filename stringlengths 4 100 | text stringlengths 0 254k |
|---|---|
stade de france.txt | Stade de France là một sân vận động nằm ở phía bắc Paris. Với 81.338 chỗ dành cho bóng đá, bóng bầu dục, đây là sân vận động lớn nhất nước Pháp.
Được tổng thống Jacques Chirac khánh thành ngày 28 tháng 1 năm 1998, trận đấu đầu tiên ở đây giữa hai đội bóng đá quốc gia Pháp-Tây Ban Nha. Vốn được xây cho Giải vô địch bóng đá thế giới 1998, Stade de France còn tổ chức nhiều sự kiện thể thao khác như bóng bầu dục, điền kinh, đua mô tô. Ngoài ra sân vận động này còn dành cho các buổi hòa nhạc, trình diễn và các hoạt động khác.
Sức chứa của Stade de France có thể thay đổi nhờ các khán đài di động: 70.000 cho điền kinh và 80.000 cho bóng đá, bóng bầu dục, hòa nhạc... Địa chỉ của Stade de France là Zac du Cornillon Nord, 93200 Saint-Denis
Trong thời gian Paris chạy đua đăng cai Thế vận hội mùa hè 2012, Stade de France tạm thời mang tên Stade de France - Paris 2012. Nhưng sau đó quyền đăng cai đã thuộc về thành phố London. Trong các buổi biểu diễn ca nhạc ở Stade de France, có thể kể tới: 28 tháng 7 năm 2006 của Rolling Stones với 62.761 khán giả; The Police ngày 29 và 30 tháng 9 năm 2007 với 157.906 khán giả.
== Lịch sử ==
== Giá thành xây dựng ==
Kinh phí xây dựng Stade de France gồm 53% do Côngxoocxiom và 47% do nhà nước. Tổng cộng 745 triệu euro:
500 triệu € cho khung chính
45 triệu € dành cho mái
200 triệu € cho các trang thiết bị ghế, có, ánh sáng...
== Lối vào ==
Mặc dù năm ở ngã tư giao giữa xa lộ A1 và A86, nhưng có khuyến cáo không nên tới Stade de France bằng ô tô trừ khi đặt chỗ đậu xe trước. Bãi đậu xe của sân vận động không rộng và khuyến khích khán giả dùng phương tiện giao thông công cộng.
RER B, trạm La Plaine - Stade de France
RER D, trạm Stade de France - Saint-Denis
Tàu điện ngầm tuyến 13, trạm Saint-Denis - Porte de Paris
Buýt số 253, trạm Delaunay-Rimet
Cho các trận đấu lớn còn có xe tăng cường.
== Các sự kiện ==
Giải vô địch bóng đá thế giới 1998, tháng 6 và 7 năm 1998
Chung kết Cúp các đội vô địch bóng đá quốc gia châu Âu, 2000 và 2006
Vô địch điền kinh thế giới 2003, 23-31 tháng 8 năm 2003
"Bigard au Stade de France", 18 tháng 6 năm 2004
Race of Champions, 6 tháng 12 năm 2004
Race of Champions, 3 tháng 12 năm 2005
Race of Champions, 16 tháng 12 năm 2006
Buổi biểu diễn của The Rolling Stones, 25 tháng 7 năm 1998
Buổi biểu diễn của Johnny Hallyday, tháng 9 năm 1998
Buổi biểu diễn của Céline Dion, tháng 8 năm 1999
Buổi biểu diễn của Tina Turner, 5 tháng 7 năm 2000
Buổi biểu diễn của AC/DC, 22 tháng 6 năm 2001
Buổi biểu diễn của Bruce Springsteen, 24 tháng 5 năm 2003
Buổi biểu diễn của Paul McCartney, 24 tháng 6 năm 2004
Buổi biểu diễn của U2, 9-10 tháng 7 năm 2005
Buổi biểu diễn của The Rolling Stones, 28 tháng 7 năm 2006
Buổi biểu diễn của The Rolling Stones, 16 tháng 6 năm 2007
Buổi biểu diễn của George Michael, 22 tháng 6 năm 2007
Buổi biểu diễn của The Police, 29-30 tháng 9 năm 2007
Cúp vô địch bóng bầu dục 2007, tháng 9-10 năm 2007
Buổi biểu diễn của RFM Party 80, 17 tháng 5 năm 2008
Buổi biểu diễn của Tiësto, Carl Cox, Martin Solveig, Joachim Garraud & David Guetta, 05 tháng 7 năm 2008
Giải vô địch bóng đá châu Âu 2016, 10 tháng 6 - 10 tháng 7 năm 2016
== Chú thích ==
== Liên kết ngoài ==
Trang chính thức của Stade de France |
stonehenge, avebury và các di chỉ liên quan.txt | Stonehenge, Avebury và các di chỉ liên quan là một Di sản thế giới của UNESCO nằm ở Wiltshire, Anh. Nó bao gồm hai khu vực rộng lớn cách nhau 30 dặm (48 km) chứ không phải là một tượng đài cụ thể. Quần thể bao gồm một số những tượng đài lớn nổi tiếng trên toàn thế giới, nhưng khu vực cũng có mật độ lớn các địa điểm khảo cổ quy mô nhỏ, đặc biệt là các địa điểm thời tiền sử. Tại đây được xác định là có 700 hiện vật khảo cổ riêng biệt, 180 di tích được liệt kê bao gồm 415 hiện vật.
== Danh sách ==
Quần thể được chia thành hai khu vực rộng lớn là Stonehenge nằm ở phía nam Wiltshire, còn Avebury và các di chỉ liên quan nằm ở phía bắc.
=== Stonehenge và các di chỉ liên quan ===
Khu vực di chỉ cự thạch Stonehenge nằm ở phía nam của Wiltshire. Nó có diện tích 26 km vuông và là trung tâm của các di tích thời tiền sử Stonehenge. Quyền sở hữu di tích được chia sẻ giữa tổ chức Di sản Anh, National Trust, Bộ Quốc phòng, Hội Bảo tồn Chim Hoàng gia Anh (RSPB), Hội đồng hạt Wiltshire cùng các cá nhân và nông dân sở hữu đất. Cụm di tích này bao gồm các di tích thành phần:
Stonehenge
Đại lộ cổ Stonehenge
Stonehenge cursus
Lesser cursus
Durrington Walls
Woodhenge
Vòng tròn đá Coneybury (Đã bị cày phẳng)
King Barrow Ridge
Gò mộ Winterbourne Stoke
Gò mộ Normanton Down, bao gồm cả Gò mộ Bush
Trại Vespasianus
Robin Hood's Ball
Vòng tròn đá Tây Amesbury
Cảnh quan Stonehenge
Vòng tròn đá mới tại Stonehenge
=== Avebury và các di chỉ liên quan ===
Khu vực Avebury nằm ở phía bắc Wiltshire có diện tích 22,5 km vuông và là trung tâm của cảnh quan thời tiền sử Avebury.
Avebury
Đại lộ Kennet
Đại lộ Beckhampton
Gò mộ West Kennet Long
The Sanctuary
Gò tiền sử Silbury Hill
Gò tiền sử Windmill Hill
=== Bảo tàng và bộ sưu tập ===
Các bảo tàng chính trưng bày các hiện vật thời tiền sử ở Stonehenge, Avebury và các di chỉ liên quan là Bảo tàng Alexander Keiler, Salisbury và Wiltshire nằm ở thị trấn Devizes. Ngoài ra, các bảo tàng lớn và các tổ chức khác cũng lưu trữ nhiều hiện vật từ Stonehenge, Avebury có giá trị như là Bảo tàng Anh, Bảo tàng Quốc gia Xứ Wales, Bảo tàng Đại học Cambridge, Bảo tàng và thư viện Ashmolean.
== Tham khảo ==
== Liên kết ngoài ==
UNESCO: Stonehenge, Avebury and Associated Sites
Website of Stonehenge & Avebury World Heritage Site
Alexander Keiller Museum website
Salisbury Museum website
Wiltshire Heritage Museum website |
rupee pakistan.txt | Đồng rupee (tiếng Urdu: روپیہ ) (ký hiệu tiền tệ: Rs; mã: PKR) là tiền tệ của Pakistan. Việc in ấn và kiểm soát do Ngân hàng nhà nướcPakistan, giá trị lớn rupee được tính bằng đơn vị ngàn (1,000) lakh (một trăm ngàn 100,000) crore (một triệu 1,000,000).
Nguồn gốc từ "rupee" xuất phát từ chữ Phạn rūp hay rūpā, có nghĩa là "bạc" trong nhiều các ngôn ngữ Indo-Arya.
== Tham khảo ==
== Tỉ giá hối đoái hiện thời của đồng PKR == |
xe đạp.txt | Xe đạp là một phương tiện giao thông có hai bánh, dùng bàn đạp để điều khiển, gồm hai bánh xe được gắn vào cùng một khung xe, bánh này sau bánh kia. Đa số xe đạp chuyển động nhờ lực đạp của người điều khiển, và giữ thăng bằng nhờ định luật bảo toàn mômen quán tính.
Xe đạp đã được đưa vào sử dụng vào thế kỷ 19 ở châu Âu. Cho đến năm 2003, xe đạp có số lượng hơn một tỷ trên toàn thế giới, gấp đôi so với xe ô tô. Xe đạp là phương tiện chính của giao thông ở nhiều khu vực. Xe đạp cũng là một hình thức phổ biến cho giải trí, và đã được điều chỉnh để sử dụng như đồ chơi trẻ em, thiết bị trong phòng tập thể dục, các ứng dụng trong quân đội và cảnh sát, dịch vụ chuyển phát nhanh, và đua xe đạp.
Hình dạng cơ bản và cấu hình của một xe đạp đứng, hoặc xe đạp an toàn, đã thay đổi rất ít kể từ khi mô hình đầu tiên của xe đạp được phát triển vào khoảng năm 1885. Tuy nhiên, nhiều chi tiết đã được cải thiện, đặc biệt là kể từ sự ra đời của vật liệu hiện đại và thiết kế được máy tính hỗ trợ (CAD). Những hỗ trợ này cho phép gia tăng số lượng các thiết kế chuyên dụng cho nhiều loại xe đạp.
Xe đạp được coi là phương tiện giao thông thân thiện với môi trường sinh thái. Nó được sử dụng phổ biến ở nhiều nước có thu nhập đầu người thấp, như các nước châu Phi, Việt Nam, Trung Quốc, như phương tiện đi lại hằng ngày chính. Ở nhiều nước phương Tây, xe đạp được dùng nhiều hơn cho các hoạt động thể thao hay dã ngoại. Việc sử dụng xe đạp cho giao thông thường nhật cũng được khuyến khích tại các nước này với đường dành riêng cho xe đạp. Phương tiện này cũng thích hợp cho các đường phố nhỏ hẹp của các đô thị cổ, như Amsterdam ở châu Âu.
Phát minh ra xe đạp đã có ảnh hưởng rất lớn đối với xã hội, cả về văn hóa và việc thúc đẩy công nghiệp hiện đại hóa. Một số thành phần cuối cùng đóng một vai trò quan trọng trong sự phát triển của ô tô đầu tiên được phát minh để sử dụng trong xe đạp, bao gồm vòng bi, bánh hơi, đĩa xích điều khiển, và vành bánh xe được cân chỉnh bằng hàng loạt tăm kim loại.
== Lịch sử ==
Trước đây người ta cho rằng xe đạp được sáng chế bởi bá tước Sivrac vào năm 1790, với cái tên Célérifère(célérité có nghĩa là nhanh). Nó là một cái máy bằng gỗ, không có bánh xe để lái; việc chuyển hướng đòi hỏi phải lắc mạnh phần trước của xe. Ngày nay các sử gia về kỹ thuật cho rằng không có chiếc xe Célérifère cũng như bá tước Sivrac, đó chỉ là những hình ảnh sai vì xe đạp không tay lái rất khó điều khiển. Célérifère đồ chơi thì có thể có, nhưng không thể chạy nó trong thực tiễn.
Năm 1817, nam tước người Đức là Baron Karl von Drais đã phát minh ra chiếc xe mang tên ông gọi là Draisienne (xe của Drais) được xem là tổ tiên của xe đạp. Drais đã giới thiệu mô hình xe này cho công chúng tại Mannheim vào mùa hè 1817 và tại Paris năm 1818. Người lái ngồi dạng chân trên một khung gỗ được hỗ trợ bởi hai bánh xe và đẩy chiếc xe bằng hai chân của mình trong khi chỉnh hướng bằng bánh xe phía trước.
Xe hai bánh được gắn thiết bị cơ khí đầu tiên có thể đã được Kirkpatrick MacMillan, một thợ rèn người Scotland, lắp ráp vào năm 1839, mặc dù tuyên bố này còn đang tranh cãi. Ông cũng là trường hợp được ghi nhận đầu tiên của một hành vi phạm tội gây tai nạn giao thông bằng xe đạp, khi một tờ báo Glasgow năm 1842 báo cáo tai nạn, trong đó một "quý ông ẩn danh của vùng Dumfries-shire cưỡi một chiếc xe đạp được thiết kế khéo léo" đâm vào một cô bé ở Glasgow và bị phạt năm shilling.
Sáng kiến lắp thêm pêđan cho bánh trước được cho là thuộc về hai anh em Ernest Michaux và Pierre Michaux, thợ đóng xe ở Paris. Vào năm 1865, khi phải sửa chữa một cái Draisienne, họ đã lắp cho nó một chỗ để chân, mô phỏng tay quay của máy quay tay của họ. Tuy nhiên, trước đó, vào năm 1849, có thể một thợ cơ khí Đức là Heinrich Fischer đã sáng chế ra pê đan trước hai anh em Michaux. Pêđan ở bánh trước khiến cho bánh trước có kích thước lớn (lớn hơn bánh sau) để tăng quãng đường đi trong mỗi vòng đạp. Cải tiến này đã mang lại tên gọi mới cho thiết bị, bicycle (xe đạp).
Một số phát minh sau này đã sử dụng ổ đĩa phía sau bánh xe, nổi tiếng nhất là xe đạp sử dụng các thanh điều khiển của Thomas McCall, người Scotland năm 1869. Cũng trong năm đó, xe đạp có bánh xe với nan hoa của Eugène Meyer, người Paris, đã được cấp bằng sáng chế. Vélocipède(tiếng Pháp), chiếc xe đạp làm bằng sắt và gỗ, phát triển thành xe "penny-farthing" (trong lịch sử cơ khí được coi là "chiếc xe đạp bình thường"). Nó bao gồm một khung thép hình ống trên đó có gắn bánh xe có nan hoa với lốp cao su rắn. Những chiếc xe đạp này rất khó đi do chỗ ngồi cao và phân bố trọng lượng không tốt. Năm 1868 Rowley Turner, một đại lý bán hàng của Công ty máy khâu Coventry (mà nhanh chóng trở thành Công ty Coventry Machinist), mang một chiếc xe đạp của Michaux tới Coventry, Anh. Chú của ông, Josiah Turner, và đối tác kinh doanh James Starley, sử dụng chiếc xe đạp này để sản xuất xe đạp nhãn hiệu 'Coventry Model', và công ty trở thành nhà máy sản xuất xe đạp đầu tiên của Anh.
Xe đạp vốn được làm bằng gỗ. Từ năm 1869 các xe đạp này đã được làm bằng thép.
Năm 1879, một người Anh là Lawson đã sáng chế xích để truyền động cho bánh sau. Sáng chế này kèm theo các cải tiến ở khung, đùi, đĩa, pêđan, hệ tay lái và phuộc. Năm 1885, J.K. Sartley cho bánh trước có cùng đường kính với bánh sau và làm cái khung bằng ống thép.
Năm 1887, John Boyd Dunlop, một nhà sáng chế Scotland, tiếp tục cải tiến bánh xe với việc dùng ống hơi bằng cao su, do bánh xe lúc trước còn rất xóc.
Năm 1890, Roberton ở Anh và Édouard Michelin ở Pháp làm cho bánh có thể tháo lắp được.
Năm 1920, do xe quá nặng nên người ta đã đổi thành ruột rỗng cho xe nhẹ hơn, chất liệu của xe thì được đổi thành hợp kim.
Năm 1973 xe địa hình được chế tạo ở California.
== Thể thao ==
Xe đạp còn được coi là một môn thể thao với các thể loại khác nhau: Trong nhà, đường trường, địa hình, trial, v.v. và được thi đấu trong ASIAD, Asian Indoor Games, SEA Games, Olympic...
== Xem thêm ==
Tour de France
== Ảnh ==
== Tham khảo ==
=== Sách tham khảo ===
Herlihy, David V. (2004). Bicycle: The History. Yale University Press. ISBN 978-0300120479.
== Đọc thêm ==
Max Glaskin, Cycling Science: How Rider and Machine Work Together January 2013, University of Chicago Press, ISBN 9780226921877
Raymond Huttier. Le roman de la bicyclette, du célérifère au vélo moderne. (Bicycle history) 139 p. illustré. Editions Susse, Paris. 1951.
== Liên kết ngoài ==
bicycle (vehicle) tại Encyclopædia Britannica (tiếng Anh)
Xe đạp tại Từ điển bách khoa Việt Nam
Các phát minh về xe đạp
Pedaling History Museum The world's largest bicycle museum
A range of Traffic Advisory Leaflets produced by the UK Department for Transport covering cycling.
A History of Bicycles and Other Cycles at the Canada Science and Technology Museum |
tham khảo.txt | Tham khảo có nghĩa là đi lấy thêm thông tin, thường là ở trong tài liệu, nhằm tìm hiểu thêm để học hỏi, nghiên cứu, xử lý công việc cho tốt hơn. Khi tài liệu đánh dấu cho độc giả biết đi đâu ở một nơi khác để tham khảo thêm thì đó gọi là dấu tham khảo. Dấu tham khảo là một quy chiếu.
== Xem thêm ==
Quy chiếu
Tài liệu
Văn kiện
== Chú thích ==
== Liên kết ngoài ==
Sách công cụ - tra cứu trong thời đại hiện nay trên BKTTVN |
gia sư nữ quái.txt | Gia sư nữ quái là một bộ phim hài hước - tâm lý - ca nhạc - võ thuật Việt Nam do Lê Bảo Trung làm đạo diễn và viết kịch bản, phim được công chiếu ra rạp vào ngày 1 tháng 6 năm 2012. Gia sư nữ quái có sự tham gia của ca sĩ Bảo Thy, ca sĩ Isaac (nhóm 365daband) và diễn viên Trấn Thành; ngoài ra còn có ba danh hài Chí Tài, Hoài Linh và Hoàng Sơn.
Đây là bộ phim thứ hai Bảo Thy tham gia, sau phim Công chúa teen và ngũ hổ tướng công chiếu Tết 2010.
== Nội dung ==
Chuyện phim kể về hai anh chàng sinh viên nghèo tên Minh và Trí từ quê lên thành phố đi học, thuê một căn nhà ở chung, cả hai quyết định tham gia cuộc thi mang tên "Sinh viên sáng tạo" do nhà trường tổ chức. Minh và Trí thiết kế một mô hình nhà cao tầng rồi đem nó nộp cho ban tổ chức với hi vọng sẽ trúng giải và được trao tặng 100 triệu đồng. Trong thời gian chờ kết quả, Minh và Trí liền nghĩ cách đi làm việc gì đó kiếm tiền đóng tiền nhà, Trí thì chỉ biết tán tỉnh cô con gái Thủy của bà chủ nhà vì anh tin rằng cô nàng này sẽ đưa cho mình tiền, còn Minh thì không thích lừa đảo như Trí nên anh quyết định làm gia sư dạy kèm với hi vọng nghề này sẽ giúp anh kiếm nhiều tiền.
Một ngày kia, Minh được mời đến làm gia sư cho một cô nàng tiểu thư xinh đẹp tên Huỳnh Mai - con gái của ông trùm giang hồ Huỳnh Tài khét tiếng. Cô nàng này là con người hung dữ, du côn và ương bướng, điều ghê gớm là trước đây cô đã từng hành hạ rất nhiều gia sư đến dạy học mình khiến họ phải ra đi khi chưa đầy hai ngày. Ông Tài bảo Minh nếu dạy kèm được cho con gái ông thì ông sẽ trả lương cho Minh rất cao. Vì đang rất cần tiền nên Minh đành nhịn nhục những lời mắng nhiếc cũng như hành động bạo lực của Mai. Ông Tài thường cho hai vệ sĩ của mình là Tàu Hũ và Bánh Lọt đến nhà đón Minh mỗi khi đến giờ dạy. Bỗng một hôm, do bị Mai sỉ nhục quá nặng nên Minh tức giận từ bỏ dạy học, sau vụ đó ông Tài bắt Mai phải đấu kiếm với mình, nếu như Mai thắng thì cô được ra giang hồ, còn nếu thua thì phải học. Chỉ trong phút chốc, ông Tài đã thắng Mai, ông cho Tàu Hũ và Bánh Lọt đi đón Minh về tiếp tục dạy cho Mai.
Trong khi Minh đang dạy cho Mai trong phòng học thì có một bọn giang hồ đến nhà và đòi thanh toán ông Tài. Ông Tài, Tàu Hũ và Bánh Lọt lao vào đâm chém quyết liệt với chúng, nhưng ba người không thể đánh lại bọn giang hồ càng lúc càng đông, ông Tài bị chúng chém nhiều nhát vào người. Trí xuất hiện kịp thời, trên tay Trí cầm nhiều thuốc nổ TNT (Thuốc Nổ Tung, do Tàu Hũ và Bánh Lọt tự chế để ép Trí dạy chữ cho hai người) khiến bọn giang hồ hoảng sợ bỏ chạy. Mai vô cùng đau khổ khi chứng kiến ông Tài bị thương nặng như vậy, từ đó cô đã bắt đầu chịu học hành đàng hoàng, dần dần cô và Minh nảy sinh tình cảm với nhau rồi họ trở thành một cặp đẹp đôi, Trí và Thủy cũng yêu nhau sau thời gian dài tìm hiểu.
Một hôm, khi Minh và Trí đang chuẩn bị lên xe về quê (do bị đuổi học) thì Thủy và Mai đến tiễn (thực chất là để thuyết phục Minh và Trí ở lại). Minh và Trí nhận được thông báo rằng mô hình nhà cao tầng của hai người thiết kế đã đoạt giải nhất, cả hai mừng rỡ khi nhận được 100 triệu đồng. Cặp đôi của Minh và cặp đôi của Trí lấy xe hơi mui trần vui vẻ chạy khắp trường trong sự reo hò của các sinh viên trong trường.
== Diễn viên ==
Isaac vai Minh
Bảo Thy vai Huỳnh Mai
Trấn Thành vai Trí
Chí Tài vai Huỳnh Tài
Hoài Linh vai Tàu Hũ
Hoàng Sơn vai Bánh Lọt
Dương Cẩm Lynh vai Thủy
Thanh Ngọc vai Má Mập
Anh Đức vai Bạo
Kim Dung vai Hành
Đặng Trung Tuấn vai Tên giang hồ
== Phê bình ==
VnExpress: Nội dung của bộ phim vẫn chạy theo những mô-típ quen thuộc, nhưng gây cười bởi các tình tiết nhỏ được lồng ghép trong phim. Phong cách hài hước ảnh hưởng nhiều từ những phim hài hành động của diễn viên nổi tiếng Hồng Kông Châu Tinh Trì. Đặc biệt, hình tượng bà chủ nhà với tuyệt chiêu "sư tử hống" trong phim Tuyệt đỉnh công phu có lẽ rất được Lê Bảo Trung ưa chuộng và sử dụng trong cả hai phim Nhật ký Bạch Tuyết và Gia sư nữ quái. Trong Nhật ký Bạch Tuyết, khi nàng Bạch Tuyết cất tiếng ca thì mấy chú lùn bị thổi tung lên bầu trời. Còn ở Gia sư nữ quái, bà chủ nhà trọ Má Mập mỗi lần đòi nợ là la hét như bão tố trên sân thượng cùng với sự hỗ trợ của chiếc quạt máy công suất cao. Tuy chỉ là một nhân vật phụ trong phim, nhưng sự xuất hiện của nhân vật Má Mập đã để lại nhiều tràng cười.
== Tham khảo ==
== Liên kết ngoài ==
Gia sư nữ quái tại Internet Movie Database
Gia sư nữ quái tại Facebook
Trailer phim. |
vườn quốc gia sundown.txt | Vườn quốc gia Sundown là một vườn quốc gia ở Queensland, Úc, 198 km về phía tây nam Brisbane. Vườn quốc gia có một số hẻm núi ngoạn mục và một số đỉnh núi cao trên 1.000 m.
Nó là nguồn gốc của sông Severn (Queensland), đó là điểm khởi đầu của sông Darling. Sông Severn (Queensland) là một con sông riêng biệt với sông cùng tên ở bang New South Wales. Sông đã cắt giảm một hẻm núi dài 10 km qua đá cứng. Một số các phụ lưu của sông Severn có khắc những hẻm núi và có chứa các thác nước.
Khu vực này có một lịch sử địa chất phức tạp. Trước khi trở thành một khu vườn quốc gia, đất ở đây được dùng để khai thác molybdenite, asen, vonfram, đồng, vàng và thiếc. Các mỏ bị bỏ hoang và các vùng đất chịu tác động bị ô nhiễm, do đó việc đến các địa điểm này bị hạn chế. Hóa thạch sinh vật biển có vỏ có thể được tìm thấy trên đỉnh núi Donaldson cao 1.038 m so với mực nước biển.
== Tham khảo == |
darfur.txt | Darfur (tiếng Ả Rập: دار فور) là khu vực cực tây của Sudan giáp Cộng hòa Trung Phi, Tchad và Libya. Có một thời đây là vương quốc độc lập hằng mấy trăm năm, Darfur bị liên minh quân đội Anh-Ai Cập sáp nhập vào Sudan năm 1899. Vùng này nay được chia thành ba tiểu bang: Tây Darfur (Gharb Darfur), Nam Darfur (Janub Darfur), và Bắc Darfur (Shamal Darfur). Vì chiến cuộc, Darfur hiện trong thảm trạng nhân đạo rất khẩn cấp.
== Địa lý và khí hậu ==
Với diện tích 493.180 km², Darfur bao gồm một cao nguyên khô cằn với rặng núi Marra cao 3.000 m ở chính giữa.
Miền đông Darfur là một bình nguyên cỏ mọc có thể canh tác được xen lẫn đồi thấp. Địa chất phần lớn là cát pha, tiếng địa phương gọi là goz, trong khi đá sa thạch tạo nên những cao độ. Đất đai miền bắc Darfur thì hòa vào những đụn cát của sa mạc Sahara. Đất miền tây Darfur kém nhất vì có lớp đá đệm ở dưới nên cằn cỗi, thường chỉ bỏ hoang cho cỏ mọc để nuôi mục súc. Darfur thuộc khu vực địa lý sahel.
Mùa mưa trong ba tháng, từ Tháng Sáu đến Tháng Chín là nguồn nước quan trọng nhất tưới xanh Darfur. Miền cực bắc có khi mấy năm liền không mưa. Miền cực nam, mưa nhiều hơn, trung bình là 700 mm một năm. Tiêu biểu ở Darfur là những lòng sông khô (wadi) khi có mưa thì chảy tràn. Wadi miền tây Darfur thì tuôn nước về lưu vực hồ Tchad cách đó hàng trăm cây số. Riêng đỉnh núi Marra vì là cao độ nên hứng được lượng mưa nhiều hơn và có suối nước chảy quanh năm.
Nông nghiệp Darfur lệ thuộc vào mấy tháng mùa mưa. Nhà nông ở đây cấy ngự cốc (Pennisetum glaucum) để thu hoạch vào Tháng Mười Một. Gặt xong còn rơm rạ của cây ngự cốc thì có thể dùng làm thức ăn mục súc.
== Lịch sử ==
Cư dân đầu tiên của Darfur là bộ tộc Daju nhưng ngoài một số truyền tích về các lãnh chúa thì không có gì cụ thể lưu lại từ thời thượng cổ. Hồi giáo du nhập Darfur khoảng thế kỷ 14 theo chân bộ tộc Tunjur. Người Tunjur giao lưu với bộ tộc Fur để thành lập triều đại Keira. Vương quốc này một thời là thế lực mạnh nhất vùng Sahel.
Năm 1875 Darfur bị Ai Cập sáp nhập vào Sudan và cai trị từ Khartoum. Khi Muhammad Ahmad dấy binh, tự xưng là "Mahdi", đánh đuổi quân Ai Cập ra khỏi Sudan thì quân của Mahdi cũng kiểm soát Darfur. Nhưng sang triều vua Abdallahi ibn Muhammad, người kế vị Mahdi thì dân Darfur nổi lên chống lại chính quyền Khartoum vì không chịu lệnh bắt lính.
Năm 1899 quân đội liên minh Anh-Ai Cập tiến công tái chiếm Khartoum. Trong trận Omdurman, Abdallahi thua to. Quân liên minh do tướng Horatio Kitchener điều hành cho thành lập xứ Sudan thuộc Anh-Ai Cập và công nhận quyền tự trị của Darfur, phó cho Ali Dinar cai quản. Darfur chỉ phải chịu lệ triều cống hàng năm.
Đến năm 1916 thì quyền tự trị đó chấm dứt vì chính quyền Anh lo ngại một xứ Darfur tự trị sẽ ngả theo Đế quốc Ottoman trong khi Anh và Đế quốc Ottoman đang đánh nhau. Quyền hành tập trung đã củng cố chính quyền trung ương ở Khartoum trong khi phên giậu Darfur bị bỏ quên. Khuynh hướng này tiếp tục sau năm 1956 khi Sudan bước sang thời kỳ độc lập.
Bất ổn chính trị tăng dần với các thế lực quốc nội cũng như quốc ngoại (Libya và Tchad) tham gia vào những tranh chấp ở Darfur. Đáng kể nhất là sự phân biệt chủng tộc rõ rệt giữa Ả Rập và Phi châu khiến xung đột sắc tộc càng leo thang.
Nạn đói giữa thập niên 1980 phá hủy những cơ sở xã hội địa phương còn lại mở đầu cho thời kỳ loạn lạc. Trong suốt 15 năm cuộc Xung đột Darfur lan rộng với lực lượng chống chính phủ và nhóm dân quân thân chính phủ cùng tham chiến làm chiến cuộc thêm tàn khốc. Thường dân Darfur bị mắc nạn giữa hai gọng kềm với hậu quả là 2 triệu rưởi người tỵ nạn sống tạm bợ rất nguy khốn.
Hòa ước Darfur ký năm 2006 tạm thời thành lập cơ quan hành chính mới vào năm 2007 gọi là Chính quyền Địa phương Darfur Chuyển tiếp(tiếng Anh: Transitional Darfur Regional Authority) với các thành phần tham chiến cùng tham dự để tái lập trật tự, hồi cư dân tỵ nạn và xây dưng hòa bình, hòa giải.. Theo hòa ước đó thì cuộc trưng cầu dân ý về chính thể tự trị của Darfur sẽ tổ chức trước năm 2011.
== Chú thích ==
== Xem thêm ==
Xung đột Darfur |
phó chủ tịch quốc hội việt nam.txt | Theo Hiến pháp hiện hành Phó Chủ tịch Quốc hội được Quốc hội bầu, miễn nhiệm, bãi nhiệm do Ủy ban Thường vụ Quốc hội đề cử. Phó Chủ tịch Quốc hội là thành viên của Ủy ban Thường vụ của Quốc hội,có nhiệm kỳ tương đương với Quốc hội cùng khóa. Trước năm 1960 thì có chức danh là Phó Trưởng ban Thường vụ Quốc hội. Phó Chủ tịch Quốc hội hiện nay gồm 4 người.
== Chức năng, nhiệm vụ ==
Khoản 6 Điều 72 Hiến pháp Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam (sửa đổi 2013) quy định:
"Các Phó Chủ tịch Quốc hội giúp Chủ tịch Quốc hội làm nhiệm vụ theo sự phân công của Chủ tịch"
Các Phó Chủ tịch Quốc hội đồng thời là các Phó Chủ tịch Ủy ban thường vụ Quốc hội, được phân công đảm nhiệm các phần việc của Uỷ ban thường vụ Quốc hội.
== Danh sách Phó Chủ tịch Quốc hội ==
== Tham khảo == |
siêu văn bản.txt | Siêu văn bản (tiếng Anh: hypertext) là văn bản của một tài liệu có thể được truy tìm không theo tuần tự. Người đọc có thể tự do đuổi theo các dấu vết liên quan qua suốt tài liệu đó bằng các mối liên kết xác định sẵn do người sử dụng tự lập nên.
Trong một môi trường ứng dụng siêu văn bản thực sự, người đọc có thể trỏ vào chỗ tô sáng (highlight) bất kì từ nào của tài liệu và tức khắc nhảy đến những tài liệu khác có văn bản liên quan đến nó. Cũng có những lệnh cho phép người đọc tự tạo cho riêng mình những dấu vết kết hợp qua suốt tài liệu. Các trình ứng dụng dùng siêu văn bản rất hữu ích trong trường hợp phải phải làm việc với số lượng văn bản lớn, như các bộ từ điển bách khoa và các bộ sách nhiều tập.
== Một số ngôn ngữ siêu văn bản tiêu biểu ==
HTML (Hypertext Markup Language) - Ngôn ngữ đánh dấu siêu văn bản
HTML là loại ngôn ngữ dùng để định dạng dữ liệu. Tất cả các trang web bạn đang duyệt đều được tạo nên từ các thẻ HTML. Dù website của bạn được lập trình bằng ngôn ngữ nào đi nữa, thì khi được trả về trình duyệt web, bạn sẽ chỉ nhận được các mã HTML. Ví dụ để định dạng một đoạn văn bản bạn sử dụng cặp thẻ , để xuống dòng bạn sử dụng thẻ </br>
. HTML cùng với HTTP tạo nên nền móng của một loại dịch vụ mà chúng ta gọi là web như ngày nay.
XML (Extensible Markup Language) - Ngôn ngữ đánh dấu có thể mở rộng
Khác với HTML, XML không định nghĩa bất cứ thẻ nào cả. Tất cả các thẻ và ý nghĩa của chúng đều do bạn tạo ra. XML được tạo ra để xác định dữ liệu và do đó được dùng như một công cụ để truyền tải dữ liệu có cấu trúc giữa các ứng dụng, đặc biệt là ứng dụng WEB.
== Tham khảo == |
lòng dạ đàn bà.txt | Lòng dạ đàn bà là phim truyền hình dài 30 tập của Việt Nam do Hồ Ngọc Xum làm đạo diễn, được thực hiện vào năm 2011, phim thuộc thể loại tình cảm và tâm lý. Bộ phim Lòng dạ đàn bà sẽ do hãng TFS và Hãng phim Tâm Điểm phối hợp sản xuất, nó dựa theo một số tác phẩm của nhà văn Hồ Biểu Chánh.
== Nội dung ==
Bộ phim lấy bối cảnh Việt Nam vào những năm đầu thập niên 1920, nó là chuyện hồi tưởng về quá khứ của ông Hội đồng Thành, hồi xưa ông là thanh niên vừa giàu có vừa bảnh trai, lúc đó anh đã từng tiếp xúc với 3 người phụ nữ có nhan sắc mặn mà, mỗi người phụ nữ đều có một lối sống khác nhau. Người thứ nhất là Kim Diệp - vợ của Hội đồng Thành, có tính ghen ghét đố kỵ, mưu mô, xảo quyệt; người thứ hai là Ba Huyền - một đào hát dịu dàng, lịch sự, cô bị gã chồng giang hồ tên Bảy Thẹo của mình bắt đi moi tiền đàn ông giàu có về cho gã xài; và người thứ ba là Thanh Thủy - cô làm buôn bán hột xoàn xuyên các tỉnh miền Đông và Tây Nam Bộ, với tư cách là bạn thân của Kim Diệp cô đã giúp đỡ Hội đồng Thành tránh xa cạm bẫy tình của Ba Huyền.
== Diễn viên ==
Cao Minh Đạt - Hội đồng Thành
Vân Trang - Ba Huyền
Ngọc Lan - Kim Diệp
Dương Cẩm Lynh - Thanh Thủy
Trương Minh Cường - Phan Thanh Nhãn
Nam Cường - Trạng sư Thái Duy Càng
Anh Đào - Minh Nguyệt
Minh Hoàng - Hội đồng Tân
Đông Dương - Trạng sư Vĩnh Khang
Bá Cường - Bảy Thẹo
Thanh Tuấn - ông Thái
Trung Hậu - bà Hòa
Công Tài - ông cả Hớn
Huỳnh Sơn Thái - Hội đồng Quỳnh
== Chú thích và tham khảo ==
Lòng dạ đàn bà tại VnExpress
"Ba người tình" của Hồ Biểu Chánh. 24h.com.vn 05/12/2011
== Tham khảo == |
chất rắn.txt | :Xem các nghĩa khác tại rắn (định hướng)
Trạng thái rắn là một trong ba trạng thái thường gặp của các chất, có đặc điểm bởi tính chất phản kháng lại sự thay đổi hình dạng. Các chất ở trạng thái rắn được gọi là chất rắn. Các vật được cấu tạo từ chất rắn (vật rắn) có hình dạng ổn định.
Ở mức độ vi mô, chất rắn có đặc tính:
Các phân tử hay nguyên tử nằm sát nhau
Chúng có vị trí trung bình tương đối cố định trong không gian so với nhau, tạo nên tính chất giữ nguyên hình dáng của vật rắn.
Nếu có lực đủ lớn tác dụng các tính chất trên có thể bị phá hủy và vật rắn biến dạng. Các phân tử hay nguyên tử của vật rắn có dao động nhiệt quanh vị trí cân bằng. Khi nhiệt độ tăng cao, dao động mạnh có thể phá hủy tính chất trên và chất rắn có thể chuyển pha sang trạng thái lỏng.
Môn học nghiên cứu về chất rắn là vật lý chất rắn.
== Phân loại ==
Chất rắn được chia làm hai loại: chất rắn kết tinh và chất rắn vô định hình.
=== Chất kết tinh ===
==== Ví dụ ====
Muối ăn, gồm chủ yếu là NaCl, là một ví dụ của chất rắn kết tinh. Chúng đều có dạng lập phương tâm khối hoặc hình hộp. Nếu đập vỡ một hạt muối tinh khiết thành những mảnh có độ vỡ khác nhau thì tất cả chúng đều có dạng khối lập phương hoặc khối hình hộp.
Tiếp tục đập vụn hạt muối thành những hạt nhỏ li ti và đưa vào kính hiển vi, có thể thấy những hạt muối này dù rất nhỏ vẫn có dạng khối lập phương hoặc khối hình hộp, những kết cấu rắn có dạng hình học xác định như thế gọi là các tinh thể.
Tinh thể của mỗi chất có hình dạng đặc trưng xác định. Tinh thể muối ăn có dạng lập phương hoặc khối hình hộp. Cùng một tinh thể tùy điều kiện hình thành mà chúng có kích thước lớn nhỏ khác nhau.
==== Chất đơn tinh thể ====
Một hạt muối ăn dù lớn hay nhỏ đều được cấu tạo từ một tinh thể muối, một viên kim cương chỉ được cấu tạo từ một tinh thể kim cương, một miếng thạch anh chỉ được cấu tạo từ một tinh thể thạch anh.
Ta nói hạt muối, viên kim cương, miếng thạch anh là các đơn tinh thể, còn muối, thạch anh, kim cương là các tinh thể.
Đặc điểm của các chất đơn tinh thể nói chung là tính chất vật lý theo tính khác nhau thì không giống nhau. Tính chất này gọi là tính dị hướng.
Các chất đơn tinh thể có nhiều ứng dụng trong đời sống và khoa học công nghệ. Kim cương là chất rắn đơn tinh thể rắn nhất hiện nay nên được dùng làm mũi khoan địa chất, đá mài dao điện làm bằng hợp kim rất cứng v.v.. Trên 80% kim cương được khai thác trong tự nhiên và toàn bộ kim cương nhân tạo được dùng trong công nghệ, chỉ có chưa tới 20% kim cương được khai thác trong tự nhiên được khai thác trong tự nhiên dùng làm đồ trang sức. Các chất đơn tinh khiết gemani và silic dùng cho chế tạo linh kiện bán dẫn có vai trò cực kỳ quan trọng trong việc chế tạo linh kiện điện điện tử.
==== Chất đa tinh thể ====
=== Chất rắn vô định hình ===
== Xem thêm ==
Chất lỏng
Chất khí
Plasma
== Tham khảo == |
tần (nước).txt | Xem các nghĩa khác tại Tần.
Tần (tiếng Trung Quốc: 秦; PinYin: Qin, Wade-Giles: Qin hoặc Ch'in) (778 TCN-207 TCN) là một nước chư hầu thời Xuân Thu và Chiến Quốc ở Trung Quốc. Cuối cùng nó đã lớn mạnh giữ vị trí thống trị toàn bộ các nước và lần đầu tiên thống nhất Trung Quốc, từ thời điểm này nó được gọi là Nhà Tần. Họ của gia đình hoàng gia nước Tần là Doanh (嬴).
== Thời Tây Chu ==
Theo truyền thuyết, các quân chủ nước Tần là hậu duệ Chuyên Húc nhưng không phải ngành dọc mà là ngành ngang. Cháu gái Chuyên Húc là Nữ Tu đang ngồi dệt vải thì bỗng nhiên trên trời có con chim én bay ngang đẻ trứng, quả trứng rơi trúng miệng Nữ Tu bấy giờ đang ngẩng mặt lên há ngáp. Từ đó Nữ Tu thụ thai rồi sinh ra người con trai đặt tên là Đại Nghiệp, Đại Nghiệp còn gọi là Cao Dao lấy con gái bộ lạc Thiếu Điển là Nữ Hoa mà sinh ra Đại Phí. Đại Phí còn gọi là Bá Ích làm quan ở nước Hữu Ngu có công lớn được Đế Thuấn ban thưởng cho Diêu Khương Nữ và phong ấp Doanh ăn lộc, từ đó hậu duệ Bá Ích lấy họ Doanh. Trước đây vua Vũ nhà Hạ định nhường ngôi cho Cao Dao là người hiền nhưng Cao Dao đã chết trước vua Vũ nên ông quyết định truyền cho con của Cao Dao là Bá Ích, khi vua Vũ mất Bá Ích chủ trì quốc tang 3 năm rồi trao lại ngôi cho con vua Vũ là Khải (có thuyết nói rằng Khải không nghe lời cha mà đoạt ngôi của Bá Ích). Bá Ích sinh Đại Liêm, Đại Liêm còn gọi là Nhược Mộc được vua Khải phong cho làm vua nước Từ hiệu là Điểu Tục thị. Hậu duệ 5 đời Đại Liêm là Mạnh Sác sống dưới thời Thái Mậu Đế tức vua Trung Tông nhà Thương, em Mạnh Sác là Trung Diễn giữ chức quan trong triều đình. Hậu duệ 5 đời Trung Diễn là Trung Quyết làm quan dưới thời Thương đế Ất, con Trung Quyết là Phi Liêm tiếp tục làm quan cho Thương Trụ Vương. Phi Liêm cùng với con trai trưởng là Ác Lai phò tá Thương Trụ chống lại Chu Vũ vương nên đều bị giết. Con cháu Phi Liêm ly tán, phân thành 2 dòng chính, về sau hình thành nên tổ tiên của các quân chủ của nước Tần và nước Triệu. Ác Lai sinh Nữ Phòng, Nữ Phòng sinh Bàng Cao, Bàng Cao sinh Thái Cơ, Thái Cơ sinh Đại Lạc, Đại Lạc sinh Phi Tử. Phi Tử làm nghề chăn ngựa ở đất Khuyển Khâu, được Chu Hiếu vương triệu kiến và giao cho việc cai quản nghề chăn ngựa ở vùng đất giữa 2 sông Thiên Thủy và Vị Thủy. Nhờ có thành tích, Phi Tử được Chu Hiếu vương phong cho ấp Tần, làm phụ dung cho nhà Chu.
Quyền lực của nước Tần bắt đầu tăng lên từ thời điểm vua nhà Chu (người theo danh nghĩa là vua trên toàn bộ Trung Quốc) phong tước Công cho vua Tần sau khi quân đội Tần tham gia bảo vệ cho vua Chu khi ông phải bỏ chạy và di chuyển kinh đô trước các cuộc tấn công của bộ tộc Khuyển Nhung phía Bắc vào năm 771 TCN.
== Thời Đông Chu ==
Tần tiếp tục phát triển trở nên hùng mạnh hơn trong những thế kỷ tiếp sau. Các vị vua Tần thực hiện nhiều dự án nhằm thúc đẩy sự cường thịnh của quốc gia như đào các kênh tưới tiêu và xây dựng các thành quách phòng thủ kiên cố. Do lãnh địa cai trị của các vua Tần chủ yếu thuộc địa bàn các bộ tộc được cho là con cháu của tộc Nhung ở thảo nguyên và mới chỉ tiếp xúc với văn hóa nhà Chu. Những yếu tố đó khiến nó khá khác biệt so với các nước chư hầu khác ở Trung Quốc thời điểm ấy và ngay từ khi mới thành lập, Tần đã luôn đối mặt với nguy cơ đối nghịch từ mọi phía.
Sự kiện đáng chú ý nhất trong lịch sử Tần trước thế kỷ thứ 3 TCN là sự xuất hiện của Thương Ưởng. Thương Ưởng là một người tin tưởng nhiệt thành vào các triết lý hệ phái Pháp gia, mà sau này Hàn Phi Tử, một quý tộc của nước Hàn đã hệ thống thành hệ tư tưởng Pháp gia. Pháp gia cho rằng tất cả mọi người đều bình đẳng và rằng luật pháp chặt chẽ và sự trừng phạt hà khắc là cần thiết để giữ gìn trật tự xã hội. Thương Ưởng trở thành tể tướng Tần thời Tần Hiếu công và dần biến nước này trở thành một bộ máy hùng mạnh, được quản lý chặt chẽ, mục tiêu duy nhất của quá trình này là hạn chế mọi đối thủ. Thương Ưởng loại bỏ quý tộc và đưa ra một hình mẫu chính quyền do người tài cầm đầu - chỉ những người có chiến công, thành tích mới được giữ các chức vụ cao và đặc quyền gia tộc chỉ còn được giữ duy nhất cho hoàng gia. Khi thực hiện kế hoạch này, Thương Ưởng đã khiến nhiều kẻ bất bình, và ngay sau cái chết của Tần Hiếu Công, ông phải bỏ chạy khỏi triều đình và bị giết. Tuy nhiên, những cải cách theo đường lối Pháp gia của Thương Ưởng rõ ràng đã mang lại nhiều lợi ích và những nhà vua về sau này không dại dột mà thay đổi các chính sách đó.
Một trong những kết quả dễ nhận thấy nhất của chương trình cải cách là quân sự. Trước đó, quân đội do quý tộc kiểm soát và là đội quân phong kiến. Từ thời Thương Ưởng, các vị tướng có thể xuất thân từ bất kỳ tầng lớp nào trong xã hội, chỉ cần họ có đủ tài năng. Hơn nữa, quân lính được huấn luyện tốt và có kỷ luật. Tuy nhiên, một điều cần lưu ý là quân đội Tần luôn luôn có ưu thế số lượng vượt trội và được nhà nước hậu thuẫn nhiều. Kết quả của nhiều dự án công cộng với mục tiêu thúc đẩy nông nghiệp khiến Tần có khả năng cung cấp và duy trì cho một lực lượng quân đội lên tới hơn một triệu người - một con số mà không một nước chư hầu nào khác (có lẽ trừ Sở, một nước hùng mạnh khác, về danh nghĩa vẫn là chư hầu của nhà Chu, dù đã tự xưng Vương và xem mình ngang hàng với vua Chu) có thể đạt tới. Tất cả chúng đã tạo ra những sự thay đổi to lớn; những sự biến đổi mang tính cách mạng trong phương thức tiến hành chiến tranh của Tần chỉ diễn ra ở Châu Âu vào thời Cách mạng Pháp, hai ngàn năm sau.
Có được lực lượng quân sự hùng mạnh đó, Tần dần tiêu diệt các nước chư hầu nhỏ bên cạnh và từ thời Tần Huệ Văn vương về sau, vua Tần bỏ tước Công mà xưng Vương.
Năm 260 TCN, tất cả các nước chư khầu khác nhận thấy toàn bộ tầm vóc mà các cuộc cải cách ở Tần mang lại trong phương pháp tiến hành chiến tranh. Tất cả những kiểu cách lịch sự quý tộc đã bị loại bỏ nhường chỗ cho ưu tiên về tính hiệu quả. Sau trận Trường Bình, các tướng Tần đã ra lệnh hành quyết 400.000 tù binh chiến tranh nước Triệu.
Tới giữa thế kỷ thứ 3 Tần đã bắt đầu thực hiện nhiều dự án to lớn khác khiến vị trí ưu việt của họ ngày càng được củng cố vững chắc. Nước Hàn sợ Tần mở rộng về phía Đông sẽ gây hại đến mình vì thế vua Hàn tìm cách phá hoại Tần không phải bằng quân đội, vì lực lượng quá chênh lệch, mà bằng các kỹ sư thuỷ lợi. Tần có khuynh hướng xây dựng những kênh đào to lớn, một ví dụ là hệ thống tưới sông Mân. Hàn bèn gửi kỹ sư Trịnh Quốc tới triều đình Tần nhằm thuyết phục vua Tần đổ các nguồn tài lực của họ vào các kênh đào còn lớn hơn nữa. Tần đồng ý xây dựng kênh, nhưng không may thay cho Hàn, kế hoạch của họ mang lại hiệu quả trái ngược. Dù nó thực sự đã làm chậm bước tiến của Tần, cùng lúc ấy nó lại không thể tiêu diệt bớt nguồn tài lực của họ và cái gọi là kênh Trịnh Quốc hoàn thành năm 246 TCN, tất cả chi phí bỏ ra đã được thu về đầy đủ với một khoản lời kếch sù khác. Nhờ thế, Tần trở thành nước trù phú nhất Trung Quốc và lại có khả năng cung cấp thêm lương thực cho hàng trăm ngàn binh sĩ nữa.
Tới thời điểm ấy, từ con số hàng ngàn, các nước chư hầu đã giảm xuống chỉ còn bảy nước lớn. Hai nước mạnh nhất là Tần và Sở. Tuy nhiên, Sở không có nhiều ưu thế, bởi vì nó không mở rộng thêm lãnh thổ được vì các nước đệm xung quanh toàn là nước mạnh. Trái lại Tần dễ dàng sáp nhập các nước chư hầu yếu xung quanh và dù cuối cùng Sở đã thắng nước Việt vào cuối thế kỷ thứ 4, thì nước này cũng phải chịu nhiều tổn thất quân sự. Dù có những điều đó, Sở vẫn là một đối thủ tiềm tàng đối với việc phát triển quyền lực của Tần.
Hai đối thủ khác của Tần là Triệu và Hàn - cả hai đều mạnh, nhưng họ lại không bao giờ trở thành những mối đe doạ thực sự với Tần, cùng với đội quân đông đảo của họ. Hơn nữa, vẫn còn cái bóng của thiên tử nhà Chu, trên lý thuyết vẫn còn đang cai trị Trung Hoa. Năm 256 TCN, cuối cùng vấn đề này cũng kết thúc khi Tần tiêu diệt nhà Chu. Hành động này gửi một tín hiệu rõ ràng tới các nước chư hầu kia: Tần đang có ý định thống trị Trung Quốc.
Năm 247 TCN Doanh Chính 13 tuổi đã lên ngôi vua Tần. Mười bảy năm sau, Doanh Chính đã bắt đầu một cuộc chiến tranh cuối cùng, nhằm giành lấy uy quyền tối cao với tất cả các chư hầu khác, bắt đầu từ nước Hàn.
Quân đội Tần dễ dàng đánh bại Hàn rồi quay sang Triệu, một đất nước đã suy yếu từ khi quân đội của họ bị tiêu diệt 30 năm trước đó trong trận Trường Bình. Triệu rơi vào tay Tần năm 228 TCN, và ngay sau đó, Nguỵ cũng bại trận. Tới lúc ấy, thắng lợi tuyệt đối của Tần đã gần kề. Tuy nhiên, vẫn còn đó một đối thủ mạnh sau cùng - nước Sở
Khi ấy, hai đội quân đông đảo nhất trong lịch sử thế giới cho tới tận thời điểm Cách mạng Pháp đã lao vào trận chiến giành ngôi vị thống lĩnh Trung Quốc. Năm 223 TCN, Sở bị tiêu diệt, và việc Tần thống nhất Trung Quốc không còn tránh được nữa.
Vài tháng sau họ tiêu diệt và sáp nhập nước Yên. Khi ấy, chỉ còn lại duy nhất nước Tề, và nhận thấy tình huống của mình không còn cứu vãn được nữa, Tề đầu hàng mà không chống cự. Năm 221 TCN, một trong những năm quan trọng nhất trong lịch sử Trung Quốc, vua Doanh Chính nước Tần không chỉ tuyên bố mình là vua cai trị Trung Hoa mà còn lấy danh hiệu chưa từng có cho đến thời điểm bấy giờ (bắt nguồn từ các truyền thuyết về Hoàng Đế và các nhân vật thần thoại khác) Hoàng đế Trung Quốc. Ông đã đổi tên hiệu thành Thủy Hoàng Đế, có nghĩa Hoàng đế đầu tiên, và ra lệnh mọi vị vua tiếp sau của triều đại ông đều phải theo truyền thống đó, lấy danh hiệu theo thế hệ cai trị của mình, Nhị Thế, Tam Thế, cho đến muôn đời.
== Biểu thời gian ==
Khoảng 900 TCN: Chu Hiếu Vương phong cho Phi Tử làm quan ở đất Tần.
771 TCN: Tần Tương công đem quân giúp nhà Chu đánh lui Khuyển Nhung, Chu Bình Vương chính thức phong vua Tần làm chư hầu.
660 TCN: Tần Mục công, một trong Xuân Thu Ngũ bá lên ngôi.
636 TCN: Tần Mục công đem quân giúp công tử Trùng Nhĩ nước Tấn lên ngôi, tức Tấn Văn công.
624 TCN: Tần Mục công đích thân dẫn quân đi đánh nước Tấn, chiếm được Vương Quan (nay ở phía Tây Văn Hỷ, Sơn Tây) khiến quân Tấn sợ hãi, Mục công bèn dẫn quân Tần đi thu nhặt hài cốt của lính Tần tử trận trước kia rồi quay về.
623 TCN: Mục công cử đại binh tấn công Tây Nhung và giành thắng lợi lớn khiến cho 20 tiểu quốc ở đây quay sang quy phục nước Tần.
621 TCN: Tấn Tương công chết, Tần Khang công muốn đưa công tử Công tử Ung làm vua Tấn, vì vậy, cử một đội quân hộ tống công tử Ung về Tấn. Tuy nhiên, Triệu Thuẫn đã lập con Tấn Tương công là Di Cao lên ngôi, tức Tấn Linh công và sau đó đã cử một đội quân để ngăn chặn công tử Ung, và đánh bại quân của Tần.
578 TCN: Nước Tần rồi họp 8 nước chư hầu mang quân đánh Tần, đánh bại quân Tần ở đất Mã Toại.
khoảng 557 TCN Tấn đánh Tần, thắng.
506 TCN: Ngô Hạp Lư đánh Sở, Sở Chiêu vương thua chạy sang nước Tùy. Tần Ai công phái quân giúp Sở đánh bại Ngô.
383 TCN: Tần Hiến công thiên đô đến Hàm Dương.
364 TCN: Tần đánh bại Ngụy. Chu Hiển Vương sai sứ chúc mừng và Tần, phong cho làm bá chủ.
361 TCN: Tần Hiếu Công lên ngôi. Thương Ưởng từ Nguỵ đến Tần.
356 TCN: Thương Ưởng ban hành những luật thay đổi đầu tiên trong nước.
350 TCN: Thương Ưởng ban hành những luật thay đổi thứ hai trong nước.
336 TCN: Chu Hiển Vương trao việc tế tự Chu Văn Vương, Chu Vũ Vương cho vua Tần.
338 TCN: Tần Hiếu công chết, Tần Huệ Văn Vương lên ngôi và Thương Ưởng bị hành quyết.
324 TCN: nước Tần xưng vương.
316 TCN: Tần chinh phục Thục và Ba.
293 TCN: Tần đánh bại liên minh Nguỵ và Hàn tại trận Y Khuyết, chém 24 vạn thủ cấp.
260 TCN: Tần đánh tan quân Triệu trong trận Trường Bình.
256 TCN: Tần chinh phục nhà Chu.
247 TCN: Doanh Chính, sau này là Tần Thuỷ Hoàng, lên ngôi.
230 TCN: Tần chinh phục Hàn.
228 TCN: Tần chinh phục Triệu.
225 TCN: Tần chinh phục Nguỵ.
223 TCN: Tần chinh phục Sở.
222 TCN: Tần chinh phục Yên.
221 TCN: Tần chinh phục Tề, hoàn thành việc thống nhất Trung Quốc, khởi đầu nhà Tần. Vua Tần trở thành Hoàng đế Trung Hoa đầu tiên, và được biết đến với danh hiệu Tần Thuỷ Hoàng.
== Các vị vua ==
Tần Phi Tử (秦非子), cai trị ước khoảng từ 900 TCN tới 858 TCN. Cháu 6 đời của Ác Lai.
Tần hầu (秦侯), cai trị 857 TCN - 848 TCN: con trai của Phi tử
Tần Công Bá (公伯), cai trị 847 TCN - 845 TCN: con trai của Tần hầu
Tần Trọng (秦仲), cai trị 845 TCN - 822 TCN: con trai của Công Bá
Tần Trang công (莊公), cai trị 822 TCN - 778 TCN: con trai của Tần Trọng
Tần Tương công (襄公), cai trị 778 TCN - 766 TCN: con trai của Trang công
Tần Văn công (文公), cai trị 766 TCN - 716 TCN: con trai của Tương công
Tần Ninh công (寧公), cai trị 715 TCN - 704 TCN: cháu nội của Văn công. Còn gọi là Tần Hiến công (憲公). Con trai cả của Văn Công chết sớm, truy phong là Tĩnh công. Ông này là cha của Ninh công.
Tần Xuất tử (出子), cai trị 704 TCN - 698 TCN: con trai út của Ninh công.
Tần Vũ công (武公), cai trị 698 TCN - 678 TCN: con trai cả của Ninh công
Tần Đức công (德公), cai trị 678 TCN - 676 TCN: con trai thứ của Ninh công.
Tần Tuyên công (宣公), cai trị 676 TCN - 664 TCN: con trai cả của Đức công.
Tần Thành công (成公), cai trị 664 TCN - 660 TCN: con trai thứ của Đức công.
Tần Mục công (穆公) Doanh Nhậm Hiếu, cai trị 659 TCN - 621 TCN: con trai út của Đức công.
Tần Khang công (康公): Doanh Óanh (罃), cai trị 621 TCN - 609 TCN: con trai của Mục công.
Tần Cung công (共公): Doanh Đạo (稻), cai trị 608 TCN - 604 TCN: con trai của Khang công.
Tần Hoàn công (桓公): Doanh Vinh (榮), cai trị 604 TCN - 577 TCN: con trai của Cung công.
Tần Cảnh Công (景公): Doanh Hậu (後), cai trị 576 TCN - 537 TCN: con trai của Hoàn công.
Tần Ai công (哀公), cai trị 536 TCN - 501 TCN: con trai của Cảnh Công.
Tần Huệ công (Xuân Thu) (惠公), cai trị 501 TCN - 491 TCN: cháu nội Ai Công. Con trai cả của Ai Công mất sớm, truy phong là Di Công. Di Công là cha của Huệ Công.
Tần Điệu công (悼公), cai trị 491 TCN - 477 TCN: con trai của Huệ Công.
Tần Lệ công (厲公): Doanh Thích (刺), cai trị 477 TCN - 443 TCN: con trai của Cảnh Công.
Tần Táo công (躁公), cai trị 443 TCN - 429 TCN: con trai cả của Lệ Công.
Tần Hoài công (懷公), cai trị 429 TCN - 425 TCN: con trai thứ của Lệ Công.
Tần Linh công (靈公): Doanh Túc (肅), cai trị 425 TCN - 415 TCN: cháu nội của Hoài công. Cha đẻ là Chiêu tử mất sớm.
Tần Giản công (簡公): Doanh Điệu Tử (悼子), cai trị 415 TCN - 400 TCN: con trai nhỏ của Hoài Công.
Tần Huệ công (Chiến Quốc) (惠公), cai trị 400 TCN - 387 TCN: con trai của Giản công.
Tần Xuất công (出公), cai trị 386 TCN - 385 TCN: con trai của Huệ Công II.
Tần Hiến công (獻公): Doanh Sư Thấp (師隰), cai trị 385 TCN - 362 TCN: con trai của Linh công.
Tần Hiếu công (孝公): Doanh Cừ Lương (渠梁), cai trị 362 TCN - 338 TCN: con trai của Hiến công.
Tần Huệ Văn vương (惠文王), cai trị 338 TCN - 311 TCN, cũng được gọi là Huệ Vương (惠王): Doanh Tứ (嬴駟). Xưng vương năm 325 TCN.
Tần Vũ vương (武王), cai trị 311 TCN - 307 TCN: Doanh Đảng (蕩), con Huệ Văn vương
Tần Chiêu Tương vương (昭襄王), cai trị 307 TCN - 251 TCN, cũng được gọi là Doanh Tắc (則 hay 稷), con thứ của Huệ Văn vương, em Vũ vương
Tần Hiếu Văn vương (孝文王), cai trị 251 TCN - 250 TCN: Doanh Trụ (柱), con Chiêu Tương vương
Tần Trang Tương vương (荘襄王), cai trị 250 TCN - 246 TCN: Doanh Tử Sở (子楚), con Hiếu Văn vương
Tần Thuỷ Hoàng (秦始皇), cai trị từ 246 TCN - 210 TCN (với tư cách vua nước Tần (秦王) tới 221 TCN, với tư cách Thuỷ Hoàng Đế (始皇帝) từ 221 TCN về sau): Doanh Chính (政)
Tần Nhị Thế, cai trị từ 210 TCN - 207 TCN: Doanh Hồ Hợi (胡亥)
Tần Tử Anh (子嬰), cai trị từ giữa tháng 8 năm 207 TCN tới đầu tháng 10 năm 206 TCN.
== Xem thêm ==
Nhà Chu
Chiến Quốc
Nhà Tần
Tần Thủy Hoàng
== Tham khảo == |
hispania.txt | Hispania từng là tên gọi La Mã của bán đảo Iberia. Dưới chế độ Cộng hòa, Hispania được chia thành hai tỉnh: Hispania Citerior và Hispania Ulterior. Trong thời kỳ nguyên thủ, Hispania Ulterior được chia thành 2 tỉnh mới, Baetica và Lusitania, trong khi Hispania Citerior được đổi tên thành Tarraconensis. Sau đó, phần phía tây của Tarraconensis được tách ra, đầu tiên là Hispania Nova, sau đó đổi tên thành Callaecia (hay Gallaecia, ngày nay là Galicia). Từ thời Diocletianus(năm 284 CN) trở đi, phần phía nam còn lại của Tarraconensis lại chia tách ra lần nữa thành Carthaginensis, và sau đó có thể đối với quần đảo Balearic và tất cả các tỉnh sau khi chia tách hình thành một giáo phận dưới vicarius của Hispaniae (là các tỉnh Celt).
== Tên gọi ==
== Tham khảo ==
== Liên kết ngoài ==
Detailed map of the Pre-Roman Peoples of Iberia (around 200 BC)
Roman buildings in Barcelona
Bản mẫu:Lịch sử La Mã theo lãnh thổ Bản mẫu:Tỉnh La Mã |
bóng đá trong nhà.txt | Bóng đá trong nhà (Futsal) là một loại hình bóng đá thi đấu bên trong nhà thi đấu, có thể được xem như là một dạng của bóng đá sân nhỏ. Tên của nó có nguồn gốc từ tiếng Bồ Đào Nha "futebol de salão" và tiếng Tây Ban Nha "fútbol sala/de salón", đều dịch là bóng đá trong nhà. Nhiều cầu thủ bóng đá chuyên nghiệp đã lựa chọn chơi bóng đá trong nhà để luyện tập các kĩ năng cơ bản.
Bóng đá trong nhà được thi đấu giữa hai đội, đội hình chính thức ra sân mỗi bên gồm 5 cầu thủ và một số cầu thủ dự bị. Canh giữ cầu môn mỗi bên vẫn là vị trí thủ môn như thông thường. Bóng thi đấu nặng và nhỏ hơn quả bóng đá thông thường.
== Lịch sử ==
=== Hình thành ===
Sự phát triển của bóng đá trong nhà bắt đầu từ năm 1930 tại Montevideo, Uruguay, cùng năm tổ chức lễ khai mạc World Cup ở nước này. Người góp công đầu phát triển môn bóng đá này là Juan Carlos Ceriani đã sáng tạo ra trò chơi dành cho 5 người mỗi đội và có thể chơi trong nhà hoặc ngoài trời. Cũng khoảng năm đó, một loại bóng đá tương tự chơi trên sân bóng rổ được phát triển ở São Paulo, Brazil. Những loại bóng đá mới này nhanh chóng được chấp nhận khắp Nam Mỹ. Liên đoàn thể thao Brazil đặt ra luật lệ chính thức đầu tiên cho futebol de salão vào năm 1958.
=== Phát triển ===
Liên đoàn bóng đá trong nhà thế giới (Federación Internacional de Fútbol de Salón, International Futsal Federation = FIFUSA) được thành lập năm 1971 để quản lý môn này, và tổ chức giải vô địch bóng đá trong nhà thế giới đầu tiên ở São Paulo năm 1982. Do một cuộc tranh cãi với FIFA về việc quản lý fútbol, FIFUSA đã thành lập ra futsal năm 1985.
FIFA bắt đầu quản lý môn bóng đá trong nhà của riêng họ với những luật lệ riêng và tổ chức giải vô địch bóng đá trong nhà FIFA lần đầu tiên năm 1989 tại Rotterdam, Hà Lan. Một trong những thay đổi đáng kể nhất của FIFA với bóng đá trong nhà đó là tăng trọng lượng và giảm kích cỡ của quả bóng (kích cỡ số 4 so với bóng tiêu chuẩn) nhằm giảm độ nảy của bóng bớt đi 30%, điều đó cho phép chơi nhanh hơn và lần đầu tiên có thể ghi bàn bằng đầu (dù nó vẫn còn khó khắn và không phổ biến).
Năm 2002, các thành viên của Liên đoàn bóng đá trong nhà Liên Mỹ PANAFUTSAL (La Confederación Panamericana de Futsal, The Pan-American Futsal Confederation) thành lập Hiệp hội bóng đá trong nhà thế giới (Asociación Mundial de Fútbol de Salón, World Futsal Association = AMF), một tổ chức bóng đá trong nhà quốc tế độc lập với FIFA và là tổ chức kế tục của FIFUSA. Cả FIFA và AMF tiếp tục cùng quản lý bóng đá trong nhà.
== Luật chơi ==
Luật chơi do FIFA hoặc AMF ban hành và duy trì, nó cũng có thể được lựa chọn trong khuôn khổ cho phép để thích hợp với mỗi giải đấu và mỗi địa phương.
=== Cầu thủ ===
Mỗi đội gồm 5 cầu thủ, bao gồm cả thủ môn. Số lượng các cầu thủ mỗi đội được thay thế tối đa là bảy, với số lần thay không giới hạn. Nếu một trong hai đội bóng có ít hơn 3 cầu thủ trong đội hình thì trận đấu sẽ bị hủy bỏ.
Trang phục thi đấu của cầu thủ gồm áo, quần, tất và giày cao su. Thủ môn được phép mặc quần dài và bộ đồ có màu khác để phân biệt với các cầu thủ khác trong đội và trọng tài. Khi ra sân không được phép đeo trang sức hoặc các đồ vật khác có thể gây nguy hiểm khi thi đấu.
=== Trọng tài ===
Trận đấu được điều khiển bởi một trọng tài chính, đây là người duy nhất có quyền dừng trận đấu nếu xét thấy có các can thiệp tác động ngoài sân đấu. Hỗ trợ cho trọng tài chính điều khiển trận đấu là một trọng tài phụ bên ngoài biên và trọng tài bàn ghi chép quản lý tổng hợp số liệu thông tin trận đấu. Trọng tài bàn có thể thay thế cho trọng tài phụ, và trọng tài phụ có thể thay thế cho trọng tài chính nếu có các sự cố thương tích xảy ra đối với trọng tài.
=== Sân thi đấu ===
Sân được làm bằng gỗ hoặc vật liệu nhân tạo, gỗ hoặc bề mặt tương tự, hoặc bất kỳ vật liệu bằng phẳng, mịn màng và không bị mài mòn cũng có thể được sử dụng. Sân thi đấu tiêu chuẩn tổ chức các trận đấu quốc tế có kích thước chiều dài từ 38–42 m, và chiều rộng từ 20–25 m. Đối với việc tổ chức các trận đấu mang cấp độ thấp hơn sân có thể có kích thước dài từ 25–42 m, rộng từ 16–25 m, phải đảm bảo sân bóng thi đấu có hình chữ nhật với đường biên cầu môn là biên ngang và ngắn hơn đường biên dọc. Trần nhà thi đấu phải cao từ 4 m trở lên. Trên đường biên ngang (đường biên ngắn hơn) đặt cầu môn ở chính giữa chiều dài. Cầu môn cao 2 m và rộng 3 m (rộng theo chiều biên ngang). Lưới làm bằng sợi đay, cây gai dầu hoặc nylon được gắn vào mặt sau của trụ khung thành và xà ngang. Phần dưới của lưới được gắn vào ống cong hoặc một phương tiện hỗ trợ thích hợp. Độ sâu của khung thành là 80 cm ở phía trên và 1 m ở phía dưới.
Trước mặt của từng khung thành (cầu môn) là khu cấm địa. Khu vực này được tạo ra bằng cách vẽ phần tư vòng tròn với bán kính 6 m từ đường biên ngang với hai tâm là hai cột dọc khung thành. Phần trên của mỗi phần tư vòng tròn sau đó nối với một đường kẻ 3,16m chạy song song với đường khung thành giữa hai trụ khung thành. Đường kẻ đánh dấu rìa của khu vực cấm địa được biết đến như đường cấm địa. Khu vực cấm địa là nơi thủ môn được phép chạm bóng bằng tay của mình. Một cú đá phạt từ chấm phạt đền được trao cho đối phươngg nếu một cầu thủ phạm lỗi ngay trong khu vực cấm địa của đội nhà.
== Các giải thi đấu quốc tế chính ==
Từ 1971 - 2002
Giải vô địch bóng đá trong nhà thế giới - FIFUSA
1982 São Paulo, Brazil. Vô địch: Brazil. Á quân: Paraguay.
1985 Madrid, Tây Ban Nha. Vô địch: Brazil. Á quân: Tây Ban Nha.
1988 Australia. Vô địch: Paraguay. Á quân: Brazil.
1991 Italy. Vô địch: Bồ Đào Nha. Á quân: Paraguay.
1994 Argentina. Vô địch: Argentina. Á quân: Colombia.
1997 Mexico. Vô địch: Venezuela. Á quân: Uruguay.
2000 Bolivia. Vô địch: Colombia. Á quân: Bolivia.
Từ 2002
Giải vô địch bóng đá trong nhà thế giới - AMF
2003 Asunción, Paraguay. Vô địch: Paraguay. Á quân: Colombia.
2007 Mendoza, Argentina.
Từ 1989
FIFA Futsal World Cups (Giải vô địch bóng đá trong nhà thế giới - FIFA)
1989 (Rotterdam, Hà Lan). Vô địch: Brazil. Á quân: Hà Lan. Giải ba: Hoa Kỳ. Giải bốn: Bỉ.
1992 (Hồng Kông). Vô địch: Brazil. Á quân: Hoa Kỳ. Giải ba: Tây Ban Nha. Giải bốn: Iran.
1996 (Barcelona, Tây Ban Nha). Vô địch: Brazil. Á quân: Tây Ban Nha. Giải ba: Nga. Giải bốn: Ukraine.
2000 (Guatemala). Vô địch: Tây Ban Nha. Á quân: Brazil. Giải ba: Bồ Đào Nha. Giải bốn: Nga.
2004 (Đài Loan). Vô địch: Tây Ban Nha. Á quân: Italy. Giải ba: Brazil. Giải bốn: Argentina.
== Chú thích ==
== Liên kết ngoài == |
cộng hòa genova.txt | Cộng hòa Genova (tiếng Ý: Repubblica di Genova, tiếng Liguria: Repúbrica de Zêna) là một quốc gia độc lập từ năm 1005 đến năm 1797 ở Liguria trên bờ biển phía tây bắc Ý, đã sáp nhập Corsica từ năm 1347 đến năm 1768 và nhiều vùng lãnh thổ khác trên khắp Địa Trung Hải.
Nước cộng hòa được bắt đầu khi Genova trở thành một xã tự trị (commune) tại Regnum Italicum và kết thúc khi bị Đệ nhất Cộng hòa Pháp dưới thời Napoléon chinh phục và thay thế bằng nước Cộng hòa Liguria. Corsica được nhượng lại theo Hiệp ước Versailles năm 1768. Cộng hòa Liguria bị Đế chế thứ nhất sáp nhập vào năm 1805 và được lập lại trong một thời gian ngắn vào năm 1814 sau khi Napoléon thất bại, nhưng sau cùng được sáp nhập vào Vương quốc Sardegna năm 1815, và trở thành phần lãnh thổ của Vương quốc Ý sau khi thống nhất nước Ý.
Trước năm 1100, Genova nổi lên như một thị quốc độc lập, một trong số các thành bang Ý vào thời kỳ này. Trên danh nghĩa, Hoàng đế La Mã Thần thánh là chúa tể và Giám mục Genova là thống đốc của thành phố; tuy nhiên quyền lực thực tế đều do một số quan chấp chính nắm giữ được hội đồng dân chúng bầu chọn hằng năm. Genova là một trong số nước "Cộng hòa hàng hải" (Repubbliche Marinare), cùng với Venezia, Pisa và Amalfi và giới ngân hàng, đóng tàu, thương mại giúp hỗ trợ một trong những lực lượng hải quân lớn nhất và mạnh nhất ở Địa Trung Hải. Adorno, Campofregoso và các gia tộc thương gia nhỏ khác đều chiến đấu cho quyền lực ở nước Cộng hòa này, cũng như quyền lực của quan chấp chính cho phép mỗi phe cánh gia tộc đạt được sự giàu có và quyền lực trong thành phố. Cộng hòa Genova đã mở rộng lảnh thổ ở nhiều khu vực nay là Liguria và Piemonte, Sardegna, Corse, Nice và hoàn toàn nắm quyền kiểm soát trên thực tế vùng biển Tyrrhenia. Thông qua sự tham gia của người Genova vào cuộc Thập tự chinh, người Genova còn thành lập các thuộc địa ở tận Trung Đông, biển Aegea, Sicilia và Bắc Phi.
== Tổng quan ==
Sự sụp đổ của các quốc gia Thập tự quân đã được bù đắp nhờ vào sự liên minh của Genova với Đế quốc Byzantine. Khi mối quan hệ của Venezia với Đế quốc Byzantine tạm thời bị gián đoạn bởi cuộc Thập tự chinh thứ tư và hậu quả của nó, mà Genova mới có thể cải thiện vị trí của mình trong vùng Địa Trung Hải. Đồng thời tận dụng cơ hội này để bành trướng lãnh thổ sang tận Biển Đen và Krym. Dù mối hận thù nội bộ giữa các gia tộc đầy quyền thế như Grimaldi và Fieschi, Doria, Spinola và một số khác gây ra nhiều xáo trộn trong nước, nhưng nhìn chung nền cộng hòa vẫn hoạt động bình thường trong các thương vụ. Khoảng năm 1218–1220, Genova được một podestà của nhà Guelph là Rambertino Buvalelli phục vụ chính phủ và còn du nhập nền văn học Occita vào thị quốc, để rồi sớm trở thành niềm tự hào của những người hát rong như Jacme Grils, Lanfranc Cigala và Bonifaci Calvo. Đỉnh điểm trong nền chính trị của Genova khi họ giành chiến thắng trước nước Cộng hòa Pisa tại trận hải chiến Meloria năm 1284, và với một chiến thắng tạm thời trước kình địch Venezia trong trận hải chiến Curzola năm 1298.
