filename stringlengths 4 100 | text stringlengths 0 254k |
|---|---|
cát văn.txt | Xã Cát Văn là một xã miền núi thuộc huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An, Việt Nam.
== Địa giới ==
Xã Cát Văn giáp có địa giới giáp:
Phía Bắc giáp xã Nam Sơn và xã Lưu Sơn - huyện Đô Lương
Phía Tây giáp xã Nam Sơn - huyện Đô Lương
Phía Nam giáp xã Phong Thịnh - huyện Thanh Chương
Phía Đông giáp xã Thuận Sơn và một phần giáp xã Đà Sơn - huyện Đô Lương.
Địa giới với huyện Đô Lương về phía Tây là con sông Lam.
== Đặc trưng xã ==
Tuy là một xã miền núi nhưng lại là một vung quê hiếu học có nhiều người tài đã và đang đóng góp cho đất nước như nhà thơ Nguyễn Bùi Vợi (1933-2008), nhà doanh nghiệp trẻ Giản Tư Trung, Nguyễn Thế Bình (đỗ tiến sĩ năm 1775)., nhà báo Trần Duy Ngoãn: Giám đốc, TBT Đài PTTH Nghệ An.
Cát Văn là một xã có truyền thống cách mang bất khuất trong hai cuộc kháng chiến chống pháp và chống Mĩ, hiện nay còn lưu giữ nhiều di tích lịch sử cũng như con người gắn liền với hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ như đình Đạo Ngạn, cây Sanh, các anh hùng LLVT như Hoàng Đình Kiền...
== Tham khảo == |
địa lý.txt | Địa lý học (trong tiếng Hy Lạp γεωγραφία, geographia, nghĩa là "mô tả trái đất") một lĩnh vực khoa học nghiên cứu về các vùng đất, địa hình, dân cư và các hiện tượng trên Trái Đất. Dịch sát nghĩa sẽ là "nhằm mô tả hoặc viết về Trái Đất". Người đầu tiên đề cập đến thuật ngữ này là Eratosthenes (276–194 TCN). Bốn lĩnh vực truyền thống nghiên cứu về địa lý là phân tích không gian của tự nhiên và các hiện tượng con người (như các nghiên cứu về phân bố), nghiên cứu khu vực, nghiên cứu về mối quan hệ con người đất, và nghiên cứu về Khoa học Trái Đất. Tuy nhiên, địa lý hiện đại mang tính liên ngành bao gồm tất cả những hiểu biết trước đây về trái đất và tất cả những mối quan hệ phức tạp giữa con con người và tự nhiên - không chỉ đơn thuần là nơi có các đối tượng đó, mà còn về cách chúng thay đổi và đến được như thế nào. Địa lý đã được gọi là "ngành học về thế giới" và "cầu nối giữa con người và khoa học vật lý". Địa lý được chia thành hai nhánh chính: Địa lý nhân văn và địa lý tự nhiên., một đặc điểm khác của môn địa lý là các thông số rất dễ thay đổi theo thời gian.
Chủ đề này bao gồm:
Các vị trí trên Trái Đất và trên vũ trụ
Các vùng văn minh ví dụ như quốc gia hay thành phố và địa phương
Các môn khoa học liên quan đến địa lý
== Lịch sử ==
Các bản đồ thế giới cổ nhất từng được biết đến có tuổi vào thời Babylon cổ vào thế kỷ 9 TCN. Bản đồ thế giới Babylonia nổi tiếng nhất là Imago Mundi vào 600 TCN. Bản đồ được Eckhard Unger tái lập thể hiện vị trí của Babylon ở Euphrates, bao bọc xung quanh là các vùng đất có hình tròn gồm Assyria, Urartu và một vài thành phố, các thành phố và vùng đất bên ngoài lại được bao bọc bởi một con sông (Oceanus), có 7 hòn đảo xung quanh nó tạo thành một hình sao 7 đỉnh. Các văn bản kèm theo đề cập đến 7 khu vực bên ngoài đại dương bao la. Trong các miêu tả thì có 5 trong số đó vẫn còn tồn tại. Ngược lại với Imago Mundi, một bản đồ thế giới Babylon trước đó có tuổi vào thể kỷ 9 TCNd mô tả Babylon nằm về phía bắc từ trung tâm thế giới, mặc dù nó không xác định rõ ràng cái gì là trung tâm.
Theo cách tiếp cận, địa lý được chia thành hai nhánh chính: địa lý chung và địa lý khu vực. Địa lý nói chung là phân tích và nghiên cứu vật lý và địa lý nhân văn, trong khi các khu vực địa lý là súc tích và giải quyết các hệ thống lãnh thổ cụ thể. Tuy nhiên, sự kết nối giữa hai ngành có truyền thống là một vấn đề của cuộc tranh luận trong địa lý.
=== Địa lý khu vực ===
Địa lý khu vực là nghiên cứu về các khu vực trên thế giới. Chú ý đến đặc điểm độc đáo của một vùng cụ thể như các yếu tố tự nhiên, yếu tố con người, và khu vực bao gồm các kỹ thuật phân định không gian vào khu vực.
Địa lý trong khu vực cũng là một phương pháp nhất định để nghiên cứu địa lý, địa lý so sánh với số lượng hoặc vị trí địa lý quan trọng. Cách tiếp cận này chiếm ưu thế trong nửa sau của thế kỷ 19 và nửa đầu thế kỷ 20, một thời gian khi mô hình địa lý sau đó khu vực là trung tâm trong các ngành khoa học địa lý. Sau đó bị chỉ trích vì tính miêu tả của nó và thiếu cơ sở lý thuyết. Chỉ trích mạnh mẽ trong những năm 1950 và cuộc cách mạng về số lượng. Các nhà chỉ trích chính là G. H. T. Kimble and Fred K. Schaefer.
=== Địa lý tự nhiên ===
Địa lý tự nhiên là một phân ngành của địa lý chủ yếu hoạt động trong lĩnh vực nghiên cứu hệ thống hóa các mô hình và quá trình diễn ra trong thủy quyển, sinh quyển, khí quyển và thạch quyển. Nó có ý định giúp người ta hiểu sự sắp xếp tự nhiên của Trái Đất, khí hậu và các kiểu mẫu hệ thực vật và động vật của nó. Nhiều lĩnh vực của địa lý tự nhiên sử dụng các kiến thức của địa chất học, cụ thể là trong nghiên cứu về phong hóa và xói mòn. Địa chất học các hành tinh khác trong hệ Mặt Trời, xem bài Đặc trưng địa chất của hệ Mặt Trời.
Địa lý tự nhiên trong vai trò của một ngành khoa học thông thường tương phản và bổ sung cho ngành khoa học chị em của nó là Địa lý nhân văn.
=== Địa lý nhân văn ===
Địa lý nhân văn là một trong 2 phân ngành của địa lý. Địa lý nhân văn là một nhánh của khoa học xã hội nghiên cứu về thế giới, con người, cộng đồng và văn hóa có sự nhấn mạnh mối liên hệ của không gian và vị trí địa lý. Địa lý nhân văn khác với địa lý tự nhiên chủ yếu tập trung nhiều vào nghiên cứu các hoạt động của con người và dễ tiếp thu các phương pháp nghiên cứu định lượng hơn.
== Một số nhà địa lý học nổi bật ==
Eratosthenes (276TCN - 194TCN) - tính toán kích thước Trái Đất.
Ptolemy (khoảng 90–khoảng 168)
Al Idrisi (Ả Rập: أبو عبد الله محمد الإدريسي; Latinh: Dreses) (1100–1165/66)
Gerardus Mercator (1512–1594)
Alexander von Humboldt (1769–1859)
Carl Ritter (1779–1859)
Arnold Henry Guyot (1807–1884)
William Morris Davis (1850–1934)
Paul Vidal de la Blache (1845–1918)
Sir Halford John Mackinder (1861–1947)
Carl O. Sauer (1889–1975)
Walter Christaller (1893–1969)
Yi-Fu Tuan (1930-)
David Harvey (1935-)
Edward Soja (sinh 1941)
Michael Frank Goodchild (1944-)
Doreen Massey (1944-)
Nigel Thrift (1949-)
Ellen Churchill Semple (1863–1932)
== Tham khảo ==
== Liên kết ngoài == |
mark wakefield.txt | Mark Wakefield là quản lý của band Taproot, và từng là ca sĩ của Xero, ban nhạc về sau trở thành Linkin Park. Anh gặp Mike Shinoda ở trường trung học và tham gia band, lúc đó có tên là SuperXero. Họ đổi tên thành Xero và thu âm băng phối âm có tên chính mình Xero, gồm có bài "Fuse", "Reading My Eyes", "Stick N' Move" và "Rhinestone". Trước khi rời band, Mark và toàn bộ band được biết là đã chơi ít nhất một buổi biểu diễn ở lễ khai trương Cypress Hill. Thiếu thành công và bế tắc khiến Wakefield, lúc đó là ca sĩ của nhóm, rời khỏi band để tìm một đề án khác. Chester Bennington từ đó thay chỗ anh ta.
Wakefield từ đó thu âm một bài tên là "Ground Xero".
Dù Wakefield rời khỏi Xero, anh cũng đồng sáng tác vài bài trong album đầu tay của Linkin Park, Hybrid Theory gồm "Crawling", "Runaway", "A Place for My Head" và "Forgotten".
Anh cũng đảm nhiệm phần vẽ bìa cho album Toxicity của nhóm System of a Down.
== Tham khảo == |
tổng bí thư ban chấp hành trung ương đảng cộng sản việt nam.txt | Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam, hay Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Việt Nam thường được gọi tắt Tổng Bí thư, là người lãnh đạo cao nhất của Đảng Cộng sản Việt Nam. Trong giai đoạn 1951-1969 thì chức Chủ tịch Đảng (chức vụ này duy nhất do Hồ Chí Minh nắm giữ từ năm 1951 đến khi qua đời năm 1969) là cao nhất, sau khi chức Chủ tịch Đảng bãi bỏ năm 1969 thì chức Tổng Bí thư trở lại thành chức vụ cao nhất. Riêng thời kỳ 1960-1976 còn được gọi là Bí thư thứ nhất.
Tổng Bí thư là người đứng đầu Ban Chấp hành Trung ương Đảng, chủ trì công việc của Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Bộ Chính trị, Ban Bí thư và các quyền hạn khác theo quy định của Đảng. Hiện nay, Tổng Bí thư cũng kiêm nhiệm Bí thư Quân ủy Trung ương, Trưởng Ban Chỉ đạo về phòng, chống tham nhũng. Đây là cán bộ cao cấp xếp vị trí thứ nhất về mặt ảnh hưởng trong chính trị ở Việt Nam.
Theo thủ tục chính thức thì Đại hội Đại biểu toàn quốc của Đảng bầu ra Ban Chấp hành Trung ương, Ban Chấp hành Trung ương bầu ra Bộ Chính trị, bầu Tổng Bí thư trong số Ủy viên Bộ Chính trị.
Kể từ năm 2001 nhiệm kỳ Tổng Bí thư tương đương nhiệm kỳ của Ban Chấp hành Trung ương Đảng, và giữ chức vụ cho tới khi Đại hội Đảng toàn quốc khóa mới được tổ chức và bầu Tổng Bí thư mới.
== Lịch sử ==
Khi Đảng Cộng sản Việt Nam được thành lập vào ngày 3 tháng 2 năm 1930, người đứng đầu Ban Chấp hành trung ương đầu tiên với cương vị Phụ trách Ban Chấp hành Trung ương Lâm thời Đảng Cộng sản Việt Nam là Trịnh Đình Cửu (đến tháng 10/1930).
Tháng 4/1930 Trần Phú trở về từ Liên Xô. Theo đề nghị của Nguyễn Ái Quốc, Trần Phú được bầu vào Ban chấp hành Trung ương lâm thời và được phân công cùng Ban Thường vụ Trung ương chuẩn bị Hội nghị Trung ương lần thứ 1 và dự thảo cương lĩnh chính trị. Hội nghị lần thứ 1 tháng 10/1930 quyết định đổi tên Đảng Cộng sản Việt Nam thành Đảng Cộng sản Đông Dương và bầu Trần Phú làm Tổng Bí thư, đồng thời thông qua Luận cương chính trị. Ông giữ chức vụ tới khi bị Pháp bắt tháng 4/1931. Trong thời gian từ 1931-1935 chức vụ Tổng Bí thư bị khuyết.
Trong thời gian 1930-1931 các tổ chức cộng sản tại Đông Dương lần lượt bị khủng bố. Năm 1932 Quốc tế cộng sản ra chỉ thị xây dựng lại tổ chức cộng sản. Dưới sự chỉ đạo của Lê Hồng Phong. Hội nghị Ban chỉ huy ở ngoài của Đảng Cộng sản Đông Dương được tổ chức tại Macao tháng 6/1934 và Lê Hồng Phong được bầu làm Bí thư Ban Chỉ huy hải ngoại Đảng Cộng sản Đông Dương.
Tại Đại hội lần thứ nhất Đảng Cộng sản Đông Dương, Lê Hồng Phong được bầu làm Tổng Bí thư. Tại Hội nghị Trung ương năm 1936, Ban Chấp hành đã bầu Hà Huy Tập thay cho Lê Hồng Phong làm Tổng Bí thư và về nước tổ chức lại lực lượng cộng sản. Tại Hội nghị Trung ương năm 1938 tổ chức tại Bà Điểm, Hà Huy Tập thôi chức vụ Tổng Bí thư, Ban Chấp hành quyết định bầu Nguyễn Văn Cừ kế nhiệm. Nguyễn Văn Cừ bị thực dân Pháp bắt về kết án năm 1940, Hội nghị Trung ương năm 1940 buộc phải nhóm họp tại Đình Bảng, hội nghị quyết định chỉ định Trường Chinh khi đó là Ủy viên Thường vụ Trung ương làm quyền Tổng Bí thư, và tại Hội nghị năm 1941 được bầu làm Tổng Bí thư.
Năm 1945 Việt Nam Dân chủ Cộng hòa được thành lập. Việt Nam và thực dân Pháp giao tranh chiến tranh Đông Dương lần thứ nhất. Năm 1951 tại Đại hội Đảng lần thứ II, Đại hội quyết định đổi tên Đảng Cộng sản Đông Dương thành Đảng Lao động Việt Nam đồng thời bầu Hồ Chí Minh làm Chủ tịch Đảng và Trường Chinh tiếp tục giữ chức Tổng Bí thư. Trong thời gian này 1951-1969 chức vụ Chủ tịch Đảng là chức vụ quyền lực nhất của Đảng, lớn hơn cả Tổng Bí thư. Trong thời gian cải cách ruộng đất vì những sai lầm nghiêm trọng, Trường Chinh từ chức Tổng Bí thư, Hồ Chí Minh với chức vụ Chủ tịch Đảng tạm thời làm thay nhiệm vụ Tổng Bí thư. Sau đó, năm 1957, Lê Duẩn ra bắc phụ trách Ban Bí thư, thực tế là đảm nhiệm quyền Tổng Bí thư. Đại hội lần thứ III, thành lập chức vụ Bí thư thứ nhất do Lê Duẩn đảm nhiệm. Chủ tịch Đảng là chức vụ cấp cao, nhưng thực tế Bí thư thứ nhất đảm nhiệm chính công tác của đảng. Sau khi thống nhất năm 1975, Đại hội Đảng lần thứ IV được tổ chức, tên Đảng được đổi thành Đảng Cộng sản Việt Nam và chức vụ được đổi thành Tổng Bí thư. Chức vụ do Lê Duẩn nằm giữ cho tới khi qua đời.
Sau khi Lê Duẩn mất, Trung ương chưa kịp tổ chức Đại hội nên tại Hội nghị đặc biệt tổ chức năm 1986 tại Hà Nội quyết định bầu Trường Chinh khi đó đang đảm nhiệm Chủ tịch Hội đồng Nhà nước làm Tổng Bí thư cho tới Đại hội Đảng được tổ chức. Đại hội Đảng lần thứ VI được tổ chức cuối năm 1986, Đại hội đã bầu Nguyễn Văn Linh khi đó đang là Thường trực Ban Bí thư, sau khi Phạm Văn Đồng, Trường Chinh, Phạm Hùng, Lê Đức Thọ đồng ý cải cách kinh tế xóa bỏ bao cấp chấp thuận người cải cách đảm nhiệm chức vụ. Trường Chinh, Phạm Văn Đồng, Lê Đức Thọ trở thành cố vấn Ban Chấp hành Trung ương với nhiệm vụ giám sát cải cách. Và từ nhiệm kỳ này Tổng Bí thư bắt đầu kiêm nhiệm chức vụ Bí thư Quân ủy Trung ương. Nguyễn Văn Linh được báo chí phương Tây gọi là "Gorbachev của Việt Nam".
Sau khi hết nhiệm kỳ Nguyễn Văn Linh không tiếp tục ứng cử khóa sau và cùng Võ Chí Công làm cố vấn Trung ương thay cho Trường Chinh và Lê Đức Thọ vừa mất trước đó tại Đại hội lần thứ VII, Đại hội cũng quyết định bầu Đỗ Mười làm Tổng Bí thư.
Đỗ Mười làm Tổng Bí thư cho tới Hội nghị Trung ương 8 khóa VIII, sau khi cả 3 lãnh đạo cố vấn Trung ương là Phạm Văn Đồng, Nguyễn Văn Linh và Võ Chí Công quyết định rút lui nhường cho 3 lãnh đạo Đảng và Nhà nước Đỗ Mười, Lê Đức Anh, Võ Văn Kiệt chính thức trở thành cố vấn Trung ương và tại Hội nghị cũng quyết định bầu Lê Khả Phiêu làm Tổng Bí thư.
Tại Đại hội lần thứ IX của Đảng, Nông Đức Mạnh được bầu làm Tổng Bí thư, được coi là người hiện đại hòa và là Tổng Bí thư đầu tiên có bằng đại học. Từ đây về sau Tổng Bí thư tối thiểu phải có bằng đại học, có nhiệm kỳ chính thức sát với Trung ương Đảng và có nhiệm kỳ không quá 2 khóa hay Đại hội.
== Trách nhiệm và quyền hạn ==
Tổng Bí thư chịu trách nhiệm cao nhất trước Ban chấp hành Trung ương Đảng, Bộ Chính trị, cùng Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư chịu trách nhiệm trước toàn đảng và toàn dân về sự lãnh đạo trên mọi lĩnh vực công tác.
Chủ trì công việc thường nhật của Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Bộ Chính trị, Ban Bí thư, Ban Thường vu Quân ủy Trung ương. Chỉ đạo tổ chức, quán triệt triển khai thực hiện sơ kết, tổng kết các nghị quyết, quy chế thông báo của Đại hội Đảng, Ban Chấp hành Trung ương Đảng. Thi hành thẩm tra việc tuân thủ Điều lệ Đảng, cương lĩnh chính trị, nghị quyết Đại hội Đảng,... trong các tổ chức cơ quan của Đảng.
Kiêm nhiệm chức vụ Bí thư Quân ủy Trung ương, trực tiếp chỉ đạo những vấn đề về quốc phòng, an ninh, công tác xây dựng Đảng, công tác bảo vệ chính trị nội bộ, xây dựng đội ngũ cán bộ chủ chốt của Trung ương.
Kiêm nhiệm chức vụ Trưởng Ban Chỉ đạo về phòng, chống tham nhũng, trực tiếp chỉ đạo, đôn đốc, kiểm tra, đôn đốc công tác phòng, chống tham nhũng trong phạm vi cả nước
Thay mặt Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Bộ Chính trị, Ban Bí thư ký các chiến lược, nghị quyết, quyết định, kết luận, quy chế, quy định, thông báo, thông cáo, tuyên bố, lời kêu gọi, báo cáo, thông tri, hướng dẫn, chỉ thị của Ban chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư; ký các văn bản trong lĩnh vực công tác tổ chức cán bộ, ký các Quyết định chuẩn y chức danh theo quy định Điều lệ Đảng, quyết định điều động, bổ nhiệm, miễn nhiệm, nghỉ hưu đối với cán bộ thuộc diện Ban chấp hành Trung ương Đảng quản lý.
Có thể thảo luận với Ban Chấp hành Trung ương thành lập, giải thể các cơ quan trực thuộc Trung ương Đảng quản lý.
Thực hiện vai trò dân chủ trong Đảng, Tổng Bí thư là người chịu trách nhiệm giám sát, thẩm tra tuyệt đối trong toàn Đảng.
== Danh sách Tổng Bí thư qua các thời kỳ ==
=== Đảng Cộng sản Đông Dương (1930–1951) ===
=== Đảng Lao động Việt Nam (1951–1976) ===
==== Tổng Bí thư (1951–1976) ====
==== Chủ tịch Đảng (1951–1969) ====
Hồ Chí Minh là người duy nhất nắm giữ chức vụ này trong giai đoạn 1951-1969. Trong giai đoạn này Chủ tịch Đảng là lớn nhất, hơn cả Tổng Bí thư. Sau khi Chủ tịch Hồ Chí Minh qua đời năm 1969, chức vụ này bị bãi bỏ.
=== Đảng Nhân dân Cách mạng Việt Nam (1962-1976) ===
Đảng Nhân dân Cách mạng Việt Nam là chi bộ của Đảng Lao động Việt Nam ở phía nam trong giai đoạn kháng chiến chống Mỹ. Đảng Nhân dân Cách mạng chịu ảnh hưởng trực tiếp từ Đảng Lao động dù về lý thuyết 2 đảng hoạt động độc lập với nhau. Cơ cấu tổ chức của Đảng Nhân dân Cách mạng khá tương đồng với Đảng Lao động. Có 2 chức vụ chính là Chủ tịch Đảng và Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương cùng tồn tại song song để điều hành Đảng.
=== Đảng Cộng sản Việt Nam (1976–nay) ===
Sau chiến thắng 1975 thống nhất đất nước, năm 1976 Đảng Lao động Việt Nam và Đảng Nhân dân Cách mạng Việt Nam chính thức hợp nhất thành Đảng Cộng sản Việt Nam.
== Xem thêm ==
Chủ tịch nước Việt Nam
Thủ tướng Việt Nam
Chủ tịch Quốc hội Việt Nam
Chánh án Tối cao Việt Nam
== Tham khảo ==
== Liên kết ngoài ==
Điều lệ Đảng CSVN, Chương III: Cơ quan lãnh đạo của Đảng ở cấp Trung ương |
nishikori kei.txt | Nishikori Kei (錦織 圭, Nishikori Kei), sinh ngày 29 tháng 12 năm 1989 tại Matsue, Shimane, Nhật Bản, là 1 vận động viên quần vợt, đang xếp hạng 6 trên bảng xếp hạng ATP thế giới, tính đến ngày 23 tháng 5 năm 2016. Anh là vận động viên quần vợt người Nhật đầu tiên đạt tới vị trí này. Anh tập chơi quần vợt từ khi mới chỉ 5 tuổi và tham dự giải ATP đầu tiên là giải Countrywide Classic ở Los Angeles khi 17 tuổi. Năm 2008, anh đã được bầu trở thành vận động viên quần vợt trẻ của năm. Anh đã giành chức vô địch đơn nam tại 7 giải thuộc hệ thống các giải ATP World Tour, và đã vào được vòng tứ kết đơn nam giải quần vợt Úc Mở rộng 2012, chung kết đơn nam tại Mỹ Mở rộng 2014 và trở thành người châu Á đầu tiên, người Nhật Bản đầu tiên lọt vào chung kết đơn nam tại 1 giải Grand Slam.
== Cuộc sống cá nhân ==
Nishikori sinh ra ở Matsue thuộc tỉnh Shimane, Nhật Bản. Cha của anh là một kỹ sư, còn mẹ là một giáo viên piano. Anh có một người chị gái đã tốt nghiệp đại học và đang làm việc tại Tokyo. Nishikori bắt đầu chơi quần vợt khi mới 5 tuổi. Năm 2001, anh đã giành chức vô địch tại tất cả các giải quần vợt dành cho trẻ em tại Nhật Bản. Sau khi tốt nghiệp trường trung học Aomori Yamada, Nishikori chuyển đến Florida để gia nhập Học viện IMG. Tại đây, ngoài thời gian chính dành cho quần vợt, anh còn tham gia các hoạt động bóng đá, golf, đọc sách và nghe nhạc.
Trong tháng 12 năm 2010, có thông tin rằng Nishikori sẽ được dẫn dắt bởi huấn luyện viên Brad Gilbert trong mùa giải 2011 và Dante Bottini từ Học viện IMG. Gilbert cũng đã từng là huấn luyện viên cho Andy Murray và hai tay vợt cựu số một thế giới Andre Agassi và Andy Roddick.
Kể từ tháng 1 năm 2014, Nishikori được dẫn dắt bởi tay vợt nổi tiếng khác đã từng là cựu số 2 thế giới, Michael Chang.
== Sự nghiệp ==
=== Giải trẻ ===
Nishikori giành chức vô địch năm 2004 tại giải đấu Riad 21 tổ chức ở Rabat. Anh cũng vào đến vòng tứ kết tại Giải Pháp mở rộng 2006 dành cho tay vợt trẻ. Sau đó, anh đã tham gia đánh đôi với Emiliano Massa để giành chức vô địch ở nôi dung đôi nam tại giải đấu đó. Nishikori cũng đã giành Luxion Cup 2007 tổ chức tại Giải quần vợt Sony Ericsson Mở rộng sau khi đánh bại Michael McClune.
Ở giải trẻ, anh có thành tích 73 trận thắng - 37 trận thua ở nội dung đơn nam và 53 trận thắng - 31 trận thua ở nội dung đôi nam, từng giữ vị trí thứ 7 trên bảng xếp hạng thế giới ở nội dung đôi nam vào tháng 7 năm 2006.
== Chú thích ==
== Liên kết ngoài ==
Nishikori Kei trên trang chủ ATP (tiếng Anh)
Trang chính thức của Nishikori Kei
Nishikori Kei trên Facebook |
cơ quan lập pháp.txt | Cơ quan lập pháp là kiểu hội đồng thảo luận đại diện có quyền thông qua các luật. Đây là một trong ba cơ quan chính gồm lập pháp, hành pháp và tư pháp của thể chế chính trị tam quyền phân lập.
Lập pháp có nhiều tên gọi khác nhau, phổ biến nhất là nghị viện và quốc hội (lưỡng viện), mặc dù những tên này có nhiều nghĩa đặc trưng khác nữa. Trong hệ thống nghị viện của chính phủ, cơ quan lập pháp là cơ quan tối cao chính thức và chỉ định cơ quan hành pháp. Ở hệ thống tổng thống, cơ quan lập pháp được xem là phân nhánh quyền lực tương đương và độc lập với cơ quan hành pháp. Ngoài việc ban hành luật ra, cơ quan lập pháp còn có quyền tăng thuế, thông qua ngân sách và các khoản chi tiêu khác.
== Các viện ==
Thành phần chính của một cơ quan lập pháp là có một hay nhiều viện, nơi diễn ra các cuộc tranh luận và bỏ phiếu thông qua các dự luật. Cơ quan lập pháp có một viện thì được gọi là lập pháp độc viện. Lập pháp lưỡng viện có hai viện riêng rẽ, thường được gọi là thượng viện và hạ viện. Mỗi viện có chức năng, quyền hạn và cách thức tuyển chọn thành viên khác nhau. Ít phổ biến hơn nhiều là lập pháp tam viện, hình thức tồn tại trong những năm cuối của chính quyền thiểu số da trắng ở Nam Phi.
Ở hầu hết các hệ thống nghị viện, hạ viện là viện có nhiều quyền lực hơn trong khi thượng viện chỉ có nhiệm vụ cố vấn và xem xét.
Tuy nhiên, trong hệ thống tổng thống. Quyền hạn của hai viện thường là như nhau và bình đẳng với nhau. Trong các chính quyền liên bang, chúng ta thường thấy thượng viện đại diện cho các tiểu bang hợp thành. Vì mục đích này, thượng viện có thể hoặc gồm các đại biểu của chính quyền bang, như trường hợp của Đức và ở Hoa Kỳ trước thế kỷ 20, hoặc được bầu ra theo công thức cấp cho các bang có dân số ít hơn một số đại diện ngang bằng như trong trường hợp của Úc và Hoa Kỳ.
== Danh sách tên các cơ quan lập pháp ==
===== Cấp quốc gia =====
Nghị viện (Parliament)
Quốc hội (Quốc hội lưỡng viện - Congress)
Hội đồng nghị viên (Diet assembly)
Quốc hội (National Assembly)
Nghị viện Althing — Iceland
Hội đồng lập pháp cộng hòa (Bồ Đào Nha)
Hội đồng lập pháp Albania — Albania
Hội đồng nghị viên liên bang (Bundestag) — Đức
Cortes Generales — Tây Ban Nha
Nghị viện (Eduskunta) — Phần Lan
Hội đồng Liên Bang (Federal Assembly) — Nga, Thụy Sĩ
Nghị viện quốc gia (Folketing) — Đan Mạch
Hội đồng lập pháp (Knesset) — Israel
Nghị viện quốc gia (Majles Al-Ummah) — Kuwait
Nghị viện quốc gia (Riksdag) — Thụy Điển
Staten-Generaal — Hà Lan
Nghị viện quốc gia (Stortinget) — Na Uy
Tòa lập pháp (Legislative Yuan) — Đài Loan
== Xem thêm ==
Danh sách các cơ quan lập pháp quốc gia
== Tham khảo == |
l'équipe.txt | L'Équipe một tờ báo thể thao hàng ngày của Pháp, thuộc sở hữu của Nhà xuất bản Philippe Amaury. Các bài viết chủ yếu tập trung vào các tin tức, sự kiện của các môn thể thao như bóng đá, bóng bầu dục, đua xe và đi xe đạp. Tiền thân của L'Équipe là báo thể thao L'Auto.
== Chú thích == |
ventforet kofu.txt | Ventforet Kofu (ヴァンフォーレ甲府, Vanfōre Kōfu) là một câu lạc bộ bóng đá Nhật Bản đến từ Kofu. Họ đang thi đấu tại J. League Hạng 1.
Từ "Ventforet" là từ ghép từ hai từ tiếng Pháp Vent ("Gió") và Forêt ("Rừng"). Xuất phát từ dòng chữ Fū-rin-ka-zan (風林火山)nổi tiếng của Shingen Takeda, một daimyo xuất chúng ở Kofu trong thời kỳ Sengoku, xuất hiện trên là cờ chiến tranh của ông. Dòng chữ này có ý nghĩa là Nhanh như gió, tĩnh lặng như rừng cây, dữ dội như lửa và vững chãi như núi.
== Lịch sử ==
Kofu Club (1965–1994)
Câu lạc bộ được thành lập năm 1965 khi câu lạc bộ của cựu học sinh Trường Trung học Dai-ichi Kofu có tên là là Kakujo Club bắt đầu chiêu mộ các học sinh tốt nghiệp của các trường trung học khác với ý muốn thăng hạng Japan Soccer League.
Câu lạc bộ gia nhập giải đấu JSL Hạng 2 mới thành lập năm 1972. Họ chơi ở đó cho tới khi giải khép lại vào năm 1992 và rồi trở thành thành viên sáng lập của Japan Football League cũ.
Kofu Club là một câu lạc bộ, theo đúng ý nghĩa thực sự của từ này, được thành lập tự nguyện bởi các thành viên, không giống như các câu lạc bộ bóng đá chủ đạo khác lúc bấy giờ ở Nhật Bản gồm các cầu thủ chủ yếu là các nhân viên của các công ty tài trợ của họ.
Ventforet Kofu (1995–nay)
Câu lạc bộ lấy tên mới Ventforet Kofu năm 1995 và gia nhập J. League Hạng 2 năm 1999 khi nó được thành lập. Họ tồn tại qua thời điểm khó khăn từ năm 1999 đến năm 2001, trong thời gian đó họ phải chịu đựng những rắc rối về tài chính cũng như kết quả thi đấu khó khăn với 25 trận thua. Họ kết thúc mùa giải ở vị trí cuối cùng trong 3 mùa giải liên tiếp và được mệnh danh là "Hành lý quá cước của J2".
Bước ngoặt với câu lạc bộ diễn ra năm 2002 như là một kết quả của việc tái cơ cấu hoạt động và nỗ lực nhiệt tình của những cổ động viên. Kofu đứng thứ ba trong năm 2005 và đã được thăng J1 sau chiến thắng trong Trận tranh Lên/Xuống hạng J.League với Kashiwa Reysol. Nhưng đội cũ chỉ có một thời gian ngắn tại giải đấu cao nhất trước khi trở lại J2 mùa giải 2007.
Kết thúc mùa 2010 câu lạc bộ lên hạng một lần nữa, nhưng dù cố gắng hết sức câu lạc bộ xuống hạng mùa 2011. Tuy thế, họ nhanh chóng trở lại và lên hạng, lần này là vô địch, sau 36 mùa giải cố gắng giành danh hiệu này.
== Lịch sử đấi giải ==
Kanto League: 1967–71 (Kofu Club)
Hạng 2 (JSL Div. 2): 1972–91 (Kofu Club)
Hạng 3 (JFL cũ Div. 2): 1992–93 (Kofu Club)
Hạng 2 (JFL cũ): 1994–98 (Kofu Club tới 1994, Ventforet Kofu từ 1995)
Hạng 2 (J. League Div. 2): 1999–05
Hạng 1 (J. League Div. 1): 2006–07
Hạng 2 (J. League Div. 2): 2008–10
Hạng 1 (J. League Div. 1): 2011
Hạng 2 (J. League Div. 2): 2012
Hạng 1 (J. League Div. 1): 2013–
== Danh hiệu ==
J. League Hạng 2:
2012
Shakaijin Cup:
1969
Kantō Soccer League:
1969, 1970
== Đội hình hiện tại ==
Tính tới 20 tháng Giêng 2015. Ghi chú: Quốc kỳ chỉ đội tuyển quốc gia được xác định rõ trong điều lệ tư cách FIFA. Các cầu thủ có thể giữ hơn một quốc tịch ngoài FIFA.
=== Cho mượn ===
Ghi chú: Quốc kỳ chỉ đội tuyển quốc gia được xác định rõ trong điều lệ tư cách FIFA. Các cầu thủ có thể giữ hơn một quốc tịch ngoài FIFA.
== Kết quả thi đấu ==
== Câu lạc bộ liên kết ==
Persib Bandung
== Tham khảo ==
== Liên kết ngoài ==
(tiếng Nhật) Trang chủ
Bản mẫu:Ventforet Kofu |
dặm anh.txt | Mile (dặm Anh đôi khi được gọi tắt là dặm, tuy nhiên cũng nên phân biệt với một đơn vị đo lường cổ được người Việt và người Hoa sử dụng cũng được gọi là dặm) là một đơn vị chiều dài, thường được dùng để đo khoảng cách, trong một số hệ thống đo lường khác nhau, trong đó có Hệ đo lường Anh, Hệ đo lường Mỹ và mil của Na Uy/Thụy Điển. Chiều dài của mỗi hệ chênh lệch nhau, nhưng nói chung là hơn 1 km và dưới 3 km. Trong các ngữ cảnh tiếng Anh hiện nay mile có thể là:
Dặm pháp định bằng 5.280 feet (khoảng 1.609 m), hoặc 63360 inch
Hải lý (nautical mile) bằng chính xác 1.852 m (khoảng 6.076 feet).
Có nhiều cách viết tắt cho mile: mi, ml, m, M. NIST hiện nay sử dụng và đề nghị cách viết tắt "mi", nhưng dặm trên giờ thường được viết ngắn lại là "mph", "m.p.h." hoặc "MPH" thay vì "mi/h".
== Mile nguyên thủy ==
Đơn vị khoảng cách gọi là mile được sử dụng lần đầu bởi những người La Mã để chỉ một khoảng cách là 1000 pace (bước chạy) (1 pace là 2 step - hay bước đi, 1000 pace trong tiếng Latin là mille passus) hoặc 5000 feet La Mã, và tương ứng với khoảng 1480 mét, hoặc 1618 yard hiện đại.
Định nghĩa hiện nay của một mile là 5.280 feet (chứ không phải 5000 như thời La Mã). Tỷ lệ này có từ thế kỷ 13, và sau được xác nhận bởi quy định pháp luật dưới triều đại Nữ hoàng Elizabeth I. Việc điều chỉnh chiều dài của mile là để thích ứng với rod, một đơn vị chiều dài nằm trong các văn bản pháp luật cổ của Anh (xem thảo luận về furlong).
== Các loại mile ==
Trong cách dùng ngày nay, có nhiều khoảng cách khác nhau được định nghĩa là mile.
Nó bắt nguồn từ Đạo luật của nghị viện Anh vào năm 1592 dưới thời trị vì của Elizabeth I của Anh. Luật này định nghĩa Mile pháp định là 5.280 feet hoặc 1.760 yard; hoặc 63.360 inch. Lý do xuất hiện những con số khá bất quy tắc này là do 5280 feet tạo thành từ tám furlong (chiều dài vết xe tạo ra trước khi ngựa đổi hướng, furlong = furrow (vết xe) + long (dài)). Đến lượt 1 furlong bằng 10 chain (xích) (xích của viên thanh tra, được dùng cho đến khi dụng cụ đo bằng laser thay thế); một chain bằng 22 yard và một yard bằng 3 feet, do đó thành ra là 5280 feet. 22 yard cũng là chiều dài của sân thi đấu môn cricket, một trò chơi bắt nguồn từ Anh và vẫn còn được chơi ở một số nước trước đây là một phần của Đế quốc Anh.
Trước khi có đạo luật của nghị viện Anh thì chiều dài của mile chưa thống nhất. Mile của người Ireland bằng 2240 yard (6720 ft) và mile của người Scotland, được gọi là Mile Hoàng gia ở Edinburg, là khoảng cách từ Lâu đài đến Cung điện Holyroodhouse, và bằng 1976 yard (5928 ft). Ở Anh, một dặm La Mã bằng 5.000 feet cũng thường được dùng, một chiều dài không chẵn cho furlong và yard (5000 ft = 1666 2/3 yard). Vào những năm 1500, sự đo đạc bản đồ chính xác đã bắt đầu phổ biến, như bản đồ Các Hạt ở nước Anh của Saxton. Do đó, một dặm tiêu chuẩn trở thành vấn đề quan trọng hơn bao giờ hết, đã dẫn đến Đạo luật Nghị viện. Nó cũng liên quan đến khả năng thu thuế, vì một chuẩn đo thống nhất trên toàn quốc sẽ là cần thiết để tránh những tranh cãi trong từng vùng về chiều dài và diện tích.
Ngày nay, dặm pháp định quốc tế đã được thống nhất trên khắp thế giới. Mile được định nghĩa chính xác là 1.760 yard quốc tế (bằng 0,9144 m) và do đó bằng chính xác 1.609,344 mét (hay 1,609344 km). Một kilômét bằng 0,621371192 dặm. Mile này cũng được dùng ở Hoa Kỳ và Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland như một phần của Hệ đo lường Mỹ và Hệ đo lường Anh. Các thành phần của dặm pháp định quốc tế cũng giống như Đạo luật Nghị viện Anh vào năm 1592, đó là 8 furlong, 80 chain hoặc 5.280 feet quốc tế.
Tất cả sự chuyển đổi sang hệ mét đều theo một thỏa thuận quốc tế được tạo ra vào năm 1960, đó là một inch bằng chính xác 25,4 milimét (2,54 xentimét). Có 12 inch trong một foot và tất cả các sự chuyển đổi từ feet sang mét (và ngược lại) đều theo chuẩn đó.
Dặm khảo sát Hoa Kỳ dựa trên một inch được định nghĩa chính xác là 1 mét = 39,37 inch. Mile này đo được 5.280 feet khảo sát của Mỹ, hoặc xấp xỉ 1.609,347 mét. Vì vậy dặm quốc tế chênh lệch với dặm khảo sát với tỷ lệ 1 dặm pháp định: 0,999 998 dặm khảo sát. Dặm khảo sát được dùng trong Hệ thống Khảo sát Đất đai Công cộng của Hoa Kỳ.
=== Hải lý ===
Hải lý hay Dặm biển (nautical mile) trước đây được định nghĩa bằng chiều dài góc 1 phút của cung kinh tuyến (hoặc là bất kỳ vòng tròn lớn nào) của Trái Đất. Mặc dù khoảng cách này thay đổi tùy vào vĩ độ của kinh tuyến (hoặc vòng tròn lớn) nơi đang sử dụng, trung bình nó khoảng 6.076 feet (khoảng 1852 m hoặc 1,15 dặm pháp định).
Hải lý trên giờ có tên là knot (tiếng Việt gọi là gút hay nút).
Những người đi biển sử dụng com-pa để "bước đi" trên đường thẳng nối giữa hai điểm cần đo, sau đó đặt com-pa mở vào thước đo độ vĩ ở góc bản đồ, từ đó đọc được khoảng cách tính theo hải lý. Vì ngày nay ta biết rằng Trái Đất hình ellipsoid chứ không phải hình cầu, nên cách tính khoảng cách hải lý như thế sẽ khác nhau khi thay đổi từ xích đạo lên các địa cực. Ví dụ, sử dụng WGS84 Ellipsoid, Mô hình Trái Đất được chấp nhận phổ biến hiện nay, 1 phút vĩ độ tại xích đạo WGS84 là 6.087 feet và tại địa cực là 6.067 feet.
Ở Mỹ, một hải lý được định nghĩa vào thế kỷ thứ 19 là 6.080,2 feet (1.853,249 m), trong khi ở Anh Hải lý Hải quân được định nghĩa là 6.080 feet (hay 1.853,184 m), tương đương với 1 phút độ vĩ theo các vĩ tuyến ở phía Nam nước Anh. Những nước khác có những định nghĩa khác về hải lý, nhưng hiện nay nó đã được định nghĩa trên toàn thế giới là bằng chính xác 1.852 mét.
Hải lý hầu như được sử dụng trên toàn thế giới khi du hành bằng đường hàng không, hàng hải, và các lĩnh vực liên quan đến hàng hải vì mối liên hệ của nó với độ và phút của độ vĩ và khả năng sử dụng thước đo tỷ lệ vĩ độ của bản đồ để đo khoảng cách.
Một thuật ngữ khác - dặm biển - vẫn còn được sử dụng cho khoảng cách của một phút độ vĩ.
== Những dặm khác ==
Dặm La mã (tiếng Latin: mille passus, số nhiều milia passuum), bằng 1000 bước kép (passus, số nhiều passūs) mỗi bước bằng 5 feet La Mã (pēs, số nhiều pedēs). Chiều dài của nó là 5.000 feet La Mã, khoảng gần chính xác 1500 m.
Dặm Đan Mạch (tiếng Đan Mạch: mil) bằng với 7.532 mét (hoặc 24.000 feet Đan Mạch hay 12.000 alen).
Dặm dữ liệu được dùng trong các vật thể liên quan đến radar và bằng 6.000 feet (1,8288 kilômét).
Dặm Hà Lan (dặm "Hollandic") bằng xấp xỉ một phần mười chín độ (~5,8 kilômét).
Dặm Hà Lan (hay dặm "Netherlandic") bằng chính xác 1 kilômét trong Hệ Mét của Hà Lan 1820-1870.
Dặm Đức được tính bằng một phần 15 độ (và do đó bằng bốn lần hải lý hoặc 6,4 kilômét).
Dặm Ireland bằng 2.240 yard (2.048,256 m).
Dặm Ý còn được gọi là dặm La Mã (~1,52 kilômét hay 0,944 dặm pháp định) là một ngàn bước, mỗi bước là 5 feet La Mã (foot La mã bằng một phần 5 của một inch ngắn hơn foot London).
Thuật ngữ Dặm Metric được dùng trong thể thao như môn điền kinh và trượt băng tốc độ để chỉ khoảng cách là 1,5 kilômét. Ở các giải thi đấu ở cấp phổ thông ở Mỹ, thuật ngữ này đôi khi được dùng cho một cuộc đua dài 1,6 kilômét.
mil của Na Uy/Thụy Điển (dặm Thụy Điển, hiện được dùng ở Na Uy và Thụy Điển) được định nghĩa bằng 10 kilômét từ ngày 1 tháng 1 năm 1889, khi hệ mét được giới thiệu tại Thụy Điển. mil, đơn vị tồn tại trước khi hệ mét ra đời, trước đây có tên là rast, nghĩa là ngừng, nghỉ, dài khoảng 11,3 kilômét ở Na Uy (xem Dặm dài ở dưới) và 10.688,54 mét ở Thụy Điển, đại diện cho khoảng cách thích hợp giữa hai chặng nghỉ khi đi bộ. Trong các tình huống thông thường và không chính xác liên quan đến những khoảng cách dài hơn vài cây số, theo một quy định, mil được dùng thay vì kilômét. Nó cũng được dùng phổ biến để đo mức tiêu thụ nhiên liệu của xe cộ; lít trên mil có nghĩa là số lít nhiên liệu tiêu thụ trên mỗi 10 kilômét [1].
Dặm Ba Lan gần bằng dặm Hà Lan.
Dặm Scotland bằng 1.976,5 yard (1,807.3116 m).
Dặm dài, được sử dụng trước đây bởi người Na Uy, Thụy Điển và Hungary, gần bằng một dặm Đức rưỡi hoặc khoảng 11 kilômét.
Đơn vị tương ứng của Phần Lan, virsta, là 1068,8 m. Mười virsta tạo thành một peninkulma (có nghĩa là "tầm nghe của chó săn", khoảng cách xa nhất có thể nghe được tiếng sủa của chó trong không khí), 10,688 km. Ngày nay peninkulma để chỉ 10 km trong cách dùng thông dụng của Phần Lan (giống như mil trong cách dùng của Na Uy và Thụy Điển).
Dặm của người bơi là 1500 mét hoặc 30 vòng trong một hồ 25 mét. Nó có thể chuyển đổi (thô) thành 1650 yard trong hồ nước 25 yard (33 vòng), khoảng cách chuẩn trong các cuộc thi Liên trường Đại học ở Hoa Kỳ.
Dặm quốc gia được sử dụng thông tục để chỉ một khoảng cách rất dài.
== Xem thêm ==
Đo khối lượng và chiều dài cổ
Dãy Fibonacci ứng dụng: chuyển đổi sang kilômét
Dặm bốn phút
Hệ đo lường Anh
League
Đo khối lượng và chiều dài trung cổ
Dặm vuông
Hệ đo lường Mỹ
== Tham khảo ==
'Of Divers Measures', in Laurence Echard, 1741, The Gazetteer's or Newsman's Interpreter, London: Ballard et al. (xuất bản lần đầu vào 1703)
== Liên kết ngoài ==
Bảng Đơn vị Đo lường Chung NIST
Đổi đơn vị trực tuyến
Hải lý ở Freeport, New York
Đổi dặm sang km |
hiệp hội phần mềm và dịch vụ công nghệ thông tin việt nam.txt | Hiệp hội Phần mềm và Dịch vụ Công nghệ thông tin Việt Nam (viết tắt theo tiếng Anh: VINASA, tên cũ: Hiệp hội Doanh nghiệp Phần mềm Việt Nam) là một tổ chức được thành lập với mục đích kiến tạo nền công nghiệp mới của quốc gia - nền công nghiệp phần mềm, phát huy truyền thống sáng tạo và cần cù của dân tộc, biến Việt Nam trở thành thung lũng phần mềm của thế giới, góp phần vào thành công của các thành viên và sự phồn vinh của đất nước.
== Lĩnh vực ==
Giải pháp phần mềm phục vụ quản lý doanh nghiệp
Giải pháp phần mềm phục vụ quản lý hành chính nhà nước
Giải pháp phần mềm phục vụ ứng dụng Web và thương mại điện tử
Giải pháp phần mềm phục vụ cho xây dựng - thiết kế
Giải pháp phần mềm phục vụ cho giáo dục và đào tạo
Các giải pháp phần mềm chuyên dụng khác
1. Giới thiệu Hiệp hội Phần mềm và Dịch vụ Công nghệ thông tin Việt Nam
Hiệp hội Phần mềm và Dịch vụ Công nghệ thông tin Việt Nam – tên tiếng Anh: Vietnam Software and IT Services Association (viết tắt: VINASA) – là tổ chức xã hội nghề nghiệp của các doanh nghiệp phần mềm Việt Nam, được thành lập tháng 4 năm 2002. Ngay từ khi ra đời, VINASA đã hoạt động tích cực, quy tụ được đông đảo các doanh nghiệp phần mềm, trong đó có hầu hết các doanh nghiệp phần mềm chủ lực của đất nước, cùng nhau đề ra các định hướng phát triển chung của các doanh nghiệp phần mềm Việt Nam, góp phần quan trọng thúc đẩy ngành phần mềm phát triển mạnh mẽ. Với gần 200 doanh nghiệp hội viên, qua 7 năm hoạt động tích cực, có hiệu quả, VINASA đã trở thành một hiệp hội xã hội – ngành nghề có uy tín ở nước ta.
- Sứ mệnh và tầm nhìn
VINASA liên kết các doanh nghiệp phần mềm và dịch vụ CNTT Việt Nam, là người đại diện cho ngành công nghiệp phần mềm và dịch vụ CNTT quốc gia, là cấu nối giữa các doanh nghiệp phần mềm và dịch vụ CNTT với các cơ quan của Đảng và Nhà nước, các tổ chức trong nước và quốc tế nhằm tạo môi trường, điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp phần mềm phát triển, qua đó thúc đẩy sự phát triển mạnh mẽ của nền công nghiệp phần mềm còn non trẻ của nước nhà, xây dựng uy tín ngành công nghiệp phần mềm Việt Nam, tiến tới đưa Việt Nam trở thành trung tâm sản xuất và xuất khẩu phần mềm lớn.
Là đại diện của nền công nghiệp mới, VINASA cam kết sẽ mang lại lợi ích tốt nhất cho mỗi thành viên hiệp hội, cùng các thành viên kế thừa và phát huy truyển thống tốt đẹp của dân tộc, đoàn kết và học hỏi, nỗ lực và sáng tạo, góp phần biến Việt Nam thành thung lũng phần mềm của thế giới, có vị trí xứng đáng trong nền kinh tế số.
VINASA sẽ trở thành một Hiệp hội chuyên nghiệp, trung tâm chuyển giao tri thức của ngành phần mềm và dịch vụ CNTT, một tổ chức hỗ trợ hiệu quả các nền tảng phát triển của ngành, góp phần quan trọng thực hiện chiến lược đưa Việt Nam trở thành trung tâm đào tạo và cung cấp nhân lực phần mềm và dịch vụ CNTT cho thế giới.
- Vị trí, vai trò
VINASA là tổ chức chính thức của các doanh nghiệp phần mềm và dịch vụ CNTT, có địa vị pháp lý được pháp luật thừa nhận và có phạm vi hoạt động trong cả nước. Ra đời trong bối cảnh ngành công nghiệp phần mềm được Đảng, Nhà nước xác định là ngành kinh tế mũi nhọn, có vai trò quyết định đối với sự phát triển và ứng dụng công nghệ thông tin tại Việt Nam, VINASA rất tích cực, sáng tạo trong hoạt động, đã khẳng định được vị trí, vai trò định hướng đối với ngành công nghiệp phần mềm Việt Nam.
VINASA là người đại diện và luôn đồng hành, bảo vệ các quyền lợi chính đáng, hợp pháp của doanh nghiệp hội viên, đồng thời hỗ trợ, thúc đẩy liên kết, hợp tác giữa các doanh nghiệp phần mềm; tích lũy và chia sẻ tri thức của ngành; cung cấp các dịch vụ phát triển doanh nghiệp; tham gia xây dựng chính sách, chiến lược, kế hoạch phát triển công nghiệp phần mềm Việt Nam theo chiến lược và các chương trình của Nhà nước, xây dựng môi trường kinh doanh; làm đầu mối liên lạc với Chính phủ, các Bộ, ngành, các địa phương, các cơ quan Nhà nước về các vấn đề liên quan đến ngành phần mềm, cung cấp thông tin, chương trình hỗ trợ phát triển ngành phần mềm; đồng thời làm đầu mối quan hệ, trao đổi với các Hiệp hội và tổ chức xã hội, xã hội – nghề nghiệp Việt Nam và nước ngoài có liên quan nhằm phục vụ cho sản xuất, ứng dụng và xuất khẩu phần mềm của hội viên; đại diện cho hội viên trong các tổ chức quốc tế có liên quan đến lĩnh vực ngành hoạt động của Hiệp hội theo quy định của pháp luật.
- Quy mô và hệ thống tổ chức hiện nay
Từ 55 hội viên ban đầu năm 2002, qua 9 năm phát triển, đến nay số lượng hội viên VINASA đã tăng gần 4 lần, đạt trên 200 hội viên, trong đó có cả những doanh nghiệp nước ngoài.
Cơ quan lãnh đạo cao nhất của Hiệp hội là Đại hội toàn thể, 5 năm họp 1 lần. Đại hội quyết định phương hướng, chương trình hoạt động của Hiệp hội, sửa đổi, bổ sung Điều lệ của Hiệp hội, bầu Ban chấp hành, Ban kiểm tra của Hiệp hội.
Ban chấp hành Hiệp hội được bầu từ những người có thẩm quyền chính thức do các doanh nghiệp, tổ chức thành viên cử ra, là cơ quan lãnh đạo cao nhất của Hiệp hội giữa hai kỳ đại hội. Ban chấp hành Hiệp hội khóa II có 27 thành viên. Ban chấp hành Hiệp hội họp thường kỳ 6 tháng/lần.
Ban Thường trực Hiệp hội gồm Chủ tịch, các Phó Chủ tịch và Tổng thư ký, là cơ quan thay mặt cho Hiệp hội và Ban chấp hành, tổ chức, điều hành các hoạt động giữa hai kỳ họp của Ban chấp hành Hiệp hội.
Ban kiểm tra hiệp hội do Đại hội toàn thể bầu ra gồm 3 ủy viên, có chức năng, nhiệm vụ kiểm tra việc thi hành Điều lệ, nghị quyết, chủ trương của Hiệp hội, kiểm tra công tác hội phí, việc sử dụng các nguồn quỹ của Hiệp hội, giải quyết các khiếu nại, tố cáo liên quan đến cán bộ hiệp hội, hội viên.
Văn phòng Hiệp hội gồm 4 ban chức năng:
+ Ban hội viên,
+ Ban Chương trình – Sự kiện,
+ Ban Đào tạo phát triển nguồn nhân lực, Trung tâm phát triển nguồn nhân lực phần mềm Việt Nam (HRDC) là mô hình đặc biệt để triển khai các hoạt động của Ban và của Hiệp hội,
+ Ban chính sách.
Các câu lạc bộ trực thuộc Hiệp hội:
+ Câu lạc bộ doanh nghiệp Game và nội dung thông tin số (VGB) (Văn phòng Vinasa điều phối hoạt động),
+ Câu lạc bộ hợp tác CNTT VINASA – Nhật Bản (VJC) (Văn phòng Vinasa điều phối hoạt động),
+ Câu lạc bộ hợp tác CNTT Việt Nam - Đan Mạch (VDC) (Đại sứ quán Đan Mạch ở Hà Nội điều phối hoạt động),
+ Tạp chí Nhịp Sống Số.
- Sơ đồ tổ chức
2. Quá trình phát triển và một số kết quả nổi bật
- Ngày 27 tháng 4 năm 2002, Đại hội thành lập VINASA được tổ chức trọng thể với 55 hội viên ban đầu, ông Trương Gia Bình, Chủ tịch Hội đồng quản trị kiêm Tổng Giám đốc Công ty Cổ phần Phát triển Đầu tư công nghệ FPT được bầu làm chủ tịch Hiệp hội.
- Tháng 4 năm 2002, VINASA chủ trì tổ chức Lễ hội phần mềm Việt Nam lần thứ nhất, giới thiệu các phần mềm tiêu biểu của Việt Nam. Lễ hội được duy trì hàng năm và đến năm 2006 được mở rộng quy mô thành Triển lãm quốc tế Phần mềm và Giải trí điện tử - ISGAF (International Software and Game Festival)
- Tháng 7 năm 2002, VINASA trở thành thành viên đại diện ngành công nghiệp công nghệ thông tin Việt Nam tham gia Tổ chức công nghiệp điện toán châu Á – châu Đại Dương (ASOCIO), là hiệp hội lớn nhất tại hai châu lục, liên kết trên 10.000 doanh nghiệp công nghệ thông tin. Năm 2009, đại diện VINASA được bầu làm Phó chủ tịch ASOCIO.
- Tháng 10 năm 2002, VINASA được công nhận là thành viên chính thức của Liên minh Công nghệ thông tin thế giới (WITSA), là tổ chức liên minh toàn cầu các Hiệp hội doanh nghiệp công nghệ thông tin các quốc gia, chiếm trên 90% thị trường CNTT thế giới.
- Tháng 11 năm 2002, VINASA trở thành thành viên Ban chỉ đạo quốc gia về công nghệ thông tin.
- Tháng 9 năm 2003, VINASA tổ chức Giải thưởng Sao Khuê, trao tặng cho các doanh nghiệp phần mềm tiêu biểu và các cá nhân, tập thể có cống hiến xuất sắc cho sự phát triển của công nghiệp phần mềm Việt Nam. Giải thưởng Sao Khuê được tổ chức định kỳ hàng năm và ngày càng mở rộng về quy mô, nâng cao uy tín.
- Tháng 9 năm 2003, lần đầu tiên VINASA tổ chức Hội thảo Hợp tác doanh nghiệp CNTT Việt Nam – Nhật Bản tại Tokyo, hội thảo này được duy trì tổ chức hàng năm tại Tokyo.
- Tháng 11 năm 2003, VINASA đăng cai tổ chức thành công Hội nghị Thượng đỉnh CNTT châu Á, châu Đại Dương vớ trên 700 đại biểu từ hơn 30 quốc gia tham dự, là sự kiện CNTT quốc tế lớn nhất khu vực, được báo chí trong nước và thế giới đánh giá rất cao.
- Tháng 6 năm 2004 khai trương Văn phòng công ty VIJASGATE tại Tokyo. VIJASGATE là công ty liên doanh với Nhật Bản do các hội viên VINASA góp vốn để làm kênh thúc đẩy hợp tác phần mềm giữa doanh nghiệp hai nước.
- Ngày 20 tháng 8 năm 2004 ký thỏa thuận với VITEC (Bộ Khoa học và Công nghệ) về việc hợp tác áp dụng chuẩn CNTT của VITEC (được công nhận tương đương chuẩn của Nhật Bản) trong các doanh nghiệp hội viên VINASA.
- Đại hội VINASA lần thứ II được tổ chức trong hai ngày 17 và 18 tháng 6 năm 2005. Đại hội đã thông qua định hướng chiến lược phát triển ngành công nghiệp phần mềm Việt Nam trong giai đoạn mới và chương trình hoạt động Hiệp hội nhiệm kỳ 2005 – 2010. Ông Trương Gia Bình được bầu lại làm Chủ tịch Hiệp hội.
- Tháng 9 năm 2005, phát hành cuốn sách "Giới thiệu ngành công nghiệp phần mềm Việt Nam". Đây là lần đầu tiên phát hành cuốn sách mang tính toàn diện về ngành phần mềm bằng hai thứ tiếng: tiếng Anh và tiếng Việt.
- Tháng 12 năm 2005, Hiệp hội mở Văn phòng đại diện tại thành phố Hồ Chí Minh.
- Tháng 4 năm 2006, đón và tổ chức cuộc đối thoại giữa ông Bill Gates với các doanh nghiệp phần mềm Việt Nam. Ông Bill Gates đã gửi thư riêng cảm ơn VINASA và đánh giá cao vai trò của VINASA trong hợp tác với Microsoft và trong phát triển công nghiệp phần mềm Việt Nam.
- Tháng 4 năm 2006 tổ chức giải thưởng Vietgames lần thứ nhất.
- Tháng 01 năm 2007, áp dụng mô hình văn phòng hiệp hội chuyên nghiệp cho Văn phòng VINASA, hoạt động theo cơ chế mới với 4 ban chuyên môn. Tháng 2 năm 2007, thành lập Câu lạc bộ Game và Nội dung thông tin số Việt Nam.
- Tháng 6 năm 2007, công bố tầm nhìn mới về phát triển nhân lực phần mềm Việt Nam.
- Tháng 2 năm 2008, thành lập Trung tâm phát triển nhân lực phần mềm Việt Nam. Đẩy mạnh việc xây dựng Hệ thống xếp bậc nhân lực phần mềm Việt Nam. Nghiên cứu xây dựng đề án Đại học VINASA.
- Thành lập Tạp chí Nhịp Sống Số - cơ quan báo chí của Hiệp hội. Tháng 4 năm 2008, ra mắt số đầu tiên của Tạp chí Nhịp Sống Số.
Tháng 4 năm 2008, lần đầu tiên phát hành sách "Danh bạ Sản phẩm, dịch vụ phần mềm ưu việt Việt Nam 2007"
- Tháng 6 năm 2008, ký kết và bắt đầu triển khai dự án "Tăng cường năng lực Hiệp hội doanh nghiệp phần mềm Việt Nam" do Đại sứ quán Đan Mạch tài trợ, Liên đoàn công nghiệp Đan Mạch (DI) là đối tác chính..
- Tháng 3 năm 2009, VINASA cùng IDC Vietnam – đơn vị được lựa chọn, tổ chức khảo sát và xây dựng báo cáo toàn cảnh về ngành phần mềm Việt Nam.
- Tháng 3 lãnh đạo Hiệp hội, với sự tư vấn của DI – ITEK, đã xây dựng Chiến lược phát triển VINASA đến năm 2015 và tại Hội nghị hội viên tháng 4/2009, các hội viên đã đóng góp ý kiến hoàn thiện chiến lược.
- Tháng 4 năm 2009, website mới của Hiệp hội chính thức ra mắt với nhiều cải tiến về hình thức, đổi mới về nội dung.
- Tháng 7 năm 2011, Hiệp hội được đổi tên từ "Hiệp hội Doanh nghiệp Phần mềm Việt Nam" thành "Hiệp hội Phần mềm và Dịch vụ Công nghệ thông tin Việt Nam."
- VINASA được mời làm thành viên Ban tổ chức quốc gia WITFOR 2009 và tham gia một số Tiểu ban trong Ban tổ chức.
== Giải thưởng trực thuộc ==
Sao Khuê
Vietgames
== Xem thêm ==
Hội Tin học Việt Nam
Chiến lược
== Tham khảo ==
== Liên kết ngoài ==
Trang chủ |
lễ hội phố hoa hà nội.txt | Lễ hội phố hoa Hà Nội là một lễ hội được tổ chức tại phố Đinh Tiên Hoàng, cạnh bờ hồ Hoàn Kiếm. Đây là một lễ hội được chính quyền thành phố Hà Nội tổ chức lần đầu tiên vào ngày 1 tháng 1 năm 2009, vào dịp Tết Dương lịch nhằm quảng bá các sản phẩm hoa, cây cảnh. Nhiều người dân từ các tỉnh thành khác cũng đã đến Hà Nội, ra bờ hồ Hoàn Kiếm để được trực tiếp chiêm ngưỡng nghệ thuật sắp đặt hoa và các sản phẩm thủ công truyền thống.
Cho đến nay, Lễ hội phố hoa Hà Nội đã được tổ chức vào các mùa Tết các năm 2009, 2010, 2012.
== Lễ hội phố hoa Hà Nội 2009 ==
Lễ kéo dài 4 ngày từ ngày 31/12/2008 đến 04/01/2009, tại đường Đinh Tiên Hoàng, xung quanh hồ Gươm và khu vực tượng đài Lý Thái Tổ .
=== Các loại hoa trong lễ hội ===
Trong lễ hội phố hoa, rất nhiều luống hoa đẹp đã được hoàn thành dưới bàn tay tinh xảo của những nghệ nhân trang trí, cùng các mô hình như phố cổ Bát Tràng, trống đồng Đông Sơn. Trong lễ hội các hoạt đồn văn hóa khác cùng đồng loạt tổ chức:
Văn hóa Nhật: Điệu múa dân gian Nhật Yosakoi, múa nón hoa Hanagasa Ondo, kịch Nam kinh Tama Sudare, biểu diễn đàn Koto, đàn dây Samisen, nhạc cổ truyền bằng sáo trúc, thời trang Kimono và thời trang Tokyo... Ẩm thực Nhật được giới thiệu qua cách làm mỳ Soba.
Văn hóa Việt: Công bố nhiều tài liệu có giá trị lịch sử của Hoàng thành Thăng Long, khu phố cổ Hà Nội, các gian hàng ẩm thực.
Vì các loài hoa của Hà Nội bị héo sau trận lụt lịch sử vào đầu tháng 11 năm 2008 nên các loài hoa được lấy từ nhiều nơi khác như: Hà Nam, Bắc Ninh, Đà Nẵng, TP Hồ Chí Minh... và có rất nhiều loài hoa còn lấy từ Trung Quốc, Thái Lan .
=== Người dân đến chiêm ngưỡng và công tác an ninh ===
Người dân địa phương và từ khắp nơi ở Việt Nam đã đổ về bờ hồ Hoàn Kiếm để chiêm ngưỡng lễ hội phố hoa. Ban tổ chức và đội bảo vệ đã bố trí một số trạm gác để bảo đảm cho lễ hội được diễn ra tốt đẹp, an toàn. Chính quyền quận Hoàn Kiếm đã lập điểm trông giữ xe máy, ô tô, xe đạp để phục vụ cho người dân đi xem lễ hội. Tất cả các tuyến đường xung quanh hồ Hoàn Kiếm bị cấm các loại phương tiện lưu thông để phục vụ lễ hội.
=== Phố hoa tan hoang sau lễ hoi hoa ===
Một ngày sau khi khai mạc, phố hoa đã bị tan hoang do sự thiếu ý thức của những người dân đi xem hoa khiến nhiều luống hoa bị giập nát, héo úa do nhiều người dẫm lên cỏ để quay phim, chụp ảnh và thậm chí, hàng loạt người chủ yếu nam nữ thanh niên đã chen vào bẻ hoa, ai cũng muốn mình có một cánh hoa hay cành hoa, đã lao vào các cây cảnh hái hoa và lấy đi các đèn lồng,....
Các sự kiện đã gây phản cảm, ấn tượng không tốt về ý thức văn hóa người Hà Nội với các bạn nước ngoài, gây xôn xao dư luận trong nước. Lễ hội đã kết thúc trong một sự nuối tiếc của người dân tới xem, và biến phố hoa thành phố rác. Nhà văn Băng Sơn phát biểu: "Tôi cảm thấy buồn và xấu hổ. Người Hà Nội làm xấu Hà Nội đi. Bao nhiêu năm hội hoa ở Đà Lạt, ở TP HCM mà không phải làm hàng rào vẫn giữ được cho đến ngày cuối cùng" . Ông Đinh Trọng Hợi, cán bộ Văn phòng Công an thành phố Hà Nội đã thừa nhận: "Công tác an ninh đã làm hết sức nhưng chưa lường hết được số lượng người dân đến với Lễ hội đông như vậy. Ban tổ chức dự kiến Lễ hội thu hút khoảng 15.000 người nhưng ngay trong đêm khai mạc số người đến với Lễ hội đã tăng gấp 2 đến 3 lần".
== Lễ hội phố hoa Hà Nội 2010 ==
Lễ hội đến tối 30 tháng 12 mới bắt đầu khai mạc, nhưng khu vực tượng đài Lý Thái Tổ và bờ hồ Hoàn Kiếm trước đó đã trở nên sôi động và nhộn nhịp. Nhiều nghệ nhân hoa, cây cảnh và nhiều người dân ở xung quanh đã sắp xếp những luống hoa thâu đêm để giúp phố hoa trở nên đẹp và có nhiều màu sắc hơn. Nhiều địa danh ở Hà Nội đã được dựng thành mô hình bằng tre, nứa như: Khuê Văn Các, chiếu dời đô của Lý Thái Tổ, cầu Long Biên, con số 1000 trên mặt nước hồ Hoàn Kiếm làm bằng hoa, mô hình xe xích lô chở hoa, mô hình tàu điện... Đặc biệt, mô hình cầu Long Biên cho phép người dân đi lại như trên cầu Long Biên thật ở đường Trần Nhật Duật, quận Ba Đình. Dưới cầu Long Biên là mô hình sông Hồng được dựng bằng tầm phông màn màu đỏ nâu, giống nước sông với một chiếc thuyền giả làm bằng gỗ. Theo Ban Tổ chức, Lễ hội phố hoa năm nay quy tụ khoảng 60 loại hoa được cắt cành, 80 loại hoa chậu, 30 loại cây màu tạo nền, hàng nghìn mét vuông cỏ, hàng nghìn khối cát và đá cuội.
Vào đêm khai mạc, số người đến xem đã tăng lên bất ngờ, có khi phải gấp 2-3 lần so với buổi sáng và buổi chiều, mọi người chen lan nhau không ai chịu nhường ai cho nên việc mở cửa tự do xem lễ hội hoa đã phải lùi lại một ngày . Ban tổ chức đã huy động lực lượng an ninh hùng hậu, gồm: hàng trăm cảnh sát, bảo vệ, cựu chiến binh, thanh niên tình nguyện, dân phòng và bố trí dây chăng rào chung quanh hoa để bảo vệ hoa và bảo đảm an toàn cho lễ hội
== Lễ hội phố hoa Hà Nội 2012 ==
Lễ hội phố hoa 2012 với chủ đề "Hà Nội – Điểm hẹn phố và hoa 2012" được tổ chức từ ngày 30/12/2011 đến hết ngày 02/01/2012 tại vài trăm mét đường thuộc trục đường Đinh Tiên Hoàng, khu vực tượng đài Lý Thái Tổ. Lễ hội do Sở Văn hóa, Thể thao & Du lịch Hà Nội chịu trách nhiệm thực hiện, với sự tài trợ của Đại sứ quán Hà Lan, Tổng công ty CP Bia - Rượu – Nước giải khát Sài Gòn (SABECO) và Trung tâm thương mại mua sắm Nguyễn Kim – Tràng Thi . Tuy nhiên, phố hoa Hà Nội 2012 đã gây thất vọng vì hoa đã ít lại bị héo và bị du khách chê là sơ sài và đơn điệu nhất từ trước tới nay, và tuy vắng người xem nhưng những cảnh vượt rào chắn vào chụp ảnh lộn xộn vẫn còn .
== Xem thêm ==
Lễ hội hoa Hà Nội
Đường hoa Nguyễn Huệ
Festival hoa Đà Lạt
== Tham khảo ==
== Liên kết ngoài ==
Website chính thức
Chen lấn kinh hoàng xem lễ hội hoa Hà Nội
Ngày mai, khai mạc Lễ hội hoa Hà Nội 2009
Lễ hội hoa anh đào và những hình ảnh chưa đẹp
Lễ hội hoa anh đào sẽ thu hút khoảng 200.000 người
Ngập rác sau Lễ hội hoa anh đào |
sepp blatter.txt | Joseph S. Blatter (sinh 10 tháng 3 năm 1936 tại Valais, Thụy Sĩ) là Chủ tịch Liên đoàn bóng đá thế giới thứ 8.
== Cuộc đời và sự nghiệp ==
Blatter sinh ra ở Visp, thuộc bang Valais, Thụy Sĩ. Ông học ở trường Sion, Thụy Sĩ trước khi có bằng cử nhân kinh doanh và kinh tế từ Đại học Lausanne năm 1959.
Sự nghiệp của Blatter có một lịch sử lâu dài và đa dạng bao gồm các vị trí như là Trưởng phòng quan hệ công chúng tại Ban du lịch Valaisan thuộc quê hương Thụy Sĩ của ông, cũng như làm Tổng thư ký Liên đoàn Hockey băng Thụy Sĩ. Ông từng làm giám đốc của phòng Thể thao bấm giờ và quan hệ đối tác của công ty Longines S.A. và đã tham gia vào tổ chức Thế vận hội các năm 1972 và 1976. Đầu thập niên 1970, Blatter được bầu làm chủ tịch của World Society of Friends of Suspenders, một tổ chức cố gắng ngăn cản phụ nữ thay thế đai treo (suspender belt) bằng pantyhose.
Vào mùa hè 1975, Blatter, theo sáng kiến của Horst Dassler, sau này là tổng giám đốc của Adidas, làm việc như là giám đốc của chương trình phát triển tại FIFA. Là giám đốc của FIFA, ông có văn phòng tại chi nhánh của Adidas ở Pháp và thời gian đầu cũng được Adidas trả tiền. Sau đó ông làm Tổng thư ký (1981-1998) trước khi ông được bầu làm chủ tịch FIFA vào năm 1998. Ông đã được tái bầu làm người đứng đầu FIFA vào năm 2002 và được bầu lại mà không có sự phản đối cho một nhiệm kỳ bốn năm ngày 31 tháng 5 năm 2007, mặc dù chỉ có 66 trong số 207 thành viên của FIFA đề cử ông. Sepp Blatter đã tìm cách trở thành chủ tịch FIFA trong nhiệm kỳ kế tiếp vào tháng 12 năm 2009.
Ngày 2 tháng 6 năm 2015, Sepp Blatter tuyên bố từ chức chủ tịch FIFA vì bê bối hối lộ giành quyền tổ chức World Cup, mặc dù ông vừa mới tái đắc cử nhiệm kỳ mới vào ngày 31 tháng 5.
Văn phòng kiểm sát tối cao của Thụy Sĩ tuyên bố vào ngày 25 tháng 9 năm 2015 là đang điều tra Blatter về những tội phạm trong quản lý. Vào ngày 8 tháng 10 năm 2015 Sepp Blatter và các nhân viên cao cấp khác của FIFA cũng như chủ tịch UEFA, Michel Platini bị cấm các hoạt động liên quan tới bóng đá 90 ngày trong khi cuộc điều tra đang tiếp diễn. Trong tháng 2 năm 2011, Blatter đã trả cho Platini 2 triệu đồng franc Thụy Sĩ được cho là tiền công về những cố vấn từ năm 1998 cho tới 2002.
== Tham khảo ==
== Liên kết ngoài ==
FIFA President's page on official website of FIFA
Excerpt from 'Foul' by Andrew Jennings
2002 Observer article outlining criticism of Blatter
TIME Europe article on Zen-Ruffinen's allegations |
món quà giáng sinh (truyện ngắn).txt | "Món quà Giáng Sinh", "Món quà của nhà thông thái" hay "Món quà của các đạo sĩ" (nhan đề gốc tiếng Anh "The Gift of the Magi"), là một truyện ngắn nổi tiếng của nhà văn người Mỹ O. Henry, có nội dung kể về một cặp vợ chồng trẻ và cách họ đối phó với những thách thức của việc mua quà tặng Giáng sinh bí mật cho nhau với số tiền ít ỏi mà họ có. Cốt truyện và tình huống trớ trêu của cuối truyện là một câu chuyện tình cảm động với một bài học đạo đức về cách tặng quà và trở thành một câu chuyện phổ biến để thích ứng với những tình huống trớ trêu và biểu lộ tình cảm cho nhau trong những dịp đặc biệt, nhất là trong mùa Giáng sinh.
Truyện ngắn này được in lần đầu ngày 10 tháng 4 năm 1906. Đây là một trong các truyện của O. Henry được độc giả phương Tây yêu thích nhất và cũng có thể được xem là một trong những truyện ngắn về Giáng Sinh hay nhất mọi thời đại.
== Cốt truyện ==
James [Jim] Dillingham Young và vợ của anh là Della là một cặp vợ chồng trẻ, những người, mặc dù có rất nhiều tình yêu cho nhau nhưng lại có quá ít tiền để chỉ có thể cư trú trong một căn hộ nhỏ, nghèo và đơn giản. Tuy nhiên, vào lễ Giáng sinh, dù chỉ còn số tiền 1 đồng đô la 87 xu, Della quyết định mua một sợi dây cho mặt đồng hồ bỏ túi quý giá của James, là một đồng hồ được gia truyền nhưng James chưa bao giờ có tiền mua sợi dây đeo xứng đáng. Một sợi dây bằng bạch kim "thiết kế đơn giản không cầu kỳ" nhưng "khẳng định chính xác giá trị của nó chỉ bởi chính bản thân nó chứ không bởi sự lòe loẹt bên ngoài... Nó cũng giống như anh ấy. Thầm lặng nhưng đầy giá trị", với giá 21 đô la . Để có thể đủ tiền, nàng quyết định cắt mái tóc dài và đẹp của mình, thứ quý giá nhất mà nàng có, để bán cho tiệm làm tóc giả. Trong khi đó, Jim quyết định bán đồng hồ quý giá của mình để mua một bộ kẹp tóc có đính đá quý cho Della, mà cô vẫn thường thích có để trang trí cho mái tóc tuyệt vời của cô. Cả hai đều đã vui vẻ vì nghĩ rằng có thể làm cho người kia bất ngờ và ngạc nhiên về món quà độc đáo của mình, nhưng mặc dù thất vọng là họ không còn có thể sử dụng được những món quà, cả hai có thể cảm nhận được tình yêu của nhau vì cả hai đã hy sinh cho nhau để mua món quà quý nhất mà người kia thích.
Người kể chuyện (O. Henry) kết thúc câu chuyện bằng cách so sánh sự hy sinh cho nhau của các cặp vợ chồng và của các nhà thông thái (hoặc là ba vua, ba đạo sĩ) từ phương Đông đến mừng Chúa Jesus lúc vừa sinh ra, khi xưa:
== Phim ảnh, kịch ==
Nhiều vở kịch, kể cả những vở kịch nhái đã được dàn dựng theo cốt truyện này. Các phim The Sacrifice (1909), Love's Surprises Are Futile (1916), The Gift of the Magi (1917), Dary magów (Ba Lan, 1972), một phần của O. Henry's Full House (1952), The Gift of Love (1978), The Gift of the Magi (1958), Christmas Eve on Sesame Street (1978), Mickey's Once Upon A Christmas Gift (1999), The Gift of the Magi (2001), Raincoat (2004) của đạo diễn Rituparno Ghosh,... cũng dựa trên cốt truyện này.
== Xem thêm ==
Cô bé bán diêm, truyện cổ tích do tác giả người Đan Mạch Hans Christian Andersen
Giáng sinh yêu thương, phim hoạt hình 3D của hãng hoạt hình Walt Disney sản xuất vào năm 2009. Phim dựa theo một tiểu thuyết cùng tên của nhà văn Charles Dickens xuất bản lần đầu năm 1843.
== Chú thích và tham khảo ==
“O'Henry and The Gift of the Magi”. LiteraryTraveler.com.
== Liên kết ngoài ==
"The Gift of the Magi" by O. Henry
Audio book with text at Librivox of "The Gift of the Magi"
O'Henry's "The Gift of the Magi":Common Core Exemplar from NEH's EDSITEment
"The Gift of the Magi" study guide, teacher resources, themes, quotes |
than gỗ.txt | Than gỗ hay than củi là một chất màu đen, rất nhẹ, được chế từ gỗ qua quá trình chưng khô gỗ (tách nguyên tố cacbon ra khỏi các thành phần khác (mà chủ yếu là ôxy)). Than gỗ còn giữ lại được một phần dạng cấu trúc của tế bào gỗ. Chúng có khả năng hấp thụ lớn và được sử dụng làm chất hấp thụ, chất lọc, dược phẩm, chất đốt hoặc làm phụ gia của than hoạt tính và thuốc súng đen.
== Phân hạng than gỗ ==
=== Than gỗ từ buồng đốt ===
Than gỗ từ buồng đốt là than gỗ nhận được từ sự phân hủy qua chưng khô gỗ của cây lá bản hoặc lá kim, trong điều kiện nhiệt độ khoảng 450 °C, có chứa từ 10–20% thành phần bay hơi.
=== Than gỗ từ lò ủ lửa ===
Than gỗ từ lò ủ lửa là loại than gỗ thu được từ quá trình phân hủy bằng chưng khô gỗ của cây lá bản hoặc lá kim, trong điều kiện nhiệt độ khoảng 700 °C, không chứa trên 4% các thành phần bay hơi.
Đây là cách mà người dân miền núi tại Việt Nam hay dùng để sản xuất than gỗ, từ những thân cây tươi, trong những lò đất hàm ếch với dung tích khoảng 2-3 mét khối.
== Tham khảo == |
tizen.txt | Tizen ( /ˈtaɪzɛn/) là hệ điều hành mở dựa trên Linux cho các thiết bị — bao gồm điện thoại thông minh, máy tính bảng, tivi thông minh, và máy ảnh thông minh. Mô hình cấp phép liên quan đến phần mềm sử dụng nhiều mã nguồn mở có thể không tương thích (xem mô hình cấp phép, dưới đây)—và độc quyền SDK. Nó nhằm mục đích cung cấp trải nghiệm cho người dùng ổn định trên các thiết bị. Tizen là dự án trong Linux Foundation và được quản lý bởi Tập đoàn chỉ đạo Kỹ thuật gồm Samsung, Intel và một số khác.
Hiệp hội Tizen thành lập để hướng dẫn vai trò công nghiệp của Tizen, bao gồm yêu cầu thu nhập, xác định và tạo điều kiện cho mô hình dịch vụ, ngành công nghiệp tiếp thị và giáo dục. Thành viên của Hiệp hội Tizen gồm những đại diện cho mọi thành phần chủ yếu của ngành công nghiệp điện thoại hiện nay và tất cả khu vực trên thế giới. Các thành viên hiện tại bao gồm các nhà điều hành, OEM và các nhà lãnh đạo máy tính: Fujitsu, Huawei, Intel Corporation, KT, NEC CASIO Mobile Communications, NTT DOCOMO, Orange, Panasonic Mobile Communications, Samsung, SK Telecom, Sprint và Vodafone. Trong khi Hiệp hội Tizen quyết định cần làm gì để hoàn thiện Tizen, tập đoàn chỉ đạo kỹ thuật xác định những mã code nào thực sự cần thiết để đưa vào hệ điều hành để hoàn thành những mục tiêu. Gốc Tizen trở lại Samsung Linux Platform (SLP) và dự án LiMo và gần đây, Samsung sát nhập dự án Bada của mình vào Tizen.
Samsung ZEQ 9000 sẽ là thiết bị thương mại đầu tiên chạy hệ điều hành trên.
== Tổng quan ==
Hiệp hội Tizen thành lập để hướng dẫn vai trò công nghiệp của Tizen, bao gồm yêu cầu thu nhập, xác định và tạo điều kiện cho mô hình dịch vụ, ngành công nghiệp tiếp thị và giáo dục. Tizen cung cấp công cụ phát triển ứng dụng dựa thư viện JavaScript jQuery và jQuery Mobile. Kể từ phiên bản 2.0, một khung ứng dụng gốc đã có sẵn, dựa trên dịch vụ nền tảng mở từ nền tảng Bada.
Bộ phát triển phần mềm (SDK) cho phép người phát triển sử dụng HTML5 và các công nghệ web có liên quan để viết ứng dụng chạy trên các thiết bị có hỗ trợ.
X Window System với Enlightenment Foundation Libraries có thể sử dụng.
== Môi trường mở ==
Cộng đồng nhóm The Core Mobile Web Platform (Coremob) mang đến người phát triển, các nhà sản xuất thiết bị, các nhà cung cấp trình duyệt và nhà điều hành cùng nhau thống nhất các tính năng cốt lõi mà những người phát triển có thể phụ thuộc vào.
Ứng dụng HTML5 chạy trên Tizen, Android, Firefox OS, Ubuntu Touch, và webOS mà không có trình duyệt.
Vào cuối tháng 1 năm 2013, Tizen 2.0 đạt điểm cao nhất vào thời gian đó trong vài lần thử nghiệm một vài trình duyệt HTML5. Như các bài thử nghiệm HTML5 cũ đã được loại bỏ vào 13 tháng 11 năm 2013, Tizen 2.2 đứng dưới BlackBerry 10.2 tại 494 trên 555 điểm. Tuy nhiên, trình duyệt máy tính bàn hiện nay đã lấy lại lợi thế, và số điểm hiện tại của Tizen 2.2 trên thiết bị Samsung đạt số điểm cao nhất trong tất cả điện thoại, với 497 điểm.
== Tham khảo ==
== Liên kết ==
Website chính thức
Tizen SDK and forums
Official wiki pages
Intel HTML5 Developer Zone
Tizen Association |
2 tháng 10.txt | Ngày 2 tháng 10 là ngày thứ 275 (276 trong năm nhuận) trong lịch Gregory. Còn 90 ngày trong năm.
== Sự kiện ==
945 – Quân Nam Đường chiếm được kinh thành Kiến châu của Mân, Hoàng đế Mân Vương Diên Chính đầu hàng.
1535 – Nhà thám hiểm người Pháp Jacques Cartier đi ngược dòng sông Saint-Laurent tới làng Hochelaga của người Iroquois, nay thuộc Montréal, Canada.
1627 – Chu Do Kiểm trở thành hoàng đế triều Minh, tức Sùng Trinh Đế, là hoàng đế thứ 17 và cuối cùng của Triều đại này.
1928 – Thánh Josemaría Escrivá thành lập Opus Dei, một tổ chức toàn cầu của người thế tục trong Giáo hội Công giáo Rôma.
1936 – Khánh thành tuyến đường sắt xuyên Đông Dương nối giữa Hà Nội và Sài Gòn, được người Pháp xây dựng từ năm 1898.
1941 – Chiến tranh thế giới thứ hai: Quân đội Đức bắt đầu tiến hành một cuộc tiến công tổng lực nhằm vào thủ đô Moskva của Liên Xô.
1964 – Sử thi vũ đạo âm nhạc Đông phương hồng công diễn tại Đại lễ đường Nhân dân Bắc Kinh, Trung Quốc.
== Sinh ==
1452 – Richard III của Anh, quốc vương Anh (m. 1485)
1847 – Paul von Hindenburg, thống chế và chính khách người Đức (m. 1934)
1851 – Ferdinand Foch, quân nhân, người hùng chiến tranh Pháp (m. 1929)
1869 – Mahatma Gandhi, anh hùng dân tộc Ấn Độ (m. 1948)
1882 – Boris Mikhailovich Shaposhnikov, chỉ huy cao cấp của Hồng quân được phong hàm Nguyên soái Liên Xô (m. 1945)
1883 – Karl von Terzaghi, kỹ sư xây dựng và địa chất người Áo
1917 – Christian de Duve, nhà tế bào học và nhà hóa sinh người Bỉ
1933 – John Gurdon, nhà sinh vật học Anh
1935 – Omar Sívori, cầu thủ bóng đá người Argentina (m. 2005)
1940 – Graham Greene, tiểu thuyết gia người Anh
1945 – Don McLean, nhạc sĩ Mỹ
1946 – Sonthi Boonyaratglin, tổng tư lệnh của Quân đội Hoàng gia Thái Lan kiêm người đứng đầu của Hội đồng Anh ninh Quốc gia, hội đồng quân đội thống trị vương quốc
1951 – Romina Power, nữ ca sĩ và diễn viên Mỹ
1952 - Phêrô Nguyễn Văn Khảm, giám mục Công giáo người Việt Nam, Giám mục chính tòa Giáo phận Mỹ Tho
1962 – Jeff Bennett, diễn viên lồng tiếng Mỹ được liệt kê vào trong số "các tên tuổi lồng tiếng hàng đầu"
1967 – Thomas Muster, cựu tay vợt số một thế giới người Áo
1970 – Maribel Verdú, diễn viên người Tây Ban Nha
1971 – Đàm Vĩnh Hưng, nam ca sĩ người Việt Nam
1978 – Hamasaki Ayumi, nữ ca sĩ, nhạc sĩ và cũng là một diễn viên người Nhật Bản
1990 – Dean Bouzanis, thủ môn người Úc gốc Hy Lạp
== Mất ==
1496 - Lương Thế Vinh, Trạng nguyên, nhà toán học, Phật học, nhà thơ người Việt Nam (s. 1441)
1988 - Trần Duy Hưng, bác sĩ, chính khách Việt Nam (s. 1912)
2008 - Choi Jin Sil, diễn viên nữ người Hàn Quốc (s. 1968)
2012 - Nguyễn Chí Thiện, nhà thơ người Việt Nam (s. 1939)
== Những ngày lễ và kỷ niệm ==
Ấn Độ – Gandhi Jayanti (s. nhật Mahatma Gandhi, 1869)
== Tham khảo == |
islamabad.txt | Islamabad (Urdu: اسلام آباد, nơi ở của Hồi Giáo), là thủ đô của Pakistan, tọa lạc tại cao nguyên Potohar ở Tây-Bắc Pakistan, trong Lãnh thổ thủ đô Islamabad, dù khu vực này trong lịch sử là một phần của giao lộ của vùng Punjab và Tỉnh Biên Giới Tây-Bắc đèo (đồi Margalla là một cửa ngõ lịch sử đến Tỉnh Biên Giới Tây Bắc và Cao nguyên Potwar là một phần của Punjab). Islamabad có tọa độ 33°40′B 73°10′Đ. Thành phố này được xây những năm 1960 để thay thế Karachi làm thủ đô của Pakistan. một hãng kiến trúc Hy Lạp là Doxiadis Associates, đã phác họa quy hoạch tổng thể, hình tam giác dựa trên một mạng lưới với đỉnh là các đồi Margala. Rawalpindi được xem là thành phố chị em do hai thành phố này gần nhau.
Islamabad được thành lập vào thập niên 1960, sau đó đóng vai trò là thủ đô của Pakistan, thay thế cho thủ đô cũ Karachi. Kể từ khi thành lập, Islamabad liên tục thu hút nhiều dân cư trên khắp lãnh thổ Pakistan, khiến cho thành phố trở thành một trong những vùng hiện đại nhất của quốc gia này.
Islamabad là một thành phố hiện đại, quy hoạch và tổ chức chỉnh tề, chia ra các phân khu theo chức năng như: ngoại giao, thương mại, giáo dục. Thành phố có Nhà thờ Hồi Giáo Faisal nổi tiếng với kiến trúc và tầm vóc của nó.
== Lịch sử ==
=== Cổ đại ===
Islamabad tọa lạc tại một vùng đất mà các nhà khảo cổ cho rằng nơi đây là một trong những nơi con người sinh sống đầu tiên tại châu Á. Người ta đã tìm thấy những dấu vết của thời kỳ đồ đá cách đây 100.000 đến 500.000 năm trên lãnh thổ của Islamabad ngày nay. Ngoài ra, những vật dụng bằng gốm cũng đã được khai quật. Trong suốt quá trình lịch sử, vùng đất này từng bị nhiều vị tướng từ các thế lực ngoại bang xâm chiếm, như Babur (Mogul), Thành Cát Tư Hãn (Mông Cổ) và Timur (Ba Tư).
=== Xây dựng thành phố ===
Năm 1849, thực dân Anh xâm chiếm Pakistan và tiến hành xây dựng một khu dân cư ở Islamabad. Năm 1947, Pakistan dành độc lập từ tay thực dân Anh và ban đầu chọn Karachi làm thủ đô. Đến thập niên 1960, chính quyền Pakistan bắt đầu xây dựng thủ đô mới ở Islamabad. Lý do một phần là do Karachi tọa lạc tại ven biển phía Nam của Pakistan, gần biển Ả Rập và có khí hậu nhiệt đới, do đó rất dễ hứng chịu các cơn bão nhiệt đới. Hơn nữa, vị trí của Islamabad lại nằm gần căn cứ quân sự ở Rawalpindi gần khu vực Kashmir đang tranh chấp với Ấn Độ.
== Thành phố kết nghĩa ==
Venezia, Ý (1960)
Ankara, Thổ Nhĩ Kỳ (1982)
Amman, Jordan (1989)
Bắc Kinh, Trung Quốc (1993)
Seoul, Hàn Quốc (2008)
Madrid, Tây Ban Nha (2010)
Jakarta, Indonesia (2010)
== Ghi chú ==
== Tham khảo == |
john sculley.txt | John Sculley (sinh ngày 06 tháng 4 năm 1939) là một doanh nhân người Mỹ. Ông từng là phó chủ tịch (1970-1977) và chủ tịch của PepsiCo (1977-1983), cho đến khi ông trở thành Giám đốc điều hành của Apple vào ngày 08 tháng 4 năm 1983, một vị trí ông đã ở cho đến khi rời đi vào năm 1993. Trong năm 1987, Sculley là giám đốc điều hành được trả tiền cao nhất Silicon Valley, với một mức lương hàng năm là 2,2 triệu USD.
Doanh thu của Apple tăng từ 800 triệu USD đến 8 tỷ USD khi Apple thuộc quản lý của ông. Tuy nhiên, những hoạt động trong thời gian làm việc của ông tại Apple vẫn còn là chủ đề gây tranh cãi do sự quyết định từ bỏ của ông ra khỏi cấu trúc bán hàng được sáng lập bởi Steve Jobs, đặc biệt liên quan đến quyết định của Sculley cạnh tranh với IBM trong việc bán máy tính cùng một loại khách hàng. Ông cuối cùng đã buộc phải rời Apple trong năm 1993 khi lợi nhuận của công ty bị đi xuống thê thảm, doanh số bán hàng giảm và giá cổ phiếu giảm.
Sculley hiện là một đối tác trong Sculley Brothers, một công ty đầu tư tư nhân được hình thành vào năm 1995. Ông được biết đến với kỹ năng tiếp thị của mình, đặc biệt trong phần giới thiệu của "Pepsi Challenge" tại PepsiCo, cho phép các công ty để đạt được thị phần từ chính đối thủ Coca Cola. Ông đã sử dụng chiến lược tiếp thị tương tự như vậy trong suốt những năm 1980 và năm 1990 tại Apple khi bán máy tính cá nhân MacIntosh.
== Chú thích == |
samsung galaxy note ii.txt | Samsung Galaxy Note II là phablet smartphone chạy hệ điều hành Android của Google, sản xuất và phân phối bởi Samsung. Công bố vào ngày 29 tháng 8 năm 2012 và phát hành vào cuối năm 2012, Galaxy Note II là sản phẩm kế thừa cho Galaxy Note nguyên bản, kết hợp cải thiện chức năng của bút stylus, màn hình 5,5 inch (140 mm) lớn hơn, và cập nhật thiết kế phần cứng dựa trên Galaxy S III.
Note II đã phát hành dựa trên các tiếp nhận phê bình để cải thiện nó từ Galaxy Note nguyên bản, và đã bán hơn 5 chiếc trong vòng 2 tháng đầu tiên. Samsung công bố một sản phẩm kế chưa Galaxy Note II, Galaxy Note 3, vào 4 tháng 9 năm 2013.
== Lịch sử ==
Galaxy Note II công bố tại IFA Berlin vào 29 tháng 8 năm 2012, và phát hành rộng rãi tại các thị trường vào tháng 10 năm 2012. Samsung đã bán hơn 3 triệu đơn vị chỉ trong 37 ngày đầu tiên và vượt mốc 5 triệu chỉ trong 2 tháng sau khi phát hành.
=== Phiên bản phần mềm ===
Vào tháng 2012, Samsung bắt đầu tung bản cập nhật Android 4.1.2 "Jelly Bean" cho thiết bị. Vào tháng 4 năm 2014, Samsung bắt đầu tung bản cập nhật Android 4.4.2 "KitKat" cho thiết bị.
=== Biến thể ===
Galaxy Note II bao gồm màu xám Titan, trắng thạch cao, hồng Martian, nâu hổ phách và Ruby Wine. Các tính năng khác phụ thuộc vào tuỳ chỉnh của nhà mạng, bao gồm điều khiển FM/TV, chân sạc, và hỗ trợ một SIM. Để ngăn chặn thị trường bán lại, sản phẩm của Galaxy Note II, và các thiết bị khác (Galaxy S4, Galaxy S4 mini, Galaxy Note III và Galaxy S III) sản xuất sau tháng 7 năm 2013 triển khai khoá hệ thống khu vực ở một số vùng; yêu cầu đầu tiên là thẻ SIM của phiên bản châu Âu và Bắc Mỹ phải từ nhà mạng của khu vực đó. Samsung nói rằng các khoá sẽ được gở bỏ nếu thẻ SIM đã được sử dụng.
==== Bộ xử lý truyền thông ====
Chip băng tầng cơ sở của GT-N7100 là Intel Wireless PMB9811X Gold. Chip băng tầng cơ sở của SGH-T889, SHV-E250K, và SHV-E250S là Qualcomm Gobi MDM9215. SHV-E250L có Qualcomm Gobi MDM9615M cho EVDO phiên bản kết nối B.
==== Kết nối mạng ====
Hầu hết các biến thể đều hỗ trợ GSM/GPRS/EDGE ở 850 MHz, 900 MHz, 1.9 GHz, và 2.1 GHz bands; và UMTS/HSPA+21 ở 850 MHz, 900 MHz, 1.9 GHz, và 2.1 GHz.
===== Điện thoại AWS =====
SGH-T889 và SGH-T889V là các thiết bị hỗ trợ AWS cho mạng HSPA có khả năng truyền dữ liệu qua dịch vụ không dây cao cấp ở chế độ HSPA ở nhà mạng như T-Mobile USA, WIND Mobile Canada, Mobilicity, và Vidéotron.
===== Điện thoại CDMA/EV-DO =====
SCH-R950, SHV-E250L, SCH-i605, SPH-L900, và SCH-N719 có thể kết nối cdmaOne, CDMA 1xRTT, và EV-DO rev 0/A/B. Các biến thể ngoại trừ SCH-R950, có thể kết nối mâng GSM tốt, SPH-L900 có thể chỉ sử dụng dịch vụ WCDMA/GSM trong khi chuyển vùng quốc tế vì nó có SIM nhúng.
===== Điện thoại TD-SCDMA =====
GT-N7108 hỗ trợ mạng TD-SCDMA ở 1.9 GHz and 2.0 GHz bands, và kết nối GSM/GPRS/EDGE 1.9 GHz band.
===== Điện thoại Dual-cell HSPA =====
SGH-T889 được hỗ trợ dual-cell HSPA+ lên đến 42.2 Mbit/s.
===== Điện thoại LTE =====
GT-N7105 là điện thoại LTE phiên bản quốc tế, có thể kết nối LTE band 3, 7, 8, và 20 và có 42.2 Mbit/s DC-HSPA+.
SCH-i605 có thể kết nối LTE band 13, Verizon Wireless.
SCH-R950, SGH-i317[M], SGH-T889[V], SPH-L900, SC-02E(SGH-N025), và SHV-E250[K,L,S] có thể kết nối LTE bands của bản khoá mạng cũng như LTE band của các nhà khai thác mạng khác như một dịch vụ chuyển vùng.
==== FM radio, điều khiển TV ====
Một vài biến thể Galaxy Note II có tích hợp điều khiển FM. Ví dụ, một vài biến thể Mỹ và Canadian (SGH-i317, SGH-i317M) và phiên bản LTE quốc tế (N7105) không hỗ trợ điều khiển FM. SC-02E cho thị trường có 1seg điều khiển TV và anten. Biến thể Hàn Quốc có điều khiển T-DMB cũng như T-DMB có thể được giấu trong điện thoại.
==== Kích thước và trọng lượng ====
Biến thể Hàn Quốc với điều khiển T-DMB và T-DMB anten nặng hơn các biến thể khác 3 g (0,11 oz). SC-02E cho NTT DoCoMo với 1seg điều khiển TV nặng hơn 5 g (0,18 oz) và dày hơn 0,3 mm (0,012 in).
==== Sạc không dây ====
Tùy thuộc vào mẫu sản phẩm, một vài thiết bị Galaxy Note II (GT-N7100) có hai tùy chọn sạc, có thể sử dụng sạc không dây bằng cách thay đổi nắp lưng. Màn hình thông báo tin nhắn của Galaxy Note II sẽ hiển thị khi bạn sạc không dây.
==== Bảng biến thể ====
== Tham khảo ==
== Xem thêm ==
Samsung Galaxy Note series
Samsung Galaxy Mega
== Tham khảo ==
== Liên kết ==
Website chính thức |
bún mọc.txt | Bún mọc, hay bún mộc, là món ăn có nguồn gốc miền Bắc Việt Nam.
== Tên gọi ==
Món này xuất phát từ làng Mọc (làng Nhân Mục), Nhân Chính, nay thuộc quận Thanh Xuân, Hà Nội.
Món này có thành phần là giò sống, còn gọi là mộc, nên được gọi là bún mộc.
== Nguyên liệu ==
Những nguyên liệu thường dùng để làm bún mọc: sườn non, chả quế thái miếng, giò sống, thịt nạc băm, nấm mèo, nước mắm, đường, bún, rau sống, rau muống, chuối, mắm tôm, ớt thái lát, satế, hành, ngò, chanh..
== Cách làm ==
Hầm xương heo với khoảng 3 lít nước, cho thêm hành tím và khoảng 2 muỗng cà phê muối. Sau đó chỉ cần lấy khoảng 2/3 nước hầm xương (nước dùng). Có thể bỏ thịt gà, sườn non vào hầm chung với xương heo sau đó vớt ra, không được để rục chung với xương. Thịt gà chín xong, để nguội, tùy ý chặt miếng hay xé sợi.
Cho bún ra tô, chan nước dùng vừa đủ, cho tiếp sườn non chặt miếng, chả viên, chả quế vào, rải hành ngò, hành phi, tiêu lên trên tô bún cho đậm đà và cũng là để trang trí bát bún.
Có thể ăn kèm với ớt, mắm tôm, satế, rau sống, chanh.
== Chú thích ==
== Liên kết ngoài ==
Cách làm bún mọc bởi CandyCanCook |
việt nam vong quốc sử.txt | Việt Nam vong quốc sử (chữ Hán: 越南亡國史) là một tác phẩm do Phan Bội Châu biên soạn bằng chữ Hán vào năm Ất Tỵ (1905). Đây được coi là tác phẩm mở đầu và tiêu biểu nhất trong công tác tuyên truyền cách mạng của ông.
== Nguyên nhân ra đời ==
Bài mở đầu sách Việt Nam vong quốc sử, Phan Bội Châu viết:
Không có gì đau bằng người mất nước, cũng không có gì đau bằng người bị mất nước mà bàn việc nước! Tôi muốn viết đoạn sử mất nước này, nhưng đã bao phen lệ cạn huyết khô, mà cơ hồ không viết nổi chữ nào. Nay nhân Ẩm Băng Thất (Lương Khải Siêu, 1873-1929) nói: "Than ôi! Tôi với ông thật là đồng bệnh. Những việc tàn ác của người Pháp thi hành ở Việt Nam, cả thế giới chưa ai biết đến. Ông hãy nói cho tôi rõ, tôi sẽ vì ông mà truyền bá, may ra có thể kêu gọi được dư luận của thế giới"...Tôi nghe nói lấy làm cảm động, gạt nước mắt mà viết cuốn Việt Nam vong quốc sử này.
Trong tập Phan Bội Châu niên biểu viết năm 1929, tác giả cũng đã kể lại rằng sau khi tới Nhật Bản vào đầu năm 1905, ông đã lần lượt gặp nhiều chính khách, trong đó có Lương Khải Siêu và được nhà cách mạng Trung Quốc này khuyên nên dùng thơ văn để tố cáo tội ác của thực dân Pháp. Nhắc lại lần gặp gỡ ấy, Phan Bội Châu viết:
...Nghe Lương (Lương Khải Siêu) nói, óc tôi mở rộng, mắt tôi sáng ra, nghĩ lại những tư tưởng cũng như hoạt động của tôi trước kia thật là lông bông, không có gì khả thủ. Tôi bắt đầu viết cuốn Việt Nam vong quốc sử đưa Lương xem và nhờ xuất bản giúp...
Ở sách Ngục trung thư, Phan Bội Châu cũng nói rõ lý do viết sách này như sau:
...Chúng tôi lấy bút mực nói chuyện. Lương hỏi tôi qua đây (Nhật Bản) có ý gì, lại hỏi tình hình người Pháp cai trị người nước Việt ra sao. Tôi lấy là tiếc lúc ấy chỉ kể đại khái, vì câu chuyện quá dài, không thể một lúc bút đàm mà nói cho hết được. Rồi đó, tôi viết cuốn Việt Nam vong quốc sử, đưa trọn bản thảo cho Lương đem ra in...
== Giới thiệu văn bản ==
Khoảng đầu năm 1905, Phan Bội Châu viết Việt Nam vong quốc sử, sau đó được Lương Khải Siêu đề tựa và in giúp. Thư cục Quảng Trí (Thượng Hải, Trung Quốc) ấn hành lần đầu tiên vào tháng 9 năm 1905. Năm sau (1906) sách được tái bản, và chỉ tính đến năm 1955, tác phẩm đã được in thêm 3, 4 lần nữa.
Phần đầu sách Việt Nam vong quốc sử (bản in năm 1906) có lời tựa của Ẩm Băng chủ nhân (Lương Khải Siêu), tiếp đến là lời mở đầu và 4 chương chính do tác giả viết.
Bốn chương chính là:
Nguyên nhân và sự thật về Việt Nam mất nước:
Đại ý nói, triều đình nhà Nguyễn không biết chăm lo tu chỉnh về quân chính, mở rộng dân quyền... khiến nước nhà ngày càng suy yếu. Nhân cơ hội này, người Pháp đến xâm lược Việt Nam. Sau đó Phan Bội Châu thuật qua các cuộc chống Pháp: Ở Nam Kỳ có Nguyễn Huân, Nguyễn Trung Trực, Trương Công Định, Trương Bạch. Ở Bắc Kỳ có Nguyễn Tri Phương, Hoàng Diệu, Nguyễn Cao v.v... Ngoài ra, tác giả còn thuật cả các hành vi của những người Việt theo Pháp...
Tiểu truyện các chí sĩ lúc nước mất, gồm:
Nguyễn Bích, Vũ Hữu Lợi, Đỗ Huy Liêu, Tống Duy Tân, Nguyễn Đôn Tiết, Đinh Văn Chất, Nguyễn Hiệu, Phan Bá Phiến, Lê Trung Đình, Trần Du, Phạm Toản, Lê Ninh, Hà Văn Mỹ, Nguyễn Sĩ, Nguyễn Hữu Chính, Nguyễn Xuân Ôn, Phan Đình Phùng v.v...
Tình trạng người Pháp làm khốn khổ, ngu hèn, tối tăm người nước Việt Nam:
Trong phần này tác giả kể khá rõ các thứ thuế do chính quyền thực dân Pháp đặt ra trong thời đó: thuế điền thổ, nhân khẩu, nhà ở, bến đò, sinh tử, trước bạ, hiếu hỉ, thuyền đò, buôn bán, chợ búa, muối, rượu, đình chùa, công nghệ, địa sản, ruộng trồng và các thứ thuế thuốc hút v.v... Ngoài ra còn kể các hành động khác, như: dung túng cho bọn cường hào, bắt con gái lương thiện làm nghề mại dâm...
Tương lai của Việt Nam:
Tác giả tin tưởng dân tộc Việt luôn có tinh thần quật cường bất khuất, nên nước Việt không thể bị diệt vong... Ở chương này, tác giả chia người Việt thời ấy làm 9 hạng, đặc biệt trong số đó có những người theo đạo Da-tô và người Việt đi lính cho Pháp (tức lính tập). Sau khi lập luận, Phan Bội Châu cho rằng hai hạng người này rồi cũng sẽ vùng lên đánh đuổi quân xâm lăng. Cuối chương, tác giả kết thúc bằng bài ca hô hào, giác ngộ các chú lính tập.
Lần in đầu, sách còn có phần phụ lục là bài Việt Nam tiểu chí ký tên là Tân Dân tùng báo xã viên biên tập.
Ở Việt Nam, dưới thời Pháp thuộc, tác phẩm này được coi là một trong số những "yêu thư, yêu ngôn", bị chính quyền lúc bấy giờ cấm lưu hành và tàng trữ. Tuy nhiên, ngay khi in xong, sách vẫn được bí mật đưa về, nhưng chỉ được phổ biến trong một phạm vi hẹp. Năm 1907, sách Việt Nam vong quốc sử được dùng làm tài liệu học tập của trường Đông Kinh nghĩa thục.
Hiện nay, sách Việt Nam vong quốc sử in lần đầu chỉ còn một bản duy nhất và đang được cất giữ tại Thư viện trường Viễn Đông bác cổ (nay là Thư viện Viện Thông tin Khoa học xã hội ở Hà Nội), mang ký hiệu A. 2559.
== Nhận xét ==
Nhà cách mạng Lương Khải Siêu, trong bài tựa sách Việt Nam vong quốc sử, bản in năm 1906, có đoạn:
Gần đây, ta gặp một người Việt Nam vong mệnh (ý nói đến Phan Bội Châu), thường khi nói chuyện với ta, ông hay giàn giụa nước mắt!...Ta đọc sách này (Việt Nam vong quốc sử) chẳng những đã thương mà lại còn sợ nữa!
Theo David Marr, thì Việt Nam vong quốc sử là tác phẩm tiêu biểu cả một thời kỳ trong phong trào giải phóng dân tộc Việt Nam.
Trong bài Việt Nam vong quốc sử - Một tác phẩm tiêu biểu của Phan Bội Châu, tác giả Hồ Song viết:
Trong công tác tuyên truyền cách mạng của Phan Bội Châu, Việt Nam vong quốc sử được coi là tác phẩm mở đầu và tiêu biểu nhất của ông…Với những điều mắt thấy tai nghe, lần đầu tiên ông đã dựng lên một bản cáo trạng khá toàn diện và có chiều sâu về tội ác của thực dân Pháp ở Việt Nam... Lên án chủ nghĩa thực dân Pháp, dụng ý của Phan Bội Châu không phải là làm cho người đọc hướng về nội tâm bi phẫn, mà là thúc giục họ đứng lên hành động cứu nước. Vì vậy, ông thuật lại những tấm gương hy sinh anh dũng của những chí sĩ đã bỏ mình vì nước từ buổi đầu chống xâm lược đến thời kỳ ứng nghĩa Cần vương...
== Tầm ảnh hưởng ==
Trong Phan Bội Châu niên biểu, tác giả kể:
Thượng tuần tháng 8, ông (Phan Bội Châu) đến Quảng Đông (Trung Quốc), vào thăm Lưu Vĩnh Phúc, nhân tiện để yến kiến ông Nguyễn Thiện Thuật là Tham tán Tam Tuyên ngày trước. Đã hơn mười năm nay, ông Thuật nghiện thuốc phiện, nhưng sau khi đọc xong chương trình Duy Tân hội và cuốn Việt Nam vong quốc sử, ông đã đập bàn đèn và tiêm móc, rồi nói to với ông Phan rằng: Các anh là bọn hậu tiến còn lo nghĩ thế này, có lẽ nào tôi cứ sống mãi ở trong vòng đen tối hay sao. Rồi từ đó, ông Thuật quyết chí cai nghiện thuốc phiện.
Trong Việt Nam nghĩa liệt sử của Phan Bội Châu chép:
Quyền Tổng đốc Lê Khiết vốn là bạn thân và là tùy tướng của Nguyễn Thân. Ông đã từng đi đàn áp nghĩa binh ở Nam Ngãi và Nghệ Tĩnh, nhưng khi đọc sách Việt Nam vong quốc sử thì nước mắt ông chảy ròng ròng, và nói to rằng: Thương thay! Trước đây tôi thiệt là chó má vậy; từ nay trở đi, tôi quyết làm người. Từ đấy, Lê Khiết tham gia cách mạng. Nhân vụ kháng thuế, ông bị khép vào tội xướng loạn và bị án tử hình. Lúc sắp bị chém, ông Khiết còn nói câu: Các vết nhơ do lịch sử nửa đời người, tôi nay lấy máu cổ mà rửa. Vinh hạnh biết chừng nào.
Nhà phê bình văn học Hoài Thanh cho biết:
Chỉ vì đọc Phan Bội Châu mà hàng nghìn thanh niên đã cắt tóc bím, vứt hết sách vở văn chương, nghề cử tử, cùng cái mộng công danh nhục nhã gắn trên đó; lìa bỏ làng mạc, nhà cửa, vợ con, rồi băng ngàn lội suối, bất chấp mọi nỗi đói thiếu, nguy hiểm, khổ sở để qua Xiêm, qua Tàu, qua Nhật mà học hỏi, mà trù tính việc đánh Tây. Đó là một thành công vĩ đại. Trong tác dụng ấy của văn thơ Phan Bội Châu, có Việt Nam vong quốc sử, Hải ngoạị huyết thư đóng góp một phần rất quan trọng.
== Nhầm lẫn ==
Tác phẩm Việt Nam vong quốc sử ngay từ tháng 9 năm 1905 đã được Lương Khải Siêu cho in thành sách. Đồng thời, ông cũng cho đăng liên tiếp nhiều kỳ trên tờ Tân Dân tùng báo kể từ số 19 (67) ngày 19 tháng 9 năm Minh Trị thứ 38 tại Nhật Bản, ở mục "Tùng đàm" do ông phụ trách. Nhưng vì đầu đề của bài đầu tiên do Lương Khải Siêu đặt là Ký Việt Nam vong thân chi ngôn (Chép lời người Việt Nam mất nước), khiến về sau những người biên soạn Toàn tập Ẩm Băng Thất tưởng ông là tác giả, nên đã đưa trọn quyển sách này vào bộ "văn tập" của ông.
== Trích tác phẩm ==
...Khi ấy có Nguyễn Huân, Nguyễn Trung Trực, Trương Định...khởi nghĩa chống Pháp, liền mấy trăm trận đánh. Nhưng vì quân giới không bằng Pháp, nên bị thua. Nguyễn Huân oanh liệt nhất, ba lần bị Pháp bắt, lại trốn thoát, lại tụ nghĩa. Lúc sắp bị hành hình có câu thơ rằng: Dẫu chết cũng kinh hồn nghịch tặc, không hàng chịu chém cổ tướng quân...
Năm Tự Đức thứ 35, Pháp lấy thành Hà Nội. Người tôi giữ thành là Hoàng Diệu lấy máu viết tờ di biểu, tự thắt cổ...Bấy giờ có hưu quan là Nguyễn Cao, tụ đảng hơn nghìn người, mưu lấy lại tỉnh thành, bị quân Pháp bắt được; ông tự mổ bụng, không chết, lại tự cắn lưỡi mà chết. Có người nghĩa sĩ viếng câu đối rằng:
Lòng thề trời đất còn tuôn đỏ,
Răng nghiến non sông nhả lưỡi hồng.
Ông Cao chết, quân Pháp còn lấy làm hận vì chưa tự tay chém giết được, liền chặt đầu đem bêu.
Năm Giáp Thân, năm đầu Kiến Phúc, quân Pháp vào cửa biển Thuận Kinh (Thuận An) bắt hiếp Việt Nam đem dấu ấn phong vương của nước Thanh trả lại triều Thanh. Nước Thanh đem Việt Nam nhường cho Pháp kể từ năm ấy. Than ôi! Mấy nghìn năm được cái vinh chịu phong, không đủ bù lại cái nhục một sớm trả ấn...
...Than ôi! Lúc biển sóng yên lặng thì trên miếu đường, bọn dung phu bất tài ăn no nằm khểnh phè phỡn; lúc trời đất bụi mù thì nơi tên đạn các tráng sĩ phải bỏ mình mà nuốt hận...
== Chú thích ==
== Liên kết ngoài == |
đường cao tốc hà nội – lạng sơn.txt | Đường cao tốc Hà Nội – Lạng Sơn (ký hiệu toàn tuyến là CT 03) dài 143 km có điểm đầu giao cắt với quốc lộ 1A tại Pháp Vân, quận Hoàng Mai, thành phố Hà Nội, đi qua địa bàn các phường, xã, thị trấn: Yên Sở, Trần Phú, Lĩnh Nam, Thanh Trì (quận Hoàng Mai), Cự Khối, Thạch Bàn, Phúc Lợi (quận Long Biên), Đông Dư, Cổ Bi, Phù Đổng, Ninh Hiệp (huyện Gia Lâm) của thành phố Hà Nội; Đình Bảng, Tân Hồng (thị xã Từ Sơn), Hoàn Sơn, Nội Duệ, thị trấn Lim, Liên Bão (huyện Tiên Du), Khắc Niệm, Võ Cường, Đại Phúc, Suối Hoa, Thị Cầu, Đáp Cầu (thành phố Bắc Ninh) của tỉnh Bắc Ninh; Quang Châu, Vân Trung, Hoàng Ninh, Tăng Tiến (huyện Việt Yên), Song Khê, Đồng Sơn, Dĩnh Kế, Dĩnh Trì (thành phố Bắc Giang), Tân Dĩnh, Xương Lâm, Yên Mỹ, Tân Hưng, Hương Sơn (huyện Lạng Giang) của tỉnh Bắc Giang; Hòa Thắng, Tân Thành, Hòa Sơn, Hòa Lạc (huyện Hữu Lũng), thị trấn Chi Lăng, Chi Lăng, Quang Lang, thị trấn Đồng Mỏ, Mai Sao, Nhân Lý, Bắc Thủy, Vân Thủy (huyện Chi Lăng), Yên Trạch, Tân Liên, Gia Cát, Hòa Cư, Thạch Đạn, Bảo Lâm, thị trấn Đồng Đăng (huyện Cao Lộc) của tỉnh Lạng Sơn, và điểm cuối là Hữu Nghị Quan thuộc thị trấn Đồng Đăng, huyện Cao Lộc, tỉnh Lạng Sơn.
