca - Nevada (trước đây là kênh xả của Hồ Pyramid)
Thung lũng Granite Springs - Nevada
Trũng Carson - Nevada, California
Hồ Walker - Nevada, California
Thung lũng Dixie - Nevada
Thung lũng Gabbs - Nevada
Thung lũng Big Smoky - Nevada
Thung lũng Diamond - Nevada
Thung lũng Monitor - Nevada
Thung lũng Little Smoky - Nevada
Thung lũng Newark - Nevada
Thung lũng Long - Nevada
Thung lũng Ruby - Nevada
Thung lũng Spring - Nevada
Thung lũng Steptoe - Nevada
Thung lũng Hồ Dry - Nevada
Thung lũng Hồ Fish - Nevada, California
Thung lũng Soda Spring - Nevada
Thung lũng Ralston - Nevada
Thung lũng Stone Cabin - Nevada
Thung lũng Lạch Hot - Nevada
Thung lũng Railroad - Nevada
Bãi cạn Cactus - Nevada
Bãi cạn Sarcobatus - Nevada
Thung lũng Sand Spring - Nevada
Thung lũng Tikaboo - Nevada
Thung lũng Ivanpah - Nevada, California
Thung lũng Pahrump - Nevada, California
Lòng chảo Harney - Oregon
Hồ Summer - Oregon
Hồ Silver - Oregon
Hồ Abert - Oregon
Hồ Warner - Oregon, California, Nevada
Hồ Guano - Oregon, Nevada
Hồ Alvord - Oregon, Nevada
Sông Lost - California, Oregon
Lạch Butte - California, Oregon
Hồ Goose - California, Oregon
Hồ Tulare - California (mạng lưới Sông Kings)
Hồ Buena Vista - California
Carrizo Plain - California
Hồ Elsinore - California
Thung lũng Surprise - California, Nevada
Bình nguyên Madeline - California, Nevada
Hồ Honey - California, Nevada
Hồ Eagle - California
Hồ Mono - California, Nevada
Hồ Crowley - California, Nevada
Hồ Owens - California
Thung lũng Eureka - California, Nevada
Thung lũng Saline - California
Thung lũng Chết - California, Nevada
Thung lũng Panamint - California
Thung lũng Indian Wells - California
Thung lũng Searles - California
Thung lũng Antelope - California
Thung lũng Fremont - California
Hồ Coyote - California
Hồ Cuddeback - California
Sông Mojave - California
Hoang mạc Mojave - California
Salton Sea - California
Phần lớn Đại Bồn địa, đặc biệt khắp miền bắc Nevada, gồm có một loạt các rặng núi cách ly và những thung lũng xen kẽ. Đây là cấu hình địa lý được biết với tên gọi Xứ Lòng chảo và Rặng núi (Basin and Range Province). Ngoài ra, Đại Bồn địa còn có hai bể lắng rộng là vết tích nền hồ của những hồ tiền sử đã tồn tại trong bồn địa suốt thời kỳ băng hà cuối cùng nhưng kể từ đó phần lớn đã bị cạn khô. Hồ Bonneville trải rộng qua phần lớn tây Utah và vào trong Idaho và Nevada để lại phía sau là Hồ Great Salt, Các bãi cạn Bonneville Salt, Hồ Utah, và Hồ Sevier. Cũng giống như vậy Hồ Lahontan trải rộng qua phần lớn tây bắc Nevada và các tiểu bang lân cận, để lại phía sau những vết tích như Hoang mạc Black Rock, Trũng Carson, Trũng Humboldt, Hồ Walker, Hồ Pyramid, Hồ Winnemucca, và Hồ Honey.
== Địa chất ==
Đại Bồn địa là một phần của bộ phận địa chất lớn hơn là Xứ Lòng chảo và Rặng núi. Đại Bồn địa được các nhà địa chất cho rằng là nơi đang có sự giản rộng và gãy nứt. Mặt dù nằm trên cao, vỏ trái đất ở đây thật sự tương đối mỏng và càng ngày càng mỏng. Một số nhà địa chất còn cho rằng vùng rạng nứt nhô lên của Đông Thái Bình Dương có thể trong tương lai xa sẽ tách Đại Bồn địa ra, có thể ngay ở Thung lũng Imperial, mở đường cho biển tiến vào từ Vịnh California.
Walker Lane là một đường lõm chạy từ Oregon đến Thung lũng Chết có thể là nơi hình thành vịnh do sự tách rời Đại Bồn địa trong tương lai như đã nói ở trên.
Ngày 23 tháng 2 năm 2008, một trận động đất có cường độ 6,0 xảy ra gần thị trấn Wells, Nevada. Trung tâm của trận động đất này nằm trên Hệ thống vết nứt Thung lũng Independence.
== Thực vật và động vật ==
Đại Bồn địa phần lớn là hoang mạc nằm trên độ cao với các lòng chảo thấp nhất dưới 4.000 ft (1,200 m) và một số đỉnh núi cao trên 12.000 ft (3,700 m). Phần lớn các khu vực có nhiều loại cỏ bụi, đa số là giống Atriplex ở nơi thấp nhất và giống cây ngải trắng ở những nơi cao hơn. Rừng tự nhiên có Utah Juniper, thông một lá (đa số ở các khu vực phía nam) hay Mountain Mahogany lá xoắn (đa số ở các khu vực phía bắc) mọc trên các sườn núi. Các mãng rừng Thông Limber và Pinus longaeva có thể tìm thấy tại một số dãy núi cao hơn. Cây dương và những bụi cây dương lá rung hiện diện trong những khu vực có nước đáng kể.
Động vật gặm nhấm như thỏ đuôi đen, thỏ đuôi bông vãi sống ở hoang mạc và chó sói đồng cỏ Bắc Mỹ chuyên săn bắt chúng là những động vật có vú thường được thấy nhất. Sóc cũng dễ thấy nhưng chúng thường đi tìm mồi trên mặt đất chỉ vào mùa xuân và đầu mùa hè. Các loại chuột và những loài gặm nhắm nhỏ khác cũng thường thấy. Linh dương có gạc nhiều nhánh, nai, và báo sư tử cũng hiện diện khắp khu vực. Nai sừng tấm và cừu sừng lớn cũng có nhưng hiếm thấy.
Các loại thằn lằn nhỏ thường thấy, đặc biệt là ở các nơi thấp. Rắn chuông cũng có trong vùng.
Các loại chim như chim dẽ nước (phalarope) và chim mỏ nhát (curlew) có thể thấy tại các vùng ướt. Chim bồ nông trắng Mỹ (American white pelican) thường thấy ở Hồ Pyramid. Đại bàng mào vàng (golden eagle) có lẽ dễ tìm thấy trong vùng Đại Bồn địa hơn bất cứ nơi nào khác tại Hoa Kỳ. Mourning Dove, Chiền chiện miền tây, Black-billed Magpie và Common Raven là những loài chim phổ biến khác trong vùng.
Hai loài cá có nguy cơ tuyệt chủng được tìm thấy trong Hồ Pyramid, đó là Cui-ui và Lahontan cutthroat trout.
== Định cư hiện tại ==
Đại Bồn địa vẫn là một trong số các khu vực dân cư thưa thớt nhất của Hoa Kỳ. Hai thành phố lớn nhất nằm trong bồn địa là Salt Lake City, Utah ở rìa phía đông bồn địa và Reno, Nevada ở rìa phía tây. Các khu ngoại ô của Los Angeles gồm có Lancaster và Palmdale cùng với Victorville và Hesperia, California có dân số khoảng 600.000 người ở rìa phía nam bồn địa. Các thành phố nhỏ hơn gồm có Carson City, Nevada; Winnemucca, Nevada; Elko, Nevada; Ogden, Utah; Provo, Utah; and Logan, Utah.
Đại Bồn địa còn là nơi đi qua của các đường sắt, xa lộ tốc hành chính và dài như Xa lộ Liên tiểu bang 80 giữa Reno và Salt Lake City, Xa lộ Liên tiểu bang 15 giữa tây nam Utah và Idaho, và Xa lộ Liên tiểu bang 70 từ nơi tiếp giáp với Xa lộ Liên tiểu bang 15 ở trung Utah từ Đại Bồn địa băng qua Cao nguyên Colorado đến cận tây Colorado. Các đường sắt như Union Pacific hiện nay làm chủ các đường sắt trước kia là Southern Pacific và Western Pacific. Các đường sắt này mở rộng từ các vùng đô thị chính từ Denver, Colorado qua Salt Lake City, Utah và Reno, Nevada đến San Francisco, California; và từ Salt Lake City đến Los Angeles, California.
== Xem thêm ==
Hồ Bonneville
Danh sách các hoang mạc theo diện tích
Danh sách các sông trong Đại Bồn địa
== Ghi chú ==
== Tham khảo ==
USGS: Geologic Provinces of the United States: Basin and Range Province (2004)
Basin and Range, John McPhee (1980)
C.Michael Hogan. Marc Papineau et al., Development of a dynamic water quality simulation model for the Truckee River, Earth Metrics Inc., Environmental Protection Agency Technology Series, Washington D.C. (1987)
The Sagebrush Ocean: A Natural History of the Great Basin, Stephen Trimble (1999) ISBN - 0874173434
USGS: North America Basins Map
== Liên kết ngoài ==
Great Basin project of the American Land Conservancy
Map of Great Basin from Great Basin Web
Great Basin--Mojave Desert Region
Exploring the Great Basin
Great Basin Shrub Steppe images at bioimages.vanderbilt.edu (slow modem version)
Great Basin Montane Forests images at bioimages.vanderbilt.edu (slow modem version) |
neptuni.txt | Neptuni (tên Latinh: Neptunium) là một nguyên tố hóa học ký hiệu Np, có số nguyên tử 93 trong bảng tuần hoàn, được đặt tên theo tên của Sao Hải Vương (Neptune).
Neptuni là nguyên tố siêu urani đầu tiên được tạo ra bằng tổng hợp hạt nhân. Đây là nguyên tố rất đặc biệt bởi vì tuy là thuộc nhóm actini, neptuni lại có thể tồn tại hóa trị VII.
== Tham khảo ==
Phương tiện liên quan tới Neptunium tại Wikimedia Commons |
2000.txt | Bài này về năm 2000. Để đọc về số 2000, xem 2000 (số).
Theo lịch Gregory, năm 2000 (số La Mã: MM) là năm nhuận bắt đầu từ ngày thứ Bảy. Năm 2000 là năm cuối của thế kỷ thứ 20 và thiên niên kỷ 2 trong lịch Công Nguyên. Tuy nhiên, nếu hiểu lịch Gregory theo đúng kiểu thì năm 2001 mới đáng chú ý, bởi vì thế kỷ 1 bắt đầu từ năm 1, và không có năm 0. Cho nên thế kỷ 1 (100 năm đầu tiên kể từ công lịch) kéo từ ngày 1 tháng 1 năm 1 đến ngày 31 tháng 12 năm 100. Thế kỷ 2 bắt đầu từ ngày 1 tháng 1 năm 101, v.v.
Năm này cùng lúc với những năm 5760–5761 trong lịch Do Thái, 1420–1421 trong lịch Hồi giáo, 1378–1379 theo lịch Ba Tư, và 2753 a.u.c. Nó được chỉ định là Năm Văn hóa Hòa bình quốc tế và Năm Toán học thế giới. Trong lịch Trung Quốc, nó là năm Canh Thìn.
Vào thời xưa đã có lời tiên tri về ngày tận thế vào năm 2000 hoặc 2012 (của người Maya). Vào khoảng năm 1999 người ta nghĩ rằng năm 2000 tất cả máy tính đầu bị hỏng nhưng điều đó đã không xảy ra.
== Sự kiện ==
1 tháng 1: Adolf Ogi trở thành tổng thống liên bang của Thụy Sĩ
8 tháng 2: Hy Lạp. Konstantinos Stefanopoulos tái đắc cử tổng thống.
15 tháng 2: Thương lượng gia nhập giữa Liên minh châu Âu và Latvia bắt đầu
15 tháng 2: Mandé Sidibé trở thành tổng thống của Mali
17 tháng 2: Ra mắt Windows 2000
15 tháng 2: Slovakia bắt đầu thương lượng gia nhập Liên minh châu Âu
18 tháng 2: Stjepan Mesic trở thành tổng thống trong Croatia
20 tháng 2: Bầu cử quốc hội trong Kyrgyzstan
27 tháng 2: Bầu cử quốc hội trong Tajikistan
1 tháng 3: Phần Lan. Tarja Halonen trở thành nữ tổng thống
1 tháng 3: Jorge Batlle trở thành tổng thống của Uruguay
11 tháng 3: Chile. Thủ tướng mới là Ricardo Lagos
11 tháng 3: Tái thiết lập quan hệ ngoại giao giữa Eritrea và Djibouti
1 tháng 4: Abdoulaye Wade trở thành tổng thống trong Sénégal
9 tháng 4: Gruzia. Eduard Schewardnadse tái đắc cử tổng thống
22 tháng 4: Paul Kagame trở thành tổng thống của Rwanda
15 tháng 5: Armenia, Andranik Markarjan trở thành nhà lãnh đạo chính phủ mới
17 tháng 5: Ahmet Necdet Sezer trở thành tổng thống của Thổ Nhĩ Kỳ
19 tháng 5: Đảo chính trong Fiji
20 tháng 5: Chen Shui-bian trở thành nhà lãnh đạo quốc gia của Trung Hoa Dân Quốc
4 tháng 6: Động đất trong Sumatra, Indonesia. 103 người chết
13 tháng 6: Đảo chính trong Solomon Island
14 tháng 6: Gruzia trở thành thành viên trong Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO)
2 tháng 7: Bầu cử tổng thống trong México
17 tháng 7: Baschar al-Assad trở thành tổng thống của Syria
25 tháng 7: Rơi một chiếc máy bay Concorde của Pháp tại Paris, 113 người chết.
1 tháng 8: Moshe Katsav trở thành tổng thống của Israel
12 tháng 8: Chìm tàu ngầm Kursk của Nga, 118 người chết
16 tháng 8: Rafael Hipólito Mejía Domínguez trở thành tổng thống của Cộng hòa Dominica.
23 tháng 8: Oman. Rơi một chiếc Airbus A320 của Gulf Air. Tất cả 143 người trên máy bay đều chết
5 tháng 9: Tuvalu trở thành thành viên của Liên Hiệp Quốc
7 tháng 10: Đại công tước Henri, công tước của Nassau, trở thành nhà lãnh đạo quốc gia trong Đại công quốc Luxembourg
10 tháng 10: Oman gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới
22 tháng 10: Côte d'Ivoire. Bầu cử tổng thống
26 tháng 10: Côte d'Ivoire. Laurent Gbagbo trở thành tổng thống
1 tháng 11: Serbia và Montenegro trở thành thành viên của Liên Hiệp Quốc
5 tháng 11: Bầu cử quốc hội trong Azerbaijan
7 tháng 11: Bầu cử tổng thống tại Hoa Kỳ
26 tháng 11: Bầu cử quốc hội trong România
27 tháng 11: Serbia và Montenegro trở thành thành viên trong OSCE
1 tháng 12: Bắt đầu của cuộc thương lượng gia nhập giữa Bulgaria và Liên minh châu Âu
1 tháng 12: Vicente Fox Quesada trở thành tổng thống của México
10 tháng 12: Ion Iliescu trở thành tổng thống của Romania
12 tháng 12: Hiệp ước hòa bình Algier giữa Ethiopia và Eritrea
20 tháng 12: Serbia và Montenegro trở thành thành viên của UNESCO
28 tháng 12: Adrian Năstase trở thành thủ tướng của Romania
== Sinh ==
13 tháng 5: Lukas Maria, con trai của công chúa Tatjana của Liechtenstein và Philipp của Lattorf
9 tháng 9: Victoria Federica de Marichalar y de Borbón, con gái của Elena của Tây Ban Nha và Jaime de Marichalar
26 tháng 9: công chúa Salma bat al-Abdullah của Jordan, con gái của vua Abdullah II và hoàng hậu Rania của Jordan
6 tháng 12: Pablo Nicolás Sebastian Urdangarín Borbón, con trai của Cristina của Tây Ban Nha và Iñaki Urdangarín
6 tháng 12: hoàng tử Nikolaus (Liechtenstein) con trai của hoàng tử kế vị Alois của Liechtenstein và Sophie công chúa của Bayern.
== Mất ==
1 tháng 1: Gerda Paumgarten, nữ vận động viên chạy ski Áo (s. 1907)
2 tháng 1: Patrick O’Brian, nhà văn Anh (s. 1914)
5 tháng 1: Diether Krebs, diễn viên Đức (s. 1947)
5 tháng 1: Bernhard Wicki, diễn viên Áo, đạo diễn phim (s. 1919)
6 tháng 1: Don Martin, họa sĩ biếm họa Mỹ (s. 1931)
7 tháng 1: Klaus Wennemann, diễn viên Đức (s. 1940)
8 tháng 1: Henry Eriksson, vận động viên điền kinh Thụy Điển, người đoạt huy chương Thế Vận Hội (s. 1920)
8 tháng 1: Herbert Turnauer, nhà tư bản công nghiệp Áo (s. 1907)
9 tháng 1: Bruno Zevi, kiến trúc sư Ý, tác giả, giáo sư đại học (s. 1918)
10 tháng 1: John Newland, đạo diễn phim Mỹ, nhà sản xuất phim, tác giả kịch bản (s. 1917)
12 tháng 1: Marc Davis, họa sĩ phim hoạt họa Mỹ (s. 1913)
18 tháng 1: Margarete Schütte-Lihotzky, nữ kiến trúc sư đầu tiên của Áo (s. 1897)
18 tháng 1: Francis Haskell, sử gia về nghệ thuật Anh (s. 1928)
19 tháng 1: Bettino Craxi, chính khách Ý (s. 1934)
19 tháng 1: G. Ledyard Stebbins, nhà sinh vật học Mỹ, nhà thực vật học (s. 1906)
19 tháng 1: Hedy Lamarr, nữ diễn viên Áo, nhà nữ phát minh (s. 1913)
26 tháng 1: Donald Budge, vận động viên quần vợt Mỹ (s. 1915)
27 tháng 1: Mae Faggs, nữ vận động viên điền kinh Mỹ, người đoạt huy chương Thế Vận Hội (s. 1932)
27 tháng 1: Friedrich Gulda, nghệ sĩ dương cầm Áo, nhà soạn nhạc (s. 1930)
29 tháng 1: Heinz Flotho, cầu thủ bóng đá Đức (s. 1915)
29 tháng 1: Hannes Schmidhauser, diễn viên Thụy Sĩ, tác giả kịch bản, đạo diễn phim (s. 1926)
31 tháng 1: Gil Kane, họa sĩ vẽ tranh cho truyện comic (s. 1926)
31 tháng 1: Martin Benrath, diễn viên Đức (s. 1926)
3 tháng 2: Alla Rakha, nhạc sĩ Ấn Độ (s. 1919)
4 tháng 2: Henry Jaeger, nhà văn Đức (s. 1927)
4 tháng 2: Lothar Alisch, chính khách Đức (s. 1951)
5 tháng 2: George Koltanowski, kỳ thủ (s. 1903)
5 tháng 2: Claude Autant-Lara, đạo diễn phim Pháp (s. 1901)
7 tháng 2: Sid Abel, vận động viên khúc côn cầu trên băng Canada, huấn luyện viên (s. 1918)
8 tháng 2: Angelika Mechtel, nhà văn nữ Đức (s. 1943)
9 tháng 2: Hans Platschek, họa sĩ Đức, nhà xuất bản (s. 1923)
11 tháng 2: Dieter Pavlik, chính khách Đức (s. 1935)
11 tháng 2: Roger Vadim, đạo diễn phim Pháp (s. 1928)
11 tháng 2: Jacqueline Auriol, nữ phi công Pháp (s. 1917)
12 tháng 2: Charles M. Schulz, họa sĩ biếm họa Mỹ (s. 1922)
12 tháng 2: Jalacy Hawkins, nam ca sĩ Mỹ (s. 1929)
13 tháng 2: James Cooke Brown, nhà xã hội học Mỹ, nhà văn thể loại khoa học giả tưởng (s. 1921)
16 tháng 2: Lila Kedrova, nữ diễn viên Nga (s. 1918)
19 tháng 2: Anatoli Alexandrowitsch Sobtschak, chính khách Nga (s. 1937)
19 tháng 2: Friedensreich Hundertwasser, họa sĩ Áo, kiến trúc sư (s. 1928)
22 tháng 2: Dieter Borkowski, nhà văn Đức, nhà báo, nhà sử học (s. 1928)
22 tháng 2: Hubert Aratym, họa sĩ Áo (s. 1926)
23 tháng 2: Ofra Haza, nữ ca sĩ Israel (s. 1959)
23 tháng 2: Albrecht Goes, nhà văn Đức, nhà thần học Tin Lành (s. 1908)
25 tháng 2: Auguste Lechner, nhà văn nữ Áo (s. 1905)
3 tháng 3: Toni Ortelli, người điều khiển dàn nhạc, nhà soạn nhạc Ý (s. 1904)
3 tháng 3: Otto Grünmandl, nhà văn Áo (s. 1924)
5 tháng 3: Daniel Abraham Yanofsky, kỳ thủ Canada (s. 1925)
6 tháng 3: Lolo Ferrari, nữ diễn viên phim khiêu dâm Pháp, nữ ca sĩ (s. 1970)
7 tháng 3: William D. Hamilton, nhà sinh vật học Anh (s. 1936)
10 tháng 3: Ivo Robić, ca sĩ Croatia (s. 1926)
12 tháng 3: Ignatius Kung Pin-Mei, tổng giám mục Mỹ của Philadelphia, Hồng y (s. 1901)
14 tháng 3: Anne Wibble, nữ chính khách Thụy Điển, nữ bộ trưởng Bộ Tài chính 1991–94 (s. 1943)
17 tháng 3: Harry Blum, chính khách Đức (s. 1944)
22 tháng 3: Mark Lombardi, nghệ nhân Mỹ (s. 1951)
22 tháng 3: Hans-Günter Hoppe, chính khách Đức (s. 1922)
26 tháng 3: Werner Zeyer, chính khách Đức (s. 1929)
27 tháng 3: Ian Dury, nhạc sĩ Anh, nhà soạn nhạc, diễn viên (s. 1942)
27 tháng 3: Frank Strecker, diễn viên Đức, đạo diễn phim, tác giả (s. 1941)
29 tháng 3: Karl-Heinz Lauterjung, nhà vật lý học Đức (s. 1914)
30 tháng 3: Rudolf Kirchschläger, nhà ngoại giao, chính khách, tổng thống liên bang Áo (s. 1915)
31 tháng 3: Gisèle Freund, nữ nhiếp ảnh gia (s. 1908)
6 tháng 4: Bernardino Echeverría Ruiz, tổng giám mục của Guayaquil, Hồng y (s. 1912)
10 tháng 4: Walter Stöhrer, họa sĩ Đức (s. 1937)
10 tháng 4: Larry Linville, diễn viên Mỹ (s. 1939)
13 tháng 4: Giorgio Bassani, nhà văn Ý, nhà xuất bản (s. 1916)
15 tháng 4: Edward Gorey, tác giả Mỹ, họa sĩ vẽ tranh minh họa (s. 1925)
16 tháng 4: Rudolf Grenz, nhà sử học, tác giả (s. 1929)
18 tháng 4: Martin Mailman, nhà soạn nhạc Mỹ, giáo sư (s. 1932)
20 tháng 4: Eugene Hartzell, nhà soạn nhạc Mỹ (s. 1932)
25 tháng 4: Niels Viggo Bentzon, nhà soạn nhạc Đan Mạch, nghệ sĩ dương cầm (s. 1919)
28 tháng 4: Federico Brito Figueroa, nhà sử học, nhà nhân loại học (s. 1921)
29 tháng 4: Phạm Văn Đồng, Thủ tướng Việt Nam (s. 1 tháng 3 năm 1906)
3 tháng 5: John Joseph O'Connor, tổng giám mục của New York, Hồng y (s. 1920)
4 tháng 5: Hendrik Casimir, nhà vật lý học Hà Lan (s. 1909)
4 tháng 5: Gino Bartali, tay đua xe đạp Ý (s. 1914)
7 tháng 5: Douglas Fairbanks jr., diễn viên Mỹ (s. 1909)
8 tháng 5: Coutoucou Hubert Maga, tổng thống của Bénin (s. 1916)
11 tháng 5: Paula Wessely, nữ diễn viên Áo (s. 1907)
14 tháng 5: Obuchi Keizō, thủ tướng thứ 84 của Nhật Bản (s. 1937)
16 tháng 5: Andrzej Szczypiorski, nhà văn Ba Lan (s. 1924)
21 tháng 5: John Gielgud, diễn viên Anh (s. 1904)
21 tháng 5: Barbara Cartland, nhà văn nữ (s. 1901)
22 tháng 5: Ernst Dieter Lueg, nhà báo Đức (s. 1930)
25 tháng 5: Nicholas Clay, diễn viên Anh (s. 1946)
27 tháng 5: Inga Abel, nữ diễn viên Đức (s. 1947)
27 tháng 5: Maurice Richard, vận động viên khúc côn cầu trên băng Canada (s. 1921)
28 tháng 5: Vincentas Sladkevicius, Hồng y (s. 1920)
28 tháng 5: Donald Watts Davies, nhà vật lý học (s. 1924)
29 tháng 5: Dieter Ordelheide, nhà kinh tế học Đức (s. 1939)
30 tháng 5: Jürgen von Woyski, nhà điêu khắc Đức, họa sĩ (s. 1929)
1 tháng 6: Torbjörn Lundquist, nhà soạn nhạc Thụy Điển (s. 1920)
3 tháng 6: Merton H. Miller, nhà kinh tế học Mỹ, nhận Giải thưởng Nobel (s. 1923)
4 tháng 6: Paul Zoungrana, tổng giám mục của Ouagadougou, Hồng y (s. 1917)
5 tháng 6: Huschang Golschiri, nhà văn (s. 1937)
8 tháng 6: Joachim von Elbe, luật gia, nhà ngoại giao (s. 1902)
9 tháng 6: Ernst Jandl, nhà văn Áo (s. 1925)
9 tháng 6: Alfred Weidenmann, nhà văn Đức, đạo diễn phim (s. 1916)
10 tháng 6: Hafiz al-Assad, tổng thống của Syria (s. 1930)
12 tháng 6: Walter Schulz, triết gia Đức (s. 1912)
14 tháng 6: Kurt Böwe, diễn viên Đức (s. 1929)
16 tháng 6: Will Berthold, nhà văn Đức (s. 1924)
20 tháng 6: Karl Mickel, nhà thơ trữ tình Đức, nhà soạn kịch, nhà văn tiểu luận (s. 1935)
21 tháng 6: Alan Hovhaness, nhà soạn nhạc Mỹ (s. 1911)
24 tháng 6: Anatoli Vasilievich Firsov, vận động viên khúc côn cầu trên băng Nga (s. 1941)
24 tháng 6: David Tomlinson, diễn viên Anh (s. 1917)
27 tháng 6: Gerhard Pfeiffer, kỳ thủ Đức (s. 1923)
27 tháng 6: Pierre Pflimlin, chính khách Pháp (s. 1907)
29 tháng 6: Vittorio Gassman, diễn viên Ý (s. 1922)
1 tháng 7: Walter Matthau, diễn viên Mỹ (s. 1920)
2 tháng 7: Joey Dunlop, người đua mô tô (s. 1952)
5 tháng 7: Dorino Serafini, tay đua Công thức 1 Ý (s. 1909)
6 tháng 7: Władysław Szpilman, nghệ sĩ dương cầm Ba Lan, nhà soạn nhạc, nhà văn (s. 1911)
16 tháng 7: William Foote Whyte, nhà xã hội học Mỹ (s. 1914)
20 tháng 7: Jerzy Potz, vận động viên khúc côn cầu trên băng Ba Lan, huấn luyện viên (s. 1953)
21 tháng 7: Constanze Engelbrecht, nữ diễn viên Đức (s. 1955)
22 tháng 7: Claude Sautet, tác giả kịch bản Pháp, đạo diễn phim (s. 1924)
25 tháng 7: Rudi Faßnacht, huấn luyện viên bóng đá Đức (s. 1934)
28 tháng 7: Abraham Pais, nhà vật lý học Hà Lan (s. 1918)
29 tháng 7: Lothar Quinte, họa sĩ Đức (s. 1923)
6 tháng 8: Joan Trimble, nhà soạn nhạc Ireland (s. 1915)
8 tháng 8: Günter Goetzendorff, chính khách Đức (s. 1917)
9 tháng 8: John Harsanyi, nhà kinh tế học (s. 1920)
10 tháng 8: Walter E. Lautenbacher, nhiếp ảnh gia (s. 1920)
13 tháng 8: Fritz Winckel, nhà vật lý học Đức (s. 1907)
14 tháng 8: Winfried Steffani, nhà chính trị học Đức (s. 1927)
15 tháng 8: Fred Gebhardt, chính khách Đức (s. 1928)
18 tháng 8: Helmut Weiß, nhà văn Đức (s. 1913)
20 tháng 8: Henry Austin, vận động viên quần vợt Anh (s. 1906)
21 tháng 8: Gustav Scholz, võ sĩ quyền Anh Đức (s. 1930)
25 tháng 8: Carl Barks, họa sĩ Mỹ, họa sĩ biếm họa (s. 1901)
26 tháng 8: Lynden O. Pindling, thủ tướng của Bahamas từ 1967 đến 1992 (s. 1930)
30 tháng 8: Adi Furler, nhà báo về thể thao Đức (s. 1933)
31 tháng 8: Klaus Miedel, diễn viên Đức (s. 1915)
1 tháng 9: Ernst Ohst, họa sĩ Đức, nghệ sĩ tạo hình, họa sĩ biếm họa (s. 1914)
4 tháng 9: Daisy Spies, nữ nghệ sĩ múa (s. 1905)
4 tháng 9: Augusto Vargas Alzamora, tổng giám mục của Lima, Hồng y của Giáo hội Công giáo La Mã (s. 1922)
7 tháng 9: Dietrich Knothe, người điều khiển dàn nhạc Đức (s. 1929)
9 tháng 9: Herbert Friedman, nhà vật lý học Mỹ (s. 1916)
19 tháng 9: Karl Robatsch, kỳ thủ Áo, nhà thực vật học (s. 1929)
20 tháng 9: Gherman Stepanovich Titov, nhà du hành vũ trụ Xô Viết (s. 1935)
22 tháng 9: Hans Lutz Merkle, manager Đức (s. 1913)
22 tháng 9: Jehuda Amichai, nhà thơ trữ tình (s. 1924)
22 tháng 9: Vincenzo Fagiolo, tổng giám mục của Chieti, Hồng y của Giáo hội Công giáo La Mã (s. 1918)
25 tháng 9: Tommy Reilly, nhạc sĩ Canada (s. 1919)
26 tháng 9: Max Waldmeier, nhà thiên văn học Thụy Sĩ (s. 1912)
26 tháng 9: Robert Lax, tác giả Mỹ, nhà thơ trữ tình, nhà xuất bản (s. 1915)
26 tháng 9: Roberto Baden Powell de Aquino, nhạc sĩ Brasil (s. 1937)
28 tháng 9: Pierre Trudeau, chính khách Canada (thủ tướng) (s. 1919)
28 tháng 9: Pote Sarasin, thủ tướng của Thái Lan (s. 1905)
1 tháng 10: Rosie Douglas, chính khách (s. 1941)
3 tháng 10: Wojciech Has, đạo diễn phim Ba Lan (s. 1925)
4 tháng 10: Egano Righi-Lambertini, Hồng y của Giáo hội Công giáo La Mã (s. 1906)
5 tháng 10: Frans Ludo Verbeeck, nhà soạn nhạc Bỉ, người điều khiển dàn nhạc (s. 1926)
5 tháng 10: Catalin Hildan, cầu thủ bóng đá Romania (s. 1976)
6 tháng 10: Richard Farnsworth, diễn viên Mỹ (s. 1920)
9 tháng 10: Ladislav Čepelák, họa sĩ Séc, họa sĩ vẽ tranh minh họa
10 tháng 10: Ferenc Farkas, nhà soạn nhạc Hungary (s. 1905)
10 tháng 10: Sirimavo Bandaranaike, nữ thủ tướng của Sri Lanka (s. 1916)
11 tháng 10: Pietro Palazzini, Hồng y của Giáo hội Công giáo La Mã (s. 1912)
15 tháng 10: Konrad Bloch, nhà hóa sinh Đức, nhận Giải thưởng Nobel (s. 1912)
16 tháng 10: Eugen Brixel, nhà soạn nhạc Áo (s. 1939)
19 tháng 10: Gustav Kilian, tay đua xe đạp Đức (s. 1907)
27 tháng 10: Walter Berry, nam ca sĩ Áo (s. 1929)
28 tháng 10: Josef Felder, chính khách Đức (s. 1900)
1 tháng 11: Steven Runciman, nhà sử học Anh (s. 1903)
5 tháng 11: Jimmie Davis, ca sĩ nhạc country Mỹ, nhà soạn nhạc, thống đốc của Louisiana (s. 1899)
5 tháng 11: Roger Peyrefitte, nhà văn Pháp, nhà ngoại giao (s. 1907)
7 tháng 11: Klaus Koch, nhạc sĩ nhạc jazz Đức (s. 1936)
7 tháng 11: Walter Kremser, nhà lâm học Đức (s. 1909)
8 tháng 11: Józef Pińkowski, chính khách Ba Lan, thủ tướng Ba Lan từ 1980 đến 1981 (s. 1929)
8 tháng 11: Karl Fellinger, bác sĩ (s. 1904)
10 tháng 11: Jacques Chaban-Delmas, chính khách Pháp (s. 1915)
12 tháng 11: Peter Cabus, nhà soạn nhạc Bỉ (s. 1923)
12 tháng 11: Leah Rabin, nữ chính khách Israel, vợ của Yitzhak Rabin (s. 1928)
14 tháng 11: Louis Néel, nhà vật lý học Pháp (s. 1904)
16 tháng 11: Josef Ertl, chính khách Đức (s. 1925)
18 tháng 11: Ibo Bekirovic, nam ca sĩ Đức (s. 1961)
21 tháng 11: Emil Zátopek, vận động viên điền kinh Séc (s. 1922)
21 tháng 11: Harald Leipnitz, diễn viên Đức (s. 1926)
22 tháng 11: Hans Schaefer, nhà y học Đức (s. 1906)
22 tháng 11: Fernand Hoffmann, nhà sư phạm, nhà văn, nhà ngôn ngữ học (s. 1929)
27 tháng 11: Eugen Helmlé, nhà văn Đức, dịch giả văn học (s. 1927)
28 tháng 11: Liane Haid, nữ diễn viên Áo, nữ ca sĩ (s. 1895)
30 tháng 11: Joachim Wolff, diễn viên Đức (s. 1920)
3 tháng 12: Paul Deitenbeck, mục sư Đức, nhà văn (s. 1912)
4 tháng 12: Hans Carl Artmann, thi sĩ Áo (s. 1921)
6 tháng 12: Aziz Mian, nam ca sĩ (s. 1942)
6 tháng 12: Werner Klemperer, diễn viên, nhạc sĩ (s. 1920)
8 tháng 12: Ionatana Ionatana, chính khách (s. 1938)
8 tháng 12: Rolf Heyne, nhà xuất bản Đức (s. 1928)
16 tháng 12: Heinz Maier-Leibnitz, nhà vật lý học Đức (s. 1911)
17 tháng 12: Gérard Blain, diễn viên Pháp, đạo diễn phim, tác giả kịch bản (s. 1930)
18 tháng 12: Kirsty MacColl, nữ ca sĩ Anh, soạn nhạc (s. 1959)
19 tháng 12: Milton Hinton, nhạc sĩ jazz (s. 1910)
23 tháng 12: Peter Kafka, nhà vật lý học Đức (s. 1933)
23 tháng 12: Victor Borge, nghệ sĩ dương cầm Đan Mạch (s. 1909)
25 tháng 12: Willard Van Orman Quine, triết gia Mỹ (s. 1908)
27 tháng 12: Nikolai von Michalewsky, nhà văn Đức (s. 1931)
== Giải thưởng Nobel ==
Vật lý: Schores Iwanowitsch Alfjorow, Herbert Kroemer, Jack S. Kilby
Hóa học: Alan J. Heeger, Alan G. MacDiarmid, Hideki Shirakawa
Y học: Arvid Carlsson, Paul Greengard, Eric R. Kandel
Văn học: Gao Xingjian
Hòa bình: Kim Dae Jung
Kinh tế học: James Heckman, Daniel McFadden
== Xem thêm ==
Thế giới trong năm 2000, tình trạng thế giới trong năm này
== Tham khảo == |
gusuku.txt | Gusuku (ぐすく, 御城 (ngự thành), tiếng Okinawa: gushiku), hoặc suku (すく, 城 (thành), Okinawan: shiku), là một thuật ngữ được sử dụng để phân biệt các thành và pháo đài trên đảo Okinawa. Trong tiếng Nhật chuẩn, chữ Hán tương tự được phát âm là "shiro", tuy nhiên từ này có nguồn gốc với một từ khác, "soko" (塞), nghĩa là "pháo đài". Nhiều gusuku và các nét văn hóa liên quan vẫn còn tồn tại trên quần đảo Ryukyu và được công nhận là một di sản thế giới của UNESCO với tên gọi Các di chỉ Gusuku và di sản liên quan của Vương quốc Lưu Cầu.
== Danh sách gusuku ==
Thành Agena (安慶名城) - Tình trạng: phế tích
Thành Chibana (知花城) - Tình trạng: phế tích
Thành Chinen (知念城) - Tình trạng: phế tích
Thành Itokazu (糸数城) - Tình trạng: phế tích
Thành Katsuren - Tình trạng: phế tích
Thành Kyan (喜屋武城) - Tình trạng: phế tích
Thành Nakagusuku - Tình trạng: phế tích
Thành Nakijin - Tình trạng: phế tích
Thành Sashiki (佐敷城) - Tình trạng: phế tích
Thành Shuri - Tình trạng: phục dựng
Thành Urasoe - Tình trạng: phục dựng
Thành Zakimi - Tình trạng: phế tích
== Xem thêm ==
Vương quốc Lưu Cầu
Kiến trúc Nhật Bản
== Tham khảo ==
Motoo, Hinago (1986). Japanese Castles. Tokyo: Kodansha. tr. 200 pages. ISBN 0-87011-766-1.
== Liên kết ngoài ==
Gusuku Sites and the Related Properties of the Kingdom of Ryukyu at Wonder Okinawa
(tiếng Nhật) Gusuku of Okinawa |
danh sách các chương trình paris by night thập niên 2010.txt | Paris By Night do ông Tô Văn Lai sáng lập sau năm 1975. Cuốn video số 1 sản xuất và phát hành tại Paris, Pháp.
Dưới đây là danh sách và thông tin về các chương trình Paris By Night được sản xuất và phát hành lần đầu trong thập niên 2010. Kể từ Paris By Night 105, song song với dạng DVD, chương trình được phát hành dưới dạng đĩa Blu-ray
== 2017 ==
=== Paris By Night 123 ===
Chủ đề: "Ảo Ảnh"
Đây là chương trình lớn nhất, hoành tráng nhất của Trung tâm trong năm 2017 và là lần thứ 8 trung tâm quay hình tại Planet Hollywood, Las Vegas sau 1 năm vắng bóng.
=== Paris By Night 122 ===
Chương trình mang chủ đề "Duyên Phận"
Nói đến Duyên Phận là nói đến hôn nhân, hạnh phúc gia đình, lễ giáo cổ truyền, cùng những biến đổi trong cuộc sống lứa đôi hiện nay. Duyên Phận là một chủ đề sâu sắc nhưng thiết thực liên quan đến tất cả mọi người nhất là phụ nữ Việt Nam qua nhiều thời đại.
=== Paris By Night 121 ===
Chương trình mang chủ đề Song ca nhạc vàng, như một phần tiếp nối của Paris By Night 119: Nhạc vàng muôn thuở. Đây là 1 chương đã được khán thính giả khắp nơi yêu cầu, gồm những nhạc phẩm được sáng tác trước năm 1975, sẽ được Trung tâm Thúy Nga dàn dựng công phu, mới mẻ qua hình thức song ca độc đáo chưa từng có trong tủ Nhạc Vàng Paris By Night.