Tuy nhiên, sự thịnh vượng này không kéo dài được bao lâu. Cái chết Đen đã tràn vào châu Âu năm 1347 từ các trạm thông thương buôn bán của người Genova tại Caffa (Theodosia) ở Krym trên vùng Biển Đen. Kéo theo sự suy giảm về kinh tế và dân số, Genova đã tiếp nhận hình mẫu chính quyền của người Venezia chịu sự cai quản của một tổng trấn (xem thêm bài Tổng trấn Genova). Những cuộc chiến tranh với Venezia vẫn tiếp diễn, và chiến tranh Chioggia (1378–1381) mà Genova đã gần như chinh phục hẳn Venezia đành phải kết thúc với sự phục hồi quyền thống trị vùng biển Adriatic của Venezia. Năm 1390 Genova đã khởi xướng một cuộc Thập tự chinh chống lại những tên cướp biển Barbary với sự giúp đỡ từ phía Pháp và tiến hành vây hãm Mahdia. Dù chưa được nghiên cứu kỹ lưỡng, thế kỷ 15 tại Genova được xem như là một thời kỳ hỗn loạn đầy tai hại. Sau một khoảng thời gian bị Pháp đô hộ từ năm 1394–1409, Genova lại nằm dưới sự cai trị của Visconti xứ Milano. Khiến cho nước cộng hòa này để mất Sardegna vào tay Aragon, Corsica vào các cuộc nội loạn cùng những thuộc địa tại Trung Đông, Đông Âu và Tiểu Á lần lượt bị Đế quốc Ottoman chiếm.
Mãi tới khi bước sang thế kỷ 16 thì Genova mới có thể ổn định được vị trí của mình, đặc biệt là nhờ vào những nỗ lực của Andrea Doria, người đã soạn nên một bản hiến pháp mới vào năm 1528, nhằm biến Genova trở thành nước chư hầu của Đế quốc Tây Ban Nha. Dưới sự phục hồi kinh tế sau đó, nhiều gia đình quý tộc của Genova chẳng hạn như Balbi, Doria, Grimaldi, Pallavicini và Serra đã tích lũy một đống gia sản to lớn. Theo Felipe Fernandez-Armesto và những người khác, thực tế sự phát triển của Genova ở vùng Địa Trung Hải (chẳng hạn như chiếm hữu nô lệ) chủ yếu nằm trong việc thám hiểm và khai thác Tân thế giới. Nhà hàng hải Christopher Columbus cũng là một người gốc Genova và đã tặng lại một phần mười thu nhập của mình từ khi phát hiện ra châu Mỹ cho Tây Ban Nha vào Ngân hàng Saint George ở Genova để giảm thuế đánh trên các loại thực phẩm.
Vào thời kỳ thịnh vượng nhất của Genova vào thế kỷ 16, thành phố đã thu hút nhiều nghệ sĩ có tên tuổi gồm Rubens, Caravaggio và Van Dyck. Kiến trúc sư Galeazzo Alessi (1512–1572) đã thiết kế nhiều công trình palazzi lộng lẫy của thành phố, cũng như trong những thập kỷ tiếp theo sau năm mươi năm là Bartolomeo Bianco (1590–1657), nhà thiết kế những chậu hoa chưng bàn của Đại học Genova. Một số nghệ sĩ Baroque và Rococo gốc Genova thì định cư ở những nơi khác và một số nghệ sĩ trong nước thì trở nên nổi tiếng.
== Lãnh thổ ==
Khi nước Cộng hòa Genova được thành lập vào đầu thế kỷ 11, nó bao gồm thành phố Genova và các vùng phụ cận. Đến khi nền thương mại của thành phố tăng lên, do đó đã trở thành lãnh thổ của nước Cộng hoà. Năm 1015, toàn bộ Liguria là một phần của nước Cộng hòa Genova. Sau cuộc Thập tự chinh đầu tiên diễn ra vào năm 1098, Genova đã giành được những khu định cư ở Syria mà phần lớn trong số đó đã bị mất trong các chiến dịch của Saladin. Năm 1261 thành phố Smyrna trở thành lãnh thổ Genova. Năm 1255 Genova thành lập thuộc địa Caffa ở Krym. Trong những năm sau người Genova còn lập nên các thuộc địa gồm Soldaia, Cherco và Cembalo. Năm 1275 Đế quốc Byzantine đã ban tặng quần đảo Chios và Samos cho Genova. Từ năm 1316 đến năm 1332 Genova thành lập các thuộc địa La Tana và Samsun ở Biển Đen. Năm 1355 Lesbos được ban cho Genova. Vào cuối thế kỷ 14 thuộc địa Samastri được thành lập ở Biển Đen và đảo Síp được ban cho nước Cộng hòa. Vào thời điểm đó nước Cộng hòa Genova cũng kiểm soát một phần tư Constantinopolis, thủ đô của Đế quốc Byzantine và Trebizond, thủ đô của Đế quốc Trebizond. Hầu hết các vùng lãnh thổ của Genova đều bị Đế quốc Ottoman chinh phục trong suốt thế kỷ 15.
=== Lãnh thổ khác ngoài Ý ===
Giudicato xứ Logudoro (đảo Sardegna) 1259–1325
Các thuộc địa biển Bắc Aegea, tập trung ở Chios 1261–1566
Các thuộc địa Gazaria tại vùng phía nam bán đảo Krym 1266–1475 (mất về tay Đế quốc Ottoman, Kefe Eyalet)
Đảo Corsica 1284–1768
== Lịch sử ==
=== Hưng khởi vào thế kỷ 11 và 12 ===
Nước cộng hòa bắt nguồn từ những năm đầu thế kỷ 11 khi Genova trở thành một xã tự trị trong khối Regnum Italicum. Vào thời điểm đó đám giặc cướp Hồi giáo đã tấn công các thành phố duyên hải trên biển Tyrrhenia. Người Hồi giáo đã đột kích thành Pisa vào năm 1004 và năm 1015 họ bắt đầu leo thang chiến tranh, tiến quân đánh phá Luni, với Mujahid al-Siqlabi, Emir của Taifa xứ Denia tấn công Sardegna với một hạm đội lên tới 125 tàu chiến. Năm 1016 liên quân Genova-Pisa ra sức bảo vệ Sardegna. Năm 1066 chiến tranh nổ ra giữa Genova và Pisa nhằm tranh giành quyền kiểm soát Sardegna. Đến năm 1087, hạm đội Genova và Pisa dưới sự dẫn dắt của Hugh xứ Pisa và được sự hộ tống rầm rộ của liên quân từ Pantaleone xứ Amalfi, Salerno và Gaeta đã tiến đánh thành phố vùng Bắc Phi là Mahdia, thủ đô của nhà Fatima. Cuộc tấn công còn được sự ủng hộ của Giáo hoàng Victor III vốn nổi danh với tên gọi chiến dịch Mahdia. Những kẻ tấn công mau chóng chiếm được thành phố nhưng không thể cầm cự nổi trước sức tấn công dồn dập từ quân Ả Rập. Sau khi đốt cháy hạm đội của quân Ả Rập tại bến cảng của thành phố, quân Genova và Pisa đành chịu rút lui. Tuy vậy, sự hủy diệt hạm đội Ả Rập đã trao lại quyền kiểm soát vùng phía Tây Địa Trung Hải lọt vào tay Genova, Venezia và Pisa. Điều này cho phép các nước Tây Âu khai thông tuyến tiếp tế trên biển cho Thập tự quân vào năm 1096–1099. Năm 1092 Genova và Pisa cùng nhau phối hợp với vua Alfonso VI xứ León và Castile mang quân tấn công Vương quốc Hồi giáo Valencia (Taifa xứ Valencia); họ còn chịu thất bại khi vây hãm thành Tortosa với sự hỗ trợ từ quân đội của vua xứ Aragon Sancho Ramírez. Genova vào nhưng thế kỷ đầu tiên được coi là một thành phố thương mại quan trọng và sức mạnh của nó bắt đầu gia tăng.
Genova bắt đầu bành trướng lãnh thổ trong cuộc Thập tự chinh đầu tiên. Năm 1097 Hugh xứ Châteauneuf, Giám mục Grenoble và William, Giám mục Orange đã đến Genoa và rao giảng trong nhà thờ San Siro để thu thập quân mã cho cuộc Thập tự chinh đầu tiên. Mười hai tàu galley, một con tàu và 1.200 binh lính từ Genova đã lên đường tham gia cuộc thập tự chinh này. Quân Genova dưới sự chỉ huy của hai nhà quý tộc de Insula và Avvocato đã khởi hành vào tháng 7 năm 1097. Hạm đội Genova phụ trách việc vận chuyển và cung cấp hỗ trợ hải quân cho Thập tự quân, chủ yếu trong cuộc vây hãm Antioch năm 1098, khi hạm đội Genova đã phong tỏa thành phố trong khi quân đội hỗ trợ trong cuộc bao vây. Lúc tiến hànhvây hãm thành Jerusalem năm 1099 đội nỏ binh Genova dưới sự chỉ huy của Guglielmo Embriaco đóng vai trò như là đơn vị hỗ trợ chống lại quân thủ thành.
Sau khi Thập tự quân đánh chiếm Antioch vào ngày 3 tháng 5 năm 1098, Genova đã cố gắng kết thành đồng minh với Bohemond xứ Taranto, người trở thành nhà cai trị Thân vương quốc Antioch. Kết quả là ông đã cấp cho họ một trụ sở là nhà thờ San Giovanni và 30 căn nhà ở Antioch. Ngày 6 tháng 5 năm 1098, một phần quân đội Genova đã trở về Genova với di hài của Thánh John the Baptist, do Thập tự quân trao cho nước cộng hòa Genova như là một phần thưởng của họ vì có công tiếp tế quân sự cho cuộc Thập tự chinh đầu tiên. Nhiều khu định cư ở Trung Đông đã được trao cho Genova cũng như các hiệp ước thương mại thuận lợi. Genova sau đó còn kết thành đồng minh với vua Baldwin I của Jerusalem (trị vì 1100-1118). Để củng cố liên minh Baldwin đã trao cho Genova gia trang Arsuf, một phần ba Caesarea, và một phần ba Acre và thu nhập bến cảng. Ngoài ra Cộng hòa Genova sẽ nhận được 300 bezant hằng năm và một phần ba cuộc chinh phục của Baldwin cứ mỗi lần 50 hoặc nhiều lính Genova gia nhập quân đội của ông. Cộng hòa Genova đóng vai trò như một cường quốc hàng hải trong khu vực đảm bảo nhiều điều ước thương mại thuận lợi cho giới thương nhân Genova. Bên cạnh đó họ còn kiểm soát một phần lớn tuyến đường giao thương của Đế quốc Byzantine, Tripoli, Thân vương quốc Antioch, Armenia và Ai Cập. Mặc dù Genova duy trì quyền tự do kinh doanh tại Ai Cập và Syria thế nhưng nước cộng hòa vẫn để mất một số thuộc địa hải ngoại sau các chiến dịch của Saladin tại các vùng trong những năm cuối thế kỷ 12.
Năm 1147 Genova còn tham gia vào cuộc vây hãm Almería, giúp Alfonso VII xứ León và Castile chiếm lại thành phố từ tay người Hồi giáo. Sau cuộc chinh phục, nước cộng hòa đã đem một phần ba thành phố cho một trong những công dân của mình là Otto de Bonvillano thuê lại, ông thề trung thành với nước cộng hòa và hứa sẽ bảo vệ thành phố với ba trăm người cùng một lúc. Điều này thể hiện những nỗ lực ban đầu của Genova nhằm mở rộng ảnh hưởng của mình liên quan đến việc cấp thái ấp cho riêng công dân tới các xã và kiểm soát vùng lãnh thổ ở nước ngoài một cách gián tiếp, chứ không phải thông qua chính quyền cộng hòa. Trong suốt thế kỷ 11 và đặc biệt là thế kỷ 12, Genova trở thành lực lượng hải quân chiếm ưu thế ở Tây Địa Trung Hải, trong khi những kình địch thuở trước như Pisa và Amalfi thì suy giảm tầm quan trọng. Genova cùng với đối thủ cạnh tranh Venezia đã thành công khi đạt được một vị trí trung tâm trong việc buôn bán nô lệ vùng Địa Trung Hải vào lúc này. Thập tự quân Genova còn mang về nhà một chiếc cốc thủy tinh màu xanh từ Levant mà người Genova coi là Chén Thánh trong một thời gian dài. Không phải tất cả hàng hóa của Genova đều vô hại, tuy nhiên Genoa thời Trung Cổ đã trở thành một đối tác lớn trong việc buôn bán nô lệ.
=== Phát triển vào thế kỷ 13 và 14 ===
Sự cạnh tranh về thương mại và văn hóa giữa Genova và Venezia diễn ra xuyên suốt thế kỷ 13. Cộng hòa Venezia đã đóng một vai trò quan trọng trong cuộc Thập tự chinh thứ tư, đang hướng năng lực tiềm tàng "Latin" sang các tàn tích từ người bảo trợ cũ của mình và đối thủ kinh doanh hiện tại là Constantinopolis. Kết quả là người Venezia tích cực ủng hộ Đế quốc Latinh mới được thành lập có nghĩa là quyền kinh doanh của họ tỏ ra có hiệu lực, và họ được phép giành quyền kiểm soát phần lớn tuyến đường thương mại ở phía đông Địa Trung Hải. Cộng hòa Genova vì muốn giành lại quyền kiểm soát thương mại của mình bèn liên minh với Hoàng đế Nicaea là Mikhael VIII Palaiologos cũng đang muốn khôi phục Đế quốc Byzantine bằng cách chiếm lại Constantinopolis. Tháng 3 năm 1261, đôi bên ký kết hiệp ước liên minh tại Nymphaeum. Ngày 25 tháng 7 năm 1261, quân đội Nicaea dưới quyền tướng Alexios Stratigopoulos đã chiếm được Constantinopolis. Như vậy, cán cân nghiêng về phía có lợi cho Genova, giờ đây được cấp quyền thương mại tự do trong Đế quốc Latinh; bên cạnh sự kiểm soát nền thương mại nằm trong tay giới thương gia Genova, người Genoa còn tiếp nhận các hải cảng và thương điếm trên nhiều hòn đảo và các khu định cư ở vùng biển Aegea. Quần đảo Chios và Lesbos trở thành trạm thương mại của Genova cũng như thành phố Smyrna (nay là Izmir).
Genova và Pisa mau chóng trở thành những quốc gia duy nhất có quyền giao thương ở Biển Đen. Trong cùng thế kỷ này nước Cộng hòa Pisa đã chinh phục được nhiều khu định cư ở Krym, nơi có thuộc địa của Genova là Caffa mới được thành lập. Liên minh với Đế quốc Byzantine trung hưng đã gia tăng sự giàu sang và quyền lực của Genova, và đồng thời làm suy giảm nền thương mại của người Venezia và Pisa. Đế quốc Byzantine phần lớn đã ban các quyền tự do mua bán cho người Genoa. Năm 1282 Pisa đã cố gắng giành lại quyền kiểm soát thương mại và hành chính đảo Corsica, sau khi nhận được lời kêu gọi hỗ trợ nổi dậy chống lại Genova từ thẩm phán Sinucello. Vào tháng 8 năm 1282, một phần hạm đội Genova đã phong tỏa tuyến thương mại của Pisa ở gần sông Arno. Trong suốt năm 1283 cả Genova và Pisa đều chuẩn bị cho một cuộc chiến tranh không thể tránh khỏi. Genova cho đóng 120 tàu galley, với 60 chiếc thuộc về nước Cộng hòa và số còn lại đem cho các cá nhân thuê. Hơn 15.000 lính đánh thuê được chiêu mộ làm tay chèo và binh lính. Các đội tàu phía Pisa né tránh việc chiến đấu và cố gắng làm tiêu hao hạm đội Genova trong năm 1283. Ngày 5 tháng 8 năm 1284, hạm đội Genova trong trận hải chiến Meloria gồm 93 tàu chiến dưới sự chỉ huy của Oberto Doria và Benedetto I Zaccaria đã đánh bại hạm đội Pisa gồm 72 tàu chiến dưới sự chỉ huy của Alberto Morosini và Ugolino della Gherardesca. Genova bắt sống được 30 tàu chiến của Pisa và đánh chìm bảy chiếc. Khoảng 8.000 quân Pisa đã thiệt mạng trong trận đánh, chiếm hơn một nửa số quân Pisa vào khoảng 14.000 người. Sự thất bại thảm hại của Pisa khiến họ chẳng bao giờ khôi phục lại hoàn toàn như một đối thủ cạnh tranh hàng hải dẫn đến quyền kiểm soát tuyến thương mại đảo Corsica rơi vào tay người Genova. Thị trấn Sassari trên đảo Sardegna vốn nằm dưới sự kiểm soát của người Pisa thì giờ trở thành một xã do Genova nắm quyền kiểm soát. Việc Genova kiểm soát được đảo Sardegna lại không kéo dài được bao lâu: các vua Aragon xứ Napoli xông vào tranh chấp quyền kiểm soát và không còn giữ vững được cho đến thế kỷ 15.
Giới thương nhân Genova hối hả đi về phía nam đến đảo Sicilia và tiến vào vùng Bắc Phi của người Hồi giáo, nơi mà họ thiết lập các thương điếm, đeo đuổi vàng bạc bằng chuyến du hành băng qua sa mạc Sahara và lập ra các kho hàng vùng biển Đại Tây Dương ở những nơi xa xôi như Salé và Safi. Năm 1283, dân chúng của Vương quốc Sicilia đã nổi dậy chống lại sự cai trị của dòng họ Angevin. Cuộc nổi dậy được gọi là Biến loạn Kinh Chiều Sicilia. Kết quả là triều đình Aragon đã thiết lập nền thống trị của mình trên vương quốc này. Genova do có công ủng hộ tiền bạc cho Aragon nên đã được cấp quyền tự do kinh doanh và và xuất khẩu tại Vương quốc Sicilia. Giới chủ ngân hàng Genova cũng được hưởng lợi từ các khoản vay cho giới quý tộc non trẻ của Sicilia. Riêng đảo Corsica thì được nước Cộng hòa chính thức sáp nhập vào năm 1347. Genova còn tiến xa hơn so với một kho thuốc men và gia vị xuất xứ từ phương Đông: một công cụ thiết yếu trong nền kinh tế của nó là đồ dệt lụa, từ những sợi chỉ nhập khẩu, bám theo phong cách đối xứng của đồ lụa Byzantine và Sassanid.
=== Suy tàn trong các thế kỷ về sau ===
Hậu quả của việc cắt giảm kinh tế tại châu Âu vào cuối thế kỷ 14, cũng như cuộc chiến tranh lâu dài với Venezia, mà đỉnh điểm là thảm bại tại Chioggia vào năm 1380 đã khiến cho Genova đi vào bước đường suy thoái. Chính cuộc chiến then chốt với Venezia làm bùng nổ chiến tranh Chioggia vì trận chiến quyết định này mà dẫn đến sự thất bại của Genova trong tay của Venezia. Từ trước cuộc chiến tranh Chioggia kéo dài từ năm 1379 cho đến năm 1381, người Genova đã được thừa hưởng một lực lượng hải quân hùng mạnh vốn là nguồn gốc của quyền lực và vị thế của họ tại miền bắc nước Ý. Sự thất bại của Genova đã tước đi ưu thế về hải quân của họ, khiến cho Genova bị đẩy ra khỏi thị trường Địa Trung Hải phía đông và bắt đầu sự suy yếu của thị quốc này. Sự trỗi dậy của Đế quốc Ottoman còn làm đứt đoạn tụ điểm buôn bán của người Genova tại vùng biển Aegea, và tuyến đường thương mại biển Đen dần sa sút.
Vào thập niên 1450 và 1460, nước Cộng hòa đã trở thành con tốt thí trong cuộc tranh đoạt quyền lực và ảnh hưởng ở nước Ý giữa Pháp và Aragon, viên Tổng trấn Genova vì muốn dựa hơi vào thế lực của Pháp liền dâng nước cộng hòa cho họ vào năm 1458, trở thành Công quốc Genova đặt dưới sự kiểm soát của một thống đốc hoàng gia Pháp là John xứ Anjou. Tuy nhiên, nhờ sự hỗ trợ từ phía Milano mà người Genova đã nổi dậy và nền cộng hòa được tái lập vào năm 1461. Người Milano sau đó đã lật lọng đem quân xâm chiếm Genova vào năm 1464 và gìn giữ nó như là một lãnh địa của vương triều Pháp. Christopher Columbus tuy được sinh ra ở Genova trong thời kỳ này nhưng lại tìm kiếm một sự nghiệp ở nơi khác. Genova cuối cùng bị người Pháp hoặc Milano chiếm đóng trong giai đoạn từ năm 1499 đến năm 1528, nước Cộng hòa rơi vào thời kỳ đen tối nhất gần như liên tục bị người Pháp chiếm đóng. Người Tây Ban Nha với các đồng minh nội bộ của họ là giới "quý tộc cũ" cố thủ trong những ngọn núi vững chắc phía sau Genova, đã chiếm được thành phố này vào ngày 30 tháng 5 năm 1522, và đẩy cả thành phố lâm vào cảnh cướp bóc tàn nhẫn. Khi vị đô đốc vĩ đại Andrea Doria của gia tộc Doria đầy quyền thế liên minh với Hoàng đế Charles V để lật đổ người Pháp và khôi phục lại nền độc lập của Genova, mở ra một triển vọng mới: năm 1528 đánh dấu khoản vay đầu tiên từ các ngân hàng Genova dành cho Charles để đền đáp lại công ơn ông giúp đỡ nước cộng hòa thoát khỏi ách đô hộ của ngoại bang.
=== Thời hoàng kim của giới chủ ngân hàng Genova ===
Sau đó, Genova đã trải qua hình thức kiểu như đồng minh lớp dưới của Đế quốc Tây Ban Nha, đặc biệt với giới chủ ngân hàng Genova đang tài trợ cho nhiều nỗ lực hải ngoại của vương triều Tây Ban Nha từ những phòng tài vụ của họ ở Seville. Fernand Braudel thậm chí còn gọi giai đoạn 1557-1627 là "thời đại của người Genova", "dưới sự thống trị rất kín đáo và tinh vi mà các nhà sử học trong một thời gian dài đã không để ý đến" (Braudel 1984 p. 157), dù cho những du khách đương thời đi ngang qua mặt tiền rực rỡ của palazzo Mannerist và Baroque cùng Strada Nova của Genova (nay là Via Garibaldi) hoặc via Balbi không thể không nhìn nhận rằng đã từng có sự giàu sang dễ thấy, mà trong thực tế không phải của người Genova mà tập trung vào trong tay của một nhóm có liên kết chặt chẽ gồm giới chủ ngân hàng- tài chính, được coi là những nhà "tư bản đầu cơ" thực sự. Tuy vậy, nền thương mại của Genova vẫn phụ thuộc chặt chẽ về kiểm soát tuyến đường biển Địa Trung Hải, và việc để mất Chios vào tay Đế quốc Ottoman năm 1566, đã giáng một đòn chí tử vào người Genova.
Việc mở rộng cửa cho các tập đoàn ngân hàng Genova là nhờ vào sự phá sản quốc gia của vua Philip II năm 1557, đã ném các nhà ngân hàng Đức rơi vào hỗn loạn và kết thúc triều đại của Fuggers đóng vai trò là nhà tài chính của Tây Ban Nha. cvà một khoản thu nhập đều đặn đáng tin cậy. Nhằm trả lại lô hàng đồng bạc châu Mỹ ít tin cậy đã nhanh chóng chuyển từ Seville đến Genoa, để cung cấp vốn cho các dự án tiếp theo. Chủ ngân hàng Genova là ông Ambrogio Spinola, hầu tước Balbases là một ví dụ khi chính ông đã gầy dựng và dẫn dắt một đạo quân chiến đấu trong chiến tranh Tám mươi năm ở Hà Lan vào đầu thế kỷ 17. Sự suy yếu của Tây Ban Nha vào thế kỷ 17 cũng mang lại sự suy sụt kế tiếp cho Genova, và sự phá sản thường xuyên của vương quốc Tây Ban Nha, đặc biệt đã hủy hoại nhiều nhà thương gia của Genova. Năm 1684 thành phố còn bị hạm đội Pháp bắn phá tan tành để trừng phạt cho việc kết đồng minh với Tây Ban Nha.
Nạn dịch hạch đã giết chết một nửa dân số Genova vào năm 1656–1657. Tháng 5 năm 1625, liên quân Pháp-Savoia đã xâm chiếm nước Cộng hòa nhưng lại bị liên quân Tây Ban Nha và Genova đánh đuổi thành công. Vào tháng 5 năm 1684, nhằm trừng phạt Genova vì hành động đứng về phía Tây Ban Nha, thành phố đã phải hứng chịu một trận oanh tạc dữ dội từ hải quân Pháp, với hơn 13.000 quả đạn súng thần công nã vào toàn bộ thành phố.
=== Genova thời kỳ Khai sáng ===
Genova tiếp tục suy tàn dần vào thế kỷ 18. Năm 1742 thuộc địa cuối cùng của người Genova ở Địa Trung Hải là pháo đài đảo Tabarka rơi vào tay Bey xứ Tunis. Genova còn miễn cưỡng tham gia vào cuộc chiến tranh Kế vị Áo năm 1745. Người Genova ủng hộ nhà Bourbon của Pháp và Tây Ban Nha để ngăn chặn kẻ thù không đội trờ chung của họ là Vương quốc Sardegna sáp nhập vùng Finale Ligure có thể cắt rời nước cộng hòa thành một nửa. Quyết định này dẫn đến một loạt thảm họa như đầu hàng quân Áo vào ngày 6 tháng 9 năm 1746 và chiếm đóng thành phố. Làm dấy lên một cuộc nổi loạn lớn của nhân dân vào tháng 12 năm 1746 bắt nguồn từ một cậu bé tên là Giovan Battista Perasso và có biệt danh Balilla, người đã ném đá vào một viên quan Áo và trở thành anh hùng dân tộc cho các thế hệ sau này và được tạc tượng. Người Áo đã bị đánh đuổi để rồi quay trở lại thất bại trong cuộc vây hãm thành Genova vào năm 1747. Ít nhất Genova vẫn còn giữ được Finale theo Hòa ước Aix-la-Chapelle. Không thể nào duy trì quyền cai trị đảo Corse mà phiến quân nơi đây đã lập nên Cộng hòa Corse vào năm 1755, năm 1768 do cuộc nổi loạn địa phương xảy ra trên hòn đảo này mà Genova buộc phải bán quyền sở hữu Corse cho Pháp và đảo quốc được nhượng lại theo Hiệp ước Versailles năm 1768. Một sự phục hồi kinh tế vào những năm 1780 đã diễn ra tại nơi đây.
=== Trở thành chư hầu của Pháp ===
Năm 1797 nước Cộng hòa bị quân đội cách mạng Pháp của Napoléon Bonaparte chiếm đóng, Napoléon đã lật đổ tầng lớp lãnh đạo cũ từng cai trị thành phố trong suốt chiều dài lịch sử và thay thế bằng một nước cộng hòa đại chúng với tên gọi Cộng hòa Liguria, dưới sự cảnh giác thận trọng của nước Pháp thời Napoléon. Nhất là từ sau khi Bonaparte nắm quyền tại Pháp đã cho ban hành một bản hiến pháp bảo thủ hơn, nhưng thời gian tồn tại của nước Cộng hòa Liguria quá ngắn ngủi cho đến năm 1805 thì chinh thức sáp nhập vào Pháp, trở thành các tỉnh (tiếng Pháp gọi là départements) Apennins, Gênes và Montenotte. Sau khi quân Anh chiếm được thành phố từ ngày 17 đến ngày 22 tháng 4 năm 1814, giới lãnh đạo địa phương được viên đại sứ Anh Lord William Bentinck khuyến khích tuyên bố phục hồi lại nước Cộng hòa cũ, nhưng người Anh đã quyết định tại Đại hội Vienna rằng Genova nên được trao cho Vương quốc Sardegna. Quân đội Anh tiến hành đàn áp nước cộng hòa vào tháng 12 năm 1814 và sau đó đã sơ tán ra khỏi thành phố, để rồi bị Sardegna sáp nhập vào ngày 3 tháng 1 năm 1815.
== Xem thêm ==
Trận Meloria (1284)
Trận Curzola (1298)
Trận Ponza (1435)
Tổng trấn Genova
Thuộc địa Genova
Thành bang Ý
Christopher Columbus
Balaklava
== Chú thích == |
đổi mới.txt | Đổi Mới là một chương trình cải cách kinh tế và một số mặt xã hội do Đảng Cộng sản Việt Nam khởi xướng vào thập niên 1980. Chính sách Đổi Mới được chính thức thực hiện từ Đại hội đại biểu Đảng Cộng sản Việt Nam lần VI, năm 1986 .
Đổi Mới về kinh tế được thực hiện trước tiên. Trong những năm đầu thế kỷ 21, Việt Nam mới bắt đầu thực hiện Đổi Mới trên các mặt khác: xã hội, chính trị, tư duy, cơ chế, văn hóa... Tuy nhiên chính trị không có những thay đổi nhiều so với Kinh tế.
Đổi Mới ở Việt Nam tương tự chính sách kinh tế mới của Liên Xô giai đoạn Lenin lãnh đạo (1921-1924), Cải Cách Khai Phóng ở Trung Quốc và Đổi Mới ở Lào.
== Những tiền đề ==
=== Kinh tế thị trường ===
Những người theo chủ nghĩa Stalin (không nhầm lẫn với chủ nghĩa Marx nguyên bản) nhiều lần nhấn mạnh rằng cơ chế thị trường là một cơ chế hoạt động kém, cần phải được thay bằng cơ chế kế hoạch hóa có ý thức. Một trong những mục đích của việc xóa bỏ hệ thống sở hữu tư nhân chính là để chấm dứt cách điều phối sản xuất thị trường một cách mù quáng và dọa dẫm, để thay thế nó bằng kế hoạch có ý thức.
Oscar Lange đã phác họa một nền kinh tế mà các công ty sở hữu công cộng có thể tối đa hóa lợi nhuận của mình hoặc hoạt động theo công thức tối ưu hóa gần như thế. Cơ quan kế hoạch trung ương cố gắng thiết lập các giá cả cân bằng và làm trong sạch thị trường bằng cách mô phỏng cơ chế thị trường: khi thấy nhu cầu tăng, nó tăng giá lên và khi thấy nhu cầu giảm, nó giảm giá xuống. Ông khẳng định rằng một hệ thống như vậy có khả năng cân bằng giữa cung và cầu.
Tuy nhiên, Friedrich von Hayek đã bác bỏ tư tưởng trên của Lange bằng lập luận: vấn đề lớn thực sự của chủ nghĩa xã hội không phải là việc liệu nó có thiết lập được giá cả cân bằng hay không mà là vấn đề có những động cơ khuyến khích gì để thu thập và áp dụng nhanh chóng những thông tin nhất thiết là tản mạn, lẫn lộn ở nhiều chỗ khác nhau. Những thông tin tản mạn đó được Hayek gọi là tri thức riêng phần, những tri thức được sở hữu và chỉ được sử dụng tốt nhất bởi mỗi cá nhân.
Trong bài luận "Sử dụng tri thức trong xã hội" (The Use of Knowledge in Society) đăng trên chuyên san American Economic Review năm 1945, Hayek cho thấy rằng kế hoạch hóa kinh tế tỏ ra kém hiệu quả hơn so với tự do hóa kinh tế bởi vì kế hoạch hóa không thể giải được bài toán của hệ thống giá cả là một hệ thống tự phát giúp con người truyền tải tri thức cần thiết từ người này sang người khác để phối hợp với kế hoạch cá nhân riêng rẽ. Chính vì thế, Hayek chủ trương rằng cần phải để nền kinh tế hoạt động tự do trên nguyên tắc của cơ chế thị trường.
=== Định hướng xã hội chủ nghĩa ===
Mặt khác, không nên lầm tưởng kinh tế thị trường chỉ gắn liền với chủ nghĩa tư bản, còn chủ nghĩa xã hội thì không. Quan niệm này xuất phát từ mô hình kinh tế bao cấp của Liên Xô và Đông Âu trước kia. Thực ra, theo lý luận của Lenin thì chủ nghĩa xã hội là bước chuyển giữa chủ nghĩa tư bản tiến lên chủ nghĩa cộng sản. Trong đó mô hình kinh tế là hỗn hợp, đan xen giữa kinh tế nhà nước, kinh tế tập thể với kinh tế tư bản tư nhân. Theo đó, Lenin đã đề ra Chính sách kinh tế mới (NEP), theo đó nhà nước cho phép một số thị trường được tồn tại, các ngành công nghiệp nhà nước đó sẽ hoàn toàn tự do đưa ra các quyết định kinh tế của mình. Sau khi Lenin mất, Stalin đã xóa bỏ NEP và xây dựng mô hình kinh tế bao cấp, khiến nhiều người lầm tưởng chủ nghĩa xã hội chỉ gắn liền với kinh tế bao cấp.
Những lý luận đầu tiên về chủ nghĩa xã hội thị trường được nhà kinh tế Enrico Barone người Ý nêu ra vào năm 1908 trong tác phẩm "Il Ministro della Produzione nello Stato Collettivista", tạp chi Giornale degli Economisti, số 2, tháng Chín-Mười, trang 267-293. Barone đã đưa ra một mô hình toán về một nền kinh tế tập thể, theo đó các quan hệ tiền tệ hàng hóa trong nền kinh tế đều có thể tính toán được và từ đó có thể điều chỉnh để sao cho phúc lợi tập thể đạt mức tối ưu.
Năm 1929, Fred Manville Taylor người Mỹ trong công trình "The Guidance of Production in a Socialist State," tạp chí American Economic Review, số 19(1), trang 1-8, đã nêu ra những điều kiện để nền kinh tế xã hội chủ nghĩa có thể, về mặt lý thuyết, đạt được hiệu quả trong phân phối nguồn lực.
Trên cơ sở mô hình của Barone, vào năm 1936 nhà kinh tế người Ba Lan Oskar Ryszard Lange đã công bố cuốn sách của mình mang tên Lý thuyết kinh tế về chủ nghĩa xã hội trong đó ông kết hợp kinh tế học Marxist với kinh tế học tân cổ điển. Lange ủng hộ việc sử dụng các công cụ thị trường (giá cả) và đồng thời ủng hộ việc kế hoạch hóa. Lange cho rằng các nhà làm kế hoạch có thể tính toán và đặt ra các mức giá và chờ đợi phản ứng của thị trường để điều chỉnh cho phù hợp. Như vậy nền kinh tế sẽ có hiệu quả cao hơn thay vì để cho thị trường quyết định hoàn toàn.
Lịch sử phát triển kinh tế thế giới cũng như ở Việt Nam cho thấy Chủ nghĩa xã hội kết hợp với yếu tố thị trường còn được gọi là Con đường thứ ba (để phân biệt với hai con đường khác là kinh tế thị trường tự do (hay kinh tế tư bản chủ nghĩa) và kinh tế kế hoạch hóa tập trung. Các nước Đông Âu và Liên Xô cũ đã rời bỏ nền kinh tế kế hoạch hóa để chuyển sang nền kinh tế thị trường. Các nước tư bản phát triển như Mĩ, Anh, Đức, Pháp và Nhật trong thế kỉ 20 cũng điều chỉnh mô hình kinh tế theo hướng tăng cường sự can thiệp của bộ máy nhà nước (kinh tế hỗn hợp). Chủ nghĩa xã hội thị trường là đường lối phát triển kinh tế chủ đạo của một số nước phát triển nhất thế giới tại Bắc Âu như Thụy Điển, Phần Lan, Đan Mạch...
Các quan điểm về Đổi Mới kinh tế của Việt Nam dựa chủ yếu trên các kinh nghiệm cải cách của các nước Đông Âu và Trung Quốc.
== Đổi Mới về kinh tế ==
Quan điểm Đổi Mới về kinh tế đã được hoàn thiện dần trong quá trình thực hiện. Ngày nay, Đổi Mới về kinh tế được Nhà nước Việt Nam định nghĩa là: Quá trình chuyển đổi từ nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung bao cấp sang nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần, hoạt động theo cơ chế thị trường, có sự quản lý của Nhà nước, theo định hướng xã hội chủ nghĩa.
=== Đặc điểm ===
Nhà nước chấp nhận sự tồn tại bình đẳng và hợp pháp của nhiều thành phần kinh tế (Đại hội đại biểu toàn quốc Đảng Cộng sản Việt Nam lần IX quy định có 6 thành phần kinh tế: kinh tế Nhà nước, kinh tế tập thể, kinh tế cá thể tiểu chủ, kinh tế tư bản tư nhân, kinh tế tư bản Nhà nước, kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài), nhiều hình thức sở hữu (sở hữu toàn dân, sở hữu tập thể, sở hữu tư nhân, sở hữu hỗn hợp). Tuy nhiên, kinh tế Nhà nước vẫn giữ vai trò chủ đạo.
Cơ chế kinh tế là kinh tế thị trường xã hội, một trường phái kinh tế học mà đại biểu tiêu biểu của nó là Paul Samuelson- Nobel kinh tế năm 1970- với lý thuyết về nền kinh tế hỗn hợp. Luận điểm của nó là nền kinh tế thị trường nhưng có sự quản lý của Nhà nước, nền kinh tế được vận hành bởi hai bàn tay: thị trường và Nhà nước. Điều này có ưu điểm là nó phát huy tính tối ưu trong phân bổ nguồn lực xã hội để tối đa hóa lợi nhuận thông qua cạnh tranh, mặt khác, sự quản lý của Nhà nước giúp tránh được những thất bại của thị trường như lạm phát, phân hóa giàu nghèo, khủng hoảng kinh tế...
Định hướng xã hội chủ nghĩa: Theo quan điểm trước Đổi Mới, Nhà nước Việt Nam cho rằng kinh tế thị trường là nền kinh tế của chủ nghĩa tư bản và hoạt động không tốt. Sau Đổi Mới, quan điểm của Nhà nước Việt Nam là kinh tế thị trường là thành tựu chung của loài người, không mâu thuẫn với chủ nghĩa xã hội. Định hướng xã hội chủ nghĩa được hiểu là vẫn giữ vai trò chủ đạo của kinh tế Nhà nước trong nền kinh tế, vì theo quan điểm của chủ nghĩa Marx về chủ nghĩa xã hội thì mọi tư liệu sản xuất đều thuộc sở hữu toàn dân và Nhà nước xã hội chủ nghĩa là Nhà nước đại diện cho nhân dân.
Nền kinh tế chuyển từ khép kín, đóng cửa, sang mở cửa, hội nhập với thế giới.
=== Quá trình ===
Giai đoạn sau 1975:
Bước đột phá đầu tiên là Nghị quyết Hội nghị lần thứ 6 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa IV (8/1979) với chủ trương động viên, khuyến khích mọi người lao động, mọi năng lực sản xuất và thành phần kinh tế. Chỉ thị số 100 của Ban Bí thư Trung ương Đảng ngày 13/1/1981 về khoán sản phẩm đến nhóm và người lao động trong hợp tác xã nông nghiệp đã tạo ra bước phát triển to lớn trong sản xuất nông nghiệp. Quyết định 25-CP và 26-CP ngày 21/1/1981 của Chính phủ cho phép các đơn vị kinh tế quốc doanh xây dựng và thực hiện 3 kế hoạch đã tạo bước chuyển biến trong sản xuất công nghiệp
Giai đoạn, đầu thập niên 1980, khủng hoảng kinh tế-xã hội nổ ra, lạm phát tăng lên mức phi mã đặc biệt sau hai cuộc tổng điều chỉnh giá-lương-tiền.
Từ 12 đến 19 tháng 7 năm 1983, lúc Lê Duẩn đi nghỉ ở Liên Xô cũ; ba vị lãnh đạo cấp cao của Việt Nam là Trường Chinh, Phạm Văn Đồng và Võ Chí Công đang nghỉ ở Đà Lạt, Nguyễn Văn Linh (lúc đó là Bí thư Thành ủy Thành phố Hồ Chí Minh) đã tổ chức "Hội nghị Đà Lạt" - Ông và một số Giám đốc các cơ sở kinh doanh sản xuất làm ăn có lãi đã trực tiếp gặp gỡ các vị lãnh đạo cấp cao (từ ngày 12 đến ngày 16 tháng 7) để báo cáo tình hình sản xuất, kinh doanh và đề đạt nguyện vọng. Ngày 17 tháng 7, Nguyễn Văn Linh mời các vị lãnh đạo thăm cơ sở chế biến tơ tằm và xí nghiệp chè của Thành phố Hồ Chí Minh tại Bảo Lộc. Ngày 19 tháng 7, Nguyễn Văn Linh có buổi làm việc riêng với các vị lãnh đạo này, ông đã báo cáo tất cả tâm tư mà cá nhân mình đang nung nấu. "Hội nghị Đà Lạt" diễn ra trong thời gian vừa đúng một tuần lễ. Nội dung tư tưởng của các cuộc gặp trong sự kiện này đã được Nguyễn Văn Linh vận dụng vào việc chuẩn bị văn kiện Đại hội Đảng VI của Đảng Cộng sản Việt Nam - Khởi xướng công cuộc Đổi mới của Việt Nam.
1986: Sau khi Lê Duẩn qua đời, Trường Chinh giữ chức Tổng Bí thư chính thức phát động công cuộc Đổi Mới. Đại hội đại biểu toàn quốc lần VI của Đảng Cộng sản Việt Nam chính thức thực hiện Đổi Mới, bắt đầu thực hiện công nghiệp hóa-hiện đại hóa.
1/3/1987: giải thể các trạm kiểm soát hàng hóa trên các tuyến đường nhằm thúc đẩy lưu thông hàng hóa.
18/5/1987: Tổng bí thư Nguyễn Văn Linh và Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng Đỗ Mười sang thăm Liên Xô. Gorbachyov giục Việt Nam cải cách kể cả thông thương với các nước tư bản.
5/4/1988: Bộ Chính trị ra Nghị quyết 10/NQ về Đổi Mới quản lý kinh tế nông nghiệp (hay còn gọi là Khoán 10).
24/5/1988: 19 tỉnh miền Bắc đói to. Chính quyền chính thức yêu cầu Liên Hiệp Quốc viện trợ nhân đạo khẩn cấp.
12/6/1988: Nghị quyết bỏ hẳn chính sách hợp tác hóa nông nghiệp để tăng gia sản xuất.
1989 Việt Nam đã xuất khấu gạo đứng thư 3 thế giới(sau Thái Lan và Hoa Kỳ)
1989: Trung Quốc xảy ra sự kiện Thiên An Môn. Năm 1991, Liên Xô sụp đổ. Tuy nhiên, đánh giá về các sự kiện này, Đảng Cộng sản Việt Nam quyết định tiếp tục Đổi mới theo con đường đã chọn và vẫn thực hiện chủ nghĩa xã hội.
1990: Luật công ty và Luật doanh nghiệp tư nhân ra đời nhằm thể chế hóa chính thức và đầy đủ hơn chủ trương phát triển kinh tế tư nhân. Bắt đầu có chủ trương thực hiện cổ phần hóa doanh nghiệp Nhà nước.
Tháng 5 năm 1990: pháp lệnh ngân hàng Nhà nước Việt Nam và pháp lệnh ngân hàng chính thức chuyển ngân hàng từ một cấp sang hai cấp.
1993: Bình thường hóa quan hệ tài chính với các tổ chức tài chính quốc tế.
2000: Luật Doanh nghiệp ra đời.
2001: ban hành Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam, ký kết Hiệp định Thương mại Việt-Mỹ.
2002: tự do hóa lãi suất cho vay VND cho các tổ chức tín dụng.
2005: Luật Cạnh tranh chính thức có hiệu lực.
2006: Đại hội đại biểu toàn quốc lần X của Đảng Cộng sản Việt Nam chấp nhận cho đảng viên làm kinh tế tư nhân.
7/11/2006: Việt Nam là thành viên chính thức thứ 150 của Tổ chức Thương mại Thế giới.
=== Hạn chế ===
Việc thực hiện kinh tế thị trường nhưng do chưa có kinh nghiệm quản lý nên phân hóa giàu nghèo,ô nhiễm môi trường và các tệ nạn xã hội đã diễn ra với tốc độ tăng nhanh.
Nền kinh tế tăng trưởng cao nhưng chỉ số năng lực cạnh tranh ở mức thấp, gây lãng phí tài nguyên.
Nền kinh tế vẫn nằm ở nhóm nước kinh tế đang phát triển. Trong cơ cấu kinh tế, lao động nông nghiệp vẫn chiếm gần 70% (2010), nền kinh tế vẫn chủ yếu bao gồm các doanh nghiệp nhỏ và vừa. Các doanh nghiệp Nhà nước hoạt động kém hiệu quả, tham nhũng, thất thoát nhiều. Xuất khẩu chủ yếu ở khối doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài. Khả năng cạnh tranh doanh nghiệp nội yếu kém.
Một số thị trường vẫn chưa được thiết lập đầy đủ như: thị trường vốn, thị trường tiền tệ, thị trường lao động, thị trường khoa học công nghệ... Một số thể chế pháp luật và hành chính cần thiết cho nền kinh tế thị trường vẫn chưa được quy định hay đã được quy định nhưng không được thực hiện, gây ra tình trạng tham nhũng, cửa quyền... làm chỉ số minh bạch của môi trường kinh doanh thấp.
Sau 20 năm Đổi Mới, đồng tiền Việt Nam vẫn là đồng tiền không có khả năng chuyển đổi và nhiều quốc gia, tổ chức vẫn không công nhận Việt Nam là nước có nền kinh tế thị trường.
== Đổi Mới về chính trị ==
Theo quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam thì Đổi Mới không phải là từ bỏ việc thực hiện chủ nghĩa xã hội, Đảng Cộng sản Việt Nam vẫn giữ quyền lãnh đạo duy nhất. Đổi Mới chỉ là thời kỳ quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội.
Cho đến nay, Đổi Mới về chính trị ở Việt Nam là chuyển từ việc lãnh đạo kinh tế chủ quan, duy ý chí sang tôn trọng quy luật khách quan của thị trường.
Trên lĩnh vực đối ngoại, Việt Nam chuyển từ chú trọng quan hệ hợp tác với các nước XHCN sang chú trọng quan hệ hợp tác đa phương, làm bạn với tất cả các nước, trên quan điểm bình đẳng, cùng có lợi, không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau. Việt Nam đã bình thường hóa quan hệ với Mỹ, gia nhập các tổ chức khu vực ASEAN, APEC, WTO...
1994: bắt đầu thực hiện chất vấn của các đại biểu Quốc hội đối với các thành viên Chính phủ.
Đại hội Đảng lần X lần đầu tiên lấy ý kiến đóng góp rộng rãi của các tầng lớp nhân dân, lần đầu tiên cho phép Đảng viên tự ứng cử vào Ban Chấp hành Trung ương Đảng.
== Đổi Mới và Văn hóa ==
Đổi Mới trên mặt văn hóa ở Việt Nam thì được biết dưới tên Cởi Mở, tương tự như chính sách Glastnost của Nga Xô. Quá trình này bắt đầu cùng với Đổi Mới Kinh tế nhưng sau đó dừng lại trong thập niên 1991. Năm 2014, Nghị quyết Hội nghị lần thứ 9 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI (Nghị quyết số 33-NQ/TW) về xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước được ban hành. Tuy nhiên các vấn nạn về văn hóa vẫn nghiêm trọng, lối sống thực dụng, văn hóa lai căng phổ biến ở thành thị, nhất là tác động lớp trẻ, ở nông thôn văn hóa nhiều nơi lạc hậu, tệ mê tín dị đoan phát triển. Ít các tác phẩm văn học nghệ thuật có chất lượng, có chiều sâu. Báo chí xu hướng lá cải hóa, thương mại hóa phát triển. . Việc đổi mới văn hóa là điều cần thiết để hòa nhập với xu thế của đất nước, nhưng những tinh hoa văn hóa nên được bảo toàn và gìn giữ, lưu truyền cho các thế hệ sau.
== Đổi Mới trên các mặt khác ==
Đổi Mới trên các mặt khác vẫn đang diễn ra và vẫn chưa có những tổng kết khoa học về vấn đề này. Ví dụ như Việt Nam đang thực hiện Đổi Mới giáo dục: chuyển từ lối giáo dục từ chương (vốn là truyền thống trong cách giáo dục Á Đông) sang phương pháp giáo dục lấy người học làm trung tâm, tăng tính chủ động cho học sinh và tấn công vào căn bệnh thành tích.
== Nhận xét ==
Trong quá trình phát triển của nền kinh tế hàng hóa dẫn đến nền kinh tế thị trường đã trải qua rất nhiều giai đoạn phát triển với nhiều mô hình khác nhau. Ngay trong thời hiện đại này cũng có nhiều mô hình thị trường: Kinh tế thị trường tự do, kinh tế thị trường xã hội, kinh tế thị trường theo định hướng xã hội, kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa... Nước Mỹ ngày nay, một tượng đài của chủ nghĩa tư bản, cũng không còn là Kinh tế thị trường tự do như trước mà là một nền kinh tế hỗn hợp "trong đó đưa ra những ưu đãi hoặc ngăn cản chẳng với một nguyên tắc rõ ràng và nhất quán nào".
Tại Việt Nam, có thể hiểu khái quát: Kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là kinh tế thị trường, vừa tuân thủ theo quy luật của kinh tế thị trường, vừa phải theo định hướng của chủ nghĩa xã hội. Có nghĩa là, trong khi chú ý tới tăng trưởng kinh tế, thì hết sức coi trọng tới vấn đề xã hội, bảo đảm công bằng xã hội, hạn chế sự chênh lệch giàu-nghèo, phấn đấu để có nhiều người giàu nhưng đồng thời cũng hạn chế tối đa, tiến tới xóa bỏ tình trạng đói nghèo trong nhân dân. Thực tế quá trình Đổi mới hơn hai chục năm qua đã giúp Việt Nam đã có những bước phát triển vượt bậc.
Tuy vậy quá trình Đổi mới vẫn đặt ra những vấn đề mới về cả lý luận và thực tiễn. Theo tiến sĩ Trần Đình Thiên, Viện trưởng Viện Kinh tế Việt Nam, trước Đại hội Đảng lần XI cho rằng "Công thức phát triển là kinh tế thị trường định hướng XHCN nên được hiểu như thế nào cho rõ ràng? Đây là thời điểm mà tôi nghĩ rằng bàn cương lĩnh là bàn đến khái niệm lớn."
Đảng Cộng sản Việt Nam đã xác định: đây là mô hình tự xây dựng, không có khuôn mẫu cụ thể do đó, trong quá trình xây dựng không tránh khỏi khiếm khuyết, phải nhận rõ những khiếm khuyết này và đã từng điều chỉnh trong từng giai đoạn. Tại Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI, trong Cương lĩnh mới của Đảng, mô hình kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa sẽ tiếp tục được hoàn thiện để phù hợp với xu thế mới của thời đại, phù hợp với nguyện vọng của nhân dân; đồng thời phê phán quan điểm của một số người cho rằng, nền kinh tế Việt Nam hiện nay "chẳng giống ai", "chủ nghĩa xã hội bên ngoài nhưng bên trong lại là tư bản"... là cố tình bóp méo sự thật
Học giả Gabriel Kolko thì bày tỏ sự hoài nghi, khi sau hơn 50 năm cầm quyền và kiên trì theo đuổi chủ nghĩa Marx, tới cuối thập niên 1980 Đảng Cộng sản Việt Nam mới khám phá ra họ đã "mắc lỗi" (error), như Đỗ Mười từng phát biểu năm 1994 rằng "việc xây dựng chủ nghĩa xã hội vẫn là điều mới mẻ với chúng ta... những ý tưởng của Lenin sẽ giúp tìm ra mô hình chuyển đổi mới". Kolko cho rằng sự hi sinh của hàng triệu người để chống lại sự áp đặt của ngoại bang cuối cùng được thay bằng sự kêu gọi thu hút đầu tư từ Mỹ, Pháp, Nhật, những nước từng dày xéo Việt Nam. Ở bước rẽ này, Kolko cho rằng Việt Nam bị ảnh hưởng và chịu áp lực của Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) hơn là những kinh điển của Lenin.
== Xem thêm ==
Chính sách kinh tế mới (Nga) của Liên Xô do Lenin thựuc hiện (1921-1929)
Perestroika (tiếng Nga: Перестройка), một chính sách tương tự do Liên Xô tiến hành một thập kỷ trước khi nó tan rã.
Kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa mang màu sắc Trung Quốc, học thuyết kinh tế do Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa đề xướng.
Thời bao cấp - tình hình Việt Nam trước Đổi mới.
Đổi mới trên các lĩnh vực khác như:xoá đói giảm nghèo, đổi mới trên các phương tiện thông tin đại chúng...
== Chú thích ==
== Liên kết ngoài ==
Góp ý Đại hội XI về Đổi mới chính trị VNN
VNN: So sánh thành quả Đổi mới của Việt Nam và Trung Quốc (kỳ 1) VNN
So sánh thành quả Đổi mới của Việt Nam và Trung Quốc (kỳ 2) VNN
So sánh thành quả Đổi mới của Việt Nam và Trung Quốc (kỳ 3) VNN
"Đổi Mới - Sự lựa chọn đúng đắn vì mục tiêu phát triển hiện đại của Việt Nam"-bài viết của Trần Đức Lương- nguyên Chủ tịch nước CH XHCN Việt Nam
Đêm trước Đổi Mới- ký ức thời sổ gạo -vietnamnet
Chủ nghĩa cá nhân: Chân và Giả, một tiểu luận của Hayek về chủ nghĩa cá nhân, bản dịch của Đinh Tuấn Minh trên talawas |
nhật nam.txt | Nhật Nam (chữ Hán: 日南) là một địa danh cũ của Việt Nam thời Bắc thuộc mà nhà Hán lập nên để cai quản Việt Nam.
== Vị trí ==
Quận Nhật Nam có vị trí bắt đầu từ đèo Ngang (tỉnh Quảng Bình) đến Quảng Ngãi, Bình Định. Theo Hán thư, quận này thành lập năm Nguyên Đỉnh thứ 6 (111 TCN) thời Hán Vũ Đế, bao gồm 15.400 hộ, 69.485 khẩu, chưa bằng nửa Cửu Chân (35.743 hộ, 166.013 khẩu) và chỉ bằng một phần sáu Giao Chỉ (92.440 hộ, 746.237 khẩu). Toàn quận chia làm năm huyện:
Tây Quyển (西捲) (Nay là bắc Quảng Bình, lưu vực sông Gianh).
Tỉ Cảnh (比景) (Nay là nam Quảng Bình, lưu vực sông Nhật Lệ, Đại Giang).
Chu Ngô (朱吾) (Nay là Quảng Trị, lưu vực sông Thạch Hãn).
Lô Dung (盧容) (Nay là Thừa Thiên-Huế, lưu vực sông Bồ và sông Hương).
Tượng Lâm (象林), thành lập sau khi Mã Viện đánh xuống phía nam (Nay là Quảng Nam-Quảng Ngãi, lưu vực sông Thu Bồn - Trà Khúc, sau là nước Lâm Ấp).
Thời Vương Mãng, quận Nhật Nam đổi thành đình Nhật Nam. Thời Đông Ngô đổi làm tỉnh. Đến năm Thái Khang thứ 3 (282) thời Tấn Vũ Đế lại đổi thành quận. Đến thời Lưu Tống, quận Nhật Nam gồm 7 huyện: Tây Quyển, Lô Dung, Tượng Lâm, Thọ Linh (tách từ Tây Quyển), Chu Ngô, Vô Lao (tách từ Bắc Cảnh), Bắc Cảnh.
Năm 111 TCN, nhà Hán chinh phục Nam Việt. Học giả Aurousseau dẫn Thuỷ kinh chú của Lịch Đạo Nguyên nói năm Nguyên Đỉnh 6 (111 TCN), Hán Vũ Đế đặt quận Nhật Nam, quận trị là Tây Quyển. Nhưng đến khi đàn áp cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng (39-43), Mã Viện mới chỉ tiến vào đến huyện Cư Phong (Thanh Hoá) là chặng cuối. Theo một số học giả , tì tướng của Mã Viện có thể vượt xa hơn chút ít nhưng chắc cũng chưa vào đến sông Gianh.
Các nhà nghiên cứu hiện nay dẫn các ý kiến, của H. Maspero (Pháp), Vũ Phạm Khải (Việt Nam), Tá Bá Nghĩa Minh (Nhật Bản), thống nhất khẳng định: Tượng quận mới được Tần Thủy Hoàng mở trong cuộc chiến tranh Việt-Tần ở phía nam Trung Quốc, trong đó quân Tần mới chỉ tiến tới Quảng Tây. Tượng quận thời Tần thuộc Quảng Tây, không phải Nhật Nam thời Hán từ Quảng Bình trở vào Bình Định. Sở dĩ có sự nhầm lẫn đồng nhất Tượng quận thời Tần và Nhật Nam thời Hán, vì quận Nhật Nam thời Hán có huyện Tượng Lâm ở cực nam: Tượng quận là cực nam của đế chế Tần và Tượng Lâm ở cực nam đế chế Hán.
== Ý nghĩa tên gọi Nhật Nam ==
Theo một số nghiên cứu, tên gọi Nhật Nam ban đầu chỉ là một khái niệm.
Nhật Nam nghĩa là phía nam mặt trời. Sử ký viết: …南至北鄉戶 ("Nam chí bắc hương [hướng] hộ"). Tạm dịch: "...phía nam đến miền cửa nhà quay mặt về hướng bắc". Sử ký tập giải (史記集解) của Bùi Nhân (裴駰) thời Lưu Tống dẫn Ngô đô phú của Tả Tư (左思, ~250 - ~305) viết: 開北戶以向日 ("Khai bắc hộ dĩ hướng nhật", nghĩa là Mở cửa hướng bắc để đón ánh mặt trời). Lưu Quỳ (刘逵) thời Tống Huy Tông giải nghĩa: 日南之北户,犹日北之南户也 ("Nhật nam chi bắc hộ, do nhật bắc chi nam hộ dã" nghĩa là phía nam mặt trời thì làm cửa quay mặt về hướng bắc, cũng như phía bắc mặt trời thì cửa nhà quay mặt về hướng nam vậy).
Cũng như từ Giao Chỉ, Nhật Nam ban đầu chỉ là khái niệm và có liên quan đến thiên văn. Phần lớn đất nước Trung Quốc ở trên Bắc Chí Tuyến (vĩ độ 23 độ 27 phút, ngang qua thành phố Quảng Châu), do đó Mặt Trời với họ luôn ở về phía nam, mọc phương đông nam và lặn phương tây nam. Rõ nhất trong ngày Đông chí đêm dài ngày ngắn, Mặt Trời lẩn quẩn hẳn về phía nam. Vì vậy khi tế trời (cúng Mặt Trời) thiên tử - con trời - phải quay mặt về phương nam. Có lẽ muộn nhất là thời nhà Tần, người Trung Quốc đã biết Trái Đất hình tròn và tự quay quanh trục của nó. Họ tính được quỹ đạo của Mặt Trời (hoàng đạo) và suy luận rằng đi về phía nam đến một nơi nào đó, muốn nhìn thấy Mặt Trời, muốn hưởng sự ấm áp của ánh nắng, con người phải làm nhà quay mặt về hướng bắc.
Tư Mã Thiên viết câu trên chứng tỏ ngành thiên văn biết vậy nhưng sự thực người Trung Quốc chưa bao giờ đặt chân đến vùng Nhật Nam. Quan điểm này dựa vào kiến thức thiên văn hạn chế của người Trung Quốc cách đây 21 thế kỷ. "Vùng nhà cửa quay mặt về hướng bắc" theo logic Sử Ký, trên cơ sở thiên văn hiện đại, phải ở nằm dưới vĩ độ 23 độ 27 phút Nam (đi qua thành phố Rockhamton tại bang Queensland của Úc)
== Tham khảo ==
Phan Huy Lê, Trần Quốc Vượng, Hà Văn Tấn, Lương Ninh (1991), Lịch sử Việt Nam, tập 1, Nhà xuất bản Đại học và giáo dục chuyên nghiệp
Đào Duy Anh (2005), Lịch sử cổ đại Việt Nam, Nhà xuất bản Văn hóa thông tin
Đào Duy Anh (2005), Đất nước Việt Nam qua các đời, Nhà xuất bản Văn hóa thông tin
Cát Kiếm Hùng (2006), Bước thịnh suy của các triều đại phong kiến Trung Quốc, tập 1, Nhà xuất bản Văn hóa thông tin
== Chú thích ==
== Xem thêm ==
Giao Chỉ
Cửu Chân
Cửu Đức
Tượng quận
Bắc thuộc lần 1
Bắc thuộc lần 2
== Liên kết ngoài ==
Từ bình minh lịch sử |
kinh tế áo.txt | Kinh tế của Cộng hòa Áo có đặc điểm của nền kinh tế thị trường xã hội, tương tự như cấu trúc kinh tế của Đức. Cộng hòa Áo có mức sống rất cao, trong đó chính phủ có vai trò quan trọng trong đời sống của nhân dân kể từ năm 1945.
Năm 2004, Áo là nước giàu thứ 4 ở Liên minh châu Âu, với GDP (PPP) bình quân đầu người vào khoảng 27.666 euro, cùng với Luxembourg, Ireland và Hà Lan là các nước dẫn đầu trong danh sách. Viên là thành phố giàu thứ 5 trong châu Âu với GDP bình quân đầu người đạt 38.632 euro, chỉ sau London, Luxembourg, Vùng thủ đô Brussel và Hamburg.
Áo có mức tăng trưởng kinh tế ổn định trong những năm gần đây từ 2002-2006, với tỉ lệ tăng trưởng từ 1 đến 3,3%. Do vị trí địa lý của Áo ở trung tâm châu Âu nên nó trở thành một cửa ngõ quan trọng với các nước thành viên EU mới.
== Các số liệu thống kê ==
GDP và tốc độ tăng trưởng từ 2002 - 2006 (ước tính):
Sản lượng điện: 58,75 TWh (2001)
Sản lượng điện theo các nguồn:Dầu mỏ: 31.46%hydro: 65.92%hạt nhân: 0%khác: 2.62% (1998)
Tiêu thụ điện: 54,85 TWh (2001)
Xuất khẩu điện: 14,25 TWh (2001)
Nhập khẩu điện: 14,47 TWh (2001)
Sản phẩm nông nghiệp: ngũ cốc, khoai tây, củ cải đường, rượu vang, rau quả; sản phẩm khô, gia súc, lợn, gia cầm; gỗ
== Chú thích == |
quần đảo canaria.txt | Quần đảo Canaria (tiếng Tây Ban Nha Islas Canarias) là một quần đảo gồm bảy hòn đảo có nguồn gốc núi lửa ở Đại Tây Dương, ngoài khơi phía tây bắc châu Phi (Maroc và Tây Sahara). Các hòn đảo này thuộc về Tây Ban Nha, và là một khu vực tự trị của nước này. Tên gọi này có nguồn gốc Latinh Insularia Canaria nghĩa là Hòn đảo các con chó, một tên gọi mà ban đầu chỉ dùng cho hòn đảo Gran Canaria.
Các đảo lớn nhất là của Tenerife đông dân, tiếp theo là: Gran Canaria, Lanzarote, Fuerteventura, La Palma, La Gomera và El Hierro.
== Lịch sử ==
== Địa lý hình thể ==
== Địa lý chính trị ==
== Kinh tế ==
== Tham khảo ==
== Liên kết ngoài ==
Tenerife (Information site about the largest island in the Canaries)
Lanzarote (the portal of Lanzarote Island, in Spanish/English/French/German)
Lanzarote (Travel Information about Lanzarote, in Spanish/English/French/German)
Info, maps and forum about Gran Canaria
Old photos Canary Islands and the Canary Islanders
Pictures from the Canary Islands
Canary Islands pose little risk of mega-tsunami
Scientist warns of Atlantic tidal wave
Canary Island Settlers of Louisiana
28°00′0″B 15°30′0″T |
quốc lộ 32.txt | Quốc lộ 32 (tên cũ là Liên tỉnh lộ 11A) là tuyến đường đi qua 4 tỉnh và thành phố: Hà Nội, Phú Thọ, Yên Bái, Lai Châu. Toàn tuyến dài 415 km.
Điểm đầu từ Cầu Giấy, quận Cầu Giấy, thành phố Hà Nội.
Các huyện thị đi qua: Cầu Giấy - Bắc Từ Liêm - Nam Từ Liêm - Hoài Đức - Đan Phượng - Phúc Thọ - Thạch Thất - Sơn Tây - Ba Vì - Thanh Thủy - Tam Nông - Thanh Sơn - Tân Sơn - Văn Chấn - Nghĩa Lộ - Mù Cang Chải - Than Uyên - Tam Đường
Điểm cuối ngã ba Bình Lư, Tam Đường, Lai Châu (km65 – Quốc lộ 4D).
Đoạn đầu từ Hà Nội tới Tam Nông, Quốc lộ 32 có hướng Đông Nam - Tây Bắc, chạy men bờ Nam sông Hồng. Đến cầu Phong Châu (Tam Nông - Phú Thọ) thì gặp quốc lộ 32C (điểm đầu của quốc lộ 32C từ ngã 3 đền Hùng tiếp với quốc lộ 2). Quốc lộ 32 và 32C đi chung khoảng 1 km, đến ngã ba Cổ Tiết (Tam Nông) thì lại tách làm hai ngả: Quốc lộ 32C đi thẳng, chạy men bờ Nam sông Hồng qua Cẩm Khê, Hạ Hòa (Phú Thọ), Trấn Yên (Yên Bái) rồi kết thúc tại ngã ba Âu Lâu (giao với quốc lộ 37). Quốc lộ 32 chuyển hướng Đông Bắc - Tây Nam đi Thanh Sơn, đến Thu Cúc (huyện Tân Sơn) lại chia tiếp làm hai ngả:
- Ngả rẽ sang Phù Yên (Sơn La) rồi gặp Quốc lộ 37 ở ngã ba Mường Cơi gọi là quốc lộ 32B;
- Ngả đi tiếp (vẫn gọi là quốc lộ 32) gặp Quốc lộ 37 ở Văn Chấn (Yên Bái), qua Mù Cang Chải (Yên Bái), Than Uyên, Tam Đường (Lai Châu), gặp quốc lộ 4D ở ngã 3 Bình Lư (Tam Đường) và đây cũng là điểm cuối của quốc lộ 32.
Hiện nay, đoạn từ Cầu Giấy đến Sơn Tây đã được nâng cấp và mở rộng lên thành 6 làn xe. Từ Cầu Diễn đến Nhổn sẽ được mở rộng thành 50 m, ở giữa là đường sắt đô thị chạy từ Ga Hà Nội đến Nhổn. Hiện nay đang làm khu depot đường sắt đô thị Nhổn - Ga Hà Nội ở phường Minh Khai, quận Bắc Từ Liêm, Hà Nội. Một số cầu lớn như: Cầu Giấy, Cầu Diễn, cầu Trung Hà bắc qua sông Đà nối Hà Nội với Phú Thọ.
== Tham khảo == |
cần thơ.txt | Cần Thơ là thành phố lớn, hiện đại và phát triển nhất ở Đồng bằng sông Cửu Long, đồng thời là một đô thị loại 1, thành phố trực thuộc Trung ương, nằm bên hữu ngạn của sông Hậu, thuộc vùng đồng bằng sông Cửu Long. Lớn thứ 2 ở miền Nam sau TP.Hồ Chí Minh. Năm 1739, vùng đất Cần Thơ được khai phá và chính thức có mặt trên dư đồ Việt Nam với tên gọi là Trấn Giang. Cùng phát triển với những thăng trầm của lịch sử dân tộc Việt Nam, vùng đất Trấn Giang đã trải qua nhiều lần thay đổi tên gọi và địa giới hành chính. Thời Nhà Nguyễn Cần Thơ là đất cũ của tỉnh An Giang. Thời Pháp thuộc, Cần Thơ được tách ra thành lập tỉnh, một thời được mệnh danh là Tây Đô, và là trung tâm của vùng Tây Nam Bộ. Đến Thời Việt Nam Cộng Hoà, tỉnh Cần Thơ đổi thành tỉnh Phong Dinh. Sau năm 1975, tỉnh Phong Dinh, tỉnh Ba Xuyên và tỉnh Chương Thiện hợp nhất để thành lập tỉnh Hậu Giang, trong đó thành phố Cần Thơ là tỉnh lỵ. Đến cuối năm 1991, tỉnh Hậu Giang lại chia thành hai tỉnh Cần Thơ và Sóc Trăng. Thành phố Cần Thơ là tỉnh lỵ tỉnh Cần Thơ. Ngày 26 tháng 11 năm 2003, Quốc hội Việt Nam thông qua Nghị quyết số 22/2003/QH11, tỉnh Cần Thơ được chia thành thành phố Cần Thơ là thành phố trực thuộc Trung ương và tỉnh Hậu Giang.
Cần Thơ là thủ phủ và là đô thị hạt nhân của miền Tây Nam Bộ từ thời Pháp thuộc, nay tiếp tục là trung tâm kinh tế của vùng Đồng bằng Sông Cửu Long. Ngoài đặc trưng về địa lý là đầu mối giao thông quan trọng giữa các tỉnh trong khu vực, thành phố Cần Thơ còn được biết đến như một "đô thị miền sông nước". Thành phố có hệ thống sông ngòi chằng chịt, vườn cây ăn trái bạt ngàn, đồng ruộng mênh mông, nổi tiếng với Bến Ninh Kiều, Chợ nổi Cái Răng một nét sinh hoạt đặc trưng văn hoá Nam Bộ. Theo quy hoạch đến năm 2025, thành phố Cần Thơ sẽ trở thành trung tâm công nghiệp, thương mại - dịch vụ, giáo dục - đào tạo và khoa học - công nghệ, y tế và văn hoá của vùng Đồng bằng Sông Cửu Long, đồng thời là đô thị cửa ngõ của vùng hạ lưu sông Mêkông, là đầu mối quan trọng về giao thông vận tải nội vùng và liên vận quốc tế, có vị trí chiến lược về quốc phòng, an ninh.
== Vị trí địa lý ==
Thành phố Cần Thơ nằm ở vùng hạ lưu của Sông Mê Kông và ở vị trí trung tâm đồng bằng châu thổ Sông Cửu Long, nằm cách thành phố Hồ Chí Minh 169 km, cách thành phố Cà Mau hơn 150 km, cách thành phố Rạch Giá gần 120 km, cách biển khoảng hơn 80 km theo đường nam sông Hậu (quốc lộ 91C)
Cần Thơ có tọa độ địa lý 105013’38" - 105050’35" kinh độ Đông và 9055’08" - 10019’38" vĩ độ Bắc, trải dài trên 60 km dọc bờ Tây sông Hậu. Phía bắc giáp tỉnh An Giang, phía đông giáp tỉnh Đồng Tháp và tỉnh Vĩnh Long, phía tây giáp tỉnh Kiên Giang, phía nam giáp tỉnh Hậu Giang. Diện tích nội thành là 53 km². Thành phố Cần Thơ có tổng diện tích tự nhiên là 1.409,0 km², chiếm 3,49% diện tích toàn vùng và dân số vào khoảng 1.400.200 người, mật độ dân số tính đến 2015 là 995 người/km². Cần Thơ là thành phố lớn thứ tư của cả nước, cũng là thành phố hiện đại và lớn nhất của cả vùng hạ lưu sông Mê Kông.
Thành phố Cần Thơ có các điểm cực sau:
Cực Bắc là phường Thới Thuận, quận Thốt Nốt.
Cực Tây là xã Thạnh Lợi, huyện Vĩnh Thạnh.
Cực Nam là xã Trường Xuân A, huyện Thới Lai.
Cực Đông là phường Tân Phú, quận Cái Răng
== Khí hậu ==
== Điều kiện tự nhiên ==
Thành phố Cần Thơ nằm toàn bộ trên đất có nguồn gốc phù sa sông Mê Kông bồi đắp và được bồi lắng thường xuyên qua nguồn nước có phù sa của dòng sông Hậu. Địa chất trong thành phố được hình thành chủ yếu qua quá trình bồi lắng trầm tích biển và phù sa của sông Cửu Long, trên bề mặt ở độ sâu 50 mét có hai loại trầm tích làHolocen (phù sa mới) và Pleistocene (phù sa cổ).
Địa hình nhìn chung tương đối bằng phẳng, phù hợp cho sản xuất nông, ngư nghiệp, với Độ cao trung bình khoảng 1 – 2 mét dốc từ đất giồng ven sông Hậu, và sông Cần Thơ thấp dần về phía nội đồng tức là từ phía đông bắc sang phía tây nam.Bên cạnh đó, thành phố còn có các cồn và cù lao trên sông Hậu như Cồn Ấu, Cồn Khương, Cồn Sơn, Cù lao Tân Lập. Thành phố Cần Thơ có 3 dạng địa hình chính là Địa hình ven sông Hậu hình thành dải đất cao là đê tự nhiên và các cù lao ven sông Hậu.
Ngoài ra do nằm cạnh sông lớn, Cần Thơ có mạng lưới sông, kênh, rạch khá chằng chịt. Vùng tứ giác Long Xuyên thấp trũng, chịu ảnh hưởng lũ trực tiếp hàng năm. Đồng bằng châu thổ chịu ảnh hưởng triều cùng lũ cuối vụ.
Cần Thơ nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, ít bão, quanh năm nóng ẩm, không có mùa lạnh. Mùa mưa kéo dài từ tháng 5 đến tháng 11, mùa khô từ tháng 12 tới tháng 4 năm sau. Nhiệt độ trung bình năm khoảng 28 °C, số giờ nắng trung bình cả năm khoảng 2.249,2h, lượng mưa trung bình năm đạt 1600 mm. Độ ẩm trung bình năm dao động từ 82% - 87%. Do chịu ảnh hưởng khí hậu nhiệt đới gió mùa, có lợi thế về nền nhiệt độ, chế độ bức xạ nhiệt, chế độ nắng cao và ổn định theo hai mùa trong năm.
Các lợi thế này rất thuận lợi cho sinh trưởng và phát triển của sinh vật, có thể tạo ra 1 hệ thống nông nghiệp nhiệt đới có năng suất cao, với nhiều chủng loại cây con, tạo nên sự đa dạng trong sản xuất và trong chuyển dịch cơ cấu sản xuất. Tuy nhiên, mùa mưa thường đi kèm với ngập lũ ảnh hưởng tới khoảng 50% diện tích toàn thành phố, mùa khô thường đi kèm với việc thiếu nước tưới, gây khó khăn cho sản xuất và sinh hoạt, nhất là khu vực bị ảnh hưởng của mặn, phèn làm tăng thêm tính thời vụ cũng như nhu cầu dùng nước không đều giữa các mùa của sản xuất nông nghiệp.
Thành phố Cần Thơ có Sông Hậu chảy qua với tổng chiều dài là 65 km, trong đó đoạn qua Cần Thơ có chiều rộng khoảng 1,6 km. Tổng lượng phù sa của sông Hậu là 35 triệu m3/năm. Tại Cần Thơ, lưu lượng cực đại đạt mức 40.000 m3/s. Mùa cạn từ tháng 1 đến tháng 6, thấp nhất là vào tháng 3 và tháng 4. Lưu lượng nước trên sông tại Cần Thơ chỉ còn 2.000 m3/s. Mực nước sông lúc này chỉ cao hơn 48 cm so với mực nước biển.
Sông Cần Thơ bắt nguồn từ khu vực nội đồng tây sông Hậu, đi qua các quận Ô môn, huyện Phong Điền, quận Cái Răng, quận Ninh Kiều và đổ ra sông Hậu tại bến Ninh Kiều. Sông Cần Thơ có nước ngọt quanh năm, vừa có tác dụng tưới nước trong mùa cạn, vừa có tác dụng tiêu úng trong mùa lũ và có ý nghĩa lớn về giao thông. Sông Cái Lớn dài 20 km, chiều rộng cửa sông 600 – 700 m, độ sâu 10 – 12 m nên có khả năng tiêu, thoát nước rất tốt.