== Đoạn Hà Nội – Bắc Giang ==
Tuyến cao tốc này có chiều dài 45 km được khởi công xây dựng năm 1998 và hoàn thành sau 4 năm thi công. Ngày 5 tháng 1 năm 2015, tuyến cao tốc được mở rộng lên thành 4 làn xe và được thông xe ngày 3 tháng 1 năm 2016 sau 1 năm thi công. Trên tuyến cao tốc có cầu Phù Đổng bắc qua sông Đuống được thông xe giai đoạn 1 vào năm 2002; năm 2009, thi công cầu Phù Đổng 2 song song với cầu Phù Đổng và được khánh thành ngày 19 tháng 1 năm 2012.
== Đoạn Bắc Giang – Lạng Sơn ==
Tuyến cao tốc này chính thức khởi công xây dựng ngày 5 tháng 1 năm 2015 và dự kiến thông xe vào cuối năm 2018.
Tổng mức đầu tư của dự án hơn 12.000 tỷ đồng do các đơn vị: Công ty Cổ phần Đầu tư UDIC, Công ty TNHH MTV Đầu tư SCIC, Công ty Cổ phần Đầu tư và Xây dựng giao thông Phương Thành, Công ty Cổ phần Đầu tư 468, Công ty Cổ phần Giao thông xây dựng số 1 và Công ty TNHH Xây dựng Mỹ Đà là liên danh nhà đầu tư theo hình thức BOT thiết kế và thi công.
Đây là tuyến đường có vai trò quan trọng trong việc phát triển kinh tế - xã hội đối với nhiều tỉnh, thành khu vực phía Bắc. Việc đầu tư xây dựng dự án nhằm nhanh chóng hình thành mạng lưới cao tốc quốc gia, đáp ứng nhu cầu vận tải ngày càng cao, cải thiện điều kiện khai thác và tránh ùn tắc, tai nạn giao thông trên tuyến quốc lộ 1A. Đồng thời, dự án còn góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm an ninh quốc phòng của khu vực nói chung và hai tỉnh Bắc Giang và Lạng Sơn nói riêng, phù hợp với quy hoạch và định hướng phát triển giao thông.
Khi hoàn thành, đường cao tốc sẽ rút ngắn thời gian di chuyển từ Hà Nội đến các tỉnh vùng Đông Bắc Bộ, cũng như giải quyết tình trạng quá tải cho quốc lộ 1A hiện tại.
== Tham khảo == |
gia lâm.txt | Gia Lâm là một huyện ngoại thành phía đông của thành phố Hà Nội, cách trung tâm thành phố 8 km về phía Đông. Đây là cửa ngõ phía đông của thủ đô để đi sang các tỉnh thành phía Đông như Hải Phòng, Hải Dương, Hưng Yên...
== Địa lý ==
=== Diện tích và dân số ===
Trước tháng 11 năm 2003, khi quận Long Biên chưa được thành lập thì diện tích của huyện là 172,9 km², dân số 340.200 người. Năm 2003 khi quận trên được thành lập thì diện tích huyện chỉ còn là 108,446 km² với dân số 190.194 người.
=== Thủy văn ===
Có sông Hồng (làm ranh giới tiếp giáp với quận Hoàng Mai và huyện Thanh Trì), sông Đuống (ranh giới tiếp giáp với huyện Đông Anh và quận Long Biên), sông Cầu Bây, sông Bắc Hưng Hải, sông Thiên Đức chảy qua.
=== Vị trí địa lý ===
Địa giới hành chính của huyện Gia Lâm là: phía bắc giáp thị xã Từ Sơn (Bắc Ninh), phía tây bắc giáp huyện Đông Anh, phía tây giáp quận Long Biên, quận Hoàng Mai, phía tây nam giáp huyện Thanh Trì, phía đông giáp huyện Thuận Thành (Bắc Ninh), phía đông nam giáp huyện Văn Giang (Hưng Yên).
== Lịch sử ==
=== Hình thành ===
Trước năm 1945, huyện Gia Lâm thuộc phủ Thuận An, tỉnh Bắc Ninh.
Ngày 13 tháng 12 năm 1954, sáp nhập khu vực phố Gia Lâm (gồm phố Gia Lâm, khu nhà ga Gia Lâm, sân bay Gia Lâm, và 6 xã: Hồng Tiến, Việt Hưng, Long Biên, Ngọc Thụy, Thượng Thanh, Tiến Bộ) của tỉnh Bắc Ninh vào Hà Nội.
Ngày 20 tháng 4 năm 1961, toàn bộ huyện Gia Lâm (gồm 15 xã: Giang Biên, Phúc Lợi, Trung Thành, Tiền Phong, Quyết Tiến, Quyết Thắng, Thạch Bàn, Toàn Thắng, Quyết Chiến, Tân Hưng, Đại Hưng, Cự Khối, Thừa Thiên, Quang Minh, Kim Lan) của tỉnh Bắc Ninh được sáp nhập vào Hà Nội. Ngày 31 tháng 5 năm 1961, lập huyện Gia Lâm mới gồm 2 thị trấn và 31 xã:
2 thị trấn: Gia Lâm, Yên Viên (trước thuộc huyện Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh)
31 xã: Hồng Tiến (Bồ Đề), Việt Hưng, Long Biên, Ngọc Thụy, Thượng Thanh, Tiến Bộ (Gia Thụy), Giang Biên, Phúc Lợi (Hội Xá), Trung Thành (Cổ Bi), Thạch Bàn, Quyết Chiến (Phú Thị), Quyết Thắng (Kim Sơn), Toàn Thắng (Lệ Chi), Tân Hưng (Kiêu Kỵ), Kim Lan, Quang Minh (Bát Tràng), Thừa Thiên (Đông Dư), Cự Khối, Quang Trung I (Trâu Quỳ), Quang Trung II (Yên Thường), Quyết Tiến (Đặng Xá), Văn Đức, Phù Đổng, Trung Hưng (Trung Màu), Tiền Phong (Yên Viên), Đình Xuyên, Dương Hà, Ninh Hiệp, Đức Thắng (Dương Xá), Chiến Thắng (Dương Quang), Đại Hưng (Đa Tốn).
Ngày 13 tháng 10 năm 1982: thành lập thị trấn Đức Giang và thị trấn Sài Đồng.
Thị trấn Đức Giang có diện tích 133 ha, gồm phần đất của 2 xã Việt Hưng, Thượng Thanh, thị trấn Gia Lâm và thị trấn Yên Viên. Thị trấn Đức Giang đông giáp xã Việt Hưng, tây giáp xã Thượng Thanh, nam giáp thị trấn Gia Lâm, bắc giáp thị trấn Yên Viên.
Thị trấn Sài Đồng có diện tích 79 ha, gồm phần đất của 3 xã Thạch Bàn, Gia Thụy, Hội Xá. Thị trấn Sài Đồng đông bắc giáp xã Hội Xá, tây giáp xã Gia Thụy, đông nam giáp xã Thạch Bàn.
Năm 1999, huyện Gia Lâm có 4 thị trấn: Gia Lâm, Đức Giang, Sài Đồng, Yên Viên và 31 xã: Bát Tràng, Bồ Đề, Cổ Bi, Cự Khối, Đa Tốn, Đặng Xá, Đình Xuyên, Đông Dư, Dương Hà, Dương Quang, Dương Xá, Gia Thụy, Giang Biên, Hội Xá, Kiêu Kỵ, Kim Lan, Kim Sơn, Lệ Chi, Long Biên, Ngọc Thụy, Ninh Hiệp, Phù Đổng, Phú Thị, Thạch Bàn, Thượng Thanh, Trâu Quỳ, Trung Màu, Văn Đức, Việt Hưng, Yên Thường, Yên Viên.
Ngày 6 tháng 11 năm 2003, tách 10 xã: Thượng Thanh, Giang Biên, Ngọc Thụy, Việt Hưng, Hội Xá, Gia Thụy, Bồ Đề, Long Biên, Thạch Bàn, Cự Khối và 3 thị trấn: Gia Lâm, Đức Giang, Sài Đồng để thành lập quận Long Biên. Trong đó thị trấn Gia Lâm đổi tên thành phường Ngọc Lâm. Huyện Gia Lâm còn lại thị trấn Yên Viên và 21 xã: Bát Tràng, Cổ Bi, Đa Tốn, Đặng Xá, Đình Xuyên, Đông Dư, Dương Hà, Dương Quang, Dương Xá, Kiêu Kỵ, Kim Lan, Kim Sơn, Lệ Chi, Ninh Hiệp, Phù Đổng, Phú Thị, Trâu Quỳ, Trung Màu, Văn Đức, Yên Thường, Yên Viên.
Ngày 5 tháng 1 năm 2005, chuyển xã Trâu Quỳ thành thị trấn Trâu Quỳ. Như vậy, huyện Gia Lâm có 2 thị trấn: Trâu Quỳ, Yên Viên và 20 xã: Bát Tràng, Cổ Bi, Đa Tốn, Đặng Xá, Đình Xuyên, Đông Dư, Dương Hà, Dương Quang, Dương Xá, Kiêu Kỵ, Kim Lan, Kim Sơn, Lệ Chi, Ninh Hiệp, Phù Đổng, Phú Thị, Trung Màu, Văn Đức, Yên Thường, Yên Viên, giữ ổn định đến nay.
Trên địa bàn huyện Gia Lâm đã hình thành một số khu đô thị lớn như khu đô thị Đặng Xá 1, khu đô thị Đặng Xá 2, khu đô thị Dương Xá, khu đô thị Trâu Quỳ, khu đô thị Lâm Viên Villas, khu đô thị Yên Viên, khu đô thị Đình Xuyên, khu đô thị Yên Thường...
=== Truyền thống ===
Dưới thời phong kiến, huyện Gia Lâm có nhiều nhà khoa bảng lừng danh mà tên tuổi của họ được nhiều người trong cả nước biết tới. Chẳng hạn như: Hà Giáp Hải (làng Bát Tràng, xã Bát Tràng, huyện Gia Lâm), Cao Bá Quát (xã Phú Thị, huyện Gia Lâm)...
Huyện Gia Lâm cũng là quê hương của Chử Đồng Tử, Thánh Gióng - hai nhân vật trong Tứ bất tử của Phật giáo Việt Nam.
Chử Đồng Tử là người xã Văn Đức, huyện Gia Lâm
Thánh Gióng người xã Phù Đổng, huyện Gia Lâm
Nguyên phi Ỷ Lan hay còn gọi là Bà Tấm (người xã Dương Xá, huyện Gia Lâm);
Công chúa Lê Ngọc Hân còn gọi là Ngọc Hân công chúa hay Bắc Cung Hoàng hậu vợ của vua Quang Trung (Nguyễn Huệ). Dân gian còn lưu truyền tên gọi bà là Bà Chúa Tiên khi bà ở Phú Xuân vì dinh phủ lập ở chùa Kim Tiên.
Công chúa Lê Ngọc Hân là người xã Ninh Hiệp, huyện Gia Lâm ngày nay.
Lý Thường Kiệt -Theo Phả hệ họ Ngô Việt Nam, ông tên thật là Ngô Tuấn (吳俊), là con của Sùng Tiết tướng quân Ngô An Ngữ, cháu của Ngô Ích Vệ, chắt của Sứ quân Ngô Xương Xí và cháu 5 đời của Thiên Sách Vương Ngô Xương Ngập–hoàng tử trưởng của Ngô Quyền [1], người phường Thái Hòa, thành Thăng Long (Hà Nội ngày nay). Có tài liệu lại nói quê ông là làng An Xá, huyện Quảng Đức (Cơ Xá, huyện Gia Lâm ngày nay).Tuy nhiên, theo văn bia Đỗ Anh Vũ (được cho là soạn vào năm 1159) thì ông vốn họ Quách, tổ tiên là người ở Lũng Tây (Cam Túc, Trung Quốc). Cha ông làm Thái úy đời Lý Thái Tông[2], quê ở huyện Câu Lậu, Tế Giang (nay thuộc huyện Mỹ Văn, Hưng Yên), được vua ban quốc tính, vì mới có tên là Lý Thường Kiệt. Cha của Đỗ Anh Vũ gọi Lý Thường Kiệt là cậu ruột. Sử sách Trung Quốc chép tên ông là Lý Thường Cát hoặc Lý Thượng Cát.
Nơi đây là phát hiện nhiều di tích khảo cổ quan trọng.
Thôn Đình Vỹ-xã Yên Thường có lễ hội truyền thống hàng năm vào ngày 20-08 (âm lịch)và đình làng thờ Hưng Đạo vương Trần Quốc Tuấn. Trong những năm kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ, đây là nơi có truyền thống đấu tranh và là một trong hàng trăm nơi hậu phương vững chắc cho kháng chiến trong cả nước. Ngoài ra, truyền thống hiếu học-tôn sư trọng đạo luôn được giữ gìn và phát huy nên có rất nhiều con em trong làng đỗ vào các trường Đại học trong cả nước.
Thôn Xuân Dục, thuộc xã Yên Thường có lễ hội truyền thống vào ngày 10-03 âm lịch. Là nơi có truyền thống văn hóa lâu đời, giữ gìn bản sắc dân tộc. Lễ hội có các trò chơi truyền thống như quan họ, cờ người,... Là làng có diện tích và dân số đông nhất xã, Xuân Dục là trung tâm văn hóa đời sống của cả xã. Làng cũng có truyền thống hiếu học lâu đời.
=== Làng nghề ===
Một số làng nghề tại huyện Gia Lâm:
Bát Tràng (sản xuất gốm sứ)
Kiêu Kỵ (dát bạc, sơn son thếp vàng, đồ gỗ)
Ninh Hiệp (trồng và kinh doanh thuốc Bắc, buôn bán vải vóc)
Đông Dư (trồng và muối dưa cải, trồng ổi)
Phù Đổng (nuôi bò sữa)
Văn Đức, Yên Thường (sản xuất rau sạch, rau an toàn)
== Hành chính ==
Có 22 đơn vị hành chính trực thuộc gồm 2 thị trấn: Trâu Quỳ, Yên Viên và 20 xã: Bát Tràng, Cổ Bi, Đa Tốn, Đặng Xá, Đình Xuyên, Đông Dư, Dương Hà, Dương Quang, Dương Xá, Kiêu Kỵ, Kim Lan, Kim Sơn, Lệ Chi, Ninh Hiệp, Phù Đổng, Phú Thị, Trung Màu, Văn Đức, Yên Thường, Yên Viên.
Về mặt địa lý, huyện Gia Lâm được phân ra làm hai khu vực, ngăn cách bởi dòng sông Đuống gồm:
Cụm Bắc Đuống: Thị trấn Yên Viên, Yên Thường, Dương Hà, Ninh Hiệp, Đình Xuyên, Phù Đổng, Trung Mầu.
Cụm Nam Đuống: Thị trấn Trâu Quỳ, Cổ Bi, Đông Dư, Đa Tốn, Bát Tràng, Kiêu Kỵ, Kim Lan, Văn Đức, Đặng Xá, Dương Xá, Phú Thị, Dương Quang, Kim Sơn, Lệ Chi.
== Đường phố ==
== Giao thông ==
Quốc lộ 1A
Quốc lộ 5
Quốc lộ 3
Quốc lộ 17
Quốc lộ 18B
Đường vành đai 3
Đường cao tốc Hà Nội – Hải Phòng
Đường cao tốc Hà Nội – Lạng Sơn
Đường cao tốc Hà Nội - Thái Nguyên
Đường sắt Hà Nội - Đồng Đăng
Đường sắt Hà Nội - Hải Phòng
Đường sắt Yên Viên - Cái Lân
Đường sắt Hà Nội - Lào Cai
Các dự án đường sắt đô thị đi qua địa bàn huyện là các tuyến số 1 (Ngọc Hồi - Yên Viên), tuyến số 8 (An Khánh - Dương Xá); trong đó tuyến số 1 hiện đang được đầu tư xây dựng.
== Giáo dục ==
Thị trấn Trâu Quỳ có học viện Nông nghiệp Việt Nam
Xã Kim Sơn có học viện Tòa án Việt Nam
Xã Lệ Chi có trường Đại học Công nghiệp Dệt may Hà nội
Xã Dương Xá có trường Trường Cao đẳng Kinh tế - Kỹ thuật Trung ương, và Cao đẳng Nghề kỹ thuật - Mỹ nghệ.
Xã Yên Thường có trường Cao đẳng xây dựng công trình Đô thị Hà nội
Xã Yên viên có Trường Cao đẳng Nghề Điện
Xã Cổ Bi có Trường Trung Cấp Nghề Cơ Khí Xây dựng
=== Giáo dục Phổ Thông ===
Trên địa bàn huyện có nhiều trường Trung học phổ thông như:
trường Trung học phổ thông Yên Viên
trường Trung học phổ thông Dương Xá
trường Trung học phổ thông Nguyễn Văn Cừ
trường Trung học phổ thông Cao Bá Quát
trường Trung học phổ thông Bắc Đuống
trường Trung học phổ thông Lê Ngọc Hân
trường Trung học phổ thông Lý Thánh Tông
trường Trung học phổ thông Tô Hiệu
trường Trung học phổ thông quốc tế Wellspring(2011)
== Tham khảo ==
== Liên kết ngoài == |
sierra leone.txt | Cộng hòa Sierra Leone (tên phiên âm tiếng Việt: Xi-ê-ra Lê-ôn) là một quốc gia nằm ở Tây Phi. Sierra Leone giáp Guinée về phía đông bắc, Liberia về phía đông nam và Đại Tây Dương về phía tây nam. Sierra Leone có diện tích 71.740 kilômét vuông (27.699 dặm vuông) và có khí hậu nhiệt đới, với môi trường đa dạng từ xavan cho đến rừng mưa nhiệt đới. Freetown là thủ đô và là thành phố lớn nhất. Các thành phố lớn khác có dân số trên 100.000 dân gồm: Bo, Kenema, Koidu Town và Makeni.
Những cư dân định cư sớm ở Sierra Leone gồm các dân tộc Sherbro, Temne và Limba, và sau này là người Mende, dân tộc gọi xứ này là Romarong, và người Kono định cư ở phía đông của quốc gia này. Năm 1462, nhà thám hiểm người Bồ Đào Nha Pedro da Cintra đã đến đây và đặt tên cho xứ này là Serra de Leão, có nghĩa là 'Núi Sư Tử'. Sierra Leone đã trở thành một trung tâm buôn bán nô lệ xuyên đại dương cho đến năm 1787, khi Freetown được thành lập bởi Sierra Leone Company làm nơi buôn ở cho những nười Đông Phi và Đông Ấn nô lệ trước đó. Năm 1808, Freetown đã trở thành một thuộc địa của đế quốc Anh năm 1896, còn nội địa quốc gia này thuộc một xứ bảo hộ Anh quốc; năm 1961, hai xứ này kết hợp với nhau và giành được độc lập.
== Lịch sử ==
Dân tộc Bulom được xem là những cư dân đầu tiên ở vùng này, các dân tộc Mende và Temne đến đây vào thế kỉ 15 và sau đó là dân Fulani. Năm 1462, nhà hàng hải Bồ Đào Nha Pedro de Sintra phát hiện ra bán đảo này và đặt tên là Serra Lyoa (về sau sửa thành Siena Leone), nghĩa là "Núi Sư tử", vùng này trở thành trung tâm mua bán nô lệ.
Năm 1787, hưởng ứng chiến dịch chống lại chế độ nô lệ, Chính phủ Anh đã thành lập vùng Freetown để tiếp đón những người nô lệ được phóng thích. Từ năm 1808, vùng này trở thành thuộc địa của Anh, vùng nội địa trở thành xứ bảo hộ năm 1896. Năm 1961, vùng thuộc địa và xứ bảo hộ hợp nhất lại trở thành quốc gia độc lập và là thành viên của Khối Liên hiệp Anh. Sierra Leone trở thành nước Cộng hòa năm 1971. Siaka Stevens trở thành Tổng thống đầu tiên và thành lập một đảng duy nhất cầm quyền. Năm 1985, Tướng Momoh lên cầm quyền; về sau bị nhóm sĩ quan do Valentine Strasser lật đổ năm 1992. Năm 1996, Ahmad Tejan Kabbah đắc cử Tổng thống, nhưng bị lật đổ trong cuộc đảo chính quân sự năm 1997. Trung tá Johnny Paul Koroma lãnh đạo Hội đồng lực lượng cách mạng vũ trang tiến hành chính sách... cai trị hà khắc, giết những thành phần đối lập và nền kinh tế bị tàn phá. Khối liên hiệp Anh yêu cầu khôi phục quyền lực cho Tổng thống Kabbah. Năm 1998 Tổng thống T. Kabbah trở lại cầm quyền nhờ sự giúp đỡ của chính quyền Nigeria.
Tháng 1 năm 1999, quân nổi dậy và lính đánh thuê Liberia chiếm thủ đô, yêu cầu phóng thích nhà lãnh đạo Mặt trận cách mạng thống nhất Foday Sankoh. Lực lượng gìn giữ hòa bình Nigeria chiếm lại quyền kiểm soát thủ đô Freetown, nhưng sau đó Tổng thống không thể tham dự vào các cuộc đàm phán hòa bình. Dưới áp lực của Nigeria, Hoa Kỳ và một số quốc gia, Kabbah đồng ý một hiệp định chia sẻ quyền lực, Sankoh trở thành Phó Tổng thống. Hiệp định này trở thành vô hiệu tháng 5 năm 2000, sau khi Mặt trận Cách mạng Thống nhất bắt cóc khoảng 500 lính thuộc lực lượng gìn giữ hòa bình Liên hiệp quốc và tấn công Freetown; Sankoh bị bắt và bị tạm giam chờ ra tòa vì tội ác chiến tranh.
Cuộc xung đột chính thức chấm dứt tháng 1 năm 2002. Khoảng 50.000 người bị chết trong cuộc nội chiến kéo dài. Liên hiệp quốc đưa khoảng 17.000 quân đến đây và 45.000 quân bị giải giới.
Tháng 5 năm 2002, Tổng thống Kabbah tái đắc cử với 70% số phiếu.
Lực lượng gìn giữ hoà bình của Liên Hợp Quốc đã rút đi năm 2005 để lại toàn bộ trọng trách về an ninh cho các lực lượng trong nước, tuy vậy còn lại một văn phòng của Liên Hợp Quốc phụ trách về vấn đề dân thường nhằm hỗ trợ chính phủ. Căng thẳng leo thang liên quan đến các cuộc bầu cử theo kế hoạch vào năm 2007, tình hình kinh tế và chính trị ngày càng xấu đi ở Guinée, và tình trạng an ninh mong manh ở quốc gia láng giềng Liberia có thể là những thách thức đối với sự ổn định của Sierra Leone. Từ năm 2007, ông Ernest Bai Koroma được bầu là Tổng thống sau cuộc bầu cử hợp hiến, người dân hy vọng Sierra Leone sẽ bước vào thời kỳ phát triển ổn định.
== Địa lý ==
Quốc gia ở Tây Phi, nằm giữa Guinée và Liberia, Tây giáp Đại Tây Dương. Địa hình gồm vùng cao nguyên đá hoa cương phía đông, sâu bên trong nội địa là ngọn núi Loma (đỉnh Bintumani, 1.948 m), vùng đồng bằng duyên hải với các cửa sông ẩn sâu vào trong đất liền và các rừng nước dọc theo bờ biển.
== Chính trị ==
Sierra Leone là nước đang phát triển nhưng thực hiện dân chủ đa đảng từ rất sớm (1962). Tổng thống đứng đầu nhà nước và chính phủ. Tuy nhiên, tình hình chính trị luôn không ổn định, đã xảy ra nhiều cuộc đảo chính. Tổng thống Ahmed Tejan Kabbah trúng cử Tổng thống trong cuộc bầu cử dân chủ năm 1996 và 2002.
Kể từ 1991, cuộc nội chiến giữa quân Chính phủ và Mặt trận Cách mạng thống nhất (RUF) đã làm hàng chục ngàn người Sierra Leone chết và hơn 2 triệu người (hơn 1/3 dân số) phải di cư sang các nước láng giềng. Tháng 6/1/1999, lực lượng Mặt trận Cách mạng thống nhất (RUF) phát động đấu tranh vũ trang chống lại Chính quyền của Tổng thống hợp pháp và đã chiếm phía đông và trung tâm thủ đô Freetown trong đó có Phủ Tổng thống, Sở cảnh sát. Lực lượng gìn giữ hoà bình của Cộng đồng Các nước Tây Phi (ECOWAS) đã đưa quân vào Sierra Leone và đẩy luì lực lượng nổi dậy ra khỏi thủ đô.
Tháng 7 năm 1999, Chính phủ của Tổng thống Kabbah và Mặt trận cách mạng thống nhất đã ký Hiệp định hoà bình.
Tháng 5 năm 2000, hiệp định hoà bình bị phá vỡ sau khi RUF bắt cóc 500 lính gìn giữ hoà bình của Liên hợp quốc đang thực thi nhiệm vụ tại Sierra Leone.
Cuối năm 2000, Liên Hợp Quốc đã đưa 13.000 quân đến để bảo vệ thủ đô Freetown và các thành phố chính của Sierra Leone. Với sự giúp đỡ của Liên Hiệp Quốc và các nước ECOWAS, tình hình chính trị Sierra Leone đã ổn định, chấm dứt nội chiến.
Từ tháng 1 năm 2006, Phái bộ Liên Hiệp Quốc tại Sierra Leone UNAMSIL chấm dứt hoạt động và được thay thế bằng Văn phòng Hỗn hợp của Liên Hiệp Quốc tại Sierra Leon (UNIOSIL) - một văn phòng dân sự có nhiệm vụ chủ yếu là hỗ trợ chính quyền Sierra Leon nâng cao năng lực quản lý, tăng cường khả năng an ninh hỗ trợ hoạt động nhân đạo và tái thiết đất nước.
=== Đối ngoại ===
Sierra Leone thực hiện chính sách đa dạng hoá quan hệ, coi trọng quan hệ với các nước láng giềng, phát triển quan hệ với các nước lớn (Mỹ, Nga, Trung Quốc). Hiện nay đang đẩy mạnh quan hệ kinh tế với Anh, Mỹ, Bỉ và EU. Sierra Leone rất coi trọng thúc đẩy hợp tác với các nước đang phát triển trong khuôn khổ hợp tác Nam-Nam, trong đó có Việt Nam.
== Kinh tế ==
Sierra Leone là một quốc gia châu Phi rất nghèo, có sự phân bổ về thu nhập mất cân bằng trầm trọng. Mặc dù sở hữu các nguồn tài nguyên phong phú về khoáng sản, nông nghiệp và ngư nghiệp nhưng cơ sở hạ tầng xã hội và kinh tế chưa phát triển cùng bất ổn xã hội sâu sắc đang tiếp tục kìm hãm sự phát triển về kinh tế. Khoảng 2/3 số dân ở tuổi lao động làm việc trong lĩnh vực nông nghiệp mang tính tự cung tự cấp. Ngành chế tạo chủ yếu là chế biến các loại nguyên liệu thô và công nghiệp nhẹ cho thị trường trong nước. Khai thác kim cương là nguồn thu nhập chính chiếm gần nửa xuất khẩu của Sierra Leone. Số phận của nền kinh tế phụ thuộc vào việc duy trì được hoà bình trong nước và nguồn viện trợ to lớn từ bên ngoài. Đây là điều thiết yếu nhằm bù lại sự mất cân bằng thương mại nghiêm trọng và cung cấp cho ngân sách chính phủ. Quỹ Tiền tệ Quốc tế đã hoàn thành xong chương trình giảm đói nghèo và thúc đẩy tăng trưởng giúp ổn định tăng trưởng kinh tế và giảm lạm phát. Sự ổn định chính trị được cải thiện gần đây đã đem lại sự hồi phục của hoạt động kinh tế như công nghiệp khai thác bô xít. Năm 2010, GDP của Sierra Leone đạt 4,8 tỷ USD, tỷ lệ tăng trưởng là 5,2% với GDP bình quân đầu người thuộc hàng thấp nhất châu Phi là 400 USD.
Về ngoại thương, Sierra Leone xuất khẩu được 216 triệu USD tới các nước Bỉ, Hà Lan, Anh, Ấn Độ… với các mặt hàng chủ yếu là kim cương, cà phê, ca cao, hàng thuỷ sản... và nhập khẩu 560 triệu USD gồm các mặt hàng chủ yếu là lương thực thực phẩm, máy móc thiết bị, xăng dầu, hoá chất...từ các nước Đức, Anh, Côte d’Ivoire, Trung Quốc, Hà Lan, Nam Phi, Pháp.
Sierra Leone có 2/3 dân số làm nghề nông. Sản phẩm chính là lúa, lạc, dầu cọ, chà là, ca cao. Sierra Leone là nước xuất khẩu dầu cọ lớn thứ 3 châu Phi sau Nigeria và Cộng hòa Dân chủ Congo.
Tài nguyên chủ yếu: Kim cương, vàng, titan, bô xít, sắt.
Về công nghiệp, Sierra Leone đã xây dựng được một số cơ sở sản xuất như nhà máy chế biến thực phẩm, rau quả, xay sát, lọc dầu, sản xuất vật liệu xây dựng, xi măng và thuốc lá.
Chiến lược phát triển kinh tế của Sierra Leone dựa vào phát triển công nghiệp để xuất khẩu các hàng nông sản như hạt cọ, cà phê, cá và khai thác khoáng sản, nhất là kim cương.
Sierra Leone xuất hàng hoá chủ yếu là kim cương, cà phê, cá, ca cao sang Bỉ (38%), Mỹ (6%), Anh (4%) và nhập khẩu chủ yếu lương thực, thực phẩm, thuốc chữa bệnh và máy móc, vật tư, nhiên liệu từ Anh (34%), Mỹ (8%), Italia (7%) và Nigeria (5%).
Các khu rừng rậm thích hợp với kiểu khí hậu nhiệt đới rất ẩm ướt, dần dần bị đẩy lùi do tình trạng khai hoang để trồng cây lương thực (lúa, sắn) và các loại cây cung cấp sản phẩm xuất khẩu (cà phê, ca cao, gừng). Hoạt động khai thác mỏ trên đà phát triển: rutil (khoáng vật màu nâu đỏ), kim cương và bauxit là các mặt hàng xuất khẩu chính. Nền kinh tế vốn đã yếu kém do tình trạng tham nhũng, nay lại bị tàn phá do các cuộc xung đột.
- GDP: 2,08 tỷ USD (2009) - GDP đầu người: 406 USD - Tăng trưởng: 1% (2009)
== Tham khảo ==
== Liên kết ngoài ==
Phương tiện liên quan tới Sierra Leone tại Wikimedia Commons
Website chính thức
SierraLeone.com |
internazionali bnl d'italia.txt | Rome Masters (tên chính thức Internazionali BNL d'Italia) là một giải quần vợt được tổ chức hằng năm tại Roma, Ý. Đây là giải đấu nằm trong hệ thống 9 giải ATP World Tour Masters 1000.
Giải được tổ chức trên mặt sân đất nện vào tuần thứ hai của tháng 5 hằng năm và được coi là giải đấu sân đất nện hay nhất, chỉ đứng sau Pháp Mở rộng.
Trước đây giải còn có tên gọi là Giải vô địch Ý và từ năm 2002 còn được gọi là Roma Master Giải được tổ chức lần đầu tiên vào năm 1930 tại Milan và được thi đấu tại đây cho đến năm 1934 trước khi giải được tổ chuyển đến Roma vào năm 1935. Giải bị gián đoạn từ năm 1936 cho đến năm 1949 và được trở lại vào năm 1950.
== Các kỷ lục ==
=== Đơn nam ===
Vô địch đơn nam nhiều nhất: Rafael Nadal (7 lần)
Tham dự trận chung kết nhiều nhất: Rafael Nadal (8 lần)
=== Đơn nữ ===
Vô địch đơn nữ nhiều nhất: Chris Evert (5 lần)
Tham dự trận chung kết nhiều nhất: Chris Evert (7 lần)
== Thống kê ==
=== Danh sách các nhà vô địch đơn nam ===
=== Danh sách các nhà vô địch đơn nữ === |
cúp bóng đá nam mỹ 2015.txt | Cúp bóng đá Nam Mỹ 2015, hay còn gọi là Copa América 2015, là giải đấu lần thứ 44 của Cúp bóng đá Nam Mỹ - giải quốc tế chính thức của các đội tuyển quốc gia ở Nam Mỹ được tổ chức tại Chile. Giải này được tổ chức bởi CONMEBOL và bắt đầu từ ngày 11 tháng 6 cho đến ngày 4 tháng 7 năm 2015. Uruguay là đương kim vô địch. Giải đấu có 12 đội tuyển tham dự, trong đó Jamaica và México là 2 đội khách mời từ CONCACAF.
Chile giành chức vô địch Copa América đầu tiên sau khi vượt qua Argentina 4–1 ở loạt sút luân lưu 11m sau 120 phút thi đấu chung kết với tỉ số hòa 0–0. Chile trở thành đại diện của Nam Mỹ dự Cúp Liên đoàn các châu lục 2017 diễn ra tại Nga.
== Chủ nhà ==
Ban đầu, giải đấu được tổ chức tại Brasil, theo lời đề nghị từ Liên đoàn bóng đá Brasil (CBF) vào tháng 2 năm 2011 theo chính sách xoay vòng tổ chức giải đấu của CONMEBOL. Tuy nhiên, do phải tập trung cho các sự kiện thể thao lớn như Cúp Liên đoàn các châu lục 2013, giải bóng đá vô địch thế giới 2014 và Thế vận hội Mùa hè 2016, Brasil quyết định từ bỏ quyền đăng cai Copa América. Chủ tịch CONMEBOL Nicolas Leoz đưa ra sáng kiến tổ chức giải đấu tại México (mặc dù nước này không phải là thành viên của CONMEBOL) như một phần trong việc kỉ niệm thế kỷ của Liên đoàn. Liên đoàn bóng đá Brasil và Chile đã thảo luận về việc trao đổi quyền đăng cai giải đấu của 2 quốc gia. Tháng 5 năm 2012, việc trao đổi quyền tổ chức giải đấu chính thức được thông qua.
== Địa điểm ==
Có tất cả 9 sân vận động tại 8 thành phố được sử dụng tại giải đấu. Hầu hết được nâng cấp hoặc xây lại
== Các đội tham dự ==
México và Nhật Bản đầu tiên được mời tham dự cùng mười quốc gia CONMEBOL. Nhật Bản từ chối lời mời, Trung Quốc được mời thay thế, nhưng sau đó không thể tham dự do bận đá vòng loại World Cup 2018. Tháng 5 năm 2014, Liên đoàn bóng đá Jamaica chấp nhận lời mời tham dự giải.
== Bốc thăm và hạt giống ==
Lễ bốc thăm lúc đầu dự kiến được tổ chức vào ngày 27 tháng 10 năm 2014 tại Viña del Mar, nhưng sau đó được dời đến ngày 24 tháng 11. 12 đội sẽ được chia làm 3 bảng.
CONMEBOL công bố 4 nhóm hạt giống vào ngày 10 tháng 11 năm 2014. Nhóm hạt giống số 1 bao gồm chủ nhà Chile (mặc định vị trí A1), cùng với Argentina và Brasil. 9 đội còn lại sẽ xếp theo thứ tự của bảng xếp hạng FIFA được công bố vào ngày 23 tháng 11 năm 2014. Ngày 23 tháng 11 năm 2014, CONMEBOL tiết lộ rằng Argentina và Brasil sẽ lần lượt ở vị trí B1 và C1.
== Cầu thủ tham dự ==
Tất cả các đội tuyển đều phải đăng ký 23 cầu thủ (trong đó có 3 thủ môn) và chốt hạn danh sách đến ngày 1 tháng 6, 2015.
== Trọng tài ==
Source:
Trọng tài bắt chính trận chung kết.
== Vòng bảng ==
Giờ thi đấu tính theo giờ địa phương (UTC−4).
=== Bảng A ===
=== Bảng B ===
=== Bảng C ===
=== Thứ tự các đội xếp thứ ba ===
== Vòng đấu loại trực tiếp ==
=== Tứ kết ===
=== Bán kết ===
=== Tranh hạng ba ===
=== Chung kết ===
=== Vô địch ===
== Danh sách cầu thủ ghi bàn ==
4 bàn
3 bàn
2 bàn
1 bàn
phản lưới nhà
Ronald Raldes (trận gặp Chile)
Gary Medel (trận gặp Peru)
== Giải thưởng ==
Cầu thủ xuất sắc nhất: Không trao thưởng
Chiếc giày vàng: Paolo Guerrero, Eduardo Vargas
Cầu thủ trẻ xuất sắc nhất: Jeison Murillo
Thủ môn xuất sắc nhất: Claudio Bravo
Đội đoạt giải phong cách: Peru
== Đội hình tiêu biểu ==
== Bảng xếp hạng giải đấu ==
== Các đài truyền thông ==
== Marketing ==
=== Bóng thi đấu chính thức ===
Bóng thi đấu của giải đấu này có tên là Nike Cachaña, được tiền vệ Arturo Vidal giới thiệu vào ngày 16 tháng 11 năm 2014.
=== Linh vật ===
Linh vật của giải đấu này là hai con cáo được ra mắt vào ngày 17 tháng 11 năm 2014, chúng có tên là "Andi" và "Kul".
=== Bài hát chính thức ===
"Al Sur del Mundo" của nhóm nhạc Chile La Noche de Brujas là ca khúc chính thức của giải đấu. Bài hát sẽ được trình diễn trong lễ khai mạc vào ngày 11/06. Đây là một ca khúc thể hiện được văn hóa của cả 12 nước tham dự.
== Tham khảo ==
== Liên kết ngoài ==
Copa América Chile 2015 (Official website) (tiếng Anh)
Copa América, CONMEBOL.com (tiếng Tây Ban Nha)
Lịch thi đấu bóng đá Copa America 2015 (tiếng Việt).
Copa America 2015 (tiếng Việt) |
biển bắc.txt | Bắc Hải hay Biển Bắc (trước đây còn có tên gọi là Đại dương Đức - German Ocean) là một vùng biển phía bắc Đại Tây Dương. Bắc Hải giáp Na Uy và Đan Mạch về phía đông, Scotland và Anh về phía tây, Đức, Hà Lan, Bỉ và Pháp về phía nam. Biển này có một nhánh là Skagerrak, nằm giữa Đan Mạch, Na Uy, và Thụy Điển, nối với biển Baltic qua Kattegat, Öresund, Belt Lớn và Belt Nhỏ. Bắc Hải nối với phần còn lại của Đại Tây Dương qua eo biển Dover vào eo biển Anh về phía nam, và qua biển Na Uy về phía bắc.
Những sông lớn đổ ra biển Bắc gồm có: sông Forth ở Edinburg, sông Elbe ở Cuxhaven, sông Weser ở Bremerhaven, sông Ems ở Emden, sông Rhine và Meuse ở Rotterdam, sông Scheldt ở Flushing, sông Thames, và sông Humber ở Hull. Kênh đào Kiel, nối Bắc Hải và biển Baltic, là một trong những kênh tấp nập nhất châu Âu.
== Địa lý ==
Biển Bắc được giới hạn bởi quần đảo Orkney và các bờ biển đông của Anh và Scotland ở phía tây và miền bắc và trung của châu Âu lục địa về phía đông và nam gồm Na Uy, Đan Mạch, Đức, Hà Lan, Bỉ, và Pháp. Ở phía tây nam, bên cạnh eo biển Dover, eo biển Manche liên kết biển Bắc với Đại Tây Dương. Ở phía đông, nó nối với biển Baltic qua các eo biển hẹp Skagerrak và Kattegat, giữa Đan Mạch với Na Uy và Thụy Điển. Ở phía bắc nó có ranh giới với quần đảo Shetland, và thông với biển Na Uy.
Nó dài hơn 970 kilômét (600 mi) và rộng 580 kilômét (360 mi), và có diện tích 750.000 kilômét vuông (290.000 sq mi) và thể tích 94.000 kilômét khối (23.000 cu mi). Xung quanh các rìa biển Bắc là các đảo và quần đảo có kích thước đáng kể như Shetland, Orkney, và quần đảo Frisia. Biển Bắc được cung cấp nước ngọt từ nhiều lưu vực thuộc châu Âu lục địa cũng như từ quần đảo Anh. Một phần lớn lưu vực châu Âu đổ vào biển Bắc cũng như đổ vào biển Baltic. Các sông lớn có ảnh hưởng quan trọng đối với biển Bắc là Elbe và Rhine – Meuse. Có khoảng 185 triệu người sống trong lưu vực của những sông đổ vào biển Bắc bao gồm một số khu vực công nghiệp hóa cao.
=== Các đặc điểm chính ===
Hầu hết các phần của biển Bắc nằm trên thềm lục địa châu Âu với độ sâu 90 mét (300 ft). Chỉ ngoại trừ duy nhất là rãnh Na Uy kéo dài song song với bờ biển Na Uy từ Oslo đến khu vực phía bắc của Bergen. Nó rộng 20 và 30 kilômét (12 và 19 mi) và sâu tối đa 725 mét (2.379 ft).
Dogger Bank, một moraine rộng lớn, hay là tích tụ các mảnh vụn từ băng chưa được cố kết, cao 15 đến 30 m bên dưới bề mặt. Địa hình này là một địa điểm câu cá tốt nhất của biển Bắc. Long Forties và Broad Fourteens là những khu vực rộng lớn ở độ sâu 73 và 26 m. Các cấu trúc này và các cấu trúc khác nữa làm cho biển Bắc đặc biệt nguy hiểm đối với hàng hải, nhưng đã được giảm thiểu bằng hệ thống định vị vệ tinh. Devil's Hole nằm cách phía đông của Dundee, Scotland 200 dặm (320 km), là một chuỗi các rãnh bất đối xứng dài 20 và 30 kilômét (12 và 19 mi), rộng 1 và 2 kilômét (0,62 và 1,24 mi) và có độ sâu lên đến 230 mét (750 ft).
=== Thủy văn ===
==== Nhiệt độ và độ mặn ====
Nhiệt độ trung bình vào mùa hè là 17 °C (63 °F) và 6 °C (43 °F) vào mùa đông. Nhiệt độ trung bình có xu hướng cao hơn kể từ năm 1988, và được cho là ảnh hưởng của sự biến đổi khí hậu. Nhiệt độ không khí trong tháng 1 trung bình giữa 0 đến 4 °C (32 đến 39 °F) và tháng 7 giữa 13 đến 18 °C (55 đến 64 °F). Các tháng mùa đông thường có bảo và gió giật.
Độ mặn trung bình từ 34 đến 35 g/l. Độ mặn dao động cao nhất ở những nơi có dòng nước ngọt chảy vào như ở các cửa sông Rhine và Elbe, từ biển Baltic và dọc theo bờ biển Na Uy.
==== Tuần hoàn nước và thủy triều ====
Các dòng chảy tuần hoàn nước trong biển Bắc chảy theo hướng ngược chiều kim đồng hồ dọc theo các rìa.
Biển Bắc là một phần của Đại Tây Dương tiếp nhận các phần lớn hải lưu từ vùng biển mở ở tây bắc, và một phần nhỏ hơn từ dòng hải lưu ấm qua eo biển Manche. Các dòng thủy triều này tạo nên thủy triều dọc theo bờ biển Na Uy. Các dòng hải lưu trên mặt và dưới sâu di chuyển theo nhiều hướng khác nhau. Các khối nước mặt veo bờ có độ mặn thấp chảy ra ngoài khơi xa, và các dòng nước sâu hơn, nặng hơn chảy về phía bờ.
Biển Bắc nằm trên thềm lịc địa có các dạng sóng khác với sóng ở những vùng nước biển sâu. Khi vào bờ, tốc độ sóng giảm và biên độ sóng được tăng lên. Ở biển Bắc có 2 điểm amphidromos và điểm không hoàn toàn thứ 3. Trong biển Bắc, sự khác biệt thủy triều trung bình về biên độ sóng là 0 đến 8 mét (0 đến 26 ft).
Thủy triều Kelvin của Đại Tây Dương là sóng bán nhật triều chuyển động về phía bắc. Một phần năng lượng sóng này chuyển qua eo biển Manche vào biển Bắc. Sóng tiếp tục di chuyển về phía bắc trong Đại Tây Dương, và khi đến đầu mút phía bắc của Đảo Anh, sóng Kelvin chuyển hướng sang đông và nam và một lần nữa trở vào biển Bắc.
=== Bờ biển ===
Các bờ biển phía đông và tây của biển Bắc có dạng lởm chởm, được hình thành bởi quá trình đóng băng trong suốt thời kỳ băng hà. Các đường bờ biển chạy dọc theo phần thuộc đầu tận cùng phía nam bị phủ bởi các trầm tích băng hà. Các núi thuộc Na Uy cắm xuống phía biển tạo ra các vịnh hẹp, sâu và các quần đảo. phía nam Stavanger, bờ biển ít lồi lõm hơn, số lượng các hòn đảo ít hơn. Bờ biển phía đông Scottland cũng tương tự, mặc dù ít nghiêm trọng hơn phía Na Uy. Từ đông bắc Anh, các vách đá trở nên thấp hơn và được cấu tạo bởi các trầm tích băng hà có sức kháng thấp hơn nên dễ bị xâm thực vì vậy các bờ biển có dạng các đường đồng mức tròn hơn. Ở Hà Lan, Bỉ và đông Anh (East Anglia) vùng ven biển thấp và có dạng địa hình đầm lầy. Bờ đông và đông nam của biển Bắc (biển Wadden) có các đường bờ biển được cấu tạo chủ yếu là cát và thẳng dọc theo dòng chảy dài dọc bờ, đặc biệt dọc theo Bỉ và Đan Mạch.
== Quản lý bờ biển ==
Các khu vực bờ biển phía nam thời kỳ đầu từng là những đồng bằng ngập lụt và đầm lầy. Những khu vực này đặc biệt dễ bị tổn thương bởi các cơn bão và thủy triều, người dân sinh sống trên các vùng đất cao tự nhiên bên trong các con đê được đắp cao như spits và Geestland. Kể từ 500 TCN, con người đã xây dựng các ngọn đồi cao hơn mực nước lụt hiện tại. Chỉ vào khoảng đầu trung kỳ Trung cổ năm 1200, những cư dân ở đây đã liên kết các đê tròn này thành một đường đê kéo dài dọc theo toàn bộ bờ biển, qua đó biến những khu vực lân cận giữa đất liền và biển thành những vùng đất vững chắc cho định cư lâu dài.
Các dạng đê hiện đại được xây dựng bổ sung thêm bởi các đê tràn và kênh dẫn dòng bắt đầu xuất hiện trong thế kỷ 17 và 18, được xây dựng ở Hà Lan. Các trận lụt ở biển Bắc trong các năm 1953 và 1962 đã thúc đẩy việc tôn cao thêm các con đê cũng như rút ngắn đường bờ biển nhằm làm giảm diện tích chịu tác động của các cơn bão và sự tàn phá của biển. Hiện tại, 27% diện tích của Hà Lan nằm dưới mực nước biển được bảo vệ bằng các con đê, cồn cát và các bãi biển thoải.
Quản lý bờ biển ngày nay bao gồm nhiều mức độ khác nhau. Sườn đê thoải sẽ làm giảm năng lượng tấn công vào bờ của sóng biển vì thế bản thân đê sẽ không tiếp nhận toàn bộ tác động từ nguồn năng lượng này. Các con đê nằm ngay tại bờ biển nhằm củng cố sự ổn định của bờ. Các con đê, qua nhiều năm, được nâng lên nhiều lần, đôi khi lên đến 9 mét (30 ft) và được làm phẳng hơn để giảm xâm thực của sóng biển. Ở những nơi mà cồn cát đủ bền để bảo vệ vùng đất phía sau nó, thì trên đó người ta trồng các loài cỏ để bảo vệ chúng từ sự xâm thực do gió, nước và giao thông.
=== Nước dâng do bão ===
Nước dâng do bão đặc biệt đe dọa các bờ biển của Hà Lan, Bỉ, Đức và Đan Mạch và những vùng đất thấp ở miền đông nước Anh đặc biệt là khu vực xung quanh The Wash và Fens. Nước dâng do bão gây ra bởi sự thay đổi áp suất khí quyển kết hợp với gió mạnh tạo ra sóng trên bề mặt biển.
Nước dâng do bão được ghi nhận đầu tiên tại Julianenflut, vào ngày 17 tháng 2 năm 1164, và Jadebusen (một vịnh thuộc Đức) bắt đầu hình thành. Lần nước dâng do bão năm 1228 được ghi nhận là đã cướp đi sinh mạng của hơn 100.000 người. Năm 1362, trận lụt Second Marcellus, hay còn được gọi là Grote Manndränke, đã tấn công toàn bộ bờ biển phía nam của biển Bắc. Các biên niên sử một lần nữa ghi nhận có hơn 100.000 người thiệt mạng làm cho nhiều phần bờ biển rộng lớn bị nhấn chìm vĩnh viễn dưới mực nước biển bao gồm cả thành phố bị mất tích huyền thoại Rungholt. Trong thế kỷ 20, trận lụt biển Bắc năm 1953 đã làm ngập lụt nhiều bờ biển của các quốc gia và gây thiệt mạng hơn 2.000 người. 315 công dân của Hamburg thiệt mạng trong trận lụt biển Bắc năm 1962.
=== Sóng thần ===
Mặc dù hiếm gặp sóng thần nhưng biển Bắc là nơi có hoạt động sóng thần đã được ghi nhận. Storegga Slide là một loạt các vụ trượt lở dưới nước, chúng là một phần thuộc thềm lục địa Na Uy. Các vụ trượt lở lớn đã xảy ra giữa 8150 TCN và 6000 TCN, và gây nên sóng thần cao đến 20 mét (66 ft) quét qua biển Bắc, gây ảnh hưởng nặng nề đối với Scotland và quần đảo Faroe. Trận động đất eo biển Dover, 1580 nằm trong số các trận động đất được ghi nhận đầu tiên ở biển Bắc có độ lớn trong khoảng 5,6 đến 5,9 theo thang độ lớn Richter. Sự kiện này gây nên sự phá hủy nặng nề ở Calais bởi chấn động của nó và có thể từ sóng thần, mặc dù việc này chưa bao giờ được xác nhận. Một giả thuyết là đã có sự trượt lở lớn dưới nước thuộc eo biển Manche do động đất, và vụ trượt lớn này lại gây nên sóng thần. Một đợt sóng thần tấn công khu vực này từ trận động đất Lisboa 1755 ảnh hưởng đến Hà Lan, mặc dù các đợt sóng đã mất năng lượng không đủ gây phá hoại đến khu vực này. Trận động đất lớn nhất từng được ghi nhận tại vương quốc Anh năm 1931 tại Dogger Bank có độ lớn 6,1 theo thang Richter và gây nên đợt sóng thần nhỏ làm ngập lụt một số bờ biển của Anh.
== Địa chất ==
Các biển nội địa nông giống như biển Bắc hiện tại từng tồn tại trong một thời gian dài trên thềm lục địa châu Âu. Việc tách giãn đã hình thành nên phần phía bắc của Đại Tây Dương trong suốt kỷ Jura và kỷ Creta, cách đây khoảng 150 triệu năm, gây ra bởi nâng kiến tạo hình thành nên quần đảo Anh. Kể từ đó, vùng biển nông hầu như kéo dài liên tục hình thành giữa những khu vực cao của Fennoscandian Shield và quần đảo Anh. Tiền thân này của biển Bắc ngày nay đã phát triển và thu hẹp cùng với sự nâng lên và hạ thấp của sự dao động mực nước biển theo các thời kỳ địa chất. Đôi khi nó nối thông với các vùng biển nông khác như vùng biển phía trên bồn trũng Paris nằm ở tây nam, biển Paratethys ở đông nam, hoặc đại dương Tethys ở phía nam.
Trong suốt thời kỳ Creta muộn, cách nay khoảng 85 triệu năm, tất cả phần đất liền của châu Âu hiện tại trừ Scandinavia là một nhóm các đảo phân tán. Cho đến đầu Oligocene, 34-28 triệu năm, sự xuất hiện của Tây và Trung Âu đã tách biệt hoàn toàn với biển Bắc với đại dương Tethys, đại dương này dần dần co lại để trở thành Địa Trung Hải như Nam Âu và Tây Á trở thành vùng đất khô. Biển Bắc bị tách biệt với eo biển Manche bởi một cầu đất hẹp cho đến khi nó bị phá vở bởi hai trận đại hồng thủy cách đây 450.000 và 180.000 years ago. Khi bắt đầu kỷ Đệ tứ cách đây 2,6 triệu năm, mực nước biển cổ đã bị hạ thấp trong suốt các thời gian đóng băng và sau đó dâng lên trong thời gian băng tan. Mỗi khi các lớp băng đạt đất diện tích lớn nhất, biển Bắc trở nên khô hoàn toàn. Đường bờ biển hiện nay được hình thành sau thời kỳ băng hà gần đây nhất khi biển bắt đầu bị ngập lụt thềm lục địa châu Âu.
Năm 2006, một mảnh xương được phát hiện trong khi khoan thăm dò dầu khí ở biển Bắc. Kết quả phân tích cho thấy rằng nó là Plateosaurus sống trong giai đoạn cách đây khoảng 199 - 216 triệu năm. Đây là xương khủng long bị chôn vùi sâu nhất từng được phát hiện và lần đầu tiên phát hiện ở Na Uy.
== Kinh tế ==
=== Vị thế chính trị ===
Các quốc gia có ranh giới với biển Bắc đều tuyên bố vùng lãnh hải 12 hải lý (22 km; 14 mi), trong đó họ có toàn quyền khai thác cá. Chính sách khai thác cá chung của Liên minh châu Âu được áp dụng để điều phối quyền khai thác các và là cơ sở hỗ trợ giải quyết các tranh chấp của các quốc gia trong thuộc EU và các nước có ranh giới với Na Uy.
Sau khi phát hiện ra các nguồn tài nguyên khoáng sản trong biển Bắc, Công ước về thềm lục địa đã thiết lập nên các quyền của quốc gia chủ yếu được phân chia chạy dọc theo đường trung bình. Đường này được định nghĩa là một đường mà mỗi điểm của nó cách điều các điểm gần nhất của đường cơ sở từ đó xác định bề rộng lãnh hải của quốc gia sở hữu nó." Phần đáy biển có ranh giới giữa Đức, Hà Lan và Đan Mạch đã được xác định lại sau các cuộc đàm phát kéo dài và theo phán quyết của Tòa án Công lý Quốc tế.
=== Dầu và khí ===
Vào đầu năm 1859, người ta phát hiện dầu ở những khu vực gần bở quanh biển Bắc và trong khi đó khí thiên nhiên được phát hiện vào đầu năm 1910.
Công tác khoan thử nghiệm bắt đầu năm 1966 và sau đó vào năm 1969, công ty dầu mỏ Phillips đã phát hiện ra mỏ dầu Ekofisk đặc biệt có giá trị do hàm lượng lưu huỳnh thấp. Khai thác dầu thương mại bắt đầu năm 1971 với các tàu chở dầu và sau năm 1975, vận chuyển bằng đường ống, đầu tiên nối với Teesside, Anh và sau đó năm 1977 là Emden, Đức.
Việc khai thác các vỉa dầu biển Bắc chỉ bắt đầu kể từ sau cuộc khủng hoảng dầu mỏ năm 1973, và sự leo thang của giá dầu thế giới làm thúc đẩy việc đầu tư cho một ngành hấp dẫn này.
=== Đánh cá ===
Biển Bắc là ngư trường chính của châu Âu, nó chiếm 5% sản lượng cá thương mại được đánh bắt trên thế giới. Đánh bắt cá trong biển Bắc chủ yếu tập trung ở các vùng bờ biển phía nam. Phương pháp đánh cá chủ yếu là dùng lưới. Năm 1995, Tổng lượng cá và các loài động vật có vỏ được đánh bắt ở biển Bắc khoảng 3,5 triệu tấn. Bên cạnh cá, người ta ước tính có khoảng 1 triệu tấn các loại khác bị dính vào lưới phải bỏ đi hàng năm.
Trong những thập niên gần đây, đánh bắt cá quá mức đã khiến cho nhiều loài cá không thể sinh sản, gây xáo trộn chuỗi thức ăn và làm mất công ăn việc làm trong ngành đánh bắt cá. Ngành đánh bắt cá trích, cá tuyết và cá chim có thể sẽ sớm đối mặt với hoàn cảnh tương tự như đánh bắt cá thu đã bị dừng trong thập niên 1970 do đánh bắt quá mức. Mục tiêu của chính sách đánh bắt cá chung của EU là giảm thiểu những tác động môi trường liên quan đến việc sử dụng tài nguyên bằng cách giảm lượng cá bị thải bỏ, tăng sản lượng cá thu hồi, ổn định các thị trường tiêu thụ cá và quy trình sản xuất cá, và cung cấp cá với mức giá hợp lý cho người tiêu thụ.
=== Tài nguyên khoáng sản ===
Ngoài dầu, khí, và cá, các quốc gia ven biển Bắc cũng khai thác hàng triệu mét khối cát và sạn mỗi năm. Các vật liệu này được sử dụng để nuôi bãi biển, san lấp nền đất và phục vụ xây dựng. Các mảnh hổ phách bị mài tròn có thể được thu nhặt trên bờ biển đông của Anh.
== Tham khảo == |
nhiên liệu.txt | Nhiên liệu là vật chất được sử dụng để giải phóng năng lượng khi cấu trúc vật lý hoặc hóa học bị thay đổi. Nhiên liệu giải phóng năng lượng thông qua quá trình hóa học như cháy hoặc quá trình vật lý, ví dụ phản ứng nhiệt hạch, phản ứng phân hạch. Tính năng quan trọng của nhiên liệu đó là năng lượng có thể được giải phóng khi cần thiết và sự giải phóng năng lượng được kiểm soát để phục vụ mục đích của con người.
Mọi dạng sự sống trên Trái đất – từ những cấu trúc vi sinh vật cho đến động vật và con người, đều phụ thuộc và sử dụng nhiên liệu là nguồn cung cấp năng lượng. Các tế bào trong cơ thể sống tham gia quá trình biến đổi hóa học mà qua đó năng lượng trong thức ăn hoặc ánh sáng Mặt trời được chuyển hóa thành những dạng năng lượng có thể duy trì sự sống.
Con người sử dụng nhiều cách thức nhằm biến đổi năng lượng ở nhiều hình thức thành những dạng phù hợp mới mục đích sử dụng phục vụ cuộc sống và các quá trình xã hội. Ứng dụng giải phóng năng lượng từ nhiên liệu rất đa dạng trong cuộc sống như đốt cháy khí tự nhiên để đun nấu, kích nổ xăng dầu để chạy động cơ, biến năng lượng hạt nhân thành điện năng, v.v..
Các dạng nhiên liệu phổ biến được dùng là dầu hỏa, xăng dầu, than đá, chất phóng xạ, v.v..
== Tham khảo ==
== Liên kết ngoài == |
hưng yên (thành phố).txt | Thành phố Hưng Yên là tỉnh lỵ của tỉnh Hưng Yên. Thành phố nằm ở phía Nam của tỉnh, bên bờ trái (bờ Bắc) sông Hồng.
== Địa lý ==
Thành phố Hưng Yên giáp với huyện Kim Động ở phía Bắc, Tiên Lữ ở phía Đông. Sông Hồng làm ranh giới tự nhiên giữa thành phố Hưng Yên với các huyện Lý Nhân và Duy Tiên của tỉnh Hà Nam ở bờ Nam sông Hồng. Quốc lộ 38 với cầu Yên Lệnh nối thành phố Hưng Yên với quốc lộ 1.
Thành phố có hai xã là Phú Cường và Hùng Cường nằm ở bãi bồi (cù lao) giữa sông Hồng.
Diện tích: 73,42 km² (7.342,07 ha)
Dân số: 147.275 người (2013)
== Lịch sử ==
Ngay từ thế kỷ thứ X, vùng đất trung tâm thành phố Hưng Yên đã được tướng quân Phạm Bạch Hổ chọn làm nơi đặt lỵ sở Đằng Châu khi ông là một trong 12 sứ quân nổi dậy xưng hùng xưng bá. Năm 968, Đinh Bộ Lĩnh tập hợp lực lượng để dẹp loạn 12 sứ quân, Phạm Bạch Hổ theo về trở thành tướng nhà Đinh, được vua Đinh Tiên Hoàng phong chức Thân vệ Đại tướng quân và tiếp tục được giao cai quản và gây dựng vùng đất này.
Khu vực Phố Hiến nay thuộc thành phố Hưng Yên, vào thế kỷ 16, 17 là lỵ sở của trấn Sơn Nam thời nhà Hậu Lê. Sơn Nam lúc bấy giờ bao gồm phần lớn các tỉnh: Hưng Yên, Hà Nam, Nam Định, Thái Bình, Ninh Bình, Hà Tây(cũ))..
Tháng 10 năm 1831 - niên hiệu Minh Mạng, triều đình Huế thực hiện một cuộc cải cách hành chính lớn trên toàn lãnh thổ Việt Nam, trong đó có việc xóa bỏ các đơn vị tổng, trấn... và chia cả nước lại thành 30 tỉnh. Tỉnh Hưng Yên theo đó được thành lập, lỵ sở của tỉnh được đóng ở khu vực Xích Đằng (phường Lam Sơn - thành phố Hưng Yên ngày nay)..
Sau Cách mạng Tháng Tám - 1945, thị xã Hưng Yên tiếp tục được chính quyền cách mạng chọn làm lỵ sở của tỉnh Hưng Yên.
Ngày 26 tháng 1 năm 1968, hai tỉnh Hưng Yên và Hải Dương hợp nhất thành tỉnh Hải Hưng, lỵ sở của tỉnh mới được đặt tại thị xã Hải Dương (nay là thành phố Hải Dương), còn thị xã Hưng Yên tạm thời mất đi vị thế trung tâm của cả tỉnh. Cùng với hoàn cảnh kinh tế khó khăn của cả nước trong thời gian đó và điều kiện giao thông không thuận lợi, thị xã Hưng Yên mất đi khá nhiều cơ hội để phát triển.
Sau năm 1975, thị xã Hưng Yên có 2 phường: Lê Lợi, Minh Khai và xã Hồng Châu.
Ngày 4 tháng 1 năm 1982, các xã Lam Sơn, Hiến Nam của huyện Kim Thi (nay là 2 huyện Kim Động và Ân Thi) cùng thôn Phương Độ của xã Hồng Nam, các thôn Nam Tiến, Mậu Dương (trừ xóm Châu Dương) của xã Quảng Châu thuộc huyện Phù Tiên (nay là 2 huyện Phù Cừ và Tiên Lữ) được sáp nhập vào thị xã Hưng Yên.
Tình trạng này chỉ được giải quyết từ ngày 6 tháng 11 năm 1996, khi Quốc hội Việt Nam ra nghị quyết chia tách tỉnh Hải Hưng lại thành hai tỉnh Hải Dương và Hưng Yên như trước. Cùng với sự "lột xác" của tỉnh Hưng Yên, thị xã Hưng Yên cũng ngày càng lớn mạnh.
Ngày 24 tháng 2 năm 1997, thành lập phường Quang Trung từ một phần phường Minh Khai và chuyển các xã Hồng Châu, Lam Sơn, Hiến Nam thành các phường có tên tương ứng.
Ngày 23 tháng 9 năm 2003, các xã Trung Nghĩa, Liên Phương, Hồng Nam, Quảng Châu thuộc huyện Tiên Lữ và xã Bảo Khê thuộc huyện Kim Động được sáp nhập vào thị xã Hưng Yên; cũng từ đó thành lập phường An Tảo từ một phần phường Hiến Nam.
Ngày 17 tháng 7 năm 2007, thị xã Hưng Yên được Bộ Xây dựng công nhận là đô thị loại III theo quyết định 1012/QĐ-BXD.
Ngày 19 tháng 1 năm 2009, thủ tướng chính phủ Nguyễn Tấn Dũng đã ra Nghị định 04/NĐ - CP nâng cấp thị xã Hưng Yên lên thành thành phố Hưng Yên, mở ra một thời kỳ phát triển mới cho thành phố Hưng Yên. Đồng thời thành phố Hưng Yên cũng được phong tặng danh hiệu "Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân".
Thành phố Hưng Yên còn được gọi là Phố Hiến.
Ngày 6 tháng 8 năm 2013, thành phố Hưng Yên được mở rộng thêm trên cơ sở tách 2 xã: Hùng Cường, Phú Cường thuộc huyện Kim Động và 3 xã: Hoàng Hanh, Phương Chiểu, Tân Hưng thuộc huyện Tiên Lữ.
== Hành chính ==
Thành phố có:
7 phường: An Tảo, Hiến Nam, Hồng Châu, Lam Sơn, Lê Lợi, Minh Khai, Quang Trung.
10 xã: Bảo Khê, Hoàng Hanh, Hồng Nam, Hùng Cường, Liên Phương, Phú Cường, Phương Chiểu, Quảng Châu, Tân Hưng, Trung Nghĩa
Phố Hiến, thương cảng sầm uất của Việt Nam hồi thế kỷ 16 và 17, nằm trong thành phố Hưng Yên.
Thành phố Hưng Yên được tổ chức theo 4 khu vực chính.
Khu vực cần bảo tồn, tôn tạo (khu vực Phố Hiến)
Khu vực cần cải tạo chỉnh trang (khu phố cũ)
Khu vực xây dựng mới (khu đô thị mới)
Khu nhà vườn sinh thái (trồng cây nhãn truyền thống của tỉnh)
== Kinh tế ==
Những năm qua, tỉnh và thành phố Hưng Yên tăng cường đầu tư cải tạo hệ thống cơ sở hạ tầng như: giao thông, cầu cảng… Đặc biệt, sự kiện cầu Yên Lệnh, cầu Triều Dương nối hai bờ sông Hồng, sông Luộc được thông xe, tuyến quốc lộ 38, 39 được nâng cấp, cải tạo đã tạo mạch nối giao thông quan trọng giữa các tỉnh thành phố vùng kinh tế trọng điểm phía Bắc, giúp Hưng Yên nâng cao sức hút đầu tư. Đến nay, đã có 26 dự án công nghiệp, dịch vụ đầu tư vào địa bàn thành phố, nhiều doanh nghiệp đã không ngừng đầu tư mở rộng sản xuất, đổi mới thiết bị, công nghệ, hoạt động sản xuất, kinh doanh đạt hiệu quả khá như: Công ty cổ phần may Hưng Yên, Công ty may Phố Hiến… Giá trị sản xuất công nghiệp - xây dựng năm 2012 trên 1.584,9 tỷ đồng. Năm 2008, giá trị thương mại - dịch vụ đạt 1.455 tỷ đồng, đến năm 2012, giá trị thương mại - dịch vụ: 3.120 tỷ đồng. tổng mức bán lẻ, doanh thu dịch vụ đạt 693 tỷ đồng..
== Giao thông ==
Hoạt động vận tải hàng năm phục vụ cho trên 3,5 triệu lượt khách, gần 800 nghìn tấn hàng hoá, doanh thu vận tải năm 2008 đạt gần 82 tỷ đồng..
Hưng Yên được kết nối với các tỉnh, thành khác qua các quốc lộ:
Quốc lộ 38A: Bắc Ninh - Hải Dương (Huyện Cẩm Giàng) - Hưng Yên - Hà Nam (Huyện Kim Bảng).
Quốc lộ 38B: Hải Dương - Hưng Yên - Ninh Bình.
Quốc lộ 39A: Hưng Yên - Phố Nối (Quốc lộ 5A).
Quốc lộ 39B: Hưng Yên - Thái Bình (Huyện Thái Thụy).
Một số tuyến xe bus chạy qua địa bàn Hưng Yên:
Tuyến 205: Bến xe Gia Lâm - Hưng Yên.
Tuyến 207: Bến xe Gia Lâm - Bến xe Triều Dương.
Tuyến 206: Bến xe Giáp Bát - Phủ Lý.
Tuyến 208: Hưng Yên - Bến xe Giáp Bát.
Tuyến 209: Bến xe Giáp Bát - Hưng Yên.
Tuyến 216: Hải Dương - Ân Thi - Hưng Yên.
Tuyến 08: Bến xe Quế - Kim Bảng - Phủ Lý - Hưng Yên.
Tuyến 02: Hưng Yên - Văn Giang - Như Quỳnh.
Cầu Yên Lệnh
Thành phố còn có cầu Yên Lệnh, đây là cây cầu bê-tông lớn nhất được bắc qua sông Hồng, nối 2 tỉnh Hưng Yên và Hà Nam. Cầu nằm trên quốc lộ 38 và có chiều dài hơn 2,2 km, trong đó, phần cầu chính dài gần 900m, đường dẫn dài hơn 1.300m, tổng mức đầu tư 338,3 tỉ đồng. Cầu cũng là công trình đầu tiên ở phía Bắc áp dụng phương thức đầu tư BOT (xây dựng - kinh doanh - chuyển giao) nhằm huy động nguồn vốn ngoài ngân sách Nhà nước phục vụ phát triển hạ tầng giao thông, giúp giải quyết tình trạng khó khăn trong ngân sách Nhà nước. Cầu Yên Lệnh khi hoàn thành đã tạo nhiều dấu ấn đặc biệt. Đó là các phương tiện giao thông có thể đi thẳng từ Hải Phòng, Quảng Ninh tới quốc lộ 1 để vào Nam và ngược lại mà không phải qua Hà Nội. Điều này không chỉ tạo thuận lợi cho phương tiện mà còn giúp giảm ách tắc giao thông cho thủ đô. Bên cạnh đó, cây cầu tạo thuận lợi hơn cho hai tỉnh Hà Nam và Hưng Yên phát triển kinh tế xã hội, nhất là thu hút vốn đầu tư vào các khu công nghiệp trên địa bàn.
== Y tế ==
Hiện nay thành phố có Bệnh viện Đa khoa Hưng Yên, Bệnh viện Sản nhi Hưng Yên, Bệnh viện Lao Hưng Yên, Bệnh viện tư nhân Hưng Hà, Bệnh viện tư nhân Việt Pháp,... phục vụ khám chữa bệnh cho dân thành phố cũng như dân trong tỉnh và các tỉnh lân cận.
== Giáo dục ==
Trên địa bàn TP. Hưng Yên có các trường: Cao đẳng Sư phạm Hưng Yên, Đại học Chu Văn An,Trung cấp Nghệ thuật Hưng Yên, Trung cấp Công nghiệp Hưng Yên,Trung cấp GTVT Hưng Yên... Đây cũng là nơi đào tào các kỹ sư,cử nhân, công nhân có tay nghề cao cần thiết cho sự phát triển của Hưng Yên nói riêng và cả nước nói chung.
Hiện thành phố đang xúc tiến đầu tư xây dựng khu đô thị Đại học Phố Hiến với quy mô 1000 ha.
== Du lịch ==
Tiềm năng dịch vụ du lịch cũng ngày càng được các doanh nghiệp khai thác hiệu quả. Thành phố hiện có 6 doanh nghiệp hoạt động trên lĩnh vực khách sạn, nhà hàng, nhiều dự án có giá trị đầu tư lớn như: Trung tâm hội nghị quốc tế Sơn nam Plaza, khách sạn Phố Hiến, khách sạn Thái Bình…. Cùng với quần thể di tích Phố Hiến với 128 di tích, lễ hội văn hoá dân gian Phố Hiến đang được khôi phục, tôn tạo, thu hút du khách đến với hoạt động du lịch tâm linh. Hàng năm thành phố đón hàng triệu lượt khách trong và ngoài nước, doanh thu khách sạn, nhà hàng và dịch vụ du lịch đạt trên 100 tỷ đồng.
Nhà hát Chèo Hưng Yên là đơn vị nghệ thuật chèo chuyên nghiệp, nơi lưu giữ bảo tồn những giá trị văn hóa tiêu biểu của phố Hiến.
Để tạo nên những điểm nhấn phát triển thương mại dịch vụ, lưu giữ, phát huy những bản sắc của thành phố vốn hưng thịnh, yên bình, các cấp, ngành của tỉnh đang chung tay đầu tư tôn tạo quần thể di tích Phố Hiến, cảng đón khách và đặc biệt là khu chợ Phố Hiến. Hiện thành phố đang xúc tiến đầu tư xây dựng khu đô thị Đại học Phố Hiến và trung tâm dịch vụ thương mại tổng hợp, khu mua sắm, nghỉ dưỡng, chăm sóc sức khoẻ bằng những sản vật vốn có của Hưng Yên..
Một số đặc sản của thành phố Hưng Yên là nhãn lồng, mật ong, long nhãn, hạt sen, bún thang
== Xem thêm ==
Phố Hiến
Quần thể di tích Phố Hiến
== Chú thích ==
== Liên kết ngoài ==
Báo Hưng Yên
Cổng thông tin điện tử thành phố Hưng Yên |
quần đảo cayman.txt | Quần đảo Cayman thuộc lãnh thổ hải ngoại của Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland, nằm ở phía Tây vùng biển Caribe, bao gồm 3 đảo: Grand Cayman, Cayman Brac và đảo Little Cayman. Với điều kiện tự nhiên thuận lợi (nước biển sâu, thắng cảnh đẹp...), nơi đây đang là điểm đến hấp dẫn cho những khách du lịch đam mê môn thể thao lặn biển.
Ngày nay, Cayman còn được biết đến như một trung tâm dịch vụ tài chính xa bờ toàn cầu; một trung tâm tài chính của quần đảo Caribe
== Lịch sử hình thành ==
Ngày 10 tháng 05 1503, Christopher Columbus quan sát thấy quần đảo Cayman trong chuyến hành trình thứ tư của mình đi tìm Tân thế giới, và ông đặt tên cho quần đảo vừa nhìn thấy được là Las Tortugas theo tên loài rùa biển địa phương. Theo ghi nhận, người đầu tiên đặt chân lên đảo là Phó Đô đốc người Anh Francis Drake năm 1586. Cái tên Cayman chính thức có từ đây (Cayman có cách đọc gần giống Caiman - dùng để chỉ loài cá sấu Nam Mỹ sống ở các quốc gia vùng Caribe và đảo Taino (Zayas, 1914).
== Xem thêm ==
en:The Scout Association of the Cayman Islands
en:Cayman Islands national football team
en:X107.1 Radio Station in Grand Cayman, Cayman Islands
en:Cayman Diving Lodge, Cayman's First and Only Green Resort
== Chú thích ==
== Tham khảo ==
“Cayman Islands”. 2005 CIA World Factbook. Originally from the CIA World Factbook 2000.
“Non-Self-Governing Territories listed by General Assembly in 2002”. United Nations Special Committee of 24 on Decolonization.
Michael Craton and the New History Committee (2003). Founded upon the Seas: A History of the Cayman Islands and Their People. Ian Randle Publishers, Kingston, Jamaica. ISBN 0-9729358-3-5.
Roberts, H. H. (1994). Reefs and lagoons of Grand Cayman (in "Monographiae biologicae", ed. Brunt, MA and Davies, JE). Kluwer Academic Publishers, Boston, MA. ISBN 0-7923-2462-5.
Alfredo Zayas y Alfonso, (1914). Lexografía Antillana. El Siglo XX Press, La Habana.
== Liên kết ngoài ==
Cayman Islands Government
Cayman Islands Financial Services
Virtual Tour of the Cayman Islands
Bản mẫu:Chú thích 43web |
nottingham.txt | Nottingham là một thành phố, unitary authority, và thị xã cấp hạt của Nottinghamshire ở East Midlands của Anh. Trung tâm của Nottingham nằm ở bên sông Leen và giáp giới phía Nam của thành phố theo dòng sông Trent, một con sông chảy từ Stoke đến Humber. Theo điều tra dân số năm 2001, Nottingham có dân số ước tính 275.100 người và ước tăng lên 278.700 năm 2005. Vùng đô thị Nottingham (bao gồm các vùng ngoại ô xung quanh thành phố như Arnold, Carlton, West Bridgford và các thị xã lân cận) có dân số 666.358 (2001). Nottingham là một thành viên của Nhóm các thành phố cốt lõi Anh.
Trung tâm của Nottingham là Quảng trường Chợ Cũ, nơi các khu vực tái phát triển đã được hoàn thành tháng 3 năm 2007. Phần lớn các phố mua sắm chính bao quanh khu quảng trường này.
== Lịch sử ==
== Chính trị ==
== Địa lý ==
== Kiến trúc ==
== Giáo dục ==
== Văn hóa ==
== Thể thao ==
== Văn hóa ==
== Dân số ==
== Thành phố kết nghĩa ==
Ljubljana, Slovenia (1963)
Minsk, Belarus (1966)
Karlsruhe, Đức (1969)
Harare, Zimbabwe (1981)
Gent, Bỉ (1985)
Ninh Ba, Trung Quốc (2005)
Timişoara, România (2008)
Krasnodar, Nga (2012)
== Tham khảo == |
istanbul.txt | Istanbul ( /ˌɪstænˈbuːl/ hoặc /ˌiːstɑːnˈbuːl/; tiếng Thổ Nhĩ Kỳ: İstanbul [isˈtanbuɫ] ( nghe)), là thành phố lớn nhất, đồng thời là trung tâm kinh tế, văn hóa và lịch sử của Thổ Nhĩ Kỳ. Với dân số hơn 14 triệu người (2014), Istanbul là một trong số các vùng đô thị lớn nhất châu Âu và xếp vào một trong những thành phố đông dân nhất thế giới xét về dân cư trong địa phận thành phố. Istanbul là một thành phố liên lục địa, bắc ngang qua eo biển Bosphorus - một trong những tuyến đường biển nhộn nhịp nhất thế giới - ở tây bắc Thổ Nhĩ Kỳ, nối biển Marmara và biển Đen. Trung tâm lịch sử và thương mại của Istanbul nằm ở phần thuộc châu Âu, và chỉ có 1/3 dân số cư trú ở phần thuộc châu Á.
Kiến tạo trên mũi đất Sarayburnu khoảng năm 660 trước Công nguyên với tên gọi Byzantium, thành phố mà nay được gọi là Istanbul đã phát triển trở thành một trong những đô thành huy hoàng nhất trong lịch sử. Trong gần mười sáu thế kỉ sau sự tái thiết thành Constantinopolis năm 330 Công nguyên, nó từng là kinh đô của bốn đế quốc: Đế quốc La Mã (330-395); Đế quốc Byzantine (395-1204 và 1261-1453), Đế quốc Latin (1204-1261) và Đế quốc Ottoman (1453-1922). Thành phố đã đóng vai trò quan trọng trong sự lớn mạnh của Cơ đốc giáo dưới các thời đại La Mã và Byzantine, trước khi người Ottoman chinh phục vào năm 1453 và biến nó thành một pháo đài Hồi giáo, nơi trị vì của triều đại khalip cuối cùng. Mặc dù Cộng hòa Thổ Nhĩ Kỳ đã chọn Ankara làm thủ đô của mình, ngày nay những cung điện và thánh đường vẫn ngự trên các ngọn đồi của Istanbul như để nhắc nhở về vai trò trung tâm trước đây của thành phố.
Vị trí chiến lược của Istanbul nằm trên Con đường tơ lụa, các mạng lưới đường sắt tới châu Âu và Trung Đông, và tuyến hải lộ duy nhất giữa biển Đen và Địa Trung Hải đã giúp phát triển lượng dân số hỗn tạp , mặc dầu ít nhiều suy giảm kể từ khi nền Cộng hòa thiết lập năm 1923. Mặc dù bị coi nhẹ do không còn là thủ đô trong thời kì giữa hai cuộc Thế chiến, song về sau thành phố đã dần lấy lại phần lớn vị thế của nó. Dân số thành phố đã tăng mười lần kể từ những năm 1950, phần lớn do dòng người nhập cư vượt qua miền Anatolia tập trung lại siêu đô thị này và quy mô thành phố mở rộng ra để dành cho họ. Các lễ hội nghệ thuật được hình thành vào cuối thế kỷ 20, trong khi sự cải thiện cơ sở hạ tầng tạo nên một mạng lưới giao thông dày đặc.
Bảy triệu du khách nước ngoài đến Istanbul năm 2010, khi thành phố nhận danh hiệu Thủ đô Văn hóa châu Âu, đưa thành phố này trở thành điểm đến du lịch thu hút khách nhiều thứ mười trên thế giới. Sức hút lớn nhất của thành phố nằm ở khu phố lịch sử, đượcUNESCO xếp hạng là Di sản thế giới, tuy nhiên trung tâm văn hóa và giải trí của nó nằm vắt qua cảng tự nhiên của thành phố, cảng Sừng Vàng ở quận Beyoğlu. Được xem là một thành phố toàn cầu, Istanbul là nơi đóng trụ sở của rất nhiều công ty cũng như cơ quan truyền thông Thổ Nhĩ Kỳ, và chiếm hơn một phần tư tổng sản phẩm nội địa của đất nước này. Hy vọng tận dụng sự hồi sinh và phát triển nhanh chóng của mình, Istanbul cũng đã tích cực chạy đua giành quyền đăng cai Thế vận hội Mùa hè 2020, nhưng thất bại trước Tokyo.
== Nguồn gốc tên gọi ==
Tên đầu tiên được biết tới của thành phố là Byzantium (tiếng Hy Lạp: Βυζάντιον, Byzántion), bắt nguồn từ tên một vị vua là Byzas, người trị vì thuộc địa mà được thành lập nơi đây từ khoảng 660 năm trước Công nguyên. Sau khi Constantinus Đại đế đặt đế đô phương đông của Đế quốc La Mã ở đây năm 330 Công nguyên, thành phố được biết đến rộng rãi dưới tên Constantinopolis hay Constantinopolis, dạng latin hóa của "Κωνσταντινούπολις" (Kōnstantinoúpolis), nghĩa là "thành phố của Constantinus". Bản thân vị hoàng đế này đề xướng tên gọi Nea Roma ("Rome Mới"), nhưng không được sử dụng rộng rãi. Tên Constantinopolis tiếp tục là tên gọi phổ biến nhất của thành phố ở phương Tây cho đến khi Cộng hòa Thổ Nhĩ Kỳ ra đời, và từ tương ứng trong tiếng Thổ Ottoman, Kostantiniyye (قسطنطينيه) là tên chính mà người Ottoman sử dụng trong thời cai trị của mình. Tuy nhiên, hiện nay người Thổ Nhĩ Kỳ coi việc dùng từ Constantinopolis để nhắc tới thành phố trong thời kỳ Ottoman (từ giữa thế kỉ 15) là sai về mặt chính trị, nếu không nói là sai về mặt lịch sử.
Tới thế kỉ 19, người ngoại quốc và người Thổ Nhĩ Kỳ gọi thành phố này bằng nhiều tên khác nhau. Người châu Âu dùng từ Constantinopolis để nói tới toàn thành phố, nhưng dùng tên Stamboul - và người Thổ Nhĩ Kỳ cũng làm vậy - để mô tả vùng bán đảo có tường thành bao bọc giữa Sừng Vàng và biển Marmara. Pera (từ tiếng Hy Lạp, nghĩa là "bắc ngang qua") dùng để miêu tả khu vực giữa Sừng Vàng và biển Bosphorus, nhưng người Thổ Nhĩ Kỳ lại gọi khu vực này bằng tên Beyoğlu cho tới tận ngày nay. Islambol (nghĩa là "thành phố Hồi giáo" hay "toàn Hồi giáo") đôi khi được dùng một cách thông tục để chỉ thành phố, và thậm chí được khắc trên một số đồng xu Ottoman nhưng niềm tin rằng nó là tiền thân của tên hiện tại, Istanbul bị chứng tỏ là sai bởi trên thực tế, tên Istanbul đã tồn tại trước tên kia và thậm chí trước cả khi người Ottoman và Hồi giáo xâm lược thành phố.
Về mặt từ nguyên, tên İstanbul (isˈtanbuɫ, hay trong cách nói thông dụng là ɯsˈtambuɫ) bắt nguồn từ cụm từ tiếng Hy Lạp Trung Cổ "εἰς τὴν Πόλιν" (is tin ˈpolin), có nghĩa là "trong thành phố" hoặc "tới thành phố". Điều này phản ánh vị thế của nó như là thành phố lớn duy nhất trong vùng xung quanh, giống như cách mà người ta ngày nay vẫn thường gọi trung tâm đô thị ở gần họ là "Thành phố" (mà không cần nhắc tới tên). Một quan điểm khác là tên này nảy sinh trực tiếp từ tên Constantinopolis với các âm tiết đầu và âm tiết thứ ba bị lược bớt đi. Trong tiếng Thổ Nhĩ Kỳ hiện đại, tên này được viết là İstanbul, có một chữ İ chấm trên, do bảng chữ cái Thổ Nhĩ Kỳ phân biệt chữ I có chấm và không chấm. Ngoài ra, nếu trong một số ngôn ngữ châu Âu khác như tiếng Anh trọng âm rơi vào âm tiết đầu (Is), thì trong tiếng Thổ Nhĩ Kỳ nó nằm ở âm tiết thứ nhì (tan). Năm 1930, nhà nước Thổ Nhĩ Kỳ đã quy định İstanbul là tên gọi duy nhất của thành phố. Một người từ thành phố này trong tiếng Thổ Nhĩ Kỳ gọi là İstanbullu (số nhiều: İstanbullular), còn trong tiếng Anh là Istanbulite.
== Lịch sử ==
Các vật tạo tác thời Đá mới, có niên đại thiên niên kỉ thứ 7 trước Công nguyên và được các nhà khảo cổ khai quật vào đầu thế kỉ 21 đã chỉ ra rằng bán đảo lịch sử Istanbul đã từng được khai phá sớm hơn so với trước đây người ta tưởng và thậm chí trước cả khi eo Bosphorus hình thành. Trước khám phá này, hiểu biết thông thường cho rằng các bộ lạc người Thrace, bao gồm người Phrygia, bắt đầu định cư ở Sarayburnu vào cuối thiên niên kỉ thứ 6 trước CN. Ở bờ châu Á, các vật tạo tác bắt nguồn từ khoảng thiên niên kỉ thứ 4 trước CN đã tìm thấy ở Fikirtepe (thuộc quận Kadıköy). Nơi này cũng từng là địa điểm của một trạm buôn bán của người Phoenicia ở đầu thiên niên kỷ thứ nhất trước CN cũng như thị trấnChalcedon thành lập vào khoảng năm 680 tr.CN.
Tuy nhiên, lịch sử của Istanbul thông thường được ghi nhận từ khoảng 660 tr.CN, khi những người dân di thực từ Megara, dưới sự chỉ huy của Vua Byzas, lập nên thành bang thuộc địa Byzantium ở bờ châu Âu của eo Bosphorus. Họ đã xây mộtvệ thành gần kề Sừng Vàng ở vị trí nơi người Thrace khai phá trước kia, nhen nhóm cho nền kinh tế mới nảy nở của thành phố. Thành bang này đã trải qua một thời kì ngắn dưới nền cai trị của Ba Tư cuối thế kỉ 5 trước CN, nhưng người Hy Lạp đã sớm chiếm lại nó trong Chiến tranh Hy Lạp-Ba Tư. Byzantium tiếp tục tham gia vào Liên minh Athena và sau đó là Liên bang Athena lần thứ hai, trước khi giành được độc lập hoàn toàn vào năm 355 tr.CN. Sau một thời gian dài kết đồng minh với người La Mã, Byzantium chính thức trở thành một phần của Đế quốc La Mã vào năm 73 Công nguyên.
Quyết định của Byzantium về phe với người thoán ngôi Pescennius Niger chống lại Hoàng đế La Mã Septimius Severus đã khiến Byzantium phải trả một giá rất đắt; khi Byzantium đầu hàng vào năm 195, hai năm vây hãm đã làm cho thành phố trở nên đổ nát. Tuy vậy, năm năm sau, Severus bắt đầu tái dựng Byzantium, và thành phố đã giành lại - và theo một số ghi chép còn vượt qua - sự thịnh vượng trước kia của nó.
=== Sự hưng thịnh và suy vong của Constantinopolis ===
Constantinus Đại đế thành công trong việc giành ngôi hoàng đế của toàn Đế quốc La Mã vào tháng 9 năm 324. Hai tháng sau, Constantinus triển khai những quy hoạch một thành phố mới, theo Cơ đốc giáo để thay cho Byzantium. Là đế đô phương đông của đế quốc, thành phố được đặt tên là Nea Roma ("Roma mới"); tuy nhiên, thường được gọi đơn giản là Constantinopolis, một cái tên tồn tại tới thế kỉ 20. Sáu năm sau, vào ngày 11 tháng 5 năm 330, Constantinopolis trở thành kinh đô của một đế quốc mà về sau được biết đến với tên Đế quốc Byzantine hay Đế quốc Đông La Mã.
Việc xây dựng thành Constantinopolis được cho là một trong những thành tựu tồn tại vững bền nhất của Constantinus, làm dịch chuyển trọng tâm quyền lực của La Mã về phía đông khi thành phố này trở thành trung tâm của văn hóa Hy Lạp và của đạo Cơ đốc. Nhiều nhà thờ đã được xây dựng ở thành phố, bao gồm Hagia Sophia - từng là nhà thờ Cơ đốc giáo lớn nhất thế giới trong hơn một ngàn năm. Một đổi thay chủ chốt khác dưới thời Constantinus là sự cách tân và mở rộng Trường đua xe ngựa Constantinopolis; cho phép hàng vạn khán giả tham dự, trường đua này đã trở thành trung tâm trong đời sống công cộng cũng như, trong các thế kỷ 5 và 6, tâm chấn của các cuộc bạo động, bao gồm Vụ bạo loạn Nika. Nơi xây dựng Constantinopolis cũng đảm bảo sự tồn tại của nó đứng vững trước những thử thách của thời gian; trong nhiều thế kỉ, những bức tường thành và đê biển của thành phố đã bảo vệ châu Âu khỏi những đạo quân xâm lược từ phương Đông và sự trỗi dậy của Hồi giáo. Trong hầu hết thời Trung Cổ tức nửa sau của kỷ nguyên Byzantine, Constantinopolis từng là thành phố lớn nhất và giàu có nhất trên lục địa châu Âu và có những thời kỳ là đô thành lớn nhất thế giới.
Constantinopolis bắt đầu suy yếu sau cuộc Thập tự chinh thứ tư, trong đó nó đã bị cướp bóc và đốt phá. Sau đó thành phố trở thành trung tâm của Đế quốc Latin do quân đội thập tự chinh theo Công giáo lập nên để thay thế cho Đế quốc Byzantine Chính thống giáo. Tuy nhiên, Đế quốc Latin chỉ tồn tại trong khoảng thời gian ngắn ngủi, và Đế quốc Byzantine được phục hồi vào năm 1261, nhưng đã suy yếu nhiều. Các giáo đường, công sự, và các dịch vụ cơ bản trong tình trạng không được tu sửa còn dân cư thành phố tụt xuống còn một trăm ngàn từ con số nửa triệu ở thế kỉ 8.
Hoàng đế Andronikos II Palaiologos lên ngôi năm 1282 đã ban hành nhiều chính sách kinh tế và quân sự sai lầm, như giảm bớt lực lượng quân đội, càng làm đế chế suy yếu đi, mất khả năng kháng cự xâm lược. Vào giữa thế kỉ 14, người Thổ Ottoman bắt đầu một chiến lược chiếm đóng dần dần những thành phố, thị trấn nhỏ hơn xung quanh, cắt đứt các tuyến đường cung yếu cho Constantinopolis và bóp nghẹt nó một cách chậm rãi. Cuối cùng, vào ngày 29 tháng 5 năm 1453, sau một cuộc bao vây kéo dài chín tuần (trong đó Hoàng đế La Mã cuối cùng, Constantine XI Palaiologos bị giết), Sultan Mehmed II "Nhà chinh phục" đã chiếm được Constantinopolis và tuyênha bố thành phố này là kinh đô mới của Đế quốc Ottoman. Ít giờ sau đó, vị sultan cưỡi ngựa tới Hagia Sophia và triệu tập một thầy tế (imam) để tuyên cáo tín ngưỡng Hồi giáo, chuyển đổi nhà thờ Kitô giáo vĩ đại này thành một thánh đường Hồi giáo của đế quốc do trước đó kinh thành này đã từ chối đầu hàng..
=== Kỷ nguyên Ottoman và Thổ Nhĩ Kỳ ===
Sau khi Constantinopolis thất thủ, Mehmed II ngay lập tức tiến hành phục sinh thành phố, mà từ đó thường được gọi với tên Istanbul. Ông khuyến khích những người dân chạy nạn trong cuộc vây hãm trở về, và cưỡng bức tái định cư những người Hồi giáo, Do Thái và Kitô giáo từ những miền khác của Anatolia. Vị sultan này mời gọi cư dân từ khắp châu Âu tới kinh đô của ông, tạo nên một xã hội toàn cầu tồn tại trong phần lớn thời kỳ Ottoman. Bên cạnh đó, Mehmed II đã cho sửa chữa cơ sở hạ tầng bị hư hại của thành phố, bắt đầu xây Kapali Carsi (Chợ Lớn) và Cung điện Topkapı, dinh cơ chính thức của hoàng gia.
Người Ottoman đã nhanh chóng biến đổi thành phố từ một thành lũy Cơ đốc giáo trở thành một biểu tượng của văn hóa Hồi giáo. Các quỹ tôn giáo được thành lập để quyên tiền cho việc xây cất các thánh đường Hồi giáo vĩ đại, thường nằm tiếp giáp với các trường học, bệnh viện và nhà tắm công cộng. Triều đại Ottoman tự tuyên bố là một triều đại khalip vào năm 1517, với Istanbul là kinh đô của triều đại khalip cuối cùng trong lịch sử này hơn bốn thế kỉ sau đó. Thời kỳ chấp chính củaSuleiman Đại đế từ 1520 tới 1566 là đỉnh cao của nhà nước Ottoman, đồng thời là kỷ nguyên hoàng kim của các thành tựu nghệ thuật và kiến trúc vĩ đại; kiến trúc sư trưởng Mimar Sinan đã thiết kế một loạt những công trình có tính biểu tượng của thành phố, trong khi nghệ thuật làm gốm, thư pháp và tranh tiểu họa nở rộ. Dân số của Istanbul tiếp tục tăng, lên tới 570 nghìn người vào cuối thế kỉ 18.
Một thời kì hỗn loạn đầu thế kỉ 19 đã dẫn tới sự xuất hiện của vị Sultan tiến bộ Mahmud II và sau đó là thời kỳ Tanzimat với một loạt các cải cách chính trị và đưa những công nghệ mới vào thành phố. Các cây cầu bắc qua Sừng Vàng được xây dựng chính trong thời kỳ này, và Istanbul được kết nối với mạng lưới đường sắt châu Âu vào những năm 1880. Các dịch vụ hiện đại, như hệ thống nước ổn định, điện lưới, điện thoại rồi xe điện lần lượt xuất hiện ở Istanbul trong những thập kỉ sau đó, mặc dù muộn hơn so với một số thành phố châu Âu khác. Dù vậy, những nỗ lực hiện đại hóa đã không đủ để đẩy lùi sự suy tàn của Đế chế Ottoman.
Đầu thế kỷ 20, cuộc Cách mạng Thổ Nhĩ Kỳ Trẻ (1908) đã loại bỏ Sultan Abdul Hamid II và một loạt các cuộc chiến tranh sau đó đã gieo tai họa cho thủ đô của một đế quốc kiệt quệ. Cuộc chiến cuối cùng trong số đó, Chiến tranh thế giới thứ nhất, đã dẫn đến việc quân đội Anh, Pháp, Ý chiếm đóng Istanbul (1918-1923). Vị Sultan cuối cùng, Mehmed VI, bị lưu đày vào tháng 11 năm 1922; năm kế đó, Hiệp ước Lausanne đã chấm dứt sự chiếm đóng và thừa nhận nhà nước Cộng hòa Thổ Nhĩ Kỳ, do Mustafa Kemal Atatürk sáng lập.
Trong những năm đầu của nền cộng hòa, mối quan tâm của chính quyền cho Istanbul được chuyển sang Ankara, thành phố được chọn làm thủ đô mới để tách đất nước thế tục mới khỏi quá khứ Ottoman của nó. Tuy nhiên, bắt đầu từ cuối thập niên 1940 và đầu 1950, Istanbul đã trải qua những biến đổi to lớn về cấu trúc đô thị, như những quảng trường công cộng, đại lộ mới được xây dựng khắp thành phố, đôi khi làm tổn hại tới các công trình lịch sử. Dân số Istanbul bắt đầu tăng nhanh trong những năm 1970, khi người dân từ Anatolia di cư tới thành phố để kiếm việc làm trong nhiều nhà máy mới xuất hiện ở vùng ngoại ô của một thành phố đang vươn lên. Sự nhảy vọt đột ngột về dân số tạo nên nhu cầu lớn về phát triển nhà ở, và nhiều ngôi làng và khu rừng hẻo lánh trước kia đã được sáp nhập vào vùng đô thị Istanbul.
== Địa lý ==
=== Vị trí ===
Istanbul bao nằm ở tây bắc Thổ Nhĩ Kỳ với trong vùng Marmara với tổng diện tích 5343 km2. Eo biển Bosphorus kết nối biển Marmara với biển Đen chia thành phố làm hai nửa, một thuộc miền Thrace thuộc châu Âu và là trung tâm văn hóa và lịch sử, và một nửa thuộc miền Anatolia thuộc châu Á. Trên bộ, thành phố giáp với các tỉnh và thành phố lân cận là Tekirdağ về phía tây, Kocaeli về phía đông.
Thành phố cũng chia cắt theo Sừng Vàng, một cảng tự nhiên bao bọc bán đảo nơi các đô thị Byzantium và Constantinopolis xưa kia được thành lập. Nơi gặp nhau của Biển Marmara, Bosphorus và Sừng Vàng ở trung tâm của Istanbul ngày nay đã đẩy lui các đạo quân xâm lược trong hàng ngàn năm và ngày nay vẫn là một nét nổi bật của cảnh quan thành phố.
Phỏng theo mô hình của Rome, bán đảo lịch sử được cho là dựng trên bảy ngọn đồi, mỗi ngọn có một thánh đường ngự trên đỉnh. Ngọn đồi vươn xa về phía đông nhất là vị trí của Cung điện Topkapı trên ngọn Sarayburnu. Nhô lên ở phía đối diện Sừng Vàng là một ngọn đồi khác có hình nón, nơi có quận Beyoğlu hiện đại. Do địa thế, các ngôi nhà ở đây từng được xây dựng với sự gia cố của các bức tường kè xếp bậc thang, và các con đường xếp bậc. Üsküdar ở phía châu Á cũng có các đặc điểm đồi gò tương tự, với địa hình mở rộng dần về phía bờ biển Bosphorus, nhưng địa thế ở Şemsipaşa và Ayazma dốc hơn nhiều, giống như một mũi đất. Điểm cao nhất ở Istanbul là đồi Çamlıca, với độ cao tuyệt đối 288m.
Istanbul nằm gần đứt gãy Bắc Anatolia, cạnh ranh giới giữa các mảng châu Phi và Á-Âu. Đới đứt gãy này chạy từ miền bắc Anatolia đến biển Marmara, đã gây nên các trận động đất lớn gây thiệt hại nhiều nhân mạng trong suốt lịch sử của thành phố. Trong số đó, các trận địa chấn tàn phá nặng nề nhất phải kể đến như động đất Istanbul 1509 đã gây ra sóng thần làm phá vỡ các bức tường thành của thành phố và làm hơn 1 vạn người thiệt mạng. Gần đây trận động đất năm 1999 xảy ra với tâm chấn gần İzmit khiến 18 nghìn người chết, trong đó có 1 nghìn người sống ở ngoại ô Istanbul. Dân cư Istanbul vẫn lo ngại về những trận động đất thậm chí còn khủng khiếp hơn xảy ra trong tương lai gần, vì hàng nghìn tòa nhà được xây dựng gần đây để đáp ứng dân số gia tăng nhanh không được xây dựng đúng chuẩn mực. Các nhà địa chấn học dự đoán có nguy cơ một trận động đất độ lớn 7,6-thang độ lớn mômen hoặc lớn hơn có thể sẽ tấn công Istanbul năm 2030 với xác suất lớn hơn 60%.
=== Khí hậu ===
Istanbul là một thành phố sở hữu cùng lúc nhiều kiểu khí hậu: khí hậu cận nhiệt đới ẩm (Phân loại khí hậu Köppen: Cfa) và khí hậu Địa Trung Hải (Phân loại khí hậu Köppen: Csa). Tuy nhiên, do có diện tích rộng lớn, địa hình đa dạng, và nằm gần biển nên ở Istanbul tồn tại các miền vi khí hậu. Phần phía bắc của thành phố có khí hậu đại dương (Phân loại khí hậu Köppen: Cfb) do ảnh hưởng của hơi ẩm từ Biển Đen và mật độ lớp phủ thực vật tương đối cao. Khí hậu trong khu vực đông dân cư ở phía nam thì ấm hơn và ít bị ảnh hưởng của hơi ẩm.
Thực vậy, một trong những đặc điểm nổi bật nhất của khí hậu trong nhiều vùng của Istanbul là độ ẩm liên tục cao, đạt tới 80 phần trăm vào hầu như mọi buổi sáng. Do những điều kiện này mà sương mù rất phổ biến, mặc dù dày hơn ở phía bắc chứ không ở trung tâm. Hiện tượng sương mù dày đáng chú ý làm ngăn trở giao thông trong khu vực, bao gồm trên eo Bosphorus, xảy ra quanh năm trong các tháng mùa thu và mùa đông, khi độ ẩm vẫn duy trì cao tới buổi chiều. Điều kiện ẩm ướt và sương mù có xu hướng tiêu tan vào giữa ngày trong các tháng mùa hè, nhưng hơi ẩm còn sót lại có tác động khiến cho thời tiết tương đối nóng nực vào mùa hè thêm phần khó chịu. Trong mùa hè, nhiệt độ cao nhất dao động quanh 29 °C và không thường xuyên có mưa rào; chỉ có khoảng 15 ngày mưa đo được giữa tháng 6 và tháng 8.
Mùa đông ở Istanbul lạnh hơn hầu hết các thành phố khác trong miền Địa Trung Hải, với nhiệt độ xuống thấp nhất trung bình 4-5 °C. Tuyết do hiệu ứng hồ (gió lạnh cuốn hơi ấm trên mặt nước tạo tuyết ở bờ dưới gió) từ Biển Đen xuất hiện thường xuyên, nhưng khó dự đoán, với nguy cơ dày và - cùng với sương mù - gây thiệt hại cho cơ sở hạ tầng của thành phố. Mùa xuân và thu có thời tiết khá êm dịu, nhưng thường ẩm ướt và khó lường; gió lạnh từ phía tây bắc và những cơn gió ấm từ phía nam đôi khi xuất hiện trong cùng một ngày - có xu hướng khiến nhiệt độ dao động. Nhìn chung, hàng năm Istanbul có trung bình khoảng 115 ngày có mưa đáng kể, với lượng mưa 852 mm mỗi năm. Nhiệt độ cao nhất và thấp nhất từng ghi nhận được trong thành phố là 40,5 °C và -16,1 °C. Lượng mưa cao nhất trong ngày được ghi nhận là 227mm, trong khi lớp tuyết phủ dày nhất là 80 cm.
== Cảnh quan ==
Quận Fatih ứng với vùng từng là, cho tới trước cuộc chinh phục Ottoman, toàn bộ thành phố, vắt ngang qua nơi thành lũy Galata củaGenova từng hiện hữu. Những thành lũy Genoa đã bị hủy hoại phần lớn vào thế kỉ 19, chỉ còn lại Tháp Galata, nhường chỗ cho sự mở rộng về phía bắc của thành phố. Galata nay là một phần của quận Beyoğlu, trung tâm thương mại và giải trí của Istanbul xung quanh Quảng trường Taksim.
Cung điện Dolmabahçe, nơi đặt trụ sở chính quyền ở cuối thời Ottoman, nằm ở Beşiktaş, hướng chính bắc của Beyoğlu, qua Sân vận động BJK İnönü, sân nhà của câu lạc bộ thể thao lâu đời nhất của Thỗ Nhĩ Kỳ là Beşiktaş J.K.. Ngôi làng Ortaköy cũ nằm trong Beşiktaş là nguồn gốc của Thánh đường Hồi giáo Ortaköy, dọc theo Bosphorus ở đoạn gần Cầu Bosphorus thứ nhất. Nằm bên bờ Bosphorus về phía bắc nơi đó là các yallı, hay những tòa biệt thự bằng gỗ sang trọng xây bởi các quý tộc và giới thượng lưu thế kỉ 19 làm nơi ở mùa hè. Xa hơn vào đất liền, bên ngoài đường vành đai trong của thành phố là các quận Levent vàMaslak, các trung tâm kinh tế chính của Istanbul.
Dưới thời Ottoman, Üsküdar và Kadıköy nằm ngoài phạm vi đô thị Istanbul, đóng vai trò các tiền đồn yên tĩnh với những yalı và vườn bên bờ biển. Tuy nhiên, trong nửa sau thế kỉ 20, bờ châu Á chứng kiến sự đô thị hóa lớn lao; sự phát triển muộn của phần thành phố này đưa đến hạ tầng tốt hơn và quy hoạch đô thị sạch sẽ hơn so với hầu hết khu vực dân cư ở thành phố. Phần nhiều bờ châu Á của Bosphorus có chức năng như vùng ngoại ô của các trung tâm kinh tế và thương mại phần châu Âu, chiếm một phần ba dân cư thành phố nhưng chỉ một phần tư lao động. Như một hậu quả của sự phát triển chóng mặt trong thế kỉ 20, một phần đáng kể thành phố là gecekondu (nghĩa đen là "xây qua đêm"), chỉ những khu nhà lấn chiếm đất xây dựng bất hợp pháp. Hiện tại, một số khu như thế này đã bị phá dỡ dần dần và thay thế bằng những tổ hợp nhà ở quy mô lớn hiện đại.
Istanbul không có một công viên trung tâm giống như những thành phố lớn khác, thay vào đó có khá nhiều không gian xanh. Công viên Gülhane và Công viên Yıldız ban đầu nằm gọn trong khuôn viên của hai trong số các cung điện ở Istanbul - Cung điện Topkapı và Cung điện Yıldız - nhưng chúng được chuyển đổi mục đích thành các công viên công cộng trong những thập niên đầu của nền Cộng hòa. Một công viên khác, Fethi Paşa Korusu, nằm ở một vùng đồi gần cầu Bosphorus ở Anatolia, đối diện Cung điện Yıldız. Dọc theo bờ châu Âu, và gần với Cầu Fatih Sultan Mehmet là Công viên Emirgan; từng là một điền trang tư gia thuộc về các lãnh tụ Ottoman, công viên 47 hecta này nổi tiếng về sự đa dạng thực vật và lễ hội hoa tulip hàng năm kể từ 2005. Phổ biến với người Istanbul trong mùa hè là Rừng Belgrad, trải trên một diện tích 5500 hecta ở cạnh bắc của thành phố. Khu rừng vốn cung cấp nước cho thành phố và dấu vết của các bể chứa sử dụng dưới các thời Byzantine và Ottoman hiện vẫn còn.
=== Kiến trúc ===
Istanbul nổi tiếng chủ yếu với kiến trúc Byzantine và Ottoman, nhưng các công trình nơi đây còn phản ánh dấu ấn nhiều dân tộc và đế chế khác nhau từng cai trị thành phố này. Ví dụ của các kiến trúc Genoa và La Mã vẫn còn hiện hữu ở Istanbul bên cạnh các di tích Ottoman. Trong khi không còn lại gì trong kiến trúc thời Hy Lạp cổ điển còn tồn tại, kiến trúc La Mã cổ đại tỏ ra vững bền hơn. Các đài kỷ niệm từ Trường đua xe ngựa Constantinopolis vẫn còn thấy được trên Quảng trường Sultan Ahmet, trong khi một phần của đường dẫn nước trên cao Valens từ thế kỉ 4 vẫn duy trì tương đối nguyên vẹn ở góc phía tây của quận Fatih. Cột Constantinus dựng năm 330 để đánh dấu thành lập thủ đô La Mã mới vẫn còn đứng vững cách trường đua không xa.
Kiến trúc Byzantine sơ kỳ tuân theo hình mẫu La Mã về vòm cuốn, nhưng cải tiến yếu tố này như ở Nhà thờ Thánh Sergius và Bacchus. Nhà thờ Byzantine cổ nhất còn tồn tại-mặc dù đã hoang phế-là Tu viện Stoudios xây vào năm 454. Sau khi chiếm lại được Constantinopolis vào năm 1261, người Byzantine mở rộng hai trong số những nhà thờ quan trọng nhất còn tồn tại, Nhà thờ Chora và Nhà thờ Pammakaristos. Tuy nhiên, đỉnh cao của nghệ thuật kiến trúc Byzantine, và một trong những công trình có tính biểu tượng cho Istanbul, là Hagia Sophia. Với một mái vòm đường kính 31m, nó là nhà thờ Kitô giáo lớn nhất thế giới trong hơn 1000 năm, trước khi trở thành một thánh đường Hồi giáo, và hiện nay là một bảo tàng.
Trong số các ví dụ về kiến trúc Ottoman lâu đời nhất ở Istanbul còn tồn tại là các pháo đài Anadoluhisarı và Rumelihisarı, đã hỗ trợ quân Ottoman trong cuộc công chiếm thành phố. Trong hơn bốn thế kỉ sau đó, người Ottoman đã đóng một dấu ấn còn mãi lên đường chân trời ở Istanbul, xây dựng các thánh đường cao ngất và các cung điện lộng lẫy. Cung điện lớn nhất, Tokapı, kết hợp nhiều phong cách kiến trúc đa dạng, từ Baroque trong hậu cung hoàng gia tới Thư viện Enderûn theo phong cách Tân cổ điển. Các vương cung thánh đường bao gồmThánh đường Hồi giáo Sultan Ahmed (Thánh đường Xanh), Thánh đường Süleymaniye và Thánh đường Yeni, tất cả chúng đều được xây trong thời hoàng kim của Đế chế Ottoman, vào các thế kỉ 16 và 17. Trong các thế kỉ tiếp theo, và đặc biệt sau các cuộc cải cách Tanzimat, kiến trúc Ottoman nhường chỗ cho phong cách châu Âu. Khu vực xung quanh Đại lộ İstiklal lấp đầy với các công trình theo phong cách Tân cổ điển, Phục hưng và Art Nouveau, những thứ còn tiếp tục ảnh hưởng tới các công trình ở Beyoğlu-bao gồm các nhà thờ, cửa hiệu, rạp hát-và các tòa nhà chính quyền như Cung điện Dolmabahçe.
== Hành chính ==
Từ năm 2012, Istanbul là một trong 30 thành phố ở Thổ Nhĩ Kỳ được hưởng quy chế Thành phố tự trị (büyükşehir belediyeleri), có 2 hệ thống chính quyền song song:
Nghị viện tỉnh (Vilayet), đứng đầu bởi một Thống đốc (Vali) do chính quyền trung ương bổ nhiệm.
Hội đồng thành phố (Meclisi), đứng đầu bởi một Thị trưởng (Belediye Başkanı) do dân chúng bầu cử.
Nguồn gốc cấu trúc hành chính hiện tại của thành phố có thể lần ngược lên thời kỳ cải cách Tanzimat trong thế kỷ 19, còn trước đó các quan tòa Hồi giáo (gadi) và các thầy tu (imam) điều hành thành phố dưới sự bảo trợ của Tể tướng (Sadrazam hay Grand Vizier). Theo mô hình của các thành phố Pháp, hệ thống tôn giáo này đã được thay thế bởi thị trưởng và một hội đồng thành phố gồm đại diện các nhóm xưng tội (millet) trên khắp Istanbul. Beyoğlu là khu vực đầu tiên của thành phố có người lãnh đạo và hội đồng riêng của mình với các thành viên là các cư dân định cư lâu ở đó. Các luật được ban hành sau Hiến pháp Ottoman 1876 nhằm mở rộng cách tổ chức này trên toàn thành phố, bắt chước cơ cấu chính quyền các quận của Paris, nhưng chúng không được thực hiện hoàn chỉnh cho đến năm 1908, khi Istanbul được tuyên bố là một tỉnh có 9 quận trực thuộc. Hệ thống này tiếp tục phát triển sau khi nền Cộng hòa được thành lập, khi tỉnh này đổi thành một belediye (Khu tự trị), nhưng cơ cấu này bị giải thể năm 1957.
Các khu định cư nhỏ lân cận các trung tâm đông dân cư chính ở Thổ Nhĩ Kỳ, bao gồm Istanbul, đã sáp nhập vào các thành phố lớn vào đầu thập niên 1980, hình thành lên các khu tự trị đô thị (büyük şehir). Năm 1984, İstanbul cùng với Ankara và İzmir trở thành những thành phố tự trị đầu tiên của Thổ Nhĩ Kỳ. Từ năm 2004, Istanbul là một trong 2 thành phố ở Thổ Nhĩ Kỳ (cùng với İzmit) có ranh giới có địa phận trùng với tỉnh trực thuộc. Theo đó, thành phố là thủ phủ của tỉnh Istanbul, do Khu tự trị Đô thị Istanbul (tiếng Pháp:Municipalité Métropolitain d'Istanbul-MMI) quản lý với tổng số 39 quận.
Thể chế ra quyết định chính của Khu tự trị đô thị Istanbul là Hội đồng Thành phố với các thành viên chọn từ các hội đồng cấp quận. Hội đồng Thành phố chịu trách nhiệm cho các vấn đề toàn thành phố, bao gồm cả việc quản lý ngân sách, duy trì cơ sở hạ tầng dân sự và coi sóc các viện bảo tàng và các trung tâm văn hóa lớn. Kể từ khi chính quyền hoạt động theo cơ chế "thị trưởng quyền lực, hội đồng yếu", lãnh đạo của hội đồng-tức thị trưởng thành phố-có quyền đưa ra các quyết định nhanh chóng, thường dẫn đến thiếu sự minh bạch. Ủy ban Chấp hành Thành phố là cơ quan tư vấn cho Hội đồng Thành phố, nhưng cũng có ít nhiều quyền hạn ra quyết định của riêng mình. Tất cả các đại diện trong Uỷ ban đều do thị trưởng thành phố và Hội đồng chỉ định, và chính thị trưởng hoặc một ai do người này chọn lựa là người đứng đầu ủy ban.
Trong khi đó, các hội đồng quận chịu trách nhiệm chủ yếu về xử lý rác thải và các dự án xây dựng bên trong địa phận của quận. Các quận có ngân sách riêng, mặc dù thị trưởng thành phố có quyền xét duyệt lại các quyết định cấp quận. Một phần năm thành viên của các hội đồng quận, bao gồm quận trưởng, cũng đại diện cho quận của họ trong Hội đồng Thành phố. Tất cả các thành viên của hội đồng quận và Hội đồng Thành phố, bao gồm thị trưởng thành phố được bầu theo nhiệm kì 5 năm.
Với Khu tự trị đô thị Istanbul và Tỉnh Istanbul có phạm vi tài phán tương đương, chính quyền cấp tỉnh đảm đương ít trách nhiệm. Tương tự như MMI, Chính quyền Tỉnh đặc biệt Istanbul có một thống đốc, một thể chế ra quyết định được bầu cử dân chủ-Nghị viện Tỉnh-và một Ủy ban Chấp hành theo chỉ định. Phỏng theo cơ cấu ủy ban chấp hành cấp thành phố, Ủy ban Chấp hành Tỉnh có một tổng thư ký và các lãnh đạo của sở làm cố vấn Nghị viện Tỉnh. Chức trách của chính quyền tỉnh bị hạn chế nhiều, chỉ tập trung vào việc xây dựng và duy tu các trường học, khu dân cư, tòa nhà chính quyền, đường sá, khuyến khích nghệ thuật, văn hóa và bảo vệ thiên nhiên.
=== Các quận của Istanbul ===
Bờ châu Âu
Arnavutköy
Avcılar
Bağcılar
Bahçelievler
Bakırköy
Başakşehir
Bayrampaşa
Beşiktaş
Beylikdüzü
Beyoğlu
Büyükçekmece
Çatalca
Esenler
Esenyurt
Eyüp
Fatih
Gaziosmanpaşa
Güngören
Kâğıthane
Küçükçekmece
Sarıyer
Silivri
Sultangazi
Şişli
Zeytinburnu
Bờ châu Á
Adalar
Ataşehir
Beykoz
Çekmeköy
Kadıköy
Kartal
Maltepe
Pendik
Sancaktepe
Sultanbeyli
Şile
Tuzla
Ümraniye
Üsküdar
== Nhân khẩu học ==
Trong phần lớn chiều dài lịch sử của mình, Istanbul luôn xếp trong nhóm các thành phố lớn nhất trên thế giới. Đến năm 500, Constantinopolis có khoảng 400.000 đến 500.000 dân, nhích lên vượt qua Roma để trở thành thành phố lớn nhất thế giới. Constantinopolis cùng các thành phố lịch sử lớn khác như Baghdad và Trường An thay nhau giành vị trí thành phố đông dân nhất thế giới cho đến thế kỷ 13. Dù không bao giờ lấy lại vị trí số một thế giới nhưng Istanbul vẫn là thành phố lớn nhất châu Âu ít lâu sau sự sụp đổ của Constantinopolis cho đến đầu thế kỷ 19 khi thành phố bị Luân Đôn qua mặt. Ngày nay thành phố này vẫn là một trong các vùng quần cư đô thị đông đúc nhất châu Âu cùng với Moskva.