Chương trình có sự xuất hiện lần đầu tiên của nữ ca sĩ Hà Thanh Xuân và Đặng Hà Duy
Danh sách chương trình:
Phần mở đầu
LK Nếu Xuân Này Vắng Anh (Bảo Thu), Khúc Nhạc Ngày Xuân (Nhật Bằng) - Lam Anh, Diễm Sương, Nguyễn Hồng Nhung, Minh Tuyết, Hoàng Nhung, Mai Tiến Dũng, Don Hồ, Lương Tùng Quang, Đan Nguyên, Lê Anh Tuấn
Lời mở đầu
Tình Đời (Minh Kỳ, Vũ Chương) - Chế Linh, Như Quỳnh
Thương Hoài Ngàn Năm (Phạm Mạnh Cương) - Khánh Hà, Đình Bảo
Phỏng vấn Đặng Hà Duy
Vì Lỡ Thương Nhau (Trần Kim Phú, Hoàng Mộng Ngân) - Phi Nhung, Đặng Hà Duy
Nắng Lên Xóm Nghèo (Phạm Thế Mỹ) - Hương Thủy, Tâm Đoan
Phỏng vấn Kim Ngô
Tôi Chưa Có Mùa Xuân (Châu Kỳ) - Tuấn Vũ, Ngọc Ngữ
Tấm Ảnh Ngày Xưa (Lê Dinh) - Trung Chỉnh, Hoàng Oanh
Từ Ngày Tình Bỏ Ra Đi (Nhật Ngân) - Khải Đăng
Phỏng vấn Khải Đăng
Hai Trái Tim Vàng (Trịnh Lâm Ngân) - Lê Anh Tuấn, Diễm Sương
Đố vui khán giả với Lương Tùng Quang, Quỳnh Vi
Đẹp Lòng Người Yêu (Ngọc Sơn) - Mạnh Quỳnh, Hà Thanh Xuân
Đố vui khán giả với Mai Quốc Huy, Châu Ngọc Hà
Hài kịch: Chuyện Tình Điêu Thuyền (Nguyễn Ngọc Ngạn) - Chí Tài, Bằng Kiều, Thúy Nga, Hoài Tâm, Hương Thủy, Diễm Sương, Nguyệt Cát
Xa Người Mình Yêu (Song Phượng) - Đan Nguyên, Mai Thiên Vân
Đố vui khán giả với Lam Anh, Tâm Đoan
LK Cho Người Tình lỡ (Hoàng Nguyên), Những Gì Cho Em (Lam Phương) - Quang Dũng, Nguyễn Hồng Nhung
Vòng Tay Giữ Trọn Ân Tình (Đỗ Kim Bảng) - Hạ Vy, Hoàng Nhung
Đố vui khán giả với Ngọc Anh, Mai Thiên Vân
Tiếng Sáo Thiên Thai (Phạm Duy, Thế Lữ) - Ngọc Hạ, Quang Ngọc
Tình Hờ (Phạm Duy) - Lương Tùng Quang, Hoàng Thúy Vy
Hài kịch: Thầy Bói Mù Tái Xuất Giang Hồ (Nguyễn Ngọc Ngạn) - Hoài Linh, Chí Tài, Phi Nhung
LK Thôi (Y Vân, Nguyễn Long), Ảo Ảnh (Y Vân) - Nguyễn Hưng, Ngọc Anh
Kỉ Niệm Một Mùa Xuân (Vân Tùng) - Mai Quốc Huy, Châu Ngọc Hà
Mưa Đêm Ngoại Ô (Đỗ Kim Bảng) - Hoàng Oanh, Như Quỳnh
Anh Yêu Em Vào Cõi Chết (Phạm Duy, Nguyễn Long) - Đan Nguyên, Hoài Lâm
Phỏng vấn Mạnh Quỳnh
Giã Từ Đêm Mưa (Văn Phụng) - Mai Tiến Dũng, Hoàng Mỹ An
Như Giọt Xuân Rơi (Anh Việt Thu) - Vũ Khanh, Ý Lan
Định Mệnh (Song Ngọc) - Bằng Kiều, Lam Anh
Xin Dìu Nhau Đến Tình Yêu (Đỗ Kim Bảng) - Don Hồ, Minh Tuyết
Lời kết
Duyên Tình (Xuân Tiên) - Thiên Tôn, Quỳnh Vi
Finale
== 2016 ==
=== Paris By Night 120 ===
Paris By Night 120 chủ đề Còn chút gì để nhớ lần đầu tiên được quay hình tại Choctaw Casino, là chương trình lớn nhất, hoành tráng nhất của Trung tâm Thúy Nga trong năm 2016. Chương trình muốn đưa lại những ký ức về quê hương đồng thời cũng là dịp để lần đầu tiên khán giả vùng OK, TX và phụ cận có thể trực tiếp xem một chương trình thu hình Paris By Night. Đây cũng là lần đầu tiên nam danh ca Vũ Khanh xuất hiện trên sân khấu Paris By Night. Ngoài trình diễn trên sân khấu, Trung tâm Thúy Nga lần đầu tiên live stream sau hậu trường để khán giả không có điều kiện tham dự cũng có thể tham gia Paris By Night 120 phía sau hậu trường và nhận các phần thưởng.
Danh sách chương trình:
Phần mở đầu
Tôi Muốn Về Quê (Gió Bụi) - Nguyễn Hồng Nhung
Lời mở đầu
Vợ Chồng Quê (Phạm Duy) - Ngọc Hạ, Thiên Tôn
Những Đêm Dài Không Ngủ (Đào Duy) - Hạ Vy
Mưa Nửa Đêm (Trúc Phương) - Tâm Đoan
Thói đời (Trúc Phương) - Hoài Lâm
Tình Ghen (LV: Vũ Xuân Hùng) - Như Loan
Lời Thề Xưa (LV: Nhật Ngân) - Diễm Sương
Phỏng vấn Thu Hoài
Một Thời Để Nhớ (Trầm Tử Thiêng) - Thái Châu
Hối Tiếc (Trầm Tử Thiêng) - Ngọc Anh
Hãy Để Anh Xin Lỗi Em (Võ Hoài Phúc) - Lương Tùng Quang
Hài kịch: Kế Hoạch Hoàn Hảo (Huỳnh Tấn Khoa) - Hoài Linh, Chí Tài, Trường Giang, Hoài Tâm, Thúy Nga
Đố vui khán giả
Ngày Mai Chuyện Đã Khác (Hoàng Huy Long) - Mai Tiến Dũng
Đố vui khán giả
Còn Chút Gì Để Nhớ (Phạm Duy, Vũ Hữu Định) - Vũ Khanh
Những Mùa Thu Qua Trên Cuộc Tình Tôi (Trường Sa) - Đình Bảo, Lam Anh
Khói Lam Chiều (Lan Đài) - Mai Thiên Vân
Những Ngày Xưa Thân Ái (Phạm Thế Mỹ) - Mai Quốc Huy, Ngọc Ngữ
Sao Anh Đành Phụ Em (Thái Thịnh) - Phi Nhung
Phỏng vấn Phi Nhung
Đừng (Mạnh Quân) - Lê Anh Tuấn
Nothing's Gonna Change My Love (Mạnh Quân) - Hoàng Mỹ An
Phỏng vấn Lê Anh Tuấn
Hài kịch: Những Ước Mơ Nhỏ Nhoi (Trường Giang) - Hoài Linh, Chí Tài, Trường Giang
Thương Nhớ Người Dưng (Nguyễn Nhất Huy) - Hương Thủy, Châu Ngọc Hà
Đố vui khán giả với Tâm Đoan
Mẹ Tôi (Trần Tiến) - Bằng Kiều, Trần Thu Hà
Không Bao Giờ Quên Anh (Hoàng Trang) - Thanh Tuyền
Chuyện Tình Không Dĩ vãng (Tâm Anh) - Như Quỳnh
Sài Gòn Vắng Em (Dương Khắc Linh, Hoàng Huy Long) - Justin Nguyễn
Tình nhớ (Trịnh Công Sơn) - Hoàng Nhung
Đối vui khán giả với Ngọc Anh
Chắp Tay Lạy Người (Trúc Phương) - Đan Nguyên
Đố vui khán giả với Mai Thiên Vân
Sau Ngày Ấy (Võ Hoài Phúc) - Minh Tuyết
Anh Kể Em Nghe (Nguyễn Hải Phong) - Tóc Tiên
Thuở Ấy Có Em (Huỳnh Anh) - Chế Linh
Tình Yêu Còn Lại (LV: Thái Thịnh) - Lam Anh, Don Hồ
Lời kết
Cỏ Nhớ Tên Em (Tấn Phát) - Nguyễn Hưng
Finale
=== Paris By Night 119 ===
Chủ đề: Nhạc vàng muôn thuở. Đây là lần tiếp theo trung tâm Thúy Nga thu hình 2 chương trình trực tiếp thu hình liên tiếp tại Pechanga Casino sau lần thu hình trước (Paris By Night 116 & 117). Chương trình tôn vinh dòng nhạc vàng hay còn gọi là nhạc Bolero, nhạc quê hương gắn liền với đời sống của người Việt Nam. Chương trình quy tụ nhiều thế hệ nghệ sĩ từ những giọng ca tiên phong cũng như những giọng ca tiếp nối. Đây cũng là chương trình đầu tiên nữ nghệ sĩ Thang Hằng tham gia.
Danh sách chương trình:
Phần mở đầu
Xóm Đêm (Phạm Đình Chương) - Minh Tuyết
Những Bước Chân Âm Thầm (Kim Tuấn, Y Vân) - Hoàng Mỹ An
Lời mở đầu
Tình Yêu Trả Lại Trăng Sao (Lê Dinh) - Hương Lan
Có Thế Thôi (Thông Đạt, Tiến Tài) - Chế Linh
Phỏng vấn Chế Linh
Mảnh Tình Thương (Mạnh Giác) - Như Quỳnh
Bỏ Phố Lên Rừng (Châu Kỳ) - Phi Nhung
Phỏng vấn Phi Nhung
Chuyện Tình Buồn Hơn Ngưu Lang Chức Nữ (Mạnh Quỳnh) - Tâm Đoan
Lại Nhớ Người Yêu (Giao Tiên) - Đan Nguyên
Đừng Nhắc Chuyện Lòng (Đài Phương Trang) - Tuấn Vũ, Hạ Vy
LK Chúng Mình Ba Đứa, Chiều Thương Đô thị (Song Ngọc, Hoài Linh) - Ngọc Ngữ, Tuấn Quỳnh, Khánh Lâm
Đố vui khán giả
Hương Tình Cũ (Thanh Sơn) - Hoàng Nhung
Đố vui khán giả với Tuấn Vũ
Buồn Trong Kỷ Niệm (Trúc Phương) - Nguyễn Hồng Nhung
Có Bao Giờ (Đài Phương Trang) - Quang Lê
Phỏng vấn Thái Nguyễn
Kịch: Thần Tiên Cũng Nổi Điên (Trường Giang) - Hoài Linh, Chí Tài, Trường Giang, Thúy Nga, Hoài Tâm
Cho Vừa Lòng Em (Nhật Ngân, Mặc Thế Nhân) - Hoài Lâm
Nếu Hai Đứa Mình (Lê Dinh, Anh Bằng) - Mai Thiên Vân
Đố vui khán giả với Quang Lê
Ru Nắng (Trầm Tử Thiêng) - Hương Thủy
Đồng Cảnh Ngộ (Ngân Giang) - Trường Vũ, Như Quỳnh
Chuyến Tàu Hoàng Hôn (Minh Kỳ, Hoài Linh) - Hoàng Oanh
Kịch: Muộn Màng (Trường Giang) - Chí Tài, Hoài Linh, Trường Giang, Thanh Hằng
LK Hãy Quên Nhau (Phương Kim), Ngày Buồn (Lam Phương) - Mai Quốc Huy, Châu Ngọc Hà
Đôi Ngã Chia Ly (Khánh Băng) - Thanh Tuyền
Phỏng vấn Thanh Tuyền
Thu Ca (Phạm Mạnh Cương) - Hoàng Thúy Vy
LK Trăm Nhớ Ngàn Thương, Tình Bơ Vơ (Lam Phương) - Thái Châu, Mai Thiên Vân
Biết Nói Gì Đây (Huỳnh Anh) - Ý Lan
Xin Gọi Nhau Là Cố Nhân (Song Ngọc) - Bằng Kiều, Quang Lê, Đan Nguyên
Lời kết
Đưa Em Xuống Thuyền (Hoàng Thi Thơ) - Minh Tuyết, Mai Thiên Vân, Tâm Đoan, Hương Thủy, Hạ Vy, Nguyễn Hồng Nhung, Hoàng Nhung, Phi Nhung, Châu Ngọc Hà (trình diễn áo dài lụa Thái Tuấn, designed by Thái Nguyễn)
Finale
Bonus video:
Bao Đêm Không Ngủ (Vinh Sử) - Lam Anh
Phóng sự Khơ Thị
Phóng sự Tân Hiệp Phát
Hậu trường sân khấu
=== Paris By Night 118 ===
Chủ đề: 50 năm âm nhạc Đức Huy. Đây là cuốn băng chủ đề nhạc sĩ tiếp theo của trung tâm Thúy Nga sau 5 năm kể từ Paris By Night 102: Nhạc yêu cầu - Tình ca Lam Phương và cũng là cuốn băng thứ hai của trung tâm giới thiệu nhạc sĩ Đức Huy sau cuốn Paris By Night 33: Nhạc tình Đức Huy thu hình năm 1995. Chương trình chỉ được thu hình 1 suất duy nhất vào tối ngày 7 tháng 5 năm 2016. Chương trình có sự xuất hiện lần đầu tiên của MC Nguyễn Mạnh Cường và 3 ca sĩ Đan Nguyên, Nguyễn Hồng Nhung và Hoàng Thúy Vy cùng nhiều ca sĩ khác quay trở lại
Danh sách chương trình:
Phần mở đầu
Và Con Tim Đã Vui Trở Lại - Nguyễn Hồng Nhung, Lam Anh, Ngọc Anh, Bằng Kiều, Thiên Tôn, Đình Bảo
Lời mở đầu
Khóc Một Dòng Sông - Ngọc Hạ
Cơn mưa phùn - Trần Thái Hòa
Mùa Hè Đẹp Nhất - Trần Thu Hà
Đố vui khán giả
Trái Tim Ngục Tù - Đan Nguyên
Đố vui khán giả
LK Chiều Hôm Nay, Đến Bên Anh - Như Loan, Lương Tùng Quang
Nhạc sĩ Đức Huy tâm sự về thời gian sáng tác ở Hawaii
White Sandy Beach - Thiên Tôn
Tiếng Mưa Đêm - Ngọc Anh
Một Tình Yêu - Đình Bảo
Đừng Xa Em Đêm Nay - Hoàng Thúy Vy
Nếu Xa Nhau - Kỳ Phương Uyên
Và Tôi Cũng Yêu Em - Tuấn Anh
Phỏng vấn Don Hồ
Bay Đi Cánh Chim Biển - Don Hồ
Đố vui khán giả
Giấc Mơ Trong Mộng - Lam Anh
Đố vui khán giả
Thêm Một Lần Nữa - Minh Tuyết
Tiếng Đàn Guitar - Đức Huy
Hài kịch: Fan Cuồng - Chí Tài, Hoài Linh, Trường Giang, Đức Huy
Xin Một Ngày Mai Có Nhau - Khánh Hà
Tình Yêu Vội Đi - Bằng Kiều
Giống Như Tôi - Mai Tiến Dũng
Mãi Một Mình - Nguyễn Hồng Nhung
Yêu Lần Đầu - Tóc Tiên
Yêu Anh Dài Lâu - Diễm Sương
Luôn Luôn Mãi Mãi - Quỳnh Vi
Phỏng vấn Quang Dũng
Sao Vẫn Còn Mưa Rơi - Quang Dũng
Phỏng vấn Tuấn Ngọc
Như Đã Dấu Yêu - Tuấn Ngọc
Lời kết
Người tình trăm năm - Hoàng Mỹ An
Finale
Bonus Video:
Lời Yêu Thương - Justin Nguyễn
Phóng sự Tân Hiệp Phát
Hậu trường sân khấu
=== Paris By Night 117 ===
Chủ đề: Vườn hoa âm nhạc.
Chương trình có các bài hát liên quan đến các loài hoa cũng như các bài hát chào xuân mới. Đây là lần thứ hai kể từ sau năm 2008, Trung tâm Thúy Nga quay hình hai chương trình liên tiếp và là lần đầu tiên sau nhiều năm Trung tâm Thúy Nga trở lại với tần suất thu hình 5 chương trình/năm. Chương trình có sự xuất hiện lần đầu tiên của Thúy An (thí sinh VSTAR 2012) và các thí sinh VSTAR Kids 2015: Jenny Đan Anh, Victoria Thúy Vi, Lena Phương Vy, Hugo Hiếu Nguyễn, Đức Khang, Celine Thiên Ân Huỳnh, Rachele Thảo Vi.
Danh sách chương trình:
Những ngày Xuân rực rỡ © (Châu Đăng Khoa) - Tuấn Anh, Hoàng Mỹ An
Phượng yêu (Phạm Duy) - Ngọc Hạ, Thiên Tôn
Hoa Có Vàng Nơi Ấy? (Việt Anh) - Đình Bảo, Thanh Hà
Hoa Sữa (Hồng Đăng) - Thúy An
Triệu Đóa Hoa Hồng (LV: Trung Kiên) - Ngọc Anh
Chuyện hoa mười giờ 2 (Đài Phương Trang) - Hạ Vy
Cánh Hoa Yêu (Hoàng Trọng, Vĩnh Phúc) - Hương Thủy
Hoa Xuyến Chi © (Võ Hoài Phúc, Huỳnh Tuấn Anh) - Trịnh Lam
Nếu Biết Tôi Lấy Chồng (Song Ngọc, TTKH) - Hoàng Nhung
Phỏng vấn Hoàng Nhung
Màu Hoa Bí (Võ Đông Điền) - Tâm Đoan
Tuổi học trò (Minh Kỳ, Dạ Cầm) - Tâm Đoan, Jenny Đan Anh, Victoria Thúy Vi, Lena Phương Vy
Hương Hoa Lài © (Võ Hoài Phúc) - Minh Tuyết
Dưới Giàn Hoa Cũ (Tuấn Khanh) - Trần Thái Hòa
Yêu Hoa - Diễm Sương
Cánh Bướm Vườn Xuân - Như Loan
Những đồi hoa sim (Dzũng Chinh, Hữu Loan) - Ngọc Ngữ
Loài Hoa Không Vỡ (Phạm Mạnh Cương) - Mai Thiên Vân
Hài kịch: Đòi Nợ Cuối Năm (Nguyễn Ngọc Ngạn) - Việt Hương, Hoài Tâm, Thúy Nga, Nhật Bình
Vẻ Đẹp Ngàn Năm © (Lương Bằng Quang) - Ánh Minh, Lương Tùng Quang
Phỏng vấn Thu Hoài
Lưu Bút Ngày Xanh (Thanh Sơn) - Hoài Lâm
Hoa vàng mấy độ (Trịnh Công Sơn) - Quang Dũng
Will You Marry Me? © (Lương Bằng Quang) - Justin Nguyễn
Tôi thấy hoa vàng trên cỏ xanh (Châu Đăng Khoa) - Bằng Kiều
Áo Tím Ngày Xưa (Mạnh Phát, Lan Đài) - Ý Lan
Phỏng vấn Ý Lan
Cùng Một Kiếp Hoa (Võ Đức Phấn) - Minh Tuyết, Hương Thủy, Như Loan, Lam Anh, Diễm Sương, Hoàng Nhung (trình diễn thời trang áo dài Lụa Thái Tuấn, designed by Calvin Hiệp)
Phỏng vấn Calvin Hiệp
Đêm Hoa Đăng (Nguyễn Văn Khánh, Thanh Sơn) - Như Quỳnh
Vì sao Không Thể © (Phúc Trường) - Mai Tiến Dũng, Hương Giang
Cánh Hồng Phai © (Dương Khắc Linh) - Trấn Thành
Phỏng vấn Trấn Thành
Xuân Tươi (Dương Thiệu Tước) - Don Hồ, Hugo Hiếu Nguyễn, Đức Khang, Celine Thiên Ân Huỳnh, Rachele Thảo Vi
Mở Cửa Mùa Xuân (Võ Thiện Thanh) - Lam Anh
MTV Bonus: Mưa Bụi (Hữu Minh) - Mai Thiên Vân, Tuấn Quỳnh
== 2015 ==
=== Paris By Night 116 ===
Chủ đề: Nụ cười đầu năm. Chương trình có sự góp mặt của nhiều danh hài nổi tiếng trong nước và hải ngoại và chỉ diễn ra một suất duy nhất. Đây cũng là chương trình Paris By Night không có sự góp mặt của nhà văn Nguyễn Ngọc Ngạn trong vai trò MC. Chương trình có sự xuất hiện lần đầu tiên trên sân khấu của các diễn viên Trấn Thành, Trường Giang, Anh Đức, Ngọc Giàu, Hoàng Khánh, Daniel Phú (trong vai trò diễn viên) và ca sĩ Hoàng Mỹ An, Châu Ngọc Hà
Danh sách chương trình:
Phần mở đầu
Opening: Dáng Em Lụa Là (Lương Bằng Quang) - Trấn Thành (giả Ngọc Anh trong Paris By Night 106)
Đã Không Yêu Thì Thôi (Hoài An) - Việt Hương (giả Minh Tuyết trong Paris By Night 81)
Những Lời Mê Hoặc (LV: Phạm Duy) - Hoài Linh, Chí Tài (giả Lam Anh, Duy Hân trong Paris By Night 105)
Nỗi Buồn Châu Pha (Lê Dinh) - Hoài Tâm (giả Như Quỳnh trong Paris By Night 42)
MC Kỳ Duyên & Việt Hương
Mùa Xuân Xa Quê (Hà Sơn) - Mai Thiên Vân, Hoài Lâm
MC Kỳ Duyên & Việt Hương
Tâm Hồn Sỏi Đá © (Lương Bằng Quang) - Minh Tuyết, Bằng Kiều
Đố Vui Khán giả với Kỳ Duyên, Việt Hương, Hương Thủy
Hài kịch: Tô Ánh Nguyệt Remix (Trấn Thành) - Trấn Thành, Anh Đức, Ngọc Giàu
MC Kỳ Duyên & Chí Tài
Lười © (Châu Đăng Khoa) - Tuấn Anh
Đố Vui Khán giả với Kỳ Duyên, Trấn Thành, Hoàng Nhung
Chuyến Xe Lam Chiều (Cô Phượng) - Châu Ngọc Hà
MC Kỳ Duyên & Trấn Thành
Tình Mùa Đông Xứ Lạ (Lâm Hoàng) - Khánh Lâm
MC Kỳ Duyên & Trấn Thành
Hài kịch: High Tech Hay Low Tech (Hồng Đào) - Hồng Đào, Quang Minh, Mai Tiến Dũng, Daniel Phú
Đố Vui Khán giả với Kỳ Duyên, Hương Thủy, Ngọc Ngữ
Hài kịch: Thần Chém, Thần Gió (Trường Giang) - Chí Tài, Trường Giang
MC Kỳ Duyên & Trường Giang
Hoài cảm (Cung Tiến) - Ngọc Anh, Trần Thái Hòa, Thiên Tôn, Đình Bảo
MC Kỳ Duyên & Bằng Kiều
Hài kịch: Gia đình Tuổi Thân (Hoàng Khánh) - Hoài Linh, Việt Hương, Hoài Tâm, Anh Đức
MC Kỳ Duyên & Trấn Thành
No More © (Châu Đăng Khoa) - Hoàng Mỹ An
MC Trấn Thành
Hài kịch: Chuyến Xe Cuối Cùng (Hoàng Khánh) - Hoài Linh, Chí Tài, Thúy Nga, Hoàng Khánh
MC Kỳ Duyên & Trấn Thành
Catwalk © (Nguyễn Hữu Đức) - Như Loan, Ngọc Anh, Diễm Sương, Hoàng Nhung, Lam Anh, Hạ Vy (trình diễn áo dài Lụa Thái Tuấn, designed by Thái Nguyễn)
Finale
Bonus Video
Tình Yêu Trả Lại Trăng Sao (Lê Dinh) - Tâm Đoan
Last Drop (Andrew Underberg) - Ánh Minh
Love Song (Kiên Trần) - Mai Tiến Dũng
Tôi là người Việt Nam (Dương Khắc Linh, Ánh Minh) - Hợp Ca VSTAR Kids
Phóng sự Viện Thẩm Mĩ Khơ Thị
Phóng sự Lông Mi Lashes by Daniel Phú
Behind the Scenes
=== Paris By Night 115 ===
Chương trình mang chủ đề Nét đẹp Á Đông - Asian Beauty, trực tiếp thu hình vào đầu tháng 7 nhân dịp Lễ Độc lập Hoa Kỳ và được phát hành vào tháng 10 năm 2015. Đây là chương trình hoành tráng, vĩ đại nhất của Trung tâm năm 2015 và là chương trình thứ 7 của Thúy Nga tại Planet Hollywood, Las Vegas
Danh sách chương trình
Dáng Tiên Xuân Ngời © (Lương Bằng Quang) - Quỳnh Vi, Ngọc Anh, Tóc Tiên, Lam Anh, Hoàng Nhung
LK: Nắng thủy tinh, Như Một Lời Chia Tay, Có Một Dòng Sông Đã Qua Đời (Trịnh Công Sơn) - Trần Thái Hòa, Hương Giang
Mãi Tìm Nhau (Thảo Trang) - Quang Lê, Mai Thiên Vân
Nụ cười Em Ngày Đó (Nhật Ngân, Quốc Dũng) - Don Hồ
Falling © (Dương Khắc Linh, Hoàng Huy Long) - Ánh Minh
Chuyện Tình Người Trinh Nữ Tên Thi (Hoàng Thi Thơ) - Thái Châu, Hương Thủy
Kẻ Đau Tình (Quốc Dũng, thơ: Xuân Kỳ) - Bảo Khánh
Ngày Mai Trời Lại Sáng © (Võ Hoài Phúc) - Như Quỳnh, Tâm Đoan (phụ diễn: Lương Tùng Quang)
Cơn Mơ Băng Giá © (Lê Thành Trung) - Bằng Kiều
Đưa Em Tìm Động Hoa Vàng (Phạm Duy, thơ: Phạm Thiên Thư) - Ngọc Hạ
Trao Nhau Nhẫn Cưới (Phạm Minh Cảnh) - Hạ Vy, Tuấn Quỳnh
Tóc Đen © (Lưu Thiên Hương) - Minh Tuyết
LK: Cảm ơn Em (Khắc Việt), Hẹn hò Với Cô Đơn (Châu Đăng Khoa), Hạnh Phúc Mong Manh © (Trịnh Lam) - Lương Tùng Quang, Diễm Sương, Trịnh Lam
Phương Đông Quyến Rũ (Võ Thiện Thanh) - Quỳnh Vi, Justin Nguyễn
Hài kịch: Nha Sĩ Phục Hận (Nguyễn Ngọc Ngạn) - Chí Tài, Hương Thủy, Hoài Tâm, Việt Hương
Trống cơm - Cường Vũ, Nguyên Lê, Ngô Hồng Quang
Lý Cây Đa - Cường Vũ, Nguyên Lê, Ngô Hồng Quang
Big Girl Don't Cry © (Châu Đăng Khoa) - Tóc Tiên
Em Về Miệt Thứ (Hà Phương) - Hương Lan
Em Đi Trên Cỏ Non (Bắc Sơn) - Hương Lan, Như Quỳnh, Hạ Vy, Tâm Đoan, Mai Thiên Vân
Ru ta ngậm ngùi (Trịnh Công Sơn) - Khánh Hà
Bài không tên số 5 (Vũ Thành An) - Thanh Hà
Cỏ Và Mưa (Giáng Son, thơ: Nguyễn Trọng Tạo) - Lam Anh
Nếu Biết Tình Yêu (Thăng Long) - Hoàng Nhung, Ngọc Ngữ
LK: Nỗi Đau Muộn Màng, Một Cõi Tình Phai, Ở Nơi Nào Em Còn Nhớ (Ngô Thụy Miên) - Quang Dũng, Ngọc Anh
Nàng Của Tôi © (Quốc Dũng) - Đình Bảo, Thiên Tôn
Trộm Nhìn Nhau (Trầm Tử Thiêng) - Hoài Lâm
Xa Cách © (Nguyên Thủy, thơ: Xuân Diệu) - Ý Lan
Nét Đẹp Á Đông © (Dương Khắc Linh) - Thanh Hà, Như Quỳnh, Hạ Vy, Tâm Đoan, Minh Tuyết, Hương Thủy, Quỳnh Vi, Hương Giang, Mai Thiên Vân, Lam Anh, Diễm Sương, Ánh Minh
Dance With Me © (Lưu Thiên Hương) - Mai Tiến Dũng
Bonus Video
Phóng sự Tập đoàn RAAS
Phóng sự Thanh Hằng Beauty Medi
Behind the scenes
Căn Nhà Dĩ vãng (Đài Phương Trang) - Quang Lê, Châu Ngọc Hà
Có lẽ (Phúc Trường) - Như Loan
Tôi là người Việt Nam (Dương Khắc Linh, Ánh Minh) - Ánh Minh
=== Paris By Night 114 ===
Chủ đề: 1975 - 2015 - Tôi là người Việt NamNhìn về dĩ vãng để hướng tới tương lai, với những thành tựu lớn lao của cộng đồng người Việt hải ngoại, nhất là thế hệ thứ hai, thứ ba sau bốn thập niên hòa nhập vào môi trường xã hội mới, nhưng vẫn duy trì bản sắc văn hóa dân tộc bởi vì lúc nào cũng vẫn nhớ "Tôi là người Việt Nam"
Guests: William W. Mathis, Đinh Xuân Anh Tuấn, Ted Schweitzer, Max Schweitzer, Lan Cao, Trịnh Tiến Tinh, PQ Phan, Châu Đình An, Nhã Khanh, Hubert Võ, Thúy Vũ, Tạ Đức Trí, Nancy Bùi, Thomas Nguyễn, Diệp Khanh, Hùng Cao, Daniel Phú, Nam Nguyễn
==== Danh sách chương trình: ====
Lời Cảm ơn (Nhạc: Ngô Thụy Miên, Lời: Hạ Đỏ Chung Bích Phượng) - Hợp Ca
Thuyền Viễn Xứ (Thơ: Huyền Chi, Nhạc: Phạm Duy) - Ngọc Hạ
Hận Ly Hương (Anh Hoa & Ngọc Long) - Trần Thái Hòa
Tóc Xưa (Thơ: Dương Văn Thiệt, Nhạc: Ngô Thụy Miên) - Bằng Kiều
Ừ, Thì Thôi (Thái Uy) - Như Quỳnh
Refuge Requiem - Bảo Phi
It’s Mostly Residual - Cường Vũ, Stomu Takeishi, Ted Poor
Hai Chiếc Bóng Cô Đơn (Tùng Châu & Lê Hựu Hà) - Lương Tùng Quang, Kỳ Phương Uyên
LK: Chiều Lên Bản Thượng (Lê Dinh) - Tâm Đoan / Khúc Ca Đồng Tháp (Thu Hồ) - Hương Thủy / Chiều Làng Em (Trúc Phương) - Tâm Đoan & Hương Thủy
Trích Đoạn: Câu Chuyện Bà Thị Kính (PQ Phan) - Teresa Mai, Bảo Thi, Nguyễn Hải Hoàng
Bốn Mươi Năm Rồi Sao (Châu Đình An) - Ngọc Anh
Con Đường Xưa Em Đi (Châu Kỳ & Hồ Đình Phương) - Hoàng Nhung, Ngọc Ngữ
Tâm Sự Gửi Về Đâu (Thơ: Lê Minh Ngọc, Nhạc: Phạm Duy) - Tuấn Ngọc
Tình Thương Mái Lá (Trúc Phương) - Hạ Vy, Bảo Khánh
Chef Khải Dương Với Món Ăn Huy Chương Vàng Beijing 2012
Những Ngày Thơ Mộng (Hoàng Thi Thơ) - Thu Phương
Hát Xẩm Lưu Lạc – Võ Vân Ánh, Alex Kelly, Jason Jong, PC Munoz
Sunday Buồn (Quốc Tuấn) - Mai Tiến Dũng, Ánh Minh
Hài kịch: Tình Rồng Duyên Tiên - Quang Minh, Hồng Đào, Bằng Kiều, Diễm Sương
Thăng Long - Nguyên Lê, Stomu Takeishi, Ted Poor
Quê nghèo (Phạm Duy) - Hương Lan
Mẹ (Nhạc: Nguyễn Linh Diệu, Lời: Nguyễn Đình Toàn) - Hương Giang, Hoàng Nhung
Dạ Cổ Hoài Lang (Cao Văn Lầu) - Hương Thanh, Nguyên Lê, Jason Jong
Lệ Vu Quy (Quốc Hùng) - Trịnh Lam, Diễm Sương
Còn Yêu Em Mãi (Nguyễn Trung Cang) - Thanh Hà, Thiên Tôn
LK: Phố Vẫn Xưa (Lê Vũ) - Đình Bảo / Lời Tình Buồn (Hoàng Thanh Tâm) - Lam Anh
Vỗ Cái Trống cơm (Nguyễn Nghị) - Quỳnh Vi
LK: Đoản Khúc Cuối Cho Em & Em Về Nào Có Hay (Hoàng Trọng Thụy) - Don Hồ. Minh Tuyết
Little Saigon (Alan Nguyễn & Khúc Lan) - Justin Nguyễn
Lý Ngựa Ô - Nguyên Lê, Cường Vũ, Võ Vân Ánh, Alex Kelly, PC Munoz, Jason Jong
Tôi là người Việt Nam (Dương Khắc Linh & Ánh Minh) - Trịnh Lam, Hương Giang, Ánh Minh, Thiên Tôn
LK: Làng tôi (Chung Quân) & Những Nẻo Đường Việt Nam (Thanh Bình) - Quang Lê, Mai Thiên Vân
=== Paris By Night 113 ===
Chương trình mang chủ đề Mừng tuổi mẹ, lúc đầu được gọi là Paris By Night Special Edition. Vào phút cuối, chương trình đổi thành Paris By Night 113. Chương trình này là chương trình xuân thứ sáu của trung tâm và là chương trình gộp hai chủ đề xuân và mẹ. Chương trình có lần đầu tiên xuất hiện của một số ca sĩ bước ra từ V-Star 2014 là Tuấn Anh, Hoàng Anh Khang, Nha Nguyễn, Khải Đăng, Bon Nguyễn, Đoàn Trọng và hai người thắng giải: Hoàng Nhung, Ngọc Ngữ. Ngoài ra, chương trình còn có sự xuất hiện lần đầu tiên của Hoài Lâm và sự trở lại của Quang Minh, Hồng Đào, Chí Tâm, Kiều Linh và Anh Dũng.
==== Danh sách chương trình: ====
Cánh Thiệp Đầu Xuân (Minh Kỳ & Lê Dinh) - Minh Tuyết, Hạ Vy
Sớm Nay Mùa Xuân © (Châu Đăng Khoa) - Trịnh Lam, Lam Anh
Mãi Cho Em Mùa Xuân (Vũ Quốc Việt) - Tuấn Anh
Bông Hồng Cài Áo (Ý: Nhất Hạnh, Nhạc: Phạm Thế Mỹ) - Bằng Kiều
Xuân Đã Về (Minh Kỳ) - Diễm Sương, Kỳ Phương Uyên
Tân Cổ: Mừng Tuổi Mẹ (Tân Nhạc: Trần Long Ẩn, Cổ Nhạc: Hoàng Song Việt) - Mai Thiên Vân, Duy Trường
Hoa Cỏ Mùa Xuân (Bảo Chấn) - Ngọc Anh, Hoàng Anh Khang
Quê Nhà (Trần Tiến) - Ngọc Anh, Hoàng Anh Khang
Ước Nguyện Đầu Xuân (Hoàng Trang) - Hương Thủy
Quê Hương Và Mẹ Hiền (Văn Đắc Nguyên) - Tâm Đoan
Thư Xuân Hải Ngoại (Trầm Tử Thiêng) - Trần Thái Hòa
Thương Bà Mẹ Huế (Hoài An) - Như Quỳnh
Hài kịch: Duyên Lạ Đêm Xuân - Quang Minh, Hồng Đào
Phỏng vấn Nha Nguyễn, Bon Nguyễn, Khải Đăng
Tết Này Con Sẽ Về © (Nguyễn Hồng Thuận) - Nha Nguyễn, Bon Nguyễn, Khải Đăng
Tiếng Dương Cầm (Văn Phụng) - Anh Dũng
LK: Xuân này con không về (Trịnh Lâm Ngân) - Ngọc Ngữ & Xuân Này Con Về Mẹ Ở Đâu? (Nhật Ngân) - Bảo Khánh
Bông Vạn Thọ (Võ Thiện Thanh) - Thu Phương
Gặp Mẹ Trong Mơ (Lời Việt: Lê Tự Minh) - Hoàng Nhung
Chiều Xuân xa nhà (Nhật Ngân, thơ: Huy Phương) - Hoài Lâm
Phỏng vấn Hoài Lâm
Về Đâu Mái Tóc Người Thương (Hoài Linh) - Hoài Lâm
Lòng mẹ (Y Vân) - Thiên Tôn, Lam Anh
Hài kịch: Đại hội Táo Quân - Chí Tâm, Hoài Tâm, Thúy Nga, Kiều Linh, Duy Trường
Chúc Xuân Tài Lộc © (Lương Bằng Quang) - Mai Tiến Dũng
Thư Của Mẹ (Nguyễn Văn Chung) - Minh Tuyết
Cảm ơn (Trịnh Lâm Ngân) - Mai Thiên Vân, Tuấn Quỳnh
Xuân vui ca (Nguyễn Hiền) - Thanh Hà, Đình Bảo
Xuân bên em (Lương Ngọc Châu) - Đoàn Trọng
Đón Xuân (Phạm Đình Chương) - Tóc Tiên
====== Bonus videos ======
Behind the scenes - Hậu trường sân khấu
Thiên Duyên Tiền Định (Tuấn Lê) - Ánh Minh, Mai Tiến Dũng
Mùa Xuân Không Có Mẹ (Sơn Hạ) - Khánh Lâm
Cảm xúc © (Châu Đăng Khoa) - Tóc Tiên
Những Gì Đẹp Nhất © (Hoài An) - Lam Anh, Trần Thái Hòa
== 2014 ==
=== Paris By Night Gloria 2 ===
Chương trình được thu hình ngày 21 tháng 11 năm 2014 tại Nhà thờ Đức Mẹ La Vang. Đây là chương trình Thánh ca Giáng Sinh rất đặc biệt nhằm gây quỹ giúp giáo xứ xây tòa nhà sinh hoạt giáo lý đức tin và xây đài Đức Mẹ kiên cố hơn, thay vào bức tượng tạm thời hiện nay. Và đây cũng là Paris By Night thứ hai thu hình trong nhà thờ sau cuốn Gloria năm ngoái tại St. Barbara. Thành phần nghệ sĩ: MC Nguyễn Ngọc Ngạn, Hương Lan, Thanh Hà, Minh Tuyết, Ngọc Anh, Tâm Đoan, Ngọc Hạ, Mai Thiên Vân, Thu Phương, Lam Anh, Tóc Tiên, Kỳ Phương Uyên, Don Hồ, Trần Thái Hòa, Quang Dũng, Bằng Kiều, Trịnh Lam, Quang Lê, Đình Bảo, Thiên Tôn, Mai Tiến Dũng, Justin Nguyễn, Brothers Band, Ca đoàn thiếu nhi La Vang, Ca đoàn tổng hợp La Vang và các khách mời đặc biệt khác.
Nội dung chương trình
Xin Chúa Xuống - Đức Ông Phạm Quốc Tuấn, Ca đoàn tổng hợp La Vang
Chúa Hãy Đến (LV: Phan Hoàng) - Lam Anh, Ca đoàn thiếu nhi La Vang
Hôm Nay Toàn Dân - Thiên Tôn, Ca đoàn thiếu nhi La Vang
Ave Maria Mẫu Tâm (LV: Ca đoàn Mẫu Tâm San Jose) - Ca đoàn tổng hợp La Vang
Nơi Bêlem (Lm. Kim Long) - Ngọc Anh
Chuyện Một Mùa Đông (Lm. Duy Thiên) - Mai Thiên Vân
Mùa Sao Sáng (Nguyễn Văn Đông) - Don Hồ
Màu Xanh Noel (Nguyễn Văn Đông) - Thanh Hà
Giáng Sinh Không Nhà (Phan Mạnh Quỳnh) - Mai Tiến Dũng
Mùa Giáng Sinh Hạnh Phúc - Thu Phương
Xin Chúa Thấu Lòng Con (Nguyễn Văn Đông) - Trần Thái Hòa
Giáng Sinh Trong Mái Nghèo (Lm. Nguyễn Sang) - Tâm Đoan
Tình Yêu Giáng Sinh (Hoàng Kim Anh) - Trịnh Lam, Kỳ Phương Uyên
Tà Áo Đêm Noel (Tuấn Lê) - Quang Lê
Dư Âm Mùa Giáng Sinh (Ngân Giang) - Minh Tuyết
Lời Con Xin Chúa (Lê Kim Khánh) - Quang Dũng
Tiếng Chuông Ngân (LV: Nguyễn Ngọc Thiện) - Tóc Tiên
Dâng Chúa Hài Nhi (Phan Ngọc Hiển) - Hương Lan
Ave Maria Con Dâng Lời (Lm. Huyền Linh) - Ngọc Hạ
Lời Nguyện Cầu Giáng Sinh - Bằng Kiều
Giáng Sinh Về (Phan Ngọc Hiển) - Justin Nguyễn, Bé Na, Bé Nấm
Để Chúa Đến (Lm. Nguyễn Duy) - Lm. Joseph Nguyễn Văn Luân, Lm. Padre Thái Quốc Bảo, Ca đoàn tổng hợp La Vang
Theo Ánh Sao Đêm - Đình Bảo, Ca đoàn tổng hợp La Vang
Say Noel (Lm. Kim Long, Xuân Ly Băng) - Ca đoàn tổng hợp La Vang
Hang Bêlem (Hoài Linh, Minh Châu) - Hợp ca
=== Paris By Night 112 ===
Paris By Night 112 chủ đề Đông, thu hình tại Pechanga Resort & Casino vào 2 ngày Thứ Bảy, 27 tháng 9 & Chủ Nhật 28 tháng 9 năm 2014 với 3 suất diễn. Điều khiển chương trình do Nguyễn Ngọc Ngạn & Nguyễn Cao Kỳ Duyên. Đây là chương trình các bài hát về mùa đông. Chương trình có sự xuất hiện trở lại của nữ ca sĩ Tâm Đoan sau nhiều năm vắng bóng.