Bên cạnh đó, thành phố Cần Thơ còn có hệ thống kênh rạch dày đặc, với hơn 158 sông, rạch lớn nhỏ là phụ lưu của 2 sông lớn là Sông Hậu và sông Cần Thơ đi qua thành phố nối thành mạng đường thủy. Các sông rạch lớn khác là sông Bình Thủy, sông Trà Nóc, sông Ô Môn, sông Thốt Nốt, kênh Thơm Rơm và nhiều kênh lớn khác tại các huyện ngoại thành là Thốt Nốt, Vĩnh Thạnh, Cờ Đỏ và Phong Điền, cho nước ngọt suốt hai mùa mưa nắng, tạo điều kiện cho nhà nông làm thủy lợi và cải tạo đất.
== Nguồn gốc tên gọi ==
Khi đối chiếu địa danh Cần Thơ với tên Khmer nguyên thủy của vùng này là Prek Rusey (sông tre), không thấy có liên quan gì về ngữ âm, người nghiên cứu chưa thể vội vàng kết luận là Cần Thơ là một địa danh hoàn toàn Việt Nam và vội đi tìm hiểu căn cứ ở các nghĩa có thể hiểu được của hai chữ Hán Việt "cần" và "thơ". Cần Thơ không phải là từ Hán Việt và không có nghĩa. Nếu dò tìm trong hướng các địa danh Việt hoá, người nghiên cứu có thể thấy ngữ âm của Cần Thơ rất gần với ngữ âm của từ Khmer "kìntho", là một loại cá hãy còn khá phổ biến ở Cần Thơ, thông thường được gọi là cá sặc rằn, nhưng người ở Bến Tre vẫn gọi là cá "lò tho". Từ quan điểm vững chắc rằng "lò tho" là một danh từ được tạo thành bằng cách Việt hoá tiếng Khmer "kìntho",người nghiên cứu có thể sưu tầm các tài liệu về lịch sử dân tộc, về sinh hoạt của người Khmer xa xưa trong địa phương này, rồi đi đến kết luận là địa danh Cần Thơ xuất phát từ danh từ Khmer "kìntho".
Về nguồn gốc chữ "Cần Thơ", có 2 thuyết. Thuyết thứ nhất kể rằng khi chúa Nguyễn Ánh trên đường bôn tẩu, thuyền ngài lênh đênh trên sông Hậu, trong đêm khuya thanh vắng ngài nghe có tiếng ngâm thơ, đờn địch, hò hát hòa nhau rất nhịp nhàng, từ một khúc sông xa vọng lại. Ngài xúc động và đặt tên con sông nhỏ này là "Cầm Thi Giang". Cầm Thi được đọc trại thành Cần Thơ. Một truyền thuyết khác nói là khi xưa vùng Cần Thơ có trồng nhiều rau cần và rau thơm. Mỗi khi chèo ghe đi bán trên sông rạch, chủ ghe thường rao: "Ai mua rau cần thơm không". Rau cần thơm vì vậy đã vào ca dao, và cần thơm đọc trại thành Cần Thơ:
Rau cần rau thơm xanh mướt
Mua mau kẻo hết, chậm bước không còn
Rau cần lại với rau thơm
Phải chăng đất ấy rau thơm có nhiều
Thực dân Pháp xâm lược Việt Nam, triều đình nhà Nguyễn cắt 3 tỉnh miền Tây Nam Bộ cho Pháp vào năm 1876. Thiết lập ách thống trị trên vùng đất này, thực dân Pháp chính thức hóa tên gọi Cần Thơ bằng những văn bản hành chính. Để dễ bề kiểm soát hoạt động của nhân dân từng tỉnh trong 3 tỉnh vừa chiếm được, Pháp còn đánh số, tỉnh Cần Thơ mang con số 19. Từ đó trở đi, các phương tiện giao thông (chủ yếu giao thông thủy) như thuyền, ghe của Cần Thơ đều phải gắn con số 19 trước mui. Ngay cả lính mã tà mỗi lần có việc di chuyển từ Cần Thơ sang tỉnh khác hoặc giải phạm nhân chống đối lên Sài Gòn đều gắn con số 19 vào cổ áo để dễ nhận diện lính của mỗi tỉnh thuộc đất nhượng địa.
Ngày 22 tháng 10 năm 1956, Sắc lệnh 143-NV được Ngô Đình Diệm ban hành để "thay đổi địa giới và tên Đô thành Sài Gòn – Chợ Lớn cùng các tỉnh và tỉnh lỵ tại Việt Nam". Địa giới và địa danh các tỉnh ở miền Nam thay đổi nhiều, một số tỉnh mới được thành lập. Trong đó, chính quyền đổi tên tỉnh Cần Thơ thành tỉnh Phong Dinh, tuy nhiên vẫn giữ lại tên gọi tỉnh lỵ là "Cần Thơ" như cũ. Dưới thời Việt Nam Cộng hòa, địa danh "Cần Thơ" chỉ còn được dùng để chỉ khu vực đô thị tỉnh lỵ của tỉnh Phong Dinh, tuy nhiên đến năm 1970 khu vực này và vùng phụ cận được nâng cấp trở thành thị xã Cần Thơ.
Nếu vào thời nhà Nguyễn độc lập, vùng đất Cần Thơ có tên là "Phong Phú" thì đến thời Việt Nam Cộng hòa, vùng đất này lại mang tên một địa danh mới lạ hoàn toàn và chưa bao giờ xuất hiện trước đó: "tỉnh Phong Dinh".
== Lịch sử ==
=== Thời phong kiến ===
Vào năm Mậu Tý 1708, ông Mạc Cửu dâng đất Hà Tiên cho chúa Nguyễn Phúc Chu. Vùng Cần Thơ lúc ấy vẫn chưa được tổ chức thành một đơn vị hành chánh của Hà Tiên.
Sau khi Mạc Cửu mất vào năm Ất Mão 1735, Mạc Thiên Tứ nối nghiệp cha, khai phá thêm vùng hữu ngạn sông Hậu. Năm Kỷ Mùi 1739, Mạc Thiên Tứ thành lập thêm 4 vùng đất mới ở phía hữu ngạn sông Hậu để sáp nhập vào đất Hà Tiên: Long Xuyên (Cà Mau), Kiên Giang (Rạch Giá), Trấn Giang (Cần Thơ) và Trấn Di (Bắc Bạc Liêu).
Năm 1739, vùng đất Cần Thơ được khai mở và chính thức có mặt trên dư đồ Việt Nam với tên gọi là Trấn Giang, do Mạc Thiên Tích có công khai phá cùng thời với đất Cà Mau, Rạch Giá và Bắc Bạc Liêu. Sau đó cùng sáp nhập vào đất Hà Tiên. Mạc Thiên Tích đã sớm nhận thấy vị trí chiến lược của Trấn Giang - là hậu cứ vững chắc cho Hà Tiên trong việc chống lại quân Xiêm và quân Chân Lạp - nên đã tập trung xây dựng nơi đây thành Thủ sở với các thế mạnh cả về quân sự lẫn kinh tế và văn hoá.
Năm 1771, quân Xiêm tấn công Hà Tiên nhưng không chiếm được Trấn Giang. Năm 1774, nghĩa quân Tây Sơn kéo quân vào Nam đánh chiếm thành Gia Định, sau đó kéo xuống miền Tây và Trấn Giang. Sau trận Rạch Gầm -Xoài Mút (tháng 1 năm 1785), vào năm 1787 quân Tây Sơn rút khỏi các dinh trấn miền Tây, Trấn Giang trở lại dưới quyền bảo hộ của nhà Nguyễn. Suốt thập niên 70 của thế kỷ XVIII, Trấn Giang trở thành một cứ điểm quan trọng và phát triển mạnh trong bối cảnh lịch sử đầy xáo động.
Năm 1808, dưới triều vua Gia Long, đất Trấn Giang thuộc trấn Vĩnh Thanh (trước đó từng có tên là dinh Long Hồ, dinh Hoằng Trấn, Vĩnh Trấn), một trong 5 trấn của Gia Định bấy giờ là: Phiên An, Biên Hoà, Vĩnh Thanh, Định Tường và Hà Tiên. Năm Quý Dậu 1814 (năm Gia Long thứ 12), huyện Vĩnh Định được thành lập. Vùng Cần Thơ thuộc huyện Vĩnh Định (Nam sông Hậu), trấn Vĩnh Thanh (có 2 huyện: Vĩnh An và Vĩnh Định), phủ Định Viễn. Huyện Vĩnh Định có vị trí địa lý: Đông giáp biển, Tây giáp Cao Miên, Nam giáp Hà Tiên, Bắc giáp huyện Vĩnh An và huyện Bình Minh. Vào thời Gia Long, huyện Vĩnh Định chưa chia tổng. Tổ chức hành chánh của huyện được chia thành 37 thôn.
Năm 1832, dưới triều vua Minh Mạng, ngũ trấn được đổi thành lục tỉnh là Biên Hoà, Gia Định, Định Tường, Vĩnh Long, An Giang và Hà Tiên. Đất Cần Thơ ngày nay (tức Trấn Giang ngày xưa) được lập thành huyện Vĩnh Định và cắt về phủ Tân Thành, tỉnh An Giang. Do có nhiều cuộc nội loạn ở vùng Nam Bộ, đặc biệt là cuộc nổi dậy của Lê Văn Khôi (1833-1835) nên thủ sở Trấn Giang vào thời Minh Mạng được tái thiết. Với tiềm năng kinh tế và vị trí địa lý của mình, thương mại Trấn Giang - Cần Thơ đã phát triển khá mạnh với chợ Sưu ở gần bến sông Cần Thơ, chợ Tân An liền hướng bến sông Bình Thủy và chợ Thới An Đông trên vùng gần cửa sông Ô Môn.
Voà năm Minh Mạng thứ 17 (Bính Thân 1836), địa bạ tỉnh An Giang (2 phủ, 4 huyện, 18 tổng, 161 thôn) được hoàn thành. Huyện Vĩnh Định có 4 tổng là Định An, Định Bảo, Định Khánh và Định Thới, phân cấp hành chánh cơ sở thành 30 thôn.
Năm 1839 (năm Minh Mạng thứ 20), huyện Vĩnh Định lại được đổi tên thành huyện Phong Phú, và cho huyện Phong Phú thuộc về phủ Tuy Biên (Châu Đốc), tỉnh An Giang. Huyện Phong Phú có 3 tổng và 31 thôn với huyện trị đặt tại thôn Tân An, ven bờ sông Cần Thơ.
Đến cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX là giai đoạn lịch sử có nhiều biến động dữ dội ở Nam Kỳ lục tỉnh. Thực dân Pháp chiếm 3 tỉnh miền Đông Nam Kỳ (Biên Hòa, Gia Định, Định Tường) theo hoà ước nhượng bộ của nhà Nguyễn vào năm 1862. Vào các ngày 20, 22 và 24 tháng 6 năm 1867, Pháp vi phạm hòa ước 1862, chiếm 3 tỉnh miền Tây là Vĩnh Long, An Giang và Hà Tiên.
=== Thời Pháp thuộc ===
Ngày 1 tháng 1 năm 1868, Thống đốc Nam Kỳ là Bonard quyết định sáp nhập huyện Phong Phú với vùng Bãi Sào (Sóc Trăng) lập thành quận đặt dưới sự cai trị của người Pháp, lập Toà Bố tại Sa Đéc. Hạt Sa Đéc (phủ Tân Thành) đặt lỵ sở tại Sa Đéc gồm có 3 huyện: Vĩnh An, An Xuyên và Phong Phú.
Huyện Phong Phú có địa giới hành chính Bắc giáp phủ Tân Thạnh và phủ Lạc Hóa, Tây - Bắc giáp huyện Tây Xuyên, Đông - Nam giáp huyện Vĩnh Định, phía Nam có nhiều rừng tràm và hổ báo. Huyện Phong Phú được phân cấp hành chính cơ sở gồm 8 tổng (3 tổng cũ, 5 tổng mới phía Nam sông Hậu). Vào thời điểm này ở huyện Phong Phú có 5 chợ chính là: Cần Thơ, Ô Môn, Bình Thủy, Trà Niềng và Cái Răng.
Ngày 30 tháng 4 năm 1872, Thống đốc Nam Kỳ ra Nghị định sáp nhập huyện Phong Phú với vùng Bắc Tràng (thuộc phủ Lạc Hóa, tỉnh Vĩnh Long trước đây) để lập thành một hạt, đặt Toà Bố tại Trà Ôn. Một năm sau, Toà Bố từ Trà Ôn lại dời về Cái Răng.
Ngày 23 tháng 2 năm 1876, Thống đốc Nam Kỳ ra Nghị định mới lấy huyện Phong Phú và một phần huyện An Xuyên và Tân Thành để lập hạt Cần Thơ với thủ phủ là Cần Thơ. Hạt Cần Thơ thuộc khu vực Bassac (Hậu Giang). Hạt Cần Thơ chia làm 11 tổng, 119 làng, dân số 53.910 người.
Năm 1899, Pháp đổi các đơn vị hành chính cấp hạt thành tỉnh và huyện đổi thành quận. Tỉnh Cần Thơ được thành lập theo Nghị định ngày 20 tháng 12 năm 1899 của Toàn quyền Đông Dương trên cơ sở đổi tên gọi tiểu khu hay hạt tham biện (arrondissement) thành tỉnh (province), kể từ ngày 1 tháng 1 năm 1900. Như vậy, tỉnh Cần Thơ là một trong 20 tỉnh ở Nam Kỳ lúc bấy giờ.
Năm 1917 tỉnh Cần Thơ có diện tích 2.191 km², gồm 4 quận: Châu Thành, Phụng Hiệp, Ô Môn, Cầu Kè. Năm 1921 có thêm quận Trà Ôn. Tỉnh lỵ tỉnh Cần Thơ đặt tại làng Tân An thuộc quận Châu Thành.
Năm 1928, Toàn quyền Đông Dương ra nghị định thành lập các thành phố Bạc Liêu, Cần Thơ, Rạch Giá và Mỹ Tho có Ủy ban thành phố, thị trưởng do chủ tỉnh bổ nhiệm và có ngân sách riêng. Tuy nhiên sau này vẫn thường gọi là thị xã Cần Thơ.
Nghị định ngày 30 tháng 11 năm 1934 sắp xếp đất đai thị xã Cần Thơ thành 5 vùng và 1 vùng ngoại ô để thu thuế thổ trạch.
Từ năm 1876 đến năm 1954, địa giới hành chính tỉnh Cần Thơ dưới quyền kiểm soát của chính quyền Pháp không có sự thay đổi. Tuy nhiên, trong thời gian chiến tranh Đông Dương, chính quyền kháng chiến của Việt Minh có điều chỉnh một phần địa giới hành chính của tỉnh Cần Thơ. Năm 1947, chính quyền Việt Nam Dân chủ Cộng hòa thành lập thị xã Cần Thơ thuộc tỉnh Cần Thơ. Trong 2 năm 1948 và 1949, tỉnh Cần Thơ nhận thêm huyện Thốt Nốt từ tỉnh Long Xuyên, nhận các huyện Long Mỹ, Gò Quao, Giồng Riềng, thị xã Rạch Giá từ tỉnh Rạch Giá vừa bị giải thể và nhận huyện Kế Sách từ tỉnh Sóc Trăng. Đồng thời, tỉnh Cần Thơ giao 2 huyện Trà Ôn và Cầu Kè về tỉnh Vĩnh Trà (gồm hai tỉnh Vĩnh Long và Trà Vinh ngày nay).
=== Giai đoạn 1956-1976 ===
==== Việt Nam Cộng hòa ====
Sau hiệp định Giơnevơ năm 1954, địa giới hành chính của tỉnh Cần Thơ ở miền Nam có nhiều thay đổi. Ban đầu chính quyền Quốc gia Việt Nam và sau đó là Việt Nam Cộng hòa ban đầu vẫn duy trì tên gọi tỉnh Cần Thơ cùng với thị xã Cần Thơ như thời Pháp thuộc.
Ngày 28 tháng 8 năm 1956, chính quyền Việt Nam Cộng hòa ban hành Dụ số 50 về việc bãi bỏ quy chế thị xã. Theo quyết định này, bãi bỏ Dụ số 13 ban hành ngày 30 tháng 5 năm 1954 về quy chế thị xã. Những thị xã hiện đặt dưởi quy chế trên, từ nay sẽ theo chế độ thôn xã, và được quản tri bởi một ủy ban hành chính do tỉnh trường bồ nhiệm. Theo đó, tiến hành giải thể thị xã Cần Thơ vốn được lập nên trước đó, đồng thời địa bàn thị xã được chuyển thành xã Tân An trực thuộc tổng Định An, quận Châu Thành, tỉnh Cần Thơ.
Ngày 22 tháng 10 năm 1956, Tổng thống Việt Nam Cộng hòa Ngô Đình Diệm ký Sắc lệnh 143-NV để "thay đổi địa giới và tên Đô thành Sài Gòn – Chợ Lớn cùng các tỉnh và tỉnh lỵ tại Việt Nam". Địa giới và địa danh các tỉnh ở miền Nam thay đổi nhiều, một số tỉnh mới được thành lập. Theo Sắc lệnh này, địa phận Việt Nam Cộng hòa gồm Đô thành Sài Gòn và 22 tỉnh. Lúc này, tỉnh Phong Dinh được thành lập do đổi tên từ tỉnh Cần Thơ. Tỉnh lỵ tỉnh Phong Dinh đặt tại Cần Thơ và vẫn giữ nguyên tên là "Cần Thơ", về mặt hành chánh thuộc xã Tân An, quận Châu Thành.
Năm 1957, tỉnh Phong Dinh có 5 quận: Châu Thành, Phụng Hiệp, Ô Môn, Long Mỹ và Kế Sách. Ngày 23 tháng 2 năm 1957, tỉnh Phong Dinh nhận quận Kế Sách từ tỉnh Ba Xuyên (tức tỉnh Sóc Trăng trước đó) quản lý. Tuy nhiên, chẳng bao lâu sau vào ngày 16 tháng 9 năm 1958, tỉnh Phong Dinh giao lại quận Kế Sách cho tỉnh Ba Xuyên.
Ngày 16 tháng 09 năm 1958, quận Ô Môn đổi tên là quận Phong Phú. Ngày 18 tháng 3 năm 1960 tỉnh Phong Dinh lập thêm quận Đức Long trên cơ sở tách đất từ quận Long Mỹ. Ngày 24 tháng 12 năm 1961, hai quận Đức Long và Long Mỹ được bàn giao cho tỉnh Chương Thiện mới thành lập.
Ngày 2 tháng 7 năm 1962 tỉnh Phong Dinh lập thêm 2 quận Khắc Trung và Khắc Nhơn. Ngày 20 tháng 4 năm 1964, đổi tên 2 quận Khắc Trung và Khắc Nhơn thành Thuận Trung và Thuận Nhơn. Ngày 26 tháng 5 năm 1966 lập thêm quận Phong Điền. Ngày 23 tháng 4 năm 1968, lại lập thêm quận Phong Thuận.
Ngày 30 tháng 9 năm 1970, Thủ tướng chính quyền Việt Nam Cộng hòa Trần Thiện Khiêm ban hành Sắc lệnh số 115-SL/NV cải biến xã Tân An và các phần đất phụ cận (bao gồm xã Thuận Đức, ấp Lợi Nguyên thuộc xã An Bình và ấp Bình Nhựt thuộc xã Long Tuyền) thuộc quận Châu Thành, tỉnh Phong Dinh thành "thị xã Cần Thơ", là thị xã tự trị trực thuộc chính quyền Trung ương Việt Nam Cộng hòa, đồng thời kiêm tỉnh lỵ tỉnh Phong Dinh. Thị xã Cần Thơ là nơi đặt Bộ tư lệnh Quân khu IV của quân đội Việt Nam Cộng hòa trong cuộc chiến.
Ngày 7 tháng 6 năm 1971, chính quyền Việt Nam Cộng hòa ban hành Nghị định số 585-NĐ/NV thành lập tại thị xã Cần Thơ 2 quận lấy tên là quận 1 (quận Nhứt) và quận 2 (quận Nhì). Địa phận của 2 quận này được phân chia thành 8 khu phố trực thuộc như sau:
Quận 1 (quận Nhứt) gồm năm khu phố: An Lạc, An Cư, An Nghiệp, An Hòa, An Thới.
Quận 2 (quận Nhì) gồm ba khu phố: Hưng Lợi, Hưng Phú, Hưng Thạnh.
Ngày 22 tháng 8 năm 1972, Tổng trưởng Nội vụ chính quyền Việt Nam Cộng hòa lại ban hành Nghị định số 553BNV/HCĐP/NÐ, đối các danh xưng "khu phố" của thị xă thành "phường".
Từ đó cho đến năm 1975, thị xã Cần Thơ và tỉnh Phong Dinh là hai đơn vị hành chính cấp tỉnh ngang bằng nhau theo sự phân chia sắp xếp hành chính của Việt Nam Cộng hòa. Tỉnh Phong Dinh gồm 7 quận: Châu Thành, Phụng Hiệp, Phong Phú, Thuận Nhơn, Thuận Trung, Phong Điền, Phong Thuận.
==== Chính quyền Cách mạng ====
Tuy nhiên phía chính quyền Mặt trận Dân tộc Giải phóng Miền Nam Việt Nam và sau này là Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa Miền Nam Việt Nam cùng với Việt Nam Dân chủ Cộng hòa không công nhận tên gọi tỉnh Phong Dinh mà vẫn gọi theo tên cũ là tỉnh Cần Thơ. Đồng thời, chính quyền Cách mạng vẫn duy trì thị xã Cần Thơ trực thuộc tỉnh Cần Thơ trong giai đoạn 1956-1969.
Địa giới hành chính tỉnh Cần Thơ có thay đổi một phần. Tháng 11 năm 1954, huyện Long Mỹ và các huyện Gò Quao, Giồng Riềng, thị xã Rạch Giá giao trở lại cho tỉnh Rạch Giá. Huyện Kế Sách giao về tỉnh Sóc Trăng. Huyện Thốt Nốt giao về tỉnh Long Xuyên. Tỉnh Cần Thơ nhận lại 2 huyện Trà Ôn và Cầu Kè như cũ. Năm 1956, hai huyện Trà Ôn và Cầu Kè đưa về tỉnh Vĩnh Long. Năm 1957, huyện Long Mỹ chuyển trở lại tỉnh Cần Thơ. Năm 1958, huyện Kế Sách chuyển về tỉnh Cần Thơ.
Năm 1963, huyện Thốt Nốt thuộc tỉnh An Giang (trước năm 1956 là tỉnh Long Xuyên) lại được đưa về cho tỉnh Cần Thơ quản lý. Tháng 6 năm 1966, thành lập thị xã Vị Thanh trực thuộc tỉnh Cần Thơ. Tháng 10 năm 1966, huyện Châu Thành thuộc tỉnh Cần Thơ được chia ra thành hai huyện là Châu Thành A và Châu Thành B. Cuối 1967 nhập lại là Châu Thành. Sau nhiều lần chia tách rồi sáp nhập Châu Thành Vòng Cung vào Châu Thành A, Châu Thành B nhập lại là huyện Châu Thành.
Năm 1969, chính quyền Cách mạng tách thị xã Cần Thơ khỏi tỉnh Cần Thơ và đặt thị xã trực thuộc Khu 9 (còn gọi là Khu Tây Nam Bộ). Năm 1971, thị xã Cần Thơ trở lại thuộc tỉnh Cần Thơ. Tháng 8 năm 1972, Thường vụ Khu ủy Khu 9 của phía chính quyền Cộng hòa Miền Nam Việt Nam và Việt Nam Dân chủ Cộng hòa quyết định tách thị xã Cần Thơ ra khỏi tỉnh Cần Thơ, hình thành Thành phố Cần Thơ trực thuộc Khu 9, bao gồm thị xã Cần Thơ và 6 xã vùng ven thuộc các huyện Ô Môn, Châu Thành trước đó. Đồng thời, chính quyền Cách mạng vẫn duy trì các đơn vị hành chính cấp quận, phường và khóm bên dưới giống như phía chính quyền Việt Nam Cộng hòa cho đến đầu năm 1976.
Như vậy cho đến năm 1976, tỉnh Cần Thơ và thành phố Cần Thơ là hai đơn vị hành chính ngang bằng nhau. Tỉnh Cần Thơ khi đó bao gồm các đơn vị hành chính trực thuộc: thị xã Vị Thanh, huyện Châu Thành, huyện Phụng Hiệp, huyện Ô Môn, huyện Long Mỹ, huyện Thốt Nốt và huyện Kế Sách.
Sau ngày 30 tháng 04 năm 1975, chính quyền quân quản Cộng hòa miền Nam Việt Nam lúc bấy giờ vẫn duy trì hai đơn vị hành chính cấp tỉnh ngang bằng nhau là tỉnh Cần Thơ và thành phố Cần Thơ cho đến đầu năm 1976. Lúc này, chính quyền Cách mạng cũng bỏ danh xưng "quận" có từ thời Pháp thuộc và lấy danh xưng "huyện" (quận và phường dành cho các đơn vị hành chánh tương đương khi đã đô thị hóa).
Ngày 20 tháng 9 năm 1975, Bộ Chính trị ra Nghị quyết số 245-NQ/TW về việc bỏ khu, hợp tỉnh trong toàn quốc "nhằm xây dựng các tỉnh thành những đơn vị kinh tế, kế hoạch và đơn vị hành chính có khả năng giải quyết đến mức cao nhất những yêu cầu về đẩy mạnh sản xuất, tổ chức đời sống vật chất, văn hóa của nhân dân, về củng cố quốc phòng, bảo vệ trị an, và có khả năng đóng góp tốt nhất vào sự nghiệp chung của cả nước". Theo Nghị quyết này, tỉnh Vĩnh Long, tỉnh Trà Vinh, tỉnh Cần Thơ (ngoại trừ huyện Thốt Nốt), tỉnh Sóc Trăng và thành phố Cần Thơ sẽ hợp nhất lại thành một tỉnh, tên gọi tỉnh mới cùng với nơi đặt tỉnh lỵ sẽ do địa phương đề nghị lên.
Nhưng đến ngày 20 tháng 12 năm 1975, Bộ Chính trị lại ra Nghị quyết số 19/NQ điều chỉnh lại việc hợp nhất tỉnh ở miền Nam Việt Nam cho sát với tình hình thực tế, theo đó tỉnh Cần Thơ (có cả huyện Thốt Nốt), tỉnh Sóc Trăng và thành phố Cần Thơ được tiến hành hợp nhất lại thành một tỉnh.
=== Tỉnh Hậu Giang cũ, giai đoạn 1976-1991 ===
Theo Nghị định số 03/NĐ-76 ngày 24 tháng 2 năm 1976 và Quyết định số 17/QĐ-76 ngày 24 tháng 3 năm 1976, Chính phủ Việt Nam quyết định hợp nhất ba đơn vị hành chính cấp tỉnh ngang bằng nhau là tỉnh Cần Thơ, tỉnh Sóc Trăng và thành phố Cần Thơ để thành lập tỉnh mới với tên gọi là tỉnh Hậu Giang.
Tỉnh lỵ tỉnh Hậu Giang lúc đó là thành phố Cần Thơ, đơn vị hành chính cấp huyện trực thuộc tỉnh Hậu Giang. Đồng thời, quận 1 (quận Nhứt) và quận 2 (quận Nhì) cũng bị giải thể, các phường xã trực thuộc thành phố Cần Thơ và cũng có một vài sắp xếp, thay đổi nhỏ. Theo đó, nhập hai phường Hưng Phú và Hưng Thạnh (thuộc quận 2 cũ) thành phường Thạnh Phú; thành lập mới phường Bình Thủy gồm một phần nhỏ đất đai trước thuộc xã Long Tuyền và giải thể phường An Thới, nhập địa bàn vào phường mới này; tách đất hai phường An Hòa và An Cư (thuộc quận 1 cũ) để lập mới phường Cái Khế. Thành phố Cần Thơ ban đầu gồm 8 phường: An Cư, An Hòa, An Lạc, An Nghiệp, Bình Thủy, Cái Khế, Hưng Lợi, Thạnh Phú và 2 xã: An Bình, Long Tuyền.
Ngày 21 tháng 4 năm 1979, Hội đồng Chính phủ ban hành Quyết định số 174-CP về việc chia một số phường xã thuộc thành phố Cần Thơ, tỉnh Hậu Giang như sau:
Chia phường An Lạc thành hai phường lấy tên là phường Tân An và phường An Lạc.
Chia phường An Cư thành hai phường lấy tên là phường An Hội và phường An Cư.
Chia phường An Nghiệp thành hai phường lấy tên là phường An Phú và phường An Nghiệp.
Sáp nhập khóm 1 của phường An Hòa vào phường Cái Khế.
Chia phường Cái Khế thành hai phường lấy tên là phường Thới Bình và phường Cái Khế.
Chia phường Bình Thủy thành hai phường lấy tên là phường Bình Thủy và phường An Thới (gồm cả Cồn Sơn).
Chia phường Thạnh Phú thành hai đơn vị lấy tên là phường Hưng Phú và xã Hưng Thạnh.
Chia phường Hưng Lợi thành hai phường lấy tên là phường Xuân Khánh và phường Hưng Lợi.
Chia xã Long Tuyền thành hai xã lấy tên là xã Long Hòa và xã Long Tuyền.
Sáp nhập xã Mỹ Khánh, xã Giai Xuân và ấp Thới Thuận, ấp Thới Hòa, ấp Thới Ngươn của xã Thới An Đông thuộc huyện Châu Thành vào thành phố Cần Thơ.
Sau này, các ấp Thới Thuận, Thới Hòa và Thới Ngươn của xã Thới An Đông được tách ra để thành lập mới phường Trà Nóc trực thuộc thành phố Cần Thơ. Đồng thời, toàn bộ phần còn lại của xã Thới An Đông cũng được sáp nhập vào thành phố Cần Thơ.
Ngày 5 tháng 5 năm 1990, thành phố Cần Thơ được công nhận là đô thị loại 2 trực thuộc tỉnh.
Ngày 26 tháng 12 năm 1991, Quốc hội Việt Nam ban hành Nghị quyết chia tỉnh Hậu Giang thành tỉnh Cần Thơ và tỉnh Sóc Trăng. Tỉnh Cần Thơ có 7 đơn vị hành chính gồm: thành phố Cần Thơ và 6 huyện: Thốt Nốt, Ô Môn, Châu Thành, Long Mỹ, Phụng Hiệp, Vị Thanh, có diện tích tự nhiên 3.022,30km2 với số dân 1.614.350 người. Tỉnh lỵ: thành phố Cần Thơ.
=== Tỉnh Cần Thơ cũ, giai đoạn 1992-2003 ===
Tỉnh Cần Thơ chính thức đi vào hoạt động trở lại từ tháng 4 năm 1992. Tỉnh Cần Thơ lúc đó bao gồm thành phố Cần Thơ và 6 huyện là Thốt Nốt, Ô Môn, Châu Thành, Long Mỹ, Phụng Hiệp, Vị Thanh. Tỉnh lỵ là thành phố Cần Thơ trực thuộc tỉnh Cần Thơ.
Ngày 1 tháng 7 năm 1999, Chính phủ Việt Nam ban hành Nghị định số 45/1999/NĐ-CP về việc thành lập thị xã Vị Thanh, đổi tên huyện Vị Thanh thành huyện Vị Thủy và thành lập các phường, xã, thị trấn thuộc thị xã Vị Thanh và huyện Vị Thủy, tỉnh Cần Thơ.
Ngày 6 tháng 11 năm 2000, Chính phủ Việt Nam ban hành Nghị định số 64/2000/NĐ-CP về việc điều chỉnh địa giới hành chính huyện Châu Thành để thành lập huyện Châu Thành A thuộc tỉnh Cần Thơ. Theo đó, tái lập huyện Châu Thành A trên cơ sở 22.139 ha diện tích tự nhiên và 163.357 nhân khẩu của huyện Châu Thành.
Từ đó cho đến cuối năm 2003, tỉnh Cần Thơ gồm 9 đơn vị hành chính trực thuộc: thành phố Cần Thơ, thị xã Vị Thanh, huyện Châu Thành, huyện Châu Thành A, huyện Phụng Hiệp, huyện Vị Thủy, huyện Long Mỹ, huyện Ô Môn, huyện Thốt Nốt.
Thành phố Cần Thơ trực thuộc tỉnh Cần Thơ khi đó gồm 15 phường: An Cư, An Hòa, An Hội, An Lạc, An Nghiệp, An Phú, An Thới, Bình Thủy, Cái Khế, Hưng Lợi, Hưng Phú, Tân An, Thới Bình, Trà Nóc, Xuân Khánh và 7 xã: An Bình, Giai Xuân, Hưng Thạnh, Long Hòa, Long Tuyền, Mỹ Khánh, Thới An Đông.
=== Trở thành thành phố trực thuộc Trung ương ===
Ngày 26 tháng 11 năm 2003, Quốc hội Việt Nam thông qua Nghị quyết số 22/2003/QH11 về việc chia và điều chỉnh địa giới hành chính một số tỉnh. Theo đó, chia tỉnh Cần Thơ thành thành phố Cần Thơ trực thuộc trung ương và tỉnh Hậu Giang như sau:
Thành phố Cần Thơ trực thuộc trung ương có diện tích tự nhiên là 138.959,99 ha và dân số hiện tại là 1.112.121 người, bao gồm: diện tích và số dân của thành phố Cần Thơ cũ; huyện Ô Môn; huyện Thốt Nốt; một phần của huyện Châu Thành, bao gồm: thị trấn Cái Răng; các ấp Thạnh Mỹ, Thạnh Huề, Thạnh Thắng, Yên Hạ và 176 ha diện tích cùng với 2.216 ngưười của ấp Phú Quới thuộc xã Đông Thạnh; các ấp Thạnh Hóa, Thạnh Hưưng, Thạnh Thuận, An Hưng, Thạnh Phú, Phú Khánh, Khánh Bình và 254,19 ha diện tích cùng với 1.806 người của ấp Phú Hưng thuộc xã Phú An; các ấp Phú Thành, Phú Thạnh, Phú Thuận, Phú Thuận A và 304,61 ha diện tích cùng với 1.262 người của ấp Phú Lợi thuộc xã Đông Phú; một phần của huyện Châu Thành A, bao gồm: xã Trưường Long; xã Nhơn ái; xã Nhơn Nghĩa; ấp Tân Thạnh Đông và 84,7 ha diện tích cùng với 640 người của ấp Tân Thạnh Tây thuộc xã Tân Phú Thạnh.
Tỉnh Hậu Giang có diện tích tự nhiên là 160.772,49 ha và dân số hiện tại là 766.105 người, bao gồm: diện tích và số dân của thị xã Vị Thanh; huyện Phụng Hiệp; huyện Long Mỹ; huyện Vị Thuỷ; phần còn lại của huyện Châu Thành và huyện Châu Thành A, trừ phần diện tích và số dân của hai huyện này đã được điều chỉnh về thành phố Cần Thơ trực thuộc trung ương quy định như trên. Tỉnh lỵ tỉnh Hậu Giang đặt tại thị xã Vị Thanh.
Đến ngày 2 tháng 1 năm 2004, Chính phủ Việt Nam ban hành Nghị định số 05/2004/NĐ-CP về việc thành lập các quận Ninh Kiều, Bình Thủy, Cái Răng, Ô Môn, các huyện Phong Điền, Cờ Đỏ, Vĩnh Thạnh, Thốt Nốt và các xã, phường, thị trấn thuộc thành phố Cần Thơ trực thuộc Trung ương. Thành phố Cần Thơ trực thuộc Trung ương sau khi điều chỉnh địa giới hành chính, thành lập các đơn vị hành chính trực thuộc có 138.959,99 ha diện tích tự nhiên và 1.112.121 nhân khẩu; gồm 8 đơn vị hành chính là 4 quận: Ninh Kiều, Bình Thủy, Cái Răng, Ô Môn và 4 huyện: Phong Điền, Cờ Đỏ, Vĩnh Thạnh, Thốt Nốt; có 67 đơn vị hành chính phường xã, thị trấn: 30 phường, 33 xã và 4 thị trấn.
Ngày 23 tháng 12 năm 2008, Chính phủ Việt Nam ban hành Nghị định số 12/NĐ-CP về việc điều chỉnh địa giới hành chính xã, thành lập xã thuộc huyện Thốt Nốt, huyện Vĩnh Thạnh, huyện Cờ Đỏ, thành lập quận Thốt Nốt và các phường trực thuộc, điều chỉnh địa giới hành chính huyện Cờ Đỏ để thành lập huyện Thới Lai thuộc thành phố Cần Thơ. Sau khi thành lập các quận, huyện mới, thành phố Cần Thơ có 140.161,60 ha diện tích tự nhiên và 1.147.067 nhân khẩu, có 9 đơn vị hành chính trực thuộc, bao gồm các quận: Ninh Kiều, Bình Thủy, Cái Răng, Ô Môn, Thốt Nốt và các huyện: Phong Điền, Cờ Đỏ, Thới Lai, Vĩnh Thạnh.
Ngày 24 tháng 6 năm 2009, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 889/QĐ-TTg về việc công nhận thành phố Cần Thơ là đô thị loại I trực thuộc Trung ương với số điểm đạt được 82,39 điểm/100 điểm (quy định từ 70 điểm trở lên).
== Đơn vị hành chính ==
Thành phố Cần Thơ được chia làm 9 đơn vị hành chính gồm 5 quận và 4 huyện. Tổng số thị trấn, xã, phường là 85, trong đó có 5 thị trấn, 44 phường và 36 xã (tính từ thời điểm ban hành Nghị định số 12/NĐ-CP).Quận Ninh Kiều là trung tâm của thành phố, các quận Bình Thủy, Ô Môn, Thốt Nốt và Cái Răng giữ vai trò nội thành (Có 610/630 ấp, khu vực văn hóa).
Đến năm 2020, sẽ thành lập quận Hưng Phú và quận Phong Điền trên cơ sở chia tách quận Cái Răng và nâng cấp huyện Phong Điền.
== Kinh tế ==
Trong nhiệm kỳ 2010 - 2015, Đảng bộ TP Cần Thơ đã thực hiện đạt và vượt 20/22 chỉ tiêu Nghị quyết Đảng bộ lần thứ 12 đề ra. Tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân của TP đạt 12,19%. Cơ cấu kinh tế tăng dần ở khu vực công nghiệp, xây dựng, thương mại dịch vụ, giảm dần tỷ trọng khu vực nông nghiệp, thủy sản.
Tổng sản phẩm trên địa bàn đến 2015 đạt hơn 77.900 tỷ đồng, tăng 1,8 lần so với 2010; thu nhập bình quân đầu người đến năm 2015 đạt 78,46 triệu đồng/năm (tương đương 3.600 USD), tăng 2,15 lần so 2010. Hàng năm, TP Cần Thơ đóng góp cho vùng khoảng 12% tổng thu ngân sách...
Tổng kim ngạch xuất khẩu đạt 1,375 ty USD. Tính đến nay, thành phố Cần Thơ đ ã có quan hệ xuất khẩu với trên 100 quốc gia và vùng lãnh thổ, tập trung nhiều nhất ở châu Á với 50,6%, châu Mỹ 19,2%, các nước khu vực châu Âu 13%, châu Phi 7,78% và châu Úc là 2,63%.
Theo Sở Công Thương thành phố Cần Thơ, tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ trong 5 năm, từ 2011 - 2015 của thành phố trên 316.300 tỷ đồng; riêng năm 2015 đạt 80.900 tỷ đồng, đứng thứ ba của cả nước chỉ sau Tp. Hồ Chí Minh và Hà Nội, góp phần đưa tỷ lệ của khu vực III (thương mại, dịch vụ) đạt 57,8% trong cơ cấu kinh tế của thành phố. Mức tăng trưởng trong lĩnh vực này bình quân trong 5 năm qua là 15,4%.
Giá trị sản xuất công nghiệp năm 2011 (theo giá so sánh 2010) đạt 70.187 tỷ đồng; năm 2014 đạt 93.362 tỷ đồng; năm 2015 đạt 101.868 tỷ đồng, tăng gấp 1,5 lần so với năm 2011; nhịp độ tăng trưởng bình quân ước đạt 9,8%/năm .
Năm 2011, tốc độ tăng trưởng kinh tế của thành phố Cần Thơ đạt 14,64%, thu nhập bình quân đầu người đạt 2.346 USD. Trong 6 tháng đầu 2012, tốc độ tăng trưởng kinh tế của thành phố ước đạt 8,36%, trong khi đó cùng kỳ năm 2011 mức tăng là 12,21%. Thu nhập bình quân đầu người của Cần Thơ 6 tháng đầu 2012 ước đạt 1.819 USD. Tỷ trọng nông nghiệp thủy sản chiếm 10,83%, công nghiệp xây dựng chiếm 44,45% và dịch vụ thương mại chiếm 44,72%. Giá trị sản xuất nông nghiệp thủy sản thực hiện được 1.617 tỷ đồng, đạt 39,5% kế hoạch cả năm, công nghiệp xây dựng thực hiện được 12.433 tỷ đồng, đạt 38,6% kế hoạch cả năm, dịch vụ thương mại ước thực hiện được 7.309 tỷ đồng, đạt 37% kế hoạch cả năm. Tổng thu ngân sách nhà nước trên địa bàn ước thực hiện được 3.443 tỷ đồng, đạt 40,99% dự toán Hội đồng nhân dân thành phố giao. Tổng vốn đầu tư phát triển toàn xã hội thực hiện được 16.770 tỷ đồng.
Trong giai đoạn 9 Tháng đầu năm 2012, tốc độ tăng trưởng kinh tế của Thành phố Cần Thơ đạt 10,3%, mức cao nhất trong 5 thành phố trực thuộc Trung ương. Đây là mức tăng trưởng khá cao và hợp lý trong điều kiện sản xuất khó khăn và tập trung kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô. Giá trị sản xuất công nghiệp ước tăng 7,5%, tổng mức bán ra hàng hóa và doanh thu dịch vụ tăng 18,5%, vốn đầu tư phát triển toàn xã hội tăng 4,97% so với cùng kỳ, thu ngân sách được 5.092 tỷ đồng, đạt 59,5% dự toán Hội đồng nhân dân thành phố giao… Tuy nhiên, Bên cạnh những mặc tích cực vẫn còn hạn chế, các ngành, lĩnh vực có mức tăng trưởng thấp hơn mức tăng của những năm trước, ảnh hưởng trực tiếp đến tăng trưởng kinh tế và thu ngân sách nhà nước, giá cả hàng hóa, dịch vụ, xăng, dầu và một số vật liệu chủ yếu tăng cao, mặt bằng lãi suất còn cao và khó tiếp cận đã gây áp lực cho sản xuất và đời sống dân cư, tình trạng đùn đẩy trách nhiệm, nhũng nhiễu gây chậm trễ, phiền hà cho tổ chức và nhân dân chưa giảm…
Cây nông nghiệp chính của Cần Thơ là lúa, với sản lượng 1.194,7 tấn. Ngoài ra có một số cây hoa màu khác nhưng sản lượng không đáng kể. Ngành chăn nuôi ở Cần Thơ chủ yếu là nuôi heo và gia cầm. Số lượng heo là 2589,3 ngàn con, số lượng gia cầm là 13 ngàn con (vì bị cúm gia cầm). Các gia súc khác như trâu bò chiếm số lượng không nhiều. Ngành thủy sản ở Cần Thơ chủ yếu là nuôi trồng.
Công nghiệp Cần Thơ về cơ bản đã xây dựng được nhiều cơ sở hạ tầng để phục vụ cho các đối tác nước ngoài tác nhập, điển hình là 2 khu công nghiệp tại Trà Nóc trực thuộc quận Bình Thủy, khu công nghiệp Thốt Nốt, khu công nghiệp Hưng Phú 1 và 2, khu công nghiệp tại quận Ô Môn. Trung tâm Công nghệ Phần mềm Cần Thơ, Cantho Software Park CSP cũng là một trong những dự án được Thành phố quan tâm đầu tư phát triển. Với những lợi thế về phát triển công nhiệp, Cần Thơ cũng đã được định hướng để phát triển trở thành thành phố công nghiệp trước năm 2020 theo Nghị quyết 45- NQ/TW của Bộ chính trị về xây dựng và phát triển thành phố Cần Thơ trong thời kỳ công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước.
Có nhiều siêu thị và khu mua sắm, thương mại lớn như: Tổ hợp TTTM và khách sạn cao cấp 5 sao Vincom Xuân Khánh, Vincom Hùng Vương, Big C, Metro, Sense City (Co-op Mart), Lotte Mart, VinMart (Vinatex), Best Caring, Siêu thị Điện máy Sài Gòn Chợ Lớn, Điện máy Nguyễn Kim, Khu mua sắm Đệ Nhất Phan Khang, Khu Thương mại Tây Đô, Trung tâm thương mại Cái Khế. Các ngành dịch vụ tại Cần Thơ rất nhiều loại hình dịch vụ đã và đang dần phát triển mạnh như Ngân hàng, Y tế, Giáo dục, Văn hóa xã hội,...
Với vị trí thuận lợi là trung tâm của vùng Đồng bằng Sông Cửu Long, ngành Dịch vụ phát triển nhanh theo hướng đa dạng hoá loại hình, tạo nên điểm nhấn khá ấn tượng làm sôi động kinh tế thành phố. Trong 7 tháng đầu năm 2009, tổng giá trị kim ngạch xuất khẩu và doanh thu dịch vụ thu ngoại tệ trên địa bàn thành phố ước thực hiện 447,4 triệu USD, đạt 48,2% so kế hoạch năm và tăng 4,3% so cùng kỳ. Trong đó, xuất khẩu hàng hoá hơn 431,9 triệu USD, đạt 48% so kế hoạch và tăng 1,5% so cùng kỳ, dịch vụ thu ngoại tệ 15,5 triệu USD, đạt 53,45% so kế hoạch và giảm 4% so cùng kỳ. Trong 9 tháng đầu năm 2009, các doanh nghiệp xuất gần 437.000 tấn gạo, đạt 82,4% so kế hoạch năm và tăng 20,2% so cùng kỳ, nhưng giá trị chỉ đạt gần 187 triệu USD, giảm 8% về giá trị. Trong đó, xuất trực tiếp 239.000 tấn (giá trị 102 triệu USD), xuất ủy thác 198.000 tấn (85 triệu USD) và cung ứng cho xuất khẩu trên 110.000 tấn quy gạo.
== Giáo dục & Y tế ==
=== Giáo dục ===
Tính đến ngày 30 tháng 09 năm 2008, thành phố Cần Thơ có 255 trường học ở các cấp phổ thông, đứng đầu ở khu vực Đồng bằng Sông Cửu Long. Tại các bậc bậc đại học và cao đẳng, thành phố có nhiều trường đại học hàng đầu khu vực Đồng bằng Sông Cửu Long như:
Đại học Cần Thơ, Đại học Y Dược Cần Thơ, Trường Đại học Tây Đô, Đại học Nam Cần Thơ, Đại học Kiến trúc TPHCM (cơ sở Cần Thơ), Đại học Kỹ thuật - Công nghệ Cần Thơ, Đại học Quốc tế (chuẩn bị thành lập) v.v
Cao đẳng Cần Thơ, Cao đẳng Nghề Cần Thơ, Cao đẳng Y tế Cần Thơ, Cao đẳng Kinh Tế - Kỹ thuật, Cao đẳng Nông nghiệp Nam Bộ, Cao đẳng Kinh Tế Đối Ngoại (Cơ sở CT), Cao đẳng Văn Hóa Nghệ thuật (nâng cấp từ Trung Cấp Văn Hóa Nghệ thuật)
Riêng thành phố Cần Thơ hiện có 6 trường đại học, 5 trường cao đẳng, 1 học viện, 1 phân hiệu và 12 trường trung cấp chuyên nghiệp với tổng số 76.677 sinh viên đại học, cao đẳng và trung cấp chính quy, chiếm gần 50% số sinh viên của cả vùng. Thành phố Cần Thơ có 4.260 người có trình độ sau đại học, trong đó có 234 người có trình độ tiến sĩ. Trường Đại học Cần Thơ và Đại học Y Dược Cần Thơ là 2 trường có chất lượng đào tạo cao, giữ được uy tín hàng đầu trong khu vực và cả nước.
=== Y tế ===
Trong năm 2008, Thành phố Cần Thơ có 83 cơ sở khám chữa bệnh trực thuộc Sở Y tế. Trong đó có 15 bệnh viện, 8 phòng khám đa khoa khu vực và 60 trạm y tế phường xã, tổng số giường bệnh là 1.600 giường, trong đó các bệnh viện có 1.300 giường, phòng khám đa khoa khu vực có 85 giường, trạm y tế có 215 giường. Năm 2009, Cần Thơ đã có khoảng 58/76 trạm y tế đạt chuẩn quốc gia về y tế xã, 97% trạm y tế có bác sĩ, 96% trạm có nữ hộ sinh hoặc y sĩ sản nhi, 97% ấp có cán bộ y tế, 91% có dược sĩ trung học…Nămm 2015, Thành phố có 20 Bệnh viện Đa khoa Chuyên khoa trong đó có 2 Bệnh viện thuộc Bộ Y tế; 2 Bệnh viện của Công an, Quân đội và 4 Bệnh viện tư nhân.
== Dân cư ==
Tính đến năm 2015, dân số toàn Thành phố Cần Thơ đạt gần 1.400.300 người, mật độ dân số đạt 995 người/km² Trong đó dân số sống tại thành thị đạt gần 791.800 người, dân số sống tại nông thôn đạt 408.500 người. Dân số nam đạt 600.100 người, trong khi đó nữ đạt 600.200 người. Tỷ lệ tăng tự nhiên dân số phân theo địa phương tăng 8,2 ‰
== Giao thông ==
Quốc lộ 1, Quốc lộ 91, 91B, và 91C (Nam Sông Hậu), Quốc lộ 61B và quốc Lộ 80 nối các trung tâm thành phố thuộc đồng bằng sông cửu long với Thành phố Cần Thơ. Tương lai đang nâng cấp và mở rộng quốc lộ 80 và xây dựng cầu Vàm Cống nối Cần Thơ và Đồng Tháp.
== Văn hóa - Xã hội - Du lịch ==
Thành phố Cần Thơ là địa bàn cư trú của nhiều dân tộc khác nhau. Người Khmer ở Cần Thơ không nhiều, chủ yếu tập trung chung quanh chùa hoặc sống rải rác xen kẽ với người Việt ở các quận Ninh Kiều, Ô Môn, Thốt Nốt. Người Hoa ở Cần Thơ thường sống tập trung ở quận Ninh Kiều và huyện Phong Điền, người Hoa gốc Quảng Đông làm nghề mua bán, người Hoa gốc Hẹ làm nghề thuốc Bắc và người Hoa gốc Hải Nam làm nghề may mặc....
Mặc dù Cần Thơ được khám phá khá muộn. Tuy nhiên, Văn hoá Cần Thơ vừa mang những nét chung của khu vực Đồng bằng sông Cửu Long, đồng thời cũng mang nét đẹp văn hóa của vùng đất Tây Đô. Đặc trưng văn hoá Tây Đô được thể hiện qua nhiều phương diện ẩm thực, lối sống, tín ngưỡng, văn nghệ... Hò Cần Thơ là một trong những làn điệu dân ca độc đáo với các loại là hò huê tình, hò cấy và hò mái dài, xuất phát từ những cầu hò của khách thương hồ lúc rảnh rỗi cắm sào để tìm bạn hò và đợi con nước để rời sang bến khác.
Cần Thơ cũng là quê hương của nhiều người nổi tiếng như Châu Văn Liêm, Út Trà Ôn,... Về mặt tín ngưỡng, văn hoá, việc thờ cúng, sinh hoạt lễ hội của các ngôi đình ở Cần Thơ không khác mấy so với các ngôi đình ở Nam Bộ, Một số ngôi đình nổi tiếng ở Cần Thơ như đình Bình Thủy, thờ các nhân vật nổi tiếng như Đinh Công Chánh, Trần Hưng Đạo, Bùi Hữu Nghĩa...... Cần Thơ từ xưa từng được biết đến qua câu ca dao:
Về mặc truyền thông và thông tin đại chúng, Cần Thơ có các đài phát thanh truyền hình như Đài Tiếng nói Việt Nam, Cơ quan thường trú KV ĐBSCL, Đài Phát thanh Truyền hình thành phố Cần Thơ, Trung tâm truyền hình Việt Nam tại TP Cần Thơ. Ngoài ra hệ thống truyền hình cáp cũng khá đông đảo như Truyền hình cáp SCTV, Truyền hình cáp Thành phố Hồ Chí Minh, Truyền hình vệ tinh DTH (direct-to-home), Truyền hình vệ tinh K+, Truyền hình vệ tinh VTC, và các đài truyền thanh ở các quận, huyện
Cần Thơ có Sân vận động Cần Thơ với sức chứa 50.000 người đồng thời cũng là sân vận động có sức chứa lớn nhất Việt Nam ở thời điểm hiện tại. Ngoài các trận đấu của đội bóng XSKT Cần Thơ ở giải đấu cấp cao nhất là V-League thì SVĐ còn tổ chức đua xe môtô. Và đây là môn thể thao được người dân Cần Thơ và các tỉnh lân cận ưa thích. Một năm thường tổ chức 3 lần đua là vào ngày mùng 4 Tết, ngày 30-4 và ngày 2-9. Hiện nay, đội bóng đá Cần Thơ đang đá ở giải vô địch Quốc gia. Ngoài ra còn có Nhà thi đấu đa Năng (đầu tư bởi Quân đội), Khu thi đấu tennis bãi cát quy mô 8 sân, Nhà thi đấu bơi lội và Sân bóng Quân khu 9.
Cần Thơ có nhiều đền chùa như chùa Nam Nhã, chùa Ông (Cần Thơ), chợ nổi Cái Răng và chùa Long Quang (Cần Thơ). Một số nơi du lịch dành cho khách du lịch như: đình Bình Thủy, bến Ninh Kiều, chợ nổi Phong Điền, khu di tích Giàn Gừa và nhiều nơi khác.
== Cơ sở hạ tầng ==
Thành phố Cần Thơ được cấp điện chủ yếu từ lưới điện quốc gia qua đường dây 220KV, cung cấp điện cho thành phố qua đường dây 110KV và 6 trạm biến áp. Ngoài nguồn cung cấp trên, thành phố được Thủ tướng Chính phủ cho phép xây dựng dự án Trung tâm điện lực Ô Môn với tổng công suất cho 4 nhà máy với công xuất 2.700MW.
Toàn thành phố có 2.762,84 km đường bộ, trong đó có 123,715 km đường quốc lộ, 183,85 km đường tỉnh, 332,87 km đường huyện, 153,33 km đường đô thị, 1.969,074 km đường ấp, xã, khu phố. Mạng lưới đường thủy trên địa bàn có tổng chiều dài 1.157 km, trong đó có khoảng 619 km có khả năng vận tải cho loại phương tiện trọng tải từ 30 tấn trở lên. Các tuyến đường sông do quận, huyện quản lý gồm 40 tuyến với tổng chiều dài 405,05 km, đảm bảo cho phương tiện trọng tải từ 15 - 60 tấn hoạt động. Ngoài ra Thành phố Cần Thơ còn có Sân bay Cần Thơ là sân bay lớn nhất khu vực đồng bằng sông Cửu Long, đã chính thức đi vào hoạt động khai thác thương mại các tuyến quốc nội từ ngày 03 tháng 01 năm 2009 và mở các tuyến bay quốc tế vào cuối năm 2010.
Cần Thơ nằm bên bờ phía nam sông Hậu, một bộ phận của sông Mê Kông chảy qua 6 quốc gia, đặc biệt là phần trung và hạ lưu chảy qua Lào, Thái Lan và Campuchia. Các tàu có trọng tải lớn (trên 1.000 tấn) có thể đi các nước và đến Cần Thơ dễ dàng. Ngoài ra, tuyến Cần Thơ - Xà No - Cái Tư là cầu nối quan trọng giữa TP. Hồ Chí Minh, tỉnh Hậu Giang và Cà Mau.
Ngoài ra, hệ thống cảng của Cần Thơ đang được nâng cấp, gồm Cảng Cần Thơ có thể tiếp nhận tàu tàu biển có tải trọng 10.000 - 20.000 DWT, cảng Trà Nóc có 3 kho chứa lớn với dung lượng 40.000 tấn, khối lượng hàng hóa thông qua cảng có thể đạt 200.000 tấn/ năm có thể tiếp nhận tàu 2.500 DWT. Cảng Cái Cui là cảng mới được xây dựng có thể phục vụ̣cho tàu từ 10.000 - 20.000 DWT, khối lượng hàng hóa thông qua cảng là 4,2 triệu tấn/năm.
Hệ thống bưu điện, viễn thông của thành phố Cần Thơ gồm 1 bưu điện trung tâm, 4 bưu điện huyện đủ điều kiện cung cấp thông tin liên lạc giữa Cần Thơ với các nước trên thế giới. Về Bưu chính có 01 doanh nghiệp nhà nước và hơn 24 doanh nghiệp tư nhân đóng trên địa bàn đảm nhận, có hệ thống ổn định với 35 bưu cục, 48 điểm bưu điện văn hóa xã và 216 đại lý bưu điện, điểm giao dịch chuyển phát. Cần Thơ có 2 nhà máy cấp nước sạch có công suất 70.000 m³/ngày, và dự kiến xây dựng thêm một số nhà máy để có thể cung cấp nước sạch 200.000 m³/ngày.
== Thành phố kết nghĩa ==
Hà Đông, Việt Nam (trước đây là tỉnh Hà Đông, hiện nay là quận Hà Đông (tức thị xã tỉnh lỵ Hà Đông cũ) trực thuộc thành phố Hà Nội)
Nice, Pháp
Sán Đầu, Trung Quốc
Phnom Penh, Campuchia
== Chú thích ==
== Liên kết ngoài ==
Thành phố Cần Thơ
Quỹ đầu tư phát triển thành phố Cần Thơ
Viện Kinh tế - Xã hội Cần Thơ
Lịch sử Cần Thơ
Tư liệu về Thành phố Cần Thơ
Cơ sở dữ liệu tên đường và công trình công cộng Thành phố Cần Thơ
Thư viện Thành phố Cần Thơ |
trường cao đẳng cộng đồng.txt | Trường đại học cộng đồng hay trường cao đẳng cộng đồng (tiếng Anh: community college) là một loại hình cơ sở giáo dục. Thuật ngữ tiếng Anh community college có thể có nghĩa khác nhau ở những quốc gia khác nhau. Ở Việt Nam, trường đại học cộng đồng hay trường cao đẳng cộng đồng thuộc hệ thống các cơ sở giáo dục đại học.
== Hoa Kỳ ==
Ở Hoa Kỳ, trường đại học cộng đồng (community college, đôi khi còn gọi là junior college, technical college, two-year college, hay city college) chủ yếu là các cơ sở giáo dục đại học công lập hệ hai năm cung cấp giáo dục đại học và những năm đầu của giáo dục sau trung học, cấp các chứng chỉ (certificates), diploma, bằng associate (bằng "cao đẳng"). Nhiều trường đại học cộng đồng còn có chương trình giáo dục suốt đời và giáo dục cho người lớn tuổi. Sau khi tốt nghiệp từ một trường đại học cộng đồng, một số sinh viên chuyển tiếp lên học ở các viện đại học hay các trường đại học khai phóng hệ bốn năm thêm từ hai đến ba năm nữa để lấy bằng cử nhân (bachelor's degree).
Trước thập niên 1970, các trường đại học cộng đồng ở Hoa Kỳ thường được gọi là junior college. Tên gọi này vẫn còn được sử dụng ở một số cơ sở giáo dục. Tuy nhiên, theo thời gian thuật ngữ junior college được dùng để chỉ các cơ sở giáo dục tư thục hệ hai năm, còn community college thì được dùng để chỉ các cơ sở công lập hệ hai năm. Tên gọi community college xuất hiện từ thực tế là các trường này chủ yếu thu hút và chấp nhận sinh viên từ cộng đồng địa phương, và thường được cấp kinh phí lấy từ nguồn thu thuế ở địa phương.
Nhiều trường đại học cộng đồng ở Hoa Kỳ phát triển lên thành những trường đại học cộng đồng toàn diện (comprehensive community colleges). Những trường này có các chương trình sau:
Giáo dục chuyển tiếp (transfer education): Những sinh viên học hai năm ở đây sẽ chuyển sang học tiếp ở các cơ sở giáo dục hệ bốn năm để lấy bằng cử nhân.
Giáo dục nghề (career education): Sinh viên tốt nghiệp với bằng associate và ra trường làm việc ngay.
Giáo dục bổ túc (developmental): Dành cho những học sinh trung học chưa sẵn sàng vào học đại học.
Giáo dục suốt đời (continuing): Gồm những khóa học không lấy tín chỉ dành cho những ai quan tâm và muốn trau dồi kiến thức.
Đào tạo nhân lực cho các ngành nghề (industry training): Chương trình giáo dục và đào tạo được các công ty địa phương "đặt hàng" để đào tạo nhân viên.
Giáo dục trực tuyến (e-learning): Những khóa học từ xa qua máy tính.
Hiện nay, Hoa Kỳ có tất cả 1.132 trường đại học cộng đồng, trong đó có 986 trường công lập, 115 trường độc lập, và 31 trường dành cho người Mỹ bản địa.
== Việt Nam ==
=== Trường đại học cộng đồng trước năm 1975 ===
Trong thập niên 1960 và 1970, lúc hội nghị hòa bình diễn ra ở Paris, Việt Nam Cộng hòa ráo riết lên kế hoạch tái thiết hậu chiến, với viễn cảnh là hòa bình sẽ lập lại ở Việt Nam, một chính phủ liên hiệp sẽ được thành lập, người lính từ các bên trở về cần được đào tạo để tái hòa nhập vào xã hội. Trong khuôn khổ kế hoạch đó, có hai mô hình cơ sở giáo dục đại học mới và mang tính thực tiễn được hình thành: trường đại học cộng đồng và viện đại học bách khoa.
Trường đại học cộng đồng là một cơ sở giáo dục đại học sơ cấp và đa ngành. Sinh viên học ở đây để chuyển tiếp lên học ở các viện đại học lớn, hoặc mở mang kiến thức, hoặc học nghề để ra làm việc. Các trường đại học cộng đồng được thành lập với sự tham gia đóng góp, xây dựng, và quản trị của địa phương nhằm đáp ứng nhu cầu phát triển ở địa phương trong các mặt văn hóa, xã hội, và kinh tế. Khởi điểm của mô hình giáo dục này là một nghiên cứu của ông Đỗ Bá Khê tiến hành vào năm 1969 mà các kết quả sau đó được đưa vào một luận án tiến sĩ trình ở Viện Đại học Nam California vào năm 1970 với tựa đề The Community College Concept: A Study of its Relevance to Postwar Reconstruction in Vietnam (Khái niệm trường đại học cộng đồng: Nghiên cứu sự phù hợp của nó với công cuộc tái thiết hậu chiến ở Việt Nam).
Công trình nghiên cứu của ông Đỗ Bá Khê được sự ủng hộ của chính phủ Việt Nam Cộng hòa, nhất là Bộ Giáo dục. Vì quan niệm trường đại học cộng đồng quá mới mẻ vào lúc đó, nên mô hình giáo dục này đã được phổ biến rộng rãi qua báo chí, hệ thống truyền thông, và giải thích cặn kẽ tại thủ đô Sài Gòn trong những cuộc hội thảo ở Học viện Quốc gia Hành chánh, Trường Cao đẳng Quốc phòng, Hội Việt-Mỹ, v.v..., cũng như qua những phiên triều trần tại Quốc hội và những buổi nói chuyện ở các địa phương.
Cơ sở đầu tiên được hình thành là Trường Đại học Cộng đồng Tiền Giang (1971) ở Định Tường, sau khi mô hình giáo dục mới này được mang đi trình bày sâu rộng trong dân chúng; trường này đặt trọng tâm vào nông nghiệp. Các trường đại học cộng đồng khác gồm có: Duyên Hải ở Nha Trang đặt trọng tâm vào ngư nghiệp, Quảng Đà ở Đà Nẵng (1974), và Long Hồ ở Vĩnh Long. Riêng Trường Long Hồ còn đang dang dở chưa hoàn tất thì chính thể Việt Nam Cộng hòa bị giải tán. Ở Sài Gòn thì có Trường Đại học Sơ cấp Kỹ thuật Sài Gòn, tiền thân là Trường Cán sự Kỹ thuật Phú Thọ nay tách ra khỏi khối các trường kỹ sư và hưởng quy chế trường đại học cộng đồng, và Trường Đại học Regina Pacis (khai giảng vào năm 1973) dành riêng cho nữ sinh do Công giáo thành lập, và theo triết lý đại học cộng đồng.
Sau sự kiện 30 tháng 4 năm 1975, các trường đại học cộng đồng bị giải tán vì bị xem là xa lạ với những lý tưởng giáo dục của chế độ mới, vốn theo khuôn mẫu của Liên Xô. Các trường này còn bị coi là quá gần gũi với Hoa Kỳ.
==== Triết lý và khái niệm trường đại học cộng đồng ====
Trường đại học cộng đồng là cơ sở giáo dục nằm ngay trong lòng cộng đồng và nhằm phục vụ nhu cầu địa phương để phát triển cộng đồng về ba phương diện: văn hóa, xã hội, và kinh tế. Mô hình giáo dục này được tạo ra dựa trên quan niệm rằng giáo dục phải liên hệ với kinh tế và xã hội, để xã hội và kinh tế giúp giáo dục phát triển. Chương trình giảng dạy tại địa phương phải có sự tham gia của đại diện nhân dân để khảo sát nhu cầu của địa phương, có sự góp ý của nhân dân để chương trình học được thiết thực.
==== Tác dụng của một trường đại học cộng đồng ====
Một trường đại học cộng đồng có các tác dụng chính yếu sau:
Giáo dục chuyển tiếp: Chương trình học chuyển tiếp giống hệt chương trình hai năm đầu ở các viện đại học và trường đại học khác. Sau khi hoàn thành chương trình này, sinh viên có thể ghi tên theo học lên cao hơn ở các cơ sở giáo dục đại học khác.
Giáo dục chuyên nghiệp: Chương trình học chuyên nghiệp trong những ngành nghề thiết thực có liên hệ trực tiếp với nền kinh tế của cộng đồng địa phương.
Giáo dục phổ thông: Chương trình học phổ thông, bắt buộc cho cả sinh viên chuyển tiếp lẫn sinh viên thực nghiệp, cung cấp giáo dục tổng quát và mang tính cách toàn diện.
Giáo dục bổ túc: Chương trình học bổ túc dành cho những sinh viên ở ngưỡng cửa đại học nhưng còn thiếu căn bản, và đặc biệt cho những quân nhân sẽ giải ngũ khi hòa bình lập lại, những người vì chiến tranh mà đã bỏ dở việc học và cần được cập nhật và bổ túc kiến thức để có thể tiếp tục học và tái hòa nhập đời sống dân sự.
Giáo dục tráng niên: Những khóa học ngoài giờ làm việc dành những người đã lớn tuổi mong muốn trau dồi kiến thức hay học thêm những kiến thức chuyên môn mới.
Hướng dẫn và cố vấn: Trường có ban hướng dẫn và cố vấn giúp sinh viên chọn ngành, chọn lớp, hướng dẫn học tập, và định hướng nghề nghiệp.
Phụng sự cộng đồng: Trường đại học cộng đồng không chỉ là nơi để sinh viên đến học mà còn là một trung tâm cộng đồng, nơi tất các tầng lớp dân chúng trong cộng đồng có cơ hội gặp gỡ và tham gia hoạt động trong bầu không khí cởi mở và dân chủ. Trường sẽ tổ chức những buổi diễn thuyết, triển lãm, trình diễn văn nghệ, thi đấu thể thao, và những hoạt động phục vụ cộng đồng khác.
=== Trường cao đẳng cộng đồng từ thập niên 2000 ===
Đầu thập niên 1990, một phái đoàn giáo dục đại học Việt Nam đã được Ủy ban Hoa Kỳ về Hợp tác Khoa học với Việt Nam và Hiệp hội Trường Đại học Cộng đồng Hoa Kỳ mời và tài trợ đến tham quan và tìm hiểu một số trường đại học cộng đồng (ở Việt Nam hiện nay thường gọi là "trường cao đẳng cộng đồng") ở Wisconsin và Illinois, Hoa Kỳ, và tỉnh British Columbia, Canada. Năm 2000, Bộ Giáo dục và Đào tạo Việt Nam ban hành một quy định tạm thời về quy chế trường cao đẳng cộng đồng, đặt nền tảng pháp lý cho sự ra đời của 9 trường cao đẳng cộng đồng đầu tiên trong khoảng thời gian từ năm 2001 đến 2005. Năm 2009, Hiệp hội Cao đẳng Cộng đồng Việt Nam (Vietnam Association of Community Colleges, viết tắt VACC) được thành lập. VACC hiện có 52 thành viên, bao gồm các trường đại học, trường cao đẳng, trường cao đẳng cộng đồng, trung tâm đào tạo, và những cơ sở khác. Tính đến năm 2012, Việt Nam có 13 trường cao đẳng cộng đồng trong cả nước.
==== Ngân sách, tuyển sinh, và chương trình đào tạo ====
Dù tỉnh có cấp một phần ngân sách nhưng phần lớn ngân sách của trường cao đẳng cộng đồng đến từ những nguồn khác: học phí của sinh viên, hợp đồng đào tạo với các doanh nghiệp, những khoản thu từ hoạt động nghiên cứu khoa học và dịch vụ, và tiền tài trợ của các tổ chức chính phủ và phi chính phủ. Do nhu cầu học tập quá cao, các trường cao đẳng cộng đồng của Việt Nam không thể nhận tất cả các sinh viên muốn vào học. Các trường này do đó tuyển chọn sinh viên dựa trên điểm thi của kỳ thi đại học và cao đẳng tổ chức trên toàn quốc, hoặc tự tổ chức kỳ thi tuyển sinh riêng. Chỉ tiêu tuyển sinh ở mỗi trường do Bộ Giáo dục và Đào tạo quy định.
Các trường cao đẳng cộng đồng có các chương trình cao đẳng hệ ba năm, chương trình giáo dục thường xuyên, chương trình đào tạo nghề và cấp chứng nhận. Việc học liên thông lên đại học cũng đã trở nên phổ biến trong những năm gần đây. Tuy vậy, cho đến nay chỉ có một vài trường đại học được phép nhận sinh viên học liên thông trong một vài chuyên ngành giới hạn, trong số này có Trường Đại học Cần Thơ, Trường Đại học Trà Vinh, Trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội, Trường Đại học Nha Trang, và Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Thành phố Hồ Chí Minh. Bộ Giáo dục và Đào tạo là cơ quan quyết định chuyên ngành nào được nhận sinh viên chuyển tiếp lên từ trường cao đẳng cộng đồng.
==== Những thách thức của các trường cao đẳng cộng đồng ====
Thiếu một khung pháp lý rõ ràng nhằm hướng dẫn và hỗ trợ các trường cao đẳng cộng đồng hoạt động và phát triển. Vì mô hình giáo dục này chỉ được tái du nhập gần đây nên chính phủ, sinh viên, và công chúng vẫn còn chưa tin tưởng lắm vào hiệu quả và chất lượng của mô hình này. Ngoài ra, ngân sách dành cho các trường cao đẳng cộng đồng cũng rất giới hạn.
Não trạng cho rằng các trường cao đẳng cộng đồng thấp kém hơn các trường đại học. Các bậc cha mẹ và các sinh viên thường không xem trường cao đẳng cộng đồng là lựa chọn đầu tiên. Một số sinh viên thi rớt đại học sẽ dành một năm để chuẩn bị thi lại, thay vì thi vào trường cao đẳng cộng đồng. Ngay cả những quan chức của chính quyền cũng mang não trạng này. Nhiều lãnh đạo của các tỉnh muốn có trường đại học thay vì trường cao đẳng cộng đồng, dù cho các doanh nghiệp địa phương cho rằng trường cao đẳng cộng đồng sẽ đáp ứng tốt nhu cầu phát triển nhân lực địa phương. Kết quả là một số trường cao đẳng cộng đồng đã được chuyển đổi và nâng cấp thành trường đại học.
Thiếu giảng viên giỏi. Các trường cao đẳng cộng đồng thường nằm ở những vùng nông thôn, do đó khó thu hút nhiều giảng viên có khả năng. Đây cũng là thách thức chung của giáo dục đại học Việt Nam.
Sự quản lý tập trung, chẳng hạn thông qua Bộ Giáo dục và Đào tạo, đang cản trở sự phát triển của các trường cao đẳng cộng đồng. Các cơ quan quản lý đều ở xa cộng đồng địa phương mà trường cao đẳng cộng đồng phục vụ, do đó không đáp ứng kịp thời những điều kiện thay đổi nhanh chóng ở địa phương. Chính quyền trung ương có xu hướng muốn giáo dục đại học có sự đồng dạng để dễ quản lý, nhưng điều này làm cản trở khả năng điều chỉnh của trường cao đẳng cộng đồng nhằm đáp ứng những điều kiện ở địa phương.
Việc chuyển tín chỉ từ trường cao đẳng cộng đồng lên trường đại học gặp nhiều khó khăn vì thiếu những thỏa thuận rõ ràng và vì những khác biệt trong yêu yêu cầu tuyển sinh của hai loại cơ sở giáo dục này. Bộ Giáo dục và Đào tạo không mặn mà với việc chuyển tín chỉ vì nhiều lý do, trong đó có việc thiếu hiểu biết về mô hình trường cao đẳng cộng đồng, quan ngại về chất lượng sinh viên tốt nghiệp từ trường cao đẳng cộng đồng, và sợ rằng danh tiếng của các trường đại học sẽ bị ảnh hưởng nếu các trường cao đẳng cộng đồng không thành công. Bởi vì hầu hết các quan chức Bộ Giáo dục và Đào tạo trước đây được đào tạo theo mô hình giáo dục của Liên Xô, họ gặp khó khăn khi tìm hiểu mô hình community college. Sự thiếu hiểu biết này tiếp tục là rào cản đối với sự phát triển của các trường cao đẳng cộng đồng ở Việt Nam.
==== Danh sách các trường cao đẳng cộng đồng hiện nay ====
== Trường đại học cộng đồng ở một số nước khác ==
Úc không dùng thuật ngữ community college. Tương tự với community college là những trường đại học (college) hay viện giáo dục kỹ thuật và giáo dục thường xuyên (institute of technical and further education).
Ở Canada, thuật ngữ community college cũng ít được dùng. Nước này có 150 cơ sở giáo dục có thể tạm xem là tương đương với community college ở Hoa Kỳ ở một số khía cạnh nhất định. Các cơ sở này thường chỉ được gọi đơn giản là college.
== Chú thích ==
== Tham khảo ==
== Liên kết ngoài ==
Hiệp hội Cao đẳng Cộng đồng Việt Nam.
American Association of Community Colleges (Hiệp hội Trường Đại học Cộng đồng Hoa Kỳ). |
mã alt.txt | Trong các máy tính cá nhân sử sụng hệ điều hành Windows của Microsoft hay MS-DOS, những ký tự đặc biệt thích hợp với cách trình bày bàn phím kiểu QWERTY hiện nay có thể được gõ bằng cách kết hợp phím Alt và các phím số. Kỹ thuật này được gọi là mã Alt. Ví dụ:
* à = ALT + 133
* é = ALT + 130
* í = ALT + 161
* ó = ALT + 162
* á = ALT + 160
* ú = ALT + 163
* ü = ALT + 129
* ¡ = ALT + 173
* ¿ = ALT + 168
* ñ = ALT + 164
* Ñ = ALT + 165
* Á = ALT + 0193
* É = ALT + 0201
* Í = ALT + 0205
* Ó = ALT + 0211
* Ú = ALT + 0218
* Ü = ALT + 0220
* © = ALT + 0169
* ® = ALT + 0174
* ™ = ALT + 0153
v.v...