Viện Thống kê Thổ Nhĩ ước tính rằng đân số Istanbul là 13.483.052 người vào 31 tháng 12 năm 2011, khiến cho Istanbul là thành phố lớn nhất Thổ Nhĩ Kỳ, chiếm 18 phần trăm dân số quốc gia. Istanbul nằm trong số năm thành phố đông dân nhất thế giới - tuy nhiên với tư cách một vùng đô thị thì Istanbul chỉ xếp thứ 18 thế giới. Tốc độ gia tăng dân số hàng năm của thành phố là 3,45 phần trăm, cao nhất trong số các 78 đô thị lớn nhất trong khối OECD. Tỷ lệ tăng trưởng dân số cao phản ảnh xu hướng đô thị hóa trên toàn quốc gia, với hai đô thị xếp thứ hạng kế sau Istanbul là İzmir và Ankara đều thuộc Thổ nhĩ Kỳ.
Istanbul đã trải qua sự tăng trưởng đặc biệt nhanh chóng trong nửa sau thế kỷ 20, với dân số tăng gấp mười lần trong giai đoạn 1950-2000. Sự gia tăng dân số này một phần đến từ sự mở rộng địa phận thành phố - đặc biệt giữa các năm 1980 và 1985, khi dân số Istanbul tăng gần gấp đôi. Sự tăng trưởng đáng chú ý chủ yếu là do dân di cư từ miền châu Á của đất nước tới để tìm việc làm và cải thiện điều kiện sống. Số cư dân có nguồn gốc từ bảy tỉnh phía bắc và phía đông lớn hơn dân số hiện có của chính các tỉnh đó; đáng chú ý, Sivas và Kastamonu mỗi tỉnh là xuất xứ của hơn một nửa triệu dân của Istanbul. So với đó số cư dân có nguồn gốc nước ngoài ở Istanbul khá ít, chỉ khoảng 42 228 người vào năm 2007. Chỉ khoảng 28 phần trăm cư dân thành phố là người gốc Istanbul. Mật độ dân số của thành phố là 2523 người/km2, vượt xa con số trung bình của Thổ Nhĩ Kỳ là 2523 người/km2. Các khu vực đông đúc nhất có xu hướng nằm ở phía tây bắc, tây và tây nam của thành phố ở phía châu Âu; quận đông nhất ở bờ châu Á là Üsküdar.
=== Các nhóm tôn giáo và dân tộc ===
Trong hầu hết lịch sử của thành phố này và cả ngày nay, Istanbul là một thành phố thế giới, nhưng thành phố này đã trở nên đồng nhất hơn kể từ cuối thời Đế quốc Ottoman. Tuy nhiên, phần lớn các nhóm thiểu số tôn giáo và dân tộc của Thổ Nhĩ Kỳ vẫn tập trung ở Istanbul. Tuyệt đại đa số dân cư khắp Thổ Nhĩ Kỳ, và Istanbul nói riêng, tự xem mình là người Hồi giáo, cụ thể hơn là nhánh Hồi giáo Sunni. Hầu hết người Sunni tuân theo trường phái tư tưởng Hanafi, mặc dù khoảng 10% người Sunni theo trường phái Shafi'i. Giáo phái Hồi giáo lớn nhất ngoài Sunni ở Thổ Nhĩ Kỳ là Alevi, chiếm 4,5 triệu dân, một phần ba trong số đó sống ở Istanbul. Các phong trào thần bí, như Sufi giáo, chính thức bị cấm sau khi nền Cộng hòa thành lập, nhưng vẫn thu hút một lượng lớn tín đồ.
Địa vị Thượng phụ Constantinopolis được chỉ định là Đại Thượng phụ giáo hội toàn thế giới từ thế kỉ 6, và cho tới nay vẫn được thừa nhận rộng rãi là lãnh tụ tinh thần của 300 triệu người Chính thống giáo Đông phương trên toàn thế giới. Kể từ năm 1601, Tòa Thượng phụ đặt tại Nhà thờ St. George ở Istanbul. Vào thế kỉ 19, những người Cơ đốc giáo ở Istanbul hầu như hoặc thuộc Chính thống giáo Hy Lạp hoặc thuộc Giáo hội Tông truyền Armenia. Do một số sự kiện trong thế kỉ 20 - bao gồm cuộc hoán đổi dân cư giữa Hy Lạp năm 1923 theo thỏa thuận của hai chính phủ, một sắc thuế đánh vào người giàu năm 1942 và cuộc bạo loạn Istanbul năm 1955 - dân cư người Hy Lạp, vốn tập trung ở Fener và Samatya, đã giảm rõ rệt. Vào đầu thế kỉ 21, số người Hy Lạp ở Istanbul chỉ khoảng 3 nghìn (giảm từ 130 nghìn năm 1923). Dân Armenia cũng chứng kiến một sự suy giảm, một phần do cuộc diệt chủng người Armenia trong Thế chiến I, nhưng đã dần dần phục hồi do sự di cư gần đây từ Armenia sang; ngày nay, có khoảng từ 5 tới 7 vạn người Armenia ở Istanbul, giảm từ 164 nghìn người năm 1913.
Nhóm dân tộc thiểu số lớn nhất ở Istanbul là cộng đồng người Kurd, có nguồn gốc từ miền đông và đông nam Thổ Nhĩ Kỳ. Mặc dù sự hiện diện của người Kurd ở thành phố có thể lần ngược về thời kỳ đầu của Đế quốc Ottoman, dòng người Kurd đổ vào thành phố tăng lên kể từ cuối những năm 1970, khi tranh chấp Thổ-Kurd bùng phát và Đảng Công nhân Kurdistan xuất hiện. Istanbul là nơi cư trú của từ hai tới bốn triệu cư dân người Kurd, nhiều hơn bất kì thành phố nào trên thế giới. Vùng lân cận khu phố Balat từng là nơi một cộng đồng người Do Thái Sephardi khá lớn, bắt đầu hình thành trong thời kì Tòa án dị giáo Tây Ban Nha (cuối thế kỉ 15 tới đầu thế kỉ 19). Người Do Thái các nhánh Romaniote và Ashkenazi cư ngụ ở Istanbul còn trước cả người Sephardi, nhưng tỉ lệ của họ đã suy giảm; ngày nay, chỉ một phần người Do Thái ở Istanbul thuộc dòng Ashkenazi. Chủ yếu do việc di cư về Israel khi quốc gia này thành lập, số dân Do Thái trên toàn quốc giảm từ 100 nghìn năm 1950 xuống còn 18 nghìn năm 2005, đa số họ sống ở Istanbul và Izmir. Người Levantines, tức những người Công giáo La Mã theo nghi thức Latinh sinh sống ở Galata trong thời đại Ottoman, đóng một vai trò độc đáo trong việc định hình văn hóa và kiến trúc Istanbul trong các thế kỉ 19 và 20; dân số của họ có suy giảm, nhưng vẫn còn một số ít ở thành phố.
== Kinh tế ==
Với tổng sản phẩm nội địa 182 tỷ đô la Mỹ năm 2008, Istanbul xếp thứ 34 trong các đô thị có GDP lớn nhất trên thế giới. Thành phố chiếm khoảng 27% GDP của Thổ Nhĩ Kỳ, sử dụng khoảng 20% lực lượng lao động công nghiệp của đất nước. GDP bình quân đầu người và năng suất lao động của nó cao hơn mức trung bình của quốc gia lần lượt là 70 và 50%, một phần nhờ sự tập trung vào các hoạt động có giá trị gia tăng cao. Với dân số đông và sự đóng góp đáng kể vào kinh tế Thổ Nhĩ Kỳ, Istanbul chiếm tới hai phần năm thu nhập thuế của nước này. Trong số đó có tiền thuế của 30 tỷ phú đóng ở Istanbul, xếp thứ 5 trong số các thành phố nhiều tỷ phú nhất thế giới.
Tương xứng với quy mô thành phố, Istanbul có một nền kinh tế công nghiệp đa dạng, sản xuất các loại hàng hóa như dầu ô liu, thuốc lá, phương tiện giao thông và đồ điện tử. Dù tập trung vào các ngày giá trị gia tăng cao, lĩnh vực sản xuất giá trị gia tăng thấp cũng đóng vai trò quan trọng, chỉ chiếm 26% GDP nhưng tới bốn phần năm tổng giá trị xuất khẩu của thành phố. Năm 2005, các công ty đóng ở Istanbul tạo ra giá trị xuất khẩu 41,4 tỷ đô la và nhập khẩu là 69,9 tỉ; những con số này tương đương với 57 và 60 phần trăm tổng giá trị xuất/nhập khẩu tương tương ứng của quốc gia.
Istanbul là nơi có thị trường chứng khoán duy nhất của Thổ Nhĩ Kỳ, Sàn giao dịch Chứng khoán Istanbul. Mặc dù nó vốn được thành lập từ khá sớm, vào năm 1866 với tên Sàn Giao dịch Chứng khoán Ottoman, tầm quan trọng của nó bị suy giảm từ cuộc Đại Khủng hoảng những năm 1930. Nó chỉ bắt đầu khôi phục từ đầu năm 1986, sau một chuỗi các chương trình tự do hóa tài chính của chính phủ. Trong thế kỉ 19 và đầu thế kỉ 20, Bankalar Caddesi (Phố Ngân hàng) ở Galata từng là trung tâm tài chính của Đế quốc Ottoman là nơi Sàn Giao dịch Chứng khoán Ottoman từng đặt. Khu phố này vẫn là khu vực tài chính chính của Istanbul cho tới những năm 1990, khi hầu hết các ngân hàng Thổ Nhĩ Kỳ bắt đầu chuyển trụ sở tới các quận buôn bán hiện đại ở trung tâm là Levent và Maslak. Năm 1995, Sàn Giao dịch Chứng khoán Istanbul chuyển cơ sở tới địa chỉ ngày nay ở phố İstinye thuộc quận Sarıyer. Năm 2012, trên cơ sở sáp nhập với Sàn giao dịch Vàng Istanbul và Sàn giao dịch thứ cấp Thổ Nhĩ Kỳ, Borsa Istanbul được thành lập.
Là tuyến đường biển duy nhất giữa Biển Đen giàu dầu mỏ và Địa Trung Hải, Bosphorus là một trong những hải lộ đông đúc nhất trên thế giới; hơn 200 triệu tấn dấu đi qua eo biển này mỗi năm, và giao thông trên Bosphorus gấp ba lần so với Kênh đào Suez. Do đó, người ta đã đưa ra những đề xuất xây thêm một kênh đào, gọi là Kênh đào Istanbul, song song với eo biển, trên bờ châu Âu của thành phố. Istanbul có ba cảng tàu chính-Cảng Haydarpaşa, Cảng Ambarlı, và Cảng Zeytinburnu-cùng một số cảng nhỏ hơn và các bến tàu chở dầu dọc eo Bosphorus và Biển Marmara. Haydarpaşa, nằm ở đầu đông nam của Bosphorus, là cảng lớn nhất của Istanbul cho tới đầu những năm 2000. Luồng giao thông dịch chuyển sang cảng Ambarlı đã làm cho Haydarpaşa hoạt động dưới sức chứa và hiện có những kế hoạch chấm dứt hoạt động. Cho đến năm 2007, Ambarlı, ở góc phía tây của trung tâm nội thị, đã có sức chứa hàng năm lên tới 1,5 triệu TEU (đơn vị thể tích hàng hải, bằng kích thước container tiêu chuẩn) so với 354 nghìn TEU của Haydarpaşa, khiến cho nó trở thành cảng lớn thứ tư ở miền Địa Trung Hải. Cảng Zeytinburnu có lợi thế gần đường ô tô và Sân bay quốc tế Atatürk cũng như nằm trong những kế hoạch dài hạn của thành phố nhằm kết nối tốt hơn giữa tất cả các bến cảng và mạng lưới đường sắt.
Istanbul là một điểm đến du lịch ngày càng phổ biến hơn; năm 2000 chỉ có khoảng 2,4 triệu người nước ngoài đến thành phố thì năm 2010 con số này là 7 triệu người, đưa nó lên vị trí thứ 10 trong số những thành phố được viếng thăm nhiều nhất thế giới. Istanbul là cổng giao lưu quốc tế lớn thứ hai của Thổ Nhĩ Kỳ, sau Antalya, chiếm một phần tư du khách nước ngoài tới đất nước này. Ngành công nghiệp du lịch tập trung chủ yếu ở bờ châu Âu, nơi có 90% khách sạn của Istanbul. Các khách sạn hạng trung và bình dân có xu hướng tập trung ở khu Sarayburnu, trong khi các khách sạn cao cấp chủ yếu đóng ở các trung tâm giải trí và tài chính ở phía bắc Sừng Vàng. Bảy mươi bảo tàng của Istanbul, được thăm nhiều nhất là Bảo tàng Cung điện Topkapı và Hagia Sophia, đem lại khoảng 30 triệu đô la thu nhập mỗi năm. Dự án quản lý môi trường của thành phố cũng ghi nhận rằng có 17 cung điện, 64 thánh đường Hồi giáo, và 49 nhà thờ có giá trị lịch sử ở Istanbul.
== Văn hóa ==
Istanbul nổi tiếng là một trung tâm văn hóa lâu đời, nhưng khung cảnh văn hóa đã trì trệ sau khi Cộng hòa Thổ Nhĩ Kỳ dịch chuyển trọng tâm về Ankara. Chính phủ dân tộc mới đây đã lập các chương trình phục vụ cho việc định hướng người Thổ tới âm nhạc truyền thống, đặc biệt là những thể loại âm nhạc bắt nguồn ở châu Âu, nhưng các viện âm nhạc và các chuyến thăm của các nghệ sĩ cổ điển nước ngoài vẫn chủ yếu tập trung ở thủ đô mới. Trong khi phần nhiều đặc sắc văn hóa Thổ Nhĩ Kỳ có nguồn gốc ở Istanbul, cho đến tận những năm 1980 và 1990 Istanbul mới tái nổi lên ở tầm quốc tế như một thành phố mà giá trị văn hóa không chỉ dựa trên quá khứ vinh quang.
Cho tới cuối thế kỉ 19, Istanbul đã là một trung tâm nghệ thuật khu vực, với các nghệ sĩ Thổ, châu Âu và Trung Đông tụ họp tới đây. Bất chấp những nỗ lực đưa Ankara thành trung tâm văn hóa của Thổ Nhĩ Kỳ, ngoài việc có học viện nghệ thuật chính của quốc gia cho tới những năm 1970, khi các đại học và tạp chí nghệ thuật mới được lập ở Istanbul những năm 1980, nhiều nghệ sĩ vốn ở Ankara cũng chuyển tới đây. Beyoğlu đã trở thành trung tâm nghệ thuật của thành phố, với các nghệ sĩ trẻ lẫn các nghệ sĩ già từng sống ở nước ngoài tìm một chỗ đứng chân ở đây. Các bảo tàng nghệ thuật hiện đại, bao gồm Bảo tàng Istanbul Hiện đại, Bảo tàng Pera, Bảo tàng Sakıp Sabancı và SantralIstanbul, mở cửa những năm 2000 để bổ sung cho các không gian trưng bày và nhà đấu giá từng đóng góp cho tính cách toàn cầu của thành phố này. Tuy nhiên, những bảo tàng này chưa thể thu hút được số lượng khách lớn như những bảo tàng lâu đời hơn ở miền bán đảo lịch sử, trong đó có Bảo tàng Khảo cổ học Istanbul-bảo tàng đã mở ra kỉ nguyên bảo tàng hiện đại Thổ Nhĩ Kỳ, và Bảo tàng Nghệ thuật Thổ Nhĩ Kỳ và Hồi giáo.
Bộ phim đầu tiên được chiếu ở Thổ Nhĩ Kỳ là ở Cung điện Yıldız vào năm 1896, chỉ một năm sau khi kỹ thuật điện ảnh trình diễn được trình diễn lần đầu tiên ở Paris. Các rạp chiếu phim sau đó nở rộ ở Beyoğlu, với mật độ tập trung nhất ở tuyến phố mà nay là Đại lộ İstiklal. Istanbul cũng là trái tim của ngành công nghiệp điện ảnh non trẻ của Thổ Nhĩ Kỳ, mặc dù phim Thổ Nhĩ Kỳ không phát triển ổn định cho tới những năm 1950. Từ đó tới nay, Istanbul là nơi có nhiều phim trường cho các phim chính kịch và phim hài Thổ Nhĩ Kỳ nhất. Trong khi công nghiệp phim ảnh của Thổ Nhĩ Kỳ đã trỗi dậy trong nửa sau thế kỉ 20, phải đến các phim Uzak (2002) và Cha tôi và Con trai tôi (2005), đều quay ở Istanbul, phim của quốc gia này mới bắt đầu có những thành công quan trọng ở tầm quốc tế. Istanbul và bầu trời tuyệt đẹp của nó cũng là bối cảnh cho một số bộ phim nước ngoài, trong đó có Topkapi (1964), Thế giới là không đủ (1999) và Điệp vụ Istaanbul (2008).
Gắn với sự trỗi dậy văn hóa trên là việc thành lập Festival Istanbul, bắt đầu trình diễn nền nghệ thuật phong phú của Thổ Nhĩ Kỳ và thế giới kể từ 1973. Từ lễ hội lớn này đã xuất hiện Liên hoan phim Quốc tế Istanbul và Đại nhạc hội Jazz Quốc tế Istanbul vào đầu những năm 1980. Ngày nay chỉ tập trung vào âm nhạc và khiêu vũ, Festival Istanbul nay được biết dưới tên Festival Âm nhạc Quốc tế Istanbul từ 1994. Trong số các lễ hội xuất hiện sau Festival Istanbul, đáng chú ý nhất là Lễ hội hai năm Istanbul (Istanbul Biennial) tổ chức hai năm một lần từ 1987. Trong khi những lần tổ chức đầu tiên nhắm vào việc trình diễn nghệ thuật trực quan Thổ Nhĩ Kỳ, về sau nó đón chào nhiều nghệ sĩ quốc tế và trở thành một lễ hội hai năm một lần nổi tiếng nhất trên thế giới, cùng với Lễ hội hai năm Venice và Lễ hội nghệ thuật hai năm São Paulo.
=== Hoạt động giải trí ===
Istanbul có rất nhiều trung tâm mua sắm, từ lâu đời tới hiện đại. Chợ Lớn (Kapali Carsi), hoạt động từ năm 1461, là một trong những chợ có mái che cổ xưa và lớn nhất thế giới. Chợ Mahmutpasha là một chợ ngoài trời nằm giữa Chợ Lớn và Chợ Gia vị, là một trong những chợ gia vị chính của Istanbul từ những năm 1660. Khu phố buôn bán Ataköy mở đầu cho một loạt các khu phố buôn bán hiện đại ở Thổ Nhĩ Kỳ khi nó mở cửa vào năm 1987. Kể từ đó, các khu phố buôn bán trở thành các trung tâm mua sắm chính bên ngoài vùng bán đảo lịch sử. Akmerkez đã nhận danh hiệu khu phố buôn bán "tốt nhất châu Âu" và "tốt nhất thế giới" bởi Hội đồng Trung tâm Mua sắm quốc tế các năm 1995 và 1996; Istanbul Cevahir mở năm 2005 xếp vào hàng lớn nhất châu lục; còn Kanyon giành Giải thưởng Phê bình Kiến trúc Đô thị trong hạng mục Xây dựng thương mại năm 2006. Các phố Abdi İpekçi khu Nişantaşı và Đại lộ Bağdat ở phía Anatolia đã và đang trở thành những khu vực mua sắm cao cấp.
Bên cạnh các món ăn Thổ Nhĩ Kỳ truyền thống như kebab, Istanbul cũng nổi tiếng với các nhà hàng hải sản lâu đời. Nhiều trong số các nhà hàng hải sản thượng hạng và nổi tiếng nhất của thành phố nằm hai bên bờ Bosphorus, trong khi lân cận Kumkapı dọc theo Biển Marmara có một khu phố đi bộ với khoảng năm chục cửa hàng chuyên về cá. Đảo Hoàng tử, cách trung tâm thành phố 15 km, cũng nổi tiếng với các cửa hàng hải sản; chúng cùng với lâu đài mùa hè cổ xưa, các con phố yên tĩnh không có xe cộ khiến cho hòn đảo này trở thành điểm nghỉ mát lừng danh của người Istanbul lẫn du khách nước ngoài.
Các nhà hàng chuyên về món ăn nước ngoài tập trung chủ yếu ở quận Beyoğlu, đặc biệt là ngõ Çiçek Pasajı ở Đại lộ İstiklal với một loạt các nhà rượu (meyhane), tiệm rượu, nhà hàng. Trong khi nhiều quán rượu ở Đại lộ này đã chuyển thành các cửa hàng buôn bán, Phố Nevizade ở gần đó vẫn còn rất nhiều nhà rượu và tiệm rượu nhỏ. Các khu phố lân cận İstiklal gần đây đã sửa sang để phục vụ cho đời sống ban đêm ở Beyoğlu, với những tuyến phố buôn bán nay với nhiều tiệm rượu, quán cà phê và nhà hàng chơi nhạc sống. Những tâm điểm khác của đời sống ban đêm của Istanbul bao gồm Nişantaşı,Ortaköy, Bebek, và Kadıköy.
== Thể thao ==
Istanbul có một số câu lạc bộ thể thao thuộc vào hàng lâu đời nhất của Thổ Nhĩ Kỳ. Một trong số đó là Beşiktaş J.K., câu lạc bộ đầu tiên của Thổ Nhĩ Kỳ, thành lập năm 1903 và từng có thời là câu lạc bộ duy nhất nên nó đôi khi từng thi đấu với tư cách đội tuyển quốc gia. Trong khi đội bóng của nó đã có những thời kì thống trị giải quốc gia, các đội Galatasaray S.K. và Fenerbahçe S.K. thể hiện tốt hơn khi thi đấu quốc tế và ngang ngửa nhau trong việc giành nhiều chức vô địch giải chuyên nghiệp Süper Lig nhất. Galatasaray và Fenerbahçe là hai đội kình địch với nhau từ lâu, Galatasary nằm ở bờ châu Âu trong khi Fenerbahçe ở bờ châu Á của thành phố. Istanbul có bốn đội bóng rổ-Anadolu Efes S.K., Beşiktaş, Fenerbahçe Ülker và Galatasaray Medical Park chơi ở giải ngoại hạng Vô địch Bóng rổ Thổ Nhĩ Kỳ.
Nhiều cơ sở thể thao của Istanbul được xây dựng hoặc nâng cấp từ năm 2000 trong nỗ lực của thành phố tranh chức đăng cai các kỳ Thế vận hội Mùa hè. Sân vận động Olympic Atatürk, sân vận động đa năng lớn nhất Thổ Nhĩ Kỳ hoàn thành vào năm 2002 như một nơi tổ chức hàng đầu của Hiệp hội Các Liên đoàn Điền kinh Quốc tế (IAAF) cho các sự kiện điền kinh. Sân vận động này cũng là nơi diễn ra trận Chung kết UEFA Champion League 2005 và hiện là sân nhà của đội bóngİstanbul Büyükşehir Belediyespor. Sân vận động Şükrü Saracoğlu, sân nhà của đội Fenerbahçe, tổ chức trận chung kết Cúp UEFA 2009 ba năm sau khi khánh thành, và Cung thể thao Türk Telekom mở năm 2011 thay cho Sân vận động Ali Sami Yen làm sân nhà cho đội Galatasary. Cả ba sân này đều là các sân 4 sao cao cấp (từng là 5 sao) theo tiêu chuẩn UEFA.
Sân vận động mái vòm Sinan Erdem, là một trong số các cung thể thao trong nhà lớn nhất châu Âu, từng đăng cai giải Cúp Bóng rổ FIBA Thế giới 2010, và Giải Vô địch Điền kinh Thế giới IAAF 2012 và vòng tứ kết Giải Vô địch Bóng rổ châu Âu 2011-2012. Trước khi sân này hoàn thành, Cung thể thao Abdi İpekçi là cung thể thao trong nhà chính của Istanbul, nơi tổ chức vòng chung kết Vô địch Bóng rổ châu Âu 2001. Bên cạnh đó, nhiều cung thể thao, nhà thi đấu khác đã được xây dựng kể từ năm 2000, mới nhất là Cung thể thao Ülker với sức chứa 13,800 người, mở cửa năm 2012. Bất chấp việc xây dựng nở rộ, bốn lần tranh quyền đăng cai Thế vận hội Mùa hè liên tiếp-2000, 2004, 2008, 2012 cũng như Giải vô địch bóng đá châu Âu 2012 và 2016 đều bất thành. Istanbul hiện đang tranh quyền đăng cai cho Thế vận hội Mùa hè 2020; kết quả sẽ được công bố vào ngày 7 tháng 9 năm 2013..
Đường đua Istanbul là một chặng trong lộ trình giải Vô địch Đua xe du lịch Thế giới và giải European Le Mans Series vào năm 2005 và 2006, nhưng từ đó tới nay chưa có thêm cuộc đua quốc tế nào qua đường đua này. Vào thời kỳ mở cửa, Đường đua Istanbul cũng từng đăng cai giải Grand Prix Thổ Nhĩ Kỳ thường niên những năm 2005-2011; tương lai của đường đua này không rõ ràng do những vấn đề tài chính. Câu lạc bộ Đua thuyền Istanbul, thành lập năm 1952, tổ chức một số cuộc đua, triển lãm và các sự kiện ở trong và xung quanh Istanbul mỗi năm. Câu lạc bộ Đua thuyền ngoài khơi Thổ Nhĩ Kỳ cũng tổ chức một số cuộc đua lớn, trong đó uy tín nhất là cuộc đua tranh Cúp Hải quân. Istanbul đôi khi cũng là điểm dừng của Giải Vô địch Thuyền máy F1 Thế giới, tuy rằng lần cuối cùng giải này xuất hiện ở Bosphorus là vào năm 2000.
== Truyền thông ==
Dù hầu hết những đài phát thanh và truyền hình thuộc nhà nước đóng ở Ankara, Istanbul mới là trung tâm truyền thông chính của Thổ Nhĩ Kỳ. Nền công nghiệp này đã bắt nguồn từ cố đô của Đế chế Ottoman, nơi tờ báo Thổ dầu tiên Takvim-i Vekayi (Niên giám Công vụ) được xuất bản vào năm 1831. Khu phố Cağaloğlu lân cận đường Bâb-ı Âli-nơi tờ báo này được in-đã nhanh chóng trở thành trung tâm báo chí Thổ Nhĩ Kỳ, cùng với Beyoğlu ở phía bên kia Sừng Vàng.
Ngày nay, Istanbul có rất nhiều báo, tạp chí định kỳ khác nhau. Hầu hết các báo toàn quốc đóng ở Istanbul, cùng với các ấn bản song song ở Ankara và İzmir. Tờ Zaman, mặc dù mới chỉ thành lập năm 1986, là tờ báo bán chạy nhất quốc gia, với lượng bán được hàng tuần lên tới hơn một triệu. Các tờ báo còn lại trong tốp năm báo bán chạy ở Thổ Nhĩ Kỳ-Posta, Hürriyet, Sabah và Habertürk-cũng đều ở Istanbul với doanh số 200 nghìn bản mỗi báo. Bản tiếng Anh của tờ Hürriyet (Hürriyet Daily News) xuất hiện vào năm 1961 từng là tờ báo tiếng Anh bán chạy nhất, nhưng đã bị ấn bản của Zaman khai trương năm 2007 là Today's Zaman vượt mặt. Ngoài ra ở cũng có một số tạp chí đại chúng khác nhỏ hơn nhưMilliyet và Cumhuriyet.
Đài vô tuyến ở Istanbul bắt đầu từ năm 1927, khi chương trình vô tuyến đầu tiên ở Thổ Nhĩ Kỳ phát ra từ Bưu điện Trung tâm ở Eminönü. Quyền kiểm soát trạm phát này, cũng như các đài phát thanh thành lập vào những thập niên sau đó, về sau rơi vào tay Tập đoàn Phát thanh Truyền hình Thổ Nhĩ Kỳ (Turkish Radio and Television Corporation-TRT), tổ chức nắm giữ độc quyền phát sóng các kênh truyền hình và truyền thanh những năm 1964 và 1990. Hiện nay, TRT vận hành bốn đài phát thanh quốc gia; những đài này có những máy phát vô tuyến khắp cả nước bao phủ nơi cư trú của 90% dân số, nhưng chỉ đài Radio 2 là đóng ở Istanbul. Đài này cung cấp nội dung phong phú, từ các chương trình giáo dục tới những sự kiện thể thao, và là đài phát thanh phổ biến nhất ở Thổ Nhĩ Kỳ. Các kênh phát thanh ở Thổ Nhĩ Kỳ thường phát tiếng Thổ Nhĩ Kỳ hoặc tiếng Anh, một ngoại lệ hiếm hoi là kênh Açık Radyo phát cả hai thứ tiếng. Một trong số các kênh phát thanh tư nhân đầu tiên Thổ Nhĩ Kỳ, và cũng là kênh chuyên về nhạc nhẹ nước ngoài đầu tiên, là kênh Metro FMcủa Istanbul. Đài Radio 3 thuộc nhà nước, mặc dù đóng ở Ankara, cũng phát nhạc nhẹ tiếng Anh, trong khi chương trình thời sự tiếng Anh được cung cấp trên NTV Radyo.
TRT-Children là đài truyền hình duy nhất thuộc TRT nằm ở Istanbul. Tuy vậy, thành phố này lại là nơi đặt trụ sở của một số đài tiếng Thổ cũng như cơ sở của các hãng truyền thông nước ngoài. Star TV ở Istanbul là mạng truyền hình tư nhân đầu tiên ra đời sau khi cơ chế độc quyền của TRT kết thúc; Star TV và Show TV (cũng ở Istanbul) hiện nay vẫn rất nổi tiếng trên toàn quốc, phát sóng các chương trình Thổ Nhĩ Kỳ và Hoa Kỳ. Samanyolu TV, Kanal D, ATV là các đài truyền hình khác ở Istanbul cung cấp tin tức và chương trình truyền hình, trong khi NTV (hợp tác với MSNBC của Hoa Kỳ) và Sky Turk-cả hai đóng ở thành phố-chủ yếu được biết đến với những bản tin tiếng Thổ. BBC cũng có một văn phòng khu vực ở Istanbul, tham gia vào việc phát các bản tin tiếng Thổ của đài, trong khi CNN có kênh tiếng Thổ riêng, CNN Turk ở đây từ năm 1999. Kênh kinh doanh và giải trí CNBC-e ở Istanbul cũng bắt đầu phát sóng vào năm 2000.
== Giáo dục ==
Đại học Istanbul, thành lập năm 1453, là cơ sở giáo dục Thổ lâu đời nhất ở thành phố. Ban đầu vốn là một trường học Hồi giáo, trường đã lập các khoa luật, y, khoa học và thế kỉ 19 và thế tục hóa sau khi nền Cộng hòa thành lập. Đại học Kỹ thuật Istanbul, vốn là trường Kỹ thuật Hải quân Hoàng gia ra đời năm 1773, là đại học lâu đời thứ ba thế giới trong số các đại học chuyên về các ngành kỹ thuật. Tính cả hai trường trên thì Istanbul có 8 đại học công lập, trong số các trường còn lại đáng kể là Đại học Mỹ thuật Mimar Sinan-học viện nghệ thuật chính của Thổ Nhĩ Kỳ cho tới những năm 1970, Đại học Marmara, cơ sở đào tạo sau đại học lớn thứ ba đất nước. Đại học công lập trẻ tuổi nhất ở Istanbul là Đại học Istanbul Medeniyet (2010), cấp bằng đại học hai năm với mười một khoa khác nhau.
Trong khi hầu hết các trường đại học có uy tín ở Istanbul đều dựa vào chính phủ, thành phố cũng có một số các trường tư nổi tiếng. Đại học dân lập hiện đại đầu tiên ở Istanbul là Cao đẳng Robert, do một nhóm người từ Hoa Kỳ thành lập năm 1863; tuy nhiên từ năm 1971, các thành phần giáo dục đại học của nó trở thành trường công, tức Đại học Boğaziçi trong khi phần còn lại vẫn giữ tên gọi "Cao đẳng Robert" nhưng chỉ đào tạo ở bậc trung học. Về danh nghĩa các đại học dân lập đã chính thức bị cấm ở Thổ Nhĩ Kỳ trước khi Hiến pháp năm 1982 ban hành, nhưng vào thời điểm đó đã có mười lăm "trường bậc cao" mà thực chất là các trường đại học ở Istanbul năm 1970. Sau khi có HIến pháp, trường đại học dân lập đầu tiên được lập là Đại học Koç năm 1992, và một thập kỷ sau đó có thêm 12 trường tư được lập. Hiện nay, có ít nhất năm mươi trường dân lập ở thành phố, trong đó đáng chú ý là Đại học Thương mại Istanbul và Đại học Kadir Has.
Năm 2007, có khoảng 4350 trường phổ thông, khoảng một nửa trong số đó là các trường tiểu học; trung bình mỗi trường có 668 học sinh. Những năm gần đây, hệ thống giáo dục Istanbul đã mở rộng đáng kể; từ năm 2000 tới 2007, số lớp học và giáo viên tăng gần gấp đôi và số học sinh tăng hơn 60 phần trăm. Trung học Galatasaray, thành lập năm 1481 với tên gốc là Trường Hoàng gia Cung điện Galata, là trung học lâu đời nhất ở Istanbul và là cơ sở giáo dục lâu đời thứ hai ở thành phố. Nó được xây dựng theo chiếu chỉ của Sultan Bayezid II, người tìm cách đem học sinh từ những nền tảng gia đình khác nhau tới cùng một môi trường nhằm tăng cường sức mạnh đế chế của ông. Nó thuộc hệ thống Trung học Anatolia, những trường trung học công lập cao cấp đặt trọng tâm vào giảng dạy bằng ngoại ngữ. Chẳng hạn trường Galatasaray dạy bằng tiếng Pháp, trong khi các trường khác thường dạy tiếng Anh hoặc tiếng Đức bên cạnh tiếng Thổ. Thành phố cũng có những trường trung học dành riêng cho người nước ngoài như Liceo Italiano thành lập từ thế kỉ 19.
Một vài trường trung học Istanbul khác nổi tiếng do phong cách giảng dạy hoặc điều kiện tuyển sinh của nó. Trung học quân sự Kuleli, nằm ở Çengelköy dọc Bosphorus và Trung học Hải quân Thổ Nhĩ Kỳ, ở Đảo Hoàng tử, là các trường quân sự, bên cạnh ba học viện quân sự-Học viện Không quân Thổ Nhĩ Kỳ, Học viện Quân sự Thổ Nhĩ Kỳ và Học viện Hải quân Thổ Nhĩ Kỳ. Một trường quan trọng khác ở Istanbul là Trung học Darüşşafaka dạy miễn phí cho trẻ em mồ côi trên khắp đất nước. Darüşşafaka bắt đầu dạy từ lớp 4, giảng bằng tiếng Anh và từ lớp 6 thì thêm một ngoại ngữ thứ hai-tiếng Pháp hoặc Đức. Các trường trung học nổi bật khác ở Istanbul có thể kể đến Kabataş Erkek Lisesi (thành lập năm 1908) và Kadıköy Anadolu Lisesi (thành lập năm 1955).
== Dịch vụ công ==
Hệ thống cấp nước của Istanbul có một lịch sử rất lâu đời, với những đường dẫn nước trên cao từ thời La Mã (như Đường dẫn nước Valens) chứa nước trong rất nhiều bể chứa lớn của thành. Dưới thời Suleiman Đại đế, hoàng đế ra lệnh xây dựng mạng lưới cấp nước Kırkçeşme; tới năm 1563, mạng lưới đã cung cấp 4200 m3 nước tới 158 địa điểm mỗi ngày. Những năm sau đó, với mục đích đáp ứng nhu cầu công cộng tăng chưa có, nước từ những con suối khác nhau được dẫn về các đài phun nước, như Đài phun nước Ahmed III, thông qua các đường ống dẫn. Hiện nay, Istanbul có một hệ thống cấp nước lọc và khử trùng và một hệ thống xử lý nước thải do Cơ quan Quản lý Nước và Nước thải Istanbul (İSKİ) đảm trách.
Nhà máy điện Silahtarağa, một nhà máy nhiệt điện chạy bằng than nằm ở Sừng Vàng, từng là nguồn cung cấp điện năng duy nhất của Istanbul từ 1914-năm tổ máy đầu tiên đi vào hoạt động-tới 1952. Sau khi nền Cộng hòa thành lập, nhà máy trải qua một loạt cải tiến để đáp ứng nhu cầu gia tăng của thành phố; công suất của nó đã tăng từ 23 MW năm 1923 tới đỉnh là 120 MW vào năm 1956. Sau đó công suất này giảm dần cho đến khi nhà máy mất hiệu quả kinh tế và ngừng hoạt động năm 1983. Cơ quan điện lực Thổ Nhĩ Kỳ thuộc nhà nước đã nắm giữ độc quyền phát và phân phối điện trong giai đoạn 1970-1984, nhưng hiện nay cơ quan này đã tách thành Công ty Truyền phát Điện Thổ Nhĩ Kỳ (TEAŞ) và Công ty Phân phối Điện Thổ Nhĩ Kỳ (TEDAŞ) và phải cạnh tranh với các công ty tư nhân .
Bộ Bưu điện và Điện báo Ottoman thành lập năm 1840 và bưu điện đầu tiên, Bưu điện Hoàng gia, mở cửa gần sân hậu của Thánh đường Yeni. Tới năm 1876, mạng lưới thư tín quốc tế đầu tiên giữa Istanbul và miền đất bên ngoài Đế chế Ottoman rộng lớn đã được thiết lập. Sultan Abdülmecid I là người đầu tiên cấp bằng sáng chế và ban huân chương cho Samuel Morse với phát minh ra điện báo năm 1847, và việc xây dựng tuyến điện báo đầu tiên-nối Istanbul và Edirne-hoàn thành kịp thời để thông báo Chiến tranh Krym chấm dứt năm 1856. Một mạng điện thoại non trẻ xuất hiện ở Istanbul năm 1881 và sau khi tổng đài điện thoại vận hành thủ công đầu tiên hoạt động vào năm 1909, Bộ Bưu điện và Điện Báo trở thành Bộ Bưu điện, Điện báo và Điện thoại. Hiển nhiên, hạ tầng viễn thông của Istanbul đã phát triển mạnh mẽ kể từ đó. Mạng điện thoại GSM xuất hiện ở Thổ Nhĩ Kỳ vào năm 1994, trong đó Istanbul là một trong những thành phố đầu tiên ứng dụng dịch vụ này. Ngày nay, các dịch vụ điện thoại di động và cố định do một số công ty tư nhân cung cấp, sau khi Türk Telekom, tách ra khỏi Bộ Bưu điện, Điện báo và Điện thoại năm 1995, tư nhân hóa vào năm 2005. Dịch vụ bưu chính vẫn nằm dưới quyền kiểm soát của Tổ chức Bưu điện và Điện báo (tiền thân là Bộ Bưu điện, Điện báo và Điện thoại, và vẫn giữ tên viết tắt cũ của cơ quan này là PTT).
Năm 2000, Istanbul có 137 bệnh viện, 100 trong số đó là thuộc tư nhân. Công dân Thổ Nhĩ Kỳ được quyền hưởng chăm sóc sức khỏe có trợ cấp trong các bệnh viện nhà nước. Vì các bệnh viện công thường quá tải hoặc chậm chạp, các bệnh viện tư được những người có điều kiện tài chính ưa thích hơn. Sự phổ biến những bệnh viện loại này đã tăng lên đáng kể trong thập kỉ vừa rồi, với tỉ lệ bệnh nhân ngoại trú ở bệnh viện tư tăng từ 6% năm 2005 lên 23% năm 2009. Nhiều bệnh viện tư, cũng như một vài bệnh viện công, được trang bị các thiết bị công nghệ cao, bao gồm các máy MRI, hoặc liên kết với các trung tâm nghiên cứu y học. Thổ Nhĩ Kỳ có nhiều bệnh viện do tổ chức Joint Commission đóng ở Mỹ ủy nhiệm hơn bất kì nước nào trên thế giới, tập trung ở các thành phố lớn. Chất lượng chăm sóc sức khỏe cao, đặc biệt là trong các bệnh viện tư, đã góp phần vào sự tăng vọt gần đây của ngành du lịch y tế ở Thổ Nhĩ Kỳ (tăng 40% chỉ từ 2007 tới 2008). Phẫu thuật mắt bằng laser là trường hợp phổ biến nhất trong số các du khách loại này, vì y tế Thổ Nhĩ Kỳ nổi tiếng trong lĩnh vực này.
== Giao thông ==
Các xa lộ chính của Istanbul là Otoyol 1 (O-1), O-2, O-3 và O-4. O-1 tạo nên đường vành đai trong của thành phố, vắt ngang Cầu Bosphorus và O-2 là đường vành đai ngoài của thành phố, đi qua Cầu Fatih Sultan Mehmet (cũng gọi là Cầu Bosphorus thứ hai). O-2 kết nối với Edirne về phía tây và O-4 kết nối với Ankara về phía đông; O-2, O-3 và O-4 nhập vào tuyến Xa lộ xuyên châu Âu E80 giữa Bồ Đào Nha và biên giới Thổ Nhĩ Kỳ-Iran. Hai cầu Bosphorus hiện nay tạo nên những mối liên kết duy nhất giữa các phần châu Âu và châu Á của Thổ Nhĩ Kỳ, tổng cộng cho 400 nghìn phương tiện lưu thông mỗi ngày. Đường hầm Á-Âu dài 14,6 km với hai tầng hiện đang thi công gần Bosphorus, nối giữa các quận Kumkapı, Fatih với Selimiye, Üsküdar. Dự án Cầu Bosphorus thứ ba, được thảo luận từ những năm 1990 cuối cùng cũng được thông qua và chính thức thông báo năm 2012. Cả hai dự án này có lẽ sẽ sớm hoàn thành vào năm 2015.
Hệ thống giao thông công cộng địa phương của Istanbul là một mạng lưới phức tạp gồm những tàu điện, các tuyến dây kéo (funicular, trong đó hai xe trên đường ray chạy 2 hướng ngược nhau lên/xuống dốc kéo nhau bằng cáp), các tuyến tàu điện ngầm, bus, bus nhanh, và bến phà. Tiền vé của mọi phương tiện trên sử dụng chung một cách thức thanh toán, là các thẻ thông minh không cần tiếp xúc Istanbulkart giới thiệu vào năm 2010, hoặc các thẻ điện tử Akbil cũ hơn. Từ năm 1872 các toa xe chở khách ngựa kéo đã xuất hiện, từ năm 1914 chúng bắt đầu chuyển sang chạy bằng điện nhưng bị buộc ngừng hoạt động năm 1961. Các xe điện bắt đầu xuất hiện trở lại ở thành phố vào những năm 1990, do cơ quan Điện, Tàu điện và Đường hầm Istanbul (İETT) vận hành với một tuyến đường hoài cổ bên cạnh một tuyến ray hiện đại nhanh hơn, chuyên chở khoảng 26 vạn người mỗi ngày. Đường hầm Tünel hoạt động từ năm 1875 là tuyến đường sắt dưới lòng đất lâu đời thứ hai thế giới (sau tuyến Đường sắt Đô thị London. Nó vẫn đưa hành khách đi lại giữa Karaköy và Đại lộ İstiklal trên một tuyến đường ray dốc dài 573m, bên cạnh một tuyến dây kéo hiện đại hơn giữa Quảng trường Taskim và Kabataş bắt đầu đưa vào vận hành năm 2006. Hệ thống Tàu điện ngầm Istanbul bao gồm ba tuyến đường không liên kết với nhau có mã số M1, M2 và M4 cùng với một vài tuyến và các đoạn mở rộng khác (trong đó có M4) đang được xây dựng hoặc mới chỉ đề xuất.
Hai phía của hệ thống tàu điện ngầm Istanbul về sau sẽ kết nối với nhau dưới eo Bosphorus khi đường hầm Marmaray, tuyến đường ray đầu tiên nối miền Thrace với Anatolia, hoàn thành vào năm 2015. Khi đó, tỷ lệ người sử dụng đường ray ở thành phố được cho là sẽ tăng lên 28% (từ khoảng 4% hiện nay), chỉ sau hai thành phố Tokyo và New York. Trong khi chờ đến lúc đó, bus vẫn là phương tiện giao thông chính bên trong mỗi nửa cũng như giữa hai nửa thành phố, chuyên chở 2,2 triệu lượt hành khách mỗi ngày. Metrobus, một dạng bus nhanh, đi qua Cầu Bosphorus, có các đường nhánh dành riêng dẫn tới các bến đỗ. Cơ quan bus trên biển Istanbul (İDO) vận hành một tổ hợp những bến phà chỉ cho hành khách và các bến phà dành cho cả xe con và hành khách tới các cảng ở hai bờ Bosphorus, cho tới tận Biển Đen về phía bắc. Với các điểm dừng xung quanh Biển Marmara, İDO chính là tổ chức hệ thống bến phà đô thị lớn nhất thế giới. Điểm đỗ chính của tàu bè loại này của thành phố là Cảng Istanbul ở Karaköy, với công suất 1 vạn người mỗi giờ Trong khi hầu hết du khách đến Istanbul bằng đường hàng không, vẫn có khoảng nửa triệu lượt du khách nước ngoài tới thành phố bằng đường biển mỗi năm.
Dịch vụ đường sắt quốc tế từ Istanbul xuất hiện năm 1889, với một tuyến nối giữa Bucharest với Ga Sirkeci của Istanbul, về sau trở nên nổi tiếng vì là ga cuối của tuyến Tốc hành Phương Đông bắt đầu từ Paris. Dịch vụ thông thường tới Bucharest và Thessaloniki tiếp tục hoạt động cho đền đầu những năm 2010, khi tuyến đi Bucharest bị ngừng để xây Marmaray còn tuyến sau chấm dứt do khủng hoảng nợ công Hy Lạp. Sau khi Ga Haydarpaşa mở cửa năm 1908, nó hoạt động như ga cuối phía tây tuyến Đường sắt Baghdad và phần mở rộng của Đường sắt Hejaz; ngày nay, không dịch vụ nào kể trên phục vụ trực tiếp ở Istanbul. Các dịch vụ đi tới Ankara và các nơi khác trên khắp Thổ Nhĩ Kỳ thông thừong do hệ thống Đường sắt Nhà nước Thổ Nhĩ Kỳ cung cấp, tuy nhiên việc xây dựng Marmaray và tuyến đường sắt cao tốc Istanbul-Ankara buộc ga đóng cửa năm 2012. Người ta mong chờ các ga mới để thay thế hai ga kể trên và kết nối mạng lưới đường sắt rời rạc của thành phố mở cửa khi hoàn thành dự án Marmaray; cho đến khi đó, Istanbul hiện không có dịch vụ đường sắt nội thị nào. Thay vào đó các công ty buýt tư nhân vận hành các tuyến đường dọc theo-và cả bên ngoài-những tuyến đường sắt. Bến xe buýt chính của Istanbul lớn nhất châu Âu, với công suất hàng ngày 15.000 chuyến xe buýt với 600 nghìn hành khách, phục vụ các điểm đến xa tới tận Frankfurt.
Istanbul có hai sân bay quốc tế, trong đó Sân bay quốc tế Atatürk lớn hơn. Sân bay này nằm cách trung tâm thành phố 24 km về phía tây, vận chuyển 37,4 triệu lượt hành khách vào năm 2011, xếp thứ 8 châu Âu và thứ 30 thế giới. Sân bay quốc tế Sabiha Gökçen, cách trung tâm thành phố 45 km về phía đông nam, mở vào năm 2011 để giảm tải cho sân bay Atatürk. Thống trị bởi các hãng hàng không giá rẻ, sân bay thứ hai này nhanh chóng được du khách biết đến rộng rãi, đặc biệt từ khi nó khai thác thêm một nhà ga hàng không mới năm 2009; Sabiha Gökçen tiếp nhận 12,7 triệu lượt hành khách năm 2011, là năm mà Hội đồng Sân bay Quốc tế (ACI) gọi sân bay này là sân bay tăng trưởng nhanh nhất thế giới. Một sân bay thứ ba nữa, ở bờ Biển Đen, đang chờ duyệt dự án.
== Chú thích ==
== Tham khảo ==
=== Thư mục ===
== Liên kết ngoài ==
Trang web chính thức của Khu tự trị đô thị Istanbul
Trang web chính thức của Thống đốc Istanbul
Lonely Planet Istanbul
[1]
All Information About Istanbul
Istanbul Weather Forecast Information
Hướng dẫn du lịch Istanbul |
hàng bông.txt | Phố Hàng Bông hiện nay (tiếng Pháp: Rue du Coton) là một phố nối phường Hàng Gai qua phường Hàng Bông đến phường Cửa Nam, quận Hoàn Kiếm, trong khu phố cổ Hà Nội, chạy từ ngã tư Hàng Bông-Hàng Gai-Hàng Trống-Hàng Hòm đến cửa ô Cửa Nam, dài 932 mét. Bên dãy lẻ của phố kết thúc ở số nhà 223, đoạn giao nhau vườn hoa Cửa Nam giữa phố Hàng Bông với phố Tràng Thi, Thợ Nhuộm; bên dãy chẵn của phố kéo dài đến số nhà 254, góc tiếp giáp với phố Đình Ngang là phố ngắn thứ nhì ở Hà Nội (dài 54 mét, sau phố Hồ Hoàn Kiếm dài 52 mét).
== Địa hình ==
Phố Hàng Bông không cao lắm, tuy nhiên các phố chạy cắt ngang (Hàng Trống, Hàng Hòm, Hàng Mành, Lý Quốc Sư, ngõ Tạm Thương, phố Đường Thành, Phủ Doãn, Quán Sứ, Hàng Da, ngõ Hội Vũ, phố Phùng Hưng, Thợ Nhuộm, ngõ Hàng Bông) lại dốc xuống nên phố ít bị ngập. Những cơn mưa to (như năm 2008) phố cũng chỉ bị ngập một chút rồi nước rút đi rất nhanh.
Hàng Bông thế kỷ 20 là một trong số những tuyến phố Hà Nội gắn liền với tàu điện (trước năm 1991). Do đặc tính của đường ray tàu điện nổi lên trên mặt đường nên đây cũng là nguyên nhân gây ra nhiều tai nạn giao thông thời kỳ đó ở phố Hàng Bông nói riêng và ở Hà Nội nói chung.
== Lịch sử ==
Hàng Bông trước kia gồm nhiều đoạn phố, có tên riêng:
Hàng Hài, còn có tên gọi trong dân gian là Hàng Bông Hài ở trên đất thôn Cổ Vũ (thôn này từ giữa thế kỷ 19 hợp nhất với thôn Kim Bát thượng thành thôn Kim Cổ), đoạn từ phố Hàng Gai đến phố Hàng Mành: có những cửa hàng bán giày hài, nón, đồ thờ điện bằng giấy. Hài thật có đế bằng gỗ vông, mũi bằng lụa thêu kim tuyến. Hài giả bằng giấy ngũ sắc trang kim dùng cho việc thờ cúng. Đoạn phố này có đền Phúc Hậu thờ ông tổ nghề tráng gương nên còn được gọi là Hàng Gương.
Hàng Bông Đệm trên đất thôn cũ Kim Bát Hạ, đoạn từ đầu Hàng Mành đến phố Hàng Da: có nhiều nhà làm nghề bật bông, bán mền bông, chăn đệm. Cả hai thôn Kim Bát thượng và hạ đều thuộc tổng Tiền Túc, huyện Thọ Xương; tới giữa thế kỷ 19, tổng này đổi thành Thuận Mỹ.
Hàng Bông Cây Đa Cửa Quyền, trên đất mấy thôn cũ Đông Mỹ - Thương Môn Đông Hạ, đoạn từ góc Hàng Da-Quán Sứ đến ngõ Hội Vũ, có ngôi miếu nhỏ thờ Cô Quyền, cạnh miếu có cây đa cũng gọi cây đa Cô Quyền hoặc cây đa Cửa Quyền, hiện ngôi miếu đã bị sét đánh đổ và cây đa bị đốn. Hiện có những cửa hàng cho thuê xe ô tô con tập trung ở đoạn phố này.
Hàng Bông Lờ, từ ngõ Hội Vũ đến Cửa Nam, đất thôn cũ Yên Trung Hạ, tổng Tiền Nghiêm (sau là Vĩnh Xương): bán các loại đó, đơm, lờ đánh cá. Xưa hơn nữa thì nơi đây chuyên nhuộm màu xanh nên có tên là phố Hàng Lam
Hàng Bông Thợ Nhuộm, gọi tắt là Hàng Bông Nhuộm, đoạn phố ngắn cuối phố Hàng Bông trông ra cạnh phía đông của vườn hoa Cửa Nam trên đất thôn cũ Đông Mỹ. Hồi đầu thế kỷ 20, người phố này gốc làng Huê Cầu và Liêu Xá (huyện Yên Mỹ, Hải Hưng) có nghề nhuộm thâm các loại vải lụa.
Ngõ Hàng Bông: chạy từ phố Tống Duy Tân đến cuối phố Hàng Bông giáp Cửa Nam, là một phần của khu phố Ẩm thực. Ngõ này thời Pháp tên là phố Lôngđơ (Rue Lhonde). Sau năm 1945 đổi là phố Cấm Chỉ. Đến năm 1964, đổi là ngõ Hàng Bông Lờ, và hiện nay là ngõ Hàng Bông. Tên "Cấm Chỉ" có nhiều giải thích:
Đây là lối đi vào Dương mã thành, tức là một mang cá của cửa Đông Nam, cấm không cho một ai đi lại khi đã có trống, chuông thu không (chiều tối).
Chúa Chổm (nhà Lê) ra chỉ cấm không cho những người đòi nợ đi qua đấy đòi nợ tiếp. (Sự tích câu "Nợ như Chúa Chổm")
Lần ngược lịch sử xa hơn nữa về thời chúa Trịnh, phố Hàng Bông nằm trong quần thể vương phủ của chúa Trịnh Tùng, khởi dựng vào năm 1595. Thời đó vương phủ gồm 52 cung, phủ, điện, đài, vườn ngự uyển, hồ, trại lính, trải từ Cửa Nam, Hàng Bông, vòng Bà Triệu tới hồ Hale, có 3 cửa chính: cửa chính nam là phố Bà Triệu, Tuyên Vũ Môn (có Ngũ Long Lầu, cao 70m, là Bưu điện Hà Nội ngày nay) và Diệu Đức (thông ra phố Cửa Nam).
Khoảng năm 1781, Hải Thượng Lãn Ông Lê Hữu Trác lên kinh chữa bịnh cho chúa Trịnh Sâm và thế tử Trịnh Cán đã đi qua phố Hàng Bông. Trong Thượng kinh ký sự, ông chép vào thành qua cửa Vũ Quan:
"từ cửa cung Khánh Thụy qua đình Quảng Minh, rồi qua cửa Đại Hưng, theo đường phía hữu (bên phải) đi hơn nửa dặm nữa thì đến dinh quan Chính Đường".
Đoạn đường rẽ tay phải này nhiều khả năng chính là phố Hàng Bông ngày nay.
== Văn hóa ==
Phố Hàng Bông về đêm được thanh niên, học sinh rất thích tụ họp vì ở đây (góc ngã ba Hàng Bông-ngõ Tạm Thương) có món nem chua rán, nem chua nướng rất hợp túi tiền và khẩu vị tuổi trẻ. Cuối phố, bên dãy phải (nhà số chẵn) có cửa hàng bánh ngọt rất nổi tiếng, nơi tập trung nhiều khách tây ba lô. Vào những dịp lễ hội, phố này là một nơi tập trung bán cờ, áo phông có in hình để cổ động.
Phố Hàng Bông cuối thế kỷ 20, đầu thế kỷ 21 đang dần là một phố tập trung nhiều cửa hàng thời trang sang trọng nhất Hà Nội, vượt các phố Hàng Đào, phố Lương Văn Can, Trần Nhân Tông.Ngày nay con phố này cũng là cảm hứng cho sự hình thành của khách sạn Silk Path (khách sạn 4 sao gồm 106 phòng, nằm ở đoạn cắt phố Hàng Bông - Phùng Hưng).
Tại đây đã từng có một số phòng trà ca nhạc, là nơi tụ tập của dân văn nghệ sĩ. Trong hồi ký của mình, Phạm Duy viết:
Phố Hàng Bông xưa (thời Pháp thuộc) là nơi có khá nhiều nhà in, nhà sách, nhà báo:
Nhà sách Cẩm Văn đường có từ đầu thế kỷ 20 tại số nhà 11, nhà báo Tân Thanh tạp chí ở 26, nhà sách Quốc Hoa số 41, nhà in Nghiêm Hàm số 58, nhà in Phúc Vĩnh Thành số 63, sau đổi là in Trung Bắc; nhà báo Đông Dương tạp chí cũng ở số 63 từ năm 1913. Lê Văn Phúc tách khỏi Phúc Vĩnh Thành lập riêng nhà in ở 18 rồi sau lại về 80 Hàng Gai. Ông chủ hiệu sách Cẩm Văn đường sau này có mua nhà ở thôn Quan Thổ, tổng Hữu Nghiêm, huyện Thọ Xương; sau này ngõ đấy được đặt tên là ngõ Cẩm Văn.
Nhà sách Tản Đà thư điếm số 58 (trước là toà soạn báo bán nguyệt san Hữu Thanh, ra số đầu tiên ngày 1/8/1921), nay là cửa hàng Vera trong ảnh bên
Nhà in Tân Dân số 93 của nhà viết kịch Vũ Đình Long. Số nhà 93 cũng là nơi đặt trụ sở các tạp chí: Tiểu thuyết thứ bảy, Phổ thông bán nguyệt san, Tao Đàn, Ích Hữu, Truyền bá...
Cửa hàng trang sức hợp kim giả vàng Mỹ Ký ở số 118 với bảng tên hiệu "Mie Ky", sau này tên Mỹ Ký được đặt cho một ngõ ở cuối phố Bạch Mai
Nhà in Mạc Đình Tư số 136, sau này có công ty in Thống Nhất tại đây. Nhà in Mạc Đình tư chuyển cho con rể là nhà tư sản Lê Văn Tân tiếp tục phát triển nghề in, sau này lại truyền cho con trai là Lê Văn Hân từ Pháp trở về với nghề in và thêm nghề đúc chữ.
Trường tiểu học mở tại số nhà 145 gần ngõ Hội Vũ.
Nhà sách Thanh Đức ở số nhà 175 Hàng Bông, những năm 50 của thế kỷ 20, nay đã chuyển sang số nhà 65. Theo lời của bà Cả, một bà già sống ở đây lâu năm thì đoạn ba số nhà 61, 63 và 65 Hàng Bông cùng vời ba số nhà đằng sau (số 20, 22 và 24 Chân Cầm) ngày xưa là do một cung phi của vua Thành Thái thải ra xây dựng nên. Vì bà là vợ vua nên không thường dân nào dám lấy, kết quả bà lấy một ông cố đạo người Y Pha Nho và xây dãy nhà này vào khoảng giữa thập niên 90 của thế kỷ 19 để cho thuê rồi sau đó bán đi.
Nhà sách Đông Tây số 193, nhà báo Văn học tạp chí ở 195
== Di tích ==
Đình Kim Cổ (đền Phúc Hậu) ở số 2 thờ ông tổ nghề làm gương soi. Ông này vốn người hay làm phúc, hễ nhà nào có trẻ bị lạc thì ông đi tìm bằng được, nên được gọi là ông Phúc Hậu. Bài vị tại đây ghi tên ông là Trần Nhuận Đình, đã từng đi sứ phương Bắc đời nhà Trần}
Trường Hàng Hài ở đoạn số nhà 12-14 Hàng Bông: do ông cử Kim Cổ tên là Ngô Văn Dạng phụ trách, chuyên dạy Hán học. Năm 1873, ông cử từng tổ chức một đội quân chống trả quân Pháp.
Đình Yên Thái ở ngõ Tạm Thương thờ Nguyên phi Ỷ Lan (1044?–1117). Cũng thờ bà chúa này còn có chùa Kim Cổ ở 73 Đường Thành, góc tiếp giáp với phố Hàng Bông.
Đình Lương Ngọc ở số nhà 68, do dân di cư về đây dựng lấy tên theo gốc làng Lương Ngọc ở huyện Bình Giang, Hải Dương, quê của nhà thơ Phạm Quý Thích
Đình Kim Hội (đình Quy Long), góc đường Quán Sứ, do các nhà buôn bông dựng lên ở ngõ 95 Hàng Bông thờ Trần Hưng Đạo. Tại đây còn đôi câu đối:
Tây Kết phấn binh uy, vạn cổ anh thanh kinh Bắc địa
Đông A lưu thánh tích, thiên thu linh ứng chấn Nam thiên
Đền Thiên Tiên ở 120 thờ Lý Thường Kiệt. Bên ngoài có đền Tàu thờ Chư Vị.
Quán Vọng Tiên hay Vọng Tiên Lâu ở 120b, nơi thờ Lê Thánh Tông gặp tiên
Đình Đông Mỹ ở nhà số 127, do một nhóm lái buôn lớn lập ra để hội họp tế lễ.
== Giao thông ==
Trước kia, khoảng cuối thế kỷ 19 đầu thế kỷ 20, Hà Nội bắt đầu phát triển hệ thống giao thông công cộng sử dụng năng lượng điện chạy trên đường ray sắt. Tuyến đầu tiên chạy nối Bờ Hồ - Thụy Khuê bắt đầu hoạt động 13/9/1900 và tuyến thứ hai 10/11/1901 nối Bờ Hồ - Hàng Gai - Hàng Bông - Cửa Nam - Sinh Từ (nay là Nguyễn Khuyến) vòng qua trước mặt Văn Miếu - Quốc Tử Giám - Hàng Bột (nay là Tôn Đức Thắng) - Thái Hà. Tuyến thứ hai này năm 1993 bỏ đoạn Cửa Nam – Sinh Từ - Văn Miếu, rẽ theo đường Nguyễn Thái Học ngày nay, vòng lưng Văn Miếu sang Hàng Bột. Hành khách mua vé hạng nhất được ngồi ngang, nhìn thẳng trên ghế đệm. Tất cả các tuyến tàu điện này đều đã được rỡ bỏ từ năm 1991, thay thế bằng xe buýt nội thành Hà Nội.
Hiện phố Hàng Bông cấm xe ôtô 1 chiều hướng từ góc phố Phùng Hưng đi về phố Hàng Gai (xe bus được phép hoạt động). Các tuyến xe bus hoạt động trên phố đến hết năm 2011 gồm số 9 và 14. Từ năm 2009, hai tuyến này không còn đi qua phố Hàng Bông nữa.
== Xem thêm ==
Khu phố cổ Hà Nội
Xe buýt nội thành Hà Nội
Kim Tiến (phát thanh viên)
Khánh Ly: "nhà tôi ở số 106 phố Hàng Bông"
== Tham khảo ==
== Liên kết ngoài ==
Góc ảnh phố Hàng Bông
Lịch sử phố Hàng Bông Ban quản lý phố cổ Hà Nội
Nhà em ở Hàng Bông - Kim HB (live at BYU) trên YouTube Đã tải lên vào 24 thg 2, 2010 |
brasil.txt | Brasil (phiên âm: Bra-din hay Bra-xin, tiếng Bồ Đào Nha: Brasil), tên gọi chính thức là Cộng hòa Liên bang Brasil (tiếng Bồ Đào Nha: República Federativa do Brasil), là quốc gia lớn nhất Nam Mỹ. Brasil là quốc gia lớn thứ năm trên thế giới về diện tích lẫn dân số với hơn 190 triệu người. Brasil là quốc gia nói tiếng Bồ Đào Nha duy nhất ở châu Mỹ và lớn nhất trên thế giới.
Nước này tiếp giáp với 11 quốc gia và vùng lãnh thổ Nam Mỹ: giáp với Venezuela, Guyana, Suriname và Guyane thuộc Pháp về phía bắc, Colombia về phía tây bắc, Bolivia và Peru về phía tây, Argentina và Paraguay về phía tây nam và Uruguay về phía nam. Phía đông Brasil là một đường bờ biển dài 7.491 km tiếp giáp với Đại Tây Dương. Lãnh thổ Brasil bao gồm nhiều quần đảo như Fernando de Noronha, Đảo san hô Rocas, Saint Peter và Paul Rocks, và Trindade và Martim Vaz. Brasil tiếp giáp với tất cả các nước ở Nam Mỹ khác trừ Ecuador và Chile.
Brasil là thuộc địa của Bồ Đào Nha từ khi Pedro Álvares Cabral đặt chân đến năm 1500 cho đến năm 1815 khi nước này được nâng lên cho Vương quốc Liên hiệp với Bồ Đào Nha và Algarves. Liên kết thuộc địa tan vỡ năm 1808 khi thủ đô của Vương quốc Bồ Đào Nha được chuyển từ Lisboa đến Rio de Janeiro sau khi Napoléon xâm lược Bồ Đào Nha. Brasil giành được độc lập từ Bồ Đào Nha vào năm 1822. Đầu tiên là Đế quốc Brasil, sau đó trở thành một nước cộng hòa vào năm 1889 mặc dù nền lập pháp lưỡng viện, bây giờ là Quốc hội, có từ năm 1824, khi hiến pháp đầu tiên được thông qua. Hiến pháp hiện nay xác lập Brazil là một nước cộng hòa liên bang. Liên bang được hình thành bởi liên hiệp của Quận liên bang, 26 bang và 5.564 khu tự quản.
Kinh tế Brasil là nền kinh tế lớn thứ chín trên thế giới dựa trên GDP danh nghĩa và thứ bảy dựa trên GDP sức mua tương đương. Đây là một trong những nền kinh tế phát triển nhanh nhất thế giới. Cải cách kinh tế đã đem lại cho đất nước sự công nhận mới của quốc tế. Brasil là thành viên sáng lập của Liên Hiệp Quốc, G20, CPLP, Liên minh Latin, Tổ chức các bang Ibero-Mỹ, Mercosul và Liên minh các Quốc gia Nam Mỹ và là một trong bốn nước BRIC. Brasil cũng là quê hương của môi trường tự nhiên và hoang dã phong phú và nhiều tài nguyên tự nhiên ở các khu được bảo tồn.
== Lịch sử ==
=== Thời kỳ Tiền Colombo ===
Những hóa thạch được tìm thấy tại Brasil là bằng chứng về việc con người đã đến định cư tại vùng đất này ít nhất 8000 năm về trước. Tuy nhiên câu hỏi về việc ai là người đầu tiên đến Brasil vẫn còn là một vấn đề gây tranh cãi. Nhìn chung các nhà khảo cổ học cho rằng đó là những thợ săn người châu Á di cư qua eo biển Bering qua Alaska, xuống châu Mỹ rồi đến Brasil. Tuy nhiên một số nhà khảo cổ khác lại cho rằng những cư dân cổ hơn tại Brasil có nguồn gốc gần với người châu Úc và châu Phi bản địa.
Trong khi người da đỏ phía tây dãy núi Andes phát triển những quốc gia thành thị có nền văn hóa cao, tiêu biểu như Đế chế Inca ở Peru thì người da đỏ ở Brasil lại sống theo hình thức bán du mục gồm săn bắn, đánh bắt cá và trồng trọt. Họ không có chữ viết hay xây dựng những công trình kiến trúc quy mô cho nên việc tìm hiểu về họ rất khó khăn, chủ yếu là qua đồ gốm. Khi người châu Âu tìm ra Brasil, mật độ thổ dân ở Brasil rất thấp, dân số chỉ khoảng 1 triệu người. Ngày nay, thổ dân da đỏ ở Brasil một phần bị lai với các chủng tộc khác hoặc sống nguyên thủy trong những rừng Amazon.
=== Thuộc địa Brasil ===
Brasil được khám phá bởi nhà thám hiểm Pedro Álvares Cabral người Bồ Đào Nha vào ngày 22 tháng 4 năm 1500.
Thời gian đầu, người Bồ Đào Nha không mấy mặn mà với Brasil mà tập trung nhiều hơn vào các hoạt động thương mại với Trung Quốc, Ấn Độ và Indonesia. Với nguồn tài nguyên và đất đai chưa khai phá hết sức lớn, nhiều nước châu Âu khác như Pháp và Hà Lan cũng muốn lập thuộc địa tại Brasil song cuối cùng đều thất bại trước người Bồ Đào Nha.
Tên gọi Brasil bắt nguồn từ tên một mặt hàng xuất khẩu chủ lực của vùng đất này: cây vang (trong tiếng Bồ Đào Nha là Pau-Brasil), một loại cây cung cấp nhựa để làm phẩm nhuộm màu đỏ. Sang thế kỉ 17, mía đường dần thay thế cây vang để trở thành mặt hàng xuất khẩu chủ lực của Brasil. Các quý tộc và chủ đất người Bồ Đào Nha đã lập ra các đồn điền trồng mía rộng lớn và bắt hàng triệu người da đen từ châu Phi sang làm nô lệ làm việc trên các đồn điền này. Người da đen bị đối xử rất khắc nghiệt nên họ đã nhiều lần nổi dậy đấu tranh, mà tiêu biểu là cuộc khởi nghĩa năm 1835 tại Salvador, Bahia song thường không thành công.
=== Đế chế Brasil ===
Vào năm 1808, để chạy trốn khỏi quân đội Napoléon, hoàng gia Bồ Đào Nha cùng chính phủ đã di cư đến thủ đô lúc bấy giờ của Brasil là Rio de Janeiro. Đây là sự di cư xuyên lục địa của một hoàng tộc duy nhất trong lịch sử. Năm 1815, vua João VI của Bồ Đào Nha tuyên bố Brasil là một vương quốc hợp nhất với Bồ Đào Nha và Algarve (nay là miền nam Bồ Đào Nha). Từ đó, về mặt danh nghĩa thì Brasil không còn là một thuộc địa nữa nhưng quyền nhiếp chính thì vẫn nằm trong tay của Bồ Đào Nha. Khi João VI trở về Bồ Đào Nha vào năm 1821, con trai ông là Pedro lên nối ngôi vua Brasil. Ngày 7 tháng 9 năm 1822, trước phong trào đấu tranh của người dân, Pedro đã tuyên bố Brasil ly khai khỏi Bồ Đào Nha ("Độc lập hay là Chết") và thành lập Đế chế Brasil độc lập. Vua Pedro tự phong danh hiệu Hoàng đế Pedro I của Brasil và thường được biết đến với tên gọi Dom Pedro.
Hoàng đế Pedro I trở về Bồ Đào Nha vào năm 1831 do những bất đồng với các chính trị gia Brasil. Con trai ông là vua Pedro II lên ngôi năm 1840 khi mới 14 tuổi sau 9 năm chế độ nhiếp chính. Pedro II đã xây dựng một chế độ quân chủ gần giống nghị viện kéo dài đến năm 1889 khi ông bị phế truất trong một cuộc đảo chính để thành lập nước cộng hòa. Trước khi kết thúc thời gian cai trị của mình, vua Pedro II đã xóa bỏ chế độ chiếm hữu nô lệ tại Brasil vào năm 1888. Đây cũng chính là nguyên nhân khiến ông bị giới chủ nô căm ghét và loại bỏ khỏi ngai vàng.
=== Nền Cộng hòa cũ (1889-1930) ===
Pedro II bị phế truất vào ngày 15 tháng 11 năm 1889 trong một cuộc đảo chính quân sự của những người cộng hòa. Tướng Deodero de Fonseca, người lãnh đạo cuộc đảo chính đã trở thành tổng thống trên thực tế đầu tiên của Brasil. Tên của đất nước được đổi thành Cộng hòa Hợp chúng quốc Brasil (đến năm 1967 thì đổi lại thành Cộng hòa Liên bang Brasil như ngày nay). Trong khoảng thời gian từ năm 1889 đến năm 1930, Brasil là một quốc gia với chính phủ theo thể chế dân chủ lập hiến, với chức tổng thống luân phiên giữa hai bang lớn là São Paulo và Minas Gerais.
Đến cuối thế kỉ 19, cà phê đã trở thành mặt hàng xuất khẩu chủ lực của Brasil thay cho đường mía. Việc buôn bán cà phê với nước ngoài đã làm nên sự thịnh vượng của Brasil về mặt kinh tế, đồng thời cũng thu hút một số lượng đáng kể người nhập cư đến từ các quốc gia châu Âu, chủ yếu là Italia và Đức. Dân số tăng lên cùng với nguồn nhân công dồi dào đã cho phép đất nước Brasil phát triển các ngành công nghiệp và mở rộng lãnh thổ vào sâu hơn trong lục địa.
Thời kỳ này, với tên gọi là "Nền Cộng hòa cũ" kết thúc vào năm 1930 do một cuộc đảo chính quân sự mà sau đó Getúlio Vargas lên chức tổng thống.
=== Chủ nghĩa dân túy và sự phát triển (1930-1964) ===
Getúlio Vargas lên nắm quyền sau cuộc đảo chính của giới quân sự năm 1930. Ông đã cai trị Brasil như một nhà độc tài với những thời kỳ dân chủ xen kẽ. Sau năm 1930, chính phủ Brasil vẫn tiếp tục thành công trong các dự án phát triển nông nghiệp, công nghiệp và mở mang vùng lãnh thổ nội địa rộng lớn của Brasil.
Tổng thống Getúlio Vargas đã cai trị như một nhà độc tài trong hai nhiệm kỳ 1930-1934 và 1937-1945. Ông tiếp tục được bầu làm tổng thống Brasil trong khoảng thời gian 1951-1954. Getúlio Vargas đã có những ý tưởng mới về nền chính trị của Brasil để thúc đẩy hơn nữa sự phát triển đất nước. Ông hiểu rằng trong bối cảnh nền công nghiệp đang phát triển mạnh tại Brasil lúc bấy giờ, những người công nhân sẽ trở thành một thế lực chính trị đông đảo tại đây, kèm theo một hình thức quyền lực chính trị mới - chủ nghĩa dân túy. Nắm bắt được điều đó, tổng thống Vargas đã kiểm soát nền chính trị của Brasil một cách tương đối ổn định trong vòng 15 năm đến khi ông tự tử vào năm 1954.
Sau hai giai đoạn độc tài dưới thời tổng thống Getúlio Vargas, nhìn chung chế độ dân chủ đã chiếm ưu thế tại Brasil trong khoảng thời gian 1945-1964. Một trong những sự kiện quan trọng diễn ra trong thời kỳ này là thủ đô của Brasil được chuyển từ thành phố Rio de Janeiro sang thành phố Brasília.
=== Chế độ độc tài quân sự (1964-1985) ===
Những khủng hoảng về mặt kinh tế, xã hội đã dẫn tới cuộc đảo chính của giới quân sự vào năm 1964. Cuộc đảo chính đã nhận được sự giúp đỡ một số chính trị gia quan trọng, ví dụ như José de Magalhães Pinto, thống đốc bang Minas Gerais và nhận được sự hậu thuẫn của chính phủ Mỹ. Sau cuộc đảo chính, một giai đoạn độc tài quân sự được thiết lập tại Brasil trong vòng 21 năm với việc quân đội kiểm soát toàn bộ nền chính trị của đất nước. Trong những năm đầu tiên sau đảo chính, kinh tế Brasil vẫn tiếp tục tăng trưởng nhanh do các chính sách cải cách kinh tế được ban hành. Nhưng sau đó, những cải cách này đã không phát huy được tác dụng và khiến nền kinh tế Brasil lâm vào tình trạng khó khăn. Nợ nước ngoài tăng lên nhanh chóng trong khi hàng ngàn người Brasil bị chính phủ độc tài quân sự trục xuất, bắt giữ, tra tấn và thậm chí bị giết hại.
=== Brasil từ năm 1985 đến nay ===
Năm 1985, Brasil bắt đầu quay trở lại tiến trình dân chủ. Tancredo Neves được bầu làm tổng thống nhưng ông đã qua đời trước khi tuyên thệ nhậm chức, phó tổng thống José Sarney được cử lên thay thế. Vào tháng 12 năm 1989, Fernando Collor de Mello được bầu làm tổng thống và ông đã dành những năm đầu tiên của nhiệm kỳ để khắc phục tình trạng siêu lạm phát của Brasil, lúc bấy giờ đã đạt mức 25% mỗi tháng. Những tổng thống kế nhiệm ông đã tiếp tục duy trì các chính sách kinh tế mở như tự do thương mại và tiến hành tư nhân hóa các xí nghiệp của nhà nước.
Tháng 1 năm 1995, Fernando Henrique Cardoso nhậm chức tổng thống Brasil sau khi đánh bại ứng cử viên cánh tả Lula da Silva. Ông đã có những kế hoạch cải cách kinh tế hiệu quả và đưa Brasil vượt qua cuộc khủng hoảng tài chính năm 1998. Năm 2000, tổng thống Condor đã yêu cầu phải công khai những tài liệu về mạng lưới các chế độ độc tài quân sự tại Nam Mỹ.
Ngày nay, một trong những vấn đề khó khăn nhất của đất nước Brasil là sự bất bình đẳng trong thu nhập cũng như nhiều vấn đề xã hội nhức nhối khác. Vào thập niên 1990, vẫn còn khoảng một phần tư dân số Brasil sống dưới mức 1 đô la Mỹ một ngày. Những căng thẳng về xã hội và kinh tế này đã giúp ứng cử viên cánh tả Lula de Silva thắng cử tổng thống vào năm 2002. Sau khi nhậm chức, các chính sách kinh tế dưới thời tổng thống Cardoso vẫn được duy trì. Mặc dù có một vài tai tiếng trong chính phủ song nhiều chính sách xóa đói giảm nghèo của tổng thống Silva đã thu được thành công nhất định. Ông đã nâng mức lương tối thiểu từ 200 real lên 350 real trong vòng 4 năm, xây dựng chương trình Fome Zero (Không có người đói) để giải quyết nạn đói trong tầng lớp người nghèo tại Brasil. Những chính sách nhằm giảm tỉ lệ thất nghiệp và sự phụ thuộc vào dầu lửa cũng đã mang lại hiệu quả tích cực.
== Chính trị ==
=== Chính phủ ===
Theo hiến pháp, Brasil là một quốc gia theo thể chế cộng hòa liên bang, được tạo lập dựa trên 4 thực thể chính trị là Liên bang, bang, các chính quyền thành phố tự trị và quận liên bang. Không có sự phân cấp cụ thể nào về quyền lực giữa các thực thể chính trị này. Chính quyền Brasil được chia thành các nhánh: lập pháp, hành pháp và tư pháp. Hoạt động của các nhánh này diễn ra độc lập với nhau và đồng thời được kiểm tra và điều chỉnh cân bằng sao cho thích hợp. Nhánh hành pháp và lập pháp được tổ chức ở cả 4 thực thể chính trị, trong khi nhánh tư pháp chỉ được tổ chức ở cấp Liên bang và bang.
Nhánh hành pháp được thực thi bởi chính phủ, trong khi nhánh lập pháp được thực thi bởi cả chính phủ và hai viện của quốc hội Brasil. Nhánh tư pháp hoạt động riêng rẽ với hai nhánh trên. Về nhánh hành pháp, người đứng đầu nhà nước là tổng thống Brasil có nhiệm kỳ 4 năm và được phép nắm tối đa 2 nhiệm kỳ. Đương kim tổng thống hiện nay của nước này là bà Dilma Rousseff, đắc cử tháng 10 năm 2010. Tổng thống có quyền chỉ định thủ tướng liên bang, có vai trò hỗ trợ cho tổng thống trong việc điều hành đất nước. Về nhánh lập pháp, Quốc hội của Brasil được chia làm 2 viện: thượng viện và hạ viện. Thượng viện Liên bang Brasil gồm có 81 ghế, phân bố đều mỗi 3 ghế cho 26 bang và quận liên bang (thủ đô) và có nhiệm kỳ 8 năm. Hạ viện có tổng cộng 513 ghế, được bầu cử theo nhiệm kỳ 4 năm và phân bố theo tỉ lệ bang.
Một trong những nguyên tắc chính trị của nền cộng hòa là hệ thống đa đảng, như một sự đảm bảo về tự do chính trị. Hiện nay có tổng cộng 15 đảng chính trị lớn nhỏ có ghế trong Quốc hội Brasil. Bốn đảng lớn nhất hiện nay là Đảng Công nhân (PT), Đảng Dân chủ Xã hội Brasil (PSDB), Đảng Vận động Dân chủ Brasil (PMDB) và Đảng Dân chủ(tiền thân là Đảng Mặt trận Tự do - PFL).
=== Luật pháp ===
Luật pháp của Brasil dựa trên luật La Mã - Germania truyền thống. Hiến pháp Liên bang, được thông qua vào ngày 5 tháng 10 năm 1988 là bộ luật cơ bản nhất của Brasil. Tất cả những quyết định của nhánh lập pháp và tòa án đều phải dựa trên Hiến pháp Brasil. Các bang của Brasil đều có hiến pháp riêng của bang mình, nhưng không được trái với Hiến pháp Liên bang. Các chính quyền thành phố và quận liên bang không có hiến pháp riêng mà có bộ luật của riêng mình, gọi là luật cơ bản (leis orgânicas).
Quyền lực pháp lý được thực thi bởi nhánh tư pháp, mặc dù trong một số trường hợp đặc biệt Hiến pháp Brasil cũng cho phép Thượng viện Liên bang thông qua những quyết định về mặt luật pháp. Cơ quan quyền lực cao nhất trong ngành tư pháp của Brasil là Tòa án Liên bang Tối cao. Tuy nhiên hệ thống tư pháp của Brasil bị chỉ trích làm việc kém hiệu quả trong vài thập kỉ qua trong việc thực hiện nốt các bước cuối của việc xét xử. Các vụ kiện cáo thường mất tới vài năm để giải quyết và đi đến phán quyết cuối cùng.
=== Quan hệ ngoại giao và quân đội ===
Brasil là quốc gia dẫn đầu khu vực Mỹ Latinh về chính trị và kinh tế. Tuy nhiên, những bất ổn về kinh tế và xã hội trong lòng Brasil đã ngăn cản nước này tiến lên và trở thành một cường quốc có ảnh hưởng lớn trên thế giới. Trong suốt giai đoạn từ sau Chiến tranh thế giới thứ hai đến thập niên 1990, các chính phủ Brasil đều tìm cách mở rộng ảnh hưởng của nước này ra tầm quốc tế bằng cách tập trung phát triển kinh tế và có một chính sách ngoại giao độc lập. Những năm gần đây, Brasil ngày càng tăng cường quan hệ với các nước Mỹ Latinh láng giềng, đồng thời đóng vai trò quan trọng trong các sứ mệnh của Liên Hiệp Quốc. Chính sách ngoại giao của Brasil là có quan điểm hòa bình trong các vấn đề tranh chấp quốc tế và không can thiệp vào tình hình nước khác.
Brasil là thành viên của nhiều tổ chức quốc tế như Liên Hiệp Quốc, Tổ chức Thương mại Thế giới và Khối Thị trường chung Nam Mỹ (Mercosur)...
Brasil thiết lập quan hệ ngoại giao với Cộng hoà Xã hội chủ nghĩa Việt Nam ngày 8 tháng 5 năm 1989.
Quân đội Brasil bao gồm 3 bộ phận chính là lục quân, hải quân và không quân. Lực lượng cảnh sát được coi là một nhánh của quân đội trong hiến pháp nhưng nằm dưới sự chỉ huy của mỗi bang. Brasil là quốc gia có lực lượng quân đội lớn nhất Mỹ Latinh, với tổng quân số là 287.000 quân nhân vào năm 2006. Tổng thống Brasil cũng là tổng chỉ huy quân đội của nước này. Chi phí cho quân sự của Brasil năm 2006 ước tính đạt khoảng 2,6% GDP. Brasil có chế độ nghĩa vụ quân sự dành cho nam giới tuổi từ 21-45, kéo dài trong khoảng 9 đến 12 tháng, còn tự nguyện thì tuổi từ 17-45. Tuy nhiên, với một nước có dân số lớn như Brasil thì đa phần nam giới nước này không phải gọi nhập ngũ. Brasil là nước đầu tiên tại Nam Mỹ chấp nhận phụ nữ phục vụ trong quân ngũ vào thập niên 1980. Vai trò chủ yếu của quân đội Brasil là bảo vệ chủ quyền quốc gia và tham gia vào các chiến dịch gìn giữ hòa bình của Liên hiệp Quốc tại nước ngoài.
== Phân chia hành chính ==
=== Các vùng ===
Lãnh thổ Brasil được chia thành năm vùng riêng biệt: Bắc, Đông Bắc, Trung Tây, Đông Nam và Nam.
Vùng Bắc chiếm 45,27% lãnh thổ Brasil nhưng lại là vùng có số lượng dân cư thấp nhất. Vùng Bắc có mức độ công nghiệp hóa và phát triển thấp (ngoại trừ Manaus, là nơi có một khu công nghiệp miễn thuế). Đây là nơi có nhiều rừng mưa nhiệt đới xanh tốt và nơi cư trú của một số lượng lớn người da đỏ.
Vùng Đông Bắc chiếm một phần ba dân số Brasil. Vùng này có nền văn hóa đa dạng, bao gồm những ảnh hưởng văn hóa thời thuộc địa Bồ Đào Nha, văn hóa châu Phi và văn hóa thổ dân da đỏ. Đây cũng là vùng nghèo nhất Brasil. Vùng Đông Bắc có mùa khô kéo dài và nhiều bãi biển đẹp nổi tiếng.
Vùng Trung Tây là vùng có diện tích lớn thứ hai tại Brasil, nhưng mật độ dân số lại thấp. Thủ đô của Brasil - thành phố Brasília, thuộc vùng này. Đây là nơi có đầm lầy Pantanal lớn nhất thế giới và một phần của rừng mưa Amazon nằm ở phía tây bắc. Về khí hậu, vùng này có hai mùa riêng biệt: mùa mưa (từ tháng 10 tới tháng 4) và mùa khô (từ tháng 5 tới tháng 9). Đây cũng là vùng nông nghiệp quan trọng nhất đất nước. Các thành phố lớn nhất là: Brasília, Goiânia, Campo Grande và Cuiabá.
Vùng Đông Nam là vùng giàu có tài nguyên và đông dân nhất nước. Riêng dân số vùng này đã lớn hơn dân số của bất kỳ một nước Nam Mỹ nào khác. Đây là nơi có hai thành phố lớn nhất của Brasil: Rio de Janeiro và São Paulo. Cảnh quan vùng này khá đa dạng, với trung tâm thương mại chủ yếu của đất nước là São Paulo, thành phố lịch sử Minas Gerais và bãi biển Rio de Janeiro nổi tiếng.
Vùng Nam là vùng giàu có nhất tại Brasil (tính theo GDP bình quân đầu người), với tiêu chuẩn sống tốt nhất cả nước. Đây cũng là vùng lạnh nhất Brasil, thỉnh thoảng có thể xuất hiện băng giá và tuyết ở một số vùng cao. Vùng này có nhiều người nhập cư Châu Âu sinh sống, chủ yếu là con cháu người Đức, người Ý và người Slav, mang theo những ảnh hưởng rõ rệt về văn hóa quê hương cũ của họ. Các thành phố lớn nhất là Curitiba và Porto Alegre.
=== Các bang ===
Brasil được tổ chức theo hình thức liên bang. Các bang của Brasil (estado) có quyền tự tổ chức chính phủ, pháp luật, duy trì an ninh công cộng và thu thuế. Chính phủ bang do một thống đốc bang (governador) đứng đầu, được bầu theo hình thức phổ thông đầu phiếu. Ngoài ra còn có một cơ quan lập pháp riêng của bang (assembléia legislativa).
Brasil gồm 26 bang và 1 quận liên bang (distrito federal), tổng cộng là 27 đơn vị liên bang. Quận liên bang của Brasil bao gồm thủ đô của nước này, Brasília.
Mỗi bang lại được chia thành nhiều hạt (municípios) với hội đồng lập pháp (câmara de vereadores) và một thị trưởng (prefeito) riêng. Các hạt này có quyền tự trị và về mặt hệ thống là độc lập với cả liên bang và chính phủ bang. Một hạt có thể gồm các thị trấn (distritos) khác bên cạnh khu vực, tuy nhiên các khu đô thị tự trị này không có chính phủ riêng biệt.
Tòa án được tổ chức ở mức liên bang và bang bên trong các quận được gọi là comarca. Một comarca có thể gồm nhiều khu đô thị tự trị.
== Địa lý ==
=== Lãnh thổ và địa hình ===
Brasil là một quốc gia rộng lớn. Tổng diện tích của nước này là 8.514.876,599 km², chiếm tới một nửa diện tích lục địa Nam Mỹ. Lãnh thổ Brasil tiếp giáp với các quốc gia và vùng lãnh thổ là Argentina, Bolivia, Colombia, Guiana thuộc Pháp, Guyana, Paraguay, Peru, Suriname, Uruguay và Venezuela. Brasil có quốc gia có diện tích lớn thứ năm trên thế giới, chỉ đứng sau Nga, Canada, Mỹ và Trung Quốc. Lãnh thổ nước này trải dài trên 4 múi giờ khác nhau. Brasil còn có một đường bờ biển dài 7367 km tiếp giáp với Đại Tây Dương.
Về địa hình, Brasil là một trong những nước có nhiều hệ thống sông lớn nhất trên thế giới. Nước này có tổng cộng 8 bồn địa lớn, nước của các con sông đi qua các bồn địa này để thoát ra Đại Tây Dương. Sông Amazon là con sông lớn nhất thế giới tính theo dung lượng nước và đồng thời là con sông dài thứ hai trên thế giới. Lưu vực sông Amazon rộng lớn và màu mỡ đã tạo điều kiện cho những cánh rừng mưa nhiệt đới hùng vĩ phát triển cùng với một hệ thống sinh vật phong phú. Ngoài ra còn phải kể đến hệ thống sông Paraná và phụ lưu của nó, sông Iguaçu, nơi có thác nước Iguaçu nổi tiếng. Bên cạnh đó còn có các sông Negro, São Francisco, Xingu, Madeira và Tapajos. Một số hòn đảo và đảo san hô trên Đại Tây Dương cũng thuộc chủ quyền của Brasil.
Địa hình của Brasil phân bố rất đa dạng và phức tạp. Tuy nhiên nhìn chung ta có thể chia địa hình của Brasil ra làm hai vùng chính. Phần lớn lãnh thổ ở phía bắc của Brasil là những vùng đất thấp được che phủ bởi rừng Amazon. Trong khi đó, phía nam của nước này có địa hình chủ yếu lại là đồi và những vùng núi thấp. Vùng bờ biển giáp Đại Tây Dương có nhiều dãy núi cao, có độ cao so với mặt nước biển là 2900 m. Đỉnh núi cao nhất Brasil là đỉnh Pico da Neblina, cao 3.014 m thuộc cao nguyên Guiana.
=== Khí hậu ===
Phần lớn diện tích Brasil nằm trong khoảng từ xích đạo cho đến đường chí tuyến nam. Mặc dù 90% lãnh thổ Brasil nằm trong vùng nhiệt đới nhưng giữa vùng này với vùng khác trên đất nước vẫn có những sự khác biệt khá lớn về khí hậu. Từ bắc xuống nam, khí hậu Brasil chuyển dần từ khí hậu nhiệt đới (giữa chí tuyến nam và xích đạo) cho đến khí hậu cận nhiệt tương đối ôn hòa (nằm dưới chí tuyến nam). Brasil có tổng cộng năm dạng khí hậu khác nhau: xích đạo, nhiệt đới, nhiệt đới khô, núi cao và cận nhiệt đới.
Nhiệt độ trung bình năm quanh đường xích đạo khá cao, trung bình đạt khoảng 25 °C. Tuy nhiên trong những ngày nóng bức nhất của mùa hạ, nhiệt độ tại một số vùng của Brasil có thể lên tới 40 °C. Miền nam Brasil có khí hậu tương đối cận nhiệt đới và có thể có sương giá về mùa đông. Tuyết rơi có thể xảy ra ở những vùng núi cao như Rio Grande do Sul hay Santa Catarina. Lượng mưa tại Brasil nhìn chung tương đối cao, khoảng 1000 đến 1500 mm mỗi năm. Mưa tập trung nhiều hơn tại vùng lòng chảo Amazon nóng ẩm ở phía bắc, nơi lượng mưa có thể lên đến 2000 mm mỗi năm hoặc thậm chí cao hơn. Tuy có một lượng mưa hàng năm lớn như vậy song khu vực này cũng có mùa khô, kéo dài từ 3 tháng đến 5 tháng tùy theo vĩ độ.
Do nằm tại Nam bán cầu nên thời gian các mùa trong năm tại Brasil ngược lại so với các nước Bắc bán cầu. Mùa hạ ở đây kéo dài từ tháng 12 đến tháng 4, còn mùa đông lại nằm trong khoảng từ tháng 5 đến tháng 11. Trên thực tế, ở những vùng nằm gần xích đạo, sự chênh lệch về mùa gần như không đáng kể với khí hậu nóng ẩm quanh năm, trong khi những vùng có khí hậu nhiệt đới thường chỉ có mùa mưa và mùa khô. Tại vùng có khí hậu cận nhiệt ở phía nam, thời tiết chia ra đủ 4 mùa xuân, hạ, thu, đông. Brasil cũng thường phải hứng chịu những trận bão lớn từ Đại Tây Dương đổ vào.
=== Môi trường ===
Brasil là quốc gia có độ đa dạng sinh học cao nhất trên thế giới, hơn hẳn so với mọi quốc gia khác. Nước này có số lượng động vật có vú nhiều nhất trên thế giới, đứng thứ nhì về tổng số các loài lưỡng cư và bướm, thứ ba thế giới về các loài chim và thứ năm thế giới về các loại bò sát. Rừng nhiệt đới Amazon là ngôi nhà của nhiều loài thực vật và động vật độc đáo tại Brasil.
Về thực vật, ở Brasil người ta đã phát hiện được hơn 55.000 loài, xếp thứ nhất trên thế giới và 30% trong số đó là những loài thực vật đặc hữu của Brasil. Khu vực Rừng Đại Tây Dương là nơi tập trung rất nhiều các loài thực vật khác nhau, bao gồm các loài nhiệt đới, cận nhiệt đới và rừng ngập mặn. Vùng Pantanal là một vùng đất ẩm và là nhà của khoảng 3500 loài thực vật trong khi Cerrado là một trong những vùng savan đa dạng nhất trên thế giới. Về động vật, Brasil nổi tiếng với các loài báo jaguar, báo sư tử, thú ăn kiến, cá piranha, loài trăn khổng lồ anaconda... và rất nhiều các loài linh trưởng, chim và côn trùng khác chỉ có tại đất nước này.
Tuy nhiên trong mấy thập kỉ trở lại đây, sự phát triển kinh tế và gia tăng dân số quá mức đang có nguy cơ gây ảnh hưởng đến môi trường tự nhiên của Brasil. Sự phá rừng lấy gỗ và đất canh tác, bao gồm cả hợp pháp và bất hợp pháp đang tàn phá những khu rừng lớn tại nước này, đe dọa gây ra những thảm họa nghiêm trọng về môi trường. Từ năm 2002 đến năm 2006, rừng Amazon đã bị mất đi một phần diện tích xấp xỉ nước Áo. Dự kiến đến năm 2020, ít nhất 50% các loài sinh vật tại Brasil sẽ đứng trước bờ vực tuyệt chủng. Trước tình hình này, chính phủ Brasil đã ban hành nhiều chính sách nhằm bảo về môi trường. Một mạng lưới các khu vực bảo vệ đã được thiết lập trên diện tích hơn 2 triệu km² (khoảng một phần tư diện tích Brasil) để bảo vệ những vùng rừng và các hệ sinh thái tại nước này. Tuy nhiên công tác bảo vệ môi trường tại Brasil cũng gặp rất nhiều khó khăn.
== Kinh tế ==
Sở hữu nền nông nghiệp, khai mỏ, gia công và lĩnh vực dịch vụ lớn ở mức độ phát triển cao, cũng như một lực lượng lao động dồi dào, GDP (theo sức mua tương đương) của Brasil vượt xa nhiều quốc gia Mỹ Latinh khác, và là nền kinh tế chủ chốt của khối Mercosur. Brasil hiện nay đã mở rộng sự hiện diện của mình trong nền kinh tế thế giới. Các sản phẩm xuất khẩu chính gồm máy bay, cà phê, xe cộ, đậu nành, quặng sắt, nước cam, thép, dệt may, giày dép và thiết bị điện tử.
Theo Quỹ tiền tệ Quốc tế và Ngân hàng Thế giới, Brasil là nền kinh tế lớn thứ chín thế giới theo sức mua tương đương. Brasil có nền kinh tế đa dạng ở mức thu nhập trung bình với mức độ phát triển rất khác nhau. Đa số các ngành công nghiệp lớn nằm ở phía nam và phía đông nam. Đông Bắc là vùng nghèo nhất Brasil, nhưng hiện đang thu hút được nhiều đầu tư nước ngoài.
Brasil có lĩnh vực công nghiệp phát triển nhất Mỹ Latinh. Chiếm một phần ba GDP, các ngành công nghiệp đa dạng của Brasil từ sản xuất ô tô, thép, hóa dầu tới máy tính, máy bay và các sản phẩm tiêu dùng. Với nền kinh tế phát triển ổn định nhờ Kế hoạch Real, các công ty Brasil và các công ty đa quốc gia đầu tư mạnh vào công nghệ và thiết bị mới, một phần lớn trong số đó được nhập khẩu từ các công ty Bắc Mỹ.
Brasil cũng sở hữu một nền công nghiệp dịch vụ đa dạng và có chất lượng cao. Những năm đầu thập niên 1990, lĩnh vực ngân hàng chiếm tới 16% GDP. Dù trải qua một quá trình tái cơ cấu rộng lớn, công nghiệp dịch vụ tài chính nước này đã cung cấp tiền vốn cho nhiều công ty trong nước sản xuất ra các loại hàng hóa phong phú, lôi cuốn nhiều nhà đầu tư nước ngoài mới, kể cả các công ty tài chính lớn của Mỹ. Thị trường chứng khoán São Paulo và Rio de Janeiro đang trải qua quá trình hợp nhất.
Theo bản báo cáo mới của Ngân hàng Thế giới, mức độ thuận lợi trong kinh doanh tại các thành phố nước này rất khác nhau. Thời gian và chi phí để đăng ký tài sản tại các thành phố ở Brasil ở mức tốt. Nhưng dù có những quy định như nhau trên toàn lãnh thổ, thời gian cần thiết để chuyển đổi tài sản vẫn khác biệt nhiều tại từng thành phố.
Dù nền kinh tế Brasil có kích thước và tầm quan trọng lớn trong khu vực, những vấn đề đang ngày càng phát triển như tham nhũng, nghèo đói và mù chữ vẫn là những cản trở lớn cho sự phát triển.
=== Các sự kiện hiện tại ===
Sau nhiều thập kỷ có mức lạm phát cao và nhiều nỗ lực kiểm soát, Brasil đã thực thi một chương trình ổn định kinh tế với tên gọi Kế hoạch Real (được đặt theo tên đồng tiền tệ mới real) vào tháng 7 năm 1994 trong thời kỳ nắm quyền của tổng thống Itamar Franco. Tỷ lệ lạm phát vốn từng đạt mức gần 5.000% thời điểm cuối năm 1993, đã giảm rõ rệt, ở mức thấp 2,5% vào năm 1998. Việc thông qua Luật Trách nhiệm Thuế năm 2000 đã cải thiện tình trạng thu thuế từ địa phương và từ các chính phủ liên bang, dù vẫn chưa đáp ứng yêu cầu đầu tư vào cơ sở hạ tầng và cải thiện các dịch vụ xã hội.
Trong thời cầm quyền của tổng thống Fernando Henrique Cardoso (1995-2002), chính phủ Brasil đã có nỗ lực nhằm thay thế nền kinh tế chỉ huy nhà nước bằng một nền kinh tế theo định hướng thị trường. Nghị viện đã thông qua nhiều sửa đổi mở đường cho sự tham gia lớn hơn của khu vực tư nhân, và khuyến khích lĩnh vực có đầu tư nước ngoài. Tới cuối năm 2003, chương trình tư nhân hóa của Brasil, gồm cả việc tư nhân hóa các công ty thép, điện lực, viễn thông đã đạt giá trị hơn 90 tỷ dollar.
Tháng 1 năm 1999, Ngân hàng Trung ương Brasil thông báo rằng nước này sẽ không giữ ổn định tỷ giá đồng real với dollar Mỹ nữa, việc này khiến cho đồng tiền tệ nước này bị mất giá mạnh. Nền kinh tế Brasil tăng trưởng 4,4% năm 2000, giảm xuống còn 1,3% năm 2001.
Năm 2002, những dự đoán rằng ứng cử viên tổng thống nhiều triển vọng Luis Inácio Lula da Silva, sẽ từ chối thanh toán nợ, gây ra một cuộc khủng hoảng niềm tin sâu sắc khiến nền kinh tế giảm sút tăng trưởng. Tuy nhiên, khi đã trúng cử Lula tiếp tục theo đuổi các chính sách kinh tế của người tiền nhiệm. Năm 2003, Tổng thống Lula đưa ra một chương trình kinh tế kham khổ bằng cách kiểm soát lạm phát và tìm kiếm thặng dư nhằm đưa tình trạng nợ nần của Brasil về mức ổn định.
Năm 2007, kinh tế Brasil tăng trưởng ở mức 4,5%.
=== Các vấn đề lớn ===
Nền kinh tế của Brasil vẫn đang phải đối đầu với những vấn đề lớn và cần những cải cách quan trọng được đưa ra. So với những nước đang phát triển khác, những vấn đề nghiêm trọng là cơ sở hạ tầng yếu kém, thu nhập phân bố không đều, chất lượng dịch vụ công thấp, tham nhũng, những xung đột xã hội và tình trạng quan liêu của chính phủ vẫn tồn tại và đe dọa sự tăng trưởng kinh tế.
Nợ công trong nước đã đạt tới kỷ lục từ trước tới nay và chi tiêu công cũng tăng thêm. Các loại thuế đã chiếm một phần lớn thu nhập quốc gia và là một gánh nặng với mọi tầng lớp xã hội, làm giảm các cơ hội đầu tư. Hơn nữa, việc thành lập doanh nghiệp cũng phải gánh chịu chi phí giấy tờ cao và các thủ tục hành chính phức tạp.
Mức tăng trưởng kinh tế hiện nay của Brasil thấp hơn các nước Mỹ Latinh khác và hai cường quốc mới nổi Ấn Độ, Trung Quốc. Brasil đã tụt 11 bậc trong bảng Chỉ số Tăng trưởng Cạnh tranh của Diễn đàn Kinh tế Thế giới trong giai đoạn 2003 - 2005
=== Năng lượng ===
Brasil là quốc gia đứng thứ mười thế giới về tiêu dùng năng lượng và thứ nhất tại khu vực Mỹ Latinh. Tuy nhiên, Brasil cũng lại là nước khai thác dầu mỏ và khí đốt nhiều nhất trong khu vực và là nhà sản xuất năng lượng ethanol lớn nhất trên thế giới. Với sự đi tiên phong trong lĩnh vực sản xuất ethanol, Brasil được mệnh danh là một cường quốc về năng lượng sinh học của thế giới. Năng lượng ethanol ở Brasil được sản xuất từ cây mía, loại cây được trồng rất phổ biến tại Brasil.
Sau cuộc Khủng hoảng Dầu mỏ 1973, chỉnh phủ Brasil đã thiết lập chương trình Programa Nacional do Álcool được chính phủ cấp kinh phí nhằm thay thế các nguồn nhiên liệu hóa thạch như dầu mỏ bằng năng lượng ethanol thân thiện hơn với môi trường. Chương trình đã thành công khi giảm số ô tô chạy bằng dầu hỏa tại Brasil xuống chỉ còn 10 triệu, từ đó giảm sự phụ thuộc của nước này vào các nguồn dầu nhập khẩu. Dầu diesel sinh học được kỳ vọng sẽ chiếm 2% tổng lượng dầu diesel trong năm 2008, rồi nâng lên 5% vào năm 2013.
Brasil đứng thứ ba thế giới về sản lượng thủy điện, chỉ sau Trung Quốc và Canada. Năm 2004, thủy điện chiếm tới 83% tổng năng lượng sản xuất ra tại nước này. Brasil cùng với Paraguay sở hữu đập nước Itaipu, nhà máy thủy điện lớn nhất thế giới hiện nay.
=== Khoa học kỹ thuật ===
Từ khi người Bồ Đào Nha xâm chiếm Brasil làm thuộc địa, nền khoa học kĩ thuật tại vùng đất này hầu như không được chú trọng phát triển. Tuy là một thuộc địa rộng lớn và có vai trò quan trọng đối với chính quốc Bồ Đào Nha nhưng Brasil lại là một vùng đất nghèo nàn và thất học. Mãi cho đến tận đầu thế kỉ 19, tại Brasil vẫn không có bất kỳ một trường đại học nào trong khi các thuộc địa láng giềng của Tây Ban Nha đã có những trường đại học đầu tiên ngay từ thế kỉ 16. Năm 1807, hoàng gia Bồ Đào Nha đến Rio de Janeiro để tránh cuộc tấn công của Napoléon I và đã khởi đầu cho thời kỳ phát triển khoa học và văn hóa tại vùng đất này.
Việc nghiên cứu khoa học tại Brasil ngày nay được thực hiện rộng rãi trong khắp các trường đại học và học viện, với 73% nguồn quỹ được lấy từ những nguồn của chính phủ. Một số học viện khoa học nổi tiếng của Brasil là Học viện Oswaldo Cruz, Học viện Butantan, Trung tâm Công nghệ Vũ trụ của không quân, Tổ chức Nghiên cứu Nông nghiệp Brasil và INPE. Brasil là quốc gia có cơ sở tốt nhất Mỹ Latinh trong lĩnh vực hàng không vũ trụ. Vào ngày 14 tháng 10 năm 1997, Cơ quan Hàng không vũ trụ Brasil đã ký với NASA về việc cung cấp các phần thiết bị cho ISS. Urani cũng được làm giàu tại Nhà máy Năng lượng Nguyên tử Resende để giải quyết phần nào nhu cầu năng lượng của quốc gia. Brasil cũng là một trong hai nước ở khu vực Mỹ Latinh có phòng thí nghiệm máy gia tốc Synchrotron, một hệ thống thiết bị nhằm nghiên cứu nhiều ngành khoa học khác nhau như vật lý, hóa học, khoa học vật liệu và khoa học đời sống.
== Nhân khẩu ==
Đa phần người Brasil ngày nay có tổ tiên là người Bồ Đào Nha từ thời nước này còn là thuộc địa của Đế chế Bồ Đào Nha (từ thế kỷ 16 đến thế kỉ 18) và những người dân di cư Bồ Đào Nha (thế kỷ 19 và thế kỉ 20), và sau đó là người nhập cư Ý. Những khu định cư Bồ Đào Nha bắt đầu xuất hiện tại Brasil sau năm 1532. Cho tới khi giành độc lập năm 1822, người Bồ Đào Nha vẫn là những người Châu Âu duy nhất thực hiện thành công chính sách thực dân ở nước này và nền văn hóa Brasil chủ yếu dựa trên văn hoá Bồ Đào Nha.
Các nước châu Âu khác cũng có một số sự hiện diện tại Brasil trong giai đoạn thuộc địa. Người Hà Lan và người Pháp đã tìm cách thực dân hóa Brasil trong thế kỷ 17, nhưng thời gian họ có mặt chỉ kéo dài vài thập kỷ.
Người da đỏ bản xứ Brasil (khoảng 3-5 triệu người) phần lớn đã bị tiêu diệt hay đồng hóa bởi người Bồ Đào Nha. Từ đầu thời kỳ thực dân hoá Brasil, những cuộc hôn nhân lai chủng giữa người Bồ Đào Nha và những người Brasil bản xứ đã trở nên phổ biến. Ngày nay, Brasil có khoảng 700.000 dân bản xứ, chiếm chưa tới 1% dân số nước này.
Brasil cũng có một số lượng lớn người da đen, là con cháu của những người nô lệ Châu Phi bị bắt tới đây từ thế kỷ 16 tới thế kỷ 19. Hơn 3 triệu người châu Phi đã bị bán và đem qua Brasil cho tới khi chế độ buôn bán nô lệ chấm dứt vào năm 1850. Chủ yếu họ bị bắt đi từ Angola, Nigeria, Bénin, Togo, Ghana, Côte d'Ivoire và São Tomé e Príncipe. Những người châu Phi này sau đó đã lai tạp với người Bồ Đào Nha, trở thành một bộ phận dân cư lai khá lớn tại Brasil.
Bắt đầu thế kỷ 19, chính phủ Brasil đã khuyến khích những người Châu Âu nhập cư tới đây để thay thế nguồn nhân công của các nô lệ cũ. Những người nhập cư không phải là người Bồ Đào Nha đầu tiên tới định cư ở Brasil là người Đức vào năm 1824. Năm 1869 những người Ba Lan đầu tiên đặt chân tới Brasil. Tuy nhiên đợt di cư mạnh nhất của người châu Âu tới nước này chỉ bắt đầu sau năm 1875, khi những người nhập cư từ Ý, Bồ Đào Nha và Tây Ban Nha tới đây tăng mạnh. Trong giai đoạn 1870 - 1953, Brasil đã thu hút hơn 5,5 triệu người nhập cư, bao gồm gần 1.550.000 người Ý, 1.470.000 người Bồ Đào Nha, 650.000 người Tây Ban Nha, 210.000 người Đức, 190.000 người Nhật, 120.000 người Ba Lan và 650.000 từ nhiều quốc gia khác. Những con số này có thể còn kém xa thực tế, bởi những người vợ đi cùng không được tính vào, một số lượng lớn những người nhập cư bất hợp pháp, thay đổi tên họ để giấu quốc tịch, và những văn bản lưu trữ của Brasil cũng đã mất mát nhiều. Brasil là nước có số lượng người Ý ở nước ngoài lớn nhất thế giới, với tổng số 25 triệu người. Brasil cũng là nước có cộng đồng người Liban đông nhất thế giới, với khoảng 8 triệu người.
Bắt đầu từ thế kỷ 20, Brasil cũng đã tiếp nhận một số lượng lớn người châu Á: người Hàn Quốc, người Trung Quốc, người Đài Loan và người Nhật. Người Nhật là cộng đồng thiểu số Châu Á lớn nhất tại Brasil, và những người Nhật Bản-Brasil là cộng đồng người Nhật bên ngoài nước Nhật lớn nhất với 1,6 triệu người.
Dân số Brasil chủ yếu tập trung dọc bờ biển, trong nội địa mật độ dân số khá thấp. Dân chúng các bang miền nam chủ yếu là con cháu người Âu da trắng, trong khi đa số dân chúng miền bắc và đông bắc là người lai giữa các chủng tộc (người da đỏ châu Mỹ, người Phi, người Âu).
=== Các thành phố lớn nhất Brasil ===
=== Chủng tộc và nòi giống ===
Tổ tiên người Brasil hiện nay khá đa dạng, gồm người da đỏ châu Mỹ (chủ yếu là người Tupi và Guarani), người châu Âu (chủ yếu là Bồ Đào Nha, Ý, Đức, Tây Ban Nha) và người châu Phi (chủ yếu là Bantu và Yorùbá), với một số cộng đồng thiểu số châu Á (chủ yếu là Nhật Bản), Liban, và Ả Rập Syria.
Miền nam Brasil với đa số dân là con cháu người Âu còn ở phía đông nam và trung tây Brasil số lượng người da trắng tương đương người Phi và những người Brasil đa chủng khác. Đông bắc Brasil có đa số dân là con cháu người Bồ Đào Nha và châu Phi, trong khi miền bắc Brasil có số lượng hậu duệ người da đỏ châu Mỹ lớn nhất nước.
Theo hiến pháp năm 1988 của Brasil, phân biệt chủng tộc là một tội không được bảo lãnh và buộc phải ngồi tù. Đạo luật này được thi hành rất chặt chẽ.
Hơn 90 triệu người Brasil có nguồn gốc từ các làn sóng di cư từ nước ngoài vào. Những nhóm người đông đảo nhất là người thuộc bán đảo Iberia, Ý và người Đức ở Trung Âu. Các nhóm thiểu số gồm người Slav (đa số là người Ba Lan, Ukraina và Nga). Những nhóm nhỏ hơn gồm người Armenia, người Phần Lan, người Pháp, người Hy Lạp, người Hungary, người Romania, người Anh và người Ireland. Trong số các nhóm thiểu số còn có 200.000 người Do Thái, chủ yếu là Ashkenazi.
Dân nhập cư Brasil có cơ cấu như sau:
79 triệu người Châu Phi và người đa chủng
13 triệu người Ả Rập, chủ yếu từ Syria và Liban ở Đông Địa Trung Hải
1,6 triệu người Châu Á, chủ yếu từ Nhật Bản
=== Ngôn ngữ ===
Tiếng Bồ Đào Nha là ngôn ngữ chính thức duy nhất tại Brasil. Toàn bộ dân chúng sử dụng thứ tiếng này và rõ ràng nó là ngôn ngữ duy nhất được sử dụng trong các trường học, trên các phương tiện truyền thông, trong kinh doanh và mọi mục đích hành chính. Hơn nữa, Brasil là nước nói tiếng Bồ Đào Nha duy nhất tại châu Mỹ nên nó đã biến ngôn ngữ này trở thành một trong những đặc trưng riêng của quốc gia. Tiếng Bồ Đào Nha ở Brasil đã phát triển độc lập với tiếng mẹ đẻ châu Âu, và đã trải qua ít sự thay đổi ngữ âm hơn so với tiếng Bồ Đào Nha gốc, vì thế nó thường được gọi là ngôn ngữ "Camões", vốn đã tồn tại ở thế kỷ 16, tương tự như thứ ngôn ngữ Bồ Đào Nha ở phía nam Brasil ngày nay, chứ không phải là thứ ngôn ngữ được dùng ở Bồ Đào Nha ngày nay. Tiếng Bồ Đào Nha Brasil có ảnh hưởng lớn tới các ngôn ngữ da đỏ châu Mỹ và ngôn ngữ châu Phi. Nói chung, những người nói bất kỳ một biến thể nào đều có thể hiểu được biến thể kia, nhưng họ, những phương ngữ Bồ Đào Nha có nhiều khác biệt lớn với nhau về âm điệu, từ vựng và chính tả.
Nhiều ngôn ngữ bản xứ được sử dụng hàng ngày trong các cộng đồng thổ dân, chủ yếu ở phía bắc Brasil. Dù nhiều trong số các cộng đồng đó tiếp xúc thường xuyên với người Bồ Đào Nha, hiện nay việc dạy các ngôn ngữ bản xứ đang được khuyến khích. Một số ngôn ngữ khác được con cháu những người nhập cư sử dụng, họ thường có khả năng nói cả hai thứ tiếng, tại các cộng đồng nông nghiệp ở phía nam Brasil. Những ngôn ngữ khác được dùng nhiều nhất là tiếng Đức và tiếng Ý. Ở thành phố São Paulo, có thể gặp những cộng đồng sử dụng tiếng Nhật như tại Liberdade.
Tiếng Anh là một phần trong chương trình giảng dạy của các trường cao học, nhưng ít người Brasil thực sự thông thạo ngôn ngữ này. Đa số những người sử dụng tiếng Bồ Đào Nha đều có thể hiểu tiếng Tây Ban Nha ở mức độ này hay mức độ khác vì sự tương đồng giữa hai ngôn ngữ cùng hệ Latinh.
=== Giáo dục và y tế ===
Hiến pháp Brasil và Luật Giáo dục Brasil ban hành năm 1996 xác định chính quyền liên bang, tiểu bang, quận liên bang và các đô thị tự trị tự quản lý và điều hành hệ thống giáo dục của mình. Mỗi hệ thống giáo dục tự chịu trách nhiệm về việc duy trì hoạt động, quản lý cơ cấu và các nguồn tài chính của mình. Hiến pháp mới của Brasil cũng quy định dành 25% tiền thuế tiểu bang và đô thị tự trị cũng như 18% tiền thuế của liên bang cho giáo dục. Hệ thống trường tư được thành lập tại Brasil để hoàn thiện những thiết sót của hệ thống trường công. Vào năm 2003, tỉ lệ người biết chữ ở Brasil đạt 88%, và đạt 93,2% đối với độ tuổi từ 15 đến 19 tuổi. Tuy nhiên theo UNESCO, nền giáo dục Brasil vẫn còn nhiều bất cập và chất lượng thấp, đặc biệt trong hệ thống trường công. Giáo dục bậc cao tại Brasil bao gồm các trường đại học và các trường hướng nghiệp.