Bên cạnh đó, lần đầu tiên Trung tâm Thúy Nga thực hiện chương trình trực tuyến trên website với 2$ cho đêm phát sóng tại www.ott.thuynga.com
==== Nội dung chương trình ====
==== BONUS VIDEOS ====
Phóng sự Lông Mi Lashes by Daniel
Behind the Scenes - Hậu trường sân khấu
==== MTV BONUS ====
Ngã Rẽ (Võ Hoài Phúc) - Lam Anh
Chờ Người (Lam Phương) - Ngọc Anh
Giết người anh yêu (Vinh Sử) - Mai Thiên Vân, Tuấn Quỳnh
Vì Em Nhiều Nước Mắt (Châu Đăng Khoa) - Minh Tuyết
Hoang mang (Bon Nguyễn) - Bon Nguyễn, Nha Nguyễn, Khải Đăng
=== Paris By Night 111 ===
Chương trình có chủ đề S (chỉ có một chữ cái), thu hình tại rạp hát AXIS tại Planet Hollywood Resort & Casino ở Las Vegas, Hoa Kỳ vào hai ngày 24 và 25 tháng 5 năm 2014. Điều khiển chương trình do Nguyễn Ngọc Ngạn & Nguyễn Cao Kỳ Duyên đảm trách. Chương trình có sự xuất hiện lần đầu tiên trên sân khấu Paris by Night của nam ca sĩ Tuấn Quỳnh và sự trở lại của đạo diễn Alan Carter
===== Nội dung chương trình =====
1. Tình Hoài Hương (Phạm Duy) - Thiên Tôn, Trần Thái Hòa, Đình Bảo, Hạ Vy, Tóc Tiên, Mai Thiên Vân, Ngọc Anh, Như Quỳnh, Quỳnh Vi
2. LK: Sa mạc tình yêu & Giấc Mơ Sa Mạc (Lời Việt: Khúc Lan) - Don Hồ, Diễm Sương
3. Sương Lạnh Chiều Đông (Mạnh Phát) - Hương Lan / Chuyến Đi Về Sáng (Mạnh Phát) - Giang Tử
4. Phiến Đá Sầu (Diệu Hương) - Đình Bảo / Vết Thương Sỏi Đá (Vĩnh Điện) - Thế Sơn
5. Đời Ca Sĩ © (Dương Khắc Linh) - Ánh Minh / Tiền © (Lương Bằng Quang) - Justin Nguyễn
6. Yêu Một Mình (Trịnh Lâm Ngân) - Khánh Lâm / Hoa Sứ Nhà Nàng (Hoàng Phương) - Thái Châu
7. Khói Sương Mong Manh (Châu Đăng Khoa) - Lam Anh, Bằng Kiều
8. Vì sao Ta Yêu Nhau © (Hoàng Nhã) - Lương Tùng Quang, Quỳnh Vi
9. Trở Về Dòng Sông Tuổi Thơ (Hoàng Hiệp) - Thu Phương
10. Thôn Trăng (Mạnh Bích, Nguyễn Diệu) - Như Quỳnh
11. Trăng Phương Nam (Anh Hoa) - Hạ Vy, Hương Thủy
12. Mộng Sầu (Trầm Tử Thiêng) - Hương Giang, Trần Thái Hòa
13. Chuyện Vườn Sầu Riêng (Vinh Sử) - Mai Thiên Vân, Tuấn Quỳnh
14. Sân khấu Cuộc Đời (Võ Hoài Phúc) - Trịnh Lam, Như Loan
15. Hài kịch "Xầm Xí" - Hoài Linh, Chí Tài, Việt Hương, Thúy Nga
16. Sexy, Sexy © (Châu Đăng Khoa) - Anh Tú
17. Say Tình © (Phúc Trường) - Kỳ Phương Uyên
18. Sao Lòng Còn Thương (Hàn Châu) - Bảo Khánh / Người Thương Kẻ Nhớ (Hàn Châu) - Duy Trường
20. Sợi Nhớ © (Lương Bằng Quang) - Mai Tiến Dũng, Tóc Tiên
21. Fashion Show: Áo dài ABC,
Áo Hoa (Trần Quang Lộc) - Quang Lê
Tình (Văn Phụng) - Ngọc Anh
22. Lý Con Sáo Bạc Liêu (Phan Ni Tấn) - Quang Hiếu
23. Chôn Vùi Tâm Sự (Vinh Sử) - Mạnh Quỳnh, Mai Thiên Vân
24. Anh muốn em sống sao? (Chi Dân) - Minh Tuyết
25. Chờ (Lam Phương) - Nguyễn Hưng / Ai Đi Ngoài Sương Gió (Nguyễn Hữu Thiết) - Ngọc Anh
26. Hẹn hò (Phạm Duy) - Thiên Tôn, Thanh Hà
27. Suối tóc (Văn Phụng) - Ý Lan
28. Sài Gòn, Sài Gòn (Châu Đăng Khoa) - Justin Nguyễn, Mai Tiến Dũng, Anh Tú, Kỳ Phương Uyên, Như Loan, Tóc Tiên, Diễm Sương, Lam Anh, Ánh Minh
==== BONUS VIDEOS ====
Phóng sự Diamond Island Luxury Residences
Behind the Scenes
==== MTV BONUS ====
1. Sầu Cố đô (Duy Khánh) - Khánh Lâm
2. Khi Người Xa Tôi (Lê Xuân Trường) - Ngọc Anh
=== Paris By Night 110 ===
Chương trình có tên Phát lộc đầu năm, thu hình tại Pechanga Resort & Casino vào 2 ngày Thứ Bảy, 16 tháng 11 & Chủ Nhật 17 tháng 11 năm 2013. Điều khiển chương trình do Nguyễn Ngọc Ngạn & Nguyễn Cao Kỳ Duyên đảm trách. Bản DVD & Bluray được phát hành vào ngày Thứ Sáu 24 tháng 1 năm 2014. Chương trình có sự xuất hiện của 3 nam ca sĩ từ cuộc thi Vstar là Justin Nguyễn, Bảo Khánh và Quang Hiếu và Nghệ sĩ kỳ cựu Bảo Quốc.
==== Nội dung chương trình ====
1. Đón Xuân (Quốc An) - Justin Nguyễn, Ánh Minh
2. Đồn Vắng Chiều Xuân (Trần Thiện Thanh) - Thế Sơn
3. Hà Nội Mười Hai Mùa Hoa (Giáng Son) - Thu Phương
4. Giai Điệu Mùa Xuân (Trần Nghiệp Hoàng & Võ Quốc Trụ) - Trịnh Lam, Lam Anh
5. Chúc Mừng Xuân (Thanh Sơn) - Lương Tùng Quang, Quỳnh Vi
6. LK: Mùa Xuân Trên Cao (Trầm Tử Thiêng) - Mạnh Quỳnh / Mùa Xuân Đó Có Em (Anh Việt Thu) - Khánh Lâm / Cảm ơn (Trịnh Lâm Ngân) - Tuấn Vũ
7. Gửi người em gái (Đoàn Chuẩn & Từ Linh) - Bằng Kiều
8. Mùa Xuân Hoa Đào (Hoàng Thi Thơ) - Mai Thiên Vân
9. Chấp Nhận (Lam Phương) - Hương Lan, Thái Châu
10. Mùa Xuân Của Mẹ (Trịnh Lâm Ngân) - Quang Lê
11. Mùa Xuân Bên Nhau (Thanh Sơn) - Quang Hiếu
12. Hài kịch: Hoài Linh, Chí Tài
13. Xuân Yêu Thương (Lời Việt: Lê Đức Cường) - Như Loan
14. Mùa Xuân Xôn Xao (Hàn Châu) - Duy Trường, Hạ Vy
15. Mỗi Mùa Xuân Về Lại Thêm Một Lần Dối Mẹ (Nhật Ngân, thơ: Trần Trung Đạo) - Bảo Khánh
16. Nàng Xuân Của Tôi (Nguyễn Hữu Thiết) - Trần Thái Hòa
17. Mùa Xuân Gửi Em (Minh Kỳ & Lê Dinh) - Như Quỳnh
18. Chúc Xuân (Đinh Trung Chính) - Don Hồ
19. Hài kịch "Ông Táo Chầu Trời" (Nguyễn Ngọc Ngạn) - Bảo Quốc, Việt Hương, Thúy Nga, Hoài Tâm, Duy Trường, Nguyên Khoa
20. Khúc Nhạc Ngày Xuân (Nhật Bằng) - Nguyễn Hưng
21. Hoa Xuân (Phạm Duy) - Thiên Tôn, Lam Anh
22. Lúng La Lúng Luyến Xuân (Vũ Quốc Việt) - Anh Tú
23. Mùa Xuân Không Còn Nữa (Lam Phương) - Ngọc Anh
24. Tết Xuân (Hồ Hoài Anh) - Thanh Hà, Đình Bảo
25. Xuân Về Nhớ Tết Năm Nay (Hoài Linh) - Hương Thủy, Tóc Tiên
26. Hỏi Nàng Xuân (Vinh Sử & Cô Phượng) - Minh Tuyết
27. Gái Xuân (Từ Vũ, thơ: Nguyễn Bính) - Ý Lan
28. Khúc Xuân (Võ Thiện Thanh) - Mai Tiến Dũng, Diễm Sương
29. Phút giao thừa dịu êm (Nguyễn Kim Tuấn) - Trịnh Lam, Trần Thái Hòa, Thiên Tôn, Đình Bảo, Ngọc Anh, Quỳnh Vi, Thanh Hà, Tóc Tiên
===== BONUS VIDEOS =====
1. Nhịp Bước Ngày Xuân (Phúc Trường) - Tóc Tiên, Mai Tiến Dũng
2. Mơ (Kiên Trần) - Ánh Minh
3. Vắng Anh Mùa Đông (Trương Lê Sơn) - Như Loan
4. Đón xuân này nhớ xuân xưa (Châu Kỳ) - Lưu Ngọc Hà
5. Hậu trường sân khấu - Behind the Scenes
== 2013 ==
=== Paris By Night Gloria ===
Chương trình được thu hình ngày 13 tháng 12 năm 2013 tại St. Barbara Catholic Church. DVD phát hành ngày 25 tháng 12 năm 2013. Đây là chương trình Thánh ca Giáng Sinh rất đặc biệt. Và đây cũng là Paris By Night đầu tiên thu hình trong nhà thờ. Thành phần nghệ sĩ: MC Nguyễn Ngọc Ngạn, Bằng Kiều, Ngọc Anh, Như Quỳnh, Minh Tuyết, Thu Phương, Mai Thiên Van, Trần Thái Hòa, Don Hồ, Thanh Hà, Lam Anh, Tóc Tiên, Ánh Minh, Trịnh Lam, Thiên Tôn, Mai Tiến Dũng, Đình Bảo, Bảo Khánh, Hoài Phương, Brothers Band, Ca đoàn St. Barbara Catholic Church.
==== Nội dung chương trình ====
1. Phần mở đầu
2. Trời cao (Duy Tân) - Lm. Tiến Linh, Lm. Nguyễn Trọng Hiếu, Lm. Đồng Minh Quang
3. Cao cung lên (Lm. Hoài Đức) - Đình Bảo, Ca đoàn St. Barbara
4. Lời chào mừng - Lm. Augustine Vũ Ngọc Long
5. What child is this - Chúa hài đồng (nhạc: William Chatterton Dix, lời Việt: Đức Trí) - Thu Phương
6. Mừng Chúa ra đời - Trần Thái Hòa
7. Mùa hoa tuyết - Quỳnh Vi
8. Mary, did you know? - Maria, Mẹ có biết chăng? (nhạc: Buddy Green, lời: Mark Lowry) - Hoài Phương
9. Máng cỏ đêm đông (nhạc: Thanh Lâm, lời: Phi Vân) - Lam Anh, St. Barbara Children Choir
10. Bài thánh ca buồn (Nguyễn Vũ) - Don Hồ
11. Lời con xin Chúa (Lê Kim Khánh) - Minh Tuyết
12. Silent night - Đêm Thánh vô cùng (nhạc: Gruber, lời Việt: Hùng Lân) - Bằng Kiều, Đình Bảo, Thiên Tôn
13. Dư âm mùa Giáng Sinh (Ngân Giang) - Trịnh Lam
14. Nửa đêm khấn hứa (Tuấn Hải) - Như Quỳnh, Nguyễn Đức Đạt
15. Mùa đông năm ấy (Lm. Hoài Đức) - Thiên Tôn / Phụ họa piano: Đức Giám mục Kevin W. Vann
16. Phát quà lưu niệm
17. O Holy Night - Chúa ra đời (nhạc: Charles Adam Adolphe, lời Việt: Anh Linh) - Thanh Hà
18. Jingle bells - Chuông ngân vang - Ánh Minh
19. Lá thư trần thế (Hoài Linh) - Bảo Khánh
20. Hai mùa Noel (Nguyễn Vũ) - Mai Thiên Vân
21. Chiên lạc trở về (Nhạc nước ngoài: All We Like Sheep, tác giả: Don Moen ) - Bằng Kiều
22. Giáo đường im bóng (nhạc: Nguyễn Thiện Tơ, lời: Phi Tâm Yến) - Ngọc Anh
23. Chú bé đánh trống (lời Việt: Viết Chung) - Lam Anh, Đình Bảo
24. Liên khúc Mary's boy child, Đi tìm Chúa tôi - Mai Tiến Dũng, Tóc Tiên
25. Hang Bêlem (Hải Linh, Minh Châu) - Hợp ca, Ca đoàn St. Barbara
26. Chúc lành Giáng Sinh - Đức Giám mục Kevin W. Vann
=== Paris By Night 109 VIP Party ===
Là chương trình chào mừng Paris By Night 109 dành cho các ca sĩ và khách VIP. Chương trình sẽ trực tiếp thu hình tại Planet Hollywood resorts and casinos (Las Vegas, Hoa Kỳ vào ngày 7 tháng 7 năm 2013, ngay sau Paris By Night 109. Đây là chương trình party thứ tư của trung tâm sau ba cuốn Paris By Night 100 VIP Party, 104 VIP Party và 106 VIP Party
==== Nội dung chương trình ====
===== Đĩa 1 =====
1. Đêm huyền diệu (Y Vân) - Ngọc Anh
2. Tạ ơn con gái (Đynh Trầm Ca) - Mạnh Quỳnh
3. Hương xưa (Vũ Hoàng) - Duy Trường
4. Bài tình ca cho em (Ngô Thụy Miên) - Thái Châu
5. Tình phai (Nguyễn Ngọc Tài) - Lưu Bích, Nguyễn Hưng
6. Mộng chiều xuân (Ngọc Bích) - Như Quỳnh
7. Gặp nhau làm ngơ (Trần Thiện Thanh) - Hương Thủy
8. Lạnh lùng (Đinh Việt Lang) - Hạ Vy
9. Put your head on my shoulder - Tuấn Ngọc
10. Hotel California - Don Hồ
11. Niệm khúc cuối (Ngô Thụy Miên) - Họa Mi
12. Hôn (Đoàn Vi Hương) - Ý Lan
13. Nỗi buồn gác trọ (Mạnh Phát) - Mai Thiên Vân
14. Bài tango cho em (Lam Phương) - Hồ Lệ Thu
15. Ngày em đến (Y Vân) - Thanh Hà
16. Ảo ảnh (Y Vân) - Lam Anh, Trần Thái Hòa
17. Lâu đài tình ái (Trần Thiện Thanh) - Minh Tuyết, Bằng Kiều
===== Đĩa 2 =====
18. Mystical night (Hoài An) - Tóc Tiên, Mai Tiến Dũng
19. Chuyện ba người (Quốc Dũng) - Quang Lê
20. Ngựa ô thương nhớ (Trần Tiến) - Anh Tú, Thiên Tôn
21. Tình hờ (Phạm Duy) - Thu Phương
22. Xin hãy rời xa (Vũ Tuấn Đức) - Quang Dũng
23. Stand by me - Khánh Hà
24. Vết son trên áo - Quỳnh Vi
25. Tàn tro (LV Julie Quang) - Diễm Sương
26. Không (Nguyễn Ánh 9) - Lương Tùng Quang
27. Hài kịch Đại gia đình - Hoài Linh, Chí Tài, Thúy Nga, Việt Hương, Hoài Tâm, Long Đẹp Trai, Bé Tý, Nguyên Khoa
=== Paris By Night 109 ===
Là chương trình dự kiến mang tên 30th Anniversary, sẽ trực tiếp thu hình tại Planet Hollywood resorts and casinos (Las Vegas Hoa Kỳ) do Trung tâm Thúy Nga tổ chức vào dịp lễ Độc lập Hoa Kỳ 6 tháng 7 năm 2013. Chương trình có sự xuất hiện trở lại của khá nhiều ca sĩ đã từng cộng tác cho Thúy Nga như Dương Triệu Vũ, Hồ Lệ Thu, Elvis Phương, Họa Mi, Khánh Hà, Tuấn Ngọc, Bảo Hân, Tommy Ngô, Linda Trang Đài đặc biệt là sự trở lại khá lâu của Tuấn Vũ và Châu Ngọc.
==== Nội dung ====
1. LK Tung bay (Lương Bằng Quang) - Mai Tiến Dũng, Ánh Minh & Cò Lả - Quỳnh Vi, Tóc Tiên, Như Loan
2. Hoa Nở Về Đêm (Mạnh Phát) - Giang Tử, Hương Lan
3. Duyên quê (Hoàng Thi Thơ) - Ngọc Hạ, Quang Lê
4. Em Lụa Là (Lưu Thiên Hương) - Dương Triệu Vũ, Hương Giang
5. LK Vũ Thành An / Lời Tình Buồn & Một Lần Nào Cho Tôi Gặp Lại Em - Don Hồ, Quang Dũng
6. Anh Hãy Về Đi (Sang Đông, Ngân Trang) - Mai Thiên Vân, Trường Vũ
7. LK Một Thoáng Tây Hồ (Phó Đức Phương) & Chiều Phủ Tây Hồ (Phú Quang) - Thu Phương, Ngọc Anh
8. LK Trót Dại (Tuấn Hải & Lê Kim Khánh) & Tình Chỉ Đẹp (Thủy Tiên) - Hạ Vy, Mạnh Quỳnh
9. LK Mùa Thu Không Trở Lại (Phạm Trọng Cầu) & Lá Thu Vàng (Lời Việt: Lữ Liên) - Ý Lan, Ngọc Anh
10. Nhạc Kịch: Tên Sở Khanh (Lương Bằng Quang) - Bằng Kiều, Minh Tuyết, Kỳ Phương Uyên
11. Hai Người Bạn (Hoài An) - Diễm Sương
12. Tình Yêu Đánh Rơi (Võ Hoài Phúc) - Lưu Bích
13. LK Thà Như Giọt Mưa, Em Hiền Như Ma Soeur, Hai Năm Tình Lận Đận (Phạm Duy, thơ: Nguyễn Tất Nhiên) - Duy Quang, Thái Châu, Thế Sơn
14. Bướm Mơ (Trần Mạnh Tuấn, thơ: Phan Đan) - Lam Anh, Quỳnh Vi
14. Hài kịch: Tấm Cám Vượt Thời Gian (Nguyễn Ngọc Ngạn) - Chí Tài, Hương Thủy, Việt Hương, Thúy Nga, Hoài Tâm
15. Thật, Hư (Nguyễn Hải Phong) - Anh Tú
16. Trình Diễn Áo dài 3 Miền - 16 Nữ Ca Sĩ Thúy Nga
Xin Đừng Trách Đa Đa (Võ Đông Điền)
Mưa trên phố Huế (Minh Kỳ, Tôn Nữ Thụy Khương)
Em Đi Chùa Hương (Trung Đức, thơ: Nguyễn Nhược Pháp)
17. Vũng Lầy Của Chúng Ta (Lê Uyên Phương) - Trần Thái Hòa, Thanh Hà
18. Em Phải Tin Vào Điều Đó (Phúc Trường) - Như Loan, Lương Tùng Quang
19. LK Nghèo / Nghèo (Trần Quý), Hai Đứa Nghèo (Như Phy), Số Nghèo (Như Phy) - Tuấn Vũ, Duy Trường, Khánh Lâm
20. LK Lam Phương / Lầm, Trăm Nhớ Ngàn Thương, Em Đi Rồi, Như Giấc Chiêm Bao - Elvis Phương, Họa Mi
21. LK Swing / Bây Giờ Tháng Mấy (Từ Công Phụng), Niềm Đau Chôn Dấu (Lời Việt: Lữ Liên), Tình Cầm (Phạm Duy), Biển cạn (Kim Tuấn), Một Tình Yêu (Đức Huy) - Khánh Hà, Tuấn Ngọc
22. Tiễn Anh Về Nơi Xa (Vĩnh Tâm) - Tóc Tiên
23. Chút Kỷ Niệm Buồn (Tô Thanh Sơn) - Như Quỳnh
24. Rồi Mai Tôi Đưa Em (Trường Sa) - Bằng Kiều, Thiên Tôn, Đình Bảo
25. Trong Cơn Say (Phúc Trường) - Hồ Lệ Thu, Trịnh Lam
26. Hát Dưới Cơn Mưa (Lời Việt: Thái Thịnh) - Nguyễn Hưng
27. Rhythm of the Rain (John Claude Gummoe) - Lynda Trang Đài, Tommy Ngô
28. Hát Mãi Bài Tình Ca (Thái Thịnh) - Hợp Ca
BONUS VIDEO
Behind the Scenes / Hậu trường sân khấu
Phóng sự Khán giả PBN Khắp Nơi Trên Thế giới
=== Paris By Night 108 ===
Là chương trình dự kiến mang tên Thời gian / Time, thu hình vào hai ngày 23 và 24 tháng 3 năm 2013, tại Foxwoods Resort Casino (Mashantucket, Connecticut, Hoa Kỳ).
Đây là chương trình Paris By Night thứ 2 được quay ở Foxwoods Resort Casino.
DVD & Bluray của chương trình sẽ được đồng loạt phát hành toàn cầu bắt đầu từ thứ sáu, ngày 31 tháng 5 năm 2013. Đây là lần đầu tiên có sự xuất hiện của diễn viên Nguyên Khoa.
==== Nội dung chương trình ====
1. L.K. Bốn Mùa:
Mùa Hè Đẹp Nhất (Đức Huy) - Minh Tuyết
Chỉ Là Mùa Thu Rơi (Quốc Dũng, Lời: Nguyễn Đức Cường) - Ngọc Anh
Góc Phố Rêu Xanh (Nhật Trung) - Kỳ Phương Uyên
Khúc Giao Mùa (Huy Tuấn) - Tóc Tiên
2. L.K. Chiều Trên Phá Tam Giang (Trần Thiện Thanh, thơ: Tô Thùy Yên) - Thế Sơn & Trên Đỉnh Mùa Đông (Trần Thiện Thanh) - Lam Anh
3. Chỉ Chừng Đó Thôi (Phạm Duy) - Don Hồ
4. L.K. Phút Giây Mình Chia Tay & Giờ Thì Anh Đã Biết (Thái Thịnh) - Lương Tùng Quang, Diễm Sương
5. Bông Cỏ May (Trúc Phương) - Giang Tử
6. Em Đi Qua Để Lại (Quốc Hùng) - Lưu Bích
7. Đêm Bơ Vơ (Duy Khánh) - Khánh Lâm
8. Ảo Giác (Lương Bằng Quang) - Thanh Hà
9. Phút Cuối (Võ Hoài Phúc) - Trịnh Lam
10. Giọng Ca Dĩ vãng (Bảo Thu) - Như Quỳnh
11. Hình Ảnh Người Em Không Đợi (Hoàng Thi Thơ) - Hương Thủy
12. Hoài Thu (Văn Trí) - Hạ Vy
13. Tình Cầm (Phạm Duy, thơ: Hoàng Cầm) - Đình Bảo
14. Chỉ Còn Lại Tình Yêu (Tiến Minh) - Bằng Kiều
15. Nhật Ký Đời Tôi (Thanh Sơn) - Mai Thiên Vân
16. Lắng Nghe Thời Gian (Lương Bằng Quang) - Mai Tiến Dũng
17. Hài kịch: Hoa hậu Phu Nhân (Nguyễn Ngọc Ngạn) - Chí Tài, Việt Hương, Thúy Nga, Hoài Tâm, Nguyên Khoa
18. Thay Thế (Lương Bằng Quang) - Minh Tuyết
19. Bảy Ngày Đợi Mong (Trần Thiện Thanh) - Quỳnh Vi, Trần Thái Hòa
20. Hương Xưa (Cung Tiến) - Thiên Tôn
21. L.K. 60 Năm Cuộc Đời & 20 - 40 (Y Vân) - Nguyễn Hưng, Như Loan
22. Tân Cổ: Hoa Mười Giờ (Tân Nhạc: Đài Phương Trang, Ngọc Sơn) - Mai Thiên Vân, Duy Trường
23. Một Ngày Không Còn Xa (Hoài An) - Kỳ Phương Uyên, Anh Tú
24. Khi Xưa Ta Bé / Bang Bang (Lời Việt: Phạm Duy) - Thu Phương
25. Đường Xưa Lối Cũ (Hoàng Thi Thơ) - Quang Lê
26. Bước Cùng Thời Gian (Nguyễn Đức Cường) - Ánh Minh
27. Nha Trang Ngày Về (Phạm Duy) - Ngọc Anh
28. Em Đẹp Nhất Đêm Nay (Lời Việt: Phạm Duy) - Tóc Tiên
BONUS: Behind The Scenes
=== Paris By Night 107 ===
Chương trình mang tên Nguyễn Ngọc Ngạn: 20 năm sân khấu, trực tiếp thu hình vào hai ngày 10 và 11 tháng 11 năm 2012 tại Pechanga Resort and Casino, California.
Đây là chương trình mà MC Nguyễn Ngọc Ngạn sẽ xuất hiện với tư cách khách mời thay vì dẫn chương trình, Kỳ Duyên tiếp tục với vai trò MC. Trong chương trình, có sự tham gia lần đầu tiên của người bạn thân thuở nhỏ của Nguyễn Ngọc Ngạn là ca sĩ Giang Tử. DVD và Blu-ray Paris By Night 107 sẽ đồng loạt phát hành vào ngày 16 tháng 3 năm 2013.
==== Nội dung chương trình ====
===== Đĩa 1 =====
01. Phần mở đầu
02. Lột xác (Nguyễn Hải Phong) - Tóc Tiên, Mai Tiến Dũng
03. Video clip: Nhà văn Nguyễn Ngọc Ngạn
04. Lời mở đầu
05. Kẻ ở miền xa (Trúc Phương) - Giang Tử
06. Phỏng vấn Giang Tử
07. 20 năm bến lạ (Song Ngọc) - Thế Sơn
08. LK: Bóng nhỏ đường chiều, Đêm tâm sự (Trúc Phương) - Hương Lan, Thái Châu
09. Tình cho không (lời Việt: Phạm Duy) - Như Loan
10. Làm sao em biết - Quỳnh Vi
11. Phỏng vấn Tom Treutler
12. Chiều xuân xa nhà (thơ: Huy Phương, nhạc: Nhật Ngân) - Quang Lê
13. Mùa thu Paris (thơ: Cung Trầm Tưởng, nhạc: Phạm Duy) - Ý Lan
14. Vắng bóng người yêu ("Après toi", lời Việt: Phạm Duy) - Diễm Sương, Hương Giang
15. LK: Vòng tay nào cho em (Ngọc Lan, Hoàng Lê Vũ), Vì trong nghịch cảnh (Hoài Nam) - Trường Vũ, Mai Thiên Vân
16. Phỏng vấn Trường Vũ, Mai Thiên Vân
17. Đố vui khán giả: Phần thưởng của Lông Mi by Daniel Phú, Le Brian Salon, Sơn Ca Media
18. Mấy nhịp cầu tre (Hoàng Thi Thơ) - Hạ Vy
19. Đôi mắt người Sơn Tây (thơ: Quang Dũng, nhạc: Phạm Đình Chương) - Trần Thái Hòa
20. cảm ơn người tình (Lam Phương) - Ngọc Anh
21. Em vẫn buồn như xưa (lời Việt: Lữ Liên) - Lưu Bích
22. Bánh xe lãng tử (Trọng Khương) - Nguyễn Hưng
23. Trả lại anh (Đức Quỳnh) - Như Quỳnh
24. Đêm cuối (Ngọc Sơn) - Duy Trường
25. Đoạn cuối tình yêu (Tú Nhi) - Lương Tùng Quang
26. Video clip: Nguyễn Ngọc Ngạn và Nhóm kịch Thúy Nga
27. Đố vui khán giả với Hương Lan: Phần thưởng của Siêu thị Nguyễn Kim, Công ty Nutrivita, Lover's Hair Professional, Lông Mi by Daniel Phú
===== Đĩa 2 =====
01. Giới thiệu hài kịch
02. Kịch: Thể dục thẩm mỹ (Nguyễn Ngọc Ngạn) - Chí Tài, Việt Hương, Hoài Tâm, Thúy Nga, Kỳ Duyên, Hằng Ni, Nhật Bình
03. Buồn (Y Vân) - Kỳ Phương Uyên, Men say nồng (Trịnh Lam) - Trịnh Lam
04. Tình trong dĩ vãng (Ngọc Trọng) - Lam Anh
05. Dáng xưa về đâu (Ngọc Trọng) - Thanh Hà
06. Video clip: Thân hữu phát biểu
07. LK: Phận nghèo (Lê Mộng Bảo), Chuyện tình nghèo (Hàn Sinh) - Hương Thủy, Mạnh Quỳnh
08. Nguyễn Ngọc Ngạn kể chuyện ma
09. Linh hồn và thể xác (Nguyễn Hải Phong) - Anh Tú
10. Con ma (Nguyễn Hải Phong) - Thu Phương
11. Giọt nắng bên thềm (Thanh Tùng) - Bằng Kiều
12. Đâu phải bởi mùa thu (Phú Quang) - Ngọc Hạ
13. Đố vui khán giả: Phần thưởng của Thẩm mỹ viện Hạnh Phước, Daisy Gel Nails, Sơn Ca Media, Lover's Care Shower Cream, Văn phòng Thẻ Xanh
14. Xa em kỷ niệm (lời Việt: Anh Tài) - Don Hồ
15. Cuộc tình trong cơn mưa (lời Việt: Huỳnh Nhật Tân) - Ánh Minh
16. Phỏng vấn Mạnh Quỳnh
17. Một đời em đã yêu (Võ Hoài Phúc) - Minh Tuyết
18. Trung tâm Thúy Nga trao quà lưu niệm Nhà văn Nguyễn Ngọc Ngạn
19. Cô láng giềng (Hoàng Quý) - Đình Bảo
20. Người yêu tôi khóc (Trần Thiện Thanh) - Thiên Tôn
21. Lời cảm tạ Nhà văn Nguyễn Ngọc Ngạn
22. Ô mê ly (Văn Phụng, Văn Khôi) - Như Quỳnh, Thế Sơn, Thanh Hà, Don Hồ, Trần Thái Hòa, Ngọc Anh
23. Finale
BONUS: Behind The Scenes
=== Paris By Night 106 VIP Party ===
Là chương trình chúc mừng Paris By Night 106 dành cho các ca sĩ và khách VIP. Chương trình được trực tiếp thu hình tại Planet Hollywood resorts and casinos (Las Vegas, Hoa Kỳ vào ngày 2 tháng 9 năm 2012, ngay sau Paris By Night 106. Đây là chương trình party thứ ba của trung tâm sau ba cuốn Paris By Night 100 VIP Party và 104 VIP Party.
==== Nội dung chương trình ====
Blu-ray Disc
== 2012 ==
=== Paris By Night 106 ===
Chương trình mang tên Lụa / Silk, trực tiếp thu hình vào hai ngày 1 và 2 tháng 9 năm 2012 tại Planet Hollywood Resorts and Casino, Las Vegas. Đây là lần thứ 4 liên tiếp, chương trình Paris By Night được thực hiện tại Planet Hollywood và là lần thứ 6 quay tại Las Vegas. Chương trình có sự xuất hiện lần đầu tiên của nhạc sĩ Đình Bảo và hai quán quân cuộc thi V-Star do Thúy Nga và VietfaceTV tổ chức là Thiên Tôn và Anh Tú.
Phiên bản DVD Paris By Night 106 được phát hành vào ngày 19 tháng 12 năm 2012, phiên bản Blu-ray phát hành ngày 21 tháng 12 năm 2012.
==== Danh sách các tiết mục ====
Phiên bản Blu-ray
=== Paris By Night 105 ===
Chương trình có chủ đề Người tình - The Lovers được trực tiếp thu hình vào hai ngày 17 và 18 tháng 3 năm 2012 tại Foxwoods Resort Casino (Mashantucket, Connecticut, Hoa Kỳ). Đây là chương trình Paris By Night được quay ở vị trí xa nhất từ trước đến nay về phía Đông Hoa Kỳ và là lần đầu tiên quay ở tiểu bang Connecticut. Nhạc hội có sự xuất hiện trực tiếp lần đầu tiên của ca sĩ Khánh Lâm. Chương trình được phát hành với định dạng DVD và Blu-ray vào ngày 15 tháng 6 năm 2012.
==== Danh sách tiết mục ====
Phiên bản Blu-ray
=== Paris By Night 104 VIP Party ===
Đây là chương trình chào mừng Paris By Night 104 thành công tốt đẹp.
===== BLURAY Track List =====
Phần mở đầu
Huyền Thoại Người Con Gái (Lê Hựu Hà) - Tóc Tiên
Anh Đã Xa Tôi (Trần Quang Lộc) - Lam Anh
Tình Nghĩa Đôi Ta Chỉ Thế Thôi (Lam Phương) - Quang Lê, Hạ Vy
Hận Tình Trong Mưa (LV: Phạm Duy) - Thế Sơn
LK Trăng - Diễm Sương, Quỳnh Vi, Ánh Minh, Kỳ Phương Uyên
Ảo Ảnh, 60 Năm Cuộc Đời (Y Vân) - Trung Thành, Zoya Altmark
Vết Thương Cuối Cùng (Diên An) - Lưu Bích
Chờ (Lam Phương) - Trần Thái Hòa
Kim (Y Vũ) - Nguyễn Hưng
LK Người Ngoài Phố (Anh Việt Thu), Phố Đêm (Tâm Anh) - Hương Lan, Mai Thiên Vân
Diana (Paul Anka) - Don Hồ
Tình Lẻ Bóng (Lương Bằng Vinh) - Minh Tuyết
Buồn Ơi, Xin Chào Mi (Nguyễn Ánh 9) - Ngọc Anh
Chuyện Tình Yêu (LV: Phạm Duy) - Bằng Kiều
Không (Nguyễn Ánh 9) - Thanh Hà
Đàn Bà (Song Ngọc) - Elvis Phương
Self Control - Khánh Hà
LK Hoang mang (Võ Hoài Phúc), Bởi Vì Em Yêu Anh (Phan Đinh Tùng), Những Lời Dối Gian (LV: Khúc Lan), Tình Phai (Nguyễn Ngọc Tài) - Mai Tiến Dũng, Như Loan, Lương Tùng Quang
Hài kịch: Xe Ôm (Hoài Linh) - Chí Tài, Hoài Linh, Nguyên Khoa
Red Carpet: Phỏng vấn ca sĩ
Phỏng vấn khán giả VIP
Phỏng vấn hair & make-up artists
Hậu trường sân khấu Paris By Night 104
== 2011 ==
=== Paris By Night 104 ===
Chương trình mang chủ đề Beginnings, thu hình trực tiếp tại Planet Hollywood resorts and casinos - Las Vegas Mỹ năm 2011. Dẫn chương trình là Nguyễn Ngọc Ngạn và Nguyễn Cao Kỳ Duyên. Đây là lần đầu tiên chương trình Paris By Night phát hành dưới định dạng đĩa Blu-ray, lần thứ ba liên tiếp chương trình Paris By Night được thực hiện tại Planet Hollywood và là lần thứ 5 quay tại Las Vegas. Chủ đề Beginnings tập trung về sự bắt đầu đối với những ngôi sao nhỏ có tiềm năng và hoài niệm về những ngày tháng đầu của các ca sĩ đi trước. Chương trình có sự xuất hiện lần đầu tiên của ca sĩ Ánh Minh, Nguyên Lê, Khang Việt và họa sĩ vẽ cát Joe Castillo trong vai trò minh hoạ.
==== Nội dung ====
1. Gọi Tên Ngày Mới (Võ Hoài Phúc) - Như Quỳnh, Minh Tuyết, Tóc Tiên, Kỳ Phương Uyên
2. Tình Tuyệt Diệu (Lời Việt: Lữ Liên) - Lưu Bích
3. Mãi Một Mối Tình Đầu (Tùng Châu, Thái Thịnh) - Trịnh Lam, Diễm Sương
4. Bắt Đầu Một Kết Thúc (Phúc Trường) - Ánh Minh
5. Liên khúc Nhạc Pháp - Khánh Hà, Elvis Phương
6. Chuyến Đò Không Em (Hoài Linh) - Duy Trường, Hạ Vy
7. Nơi Tình Yêu Bắt Đầu (Tiến Minh) - Lam Anh, Bằng Kiều
8. Vai Chính Vai Phụ (Hoài An) - Tú Quyên
9. Quên Đi Hạnh Phúc Ban Đầu (Phúc Trường) - Như Loan
10. Thiêng Liêng Tình Mẹ (Mai Thu Sơn, Vọng cổ: Viễn Châu) - Hương Lan, Hương Thủy
11. Mười Năm Yêu Em (Trầm Tử Thiêng) - Trần Thái Hòa
12. Thuở Ban Đầu (Phạm Đình Chương) - Nguyễn Hưng
13. Giấc Mơ Tuổi 20 (Hà Quang Minh) - Don Hồ
14. Về Lại Phố Xưa (Phú Quang) - Ngọc Liên
15. Phượng Buồn (Thanh Sơn & Thanh Vũ) & Kỷ Niệm Nào Buồn (Hoài An) - Như Quỳnh, Mạnh Quỳnh
16. Kịch: Mình Bắt Đầu Từ Đây (Nguyễn Ngọc Ngạn) - Bằng Kiều, Chí Tài, Hoài Tâm, Thúy Nga, Việt Hương
17. Phút Đầu Tiên (Hoàng Thi Thơ) - Quỳnh Dung, Nguyên Lê
18. Lần Đầu Cũng Là Lần Cuối (Vũ Chương, Dạ Cầm) - Khang Việt
19. Cho Tôi Lại Từ Đầu (Trần Quang Lộc) - Quỳnh Vi
20. Về đây nghe em (Trần Quang Lộc) - Khánh Ly, Nguyễn Ngọc Ngạn
21. Trăng Mờ Bên Suối (Lê Mộng Nguyên) - Ngọc Hạ
22. Hỡi Người, Hỡi Tình (Hoài An) - Kỳ Phương Uyên, Lương Tùng Quang
23. Ngày Xưa Anh Nói (Thúc Đăng, Thanh Tuyền) - Quang Lê, Mai Thiên Vân
24. Đừng Bỏ Em Một Mình (Phạm Duy, thơ: Minh Đức Hoài Trinh) - Hương Giang
25. Nếu Một Mai Em Sẽ Qua Đời (Phạm Duy) - Ngọc Anh
26. Giới Hạn Cuối (Phúc Trường) - Minh Tuyết
27. Như Chưa Bắt Đầu (Đức Trí) - Ý Lan
28. Tình Đầu Tình Cuối (Trần Thiện Thanh) - Thế Sơn, Thanh Hà
29. Angel (Hoài An) - Mai Tiến Dũng, Tóc Tiên
=== Paris By Night 103 ===
Chương trình mang chủ đề Tình sử trong âm nhạc Việt Nam, trực tiếp thu hình vào hai ngày: 7 tháng 5 năm 2011 lúc 7:30 tối và 8 tháng 5 năm 2011 lúc 1:30 trưa tại Nhà hát Charles M. Schulz trong khu giải trí Knott’s Berry Farm, Buena Park, Nam California. Chương trình nhằm giới thiệu các ca khúc có xuất xứ từ những chuyện tình ngoài đời thật của các nhạc sĩ. Chương trình có sự xuất hiện trở lại của Hạ Vy, Ngọc Liên sau hơn nhiều năm vắng bóng trên sân khấu Thúy Nga.