Các liên kết giữa phím số và phím chữ dựa vào các mã mặc định trước. Ở hệ điều hành Windows, việc thêm số 0 đứng đầu các số thường sử dụng mã ANSI hơn là mã OEM. Ở các hệ thống sử dụng trong Hoa Kỳ, bảng mã ANSI là mã Windows-1252 và bảng mã OEM là bảng mã 437. Hầu hết các hệ thống ở Tây Âu thì bảng mã OEM được dùng là bảng mã 850.
Nếu phím Num Lock không được kích hoạt, việc sử dụng mã Alt có thể gây nên các kết quả không mong muốn ở một số ứng dụng (ví dụ như Alt + 4 có tác dụng như Alt + [mũi tên trái] làm trình duyệt Web quay về trang vừa mới xem). Vì vậy, việc kích hoạt phím Num Lock là cần thiết cho việc sử dụng mã Alt.
== Tham khảo ==
== Liên kết ngoài ==
Mã Alt |
ubuntu mate.txt | Ubuntu MATE là một bản phân phối Linux phát sinh từ Ubuntu. Khác biệt chính giữa bản phân phối này so với Ubuntu là nó sử dụng môi trường desktop MATE làm giao diện đồ họa người dùng mặc định (dựa trên GNOME 2 vốn được sử dụng trên Ubuntu 11.04 về trước) thay cho Unity làm giao diện mặc định trên Ubuntu.
Dự án Ubuntu MATE được thành lập bởi Martin Wimpress và Alan Pope và bắt đầu như là một phái sinh không chính thức của Ubuntu, sử dụng Ubuntu 14.10 làm nền tảng cho bản phát hành đầu tiên; một bản phát hành ngay sau 14.04 LTS một thời gian ngắn. Đến tháng 2/2015, Ubuntu MATE nhận được hỗ trợ chính thức của Canonical Ltd. từ bản phát hành 15.04 Beta 1. Ngoài IA-32 và x86-64 là những nền tảng hỗ trợ ban đầu, Ubuntu MATE cũng hỗ trợ cho các nền tảng PowerPC và ARMv7 (trên Raspberry Pi 2 và 3).
Vào tháng 4 năm 2015, Ubuntu MATE tuyên bố hợp tác với hãng phân phối máy tính Anh Quốc Entroware, cho phép khách hàng của Entroware có thể mua desktop và laptop cà sẵn Ubuntu MATE với các hỗ trợ đầy đủ. Một số giao dịch phần cứng khác đã được công bố sau đó..
== Phát hành ==
== Xem thêm ==
GTK+
Linux Mint
MATE
Ubuntu GNOME
Ubuntu Unity
Xubuntu
== Chú thích ==
== Liên kết ngoài ==
Website chính thức
Ubuntu MATE trên DistroWatch |
nagel-séez-mesnil.txt | Nagel-Séez-Mesnil là một xã thuộc tỉnh Eure trong vùng Haute-Normandie miền bắc nước Pháp.
== Xem thêm ==
Xã của tỉnh Eure
== Tham khảo == |
bộ ngoại giao.txt | Bộ ngoại giao là một bộ trong chính phủ. Bộ này đảm nhiệm công việc đối ngoại của chính phủ. Tuy vậy hoạt động của bộ ngoại giao trên thế giới hiện nay thường kèm theo việc phát triển ngoại thương, xúc tiến thương mại.
Trong hệ thống các cơ quan của quan hệ giao tiếp đối ngoại đại diện cho nhà nước trong công việc đối ngoại và quàn lý về mọi mặt các công việc đó bộ ngoại giao giữ một vị trí đặc biệt. Trên thực tế bộ ngoại giao là cơ quan thực hiện chính sách đối ngoại, đại diện cho nhà nước trên trường quốc tế, trong những cuộc tiếp xúc với các nhà nước khác và ngoại giao đoàn ở nước mình. Bộ ngoại giao cũng phối hợp sự hoạt động của các cơ quan làm công tác đối ngoại.
Bộ ngoại giao đảm nhiệm việc tổng kết và phân tích mọi thông tin về tình hình quốc tế, thảo ra các đề nghị liên quan những vấn đề về chính sách đối ngoại.
Nhằm mục đích này, bộ ngoại giao thường xuyên tiếp xúc với các đại sứ quán và lãnh sự quán của nước mình ở nước ngoài, quản lý hoạt động của các cơ quan đó, thực hiện liên hệ với các cơ quan đại diện ngoại giao của nước ngoài.
== Bộ trưởng bộ ngoại giao ==
Người đứng đầu bộ ngoại giao được gọi là bộ trưởng bộ ngoại giao, hay còn được gọi là ngoại trưởng (foreign minister). Đây là một thành viên chính phủ có nhiệm vụ trợ giúp hình thành chính sách đối ngoại của một quốc gia có chủ quyền. Trong một chính phủ liên hiệp, phó thủ tướng thường cũng kiêm bộ trưởng bộ ngoại giao.
Tùy thuộc từng nước mà quyền lực của vị ngoại trưởng có thể khác nhau. Trong một thể chế đại nghị cổ điển, bộ trưởng bộ ngoại giao có thể tạo ảnh hưởng đáng kể trong sự hình thành chính sách đối ngoại, tuy nhiên nếu thủ tướng chính phủ nắm nhiều quyền lực thì quyền lực của bộ trưởng bộ ngoại giao bị giới hạn hơn hoặc chỉ đóng vai trò phụ trong việc xây dựng chính sách đối ngoại. Trong thể chế tổng thống với nhánh hành pháp mạnh, quyền lực của ngoại trưởng cũng bị giới hạn nhiều. Không ít quốc gia kể từ sau Chiến tranh thế giới thứ hai đã đưa bộ trưởng bộ ngoại giao và bộ trưởng bộ quốc phòng thành bộ phận của một cơ quan trong nội các gọi là hội đồng an ninh quốc gia nhằm phối hợp chính sách đối ngoại và quốc phòng.
Tên gọi dành cho chức danh bộ trưởng bộ ngoại giao khá đa dạng: "bộ trưởng bộ ngoại giao" (minister of foreign relations, chẳng hạn ở Brasil và Liên Xô cũ; hoặc minister of foreign affairs, chẳng hạn ở Việt Nam), "bộ trưởng bộ ngoại vụ" (minister of external affairs, chẳng hạn ở Ấn Độ). Ở nhiều nước nói tiếng Tây Ban Nha thuộc khu vực Mỹ Latinh, canciller là tên gọi thông tục của chức danh này. Một số quốc gia còn có chức danh quốc vụ khanh (secretary of state) với cấp bậc tương đương hoặc thấp hơn bộ trưởng trong chính phủ, thường được bổ nhiệm trong trường hợp thay thế bộ trưởng Bộ Ngoại giao để tiến hành các hoạt động đối ngoại.
Tại Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland thời gian trước năm 1968, Quốc vụ khanh Ngoại giao chỉ xử lý các mối quan hệ với nước ngoài (những nước nằm ngoài Khối Thịnh vượng chung Anh), trong khi Quốc vụ khanh Các vấn đề khối thịnh vượng chung mới là người xử lý quan hệ với các thuộc địa và quốc gia trong khối. Hiện nay, vị bộ trưởng phụ trách chính sách đối ngoại và lãnh thổ hải ngoại thuộc Anh được gọi là Quốc vụ khanh Các vấn đề đối ngoại và khối thịnh vượng chung (Secretary of State for Foreign and Commonwealth Affairs).
Tại Hoa Kỳ, Bộ trưởng Ngoại giao Hoa Kỳ xử lý chính sách đối ngoại và là thành viên cao cấp của Nội các Hoa Kỳ. Trong tiếng Anh, chức danh Bộ trưởng Ngoại giao Hoa Kỳ được viết là United States Secretary of State, dịch sát là "Quốc vụ khanh Hoa Kỳ".
== Xem thêm ==
Quốc vụ khanh
== Tham khảo == |
diễn đàn quần đảo thái bình dương.txt | Diễn đàn Quần đảo Thái Bình Dương (tiếng Anh: Pacific Islands Forum, PIF) là một tổ chức liên chính phủ nhằm mục đích tăng cường sự hợp tác giữa các quốc gia độc lập tại Thái Bình Dương. Tổ chức này được thành lập năm 1971 với tên gọi sơ khởi là Diễn đàn Nam Thái Bình Dương (tiếng Anh: South Pacific Forum), tên gọi như hiện nay khởi nguồn từ năm 1999.
== Lịch sử ==
== Thành viên ==
Đài Loan assists in the development of members in the forum, and holds an annual dialogue conference with members of the forum. Participation has been limited however, due to Trung Quốc being an official dialogue partner.
== Tổng thư ký ==
The Secretary General of the Pacific Islands Forum Secretariat is appointed to a three-year term by the leaders of the member states. The Secretary General reports directly to the national leaders and the Forum Officials' Committee (FOC). The Secretary General also automatically serves as the permanent chairman of the Council of Regional Organisations in the Pacific (CROP).
Tuiloma Neroni Slade (Samoa) ngày 13 tháng 10 năm 2008 - present
Feleti Teo (Tuvalu) (acting) ngày 2 tháng 5 năm 2008 - ngày 13 tháng 10 năm 2008
Greg Urwin (Australia) ngày 16 tháng 5 năm 2004 – ngày 2 tháng 5 năm 2008 (resigned)
Noel Levi (Papua New Guinea) February 1998 – ngày 16 tháng 5 năm 2004
Ieremia Tabai (Kiribati) January 1992 – January 1998
Henry Naisali (Tuvalu) September 1988 – January 1992
Directors of the South Pacific Bureau for Economic Co-operation
Henry Naisali (Tuvalu) January 1986 – September 1988
Mahe Tupouniua (Tonga) January 1983 – January 1986
John Sheppard (Australia) (acting) 1982 – January 1983
Gabriel Gris (Papua New Guinea) 1980–1982 (died in office)
Mahe Tupouniua (Tonga) November 1972 – 1980
== Tổ chức ==
== Các hiệp định ==
== Hoạt động gần đây ==
== Triển vọng ==
== Xem thêm ==
Liên minh Thái Bình Dương
Diễn đàn Hợp tác Kinh tế châu Á - Thái Bình Dương
Cộng đồng Caribe
Liên minh châu Phi
Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á
Cộng đồng các Quốc gia Độc lập
Liên minh châu Âu
Hiệp hội Hội nhập Mỹ Latinh
Hiệp định Thương mại Tự do Bắc Mỹ
Liên minh các Quốc gia Nam Mỹ
Mercosur
== Tham khảo ==
== Liên kết ngoài ==
Pacific Islands Forum Secretariat
"Backgrounder: Pacific Islands Forum", Xinhua, ngày 18 tháng 8 năm 2008
Articles on Pacific Islands Agricultural Trade at Agritrade |
oecetis sunyani.txt | Oecetis sunyani là một loài Trichoptera trong họ Leptoceridae. Chúng phân bố ở vùng nhiệt đới châu Phi.
== Tham khảo == |
cộng hòa lập hiến.txt | Một cộng hòa lập hiến là một quốc gia có người đứng đầu quốc gia và các viên chức chính phủ khác được bầu lên với vai trò là các đại diện của người dân, và phải điều hành đất nước theo luật hiến pháp hiện hành mà giới hạn quyền lực của chính phủ đối với công dân. Trong một cộng hòa lập hiến, các quyền hành pháp, lập pháp, và tư pháp là ba ngành riêng biệt và ý nguyện của đa số người dân bị giảm chế để bảo vệ những quyền cá nhân, có nghĩa là không có nhóm người nào hay cá nhân nào có quyền hạn tuyệt đối. Sự thật là một hiến pháp tồn tại và giới hạn quyền của chính phủ đã làm cho nhà nước trở thành hiến định. Là rằng người đứng đầu quốc gia và các quan chức chính phủ được chọn qua bầu cử, hơn là thừa kế vị trí của họ, và rằng những quyết định của họ phải chịu bị ngành tư pháp kiểm soát làm cho quốc gia trở thành một cộng hòa. Đây là chính thể tại Hoa Kỳ.
== Khái niệm ==
Khái niệm về cộng hòa lập hiến bắt nguồn từ công trình triết học "Chính trị" của Aristotle và khái niệm của ông về một chính thể khả dĩ thứ năm gọi là "polity". Ông đối chiếu "polity" của chính thể cộng hòa với chính trị dân chủ và quả đầu chế trong sách số 3, chương thứ sáu của tác phẩm "Chính trị".
Quả đầu chế (Oligarchies) chuộng các thành viên giàu có của xã hội và có vai trò trong các vị trí lãnh đạo được bầu. Chính trị dân chủ chuộng các thành viên trung lưu và nghèo khó mà thường thường chiếm đa số, và có vai trò như các đại hội đồng lập pháp mở rộng cho tất cả các công dân trong tuổi bầu cử. Aristotle nghĩ rằng nếu được quan tâm và sử dụng đúng thì hình thức chính phủ "polity" sẽ là chính phủ lý tưởng nhất như có thể vì nó có thể nhận ý kiến từ các thành viên cộng đồng thuộc mọi tầng lớp và cai trị công bằng theo lợi ích của toàn cộng đồng chớ không phải chỉ riêng cho nhóm đa số.
"Polity", theo nghĩa diễn tả thông thường, có thể ám chỉ đến hệ thống tổ chức chính trị được một nhóm người đặc biệt nào đó sử dụng, ví dụ như một bộ lạc, một quốc gia thành phố, một đế quốc, một tập đoàn,... Trong nghĩa thứ hai đặc biệt hơn của Aristotle về từ này là ông viễn tượng một "polity" mà trong đó có sự kết hợp những điều theo ông nghĩ là các đặc điểm tốt nhất của cả quả đầu chế (cai trị bởi người giàu có) và chính trị dân chủ (cai trị bởi người nghèo). Chính phủ theo hình thức "polity" này sẽ được nhiều người quản trị mà có lợi ích nhất như có thể cho toàn thể mọi người.
Các cộng hòa lập hiến là một nỗ lực có chủ ý nhằm giảm bớt mối họa đa số thống trị, cho nên có thể bảo vệ được các cá nhân bất đồng và những nhóm thiểu số khỏi họa chuyên chế của nhóm đa số bằng cách áp đặt kiểm soát trên quyền lực của nhóm đa số. Quyền lực của nhóm đa số bị kiểm soát qua việc giới hạn quyền lực của nó bằng cách bầu lên những đại diện cầm quyền trong giới hạn của luật hiến định bao quát hơn là qua bầu cử để có được quyền tự lập nên pháp luật. John Adams định nghĩa một cộng hòa lập hiến là "một chính phủ với luật pháp, và không phải là chính phủ với những con người." Cũng như vậy, quyền lực của các quan chức chính phủ bị kiểm soát bằng cách không để một cá nhân nào giữ hết các quyền hành pháp, lập pháp và tư pháp. Thay vào đó, các quyền lực này được phân chia thành các ngành riêng biệt mà phục vụ như là một hệ thống kiểm soát và quân bình đối trọng với nhau. Một cộng hòa lập hiến được tạo hình để "không một ai hay nhóm nào [có thể] vượt lên giữ quyền tuyệt đối."
Một cộng hòa lập hiến là một hình thức dân chủ tự do, nhưng không phải tất cả những nền dân chủ tự do đều là cộng hòa lập pháp. Ví dụ, mặc dù người đứng đầu quốc gia không được bầu lên trong một chế độ quân chủ, nó vẫn có thể là một chế độ dân chủ tự do nếu có một quốc hội với những dân biểu được bầu lên điều hành quốc gia theo luật hiến định bảo vệ những quyền cá nhân (được gọi là một nền quân chủ dân chủ lập hiến). Cũng như vậy, một nền dân chủ đại nghị có thể là hoặc không thể là một cộng hòa lập hiến. Ví dụ, "Hoa Kỳ dựa vào nền dân chủ đại nghị, nhưng hệ thống chính phủ của Hoa Kỳ thì phức tạp hơn nhiều. Hoa Kỳ không phải là một nền dân chủ đại nghị đơn giản, mà là một cộng hòa lập hiến mà trong đó khối đa số cầm quyền bị chi phối bởi các quyền của thiểu số được luật pháp bảo vệ."
== Lịch sử ==
Cộng hòa lập hiến được chủ trương đầu tiên trong thế kỷ 18 và thế kỷ 19 bởi những người theo chủ nghĩa tự do vào lúc đó bị vây trong cuộc xung đột ý thức hệ và chính trị chống những người theo chủ nghĩa bảo thủ hoàng gia truyền thống. Từ đầu thế kỷ 20, cộng hòa lập hiến đã nhập vào dòng trào lưu chính trị và đã nhận được sự ủng hộ của nhiều ý thức hệ khác ngoài chủ nghĩa tự do. Tranh cãi chính trị về vấn đề chủ nghĩa cộng hòa lập hiến phần lớn không sôi động.
Hoa Kỳ là một trong những cộng hòa lập hiến xưa nhất trên thế giới. Theo James Woodburn, trong The American Republic and Its Government (Cộng hòa Mỹ và chính phủ của nó), "cộng hòa lập hiến với những giới hạn áp đặt trên chính phủ toàn dân rõ ràng là có dính líu với Hiến pháp như thấy được trong việc bầu cử Tổng thống, bầu cử Thượng viện và bổ nhiệm Tối cao Pháp viện." Có nghĩa là khả năng của người dân chọn các quan chức trong chính phủ bị kiểm soát bằng cách không cho họ bầu lên các Thẩm phán của Tối cao Pháp viện. Woodburn nói rằng trong một nền cộng hòa, nên phân biệt với một nền dân chủ, người dân không chỉ bị kiểm soát trong việc chọn lựa các quan chức mà còn trong việc làm luật. Luật nhân quyền tồn tại trong Hiến pháp Hoa kỳ là để bảo vệ một số quyền cá nhân nào đó. Những quyền cá nhân được liệt kê trong Luật nhân quyền không thể nào bị đa số công dân bỏ phiếu xóa bỏ nếu họ muốn đàn áp nhóm thiểu số không đồng ý với những giới hạn về quyền tự do mà nhóm đa số muốn áp đặt. Để xóa bỏ những quyền này phải cần có các quan chức chính phủ khắc phục được những kiểm soát của hiến pháp cũng như sự biểu quyết đồng thuận của 2 phần 3 đa số ở Quốc hội và phải được thông qua bởi ba phần tư số tiểu bang để tu chính Hiến pháp.
== Ủng hộ ==
Alexander Tsesis, trong "The Thirteenth Amendment and American Freedom: A Legal History" (Tu chính án 13 và sự tự do Mỹ: một lịch sử pháp lý) nói, theo ông, một cộng hòa lập hiến có nghĩa là "một polity đại nghị được thiết lập trên luật cơ bản, mỗi người có quyền theo đuổi và hoàn thành mộng tưởng khiêm nhường của mình về cuộc sống tốt đẹp. Trong một xã hội như thế, cái tốt chung là kết quả tích lũy gồm những cá nhân tự do và công bằng đang đeo đuổi những mục tiêu đầy ý nghĩa."
== Chỉ trích ==
Karl Marx cho rằng một cộng hòa lập hiến là một khung sườn pháp lý che chở cho cái mà ông xem như là "sự bóc lột của chủ nghĩa tư bản." Ông nói: "Tất cả các nhà kinh tế tư sản đều biết là sản xuất có thể được tiến hành tốt dưới tay cảnh sát hiện đại hơn, ví dụ, trên nguyên tắc kẻ mạnh làm đúng. Họ chỉ quên rằng nguyên tắc này cũng là một mối quan hệ pháp lý, và rằng quyền của kẻ mạnh hơn cũng sẽ thắng thế trong những cộng hòa lập hiến của họ, chỉ là trong một hình thức khác."
== Tham khảo == |
stigmella kurilensis.txt | Stigmella kurilensis là một loài bướm đêm thuộc họ Nepticulidae. Nó là loài duy nhất được tìm thấy ở Hokkaido (Japan) và Kunashiri Island (southern Kurils). Con trưởng thành bay vào early tháng 6 và tháng 8. There are probably two generations per year.
The host plant is unknown.
== Tham khảo ==
== Liên kết ngoài ==
Redescription of Stigmella kudensis PupIesis (Lepidoptera, Nepticulidae), found on Hokkaido |
danh sách vô địch đơn nam giải quần vợt roland-garros.txt |
== Chú thích ==
Các giải đấu trước năm 1924 chỉ dành cho các tay vợt người Pháp hoặc thành viên các CLB Pháp.
== Xem thêm ==
Giải quần vợt Pháp Mở rộng
Danh sách vô địch đơn nữ Pháp Mở rộng
Danh sách vô địch đôi nam Pháp Mở rộng
Danh sách vô địch đôi nữ Pháp Mở rộng
Danh sách vô địch đôi nam nữ Pháp Mở rộng |
samsung c&t corporation.txt | Samsung C&T Corporation (C&T = Construction & Trading) (trước đây là Samsung Corporation) (Tiếng Hàn: 삼성물산), thành lập năm 1938, ban đầu là công ty của Samsung Group và hiện nay bao gồm cả Tập đoàn kỹ thuật & xây dựng và Tập đoàn thương mại & đầu tư. Công ty đổi tên từ Samsung Corporation sang Samsung C&T Corporation vào năm 2007. Samsung Group là tập đoàn lớn nhất Hàn Quốc có lợi ích trong xây dựng, điện tử, hóa học, tài chính và một số ngành khác.
== Tập đoàn kỹ thuật & xây dựng ==
Nhà cao tầng
Petronas Twin Towers ở Malaysia cao 452 mét (88 tầng) và được công nhận là tòa nhà cao thứ 4 trên thế giới. Taipei 101 ở Đài Loan cao 508 mét (101 tầng) và cao thứ 3 trên thế giới. Burj Khalifa ở Dubai cao 828 mét (162 tầng) và là tòa nhà cao nhất thế giới. Samsung C&T xây Tower 2 của tháp Petronas (cái thứ nhất đã hoàn thành) cũng như Taipei 101 và Burj Khalifa, ba trong bốn tòa nhà cao nhất thế giới.
Nhà máy công nghiệp & nhà máy điện
Shuweihat S2 IWPP ở Abu Dhabi, Singapore LNG Terminal 2nd Berth, Qurayyah IPP ở Saudi Arabia
Hiện tại, tòa nhà Baraka nhà máy điện hạy nhân ở UAE.
Cơ sở hạ tầng
Samsung C&T xây dưng Cầu Yeongjong, cầu treo ba chiều tự neo đầu tiên trên thế giới, như Cầu Incheon Grand, cây cầu văng dài thứ năm trên thế giới.
Nhà ở
Căn hộ Raemian, giải thưởng Chỉ số khách hàng hài lòng quốc gia (NCSI) trong vòng 14 năm liền
== Tập đoàn thương mại & đầu tư ==
Năng lượng & môi trường - sản xuất điện, năng lượng sinh học
Tài nguyên thiên nhiên - Dàu/Ga, than, kim loại & khoáng sản
Vật liệu công nghiệp - thép, hóa chất, điện tử, dệt may
== Xem thêm ==
Samsung Group
== Ghi chú và tham khảo ==
== Liên kết ==
Samsung C&T Corporation - Trang chủ chính thức
Construction&Engineering Group - Trang chủ chính thức
Samsung C&T, E&C Americas - Trang chủ chính thức
Trading & Investment Group - Trang chủ chính thức
Raemian (tiếng Hàn)
Yahoo Finance |
hình học.txt | Hình học là một phân nhánh của toán học liên quan đến các câu hỏi về hình dạng, kích thước, vị trí tương đối của các hình khối, và các tính chất của không gian. Hình học phát triển độc lập trong một số nền văn hóa cổ đại như một phần của kiến thức thực tiễn liên quan đến chiều dài, diện tích, và thể tích, với một phần các yếu tố của khoa học Toán học đến từ phương Tây như các định lý của Thales (thế kỷ 6 TCN). Đến thế kỷ thứ 3 TCN, hình học đã được Euclid hệ thống hóa dưới một hình thức tiên đề mang tên ông, —Hình học Euclid—đã trở thành chuẩn mực cho nhiều thế kỷ sau đó. Archimedes phát triển các kỹ thuật rất khéo léo để tính diện tích và khối lượng, theo một cách nào đó đã áp dụng phép tính tích phân. Thiên văn học khi tính toán vị trí của các ngôi sao và hành tinh trên bản đồ thiên cầu và mô tả mối quan hệ giữa chuyển động của các thiên thể, đã trở thành một nguồn quan trọng cung cấp các bài toán hình học trong suốt 1500 năm tiếp theo. Trong thế giới cổ điển, cả hình học và thiên văn học đã được coi là một phần của quadrivium, một tập hợp con của bảy môn giáo dục khai phóng cần thiết cho mọi công dân phải nắm vững.
Việc giới thiệu hệ tọa độ của René Descartes và sự phát triển đồng thời của đại số đánh dấu một giai đoạn phát triển mới cho hình học, kể từ khi các hình hình học như các đường cong phẳng không thể được mô tả bằng giải tích theo dạng phương trình và hàm. Điều này đóng một vai trò quan trọng trong sự xuất hiện của vi tích phân vào thế kỷ 17. Sau đó, lý thuyết của phối cảnh cho thấy rằng có nhiều yếu tố hình học hơn là chỉ các thuộc tính số liệu của các hình vẽ: phối cảnh đã trở thành nguồn gốc của hình học projective. Các đối tượng nghiên cứu của hình học đã được tiếp tục mở rộng bằng việc nghiên cứu các cấu trúc nội tại của các đối tượng hình học của Euler và Gauss, điều này dẫn đến việc tạo ra các nhánh tô pô học và hình học vi phân.
Trong thời của Euclid, không sự phân biệt rõ ràng giữa không gian vật lý và không gian hình học. Kể từ khi phát hiện hình học phi Euclid vào thế kỷ 19, các khái niệm về không gian đã trải qua một sự thay đổi cơ bản và nêu lên câu hỏi: không gian hình học nào là thích hợp nhất với không gian vật lý. Với sự phát triển của toán học lý thuyết trong thế kỷ 20, 'không gian' (cho dù là 'điểm', 'đường', hoặc 'mặt phẳng') bị mất nội dung trực quan của nó, vì vậy người đọc phải phân biệt giữa không gian vật lý và không gian hình học (trong đó 'không gian', 'điểm', v.v... vẫn còn có ý nghĩa trực quan) và không gian trừu tượng. Hình học hiện đại xem xét không gian đa tạp - không gian có mức độ trừu tượng đáng kể hơn so với không gian Euclid quen thuộc. Những không gian trên có thể có sẵn các cấu trúc bổ sung nhằm cho phép đo chiều dài. Hình học hiện đại có nhiều mối quan hệ với vật lý như được minh họa bằng các liên kết giữa hình học giả Riemann và thuyết tương đối rộng. Một trong những lý thuyết vật lý mới nhất, lý thuyết dây, cũng rất gần gũi với hình học.
Trong khi bản chất thị giác của hình học làm cho nó dễ dàng tiếp cận hơn so với các môn toán học khác như đại số hay lý thuyết số, ngôn ngữ hình học cũng được sử dụng trong bối cảnh xa rời truyền thống nguồn gốc Euclide của nó (ví dụ như trong hình học fractal và hình học đại số).
== Tổng quan ==
Sự phát triển của hình học ghi nhận được kéo dài hơn hai thiên niên kỷ. Bởi vậy, nhận thức hình học luôn tiến hóa dần qua các thời đại:
=== Hình học thực tiễn ===
Hình học có nguồn gốc là một khoa học thực tiễn liên quan đến khảo sát, đo đạc, diện tích, và khối lượng. Những thành tích đáng chú ý nhất trong giai đoạn đầu của hình học bao gồm các công thức về độ dài, diện tích và thể tích, như là định lý Pytago, chu vi hình tròn và diện tích hình tròn, diện tích tam giác, thể tích của hình trụ tròn, hình cầu và hình chóp. Một phương pháp tính toán các khoảng cách và chiều cao không thể tiếp cận dựa trên sự đồng dạng về hình học là định lý Thales. Sự phát triển của thiên văn học dẫn đến sự ra đời của lượng giác phẳng và lượng giác cầu, cùng với các kỹ thuật tính toán.
=== Hình học tiên đề ===
Euclid sử dụng một phương pháp trừu tượng hơn trong tác phẩm Cơ sở của ông, một trong những tác phẩm có sức ảnh hưởng lớn nhất của nhân loại. Ông đã giới thiệu các tiên đề nhất định, thể hiện tính chất cơ bản hoặc hiển nhiên đúng của điểm, đường thẳng, và mặt phẳng. Ông tiến hành suy luận một cách chặt chẽ để rút ra các định lý khác bằng cách lý luận toán học. Tính năng đặc trưng của phương pháp tiếp cận của hình học Euclid là sự chặt chẽ của nó, và nó đã được biết đến như hình học tiên đề hoặc hình học tổng hợp. Vào đầu thế kỷ 19, việc khám phá hình học phi Euclid của Nikolai Ivanovich Lobachevsky (1792–1856), János Bolyai (1802–1860), Carl Friedrich Gauss (1777–1855) và những người khác dẫn đến một sự quan tâm trở lại trong phương pháp tiếp cận này, và trong thế kỷ 20, David Hilbert (1862–1943) đã áp dụng lý luận tiên đề nhằm cung cấp một nền tảng hiện đại của hình học.
=== Các số trong hình học ===
Trong thời Hy Lạp cổ đại trường phái Pytago đã đánh giá vai trò của các số trong hình học. Tuy nhiên, việc phát hiện chiều dài vô tỉ, vốn mâu thuẫn với quan điểm triết học của họ, làm cho họ từ bỏ con số trừu tượng và chuyển sang sử dụng tham số hình học cụ thể, chẳng hạn như độ dài và diện tích các hình. Các số đã được giới thiệu trở lại trong hình học dưới hình thức hệ tọa độ của Descartes, người đã nhận ra rằng việc nghiên cứu các hình dạng hình học có thể được hỗ trợ bằng các diễn đạt đại số của chúng, và hệ tọa độ Descartes đã được đặt theo tên ông. Hình học giải tích ứng dụng các phương pháp của đại số để giải quyết các bài toán hình học, bằng cách liên hệ các đường cong hình học với các phương trình đại số. Những ý tưởng này đóng một vai trò quan trọng trong sự phát triển của vi phân và tích phân trong thế kỷ 17 và đã dẫn đến việc phát hiện ra nhiều đặc tính mới của đường cong phẳng. Hình học đại số hiện đại xem xét những câu hỏi tương tự như trên ở một mức độ trừu tượng cao hơn.
=== Hình học vị trí ===
Ngay trong thời cổ đại, các nhà toán học đã giải các bài toán về vị trí tương đối hoặc mối quan hệ không gian của các hình hình học. Một số ví dụ được đưa ra bởi các đường tròn nội ngoại tiếp của đa giác, đường giao nhau và tiếp tuyến với đường conic,các cấu hình Pappus và Menelaus của các điểm và đường. Trong thời Trung cổ, những bài toán mới và phức tạp hơn được đặt ra: số lượng tối đa của hình cầu, đồng thời tiếp xúc với một hình cầu nhất định mà có cùng một bán kính? Việc lèn chặt hàng loạt hình cầu kích thước bằng nhau trong không gian sẽ tạo ra cái gì? Hầu hết các câu hỏi liên quan đến các khối hình học 'cố định', chẳng hạn như các đường hoặc mặt cầu. Hình học projective, tổ hợp lồi, và hình học rời rạc là ba phân nhánh trong hình học ngày nay để xử lý các bài toán trên.
Leonhard Euler, trong khi nghiên cứu bài toán bảy cây cầu ở Königsberg, đã xem xét các thuộc tính cơ bản nhất của hình học chỉ dựa vào hình dạng, độc lập với các thuộc tính số liệu của chúng. Euler gọi chi nhánh mới này của hình học là geometria situs (hình học vị trí), nhưng hiện nay nó được biết đến với tên là tô pô học. Tô pô học phát triển từ hình học, nhưng biến thành một ngành độc lập lớn. Nó không quan tâm đến sự khác biệt giữa đối tượng có thể liên tục bị biến dạng thành các hình khác nhau. Các đối tượng có thể vẫn giữ lại một số tính chất hình học, như trong trường hợp của nút thắt hyperbol.
=== Dựng hình ===
Hình học cổ điển đặc biệt quan tâm đến việc dựng một hình hình học đã được mô tả trong một số cách khác. Hình học cổ điển chỉ cho phép dựng hình sử dụng compa và thước kẻ. Ngoài ra, mỗi bài dựng hình phải được hoàn thành trong một số hữu hạn các bước. Tuy nhiên, một số bài dựng hình khó hoặc không thể giải quyết chỉ bằng các phương tiện này, và các phép dựng hình sử dụng parabol và đường cong khác, cũng như các thiết bị cơ khí, đã được áp dụng.
=== Hình học hậu Euclid ===
Trong gần hai ngàn năm kể từ Euclid, trong khi phạm vi của các bài toán hình học đã được mở rộng rõ rệt, sự hiểu biết cơ bản về không gian vẫn là giống nhau. Immanuel Kant tranh luận rằng chỉ có một hình học tuyệt đối mà được tâm trí cho là đúng (a priori): hình học Euclid là sự tổng hợp và phát triển của cái được cho là đúng. Tư tưởng thống trịnày đã bị lật đổ bởi khám phá mang tính cách mạng của hình học phi Euclid với công trình nghiên cứu của Bolyai, Lobachevsky, và Gauss (Gauss không bao giờ công bố nghiên cứu này của ông). Ba nhà toán học trên đã chứng minh không gian Euclid chỉ là một khả năng cho sự phát triển của hình học. Một tầm nhìn rộng lớn hơn của hình học sau đó đã được Riemann phân tích trong bài giảng năm 1867 khi nhậm chức Über die Hypothesen, welche der Geometrie zu Grunde liegen (Bàn về các giả thuyết mà hình học dựa vào) Bài luận này chỉ được xuất bản sau khi ông chết. Ý tưởng mới của Riemann về không gian tỏ ra rất quan trọng trong thuyết tương đối rộng của Einstein và hình học Riemann. Hình học Riemann xem xét không gian theo một cách rất chung chung, trong đó các khái niệm về chiều dài được định nghĩa. Đây là một hướng đi chính của hình học hiện đại.
=== Chiều không gian ===
Trong hình học cổ điển cho phép số chiều không gian là 1 (đường thẳng), 2 (mặt phẳng) và 3 (thế giới chúng ta đang sống được coi là không gian ba chiều), các nhà toán học đã sử dụng các chiều cao hơn trong hơn hai thế kỷ qua. Số chiều đã trải qua các giai đoạn là bất kỳ số tự nhiên n, có thể là vô hạn với sự ra đời của không gian Hilbert, và bất kỳ số thực dương nào trong hình học fractal. Lý thuyết về chiều là một lĩnh vực kỹ thuật, ban đầu nằm trong tô pô học nói chung, thảo luận về các định nghĩa; cùng với hầu hết các ý tưởng toán học, khái niệm chiều hiện nay được định nghĩa chứ không còn là cảm nhận trực giác. Kết nối đa tạp topo có số chiều được xác định rõ; đây là một định lý (bất biến của miền xác định) thay vì cái gì đó tự được coi là đúng.
Các vấn đề về chiều vẫn rất quan trọng đối với hình học, khi mà không có câu trả lời đầy đủ cho các bài toán cổ điển. Kích thước 3 của không gian và 4 của không-thời gian là các trường hợp đặc biệt trong tô pô hình học. Chiều 10 và 11 là con số quan trọng trong lý thuyết dây. Nghiên cứu có thể mang lại một lý do hình học thỏa đáng cho ý nghĩa của chiều 10 và 11.
=== Tính đối xứng ===
Mô hình đối xứng trong hình học có lịch sử lâu đời cũng gần như chính hình học. Các hình hình học như đường tròn, đa giác đều và các khối đa diện đều Platon có ý nghĩa sâu sắc đối với nhiều nhà triết học cổ đại và chúng đã được nghiên cứu chi tiết trước thời của Euclid. Mô hình đối xứng xảy ra trong tự nhiên và đã được mô phỏng nghệ thuật trong vô số các hình thức, bao gồm cả đồ họa của M. C. Escher. Tuy nhiên, chỉ đến nửa sau của thế kỷ 19, các vai trò thống nhất của tính đối xứng trong nền tảng của hình học mới được công nhận. Chương trình Erlangen của Felix Klein tuyên bố rằng, trong một ý nghĩa rất chính xác, đối xứng, thể hiện qua các khái niệm về một sự biến đổi nhóm, cho thấy hình học là gì. Sự đối xứng trong hình học Euclid cổ điển được thể hiện qua tính tương đẳng và chuyển động cứng nhắc, trong khi trong hình học projective một vai trò tương tự được thực hiện bởi collineation, biến đổi hình học chuyển đường thẳng thành đường thẳng. Tuy nhiên trong hình học mới của Bolyai và Lobachevsky, Riemann, Clifford và Klein, và Sophus Lie rằng ý tưởng Klein 'xác định một hình học thông qua nhóm đối xứng của nó' đã có ảnh hưởng lớn nhất. Cả hai đối xứng rời rạc và liên tục đóng vai trò nổi bật trong hình học: đối xứng rời rạc có ý nghĩa trong tô pô học và trong lý thuyết nhóm hình học, còn đối xứng liên tục có ý nghĩa trong thuyết Lie và hình học Riemann.
Một loại khác của tính đối xứng là nguyên tắc của tính hai mặt trong hình học projective. Hiện tượng meta này có thể được mô tả đại khái như sau: trong bất kỳ định lý nào, đổi điểm thành mặt phẳng, gặp thành cắt, nằm trong thành có chứa, và bạn sẽ có được một định lý mới cũng đúng. Một hình thức tương tự và có liên quan chặt chẽ của tính hai mặt tồn tại giữa một không gian vectơ và không gian hai mặt của nó.
== Lịch sử ==
Khởi đầu sớm nhất được ghi nhận của bộ môn hình học có thể được truy nguồn từ các nền văn minh cổ đại Lưỡng Hà và Ai Cập vào thiên niên kỷ thứ 2 TCN. Hình học sơ khai là một tập hợp các nguyên tắc thực nghiệm được phát minh liên quan đến độ dài, góc, diện tích, và khối lượng. Chúng được phát triển để đáp ứng một số nhu cầu thực tế trong khảo sát, xây dựng, thiên văn học và hàng loạt ngành nghề khác. Các sách vở sớm nhất được biết đến về hình học là giấy cói Rhind (2000–1800 TCN) ở Ai Cập và giấy cói Moscow (khoảng 1890 TCN), các sách đất sét Babylon như "Plimpton 322" (1900 TCN). Ví dụ, giấy cói Moscow đưa ra một công thức tính thể tích của một hình chóp cụt. Các tấm đất sét sau đó (350–50 TCN) cho thấy các nhà thiên văn Babylon đã sử dụng hình thang để tính toán vị trí và li độ của sao Mộc trong không gian thời gian-vận tốc. Các phép tính hình học này đã đi trước các tính toán của Máy tính Oxford, bao gồm định lý tốc độ trung bình, những 14 thế kỷ. Người Nubia cổ đại ở Nam Ai Cập đã thành lập một hệ thống hình học bao gồm cả phiên bản sơ khai của đồng hồ mặt trời.
Trong thế kỷ thứ 7 TCN, nhà toán học Hy Lạp Thales của Miletus sử dụng hình học để giải quyết các vấn đề như tính toán chiều cao của kim tự tháp và khoảng cách của tàu đến bờ biển. Ông được cho là người đầu tiên sử dụng lập luận áp dụng vào hình học, bằng cách rút ra bốn hệ quả từ định lý Thales. Pytago thành lập Trường Pytago, được ghi công đã chứng minh định lý Pytago lần đầu tiên mặc dù định lý này có một lịch sử lâu dài. Eudoxus (408–khoảng 355 TCN) phát triển các phương pháp vét cạn dùng để tính toán diện tích và khối lượng của vật cong, cũng như một lý thuyết về tỷ lệ nhằm tránh các số vô tỷ khi đo đạc, điều này đã cho phép hình học có những bước tiến bộ đáng kể. Khoảng năm 300 TCN, hình học được Euclid cách mạng hóa với tác phẩm Cơ sở của ông. Tác phẩm này được đánh giá là sách giáo khoa thành công và có ảnh hưởng nhất của mọi thời đại. Cuốn sách giới thiệu sự chặt chẽ của toán học thông qua các phương pháp tiên đề và là ví dụ sớm nhất của lối viết vẫn được sử dụng trong toán học ngày nay, đó là định nghĩa, tiên đề, định lý, và chứng minh. Mặc dù hầu hết các nội dung của Cơ sở đều đã được biết đến từ trước, Euclid đã sắp xếp chúng vào một khung tư duy logic và mạch lạc. Cuốn Cơ sở được phổ cập tất cả những người có học vấn ở phương Tây cho đến giữa thế kỷ 20 và nội dung của nó vẫn được giảng dạy trong các lớp học hình học ngày nay. Archimedes (khoảng 287–212 TCN) của Syracuse đã sử dụng phương pháp vét cạn để tính toán diện tích dưới vòng cung của một parabol bằng tổng một chuỗi vô tận, và cho ra kết quả xấp xỉ khá chính xác của số pi. Ông cũng nghiên cứu các xoắn ốc mang tên ông và thu được công thức thể tích của các mặt quay quanh một trục.
Các nhà toán học Ấn Độ cũng có nhiều đóng góp quan trọng trong hình học. Cuốn sách Satapatha Brahmana (thế kỷ 3 TCN) chứa các quy tắc cho công trình xây dựng hình học tương tự như cuốn Sulba Sutras. Theo (Hayashi 2005, p. 363), cuốn Śulba Sūtras chứa "diễn đạt bằng lời nói tồn tại sớm nhất của định lý Pytago trên thế giới, mặc dù nó đã được những người Babylon cổ đại biết đến từ trước. Chúng chứa danh sách các bộ ba số Pythagore, vốn là trường hợp đặc biệt của phương trình Diophantos. Trong bản thảo Bakhshali, có một vài bài toán hình học (bao gồm cả các bài toán về khối lượng của các chất rắn bất thường). Bản thảo Bakhshali cũng "sử dụng một hệ thống số thập phân với một dấu chấm cho số không." Tác phẩm Aryabhatiya của Aryabhata (499) bao gồm các công thức tính toán diện tích và khối lượng. Brahmagupta đã viết tác phẩm thiên văn học Brāhma Sphuṭa Siddhānta năm 628. Chương 12 của cuốn này, có 66 câu tiếng Phạn, được chia thành hai phần: "Các phép toán cơ bản" (bao gồm khai căn bậc ba, phân số, tỷ lệ và tỷ lệ thuận) và "toán học thực tế" (bao gồm hỗn hợp, chuỗi toán học, hình học phẳng, xếp gạch, cưa gỗ, và xếp chồng gạo). Trong phần sau, ông nêu định lý nổi tiếng của mình về các đường chéo của một tứ giác nội tiếp. Chương 12 cũng bao gồm một công thức tính diện tích của một tứ giác nội tiếp (một trường hợp tổng quát của công thức Heron), cũng như mô tả đầy đủ các hình tam giác hữu tỷ (hình tam giác với cạnh và diện tích là các số hữu tỷ).
Trong thời kỳ Trung Cổ, các nhà toán học Hồi giáo đã đóng góp vào sự phát triển của hình học, đặc biệt là hình học đại số. Al-Mahani (sinh 853) hình thành các ý tưởng của việc giải các bài toán hình học như biến việc nhân đôi hình lập phương thành giải phương trình đại số. Thābit ibn Qurra (được biết đến với tên Thebit trong tiếng Latinh) (836–901) xử lý các phép tính áp dụng cho tỷ lệ của thông số hình học, và đóng góp cho sự phát triển của hình học giải tích. Omar Khayyám (1048–1131) tìm ra các giải pháp hình học để giải phương trình bậc ba. Định lý của Ibn al-Haytham (Alhazen), Omar Khayyam và Nasir al-Din al-Tusi về tứ giác,bao gồm các tứ giác Lambert và tứ giác Saccheri, là kết quả ban đầu trong hình học hyperbol, và cùng với những tiên đề thay thế của họ, chẳng hạn như tiên đề Playfair, các công trình trên đã có một ảnh hưởng đáng kể đến sự phát triển của hình học phi Euclid, và là tiền đề cho các công trình của các nhà toán học Witelo (c. 1230-c. 1314), Gersonides (1288-1344), Alfonso, John Wallis, và Giovanni Girolamo Saccheri.
== Hình học đương đại ==
=== Hình học Euclid ===
Hệ tiên đề hình học đầu tiên được tập hợp hệ thống và công bố trong tác phẩm Cơ sở của Euclid. Hệ tiên đề này lấy mô hình từ không gian vật lý theo nhận thức của thời đó. Các khái niệm nguyên thuỷ trong hệ tiên đề này là điểm,đường thẳng và mặt phẳng. Từ ba khái niệm cơ bản này và một số rất ít các tiên đề, Euclid đã xây dựng thành nội dung toàn bộ môn hình học ở phổ thông hiện nay, mà sau này các nhà toán học gọi là hình học Euclid.
Tuy nhiên, các tiên đề/định đề và một số khái niệm do Euclid xây dựng chưa đủ chặt chẽ do chưa có sự hoàn thiện về lý thuyết tập hợp. Sau này David Hilbert đã hoàn chỉnh lại thành một hệ tiên đề chặt chẽ và hoàn chỉnh. Môn hình học dạy trong chương trình phổ thông hiện nay thường chia ra hình học phẳng và hình học không gian.
Hình học là một trong những môn học xuất hiện khá sớm. Hàng ngàn năm trước Công nguyên, con người đã phải đo đạc các thửa ruộng, đong thóc gạo khi thu hoạch, xây dựng những kim tự tháp khổng lồ. Môn hình học lúc đầu ra đời có ý nghĩa là một khoa học về đo đạc. Nhưng rồi, con người không phải chỉ cần đo đất, mà cần nghiên cứu nhiều điều phức tạp hơn. Tuy nhiên, hình học chỉ trở thành môn khoa học thực sự khi con người nêu lên các tính chất hình học bằng con đường suy diễn chặt chẽ, chứ không phải từ đo đạc trực tiếp.
=== Định đề thứ năm của Euclid và Hình học phi Euclid ===
Định đề thứ năm của Euclid gây nhiều sự chú ý của các nhà toán học vì nội dung của nó khá dài. Theo ngôn ngữ hiện nay thì định đề này có nội dung là:
"Qua một điểm ở ngoài một đường thẳng luôn có và chỉ có đúng một đường thẳng song song với đường thẳng đã cho".
Nhiều nhà toán học nghi ngờ rằng nó là một định lý, nghĩa là có thể suy ra từ các tiên đề khác và loay hoay tìm cách chứng minh nó. Nhưng không một ai thành công. Đến thế kỷ thứ 19, hầu như đồng thời và độc lập với nhau, ba nhà toán học ở Nga (Nikolai Ivanovich Lobachevsky), Đức (Carl Friedrich Gauss), và Hungary (János Bolyai) đã đặt ra một tư duy mới mẻ: "Chứng minh rằng nó không thể chứng minh được". Điều đó có nghĩa là ta có thể xây dựng một thứ hình học khác, trong đó tiên đề thứ năm là không đúng. Cả ba người đều đạt được kết quả. Từ đó ra đời hình học phi Euclid.
== Hình học fractal ==
Fractal là một thuật ngữ do nhà Toán học Mandelbrot đưa ra khi ông khảo sát những hình hoặc những hiện tượng trong thiên nhiên không có đặc trưng về độ dài. Mandelbrot là nhà toán học vĩ đại của thế kỷ 20. Ông nó rằng: "Các đám mây không phải là hình cầu, các ngọn núi không phải là hình nón". Theo ông Fractal là chỉ những đối tượng hình học có hình dáng ghồ ghề, không trơn nhẵn trong thiên nhiên. Cụ thể hơn đó là những vật thể có tính đối xứng sắp xếp trong một phạm vi nhất định, có nghĩa là khi ta chia một vật thể fractal, với hình dáng ghồ ghề, gãy góc ra thành những phần nhỏ thì nó vẫn có được đặc tính đối xứng trong một cấu trúc tưởng như hỗn đoạn. Hình dáng các đám mây, đường đi của các tia chớp là những ví dụ mà ta dễ nhìn thấy được.
Rất nhiều người, khi có dịp làm quen với hình học fractal đã nhanh chóng thích thú có khi đến say mê, bởi nhiều lý do: Một là, hình học fractal ra đời và phát triển với nhiều ý tưởng mới lạ, độc đáo, gợi cho ta một cách nhìn thiên nhiên khác với cách nhìn quá quen thuộc do hình học Euclid đưa lại từ mấy nghìn năm nay. Hai là, hình học fractal thường được xây dựng với quy tắc khá đơn giản, nhưng đưa đến những hình ảnh rất lạ mắt, rất đẹp. Ba là, hình học fractal có nhiều ứng dụng phong phú, đa dạng, có khi rất bất ngờ vào rất nhiều lĩnh vực khác nhau, từ các ngành xây dựng, khai thác dầu khí, chế tạo dụng cụ chính xác… đến sinh lý học, ngôn ngữ học, âm nhạc. Bốn là, hình học fractal là một ngành toán học cao cấp, hiện đại nhưng một số ý tưởng của nó, một số kết quả đơn giản của nó có thể trình bày thích hợp cho đông đảo người đọc.
Hình học Euclid được giới thiệu ở trường trung học với việc khảo sát các hình đa giác, hình tròn, hình đa diện, hình cầu, hình nón…Hơn hai nghìn năm qua hình học Euclid đã có tác dụng to lớn đối với nền văn minh nhân loại, từ việc đo đạc ruộng đất đến vẽ đồ án xây dựng nhà cửa, chế tạo vật dụng và máy móc, từ việc mô tả quỹ đạo của các hành tinh trong hệ mặt trời đến mô tả cấu trúc của nguyên tử. Tuy nhiên, qua hình học Euclid ta nhìn mọi vật dưới dạng "đều đặn", "trơn nhẵn". Với những hình dạng trong hình học Euclid ta không thể hình dung và mô tả được nhiều vật thể rất quen thuộc xung quanh như quả núi, bờ biển, đám mây, nhiều bộ phận trong cơ thể như mạch máu… là những vật cụ thể cực kỳ không đều đặn không trơn nhẵn mà rất xù xì, gồ ghề. Một ví dụ đơn giản: bờ biển đảo Phú Quốc dài bao nhiêu? Ta không thể có được câu trả lời. Nếu dùng cách đo hình học quen thuộc dù thước đo có nhỏ bao nhiêu đi nữa ta cũng đã bỏ qua những lồi lõm giữa hai đầu của thước đo ấy, nhất là chỗ bờ đá nhấp nhô. Và với thước đo càng nhỏ ta có chiều dài càng lớn và có thể là… vô cùng lớn.
== Các phân ngành của hình học hiện nay ==
== Xem thêm ==
Danh sách các bộ môn hình học
Hình học Euclid
Cơ bản (Euclid)
Hình học phi Euclid
== Tham khảo ==
== Liên kết ngoài ==
A geometry course from Wikiversity
Unusual Geometry Problems
The Math Forum — Geometry
The Math Forum — K–12 Geometry
The Math Forum — College Geometry
The Math Forum — Advanced Geometry
Nature Precedings — Pegs and Ropes Geometry at Stonehenge
The Mathematical Atlas — Geometric Areas of Mathematics
"4000 Years of Geometry", lecture by Robin Wilson given at Gresham College, 3 October 2007 (available for MP3 and MP4 download as well as a text file)
Finitism in Geometry at the Stanford Encyclopedia of Philosophy
The Geometry Junkyard
Interactive geometry reference with hundreds of applets
Dynamic Geometry Sketches (with some Student Explorations)
Geometry classes at Khan Academy |
tháng mười hai.txt | Tháng mười hai là tháng thứ mười hai theo lịch Gregorius, có 31 ngày.
Tháng mười hai trong âm lịch còn được gọi là tháng chạp.
== Sự kiện trong tháng 12 ==
1 tháng 12 – Ngày Thế giới phòng chống HIV/AIDS (World AIDS Day)
1 tháng 12 – Quốc khánh România
3 tháng 12 – Ngày Người khuyết tật Quốc tế (International Day of Disabled Persons)
6 tháng 12 – Quốc khánh Phần Lan
9 tháng 12 – Ngày Quốc tế chống tham nhũng (International Anti-Corruption Day) theo LHQ
10 tháng 12 – Ngày Nhân quyền (Human Rights Day) theo LHQ
12 tháng 12 – Quốc khánh Kenya
20 tháng 12 – Ngày Quốc tế Đoàn kết Nhân loại (International Human Solidarity Day)
22 tháng 12 – Đông chí; Thành lập Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân; Ngày hội Quốc phòng toàn dân Việt Nam
25 tháng 12 – Lễ Giáng sinh
== Xem thêm ==
Những ngày kỷ niệm
== Tham khảo == |
danh sách nhà sản xuất điện thoại di động theo quốc gia.txt | Đây là Danh sách nhà sản xuất điện thoại lọc theo quốc gia.
== Anh ==
Binatone
INQ
Vertu
== Ấn Độ ==
iball
Karbonn Mobiles
Celkon Mobiles
Onida Electronics
Videocon
Reliance Communications
Micromax Mobile
XOLO
Simmtronics
Spice Digital
== Bangladesh ==
Walton
== Brazil ==
Gradiente
== Canada ==
BlackBerry
== Các Tiểu vương quốc Ả Rập Thống nhất ==
Thuraya
== Colombia ==
Avvio
== Cộng hòa Séc ==
Jablotron
Verzo
== Đài Loan ==
Acer
Asus
BenQ
DBTel
Dopod
Gigabyte Technology
E-TEN
HTC
== Đan Mạch ==
Lumigon
== Đức ==
AEG
Grundig Mobile
Telefunken
Siemens
== Hà Lan ==
Fairphone
John's Phone
Philips
== Hàn Quốc ==
KT Tech
LG
Pantech
Samsung
== Indonesia ==
Nexian
== Latvia ==
Just5
== Malaysia ==
M Dot
== Mexico ==
Kyoto Electronics
Lanix
Zonda
== Mỹ ==
Apple
BLU
Firefly
Garmin
InfoSonics
Motorola Mobility
Palm
Sonim
Black Berry
== Nhật Bản ==
== Nga ==
Gresso
Sitronics
Yota
== Pakistan ==
QMobile
== Pháp ==
Alcatel
Archos
Bull
MobiWire (trước là Sagem Wireless)
Thomson
== Phần Lan ==
Jolla
Twig Com (formerly known as Benefon)
Nokia
== Philippines ==
Cherry Mobile
== Tây Ban Nha ==
GeeksPhone
Vitelcom
== Thụy Điển ==
Doro
Nautiz by Handheld Group
== Thái Lan ==
DTAC Phone
True Phone
Wellcom
== Tunisia ==
Evertek
== Trung Quốc ==
== Việt Nam ==
Mobiistar
Qmobile, nay là Q.
Masscom với các nhãn hiệu Masstel và Massgo.
BKAV
FPT Mobile
VNPT
Bavapen
Viettel
== Ý ==
Brondi
Olivetti
Onda Mobile Communication
Telit
== Tham khảo == |
1926.txt | 1926 (số La Mã: MCMXXVI) là một năm thường bắt đầu vào thứ Sáu trong lịch Gregory. Bản mẫu:Tháng trong năm 1926
== Sự kiện ==
=== Tháng 1 ===
8 tháng 1: Vua Bảo Đại chính thức kế vị
11 tháng 1: Trương Tác Lâm tuyên bố 3 tỉnh đông bắc Trung Quốc độc lập
=== Tháng 3 ===
7 tháng 3: Tại Thiên Tân phát sinh sự kiện Đại Cổ Khẩu
=== Tháng 4 ===
15 tháng 4: Trương Tác Lâm từ Thiên Tân tiến công Bắc Kinh
=== Tháng 6 ===
6 tháng 6: Tưởng Giới Thạch nhận chức tổng tư lệnh quân Bắc Phạt
=== Tháng 10 ===
10 tháng 10: Quân Bắc Phạt giải phóng Vũ Xương
=== Tháng 11 ===
1 tháng 11: Quân Bắc Phạt vây đánh Nam Xương
== Sinh ==
25 tháng 6 - Đàm Thị Loan, người kéo cờ ngày 2/9/1945 tại quảng trường Ba Đình, phu nhân Đại tướng Hoàng Văn Thái (mất 2010)
8 tháng 8 - Dương Quân, nhà thơ trào phúng (mất 1985)
28 tháng 9 - Nguyễn Cảnh Toàn, Giáo sư toán học người Việt Nam (mất 2017)
21 tháng 4 - Elizabeth II, đương kim nữ hoàng của 16 quốc gia độc lập thuộc Khối Thịnh vượng chung Anh
== Mất ==
17 tháng 3 - Tướng Aleksei Brusilov, sĩ quan quân đội Nga trong thế chiến thứ nhất
== Giải Nobel ==
Vật lý - Jean Baptiste Perrin
Hóa học - Theodor Svedberg
Sinh lý học hoặc Y học - Johannes Andreas Grib Fibiger
Văn học - Grazia Deledda
Hòa bình - Aristide Briand, Gustav Stresemann
== Xem thêm ==
== Tham khảo == |
tô quốc trịnh.txt | Tô Quốc Trịnh (sinh 1946) là một Thiếu tướng Quân đội Nhân dân Việt Nam. Ông từng giữ chức vụ Phó Chánh Thanh tra Bộ Quốc phòng. Ông cũng là một đại biểu Quốc hội Việt Nam khóa X, thuộc đoàn đại biểu Quảng Ninh.
== Thân thế và sự nghiệp ==
Ông sinh ngày 28 tháng 8 năm 1946 tại Xã Tây Giang, huyện Tiền Hải, Thái Bình
Ông từng giữ chức Chỉ huy trưởng Bộ CHQS tỉnh Quảng Ninh.
Năm 2007, ông nghỉ hưu
== Tham khảo == |
victoria azarenka.txt | Victoria Azarenka (tiếng Belarus: Вікторыя Фёдараўна Азаранка, tiếng Nga: Виктория Фёдоровна Азаренко; sinh ngày 31 tháng 7 năm 1989) là tay vợt nữ người Belarus. Cô từng là tay vợt số 1 thế giới và hiện đang là tay vợt hạng 14 trên bảng xếp hạng WTA, tính tới ngày 1 tháng 2 năm 2016.
Victoria Azarenka giành danh hiệu đơn giải Úc Mở rộng 2012, trở thành tay vợt đầu tiên của Belarus vô địch 1 giải Grand Slam. Với chiến thắng này cô trở thành tay vợt đầu tiên từ vị trí thứ 3 vượt lên vị trí số 1 thế giới mà không phải qua vị trí thứ 2. Năm 2013, Azarenka bảo vệ thành công danh hiệu tại Úc Mở rộng sau chiến thắng trước Li Na. Cô từng giành danh hiệu đôi nữ Grand Slam giải Mỹ Mở rộng với Max Mirnyi năm 2007 và đôi nam nữ giải Pháp Mở rộng với Bob Bryan năm 2008, vào chung kết nội dung đôi nữ Pháp Mở rộng năm 2009 với tay vợt người Nga Elena Vesnina và vào bán kết giải đấu này vào năm 2013.
== Sự nghiệp ==
=== 2005 ===
Năm 2005, Azarenka vô địch giải Úc Mở rộng, Mỹ Mở rộng ở nội dung trẻ và giải ITF Junior Girls World Champion trong năm, đó là chiến tích của 1 tay vợt Belarus đầu tiên. Cô giành danh hiệu ITF tại Pétange, Luxembourg.
=== 2012 ===
Azarenka thi đấu tại giải quần vợt Úc Mở rộng với vị trí thứ 3 thế giới. Cô đánh bại Heather Watson, Casey Dellacqua, Mona Barthel và Iveta Benesova mà không để thua 1 set nào. Tại tứ kết chị tiếp tục thắng tay vợt hạt giống số 8 Agnieszka Radwanska sau 3 set với tỷ số: 6–7, 6–0, 6–2. Tại bán kết Azarenka tiếp tục đánh bại nhà đương kim vô địch giải Kim Clijsters 6–4, 1–6, 6–3 để vào chung kết gặp tay vợt số 4 thế giới là Maria Sharapova. Sau khởi đầu không tốt, Azarenka đã thắng 9 game liên tiếp để vô địch. Azarenka đã giành được danh hiệu Grand Slam nội dung đơn nữ lần đầu tiên trong sự nghiệp và vươn lên vị trí số 1 trên bảng xếp hạng WTA (từ ngày 30/1/2012). Azarenka có lần thứ 2 liên tiếp vào bán kết Wimbledon Championships, thua Serena Williams. Tại Mỹ Mở rộng, Azarenka lần đầu tiên vào chung kết và cũng thua Serena Williams 6–2 2–6 7–5 sau khi đã dẫn trước Serena 5–3 ở set quyết định. Azarenka cũng có 1 huy chương đồng đơn nữ và 1 huy chương vàng nội dung đôi nam nữ. Cô cũng có lần thứ 2 tham dự WTA Championships, thua Maria Sharapova ở bán kết 6–4 6–2. Azarenka kết thúc năm 2012 ở vị trí số 1.
=== 2013 ===
Azarenka tham dự Úc Mở rộng khi được xếp hạt giống số 1 và với cương vị 1 nhà đương kim vô địch. Sau chiến thắng trước Sloane Stephens ở bán kết, cô thắng Lý Na ở trận chung kết để có nãm thứ 2 liên tiếp vô địch giải. Tại Pháp Mở rộng, Azarenka vào bán kết, thua Sharapova. Tại Wimbledon, chấn thương tái phát trong trận đấu với Maria-Joao Koehler khiến Azarenka không thể tiếp tục thi đấu tại giải. Tại US Open, cô lần thứ 2 vào chung kết nhưng lại thua Serena Williams (7–5 6–7 6–1). Tại WTA Championships, Azarenka thua tại vòng bảng sau khi thua Jelena Jankovic 6–4 6–3 và thua Li Na 6–2 6–1.
Azarenka kết thúc năm ở vị trí số 2 thế giới.
== Sự nghiệp thi đấu ==
=== Grand Slam ===
==== Đơn: 4 (2–2) ====
==== Đôi nữ: Á quân 3 ====
==== Đôi nam nữ: 3 (2–1) ====
===== Vô địch(2) =====
===== Á quân(1) =====
=== Thành tích Grand Slam đơn nữ ===
== Chú thích == |
bảng chữ cái.txt | Bảng chữ cái là một tập hợp các chữ cái - những ký hiệu viết cơ bản hoặc tự vị — một trong số chúng thường đại diện cho một hoặc nhiều âm vị trong ngôn ngữ nói, hoặc trong hiện tại hoặc ở quá khứ. Có nhiều hệ thống viết khác nhau, như chữ tượng hình, trong đó mỗi ký tự đại diện cho một từ, hình vị, hoặc đơn vị ngữ nghĩa, và chữ ký âm, trong đó mỗi ký tự đại diện cho một âm. Bảng chữ cái là cơ sở để dựa vào đó con người diễn đạt tiếng nói thành chữ, câu.
== Đọc thêm ==
Coulmas, Florian (1989). online The Writing Systems of the World. Blackwell Publishers Ltd. ISBN 0-631-18028-1.
Daniels, Peter T.; Bright, William (1996). The World's Writing Systems. Oxford University Press. ISBN 0-19-507993-0. — (Overview of modern and some ancient writing systems).
Driver, G. R. (1976). Semitic Writing (Schweich Lectures on Biblical Archaeology S.) 3Rev Ed. Oxford University Press. ISBN 0-19-725917-0.
Haarmann, Harald (2004), Geschichte der Schrift (ấn bản 2), München: C. H. Beck, ISBN 3-406-47998-7
Hoffman, Joel M. (2004). In the Beginning: A Short History of the Hebrew Language. NYU Press. ISBN 0-8147-3654-8. —(Chapter 3 traces and summarizes the invention of alphabetic writing).
Logan, Robert K. (2004). The Alphabet Effect: A Media Ecology Understanding of the Making of Western Civilization. Hampton Press. ISBN 1-57-273523-6.
McLuhan, Marshall; Logan, Robert K. (1977). Alphabet, Mother of Invention. Etcetera. Vol. 34, pp. 373–383
Millard, A. R. (1986), “The Infancy of the Alphabet”, World Archaeology 17 (3): 390–398
Ouaknin, Marc-Alain; Bacon, Josephine (1999). Mysteries of the Alphabet: The Origins of Writing. Abbeville Press. ISBN 0-7892-0521-1.
Powell, Barry (1991). Homer and the Origin of the Greek Alphabet. Cambridge University Press. ISBN 0-521-58907-X.
Sacks, David (2004). Letter Perfect: The Marvelous History of Our Alphabet from A to Z (PDF). Broadway Books. ISBN 0-7679-1173-3.
Saggs, H.W.F (1991). Civilization Before Greece and Rome. Yale University Press. ISBN 0300050313. — Chapter 4 traces the invention of writing
== Tham khảo ==
== Liên kết ngoài ==
Bảng chữ cái tiếng Anh
Damqātum 3 "Language, Writing and Alphabet: An Interview with Christophe Rico" (2007)
Alphabetic Writing Systems
Michael Everson's Alphabets of Europe
Evolution of alphabets, animation by Prof. Robert Fradkin at the University of Maryland
How the Alphabet Was Born from Hieroglyphs Biblical Archaeology Review |
akihito.txt | Akihito (Kanji: 明仁 (Minh Nhân), Hiragana: あき ひと; sinh ngày 23 tháng 12 năm 1933 (năm Chiêu Hòa thứ 8) tại Tokyo) là đương kim Thiên hoàng, cũng là vị Thiên hoàng thứ 125 theo Danh sách Thiên hoàng truyền thống, lên ngôi từ năm 1989 (năm Chiêu Hòa thứ 64). Ông đang là vị vua đang tại vị lâu thứ 21 trên thế giới.
== Tên gọi ==
Akihito là húy (tên thật) của ông. Lúc chưa lên ngôi, ông có ngự hiệu là "Tsugu-no-miya" (つぐのみや, 継宮 - Kế Cung). Ở Nhật Bản, giống như nhiều nước Á Đông khác thời phong kiến, không bao giờ được phép gọi tên khai sinh của hoàng đế, mà chỉ được phép gọi "Tennō heika" (天皇陛下, Thiên hoàng Bệ hạ). Khi viết, cũng chỉ viết là "Kinjō tennō" (今上天皇, Kim thượng Thiên hoàng). Triều đại của Akihito có niên hiệu là Heisei (平成, Bình Thành), và theo truyền thống, sau khi qua đời, tên của ông sẽ được đổi thành Heisei Tenno (平成天皇, Bình Thành Thiên hoàng) (xem Thụy hiệu), và niên hiệu của triều đại mới sẽ được thành lập.
== Trước khi lên ngôi Thiên hoàng ==
Akihito là con trai trưởng và là người con thứ năm của Thiên hoàng Chiêu Hòa (Hirohito) và Hoàng hậu Hương Thuần (Kuni Nagako). Lúc thiếu thời (1940-52), hoàng gia bổ quan giáo thụ dạy dỗ riêng cho thái tử cho đến khi nhập học trung học tại Gakushuin (学習院: Học Tập Viện) - trường sở dành riêng cho tầng lớp quý tộc Nhật Bản. Khác với thông lệ tiền triều, vua Chiêu Hòa không bổ nhiệm Akihito vào quân đội khi xong trung học.
Tháng 3 năm 1945, khi Hoa Kỳ ném bom không kích thủ đô Tokyo, ông và em trai, Hoàng tử Masahito, phải sơ tán khỏi kinh kỳ. Đệ nhị Thế chiến kết thúc; Nhật Bản bị Hoa Kỳ chiếm đóng. Akihito theo học Anh văn do Elizabeth Gray Vining - một chuyên viên thư viện - dạy kèm. Ông tốt nghiệp khoa Chính trị của trường Đại học Gakushuin. Ngày 10 tháng 11 năm 1952 (năm Chiêu Hòa thứ 27) Akihito nhận lễ tấn phong Hoàng Thái tử tại Hoàng cung Tokyo. Sang năm sau, Tháng 6 năm 1953, Thái tử Akihito đại diện Nhật Bản tham dự lễ đăng quang của Nữ hoàng Elizabeth II.
Những năm sau đó, Thái tử và vợ là công nương Michiko lần lượt công du 37 nước trên thế giới để phá bỏ thành kiến Hoàng gia Nhật Bản vô cảm như người máy, tạo bộ mặt mới gần gũi với thần dân Nhật Bản hơn. Sau khi lên ngôi, ông cũng tiếp tục công vụ đó rút ngắn khoảng cách giữa vua chúa và thường dân Nhật Bản. Thiên hoàng và Hoàng hậu đã viếng thăm chính thức 18 quốc gia, cũng như tuần du 47 các phủ huyện Nhật Bản.
Ngày 7 tháng 1 năm 1989, khi vua Chiêu Hòa băng hà. Thái tử Akihito lên ngôi, thành Thiên hoàng thứ 125 của Nhật Bản, nhằm ngày 12 tháng 11 năm 1990 lấy niên hiệu là Heisei (Bình Thành).
== Thời gian làm vua ==
Thiên hoàng Akihito đã vài lần công khai xin lỗi các nước châu Á về những tội ác của phát xít Nhật Bản gây ra cho họ trong Chiến tranh thế giới thứ hai, (1939 - 1945) bắt đầu bằng việc xin lỗi Trung Quốc vào tháng 4 năm 1989, ba tháng sau khi vua cha Chiêu Hòa qua đời.
Năm 1998 (năm Bình Thành thứ 10), trong chuyến thăm cấp nhà nước tới Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland, ông đã được phong Huy hiệu cấp tước Garter (The Most Noble Order of the Garter) - danh hiệu cao nhất trong hệ thống quý tộc của Anh, bản thân Nữ hoàng Anh Elizabeth II cũng có tước hiệu này.. Cho đến nay ông là người ngoài châu Âu duy nhất nhận huy hiệu này.
Ngày 23 tháng 12 năm 2001 (năm Bình Thành thứ 13), trong một động thái nhằm xoa dịu căng thẳng giữa mối quan hệ Nhật Bản-Triều Tiên, Thiên hoàng Akihito đã trả lời một cuộc phỏng vấn báo giới trong ngày sinh nhật của mình rằng: theo quan điểm của Thiên hoàng, người Nhật và người Triều Tiên có quan hệ họ hàng gần gũi. Thiên hoàng cho rằng trong Tục Nhật Bản kỷ, thái hậu của Thiên hoàng Hoàn Vũ (736–806) có mối quan hệ huyết thống với Vũ Ninh Vương (501-523), vua của Bách Tế. Thiên hoàng cũng cho rằng trong thời cổ, khi người dân Triều Tiên di cư đến Nhật Bản họ đã truyền thụ nhiều tri thức về văn hóa và khoa học kỹ thuật cho Nhật Bản, và những sự kiện đáng tiếc trong quá khứ như những khoảng thời gian quan hệ Nhật-Triều căng thẳng nên được hai bên tha thứ.
Tháng 6 năm 2005 (năm Bình Thành thứ 17), Thiên hoàng Akihito viếng thăm khu vực Saipan của Hoa Kỳ, nơi diễn ra trận Saipan nổi tiếng kéo dài từ ngày 15 tháng 6 đến ngày 9 tháng 7 năm 1944 (năm Chiêu Hòa thứ 19) cùng với Hoàng hậu Michiko. Trong chuyến thăm, Thiên hoàng nhiều lần đến các đài tưởng niệm chiến tranh để gửi hoa viếng và cầu nguyện cho các vong linh của binh sĩ Nhật Bản, Hoa Kỳ cùng các thường dân Triều Tiên và dân địa phương đã bỏ mạng tại trận đánh này. Đây là lần đầu tiên một Thiên hoàng đi viếng một địa điểm xảy ra chiến tranh nằm ngoài lãnh thổ Nhật Bản. Chuyến viếng Saipan được đông đảo người dân Nhật Bản hoan nghênh như những chuyến viếng thăm các khu tưởng niệm chiến tranh tại Tokyo, Hiroshima, Nagasaki, và Okinawa năm 1995.
Ngày 6 tháng 9 năm 2006 (năm Bình Thành thứ 18), Thiên hoàng làm lễ chào mừng việc cháu trai của ông là Thân vương Hisahito ra đời. Hisahito là con thứ ba của thứ nam của Thiên hoàng và là hoàng nam có thể thừa kế ngôi vị đầu tiên của gia đình Thiên hoàng trong suốt 41 năm qua (tính từ khi cha của cậu là Thâu Tiểu cung Thân vương Fumihito ra đời). Vì vậy việc Hisahito ra đời làm một cứu cánh lớn của Hoàng gia trước việc chọn người thừa kế ngai vàng Nhật Bản vì cho đến nay, Thái tử chỉ có duy nhất một con gái là Kính cung Công chúa Aiko, mà theo luật lệ thì nữ giới không có quyền thừa kế ngai vàng. Điều này cũng có nghĩa là việc đề xuất thay đổi luật lệ để nữ giới được thừa kế ngai vàng có nhiều nguy cơ bị bác bỏ, mà bản thân nó đã bị đình hoãn khi Hoàng gia công bố việc Thâu Tiểu cung Thân Vương phi Kiko, vợ của Thâu Tiểu cung Thân vương Fumihito mang thai Hisahito vào tháng 2 năm 2006 (năm Bình Thành thứ 18).
Tháng 1 năm 2003 (năm Bình Thành thứ 15), Thiên hoàng Akihito đã phải trải qua một cuộc phẫu thuật vì ung thư tuyến tiền liệt .
Ngày 8 tháng 8 năm 2016, trong bài phát biểu phát sóng truyền hình quốc gia, Nhật hoàng Akihito đã tỏ ý định rõ ràng về việc thoái vị vì tuổi cao sức yếu. Tuy nhiên, ông chưa thể dễ dàng trao lại vương quyền cho hoàng thái tử vì luật pháp Nhật Bản hiện không có quy định về việc thoái vị. Đây là một đoạn video hiếm hoi của Nhật hoàng Akihito phát biểu trên truyền hình với thần dân. Trong thời gian trị vì 28 năm, Nhật hoàng mới chỉ một lần phát biểu với hình thức này vào tháng 3 năm 2011, sau thảm họa Động đất và sóng thần Tōhoku 2011.
== Gia đình ==
Ngày 10 tháng 4 năm 1959 (năm Chiêu Hòa thứ 34), ông cưới Michiko Shoda (sinh ngày 24 tháng 10 năm 1934), con gái cả của Hidesaburo Shōda chủ tịch danh dự của công ty Nissing Flour Milling. Bà là người bình dân đầu tiên lấy thành viên trong Hoàng gia. Akihito và Michiko Shoda có tất cả 3 người con:
=== Con trai ===
Hạo cung Đức Nhân Thân vương (sinh ngày 23 tháng 2 năm 1960) (năm Chiêu Hòa thứ 35) - Hoàng thái tử
Lễ cung Văn Nhân Thân vương (sinh ngày 30 tháng 11 năm 1965) (năm Chiêu Hòa thứ 40) - Thu Tiểu cung
=== Con gái ===
Kỷ cung Thanh Tử Nội thân vương (sinh ngày 18 tháng 4 năm 1969) (năm Chiêu Hòa thứ 44) - vợ Kuroda Yoshiki
== Phả hệ ==
== Chú thích == |
kim loại kiềm thổ.txt | Các kim loại kiềm thổ là một dãy các nguyên tố trong nhóm nguyên tố 2 của bảng tuần hoàn các nguyên tố. Đó là berili, magiê, canxi, stronti, bari và radi (không phải lúc nào cũng được xem xét do chu kỳ bán rã ngắn của nó).