Hệ thống chăm sóc sức khỏe được điều hành và cung cấp bởi các cấp chính quyền, trong khi hệ thống y tế tư nhân cũng được thành lập thêm để hoàn chỉnh. Hệ thống chăm sóc sức khỏe ở Brasil chưa phát triển hoàn thiện, đặc biệt ở những bang nghèo và vẫn còn nhiều bất cập. Những vấn đề chủ yếu của nền y tế Brasil là tỉ lệ tử vong của trẻ sơ sinh, trẻ em và người mẹ còn khá cao. Ví dụ như năm 2008, tỉ lệ tử vong của trẻ sơ sinh tại Brasil là 26,67/1000 trẻ. Ngoài ra các nguyên nhân tử vong chủ yếu khác ở Brasil còn có các bệnh dịch truyền nhiễm và không truyền nhiễm, tai nạn giao thông, bạo lực và tự tử. Nạn HIV/AIDS cũng là một trong những bệnh dịch hàng đầu đe dọa sức khỏe của người dân Brasil.
== Các vấn đề xã hội ==
=== Chênh lệch giàu nghèo ===
Dù là một nước lớn với những nguồn tài nguyên phong phú và một nền kinh tế khá mạnh, Brasil hiện vẫn có hơn 22 triệu người sống dưới mức nghèo khổ. Gộp cả những người sống trong tình trạng khá nghèo (có thu nhập không đủ cho những nhu cầu cơ bản), con số này có thể lên tới hơn 53 triệu người (khoảng 30% dân số). Đây là vấn đề đáng báo động, và nó góp phần vào sự bất bình đẳng kinh tế của đất nước, nước này được coi là đứng hàng đầu thế giới theo hệ số Gini.
Sự nghèo khổ tại Brasil được thể hiện bởi số lượng lớn các khu ổ chuột (favela), đa số chúng đều tồn tại ở những khu vực thành thị và ở những vùng xa xôi nơi ít có những phát triển kinh tế và xã hội. Vùng Đông Bắc gặp phải những vấn đề kinh niên vì khí hậu nửa khô cằn ở những vùng nội địa, những đợt hạn hán thường kỳ ảnh hưởng tới cuộc sống của hàng triệu người.
Nỗ lực gần đây nhất nhằm giảm nhẹ tình trạng này đang được tổng thống đương nhiệm Luiz Inacio Lula da Silva thử nghiệm. Ông đã đề xuất một chương trình loại trừ nạn đói (Fome Zero) và tăng ngân sách dành cho các chương trình phân phối công bằng từng được đưa ra trước đó, nhưng có nhiều tranh cãi về hiệu quả thực sự của những chương trình này.
Trong vòng 12 năm qua, thuế suất của Brasil đã tăng đều hàng năm từ 28% GDP quốc gia lên tới 37% . Dù vậy, dưới con mắt của người dân những cải thiện trong các lĩnh vực công cộng do chính phủ liên bang và các bang hay các chính phủ địa phương là chưa đủ (trong một số trường hợp, chưa có một cải thiện nào cả) . Mọi người tin rằng hai nguyên nhân chính của tình trạng này là:
Lãi suất cao của những khoản nợ của chính phủ .
Tham nhũng tràn lan : Từ cuối thời kỳ nắm quyền của quân đội và tái lập tự do báo chí trong nước, những vụ scandal liên tục với sự dính líu của cả nhánh hành pháp, lập pháp và tư pháp. Nạn hối lộ, tham ô, rửa tiền và ngân hàng nặc danh đã trở thành hệ thống.
Khoảng 16 triệu người dân Brasil chính thức được coi là mù chữ.
=== Tội phạm ===
Trong những thập kỷ qua, tình trạng tội phạm trên khắp Brasil đã trở thành một vấn nạn. Tỷ lệ giết người ở Brasil cao hơn bốn lần so với Mỹ, và đa số các vụ tội phạm không được khám phá. Những vụ tội phạm đường phố là một vấn đề đau đầu cho các quan chức địa phương, đặc biệt vào buổi tối, trong khi ở những vùng nông thôn, những vụ cướp bóc dọc đường xảy ra thường xuyên.
Rio de Janeiro được coi là có tình trạng tội phạm tồi tệ nhất nước. Những vụ bắn nhau trong các khu nhà ổ chuột giữa cảnh sát và tội phạm hay giữa các băng nhóm tội phạm với nhau trở nên quá quen thuộc, tương tự như một cuộc chiến tranh du kích trong đô thị. Các quan chức thành phố hầu như không thể kiểm soát được khu vực bên trong các khu ổ chuột, khiến chúng trở thành hang ổ của những kẻ buôn bán ma tuý, thậm chí một số tên đã bị bỏ tù nhưng vẫn điều hành đường dây của chúng. Thậm chí có điều luật cho phép từ 10 giờ chiều tới 6 giờ sáng, các lái xe được phép không dừng khi có hiệu đèn bởi nguy cơ cao bị tấn công hay bắt cóc vào ban đêm.
== Văn hoá ==
=== Những ảnh hưởng khác nhau ===
Văn hóa của Brasil chủ yếu dựa trên nền văn hóa của Bồ Đào Nha. Nước này đã từng là thuộc địa của Bồ Đào Nha trong vòng ba thế kỉ và những người dân di cư Bồ Đào Nha đã mang đến cho Brasil những nền tảng quan trọng của nền văn hóa nước này là tiếng Bồ Đào Nha, đạo Công giáo và kiến trúc. Bên cạnh đó còn có những phong tục tập quán và lối sống đặc trưng của người dân Bồ Đào Nha.
Là một đất nước đa chủng tộc với nhiều màu sắc văn hóa, Brasil còn chịu ảnh hưởng của nhiều dân tộc khác nữa. Những người thổ dân châu Mỹ có ảnh hưởng đến vốn từ vựng và ẩm thực của Brasil, trong khi người da đen gốc châu Phi, vốn được mang đến Brasil để làm nô lệ trước kia, lại có ảnh hưởng quan trọng trong âm nhạc và các điệu nhảy của nước này. Vào thế kỉ 19 và thế kỉ 20, những dòng người nhập cư đến từ Ý, Đức, Tây Ban Nha, Nhật Bản, Trung Đông đã đến Brasil và thiết lập nên những cộng đồng lớn sinh sống với nhau tại các thành phố, tạo nền những dấu ấn độc đáo khác nhau và tập trung chủ yếu tại miền nam Brasil.
=== Văn học ===
Một trong những văn bản đầu tiên viết về đất nước Brasil là lá thư của Pêro Vaz de Caminha gửi cho vua Manuel I của Bồ Đào Nha, người ghi chép trên tàu của Pedro Álvares Cabral, nhà thám hiểm đã khám phá ra đất nước Brasil. Tiếng Bồ Đào Nha có ảnh hưởng quan trọng nhất đối với nền văn học của Brasil. Trong thời kỳ thuộc địa, những nhà văn tại Brasil đã cho ra đời nhiều tác phẩm văn học về sử thi, thơ và kịch phản ánh về cuộc sống và những sự kiện diễn ra trên đất nước này. Một trong những nhà văn nổi tiếng nhất thời kỳ này là cha António Vieira, một linh mục dòng Tên với những tác phẩm mang phong cách văn học Baroque. Năm 1822, Brasil giành được độc lập và sau đó là những chuyển biến mới trong nền văn học của nước này. Chủ nghĩa lãng mạn xuất hiện cùng với những tác phẩm văn học về những người thổ dân và người da đen, cũng như phản ánh và quan tâm hơn đến các vấn đề xã hội. Tiêu biểu là nhà văn Gonçalves Dias và José de Alencar đã viết nhiều tác phẩm về những người dân bản xứ Brasil, hay nhà văn Antônio Castro Alves đã viết về những nỗi khốn khổ của người nô lệ da đen.
Đến giữa thế kỉ 19, chủ nghĩa lãng mạn dần thoái trào và nhường chỗ cho những tác phẩm thuộc chủ nghĩa hiện thực. Văn xuôi được sử dụng nhiều hơn. Với ảnh hưởng của chủ nghĩa tự nhiên, các tác phẩm văn học thời kỳ này phản ánh nhiều phương diện và tầng lớp xã hội. Hai nhà văn lớn nhất thời kỳ này là Machado de Assis và Euclides da Cunha. Thế kỉ 20 chứng kiến sự phát triển của chủ nghĩa hiện đại và hậu hiện đại trong văn học Brasil với những tên tuổi như Mário de Andrade, Jorge Amado...
=== Kiến trúc ===
Nền kiến trúc của Brasil bắt đầu từ thời kỳ thuộc địa Bồ Đào Nha, khi những pháo đài trung cổ đầu tiên được người Bồ Đào Nha thiết lập tại đây từ khoảng năm 1530. Trong thời kỳ thuộc địa, những công trình lớn chủ yếu được xây dựng là các nhà thờ và thánh đường mang đậm ảnh hưởng của phong cách kiến trúc Baroque Bồ Đào Nha. Nhiều thị trấn và thành phố cổ ở Brasil được xây dựng với nhiều nét giống với các thành phố của châu Âu. Đầu thế kỉ 19, tại Brasil bắt đầu xuất hiện trường phái kiến trúc tân cổ điển. Rồi đến giai đoạn cuối thể kỉ 19 - đầu thế kỉ 20, các tòa nhà ở Brasil lại chịu ảnh hưởng của phong cách kiến trúc Pháp. Bên cạnh đó, những dòng người nhập cư khác cũng mang đến cho kiến trúc Brasil nhiều sắc thái khác nhau, ví dụ như kiến trúc kiểu Đức tại các bang miền nam Brasil.
Sang thế kỉ 20, kiến trúc hiện đại Brasil đã có nhiều bước phát triển vượt bậc. Oscar Niemeyer là một trong những kiến trúc sư nổi tiếng nhất ở Brasil. Ông đã phụ trách rất nhiều công trình lớn tại thủ đô Brasília và thành phố này đã được UNESCO công nhận là Di sản văn hóa thế giới.
=== Tôn giáo ===
Tôn giáo chủ yếu tại Brasil là Công giáo Rôma. Nước này cũng là nước có cộng đồng người theo đạo Công giáo lớn nhất trên thế giới. Bên cạnh đó, số lượng tín đồ theo đạo Tin lành cũng đang ngày càng tăng lên. Mặc dù Hồi giáo đầu tiên được những nô lệ da đen theo nhưng hiện nay cộng đồng người Hồi giáo đông nhất tại Brasil lại là những người Brasil gốc Ả Rập. Brasil cũng là nước có cộng đồng Phật giáo lớn nhất Mỹ Latinh do nước này tập trung một lượng lớn cộng đồng người Nhật Bản tại nước ngoài. Bên cạnh đó ở Brasil còn có những tôn giáo truyền thống của người da đen gốc châu Phi.
Cơ cấu tôn giáo của người dân Brasil như sau (theo cuộc điều tra của IBGE):
64,6% dân số theo Công giáo.
22,2% dân số theo Đạo Tin lành.
8,0% dân số tự cho mình là người theo Thuyết bất khả tri hay Thuyết vô thần.
2,0% dân số theo Thuyết thông linh.
2,7% dân số là thành viên của các tôn giáo khác. Một số tôn giáo đó là Mormon (227.000 tín đồ), Nhân chứng Jehovah (1.393.000 tín đồ), Phật giáo (244.000 tín đồ), Do Thái giáo (107.000 tín đồ), và Hồi giáo (35.000 tín đồ)
0,3% dân số theo các tôn giáo truyền thống châu Phi như Candomblé, Macumba và Umbanda.
0,1% không biết
Một số người theo tôn giáo pha trộn giữa các tôn giáo khác nhau, như Công giáo, Candomblé, và tổng hợp các tôn giáo truyền thống châu Phi.
=== Thể thao ===
Môn thể thao phổ biến nhất tại Brasil là môn bóng đá. Đồng thời, Brasil cũng được coi là một cường quốc trong môn thể thao này. Đội tuyển bóng đá quốc gia Brasil là đội tuyển thành công nhất trong tất cả các đội tuyển bóng đá quốc gia trên thế giới. Nước này đã 5 lần vô địch World Cup vào các năm 1958, 1962, 1970, 1994, 2002, đồng thời là đội tuyển duy nhất tham dự đủ mọi kỳ World Cup. Sau khi vô địch World Cup lần thứ ba, đội tuyển Brasil đã được phép giữ vĩnh viễn chiếc Cúp vô địch. Brasil cũng có nhiều cầu thủ nổi tiếng thế giới như Pelé, Garrincha, Jairzinho, Rivelino, Carlos Alberto, Zico, Romário, Ronaldo, Rivaldo, Roberto Carlos, Ronaldinho và Kaká. Cơ quan đại diện cho bóng đá tại Brasil là Liên đoàn bóng đá Brasil. Bóng đá từ lâu đã trở thành một phần văn hóa Brasil. Đây là môn thể thao yêu thích của nhiều thanh niên và các kỳ World Cup tại đất nước này được coi là những sự kiện lớn và thu hút rất nhiều người dân theo dõi.
Bên cạnh đó, đội tuyển bóng đá nữ Brasil cũng thu được khá nhiều thành tích. Tại Giải vô địch bóng đá nữ thế giới 2007, họ đã giành vị trí thứ hai. Nữ cầu thủ bóng đá nổi tiếng nhất Brasil là Marta, người đoạt hai danh hiệu Quả bóng Vàng và Chiếc giày Vàng tại World Cup 2007 cũng như được FIFA bình chọn là nữ cầu thủ xuất sắc nhất năm 2006.
Brasil đã từng tổ chức hai kỳ World Cup đó là vào các năm 1950 và 2014. Đồng thời, thành phố Rio de Janeiro là thành phố đầu tiên của Nam Mỹ giành quyền đăng cai Thế vận hội Mùa hè 2016.
Không chỉ có bóng đá, Brasil cũng là nước có thế mạnh tại nhiều môn thể thao khác như bóng rổ, bóng chuyền, tennis, bơi lội. Capoeira, một môn võ thuật có nguồn gốc châu Phi cũng được đông đảo người dân Brasil ưa chuộng. Nhu thuật Brasil (Brazilian Jiu-Jitsu, viết tắt BJJ) được coi là một môn võ thuật có tính chiến đấu cao, thường xuyên xuất hiện trên các võ đài võ tự do. Ngoài ra, đất nước này còn sản sinh ra nhiều môn thể thao khác nữa. Có thể kể ra như môn bóng đá bãi biển, bắt nguồn trên những bãi biển của Rio de Janeiro hay biribol, một biến thể chơi dưới nước của bóng chuyền.
=== Lễ hội Carnaval ===
Carnaval là một lễ hội nổi tiếng của đất nước Brasil. Lễ hội diễn ra 40 ngày trước Lễ Phục sinh và là thời điểm để bắt đầu mùa ăn chay. Lễ hội Carnaval ở Brasil rất nổi tiếng, đặc biệt là tại Rio de Janeiro. Trong lễ hội, những đoàn diễu hành đầy màu sắc đi qua những con phố lớn với những chiếc xe được trang trí rực rỡ, những vũ công mặc trang phục nhiều màu sắc và âm nhạc rộn rã. Tại Rio de Janeiro có hẳn những trường lớp đào tạo vũ công samba cho dịp lễ hội này. Bên cạnh đó, lễ hội Carnaval còn được tổ chức tại nhiều nơi khác trên đất nước Brasil như tại các bang Bahia, Pernambuco hay Minas Gerais với một số điểm khác biệt riêng nhưng lễ hội Carnaval tại Rio de Janeiro là nổi tiếng nhất. Lễ hội này cũng là một trong những yếu tố thu hút khách du lịch nước ngoài tới Brasil.
== Du lịch ==
Du lịch hiện là một lĩnh vực hiện đang tăng trưởng mạnh tại Brasil. Đất nước Brasil có khá nhiều ưu thế về du lịch và mỗi vùng miền trên đất nước Brasil có những phong cảnh và nét độc đáo riêng biệt. Vùng Bắc của Brasil nổi tiếng với khung cảnh thiên nhiên hoang sơ của núi rừng Amazon và có ưu thế trong lĩnh vực du lịch sinh thái. Vùng Đông Bắc của Brasil có nhiều bãi biển đẹp. Địa điểm du lịch nổi tiếng nhất tại vùng Đông Bắc là thành phố Salvador, Bahia. Thành phố này hội tụ nhiều vẻ đẹp khác nhau của đất nước Brasil, từ những bãi biển đẹp bên bờ Đại Tây Dương đến Trung tâm Lịch sử Salvador, Bahia với nhiều tòa nhà và thánh đường cổ kính đã được UNESCO xếp hạng Di sản Văn hóa Thế giới. Bên cạnh đó cũng phải kể đến hai thành phố Recife và Fortaleza. Vùng Trung Tây, bao gồm cả thủ đô Brasília của Brasil nằm ở trung tâm đất nước lại có nhiều công viên quốc gia đẹp và hùng vĩ. Vùng Đông Nam là nơi tập trung đông dân nhất tại Brasil với hai thành phố lớn: Rio de Janeiro có những bãi biển đẹp, bức tượng Chúa Cứu Thế khổng lồ và lễ hội Carnaval tưng bừng náo nhiệt trong khi São Paulo là một khu đô thị sầm uất và giàu có. Những bang miền Nam Brasil với khí hậu mát mẻ thì mang đậm bản sắc châu Âu cổ kính với các kiến trúc Đức, Italia... của những dòng người nhập cư gốc Âu.
Trong năm 2005, Brasil thu hút 5.358.000 khách du lịch, tăng 4% so với năm 2004. Brasil là địa điểm du lịch hấp dẫn thứ tư tại châu Mỹ với những du khách chủ yếu đến từ Argentina, Mỹ và Bồ Đào Nha. Doanh thu từ du lịch của Brasil mỗi năm ước tính đạt 4 tỉ real và góp phần tạo thêm khoảng 678.000 nghề nghiệp mới của người dân.
== Xếp hạng quốc tế ==
Xếp thứ 5 trên thế giới về dân số (Xem Danh sách các nước theo số dân).
Xếp thứ 5 trên thế giới về diện tích (Xem Danh sách các nước theo diện tích).
Xếp thứ 70/177 quốc gia về chỉ số phát triển con người (Xem Danh sách các quốc gia theo thứ tự về Chỉ số phát triển con người).
Xếp thứ 10 thế giới về GDP (theo Quỹ Tiền tệ Quốc tế IMF).
Xếp thứ 111/157 quốc gia về mức độ tự do kinh tế.
Xếp thứ 70/163 quốc gia về Chỉ số nhận thức tham nhũng.
== Ngày lễ quốc gia ==
== Hình ảnh về Brasil ==
=== Thiên nhiên ===
=== Văn hóa - xã hội ===
== Tham khảo ==
== Liên kết ngoài ==
Braxin tại Từ điển bách khoa Việt Nam
Federative Republic of Brazil tại Encyclopædia Britannica (tiếng Anh)
Chính phủ và Hành chính
Brasil.gov.br — Trang web chính thức của chính phủ (tiếng Bồ Đào Nha)
Câmara dos Deputados — Official Chamber of Deputies site (tiếng Bồ Đào Nha)
Presidência da República — Trang web chính thức của tổng thống (tiếng Bồ Đào Nha)
Senado Federal — Trang web chính thức của Nghị viện (tiếng Bồ Đào Nha)
Thông tin và Thống kê
Congressional Research Service (CRS) Reports regarding Brazil
Library of Congress — A Country Study: Brazil
Encyclopaedia Britannica Brazil Country Page
National Library (available in both English and Portuguese)
Brazilian Maps Global & Regional & City Maps - Bản đồ các thành phố chính của Brazil
Satellite images of Brazil's main cities
CIA - The World Factbook
Deforestation in the Brazilian Amazon — year by year data
Brazil, a biodiversity hotspot
Danh sách các nước có quan hệ ngoại giao với nước CHXHCN Việt Nam (tính đến tháng 2/2013) Vụ Thông tin Báo chí - Bộ Ngoại giao cập nhật 14-08-2013
Kinh tế và Kinh doanh
Doing Business in Brazil — Hướng dẫn của Ngân hàng Thế giới về việc kinh doanh ở Brazil
Starting a Business in Brazil - Khởi nghiệp ở Brazil
"Brazil’s Presidential Election: Background on Economic Issues" from the Center for Economic and Policy Research, Mark Weisbrot & Luis Sandoval, 9/2006
Tin tức và Quan điểm
The Council on Hemispheric Affairs
Infolatam Thông tin và tin tức về Brasil (tiếng Tây Ban Nha)
Du lịch
Accommodation in Brazil — Guide courtesy of the Brazilian embassy in London, UK Bản sao chép trên brazil.com.au
Travel Guide to Brazil — Visit Rio de Janeiro, the Amazon, and the Pantanal and read about their history and culture, along with trip planning advice.
Brazil Travel Guide Online - Hướng dẫn du lịch Brazil trực tuyến
Du lịch Brazil
Du lịch São Paulo Brazil
Wikimedia Atlas của Brazil, có một số bản đồ liên quan đến Brazil. |
cây thường xanh.txt | Cây thường xanh hay thực vật thường xanh (trong tiếng Anh: evergreen plant) là thuật ngữ khoa học dùng để chỉ cây rừng có lá tồn tại liên tục trong thời gian ít nhất là 12 tháng trên thân chính. Điều này khác biệt với các loài rụng lá hoặc là thân thảo (hàng năm hoặc lâu năm).
Trong danh pháp khoa học, đôi khi tính chất thường xanh cũng được dùng để mô tả cho đặc tính sinh học của một loài. Khi đó ở phần thứ hai của danh pháp sẽ là phần chữ biểu lộ tính chất sempervirens (có nghĩa là thường xanh). Ví dụ như một số loài điển hình: cây Thích lá xanh (Acer sempervirens), cây Bách Địa Trung Hải (Cupressus sempervirens), Xuyên tâm liên san hô (Lonicera sempervirens),....
Sự duy trì của mỗi lá ở các loài cây thường xanh biến đổi từ vài tháng (với các lá mới mọc ra liên tục ngay khi các lá cũ rụng xuống) đến tối đa là 45 năm (cây Bristlecone Pine ở bồn địa Great Basin).). Những loài có tuổi thọ lá 5 năm là rất hiến.
Một trường hợp đặc biệt là loài Welwitschia mirabilis ở châu Phi, lá nó tồn tại theo tuổi thọ của cây, và mỗi cây chỉ phát triển có 2 lá. Tuổi thọ của lá có thể dài từ 20-40 năm.
== Giải thích hiện tượng ==
Các cây rụng lá thường mất đi lá của chúng như là một cách thích nghi với các mùa lạnh hoặc khô. Các cây thường xanh cũng rụng lá, nhưng mỗi cây rụng lá từ từ và không phải rụng hết tất cả một lần. Hầu hết các thực vật ở rừng mưa nhiệt đới đều là thường xanh, thay thế lá từ từ quanh năm khi lá già và rụng, trong khi các loại mọc ở các vùng khí hậu khô theo mùa thì có thể là dạng thường xanh hoặc dạng rụng lá. Hầu hết các thực vật ở vùng khí hậu ấm áp ôn đới cũng là thường xanh. Ở các vùng khí hậu mát mẻ ôn đới thì ít có cây thường xanh hơn, mà chỉ có các loài thuộc ngành thông chiếm ưu thế, vì ít có cây thường xanh lá rộng nào có thể chịu đựng được cái lạnh khắc nghiệt của nhiệt độ âm 30 độ C.
Ở những vùng mà có điều kiện để trở thành dạng rụng lá (ví dụ mùa lạnh hoặc mùa khô), thì việc trở thành dạng thường xanh thường là để thích nghi với mức độ dinh dưỡng thấp. Các cây rụng lá mất đi chất dinh dưỡng mỗi khi chúng rụng lá. Ở những vùng ấm hơn, các chủng loài chẳng hạn như vài loài thông và bách mọc trên đất nghèo chất dinh dưỡng và nền không ổn định. Với Rhododendron, một chi với nhiều loài thường xanh lá rộng, vài chủng loài mọc ở các khu rừng trưởng thành nhưng thường được tìm thấy ở phần đất có độ chua cao, nơi mà dưỡng chất ít có sẵn cho các loài thực vật. Ở các khu rừng taiga hay rừng phương Bắc (boreal), thời tiết quá lạnh để các vật chất hữu cơ trong đất phân hủy nhanh chóng, vì thế các dưỡng chất trong đất khó có sẵn cho thực vật, do đó phù hợp với các loại thường xanh.
Ở các vùng khí hậu ôn đới, các loài thường xanh có thể hỗ trợ nhau sống sót; các bãi lá và kim của cây thường xanh có tỉ lệ cacbon-nito cao hơn so với lá của cây rụng lá, tạo cho đất độ chua hơn với hàm lượng nitơ trong đất thấp hơn. Những điều kiện này thích hợp cho sự phát triển cho cây thường xanh hơn và khó hơn đối với các cây rụng lá. Ngoài ra, nơi sinh sống tạo ra bởi các cây thường xanh có sẵn sẽ giúp các cây thường xanh con dễ sống sót hơn với mùa lạnh hay khô hạn.
Cây thường xanh và cây rụng lá có hầu hết các loại bệnh và côn trùng gây hại như nhau, nhưng với sự ôn nhiễm lâu dài, tro bụi và các chất độc trong không khí thì sẽ gây thương tổn cho cây thường xanh hơn là cây rụng lá (ví dụ như loài spruce picea vẫn còn trong các thành phố ở châu Âu).
== Xem thêm ==
Rừng thường xanh
Cây rụng lá
Cây hàng năm
Cây lâu năm
== Tham khảo == |
chim cổ rắn.txt | Chim cổ rắn là các loài chim trong họ Anhingidae, bộ Chim điên (trước đây xếp trong bộ Bồ nông). Hiện nay còn tồn tại tổng cộng 4 loài trong một chi duy nhất, một trong số đó hiện đang ở tình trạng gần bị đe dọa tuyệt chủng. Chúng được gọi là chim cổ rắn là do chúng có cổ dài và mảnh dẻ, tạo ra bề ngoài tương tự như những con rắn khi chúng bơi với phần thân chìm dưới mặt nước.
== Miêu tả ==
Chim cổ rắn là các loài chim lớn. Con trống có bộ lông màu đen hay nâu sẫm, mào mọc thẳng đứng trên đầu và mỏ lớn hơn của con mái. Chim mái có bộ lông nhạt màu hơn, đặc biệt là trên cổ và các phần dưới. Cả chim trống và chim mái có các chấm màu xám trên các lông vai dài và các lông vũ của mặt trên các cánh. Mỏ nhọn có các gờ răng cưa. Các chân chim cổ rắn có màng bơi, ngắn và ở gần phần cuối của thân. Bộ lông của chúng có thể thấm nước, tương tự như của chim cốc nên chúng phải rũ cánh để làm khô sau khi bơi lặn. Các tiếng kêu của chúng bao gồm các tiếng kêu ríu rít hay rất huyên náo khi chúng bay hoặc đậu. Trong mùa động dục, các con trưởng thành đôi khi có tiếng huýt gió như quạ kêu.
== Phân bố ==
Chim cổ rắn sinh sống ở khu vực vòng quanh xích đạo, trong vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới. Chúng sống trong môi trường nước ngọt hoặc lợ và có thể tìm thấy trong các hồ, sông, đầm lầy, cửa sông, vịnh, phá và các cánh rừng đước ngập nước. Chúng có xu hướng tụ tập thành bầy đôi khi tới 100 con nhưng lại có đặc tính chiếm cứ lãnh thổ khá cao khi vào mùa sinh sản. Phần lớn là sống tĩnh tại và không di cư, tuy nhiên các quần thể lớn có thể có hiện tượng di cư.
== Thức ăn ==
Thức ăn chủ yếu của chim cổ rắn là cá có kích thước trung bình. Chúng dùng các mỏ nhọn của mình để xiên con mồi khi chúng lặn xuống dưới nước. Chúng có thể phóng mỏ của chúng về phía trước tương tự một mũi giáo. Chúng cũng ăn cả các động vật lưỡng cư như ếch và sa giông, các loài động vật bò sát như rắn và rùa cũng như các động vật không xương sống như côn trùng, tôm tép và các động vật thân mềm khác. Các loài chim này dùng chân của chúng để di chuyển dưới nước, đuổi theo và phục kích con mồi. Sau đó chúng đâm vào con mồi, chẳng hạn cá, để đem nó lên trên bề mặt nước, tung nó trong không gian để bắt và nuốt.
== Sinh sản ==
Chim cổ rắn là động vật có quan hệ tình dục kiểu một vợ-một chồng và chúng cặp đôi trong mùa sinh sản. Chúng có nhiều kiểu thể hiện khả năng để tìm kiếm bạn tình, bao gồm việc các con trống khoe mã để hấp dẫn con mái, các thể hiện chào mừng giữa con trống với con mái và các thể hiện liên kết cặp giữa các cặp. Trong mùa sinh sản, các túi nhỏ dưới cổ chúng đổi từ màu hồng hay vàng sang màu đen và phần da trên mặt chuyển từ màu vàng hay vàng-lục sang màu xanh thổ. Thông thường chúng giao phối và sinh sản theo từng bầy.
Sinh sản có thể diễn ra thành mùa hoặc quanh năm và thay đổi theo khu vực địa lý. Tổ của chúng được làm từ các cành cây non và được xây trên các ngọn cây hay trong các đám lau sậy, thường gần mặt nước. Ổ trứng có từ 2-6 trứng (thông thường khoảng 4) với vỏ màu lục nhạt, được ấp trong khoảng 25 - 30 ngày. Trứng nở không đồng thời. Cả chim bố và chim mẹ cùng chăm sóc các con và con non thuộc loại không tự kiếm mồi sớm được. Chúng đạt độ tuổi trưởng thành sau khoảng 2 năm. Nói chung chim cổ rắn có thể sống khoảng 9 năm.
== Phân loại ==
Họ chim này có quan hệ họ hàng rất gần với các họ khác trong bộ Bồ nông (Pelecaniformes). Hiện nay, nói chung người ta công nhận có 4 loài còn sinh tồn trong cùng một chi với danh pháp khoa học Anhinga. Chim cổ rắn phương đông là loài cận mức nguy hiểm. Sự phá hủy môi trường sinh sống cùng với các sự can thiệp khác của con người là những nguyên nhân chính làm cho số lượng của loài này bị suy giảm.
=== Các loài còn sinh tồn ===
Anhinga anhinga: Chim cổ rắn châu Mỹ
Anhinga melanogaster: Điên điển phương Đông, chim cổ rắn phương đông
Anhinga rufa: Chim cổ rắn châu Phi
Anhinga novaehollandiae: Chim cổ rắn Úc
Các "loài" tuyệt chủng được biết đến nhờ các bộ xương ở Mauritius và Australia đã được đặt tên khoa học là Anhinga nana (chim cổ rắn Mauritius) và Anhinga parvus, nhưng chúng đã bị xác định sai lầm các bộ xương của chim cốc đuôi dài (Phalacrocorax africanus) và chim cốc nhỏ có mào (Phalacrocorax melanoleucos), một cách tương ứng (Olson, 1975). Tuy nhiên, trong trường hợp đầu tiên, chúng có thể thuộc về một phân loài đã tuyệt chủng, có thể tạm được gọi là Phalacrocorax africanus nanus (chim cốc Mauritius lùn) - trớ trêu thay, do nanus/nana có nghĩa là "lùn" nhưng các bộ phận còn sót lại của nó lại lớn hơn những phần tương ứng của những con chim cốc đuôi dài phân bổ rất gần về mặt địa lý.
=== Hóa thạch ===
Có một lượng khá lớn các loài và các chi tiền sử chỉ tìm thấy từ các hóa thạch (chủ yếu là trong kỷ đệ Tam); trong số đó được đặt tên một cách thích hợp là Macranhinga, Meganhinga và Giganhinga, đại diện cho những con chim cổ rắn rất lớn và không biết bay.
Các loài tiền sửa của Anhinga được cho là phân bố trong các điều kiện khí hậu giống ngày nay, phân bố từ châu Âu trong Miocene ẩm hơn và nóng hơn. Dòng nhỏ hơn đã sống sót trong hơn 20 triệu năm. Các bằng chứng hóa thạch loài cho thấy chúng tập trung quan xích đạo, với loài trẻ hơn phân bố về phía đông của châu Mỹ, Hadley cell có vẻ là yếu tố chính giúp chi này vượt qua nguy cơ tuyệt chủng và sống sót:
Anhinga subvolans (Brodkorb, 1956) (Miocene sớm, Thomas Farm, USA) – trước đây thuộc Phalacrocorax
Anhinga cf. grandis (Miocene giữa ở Colombia –? Pliocene muộn ở Trung-Nam Nam Mỹ)
Anhinga sp. (Sajóvölgyi Miocene giữa ở Mátraszõlõs, Hungary) – A. pannonica?
"Anhinga" fraileyi Campbell, 1996 (Miocene muộn–? Pliocene sớm ở Trung-Nam Nam Mỹ) – có thể thuộc Macranhinga
Anhinga pannonica Lambrecht, 1916 (Miocene muộn ở Trung Âu? và Tunisia, Đông Phi, Pakistan và Thái Lan –? Sahabi Pliocene sớm ở Libya)
Anhinga minuta Alvarenga & Guilherme, 2003 (Solimões Miocene muộn/Pliocene sớm ở trung-nam Nam Mỹ)
Anhinga grandis Martin & Mengel, 1975 (Miocene muộn –? Pliocene muộn ở Hoa Kỳ)
Anhinga malagurala Mackness, 1995 (Allingham Early Pliocene of Charters Towers, Australia)
Anhinga sp. (Early Pliocene of Bone Valley, USA) – A. beckeri?
Anhinga hadarensis Brodkorb & Mourer-Chauviré, 1982 (Pliocene muộn/Pleistocene sớm ở Đông Phi)
Anhinga beckeri Emslie, 1998 (Early – Late Pleistocene of SE USA)
Protoplotus, một chi phalacrocoraciform nhỏ trong Paleogene ở Sumatra, từng được xem là một nhóm chim cổ rắn nguyên thủy. Tuy nhiên, nó cũng được xếp thành họ riêng (Protoplotidae) và có thể là một nhánh cơ bản của Sulae và/hoặc gần với tổ tiên chung của cormorants và chim cổ rắn.
== Xem thêm ==
Danh sách các loài chim Việt Nam
== Tham khảo ==
== Liên kết ngoài ==
Hình ảnh video về chim cổ rắn tại Internet Bird Collection
Olson, S. L. (1975): "An Evaluation of the Supposed Anhinga of Mauritius". The Auk 92:374-376. toàn văn dạng pdf
Bộ Bồ nông tại Chaffee Zoo, truy cập ngày 21 tháng 4 năm 2006.
Danh sách các loài bị đe dọa và tuyệt chủng tại Viện bảo tàng động vật Amsterdam 21 tháng 4 năm 2006.
Howard, L. 2003. Họ "Anhingidae" (trực tuyến), truy cập ngày 22 tháng 4 năm 2006 tại Animal Diversity Web
Bộ Bồ nông. Trang web về động vật hoang dã bang Georgia: Viện bảo tàng lịch sử tự nhiên Georgia và Cục các nguồn lực tự nhiên bang Georgia. 2 tháng 5 năm 2000. Truy cập ngày 22 tháng 4 năm 2006.
Chim cổ rắn tại Answers.com. Bách khoa toàn thư điện tử Columbia, xuất bản lần thứ sáu. Nhà in đại học Columbia, năm 2003, đăng lại tại Answers.com, truy cập ngày 22 tháng 4 năm 2006. |
công viên tuổi trẻ.txt | Công viên Tuổi Trẻ là một trong những công viên lớn tại Hà Nội.
== Giới thiệu ==
Nằm ở vị trí chính giữa quận Hai Bà Trưng, Hà Nội, công viên Tuổi Trẻ là một công trình mới và là niềm tự hào của giới trẻ thủ đô. Cổng chính công viên nằm trên đường Võ Thị Sáu, Công viên được xây dựng từ bãi đất công bỏ hoang hóa lâu ngày, lấy tâm là hồ Thanh Nhàn. Từ lúc được đưa vào hoạt động, công viên Tuổi Trẻ đã từng bước hoàn thiện và nhanh chóng trở thành điẻm lựa chọn của người dân Hà Nội trong các dịp vui chơi và trong thời gian rảnh rỗi, thư giãn.
== Lịch sử ==
Trước đây toàn bộ khuôn viên của Công viên tuổi trẻ (đã nằm trong quy hoạch từ lâu) bao gồm các bãi đất hoang, các nhà dân lấn chiếm hay, người ta hay nhắc đến với tên gọi Xóm liều Thanh Nhàn. Bắt đầu từ năm 1998, theo chỉ đạo chính quyền thành phố Hà nội, đoàn thanh niên CS và hội thanh niên thành phố Hà Nội đã ra quân phát quang từng bụi rậm, làm sạch từng miếng đất nhỏ. Với sức mạnh và nhiêt huyết của tuổi trẻ, thanh niên Hà Nội đã biến một mảnh đất bỏ hoang trở thành công viên, góp thêm cho người dân Hà Nội một sân chơi và cũng góp phần dẹp bỏ tệ nạn xã hội từ lâu nhức nhối tại khu vực này. Chính vì vậy, khi đưa công trình vào phục vụ nhân dân, chính quyền và người dân Hà Nội đã nhất trí lấy tên công viên là "công viên Tuổi Trẻ" để ghi nhớ công sức và lòng nhiệt thành của thanh niên thủ đô. Công viên Tuổi Trẻ còn tự hào được đặt trụ sở của " Ngôi nhà ma " Thực Lực, một trong những địa điểm vui chơi cực " shock" và kinh hoàng của giới trẻ. Hiện nay, thành phố đang có nhưng dự án lớn hơn cho công viên Tuổi Trẻ nhằm biến công viên này không chỉ là một công viên cây xanh đơn thuần với tác dụng điều hòa mà còn là một khu vui chơi giải trí hấp dẫn. Với mục tiêu trên, diện tích công viên sẽ được mở rộng hơn và cũng từ đó, chính quyền thành phố Hà Nội hi vọng sẽ dep bỏ được hoàn toàn tình trạng lấn chiếm đất trái phép và các tệ nạn xã hội tại địa bàn này. Điều này sẽ góp phần làm cho Hà Nội ngày càng văn minh, to đẹp hơn, xứng đáng với truyền thống từ ngàn xưa của mảnh đất thủ đô nghìn năm văn hiến, của Thăng Long thanh lịch và hào hoa.
== Tham khảo == |
hồ hoàn kiếm.txt | Hồ Hoàn Kiếm còn được gọi là Hồ Gươm (trong bản đồ Hà Nội năm 1886, hồ này được gọi là Hồ Hoàn Gươm - Lac de Hoan Guom), là một hồ nước ngọt tự nhiên của thành phố Hà Nội. Hồ có diện tích khoảng 12 ha. Trước kia, hồ còn có các tên gọi là hồ Lục Thủy (vì nước có màu xanh quanh năm), hồ Thủy Quân (dùng để duyệt thủy binh), hồ Tả Vọng và Hữu Vọng (trong thời Lê mạt). Tên gọi Hoàn Kiếm xuất hiện vào đầu thế kỷ 15 gắn với truyền thuyết vua Lê Lợi trả gươm báu cho Rùa thần. Tên hồ được lấy để đặt cho một quận trung tâm của Hà Nội (quận Hoàn Kiếm) và là hồ nước duy nhất của quận này cho đến ngày nay.
== Vị trí ==
Hồ Hoàn Kiếm có vị trí kết nối giữa khu phố cổ gồm các phố Hàng Ngang, Hàng Đào, Cầu Gỗ, Lương Văn Can, Lò Sũ... với khu phố Tây do người Pháp quy hoạch cách đây hơn một thế kỷ là Bảo Khánh, Nhà thờ, Tràng Thi, Hàng Bài, Đinh Tiên Hoàng, Tràng Tiền, Hàng Khay, Bà Triệu.
== Lịch sử ==
Cách đây khoảng 6 thế kỷ, dựa theo bản đồ thời Hồng Đức thì phần lớn xung quanh kinh thành khi ấy là nước. Hồ Hoàn Kiếm là một phân lưu sông Hồng chảy qua vị trí của các phố ngày nay như Hàng Đào, Hai Bà Trưng, Lý Thường Kiệt, Hàng Chuối. Tiếp đó đổ ra nhánh chính của sông Hồng . Nơi rộng nhất phân lưu này hình thành nên hồ Hoàn Kiếm hiện nay.
Thời Lê Trung hưng (thế kỷ 16), khi chúa Trịnh cho chỉnh trang Hoàng thành Thăng Long để vua Lê ở đã đồng thời xây dựng phủ chúa riêng nằm ngay bên ngoài Hoàng thành và trở thành một cơ quan trung ương thời bấy giờ với những công trình kiến trúc xa hoa như lầu Ngũ Long (dùng để duyệt quân) nằm ở bờ Đông hồ Hoàn Kiếm, đình Tả Vọng trên đảo Ngọc Sơn. Năm 1728 Trịnh Giang cho đào hầm ở vị trí phía Nam hồ để xây dựng cung điện ngầm gọi là Thưởng Trì cung.
Chúa Trịnh cho ngăn hồ lớn thành hồ Tả Vọng và Hữu Vọng. Hồ Hữu Vọng được dùng làm nơi duyệt quân thuỷ chiến của triều đình. Đến đời Tự Đức (1847-1883), hồ Hữu Vọng được gọi là hồ Thủy Quân, còn hồ Tả Vọng chính là hồ Hoàn Kiếm. Từ năm 1884, nhà nước bảo hộ Pháp cho lấp hồ Thuỷ Quân để xây dựng, mở mang Hà Nội.
=== Truyền thuyết ===
Sách Lam Sơn thực lục của Nguyễn Trãi có chép:
Khi ấy Nhà vua cùng người ở trại Mục sơn là Lê Thận cùng làm bạn keo sơn. Thận thường làm nghề quăng chài. Ở xứ vực Ma viện, đêm thấy đáy nước sáng như bó đuốc soi. Quăng chài suốt đêm, cá chẳng được gì cả. Chỉ được một mảnh sắt dài hơn một thước, đem về để vào chỗ tối. Một hôm Thận cúng giỗ (ngày chết của cha mẹ), nhà vua tới chơi nhà. Thấy chỗ tối có ánh sáng, nhận ra mảnh sắt, nhà vua bèn hỏi:
- Mảnh sắt nào đây?
Thận nói:
- Đêm trước tôi quăng chài bắt được.
Nhà vua nhân xin lấy. Thận liền cho ngay. Nhà vua đem về đánh sạch rỉ, mài cho sáng, thấy nó có chữ "Thuận Thiên", cùng chữ "Lợi".Lại một hôm, nhà vua ra ngoài cửa, thấy một cái chuôi gươm đã mài-dũa thành hình, nhà vua lạy trời khấn rằng:
- Nếu quả là gươm trời cho, thì xin chuôi và lưỡi liền nhau!
Bèn lấy mảnh sắt lắp vào trong chuôi, thành ra một chiếc gươm hoàn chỉnh. Tới hôm sau, hoàng hậu ra trông vườn cải, bỗng thấy bốn vết chân của người lớn, rất rộng, rất to. Hoàng hậu cả kinh, vào gọi nhà vua ra vườn, được quả ấn báu, lại có chữ Thuận Thiên (sau lấy chữ này làm niên hiệu) cùng chữ Lợi. Nhà vua thầm biết ấy là của trời cho, lòng lấy làm mừng, giấu giếm không nói ra.
Truyền thuyết này được đưa vào nội dung sách giáo khoa của Việt Nam và được viết tiếp đoạn sau, nói về việc Lê Lợi dùng thanh gươm báu đó làm gươm chiến đấu, xông pha chém địch nhiều trận, cuối cùng đuổi được quân Minh, lên làm vua.
Đầu năm 1428, Lê Thái Tổ cùng quần thần bơi thuyền ra hồ Tả Vọng. Nhận lệnh Long Quân, rùa nổi lên mặt nước.Theo lệnh vua, thuyền đi chậm lại. Đứng ở mạn thuyền, vua thấy lưỡi gươm bên người tự nhiên động đậy.
Rùa tiến về thuyền vua và nói:
- Xin bệ hạ hoàn gươm lại cho Long Quân!
Vua nâng gươm hướng về phía Rùa Vàng. Nhanh như cắt, rùa há miệng đớp lấy thanh gươm và lặn xuống nước.
Từ đó, hồ Tả Vọng bắt đầu mang tên là Hồ Gươm hay hồ Hoàn Kiếm
=== Di tích liên quan ===
Tháp Rùa: nằm ở trung tâm hồ, được xây dựng trong khoảng từ giữa năm 1884 đến tháng 4 năm 1886, trên gò Rùa và chịu ảnh hưởng kiến trúc Pháp . Tháp hình chữ nhật. Tầng một: chiều dài 6,28 mét (của 2 mặt hướng Đông và Tây), mỗi mặt có 3 cửa. Chiều rộng 4,54 mét, mỗi mặt có 2 cửa. Các cửa đều được xây cuốn, đỉnh thuôn nhọn. Tầng hai: chiều dài 4,8 mét, rộng 3,64 mét và có kiến trúc giống như tầng một. Tầng ba: chiều dài 2,97 mét, rộng 1,9 mét. Tầng này chỉ mở một cửa hình tròn ở mặt phía Đông, đường kính 0,68 mét, phía trên cửa có 3 chữ Quy Sơn tháp (tháp Núi Rùa). Tầng đỉnh có nét giống một vọng lâu, vuông vức, mỗi bề 2 mét.
Đền Ngọc Sơn: nằm ở phía Bắc hồ, xưa có tên là Tượng Nhĩ (tai voi). Vua Lý Thái Tổ đặt tên là Ngọc Tượng khi dời đô ra Thăng Long và đến đời Trần thì đảo được đổi tên là Ngọc Sơn. Một nhà từ thiện tên là Tín Trai đã lập ra đền Ngọc Sơn trên nền cung Thuỵ Khánh cũ (bị Lê Chiêu Thống cho người đốt năm 1787 để trả thù các chúa Trịnh). Đền Ngọc Sơn thờ thần Văn Xương là ngôi sao chủ việc văn chương khoa cử và thờ Trần Hưng Đạo.
Cầu Thê Húc: dẫn đến cổng đền Ngọc Sơn, do danh sĩ Nguyễn Văn Siêu cho xây dựng vào năm 1865. Tên của cầu có nghĩa là "nơi đậu ánh sáng Mặt Trời buổi sáng sớm"
Tháp Bút: trên bờ hướng Đông Bắc hồ, được xây dựng từ năm 1865, bao gồm năm tầng. Trên đỉnh là tượng trưng cho một ngòi bút đối lên trời, phần thân có khắc ba chữ Tả Thanh Thiên (viết lên trời xanh), thân tầng thứ ba của tháp có khắc một bài Bút Tháp Chí.
Đài Nghiên: trên bờ hướng Đông Bắc hồ, được xây dựng từ năm 1865, là phần không thể thiếu của Tháp bút. Ba chân kê nghiên là hình tượng ba con cóc. Trên thân nghiên khắc một bài Minh, gồm 64 chữ Hán.
Tháp Hòa Phong: trên bờ hướng Đông hồ, là di vật còn sót lại của chùa Báo Ân (bị dỡ bỏ năm 1898) . Tháp cao ba tầng, cửa theo bốn hướng Đông Tây Nam Bắc, có các chữ Hán như: Báo Đức môn, Báo Ân môn, Hoà Phong tháp, Báo Thiên tháp, ứng với mỗi cửa của tháp. Tầng một to và cao hơn hai tầng trên cùng. Bốn mặt của tầng hai hình Bát quái. Tầng ba ghi "Hòa Phong Tháp".
Đền Bà Kiệu: trên bờ hướng Đông Bắc hồ, được xây dựng từ thời Lê Trung Hưng, là một di tích hoàn chỉnh nhưng do việc mở đường nên đã tách làm hai phần, Tam quan ở sát bờ hồ, còn Đền thờ ở về phía bên này đường. Toạ lạc theo hướng Nam. Tam quan và Đền thờ (Nhà đại bái) đều có kiến trúc ba gian xây gạch, lợp mái ngói ta. Ngôi đền thờ ba vị nữ thần là Liễu Hạnh công chúa, Đệ nhị Ngọc nữ và Đệ tam Ngọc Nữ.
Thủy Tạ: được khởi công năm 1937 trên nền Tả Vọng đình thời chúa Trịnh Sâm, nằm ở mép hồ hướng Tây Bắc, là một loại hình kiến trúc đặc sắc trong kiến trúc cổ Việt Nam, là địa điểm thưởng ngoạn không gian hồ.
Đền thờ vua Lê: ở bờ Tây hồ, áp với đình Nam Hương. Đền có tượng vua Lê Thái Tổ đứng trên trụ cao, tay cầm thanh kiếm như phóng xuống mặt hồ.
== Hệ sinh vật hồ ==
=== Rùa ===
Rùa hồ Gươm có tên khoa học là Rafetus leloii, họ Ba Ba (Trionychidae) trong bộ Rùa (Testudies), lớp Sauropsida (Mặt thằn lằn). Rùa hồ Gươm gồm có bốn cá thể, cả bốn cá thể đều đã chết (một được lưu trong đền Ngọc Sơn, một lưu trong kho của Bảo tàng Hà Nội và một đã bị giết thịt năm 1962 - 1963 khi bò lên vườn hoa Chí Linh)
Là di sản vô giá gắn với những truyền thuyết lịch sử và văn hoá linh thiêng từ hàng ngàn năm nay.
Năm 2011, rùa hồ Gươm, được biết chỉ còn một cá thể sống sót, thường được gọi là "Cụ Rùa" đã được trục vớt và trị chữa các vết thương.
Ngày 19 tháng 1 năm 2016, cá thể rùa Hồ Gươm cuối cùng đã chết.
== Cảm hứng nghệ thuật ==
Tuy không phải là hồ lớn nhất trong thủ đô, song hồ Hoàn Kiếm đã gắn liền với cuộc sống và tâm tư của nhiều người. Hồ nằm ở trung tâm một quận với những khu phố cổ chật hẹp, đã mở ra một khoảng không đủ rộng cho những sinh hoạt văn hóa bản địa. Hồ có nhiều cảnh đẹp.
Và hơn thế, hồ gắn với huyền sử, là biểu tượng khát khao hòa bình (trả gươm cầm bút), đức văn tài võ trị của dân tộc (thanh kiếm thiêng nơi đáy hồ và tháp bút viết lên trời xanh). Do vậy, nhiều văn nghệ sĩ đã lấy hình ảnh Hồ Gươm làm nền tảng cho các tác phẩm của mình.
Hồ cũng là nguồn cảm hứng cho nhiều nhà nhiếp ảnh, trong đó nổi tiếng nhất là lão nghệ sĩ Võ An Ninh
=== Thơ văn ===
Nguyễn Khuyến xưa có bài thơ vịnh Hà Thành và Hồ Gươm biến dạng cách đây 100 năm như sau:
Cảm-đề
Ba chục năm nay trở lại hồ
Bây giờ cảnh-sắc khác ngày xưa
Nhà tranh đâu cả, toàn lầu gác
Súng lạ đì-đòm tịt trúc tơ
Chim-chóc đi về lầm lối cũ
Cốc cò chiều tối ngủ sương mưa
Đáng thương văn-vật trăm năm ấy
Còn lại bên hồ một đá trơ!
Nguyễn Khuyến
Hà Nội
...
Hà Nội có Hồ Gươm
Nước xanh như pha mực
Bên hồ ngọn Tháp Bút
Viết thơ lên trời cao
Trần Đăng Khoa - 1969
Rủ nhau xem cảnh Kiếm hồ,
Xem cầu Thê Húc, xem chùa Ngọc Sơn.
Đài nghiên, tháp bút chưa mòn,
Hỏi ai gây dựng nên non nước này?
Á Nam Trần Tuấn Khải
Nghiên Bút Non Sông(Nhạc và lời: Đình Dương) Hãy viết lên trời cao hỡi Tháp bút kiêu hùng Kiêu hãnh ơi Việt Nam anh dũng kiên cường Khí phách đó Hồ Gươm xanh thắm đến muôn đời Chiến tích xưa còn ghi thanh kiếm vẫn sáng ngời...
=== Âm nhạc ===
Có nhiều bài hát về Hà Nội: Người Hà Nội, Hà Nội niềm tin và hy vọng, Gửi người em gái, Chiều Hồ Gươm, v.v...
=== Nhiếp ảnh ===
=== Hội họa ===
== Xem thêm ==
== Chú thích ==
== Liên kết ngoài ==
Hồ Hoàn Kiếm tại Từ điển bách khoa Việt Nam
Đọc lịch sử Hồ Gươm qua đáy nước
Khu di tích Hồ Hoàn Kiếm
Cụ rùa của Hồ Gươm lại nổi lên trên Tuổi Trẻ online và hình ảnh ghi được
Hồ Hoàn Kiếm nhìn từ vệ tinh của Google Maps
Hồ Hoàn Kiếm và thành Thăng Long xưa |
việt bính.txt | Việt bính (Chữ Hán: 粵拼, việt bính: jyut6 ping3, tên đầy đủ: 香港語言學學會粵語拼音方案: Hương Cảng ngữ ngôn học học hội Việt ngữ bính âm phương án) là một phương pháp sử dụng chữ Latinh để phiên âm ngôn ngữ Quảng Châu (tức tiếng Quảng Đông - Cantonese, mà người Trung Quốc còn gọi là Việt ngữ. Vì tỉnh Quảng Đông 廣東, Quảng Tây 廣西 nguyên trước là đất của Bách Việt 百粵, nên gọi hai tỉnh ấy là tỉnh Việt).
Được ra đời vào năm 1993, Phương pháp phiên âm tiếng Quảng Đông của Học viện ngôn ngữ Hong Kong gọi tắt là jyutping là một phương pháp sử dụng chữ la tinh để phiên âm. Phương pháp này không những có thể sử dụng cho nhiều mục đích như phiên âm và đánh máy vi tính, nó còn có ưu điểm là đơn giản, dễ học và khá chuyên nghiệp.
Hệ thống phiên âm jyutping đã kết hợp các ưu điểm của các phương pháp phiên âm khác như Yale, phiên âm quốc tế và pinyin (phiên âm hán ngữ). Phần dưới đây sẽ giới thiệu chi tiết về hệ thống này. Phần âm tương đương/gần giống bên dưới được hiểu và đọc theo tiếng Việt giọng miền Nam. Chỗ nào đọc theo giọng miền Bắc sẽ được ghi rõ. Nếu trong tiếng Việt không có âm tương đương thì sử dụng âm tương đương trong tiếng Anh. Nếu tiếng Anh cũng không có âm đó thì sẽ dùng âm gần giống để diễn giải.
== Phụ âm ==
Tổng cộng có 19 phụ âm trong tiếng Quảng Đông hiện đại. JyutPing không dùng hai ký tự "r" và "v". Trong tiếng Quảng Đông cũng không có 2 âm này.
== Vần ==
Tổng cộng có 59 vần.
=== Tổ hợp âm ‘aa’ (tương ứng với ‘a’ trong tiếng Việt) ===
=== Tổ hợp với âm ‘a’ (tương ứng với ‘â’ hoặc ‘ă’ trong tiếng Việt) ===
=== Tổ hợp âm ‘e’ (Tương đương với ‘e’ trong tiếng Việt) ===
=== Tổ hợp âm ‘eo’ (Trong tiếng Việt không có. Âm này không bao giờ đứng một mình mà phải ghép với âm khác) ===
=== Tổ hợp âm ‘oe’ (Gần như âm ‘oe’ trong tiếng Việt nhưng không tròn miệng) ===
=== Tổ hợp âm "i" (tương đương với "i" trong tiếng Việt) ===
=== Tổ hợp âm "o" (tương đương với âm "o" trong tiếng Việt) ===
=== Tổ hợp âm "u" (tương đương âm "ua" trong tiếng Việt) ===
=== Tổ hợp âm "yu" (tương đương âm "uya" với tiếng Việt) ===
=== Âm ‘m’ và âm ‘ng’ (tiếng Việt không có) ===
== Thanh điệu ==
Tiếng Quảng Đông cũng có 6 thanh điệu như tiếng Việt. Tuy nhiên 6 thanh điệu của tiếng Quảng Đông không hoàn toàn giống với tiếng Việt. Sáu thanh trong tiếng Quảng Đông bao gồm:
Thanh thứ nhất (được ký hiệu bằng số 1): tương đương với thanh sắc tiếng Việt
Thanh thứ hai (được ký hiệu bằng số 2): tương đương với thanh hỏi tiếng Việt
Thanh thứ ba (được ký hiệu bằng số 3): tương đương với thanh ngang tiếng Việt
Thanh thứ tư (được ký hiệu bằng số 4): tương đương với thanh huyền tiếng Việt
Thanh thứ năm (được ký hiệu bằng số 5): tương đương với thanh nặng trong tiếng Việt
Thanh thứ sáu (được ký hiệu bằng số 6): tương đương với thanh huyền nhưng cao hơn.
Đối với JyutPing thanh điệu được ký hiệu bằng số như trên sẽ được ghi ngay sau chữ Latinh. Ví dụ: ngo5, sik1, leng3. Một số trường hợp các số thanh điệu này được ghi lên phía trên một tí (superscript) nhằm mục đích thẩm mỹ trong phiên âm.
Như vậy trong tiếng Việt có hai thanh hỏi và ngã là khá gần nhau (nhất là người miền Nam không phân biệt 2 thanh này) thì trong tiếng Quảng Đông có 2 thanh thứ tư và thanh thứ sáu mà đối với người Việt khá giống nhau (đều là thanh huyền, chỉ khác là một thấp và một cao hơn tí). Đối với người Quảng Châu và người Hong Kong thì họ phân biệt khá rõ hai thanh này.
Bảng dưới đây thể hiện ký hiệu, sự biến hóa cũng như vị trí của 6 thanh trong tiếng Quảng Đông.
Ghi chú: một số tài liệu còn phân biệt 2 loại thanh thứ 1 là (5-3) và (5-5) cũng như có tài liệu ghi thanh thứ 4 là (2-1) thay vì (1-1). Trong tài liệu này, với mục đích giới thiệu cơ bản ngữ âm trong tiếng Quảng Đông, sẽ không đi sâu vào vấn đề này.
== Tham khảo ==
Jyutping(粵拼)詳細教程
== Xem thêm ==
Jyut Ping 粵拼
Jyutping Pronunciation Guide
Diễn đàn tiếng Quảng Đông
== Tham khảo == |
danh sách chính đảng tại cộng hòa nhân dân trung hoa.txt | Chế độ chính trị tại Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa trên hình thức là chế độ đa đảng dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Trung Quốc và các đảng phái nhỏ trong một mặt trận thống nhất. Ngoài ra do thể chế một nước hai chế độ nên ở hai đặc khu hành chính là Hồng Kông và Ma Cao có chế độ chính trị khác với phần còn lại của Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa. Hiện nay ở Hồng Kông và Ma Cao vẫn tồn tại chế độ đa đảng thực sự.
== Các đảng được chính thức công nhận ==
Hiện nay ở Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa ngoài Đảng Cộng sản Trung Quốc có 8 đảng được chính thức công nhận là:
Ủy ban cách mạng Quốc dân đảng Trung Quốc (gọi tắt là Dân Cách)
Đồng minh dân chủ Trung Quốc (gọi tắt là Dân Minh)
Hội kiến quốc dân chủ Trung Quốc (gọi tắt là Dân Kiến)
Hội xúc tiến dân chủ Trung Quốc (gọi tắt là Dân Tiến)
Đảng dân chủ nông công Trung Quốc (gọi tắt là Nông Công Đảng)
Đảng trí công Trung Quốc (gọi tắt là Trí Công Đảng)
Học xã Cửu Tam
Đồng minh tự trị dân chủ Đài Loan (gọi tắt là Đài Minh)
Hiến pháp Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa quy định: Đảng Cộng sản Trung Quốc là chính đảng chấp chính duy nhất, 8 đảng còn lại được gọi là đảng phái dân chủ (hay đảng tham chính). Đại bộ phận các đảng phái dân chủ được thành lập trong thời kỳ chiến tranh Trung-Nhật và nội chiến Trung Quốc. Các đảng phái dân chủ tham gia chính trị thông qua Hội nghị Hiệp thương Chính trị Nhân dân Trung Quốc, phát huy vai trò giám sát và phụ tá Đảng Cộng sản Trung Quốc chấp chính. Chủ tịch các đảng này thường kiêm nhiệm phó ủy viên trưởng Ủy ban thường vụ Đại hội đại biểu Nhân dân toàn quốc hoặc phó chủ tịch Hội nghị Hiệp thương Chính trị Nhân dân Trung Quốc. Phương châm hợp tác cơ bản giữa Đảng Cộng sản Trung Quốc và 8 đảng phái dân chủ được xác định là: "Trường kỳ cộng tồn, hỗ tương giám đốc, can đảm tương chiếu, vinh nhục dữ cộng" (cùng tồn tại lâu dài, giám sát lẫn nhau, đối xử chân thành với nhau, vinh nhục có nhau).
Tuy nhiên cũng có ý kiến cho rằng 8 đảng phái dân chủ hoàn toàn không giữ được vai trò độc lập của mình, trở thành chính đảng phụ thuộc vào Đảng Cộng sản. Ví dụ như thành viên mới muốn gia nhập Đồng minh dân chủ Trung Quốc thì điều kiện đầu tiên là phải được Đảng Cộng sản thẩm tra xem có đủ tiêu chuẩn gia nhập đồng minh hay không.
== Các đảng khác ==
Hiến pháp Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa quy định nhân dân có quyền tự do lập hội lập đảng, tuy nhiên sự thực thì ngoài 8 đảng phái dân chủ nói trên, chính phủ Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa không hề phê chuẩn việc thành lập các đảng phái mới, thậm chí còn trấn áp và giam giữ các nhân vật lãnh đạo các đảng phái này. Số ít đoàn thể thông thường do nhân dân thành lập.
Các đảng phái (hoặc tổ chức) do nhân dân thành lập có thể kể đến là:
Đảng Dân chủ Trung Quốc được thành lập bởi các thành viên trong phong trào dân chủ 1978 và 1989.
Đảng Tân dân Trung Quốc do Quách Tuyền thành lập tại Nam Kinh vào cuối năm 2007.
Đảng viên tinh thần Quốc dân đảng Trung Quốc
Đảng Lao động Trung Quốc
Đảng Tự do Dân chủ Trung Quốc
Liên minh Phiếm lam Trung Quốc
Trung Quốc lục đảng (Đảng Xanh)
Đảng Nhân quyền Trung Hoa
Đảng Dân chủ chính nghĩa Trung Quốc do Vương Bỉnh Chương thành lập.
Đảng Dân chủ Xã hội Trung Quốc
Đảng Hải tặc Trung Quốc
== Các đảng tại Hồng Kông và Ma Cao ==
Hồng Kông và Ma Cao là 2 đặc khu hành chính của Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa, các chính đảng và đoàn thể ở đây không do Đảng Cộng sản Trung Quốc quản lý.
== Chú thích ==
== Liên kết ngoài ==
Các đảng phái dân chủ của Trung Quốc |
sade (ban nhạc).txt | Sade là một ban nhạc soul Anh được hình thành tại London vào năm 1983, mặc dù tất cả các thành viên đều xuất thân từ Kingston Upon Hull.Tên của ban nhạc là từ giọng ca nữ chính Sade Adu. Nhạc của họ có những âm điệu của các loại nhạc soul, R&B, jazz, và soft rock.
Dĩa nhạc đầu tiên ra mắt của ban Sade, Diamond Life, được phát hành vào năm 1984, đạt được hạng 2 tại UK Album Chart, bán hơn 1,2 triệu bản tại Anh, và đoạt được Brit Award về dĩa nhạc Anh hay nhất vào năm 1985. Dĩa này cũng rất thành công trên thế giới, đạt được hạng 1 tại nhiều nước và hạng top ten tại Hoa Kỳ nơi nó được bán đến hơn 4 triệu bản. Vào cuối năm 1985, Sade cho phát hành dĩa thứ hai, Promise, đạt được hạng 1 cả ở Anh và Hoa Kỳ. Trong năm 1986 ban này đoạt được Grammy Award cho những nghệ sĩ hay nhất mới nổi tiếng. Sade dĩa nhạc thứ 6, Soldier of Love, được phát hành khắp thế giới vào năm 2010, đoạt được hạng 4 tại Anh, và hạng 1 tại Hoa Kỳ. Trong năm 2011, ban nhạc đoạt được giải Grammy thứ 4 cho cặp đôi hay nhóm chơi nhạc R&B có lời.
Theo như Recording Industry Association of America (RIAA) dĩa của ban Sade bán được 23,5 triệu bản, và cho tới hiện tại tới 50 triệu bản trên khắp thế giới. Ban nhạc được xếp hạng. 50 trên danh sách những nghệ sĩ hay nhất của mọi thời đại của VH1."
== Thành viên ban nhạc ==
Sade Adu – giọng ca, viết lời, viết nhạc
Stuart Matthewman – guitar, Saxophone, viết nhạc
Paul Spencer Denman – Bass guitar, viết nhạc
Andrew Hale – keyboards, viết nhạc
== Lịch sử ==
=== Thập niên 1980 ===
Ban nhạc Sade được thành lập tại Luân Đôn vào năm 1982, bởi thành viên của ban nhạc Latin soul, Pride. Sade Adu, Stuart Matthewman, và Paul Spencer Denman, cùng với Paul Anthony Cook là thành viên của ban nhạc mới này. Tên ban nhạc được đặt theo tên của giọng nữ chính, Sade Adu, họ trình diễn lần đầu tiên vào tháng 12 năm 1982 tại Ronnie Scott's Club ở London để mà hỗ trợ ban nhạc Pride. vào tháng 5 năm 1983 Sade trình diễn lần đầu tiên ở Hoa Kỳ tại Danceteria Club ở New York City. Andrew Hale tham dự vào ban này năm 1983, nhưng Cook ra khỏi Sade năm 1984. Sade càng ngày càng nhận được nhiều sự chú ý của báo chí và các hãng sản xuất nhạc hơn là ban Pride, và sau cùng họ đã tách ra khỏi nhóm đó. Vào ngày 18 tháng 10 năm 1983, ban nhạc ký hợp đồng với hãng Portrait Records, sau đó được nhập vào hãng mẹ Epic Records (năm 1986).
Vào tháng 2 năm 1984, Sade cho phát hành single đầu tiên của họ, "Your Love Is King", mà đã trở thành Top Ten hit. Single thứ hai, "When Am I Going to Make a Living" chật vật lắm mới đạt được Top 40, nhưng dĩa đầu tiên của Sade, Diamond Life, được phát hành vào tháng 7 năm 1984 leo được lên hạng 2. Nó giữ Top Ten 6 tháng và đoạt được 4 dĩa Platinum của BPI. Diamond Life vào năm 1985 đạt được Brit Award về dĩa nhạc Anh xuất sắc nhất. Ban nhạc bắt tay vào tua lớn đầu tiên vòng quanh nước Anh, được bổ sung bởi Dave Early (trống), Martin Ditcham (percussion), Terry Bailey (trumpet) and Gordon Matthewman (trombone). Dĩa đơn thứ 3, "Smooth Operator", phát xuất từ dĩa đầu tay được phát hành với một video được đạo diễn bởi Julian Temple. Dĩa đơn này trở thành hit đầu tiên của họ ở Hoa Kỳ vào mùa xuân 1985, đưa dĩa nhạc lên US Top Ten. Cũng vào năm 1985, ban nhạc được đề cử 2 giải nhạc video của MTV - cho video nữ xuất sắc nhất và nghệ sĩ mới nổi xuất sắc nhất. Vào ngày 13 tháng 7 năm 1985, Sade trình diễn tại Live Aid ở sân vận động Wembley Stadium ở London. Sade Adu trở thành nghệ sĩ sinh ở Phi châu duy nhất mà xuất hiện trước một số đông khán giả 75 ngàn người và ước tính tổng cộng khắp thế giới khoảng chừng 1,4 tỷ khán thính giả truyền hình từ 170 nước.
== Dĩa nhạc ==
Diamond Life (1984)
Promise (1985)
Stronger Than Pride (1988)
Love Deluxe (1992)
Lovers Rock (2000)
Soldier of Love (2010)
== Đợt trình diễn ==
1984 Tour (1984)
Promise Tour (1986)
Stronger Than Pride Tour (1988)
Love Deluxe World Tour (1993)
Lovers Rock Tour (2001)
Sade Live (2011)
== Phim nhạc ==
Munich Concert (1984)
Life Promise Pride Love (1993)
Live Concert Home Video (1994)
Lovers Live (2002)
The Ultimate Collection DVD Videos (2011)
Bring Me Home Live 2011 (2012)
=== Khúc Video ===
== Tham khảo ==
== Liên kết ngoài ==
Website chính thức
Danh sách đĩa nhạc của Sade trên Discogs
Sade tại Myspace |
ngành dược việt nam.txt |
== Các nhà sản xuất dược phẩm tại Việt Nam ==
Thống kê đến thời điểm cuối năm 2007, tại Việt Nam có khoảng 178 doanh nghiệp (DN) có sản xuất dược phẩm. Trong đó số lượng các DN đạt tiêu chuẩn GMP - WHO chiếm tỷ lệ còn thấp (18 DN), giá trị sản xuất trong nước còn thấp, tuy nhiên đã có những tín hiệu về tăng thị phần thuốc sản xuất trong nước từ 3 năm trở lại đây.
Năm 2005: giá trị SX trong nước ước khoảng 395 triệu USD trên tổng doanh thu tiền thuốc thuốc tại Việt Nam 817 triệu USD (tương đương 48%)
Năm 2006: giá trị sản xuất trong nước tăng lên 475 triệu USD (tương đương 49%)
Năm 2007: dự kiến sản xuất trong nước đạt 600 triệu USD
Năm 2010: dự kiến sản xuất trong nước đạt 1000 triệu USD
Tuy nhiên do thuốc trong nước có sản lượng sản xuất nhiều (số đơn vị thuốc được sử dụng) chiếm đến 70% nhưng giá trị doanh thu lại thấp hơn vì đa số các mặt hàng trong nước sản xuất là thuốc thông thường nên giá cả khá rẻ, còn các mặt hàng chuyên khoa đặc trị thì phần lớn vẫn phải nhập khẩu từ nước ngoài, giá cả rất cao. Kế hoạch ngành dược đặt ra vào năm 2010 giá trị tiền thuốc sản xuất trong nước đạt 60%, và tăng lên 80% vào năm 2015.
Số lượng hoạt chất các DN Việt Nam đăng ký sản xuất cũng đã tăng lên, theo cục Quản lý dược tính đến năm 2007 các DN Việt Nam đã sản xuất tương ứng với 770 hoạt chất so với tổng 5500 hoạt chất đang được đăng ký tại Việt Nam.
== Các nhà phân phối dược phẩm tại Việt Nam ==
Tính đến năm 2007 có khoảng 800 DN có đăng ký chức năng kinh doanh dược phẩm tại thị trường Việt Nam, trong đó có khoảng 370 doanh nghiệp nước ngoài chủ yếu hoạt động dưới hình thức văn phòng đại diện. Hàn Quốc, Ấn Độ và Pháp là những quốc gia có DN đăng ký nhiều nhất.
Doanh nghiệp phân phối dược phẩm tại thị trường Việt Nam được phân chia ra làm 2 loại. Một là các DN tiền thân của nhà nước chuyên làm chức năng nhập khẩu hưởng hoa hồng (%) và làm thêm các chức năng dịch vụ kho bãi, giao nhận. Hai là các doanh nghiệp tập trung vào hoạt động tiếp thị và xây dựng các hệ thống phân phối.
Các doanh nghiệp này làm dịch vụ nhập khẩu ủy thác nên doanh số báo cáo thường rất lớn, doanh thu trên sổ sách từ vài trăm tỷ đến vài nghìn tỷ mỗi năm. Tuy nhiên phần doanh số này chủ yếu do các Văn phòng Đại diện các hãng dược tại Việt Nam và nhà phân phối của họ quản lý nên các doanh nghiệp nhập khẩu ủy thác chỉ có được vài phần trăm hoa hồng cho doanh số trên (khoảng từ 1%-3%).
Đây là những doanh nghiệp thực sự nắm giữ thị trường phân phối cả nước, hệ thống đại lý, khánh hàng và nhân viên thương mại (trình dược viên) của họ đông đảo và mạnh nhất, doanh số của các DN này đạt từ 100 tỷ cho đến hơn 1000 tỷ hàng năm. Lợi nhuận rất lớn, đây cũng chính là lực lượng gây ảnh hưởng nhiều nhất đến giá thuốc tại Việt Nam, đặc biệt là 3 hãng lớn nhất: Zuellig Pharma, Mega Product, Diethelm. Mặc dù theo cam kết WTO, quyền phân phối dược thuộc về phía Việt Nam, tuy nhiên các công ty có này đã tham gia vào hầu hết các khâu của quá trình phân phối. Trong số các công ty phân phối dược Việt Nam, Codupha nổi lên là nhà phân phối có nhiều kinh nghiệm, chuyên nghiệp và có độ bao phủ rộng trên toàn quốc thông qua hệ thống các chi nhánh, trung tâm phân phối, hệ thống tiếp thị bán hàng, giao hàng. Các công ty phân phối dược khác cũng đang từng bước chuyên nghiệp hóa, tuy nhiên có nhiều khó khăn do hạn chế về nguồn lực, hệ thống kho bãi, vận chuyển, tiếp thị...
== Mạng lưới cung ứng thuốc tại Việt Nam ==
Tính đến năm 2006, trên toàn lãnh thổ Việt Nam có:
29.541 quầy bán lẻ thuốc
7.490 nhà thuốc tư nhân
7.417 đại lý bán lẻ thuốc
7.948 quầy thuốc thuộc trạm Y tế xã
464 quầy thuốc thuộc DN nhà nước
6222 hiệu thuốc thuộc DN nhà nước (đã CP)
Nhìn chung hệ thống lưu thông, phân phối thuốc đã phát triển rộng khắp, đảm bảo đưa thuốc đến tận tay người dân. Trung bình một điểm bán lẻ phục vụ 2000 người dân.
Trong số lượng lớn 29.541 quầy bán lẻ thuốc, thì đây là những quầy nhỏ, số lượng chủng loại thuốc ít và chủ yếu là các loại thuốc thông thường phục vụ cho người dân. Đại đa số các loại quầy này tập trung tại các vùng nông thôn, tỉnh lẻ.
Tại các thành phố lớn, thì số lượng các nhà thuốc tư nhân chiếm áp đảo. Chỉ riêng tại TP. Hồ Chí Minh đã có hơn 3000 nhà thuốc tư nhân và Hà Nội hơn 1000 nhà thuốc tư nhân. Phần còn lại nằm tại các thành phố, thị xã trung tâm các tỉnh. Tại các thị trấn huyện ở các tỉnh có rất ít nhà thuốc, trung bình mỗi thị trấn có khoảng 1 đến 2 nhà thuốc như vậy.
So sánh chủng loại và số lượng thuốc, thì tại các nhà thuốc tư nhân có số lượng, chủng loại nhiều gấp bội so với các quầy thuốc tại các vùng nông thôn, tỉnh lẻ. Các nhà thuốc tư nhân tại thành thị ngoài các mặt hàng thông thường, thường có thêm một số loại thuốc đặc trị, ngoại nhập mà các quầy thuốc ở vùng nông thôn không có bán.
== Tham khảo ==
Văn kiện hội nghị ngành dược năm 2006, Cục quản lý dược - Bộ Y tế
== Liên kết ngoài ==
Cục quản lý dược Việt Nam
Trang thông tin Y dược Việt Nam |
blackout (album của britney spears).txt | Blackout là album phòng thu thứ năm của nghệ sĩ thu âm người Mỹ Britney Spears, phát hành ngày 27 tháng 10 năm 2007 bởi Jive Records và Zomba Label Group. Với mong muốn tái thiết lại sự nghiệp âm nhạc của mình sau album thứ 4, In the Zone (2003), Spears bắt đầu lên kế hoạch cho dự án vào năm 2006. Quá trình được tiếp diễn sang năm 2007, trong khoảng thời gian đấu tranh cá nhân của nữ ca sĩ, bao gồm những hành vi và trạng thái tâm lý mất kiểm soát cũng như vụ việc li dị với Kevin Federline, khiến sự nghiệp ca hát của cô bị lu mờ.
Blackout có sự tham gia thực hiện của nhiều nhà sản xuất, như Danja, Bloodshy & Avant, Sean Garrett, và The Neptunes, và được thu âm tại nhiều phòng thu khác nhau trên khắp Hoa Kỳ, bao gồm cả ở nhà của Spears ở Los Angeles với mong muốn tạo ra phần âm nhạc tràn đầy niềm vui và năng lượng. Các nhà sản xuất tuyên bố rằng họ rất ấn tượng với đạo đức nghề nghiệp và tính chuyên nghiệp của cô, mặc cho những vấn đề xung quanh đời tư của Spears. Đây là một bản thu âm mang đậm chất electropop, dance-pop, và R&B, trong đó kết hợp giữa các yếu tố của euro disco, dubstep, và funk. Nội dung các bài hát trong album bao gồm sự nổi tiếng, giới tính, tình dục và nhảy múa.
"Blackout" được dự định phát hành vào ngày 13 tháng 11 năm 2007 tại Mỹ, nhưng phải lùi ngày phát hành do album đã bị rò rỉ trên mạng. Nó chủ yếu nhận được những đánh giá tích cực từ giới phê bình, một số khen ngợi sự tiến bộ của Britney trong âm nhạc nhưng phản đối việc Britney xử lý giọng hát trong album quá nhiều. Album ban đầu được xác định sẽ ra mắt tại vị trí số một trên Billboard 200, nhưng do một số thay đổi về quy tắc tính lượng tiêu thụ ở phút chót, nó chỉ xếp vị trí thứ 2 trong tuần đầu với 290.000 bản. Nó cũng lọt vào top 10 bảng xếp hạng của nhiều quốc gia, và đã đạt được nhiều chứng nhận trên toàn thế giới. Tính đến cuối năm 2008, Blackout đã bán được 3.5 triệu bản trên toàn thế giới.
Ba đĩa đơn trích từ album đã được phát hành. Đĩa đơn đầu tiên "Gimme More" đạt vị trí thứ 3 trên bảng xếp hạng Billboard Hot 100, và nằm trong top 10 tại 14 quốc gia khác. Đĩa đơn thứ hai, "Piece of Me" nằm trong top 10 tại 12 nước, và giúp Britney nhận được 3 giải thưởng quan trọng tại MTV Video Music Awards năm 2008, bao gồm: "Video xuất sắc nhất của nữ ca sĩ", "Video Pop xuất sắc nhất" và giải thưởng danh giá "Video của năm". Không giống như những album trước, Spears không hề quảng bá cho Blackout; màn trình diễn duy nhất được thực hiện để quảng bá cho album, là tại giải thưởng MTV Video Music Awards năm 2007 với đĩa đơn "Gimme More" và đã nhận được những phản ứng không mấy tích cực từ các nhà phê bình âm nhạc.
Trong những năm tiếp theo, Blackout đã nhận được những đánh giá thuận lợi hơn, xem xét album này là một "kiệt tác". Tạp chí The Times gọi nó là album nhạc pop hay thứ năm của thập niên 2000. Năm 2012, album được đưa vào Đại sảnh Danh vọng Rock and Roll.
== Danh sách bài hát ==
Chú thích
^a nghĩa là sản xuất phần giọng hát
^b nghĩa là đồng sản xuất
== Xếp hạng và chứng nhận ==
=== Đĩa đơn ===
== Tham khảo == |
duyên hải vịnh mexico của hoa kỳ.txt | Vùng Duyên hải Vịnh Mexico của Hoa Kỳ bao gồm duyên hải của các tiểu bang giáp ranh Vịnh Mexico. Các tiểu bang Texas, Louisiana, Mississippi, Alabama, và Florida được biết đến là Các tiểu bang Vịnh. Tất cả các tiểu bang Vịnh Mexico nằm trong vùng Nam Hoa Kỳ.
== Địa lý và khí hậu ==
Duyên hải Vịnh Mexico bị vô số sông chia cắt. Sông lớn nhất trong số này là Sông Mississippi. Phần lớn vùng đất dọc theo Duyên hải Vịnh Mexico là (hoặc từng là) đầm lầy. Các phần đất phía tây Duyên hải Vịnh Mexico gồm có các đảo cát chạy dài dọc ngoài khơi bờ biển và các bán đảo trong đó có Đảo Padre và Đảo Galveston. Các địa hình này bảo vệ vô số các đảo nhỏ và vịnh nhỏ. Phần trung tâm của Duyên hải Vịnh Mexico, từ Đông Texas chạy dài đến Louisiana gồm có phần lớn là đầm lầy. Về mặt địa lý, nó là một phần của đông duyên hải của Hoa Kỳ.
Vì nó nằm gần vùng nước cận nhiệt đới của Vịnh Mexico nên vùng này thường hay có bão. Lụt và bão sấm cũng thường xảy ra tại vùng này. Lốc xoáy hiếm thấy nhưng vẫn có xảy ra tại vùng này (chúng xảy ra thường xuyên hơn ở những phần đất nội địa của các tiểu bang này). Động đất thì hiếm xảy ra nhưng trận động đất 6.0 xảy ra vào ngày 10 tháng 9 năm 2006 đã gây cho vùng này 1 sự ngạc nhiên. Địa chấn có thể cảm giác được từ thành phố New Orleans đến Tampa.
== Các vùng đô thị ==
Sau đây là 10 vùng đô thị lớn nhất dọc theo Duyên hải Vịnh Mexico của Hoa Kỳ.
== Xem thêm ==
Địa lý Hoa Kỳ
Cán chảo Florida
Duyên hải Emerald
Tây Florida
== Ghi chú == |
le monde.txt | Le Monde (Thế giới) là một nhật báo bằng tiếng Pháp buổi tối với số lượng phát hành mỗi số đến thời điểm năm 2004 là 371.803 bản. Tờ báo này được xem là báo chuẩn mực Pháp và thường được mọi người rất kính trọng, luôn là tờ báo tiếng Pháp duy nhất có thể mua dễ dàng ở các quốc gia không phải thuộc khối Pháp ngữ.
Không nên nhầm lẫn tờ báo này với nguyệt san Le Monde diplomatique, một nguyệt san mà Le Monde giữa 51% quyền sở hữu nhưng lại độc lập về biên tập.
Le Monde được thành lập bởi Hubert Beuve-Méry theo yêu cầu của tướng Charles de Gaulle sau khi quân đội Đức bị đẩy lui khỏi Paris trong Thế chiến II, và tờ báo này theo hình thức của Le Temps, một tờ báo có uy tín bị suy giảm trong thời kỳ Chiếm đóng. Người ta cho rằng Beuve-Méry đã yêu cầu hoàn toàn độc lập biên tập làm điều kiện để ông đảm trách dự án này. Ấn bản đầu tiên xuất hiện ngày 19 tháng 12 năm 1944. Le Monde được đưa lên mạng Internet từ ngày 19 tháng 12 năm 1995. Nó là ấn bản chính của Groupe Le Monde.
Gần đây, Le Monde gặp nhiều khó khăn trong việc duy trì doanh thu do các khách hàng quảng cáo chuyển sang các báo mạng. Giống như các tờ báo ở Mỹ, các tờ báo in ở Pháp cũng đang phải cắt giảm chi phí và tìm nguồn doanh thu mới do lượng phát hành giảm sút.
Le Monde đã chấp nhận lời chào mua từ một nhóm gồm ba tỷ phú: tỷ phú Internet Xavier Niel, đại gia ngành ngân hàng Matthieu Pigasse, và tỷ phú Pierre Berge - người đồng sáng lập hãng thời trang danh tiếng Yves Saint Lauren, bất chấp sự phản đối của Tổng thống Nicolas Sarkozy với giá 110 triệu Euro, tương đương 135 triệu USD.
== Tham khảo == |
s&p 500.txt | S&P 500 (viết đầy đủ trong tiếng Anh là Standard & Poor's 500 Stock Index - Chỉ số cổ phiếu 500 của Standard & Poor) là một chỉ số cổ phiếu dựa trên cổ phiếu phổ thông của 500 công ty có vốn hóa thị trường lớn nhất niêm yết trên NYSE hoặc NASDAQ. Tỉ lệ và loại cổ phiếu sử dụng để tính toán chỉ số S&P 500 được quyết định bởi hãng S&P Dow Jones Indices. Điều này khiến chỉ số S&P 500 khác với các chỉ số thị trường chứng khoán khác của Mĩ như chỉ số công nghiệp Dow Jones hay chỉ số Nasdaq Composite. Chỉ số S&P 500 là một trong những chỉ số khách quan và được quan tâm nhất, rất nhiều nhà đầu tư coi đây là thước đo tốt nhất của thị trường chứng khoán Mĩ cũng như là một chỉ số chủ đạo của nền kinh tế . Ủy ban nghiên cứu kinh tế quốc gia cũng xác nhận giá trị cổ phiếu phổ thông là nhân tố hàng đầu của mỗi chu kì kinh tế .
S&P 500 được phát triển và cập nhật bởi liên doanh S&P Dow Jones Indices, với chủ sở hữu lớn nhất là tập đoàn McGraw Hill Financial. Ngoài S&P 500, McGraw Hill còn phát hành rất nhiều chỉ số chứng khoán khác như S&P MidCap 400, S&P SmallCap 600 và S&P Composite 1500. S&P 500 là một chỉ số tỉ lệ giá thị trường (capitalization-weighted index hay market-value-weighted index) và có nhiều mã giao dịch như: ^GSPC, INX, và $SPX.
== Lịch sử ==
Hãng đánh giá tín nhiệm Standard & Poor giới thiệu chỉ số chứng khoán đầu tiên vào năm 1923. Chỉ số S&P 500 ra đời vào ngày mùng 4 tháng 3 năm 1957. Công nghệ thời đó cho phép chỉ số này được tính toán và niêm yết công khai theo thời gian thực. Bao gồm cả cổ phiếu tăng trưởng và cổ phiếu đầu tư giá trị, chỉ số S&P 500 được sử dụng rông rãi như một công cụ để tính toán giá trị chung của cổ phiếu trên thị trường.
S&P 500 đạt chỉ số nội nhật cao nhất (trong vòng hơn 7 năm) là 1,552.87 vào ngày 24 tháng 3 năm 2000 trong giai đoạn Bong bóng Dot-com, sau đó mất khoảng 50% giá trị, xuống còn 768.63 vào mùng 10 tháng 10 năm 2002 trong cuộc suy thoái chứng khoáng năm 2002. Ngày 30 tháng 5 năm 2007, chỉ số S&P 500 đóng cửa ở mức 1,530.23, đạt mức kỉ lục trong vòng hơn 7 năm sau đó. Mặc dù, S&P 500 phá kỉ lục mới với mức 1,576.09 ngày 11 tháng 10 năm 2007, sau khi cán mốc 1,565.15 ngày mùng 9 tháng 10, S&P 500 kết thúc năm 2007 ở 1,468.36 điểm, chỉ thấp hơn mức đóng cửa năm 1999. Chưa đầy một tháng sau, S&P 500 rớt xuống còn 1,400 điểm, thấp nhất trong vòng 5 năm.
Giữa năm 2007, cuộc Khủng hoảng tài chính Hoa Kỳ 2007-2009 lan rộng ra toàn bộ khu vực tài chính Mĩ. Vào tháng 9 năm 2008, khởi đầu một giai đoạn biến động bất thường, tình hình trở nên khẩn cấp với mức trồi sụt kỉ lục lên tới 100 điểm và cũng là mức dao động cao nhất kể từ năm 1929. Ngày 20 tháng 11 năm 2008, S&P 500 đóng cửa ở 752.44, thấp nhất kể từ đầu năm 1997. Sự hồi phục khiêm tốn trong những ngày còn lại vấn khiến S&P 500 kết thúc năm với mức suy giảm 45.5%. Đây cũng là mức suy giảm lớn nhất kể từ sau năm 1931, khi thị trường mất hơn 50% giá trị. Cuối năm 2008, khủng hoảng tài chính năm 2008 tiếp tục kéo thị trường đi xuống đến đầu năm 2009. S&P 500 gần như đã chạm mức thấp nhất trong vòng 13 năm, đóng cửa ở 676.53 điểm ngày mùng 9 tháng 3 năm 2009.
Ngày 23 tháng 3 năm 2009, S&P 500 hồi phục 20% giá trị và cán mốc 822.92, kéo theo chỉ số công nghiệp Dow Jones tăng điểm ngay sau đó. Kết thúc năm 2009, S&P 500 đạt 1,115.10 điểm, mức cao thứ hai trong suốt thập kỉ. Mặc dù tiếp tục trải qua một vài biến động đáng kể khác do bất ổn tài chính và chính trị, S&P 500 tiếp tục xu hướng hồi phục, kết thúc năm 2012 S&P 500 đạt mức cao thứ ba trong lịch sử, 1,426.22 điểm. 28 tháng 3 năm 2013 và mùng 10 tháng 4, S&P 500 lần lượt đạt mức đóng cửa cao nhất và chỉ số nội nhật cao nhất kể từ năm 2007. Ngày 3 tháng 5 năm 2013, hơn 13 năm sau lần đầu tiên vượt mốc 1500 điểm, S&P 500 đã phá vỡ mốc 1600 lần đầu trong lịch sử, đạt 1,614.42 điển. Đây là cột mốc đầu tiên trong ba cột mốc 100 điểm của chỉ số này trong năm 2013: 1700 vào ngày mùng 1 tháng 8, và 1800 vào 22 tháng 11.
Các dấu mốc kỉ lục của chỉ số S&P 500
== Tiêu chuẩn lựa chọn ==
Các cổ phiếu thành phần phục vụ tính toán chỉ số S&P 500 được lựa chọn bởi một hội đồng. Điều này tương tự với chỉ số công nghiệp Dow Jones, nhưng khác với một số chỉ số khác được quy định chặt chẽ theo luật như Russell 1000. Khi xem xét để thêm một cổ phiếu mới, hội đồng này sẽ đánh giá giá trị của công ty đó theo tám tiêu chuẩn cơ bản: vốn hóa thị trường, tính thanh khoản, trụ sở công ty, số lượng cổ phiếu công chúng, nhóm ngành, năng lực tài chính, thời gian niêm yết giao dịch và cổ phiếu niêm yết.
Hội đồng chọn lựa các công ty là đại diện cho các ngành công nghiệp trong nền kinh tế Hoa Kỳ để tính toán chỉ số S&P 500. Để vào danh sách tính toán S&P 500, mỗi công ty phải thỏa mãn các yêu cầu về khả năng thanh khoản:
vốn hóa thị trường lớn hơn hoặc bằng 4 tỷ đô la Mĩ
annual dollar value traded to float-adjusted market capitalization is greater than 1.0
khối lượng cổ phiểu giao dịch hàng tháng trong vòng 6 tháng liên tiếp cho đến ngày tiến hành đánh giá phải đặt từ 250,000 trở lên.
Chứng khoán phải được niêm yết công khai trên sàn NYSE (NYSE Arca hay NYSE MKT) hoặc sàn NASDAQ (NASDAQ Global Select Market, NASDAQ Select Market hay the NASDAQ Capital Market). Những chứng khoán không đủ tiêu chuẩn để đưa vào danh sách là limited partnerships, master limited partnerships, OTC bulletin board issues, closed-end funds, ETFs, ETNs, royalty trusts, tracking stocks, preferred stock, unit trusts, equity warrants, convertible bonds, investment trusts, ADRs, ADSs and MLP IT units.
Cần phân biệt danh sách của S&P 500 với Fortune 500, Fortune 500 chỉ là danh sách của 500 công ty đại chúng lớn nhất nước Mĩ, sắp xếp theo tổng thu nhập, mà không quan tâm đến cổ phiếu của công ty đó có niêm yết công khai hay không (nếu không niêm yết công khai, cổ phiếu được gọi là không thanh khoản). Fortune cũng không điều chỉnh danh sách nhằm mục đích đại diện cho ngành công nghiệp của Mĩ, đồng thời cũng không tính đến các công ty đăng ký thành lập ngoài lãnh thổ Hoa Kỳ.
S&P 500 bao gồm cả các công ty ngoài Hoa Kỳ (27 kể từ ngày 23 tháng 12 năm 2013), bất kể đó là công ty đã từng thành lập tại Hoa Kỳ nhưng thực hiện đảo ngược công ty, hay công ty đó không thành lập tại Hoa Kỳ.
== Cổ phiếu thành phần ==
== Các phiên bản ==
Chỉ số "S&P 500" thông thường được trích dẫn dưới dạng chỉ số tỉ lệ thu hồi vốn; ngoài ra, còn có các phiên bản "tỉ lệ lợi nhuận" và "tỉ lệ lợi nhuận sau thuế". Các phiên bản này khác nhau ở cách ghi nhận cổ tức. Chỉ số "tỉ lệ thu hồi vốn" không xét đến tỉ lệ cổ tức; nó chỉ thể hiện sự thay đổi về giá của từng cổ phiếu thành phần. Chỉ số tỉ suất lợi nhuận phản ánh hiệu quả tái đầu tư của cổ tức. Chỉ số "tỉ lệ lợi nhuận sau thuế" cũng phản ánh hiệu quả tái đầu tư của cổ tức nhưng sau khi khấu trừ thuế thu nhập.
== Tỉ lệ ==
Trước kia, chỉ số S&P 500 được xác định theo phương pháp tỉ lệ giá trị vốn hóa; tức là, sự biến động của một cổ phiếu có vốn hóa thị trường (giá cổ phiếu nhân với số lượng cổ phiếu phát hành ra công chúng) lớn sẽ có ảnh hưởng lớn hơn đến giá trị chung của chỉ số so với các cổ phiếu có giá trị vốn hóa nhỏ.
Hiện nay, S&P 500 được tính toán theo phương pháp "tỉ lệ cổ phiếu công chúng". Tức là, Standard & Poor's sẽ xác định giá trị thị trường của mỗi công ty liên quan đến chỉ số S&P 500 mà chỉ quan tâm đến số lượng cổ phiếu được phát hành ra công chúng (còn gọi là "cổ phiếu công chúng"). Đây là kết quả sau hai lần chuyển đổi, lần đầu vào ngày 18 tháng 3 năm 2005 và lần thứ hai là vào 16 tháng 9 năm 2005.
== Cập nhật chỉ số ==
Để đảm bảo luôn theo sát tình hình thực tế, chỉ số S&P 500 luôn được điều chỉnh để thể hiện sự tác động đến giá trị thị trường của các quyết sách của cổ đông công ty, như phát hành thêm cổ phiếu, chia cổ tức và các quyết định cơ cấu lại công ty như sát nhập hoặc chia tách. Thêm vào đó, để đảm bảo luôn là chỉ thị của thị trường chứng khoán Mĩ, các cổ phiếu thành phần sẽ được cập nhật liên.
Tuy nhiên để ngăn chặn sự thay đổi chỉ bắt nguồn từ các hoạt động tài chính của doanh nghiệp, tất cả các hoạt động tác động đến giá trị thị trường của S&P 500 đều được điều chỉnh thông qua một ước số. Ngoài ra, khi một công ty tụt hạng và bị thay thế bởi một công ty khác với giá trị vốn hóa thị trường khác, ước số này cũng được điều chỉnh để giá trị của S&P 500 là không đổi. Tuy nhiên, người ta chỉ điều chỉnh ước số sau khi kết thúc phiên giao dịch và sau khi tính toán giá trị S&P 500. Các hoạt động của một công ty yêu cầu phải điều chỉnh ước số vô cùng đa dạng và được liệt kê trong bảng dưới đây:
== Công thức tính ==
Để tính giá trị của chỉ số S&P 500, người ta lấy tổng giá trị vốn hóa thị trường của 500 cổ phiếu chia cho một thừa số, hay còn được gọi là Divisor(Ước số). Ví dụ, nếu tổng giá trị vốn hóa thị trường của 500 cổ phiếu thành phần là 13 nghìn tỷ đô la Mĩ và ước số là 8.933 tỉ, thì chỉ số S&P 500 có giá trị là 1,455.28. Mặc dù, tổng giá trị vốn hóa của chỉ số S&P 500 được công bố công khai trên trang web của Standard & Poor's, giá trị của ước số lại được hãng giữ bí mật. Tuy nhiên, giá trị này luôn xấp xỉ ở mức 8.9 tỉ.
Công thức tính toán chỉ số S&P 500 là:
Index Level
=
∑
(
P
i
⋅
Q
i
)
D
i
v
i
s
o
r
{\displaystyle {\text{Index Level}}={\sum \left({P_{i}}\cdot {Q_{i}}\right) \over Divisor}}
Trong đó P là giá của mỗi cổ phiếu thành viên, Q là số lượng cổ phiếu công chúng mỗi loại.
Ước số sẽ được điều chỉnh trong một số trường hợp như phát hành cổ phiếu, chia tách công ty hoặc các thay đổi tương đương về cơ cấu công ty, để đảm bảo rằng những sự kiện này sẽ không ảnh hưởng trực tiếp đến chỉ số cuối cùng.
== Tần suất cập nhật ==
Chỉ số S&P 500 được cập nhật 15 giây một lần trong suốt phiên giao dịch và được công bố rộng rãi bởi hãng Reuters America, Inc., một chi nhánh của hãng Thomson Reuters Corporation.
== Đầu tư ==
Rất nhiều quỹ chỉ số và quỹ hoán đổi danh mục theo dấu sự biến động (trước phí) của chỉ số S&P 500 bằng cách nắm giữ cùng loại cổ phiếu với cùng tỉ lệ như danh sách của S&P 500. Nhiều quỹ tương hỗ khác sử dụng S&P 500 như một mốc chuẩn. Kết quả là nếu cổ phiếu của một công ty được đưa vào danh sách của S&P 500 thì cổ phiếu đó sẽ tăng giá, vì các quỹ đầu tư chỉ số phải mua các loại cổ phiếu này để tiếp tục theo dấu S&P 500. Các nhà quản lý quỹ tương hỗ thường cung cấp dịch vụ quỹ đầu tư chỉ số theo dấu S&P 500, trong đó tiên phong chính là quỹ Vanguard 500 của tập đoàn The Vanguard Group năm 1976. Rất nhiều quỹ lương hưu cũng cung cấp các hình thức đầu tư như vậy. Ví dụ như, quỹ Thrift Savings Plan's C Fund theo dấu tỉ suất lợi nhuận của chỉ số S&P 500.
Ngoài việc đầu tư vào các quỹ tương hỗ theo dấu S&P 500, nhà đầu tư cũng có thể mua chứng chỉ quỹ của các quỹ hoán đổi danh mục (ETF) which represents ownership in a portfolio of the equity securities that comprise the Standard & Poor's 500 Index. Exchange Traded Funds track the S&P 500 index and may be used to trade the index. Một số quỹ ETF theo dấu S&P 500 được liệt kê dưới đây.
S&P 500 ETFs are available on the London Stock Exchange e.g. iShares S&P 500 (LSE:IUSA) and Vanguard S&P 500 (LSE:VUSA).
In the derivatives market, the Chicago Mercantile Exchange (CME) offers futures contracts (ticker symbols /SP for the full-sized contract and /ES for the E-mini contract that is one-fifth the size of /SP) that track the index and trade on the exchange floor in an open outcry auction, or on CME's Globex platform, and are the exchange's most popular product. Additionally, the Chicago Board Options Exchange (CBOE) offers options on the S&P 500 as well as S&P 500 ETFs, inverse ETFs and leveraged ETFs.
== Thống kê thị trường ==
=== Các dấu mốc ===
Ngày 11 tháng 10 năm 2007, chỉ số S&P lập kỉ lục về chỉ số nội nhật với mức 1,576.09. Ngày 28 tháng 3 năm 2013, S&P phá vỡ kỉ lục giá trị đóng cửa với mức điểm 1,565.15, lấy lại toàn bộ giá trị đã mất do ảnh hưởng của khủng hoảng tài chính. Tuy nhiên, để lập kỉ lục mới it would need to close well above the 2,000 level to set new inflation-adjusted highs (không xét đến cổ tức) so với lần đầu tiên phá mốc 1500 điểm của năm 2000.
=== Tỉ suất lợi nhuận hàng năm ===
== Xem thêm ==
Chỉ số chỉ thị nền kinh tế của Conference Board
Chỉ số bình quân công nghiệp Dow Jones
Danh sách 500 công ty S&P
E-mini S&P
Quỹ hoán đổi danh mục
Fortune 500
FTSE 100
Quỹ đầu tư chỉ số
S&P 100
S&P 400
S&P 600
S&P 1500
Standard & Poor's
== Tham khảo ==
== Liên kết ngoài ==
CNN Money page for SPX
Standard & Poor's page on S&P 500 index
S&P 500 Fact Sheet (PDF)
Logarithmic Chart of S&P 500 (1950-present) at Yahoo! Finance
s&p 500 Training
Bản mẫu:Các chỉ số thị trường chứng khoán |
baskil.txt | Baskil là một huyện thuộc tỉnh Elazığ, Thổ Nhĩ Kỳ. Huyện có diện tích 1338 km² và dân số thời điểm năm 2007 là 15978 người, mật độ 12 người/km².
== Chú thích ==
== Tham khảo ==
== Xem thêm ==
“Geonames Database”. Cơ quan Tình báo Địa không gian Quốc gia. Truy cập ngày 11 tháng 5 năm 2011. |
chiến tranh lạnh.txt | Chiến tranh Lạnh (1946–1991) là tình trạng tiếp nối xung đột chính trị, căng thẳng quân sự, và cạnh tranh kinh tế tồn tại sau Thế chiến II (1939–1945), chủ yếu giữa Liên bang Xô viết và các quốc gia vệ tinh của nó, với các cường quốc thuộc thế giới phương Tây, gồm cả Hoa Kỳ. Dù các lực lượng tham gia chủ yếu không bao giờ chính thức xung đột, họ đã thể hiện sự xung đột thông qua các liên minh quân sự, những cuộc triển khai lực lượng quy ước chiến lược, một cuộc chạy đua vũ trang hạt nhân, tình báo, chiến tranh ủy nhiệm, tuyên truyền, và cạnh tranh kỹ thuật, như cuộc chạy đua không gian.
Dù là các đồng minh chống lại Phe Trục, Liên Xô, Hoa Kỳ, Anh Quốc và Pháp đã không đồng thuận trong và sau Thế chiến II, đặc biệt về việc thiết lập thế giới thời hậu chiến. Khi cuộc chiến kết thúc, họ chiếm hầu hết châu Âu, với việc Hoa Kỳ và Liên Xô là các lực lượng quân sự mạnh nhất.
Liên Xô lập ra Khối Đông Âu với các quốc gia Đông Âu mà họ giải phóng, sáp nhập một số trở thành Các nước Cộng hoà Xã hội chủ nghĩa Xô viết và duy trì các quốc gia khác như nước vệ tinh của mình, một số nước trong số đó sau này được củng cố vào Khối hiệp ước Warsaw (1955–1991). Hoa Kỳ và một số quốc gia Tây Âu thành lập chính sách ngăn chặn chủ nghĩa cộng sản như là chính sách phòng vệ của họ, và lập ra các liên minh (ví dụ NATO, 1949) cho mục đích đó.
Nhiều quốc gia trong số đó cũng tham gia vào kế hoạch tái thiết châu Âu, đặc biệt là Tây Đức, vốn bị Liên Xô phản đối. Ở những nơi khác, tại Mỹ Latinh và Đông Nam Á, Liên Xô ủng hộ các cuộc cách mạng cộng sản, bị nhiều nước phương tây và đồng minh trong vùng của họ phản đối; một số nước tìm cách hạ thấp, với những kết quả khác nhau. Một số nước liên kết với NATO và Khối hiệp ước Warsaw, tuy thế các khối của những quốc gia không liên kết cũng xuất hiện.
Cuộc chiến tranh Lạnh có đặc điểm ở những giai đoạn khá yên tĩnh và những giai đoạn căng thẳng lên cao trong quan hệ quốc tế – cuộc Phong toả Berlin (1948–1949), Chiến tranh Triều Tiên (1950–1953), Khủng hoảng Berlin 1961, Chiến tranh Việt Nam (1954–1975), Khủng hoảng tên lửa Cuba (1962), Chiến tranh Xô viết tại Afghanistan (1979–1989), và những cuộc tập trận Able Archer 83 của NATO vào tháng 11 năm 1983. Cả hai phía đã tìm cách làm giảm các căng thẳng chính trị và tránh một cuộc tấn công quân sự trực tiếp, vốn dường như sẽ dẫn tới một sự tiêu diệt có đảm bảo từ hai phía với các loại vũ khí hạt nhân.
Trong thập niên 1980, Hoa Kỳ tăng cường sức ép ngoại giao, quân sự và kinh tế chống lại Liên Xô, vốn đang ở tình trạng trì trệ kinh tế. Sau đó, Tổng thống Liên Xô Mikhail Gorbachev đưa ra những cuộc cải cách tự do perestroika ("tái cơ cấu", "xây dựng lại", 1987) và glasnost ("mở cửa", khoảng năm 1985). Liên bang Xô viết sụp đổ năm 1991, khiến Hoa Kỳ còn lại là cường quốc quân sự có vị thế thống trị, và Nga sở hữu hầu hết kho vũ khí hạt nhân của Liên Xô.
== Nguồn gốc thuật ngữ ==
Việc sử dụng lần đầu tiên thuật ngữ Chiến tranh Lạnh miêu tả những căng thẳng địa chính trị thời hậu Thế chiến II giữa Liên bang Xô viết và các Đồng minh Tây Âu của họ được gán cho Bernard Baruch, một nhà tài chính và là cố vấn tổng thống Hoa Kỳ. Tại Nam Carolina, ngày 16 tháng 4 năm 1947, ông đã có bài phát biểu (theo nhà báo Herbert Bayard Swope) nói rằng, "Hãy để chúng ta không bị lừa gạt: chúng ta hiện ở giữa một cuộc chiến tranh lạnh." Nhà báo Walter Lippmann đã làm cho thuật ngữ được biết đến rộng rãi, với cuốn sách Cold War (1947).
Trước đó, trong cuộc chiến, George Orwell đã sử dụng thuật ngữ Chiến tranh Lạnh trong tiểu luận "You and the Atomic Bomb" (Bạn và quả bom nguyên tử) được xuất bản ngày 19 tháng 10 năm 1945, trên tờ Tribune của Anh. Suy ngẫm về một thế giới sống dưới bóng của một mối đe doạ chiến tranh hạt nhân, ông đã cảnh báo về một "nền hoà bình không có hoà bình", mà ông gọi là một cuộc "chiến tranh lạnh" thường trực, Orwell đã trực tiếp đề cập tới cuộc chiến tranh đó như là một sự đối đầu ý thức hệ giữa Liên bang Xô viết và các cường quốc phương Tây. Hơn nữa, trong tờ The Observer xuất bản ngày 10 tháng 3 năm 1946, Orwell đã viết rằng "... sau hội nghị Moskva vào tháng 12 vừa rồi, Nga đã bắt đầu thực hiện một cuộc ‘chiến tranh lạnh’ với Anh và Đế chế Anh."
== Bối cảnh ==
Xem thêm thông tin: Lo sợ Đỏ
Đã có một sự bất đồng trong giới sử học về điểm khởi đầu của Chiến tranh Lạnh. Trong khi hầu hết các nhà sử học coi nó bắt nguồn từ giai đoạn ngay sau Thế chiến II, những người khác cho rằng nó bắt đầu vào gần cuối Thế chiến I, dù những căng thẳng giữa Đế chế Nga, và các quốc gia châu Âu khác cùng Hoa Kỳ có từ giữa thế kỷ 19.
Như một kết quả của cuộc Cách mạng Bolshevik năm 1917 tại Nga (tiếp đó là sự rút lui của nước này khỏi Thế chiến I), nước Nga bị cô lập khỏi quan hệ ngoại giao quốc tế. Lãnh tụ Vladimir Lenin đã nói rằng Liên bang Xô viết bị bao vây bởi một "vòng vây tư bản thù địch", và ông coi ngoại giao là một vũ khí để khiến các kẻ thù của Liên Xô bị chia rẽ, bắt đầu với việc thành lập Quốc tế Cộng sản Xô viết, kêu gọi những cuộc nổi dậy cách mạng ở nước ngoài.
Lãnh tụ sau đó Joseph Stalin, người coi Liên bang Xô viết là một "hòn đảo xã hội chủ nghĩa", đã nói rằng Liên Xô phải thấy rằng "vòng vây chủ nghĩa tư bản hiện tại sẽ bị thay thế bởi một vòng vây xã hội chủ nghĩa." Ngay từ năm 1925, Stalin đã nói rằng ông coi chính trị quốc tế là một thế giới lưỡng cực trong đó Liên bang Xô viết sẽ thu hút các quốc gia đang hướng theo chủ nghĩa xã hội và các quốc gia tư bản sẽ thu hút các quốc gia đang hướng theo chủ nghĩa tư bản, trong khi thế giới đang ở trong một giai đoạn "bình ổn tạm thời của chủ nghĩa tư bản" trước sự sụp đổ cuối cùng của nó.
Nhiều sự kiện đã làm gia tăng sự nghi ngờ và không tin tưởng lẫn nhau giữa các cường quốc phương tây và Liên Xô: sự thách thức của những người Bolsheviks với chủ nghĩa tư bản; việc Liên Xô ủng hộ tổng đình công của công nhân Anh năm 1926 dẫn tới việc ngừng quan hệ giữa hai nước; Tuyên bố năm 1927 của Stalin rằng sự cùng tồn tại hoà bình với "các quốc gia tư bản... đang trôi dần vào quá khứ"; những cáo buộc bí ẩn trong phiên xử án mẫu Shakhty về một cuộc đảo chính đã được lập kế hoạch do Pháp và Anh chỉ đạo; cuộc Đại thanh trừng gây ra một loạt các chiến dịch đàn áp chính trị và truy tố trong đó hơn nửa triệu người Liên Xô đã bị hành quyết; những vụ xử án điểm Moskva gồm cả những cáo buộc gián điệp của Pháp, Anh, Nhật và Đức; cái chết gây tranh cãi của 6-8 triệu người tại Cộng hoà Xã hội chủ nghĩa Xô viết Ukraina trong nạn đói Ukraina tháng 3 năm 1932; phương Tây ủng hộ Bạch vệ trong cuộc Nội chiến Nga; Hoa Kỳ từ chối công nhận Liên Xô cho tới tận năm 1933; và việc Liên Xô tham gia Hiệp ước Rapallo. Những việc này làm trở ngại các quan hệ Xô-Mỹ và là một vấn đề gây lo ngại dài lâu với các lãnh đạo ở cả hai nước.
== Thế chiến II và thời kỳ hậu chiến (1939–47) ==
=== Hiệp ước Molotov-Ribbentrop (1939-41) ===
Quan hệ của Liên Xô với phương Tây càng xấu đi khi, một tuần trước khi Thế chiến II nổ ra, Liên bang Xô viết và Đức ký Hiệp ước Molotov-Ribbentrop, với một thoả thuận bí mật phân chia vùng ảnh hưởng tại Đông Âu giữa hai nước. Bắt đầu một tuần sau đó, vào tháng 9 năm 1939, Đức và Liên Xô cùng tấn công Ba Lan và phân chia ảnh hưởng tại phần còn lại của Đông Âu theo những thỏa thuận tại Hiệp ước.
Trong một năm rưỡi tiếp theo, họ đã tham gia vào một mối quan hệ kinh tế trên diện rộng, trao đổi với nhau các vật liệu tối cần thiết cho cuộc chiến tranh cho tới khi Đức phá vỡ Hiệp ước Molotov-Ribbentrop với Chiến dịch Barbarossa, cuộc xâm lược Liên Xô qua lãnh thổ hai quốc gia đã bị phân chia từ trước.
=== Đồng minh chống Phe Trục (1941-45) ===
Trong nỗ lực chiến tranh chung của mình, bắt đầu từ năm 1941, người Liên Xô nghi ngờ rằng người Anh và người Mỹ đã âm mưu để người Liên Xô phải chịu gánh nặng chiến đấu chống Phát xít Đức. Theo quan điểm này, các Đồng minh phương Tây đã cố tình trì hoãn việc mở một mặt trận chống Phát xít thứ hai nhằm chỉ tham chiến ở thời điểm cuối cùng và đặt ra những quy định cho hoà bình. Vì thế, những nhận thức của Liên Xô về phương Tây đã để lại một sự căng thẳng ngầm và thù địch mạnh giữa các cường quốc Đồng Minh.
=== Hậu chiến và những mâu thuẫn ban đầu ===
Hội nghị Yalta
Hội nghị Yalta, diễn ra từ ngày 4 đến ngày 11 tháng 2 năm 1945, là cuộc gặp giữa tổng thống Mỹ Franklin D. Roosevelt, thủ tướng Anh Winston Churchill và Chủ tịch Liên Xô Iosif Vissarionovich Stalin ở Yalta (thuộc bán đảo Krym, Liên Xô). Nội dung của cuộc họp để bàn về tương lai hậu chiến của Đức và Ba Lan, cũng như việc tham chiến của Liên Xô ở mặt trận Thái Bình Dương.
Bộ ba Anh - Mỹ - Liên Xô đồng ý chia nước Đức dưới sự kiểm soát của Anh, Mỹ, Pháp và Liên Xô. Sau này ba phần của Anh, Mỹ, Pháp được nhập lại thành Tây Đức và phần của Liên Xô được gọi là Đông Đức. Stalin yêu cầu Đức bồi thường 20 tỷ đô la tiền chiến phí, nhưng bị bác bỏ tại hội nghị.
Lúc này, dù sao chiến tranh vẫn diễn ra ở mặt trận Thái Bình Dương (chủ yếu giữa quân Mỹ và phát xít Nhật). Roosevelt muốn Stalin tuyên chiến với Nhật, đánh đổ phát xít Nhật. Stalin đồng ý.
Ba Lan, dưới sự giám sát của Hồng quân Liên Xô, có lẽ gặp nhiều khó khăn nhất. Trong hội nghị, Stalin bác bỏ thỉnh cầu mang chính quyền Ba Lan về trạng thái trước thế chiến. Theo Stalin, Liên Xô sẽ cung cấp an ninh cần thiết cho Ba Lan. Ông đồng ý cho Ba Lan bầu cử tự do dựa trên nền tảng chính quyền cộng sản chủ nghĩa.
Sự thành lập của Liên Hiệp Quốc
Cũng tại hội nghị Yalta, bộ ba đồng ý thành lập Liên Hiệp Quốc. Một tổ chức tương tự Hội Quốc Liên cũng đã được thành lập sau Chiến tranh thế giới thứ nhất, nhưng không hiệu quả về sau - có nhiều ý kiến cho rằng lý do là ở chỗ Mỹ không tham gia. Mục đích chủ yếu của Liên Hiệp Quốc là bảo đảm an ninh thế giới.
Nhiệm kỳ của Truman
Tổng thống Mỹ Franklin D. Roosevelt đột ngột qua đời vào ngày 12 tháng 4 năm 1945. Phó tổng thống Harry S. Truman lên thế (chú ý rằng đường lối của Truman ảnh hưởng nhiều đến cách chính sách của Mỹ thời hậu chiến và trong Chiến tranh Lạnh).
Hội nghị Potsdam
Truman gặp Stalin lần đầu là ở Hội nghị Potsdam (ngoại ô của Berlin) vào tháng 7 năm 1945. Đại diện của Anh lúc này là Clement Attlee, vừa đắc cử Thủ tướng ở Anh.
Hội nghị nhấn mạnh các vấn đề được đưa ra ở Hội nghị Yalta, trong đó có các vấn đề về tương lai của Đức và Ba Lan. Stalin tiếp tục yêu cầu bồi thường thiệt hại chiến tranh. Truman nhắc lại lời hứa của Stalin về bầu cử tự do tại Ba Lan.
Ở hội nghị, Truman cũng tuyên bố bom nguyên tử đã được thử nghiệm ở New Mexico, Stalin - mặc dù đã biết điều này thông qua các gián điệp ở Mỹ - gật đầu.
Bom nguyên tử có ý nghĩa lớn đối với Chiến tranh Lạnh, trong đó là sự chạy đua công nghệ nguyên tử giữa Mỹ và Liên Xô. Bom nguyên tử cũng được dùng đầu tiên trong chiến tranh ở Nhật theo yêu cầu của Truman.