Chương trình được điều khiển bởi nhà văn Nguyễn Ngọc Ngạn và Nguyễn Cao Kỳ Duyên với nội dung chương trình bao gồm
==== Nội dung chương trình ====
1. Yêu (Văn Phụng) - Diễm Sương, Như Loan
2. Gọi Người Yêu Dấu (Vũ Đức Nghiêm) - Thanh Hà
3. Người Đi Qua Đời Tôi (Phạm Đình Chương, thơ: Trần Dạ Từ) - Trần Thái Hòa
4. Họp Mặt Lần Cuối (Song Ngọc) - Hương Thủy
5. Sầu Khúc Mùa Đông (Đức Trí) - Hương Giang
6. Hỏi Người Còn Nhớ Đến Ta (Hoàng Thi Thơ) - Trịnh Lam
7. Nét Son Buồn (Ngọc Sơn) - Ngọc Liên
8. Muộn (Nguyễn Hồng Thuận) - Lưu Bích
9. Hoang mang (Võ Hoài Phúc) - Quỳnh Vi
10. Giáng Ngọc (Ngô Thuỵ Miên) - Bằng Kiều
11. Em Về Với Người (Mặc Thế Nhân) - Hạ Vy
12. Tội Tình (Hàn Châu) - Duy Trường
13. Anh và Em (Vũ Quốc Việt) - Lương Tùng Quang
14. Nghìn Trùng Xa Cách (Phạm Duy) - Thu Phương
15. Một Đời Yêu Em (Trần Thiện Thanh) - Thế Sơn
16. Môi Xinh Nụ cười (Hoài An) - Mai Tiến Dũng
17. Hài kịch "Môn Đăng Hộ Đối" (Nguyễn Ngọc Ngạn) - Chí Tài, Việt Hương, Hoài Tâm, Hương Thuỷ
18. Hai Chuyến Tàu Đêm (Trúc Phương) - Quang Lê
19. Trả Lại Thời Gian (Thanh Sơn) - Như Quỳnh
20. Còn tuổi nào cho em (Trịnh Công Sơn) - Minh Tuyết
21. Tuổi Đá Buồn (Trịnh Công Sơn) - Quang Dũng
22. Xin trả nợ người (Trịnh Công Sơn) - Khánh Ly
23. Trái Tim Tội Lỗi (Quốc Dũng) - Lam Anh
24. Nếu Đời Không Có Anh (Hoàng Trang) - Mai Thiên Vân
25. Đời Không Còn Nhau (Diệu Hương) - Don Hồ
26. Bài Không Tên Cuối Cùng (Vũ Thành An) - Ngọc Anh
27. Một Mình Trong Đêm (Quốc Hùng) - Kỳ Phương Uyên
28. Tình Yêu Không Có Lỗi (Minh Nhiên) - Nguyễn Hưng
29. Chén Đắng (Trương Lê Sơn) - Hồ Lệ Thu
30. Gục Ngã (Phúc Trường) - Tóc Tiên
BONUS MTV Xin Làm Người Xa Lạ (Tú Nhi) - Khánh Lâm
BONUS Hậu trường sân khấu
=== Paris By Night 102 ===
Chương trình mang chủ đề Nhạc yêu cầu - Tình ca Lam Phương, trực tiếp thu hình vào hai ngày 12 và 13 tháng 2 năm 2011 tại Nhà hát Charles M. Schulz trong khu giải trí Knott’s Berry Farm, Buena Park, Nam California. Chương trình có chủ đề tiếp nối với Paris By Night 92: Nhạc yêu cầu và Paris By Night 96: Nhạc yêu cầu 2 nhưng hạn chế yêu cầu của khán giả trong các bài hát của nhạc sĩ Lam Phương.. Các phần trình diễn đa số được hát trực tiếp và thu thanh ngay tại sân khấu. Bản DVD được phát hành vào ngày 15/4/2011 . Trong bản DVD, trung tâm Thúy Nga thay đổi biểu trưng của mình, phần hòa âm cũng được thực hiện bởi nhạc sĩ Hoài Phương thay vì nhạc sĩ Tùng Châu như đa số các kì Paris by Night trước.
==== Nội dung chương trình ====
1. LK Mùa Thu Yêu Đương & Bé Yêu - Tóc Tiên, Mai Tiến Dũng
2. Mưa Lệ - Thanh Hà
3. Tình Chết Theo Mùa Đông - Thái Châu & Giọt Lệ Sầu - Hương Lan
4. Kiếp tha hương - Khánh Ly
5. Cho Em Quên Tuổi Ngọc - Lam Anh
6. Kiếp Phiêu Bồng - Trịnh Lam
7. Lạy Trời Con Được Bình Yên - Khánh Hà
8. LK Khóc Thầm & Buồn Chi Em Ơi - Duy Trường, Phi Nhung
9. Một Đời Tan Vỡ - Lưu Bích
10. Thuyền Không Bến Đỗ - Như Quỳnh
11. Thu Sầu - Ngọc Hạ
12. Thành phố Buồn - Don Hồ
13. Tình Nghĩa Đôi Ta Chỉ Thế Thôi - Hồ Lệ Thu
14. Hài kịch "Trăm Nhớ Ngàn Thương" - Chí Tài, Hoài Linh
15. Tình Đẹp Như Mơ - Lương Tùng Quang
16. Biển Tình - Diễm Sương
17. Xin Thời Gian Qua Mau - Quang Lê
18. Đèn Khuya - Mai Thiên Vân
19. Như Giấc Chiêm Bao - Thế Sơn
20. Hạnh Phúc Trong Tầm Tay - Kỳ Phương Uyên
21. Xót Xa - Trần Thái Hòa
22. Em Đi Rồi - Ngọc Anh
23. Lầm - Nguyễn Hưng
24. Rừng Xưa - Hương Thủy
25. LK Em Là Tất Cả, Duyên Kiếp, Cỏ Úa - Minh Tuyết, Bằng Kiều
26. Bài Thơ Không Đoạn Kết - Thu Phương
27. Tình Đau - Quỳnh Vi & Yêu Nhau Bốn Mùa - Như Loan
BONUS: Hậu trường sân khấu
=== Paris By Night 101 ===
Chương trình mang chủ đề Hạnh phúc đầu năm, trực tiếp thu hình tại Pechanga Resort and Casino, California vào 13 và 14 tháng 11 năm 2010. Đây là chương trình Tết thứ tư của Thúy Nga nối tiếp ba chương trình trước là Paris By Night 85: Xuân trong kỷ niệm]](2007), Paris By Night 80: Tết khắp mọi nhà (2006) và Paris by Night 76: Xuân tha hương (2005). Chương trình có sự xuất hiện lần đầu tiên của nam ca sĩ Trần Quang Vũ. Bản DVD đã được phát hành vào ngày 14/1/2011.
==== Nội dung chương trình ====
1. Ngày Tết Việt Nam (Hoài An) - Tóc Tiên, Quỳnh Vi, Nguyệt Anh, Hương Giang, Diễm Sương, Kỳ Phương Uyên
2. Thư Xuân Hải Ngoại (Trầm Tử Thiêng) - Ngọc Hạ
3. Nghĩ Chuyện Ngày Xuân (Song Ngọc) - Mai Thiên Vân
4. Khúc Giao Mùa (Huy Tuấn) - Trịnh Lam, Lam Anh
5. Quê Hương Mùa Xuân (Tiến Luân) - Phi Nhung
6. Mộng Chiều Xuân (Ngọc Bích) - Thanh Hà / Phố Hoa (Hoài An) - Như Loan
7. Những Kiếp Hoa Xuân (Anh Bằng) - Hồ Lệ Thu / Cánh Hoa Xưa (Hoàng Trọng) - Khánh Ly
8. Giao Mùa (Võ Hoài Phúc) - Lưu Bích, Trần Quang Vũ
9. Người Tình Ơi! Mơ Gì (Nguyễn Tường Văn) - Mai Tiến Dũng & Tóc Tiên
10. Quê Tôi (Minh Vy) - Tú Quyên, Hương Giang, Diễm Sương
11. L.K. Trăng Về Thôn Dã (Hoài An, Huyền Linh) & Rước Tình Về Với Quê Hương (Hoàng Thi Thơ) - Thế Sơn, Hương Thủy
12. Chúc Xuân (Lữ Liên) - Việt Hương, Bé Tí, Thúy Nga
13. Hát Với Chú Ve Con (Thanh Tùng) - Minh Tuyết
14. Chân Tình (Trần Lê Quỳnh) - Lương Tùng Quang / Điệp Khúc Mùa Xuân (Quốc Dũng) - Thủy Tiên
15. Em Đã Thấy Mùa Xuân Chưa? (Quốc Dũng) - Khánh Hà
16. Giọt Café Đầu Tiên (Trần Thiện Thanh) - Mạnh Quỳnh & Trường Vũ
17. Tình Có Như Không (Trần Thiện Thanh) - Nguyễn Hưng
18. Hài kịch: Đám Cưới Đầu Xuân (Nguyễn Ngọc Ngạn) - Chí Tài, Bé Tí, Hoài Tâm, Carol Kim, Tom Treutler
19. Xuân Đẹp Làm Sao (Thanh Sơn) - Như Quỳnh
20. Ngày Xuân Thăm Nhau (Hoài An, Trang Dũng Phương) - Duy Trường & Quỳnh Dung
21. Mùa Xuân Trên Đỉnh Bình Yên (Từ Công Phụng) - Quang Dũng
23. Nụ cười Sơn Cước (Tô Hải) - Trần Thái Hòa
24. Nụ Xuân (Vũ Anh Hùng) - Quỳnh Vi, Nguyệt Anh
25. Bài Ca Tết Cho Em (Quốc Dũng) - Quang Lê
26. Ca Khúc Mừng Xuân (Văn Phụng) - Don Hồ, Kỳ Phương Uyên
== 2010 ==
=== Paris By Night 100 VIP Party ===
Đây là chương trình chào mừng Paris By Night 100 thành công tốt đẹp. Chương trình dành cho ca sĩ và khách mời VIP. Đây là chương trình đầu tiên trong loạt chương trình VIP của Thúy Nga
==== Nội dung chương trình ====
Disc 1:
1. Phần mở đầu
2. Cùng Khiêu Vũ Bên Nhau (Quốc Hùng) - Lam Anh, Kỳ Phương Uyên
3. Phỏng vấn Nguyễn Hưng, Kỳ Duyên, Bảo Hân, Lương Tùng Quang, Khánh Hà
4. Thế giới Không Tình Yêu (Kim Tuấn) - Lương Tùng Quang
5. Phỏng vấn Khánh Ly, Don Hồ, Ý Lan, Alan Cater, Nguyễn Ngọc Ngạn, Lưu Bích, Minh Tuyết
6. Hai Vì sao Lạc (Anh Việt Thu) - Mai Thiên Vân
7. Mưa Đêm Ngoại Ô (Đỗ Kim Bảng) - Quang Lê
8. Phỏng vấn Nguyễn Ngọc Ngạn, Nguyễn Hưng, Hồ Lệ Thu, Bằng Kiều, Trizze Phương Trinh, Phi Khanh, Thủy Tiên, Thu Phương, PBN Dancers, Thanh Hà
9. Vị Ngọt Đôi Môi (Tùng Châu, Lê Hựu Hà) - Hồ Lệ Thu
10. Phỏng vấn Lây Minh, Hương Lan, Quỳnh Dung, Thanh Tuyền, Trúc Linh, Lam Anh, Kỳ Phương Uyên, Quỳnh Vi, Jacky Tài Nguyễn, Calvin Hiệp, Mai Thiên Vân, Quang Lê
11. Paris Có Gì Lạ Không Em? (Thơ: Nguyên Sa, Nhạc: Ngô Thụy Miên) - Ý Lan
12. Phỏng vấn PBN Dancers, Terry Lindholm, Travis Vũ, Nhật Bình, Alex Lê, Mona Lisa Nguyễn, Hương Vũ
13. Lạnh Lùng (Nhạc: Đinh Việt Lang) - Như Quỳnh
14. Phỏng vấn Marie Tô, Nguyệt Anh, Trần Thái Hòa, Mai Tiến Dũng, Hương Giang
15. Vết Thù Trên Lưng Ngựa Hoang (Phạm Duy, Ngọc Chánh) - Nguyễn Hưng
16. Phỏng vấn Linda Trang Đài, Tommy Ngô, Phi Nhung, Mạnh Quỳnh, Chí Tài, Phương Loan, Ngọc Anh, Huy Khiêm
17. Trái Tim Còn Trinh (Lời Việt: Phạm Duy - Trần Thái Hòa, Quỳnh Vi
18. Phỏng vấn Như Quỳnh 19. Còn Chút Gi Để Nhớ (Phạm Duy) - Thế Sơn
20. Phỏng vấn Robert Ferkel, Duy Trường, Diễm Sương
21. Như Đã Dấu Yêu (Đức Huy) - Minh Tuyết, Bằng Kiều
22. Phỏng vấn Thái Nguyễn, Phillip Trương
23. Ngàn năm vẫn đợi (Lời Việt: Khúc Lan) - Ngọc Anh
Disc 2:
1. Phỏng vấn Lương Tùng Quang
2. LK Trái Tim Ngục Tù (Đức Huy) & Papa - Trịnh Lam, Don Hồ
3. I Will Survive - Khánh Hà
4. The House of Rising Sun - Elvis Phương
5. Blue Suede Shoes - Elvis Phương
Bonus
6. Phỏng vấn VIP Guests
7. The Making of Paris By Night 100 (Behind the Scenes)
8. Phỏng vấn Như Loan, Tóc Tiên, Shanda Sawyer
9. Passion Remains (Võ Hoài Phúc, Lyric: Kevin Quinn) - Như Loan, Tóc Tiên
10. Phỏng vấn Việt Hương, Hoài Tâm
11. Hài kịch "Hữu Duyên Thiên Lý" - Việt Hương, Hoài Tâm
12. Phỏng vấn Mai Tiến Dũng
13. Quay Mặt Bước Đi (Thái Thịnh) - Mai Tiến Dũng (MTV)
14. Phỏng vấn Tâm Phương Anh
15. Nửa Đêm Thương Nhớ (Hoài Trang) - Tâm Phương Anh (MTV)
16. Phỏng vấn Duy Trường 17. Xin Vẫy Tay Chào (Tú Nhi) - Duy Trường (MTV)
=== Paris By Night 100 ===
Chương trình mang chủ đề Ghi nhớ một chặng đường, trực tiếp thu hình tại Theatre for the Performing Arts ở Planet Hollywood Resort and Casino vào ngày 3 và 4 tháng 7 năm 2010 và phát hành DVD ngày 9/10/2010. Đại nhạc hội do Nguyễn Ngọc Ngạn và Nguyễn Cao Kỳ Duyên dẫn chương trình. Đây được xem như "Paris By Night in Las Vegas 4" vì Paris by Night đã diễn ra tại Caesars Palace ở Las Vegas vào năm 1994 và 1996 và Planet Hollywood năm 2009.
Đây tưởng chừng là chương trình cuối cùng của Trung tâm Thúy Nga nếu trung tâm này không qua được khủng hoảng tài chính và được đầu tư quy mô. Số khán giả tham dự lên đến 13,000 khán giả đến từ các tiểu bang khác nhau của Hoa Kỳ, Canada, của nhiều nước khác trên thế giới, như Pháp, Ðức, Anh, Hòa Lan, Na Uy, Thụy Ðiển, Úc, và cả từ Việt Nam với giá vé vào xem được xem là đắt nhất từ trước đến nay cho một show ca nhạc hải ngoại (từ 60 đôla cho đến 2,000 đôla)
Chương trình này cũng là chương trình cuối cùng của Bảo Hân khi cô từ giã sân khấu về châu Âu sinh sống.
==== Danh sách tiết mục ====
=== Paris By Night Divas ===
Chương trình có tên là Đêm hội ngộ của các nữ siêu sao, trực tiếp thu hình tại Knott's Berry Farm ngày 20 tháng 1 năm 2010 lúc 8 giờ địa phương và phát hành dưới dạng hai DVD. Chương trình kéo dài khoảng 5 giờ do Nguyễn Ngọc Ngạn và Nguyễn Cao Kỳ Duyên (vai trò hạn chế) dẫn chương trình.
Đây là chương trình tổng hợp đặc biệt của trung tâm Thúy Nga nhằm tôn vinh 24 nữ ca sĩ được đông đảo công chúng tại hải ngoại mến mộ. Nguyễn Ngọc Ngạn là người đàn ông duy nhất đứng trên sân khấu (không kể vũ công các nam ca sĩ được phỏng vấn và các thành viên nam của ban nhạc). Đây cũng là chương trình Paris By Night đầu tiên trong thời gian gần đây không có phần hài kịch - một thế mạnh của chương trình Paris By Night.
==== Danh sách các tiết mục ====
===== Phần 1 =====
===== Phần 2 =====
=== Paris By Night 99 ===
Chương trình mang chủ đề Tôi là người Việt Nam, thu hình trực tiếp tại Knott's Berry Farm vào 16 và 17 tháng 1 năm 2010 và phát hành dưới dạng DVD ngày 8 tháng 4 năm 2010. Chương trình kéo dài khoảng 5 giờ do Nguyễn Ngọc Ngạn và Nguyễn Cao Kỳ Duyên dẫn chương trình.
Đây là chương trình tổng hợp đặc biệt của trung tâm Thúy Nga nhằm xác định cội nguồn dân tộc và vinh danh những người Việt Nam thành công ở hải ngoại trong mọi lãnh vực, đi kèm là những ca khúc, hầu hết được sáng tác sau năm 1975.
===== Nội dung chương trình =====
== Chú thích ==
== Liên kết ngoài ==
Thuy Nga France (In Vietnamese, French, & English)
Official Corporate Site |
đánh bạc.txt | Đánh bạc là được thua bằng tiền hay một vật có giá trị dựa vào kết quả chưa rõ ràng của một sự kiện với một mục đích có thêm tiền bạc hoặc giá trị vật chất. Do vậy đánh bạc dựa trên 3 yếu tố: sự tính toán, cơ hội và giải thưởng.
Thông thường, các kết quả hay biến cố nói trên sẽ biết được rõ ràng, trong thời gian ngắn, chẳng hạn như việc lắc xúc xắc hoặc quay bi trên bàn roulette; tuy vậy có các biến cố xa hơn, như đánh bạc cho kết quả của cả một mùa giải thể thao.
Đánh bạc cũng là một hoạt động thương mại quốc tế lớn, với các thị trường cờ bạc hợp pháp với tổng giá trị ước tính khoảng 335 tỷ USD vào năm 2009. Trong các hình thức khác, việc đánh bạc có thể được thực hiện với các vật liệu có giá trị, nhưng không phải là tiền thật. Ví dụ, người chơi trò chơi Marble có thể đánh cược bi, và tương tự như vậy trò chơi của Pogs hay Magic: The Gathering có thể được chơi với nhiều bộ sưu tập game (tương ứng, các đĩa nhỏ và thẻ bài) dùng làm vật để cược.
== Lịch sử ==
=== Nguồn gốc ===
Nhiều trò chơi phổ biến chơi trong các sòng bạc hiện đại bắt nguồn từ châu Âu và Trung Quốc. Các trò chơi như bầu cua, baccarat, roulette, và blackjack có nguồn gốc từ các vùng khác nhau của châu Âu. Một phiên bản của Keno, một trò chơi xổ số Trung Quốc cổ đại, được chơi tại các sòng bạc trên thế giới. Ngoài ra, Poker bài cẩu, một trò cờ bạc lai giữa bài cẩu và poker cũng được chơi tại các sòng bạc.
== Pháp lý ==
Nhiều địa phương cũng như quốc gia, hoặc cấm cờ bạc hoặc kiểm soát nó chặt chẽ bằng cách cấp phép. Các quy định như vậy thường dẫn đến du lịch cờ bạc và cờ bạc bất hợp pháp trong các quốc gia mà nó không được cho phép. Sự tham gia của các chính phủ, thông qua các quy định và thuế, đã dẫn đến một kết nối chặt chẽ giữa các chính phủ và các tổ chức trò chơi, nơi cờ bạc hợp pháp cung cấp doanh thu chủ yếu cho ngân sách, chẳng hạn như tại các vùng lãnh thổ Monaco hoặc Macao.
Có luật yêu cầu rằng tỷ lệ cược trong các thiết bị chơi game là ngẫu nhiên theo thống kê, để ngăn chặn việc cản trở một số kết quả trả tiền thưởng cao. Vì các kết quả thưởng phạt cao có xác suất rất thấp, sự thiên vị cho nhà cái dễ dàng bị bỏ qua trừ khi tỷ lệ cược được kiểm tra một cách cẩn thận.
Hầu hết các khu vực pháp lý mà cho phép đánh bạc đòi hỏi người tham gia phải trên một độ tuổi nhất định. Trong một số khu vực pháp lý, tuổi cờ bạc khác nhau tùy thuộc vào loại cờ bạc. Ví dụ, ở nhiều bang của Mỹ người chơi phải trên 21 mới được vào sòng bạc, nhưng có thể mua một vé xổ số khi đến tuổi 18.
=== Thu hồi tài sản ===
Theo Thông luật, chủ yếu là hệ thống pháp luật Anh một hợp đồng đánh bạc có thể không cung cấp cho một casino quyền được mua, cho phép thu hồi vốn bị đánh cắp trong một số tình huống. Trong vụ kiện Lipkin Gorman v Karpnale Ltd, có một luật sư đã sử dụng tiền bị đánh cắp để đánh bạc tại một sòng bạc, Thượng Nghị viện Vương quốc Anh bác bỏ phán quyết trước đây của Tòa án thượng thẩm, bắt các sòng bạc trả lại tiền bị đánh cắp cho người bị mất tiền. Tiền lệ của Luật Hoa Kỳ có phần tương tự.
=== Tôn giáo ===
Quan điểm tôn giáo về cờ bạc khác biệt khá nhiều. Các bài thơ Hindu cổ xưa như Lament của Gambler và Mahabharata làm chứng cho sự phổ biến của cờ bạc trong xã hội Ấn Độ cổ đại. Tuy nhiên, các văn bản Arthashastra (khoảng thế kỷ 4 TCN) khuyến cáo đánh thuế và kiểm soát cờ bạc. Chính quyền Do Thái cổ đại phản đối cờ bạc, thậm chí con bạc chuyên nghiệp được cho là không đủ điều kiện làm chứng tại tòa án.
Giáo hội Công giáo cho rằng không có trở ngại về đạo đức đối với đánh bạc, miễn là đánh bạc công bằng, tất cả người chơi đều có một cơ hội hợp lý để thắng bạc và không có gian lận liên quan, các bên liên quan không biết trước kết quả đặt cược (trừ khi họ đã tiết lộ thông tin này), Cờ bạc đã thường được xem như là tệ nạn xã hội, với các hậu quả trong các tác phẩm châm biếm của Balzac.Vì những lý do xã hội và tôn giáo, pháp lý của hầu hết các nước hạn chế cờ bạc, và Pascal cũng chủ trương như vậy miễn là các điều kiện sau đây được đáp ứng; các con bạc có thể đủ khả năng chấp nhận thua cược, dừng lại khi đã đạt giới hạn, và động cơ đánh bạc chỉ là giải trí và không thu lợi cá nhân dẫn đến việc "yêu tiền" hoặc đánh bạc để kiếm sống. Nói chung, các giám mục Công giáo có quan điểm phản đối đánh bạc với lý do nó cám dỗ mọi người quá thường xuyên và tạo ra các vấn đề, có thể dẫn đến nghiện cờ bạc, đặc biệt là tác động tiêu cực đến người nghèo; đôi khi họ cũng trích dẫn tác dụng phụ như làm tăng việc cho vay nặng lãi, mại dâm, tham nhũng, vô đạo đức của công chúng. Trong ít nhất một trường hợp, các giám mục ở đối diện với sòng bạc đã bán đất được sử dụng để xây dựng nó. Một số mục sư giáo xứ cũng đã phản đối sòng bạc với lý do bổ sung: Họ sẽ mất khách hàng từ trò chơi bingo tại nhà thờ và lễ hội hàng năm, nơi các trò chơi như blackjack, roulette, craps, và poker được sử dụng để gây quỹ từ thiện cho nhà thờ.
Mặc dù luật sharia có nhiều cách giải thích trong thế giới Hồi giáo, đồng thuận của các ulema là cờ bạc là haraam (tội lỗi). Trong nhận định đưa ra trong quá trình cấm cờ bạc, các luật gia Hồi giáo mô tả cờ bạc như là hành động phi Koran và có hại cho cộng đồng Hồi giáo. Các thuật ngữ Hồi giáo cho cờ bạc là maisar, tuy vậy nó có nghĩa khác là tiền nhanh. Trong các vùng của thế giới thực hiện pháp luật sharia đầy đủ như Aceh, hình phạt cho các con bạc người Hồi giáo có thể lên tới 12 roi hoặc phạt tù một năm, và phạt tiền đối với những người cung cấp địa điểm chơi cờ bạc. Một số quốc gia Hồi giáo cấm cờ bạc; hầu hết các nước khác quản lý nó chặt chẽ.
=== Tại Việt Nam ===
Theo quy định Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ Luật hình sự năm 2009. Điều 248: Người nào đánh bạc dưới bất kỳ hình thức nào được thua dưới dạng tiền mặt hay hiện vật ít nhất từ 2 hoặc dưới 2 triệu đồng nhưng đã bị kết án về tội này hoặc tội quy định tại Điều 249 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ 5 triệu đồng đến 50 triệu đồng, cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ 3 tháng đến 3 năm.
Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 2 năm đến 7 năm: có tính chất chuyên nghiệp; tiền hoặc hiện vật dùng đánh bạc có giá trị rất lớn hoặc đặc biệt lớn; tái phạm nguy hiểm. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ ba triệu đồng đến ba mươi triệu đồng".
Mặt khác theo quy định tại tiểu mục 6.2 mục 6 Nghị quyết của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao số 02/2003/NQ-HĐTP ngày 17/4/2003 hướng dẫn áp dụng một số quy định của Bộ luật Hình sự thì: Tiền hoặc hiện vật có giá trị từ một triệu đồng đến dưới 10 triệu đồng là có giá trị lớn; Tiền hoặc hiện vật có giá trị từ 10 triệu đồng đến dưới 100 triệu đồng là có giá trị rất lớn; Tiền hoặc hiện vật có giá trị từ một trăm triệu đồng trở lên là có giá trị đặc biệt lớn.
== Tham khảo ==
== Liên kết ngoài ==
Bộ luật hình sự 1999
Nghị quyết 02/2003/NQ-HĐTP hướng dẫn áp dụng một số quy định của Bộ luật hình sự |
zatrephes mossi.txt | Zatrephes mossi là một loài bướm đêm thuộc họ Arctiidae.
== Chú thích ==
== Liên kết ngoài ==
Phương tiện liên quan tới Zatrephes mossi tại Wikimedia Commons
Dữ liệu liên quan tới Zatrephes mossi tại Wikispecies |
western digital.txt | Western Digital Corporation (thường được gọi là Western Digital hay viết tắt là WDC hoặc WD) lưu trữ dữ liệu máy tính Hoa Kỳ và là một trong những nhà sản xuất ổ đĩa cứng lớn nhất thế giới, cùng với Seagate Technology.
Western Digital Corporation có một lịch sử lâu đời trong ngành công nghiệp điện tử với vai trò là một nhà sản xuất vi mạch và công ty sản phẩm lưu trữ. Western Digital được thành lập vào ngày 23 tháng 4 năm 1970, bởi Alvin B. Phillips, một nhân viên Motorola, với tên gọi General Digital, ban đầu (và ngắn hạn) là một nhà sản xuất thiết bị kiểm thử MOS. Nó nhanh chóng trở thành nhà sản xuất bán dẫn chuyên dụng, với vốn đầu tư ban đầu được cung cấp bởi một số nhà đầu tư cá nhân và công ty công nghiệp khổng lồ Emerson Electric. Vào khoảng tháng 7 năm 1971, hãng chọn tên hiện tại và sớm giới thiệu sản phẩm đầu tiên, WD1402A Máy thu phát không đồng bộ phổ quát (UART).
== Vấn đề ==
Các ổ cứng tự mã hóa của Western Digital đã được báo cáo là có lỗi nghiêm trọng và dễ dàng giải mã.
== Xem thêm ==
Western Digital Raptor
Western Digital My Book
Western Digital My Passport
WD TV
== Tham khảo ==
“25 Years of Innovation: The History of Western Digital” (PDF). Western Digital. Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 10 tháng 11 năm 1997.
Great Microprocessors of the Past and Present by John Bayko
== Liên kết ngoài ==
Website chính thức |
eastman kodak.txt | Eastman Kodak (NYSE: EK) là một tập đoàn đa quốc gia Hoa Kỳ chuyên sản xuất các sản phẩm hình ảnh và thiết bị nhiếp ảnh. Nổi tiếng với phạm vi đa dạng các sản phẩm phim ảnh, Kodak đang tái tập trung vào hai thị trường chính: nhiếp ảnh kỹ thuật số và in ấn kỹ thuật số.Trong thế kỷ XX,đối thủ chính của Kodak là Fujifilm của Nhật Bản
Ngày 19 tháng 1 năm 2012, Kodak tuyên bố xin được bảo hộ phá sản.
== Chú thích ==
== Tham khảo ==
== Liên kết ngoài ==
Kodak Official Website |
tiếng anh canada.txt | Tiếng Anh Canada (en-CA) là một biến thể của tiếng Anh được nói ở Canada. Tiếng Anh là ngôn ngữ đầu tiên, hay "tiếng mẹ đẻ", của khoảng 18 triệu dân Canada (57%), và hơn 28 triệu (86%) là sử dụng thông thạo ngôn ngữ này. 76% người Canada nói tiếng Anh bên ngoài Quebec như người bản địa, nhưng trong tỉnh Quebec con số này giảm xuống chỉ còn 8%.
Tiếng Anh Canada tiếng Anh có chứa các thành phần của tiếng Anh-Anh và tiếng Anh Mỹ về từ vựng, cũng như một số "phương ngữ Canadia" riêng. Ở nhiều vùng, khẩu ngữ tiếng Anh chịu ảnh hưởng của tiếng Pháp, và có những khác biệt đáng chú ý của địa phương. Canada có rất ít sự đa dạng phương ngữ so với Hoa Kỳ. Ngữ âm học, âm vị học, hình thái học, cú pháp và từ vựng cho hầu hết đối với tiếng Anh ở Canada là tương tự như của khu vực Tây và Trung bộ của Hoa Kỳ. Vùng Ngũ Đại Hồ Canada có sự tương đồng với các vùng Upper Midwest & Great Lakes và/hoặc phương ngữ Yooper (đặc biệt Michigan mà có quan hệ kinh doanh rộng lớn với Ontario), trong khi hệ thống âm vị học của tiếng Anh Canada phía tây hầu như giống hệt như của vùng Tây Bắc Thái Bình Dương của Hoa Kỳ, và ngữ âm học thì tương đồng. Như vậy, tiếng Anh Canada và tiếng Anh Mỹ đôi khi được phân loại vào chung nhóm tiếng Anh Bắc Mỹ. Chính tả tiếng Anh Canada phần lớn là một sự pha trộn của các quy ước chính tả của Anh và Mỹ.
== Tham khảo == |
đảng dân chủ (hoa kỳ).txt | Đảng Dân chủ (tiếng Anh: Democratic Party), cùng với Đảng Cộng hòa, là một trong hai chính đảng lớn nhất tại Hoa Kỳ. Đảng Dân chủ, truy nguyên nguồn gốc của mình đến thời Thomas Jefferson vào đầu thập niên 1790, là đảng chính trị lâu đời nhất tại Hoa Kỳ, cũng là một trong số các chính đảng lâu đời nhất thế giới.
Là một trong hai chính đảng quan trọng tại Hoa Kỳ, đảng Dân chủ, từ năm 1896, có khuynh hướng tự do hơn Đảng Cộng hòa. Bên trong đảng Dân chủ tồn tại nhiều khuynh hướng khác nhau hơn so với những chính đảng quan trọng tại các quốc gia đã công nghiệp hóa khác, một phần là vì các chính đảng của người Mỹ thường không có đủ quyền lực để kiểm soát đảng viên của mình như các đảng chính trị tại nhiều nước khác, phần khác là vì hệ thống chính trị tại Hoa Kỳ không theo thể chế đại nghị.
Triết lý kinh tế khuynh tả của Franklin D. Roosevelt, có ảnh hưởng sâu đậm trên chủ nghĩa cấp tiến Mỹ, đã định hình nghị trình kinh tế của đảng kể từ năm 1932. Liên minh New Deal của Roosevelt thường xuyên kiểm soát Chính phủ liên bang mãi cho đến thập niên 1970. Những lý tưởng của Phong trào Dân quyền trong thập niên 1960, nhận được sự ủng hộ tích cực của đảng bất kể sự chống đối từ những đảng viên miền Nam vào lúc ấy, tiếp tục soi dẫn các nguyên tắc tự do của đảng.
Năm 2004, Đảng Dân chủ là chính đảng lớn nhất nước Mỹ, giành được sự ủng hộ của 72 triệu cử tri (42,6% của tổng số 169 triệu cử tri đăng ký). Kể từ cuộc tổng tuyển cử năm 2016, các nghị sĩ Đảng Dân chủ chiếm thiểu số trong Quốc hội khóa 115: chiếm thế thiểu số ở Viện Dân biểu, và cùng hai nghị sĩ độc lập, là thành phần thiểu số tại Thượng viện. Thiểu số thống đốc tiểu bang là đảng viên Dân chủ.
== Nền tảng ý thức hệ ==
Lập trường chủ đạo của Đảng Dân chủ kể từ thập niên 1930 vẫn được xem là có khuynh hướng tự do. Trên trường quốc tế, quan điểm của Đảng Dân chủ thường được xem là dân chủ xã hội vì chủ nghĩa tự do ở Mỹ có ý nghĩa khác với ở nước ngoài. Quan điểm chính trị của Đảng Dân chủ bắt nguồn từ phong trào tiến bộ ở Mỹ và từ hệ tư tưởng của những nhà trí thức như John Dewey.
Đảng Dân chủ ủng hộ quyền tự do dân sự, tự do xã hội, bình đẳng, cơ hội đồng đều, và hệ thống doanh nghiệp tự do được điều tiết bởi sự can thiệp của chính quyền. Đảng Dân chủ tin rằng chính quyền nên thủ giữ một vai trò trong nỗ lực giảm nghèo và xoá bỏ những bất công xã hội, ngay cả khi điều này có nghĩa là phải dành cho chính quyền nhiều quyền lực hơn cũng như phải tăng thuế để chi trả cho các dịch vụ xã hội.
Không dễ dàng gì để định nghĩa những nguyên tắc và giá trị của bất cứ đảng phái chính trị nào, và cũng không cần phải áp dụng chúng cho tất cả thành viên của đảng. Một số thành viên có thể bất đồng với một vài điều khoản hoặc nhiều hơn nữa trong cương lĩnh của đảng. Cương lĩnh đảng thường chỉ thể hiện quan điểm của đa số đại biểu đến dự đại hội cấp quốc gia và thường chịu ảnh hưởng sâu đậm bởi ứng viên tổng thống được đảng đề cử vào lúc ấy.
== Ý thức hệ và Bầu cử ==
Kể từ thập niên 1890, Đảng Dân chủ ủng hộ lập trường "tự do" (theo nghĩa tự do xã hội, không phải tự do cổ điển). Trong các cuộc thăm dò tại phòng phiếu, Đảng Dân chủ có sự ủng hộ rộng rãi từ các thành phần kinh tế, chủng tộc, xã hội khác nhau. Hậu thuẫn cho Đảng Dân chủ gồm có thành phần trung lưu học vấn cao chủ trương cấp tiến, cũng như tầng lớp công nhân có khuynh hướng xã hội bảo thủ. Đảng Dân chủ hiện là chính đảng lớn nhất Hoa Kỳ. Năm 2004, có gần 72 triệu (42,6%) người Mỹ đăng ký cho Đảng Dân chủ, so với 55 triệu (32,5%) cho Đảng Cộng hòa, và 42 triệu (24,8%) cho các ứng viên độc lập.
Trong lịch sử, đảng từng ủng hộ thành phần nông dân, người lao động, các nghiệp đoàn, các nhóm thiểu số sắc tộc và tôn giáo; đảng chống các doanh nghiệp và các định chế tài chính ngoài quy hoạch, và ủng hộ hệ thống thuế lũy tiến. Về ngoại giao, chủ nghĩa quốc tế là chủ đề thống trị từ năm 1913 đến giữa thập niên 1960. Từ thập niên 1930 Đảng Dân chủ khởi sự vận động cho các chương trình phúc lợi hỗ trợ người nghèo. Trong đảng cũng có cánh ủng hộ doanh nghiệp, nhưng cánh này bị thu hẹp dần trong thập niên 1930, còn cánh bảo thủ miền Nam cũng mất dần ảnh hưởng sau khi Tổng thống Lyndon B. Johnson ủng hộ Đạo luật Dân quyền năm 1964. Các nghiệp đoàn có ảnh hưởng lớn trên thành phần tự do (đỉnh điểm là thời kỳ 1936-52). Trong khi đó, ảnh hưởng của cộng đồng người Mỹ gốc Phi tăng dần kể từ thập niên 1960. Từ thập niên 1970, những người chủ trương bảo vệ môi trường cấu thành một nhóm quan trọng bên trong đảng.
Trong những thập niên gần đây, đảng chấp nhận một nghị trình chủ trương trung tả về kinh tế và cấp tiến về xã hội, khiến thành phần cử tri ủng hộ cũng thay đổi đáng kể. Từng được hậu thuẫn bởi đông đảo cử tri thuộc các nghiệp đoàn và giai tầng công nhân, nay đảng dựa vào thành phần cấp tiến xã hội có học thức với lợi tức trên mức trung bình, và tầng lớp lao động có chủ trương bảo thủ trong các vấn đề xã hội. Ngày nay, đảng viên Dân chủ vận động thêm quyền tự do xã hội, chương trình bảo trợ các sắc dân thiểu số (affirmative action), cân đối ngân sách, và hệ thống doanh nghiệp tự do có sự can thiệp của chính phủ khi cần thiết. Quyết sách kinh tế của đảng thực hiện bởi chính phủ Clinton được mệnh danh "Lập trường Trung dung" (Third Way). Đảng Dân chủ tin rằng chính quyền nên thủ giữ một vai trò trong nỗ lực giảm nghèo và xoá bỏ những bất công xã hội, ngay cả khi điều này có nghĩa là phải dành cho chính quyền nhiều quyền lực hơn cũng như phải tăng thuế để chi trả cho các dịch vụ xã hội.
Đảng Dân chủ, từng là lực lượng thống trị vùng Đông Nam nước Mỹ, nay hoạt động mạnh ở vùng Đông Bắc (Trung Đại Tây Dương và New England), vùng Ngũ Đại Hồ, cũng như bờ biển Thái Bình Dương, kể cả Hawaii. Đảng Dân chủ cũng có nhiều ảnh hưởng tại các thành phố lớn.
== Ý thức hệ ==
Với 72 triệu thành viên đăng ký, Đảng Dân chủ là một cấu trúc đa dạng về ý thức hệ, trong đó thành phần cấp tiến (progressive) chiếm đa số, cũng là nhóm đảng viên có nhiều ảnh hưởng nhất trong đảng.
=== Cấp tiến ===
Những thành viên có khuynh hướng tự do xã hội, còn gọi là thành phần cấp tiến hoặc tự do hiện đại, chiếm đa số, khoảng 45,6%, trong tổng số phiếu bầu cho Đảng Đảng chủ. Theo Pew Research Center, thành phần tự do chiếm 19% tổng số phiếu bầu với 92% cử tri Mỹ có khuynh hướng tự do ủng hộ Đảng Dân chủ. Những người có nghề nghiệp chyên môn đã tốt nghiệp đại học từng ủng hộ Đảng Cộng hòa mãi cho đến thập niên 1950 nay là thành phần nòng cốt của Đảng Dân chủ. Đa số những người chủ trương tự do ủng hộ việc sử dụng các đối sách ngoại giao thay vì các biện pháp quân sự, việc nghiên cứu tế bào gốc, hợp pháp hóa hôn nhân đồng tính, chính quyền thế tục, kiểm soát súng chặt chẽ hơn, các luật lệ bảo vệ môi trường, cũng như bảo vệ quyền phá thai. Họ có quan điểm tích cực về tình trạng nhập cư và đa dạng văn hóa, nhưng phân hóa về các thỏa ước và tổ chức thương mại như NAFTA. Phần lớn chống đối việc gia tăng quân sự và trưng bày Mười Điều răn tại các tòa nhà công cộng.
Theo Pew Research Center, có 41% những người hậu thuẫn Đảng Dân chủ sống trong những ngôi nhà dành cho giới giàu có, 49% đã tốt nghiệp đại học, tỷ lệ cao nhất trong các thành phần dân số, có tỷ lệ gia tăng nhanh nhất từ cuối thập niên 1990 đến đầu thập niên 2000. Cánh tự do chiếm phần lớn giới trí thức, và đông đảo người thuộc tầng lớp chuyên nghiệp.
=== Tự do Dân sự ===
Những người ủng hộ quyền tự do dân sự thường hậu thuẫn Đảng Dân chủ do lập trường của đảng về các vấn đề như dân quyền, và sự phân lập giữa giáo hội và nhà nước tương đồng với họ hơn quan điểm của Đảng Cộng hòa, mặt khác nghị trình kinh tế của Đảng Dân chủ thu hút họ hơn nghị trình của Đảng Tự do. Những người này chống việc kiểm soát súng, bảo hộ mậu dịch, ưu đãi doanh nghiệp, nợ chính phủ, và chính sách ngoại giao can thiệp.
=== Bảo thủ ===
Tại Viện Dân biểu, những đảng viên Dân chủ Blue Dog, một nhóm có chủ trương ôn hòa và bảo thủ về các vấn đề tài chính và xã hội, chủ yếu là người miền Nam, cấu thành cánh bảo thủ trong Đảng Dân chủ. Là một khối bầu phiếu đồng thuận, mới kết nạp thêm 40 thành viên giúp họ có khả năng làm thay đổi kết quả bầu phiếu và mở những cuộc thương thuyết với lãnh đạo Đảng Cộng hòa. Những đảng viên Dân chủ ủng hộ việc chống phá thai đôi khi tự nhận mình là bảo thủ dựa trên lập trường bảo thủ về các vấn đề xã hội.
=== Trung dung ===
Mặc dù còn có nhiều quan điểm khác biệt trong cánh trung dung của Đảng Dân chủ, những người này cố thúc đẩy một thái độ hòa hợp về các lý tưởng chính trị. So với các nhóm khác trong đảng, cánh trung dung có quan điểm tích cực hơn về việc sử dụng quân lực, ngay cả trong chiến tranh Iraq, muốn cắt giảm phúc lợi, như được thể hiện qua việc họ ủng hộ các kế hoạch cải cách phúc lợi và cắt giảm thuế. Là một trong những thành phần có ảnh hưởng lớn nhất trong Hội đồng Lãnh đạo Dân chủ (Democratic Leadership Council - DLC), một tổ chức phi vụ lợi cổ xúy lập trường trung dung trong đảng. DLC hoan nghênh Tổng thống Bill Clinton và xem chính phủ của ông như là một chứng cứ sinh động cho lập trường trung dung, và là một thành quả của DLC. Cựu Dân biểu Harold Ford, Jr. (Tennessee) hiện là chủ tịch DLC.