Các kim loại kiềm thổ được đặt tên theo các ôxít của chúng, các đất kiềm, có tên gọi cũ là berilia, magiêsia, vôi sống, strontia và baryta. Chúng được gọi là kiềm thổ vì các thuộc tính tự nhiên trung gian của chúng giữa các chất kiềm (ôxít của các kim loại kiềm) và các loại đất hiếm (ôxít của các kim loại đất hiếm). Sự phân loại của một số chất bề ngoài trơ như là 'đất' có lịch sử hàng thiên niên kỷ. Hệ thống được biết sớm nhất được sử dụng bởi những người Hy Lạp cổ đại gồm có 4 nguyên tố, bao gồm cả đất. Hệ thống này sau đó được làm rõ hơn bởi các nhà triết học và giả kim thuật như Aristotle (thế kỷ 4 TCN), Paracelsus (nửa đầu thế kỷ 16), John Becher (giữa thế kỷ 17) và Georg Stahl (cuối thế kỷ 17), với việc phân chia 'đất' thành ba hay nhiều loại hơn. Sự nhận thức về 'đất' không phải là một nguyên tố mà là hợp chất được đề cập bởi nhà hóa học Antoine Lavoisier. Trong tác phẩm Traité Élémentaire de Chimie (Các nguyên tố hóa học) năm 1789 ông gọi chúng là Substances simples salifiables terreuses, tức các nguyên tố đất tạo thành muối. Sau đó, ông thấy rằng các đất kiềm có thể là các ôxít kim loại, nhưng ông thừa nhận rằng đó chỉ là phỏng đoán. Năm 1808, dựa trên tư tưởng của Lavoisier, Humphry Davy trở thành người đầu tiên thu được các mẫu kim loại bằng cách điện phân các loại 'đất kiềm' nóng chảy.
Chúng là các nguyên tố hoạt động mạnh và ít khi tìm thấy ở dạng đơn chất trong tự nhiên. Trong lớp vỏ Trái Đất kim loại kiềm thổ chiếm tỉ lệ 4,16 % (trong đấy 67 % Canxi, 31 % Magiê, 1,4 % Bari, 0,6 % Stronti và 1 lượng rất ít Berili và Radi).
Các kim loại kiềm thổ là các kim loại có màu trắng bạc, mềm, có khối lượng riêng thấp, có phản ứng tức thời với các nguyên tố thuộc nhóm halôgen để tạo thành các muối điện ly và với nước để tạo thành các hiđrôxít kiềm thổ mạnh về phương diện hóa học tức các bazơ (hay ba dơ). Ví dụ natri và kali có phản ứng với nước ở nhiệt độ phòng còn magiê chỉ có phản ứng với hơi nước nóng còn canxi thì phản ứng với nước nóng.
Các nguyên tố này chỉ có hai êlectron ở lớp ngoài cùng xs2, vì thế trạng thái năng lượng ưa thích của chúng là dễ mất đi hai êlectron này để tạo thành ion có điện tích dương 2.
Bảng so sánh
== Phản ứng hóa học ==
Phản ứng với Ôxi tạo Ôxít
2X + O2 → 2XO
Phản ứng với Hiđrô thành hidric có cấu trúc ion
X + H2 → XH2
Phản ứng (tan) trong nước thành bazơ
X + 2H2O → X(OH)2 + H2
- Trừ Mg: Mg + H2O → MgO + H2
Phản ứng với Halogen, ví dụ với Clo
X + Cl2 → XCl2
Phản ứng với một số phi kim như C, Si, N2
Phản ứng với acid
== Hợp chất ==
Ngoài ra
Canxi oxalat (CaC2O4) là thành phần chính của sỏi thận
Canxi cacbua (CaC2) dùng trong công nghiệp sản xuất Axetilen, khử Lưu huỳnh từ kim loại thô,...
Canxi cyanamit (CaCN2) dùng làm phân bón
== Tham khảo ==
== Liên kết ngoài ==
http://www.chemsoc.org/visElements/pages/data/intro_groupii_data.html
http://scienceaid.co.uk/chemistry/fundamental/group2.html
http://www.uniterra.de/rutherford/hg2.htm |
samsung galaxy note 3.txt | Samsung Galaxy Note 3 là điện thoại lai máy tính bảng chạy hệ điều hành Android sản xuất bởi Samsung Electronics. Galaxy Note 3 đã được công bố trong buổi họp báo tại IFA Berlin vào 4 tháng 9 năm 2013, với bản quốc tế được phát hành vào cuối tháng. Nó đóng vai trò là người kế nhiệm của Galaxy Note II, Note 3 được thiết kế nhẹ hơn, và thiết kế cao cấp hơn dòng máy trước Galaxy Note series (với mặt sau là nhựa giả da và mép giả kim loại), và mở rộng trên bút stylus và chức năng đa nhiệm trong phần mềm của nó—bao gồm một bánh xe điều hướng mới cho ứng dụng kích hoạt bằng bút, cùng với các ứng dụng bật lên và mở rộng chức năng đa cửa sổ. Samsung bán 5 triệu đơn vị Galaxy Note 3 trong tháng đầu tiên and broke 10 million units sales in just 2 months.
== Thông số kỹ thuật ==
=== Phần cứng ===
Thiết kế của Galaxy Note 3 dự định mang đến một sản phẩm cao cấp, một cái nhìn "thời thượng" so với các thiết bị Samsung khác. Mặc dù thiết kế của nó vẫn giữ chất liệu nhựa cao cấp như các thiết bị hiện tại của Samsung, Galaxy Note 3 có viền giả kim loại và mặt sau được làm bằng nhựa giả da với vân chỉ. Với độ dày 8,3 mm (0,33 in), nó mỏng và nhẹ hơn Galaxy Note II. Phiên bản LTE của Galaxy Note 3 sử dụng chip 2.3 GHz lõi-tứ Snapdragon 800, trong khi bản quốc tế GSM sử dụng 8-lõi Exynos 5420, bao gồm 4 lõi 1.9 GHz Cortex-A15 và 4 lõi 1.3 GHz Cortex-A7. Thiết bị bao gồm RAM 3 GB of, màn hình 5.7-inch 1080p Super AMOLED, máy ảnh chính 13-megapixel có thể quay phim 1080p với 60 fps và độ phân giải 4K với 30 fps (giới hạn mức 5 phút), bộ nhớ trong 32 hoặc 64 GB, và pin 3200 mAh.
Cũng như các thiết bị khác của dòng Galaxy Note, Galaxy Note 3 đi kèm với bút S Pen stylus, đã được cập nhật sử dụng hình dạng đối xứng hơn. Galaxy Note 3 là điện thoại thông minh đầu tiên hỗ trợ USB 3.0, cho phép chuyển đổi dữ liệu nhanh và sạc khi kết nối với cổng tương thích.
Galaxy Note 3 có sẵn với màu đen, trắng, và hồng. Vào tháng 12 năm 2013, Samsung giới thiệu ba màu mới cho một số thị trường; đen với viền vàng, trắng với viền vàng, và đỏ với viền bạc.
=== Phần mềm ===
Galaxy Note 3 ra mắt cùng với Android 4.3 "Jelly Bean" và giao diện người dùng tùy biến của Samsung TouchWiz. Thêm một số tính năng mới cho bút của Note 3; khi rút bút ra khỏi máy (hoặc nhấn nút trên thân bút khi đang lướt trên màn hình) sẽ kích hoạt trình đơn dạng bánh "Air Command" cung cấp các phím tắt cho bút định hướng đến như Action Memos (ghi chú dán trên màn hình sử dụng nhận diện chữ viết để phát hiện nội dung của họ và cung cấp các hoạt động có liên quan, như tìm kiếm địa chỉ trên Google Maps hoặc quay số điện thoại), Screen Write (mở rộng chú thích), Pen Window (cho phép người dùng vẽ một cửa sổ bật lên để chạy một ứng dụng nhất định bên trong đó), công cụ tìm kiếm S Finder, và Scrapbook. Chức năng đa cửa sổ cũng được cập nhật với mở rộng hỗ trợ ứng dụng, khả năng chạy nhiều trường hợp trong một ứng dụng, và khả năng kéo thả nội dung giữa các ứng dụng. Thiết bị cũng đi kèm với ứng dụng tin tức tổng hợp được biết đến My Magazine, truy cập bằng cách vuốt đến trang dưới cùng của màn hình, và cập nhật cho S Note.
Vào 13 tháng 1 năm 2014, bản cập nhật Android 4.4 "KitKat" có sẵn thông qua Samsung Kies ở Ba Lan cho bản LTE. Bản cập nhật thêm vào giao diện người dùng một phím tắt máy ảnh ở góc màn hình khóa, tùy chọn cho cài đặt mặt định launcher và ứng dụng tin nhắn, hỗ trợ in, và một trình đơn cài đặt vị trí mới theo dõi và kiểm soát việc sử dụng theo dõi vị trí của ứng dụng. 4.4 cũng thay đổi đáng kể đến việc lưu trữ thứ cấp trên thiết bị vì lý do bảo mật; úng dụng truy cập trên thẻ SD bị hạn chế, chỉ có thư mục ứng dụng củ thể, trong khi truy cập vào các lưu trữ nội bộ chính vẫn được cho phép. Mặc dù điều này đã tồn tại từ Android 3.0 "Honeycomb", OEMs như Samsung trước đó đã sửa lại các bản phân phối của Android để giữ lại điều đó, cho phép ứng dụng có thể truy cập không giới hạn vào nội dung thẻ SD.
== Phát hành ==
Samsung đã giới thiệu Galaxy Note 3 với công bố tại sự kiện Samsung Unpacked vào 4 tháng 9 năm 2013 tại IFA Berlin, với khẩu hiệu "Note the date." Bản Galaxy Note 3 quốc tế được phát hành vào 25 tháng 9 năm 2013 trên hơn 140 quốc gia, trong khi Mỹ và Nhật Bản phát hành vào tháng 10 năm 2013. Tất cả Galaxy Note 3 sẽ bao gồm một năm đăng ký Evernote Premium miễn phí.
Phiên bản châu Mỹ và châu Âu của Galaxy Note 3 thực hiện khóa hệ thống tại một số vùng; yêu cầu SIM sử dụng trên bản châu Âu và Bắc Mỹ phải từ nhà mạng của vùng đó. Trong khi đó phát ngôn viên của Samsung tuyên bố các khóa sẽ được loại bỏ sau khi SIM hợp lệ được sử dụng. Mặc dù lập trình viên XDA Developers đã phát triển công cụ xóa nhà mạng mà hệ thống sử dụng, nó đòi hỏi điện thoại đã được root. Một phát ngôn viên tuyên bố rằng hệ thống chủ yếu ngăn chặn hành vi "chợ đen" mua đi bán lại, mặc dù một số nhà phê bình nghi ngờ rằng nhà mạng đã có thể yêu cầu Samsung để thực hiện tính năng ràng buộc này lên người dùng trong khi họ đang du lịch bằng cách ngăn chặn họ dùng SIM địa phương. Samsung chỉ thực hiện chính sách tương tự trên Galaxy S III, Note II, S4, và S4 Mini sản xuất sau tháng 7 năm 2013.
== Đón nhận ==
=== Trước phát hành ===
Sau khi nó được tiết lộ, The Verge khen ngợi sự cải tiến phần cứng và phần mềm của Galaxy Note 3. Thiết kế tổng thể của nó được cho là "gắn kết" mặc dù vẫn tiếp tục sử dụng nhựa, và những thay đổi trong thiết kế bút stylus cũng được ghi nhận. Tuy nhiên, ứng dụng My Magazine đã bị phê bình như một quảng cáo. TechRadar cho rằng Galaxy Note 3 là một sự cải tiến so với người tiền nhiệm (bao gồm phần cứng nhanh hơn và màn hình lớn hơn), nhưng chỉ trích thiết kế của nó chưa như mong muốn "khéo léo và cao cấp" trong cuộc sống như đã quảng cáo.
== Xem thêm ==
Samsung Galaxy S series
Samsung Galaxy Note series
== Tham khảo == |
port harcourt.txt | Port Harcourt (Igbo: Diobu, Iguocha hay Ugwuocha; Pidgin: "Po-ta-kot") là thủ phủ của bang River, Nigeria. Nó nằm dọc theo sông Bonny, nằm ở đồng bằng sông Niger. Theo điều tra dân số năm 2006 của Nigeria thì Port Harcourt có dân số 1.382.592 người. Thị trưởng thành phố Port Harcourt là Azubuike Nmerukini. Năm 1913, Iguocha Port Harcourt đã được đổi tên bởi Frederick Lugard theo Lewis Vernon Harcourt, Bộ trưởng Ngoại giao các thuộc địa.
Khu vực đó đã trở thành Port Harcourt năm 1913 là từ cánh đồng của các nhóm làng Diobu của Ikwerre, một nhóm nhỏ của người dân Igbo. Chính quyền thuộc địa của Nigeria đã lập nên cảng để xuất khẩu than từ Enugu nằm 151 dặm (243 km) về phía bắc của Port Harcourt được nối với nhau bởi tuyến đường sắt được xây dựng bởi người Anh.
== Chú thích ==
== Tham khảo == |
khoáng sản.txt | Khoáng sản là thành tạo khoáng vật của lớp vỏ Trái Đất, mà thành phần hóa học và các tính chất vật lý của chúng cho phép sử dụng chúng có hiệu quả và lợi ích trong lĩnh vực sản xuất ra của cải vật chất của nền kinh tế quốc dân.
== Từ nguyên ==
Khoáng sản là từ Hán-Việt (chữ Hán giản thể: 矿产, chữ Hán phồn thể: 礦產, 礦産, 鑛產 hay 鑛産, bính âm: kuàng chǎn), trong đó theo Hán-Việt Thiều Chữu thì: 礦 (quáng/khoáng) nghĩa là quặng mỏ và phàm vật gì lấy ở mỏ ra đều gọi là quáng, người Việt quen đọc là khoáng, cũng dùng như 鑛 (khoáng, nghĩa là mỏ, các loài kim chưa thuộc gọi là khoáng) còn 產/産 nghĩa là nơi sinh ra.
== Các dạng khoáng sản ==
Theo mục đích và công dụng người ta chia ra thành các dạng khoáng sản sau:
Khoáng sản năng lượng hay nhiên liệu hóa thạch bao gồm dầu mỏ, hơi đốt, đá phiến dầu, than bùn, than v.v.
Khoáng sản phi kim loại: Bao gồm các dạng vật liệu xây dựng như đá vôi, cát, đất sét v.v.; đá xây dựng như đá hoa cương v.v và các khoáng sản phi kim khác.
Khoáng sản kim loại hay quặng: Bao gồm các loại quặng kim loại đen, kim loại màu và kim loại quý.
Nguyên liệu đá màu bao gồm ngọc thạch anh (jasper), rhodolit, đá mã não (agat), onyx, canxedon, charoit, nefrit v.v. và các loại đá quý như kim cương, ngọc lục bảo, hồng ngọc, xa-phia.
Thủy khoáng: Bao gồm nước khoáng và nước ngọt ngầm dưới đất.
Nguyên liệu khoáng-hóa: Bao gồm apatit và các muối khoáng khác như photphat, barit, borat v.v.
Dựa trên trạng thái vật lý phân ra:
Khoáng sản rắn: như quặng kim loại v.v
Khoáng sản lỏng: như dầu mỏ, nước khoáng v.v
Khoáng sản khí: khí đốt, khí trơ.
Sự tích tụ của khoáng sản tạo ra các mỏ (hay còn gọi là khoáng sàng), còn trong trường hợp chiếm một diện tích lớn thì gọi là các vùng mỏ, bồn hay bể. Người ta cũng phân biệt các loại khoáng sản rắn, lỏng và khí.
Khoáng sản nằm trong lớp vỏ Trái Đất ở dạng tích tụ với các đặc trưng khác nhau (gân, mạch, cán, bướu, nham cán, vỉa, ổ, sa khoáng v.v.) .
Việc khai thác các khoáng sản gọi là khai khoáng.
== Các dấu hiệu biểu hiện của tích tụ khoáng sản ==
Các khoáng vật cộng sinh của mỏ quặng (đối với vàng là thạch anh, đối với platin là quặng sắt có crôm v.v.).
Các mảnh vụn, đá cuội v.v, bắt gặp tại các khe máng sông suối.
Các chỗ lộ vỉa.
Các nguồn khoáng vật.
Thảm thực vật.
Trong quá trình thăm dò khoáng sản, người ta thường sử dụng các phương pháp như đào giếng, mương, hào, rãnh, các đường xẻ hay tiến hành khoan các lỗ khoan v.v. để bắt gặp thân quặng.
== Diện tích phổ biến ==
Theo diện tích phổ biến của khoáng sản, người ta chia ra như sau:
Tỉnh khoáng sản là một phần lớn lớp vỏ Trái Đất, tương quan với nền địa chất, các đới uốn nếp hay đáy đại dương, với các mỏ khoáng sản phân bố trong phạm vi của nó và vốn có của nó. Chẳng hạn, người ta chia ra các tỉnh Kavkaz, tỉnh Ural (Nga) v.v. Đôi khi người ta cũng phân biệt tỉnh kim loại, tỉnh than, tỉnh dầu khí v.v.
Vùng (đới, bể/bồn) khoáng sản chiếm một phần của tỉnh và được đặc trưng bằng một tập hợp các mỏ khoáng sản xác định về thành phần và nguồn gốc, được xếp vào một và chỉ một nhóm thành phần kiến tạo bậc nhất (nếp lồi ghép, nếp lõm v.v). Các đới khoáng sản có thể là thuần nhất mà cũng có thể là không thuần nhất theo thành phần khoáng sản, kích thước của nó dao động trong các giới hạn rộng. Các bể khoáng sản tạo thành các vùng có sự phổ biến liên tục hay gần như liên tục của các khoáng sản dạng vỉa.
Khu khoáng sản tạo thành một phần của vùng và thường được đặc trưng bằng sự tập trung cục bộ của các mỏ, và liên quan tới điều này, khu khoáng sản không hiếm khi được gọi là đầu mối khoáng sản.
Bãi quặng là một nhóm các mỏ đồng nhất về nguồn gốc và thống nhất về cấu trúc địa chất. Bãi khoáng sản cấu thành từ các mỏ, còn các mỏ cấu thành từ các thân quặng.
Thân quặng hay vỉa quặng là sự tích tụ cục bộ của nguyên liệu khoáng vật thiên nhiên, có thành phần cấu trúc-thạch học xác định hay tổ hợp của các thành phần này.
Vùng, khu, bãi mỏ có thể lộ ra hoàn toàn trên bề mặt đất và được nói tới như là mỏ lộ thiên; nó cũng có thể bị phủ một phần bởi các loại đất đá khác nhau, thuộc về loại mỏ bán kín hoặc có thể bị vùi lấp hoàn toàn thì được xếp vào loại mỏ kín.
== Các nhóm trữ lượng khoáng sản rắn theo giá trị kinh tế-thương mại ==
Các trữ lượng khoáng sản rắn và hàm lượng của các thành phần hữu ích có trong chúng theo giá trị kinh tế được chia ra thành 2 nhóm chính, theo các kiểm định và tính toán riêng biệt:
Cân đối/kinh tế/thương mại
Không cân đối/kinh tế tiềm tàng/thương mại tiềm tàng.
Các trữ lượng cân đối/kinh tế/thương mại. Chúng được phân chia thành:
Các trữ lượng, mà sự khai thác và thu hồi chúng tại thời điểm đánh giá theo các tính toán kinh tế-kỹ thuật là có hiệu quả về mặt kinh tế, trong điều kiện cạnh tranh thị trường trong việc sử dụng các kỹ thuật và công nghệ khai thác và chế biến nguyên liệu, đảm bảo tuân thủ các yêu cầu về sử dụng hợp lý lòng đất và bảo vệ môi trường trong và sau quá trình khai thác, chế biến khoáng sản.
Các trữ lượng, mà sự khai thác hay thu hồi chúng tại thời điểm đánh giá theo các tính toán kinh tế-kỹ thuật không đảm bảo tính hiệu quả có thể thực hiện được về mặt kinh tế-thương mại trong việc khai thác-chế biến chúng trong điều kiện cạnh tranh thị trường do các chỉ số kinh tế-kỹ thuật thấp, nhưng sự khai thác nó trở thành có thể về mặt kinh tế-thương mại khi có những sự hỗ trợ đặc biệt từ phía nhà nước đối với các pháp nhân khai thác khoáng sản dưới các dạng như ưu đãi thuế, trợ cấp, trợ giá v.v. (trữ lượng kinh tế/thương mại có giới hạn).
Trữ lượng không cân đối (kinh tế tiềm năng/phi kinh tế). Chúng chia ra thành:
Các trữ lượng, đảm bảo các yêu cầu được đề ra đối với các trữ lượng cân đối, nhưng việc sử dụng chúng tại thời điểm đánh giá là không thể, theo các điều kiện và tình trạng của kỹ thuật khai mỏ, các yêu cầu của luật pháp, các yêu cầu sinh thái-môi trường và/hoặc các điều kiện khác;
Các trữ lượng, mà việc khai thác hay thu hồi chúng tại thời điểm đánh giá là không hợp lý về mặt kinh tế do hàm lượng thành phần khoáng sản thấp, bề dày thân quặng mỏng hay sự phức tạp chuyên môn đặc biệt trong các điều kiện khai thác và/hoặc chế biến nó, nhưng việc sử dụng nó trong tương lai gần có thể trở thành hiệu quả về mặt kinh tế-thương mại do sự gia tăng giá cả của khoáng sản trên thị trường hay do các tiến bộ khoa học-kỹ thuật đảm bảo cho việc giảm giá thành sản xuất của khoáng sản đó.
Các trữ lượng không cân đối được kiểm định và tính toán trong trường hợp, nếu các tính toán kinh tế-kỹ thuật đưa ra khả năng hoặc là bảo tồn nó trong lòng đất để khai thác sau này; hoặc chỉ ra sự hợp lý của việc vừa khai thác hiện tại vừa lưu giữ và bảo tồn để sử dụng trong tương lai.
Trong tính toán các trữ lượng không cân đối người ta chia chúng ra thành các tiểu thể loại, phụ thuộc vào nguyên nhân làm chúng trở thành không cân đối (kinh tế, kỹ thuật, kỹ thuật khai mỏ, sinh thái, môi trường v.v.).
Đánh giá tính chất cân đối của các trữ lượng khoáng sản được thực hiện trên cơ sở các luận chứng kinh tế-kỹ thuật chuyên môn, được thẩm định bởi các chuyên gia trong các lĩnh vực khác nhau. Trong các luận chứng này cần phải dự kiến trước các phương pháp khai thác mỏ có hiệu quả nhất, đánh giá về mặt giá thành và đề xuất các tham số tiêu chuẩn, đảm bảo việc sử dụng đầy đủ và tổng hợp nhất đối với các trữ lượng, với sự tính toán tới các yêu cầu của luật pháp trong lĩnh vực bảo vệ và phục hồi môi trường-sinh thái trong và sau khi khai thác.
== Xem thêm ==
Khai khoáng
Phân cấp trữ lượng khoáng sản
== Liên kết ngoài ==
== Ghi chú == |
x.txt | X, x là chữ cái thứ 24 trong phần nhiều chữ cái dựa trên Latinh và là chữ thứ 28 trong chữ cái tiếng Việt. Ngoài ra, X là tên gọi của một hệ thống cửa sổ thường dùng trong các hệ điều hành UNIX và tựa-Unix (Xem Hệ thống X Window). el: ξι (Ξ ξ)
== Tham khảo == |
bristol.txt | Bristol (phát âm tiếng Anh: /ˈbrɪstəl/) là một thành phố, và hạt nghi thức ở Tây Nam Anh, 105 dặm (169 km) phía tây Luân Đôn.
Với dân số khoảng 410.000 người và dân số vùng đô thị 550.000 người, đây là thành phố lớn thứ sáu của Anh, thành phố đông dân thứ 9 của Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland, một trong những thành phố cốt lõi của Anh và là thành phố đông dân nhất ở miền Tây Nam nước Anh.
Bristol đã nhận được một hiến chương hoàng gia năm 1155 và được ban cho tư cách hạt năm 1373. Trong một nửa thiên niên kỷ, đây là thành phố lớn thứ hai hoặc 3 ở Anh, cho đến khi có sự vươn lên mạnh mẽ của Liverpool, Manchester và Birmingham trong cuộc Cách mạng công nghiệp cuối thế kỷ 18. Thành phố này giáp Bath và Đông Bắc Somerset, Bắc Somerset và Nam Gloucestershire, nằm ở vị trí trung tâm giữa các thành phố Bath, Gloucester và Newport, và có một bờ biển ngắn bên cửa sông Severn, một con sông chảy vào eo biển Bristol. Dòng sông Avon chảy quanh nối Bristol và thành phố lân cận Bath.
Bristol là một trong những trung tâm văn hóa, việc làm và giáo dục của khu vực. Với trường đại học Bristol được thành lập từ năm 1909, nằm trong số 10 trường Đại học có chất lượng sinh viên cao nhất của nước Anh. Từ những thời kỳ đầu tiên của mình, sự thịnh vượng của Bristol đã được kết nối với sự thịnh vượng của Cảng Bristol, nơi tọa lạc của thành phố Bristol ngày nay với các hoạt động trao đổi thương phẩm và mua bán nô lệ. Ngày nay hệ thống cảng của thành phố đã được dời đến bờ biển eo biển Bristol tại Avonmouth và Portbury. Những năm gần đây, nền kinh tế của thành phố đã được xây dựng dựa trên ngành không gian vũ trụ và bến cảng cũ của thành phố đã được phục hồi thành một trung tâm di sản và văn hóa.
== Chú thích == |
31 tháng 5.txt | Ngày 31 tháng 5 là ngày thứ 151 (152 trong năm nhuận) trong lịch Gregory. Còn 214 ngày trong năm.
== Sự kiện ==
5261 – Một trận động đất lớn tấn công Antioch, Thổ Nhĩ Kỳ làm thiệt mạng 250.000 người.
1223 – Quân Mông Cổ dưới quyền Triết Biệt và Tốc Bất Đài đánh bại liên quân các quốc gia Rus và Cuman tại Donetsk, Ukraina ngày nay.
1578 – Quốc vương Henri III đặt viên đá đầu tiên cho Pont Neuf, nghĩa là "cầu mới", bắc qua sông Seine tại Paris, Pháp.
1740 – Thái tử Friedrich II kế vị quốc vương của Phổ, ông là một nhà lý luận quân sự nổi bật.
1838 – Cộng hòa Liên bang Trung Mỹ giải thể.
1911 – Tàu khách vượt đại dương RMS Titanic được hạ thủy.
1942 – Chiến tranh thế giới thứ hai: Các tàu ngầm của Nhật Bản bắt đầu tấn công cảng Sydney, Úc nhằm đánh chìm các tàu chiến của quân Đồng Minh.
1962 – Liên bang Tây Ấn giải thể.
1962 – Trung tá đội cận vệ Đức Quốc xã Adolf Eichmann bị Israel thi hành án tử hình tại nước này.
== Sinh ==
1417 - Nguyễn Trực, trạng nguyên nhà Lê (m. 1474)
1852 - Julius Richard Petri, nhà vi khuẩn học người Đức
1930 - Clint Eastwood, đạo diễn, diễn viên người Mỹ
1964 - Scotti Hill, nhạc sĩ guitar nhạc rock
1976 - Colin Farrell, diễn viên người Ireland
1983 - Trần Nghiên Hy, diễn viên, ca sĩ người Đài Loan
1989 - Marco Reus, cầu thủ bóng đá Đức đang thi đấu cho Borussia Dortmund và Đội tuyển bóng đá quốc gia Đức
== Mất ==
1809 - Joseph Haydn, nhà soạn nhạc người Áo (s. 1732)
1832 - Évariste Galois, nhà toán học Pháp (s. 1811)
== Những ngày lễ và kỉ niệm ==
Visakha Bucha, sinh nhật của tượng Phật (Thái Lan)
Ngày thế giới không thuốc lá
== Tham khảo == |
kiểm soát tính nhất quán.txt | Kiểm soát tính nhất quán hay kiểm soát tiêu đề chuẩn (tiếng Anh: authority control) là một quy trình trong khoa học thư viện nhằm tổ chức mục lục thư viện và thông tin thư mục bằng cách sử dụng một tên gọi riêng biệt và đơn nhất cho mỗi chủ đề. Các tiêu đề độc nhất này được áp dụng xuyên suốt mục lục, và hợp với các dữ liệu sắp xếp khác như nối kết (linkage) và tham chiếu chéo. Mỗi tiêu đề được miêu tả vắn tắt xét về mặt phạm vi và sử dụng, và cách tổ chức này giúp nhân viên thư viện duy trì thư mục và khiến nó trở nên thân thiện với người sử dụng. Từ authority trong thuật ngữ authority control bắt nguồn từ cách dùng ban đầu để chỉ "tác giả" (author) chứ không mang nghĩa "quyền lực" (authority) cho dù hai mặt nghĩa này đều có quan hệ về mặt từ nguyên (trong tiếng Anh).
Những người lập mục lục gán mỗi chủ đề-như một tác giả, cuốn sách, loạt sách-một tiêu đề độc nhất cụ thể rồi sau đó sử dụng xuyên suốt và rõ ràng nhằm miêu tả tất cả các tham chiếu đến cùng một chủ đề đó, ngay cả khi có các biến thể như sự sai khác về chính tả, bút danh hay biệt hiệu. Tiêu đề độc nhất đó có khả năng hướng người sử dụng đến tất cả các thông tin liên quan. Biểu ghi có kiểm soát hay biểu ghi nhất quán (authority record) có thể được kết hợp vào một cơ sở dữ liệu và gọi tên là hồ sơ tiêu đề chuẩn (authority file). Việc duy trì, cập nhật các hồ sơ này cũng như việc duy trì, cập nhật các nối kết hợp lý (logical linkage) đến các hồ sơ khác là công việc của quản thư và nhân viên lập thư mục thư viện. Vì thế, kiểm soát tính nhất quán là một ví dụ của kiểm soát từ vựng và kiểm soát thư mục (bibliographic control).
Theo lý thuyết thì bất cứ mẩu thông tin nào cũng có thể được kiểm soát tính nhất quán (ví dụ như tên cá nhân và tên tổ chức, nhan đề đồng nhất, tên loạt sách); tuy nhiên, quản thư thường tập trung kiểm soát tính nhất quán tên tác giả và nhan đề sách. Theo thời gian, thông tin sẽ thay đổi và cần phải được tổ chức lại. Kiểm soát tính nhất quán không chỉ là tạo ra một hệ thống hoàn hảo không tỳ vết mà hơn thế nữa, đây là một nỗ lực liên tục để bắt kịp với các thay đổi và cố gắng mang "cấu trúc và trật tự" đến để giúp người sử dụng tìm kiếm thông tin.
== Lợi ích của kiểm soát tính nhất quán ==
Giúp nghiên cứu tốt hơn: kiểm soát tính nhất quán giúp nhà nghiên cứu tiếp cận một chủ đề cụ thể nào đó mà ít tốn công sức hơn. Một mục lục/cơ sở dữ liệu điện tử được thiết kế tốt cho phép nhà nghiên cứu truy vấn bằng vài từ khóa để tìm ra một thuật ngữ hay cụm từ đầy đủ, từ đó cải thiện tính chính xác và tiết kiệm thời gian.
Khiến việc nghiên cứu trở nên dễ tiên liệu hơn: có thể dùng kèm các từ tìm kiếm như "and" hoặc "not" hoặc "or" hoặc các toán tử luận lý khác trên trình duyệt web. Điều này giúp tăng khả năng tìm ra các mục có liên quan.
Tạo sự thống nhất trong các biểu ghi
Thông tin được tổ chức và có cấu trúc
Mang lại hiệu năng cho người lập mục lục: quá trình kiểm soát tính nhất quán không chỉ giúp ích lớn cho các nhà nghiên cứu khi cần tìm kiếm một chủ đề nào đó để nghiên cứu mà còn giúp những nhân viên lập mục lục thư việc tổ chức thông tin. Những người này có thể sử dụng các biểu ghi nhất quán khi phân loại mục mới do họ có thể thấy được biểu ghi nào đã có trong mục lục, từ đó tránh lãng phí công sức một cách không cần thiết.
Tối đa hóa tài nguyên thư viện
Dễ dàng hơn trong việc duy trì mục lục: kiểm soát tính nhất quán cho phép các nhân viên lập thư mục phát hiện và sửa lỗi. Trong một vài trường hợp, các phần mềm hỗ trợ họ thực hiện các nhiệm vụ như tự động dọn dẹp. Kiểm soát tính nhất quán cũng hỗ trợ người tạo và người dùng siêu dữ liệu (metadata).
Giảm lỗi: kiểm soát tính nhất quán có khả năng giúp bắt lỗi viết nhầm hay viết sai chính tả mà theo thời gian có thể chất chồng nhiều lên. Ví dụ, máy có thể dò ra lỗi gõ sai chính tả rồi từ đó nhân viên thư viện sẽ sửa lại.
== Chú thích == |
sông hudson.txt | Sông Hudson là một dòng sông dài 507 km chảy từ phía bắc đến phía nam qua phía đông New York. Nó bắt nguồn từ hồ Tear hồ của Clouds, trên các sườn núi Marcy trong dãy núi Adirondack, chảy qua Albany, và cuối cùng hình thành biên giới giữa thành phố New York và New Jersey tại cửa sông trước khi đổ vào vịnh Upper New York. Một nửa hạ lưu của sông này là lưu vực thủy triều bao trùm Ford Hudson. Vùng nước thủy triều ảnh hưởng đến dòng chảy của sông Hudson đến tận phía bắc tận Troy. Sông được đặt theo tên của Henry Hudson, một người Anh chạy làm thủy thủy cho Công ty Đông Ấn Hà Lan, ông là người khám phá sông này vào năm 1609. Trước đó sông này đã được quan sát bởi nhà thám hiểm người Ý Giovanni da Verrazano, người đi thảm hiểm cho vua Francis I của Pháp năm 1524, khi ông trở thành người châu Âu đầu tiên được biết đến vào vịnh Thượng, nhưng ông đã coi con sông này một cửa sông. Người Hà Lan được gọi là sông Bắc sông còn sông Delaware họ gọi là "sông Nam"- và nó được hình thành xương sống của các thuộc địa của Hà Lan mới Hà Lan. Khu định cư của thuộc địa tập trung xung quanh Hudson, và tầm quan trọng chiến lược của nó như là cửa ngõ vào bên trong Mỹ đã dẫn đến nhiều năm cạnh tranh giữa người Anh và người Hà Lan giành quyền kiểm soát của con sông và thuộc địa.
Trong thế kỷ XVIII, thung lũng sông và các cư dân của nó là chủ đề và cảm hứng của Washington Irving, tác giả Mỹ nổi tiếng thế giới đầu tiên. Trong thế kỷ 19, khu vực này truyền cảm hứng cho trường phái hội họa sông Hudson.
== Tham khảo == |
carnelian.txt | Carnelian (hay cornelian) là một loại khoáng vật có màu nâu-đỏ, được xem là một loại đá bán quý. Tương tự như carnelian là sard, có cứng hơn và sẫm hơn (khác biệt là không giòn, và hai lên gọi có thể sử dụng qua lại được). Cả hau carnelian và sard là các biến thể của silica thuộc nhóm canxedon có màu sắc do các tạp chất ôxit sắt III. Màu sắc có thể thay đổi mạnh, từ vàng nhạt đến hầu như đen hoàn toàn. Nó có mặt phổ biến ở Brazil, Ấn Độ, Siberia, và Đức.
== Tham khảo ==
== Liên kết ngoài ==
Mindat article on carnelian
Mindat article on sard |
lục quân.txt | Lục quân là một quân chủng trong quân đội hoạt động chủ yếu trên mặt đất, thường có số quân đông nhất, có trang bị và phương thức tác chiến đa dạng, phong phú.
Các binh chủng trực thuộc quân chủng Lục quân
1- Bộ binh: binh chủng chủ yếu của lục quân, được trang bị nhẹ để tác chiến trên bộ; đảm nhiệm chức năng chủ yếu là tiêu diệt đối phương, đánh chiếm trận địa của chúng và giữ vững trận địa của mình. Là binh chủng cổ nhất trong lịch sử và thường là binh chủng đầu tiên được xây dựng trong các quân đội. Từ giữa thế kỉ 20, phần lớn các nước công nghiệp có xu hướng phát triển BB thành BB cơ giới
2- Bộ binh cơ giới: bộ binh được trang bị xe chiến đấu bọc thép để cơ động và chiến đấu, có thể thực hành chiến đấu ngay trên xe hoặc với đội hình đi bộ. So với bộ binh, BBCG được trang bị hoả lực mạnh hơn và có sức cơ động cao hơn.
3- Pháo binh là lực lượng hỏa lực chủ yếu của lục quân, thường được trang bị các loại pháo, tên lửa và súng cối, dùng để sát thương, tiêu diệt các mục tiêu và trực tiếp chi viện hỏa lực cho các lực lượng tác chiến trên mặt đất, mặt nước, có thể chiến đấu hiệp đồng hoặc độc lập.
4- Tăng- thiết giáp. chịu trách nhiệm tác chiến đột kích trên bộ và đổ bộ (hải quân), được trang bị các loại xe tăng, xe thiết giáp, với hỏa lực mạnh, sức cơ động cao.
5- Đặc công là một lực lượng đặc biệt tinh nhuệ được tổ chức, trang bị và huấn luyện đặc biệt, có phương pháp tác chiến linh hoạt, táo bạo, bất ngờ, thường dùng để đánh các mục tiêu hiểm yếu nằm sâu trong đội hình chiến đấu, bố trí chiến dịch và hậu phương của địch
6- Công binh có chuyên môn kỹ thuật với chức năng bảo đảm công binh trong chiến đấu và xây dựng, có thể trực tiếp chiến đấu bằng vũ khí công binh
7- Thông tin liên lạc có chức năng bảo đảm thông tin liên lạc cho hệ thống chỉ huy trong toàn quân.
8- Hóa học là một binh chủng chuyên môn kỹ thuật, có chức năng bảo đảm hóa học cho tác chiến, làm nòng cốt trong việc phòng chống vũ khí hủy diệt lớn, ngụy trang bảo vệ các mục tiêu quan trọng của Quân đội, nghi binh đánh lừa địch bằng màn khói. Bộ đội Hóa học còn có thể trực tiếp chiến đấu bằng vũ khí bộ binh và súng phun lửa.
Thời xưa còn có Kỵ binh, tượng binh,...
== Tham khảo == |
toyota.txt | Toyota Motor Corporation (トヨタ自動車株式会社, Toyota Jidosha Kabushiki-gaisha) là một công ty đa quốc gia có trụ sở tại Nhật Bản, và là nhà sản xuất ô tô lớn nhất thế giới vào năm 2015. Về mặt công nhận quốc tế, hãng Toyota là nhà sản xuất xe hơi duy nhất có mặt trong nhóm top 10 xếp hạng công nhận tên BrandZ.
== Lịch sử hình thành ==
Lịch sử ra đời hãng Toyota bắt đầu tại một vùng nông thôn gần Nagoya, Nhật Bản vào năm 1867. Nhà sáng lập hãng Toyota Sakichi Toyoda ra đời trong một gia đình thợ mộc nghèo, ông lớn lên và theo học nghề của cha, trở thành một thợ mộc với chuyên môn là đóng các máy dệt bằng gỗ. Con trai ông Kiichiro Toyoda được cha cho theo học ngành cơ khí chế tạo máy tại trường đại học Tokioter và hai cha con cùng nhau nghiên cứu, chế tạo ra một chiếc máy dệt tự động vào năm 1924, loại có giá thành chế tạo rẻ hơn nhưng hoạt động hiệu quả hơn những chiếc máy bằng gỗ cùng loại.
Năm 1929, khi nhận thấy rằng ngành công nghiệp ôtô ngày càng phát triển, ông cử con trai sang Anh quốc và bán bằng sáng chế chiếc máy dệt của mình cho công ty Platt Brothers để lấy 100.000 bảng Anh. Với số tiền này ông đầu tư vào việc chế tạo và sản xuất ôtô.
Năm 1934 chiếc xe mẫu đầu tiên ra đời, và được đưa vào sản xuất đại trà vào năm 1935 dưới tên gọi Toyota A1. Ngày 28 tháng 8 năm 1937 công ty Toyota Motor Corporation chính thức ra đời, mở ra một kỷ nguyên với những thành công rực rỡ trong ngành công nghiệp ôtô.
== Các chi nhánh và nhà máy ==
Toyota hiện có 63 nhà máy, 12 trong số đó ở Nhật Bản, 51 nhà máy còn lại ở 26 nước khác nhau trên toàn thế giới:
Úc
Trung Quốc, Trường Xuân: Tianjin FAW Toyota Motor Co. Ltd, Sản xuất xe Toyota Vitz/Echo, Prius
Pháp, Valenciennes: Sản xuất xe Yaris
Anh quốc, Burnaston (Derbyshire: Sản xuất xe Avensis und Auris, Deeside (Flintshire): Sản xuất động cơ
Indonesia
Nhật Bản
Thành phố Toyota-Stadt
Nhà máy chính (本社工場; 1938–)
Nhà máy Motomachi (元町工場; 1959–)
Nhà máy Kamigō (上郷工場; 1965–)
Nhà máy Takaoka (高岡工場; 1966–)
Nhà máy Tsutsumi (堤工場; 1970–)
Nhà máy Teihō (貞宝工場; 1986–)
Nhà máy Hirose (広瀬工場; 1989–)
Thành phố Miyoshi
Nhà máy Miyoshi (三好工場; 1968–)
Nhà máy Myōchi (明知工場; 1973–)
Nhà máy Shimoyama (下山工場; 1975–)
Thành phố Hekinan: Nhà máy Kinuura (衣浦工場; 1978–)
Thành phố Tahara: Nhà máy Tahara (衣浦工場; 1979–)
Canada (in Cambridge, Ontario)
México, Tijuana: Pick-up Toyota Tacoma
Nam Phi
Thái Lan
Thổ Nhĩ Kỳ, Adapazarı: Auris und Corolla Verso
Tiệp Khắc, Kolín: Toyota Peugeot Citroën Automobile, Nhà máy sản xuất xe Toyota Aygo, Peugeot 107 và Citroën C1
Mỹ, Sản xuất xe Toyota Camry
Ba Lan, Toyota Motor Industries Poland (TMIP): Sản xuất động cơ dầu Diesel tại Jelcz-Laskowice, động cơ xăng và bộ truyền động tại Wałbrzych
Nga, Toyota Motors Manufacturing Russia (TMMR) tại Sankt Petersburg: Sản xuất Toyota Camry cho thị trường Nga
Việt Nam, Nhà máy Toyota Việt Nam (MTV) được xây dựng ở Vĩnh Phúc, Việt Nam sản xuất các dòng xe: Camry, Corolla Altis, Vios, Innova và Fortuner
Các chi nhánh và đại diện của Toyota có mặt tại 160 nước trên toàn thế giới.
== Các dòng xe ==
=== Sedans ===
Toyota Corolla
Toyota Yaris
=== Coupes ===
Toyota MR2
Toyota 2000GT
Toyota 86
=== SUV ===
=== Hatchbacks ===
=== Station wagons ===
=== Minivans ===
=== Hybrid vehicles ===
=== Pickup trucks ===
=== Trucks ===
=== Vans ===
=== Buses ===
== Tham khảo == |
burkina faso.txt | Burkina Faso (phiên âm Tiếng Việt: Buốc-ki-na Pha-xô) là một quốc gia nằm ở Tây Phi. Nó có biên giới với Mali về phía bắc, Niger về phía đông, Bénin về phía đông nam, Togo và Ghana về phía đông nam, và Côte d'Ivoire về phía tây nam. Trước đây gọi là nước Cộng hòa Thượng Volta, sau đó tháng 4 năm 1984 tổng thống Thomas Sankara đổi tên gọi để có nghĩa "Đất những người đứng lên" trong tiếng Moré và Dioula, ngôn ngữ dân tộc chính của đất nước. Trong tiếng Moré, "Burkina" nghĩa là "Những người đàn ông vẹn toàn", còn trong tiếng Dioula "Faso" có nghĩa là "Cái nhà của cha". Đất nước này giành độc lập từ Pháp năm 1960. Sự bất ổn về chính thể đã xảy ra trong thời gian từ năm 1970 đến năm 1980. Cuộc bầu cử nhiều đảng phái đầu tiên được tổ chức vào những năm 1990. Mỗi năm hàng trăm nghìn nông dân nước này di cư sang Côte d’lvoire và Ghana tìm công việc. Họ được gọi là Burkinabé.
== Lịch sử ==
=== Thời kỳ nguyên thủy ===
Giống như tất cả các xứ phía tây của châu Phi, Burkina Faso có dân cư từ khá sớm. Từ khoảng năm 12.000 đến 5000 TCN, ở phía bắc của đất nước đã có những người đi săn và người hái lượm; những công cụ của họ (nạo, đục và tên) đã được phát hiện vào năm 1973. Những người làm nông nghiệp đã đến cư trú ở đất nước này vào khoảng 3600 đến 2600 TCN, họ để lại những kiến trúc gây ấn tượng cho cả thời nay. Việc sử dụng đồ sắt, đồ gốm và đồ đá mài nhẵn phát triển vào thời kỳ giữa 1500 và 1000 TCN. Đời sống tinh thần cũng phát triển trong thời kỳ này, thể thể hiện qua các di chỉ được tìm thấy trong các nơi chôn cất người chết.
Những di tích Dogon được tìm thấy trong trung tâm phía bắc, phía bắc và vùng tây bắc. Vào giữa thế kỷ 15 và thế kỷ 16 TCN, những chủ nhân của chúng đã rời bỏ vùng này và chuyển tới vùng vách đá đứng ở Bandiagara. Người ta đã phát hiện các bức tường cao tại các địa phương ở phía tây nam của Burkina Faso (cũng như tại Côte d'Ivoire). Nhưng hiện vẫn chưa biết chủ nhân của chúng là ai.
Burkina Faso là một vùng kinh tế rất quan trọng của đế quốc Songhai vào thế kỷ 15 và thế kỷ 16.
=== Từ thuộc địa tới độc lập ===
Sau một thập niên của sự giằng xé và cạnh tranh giữa Anh và Pháp, thông qua hiệp ước quy định đội quân viễn chinh dưới quân đội và những người tiên phong dân sự, vào năm 1896. Thực dân Pháp đánh thắng vương quốc Ouagadougou, và bắt buộc họ phải trở thành một nước bảo hộ thuộc Pháp. Vùng phía tây, nơi này một lực lượng người trị vì Samori Ture chống lại tình trạng các thế lực phức tạp, và vùng phía đông Pháp đã chiếm đóng và năm 1897 với các chiến dịch khác nhau. Vào khoảng năm 1898, lãnh thổ tương đương Burkina Faso hôm nay đã được chiến thắng, mặc dù điều khiển nhiều phần vẫn còn không ổn định. Pháp và Anh thỏa thuận ngầm ngày 14 tháng 6 năm 1898, chấm dứt sự tranh giành giữa hai quyền thuộc địa và cơ bản không để lại dấu vết đường biên giới giữa họ. Dựa trên Pháp đã đứng ngoài cuộc chiến tranh giành lại những cộng đồng địa phương và các thế lực chính trị tiếp tục cho đến chừng 5 năm. Vào năm 1904 đế quốc thuộc địa tây Phi của Pháp với phạm vi lớn được tổ chức lại, bây giờ phần lớn được bình định lãnh thổ của lòng chảo Volta được hợp nhất vào Upper-Senegal-Niger (Haut-Sénégal et Niger) thuộc địa tây Phi của Pháp (AOF). Thuộc địa vốn có của nó thủ phủ Bamako.
Những quân dịch từ lãnh thổ tham gia mặt trận châu Âu của chiến tranh thế giới thứ nhất trong các tiểu đoàn bộ binh Senegal (Tirailleurs sénégalais). Giữa năm 1915 và 1916 các vùng phía phía tây nơi mà bây giờ là Burkina Faso và Biên giới phía đông của Mali trở thành phạm vi hoạt động của một trong những lực lượng vũ trang quan trọng chống lại chính phủ thuộc địa (được biết đến như cuộc chiến tranh Volta-Bani). Chính phủ Pháp cuối cùng phải đàn áp phong trào, nhưng chỉ khi sau việc bị thất bại vì được huy động lực lượng quân viễn chinh lớn nhất của nó lịch sử thuộc địa bước sang trang. Lực lượng vũ trang đối lập cũng phá hoại phía bắc Sahelian, trong khi Tuareg và nhóm liên minh vùng Dori chấm dứt sự ngừng bắn của họ với chính phủ. Đồng thời cuộc chiến tranh thế giới thứ nhất kết thúc vào ngày 01 tháng 03 năm 1919, sợ hãi sự tái diễn đều đặn của nổi dậy bằng vũ trang và các cân nhắc kinh tế dẫn đến chính phủ thuộc địa phân ra lãnh thổ hiện thời là Burkina Faso từ Haut Sénégal et Niger nhằm tăng cường quản lý nó. Thuộc địa mới được đặt tên Haute Volta và François Charles Alexis Édouard Hesling trở thành thống đốc đầu tiên của nó. Hesling bắt đầu thực hiện một chương trình đầy tham vọng và đã xúc tiến trồng bông xuất khẩu. Chính sách bông, dựa vào sự bắt buộc, thất bại và thu nhập đình trệ. Thuộc địa đã bị phá bỏ vào ngày 5 tháng 9 năm 1932, và lãnh thổ của nó đã được chia cắt giữa Côte d’Ivoire, Mali và Niger, sự chia cắt nhiều nhất là dân số và các thành phố của Ouagadougou và Bobo-Dioulasso trải tới Côte d'Ivoire.
Quyết định đã đảo ngược trong thời điểm quần chúng chống đối mạnh thuộc địa, mãi cho đến kết thúc chiến tranh thế giới thứ hai và ngày 4 tháng 9 năm 1947 Upper Volta đã được tái lập lại ranh giới của nó có từ năm 1932. Vào 11 tháng 12 năm 1958, nó được trao quy chể tự trị trở thành một nước cộng hòa và là thành viên Franco cộng đồng châu Phi (La Communauté Franco-Africaine). Năm 1960 đã đạt được độc lập đầy đủ. Năm 1966 sự kiện quân đội đầu tiên được lập; chế độ dân sự trở lại năm 1978. Đã có những tác động khác thường, theo chủ trương của Saye Zerbo vào năm 1980, với chiều hướng đã bị lật đổ năm 1982. Một sự táo bạo chống lại giới thiệu năm 1983, mà mang lại thuyết phục người thủ lĩnh Thomas Sankara lên lãnh đạo. Vào năm 1984 chính phủ cách mạng đã thay đổi tên là nước Burkina Faso, quốc kỳ, quốc ca của nó. Tổng thống hiện thời là Blaise Compaoré, người đã nắm quyền lực từ năm 1987 sau cuộc đảo chính giết chết Thomas Sankara.
== Chính trị ==
Hiến pháp ngày 2 tháng 6 năm 1991 thiết lập một chế độ bán tổng thống và một nghị viện. Tổng thống có quyền giải tán nghị viện. Tổng thống được bầu chọn và có nhiệm kì 7 năm. Tuy nhiên vào năm 2000, một hiến pháp quy định giảm nhiệm kì của tổng thống từ 7 năm xuống 5 năm. Đáng lẽ đã có một sửa đổi hiến pháp nữa vào năm 2005 nhằm ngăn tổng thống đương nhiệm Blaise Compaoré tái ứng cử thêm một nhiệm kỳ nữa. Tuy nhiên, vì không gặp phải thách thức nào từ những ứng viên là những lãnh tụ đảng khác, vào tháng 10 năm 2005 hội đồng hiến pháp quyết định rằng bởi vì Compaoré đương nhiệm từ năm 2000, nên hiến pháp sửa đổi sẽ không có hiệu lực với ông khi kết thúc nhiệm kỳ tổng thống lần hai. Nó đã dọn đường cho ông này tái cử vào năm 2005. Vào ngày 13 tháng 11 năm 2005, Compaoré tái cử dễ dàng do các phe đối lập thiếu đoàn kết.
Nghị viện được chia làm hai viện: Thượng viện và Hạ viện. Có một tòa án hiến pháp bao gồm 10 thành viên, và một hội đồng kinh tế và xã hội có vai trò là tư vấn thuần túy.
== Đối ngoại ==
Burkina Faso thực hiện đường lối không liên kết, quan hệ hữu nghị với tất cả các nước nhưng ưu tiên láng giềng khu vực và đẩy mạnh quan hệ với các nước phương Tây nhất là Pháp để tranh thủ đầu tư vốn và kỹ thuật.
Năm 1996, sau khi Burkina Faso lập quan hệ ngoại giao với Đài Loan, Trung Quốc đã cắt đứt quan hệ ngoại giao với nước này. Với vai trò là trung gian tích cực giải quyết xung đột nội bộ, sắc tộc tại một số nước Tây Phi (Togo, Niger), vị thế của Burkina Faso ngày càng được các nước trong khu vực và quốc tế coi trọng.
Burkina Faso là thành viên của Liên Hiệp Quốc, Phong trào không liên kết, AU, WTO, Francophonie, ECOWAS và từng là thành viên không thường trực Hội đồng Bảo an Liên Hiệp Quốc (khoá 2008-2009)…
== Hành chính ==
Burkina Faso được chia thành 13 vùng, 45 tỉnh, và 301 huyện. Các vùng gồm:
Boucle du Mouhoun
Cascades
Centre
Centre-Est
Centre-Nord
Centre-Ouest
Centre-Sud
Est
Hauts-Bassins
Nord
Plateau-Central
Sahel
Sud-Ouest
== Điều kiện tự nhiên ==
=== Địa lý ===
Burkina Faso tạo được hai kiểu địa lý chính:
Phần lớn của đất nước được bao bọc bởi một bán bình nguyên với địa hình phong cảnh hữu tình gợn sóng, tại vài vùng có một ít ngọn đồi cô lập, những vết tích cuối cùng của một vùng đất sơ khai.
phía tây nam thuộc những dạng mẫu thôn quê với dãy núi cát, nơi này đỉnh núi cao nhất là Ténakourou (749 m, 2.450 ft) tọa lạc. Dãy núi có những dốc đá dựng đứng 150 m (490 ft).
Độ cao trung bình của Burkina Faso là 400 m (1.300 ft), không có sự chênh lệch nhiều lắn giữa nơi có địa hình cao nhất và thấp nhất. Bởi vậy Burkina Faso là một nước tương đối bằng phẳng, với một vài địa phương là ngoại lệ.
==== Thủy văn ====
Tên đầu tiên của Burkina Faso là Thượng Volta, theo tên ba dòng sông được chảy qua đất nước: Mouhoun (trước đây gọi là Voilta đen), Nakambé (Voilta trắng) và Nazinon (Volta đỏ). Mouhoun là một trong hai dòng sông duy nhất của đất nước này có nước chảy quanh năm, dòng sông còn lại là Komoé.
Những phụ lưu sông Niger (Béli, Gorouol, Goudébo và Dargol) là những dòng chảy theo mùa, và chỉ chảy khoảng từ 4 đến 6 tháng trong một năm những có thể gây ra những nạn lụt lớn. Xứ sở này cũng có nhiều hồ. Những hồ chủ yếu là Tingrela, Bam và Dem, và những ao nước lớn của Oursi, Béli, Yomboli và Markoye.
Thiếu nước thường là một vấn đề, đặc biệt là phía bắc đất nước.
=== Khí hậu ===
Burkina Faso có khí hậu xích đạo điển hình với hai mùa rõ rệt. Mùa mưa có lượng mưa đo được từ 600 and 900 mm. Còn vào mùa khô, gió harmattan từ Sahara thổi tới mang theo hơi nóng. Mùa mưa có thể kéo dài xấp xỉ khoảng bốn tháng, tháng năm hay tháng sáu tới tháng chín. Mùa mưa ở miền Bắc ngắn hơn.
Có thể chia làm ba khu vực khí hậu lớn:
==== Khu vực Shahel ====
Vùng Sahel ở miền bắc có các đặc trưng: tiếp nhận ít hơn 24 inch (600 mm) mưa mỗi năm và nhiệt độ cao từ 5-47 °C (40-115 °F). Savanna khí hậu nhiệt đới tương đối khô ráo, Sahel mở rộng bên ngoài Burkina Faso, từ mỏm châu Phi đến Đại Tây dương. Biên giới phía bắc của Sahel giáp Sahara, và vùng đất phì nhiêu của Sudan tới phía nam.
==== Khu vực Sudan-Sahel ====
Vị trí được xác định là giữa 11°3’ và 13°5’ độ vĩ bắc, vùng Sudan-Sahel là một vùng trung chuyển xét cả về mưa và nhiệt độ.
==== Khu vực Sudan-Guinée ====
Xa hơn nữa về phía nam, khu vực Sudan-Guinée nhận được 900 mm lượng mưa mỗi năm và có nhiệt độ bình quân thấp hơn.
=== Tài nguyên thiên nhiên ===
Burkina Faso có nhiều tài nguyên thiên nhiên, bao gồm: Măng gan, phốt phát, đá bọt, muối và một ít lượng vàng tự nhiên.
== Kinh tế ==
Burkina Faso là một trong những quốc gia nghèo nhất thế giới. Thu nhập (GDP) bình quân đầu người của nước này chỉ có 1.200 USD. Được xếp thứ 27 trong các nước nghèo nhất thế giới. Nông nghiệp chiếm 32% sản lượng nội địa và tạo việc làm cho 80% dân chúng. Chủ yếu là chăn nuôi gia súc, nhưng ở miền nam và tây nam, người ta cũng trồng cây lúa miến, cây kê ngọc trai, ngô, cây lạc, lúa và bông.
Thiếu việc làm đã thúc đẩy di cư. Có tới ba triệu người từ Burkina Faso sang sống ở Côte d'Ivoire. Theo Ngân hàng Trung ương Tây Phi, những người di cư mỗi năm gửi 10 tỉ Euro về Burkina Faso. Kể từ sự việc Ghana trục xuất người nhập cư năm 1967, việc di cư đã liên tục gây ra những sự căng thẳng ở những nước đến. Cuộc khủng hoảng gần đây nhất là vào năm 2003 ở Côte d'Ivoire dẫn tới sự hồi hương của 300.000 người di trú.
Một bộ phận lớn hoạt động kinh tế của quốc gia được tài trợ bằng viện trợ quốc tế.
Đơn vị tiền tệ hiện tại của Burkina Faso là đồng quan CFA.
Ngành khai mỏ khai gồm đồng, sắt, măng gan và trên hết là vàng.
Burkina Faso cũng là chủ nhà của hội chợ hàng thủ công mỹ nghệ Ouagadougou, được biết đến nhiều hơn với tên tiếng Pháp là SIAO (Le Salon International de L Artisanat de Ouagadougou), một trong những hội chợ hàng thủ công quan trọng nhất châu Phi.
Hiện nay, Burkina Faso đang đẩy mạnh chính sách mở cửa, tập trung vốn, kỹ thuật vào việc phát triển nông nghiệp để tiến tới tự túc được lương thực. Ngoài việc đẩy mạnh hợp tác ở khu vực Tây Phi và ngoài các bạn hàng truyền thống như Pháp, Trung Quốc, Ấn Độ, Singapore và Thái Lan, Burkina Faso đang tìm cách mở rộng quan hệ với các tổ chức tài chính tiền tệ quốc tế và các nước khác trong đó có Việt Nam.
== Dân số ==
Người Burkina Faso có tuổi thọ dự tính lúc sinh là 50. Độ tuổi trung vị của dân cư là 17.
Tốc độ tăng trưởng dân số: 3% (2006).
Dân cư tập trung chủ yếu phía nam và trung tâm đất nước, đôi khi có mật độ hơn 48 người/km². Mật độ dân cư cao là căn nguyên hàng năm của việc hàng trăm nghìn dân di cư lao động mùa vụ.
Xấp xỉ 50% dân số là người Hồi giáo; ước chừng 30% theo Cơ đốc giáo và những người theo tôn giáo truyền thống châu Phi (bái vật giáo) được khoảng 20%. Nhiều tín đồ Cơ đốc giáo kết hợp bái vật giáo vào thực hiện trong tôn giáo của họ.
== Văn hóa ==
Hai yếu tố chính là mặt nạ và khiêu vũ, chìa khóa của văn hóa Burkina Faso. Những mặt nạ được dùng trong nghi lễ hy sinh tới những vị thần và tinh thần hồn nhiên và vui vẻ trong làng, thể hiện sự ao ước của nông dân bởi lời nguyện cầu nơi chốn thiêng liêng. Nhà hát quần chúng trong thủ đô Ouagadougou, là một trung tâm văn hóa xã hội của đất nước. Ouagadougou là một trong những trục bánh xe của châu Phi, hoạt động kéo theo vào rạp chiếu phim. Mỗi năm gọi FESPACO là chủ nhân liên hoan phim châu Phi Pan. Liên hoan phim và truyền hình châu Phi của Ouagadougou là một mối quan tâm lớn của thế giới. Văn hóa nghệ thuật thì được trình bày xa hơn ở tại Laongo, những nghệ sĩ từ toàn bộ thế giới được mời đến một vùng có đá hoa cương được bày và điêu khác trên tảng đá Idrissa Ouedraogo. Có lẽ giám đốc ở châu Phi thành công về thương mại nhất từ Burkina Faso.
== Giáo dục ==
Giáo dục ở Burkina Faso được chia thành tiểu học, trung học và đại học. Tuy nhiên, muốn đến trường phải đóng học phí. Học phí trung học trị giá xấp xỉ 65 USD (33.000 CFA) một năm, cao hơn nhiều thu nhập bình quân của các gia đình Burkinabe. Học sinh nam nhận được nhiều ưu tiên hơn trong trường học; như thế, giáo dục dành cho trẻ em gái và tỉ lệ biết chữ thấp hơn nhiều. Để theo đuổi từ tiểu học đến trung học cơ sở, từ trung học cơ sở lên trung học phổ thông, hay từ trung học phổ thông lên đại học thì cần phải vượt qua những kỳ thi quốc gia. Các tổ chức giáo dục đại học bao gồm Đại học Ouagadougou, và trường đại học bách khoa ở Bobo-Dioulasso.
Có một Trường Quốc tế ở Ouagadougou (ISO), là một trường tư của Mỹ đặt trong thủ đô Ouagadougou.
Theo báo cáo của Chương trình Phát triển Liên Hợp Quốc, Burkina Faso là một quốc gia mù chữ nhất thế giới, với chỉ 12,8% dân số biết đọc biết viết.
== Xem thêm ==
== Tham khảo ==
== Liên kết ngoài == |
thừa kế.txt | Thừa kế là việc thực thi chuyển giao tài sản, lợi ích, nợ nần, các quyền, nghĩa vụ từ một người đã chết sang một cá nhân nào đó. Thừa kế có vai trò quan trọng từ rất lâu trong xã hội loài người. Các luật thừa kế thay đổi liên tục tùy theo cơ cấu xã hội.
== Tham khảo ==
== Liên kết ngoài ==
Trích dẫn liên quan tới Thừa kế tại Wikiquote
USA Today article on dilemma the rich face when leaving wealth to children |
kinh tế venezuela.txt | Kinh tế Venezuela dựa vào dầu mỏ, các ngành công nghiệp nặng như nhôm và thép, và sự hồi sinh trong nông nghiệp. Venezuela là thành viên lớn thứ năm của OPEC tính về sản lượng dầu hỏa. Doanh thu từ xuất khẩu dầu mỏ chiếm hơn 50% GDP của cả nước và chiếm khoảng 95% tổng kim ngạch xuất khẩu. Từ những năm 1950 đến đầu những năm 1980 kinh tế Venezuela là một trong những nền kinh tế mạnh nhất ở Nam Mỹ. Việc tăng trưởng liên tục trong thời kỳ này đã thu hút nhiều người nhập cư, lúc đó nước này có tiêu chuẩn sống cao nhất ở châu Mỹ Latinh. Cuộc khủng hoảng dầu lửa 1980 đã làm cho nền kinh tế bị thu nhỏ, tiền tệ mất giá trị, nạn lạm pháp tăng vọt đạt đỉnh 84% vào năm 1989 và 99% vào năm 1996, ba năm trước khi Hugo Chávez nhậm chức.
Venezuela sản xuất và xuất khẩu sản phẩm công nghiệp nặng như thép, nhôm và xi măng, với sản xuất tập trung xung quanh Ciudad Guayana, gần Đập Guri, một trong những đập lớn nhất trên thế giới cung cấp khoảng ba phần tư điện tiêu dùng của Venezuela. Các sản xuất đáng chú ý khác bao gồm thiết bị điện tử và ô tô, cũng như đồ uống và thực phẩm. Nông nghiệp ở Venezuela chiếm khoảng 3% GDP, 10% lực lượng lao động, và ít nhất một phần tư diện tích đất của Venezuela. Venezuela xuất khẩu gạo, ngô, cá, trái cây nhiệt đới, cà phê, thịt lợn và thịt bò. Đất nước này tuy nhiên không phải tự cung tự cấp trong hầu hết các lĩnh vực nông nghiệp.
Mặc dù mối quan hệ căng thẳng giữa hai quốc gia, Hoa Kỳ vẫn là đối tác thương mại quan trọng nhất của Venezuela. Xuất khẩu của Mỹ đến Venezuela bao gồm máy móc, các sản phẩm nông nghiệp, dụng cụ y tế, và xe hơi. Venezuela là một trong bốn nhà cung cấp hàng đầu dầu mỏ nước ngoài đến Hoa Kỳ. Khoảng 500 công ty Mỹ có đại diện tại Venezuela. Theo Ngân hàng Trung ương Venezuela, chính phủ thu nhập được 1998-2008 khoảng 325 tỷ USD thông qua việc sản xuất dầu và xuất khẩu nói chung, và theo Cơ quan Năng lượng Quốc tế, tới tháng 8 năm 2015 Venezuela đã sản xuất 2,4 triệu thùng dầu mỗi ngày, 500.000 trong số đó đi đến Hoa Kỳ.
Kể từ "cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa" của Hugo Chávez, triệt phá khoảng phân nửa tập đoàn dầu hỏa khổng lồ PDVSA trong năm 2002 bằng cách sa thải hầu hết các chuyên gia bất đồng chính kiến trong số 20.000 nhân viên, và áp đặt việc kiểm soát tiền tệ chặt chẽ trong năm 2003 trong một nỗ lực để ngăn chặn tiền vốn khỏi bị mang ra nước ngoài, [ có sự suy giảm đều đặn trong sản xuất dầu và xuất khẩu và một loạt phá giá tiền tệ nghiêm trọng, làm gián đoạn sự phát triển của nền kinh tế. Hơn nữa, việc kiểm soát giá cả, việc sung công nhiều đất nông nghiệp và các ngành công nghiệp khác nhau, trong các chính sách của chính phủ gây tranh cãi khác đưa đến việc gần như hoàn toàn đóng băng trên bất kỳ truy cập đến các ngoại tệ theo tỷ giá hợp lý "chính thức", dẫn đến thiếu hụt nghiêm trọng tại Venezuela và việc giá cả tăng dốc của tất cả các hàng hoá thông dụng, bao gồm thực phẩm, nước, sản phẩm gia dụng, phụ tùng, dụng cụ và vật tư y tế; buộc nhiều nhà sản xuất hoặc là cắt giảm sản lượng hoặc đóng cửa, với nhiều hãng cuối cùng rời khỏi đất nước, như đã xảy ra với một số công ty công nghệ và hầu hết các nhà sản xuất ô tô Năm 2015, Venezuela đã lạm phát hơn 100 % - mức cao nhất trên thế giới và cao nhất trong lịch sử của nước này - với dự kiến lạm phát đạt 700% vào năm 2016 và tăng lên gần 2.000% vào năm 2017 trong khi tỷ lệ nghèo đói của dân số là giữa 76% và 80% theo nguồn tin độc lập.
== Nguyên nhân nền kinh tế bị phá hủy ==
Panos Mourdoukoutas, Forbes, cho là một quá trình lâu dài với các chính sách thất bại của các chính phủ từ nhiều thập kỷ qua, trước cả thời chủ nghĩa xã hội Bolivar, đưa người dân một đất nước giàu tài nguyên thiên nhiên và vốn con người xuống con đường nghèo đói.
Đã có một làn sóng quốc hữu hóa vào cuối thập niên 1970 và các kế hoạch phát triển đặt các nguồn lực quan trọng của đất nước vào trong tay các quan chức chính phủ chứ không phải là những nhà quản lý chuyên nghiệp. Dưới thời Tổng thống Carlos Andres Perez, đặc biệt trong nhiệm kỳ đầu tiên của ông vào năm 1974, đã cho tiến hành quốc hữu hóa nhiều ngành trong đó bao gồm các ngành công nghiệp dầu mỏ, công nghiệp sắt, mở rộng sang ngành công nghiệp thép, xây dựng dịch vụ khách sạn do nhà nước sở hữu, đóng tàu, và lên đến đỉnh điểm là sự ra đời của ngành công nghiệp nhôm.”
Việc chính phủ kiểm soát giá cả và chính sách trợ cấp dưới thời Tổng thống Caldera, dẫn đến thâm hụt ngân sách và nợ chính phủ bắt đầu tăng vọt.
Chính phủ cũng kiểm soát thị trường tiền tệ, giúp cho các doanh nghiệp nước ngoài được nhiều lợi thế hơn so với các doanh nghiệp trong nước.
Mười lăm năm dưới sự điều hành của cánh tả đã để lại một nước Venezuela với tỷ lệ lạm phát lên đến 180 phần trăm hàng năm do phá giá đồng tiền nhiều lần, (trung bình lạm phát tăng khoảng 8,70 phần trăm mỗi tháng). Kết quả này đã làm suy yếu và ảnh hưởng đến mức lương từ khi Nicholas Maduro trở thành tổng thống – mức tăng lớn nhất được ghi nhận liên quan đến các loại đồ uống và thực phẩm (tăng 315%). Venezuela hiện chiếm vị trí 178 trong chỉ số tự do kinh tế – tức đứng gần dưới cùng của danh sách. Chủ nghĩa xã hội Bolivar, vốn mượn từ chủ nghĩa xã hội Castro của Cuba, và chủ nghĩa bài Mỹ từ Che Guevara và Salvatore Allende, để thêm vào nền kinh tế tai ương của Venezuela. Trong thực tế, việc bài Mỹ đã trở thành lý do dẫn đến rất nhiều thất bại trong chính sách kinh tế của Venezuela, làm cho nước này lâm vào tình trạng thiếu hụt trầm trọng các sản phẩm cơ bản, từ tã em bé đến khăn giấy, giấy vệ sinh cho đến nhiều loại sản phẩm khác.
Nói chung, cuộc khủng hoảng của Venezuela hiện thời là kết quả sự hội tụ hai xu hướng nguy hiểm: “căn bệnh Hà Lan” (Dutch Disease) và “chủ nghĩa xã hội Bolivar” với những chính sách đi về hướng Kinh tế kế hoạch.
== Xem thêm ==
Nạn khan hiếm nhu yếu phẩm tại Venezuela, 2016
Chủ nghĩa Bolivar
== Liên kết ngoài ==
Cuộc sống cùng cực tại Venezuela, bbc, 31.7.2016
== Chú thích == |
tencent.txt | Tencent Holdings Limited là một công ty cổ phần đầu tư Trung Quốc với các công ty con cung cấp dịch vụ truyền thông, giải trí, Internet và dịch vụ giá trị gia tăng điện thoại di động, và hoạt động các dịch vụ quảng cáo trực tuyến tại Trung Quốc. Các trụ sở chính của công ty ở Nam Sơn, Thâm Quyến, Thâm Quyến.
== Tham khảo ==
== Liên kết ngoài ==
Website chính thức
Tencent Holdings Limited |
hoài hà.txt | Sông Hoài (tiếng Trung: 淮河 hoặc 淮水, âm Hán-Việt: Hoài Hà hoặc Hoài Thủy) là con sông lớn thứ ba ở Trung Quốc sau Dương Tử và Hoàng Hà. Sông Hoài dài 1.078 km với lưu vực rộng 187 ngàn kilômét vuông. Giống như hai con sông lớn kể trên, sông Hoài về cơ bản chảy theo hướng tây-đông và nằm gần giữa khoảng cách của hai con sông này. Tuy nhiên, do nó không trực tiếp đổ ra biển nên nó nổi tiếng là dễ gây ngập lụt.
Sông Hoài-dãy núi Tần Lĩnh được coi như là đường phân chia tự nhiên của Hoa Bắc và Hoa Nam. Đường này gần trùng với đường đẳng nhiệt 0 độ trong tháng 1 và đường đẳng giáng thủy 800 mm tại Trung Quốc.
Sông bắt nguồn từ tỉnh Đồng Bách Sơn, Hà Nam, chảy qua miền nam tỉnh Hà Nam, miền bắc các tỉnh An Huy và Giang Tô. Trên địa phận tỉnh Giang Tô, sông Hoài tạo nên hồ Hồng Trạch. Cuối cùng nó đổ vào sông Dương Tử tại Tam Giang Doanh thuộc huyện cấp thị Giang Đô, địa cấp thị Dương Châu, tỉnh Giang Tô. Sông Hoài có thể chia ra làm 3 đoạn là thượng du, trung du, hạ du. Từ Hồng Hà Khẩu ngược về đầu nguồn là thượng du, dài khoảng 360 km với mức độ giảm độ cao là 178 m, diện tích lưu vực khoảng 30.600 km²; từ Hồng Hà Khẩu tới hồ Hồng Trạch là phần trung du, dài khoảng 490 km, mức độ giảm độ cao là 16 m, diện tích lưu vực khoảng 158.000 km²; từ hồ Hồng Trạch tới Tam Giang Doanh là phần hạ du, dài khoảng 150 km, mức độ giảm độ cao là khoảng 6 m và diện tích lưu vực khoảng 81.400 km². Diện tích lưu vực của nó giới hạn ở phía tây là Đồng Bách Sơn, Phục Ngưu Sơn, phía nam là núi Đại Biệt, phía bắc là dãy núi Tần Lĩnh và Nghi Mông Sơn, phía đông là Hoàng Hải.
== Tham khảo ==
== Liên kết ngoài ==
Bản đồ sông Hoài |
giải quần vợt marseille mở rộng.txt | Giải quần vợt Marseille Mở rộng, tên chính thức Open 13, là một giải đấu quần vợt nam được tổ chức hàng năm tại Marseille, Pháp là một trong những giải đấu International Series của Hiệp hội quần vợt nhà nghề. Giải thường được tổ chức trong 1 tuần vào tháng 2. Con số 13 là mã INSEE của tỉnh Bouches-du-Rhône. Marseille là thủ phủ của tỉnh này.
Giải thi đấu trên mặt sân cứng tại Cung thể thao Marseille. Sân trung tâm có sức chứa 5800 khán giả.
== Lịch sử ==
Giải đấu tổ chức lần đầu năm 1993. Giải được tổ chức trên kế hoạch của cựu vận động viên quần vợt chuyên nghiệp ở Marseille Jean-François Caujolle. Cho đến nay ông vẫn là chủ tịch của giải đấu. Tay vợt Thụy Sĩ Marc Rosset là người đầu tiên đoạt danh hiệu đơn. Anh đoạt tổng cộng 3 danh hiệu vô địch giải, là một trong hai tay vợt (cùng Thomas Enqvist của Thụy Điển) vô địch giải nhiều lần nhất. Từ năm 2004 giải đấu là một trong 25 giải của hệ thống ATP có giá trị giải thưởng cao nhất.
== Các trận chung kết ==
== Điểm ATP và giải thưởng ==
Giải năm 2010 có giá trị điểm và tiền thưởng như sau:
== Liên kết ngoài ==
Trang chủ giải đấu |
google duo.txt | Duo là một ứng dụng video chat di động được phát triển bởi Google, có mặt trên cả hai nền tảng Android và iOS. Nó được ra mắt tại Google I/O vào ngày 18 tháng 5 năm 2016 cùng với Allo, một ứng dụng nhắn tin tức thời. Duo được phát hành tại Hoa Kỳ vào ngày 16 tháng 8 năm 2016, và được phát hành toàn cầu vài ngày sau đó. Duo nhanh chóng trở thành ứng dụng miễn phí số một trên Google Play sau hai ngày đầu được phát hành.
== Tính năng ==
Các tính năng của ứng dụng bao gồm:
Video HD 720p
Tối ưu hóa cho mạng di động băng thông thấp. Ứng dụng tối ưu WebRTC và sử dụng QUIC qua UDP, đồng thời tối ưu hơn nữa bằng việc giảm chất lượng video dựa vào chất lượng mạng.
"Knock Knock" – một tính năng chỉ dành cho Android sẽ hiển thị một hình xem trước trực tiếp của người gọi trước khi người nhận nghe máy, mà theo Google là để "khiến các cuộc gọi giống như là một lời mời hơn là một sự ngắt quãng"
Mã hóa đầu-cuối được kích hoạt theo mặc định
Hỗ trợ Google Assistant.