Quan điểm của Liên Xô
Sau khi mất gần 22 triệu người trong cuộc chiến, Liên Xô muốn thành lập các quốc gia vệ tinh xung quanh họ vì vấn đề an ninh.
Ngoài ra, một trong những mục tiêu của xây dựng chủ nghĩa cộng sản là truyền bá tư tưởng cộng sản ra khắp thế giới, loại bỏ chủ nghĩa tư bản, và nhiệm vụ của đảng cộng sản là thúc đẩy sự lan truyền đó.
Stalin bác bỏ những sự hợp tác với Ngân hàng Thế giới và Quỹ Tiền tệ Quốc tế. Vì nếu làm ngược lại, vô hình trung ông đang đóng góp vào sự lớn mạnh của chủ nghĩa tư bản. Stalin ủng hộ sự bành trướng chủ nghĩa cộng sản ở Tây Âu và châu Á sau này.
=== Liên bang Xô Viết và sự lớn mạnh của chủ nghĩa cộng sản ===
Trong Chiến tranh thế giới thứ hai, Hồng quân Liên Xô giúp các nước Đông Âu thoát khỏi quân phát xít, đồng thời chính quyền theo đường lối cộng sản chủ nghĩa cũng được thiết lập tại các nước này.
Albania và Bulgaria
Ở Albania, những người ủng hộ chủ nghĩa cộng sản bị loại trừ vào những năm chiến tranh, sau này được Stalin thiết lập lại. Khi bầu cử diễn ra các năm sau đó, những nhà lãnh đạo chống cộng bị giữ im lặng.
Ở Bulgaria, chính phủ cộng sản chủ nghĩa được thiết lập từ năm 1944 đến 1948.
Tiệp Khắc
Tiệp Khắc có truyền thống chống lại chủ nghĩa cộng sản từ trước thế chiến. Trong cuộc bầu cử tự do năm 1946, các người lãnh đạo cộng sản giành được 40% tổng số phiếu. Sau này các đảng viên lên thay thế nhiều vị trí trong bộ Công an, cùng với sự hỗ trợ của Liên Xô, họ tổ chức các cuộc mít-tinh, đình công v.v. Đến năm 1948, Tiệp Khắc trở thành một nước có chính phủ cộng sản chủ nghĩa.
Hungary và Romania
Cuối năm 1945, tại Hungary các người cộng sản thất bại trong cuộc bầu cử, các lực lượng Xô Viết vẫn được giữ lại. Họ yêu cầu đưa đảng cộng sản lên nắm bộ Công an. Việc bắt bỏ những phần tử chống cộng có thể đã giúp các người cộng sản lên nắm chính quyền vào cuộc tái bầu cử năm 1947.
Hồng quân Liên Xô cũng được lưu lại ở România. Năm 1945, vua của Romania bị buộc phải phong quyền thủ tướng cho một người cộng sản, hai năm sau nhà vua bị buộc phải thoái vị.
Tây Đức
Các nhà lãnh đạo Đồng Minh muốn giúp Đức xây dựng lại đất nước, hàn gắn vết thương chiến tranh. Tuy nhiên Stalin, theo như ý ông, cho thiết lập chính quyền toàn quyền ở Tây Đức để nước Đức không thể là mối hiểm họa nữa.
Phần Lan và Nam Tư
Phần Lan được giữ độc lập với Liên Xô và ảnh hưởng của chủ nghĩa cộng sản. 1948, Phần Lan ký hiệp ước ràng buộc không can thiệp chuyện ngoại quốc.
Nam Tư cũng tương đối độc lập khỏi sự ảnh hưởng của Liên Xô. Tuy nhiên quốc gia này dưới sự lãnh đạo của một nhà toàn quyền với tên Josip Broz, hay còn được biết đến như là Tito. 1948, Stalin muốn lật đổ Tito nhưng thất bại và chấp nhận sự lãnh đạo của Tito.
=== Bức màn Sắt ===
Trong một bài diễn văn vào tháng 2 năm 1946. Stalin khẳng định sự thành công của chủ nghĩa cộng sản và chủ nghĩa tư bản sẽ bị đánh đổ. Mặc dù sẽ phải trải qua nhiều năm trước khi có đủ lực lượng vũ trang để đối đầu với Mỹ, Liên Xô vẫn cố ráo riết thúc đẩy sự lan truyền của chủ nghĩa cộng sản bằng cách thiết lập nền tảng ở các nước Tây Âu.
Một tháng sau, để đáp trả, Winston Churchill (lúc này không còn là thủ tướng, nhưng vẫn là một nhân vật có tiếng nói mạnh mẽ trong chính trị Anh) đưa ra ý kiến phản bác lại Stalin, và sự thành lập "Bức màn Sắt" là một biểu tượng cho sự chia cắt giữa hai hệ tư tưởng đối nghịch nhau ở châu Âu lúc này. Churchill cũng kêu gọi Mỹ tiếp tục ngăn chặn Stalin lôi các nước vào bên kia của bức màn, nơi chủ nghĩa cộng sản đang ngự trị.
=== Chính sách của Mỹ ===
Sau một bài phân tích của George Kennan, một nhà chính trị Mỹ ở Moskva, nội dung chủ yếu là chủ nghĩa cộng sản không thể bị đánh đổ một cách nhanh chóng, Mỹ thừa nhận việc thất bại của các nước Đông Âu vào tay của Liên Xô. Nhưng đồng thời cũng thúc giục những hành động giúp đẩy khỏi Tây Âu, kể cả ở Liên Xô. Mặc dù vậy, quan điểm của Kennan coi chủ nghĩa cộng sản như là "một hạt giống với mầm mống tự hủy" và sẽ tự sụp đổ.
=== Chính sách Truman ===
12 tháng 3 năm 1947, đây là thời điểm cho Truman thực thi các chính sách của Mỹ. Từ năm 1945, Liên Xô đã đe dọa Thổ Nhĩ Kỳ. Đồng thời nội chiến diễn ra ở Hy Lạp có sự can thiệp của chủ nghĩa cộng sản đem đến nguy cơ hai nước này có thể sẽ trở thành hai nước vệ tinh của Liên Xô.
Sau những tổn thất của cuộc chiến, Anh không còn khả năng viện trợ cho Hy Lạp và Thổ Nhĩ Kỳ. Anh gợi ý Mỹ hỗ trợ họ.
Trong Chính sách Truman, vai trò lãnh đạo thế giới được giao cho Mỹ... chính sách này vô hình trung đẩy Mỹ vào các hành động trong cuộc chiến này.
"Hầu như mọi quốc gia đều phải chọn những cách sống khác nhau. Và sự lựa chọn thường không phải là một sự lựa chọn tự do. Một cách là dựa vào ý muốn của số đông... Cách thứ hai là dựa vào ý muốn của số ít một cách bắt buộc... Tôi tin tưởng rằng các đường lối của Mỹ là ủng hộ những con người tự do, những người đang chống lại sự phụ thuộc theo số ít (có vũ trang) hoặc bằng áp lực. Tôi tin tưởng rằng chúng ta phải giúp đỡ những con người tự do để họ quyết định số phận của mình bẳng những cách riêng của họ."
== Chiến tranh Lạnh được "hâm nóng lên" ==
Hai quả bom nguyên tử thả xuống Hiroshima và Nagasaki là một sự kiện rất quan trọng trong Chiến tranh thế giới thứ hai và trong Chiến tranh Lạnh. Quan trọng ở chỗ nó mở ra một thời kỳ nguyên tử với sự xuất hiện của vũ khí tàn phá lớn. Nó cũng mở ra cuộc chạy đua về công nghệ nguyên tử gay gắt giữa Mỹ và Liên Xô.
=== Kế hoạch Marshall ===
Sở dĩ Chiến tranh thế giới thứ hai nổ ra cũng là do những kết quả của Chiến tranh thế giới thứ nhất, là nghèo đói và thiếu ổn định về kinh tế ở các nước châu Âu. Để không tái diễn hiện trạng này, George C. Marshall phác thảo bản Kế hoạch Marshall, ủng hộ sự thành lập các chương trình phục hồi kinh tế cho châu Âu bằng cách gia cố nền dân chủ và nền thương mại tự do ở châu Âu sẽ giúp khắc phục các khó khăn, mở thị trường ra khắp thế giới.
Trong bài diễn văn ở Đại học Harvard vào tháng 6 năm 1947, Marshall phát biểu:
"Đây là một điều logic khi nước Mỹ nên làm bất cứ điều gì nó có thể để giúp đỡ nền kinh tế thế giới, đem lại trạng thái lành mạnh cho nó. Chính sách của chúng ta không chống lại một đất nước hay một chính sách nào khác. Chính sách của chúng ta chống lại nghèo đói, suy sụp, và hỗn loạn..."
Cùng với Chính sách Truman, Kế hoạch Marshall nhấn mạnh sự tự do trong kinh tế và sự viện trợ của Mỹ sẽ khắc phục các khó khăn lúc bấy giờ.
=== Viện trợ cho Tây Berlin ===
Hiểu rằng Stalin sẽ không đồng ý thống nhất nước Đức, ba nước Anh-Pháp-Mỹ quyết định nhập ba vùng phụ thuộc vào, thành lập Cộng hòa Liên bang Đức (không phải Cộng hòa Liên bang Đức ngày nay), hay còn gọi là Tây Đức. Liên Xô thành lập Cộng hòa Dân chủ Đức, hay Đông Đức, dười sự lãnh đạo của đảng Cộng sản. Thủ đô của Đức – Berlin - tuy nằm trong lãnh thổ Đông Đức, bị chia cắt thành hai: Đông Berlin là thủ đô của Đông Đức và Tây Berlin là thủ đô của Tây Đức. Tuy nhiên, hàng trăm ngàn người bỏ trốn từ các nước Đông Âu sang Đông Berlin, rồi lần sang Tây Berlin và từ đó đi máy bay sang các nước như Mỹ, Canada hoặc Tây Âu để tìm tự do.
Stalin quyết định đóng con đường trốn chạy này và đóng các con đường giao thông vào Tây Berlin. Cuộc bủa vây này gây ra sự thiếu hụt lương thực và đồ tiêu dùng cho 2,5 triệu người ở Tây Berlin.
Truman không muốn đe dọa vũ trang để mở lại các mối giao thông vào Tây Berlin mà ông cũng không muốn Tây Berlin rơi vào tay của Liên Xô. Cho nên Truman quyết định các chiến dịch viện trợ cho Tây Berlin bằng cách thả hàng viện trợ xuống từ trên không.
Trong vòng 15 tháng, quân đội Anh và Mỹ cung cấp 200.000 chuyến bay cung cấp lương thực, nhiên liệu. Mỗi ngày 13.000 tấn hàng hóa được viện trợ cho Tây Berlin.
Tháng 5 năm 1949, Stalin tháo bỏ lệnh phong tỏa Tây Berlin. Chiến dịch viện trợ của Anh-Mỹ ngừng vào tháng 9 cùng năm.
Điều này chứng tỏ một phần sự thành công của các chính sách Mỹ trong việc đem lại sự cân bằng về kinh tế của châu Âu.
=== Sự hình thành các khối liên hiệp ===
NATO
Liên Hiệp Quốc là một ủy ban tín nhiệm trong việc giúp đỡ phục hồi kinh tế các nước trên thế giới. Tuy nhiên, Liên Xô cũng là một thành viên, nhiều chính sách đưa ra bị Liên Xô bác bỏ vì tin rằng nó là con bài cho sự bành trướng của Tư bản Phương tây. 1946, Louis St. Laurent, bộ trưởng bộ ngoại giao Canada đưa ra ý tưởng thành lập một khối dân chủ – chuộng hòa bình để giúp châu Âu chống lại những sự chi phối của Liên Xô. Các nhà lãnh đạo Mỹ tỏ ra quan tâm đến ý tưởng trên, mặc dù có người không đồng tình, cho rằng việc thành lập một ủy ban như vậy có thể dẫn đến chiến tranh. [Một trong những nguyên nhân mà hai cuộc chiến tranh thế giới xảy ra trên một mức độ liên quan tới nhiều quốc gia trên thế giới là sự thành lập các "khối" đối lập nhau. Tấn công vào một nước trong khối đồng nghĩa với tấn công toàn khối.]
Tháng 4 năm 1949, Canada, Mỹ tham gia với Bỉ, Anh, Đan Mạch, Pháp, Iceland, Ý, Luxembourg, Hà Lan, Na Uy, Bồ Đào Nha thành lập Tổ chức Hiệp ước Bắc Đại Tây Dương (North Atlantic Treaty Organization hay NATO).
Sự tham gia liên minh NATO có ý nghĩa lớn trong lịch sử Mỹ, chấm dứt chính sách cô lập của Mỹ đối với các vấn đề châu Âu. [Mỹ không có ý định can thiệp vũ trang vào hai cuộc chiến tranh thế giới cho tới khi có các đụng độ trên Đại Tây Dương giữa tàu dân sự Mỹ và tàu ngầm Đức, hiệp định Đức và México trong Chiến tranh thế giới thứ nhất và vụ tấn công Trân Châu Cảng trong Chiến tranh thế giới thứ hai.]
Khối Warszawa
Tương tự, Liên Xô trả lời bằng cách thành lập khối Hiệp ước Warszawa (Организация Варшавского договора) gồm Liên Xô và các nước đồng minh trong phe xã hội chủ nghĩa ở châu Âu (Albania, Ba Lan, Hungary, Bulgaria, Cộng hoà dân chủ Đức, Tiệp Khắc, Romania).
Sự ra đời của NATO và khối Hiệp ước Warszawa đã đánh dấu sự xác lập của cục diện 2 cực, 2 phe. "Chiến tranh lạnh" đã bao trùm toàn thế giới.
=== Sự lớn mạnh của chủ nghĩa cộng sản ===
Liên Xô và vũ khí hạt nhân
Năm 1949, Liên Xô thành công trong việc chế tạo vũ khí hạt nhân, xóa bỏ thế độc quyền về công nghệ hạt nhân của Hoa Kỳ. Để lấy lại ưu thế, Truman phê chuẩn việc nghiên cứu bom hạt nhân tại Hoa Kỳ.
Cũng vào thời điểm này, Truman thành lập Ủy ban An ninh Liên bang (Federal Civil Defense Administration) nhằm thành lập các phương tiện truyền thông cho nhân dân về việc đối phó với chiến tranh hạt nhân (thành lập hầm chống bom v.v.) nhưng thực tế không hiệu quả.
Trung Quốc về phe cộng sản
Sau khi chống lại Phát xít Nhật, uy tín của nhà lãnh đạo Đảng cộng sản Mao Trạch Đông lên cao. Mỹ giúp đỡ Tưởng Giới Thạch chống lại Mao Trạch Đông. Nhưng về sau Mỹ chấm dứt viện trợ vì cho rằng sự nắm quyền của Mao Trạch Đông là không thể tránh khỏi.
=== Chiến tranh Lạnh và nước Mỹ ===
Vảo khoảng thời kỳ khủng hoảng kinh tế thế giới, số lượng người Mỹ tham gia vào đảng cộng sản tăng lên, chủ yếu là do suy nghĩ rằng cuộc khủng hoảng trên là điểm yếu, là dấu hiệu sụp đổ của chủ nghĩa tư bản. Một lần nữa, "Nỗi sợ Đỏ" (Red Scare) – sợ những tư tưởng của chủ nghĩa cộng sản - tồn tại trên đất Mỹ.
Mối đe dọa cộng sản sẽ lên nắm chính quyền ở Mỹ lên cao, điều này dẫn đến những cuộc chống cộng mang tính chất không đúng với bản chất của các tư tưởng Mỹ từ khi lập quốc.
Truman thành lập những chương trình chống các gián điệp của Liên Xô thâm nhập vào chính quyền của Mỹ... các chương trình này điều tra hàng triệu nhân viên chính phủ, tuy nhiên chỉ khoảng vài trăm người bị buộc từ chức.
Quốc hội Mỹ cũng có tổ chức riêng để bảo vệ an ninh quốc gia. HUAC (House Un-American Activities Committee - Ủy ban Hạ viện Kiểm Tra Hành Động Bất Hợp Hoa Kỳ) được thành lập năm 1938, giúp điều tra các phần tử không trung thành. Đặc biệt là Hollywood vì Hollywood được cho là có ảnh hưởng mạnh mẽ đến tư tưởng của nhân dân.
Chính sách McCarren-Walter: Cùng với Truman và Quốc hội Mỹ, thượng nghị sĩ Pat MacCarren đóng góp công cuộc chống cộng sản ở Mỹ. Tuy nhiên, theo ý kiến của ông, đa phần các phần tử không trung thành là thành phần nhập cư từ các vùng mà chủ nghĩa cộng sản đang thống trị.
McCarren thúc đẩy Quốc hội phê chuẩn bản hiệp định McCarren-Walter, trong đó gia hạn lại số lượng dân nhập cư cho phép. Truman phản bác, nhưng được sự ủng hộ của Quốc hội, bản hiệp ước được thông qua.
Xem thêm: Gián điệp Ethel và Julius Rosenberg
== Chiến tranh Triều Tiên ==
Trong thời kỳ Chiến tranh thế giới thứ hai, bán đảo Triều Tiên chịu sự cai trị của Phát xít Nhật, sau được Liên Xô và Mỹ giải phóng. Tuy nhiên, đất nước Triều Tiên không được thống nhất mà bị chia ra làm hai phần, Bắc Triều Tiên dưới sự lãnh đạo của đảng cộng sản và Nam Triều Tiên theo đường lối tư bản, lấy vĩ tuyến 38 làm ranh giới.
== Thập niên 1950 ==
Nếu như mục tiêu của Mỹ trong những năm đầu của Chiến tranh Lạnh là ngừng sự bành trướng của chủ nghĩa cộng sản, giai đoạn này đối đầu với việc "đẩy lùi" chủ nghĩa đó. Tuy nhiên, tổng thống lúc bấy giờ, Dwight D. Eisenhower, muốn tránh các đụng chạm với Liên Xô.
=== Mỹ Latin ===
Mỹ thiết lập các chế độ có lợi cho nền kinh tế của mình (Mỹ có nhiều đầu tư trục lợi vào kinh tế của các nước Nam Mỹ).
1954, CIA cho rằng những nhà lãnh đạo của Guatemela ủng hộ những suy nghĩ sai lầm, và sau đó thay thế chính quyền ở đây..
=== Châu Á ===
Eisenhower thành lập chiến dịch kết thúc Chiến tranh Triều Tiên. Viện trợ Pháp trong việc quản lý thuộc địa của họ ở Đông Dương, trong đó có Việt Nam, sau này viện trợ cho Việt Nam Cộng Hòa còn Liên Xô, Trung Quốc và các nước XHCN thì viện trợ cho Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tại miền Bắc và Mặt Trận Dân tộc Giải Phóng tại miền Nam.
=== Trung Đông ===
Mỹ cũng thực hiện những kế hoạch để giúp các nước Ả Rập với nguồn dầu hỏa trù phú không rơi vào tay của Liên Xô (1952, cố gắng thiết lập lại chính quyền thân Mỹ).
1957, Eisenhower tuyên bố Chính sách Eisenhower, trong đó nói lên rằng Mỹ sẽ dùng vũ trang để bảo vệ nền tự chủ của một quốc gia hay một nhóm quốc gia ở Trung Đông trước sự đe dọa của các thái độ thù nghịch.
== Cuộc chạy đua giữa Mỹ và Liên Xô ==
Vào giai đoạn này, cuộc chay đua vũ trang giữa Mỹ và Liên Xô trở nên gay gắt và quyến liệt hơn.
=== Vũ khí hạt nhân ===
Đáng đề cập ở đây là sự thành công trong việc điều chế bom nhiệt hạch - hay còn gọi là bom H (với sức công phá có thể đạt gấp 1000 lần bom nguyên tử) của Liên Xô, chưa đầy 1 năm sau khi Mỹ cho nổ thử quả bom H đầu tiên. Trong khoảng 1954-1958, 19 quả bom H được Mỹ thử nghiệm.
Đây là sự đe dọa tàn phá toàn cầu bởi vũ khí hạt nhân.
=== Tên lửa liên lục địa ===
Nói chung, Mỹ thua Liên Xô ở công nghệ tên lửa. Liên Xô hoàn thành tên lửa liên lục địa (thường chứa đầu đạn hạt nhân) đe dọa an ninh quốc phòng Mỹ. Lúc này nếu Mỹ muốn thâm nhập lãnh thổ của Liên Xô, các máy bay phải vượt qua hàng phòng thủ của Xô Viết với các tên lửa đất đối không. Vào tháng 5 năm 1960, Liên Xô hạ một chiếc máy bay U-2 (máy bay thám thính) của Mỹ trên bầu trời Xô Viết.
=== Công nghệ vũ trụ ===
Năm 1957, Xô Viết cho phóng vệ tinh nhân tạo Sputnik. Mỹ e sợ tiếp theo họ có thể cải tiến Sputnik thành những công cụ giúp tấn công nước Mỹ từ trên không.
Ở Mỹ, song song với việc đầu tư vào công nghệ không gian như phát triển vệ tinh v.v. Mỹ cũng có những kế hoạch bí mật phát triển các khinh khí cầu gián điệp, đĩa bay (Kế hoạch Mogul...)
Vào tháng 12 năm 1968, Hoa Kỳ dẫn đầu trong Cuộc đua vũ trụ khi James Lovell, Frank Borman và Bill Anders bay vòng quanh Mặt Trăng. Họ trở thành những người đầu tiên ăn mừng Giáng sinh trong không gian và vài ngày sau đó hạ cánh an toàn. Người Mỹ Neil Armstrong trở thành người đầu tiên bước trên bề mặt của Mặt Trăng vào 21 tháng 7 năm 1969.
== Chiến tranh Việt Nam trong thời kỳ chiến tranh lạnh ==
Kết quả tại chiến tranh Việt Nam thể hiện được một phần của cuộc Chiến tranh Lạnh, tuy nhiên điều này không được thể hiện rõ ràng vì ngoài cuộc chiến giữa hai phe chủ nghĩa xã hội và tư bản chủ nghĩa ra, nó còn thể hiện là một cuộc chiến nhằm thống nhất và giành độc lập dân tộc. Tinh thần độc lập dân tộc là yếu tố cơ bản giúp Việt Nam Dân chủ Cộng hòa chiến thắng chứ không phải nhờ ưu thế tư tưởng hay quân sự. Bản thân Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam là một tổ chức đoàn kết rộng rãi, không chỉ những người cộng sản mà còn cả những thành phần dân tộc chủ nghĩa chống lại sự hiện diện của ngoại bang là Hoa Kỳ. Trung Quốc, đồng minh của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã từng đề nghị đem quân sang trực tiếp chiến đấu như ở Triều Tiên, song các lãnh đạo Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã từ chối với lý do "nợ tiền của thì sẽ trả được chứ nợ xương máu thì không thể trả được", hàm ý nếu cho phép Trung Quốc tham chiến, một quân đội ngoại bang giống Hoa Kỳ, sẽ làm mất đi tính chất giải phóng dân tộc của cuộc chiến.
Miền Bắc đi theo con đường xã hội chủ nghĩa, về cơ bản vẫn là một quốc gia lạc hậu hơn so với quốc gia cùng phe, trong khi đó miền Nam đi theo con đường tư bản chủ nghĩa. Trong thập niên 50, 60 nền kinh tế của miền Nam có đạt được một số thành tựu phát triển nhất định, song nói chung vẫn lạc hậu so với các nước tư bản phương Tây, vẫn phải phụ thuộc đáng kể vào viện trợ.
Việc phân chia hai miền Bắc Nam Việt Nam trong suốt thời kỳ Chiến tranh Lạnh lại được cả hai cường quốc lúc bấy giờ là Liên Xô và Hoa Kỳ đưa ra những nhận định khác nhau. Hoa Kỳ cho rằng sự tham chiến của quân đội Mỹ, viện trợ chiến phí cho Pháp và sau đó là Việt Nam Cộng hòa là để ngăn chặn sự bành trướng của chủ nghĩa cộng sản tại Việt Nam nói riêng cũng như tại châu Á nói chung theo thuyết Domino của Hoa Kỳ. Đó cũng chính là lý do quân đội Mỹ can thiệp ngày càng sâu vào chiến tranh tại Việt Nam cũng như trực tiếp đưa quân đội tham chiến trên chiến trường. Liên Xô thì cho rằng việc họ làm là muốn giúp nhân dân Việt Nam nói riêng (cũng như các nước thế giới thứ ba nói chung) giành độc lập và chống lại chủ nghĩa thực dân mới của tư bản phương Tây, điều mà họ đã làm trong suốt Chiến tranh Đông Dương trước đó. Liên Xô đã ra sức giúp đỡ cho Việt Nam Dân chủ Cộng hòa vũ khí, cố vấn huấn luyện... nhằm ủng hộ công cuộc đấu tranh giành độc lập đất nước của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.
Như vậy có thể nói tính chất của Chiến tranh Việt Nam là đa diện. Đối với đại đa số người Việt Nam, mục tiêu của cuộc chiến là nhằm giành độc lập dân tộc trước sự can thiệp và chia cắt đất nước đến từ Hoa Kỳ. Còn với Hoa Kỳ, đó là tuyến đầu để họ thể hiện tiềm lực trước Liên Xô trong thời kỳ từ năm 1955 đến 1975.
== Chấm dứt Chiến tranh Lạnh (1985–91) ==
=== Những cuộc cải cách của Gorbachev ===
Xem thêm thông tin: Mikhail Gorbachev, perestroika, và glasnost
Tới khi Mikhail Gorbachev là người khá trẻ lên làm Tổng bí thư năm 1985, nền kinh tế Liên Xô đang ở trong tình trạng trì trệ và phải đối mặt với sự giảm sút mạnh từ nguồn thu ngoại tệ nước ngoài vì sự sụt giá dầu mỏ trong thập niên 1980. Những vấn đề này khiến Gorbachev đầu tư vào các biện pháp nhằm khôi phục đất nước đang ốm yếu.
Một sự khỏi đầu không hiệu quả đã dẫn tới kết luận rằng những thay đổi cơ cấu mạnh hơn là cần thiết và vào tháng 6 năm 1987 Gorbachev thông báo một kế hoạch cải cách kinh tế được gọi là perestroika, hay tái cơ cấu. Perestroika giảm bớt hệ thống sản xuất theo hạn ngạch, cho phép sự sở hữu tư nhân với các doanh nghiệp và mở đường cho đầu tư nước ngoài. Các biện pháp đó có mục đích tái định hướng các nguồn tài nguyên quốc gia từ những cam kết quân sự đắt giá thời Chiến tranh Lạnh sang những khu vực công cộng có hiệu quả lớn hơn.
Dù có thái độ hoài nghi ban đầu ở phương Tây, nhà lãnh đạo mới của Liên Xô đã chứng minh sự kiên quyết đảo ngược điều kiện kinh tế đang xấu đi của Liên Xô thay vì tiếp tục cuộc chạy đua vũ trang với phương Tây. Một phần là một cách để chống sự đối lập bên trong với những cuộc cải cách của mình, Gorbachev đồng thời đưa ra glasnost, hay mở cửa, tăng cường tự do cho báo chí và sự minh bạch hoá các định chế nhà nước. Glasnost có mục đích làm giảm tham nhũng ở trên thượng tầng Đảng Cộng sản và giảm bớt sự lạm dụng quyền lực bên trong Uỷ ban Trung ương. Glasnost cũng cho phép sự tăng cường tiếp xúc giữa các công dân Liên Xô và thế giới phương Tây, đặc biệt với Hoa Kỳ, góp phần vào việc đẩy nhanh sự giảm căng thẳng giữa hai nước.
=== Sự tan băng trong mối quan hệ ===
Xem thêm thông tin: Hội nghị thượng đỉnh Reykjavík, Hiệp ước các Lực lượng Hạt nhân Tầm trung, START I, và HIệp ước về sự Giải quyết Cuối cùng về nước Đức
Trước những nhượng bộ về quân sự và chính trị của Kremlin, Reagan đồng ý tại lập các cuộc đàm phán về các vấn đề kinh tế và giảm mức độ chạy đua vũ trang. Cuộc đàm phán đầu tiên được tổ chức vào tháng 11 năm 1985 tại Geneva, Thuỵ Sĩ. Ở một cuộc gặp, hai nhà lãnh đạo, chỉ với một người phiên dịch tháp tùng, đã ồng ý về nguyên tắc giảm bớt 50% kho vũ khí hạt nhân của mỗi nước.
Một Hội nghị thượng đỉnh Reykjavík thứ hai được tổ chức tại Iceland. Những cuộc đàm phán diễn ra tốt đẹp cho tới khi sự tập trung chuyển sang đề xuất của Reagan về Sáng kiến Phòng thủ Chiến lược, mà Gorbachev muốn bị loại bỏ: Reagan đã từ chối. Những cuộc đàm phán thất bại, nhưng một cuộc họp thượng đỉnh thứ ba năm 1987 đã dẫn tới một bước đột phá với việc ký kết Hiệp ước các Lực lượng Hạt nhân Tầm trung (INF). Hiệp ước INF loại bỏ mọi loại vũ khí hạt nhân, được phóng từ tên lửa đạn đạo mặt đất và tên lửa hành trình với tầm bắn trong khoảng 500 tới 5,500 kilômét (300 tới 3,400 dặm) và cơ sở hạ tầng phục vụ nó.
Căng thẳng Đông-Tây nhanh chóng giảm xuống từ giữa cho tới cuối thập niên 1980, ở mức thấp nhất tại cuộc họp thượng đỉnh cuối cùng tại Moskva năm 1989, khi Gorbachev và George H. W. Bush ký hiệp ước kiểm soát vũ khí START I. Trong năm tiếp sau mọi điều trở nên rõ ràng với người Liên Xô rằng các khoản trợ cấp dầu mỏ và khí đốt, cùng với chi phí cho việc duy trì một quân đội to lớn, là cái phễu khổng lồ làm thất thoát đi các nguồn tài nguyên kinh tế. Ngoài ra, ưu thế an ninh của một vùng đệm đã được công nhận là không thích hợp và người Liên Xô chính thức tuyên bố rằng họ không còn can thiệp vào công việc của các quốc gia đồng minh ở Đông Âu nữa.
Năm 1989, các lực lượng Liên Xô rút khỏi Afghanistan và tới năm 1990 Gorbachev đồng ý với việc thống nhất nước Đức, khả năng thay thế duy nhất là một kịch bản kiểu vụ Thiên An Môn. Khi bức tường Berlin bị phá bỏ, ý tưởng "Ngôi nhà Chung châu Âu" của Gorbachev bắt đầu thành hình.
Ngày 3 tháng 12 năm 1989, Gorbachev và người kế tục Reagan, George H. W. Bush, tuyên bố cuộc Chiến tranh Lạnh đã chấm dứt tại Hội nghị thượng đỉnh Malta; một năm sau, hai đối thủ cũ là các đối tác trong cuộc Chiến tranh vùng Vịnh chống lại đồng minh lâu đời của Liên Xô là Iraq.
=== Sự dao động của hệ thống Xô viết ===
Xem thêm thông tin: Kinh tế Liên Xô, Các cuộc cách mạng năm 1989, và Con đường Baltic
Tới năm 1989, hệ thống liên minh của Liên Xô đã trên bờ vực sụp đổ, và không có sự hỗ trợ quân sự của Liên Xô, các lãnh đạo cộng sản tại các nhà nước thuộc Khối hiệp ước Warsaw dần mất quyền lực. Ở chính bên trong Liên Xô, glasnost đã làm yếu đi các liên kết giữ chặt Liên bang Xô viết và tới tháng 2 năm 1990, với sự giải tán Liên Xô đang dần hiện ra, Đảng Cộng sản buộc phải trao lại độc quyền lực kéo dài 73 năm của mình.
Cùng lúc ấy, tự do báo chí và sự bất đồng được cho phép bởi glasnost và sự gia tăng "vấn đề tính chất quốc gia" dần khiến các nước cộng hoà tạo thành Liên bang Xô viết tuyên bố tự trị khỏi Moskva, với việc các quốc gia vùng Baltic rút lui hoàn toàn khỏi Liên Xô. Làn sóng cách mạng năm 1989 quét qua khắp Trung và Đông Âu đã lật đổ các nhà nước cộng sản kiểu Liên Xô, như Ba Lan, Hungary, Tiệp Khắc và Bulgaria, Romania là nước duy nhất thuộc Khối Đông Âu lật đổ chính quyền theo cách bạo lực và đã hành quyết vị lãnh đạo nhà nước.
=== Giải tán Liên Xô ===
Thái độ thoải mái của Gorbachev với Đông Âu ban đầu không có trên lãnh thổ Liên Xô, thậm chí Bush, người cố gắng duy trì các quan hệ thân thiện, cũng lên án các vụ giết hại vào tháng 1 năm 1991 tại Latvia và Lithuania, cảnh báo riêng rằng các mối quan hệ kinh tế có thể bị đóng băng nếu tình trạng bạo lực tiếp diễn. Liên bang Xô viết đã bị suy yếu thật sự sau một đảo chính thất bại và số lượng ngày càng tăng các nước cộng hoà Xô viết, đặc biệt là Nga, đã từng đe doạ ly khai khỏi Liên Xô, tuyên bố giải tán nó vào ngày 25 tháng 12 năm 1991.
== Di sản ==
Được thành lập ngày 21 tháng 12 năm 1991, Cộng đồng các quốc gia độc lập được coi là thực thể kế tục của Liên Xô nhưng theo các lãnh đạo Nga mục tiêu của nó là "cho phép một cuộc hôn nhân văn minh" giữa các nước cộng hoà xô viết và liên kết chúng vào một liên minh lỏng lẻo.
Sau Chiến tranh Lạnh, Nga cắt giảm mạnh chi tiêu quân sự, nhưng sự thay đổi gây tác động mạnh, bởi lĩnh vực công nghiệp quân sự trước kia sử dụng tới một phần năm lực lượng lao động Liên Xô và việc giải giáp khiến hàng triệu công dân Liên Xô cũ rơi vào cảnh thất nghiệp. Sau khi Nga thực hiện các cuộc cải cách kinh tế kiểu tư bản trong thập niên 1990, nó đã phải hứng chịu một cuộc khủng hoảng tài chính và một thời gian giảm phát nghiêm trọng hơn Hoa Kỳ và Đức từng phải đối mặt trong cuộc Đại giảm phát. Tiêu chuẩn sống tại Nga đã sút giảm đi trong những năm thời hậu Chiến tranh Lạnh, dù nền kinh tế đã bắt đầu tăng trưởng trở lại từ năm 1999.
Di sản của cuộc Chiến tranh Lạnh tiếp tục ảnh hưởng tới các vấn đề thế giới. Sau sự giải tán Liên Xô, thế giới thời hậu Chiến tranh Lạnh bị đa số mọi người coi là đơn cực, với Hoa Kỳ là siêu cường duy nhất. Chiến tranh Lạnh đã định nghĩa vai trò chính trị của Hoa Kỳ trên thế giới thời hậu Thế chiến II: tới năm 1989 Hoa Kỳ có các liên minh quân sự với 50 quốc gia, và có 1.5 triệu quân đồn trú ở nước ngoài tại 117 quốc gia. Chiến tranh Lạnh cũng đã định chế hoá một cam kết quốc tế với một nền công nghiệp quân sự và chi tiêu cho khoa học quân sự to lớn và thường xuyên.
Chi phí quân sự của Hoa Kỳ trong những năm Chiến tranh Lạnh được ước tính là $8 nghìn tỉ, trong khi gần 100.000 người Mỹ thiệt mạng trong Chiến tranh Triều Tiên và Chiến tranh Việt Nam. Dù sự thiệt hại nhân mạng của binh sĩ Liên Xô khó được tính toán, phần trăm trong Tổng sản lượng quốc gia của Liên Xô chi cho cuộc chiến lớn hơn rất nhiều so với Mỹ.
Ngoài sự thiệt mạng của những binh sĩ mặc quân phục, hàng triệu người đã chết trong các cuộc chiến tranh uỷ nhiệm của các siêu cường trên khắp thế giới, đáng kể nhất là tại Đông Nam Á. Đa số các cuộc chiến tranh uỷ nhiệm và các khoản viện trợ cho các cuộc xung đột địa phương đã chấm dứt cùng với Chiến tranh Lạnh, những cuộc chiến tranh giữa các quốc gia, các cuộc chiến tranh sắc tộc, các cuộc chiến tranh cách mạng, cũng như số người tị nạn và những người phải rời bỏ nhà cửa trong các cuộc khủng hoảng đã giảm mạnh ở những năm sau cuộc Chiến tranh Lạnh.
Không một huy chương chiến dịch riêng biệt nào đã được tạo ra cho cuộc Chiến tranh Lạnh, tuy nhiên, vào năm 1998, Quốc hội Hoa Kỳ đã cấp Chứng nhận Ghi công thời Chiến tranh Lạnh "cho mọi thành viên các lực lượng vũ trang và những nhân viên dân sự của chính phủ liên bang đã phục vụ trung thành và xứng đáng Hợp chúng quốc Hoa Kỳ ở bất kỳ thời điểm nào trong thời kỳ Chiến tranh Lạnh, được định nghĩa là từ ngày 2 tháng 9 năm 1945 tới ngày 26 tháng 12 năm 1991."
Tuy nhiên, di sản của cuộc Chiến tranh Lạnh không phải luôn dễ dàng bị xoá bỏ, bởi nhiều căng thẳng kinh tế và xã hội đã bị khai thác làm lý do cho cuộc cạnh tranh thời Chiến tranh Lạnh ở nhiều nơi thuộc Thế giới thứ ba vẫn còn sâu sắc. Sự tan rã quyền quản lý nhà nước ở một số khu vực trước kia thuộc các chính phủ cộng sản đã tạo ra các cuộc xung đột dân sự và sắc tộc mới, đặc biệt là tại Nam Tư cũ. Ở Đông Âu, sự kết thúc Chiến tranh Lạnh đã dẫn tới một thời kỳ tăng trưởng kinh tế và một sự tăng trưởng mạnh các chế độ dân chủ tự do, trong khi ở nhiều nơi khác trên thế giới, như Afghanistan, độc lập đi liền với sự phá sản nhà nước.
== Chép sử ==
Ngay khi thuật ngữ "Chiến tranh Lạnh" trở nên phổ thông trong việc đề cập tới những căng thẳng thời hậu chiến giữa Hoa Kỳ và Liên bang Xô viết, việc giải thích quá trình và các nguyên nhân cuộc xung đột đã là nguồn gốc của một cuộc tranh cãi dữ dội giữa các nhà sử học, các nhà khoa học chính trị và các nhà báo. Đặc biệt, các nhà sử học có sự bất đồng lớn với việc quy trách nhiệm cho ai về sự tan vỡ quan hệ Liên Xô-Hoa Kỳ sau Thế chiến II; và liệu cuộc xung đột giữa hai siêu cường là không thể tránh khỏi, hay có thể tránh được. Các nhà sử học cũng không đồng ý về việc chính xác cuộc Chiến tranh Lạnh là gì, các nguồn gốc cuộc xung đột là gì, và làm sao để gỡ rối các hình mẫu hành động và phản ứng giữa hai bên.
Dù những giải thích về nguồn gốc cuộc xung đột trong các cuộc tranh luận hàn lâm là phức tạp và trái ngược, nhiều trường phái tư tưởng chính về chủ đề có thể được xác định. Các nhà sử học thường nói về ba cách tiếp cận khác nhau tới việc nghiên cứu Chiến tranh Lạnh: các tường thuật "chính thống", "xét lại", và "hậu xét lại".
Những tường thuật "chính thống" áp đặt trách nhiệm về cuộc Chiến tranh Lạnh cho Liên Xô và sự mở rộng của nó vào Đông Âu. Các tác gia "xét lại" quy nhiều trách nhiệm về việc làm tan vỡ hoà bình thời hậu chiến cho Hoa Kỳ, viện dẫn một loạt nỗ lực của Hoa Kỳ nhằm cô lập và đe doạ Liên Xô từ trước khi Thế chiến II chấm dứt. Những người theo phái "hậu xét lại" xem xét các sự kiện của Chiến tranh Lạnh dưới nhiều góc độ hơn, và cố gắng cân bằng hơn trong việc xác định điều gì đã xảy ra trong Chiến tranh Lạnh. Đa số việc chép sử về Chiến tranh Lạnh sử dụng hai hay thậm chí cả ba tiêu chí lớn đó.
== Xem thêm ==
Thế chiến III
Chiến tranh hạt nhân
Sự sụp đổ của Liên Xô và Đông Âu
Hãy phá đổ bức tường này
Bức tường Berlin
== Chú thích ==
== Tham khảo ==
Andrew, Christopher; Mitrokhin, Vasili (2000). The Sword and the Shield: The Mitrokhin Archive and the Secret History of the KGB. Basic Books. ISBN 0585418284.
Åslund, Anders (1990). “How small is the Soviet National Income?”. Trong Rowen, Henry S.; Wolf, Charles Jr. The Impoverished Superpower: Perestroika and the Soviet Military Burden. California Institute for Contemporary Studies. ISBN 1558150668.
Blum, William (2006), Rogue State: A Guide to the World's Only Superpower, Zed Books, ISBN 1842778277
Bourantonis, Dimitris (1996), A United Nations for the Twenty-first Century: Peace, Security, and Development, Martinus Nijhoff Publishers, ISBN 9041103120
Breslauer, George (2002). Gorbachev and Yeltsin as Leaders. Cambridge University Press. ISBN 0521892449.
Brinkley, Alan (1995). American History: A Survey. McGraw-Hill. ISBN 0079121195.
Buchanan, Tom (2005). Europe's Troubled Peace, 1945-2000. Blackwell Publishing. ISBN 0631221638.
Byrd, Peter (2003). “Cold War”. Trong Iain McLean & Alistair McMillan. The Concise Oxford Dictionary of Politics. Oxford University Press. ISBN 0192802763.
Calhoun, Craig (2002). Dictionary of the Social Sciences. Oxford University Press. ISBN 0195123719.
Carabott, Philip & Thanasis Sfikas (2004), The Greek Civil War: Essays on a Conflict of Exceptionalism and Silences, Ashgate Publishing, Ltd., ISBN 0754641317
Christenson, Ron (1991). Political trials in history: from antiquity to the present. Transaction Publishers. ISBN 0887384064.
Cowley, Robert (1996), The Reader's Companion to Military History, Houghton Mifflin Books, ISBN 0618127429
Crocker, Chester; Fen Hampson & Pamela Aall (2007), Leashing the Dogs of War: Conflict Management in a Divided World, US Institute of Peace Press, ISBN 192922396X
Dowty, Alan (1989), Closed Borders: The Contemporary Assault on Freedom of Movement, Yale University Press, ISBN 0300044984
Dobrynin, Anatoly (2001), In Confidence: Moscow's Ambassador to Six Cold War Presidents, University of Washington Press, ISBN 0295980818
Edelheit, Hershel and Abraham (1991). A World in Turmoil: An Integrated Chronology of the Holocaust and World War II. Greenwood Publishing Group. ISBN 0313282188.
Ericson, Edward E. (1999), Feeding the German Eagle: Soviet Economic Aid to Nazi Germany, 1933–1941, Greenwood Publishing Group, ISBN 0275963373
Feldbrugge, Joseph; van den Berg, Gerard; Simons, William (1985). Encyclopedia of Soviet Law. BRILL. ISBN 9024730759.
Friedman, Norman (2007). The Fifty-Year War: Conflict and Strategy in the Cold War. Naval Institute Press. ISBN 1591142873.
Gaddis, John Lewis (1990), Russia, the Soviet Union and the United States. An Interpretative History, McGraw-Hill, ISBN 0075572583
Gaddis, John Lewis (1997). We Now Know: Rethinking Cold War History. Oxford University Press. ISBN 0198780702.
Gaddis, John Lewis (2005), The Cold War: A New History, Penguin Press, ISBN 1594200629
Gaidar, Yegor (2007). Collapse of an Empire: Lessons for Modern Russia (bằng tiếng Nga). Brookings Institution Press. ISBN 5824307598.
Garthoff, Raymond (1994), Détente and Confrontation: American-Soviet Relations from Nixon to Reagan, Brookings Institution Press, ISBN 0815730411
Gibbs, Joseph (1999), Gorbachev's Glasnost, Texas University Press, ISBN 0890968926
Glees, Anthony (1996). Reinventing Germany: German Political Development Since 1945. Berg Publishers. ISBN 1859731856.
Goldgeier, James; McFaul, Michael (2003). Power and Purpose: US Policy toward Russia after the Cold War. Brookings Institution Press. ISBN 0815731744.
Goodby, James; Morel, Benoit (1993). The Limited Partnership: Building a Russian-US Security Community. Oxford University Press. ISBN 0198291612.
Gorbechev, Mikhail (1996). Memoirs. Doubleday. ISBN 0385480199.
Hahn, Walter (1993), Paying the Premium: A Military Insurance Policy for Peace and Freedom, Greenwood Publishing Group, ISBN 0313288496
Halliday, Fred (2001), Krieger, Joel & Crahan, Margaret E., ed., Cold War, Oxford University Press, ISBN 0195117395
Hanhimaki, Jussi; Westad, Odd Arne (2003). The Cold War: A History in Documents and Eyewitness Accounts. Oxford University Press. ISBN 0199272808.
Harrison, Hope Millard (2003), Driving the Soviets Up the Wall: Soviet-East German Relations, 1953-1961, Princeton University Press, ISBN 0691096783
Hardt, John Pearce & Richard F. Kaufman (1995), East-Central European Economies in Transition, M.E. Sharpe, ISBN 1563246120
Higgs, Robert (2006), Depression, War, and Cold War: Studies in Political Economy, Oxford University Press US, ISBN 0195182928
Hobsbawn, Eric (1996). The Age of Extremes: A History of the World, 1914-1991. Vintage Books. ISBN 0679730052.
Isby, David C. & Charles Jr Kamps (1985), Armies of NATO's Central Front, Jane's Publishing Company Ltd, ISBN 071060341X
Jacobs, Dale (2002). World Book: Focus on Terrorism. World Book. ISBN 071661295X.
Joshel, Sandra (2005). Imperial Projections: Ancient Rome in Modern Popular Culture. JHU Press. ISBN 0801882680.
Karabell, Zachary (1999), Chambers, John Whiteclas, ed., Cold War (1945–91): External Course, Oxford University Press, ISBN 0195071980
Karaagac, John (2000). Between Promise and Policy: Ronald Reagan and Conservative Reformism. Lexington Books. ISBN 0739102966.
Kennan, George F. (1968), Memoirs, 1925-1950, Hutchinson, ISBN 009085800X
Kolb, Richard K. (2004). Cold War Clashes: Confronting Communism, 1945-1991. Veterans of Foreign Wars of the United States. ISBN 0974364312.
Kumaraswamy, P. R.; Karsh, Efraim (2000). Revisiting the Yom Kippur War. Routledge. ISBN 0714650072.
Kydd, Andrew (2005), Trust and Mistrust in International Relations, Princeton University Press, ISBN 0691121702
Lackey, Douglas P. (1984). Moral principles and nuclear weapons. Totowa, N.J: Rowman & Allanheld. ISBN 084767116x .
LaFeber, Walter (2002), Foner, Eric & John Arthur Garraty, eds., The Reader's companion to American history, Houghton Mifflin Books, ISBN 0395513723
Lakoff, Sanford (1989). A Shield in Space?. University of California Press. ISBN 0585043795.
Lee, Stephen J. (1999). Stalin and the Soviet Union. Routledge. ISBN 0415185734.
Lefeber, R; M. Fitzmaurice & E. W. Vierdag (1991), The Changing Political Structure of Europe, Martinus Nijhoff Publishers, ISBN 0792313798
Leffler, Melvyn (1992), A Preponderance of Power: National Security, the Truman Administration, and the Cold War, Stanford University Press, ISBN 0804722188
Link, William A. (1993). American Epoch: A History of the United States. McGraw-Hill. ISBN 0070379513.
Lundestad, Geir (2005). East, West, North, South: Major Developments in International Politics since 1945. Oxford University Press. ISBN 1412907489.
The Cold War: A Very Short Introduction. Oxford University Press. ISBN 0192801783.
Malkasian, Carter (2001), The Korean War: Essential Histories, Osprey Publishing, ISBN 1841762822
Maynes, Williams C. (1980), The world in 1980, Dept. of State
McSherry, Patrice (2005). Predatory States: Operation Condor and Covert War in Latin America. Rowman & Littlefield. ISBN 0742536874.
Miller, Roger Gene (2000), To Save a City: The Berlin Airlift, 1948-1949, Texas A&M University Press, ISBN 0890969671
Moschonas, Gerassimos & Gregory Elliott (2002), In the Name of Social Democracy: The Great Transformation, 1945 to the Present, Verso, ISBN 1859843468
Muravchik, Joshua (1996). The Imperative of American Leadership: A Challenge to Neo-Isolationism. American Enterprise Institute. ISBN 0844739588.
Nashel, Jonathan (1999). “Cold War (1945–91): Changing Interpretations”. Trong John Whiteclay Chambers. The Oxford Companion to American Military History. Oxford University Press. ISBN 0195071980.
National Research Council Committee on Antarctic Policy and Science (1993). Science and Stewardship in the Antarctic. National Academies Press. ISBN 0309049474.
Njolstad, Olav (2004), The Last Decade of the Cold War, Routledge, ISBN 071468371X
Nolan, Peter (1995). China's Rise, Russia's Fall. St. Martin's Press. ISBN 0312127146.
Nye, Joseph S. (2003). The Paradox of American Power: Why the World's Only Superpower Can't Go It Alone. Oxford University Press. ISBN 0195161106.
Odom, William E. (2000), The Collapse of the Soviet Military, Yale University Press, ISBN 0300082711
Palmowski, Jan (2004), A Dictionary of Contemporary World History, Oxford University Press, ISBN 0198608756
Patterson, James (1997), Grand Expectations: The United States, 1945-1974, Oxford University Press US, ISBN 0585362505
Pearson, Raymond (1998), The Rise and Fall of the Soviet Empire, Macmillan, ISBN 0312174071
Perlmutter, Amos (1997), Making the World Safe for Democracy, University of North Carolina Press, ISBN 0807823651
Porter, Bruce; Karsh, Efraim (1984). The USSR in Third World Conflicts: Soviet Arms and Diplomacy in Local Wars. Cambridge University Press. ISBN 0521310644.
Puddington, Arch (2003), Broadcasting Freedom: The Cold War Triumph of Radio Free Europe and Radio Liberty, University Press of Kentucky, ISBN 0813190452
Reagan, Ronald. “Cold War”. Trong Foner, Eric & Garraty, John Arthur. The Reader's companion to American history. Houghton Mifflin Books. ISBN 0395513723.
Roberts, Geoffrey (2006), Stalin's Wars: From World War to Cold War, 1939–1953, Yale University Press, ISBN 0300112041
Roht-Arriaza, Naomi (1995), Impunity and human rights in international law and practice, Oxford University Press, ISBN 0195081366
Rycroft, Michael (2002). Beyond the International Space Station: The Future of Human Spaceflight. Johns Hopkins University Press. ISBN 1402009623.
Schmitz, David F. (1999). “Cold War (1945–91): Causes”. Trong John Whiteclay Chambers. The Oxford Companion to American Military History. Oxford University Press. ISBN 0195071980.
Shearman, Peter (1995), Russian Foreign Policy Since 1990, Westview Pess, ISBN 0813326338
Shirer, William L. (1990), The Rise and Fall of the Third Reich: A History of Nazi Germany, Simon and Schuster, ISBN 0671728687
Smith, Joseph; Davis, Simon (2005). The A to Z of the Cold War. Scarecrow Press. ISBN 0810853841.
Stone, David (2006). A Military History of Russia: From Ivan the Terrible to the War in Chechnya. Greenwood Publishing Group. ISBN 0275985024.
Taubman, William (2004), Khrushchev: The Man and His Era, W. W. Norton & Company, ISBN 0393324842
Tucker, Robert C. (1992), Stalin in Power: The Revolution from Above, 1928-1941, W. W. Norton & Company, ISBN 0393308693
Walker, Martin (1995). The Cold War: A History. H. Holt. ISBN 0805031901.
Williams, Andrew (2004). D-Day to Berlin. Hodder & Stoughton. ISBN 0340833971.
Wettig, Gerhard (2008), Stalin and the Cold War in Europe, Rowman & Littlefield, ISBN 0742555429
Wood, Alan (2005). Stalin and Stalinism. Routledge. ISBN 0415307325.
Wood, James (1999). History of International Broadcasting. Institution of Electrical Engineers. ISBN 0852969201.
Zubok, Vladislav (1996), Inside the Kremlin's Cold War: From Stalin to Khrushchev, Harvard University Press, ISBN 0674455312
== Đọc thêm ==
== Liên kết ngoài ==
Thư khố
Open Society Archives, Budapest (Hungary), one of the biggest history of communism and cold war archives in the world
An archive of UK civil defence material
CONELRAD Cold War Pop Culture Site
CBC Digital Archives – Cold War Culture: The Nuclear Fear of the 1950s and 1960s
The Cold War International History Project (CWIHP)
The Cold War Files
CNN Cold War Knowledge Bank comparison of articles on Cold War topics in the Western and the Soviet press between 1945 and 1991
The CAESAR, POLO, and ESAU Papers–This collection of declassified analytic monographs and reference aids, designated within the Central Intelligence Agency (CIA) Directorate of Intelligence (DI) as the CAESAR, ESAU, and POLO series, highlights the CIA's efforts from the 1950s through the mid-1970s to pursue in-depth research on Soviet and Chinese internal politics and Sino-Soviet relations. The documents reflect the views of seasoned analysts who had followed closely their special areas of research and whose views were shaped in often heated debate.
Thư mục
Annotated bibliography for the arms race from the Alsos Digital Library
Annotated bibliography from Citizendium
Tin tức
Video and audio news reports from during the cold war
Các nguồn giáo dục
Minuteman Missile National Historic Site: Protecting a Legacy of the Cold War, a National Park Service Teaching with Historic Places (TwHP) lesson plan |
porto.txt | Porto (phát âm tiếng Bồ Đào Nha: [ˈpoɾtu]) là thành phố lớn thứ hai của Bồ Đào Nha sau Lisboa và là một trong những vùng đô thị lớn của bán đảo Iberia. Porto có diện tích 41.66 km²/16 dặm vuông và dân số 287.591 người (2011).
Vùng đô thị của Porto, vượt ra ngoài giới hạn hành chính của thành phố, có dân số 2,1 triệu người (năm 2011) trong một vùng có diện tích 389 km2 (150 dặm vuông), làm cho nó trở thành vùng đô thị lớn thứ hai ở Bồ Đào Nha. Nó được công nhận là một thành phố đẳng cấp thế giới cấp gamma bởi nhóm nghiên cứu the Globalization and World Cities (GaWC) (toàn cầu hóa và các thành phố đẳng cấp thế giới),, là thành phố thứ hai bên cạnh Lisboa được công nhận.
Nằm dọc theo cửa sông Douro ở miền bắc Bồ Đào Nha, Porto là một trong những trung tâm lâu đời nhất châu Âu, và trung tâm lịch sử của nó được tuyên bố là một di sản thế giới được UNESCO công nhận vào năm 1996. Khu vực phía tây của vùng đô thị của nó kéo dài tới bờ biển Đại Tây Dương. Nó được định cư từ nhiều thế kỷ, khi nó là một tiền đồn của đế chế La Mã. Porto kết hợp tên Celtic-Latin, Portus Cale, đã được xem là nguồn gốc của cái tên "Bồ Đào Nha", dựa trên phiên âm và sự phát triển giọng nói từ tiếng Latin. Trong tiếng Bồ Đào Nha, tên của thành phố được viết với một mạo từ xác định ("o Porto").
Một trong xuất khẩu quốc tế nổi tiếng của Bồ Đào Nha, rượu vang Port, lấy tên từ Porto, từ khi vùng đô thị, và đặc biệt các nhà sản xuất rượu vang của Vila Nova de Gaia, chịu trách nhiệm cho việc đóng gói, vận chuyển và xuất khẩu của loại rượu vang được làm cho "nặng" thêm nồng độ này.
== Khí hậu ==
== Chú thích ==
== Liên kết ngoài ==
(tiếng Bồ Đào Nha) Official homepage of Porto city council |
uss hunt (dd-194).txt | USS Hunt (DD-194) là một tàu khu trục lớp Clemson được Hải quân Hoa Kỳ chế tạo vào cuối Chiến tranh Thế giới thứ nhất. Nó phục vụ cùng lực lượng Tuần duyên Hoa Kỳ như là chiếc USCGD Hunt (CG-18), và trong Chiến tranh Thế giới thứ Hai được chuyển cho Hải quân Hoàng gia Anh như là chiếc HMS Broadway (H90) và phục vụ cho đến hết chiến tranh. Nó là chiếc tàu chiến đầu tiên của Hải quân Hoa Kỳ được đặt tên theo Bộ trưởng Hải quân William H. Hunt (1823-1884).
== Thiết kế và chế tạo ==
Hunt được đặt lườn vào ngày 20 tháng 8 năm 1918 tại xưởng tàu của hãng Newport News Shipbuilding & Dry Dock Company ở Newport News, Virginia. Nó được hạ thủy vào ngày 14 tháng 2 năm 1920, được đỡ đầu bởi cô Virginia Livingston Hunt; và đưa ra hoạt động vào ngày 30 tháng 9 năm 1920 dưới quyền chỉ huy của Hạm trưởng, Đại úy Hải quân Roswell H. Blair.
== Lịch sử hoạt động ==
=== USS Hunt ===
Sau khi hoàn tất chạy thử máy, Hunt tham gia các hoạt động huấn luyện và thực tập cùng Hạm đội Đại Tây Dương và tiến hành các thử nghiệm ngư lôi ngoài khơi Newport, Rhode Island. Nó chuyển căn cứ hoạt động đến Charleston, South Carolina vào ngày 3 tháng 12 năm 1920. Khởi hành từ Charleston vào ngày 29 tháng 5 năm 1922, nó đi vào Xưởng hải quân Philadelphia vào ngày 6 tháng 6, và được cho xuất biên chế tại đây vào ngày 11 tháng 8 năm 1922. Trong giai đoạn từ ngày 13 tháng 9 năm 1930 đến ngày 28 tháng 5 năm 1934, con tàu được chuyển cho Lực lượng Tuần duyên Hoa Kỳ như là chiếc USCGD Hunt (CG-18) để tham gia các hoạt động tuần tra chống buôn lậu rượu.
Khi được cho nhập biên chế trở lại tại Philadelphia, Hunt khởi hành vào ngày 26 tháng 1 năm 1940 cho hoạt động Tuần tra Trung lập tại vùng biển Caribe. Nó rời vùng kênh đào Panama vào ngày 3 tháng 4 để hộ tống cho tàu ngầm Searaven đi đến mũi Canaveral, rồi tham gia các cuộc thực tập tác xạ tại vùng biển Cuba trên đường đi đến Norfolk, Virginia, đến nơi vào ngày 17 tháng 4 năm 1940. Trong những tháng tiếp theo, nó thực hành cơ động tại vịnh Chesapeake cùng các chuyến đi huấn luyện dọc theo vùng bờ Đông Hoa Kỳ.
Hunt nằm trong số 50 tàu khu trục cũ được chuyển giao cho Anh Quốc theo Thỏa thuận đổi tàu khu trục lấy căn cứ. Nó khởi hành từ Newport vào ngày 3 tháng 10 năm 1940, đi đến Halifax, Nova Scotia vào ngày 5 tháng 10, và vào ngày hôm sau đã đón 100 sĩ quan và thủy thủ Anh cho việc huấn luyện. Nó được cho xuất biên chế khỏi Hải quân Mỹ vào ngày 8 tháng 10 và nhập biên chế cùng Hải quân Hoàng gia Anh như là chiếc HMS Broadway (H90).
=== HMS Broadway ===
Broadway đi đến Belfast, Bắc Ireland vào ngày 24 tháng 10 năm 1940, nơi nó gia nhập Đội hộ tống 11 trực thuộc Bộ chỉ huy Tiếp cận phía Tây, nơi nó hộ tống nhiều đoàn tàu vận tải vượt Đại Tây Dương. Vào ngày 9 tháng 5 năm 1941, đang khi hộ tống cho Đoàn tàu OB 318, cùng với tàu khu trục Bulldog và tàu corvette HMS Aubrietia, nó đã tham gia vào việc chiếm giữ tàu ngầm U-boat U-110 của Đức ở giữa Iceland và Greenland. Trong đêm hôm trước, chiếc U-boat tìm cách tấn công Đoàn tàu OB 318, nhưng bị ngăn trở không thể nổi lên mặt nước do lực lượng hộ tống mạnh mẽ. Chiếc tàu ngầm vẫn theo đuổi các tàu Đồng Minh cho đến xế trưa hôm sau, khi nó phóng ba quả ngư lôi từ độ sâu kính tiềm vọng. Broadway và các tàu tháp tùng lập tức phản công, buộc đối phương phải nổi lên mặt nước nơi nó đầu hàng. Con tàu chiến lợi phẩm không may bị đắm trong khi được kéo về cảng, nhưng đội đổ bộ lên con tàu đã thu thập những tài liệu quan trọng đối với phe Đồng Minh cùng một máy Enigma nguyên vẹn. U-110 do Thiếu tá Hải quân (Korvettenkapitän) Fritz-Julius Lemp chỉ huy, người đã thực hiện chiến công đầu tiên của chiến tranh khi đánh chìm chiếc tàu biển chở hành khách SS Athenia vào ngày 3 tháng 9 năm 1939, ngày mà Anh Quốc tuyên chiến với Đức. Lemp thiệt mạng cùng với 14 thành viên thủy thủ đoàn khác khi U-110 đắm, nhưng có 4 sĩ quan và 28 thủy thủ được giải cứu.
Broadway được cải biến để tối ưu cho nhiệm vụ hộ tống vận tải bằng cách tháo dỡ ba trong số các khẩu pháo hải pháo 4 inch/50 caliber ban đầu và ba dàn ống phóng ngư lôi ba nòng để giảm bớt trọng lượng nặng bên trên, lấy chỗ chứa thêm mìn sâu và trang bị một dàn súng cối chống tàu ngầm Hedgehog. Broadway được phân về Đội hộ tống C-2 thuộc Lực lượng Hộ tống Giữa đại dương và đã hộ tống nhiều đoàn tàu vào mùa Đông năm 1942-1943. Vào ngày 12 tháng 5 năm 1943, nó tham gia cùng tàu frigate HMS Lagan và máy bay từ tàu sân bay hộ tống Biter trong việc tiêu diệt một tàu ngầm U-boat khác, chiếc U-89, về phía Đông Bắc quần đảo Azores.
Sau khi được tái trang bị tại Belfast vào tháng 9 năm 1943, Broadway trở thành một tàu mục tiêu để huấn luyện máy bay, và đã phục vụ trong vai trò này tại Rosyth, Scotland cho đến khi xung đột kết thúc tại Châu Âu. Vào tháng 5 năm 1945, nó rời Rosyth để đi sang miền Bắc Na Uy cùng lực lượng chiếm đóng. Tại Narvik, nó hộ tống một đoàn tàu ngầm Đức đi Trondheim. Do cắt giảm chi phí quốc phòng đáng kể sau chiến tranh, Hunt bị tháo dỡ vào năm 1947.
== Tham khảo ==
Lenton, H.T.; Colledge, J.J. (1968). British and Dominion Warships of World War II. Doubleday and Company.
Marc, Milner (1985). North Atlantic Run. Naval Institute Press. ISBN 0-87021-450-0.
Bài này có các trích dẫn từ nguồn en:Dictionary of American Naval Fighting Ships thuộc phạm vi công cộng: http://history.navy.mil/danfs/h9/hunt-i.htm
== Liên kết ngoài ==
navsource.org: USS Hunt
hazegray.org: USS Hunt |
calvin klein.txt | Calvin Klein là một nhãn hiệu thời trang được nhà thiết kế cùng tên Calvin Klein thành lập năm 1968. Công ty có trụ sở tại Midtown Manhattan, New York City và hiện tại do Phillips-Van Heusen (PVH) sở hữu. Giống như các thương hiệu thời trang khác, Calvin Klein nổi tiếng với biểu tượng viết tắt của tên công ty là cK.
== Dấu mốc thời gian ==
Năm 1968, Calvin thành lập Calvin Klein Limited, một cửa hàng áo khoác trong Hotel York tại thành phố New York, với 10.000 USD.
Năm 1973, Calvin lần đầu tiên nhận được giải thưởng Coty American Fashion Critics cho 74 mảnh bộ sưu tập trang phục nữ và cũng là người nhận trẻ nhất nhận giải tại thời điểm đó.
Năm 1978, tuyên bố doanh số bán hàng của 200.000 cặp quần jean nổi tiếng trong tuần đầu tiên trên thị trường.
Năm 1990 với thành công trong việc quảng bá và kinh doanh đồ lót nam.
Vào giữa tháng 12 năm 2002, Calvin Klein Inc (CKI) đã được bán cho Phillips Van Heusen Corp.
Trong một báo cáo năm 2010 của PVH, đã ước tính doanh số bán hàng của sản phẩm Calvin Klein là 4,6 tỷ Euro.
== Sản phẩm ==
Calvin Klein Collection
ck Calvin Klein
Calvin Klein
Calvin Klein Sport
Calvin Klein Jeans
Calvin Klein Home
The Khaki Collection
Calvin Klein Golf
Calvin Klein Underwear
CK one Lifestyle brand
Calvin Klein Watches + Jewelry
== Chú thích ==
== Tham khảo == |
rừng.txt | Về cấu trúc đồ thị, xem bài Rừng (lý thuyết đồ thị)
Rừng là quần xã sinh vật trong đó cây rừng là thành phần chủ yếu. Quần xã sinh vật phải có diện tích đủ lớn. Giữa quần xã sinh vật và môi trường, các thành phần trong quần xã sinh vật phải có mối quan hệ mật thiết để đảm bảo khác biệt giữa hoàn cảnh rừng và các hoàn cảnh khác.
== Định nghĩa ==
Ngay từ thuở sơ khai, con người đã có những khái niệm cơ bản nhất về rừng. Rừng là nơi cung cấp mọi thứ phục vụ cuộc sống của họ. Lịch sử càng phát triển, những khái niệm về rừng được tích lũy, hoàn thiện thành những học thuyết về rừng.
Năm 1817, H.Cotta (người Đức) đã xuất bản tác phẩm Những chỉ dẫn về lâm học, đã trình bày tổng hợp những khái niệm về rừng. Ông có công xây dựng học thuyết về rừng có ảnh hưởng đến nước Đức và châu Âu trong thế kỷ 19.
Năm 1912, G.F.Morodop công bố tác phẩm Học thuyết về rừng. Sự phát triển hoàn thiện của học thuyết này về rừng gắn liền với những thành tựu về sinh thái học.
Năm 1930, Morozov đưa ra khái niệm: Rừng là một tổng thể cây gỗ, có mối liên hệ lẫn nhau, nó chiếm một phạm vi không gian nhất định ở mặt đất và trong khí quyển. Rừng chiếm phần lớn bề mặt Trái Đất và là một bộ phận của cảnh quan địa lý.
Năm 1952, M.E. Tcachenco phát biểu: Rừng là một bộ phận của cảnh quan địa lý, trong đó bao gồm một tổng thể các cây gỗ, cây bụi, cây cỏ, động vật và vi sinh vật. Trong quá trình phát triển của mình chúng có mối quan hệ sinh học và ảnh hưởng lẫn nhau và với hoàn cảnh bên ngoài.
Năm 1974, I.S. Mê-lê-khôp cho rằng: Rừng là sự hình thành phức tạp của tự nhiên, là thành phần cơ bản của sinh quyển địa cầu.
== Vai trò ==
Nếu như tất cả thực vật trên Trái Đất đã tạo ra 53 tỷ tấn sinh khối (ở trạng thái khô tuyệt đối là 64%) thì rừng chiếm 37 tỷ tấn (70%). Và các cây rừng sẽ thải ra 52,5 tỷ tấn (hay 44%) oxy để phục vụ cho hô hấp của con người, động vật và sâu bọ trên Trái Đất trong khoảng 2 năm (S.V. Belov 1976).
Rừng là thảm thực vật của những cây thân gỗ trên bề mặt Trái Đất, giữ vai trò to lớn đối với con người như: cung cấp nguồn gỗ, củi, điều hòa khí hậu, tạo ra oxy, điều hòa nước, nơi cư trú động thực vật và tàng trữ các nguồn gen quý hiếm.
Một hecta rừng hàng năm tạo nên sinh khối khoảng 300 – 500 kg, 16 tấn oxy (rừng thông 30 tấn, rừng trồng 3 - 10 tấn).
Mỗi người một năm cần 4.000kg O2 tương ứng với lượng oxy do 1.000 - 3.000 m² cây xanh tạo ra trong một năm.
Nhiệt độ không khí rừng thường thấp hơn nhiệt độ đất trống khoảng 3 - 5 °C.
Rừng bảo vệ và ngăn chặn gió bão.
Lượng đất xói mòn của vùng đất có rừng chỉ bằng 10% lượng đất xói mòn của vùng đất không có rừng.
Rừng là nguồn gen vô tận của con người, là nới cư trú của các loài động thực vật quý hiếm.
Vì vậy tỷ lệ đất có rừng che phủ của một quốc gia là một chỉ tiêu an ninh môi trường quan trọng (diện tích đất có rừng đảm bảo an toàn môi trường của một quốc gia tối ưu là ≥ 45% tổng diện tích).
== Đặc trưng của rừng ==
Rừng là một thể tổng hợp phức tạp có mối quan hệ qua lại giữa các cá thể trong quần thể, giữa các quần thể trong quần xã và có sự thống nhất giữa chúng với hoàn cảnh trong tổng hợp đó.
Rừng luôn luôn có sự cân bằng động, có tính ổn định, tự điều hòa và tự phục hồi để chống lại những biến đổi của hoàn cảnh và những biến đổi về số lượng sinh vật, những khả năng này được hình thành do kết quả của sự tiến hóa lâu dài và kết quả của sự chọn lọc tự nhiên của tất cả các thành phần rừng.
Rừng có khả năng tự phục hồi và trao đổi cao.
Rừng có sự cân bằng đặc biệt về sự trao đổi năng lượng và vật chất, luôn luôn tồn tại quá trình tuần hoàn sinh vật, trao đổi vật chất năng lượng, đồng thời nó thải ra khỏi hệ sinh thái các chất và bổ sung thêm vào đó một số chất từ các hệ sinh thái khác.
Sự vận động của các quá trình nằm trong các tác động tương hỗ phức tạp dẫn tới sự ổn định bền vững của hệ sinh thái rừng.
Rừng có phân bố địa lý.
== Cấu trúc rừng ==
Cấu trúc rừng là quy luật sắp xếp tổ hợp của các thành phần cấu tạo nên quần thể thực vật rừng theo không gian và thời gian.
=== Cấu trúc tổ thành ===
Tổ thành là nhân tố diễn tả số loài tham gia và số cá thể của từng loài trong thành phần cây gỗ của rừng. Hiểu một cách khác,tổ thành cho biết sự tổ hợp và mức độ tham gia của các loài cây khác nhau trên cùng đơn vị thể tích.
Trong một khu rừng nếu một loài cây nào đó chiếm trên 95% thì rừng đó được coi là rừng thuần loài, còn rừng có từ 2 loài cây trở lên với tỷ lệ sấp xỉ nhau thì là rừng hỗn loài.
Tổ thành của các khu rừng nhiệt đới thường phong phú về các loài hơn là tổ thành các loài cây của rừng ôn đới.
=== Cấu trúc tầng thứ ===
Sự phân bố theo không gian của tầng cây gỗ theo chiều thẳng đứng, phụ thuộc vào đặc tính sinh thái học, nhu cầu ánh sáng của các loài tham gia tổ thành. Cấu trúc tầng thứ của các hệ sinh thái rừng nhiệt đới thước nhiều tầng thứ hơn các hệ sinh thái rừng ôn đới.
Một số cách phân chia tầng tán:
Tầng vượt tán: Các loài cây vươn cao trội hẳn lên, không có tính liên tục.
Tầng tán chính (tầng ưu thế sinh thái): Cấu tạo nên tầng rừng chính,có tính liên tục.
Tầng dưới tán: Gồm những cây tái sinh và những cây gỗ ưa bóng.
Tầng thảm tươi: Chủ yếu là các loài thảm tươi.
Thực vật ngoại tầng: Chủ yếu là các loài thân dây leo.
=== Cấu trúc tuổi ===
Cấu trúc về mặt thời gian, trạng thái tuổi tác của các loài cây tham gia hệ sinh thái rừng, sự phân bố này có mối liên quan chặt chẽ với cấu trúc về mặt không gian.
Trong nghiên cứu và kinh doanh rừng người ta thường phân tuổi lâm phần thành các cấp tuổi. Thường thì mỗi cấp tuổi có thời gian là 5 năm, nhiều khi là các mức 10, 15, hoặc 20 năm tùy theo đổi tượng và mục đích.
=== Cấu trúc mật độ ===
Cấu trúc mật độ phản ánh số cây trên một đơn vị diện tích. Phản ảnh mức độ tác động giữa các cá thể trong lâm phần. Mật độ ảnh hưởng đến tiểu hoàn cảnh rừng, khả năng sản xuất của rừng. Theo thời gian, cấp tuổi của rừng thì mật độ luôn thay đổi. Đây chính là cơ sở của việc áp dụng các biện pháp kỹ thuật lâm sinh trong kinh doanh rừng.
=== Một số chỉ tiêu cấu trúc khác ===
Độ che phủ: Là tỷ lệ diện tích rừng trên một đơn vị diện tích hay lãnh thổ. Ví dụ độ che phủ của rừng ở Việt Nam năm 2005 là 35,5%.
Độ tàn che: Là mức độ che phủ của tán cây rừng. Người ta thường phân chia theo các mức từ: 0,1; 0,2;...0.9;1.
Mức độ khép tán: Mức độ này thể hiện sự giao tán giãu các cá thể. Cũng là chỉ tiêu để xác định giai đoạn rừng.
Phân bố mật độ theo đường kính: Biểu đồ và hàm toán học phân bố mật độ cây rừng theo chỉ tiêu đường kính.
Phân bố mật độ theo chiều cao: Tương tự như với đường kính chỉ khác là căn cứ theo chiều cao.
== Phát triển của rừng ==
Giống cá thể sinh vật, rừng cũng có sự biến đổi theo thời gian. Nesterop (1949) đã chia quá trình phát triển của rừng thành các giai đoạn: (chủ yếu áp dụng cho rừng trồng, rừng ôn đới).
Rừng non: Mối quan hệ giữa các cây gỗ là mối quan hệ hỗ trợ. Chỉ xuất hiện mối quan hệ cạnh tranh giữ cây gỗ và cây bụi thảm tươi.
Rừng sào: Rừng bắt đầu khép tán, xuất hiện quan hệ cạnh tranh gay gắt về ánh sáng và chiều cao giữa các cá thể cây gỗ. Giai đoạn này cây gỗ phát triển mạnh về chiều cao.
Rừng trung niên: Rừng khép tán hoàn toàn, sự phát triển về chiều cao chậm lại, có sự phát triển về đường kính. Rừng đã thành thục về tái sinh.
Rừng gần già: Giai đoạn này có sự phân chia không rõ với 2 giai đoạn liền trước và liền sau của nó. Trong giai đoạn này cây rừng vẫn có sự ra hoa kết quả và tăng trưởng về đường kính.
Rừng già: Trữ lượng cây gỗ đạt tối đa. Có một vài cây gỗ già, chết. Tán cây thưa dần, cây rừng vẫn ra hoa kết quả nhưng chất lượng không tốt.
Rừng quá già: Cây tầng cao ngừng trệ sinh trưởng, ra hoa quả ít, chống đỡ bệnh tật kém, có hiện tượng rỗng ruột và dễ dàng gãy đổ.
== Diễn thế rừng ==
Hệ sinh thái rừng với những đặc trưng riêng, luôn vận động và biến đổi không ngừng. Quá trình này được gọi chung là động thái rừng. Diễn thế rừng là một trong các trạng thái vận động của hệ sinh thái rừng bao. Diễn thế rừng là sự thay thế thế hệ rừng này bằng thế hệ rừng khác mà trong đó tổ thành loài cây cao - nhất là loài cây ưu thế sinh thái - có sự thay đổi cơ bản. Nói cách khác, diễn thế rừng là sự thay thế hệ sinh thái rừng này bằng hệ sinh thái rừng khác. Hiểu theo một các đơn giản nhất, diễn thế rừng không phải là sự thay thế các thế hệ cây rừng mà là sự thay thế các loài cây rừng.
Ví dụ:
Cỏ → Cây bụi → Cây cao ưa sáng → Cây cao chịu bóng.
Rừng → Rừng gỗ + Tre nứa → Cây bụi → Cỏ.
Nguyên nhân của diễn thế rừng theo Sucasov (1954, 1964) có thể là mối quan hệ tác động cạnh tranh lẫn nhau giữa các loài, loài nào cạnh tranh tốt thì sẽ chiếm ưu thế, Ví dụ như diễn thế rừng ngập mặn: Mắm → Giá, Vẹt. Hoặc có thể là do sự cạnh tranh giữa các loài làm thay đổi môi trường sống, xuất hiện 1 loài mới đến định cư. Ngoài ra còn chịu tác động của nhiều nguyên nhân bên ngoài khác như: đất đai biến đổi, các nạn dịch sâu bệnh (ví dụ: dịch châu chấu), tác động mãnh liệt của con người.
Phân loại diễn thế theo các căn cứ khác nhau: Theo chiều hướng diễn thế, phân thành 2 loại: Diễn thế tiến hóa và diễn thế thoái hoá. Theo nguồn gốc diễn thế, phân thành 2 loại: Diễn thế nguyên sinh và diễn thế thứ sinh.
=== Diễn thế nguyên sinh ===
Là sự hình thành rừng ở những nơi hoàn toàn chưa hề có rừng, trải qua 1 loạt các sự biến đổi của các quần xã thực vật khác nhau cuối cùng hình thành nên quần xã thực vật rừng tương đối ổn định.
Diễn thế nguyên sinh gồm 4 pha:
Di cư: Sự di cư các mầm mống thực vật đến vùng đất mới.
Định cư: Các mầm mống thực vật thích nghi, phát triển những thế hệ đầu tiên.
Quần tập: Xuất hiện tái sinh tự nhiên.
Xâm nhập: Nhóm thực vật khác xâm nhập vào nhóm thực vật đã thích nghi ổn định trước và đã tác động đến môi trường sống.
Ví dụ: Diễn thế rừng ngập mặn. Cây Mắm, Sú đã tiên phong xâm nhập vùng đất ngập nước mới lắng động cát ở ven bờ, chúng thích nghi và phát triển, cố định cát bùn, làm thay đổi dần môi trường sống, đến 1 giai đoạn nào đó sẽ xuất hiện sự xâm nhập của Vẹt, Rà, các loài này sẽ chiếm ưu thế và lấn áp loài cũ để phát triển thành quần xã ưu thế, môi trướng sống sẽ thay đổi,tích lũy nhiều mùn hơn, cạn hơn. Sau giai đoạn này sẽ xuất hiện các loài sống bán ngập (Đước), tiến dần đế xuất hiện các loài thực vật sống cạn (Tràm).
=== Diễn thế thứ sinh ===
Diễn thế thứ sinh diễn ra trên cơ sở diễn thế nguyên sinh, bắt đầu từ khi hệ sinh thái rừng bị tác động từ bên ngoài (khai thác, chặt phá, nương rẫy...), sau đó là phục hồi rừng và hình thành nên các rừng thứ sinh.
Các nhân tố ảnh hưởng đến diễn thế thứ sinh: Hình thức và mức độ tác động vào rừng, điều kiện khí hậu,thổ nhưỡng.
Ví dụ: Nương rẫy hoang hóa → Cây bụi → Các loài ưa sáng → Rừng thứ sinh.
== Tham khảo ==
Giáo trình Đại học Lâm nghiệp Việt Nam
Sinh thái rừng- Nhà xuất bản Nông nghiệp, 2006;
Lâm học- Nhà xuất bản Nông nghiệp, 2006;
Lâm học nhiệt đới-Nhà xuất bản Nông nghiệp, 2005;
Lâm nghiệp đại cương-Nhà xuất bản Nông nghiệp, 2004.
Khác
Phân loại rừng của Loestchaux;
The tropical forest (W.Richard, 1956).
== Xem thêm ==
Hệ sinh thái rừng
Tăng trưởng rừng
Phân loại rừng ở Việt Nam
Phân loại thảm thực vật rừng ở Việt Nam
Danh sách khu bảo tồn thiên nhiên Việt Nam
== Liên kết ngoài ==
Cục Kiểm lâm Việt Nam
Bài viết về khái niệm rừng trên Diễn đàn sinh vật rừng Việt Nam |
tiếng duy ngô nhĩ.txt | Tiếng Duy Ngô Nhĩ (Uyghur) là ngôn ngữ chính thức của người Uyghur với khoảng hơn 10 triệu người nói tại khu tự trị Tân Cương. Còn 300 000 người Uyghur sống ở Kazakhstan cũng nói ngôn ngữ này. Tại Kazakhstan và Uzbekistan có rất nhiều người nói sử dụng tiếng Uyghur như là ngôn ngữ chính, và một vài nhóm dân các nước láng giềng Trung Á cũng sử dụng ngôn ngữ này.
Tiếng Duy Ngô Nhĩ là một ngôn ngữ chính thức của khu tự trị Tân Cương, được sử dụng rộng rãi trong cả hai lĩnh vực xã hội và chính trị, như in ấn, phát thanh, truyền hình, và được sử dụng như là ngôn ngữ phổ thông của cộng đồng người thiểu số ở Tân Cương.
== Tổng quát ==
Ở Tân Cương có hai ngôn ngữ chính thức là tiếng Hán và tiếng Uyghur. Có khoảng 80 tờ báo, tạp chí tổng cộng, 5 kênh truyền hình, 10 nhà xuất bản có sử dụng, phục vụ bằng tiếng Uyghur.
== Ngữ âm ==
== Chú thích ==
== Tham khảo ==
== Liên kết ngoài ==
Danh sách ngôn ngữ
Danh sách các nước theo ngôn ngữ nói
Uyghur-Chinese Dictionary
Online Uyghur-English Multiscript Dictionary
Ethnologue report for Uighur
Online Uyghur-English Dictionary
Arabic Uyghur in different fonts
Disharmony and derived transparency in Uyghur Vowel Harmony
Unicode based TrueType/OpenType fonts of the Uyghur Computer Science Association
Uyghur language radio 1000-1100 1600-1700 UTC daily (China National Radio 8, part of the time Kazakh, Korean, Mongolian and Uyghur are broadcast, but Lhasa Tibetan dominates.) |
nam việt.txt | Nam Việt (Quan Thoại: 南越 / Nányuè, tiếng Quảng Đông: 南粤 / Nàahm-yuht) là một quốc gia tồn tại trong giai đoạn 203 TCN - 111 TCN. Cương vực tương ứng một phần lãnh thổ các nước Trung Hoa, Việt Nam và Lào hiện nay.
== Lịch sử ==
Toàn bộ về lịch sử Nam Việt được chép đầu tiên bởi Sử ký nhà Hán. Được đề cập chủ yếu trong phần Liệt truyện, quyển 113: Biên niên sử Nam Việt (南越列傳). Nó lưu lại các thông tin về nước Nam Việt từ thời Triệu Đà cho đến khi cáo chung dưới thời Triệu Dương Vương. Nhà Triệu trải 5 đời vua và đều xưng đế. Các sử gia Trung Hoa vì chỉ muốn coi Nam Việt làm phiên thuộc nên chép các vua Nam Việt tước "vương", nhưng kết quả khai quật lăng mộ vua Triệu thứ hai cho thấy các ấn chương, văn bản và danh xưng đều là "đế" chứ không phải "vương". Điều đó gây bất ngờ với chính các sử gia Trung Hoa hiện đại. Giới sử học thống nhất rằng: tước "vương" của các vua Nam Việt chỉ là xưng hiệu trong quan hệ ngoại giao với nhà Hán, còn trong nội bộ nước Nam Việt, các vua Triệu đều xưng đế. Những người hoàng tộc Triệu do đó đều được phong "vương" và các thủ lĩnh người Việt ở đất Cổ Loa cũ (tự quản) cũng có tước "vương" như Tây Vu Vương. Sử sách còn ghi lại khi Nam Việt bị diệt, hoàng thân là "Thương Ngô vương Triệu Quang cùng huyện lệnh Yết Dương tên là Định đầu hàng".
=== Tiền kỳ ===
Chiến tranh Tần-Việt (218-206 TCN)
Sau khi Tần Thủy Hoàng thống nhất 6 vương quốc cổ là Hàn, Triệu, Ngụy, Sở, Yên, Tề, ông bắt đầu hướng sự chú ý sang các bộ lạc người Hung Nô ở phía bắc và Bách Việt ở phía nam. Khoảng năm 218 TCN, Tần Thủy Hoàng sai tướng Đồ Thư cùng 500.000 quân Tần chia làm 5 đạo tấn công các bộ lạc Bách Việt ở vùng đất Lĩnh Nam.
Đạo thứ nhất hợp binh ở Dư Can (nay là huyện Dư Can, tỉnh Giang Tây) và đánh chiếm Mân Việt lập ra quận Mân Trung.
Đạo thứ nhì được tăng cường thêm tại Nam Dã (nay là huyện cấp thị Nam Khang, tỉnh Giang Tây) nhằm buộc các dân tộc Việt ở phía nam phải phòng thủ.
Đạo thứ ba đánh chiếm Phiên Ngung.
Đạo thứ tư đồn trú gần núi Cửu Nghi (chữ Hán: 九嶷山).
Đạo thứ năm đóng bên ngoài Đàm Thành (鐔城, phía tây nam Tĩnh Châu, tỉnh Hồ Nam ngày nay).
Tần Thủy Hoàng sai viên quan Sử Lộc (史禄) giám sát việc cung cấp hậu cần. Đầu tiên Sử Lộc chỉ huy một nhóm quân vượt qua kênh Hưng An (nối liền Tương giang và Li giang), sau đó dùng thuyền vượt sông Dương Tử và sông Châu Giang tìm được con đường an toàn tiếp tế lương thực cho quân Tần. Quân Tần sau đó tấn công Âu Việt, thủ lĩnh của Âu Việt là Dịch Hu Tống (譯吁宋) bị giết. Tuy nhiên, Âu Việt vẫn phản kháng. Họ trốn vào rừng và bầu ra một thủ lĩnh mới là Kiệt Tuấn (桀駿) để tiếp tục chống lại quân Tần. Sau đó một cuộc tấn công vào ban đêm của Âu Việt đã gây thiệt hại nặng cho quân Tần, tướng Đồ Thư bị giết cùng khoảng 10 vạn quân. Triều đình nhà Tần đã chọn Nhâm Ngao lên nắm quyền chỉ huy thay cho Đồ Thư. Năm 214 TCN, Tần Thủy Hoàng cử Nhâm Ngao chỉ huy quân tiếp viện tiếp tục tấn công. Lần này Âu Việt đã bị đánh bại hoàn toàn và phần lớn vùng Lĩnh Nam bị sáp nhập vào Tần. Cùng năm, nhà Tần lập ra các quận Nam Hải, Quế Lâm, và Tượng quận. Nhâm Ngao được bổ nhiệm làm Quận úy Nam Hải. Nam Hải được chia thành 4 huyện là Phiên Ngung, Long Xuyên, Bác La và Yết Dương. Triệu Đà được bổ nhiệm làm Huyện lệnh Long Xuyên. Tần Thủy Hoàng mất năm 210 TCN, con trai là Hồ Hợi lên thay trở thành Tần Nhị Thế. Một năm sau, khởi nghĩa Trần Thắng, Ngô Quảng nổ ra. Cuộc khởi nghĩa lan rộng khắp, toàn bộ khu vực sông Hoàng Hà rơi vào hỗn loạn. Các cuộc nổi dậy ngày càng mạnh khiến Tần Nhị Thế phải bãi binh ở Lĩnh Nam. Năm 208 TCN, Quận úy Nam Hải là Nhâm Ngao bị bệnh nặng, khi hấp hối mới gọi Triệu Đà đến, dặn phải giữ lấy miền Lĩnh Nam mà cát cứ. Vâng lời ông, Triệu Đà gửi lệnh đến quan quân các cửa ngõ Lĩnh Nam, canh giữ phòng chống quân Trung Nguyên xâm phạm, và nhân dịp đó, giết hết những người còn phò nhà Tần ở Lĩnh Nam, cất đặt lại những người thân tín của mình.
Vũ đế khai quốc (203-137 TCN)
xxxxnhỏ|phải|212px|Tượng thờ Triệu Vũ Đế tại đình làng Xuân Quan, xã Xuân Quan, huyện Văn Giang, tỉnh Hưng Yên.]] Năm 206 TCN, nhà Tần sụp đổ, các bộ tộc Bách Việt ở Quế Lâm và Tượng quận trở nên xa rời hơn với Trung Nguyên. Theo truyền thuyết, thủ lĩnh An Dương Vương ở phía nam đã thành lập vương quốc Âu Lạc (chữ Hán: 甌駱). Theo quan điểm hiện nay của chính phủ Việt Nam, khoảng năm 179 TCN, Triệu Đà đánh chiếm Âu Lạc của An Dương Vương, chia đất Âu Lạc làm 2 quận Giao Chỉ và Cửu Chân rồi sáp nhập vào Nam Hải, Quế Lâm, Tượng quận. Lãnh địa gồm 5 quận của Nam Việt ổn định cho tới khi nước này bị diệt cùng nhà Triệu.
Năm 204 TCN, Triệu Đà lập nước Nam Việt, định đô ở thành Phiên Ngung và tự xưng Nam Việt Vũ Vương (chữ Hán: 南越武王), sử quen gọi là Triệu Vũ Vương. Ban sơ, lãnh thổ Nam Việt gồm 3 quận Nam Hải (đại bộ phận tương đương Quảng Đông ngày nay), Quế Lâm (đông bộ Quảng Tây) và Tượng (tây bộ Quảng Tây, nam bộ Quý Châu). Nước Nam Việt phía bắc giáp Mân Việt và phong quốc Trường Sa của nhà Hán, phía tây giáp Dạ Lang, phía tây nam giáp Âu Lạc, phía đông nam giáp biển.
Năm 202 TCN, Lưu Bang thống nhất Trung Nguyên và thành lập nhà Hán. Cuộc chiến của Lưu Bang đã khiến nhiều khu vực của Trung Quốc bị tàn phá nặng nề và dân số suy giảm. Các lãnh chúa phong kiến tiếp tục nổi loạn khắp nơi, trong khi lãnh thổ ở phía bắc thường xuyên bị người Hung Nô tấn công. Tình trạng bất ổn đó buộc triều đình nhà Hán phải cư xử hòa hảo với Nam Việt. Năm 196 TCN, Hán Cao Tổ đã cử Lục Giả (陸賈) đến Nam Việt với hi vọng lấy được sự trung thành của Triệu Vũ Vương. Sau khi đến nơi, Lục Giả gặp Triệu Vũ Vương và được cho là đã thấy Triệu Vũ Vương đón tiếp ông trong trang phục và phong tục của người Bách Việt. Điều đó khiến cho Lục Giả nổi giận. Lục Giả quở trách Triệu Vũ Vương, chỉ ra rằng ông là người Hoa Hạ chứ không phải người Việt, và nên giữ cách ăn mặc cùng lễ nghi của người Trung Nguyên, không được quên truyền thống của tổ tiên mình. Lục Giả ca ngợi sức mạnh của nhà Hán và cảnh báo một vương quốc nhỏ như Nam Việt chống lại nhà Hán sẽ là liều lĩnh. Sau khi đe dọa giết thân thích của Triệu Đà ở đất Hán và phá hủy mồ mả tổ tiên, cũng như ép buộc dân Bách Việt phế truất ông, Triệu Vũ Vương đã quyết định nhận con dấu của Hán Cao Tổ và quy phụ nhà Hán. Quan hệ buôn bán được thiết lập tại biên giới của Nam Việt và phong quốc Trường Sa thuộc Hán. Mặc dù chính thức là một nước chư hầu của nhà Hán nhưng Nam Việt dường như không mất đi quyền tự chủ trên thực tế.
Sau khi Lưu Bang mất năm 195 TCN, quyền lực rơi vào tay Lữ Hậu. Bà sai người đến quê hương của Triệu Vũ Vương là Chân Định (真定) (nay là huyện Chính Định, tỉnh Hà Bắc, Trung Quốc) giết nhiều họ hàng thân thích và mạo phạm mộ tổ tiên của Triệu Đà. Triệu Vũ Vương tin rằng Trường Sa vương Ngô Thần đã tạo ra những lời buộc tội dối trá chống lại ông để Lữ Hậu cắt đứt buôn bán giữa hai nước và để chuẩn bị đánh chiếm Nam Việt sáp nhập vào phong quốc Trường Sa của Ngô Thần. Để trả thù, Triệu Vũ Vương xưng là Hoàng đế (tức Nam Việt Vũ Đế) và đánh chiếm Trường Sa. Lã Hậu cử tướng Chu Táo chỉ huy quân đội để trừng phạt Triệu Vũ Đế. Thời tiết nóng ẩm ở phương nam khiến binh sĩ của Chu Táo đổ bệnh, không thể đi tiếp xuống phía nam, rốt cuộc họ phải rút lui. Sau đó Triệu Vũ Đế dùng của cải vỗ về các vùng phụ cận như Mân Việt ở phía đông và Tây Âu Lạc ở phía nam.
Năm 179 TCN, Lưu Hằng lên ngôi trở thành Hán Văn Đế. Ông đã đảo ngược nhiều kế sách trước đó của Lã Hậu và tiến hành hòa giải đối với Triệu Vũ Đế. Hán Văn Đế ra lệnh cho các quan lại đi kinh lý Chân Định, sai quân canh giữ bảo vệ huyện trấn và thường xuyên chăm lo hương hỏa tổ tiên của Triệu Vũ Đế. Thừa tướng Trần Bình đề nghị cử Lục Giả đến Nam Việt vì họ đã biết nhau từ trước. Lục Giả đến Phiên Ngung thêm một lần nữa và giao bức thư của Hán Văn Đế cho Triệu Vũ Đế nhấn mạnh rằng những chính sách của Lã Hậu là nguyên nhân gây ra sự thù địch giữa Nam Việt với triều đình nhà Hán và đem đến nỗi đau khổ cho dân thường ở biên giới. Triệu Vũ Đế lại quyết định quy phụ nhà Hán lần nữa, rút lại danh xưng Hoàng đế và trở lại xưng Vương, Nam Việt lại trở thành nước chư hầu của nhà Hán. Tuy vậy, hầu như những sự thay đổi đó chỉ là bề ngoài, Triệu Đà tiếp tục được gọi là Hoàng đế khắp Nam Việt. Ngoài 5 quận (hoặc 4 quận) trực tiếp cai trị, nhà Triệu còn gây ảnh hưởng đến mấy nhóm Bách Việt xung quanh như Đông Âu (Chiết Giang), Mân Việt (Phúc Kiến).
=== Trung kỳ ===
Văn đế trấn quốc (137-125 TCN)
Năm 137 TCN, Triệu Đà mất vì tuổi cao (ước khoảng hơn 100), trưởng nam của ông vốn đã mất từ trước, vì vậy cháu của Triệu Đà là Triệu Mạt trở thành vua Nam Việt, tức Triệu Văn Đế.
Năm 135 TCN, vua nước Mân Việt láng giềng mở cuộc tấn công vào các thị trấn dọc biên giới giữa Nam Việt và Mân Việt. Vì Triệu Văn Đế chưa kịp củng cố quyền lực của mình, nên buộc phải cầu xin Hán Vũ Đế gửi quân đến giúp Nam Việt chống lại bọn mà ông gọi là "những kẻ nổi loạn Mân Việt". Hán Vũ Đế khen Triệu Mạt là một chư hầu trung thành và phái Đại hành Vương Khôi, một viên chức cai trị người dân tộc thiểu số, và Đại tư nông Hàn An Quốc chỉ huy quân đội, ra lệnh chia quân thành 2 đạo tấn công Mân Việt từ hai hướng, một từ Dự Chương, hướng khác là từ Cối Kê (nay thuộc Thiệu Hưng). Nhưng trước khi quân Hán hành quân đến nơi thì vua Mân Việt là Dĩnh đã bị em trai là Dư Thiện ám sát, sau đó Dư Thiện đã nhanh chóng đầu hàng. Hán Vũ Đế sau đó cử sứ giả là Nghiêm Trợ đến Phiên Ngung để đưa bản tuyên bố đầu hàng chính thức của Mân Việt cho Triệu Văn Đế. Triệu Văn Đế bày tỏ lòng biết ơn của mình đến Hán Vũ Đế cùng lời hứa rằng ông sẽ vào kinh đô triều kiến Hán Vũ Đế tại Trường An. Và sau đó, thậm chí Triệu Văn Đế đã phái con trai của mình là Triệu Anh Tề cùng đến Trường An với Nghiêm Trợ. Trước đây Triệu Văn Đế chưa bao giờ tới Trường An. Một cận thần của ông đã ra sức khuyên không nên đi vì sợ rằng Hán Vũ Đế sẽ tìm ra một vài nguyên nhân để ngăn cản ông quay trở về, điều đó sẽ dẫn đến sự diệt vong của nước Nam Việt. Triệu Văn Đế vì vậy đã cáo bệnh và không bao giờ đến Trường An. Ngay sau khi Mân Việt đầu hàng quân Hán, Vương Khôi đã phái Đường Mông, huyện lệnh Phiên Dương, đến để đưa tin Mân Việt đầu hàng cho Triệu Văn Đế. Khi ở Nam Việt, Đường Mông đã được giới thiệu ăn một loại nước chấm truyền thống của Nam Việt được làm từ quả sơn trà mua từ đất Thục. Ngạc nhiên rằng đó là một sản vật sẵn có, và Đường Mông đã được biết rằng có một tuyến đường từ Thục (nay là tỉnh Tứ Xuyên) đi đến Dạ Lang, rồi sau đó dọc theo sông Tang Kha (ngày nay là sông Bắc Bàn chảy qua tỉnh Vân Nam và Quý Châu) đi thẳng đến kinh đô Phiên Ngung của Nam Việt. Ngay sau đó Đường Mông đã phác thảo một kế hoạch trình lên Hán Vũ Đế đề nghị tập hợp 100.000 quân tinh nhuệ tại Dạ Lang, sau đó dùng thuyền vượt sông Tang Kha để mở cuộc tấn công bất ngờ vào Nam Việt. Hán Vũ Đế đồng ý với kế hoạch của Đường Mông, phong ông làm Lang Trung tướng và cho phép ông dẫn đầu 1000 quân cùng nhiều quân lương và xe hàng từ hẻm Ba Phù (ngày nay gần huyện Hợp Giang, tỉnh Tứ Xuyên) tiến vào Dạ Lang. Nhiều xe hàng mang theo là quà tặng cho các lãnh chúa phong kiến của Dạ Lang như là quà hối lộ để họ tuyên bố trung thành với nhà Hán, điều mà sau đó họ đã làm, và Dạ Lang trở thành quận Kiền Vi của nhà Hán.
Sau hơn một thập kỷ trị vì, Triệu Văn Đế đổ bệnh và qua đời khoảng năm 125 TCN.
Minh đế hưng quốc (125-113 TCN)
Sau khi nghe tin cha đổ bệnh nặng, Triệu Anh Tề nhận được sự chấp thuận từ Hán Vũ Đế quay trở về Nam Việt. Sau khi Triệu Văn Đế băng hà, Triệu Anh Tề lên ngôi vua Nam Việt, tức là Triệu Minh Vương. Trước khi được phái đến Trường An, Triệu Anh Tề đã kết hôn với một người đàn bà Nam Việt và có một con trai tên là Triệu Kiến Đức. Trong khoảng thời gian Triệu Anh Tề sống ở Trường An, ông lại cưới một người đàn bà Hàm Đan (có lẽ vì quê hương của Triệu Đà cũng ở vùng đó). Họ đã có một con trai tên là Triệu Hưng. Ông đã chủ động xin Hán Vũ Đế lập người vợ Hán thành Vương hậu và Triệu Hưng thành Thế tử, việc làm này cuối cùng đã mang đến thảm họa cho Nam Việt. Ông mất khoảng năm 113 TCN.
=== Hậu kỳ ===
xxxxnhỏ|phải|212px|Tượng thờ quan thừa tướng Lữ Gia tại Đạo quán Linh Tiên, làng Cao Thượng, xã Đức Thượng, huyện Hoài Đức, Hà Nội.]]
Ai đế vong quốc (113-112 TCN)
Triệu Hưng lên ngôi khi mới 5 tuổi, tức Triệu Ai Vương, mẹ là Cù thái hậu tham chính. Hán Vũ Đế sai sứ giả An Quốc Thiếu Quý, vốn là người tình cũ của Cù thái hậu, sang thuyết phục Nam Việt nội phụ nhà Hán. Cù thái hậu lại cùng Thiếu Quý tư thông và muốn thuận theo nhà Hán, nhưng Thừa tướng người Việt là Lữ Gia phản đối. Năm 112 TCN, Lữ Gia đem quân đánh vào cung, giết chết Cù thái hậu và Triệu Ai Vương cùng An Quốc Thiếu Quý, lập anh của Triệu Ai Vương là Triệu Kiến Đức lên ngôi, tức là Triệu Thuật Dương Vương.
Dương đế phục quốc (112-111 TCN)
Năm 111 TCN, Hán Vũ Đế sai Dương Bộc, Lộ Bác Đức đem đại quân sang đánh. Vua Triệu là Thuật Dương Vương Kiến Đức và Thừa tướng Lữ Gia lần lượt đều bị bắt và bị hại (111 TCN). Dựa trên hệ thống các đền, miếu, đình, chùa thờ Lữ Gia, phu nhân và các tướng lĩnh của ông rải rác trên khắp vùng đồng bằng sông Hồng ở miền Bắc Việt Nam, rất có thể cuộc kháng chiến chống nhà Tây Hán còn kéo dài đến năm 98 TCN. Sau khi Phiên Ngung thất thủ, Tây Vu Vương (thủ lĩnh đất tự trị Tây Vu với trung tâm là Cổ Loa) đã nổi dậy chống lại nguy cơ Bắc thuộc lần 1 trước sự xâm lăng của nhà Tây Hán. Tả tướng Hoàng Đồng (黄同) của hai quận Giao Chỉ và Cửu Chân đã giết chết Tây Vu Vương đang làm loạn để hàng Hán. Thương Ngô vương Triệu Quang cùng họ hàng với vua nhà Triệu, nghe tin quân Hán đến, xin hàng, được phong làm Tuỳ Đào hầu; Huyện lệnh huyện Yết Dương là Sử Ðịnh (史定) hàng Hán được phong làm An Đạo hầu; tướng nhà Triệu là Tất Thủ (畢取) mang quân ra hàng được phong làm Liêu hầu ; quan Giám quận Quế Lâm là Cư Ông (居翁) dụ 40 vạn dân 2 quận Giao Chỉ và Cửu Chân ra hàng được phong làm Tương Thành hầu. Vậy là các xứ ở Nam Việt đều xin hàng. Nhà Triệu diệt vong, nước Nam Việt cũng mất sau 97 năm tồn tại, với 5 đời vua.
== Văn hiến ==
=== Khảo cổ ===
Di tích cung vua nhà Triệu nằm tại thành phố Quảng Châu trên diện tích 15.000 mét vuông. Được khai quật năm 1995, di tích này còn chứng tích của cung điện nước Nam Việt cổ. Năm 1996, nơi đây được Chính phủ Trung Quốc liệt vào danh sách các Di tích văn hóa quốc gia của Cộng hòa nhân dân Trung Hoa.
Năm 1983, lăng mộ Triệu Văn Đế được khai quật ở Quảng Châu thuộc Quảng Đông. Năm 1988, Bảo tàng Lăng mộ vua Triệu được xây dựng tại khu đất này, nhằm trưng bày hơn 1000 hiện vật, trong đó có 500 hiện vật bằng đồng, 240 hiện vật bằng ngọc và 246 hiện vật bằng sắt. Năm 1996, chính phủ Trung Quốc đưa công trình này vào danh sách Khu Di sản quốc gia được bảo vệ.
Một chiếc ấn khối vuông bằng đồng khắc chữ "胥浦侯印 Tư (Việt) Phố hầu ấn" (Ấn dành cho thủ lĩnh huyện Tư Phố) được phát hiện ở Thanh Hoá thuộc miền bắc Việt Nam trong thập niên 1930. Ấn có đúc hình rùa trên lưng và được cho là của viên điển sứ tước Hầu ở Cửu Chân. Tư Phố là tên trị sở quận Cửu Chân thời nhà Triệu nước Nam Việt đóng ở khu vực làng Ràng (xã Thiệu Dương, thành phố Thanh Hóa) hiện nay. Do sự tương đồng với những chiếc ấn được tìm thấy ở lăng mộ Triệu Văn Đế, chiếc ấn đồng này được công nhận là ấn chính thức của nước Nam Việt. Chiếc ấn hiện trưng bày ở Bảo tàng Nghệ thuật và Lịch sử Hoàng gia Bỉ, Brussel.
Có nhiều đồ tạo tác được phát hiện tại khu vực thuộc về văn hoá Đông Sơn ở miền bắc Việt Nam. Các hiện vật được chôn cất cùng thời với lăng mộ Triệu Văn Đế. Ngoài lăng mộ vua Triệu, các nhà khảo cổ còn khai quật được mộ một viên quan thuộc hàng Huyện lệnh ở La Bạc Loan, huyện Quý (nay là thành phố Quý Cảng), tỉnh Quảng Tây và nhiều mộ chí ở Quảng Châu, Hợp Phố được xếp vào niên đại đầu thời Tây Hán (ngang với thời gian tồn tại của Nam Việt). Ban đầu, các nhà khảo cổ Trung Quốc xếp chung các mộ này vào văn hóa Tây Hán, nhưng sau đó càng ngày càng có nhiều nhà nghiên cứu Trung Quốc và quốc tế nhận thấy sự khác biệt giữa các di tích này với văn hóa Tây Hán. Do đó, họ dùng thuật ngữ văn hóa Nam Việt hay văn hóa Giao Chỉ để phân biệt văn hóa vùng này với văn hóa Tây Hán, tương tự như những nền văn hóa các vùng Ba, Thục, Điền ở Tứ Xuyên, Vân Nam cũng khác văn hóa Trung Nguyên của Tây Hán đương thời. Nền tảng của văn hóa Nam Việt là văn hóa đồng thau Bách Việt nói chung, trong đó yếu tố Đông Sơn khá đậm nét
=== Hành chính ===
Sau khi bình định được Nam Việt, Hán Vũ Đế gồm thâu lãnh địa với đảo Hải Nam và vùng đất phía Nam dãy Hoành Sơn, lập ra bộ Giao Chỉ, rồi lại phân thành 6 quận (cả bộ Giao Chỉ mới gồm 9 quận). Họ Triệu được chuyển hóa dần thành tôn hiệu của các thủ lĩnh miền bán đảo Trung Ấn, với các biến âm như: Zhao, Chao, Chau...
Hơn 650 năm sau, Lý Bí đánh đuổi quân Lương lập ra nước Vạn Xuân năm 544, cũng xưng là Nam Việt đế mà sử quen gọi là Lý Nam Đế. Lại hơn 10 thế kỷ sau, tướng nhà Đường là Lưu Nghiễm cũng nhân lúc Trung Nguyên loạn lạc, chiếm cứ vùng Lưỡng Quảng lập ra nước Đại Việt năm 917, rồi sang năm 918 đổi tên thành Nam Hán; Phiên Ngung cũng được họ Lưu chọn làm kinh đô. Phần đất Âu Lạc cũ khi đó do họ Khúc người Việt cai trị, Nam Hán chỉ chiếm được trong thời gian ngắn.
Năm 1804 (1915 năm sau khi Nam Việt mất), sau khi diệt nhà Tây Sơn, vua Gia Long sai sứ sang thỉnh cầu nhà Thanh thừa nhận quốc hiệu mới là Nam Việt, nhưng vua Gia Khánh cho rằng nước Nam Việt cũ của nhà Triệu bao gồm cả Lưỡng Quảng của Trung Quốc nên đảo 2 chữ thành Việt Nam để tránh nhầm lẫn.
=== Cư dân ===
Theo Tiền Hán thư (quyển 65), Địa lý chí của Ban Cố thì số dân giai đoạn cuối của nước Nam Việt (tương ứng với lãnh thổ 6 quận Nam Hải, Uất Lâm, Thương Ngô, Hợp Phố, Giao Chỉ, Cửu Chân thời Hán thuộc) như sau:
Quận Nam Hải có 6 huyện, 19.613 hộ, 94.253 người.
Quận Uất Lâm có 12 huyện, 12.415 hộ, 71.162 người.
Quận Thương Ngô có 10 huyện, 24.379 hộ, 146.160 người.
Quận Hợp Phố có 5 huyện, 15.398 hộ, 78.980 người.
Quận Giao Chỉ có 10 huyện, 92.379 hộ, 746.237 người.
Quận Cửu Chân có 7 huyện, 35.743 hộ, 166.013 người.
Đa số cư dân Nam Việt là người Bách Việt cũ cùng khoảng 100 ngàn người Hán di cư từ phía Bắc, nhóm này nắm giữ hầu hết chức vụ chủ chốt trong chính thể Nam Việt. Họ bao gồm con cháu của các thương gia, binh sĩ Tần được gửi xuống chinh phục phía nam với những thanh nữ phục vụ nhu cầu tình dục trong quân lực, các lại thuộc và cả tội phạm nhà Tần bị lưu đày.
Cư dân Nam Việt sinh sống chủ yếu ở phía bắc, phía đông và trung tâm Quảng Đông, một nhóm nhỏ sinh sống ở phía đông Quảng Tây.
Người Âu Việt sinh sống tại khu vực phía tây Quảng Đông, họ tập trung chủ yếu dọc lưu vực các con sông như Tầm Giang, Tây Giang và khu vực phía nam sông Quế Giang. Những con cháu của Dịch Hu Tống, thủ lĩnh Âu Việt bị quân Tần giết vẫn nắm giữ vai trò là thủ lĩnh của các thị tộc Âu Việt. Đến khi Nam Việt bị Hán diệt, khu vực quận Quế Lâm đã có khoảng vài trăm ngàn người Âu Việt sinh sống. Các thị tộc Lạc Việt sinh sống ở khu vực ngày nay là nam Quảng Tây và bắc Việt Nam, bán đảo Lôi Châu (Quảng Đông) và vùng tây nam Quý Châu. Họ tập trung tại các lưu vực Tả Giang và Hữu Giang Quảng Tây, đồng bằng sông Hồng ở bắc Việt Nam, và lưu vực sông Bàn ở Quý Châu.
Peter Bellwood đề xuất rằng các dân tộc Việt Nam là hậu duệ của người Việt cổ sinh sống tại phía bắc Việt Nam và phía tây Quảng Đông.
Nam Việt vẫn thực hiện phần lớn các chính sách từ thời Tần đối với sự tiếp xúc của người bản xứ với người Hán di cư. Triệu Đà chủ chương đẩy mạnh chính sách giao hòa hai nền văn hóa với nhau. Sau khi chiếm được Âu Lạc, Triệu Đà chỉ dùng 2 quan Sứ cai quản 2 quận Giao Chỉ và Cửu Chân, và cho duy trì chế độ Lạc tướng cha truyền con nối, tổ chức vùng (bộ hay bộ lạc) của người bản địa vẫn chưa bị xóa bỏ. Ở quận Quế Lâm, nhà Triệu đặt một viên quan Giám để trông coi. Sử cũ ghi nhận vị quan Giám cuối cùng của quận Quế Lâm là Cư Ông. Tuy nhiên, người Hán nắm giữ hầu hết các chức vụ trong chính quyền, sự áp đảo này diễn ra ngay sau khi quân Tần chinh phục phía nam. Trải qua thời gian, người Việt bắt đầu tham gia nhiều hơn vào chính quyền. Lữ Gia thừa tướng cuối cùng của Nam Việt là một người bản địa, và hơn 70 họ hàng thân thích của ông ta đã làm quan với các cấp bậc khác nhau trong chính quyền của Nam Việt. Tại những khu vực dân cư mà triều đình gọi là "phức tạp", các thủ lĩnh người bản địa thường được trao cho quyền tự trị lớn. Dưới quyền cai trị của mình, Triệu Đà đã thúc đẩy người Hán di cư vào biên giới Nam Việt. Hôn nhân giữa người Hán và người bản địa ngày càng trở nên phổ biến trong suốt thời gian tồn tại của Nam Việt, thậm chí xảy ra trong hoàng tộc họ Triệu. Nhiều cuộc hôn nhân giữa hoàng tộc họ Triệu và gia đình của Lữ Gia đã được sử sách ghi chép. Triệu Kiến Đức vị vua cuối cùng của Nam Việt là con trai của vị vua trước Triệu Minh Vương với vợ người bản địa.
Vào giai đoạn Chiến Quốc, vùng Lĩnh Nam là vùng sản xuất lúa gạo, tuy nhiên nông cụ sản xuất nông nghiệp hầu hết là đá hoặc bằng đồng, trong khi vùng đồng bằng phía Bắc đã sử dụng phổ biến các nông cụ bằng sắt. Trong cuộc chinh phạt của nhà Tần ở vùng Lĩnh Nam, cùng với dân di cư ở các vùng đồng bằng đã mang theo các công cụ bằng sắt, và nhiều kĩ thuật mới về sản xuất nông nghiệp đã đem lại sự cải thiện về trình độ sản xuất nông nghiệp cho vùng Lĩnh Nam.
=== Ngữ hệ ===
Tiếng Hoa cổ là ngôn ngữ chính thống trong triều đình Nam Việt, đa số dân chúng nói tiếng bản địa - thứ ngôn ngữ ngày nay không còn và được xem là nguồn gốc của tiếng Choang và tiếng Thái hiện nay. Tổ chức triều đình Nam Việt còn mang nặng màu sắc thủ lĩnh bộ lạc bản địa. Sự hòa trộn của họ Triệu với người Bách Việt được xem là nhân tố tạo nên tộc Triệu lớn mạnh còn phổ biến trong các cộng đồng người Choang, người Tày, người Nùng ở Trung Hoa và Cao Bằng, Hà Giang, Bắc Kạn, Lạng Sơn... ở Việt Nam. Do hầu như không còn bằng chứng về chữ viết thời kỳ này của người Lĩnh Nam bản địa, cuộc chinh phục của người Hoa được xem là tác nhân truyền bá chữ viết Hán tới khu vực này. Nhiều di tích hiện vật trong lăng mộ Triệu Văn Đế tại Quảng Châu có sự hiện diện của chữ viết. Tuy nhiên, văn tự Hán ở Nam Việt vẫn kém phát triển, qua kết quả khảo cổ cho thấy những minh văn chữ Hán được khắc rất xấu và mắc nhiều lỗi chính tả trên đồ ngự dụng cho vua và các phu nhân.
== Xem thêm ==
== Tham khảo ==
Đại Việt sử ký toàn thư
Khâm định Việt sử Thông giám Cương mục, Kỷ nhà Triệu
Trần Trọng Kim (2010), Việt Nam sử lược, Nhà xuất bản Thời đại
Phan Huy Lê, Trần Quốc Vượng, Hà Văn Tấn, Lương Ninh (1991), Lịch sử Việt Nam, tập 1, Nhà xuất bản Đại học và Giáo dục Chuyên nghiệp
Đào Duy Anh (2005), Lịch sử cổ đại Việt Nam, Nhà xuất bản Văn hóa thông tin
Nguyễn Việt (2010), Hà Nội thời tiền Thăng Long, Nhà xuất bản Hà Nội
Sử ký Tư Mã Thiên, quyển 113, mục Nam Việt liệt truyện
Ban Cố, Hán thư, quyển 95, mục Tây Nam Di, Lưỡng Việt, Triều Tiên truyện
Nam Việt tại Từ điển bách khoa Việt Nam
Nam Viet (ancient kingdom, Asia) tại Encyclopædia Britannica (tiếng Anh)
Nước Nam Việt và các đời vua Triệu
== Chú thích == |
đống đa.txt | Đống Đa là một đơn vị hành chính cấp quận trực thuộc thủ đô Hà Nội, Việt Nam.
== Vị trí địa lý ==
Quận Đống Đa nằm ở trung tâm thủ đô Hà Nội. Phía bắc giáp quận Ba Đình, phía đông bắc giáp quận Hoàn Kiếm (ranh giới là phố Lê Duẩn), phía đông giáp quận Hai Bà Trưng (ranh giới là phố Lê Duẩn và đường Giải phóng), phía nam giáp quận Thanh Xuân (ranh giới là đường Trường Chinh và đường Láng), phía tây giáp quận Cầu Giấy (ranh giới là sông Tô Lịch).