== Tầng lớp Chuyên môn ==
Từ năm 2000, thành phần có nghề nghiệp chuyên môn, là những người đã tốt nghiệp đại học đang làm những công việc liên quan đến lĩnh vực tri thức, với một đa số vừa đủ, ủng hộ Đảng Dân chủ. Từ năm 1988 đến 2000, tầng lớp này hậu thuẫn cho Đảng Dân chủ với tỷ lệ cách biệt là 12%. Từng là hậu cứ vững chắc cho Đảng Cộng hòa, nay thành phần có nghề nghiệp chuyên môn phân rẽ ra để ủng hộ cả hai đảng, thuận lợi hơn cho Đảng Dân chủ. Sự hậu thuẫn ngày càng gia tăng dành cho các ứng viên Dân chủ có thể do ảnh hưởng ngày càng lớn của các giá trị xã hội theo khuynh hướng cấp tiến trong tầng lớp chuyên môn.
Một cuộc khảo sát cho thấy "sinh viên y khoa Mỹ có quan điểm chính trị cấp tiến hơn nhiều so với giới trẻ Mỹ. Các thầy thuốc tương lai này tỏ ra dễ dàng chấp nhận các thông điệp cấp tiến hơn. Khuynh hướng chính trị của họ có thể có ảnh hưởng sâu sắc trên thái độ của họ đối với hệ thống y tế." Cũng có những kết quả tương tự đối với các giáo sư đại học và các kinh tế gia, là những người mạnh mẽ ủng hộ chủ nghĩa tự do và Đảng Dân chủ hơn những nhóm nghề nghiệp khác.
=== Kinh tế gia ===
Các nhà kinh tế học Mỹ là những người mạnh mẽ ủng hộ Đảng Dân chủ, quan điểm của họ thường phù hợp với các thông điệp đến từ diễn đàn Đảng Dân chủ. Một đa số lớn, 63%, tự nhận mình là có lập trường cấp tiến, chỉ chưa đến 20% nhận mình là bảo thủ hoặc tự do. Theo một cuộc khảo sát năm 2004, trong số 1 000 kinh tế gia người Mỹ, tỷ lệ đăng ký cho Đảng Dân chủ và Cộng hòa là 2,5 – 1. Phần lớn các nhà kinh tế học ủng hộ "các quy định về an toàn, kiểm soát súng, tái phân phối tài nguyên, trường công lập, và luật chống kỳ thị," và chống "các biện pháp kiểm soát người nhập cư nghiêm nhặt hơn, các doanh nghiệp có chủ sở hữu là nhà nước, và thuế quan." Những cuộc khảo sát khác chỉ ra rằng trong thành phần có nghề nghiệp chuyên môn, con số đảng viên Dân chủ vượt quá đảng viên Cộng hòa với tỷ lệ 2,8 – 1. Một nghiên cứu của Tạp chí Southern Economic cho thấy "71% kinh tế gia Mỹ tin rằng việc phân phối lợi tức tại Hoa Kỳ cần phải công bằng hơn, và 81% cảm thấy cần phải xem việc tái phân phối lợi tức là một chức năng hợp pháp của chính quyền.""
=== Giới Trí thức ===
Giới khoa bảng, trí thức, và các thành phần học thức chiếm tỷ lệ quan trọng trong số các cử tri bỏ phiếu cho Đảng Dân chủ. Đặc biệt là giới khoa bảng bị thu hút mạnh bởi các quan điểm cấp tiến. Một cuộc khảo sát năm 2005 cho thấy gần 72% thành phần giảng dạy đại học tự nhận mình là cấp tiến, chỉ có 15% nhận mình là bảo thủ. Các chuyên ngành khoa học xã hội và nhân văn có khuynh hướng tự do nhất, trong khi ngành kinh doanh là bảo thủ nhất. Các giáo sư nam giới và những trí thức làm việc tại các học viện danh tiếng là những người có khuynh hướng tự do nhất. Một cuộc khảo sát khác của UCLA tiến hành năm 2001-2002 cho thấy có 47,6% giáo sư nhận mình là tự do, 34,4% ôn hòa, và 18% bảo thủ. Tỷ lệ các giáo sư nhận mình có khynh hướng tự do là từ 49% trong chuyên ngành kinh doanh đến hơn 80% ngành khoa học chính trị và nhân văn. Tuy nhiên, theo một số nhà khoa học xã hội như Brett O’Bannon thuộc Đại học DePawn, quan điểm tự do của các giáo sư xem ra chẳng có mấy ảnh hưởng, nếu không nói là không có, trên lập trường chính trị của các sinh viên.
== Giới trẻ ==
Theo các nghiên cứu gần đây, phần lớn giới trẻ muốn bầu phiếu cho các ứng viên Dân chủ. Trong các kỳ tuyển cử từ năm 1992, nhiều người trẻ tuổi thích tự nhận mình là cấp tiến hơn các thành phần còn lại của dân số Hoa Kỳ. Trong cuộc bầu cử tổng thống năm 2004, ứng viên đảng Dân chủ, John Kerry, nhận 54% phiếu bầu của nhóm tuổi 18-29, trong khi tỷ lệ này dành George W. Bush là 45%. Trong cuộc bầu cử giữa kỳ, các ứng viên Dân chủ được 60% số phiếu bầu của nhóm tuổi nói trên, và các ứng viên Cộng hòa chỉ có 38%. Các cuộc thăm dò chỉ ra rằng cử tri càng nhỏ tuổi càng có quan điểm tự do, nhất là đối với các vấn đề như hôn nhân đồng tính, và chăm sóc sức khỏe phổ quát, với 58% bỏ phiếu cho Đảng Dân chủ trong năm 2008.
== Lao động ==
Từ thập niên 1930, các tổ chức nghiệp đoàn là thành phần thu hút nhiều sự chỉ trích thuộc liên minh Đảng Dân chủ. Các nghiệp đoàn cung cấp tài chính, các tổ chức chính trị cơ sở, và số lượng lớn cử tri bỏ phiếu cho đảng. Song, trong nửa thế kỷ qua số lượng thành viên nghiệp đoàn sút giảm mạnh, trong khi khoảng cách giữa tỷ lệ thành viên trong khu vực công và khu vực tư tăng nhanh. Ba tổ chức nghiệp đoàn có ảnh hưởng trong Đảng Dân chủ là AFL-CIO, Liên đoàn Change to Win, và National Education Association (Hiệp hội Giáo dục Quốc gia). AFL-CIO và Change to Win đều xem việc vận động thông qua Đạo luật Employee Free Choice là ưu tiên hàng đầu trong năm 2007. Những vấn đề khác mà các nghiệp đoàn quan tâm là chính sách công nghiệp (trong đó có chế độ bảo hộ mậu dịch) nhằm duy trì việc làm cho đoàn viên trong công nghiệp chế tạo, nâng cao mức lương tối thiểu, và phát triển các chương trình xã hội như an sinh xã hội, và chăm sóc sức khỏe phổ quát.
=== Tầng lớp Lao động ===
Dù đã mất nhiều sức mạnh chính trị từ sự suy vi của các tổ chức nghiệp đoàn, tầng lớp lao động Mỹ vẫn là thành lũy của Đảng Dân chủ, và tiếp tục là thành phần cơ bản của lực lượng cử tri ủng hộ đảng. Ngày nay, có đến một phần ba công chúng Mỹ thuộc thành phần lao động, với khoảng 52% hoặc thuộc tầng lớp lao động hoặc thuộc nhóm người có thu nhập thấp. Thường thì đặc điểm để phân biệt tầng lớp lao động là họ có việc làm ổn định và có qui củ. Do đó, thành phần chính của giai tầng này là các nhân viên văn phòng và công nhân xí nghiệp. Ngay cả khi phần lớn những người thuộc tầng lớp lao động được hưởng mức sống tương xứng, sự bất ổn kinh tế và những phúc lợi từ mạng lưới an sinh xã hội khiến những người này chấp nhận quan điểm trung tả đối với các vấn đề kinh tế. Tuy nhiên, do lập trường bảo thủ về các vấn đề xã hội, tầng lớp lao động vẫn duy trì sự khác biệt về quan điểm đối với những người chủ trương cấp tiến. Những người thuộc giai tầng lao động thường mộ đạo hơn, và thường đến từ một cộng đồng sắc tộc thiểu số. Trình độ học vấn và thu nhập của những đảng viên Dân chủ lạc hậu và bảo thủ này thuộc vào hạng thấp nhất trên bản đồ phân bổ dân số theo ý thức hệ. Đến năm 2005, chỉ có 15% có bằng đại học so với 49% những người cấp tiến, và 27% mức trung bình cả nước. Tính chung, những người này chiếm 54% tổng số cử tri bỏ phiếu cho Đảng Dân chủ. Ảnh hưởng quan trọng của cử tri thuộc tầng lớp lao động thể hiện trên các cuộc thăm dò tại phòng phiếu thực hiện bởi CNN chỉ ra rằng đa số phiếu của những người ít học và thu nhập thấp đều dồn cho các ứng viên Đảng Dân chủ.
== Dân tộc Thiểu số ==
Một thành phần đông đảo thuộc tổng số cử tri bỏ phiếu cho Đảng Dân chủ thuộc các sắc dân thiểu số. Lập trường của Đảng Dân chủ về chính sách ưu đãi người thiểu số (affirmative action), phúc lợi dành cho người thất nghiệp và thu nhập thấp, nghiệp đoàn, và chính sách nhập cư có sức thu hút lớn đối với nhiều sắc dân thiểu số đang sinh sống trên đất Mỹ.
=== Người Mỹ gốc Phi ===
Kể từ lúc chấm dứt cuộc nội chiến, người Mỹ gốc Phi ủng hộ Đảng Cộng hòa. Tuy nhiên, đến thập niên 1930 họ quay sang bỏ phiếu cho Đảng Dân chủ khi Franklin D. Roosevelt tiến hành chương trình New Deal dành nhiều hỗ trợ kinh tế cho các cộng đồng thiểu số, trong đó có người Mỹ gốc Phi và người nói tiếng Tây Ban Nha (Hispanic). Sự ủng hộ của các tổng thống Dân chủ John F. Kennedy và Lyndon B. Johnson dành cho Phong trào Dân quyền trong thập niên 1960 mang về cho Đảng Dân chủ sự hậu thuẫn rộng lớn hơn từ cộng đồng người Mỹ gốc Phi, mặc dù sự ủng hộ này, được xem như là thái độ thù nghịch đối với cư dân da trắng miền Nam, đã dẫn đến sự phân hóa bên trong các chính đảng Hoa Kỳ, những người cấp tiến nhất đến với Đảng Dân chủ, và những người bảo thủ nhất gia nhập Đảng Cộng hòa. Thêm vào đó là các di dân đến từ Caribbean và châu Phi, khi đến phòng phiếu họ đều chọn các ứng viên Dân chủ.
=== Hispanic ===
Các sắc dân nói tiếng Tây Ban Nha (Hispanic), nhất là người Mỹ gốc Mexico và gốc Salvador sinh sống ở miền Nam, cùng với đông đảo người Puerto Rico và Dominica ở vùng Đông Bắc, là lực lượng hậu thuẫn cho Đảng Dân chủ. Họ mạnh mẽ ủng hộ lập trường cấp tiến về chính sách nhập cư. Trong kỳ bầu cử tổng thống năm 1996, Tổng thống Dân chủ Bill Clinton nhận 72% phiếu bầu của các sắc dân Hispanic. Tuy nhiên, kể từ đó Đảng Cộng hòa bắt đầu giành được sự ủng hộ ngày càng tăng của cộng đồng Hispanic, nhất là những tín hữu Kháng Cách và Ngũ Tuần trong cộng đồng này. Với quan điểm cấp tiến hơn về chính sách nhập cư, George W. Bush là tổng thống Cộng hòa đầu tiên giành được 40% phiếu bầu của người Hispanic. Dù vậy, trong cuộc bầu cử giữa kỳ năm 2006, sự hậu thuẫn của cộng đồng Hispanic dành cho Đảng Cộng hòa đã suy giảm, từ 44% xuống còn 30%, trong khi đó tỷ lệ này dành cho các ứng viên Dân chủ từ 55% năm 2004 lên đến 69% năm 2006. Trong khi người Mỹ gốc Cuba vẫn tiếp tục kiên định lòng trung thành với Đảng Cộng hòa, thì các sắc dân México, Puerto Rico, Dominica, Trung Mỹ, và Nam Mỹ thích bỏ phiếu cho các ứng viên Dân chủ hơn.
=== Người Mỹ gốc Á ===
Đảng Dân chủ giành được sự ủng hộ đáng kể từ cộng đồng người Mỹ gốc Á. Cộng đồng này tương đối nhỏ nhưng ngày càng phát triển. Người Mỹ gốc Á thường dành phiếu bầu cho Đảng Cộng hòa mãi cho đến cuộc bầu cử tổng thống năm 1992, George H. W. Bush nhận 55% phiếu của các sắc dân châu Á, so với 31% cho Bill Clinton, và 15% cho Ross Perot. Tuy vậy, kể từ năm 1996, Đảng Dân chủ thành công hơn với người châu Á, đến năm 2006 62% cử tri Mỹ gốc Á bỏ phiếu cho Đảng Dân chủ. Nguyên do là từ sự thay đổi cấu trúc dân số trong cộng đồng người Mỹ gốc Á, khi số người gốc Hoa và gốc Ấn học thức ngày càng tăng, họ là những người có lập trường trung tả về kinh tế và cấp tiến về xã hội. Hầu hết công dân gốc Việt và gốc Philippines vẫn tiếp tục dồn phiếu cho các ứng viên Cộng hòa (dù với tỷ lệ giảm dần), trong khi người gốc Hoa, Nam Á, Hàn, Nhật, Đông Nam Á không tính Việt Nam (nhất là những sắc dân Hmong, Campuchia, Lào), và cư dân đến từ các đảo trên Thái Bình Dương đều bầu cho Đảng Dân chủ. Còn các cử tri trẻ tuổi (từ 18-30 tuổi) thuộc tất cả sắc dân châu Á đều có khuynh hướng ủng hộ Đảng Dân chủ trong các kỳ tuyển cử.
=== Các sắc dân khác ===
Đảng Dân chủ có được sự ủng hộ mạnh mẽ của người thổ dân Mỹ, nhất là ở các bang Arizona, New Mexico, Montana, North Dakota, South Dakota, Washington, Alaska, Minnesota, Wisconsin, và North Carolina.
Cộng đồng Do Thái cũng là hậu cứ vững chắc của Đảng Dân chủ, với hơn 70% phiếu bầu dành cho các ứng viên Dân chủ trong các kỳ bầu cử năm 2004 và 2006.
Kể từ lúc xảy ra chiến tranh Iraq, cộng đồng Ả Rập và người Hồi giáo, vẫn có truyền thống ủng hộ Đảng Cộng hòa, quay sang dồn phiếu cho Đảng Dân chủ.
== Lập trường ==
=== Ngân sách ===
Đảng Dân chủ tin rằng mức thâm hụt ngân sách to lớn sẽ cản trở tăng trưởng kinh tế, dẫn đến sự bất ổn thị trường và bị buộc hoặc phải cắt giảm các loại dịch vụ công hoặc tìm kiếm nguồn thu mới, thường là tăng thuế. Đảng Dân chủ chống chủ trương chi tiêu đến độ thâm hụt ngân sách.
Nhìn chung, Đảng Dân chủ ủng hộ hệ thống thuế có tác dụng cung cấp nhiều dịch vụ hơn đồng thời giảm thiểu các bất công. Hiện họ đang cố đảo ngược chương trình của chính phủ Bush giảm thuế cho thành phần giàu nhất, trong khi vẫn giữ nguyên mức thuế cho giới trung lưu. Đại thể, các đảng viên Dân chủ hậu thuẫn chủ trương cho rằng chính phủ cần chi tiêu nhiều hơn cho các loại hình dịch vụ xã hội, mà cắt giảm các chi tiêu quốc phòng. Họ chống đối việc cắt giảm các dịch vụ xã hội như an sinh xã hội, Medicare, Mecicaid, và các chương trình phúc lợi khác, vì tin rằng những cắt giảm này sẽ làm gia tăng sự bất công xã hội.
=== Chăm sóc Sức khỏe và Bảo hiểm ===
Đảng Dân chủ vận động cho "mạng lưới chăm sóc sức khỏe chất lượng cao và đến với mọi người", nhiều người ủng hộ việc mở rộng sự can thiệp của chính phủ vào lĩnh vực này. Họ kêu gọi thực hiện hệ thống bảo hiểm sức khỏe quốc gia, và mạng lưới chăm sóc sức khỏe phổ cập dưới nhiều hình hức khác nhau, nhằm đáp ứng tình trạng tăng giá các loại hình bảo hiểm sức khỏe hiện nay. Một số đảng viên Dân chủ như Dân biểu John Dingell và Thượng nghị sĩ Edward Kennedy vận động cho chương trình "Chăm sóc Sức khỏe cho Mọi người."
=== Đạo luật USA PATRIOT ===
Tất cả thượng nghị sĩ Dân chủ ngoại trừ Russ Feingold đều bỏ phiếu thông qua Đạo luật USA PATRIOT (Uniting and Strengthening America by Providing Appropriate Tools Required to Intercept and Obstruct Terrorism – Thống nhất và Củng cố nước Mỹ bằng cách Cung ứng những Phương tiện Thích ứng Cần có để Ngăn chặn Khủng bố). Sau khi bày tỏ lo ngại về việc "xâm phạm vào đời tư" và các hạn chế tự do dân sự khác của đạo luật, đảng Dân chủ bị phân hóa khi đạo luật này được gia hạn năm 2006. Hầu hết thượng nghị sĩ đều bỏ phiếu đồng ý gia hạn đạo luật trong khi hầu hết dân biểu bỏ phiếu chống.
=== Hôn nhân Đồng tính ===
Xảy ra phân hóa trong đảng Dân chủ về vấn đề hôn nhân đồng tính. Một số đảng viên ủng hộ tình trạng kết hợp dân sự (civil union) cho các cặp đồng tính, những người khác có chủ trương hợp pháp hóa hôn nhân đồng tính, trong khi nhiều người khác chống đối dựa trên những luận điểm tôn giáo. Tuy nhiên, đa số đều cho rằng kỳ thị người khác vì thiên hướng tình dục của họ là sai trái.
=== Quyền Riêng tư cá nhân ===
Đảng Dân chủ tin rằng mỗi cá nhân có quyền riêng tư, đảng ủng hộ luật lệ nhằm áp đặt những hạn chế trên các cơ quan thi hành pháp luật và các đơn vị tình báo khi theo dõi công dân Mỹ. Một số viên chức đảng đấu tranh nhằm thiết lập luật lệ bảo vệ người tiêu dùng, hạn chế việc trao đổi dữ liệu về người tiêu dùng giữa các công ty.
=== Quyền Sinh sản ===
Đảng Dân chủ tin rằng tất cả phụ nữ có quyền tiếp cận với các biện pháp tránh thai, họ ủng hộ việc sử dụng ngân sách trợ giúp tránh thai cho phụ nữ nghèo. Trên diễn đàn của đảng năm 2000 và 2004, họ ủng hộ việc phá thai "an toàn, hợp pháp và hạn chế" – nghĩa là hợp pháp hóa phá thai bằng cách huỷ bỏ những luật lệ cho phép chính phủ can thiệp vào quyết định phá thai, đồng thời giảm thiểu số lượng ca phá thai bằng cách quảng bá kiến thức về sinh sản và ngừa thai, cũng như khuyến khích việc nhận con nuôi.
Đảng Dân chủ chống lại những nỗ lực nhằm đảo ngược phán quyết Roe kiện Wade (Roe v. Wade) năm 1973 của Tối cao Pháp viện công nhận quyền phá thai. Xem đây là thuộc lĩnh vực của quyền tự do cá nhân và bình đẳng giới tính, nhiều thành viên đảng Dân chủ tin rằng tất cả phụ nữ có quyền chọn lựa mà không có sự can thiêp của chính quyền. Họ tin rằng mỗi phụ nữ, với sự tra vấn lương tâm, có quyền quyết định xem phá thai là hành vi có phù hợp với đạo đức hay không. Nhiều người Dân chủ tin rằng phụ nữ nghèo nên được chính phủ trợ giúp để phá thai.
Đa số thành viên đảng Dân chủ theo đuổi lập trường trung dung. Họ tin tưởng các chương trình nỗ lực giảm thiểu số lượng ca phá thai đồng thời bảo đảm phá thai là hợp pháp. Đầu năm 2005, Thượng nghị sĩ Hillary Clinton nói rằng các phe đối nghịch nên tìm ra một "nền tảng chung" để ngăn chặn những trường hợp mang thai ngoài ý muốn hầu có thể giảm thiểu số ca phá thai mà bà gọi là "những lựa chọn đau buồn và bi thảm đối với nhiều, rất nhiều phụ nữ".
=== Kiểm soát Tội phạm và Vũ khí ===
Đảng Dân chủ tập chú vào các phương pháp ngăn ngừa tội phạm, tin rằng các biện pháp ngăn ngừa sẽ tiết kiệm tiền thuế do người dân đóng góp, được dùng để chi trả cho lực lượng cảnh sát và chi phí y tế, cũng như ngăn chặn được các vụ sát nhân. Họ nhấn mạnh đến biện pháp cải thiện hệ thống cảnh sát cộng đồng và nâng cao trình độ nghiệp vụ cho cảnh sát đang thi hành nhiệm vụ, hầu có thể đạt được mục tiêu này. Cương lĩnh của đảng cũng đề cập đến nạn bạo hành gia đình, kêu gọi ban hành luật lệ nghiêm khắc trừng phạt người vi phạm và bảo vệ nạn nhân.
Trong mục tiêu giảm thiểu tội phạm và các vụ sát nhân, trong một trăm năm qua, đảng Dân chủ đã đưa ra các biện pháp kiểm soát vũ khí, đáng kể nhất là Đạo luật Giải giáp Quốc gia năm 1934 và Đạo luật Kiểm soát Vũ khí năm 1939 (ký ban hành bởi Tổng thống Franklin D. Roosevelt), Đạo luật Kiểm soát súng năm 1968 (đệ trình bởi Thượng nghị sĩ Christopher Dodd với sự hậu thuẫn của Thượng nghị sĩ Edward Kennedy), Dự luật Brady năm 1993 và Đạo luật Kiểm soát Tội phạm năm 1994 (ký ban hành bởi Tổng thống Bill Clinton). Dù vậy, nhiều thành viên đảng Dân chủ, nhất là ở thôn quê, miền Nam và miền Tây không mặn mà gì với các biện pháp hạn chế sở hữu vũ khí.
=== Kỳ thị ===
Đảng Dân chủ ủng hộ quyền Bình đẳng trong Cơ hội cho tất cả người dân Mỹ không phân biệt giới tính, tuổi tác, chủng tộc, khuynh hướng tình dục, tôn giáo, tín ngưỡng hoặc nguồn gốc chủng tộc.
=== Chăm sóc Sức khoẻ và Bảo hiểm ===
Đảng Dân chủ vận động cho chính sách "chăm sóc sức khoẻ cho mọi người", nhiều người ủng hộ biện pháp mở rộng sự can thiệp của chính phủ vào lĩnh vực này. Nhiều thành viên đảng Dân chủ ủng hộ hệ thống chăm sóc sức khoẻ quốc gia với nhiều loại hình khác nhau nhằm đáp ứng chi phí bảo hiểm sức khoẻ ngày càng tăng cao. Năm 1951, Tổng thống Harry S. Truman trình bày đề án bảo hiểm sức khoẻ quốc gia như là một phần trong chương trình Fair Deal của ông, dù đề án này đã bị đánh bại bởi Hiệp hội Y tế Mỹ. Gần đây, Thượng nghị sĩ Edward Kennedy vận động cho chương trình "Chăm sóc Y tế cho mọi người".
Năm 2004, John Kerry khẳng định sự hậu thuẫn của ông dành cho chủ trương chính phủ liên bang cấp ngân quỹ cho các công trình nghiên cứu tế bào gốc, thực hiện theo những "hướng dẫn nghiêm nhặt nhất". Ông giải thích "Chúng ta không thể bỏ qua cơ hội cứu sống sinh mạng và giảm bớt nỗi đau của con người".
Đảng Dân chủ hậu thuẫn chính sách ưu đãi dành cho thành phần thiểu số (affirmative action) như là một cách sửa chữa sự kỳ thị trong quá khứ và bảo đảm sự tuyển dụng công bằng mà không phận biệt chủng tộc hay giới tính, nhưng chống lại việc sử dụng định mức (quota) trong thuê mướn nhân công. Đảng Dân chủ mạnh mẽ ủng hộ Đạo luật Người Mỹ với người Khuyết tật nhằm cấm đoán sự kỳ thị đối với người khác dựa trên sự khiếm khuyết về thể chất hoặc trí tuệ.
=== Môi trường ===
Quan điểm của Đảng Dân chủ về môi trường là sức khỏe của các gia đình và sức mạnh của nền kinh tế phụ thuộc vào khả năng bảo vệ môi trường sống. Họ cam kết tranh đấu để tăng cường luật lệ bảo đảm cho người dân không khí trong lành để thở, và nước sạch để uống. Họ tin rằng chính sách năng lượng thích hợp sẽ là chìa khóa cho sự phát triển kinh tế, an ninh quốc gia, và môi trường trong lành.
Mối quan tâm lớn nhất của các đảng viên Dân chủ trong lĩnh vực môi trường là tình trạng hâm nóng toàn cầu, nổi bật nhất là cựu Phó Tổng thống Al Gore, người đang vận động thông qua các luật lệ hạn chế khí thải nhà kính. Ngày 15 tháng 10 năm 2007, Gore được trao Giải Nobel Hòa bình vì những nỗ lực xây dựng sự nhận thức về sự biến đổi khí hậu do con người gây ra, cũng như lập nền cho các biện pháp cần thiết nhằm đối phó với chúng. Ông khẳng định, "sự khủng hoảng khí hậu không phải là một vấn đề chính trị, nó là một thách thức tâm linh và đạo đức đối với toàn thể nhân loại."
== Tên và Biểu tượng ==
Từ những năm 1790, đảng Liên bang (Federalist) đã sử dụng tên "Đảng Dân chủ" như một sự sỉ nhục để trêu chọc những người ủng hộ Jefferson. Điển hình như năm 1798, George Washington nói "Nếu bạn cọ rửa một người da đen để có thể trở nên trắng thì bạn cũng có thể thay đổi chính kiến của một đảng viên Dân chủ". Tuy nhiên, trong thập niên 1830, biệt danh từng được xem là một sự sỉ nhục này đã trở thành tên chính thức, và chính đảng này gọi mình là "Đảng Dân chủ của Hiệp Chủng Quốc Hoa Kỳ".
Biểu tượng được biết đến nhiều nhất của đảng là chú lừa. Khởi thuỷ, hình ảnh của chú lừa sản sinh từ những chế diễu, bôi bác trong cuộc bầu cử tổng thống năm 1828, khi xuất hiện một vở kịch được đặt theo tên Tổng thống Andrew Jackson, khi ấy là ứng viên của đảng Dân chủ. Jackson đã bị gọi là "Andrew Jackass" (đây là một cách chơi chữ trong Tiếng Anh, 'jackass' có nghĩa là 'thằng ngu', trong đó 'ass' là con lừa), và ông đã chấp nhận biệt danh này.
Ngày 19 tháng 1 năm 1870, Thomas Nast của Harper's Weekly (Tuần báo Harper) vẽ một tranh biếm họa tựa đề "Lừa sống đá sư tử chết" làm sống lại hình ảnh chú lừa như là biểu tượng của Đảng Dân chủ (biểu tượng này đã được dùng trong thập niên 1930). Những họa sĩ biếm họa khác tiếp nối Nast và sử dụng hình ảnh chú lừa cho các đảng viên Dân chủ, và chú voi cho GOP (Đảng Cộng hòa). Biểu tượng chính thức của Uỷ ban Quốc gia Đảng Dân chủ (DNC), miêu tả cách điệu hình ảnh một chú lừa đang phóng chân tung một cú đá hậu.
Cả hai đảng chính (và nhiều đảng nhỏ) sử dụng những màu truyền thống đỏ, trắng và lam trong biểu tượng và quảng cáo. Còn các phương tiện truyền thông thường dùng màu đỏ và lam để hiển thị lập trường của các tiểu bang trong bầu cử. Kể từ cuộc tuyển cử năm 2000, tiểu bang bầu cho đảng Dân chủ được đánh dấu màu lam và màu đỏ dành cho bang bầu phiếu cho Đảng Cộng hòa.
== Cơ cấu và Thành phần ==
Uỷ ban Quốc gia Đảng Dân chủ (DNC) chịu trách nhiệm cổ xuý các mục tiêu của tổng thống (khi đảng kiểm soát Tòa Bạch Ốc) hoặc quảng bá chính sách của đảng (trong trường hợp Đảng Cộng hòa cầm quyền). Trong các cuộc bầu cử tổng thống, uỷ ban giám sát đại hội toàn quốc và, dưới sự chỉ dạo của ứng cử viên tổng thống, vận động gây quỹ, tổ chức thăm dò dư luận và phối hợp chiến lược vận động. Có những uỷ ban tương tự ở cấp tiểu bang và tại các thành phố lớn, quận và hạt bầu cử, nhưng ngân quỹ và ảnh hưởng của các uỷ ban này không nhiều bằng uỷ ban quốc gia. Chủ tịch của DNC (Howard Dean là chủ tịch đương nhiệm) được tuyển chọn bởi Tổng thống nếu đảng đang kiểm soát Tòa Bạch Ốc, nếu không, chức danh được bầu chọn bởi thành viên các uỷ ban cấp tiểu bang; Dean giành được vị trí này từ đầu năm 2005.
Đảng Dân chủ tại lưỡng viện Quốc hội đều thành lập các uỷ ban đầy quyền lực chuyên trách chiến lược và ngân quỹ. Uỷ ban đảng Dân chủ về Chiến dịch Quốc hội (DCCC) hỗ trợ các ứng viên trong các cuộc đua vào Hạ viện, trong khi Uỷ ban đảng Dân chủ về Chiến dịch Thượng viện lo cho các ứng viên thượng viện. Các uỷ ban này thường vận động gây quỹ hơn 100 triệu đô la cho một vòng bầu cử, và thủ giữ vai trò quan trọng trong việc tuyển chọn ứng cử viên.
Mỗi tiểu bang đều có một ủy ban, gồm có các thành viên được bầu cũng như các cựu thành viên ủy ban (thường là các viên chức dân cử tại các hạt bầu cử chính), những người này sẽ bầu ra một chủ tịch ủy ban. Ủy ban cấp quận, thị trấn, thành phố, và phường thường bao gồm những viên chức dân cử cấp địa phương. Các ủy ban cấp tiểu bang và địa phương các cấp thường xuyên phối hợp với nhau cho các cuộc vận động tranh cử trong khu vực, giám sát các hội nghị địa phương và các cuộc bầu cử sơ bộ (trong một số trường hợp). Các ủy ban này cũng tham gia đề cử ứng viên cho các chức vụ dân cử theo luật tiểu bang. Hiếm khi họ tham gia các hoạt động gây quỹ, nhưng trong năm 2005, Chủ tịch DNC Howard Dean khởi động một chương trình (gọi là "Chiến lược 50 Tiểu bang") sử dụng ngân quỹ DNC quốc gia để hỗ trợ các cơ sở đảng cấp tiểu bang, và trả lương cho các nhân viên chuyên nghiệp làm việc trọn thời gian.
== Lịch sử ==
=== Đảng Cộng hòa-Dân chủ: 1792 – 1824 ===
Đảng Dân chủ có nguồn gốc từ đảng Cộng hòa–Dân chủ (Democratic-Republican) do Thomas Jefferson thành lập năm 1792. Dù vậy, một số học giả cho rằng đảng này ra đời vào năm 1828, những người ủng hộ Andrew Jackson, dưới sự lãnh đạo của Martin Van Buren, cùng các cựu thành viên đảng Liên bang (Federalist) tiến hành thành lập đảng Dân chủ. Sau khi đảng Liên bang tan rã vào khoảng năm 1816, đảng Cộng hòa Dân-chủ của Jefferson cũng bắt đầu giải thể. Hệ thống dành đặc quyền chọn ứng viên tổng thống cho một nhóm thiểu số tinh hoa của đảng chấm dứt sau năm 1816. Từ đó, đảng bớt xem trọng tính trung thành và báo chí cũng bớt giọng điệu đảng phái. Những thay đổi này dẫn đảng dần đến sự tan rã. Năm 1824, John Quincy Adams, Henry Clay và Andrew Jackson, những ứng cử viên tổng thống hàng đầu của đảng Dân chủ-Cộng hòa mạnh mẽ kêu gọi giải thể đảng.
=== Dân chủ Jackson: 1828 – 1854 ===
Dưới sự hướng dẫn của nhà tổ chức tài ba Martin Van Buren, cả ba nhân vật này thành lập một chính đảng mới có địa bàn hoạt động trên toàn quốc, kết hợp với những hậu cứ vững chắc tại các tiểu bang, phối hợp với những thủ lĩnh chính trị địa phương tự xưng là "Người theo Jackson". Từ "Dân chủ" xuất hiện trong danh xưng của đảng khoảng năm 1834. Ảnh hưởng địa lý của đảng Dân chủ cũng tương tự như đảng Dân chủ-Cộng hòa (cả hai đều có nhiều ảnh hưởng ở Thành phố New York và tiểu bang Virginia, nhưng yếu thế tại vùng New England). Đảng cũ và đảng mới có cùng một thông điệp với nội dung chống thành phần thượng lưu, "giới cầm quyền" và đặt lòng tin vào "nhân dân".
Sự chống đối chủ yếu đến từ đảng Whig mới thành lập. Đảng này hình thành từ phe đối lập chống Jackson. Henry Clay là nhà lãnh đạo quan trọng nhất, nhưng ông này lại thất bại trước Jackson năm 1832. Đảng Dân chủ trong thập niên 1830 là một liên minh phức tạp cấu thành bởi nhiều nhân tố: nông dân trên mọi miền của nước Mỹ kết hợp với các nhóm công nhân sinh sống trong các đô thị. Những vấn đề chủ chốt trong thập niên này là sự bảo trợ, thuế quan và Ngân hàng Hoa Kỳ. Các vấn đề kinh tế như Ngân hàng Hoa Kỳ và thuế quan trở nên những điểm nóng từ năm 1828 đến năm 1850, cùng một số vấn đề khác như phân phối đất đai và mở rộng biên giới quốc gia. Nhưng đến thập niên 1850, những vấn đề này bị phủ bóng bởi những tranh luận về nạn nô lệ, tinh thần dân tộc và quyền của các tiểu bang, cuối cùng dẫn đến cuộc Nội chiến.
Van Buren thắng cử năm 1836 nhưng bị đánh bại khi tái tranh cử năm 1840. James Polk dành thắng lợi năm 1844 và tiến hành cuộc chiến chống México, sau đó về hưu. Năm 1848 những người Dân chủ thuộc nhóm Free Soil tách khỏi đảng khiến Zachary Taylor, một anh hùng trong chiến tranh thuộc đảng Whig, dành chiến thắng. Đến phiên đảng Whig lại chia rẽ từ sau năm 1850, cống hiến cơ hội cho đảng Dân chủ chiếm ưu thế tại hầu hết các tiểu bang. Franklin Pierce đắc cử năm 1852. Thủ lĩnh tại Quốc hội Hoa Kỳ, Thượng nghị sĩ Stephen A. Douglas thúc đẩy thông qua đạo luật Kansas-Nebraska năm 1854 mặc dù có nhiều chống đối. Nhiều đảng viên Dân chủ (nhất là những người thuộc nhóm Free Soil từ năm 1848) gia nhập đảng Cộng hòa vừa mới thành lập. James Buchanan đắc cử năm 1856, nhưng chính sách của ông về tiểu bang Kansas đã khiến Douglas tức giận đến nỗi đã đem đảng đến bên bờ vực chia rẽ.
=== Nội chiến và Tái thiết ===
Trong thập niên 1850, tiếp theo sự phân rã của đảng Whig, đảng Dân chủ dần dà cũng bị chia cắt, với cánh miền Nam kiên quyết ủng hộ việc mở rộng chủ trương nô lệ vào những lãnh thổ mới, đối nghịch với chủ trương của đảng Cộng hòa vừa mới thành lập, tìm cách ngăn chặn sự mở rộng nô lệ vào vùng đất mới. Trong kỳ đại hội năm 1860 đề cử ứng viên tổng thống, xảy ra chia rẽ trong nội bộ đảng và những người ly khai quyết định tổ chức một đại hội cạnh tranh. Đảng viên dân chủ miền Bắc đề cử Stephen A. Douglas trong khi người miền Nam đề cử John Breckenridge cho cuộc bầu cử tổng thống Hoa Kỳ năm 1860. Kết quả cuộc bầu cử là chiến thắng thuộc về Abraham Lincoln thuộc đảng Cộng hòa, bảy tiểu bang miền Nam rút khỏi liên bang dẫn đến cuộc Nội chiến. Trong cuộc chiến, đảng viên Dân chủ miền Bắc chia thành hai phe, Dân chủ Chiến tranh, ủng hộ các chính sách quân sự của Tổng thống Lincoln, và nhóm Copperhead, mạnh mẽ chống đối.
Dù bị tan tác sau cuộc chiến, đảng Dân chủ hưởng lợi nhờ lòng phẫn uất của người miền Nam trong Thời kỳ Tái thiết, sau đó là thái độ thù nghịch của người dân trong vùng đối với đảng Cộng hòa. Khi Thời kỳ Tái thiết chấm dứt bởi Thoả hiệp năm 1877, và trong thập niên 1890 quyền bầu cử của người da đen bị tước bỏ, miền Nam suốt trong gần một thế kỷ luôn luôn bầu cho đảng Dân chủ. Ở hầu hết các bang miền Nam, trên thực tế hầu như chỉ có một đảng, và chiến thắng của đảng Dân chủ trong kỳ bầu cử sơ bộ là "tương đương với việc đắc cử". Trong thập niên 1880, trên bình diện quốc gia tình thế có vẻ cân bằng hơn. Mặc dù đảng Cộng hòa tiếp tục kiểm soát Tòa Bạch Ốc kể từ năm 1885, đảng Dân chủ vẫn duy trì được thế cạnh tranh, với hậu cứ vững chắc tại miền Nam và sức mạnh to lớn ở vùng nông thôn Tây bắc, các cộng đồng dân tộc Đức và Ireland sinh sống trong các đô thị, các thị trấn công nghiệp và những láng trại thuộc khu hầm mỏ ở vùng Đông Bắc. Trong suốt phần lớn quãng thời gian này, họ giành được quyền kiểm soát Hạ viện. Năm 1884, Grover Cleveland, thống đốc Dân chủ tiểu bang New York, người có khuynh hướng cải cách, đắc cử tổng thống và tái đắc cử năm 1892. Nhưng ông bị đánh bại trong cuộc bầu cử năm 1888.
=== Giai đoạn 1896 – 1932 ===
Trong cuộc bầu cử tổng thống năm 1896, đảng viên Dân chủ ủng hộ nhóm Free Silver đánh bại phe bảo thủ trong đảng giành quyền đề cử William Jennings Bryan. Bryan, trong chiến dịch vận động, mạnh mẽ tấn công những quyền lợi tài chánh miền Đông, nhưng thất bại trước William McKinley trong cuộc bầu cử mang tính quyết định: đảng Cộng hòa chiếm giữ Tòa Bạch Ốc suốt 28 năm trong giai đoạn lịch sử kéo dài 36 năm (1896 – 1932). Đảng Cộng hòa kiểm soát phần lớn miền Đông Bắc, Tây Bắc và một nửa miền Tây. Bryan, được hậu thuẫn bởi những tiểu bang miền Nam và vùng đồng bằng, chỉ đủ mạnh để được đề cử ứng viên tổng thống năm 1900 (thua McKinley) và năm 1908 (thua Taft). Phe bảo thủ chống Bryan kiểm soát kỳ đại hội tổ chức năm 1904, nhưng lại đối diện với sức mạnh áp đảo của Theodore Roosevelt. Bryan từ bỏ nhóm Free Silver và luận điệu chống đế quốc để quay sang ủng hộ trào lưu tiến bộ đang thịnh hành. Năm 1912, Bryan ủng hộ Woodrow Wilson và được thưởng công bằng chiếc ghế bộ trưởng ngoại giao, nhưng sau đó, năm 1916, ông từ chức để phản đối chính sách diều hâu (non-pacifistic) của Wilson.