Sử dụng số điện thoại để người dùng dàng gọi dễ dàng gọi mọi người trong danh bạ
Tự động chuyển giữa WiFi và dữ liệu di động
== Xem thêm ==
Google Allo
Google Hangouts
== Tham khảo ==
== Liên kết ngoài ==
Website chính thức |
giải quần vợt pháp mở rộng 2008.txt | Giải quần vợt Pháp Mở rộng 2008 là giải Grand Slam quần vợt thứ hai trong năm 2008 và là giải quần vợt Roland-Garros lần thứ 107, được tổ chức tại Paris, Pháp từ ngày 25 tháng 5 đến 8 tháng 6 năm 2008.
Justine Henin không tham dự giải đấu để bảo vệ danh hiệu vô địch, do cô đã giải nghệ vào ngày 14 tháng 5, dù rằng có khả năng cô trở thành nữ vận động viên duy nhất trong Kỉ nguyên mở vô địch Roland-Garros 4 lần liên tiếp (người có cùng 3 lần vô địch liên tiếp là Monica Seles). Henin giải nghệ dẫn đến việc giải sẽ có một nhà nữ vô địch mới và Ana Ivanovic, người thua Henin trong trận chung kết ở giải năm 2007, là nhà vô địch mới. Ở giải đơn nam, Rafael Nadal vẫn thống trị và bắt kịp kỉ lục của Bjorn Borg, vô địch giải 4 lần liên tiếp (trong kỉ nguyên mở). Các giải đấu khác bao gồm giải đôi nam, nữ, giải trẻ, giải cho người khuyết tật và cho các cựu danh thủ.
== Sự kiện theo ngày ==
=== Ngày đầu tiên ===
Ngày khai mạc Chủ nhật có một vài hạt giống ở giải nữ bị loại: Nicole Vaidisova thua đồng hương Iveta Benesova, và Virginie Razzano thất bại trước Klara Zakopalova. Các hạt giống Ana Ivanovic, Serena Williams, Alize Cornet, Dominika Cibulkova và Caroline Wozniacki đều vượt qua vòng một.
Ở sân của nam, mọi con mắt đổ dồn về trận tranh tài giữa Paul-Henri Mathieu và cựu số 1 thế giới, vô địch giải 3 lần (1997, 2000 và 2001) Gustavo Kuerten, kết thúc sau 3 séc với phần thắng thuộc về vận động viên nước chủ nhà 6–3, 6–4, 6–2, đánh dấu thời điểm kết thúc sự nghiệp của Kuerten. Hạt giống số 3 Novak Djokovic vào vòng hai sau khi thua một séc trước Denis Gremelmayr. Các hạt giống James Blake, David Nalbandian và Nicolas Almagro vào vòng sau với những trận thắng tuyệt đối, trong khi Andy Murray cần tới gần 3 tiếng đồng hồ mới đánh bại được đấu thủ dự suất đặc cách người Pháp Jonathan Eysseric sau 5 séc. Nhà vô địch năm 1998 Carlos Moya sớm chia tay giải sau khi thua đấu thủ dự vòng loại Eduardo Schwank và Janko Tipsarevic thua Nicolas Lapentti.
Các hạt giống bị loại: Nicole Vaidisova, Virginie Razzano; Carlos Moya, Janko Tipsarevic.
(Hình ảnh, Bình luận, ngày đầu tiên)
=== Ngày thứ hai ===
Ở giải nữ, các hạt giống Jelena Jankovic, Karin Knapp, Agnes Szavay và Patty Schnyder vượt qua vòng đầu tiên, cùng với Venus Williams dù đã thua một séc trước Tzipora Obziler. Hạt giống thứ 23 Alona Bondarenko gây thất vọng khi thua cả 2 séc trước Petra Cetkovska.
Ở giải nam, các hạt giống Roger Federer, Fernando Gonzalez, Tomas Berdych và Fernando Verdasco đều thắng, cùng với Tommy Robredo, người đánh bại á quân 2004 Guillermo Coria sau 4 séc. Marcos Baghdatis, bị chấn thương từ Indian Wells thua Simone Bolelli, và Guillermo Canas, tay vợt vào tứ kết giải năm trước, gây thất vọng khi thua cả 3 séc bằng tie-break trước Wayne Odesnik. Điều gây bất ngờ nhất trong ngày là tay vợt số 1 của Pháp Richard Gasquet tuyên bố bỏ cuộc chỉ vài giờ trước trận đấu do chấn thương đầu gối. Mưa vào buổi chiều đã làm gián đoạn các trận đấu, các trận đấu phải tạm ngừng và thi đấu vào ngày hôm sau.
Các hạt giống bị loại: Alona Bondarenko; Marcos Baghdatis, Guillermo Canas, Richard Gasquet (bỏ cuộc).
(Hình ảnh, Bình luận ngày thứ hai)
=== Ngày thứ ba ===
Mưa vẫn tiếp tục, ảnh hưởng trong cả ngày thi đấu này. Các trận đấu bắt đầu muộn. Khởi đầu Svetlana Kuznetsova và Dinara Safina vượt qua vòng một. Sau một thời gian dài gián đoạn vào buổi chiều, Agnieszka Radwanska, Ai Sugiyama và Amelie Mauresmo đủ thời gian để kết thúc các trận thi đấu, tiến vào vòng sau.
Bên sân của nam, Nikolay Davydenko và Stanislas Wawrinka thắng 3 séc trắng, trong khi Juan Monaco thất thủ trước Robin Soderling, và Mario Ancic đánh bại Andreas Seppi. Mưa buộc một số trận đấu phải ngừng và đánh tiếp vào hôm sau.
Các hạt giống bị loại: Juan Monaco, Andreas Seppi.
(Hình ảnh, Bình luận ngày thứ ba)
=== Ngày thứ tư ===
74 trận đấu được lên lịch tổ chức trong ngày thi đấu này do trời mưa những ngày thi đấu trước. Các hạt giống Francesca Schiavone, Elena Dementieva, Flavia Pennetta, Katarina Srebotnik, Vera Zvonareva, Anna Chakvetadze, Nadia Petrova, Maria Kirilenko, Victoria Azarenka và Anabel Medina Garrigues đi tiếp vào vòng hai, trong khi số 1 thế giới Maria Sharapova phải mất đến hơn 2 giờ 30 phút mới vượt qua được đồng hương số 103 thế giới Evgeniya Rodina sau 3 séc. Hạt giống số 9 Marion Bartoli sau khi dẫn điểm Casey Dellacqua ở ngày thi đấu thứ ba đã thua khi trận đấu tiếp tục. Các hạt giống khác bị loại có Sybille Bammer (thua Aleksandra Wozniak) và Shahar Peer (thua Samantha Stosur). Agnieszka Radwanska, Caroline Wozniacki, Ana Ivanovic, Patty Schnyder và Serena Williams vượt qua vòng hai.
Bên giải nam, Radek Stepanek, Lleyton Hewitt, David Ferrer, Jarkko Nieminen, Dmitry Tursunov, Ivan Ljubicic, Mikhail Youzhny và Igor Andreev đi tiếp, cùng với đương kim vô địch Rafael Nadal, người đã suýt thua séc đầu tiên trước Thomaz Bellucci. Trong khi đó, nhà vô địch 2003 Juan Carlos Ferrero bỏ cuộc khi gặp Marcos Daniel do chấn thương ở chân và Ivo Karlovic thua Alejandro Falla sau gần 4 giờ đồng hồ. Novak Djokovic, Nicolas Almagro và Andy Murray là những tay vợt đầu tiên vào vòng ba, cùng với Paul-Henri Mathieu, người đã lội ngược dòng thành công sau khi thua 2 séc đầu ở trận đấu kéo dài hơn 4 giờ đồng hồ, và tay vợt không phải hạt giống Michael Llodra, người hạ hạt giống Tomas Berdych sau 3 giờ đồng hồ trong trận đấu 5 séc.
Các hạt giống bị loại: Marion Bartoli, Sybille Bammer, Shahar Peer; Juan Carlos Ferrero, Ivo Karlovic, Tomas Berdych.
(Hình ảnh, Bình luận ngày thứ tư)
=== Ngày thứ năm ===
Mưa tiếp tục làm gián đoạn ngày thi đấu, nhưng không ngăn cản được các hạt giống Venus Williams, Alize Cornet, Jelena Jankovic, Elena Dementieva, Karin Knapp, Flavia Pennetta, Dominika Cibulkova, Katarina Srebotnik, Dinara Safina, Francesca Schiavone, Victoria Azarenka, Agnes Szavay, Anabel Medina Garrigues và Svetlana Kuznetsova lọt vào vòng sau. Trong khi đó Amelie Mauresmo thua Carla Suarez Navarro, Ai Sugiyama thất bại trước Olga Govortsova, Maria Kirilenko dừng bước trước Zheng Jie. Anna Chakvetadze là hạt giống cao nhất bị loại trong ngày khi thua Kaia Kanepi cả 2 séc.
Bên sân của nam cũng có những thất bại tương tự. James Blake thua Ernests Gulbis, David Nalbandian thất bại trước tay vợt đặc cách nước chủ nhà Jeremy Chardy sau hơn 3 giờ đồng hồ dù đã dẫn trước 2 séc, Igor Andreev thua trước Robby Ginepri. Hạt giống số 1 Roger Federer dù thua séc đầu tiên trước Albert Montanes nhưng thắng lại ba séc sau, vào vòng ba cùng với Rafael Nadal, Mikhail Youzhny, Fernando Gonzalez, Jarkko Nieminen, Dmitry Tursunov, Ivan Ljubicic, Stanislas Wawrinka, Fernando Verdasco, Nikolay Davydenko, David Ferrer, Lleyton Hewitt và Tommy Robredo.
Các hạt giống bị loại: Amelie Mauresmo, Ai Sugiyama, Anna Chakvetadze, Maria Kirilenko; James Blake, David Nalbandian, Igor Andreev.
Các trận đầu tiên ở nội dung đôi đã diễn ra. Đôi nữ số 1 thế giới Liezel Huber & Cara Black, Mariya Koryttseva & Vladimira Uhlirova và Shuai Peng & Tiantian Sun vượt qua vòng một.
Giải đôi nam, Lukas Dlouhy & Leander Paes, Jonas Bjorkman & Kevin Ullyett, Daniel Nestor & Nenad Zimonjic, Mariusz Fyrstenberg & Marcin Matkowski, Marcelo Melo & Andre Sa, Jonathan Erlich & Andy Ram, và anh em sinh đôi hạt giống số 1 Bob & Mike Bryan đi tiếp, trong khi đương kim vô địch Mark Knowles, đánh cặp với Mahesh Bhupathi năm nay thất bại 2 séc trắng trước Stephen Huss & Ross Hutchins và nhà vô địch 2 năm 2005]] và 2006 Max Mirnyi, đánh cặp với Jamie Murray, thua sau 3 séc trước đôi Rik De Voest & Robin Haase.
Các hạt giống bị loại: Mahesh Bhupathi / Mark Knowles, Max Mirnyi / Jamie Murray.
(Hình ảnh, Bình luận ngày thứ năm)
=== Ngày thứ sáu ===
Ở sân nữ, Nadia Petrova, Maria Sharapova và Vera Zvonareva thắng trận để vào vòng ba. Ana Ivanovic thắng Caroline Wozniacki, Agnieszka Radwanska vượt qua Alize Cornet, và Patty Schnyder để có tên ở vòng bốn. Hai bất ngờ trong ngày thi đấu này là hạt giống số 27 Katarina Srebotnik đánh bại nhà vô địch năm 2002 hạt giống số 5 và ứng cử viên vô địch năm nay Serena Williams sau 2 séc 6–4, 6–4, và hạt giống số 26 Flavia Pennetta vượt qua á quân năm 2002, hạt giống số 8 và cũng là một ứng cử viên vô địch Venus Williams 7–5, 6–3. Lần đầu tiên trong giải từ năm 2004 cả hai chị em nhà Williams cùng thua trong một ngày.
Bên sân nam, Novak Djokovic và Paul-Henri Mathieu vào vòng bốn, cùng với Rafael Nadal, người đã hạ Jarkko Nieminen; Nicolas Almagro, đánh bại Andy Murray sau gần 3 giờ đồng hồ trong 4 séc đấu; Fernando Verdasco thắng Mikhail Youzhny và tay vợt đặc cách người Pháp Jeremy Chardy, tiếp tục hành trình sau khi thắng Dmitry Tursunov.
Các hạt giống bị loại: Caroline Wozniacki, Serena Williams, Alize Cornet, Venus Williams; Jarkko Nieminen, Andy Murray, Mikhail Youzhny, Dmitry Tursunov.
Ở các giải đôi: sân đôi nữ, ứng cử viên Chan Yung-jan & Chuang Chia-jung, Nathalie Dechy & Elena Likhovtseva, Tatiana Poutchek & Anastasia Rodionova, Zi Yan & Jie Zheng, Dinara Safina & Agnes Szavay, Victoria Azarenka & Shahar Peer, Lisa Raymond & Samantha Stosur, Kveta Peschke & Rennae Stubbs và Katarina Srebotnik & Ai Sugiyama đều vào vòng hai, trong khi đó đương kim vô địch Alicia Molik & Mara Santangelo thất bại ngay trận đầu trước đôi không hạt giống Sara Errani & Bethanie Mattek.
Sân nam, Christopher Kas & Rogier Wassen, Jeff Coetzee & Wesley Moodie và Simon Aspelin & Julian Knowle nằm trong những cặp đôi vào vòng hai, Lukas Dlouhy & Leander Paes thắng trận ở vòng hai. Martin Damm & Pavel Vizner thua séc trắng trước Lukas Arnold Ker & Juan Ignacio Chela, và Arnaud Clement & Michael Llodra thua Pablo Cuevas & Luis Horna, Mariusz Fyrstenberg & Marcin Matkowski thua trận ở vòng hai trước Michal Mertinak & Jean-Claude Scherrer.
Các hạt giống bị loại: Alicia Molik / Mara Santangelo; Julien Benneteau / Nicolas Mahut (bỏ cuộc), Mariusz Fyrstenberg / Marcin Matkowski, Martin Damm / Pavel Vizner, Arnaud Clement / Michael Llodra.
(Hình ảnh, Bình luận ngày thi đấu thứ sáu)
== Kết quả thi đấu ==
=== Đơn nam ===
=== Đơn nữ ===
=== Đôi nam ===
=== Đôi nữ ===
=== Đôi nam nữ ===
== Danh sách hạt giống ==
== Tham khảo ==
== Liên kết ngoài ==
Trang chính thức của Giải quần vợt Roland-Garros |
kashmir.txt | Kashmir (Tiếng Kashmir: کشیر / कॅशीर; Tiếng Hindi: कश्मीर; Tiếng Urdu: کشمیر; Tiếng Duy Ngô Nhĩ: كەشمىر; Tiếng Shina: کشمیر) là khu vực phía tây bắc của tiểu lục địa Ấn Độ. Cho đến giữa thế kỷ 19, thuật ngữ Kashmir dùng để chỉ thung lũng giữa dãy Himalaya lớn và dãy Pir Panjal. Ngày nay, địa danh này biểu thị một khu vực lớn hơn bao gồm các vùng được Ấn Độ quản lý như Jammu và Kashmir (trong đó bao gồm Jammu, Thung lũng Kashmir, và Khu vực Ladakh), các vùng lãnh thổ Pakistan quản lý: Azad Kashmir và Gilgit-Baltistan, và khu vực được Trung Quốc quản lý: Aksai Chin và Trans-Karakoram Tract.
Kashmir trở thành bang hoàng lớn thứ hai tại Ấn Độ thuộc Anh, được tạo ra sau sự thất bại của người Sikh ở cuộc chiến tranh Anglo-Sikh lần thứ nhất. Hiệp ước Amritsar được ký kết năm 1846, người Anh chính thức hóa việc bán lại vùng Kashmir cho Gulab Singh với giá 7.500.000 rupee. Gulab Singh, đã trở thành nhà lãnh đạo mới của Kashmir. Sự cai trị của con cháu ông sau này, dưới sự giám hộ của Hoàng gia Anh, kéo dài cho đến năm 1947, sau đó Kashmir đã trở thành một lãnh thổ tranh chấp, nay do ba nước: Ấn Độ, Pakistan, và nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa kiểm soát và tuyên bố chủ quyền.
== Xem thêm ==
Danh sách các núi cao nhất thế giới
== Tham khảo == |
tv asahi.txt | Tập đoàn TV Asahi (株式会社テレビ朝日, Kabushiki-gaisha Terebi Asahi) (TYO: 9409), còn gọi là EX và Tele-Asa (テレ朝, Tere Asa), là một mạng truyền hình Nhật Bản có trụ sở đặt tại Roppongi, Minato, Tokyo, Nhật Bản. Trong logo và hình ảnh công cộng của mình, công ty thường dùng nhãn hiệu TV Asahi. Công ty cũng sở hữu All-Nippon News Network.
== Xem thêm ==
Truyền hình ở Nhật Bản
== Tham khảo ==
== Liên kết ngoài ==
Official Site (tiếng Nhật)
Official Site (tiếng Anh) |
allan pease.txt | Allan Pease là một chuyên gia ngôn ngữ cơ thể người Australia và là đồng tác giả của 15 cuốn sách.
== Mục lục sách ==
Ngôn ngữ cơ thể (Body language) (1981)
Các tín hiệu (Signals) (1984)
Ngôn ngữ trao đổi (Talk Language) (1985, cùng với Allan Garner)
Ngôn ngữ viết (Write Language) (1988, cùng với Paul Dunn)
Câu hỏi là câu trả lời (Questions Are The Answers) (2000)
Tại sao đàn ông không biết cách lắng nghe còn phụ nữ không biết đọc bản đồ (Why Men Don't Listen and Women Can't Read Maps) (2000, cùng với Barbara Pease)
Cuốn sách cơ bản về sự khiếm nhã và những trò đùa không đứng đắn về chính trị (The Ultimate Book of Rude and Politically Incorrect Jokes) (2001)
Tại sao đàn ông chỉ có thể làm một việc một lúc còn phụ nữ không bao giờ ngừng nói (Why Men Can Only Do One Thing at a Time & Women Never Stop Talking) (2003, cùng với Barbara Pease)
Tại sao đàn ông không có mạch câu chuyện còn phụ nữ luôn luôn cần thêm giày (Why Men Don't Have A Clue & Women Always Need More Shoes) (2005, cùng với Barbara Pease)
Tại sao đàn ông lại nói dối còn phụ nữ lại khóc (Why Men Lie and Women Cry) (2006, cùng với Barbara Pease)
Cuốn sách cuối cùng về ngôn ngữ cơ thể (The Definitive Book of Body Language) (cùng với Barbara Pease) (2006, bản hiệu chỉnh của cuốn sách Ngôn ngữ cơ thể (Body Language) xuất bản năm 1981
Thật đơn giản để mọi người có kỹ năng sống (Easy Peasey: People Skills For Life) (2007, cùng với Barbara Pease)
Tại sao đàn ông muốn tình dục và phụ nữ cần tình yêu (Why Men Want Sex & Women Need Love) (2009, cùng với Barbara Pease)
Ngôn ngữ cơ thể ở nơi làm việc (Body Language in the Workplace) (2011, cùng với Barbara Pease)
Ngôn ngữ cơ thể của tình yêu (Body Language of Love) (2012, cùng với Barbara Pease)
== Tham khảo ==
== Liên kết ngoài ==
International Body Language & Business Communication Authors (Các tác giả về giao tiếp trong kinh doanh và ngôn ngữ cơ thể quốc tế) | Pease International |
ashgabat.txt | Ashgabat (Aşgabat trong Turkmen) là thành phố thủ đô của Turkmenistan, một quốc gia ở Trung Á. Thành phố này có dân số 695.300 (theo điều tra dân số 2001) và nằm giữa sa mạc Kara Kum và dãy núi Kopet Dag. Dân số Ashgabat chủ yếu là Turkmen và với các dân tộc thiểu số là Nga, Armenia và Azeris. Thành phố này nằm cách thành phố lớn thứ hai của Iran là Mashhad 250 km.
37°58′B 58°20′Đ
== Tham khảo == |
việt nam.txt | Việt Nam (tên chính thức: Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam) là một quốc gia nằm ở phía đông, ở giữa Lào và Campuchia, thuộc bán đảo Đông Dương, thuộc khu vực Đông Nam Á thuộc châu Á.
Phía bắc Việt Nam giáp với Trung Quốc, phía tây Việt Nam giáp với Lào và Campuchia, phía tây nam giáp vịnh Thái Lan, phía đông và phía nam giáp biển Đông và có hơn 4.000 hòn đảo, bãi đá ngầm lớn nhỏ, gần và xa bờ, có vùng nội thủy, lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa được Chính phủ Việt Nam xác định gần gấp ba lần diện tích đất liền (khoảng trên 1 triệu km²). Trên biển Đông có quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa được Việt Nam tuyên bố chủ quyền nhưng đang trong vòng tranh chấp với các quốc gia Đài Loan, Trung Quốc, Malaysia và Philippines.
Việt Nam đã thiết lập mối quan hệ ngoại giao với 178 quốc gia, quan hệ kinh tế – thương mại – đầu tư với trên 224 quốc gia và vùng lãnh thổ, là thành viên Liên Hợp Quốc, ASEAN, ASEM, APEC, WTO, Tổ chức quốc tế Pháp ngữ, Phong trào không liên kết, UNESCO và nhiều tổ chức quốc tế, khu vực khác. Kể từ năm 2000 Việt Nam là một trong những nước có mức tăng trưởng kinh tế nhanh nhất thế giới, tuy nhiên tốc độ tăng trưởng chậm lại trong những năm sau. Việc đổi mới kinh tế thành công đã dẫn đường cho Việt Nam trở thành thành viên của Tổ chức Thương mại Thế giới vào năm 2007. Mặc dù đã có nhiều nỗ lực cải cách kinh tế – xã hội, Việt Nam vẫn còn gặp phải nhiều vấn đề tiêu cực như tỷ lệ hộ nghèo còn cao, bất bình đẳng về thu nhập cao, dịch vụ chăm sóc sức khỏe kém và tình trạng bất bình đẳng giới tính còn nhiều.
== Tên gọi ==
"Việt Nam" (chữ Hán: 越南) chính thức trở thành quốc hiệu của Việt Nam lần đầu tiên sau khi nhà Nguyễn (Việt Nam) được nhà Thanh (Trung Quốc) ban cho làm quốc hiệu. Năm Gia Long nguyên niên (Tây lịch năm 1802) vua Gia Long cho người mang quốc thư và cống vật sang Trung Quốc xin nhà Thanh cho đổi quốc hiệu thành "Nam Việt" 南越 và phong hiệu cho vua Gia Long. Nhà Thanh không đồng ý cho An Nam đổi quốc hiệu thành Nam Việt vì nước Nam Việt có cương vực rộng lớn, bao gồm cả hai tỉnh Quảng Đông và Quảng Tây của Trung Quốc, An Nam thì chỉ nằm trên đất Giao Chỉ. Nhà Thanh đảo ngược tên "Nam Việt" 南越 thành "Việt Nam" 越南, ban cho triều Nguyễn lấy làm quốc hiệu. Chữ "Việt" 越 đặt ở đầu biểu thị đất Việt Thường, cương vực cũ của nước này, nước này trước đây chỉ có đất Việt Thường. Chữ "nam" 南 đặt ở cuối thể hiện đất An Nam, cương vực sau này của nước này. Đặt quốc hiệu là "Việt Nam" 越南 vẫn có hai chữ "nam việt" 南越 trong tên mà lại không nhầm lẫn với nước Nam Việt, lại thể hiện được vị trí địa lý của nước này là nằm ở phía nam Bách Việt. Năm Gia Long thứ ba (Tây lịch năm 1804), vua Gia Khánh nhà Thanh cho án sát sứ Quảng Tây Tề Bố Sâm (齊布森) sang tuyên phong Gia Long làm "Việt Nam quốc vương" 越南國王.
Quốc danh "Việt Nam" được chính thức sử dụng lần đầu dưới thời vua Gia Long từ năm 1804 đến 1813. Tên gọi này sau đó xuất hiện trong tác phẩm Việt Nam vong quốc sử của Phan Bội Châu năm 1905, và sau đó được sử dụng bởi Việt Nam Quốc dân Đảng. Thời Pháp thuộc, đất nước thường được gọi bằng tên "An Nam" cho tới sau Cách mạng tháng Tám năm 1945, chính quyền Việt Minh ở Hà Nội chính thức đặt quốc hiệu là "Việt Nam".
== Lịch sử ==
Buổi đầu lịch sử, Việt Nam đã phải trải qua một ngàn năm Bắc thuộc, từ năm 111 trước Công nguyên đến năm 938 sau Công nguyên. Đến năm 938, Ngô Quyền đánh bại quân Nam Hán trên sông Bạch Đằng và giành được độc lập cho dân tộc Việt. Sau đó, chế độ phong kiến Việt Nam phát triển mạnh mẽ cùng với công cuộc mở rộng lãnh thổ xuống phía Nam. Tới giữa thế kỷ 19, đất nước bị thực dân Pháp đô hộ và sát nhập cùng Lào và Campuchia tạo thành Liên bang Đông Dương – thuộc địa của Pháp.
Sau khi Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đánh đuổi thực dân Pháp năm 1954, Việt Nam bị chia cắt làm 2 nửa: miền Bắc là Việt Nam Dân chủ Cộng hòa theo chủ nghĩa cộng sản, trong khi ở miền Nam, Hoa Kỳ đổ tiền bạc để lập nên Việt Nam Cộng hòa theo chủ nghĩa chống cộng Sự can thiệp của Hoa Kỳ dẫn đến Chiến tranh Việt Nam, cuộc chiến kết thúc vào năm 1975 khi Hoa Kỳ phải rút quân khỏi Việt Nam, Việt Nam Dân chủ Cộng hòa giành thắng lợi và thống nhất đất nước. Tuy vậy, sau đó, Việt Nam phải trải qua tình trạng nghèo đói và bị tàn phá bởi chiến tranh, cùng với việc Hoa Kỳ cấm vận giao thương với Việt Nam. Vào năm 1986, Việt Nam tiến hành một số cải cách về kinh tế (gọi là Đổi mới), mở cửa cho nền kinh tế Việt Nam hòa nhập với quốc tế.
=== Thời tiền sử và cổ đại ===
Các nhà khảo cổ học đã tìm thấy những dấu vết của người đứng thẳng (Homo erectus) vào thời kỳ đồ đá cũ trên lãnh thổ Việt Nam cách đây khoảng 500.000 năm; các công cụ thô sơ bằng đá và các dấu răng của con người thời tiền sử được phát hiện tại các tỉnh phía Bắc gồm Lạng Sơn, Thanh Hóa, Yên Bái, Ninh Bình và Quảng Bình. Tại các vùng phía Bắc, con người sinh sống trong các hang động đá vôi và sống bằng các hoạt động săn thú, hái lượm. Trong khi đó, tại các vùng duyên hải miền Trung như Nghệ An, con người chủ yếu sống bằng hoạt động đánh cá.
Đến thời đại đồ đá mới cách đây khoảng 5000–6000 năm, người Việt cổ bắt đầu biết canh tác lúa nước; hàng loạt dấu vết của việc trồng lúa đã được phát hiện trên khắp lãnh thổ, từ cao nguyên cho tới đồng bằng. Ngoài ra, con người đã bắt đầu biết chế tác công cụ tinh tế hơn và làm đồ gốm với kỹ thuật tinh xảo đạt đến đỉnh cao. Đến khoảng năm 1000 trước Công nguyên, khu vực lúa nước phát triển ở sông Hồng và sông Cả phát triển mạnh mẽ thành nền văn hóa Đông Sơn, nền văn minh đầu tiên của người Việt cổ, nổi tiếng với những trống đồng Đông Sơn tinh tế. Sau đó, những nhà nước đầu tiên của người Việt, Văn Lang và Âu Lạc, lần lượt xuất hiện vào khoảng thiên niên kỷ 1 trước Công nguyên.
=== Thời phong kiến ===
Bắt đầu từ thế kỷ 2 TCN, người Việt bị các triều đại phong kiến Trung Quốc cai trị trong hơn một ngàn năm. Sau nhiều lần khởi nghĩa không thành của những vị tướng lĩnh như Bà Triệu, Mai Thúc Loan hoặc chỉ giành độc lập trong thời gian ngắn như Hai Bà Trưng, Lý Bí, đến năm 905 Khúc Thừa Dụ đã giành quyền tự chủ cho người Việt, song chưa hẳn là giành được độc lập dân tộc vì Khúc Thừa Dụ vẫn tự nhận mình là quan của triều đình phương Bắc dù chỉ trên danh nghĩa.
Đến năm 938, Việt Nam chính thức giành được độc lập lâu dài sau trận chiến lịch sử trên sông Bạch Đằng do Ngô Quyền chỉ huy, đánh bại quân Nam Hán. Ngô Quyền xưng vương, tự đặt triều đình cai trị, đánh dấu việc người Việt chính thức độc lập khỏi các triều đình phương Bắc.
Sau khi giành được độc lập, từ thế kỷ 10 đến thế kỷ 14, dân tộc Việt Nam đã xây dựng đất nước với quốc hiệu là Đại Việt. Các triều đại nhà Tiền Lê, nhà Lý và nhà Trần đã tổ chức chính quyền tương tự thể chế chính trị của các triều đại Trung Hoa, lấy Phật giáo làm tôn giáo chính của quốc gia và cho truyền bá những tư tưởng của Nho giáo, Đạo giáo và Phật giáo. Trong giai đoạn này, nhà Tiền Lê, nhà Lý và nhà Trần đã có một số lần phải chống trả các cuộc tấn công của các triều đại phong kiến ở Trung Quốc, nhưng đều giành được thắng lợi và bảo vệ được nền độc lập của Đại Việt.Tiêu biểu là ba lần đánh thắng quân Nguyên Mông xâm lược dưới thời nhà Trần.
Đến năm 1400, Hồ Quý Ly cướp ngôi nhà Trần, lập ra nhà Hồ đổi tên nước là Đại Ngu, các cuộc cải cách của nhà Hồ khiến triều đình làm mất lòng dân. Năm 1407, Đại Ngu bị nhà Minh của Trung Hoa thôn tính, giai đoạn độc lập của người Việt bị gián đoạn. Sau đó, năm 1427, Lê Lợi đánh đuổi quân Minh, lập nên nhà Hậu Lê, giành lại độc lập cho dân tộc Việt. Triều Hậu Lê là triều đại mà chế độ phong kiến Việt Nam đạt đến đỉnh cao, đặc biệt là đời vua Lê Thánh Tông (1460-1497).
Vào thế kỷ 16, khi nhà Hậu Lê suy yếu, hai thế lực phong kiến lớn của Việt Nam là tập đoàn chúa Trịnh và chúa Nguyễn tranh chấp nhau, gây nên cuộc nội chiến Trịnh-Nguyễn phân tranh kéo dài hơn một trăm năm, chia cắt Đại Việt thành đàng Ngoài và đàng Trong trong suốt 200 năm. Sau đó, đến cuối thế kỷ 18, vị tướng khởi nghĩa Nguyễn Huệ đánh bại cả hai lực lượng và lập nên nhà Tây Sơn, thống nhất Đại Việt. Tuy nhiên, Nguyễn Huệ mất sớm, người kế vị là Hoàng đế Cảnh Thịnh không đủ tài năng nên nhà Tây Sơn chỉ tồn tại trong khoảng thời gian ngắn ngủi và sau đó bị Nguyễn Ánh (một thành viên trong dòng họ chúa Nguyễn) cùng với viện trợ từ Pháp lật đổ, lập nên nhà Nguyễn, triều đại phong kiến cuối cùng của Việt Nam.
Trong suốt thời đại phong kiến, các triều đại Lý, Trần, Hậu Lê và Nguyễn đã có công thu phục Chiêm Thành, Chân Lạp và Tây Nguyên ở phía Nam, mở mang bờ cõi đất nước.
Các đô thị chính: Hà Nội, Việt Trì, Thái Nguyên, Hải Phòng, Nam Định, Vinh, Huế, Đà Nẵng, Quy Nhơn, Nha Trang, Buôn Ma Thuột, Biên Hòa, TP Hồ Chí Minh, Mỹ Tho, Cần Thơ, Long Xuyên.
=== Lịch sử hiện đại ===
Đến giữa thế kỷ 19, thực dân Pháp tiến hành xâm lược bán đảo Đông Dương, thâu tóm ba nước Việt Nam, Lào và Campuchia làm thuộc địa. Đến năm 1887, ba quốc gia trên sát nhập thành Liên bang Đông Dương, chính thức trở thành thuộc địa của Pháp. Trong thời gian này, Thiên Chúa giáo được truyền bá vào Việt Nam, cùng với những phong tục, tập quán Tây phương, dần dần trở nên phổ biến song hành với những phong tục văn hóa truyền thống. Trong chiến tranh thế giới thứ hai, đế quốc Nhật Bản đảo chính Pháp và chiếm toàn thể Đông Dương. Với sự chuẩn bị từ trước đó trong nhiều năm và với sự ủng hộ của người dân, ngay sau khi hay tin đế quốc Nhật đầu hàng quân Đồng Minh, Hồ Chí Minh đã lãnh đạo Việt Minh giành lại chính quyền từ tay Nhật. Ngày 2 tháng 9 năm 1945, Hồ Chí Minh đọc Tuyên ngôn Độc lập và thành lập nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, nhà nước tự chủ đầu tiên của người Việt thời hiện đại. Tới tháng 1/1946, chính phủ lâm thời Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tổ chức Tổng tuyển cử trên phạm vi cả nước, Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa chính thức trở thành người đại diện hợp pháp duy nhất cho nhân dân Việt Nam.
Sau chiến tranh thế giới thứ hai, Pháp muốn chiếm lại thuộc địa Đông Dương nhưng vấp phải sự phản kháng quyết liệt của người Việt Nam do lực lượng Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (Việt Minh) lãnh đạo. Để đối chọi lại với Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, năm 1949, Pháp dựng lên Quốc gia Việt Nam do Bảo Đại (từng là hoàng đế nhà Nguyễn) làm Quốc trưởng.
Sau chiến thắng của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tại chiến trường Điện Biên Phủ ngày 7 tháng 5 năm 1954, Pháp buộc phải rút khỏi Đông Dương. Hiệp định Genève được ký kết đã chấm dứt ách đô hộ gần một trăm năm của thực dân Pháp tại Việt Nam, đồng thời chia nước Việt Nam thành hai vùng tập kết quân sự cho Quân đội Nhân dân Việt Nam ở phía bắc và quân đội Liên Hiệp Pháp (bao gồm Quốc gia Việt Nam) ở phía nam, lấy vĩ tuyến 17 làm giới tuyến quân sự tạm thời (không được coi là biên giưới quốc gia), dự kiến sau hai năm sẽ tiến hành tổng tuyển cử cả nước. Tuy nhiên, vì nhiều tác nhân bên ngoài, đặc biệt là sự can thiệp chính trị của Hoa Kỳ và sự bác bỏ tổng tuyển cử toàn quốc của chính quyền Ngô Đình Diệm nên ở miền Nam, việc tổng tuyển cử thống nhất đất nước mãi tới năm 1976 mới được Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Cộng hòa miền Nam Việt Nam tổ chức. Tại miền Nam, chính phủ Việt Nam Cộng hòa thành lập trên cơ sở kế thừa Quốc gia Việt Nam, được Hoa Kỳ hậu thuẫn và được công nhận bởi các quốc gia đồng minh với Hoa Kỳ. Chính phe này tuyên bố không thi hành bầu cử thống nhất đất nước Tại miền Bắc, Việt Nam Dân chủ Cộng hòa theo mô hình xã hội chủ nghĩa, dưới sự lãnh đạo của Đảng Lao động Việt Nam được Liên Xô, Trung Quốc hậu thuẫn và được các nước trong khối xã hội chủ nghĩa khác công nhận và giúp đỡ. Từ đây, Việt Nam tạm thời bị chia cắt với: Tại miền Bắc, Việt Nam Dân chủ Cộng hòa theo xã hội chủ nghĩa và chủ nghĩa cộng sản và tại miền Nam Việt Nam Cộng hòa thì theo chủ nghĩa tư bản và chống cộng sản tồn tại song song với Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam theo đường lối dân tộc chủ nghĩa.
Năm 1960, Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam ra đời tại miền Nam với mục tiêu đoàn kết những người dân miền Nam có tinh thần chống lại sự can thiệp của Mỹ, muốn đánh đổ chế độ Việt Nam Cộng hòa để thực hiện thống nhất Việt Nam. Xung đột quân sự dần trở nên nghiêm trọng và kéo dài suốt hai thập kỷ (gọi là cuộc chiến tranh Việt Nam). Năm 1964, nhận thấy Việt Nam Cộng hòa sắp sụp đổ, Hoa Kỳ chính thức can thiệp quân sự, đưa quân Mỹ vào chiến đấu trực tiếp tại chiến trường Nam Việt Nam và thực hiện các đợt ném bom vào miền Bắc. Năm 1968, Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam thực hành tổng tấn công khắp miền Nam nhân dịp Tết Mậu Thân, gây ra những tổn thất lớn cho Hoa Kỳ và làm cho phong trào phản chiến tăng mạnh. Tới tháng 6/1969, Cộng hòa miền Nam Việt Nam chính thức được thành lập và được 50 quốc gia trên thế giới công nhận.
Đến tháng 1 năm 1973, sau những tổn thất vượt ngưỡng chịu đựng trên chiến trường Việt Nam, cùng với những khó khăn trên chính trường Mỹ cộng với tác động của phong trào phản chiến trong nước và trên thế giới, Hoa Kỳ ký Hiệp định Paris và rút quân khỏi Việt Nam. Cuộc chiến kết thúc vào ngày ngày 30 tháng 4 năm 1975 khi chính quyền tổng thống Dương Văn Minh của Việt Nam Cộng Hòa đầu hàng trước Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam.
Năm 1976,Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam và Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tổ chức Tổng tuyển cử thống nhất đất nước, nước Việt Nam thống nhất đổi quốc hiệu thành nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam; Sài Gòn – Chợ Lớn đổi tên thành Thành phố Hồ Chí Minh. Sau chiến tranh, do nhiều cuộc chiến tiếp tục nổ ra (chiến tranh biên giới phía Bắc chống Trung Quốc và chiến tranh biên giới Tây Nam chính quyền diệt chủng của Khmer Đỏ) và chính sách kinh tế bao cấp của Đảng Cộng sản Việt Nam, đồng thời bị Hoa Kỳ cấm vận thương mại trong gần hai thập kỷ, do đó Việt Nam vốn đã bị tàn phá bởi chiến tranh nay lại lâm vào các khủng hoảng trầm trọng về kinh tế và xã hội Năm 1986, Đại hội Đảng lần VI năm 1986 chấp thuận chính sách Đổi mới theo đó cải tổ bộ máy nhà nước, và chuyển đổi nền kinh tế theo hướng kinh tế thị trường định hướng chủ nghĩa xã hội. Giữa thập niên 1990, Việt Nam bắt đầu hội nhập vào cộng đồng quốc tế. Năm 1994, Việt Nam bình thường hóa quan hệ ngoại giao với Hoa Kỳ, và một năm sau đó, Việt Nam gia nhập khối ASEAN. Hiện nay, Việt Nam là thành viên của 63 tổ chức quốc tế như Liên Hiệp Quốc (ECOSOC, UNESCO), Cộng đồng Pháp ngữ, ASEAN, APEC. Ngày 11 tháng 1 năm 2007, Việt Nam chính thức trở thành thành viên thứ 150 của Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) sau 11 năm đàm phán.
== Địa lý ==
Việt Nam nằm trong bán đảo Đông Dương, thuộc vùng đông nam châu Á. Lãnh thổ Việt Nam chạy dọc bờ biển phía đông của bán đảo này. Việt Nam có đường biên giới đất liền dài 4.550 km: phía Bắc giáp Trung Quốc, phía Tây giáp Campuchia và Lào và phía Đông giáp biển Đông.
Việt Nam có diện tích 331.698 km², bao gồm khoảng 327.480 km² đất liền và hơn 4.500 km² biển nội thủy, với hơn 2.800 hòn đảo, bãi đá ngầm lớn nhỏ, gần và xa bờ, bao gồm cả Trường Sa và Hoàng Sa mà Việt Nam tuyên bố chủ quyền, có vùng nội thủy, lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa được Chính phủ Việt Nam xác định gần gấp ba lần diện tích đất liền khoảng trên 1 triệu km².
Địa hình Việt Nam rất đa dạng theo các vùng tự nhiên như vùng tây bắc, đông bắc, Tây Nguyên có những đồi và những núi đầy rừng, trong khi đất phẳng che phủ khoảng ít hơn 20%. Núi rừng chiếm độ 40%, đồi 40%, và độ che phủ khoảng 75%. Các vùng đồng bằng như đồng bằng sông Hồng, đồng bằng sông Cửu Long và các vùng duyên hải ven biển như Bắc Trung Bộ và Nam Trung Bộ. Nhìn tổng thể Việt Nam gồm ba miền với miền Bắc có cao nguyên và vùng châu thổ sông Hồng, miền Trung là phần đất thấp ven biển, những cao nguyên theo dãy Trường Sơn, và miền Nam là vùng châu thổ Cửu Long. Điểm cao nhất Việt Nam là 3.143 mét, tại đỉnh Phan Xi Păng, thuộc dãy núi Hoàng Liên Sơn. Diện tích đất canh tác chiếm 17% tổng diện tích đất Việt Nam.
Về tài nguyên đất, Việt Nam có rừng tự nhiên và nhiều mỏ khoáng sản trên đất liền với phốt phát, than đá, chôrômát,vàng...Về tài nguyên biển thì có cá, tôm, dầu mỏ, khí tự nhiên.Với hệ thống sông, hồ nhiều, đây là tiềm năng cho thủy điện phát triển.
=== Khí hậu ===
Việt Nam có khí hậu nhiệt đới xavan ở miền Nam với hai mùa (mùa mưa, từ giữa tháng 5 đến giữa tháng 9, và mùa khô, từ giữa tháng 10 đến giữa tháng 4) và khí hậu cận nhiệt đới ẩm ở miền Bắc với bốn mùa rõ rệt (mùa xuân, mùa hè, mùa thu và mùa đông), còn miền trung và Nam bộ có đặc điểm của khí hậu nhiệt đới gió mùa. Do nằm dọc theo bờ biển, khí hậu Việt Nam được điều hòa một phần bởi các dòng biển và mang nhiều yếu tố khí hậu biển. Độ ẩm tương đối trung bình là 84% suốt năm. Hằng năm, lượng mưa từ 1.200 đến 3.000 mm, số giờ nắng khoảng 1.500 đến 3.000 giờ/năm và nhiệt độ từ 5 °C đến 37 °C. Hàng năm, Việt Nam luôn phải phòng chống bão và lụt lội và hứng chịu 5 đến 10 cơn bão/năm.
Nhiệt độ trung bình năm tăng khoảng 0,5 độ Celsius trong vòng 50 năm (1964 - 2014).
== Phân cấp hành chính ==
Phân cấp hành chính Việt Nam gồm 3 cấp: cấp tỉnh và tương đương, cấp huyện và tương đương, cấp xã và tương đương.
Việt Nam được chia ra 58 tỉnh và 5 thành phố trực thuộc trung ương(*) với thủ đô là Hà Nội. 63 đơn vị hành chính cấp tỉnh và tương đương của Việt Nam lần lượt (sắp xếp theo bảng chữ cái):
Dưới cấp tỉnh và thành phố trực thuộc trung ương là cấp quận, huyện, thị xã và thành phố trực thuộc tỉnh. Tính đến năm 2015, Việt Nam có 713 đơn vị cấp quận/huyện/thị xã/thành phố thuộc tỉnh
Dưới cấp quận/huyện/thị xã/thành phố thuộc tỉnh là các đơn vị hành chính phường, xã, thị trấn.
Dưới cấp phường/xã/thị trấn là các khu vực với các tên gọi khác nhau ở các vùng miền như khu phố, tổ dân phố, làng, thôn, ấp, khóm, buôn, bản, xóm.
== Chính trị ==
Việt Nam cho tới 2016 là một nước theo chế độ xã hội chủ nghĩa. Hệ thống chính trị đã thực hiện theo cơ chế chỉ có duy nhất một đảng chính trị là Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo, với tôn chỉ là: Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý và nhân dân làm chủ thông qua cơ quan quyền lực là Quốc hội Việt Nam. Trên thực tế cho đến nay (2010) các đại biểu là đảng viên trong Quốc hội có tỉ lệ từ 90% trở lên, những người đứng đầu Chính phủ, các Bộ và Quốc hội cũng như các cơ quan tư pháp đều là đảng viên kỳ cựu và được Ban Chấp hành Trung ương hoặc Bộ chính trị Đảng Cộng sản Việt Nam đề cử.
Đảng Cộng sản Việt Nam là Đảng duy nhất lãnh đạo trên chính trường Việt Nam theo quy định trong điều 4 của Hiến pháp 1992, vẫn cam kết với các nguyên tắc của Lênin "tập trung dân chủ", mà không cho phép thành lập một hệ thống đa đảng. Người đứng đầu Đảng Cộng sản Việt Nam là Tổng bí thư là một trong những người có quyền lực cao nhất Việt Nam, vì đảng duy nhất hợp lệ, cùng với Chủ tịch quốc hội, Thủ tướng chính phủ nắm quyền lập pháp, hành pháp. Tổng bí thư từ đại hội XI (2011) là ông Nguyễn Phú Trọng.
Quốc hội, theo hiến pháp là cơ quan đại biểu cao nhất của nhân dân, cơ quan quyền lực Nhà nước cao nhất của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Quốc hội là cơ quan duy nhất có quyền lập hiến và lập pháp. Nhiệm vụ của Quốc hội là giám sát, quyết định những chính sách cơ bản về đối nội và đối ngoại, các nhiệm vụ kinh tế, xã hội, quốc phòng, an ninh, những nguyên tắc chủ yếu của bộ máy Nhà nước, về quan hệ xã hội và hoạt động của công dân. Trên 90% đại biểu quốc hội là Đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam nên quốc hội không có độc lập từ đảng, tuân thủ gần tuyệt đối các quy định của Đảng (tại các nước khác nhóm đại biểu chiếm đa số trong quốc hội cũng thường từ một đảng hay liên minh quyết định đường lối chính sách), tuy nhiên sau thời Đổi mới, vai trò của Quốc hội đẩy lên cao hơn. Nhiệm kỳ Quốc hội là 5 năm. Chủ tịch Quốc hội được Quốc hội bầu do đề cử của Ban Chấp hành Trung ương. Chủ tịch Quốc hội hiện nay (2016) là bà Nguyễn Thị Kim Ngân.
Chủ tịch nước, theo hiến pháp là người đứng đầu Nhà nước, nguyên thủ quốc gia nước Cộng hòa xã hội Chủ nghĩa Việt Nam được Quốc hội bầu do Chủ tịch Quốc hội giới thiệu từ đề cử của Ban Chấp hành Trung ương. Chủ tịch nước có 12 quyền hạn theo Hiến pháp trong đó quan trọng nhất là: công bố hiến pháp, luật, pháp lệnh. Tổng Tư lệnh các lực lượng vũ trang nhân dân và giữ chức Chủ tịch Hội đồng Quốc phòng và An ninh Quốc gia. Đề nghị Quốc hội bầu, miễn nhiệm Phó Chủ tịch nước, Thủ tướng, Chánh án Tòa án tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát tối cao. Chủ tịch nước thay mặt Nhà nước về đối nội và đối ngoại, là chức vụ cao nhất của Nhà nước Việt Nam, thường không giữ kiêm chức Tổng bí thư Đảng (có trường hợp giữ kiêm). Nhiệm kỳ của Chủ tịch nước là 5 năm. Không có quy định giới hạn số nhiệm kỳ được làm Chủ tịch nước. Chủ tịch nước hiện nay (2016) là ông Trần Đại Quang.
Chính phủ, theo hiến pháp là cơ quan chấp hành của Quốc hội, cơ quan hành chính Nhà nước cao nhất của nước Cộng hòa xã hội Chủ nghĩa Việt Nam. Chính phủ chịu sự giám sát và thực hiện chế độ báo cáo công tác trước Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội và Chủ tịch nước. Nhiệm kỳ Chính phủ là 5 năm. Chính phủ gồm có Thủ tướng, các Phó Thủ tướng, các Bộ trưởng và Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ. Đứng đầu Chính phủ là Thủ tướng Chính phủ do Chủ tịch nước giới thiệu từ đề cử của Ban Chấp hành Trung ương để Quốc hội bầu. Không có quy định giới hạn số nhiệm kỳ được làm Thủ tướng Chính phủ. Thủ tướng Chính phủ hiện nay (2016) là ông Nguyễn Xuân Phúc.
Các Phó Thủ tướng do Thủ tướng đề nghị Quốc hội phê chuẩn, là người giúp việc cho Thủ tướng và được Thủ tướng ủy nhiệm khi Thủ tướng vắng mặt. Các Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ do Thủ tướng đề nghị Quốc hội phê chuẩn, đảm nhiệm chức năng quản lý Nhà nước đối với ngành hoặc lĩnh vực công tác được giao. Việc tổ chức nhân sự cấp cao này đều thông qua Bộ Chính trị và các viên chức này đều do Bộ Chính trị quản lý. Các Thứ trưởng và chức vụ tương đương do Thủ tướng bổ nhiệm, nhưng Ban Bí thư thông qua và quản lý.
Chính phủ Việt Nam có 18 bộ và 4 cơ quan ngang bộ. Ngoài ra chính phủ còn quản lý 5 cơ quan hành chính và 3 cơ quan truyền thông trực thuộc là Thông tấn xã Việt Nam, Đài Truyền hình Việt Nam, Đài Tiếng nói Việt Nam
Tòa án Nhân dân Tối cao là cơ quan xét xử cao nhất của Việt Nam. Chánh án Tối cao là người đứng đầu Tòa án Nhân dân Tối cao. Chánh án Tối cao hiện nay (từ 2016) là ông Nguyễn Hòa Bình.
== Quan hệ đối ngoại ==
Theo các văn kiện của Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng Cộng sản Việt Nam: Đảng Cộng sản và Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam chủ trương thực hiện đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, rộng mở, đa dạng hóa, đa phương hóa quan hệ quốc tế, chủ động hội nhập quốc tế với phương châm "Việt Nam sẵn sàng là bạn và là đối tác tin cậy của tất cả các nước trong cộng đồng thế giới phấn đấu vì hòa bình, độc lập và phát triển".
Từ sau thời kỳ đổi mới, Việt Nam chính thức bình thường hóa quan hệ với Trung Quốc vào năm 1992 và với Hoa Kỳ vào năm 1995, gia nhập khối ASEAN năm 1995
Hiện nay, Việt Nam đã thiết lập quan hệ ngoại giao với 180 quốc gia (gồm 43 nước châu Á, 47 nước châu Âu, 11 nước châu Đại Dương, 29 nước châu Mỹ, 50 nước châu Phi). thuộc tất cả các châu lục (Châu Á - Thái Bình Dương: 33, châu Âu: 46, Châu Mĩ: 28, châu Phi: 47, Trung Đông: 16), bao gồm tất cả các nước và trung tâm chính trị lớn của thế giới. Việt Nam cũng là thành viên của 63 tổ chức quốc tế và có quan hệ với hơn 650 tổ chức phi chính phủ. Đồng thời, Việt Nam đã có quan hệ thương mại với 165 nước và vùng lãnh thổ. Trong tổ chức Liên Hiệp Quốc, Việt Nam đóng vai trò là ủy viên ECOSOC, ủy viên Hội đồng chấp hành UNDP, UNFPA và UPU.
Vai trò đối ngoại của Việt Nam trong đời sống chính trị quốc tế đã được thể hiện thông qua việc tổ chức thành công nhiều hội nghị quốc tế tại thủ đô Hà Nội
Năm 1997, tổ chức hội nghị Thượng đỉnh Cộng đồng Pháp ngữ
Năm 1998, tổ chức hội nghị cấp cao ASEAN
Năm 2003, tổ chức hội thảo quốc tế về hợp tác và phát triển Việt Nam và châu Phi
Năm 2004, tổ chức Hội nghị cấp cao ASEM vào tháng 10
Năm 2006, tổ chức Hội nghị Thượng đỉnh APEC vào tháng 11.
Từ ngày 11 tháng 1 năm 2007, Việt Nam chính thức trở thành thành viên thứ 150 của Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO). Đây là một bước ngoặt lớn trong tiến trình hội nhập với nền kinh tế quốc tế.
Năm 2007 tổ chức đăng cai Olympic toán Quốc tế.
Ngày 16 tháng 10 năm 2007, tại cuộc bỏ phiếu diễn ra ở phiên họp Đại hội đồng Liên Hiệp Quốc ở New York, Việt Nam chính thức được bầu làm thành viên không thường trực Hội đồng Bảo an Liên Hiệp Quốc nhiệm kỳ 2008-2009.
Ngày 1 tháng 1 năm 2010, Việt Nam đảm nhận vai trò Chủ tịch ASEAN và trong năm đó đã tổ chức nhiều cuộc họp lớn của khu vực.
Ngày 21 tháng 10 năm 2015, tại cuộc bỏ phiếu diễn ra ở phiên họp Đại hội đồng Liên Hiệp Quốc ở New York, Việt Nam chính thức bầu làm thành viên của Hội đồng Kinh tế - xã hội Liên Hiệp Quốc (ECOSOC) nhiệm kỳ 2016-2018.
Năm 2016, tổ chức Olympic Sinh học Quốc tế.
== Kinh tế ==
Từ ngàn năm nay, Việt Nam là một nước nông nghiệp. Trước năm 1986, Việt Nam là một quốc gia có nền kinh tế kế hoạch tương tự nền kinh tế của các nước xã hội chủ nghĩa. Chính sách Đổi Mới năm 1986 thiết lập mô hình kinh tế mà Việt Nam gọi là "Kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa". Các thành phần kinh tế được mở rộng nhưng các ngành kinh tế then chốt vẫn dưới sự điều hành của Nhà nước. Sau năm 1986, kinh tế Việt Nam đã có những bước phát triển to lớn và đạt được tốc độ tăng trưởng kinh tế trung bình khoảng 9% hàng năm từ 1993 đến 1997, đặc biệt là sau khi Hoa Kỳ dỡ bỏ cấm vận với Việt Nam năm 1994. Tăng trưởng GDP 8,5% vào năm 1997 đã giảm xuống 4% vào năm 1998 do ảnh hưởng của sự kiện khủng hoảng kinh tế Á châu năm 1997, và tăng lên đến 4,8% năm 1999. Tăng trưởng GDP tăng lên từ 6% đến 7% giữa những năm 2000-2002 trong khi tình hình kinh tế thế giới đang trì trệ. Hiện nay, giới lãnh đạo Việt Nam tiếp tục các nỗ lực tự do hóa nền kinh tế và thi hành các chính sách cải cách, xây dựng cơ sở hạ tầng cần thiết để đổi mới kinh tế và tạo ra các ngành công nghiệp xuất khẩu có tính cạnh tranh hơn.
Mặc dù có tốc độ phát triển kinh tế cao trong một thời gian dài nhưng do tình trạng tham nhũng không được cải thiện và luôn bị xếp hạng ở mức độ cao của thế giới cộng với các khó khăn về vốn, đào tạo lao động, đất đai, cải cách hành chính, cơ sở hạ tầng gây ra cho việc kinh doanh với hàng chục ngàn thủ tục từ 20 năm trước đang tồn tại và không phù hợp với nền kinh tế thị trường nên với con số cam kết đầu tư trực tiếp của nước ngoài (FDI) cao kỷ lục 61 tỉ USD năm 2008 chưa nói lên được mức độ tin tưởng của các nhà đầu tư quốc tế đối với Việt Nam và Việt Nam đang bị các nước trong khu vực bỏ lại khá xa. Theo thống kê năm 2015 của Ngân hàng Thế giới thì PPP đầu người của Việt Nam năm 2014 là 5.294,4 USD, bằng 55,4% so với Indonesia, 37% so với Thái Lan và chỉ bằng 6,7% so với Singapore
Ngày 7 tháng 11 năm 2006, Việt Nam được phép gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) sau khi đã kết thúc đàm phán song phương với tất cả các nước có yêu cầu (trong đó có những nền kinh tế lớn như Hoa Kỳ, Liên minh châu Âu (EU), Nhật Bản, Trung Quốc). Việt Nam chính thức trở thành thành viên thứ 150 của tổ chức WTO ngày 11 tháng 1 năm 2007.
Ngày 3 tháng 4 năm 2013, tại một hội thảo tại Hà Nội, các chuyên gia kinh tế của Việt Nam đã nhận định nền kinh tế Việt Nam đi xuống sau 5 năm gia nhập WTO. Cụ thể, trong giai đoạn 2007-2011, chỉ có 1 năm (2008) Việt Nam đạt mức tăng trưởng GDP trên 8%. Tuy xuất khẩu tăng 2,4 lần lên 96,9 tỷ USD trong giai đoạn này nhưng mức tăng trưởng lại thấp hơn 5 năm trước khi gia nhập WTO. Đa phần tỷ trọng xuất khẩu là do khối doanh nghiệp FDI, chiếm khoảng 60%, mặt hàng xuất khẩu của Việt Nam vẫn chủ yếu là nông - lâm sản, và khoáng sản thô. Sau hội nhập, tỷ trọng nhập siêu cũng tăng mạnh, 18 tỷ USD vào năm 2008. Kinh tế Việt Nam cũng đã bị ảnh hưởng bởi giai đoạn khủng hoảng kinh tế từ 2007-2008 đến nay. Đến năm 2013, sau 7 năm hội nhập, tình hình kinh tế Việt Nam tiếp tục đối mặt với nhiều áp lực, từ nợ xấu đến lạm phát, tín dụng tăng trưởng thấp.
Về địa lý kinh tế, chính phủ Việt Nam phân chia và quy hoạch thành các vùng kinh tế-xã hội và các vùng kinh tế trọng điểm ở miền Bắc, miền Trung và miền Nam.
Các tỉnh thành có GDP bình quân đầu người cao nhất (xếp theo thứ tự từ cao xuống thấp): Thành phố Hồ Chí Minh, Bà Rịa - Vũng Tàu, Bắc Ninh, Quảng Ninh, Cần Thơ, Hà Nội, Bình Dương, Đồng Nai, Vĩnh Phúc, Đà Nẵng, Hải Phòng, Tây Ninh, Kiên Giang, Quảng Ngãi, Lâm Đồng, đạt trên 2450 USD, theo sau là Khánh Hòa, Long An,Quảng Nam, Nam Định...Các tỉnh thành có GDP bình quân đầu người thấp nhất (xếp theo thứ tự từ thấp lên cao): Hà Giang, Lai Châu, Cao Bằng, Điện Biên, Bắc Kạn, Yên Bái, Sơn La, Quảng Bình, Ninh Thuận, Nghệ An, Phú Thọ, Tuyên Quang, Thái Bình, Đồng Tháp, Phú Yên khoảng dưới 1530 USD, xếp sát là Thanh Hóa, Trà Vinh,...(2015). GDP bình quân đầu người Việt Nam năm 2015 ước đạt 2.109 USD.
=== Giao thông ===
Do đặc thù của địa lý Việt Nam, nên các tuyến giao thông nội địa chủ yếu từ đường bộ, đường sắt, đường hàng không đều theo hướng bắc - nam, riêng các tuyến giao thông nội thủy thì chủ yếu theo hướng đông - tây dựa theo các con sông lớn đều đổ từ hướng tây ra biển.
Việt Nam có hệ thống đường bộ gồm các quốc lộ, tỉnh lộ, huyện lộ... có tổng chiều dài khoảng 222.000km, phần lớn các tuyến đường quốc lộ và tỉnh lộ đều được trải nhựa và bê tông hóa, chỉ có một số ít các tuyến đường huyện lộ tại các tỉnh vùng sâu, vùng xa đang còn là các con đường đất.
Việt Nam có 3.360 km đường bờ biển. Dự kiến quy hoạch chi tiết tuyến đường bộ ven biển Việt Nam trong tương lai là tuyến đường bắt đầu tại cảng Núi Đỏ, Mũi Ngọc (xã Bình Ngọc, Móng Cái, Quảng Ninh) tới cửa khẩu Hà Tiên (thị xã Hà Tiên, Kiên Giang) với chiều dài khoảng 3.041 km
Hệ thống đường sắt Việt Nam có tổng chiều dài 2652 km, trong đó tuyến đường chính Hà Nội - Thành phố Hồ Chí Minh dài 1726 km được gọi là Đường sắt Bắc Nam. Ngoài ra còn có các tuyến đường sắt ngắn từ Hà Nội đi Hải Phòng (hướng đông), Lạng Sơn (hướng bắc), Lào Cai (hướng tây bắc)
Hệ thống đường hàng không Việt Nam gồm các sân bay quốc tế có các tuyến bay đi các nước và các sân bay nội địa trải đều ở khắp ba miền, 3 sân bay quốc tế hiện đang khai thác là Tân Sơn Nhất (thành phố Hồ Chí Minh), sân bay Đà Nẵng (Đà Nẵng) và Nội Bài (Hà Nội), và các sân bay dự kiến khai thác đường bay quốc tế trong thời gian tới là Cam Ranh (Khánh Hòa), Cát Bi (Hải Phòng) và Phú Bài (Thừa Thiên Huế).
Hệ thống đường biển xuất phát từ các cảng biển lớn ở 3 miền như cảng Hải Phòng, cảng Cái Lân (miền Bắc), cảng Tiên Sa, cảng Quy Nhơn (miền Trung) và cảng Sài Gòn, cảng Thị Vải (miền Nam). Các tuyến đường thủy nội địa chủ yếu nằm theo hướng đông - tây dựa theo các con sông lớn như sông Đà, sông Hồng (miền Bắc), sông Tiền, sông Hậu (miền tây nam bộ), và sông Đồng Nai, sông Sài Gòn (miền đông nam bộ) chảy theo hướng bắc - nam. Việt Nam là nước có nhiều sông ngòi chảy theo hướng tây bắc xuống đông nam. Sông Hồng là sông chính ở miền Bắc chảy vào Việt Nam ở Lào Cai, qua các thành phố lớn Việt Trì, Hà Nội, Nam Định rồi đổ ra biển ở cửa Ba Lạt giữa Thái Bình và Nam Định.
=== Truyền thông ===
Truyền thông Việt Nam hiện có đủ bốn loại hình báo chí là báo in, báo nói, báo hình và báo điện tử. Việt Nam hòa mạng internet quốc tế vào năm 1997 và hơn 10 năm nay hàng loạt báo điện tử, trang tin điện tử đã ra đời.
Thống kê đến tháng 7 năm 2010, tại Việt Nam có 706 cơ quan báo chí in, trong đó có 178 báo và 528 tạp chí. Có 65 đài phát thanh - truyền hình, gồm 2 đài phát thanh - truyền hình trung ương (VTV, VOV) và 63 đài phát thanh - truyền hình ở các địa phương. Có 34 báo điện tử, 180 trang tin điện tử của các cơ quan tạp chí, báo, đài và hàng ngàn trang thông tin điện tử.
Tại Việt Nam, tất cả các cơ quan truyền thông, báo chí hoạt động dưới sự quản lý và giám sát của Bộ Thông tin và Truyền thông Việt Nam, và dưới sự định hướng của Ban Tuyên giáo Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam. Theo luật pháp Việt Nam, hiện nay chưa cấp phép cho báo chí tư nhân hoạt động.
=== Du lịch ===
Ngành du lịch và dịch vụ đã đóng góp tích cực vào nền kinh tế Việt Nam. Số lượng khách du lịch đến Việt Nam liên tục tăng nhanh trong vòng 10 năm kể từ 2000 - 2010. Năm 2013, có gần 7,6 triệu lượt khách quốc tế đến Việt Nam, các thị trường lớn nhất là Trung Quốc, Hàn Quốc, Nhật Bản, Hoa Kỳ và Đài Loan.
Việt Nam có nhiều điểm du lịch đa dạng từ miền Bắc đến miền Nam, từ miền núi tới đồng bằng, bãi biển, đảo. Từ các thắng cảnh thiên nhiên tới các di tích văn hóa lịch sử... Các điểm du lịch miền núi nổi tiếng như Sapa, Bà Nà, Đà Lạt, Tam Đảo. Các điểm du lịch ở đồng bằng như Hà Nội, Huế, Đà Nẵng, TP.Hồ Chí Minh, Nam Định... Các điểm du lịch ở các bãi biển như Hạ Long, Nha Trang,Phan Thiết, Vũng Tàu, Thịnh Long, Sầm Sơn, Cửa Lò... và các đảo như Cát Bà, Cù lao Chàm, Côn Đảo, Phú Quốc,...
Khẩu hiệu ngành du lịch Việt Nam:
2001-2004: Việt Nam - Điểm đến của thiên niên kỷ mớiVietnam - A destination for the new mellennium
2004-2005: Hãy đến với Việt NamWelcome to Vietnam
2006-2009: Việt Nam - Vẻ đẹp tiềm ẩnVietnam - The hidden charm
2010-nay: Việt Nam - Sự khác biệt Á ĐôngVietnam - A Different Orient
== Nhân khẩu ==
=== Dân số ===
Việt Nam có 54 dân tộc, trong đó có 53 dân tộc thiểu số, chiếm khoảng 14% tổng số dân của cả nước. Dân tộc Việt (còn gọi là người Kinh) chiếm gần 86%, tập trung ở những miền châu thổ và đồng bằng ven biển. Những dân tộc thiểu số, trừ người Hoa, người Chăm và người Khmer phần lớn đều tập trung ở các vùng miền núi và cao nguyên. Trong số các sắc dân thiểu số, đông dân nhất là các dân tộc Tày, Thái, Mường, Hoa, Khmer, Nùng..., mỗi dân tộc có dân số khoảng một triệu người. Các dân tộc Brâu, Rơ Măm, Ơ Đu có số dân ít nhất, với khoảng vài trăm cho mỗi nhóm. Có một số dân tộc thiểu số đã định cư trên lãnh thổ Việt Nam từ rất lâu đời, nhưng cũng có các dân tộc chỉ mới di cư vào Việt Nam trong vài trăm năm trở lại đây như người Hoa ở miền Nam. Trong số các dân tộc này, người Hoa và người Ngái là hai dân tộc duy nhất có dân số giảm trong giai đoạn 1999-2009. Việt Nam là một nước đông dân, tuy diện tích đứng hạng 65 nhưng lại xếp thứ 15 trên thế giới về dân số.
Theo điều tra của Tổng cục thống kê (Việt Nam) tính đến ngày 1 tháng 4 năm 2009, trên toàn Việt Nam có 85.846.997 người, quy mô phân bố ở các vùng kinh tế - xã hội, trong đó đông dân nhất là vùng đồng bằng sông Hồng với khoảng 19,5 triệu người, kế tiếp là vùng bắc Trung bộ và duyên hải nam Trung bộ với khoảng 18,8 triệu người, thứ ba là vùng đồng bằng sông Cửu Long với khoảng 17,1 triệu người. Vùng ít dân nhất là Tây Nguyên với khoảng 5,1 triệu người. Theo số liệu ước tính của The World Factbook do CIA công bố thì vào tháng 7 năm 2011, dân số Việt Nam là 90.549.390 người, đứng thứ 14 trên thế giới (Ethiopia vượt lên vị trí 13).
Theo điều tra dân số và nhà ở giữa kỳ (IPS) 2014 thì 33,1% dân số Việt Nam đang sinh sống tại khu vực thành thị và 66,9% cư trú ở khu vực nông thôn. Về tỷ số giới tính trung bình hiện nay là 98 nam/100 nữ, trong đó vùng cao nhất là Tây Nguyên với 102 nam/100 nữ và vùng thấp nhất là Đông Nam Bộ với 95 nam/100 nữ
=== Tôn giáo ===
Việt Nam là một quốc gia đa tôn giáo và tín ngưỡng. Cộng đồng các dân tộc tại Việt Nam đều có tín ngưỡng dân gian từ lâu đời. Phật giáo du nhập vào Việt Nam từ những năm đầu Tây lịch (có giả thuyết cho rằng vào thế kỷ I trước Tây lịch), cùng với Khổng giáo, Lão giáo, Phật giáo là tôn giáo chính và quan trọng đặt nền móng cho văn hóa Việt Nam. Sự dung hòa Phật - Nho - Lão tạo thành một nét tôn giáo nền tảng văn hóa độc đáo được gọi là Tam giáo "đồng nguyên". Thiên chúa giáo cũng như các tôn giáo phương tây như Tin Lành du nhập vào Việt Nam khoảng sau thế kỷ 18, Hồi giáo truyền vào miền Trung vào thời kỳ thịnh vượng của các vương triều Hồi giáo ở Ấn Độ vào đồng bào Chăm. Ngoài ra, dung hợp và biến thể của các tôn giáo thế giới, Việt Nam còn có một số tôn giáo nội sinh như đạo Cao Đài (dung hòa giữa Phật giáo, Thiên chúa giáo và Lão giáo cùng với các niềm tin khác, tuy nhiên khác với Phật giáo, đạo Cao Đài là tôn giáo thờ thần) và đạo Hòa Hảo (phát triển từ tứ ân của nhà Phật, hình thành triết lý giáo dục con người dựa trên lời dạy của giáo chủ). Bên cạnh đó, có một lượng đáng kể người dân tự nhận mình là người không tôn giáo.
=== Giáo dục ===
Nhà nước Việt Nam rất quan tâm đến việc phát triển giáo dục. Tỷ lệ ngân sách nhà nước dành cho giáo dục ngày càng tăng từ 10,89% năm 2005 tăng lên đến 12,05% năm 2010 và 16,85% năm 2012.
Nền giáo dục Việt Nam hiện nay đang cố gắng hội nhập với các nước trong khu vực Đông Nam Á và trên Thế giới. Ở Việt Nam có 5 cấp học: tiểu học, trung học cơ sở, trung học phổ thông, đại học và sau đại học. Các trường Đại học chủ yếu tập trung ở hai thành phố lớn là Hà Nội và TP.Hồ Chí Minh. Theo kết quả đánh giá học sinh quốc tế (PISA) của Tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế (OECD) được công bố ngày 3/12/2013, điểm trung bình môn Khoa học của học sinh Việt Nam ở độ tuổi 15 năm 2012 đứng thứ 8 thế giới. Tuy nhiên có ý kiến cho rằng kết quả này không phản ánh đúng chất lượng giáo dục của Việt Nam vì các trường phổ thông theo chỉ thị của Bộ giáo dục Việt Nam đã chuẩn bị khá kỹ lưỡng cho kỳ thi PISA từ trước đó.
Về nền giáo dục bậc đại học, hiện nay Việt Nam có tổng số 376 trường đại học, cao đẳng trên cả nước, trong đó bộ Giáo dục và Đào tạo trực tiếp quản lý 54 trường, các Bộ, ngành khác quản lý 116 trường.Các tỉnh, thành phố là cơ quan chủ quản của 125 trường. Ba cơ sở đại học lớn nhất quốc gia gồm Đại học Bách Khoa Hà Nội, Đại học Quốc gia Hà Nội, Đại học Quốc gia TP Hồ Chí Minh. Năm 1988, Bộ Đại học ra Quyết định cho phép thành lập Trung tâm Đại học dân lập Thăng Long (hiện nay là Trường Đại học Thăng Long) như một mô hình giáo dục đại học mới, đánh dấu sự ra đời của trường đại học dân lập đầu tiên tại Việt Nam. Tính đến hiện nay toàn Việt Nam có 81 trường dân lập, tư thục. Tổng số sinh viên bậc đại học hiện nay khoảng 1.800.000 người, số lượng tuyển sinh hằng năm trong những năm gần đây khoảng 500.000 người/kỳ thi. Tuy nhiên đánh giá chung chất lượng đào tạo giáo dục bậc đại học ở Việt Nam còn thấp, chưa tạo được sự đồng hướng giữa người học, người dạy, nhà đầu tư cho giáo dục, người sử dụng lao động và xã hội. Quản lý nhà nước về giáo dục đại học còn nhiều trì trệ là nguyên nhân cơ bản của việc chất lượng giáo dục đại học Việt Nam ngày càng tụt hậu trước đòi hỏi của phát triển đất nước. Nhưng nhà nước Việt Nam đang tích cực cải cách hệ thống giáo dục đại học bằng việc trao thêm quyền cho các trường đại học. Điều 32 Luật Giáo dục Đại học số 08/2012/QH13 được Quốc hội thông qua ngày 18/6/2012 quy định "Cơ sở giáo dục đại học tự chủ trong các hoạt động chủ yếu thuộc các lĩnh vực tổ chức và nhân sự, tài chính và tài sản, đào tạo, khoa học và công nghệ, hợp tác quốc tế, bảo đảm chất lượng giáo dục đại học. Cơ sở giáo dục đại học thực hiện quyền tự chủ ở mức độ cao hơn phù hợp với năng lực, kết quả xếp hạng và kết quả kiểm định chất lượng giáo dục.". Điều 36 luật này cũng quy định "Hiệu trưởng cơ sở giáo dục đại học tổ chức biên soạn hoặc lựa chọn, duyệt giáo trình giáo dục đại học để sử dụng làm tài liệu giảng dạy, học tập trong cơ sở giáo dục đại học trên cơ sở thẩm định của Hội đồng thẩm định giáo trình do hiệu trưởng cơ sở giáo dục đại học thành lập.", tuy nhiên "Bộ Giáo dục và Đào tạo tổ chức biên soạn giáo trình sử dụng chung các môn lý luận chính trị, quốc phòng - an ninh để làm tài liệu giảng dạy, học tập trong các cơ sở giáo dục đại học". Các lãnh đạo hàng đầu của Chính phủ Việt Nam bày tỏ sự ủng hộ tự chủ đại học và yêu cầu thúc đẩy nhanh hơn nữa tiến trình này. Tuy nhiên có ý kiến cho rằng các trường đại học Việt Nam chưa đủ năng lực và thiếu sự sẵn sàng cho việc tự chủ, các điều khoản trong Luật Giáo dục Đại học cho thấy quyền tự chủ của các trường đại học khó có thể trở thành hiện thực vì có quá nhiều điểm hoàn toàn trái với tinh thần tự chủ đại học hoặc mơ hồ đến độ không thể thực thi.
Từ năm 2000 tới nay, nhiều học sinh Việt Nam đã đi du học ở các nước phát triển như: Mỹ, Anh, Úc, Pháp, Đức, Nhật... Riêng năm 2007 đã có 39.700 học sinh đi du học
=== Y tế ===
Về cơ sở hạ tầng, tính đến năm 2010 trên toàn Việt Nam có 1.030 bệnh viện, 44 khu điều dưỡng phục hồi chức năng, 622 phòng khám đa khoa khu vực; với tổng số giường bệnh khoảng 246.300 giường. Bên cạnh các cơ sở y tế Nhà nước đã bắt đầu hình thành một hệ thống y tế tư nhân bao gồm 19.895 cơ sở hành nghề y, 14.048 cơ sở hành nghề dược, 7.015 cơ sở hành nghề y học cổ truyền, 5 bệnh viện tư có vốn đầu tư nước ngoài đã góp phần làm giảm bớt sự quá tải ở các bệnh viện Nhà nước
Mạng lưới y tế cơ sở của Việt Nam hiện nay đã có 80% số thôn bản có nhân viên y tế hoạt động, 100% số xã có trạm y tế trong đó gần 2/3 xã đạt chuẩn quốc gia, tuy nhiên sự phát triển chưa đồng đều ở mỗi cấp, vùng, miền. Việc đổi mới cơ chế hoạt động, cơ chế tài chính và sự công bằng trong chăm sóc sức khoẻ người dân chưa đảm bảo
Về nhân lực trong ngành, Việt Nam hiện có hệ thống các trường đại học Y, Dược phân bổ trên cả nước. Mỗi năm có hàng nghìn bác sĩ và dược sĩ đại học tốt nghiệp ra trường. Ngoài ra còn có hệ thống các trường đào tạo kỹ thuật viên trung học y, dược, nha tại các địa phương. Hiện nay số lượng cán bộ nhân viên ngành y tế đã có 250.000 người, trong đó có 47.000 người có trình độ đại học các loại
Ngành Y tế hiện tại của Việt Nam đang được nhiều tổ chức quốc tế tài trợ vốn ODA và vốn NGO, tính đến năm 2010 Bộ Y tế Việt Nam đang quản lý 62 dự án ODA và trên 100 dự án NGO với tổng kinh phí hơn 1 tỷ USD, các dự án được phân bố ở đều khắp các vùng miền
Tuy là một ngành thiết yếu đối với đời sống dân chúng, nhận được nhiều sự đầu tư từ ngân sách của nhà nước Việt Nam cũng như các tổ chức nước ngoài, nhưng những năm gần đây bị đánh giá là bị tham nhũng ở nhiều cấp độ, có tính chất nghiêm trọng, được tìm thấy trong cả 3 lĩnh vực quản lý nhà nước, dịch vụ tại cơ sở y tế và quản lý bảo hiểm y tế
=== Tội phạm và tệ nạn ===
Việt Nam có tỷ lệ tội phạm ở mức rất thấp so với các nước có cùng trình độ phát triển, thậm chí là thấp hơn so với nhiều quốc gia phát triển. Các băng nhóm tội phạm có tổ chức như Năm Cam, Khánh Trắng... là khá hiếm, quy mô và độ tinh vi cũng còn xa mới sánh được với các tổ chức Mafia quốc tế.