== Đặc điểm địa hình ==
Địa hình quận Đống Đa tương đối bằng phẳng. Có một số hồ lớn như Ba Mẫu, Kim Liên, Xã Đàn, Đống Đa, Văn Chương. Trước có nhiều ao, đầm nhưng cùng với quá trình đô thị hóa đã bị lấp. Quận có hai sông nhỏ chảy qua là sông Tô Lịch và sông Lừ. Phía đông có một vài gò nhỏ, trong đó có gò Đống Đa.
== Diện tích và dân số ==
Quận Đống Đa rộng 9.96 km², có dân số thường trú là 410 nghìn người (năm 2013) nhiều nhất trong các quận, huyện của Hà Nội.
== Lịch sử ==
Quận nằm trên nền đất xưa vốn thuộc các tổng Hữu Nghiêm (sau đổi là Yên Hòa), Tiền Nghiêm (sau đổi là Vĩnh Xương), Tả Nghiêm (sau đổi là Kim Liên) huyện Thọ Xương và tổng Yên Thành, huyện Vĩnh Thuận.
Từ những năm 1954-1981 là khu phố Đống Đa.
Đến tháng 6 năm 1981 mới chính thức gọi là quận Đống Đa, gồm 24 phường: Cát Linh, Hàng Bột, Khâm Thiên, Khương Thượng, Kim Liên, Láng Hạ, Láng Thượng, Nam Đồng, Nguyễn Trãi, Ô Chợ Dừa, Phương Liên, Phương Liệt, Phương Mai, Quang Trung, Quốc Tử Giám, Thanh Xuân, Thịnh Quang, Thổ Quan, Thượng Đình, Trung Liệt, Trung Phụng, Trung Tự, Văn Chương, Văn Miếu.
Ngày 13 tháng 10 năm 1982, thành lập thêm 2 phường Kim Giang (tách ra từ xã Đại Kim thuộc huyện Thanh Trì) và Thanh Xuân Bắc (trên cơ sở điều chỉnh một phần diện tích tự nhiên và nhân khẩu của các xã Nhân Chính và Trung Văn thuộc huyện Từ Liêm; điều chỉnh một phần diện tích tự nhiên và nhân khẩu của xã Tân Triều thuộc huyện Thanh Trì).
Đầu năm 1996, quận Đống Đa có 26 phường: Cát Linh, Hàng Bột, Khâm Thiên, Khương Thượng, Kim Giang, Kim Liên, Láng Hạ, Láng Thượng, Nam Đồng, Nguyễn Trãi, Ô Chợ Dừa, Phương Liên, Phương Liệt, Phương Mai, Quang Trung, Quốc Tử Giám, Thanh Xuân, Thanh Xuân Bắc, Thịnh Quang, Thổ Quan, Thượng Đình, Trung Liệt, Trung Phụng, Trung Tự, Văn Chương, Văn Miếu.
Ngày 22 tháng 11 năm 1996, 5 phường: Thanh Xuân Bắc, Thanh Xuân, Thượng Đình, Kim Giang, Phương Liệt, cũng như một phần 2 phường Nguyễn Trãi và Khương Thượng chuyển sang trực thuộc quận Thanh Xuân, đổi tên phường Nguyễn Trãi thành phường Ngã Tư Sở. Từ đó, quận Đống Đa còn lại 21 phường: Cát Linh, Hàng Bột, Khâm Thiên, Khương Thượng, Kim Liên, Láng Hạ, Láng Thượng, Nam Đồng, Ngã Tư Sở, Ô Chợ Dừa, Phương Liên, Phương Mai, Quang Trung, Quốc Tử Giám, Thịnh Quang, Thổ Quan, Trung Liệt, Trung Phụng, Trung Tự, Văn Chương, Văn Miếu.
== Hành chính ==
Quận Đống Đa có 21 phường: Cát Linh, Hàng Bột, Khâm Thiên, Khương Thượng, Kim Liên, Láng Hạ, Láng Thượng, Nam Đồng, Ngã Tư Sở, Ô Chợ Dừa, Phương Liên, Phương Mai, Quang Trung, Quốc Tử Giám, Thịnh Quang, Thổ Quan, Trung Liệt, Trung Phụng, Trung Tự, Văn Chương, Văn Miếu.
Các phường phía nam của Đống Đa là những khu dân cư tập trung với những khu nhà chung cư được xây dựng sớm nhất của Hà Nội như Phương Mai, Kim Liên, Trung Tự, Khương Thượng, Nam Đồng.
Các dự án đường sắt đô thị đi qua địa bàn quận là các tuyến số 1 (Ngọc Hồi - Yên Viên), tuyến số 2 (Nội Bài - Thượng Đình), tuyến số 2A (Cát Linh - Hà Đông), tuyến số 3 (Trôi - Nhổn - Yên Sở), tuyến số 5 (Hồ Tây - An Khánh), trong đó tuyến số 3 đoạn Nhổn - Ga Hà Nội (một phần của tuyến Trôi - Nhổn - Yên Sở) hiện đang được thi công; tuyến số 2A hiện đang được gấp rút hoàn thành để chạy thử nghiệm vào đầu tháng 10-2017 và chính thức vận hành vào quý I-2018; tuyến số 1 hiện đang được đầu tư xây dựng.
== Đường phố ==
== Các địa điểm nổi tiếng ==
Ga Hà Nội
Văn Miếu-Quốc Tử Giám
Gò Đống Đa
Chùa Bộc
Sân vận động Hàng Đẫy
Chùa Láng
Đình Kim Liên
Công viên Thống Nhất
Bệnh viện Bạch Mai
== Các trường Trung học phổ thông ==
Đống Đa
Hoàng Cầu
Lê Quý Đôn
Kim Liên
Phan Huy Chú
Quang Trung
== Các trường Đại học và Học viện ==
Đại học Công Đoàn
Đại học Giao thông Vận tải
Đại học Luật Hà Nội
Trường Đại học Mỹ thuật Công nghiệp Hà Nội
Đại học Ngoại Thương
Đại học Thủy lợi Hà Nội
Đại học Văn hóa Hà Nội
Đại học Y Hà Nội
Trường Đại học Văn hóa - Nghệ thuật Quân đội
Học viện Thanh Thiếu niên Việt Nam
Học viện Ngoại giao Việt Nam
Học viện Ngân hàng
Học viện Âm nhạc Quốc gia Việt Nam
Học viện Hành chính
Trường Kinh tế Ngoại giao Việt Nam
Học viện Phụ nữ Việt Nam
== Di tích ==
Một số di tích văn hóa, lịch sử trên địa bàn quận Đống Đa là Văn Miếu-Quốc Tử Giám, di tích Đàn Xã tắc, di tích vòng thành Đại La, Chùa Bộc, gò Đống Đa và tượng đài vua Quang Trung, chùa Láng, đền Bích Câu, ga Hà Nội, v.v.
Trên địa bàn quận có gò Đống Đa, nơi được coi là mộ tập thể của các binh sĩ nhà Thanh Trung Quốc. Quận đặt theo tên chiến thắng trận Đống Đa của nghĩa quân Tây Sơn mùa xuân năm Kỷ Dậu (1789).
== Chú thích ==
== Liên kết ngoài ==
Cổng thông tin điện tử quận Đống Đa
Quận Đống Đa |
phó vương quốc peru.txt | Phó vương quốc Peru hay Phó vương phủ Peru (tiếng Tây Ban Nha:Virreinato del Perú) là một đơn vị hành chính thuộc địa của Tây Ban Nha được thành lập vào năm 1542. Lãnh thổ này bao gồm hầu hết khu vực do Tây Ban Nha cai trị tại Nam Mỹ, lỵ sở đặt tại Lima. Phó vương quốc Peru là một trong hai phó vương quốc duy nhất của Tây Ban Nha tại châu Mỹ từ thế kỷ 16 đến thế kỷ 17.
Cùng có mặt tại Nam Mỹ là thuộc địa Brasil của Bồ Đào Nha. Vì Tây Ban Nha không ngăn cản sự bành trướng của người Bồ Đào Nha nên lãnh thổ phó vương quốc Peru bị thu hẹp. Khi Hiệp ước Tordesillas trao trả phần lớn Nam Mỹ lại cho Tây Ban Nha nhưng vào thời điểm đó Tây Ban Nha đã thống nhất với Bồ Đào Nha. Việc thành lập Phó vương quốc Tân Grenada và Phó vương quốc Rio de la Plata (tách ra từ Peru) đã làm giảm đi tầm quan trọng của Lima và lợi nhuận từ thương mại trên vùng Andes đã đổ về Buenos Aires, trong khi đó các ngành khai mỏ và dệt sa sút đã đẩy nhanh qua trình suy tàn của Phó vương quốc Peru. Cuối cùng, phó vương quốc đã bị tan rã cùng với Đế quốc Tây Ban Nha, khi các phong trào dân tộc độc lập bắt đầu vào thế kỷ 19. Phong trào này đã dẫn đến việc hình thành các nước cộng hòa hiện đại gồm Peru, Chile, Colombia, Panama, Ecuador, Bolivia, Paraguay, Uruguay và Argentina trên các lãnh thổ đã từng một hay nhiều lần trực thuộc Phó vương quốc Peru.
== Lịch sử ==
=== Thám hiểm và định cư ===
Sau khi người Tây Ban Nha xâm chiếm Peru (1532-1537), "Audiencia" đầu tiên được lập ra. Năm 1542, người Tây Ban Nha thành lập Phó vương quốc Tân Castile, và không lâu sau đó đã thường được gọi là Phó vương quốc Peru. Năm 1544, Hoàng đế Thánh La Mã Charles V (Charles I của Tây Ban Nha) đã chỉ định Blasco Núñez Vela là phó vương Peru đầu tiên, nhưng phó vương quốc đã không hoạt động cho đến khi Phó vương Francisco de Toledo được cử đến vào năm 1572. Sau đó ông đã đi kiểm tra với phạm vi rộng tại thuộc địa.
Francisco de Toledo, "một nhà quản lý vĩ đại trong thời đại loài người", đã thành lập Tòa án dị giáo và công bố luật pháp áp dụng tương tự cho cả người Tây Ban Nha và người Anh-điêng (người da đỏ), xóa bỏ quyền lực của những Encomienda và giảm bớt hệ thống Mita cũ, hay chế độ lao động cưỡng bức với người bản địa. Ông đã cải thiện sự an toàn trong phó vương quốc với những công sự, cầu và Armada del Mar del Sur (Đội tàu phương Nam) để chống lại bọn hải tặc. Francisco de Toledo cũng đã đựt dấu chấm hết cho nhà nước Vilcabamba của người bản địa, hành hình Tupac Amaru của Inca và phát triển kinh tế từ thương mại độc quyền và khai mỏ, đặc biệt là các mỏ bạc tại Potosí.
Đồng bằng Amazon và một khu vực lớn lân cận đã từng được coi là lãnh thổ của Tây Ban Nha theo Hiệp ước Tordesillas và các chuyến thám hiểm như của Francisco de Orellana, ngoài ra Hiệp ước Tordesillas đã đưa ra điều này một cách vô nghĩa từ năm 1580 đến 1640 khi Tây Ban Nha kiểm soát Bồ Đào Nha. Tuy nhiên, Luis Jerónimo de Cabrera, Đệ tứ bá tước Chinchón đã gửi ba đội viên chinh để thám hiểm sông Amazon dưới sự chỉ huy của Cristóbal de Acuña.
Nhiều quần đảo tại Thái Bình Dương được các tàu của người Tây Ban Nha viếng thăm trong thế kỷ 16, nhưng họ đã không nỗ lực để trao đổi hàng hóa hay thuộc địa hóa chúng. Các đảo này gồm có New Guinea (khám phá ra bởi Yñigo Ortiz de Retez năm 1545), Quần đảo Solomon (bởi Pedro Sarmiento de Gamboa năm 1568) và Quần đảo Marquises (bởi Álvaro de Mendaña de Neira năm 1595)
Việc cưỡng ép người dân bản địa cải sang Thiên Chúa giáo bắt đầu từ năm 1609, nhưng một số khu vực do người những người Bandeirantes từ Brasil chiếm giữa và họ mở rộng các hoạt động của mình ra khắp đồng bằng và khu vực kế cận Matto Grosso vào thế kỷ 17 và 18. Các nhóm này có được sự thuận lợi vì ở vị trí xa xôi và nước triều ở vùng cửa sông Amazon (là lãnh thổ Bồ Đào Nha). Trong lúc đó, người Tây Ban Nha áp đặt luật lệ của mình lên những nô lệ là người bản địa, đưa họ ra khỏi các điểm thương mại quan trọng và đưa sâu vào khu vực nội địa của đồng bằng.
Một cuộc tấn công bất ngờ nổi tiếng trong lịch sử đã diễn ra với mục đích chống lại những người Tây Ban Nha năm 1628 và kết quả là 60.000 người bản địa đã bị nô dịch hóa. Năm 1617, Francisco de Borja y Aragón đã chia đôi chính quyền ở Río de la Plata thành Buenos Aires và Paraguay, cả hai đều là lãnh thổ phụ thuộc của Phó vương quốc Peru. Phó vương Borja y Aragón cũng thành lập Tribunal del Consulado, một tòa án đặc biệt và một bộ phận hành chính để quản lý thương mại trong phó vương quốc. Diego Fernández de Córdoba, Hầu tước xứ Guadalcázar đã cải tổ hệ thống ngân khố và đã chấm dứt việc tranh giành đẫm máu giữa các gia tộc về vấn đề đất đai.
Các phó vương khác, như Fernando Torres, Borja y Aragón, Fernández de Cabrera hay Fernández Córdoba cũng phát triển hải quân thuộc địa và củng cố cảng cảng để chống lại các hoạt động của hải tặc vốn do một người Anh tên là Thomas Cavendish lãnh đạo. Fernández de Cabrera đã đè bẹp một cuộc nổi dậy của những người da đỏ Uru và Mapuche.
Các phó vương Peru:
Blasco Nunez Vela: 1544 - 1546
Pedro de la Gasca: 1546 - 1550
Andrew của Cianca: 1550 - 1551
Antonio de Mendoza: 1551 - 1552
Andrew của Cianca: 1552 - 1553
Melchor Bravo de Saravia: 1553 - 1556
Andrés Hurtado de Mendoza, Hầu tước Canete thứ hai: 1556 - 1560
Diego Lopez de Zuniga y Velasco, Conde de Nieva: 1561 - 1564
Hernando de Saavedra, thẩm phán Hoàng gia Lima: 1564
Lope García de Castro, thẩm phán trưởng Lima: 1564 - 1569
Francisco Toledo: 1569 - 1581
Martin Enriquez de Almansa: 1581 - 1583
Cristóbal Ramírez de Cartagena: 1584 - 1585
Fernando Torres, bá tước của Villar Dompardo: 1585 - 1589
Garcia Hurtado de Mendoza, hầu tước Canete thứ ba: 1589 - 1596
Luis de Velasco và Castilla, hầu tước Salinas: 1596 - 1604
Gaspar de Zuniga y Acevedo, bá tước của Monterrey: 1604 - 1606
Diego Núñez de Avendano: 1606
Juan Fernandez de Boán: 1606
Juan de Mendoza y Luna, Hầu tước Montesclaros: 1607 - 1615
Francisco de Borja y Aragon, Hoàng tử của Squillace: 1616 - 1621
Juan Jiménez de Montalvo: 1621 - 1622
Diego Fernandez de Cordova, Hầu tước Guadalcázar: 1622 - 1629
Luis Jeronimo Fernández de Cabrera y Bobadilla, Bá tước thứ tư của Chinchón: 1629 - 1639
Pedro de Toledo y Leiva, Hầu tước Mancera: 1639 - 1648
Garcia Sarmiento de Sotomayor, Bá tước Salvatierra: 1648 - 1655
Luis Enriquez de Guzman, Bá tước Aliste Alba: 1655 - 1661
Diego de Benavides y de la Cueva, Bá tước Santisteban del Puerto: 1661 - 1666
Iturrizarra Bernard: 1666 - 1667
Pedro Antonio Fernandez de Castro, bá tước Lemos thứ mười: 1667 - 1672
Alvaro de Ibarra: 1672 - 1674
Baltasar de la Cueva Henriquez, Bá tước Castellar: 1674 - 1678
Melchor de Linan y Cisneros (Đức Tổng Giám mục Lima), Bá tước de la Puebla de los Valles: 1678 - 1681
Melchor de Navarra y Rocafull, Công tước của la Palata: 1681 - 1689
Melchor Portocarrero Lasso de la Vega, Conde de la Monclova: 1689 - 1705
Juan Peñalosa y Benavides: 1705 - 1707
Manuel de Oms y de Santa Pau, Marqués de Castelldosriu: 1707 - 1710
Miguel Núñez de Sanabria: 1710
Diego Ladrón de Guevara (Tổng giám mục Quito): 1710 - 1716
Mateo de la Mata Ponce de León (Oidor decano de la Real Audiencia de Lima: 1716
Diego Morcillo Rubio de Auñón (Tổng giám mục La Plata và Charcas): 1716
Carmine Nicolao Caracciolo, Príncipe de Santo Buono: 1716 - 1720
Diego Morcillo Rubio de Auñón (Tổng giám mục La Plata và Charcas): 1720 - 1724
José de Armendáriz, Marqués de Castelfuerte: 1724 - 1736
José Antonio de Mendoza Caamaño y Sotomayor, Marqués de Villagarcía: 1736 - 1745
José Antonio Manso de Velasco, Conde de Superunda: 1745 - 1761
Manuel de Amat y Juniet, Hầu tước của de Castellbel: 1761 - 1776
Manuel de Guirior, Hầu tước của de Guirior: 1776 - 1780
Agustín de Jáuregui y Aldecoa: 1780 - 1784
Teodoro de Croix, Caballero de Croix: 1784 - 1790
Francisco Gil de Taboada: 1790 - 1796
Ambrosio O'Higgins, Marqués de Osorno: 1796 - 1801
Manuel Arredondo y Pelegrín (Thẩm phán Hoàng gia Lima): 1801
Gabriel de Avilés y del Fierro, Marqués de Avilé: 1801 - 1806
José Fernando de Abascal y Sousa: 1806 - 1816
Joaquín de la Pezuela (Trung tướng): 1816 - 1821
José de la Serna e Hinojosa: 1821 - 1824
Pío de Tristán y Moscoso: 1824
=== Thời kỳ 1643-1713 ===
Các Phó vương đã bảo vệ bờ biển Thái Bình Dương khỏi những kẻ buôn lậu người Pháp và hải tặc người Anh và Hả Lan. Họ đã mở rộng lực lượng hải quân, củng cố các cảng Valdivia, Valpara íso, Arica và Callao và xây tường thành tại Lima năm 1686 và tại Trujillo từ năm 1685-1687. Thuy vậy, tên hải tặc nổi tiếng người Anh tên là Henry Morgan đã chiếm Chagres và giành được rồi sau đó cướp phá thành phố Panama trong những tháng đầu cuae năm 1670. Các lực lượng Peru cũng đã bị đẩy lui bởi những cuộc tấn công của Edward David (1684 và 1686), Charles Wager và Thomas Colb (1708) và Woldes (1709-1711). Hòa ước Utrecht đã đồng ý để người Anh gửi tàu và hàng hóa thẳng đến Portobello.
Trong thời kỳ này, các cuộc nổi dậy diễn ra thường xuyên. Khoảng năm 1656, Pedro Bohórquez đã tự lên ngôi Inca (hoàng đế) của người da đỏ Calchaquí, và sau đó đã khuyến khích những người bản địa nổi dậy. Từ năm 1665 cho đến 1668, có hai người chủ mỏ vàng tên là José và Gaspar Salcedo đã nổi dậy chống lại chính quyền thuộc địa. Giới tăng lữ đã chống đối việc bổ nhiệm tổng giám mục từ Tây Ban Nha. Phó vương Diego Ladrón de Guevara thi hành những hành động đàn áp có giới hạn một cuộc nổi sậy của nô lệ tại đồn điện ở Huachipa de Lima. Các trận động đất khủng khiếp cũng đã diễn ra tại phó vương quốc vào các năm 1655 và 1687, ngoài ra một số dịch bệnh lớn cũng đã xảy ra.
Dưới thời kỳ quản lý của Baltasar de la Cueva Enríquez, luật dành cho người Da đỏ đã được soạn thảo. Phó vương Diego Ladrón de Guevara đã tăng thêm sản lượng bạc tại các mỏ ở Potosí, và đã khuyến khích sản xuất tại các mỏ khác ở San Nicolás, Cojatambo và Huancavelica. Các nhà thờ Los Desamparados (1672), La Buena Muerte và chuyển đổi mục đích của Misnimos de San Francisco de Paula đã hoàn thành và mở cửa, Bệnh viện Espiritu Santo tại Lima và San Bartolomé đã được xây dựng
=== Cải cách Bourbon (1713-1806) ===
Năm 1717, Phó vương quốc Tân Granada được thành lập từ các lãnh thổ phía bắc, gồm các Audiencas Bogotá, Quito và Panama. Sau đó là thành lập Phó vương quốc Riso de la Plata từ các vùng phía nam mà nay là Argentina, Bolivia, Paraguay và Uruguay vào năm 1776. Hiệp ước Tordesillas được ký kết từ 256 năm trước đã bị thay thế bởi Hiệp ước Madrid vào năm 1750, hiệp ước mới này công nhận quyền kiểm soát của Bồ Đào Nha tại các vùng đất mà nước này đang sử dụng tại Nam Mỹ. Sự chiếm giữa này của Bồ Đào Nha đã dẫn tới Chiến tranh Guarani vào năm 1756.
Một số phó vương đã có ảnh hưởng về mặt khoa học, cginhs trị và kinh tế với Phó vương quốc, Manuel de Amat y Juniet đã chuẩn bị một đội viễn chinh tới Tahiti. Phó vương [[Teodoro de Croix cũng đã phi tập trung hóa quyền lực qua việc thành lập tám intendencias ở khu vực Audiencia Lima, và hai tại Tổng úy Chile.
Một trận động đất đã phá hủy Lima và Callao vào năm 1746. Phó vương Amat y Juniet sau đó đã xây dựng nhiều công trình công cộng khác nhau ở Lima, bao gồm đấu trường bò tót đầu tiên. Manuel de Guirior cũng đã cải tiến việc chăm sóc sức khỏe tại 10 bệnh viện ở Lima và thành lập một trại trẻ mồ côi.
Chiến tranh giữa Tây Ban Nha và Anh một lần nữa lại xảy ra (1739-1748) và đã dẫn tới việc Amat y Juniet đã cho xây dựng pháo đài Real Felipe tại Callao vào năm 1774. Tuy thế, trong suốt thời kỳ này, người da đỏ bản địa đã không bị đàn áp hoàn toàn. Chỉ riêng trong thế kỷ 18; đã có mười bốn cuộc nổi dậy lớn diễn ra, quan trọng nhất trong đó là của Juan Santos Atahualpa năm 1742, và Nổi dậy Sierra của Tupac Amaru II vào năm 1780. Cuộc nổi dậy Comunero đã khởi phát tại Paraguay từ năm 1721 đến 1732. Năm 1767, các thầy tu dòng Tên đã bị trục xuất ra khỏi thuộc địa.
=== Kết thúc (1806-1824) ===
Phó vương José Fernando de Abascal y Sousa đã ban hành các cải cách về giáo dục, tái tổ chức quân đội, và dập tắt các cuộc nổi dậy địa phương. Trong thời kỳ quản lý của ông, Tòa án dị giáo Lima đã bị hủy bỏ theo quyết định của Nghị viện tại Tây Ban Nha.
Khi các cuộc chiến tranh giành độc lập nổ ra vào năm 1810, Peru là trung tâm của những người bảo hoàng. Abascal đã cho sáp nhập trở lại các tỉnh Córdoba, Potosí, La Paz, Charcas, Chile và Quito (Ecuador) vào phó vương quốc Peru.
Năm 1812, chiến sự ác liệt tại Guayaquil đã tàn phá một nửa thành phố. Huân tước Cochrane, điều khiển một hải quân Chile mới thành lập, đã không thành công trong việc tấn công Guayaquil và El Callao, nhưng vào ngày 4 tháng 2 ông đã giành được Valdivia, một địa điểm chiến lược và điều này trở thành một sự củng cố rất lớn cho phó vương quốc. Tuy nhiên năm 1826, địa điểm này đã rơi vào tay những người nổi dậy. Tây Ban Nha đã thử cố gắng thu hồi lại những thuộc địa cũ nhưng đều vô ích và năm 1879, nước này đã chính thức công nhận nền độc lập của Peru.
== Chính trị ==
Thị trấn Lima do Pizarro thành lập vào ngày 18 tháng 1 năm 1535 với tên gọi "Ciudad de los Reyes" (Thành phố của các vị Vua/Đạo sĩ), đô thị này trở thành nơi đặt trụ sở của phó vương quốc. Với vai trò là nơi đặt trụ sở của một thực thể kiểm soát gần như toàn bộ Nam Mỹ, ngoại trừ khu vực Brasil do Bồ Đào Nha thống trị, Lima đã trở thành một thành phố hùng mạnh. Trong thế kỷ 16, 17 và hầu hết thế kỷ 18, tất cả sự giàu có của thuộc địa tại Nam Mỹ được tạo ra bởi khai thác bạc đã đi qua Lima để tới eo đất Panama rồi từ đó đi tới Sevilla, Tây Ban Nha. Khi bắt đầu thế kỷ 18, Lima đã trở thành một thành phố thuộc địa khang trang và có dáng vẻ quý phái, thành phố cũng là nơi đặt Đại học Hoàng gia và Giáo hoàng San Marcos và là thành trì chính của Tây Ban Nha tại châu Mỹ
Về mặt chính trị, phó vương quốc được chia tiếp thành các audiencias với vai trò tòa án tối cao, nhưng cũng có chức năng hành chính và lập pháp. Mỗi audiencias phải chịu trách nhiệm với phó vương Peru. Các đại phận nằm dưới sự de dọa về mặt quân sự được nhóm thành các tổng Đại úy, như Vương quốc Chile (thành lập năm 1541 và trở thành tổng đại úy năm 1789), những lãnh thổ này có quyền chỉ huy tương đối tự chủ về mặt quân sự và chính trị.
== Kinh tế ==
Khi Phó vương quốc Peru được thành lập, những kẻ xâm chiếm đã rất giàu có từ những mỏ vàng và bạc trên dãy núi Andes, và Peru trở thành nguồn cung cấp chính cho sự giàu sanh và sức mạnh của Tây Ban Nha ở Nam Mỹ. Đồng tiền đầu tiên được đúc cho Peru (mà thực ra cho cả Nam Mỹ) xuất hiện từ giữa những năm 1568 và 1570. Phó vương Manuel de Oms y de Santa Pau đã gửi một số tiền khổng lồ (1.600.000 peso) cho nhà vua để trang trải chi phí cho Chiến tranh Kế vị Tây Ban Nha. Đây có thể chỉ là một phần tài sản bởi đã có phát hiện về nhiều mỏ tại Caraboya. Vàng từ các mỏ tại Potosí, Bolivia đã được lưu hành trên khắp thế giới. Phó vương Luis Jerónimo Fernández de Cabrera đã ngăn cấm buôn bán trực tiếp giữa hai phó vương quốc Peru và Tân Tây Ban Nha, ngược đãi người Bồ Đào Nha gốc Do Thái, vốn là những nàh buôn chủ yếu ở Lima khi đó.
== Nhân khẩu ==
Một thống kê của Quipucamayoc cuối cùng cho biết có 12 triệu cư dân tại Inca Peru; 45 sau, dưới thời Phó vương Tiledo, con số thống kê cho thấy chỉ còn lại 1.100.000 người Anh-điêng (người da đỏ). Mặc dù hành động này chưa đến mức diệt chủng song kết quả gây ra là tương đương. Các thành phố Inca đã được sang tên thánh bằng tiếng Tây Ban Nha và được xây lại thành các đô thị của người Tây Ban Nha, mỗi trung tâm xung quanh quảng trường gồm có một nhà thờ đối diện với tòa nhà chính quyền. Chỉ một vài thành phố Inca như Cuzco vẫn giưa lại được các công trình nền bản địa của lớp gạch tường thành.
Phó vương José de Armendáriz đã tái lập hệ thống mag nhờ đó các những người Inca có thể chứng minh mình vốn là quý tộc sẽ được tái công nhận. Năm 1790, Phó vương Francisco Gil de Taboada đã tiến hành một cuộc thống kê dân số nghiêm túc. Tiếp đó, tàu chở những nô lệ da đen đã tới Peru vào năm 1806, một nam nô lệ trưởng thành được bán với giá 600 peso.
== Chú thích == |
rupiah.txt | Rupiah (Rp) là tiền tệ chính thức của Indonesia. Đồng tiền này được Ngân hàng Indonesia phát hành và kiểm soát, mã tiền tệ ISO 4217 của rupiah Indonesia là IDR. Ký hiệu sử dụng trên tiền giấy và tiền kim loại là Rp. Tên gọi này lấy từ đơn vị tiền tệ Ấn Độ rupee. Một cách không chính thức, dân Indonesia cũng dùng từ "perak" ('bạc' trong tiếng Indonesia) để gọi đồng tiền rupiah. Đơn vị đồng tiền rupiah được chia thành 100 sen, dù lạm phát đã khiến cho các đồng bạc giấy và tiền xu kim loại có mệnh giá sen không được sử dụng.
Đảo Riau và một nửa Indonesia của New Guinea (Irian Barat) đã từng có các biến thể riêng của rupiah, nhưng các đơn vị tiền tệ này đã được gộp vào rupiah quốc gia (Đảo Riau năm 1964, New Guinea năm 1971) (xem rupiah Riau và rupiah Tây New Guinea rupiah).
== Tỉ giá hối đoái hiện thời của đồng IDR ==
== Tham khảo == |
đá bia.txt | Đá Bia (tiếng Anh: Bamford Reef; giản thể: 龙虾礁; bính âm: Lóngxiā jiāo, Hán-Việt: Long Hà tiêu) là một rạn san hô thuộc cụm Sinh Tồn của quần đảo Trường Sa. Đá này nằm giữa đảo Sinh Tồn Đông ở ngay phía đông bắc và đá Ninh Hoà ở ngay phía tây nam.
Đá Bia là đối tượng tranh chấp giữa Việt Nam, Đài Loan, Philippines và Trung Quốc. Hiện chưa rõ nước nào thực sự kiểm soát đá này.
== Hình ảnh ==
== Tham khảo == |
philippe papin.txt | Philippe Papin là một nhà sử học người Pháp, tác giả của nhiều cuốn sách và bài báo về lịch sử và văn hóa Việt Nam, đặc biệt về lịch sử Hà Nội. Philippe Papin sinh năm 1967 tại Blois. Năm 1987, ông vào học ở trường Sư phạm Saint-Cloud và sau đó tốt nghiệp đại học tại Sorbonne. Philippe Papin hoàn thành luận án tiến sĩ với đề tài Lịch sử Hà Nội cuối thế kỷ 19, đầu thế kỷ 20.
Philippe Papin tới Việt Nam lần đầu vào năm 1988, khi đó vẫn còn là một đất nước chưa thực sự mở cửa đối với du khách phương Tây. Trong khoảng thời gian 1992 đến 1995, ông làm việc tại Đại học Quốc gia Hà Nội với tư cách trợ lý. Khi hết hợp đồng, Philippe Papin được nhận vào Viện Viễn Đông Bác cổ, nghiên cứu tại trung tâm của viện ở Hà Nội. Sống tại Hà Nội nhiều năm và lấy một người vợ Việt Nam, Philippe Papin đã viết nhiều cuốn sách và bài báo về Hà Nội. Histoire de Hanoi, nhà xuất bản Fayard phát hành năm 2001, được Papin tham khảo những tài liệu chính sử như Đại Việt sử ký toàn thư, hồi ký của người nước ngoài vào thế kỷ 17, các điều tra thực địa tại những đình, chùa... và tìm hiểu gia phả của các gia đình. Năm 2010, Histoire de Hanoi được Mạc Thu Hương, vợ của Philippe Papin, dịch ra tiếng Việt với tên Lịch sử Hà Nội, và được nhà xuất bản Mỹ thuật cùng Công ty Cổ phần Văn hóa và Truyền thông Nhã Nam phát hành.
== Tham khảo == |
hốt tất liệt.txt | Hốt Tất Liệt (23/9/1215 - 18/2/1294) (tiếng Mông Cổ: Хубилай хаан, chữ Hán: 忽必烈; bính âm: Hūbìliè) là đại hãn thứ năm của Mông Cổ đồng thời là người sáng lập ra nhà Nguyên. Ông là con trai thứ hai của Đà Lôi với vợ cả là Sorghaghtani Beki (Toa Lỗ Hòa Thiếp Ni), nhưng là con trai thứ tư khi tính cả các con của các bà vợ bé, cháu nội của Thành Cát Tư Hãn.
Năm 1260, Hốt Tất Liệt đã trở thành đại hãn của đế quốc Mông Cổ sau khi anh trai ông là đại hãn Mông Kha chết năm trước đó, mặc dù em trai ông là A Lý Bất Ca (Ariq Böke) cũng tự xưng là đại hãn tại kinh đô của đế quốc Mông Cổ vào thời điểm đó là Karakorum. Cuối cùng ông đã giành thắng lợi trước A Lý Bất Ca vào năm 1264, và mặc dù cuộc tranh giành quyền kế vị đã đánh dấu sự kết thúc của sự thống nhất chính trị trong nội bộ đế quốc Mông Cổ, nhưng đế quốc này về tổng thể vẫn là thống nhất và hùng mạnh. Ảnh hưởng của Hốt Tất Liệt vẫn còn mạnh tại hãn quốc Y Nhi và Kim Trướng hãn quốc, các phần phía tây của đế quốc Mông Cổ.
Năm 1271, Hốt Tất Liệt thành lập nhà Nguyên, vào thời gian đó kiểm soát các khu vực ngày nay thuộc Mông Cổ, Hoa Bắc, phần lớn miền tây Trung Quốc và các khu vực cận kề, và ông có địa vị của một Hoàng đế Trung Hoa. Năm 1279, quân đội nhà Nguyên cuối cùng đã đánh bại Nam Tống và như thế Hốt Tất Liệt đã trở thành hoàng đế Trung Hoa một cách đầy đủ. Miếu hiệu của ông là Nguyên Thế Tổ (tiếng Trung: 元世祖).
Dưới sự lãnh đạo của ông, đế quốc Mông Cổ đã đạt đỉnh điểm của sự hưng thịnh. Ông đã dời đô từ Hoa Lâm về Đại Đô tức Bắc Kinh ngày nay. Vào năm 1271 ông đã lập triều đại của người Mông Cổ mang tên nhà Nguyên. Năm 1279 quân đội của ông tiêu diệt nhà Nam Tống (1127-1279), thống nhất Trung Quốc.
Tất cả các vương quốc nằm cận kề với đế quốc Mông Cổ đều trở thành các nước chư hầu lệ thuộc. Hốt Tất Liệt còn có ước mộng thôn tính cả Nhật Bản, Đại Việt, Bagan và Java nhưng không thành. Mặc dù rằng Hốt Tất Liệt theo đạo Phật nhưng ông lại cũng để ý đến sự phát triển của đạo Kitô trên thế giới và đã mời các sứ giả truyền đạo này vào Trung Quốc. Ông cũng chú trọng đến việc phát triển các nghề thủ công, khoa học và nghệ thuật. Một trong những người ngoại quốc đã đến thăm triều đình này là Marco Polo.
== Thời kỳ đầu ==
Yếu tố có ảnh hưởng đáng kể và rõ nét nhất tới cuộc sống của Hốt Tất Liệt trong thời kỳ trẻ tuổi của ông là sự nghiên cứu và ưa thích nền văn hóa Trung Hoa đương thời. Năm 1251, anh trai ông là Mông Kha, một người theo Hồi giáo, trở thành Đại hãn của đế quốc Mông Cổ và Hốt Tất Liệt được giao quản lý các lãnh thổ phía nam của đế quốc. Trong những năm cai quản này, ông quản lý tốt vùng lãnh thổ đó, làm tăng sản lượng lương thực tại tỉnh Hà Nam và gia tăng các chi phí cho phúc lợi xã hội sau khi nhận thêm Tây An. Những hành động này nhận được sự ủng hộ lớn từ các lãnh chúa Trung Hoa và nó chính là nền tảng cơ bản cho việc xây dựng nhà Nguyên sau này.
Năm 1253, Hốt Tất Liệt được lệnh tấn công Vân Nam và ông đã tiêu diệt Vương quốc Đại Lý. Năm 1258, Mông Kha giao cho Hốt Tất Liệt làm chỉ huy cánh quân miền đông và yêu cầu ông hỗ trợ các cuộc tấn công vào Tứ Xuyên và một lần nữa vào Vân Nam. Trước khi Hốt Tất Liệt có thể tới đây vào năm 1259 thì ông nhận được tin là Mông Kha đã chết. Ông tiếp tục tấn công Vũ Hán, nhưng ngay sau khi nhận được tin rằng em trai ông là A Lý Bất Ca đã tổ chức một kurultai tại kinh đô của đế quốc ở Karakorum và lên làm đại hãn. Phần lớn các hậu duệ của Thành Cát Tư Hãn đều chọn A Lý Bất Ca làm đại hãn; tuy nhiên, hai người anh ruột của ông này là Hốt Tất Liệt và Húc Liệt Ngột (Hulegu) lại phản đối.
Hốt Tất Liệt nhanh chóng đạt được thỏa thuận đình chiến với quân đội Nam Tống và quay trở về vùng bình nguyên Mông Cổ ở phương bắc nhằm chống lại tuyên bố của A Lý Bất Ca về chức vụ đại hãn.
Sau khi trở về vùng lãnh thổ của mình, Hốt Tất Liệt triệu tập kurultai của chính mình. Chỉ một lượng nhỏ các thành viên hoàng tộc ủng hộ tuyên bố của Hốt Tất Liệt về quyền thừa kế chức vụ và họ vẫn công bố ông là đại hãn, cho dù đã có tuyên bố dường như là hợp pháp của em trai ông (A Lý Bất Ca).
Điều này sau đó dẫn tới nội chiến giữa hai anh em, dẫn tới sự phá hủy hoàn toàn kinh đô của đế quốc tại Karakorum. Hốt Tất Liệt chỉ giành được thắng lợi sau 4 năm, vào năm 1264. Tuy nhiên, sự kiện này cuối cùng đã đánh dấu sự kết thúc của đế quốc Mông Cổ thống nhất. Các hãn quốc miền tây trở thành độc lập trên thực tế (de facto) và hãn Hải Đô của hãn quốc Sát Hợp Đài (Chagatai), người cai trị phần lớn khu vực Tân Cương và Trung Á ngày nay, còn tiếp tục chống đối ông cho tới tận khi ông này mất vào năm 1301.
Trong thời kỳ nội chiến với A Lý Bất Ca, người quản lý Ích Châu là Li Tan đã nổi dậy chống lại sự cai trị của người Mông Cổ vào tháng 2 năm 1262. Hốt Tất Liệt đã ra lệnh cho Shi Tianze và Shi Shu dẹp loạn Li Tan. Hai đội quân này đánh bại cuộc nổi dậy của Li Tan sau vài tháng và Li Tan bị tử hình. Tử hình cũng là kết cục của Wang Wentong, cha vợ của Li Tan, người từng được chỉ định làm bình chương chính sự (tiếng Trung: 平章政事) của trung thư tỉnh (tiếng Trung: 中書省) trong giai đoạn đầu thời kỳ trị vì của Hốt Tất Liệt và là một trong số các quan lại người Hán được tin cậy nhất của ông. Sự kiện này đã làm ông mất niềm tin vào người Hán. Sau khi trở thành hoàng đế, ông cấm chỉ việc giao các chức vụ quan trọng cho các lãnh chúa gốc Hán.
== Hoàng đế nhà Nguyên ==
Hốt Tất Liệt chấp nhận các mô hình chính trị và văn hóa Trung Hoa, cố gắng giảm thiểu ảnh hưởng của các lãnh chúa địa phương, những người đã nổi lên nắm quyền lực trong thời kỳ cuối của nhà Tống. Tuy nhiên, do mất niềm tin vào người Hán nên ông đã chỉ định người Mông Cổ, người Trung Á, người Hồi giáo và một ít người châu Âu vào các vị trí cao hơn người Hán. Hốt Tất Liệt bắt đầu nghi ngờ người Hán khi con rể của một vị bình chương chính sự người Hán lại nổi dậy chống lại ông trong khi ông đang phải quyết đấu với A Lý Bất Ca tại Mông Cổ cho dù ông vẫn tiếp tục mời và sử dụng một số cố vấn người Hán như Lưu Bỉnh Trung, Hứa Hành và Diêu Xu.
Năm Chí Nguyên thứ 8 (1271), Hốt Tất Liệt chính thức tuyên bố lập ra nhà Nguyên và đặt kinh đô tại Đại Đô (tiếng Trung: 大都; Wade-Giles: Ta-tu, nghĩa là "kinh đô lớn", ngày nay là Bắc Kinh) hay còn gọi là Hãn Bát Lý (Khanbaliq) vào năm sau đó. Kinh đô mùa hè của ông đặt tại Thượng Đô (tiếng Trung: 上都, nghĩa là "kinh đô trên", hay Xanadu, gần với Đa Luân (多伦) ngày nay). Để thống nhất Trung Quốc, Hốt Tất Liệt bắt đầu một chiến dịch rộng lớn chống lại những lực lượng còn sót lại của Nam Tống vào năm Chí Nguyên thứ 11 (1274) và cuối cùng tiêu diệt Nam Tống vào năm Chí Nguyên thứ 16 (1279), thống nhất toàn bộ Trung Hoa.
Nội Trung Hoa và Mông Cổ được chia thành 10 hành trung thư tỉnh (行中書省) hay hành tỉnh (行省) trong thời kỳ trị vì của ông với 1 hành thượng thư tỉnh và 1 hành thị lang tỉnh đứng đầu. Bên cạnh 10 hành tỉnh là khu vực trung tâm (tiếng Trung: 腹裏 = Phúc Lý), bao gồm phần lớn Hoa Bắc ngày nay, được coi là khu vực quan trọng nhất của nhà Nguyên và do trung thư tỉnh tại Đại Đô trực tiếp quản lý. Ngoài ra, Tây Tạng cũng do một cơ quan cấp cao khác là Tuyên chính viện (tiếng Trung: 宣政院) quản lý trực tiếp.
Ông quản lý điều hành công việc triều chính khá tốt, khuyến khích phát triển kinh tế với việc cho xây dựng lại Đại Vận Hà, sửa chữa các tòa nhà công và mở rộng đường đi lối lại. Tuy nhiên, chính sách đối nội của Hốt Tất Liệt cũng bao gồm một số khía cạnh của các truyền thống Mông Cổ cũ, và trong khi Hốt Tất Liệt tiếp tục công việc trị vì của mình thì những truyền thống này va chạm ngày càng thường xuyên hơn với kinh tế và văn hóa xã hội Trung Hoa truyền thống.
Năm 1273, ông cho phát hành một loạt mới các giấy bạc được nhà nước bảo đảm, được sử dụng trong khắp đất nước, mặc dù cuối cùng do thiếu các kỹ năng, kỷ luật tài chính và lạm phát đã làm cho bước đi này trở thành thảm họa kinh tế đối với triều đại này trong những năm sau đó. Việc thanh toán được thực hiện bằng tiền giấy gọi là sáo. Để đảm bảo việc sử dụng nó, chính quyền Hốt Tất Liệt đã sung công vàng, bạc từ các cá nhân cũng như từ thương nhân ngoại quốc. Thay vì thế, các thương nhân được nhận giấy bạc do nhà nước ban hành theo tỷ lệ quy đổi. Điều này giải thích tại sao Hốt Tất Liệt được coi là người đầu tiên tạo ra tiền pháp định. Giấy bạc làm cho việc thu thuế và quản lý một đế quốc rộng lớn trở nên dễ dàng hơn trong khi làm giảm chi phí vận chuyển tiền kim loại. Sau này Gaykhatu (Hải Hợp Đô) của hãn quốc Y Nhi cũng có ý định áp dụng hệ thống này tại Ba Tư và Trung Đông, nhưng đã hoàn toàn thất bại và ông này bị ám sát ngay sau đó.
Ông cũng cho phát triển các bộ môn nghệ thuật châu Á và chấp nhận những khác biệt về tôn giáo, ngoại trừ khi đề cập tới Đạo giáo. Một số người châu Âu đã từng đặt chân tới đây, đáng chú ý trong số này có Marco Polo trong thập niên 1270, người có thể đã từng nhìn thấy kinh đô mùa hè tại Thượng Đô.
=== Đối ngoại ===
Hốt Tất Liệt buộc Cao Ly (Triều Tiên) phải trở thành chư hầu vào năm 1260. Nhà Nguyên giúp Nguyên Tông (원종) của Cao Ly bình ổn sự kiểm soát của ông này tại Triều Tiên vào năm 1271. Hốt Tất Liệt cũng có ý định thiết lập mối quan hệ triều cống với các quốc gia khác, nhưng bị cự tuyệt. Dưới áp lực từ các cố vấn người Mông Cổ, Hốt Tất Liệt quyết định xâm lăng Nhật Bản, Myanma, Đại Việt và Java. Những cố gắng thất bại và tốn kém này, cùng với sự lưu thông tiền giấy đã gây ra lạm phát. Tuy nhiên, ông cũng đã buộc các lãnh chúa từ tây bắc và đông bắc phải đầu hàng, đảm bảo sự ổn định tại các khu vực này.
==== Xâm lược Nhật Bản ====
Hốt Tất Liệt hai lần có ý định xâm chiếm Nhật Bản; tuy nhiên, cả 2 lần, người ta tin rằng thời tiết xấu hoặc các lỗi kỹ thuật trong chế tạo tàu thuyền đã phá hủy hạm đội thủy quân của ông. Ý định xâm chiếm thứ nhất diễn ra vào năm 1274, với hạm đội gồm 900 tàu thuyền. Lần xâm chiếm thứ hai diễn ra vào năm 1281, với hạm đội có trên 1.170 thuyền chiến lớn, mỗi chiếc dài tới 73 m (240 ft). Chiến dịch này được tổ chức không tốt và hạm đội của người Triều Tiên đã tới Nhật Bản trước hạm đội của nhà Nguyên khá lâu.
Tiến sĩ Kenzo Hayashida, một nhà khảo cổ học biển, người đứng đầu nhóm điều tra đã phát hiện ra các mảnh vỡ của hạm đội xâm chiếm lần thứ hai ngoài khơi miền tây Dokdo. Các vật tìm thấy của nhóm này chỉ ra rằng Hốt Tất Liệt rất vội xâm chiếm Nhật Bản và cố gắng xây dựng hạm đội hùng mạnh chỉ trong vòng 1 năm (một công việc mà đúng ra phải mất ít nhất 5 năm). Điều này buộc nhà Nguyên phải sử dụng mọi loại thuyền có thể, từ những thuyền nhỏ chuyên chạy trên sông, nhằm đạt được sự sẵn sàng sớm hơn. Quan trọng nhất, người Trung Quốc, khi đó dưới sự thống trị của Hốt Tất Liệt, buộc phải dựng ra nhiều tàu thuyền nhanh hơn nhằm đảm bảo góp đủ cơ số tàu thuyền cho cả hai lần xâm chiếm. Hayashida giả đinh rằng, nếu Hốt Tất Liệt sử dụng các tàu thuyền đi biển tiêu chuẩn, được chế tạo tốt, với sống thuyền cong để ngăn cản sự lật úp thì thủy quân của ông có thể đã vượt qua được cuộc hành trình dài này tới Nhật Bản và có thể đã có khả năng chiếm được đất nước này.
David Nicolle viết trong The Mongol Warlords rằng "Những mất mát lớn cũng phải gánh chịu khi nói về số thương vong và chi phí vô ích, trong khi huyền thoại về sự bất khả chiến bại của người Mông Cổ đã bị tiêu tan trong khu vực Đông Á". Ông cũng viết rằng Hốt Tất Liệt đã có ý định xâm chiếm lần thứ ba vào Nhật Bản, cho dù phải trả một giá đắt khủng khiếp cho nền kinh tế cũng như cho tiếng tăm của ông và của đội quân Mông Cổ thiện chiến trong 2 lần xâm lược đầu tiên và chỉ có cái chết của ông cùng sự nhất trí của các cố vấn về việc không xâm chiếm nữa mới ngăn được ý định lần thứ ba này.
Năm 1293, thủy quân nhà Nguyên bắt được 100 người Nhật từ Okinawa.
==== Xâm lược Đại Việt ====
Quân đội nhà Nguyên cũng hai lần xâm chiếm Đại Việt. Lần xâm chiếm đầu tiên (lần thứ hai của đế quốc Mông Cổ) bắt đầu vào tháng 12 âm lịch năm 1284 khi quân đội Mông Cổ dưới sự chỉ huy của Trấn Nam vương Thoát Hoan (con trai thứ chín của Hốt Tất Liệt) và A Lý Hải Nha, vượt qua biên giới và nhanh chóng chiếm được Thăng Long (nay là Hà Nội) vào đầu tháng 1 âm lịch năm 1285 sau thắng lợi của đội quân do Ô Mã Nhi chỉ huy tại Vạn Kiếp và Phả Lại (đông bắc Thăng Long). Cùng thời gian đó, đội quân do Toa Đô chỉ huy sau khi tấn công Chiêm Thành bằng đường qua Lão Qua cũng di chuyển về phía bắc và nhanh chóng tiến tới Nghệ An (phía bắc miền Trung Việt Nam ngày nay) vào cuối tháng 1 âm lịch, tại đây đội quân nhà Trần dưới sự chỉ huy của Trần Kiện nhanh chóng đầu hàng. Tháng 2 âm lịch, Trần Bình Trọng đánh quân Nguyên tại bãi Đà Mạc, bị thua và bị giết. Tháng 3 âm lịch, Trần Lộng, Trần Ích Tắc và gia thuộc cũng đầu hàng quân Nguyên. Tuy nhiên, hai vua Trần và Quốc công tiết chế Hưng Đạo vương Trần Quốc Tuấn đã thay đổi chiến thuật từ phòng ngự sang phản công và một lần nữa đánh bại quân Mông Cổ. Tháng 4 âm lịch, tướng Trần Nhật Duật giành thắng lợi trong trận Hàm Tử (nay thuộc tỉnh Hưng Yên). Tháng 5 âm lịch, tướng Trần Quang Khải đánh bại Toa Đô tại Chương Dương (nay thuộc Hà Nội) và sau đó các vua Trần đã giành thắng lợi trong trận chiến lớn tại Tây Kết nơi Toa Đô bị giết chết. Ô Mã Nhi trốn qua cửa sông Thanh Hoá, hai vua Trần đuổi theo nhưng không kịp, bắt được hơn 5 vạn dư đảng đem về, Ô Mã Nhi chỉ còn một chiếc thuyền vượt biển trốn thoát. Trong khi đó, đội quân của Thoát Hoan và Lý Hằng bị Trần Hưng Đạo đánh bại tại Vạn Kiếp, phải bỏ chạy về Tư Minh. Lý Hằng bị bắn chết còn Thoát Hoan phải chui vào ống đồng mới thoát được. Hốt Tất Liệt đã thất bại trong cố gắng đầu tiên của mình nhằm xâm chiếm Đại Việt.
Lần xâm chiếm thứ hai vào Đại Việt của quân đội nhà Nguyên diễn ra vào cuối năm 1287 và được tổ chức tốt hơn so với lần trước, với việc đưa vào lực lượng thủy quân lớn hơn và nhiều lương thực thực phẩm hơn. Quân đội Mông Cổ, dưới sự chỉ huy của Thoát Hoan, tiến tới Vạn Kiếp và hội quân tại đây với quân đội của Ô Mã Nhi và quân Nguyên cũng nhanh chóng giành được thắng lợi ban đầu rồi xuôi dòng về phía đông. Thủy quân của nhà Nguyên nhanh chóng giành được thắng lợi tại Vân Đồn (thuộc tỉnh Quảng Ninh ngày nay) nhưng thuyền chở lương thực, thực phẩm nặng nề đi sau lại bị tướng Trần Khánh Dư đánh tan. Kết quả là quân Mông Cổ tại Thăng Long bị thiếu lương thực, thực phẩm trầm trọng. Không có lương thực, thực phẩm tiếp tế, Thoát Hoan buộc phải rút quân khỏi Thăng Long về Vạn Kiếp. Các nhóm bộ binh của nhà Trần được lệnh tấn công quân đội Mông Cổ tại Vạn Kiếp.
Đầu tháng 3 âm lịch năm 1288 thủy quân của Ô Mã Nhi tiến tới sông Bạch Đằng để đón thuyền lương do Trương Văn Hổ chỉ huy. Một đội thủy quân nhỏ của Đại Việt ra khiêu chiến và nhanh chóng rút lui để nhử thủy quân nhà Nguyên vào bãi cọc nhọn. Quân Nguyên trúng kế và rơi vào trận địa mai phục sẵn của Đại Việt. Hàng nghìn thuyền nhẹ của Đại Việt từ hai bên bờ nhanh chóng xuất hiện, tấn công dữ dội và đánh tan sức kháng cự từ quân Nguyên. Quân đội Mông Cổ cố gắng rút lui ra biển trong sự hoảng loạn. Bị va phải cọc, thuyền của họ bị vỡ hay mắc kẹt, nhiều thuyền bị chìm. Quân Nguyên phải nhảy xuống sông để bơi vào bờ, bị chết đuối rất nhiều. Các tướng như Áo Lỗ Xích, Ô Mã Nhi, Tích Lệ Cơ Ngọc, Sầm Đoàn, Phàn Tiếp v.v bị bắt sống. Cùng thời gian đó, quân đội Đại Việt liên tục tấn công và đánh tan đội quân của Thoát Hoan trên đường rút chạy qua Lạng Sơn. Cố gắng lần hai của Hốt Tất Liệt trong việc xâm chiếm Đại Việt cũng tan thành mây khói.
Mặc dù các thất bại này đã kết thúc giấc mơ của Hốt Tất Liệt trong việc mở rộng lãnh thổ về phía nam, đặc biệt nhằm để kiểm soát con đường gia vị. Tuy nhiên trong giai đoạn 1288-1293, các quốc gia như Đại Việt, Chiêm Thành và Sukhothai đều lần lượt công nhận uy quyền tối cao của Hốt Tất Liệt để tránh xảy ra chiến tranh thêm nữa.
== Cuối đời ==
Hốt Tất Liệt ban đầu có ý định đưa con trai thứ hai là Chân Kim (真金) làm người kế vị ông. Chân Kim đã trở thành người đứng đầu của trung thư tỉnh và tích cực điều hành công việc triều chính theo kiểu Nho giáo. Thật không may, Chân Kim chết năm 1285, 9 năm trước khi Hốt Tất Liệt qua đời. Mặt khác, Hốt Tất Liệt cũng bị bệnh gút nặng trong những năm cuối đời. Ông tăng cân nhanh vì ưa thích ăn các món đặc sản nguồn gốc động vật. Điều này làm gia tăng nhanh lượng purin trong máu của ông, dẫn tới việc làm trầm trọng thêm các vấn đề với bệnh gút và cuối cùng dẫn tới cái chết năm 1294. Việc ăn quá nhiều của ông có thể có liên quan tới cái chết của bà vợ yêu quý nhất của ông cũng như của người ông đã chọn làm người kế vị là Chân Kim. Trước khi chết năm 1294, Hốt Tất Liệt đã chọn con trai của Chân Kim là Thiết Mộc Nhĩ làm thái tử và ông này đã trở thành vị hoàng đế thứ hai của nhà Nguyên, tức là Nguyên Thành Tông.
== Tiểu thuyết hoá ==
Hốt Tất Liệt được tiểu thuyết hoá trở thành một nhân vật trong truyện Thần điêu hiệp lữ của Kim Dung. Trong truyện này ông là người đứng ra chiêu nạp đám cao thủ võ lâm Kim Luân Pháp Vương, Tiêu Tương Tử, Doãn Khắc Tây,Sóng Gió Nguyên Triều v.v. âm mưu tiêu diệt các cao thủ Đại Tống.
== Tham khảo ==
Morgan David. The Mongols (Blackwell Publishers; Tái bản, tháng 4 năm 1990), ISBN 0-631-17563-6.
Rossabi Morris. Khubilai Khan: His Life and Times (Nhà in Đại học California (1-5-1990)) ISBN 0-520-06740-1.
Saunders J. J. The History of the Mongol Conquests (Nhà in Đại học Pennsylvania (1-3-2001)) ISBN 0-8122-1766-7.
Man John. "Kublai Khan"
Man John. "Genghis Khan"
== Liên kết ngoài ==
Lạm phát dưới thời Hốt Tất Liệt
Relics of the Kamikaze (Viện Khảo cổ Mỹ)
== Ghi chú == |
huy hiệu ohio.txt | Đại Huy hiệu Tiểu bang Ohio (tiếng Anh: The Great Seal of the State of Ohio) gồm có huy hiệu vòng tròn của Ohio và "THE GREAT SEAL OF THE STATE OF OHIO", viết chung quanh theo kiểu Gôtic báo. Huy hiệu Ohio có một bó mì, tượng trưng nông nghiệp và thịnh vượng; một bó 17 mũi tên, tượng trưng Ohio được nhận vào Hoa Kỳ là tiểu bang thứ 17; hình Núi Logan, Quận Ross, nhìn từ Đài Kỷ niệm Tiểu bang Adena; ba phần tư của Mặt Trời đằng sau núi, tỏa ra 13 tia nắng để tượng trưng 13 tiểu bang đầu tiên, chiếu sáng vào tiểu bang đầu tiên của Lãnh thổ Tây Bắc; và hình sông Scioto và sân cỏ.
Đại hội đồng Ohio, cơ quan lập pháp của tiểu bang, đã định rõ huy hiệu tiểu bang trong Bộ luật Cập nhật Ohio, chương 5, đoạn 4. [1] Đại Huy hiệu được định rõ vào đoạn 10. [2] Định nghĩa này thay đổi khoảng 10 lần trong lịch sử Ohio.
== Xem thêm ==
Đối với Thiên Chúa, mọi sự đều có thể được là tiêu ngữ (motto) của tiểu bang Ohio.
== Tham khảo ==
== Liên kết ngoài ==
Điều 5.04 của Bộ luật Cập nhật Ohio (Lawriter) – định rõ huy hiệu (coat of arms) (tiếng Anh)
Điều 5.10 của Bộ luật Cập nhật Ohio (Lawriter) – định rõ huy hiệu (seal) (tiếng Anh)
Lịch sử của Đại Huy hiệu, từ Netstate.com (tiếng Anh) |
việt hương.txt | Việt Hương, tên thật Nguyễn Việt Hương (sinh ngày 15 tháng 10 năm 1976) là diễn viên hài, diễn viên điện ảnh, MC và là giám khảo ở một số gameshow tại Việt Nam.
== Tiểu sử ==
Việt Hương sinh trưởng tại thành phố Hồ Chí Minh. Ba cô là nghệ sĩ xiếc Lâm Bằng.
Khi ba mẹ chia tay, Việt Hương đã trải qua những ngày tháng buồn nhất của cuộc đời vì thiếu vắng tình thương đầy đủ của gia đình. Để có tiền phụ giúp mẹ, Việt Hương phải trải qua rất nhiều công việc. Cô nhận show đi hát ở nhà hàng, quán ăn. Không chỉ đi hát, cô còn nhận làm cả những công việc lao động vất vả để kiếm tiền.
Kể từ khi còn là sinh viên Trường Nghệ thuật Sân khấu II (nay gọi là Trường Đại học Sân khấu - Điện ảnh Thành phố Hồ Chí Minh), Việt Hương đã được Huy chương Bạc cho Diễn viên xuất sắc trong Hội diễn Sân khấu Kịch nói Chuyên nghiệp Toàn quốc vào năm 1995 với vai Liên trong vở Trò Đùa Người Lớn. Ngay sau khi tốt nghiệp vào năm 1997, cô được mời vào nhiều vai diễn kịch dài như vở Nữ Sinh, Hoài Thu Của Tôi, v.v... Từ năm 1998 đến 2004, cô là một trong những diễn viên chính của Sân khấu Kịch Sài Gòn (Pasteur, Quận 1). Năm 1999, Việt Hương một lần nữa giành được Huy chương Vàng cho Diễn viên Xuất sắc trong Liên hoan Sân khấu Chuyên nghiệp Toàn quốc.
Sau khi được mời diễn cùng nhiều nhóm hài đình đám thời đó, cô đã quyết định lập nhóm hài riêng của mình vào năm 2002. Ba năm liên tiếp, từ năm 2003 đến năm 2005, Việt Hương đoạt Nhóm Hài được yêu thích nhất trong Gala Cười (VTV3 - Đài Truyền hình Việt Nam). Tạp chí Sân khấu bình chọn cô làm Nữ Diễn viên xuất sắc nhất của năm 2004. Trong năm 2005, Việt Hương đoạt giải Mai Vàng cho Diễn viên Chính Kịch vở Sự cám dỗ dịu dàng, một trong những giải thưởng uy tín của Báo Người Lao động. Năm 2007, cô được khán giả bình chọn là Nghệ sĩ Hài được yêu thích nhất giải HTV Award (Đài truyền hình Thành phố Hồ Chí Minh). Việt Hương còn đá sân đến lĩnh vực sân khấu cải lương trong những vở Hoa đồng cỏ nội, Chiếc áo Thiên Nga, Thúy Kiều.
Từ khi lấy chồng xa xứ nơi quê nhà Kobani định cư tại California, Hoa Kỳ. vào cuối năm 2007 cho đến hiện tại, Việt Hương đã liên tục cộng tác với Trung tâm Thúy Nga và xuất hiện trong nhiều cuốn DVD Paris By Night, một sản phẩm giải trí được nhiều người xem nhất của người Việt tại hải ngoại.
Là một trong số những diễn viên hài Việt Nam được yêu thích nhất, cô cùng bạn diễn Hoài Tâm lưu diễn khắp nơi trên thế giới như: Đức, Pháp, Thụy Sĩ, Na-Uy, Đan Mạch, Hà Lan, Anh, Ailen, Cộng hòa Séc, Ba Lan, Nga, Úc, New Zealand, Nhật Bản, Đài Loan, Singapore, Canada,... và khắp các tiểu bang tại Hoa Kỳ. Việt Hương đã phát hành gần 20 đĩa DVD hài của mình và xuất hiện trong hàng ngàn tiểu phẩm hài và vở kịch khác mà đã được bán bất cứ nơi nào có người Việt trên toàn thế giới. Tuy định cư tại hải ngoại Việt Hương vẫn thường xuyên được mời hợp tác trong các chương trình tại Việt Nam.
Ngoài việc là một diễn viên hài, Việt Hương còn xuất hiện trên điện ảnh với những vai diễn ấn tượng trong những bộ phim ăn khách như Nhà có 5 nàng tiên, Quý Tử Bất Đắc Dĩ, Đời Như Ý, Duyên Trần Thoát Tục, Cưới Chạy, Tía tui là cao thủ (2016) và nhiều bộ phim truyền hình dài tập như Dạ Khúc Nguyệt Cầm, Hai Người Cha, Yêu Thuê, Chàng Mập Nghĩa Tình, v.v...
Với sự bùng nổ của truyền hình thực tế, Việt Hương liên tục xuất hiện trên màn ảnh truyền hình với vai trò giám khảo, MC,... trong những chương trình game show hoặc tuyển chọn tài năng như Vietnam's Got Talent, VStar-Kids, Cười Xuyên Việt, Bí mật đêm Chủ Nhật (Whose Line is it Anyway?), Ơn giời cậu đây rồi! (Thank God You Are Here), Thách thức danh hài (Crack Them Up), Người bí ẩn (Odd One In), A-Ha (Aha!, Japan), Hội ngộ danh hài (Sân khấu nghiêng), Tài Tiếu Tuyệt, Chuẩn cơm mẹ nấu, v.v...
== Sự nghiệp ==
=== Tiểu phẩm hài ===
==== Gala Cười ====
Đặc sản rắn rùa (2003) - vai Má mì
Tuyển diễn viên (2003) – vai người bán bánh giò
Lấy chồng ngoại quốc (2004)
Yêu trò (2004)
Sống giả chết giả (2005) – vai bé Đởi
Tỷ phú (2005) – vai chị Tám
Trúng số độc đắc (2005) - bà Tám
Titanic – cô bán bánh giò
==== Blue Ocean ====
Gia đình vui vẻ (Đại hội các danh hài 1)
Siêu tiếp thị (Đại hội các danh hài 2)
Đôi vòng kỳ lạ (Đại hội các danh hài 4)
Trai tài gái sắc (Đại hội các danh hài 5)
Đàn ông là như thế (Đại hội các danh hài 7)
Bông và hoa (Đại hội các danh hài 8)
Vỏ quýt dày, Móng tay nhọn (Đại hội các danh hài 9)
Hội lô tô (Vườn hoa âm nhạc và tiếng cười 3)
Xin anh đừng hứa (Vườn hoa âm nhạc và tiếng cười 4)
Đố vui bé học tiếng Việt (Vườn hoa âm nhạc và tiếng cười 9)
==== Tình ====
Điệp vụ trong bóng mờ (Tình Đặc Biệt MTV 02)
Kế nam nhân (Tình Đặc Biệt MTV 02) – vai Tư Kẽm
Ước mơ sao (Tình Đặc Biệt MTV 104)
3 trong 1 (Tình Đặc Biệt MTV 104)
Đám rác (Quê hương - Tình yêu- Tuổi trẻ)
==== Hội ngộ danh hài ====
Chuyện gia đình
Ghen
Đi đẻ
Mê giai
Chuyện vợ chồng
Chuyện công viên
Chuyện tình không tuổi
Tình già
Hai trống một mái
Cô dâu Hàn kiều
Đường cong
==== Ơn giời cậu đây rồi ====
Chuyện chàng Chí
Má hồng đánh ghen
Vợ hỏi cung
Gã đầu bếp dễ thương
Cha và con trên du thuyền chục tỷ
Hẹn hò 1
Lễ hấp hôn
Súng nước cướp nhà băng
Hẹn hò 2
Cao bồi trông trẻ
Kẻ đốt đền
Trăng mật trong rừng
Gia chủ hà tiện
Thợ sửa ống nước
Chuyện tình già
==== Tài tiếu tuyệt ====
Gánh bún bấp bênh
Geisha
Tiểu yến xào
Lính ngự lâm – vai Hoàng Hậu
=== Albums ===
=== Kịch nói ===
Ba Giai, Tú Xuất - vai Hương
Bến đục bến trong - vai Vui
Cha yêu - vai Hồng
Chỉ một lời hứa
Đêm tình yêu - bà Mười
Hoa mướp vàng - vai Hương
Hoài Thu của tôi - vai bé Hoài Thu
Làm người ai làm thế - vai cô gái bán kẹo kéo dạo
Lấy chồng xứ lạ - vai Má mì
Người cha - vai Hai Hương (Trương Mạn Ngọc)
Người đẹp và tên trùm - vai Nguyệt
Nữ Sinh - vai Cúc Hương
Ốc mượn hồn - vai Tố Tố
Sự cám dỗ dịu dàng - vai Hoài Diễm
Taxi may mắn - vai bà Diệp
Thiên thần gõ cửa - vai bà chủ cho thuê VCD
Tình cha - vai dì Sáu
Trạng chết chúa băng hà – vai nô tì
Trò đùa người lớn - vai bé Liên
Yêu thầy - vai chị Hai
=== Cải lương ===
Chiếc áo Thiên Nga
Hoa đồng cỏ nội
Sông dài
Thúy Kiều
=== Ca khúc ===
Anh chàng thôn quê (hát cùng Anh Vũ)
Bài ca ngợi quê hương (hát cùng Hoài Tâm)
Cây Cầu Dừa (hát cùng Hoài Tâm)
Chảy đi sông ơi (hát cùng tập thể nghệ sĩ hài miền nam)
Chuyện chúng mình (hát cùng Hoàng Mập)
Cưới em (hát cùng Hoàng Mập)
Con trai con gái (hát cùng Hoài Tâm)
Đường cong (hát cùng Chí Tài)
Đường xa ướt mưa (hát cùng Trấn Thành)
Khi xưa ta bé (hát cùng Hoài Tâm)
Lý cờ bạc (hát cùng Hoài Tâm)
Mong đợi ngậm ngùi (hát cùng Hoàng Mập)
Nỗi buồn chim sáo (hát cùng Hoàng Mập, Đông Dương)
Ngày xuân vui cưới (hát cùng Huy Đức)
Táo quân (hát cùng Huy Đức)
Giọt lệ đài trang (hát cùng Hoàng Mập)
Rap Đất Phương Nam (hát cùng Tô Gia Tuấn)
Sao anh vô tình
Sinh đẻ có kế hoạch (hát cùng Tô Gia Tuấn)
Thà trắng thà đen (hát cùng Hoài Tâm)
Thằng Bờm
Thiên Duyên Tiền Định (hát cùng Huy Đức)
Tình cờ gặp nhau (hát cùng Đông Dương)
Tình có như không (hát cùng Hoài Tâm)
Tình ơi, tại ai (hát cùng Tấn Hoàng)
Vầng trăng cô đơn (hát cùng Hoài Tâm)
Xuân Vạn Phúc (hát cùng Anh Vũ, NSƯT Thoại Mỹ)
=== Phim đã tham gia ===
=== Truyền hình ===
==== Dẫn chương trình ====
A-ha 2014, 2015 (HTV)
Ăn vặt cùng người nổi tiếng 2015 (Việt Hương TV - YouTube)
Đàn ông phải thế (My Man Can) 2015, 2016 (HTV)
Chuẩn cơm mẹ nấu (My mom cooks better than yours) 2015, 2016 (VTV)
Siêu nhí tranh tài 2016 (THVL1)
==== Giám khảo ====
Cùng nhau tỏa sáng 2014, 2015 (Khách mời, tập 7, chung kết)
Cười Xuyên Việt 2015, (khách mời Chung kết)
Tôi là người chiến thắng (The Winner Is) 2014
Người bí ẩn (Odd One In) 2014, 2015 (HTV, Đông Tây Promotion)
VStar-Kids 2015 (VietFaceTV)
Thử thách người nổi tiếng (Get Your Act Together) 2015 (THVL)
Cười Xuyên Việt (phiên bản Nghệ sĩ) 2015 (THVL)
Thách thức danh hài (Crack Them Up) 2015
Vietnam's Got Talent 2016
Làng hài mở hội, 2016 (THVL1)
Người Nghệ sĩ đa tài 2016 (THVL1)
Lò võ tiếu lâm 2016
Ca sĩ Bí ẩn 2017 (HTV7)
==== Diễn viên ====
Bí mật đêm Chủ Nhật (Whose Line Is It Anyway?) 2015
Hội Ngộ Danh Hài 2013, 2014, 2015, 2016 (HTV, Đông Tây Promotion)
Ơn giời cậu đây rồi! (Thank God You Are Here) 2014, 2015 (VTV3)
Tài Tiếu Tuyệt 2013-2015 (HTV)
Song đấu 2016 (VTV3, Đông Tây Promotion)
Chuyện của Nàng (THVL1), 2015
Ai cũng Bật Cười (HTV2), 2016
== Các tiết mục biểu diễn trên sân khấu hải ngoại ==
=== Trung tâm Vân Sơn ===
=== Trung tâm Thúy Nga ===
== Vinh danh ==
Hội diễn Sân khấu Kịch nói Chuyên nghiệp Toàn quốc: Huy chương Bạc (1995) vai Liên trong vở “Trò đùa của người lớn”
Liên hoan Sân khấu Chuyên nghiệp Toàn quốc: Huy chương Vàng - Diễn viên Xuất sắc (1999)
Gala Cười: Nhóm Hài được yêu thích nhất (2003, 2004, 2005)
Tạp chí Sân khấu: Nữ Diễn viên Xuất sắc Nhất của năm 2004
Giải Mai vàng: Diễn viên Chính Kịch vở Sự cám dỗ dịu dàng (2005)
Giải HTV Awards: Nghệ sĩ Hài Được Yêu thích Nhất (2007)
Phụ nữ của năm: Báo Phụ nữ Việt Nam (2016)
== Xem thêm ==
== Tham khảo ==
== Liên kết ngoài == |
chu lai (nhà văn).txt | Đại tá, nhà văn Chu Lai có tên khai sinh là Chu Văn Lai, sinh ngày 5 tháng 2 năm 1946, tại xã Hưng Đạo, huyện Phù Tiên nay là huyện Tiên Lữ, tỉnh Hưng Yên, hiện đang ở Hà Nội. Ông là đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam, hội viên Hội Nhà văn Việt Nam (từ năm 1980).
== Cuộc đời ==
Ông là con trai của nhà viết kịch Học Phi. Trong chiến tranh Việt Nam ông công tác trong đoàn kịch nói Tổng cục Chính trị rồi trở thành chiến sĩ đặc công hoạt động trong vùng Sài Gòn. Sau 1973, ông về làm trợ lý tuyên huấn Quân khu 7. Đến cuối năm 1974 ông tham dự trại sáng tác văn học Tổng cục Chính trị và sau đó học tại Trường Viết văn Nguyễn Du khóa 1. Sau khi tốt nghiệp, ông biên tập và sáng tác cho Tạp chí Văn nghệ Quân đội. Nhà văn Chu Lai còn viết một số kịch bản sân khấu, kịch bản phim và tham gia đóng phim.
== Một số tác phẩm ==
=== Tiểu thuyết ===
Nắng đồng bằng (1978)
Đêm tháng hai (1979)
Sông xa (1986)
Gió không thổi từ biển (1984)
Vòng tròn bội bạc (1987)
Bãi bờ hoang lạnh (1990)
Ăn mày dĩ vãng (1991)
Phố (1992)
Ba lần và một lần (1999)
Cuộc đời dài lắm (2001)
Khúc bi tráng cuối cùng (2004)
Chỉ còn một lần (2006)
=== Truyện ===
Vùng đất xa xăm (1981)
=== Truyện ngắn ===
Người im lặng (1976)
Đôi ngả thời gian (1979)
Phố nhà binh (1992)
=== Thể loại khác ===
Út Ten (1983)
Nhà lao cây dừa (1992)
=== Kịch bản sân khấu và kịch bản phim ===
Hà Nội đêm trở gió
Người Hà Nội (chuyển thể từ tác phẩm Phố)
Người mẹ tự cháy
Người đi tìm dĩ vãng
Hà Nội 12 ngày đêm
== Giải thưởng ==
Giải thưởng Hội đồng Văn học chiến tranh Cách mạng và lực lượng vũ trang (Hội Nhà văn) cho quyển tiểu thuyết Ăn mày dĩ vãng (1993);
Giải thưởng Văn học Bộ quốc phòng 1994;
Giải thưởng tiểu thuyết Nhà xuất bản Hà Nội với tiểu thuyết Phố 1993;
Giải thưởng Nhà nước về văn học nghệ thuật 2007.
== Tham khảo ==
== Liên kết ngoài ==
Nhà văn Chu Lai: "Sống đúng mình, phải trả giá" |
thư viện quốc gia việt nam.txt | Thư viện Quốc gia Việt Nam (tên giao dịch quốc tế: National Library of Vietnam - NLV) là thư viện cấp quốc gia của Việt Nam, đứng đầu trong hệ thống thư viện công cộng và chịu sự chỉ đạo trực tiếp của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch Việt Nam.
Địa chỉ: Số 31, phố Tràng Thi, quận Hoàn Kiếm, Hà Nội
== Lịch sử ==
Năm 1917, Toàn quyền Đông Dương, chấp nhận kế hoạch của P. Boudet, đã ban hành nghị định ngày 29 tháng 11 năm 1917 thành lập Thư viện Trung ương cho Liên bang Đông Dương. Kế hoạch này được chấp nhận với mục đích củng cố sự thống trị, truyền bá văn hoá Pháp và văn hóa phương Tây, cũng như đưa công tác phát triển văn thư lưu trữ, thư viện của Pháp vào nề nếp ở Đông Dương. Đây chính là văn bản hành chính đầu tiên khi đó và là dấu mốc cho sự ra đời của Thư viện Quốc gia Việt Nam hôm nay. Sau hai năm xây dựng, ngày 1 tháng 9 năm 1919 thư viện đã chính thức mở cửa.
Những ngày đầu tiên, Thư viện có tên gọi là Thư viện Trung ương Đông Dương hay còn gọi là Thư viện Trung ương trực thuộc Nha Lưu trữ hay Thư viện Đông Dương.
Đến năm 1935, theo nghị định ngày 28 tháng 2 năm 1935 Thư viện được đổi tên thành Thư viện Pierre Pasquier (một người Pháp có nhiều đóng góp cho Thư viện).
Sau Cách mạng tháng Tám, theo nghị định ngày 20 tháng 10 năm 1945 Thư viện được đổi tên thành Quốc gia Thư viện (Thư viện toàn quốc). Sau đó Nha Lưu trữ công văn và Thư viện toàn quốc được sát nhập vào Nha Giám đốc Đại học vụ và được đổi tên thành Sở Lưu trữ công văn và Thư viện toàn quốc.
Năm 1947, Pháp chiếm lại Hà Nội, theo nghị định ngày 25 tháng 7 năm 1947 Nha Lưu trữ và Thư viện Đông Dương tái thành lập, thư viện mang tên là Thư viện Trung ương ở Hà Nội.
Năm 1953, theo hiệp nghị Việt Pháp ngày 9 năm 7 tháng 1953, Thư viện Trung ương Hà Nội được sát nhập vào Viện Đại học Hà Nội và đổi tên là Tổng Thư viện Hà Nội.
Ngày 10 tháng 10 năm 1954, Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà tiếp quản Hà Nội, đồng thời tiếp quản Tổng Thư viện. Trên văn bản thư viện mang tên Thư viện Trung ương Hà Nội.
Ngày 21 tháng 11 năm 1958, Thư viện được chính thức mang tên Thư viện Quốc gia theo quyết định của Bộ trưởng Bộ Văn hóa.
== Cơ cấu tổ chức ==
Cơ cấu tổ chức của Thư viện Quốc gia Việt Nam hiện bao gồm giám đốc, các phó giám đốc và 13 phòng ban chức năng:
Phòng Tin học
Phòng Phân loại – Biên mục
Phòng Hành chính-Tổ chức
Phòng Nghiên cứu và Hướng dẫn nghiệp vụ
Phòng Bảo quản tài liệu
Phòng Bổ sung – Trao đổi quốc tế
Phòng Đọc Báo – Tạp chí
Phòng Đọc sách
Phòng Quan hệ Quốc tế
Phòng Thông tin Tư liệu
Phòng Lưu chiểu
Phòng Tạp chí Thư viện Việt Nam
Phòng Bảo vệ
== Giám đốc thư viện qua các thời kỳ ==
Paul Boudet (1888 - 1948), tốt nghiệp trường École Nationale des Chartes, Giám đốc Thư viện Trung ương Đông Dương từ 1917 đến 3/1945 và từ 1947 đến 1948.
S. Kudo (?) (Người Nhật), Giám đốc Thư viện Trung ương Đông Dương từ 4/1945 đến 8/1945.
Ngô Đình Nhu (1912 - 1963), tốt nghiệp trường École Nationale des Chartes, Giám đốc Thư viện Trung ương ở Hà Nội từ 1945 đến 11/1946.
Trần Văn Kha (?), Q. Giám đốc Quốc gia Thư viện.
Ferréol de Ferry (?), tốt nghiệp trường École Nationale des Chartes, Giám đốc Thư viện Trung ương ở Hà Nội từ 1948 đến 1953.
Simon de Sant-Exupéry (1898 - 1978), tốt nghiệp trường École Nationale des Chartes, Giám đốc Tổng Thư viện Hà Nội từ 1953 đến 1954.
Từ Lâm (?), Giám đốc Thư viện Trung ương thuộc Vụ Văn hoá đại chúng từ 1954 đến 1958.
Nguyễn Văn Xước (1907 - 1989), Giám đốc Thư viện Quốc gia Việt Nam từ 1958 đến 1974.
Đỗ Trọng Thi (1917 - 1995), Giám đốc Thư viện Quốc gia Việt Nam từ 1974 đến 1979.
Trịnh Giễm (1922), Giám đốc Thư viện Quốc gia Việt Nam từ 1979 đến 1983.
Nguyễn Thế Đức (1936-), Tiến sĩ Thư viện học, Giám đốc Thư viện Quốc gia Việt Nam từ 1983 đến 1998.
Trần Anh Dũng (1949 - 2015), Tốt nghiệp trường Đại học Văn hoá Hà Nội. Quyền Giám đốc Thư viện Quốc gia Việt Nam từ 1999 đến 6/2000.
Phạm Thế Khang (1949-), Tốt nghiệp trường Đại học Văn hoá Hà Nội. Giám đốc Thư viện Quốc gia Việt Nam từ 6/2000 đến 10/2009.
Phan Thị Kim Dung (1960-), Thạc sĩ Thư viện học, Giám đốc Thư viện Quốc gia Việt Nam từ tháng 11/2009 đến tháng 5/2015
Kiều Thúy Nga (1970-), Thạc sĩ Thư viện học, Giám đốc Thư viện Quốc gia Việt Nam từ tháng 6/2015 -.
== Liên hệ ==
Địa chỉ: Số 31, phố Tràng Thi, quận Hoàn Kiếm, Hà Nội.
Điện thoại: 04-38255397
Fax: 04-38253357
Email: info@nlv.gov.vn
== Chú thích ==
== Liên kết ngoài ==
Trang chủ của Thư viện Quốc gia Việt Nam
Bộ sưu tập dữ liệu số TVQGVN |
từ điển tiếng anh oxford.txt | Từ điển tiếng Anh Oxford (tiếng Anh: Oxford English Dictionary, viết tắt: OED) được xuất bản bởi Nhà xuất bản Đại học Oxford là một ấn phẩm được coi là từ điển tiếng Anh đầu tiên. Công việc biên soạn từ điển này bắt đầu vào năm 1857 but it was not until 1884 that it started to be published in unbound fascicles as work continued on the project under the name A New English Dictionary on Historical Principles; Founded Mainly on the Materials Collected by The Philological Society. Vào năm 1895, tựa đề The Oxford English Dictionary (OED) lần đầu tiên được sử dụng một cách không chính thức trên bìa của bộ sách và đến năm 1928 một công trình từ điển đầy đủ đã được tái bản trong mười cuốn sách.
== Tham khảo == |
francis drake.txt | Phó Đô đốc Francis Drake, (1540 - 28 tháng 1 1596) là một nhà thám hiểm hàng hải, thuyền trưởng người Anh, người buôn nô lệ, chính trị gia vào thời nữ hoàng Elizabeth I. Ông là người thứ hai đi chu du vòng quanh thế giới bằng đường biển, từ năm 1577 đến 1580. Ông là phó chỉ huy hạm đội Anh chống lại hạm đội Tây Ban Nha năm 1588. Ông chết vì bệnh kiết lỵ sau khi thất bại trong cuộc tấn công San Juan, Puerto Rico năm 1596.
Những thành công của ông đã làm nên huyền thoại, đưa ông trở thành một người anh hùng, một cướp biển Tây Ban Nha đã gọi ông là El Draque (Rồng). Vua Philip II đã treo giá 20,000 ducat cho ai lấy được mạng sống của ông.
== Tham khảo == |
xã hội.txt | Xã hội là một tập thể hay một nhóm những người được phân biệt với các nhóm người khác bằng các lợi ích, mối quan hệ đặc trưng, chia sẻ cùng một thể chế và có cùng văn hóa.
== Giới thiệu ==
Một định nghĩa bình thường của "xã hội" thường đề cập đến một nhóm người sống cùng trong một cộng đồng có lề lối, ví dụ như là xã hội Anh hoặc xã hội Mỹ.
Những bộ môn khoa học xã hội sử dụng từ xã hội để nói đến một nhóm người tạo dựng một hệ thống xã hội một phần khép kín (hoặc một phần mở rộng), trong đó những người trong một nhóm hầu hết tương tác với những người khác thuộc cùng nhóm đó.
Một cách trừu tượng hơn, một xã hội được coi là một mạng lưới của những mối quan hệ của các thực thể. Một xã hội thỉnh thoảng cũng được coi là một cộng đồng với các cá nhân trong cộng đồng đó phụ thuộc lẫn nhau. Tuy nhiên, các nhà xã hội học mong muốn tìm được ranh giới giữa xã hội và cộng đồng.
Từ tiếng Anh society xuất hiện vào thế kỉ 14 và bắt nguồn từ tiếng Pháp société. Lần lượt nó có nguồn gốc trong từ Latin societas, "sự giao thiệp thân thiện với người khác", trong socius có nghĩa là "bầu bạn, kết giao, đồng chí hoặc đối tác". Vì thế nghĩa của từ xã hội có quan hệ gần gũi với những gì được coi là thuộc quan hệ giữa người và người.
Đặc điểm bản chất của xã hội
Đặc điểm thứ nhất là đặc điểm về lãnh thổ;
Đặc điểm thứ hai liên quan tới tái sản xuất dân cư và di cư;
Đặc điểm thứ ba liên quan tới hệ thống pháp luật, văn hóa và bản sắc dân tộc,...
== Tổ chức xã hội ==
=== Khái niệm tổ chức xã hội ===
Tổ chức xã hội là một dạng nhóm thứ cấp khá phổ biến. Theo nghĩa rộng, tổ chức xã hội chỉ bất kể tổ chức nào trong xã hội. Theo nghĩa hẹp, tổ chức xã hội chính là một tiểu hệ thống xã hội trong một tổ chức xã hội nào đó.
=== Loại hình xã hội ===
Xã hội loài người thường được tổ chức theo nghĩa gốc của chúng "Sự tồn tại": các nhà khoa học về Xã hội nhận ra xã hội bắt nguồn từ tiến trình phát triển xã hội: "xã hội săn bắt - sống bầy đàn", xã hội sống di cư - di tản sống ngày đây mai đó không cố định một nơi nhất định mưu sinh bằng lao động nông nghiệp như chăn nuôi gia súc, xã hội sống bằng nghề trồng trọt để mưu sinh hay còn được gọi là quần xã mưu sinh bằng nghề làm vườn, và cũng có thể gọi là xã hội nông nghiệp, sự tiến triển và thay đổi đó còn được gọi là "nền văn minh" nhân loại. Một số khác quan tâm đến nền công nghiệp trực tiếp và trạm trung gian - có nghĩa là thu mua lại về sử dụng hay thu mua lại về phân phối lại cho cá nhân, tổ chức khác - xã hội (tầng lớp) này không phù hợp với truyền thống của quần thể (tầng lớp) nông nghiệp; xã hội công nghiệp.
=== Nghi thức xã hội ===
Nhiều xã hội sẽ được phân bổ rộng hơn, làm theo mệnh lệnh chỉ thị của những cá nhân hay nhóm người khác lớn hơn. Sự rộng lượng này được tìm thấy ở sự hiểu biết về văn hóa; điển hình là uy tính và vai trò văn hóa sinh ra từ sự rộng lượng của từng cá nhân hoặc từng nhóm người.
=== Bổn phận xã hội ===
Một vài cộng đồng sẽ trao tặng một vị trí cho một vài cá nhân hoặc một nhóm người rộng hơn, khi cá nhân hay tập thể đó hành động đáng khâm phục hay cống hiến lớn; loại "danh hiệu" này được trao tặng bởi các thành viên của cộng đồng đó cho cá nhân hoặc tổ chức dưới hình thức danh nghĩa, tước hiệu, quần áo, hay tiền thưởng... Đàn ông thường rất muốn thực hiện việc này và nhận phần thưởng sau đó, mắc cho những nguy hiểm trong cuộc sống của họ. Hành động bởi một vài cá nhân hay một tập thể lớn nhân danh một lý tưởng của nền văn hóa họ được nhìn nhận bởi cả cộng đồng.
=== Đặc trưng xã hội ===
Thậm chí những xã hội nguyên thủy cũng biểu lộ những đặc điểm của các hoạt động mang tính chất xã hội, cao cả, và phân chia công bằng (cả rủi ro và thắng lợi), giống như các nền văn minh với công nghệ cao hơn.
=== Tín ngưỡng ===
Nhiều dân tộc ở nhiều quốc gia thống nhất bởi những truyền thống, niềm tin hay giá trị về văn hóa và chính trị chung, những dân tộc này đôi khi cũng được gọi là một xã hội (ví dụ như Judeo-Christian, Eastern, Western,...) Sử dụng trong văn cảnh này cụm từ được sử dụng theo nghĩa đói lập với hai hay nhiều "xã hội" có những thành viên tiêu biểu cho những quan điểm thế giới đang mâu thuẫn và tranh cãi.
=== Giáo dục ===
Ngoài ra, một số tổ chức học thuật, nghiên cứu hay mang tính học giả và các đoàn hội như Hội toán học Mĩ, coi họ như là một xã hội. Tại Anh, những tổ chức như thế này thường hoạt động phi lợi nhuận và hoạt động từ thiện. Trong khoa học, người ta phân loại theo kích cỡ thành các hội khoa học quốc gia như hội hoàng gia, thành các hội lịch sử tự nhiên mang tính địa phương. Xã hội học thuật có thể quan tâm đến những chủ đề rộng như nghệ thuật, khoa học nhân văn và khoa học.
=== Định nghĩa thương mại ===
Ở Mĩ và Pháp, cụm từ "society" được dùng trong thương mại để chỉ một hiệp hội giữa những nhà đầu tư hay để bắt đầu một công việc kinh doanh. Tại Anh, các hiệp hội không gọi là societies nhưng các hợp tác xã hay các tổ đổi công thường được gọi là societies (như là các tổ đổi công thân thiện thân thiện hay các hợp tác xã xây dựng
== Bản thể ==
Một ghi chú liên quan là vẫn còn nhiều tranh luận về tuần hoàn xã hội, tuần hoàn thế giới nếu có tồn tại một thực thể mà chúng ta có thể gọi là xã hội. một số học thuyết Mac xít, như Louis Althusser, Ernesto Laclau và Slavoj Zizek đã tranh luận rằng xã hội chỉ là kết quả của hệ tư tưởng cầm quyền trong một hệ thống giai cấp nào đó, và không nên sử dụng xã hội là một khái niệm xã hội. Định nghĩa của Mac về xã hội là một tổng hợp của các mối quan hệ xã hội giữa những thành viên của một cộng đồng đối lập với những cách hiểu về viễn cảnh của chủ nghĩa siêu hình: xã hội chỉ đơn giản là tống hợp những cá nhân trong một khu vực.
== Xem thêm ==
== Chú thích ==
== Tham khảo ==
== Liên kết ngoài ==
Xã hội tại Từ điển bách khoa Việt Nam |
liverpool f.c. mùa bóng 2009-10.txt | Mùa giải 2009-2010 sẽ là mùa giải thứ 118 trong lịch sử Liverpool F.C., và là mùa giải thứ 47 liên tiếp họ thi đấu ở giải đấu cao nhất nước Anh. Mùa giải diễn ra từ ngày 1 tháng 7 năm 2009 cho tới 30 tháng 6 năm 2010. Với việc về đích ở vị trí thứ 2 mùa giải trước đó, Liverpool sẽ nghiễm nhiên có một suất tham dự vòng bảng UEFA Champions League lần đầu tiên kể từ mùa giải 2002-03.
== Trước mùa giải ==
Liverpool đã xác nhận rằng hậu vệ kì cựu Sami Hyypiä sẽ rời câu lạc bộ sau 10 năm để gia nhập đội bóng Đức Bayer Leverkusen.Liverpool cũng xác nhận José Segura, cựu huấn luyện viên của Olympiacos, sẽ tham gia vào ban huấn luyện của đội trẻ Liverpool, bắt đầu từ ngày 1 tháng 6.
Liverpool công bố kế hoạch du đấu mùa hè vào ngày 6 tháng 5 năm 2009, bao gồm cả chuyến du đấu châu Á, và một trận giao hữu với RCD Espanyol, như một phần trong bản hợp đồng đã đưa Albert Riera đến đội bóng.Liverpool bắt đầu chiến dịch du đấu mùa hè với trận hoà 0-0 trước St.Gallen ở Thuỵ Sĩ vào ngày 15 tháng 7, trận này kết thúc với tỉ số hoà 0-0.Rafael Benítez để thời gian cho hầu hết các cầu thủ của ông thi đấu.Các cầu thủ trẻ Jay Spearing, Nabil El Zhar và Krisztian Nemeth đều đã có màn khởi đầu tốt trong hiệp một. Cầu thủ 17 tuổi người Tây Ban Nha Daniel Pacheco cũng tạo được ấn tượng.Glen Johnson có trận ra mắt cho Liverpool và được đánh giá là cầu thủ xuất sắc nhất trận theo bình chọn của các fan trên website Liverpoolfc.tv.Họ chơi trận thứ hai với Rapid Wien ở sân Ernst Happel vào ngày 19 tháng 7 và trận này Liverpool thua 1-0.Chuyến du đấu châu Á bắt đầu bằng trận gặp Thái Lan vào ngày 22 tháng 7 với tỉ số hoà 1-1, tiếp chuyến du đấu Thái Lan là chuyến du đấu Singapore, trận này Liverpool thắng 5-0 với cá pha lập công của Andriy Voronin, Albert Riera, Krsztian Nemeth và cuối cùng là Fernando Torres.Chuyến thi đấu trước mùa giải của họ còn có trận thua đậm 3-0 trước Espanyol vào ngày 2 tháng 8, gặp Lyn Oslo vào ngày 5 tháng 8 và cuối cùng là trận gặp Atlético Madrid vào ngày 8 tháng 8.
== Trang phục ==
Bộ trang phục cho mùa giải 2009-10 sẽ được cung cấp bởi Adidas, và có dòng chữ Carlsberg trên áo để đánh dấu năm thứ 18 hãng này tài trợ cho câu lạc bộ. Bộ quần áo sân nhà sẽ được giữ nguyên như mùa giải trước.Bộ áo sân khách là màu đen và vàng.Bộ quần áo thứ ba được thay đổi vào tháng 8 năm 2009 là màu trắng.
== Ban huấn luyện ==
== Đội hình đội một ==
Tinh đến 1 tháng 7 năm 2009.
== Giải bóng đá ngoại hạng Anh ==
== Cúp các đội vô địch bóng đá quốc gia châu Âu ==
== Tham khảo == |
staffordshire.txt | Staffordshire là một hạt của Anh. Hạt có diện tích km², dân số người. Thủ phủ hạt đóng ở.
== Tham khảo == |
đường cao tông.txt | Đường Cao Tông (chữ Hán: 唐高宗, 21 tháng 7, 628 - 27 tháng 12, 683), là vị Hoàng đế thứ ba của triều đại nhà Đường trong lịch sử Trung Quốc. Ông trị vì từ năm 649 đến năm 683, tổng cộng 34 năm.
Đường Cao Tông trị vì đất nước sau một cuộc đại hưng thịnh từ thời Đường Thái Tông, tương đối kế thừa tốt đẹp. Ông giữ biên cương và mở rộng phát triển hơn, qua các cuộc chinh phạt Cao Câu Ly, Bách Tế, Tây Đột Quyết....khiến uy thế Đại Đường vững chắc. Tuy nhiên, từ những năm 670 thì những thành tựu đạt được đều bị thua về tay Tân La và Thổ Phiên, và các vùng chiếm đóng ở biên cương nhiều lần nổi dậy làm phản khiến triều đình phải đánh dẹp luôn, quốc lực nhà Đường trở nên cạn kiệt buộc phải hòa hoãn.
Trong hậu cung, ông sủng ái Võ Chiêu nghi và lập làm Hoàng hậu. Võ hoàng hậu từ đó xen vào triều chính, Cao Tông vốn sủng ái bà nên nhất quyết nghe theo. Từ năm 660, Cao Tông bị đột quỵ, sức khỏe ngày một suy kém, mới giao quyền trong triều cho Võ hậu. Ông và Võ hậu cùng lâm triều, được tôn xưng là Nhị thánh (二圣), tự xưng là Thiên Hoàng (天皇) và Võ hậu được xưng là Thiên Hậu (天后). Võ hoàng hậu dần dần nắm hết mọi quyền hành, không chế cả con ruột là Lý Hoằng và Lý Hiền, có thuyết cho rằng việc 2 Hoàng tử này chết sớm đều do Võ hoàng hậu hạ thủ.
== Thân thế ==
Cao Tông hoàng đế tên thật là Lý Trị (李治), Tên tự là Vi Thiện (为善), sinh ngày 21 tháng 7 năm 628 ở thành Trường An. Ông là con trai thứ 9 của Đường Thái Tông và con trai thứ ba của Văn Đức hoàng hậu Trưởng Tôn thị, lúc đó Đường Thái Tông đã lên ngôi được 2 năm. Theo thân thế, ông là em ruột cùng cha cùng mẹ của Phế Thái tử Lý Thừa Càn và Ngụy vương Lý Thái (李泰).
Năm 631, khi vừa mới 4 tuổi, Lý Trị đã được phong tước Tấn vương (晋王). Sang năm 633, ông được phong chức Đô Đốc Tịnh châu, tuy nhiên do tuổi còn quá nhỏ nên ông vẫn ở lại kinh thành Trường An. Lúc còn nhỏ, ông được đánh giá là hiếu thuận và nhân hậu, thường được Đường Thái Tông khen ngợi.
Năm 636, Trưởng Tôn hoàng hậu qua đời. Trong ngày lễ tang của Hoàng hậu, Lý Trị đã khóc thương rất nhiều, do đó ông bắt đầu được Đường Thái Tông chú ý đến. Sau đó, ông được phong làm Hữu Võ Hậu đại tướng quân.
Năm 643, Hoàng thái tử Lý Thừa Càn do âm mưu chống lại Đường Thái Tông nên bị phế truất. Thái Tông hoàng đế lúc đầu muốn lập con trai thứ 4 là Ngụy vương làm Hoàng thái tử, nhưng sau đó Ngụy vương lại cảnh cáo Lý Trị rằng ông vốn chơi thân với Thừa Càn nên sau này ông phải cẩn thận. Thái Tông biết chuyện rất giận và phế truất Ngụy vương. Lúc đó, Tấn vương Lý Trị được Đường Thái Tông quan tâm nhất, vì là người con còn lại của Tưởng Tôn hoàng hậu, nghĩa là Hoàng đích tử. Sau khi bàn bạc với Trưởng Tôn Vô Kị, Phòng Huyền Linh và Lý Tích, ngày 30 tháng 4 năm 643, Thái Tông hoàng đế chính thức phong Tấn vương Lý Trị làm Hoàng thái tử.
== Hoàng thái tử ==
Cuối năm 643, Lý Trị đã 16 tuổi, Đường Thái Tông muốn tìm một gia đình quan lại có thế lực để hỏi cưới con gái họ cho ông, nhưng ông từ chối, Thái Tông bèn thôi. Một thời gian trước đó, khi ông còn chưa làm thái tử, Thái Tông chọn con gái của họ Vương ở Thái Nguyên, cháu chắt quan Thượng thư Tả phó xạ triều Bắc Ngụy Vương Tư Chính là Vương thị, nạp làm Tấn vương phi. Đến đây, Vương thị được phong Hoàng thái tử phi.
Lý Trị tuy là Hoàng thái tử, nhưng bản tánh nhu nhược yếu đuối, lại khiến Thái Tông không hài lòng. Thái Tông từng bàn với đại thần Trưởng Tôn Vô Kị về việc thay ngôi Thái tử cho con thứ ba là Ngô vương Lý Khác, Hoàng tử vốn được Thái Tông coi là tài giỏi giống mình, nhưng Trưởng Tôn Vô Kị lại dùng lời lẽ thuyết phục Thái Tông rằng Thái tử Lý Trị là người nhân ái trung hậu, có tướng quân vương. Cuối cùng, Thái Tông bỏ việc này.
Năm 645, Đường Thái Tông xuất quân tiến đánh Cao Câu Ly, để Lý Trị đến Định châu và tạm thời chấp chính thay mình. Tuy nhiên chiến dịch thất bại sau một năm giao tranh, Thái Tông sức khỏe vốn suy nhược, lại lao lực rồi bị thương nên lâm bệnh, nổi nhọt khắp người. Khi Thái Tông về Tịnh Châu, Lý Trị đến thỉnh an ông, và dùng miệng hút mủ trong các vết thương của Thái Tông, nên Thái Tông mới có thể bớt bệnh.
Năm 647, Thái thú Tề Châu là Đoàn Chí Xung dâng sớ yêu cầu Đường Thái Tông thoái vị, nhường ngôi cho Thái tử Lý Trị. Ngay lập tức, Thái tử cùng Trưởng Tôn Vô Kị khi biết được tin này, rất sợ hãi, nhưng Thái Tông trấn an ông và không truy cứu Chí Xung. Cùng năm đó, Lý Trị cho xây chùa Đại Từ Ân trong ngày mất của Trưởng Tôn hoàng hậu, chùa này hoàn thành năm 648.
Năm 649, Đường Thái Tông bị bệnh nặng, lại nghi ngờ lòng trung thành của đại thần Lý Thế Tích với triều đình sau khi mình mất, bèn giáng Thế Tích làm Đô Đốc Điệp châu. Lý Trị không rõ nguyên do, hỏi lại Thái Tông. Thái Tông nói
Tài năng và trí tuệ của Thế Tích là hơn người, nhưng ngươi chưa hiểu được con người hắn đâu! Trẫm sợ khi trẫm trăm tuổi thì hắn không trung hiếu với ngươi nên mới đuổi đi. Nếu hắn không do dự mà đi, thì sau này người có thể đề bạt làm Bộc xạ, hoàn toàn tin tưởng. Nếu chần chừ không đi thì phải giết hắn ngay!.
== Lên ngôi Hoàng đế ==
Ngày 10 tháng 7 năm 649, Đường Thái Tông qua đời ở cung Thúy Vi. Thái tử Lý Trị và Trưởng Tôn Vô Kị phong tỏa tin tức, bí mật đưa thi hài về hoàng cung, đến 13 tháng 7 (29/5 ÂL) mới phát tang. Ngày 15 tháng 7 (1 tháng 6 ÂL) cùng năm, Lý Trị đang quang ở điện Thái Cực, xưng là Đường Cao Tông. Vì Thế Tích ra đi không do dự, nên ông nghe theo di huấn, bổ Lý Thế Tích làm Bộc xạ, Kiểm giáo Lạc châu thứ sử, Khai phủ nghi đồng tam ti và cho về triều. Ông cũng thăng Trưởng Tôn Vô Kị làm Thái úy, Trung thư lệnh nhưng Vô Kị từ chối không nhận.
Ngày 30 tháng 7 cùng năm, Lý Trị cho an táng Đường Thái Tông ở Chiêu Lăng. Sau đó, ông tuyên bố chấm dứt cuộc chiến tranh Liêu Đông do Đường Thái Tông phát động năm 645. Tháng 12, ông tiến phong Lý Thái làm Bộc vương, ban cho một số đặc quyền đã bị Thái Tông tước bỏ trước đó.
Tháng 1 năm 650, ông đặt niên hiệu Vĩnh Huy (永徽), lập Vương thị là Hoàng hậu, cha là Vương Nhân làm Ngụy quốc công.
== Thịnh trị đời Vĩnh Huy ==
=== Ổn định chính sự ===
Cũng tháng 1 năm 650, Đường Cao Tông ra chiếu viết:
"Trẫm vừa mới lên ngôi, triều chính có nhiều chỗ bất tiện, bá tánh cũng có lòng nghi ngờ gì, nhưng không thể nói lên được. Nay tuyên thứ sử các châu vào điện để hỏi tật khổ của dân chúng, mà đề ra đường lối cai trị".
Những năm đầu tiên trị vì, Đường Cao Tông rất tin tưởng Trưởng Tôn Vô Kị và Chử Toại Lương. Hai người này ra sức phò giúp Cao Tông, nên triều chính vẫn ổn định như thời Trinh Quán, được xưng là Vĩnh Huy chi trị (永徽之治). Có người ở Lạc Dương là Lý Hoằng Thái tố cáo Trưởng Tôn Vô Kị mưu phản, liền bị Cao Tông sai chém để răn đe vì quyền lực của Vô Kị đã lớn mạnh.
Tháng 9 năm đó, Đường Cao Tông muốn ra ngoài tuần du, bèn hỏi ý kiến của Gián nghị đại phu Lạc Dục Na. Dục Na khuyên can rằng chưa nên đi. Cao Tông nghe theo, bỏ việc tuần du. Lý Tích xin được miễn quan tước, Cao Tông chuẩn tấu, bãi chức Phó xạ, nhưng Nghi đồng tam ti và Trung thư môn hạ vẫn giữ nguyên. Mùa đông năm đó, Chử Toại Lương bị Vi Tư Khiêm tố cáo đã ép một số hộ nông bán ruộng đất giá rẻ cho mình để kiếm lợi. Cao Tông tuy không giết nhưng hạ lệnh bãi chức Toại Lương, giáng làm Thứ sử Đồng châu.
=== Chiến tranh với các nước ===
Năm 651, Tả kiêu vệ tướng quân A Sử Na Hạ Lỗ nghe tin Đường Thái Tông đã chết, bèn chiêu tập dân li tán, chiếm cứ hai châu Tây, Đình. Thứ sử Đình châu Lạc Hoằng Nghĩa tâu lên triều đình. Cao Tông sai Kiều Bảo Minh đến thuyết phục Hạ Lỗ nên chịu quy phục, gửi con vào làm túc vệ trong cung thì sẽ được triều đình phong làm Kiêu Vệ trung lang tướng. Nhưng con Hạ Lỗ là Hi Vận lại khuyên cha nên chạy về phía phía tây tiếp tục kháng Đường. Hạ Lỗ nghe theo, đi về phía tây chiếm được Tây Đột Quyết, tiếm xưng Sa Bát La Khả hãn, được nhiều nước Tây Vực đi theo.
Tháng 7 năm 651, Sa Bát La Khã hãn tiến đánh Đình châu. Đường Cao Tông sai Tả Võ hậu tướng quân Lưu Kiến Phương, Hữu Kiêu Vệ tướng quân Kế Bật Hà Lực làm Hành quân tổng quản; Cao Đức Dật, Tiết Cô Ngô làm phó, đem 3 vạn quân bốn châu Tần, Thành, Kì, Ung cùng 5 vạn ngựa của người Hồi Hột dâng nạp, tiến đánh Tây Đột Quyết. Quân Đường chiến thắng vài trận, nhưng không lâu sau thì rút lui. Tháng 12 cùng năm, Cao Tông lập đàn tế nam giao và trai giới. Tháng sau, Triệu Hiếu Tổ ở Lang châu đem quân đánh Bạch Thủy Man và giành thắng lợi, quân Đường thu được nhiều của cải đem về.
Năm 654, hai nước Cao Câu Ly, Bách Tế hợp quân xâm lấn Tân La. Vua Tân La sai sứ sang nhà Đường cầu viện. Tháng 2, Cao Tông sai Trình Danh Chấn và Tô Định Phương cứu Tân La. Quân Đường thắng lớn, bắt được 1000 người Cao Câu Ly đem về.
Cùng năm, Cao Tông phong cho Tiết Linh San làm Đạo Hành quân đại tổng quản, thảo phạt Tây Đột Quyết. Sang năm 655, Hạt Bật Đạt Độ ở Tây Đột Quyết chống lại Sa Bát La Khả hãn, sai người cầu viện Đường triều. Cao Tông sai Nguyên Lễ Thần giúp Hạt Bật Đạt Độ, nhưng Lễ Thần chỉ hành quân được vài ngày lại rút về.
=== Lập Hoàng thái tử ===
Đường Cao Tông yêu thương người con trai thứ 4 là Ung vương Lý Tố Tiết, do sủng phi là Tiêu thục phi sinh ra, muốn lập Tố Tiết làm Hoàng thái tử. Vương hoàng hậu tuy ở địa vị chính thất, nhưng không được sủng ái, nên ghen ghét với Tiêu thục phi. Thấy con trưởng của Cao Tông là Lý Trung mất mẹ từ nhỏ, Vương hoàng hậu bèn nhận Lý Trung làm con và mua chuộc các đại thần trong triều, đề nghị Cao Tông lập Lý Trung làm Hoàng thái tử.
Tháng 7, năm 652, Cao Tông hoàng đế theo ý của quần thần, sách lập Lý Trung làm Hoàng thái tử và ra lệnh đại xá. Tiêu thục phi rất giận nhưng không làm gì được. Cao Tông chọn Tả bộc xạ Vu Chí Ninh làm Thiếu sư, Hữu bộc xạ Trương Hành làm Thiếu phó, Thị trung Cao Quý Phụ làm Thiếu bảo và Võ Văn Tiết làm Chiêm sự, dạy học cho Lý Trung.
=== Hoàng thân mưu phản ===
Năm 652, triều đình xảy ra việc Cao Dương công chúa, chị của Đường Cao Tông, liên kết với chồng là Phòng Di Ái, con trai Phòng Huyền Linh, âm mưu lập Kinh vương Lý Nguyên Cảnh (con thứ của Đường Cao Tổ) lên làm Hoàng đế. Phò mã đô úy Sài Lệnh Võ và Tiết Vạn Triệt hợp mưu vào chuyện này. Cuối năm 652, việc mưu phản bị Trưởng Tôn Vô Kị phát giác. Vô Kị vốn ghen ghét Ngô vương Lý Khác, bèn xúi Phòng Di Ái tố cáo Lý Khác có dự vào chuyện này để nhân đó trừ đi. Di Ái bị Vô Kị lừa gạt, cho rằng nếu khai gian như thế sẽ được miễn chết, nên nhận lời.
Tháng 2 năm 653, quần thần dâng tấu xin chém đầu Phòng Di Ái, Tiết Vạn Triệt và Tào Lệnh Võ, đồng thần xin ban rượu độc cho hai Cao Dương công chúa, Ba Lăng công chúa cùng Kinh vương Cảnh, Ngô vương Khác. Đường Cao Tông vốn không nỡ ra lệnh, nhưng Binh bộ thượng thư Thôi Đôn lấy luật pháp bức ép khiên ông phải nghe theo. Em cùng mẹ với Lý Khác là Thục vương Lý Âm bị phế làm thứ nhân, Phòng Di Trực (con trưởng của Phòng Huyền Linh) bị đày ra Xuân Châu. Trong triều, Giang Hạ vương Lý Đạo Tông và Phò mã đô úy Chấp Thất Tư Lực dâng sớ tố cáo Trưởng Tôn Vô Kị và Chử Toại Lương, đều bị xử tội. Từ đó, quyền lực của Trưởng Tôn Vô Kị ngày càng to, lấn át triều đình. Cao Tông sợ thế Vô Kị, phải mời Chử Toại Lương về triều, phục lại chức cũ.
Tháng 10 năm 653, nữ tử ở Mục Châu là Trần Thạc Trinh khởi binh chống nhà Đường, tự xưng Văn Giai hoàng đế. Cao Tông cử quân đánh dẹp và bình định được.
=== Thay ngôi Hoàng hậu và Hoàng thái tử ===
Từ khi còn làm Hoàng thái tử, Cao Tông đã yêu mến Võ tài nhân của Đường Thái Tông. Sau khi Thái Tông hoàng đế qua đời, các cung nhân bị bức phải vào tu ở chùa Cảm Nghiệp. Khi Cao Tông đến thăm chùa, thấy Võ Tài nhân thì tình xưa trỗi dậy, có ý rước về. Vương hoàng hậu trong cung ghen ghét Tiêu thục phi, muốn mượn tay Võ thị giành lấy sự sủng ái của Thục phi, bèn bảo Võ thị để tóc dài, sau đó xin Cao Tông cho rước về cung. Cao Tông vốn đã sẵn có ý muốn này, nên chuẩn y.
Võ Tài nhân vốn gian manh xảo quyệt; từ khi vào cung ra sức lấy lòng Cao Tông và Vương hoàng hậu. Cao Tông cũng hết mực sủng ái bà ta, do thế mà Tiêu thục phi thất sủng, nhiều lần nói xấu Võ thị trước mặt Cao Tông, nhưng ông không nghe mà còn xa lánh Tiêu phi hơn nữa. Năm 651, Võ thị được phong làm Chiêu nghi, việc này trái với điển lệ vì Võ thị vốn là cung tần của Tiên đế.
Dần đà, Võ Chiêu nghi lấy luôn được lòng tin của Cao Tông, Vương hoàng hậu biết Võ thị còn đáng sợ hơn cả Tiêu Thục phi, nên hối hận đã cho bà ta vào cung. Võ Chiêu nghi cũng không còn tôn trọng Vương hoàng hậu nữa, lại nhiều lần mua chuộc người trong cung của Vương hoàng hậu và Tiêu thục phi để theo dõi động tĩnh. Hoàng hậu và Thục phi tố cáo với Cao Tông, nhưng ông không còn tin lời họ nữa.
Tháng 1 năm 654, Võ Chiêu nghi sinh ra 1 tiểu hoàng nữ, nên vô cùng buồn bực, mặc dù tiểu hoàng nữ này rất được Cao Tông yêu quý. Vương hoàng hậu một lần tới thăm hoàng nữ, sau khi ra về, Võ Chiêu nghi bí mật đóng hết cửa rèm lại, không cho thông khí từ ngoài vào, rồi tự tay bóp mũi giết chết hoàng nữ. Khi Cao Tông đến thăm, Võ Chiêu nghi và tả hữu nói dối rằng việc này là do Hoàng hậu làm ra. Cao Tông giận, nói: "Hoàng hậu giết con ta rồi".
Võ Chiêu nghi lại giả vờ khóc lóc thảm thương cho Cao Tông động lòng, còn Vương hoàng hậu không còn cách nào để tự biện minh. Từ đó, Cao Tông nảy ý phế Hậu, muốn Trưởng Tôn Vô Kị đề xướng việc này ra, mẹ của Võ Chiêu nghi là Dương phu nhân cùng Lễ bộ thượng thư Hứa Kính Tông cũng ra sức thuyết phục nhưng Vô Kị cũng không chịu.
Năm 655, Võ Chiêu nghi tố cáo Ngụy quốc phu nhân Liễu thị (mẹ của Vương hoàng hậu) cùng Hoàng hậu dùng bùa phép hãm hại mình, từ đó Liễu thị không được vào cung nữa. Trong lúc đó, Trung thư xá nhân Lý Nghĩa Phủ vốn bị Trưởng Tôn Vô Kị ghét và biếm chức, nhân đó dâng sớ xin phế Hậu lên Cao Tông. Cao Tông vui mừng, triệu Phủ vào cung, cho phục chức. Trường An Lệnh Bùi Hành Kiệm cùng Trưởng Tôn Vô Kị và Chử Toại Lương đều lên tiếng can ngăn Cao Tông. Cao Tông không hài lòng, triệu Lý Tích hỏi ý. Tích nói: "Đó là gia sự của Bệ hạ, không cần hỏi đến ngoại thần".
Sau đó, Vương Hoàng hậu và Tiêu Thục phi mưu hại Võ Chiêu nghi. Đầu năm 655, Cao Tông chính thức tuyên chiếu, phế Vương hậu và Tiêu phi làm thứ nhân, đày gia tộc đến Lĩnh Nam rồi lập Võ thị làm Hoàng hậu. Tiêu thục phi và Vương hoàng hậu bị giam ở biệt viện, Cao Tông chưa dứt hẳn tình, nhiều lần đến thăm. Tiêu thục phi nhân đó khóc lóc xin Cao Tông thương tình. Võ hoàng hậu tức giận, sai chặt hết tay chân hai người, đem đi ngâm giấm.
Sau khi thay ngôi Hoàng hậu, đại thần Hứa Kính Tông cũng dâng biểu xin Cao Tông cũng thay luôn ngôi Hoàng thái tử. Cao Tông bèn bảo Lý Trung tự mình nhường ngôi Thái tử, Lý Trung bất đắc dĩ phải nghe theo.
Tháng 2 năm 656, Cao Tông phong cho Đại vương Lý Hoằng, con trai trưởng của Võ hoàng hậu làm Hoàng thái tử, giáng Thái tử Lý Trung làm Lương vương (梁王), đày làm Đô đốc Lương châu. Cha của Võ hoàng hậu là Võ Sĩ Hoạch được truy phong Tư đồ, tước Chu Định công (周定公). Cùng năm, Đường Cao Tông đổi niên hiệu thành Hiển Khánh (显庆), kết thúc sáu năm của Vĩnh Huy trị vì.
== Thời đại Hiển Khánh ==
=== Chiếm Tây Đột Quyết ===
Tháng 9 năm 656, Đại tướng Trình Tri Tiết theo lệnh Cao Tông, suất quân công đánh Tây Đột Quyết, đánh thắng hai tộc Ca La, Xử Nguyệt ở Mộ Cốc, chém hơn 1000 quân địch. Phó tướng Chu Trí Độ công đánh hai tộc Đột Kị Thi, Xử Mộc Côn, giết được 30000 quân. Tháng 12 cùng năm, Trình Tri Tiết tiến đến Ưng Sa Xuyên, đánh bại 20000 kị binh của Tây Đột Quyết, truy đuổi đến 20 dặm, chém được nhiều quân địch và thu nhiều vàng bạc, khí giới.