Tận dụng tình trạng phân hóa bên trong đảng Cộng hòa, năm 1910 những người Dân chủ giành quyền kiểm soát Hạ viện, và giúp đưa một nhà trí thức có khuynh hướng cải cách, Woodrow Wilson, nắm giữ chức tổng thống từ năm 1912 đến năm 1916. Wilson đã thành công trong nỗ lực thuyết phục Quốc hội thông qua một loạt các đạo luật tiến bộ (progressive) như cắt giảm thuế quan, nâng cao hiệu lực các đạo luật chống độc quyền (antitrust), Hệ thống Dự trữ Liên bang, chi trả phúc lợi cho công nhân đường sắt và cấm lao động trẻ em (bị đảo ngược bởi Tối cao Pháp viện). Thêm vào đó, các tu chính hiến pháp dành quyền bầu cử cho phụ nữ và cấm rượu mạnh cũng được thông qua trong nhiệm kỳ thứ hai của tổng thống. Wilson đã lãnh đạo Hoa Kỳ đến chiến thắng trong Chiến tranh thế giới thứ nhất, giúp soạn thảo Hòa ước Versailles, trong đó có việc thành lập Hội Quốc Liên. Nhưng từ năm 1919, giống tình trạng sức khoẻ của ông, kỹ năng chính trị của Wilson bắt đầu suy yếu, và mọi việc đột nhiên trở nên tồi tệ. Thượng viện bác bỏ hòa ước Versailles cũng như Hội Quốc Liên, làn sóng đình công và bạo động nổ ra trên toàn quốc gây ra tình trạng bất ổn. Năm 1924 tại Đại hội Toàn quốc đảng Dân chủ, một nghị quyết phản đối nhóm Ku Klux Klan (một tổ chức chủ trương kỳ thị chủng tộc) được giới thiệu như là một bản tu chính nghị quyết nhằm kết án các định kiến xã hội và các nhóm thù hận. Đây là một phép thử quyền lực mà Al Smith và Oscar W. Underwood dùng để thách thức sự đề cử dành cho William McAdoo. Sau nhiều tranh luận, nghị quyết bị đánh bại vì thiếu chỉ một phiếu, nhưng McAdoo cũng không thể giành được sự đề cử vì thiếu đa số hai phần ba theo quy định. Đảng Dân chủ bị phân hóa trầm trọng và bị đánh bại bởi đảng Cộng hòa trong những chiến thắng áp đảo vào các năm 1920, 1924 và 1928. Tuy nhiên, năm 1928 Al Smith đã kịp xây dựng một hậu cứ vững chắc trong vòng những cộng đồng Công giáo sinh sống tại các thành phố lớn, cùng lúc sự kiện Franklin D. Roosevelt đắc cử Thống đốc tiểu bang New York đã mang nhà lãnh đạo mới xuất hiện này vào tâm điểm của sân khấu chính trị Hoa Kỳ.
=== New Deal ===
Cuộc Đại Suy thoái (Great Depression) dọn đường cho một chính phủ có khuynh hướng tự do, và Franklin D. Roosevelt, với chiến thắng vang dội trong cuộc bầu cử năm 1932, đã tiến vào Tòa Bạch Ốc, dù thông điệp tranh cử của ông không rõ ràng với những lời hứa phục hồi luật cấm rượu và những chỉ trích nhắm vào những thất bại của Herbert Hoover. Trong lễ nhậm chức ngày 4 tháng 3 năm 1933, Roosevelt đưa ra một loạt các chương trình hành động được biết dưới tên New Deal, tập chú vào hoạt động cứu trợ, phục hồi và cải cách (relief, recovery, reform). Đó là cứu trợ dành cho đạo quân thất nghiệp và vùng nông thôn đang suy kiệt, phục hồi kinh tế, và các cải cách dài hạn nhằm ngăn cản suy thoái quay trở lại. Cuộc bầu cử năm 1932 mang đến cho đảng Dân chủ một đa số lớn tại cả hai viện của Quốc hội cũng như các ghế thống đốc tiểu bang; cuộc bầu cử năm 1934 làm gia tăng thêm khoảng cách. Những chương trình ban hành năm 1933, thường được các sử gia gọi là New Deal thứ nhất, giành được sự đồng thuận rộng rãi; Roosevelt cố gắng tiếp xúc với giới doanh nghiệp, công đoàn, nông gia và người tiêu dùng, ở thành thị lẫn nông thôn. Dù vậy, đến năm 1934, ông bắt đầu hướng đến chính sách mang nhiều tính đối đầu hơn. Roosevelt tìm cách tách rời đảng khỏi chủ nghĩa tư bản trọng thương (laissez-fair capitalism) mà hướng về một hệ tư tưởng tập chú vào quy hoạch kinh tế và vào việc bảo hiểm cho những rủi ro. Hai từ cũ mang lấy ý nghĩa mới. Nay "tự do" nghĩa là ủng hộ New Deal, còn "bảo thủ" là chống New Deal. Các đảng viên Dân chủ bảo thủ nổi giận, dưới sự lãnh đạo của Al Smith, thành lập Liên minh Tự do Mỹ năm 1934 và tổ chức phản công, nhưng nỗ lực của họ không hiệu quả.
Sau khi kiểm soát Quốc hội năm 1934, Roosevelt bắt tay vào một chương trình lập pháp đầy tham vọng gọi là "New Deal thứ hai", với những mục tiêu như xây dựng các nghiệp đoàn lao động, quốc hữu hóa hệ thống phúc lợi qua Cơ quan Cải thiện Việc làm (Works Progress Administration), thiết lập an sinh xã hội, áp đặt nhiều quy định hơn trên doanh nghiệp (nhất là trong lĩnh vực giao thông và truyền thông), tăng thuế lợi tức doanh nghiệp. Ông xây dựng một liên minh mới, đa số và đa dạng, gọi là Liên minh New Deal, gồm có các nghiệp đoàn lao động, thành phần thiểu số (quan trọng nhất là người Công giáo, Do Thái, và lần đầu tiên, người da đen). Liên minh New Deal chiến thắng trong tất cả cuộc bầu cử tổng thống ngoại trừ hai lần (năm 1952 và 1956) cho đến khi bị tan rã trong năm 1968.
Sau chiến thắng vang dội trong lần tái tranh cử năm 1936, Roosevelt công bố kế hoạch mở rộng Tối cao Pháp viện, lâu nay thiết chế này vẫn có khuynh hướng chống kế hoạch New Deal của ông. Bùng nổ một cơn bão lửa từ những người chống đối, do chính phó tổng thống của ông, John Nance Garner, dẫn đầu. Roosevelt bị đánh bại bởi một liên minh giữa những người Cộng hòa với cánh bảo thủ của đảng Dân chủ. Họ thành lập một liên minh bảo thủ mới và cố phong toả những đạo luật có khuynh hướng tự do cũng như kiểm soát Quốc hội trong suốt thời gian còn lại của nhiệm kỳ tổng thống. Bị de doạ bởi cánh bảo thủ trong đảng, Roosevelt tìm cách loại bỏ họ; năm 1938, ông vận động chống lại năm thượng nghị sĩ Dân chủ có khuynh hướng bảo thủ. Họ bác bỏ chủ trương liên bang can thiệp vào các vấn đề của tiểu bang, và cả năm nghị sĩ này đều dành thắng lợi trong lần tái tranh cử.
Chủ trương tự do New Deal là ủng hộ phát triển phúc lợi xã hội, nghiệp đoàn lao động, dân quyền và áp đặt thêm luật lệ cho doanh nghiệp. Những người chống đối nhấn mạnh đến sự tăng trưởng lâu dài, ủng hộ doanh nghiệp và cắt giảm thuế, nay khởi sự tự gọi mình là "bảo thủ".
=== Từ Truman đến Kennedy: 1945 – 1963 ===
Ngày 12 tháng 4 năm 1945, Roosevelt từ trần khi đương chức, Harry S. Truman kế nhiệm ông. Sự rạn nứt bên trong đảng mà Roosevelt cố che lấp bắt đầu xuất hiện. Cựu Phó Tổng thống Henry A. Wallace mô tả Truman là kẻ thủ lợi nhờ chiến tranh vì những chương trình chống Liên Xô của ông, Wallace cũng chỉ trích Chủ thuyết Truman, Kế hoạch Marshall và NATO. Tuy nhiên, phe ủng hộ Wallace bị loại khỏi đảng và tổ chức nghiệp đoàn trong những năm 1946-1948 bởi những đảng viên trẻ tuổi như Hubert H. Humphrey, Walter Reuther và Arthur Schlesinger Jr.. Mặt khác, mũi tấn công của Đảng Cộng hòa nhắm vào chính sách đối nội của Truman. "Đủ chưa?" và "Lầm lẫn là Truman" là những câu khẩu hiệu được ưa chuộng của người Cộng hòa, và họ nắm quyền kiểm soát Quốc hội vào năm 1946, lần đầu tiên kể từ năm 1928.
Nhiều lãnh tụ đảng đã sẵn sàng để đánh đổ Truman, nhưng chưa có cơ hội. Truman phản công, loại trừ Strom Thurmond cùng cánh da trắng miền Nam (Dixiecrat), và tiến hành một động thái chiến lược táo bạo bằng cách triệu tập một phiên họp đặc biệt tại Quốc hội dưới quyền kiểm soát của Đảng Cộng hòa, trình những dự luật mà ông biết chắc là họ sẽ bác bỏ, để rồi khi tình thế trở nên bế tắc, ông tổ chức một chuỗi các cuộc vận động liên hoàn trên toàn quốc để cáo buộc họ là Quốc hội khoá thứ 80 "Không chịu làm gì". Trong một cuộc bầu cử có lẽ là đáng kinh ngạc nhất trong thế kỷ 20, năm 1948 Truman đánh bại Thomas Dewey để tái đắc cử, đồng thời Đảng Dân chủ giành lại quyền kiểm soát Quốc hội. Dù vậy, những đề án Fair Deal của Truman như kế hoạch chăm sóc sức khoẻ cho mọi người, bị đánh bại bởi liên minh bảo thủ ở quốc hội.
Năm 1952, Dwight D. Eisenhower chiếm lại Tòa Bạch Ốc cho đảng Cộng hòa sau khi đánh bại thống đốc bang Illinois Adlai Stevenson. Bốn năm sau, Eisenhower lặp lại chiến thắng trước Stevenson. Trong quốc hội, bộ đôi gốc Texas, Chủ tịch Hạ viện Sam Rayburn và lãnh tụ phe đa số Thượng viện Lyndon B. Johnson, cùng nhau cầm giữ đảng dưới bóng của vị anh hùng thời chiến tranh, Eisenhower.
Thượng nghị sĩ John F. Kennedy thành công trong cuộc bầu cử tổng thống năm 1960, đánh bại phó tổng thống đương chức Richard Nixon. Dù nhiệm kỳ tổng thống của Kennedy kéo dài chỉ một ngàn ngày, ông đã cố kiềm chế ảnh hưởng của những người cộng sản sau khi chịu thất bại trong cuộc xâm lăng Vịnh con Heo ở Cuba và việc xây dựng Bức tường Bá Linh, và gởi 16.000 binh sĩ đến Việt Nam. Kennedy thách thức người dân Mỹ tiến vào cuộc Chạy đua vào Không gian để đặt một người Mỹ lên Mặt Trăng trong năm 1969. Sau vụ Khủng hoảng Hoả tiễn Cuba, ông nỗ lực làm dịu tình hình căng thẳng với Liên Xô. Kennedy thúc đẩy dân quyền và tinh thần hòa hợp chủng tộc, ra lệnh điều động vệ binh liên bang bảo vệ những người tuần hành vì tự do ở miền nam. Tổng thống Kennedy bị ám sát ngày 22 tháng 11 năm 1963 tại Dallas, tiểu bang Texas. Ngay sau đó Phó Tổng thống Lyndon B. Johnson tuyên thệ nhậm chức Tổng thống thứ 36 của Hoa Kỳ. Johnson, người kế thừa chính sách New Deal, phá vỡ ảnh hưởng của liên minh bảo thủ ở Quốc hội, thông qua con số đáng kể các đạo luật có khuynh hướng tự do, được biết dưới tên Great Society. Johnson thành công trong nỗ lực tìm kiếm sự phê chuẩn cho các đạo luật bảo vệ dân quyền và khởi sự chính sách hòa hợp chủng tộc ở miền nam. Cùng lúc, Johnson leo thang chiến tranh ở Việt Nam, dẫn đến những xung đột nội bộ trong đảng và làm đảng phân hóa trong cuộc tuyển cử năm 1968.
=== Phong trào Dân quyền: 1963 – 1968 ===
Người Mỹ gốc Phi, vẫn có truyền thống ủng hộ Đảng Cộng hòa kể từ cuộc Nội chiến, trong thập niên 1930 chuyển sang Đảng Dân chủ, phần lớn là do các chương trình cứu tế của New Deal, và nhiệt huyết đấu tranh cho dân quyền của Đệ nhất Phu nhân Eleanor Roosevelt. Trong nhiều thành phố như Chicago, toàn bộ guồng máy Cộng hòa trong những khu dân cư da đen đổi đảng hầu như chỉ trong một đêm. Dù vậy, đến cuối thập niên 1960, liên minh New Deal bắt đầu rạn nứt khi ngày càng có nhiều lãnh tụ đảng Dân chủ lên tiếng ủng hộ dân quyền song lại thiết lập hậu cứ truyền thống cho đảng trong vòng phe Dân chủ miền nam và những nhóm Công giáo dựa theo chủng tộc ở các thành phố phương bắc.
=== Giai đoạn chuyển đổi: 1969 – 1992 ===
Trong cuộc bầu cử tổng thống năm 1972, Đảng Dân chủ đề cử Thượng nghị sĩ George McGovern với câu khẩu hiệu chống chiến tranh của ông "Hỡi người Mỹ, hãy về nhà". McGovern chủ trương triệt thoái lập tức khỏi Việt Nam và bảo đảm lợi tức tối thiểu cho mọi người dân Mỹ. Trong khi McGovern cố vận động chống các chính sách của Nixon thì những tiết lộ về người đứng cùng liên danh với ông, Thomas Eagleton (từng được điều trị bằng liệu pháp shock điện), trở thành tai họa cho hình ảnh của McGovern. Sargent Shriver, một đồng minh của Daley, được chấp nhận để trở nên ứng viên phó tổng thống. Cuộc tổng tuyển cử là một chiến thắng áp đảo cho Richard Nixon khi McGovern chỉ giành được mỗi một bang Massachussetts. Nhưng Đảng Dân chủ vẫn duy trì được thế đa số ở Quốc hội và tại hầu hết viện lập pháp các tiểu bang.
Vụ tai tiếng Watergate đã huỷ diệt sự nghiệp chính trị của Nixon và cho những người Dân chủ chút ít hi vọng. Khi Tổng thống Gerald Ford ân xá Nixon sau khi ông này từ chức năm 1974, đảng Dân chủ có cơ hội làm lớn chuyện "thối nát" và giành thắng lợi trong cuộc bầu cử bất thường. Cuộc bầu cử năm 1976 chứng kiến thành công bất ngờ của Thống đốc tiểu bang Georgia, Jimmy Carter, một người bên ngoài ít tiếng tăm nhưng hứa hẹn một tính cách chân thật.
Trong số những thành quả quan trọng của Tổng thống Carter có việc thiết kế chính sách năng lượng quốc gia, và củng cố các cơ quan chính quyền, dẫn đến việc thành lập hai bộ mới, Bộ Năng lượng Hoa Kỳ và Bộ Giáo dục Hoa Kỳ. Carter dẫn đầu những nỗ lực lưỡng đảng nhằm điều chỉnh các ngành công nghiệp vận tải đường bộ, hàng không, hỏa xa, tài chính, truyền thông và dầu mỏ. Ông hỗ trợ hệ thống an sinh xã hội, và bổ nhiệm con số kỷ lục phụ nữ và thành phần thiểu số vào các vị trí công quyền và các chức vụ tư pháp. Carter vận động thông qua các đạo luật bảo vệ môi trường và mở rộng Dịch vụ Công viên Quốc gia ở Alaska, thêm 103 triệu mẫu Anh vào thẩm quyền quản lý của liên bang. Về ngoại giao, những thành tựu của Carter là Hiệp ước Trại David, Hiệp ước Kênh đào Panama, thiết lập quan hệ ngoại giao đầy đủ với Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa, và đàm phán Hòa ước SALT II với Liên Xô. Bên cạnh đó, ông đấu tranh cho nhân quyền trên khắp thế giới và xem nhân quyền là trọng tâm của chính sách đối ngoại.
Mặc dù những thành quả ấy, Carter thất bại trong nỗ lực thực thi kế hoạch y tế quốc gia và cải cách hệ thống thuế như ông đã hứa khi ra tranh cử. Lạm phát tăng cao. Bên ngoài là vụ khủng hoảng con tin ở Iran (4 tháng 11 năm 1979 – 20 tháng 1 năm 1981), 52 người Mỹ bị bắt giữ làm con tin trong 444 ngày, cùng những thất bại trong ngoại giao và quân sự nhằm giải cứu con tin. Sự kiện quân đội Liên Xô chiếm đóng Afghanistan làm suy yếu hình ảnh của Carter đối với người dân Mỹ. Trong cuộc bầu cử tổng thống năm 1980, Carter đánh bại Ted Kennedy để giành sự đề cử của đảng nhưng lại thất bại trước Ronald Reagan. Đảng Dân chủ mất 12 ghế ở Thượng viện, như thế lần đầu tiên kể từ năm 1954, Đảng Cộng hòa nắm quyền kiểm soát Thượng viện. Song Đảng Dân chủ vẫn duy trì thế đa số ở Hạ viện. Dù đã thất bại trong cuộc tuyển cử, Carter vẫn tiếp tục đàm phán tìm kiếm sự phóng thích cho các con tin cho đến phút cuối của nhiệm kỳ.
Nhân tố đóng góp cho thành công của Ronald Reagan thuộc đảng Cộng hòa trong cuộc bầu cử năm 1980 là những người Dân chủ ủng hộ chính sách bảo thủ. Những "người Dân chủ Reagan" này là thành viên Đảng Dân chủ trước và sau nhiệm kỳ của Reagan. Hầu hết là người da trắng ở vùng Đông Bắc và Trung Tây thu hút bởi chủ trương của Reagan, bảo thủ trong nước và diều hâu ở nước ngoài. Reagan chiếm phiếu ở 49 tiểu bang, đánh bại cựu Phó Tổng thống Walter Mondale, một người ủng hộ New Deal, trong cuộc bầu cử năm 1984. Trong cuộc bầu cử năm 1988, Thống đốc tiểu bang Massachussetts, Michael Dukakis, một chuyên gia về hành chính công, thất bại trước Phó Tổng thống George H. W. Bush.
=== Thời kỳ Clinton: 1992 – 2000 ===
Năm 1992, lần đầu tiên trong 12 năm, cử tri Mỹ chọn một chính trị gia Dân chủ để đặt vào Tòa Bạch Ốc. Tổng thống Bill Clinton đã cân bằng ngân sách liên bang lần đầu tiên kể từ nhiệm kỳ tổng thống của Kennedy và giúp kinh tế Mỹ phát triển mạnh cũng như gia tăng lợi tức ở nước ngoài. Năm 1994 chứng kiến mức lạm phát và thất nghiệp được kéo xuống đến mức thấp nhất trong 25 năm. Tổng thống ký ban hành luật Brady, ấn định thời gian chờ đợi năm ngày trước khi mua súng ngắn, và ban hành luật cấm nhiều loại vũ khí bán tự động (luật này đã hết hạn năm 2004). Đạo luật Nghỉ phép Y tế và Gia đình của ông có ảnh hưởng trên 40 triệu người Mỹ, cho họ quyền nghỉ phép có lương và bảo đảm việc làm trong trường hợp nghỉ hộ sản, bệnh tật cá nhân và gia đình. Clinton giúp phục hồi dân chủ ở Haiti, gây áp lực lên các vòng đàm phán hòa bình Palestine-Israel, làm trung gian cho cuộc ngừng bắn lịch sử ở Bắc Ireland, và thương thuyết Hòa ước Dayton, giúp kết thúc bốn năm khủng bố và tàn sát ở vùng đất Nam Tư cũ. Năm 1996, Clinton đắc cử nhiệm kỳ thứ hai, lần đầu tiên kể từ Franklin D. Roosevelt (năm 1944), một tổng thống Dân chủ được tín nhiệm trong hai nhiệm kỳ liên tiếp.
Tuy nhiên, năm 1994, Đảng Dân chủ mất thế đa số tại cả hai viện của Quốc hội. Clinton phủ quyết những dự luật cải cách phúc lợi được Đảng Cộng hòa ủng hộ trước khi chịu ký ban hành dự luật thứ ba, Đạo luật Cơ hội Việc làm và Trách nhiệm Cá nhân trong năm 1996. Clinton thông qua Thoả ước Tự do Mậu dịch Bắc Mỹ (NAFTA) với Canada và México mặc cho những chống đối dữ dội từ các nghiệp đoàn lao động và sự thất vọng của cánh tả trong đảng.
=== Thế kỷ 21: Năm 2000 đến nay ===
==== Bầu cử Tổng thống năm 2000 ====
Trong cuộc bầu cử tổng thống năm 2000, đảng Dân chủ chọn Phó Tổng thống Al Gore làm ứng viên cho chức vụ tổng thống. Gore và George W. Bush, ứng viên đảng Cộng hòa và là con trai của một cựu tổng thống, bất đồng với nhau về một số vấn đề như phá thai, chính trị vũ khí, môi trường, quyền của người đồng tính, cắt giảm thuế, chính sách ngoại giao, giáo dục công lập, tình trạng nóng ấm toàn cầu, bổ nhiệm thẩm phán và chính sách ưu đãi các nhóm thiểu số (affirmative action). Tuy nhiên, mối quan hệ thân thiết của Gore với Clinton và DLC khiến một số người chỉ trích như ứng cử viên Đảng Xanh, Raph Nader, khẳng định rằng Bush và Gore chẳng khác gì nhau, nhất là về chủ trương tự do thương mại và cắt giảm phúc lợi xã hội. Một phụ tá của Nader giải thích lý do Nader ra tranh cử "là vì chúng tôi muốn trừng phạt đảng Dân chủ, chúng tôi muốn họ bị tổn thương."
Gore giành được 500.000 phiếu phổ thông nhiều hơn Bush, nhưng thua bốn phiếu của Cử tri đoàn. Nhiều người cho rằng sự thất bại này là do Gore mất phiếu cho đảng thứ ba của Nader.
Dù vậy, Đảng Dân chủ được thêm năm ghế ở Thượng viện (kể cả thắng lợi của Hillary Rodham Clinton ở New York) để biến tỷ lệ 55-45 nghiêng về đảng Cộng hòa trở nên tỷ lệ 50-50 (không kể phiếu của phó tổng thống hầu có thể phá vỡ thế bế tắc). Thế nhưng, khi Thượng nghị sĩ Cộng hòa Jim Jeffords của Vermont quyết định trở nên thành viên độc lập và bầu phiếu cho phe Dân chủ ở Thượng viện, thế đa số ngả về đảng Dân chủ với quyền kiểm soát Thượng viện dành cho lãnh tụ phe đa số và chủ tịch các uỷ ban. Dù vậy, đảng Cộng hòa chiếm lại thế đa số ở Thượng viện do những thắng lợi trong năm 2002 và 2004, chỉ để lại 44 ghế cho các nghị sĩ Dân chủ, số ghế ít nhất kể từ thập niên 1920.
Sau vụ tấn công 11 tháng 9 năm 2001, cả nước chuyển sự quan tâm sang các vấn đề an ninh quốc gia. Tất cả nghị sĩ Dân chủ, ngoại trừ Dân biểu Barbara Lee, đồng thuận với các đồng sự Cộng hòa trao quyền cho Tổng thống Bush cho tiến quân vào Afghanistan. Lãnh tụ Hạ viện, Richard Gephardt, và lãnh tụ Thượng viện, Thomas Daschle, thúc đẩy các đảng viên Dân chủ bỏ phiếu cho đạo luật PATRIOT và cuộc xâm lăng Iraq. Có sự phân hóa trong đảng Dân chủ khi quân đội Hoa Kỳ tiến vào Iraq năm 2003, ngày càng có nhiều người bày tỏ sự lo ngại về cả chính nghĩa lẫn sự tiến triển của Cuộc chiến chống Khủng bố cùng những ảnh hưởng trong nước, kể cả hiểm họa đối với dân quyền và quyền tự do dân sự đến từ đạo luật PATRIOT. Thượng nghị sĩ Russ Feingold là người duy nhất bỏ phiếu chống lại đạo luật; đạo luật này gặp phải sự chống đối đáng kể khi gia hạn.
==== Bầu cử tổng thống năm 2004 ====
Chiến dịch tranh cử năm 2004 khởi sự vào đầu tháng 12 năm 2002, khi Gore tuyên bố ra tranh cử trong cuộc bầu cử năm 2004. Howard Dean, cựu Thống đống tiểu bang Vermont, một người chủ trương chống chiến tranh và thường chỉ trích cơ chế hiện hành của đảng Dân chủ, dẫn đầu trong các cuộc bầu cử sơ bộ. Dean có hậu thuẫn vững chắc, đặc biệt là từ cánh tả trong đảng. Thượng nghị sĩ đại diện tiểu bang Massachusetts John Kerry, một nhân vật chủ trương trung dung tìm được sự ủng hộ của Hội đồng Lãnh đạo Dân chủ, cuối cùng được đề cử bởi vì nhiều người xem ông là có nhiều triển vọng hơn Dean.
Số lượng công nhân Mỹ bị sa thải trong các ngành công nghiệp ngày càng tăng cao do các hãng xưởng được chuyển ra nước ngoài khiến một số đảng viên Dân chủ (trong đó có Dean và ứng viên vào thượng viện của tiểu bang North Carolina Erskine Bowles) bắt đầu xét lại quan điểm của họ về tự do mậu dịch. Trong năm 2004, sự thất bại của chính phủ Bush trong việc tìm kiếm vũ khí huỷ diệt hàng loạt ở Iraq, số thương vong tăng cao, và không thấy điểm dừng cho cuộc chiến chống Iraq trở nên những điểm nóng tại các cuộc tranh luận trong cuộc bầu cử. Chiến lược vận động của đảng Dân chủ nhắm vào sự phục hồi kinh tế mà không gia tăng việc làm, giải quyết cuộc khủng hoảng Iraq, và giải quyết nạn khủng bố cách hiệu quả hơn.
Kết quả là Kerry thua cuộc cả trong số phiếu phổ thông lẫn phiếu của cử tri đoàn. Đảng Cộng hòa dành thêm bốn ghế trong thượng viện và thêm ba ghế ở Viện Dân biểu (Hạ viện). Tệ hại hơn, lần đầu tiên kể từ năm 1952, lãnh tụ đảng Dân chủ tại Thượng viện bị thất cử. Tổng cộng có 3.660 đảng viên Dân chủ đắc cử vào các viện lập pháp tiểu bang trên toàn quốc, con số này của Đảng Cộng hòa là 3.557. Các đảng viên Dân chủ nắm giữ chức thống đốc tại các bang Louisiana, New Hampshire và Montana, nhưng lại mất chức thống đốc tiểu bang Missouri và thế đa số ở viện lập pháp tiểu bang Georgia - hai nơi này lâu nay vẫn là thành trì của đảng Dân chủ.
Có nhiều lý do giải thích sự thất bại này. Sau cuộc bầu cử, hầu hết các nhà phân tích cho rằng Kerry thiếu khả năng trong vận động tranh cử. Một nhóm cựu chiến binh Chiến tranh Việt Nam làm hỏng kế hoạch sử dụng thành tích chiến đấu của Kerry như là một thế mạnh trong vận động tranh cử, và sự mâu thuẫn trong lập trường của Kerry về cuộc chiến Iraq. Đảng Cộng hòa cho chiếu hàng ngàn quảng cáo trên truyền hình nhằm thuyết phục cử tri rằng Kerry không có lập trường nhất quán về Iraq. Những sai sót trong hệ thống kiểm phiếu có thể là một trong những nhân tố dẫn đến sự thất bại của Kerry. Thượng nghị sĩ Barbara Box đại diện bang California và một vài Dân biểu Dân chủ đưa vấn đề về những bất thường trong cuộc bầu cử ra kỳ họp đầu tiên của Quốc hội khoá 109 nhưng bị đánh bại ở Hạ viện với số phiếu 267-31 và 74-1 tại Thượng viện. Các nhân tố khác nên được kể đến là tình trạng lành mạnh của thị trường việc làm, thị trường chứng khoán có chiều hướng tốt, số nhà bán gia tăng và tỷ lệ thất nghiệp thấp.
==== Ngày nay ====
Sau hai thất bại liên tiếp trong năm 2000 và 2004, nhiều đảng viên Dân chủ bộc lộ sự lo ngại về tương lai của đảng. Giới lãnh đạo bắt đầu xét lại hướng đi của đảng và nhiều sách lược được đưa ra. Nhiều người muốn đảng ngả về phía hữu với hi vọng dành thêm ghế ở lưỡng viện và có cơ may chiến thắng trong cuộc bầu cử tổng thống năm 2008; những người khác cho rằng đảng cần hướng về phía tả để trở thành một đảng đối lập có thực lực.
Những tranh luận này được thể hiện trong chiến dịch năm 2005 tranh chức Chủ tịch Uỷ ban Dân chủ Quốc gia, cuối cùng Howard Dean là người thắng thế. Dean tìm cách đem đảng tách khỏi cơ chế hiện hành và ủng hộ các đảng bộ tiểu bang và các chi bộ địa phương.
Khi Quốc hội khoá 109 được triệu tập, các thượng nghị sĩ Dân chủ chọn Harry Reid (bang Nevada) làm lãnh tụ phe thiểu số và Richard Durbin làm phụ tá cho Reid. Năm 2005, đảng Dân chủ giành lại chức thống đốc tại các bang Virginia và New Jersey nhưng lại thua trong cuộc đua tranh chức thị trưởng Thành phố New York, một thành trì của đảng Dân chủ, trong bốn lần liên tiếp.
Những cuộc thăm dò trong năm 2006 cho thấy triển vọng lại bừng sáng cho đảng Dân chủ, chủ yếu là do những sai lầm và tai tiếng của đảng Cộng hòa. Những vụ tai tiếng liên quan đến nhà vận động hành lang Jack Abramoff, cựu lãnh tụ phe đa số Hạ viện Tom DeLay, và thống đốc tiểu bang Ohio, Bob Taft, cho đảng Dân chủ cơ hội khai thác vấn đề tình trạng thối nát trong chính trường. Phản ứng chậm trễ của Bush khi xảy ra thảm họa Bão Katrina xem ra sẽ là một vấn đề được đưa ra trong chiến dịch vận động nhằm nhấn mạnh tính thiếu hiệu năng của chính phủ. Dư luận quần chúng về chiến sự ở Iraq ngày càng trở nên tiêu cực và cảm giác đang lan tỏa trong vòng những người bảo thủ, cho rằng chính phủ Cộng hòa không có khả năng kiểm soát chi tiêu của chính phủ đang kéo sự ủng hộ dành cho Tổng thống Bush xuống mức thấp nhất kể từ khi ông đặt chân vào Tòa Bạch Ốc. Với hàng loạt vụ bê bối trong đảng Cộng hòa được phanh ra trước cuộc tổng tuyển cử như vụ Mark Foley, quyền kiểm soát Quốc hội dường như nằm trong tầm tay của đảng Dân chủ.
Trong cuộc tổng tuyển cử năm 2006, đảng Dân chủ giành lại quyền kiểm soát Quốc hội và chiếm đa số ghế thống đốc tiểu bang. Trong Viện Dân biểu, họ chiếm đủ số ghế để giành đa số, và dân biểu Nancy Pelosi là nữ chính khách đầu tiên trong lịch sử Hoa Kỳ được chọn vào chức vụ Chủ tịch Viện Dân biểu. Trong Thượng nghị viện, họ lật đổ 6 ghế đang được giữ bởi đảng Cộng hòa để chiếm được 51 ghế. Như vậy, kể từ đầu năm 2007, Đảng Dân chủ trở thành đảng đa số, năm quyền kiểm soát tại lưỡng viện Quốc hội.
==== Bầu cử Tổng thống năm 2008 ====
Đảng Dân chủ chính thức đề cử Barack Obama tại Đại hội Đảng Dân chủ Toàn quốc tại Denver, Colorado vào ngày 25 đến 28 tháng 8. Đến ngày 3 tháng 6, Barack Obama đã nhận đủ phiếu ủng hộ để được đảng Dân chủ đề cử. Đối thủ cuối cùng của ông, Hillary Clinton, rút lui sau đó vào ngày 7 tháng 6.
Lúc đó, Barack Obama là Thượng nghị sĩ trong nhiệm kỳ đầu tiên từ Illinois. Ông được bầu vào chức vụ này từ năm 2004. Khi được đề cử, ông trở thành ứng cử viên người Mỹ gốc Phi đầu tiên được một trong hai đảng lớn đề cử cho chức vụ tổng thống.
Trong cuộc bầu cử tổng thống, Barack Obama đối đầu với ứng cử viên Cộng hòa là John McCain. Barack Obama giành 53% phiếu phổ thông và 365 phiếu đại cử tri đoàn, trở thành tổng thống người Mỹ gốc Phi đầu tiên trong lịch sử Hoa Kỳ.
== Danh sách liên danh ứng cử viên tổng thống ==
== Danh sách Đảng bộ Tiểu bang và Lãnh thổ ==
== Chú thích ==
== Tham khảo ==
Barone, Michael; Grant Ujifusa (2005). The Almanac of American Politics 2006: The Senators, the Representatives and the Governors: Their Records and Election Results, Their States and Districts.
Blum, John Morton (1980). The Progressive Presidents: Roosevelt, Wilson, Roosevelt, Johnson.
Jensen, Richard (1983). Grass Roots Politics: Parties, Issues, and Voters, 1854–1983.
Judis, John B.; Ruy Teixeira (2004). The Emerging Democratic Majority.
Kleppner, Paul; những người khác (1983). The Evolution of American Electoral Systems.
Kleppner, Paul (1979). The Third Electoral System 1853-1892: Parties, Voters, and Political Cultures.
Lawrence, David G. (1996). The Collapse of the Democratic Presidential Majority: Realignment, Dealignment, and Electoral Change from Franklin Roosevelt to Bill Clinton.
Nichols, Roy Franklin (1923). The Democratic Machine, 1850–1854.
Patterson, James T. (1997). Grand Expectations: The United States, 1945–1974.
Patterson, James T. (2005). Restless Giant: The United States from Watergate to Bush vs. Gore.
Rae, Nicol C. (1994). Southern Democrats. Nhà xuất bản Đại học Oxford.
Remini, Robert V. (1959). Martin Van Buren and the Making of the Democratic Party.
Rutland, Robert Allen (1995). The Democrats: From Jefferson to Clinton.
Sabato, Larry J. (2005). Divided States of America: The Slash and Burn Politics of the 2004 Presidential Election.
Sabato, Larry J.; Bruce Larson (2001). The Party's Just Begun: Shaping Political Parties for America's Future.
Schlesinger, Arthur Meier, Jr. (2001). Arthur Meier Schlesinger Jr., biên tập. History of American Presidential Elections, 1789–2000.
Schlesinger, Arthur Meier, Jr. (1972). The Coming to Power: Critical presidential elections in American history.
Schlisinger, Galbraith (1992). Of the People: The 200 Year History of the Democratic Party.
Silbey, Joel H. (1991). The American Political Nation, 1838–1893.
Witcover, Jules (2003). Party of the People: A History of the Democrats.
== Liên kết ngoài ==
Democratic National Committee
Democrats Abroad
Young Democrats of America
College Democrats of America
Kicking Ass: Daily Dispatches from the DNC
Woman's National Democratic Club
Democratic Congressional Campaign Committee
Democratic Senatorial Campaign Committee
2004 Platform (HTML format)
2004 Platform (PDF format)
Democratic Think Tank Democrats.US
2020 Democrats
Music Row Democrats |
chính trị vương quốc liên hiệp anh và bắc ireland.txt | Chính trị Liên hiệp Vương quốc Anh và Bắc Ireland lập nền trên thể chế quân chủ lập hiến với thủ tướng đảm nhiệm vị trí đứng đầu chính phủ. Đây là hệ thống chính trị đa nguyên với sự ủy thác một phần quyền lực cho xứ Scotland, xứ Wales và Bắc Ireland. Quyền hành pháp thuộc về chính phủ. Quyền lập pháp được trao cho cả chính phủ và lưỡng viện Quốc hội: Viện Thứ dân (Hạ viện) và Viện Quý tộc (Thượng viện). Nhánh tư pháp độc lập với hai nhánh còn lại - hành pháp và lập pháp. Cơ cấu chính quyền này (còn gọi là Hệ thống Westminster) được áp dụng tại các nước khác như Canada, Ấn Độ, Úc, New Zealand, Singapore, Malaysia và Jamaica, là những quốc gia thuộc Đế quốc Anh.
Hiến pháp Anh là hiến pháp bất thành văn, cấu thành bởi các qui ước, luật lệ cùng những nhân tố khác.
Hệ thống chính quyền này, thường được gọi là Mô hình Westminster, cũng được áp dụng tại các quốc gia khác như Canada, Ấn Độ, Úc, New Zealand, Singapore, Malaysia, và Jamaica. Đây là những quốc gia từng thuộc Đế quốc Anh.
== Vương quyền ==
Nguyên thủ quốc gia, trên lý thuyết cũng như trên danh nghĩa nắm quyền lực hành pháp, tư pháp và lập pháp, là Vương quyền Anh, hiện nay là Nữ hoàng Elizabeth II. Song, kể từ năm 1689 khi ban hành Đạo luật Declaration of Rights, quyền lực tối thượng này không còn thuộc về vua Anh, mặc dù nhà vua vẫn được công nhận là nguyên thủ quốc gia.
Dù vây, vương triều Anh vẫn duy trì nhiều quyền lực, trong đó có quyền chọn một công dân Anh bất kỳ để bổ nhiệm vào chức vụ Thủ tướng, quyền triệu tập và giải tán Quốc hội bất cứ lúc nào nhà vua muốn. Trong thực tế, Thủ tướng là lãnh tụ phe đa số ở Viện Thứ dân, và Quốc hội chỉ bị giải tán theo đề nghị của thủ tướng, điều này cũng phù hợp với hiến pháp bất thành văn hiện hành. Dù Nữ hoàng vẫn còn giữ quyền từ chối chuẩn thuận dự luật, quyền ấy ngày càng bất khả thi vì có thể dẫn đến một cuộc khủng hoảng hiến pháp. Nữ hoàng Anne là vị vua cuối cùng hành xử quyền này, đó là vào ngày 11 tháng 3 năm 1780, khi nữ hoàng từ chối phê chuẩn dự luật "for the setling of Militia in Scotland." Thủ tướng và nội các hành xử một số quyền khác của hoàng gia như bổ nhiệm bộ trưởng và tuyên chiến, với sự phê chuẩn của Nữ hoàng.
Ngày nay, vương quyền chỉ còn thủ giữ vai trò nghi lễ, dù vẫn còn duy trì ba quyền căn bản: quyền được tư vấn, quyền tư vấn và quyền cảnh cáo. Do đó, Thủ tướng vẫn phải có các phiên họp mật hằng tuần để nghe Nữ hoàng bày tỏ quan điểm của mình.
Chính thức thì nhà vua lãnh đạo Quốc hội, nhưng trong thực tế Thủ tướng là người đứng đầu nền chính trị Anh (thủ tướng đương nhiệm là David Cameron – từ ngày 11 tháng 5 năm 2010). Tuy nhiên, nữ hoàng vẫn duy trì một số quyền lực được sử dụng với sự cân nhắc cẩn thận. Bà chu toàn các chức trách hiến định trong cương vị nguyên thủ quốc gia. Khi nền chính trị thiếu vắng sự phân biệt rạch ròi giữa các quyền như nguyên tắc tam quyền phân lập được áp dụng tại Hoa Kỳ, thì vương quyền được xem là sự kiểm soát tối hậu đối với quyền hành pháp. Nữ hoàng có thể từ chối phê chuẩn các đạo luật đe dọa quyền tự do hoặc sự an toàn của công dân. Ngoài ra, nữ hoàng còn là tổng tư lệnh các lực lượng vũ trang, và các lực lượng này phải tuyên thệ trung thành với nữ hoàng.
== Hành pháp ==
Chính phủ thi hành các chức năng hành pháp của đất nước trên danh nghĩa của Vương quyền, vì trên lý thuyết, quyền hành pháp thuộc về hoàng gia. Nhà vua bổ nhiệm thủ tướng theo những quy định chặt chẽ, theo đó thủ tướng phải là thành viên của Viện Thứ dân, vì như thế mới giành được sự ủng hộ của Viện cho việc thành lập chính phủ. Sau đó thủ tướng tuyển chọn bộ trưởng để lãnh đạo các bộ ngành của chính phủ. Có khoảng hai mươi bộ trưởng cao cấp được chọn để tham gia Nội các.
Giống các chính quyền theo thể chế đại nghị khác, nhánh hành pháp (được gọi là chính phủ) chịu trách nhiệm với Quốc hội – một nghị quyết bất tín nhiệm được thông qua bởi quốc hội sẽ có thể buộc chính phủ hoặc phải từ chức hoặc phải giải tán quốc hội và tổ chức tổng tuyển cử. Trong thực tế, thành viên quốc hội thuộc các chính đảng lớn thường bị kiểm soát bởi giới lãnh đạo đảng trong quốc hội để bảo đảm biểu quyết của họ phải phù hợp với chủ trương của đảng. Như thế, nếu chính phủ chiếm thế đa số, sẽ khó xảy ra tình trạng không có đủ phiếu để thông qua các dự luật do chính phủ đệ trình.
Trong tháng 11 năm 2005, chính phủ Blair đã phải vấp phải thất bại đầu tiên khi đệ trình dự luật kéo dài thời gian giam giữ nghi phạm khủng bố đến 90 ngày. Dự luật sau cùng của chính phủ bị đánh bại tại Hạ viện là Dự luật Shop Hours đệ trình năm 1986. Suốt trong thế kỷ 20, chỉ có ba dự luật của chính phủ bị đánh bại tại quốc hội. Dù vậy, một chính phủ thiểu số hoặc một chính phủ liên hiệp sẽ đối diện với nhiều nguy cơ hơn trong nỗ lực thuyết phục quốc hội thông qua các dự luật. Đôi khi họ phải vận dụng các biện pháp đặc biệt như "đưa rước" các dân biểu đang nghỉ bệnh đến dự các kỳ họp quốc hội hầu có đủ số phiếu cần thiết. Năm 1983 Margaret Thatcher và năm 1997 Tony Blair lên nắm quyền với đa số vượt trội đã bảo đảm thành công trong tất cả cuộc biểu quyết ở quốc hội để có thể thông qua các đề án cấp tiến cũng như các cải cách pháp lý. Nhưng các thủ tướng khác như trong trường hợp của John Major năm 1992, với đa số mong manh, chỉ cần một số tương đối nhỏ những dân biểu ít tiếng tăm không chịu tuân thủ chủ trương của đảng cũng có thể làm thất bại nỗ lực của chính phủ thông qua các dự luật. Do đó, những chính phủ có đa số mỏng ở quốc hội thường có khuynh hướng thỏa hiệp với các phe phái khác nhau bên trong đảng hoặc tìm kiếm sự ủng hộ từ các chính đảng khác.