Tuy nhiên, Việt Nam là địa điểm thuận lợi cho những đầu dây tội phạm trong và ngoài nước lộng hành để lợi dụng cho mục đích cá nhân đặc biệt là các đầu dây mại dâm, ma túy. Việt Nam chịu ảnh hưởng từ những địa danh buôn bán ma túy khét tiếng như Tam giác vàng và Trăng lưỡi liềm vàng (Golden Crescent). Theo nhiều nhà quan chức nhận xét thì các hoạt động buôn bán ma túy càng ngày càng tinh vi và phức tạp do đó càng phải đề cao cảnh giác và nâng cao tinh thần trách nhiệm chống ma túy của quần chúng và đồng thời đẩy mảnh sự hợp tác phòng chống ma túy quốc tế. Gần đây Việt Nam cũng tham gia các hội nghị quốc tế để bàn thảo về các vấn đề trên như "Hội nghị quốc tế phòng, chống ma túy, khu vực nhóm công tác Viễn Đông" (IDEC FEWG) do Việt Nam chủ trì với sự hợp tác của 19 nước lận cận. Theo thống kê thì tính tới cuối năm 2012, cả nước có ước tính khoảng 170 nghìn người nghiện ma túy.
Các tệ nạn phổ biến nhất bao gồm cờ bạc, cá độ, sử dụng và buôn bán ma túy, mại dâm... Do sự phát triển mạnh của quá trình phát triển kinh tế - xã hội khiến cho tình hình tội phạm có xu hướng tăng cao, do đó Chính phủ Việt Nam đã và đang cố gắng hạn chế các loại tệ nạn đảm bảo an ninh, trật tự cho người dân. Việt Nam là một nước rất phổ biến về hoạt động thể dục thể thao trong đó bóng đá là phổ biến có nhiều người tham gia và hâm mộ nhiều nhất, do đó các tệ nạn liên quan đến cá độ trong hoạt động thể thao rơi phần nhiều ở bóng đá. Hiện nay, trong quá trình hội nhập trong nhiều lĩnh vực với thế giới, các cơ quan nhà nước và các tổ chức cá nhân đầu tư cho thể thao Việt Nam vẫn đang cố gắng hoàn thiện tổ chức và quản lý cho bóng đá nói riêng và cả nền thể dục thể thao nước nhà nói chung.
== Văn hóa ==
Văn hóa Việt Nam là nền văn hóa dân tộc thống nhất trên cơ sở đa dạng sắc thái văn hóa tộc người
Việt Nam có một nền văn hóa phong phú và đa dạng trên tất cả các khía cạnh, người Việt cùng cộng đồng 54 dân tộc anh em có những phong tục đúng đắn, tốt đẹp từ lâu đời, có những lễ hội nhiều ý nghĩa sinh hoạt cộng đồng, những niềm tin bền vững trong tín ngưỡng, sự khoan dung trong tư tưởng giáo lý khác nhau của tôn giáo, tính cặn kẽ và ẩn dụ trong giao tiếp truyền đạt của ngôn ngữ, từ truyền thống đến hiện đại của văn học, nghệ thuật.
Sự khác biệt về cấu trúc địa hình, khí hậu và phân bố dân tộc, dân cư đã tạo ra những vùng văn hoá có những nét đặc trưng riêng tại Việt Nam. Từ cái nôi của văn hóa Việt Nam ở đồng bằng sông Hồng với các đô thị chính: Hà Nội, Hải Phòng, Nam Định,Hải Dương...và vùng nông thôn của người Việt chủ đạo với nền văn hóa làng xã và văn minh lúa nước, đến những sắc thái văn hóa các dân tộc miền núi tại tây bắc và đông bắc. Từ các vùng đất biên viễn của Việt Nam thời dựng nước ở Bắc Trung bộ đến sự pha trộn với văn hóa Chăm Pa của người Chăm ở Nam Trung Bộ. Từ những vùng đất mới ở Nam Bộ với sự kết hợp văn hóa các tộc người Hoa, người Khmer đến sự đa dạng trong văn hóa và tộc người ở Tây Nguyên.
Với một lịch sử có từ hàng nghìn năm của người Việt cùng với những hội tụ về sau của các dân tộc khác, từ văn hóa bản địa của người Việt cổ từ thời Hồng Bàng đến những ảnh hưởng từ bên ngoài trong hàng nghìn năm nay. Với những ảnh hưởng từ xa xưa của Trung Quốc và Đông Nam Á đến những ảnh hưởng của Pháp từ thế kỷ 19, phương Tây trong thế kỷ 20 và toàn cầu hóa từ thế kỷ 21. Việt Nam đã có những thay đổi về văn hóa theo các thời kỳ lịch sử, có những khía cạnh mất đi nhưng cũng có những khía cạnh văn hóa khác bổ sung vào nền văn hóa Việt Nam hiện đại.
=== Thể thao ===
Môn thể thao truyền thống thịnh hành từ ngàn đời này ở Việt Nam là võ thuật. Ngoài võ thuật, những môn mang tính cổ truyền khác như đá cầu, cầu mây hay cờ tướng đều được nhiều người yêu thích. Trong khi hiện tại thì môn bóng đá được nhiều người chơi và xem nhất. Bóng đá được nhiều người Việt Nam hâm mộ tới mức báo chí nước ngoài ví gần như là một thứ "tôn giáo" với người dân.Bóng đá phát triển đầu tiên từ các thành phố Hồ Chí Minh, Hà Nội, Nam Định, Hải Phòng, Quảng Ninh..từ đầu thế kỉ 20.. Mỗi thành công hay thất bại của đội tuyển bóng đá quốc gia hay U23 Việt Nam, diễn biến của các giải đấu lớn cấp Quốc tế và các giải khác ở châu Âu... đều được dư luận đặc biệt quan tâm.
Những năm gần đây, tennis cũng bắt đầu phổ biến ở các thành phố lớn. Ngoài ra, một số môn thể thao khác cũng đã thịnh hành từ rất lâu ở Việt Nam như cầu lông, bóng chuyền, bóng bàn, billiards snooker và cờ vua. Đoàn thể thao Việt Nam bắt đầu tham gia Olympic mùa hè từ năm 1952 cho tới nay. và đã có được huy chương vàng đầu tiên và duy nhất cho đến năm 2016 của Hoàng Xuân Vinh trong môn bắn súng.
== Các ngày lễ chính ==
== Xếp hạng quốc tế ==
== Xem thêm ==
Đông Nam Á
Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á
Chính phủ Việt Nam
Đảng Cộng sản Việt Nam
Thành phố Việt Nam
== Chú thích ==
Ghi chú
Nguồn tham khảo
Woods, L. Shelton (2002). Vietnam: a global studies handbook. ABC-CLIO. ISBN 1-57607-416-1.
Yue-Hashimoto, Oi-kan (1972). Phonology of Cantonese. Đại học Cambridge (Anh Quốc). ISBN 978-0-521-08442-0.
Tonnesson, Stein; Antlov, Hans (1996). Asian Forms of the Nation. Routledge. ISBN 0700704426.
== Tham khảo ==
== Liên kết ngoài ==
Việt Nam tại Từ điển bách khoa Việt Nam
Việt Nam tại Encyclopædia Britannica (tiếng Anh)
Nhà nước Việt Nam
Cổng thông tin điện tử của Chính phủ Việt Nam
Viet Nam Government Portal (tiếng Anh)
Trang web của Đảng Cộng sản Việt Nam
Tổng cục Thống kê
Thông tin Việt Nam của Bộ Ngoại giao Việt Nam
Chief of State and Cabinet Members
Thông tin chung
Cục Công nghệ thông tin – Bộ Tài nguyên và Môi trường
Tổng cục du lịch Việt Nam
Thông tin về Việt Nam tại BBC
Mục “Vietnam” trên trang của CIA World Factbook.
Thông tin về Việt Nam tại UCB Libraries GovPubs
Việt Nam tại DMOZ
Wikimedia Atlas của Vietnam, có một số bản đồ liên quan đến Vietnam.
Truyền thông
Cơ quan truyền thông thuộc Đảng Cộng sản Việt Nam
Báo Nhân dân – cơ quan ngôn luận của Đảng Cộng sản Việt Nam
Báo Hà Nội Mới: – cơ quan ngôn luận của Thành ủy Đảng Cộng sản Việt Nam tại Thành phố Hà Nội
Báo Sài Gòn Giải Phóng – cơ quan ngôn luận của Đảng bộ Đảng Cộng sản Việt Nam Thành phố Hồ Chí Minh
Báo Quân đội Nhân dân – cơ quan ngôn luận của Quân đội Nhân dân Việt Nam
Báo Công an Nhân dân – cơ quan ngôn luận của Công an Nhân dân Việt Nam
Cơ quan truyền thông thuộc Chính phủ Việt Nam
Đài Tiếng nói Việt Nam
Đài Truyền hình Việt Nam
Thông tấn xã Việt Nam
Cơ quan truyền thông của các tổ chức nhà nước khác
Những cơ quan truyền thông này được hoạt động độc lập hơn các cơ quan truyền thông nêu phía trên.
Báo Lao động – Nhật báo chính, cơ quan ngôn luận của Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam
Báo Vietnam Net: Báo điện tử lớn nhất Việt Nam, trực thuộc Bộ Thông tin và Truyền thông Việt Nam
Báo điện tử VnExpress – Báo điện tử trực thuộc tập đoàn FPT, một tập đoàn có phần sở hữu của Bộ Khoa học và Công nghệ Việt Nam
Báo Tuổi Trẻ – Nhật báo với số lượng phát hành lớn nhất Việt Nam, cơ quan ngôn luận của Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh tại Thành phố Hồ Chí Minh
Báo Thanh Niên – Nhật báo chính, cơ quan ngôn luận của Hội liên hiệp Thanh niên Việt Nam
Báo Tiền Phong – Nhật báo chính, cơ quan ngôn luận của Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh
VNEconomy – Báo thông tin về kinh tế, trực thuộc Liên hiệp các hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam.
Khác
Vietnam tourism website Trang chủ Tổng cục Du lịch |
người.txt | Loài người (theo phân loại học là Homo sapiens, tiếng La-tinh nghĩa là "người thông thái" hay "người thông minh", nên cũng được dịch sang tiếng Việt là trí nhân) là loài duy nhất còn sống của tông Hominini, thuộc lớp động vật có vú. Con người là một loài sinh vật có bộ não tiến hóa rất cao cho phép thực hiện các suy luận trừu tượng, ngôn ngữ và xem xét nội tâm. Điều trên kết hợp với một cơ thể đứng thẳng cho phép giải phóng hai chi trước khỏi việc di chuyển và được dùng vào việc cầm nắm, cho phép con người dùng nhiều công cụ hơn tất cả những loài khác.
Cũng như những loài linh trưởng khác, con người là một sinh vật xã hội, sống bầy đàn, có sự phân thứ bậc nhất định xác định từ cọ xát và truyền thống. Hơn thế nữa, con người cũng rất thành thạo việc sử dụng ngôn ngữ trong giao tiếp, để biểu lộ những ý kiến riêng của mình và trao đổi thông tin. Con người tạo ra những xã hội phức tạp trong đó có những nhóm hỗ trợ nhau và đối nghịch nhau ở từng mức độ, có thể từ những cá nhân trong gia đình cho đến những quốc gia rộng lớn. Giao tiếp xã hội giữa con người và con người đã góp phần tạo nên những truyền thống, nghi thức, quy tắc đạo đức, giá trị, chuẩn mực xã hội, và cả luật pháp. Tất cả cùng nhau tạo nên những nền tảng của xã hội loài người. Con người cũng rất chú ý đến cái đẹp và thẩm mỹ, cùng với nhu cầu muốn bày tỏ mình, đã tạo nên những sự đổi với về văn hóa như nghệ thuật, văn chương và âm nhạc.
Con người cũng được chú ý ở bản năng muốn tìm hiểu mọi thứ và điều khiển tự nhiên xung quanh, tìm hiểu những lời giải thích hợp lý cho những hiện tượng thiên nhiên qua khoa học, tôn giáo, tâm lý và thần thoại. Bản năng tò mò đó đã giúp con người tạo ra những công cụ và học được những kĩ năng mới. Trong giới tự nhiên, con người là loài duy nhất có thể tạo ra lửa, nấu thức ăn, tự may quần áo, và sử dụng các công nghệ kỹ thuật trong đời sống.
== Thuật ngữ ==
Trong tiếng Việt, một người đàn ông nhỏ tuổi thường được gọi là "cậu bé", người đàn ông trưởng thành là "ông", "anh",... trong khi một người phụ nữ nhỏ tuổi được gọi là "cô bé" và một phụ nữ trưởng thành là "bà", "chị",...
== Sinh lý học ==
Hình dạng con người về căn bản rất khác nhau. Mặc dầu phần lớn được quy định bởi các gene, môi trường xung quanh vẫn có một ảnh hưởng rất lớn đến hình dáng như chế độ ăn uống và luyện tập. Một người Việt Nam có chiều cao trung bình của nữ là 1,53 m và nam là 1,64 m trong khi một người Bắc Mỹ lại có chiều cao ở nữ là 1,62 m và ở nam là 1,75 m
Con người cũng là một động vật hoàn toàn di chuyển bằng hai chân sau, vì vậy, hai chi trước (được gọi là tay) có thể tự do linh động và dùng vào những việc như cầm nắm một vật, được hỗ trợ bằng ngón tay cái. Tuy nhiên, cấu trúc bộ xương con người vẫn chưa hoàn toàn sẵn sàng cho việc giải phóng bằng hai tay, điều này khiến xương sống của con người cong lại thành dạng hình chữ S và tạo nên những khó khăn lúc về già. Mặc dù con người có vẻ như không có nhiều lông so với những loài linh trưởng khác nhưng con người lại có rất nhiều lông mọc ở phía trên đầu (còn gọi là tóc), dưới nách và xung quanh cơ quan sinh dục hơn cả loài tinh tinh. Điều khác biệt chính đó là lông của con người ngắn hơn và có ít màu sắc hơn, vì vậy khó thấy hơn.
Màu tóc của con người và màu da được quyết định bởi sự hiện diện của các sắc tố có tên là melanin. Da của con người có thể có màu nâu đậm cho đến màu hồng, và tóc của con người có thể có màu vàng, màu nâu, cho đến đỏ. Một số khoa học gia cho rằng sự thay đổi màu da sang một màu tối là một cách của con người nhằm chống lại các tia cực tím vì melanin là một chất chống tia cực tím hiệu quả. Màu da của con người phần lớn là do các điều kiện địa lý xác định, và có sự liên quan đến cường độ và thời gian tiếp xúc với tia cực tím. Da con người sẽ có xu hướng đen đi (rám nắng) để phản ứng với tia cực tím.
Một người bình thường cần ngủ ít nhất là trong khoảng 7 đến 8 tiếng đối với người lớn và 9 đến 10 tiếng đối với trẻ em, và những người già chỉ ngủ khoảng 6 đến 7 tiếng một ngày. Những ảnh hưởng không tốt sẽ xảy ra nếu không ngủ đủ giấc. Ví dụ, một người lớn nếu bị giảm thời gian ngủ xuống còn 4 tiếng một ngày sẽ cho thấy những bất thường liên quan đến mặt sinh lý và tâm thần, bao gồm mệt mỏi, cáu gắt, khó chịu. Trong xã hội hiện đại, có xu hướng người ta ngày càng ngủ ít hơn dẫn đến một "hội chứng mất ngủ"
== Di truyền học ==
Con người là một động vật có cấu tạo tế bào đầy đủ. Mỗi tế bào người có 23 cặp nhiễm sắc thể, trong đó có 22 cặp nhiễm sắc thể thường và 1 cặp nhiễm sắc thể giới tính. Cũng giống như các động vật sinh sản hữu tính khác, thế hệ mới hình thành từ sự thụ tinh của tế bào sinh sản là trứng và tinh trùng, tạo ra hợp tử. Khi thụ tinh thì hợp tử thừa kế tế bào chất và các bào quan từ tế bào trứng của mẹ, trong đó có ADN ty thể hay mtDNA. Tinh trùng chỉ góp vào ADN nhiễm sắc thể, và bỏ lại các bào quan,... bên ngoài hợp tử. Khi đó mỗi người nhận được 23 nhiễm sắc thể từ cha và 23 nhiễm sắc thể từ mẹ, tạo thành 23 cặp. Riêng cặp nhiễm sắc thể giới tính ở nam là XY và ở nữ là XX, do đó, nhiễm sắc thể Y ở nam chỉ được nhận từ cha. Sự kết hợp của cặp nhiễm sắc thể giới tính X và Y cũng khác với ở cặp nhiễm sắc thể thường, là có vùng không tái tổ hợp (NRY) và chỉ tồn tại ở nhiễm sắc thể Y (hay Y-ADN).
Đặc tính vùng không tái tổ hợp của nhiễm sắc thể Y chỉ truyền theo bố, được sử dụng để xác định phả hệ theo bố cho các cá thể đực. Đặc tính ADN ty thể chỉ truyền theo mẹ được sử dụng để xác định phả hệ theo mẹ cho các cá thể cái. Những nghiên cứu về Y-ADN và mtDNA hiện có vai trò đặc biệt quan trọng trong nghiên cứu sự tiến hóa và phát tán của các quần thể người và của loài người nói chung.
Khoa học ngày nay cho thấy con người có trung bình 20.000-25.000 gene và có 98,4% số gene giống với loài động vật gần con người nhất: tinh tinh. Giống như những loài có vú khác, con người có hệ thống xác định giới tính XY, vì vậy, phụ nữ sẽ có nhiễm sắc thể giới tính là XX và đàn ông là XY. Nhiễm sắc thể X lớn hơn và mang nhiều gene hơn nhiễm sắc thể Y, do đó, nhiều bệnh di truyền liên quan đến nhiễm sắc thể X như bệnh máu không đông, ảnh hưởng nhiều đến đàn ông hơn.
== Vòng đời ==
Vòng đời sinh học của con người bắt đầu từ khi nhau thai hình thành. Qua quá trình thụ tinh (ở con người là thụ tinh trong), một con người mới hình thành. Trứng thường được thụ tinh trong cơ thể phụ nữ cùng với tinh trùng của đàn ông qua quá trình giao hợp, hay như một trong những tiến bộ khoa học gần đây là quá trình thụ tinh trong ống nghiệm cũng thường được sử dụng. Trứng đã được thụ tinh phân chia liên tục trong tử cung người phụ nữ và trở thành một bào thai. Sau một khoảng thời gian kéo dài khoảng 38 tuần, bào thai đó sẽ dần dần phát triển trở thành một con người thực thụ. Vào thời điểm được sinh ra, bào thai phát triển đầy đủ sẽ ra khỏi cơ thể người phụ nữ và bắt đầu tự hít thở, và được gọi là "trẻ sơ sinh". Vào thời điểm này, hầu hết những xã hội hiện đại đều công nhận đứa bé ấy là một người và được bảo vệ trước pháp luật, tuy nhiên một số khác thừa nhận quyền con người của đứa bé khi nó còn là một đứa bé trong tử cung người mẹ.
So với những loài động vật khác, việc sinh nở của con người phức tạp hơn hẳn, được coi là hệ quả của sự gia tăng kích thước hộp sọ. Những cơn đau kéo dài suốt 24 tiếng đồng hồ hay hơn thế nữa không hiếm, và cũng có thể dẫn đến chấn thương hay cả cái chết đến cho đứa bé hay người mẹ. Mặc dù khả năng đó đã giảm đi rất nhiều trong thế kỉ 20 và 21 trong những nước phát triển vì sự phát triển những kĩ thuật hỗ trợ sinh sản mới. Sinh sản tự nhiên, tuy có độ nguy hiểm rất cao, nhưng cũng rất phổ biến trong những vùng chưa phát triển trên thế giới.
Con người sau khi được mang thai khoảng 9 tháng thì có cân nặng khoảng 3–4 kg và cao 50–60 cm. Sau đó, chúng tiếp tục phát triển trong những năm tiếp theo và đạt đến sự phát triển sinh dục nhất định. Trẻ em gái thường tiếp tục phát triển đến năm 18 tuổi, trong khi trẻ em trai lại tiếp tục phát triển đến năm 21 tuổi. Cuộc sống của một người có thể được chia thành những giai đoạn quan trọng sau: sơ sinh, thiếu nhi, dậy thì, thanh niên, trưởng thành và già. Tuy nhiên, độ dài của những giai đoạn trên luôn không rõ ràng, nhất là giai đoạn cuối.
Có những ý kiến khác nhau về tuổi thọ trên Trái Đất. Ở những nước đã phát triển, người ta ngày càng già đi, với độ tuổi trung bình ở mức xấp xỉ 40 tuổi (cao nhất là ở Monaco với mức 45,1 tuổi), nhưng ở những nước thuộc thế giới thứ ba thì độ tuổi trung bình lại là 15-20 tuổi (thấp nhất là ở Uganda với mức 14,8 năm). Tuổi thọ trung bình của con người được ước tính là 77,2 vào năm 2001 ở Hoa Kỳ. Tuổi thọ trung bình ở Singapore là 84,29 năm ở nữ và 78,96 năm đối với nam, trong khi ở Botswana, do dịch bệnh AIDS đang hoành hành tại đây cho nên tuổi thọ chỉ ở mức 30,99 năm với nam và 30,53 năm đối với nữ. Cứ năm người châu Âu thì sẽ có một người sống thọ nhưng phải 20 người châu Phi thì mới có một người sống được hơn 60 tuổi.
Số người có tuổi thọ trên 100 trên thế giới được Liên Hiệp Quốc ước tính là khoảng 210.000 vào năm 2002.. Tuổi thọ lớn nhất ở con người là khoảng 120 năm (cụ Jeanne Calment đã sống được 122 năm 164 ngày). Trên toàn thế giới, cứ 81 người đàn ông có tuổi thọ trên 60 tuổi thì có 100 phụ nữ như thế. Và trong số những người thọ nhất thì tỉ lệ đó là 53 nam: 100 nữ.
Một câu hỏi khác là khi nào con người bắt đầu nhận thức và nó sẽ trở nên như thế nào sau khi chết vẫn còn đang được tranh cãi. Nỗi lo sợ cái chết khiến hầu hết loài người cảm thấy bất an và lo sợ. Những lễ chôn cất thường được tổ chức rất trọng thể trong xã hội loài người thể hiện một lòng tin về sự sống sau cái chết hay sự bất tử.
== Chủng tộc ==
Con người thường tự phân loại họ thành những chủng tộc khác nhau, mặc dù những bằng chứng khoa học chứng minh về chủng tộc còn gây nhiều tranh cãi. Con người thường phân loại chủng tộc dựa vào tổ tiên hay đặc điểm sinh học, đặc biệt là màu da và những đặc điểm khác trên mặt; ngoài ra còn có các đặc điểm khác như ngôn ngữ, văn hóa và quốc gia mà họ đang sinh sống. Sự hình thành các chủng tộc có thể dẫn đến các cách hành xử khác nhau và những sự phân biệt khác nhau đối với người từ chủng tộc khác, dẫn đến thuyết phân biệt chủng tộc. Do đó, một số xã hội đặt nặng những định kiến của mình về những xã hội khác, trong khi một số khác lại không.
== Tiến hóa ==
Nghiên cứu về sự tiến hóa của loài người cũng là nghiên cứu sự phát triển của chi Homo, nhưng đôi khi nó cũng có liên quan đến những sinh vật khác thuộc họ Hominidae hay phân họ Homininae. "Con người hiện đại được giới khoa học cho vào phân loài Homo sapiens sapiens, và là một mở rộng của loài Homo sapiens. Ngoài ra, trong loài Homo sapiens còn có một phân loài khác ngày nay đã tuyệt chủng mang tên Homo sapiens idaltu (nghĩa là "người thông minh ra đời trước").
Loài mang quan hệ gần nhất đối với Homo sapiens là loài tinh tinh và loài tinh tinh lùn. So sánh các sơ đồ gen cho kết quả là "sau 6,5 triệu năm tiến hóa theo những con đường khác nhau, sự khác nhau giữa tinh tinh và con người gấp 10 lần sự khác nhau giữa hai người không có quan hệ gì với nhau nhưng vẫn nhỏ hơn 10 lần so với một con chuột bạch và một con chuột thường". Tuy nhiên trên thực tế, số gen con người giống tinh tinh đến 96%. Người ta cho rằng con đường tiến hóa giữa con người đã đi theo một hướng khác với tinh tinh vào khoảng 5 triệu năm trong khi đối với khỉ đột là 8 triệu năm. Tuy nhiên, một hộp sọ của loài linh trưởng Sahelanthropus tchadensis được cho là khoảng 7 triệu năm tuổi, có thể nó của một tổ tiên xa hơn của chúng ta.
Có hai lý thuyết khoa học về sự hình thành nguồn gốc con người hiện đại. Tất cả đều có liên quan đến quan hệ giữa con người và những loài linh trưởng khác. Thuyết một nguồn gốc từ châu Phi cho rằng tất cả loài người hiện đại đều tiến hóa ở châu Phi và về sau, con người sinh sản nhanh lấn chiếm các loài linh trưởng khác trên tất cả mọi nơi trên thế giới. Thuyết nguồn gốc đa vùng cho rằng sự tiến hóa của loài người diễn ra riêng lẻ ở những quần thể Homo erectus tại các vùng khác nhau.
Những nhà di truyền học Lynn Jorde và Henry Harpending của trường đại học Utah đã cho rằng sự khác biệt ADN của hai người vẫn còn rất nhỏ so với ở loài khác, và trong suốt thế Pleistocen, số lượng con người bị giảm xuống rất nhiều, chỉ còn khoảng 10.000 cặp dẫn đến một số lượng rất nhỏ gen được di truyền. Một số nguyên nhân khác cho vấn đề này cũng đã được nêu ra, trong đó nổi bật nhất là thuyết thảm họa Toba.
Sự tiến hóa của con người được đánh dầu bằng những dấu hiệu sinh học khác nhau, bao gồm sự phát triển của hộp sọ và cả bộ não lên đến mức 1.400 cm³; về thể tích, cao hơn gấp đôi tinh tinh hay khỉ đột. Những phần của bộ não con người cũng phát triển khác so với các loài linh trưởng khác cho phép xuất hiện thêm phần ngôn ngữ. Những nhà khoa học đang tranh luận về sự quan trọng của cấu trúc bộ não trên cả kích thước bộ não. Một trong những tiến hóa lớn là số răng nanh giảm, hình thành những di chuyển bằng hai chân, sự hình thành của dây thanh và hộp âm giúp phát triển tiếng nói. Ngành nhân loại học vẫn còn nhiều tranh cãi về những tiến hóa và vai trò của chúng thực sự trên một con người hiện đại.
== Dân cư, dân số ==
Các nhà nhân chủng học hiện đại đang chấp nhận rộng rãi rằng loài Homo sapiens được hình thành ở những đồng cỏ châu Phi khoảng 200.000 đến 250.000 năm về trước, là hậu duệ của loài Homo erectus, tiếp tục mở rộng lãnh địa cư trú và rồi thống trị lục địa Á-Âu và khu vực Thái Bình Dương vào khoảng 40.000 năm về trước, cuối cùng là châu Mỹ vào 10.000 năm trước, tức là theo thuyết một nguồn gốc từ châu Phi. Chúng thay thế loài Homo neanderthalensis và loài Homo floresinesis vốn cũng là những hậu duệ khác của loài Homo erectus (chúng đã phát triển khắp lục địa Á-Âu vào hơn 2 triệu năm trước) do có sức sinh sản tốt hơn và tìm kiếm thức ăn tốt hơn.
Những người thượng cổ thường kiếm sống bằng cách săn bắt-hái lượm, một lối sống rất phù hợp với những vùng đồng cỏ châu Phi. Một số nhóm người về sau bắt đầu sống lối sống du mục và thường hay bắt thú vật để nuôi lấy thịt. Về sau nữa, khi lối sống định cư phát triển thì nền nông nghiệp cũng ra đời. Những khu vực định cư chính của con người phụ thuộc rất nhiều vào nguồn nước, vào lối sống, vào tài nguyên thiên nhiên (như đất đai có phù hợp để gieo trồng hay không, có nhiều cỏ để chăn nuôi hay không, có nhiều thú để săn bắt hay không). Tuy nhiên, con người lại có khả năng thay đổi nơi cư trú của họ bằng các phương tiện vận chuyển khác nhau. Do đó, sự thay đổi môi trường là nhân tố chủ yếu khiến con người thay đổi nơi cư sinh sống.
Khoa học kĩ thuật đã cho phép con người thống trị tất cả những lục địa và sinh tồn ở bất cứ thời tiết. Trong những thập niên gần đây, con người đã thám hiểm Nam Cực, dưới biển sâu và ngay cả không gian vũ trụ, mặc dù cư trú lâu dài ở những vùng như thế là chưa hoàn toàn có thể. Với dân số khoảng 6 tỉ người, con người là loài đông nhất trong số những loài động vật có vú. Phần lớn người (61%) sống ở châu Á, phần còn lại chia đều cho châu Mỹ (14%), châu Phi (13%) và châu Âu (12%). châu Đại Dương chiếm 0,5% (xem thêm danh sách các quốc gia theo dân số và danh sách các quốc gia theo mật độ dân số).
Sự tồn tại của con người ở những vùng vốn có điều kiện khắc nghiệt đối với cuộc sống như Nam Cực hay ngoài không gian rất hạn chế về mặt thời gian và chỉ tồn tại ở những lĩnh vực thám hiểm, nghiên cứu khoa học, quân sự và công nghiệp. Nhất là sự sống trên không gian vũ trụ, trong quá khứ và hiện tại, chưa có quá 13 người từng sống trên không gian cùng lúc. Giữa năm 1969 và 1972, chỉ có 2 người bước đi cùng lúc trên Mặt Trăng. Đến năm 2006, chưa có một thiên thể tự nhiên nào khác có bước chân của con người ngoại trừ Mặt Trăng mặc dù luôn có con người hiện diện trên trạm không gian quốc tế từ ngày 31 tháng 10 năm 2000. Từ năm 1800 đến 2000, dân số con người đã tăng lên 6 lần: từ 1 tỉ lên 5 tỉ. Vào năm 2004, khoảng 2,5 tỉ trên 6,3 tỉ người (39.7%) sống trong những vùng nông thôn, và con số này sẽ tăng mạnh trong thế kỉ 21. Vấn đề mà những người trong những đô thị lớn đang gặp phải là ô nhiễm, tội ác và nghèo đói, nhất là ở trung tâm và những khu vực vùng ven.
== Ăn uống ==
Sự cần thiết phải nạp vào cơ thể thường xuyên một lượng thức ăn và nước uống thể hiện một phần văn hóa loài người, và dẫn đến một ngành khoa học thức ăn. Khi không tìm kiếm đủ thức ăn sẽ dẫn đến tình trạng đói và không tìm kiếm đủ nước uống sẽ dẫn đến tình trạng khát. Cả đói và khát đều có thể dẫn đến cái chết nếu không được giải quyết kịp thời. Bình thường, một người có thể sống được từ 2 đến 8 tuần không cần thức ăn, chỉ dựa vào lượng mỡ dự trữ trong cơ thể, nhưng chỉ tối đa 3 đến 4 ngày không có nước. Trong xã hội hiện đại, hiện tượng béo phì đang tăng nhanh trong dân số đến mức có thể gọi đó là một dịch bệnh, gây những vấn đề lớn đến sức khỏe của con người và gây giảm tuổi thọ ở những nước phát triển và ngay cả ở những nước đang phát triển. Trung tâm điều khiển dịch bệnh quốc gia Hoa Kỳ cho thấy 32% người lớn trên 20 tuổi là béo phì, trong số 66.5% người thừa cân. Béo phì được tin là do một số nguyên nhân khác nhau gây ra mà một trong số đó là ăn quá nhiều.
Người là một loài ăn tạp, nghĩa là một loài có thể ăn cả động vật và cả thực vật. Loài người cổ Homo sapiens là những thợ săn- người hái lượm và đó là cách chính để tìm kiếm thức ăn, kết hợp giữa việc hái những loài thực vật mọc quanh, nấm, trái cây và lao vào cuộc chơi đi săn hay bị săn. Một số người hiện đại chọn con đường ăn chay vì những lý do khác nhau. Họ từ chối ăn thịt vì những lý do tôn giáo, đạo đức, và sức khỏe. Người ta tin rằng loài người đã biết dùng lửa để chuẩn bị thức ăn và bắt đầu ăn thức ăn chín từ khi họ hoàn toàn tách ra khỏi loài Homo erectus hay có thể sớm hơn.
Khoảng 10.000 năm trước, con người bắt đầu phát triển nông nghiệp, bắt đầu thay đổi gần như hoàn toàn những gì con người đã ăn trước đây. Điều này dẫn đến việc gia tăng dân số, sự hình thành những thành phố lớn và cùng với sự gia tăng mật độ dân số cũng là sự gia tăng các bệnh truyền nhiễm. Các loại thức ăn được chế biến và dùng như thế nào cũng rất khác nhau tùy theo thời gian, vị trí và nền văn hóa. Thế kỉ 18 đến 20 đã tạo ra những phát minh rất lớn về chế biến, bảo quản, lưu trữ và vận chuyển thức ăn. Ngày nay, hầu hết bất cứ nơi nào trên thế giới người ta không chỉ có thể thưởng thức những món ăn truyền thống của nước họ mà còn từ nhiều nước khác nhau.
== Trí óc ==
Bộ não của con người là trung tâm của những phản xạ của con người, điều khiển hầu hết những hoạt động của con người. Bộ não điều khiển những phản xạ không điều kiện như điều khiển nhịp tim, tiêu hóa thức ăn,... và cả những phản xạ có điều kiện có ý thức như suy nghĩ, suy luận, lý luận, trừu tượng. Bộ não con người được cho là trung tâm của những hành động có ý thức bậc cao và "thông minh" hơn những loài khác. Trong khi ở những loài động vật khác thì việc sử dụng công cụ gần như là một bản năng, hay cũng chỉ là một sự bắt chước thì kĩ thuật ở con người thì hoàn toàn phức tạp hơn, luôn bao gồm những cải tiến. Ngay cả những công cụ trong xã hội cổ của loài người cũng vô cùng hiện đại hơn bất cứ những công cụ do các loài động vật khác sử dụng.
Khả năng suy luận trừu tượng của con người có thể là duy nhất trong giới động vật. Con người là một trong số 6 loài vượt qua bài kiểm tra gương (nhận ra bản thân ở trong gương); trong khi 5 loài còn lại là tinh tinh, tinh tinh lùn, khỉ không đuôi, cá heo và bồ câu. Tuy nhiên, những người dưới 2 tuổi hầu hết đều không vượt qua bài kiểm tra gương như trên.. Tuy nhiên, cũng có một số ý kiến cho rằng đây là cách phân loại riêng của loài người nhằm thể hiện rằng con người có ý thức về bản thân, trên thực tế nó kiểm tra trí nhớ + thị giác mà thôi. Các loài khác nhau đều có cách này hoặc cách khác để giao tiếp với nhau, và có thể có ý thức ở mức độ nào đó mà loài người vẫn chưa hiểu hết được. Cuộc tranh luận về ý thức của loài người là duy nhất hay không đến nay vẫn còn chưa xác định bằng chứng rõ rệt. Một số nhà sinh học cho rằng loài người chỉ là một trong số hàng triệu phiên bản nhánh tiến hóa trong chủng loài trên Trái Đất và vẫn có thể có khiếm khuyết buộc phải tiến hóa thích nghi, hoặc bị tuyệt chủng như bất kỳ loài vật nào trên thế giới. Rằng lịch sử con người trải qua chỉ chừng 5 -10 triệu năm trong khi có những chủng loài khác đã tồn tại qua những đoạn thăng trầm nhất của lịch sử Trái Đất như loài gián, loài cá mập,... từ rất lâu trước khi con người tồn tại. Vì vậy còn quá sớm để nghĩ rằng ý thức của loài người là tiến bộ nhất, nói như tiến hóa "tồn tại, thích nghi được mới là kẻ mạnh. Phát triển vượt bậc, nhưng không thích nghi thay đổi sẽ bị tự tiêu diệt".
Bộ não con người cảm nhận thế giới qua các giác quan, và mỗi người bị ảnh hưởng rất nhiều bởi những kinh nghiệm của họ, dẫn đến nhận thức sự hiện hữu của bản thân và thời gian. Một số nhà khoa học thậm chí còn cho rằng con người không hề có ý nghĩ, mà nó chỉ là kết quả của một số quá trình cảm nhận từ bên trong hay từ bên ngoài, giống như những phần mềm đang chạy song song trên máy tính. Con người đã nghiên cứu rất nhiều về ảnh hưởng của trí tuệ và bộ não, bằng chứng là sự ra đời những môn học như thần kinh học để nghiên cứu những vấn đề về hệ thần kinh, tâm lý học để nghiên cứu những khía cạnh biểu hiện về hình thức bên ngoài, và đôi khi có thể kể thêm môn thần kinh học, một môn học tìm cách chữa những chứng bệnh có liên quan đến những hành vi cư xử bất thường. Môn tâm lý học không quan tâm chú trọng nhiều đến cấu trúc bộ não mà chỉ chú ý nhiều đến quá trình xử lý thông tin của bộ não. Trong thời đại ngày nay, nhờ vào những cuộc tìm kiếm không ngừng nghỉ về cấu trúc bộ não con người đã giúp cho con người phát triển những ngành khoa học đầy triển vọng khác như trí thông minh nhân tạo,...
Quá trình suy nghĩ của con người là trung tâm của ngành tâm lý học và những ngành khác có liên quan. Ngành tâm lý học nhận thức nghiên cứu về sự nhận thức của con người, quá trình mà con người suy nghĩ để dẫn đến một hành vi nào đó. Những khía cạnh khác như cảm giác, khả năng học hỏi, giải quyết vấn đề, trí nhớ, sự tập trung, ngôn ngữ và cả cảm xúc cũng được nghiên cứu rất kĩ càng. Những tiến bộ trong ngành tâm lý học nhận thức được áp dụng rất rộng rãi trong những lĩnh vực khác nhau trong cuộc sống. Với mục tiêu chính là nghiên cứu sự hình thành tâm lý của con người trong cả cuộc đời, ngành tâm lý học phát triển tìm hiểu cách mà con người hiểu được và phản ứng lại với thế giới xung quanh và sự thay đổi khả năng đó theo thời gian. Ngành này cũng tập trung nhiều đến vấn đề trí thông minh, tính xã hội, sự đạo đức, nhân đạo của một người. Ngành tâm lý học xã hội tìm cách liên kết xã hội học với tâm lý học bằng cách cùng nhau chia sẻ những sự tương đồng và nguồn gốc của những hành vi của con người trong xã hội và cũng nhấn mạnh về vấn đề giao tiếp của con người. Ngoài ra còn có môn tâm lý học tiến hóa để nghiên cứu về hành vi của tất cả con người và loài vật
== Tham khảo ==
== Liên kết ngoài ==
Con người tại Từ điển bách khoa Việt Nam
Homo sapiens tại Encyclopædia Britannica (tiếng Anh)
Người tại Encyclopedia of Life
Người tại trang Trung tâm Thông tin Công nghệ sinh học quốc gia Hoa Kỳ (NCBI).
Người 180092 tại Hệ thống Thông tin Phân loại Tích hợp (ITIS).
Linnaeus (1758). “Homo sapiens”. Sách đỏ IUCN các loài bị đe dọa. Phiên bản 2012. Liên minh Bảo tồn Thiên nhiên Quốc tế.
Con người và Thiên nhiên
== Xem thêm ==
Lịch sử loài người
Nhân quyền |
pennsylvania.txt | Thịnh vượng chung Pennsylvania (tiếng Anh: Commonwealth of Pennsylvania; IPA: [pɛnsl̩veɪnjə] hoặc [pɛnsl̩veɪniə]) là một tiểu bang phía đông Hoa Kỳ. Là một trong Mười ba Thuộc địa thành lập nên nước Mỹ, nó được biết đến như là Keystone State, phù hợp với vị trí trung tâm giữa các thuộc địa nguyên thủy, hay là Quaker State. Với công nghiệp chế tạo Conestoga wagon và súng trường, và thuốc lá, đó là một khu vực chuyển tiếp xuyên quốc gia có nhiều đặc điểm của cả công nghiệp hóa triệt để của miền bắc và nông nghiệp của miền nam.
Do đó, ba thành phố của Keystone State —Philadelphia, Lancaster và York—đã phục vụ như là thủ đô của quốc gia mới, với Founding Fathers phác thảo và ký Tuyên ngôn Độc lập, Articles of Confederation và Hiến pháp ở Pennsylvania. Philadelphia được biết đến như là cái nôi của Quốc gia Mỹ (American Nation).
Pennsylvania có hai khu vực giáp nước: 100 km (63 dặm) đường biên dọc theo hồ Erie và 92 km (57 dặm) dọc theo Delaware Estuary. Philadelphia có một cảng biển lớn và nhiều nhà máy đóng tàu trên sông Delaware.
Bang này có 5 nhà máy điện hạt nhân, hơn hẳn các tiểu bang khác.
Đây là nơi sinh của Tổng thống James Buchanan (tại Cove Gap, gần Mercersburg).
== Đặt tên ==
Mặc dù người Thụy Điển và Hà Lan là những dân khai phá đầu tiên đến từ châu Âu, một người Anh thuộc tổ chức tôn giáo Quaker tên là William Penn đặt tên Pennsylvania lấy từ tiếng Latin có nghĩa là "Khu rừng nhà Penn", để vinh danh cha ông. Ban đầu Penn định đặt tên "New Wales", bởi vì khung cảnh đồng bằng và khí hậu làm ông ta liên tưởng đến xứ Wales. Cái tên này đã bị bác bỏ do những thành viên người Wales trong Quốc hội chống lại việc tên vùng đất của họ được đặt cho một vùng đất hoang dã và không văn minh như vậy, đặc biệt là được thành lập bởi người Quaker. Penn sau đó đề nghị "Sylvania", tiếng Latin cho "khu rừng", để thay thế. Charles II của Anh sửa lại thành "Pennsylvania". Vì tôn giáo của Quaker cau mày trên hành động ngạo mạn đó, William Penn chống lại ý tưởng đó, nhưng được xoa dịu bởi đề nghị của nhà vua đặt tên tiểu bang vinh danh Đô đốc Sir William Penn, cha của ông ta và là một anh hùng dân tộc, chứ không phải là theo tên ông ta. Ngày nay, hai thành phố lớn của tiểu bang là —Philadelphia, quê hương của chuông Liberty, sảnh Independence, là một khu đô thị sầm uất, và Pittsburgh, một cảng sông bận rộn bên trong lục địa và là một trung tâm lớn cho giáo dục và các tiến bộ kỹ thuật. Dãy núi Pocono và Delaware Water Gap cung cấp các hoạt động giải trí phổ thông.
Pennsylvania là một Commonwealth, mặc cho nó có State Treasury và State Police. Massachusetts, Virginia và Kentucky cũng được biết như là Commonwealth.
Chiến hạm USS Pennsylvania, bị hư hỏng tại Trân Châu Cảng (Pearl Harbor), được đặt tên để vinh danh tiểu bang này, cũng như là một vài chiến hạm hải quân khác. Nó được sửa chữa lại Sun Ship Yard & Dry Dock trước đây ở Chester, Pennsylvania.
== Tham khảo == |
phước hiệp, bà rịa.txt | Phước Hiệp là một phường thuộc thành phố Bà Rịa, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, Việt Nam.
Phường Phước Hiệp có diện tích 0,96 km², dân số năm 2005 là 10056 người, mật độ dân số đạt 10475 người/km².
== Chú thích ==
== Tham khảo == |
margaret clitherow.txt | Margaret Clitherow (1556–1586) tên gọi khác Viên ngọc xứ York là một vị Thánh Công giáo người Anh và là người tử vì đạo.
== Tiểu sử ==
Margaret sinh ra và lớn lên trong giai đoạn vua Henry VIII của Anh, lúc này Anh giáo và Giáo hội Công giáo Rôma bài trừ nhau. Trớ trêu thay, Margaret là một người Công giáo. Đến tuổi trưởng thành, bà lập gia đình với người bán thịt heo tên là John Clitherow và sinh được hai đứa con. Chồng của Margaret thì chấp nhận theo Anh giáo nhưng bà Margaret thì cương quyết trung thành với Giáo hội Công giáo Roma. Thêm vào đó, Margaret còn kín đáo cho các Linh mục Công giáo trú ẩn trong nhà.
Bà nhiều lần bị bắt rồi được thả ra và tiếp tục tái diễn cảnh chứa chấp và ủng hộ cho các Linh mục Công giáo. Sau cùng, năm 1586 bà bị bắt thực thụ và bị kết án tử hình. Bà xin ân xá nhưng lần này không được chấp nhận. Bà Margaret Clitherow bình tĩnh chờ ngày hành quyết. Đêm trước ngày hành quyết, bà thức dậy lúc nửa đêm, mặc chiếc áo phủ kín người mà bà kín đáo tự may trong tù, rồi quỳ cầu nguyện cho tới sáng. Bà xin người cai tù trao chiếc mũ của bà cho chồng, bày tỏ tình bà dành cho chồng, như là người chủ gia đình. Bà cũng xin trao đôi giày và đôi tấc của bà cho đứa con gái lớn.
Ngày 25 tháng 3 năm 1586, cuộc hành quyết diễn ra khác với bản án đã ghi. Bà bị giết ngoài nhà tù. Bà được phép quỳ gối cầu nguyện trước khi thân xác bị nghiền nát. Năm ấy, bà Margaret Clitherow mới 30 tuổi.
== Tham khảo ==
== Liên kết ngoài ==
"St. Margaret Clitherow" in the 1913 Catholic Encyclopedia.
Eternal Word Television Network: ST. MARGARET: MOTHER AND MARTYR
Star Quest Production Network: Saints.SQPN.com: Saint Margaret Clitherow
Catholic Exchange: St. Margaret Clitherow
CatholicPamphlets.Net: SAINT MARGARET CLITHEROW
Lay Saints: Saint Margaret Clitherow
St Margaret Clitherow School: St Margaret Clitherow
Bracknell Catholic Church: St Margaret Clitherow
A Sinner's Guide to the Saints: St. Margaret Clitherow (1556 to ngày 25 tháng 3 năm 1586)
Women for Faith & Family: VOICES - Vol. XX No. 3, Christmas 2005 - Epiphany 2006: The Women Saints of Britain
YorkShambles.com (official Shambles website) (search for "St. Margaret Clitherow")
Proper York: Saint Margaret Clitherow
Hotels in York Ltd: The history of The Shambles York England - Margaret Clitherow
blacmap.info: Margaret Clitherow
BBC: York & North Yorkshire: The Pearl of York
World News Network: Margaret Clitherow
HighBeam Research: Encyclopedia.com: Clitherow, Margaret (1556–1586)
Kate Emerson Historicals: A WHO’S WHO OF TUDOR WOMEN: M (search for "MARGARET MIDDLETON")
rootsweb: ANCESTRIES of Errol BEVAN and Hollie Atkinson BEVAN - with a MULTITUDE of Cousin Lines!: Margaret MIDDLETON
David Alton: The Secret Resting Place of Margaret Clitherow
Let The Welkin Ring: St Margaret Clitherow (blog entry about 2011 pilgrimage to her shrine) |
1953.txt | 1953 (số La Mã: MCMLIII) là một năm thường bắt đầu vào thứ Năm trong lịch Gregory. Bản mẫu:Tháng trong năm 1953
== Sự kiện ==
=== Tháng 1 ===
20 tháng 1: Dwight David Eisenhower nhận chức tổng thống Hoa Kỳ thứ 34
=== Tháng 4 ===
8 tháng 4: mở đàu chiến dịch Thượng Lào.
12 tháng 4: Quân giải phóng tiến công sang Lào. Chính phủ Vương quốc Lào lên án "Việt Minh xâm lược"
=== Tháng 5 ===
7 tháng 5: Navarre làm tổng chỉ huy quân viễn chinh Pháp tại Đông Dương.
18 tháng 5: kết thúc chiến dịch Thượng Lào.
21 tháng 5: Navarre sang thăm Đông Dương, điều tra tình hình chiến trường.
=== Tháng 6 ===
3 tháng 6: Thành lập giáo hội Phật giáo Trung Quốc
18 tháng 6: Thành lập nước cộng hòa Ai Cập. LIên Xô điều quân đến Đông Đức trấn áp phản động
=== Tháng 7 ===
13 tháng 7: Chiến dịch Kim Thành tại Triều Tiên.
18 tháng 7: Thực dân Pháp mở cuộc hành quân Hirondelle tấn công Lạng Sơn và Quãng Trị.
24 tháng 7: Kế hoạch Navarre ra đời.
26 tháng 7: Tại Cuba, Fidel Alejandro Castro Ruz chỉ huy cuộc tấn công tại lính Thánh Địa A Ka
27 tháng 7: hiệp định đình chiến được ký kết tại Bàn Môn Điếm kết thúc cuộc chiến tranh Triều Tiên.
=== Tháng 8 ===
23 tháng 8: Xảy ra Kim Môn pháo chiến
=== Tháng 10 ===
15 tháng 10: Thực dân Pháp mở Cuộc hành quân Moutte vào Ninh Bình và Thanh Hóa, mở đầu chiến dịch Ninh Bình.
=== Tháng 11 ===
6 tháng 11: Kết thúc chiến dịch Ninh Bình
20 tháng 11: Mở đầu cuộc hành quân Cástor.
22 tháng 11: Kết thúc cuộc hành quân Cástor.
26 tháng 11: Hồ Chí Minh tuyên bố muốn đàm phán kết thúc chiến tranh Đông Dương với thực dân Pháp
=== Tháng 12 ===
10 tháng 12: Quân giải phóng tiến công thị xã Lai Châu.
== Sinh ==
28 tháng 12 - Richard Clayderman, nghệ sĩ dương cầm Pháp.
== Mất ==
2 tháng 1 - Guccio Gucci (sinh 1881)
9 tháng 7 - Nguyễn Thị Năm (Cát Hanh Long)
== Giải Nobel ==
Vật lý - Frits (Frederik) Zernike
Hóa học - Hermann Staudinger
Y học - Hans Adolf Krebs, Fritz Albert Lipmann
Văn học - Sir Winston Leonard Spencer Churchill
Hòa bình - George Catlett Marshall
== Xem thêm ==
== Tham khảo == |
shibuya, tokyo.txt | Shibuya (渋谷区, Shibuya-ku, Sáp Cốc) là một trong 23 khu đặc biệt của Tokyo, Nhật Bản. Tính đến 2010, vùng này có dân số ước tính 202.880 người và mật độ là 13.430 người/km². Diện tích cả vùng là 15,11 km².
Địa danh "Shibuya" thường được biết đến qua khu thương mại sầm uất chung quanh Nhà ga Shibuya. Đây là một điểm giao thông tấp nập bậc nhất ở Tokyo. Các cửa hiệu ở Shibuya thiên về thời trang giới trẻ nên nghiễm nhiên khu vực này có tiếng là nơi tụ tập đông đảo các dịch vụ may mặc thời trang như thương xá Shibuya 109.
== Lịch sử ==
Khi khai thông tuyến xe lửa Yamanote năm 1885 với ga dừng ở Shibuya, thì vực này nhanh chóng phát triển thành trọng tâm cho cả vùng Tây Nam Tokyo. Shiuya biến thành trung tâm thương mại và giải trí lớn. Năm 1889 Shibuya chính thức lập khu hành chánh ở đơn vị làng, rồi nâng lên thành thị trấn năm 1909. Năm 1932 nhà chức trách Tokyo sáp nhập Shibuya thành một quận của thủ đô Nhật Bản. Quận Shibuya với địa giới như ngày nay có mặt kể từ ngày 15 tháng 3 năm 1947.
Một trong những giai thoại nổi tiếng nhất của Nhật bản là chuyện con chó Hachikō. Chủ con chó thường ngày ra ga Shibuya đón tàu đi làm, đến chiều thì con chó ra đón chủ ở ga. Khi ông chủ mất, Hachiko vẫn theo lệ đó, ngày ngày hai buổi ra ga suốt từ năm 1923 đến 1935. Dân chúng Nhật cảm động trước lòng trung thành của con thú nên sau khi Hachiko chết, dân địa phương cho đúc pho tượng đồng chân dung Hachiko và dựng ngay ở cửa ga Shibuya, ai đi qua cũng ghé xem như một thắng tích.
Phía bắc Chibuya là Công viên Yoyogi nơi tổ chức Thế vận hội mùa hè 1964.
Kể từ cuối thập niên 1990, Shibuya còn được biết đến là trung tâm của ngành công nghệ thông tin Nhật Bản.
== Tham khảo ==
== Liên kết ngoài ==
Trang web chính thức của Shibuya (tiếng Anh)
Podcast ở Shibuya, Tokyo (tiếng Anh)
Thư viện ảnh Shibuya
Shibuya Thông tin và Thư viện ảnh |
khúc côn cầu trên cỏ.txt | Khúc côn cầu trên cỏ hay hockey trên cỏ (tiếng Anh: field hockey) là một môn thể thao đồng đội thuộc họ khúc côn cầu. Nguồn gốc đầu tiên của môn thể thao này có niên đại từ thời Trung cổ ở Scotland, Hà Lan, và Anh. Các trò chơi có thể được chơi trên một sân cỏ tự nhiên hoặc một sân cỏ nhân tạo trong nhà. Mỗi đội chơi với mười một người bao gồm cả thủ môn. Người chơi sử dụng gậy làm bằng gỗ hoặc sợi thủy tinh để đánh một quả bóng hình tròn, cứng, giống cao su. Chiều dài của gậy phụ thuộc vào chiều cao của từng người chơi. Không có gậy tay trái ở khúc côn cầu, và chỉ có một bên của gậy được phép sử dụng. Đồng phục bao gồm bảo vệ ống chân, giày thể thao, váy hoặc quần short và áo. Vào đầu thế kỷ 21, trò chơi này phổ biến trên toàn thế giới, đặc biệt nổi tiếng khắp Tây Âu, tiểu lục địa Ấn Độ, Úc, New Zealand, miền Nam và Đông bắc Hoa Kỳ (như Mississippi, Alabama, Florida, Kentucky, Massachusetts và Pennsylvania), Argentina và Nam châu Phi. Khúc côn cầu là môn thể thao quốc gia của Pakistan, và đôi khi được coi là môn thể thao quốc gia của Ấn Độ, mặc dù chính thức thì Ấn Độ không có một môn thể thao quốc gia nào. Thuật ngữ "khúc côn cầu trên cỏ" được sử dụng chủ yếu ở Canada, Hoa Kỳ, Đông Âu và các khu vực khác của thế giới, nơi môn thể thao khúc côn cầu trên băng là phổ biến hơn.
Khi trận đấu diễn ra, chỉ có các thủ môn được chạm bóng bằng tất cả các bộ phận cơ thể (bàn tay của người chơi được tính là "một phần của cây gậy"), và chỉ áp dụng bên trong vòng tròn sút bóng (còn gọi là D, hoặc vòng cung sút bóng, hay chỉ cần gọi là vòng tròn), trong khi các cầu thủ khác chơi bóng với mặt phẳng của đầu cây gậy. Thủ môn cũng như mọi cầu thủ không được phép chơi bóng với mặt sau của cây gậy. Bên nào ghi nhiều bàn tháng hơn khi trận đấu kết thúc sẽ là người chiến thắng. Nếu tỉ số hai đội bằng nhau thì hoặc là trận đấu được tính là hòa hoặc trận đấu bước vào hiệp phụ hoặc loạt sút luân lưu, tùy thuộc vào thể thức của giải đấu. Có nhiều kiểu thi đấu hiệp phụ, phụ thuộc vào cách chơi của giải đấu. Trong thi đấu ở trường đại học, hai đội bước vào một hiệp phụ có thời gian 10 phút với mỗi bên chỉ có bảy cầu thủ ("hiệp phụ bảy người"), bên nào ghi bàn thắng vàng trước sẽ chiến thắng. Nếu trận đấu vẫn hòa sau hiệp phụ thì sẽ tổ chức cuộc đấu một chọi một, ở đó các đội chỉ định 5 cầu thủ dắt bóng từ vạch 23 mét tới vòng tròn để đối đầu với thủ môn đội bạn. Cầu thủ dắt bóng có 8 giây để đánh bóng về cầu môn và giữ cho trái bóng trong cuộc. Lượt đánh kết thúc khi người dẫn bóng của một bên ghi bàn, bóng đi ra ngoài khuôn khổ sân, cầu thủ phạm lỗi (hoặc đội tấn công sẽ được một quả đánh phạt đền hoặc lượt một đối một của bên tấn công kết thúc) hoặc hết thời gian 8 giây.
Cơ quan điều hành môn khúc côn cầu là Liên đoàn Khúc côn cầu Quốc tế (IHF). Các vậnđộng viên ở cả hai giới tham gia các giải đấu quốc tế lớn như Thế vận hội, Cúp Thế giới, World League, Champions Trophy và Cúp Thế giới Trẻ, trong khi nhiều quốc gia tổ chức các giải trẻ, trưởng thành, và masters cấp câu lạc bộ. FIH cũng chịu trách nhiệm tổ chức Ban Luật lệ Khúc côn cầu và phát triển các luật lệ cho môn thể thao.
Một biến thể khá phổ biến là khúc côn cầu trên cỏ trong nhà (hay khúc côn cầu trong nhà), với những điểm giống và khác biệt so với khúc côn cầu ngoài trời. Mỗi bên trong khúc côn cầu trong nhà gồm 5 người, trong khi kích thứoc sân chỉ còn khoảng 40 m × 20 m (131 ft × 66 ft). Một số điểm khác đáng kể như: Cầu thủ không được đưa bóng lên cao trừ khi sút về phía khung thành, cầu thủ không được đánh mạnh (hit) vào bóng (thay vào đó sử dụng cú đẩy để đánh bóng), trong khi đường biên dọc là các thanh chắn rắn khiến trái bóng sẽ nảy ra nếu va phải.
== Lịch sử ==
Người ta tìm thấy một bức điêu khắc miêu tả những người chơi môn thể thao giống khúc côn cầu từ năm 510 TCN ở Hy Lạp cổ đại có tên gọi "Κερητίζειν" ("kerētízein") vì môn này được chơi với sừng ("κέρας" trong tiếng Hy Lạp) và một vật giống như bóng. Tại vùng Nội Mông, Trung Quốc, dân tộc Daur đã chơi trò Beikou có nhiều nét tương đồng với khúc côn cầu trong khoảng một nghìn năm. Từ 'hockey' được ghi lại vào năm 1363 khi vua Edward III của Anh ra lệnh "cấm, chiếu theo hình phạt hoặc bỏ tù, tất cả các người chơi những trò ném đá, gỗ và sắt; bóng ném, bóng đá, hay hockey; săn bắt bằng chó hay chọi gà, hay những trò giải trí khác tương tự như vậy."
Trò chơi hiện đại phát triển từ các trường học tư thục của Anh đầu thế kỷ 19. Câu lạc bộ đầu tiên ra đời năm 1849 tại Blackheath phía đông nam Luân Đôn. Teddington Hockey Club là đội bóng thành lập nên trò chơi hiện đại khi giới thiệu vòng tròn đánh bóng và thay đổi kiểu bóng từ khối lập phương cao su sang khối cầu. Hiệp hội Khúc côn cầu Anh (The Hockey Association) được thành lập năm 1886. Trận quốc tế đầu tiên diễn ra năm 1895 (Ireland thắng 3–0 xứ Wales) trong khi Ban Luật lệ Quốc tế (International Rules Board) được thành lập năm 1900.
Khúc côn cầu trên cỏ có mặt tại Thế vận hội Mùa hè vào các năm 1908 và 1920. Nó bị gạt ra khỏi chương trình năm 1924, dẫn tới sự thành lập của Fédération Internationale de Hockey sur Gazon (FIH) với tư cách cơ quan điều hành ở bảy quốc gia ở châu Âu lục địa, và khúc côn được góp mặt trở lại từ năm 1928. Khúc côn cầu nam gia nhập FIH vào năm 1970.
Hai chiếc cúp khúc côn cầu lâu đời nhất là Irish Senior Cup, khởi đầu năm 1894, và Irish Junior Cup, từ năm 1895. Vào đầu thập kỷ 1970, cỏ nhân tạo bắt đầu được sử dụng, tạo nên sự thay đổi lớn tới hầu hết mọi mặt của môn thể thao, khiến trận đấu diễn ra nhanh hơn. Các kỹ thuật và chiến thuật mới như cách dắt bóng kiểu Ấn Độ bắt đầu phát triển, dẫn tới sự ra đời của các quy tắc thi đấu mới. Việc chuyển sang dùng sân nhân tạo cũng chấm dứt ưu thế của người Ấn Độ và Pakistan do loại sân này quá đắt với các quốc gia này. Kể từ thập kỷ 1970, Úc, Hà Lan và Đức là những đội chiếm thế thượng phong ở các kỳ Thế vận hội.
Khúc côn cầu trên cỏ nữ xuất hiện lần đầu tại các trường học ở Anh. Câu lạc bộ đầu tiên, Molesey Ladies, thành lập vào năm 1887. Hiệp hội quốc gia đầu tiên là Liên đoàn Khúc côn cầu nữ Ireland (Irish Ladies Hockey Union) thành lập năm 1894. Liên đoàn Các hiệp hội Khúc côn cầu nữ Quốc tế (International Federation of Women's Hockey Associations – IFWHA) được thành lập năm 1927, mặc dù vậy nó lại không bao gồm nhiều quốc gia ở châu Âu lục địa nơi phụ nữ thi đấu với tư cách là thành phần của các liên đoàn của nam và trực thuộc FIH. IFWHA tổ chức các giải conference ba năm một lần, và các giải đấu liên kết với các giải conference này là các giải đấu chính của IFWHA.
Cho tới đầu thập kỷ 1970 có 22 hiệp hội có đội tuyển nữ trực thuộc FIH và 36 hiệp hội thuộc IFWHA. Các cuộc thảo luận được diễn ra để bàn về một cuốn sách luật phổ thông. FIH bắt đầu tổ chức các giải đấu vào năm 1974, buộc IFWHA phải chấp nhận nguyên tắc khúc côn cầu cạnh tranh vào năm 1973. Tới năm 1982 hai cơ quan này sáp nhập, dẫn tới sự khởi đầu của hockey nữ ở Thế vận hội từ năm 1980. Cũng giống như nội dung nam, các đội tuyển nữ Hà Lan, Đức và Úc tỏ ra chiếm ưu thế. Argentina từ những năm 2000 cũng gây được sự chú ý khi vô địch thế giới các năm 2002 và 2010 và giành huy chương ở ba kỳ Thế vận hội.
Ngoại trừ Bắc Mỹ, sự tham gia của cả nam và nữ vào môn khúc côn cầu trên thế giới là khá cân bằng. Ở Anh, báo cáo của England Hockey chỉ ra rằng tính tới mùa giải 2008–09 có 2488 đội nam, 1969 đội nữ, 1042 đội thiếu niên nam, 966 đội thiếu niên nữ và 274 đội có cả nam và nữ. Năm 2006 Hiệp hội Khúc côn cầu Ireland đưa ra báo cáo cho thấy tỉ lệ về giới là khoảng 65% nữ và 35% nam. Trong cuộc điều tra năm 2008, Hockey Australia cho thấy có 40.534 cầu thủ nam và 41.542 cầu thủ nữ. Tuy nhiên tại Hoa Kỳ hầu như chỉ có nữ chơi.
== Sân thi đấu ==
Hầu hết các kích thước của sân khúc côn cầu trước đây là cố định và sử dụng hệ đo lường Anh. Tuy nhiên, hiện nay hệ đo lường mét được FIH công nhận trong "Luật Khúc côn cầu". Sân có hình chữ nhật với kích thước 91,4 m × 55 m (100,0 yd × 60,1 yd). Ở mỗi đầu sân là một khung thành cao 2,14 m (7 ft) và rộng 3,66 m (12 ft), cũng với các vạch chạy ngang sân dài 22,9 m (25 yd) nối hai đường biên dọc (thường được gọi là các vạch 23 mét hay các vạch 25-yard) và đường trung tâm (centre line). Một chấm tròn đường kính 0,15 m (6 in) được gọi là chấm penalty hay dấu đánh bóng (stroke mark), được đặt trong một vòng tròn, cách khung thành 6,40 m (7 yd). Vòng tròn đánh bóng cách đường biên ngang 15 m (16 yd).
=== Bề mặt sân ===
Ban đầu trò chơi diễn ra trên mặt sân cỏ tự nhiên. Đầu thập niên 1970, các sân dùng "cỏ nhân tạo" bắt đầu được sử dụng cho môn hockey, với kỳ Thế vận hội đầu tiên sử dụng sân nhân tạo là Đại hội năm 1976 ở Montreal. Ngày nay tất cả các giải quốc tế và hầu hết các giải đấu quốc gia đều bắt buộc phải sử dụng sân nhân tạo. Mặc dù vậy người ta vẫn tổ chức một số giải địa phương và các giải quốc gia cấp thấp trên sân cỏ truyền thống. Có ba loại sân nhân tạo chính:
Sân nền nước (water-based) - các sợi cỏ nhân tạo được bó dày đặc với mục đích tăng độ cố định, yêu cầu phải có sự tưới tiêu thường xuyên để sân không bị mòn
Sân phủ cát (sand-dressed) - các sợi cỏ nhân tạo được bó bớt dày đặc hơn và cát hỗ trợ phần nào về chiều sâu sợi cỏ
Sân ngập cát (sand-filled) - các sợi cỏ nhân tạo dài hơn, bó ít dày đặc hơn và cát hỗ trợ 100% về chiều sâu
Kể từ thập niên 1970, các sân cát được ưa chuộng vì tăng tốc độ của trận đấu lên rất nhiều lần. Tuy vậy gần đây số sân nhân tạo "nền nước" gia tăng đáng kể. Sân nền nước cho phép trái bóng được luân chuyển nhanh hơn trên sân cát. Đây là đặc tính giúp loại sân này được sử dụng tại các giải đấu quốc tế và quốc gia. Mặt cỏ nền nước cũng ít thô ráp hơn mặt sân cát do đó giảm thiểu mức độ chấn thương của người chơi khi họ tiếp cúc với mặt cỏ. FIH hiện nay đề xuất các loại sân mới ít phải tưới nước hơn do tác động sinh thái tiêu cực của việc sử dụng quá nhiều nước.
== Luật chơi và cách chơi ==
Trò chơi diễn ra giữa hai đội gồm tối đá mười một người trên sân. Các đội có thể thay đổi người với số lượng người và số lần tùy ý, ở bất kỳ thời điểm nào trong trận đấu, ngoại trừ thời điểm quả phạt đền góc đang diễn ra; hai ngoại lệ cho điều luật này: khi thủ môn đội phòng ngự bị chấn thương hoặc truất quyền thi đấu, hoặc người chơi có thể rời sân, nhưng phải chờ tới khi cầu thủ thực hiện quả phạt chạm bóng thì người khác mới được vào thay.
Các cầu thủ được phép điều khiển bóng bằng phần của "phía chính diện" và bằng các rìa của đầu và cán gậy, với ngoại lệ vì lý do an toàn là người chơi không nên đánh "mạnh" vào trái bóng bằng một cú đánh sang ngang thuận tay do sự khó kiểm soát độ cao và hướng đi của quả bóng từ cú đánh như vậy.
Mặt phẳng của cây gậy phải luôn ở phía "thuận" cho người thuận tay phải khi vung gậy đánh bóng từ phải sang trái. Gậy cho người thuận tay trái có sản xuất nhưng cực hiếm; tuy vậy luật không cho người ta dùng loại gậy này. Để đánh từ trái sang phải người chơi phải cho mặt phẳng của đầu gậy tiếp xúc với bóng bằng cách xoay ngược đầu cây gậy, có thể bằng cách xoay cán gậy khoảng 180° (trong khi đó một cú đánh ngược bằng rìa gậy sẽ xoay đầu gậy khoảng 90° so với vị trí của một cú đánh thuận tay thẳng đứng bằng phần "mặt phẳng" của đầu gậy).
Các luật khác có thể kể tới như: không được tiếp xúc bóng bằng bàn chân, bằng bàn tay, không cản trở đối phương di chuyển, không vung gậy đánh bóng quá cao, và không có bên thứ ba. Nếu người chơi đang dẫn bóng, cùng lúc đó bị mất kiểm soát và đá chân vào quả bóng hoặc một người chơi khác can thiệp thì người chơi đó không được phép kiểm soát bóng hay tiếp tục dẫn bóng nữa. Luật không cho người chơi đá vào bóng để giành quyền kiểm soát bóng, do đó trái bóng sẽ thuộc về đội bên kia. Ngược lại, nếu việc đá vào bóng không tạo cho đội kiểm soát bóng bất kỳ lọi thế nào, trận đấu vẫn sẽ được tiếp tục. Người chơi không được cản trở người khác có cơ hội thực hiện cú đánh dưới bất kỳ hình thức nào. Không xô đẩy/sử dụng thân mình hay gậy để cản trở bước tiến của đội bạn. Hình phạt cho lỗi này là đưa bóng cho đối phương và nếu tái diễn hành động này có thể bị phạt thẻ. Khi một vận động viên thực hiện cú đánh tự do hoặc đánh quả giao bóng góc, cú vụt bóng không được qua cao vì hành động này được xem là nguy hiểm. Cuối cùng, không thể có ba cầu thủ cũng một lúc chạm bóng. Hai cầu thủ ở hai đội đối địch có thể tranh bóng, tuy nhiên nếu có một cầu thủ can thiệp vào tranh chấp thì sẽ bị coi là bên thứ ba và bóng sẽ thuộc về đội có ít người tham gia vào tình huống bóng hơn.
=== Các vị trí trên sân ===
Mỗi đội được phép đưa vào sân tối đa 11 người được sắp xếp vào các vị trí tiền đạo, tiền vệ, và cầu thủ phòng ngự (hậu vệ) và các cầu thủ thường xuyên di chuyển giữa các tuyến tùy theo diễn biến trận đấu. Mỗi đội còn có thể gồm:
Một thủ môn mặc một màu áo khác các đồng đội cùng trang phục bảo hộ toàn thân bao gồm ít nhất một mũ bảo hiểm, đồ bọc chân và giày kickers; hoặc
Một cầu thủ được trao quyền thủ môn mặc áo khác màu và có thể đeo mũ bảo hiểm (nhưng không có bọc chân và giày kickers hay các trang bị thủ môn khác) khi ở trong khu vực phòng thủ 23m; Cầu thủ này phải đeo mũ bảo hiểm khi đội bạn được hưởng quả phạt đền (penalty stroke) hoặc phạt đền góc; hoặc
Chỉ có các cầu thủ; không người chơi nào được quyền thủ môn hay mặc áo khác màu; không vầu thủ nào đượcj đội mũ bảo hiểm ngoại trừ việc được đeo mặt nạ khi xảy ra tình huống phạt đền.
==== Đội hình chiến thuật ====
Do khúc côn cầu là một môn thể thao có lối chơi khá cơ động và linh hoạt, vì vậy sẽ không dễ để đơn giản hóa các vị trí thành các sơ đồ như trong bóng đá. Mặc dù các vị trí có thể được phân thành hậu vệ hàng dưới (fullback), hậu vệ hàng trên (halfback), tiền vệ (midfield)/tiền đạo bên trong (inner) và tiền đạo (striker), các cầu thủ vẫn cần phải hiểu biết về mọi vị trí trên sân. Ví dụ như việc một halfback chạy qua chạy lại và cuối cùng xuất hiện ở một vị trí tấn công, trong khi tiền vệ và tiền đạo lấp đầy khoảng trống mà họ để lại. Sự di chuyển qua lại giữa các tuyến khá phổ biến tại tất cả mọi vị trí.
Phong cách chơi khúc côn cầu này của người Úc đóng vai trò lớn đối với sự phát triển xu hướng các cầu thủ chiếm lĩnh nhiều không gian trên sân hơn là chỉ bó hẹp ở vị trí đã định. Mặc dù có thể có những khoảng không gian trên sân mà họ cảm thấy thoải mái và hiệu quả hơn khi thi đấu, họ cũng có trách nhiệm bao quát các vị trí xung quanh của mình. Cách tiếp cận với trò chơi và sự di chuyển của cầu thủ khá linh hoạt này giúp các đội dễ luân chuyển sử dụng các sơ đồ như "3 hậu vệ", "2 halfback trung tâm", "5 hậu vệ", v.v.
==== Người trấn giữ khung thành ====
Khi bóng nằm trong vòng tròn mà họ bảo vệ đồng thời trong tay đang cầm gậy, các thủ môn với đầy đủ trang bị bảo vệ được phép sử dụng gậy, bàn chân, kicker hoặc bọc ống chân để đưa trái bóng đi và dùng gậy, bàn chân, kicker, bọc ống chân hay bất kỳ bộ phận nào trên cơ thể để chặn bóng hoặc làm chệch hướng bóng theo bất kì hướng nào tính cả qua đường biên ngang. Các cầu thủ khác trên sân được phép sử dụng gậy để bảo vệ côn nhà. Họ không được sử dụng bàn chân và cẳng chân để đẩy bóng đi, chặn bóng hoặc làm lệch hướng bóng theo bất kì hướng nào tính cả qua đường biên ngang. Tuy nhiên, không có bất cứ cầu thủ nào có sân với quyền thủ môn được phép lợi dụng trang bị bảo vệ thân thể để hành động gây nguy hiểm đối với người chơi khác.
Các thủ môn hay cầu thủ có quyền thủ môn nào được nằm lên bóng. Cố ý nằm lên bóng sẽ bị thổi một quả penalty stroke, tuy nhiên nếu trọng tài nhận thấy hành động nằm lên bóng là vô tình (ví dụ khi bóng bị kẹt trong đồ bảo hộ), thì chỉ bị phạt góc.
Khi bóng ở ngoài vòng tròn, thủ môn hoặc cầu thủ có quyền thủ môn chỉ được phép chơi bóng bằng gậy. Hơn nữa, trong trận đấu thủ môn hoặc cầu thủ có quyền thủ môn khi đang đeo mũ bảo hiểm không được phép ra ngoài khu vực 23m mà họ đang bảo vệ, trừ khi thực hiện quả penalty stroke. Thủ môn cũng phải đeo đồ bảo vệ đầu trong cả trận, chỉ cởi ra khi thực hiện quả penalty stroke.
=== Cuộc chơi ===
Theo luật các cầu thủ thuộc đội có bóng được coi là những người tấn công, còn đội không có bóng là những người phòng ngự, mặc dù trong trận đấu người ta luôn "phòng ngự để bảo vệ" khung thành và "tấn công" cầu môn đối phương.
Trận đấu được hai trọng tài trên sân điều khiển. Thông thường mỗi trọng tài bắt một nửa dọc sân. Các trọng tài này thường được hỗ trợ bởi một người bấm giờ và một người ghi chép thông số trận đấu.