Sang năm 657, Cao Tông phong Tô Định Phương làm Y Lệ đạo hành quân tổng quản, mượn thêm quân của Hồi Hột, từ hướng bắc tiến vào lãnh thổ của Sa Bát La Khã hãn. Tháng 12 năm đó, Định Phương đại thắng tộc Xử Mộc Côn Bộ, rồi tiến vào Hà Tây. Sa Bát La cùng đường phải đem mười vạn quân ra quyết chiến. Sa Bát La khinh địch nên đại bại, bỏ trốn về phía tây, bị Định Phương đuổi theo. Nhiều quân mã Tây Đột Quyết bị giết chết. Sa Bát La chạy đến Thạch Quốc. Định Phương sau đó lui quân. Không lâu sau, Sa Bát La bị bắt dâng nộp cho nhà Đường.
Sau khi chiếm được Tây Đột Quyết, Đường Cao Tông sai phân nước này làm hai phần đông tây. Lấy A Sử Na Di Xạ làm Tả Vệ đại tướng quân, đóng ở Côn Lăng, A Sử Na Bộ Chân đóng ở Mông Trì, bãi chức Đột Quyết Khã hãn. Tây Đột Quyết lại bị phân chia và ngày càng suy yếu hơn nữa.
Năm 658, hai tướng Tiết Nhân Quý và Trình Danh Chấn xuất quân công đánh Cao Câu Ly, giành chiến thắng, chém hơn 2000 quân địch.
=== Lưu đày cựu thần ===
Sau vụ đổi ngôi Hoàng hậu, Chử Toại Lương bị Cao Tông biếm làm Đô đốc Đàm châu. Toại Lương nhờ Hàn Viện dâng thư giải oan lên Cao Tông. Cao Tông tỏ ra thông cảm, nhưng vẫn biếm Toại Lương ra Đàm Châu. Năm sau, Toại Lương bị phe cánh của Võ hoàng hậu hãm hại, lại bị biếm đến Quế châu rồi Ái châu, cuối cùng uất ức mà chết vào tháng 10 ÂL năm 658. Đại thần Hàn Viện cũng bị phe cánh của Võ hậu tố cáo làm việc trái phép, bị biếm làm Thứ sử Ái châu.
Võ hoàng hậu tiếp tục trả thù những người không ủng hộ mình trước kia. Phe cánh của bà ta là Lý Nghĩa Phủ, Hứa Kính Tông nắm đại quyền trong triều, Trưởng Tôn Vô Kị ngày càng mất uy tín. Võ hoàng hậu sai Hứa Kính Tông tìm cớ hãm hại ông ta.
Năm 659, có người tố cáo hai viên quan là Vi Quý Phương và Lý Sào mưu làm việc trái phép, Đường Cao Tông giao cho Hứa Kính Tông điều tra. Kính Tông dụ dỗ Quý Phương khai rằng Triệu Quốc công (tức Vô Kị) có thông đồng với mình. Cao Tông bất ngờ về việc này, nhưng lại sai Kính Tông đưa Vô Kị ra tra xét. Sau đó, ông hạ lệnh bãi bỏ phong ấp và chức Thái úy của Trưởng Tôn Vô Kị, giáng làm Dương Châu đô đốc, đày đến Kiềm Châu. Hứa Kính Tông nhân đó tố cáo Chử Toại Lương cùng Hàn Viện, Liễu Thích, Viện và Thích bị bãi chức, Chử Toại Lương tuy đã chết cũng bị trừ quan tước. Trưởng Tôn Vô Kị cũng bị bức tử trong năm đó.
=== Diệt Đô Man và Bách Tế ===
Cũng năm 659, quốc vương Đô Man của Tư Kết Khuyết khởi binh chống lại nhà Đường, liên kết với các nước Sơ Lặc, Chu Câu Ba, Yết Bàn Đà.... Cao Tông phái Tô Định Phương đến phía tây đánh dẹp. Định Phương tuyển 10000 quân bộ và 3000 quân kị, một ngày đi 300 dặm, tiến vào quốc đô của Đô Man. Vua Đô Ma hoảng sợ, lại liên tiếp thất bại, phải xin đầu hàng. Đô Man bị dẫn về kinh. Quần thần muốn giết chết ông ta, nhưng Tô Định Phương nói đã hứa tha chết cho Đô Man khi ông ta đầu hàng, vì thế Cao Tông không hạ lệnh giết nữa.
Ở bán đảo Triều Tiên, hai nước Bách Tế và Cao Câu Ly liên kết với nhau, lấn chiếm nước còn lại là Tân La. Năm 660, Đường Cao Tông sai Tô Định Phương và Ngu Bá Anh tiến công Bách Tế để cứu Tân La. Định Phương tiến vào bán đảo, giết được nhiều quân Bách Tế rồi tiến vào quốc đô Bách Tế, sau đó Bách Tế vương và thái tử Long Đào chạy về phía bắc, sau đó bị bắt. Cao Tông ra lệnh sáp nhập Bách Tế vào lãnh thổ nhà Đường, phân làm 37 quận.
Sau đó, Tô Định Phương đánh sang Cao Câu Ly. Tuy nhiên, lúc này tình hình đã chuyển sang thế bất lợi cho quân Đường. Người dân Bách Tế lập vua mới lên ngôi, lại nổi dậy kháng Đường. Mặc dù Cao Tông gửi thêm quân vào chiến trường, nhưng vẫn không thay đổi được tình hình. Năm 662, quân Đường lại bị Cao Câu Ly đánh bại nhiều lần, tổn thương nghiêm trọng, lại cộng thêm bão tuyết hoành hành. Tô Định Phương phải rút quân về nước.
== Thời đại Long Sóc - Lân Đức ==
=== Bình định Bì Túc Độc ===
Tháng 10 năm 660, Đường Cao Tông bị bệnh đau đầu, không thể coi triều, mọi việc đều do Võ hoàng hậu quyết đoán.
Tù trưởng Hồi Hột là Bà Nhuận, vốn tuân phục nhà Đường vừa chết, cháu là Bỉ Túc Độc nối ngôi, liên kết với các tộc Đồng La, Bộc Cố xâm phạm vào biên giới nhà Đường. Đường Cao Tông sai Trịnh Nhân Thái cùng Lưu Thẩm Lễ, Tiết Nhân Quý, Tiêu Tự Nghiệp thảo phạt Bì Túc Độc. Ban đầu, quân Đường chiến thắng nhiều trận, nhưng sau đó hết lương, thời tiết xấu phải rút về.
Đường Cao Tông sai trị tội Nhân Thái, rồi bổ Khiết Bật Hà Lực cùng Khước Khác đến thay. Người trong Bộ Lạc sợ thế Hà Lực, bèn bắt tù trưởng hơn hai trăm người giao nộp. Hà Lực sai chém tất cả. Chiến sự phía tây tạm yên.
Tháng 10 năm 662, Đường Cao Tông đến Ly Sơn du ngoạn, để thái tử Lý Hoằng giám quốc. Ít lâu sau ông về Trường An.
Bấy giờ Lý Nghĩa Phủ được Võ hậu tin tưởng, nắm quyền trong triều. Năm 663, có người tố cáo Nghĩa Phủ mưu phản. Cao Tông sai giam vào ngục, sau đó đày đến Đình châu.
=== Tình hình phía Tây và phía Đông ===
Tháng 6 năm 663, tù trưởng Man Di ở Liễu Châu Ngô Quân nổi loạn. Cao Tông sai Lưu Bá Anh đánh dẹp. Cùng lúc đó, hai nước Thổ Phiên và Thổ Cốc Hồn xảy ra chiến tranh, đều sai sứ đến nhà Đường xin viện binh. Cao Tông không giúp nước nào. Sau đó Thổ Cốc Hồn bị Thổ Phiên đánh tan. Khả hãn Hạt Bát phải chạy sang nhà Đường lánh nạn. Cao Tông sai Tô Định Phương tuyển quân giúp Thổ Cốc Hồn, nhưng cuối cùng không thắng. Thổ Cốc Hồn bị Thổ Phiên chiếm đóng.
Cũng trong năm đó, quân Đường hoàn toàn đánh bại được tàn dư thế lực của Bách Tế, buộc vua Bách Tế phải chạy sang Cao Ly. Cao Tông sai Lưu Nhân Quỹ trấn thủ Bách Tế, chuẩn bị chiến tranh với Cao Câu Ly.
Tháng 10 năm 663, Cao Tông giao bớt việc nước cho thái tử Hoằng, lệnh cứ năm ngày đến nghe quần thần tấu trình việc nước một lần, nếu là việc nhỏ thì cho thái tử tự quyết định.
=== Ý định Phế hậu ===
Lúc này quyền lực của Võ hoàng hậu trong triều đã rất lớn mạnh. Đạo sĩ Quách Hành Chân ra vào cấm trung, nhiều lần dùng tà thuật bị phát giác. Năm 664, Cao Tông biết việc này là do hoàng hậu chủ mưu nên rất tức giận, triệu đại thần Thượng Quan Nghi vào cung. Nghi tâu rằng hoàng hậu chuyên quyền, không giữ đạo làm vợ, cần phải phế đi. Cao Tông chấp thuận, lệnh cho Nghi tìm cơ hội mà ra tay.
Tả hữu của ông đem việc này tố cáo với hoàng hậu. Võ hoàng hậu bèn đến chỗ Lý Trị kêu oan. Ông không biết trả lời ra sao, bèn đổ hết mọi chuyện cho Thượng Quan Nghi. Tháng 12 năm đó, Võ Mị Nương sai Hứa Kính Tông tố cáo Thượng Quan Nghi và thái tử cũ Lý Trung phản nghịch, bắt Nghi hạ ngục rồi ban rượu độc cho Lý Trung. Sang đầu năm 665, Thượng Quan Nghi bị chém đầu. Tuy nhiên, sau này Võ hậu trọng dụng cháu của Nghi là Thượng Quan Uyển Nhi.
Cũng từ năm 665, mỗi khi Cao Tông lên triều nghe chính, Võ hoàng hậu đều đứng sau rèm để cùng nghe việc, và hầu hết việc trong triều đều do Võ hậu quyết đoán. Cao Tông và Võ hậu được gọi là Nhị thánh lâm triều.
== Thời đại Càn Phong - Tổng Chương - Hàm Hanh ==
=== Phong thiền ===
Tháng 10 năm 665, Võ hoàng hậu dâng biểu xin Cao Tông thực hiện phong thiền (tế trời). Cao Tông đồng ý, sau đó đích thân rời Trường An đến Lạc Dương để chuẩn bị. Sang ngày 10 tháng 2 năm 666 (cũng là Tết Âm lịch), ông lên Thái Sơn, chính thức tiến hành nghi lễ. Cao Tông đăng đàn đầu tiên, tiếp theo là Võ hoàng hậu. Sang ngày 12 tháng 2 năm 666, nghi lễ mới hoàn thành.
Sau nghi lễ phong thiền, Đường Cao Tông đổi niên hiệu từ Lân Đức thành Tổng Chương (668 - 670) và ra lệnh đại xá trong toàn quốc, trừ những người bị lưu đày dài hạn. Ông cũng đồng loạt thăng chức cho tất cả quan lại triều đình. Lý Nghĩa Phủ vốn bị tội trước đây, nghĩ sẽ được đại xá trong lần này, khi nghe tin đó thì uất ức mà chết. Cùng dịp đó, ông tôn phong Khổng Tử làm Thái sử, Thái Thượng lão quân làm Thái thượng huyền nguyên hoàng đế.
Tháng 4 năm 666, Đường Cao Tông trở về Trường An.
=== Diệt Cao Câu Ly ===
Tháng 6 năm 666, Đại li chi (thừa tướng nước Cao Câu Ly) là Uyên Cái Tô Văn chết, con trai trưởng là Uyên Nam Sinh bị hai em là Nam Kiến, Nam Sản thảo phạt, Nam Sinh bỏ trốn, sai người sang nhà Đường cầu cứu. Đường Cao Tông sai Khế Bật Hà Lực làm Liêu Đông đạo an phủ đại sứ, cùng Bàng Đồng Thiện, Cao Khản cùng nhau mượn danh nghĩa cứu Nam Sinh, thực chất là xâm lược Cao Câu Ly.
Chị của Võ hoàng hậu là Hàn Quốc phu nhân cùng con gái thường vào trong cung, được Cao Tông sủng ái, muốn giữ lại luôn. Khi Hàn Quốc phu nhân mất, Cao Tông phong cho con gái bà ta làm Ngụy quốc phu nhân, muốn phong làm hậu phi. Võ hoàng hậu ghen ghét, bèn đầu độc Ngụy quốc phu nhân rồi đổ tội cho em là Võ Hoài Vận và anh họ là Duy Lương, cho giết hai người.
Sang đầu năm 667, Đường Cao Tông lại cử Lý Tích ra quân tiếp viện cho chiến trường Cao Câu Ly. Mùa thu cùng năm, Lý Tích vượt sông Liêu, chiếm Tân Thành rồi hạ được 16 thành. Tiết Nhân Quý đại phá quân Cao Câu Ly, hợp quân với Uyên Nam Sinh. Năm 668, quân Đường tiến vào Bình Nhưỡng, vua Cao Câu Ly là Bảo Tạng Vương đầu hàng, Cao Câu Ly diệt vong. Tại đất Cao Câu Ly, Đường Cao Tông bắt nhiều người dân chuyển sang sống ở Trung Quốc, chia đất đã chiếm cho Tân La. Tân La thống nhất bán đảo Triều Tiên. Tại những vùng đất đã chiếm, Cao Tông lập ra An Đông Đô hộ phủ, cử Tiết Nhân Quý làm An Đông đô hộ.
=== Chống Thổ Phiên và Tân La ===
Tháng 4 năm 668, Đường Cao Tông đổi niên hiệu Càn Phong thành Tổng Chương. Sang tháng sau, nước Thổ Phiên tiến chiếm 18 châu của nhà Đường. Đường Cao Tông lại cử Tiết Nhân Quý, A Sử Na Đạo Chân, Quách Đãi Phong kháng cự Thổ Phiên. Cùng lúc, tù trưởng Cao Câu Ly là Mâu Sầm khôi phục Cao Câu Ly, lập An Thuấn lên làm vua. Cao Tông sai Cao Khản phát binh thảo phạt. An Thuấn bỏ trốn sang Tân La.
Trong khi đó ở phía tây, quân của Tiết Nhân Quý bị quân Thổ Phiên đánh úp, quân Đường đại bại, tử thương vô số. Ba tướng bỏ chạy tháo thân, Đường Cao Tông xét lúc trước họ lập nhiều công trạng, miễn tội chết, nhưng trừ danh. Trong khi đó, sức khỏe của Cao Tông ngày một suy nhược, ông giao quyền hành cho thái tử Lý Hoằng. Lý Hoằng xử lý triều chính, rất được Cao Tông hài lòng. Ông từng có ý muốn sớm nhường ngôi cho Hoằng để lên làm Thái thượng hoàng.
Trong lúc đó ở phía đông, Tân La có ý muốn chiếm lại tất cả đất cũ của Cao Câu Ly bị nhà Đường sáp nhập khi trước, bèn gửi quân giúp Cao Câu Ly. Tháng 1 năm 673, tướng Cao Khản đánh thắng quân Tân La một trận lớn, kìm chân được tham vọng của Tân La.
Đầu năm 674, Cao Tông sai Lưu Nhân Quỹ, Lý Bật và Lý Cẩn kéo quân thảo phạt Tân La vương Pháp Mẫn do đã giúp Cao Câu Ly, miễn chức quan của Pháp Mẫn, lập em là Nhân Vấn làm Tân La vương, sai hộ tống về nước, thay thế Pháp Mẫn. Nhưng Pháp Mẫn sau đó dâng thư tạ tội, Cao Tông phục chức cho Pháp Mẫn và rút quân về.
=== Thiên hoàng - Thiên hậu ===
Tháng 8 674, Đường Cao Tông hạ lệnh truy tôn phong hiệu cho tổ tiên của mình:
Tuyên Giản công Lý Hi (宣简公李熙) làm Hiến Tổ Tuyên Hoàng đế (獻祖宣皇帝), phu nhân Trương thị là Tuyên Hiến hoàng hậu (宣獻皇后).
Ý vương Lý Thiên Tích (懿王李天錫) làm Ý Tổ Quang hoàng đế (懿祖光皇帝), phu nhân Giả thị là Quang Ý hoàng hậu (光懿皇后).
Truy tôn Đường Cao Tổ làm Thần Nghiêu hoàng đế (神尧皇帝), Đường Thái Tông làm Văn Võ Thánh hoàng đế (文武聖皇帝), Trưởng Tôn hoàng hậu làm Văn Đức Thuận Thánh hoàng hậu (文德顺圣皇后).
Cao Tông cũng tự xưng là Thiên hoàng (天皇) thay vì Thiên tử, Võ hoàng hậu làm Thiên hậu (天后), đồng thời đại xá thiên hạ, đổi niên hiệu là Thượng Nguyên (上元).
Tháng 9 năm đó, Thiên hoàng phục hồi quan tước cho gia tộc Trưởng Tôn, lấy cháu Trưởng Tôn Vô Kị là Dực kế tước Triệu quốc công.
== Thời gian xưng hiệu Thiên hoàng ==
=== Thái tử qua đời ===
Đầu năm 675, Thổ Phiên sai sứ đến xin hòa với nhà Đường. Thiên hoàng không bằng lòng. Cũng trong thời gian đó, Thiên hoàng bị bệnh đau đầu rất nặng do uống phải nhiều thuốc kích thích mà Thiên hậu dâng lên. Do ông không thể quản lý triều chính, quyền hành trong triều lọt vào tay Thiên hậu. Các đại thần Hác Xử Tuấn, Lý Nghĩa Diễm can ngăn, Thiên hoàng không nghe. Thiên hậu đưa nhiều tay chân vào triều như Nguyên Vạn Khoảnh, Lưu Y Chi, củng cố thực quyền.
Thái tử Lý Hoằng không hài lòng việc Thiên hậu nắm quyền, muốn đoạt lại quyền lực. Hai con gái của Tiêu thục phi là công chúa Cao An, Tuyên Thành bị Thiên hậu bắt giam, Thái tử xin Thiên hoàng thả ra; lại nhiều lần đắc tội với Thiên hậu, nên bị Thiên hậu ghét bỏ. Giữa năm 675, Thái tử Hoằng mất, có lời đồn cái chết này là do Thiên hậu hạ độc.
Thiên hoàng vốn thương yêu Thái tử, nghe tin Thái tử đã mất, rất đau lòng, bèn truy tôn Lý Hoằng là Hiếu Kính hoàng đế (孝敬皇帝), miếu hiệu là Nghĩa Tông (義宗). Cũng trong năm đó, do không hài lòng về Hoàng tử Lý Thượng Kim, con trai thứ ba của Thiên Hoàng, Thiên Hậu sai thủ hạ tố cáo Thượng Kim với Thiên hoàng. Cuối cùng, Thượng Kim bị bãi chức, đày đến Lễ châu. Sang năm sau, Thiên Hậu lại tố cáo Lý Tố Tiết bỏ không vào triều kiến là bất trung bất hiếu, Thiên Hoàng cũng đày Tố Tiết đến Viên Châu, giáng tước Bà Dương quận vương (鄱阳郡王).
=== Dàn xếp phía Đông và Tây ===
Trong khi đó ở vùng đất Cao Câu Ly và Bách Tế mà nhà Đường vừa chiếm được cũng xảy ra nhiều cuộc nổi loạn của người dân nhằm khôi phục quốc gia; cộng thêm sự công kích của Tân La. Bị kháng cự quyết liệt, đầu năm 676, Đường Cao Tông buộc phải dời An Đông đô hộ phủ về Liêu Đông, hầu hết bán đảo Triều Tiên rơi về tay Tân La.
Năm 677, Cao Tông phong Cao Tạng, vua cũ của Cao Câu Ly, làm Triều Tiên vương và đưa về nước nhằm lợi dụng ông ta khống chế các thế lực phản loạn ở Cao Câu Ly. Sau đó lại đổi phủ đô hộ An Đông về Tân Thành, đồng thời đưa Phù Dư Long về cai trị Bách Tế. Nhưng Cao Tạng khi về nước lại có ý khôi phục quốc gia, đã tập hợp nhiều quân sĩ và khí giới. Tuy nhiên kế hoạch thất bại, năm 680, quân Đường đánh bại quân của Cao tạng, đày ông ta đến Ba Thục.
Trong khi đó quân Thổ Phiên tiếp tục xâm lấn vùng biên cương với nhà Đường, bắt tướng trấn giữ Đỗ Hiếu Thăng và ép Hiếu Thăng viết thư cho Đô đốc Tùng châu Võ Cư Tịch cũng đầu hàng. Hiếu Thăng không nghe, bỏ trốn về và giữ được Phù châu. Thiên hoàng phong ông ta làm Du Kích tướng quân.
Năm 678, theo gợi ý của Lưu Nhân Quỹ, Thiên hoàng phong Lý Kính Huyền đến trấn giữ phía tây đề phòng Thổ Phiên xâm lược. Tháng 9 ÂL năm 678, thiên hoàng muốn xuất quân thảo phạt Tân La, lão thần Trương Văn Quán tuy có bệnh nặng cũng cố đến gặp để khuyên can. Thiên hoàng đồng ý.. Cũng trong tháng đó, Lý Kính Huyền suất 180000 quân giao chiến với Thổ Phiên ở Thanh Hải, nhưng bị quân Thổ Phiên đánh cho tan tác, Kính Huyền bỏ chạy về Thiện châu. Biết Thổ Phiên là mối đe dọa, Đường Cao Tông từng nhiều lần muốn bàn ra một đối sách lâu dài: hoặc hòa thân, hoặc đem đại quân giao chiến, hoặc tăng cường phòng thủ, nhưng cuối cùng không đi đến quyết định nào.
Năm 679, nghe tin Tùng Cán Tán Phổ của Thổ Phiên đã chết, con là Khí Nỗ Tất Lộng nối ngôi, trong nước quốc dân không phục, muốn lập con thứ của Tán Phổ là Khâm Lăng lên ngôi, Cao Tông muốn nhân đó mà đem quân đánh Thổ Phiên, nhưng nghe can gián của Bùi Hành Kiệm, bèn thôi. Vợ Tán Phổ là công chúa Văn Thành (vốn được Thái Tông gả sang Thổ Phiên) sai sứ sang hòa thân, Cao Tông chấp thuận.
=== Chống Tây Đột Quyết ===
Khả hãn của Tây Đột Quyết là A Sử Na Đô Chi lúc trước liên kết với Thổ Phiên, thường xâm lấn đất An Tây, triều đình muốn đem bin thảo phạ. Bùi Hành Kiệm đề nghị rằng vua Ba Tư mới chết, con là Nê Hoàn sư còn ở kinh, nên đưa Hoàn Sư về à nhân đó khống chế Ba Tư mà uy hiếp Đột Quyết. Cao Tông nghe theo, sai Hành Kiệm lập Nê Hoàn Sư làm Ba Tư vương, nhưng cũng bổ Vương Phương Dực trợ giúp, thực chất là để kiềm chế.
Tháng 8 năm 679, thấy A Sử Na Đô Chi lơ lỏng phòng bị đối với quân Đường, bèn triệu tù trưởng các châu ở phía bắc mà cùng hợp quân phạt Tây Đột Quyết. Các tướng Hồ hăng hái tòng quân, tổng cộng hơn 100000, sau đó tiến về phía tây. Hành Kiệm nhanh chóng chiếm được Tây Đột Quyết, bắt sống được Đô Chi rồi rút quân về, lưu Lưu Phương Dực ở phủ An Tây, xây thành Toái Diệp ở đó.
Tháng 11, Thiền vu đại đô hộ phủ Đột Quyết A Sử Na Đức tạo phản kháng Đường, lập A Sử Na Nê Thục Bặt làm Khả hãn, được 24 châu trong nước hưởng ứng, lực lượng đến khoảng 100000 quân. Cao Tông sai Tiêu Tự Nghiệp, Hoa Đại Trí, Lý Cảnh Gia thảo phạt. Nhưng quân Đường gặp bão tuyết, bị quân Đột Quyết ban đêm công kích. Tự Nghiệp bỏ trốn, Đại Trí, Cảnh Gia rút quân về. Cao Tông bãi quan của Đại Trí, Cảnh Gia và miễn chết cho Tiêu Tự Nghiệp.
Sau đó Đột Quyết lại nhiều lần xâm phạm biên cương. Tháng 3 năm 680, Bùi Hành Kiệm đại thắng quân Tây Đột Quyết ở Hắc Sơn, Khả hãn Nê Thục Bặt bị thủ hạ giết chết, đem thủ cấp ra hàng Đường. Nhà Đường bình định được Tây Đột Quyết.
=== Phế Thái tử Lý Hiền ===
Sau khi Lý Hoằng mất, Thiên hoàng lập con trai thứ hai của mình và Thiên hậu là Ung vương Lý Hiền làm thái tử.
Đầu xuân năm 679, Đường Cao Tông xuất tuần Đông Đô Lạc Dương. Từ đó đến khi mất, ông ít khi về Trường An mà chủ yếu sống ở Lạc Dương. Lúc bấy giờ ở trong cung, thái tử Lý Hiền tuy là người hiền minh, nhưng do Hàn Quốc phu nhân (chị Thiên Hậu) sinh ra, nên không được lòng Thiên Hậu. Đạo sĩ Minh Sùng Nghiễm được Thiên Hậu coi trọng, thường nói với Thiên Hậu
Thái tử không thể thừa kế được, Anh vương (Lý Triết) có dung mạo giống Thái Tông.
Sau đó lại còn nói
Tương vương (Lý Đán) về sau sẽ đại quý.
Thiên Hậu cũng cho soạn Thiếu Dương chánh phạm và Hiếu tử truyện ban cho Lý Hiền, lại nhiều lần quở trách ông ta vô cớ, nên Lý Hiền rất bất an. Sau đó, năm 681 Sùng Nghiễm bị giết, Thiên Hậu nghi ngờ là do Lý Hiền làm, nên càng ghét hơn. Lý Hiền lại háo sắc, thông gian với nô tài là Triệu Đạo Sinh. Thiên Hậu bèn tố cáo việc này lên Cao Tông. Cao Tông sai Tiết Nguyên Siêu, Bùi Viêm, Cao Trí Chu điều tra việc này. Triệu Đạo Sinh lại khai rằng thái tử sai mình giết Minh Sùng Nghiễm. Sự việc phát giác, nhưng Cao Tông thương Lý Hiền, không muốn trị tội. Thiên Hậu nói
Là con dân mà mưu nghịch, thiên địa bất dung; nay đại nghĩa diệt thân, có thể nào xá được?.
Cao Tông nghe theo. Tháng 10 năm 681, ông ra lệnh phế Lý Hiền làm thứ dân, đày đến Ba Thục. Không lâu sau, ông lập con trai thứ 7 của mình là Lý Triết làm thái tử, đổi tên ông ta là Hiển.
== Cuối đời ==
=== Bạo loạn ở Đột Quyết ===
Tháng 1 ÂL năm Nhâm Ngọ (682), ông cho lập con trai Lý Hiển là Trọng Chiếu làm Hoàng Thái tôn. Mấy tháng sau, ở Đột Quyết A Sử Na Xa Bạc suất quân phản Đường, không lâu sau cho xây Cung Nguyệt thành. Vương Phương Dực đem quân chống lại, phá quân Đột Quyết ở Lệ Thủy chém hơn 1000 thủ cấp. Sau đó Phương Dực đại phá được Xa Bạc lần nữa, bắt được 300 tù trưởng, bình định được Tây Đột Quyết.
Cuối năm 682, dư đảng Đột Quyết A Sử Na Cốt Độc Lộc, A Sử Na Đức Nguyên Chân chiêu tập dân chúng tạo phản. Cao Tông sai Tiết Nhân Quý đem quân thảo phạt. Nhân Quý đem quân đại phá được quân Đột Quyết, bắt được hơn 200000 người. Liên tục trong năm 683, quân Đột Quyết nhiều lần đánh phá biên cương nhà Đường
=== Qua đời ===
Tháng 12 năm 683, Đường Cao Tông lâm bệnh nặng ở Lạc Dương, bèn triệu Hoàng thái tử Lý Hiển từ Trường An về Lạc Dương, trao di chiếu và giao cho đại thần Bùi Viêm phụ chính. Ngày 27 tháng 12 năm 683, Đường Cao Tông băng hà ở điện Trinh Quan, Lạc Dương, hưởng thọ 56 tuổi.
Thái tử Lý Hiển nối ngôi, tức là Đường Trung Tông. Võ hoàng hậu trở thành Hoàng thái hậu, nắm toàn bộ quyền lực trong triều. Bảy năm sau, bà ta cướp ngôi nhà Đường, lập ra nhà Võ Chu.
Thi hài của Cao Tông được an táng ở Càn lăng, thụy hiệu đầy đủ là Thiên Hoàng Đại Thánh Đại Hoằng Hiếu hoàng đế (天皇大圣大弘孝皇帝).
== Niên hiệu ==
Vĩnh Huy (永徽): 650 - 655.
Hiển Khánh (顯慶): 656 - tháng 2 âm lịch năm 661.
Long Sóc (龍朔): Tháng 3 âm lịch năm 661 - 663.
Lân Đức (麟德): 664 - 665.
Càn Phong (乾封): 666 - tháng 2 âm lịch năm 668.
Tổng Chương (總章): Tháng 2 âm lịch năm 668 - tháng 2 âm lịch năm 670.
Hàm Hanh (咸亨): Tháng 3 âm lịch năm 670 - tháng 8 âm lịch năm 674.
Thượng Nguyên (上元): Tháng 8 âm lịch năm 674 - tháng 11 âm lịch năm 676.
Nghi Phượng (儀鳳): Tháng 11 âm lịch năm 676 - tháng 6 âm lịch năm 679.
Điều Lộ (調露): Tháng 6 âm lịch năm 679 - tháng 8 âm lịch năm 680.
Vĩnh Long (永隆): Tháng 8 âm lịch năm 680 - tháng 9 âm lịch năm 681.
Khai Diệu (開耀): Tháng 9 âm lịch năm 681 - tháng 2 âm lịch năm 682.
Vĩnh Thuần (永淳): Tháng 2 âm lịch năm 682 - tháng 12 âm lịch năm 683.
Hoằng Đạo (弘道): Tháng 12 âm lịch năm 683.
== Gia quyến ==
Thân phụ: Đường Thái Tông Lý Thế Dân.
Thân mẫu: Văn Đức Thuận Thánh hoàng hậu Trưởng Tôn thị (文德皇后长孙氏, 601 - 636).
Hậu phi:
Vương hoàng hậu (王皇后; ? - 655), người Tịnh châu, xuất thân từ sĩ tộc Thái Nguyên Vương thị (太原王氏), thân phụ là Vương Nhân Hữu (王仁佑), mẹ là Liễu phu nhân, có em trai là Trung thư lệnh Liễu Thích (柳奭).
Tắc Thiên Thuận Thánh hoàng hậu Võ thị (則天順聖皇后武氏, 625 - 705), tên gọi Võ Chiếu (武曌), thường gọi là Võ Mị Nương (武媚娘). Người Văn Thủy, Tinh châu, cha là Võ Sĩ Hoạch (武士彠), mẹ là Dương phu nhân xuất thân từ hoàng tộc nhà Tùy. Sinh ra An Định công chúa, Đường Nghĩa Tông Lý Hoằng, Chương Hoài thái tử Lý Hiền, Đường Trung Tông Lý Hiển, Đường Duệ Tông Lý Đán và Thái Bình công chúa. Sau cướp ngôi nhà Đường lên ngôi Hoàng đế, lập ra nhà Võ Chu.
Tiêu Thục phi (蕭淑妃; ? - 655), xuất thân từ sĩ tộc Lan Lăng Tiêu thị (兰陵萧氏). Sinh ra Hứa vương Lý Tố Tiết, Nghĩa Dương công chúa và Cao An công chúa.
Từ tiệp dư (徐婕妤), con gái Từ Hiếu Đức (徐孝德), em gái Từ Hiền phi (徐賢妃) của Đường Thái Tông. Đương thời so sánh bà với Ban tiệp dư nhà Hán, văn chương nổi tiếng. Cô của Từ Kiên (徐坚), là Thập bát học sĩ (十八学士) đời Đường Huyền Tông.
Hàn Quốc phu nhân Võ thị (韩国夫人武氏), tên là Võ Thuận (武顺), tự là Mỗ Tắc (某则), chị gái Võ hoàng hậu. Bà ban đầu lấy Hạ Lan An Thạch (賀蘭安石), sinh ra Hạ Lan Mẫn Chi (賀蘭敏之) và Ngụy Quốc phu nhân Hạ Lan thị. Sau khi Việt Thạch mất, bà do là chị Võ hậu, vào cung thường xuyên và thông dâm với Cao Tông. Khi chết, truy tặng Trịnh quốc phu nhân (郑国夫人). Có thuyết cho rằng, bà này sinh ra Chương Hoài thái tử Lý Hiền.
Ngụy quốc phu nhân Hạ Lan thị (魏国夫人賀蘭氏), húy Mẫn Nguyệt (敏月), là con gái Hàn Quốc phu nhân và Hạ Lan An Thạch, cháu gái Võ hoàng hậu và là em gái Hạ Lan Mẫn Chi. Nàng cùng mẹ hay ra vào cung cấm, khi Hàn Quốc phu nhân chết, nàng trở thành sủng phi mới của Cao Tông. Sau bị Võ hoàng hậu đầu độc.
Lưu cung nhân (刘宫人).
Trịnh cung nhân (郑宫人).
Dương cung nhân (杨宫人).
=== Hậu duệ ===
==== Hoàng tử ====
Lý Trung [李忠, 644 - 665], mẹ là Lưu cung nhân. Năm 648, được Đường Thái Tông phong làm Trần vương (陳王), năm 651 được lập làm Thái tử. Sau khi Võ hoàng hậu tức vị, Lý Trung bị phế ngôi, giáng làm Lương vương (梁王). Năm 660, bị phế làm thứ nhân. Năm 665 bị bức tử, sau truy phong là Yên vương (燕王).
Lý Hiếu [李孝, 640 - 664], mẹ là Trịnh cung nhân. Năm 649, được phong làm Hứa vương (原王). Thụy là Hứa Điệu vương (原悼王).
Lý Thượng Kim [李上金, 645 - 690], mẹ là Dương cung nhân. Năm 649, được phong làm Kỉ vương (杞王), năm 684 đổi phong Tất vương (畢王). Tự tử vì lo sợ vào năm 690, thụy là Trạch vương (澤王).
Lý Tố Tiết [李素節, 646 - 690], mẹ là Tiêu thục phi. Năm 650 được phong làm Ung vương (雍王), sang 656 đổi làm Tuân vương (郇王). Năm 676, giáng làm Bà Dương quận vương (鄱阳郡王), sang năm 681 thăng làm Cát vương (葛王). Năm 684, đổi làm Hứa vương (许王), giữ chức Long Châu thứ sử. Năm 690 bị Võ hậu bức tử, táng theo lễ của thứ nhân. Sang thời Đường Trung Tông được truy tặng làm Hứa vương (許王).
Lý Hoằng [李弘, 652 - 676], mẹ là Võ hoàng hậu. Năm 652 được phong làm Đại vương, năm 656 được lập làm Thái tử. Năm 676 qua đời, được Cao Tông truy tặng là Hiếu Kính hoàng đế (孝敬皇帝), miếu hiệu Nghĩa Tông (義宗).
Lý Hiền [李賢, 653 - 684], mẹ là Võ hoàng hậu, có thuyết lại cho rằng là Hàn Quốc phu nhân Võ thị, chị ruột của Võ hoàng hậu. Năm 655 được phong Lộ vương (潞王), năm 662 đổi làm Phái vương (沛王), năm 672 lại đổi làm Ung vương (雍王). Năm 676, được lập làm Thái tử thay cho Lý Hoằng, sau đó bị phế, đày đến Ba Thục. Năm 684 bị mẹ bức tử, truy tặng Chương Hoài thái tử (章懷太子).
Đường Trung Tông Lý Hiển [李顯], mẹ là Võ hoàng hậu.
Đường Duệ Tông Lý Đán [李旦], mẹ là Võ hoàng hậu.
==== Hoàng nữ ====
Đường Cao Tông có 4 con gái:
Kim Thành Trưởng công chúa (金城长公主, ? - 691), có tên là Lý Hạ Ngọc (李下玉), mẹ là Tiêu thục phi, sơ phong Nghĩa Dương công chúa (义阳公主), hạ giá lấy Quyền Nghị (权毅). Năm 691, Quyền Nghị cùng đại thần tham gia lật đổ Võ hậu, bị giết, công chúa đau lòng mà chết theo.
Cao An công chúa (高安公主, 649 - 714), mẹ là Tiêu thục phi, ban đầu phong là Tuyên Thành công chúa (宣城公主), hạ giá lấy Vương Úc (王勖). Năm 691, Vương Úc, Quyền Nghị cùng đại thần tham gia lật đổ Võ hậu, bị giết, công chúa bị Võ hậu giam cầm lại trong cung. Đời Đường Duệ Tông Lý Đản cải phong làm Cao An công chúa, lập phủ riêng và thưởng hơn nghìn hộ thực ấp. Qua đời vào đời Đường Huyền Tông Lý Long Cơ, là đứa con thọ nhất trong 12 người con của Đường Cao Tông.
An Định công chúa (安定公主, 654), mẹ là Võ hoàng hậu, đột tử do nghẹt thở trong phòng kín.
Thái Bình công chúa (太平公主, ? - 713), có tên là Lý Lệnh Nguyệt (李令月), mẹ là Võ hoàng hậu, hạ giá lấy Tiết Thiệu (薛绍), sau lấy Võ Du Kị (武攸暨). Là vị Công chúa quyền thế và nổi tiếng nhất nhà Đường, tham gia chính biến lật đổ mẹ mình là Võ hậu, nắm giữ quyền lực rất lớn dưới thời 2 người anh trai là Đường Trung Tông và Đường Duệ Tông. Vào cuối đời, tranh chấp và thất bại, bị cháu ruột là Đường Huyền Tông bức chế
== Chú thích == |
văn hóa đồng đậu.txt | Văn hoá Đồng Đậu là nền văn hóa thuộc thời kỳ đồ đồng ở Việt Nam cách ngày nay khoảng 3.000 năm, sau văn hóa Phùng Nguyên, trước văn hóa Gò Mun. Tên của nền văn hóa này đặt theo tên khu di tích Đồng Đậu ở thị trấn Yên Lạc, huyện Yên Lạc, tỉnh Vĩnh Phúc, nơi các nhà khảo cổ học đã khám phá ra một nền văn hóa đồ đồng phong phú năm 1962.
Người Đồng Đậu sống ngoài trời trên các đồi gò trung du Bắc Bộ với một nền kinh tế khá ổn định và phát triển dựa trên nông nghiệp trồng lúa và các cây hoa màu. Các đấu tích luyện kim như xỉ đồng, các mảnh khuôn đúc (bằng đá) cho thấy nghề đúc đồng đã có và phát triển thời kỳ này.
== Liên kết ngoài ==
Di chỉ Đồng Đậu
Văn hoá đồng đậu đồ đá tuy có vị trí quan trọng nhưng đã có sự suy thoái, rìu đá giảm nhưng mũi tên đá lại tăng chứng tỏ thời kì này có nhiều công cụ sử dụng mũi tên |
ion.txt | Ion hay điện tích là một nguyên tử hay nhóm nguyên tử bị mất hay thu nhận thêm được một hay nhiều điện tử. Một ion mang điện tích âm, khi nó thu được một hay nhiều điện tử, được gọi là anion hay điện tích âm, và một ion mang điện tích dương khi nó mất một hay nhiều điện tử, được gọi là cation hay điện tích dương. Quá trình tạo ra các ion hay điện tích gọi là ion hóa.
Các nguyên tử hay nhóm nguyên tử bị ion hóa được biểu diễn dưới dạng các số viết nhỏ lên trên, bên phải ký hiệu của nguyên tử hay nhóm nguyên tử, thể hiện số lượng điện tử mà nó thu được hay mất đi (nếu lớn hơn 1) và dấu + hay − tùy theo nó mất hay thu được (các) điện tử. Trong trường hợp mất hay thu được chỉ một điện tử thì không cần ghi giá trị số. Ví dụ H+ hay Cl−.
Các kim loại có xu hướng tạo ra các cation (mất đi điện tử) trong khi các phi kim loại có xu hướng tạo ra anion, ví dụ natri tạo ra cation Na+ trong khi clo tạo ra các anion Cl-.
== Năng lượng ion hóa ==
Năng lượng cần thiết để tạo ra cation bằng cách loại bỏ điện tử từ một nguyên tử trung hòa về điện là năng lượng ion hóa. Nói chung, năng lượng ion hóa thứ n của nguyên tử là năng lượng cần để loại bỏ điện tử thứ n sau khi n - 1 điện tử trước đã bị loại bỏ.
Mỗi một năng lượng ion hóa kế tiếp là lớn hơn một cách đáng kể so với năng lượng ở mức trước đó. Đặc biệt, sự thay đổi năng lượng tăng lên một cách đột ngột khi các điện tử của một lớp obitan nào đó trong nguyên tử đã bị loại bỏ hết. Vì lý do này, các cation có xu hướng được tạo ra theo hướng bỏ hết các điện tử của cùng một lớp obitan. Ví dụ, natri được tìm thấy như là Na+, nhưng không phải là Na2+ vì cần năng lượng lớn để ôxi hóa. Tương tự, magiê được tìm thấy như là Mg2+, mà không phải là Mg3+, và nhôm có thể tồn tại ở dạng cation Al3+. Khi một nhóm các nguyên tử thu được các điện tử, chúng cũng trở thành các ion, chẳng hạn như SO42-.
== Lịch sử ==
Các ion lần đầu tiên được lý thuyết hóa bởi Michael Faraday khoảng năm 1830, để miêu tả các thành phần của phân tử mà chuyển động về phía anion hay cation. Tuy nhiên, cơ chế mà các chuyển động này có thể diễn ra đã không được miêu tả cho đến tận năm 1884 khi Svante August Arrhenius trong luận án tiến sĩ của mình trong trường đại học tổng hợp Uppsala đã miêu tả chúng. Lý thuyết của ông ban đầu đã không được chấp nhận (ông nhận được học vị tiến sĩ với điểm thấp nhất để được vượt qua) nhưng luận án tiến sĩ của ông đã đoạt giải Nobel về hóa học năm 1903.
== Ngôn từ học ==
Từ ion đã được đặt tên bởi Michael Faraday, từ tiếng Hy Lạp ἰόν, động tính từ thời hiện tại của ἰέναι, "chuyển động", vì thế là "người đi lại". Danh pháp này dựa trên xu hướng của các anion chuyển động về phía anốt, và của các cation chuyển động về phía catốt. Vì thế, anion (ἀνιόν) và cation (κατιόν) có nghĩa là "(một thứ) đi lên" và "(một thứ) đi xuống", một cách tương ứng, và anốt, ἄνοδος, và catốt, κάθοδος, có nghĩa là "đi lên" và "đi xuống", tương ứng từ ὁδός, "đường".
== Tham khảo == |
fabrice santoro.txt | Fabrice Vetea Santoro (sinh 9 tháng 12 năm 1972) là một nam vận động viên quần vợt chuyên nghiệp người Pháp đã giải nghệ, thuận tay phải và có thể chơi cả hai tay. Anh sinh tại Tahiti, hòn đảo lớn nhất của quần đảo Polynésie thuộc Pháp.
Santoro thành công nhất ở sự nghiệp đánh đôi. Anh giành được chức vô địch đôi nam giải Úc Mở rộng vào các năm 2003, 2004 và Tennis Masters Cup 2005 cùng với Michaël Llodra, và lọt vào chung kết đôi nam tại Úc Mở rộng 2002, Roland-Garros 2004 và Wimbledon 2006. Anh còn vô địch đôi nam nữ Roland-Garros 2005 với Daniela Hantuchová.
Cùng với khả năng đánh đôi, Santoro còn gây ấn tượng ở thái độ vui vẻ, hoà nhã trên sân đấu và những pha đánh bóng kĩ thuật, giúp anh có được sự hâm mộ đông đảo. Anh có biệt hiệu Phù thuỷ nhờ có lối đánh đa dạng và sáng tạo.
Santoro có thể chơi cả hai tay ở những cú đánh thuận tay và trái tay. Mặc dù thuận tay phải nhưng thỉnh thoảng anh vẫn có những cú đánh xoáy thuận tay bằng tay trái. Anh có được khả năng này do việc sử dụng những cây vợt cùng trọng lượng trong suốt sự nghiệp của mình. Santoro từng đánh bại nhiều tay vợt số 1 thế giới, trong đó có Andre Agassi và Pete Sampras, và có một thành tích đối đầu ấn tượng trước Marat Safin (hiện tại là 7 thắng 2 thua). Ở tuổi 36, anh hiện là tay vợt nhiều tuổi nhất trong bảng xếp hạng 100 tay vợt nam hàng đầu thế giới của ATP.
Lần tham dự giải Úc Mở rộng 2008 là lần thứ 62 Santoro có mặt ở một Grand Slam quần vợt và phá vỡ kỉ lục của Andre Agassi (61 lần), trở thành vận động viên nam có mặt ở nhiều giải Grand Slam nhất. Cho đến lúc giải nghệ anh đã tham dự tổng cộng 69 Grand Slam (lần cuối cùng ở Giải quần vợt Mỹ Mở rộng 2009).
== Chuyện bên lề ==
Santoro từng đánh bại 17 tay vợt từng là số 1 thế giới (Jimmy Connors, Mats Wilander, Boris Becker, Stefan Edberg, Jim Courier, Andre Agassi, Pete Sampras, Thomas Muster, Marcelo Rios, Gustavo Kuerten, Carlos Moya, Pat Rafter, Juan Carlos Ferrero, Marat Safin, Lleyton Hewitt, Andy Roddick và Roger Federer). Với 3 tay vợt khác từng nắm giữ ngôi vị số 1 thế giới mà Santoro đã gặp thì thành tích là thua 6 trận trước Yevgeny Kafelnikov và thua 1 trận trước Ivan Lendl và Rafael Nadal.
Santoro là người thắng trận đấu kéo dài của kỉ nguyên mở. Tại Roland-Garros 2004, anh thắng người đồng hương Arnaud Clement trong một trận đấu kéo dài tới 6 giờ 33 phút, tỉ số là 6–4, 6–3, 6–7, 3–6, 16–14.
Anh là vận động viên đầu tiên dẫn đầu bảng xếp hạng ATP Champions Race khi giành thắng lợi ở giải đấu đầu năm tại Doha vào năm 2000, năm công bố bảng xếp hạng này.
Santoro hâm mộ diễn viên hài người Pháp Michel Colucci.
Theo trang chủ của ATP thống kê tháng 8 năm 2009, Santoro có số trận thua đơn nhiều nhất (436 trận) trong số tất cả các tay vợt nam từ trước đến nay (còn thi đấu hoặc đã nghỉ). Tuy nhiên tổng thể số trận thắng của anh vẫn nhiều hơn (468 thắng / 436 thua).
Santoro có một con gái tên Djenae.
Anh giải nghệ vào cuối mùa giải 2009 tại Giải quần vợt Paris Masters ở quê nhà Paris.
== Thành tích ==
=== Chung kết ===
==== Đơn ====
===== Vô địch (14) =====
===== Á quân (9) =====
==== Đôi ====
===== Vô địch (26) =====
===== Á quân (18) =====
== Chú thích ==
== Liên kết ngoài ==
Fabrice Santoro trên trang chủ ATP (tiếng Anh)
Fabrice Santoro trên ITF
Fabrice Santoro tại Davis Cup
Santoro Recent Match Results
Santoro World Ranking History
Mayotte, Tim (ngày 20 tháng 5 năm 2006). “The Forehand of Fabrice Santoro”. tennis.com. Truy cập ngày 30 tháng 8 năm 2006. |
thẻ vàng.txt | Thẻ vàng là hình phạt cho cầu thủ bóng đá khi cầu thủ đó phạm lỗi (điều 12). Các lỗi thường thấy là câu giờ, đẩy người, kéo áo. Đội có cầu thủ vi phạm sẽ chịu cú đá phạt trực tiếp hoặc phạt đền từ phía đối phương. Cầu thủ bị phạt hai thẻ vàng hoặc một thẻ đỏ sẽ bị đuổi khỏi sân và không được thay thế bằng cầu thủ dự bị.
== Lịch sử ==
Trước khi chiếc thẻ vàng và thẻ đỏ ra đời, mỗi khi trọng tài muốn cảnh cáo hoặc phạt nặng bằng cách truất quyền thi đấu của một cầu thủ nào có mặt trên sân, trọng tài phải gọi anh ta đến và nói: "Tôi cảnh cáo anh vì lỗi …!", rồi sau đó báo cho đội trưởng của anh ta biết.
Tuy nhiên cái khó cho trọng tài là nhiều khi ngôn ngữ của họ sử dụng khác tiếng nói của cầu thủ trên sân thì vô cùng bất tiện và làm cho huấn luyện viên, khán giả trên sân luôn thắc mắc, không hiểu chuyện gì đã xảy ra. Có khi cầu thủ dù hiểu ý trọng tài nhưng cứ làm bộ không biết gì, khiến cuộc chơi phải dừng lại khá lâu mỗi khi án phạt được ban ra từ tiếng còi của trọng tài.
Chính vì thế trọng tài Ken Aston đã đưa ra ý tưởng thẻ vàng, nhằm mục đích giúp cho cầu thủ, huấn luyện viên và khán giả có thể hiểu ngay đến quyết định của trọng tài có liên quan đến cảnh cáo hay đuổi cầu thủ phạm lỗi ra khỏi sân.
Đến vòng chung kết giải vô địch bóng đá thế giới 1970 tại México, FIFA đã cho áp dụng thẻ vàng trên các sân cỏ thế giới! Sự ra đời của nó đã được nhiều người hoan nghênh, ủng hộ.
Ban đầu thẻ được làm bằng giấy, nhưng hiện nay, thẻ được làm bằng chất liệu nhựa có thể sử dụng không sợ trời mưa, và chống được ẩm mốc khi tiếp xúc với mồ hôi của trọng tài. Loại thẻ này do nước Thuỵ Sĩ sản xuất được FIFA tín nhiệm để cung cấp cho các trọng tài quốc tế. Loại thẻ này còn có ưu điểm là có chia sẵn các ô ghi thứ tự số áo của các cầu thủ, và trọng tài chỉ cần thao tác đơn giản, đánh dấu vào đó.
== Hậu quả ==
Một cầu thủ sẽ được cảnh cáo và sau đó nhận một thẻ vàng có thể tiếp tục chơi trong trận đấu. Một cảnh cáo đó là "cảnh báo đầu tiên trong một trận đấu". Nếu nhận thẻ vàng thứ hai thì thẻ vàng đó được chuyển thành một thẻ đỏ và cầu thủ đó bị đuổi khỏi sân, không được thay bằng cầu thủ dự bị. Trong một giải đấu lớn như Euro, cầu thủ bị phạt 2 thẻ vàng trong 2 trận khác nhau sẽ bị cấm thi đấu trận kế tiếp. (sau trận bị phạt thẻ thứ hai)
== Những lỗi bị phạt thẻ vàng ==
Có hành vi phi thể thao.
Có lời lẽ hoặc hành động phản đối lại quyết định của trọng tài.
Liên tục vi phạm luật.
Trì hoãn trận đấu.
Không tuân thủ quy định về cự ly trong những quả phạt hoặc quả phạt góc.
Tùy tiện ra khỏi hoặc vào sân mà không có sự đồng ý của trọng tài.
Cởi áo khi ăn mừng bàn thắng
Cởi áo khi thay người (chân vẫn đặt trong ranh giới sân)
== Các sự cố về thẻ vàng ==
Vào ngày 22 tháng 6 năm 2006, trọng tài người Anh Graham Poll dã rút tới 3 thẻ vàng dành cho hậu vệ Josep Simunic của đội Croatia trong trận vòng bảng F giữa hai đội Croatia và Australia ở World Cup 2006. Ông Poll cảnh cáo thẻ vàng đầu tiên đối với Josep Simunic ở phút thứ 62. Ở phút 90, ông rút thẻ vàng thứ hai đối với Simunic nhưng lại không rút thẻ đỏ truất quyền thi đấu của cầu thủ này như luật quy định. 3 phút sau thẻ vàng thứ hai của Simunic, Poll thổi còi kết thúc trận đấu. Tỷ số là 2 - 2 đồng nghĩa với Croatia bị loại.
Simunic nói gì đó với ông Poll và ông này tỏ vẻ rất giận dữ, đẩy anh ta ra và rút thẻ vàng thứ 3 cảnh cáo hậu vệ này. Sau đó là thẻ đỏ.
== Chú thích ==
== Liên kết ngoài == |
tổ chức sở hữu trí tuệ thế giới.txt | Tổ chức Sở hữu Trí tuệ Thế giới (tiếng Anh: World Intellectual Property Organization – WIPO; tiếng Pháp: Organisation mondiale de la propriété intellectuelle) là một trong những cơ quan chuyên môn của Liên Hiệp Quốc, được thành lập vào năm 1967 có mục tiêu chính là "đẩy mạnh hoạt động trí tuệ sáng tạo và tạo điều kiện chuyển giao công nghệ liên quan đến sở hữu trí tuệ sang các nước đang phát triển nhằm mục tiêu đẩy nhanh tốc độ phát triển kinh tế, xã hội và văn hoá" (điều 1 của Hiệp ước giữa UN và WIPO năm 1974) và phạm vi hoạt động là "khuyến khích sự sáng tạo của nhân loại và bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ trên toàn thế giới.
WIPO hiện nay có 188 thành viên và quản lý 23 hiệp ước quốc tế , đặt trụ sở chính tại Genève, Thụy Sĩ. Tổng giám đốc đương nhiệm là ông Kamil Idris.
Vatican và hầu hết các quốc gia thành viên Liên Hiệp Quốc đều tham gia vào WIPO. Những quốc gia và vùng lãnh thổ không tham gia WIPO bao gồm: Kiribati, Quần đảo Marshall, Liên bang Micronesia, Nauru, Palau, Palestine, Cộng hòa Sahrawi, Quần đảo Solomon, Đài Loan, Đông Timor, Tuvalu và Vanuatu.
== Lịch sử ==
Tiền thân của WIPO là BIRPI được thành lập vào năm 1893 để quản lý việc thực thi Công ước Berne về bảo hộ các tác phẩm văn học và nghệ thuật và Công ước Paris về bảo hộ sở hữu công nghiệp.
Công ước về thành lập Tổ chức sở hữu trí tuệ thế giới chính thức đặt nền móng cho sự thành lập của WIPO, có hiệu lực từ ngày 26 tháng 4 năm 1970. Theo điều 3 của công ước, WIPO hướng tới mục đích thúc đẩy việc bảo hộ tài sản trí tuệ trên toàn cầu. WIPO trở thành một cơ quan đặc trách của Liên hợp quốc từ năm 1974.
Không giống các cơ quan khác của Liên hợp quốc, WIPO có nguồn tài chính riêng độc lập với sự đóng góp của các quốc gia thành viên Liên hợp quốc. Năm 2006, hơn 90% trong số tiền 250 triệu francs Thụy Sĩ có được là nhờ vào tiền lệ phí đăng ký và nộp hồ sơ cho Văn phòng chính của WIPO (International Bureau) căn cứ theo quy định của Hiệp ước PCT về đăng ký bằng sáng chế (Patent Cooperation Treaty), hệ thống Thỏa ước Madrid về đăng ký nhãn hiệu quốc tế và hệ thống Thỏa ước Hague về đăng ký kiểu dáng công nghiệp.
== Phê phán ==
Giống như tất cả các diễn đàn đa chính phủ khác của Liên hợp quốc, WIPO không phải là một cơ quan dân cử. WIPO thường cố gắng đi đến các quyết định thông qua phương thức đồng thuận. Trong trường hợp phải bỏ phiếu, mỗi quốc gia thành viên của WIPO đều có một phiếu, bất kể dân số và sự đóng góp tài chính của quốc gia đó (cho WIPO) như thế nào. Điều này dẫn đến một hệ quả tất yếu liên quan đến chính sách về tài sản trí tuệ giữa các quốc gia ở Bắc và Nam bán cầu. Trong suốt những năm 60 và 70 của thế kỷ XX, các quốc gia đang phát triển có thể ngăn cản việc triển khai các hiệp định về sở hữu trí tuệ, điển hình như việc cấp bằng sáng chế dược phẩm trên phạm vi toàn cầu.
Trong những năm 1980, Hoa Kỳ và một số quốc gia phát triển đã chuyển vấn đề sở hữu trí tuệ ra khỏi khuôn khổ của WIPO và đưa vào chương trình nghị sự của GATT, và sau này là WTO, dẫn đến việc hình thành Hiệp định về các khía cạnh liên quan đến thương mại của quyền sở hữu trí tuệ (TRIPS).
Hoạt động của WIPO chủ yếu dựa vào các ủy ban, bao gồm Ủy ban thường trực về cấp bằng sáng chế (Standing Committee on Patents (SCP)), Ủy ban thường trực về bản quyền và các quyền liên quan (Standing Committee on Copyright and Related Rights (SCCR)), Ủy ban cố vấn về thực thi pháp luật (Advisory Committee on Enforcement (ACE)), Ủy ban liên chính phủ về tiếp cận tài nguyên di truyền, kiến thức truyền thống và văn hóa dân gian (the Intergovernmental Committee (IGC) on Access to Genetic Resources, Traditional Knowledge and Folklore) và Nhóm công tác về cải cách Hiệp định hợp tác về bằng sáng chế.
Tháng 10 năm 2004, WIPO đồng ý thông qua đề xuất của Argentina và Brazil về thiết lập một chương trình nghị sự phát triển cho WIPO - trên cơ sở của Tuyên bố Geneva về tương lai của Tổ chức Sở hữu Trí tuệ Thế giới . Đề xuất này đã nhận được sự ủng hộ từ các nước đang phát triển. Một số cơ quan dân sự xã hội đã bắt đầu làm việc trên Dự thảo về tiếp cận kiến thức (Draft of Access to Knowledge - A2K).
Trong lần trao đổi với tờ Bưu điện Washington vào năm 2003, Lois Boland đã nói rằng "phần mềm mã nguồn mở đang chống lại nhiệm vụ thúc đẩy quyền sở hữu trí tuệ của WIPO". Ông cũng cho rằng, "để tổ chức một cuộc họp với mục đích là từ chối hoặc từ bỏ những quyền đó có lẽ sẽ đi ngược lại tôn chỉ của WIPO.
== Mạng lưới thông tin ==
WIPO cũng đã thiết lập mạng thông tin toàn cầu WIPOnet. Dự án này hướng tới việc liên kết hơn 300 tổ chức về sở hữu trí tuệ ở tất cả cácc nước thành viên của WIPO. Bên cạnh việc cung cấp một cách thức trao đổi thông tin an toàn giữa các bên, WIPOnet cũng đánh dấu bước đi đầu tiên của WIPO trong lĩnh vực dịch vụ về sở hữu trí tuệ.
== Chú thích ==
== Liên kết nội ==
Sở hữu trí tuệ
Công báo PCT
== Liên kết ngoài ==
Website chính thức của WIPO
Danh sách các quốc gia thành viên |
giải quần vợt marseille mở rộng 2017 - đôi.txt | Mate Pavić và Michael Venus đã là đương kim vô địch, nhưng Venus chọn thi đấu ở Delray Beach đang thi đấu. Pavić chơi với Alexander Peya, nhưng thua ở tứ kết trước cặp đôi Robin Haase và Dominic Inglot.
Julien Benneteau và Nicolas Mahut dành danh hiệu, đánh bại Haase và Inglot ở chung kết, 6–4, 6–7(9–11), [10–5].
== Hạt giống ==
== Kết quả ==
=== Chú giải ===
=== Lịch thi đấu ===
== Tham khảo ==
Vòng đấu chính thức |
kinh tế học.txt | Kinh tế học là môn khoa học xã hội nghiên cứu sự sản xuất, phân phối và tiêu dùng các loại hàng hóa và dịch vụ. Kinh tế học cũng nghiên cứu cách thức xã hội quản lý các nguồn tài nguyên (nguồn lực) khan hiếm của nó. Nghiên cứu kinh tế học nhằm mục đích giải thích cách thức các nền kinh tế vận động và cách tác nhân kinh tế tương tác với nhau. Các nguyên tắc kinh tế được ứng dụng trong đời sống xã hội, trong thương mại, tài chính và hành chính công, thậm chí là trong ngành tội phạm học, giáo dục, xã hội học, luật học và nhiều ngành khoa học khác.
== Định nghĩa kinh tế học ==
Theo một khái niệm chung nhất, kinh tế học là một bộ môn khoa học xã hội giúp cho con người hiểu về cách thức vận hành của nền kinh tế nói chung và cách thức ứng xử của từng chủ thể tham gia vào nền kinh tế nói riêng. Vấn đề khan hiếm nguồn lực yêu cầu các nền kinh tế hay các đơn vị kinh tế phải lựa chọn. Các Nhà Kinh tế cho rằng: Kinh tế học là "khoa học của sự lựa chọn". Kinh tế học tập trung vào việc sử dụng và quản lý các nguồn lực hạn chế để đạt được thỏa mãn tối đa nhu cầu vật chất của con người. Đặc biệt, kinh tế học nghiên cứu hành vi trong sản xuất, phân phối và tiêu dùng hàng hóa, dịch vụ trong thế giới có nguồn lực hạn chế.
Như vậy, kinh tế học quan tâm đến hành vi của toàn bộ nền kinh tế tổng thể và hành vi của các chủ thể riêng lẻ trong nền kinh tế, bao gồm các doanh nghiệp,hộ tiêu dùng, người lao động và chính phủ. Mỗi chủ thể kinh tế đều có mục tiêu để hướng tới, đó là tối đa hóa lợi ích kinh tế của họ. Mục tiêu của các doanh nghiệp là tối đa hóa lợi nhuận, mục tiêu của các hộ tiêu dùng là tối đa hóa mức độ tiêu dùng, mục tiêu của người lao động là tối đa hóa tiền công và mục tiêu của chính phủ là tối đa hóa lợi ích xã hội. Kinh tế học có nhiệm vụ giúp các chủ thể kinh tế giải quyết bài toán tối đa hóa lợi ích kinh tế này.
Kinh tế học có hai bộ phận cấu thành hữu cơ là kinh tế học vi mô và kinh tế học vĩ mô. Các Nhà Kinh tế phân kinh tế học theo hai mức độ phân tích khác nhau: vi mô và vĩ mô.
=== Kinh tế học vi mô ===
Kinh tế học vi mô nghiên cứu các quyết định của các cá nhân và doanh nghiệp và các tương tác giữa các quyết định này trên thị trường. Kinh tế học vi mô giải quyết các đơn vị cụ thể của nền kinh tế và xem xét một cách chi tiết cách thức vận hành của các đơn vị kinh tế hay các phân đoạn của nền kinh tế.
Mục tiêu của kinh tế học vi mô nhằm giải thích giá và lượng của một hàng hóa cụ thể. Kinh tế học vi mô còn nghiên cứu các quy định, thuế của chính phủ tác động đến giá và lượng hàng hóa và dịch vụ cụ thể. Chẳng hạn, kinh tế học vi mô nghiên cứu các yếu tố nhằm xác định giá và lượng xe hơi, đồng thời nghiên cứu các quy định và thuế của chính phủ tác động đến giá cả và sản lượng xe hơi trên thị trường.
=== Kinh tế học vĩ mô ===
Kinh tế học vĩ mô nghiên cứu nền kinh tế quốc gia và kinh tế toàn cầu, xem xét xu hướng phát triến và phân tích biến động một cách tổng thể, toàn diện về cấu trúc của nền kinh tế và mối quan hệ giữa các bộ phận cấu thành của nền kinh tế.
Mục tiêu phân tích của kinh tế học vĩ mô nhằm giải thích giá cả bình quân, tổng việc làm, tổng thu nhập, tổng sản lượng sản xuất. Kinh tế học vĩ mô còn nghiên cứu các tác động của chính phủ như thu ngân sách, chi tiêu chính phủ, thâm hụt ngân sách lên tổng việc làm và tổng thu nhập. Chẳng hạn, kinh tế học vĩ mô nghiên cứu chi phí sống bình quân của dân cư, tổng giá trị sản xuất, thu chi ngân sách của một quốc gia. Sự phân biệt kinh tế học vi mô và vĩ mô không có nghĩa là phải tách rời các vấn đề kinh tế một cách riêng biệt. Nhiều vấn đề liên quan đến cả hai. Chẳng hạn, sự ra đời của video game và sự phát triển của thị trường sản phẩm truyền thông. Kinh tế học vĩ mô giải thích ảnh hưởng của phát minh lên tổng chi tiêu và việc làm của toàn bộ nền kinh tế. Trong khi đó, kinh tế học vi mô giải thích các ảnh hưởng của phát minh lên giá và lượng của sản phẩm này và số người tham gia trò chơi.
Kinh tế học vi mô và kinh tế học vĩ mô là hai bộ phận cấu thành quan trọng của môn kinh tế học, có mối quan hệ hữu cơ với nhau. Mối quan hệ này cho thấy rằng, trong thực tiễn quản lý kinh tế, cần thiết phải giải quyết tốt các vấn đề kinh tế trên cả hai phương diện vi mô và vĩ mô. Nếu chỉ tập trung vào những vấn đề vi mô như tối đa hóa lợi nhuận của doanh nghiệp mà không có sự điều tiết của chính phủ, thì không thể có một nền kinh tế thực sự phát triển ổn định, bình đẳng và công bằng.
Kinh tế học là một nhánh của khoa học xã hội nghiên cứu sản xuất, phân phối, tiêu dùng các hàng hóa và dịch vụ. Từ "economics" (nghĩa là: kinh tế học) trong tiếng Anh (và các chữ tương tự như: "économiques" trong tiếng Pháp, "Ökonomik" trong tiếng Đức) bắt nguồn từ tiếng Hy Lạp với "oikos" là "nhà" và "nomos" là "quy tắc" hay "quy luật", nghĩa là "quy tắc quản lý gia đình". Trong tiếng Việt, từ "kinh tế" là một từ Hán Việt, rút gọn từ cụm từ "kinh bang tế thế"(nghĩa là: trị nước, giúp đời) và từ "học" là một từ Hán Việt có nghĩa là "tiếp thu tri thức" thường được đi kèm sau tên các ngành khoa học (như "ngôn ngữ học","toán học"). Nội dung của khái niệm kinh tế đã mở rộng cùng với sự phát triển xã hội và nhận thức của con người. Kinh tế được xem là một lĩnh vực hoạt động của xã hội loài người trong việc tạo ra giá trị đồng thời với sự tác động của con người vào thiên nhiên nhằm thỏa mãn nhu cầu của con người và xã hội. Xuất phát từ nhận thức sự phát triển những mối quan hệ trong quá trình đó đã hình thành một môn khoa học, gọi là khoa học kinh tế, gồm tập hợp các ngành khoa học được chia thành hai nhóm:
Kinh tế học lý luận (lý thuyết kinh tế) - chuyên nghiên cứu bản chất, nội dung và quy luật phát triển chung nhất của các quá trình kinh tế.
Kinh tế học ứng dụng – nghiên cứu những chức năng riêng biệt trong quản lý kinh tế, hay nói cách khác, xây dựng những lý thuyết và phương pháp quản lý để ứng dụng trong các ngành kinh tế riêng biệt.
Sản xuất, tiêu dùng, tiết kiệm, đầu tư, mua quà tặng hay đi du lịch... mỗi hành động của con người hiện đại đều ngầm chứa một hành vi kinh tế, vậy nên thật khó có thể đưa ra một định nghĩa kinh tế học vừa đơn giản mà lại vừa bao quát vấn đề.
Mặc dù, những cuộc thảo luận về sản xuất và phân phối đã trải qua một quá trình lịch sử lâu dài, kinh tế học được xem là một khoa học độc lập chỉ được xác định chính thức vào thời điểm xuất bản cuốn sách "Của cải của các dân tộc" viết bởi Adam Smith năm 1776. Smith dùng thuật ngữ "kinh tế chính trị" để gọi tên môn khoa học này, nhưng dần dần, thuật ngữ này đã được thay thế bằng thuật ngữ "kinh tế học" từ sau năm 1870. Ông cho rằng "sự giàu có" chỉ xuất hiện khi con người có thể sản xuất nhiều hơn với nguồn lực lao động và tài nguyên sẵn có. Như vậy, theo Smith, định nghĩa kinh tế cũng là định nghĩa về sự giàu có .
John Stuart Mill định nghĩa khoa học kinh tế là "khoa học ứng dụng của sản xuất và phân phối của cải" . Định nghĩa này được đưa vào từ điển tiếng Anh rút gọn Oxford mặc dù nó không đề cập đến vai trò quan trọng của tiêu thụ. Đối với Mill của cải được xác định như toàn bộ những vật thể có ích.
Định nghĩa được xem là bao quát nhất cho kinh tế học hiện đại do Lionel Robbins đưa ra là: "Khoa học nghiên cứu hành vi con người cũng như mối quan hệ giữa nhu cầu và nguồn lực khan hiếm, trong đó có giải pháp chọn lựa cách sử dụng" . Theo ông, sự khan hiếm nguồn lực có nghĩa là tài nguyên không đủ để thỏa mãn tất cả mọi ước muốn và nhu cầu của mọi người. Không có sự khan hiếm và các cách sử dụng nguồn lực thay thế nhau thì sẽ không có vấn đề kinh tế nào cả. Do đó, kinh tế học, giờ đây trở thành khoa học của sự lựa chọn bị ảnh hưởng như thế nào bởi các động lực khuyến khích và các nguồn lực.
Một trong các ứng dụng của kinh tế học là giải thích làm thế nào mà nền kinh tế, hay hệ thống kinh tế hoạt động và có những mối quan hệ nào giữa những người chơi (tác nhân) kinh tế trong một xã hội rộng lớn hơn. Những phương pháp phân tích vốn ban đầu là của kinh tế học, giờ đây, cũng được ứng dụng trong nhiều lĩnh vực khác liên quan đến sự lựa chọn của con người trong các tình huống xã hội như tội phạm, giáo dục, gia đình, khoa học sức khoẻ, luật, chính trị, tôn giáo, thể chế xã hội hay chiến tranh.
Kinh tế học lý luận là phần quan trọng nhất của khoa học kinh tế, tạo ra cơ sở lý luận để phát triển kinh tế học ứng dụng. Bằng các cách tiếp cận khác nhau các nhà nghiên cứu muốn đưa ra những học thuyết hợp lý nhằm làm sáng tỏ bức tranh hoạt động kinh tế của xã hội và theo đó, sử dụng học thuyết để làm công cụ phân tích và dự đoán những xu hướng kinh tế. Các lý thuyết kinh tế được xây dựng từ các phạm trù của kinh tế như: giá trị, lao động, trao đổi, tiền tệ, tư bản v.v. Trong đó các phạm trù của kinh tế đóng vai trò như những công cụ nhận thức riêng biệt. Các quá trình kinh tế được xem là cơ bản và là đối tượng nghiên cứu của khoa học kinh tế là sản xuất, phân phối, trao đổi và tiêu thụ hàng hóa. Tuy nhiên nhiều sự vật, hiện tượng, quá trình mới, đã vượt khỏi khuôn khổ của các phạm trù được xác lập từ trước, làm suy yếu tính lý giải và khả năng phân tích của nhiều học thuyết. Mặt khác, các học thuyết riêng biệt cũng chỉ làm sáng tỏ phần nào đó của đời sống kinh tế mà thôi. Kinh tế học lý luận vẫn còn đang tiếp tục sửa đổi, bổ sung và phát triển. Người nhận giải thưởng Nobel Kinh tế năm 1988 Maurice Allais nhận định vấn đề phát triển kinh tế học lý luận như sau: "Cũng như vật lý học hiện nay cần một lý thuyết thống nhất về vạn vật hấp dẫn, các ngành khoa học nhân văn cần một lý thuyết thống nhất về hành vi con người" . Vấn đề đó đến nay vẫn còn là một khoảng trống trong khoa học kinh tế.
Kinh tế học là việc nghiên cứu xem xã hội quyết định các vấn đề sản xuất cái gì, sản xuất như thế nào và sản xuất cho ai..
== Cách tiếp cận kinh tế học lý luận ==
Xem kinh tế như một hệ thống của lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất. Trong đó lý thuyết nghiên cứu các biểu hiện bên ngoài của các quá trình kinh tế liên hệ chúng với bản chất xã hội trong các giai đoạn lịch sử nhất định. Cách tiếp cận này là định hướng của kinh tế chính trị Marxist.
Xem xét quan hệ nhu cầu - tài nguyên với nhận định rằng nhu cầu là vô hạn, còn tài nguyên là hữu hạn. Trên cơ sở đó lý thuyết kinh tế hướng đến việc tìm ra hiệu quả kinh tế thông qua lựa chọn hợp lý các yếu tố hay tổ hợp các yếu tố sản xuất. Cách tiếp cận này là cơ sở nghiên cứu của Kinh tế học hiện tại. Nó định hướng cho nghiên cứu vấn đề phân phối các nguồn tài nguyên khan hiếm. Quá trình phân phối trước hết đối mặt với vấn đề con người: "Ai được sử dụng gì?", sau đó là vấn đề thời gian: "Sử dụng trong hiện tại hay trong tương lai?" Trường phái kinh tế học cổ điển cho rằng thị trường là nơi có thể đưa ra một cách tối ưu quyết định ai, tài nguyên nào và khi nào sử dụng. Kể từ John Maynard Keynes, kinh tế học hiện đại được dung hòa giữa vai trò của thị trường và sự can thiệp của nhà nước.
Xem hệ thống xã hội là tập hợp các quan hệ kinh tế-xã hội mà mục đích của hệ thống đó là tăng trưởng kinh tế bền vững và thịnh vượng xã hội thông qua sử dụng hiệu quả tài nguyên và cách điều hòa hợp lý của nhà nước. Cách tiếp cận này tạo cơ sở nghiên cứu cho kinh tế học định chế.
Hiện nay vẫn chiếm ưu thế là cách tiếp cận về sự khan hiếm tài nguyên. Bởi vì các tài nguyên mà con người có thể sử dụng được là hữu hạn, cho nên con người buộc phải lựa chọn cách sử dụng chúng thế nào để đạt lợi ích lớn nhất.
== Các lĩnh vực nghiên cứu của khoa học kinh tế ==
Lĩnh vực nghiên cứu được phân loại bằng các cách khác nhau:
Kinh tế vi mô, kinh tế vĩ mô và kinh tế thế giới là cách chia theo kinh tế học hiện tại (Modern Economics)
Kinh tế học thực chứng và kinh tế học chuẩn tắc. Kinh tế học được gọi là thực chứng khi nó nhằm mục đích giải thích các hậu quả từ những lựa chọn khác nhau dựa trên một tập hợp các giả định hay các quan sát và được gọi là chuẩn tắc khi nó nhằm đưa ra lời khuyên cần phải làm gì.
Kinh tế chính thống và kinh tế phi chính thống. Được gọi là chính thống nếu định hướng nghiên cứu tuân theo tổ hợp giả thuyết "Hợp lý – Chủ nghĩa cá thể - Cân bằng" và phi chính thống nếu chuyên theo "Định chế - Lịch sử - Cơ cấu xã hội".
Phân loại theo ngành nếu nghiên cứu kinh tế kết hợp với các ngành khoa học khác hoặc vấn đề kinh tế nằm trong phạm vi các lĩnh vực nghiên cứu khác. Đó là: địa lý kinh tế, lịch sử kinh tế, kinh tế văn hóa, kinh tế công cộng, kinh tế tiền tệ, kinh tế quốc tế, kinh tế công nghiệp, kinh tế nông nghiệp, kinh tế môi trường, kinh tế tài chính, kinh tế thông tin, kinh tế lao động, luật và kinh tế, toán kinh tế, lý thuyết trò chơi, thống kê, kinh tế lượng, kế toán.
== Lược sử khoa học kinh tế và các trường phái kinh tế ==
=== Các trường phái kinh tế học sơ khai ===
Các trường phái kinh tế học cổ đại xuất hiện rất sớm từ thời các nền dân chủ Lưỡng Hà, Hy Lạp, La Mã, Ấn Độ, Trung Quốc, Ba Tư và Ả Rập. Nhiều học giả nổi tiếng như Aristotle, Chanakya, Tần Thuỷ Hoàng, Thomas Aquinas và Ibn Khaldun vào thế kỷ 14. Joseph Schumpeter được xem là người khởi đầu cho giai đoạn Hậu triết học kinh viện vào khoảng thời gian từ thế kỷ 14 đến thế kỷ 17, được đánh giá là "đã tiến rất gần tới chỗ kinh tế học trở thành một khoa học thật sự", khi đã đề cập đến tiền tệ, lãi suất, thuyết giá trị trên quan điểm quy luật tự nhiên. Những khám phá của Ibn Khaldun trong cuốn Muqaddimah được Schumpeter đánh giá là người đi trước và tiến rất gần tới kinh tế học hiện đại, mặc dù các lý thuyết của ông không được biết đến nhiều cho tới tận gần đây.
Lý thuyết kinh tế là môn khoa học từ khi nó trở thành một hệ thống kiến thức về các quy luật, nguyên tắc, phương pháp, có khả năng phản ánh và điều hành sự phát triển kinh tế và xã hội. Những tư tưởng kinh tế đã bắt đầu xuất hiện ở thế kỷ 17-18, giai đoạn hình thành chủ nghĩa tư bản. Có hai nhóm học giả, là những nhà trọng thương và những người trọng nông, đã có những ảnh hưởng trực tiếp hơn đến những bước phát triển về sau này của kinh tế học. Cả hai nhóm này đều liên quan đến sự phát triển của chủ nghĩa bảo hộ nội địa và chủ nghĩa tư bản hiện đại. Trường phái kinh tế đầu tiên là chủ nghĩa trọng thương (Mercantilism) mà người đại diện của nó là Antuan Moncretien với tác phẩm "Luận bàn về kinh tế chính trị" (1615) đã đưa khái niệm này vào tập hợp thuật ngữ khoa học. Khoa học kinh tế đầu tiên phát triển từ kinh tế chính trị, tuy cuối thế kỷ 19 ở phương Tây thuật ngữ kinh tế chính trị (Political economy) đã được thay bằng thuật ngữ kinh tế học (Economics), đồng thời với sự xuất hiện nhiều học thuyết kinh tế tách các quan hệ chính trị-xã hội ra khỏi đối tượng nghiên cứu, đề xuất những phương pháp mới không liên quan đến thuyết giá trị về lao động hay quyền lợi giai cấp. Chủ nghĩa trọng thương là một học thuyết kinh tế nở rộ vào thời gian từ thế kỷ 16 đến thế kỷ 18 trong các cuộc đàm đạo chính sự, giữa những thương gia và chính khách. Theo chủ nghĩa này thì của cải của quốc gia nên phụ thuộc vào vàng và bạc. Các quốc gia không có sẵn mỏ vàng/bạc có thể vẫn sở hữu vàng/bạc thông qua thương mại bằng cách bán hàng hóa ra nước ngoài và hạn chế nhập khẩu hàng hóa, trừ vàng/bạc. Học thuyết kêu gọi nên nhập khẩu nguyên liệu thô về để chế biến và xuất khẩu lại ra nước ngoài, và chính phủ nên đánh thuế vào hàng hóa đã chế tạo nhập khẩu từ nước ngoài cũng như cấm chế tạo hàng hóa ở các thuộc địa.
Chủ nghĩa trọng nông, một nhóm các học giả và các nhà lý luận người Pháp vào thế kỷ 18, đã phát triển một quan điểm xem nền kinh tế như một vòng luân chuyển của thu nhập và đầu ra; họ cho rằng lĩnh vực quan trọng của kinh tế là sản xuất chứ không phải thương mại. Người đứng đầu khuynh hướng này là François Quesnay. Trong "Biểu đồ kinh tế" của mình ông phân tích quá trình tái sản xuất xã hội và phân phối sản phẩm xã hội giữa ba thành phần giai cấp: người sản xuất, chủ đất và người phi sản xuất. Như vậy trường phái cổ điển đã chuyển hướng nghiên cứu từ lĩnh vực thương mại sang lĩnh vực sản xuất và tái sản xuất, xây dựng nền móng cho thuyết giá trị về lao động. Các nhà kinh tế cổ điển đánh giá phát triển xã hội bằng sự kết hợp hai phương diện kinh tế và xã hội. Những nhà trọng nông tin rằng chỉ có sản xuất nông nghiệp mới có thể tạo ra thặng dư rõ rệt so với chi phí, vì thế, nông nghiệp là nền tảng của của cải. Họ phản đối chính sách của những nhà trọng thương đã khuếch trường chế tạo và thương mại bằng cách bòn rút từ nông nghiệp, trong đó có thuế quan nhập khẩu. Những nhà trọng nông ủng hộ việc từ bỏ thuế đánh trên chi phí theo đơn vị hành chính sang sử dụng một loại thế duy nhất đánh trên thu nhập của chủ đất. Những sự thay đổi quan điểm về thuế bất động sản vẫn còn xuất hiện trong tư tưởng của các nhà kinh tế học sau này (ví dụ như Henry George vào một thế kỷ sau), với các quan điểm về doanh thu thuế đạt được từ những nguồn không gây méo mó thị trường. Các nhà trọng nông, nói chung, là một phía đối chọi với làn sóng của chủ nghĩa trọng thương với những quy tắc thương mại; họ ủng hộ một chính sách "laissez-faire" (tiếng Pháp: dịch: hãy cứ làm điều đó) kêu gọi sự can thiệp tối thiểu của chính phủ vào thị trường.
=== Kinh tế học cổ điển ===
Phát triển thật sự của kinh tế học bắt đầu từ trường phái cổ điển. Những công trình khoa học của những nhà kinh tế học đại diện trường phái này như "Luận bàn về thuế" (1662) của William Petty, "Biểu đồ kinh tế" (1758) của François Quesnay, "Nghiên cứu về bản chất và nguyên nhân giàu có của các quốc gia" (hay "Sự giàu có của các quốc gia") (1776) của Adam Smith, "Nguyên lý kinh tế chính trị và áp thuế" (1817) của David Ricardo.
Cuối nửa thế kỷ 19 đầu thế kỷ 20 từ trường phái cổ điển xuất hiện nhiều khuynh hướng khác, trong số đó có Kinh tế học tân cổ điển với các nhà khoa học Carl Menger, E. Roy Weintraub, Léon Walras, William Stanley Jevons, John Bates Clark, Alfred Marshall và Kinh tế chính trị Marx-Lenin. Trong Kinh tế tân cổ điển có trường phái Kinh tế lịch sử (V. Zombart, M.Veblen), học thuyết định chế (T. Veblen, J. Gelbrath), thuyết hiệu dụng biên (J. B. Clark, C. Menger, F. Hayek). Các nhà kinh tế tân cổ điển nghiên cứu các quá trình kinh tế cụ thể, hành vi các chủ thể kinh tế, cơ chế thị trường tự do. Theo họ nhà nước chỉ giữ vững các điều kiện để phát triển thị trường và cạnh tranh, nhưng không nên can thiệp vào hoạt động kinh tế.
=== Kinh tế học Mác-xít ===
Kinh tế chính trị Marx-Lenin được trình bày trong các tác phẩm lý luận như: "Tư bản" (Karl Marx), "Chống Duyring" (F. Engels), "Chủ nghĩa đế quốc là giai đoạn tột cùng của chủ nghĩa tư bản" (V.I.Lenin). Trên cơ sở phân tích sự phát triển chủ nghĩa tư bản trong giai đoạn lịch sử của nó Marx đã phát triển và củng cố thuyết giá trị về lao động và xây dựng thuyết giá trị thặng dư, thuyết tích lũy và chuyển động tư bản, chỉ ra cơ chế vận động và mâu thuẫn trong xã hội tư sản.
=== Trường phái Keynesian ===
Trường phái Keynesian xuất hiện trong thập niên 30 của thế kỷ 20 do nhà kinh tế lỗi lạc John Maynard Keynes sáng lập như một khuynh hướng độc lập với trường phái tân cổ điển. Tác phẩm "Lý thuyết cơ bản về việc làm, lãi suất và tiền tệ" của Keynes đưa ra những phương pháp điều chỉnh kinh tế từ phía nhà nước nhằm giảm mức thất nghiệp, dùng các công cụ tài chính để làm tăng hiệu quả lượng cầu hàng hóa, tăng tỷ lệ tiêu dùng.
Vào nửa đầu thập niên 50 thế kỷ 20 trường phái Tân Keynesian tiếp nhận những quan điểm cơ bản của Keynes và trình bày lý thuyết tốc độ và yếu tố tăng trưởng, xây dựng mô hình tăng trưởng kinh tế. Những công trình nghiên cứu của R. Harrod, E. Domar, E. Hansen tập trung vào vấn đề kết hợp hiệu quả các yếu tố, làm sao trong điều kiện cạnh tranh tự do có thể tăng lượng sản xuất và giảm tối thiểu chi phí lao động và vốn.
Trường phái tân cổ điển với học thuyết tự do kinh doanh còn phục hưng trở lại ở thập niên 70-80 với chủ nghĩa tiền tệ. Đứng đầu học thuyết này là Milton Friedman, F. Hayek, cho rằng tiền tệ và lưu thông tiền tệ là công cụ hiệu quả của điều chỉnh và tự điều chỉnh thị trường, có khả năng đảm bảo ổn định và phát triển phi khủng hoảng kinh tế.
Quan điểm về sự kết hợp giữa điều hòa sản xuất khu vực nhà nước với kích thích tự do thị trường là khuynh hướng của chủ nghĩa tổng hợp do J. R. Hicks, P. Samuelson và những người khác lập nên trong những năm gần đây.
Các học thuyết kinh tế ra đời từ các trường phái hay khuynh hướng nổi tiếng như trường phái Áo, trường phái Chicago, trường phái Freiburg, trường phái Lausanne và trường phái Stockholm.
== Các quy luật kinh tế ==
=== Các quy luật kinh tế khách quan ===
Quy luật giá trị
Quy luật cầu
Quy luật cung
Quy luật cung - cầu
Quy luật ích dụng giảm biên
Quy luật hiệu suất giảm
Quy luật chi phí thay thế tăng
Quy luật ảnh hưởng của tình trạng khan hiếm tài nguyên
=== Các quy luật cơ bản của kinh tế thị trường ===
Xu hướng bảo toàn cân bằng của hệ thống
Mâu thuẫn phát triển của hệ thống
Tính chu kỳ của hệ thống
Sức chứa biên của thị trường
Giá trị sử dụng của hàng hóa
Sự kích thích quyền lợi nhà sản xuất
Phân phối thu nhập theo lao động
Sự thay thế và tái tạo tài nguyên vật chất và tài nguyên lao động
Hiệu quả tối ưu của sở hữu hoàn toàn.
== Các hệ thống kinh tế ==
Hệ thống kinh tế là toàn bộ những thành phần có trật tự, mang tính tổ chức, tương đối biệt lập, và có khả năng thực hiện một loạt các chức năng mà những thành phần riêng biệt của hệ thống không thể thực hiện được. Để xác định đặc điểm của một hệ thống kinh tế bất kỳ người ta dựa trên sự phân biệt các thành phần đặc trưng, tính tổ chức, cơ cấu và các chức năng. Kinh tế là một hệ thống phức tạp, nhiều cấp bậc, tự phát triển. Hai yếu tố quan trọng xây dựng nên hệ thống kinh tế là chủ thể kinh tế và môi trường định chế. Một phương pháp nghiên cứu hệ thống kinh tế là so sánh kinh tế. Đó là xu hướng phân tích kinh tế xuất hiện sau thế chiến thứ hai và gắn liền với tên tuổi các nhà kinh tế học nổi tiếng như P. Samuelson, K. Landuaer, V. Oyken, K. Polany.
Có 3 xu hướng cơ bản về phân tích hệ thống kinh tế:
So sánh những hệ thống kinh tế trước và sau công nghiệp hóa (phân tích so sánh dọc)
So sánh những hệ thống kinh tế trong cùng một thời đại (phân tích so sánh ngang). Ví dụ: so sánh kinh tế kế hoạch tập trung và kinh tế thị trường
So sánh các hệ thống chuyển tiếp. Ví dụ từ kinh tế hành chính-mệnh lệnh sang kinh tế thị trường, hay kinh tế thị trường tự do sang kinh tế hỗn hợp.
== Các khái niệm cơ bản ==
=== Giới hạn khả năng sản xuất, chi phí cơ hội và hiệu quả ===
Kinh tế học trả lời 3 câu hỏi cơ bản:
Sản xuất cái gì, với số lượng bao nhiêu? (tiêu dùng hay đầu tư, hàng hóa tư nhân hay công cộng, thịt hay khoai tây...)
Sản xuất như thế nào? (sử dụng công nghệ nào?...)
Sản xuất cho ai? (sản xuất phải hướng đến nhu cầu người tiêu dùng, phân phối đầu ra cho ai?...)
Một công cụ để phân tích vấn đề này là đường giới hạn khả năng sản xuất (viết tắt: theo tiếng Anh: PPF- production possibilities frontier). Giả sử, một nền kinh tế chỉ sản xuất hai loại hàng hóa. Đường PPF chỉ ra các sản lượng khác nhau của hai loại hàng hóa. Công nghệ và nguồn lực đầu vào (như: đất đai, nguồn vốn, lao động tiềm năng) cho trước sẽ sản xuất ra một mức giới hạn tổng sản lượng đầu ra. Điểm A trên đồ thị chỉ ra rằng có một lượng FA thực phẩm và một lượng CA máy tính được sản xuất khi sản xuất ở mức hiệu quả. Cũng tương tự như vậy đối với một lượng FB thực phẩm và CB máy tính ở điểm B. Mọi điểm trên đường PPF đều chỉ ra tổng sản lượng tiềm năng tối đa của nền kinh tế, mà ở đó, sản lượng của một loại hàng hóa là tối đa tương ứng với một lượng cho trước của loại hàng hóa khác.
Sự khan hiếm chỉ ra rằng, mọi người sẵn sàng mua nhưng không thể mua ở các mức sản lượng ngoài đường PPF. Khi di chuyển dọc theo đường PPF, nếu sản xuất một loại hàng hóa nào nhiều hơn thì sản xuất một loại hàng hóa khác phải ít đi, sản lượng hai loại hàng hóa có mối quan hệ tỷ lệ nghịch. Điều này xảy ra là bởi vì để tăng sản lượng một loại hàng hóa đòi hỏi phải có sự dịch chuyển nguồn lực đầu vào để sản xuất loại hàng hóa kia. Độ dốc tại một điểm của đồ thị thể hiện sự đánh đổi giữa hai loại hàng hóa. Nó đo lường chi phí của một đơn vị tăng thêm của một loại hàng hóa khi bỏ không sản xuất một loại hàng hóa khác, đây là một ví dụ về chi phí cơ hội. Chi phí cơ hội được miêu tả như là một "mối quan hệ cơ bản giữa khan hiếm và lựa chọn". Trong kinh tế thị trường, di chuyển dọc theo một đường có thể được miêu tả như là lựa chọn xem có nên tăng sản lượng đầu ra của một loại hàng hóa trên chi phí của một loại hàng hóa khác không.
Với sự giải thích như trên, mỗi điểm trên đường PPF đều thể hiện hiệu quả sản xuất bằng cách tối đa hóa đầu ra với một sản lượng đầu vào cho trước. Một điểm ở bên trong đường PPF, ví dụ như điểm U, là có thể thực hiện được nhưng lại ở mức sản xuất không hiệu quả (bỏ phí không sử dụng các nguồn lực đầu vào). Ở mức này, đầu ra của một hoặc hai loại hàng hóa có thể tăng lên bằng cách di chuyển theo hướng đông bắc đến một điểm nằm trên đường cong. Một ví dụ cho sản xuất không hiệu quả là thất nghiệp cao trong thời kỳ suy thoái kinh tế. Mặc dù vậy, một điểm trên đường PPF không có nghĩa là đã đạt hiệu quả phân phối một cách đầy đủ nếu như nền kinh tế không sản xuất được một tập hợp các loại hàng hóa phù hợp với sự ưa thích của người tiêu dùng. Liên quan đến sự phân tích này là kiến thức được nghiên cứu trong môn kinh tế học công cộng, môn khoa học nghiên cứu làm thế nào mà một nền kinh tế có thể cải thiện sự hiệu quả của nó. Tóm lại, nhận thức về sự khan hiếm và việc một nền kinh tế sử dụng các nguồn lực như thế nào cho hiệu quả nhất là một vấn đề cốt yếu của kinh tế học.
=== Sự chuyên môn hóa, các nhóm lao động và lợi ích từ thương mại ===
Sự chuyên môn hóa trong sản xuất đã rất phổ biến trong tổ chức sản xuất. Người ta đã nói đến từ lâu những đóng góp của chuyên môn hóa vào hiệu quả kinh tế và tiến bộ công nghệ.
Lý thuyết chỉ ra rằng, các động lực thị trường như là giá sản phẩm đầu ra và đầu vào để sản xuất sẽ phân bổ các yếu tố sản xuất dựa theo lợi thế so sánh.
=== Tiền ===
Tiền là phương tiện thanh toán khi trao đổi ở hầu hết các nền kinh tế thị trường và là một đơn vị trao đổi thể hiện giá cả. Tiền là một thiết chế xã hội, giống như ngôn ngữ. Là một trung gian trao đổi, tiền làm cho thương mại được tiến hành thuận tiện hơn. Chức năng kinh tế của tiền là trái ngược với cách thức trao đổi hàng đổi hàng (trao đổi không dùng tiền), tiền làm giảm chi phí giao dịch.
=== Cung và cầu ===
Lý thuyết cung cầu là nguyên tắc giải thích giá và lượng hàng hóa trao đổi trong một nền kinh tế thị trường.Trong kinh tế vi mô, nó đề cập đến giá và đầu ra trong điều kiện thị trường cạnh tranh hoàn hảo.
Đối với một thị trường hàng hóa cho trước, cầu là số lượng mà mọi người mua tiềm năng chuẩn bị mua tại mỗi đơn vị giá hàng hóa. Cầu được thể hiện bởi một bảng hoặc một đồ thị thể hiện mối quan hệ giữa giá và lượng cầu. Lý thuyết nhu cầu giả thiết rằng, cá nhân người tiêu dùng suy nghĩ một cách hợp lý, họ lựa chọn số lượng hàng hóa mà họ ưa thích nhất trên cơ sở giá cả, ngân sách và sở thích của họ. Thuật ngữ kinh tế học miêu tả điều này là "tối đa hóa thỏa dụng trong khả năng" (với thu nhập được xem như là khả năng). Quy luật cầu phát biểu rằng, nhìn chung, giá và lượng cầu trong một thị trường xác định là tỷ lệ nghịch. Nói cách khác, với một giá sản phẩm cao hơn, người tiêu dùng có thể và sẵn sàng mua tại mức số lượng hàng hóa thấp hơn (những biến số khác không đổi). Khi giá tăng, quyền của người mua giảm (ảnh hưởng thu nhập) và người mua mua ít hàng hóa đắt tiền hơn (ảnh hưởng thay thế). Các yếu tố khác cũng có thể ảnh hưởng đến lượng cầu, ví dụ khi thu nhập tăng thì đường cầu dịch chuyển ra ngoài.
Cung là mối liên hệ giữa giá của một loại hàng hóa và lượng hàng hóa mà người sản xuất sẵn sàng bán tại mức giá đó. Cung được thể hiện trong một bảng hoặc đường cung. Người sản xuất, giả sử, luôn muốn tối đa hóa lợi nhuận, nghĩa là họ luôn nỗ lực sản xuất tại mức sản lượng đem lại cho họ lợi nhuận cao nhất. Cung thể hiện mối quan hệ tỷ lệ thuận giữa giá và lượng cung. Nói cách khác, giá càng cao thì người sản xuất càng muốn bán nhiều hơn.
Mô hình cung cầu chỉ ra rằng, giá và lượng hàng hóa thường bình ổn tại mức giá mà ở đó lượng cung bằng lượng cầu. Đó là giao điểm của đường cung và đường cầu, gọi là điểm cân bằng của thị trường.
== Xem thêm ==
Kinh tế chính trị
== Chú thích == |
hiệp định paris (1783).txt | Hiệp định Paris (Treaty of Paris) được ký kết vào ngày 3 tháng 9 năm 1783 và được Quốc hội Hợp bang phê chuẩn ngày 14 tháng 1 năm 1784. Vua Vương Quốc Anh phê chuẩn vào ngày 9 tháng 4 năm 1784 (các bản hiệp định đã phê chuẩn được trao đổi tại Paris ngày 12 tháng 5 năm 1784), chính thức kết thúc cuộc Chiến tranh Cách mạng Mỹ giữa Vương quốc Anh và Hợp chúng quốc Mỹ châu nổi loạn chống sự cai trị của người Anh. Các quốc gia tham chiến khác là Pháp, Tây Ban Nha và Cộng hòa Hà Lan có các thỏa ước riêng biệt; để biết thêm chi tiết về các thỏa ước này và các cuộc thương lượng dẫn đến việc ra đời của các thỏa ước này, xin xem Hòa đàm Paris (1783).
== Thỏa ước ==
Bản hiệp định được ký kết tại Khách sạn d'York – bây giờ là số 56 đường Jacob – bởi John Adams, Benjamin Franklin, và John Jay (đại diện phía Hoa Kỳ) và David Hartley (một thành viên Quốc hội Vương quốc Anh đại diện cho Hoàng gia Anh). Hartley nghỉ ngơi tại khách sạn này vì đây là nơi được chọn lựa nằm gần Tòa Đại sứ Anh ở số 44 Đường Jacob – như là một nơi "trung lập" hơn cho ký kết hiệp định.
Ngày 3 tháng 9, Vương quốc Anh ký các thỏa ước riêng biệt với Pháp và Tây Ban Nha và với Hà Lan. Trong hiệp định với Tây Ban Nha, các thuộc địa Đông Florida và Tây Florida được nhượng lại cho Tây Ban Nha (không có biên giới phía bắc nào được định nghĩa rõ ràng, điều này tạo ra tranh chấp lãnh thổ được giàn xếp bằng Hiệp định Madrid) cũng như hòn đảo Minorca trong khi đó Quần đảo Bahama, Grenada và Montserrat, bị người Pháp và Tây Ban Nha chiếm, được trao trả lại cho người Anh. Hiệp định với Pháp gần như là việc trao đổi các lãnh thổ bị chiếm được (phần lời duy nhất qua trao đổi của Pháp là đảo Tobago, và Senegal ở châu Phi), nhưng cũng giúp làm vững bền thêm các hiệp định trước đó, bảo đảm quyền đánh cá ngoài khơi Newfoundland. Các lãnh thổ của Hà Lan trong Đông Ấn, bị Anh chiếm được năm 1781, được người Anh trao trả lại để đổi lấy quyền ưu tiên giao thương trong vùng Đông Ấn.
Quốc hội Hợp bang của Mỹ, lúc đó tạm thời họp tại thành phố Annapolis, Maryland, phê chuẩn hiệp định Paris ngày 14 tháng 1 năm 1784. Một số bản sao được gởi ngược lại châu Âu cho các quốc gia khác trong cuộc phê chuẩn, bản đầu tiên đến Pháp trong tháng 3. Vương quốc Anh phê chuẩn vào ngày 9 tháng 4 năm 1784, và các bản sao, đã được phê chuẩn, được trao đổi tại Paris ngày 12 tháng 5 năm 1784.
== Mười điều khoản: các điểm chính yếu ==
Lời nói đầu. Tuyên bố hiệp định là "trên danh nghĩa của Ba Ngôi không chia rẻ và thánh thiện nhất", nói rõ "sự chân thật" của những chữ ký này, và tuyên bố ý định của cả hai phía là "quên bỏ tất cả những dị biệt và hiểu lầm trong quá khứ" và "nắm giữ chặt cả nền hòa bình và hòa hảo vĩnh cửu."
Nhìn nhận mười ba thuộc địa là các quốc gia độc lập, có chủ quyền và tự do, và rằng Vương miện Anh và tất cả những người thừa kế và thừa hành sẽ từ bỏ các tuyên bố chủ quyền đối với Chính phủ, phép tắc, và những quyền về lãnh thổ của cùng các quốc gia đó;
Thiết lập biên giới giữa Hoa Kỳ và Bắc Mỹ thuộc Anh;
Cấp quyền đánh bắt cá cho các ngư dân Hoa Kỳ trong vùng Grand Banks, ngoài khơi duyên hải Newfoundland và trong Vịnh Saint Lawrence;
Công nhận các món nợ hợp đồng hợp pháp phải trả lại cho chủ nợ ở cả hai bên;
Quốc hội Hợp bang sẽ sẵn sàng đề nghị các nghị viện tiểu bang nhìn nhận các chủ nhân hợp pháp có đất đai bị tịch thu để thực hiện việc hoàn trả lại tất cả tài sản đất đai và quyền lợi mà đã bị tịch thu từ những người trung thành với Vua Anh (những người bảo hoàng)";
Hoa Kỳ sẽ ngăn chặn những vụ tịch thu tài sản của những người bảo hoàng trong tương lai;
Tù binh chiến tranh của cả hai bên sẽ được phóng thích và tất cả tài sản bỏ lại của quân đội Anh tại Hoa Kỳ không được đụng đến (bao gồm người nô lệ);
Vương quốc Anh và Hoa Kỳ mỗi bên sẽ được phép sử dụng vĩnh viễn sông Mississippi;
Các lãnh thổ bị người Mỹ chiếm được sau hiệp định sẽ được trao trả lại mà không được bồi thường;
Việc phê chuẩn hiệp định phải xảy ra trong vòng 6 tháng, kể từ ngày hai bên ký kết.
Tây Ban Nha nhận Đông và Tây Florida theo thỏa ước hòa bình Anh-Tây Ban Nha riêng biệt
== Hậu quả ==
Người Mỹ tự động nhận được những đặc ân từ người Anh khi tình trạng thuộc địa của người Mỹ bị bãi bỏ (bao gồm việc Anh bảo vệ Hoa Kỳ chống cướp biển trong vùng Địa Trung Hải. Để hiểu thêm chi tiết về vấn đề này, xin xem: Chiến tranh Barbary). Các tiểu bang thành viên bỏ ngoài tai những lời đề nghị của liên bang, theo Điều khoản 5, nhằm trả lại tài sản bị tịch thu từ nhóm người bảo hoàng (trung thành với vua Anh), và cũng như lẫn trách thực hiện Điều khoản 6 (thí dụ tịch thu tài sản của những người bảo hoàng vì "nợ chưa trả"). Một số tiểu bang, đặc biệt là Virginia, cũng chống đối Điều khoản 4 và duy trì luật chống trả nợ cho các chủ nợ người Anh. Một số cá nhân binh sĩ Anh làm lơ với Điều khoản 7 khi dẫn theo những người nô lệ. Địa lý thực sự của Bắc Mỹ xem ra không khớp với chi tiết được nêu ra trong bản mô tả biên giới Canada. Hiệp định có nêu rõ biên giới phía nam cho Hoa Kỳ nhưng thỏa ước riêng biệt giữa Anh và Tây Ban Nha không có nói rõ biên giới phía bắc cho Florida. Chính vì vậy mà chính phủ Tây Ban Nha đinh ninh rằng biên giới này chắc hẳn giống như biên giới theo thỏa ước năm 1763 khi họ trao lãnh thổ của mình tại Florida cho người Anh. Trong khi tranh chấp này tiếp tục thì Tây Ban Nha đã dùng quyền kiểm soát của họ đối với Florida để phong tỏa người Mỹ dùng thủy lộ đi vào sông Mississippi, chống đối Điều khoản 8. Trong vùng Ngũ Đại Hồ, người Anh áp dụng một diễn giải rất hào phóng về quy định rằng họ phải từ bỏ kiểm soát "với cả tốc độ thích hợp" bởi vì họ cần thời gian thương lượng với người bản thổ Mỹ là những người giữ vùng đất này ngoài tầm kiểm soát của Hoa Kỳ nhưng lại bị lãng quên trong hiệp định. Thậm chí sau khi việc đó hoàn thành, Vương quốc Anh vẫn giữ kiểm soát vùng này như 1 đối trọng mặc cả với hy vọng giành lấy được một số đền bù cho các tài sản bị tịch thu của những người trung thành với Vương quốc Anh. Vấn đề này sau cùng cũng được giải quyết bằng Hiệp định Jay năm 1794, và khả năng của Hoa Kỳ trong việc mặc cả trên tất cả những điểm này đã được tiếp thêm sức mạnh với sự ra đời của hiến pháp mới năm 1787.
Chỉ còn Điều khoản 1 là vẫn còn hiệu lực tính đến năm 2010.
== Xem thêm ==
Các hiệp định ký tại Paris
Danh sách các hiệp định
== Ghi chú ==
== Đọc thêm ==
Foster, John W. (1901). A Century of American Diplomacy. WikiSource.
Perkins, James Breck (1911). “XXV Negotiations for Peace”. France in the American Revolution.
Hoffman, Ronald; Peter J. Albert editor (1981). Diplomacy and Revolution: The Franco-American Alliance of 1778. University of Virginia Press. tr. 212. ISBN 0813908647.
Hoffman, Ronald; Peter J. Albert editor (1986). Peace and the Peacemakers: The Treaty of 1783. University of Virginia Press. tr. 286. ISBN 0813910714.
Dull, Jonathan R. (1987). A Diplomatic History of the American Revolution. Yale University Press. tr. 236. ISBN 0300038860.
Stockley, Andrew (2001). Britain and France at the Birth of America: The European Powers and the Peace Negotiations of 1782–1783. University of Exeter Press. tr. 272.
Franklin, Benjamin (1906). The Writings of Benjamin Franklin. The Macmillan company.
== Liên kết ngoài ==
Text of the Treaty of Paris (without Delaware)
Treaty of Paris, 1783, U.S. Department of State summary
Treaty of Paris, 1783; International Treaties and Related Records, 1778-1974; General Records of the United States Government, Record Group 11; National Archives. (with Delaware)
Approval of the American victory in England Unique arch inscription commemorates "Liberty in N America Triumphant MDCCLXXXIII" |
các sắc tộc thái.txt | Các sắc tộc Thái hay các sắc tộc Thái-Kadai là cụm từ được sử dụng để nói một cách tổng thể về một số các nhóm sắc tộc ở miền nam Trung Quốc và Đông Nam Á, trải dài từ đảo Hải Nam tới miền đông Ấn Độ và từ miền nam Tứ Xuyên tới Lào, Thái Lan, một phần Việt Nam, với ngôn ngữ sử dụng thuộc hệ ngôn ngữ Thái-Kadai và chia sẻ một số các truyền thống cùng lễ hội tương tự, bao gồm cả Songkran (Lễ đón năm mới của các sắc tộc Thái). Mặc dù chưa bao giờ có một nhà nước dân tộc thống nhất của chính họ, nhưng các dân tộc này cũng có sự chia sẻ lịch sử về ý tưởng mơ hồ về "nhà nước Xiêm", hay sai lạc đi thành "nhà nước Shan" hay "nhà nước Assam" ở một số nơi, và phần lớn các dân tộc này đều tự nhận mình là "người Thái".
== Nguồn gốc của sắc tộc Thái ==
Nghiên cứu ngôn ngữ học so sánh dường như chỉ ra rằng các sắc tộc Thái là những hậu duệ của một nền văn hóa nói tiếng Tiền Thái-Kadai ở miền nam Trung Quốc và họ nguyên thủy có thể là hậu duệ của người Nam Đảo (người Austronesia). Trước khi đến sinh sống tại Trung Hoa lục địa, người ta cho rằng người Thái đã di cư từ quê hương trên đảo Đài Loan nơi mà họ sử dụng phương ngữ của tiếng Tiền-Nam Đảo (proto-Austronesia) hay một trong các ngôn ngữ hậu duệ của nó. Sau khi có sự xuất hiện của các nhóm sắc tộc nói các ngôn ngữ Hán-Tạng từ Trung Hoa đại lục trên đảo Đài Loan thì các sắc tộc Thái có lẽ đã di cư vào trong Trung Hoa đại lục, có thể là bằng con đường dọc theo sông Châu Giang, nơi mà ngôn ngữ của họ đã thay đổi lớn về mặt ký tự so với các ngôn ngữ Nam Đảo khác dưới ảnh hưởng của sự pha trộn từ các ngôn ngữ Hán-Tạng và H'Mông-Miền (Miêu-Dao). Sự xuất hiện của người Hán tại khu vực ở miền nam Trung Quốc này có thể đã thúc đẩy các sắc tộc Thái di cư hàng loạt một lần nữa, lần này là về phía nam và tây nam, vượt qua các dãy núi để tiến vào Đông Nam Á. Trong khi giả thuyết này về nguồn gốc của các sắc tộc Thái hiện vẫn là học thuyết chính nhưng vẫn không có đủ các chứng cứ khảo cổ học để chứng minh hay bác bỏ nhận định này và chỉ riêng chứng cứ ngôn ngữ học thì không đủ để đưa ra kết luận. Tuy nhiên, trong sự hỗ trợ tiếp sau này cho giả thuyết này thì người ta tin rằng nhóm đơn bội O1 Y-ADN là gắn liền với cả người Nam Đảo và các sắc tộc Thái. Sự phổ biến của nhóm đơn bội O1 Y-ADN trong số các sắc tộc Nam Đảo và Thái cũng gợi ý về nguồn gốc tổ tiên chung với các dân tộc Hán-Tạng, Nam Á và H'Mông-Miền vào khoảng 35.000 năm trước tại Trung Quốc. Nhóm đơn bội O2a cũng được phát hiện với tần suất cao trong số các dân tộc Thái, và đây là dấu vết mà họ chia sẻ với các dân tộc Nam Á. Các nhóm đơn bội Y-ADN O1 và O2a là các phân nhánh huyết thống của Nhóm đơn bội O Y-ADN, và tự nó lại là phân nhánh huyết thống của nhóm đơn bội K Y-ADN, một đột biến di truyền mà người ta tin rằng đã bắt nguồn từ khoảng 40.000 năm trước tại một khu vực nào đó nằm giữa Iran và miền trung Trung Quốc. Bổ sung cho đặc tính sắc tộc đề cập trên đây thì ông tổ của nhóm đơn bội K có lẽ là tổ tiên của gần như mọi người Melanesia hiện đại và tộc Mông Cổ cùng thổ dân châu Mỹ. Nhóm đơn bội K tự nó là phân nhánh huyết thống của nhóm đơn bội F Y-ADN, mà người ta tin rằng đã bắt nguồn từ Bắc Phi hay Tây Nam Á vào khoảng 45.000 năm trước. Nhóm đơn bội F được coi là gắn liền với làn sóng di cư lớn thứ hai ra khỏi châu Phi đại lục. Bổ sung cho đặc tính sắc tộc đề cập trên đây thì ông tổ của nhóm đơn bội F có lẽ là tổ tiên của mọi sắc tộc Ấn-Âu.
== Những quốc gia do các sắc tộc Thái lập nên ==
Trường Sinh quốc / Đại Lịch / Đại Nam (ở Quảng Tây và phía bắc Việt Nam; xem Nùng Trí Cao)va tieu vuong quoc BÔN MAN O VIET NAM o phia tay viet nam cua toc nguoi thai
Heokam (ở Vân Nam)
Các nhà nước Shan (như Mong Mao, Mong Yang, Mogaung ở Myanma và Thái Lan; xem thêm Người Shan)
Ahom (ở Assam)
Lào
Thái Lan (và các nhà nước của người Thái trong lịch sử Thái Lan như Sukhothai, Lan Na, Singhanavati, Nan, Phayao, Kao, Nakhon Si Thammarat)
== Phân chia ==
Cấu trúc chính xác của các nhánh huyết thống của các sắc tộc Thái là chủ đề tranh cãi hiện nay của các nhà ngôn ngữ học và các nhà khoa học xã hội khác. Hiện tại vẫn không có sự đồng thuận về vấn đề phân tầng. Tuy nhiên, có sự đồng thuận chung về sự tồn tại của các nhóm khác biệt sau đây:
Nhóm các dân tộc Thái hạt nhân ở Trung Quốc và phần lớn khu vực Đông Nam Á (bao gồm chủ yếu là người Thái, người Lào, người Isan, người Shan và người Choang)
Người Lê, chủ yếu ở Hải Nam, Trung Quốc (còn gọi là người Hlai)
Các sắc tộc Kadai ở Trung Quốc và Việt Nam
Các sắc tộc Kam-Sui (có thể gộp hay không gộp người Tiêu (标))
Người Saek ở Lào và Thái Lan
Người Tiêu ở Trung Quốc
=== Các nhóm sắc tộc nói ngôn ngữ Thái-Kadai nhưng không là hậu duệ của sắc tộc Thái ===
Có một nhóm sắc tộc gọi là người Lạp Già (拉珈) ở tỉnh Quảng Tây của Trung Quốc về mặt sắc tộc là hậu duệ của người Dao nói thứ tiếng thuộc ngữ hệ Thái-Kadai gọi là tiếng Lạp Già. Những hậu duệ sắc tộc Dao này có lẽ đã sinh sống trong khu vực chủ yếu là những người nói tiếng thuộc ngữ chi Thái và bị đồng hóa bởi tiếng Thái-Kadai thời kỳ đầu (có thể là ngôn ngữ của các tổ tiên của người Tiêu).
Người Lâm Cao (临高) tại tỉnh Hải Nam của Trung Quốc nói thứ tiếng thuộc ngữ hệ Thái-Kadai gọi là tiếng Lâm Thành (临城), mặc dù về mặt sắc tộc thì người Lâm Cao có nguồn gốc từ người Hán.
== Phân bố địa lý ==
Các sắc tộc Thái theo dòng lịch sử đã từng cư trú tại Trung Quốc, Ấn Độ và Đông Nam Á lục địa kể từ thời kỳ mở rộng ban đầu của họ. Sự phân bố địa lý chính của họ tại các quốc gia trong khu vực này trông tương tự như một vòng cung mở rộng từ đông bắc Ấn Độ qua miền nam Trung Quốc và kéo dài xuống khu vực Đông Nam Á. Những cuộc di cư tương đối gần đây của các sắc tộc Thái đã đưa một lượng dân số người Thái đáng kể tới Sri Lanka, Nhật Bản, Đài Loan, Australia, New Zealand, châu Âu, Các Tiểu vương quốc Ả Rập Thống nhất, Argentina và Bắc Mỹ. Sự đa dạng sắc tộc lớn nhất của các sắc tộc Thái có tại Trung Quốc, nơi được coi là quê hương thời kỳ tiền sử của họ.
=== Sắc tộc Thái "hạt nhân" tại Trung Quốc, Ấn Độ và Đông Nam Á ===
Do sự đa dạng sắc tộc lớn trong số các sắc tộc Thái "hạt nhân" tại các quốc gia như Trung Quốc, Ấn Độ và khu vực Đông Nam Á, nên sự phân bố địa lý của mỗi nhóm sắc tộc Thái trong các khu vực này được đề cập trong ba bài tương ứng cho mỗi chủ đề. Các bài về mỗi nhóm sắc tộc riêng rẽ sẽ cung cấp thêm các chi tiết cụ thể.
=== Người Lê ===
Người Lê cư trú chủ yếu, nếu như không phải là toàn bộ, trong phạm vi tỉnh Hải Nam của Trung Quốc.
=== Các sắc tộc Kadai ===
Các sắc tộc Kadai (Khải Đại) tập trung tại khu vực thuộc các tỉnh Quảng Tây, Quý Châu, Vân Nam, Hồ Nam và Hải Nam của Trung Quốc cũng như thuộc các tỉnh Hà Giang, Cao Bằng, Lào Cai và Sơn La của Việt Nam.
=== Các sắc tộc Kam-Sui ===
Các sắc tộc Kam-Sui tập trung tại Trung Quốc cũng như tại các khu vực cận kề ở miền bắc Lào và Việt Nam.
=== Người Saek ===
Trung tâm quần thể người Saek là dọc theo sông Mê Kông ở miền trung Lào. Một cộng đồng nhỏ người Saek sinh sống tại khu vực Isan ở đông bắc Thái Lan, gần biên giới với Lào.
=== Người Tiêu ===
Người Tiêu tập trung tại tỉnh Quảng Đông của Trung Quốc.