=== Các Bộ của Chính phủ ===
Chính phủ Anh Quốc bao gồm các bộ ngành, đứng đầu là bộ trưởng, thường cũng là thành viên Nội các. Các quyết định của bộ trưởng được thực thi bởi một bộ máy thường trực, trung lập về khuynh hướng chính trị, gọi là cơ chế dịch vụ công. Vai trò hiến định của cơ chế này là vận hành bộ máy công quyền bất kể chính đảng nào lên nắm quyền, các công chức vẫn tiếp tục duy trì vị trí của mình mỗi khi có thay đổi chính phủ. Các chức trách hành chánh được đặt dưới quyền của một công chức, thường là thứ trưởng thường trực. Đa phần các đơn vị dịch vụ công hoạt động như là các cơ quan hành pháp, đó là các tổ chức điều hành riêng lẻ chịu trách nhiệm với các bộ của chính phủ.
"Whitehall" thường được dùng như là từ đồng nghĩa với trung tâm quyền lực của bộ máy công quyền do hầu hết trụ sở của các bộ tập trung trong và chung quanh Điện Whitehall.
== Lập pháp ==
Quốc hội là trung tâm của hệ thống chính trị tại Liên hiệp Vương quốc Anh, cũng là định chế lập pháp tối cao. Chính phủ được hình thành từ quốc hội và chịu trách nhiệm trước quốc hội. Quốc hội theo chế độ lưỡng viện gồm có Viện Thứ dân và Viện Quý tộc.
=== Viện Thứ dân ===
Vương quốc Anh được chia thành các đơn vị bầu cử có dân số tương đương nhau (được ấn định bởi Ủy ban Địa giới), mỗi đơn vị bầu chọn một thành viên quốc hội cho Viện Thứ dân (Hạ viện). Trong số 646 dân biểu hiện chỉ có một người là không thuộc chính đảng nào. Trong lịch sử đương đại, tất cả thủ tướng và lãnh tụ đảng đối lập đều đến từ Viện Thứ dân, ngoại trừ Lord Alec Douglas-Holmes, người phải từ chức khỏi Viện Quý tộc để trở thành thủ tướng năm 1963. Thủ tướng sau cùng được chọn từ Viện Quý tộc là Hầu tước xứ Salisbury, rời chức vụ năm 1902.
Cơ chế bầu cử chọn một đại diện cho một đơn vị bầu cử đã giúp hình thành hệ thống lưỡng đảng hiện hành. Thông thường, quốc vương ủy nhiệm cho nhân vật nhiều quyền lực nhất ở Hạ viện thành lập chính phủ khi có một chính đảng nắm thế đa số. Trong tình huống đặc biệt, nhà vua có thể yêu cầu một chính khách với thiểu số ở quốc hội thành lập chính phủ khi không có đảng chiếm đa số đòi quyền thành lập chính phủ liên hiệp. Sự chọn lựa này chỉ xảy ra trong những tình huống khẩn cấp như đang trong tình trạng chiến tranh. Cần lưu ý rằng chính phủ được thành lập không phải bởi nghị quyết của quốc hội nhưng bởi sự ủy nhiệm của vương triều. Viện Thứ dân có cơ hội biểu thị sự tín nhiệm dành cho chính phủ khi biểu quyết cho bài Diễn văn Vương quyền (chương trình lập pháp được soạn thảo bởi chính phủ tân lập).
=== Viện Quý tộc ===
Viện Quý tộc (Thượng viện) trước đây là một thiết chế cấu thành bởi các nhà quý tộc có quyền thế tập. Hiện nay, những cải cách vẫn đang tiến hành đã biến nơi này thành một tập hợp gồm các thành viên có quyền thế tập, các giám mục của Giáo hội Anh Quốc và các thành viên được bổ nhiệm (quý tộc trọn đời nhưng không truyền chức cho hậu duệ để những người này có thể gia nhập viện quý tộc). Viện Quý tộc xem xét các đạo luật được thông qua bởi Viện Thứ dân, có quyền đưa ra những tu chính cũng như có quyền phủ quyết trì hoãn, cho phép Viện Quý tộc trì hoãn các đạo luật trong thời hạn mười hai tháng. Tuy vậy, quyền phủ quyết này bị giới hạn bởi tập quán và bởi Bộ Luật Quốc hội.
Viện Quý tộc cũng là tòa kháng án chung thẩm của Liên hiệp Vương quốc Anh, mặc dù trong thực thế chỉ có một nhóm nhỏ thành viên Viện Quý tộc tham gia các vụ xét xử. Đạo luật Cải cách Hiến pháp năm 2005 phác thảo kế hoạch thành lập Tối cao Pháp viện Liên hiệp Vương quốc Anh để thay thế vai trò của Viện Quý tộc.
== Tư pháp ==
Quan Chưởng ấn (The Lord Chancellor) là người đứng đầu nhánh tư pháp tại Anh và xứ Wales, bổ nhiệm thẩm phán cho các tòa hình sự trên danh nghĩa của vương triều. Quan Chưởng ấn đảm nhiệm các chức trách trong cả ba nhánh của chính quyền – hành pháp, lập pháp và tư pháp. Đây là nét đặc thù trong vòng các nền dân chủ của thế giới hiện đại. Tuy nhiên, Đạo luật Cải cách Hiến pháp năm 2005 dời bỏ nhiều quyền hạn của chức danh này để trao cho các chức danh khác trong chính quyền nước Anh bằng cách thành lập chức vụ Bộ trưởng Hiến pháp Sự vụ, trong khi đó một phần trong các chức trách của quan chưởng ấn tại Viện Quý tộc được giao cho Chủ tịch Viện Quý tộc.
== Ủy thác ==
Bên cạnh Viện Thứ dân, xứ Scotland, xứ Wales và Bắc Ireland cũng thành lập nghị viện riêng.
Một số thành viên thuộc các định chế ủy thác này được chọn dựa trên tỷ lệ số phiếu bầu (proportional representation). Mặc dù được ủy thác một số quyền lập pháp và các quyền khác, các nghị viện này không có quyền lực ngang bằng với Quốc hội của vương quốc. Thuộc hệ thống chính quyền ủy thác, được quy định bởi một đạo luật của Quốc hội nước Anh, chúng không có quyền hiến định tồn tại độc lập, cũng không có quyền mở rộng, thu hẹp hoặc thay đổi cơ cấu.
Như thế, Liên hiệp Vương quốc Anh có thể được miêu tả như là một quốc gia thống nhất với hệ thống chính quyền ủy thác. Cấu trúc này khác với hệ thống liên bang, theo đó nghị viện các tiểu bang có quyền hiến định về sự hiện hữu độc lập cũng như có quyền hành xử một số chức trách được ấn định và bảo đảm bởi hiến pháp, là những quyền mà quốc hội trung ương không thể đơn phương hủy bỏ.
=== Xứ Anh ===
Mặc dù có yêu cầu đến từ các nhóm áp lực, chính phủ vẫn không có ý định thành lập một nghị viện cho xứ Anh. Một trong những lý do gây nhiều tranh cãi là các nghị sĩ đến từ những vùng khác nhau trên khắp đất nước có các quyền riêng biệt. Một dân biểu đại diện cho Scotland có thể bỏ phiếu cho một đạo luật có ảnh hưởng không chỉ ở xứ Anh, nhưng các dân biểu đại diện cho xứ Anh không thể biểu quyết về những sự vụ đã được ủy thác cho Nghị viện Scotland. Thật vậy, Bộ trưởng Nội vụ đương nhiệm, John Reid, là dân biểu đại diện một hạt bầu cử ở Scotland, lãnh đạo một bộ mà hầu hết các chức trách đều diễn ra ở xứ Anh và xứ Wales.
Chủ trương của chính phủ là thành lập trong xứ Anh các nghị viện địa phương không có quyền lập pháp. Nghị viện Luân Đôn là thiết chế đầu tiên theo loại hình này, thành lập năm 2000 sau một cuộc trưng cầu dân ý tổ chức năm 1998, nhưng các dự tính tương tự nhằm thành lập một nghị viện dân cử cho vùng Đông Bắc xứ Anh đã bị hủy bỏ sau khi người dân bác bỏ kế hoạch này trong cuộc trưng cầu dân ý năm 2004. Các nghị viện địa phương không do dân bầu vẫn được duy trì tại tám khu vực thuộc xứ Anh.
=== Scotland ===
Nghị viện Scotland được thành lập bởi Đạo luật Scotland năm 1998, kỳ họp đầu tiên với tư cách là một nghị viện ủy thác được triệu tập ngày 12 tháng 5 năm 1999. Nghị viện có quyền thông qua luật và có một số quyền có giới hạn trong quyết định thay đổi các loại thuế. Một chức năng khác của nghị viện là giám sát Thẩm quyền Hành pháp của Scotland. Những sự vụ được ủy thác bao gồm giáo dục, y tế, nông nghiệp và tư pháp. Thẩm quyền về nội chính và ngoại giao, trong một mức độ, thuộc về Quốc hội của Vương quốc tại Westiminster.
=== Xứ Wales ===
Nghị viện xứ Wale là một thiết chế được ủy thác làm luật trong xứ Wales, cũng như chịu trách nhiệm về hầu hết các bộ ngành của Vương quốc trong lãnh thổ xứ Wales. Nghị viện được thành lập theo Đạo luật Chính quyền xứ Wales năm 1998 bởi chính phủ đảng Lao động sau cuộc trưng cầu ý dân năm 1997. Không có sự phân biệt hiến định nào về chức trách lập pháp và hành pháp của nghị viện, bởi vì nó là một thực thể đồng nhất. Rõ ràng đây là điều bất thường khi so sánh với những thể chế đại nghị khác, nhưng ngày càng có sự phân lập giữa hai nhánh lập pháp và hành pháp. Đang có dự tính thể chế hóa sự phân lập, và hầu như chắc chắn là Quốc hội Vương quốc Anh sẽ thông qua những đạo luật cần thiết để hoàn thành tiến trình này.
Mặc dù là một thiết chế lập pháp, nghị viện xứ Wales không có quyền thông qua ngân sách, quyền này thuộc về Westminster. Dù vậy, tình trạng này sẽ thay đổi khi Dự luật Chính quyền xứ Wales sẽ được thông qua trong năm 2006.
=== Bắc Ireland ===
Chính quyền hiện nay của Bắc Ái Nhĩ Lan là kết quả của Hiệp ước Thứ Sáu Tuần thánh năm 1998 quyết định thành lập Nghị viện Bắc Ái Nhĩ Lan (hiện vẫn đang trì hoãn). Nghị viện có 108 thành viên được chọn theo thể thức đại diện theo tỷ lệ phiếu bầu. Nghị viện lập nền trên nguyên tắc chia sẻ quyền lực hầu có thể bảo đảm cả hai cộng đồng ở Bắc Ái Nhĩ Lan, một phe chủ trương thống nhất với nước Anh trong khi phe kia có chủ trương dân tộc, đều có thể dự phần vào việc cai trị xứ sở. Khi bắt đầu hoạt động, nghị viện này có quyền lập pháp trong phạm vi khu vực cũng như bầu chọn nội các cho Bắc Ái Nhĩ Lan. Trụ sở Nghị viện đặt tại Stormont ở Belfast.
Trong khi việc thành lập Nghị viện đang bị trì hoãn, quyền lập pháp được giao cho chính quyền Liên hiệp Vương quốc Anh.
== Bầu cử ==
Không giống các quốc gia châu Âu khác, Liên hiệp Vương quốc Anh sử dụng hệ thống một đại biểu cho một đơn vị bầu cử (first-past-the-post system) để tuyển chọn thành viên Quốc hội. Do đó, các cuộc tuyển cử và các chính đảng tại Anh bị chi phối bởi Luật Duverger, dẫn đến việc qui tụ các ý thức hệ chính trị tương đồng về một vài chính đảng lớn và hạn chế khả năng của các đảng nhỏ giành được quyền đại diện tại Quốc hội.
Trong lịch sử, chính trường nước Anh bị chi phối bởi hệ thống lưỡng đảng, mặc dù hiện nay có ba chính đảng đang kiểm soát hệ thống chính trị tại đây. Lúc đầu, Bảo thủ và Tự do là hai chính đảng thống trị chính trường, nhưng Đảng Tự do sụp đổ vào đầu thế kỷ 20 và được thế chỗ bởi Đảng Lao động. Trong thập niên 1980, các đảng viên Tự do sáp nhập với Đảng Dân chủ Xã hội để thành lập thành lập Đảng Dân chủ Tự do, có đủ thực lực để được xem là một chính đảng lớn. Còn có các chính đảng nhỏ hơn tham gia vào các cuộc tuyển cử. Trong số này có vài đảng giành được ghế tại Quốc hội.
Trong cuộc tổng tuyển cử gần đây nhất tổ chức năm 2005, Đảng Lao động giành được chiến thắng với đa số sút giảm để tiếp tục cầm quyền, trong khi đảng Bảo thủ và đảng Dân chủ Tự do dành thêm ghế từ đảng Lao động.
== Các chính đảng ==
=== Lịch sử ===
Các đảng chính trị bắt đầu xuất hiện tại Anh từ năm 1662 sau khi cuộc Nội chiến Anh kết thúc với sự ra đời của Đảng Cung đình (Court Party) và Đảng Nông thôn (Country Party), sau này trở thành Đảng Tory (nay là đảng Bảo thủ, mặc dù vẫn thường được gọi là "Tory") và Đảng Whig (nay là đảng Dân chủ Tự do). Hai chính đảng này vẫn duy trì vị thế chính trị quan trọng trong cho đến thế kỷ 20.
Tên gọi của hai đảng này bắt nguồn từ cuộc khủng hoảng Dự luật Khai trừ trong những năm 1678-1681 – đảng Whig ủng hộ việc khai trừ Công tước xứ York theo đức tin Công giáo khỏi quyền kế thừa ngai vàng của xứ Anh, Ái Nhĩ Lan và xứ Scotland, trong khi đảng Tory chống lại chủ trương khai trừ này. Cả hai tên gọi được dùng để biểu thị sự khinh miệt: "whiggamor" là "đồ chăn bò" (cattle driver) và "tory" trong tiếng Ái Nhĩ Lan nghĩa là "đồ vô lại" (an outlaw).
Đại thể, đảng Tory có quan hệ với giới thượng lưu và Giáo hội Anh, trong khi đảng Whig gần gũi hơn với giới nghiệp đoàn, tài chính và chủ đất.
Đảng Cấp tiến Rochdale qui tụ những người theo đuổi khuynh hướng cải cách triệt để, hoạt động tích cực cho phong trào hợp tác xã. Họ chủ trương xây dựng một xã hội bình đẳng hơn. Đảng này nên được xếp vào cánh tả nếu xét theo tiêu chuẩn đương đại.
Sau năm 1815, đảng Tory trải qua một cuộc cải tổ sâu sắc dưới ảnh hưởng của Robert Peel, một nhà công nghiệp, trong năm 1834 với bản Tuyên ngôn Tamworth, Peel phác thảo triết lý "Bảo thủ" chủ trương cải cách những tệ nạn trong khi vẫn bảo tồn những tập quán tốt.
Năm 1846, do bất đồng về vấn đề tự do thương mại, một số người ủng hộ Peel tách khỏi đảng Tory để gia nhập đảng Whig và kết hợp với đảng Cấp tiến để thành lập Đảng Tự do, trong khi chủ trương của Peel vẫn được duy trì trong đảng Tory, từ đó đảng này chính thức chấp nhận danh xưng Bảo thủ.
Mặc dù đã được sử dụng trong những thập niên trước đó, tên "Đảng Tự do" trở nên danh xưng chính thức trong năm 1868. Năm 1870 Đảng Tự do thành lập chính phủ, từ đó cùng với Đảng Bảo thủ luân phiên cầm quyền suốt từ cuối thế kỷ 19 đến đầu thế kỷ 20.
Năm 1882, Đảng Đại nghị Ái Nhĩ Lan được thành lập để thế chỗ của Liên minh Cầm quyền Nội địa. Mãi đến năm 1918 đảng này vẫn là chính đảng lớn thứ ba trong chính trường nước Anh, thường thủ giữ vị trí cân bằng lực lượng.
Năm 1900, Ủy ban Đại diện Lao động ra đời, đến năm 1906 đổi tên thành Đảng Lao động. Sau Chiến tranh thế giới thứ nhất, đảng Lao động được xem là động lực cải cách chính tại Anh. Sự hiện diện của Đảng Lao động ở phe tả của chính trường nước Anh dần dà làm suy yếu Đảng Tự do để cuối cùng đẩy đảng này xuống vị trí thứ ba trong nền chính trị quốc gia. Sau những kết quả nghèo nàn trong các cuộc tuyển cử năm 1922, 1923 và 1924, đảng Tự do đã bị thế chỗ bởi Đảng Lao động trong vị trí của một chính đảng cánh tả.
Theo sau hai giai đoạn ngắn thành lập chính phủ thiểu số trong năm 1924 và 1929-1931, đảng Lao động có được chiến thắng đầu tiên sau Chiến tranh thế giới thứ hai trong cuộc bầu cử năm 1945. Trong những năm còn lại của thế kỷ 20, đảng Lao động cùng với đảng Bảo thủ luân phiên thành lập chính phủ. Phần lớn thời gian cầm quyền thuộc về Đảng Bảo thủ trong khi Đảng Lao động chịu đựng "thời kỳ hoạn nạn" trong những năm 1951-1964 (thất bại trong ba kỳ tổng tuyển cử liên tiếp) và năm 1979-1997 (thất bại trong bốn kỳ tổng tuyển cử liên tiếp).
Năm 1975, Margaret Thatcher, một chính trị gia hữu khuynh, nắm quyền lãnh đạo Đảng Bảo Thủ và bắt tay tiến hành những cải cách cơ bản trong chính sách của đảng hướng theo chủ trương tân tự do. Trong cuộc tổng tuyển cử năm 1979, Thatcher đánh bại chính phủ đảng Lao động của James Callaghan đang gặp khó khăn sau những cuộc đình công lan rộng đòi tăng lương khởi xướng bởi các nghiệp đoàn trong "mùa đông bất bình" năm 1978-79.
Trong thập niên 1980 và 1990, dưới sự lãnh đạo của người kế nhiệm John Major, chính phủ Bảo thủ theo đuổi chính sách tư hữu hóa, đối kháng nghiệp đoàn và tiền tệ, được gọi chung là chủ thuyết Thatcher.
Đảng Lao động bầu một nhân vật khuynh hữu, Michael Foot, vào vị trí lãnh tụ đảng sau thất bại trong cuộc tuyển cử năm 1979. Nhằm giải quyết những bất bình trong nội bộ đảng, Foot theo đuổi các chính sách cấp tiến cổ xúy bởi các đảng viên ở hạ tầng cơ sở. Năm 1981, một số nghị sĩ cánh hữu thành lập một nhóm ly khai gọi là Đảng Dân chủ Xã hội (SDP); hành động gây phân hóa trong đảng Lao động và được xem là nguyên nhân dẫn đến sự thất bại của đảng trong suốt một thập niên. Đảng Dân chủ Xã hội thành lập liên minh với Đảng Tự do, trong các cuộc tổng tuyển cử năm 1983 và 1987 liên minh này được xem là một chọn lựa cho những cử tri tìm kiếm một khuynh hướng trung dung giữa đảng Lao động và đảng Bảo thủ. Sau một vài thành công ban đầu, đảng Dân chủ Xã hội trở nên trì trệ có lẽ vì phải chia phiếu trong vòng cử tri chống đảng Bảo thủ.
Cuối cùng vào năm 1988, đảng Dân chủ Xã hội sáp nhập với đảng Tự do để trở thành Đảng Dân chủ Tự do. Sự ủng hộ dành cho đảng tân lập gia tăng từ đó, dành thêm ghế trong Viện Thứ dân qua các cuộc bầu cử năm 1997 và 2001.
Trong cuộc tổng tuyển cử năm 1983, đảng Lao động thất bại thảm hại trước đảng Bảo thủ. Michael Foot phải ra đi và được thay thế bởi Neil Kinnok trong vị trí lãnh tụ đảng. Kinnok trục xuất nhóm tả khuynh Militant Tendency và tìm cách dung hòa các chính sách của đảng. Sau thất bại sít sao trong cuộc tổng tuyển cử năm 1992, Kinnok bị thay thế bởi John Smith.
Năm 1994,Tony Blair trở nên lãnh tụ đảng Lao động sau cái chết đột ngột vì bệnh tim của John Smith. Blair tiếp tục hướng đảng Lao động về phía hữu bằng cách nới lỏng các quan hệ với giới nghiệp đoàn đồng thời áp dụng nhiều chính sách của Margaret Thatcher. Chủ trương này, cùng với tiến trình chuyên nghiệp hóa phương pháp tiếp cận với các phương tiện truyền thông, giúp mang lại thành công cho đảng Lao động trong cuộc tổng tuyển cử năm 1997 với chiến thắng vang dội. Do bớt nhấn mạnh đến khía cạnh xã hội và tập chú nhiều hơn vào tính dân chủ mà đảng Lao động đã giành được ba chiến thắng áp đảo nhưng lại trở nên xa lạ với nhiều đảng viên cốt cán của mình.
== Chính quyền địa phương ==
Vương quốc Anh được phân chia theo các mô hình hành chính địa phương khác nhau với các chức trách riêng biệt. Những đơn vị hành chính này lại được chia nhỏ thành xã ở vùng quê và phường ở đô thị.
Chính quyền địa phương chịu trách nhiệm trong các sự vụ như quản lý giáo dục, vận tải công cộng, và quản trị đất công. Chính quyền cũng thường tham gia vào các vấn đề quản trị cộng đồng.
Phường có hội đồng phường, trong một số khu vực được gọi là hội đồng thị trấn hoặc thành phố, cấu thành bởi các nghị viên dân cử. Tại các phường nhỏ, việc điều hành theo thể thức dân chủ trực tiếp.
Hiện tồn tại hai hình thái chính quyền địa phương phổ biến rộng rãi nhất tại nước Anh: hệ thống cũ với cấu trúc hai cấp, và hệ thống mới với cấu trúc thống nhất. Hệ thống cũ có Hội đồng Quận (District Council) và Hội đồng Hạt (County Council). Hội đồng Quận chịu trách nhiệm thu gom rác, cấp phép quy hoạch và gia cư. Hội đồng Hạt đảm trách các sự vụ như giáo dục, dịch vụ xã hội, vận chuyển công cộng và một vài chức năng địa phương khác.
Chính quyền thống nhất - hiện hữu trên khắp xứ Scotland, xứ Wales, Bắc Ái Nhĩ Lan và một số khu vực thuộc xứ Anh – có cấu trúc hành chính một cấp bằng cách sáp nhập hội đồng quận và hội đồng hạt thành một đơn vị thống nhất.
Tại Đại Đô thị Luân Đôn, hiện hữu một hệ thống hành chính độc đáo có cấu trúc hai tầng, theo đó quyền lực được chia sẻ giữa các hội đồng quận và Chính quyền Đô thị Luân Đôn dưới sự lãnh đạo của một thị trưởng dân cử.
== Liên minh Âu châu ==
Liên hiệp Vương quốc Anh là thành viên của Liên minh Âu châu (EU). Như thế, công dân Anh có quyền bầu chọn 78 đại biểu tham gia Nghị viện Âu châu đặt trụ sở tại Brussels và Strasbourg.
Trong những năm gần đây, bên trong hai chính đảng lớn xảy ra tình trạng phân hóa về lập trường của nước Anh đối với EU, liệu nước Anh nên thúc đẩy các mối quan hệ với EU, hoặc cố làm suy giảm quyền lực siêu quốc gia của tổ chức này, hoặc giữ nguyên trạng. Sự bất đồng này là một vấn đề nghiêm trọng trong cả hai chính đảng, mặc dù Đảng Bảo thủ vẫn được xem là bị phân hóa vì điều này trong thời kỳ chấp chính cho đến năm 1997, trong khi Đảng Lao động phải đối diện với sự chia rẽ trong Nội các về những mối quan hệ của nước Anh với EU và với Hiến chương mới của định chế này.
== Xem thêm ==
Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland
Nữ hoàng Elizabeth II
Tony Blair
== Tham khảo ==
== Liên kết ngoài ==
List of UK Cabinet and other Ministers - Official UK Government site
UK Government departments - how they work - Official UK Government site
The role of UK Government Ministers - Official UK Government site
How the Cabinet works - Official UK Government site
The Civil Service explained - Official UK Government site
What are Executive agencies? - Official UK Government site
British Politics - the only academic journal devoted purely to the study of political issues in Britain
Directgov, main entry point for citizens to the UK government
Business Link, main entry point for businesses to the UK government
Official UK parliament website
Official UK parliamentary membership by party
British Government and Politics on the Internet from the Keele University School of Politics
EPolitix - UK Politics news website
British Political History Links from BUBL
Politicalnews.co.uk
Rupert Myers' political blog
Labour-Leadership.com Discuss the leadership election of the Labour party |
quảng trị.txt | Quảng Trị là một tỉnh ven biển thuộc vùng cực Bắc Trung Bộ Việt Nam. Đây là tỉnh có Khu phi quân sự vĩ tuyến 17, là giới tuyến chia cắt hai miền Bắc - Nam Việt Nam, do đó cũng là một chiến trường ác liệt nhất trong suốt 20 năm của cuộc Chiến tranh Việt Nam (1954 - 1975)
== Lịch sử ==
=== Trong cổ sử ===
Từ thời Hùng Vương - An Dương Vương, vùng Quảng Trị ngày nay được cho là thuộc lãnh địa bộ Việt Thường của Nhà nước Văn Lang - Âu Lạc. Đầu thời Hán thuộc (từ năm 179 trước Công Nguyên đến năm 192), Quảng Trị thuộc đất quận Nhật Nam. Cuối thế kỷ 2, nhân triều đình nhà Hán sụp đổ, Trung Quốc rơi vào tình trạng loạn lạc, cát cứ, một chính quyền bản xứ của quận Nhật Nam và xứ Tượng Lâm đã được hình thành, lập nên vương quốc Lâm Ấp. Lãnh thổ của Lâm Ấp được phỏng đoán tương ứng với vùng từ đèo Hải Vân đến đèo Ngang ngày nay, tức bao gồm cả vùng Quảng Trị.
=== Thời Lý ===
Tuy mãi đến thế kỷ 10 mới giành lại được độc lập, nhưng các chính quyền của nhà nước Đại Việt nhanh chóng phát triển về mọi mặt và luôn tìm cách phát triển lãnh thổ để giành lấy không gian sinh tồn trước sự uy hiếp của Trung Quốc ở phía Bắc và Chăm Pa (hậu thân của Lâm Ấp) ở phía Nam. Sự phát triển nhanh chóng của Đại Việt là mối lo ngại cho Chăm Pa cũng như tham vọng của nhà Tống. Để loại trừ mọi uy hiếp ở phía Nam và phá tan âm mưu của nhà Tống câu kết với Chăm Pa đánh phá Đại Việt, năm 1069 vua Lý Thánh Tông thân chinh thống lĩnh 5 vạn quân cùng Lý Thường Kiệt đi tiên phong đánh thẳng vào kinh đô Chà Bàn, bắt được vua Chăm Pa là Rudravarman III (sử Việt chép tên là Chế Củ) đưa về Thăng Long.
Để chuộc tội, Chế Củ xin dâng 3 châu: Bố Chính, Địa Lý và Ma Linh cho Đại Việt. Vua Lý Thánh Tông nhận 3 châu đó rồi tha cho Chế Củ về nước. Ông cho đổi châu Địa Lý thành châu Lâm Bình, châu Ma Linh thành châu Minh Linh. Địa bàn của châu Minh Linh được phỏng đoán tương ứng với vùng đất từ Cửa Việt trở ra phía bắc Quảng Trị ngày nay, gồm các huyện Gio Linh, Cam Lộ, Đa Krông, một phần đất của thành phố Đông Hà, các huyện Hướng Hóa và Vĩnh Linh hiện nay.
=== Thời Trần ===
Một trong những sự kiện lịch sử đáng nhớ của Quảng Trị xảy ra vào thời nhà Trần. Năm 1306, vua Chăm Pa là Jaya Sinhavarman III (sử Việt chép là Chế Mân) dâng biểu cầu hôn lên vua Trần Anh Tông xin cưới Công chúa Huyền Trân và dâng 2 châu Ô và Lý (Rí) làm vật sính lễ. Vua Trần bằng lòng gả công chúa Huyền Trân cho Chế Mân và nhận hai châu Ô, Rí. Năm 1309, nhà Trần đổi châu Ô thành Thuận Châu, châu Rí thành Hóa Châu. Địa bàn Thuận Châu tương ứng với vùng đất từ sông Hiếu - Cửa Việt trở vào phía Nam Quảng Trị ngày nay, trong đó có các huyện Hải Lăng, Triệu Phong, thị xã Quảng Trị và một phần đất thành phố Đông Hà hiện nay.
=== Thời kỳ Nam tiến ===
Từ đó cho đến khi người Việt hoàn thành công cuộc Nam tiến, dù có vài lần Chăm Pa chiếm lại được quyền kiểm soát, nhưng chung quy người Việt vẫn làm chủ được vùng này. Đặc biệt từ sau năm 1558, khi Nguyễn Hoàng được vua Lê Anh Tông sai vào trấn thủ Thuận Hóa, đóng Dinh Cát ở Ái Tử, các chúa Nguyễn đã áp dụng những chính sách di dân cũng như cho phép người nước ngoài nhập cư vào Đàng Trong, đặc biệt là người Hoa, nhằm làm tăng nhanh dân số cũng như tiềm lực kinh tế để làm cơ sở tranh hùng với các chúa Trịnh ở Đàng Ngoài.
=== Thời nhà Nguyễn ===
Trong suốt gần 300 năm, vùng đất Quảng Trị tồn tại với tên gọi Cựu dinh thuộc vào trấn Thuận Hóa. Mãi đến sau khi Gia Long lên ngôi năm 1802, đã đặt lại Cựu dinh thành dinh Quảng Trị, bao gồm các huyện Hải Lăng, Đặng Xương (tên cũ là Vũ Xương), Minh Linh và đạo Cam Lộ. Năm 1806, Quảng Trị trở thành dinh trực lệ kinh sư Huế. Năm 1822, đặt châu Hướng Hóa lệ thuộc đạo Cam Lộ. Đến năm 1827, dinh Quảng Trị nâng lên thành trấn Quảng Trị. Năm 1832, trấn Quảng Trị đổi thành tỉnh Quảng Trị. Năm 1853, tỉnh Quảng Trị hợp nhất với phủ Thừa Thiên thành đạo Quảng Trị. Tới năm 1876, tỉnh Quảng Trị được tái lập.
=== Thời Pháp thuộc ===
Sau khi nắm được quyền kiểm soát Đông Dương, ngày 3 tháng 5 năm 1890, Toàn quyền Đông Dương Jules Georges Piquet ra Nghị định hợp Quảng Trị với tỉnh Quảng Bình thành tỉnh Bình Trị. Ngày 23 tháng 1 năm 1896, Toàn quyền Paul Armand Rousseau ra Nghị định rút Quảng Trị ra khỏi địa hạt thuộc quyền Công sứ Đồng Hới, cùng Thừa Thiên dưới quyền Công sứ Trung Kỳ, đặt một phó Công sứ đại diện cho Khâm sứ ở Quảng Trị. Đến năm 1900, Toàn quyền Paul Doumer ra Nghị định tách Quảng Trị ra khỏi Thừa Thiên lập thành một tỉnh riêng biệt gồm 4 phủ: Triệu Phong (Thuận Xương cũ), Hải Lăng, Vĩnh Linh (Chiêu Linh cũ) Cam Lộ và huyện Gio Linh. Ngày 17 tháng 2 năm 1906, Toàn quyền Paul Beau ra Nghị định thành lập thị xã Quảng Trị và đặt làm tỉnh lỵ.
=== Việt Nam Cộng hòa ===
Sau Hiệp định Genève, 1954, sông Bến Hải được chọn làm giới tuyến quân sự tạm thời, tỉnh Quảng Trị tạm thời chia làm hai vùng: Vùng bờ nam sông Bến Hải là tỉnh Quảng Trị, gồm các huyện: Hải Lăng, Triệu Phong, Cam Lộ, Gio Linh, Hướng Hóa, xã Vĩnh Liêm và một phần của xã Vĩnh Sơn (Vĩnh Linh), thị xã Quảng Trị, do chính quyền Việt Nam Cộng hòa quản lý; hơn 3/4 địa bàn và dân cư của huyện Vĩnh Linh ở phía Bắc vĩ tuyến 17 (sông Bến Hải) do Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa quản lý, được thành lập đặc khu. Đặc khu Vĩnh Linh tương đương đơn vị hành chính cấp tỉnh, trực thuộc Trung ương.
=== Sau giải phóng ===
==== Bình Trị Thiên ====
Sau khi Sài Gòn thất thủ (30-4-1975), tỉnh Quảng Trị và đặc khu Vĩnh Linh được Cộng hòa Miền Nam Việt Nam tiếp quản. Từ tháng 3 năm 1976, thực hiện Quyết định của Quốc hội nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam, Quảng Trị cùng hai tỉnh Quảng Bình, Thừa Thiên và đặc khu Vĩnh Linh hợp nhất thành tỉnh mới là Bình Trị Thiên. Ngày 11 tháng 3 năm 1977, hợp nhất 3 huyện Vĩnh Linh, Gio Linh và Cam Lộ thành huyện Bến Hải; hợp nhất 2 huyện Triệu Phong và Hải Lăng thành huyện Triệu Hải.
==== Tái lập tỉnh ====
Tháng 7 năm 1989, Quốc hội nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam (khóa VIII, kỳ họp thứ 5) quyết định chia tỉnh Bình Trị Thiên thành 3 tỉnh: Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên-Huế. Ngày 1 tháng 7 năm 1989, Quảng Trị trở thành đơn vị hành chính cấp tỉnh, gồm thị xã Đông Hà (tỉnh lị) và 3 huyện: Bến Hải, Hướng Hóa, Triệu Hải.
Từ năm 1990, có sự thay đổi về địa giới và tên gọi một số huyện, thị xã như sau: Huyện Bến Hải được tách ra thành lập 2 huyện: Vĩnh Linh, Gio Linh; huyện Triệu Hải tách ra thành lập 2 huyện: Hải Lăng, Triệu Phong và thị xã Quảng Trị. Ngày 19 tháng 10 năm 1991, thị xã Đông Hà tách ra thành lập huyện Cam Lộ và thị xã Đông Hà (tỉnh lỵ Quảng Trị).
Ngày 17 tháng 12 năm 1996, huyện Đa Krông được thành lập trên cơ sở tách 10 xã thuộc huyện Hướng Hóa và 3 xã thuộc huyện Triệu Phong. Ngày 1 tháng 10 năm 2004, thành lập huyện đảo Cồn Cỏ.
Ngày 11 tháng 8 năm 2009, chuyển thị xã Đông Hà thành thành phố Đông Hà. Từ năm 2009, toàn tỉnh có 10 đơn vị hành chính cấp huyện, thị xã (trong đó có 7 huyện, 1 thị xã, 1 thành phố), có 136 xã, phường và thị trấn.
== Vị trí địa lý ==
Phía Bắc giáp tỉnh Quảng Bình, phía Nam giáp tỉnh Thừa Thiên-Huế, phía Tây giáp các tỉnh Savannakhet và Saravane của Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào, phía Đông giáp biển Đông. Tỉnh lỵ của Quảng Trị là thành phố Đông Hà nằm cách thủ đô Hà Nội 593 km về phía Bắc và cách Thành phố Hồ Chí Minh 1.120 km về phía Nam theo đường Quốc lộ 1A.
Quảng Trị là một tỉnh nằm ở dải đất miền Trung Việt Nam, nơi chuyển tiếp giữa hai miền địa lý Bắc - Nam. Tọa độ địa lý trên đất liền Quảng Trị ở vào vị trí:
Cực Bắc là 17°10′ vĩ Bắc, thuộc địa phận thôn Mạch Nước, xã Vĩnh Thái, huyện Vĩnh Linh.
Cực Nam là 16°18′ vĩ Bắc thuộc bản A Ngo, xã A Ngo, huyện Đa Krông. Ngập úng vào mùa mưa lũ.
Cực Đông là 107°23′58″ kinh Đông thuộc thôn Thâm Khê, xã Hải Khê, Hải Lăng.
Cực Tây là 106°28′55″ kinh Đông, thuộc địa phận đồn biên phòng Cù Bai, xã Hướng Lập, Hướng Hóa.
Với tọa độ địa lý này, Quảng Trị được tạo nên bởi một không gian lãnh thổ mang sắc thái khí hậu nhiệt đới ẩm, điển hình của vòng đai nội chí tuyến Bắc bán cầu và chịu ảnh hưởng rất lớn của biển Đông.
Phía Bắc của tỉnh Quảng Trị giáp huyện Lệ Thủy (tỉnh Quảng Bình), phía Nam giáp hai huyện A Lưới, Phong Điền (tỉnh Thừa Thiên-Huế), phía Tây giáp tỉnh Savanakhet (Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào), với chiều dài biên giới chung với Lào là 206 km, được phân chia bởi dãy Trường Sơn hùng vĩ. Phía Đông giáp biển Đông với chiều dài bờ biển 75 km và được án ngữ bởi đảo Cồn Cỏ, có tọa độ địa lý 17°9′36″ vĩ Bắc và 107°20′ kinh Đông, đảo Cồn Cỏ cách bờ biển (Mũi Lay) 25 km, diện tích khoảng 4 km². Chiều ngang trung bình của tỉnh 63,9 km, (chiều ngang rộng nhất 75,4 km, chiều ngang hẹp nhất 52,5 km).
Tuy với một diện tích không rộng, người không đông nhưng do nằm ở vị trí chiến lược quan trọng nên Quảng Trị đã và đang giữ vai trò trọng yếu trong việc bảo vệ và khai thác biển Đông, giao lưu giữa hai miền Bắc - Nam của đất nước cũng như lưu thông thuận lợi với các nước phía tây bán đảo Đông dương, các nước khác trong khu vực Đông Nam Á và thế giới qua Lao Bảo - hành lang quốc lộ số 9 ra cảng Cửa Việt.
== Điều kiện tự nhiên ==
=== Địa hình ===
Địa hình đa dạng bao gồm núi, đồi, đồng bằng, cồn cát và bãi biển chạy theo hướng tây bắc - đông nam. Quảng Trị có nhiều sông ngòi với 7 hệ thống sông chính là sông Thạch Hãn, sông Bến Hải, sông Hiếu, sông Ô Lâu, sông Bến Đá, sông Xê Pôn và sông Sê Păng Hiêng. Sông ở các huyện miền núi có khả năng xây dựng thủy điện vừa và nhỏ. Nhìn đại thể, địa hình núi, đồi và đồng bằng Quảng Trị chạy dài theo hướng tây bắc - đông nam và trùng với phương của đường bờ biển.
Sự trùng hợp này được thấy rõ trên dường phân thủy giữa Trường Sơn Đông và Trường Sơn Tây. Ở Quảng Bình, các đỉnh cao nhất đều nằm ở giữa đường biên giới Việt - Lào nhưng ở Quảng Trị, các đỉnh cao lại nằm sâu trong lãnh thổ Việt Nam. Các sông lớn như Sê Păng Hiêng, Sê Pôn... đều bắt nguồn từ Việt Nam chảy qua Lào.Tuy nhiên nếu xem xét địa hình ở quy mô nhỏ hơn, từng dãy núi, từng dải đồi thì địa hình lại có hướng song song với các thung lũng sông lớn như Cam Lộ, Thạch Hãn, Bến Hải...
Tính phân bậc của địa hình từ tây sang đông thể hiện khá rõ ràng. Nếu ở phía tây của đường phân thủy địa hình nghiêng khá thoải, bị phân cắt yếu thì ở phía đông đường phân thủy chuyển nhanh từ núi trung bình xuống đồng bằng. Các bậc địa hình bị phân cắt khá mạnh bởi mạng lưới sông suối dày đặc với trắc diện dọc và ngang đều dốc. Đồng bằng hẹp, phía Tây thì lộ đá gốc, phía đông là địa hình cát. Dải địa hình đồng bằng cấu tạo bởi phù sa ở giữa lại thấp và dễ dàng bị ngập úng.
=== Khí hậu ===
Quảng Trị nằm ở phía Nam của Bắc Trung Bộ, trọn vẹn trong khu vực nhiệt đới ẩm gió mùa, là vùng chuyển tiếp giữa hai miền khí hậu. Miền khí hậu phía bắc có mùa đông lạnh và phía nam nóng ẩm quanh năm. Ở vùng này khí hậu khắc nghiệt, chịu hậu quả nặng nề của gió tây nam khô nóng, bão, mưa lớn, khí hậu biến động mạnh, thời tiết diễn biến thất thường, vì vậy trong sản xuất và đời sống người dân gặp không ít khó khăn.