=== Người Lạp Già ===
Người Lạp Già là một nhóm sắc tộc tập trung tại tỉnh Quảng Tây của Trung Quốc và các khu vực cận kề thuộc Việt Nam, là hậu duệ của người Dao, nhưng nói tiếng thuộc ngữ hệ Thái-Kadai gọi là tiếng Lạp Già. Những người gốc Dao này có lẽ đã sinh sống trong khu vực chủ yếu là các tộc người nói tiếng Thái và bị đồng hóa tiếng Thái-Kadai thời kỳ đầu (có thể là ngôn ngữ của các tổ tiên của người Tiêu).
=== Người Lâm Cao ===
Người Lâm Cao là nhóm sắc tộc tập trung tại tỉnh Hải Nam của Trung Quốc, sử dụng thứ tiếng thuộc ngữ hệ Thái-Kadai gọi là tiếng Lâm Cao. Họ được phân loại như là người Hán trong hệ thống phân loại sắc tộc của Trung Quốc.
=== Các quần thể người Thái khác tại châu Á ===
Có một cộng đồng người Shan khá lớn tại Sri Lanka. Những người này tới định cư tại Sri Lanka từ Ấn Độ lục địa. Tại các khu vực khác của châu Á, các cộng đồng đáng kể người Thái có thể thấy tại Nhật Bản, Đài Loan và Các Tiểu vương quốc Ả Rập Thống nhất.
=== Người Thái ở Bắc Mỹ ===
Hoa Kỳ cũng là nơi cư trú của một lượng đáng kể các cộng đồng người Thái, người Lào, Tay Khao, Isan, Lự, Phutai, Tay Đăm, người Thái miền bắc, người Thái miền nam, Tày và Shan. Cũng có một lượng đáng kể người Thái và người Lào sinh sống tại Canada.
=== Người Thái ở châu Âu ===
Các cộng đồng các sắc tộc Thái đáng kể nhất tại châu Âu là các cộng đồng người Lào tại Vương quốc Anh, Pháp, Đức và Thụy Sĩ, các cộng đồng người Isan tại Vương quốc Anh và Iceland, các cộng đồng người Thái tại Phần Lan, Iceland và Na Uy, các cộng đồng Tay Đam và Tày tại Pháp, cộng đồng người Thái miền nam tại Vương quốc Anh.
=== Người Thái ở châu Đại Dương ===
Cũng có một lượng đáng kể người Thái tại Australia, cũng như cộng đồng người Isan tại New Zealand.
=== Người Lào ở Argentina ===
Trong thời gian gần đây, một lượng lớn người Lào đã di cư tới Argentina.
== Văn hóa chung ==
=== Ngôn ngữ ===
Các thứ tiếng mà các sắc tộc Thái sử dụng được gọi chung là ngữ hệ Thái-Kadai. Các thứ tiếng được sử dụng nhiều nhất trong ngữ hệ Thái-Kadai là hệ ngôn ngữ Thái, bao gồm tiếng Thái, ngôn ngữ chính thức của Thái Lan, tiếng Lào của người Lào, cũng là ngôn ngữ chính thức của Lào, tiếng Shan ở Myanma và tiếng Choang, một nhóm các ngôn ngữ ở miền nam Trung Quốc. Các ngôn ngữ này là ngôn ngữ thanh điệu, nghĩa là các thay đổi ở thanh điệu của từ có thể làm thay đổi nghĩa của nó.
=== Lễ hội ===
Các sắc tộc Thái trong khu vực châu Á kỷ niệm chung một loạt các lễ hội, bao gồm cả năm mới theo lịch của họ, gọi là Songkran, lễ hội mà ban đầu là đánh dấu điểm xuân phân, nhưng hiện nay được kỉ niệm vào ngày 14 tháng 4 hàng năm.
== Tham khảo ==
Bản mẫu:Các nhóm sắc tộc tại Thái Lan |
phan xi păng.txt | Phan Xi Păng, Fansipan, hay Phan Si Phăng là ngọn núi cao nhất Việt Nam, cũng là cao nhất trong ba nước Đông Dương nên được mệnh danh là "Nóc nhà Đông Dương" (3.143 m) thuộc dãy núi Hoàng Liên Sơn, cách thị trấn Sa Pa khoảng 9 km về phía tây nam, nằm giáp hai tỉnh Lào Cai và Lai Châu thuộc vùng Tây bắc Việt Nam. Theo tiếng địa phương, núi tên là "Hủa Xi Pan" và có nghĩa là phiến đá khổng lồ chênh vênh.
== Lịch sử kiến tạo địa chất ==
Phan Xi Păng được hình thành vào thời khoảng giáp ranh của hai kỷ Permi - Trias của đại Cổ sinh (Paleozoi) và đại Trung sinh (Mesozoi) cách nay 260-250 triệu năm. mỗi một năm đỉnh núi này cao thêm 0,032m.
== Hệ thực vật ==
Hệ thực vật ở Phan Xi Păng khá phong phú. Có tới 1.680 loại cây chia làm 679 chi thuộc 7 nhóm. Có một số loại thuộc nhóm quý hiếm. Dưới chân núi là những cây gạo, mít, cơi với mật độ khá dày tạo nên những địa danh Cốc Lếu (Cốc Gạo), Cốc San (Cốc Mít) v.v. Từ đây đến độ cao 700 m là vành đai nhiệt đới có những vạt rừng nguyên sinh rậm rạp, dây leo chằng chịt. Từ 700 m trở lên là tầng cây hạt trần như pơmu, có những cây ba, bốn người ôm không xuể, cao 50–60 m, tuổi đời tới vài trăm năm. Từ độ cao 2.800 m, phủ kín mặt đất là trúc lùn, những bụi trúc thấp khoảng 25–30 cm, cả thân cây trơ trụi, phần ngọn có một chút lá phất phơ, nên loài trúc này được gọi là trúc phất trần. Xen kẽ là một số cây thuộc các họ như cói, hoa hồng, hoàng liên.
== Chinh phục Phan Xi Păng ==
Đỉnh Phan Xi Păng hiện là điểm hẹn của nhiều nhà leo núi. Việc chinh phục đỉnh núi này có thể được thực hiện qua các tour của các công ty du lịch lữ hành chuyên nghiệp hoặc tự túc với sự dẫn đường của người bản xứ. Lộ trình leo núi có thể bắt đầu từ Hà Nội đến Lào Cai bằng tàu hỏa trên quãng đường dài 333 km; rồi từ Lào Cai lên Sa Pa bằng ô tô qua 38 km; sau đó từ Sa Pa đến đỉnh đèo Trạm Tôn hoặc ít phổ biến hơn là khu du lịch Cát Cát bằng ô tô hoặc xe ôm. Tại đây có số người dân tộc Mông, Dao làm nghề cửu vạn phục vụ khách leo núi đông nhất.
Trước kia từ Sa Pa lên đỉnh Phan Xi Păng và quay trở về mất khoảng chừng 5–6 ngày. Hiện nay thời gian tổng cộng của chuyến leo núi chỉ còn 3 ngày, thậm chí 2 ngày hoặc với những người thành thạo và sức khỏe tốt thì có thể thực hiện trong một ngày.
Nếu thực hiện chuyến leo núi trong 2 ngày, sáng ngày thứ nhất du khách đi ô tô từ Sapa đến trạm kiểm lâm trên đỉnh đèo Trạm Tôn. Bắt đầu chuyến leo núi ở đó, đi xuyên qua các dãy núi, du khách sẽ dừng chân vào cuối buổi chiều ở một địa điểm cao khoảng 2.800m. Họ sẽ cắm trại, nấu ăn và nghỉ qua đêm ở đây. Ngày thứ hai từ địa điểm cao 2.800m đó, họ sẽ leo lên tới đỉnh Phan Xi Păng 3.143m vào khoảng 10h sáng, đây là quãng đường vất vả nhất trong toàn bộ cuộc hành trình. Sau đó du khách quay về trại nghỉ, ăn uống rồi tiếp tục xuống núi, về đến Trạm Tôn vào khoảng 7h tối, lên ôtô về Sapa. Một quy định cho các nhà leo núi ở đây là không được xả rác trong rừng, tất cả sẽ được mang theo rồi đốt đi.
Mỗi đoàn leo núi có ít nhất hai hướng dẫn viên hoặc người dẫn đường. Ngày thứ hai khi du khách lên đỉnh Phan Xi Păng, một trong hai người sẽ ở lại trại nấu ăn. Ở gần đỉnh núi, du khách có thể hái măng về cho bữa ăn. Việc nấu nướng cũng rất khó khăn, du khách phải đi kiếm củi, làm bếp. Ban đêm thường mưa và nhiệt độ hạ xuống rất thấp.
Người leo núi cần có sức khoẻ tốt. Các vật dụng hữu ích cho cuộc leo núi này gồm giầy leo núi, áo mưa, lều, túi ngủ, thuốc men cá nhân, kẹo ngọt ăn để tăng glucose trong máu khi leo núi giúp giảm cảm giác tức ngực và khó thở khi leo lên cao. Việc hạn chế số lượng đồ dùng cá nhân giúp giảm trọng lực và làm việc leo núi dễ dàng.
Thời điểm leo núi thích hợp là từ tháng 9 năm truớc đến tháng 3 năm sau. Tuy nhiên đường lên Phan Xi Păng đẹp nhất là khoảng cuối tháng 2, khi các loài hoa núi bắt đầu nở.
=== Cáp treo Fansipan ===
Ngày 2 tháng 2 năm 2016, Ủy ban nhân dân tỉnh Lào Cai và Tập đoàn Sun Group đã khánh thành tuyến cáp treo ba dây hiện đại nhất thế giới, lần đầu tiên có mặt tại châu Á. Tại lễ khai trương, đại diện Kỷ lục Thế giới - Guinness World Record đã trao chứng nhận 2 kỷ lục Guinness cho cáp treo Fansipan Sapa là:
Cáp treo ba dây có độ chênh giữa ga đi và ga đến lớn nhất thế giới: 1410 m
Cáp treo ba dây dài nhất thế giới: 6325 m
Tuyến cáp treo Fansipan Sapa được khởi công vào tháng 11 năm 2013, do Tập đoàn Sun Group đầu tư và thực hiện với sự tư vấn, thiết kế của hãng cáp treo số 1 thế giới Doppelmayr Garaventa. Công trình được thi công trong ở điều kiện địa hình hiểm trở và thời tiết khắc nghiệt. Toàn bộ nguyên vật liệu đều phải vận chuyển thủ công từ dưới lên núi. Cáp treo có độ cao 3.143 m so với mực nước biển, khởi điểm từ Thung lũng Mường Hoa đến đỉnh Fansipan. Mỗi cabin cáp treo Fansipan Sapa có sức chứa tối đa 30 – 35 khách, công suất vận chuyển lên tới 2.000 khách/giờ. Quãng đường từ bản Mường Hoa lên tới đỉnh đi qua 5 cột trụ chính, mỗi cột trụ cách nhau khoảng 1 km. Với việc rút ngắn thời gian di chuyển từ 2 ngày xuống còn 15 phút, cáp treo Fansipan Sapa đã hiện thực hóa ước mơ chiêm ngưỡng “nóc nhà Đông Dương” cho tất cả mọi người, đồng thời khẳng định ý chí và bản lĩnh Việt Nam trong việc kiến tạo nên những công trình mang tầm vóc và đẳng cấp quốc tế. Tổng mức đầu tư giai đoạn 1 của tổ hợp dự án là 4.400 tỷ đồng.
Ngoài tuyến cáp chính, các hạng mục kiến trúc như nhà ga đi, nhà ga đến, nhà hàng, quầy lưu niệm… đều được thiết kế kỳ công như những tuyệt tác nghệ thuật. Nhà ga đi - Ga Sapa do Kiến trúc sư Bill Bensley, top 05 kiến trúc sư lừng danh thế giới thực hiện. Điều đặc biệt là mỗi đường nét kiến trúc và chi tiết trang trí đều được Bill Bensley dày công chắt lọc từ những tinh túy trong hoa văn thổ cẩm của đồng bào dân tộc Tây Bắc tạo nên một công trình vừa lộng lẫy, vừa hài hòa tuyệt đối với thiên nhiên.
Một ca bin của cáp treo có thể chứa được tối đa 35 khách. Công suất vận chuyển lên đến 2.000 người mỗi giờ. Thời gian từ ga đi tới ga đến chỉ mất 15 phút.
Vé đi cáp có 2 mức: người lớn (giá vé 600.000 đồng), trẻ em có chiều cao từ 1-1,3 m (400.000 đồng). Trẻ em cao dưới 1 m được miễn phí.
== Thư viện ảnh ==
== Chú thích ==
== Xem thêm ==
Everest
Sa Pa
Danh sách các núi cao nhất thế giới |
chris evert.txt | Christine Marie "Chris" Evert (sinh ngày 21 tháng 12 năm 1954) là cựu nữ vận động viên quần vợt chuyên nghiệp người Mỹ. Cô đã giành được 18 danh hiệu cá nhân Grand Slam, trong đó có kỷ lục 7 lần vô địch giải Pháp Mở rộng. Cô giữ vị trí số một thế giới trong vòng 5 năm. Kỷ lục thắng-thua trong sự nghiệp của Evert tại nội dung đánh đơn là 1.309-146 (.900), là người có tỉ lệ cao nhất trong lịch sử quần vợt chuyên nghiệp. Trong cuốn sách viết về quần vợt của tác giả Steve Flink mang tên The Greatest Tennis Matches of the Twentieth Century (Những trận quần vợt hay nhất trong thế kỷ 20), ông đặt Evert là tay vợt nữ hay thứ ba trong thế kỷ 20, sau Steffi Graf và Martina Navratilova. Evert chưa bao giờ thua trong vòng đầu tiên hay vòng thứ hai của một giải Grand Slam đơn, cô chỉ bị loại sớm nhất là ở vòng thứ ba. Tại nội dung đôi nữ, Evert cũng giành được 3 giải Grand Slam.
== Các trận chung kết Grand Slam đơn nữ ==
=== Vô địch (18) ===
=== Á quân (16) ===
== Các trận chung kết Grand Slam đôi nữ (4) ==
=== Vô địch (3) ===
=== Á quân (1) ===
== Các trận chung kết Grand Slam đôi nam nữ phối hợp (1) ==
=== Á quân (1) ===
== Tóm tắt thành tích thi đấu đơn ở các giải Grand Slam ==
NH = Giải đấu không được tổ chức.
A = Không tham dự.
Ghi chú: Giải Úc mở rộng được tổ chức hai lần vào năm 1977, một lần vào tháng 1 và một lần vào tháng 12.
== Chú thích ==
== Liên kết ngoài ==
Chris Evert tại Hiệp hội quần vợt nữ
Chris Evert tại Internet Movie Database |
tennessine.txt | Tennessine là tên gọi nguyên tố hóa học với ký hiệu Ts và số nguyên tử 117. Nó là nguyên tố được phát hiện gần đây nhất với chỉ có 6 nguyên tử được phát hiện ở phòng thí nghiệm Nga-Mỹ tại Dubna, tỉnh Moskva, Nga, năm 2009–2010. Mặc dù nó nằm ở vị trí nguyên tố nặng nhất của nhóm halogen, chưa có dữ liệu thí nghiệm để chứng minh tính chất tương tự của nó với các nguyên tố nhẹ hơn trong nhóm như astatin hay iốt.
== Lịch sử ==
=== Phát hiện ===
Tháng 1 năm 2010, các nhà khoa học tại Phòng thí nghiệm phản ứng hạt nhân Flerov (Flerov Laboratory of Nuclear Reactions) thông báo nội bộ rằng họ đã thành công khi phát hiện phân rã của nguyên tố mới với Z=117 từ các phản ứng:
4820Ca + 24997Bk → 297117Uus* → 294117Uus + 3 10n
4820Ca + 24997Bk → 297117Uus* → 293117Uus + 4 10n
Chỉ có sáu nguyên tử được tổng hợp từ hai đồng vị bên cạnh, không có phân rã để biết các đồng vị của các nguyên tố nhẹ hơn. Các kết quả của họ được công bố vào ngày 9 tháng 4 năm 2010.
=== Đặt tên ===
Nguyên tố có số nguyên tử 117 theo dự đoán của Mendeleev là eka-astatin (xem thuật ngữ 'eka'). Tên ununsepti là tên gọi theo hệ thống được dùng để đặt tên tạm thời cho các nguyên tố mới được phát hiện cho đến khi việc phát hiện được IUPAC công nhận, và quyết định đặt tên. Thông thường, tên gọi được chọn theo đề xuất của người (nhóm) phát hiện.
Theo các hướng dẫn hiện hành của IUPAC, tên của tất cả các nguyên tố mới phải có tiếp hậu tố là "-ium", có nghĩa là tên gọi đối với ununseptium có thể là -ium, chứ không thể là -ine trong trường hợp nó có thuộc nhóm halogen hay không.
== Tham khảo ==
Phương tiện liên quan tới Ununseptium tại Wikimedia Commons |
quân đội pháp.txt | Quân đội Pháp có lịch sử lâu đời, ảnh hưởng rộng lớn đến lịch sử Thế giới. Quân đội Pháp gồm lục quân, hải quân, không quân và lực lượng hiến binh quốc gia. Quân đội Pháp là lực lượng bảo vệ an ninh quốc phòng lãnh thổ Pháp, bảo vệ các vùng lãnh thổ có lợi ích của Pháp, góp phần quan trọng duy trì sự ổn định toàn cầu. Tổng thống Pháp là Tổng tư lệnh của quân đội.
Năm 2006, Quân đội Pháp có tổng cộng 779.450 người (lực lượng chính quy 259.050 , lực lượng dự bị 419.000 , lực lượng hiến binh 101.400 ), là lực lượng quân sự lớn nhất Châu Âu và đứng thứ 20 trên thế giới về quân số phục vụ trong quân đội. Tuy nhiên Lực lượng vũ trang Pháp có chi phí quân sự rất lớn, lên tới 60 tỉ USD. Với quân số không lớn, chi phí quân sự khổng lồ, chủ yếu tập trung vào việc nghiên cứu, chế tạo và mua các trang thiết bị phục vụ quốc phòng, nên quân đội Pháp là một trong những lực lượng mạnh và có trình độ kỹ thuật phát triển nhất trên thế giới. Pháp cũng là nước đứng thứ 3 trên thế giới về vũ khí hạt nhân .
== Tổ chức ==
Các lực lượng vũ trang Pháp gồm có 4 nhánh chính:
Lục quân Pháp (tiếng Pháp: Armée de Terre)"
Bộ binh (Infanterie)
Kị binh (Arme Blindée Cavalerie)
Pháo binh (Artillerie)
Lực lượng Sơn cước Chasseurs Alpins
Lực lượng Lê dương (Légion étrangère) (bộ binh, kỵ binh và công binh)
Lực lượng Thủy quân lục chiến
Lực lượng hàng không hạng nhẹ của Lục quân Pháp (ALAT - Aviation Légére de l'Armée de Terre)
Công binh (Génie)
Thông tin (Transmissions)
Vận tải và hậu cần (Train)
Bảo quản (Matériel)
Hải quân Pháp (Marine Nationale)
Không quân Pháp (Armée de l'Air)
Lực lượng hiến binh quốc gia Pháp (Gendarmerie Nationale).
== Vị trí quốc tế ==
Học thuyết quân sự của Pháp được dựa trên các khái niệm về nền độc lập quốc gia, ngăn chặn hạt nhân và sức mạnh quân sự. Pháp là thành viên của Tổ chức Hiệp ước Bắc Đại Tây Dương (NATO), hoạt động tích cực với các đồng minh trong NATO đặc biệt trong thời kỳ chiến tranh lạnh.
Ngoài khối NATO, Pháp cũng tham gia tích cực và có hiệu quả vào các hoạt động gìn giữ hòa bình như ở Châu Phi, Trung Đông, và Balkans, thường nắm vai trò đứng đầu trong các hoạt động này. Pháp cũng thực hiện việc tổ chức lại quân đội để phát triển thành đội quân nhà nghề, có số lượng quân ít hơn, khả năng triển khai quân nhanh hơn, thích nghi hơn cho các hoạt động ở ngoài vùng lãnh thổ đất liền của Pháp. Nhân tố then chốt của việc cơ cấu lại gồm: giảm số người, các cơ sở, các cơ quan....
== Các hoạt động gần đây ==
Hiện có khoảng 36.000 quân lính của Pháp được triển khai ở ngoài lãnh thổ Pháp.
Pháp cùng với Hoa Kỳ và các nước khác, cung cấp binh lính cho lực lượng đóng quân ở Haiti, lực lượng này đã được sự phê chuẩn của Liên Hợp Quốc sau cuộc nổi loạn ở Haiti năm 2004. Pháp cũng gửi các binh lính, chủ yếu là lực lượng đặc nhiệm đến Afghanistan để giúp các lực lượng của Hoa Kỳ và NATO chiến đấu với quân Taliban và Al Qaeda. Một lực lượng khoảng vài nghìn lính Pháp, dưới sự ủy nhiệm của Liên Hợp Quốc (Opération Licorne), đóng quân ở Bờ biển Ngà thực hiện nhiệm vụ gìn giữ hòa bình. Lực lượng vũ trang của Pháp cũng giữ vài trò đứng đầu trong nhiệm vụ gìn giữ hòa bình của Liên Hợp Quốc dọc theo biên giới Liban-Israel như là một phần trong hiệp ước ngừng bắn, hiệp ước này dẫn đến việc kết thúc chiến tranh Liban. Hiện nay Pháp có 2.000 quân được triển khai dọc theo biên giới, gồm bộ binh, thiết giáp, pháo binh và phòng không.
== Tham khảo ==
== Liên kết ngoài ==
Official site of the French Ministry of Defence |
h.txt | H, h là chữ thứ tám trong phần nhiều chữ cái dựa trên Latinh và là chữ thứ 11 trong chữ cái tiếng Việt.
Trong tin học:
Trong Unicode ký tự H có mã U+0048 và ký tự h là U+0068.
Trong bảng mã ASCII, mã của H là 72 và h là 104 (thập phân); hay tương ứng trong số nhị phân là 01001000 và 01101000.
Trong bảng mã EBCDIC, mã cho H là 200 và cho h là 136.
Mã trong HTML và XML cho H là "& #72;" và cho h là "& #104;".
Trong hệ đo lường quốc tế:
H là ký hiệu của henry (đơn vị độ tự cảm điện).
h là ký hiệu của giờ.
Trong âm nhạc, một số quốc gia quy định H là nốt Si. Tuy nhiên đa số vẫn dùng B
h cũng được dùng cho tiền tố héctô – hay 100.
Trong vật lý học:
h là hằng số Planck.
h là hằng số Dirac.
Trong nhiệt động lực học, h là enthalpy của một vật/hệ thống.
Trong hóa học, H là ký hiệu cho hiđrô.
Trong hóa sinh học, H là ký hiệu của histidin.
Trong toán học,
H
{\displaystyle \mathbb {H} }
đại diện cho quatenion (dựa vào tên của William Rowan Hamilton).
Chữ h bắt đầu của nhiều từ trong tiếng Pháp thường không được phát âm (h muet).
Bom H là một loại vũ khí hạt nhân.
Theo mã số xe quốc tế, H được dùng cho Hungary.
H được gọi là Hotel trong bảng chữ cái âm học NATO.
Trong bảng chữ cái Hy Lạp, đã có một thời H tương đương với Η và h tương đương với η.
== Tham khảo == |
ă.txt | Ă (chữ in) hoặc ă (chữ thường), là một mẫu tự trong chính tả tiếng Việt và tiếng Rumani chuẩn. Trong tiếng Rumani, nó được dùng để đại diện cho nguyên âm giữa không uốn lưỡi, trong khi trong tiếng Việt nó đại diện cho âm a ngắn. Nó là mẫu tự thứ hai trong cả bảng mẫu tự tiếng Rumani và tiếng Việt.
Ă/ă còn được dùng để chuyển tự mẫu tự Ъ/ъ trong tiếng Bulgaria trong ngôn ngữ Slovak, Séc, và Thụy Điển.
== Tiếng Rumani ==
Âm đại diện cho ă trong tiếng Rumani, mặc dù được gọi là schwa (có thể tưởng nhầm là âm lỏng không trọng âm), lại là một nguyên âm. Không giống như tiếng Anh hay tiếng Pháp, nhưng lại tương tự tiếng Bulgaria và tiếng Afrikaans, nó có thể được đọc có trọng âm. Có những từ mà nó chỉ đóng vai trò là nguyên âm, như "măr" /mər/ (táo) hoặc "văd" /vəd/ (Ra thế). Hơn nữa, một số từ cũng chứa những nguyên âm khác có thể nhấn âm ở ă, như trong ví dụ "cărțile" /'kər.ʦi.le/ (những cuốn sách) và "odăi" /o'dəj/ (những cái phòng).
== Tiếng Việt ==
Ă là mẫu tự thứ hai trong Bảng mẫu tự tiếng Việt và đại diện cho âm /a/, khi được phát âm riêng lẻ trong bản chữ cái sẽ được phát âm như á. Vì tiếng Việt là ngôn ngữ âm, mẫu tự này có thể có 5 dấu thanh ở dưới hoặc trên nó. Xem ngữ âm tiếng Việt.
Ằ ằ
Ắ ắ
Ẳ ẳ
Ẵ ẵ
Ặ ặ
== Xem thêm ==
A có dấu móc (Cyrillic), mẫu tự Cyrillic có dấu móc, rất khó phân biệt với chữ này bằng mắt
Dấu móc
== Cách phát âm ==
== Tham khảo == |
mariléia dos santos.txt | Mariléia dos Santos (sinh ngày 19 tháng 11 năm 1963 tại Valença, Rio de Janeiro), biệt danh là Michael Jackson, là cựu tiền đạo bóng đá nữ của Đội tuyển bóng đá nữ quốc gia Brasil.
== Sự nghiệp ==
Vào năm 1988 Michael Jackson cùng câu lạc bộ EC Radar đại diện cho Brasil tại FIFA Women's Invitation Tournament ở Quảng Đông và giành hạng ba.
Cô sau đó cùng đội tuyển quốc gia Brasil dự Giải vô địch bóng đá nữ thế giới 1995 và Thế vận hội 1996.
Sau khi cùng Brasil dự Giải vô địch bóng đá nữ thế giới 1995, Michael Jackson chấp nhận đề nghị từ câu lạc bộ của Serie A là Torino.
Michael Jackson giải nghệ năm 46 tuổi. Theo báo chí Brasil trong sự nghiệp của mình cô ghi được 1574 bàn thắng. She đứng thứ ba trong danh sách của Liên đoàn Thống kê và lịch sử bóng đá quốc tế (IFFHS) cho cầu thủ bóng đá nữ Nam Mỹ xuất sắc nhất thế kỷ 20. Năm 2011 cô được chỉ định làm điều phối viên bóng đá nữ tại Brasil.
== Đời tư ==
Mariléia dos Santos chọn biệt danh Michael Jackson để bày tỏ lòng tôn kính đối với ca sĩ người Mỹ. Phát biểu vào năm 1999, cầu thủ Julie Foudy của Hoa Kỳ nói: "Cô ấy trông không giống Michael Jackson lắm, nhưng cô ấy có đeo găng tay một bên."
== Tham khảo ==
== Liên kết ngoài ==
Mariléia dos Santos trên FiFA.com |
microsoft servers.txt | Microsoft Servers (trước đây gọi là Windows Server System) là một thương hiệu bao gồm các dòng sản phẩm máy chủ của Microsoft. Có các dòng sản phẩm như
Server
Ofice Sever là dòng sản phẩm tương tác với Microsoft Office
System Center là một tập hợp các sản phẩm máy chủ đặc biệt nhằm giúp các quản trị viên CNTT của công ty quản lý các mạng lưới máy chủ và máy khách hệ thống Windows.
Cloud là dòng sản phẩm điện toán đám mây.
== Tham khảo == |
samsung card.txt | Samsung Card Co, Ltd. là công ty thẻ tín dụng lớn nhất Hàn Quốc. Trụ sở ở Seoul, Hàn Quốc, Samsung Card sát nhập với Samsung Capital vào năm 2005. Công ty thuộc sở hữu của Samsung Electronics (35.3%) và Samsung Life Insurance (26.4%). Samsung Card được thành lập vào năm 1988 là một công ty kỹ thuật và kinh doanh cấp phép bởi Samsung Electronics.
== Xem thêm ==
Kinh tế Hàn Quốc
Samsung Group
Samsung Electronics
== Trang chủ ==
Samsung Card Homepage
== Tham khảo == |
lãnh thổ châu nam cực thuộc anh.txt | Lãnh thổ châu Nam Cực thuộc Anh (British Antarctic Territory) là một phần của Châu Nam Cực bị đòi chủ quyền bởi Anh Quốc và là một trong 14 lãnh thổ hải ngoại của Anh. Lãnh thổ này bao gồm khu vực nằm phía nam vĩ độ 60°Nam và nằm giữa kinh độ 20°Tây và 80°Tây, kéo dài cho đến Nam Cực. Lãnh thổ này được thành lập ngày 3 tháng 3 năm 1962. Từ khi Hiệp ước Nam Cực có hiệu lực năm 1961, Điều 1 nêu rõ "Hiệp ước không công nhận, tranh cãi hay xác lập bất cứ yêu cầu chủ quyền lãnh thổ nào, sẽ không có yêu cầu lãnh thổ nào được xác nhận khi hiệp ước còn hiệu lực", hầu hết các quốc gia trên thế giới không công nhận những đòi hỏi lãnh thổ ở Nam Cực của bất cứ quốc gia nào.
Vùng lãnh thổ này nằm trùng với những đòi hỏi chủ quyền lãnh thổ Nam Cực của Argentina (Nam Cực Argentine) và Chile (tỉnh Chilena Nam Cực). Chỉ có những đoàn nghiên cứu hay các trạm hỗ trợ sống tại khu vực này. Lãnh thổ này không có người bản địa.
== Liên kết ==
Chilean Sovereignty in Antarctica
OpenMarket/Xcelerate/ShowPage&c= Page&cid= 1007029394365&a= KCountryProfile&aid= 1018952685006 UK Foreign Office homepage
British Antarctic Survey
== Tham khảo == |
hà tiên.txt | Hà Tiên là thị xã nhỏ nằm ở phía tây bắc của tỉnh Kiên Giang (trước đây nằm trong huyện Hà Tiên thuộc tỉnh Rạch Giá và sau đó thuộc tỉnh Kiên Giang). Bắc giáp Campuchia với đường biên giới dài 13,7 km, Đông và Nam giáp huyện Kiên Lương, Tây giáp vịnh Thái Lan với đường bờ biển dài 26 km.
Hiện nay, Hà Tiên không phải là tỉnh lị của tỉnh Kiên Giang, mà tỉnh lị là thành phố Rạch Giá. Tuy nhiên, Hà Tiên lại từng là tỉnh lỵ của tỉnh Hà Tiên cũ vào thời Pháp thuộc trước năm 1956. Đặc biệt, Hà Tiên lại là lỵ sở của toàn bộ tỉnh Hà Tiên vào thời nhà Nguyễn độc lập. Địa bàn tỉnh Hà Tiên khi đó bao gồm tỉnh Kiên Giang, tỉnh Cà Mau và một phần tỉnh Bạc Liêu ngày nay.
Về hành chính, thị xã Hà Tiên bao gồm 4 phường là: Bình San, Đông Hồ, Pháo Đài, Tô Châu; 3 xã là: Mỹ Đức, Thuận Yên và Tiên Hải. Riêng xã đảo Tiên Hải bao gồm các đảo trong quần đảo Hà Tiên (quần đảo Hải Tặc) như: hòn Đốc, hòn Long, hòn Đước...
== Điều kiện tự nhiên ==
=== Địa hình ===
Thị xã Hà Tiên là một dải đất hẹp nằm ven biển, với đầy đủ các dạng địa hình: vũng, vịnh, đồng bằng, núi, sông, hang động, hải đảo...tạo nên nhiều cảnh quan đẹp.
Sông Giang Thành bắt nguồn từ Campuchia, chảy vào khu vực Hà Tiên, dài khoảng 23 km. Sông đổ vào vũng Đông Hồ với chiều rộng cửa sông trên 200 m. Sông Giang Thành nối liền với kênh Vĩnh Tế tạo nên tuyến đường thủy quan trọng từ thành phố Châu Đốc đến thị xã Hà Tiên. Ngoài ra còn có sông Tô Châu và kênh Hà Tiên - Rạch Giá.
Các ngọn núi trên địa bàn thành phố hầu hết đều là những thắng cảnh như: núi Tô Châu, núi Đá Dựng, núi Bình San, núi Thạch Động... Ven biển Hà Tiên có nhiều bãi biển đẹp như: bãi biển Lộc Trĩ (bãi biển Mũi Nai). Ngoài khơi có quần đảo Hải Tặc với nhiều đảo đẹp, có tiềm năng du lịch.
Hà Tiên với nhiều cảnh đẹp (Hà Tiên thập vịnh) đã là đề tài xướng họa của Tao đàn Chiêu Anh Các dưới thời Đô đốc Mạc Thiên Tứ cai quản xứ sở này.
=== Khí hậu ===
Hà Tiên nằm trong vùng nhiệt đới gió mùa cận xích đạo, khí hậu ở đây có những đặc điểm chính như sau: Số giờ nắng trung bình từ 6,5 đến 7,5 giờ/ngày. Năng lượng bức xạ trung bình 150 - 160 kcal/cm² năm. Nhiệt độ trung bình hàng năm khoảng 27 °C, nhiệt độ trung bình thấp nhất là 23,9 °C, thường rơi vào khoảng tháng 12 - tháng 1; nhiệt độ cao nhất là 30,20C, thường rơi vào tháng 4 - 5. Nhiệt độ tuyệt đối thấp nhất có lần đo được là 14,8 °C, nhiệt độ tuyệt đối cao nhất là 37,6 °C. Độ ẩm trung bình 81,9%. Mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 10, có nhiều năm mùa mưa đến sớm và kết thúc muộn hơn các khu vực khác của đồng bằng Sông Cửu Long. Lượng mưa lớn, trung bình 2.118 mm/năm.
=== Tài nguyên ===
Đất: Diện tích tự nhiên năm 2015 của thị xã là 10.048,83 ha, trong đó đất nông - lâm nghiệp và nuôi trồng thủy sản là 7.472,7 ha (chiếm 74,36 %), trong đó nhiều diện tích có độ phèn mặn cao, nếu ứng dụng khoa học kỹ thuật tốt để nuôi trồng thủy sản để đem lại hiệu quả kinh tế cao. Diện tích đất phi nông nghiệp là 2.373 ha. Đất chưa sử dụng là 203,07 ha (chiếm 2,02%) chủ yếu là bãi bồi, núi đá không có cây cối...
Nước: Hà Tiên nhận nước ngọt cung cấp từ sông Hậu qua kênh Vĩnh Tế, sông Giang Thành, kênh Rạch Giá - Hà Tiên.
Biển: Hà Tiên có khoảng 22 km chiều dài bờ biển, vũng Đông Hồ chia thành phố làm hai khu riêng biệt: phía Đông Nam là phường Tô Châu và Thuận Yên; phía Tây Bắc là phường Đông Hồ, phường Bình San, phường Pháo Đài và phường Mỹ Đức. Xã đảo Tiên Hải (quần đảo Hải Tặc) gồm 15 đảo lớn nhỏ là ngư trường đánh bắt và nuôi trồng thủy hải sản đầy tiềm năng.
== Lịch sử ==
=== Thời phong kiến ===
Hà Tiên là tên gọi đã có từ xa xưa, qua từng thời kỳ, địa giới thay đổi từ vùng thành trấn, chuyển sang tỉnh, đổi thành quận, huyện và bây giờ là thị xã. Giữa thế kỷ 17, khi Mạc Cửu đến đây khai phá thì vùng đất này vẫn còn hoang sơ, vắng vẻ. Cuối thế kỷ trên, thì Hà Tiên đã trở thành một thương cảng sầm uất.
Năm 1708, khi Mạc Cửu dâng đất lên cho chúa Nguyễn, chúa Nguyễn dùng hai chữ Hà Tiên để đặt tên cho cả vùng đất bao gồm toàn bộ tỉnh Kiên Giang và một số vùng lân cận ngày nay.
Khi Gia Long lên ngôi, Hà Tiên được đặt thành trấn của Nam Kỳ, trong trấn có huyện Hà Tiên. Năm 1825, để không trùng tên với trấn, vua Minh Mạng đổi huyện Hà Tiên thành huyện Hà Châu. Năm 1832, vua Minh Mạng lại đổi trấn Hà Tiên thành tỉnh Hà Tiên.
=== Thời Pháp thuộc ===
Năm 1867, thực dân Pháp chiếm Nam kỳ lục tỉnh và chia tỉnh Hà Tiên thành các hạt tham biện Hà Tiên, Rạch Giá và Bạc Liêu.
Từ ngày 1 tháng 1 năm 1900 hạt tham biện Hà Tiên trở thành tỉnh theo Nghị định ngày 20 tháng 12 năm 1899 của Toàn quyền Đông Dương đổi tên tất cả các hạt tham biện thành tỉnh. Năm 1903, đảo Phú Quốc được đặt dưới quyền của đại diện chủ tỉnh Hà Tiên. Tỉnh lỵ là tỉnh thành Hà Tiên.
Từ năm 1913 đến năm 1924, tỉnh Hà Tiên được đặt dưới quyền chủ tỉnh Châu Đốc.. Ngày 9 tháng 2 năm 1924, Hà Tiên lại trở thành một tỉnh độc lập. Năm 1924, tỉnh Hà Tiên gồm 4 quận: Châu Thành, Giang Thành, Hòn Chông và Phú Quốc. Tỉnh lỵ Hà Tiên đặt tại làng Mỹ Đức thuộc quận Châu Thành.
=== Giai đoạn 1956-1976 ===
==== Việt Nam Cộng hòa ====
Ngày 22 tháng 10 năm 1956, Tổng thống Việt Nam Cộng hòa Ngô Đình Diệm ký Sắc lệnh 143/VN để " thay đổi địa giới và tên Đô thành Sài Gòn – Chợ Lớn cùng các tỉnh và tỉnh lỵ tại Việt Nam". Theo Sắc lệnh này, địa phận Nam Phần của Việt Nam Cộng Hoà gồm Đô thành Sài Gòn và 22 tỉnh. Lúc này, tỉnh Hà Tiên bị bãi bỏ và 4 quận là Châu Thành, Hòn Chông, Giang Thành, Phú Quốc được sáp nhập vào tỉnh Rạch Giá để thành lập tỉnh Kiên Giang.
Khi đó, địa bàn tỉnh Hà Tiên cũ được chuyển thành quận Hà Tiên và quận Phú Quốc cùng thuộc tỉnh Kiên Giang. Trong đó, địa bàn quận Hà Tiên bao gồm các quận Châu Thành, Giang Thành và Hòn Chông trước năm 1956.
Ngày 31 tháng 5 năm 1961, chính quyền Việt Nam Cộng hòa cho thành lập quận Kiên Lương thuộc tỉnh Kiên Giang. Quận Kiên Lương gồm 5 xã tách từ quận Kiên Thành và quận Hà Tiên là: An Bình, Bình Trị, Thổ Sơn, An Hoà, Dương Hoà. Quận lỵ đặt tại xã An Bình. Ngày 04 tháng 09 năm 1961, quận Kiên Lương thành lập mới xã Đức Phương.
Thời Việt Nam Cộng Hòa, Hà Tiên chỉ là một quận của tỉnh Kiên Giang. Quận Hà Tiên gồm 3 xã Mỹ Đức, Phú Mỹ và Thuận Yên, 15 ấp. Quận lỵ đặt tại xã Mỹ Đức.
=== Từ năm 1976 đến nay ===
Tháng 2 năm 1976, Hà Tiên là huyện của tỉnh Kiên Giang, bao gồm thị trấn Hà Tiên, thị tứ Kiên Lương và 8 xã: Bình An, Dương Hòa, Hòa Điền, Mỹ Đức, Phú Mỹ, Tân Khánh Hòa, Thuận Yên, Vĩnh Điều.
Ngày 27 tháng 9 năm 1983, chuyển thị tứ Kiên Lương thành thị trấn Kiên Lương trực thuộc huyện Hà Tiên.
Ngày 24 tháng 5 năm 1988, chuyển xã Tiên Hải thuộc huyện đảo Kiên Hải về huyện Hà Tiên quản lý.
Cuối năm 1997, huyện Hà Tiên có 2 thị trấn: Hà Tiên, Kiên Lương và 9 xã: Bình An, Dương Hòa, Hòa Điền, Mỹ Đức, Phú Mỹ, Tân Khánh Hòa, Thuận Yên, Tiên Hải, Vĩnh Điều.
Ngày 8 tháng 7 năm 1998, Chính phủ Việt Nam ban hành Nghị định 47/1998/NĐ - CP, về việc thành lập thị xã Hà Tiên và các phường thuộc thị xã Hà Tiên, tỉnh Kiên Giang. Cụ thể như sau:
Thành lập thị xã Hà Tiên trên cơ sở toàn bộ diện tích và dân số của thị trấn Hà Tiên, xã Thuận Yên (trừ 2.732 ha diện tích tự nhiên và 3.302 nhân khẩu giao về xã Phú Mỹ quản lý), xã Mỹ Đức và xã Tiên Hải thuộc huyện Hà Tiên. Thị xã Hà Tiên có 8.573,39 ha diện tích tự nhiên và 34.541 nhân khẩu, gồm 4 phường và 3 xã.
Thành lập 4 phường thuộc thị xã Hà Tiên trên cơ sở thị trấn Hà Tiên (cũ) và 618 ha diện tích tự nhiên, 1.116 nhân khẩu của xã Mỹ Đức cụ thể như sau:
Phường Bình San: Thành lập phường Bình San trên cơ sở 148,55 ha diện tích tự nhiên và 5.698 nhân khẩu.
Phường Đông Hồ: Thành lập phường Đông Hồ trên cơ sở 1.571,64 ha diện tích tự nhiên và 8.360 nhân khẩu.
Phường Tô Châu: Thành lập phường Tô Châu trên cơ sở 247,2 ha diện tích tự nhiên và 4.273 nhân khẩu.
Phường Pháo Đài: Thành lập phường Pháo Đài trên cơ sở 805 ha diện tích tự nhiên và 6.507 nhân khẩu.
Sau khi điều chỉnh địa giới hành chính, các xã thuộc thị xã Hà Tiên cụ thể như sau:
Xã Mỹ Đức có 1.632 ha diện tích tự nhiên và 3.302 nhân khẩu. Địa giới hành chính xã Mỹ Đức: Đông giáp phường Đông Hồ; Tây giáp biển; Nam giáp phường Bình San và phường Pháo Đài; Bắc giáp biên giới Việt Nam - Campuchia.
Xã Thuận Yên có 3.042 ha diện tích tự nhiên và 5.346 nhân khẩu. Địa giới hành chính xã Thuận Yên: Đông giáp huyện Hà Tiên; Tây giáp phường Tô Châu; Nam giáp biển; Bắc giáp phường Đông Hồ.
Xã Tiên Hải (xã đảo) có 1.100 ha diện tích tự nhiên và 1.055 nhân khẩu.
Sau khi điều chỉnh địa giới hành chính, huyện Hà Tiên có 89.548,5 ha diện tích tự nhiên và 62.162 nhân khẩu, gồm 6 xã và 1 thị trấn. Xã Phú Mỹ thuộc huyện Hà Tiên có 15.037,5 ha diện tích tự nhiên và 4.584 nhân khẩu.
Ngày 21 tháng 4 năm 1999, Chính phủ Việt Nam ban hành Nghị định số 28/1999/NĐ - CP về việc đổi tên huyện Hà Tiên thành huyện Kiên Lương thuộc tỉnh Kiên Giang.
Ngày 29 tháng 6 năm 2009, Chính phủ Việt Nam ban hành Nghị quyết số 29/NQ-CP có nội dung về việc điều chỉnh 1.645,25 ha diện tích tự nhiên và 575 nhân khẩu của xã Phú Mỹ thuộc huyện Kiên Lương về phường Đông Hồ thuộc thị xã Hà Tiên quản lý. Phường Đông Hồ có 3.408,85 ha diện tích tự nhiên và 8.350 nhân khẩu
Ngày 17 tháng 9 năm 2012, thị xã Hà Tiên được Bộ Xây dựng công nhận là đô thị loại 3 trực thuộc tỉnh Kiên Giang.
Theo quy hoạch chung đô thị Kiên Giang đến năm 2030 và tầm nhìn đến năm 2050, toàn bộ thị xã Hà Tiên sẽ được nâng lên thành thành phố Hà Tiên, gồm 5 phường: Bình San, Đông Hồ, Mỹ Đức, Pháo Đài, Tô Châu và 2 xã: Thuận Yên, Tiên Hải.
Đường phố của thị xã Hà Tiên trước năm 1975
Đường Thủ tướng Thinh nay là đường Mạc Cửu
Đường Đê nay là đường Võ Văn Ý
Đường Nam Phố nay là đường Đông Hồ
== Xã hội ==
=== Giáo dục ===
Năm 2000 - 2001, trên địa bàn thị xã Hà Tiên có 13 trường, gồm 1 trường mầm non và 12 trường thuộc ngành giáo dục phổ thông (7 trường tiểu học, 3 trường Trung học cơ sở, 1 trường Phổ thông Trung học, 1 trung tâm giáo dục kỹ thuật hướng nghiệp dạy nghề). Đến nay, các xã phường đều có trường tiểu học và đã đầu tư hoàn thành Trường Trung học Phổ thông Thị xã, chia tách trường cấp II và cấp III đi vào hoạt động năm học 2000 - 2001.
=== Y tế ===
Toàn thị xã hiện có 1 bệnh viện tại trung tâm thị xã quy mô 60 giường bệnh, 1 trung tâm y tế, 1 phòng y tế, 7 trạm y tế xã - phường gồm phường Đông Hồ, phường Thuận Yên, phường Pháo Đài, Phường Tô Châu và xã Tiên Hải, xã Mỹ Đức.
=== Kinh tế ===
Thị xã nằm trong vùng tứ giác Long Xuyên, có đường biên giới với Campuchia cả trên đất liền và biển, cách tỉnh Kampot của Campuchia 60 km và cảng Kép của thành phố Kép 20 km, rất thuận lợi trong việc phát triển kinh tế cửa khẩu với Campuchia, tạo mối quan hệ với Thái Lan qua mạng lưới đường thủy, hàng không.
=== Giao thông ===
Trên địa bàn thị xã Hà Tiên hiện có 23,5 km đường quốc lộ; 9,04 km tỉnh lộ; 26,13 km đường nội ô thị xã và 27,5 km đường giao thông nông thôn. Trong đó, quan trọng nhất là tuyến quốc lộ 80, nối thành phố Rạch Giá - thị xã Hà Tiên và sang tận Campuchia. Kể từ tháng 12 năm 2008, có thêm tuyến tàu khách cao tốc đi đến huyện đảo Phú Quốc. Hiện nay, đã có tuyến xe buýt của các hãng du lịch có chất lượng đi từ Hà Tiên - Campuchia.
== Thông tin liên quan ==
=== Nơi cư trú của người Việt cổ ===
Năm 1983, một chiếc trống đồng Đông Sơn được tìm thấy ở đảo Lại Sơn (Sơn Rái), huyện Kiên Hải, tỉnh Kiên Giang. Cổ vật này là chứng tích cụ thể còn sót lại trên đường hải hành của người Việt cổ. Họ khởi hành từ Vịnh Bắc bộ, nương theo gió mùa Đông Bắc - Tây Nam, men ven bờ bán đảo Đông Dương để vào Vịnh Thái Lan… Và họ đã gặp một nơi khá thích hợp để làm trạm dừng chân, sau có người định cư luôn, đó là vùng đất mà bây giờ có tên là bán đảo Mũi Nai (Hà Tiên).
Tác giả Lê Trọng Khánh viết: "Từ Lưỡng Việt đến Mũi Nạy (Mũi Nai) ở phía Nam là địa bàn gốc của người Lạc Việt có nguồn gốc và ngôn ngữ chung, nằm trong khối Bách Việt" Về sau, vùng đất này đã chứng kiến biết bao đợt người tiếp nối, từ người Việt cổ đến Phù Nam, qua Khmer rồi đến người Việt hiện đại...
=== Cảng thị cổ sầm uất ===
Hà Tiên vào thời Mạc Cửu còn có tên gọi là Mang Khảm, là một mắt xích quan trọng ở phía Đông vịnh Thái Lan, trên tuyến hàng hải thương mại châu Á qua vịnh Thái Lan, men theo bờ biển Đông Việt Nam lên Quảng Châu, Trung Quốc hay Luzon, Philippines. Thời kỳ cha con Mạc Cửu, Mạc Thiên Tứ (1706-1780) cai quản vùng đất này, đã áp dụng một chính sánh tự do và coi trọng thương mại. Mạc Thiên Tứ mở cảng cho tàu buôn nước ngoài buôn bán tự do. Hà Tiên trở thành điểm đến của các đoàn thương thuyền từ bán đảo Mã Lai, các đảo Sumatra, Java, các nước Xiêm, Ấn Độ, Miến Điện, Trung Quốc (Phúc Kiến, Quảng Đông, Hải Nam),...
Vào các dịp sinh nhật Mạc Thiên Tứ (12 tháng chạp âm lịch), các thuyền buôn được phép vào cảng Hà Tiên miễn thuế. Từ lâu đời, nghề chế sáp trắng (bạch lạp) để thắp sáng là một nghề truyền thống ở Hà Tiên, cung cấp cho các nước lân cận như Trung Quốc, Xiêm, Mã Lai,... Ngoài ra đất này còn có nhiều sản vật thương mại khác nữa, Lê Quý Đôn từng viết trong Phủ biên tạp lục:...Huyền phách sản ở trấn Hà Tiên, có khối lượng như đồng, sắc đen như sắt, người ta nói dùng nó có thể lánh được gió độc, tiện làm tràng hạt...
Đề cập đến xứ Hà Tiên thời bấy giờ, sách Thanh triều văn hiến thông khảo có đoạn:
Nước này có nhiều núi cao, địa hạt khoảng trăm dặm vuông. Thành và các cung thất làm bằng gỗ không khác Trung Quốc mấy. Chỗ vua ở xây bằng gạch ngói. Chế độ trang phục phảng phất các vua đời trước, búi tóc, đi võng, chít khăn, đội mũ. Vua mặc áo bào vẽ trăn rắn, lưng thắt dải đai, giày dép bằng da. Dân mặc áo vạt cổ rộng. Khi có tang thì mặc đồ màu trắng, bình thường thì áo nhiều màu…Họ gặp nhau thì chắp tay chào theo lễ. Phong tục nước này ham chuộng thơ văn, trong nước có dựng đền thờ Khổng Tử. Vua và dân đều đến lễ...
=== Giải thích một vài tên gọi ===
==== Hà Tiên ====
Tà Teng là một ấp cư dân cổ ở hướng Đông Bắc thị xã Hà Tiên, nằm bên bờ trái sông Giang Thành. Khi xưa, người Khmer gọi sông này là Tà Teng (sau là Prêk Ten). Tà có nghĩa là sông, Teng là tên sông. Sách Nghiên cứu Hà Tiên viết: Cách giải thích cũ "nơi đây xưa kia có tiên hiện xuống đi lại trên sông, nên gọi là Hà Tiên" là không có căn cứ và thiếu khoa học..
==== Phương Thành ====
Phương Thành là một tên gọi của Hà Tiên xưa. Vương Hồng Sển giải thích: Xưng Hà Tiên là Phương Thành là vì đắp lũy tre giáp vòng để chống quân Xiêm, Miên. Đồng ý kiến này có Trần Thiêm Trung, trong Hà Tiên địa phương chí (1957), ông viết: "Tại trấn lỵ, một thành vuông, đặt tên Phương Thành, chung quanh bao bọc chiến lũy, trồng tre gai, vì thế còn có tên chung là Trúc Bàn Thành."
Sách Nghiên cứu Hà Tiên cho biết thêm và giải thích khác: Trúc Bàn Thành còn gọi là trường lũy Thị Vạn hay bờ Đồn Lớn. Có người hiểu là Thành Thơm (Gia Định thành thông chí, Phương Đình dư địa chí, Đại Nam nhất thống chí) hay hiểu lầm là Thành Vuông (vì vậy, có người dịch là ville Carrée. Dẫn theo Thi sĩ Đông Hồ, Nam Phong số 143, tháng 10 năm 1929). Nhưng vì đâu có cái tên Phương Thành, sách Nghiên cứu Hà Tiên của Trương Minh Đạt, giải thích: "Ở Hà Tiên có núi Bà Lý (Pang Li), cao 30m, người Hoa đọc chệch là Pang-Lũy, rồi nó trở thành Pang Thành, rồi Việt hóa thành Phương Thành". Ngoài ra, đất Hà Tiên còn có tên Trúc Bàng Thành, đây chính là biến âm của một địa danh đã có sẵn ở địa phương: Phnom Tà Pang. Ở sách Phương Đình dư địa chí của Nguyễn Văn Siêu còn ghi tên Đồng Trụ Trấn, theo ông Đạt thì đây là một địa danh " nghe sai, đoán phỏng" mà thôi.
==== Phù Dung ====
Tên Phù Dung Vạn Sơn được đặt cho quần thể núi non ở Hà Tiên, chính là do tên gọi Phù Youn. Người Xiêm gọi "phù" là núi. Tất cả người Xiêm, Khmer, Chăm, Lào đều gọi người Việt là "Youn" hay "Duôn" (tiếng Phạn có nghĩa là người man di ở hang động). Tên Phù Youn được người Hoa phiên âm thành Phù Dung. Như vậy "Phù Youn" có nghĩa là vùng núi của người Việt. Điều đó, cho thấy khi xưa chủ nhân vùng đất này là người Việt cổ. Sau này, cái tên Phù Dung (Pù Youn) chỉ còn được dùng để chỉ một ngọn núi cao 53 m, mà Trịnh Hoài Đức đã chép trong "Gia Định thành thông chí":
Núi Phù Dung: cách trấn thự về phía tây bắc hơn 1 dặm. Ở đây hang hố xanh rậm lâu đời; chùa Phù Dung ở phía tây nam chân núi, tiếng chuông mõ pha trộn, tiếng kệ kinh lẫn tiếng ồn ào của phố thị, thật là cảnh nửa tăng nửa tục...
Do vậy, tác giả sách Nghiên cứu Hà Tiên, đã nói vui rằng tên chùa không có nghĩa "hoa sen" hay giống hoa "tí ngọ" nào đó, như có người đã tưởng tượng.
==== Mũi Nai ====
Xa xưa, gọi là Mũi Nạy, vì nơi đó có núi Pù Nạy (Pù là núi, Nạy là lớn) mà người khmer nói trại là P’Nay hay Bà Nay. Lớp người Việt đến sau bắt chước đọc âm này thành Nai. Đến thời Mạc Thiên Tứ, nhóm người Hoa dịch chữ Nai ra chữ Hán là Lộc (Lộc Trĩ sơn, Lộc trĩ thôn cư)..
==== Mang Khảm ====
Mang là phiên âm Hán - Việt của Mường (tiếng Mường- Thái). Về chữ Mang, Trịnh Hoài Đức giải thích: "Những chỗ người Bắc địch tụ hội, chỗ lớn gọi là Bộ, chỗ lớn gọi là Bộ, chỗ nhỏ gọi là Lạc; người Xiêm, lào đều gọi là Mang, người Khmer gọi là Súc." Khảm, người Khmer nói là Krom, tiếng Mã Lai gọi là Kram, tiếng Nôm gọi là Hỏm hay Tràm có nghĩa thấp, ngập. Cho nên Mang Khảm (tức trấn Hà Tiên) có nghĩa là "xóm dân vùng nước ngập". Theo Nghiên cứu Hà Tiên, "bởi khởi đầu bằng chữ Mang, đơn vị dân cư theo ngôn ngữ Mường – Thái, nên có thêm một lý do nữa để xác định rằng đây không phải là đất Chân Lạp. Người Chân Lạp (Khmer) chỉ dùng chữ Srock (hay Súc) hoặc Phum.
== Xem thêm ==
Mạc Cửu
Mạc Thiên Tứ
Hà Tiên thập vịnh
== Ảnh ==
== Tham khảo == |
sông tone (nhật bản).txt | Sông Tone (kanji: 利根川, rōmaji: Tonegawa, phiên âm Hán-Việt: Lợi Căn Xuyên) là một dòng sông ở Nhật Bản, bắt nguồn từ núi Ōminakami, chảy từ phía Bắc sang phía Đông của vùng Kantō, đổ ra Thái Bình Dương ở địa phận thành phố Chōshi tỉnh Chiba. Rriêng phân lưu Edo của nó chảy qua Tōkyō và đổ vào vịnh Tōkyō ở địa phần thành phố Ichikawa tỉnh Chiba. Đây là sông có chiều dài hàng thứ hai và lưu vực rộng lớn hàng thứ nhất ở Nhật Bản, đóng vai trò quan trọng đối với hoạt động kinh tế của vùng thủ đô Tōkyō, nhất là thủ đô Tōkyō. Tone là một trong những sông tiêu biểu ở Nhật Bản.
== Tham khảo == |
trống đồng đông sơn.txt | Trống đồng Đông Sơn là tên một loại trống tiêu biểu cho Văn hóa Đông Sơn (700 TCN - 100) của người Việt cổ. Nhiều chiếc trống loại này với quy mô đồ sộ, hình dáng cân đối, hài hoà đã thể hiện một trình độ rất cao về kỹ năng và nghệ thuật, đặc biệt là những hoa văn phong phú được khắc họa, miêu tả chân thật sinh hoạt của con người thời kỳ dựng nước mà người ta vẫn cho là chìm trong đám mây mù của truyền thuyết Việt Nam.
Viện Bảo tàng Lịch sử Việt Nam đã lưu giữ một số lớn trống đồng Đông Sơn. Cho đến nay, theo các số liệu đã công bố, đây là bộ sưu tập lớn nhất thế giới.
Ngôi sao nhiều cánh ở giữa mặt trống tượng trưng cho thần Mặt Trời vì người dân Văn Lang có quan niệm về thần Mặt Trời.
== Công dụng trống đồng ==
Trong lễ mai táng các quan lang Mường và các ngày hội hè của người Mường tỉnh Hòa Bình.
Trong cuộc tế "thần sấm" của người Lê ở đảo Hải Nam, Trung Quốc
Theo bài dân ca H'Mông, Trung Quốc "Hồng thuỷ hoành lưu" thì trống đồng đã cứu sống tổ tiên người H'Mông trong thời kỳ có nạn lụt lớn
Trống được diễn tấu với dàn nhạc trong vương triều phong kiến thời nhà Hậu Lê, được ghi ở trong sách "Cương mục"
Trống đồng đã được sử dụng trong quân đội thời nhà Trần theo một bài thơ của Trần Phu, sứ thần nhà Nguyên tại nước Đại Việt thuở ấy.
Trống biến thành vật chôn theo người chết như ở khu mộ táng Đông Sơn, tỉnh Thanh Hóa.
Nhìn chung chức năng chủ yếu của trống đồng vẫn là chức năng của một nhạc khí. Đánh vào vành 1-3 được nốt Si giáng; ở vành 4-5 được nốt Mi và Fa; ở vành 7 cũng được nốt Si giáng. Từ vành 9 trở ra lại trở lại nốt Mi (theo kết quả ghi âm của Cao Xuân Hạo)
Trống Đồng còn tượng trưng cho quyền lực của các vị thủ lĩnh ngày xưa. Các vị vua thưởng cho các tù trưởng người dân tộc những chiếc trống đồng. Điều đó thể hiện uy quyền của nhà nước đối với các vùng tự trị, tự do tương đối. Theo Hậu Hán thư (後漢書 - một cuốn chính sử của Trung Quốc), Mã Viện, tướng nhà Hán đã dập tắt cuộc nổi dậy của Hai Bà Trưng vào khoảng năm 40-43, đã thu và nấu chảy trống đồng của các thủ lĩnh địa phương. Điều đó cũng cho thấy ý nghĩa chính trị của trống đồng Đông Sơn những ngày này.
== Tên gọi theo phân loại ==
Trong năm 1902, nhà nghiên cứu người Áo F. Heger đã xuất bản tập sách "Những trống kim khí ở Đông Nam Á" đã chủ trương chia trống đồng thành 4 loại chính, gọi tắt là HI, HII, HIII và HIV, theo thứ tự từ cổ nhất đến gần đây nhất. (Xem bài chính Hệ thống phân loại trống). Trống đồng Đông Sơn của Việt Nam được xếp vào loại HI.
== Đặc điểm trống đồng Đông Sơn ==
Bao quanh các ngôi sao có hình người, vật, động vật và hoa văn hình học. Hoa văn hình học thường thấy là: đường chấm nhỏ, vành chỉ trơn, vòng tròn chấm giữa tiếp tuyến, vòng tròn đồng tâm chấm giữa có tiếp tuyến, hoa văn hình chữ
∫
{\displaystyle \int _{\,}^{\,}}
gãy khúc, hoa văn răng cưa và vạch ngắn song song, và các chữ của người Việt cổ.
Thân trống thường có hình thuyền, hình vũ sĩ, hình một số chim, thú thông thường thì chỉ có hoa văn hình học.
Quai trống thường làm theo hình dây thừng bện.
== Phân loại trống ==
Trống đồng Đông Sơn được phân loại theo sự phân bố của những hình khắc và hoa văn trên trống:
=== Nhóm A ===
==== Tiểu nhóm A1 ====
Gồm 6 trống: Ngọc Lũ I, Hoàng Hạ, Sông Đà, Khai Hóa, Bản Thôm và Quảng Xương.
Đặc điểm:
Hình khắc phong phú, gồm hình người và động vật, trong đó hình người đóng vai trò chủ đạo
Tang trống khắc 6 chiếc thuyền và ở giữa thân trống có hình võ sĩ đứng trong các ô chữ nhật.
Hoa văn:
Hoạ tiết lông công xen giữa các cánh sao, hoa văn hình chữ
∫
{\displaystyle \int _{\,}^{\,}}
gãy khúc và có hoa văn răng cưa
==== Tiểu nhóm A2 ====
Gồm 8 trống: Miếu Môn, Vũ Bị, Đồi Ro, Làng Vạc I, Làng Vạc II, Pha Long, Phú Xuyên và Hoà Bình.
Đặc điểm:
Giống tiểu nhóm A1 là tang trống cũng có cảnh đua thuyền, nhưng số lượng thuyền thay đổi, nhưng trên mặt trống không có cảnh sinh hoạt như ở nhóm A1. Ngoài ra có thêm những động vật kỳ dị như con vật đầu chim, có 4 chân và đuôi dài như đươi cáo hoặc là hình con vật 4 chân, có bờm, đuôi cuộn, mõm há. Thay vào hình vũ sĩ là hình bò hay hình chim.
Hoa văn:
Hoa văn chủ đạo là hoạ tiết tam giác lồng nhau xen giữa các cánh sao và hoa văn răng cưa.
=== Nhóm B ===
Nhóm này chiếm số lượng nhiều nhất, gồm 26 trống: Duy Tiên, Yên Tập, Ngọc Lũ II, Phú Duy, Núi Gôi, Việt Khê, Làng Vạc III, Làng Vạc IV, Định Công I, Định Công II, Định Công III, Cửu Cao, Mật Sơn, Thiết Cương, Phương Tú, Pắc Tà, Giải Tất, Bình Phủ, Hà Nội, Hoằng Vinh, Vĩnh Ninh, Đông Sơn I, Đông Sơn II, Đông Sơn II, Đông Sơn IV, Đào Thịnh, Phú Khánh
Đặc điểm:
Hình ngôi sao trên mặt trống phần nhiều là 12 cánh, ngoài ra có một ít là hình sao 8 cánh và 10 cánh.
Vành chim trên mặt trống thường khắc 4 con, một vài trống là 6 con.
Hoạ tiết lông công đã có biến thể, hình tam giác phủ vạch chéo, hình chữ gãy khúc và vạch ngắn song song.
=== Nhóm C ===
Gồm 11 trống: Hữu Chung, Đông Hiếu, Đa Bút, Phú Phương I, Phú Phương II, Nông Cống, Thôn Bùi, Chợ Bờ, Đắc Glao, Thôn Mống, Hàng Bún.
Đặc điểm:
Trên mặt trống xuất hiện 4 khối tượng cóc và vành hoa văn hình chim cách điệu bao quanh ngôi sao. Ngôi sao phần nhiều có 12 cánh, vành chim có từ 4 đến 10 con. Trên mặt trống có 6 dạng văn chủ yếu sau: hình tam giác lồng nhau, vòng tròn đồng tâm chấm giữa và có tiếp tuyến, vạch ngắn song song, chữ M lồng nhau, đường gấp khúc liên tiếp tạo thành những ô hình trám và hoa văn có hình trâm.
Ngoài ra còn có nhiều trống minh khí có kích thước nhỏ, trên trống lại có rất ít hoa văn trang trí nên không được đưa vào hệ thống phân loại trên.
Tháng 8 năm 2004, Bảo tàng Lịch sử Việt Nam đã tổ chức kỷ niệm 80 năm văn hóa Đông Sơn xuất lộ với nhiều hoạt động trưng bày hiện vật, trong đó có việc trưng bày các loại trống đồng Đông Sơn.
== Danh sách trống đồng Đông Sơn ==
Xem bài chính Danh sách một số trống đồng Đông Sơn nổi tiếng
== Văn hóa, xã hội Lạc Việt theo hình thức trống ==
=== Kinh tế và văn hoá vật chất ===
Trống đồng Đông Sơn là sản phẩm của nền văn minh nông nghiệp phát triển. Việc phát hiện ra những lưỡi cày đồng và những hình bò được khắc trên thân trống chứng tỏ thời kỳ này đã biết sử dụng sức kéo động vật vào canh tác nông nghiệp. Ngoài ra, các nghề đánh cá, săn bắn, chăn nuôi gia súc và sản xuất thủ công cũng phát triển trong thời kỳ này.
Phần lớn những nơi phát hiện có trống đồng phân bố dọc theo triền những con sông lớn ở đồng bằng Bắc Bộ và Bắc Trung Bộ. Trống có thể đã được phân phối bằng đường thuỷ.
Ngoài ra, trong xã hội Lạc Việt còn có tồn tại sự bất bình đẳng về tài sản. Điều này được phản ánh rõ ràng trong sự phân bố những hiện vật tuỳ táng ở các ngôi mộ giàu nghèo thuộc thời đại đồ đồng.
=== Quan niệm tôn giáo ===
Việc gắn hình ngôi sao ở trung tâm mặt trống là biểu tượng của tục thờ thần Mặt Trời.
Những người hóa trang lông chim trên trống đồng thể hiện vật tổ của cư dân bấy giờ là loài chim.
Từ những cảnh sinh hoạt trên trống đồng, nhiều nhà nghiên cứu đã cho rằng đó là "lễ khánh thành trống đồng", "lễ chiêu hồn", "đám tang" hoặc "lễ cầu mùa"...
=== Nghệ thuật ===
==== Trang phục ====
Quần áo được tả trên trống có các loại như: áo hai vạt ngắn, áo hai vạt dài, váy, khố...Họ đội nhiều loại mũ, tết các kiểu tóc khác nhau.
==== Kiến trúc ====
Dựa theo những hình khắc trên trống đồng thấy có 2 loại hình kiến trúc là nhà sàn mái cong và nhà sàn mái tròn. Nhà có 2 cột chống ở phía đầu nhà, hai đầu và ở giữa có kê thang để lên sàn. Nhà mái tròn thường có một người (hoặc không có người) đứng giữa cửa, hai bên của có chắn phên. Nhà mái tròn có thể liên quan đến tín ngưỡng và tạm gọi là "nhà thờ". Còn những ngôi nhà có mái cong như hình thuyền lại có nhiều người có thể liên hệ rằng đó là "nhà ở". Hai góc mái có những đường hồi hoa văn trang trí. Có thể nói nhà sàn là loại hình kiến trúc chủ yếu của người Lạc Việt.
==== Tượng trang trí ====
Có tượng hình chó trên mặt trống nhỏ Đông Sơn, tượng cóc trên mặt các trống nhóm C. Hình tượng còn rất sơ lược nhưng nếu so sánh với thời đại hậu kỳ đồ đá mới có nghệ thuật vẫn chỉ là dạng hoa văn minh họa, thì chúng ta mới thấy bước tiến bộ về mặt nghệ thuật cũng như về kỹ thuật điêu khắc ở thời đại đồ đồng.
==== Vũ nghệ ====
Trên trống đồng, những người múa thường được phục trang bằng những bộ quần áo như: mũ lông chim cao hoặc mặt nạ, tay đôi tkhi cầm vũ khí. Mỗi tốp người múa thường có từ 3,4 hoặc 6 đến 7 người. Trong tốp này có người thổi tù và, còn những người còn lại biểu hiện theo một động tác thống nhất, chuyển động từ trái sang phải, người sau nối tiếp người trước một quãng đều đặn, tất cả điều hành vòng quanh ngôi sao (mặt trời).
==== Âm nhạc ====
Theo hình khắc trên trống đồng thì thấy có hai loại nhạc khí được sử dụng bấy giờ là trống. Có hai cách sử dụng trống:
Trống một người biểu diễn như hình người cầm trống trong nhà hay trên thuyền để giữ nhịp.
Trống diễn tấu trong một dàn trống. Người đánh trống ngồi hoặc đứng trên sàn, cầm gậy dài đánh theo chiều đứng. Trống được đặt trên những chiếc giá sát đất. Kiểu đánh này vẫn được nhìn thấy hiện nay ở những ngày hội của đồng bào Mường ở các tỉnh Hoà Bình.
==== Nghệ thuật tạo hình ====
Nghệ thuật trống đồng khá độc đáo, đặc trưng bởi kỹ thuật khắc chạm trên khuôn tạo ra những hình ảnh khắc chìm chủ yếu trên mặt trống, còn trên thân trống thì là hình khắc hơi nổi. Nghệ nhân đã xây dựng hình ảnh trong những bố cục tròn trên mặt trống và ô chữ nhật trên thân trống, bên trong loại bố cục này thì hình ảnh được sắp xếp rất cân đối. Hình ảnh con người luôn được diễn tả theo tư thế động: múa, giã gạo, đánh trống, bơi chải...Về mặt bố cục, tất cả người, động vật đều diễu hành quanh ngôi sao giữa mặt trống. Đặc biệt, phần tạo hình ở đây hơi giống kiểu tạo hình Ai Cập. Ví dụ: tốp người múa trên mặt trống có ngực hướng thẳng về phía khán giả, chân và đầu theo lối nhìn nghiêng. Còn trong hình chim bay thì thân cánh và đuôi được tả theo hình nhìn từ trên xuống, còn đầu thì theo lối nhìn nghiêng.
=== Những kiến thức khoa học ===
Kỹ thuật đúc: Trống đồng là một hiện vật khá lớn. Chiếc trống cỡ lớn có đường kính mặt trống xấp xỉ 90 cm, chiều cao trên dưới 60 cm, nặng gần 100 kg, hình thể phức tạp: tang trống phần trên phình ra hình nón cụt, giữa thắt lại hình trụ tròn, phần chân loe ra hình phễu. Để đúc một vật như vậy không hề đơn giản. Những nghiên cứu đã chỉ ra rằng trống được đúc bằng khuôn hai mảnh, rìa mặt trống còn để lại những dấu vết cách đều, đó là dấu vết con kê để căn đều chiều dày thành trống trên khuôn đúc. Để đúc thành công như vậy thì người nghệ nhân phải đạt được hàng loạt các yêu cầu về kỹ thuật như phải có một nhiệt độ cao để nung chảy hợp kim đồng, phải tìm được vật liệu chịu lửa để làm khuôn đúc, phải nắm vững được tính năng hóa lý của mỗi kim loại trong hợp kim đồng, đặc biệt là phải có kỹ thuật đúc với tay nghề thành thạo. Quan sát hệ thống hoa văn dày đặc và tinh xảo trên trống Ngọc Lũ 1 và trống Hoàng Hạ có thể kết luận được xã hội Lạc Việt có những người thợ đúc lành nghề.
Số lượng những cánh sao, động vật, những hình thuyền trong vành hầu hết đều là số chẵn. Điều này chứng tỏ người Lạc Việt đã rất chú ý đến việc tính đếm. Trong số những số lượng cánh sao nổi bật lên là con số 12 (chiếm 46,1% tổng số). Số này liên quan đến số lượng tháng trong một năm.
Các nhóm thuyền khắc trên trống thể hiện sự phát triển về kỹ thuật quân sự của thời này. Trong số 436 người được khắc trên các trống có 175 người cầm vũ khí (40,1%). Các loại vũ khí gồm: giáo, rìu, cung, dao găm và mộc.
=== Trống đồng Đông Sơn với xã hội Hùng Vương ===
Những trống đồng Đông Sơn sớm nhất đã xuất hiện vào những thế kỷ 6 TCN và thế kỷ 7 TCN trên địa bàn miền Bắc Việt Nam ngày nay, thuộc thời kỳ Hùng Vương. Nhưng lịch sử của thời đại các vua Hùng còn chưa được giới sử học tranh luận ngã ngũ vì chưa tìm được "dấu ấn" của vua Hùng. Những hình khắc trên trống đồng Đông Sơn giờ đây có thể nói lên phần nào xã hội thời bấy giờ.
Theo "truyền thuyết trăm trứng" và mo "Đẻ đất đẻ nước", 50 người con về đồng bằng trở thành tổ tiên người Việt, 47 người di cư lên miền núi trở thành tổ tiên các dân tộc miền núi, còn lại 3 người từ những trứng nở đầu tiên tên là Tá Cần, Tá Kài và cô nàng Kịt, ba người sống chung với nhau... Về sau Tá Cần lên làm vua và đã từng lấy Bà Chu Bà Chuông làm vợ sinh ra 18 người con: 9 trai và 9 gái. Họ trở thành lang và chia nhau đi coi các bản mường. Con số 18 khá quan trọng trong lịch sử dựng nước và giữ nước người Lạc Việt, giống như số 60 của người Babylon ở Lưỡng Hà hay số 20 của người Maya cổ.
Nghiên cứu số lượng chim trên các vành chim bay (chim vật tổ của người Lạc Việt) chúng ta nhận thấy phần lớn mỗi vành đều có 18 chim. Điều đặc biệt là trên mặt trống đồng Sông Đà, người nghệ nhân do lúc đầu sơ ý đã chia nhầm thành 17 cung bằng nhau, khi khắc đến hình chim thứ 16 thì chỉ còn một đoạn, do đó đã phải cố khắc 2 con chim vào vành cuối này cho đủ số lượng là 18 con. Có thể nghĩ rằng con số 18 đời Hùng Vương là 18 dòng họ đầu tiên, kết hợp với nhau trong liên minh bộ lạc Văn Lang.
== Xem thêm ==
Hồng Bàng
Trống đồng
== Ghi chú ==
== Tham khảo ==
Những trống đồng Đông Sơn đã phát hiện ở Việt Nam. Viện bảo tàng lịch sử Việt Nam, 1975.
== Liên kết ngoài ==
Ý nghĩa những hình vẽ trên bề mặt trống đồng Ngọc Lũ tusach.thuvienkhoahoc.com
Giới thiệu các vật dụng, vũ khí, trang sức, trống đồng...tại Dongsondrum.com
Quà tặng độc đáo Trống đồng Đông Sơn trạm thủ công bởi làng nghề truyền thống Đồng Xâm
Văn minh Đông Sơn
Trống đồng Việt Nam
Kim Định. Minh triết trong trống đồng
Văn hóa Đông Sơn
Giới thiệu về trống đồng Đông Sơn tại The Metropolitan Museum of Art, New York |
the washington post.txt | The Washington Post hay Bưu báo Washington là nhật báo lớn nhất và có thể là một trong những tờ báo lâu đời nhất ở Washington, D.C., thủ đô Hoa Kỳ. Nó nổi tiếng toàn thế giới vào đầu thập niên 1970 về cuộc điều tra vụ Watergate do hai nhà báo Bob Woodward và Carl Bernstein thực hiện. Vụ này dẫn đến việc tổng thống Richard Nixon phải từ chức. Nó được coi là một trong những nhật báo Mỹ lớn nhất, cùng với The New York Times nổi tiếng về phóng sự tổng quát và tin tức quốc tế, The Wall Street Journal nổi tiếng về tin tức tài chính, và Los Angeles Times. Dĩ nhiên, tờ Post nổi bật do các phóng sự về Nhà Trắng, Quốc hội, và các khía cạnh khác của chính phủ Hoa Kỳ.
Khác với hai tờ báo Times và Journal, The Washington Post nghĩ đến mình là một tờ báo một miền và hiện không xuất bản một số khắp nước hàng ngày để phân phối ngoài vùng bờ biển đông. Tuy nhiên, nó gửi qua bưu điện một "Số Hằng tuần Quốc gia", sưu tập các bài báo trong các số của tuần đó. Phần nhiều độc giả của số in ở Đặc khu Columbia và các ngoại ô ở Maryland và miền bắc Virginia.
Vào tháng 10 năm 2005, số phát hành trung bình trong ngày thường là 715.181 và tổng số phát hành vào chủ nhật là 983.243, theo Cục Kiểm tra Tạp chí (Audit Bureau of Circulations), là tờ báo phổ biến thứ năm trong nước tính theo tổng số phát hành, sau The New York Times, The Los Angeles Times, The Wall Street Journal, và USA Today. Tuy số phát hành (giống như hầu hết các tờ báo giấy khác) đang giảm, The Washington Post là một trong những tờ báo có tỷ lệ thâm nhập thị trường cao nhất trong các nhật báo thành phố.
== Tham khảo ==
== Liên kết ngoài ==
Trang chủ
Số Hằng tuần Quốc gia
Trang chủ công ty |
tân bình.txt | Tân Bình là một quận trong 24 quận huyện của Thành phố Hồ Chí Minh, Việt Nam. Quận Tân Bình có địa lý bằng phẳng, cao trung bình là 4–5 m, cao nhất là khu sân bay khoảng 8 – 9 m, trên địa bàn còn có kênh rạch và còn đất nông nghiệp.
== Vị trí địa lý ==
Tân Bình là một quận nội thành nằm ở Tây Bắc Thành phố Hồ Chí Minh.
Phía Bắc giáp quận Gò Vấp và quận 12.
Phía Tây giáp quận Tân Phú, ranh giới là đường Trường Chinh và Âu Cơ.
Phía Đông giáp quận Phú Nhuận, quận 3 và quận 10.
Phía Nam giáp quận 11.
== Hành chính ==
Quận gồm 15 phường: 1, 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8, 9, 10, 11, 12, 13, 14, 15.
Trong đó, phường 14 là trung tâm của quận.
== Lịch sử ==
=== Thời phong kiến ===
Huyện Tân Bình (nghĩa là Quảng Bình mới) được Nguyễn Hữu Cảnh đặt tên cho vùng đất phương Nam mới khai phá để theo địa danh quê quán của ông là phủ Tân Bình. Lúc đó, Tân Bình là huyện duy nhất của dinh Phiên Trấn, phủ Gia Định. Một thời gian sau đó sau được nâng lên thành phủ thuộc trấn Phiên An.
Năm 1836, phủ Tân Bình trở thành vùng đất của tỉnh Gia Định, bao gồm 03 huyện với 18 tổng, 365 thôn (hoặc các đơn vị hành chính cơ sở khác tương đương như: ấp, bang, điếm, giáp, hộ, lân, nậu, phường, sóc, thủ, thuộc, xã) trực thuộc:
Huyện Bình Dương có sáu tổng với 123 thôn (hoặc các đơn vị hành chính cơ sở khác tương đương):
Tổng Bình Trị Thượng có 27 thôn;
Tổng Bình Trị Trung có 21 thôn;
Tổng Bình Trị Hạ có 26 thôn;
Tổng Dương Hòa Thượng có 20 thôn;
Tổng Dương Hòa Trung có 21 thôn;
Tổng Dương Hòa Hạ có 08 thôn;
Huyện Bình Long có sáu tổng với 85 thôn (hoặc các đơn vị hành chính cơ sở khác tương đương):
Tổng Bình Thạnh Thượng có 16 thôn;
Tổng Bình Thạnh Trung có 11 thôn;
Tổng Bình Thạnh Hạ có 12 thôn;
Tổng Cầu An Hạ có 12 thôn;
Tổng Long Tuy Thượng có 20 thôn;
Tổng Long Tuy Trung có 14 thôn;
Huyện Tân Long có sáu tổng với 157 thôn (hoặc các đơn vị hành chính cơ sở khác tương đương):
Tổng Tân Phong Thượng có 29 thôn;
Tổng Tân Phong Trung có 31 thôn;
Tổng Tân Phong Hạ có 21 thôn;
Tổng Long Hưng Thượng có 22 thôn;
Tổng Long Hưng Trung có 19 thôn;
Tổng Long Hưng Hạ có 08 thôn.
Địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh hiện nay chủ yếu tương đương với phần lớn phủ Tân Bình thuộc tỉnh Gia Định trước khi Pháp chiếm Miền Đông Nam Kỳ, bao gồm:
Toàn bộ huyện Bình Dương; nay tương ứng với địa bàn các quận: 1, 3, 4, 7, Phú Nhuận, Tân Bình, Tân Phú, Gò Vấp, Bình Thạnh, một phần của hai quận: 10 và 12 cùng hai huyện: Cần Giờ và Nhà Bè;
Phần lớn huyện Bình Long; nay tương ứng với địa bàn hai huyện: Hóc Môn, Củ Chi, phần lớn quận 12 và một phần huyện Bình Chánh;
Phần lớn huyện Tân Long; nay tương ứng với địa bàn các quận: 5, 6, 8, 11, Bình Tân, một phần quận 10 và phần lớn huyện Bình Chánh.
=== Thời Pháp thuộc ===
Với Hòa ước Nhâm Tuất (1862), triều đình Huế nhượng hẳn 3 tỉnh miền Đông Nam Kỳ cho Pháp làm thuộc địa. Chính quyền thực dân Pháp chia 3 tỉnh này thành 13 thành các hạt thanh tra (inspection), do các viên chức Pháp ngạch thanh tra các công việc bản xứ (inspecteur des affaires indigeânes) đứng đầu, nhưng tạm thời vẫn giữ cơ cấu phủ huyện cũ.
Sau khi chiếm được toàn bộ Nam Kỳ, năm 1868, chính quyền thực dân Pháp bãi bỏ các đơn vị hành chính phủ, huyện, phân chia lại toàn bộ cõi Nam Kỳ. Các hạt thanh tra về sau cũng được đổi thành hạt tham biện (arrondissement), do các Chánh tham biện (administrateur) người Pháp đứng đầu. Tuy vậy, chính quyền thực dân Pháp vẫn giữ lại cơ cấu hành chính cấp thấp như tổng, xã thôn. Như vậy, phủ Tân Bình cùng các huyện trực thuộc đã bị bãi bỏ hoàn toàn.
Ngày 1 tháng 1 năm 1911, tỉnh Gia Định chia thành bốn quận: Thủ Đức, Nhà Bè, Gò Vấp và Hóc Môn. Vùng đất Tân Bình ngày nay khi đó thuộc về tổng Dương Hòa Thượng, quận Gò Vấp.
Vào những năm 1930, làng Tân Sơn Nhứt (ngày nay gọi là Tân Sơn Nhất) khi đó thuộc quận Gò Vấp đã không còn sau khi thực dân Pháp đuổi dân chiếm đất để xây dựng sân bay Tân Sơn Nhứt.
Ngày 11 tháng 5 năm 1944, Toàn quyền Đông Dương ký nghị định tách một số vùng (nằm kế cận Khu Sài Gòn - Chợ Lớn) của tỉnh Gia Định; bao gồm: Toàn bộ tổng Dương Hòa Thượng (có bảy làng: Bình Hưng Hòa, Phú Nhuận, Tân Sơn Nhì, Tân Sơn Hoà, Tân Hòa, Vĩnh Lộc và Phú Thọ Hoà) của quận Gò Vấp, năm làng (Hanh Thông Xã, Hanh Thông Tây, Bình Hòa Xã, Thạnh Mỹ Tây và An Hội) thuộc tổng Bình Trị Thượng, quận Gò Vấp, năm làng thuộc tổng Bình Trị Hạ (Tân Thuận Đông, Tân Quy Đông, Phú Mỹ Tây, Phước Long Đông và Phú Xuân Hội) cùng một phần làng Long Đức Đông thuộc tổng Dương Hòa Hạ của quận Nhà Bè và một phần làng An Khánh Xã thuộc tổng An Bình của quận Thủ Đức; để lập tỉnh Tân Bình. Tỉnh lỵ tỉnh Tân Bình đặt tại làng Phú Nhuận. Tỉnh này chì có duy nhất quận Châu Thành lập ngày 19 tháng 9 năm 1944, không có tổng trực thuộc, được chia ra ba khu vực quản lý: Gia Định, Thủ Thiêm và Nhà Bè. Tỉnh Tân Bình tồn tại đến tháng 8 năm 1945 thì giải thể.
=== Thời Việt Nam Cộng hòa ===
Sau năm 1956, các làng gọi là xã.
Ngày 29 tháng 4 năm 1957, chính phủ Việt Nam Cộng hòa ban hành Nghị định 138-BNV/HC/NĐ ấn định địa giới tỉnh Gia Định gồm 6 quận (10 tổng, 61 xã), trong đó tăng thêm 2 quận là Bình Chánh và Tân Bình. Quận Tân Bình được thành lập trên cơ sở cắt tổng Dương Hòa Thượng (gồm bảy xã: Bình Hưng Hòa, Phú Nhuận, Phú Thọ Hòa, Tân Hòa, Tân Sơn Hòa, Tân Sơn Nhì và Vĩnh Lộc) ra khỏi quận Gò Vấp. Quận lỵ đặt tại xã Phú Nhuận.
Ngày 29 tháng 2 năm 1960, sáp nhập xã Tân Hòa thuộc tổng Dương Hòa Thượng, quận Tân Bình, vào xã Vĩnh Lộc cùng tổng.
Đến cuối năm 1962, quận Tân Bình chỉ có một tổng duy nhất là Dương Hòa Thượng. Từ năm 1962 chính quyền bỏ dần, đến năm 1965 bỏ hẳn cấp hành chính tổng, các xã trực tiếp thuộc quận.
Ngày 11 tháng 12 năm 1965, lập xã Tân Phú thuộc quận Tân Bình, từ phần đất cắt ra của hai xã: Tân Sơn Nhì và Phú Thọ Hòa cùng quận. Cho đến ngày 29 tháng 4 năm 1975, quận Tân Bình có 07 xã trực thuộc: Bình Hưng Hòa, Phú Nhuận, Phú Thọ Hòa, Tân Phú, Tân Sơn Hòa, Tân Sơn Nhì, Vĩnh Lộc.
=== Sau năm 1975 ===
Sau khi Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa Miền Nam Việt Nam tiếp quản Đô thành Sài Gòn và các vùng lân cận vào ngày 30 tháng 4 năm 1975, ngày 3 tháng 5 năm 1975 thành phố Sài Gòn - Gia Định được thành lập. Theo nghị quyết ngày 9 tháng 5 năm 1975 của Ban Chấp hành Đảng bộ Đảng Lao động Việt Nam thành phố Sài Gòn - Gia Định, quận Tân Bình cũ bị giải thể. Các xã Vĩnh Lộc và Bình Hưng Hòa được giao cho huyện Bình Chánh quản lý. Địa bàn 05 xã còn lại được chia thành 03 quận mới trực thuộc thành phố Sài Gòn - Gia Định trên cơ sở nâng cấp các xã cũ: quận Phú Nhuận (xã Phú Nhuận cũ), quận Tân Sơn Hòa (xã Tân Sơn Hòa cũ), quận Tân Sơn Nhì (bao gồm 3 xã: Tân Sơn Nhì, Tân Phú và Phú Thọ Hòa cũ).
Ngày 20 tháng 5 năm 1976, tổ chức hành chánh thành phố Sài Gòn - Gia Định được sắp xếp lần hai (theo quyết định số 301/UB ngày 20 tháng 5 năm 1976 của Ủy ban Nhân dân Cách mạng thành phố Sài Gòn - Gia Định). Theo đó, vẫn giữ nguyễn quận Phú Nhuận, đồng thời giải thể các quận Tân Sơn Hòa và Tân Sơn Nhì để tái lập quận Tân Bình. Như vậy, quận Tân Bình được tái lập trên cơ sở sáp nhập quận Tân Sơn Hòa và Tân Sơn Nhì cũ.
Ngoài ra, các phường cũ đều giải thể, lập các phường mới có diện tích, dân số nhỏ hơn và mang tên số. Quận Tân Bình có 28 phường, đánh số từ 1 đến 28.
Ngày 2 tháng 7 năm 1976, Quốc hội nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam khoá VI, kỳ họp thứ 1 chính thức đổi tên thành phố Sài Gòn - Gia Định thành Thành phố Hồ Chí Minh. Quận Tân Bình trở thành quận trực thuộc Thành phố Hồ Chí Minh.
Ngáy 22 tháng 6 năm 1977, quận Tân Bình giải thể hai phường: 27 và 28, địa bàn hai phường giải thể nhập vào các phường kế cận; số lượng phường trực thuộc quận còn 26.
Ngày 27 tháng 8 năm 1988, theo Quyết định số 136-HĐBT của Hội đồng Bộ trưởng, quận Tân Bình giải thể 26 phường hiện hữu, thay thế bằng 20 phường mới, đánh số từ 1 đến 20:
1. Tách 20 tổ dân phố với 4.787 nhân khẩu của phường 5 để sáp nhập vào phường 4, tách khu phố 5 và khu phố 6 (trong khu quân sự Tân Sơn Nhất) với 2.058 nhân khẩu để sáp nhập vào phường 2.
2. Sáp nhập 30 tổ dân phố với 7.192 nhân khẩu của phường 5 (phần còn lại) và phường 8 thành một phường lấy tên là phường 5.
3. Tách 19 tổ dân phố với 3.447 nhân khẩu của phường 19 để sáp nhập vào phường 18.
4. Tách 22 tổ dân phố với 5.918 nhân khẩu của phường 19 để sáp nhập vào phường 20.
5. Sáp nhập 9 tổ dân phố với 2.632 nhân khẩu của phường 19 (phần còn lại) và phường 21 thành một phường lấy tên là phường 19.
6. Giải thể phường 22 để sáp nhập vào phường khác.
a) Tách 36 tổ dân phố với 7.135 nhân khẩu của phường 22 để sáp nhập vào phường 1 thành một phường lấy tên là phường 11.
b) Tách 1 tổ dân phố với 209 nhân khẩu của phường 22 để sáp nhập vào phường 13.
c) Sáp nhập 19 tổ dân phố với 6.813 nhân khẩu của phường 22 (phần còn lại) và phường 23 thành một phường lấy tên là phường 10.
7. Giải thể phường 26 để sáp nhập vào phường khác:
a) Tách 28 tổ dân phố với 7.324 nhân khẩu của phường 26 để sáp nhập vào phường 24 thành một phường lấy tên là phường 9.
b) Sáp nhập 10 tổ dân phố với 2.229 nhân khẩu của phường 26 (phần còn lại) và phường 25 thành một phường lấy tên là phường 8.
8. Sáp nhập phường 6 và 7 thành một phường lấy tên là phường 6.
9. Tách một phần của phường 2 gồm 1,6 hécta diện tích tự nhiên với 71 nhân khẩu để sáp nhập vào phường 9 (cũ) và 10 (cũ) thành một phường lấy tên là phường 3.
10. Phường 2 sau khi phân vạch lại địa giới hành chính với phường 3 (mới) và phường 4, có 53 tổ dân phố, từ tổ 1 đến tổ 53 với 13.946 nhân khẩu.
Ngày 05 tháng 11 năm 2003, Chính phủ Việt Nam ban hành Nghị định số 130/2003/NĐ-CP về việc điều chỉnh địa giới hành chính quận Tân Bình để thành lập quận Tân Phú và các phường trực thuộc, điều chỉnh địa giới hành chính một số phường thuộc quận Tân Bình. Nội dung như sau:
Thành lập quận Tân Phú trên cơ sở toàn bộ diện tích tự nhiên và dân số của các phường 16, 17, 18, 19, 20; 110,23 ha diện tích tự nhiên và 23.590 nhân khẩu của phường 14; 356,73 ha diện tích tự nhiên và 26.414 nhân khẩu của phường 15 thuộc quận Tân Bình. Quận Tân Phú có 1.606,98 ha diện tích tự nhiên và 310.876 nhân khẩu.
Điều chỉnh địa giới hành chính phường thuộc quận Tân Bình:
Điều chỉnh 3,22 ha diện tích tự nhiên và 758 nhân khẩu của phường 13 về phường 11 quản lý.
Điều chỉnh 1,49 ha diện tích tự nhiên và 1.425 nhân khẩu của phường 13 về phường 12 quản lý.
Điều chỉnh 79,75 ha diện tích tự nhiên và 26.019 nhân khẩu của phường 13 về phường 14 quản lý.
Điều chỉnh 9,26 ha diện tích tự nhiên và 3.201 nhân khẩu của phường 14 về phường 13 quản lý.
Như vậy, sau khi chia tách và điều chỉnh hành chính vào cuối năm 2003, quận Tân Bình còn lại 2.238,22 ha diện tích tự nhiên và 417.897 nhân khẩu, có 15 đơn vị hành chính trực thuộc là các phường có số thứ tự từ phường 1 đến phường 15, giữ ổn định cho đến nay.
=== Thông tin thêm về các phường ===
Xã Tân Sơn Hòa cũ: các phường 1, 2, 3, 4, 5, 6, 7 hiện nay
Xã Phú Thọ Hòa cũ: các phường 8, 9, 10, 11 hiện nay và một phần quận Tân Phú
Xã Tân Sơn Nhì cũ: các phường 12, 13, 14, 15 hiện nay và một phần quận Tân Phú
== Đặc điểm chung ==
Quận Tân Bình có diện tích 22,38 km², bao gồm 15 phường (từ 1–15), nằm bên phía tây của sông Sài Gòn, xung quanh giáp liền với các quận 3, quận 10, quận 11, quận 12, quận Tân Phú, quận Gò Vấp và quận Phú Nhuận.
Phía Bắc của quận là sân bay quốc tế lớn nhất của Việt Nam, sân bay Tân Sơn Nhất. Nó cũng là sân bay có nhiều chuyến bay mỗi năm nhất.
Tân Bình có các trường tiểu học như Bình Giã, Bành Văn Trân, Nguyễn Viết Xuân, Đống Đa, Trần Văn Ơn, Trần Quốc Toản,Tân Sơn Nhất,...;
Các trường THPT là Nguyễn Thượng Hiền và Nguyễn Chí Thanh, Nguyễn Thái Bình, Lý Tự Trọng
Các trường Trung học cơ sở là Nguyễn Gia Thiều, Quang Trung, Ngô Sĩ Liên, Phạm Ngọc Thạch, Hoàng Hoa Thám, Tân Bình, Ngô Quyền, Trường Chinh...
Và một số trường dân lập, tư thục như Nguyễn Khuyến, trường Quốc tế Tesla....
Quận có một chợ mang cùng tên là chợ Tân Bình nằm giữa đường Tân Tiến với Lý Thường Kiệt. Chợ Tân Bình có 9 cửa gồm 4 cửa lớn và 5 cửa nhỏ. Ngoài ra quận Tân Bình còn có nhiều chợ lớn nhỏ khác như chợ Phạm Văn Hai, chợ Hoàng Hoa Thám
== Kinh tế ==
Quận Tân Bình là một trong những quận có nền kinh tế mạnh và tích cực. Nó có nhiều xu hướng phát triển cao và luôn đáp ứng đúng nhu cầu phát triển của các thành phần kinh tế cần thiết. Mỗi năm dịch vụ và giá trị sản xuất công nghiệp của quận đạt mức tăng trưởng 29,68%, vượt chỉ tiêu so với Nghị quyết Đại hội Đảng bộ quận đề xuất từ 20-25%. Tổng số tiền đầu tư của các doanh nghiệp lớn, nhỏ và tư nhân đặt tới 5.587 tỷ đồng. Từ nhiều năm qua, quận Tân Bình đã và đang tạo nhiều điều kiện thuận lợi cho các nhà đầu tư lớn tham gia xây dựng các trung tâm thương mại và khu vui chơi lớn như Parkson Plaza, Trung tâm Thương mại - Văn hóa Lạc Hồng... Quận còn quan tâm đến một số hoạt động trang hoàng, chỉnh tu lại quận như nâng cấp các vỉa hè và trồng cây xanh. Quận còn thúc đẩy mạnh các dịch vụ du lịch để thu hút nhiều khác du lịch trong và ngoài nước. Đồng thời quận kiên quyết đấu tranh bài trừ các tệ nạn xã hội.
== Văn hóa ==
Quận còn có nhiều di tích lịch sử tôn giáo như: công viên Hoàng Văn Thụ, chùa Viên Giác, chùa Phổ Quang, chùa Hải Ấn, chùa Hải Quảng, chùa Phước Thạnh, chùa Giác Lâm, chùa Ân Tông, chùa Bửu Lâm Tịnh Uyển,...
Về dân tộc có dân tộc Kinh chiếm 93,33%; Hoa 6,38%; Khmer 0,11%; các dân tộc khác là Tày 0,05%, Thái 0,01%, Nùng 0,03%, Mường 0,02%, Chăm 0,02% và người nước ngoài...
Về tôn giáo Phật giáo chiếm 19,62%, Công giáo 22,9%, Tin lành 0,37%, Cao đài 0,4%, Hòa Hảo 0,01; Hồi giáo 0,02%, không có đạo chiếm 56,68%. Toàn quận có 140 cơ sở tôn giáo trong đó, Phật giáo 74, Công giáo 60, Tin lành 4, Cao đài 2.
== Chú thích == |
lục địa á-âu.txt | Xem thêm Mảng Á-Âu, châu Á, châu Âu, Đại lục Phi-Á Âu và Australasia.
Lục địa Á-Âu hay Lục địa Âu-Á (còn được viết là đại lục Á-Âu hay đại lục Âu-Á) là một khu vực đất đai rộng lớn, bao gồm châu Âu và châu Á. Phần lớn nằm ở Đông và Bắc bán cầu, lục địa Á Âu có thể được coi là một siêu lục địa, một phần của siêu lục địa lớn hơn là đại lục Phi-Á Âu. Nó giáp với Đại tây Dương ở phía Tây, Thái Bình Dương ở phía Đông, Bắc Băng Dương ở phía Bắc, Ấn Độ Dương ở phía Nam.
Lục địa Á-Âu có diện tích khoảng 55.000.000 km2, khoảng 36,2% diện tích bề mặt Trái Đất, khoảng 5 tỷ người sinh sống (70% dân số thế giới). Loài người bắt đầu định cư tại lục địa này khoảng 60.000 đến 125.000 năm trước.
Trong kiến tạo địa tầng, mảng kiến tạo Á Âu bao gồm châu Âu và phần lớn châu Á, nhưng không bao gồm tiểu lục địa Ấn Độ, tiểu lục địa Ả Rập và khu vực phía đông của dãy Cherskiy tại Sakha.
Sự chia tách giữa châu Âu và châu Á như là 2 lục địa riêng biệt chủ yếu do lý do lịch sử và văn hóa, sự phân chia khu vực địa lý không rõ ràng.
Thuật ngữ Eurasia (Á Âu) còn được sử dụng trong chính trị quốc tế như là phương thức trung lập để chỉ các tổ chức hay các sự vụ liên quan đến các quốc gia hậu Xô viết, cụ thể là Nga, các nước cộng hòa Trung Á và các nước cộng hòa vùng Kavkaz. Nhiều người Âu không có ý niệm về lục địa Á-Âu, thông thường coi châu Âu và châu Á là các lục địa tách rời, với đường phân chia dọc theo biển Aegean, Dardanelles, Bosphorus, biển Đen, dãy núi Kavkaz, biển Caspi, sông Ural và dãy Ural, và thuật ngữ này phổ biến trên khắp thế giới, thậm chí châu Á chứa nhiều khu vực và nhiều nền văn hóa đa dạng cũng như châu Âu, và chúng cũng tách rời về mặt địa lý và khác biệt nhau giống như ở châu Âu. Từ quan điểm hiện đại, lục địa với ít lý do nhất để công nhận tách biệt chính là châu Âu, và trong giới khoa học nói chung người ta coi châu Âu và châu Á là đại lục Á-Âu.
Jared Diamond, trong cuốn sách của mình Guns, Germs and Steel (Súng, Mầm bệnh và Thép), đã quy ưu thế vượt trội của người Á-Âu trong lịch sử thế giới cho sự mở rộng theo chiều đông tây của đại lục Á-Âu và các khu vực khí hậu của nó, cũng như khả năng của các động và thực vật Á-Âu dễ thích hợp với điều kiện thuần hóa.
Con đường tơ lụa là biểu tượng của thương mại và trao đổi văn hóa liên kết các nền văn minh Á Âu trong suốt lịch sử và là chủ đề có độ phổ biến gia tăng. Trong các thập kỷ gần đây người ta đã tạo ra quan điểm về một lịch sử Á Âu lớn hơn, thiết lập các mối quan hệ di truyền học, văn hóa và ngôn ngữ giữa các nền văn minh châu Âu và châu Á thời cổ đại, mà trong một thời gian dài trước đó được cho là riêng biệt.
Adolf Erik Nordenskiöld đã đi vòng quanh lục địa Á Âu lần đầu tiên thời kỳ các năm 1878-1879.
== Xem thêm ==
Cổ Bắc giới
Laurasia, một siêu lục địa theo giả thuyết đã nối liền đại lục Á Âu và Bắc Mỹ.
Cộng đồng kinh tế Á Âu
Chủ nghĩa Tân Á Âu
Người Á Âu
== Tham khảo ==
== Liên kết ngoài ==
EurasiaNet |
htc one series.txt | HTC One (còn gọi là HTC One series) là một dòng điện thoại thông minh chạy hệ điều hành Android và Windows Phone được HTC thiết kế và phát triển. Tất cả các sản phẩm của dòng One đều có màn hình cảm ứng, và khi đầu chạy hệ điều hành di động Android (Android 4.0 Ice Cream Sandwich hoặc các phiên bản Android kế tiếp) với giao diện người dùng đồ họa HTC Sense. Từ năm 2010 đến 2013, tất cả các sản phẩm của HTC, bắt đầu từ HTC Sensation XE đến HTC One Mini đều được trang bị bộ cân bằng âm thanh Beats Audio. Các thiết bị HTC sau này, kể từ HTC One Max, không còn được xuất xưởng với Beats Audio sau vụ mua lại cổ phần của HTC ở Beats Electronics.
== Sản phẩm năm 2012 ==
== Sản phẩm năm 2013 ==
== Sản phẩm năm 2014 ==
== Sản phẩm năm 2015 ==
== Sản phẩm năm 2016 ==
== So sánh ==
This table is primarily intended to show the differences between the models of the One series:
== Tham khảo ==
HTC ONE SERIES ROMS |
1347.txt | Năm 1347 (Số La Mã: MCCCXLVII) là một năm thường bắt đầu vào thứ hai trong lịch Julius.
== Sự kiện ==
== Sinh ==
6 tháng 2 - Dorothea của Montau, người Đức (mất năm 1394)
27 tháng 2 - d'Este Alberto, Chúa của Ferrara và Modena (mất 1393)
25 tháng 3 - Catherine của Siena, Thánh Ý (mất 1380)
28 tháng 7 - Margherita của Durazzo, Hoàng hậu của Charles III của Naples (mất 1412)
29 tháng 8 - John Hastings, bá tước thứ nhì của Pembroke, nhà quý tộc Anh thời Trung cổ (mất 1375)
Ngày chưa biết:
Eleanor của Arborea, vua của Sardinia (mất 1404)
Elizabeth của Pomerania, vợ thứ tư và cuối cùng của Charles IV, Hoàng đế La Mã Thần thánh (mất 1393)
Frederick III, Công tước của Áo, con trai thứ hai của Công tước Albert II của Áo (mất 1362)
Thiên hoàng Go-Kameyama, Hoàng đế Nhật Bản (mất 1424)
Richardis của Schwerin, nữ hoàng Thụy Điển (mất 1377)
== Mất ==
== Tham khảo == |
ngày.txt | Ngày là một đơn vị thời gian bằng 24 giờ, tương đương khoảng thời gian Trái Đất hoàn thành một vòng tự quay quanh mình. Tuy ngày không phải một đơn vị thuộc hệ SI, nhưng nó được hệ SI chấp nhận. Ngày trung bình trên Trái Đất dài khoảng 86.400 giây (24 giờ). Ngày còn được hiểu là nửa thời gian của ngày được Mặt Trời chiếu sáng.
== Xem thêm ==
Thời gian
Mùa, ban ngày và ban đêm ở nhiều vĩ độ khác nhau
Quy ước giờ mùa hè
== Tham khảo ==
== Liên kết ngoài ==
Definitions of day, night, twilight (USA navy site)
Formulas to calculate the length of day and night
Sunrise and sunset, all year long, anywhere
Show where it is daytime at the moment |
festival hoa đà lạt.txt | Festival Hoa Đà Lạt là một sự kiện lễ hội được tổ chức hai năm một lần vào tháng 12 - tháng Đà Lạt có thời tiết đẹp nhất trong năm tại thành phố Đà Lạt, Lâm Đồng, Việt Nam và một số địa phương khác trong tỉnh Lâm Đồng. Festival Hoa là dịp để thành phố này trưng bày, triển lãm các loại rau, hoa, cây cảnh của địa phương cũng như từ nhiều vùng miền trong cả nước và một số quốc gia khác nhằm mục đích thu hút khách du lịch đến tham quan, nghỉ dưỡng tại Đà Lạt, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế cho thành phố. Festival Hoa còn là một hoạt động tôn vinh giá trị của hoa và nghề trồng hoa, nhằm kêu gọi đầu tư vào ngành trồng hoa Đà Lạt, cũng như quảng bá hình ảnh, vẻ đẹp của thành phố, văn hóa và con người Đà Lạt. Đây là một sự kiện mang tầm quốc gia.
== Festival Hoa Đà Lạt 2005 ==
Festival Hoa Đà Lạt 2005 diễn ra từ ngày 10/12/2005 đến ngày 18/12/2005 (9 ngày).
Chủ đề: Đà Lạt - Điểm hẹn muôn sắc hoa.
Đây là Festival Hoa đầu tiên của thành phố, tiếp nối sau thành công của Lễ hội Sắc hoa Đà Lạt 2004. Thành phố đón gần 80 nghìn du khách.
== Festival Hoa Đà Lạt 2007 ==
Festival Hoa Đà Lạt 2007 diễn ra từ ngày 15/12/2007 đến ngày 22/12/2007(8 ngày).
Chủ đề: Hoa Đà Lạt - Tôi yêu bạn.
== Festival Hoa Đà Lạt 2010 ==
Festival Hoa Đà Lạt 2010 diễn ra từ ngày 01/01/2010 đến ngày 04/01/2010 (4 ngày).
Chủ đề: Đà Lạt - Thành phố ngàn hoa.
Sự kiện này đã được Chính phủ đưa vào một trong loạt những sự kiện tiêu biểu của Quốc gia nhằm chào mừng Kỷ niệm 1000 năm Thăng Long - Hà Nội.
== Festival Hoa Đà Lạt 2012 ==
Festival Hoa Đà Lạt 2012 diễn ra từ ngày 31/12/2011 đến ngày 03/01/2012(4 ngày).
Chủ đề: Đà Lạt - Thành phố Festival Hoa.
Sau 4 ngày lễ hội, Festival đã thu hút hơn 300 nghìn du khách trong và ngoài nước đến tham dự.
== Festival Hoa Đà Lạt 2014 ==
Festival Hoa Đà Lạt 2014 diễn ra từ ngày 28/12/2013 đến ngày 02/01/2014 (6 ngày).
Chủ đề: Tây Nguyên - Âm vang tiếng gọi đại ngàn.
Festival Hoa Đà Lạt 2014 là một trong chuỗi những sự kiện văn hóa quan trọng của thành phố, các sự kiện mang tầm quốc gia và quốc tế diễn ra tại Tây Nguyên và thành phố Đà Lạt, Lâm Đồng trong năm 2013 và 2014: Kỷ niệm 120 năm Đà Lạt hình thành và phát triển, Tuần lễ văn hóa du lịch Lâm Đồng 2013, Công bố Năm du lịch quốc gia Tây Nguyên - Đà Lạt 2014, Festival Di sản UNESCO Việt Nam - ASEAN lần thứ nhất tại Đà Lạt - Lâm Đồng 2013.
== Festival Hoa Đà Lạt 2017 ==
Festival Hoa Đà Lạt 2015 diễn ra từ ngày 29/12/2015 đến ngày 02/01/2016 (5 ngày).
Chủ đề: Đà Lạt - Muôn màu sắc hoa.
== Tham khảo ==
== Liên kết ngoài ==
Trang web chính thức của Festival Hoa Đà Lạt. |
trung tâm nghiên cứu khoa học quốc gia pháp.txt | Trung tâm Nghiên cứu Khoa học Quốc gia Pháp (tiếng Pháp: Centre National de la Recherche Scientifique), gọi tắt là CNRS là cơ quan nghiên cứu thuộc chính phủ lớn nhất tại Pháp và là cơ sở nghiên cứu khoa học cơ bản lớn nhất ở châu Âu. Năm 2009, CNRS có khoảng 26.000 nhân viên (11.700 nhà nghiên cứu, 14.400 kỹ sư, kỹ thuật viên và nhân viên hành chính) và 6.000 nhân viên tạm thời, hoạt động trong khoảng 1.256 nhóm nghiên cứu với ngân sách hàng năm vào khoảng 3,3 tỷ euro .
CNRS đứng hạng 4 trên thế giới, sau Viện Y tế Quốc gia (National Institutes of Health, NIH), NASA và W3C của Hoa Kỳ, và được xếp hạng nhất ở châu Âu, trước Max Planck-Gesellschaft của Đức và CERN về số lượt truy cập vào trang web theo Bảng xếp hạng Webometrics vào năm 2010 . CNRS cũng được xếp hạng nhất thế giới theo Viện SCImago , khi tính đến toàn bộ các sản phẩm khoa học, số lượng trích dẫn, các quan hệ hợp tác quốc tế của tất cả các đơn vị thành viên hoặc các đơn vị có gắn kết với CNRS (bao gồm các đơn vị phối hợp trong các trường đại học) từ cơ sở dữ liệu của Scopus khi tích hợp 18 000 tạp chí khoa học .
== Tổ chức ==
CNRS hoạt động trong mọi lĩnh vực của khoa học thông qua 1 100 tế bào là các đơn vị nghiên cứu, hoặc được quản lý chỉ bởi CNRS với tên gọi là UPR (Unité propre de recherche, tạm dịch là: đơn vị thuần nghiên cứu) hoặc phần lớn được quản lý cùng với các cơ quan khác (các trường đại học, cao đẳng, các cơ sở công nghiệp,...) với tên gọi là UMR (Unité mixte de recherche, tạm dịch là: đơn vị phối hợp nghiên cứu). Mỗi đơn vị nghiên cứu có một mã CNRS duy nhất, thí dụ UMR 8182, được lãnh đạo bởi một giám đốc thường là một giáo sư đại học hoặc một nghiên cứu viên cao cấp của CNRS (Directeur de recherche). Một đơn vị nghiên cứu có thể được chia thành các nhóm nghiên cứu. Để hỗ trợ cho lực lượng nghiên cứu, CNRS cũng tổ chức ra các UPS (Unité propre de service, tạm dịch là: cơ quan dịch vụ thuần) hoặc UMS (Unité mixte de service, tạm dịch là: cơ quan dịch vụ phối hợp) và cũng có mã CNRS xác định. Công việc của một UPS hay UMS là cung cấp các dịch vụ về hành chính, tin học, thư viện, kỹ thuật,... Các đơn vị tế bào này được tổ chức phụ thuộc vào các viện.
Trước đây, CNRS có cấu trúc gồm INSU, IN2P3 và Bộ môn Khoa học. Sau khi được tái cấu trúc lại vào năm 2009, CNRS gồm có 10 viện:
Viện Hóa học (Institut de chimie, INC)
Viện Sinh thái và Môi trường (Institut Écologie et environnement, INEE)
Viện Vật lý (Institut de physique, INP)
Viện Hạt nhân và Vật lý hạt cơ bản (Institut national de physique nucléaire et de physique des particules, IN2P3)
Viện Các khoa học về Sinh học (Institut des sciences biologiques, INSB)
Viện Khoa học Xã hội và Nhân văn (Institut des sciences humaines et sociales, INSHS)
Viện Khoa học Máy tính (Institut des sciences informatiques et de leurs interactions, INS2I)
Viện Kỹ thuật và Khoa học Hệ thống (Institut des sciences de l’ingénierie et des systèmes, INSIS)
Viện Toán học (INSMI)
Viện Khoa học Trái Đất và Vũ trụ (Institut national des sciences de l'univers, INSU) Trước
Nếu tổ chức theo lĩnh vực chuyên môn, CNRS được chia thành 40 lĩnh vực chuyên môn. Các nghiên cứu viên được biên chế vào các nhóm nghiên cứu tại các đơn vị nghiên cứu theo từng lĩnh vực chuyên môn phù hợp.
Về hành chính, CNRS là một cơ quan nhà nước về khoa học và công nghệ trực thuộc Bộ Giáo dục bậc cao và Nghiên cứu của Pháp (ministère de l'Enseignement supérieur et de la Recherche). CNRS có 19 cơ quan đại diện cấp địa phương trong đó có 6 cơ quan ở khu vực Paris.
Ủy ban Quốc gia về Nghiên cứu Khoa học phụ trách việc tuyển dụng và đánh giá các nhà nghiên cứu, đánh giá các nghiên cứu của các đơn vị nghiên cứu, của các cá nhân được cấp kinh phí hoặc được tài trợ bởi CNRS trên 40 lĩnh vực chuyên môn và 7 chuyên môn liên ngành. Mỗi lĩnh vực chuyên môn được tổ chức thành các phân ban với 21 thành viên là các chuyên gia trong lĩnh vực khoa học có liên quan và đến từ nhiều nơi khác nhau (nghiên cứu viên của CNRS, của các cơ sở nghiên cứu và khoa học nhà nước, trong khu vực tư nhân, giảng viên, các nhà nghiên cứu người nước ngoài,...). Một phần ba trong số họ được bổ nhiệm của Bộ trưởng Bộ Giáo dục bậc cao và Nghiên cứu, hai phần ba còn lại được bầu bởi tập thể các nhà nghiên cứu trong cùng lĩnh vực để đảm bảo sự định hướng khoa học và sụ độc lập của công tác nghiên cứu. Không có quy tắc và tiêu chí chung cho việc đánh giá chuyên môn của CNRS. Mỗi phân ban khoa học của Ủy ban xây dựng và công bố các tiêu chí riêng theo lĩnh vực mà mình phụ trách. Trong thực tế, các công bố khoa học, sự hợp tác quốc tế, vai trò trong đào tạo tiến sĩ,... chính là các thước đo cụ thể cho việc đánh giá chuyên môn.
== Vai trò ==
CNRS có ba vai trò cơ bản:
Cấp kinh phí cho hoạt động nghiên cứu: CNRS cấp kinh phí nghiên cứu cho 1 170 phòng thí nghiệm, 98 đơn vị nghiên cứu và 1 072 đơn vị nghiên cứu phối hợp (UMR). Ủy ban Quốc gia về Nghiên cứu Khoa học đánh giá mỗi bốn năm một lần các đơn vị nghiên cứu UMR để từ đó xác định khoản đóng góp tài chính của CNRS cho những năm tiếp theo. Việc này có thể dẫn đến việc tổ chức lại đơn vị nghiên cứu hoặc chấm dứt hợp đồng liên kết với các cơ quan phối hợp.
Tuyển dụng và quản lý nhân viên nghiên cứu: CNRS trả lương cho các nhà nghiên cứu, các kỹ sư và kỹ thuật viên làm việc trong các đơn vị nghiên cứu của CNRS và trong các đơn vị khác có liên quan. Các nhà nghiên cứu được đánh giá bởi Ủy ban Quốc gia về Nghiên cứu Khoa học mỗi hai năm.
Tài trợ nghiên cứu các dự án: CNRS lựa chọn và cấp kinh phí cho các dự án nghiên cứu.
== Giám đốc ==
Giám đốc hiện nay của CNRS là Alain Fuchs được Chính phủ Pháp bổ nhiệm vào ngày 20 tháng 1 năm 2010.
== Thành tích quốc tế ==
Tính đến tháng 8 năm 2010, CNRS nhận được :
16 giải Nobel
11 huy chương Fields
1 giải Abel
1 giải Turing
== Tham khảo ==
== Liên kết ngoài ==
Trang web chính thức của Trung tâm Nghiên cứu Khoa học Quốc gia Pháp |
Subsets and Splits
No community queries yet
The top public SQL queries from the community will appear here once available.