Do nằm trọn vẹn trong nội chí tuyến Bắc bán cầu, hàng năm có hai lần mặt trời đi qua thiên đỉnh (tháng 5 và tháng 8), nền bức xạ cao (cực đại vào tháng 5, cực tiểu vào tháng 12). Tổng lượng cán cân bức xạ cả năm ở Quảng Trị dao động trong khoảng 70-80 Kcalo/cm² năm), những tháng mùa hè gấp 2-3 lần những tháng mùa đông. Tổng số giờ nắng trung bình năm ở Quảng Trị dao động từ 1.700-1.800 giờ. Số giờ nắng nhất vào tháng 7 (240-250 giờ).
Nhiệt độ trung bình hàng năm dao động từ 20-25 °C, tháng 7 cao nhất còn tháng 1 thấp nhất. Nhiệt độ tối cao trong năm vào các tháng nóng, ở vùng đồng bằng trên 40 °C và ở vùng núi thấp 34-35 °C. Nhiệt độ thấp nhất trong năm có thể xuống tới 8-10 °C ở vùng đồng bằng và 3-5 °C ở vùng núi cao. Gió phơn tây nam khô nóng, thường gọi là "gió Lào", thường xuất hiện vào tháng 3-9 và gay gắt nhất tháng 4-5 đến tháng 8. Hàng năm có 40-60 ngày khô nóng.
Mùa mưa diễn ra từ tháng 9 đến tháng 1, với lượng mưa trong thời gian này chiếm khoảng 75-85% tổng lượng mưa cả năm. Các tháng mưa kéo dài, lớn là tháng 9-11 (khoảng 600 mm). Tháng ít mưa nhất là tháng 2-7 (thấp nhất là 40mm/tháng). Tổng lượng mưa cả năm dao động khoảng 2.000–2.700 mm, số ngày mưa 130-180 ngày. Độ ẩm tương đối trung bình, tháng ẩm 85-90%, còn tháng khô thường dưới 50%, có khi xuống tới 30%. Thành phố Đông Hà vào mùa hè bị khô cạn hơn cả, vùng Khe Sanh (Hướng Hóa) có khí hậu quanh năm ẩm.
Mùa bão ở Quảng Trị diễn ra từ tháng 7 đến tháng 11, trong đó tháng 9-10 nhiều bão nhất. Theo số liệu thống kê trong 98 năm có 75 cơn bão đổ bộ vào khu vực Bình Trị Thiên, bình quân 0,8 cơn bão/năm ảnh hưởng trực tiếp đến Quảng Trị, có năm không có bão, nhưng lại có năm liên tiếp 2-3 cơn bão đổ bộ trực tiếp. Ảnh hưởng tai hại nhất là bão gây ra gió xoáy giật kèm theo mưa to dài ngày (2-5 ngày) gây ra lũ lụt nghiêm trọng. Tỷ lệ mưa do bão và áp thấp nhiệt đới ngây ra chiếm tới 40-50% tổng lượng mưa trong các tháng 7-10. Lượng mưa do một cơn bão gây ra khoảng 300–400 mm, có khi lên tới 1.000 mm.
== Dân số ==
Theo kết quả điều tra ngày 01/04/2009 dân số tỉnh Quảng Trị là 597.985 người.
== Hành chính ==
Quảng Trị hiện bao gồm 1 thành phố, 1 thị xã và 8 huyện:
Quảng Trị có 141 đơn vị hành chính cấp xã – gồm 117 xã, 13 phường và 11 thị trấn Khi tái lập tỉnh Quảng Trị theo Nghị quyết ngày 30 tháng 6 năm 1989 của Quốc hội khóa VIII, kỳ họp thứ 5, tỉnh có 1 thị xã là Đông Hà và 3 huyện là Bến Hải, Hướng Hóa và Triệu Hải. Theo Quyết định số 134-HĐBT của Hội đồng Bộ trưởng (nay là Chính phủ) Việt Nam ngày 16 tháng 9 năm 1989, thị xã Quảng Trị được thành lập trên cơ sở thị trấn Quảng Trị (thuộc huyện Triệu Hải).
Theo Quyết định số 91-HĐBT của Hội đồng Bộ trưởng (nay là Chính phủ) Việt Nam ngày 23 tháng 3 năm 1990, huyện Bến Hải chia thành 2 huyện Gio Linh và Vĩnh Linh, huyện Triệu Hải chia thành 2 huyện Triệu Phong và Hải Lăng. Ngày 19 tháng 8 năm 1991, huyện Cam Lộ được tái lập trên cơ sở tách 8 xã phía tây thị xã Đông Hà. Ngày 17 tháng 12 năm 1996, huyện Đa Krông được thành lập từ một phần các huyện Triệu Phong và Hướng Hóa. Thị xã Đông Hà được nâng lên thành thành phố theo nghị quyết 33/NQ-CP ngày 11 tháng 8 năm 2009 của Thủ tướng Chính phủ Việt Nam.
== Kinh tế ==
=== Giao thông ===
Tỉnh có đường sắt Bắc Nam, đường quốc lộ 1A và đường Hồ Chí Minh chạy qua. Đặc biệt có đường 9 nối với đường liên Á qua cửa khẩu quốc tế Lao Bảo sang Lào. Dự án sân bay Quảng Trị ở Gio Linh, cách Đông Hà 7 km về phía bắc đang được chuẩn bị thủ tục triển khai đầu tư. Cảng biển Mỹ Thủy, Đại lộ Đông Tây bảy làn xe nối từ cảng Mỹ Thủy qua cửa khẩu Lao Bảo, có tổng vốn đầu tư khoảng 150 triệu USD.
Biển số xe cơ giới trong tỉnh:
Xe cơ giới trong tỉnh: 74-K XXX.XX
Xe môto trên 175cc: 74-A1 XXX.XX
Thành phố Đông Hà: 74-C1 XXX.XX
Thị xã Quảng Trị: 74-C1 XXX.XX
Huyện Gio Linh: 74-B* XXX.XX k2
Huyện Vĩnh Linh: 74-L* XXX.XX
Huyện Cam Lộ: 74-G* XXX.XX
Huyện Hải Lăng: 74-F* XXX.XX
Huyện Đa Krông: 74-C1 XXX.XX
Huyện Hướng Hóa: 74-H* XXX.XX
Huyện Triệu Phong: 74-D* XXX.XX
Huyện Đảo Cồn Cỏ: 74-P* XXX.XX
=== Du lịch ===
Trong những năm Chiến tranh Việt Nam, Quảng Trị là một trong những nơi bị thả bom nhiều nhất. Ngày nay Quảng Trị là nơi có nhiều địa danh, di tích lịch sử và có nhiều tiềm năng du lịch:
Cầu treo Đakrông
Đường mòn Hồ Chí Minh.
Thành cổ Quảng Trị (là một nơi gắn liền với chiến dịch mùa hè 1972).
Nghĩa trang liệt sĩ Trường Sơn
Nghĩa trang liệt sĩ Đường 9
Địa đạo Vịnh Mốc
Căn cứ Khe Sanh
Căn cứ Cồn Tiên - Dốc Miếu
Hàng rào điện tử McNamara
Bãi tắm Cửa Tùng (được các sĩ quan Hải quân Pháp mệnh danh là "Nữ hoàng của các bãi tắm" ở Đông Dương.)
Biển Mỹ Thủy
Biển Cửa Việt
== Người Quảng Trị ==
Quang Linh - ca sĩ
Bảo Yến - ca sĩ
Lê Duẩn - Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Việt Nam
Chế Lan Viên - Nhà thơ
Trần Hữu Dực - Chính trị gia
Đoàn Khuê - Đại tướng Quân đội Nhân dân Việt Nam
Hoàng Kiều - tỷ phú, người Việt giàu nhất thế giới.
== Hình ảnh ==
== Chú thích ==
== Tham khảo ==
Murfin, Gary D., A. Terry Rambo, Le-Thi-Que, Why They Fled: Refugee Movement during the Spring 1975 Communist Offensive in South Vietnam Asian Survey, Vol. 16, No. 9. (Sep., 1976): 855–863
Pearson, Lieutenant General Willard. The War in the Northern Provinces: 1966–1968, Washington D.C.: U.S. Government Printing Office, (1975).
Schulzinger, Robert D. A Time for War: The United States and Vietnam, 1941–1975 (1997).
== Liên kết ngoài ==
Trang thông tin điện tử tỉnh Quảng Trị |
nhóm nguyên tố 3.txt | Nhóm nguyên tố 3 là cột số 3 trong bảng tuần hoàn, còn được gọi là nhóm scandi gồm 2 nguyên tố kim loại là scandi (Sc) và yttri (Y). Có thể có thêm lantan (La) và actini (Ac). Trong nhóm 3, các nguyên tố Sc và Y là các kim loại nhẹ.
Đôi khi lantan và actini được bỏ vào họ Lantan và họ Actini, bỏ trống 2 ô này (bản gốc của IUPAC) hoặc thay chúng bằng luteti (Lu) và lawrenci (Lr).
== Tham khảo == |
trí phải.txt | Trí Phải là một xã của huyện Thới Bình, tỉnh Cà Mau, đồng bằng sông Cửu Long, Việt Nam.
Xã Trí Phải có 37,448 km2 diện tích tự nhiên và 12.970 nhân khẩu.
== Vị trí địa lý ==
Địa giới hành chính xã Trí Phải:
phía Đông giáp với xã Tân Phú, huyện Thới Bình, tỉnh Cà Mau.
phía Tây giáp với xã Trí Lực và xã Biển Bạch Đông, huyện Thới Bình, tỉnh Cà Mau.
phía Nam giáp với xã Thới Bình, huyện Thới Bình, tỉnh Cà Mau.
phía Bắc giáp với xã Vĩnh Thuận và xã Vĩnh Phong, huyện Vĩnh Thuận, tỉnh Kiên Giang.
== Điều kiện tự nhiên ==
Xã Trí Phải có 3.744,87 ha diện tích tự nhiên và 12.970 nhân khẩu.
== Hành chính ==
== xã Trí Phải có 7 ấp: ấp 1; ấp 2; ấp 3; ấp 4; ấp 5; ấp 6 và ấp 10 ==
== Giáo dục y tế ==
- Giáo dục của xã có 6 điểm trường trung tâm: 2 trường Mầm non (Hoa Sen và Hoa Thủy Tiên); 2 trường Tiểu học (Trí Phải và Trí Phải Đông); 1 trường THCS Trí Phải và 1 trường THPT Nguyễn Văn Nguyễn. (Trường Mầm non Hoa Sen đạt chuẩn QG Mức độ 1 năm 2008, Trường tiểu học Trí Phải Đông đạt chuẩn QG mức độ I năm 2014)
- Y tế: xã có 1 Trạm y tế xã (Đạt chuẩn QG năm 2008)
== Kinh tế xã hội ==
== Giao thông ==
== Lịch sử ==
Quyết định 275-CP ngày 25 tháng 07 năm 1979 của Hội đồng Chính phủ chia xã Trí Phải thành bốn xã lấy tên là xã Trí Phải Tây, xã Trí Phải Trung, xã Trí Phải Đông và xã Trí Phải.
Quyết định 33B-HĐBT ngày 14 tháng 2 năm 1987 của Hội đồng Bộ trưởng sáp nhập xã Trí Phải với xã Trí Phải Đông thành một xã lấy tên là xã Trí Phải.
Nghị quyết ngày 06 tháng 11 năm 1996 của Quốc hội, tỉnh Minh Hải được tách ra thành hai tỉnh Cà Mau, Bạc Liêu. Khi đó xã Trí Phải, huyện Thới Bình thuộc tỉnh Cà Mau.
Nghị định 113/2005/NĐ-CP ngày 05 tháng 9 năm 2005 của Chính phủ về việc thành lập xã Trí Lực trên cơ sở 3.898,66 ha diện tích tự nhiên và 7.024 nhân khẩu của xã Trí Phải.
== Hình ảnh ==
== Liên Kết ngoài ==
== Chú thích == |
tiếng breton.txt | Tiếng Breton (Brezhoneg IPA: [bʁeˈzõːnɛk] () hay IPA: [brəhõˈnek] tại Morbihan) là một ngôn ngữ Celt nói ở Bretagne (tiếng Breton: Breizh), Pháp. Tiếng Breton là một ngôn ngữ Britton, được mang từ Đảo Anh đến Armorica trong thời gian đầu Trung Cổ. Giống như hai ngôn ngữ Britton khác, tiếng Wales và tiếng Cornwall, nó được phân loại như là một ngôn ngữ Celt hải đảo. Tiếng Breton liên quan chặt chẽ nhất với tiếng Cornwall, cả hai được cho là đã phát triển từ một ngôn ngữ chung nguyên thủy gọi là Britton Tây Nam.
Một ngôn ngữ khu vực khác tại Bretagne, tiếng Gallo, là một Langue d'oïl có nguồn gốc từ tiếng Latinh.
== Tham khảo == |
manama.txt | Manama (tiếng Ả Rập: المنامة Al-Manāmah) là thủ đô của Bahrain và là thành phố lớn nhất của quốc gia này với dân số khoảng 155.000, chiếm khoảng 1/4 dân số quốc gia này.
Manama đã thành thủ đô của Bahrain độc lập sau thời kỳ xâm lược của Bồ Đào Nha và Ba Tư trong lịch sử. Ngày nay, thủ đô này hiện đại với nền kinh tế dựa vào việc bán dầu thô. Hiện đang có dự án nhà chọc trời cao 1000 m ở đây.
== Khí hậu ==
== Tham khảo == |
danh sách chủ tịch fifa.txt | Dưới đây là danh sách các chủ tịch của Liên đoàn bóng đá thế giới (FIFA), cơ quan điều hành bóng đá thế giới.
Các chủ tịch Daniel Burley Woolfall, Rodolphe Seeldrayers và Arthur Drewry qua đời trong thời gian nắm giữ chức vụ.
Chủ tịch đương nhiệm là Gianni Infantino người Thụy Sĩ gốc Ý, được bầu vào ngày 26 tháng 2 năm 2016 trong phiên họp bất thường của Đại hội FIFA. Trước đó Issa Hayatou người Cameroon tạm quyền sau khi Sepp Blatter bị đình chỉ công tác ngày 8 tháng 10 năm 2015, tiếp sau đó là lệnh cấm hoạt động liên quan đến bóng đá vào ngày 21 tháng 12 năm 2015.
== Chủ tịch FIFA ==
== Mốc thời gian ==
== Xem thêm ==
Danh sách chủ tịch AFC
Danh sách chủ tịch CAF
Danh sách chủ tịch CONCACAF
Danh sách chủ tịch CONMEBOL
Danh sách chủ tịch OFC
Danh sách chủ tịch UEFA
== Tham khảo == |
tiền raphael.txt | Tiền Raphael là một trào lưu nghệ thuật xuất hiện ở Anh khoảng giữa thế kỷ 19. Trào lưu này xuất phát từ Nhóm Tiền Raphael, được thành lập năm 1848 bởi John Everett Millais, Dante Gabriel Rossetti và William Holman Hunt. Họ muốn tìm lại phong cách của các họa sĩ trước Raffaelllo, tên theo tiếng Anh là Raphael.
Vào năm 1848, các họa sĩ John Everett Millais, William Holman Hunt, James Collinson, nhà thơ kiêm họa sĩ Dante Gabriel Rossetti, nhà điêu khắc Thomas Woolner và hai nhà phê bình nghệ thuật William Michael Rossetti và Frederick George Stephens đã thành lập "Nhóm Tiền Raphael" (Pre-Raphaelite Brotherhood). Một họa sĩ khác, Ford Madox Brown, cũng khá gần với trào lưu này nhưng không chính thức gia nhập hội.
Chống lại Chủ nghĩa kinh viện Victoria, họ muốn tìm sự trong sáng và nguyên thủy của nghệ thuật Ý, của những nghệ sĩ trước Raffaelllo và dựa theo phong cách của họ. Các họa sĩ Tiền Raphael thiên về Chủ nghĩa hiện thực, ý nghĩa của các chi tiết và màu sắc rực rỡ. Chủ đề ưu thích của họ là Kinh thánh, Trung Cổ, văn học và thi ca (Shakespeare, Keats, Browning...). Đôi khi họ ký dưới các bức tranh của mình "PRB" có nghĩa là Pre-Raphaelite Brotherhood, khiêu khích sự tức giận của nước Anh bảo thủ thường tưởng tượng sau ba chữ này có một ý nghĩa báng bổ hay bí ẩn.
Năm 1850, các họa sĩ Tiền Raphael xuất bản một tạp chí, The Germ, trong đó họ nêu lên lý thuyết trào lưu của họ. Ngay từ khi xuất hiện, tạp chí gặp phải sự chỉ trích mạnh mẽ của giới phê bình, tạo nên một scandal. Chỉ riêng nhà văn, nhà phê bình nghệ thuật John Ruskin đã bảo vệ cho trào lưu này.
Dần dần, Nhóm Tiền Raphael mất đi một số thành viên nhưng cũng kết nạp thêm những người mới, đặc biệt là Edward Burne-Jones và William Morris. Năm 1854, trào lưu này chấm dứt và các họa sĩ đi tìm những con đường khác: Woolner bỏ sang Úc, Millais được bầu làm thành viên cộng tác của Viện Hoàng gia Nghệ thuật (Royal Academy of Arts), chỉ có Rossetti tiếp tục với cảm hứng từ các bức tranh đầu tiên của Tiền Raphael. Tuy nhiên, trong Triển lãm thế giới năm 1855, toàn Paris đã hưởng ứng với các tác phẩm của họ.
Trào lưu Tiền Raphael tuy chỉ trong một thời gian ngắn ngủi, nhưng đã có những ảnh hưởng quan trọng tới các xu hướng nghệ thuật của thế kỷ 20, đặc biệt là Tân nghệ thuật và Chủ nghĩa biểu hiện, nhờ các nghệ sĩ như William Morris và Aubrey Beardsley.
== Các nghệ sĩ ==
=== Nhóm Tiền Raphael ===
James Collinson (họa sĩ)
William Holman Hunt (họa sĩ)
John Everett Millais (họa sĩ)
Dante Gabriel Rossetti (họa sĩ, nhà thơ)
William Michael Rossetti (nhà phê bình)
Frederic George Stephens (nhà phê bình)
Thomas Woolner (nhà điêu khắc, nhà thơ)
=== Các nghệ sĩ cộng tác ===
Ford Madox Brown (họa sĩ)
Edward Burne-Jones (họa sĩ)
Lawrence Alma-Tadema (họa sĩ)
Charles Allston Collins (họa sĩ)
Frank Cadogan Cowper (họa sĩ)
Walter Howell Deverell (họa sĩ)
Arthur Hacker (họa sĩ)
Arthur Hughes (họa sĩ, minh họa sách)
Jane Morris (người mẫu nghệ thuật)
May Morris (họa sĩ)
William Morris (họa sĩ, nhà văn)
Christina Rossetti (nhà thơ)
John Ruskin (nhà phê bình)
Elizabeth Siddal (họa sĩ, nhà thơ)
Simeon Solomon (họa sĩ)
Algernon Swinburne (nhà thơ)
Một số nghệ sĩ cộng tác ít hơn:
Wyke Bayliss (họa sĩ)
John William Godward (họa sĩ)
Thomas Cooper Gotch (họa sĩ)
Edward Robert Hughes (họa sĩ)
Edmund Blair Leighton (họa sĩ)
Frederic, Lord Leighton (họa sĩ)
John William Waterhouse (họa sĩ)
== Gallery ==
== Tham khảo ==
== Liên kết ngoài ==
(tiếng Anh) The Pre-Raphaelite Brotherhood in the History of Art
(tiếng Anh) Pre-Raphaelite Chronology
(tiếng Pháp) sur l'encyclopédie de l'Agora |
dấu móc.txt | Dấu móc hay dấu râu là một dấu phụ được thêm vào góc trên bên phải của các chữ cái "o" và "u" trong bảng chữ cái tiếng Việt để tạo thành "ơ" và "ư". Trong tiếng Việt, dấu móc ít khi được coi là một dấu phụ riêng biệt; mà thay vào đó các chữ cái "ơ" và"ư" được coi là tách biệt với "o" và "u".
Các ký tự trong bảng mã HTML có dấu móc bao gồm:
== Xem thêm ==
Ơ
Ư
Dấu hỏi
Dấu sắc
Dấu ngã
Dấu huyền
Dấu trăng
Dấu mũ
== Tham khảo == |
vùng của anh.txt | Vùng của Anh là một khu vực, đơn vị lãnh thổ lớn nhất dưới cấp quốc gia Anh.
== Nhiệm vụ ==
Chín vùng của Anh được dùng cho mục đích thống kê và tạo thành các khu vực cử tri cho các cuộc bầu cử Nghị viện châu Âu. Ngoại trừ Greater London, chúng kể từ năm 2012 không có bổ sung thêm chức năng hành chính nào nữa.
== Lịch sử ==
Từ những năm 1990, các chính sách của Vương quốc Anh cố gắng tăng cường quyền lực của chính quyền địa phương ở cấp khu vực. Chương trình chuyển giao quyền lực dẫn đến việc bầu cử các đại diện người dân ở Scotland, Wales và Bắc Ireland.
Vào tháng 4 năm 1994, chính phủ Anh dưới thời thủ tướng John Major ở Anh thành lập mười "vùng Văn phòng Chính phủ", trong đó mỗi vùng đều có một "Văn phòng Chính phủ". Năm 1997, đảng Lao động lên nắm quyền cũng thiết lập tại các vùng bên ngoài London "Cơ quan Phát triển vùng" và Regional Chambers. Tại Greater London có một cuộc trưng cầu dân ý tổ chức vào năm 1998, kết quả là vào năm 2000 hội đồng London, chính quyền Greater London và chức vụ Thị trưởng London được thiết lập.
Trong tháng 6 năm 2010, chính phủ của đảng Bảo thủ và Tự do công bố loại bỏ tất cả các chức năng hành chính. Sau đó, năm 2011, Văn phòng Chính phủ và vào ngày 31 tháng 3 năm 2012, các "Cơ quan Phát triển vùng" bị bãi bỏ. Greater London tuy nhiên không bị ảnh hưởng bởi những biện pháp trên.
== Danh sách các vùng Anh ==
== Tham khảo ==
== Liên kết ngoài ==
Map of the UK counties and unitary administrations
Map of all UK local authorities |
wilhelm marx.txt | Wilhelm Marx (15 tháng 1 năm 1863 - 5 tháng 8 năm 1946) là một luật sư Đức, chính trị gia Công giáo và là thành viên của Đảng Trung tâm Đức. Ông là thủ tướng của Đức hai lần, từ năm 1923 đến năm 1925 và một lần nữa từ năm 1926 đến năm 1928, và cũng từng phục vụ trong thời gian ngắn làm Bộ trưởng Tổng thống Phổ vào năm 1925, trong thời kỳ Cộng hoà Weimar.
Ông là thủ tướng lâu nhất trong thời kỳ Cộng hoà Weimar.
== Tiểu sử ==
Wilhelm Marx sinh ngày 15 tháng 1 năm 1863 tại Köln với tên gọi Johann Marx (Hiệu trưởng của một trường Công giáo, 1822-1882) và vợ ông Gertrude (1826-1909). Ông có một em gái, Barbara (1860-1924), người sau đó đứng đầu Ursulines ở Cologne. Marx lấy bằng Abitur (trung học phổ thông) tại Marzellengymnasium năm 1881. Sau đó, ông nghiên cứu luật học tại Đại học Bonn từ năm 1881-84. Là một sinh viên, anh trở thành thành viên của K.St.V. Arminia. Marx kết hôn với Johanna Verkoyen (1871-1946) vào năm 1891 và họ có tổng cộng bốn người con (ba con trai và 1 con gái).
== Tham khảo == |
hệ thống định vị bắc đẩu.txt | Hệ thống định vị Bắc Đẩu (giản thể: 北斗导航系统; phồn thể: 北斗導航系統; bính âm: Běidǒu dǎoháng xìtǒng hay giản thể: 北斗卫星导航系统; phồn thể: 北斗衛星導航系統; bính âm: Běidǒu wèixīng dǎoháng xìtǒng) là một dự án của Trung Quốc phát triển một hệ thống vệ tinh định vị độc lập. Tên gọi này có thể đề cập một hoặc cả hai thế hế hệ thống định vị của Trung Quốc. Hệ thống Bắc Đẩu đầu tiên, chính thức được gọi là "Hệ thống thử nghiệm định vị vệ tinh Bắc Đẩu", hay được gọi là "Bắc Đẩu 1", bao gồm 3 vệ tinh và có giới hạn bao trả và các ứng dụng. Nó đã được cung cấp dịch vụ chuyển hướng chủ yếu cho các khách hàng ở Trung Quốc và từ các vùng lân cận từ năm 2000.
Thế hệ thứ hai của hệ thống, được gọi là Compass hay Bắc Đẩu 2, sẽ là một hệ thống định vị vệ tinh toàn cầu bao gồm 35 vệ tinh, vẫn còn đang được tạo dựng. Nó đã hoạt động với phạm vi toàn Trung Quốc trong tháng 12 năm 2011. Theo kế hoạch hệ thống sẽ cung cấp dịch vụ cho khách hàng trong khu vực châu Á-Thái Bình Dương vào năm 2012 và các hệ thống toàn cầu sẽ được hoàn thành vào năm 2020, sau khi sở hữu 35 vệ tinh.
Các nhà thiết kế chính của hệ thống định vị Bắc Đẩu là Tôn Gia Đống. Bắc Đẩu tương thích với hệ thống định vị GPS của Mỹ, hệ thống Galileo của châu Âu và hệ thống GLONASS của Nga. Nó cho phép người sử dụng định vị chính xác trong phạm vi 10 m, đo tốc độ từ 200 cm/giây trở lên và cung cấp thông tin về thời gian với sai số chỉ là 2 phần trăm triệu giây.
Một báo cáo do giới chức Trung Quốc công bố cho thấy dịch vụ của Bắc Đẩu đã được sử dụng rộng rãi trong các lĩnh vực giao thông, đánh bắt hải sản trên biển, dự báo thời tiết, giám sát các công trình thủy điện, giảm nhẹ thiên tai. Nhóm thiết kế Bắc Đẩu dự đoán nó sẽ tạo ra một thị trường dịch vụ định vị có trị giá tới 63 tỷ USD trong khoảng thời gian từ nay tới năm 2020.
== Tham khảo == |
ngữ chi ấn-arya.txt | Ngữ chi Indo-Arya (hay Ấn-Iran) là nhóm các ngôn ngữ chính của tiểu lục địa Ấn Độ, được nói phần lớn bởi những người Indo-Arya. Chúng tạo thành một chi nhánh của ngữ tộc Indo-Iran trong hệ ngôn ngữ Ấn-Âu. Những người nói tiếng Indo-Arya chiếm khoảng một nửa trong số tất cả người nói tiếng Ấn-Âu, khoảng 1,5 trong 3 tỷ. Ngôn ngữ Indo-Arya cũng chiếm hơn một nửa trong số các ngôn ngữ Ấn-Âu được Ethnologue ghi nhận.
== Chỉ dẫn ==
== Tham khảo ==
== Xem thêm ==
Danh sách ngôn ngữ
Danh sách các nước theo ngôn ngữ nói
Danh sách ngôn ngữ theo tổng số người sử dụng
== Liên kết ngoài == |
công dân kane.txt | Công dân Kane (tiếng Anh: Citizen Kane) là một bộ phim Mỹ của đạo diễn Orson Welles công chiếu năm 1941. Đây là tác phẩm đầu tiên do Orson Welles đạo diễn, ông cũng là đồng tác giả kịch bản phim với Herman J. Mankiewicz. Công dân Kane là bộ phim tiểu sử giả tưởng về ông trùm báo chí Charles Foster Kane, một nhân vật được xây dựng dựa trên cuộc đời của ông trùm truyền thông Hoa Kỳ William Randolph Hearst cùng nhiều chi tiết từ cuộc đời của chính Orson Welles. Vì lý do này nên sau khi phim được công chiếu, Hearst đã cấm các báo thuộc quyền sở hữu của mình đề cập tới bộ phim. Là một thất bại về mặt thương mại, Citizen Kane cũng không được giới phê bình phim đón nhận nồng nhiệt vào thời điểm công chiếu. Tuy nhiên trải qua thời gian, bộ phim ngày càng được đánh giá cao và nó luôn đứng ở nhóm đầu trong hầu hết các cuộc bình chọn những bộ phim xuất sắc nhất trong lịch sử điện ảnh.
== Nội dung ==
Bộ phim kể về cuộc đời của nhân vật giả tưởng Charles Foster Kane, ông trùm báo chí của Hoa Kỳ và là một trong những người giàu nhất thế giới. Được sinh ra trong một gia đình nghèo khó, cuộc đời Charles Foster Kane thay đổi khi người ta phát hiện được một mỏ vàng lớn trong phần đất do bà mẹ của Kane thừa kế. Để đảm bảo cho con trai có một tương lai vững chắc, mẹ của Kane bắt cậu rời gia đình để tới sống với người bảo hộ là Walter Parks Thatcher, một người kinh doanh ngân hàng. Khi tới tuổi trưởng thành, Charles Fosster Kane dùng số tiền thừa kế khổng lồ để xây dựng nên một đế chế báo chí hùng mạnh với sự giúp đỡ của hai người cộng sự là ông Bernstein và Jedediah Leland. Tuy thành công trong sự nghiệp nhưng Kane lại thất bại trong cuộc sống gia đình khi ông phải ly dị vợ 2 lần và cuối cùng sống tuổi già trong tư dinh Xanadu mà không có người thân thích chăm sóc. Charles Foster Kane qua đời trong cảnh cô đơn tại Xanadu, từ cuối cùng ông thốt lên trước khi chết là "Rosebud".
== Diễn viên ==
== Đánh giá ==
Tuy không được giới phê bình đón nhận nồng nhiệt nhưng bộ phim cũng nhận được nhiều đánh giá tốt từ báo giới. Mặc dù vậy bộ phim vẫn thất bại về mặt doanh thu khi chỉ giúp hãng RKO Pictures thu hồi đủ vốn đầu tư. Tại lễ trao giải Oscar năm 1941, Công dân Kane chỉ chiến thắng ở một hạng mục là Kịch bản gốc xuất sắc nhất (cho Herman J. Mankiewicz và Orson Welles) ngoài ra nó thất bại ở 8 hạng mục khác, phần lớn tượng vàng ở các hạng mục này được trao cho How Green Was My Valley. Bộ phim sau đó dần bị quên lãng trong làng điện ảnh Mỹ tuy nó được giới làm phim châu Âu đánh giá rất cao. Đến giữa thập niên 1950 bộ phim mới bắt đầu được chiếu lại trên truyền hình Mỹ và đánh giá của giới phê bình về Công dân Kane cũng dần thay đổi theo chiều hướng tích cực.
Với nhiều đột phá mang tính cách mạng với nghệ thuật điện ảnh, Công dân Kane thường xuyên được bầu chọn trong nhóm đầu của các cuộc xếp hạng phim hay nhất trong lịch sử. Bộ phim được Viện phim Mỹ xếp thứ nhất trong Danh sách 100 phim hay nhất mà viện này lập ra các năm 1998 và 2007, nó cũng được Viện lưu trữ phim quốc gia Mỹ lựa chọn vào danh sách bảo tồn ngay từ đợt đầu tiên năm 1989. Bộ phim còn đứng thứ nhất trong nhiều cuộc bình chọn khác của Editorial Jaguar, FIAF Centenary List, France Critics Top 10, Cahiers du cinéma 100 films pour une cinémathèque idéale, Kinovedcheskie Russia Top 10, Romanian Critics Top 10, Time Out Magazine Greatest Films và Village Voice 100 Greatest Films. Nhà phê bình điện ảnh Roger Ebert cũng nhận xét rằng Công dân Kane là "bộ phim vĩ đại nhất".
== Tham khảo ==
=== Chú thích ===
=== Thư mục ===
== Liên kết ngoài ==
Citizen Kane tại Internet Movie Database
Citizen Kane tại Allmovie
Citizen Kane tại Rotten Tomatoes |
hai bà trưng (quận).txt | Hai Bà Trưng, thường được gọi tắt là Hai Bà, là một quận trung tâm của thành phố Hà Nội. Tên quận được đặt theo đền thờ Hai Bà Trưng nằm gần hồ Đồng Nhân.
== Vị trí ==
Đông giáp sông Hồng, qua bờ sông là quận Long Biên
Tây chủ yếu giáp quận Đống Đa, một phần nhỏ giáp quận Thanh Xuân
Nam giáp quận Hoàng Mai
Bắc giáp quận Hoàn Kiếm
== Lịch sử ==
Quận Hai Bà Trưng nằm trên nền đất xưa vốn thuộc các tổng Hậu Nghiêm (sau đổi là Thanh Nhàn), Tả Nghiêm (sau đổi là Kim Liên), Tiền Nghiêm (sau đổi là Vĩnh Xương), huyện Thọ Xương, một số tổng của huyện Thanh Trì và vùng thái ấp của thượng tướng Trần Khát Chân từ Ô Cầu Dền (đầu đường Trần Khát Chân) đi xuống hết Bạch Mai, tới các phường có tên Mai (Mai Động, Tương Mai nay thuộc quận Hoàng Mai).
Trước năm 1961, cùng với Bạch Mai, Mai Động, Hoàng Mai đều thuộc quận VII.
Từ những năm 1961-1981 là khu Hai Bà Trưng.
Từ tháng 6 năm 1981 là quận Hai Bà Trưng, gồm 22 phường: Bạch Đằng, Bách Khoa, Bạch Mai, Bùi Thị Xuân, Cầu Dền, Đống Mác, Đồng Nhân, Đồng Tâm, Giáp Bát, Lê Đại Hành, Minh Khai, Ngô Thì Nhậm, Nguyễn Du, Phạm Đình Hổ, Phố Huế, Quỳnh Lôi, Quỳnh Mai, Thanh Lương, Thanh Nhàn, Trương Định, Tương Mai, Vĩnh Tuy.
Ngày 13 tháng 10 năm 1982, thành lập phường Mai Động trên cơ sở tách thôn Mai Động và xóm Mơ Táo của xã Hoàng Văn Thụ thuộc huyện Thanh Trì.
Ngày 14 tháng 3 năm 1984, chia phường Giáp Bát thành 2 phường: Giáp Bát và Tân Mai.
Ngày 26 tháng 10 năm 1990, chuyển xã Hoàng Văn Thụ thuộc huyện Thanh Trì về quận Hai Bà Trưng quản lý và đổi thành phường Hoàng Văn Thụ.
Đầu năm 2003, quận Hai Bà Trưng có 25 phường: Bạch Đằng, Bách Khoa, Bạch Mai, Bùi Thị Xuân, Cầu Dền, Đống Mác, Đồng Nhân, Đồng Tâm, Giáp Bát, Hoàng Văn Thụ, Lê Đại Hành, Mai Động, Minh Khai, Ngô Thì Nhậm, Nguyễn Du, Phạm Đình Hổ, Phố Huế, Quỳnh Lôi, Quỳnh Mai, Tân Mai, Thanh Lương, Thanh Nhàn, Trương Định, Tương Mai, Vĩnh Tuy.
Từ tháng 1 năm 2004, 5 phường: Tương Mai, Tân Mai, Mai Động, Giáp Bát, Hoàng Văn Thụ chuyển sang trực thuộc quận Hoàng Mai. Từ đó, quận Hai Bà Trưng còn lại 20 phường: Bạch Đằng, Bách Khoa, Bạch Mai, Bùi Thị Xuân, Cầu Dền, Đống Mác, Đồng Nhân, Đồng Tâm, Lê Đại Hành, Minh Khai, Ngô Thì Nhậm, Nguyễn Du, Phạm Đình Hổ, Phố Huế, Quỳnh Lôi, Quỳnh Mai, Thanh Lương, Thanh Nhàn, Trương Định, Vĩnh Tuy.
Các dự án đường sắt đi qua địa bàn quận là các tuyến số 1 (Ngọc Hồi - Yên Viên), tuyến số 2 (Nội Bài - Thượng Đình), tuyến số 3 (Trôi - Nhổn - Ga Hà Nội); trong đó tuyến số 1 hiện đang được đầu tư xây dựng.
== Hành chính ==
Quận có 20 phường:
== Các địa điểm nổi tiếng ==
== Đường phố ==
== Các trường Đại học và Trường THPT, Trung học cơ sở nằm trên địa bàn quận ==
=== Các trường Đại học ===
Trường Đại Học Kinh Tế - Kỹ thuật Công nghiệp
Đại học Bách Khoa Hà Nội
Đại học Xây dựng
Đại học Kinh tế Quốc dân
Viện Đại học Mở Hà Nội
Đại học Dân lập Phương Đông
Đại học Kinh doanh & Công nghệ Hà Nội
=== Các trường trung học phổ thông ===
Thpt Thăng Long (công lập)
Thpt Trần Nhân Tông (công lập)
Thpt Hai Bà Trưng (công lập)
Thpt Hồng Hà (dân lập)
Thpt Hoàng Diệu (Dân lập)
Thpt Mai Hắc Đế (Tư thục)
=== Trung học cơ sở ===
PTCS Nguyễn Đình Chiểu (công lập)
Trung học cơ sở Lê Ngọc Hân (công lập)
Trung học cơ sở Quỳnh Mai (công lập)
Trung học cơ sở Tây Sơn (công lập)
Trung học cơ sở Đoàn Kết (công lập)
Trung học cơ sở Ngô Quyền (công lập)
Trung học cơ sở Hà Huy Tập (công lập)
Trung học cơ sở Minh Khai (công lập)
Trung học cơ sở Ngô Gia Tự (công lập)
Trung học cơ sở Tô Hoàng (công lập)
Trung học cơ sở Thanh Lương (công lập)
Trung học cơ sở Nguyễn Phong Sắc (công lập)
Trung học cơ sở Trưng Nhị (công lập)
Trung học cơ sở Hai Bà Trưng (công lập)
== Tham khảo ==
== Liên kết ngoài ==
Website chính thức |
viva world cup.txt | VIVA World cup là giải đấu được tổ chức bởi NF-Board 2 năm 1 lần. Các đội tham dự giải là những đội tuyển quốc gia không phải là thành viên của FIFA.
== Lịch sử ==
Vào tháng 5 năm 2005, NF Board thông báo thành viên Bắc Síp sẽ là chủ nhà giải đấu để kỷ niệm 50 năm thành lập của thành viên này. Tuy nhiên, vì nhiều lý do, NF Board đã chuyển giải đấu sang cho thành viên Occitania (1 vùng nằm ở Nam Âu). 6 đội tham dự là Monaco, Sápmi, Nam Cameroon, Tây Papua (vùng), đội của người Roman. Tuy nhiên, vì nhiều lý do chỉ còn lại Monaco, Sapmi và chủ nhà tham dự. Nam Cameroon cũng tham dự nhưng không có visa và các trận đấu gặp đội này tại giải đều được xử 3-0. Sápmi là đội vô địch của giải với Monaco hạng nhì.
VIVA World Cup lần 2 tổ chức tại làng Gällivare thuộc Sápmi, Thụy Điển từ 7 đến 13 tháng 7 năm 2008. Các trận đều chơi vào buổi trưa. 12 đội có dự định tham gia nhưng cuối cùng chỉ còn 5, và đội Padania vô địch, Aramean đứng nhì và chủ nhà đứng 3.
Lần thứ 3, giải được tổ chức tại Padania, Ý vào năm 2009. Đội Padania tiếp tục bảo vệ ngôi vương sau trận thắng trước Kurdistan.
Lần thứ 4, giải được tổ chức tại Gozo, Malta năm 2010. Padania tiếp tục vô địch. Đội Tây Tạng có ý định tham dự nhưng không đủ kinh phí.
Lần thứ 5, giải được tổ chức tại Kurdistan năm 2012 với sự hợp tác giữa NF-Board và liên đoàn thể thao các quốc đảo. Đội chủ nhà giành chức vô địch sau chiến thắng trước Bắc Síp.
== Kết quả ==
== Các đội từng tham gia ==
== Ghi chú ==
== Liên kết ngoài ==
Trang chính thức |
lâu đài windsor.txt | Lâu đài Windsor, thuộc thị trấn Windsor tại Berkshire Anh Quốc, là lâu đài lớn nhất thế giới còn có người ở. Diện tích sàn của lâu đài là 484,000 dặm vuông (44,965 mét vuông).
Cùng với Cung điện Buckingham tại Luân Đôn và Cung điện Holyrood tại Edinburgh, lâu đài Windsor là một trong những nơi ở của hoàng gia Anh. Nữ hoàng Elizabeth II dành rất nhiều kì nghỉ cuối tuần trong năm tại lâu đài này, sử dụng cho cả nhu cầu giải trí cá nhân cũng như những công việc của quốc gia.
Phần lớn vua và nữ hoàng Anh, sau đó là vua và nữ hoàng Vương Quốc Anh, đều có những ảnh hưởng trực tiếp tới việc xây dựng và phát triển của lâu đài. Nơi đây giữ nhiệm vừa là pháo đài, nhà ở, cung điện chính và đôi khi là cả nhà tù của những hoàng thân Anh. Lịch sử của tòa lâu đài có gắn chặt với lịch sử của các triều đại ở nước Anh. Khi quốc gia hòa bình thì tòa lâu đài được mở rộng và phát triển thành nhiều khu rộng lớn, nhưng khi đất nước có chiến tranh nó lại biến thành các công sự và hình dạng của nó tiếp tục phát triển cho tới ngày nay.
== Ghi chú ==
== Liên kết ngoài ==
Windsor Castle, Official website of the British monarchy
Windsor Castle, The Royal Collection – Visitor Information |
Subsets and Splits
No community queries yet
The top public SQL queries from the community will appear here once available.