Trước trận đấu, trọng tài tung đồng xu và đội trưởng thắng cuộc trung đồng xu sẽ được ưu tiên chọn phần sân hoặc chọn giao bóng. Kể tù năm 2014 một trận đấu sẽ gồm có bốn hiệp có thòi gian 15 phút với 2 phút nghỉ giữa các hiệp, và nghỉ 15 phút khi trận đấu đi qua 1/2 thời gian để hai đội đổi sân (trước đây một trận đấu gồm hai hiệp 35 phút). Đầu mỗi hiệp đấu, cũng như sau khi có bàn thắng được ghi, trận đấu sẽ bắt đầu bằng một đường chuyền giao bóng từ tâm giữa sân. Tất cả các cầu thủ phải đứng trên phần sân mà mình đang bảo vệ (ngoại trừ cầu thủ thực hiện đường chuyền), tuy nhiên bóng có thể được chuyền tới mọi hướng trên sân. Mỗi đội được giao bóng trong một hiệp, trong khi đó đội vừa bị thủng lưới sẽ giao bóng để cuộc chơi bắt đầu lại.
Các cầu thủ chỉ được chơi bóng bằng mặt trước (phẳng) của cây gậy. Nếu một người chơi bằng mặt sau của gậy, họ sẽ bị phạt và đội bên kia sẽ được quyền kiểm soát bóng. Cản phá bóng được coi là hợp lệ miễn là người cản bóng không chạm vào người đội bạn hay gậy của cầu thủ đội bạn trước khi giành được quả bóng (chạm sau khi cản phá cũng bị thổi phạt nếu pha cản phá được thực hiện từ vị trí mà va chạm là không thể tránh khỏi). Ngoài ra người có bóng không được cố tính qua người bằng cách dùng cơ thể để đẩy đối phương.
Cầu thủ trên sân không được chơi bóng bằng bàn chân, nhưng nếu bóng vô tình chạm chân người chơi và tình huống này không đem lại lợi thế nào cho người đó, thì trọng tài có thể không thổi phạt..
Cản trở thường xảy ra trong ba trường hợp – khi một cầu thủ phòng ngự xen vào giữa cầu thủ có bóng và trái bóng để ngăn cản bằng cách cản phá bóng; khi gậy của cầu thủ phòng ngự xen vào giữa gậy của đối phương và bóng hay chạm vào gậy hoặc thân thể của người tấn công; và khi chặn không cho đôí phương cản phá đồng đội đang có bóng (được gọi là cản trở của bên thứ ba).
Khi bóng vượt hoàn toàn qua đường biên dọc (bóng nằm trên đường biên vẫn là bóng trong sân), bóng sẽ trở lại cuộc chơi bằng cú đánh biên, với bên thực hiện sẽ là bên không chạm bóng cuối cùng trước khi bóng qua vạch vôi. Bóng phải được đặt trên đường biên ở vị trí gần nhất với điểm giao cắt với đường biên khi đi qua vạch. Nếu bóng vượt ra ngoài đường biên ngang sau pha chạm bóng của đội tấn công, đội phòng ngự sẽ thực hiện cú đánh 15 m (16 yd). Một cú đánh 15 m cũng được trao nếu đội tấn công phạm lỗi trong phạm 15 m tính từ đường biên ngang phần sân mà hộ đang tấn công.
=== Tình huống cố định ===
==== Quả phạt tự do (Free hit) ====
Quả phạt tự do được trao khi lỗi diễn ra ở ngoài vòng tròn sút bóng. Cầu thủ đội được bóng có thể đánh, đẩy hoặc nâng quả bóng đi theo bất cứ hướng nào. Bóng có thể được nâng lên nhưng người ta phải đánh nhẹ hoặc múc lên chứ không được đánh mạnh. Cầu thủ đội bị phạt phải đững cách quả bóng tối thiểu 5 m (5,5 yd). Quả phạt tự do phải được thực hiện trong phạm vi nơi lỗi diễn ra và trái bóng phải đứng yên khi người ta thực hiện quả phạt.
Như đã nói, cầu thủ đội phòng ngự sẽ được hưởng quả phạt 15 m nếu một cầu thủ tấn công phạm lỗi ở khu vực này, hoặc nếu bóng chạm cầu thủ tấn công ra ngoài đường biên ngang. Các quả phạt này được đặt cùng hàng với vị trí phạm lỗi hoặc vị trí bóng chạm cầu thủ ra ngoài.
Khi quả phạt tấn công nằm trong phạm vi 5 m so với vòng tròn tất cả mọi người chơi trong đó có cả người thực hiện quả phạt phải cách vòng tròn năm mét và mọi cầu thủ trừ người thực hiện quả phạt phải cách bóng năm mét. Khi thực hiện quả phạt tấn công, cầu thủ không được đánh bóng thẳng về phía trong vòng tròn nếu ở trong khu vực tấn công 23 mét. Quả bóng phải đi một quãng đường 5 mét trước khi vào trong vòng tròn.
==== Phạt góc (Corner) ====
Đội tấn công được hưởng quả phạt góc nếu bóng chạm cầu thủ phòng ngự và vượt qua vạch biên ngang. Nếu đội phòng ngự cố tình đưa bóng qua vạch biên ngang đội tấn công sẽ được trao quả phạt đền góc. Quả phạt góc được đặt trên đường biên dọc, cách 5 m so với góc của phần sân nơi mà bóng lăn qua. Tuy nhiên luật này có sự thay đổi vào năm 2015. Bóng sẽ được đặt ở đường 23 mét, thẳng hàng với vị trí bóng ra ngoài. Quả phạt này còn được gọi là quả phạt góc dài hay quả phạt góc xa (để phân biệt với quả phạt đền góc). Cầu thủ phòng ngự phải chờ cho tới khi cầu thủ tấn công đưa bóng nhập cuộc. Đội tấn công phải đưa bóng vào vòng tròn mới có thể được phép ghi bàn.
==== Phạt đền góc (Penalty corner) ====
Quả phạt đền góc hay quả phạt góc ngắn được khi:
hậu vệ phạm lỗi trong vòng tròn nhưng không ngăn chặn cơ hội ghi bàn rõ ràng
hậu vệ phạm lỗi cố ý trong vòng tròn đối với cầu thủ đối phương không có bóng hay có cơ hội nhận bóng
hậu vệ phạm lỗi cố ý bên ngoài vòng tròn nhưng trong phạm vi khu vực 23 mét họ đang bảo vệ
hậu vệ cố ý đưa bóng qua vạch biên ngang
bóng mắc vào trong quần áo hay trang bị của cầu thủ phòng ngự bên trong vòng tròn
Trước khi quả phạt góc ngắn bắt đầu, năm hậu vệ (thường bao gồm cả thủ môn) phải đứng sau đường biên ngang và cách bóng ít nhất 10 yard (9,14 mét). Tất cả các cầu thủ khác của đội phòng ngự phải đững ở phía bên kia đường trung tâm, tức là không được đững ở phần sân "của họ" cho tới khi bóng nhập cuộc. Các cầu thủ đội tấn công khi bắt đầu quả phạt phải đứng bên ngoài vòng tròn, ngoại trừ cầu thủ thực hiện quả phạt góc ở vị trí được đánh dấu trên đường biên ngang cách khung thành 10 m (vòng tròn bán kính 14,63 m). Cầu thủ này sẽ đưa bóng vào cuộc bằng một động tác đẩy hoặc đánh bóng tới vị trí của các đồng đội đang đứng ở ngoài rìa vòng tròn; bóng phải đi ra ngoài vòng tròn và đưa bóng trở lại vòng tròn để có thể ghi bàn. FIH không cấm sút bóng trước khi bóng rời vòng tròn sau khi được 'đưa vào trong', cũng như không cấm cú sút từ bên ngoài vòng tròn, nhưng bàn thắng không được ghi nếu bóng chưa ra ngoài vòng tròn cũng như được thực hiện từ ngoài vòng tròn.
Vì lý do an toàn, cú sút đầu tiên trong quả phạt đền góc không được cao quá 460 mm (chiều cao của tấm bọc (backboard) phía sau khung thành) tại vị trí bóng đi qua vạch cầu môn nếu đó là cú đánh mạnh (hit). Tuy nhiên nếu bóng được coi đã thấp hơn, nó vẫn có thể chạm vào các cầu thủ khác và đổi hướng khiến bóng đi cao hơn so với tấm bọc khung thành. Nếu cú sút đầu tiên là một cú đẩy bóng, cú giật (flick) hay cú nhấc bóng (scoop), đặc biệt là cú drag flick, bóng được phép bay cao hơn chiều cao của tấm bọc, miễn không bị coi là gây nguy hiểm tới đối phương.
==== Cú đánh phạt đền (Penalty stroke) ====
Một quả penalty stroke được trao khi hậu vệ phạm lỗi trong vòng tròn (vô tình hay cố tình) mà ngăn cản đối phương ghi bàn thắng hoặc cố tình phạm lỗi trong vòng cấm hoặc nếu hậu vệ lặp đi lặp lại hành động chạy qua khỏi vạch cầu môn quá sớm trong một quả phạt đền góc. Quả penalty stroke được duy nhất một cầu thủ của đội tấn công thực hiện, còn phía phòng ngự chỉ có duy nhất thủ môn, từ chấm đặt bóng cách khung thành 6,4 m. Bóng chỉ được đánh một lần về cầu môn theo cách đẩy, giật hoặc nhấc lên. Nếu thủ môn đỡ được bóng, trận đấu sẽ được bắt đầu lại bằng quả 15 m cho đội phòng ngự. Nếu bóng vào gôn, trận đấu sẽ được bắt đầu lại từ vạch giữa sân.
=== Cảnh cáo và truất quyền thi đấu ===
Các loại thẻ phạt
Khúc côn cầu sử dụng ba loại thẻ phạt để cảnh cáo và truất quyền thi đấu:
Thẻ xanh gần tương tự với thẻ vàng trong bóng đá: cầu thủ không phải rời sân (mặc dù ở cấp độ quốc tế cầu thủ phải rời sân 2 phút), nhưng nếu infractions will result in a yellow or red card.
Thẻ vàng là mức truất quyền thi đấu chính thức tương tự với penalty box trong khúc côn cầu trên băng. Thời hạn treo giò do trọng tài phạt thẻ quyết định và cầu thủ phải di chuyển tới khu vực do các trọng tài định sẵn trước trận. Hầu hết các trọng tài sẽ chọn phạt ra ngoài sân trong thời gian tối thiểu năm phút không được quyền thay người; thời gian tối đa là quyền quyết định của trọng tài, tùy thuộc vào mức độ nghiêm trọng của lỗi, ví dụ như thẻ vàng thức hai cho cầu thủ đã bị phạt thẻ vàng trước đó hoặc thẻ vàng đầu tiên vì lỗi nguy hiểm có thể bị truất quyền thi đấu tới 10 phút. Một cầu thủ có thể bị phạt thẻ vàng trong cả trận đấu. (Ở một số cách thức chơi khác như trong nhà, người ta áp dụng khoảng thời gian đình chỉ thi đấu ngắn hơn).
Thẻ đỏ, giống trong bóng đá, là việc đuổi hẳn một cầu thủ ra khỏi sân trong phần còn lại của trận đấu mà không được thay người; thẻ đỏ này thường khiến cầu thủ bị treo giò một vài trận đấu sau đó (tùy thuộc vào ban tổ chức của giải đấu hơn là luật của môn). Cầu thủ buộc phải ngay lập tức rời khỏi sân và các khu vực xung quanh.
Ngoài mà sắc, các loại thẻ phạt của khúc côn cầu còn có hình thù khác nhau để dễ nhận dạng. Thông thường thẻ xanh hình tam giác, thẻ vàng hình chữ nhật còn thẻ đỏ hình tròn.
Một cầu thủ có thể nhận nhiều hơn một thẻ xanh hoặc thẻ vàng. Tuy vậy người đó không thể nhận cùng một thẻ vì cùng một lỗi đã mắc (ví dụ hai thẻ vàng vì lối chơi nguy hiểm), và đối với cùng một lỗi, hình phạt thẻ thứ hai phải luôn nặng hơn. Trong trường hợp thẻ vàng thứ hai cho một kiểu lỗi khác với lỗi trước đó (ví dụ như thẻ vàng đầu cho lỗi cố tình dùng chân, thẻ vàng thứ hai cho lỗi nguy hiểm) thi thời gian treo giò dự kiến sẽ dài hơn lần trước. Tuy vậy, luật của giải có thể bắt buộc rằng chỉ được phép phạt thẻ nặng hơn lần trước, chứ không cho phép phạt cùng một loại thẻ.
Trọng tài cũng có thể cho vị trí đặt quả phạt tự do lên thêm 10 m vì lỗi phản ứng hoặc các lỗi hành vi khác sau khi bị thổi phạt; hoặc, nếu quả phạt nằm trong khu vực 23 m, có thể nâng từ phạt thường thành phạt đền góc.
=== Ghi bàn ===
Mục tiêu của trò chơi là đưa bóng vào trong vòng tròn của đối phương và từ đó đánh mạnh, đẩy hay giật bóng vào khung thành và ghi bàn. Đội có nhiều bàn hơn sau 60 phút sẽ giành phần thắng. Thời gian thi đấu có thể được rút ngắn đặc biệt là ở các giải đấu cho cầu thủ trẻ.
=== Tỉ số hòa ===
Ở nhiều giải đấu (chẳng hạn như giải cấp câu lạc bộ, hay các giải đấu kiểu vòng bảng của FIH như Thế vận hội hay World Cup), kết quả hòa được coi là kết quả cuối cùng. Kể từ tháng 3 năm 2013, khi một trận đấu cần giải quyết thắng thua, bộ quy tắc giải đấu của FIH yêu cầu không có thêm thời gian hiệp phụ nữa mà tiến thẳng tới loạt sút luân lưu. Tuy vậy nhièu liên đoàn và hiệp hội vẫn dùng phương thức cũ gồm hai hiệp phụ dài 7,5 phút một hiệp có sử dụng luật "bàn thắng vàng" (tức là đội nào ghi bàn trước sẽ thắng ngay lập tức.
== Trang bị ==
=== Gậy ===
Mỗi người chơi mang bên mình một "cây gậy" có chiều dài thông thường từ 80–95 cm (31–38"). Trước đây gậy thường làm tù chất liệu gỗ, tuy nhiên ngày nay thường được chế tạo từ vật liệu composite sợi thủy tinh, kevlar hoặc sợi cacbon. Kim loại bị cấm sử dụng để làm gậy do các cạnh sắc có thể gây chấn thương khi gậy bị gãy. Gậy có cán tròn, móc câu hình chữ J ở cuối, được làm phẳng ở mặt bên trái (khi ta nhìn gậy từ trên xuống với móc câu hướng lên trên). Tất cả gậy đều cho người thuận tay phải. Không được phép dùng gậy tay trái.
=== Bóng ===
Các trái bóng khúc côn cầu trên cỏ tiêu chuẩn có dạng hình cầu cứng, làm từ vật liệu dẻo (đôi khi có lõi vỏ cây bần), luôn có màu trắng, mặc dùng người ta có thể dùng các màu khác để tương phản với màu của sân bóng. Bóng có chu vi khoảng 224–235 mm (8,8–9,3 in) và có khối lượng khoảng 156–163 g (5,5–5,7 oz). Bề mặt của trái bóng thường có các chỗ lõm vào để giảm thiểu sự trơn trượt (có thể khiến tốc độ bóng đi không ổn định trên các bề mặt ẩm ướt).
=== Trang bị của thủ môn ===
Một thủ môn được trang bị đầy đủ phải bao gồm mũ bảo hiểm, bọc ống chân và giày kicker. Thông thường các thủ môn phải mặc thêm đồ bảo hộ như tấm chắn ngực, quần độn, găng tay độn, bọc háng, bọc cổ, bọc cánh tay, và giống như các cầu thủ trên sân, họ phải mang gậy. Thủ môn không được phép vượt qua vạch 23 m, ngoại lệ duy nhất là khi thủ môn lên thực hiện quả penalty stroke ở đầu bên kia sân khi đồng hồ đã dừng. Thủ môn cũng có thể bỏ mũ bảo hiểm trong tình huống này. Tuy nhiên nếu thủ môn quyết định chỉ đeo mũ bảo hiểm (và mặc một màu áo khác), họ có thể vượt qua vạch 23 m nếu đã bỏ mũ bảo hiểm ra khỏi đầu (và đặt nó an toàn ở một vị trí ngoài sân). Nếu bóng trở lại về phía khung thành của thủ môn mà thủ môn đó chưa kịp đội lại mũ bảo hiểm, người này vẫn được coi là có "quyền thủ môn". Điều đó có nghĩa họ không bị cấm sử dụng gậy để chơi bóng, trong khi đó thủ môn phải đội mũ bảo hiểm khi đối đầu với quả hạt đền góc hay quả đánh phạt đền. Mặc dù thủ môn được phép dùng chân và tay để phá bóng, họ cũng chỉ được sử dụng một mặt gậy. Họ cũng được phép xoạc bóng miễn là với mục đích phá bóng khỏi khung thành chứ không được nhắm vào đối phương.
== Giải đấu quốc tế ==
Hai sân chơi khúc côn cầu quốc tế lớn nhất là Thế vận hội và Hockey World Cup, đều là những sự kiện tổ chức 4 năm một lần. Ngoài ra còn có Champions Trophy được tổ chức thường niên dành cho sáu đội tuyển xếp hạng cao nhất. Khúc côn cầu cũng góp mặt ở Đại hội Thể thao Khối Thịnh vượng chung từ năm 1998. Ở nội dung nam Thế vận hội, tính tới năm 2012, Ấn Độ dẫn đầu về số lần giành huy chương vàng với 8 huy chương (6 lần liên tiếp). Ở nội dung của nữ, Úc và Hà Lan đều ba lần giành huy chương vàng.
== Tham khảo ==
== Liên kết ngoài ==
Trang chủ của FIH
Luật khúc côn cầu của FIH năm 2006
Luật khúc côn cầu của FIH năm 2007–08
Luật khúc côn cầu của FIH năm 2007/08 cho trọng tài
Luật khúc côn cầu của FIH năm 2009
Luật khúc côn cầu của FIH năm 2013
"New hockey laws ended India's rule", Times of India, ngày 27 tháng 2 năm 2010 – tông hợp thay đổi về luật (tiếng Anh) |
nghị viện.txt | Nghị viện là cơ quan lập pháp, đặc biệt tại các quốc gia có hệ thống chính quyền dựa trên kiểu hệ thống Westminster như Vương quốc Anh. Mô hình nghị viện được áp dụng tại nhiều nước châu Âu, một số nước châu Á, châu Phi và Liên minh châu Âu (xem Nghị viện châu Âu).
== Tham khảo ==
== Liên kết ngoài ==
The International Association of Business and Parliament (IABP) Scottish Scheme
“Parliament”. Encyclopædia Britannica (ấn bản 11). 1911.
United Kingdom Parliament
Tìm hiểu về Nghị viện các nước trên trang Đại biểu Nhân dân Quốc hội VN |
kagoshima.txt | Kagoshima (Nhật: 鹿児島県 (Lộc Nhi Đảo Huyện), Kagoshima-ken) là một tỉnh của Nhật Bản, nằm ở cực Nam của đảo Kyūshū. Thủ phủ là thành phố Kagoshima.
== Địa lý ==
Kagoshima nằm ở cực Nam của đảo Kyūshū, bao gồm một chuỗi các hòn đảo trải dài xa tới tận phía Tây Nam hàng trăm km. Nhóm đảo quan trọng nhất là quần đảo Amami. Kagoshima giáp ranh với bởi Hoàng hải ở phía Tây, tỉnh Okinawa ở phía Nam và tỉnh Kumamoto ở phía Bắc, tỉnh Miyazaki ở phía Đông. Tỉnh có đường bờ biển (bao gồm cả 28 đảo) dài 2,632 km. Nó có một vịnh gọi là vịnh Kagoshima (Kinkowan), vịnh này nằm giữa hai bán đảo, Satsuma và Osumi. Vị trí đặc biệt của vịnh giúp nó trở thành cánh cửa của Nhật Bản rất nhiều lần trong lịch sử. Trong khi cả vùng Kyushu có 13 triệu người thì tỉnh này chỉ có không đến 2 triệu người sinh sống.
Tỉnh có một dãy các núi lửa động và tĩnh, bao gồm cả ngọn núi lửa lớn Sakurajima, ngọn núi nằm trải qua cả vịnh Kagoshima đối diện với thành phố Kagoshima.
Sakurajima là một trong những ngọn núi lửa hoạt động nhất Nhật Bản. Những vụ phun nham thạch lớn xảy ra năm 1914, khi mà ngọn núi của đảo tràn đủ dung nham để có thể nối với đảo chính, một vụ phun nham nhỏ hơn xảy ra năm 1960. Dung nham ở trong đất làm cho Sakurajima có một nguồn tài nguyên những củ cải 'Daikon' to kỉ lục, với kích cỡ bằng quả bóng rổ. Rất nhiều bãi biển xung quanh vịnh Kagoshima bị phủ đầy đá bọt rỗ. Một ngọn hồ trên núi lửa ở phần phía Tây Nam tỉnh, cạnh thị trấn suối khoáng Ibusuki, là nhà của một vài loại lươn lớn hiếm thấy.
== Lịch sử ==
Kagoshima từng là tỉnh Osumi và Satsuma trong Nhật Bản thời cổ đại, bao gồm cả phần phía Bắc của đảo Ryukyu. Vùng này đóng một vai trò quan trọng trong cải cách Minh Trị (Saigō Takamori), và thành phố Kagoshima là một căn cứ hải quân then chốt trong những cuộc chiến tranh của Nhật Bản thế kỉ 20 và là quê hương của tướng Tōgō Heihachirō. Những vụ tai nạn gần đây có thể kể đến là việc hải quân bờ biển Nhật Bản đánh chìm một tàu do thám của Bắc Triều Tiêu năm 2001, con tàu này sau đó được vớt lên và trưng bày ở Tokyo. Hay vụ bắt cóc một nhân viên văn phòng tại bờ biển Kagoshima do mật vụ của Bắc Triều Tiên thực hiện năm 1978. Vụ việc này chỉ được biết đến gần đây dưới thời của thủ tướng Koizumi.
== Hành chính ==
=== Các thành phố ===
=== Làng và thị trấn ===
== Kinh tế ==
== Văn hóa ==
== Giáo dục ==
Đại học Kagoshima
== Thể thao ==
== Du lịch ==
== Tham khảo ==
== Liên kết ngoài ==
Trang web chính thức của tỉnh Kagoshima (tiếng Nhật)
Bản đồ Kagoshima(1891) |
ngân hàng nhà nước việt nam.txt | Ngân hàng Quốc gia Việt Nam là ngân hàng trung ương của Việt Nam trực thuộc Chính phủ Việt Nam là cơ quan đảm trách việc phát hành tiền tệ, quản lý tiền tệ và tham mưu các chính sách liên quan đến tiền tệ cho Chính phủ Việt Nam như: phát hành tiền tệ, chính sách tỷ giá, chính sách về lãi suất, quản lý dự trữ ngoại tệ, soạn thảo các dự thảo luật về kinh doanh ngân hàng và các tổ chức tín dụng, xem xét việc thành lập các ngân hàng và tổ chức tín dụng, quản lý các ngân hàng thương mại nhà nước.
== Lịch sử hình thành ==
Thời kỳ Đông Dương thuộc Pháp, chính quyền thực dân Pháp đã quản lý và phát hành tiền tệ thông qua Ngân hàng Đông Dương, một ngân hàng có vai trò là ngân hàng trung ương và ngân hàng thương mại trên khu vực Đông Dương thuộc Pháp. Sau Cách mạng tháng 8, chính quyền Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã từng bước xây dựng nền tài chính tiền tệ độc lập.
Ngày 6 tháng 5 năm 1951, chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký sắc lệnh số 15/SL thành lập Ngân hàng Quốc gia Việt Nam với các nhiệm vụ: phát hành giấy bạc, quản lý kho bạc, thực hiện chính sách tín dụng để phát triển sản xuất, phối hợp với mậu dịch để quản lý tiền tệ và đấu tranh tiền tệ với thực dân Pháp (đây cũng chính là ngày truyền thống hàng năm kỷ niệm thành lập của ngành ngân hàng Việt Nam).
Ngày 21 tháng 1 năm 1960, Tổng Giám đốc Ngân hàng Quốc gia đã thừa ủy quyền của Thủ tướng Chính phủ ký Thông tư số 20/VP-TH đổi tên ngân hàng này thành Ngân hàng Nhà nước Việt Nam.
Sau năm 1975, Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam đã tiếp quản và "quốc hữu hóa" Ngân hàng Quốc gia Việt Nam của Việt Nam Cộng Hòa và thông qua danh nghĩa của chủ nhà băng này để thừa kế vai trò hội viên của Ngân hàng VNCH này trong các tổ chức tài chính quốc tế như: IMF, WB, ADB.
Tháng 7 năm 1976, Việt Nam thống nhất về phương diện nhà nước, đổi tên nước là Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam, về ngành ngân hàng, hợp nhất về mặt thể chế, tổ chức từ 1976 và hợp nhất Ngân hàng về mặt tiền tệ vào mùa xuân năm 1978 qua việc đổi tiền.
Tháng 7 năm 1987, Hội đồng Bộ trưởng ra Quyết định số 218/CT cho phép làm thử việc chuyển hoạt động của Ngân hàng sang kinh doanh Xã hội Chủ nghĩa.
Tháng 3 năm 1988, Hội đồng Bộ trưởng ban hành Nghị định 53/HĐBT với định hướng cơ bản là chuyển hẳn hệ thống ngân hàng sang hoạt động kinh doanh
Tháng 5 năm 1990, Hội đồng Nhà nước thông qua và công bố 2 Pháp lệnh là Pháp lệnh Ngân hàng Nhà nước Việt Nam và Pháp lệnh ngân hàng, hợp tác xã tín dụng và công ty tài chính.
Tháng 10 năm 1993, quan hệ hợp tác giữa Việt Nam với Quỹ Tiền tệ quốc tế, Ngân hàng Thế giới, Ngân hàng Phát triển châu Á được tái lập và khơi thông
Ngày 2 tháng 12 năm 1997, Quốc hội khóa X thông qua Luật Ngân hàng Nhà nước Việt Nam và Luật Các tổ chức tín dụng có hiệu lực từ ngày 01/10/1998.
Ngày 16 tháng 6 năm 2010, Quốc hội khóa XI thông qua Luật Ngân hàng Nhà nước Việt Nam và Luật các tổ chức tín dụng có hiệu lực từ ngày 01/01/2011.
Ngày 11 tháng 11 năm 2013, Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam thực hiện theo Nghị định số 156/2013/NĐ-CP ngày 11/11/2013 của Chính phủ. Theo đó, Ngân hàng Nhà nước có 27 đơn vị trực thuộc.
== Lãnh đạo hiện nay ==
Thống đốc: Lê Minh Hưng
Phó thống đốc: Nguyễn Toàn Thắng
Phó thống đốc: Nguyễn Đồng Tiến
Phó thống đốc: Nguyễn Phước Thanh
Phó thống đốc: Đào Minh Tú
Phó thống đốc: Nguyễn Thị Hồng
Phó thống đốc: Nguyễn Kim Anh
== Tổ chức ==
(theo Nghị định 156/2013/NĐ-CP ngày 11 tháng 11 năm 2013 của Chính phủ Việt Nam)
1. Vụ Chính sách tiền tệ.
2. Vụ Quản lý ngoại hối.
3. Vụ Thanh toán.
4. Vụ Tín dụng các ngành kinh tế.
5. Vụ Dự báo, thống kê.
6. Vụ Hợp tác quốc tế.
7. Vụ Ổn định tiền tệ - tài chính.
8. Vụ Kiểm toán nội bộ.
9. Vụ Pháp chế.
10. Vụ Tài chính - Kế toán.
11. Vụ Tổ chức cán bộ.
12. Vụ Thi đua - Khen thưởng.
13. Văn phòng.
14. Cục Công nghệ tin học.
15. Cục Phát hành và kho quỹ.
16. Cục Quản trị.
17. Sở Giao dịch.
18. Cơ quan Thanh tra, giám sát ngân hàng.
19. Các chi nhánh tại tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương.
20. Văn phòng đại diện tại thành phố Hồ Chí Minh.
21. Viện Chiến lược ngân hàng.
22. Trung tâm Thông tin tín dụng Quốc gia Việt Nam.
23. Thời báo Ngân hàng.
24. Tạp chí Ngân hàng.
25. Trường Bồi dưỡng cán bộ ngân hàng.
26. Trường Đại học Ngân hàng thành phố Hồ Chí Minh.
27. Học viện Ngân hàng.
== Khen thưởng ==
Huân chương Sao vàng (2006)
Huân chương Hồ Chí Minh (1996 và 2011)
== Lãnh đạo qua các thời kỳ ==
4/1951-4/1952, Nguyễn Lương Bằng, Tổng Giám đốc Ngân hàng Quốc gia Việt Nam
5/1952-7/1964, Lê Viết Lượng, Tổng Giám đốc Ngân hàng Quốc gia Việt Nam
8/1964-1974, Tạ Hoàng Cơ, Tổng Giám đốc Ngân hàng
1974-1976, Đặng Việt Châu, Tổng Giám đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam
1976-3/1977, Hoàng Anh, Tổng Giám đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam
4/1977-2/1981, Trần Dương, Tổng Giám đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam
3/1981-6/1986, Nguyễn Duy Gia, Tổng Giám đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam
7/1986-5/1989, Lữ Minh Châu, Tổng Giám đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam
6/1989-10/1997, Cao Sĩ Kiêm, Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam
5/1998-12/1999, Nguyễn Tấn Dũng, Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam
12/1999-8/2007, Lê Đức Thúy, Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam
8/2007-8/2011, Nguyễn Văn Giàu, Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam
8/2011-4/2016, Nguyễn Văn Bình, Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam
4/2016-nay, Lê Minh Hưng, Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam
== Chú thích ==
== Liên kết ngoài ==
Website chính thức
Nguyên thống đốc Ngân hàng Nhà nước: 'Chúng ta từng sai sót'
Khái quát những đóng góp của hệ thống ngân hàng Việt Nam nhìn qua lịch sử sơ lược về tiền tệ Việt Nam. |
mái nhà.txt | Mái nhà hay nóc nhà là bộ phận bao phủ phần trên cùng của một tòa nhà. Mái nhà được xây dựng, thiết kể để bảo vệ công trình nhà khỏi ảnh hưởng của thời tiết. Các cấu trúc có mái từ từ một hộp thư (thùng thư) cho đến một nhà thờ hoặc sân vận động trong đó nhà ở là phổ biến nhất.
Trong hầu hết các nước, mái nhà bảo vệ chủ yếu chống lại mưa. Tùy thuộc vào kết cấu của tòa nhà, mái nhà cũng có thể thiết kế để bảo vệ chống lại nhiệt, ánh sáng mặt trời, tuyết, thời tiết lạnh và gió. Nhiều cấu trúc xây dựng có thể sử dụng tấm lợp để bảo vệ chống lại nắng, gió và mưa nhưng có thể tiếp nhận một phần ánh sáng hoặc mội mái hiên có mái che bằng vật liệu bảo vệ chống lại ánh sáng mặt trời, nhưng tiếp nhận các yếu tố khác như gió, nhiệt độ.
== Đại cương ==
Các đặc tính của một mái nhà phụ thuộc vào mục đích của việc xây dựng nó bao gồm: vật liệu lợp mái sẵn có và vật liệu xây dựng truyền thống và hiện đại. Mái nhà không chỉ có chức năng che chắn mưa nắng, cách nhiệt, đảm bảo an toàn bền vững cho ngôi nhà và con người trong đó mà còn góp phần quan trọng tạo nên diện mạo kiến trúc và linh hồn của ngôi nhà. Mái nhà góp phần làm nên những bài thơ trong kiến trúc, giai điệu tươi sáng hay trầm đục trong bản nhạc hình khối, không gian.
Các hình dạng của mái nhà khác nhau rất nhiều từ đặc điểm của mỗi vùng. Các yếu tố chính ảnh hưởng đến hình dạng của mái nhà là khí hậu và các vật liệu có sẵn cho cấu trúc mái nhà và phủ bên ngoài. Một số hình dạng cơ bản của mái nhà gồm mái nhà bằng phẳng (mái bằng), mái bầu, mái tam giác, mái cong và mái vòm. Có nhiều biến thể trên các loại này. Vật liệu xây dựng mái nhà có thể là tranh, tre, rơm, rạ, ngói, gỗ cho đến sắt, thép, xi măng, bê tông cốt thép và các loại vật liệu hiện đại như nhựa, kính...
Trong căn nhà, hai cấu trúc quan trọng nhất là tường nhà và mái nhà, theo phong thủy mái nhà chính là nơi tụ khí của toàn thể căn nhà. Bít kín thì khí bế, trống trải thì khí tán, mái nhà trong phong thủy có vị trí cực kỳ quan trọng. Theo phong thủy, mái nhà là quyết định cuối cùng cho sự ảnh hưởng của toàn bộ căn nhà lên cuộc sống các thành viên.
Mối tương quan hình thể giữa mái nhà và cấu trúc nhà. Theo quan niệm của phong thủy với phương pháp luận của thuyết âm dương ngũ hành, bất luận hình thức ngôi nhà có cấu trúc hình thể như thế nào thì bản chất của ngôi nhà – do cấu trúc bởi những góc vuông - vẫn thuộc Thổ hình. Do đó với những ngôi nhà có tính tương sinh giữa mái nhà và cấu trúc nhà được coi là mối quan hệ hoàn hảo về phong thủy.
== Trong văn hóa ==
Ở Việt Nam, có nhiều câu ca dao, tục ngữ, thành ngữ liên quan đến mái nhà như:
"Con không cha như nhà không nóc" (ý chỉ vai trò của người cha cũng giống như mái nhà có chức năng che chắn, bảo vệ)
"Nhà dột từ nóc" (Ám chỉ những hậu quả, tiêu cực có nguyên nhân từ sự chỉ đạo, lãnh đạo bên trên)
"Thứ nhất vợ dại, thứ hai nhà dột, thứ ba nợ đòi" (tổng kết ba nổi khổ trong đời người đàn ông).
Ngoài ra lúc còn làm việc tại Việt Nam, huấn luyện viên Alfred Riedl khi nhận xét bóng đá Việt Nam đã có câu phát biểu nổi tiếng: "Bóng đá Việt Nam xây nhà từ nóc".
== Hình ảnh ==
== Tham khảo ==
Francis Ching; Building Construction Illustrated, Visual Dictionary of Architecture, Architecture: Form, Space, and Order. |
vùng nữ hướng đạo châu á-thái bình dương (wagggs).txt | Vùng Nữ Hướng đạo châu Á-Thái Bình Dương là văn phòng vùng của Hội Nữ Hướng đạo Thế giới có trụ sở tại Makati ở Philippines; Úc; và Nhật Bản. Vùng Nữ Hướng đạo châu Á-Thái Bình Dương (WAGGGS) phục vụ Nữ Hướng đạo trên vùng đất châu Á, phía nam của Nga phần châu Á và phần đa số thuộc Lòng chảo Thái Bình Dương.
Tất cả các cựu quốc gia cộng sản Trung Á và Liên Xô đã và đang phát triển Nữ Hướng đạo trong sự trỗi dậy phục hưng trong vùng. Rất là nhiều năm, chủ nghĩa cộng sản đã kiềm chế Nữ Hướng đạo tại Afghanistan nơi mà Hướng đạo mới bắt đầu trở lại cũng như tại Mông Cổ từng là quốc gia trong quỹ đạo của Xô Viết đầu tiên kể từ năm 1924.
Vùng này là đồng nhiệm của Vùng châu Á-Thái Bình Dương của Tổ chức Phong trào Hướng đạo Thế giới (WOSM). Không có Vùng Nữ Hướng đạo tương ứng với Vùng Hướng đạo Âu-Á của Tổ chức Phong trào Hướng đạo Thế giới; các quốc gia hậu Xô Viết được chia giữa Vùng Nữ Hướng đạo châu Âu và Vùng Nữ Hướng đạo châu Á-Thái Bình Dương của Hội Nữ Hướng đạo Thế giới.
== Xem thêm ==
Vùng Hướng đạo châu Á-Thái Bình Dương (WOSM)
Danh sách thành viên của Hội Nữ Hướng đạo Thế giới
Hội Nữ Hướng đạo Thế giới
== Tham khảo == |
danh sách đảo nhật bản.txt | Nhật Bản là quốc đảo tạo thành từ 4 đảo chính là:
Hokkaido
Honshu (đảo lớn nhất Nhật Bản)
Shikoku
Kyushu
Ngoài ra là hơn 6.000 hòn đảo khác, hơn 430 hòn đảo vẫn có người ở.
== Danh sách ==
Dưới đây là danh sách các đảo nhỏ của Nhật Bản.
=== Tỉnh Hokkkaido ===
Kamome
Ko (Oshima)
Ōshima
Okushiri
Teuri
Rebun
Rishiri
Yagishiri
=== Các đảo của Honshu tại biển Nhật Bản ===
Oki
Sado
Todo
Mitsukejima
=== Các đảo trong vịnh Tokyo (đảo nhân tạo) ===
Yumenoshima
Odaiba
Sarushima (tự nhiên)
Jonanjima
Heiwajima
Showajima
Keihinjima
Haneda (sân bay quốc tế Tokyo)
Katsushima
Hakkeijima
Higashi Ogijima
Wakasu
Oogishima
=== Các đảo trong vịnh Osaka (đảo nhân tạo) ===
Maishima, ja:舞洲
Yumeshima, ja:夢洲
Sakishima, ja:咲洲
Sân bay quốc tế Kansai
Sân bay Kobe
Đảo Cảng
Rokko
Minami Ashiyahama, ja:南芦屋浜
WakayamaThành phố biển Wakayama
Nishinomiyahama ja:西宮浜
=== Các đảo trong vịnh Ise ===
Sân bay quốc tế Chubu (nhân tạo)
Kami-shima
Kashiko
Kozukumi
Mikimoto
Ōzukumi-jima
=== Các đảo tại Thái Bình Dương ===
Quần đảo IzusAogashima
Hachijō
Izu Ōshima
Kōzu
Miyake
Mikura-jima
Nii-jima
Shikine
Toshima
Torishima
Udonejima
Quần đảo OgasawaraChichi
Haha
Iwo
Minami Torishima (Marcus)
Okino Torishima (Parece Vela)
Enoshima
=== Các đảo quanh Kyushu ===
Hầu hết các đảo này nằm trong biển Hoa Đông.
Amakusa
Aoshima
Gotō
Hashima
Hirado
Iki
Koshiki
Tsushima
=== Quần đảo Ryukyu ===
Quần đảo Satsunan
Quần đảo Ōsumi
Nhóm đảo Đông Bắc bao gồm các đảo: Tanegashima, Yakushima, Kuchinoerabujima, Mageshima
Nhóm đảo Tây Bắc bao gồm các đảo: Takeshima, Iōjima, Shōwa Iōjima, Kuroshima
Quần đảo Tokara
Kuchinoshima
Nakanoshima (Kagoshima)
Gajajima
Suwanosejima
Akusekijima
Tairajima
Kodakarajima
Takarajima
Quần đảo Amami
Amami Ōshima
Kikaijima
Kakeromajima
Yoroshima
Ukeshima
Tokunoshima
Okinoerabujima
Yoronjima
Quần đảo Okinawa
Okinawa
Kumejima
Iheyajima
Izenajima
Agunijima
Iejima
Iwo Tori Shima (Iōtorishima) [1]
Quần đảo Kerama: Tokashikijima, Zamamijima, Akajima, Gerumajima
Daitō Islands, Kita daitō, Mimami daitō, Oki daitō
Quần đảo Sakishima
Quần đảo Miyako: Miyako-jima, Ikema, Ogami, Irabu Island, Shimoji, Kurima, Minna, Tarama
Quần đảo Yaeyama: Iriomote, Ishigaki, Taketomi, Kohama, Kuroshima, Aragusuku, Hatoma, Yubujima, Hateruma, Yonaguni
Quần đảo Senkaku (tranh chấp với Trung Quốc): Uotsurijima, Kuba Jima, Taisho Jima, Kita Kojima, Minami Kojima
=== Các đảo trong Biển nội địa Seto ===
Quần đảo Kasaoka
Takashima (Okayama) 高島 (岡山県笠岡市)
Shiraishi
Kitagi, 北木島
Obishi, 大飛島
Kobi, 小飛島
Manabe, 真鍋島
Mushima (Okayama), 六島 (岡山県)
Quần đảo Shiwaku
Awaji
Etajima
Inujima
Itsukushima (thường đựoc gọi là "Miyajima")
Shōdoshima
Suō-Ōshima, Yamaguchi
=== Các đảo hồ ===
Daikon
Đảo trong Hồ Toya
Đảo trong Hồ Hamana
=== Đảo nhân tạo khác ===
Dejima
Sân bay Kitakyushu
Đảo Xanh, Hakodate ja:緑の島
Malimpia Okinosu ja:マリンピア沖洲
Wakaejima ja:和賀江島
Thành phố đảo, Fukuoka ja:アイランドシティ
== Các đảo tuyên bố chủ quyền nhưng không kiểm soát ==
=== Lãnh địa phía Bắc ===
Tuyên bố chủ quyền với 4 đảo của Quần đảo Kuril, gọi là Quần đảo Chishima.
Iturup
Quần đảo Habomai
Kunashir
Shikotan
=== Đảo khác ===
Liancourt, gọi là đảo Takeshima (tranh chấp với Hàn Quốc)
== Tham khảo ==
== Liên kết ngoài == |
vương quốc scotland.txt | Vương quốc Scotland (tiếng Gaelic: Rìoghachd na h-Alba, tiếng Scots: Kinrick o Scotland) là một quốc gia có chủ quyền ở Tây Bắc châu Âu tồn tại từ năm 843 tới 1707. Vương quốc này nằm ở phía bắc và chiếm khoảng một phần ba Đảo Anh và có chung đường biên giới với Vương quốc Anh, vương quốc mà về sau, thể theo Đạo luật Thống nhất năm 1707, Scotland hợp nhất vào tạo thành một quốc gia thống nhất toàn bộ đảo Anh. Từ năm 1472, khi chiếm được Quần đảo Bắc từ Vương quốc Na Uy và bị Vương quốc Anh chiếm mất Royal Burgh ở Tweed năm 1482, lãnh thổ vương quốc Scotland bao gồm toàn bộ lãnh thổ Scotland hiện tại. Lãnh thổ của vương quốc này được bao quanh bởi Biển Bắc ở phía Đông, Đại Tây Dương ở phía Bắc và Tây, Eo biển Bắc và Biển Ireland ở Tây Nam. Ngoài đất liền, vương quốc Scotland còn có 790 đảo khác.
Kinh đô cuối cùng của vương quốc này là Edinburgh (các thủ đô trước đó lần lượt ở Scone, Dunfermline và Stirling). Dân số năm 1700 vào khoảng 1,1 triệu người.
== Tham khảo ==
Williams, Peter N. "Chapter 2: The Kingdom of Scotland." Britannia's Guide To Scotland. 1 14 Feb. 2008 <http://www.britannia.com/celtic/scotland/scot3.html>.
"Discover the Flag of Scotland." Scotland.com. 1 5 Mar. 2008 <http://www.scotland.com/flag/>. |
.mil.txt | Tên miền mil là tên miền cấp cao nhất có tài trợ (sTLD) trong Hệ thống Tên Miền của Internet cho Bộ quốc Phòng Hoa Kỳ và các thành viên con hoặc các tổ chức có liên quan. Tên miền này là có nguồn gốc từ từ quân đội (military trong tiếng Anh). Nó là một trong những tên miền TLDs (tên miền cấp cao nhất, top-level domains trong tiếng Anh) đầu tiên được tạo ra vào tháng 1 năm 1985.
Hoa Kỳ là một nước duy nhất có một tên miền TLD cấp cho quân đội của mình, được xem là một di sản của quân đội Hoa Kỳ trong vai trò tạo ra Internet. Các nước khác thường sử dụng SLD (tên miền cấp hai, Second-level domain) cho mục đích này, ví dụ như, mod.uk cho Bộ quốc Phòng của Vương quốc Anh. Canada, sử dụng norad.mil (tên miền cấp hai) của Hoa Kỳ (.mil là tên miền thuộc sở hữu của Hoa Kỳ), như việc họ cùng nhau hoạt động trong Bộ Chỉ huy Phòng không Bắc Mỹ.
Mặc dù có một tên miền sTLD, nhưng quân đội Mỹ cũng sử dụng tên miền.com cho một số trang web tuyển dụng, như goarmy.com cũng như cho trang web của Defense Commissary Agency: www.commissassaries.com của và hầu hết không chiếm đoạt quỹ instrumentalities như quân sự khai với tiểu các tổ chức và quân sự trao đổi. Ngoài ra, quân đội Mỹ còn sử dụng tên miền .edu cho các học viện của mình: Học viện quân sự West Point Hoa Kỳ , Học viện bảo vệ bờ biển Hoa Kỳ, Học viện hải quân Hoa Kỳ, và Học viện không quân Hoa Kỳ. Trang chủ của Bộ quốc Phòng Hoa Kỳ sử dụng tên miền .gov: www.defense.gov và sử dụng ít nhất ba tên miền SLD (tên miền cấp hai) thuộc mil (quốc phòng, bộ quốc phòng, và lầu năm góc) chuyển hướng về tên miền chính: www.defense.gov.
Tuần duyên Hoa Kỳ sử dụng tên miền .mil giống như các phục vụ quân sự khác, mặc dù trong một số thời gian theo luật định thời bình thì Tuần Duyên Hoa Kỳ nằm dưới sự quản lý của Bộ An ninh Nội địa Hoa Kỳ.
== Tham khảo ==
== Xem thêm == |
mahatma gandhi.txt | Mahātmā Gāndhī (2 tháng 10 năm 1869 – 30 tháng 1 năm 1948), nguyên tên đầy đủ là Mohandas Karamchand Gandhi (Devanagari: मोहनदास करमचन्द गांधी; Gujarati: મોહનદાસ કરમચંદ ગાંધી), là anh hùng dân tộc Ấn Độ, đã chỉ đạo cuộc kháng chiến chống chế độ thực dân của Đế quốc Anh và giành độc lập cho Ấn Độ với sự ủng hộ của hàng triệu người dân. Trong suốt cuộc đời, ông phản đối tất cả các hình thức khủng bố bạo lực và thay vào đó, chỉ áp dụng những tiêu chuẩn đạo đức tối cao. Nguyên lý bất bạo lực (còn gọi là bất hại) được ông đề xướng với tên Chấp trì chân lý (sa. satyāgraha) đã ảnh hưởng đến các phong trào đấu tranh bất bạo động trong và ngoài nước cho đến ngày nay, bao gồm phong trào Vận động Quyền công dân tại Hoa Kỳ (American Civil Rights Movement) được dẫn đầu bởi Martin Luther King, Jr..
Từ lúc lãnh đạo cuộc đấu tranh giành tự do và đứng đầu đảng Quốc dân Đại hội Ấn Độ (Indian National Congress) năm 1918, ông được hàng triệu dân Ấn Độ gọi một cách tôn kính là Mahātmā, nghĩa là "Linh hồn lớn", "Vĩ nhân" hoặc "Đại nhân". Danh hiệu có gốc tiếng Phạn này được triết gia và người đoạt giải Nobel văn chương Rabindranath Tagore dùng lần đầu khi đón chào Gandhi tại Mumbai (hay Bombay) ngày 9 tháng 1 năm 1915. Mặc dù Gandhi không hài lòng với những cách gọi tôn vinh nhưng đến ngày nay, danh hiệu Mahātmā Gāndhī vẫn thường được dùng hơn tên Mohandas Gāndhī trên thế giới. Ngoài việc được xem là một trong những môn đồ Ấn Độ giáo và những nhà lãnh đạo Ấn Độ vĩ đại nhất, ông còn được nhiều người Ấn tôn kính như một Quốc phụ (gọi theo tiếng Hindi là Bapu). Ngày sinh của ông, 2 tháng 10, là ngày lễ quốc gia của Ấn Độ. Năm 2007, Liên Hiệp Quốc ra nghị quyết lấy ngày 2 tháng 10 là Ngày Quốc tế Bất Bạo động."
Bằng phương tiện bất hợp tác, Gandhi đã dẫn khởi nền độc lập Ấn Độ, đưa nước mình thoát sự đô hộ của Anh, khích lệ những người dân bị đô hộ khác phấn đấu cho nền độc lập của nước nhà và đả đảo triệt để Đế quốc Anh. Nguyên lý Chấp trì chân lý của Gandhi (có gốc tiếng Phạn: satya là "chân lý" và ā-graha là "nắm lấy", "nắm chặt"), cũng thường được dịch là "con đường chân thật", "truy tầm chân lý", đã cảm kích những người chủ trương hành động giành tự do như Đạt-lại Lạt-ma Đăng-châu Gia-mục-thố (Tenzin Gyatso), Lech Wałęsa, Stephen Biko, Aung San Suu Kyi và Nelson Mandela. Tuy nhiên, không phải tất cả những nhà lãnh đạo nêu trên đều theo nguyên tắc bất bạo lực và bất kháng cự khắt khe của Gandhi.
Gandhi thường nói là nguyên tắc của ông đơn giản, lấy từ niềm tin truyền thống của Ấn Độ giáo: Chân lý (satya) và bất bạo lực (ahiṃsā). Chính ông nói rằng: "Tôi chẳng có gì mới mẻ để dạy đời. Chân lý và bất bạo lực đều có từ xưa nay".
== Thời niên thiếu ==
Mohandas Karamchand Gandhi sinh trong một gia đình Ấn Độ giáo thuộc cộng đồng Modh (một nhóm thương gia ở Gujarat), tại Porbandar, bang Gujarat, Ấn Độ vào năm 1869. Ông là con của Karamchand Gandhi, một người giữ chức "diwan" (có thể gọi là "Tổng bộ trưởng") của Porbandar, và bà Putlibai, người vợ thứ tư của Karamchand, theo Ấn Độ giáo phái thờ thần Tì-thấp-nô (sa. vaiṣṇava). Nữ thủ tướng Ấn Độ sau này, Indira Gandhi, và con trai của bà, Rajiv Gandhi, không có họ hàng với Gandhi.
Lớn lên với một bà mẹ sùng tín Tì-thấp-nô trong một môi trường được ảnh hưởng bởi những người theo Kì-na giáo tại Gujarat, Gandhi sớm cảm nhận nguyên tắc bất hại, ăn chay, phương pháp nhịn ăn để thanh lọc tâm thức cũng như sự khoan dung lẫn nhau của các tín đồ và tông phái. Ông sinh ra trong giai cấp thứ ba của xã hội Ấn là Phệ-xá (sa. vaiśya, giai cấp thương gia). Tháng 5 năm 1882, vào tuổi 13, ông cưới cô Kasturba Makharji, 14 tuổi, qua một sự mai mối. Hai ông bà sau có bốn con trai: Harilal Gandhi, sinh năm 1888; Manilal Gandhi, sinh năm 1892; Ramdas Gandhi; sinh năm 1897 và Devdas Gandhi, sinh năm 1900.
Gandhi là một sinh viên trung bình tại Porbandar và sau đó là tại Rajkot. Ông đậu khoá thi vào Đại học Mumbai năm 1887 với số điểm vừa đủ, và vào học viện Samaldas tại Bhavnagar. Tuy nhiên, ông không lưu ở đây lâu vì gia đình muốn ông trở thành luật sư để giữ truyền thống nắm quyền cao tại Gujarat. Không cảm thấy thú vị tại học viện Samaldas, Gandhi liền nắm thời cơ du học nước Anh, một nước được ông xem là "quốc gia của những triết gia và thi nhân, trung tâm đích thực của nền văn minh".
Vào tuổi 19, Gandhi vào Đại học College London (một trường thuộc Đại học London) học ngành luật. Trong thời gian tại London, thủ đô của đế quốc, ông chịu ảnh hưởng của lời nguyện với bà mẹ trước mặt một vị tăng Kì-na giáo là Becharji, đó là giữ giới luật Ấn Độ giáo không ăn thịt và uống rượu sau khi rời Ấn Độ. Mặc dù đã thử bắt chước văn minh người Anh, ví dụ như học nhảy, nhưng Gandhi không ăn được thịt cừu và cải bắp bà chủ nhà trọ nấu cho mình. Bà chỉ ông đến một trong những tiệm chay hiếm hoi tại London thời đó. Nhưng thay vì đơn thuần làm toại nguyện bà mẹ, ông đọc sách và đổi sang ăn chay ngay trên phương diện tri thức. Ông vào "Hội người ăn chay", được cử làm uỷ viên ban chấp hành và lập ra một nhánh địa phương của nó. Về sau, ông cho rằng công việc này đã giúp ông thu thập những kinh nghiệm giá trị trong việc quản lý và duy trì một tổ chức. Một số người ăn chay ông đã gặp là thành viên của hiệp hội Thần Trí học (hoặc Thông Thiên học), được bà Helena Petrovna Blavatsky thành lập vào năm 1875 để hỗ trợ tình người năm châu. Những nhà Thần Trí học này chuyên tâm nghiên cứu kinh điển Phật giáo và Ấn Độ giáo. Họ khuyến khích Gandhi đọc Chí Tôn ca. Mặc dù từ trước đây không tỏ vẻ hứng thú về tôn giáo, ông bắt đầu đọc những tác phẩm nói về Ấn Độ giáo, Kitô giáo, Phật giáo và các tôn giáo khác.
Ông trở về Ấn Độ sau khi được phép làm luật sư vào tháng 6 năm 1891, và khi trở về ông mới biết mẹ mình đã qua đời, và gia đình đã giấu kín chuyện này. Thành tựu của ông trong việc mở văn phòng luật sư tại Mumbai chỉ hạn chế vì thời đó có rất nhiều người làm nghề này và Gandhi không phải là một luật sư năng nổ tại pháp tòa. Ông nộp đơn xin dạy bán thời gian tại trường trung học Mumbai, nhưng bị từ chối. Cuối cùng, ông trở về Rajkot sống một cuộc sống khiêm tốn bằng cách soạn lời thỉnh nguyện cho những người tố tụng, nhưng rồi cũng phải đình chỉ công việc này vì xung đột với một quan viên người Anh. Trong tự truyện của mình, Gandhi miêu tả sự kiện này như một sự cố gắng du thuyết không kết quả vì lợi ích của người anh trai. Dưới bầu không khí này (1893), ông chấp nhận một hợp đồng lâu dài của một công ty Ấn Độ, nhậm chức tại Natal, Nam Phi.
== Phong trào vận động quyền công dân tại Nam Phi ==
Vào thời điểm này, Gandhi là một người trầm tính, khiêm cung không chú tâm về chính trị. Ông đọc báo lần đầu tiên năm lên 18 và thường run sợ khi bước ra tòa thuyết trình. Nam Phi đã biến đổi ông một cách sâu sắc khi ông chứng kiến sự hạ nhục và đàn áp mà cộng đồng Ấn Độ thường phải chịu đựng nơi đây. Vào một ngày, khi quan tòa thành phố Durban yêu cầu Gandhi gỡ khăn xếp (turban) trên đầu, ông từ chối và hùng hồn bước ra khỏi tòa. Một bước ngoặt trong cuộc đời thường được các truyện ký thừa nhận - có thể xem là chất xúc tác cho chủ nghĩa hành động của ông - xảy ra ít lâu sau, khi ông bắt đầu một cuộc hành trình đến Pretoria. Ông bị vất ra khỏi xe lửa tại Pietermaritzburg sau khi từ chối chuyển từ toa xe hạng nhất đến toa hạng ba, vốn thường được những người da màu sử dụng mặc dù đã mua vé hạng nhất. Không lâu sau, trong cuộc hành trình bằng xe ngựa, ông bị người lái xe đánh vì từ khước nhường chỗ cho một du khách châu Âu. Ông cũng kham chịu nhiều khổ đau khác như bị loại ra nhiều khách sạn vì chỉ màu da của mình. Kinh nghiệm này khiến Gandhi quan sát kĩ hơn những thống khổ người đồng hương phải chịu đựng tại Nam Phi trong thời gian ông làm việc tại Pretoria. Chính trong thời gian tại Nam Phi, qua sự chứng kiến tận mắt chế độ kì thị chủng tộc, thành kiến và bất công, Gandhi bắt đầu thám vấn địa vị trong xã hội của những người đồng hương và của chính mình.
Khi hợp đồng làm việc chấm dứt, Gandhi thu xếp trở về Ấn Độ. Tuy nhiên, trong buổi tiệc tiễn đưa tại Durban, ông tình cờ đọc một bài báo nói về một dự thảo pháp luật được Hội đồng lập pháp Natal đề nghị nhằm loại bỏ quyền bầu cử của người di dân Ấn Độ. Khi đưa việc này ra thảo luận với những người đồng hương, họ than không đủ kiến thức để phản đối dự thảo và khẩn khoản yêu cầu Gandhi ở lại giúp họ. Ông phổ biến một số kiến nghị đến cả hai, Viện Lập Pháp Natal và chính quyền Anh để phản đối dự thảo. Mặc dù không ngăn được việc dự thảo này được duyệt, cuộc đấu tranh của ông đã thành công trong việc soi rọi những điểm bất bình của người Ấn tại Nam Phi. Những người hỗ trợ thuyết phục ông lưu lại Durban để tiếp tục đấu tranh chống sự bất công được áp dụng đối với người Ấn tại đây. Ông lập Hội nghị Ấn Độ tại Natal năm 1894 và chính mình giữ vai bí thư. Qua tổ chức này, ông đã chuyển hóa cộng đồng người Ấn tại Nam Phi thành một lực lượng chính trị hỗn tạp, làm tràn ngập chính quyền cũng như báo chí với những lời trần thuật về sự bất mãn của người Ấn và những bằng chứng của sự kì thị nơi người Anh tại Nam Phi.
Năm 1896, Gandhi trở về Ấn Độ với mục đích mang vợ con sang Nam Phi. Năm 1897, khi trở lại Nam Phi, ông bị một nhóm bạo lực da trắng tấn công và tìm cách sát hại bằng tư hình. Như một dấu hiệu đầu tiên của thước đo nội tâm ảnh hưởng đến những cuộc đấu tranh sau này, Gandhi khước từ việc tố cáo bất cứ cá nhân nào của nhóm bạo lực, nói rằng việc không tìm sự bồi thường tại tòa án dựa trên cơ sở lỗi lầm cá nhân là một trong những nguyên tắc chính của ông.
Khi Chiến tranh Nam Phi bắt đầu, Gandhi chủ trương là người Ấn phải hỗ trợ chiến tranh để hợp pháp hóa yêu cầu trở thành công dân chính thức. Ông tổ chức một nhóm tình nguyện cứu thương gồm 300 người Ấn Độ và 800 người làm mướn. Tuy nhiên, sau khi chiến tranh kết thúc, tình trạng của người Ấn tại Nam Phi không khả quan hơn, vẫn tiếp tục sa đoạ. Năm 1906, chính quyền Transvaal công bố một pháp án mới, bắt người Ấn Độ của thuộc địa phải ký chứng. Tại một cuộc biểu tình lớn được tổ chức tại Johannesburg vào tháng 9 ngay trong năm đó, Gandhi lần đầu áp dụng nguyên tắc Chấp trì chân lý và đấu tranh bất bạo lực, khuyên các người đồng hương phản bác luật mới và chịu đựng hình phạt để thực hiện việc này thay vì phản kháng bằng phương tiện bạo lực. Dự án này được áp dụng, dẫn đến một cuộc tranh đấu kéo dài 7 năm với hơn 7000 người Ấn bị bắt giam (trong đó có Gandhi, bị bắt bỏ tù nhiều lần), đánh đập, thậm chí bị bắn vì đình công, từ chối không ký chứng, đốt giấy ký chứng hoặc tham gia những cuộc kháng cự bất bạo động khác. Mặc dù chính quyền thành công trong việc đàn áp những người Ấn phản đối, tiếng thét gào của công chúng trước những phương pháp tàn bạo được áp dụng bởi chính quyền Nam Phi cho những người phản đối yên lặng hòa bình này cuối cùng đã bắt buộc tướng Jan Christian Smuts luận bàn một phương án thoả hiệp với Gandhi.
Trong những năm sống tại Nam Phi, Gandhi đã lấy cảm hứng từ quyển Chí Tôn ca cũng như những tác phẩm của Lev Nikolayevich Tolstoy (đặc biệt là quyển "Thiên đường nằm trong Bạn"), người đã trải qua một sự chuyển biến tôn giáo sâu sắc với niềm tin vào một dạng "chủ nghĩa vô chính phủ" của Kitô giáo. Gandhi dịch bài "Thư gửi đến một môn đồ Ấn Độ giáo" (A Letter to a Hindu) của Tolstoi, được viết vào năm 1908 để phản ứng những đồng hương Ấn Độ theo chủ nghĩa dân tộc một cách hung bạo. Hai người viết thư cho nhau cho đến khi Tolstoi mất vào năm 1910. Bức thư của Tolstoi dùng triết học Ấn Độ có nguồn từ các Phệ-đà và những lời khuyên của Hắc thiên để hướng đến phong trào chủ nghĩa dân tộc Ấn Độ đang tiến triển. Gandhi cũng bị ảnh hưởng lớn qua tiểu luận nổi danh của Henry David Thoreau là "Sự không phục tòng của công chúng". Những năm lưu trú tại Nam Phi với tư cách một người chủ trương hành động chuyên về xã hội chính trị chính là thời kì những khái niệm và kĩ thuật của phương pháp bất hợp tác và phản đối bất bạo lực được phát triển. Khi Chiến tranh thế giới thứ nhất bắt đầu, ông quyết định trở về Ấn Độ, mang theo tất cả những gì ông đã học được từ những kinh nghiệm tại Nam Phi.
== Phong trào đấu tranh giành độc lập Ấn Độ ==
Như đã thực hiện trong cuộc chiến Nam Phi, Gandhi khuyến khích việc ủng hộ người Anh trong cuộc chiến (Chiến tranh thế giới thứ nhất) và chủ động khích lệ người Ấn tham gia quân đội. Khác với quan niệm của nhiều người khác, cách biện luận duy lý của ông cho trường hợp này là quyền công dân đầy đủ, tự do và quyền lợi trong Đế quốc Anh, và như vậy thì việc giúp nó phòng vệ không có gì sai. Ông thuyết trình trước Quốc dân Đại hội Ấn Độ, nhưng phần lớn là chính ông được hướng dẫn vào những chủ đề Ấn Độ, chính trị và công chúng Ấn qua Gopal Krishna Gokhale, nhà lãnh đạo được tôn trọng nhất của đảng Quốc dân Đại hội bấy giờ.
=== Champaran và Kheda ===
Những thành tích lớn đầu tiên của Gandhi xảy ra vào năm 1918 với cuộc kích động tại Champaran và phong trào Chấp trì chân lý tại Kheda mặc dù ông chỉ thực hiện trên mặt danh nghĩa trong trường hợp thứ hai và người chính chủ đạo là Sardar Vallabhbhai Patel, cánh tay phải của Gandhi. Tại Champaran, một khu vực nằm trong tiểu bang Bihar, ông tổ chức cuộc kháng cự cùng với hơn 10.000 nông dân không có đất, nông nô và những nông gia nghèo khổ có số lượng đất không đáng kể. Họ bị ép buộc phải trồng indigo và những nông sản bán được trên thị trường thay vì gieo trồng những loại cung cấp thực phẩm cần thiết cho sự sinh tồn của họ. Bị đàn áp bởi dân binh của điền chủ (phần lớn là người Anh), họ được trả công rất ít nên cuộc sống rất vất vả cơ hàn. Thôn làng của họ rất dơ bẩn, thiếu vệ sinh. Những vấn đề như uống rượu, kì thị dân ti tiện (untouchable) và khăn che (purdah) ngày càng lan tràn. Giờ đây, ngay trước một cuộc chống đói kinh hoàng, thực dân Anh lại đưa ra một loại thuế tàn ác, cứ y vào sự gia tăng theo chu kì mà thu thuế. Tình thế rất tuyệt vọng và tại Kheda, bang Gujarat thì sự việc nhìn chung cũng không khác.
Gandhi lập một Già-lam tại đó, tổ chức một nhóm người bao gồm người giúp cố cựu và người mới từ địa phương. Ông tổ chức một công trình nghiên cứu để có được một tổng quan về các thôn làng, xem xét những sự tàn bạo và những tình tiết thống khổ bao gồm những trạng thái thoái hóa của cuộc sống nói chung. Lập cơ sở trên lòng tự tin của người làng, Gandhi bắt đầu chỉnh lý các thôn xóm, lập trường học và bệnh viện, khuyến khích chủ làng xoá bỏ những việc hủ nát như phân biệt tiện dân, bắt phụ nữ mang khăn che và áp chế họ.
Nhưng cuộc phát động có tổ chức đầu tiên của Gandhi xảy ra khi ông bị cảnh sát bắt giam với lý do gây bạo động và được yêu cầu rời địa phương này. Hàng trăm nghìn người biểu tình chống đối, vây quanh nhà giam, các trạm cảnh sát và quan tòa đòi trả tự do lại cho ông, một sự việc pháp tòa không muốn nhưng sau cũng phải thực hiện. Gandhi đứng đầu những cuộc biểu tình có tổ chức chống lại điền chủ, và họ, dưới sự lãnh đạo của chính quyền Anh, đã ký một hiệp định đảm bảo trả lương cao hơn và kiểm soát việc cho nông dân nghèo địa phương thuê đất, xoá bỏ việc tăng thuế cũng như việc thu thuế đến khi nạn đói chấm dứt. Chính trong thời gian kích động này, Gandhi được quần chúng tôn xưng là Bapu (người cha già dân tộc) và Mahātmā (tâm hồn vĩ đại). Tại Kheda, Patel đại diện các nông gia trong những cuộc thương lượng với chính quyền Anh với kết quả là họ tạm dừng thu thuế, đảm bảo trợ cấp. Tất cả những người bị tù đều được thả ra. Danh tiếng Gandhi từ đây như một ngọn lửa lan truyền khắp nước và ông đã trở thành năng lực ảnh hưởng nhất định trong phong trào chủ nghĩa dân tộc Ấn Độ.
=== Phát động phong trào bất hợp tác ===
Dự thảo pháp luật Rowlatt được duyệt năm 1919, cho phép chính phủ bắt giam những người bị vu khống gây loạn mà không cần đưa ra tòa duyệt. Gandhi và đảng Quốc dân Đại hội tổ chức những cuộc biểu tình lớn phản đối và đình công, và tất cả những cuộc phản đối này đều được tổ chức rất hòa bình trên khắp nước. Tất cả những thành phố và thị xã lớn đều đóng cửa; các hoạt động cơ quan chính phủ đều phải được quân đội đảm nhiệm. Hàng nghìn người bị bắt giam, lệnh giới nghiêm được áp dụng ở nhiều vùng của Ấn Độ. Tại Punjab, cuộc đại tàn sát ở Amritsar với 379 người dân bị giết bởi quân đội Anh và Ấn Độ đã gây chấn thương nặng nề cho đất nước, gia tăng phẫn oán nơi quần chúng cũng như những hành vi bạo lực.
Gandhi phê bình cả hai, hành vi của người Anh và bạo lực phục thù của người Ấn. Ông viết một bài phân ưu cùng với những nạn nhân Anh và lên án những cuộc bạo động. Bài này ban đầu bị phản đối trong đảng, nhưng được chấp thuận sau một bài thuyết giảng của Gandhi mà trong đó, ông đề cao nguyên tắc là tất cả những hành vi bạo lực đều có hại, không thể được biện minh. Người Ấn không mang tội vì sự kì thị của người Anh, và không nên trừng phạt công dân Anh vô tội.
Nhưng sau cuộc tàn sát lớn và bạo lực này, Gandhi nhận thức được là không chỉ người Ấn chưa được chuẩn bị cho việc kháng cự số đông, mà sự cai trị của người Anh đích thật tàn ác và nó có bản chất là đàn áp. Gandhi giờ đây chú tâm đến việc giành quyền tự trị và quyền quản lý tất cả những cơ quan chính quyền Ấn Độ, vươn đến trạng thái tự chủ (svarāj), nghĩa là sự tự chủ toàn vẹn về mặt cá nhân, tâm linh và chính trị.
Tháng 4 năm 1920, Gandhi được bầu làm chủ tịch hội Liên hiệp Tự trị Toàn Ấn Độ (All India Home Rule League). Ông được trao uy quyền chấp hành trong đảng Quốc dân Đại hội tháng 12 năm 1921. Dưới sự lãnh đạo của Gandhi, Quốc dân Đại hội được tổ chức lại với một hiến pháp mới có mục đích là tự chủ. Ai cũng có thể trở thành đảng viên sau khi đóng một lệ phí trên danh nghĩa. Một tổ chức có giai cấp của các uỷ ban được thành lập nhằm cải thiện kỉ luật và kiểm soát những phong trào từ trước đến giờ không có định hình và khuếch tán, chuyển biến đảng từ một tổ chức tinh duệ số ít thành một đảng lớn với sức lôi cuốn toàn quốc. Gandhi mở rộng mặt trận bất bạo lực, bao gồm chính sách "bản quốc" (svadeshi) - nghĩa là tẩy chay những sản phẩm ngoại lai, đặc biệt là những sản phẩm Anh. Liên hệ với chính sách này là sự ủng hộ việc mang y phục tự dệt ở nhà, được gọi là khadi, của ông, khuyên tất cả các người Ấn ăn mặc như vậy thay vì dùng đồ vải của người Anh. Gandhi khuyến cáo toàn dân, nam cũng như nữ, mỗi ngày dành chút thời gian để dệt vải ủng hộ phong trào đấu tranh giành độc lập. Đây là chiến thuật nhằm khắc sâu kỉ luật và sự cống hiến để loại trừ những người không có thiện ý và những người hoài bão, và bao gồm phụ nữ vào phong trào ở một thời điểm mà nhiều người cho rằng, những việc làm như vậy không đáng trọng cho phụ nữ.
Thêm vào việc tẩy chay các sản phẩm Anh, Gandhi cũng khuyến khích dân chúng tẩy chay các cơ quan giáo dục và pháp tòa Anh, từ chức không làm cho chính quyền, từ chối không đóng thuế và huỷ bỏ những danh hiệu, huy chương Anh. Chương trình mới này đã đạt được sức lôi cuốn và thành công rộng lớn, gia lực cho người Ấn chưa từng có từ xưa nay. Nhưng khi phong trào vừa đạt đỉnh điểm thì đã chấm dứt một cách đột ngột vì một cuộc xung đột bạo lực tại thị xã Chauri Chaura, bang Uttar Pradesh vào tháng 2 năm 1922. Lo ngại phong trào sẽ quay về phương tiện bạo lực và tin chắc rằng sự việc này có thể lật đổ tất cả những công trình của mình, Gandhi liền huỷ bỏ chiến dịch bất phục tòng. Giờ đây, như một người đã phô bày nhược điểm của mình, Gandhi bị bắt bỏ tù ngày 10 tháng 3 năm 1922, bị đưa ra tòa vì lý do gây loạn và kết án sáu năm tù. Đây không phải lần đầu Gandhi vị bỏ tù nhưng là lần bị giam cầm lâu nhất. Bắt đầu từ ngày 18 tháng 3 năm 1922, ông ngồi tù khoảng hai năm và được thả tháng 2 năm 1924 sau một ca mổ viêm ruột thừa.
Không có nhân cách hùng mạnh của Gandhi để kiềm chế các người đồng sự, đảng Quốc dân Đại hội bắt đầu tan vỡ, phân thành hai phái trong thời gian ông ngồi tù. Một phái được dẫn đầu bởi Chitta Ranjan Das và Motilal Nehru, ủng hộ việc đảng tham dự cơ quan lập pháp. Phái thứ hai được dẫn đầu mởi Chakravarti Rajagopalachari và Sardar Vallabhbhai Patel, phản đối việc này. Thêm vào đó là việc hợp tác giữa tín đồ Ấn Độ giáo và Hồi giáo mạnh mẽ trong những chiến dịch bất bạo động giờ đây sa sút. Gandhi tìm cách bắc cầu nối những điểm sai biệt này bằng nhiều phương tiện, bao gồm một cuộc tuyệt thực ba tuần mùa thu năm 1924, nhưng chỉ với kết quả hạn chế.
=== Những năm 1930: Hội đồng Simon, Chấp trì chân lý muối ===
Trong hầu hết những năm thuộc thập niên 1920-30, Gandhi đứng bên ngoài ánh đèn công chúng. Ông chú trọng đến việc giải quyết cái nêm giữa đảng Swaraj và Quốc dân Đại hội, và khai mở các phương pháp chống kì thị dân vô giai cấp, uống rượu, thiếu học và nghèo đói. Ông trở về địa vị hàng đầu vào năm 1928. Một năm trước đó, chính quyền Anh đề cử một hội đồng cải cách hiến pháp dưới sự lãnh đạo của Sir John Simon mà không có tên một người Ấn nào trong hội đồng. Kết quả của việc này là sự tẩy chay hội đồng của các đảng Ấn Độ. Gandhi thúc đẩy một nghị quyết thông qua Quốc dân Đại hội Calcutta vào tháng 12 năm 1928, kêu gọi chính quyền Anh đảm bảo địa vị chủ quyền (dominion status) trong vòng một năm hoặc là sẽ đối đầu một chiến dịch bất bạo lực mới với mục đích giành độc lập hoàn toàn cho đất nước.
Ngày 26 tháng 1 năm 1930 được Quốc dân Đại hội Ấn Độ - lúc đó đang hội họp tại Lahore - đề cao là ngày kỉ niệm độc lập Ấn Độ. Nó được tưởng niệm bởi hầu hết tất cả những tổ chức chính trị Ấn Độ khác, những tổ chức nỗ lực giành độc lập đất nước hoặc tiến đến việc trao quyền xã hội chính trị cho những cộng đồng khác nhau.
Như đã tuyên bố trước đây, vào tháng 3 năm 1930, ông phát động một chiến dịch Chấp trì chân lý phản đối thuế muối, được nhấn mạnh bởi cuộc Hành trình muối (Salt March) đến Dandi nổi tiếng kéo dài từ 21 tháng 3 đến 6 tháng 4 năm 1930. Ông đi bộ 400 km từ Ahmedabad đến Dandi để lấy muối cho riêng mình. Hàng nghìn dân chúng Ấn Độ tham gia cuộc hành trình đến bờ biển này. Hành trình muối này là một trong những chiến dịch thành công nhất của ông với kết quả là hơn 60.000 người bị bắt giam. Chính quyền, được đại diện qua Lord Irwin, quyết định thương lượng với Gandhi.
Hiệp ước Gandhi-Irwin được đóng dấu tháng 3 năm 1931. Trong đó, chính quyền Anh đồng ý thả tất cả những tù nhân chính trị để bù cho việc đình chỉ cuộc vận động bất phục tòng. Thêm vào đó, Gandhi được mời sang Anh tham dự hội nghị bàn tròn (Round Table Conference) tại Luân Đôn với tư cách người đại diện duy nhất của Quốc dân Đại hội Ấn Độ. Hội nghị này là một thất vọng cho Gandhi cũng như những người theo chủ nghĩa dân tộc bởi vì nó chỉ lưu ý đến những tiểu vương cũng như những nhóm thiểu số Ấn Độ hơn là một sự phó truyền quyền lực (transfer of power). Ngoài ra, người thừa kế Lord Irwin là Lord Willingdon đã bắt đầu một chiến dịch mới để đàn áp những đại biểu chủ nghĩa dân tộc.
Một lần nữa, Gandhi bị bắt giam, và chính quyền tìm cách đập tan ảnh hưởng của ông bằng cách cách li hoàn toàn ông và các người đi theo ủng hộ. Chiến lược này không hiệu quả. Năm 1932, qua chiến dịch của B. R. Ambedkar - lãnh tụ của những người Dalit - chính quyền đảm bảo cho dân ti tiện Dalit những khu bầu cử riêng trong hiến pháp mới. Để phản đối việc này, Gandhi bắt đầu một cuộc tuyệt thực 6 ngày vào tháng 9 năm 1932, thành công trong việc buộc chính quyền tiếp nhận một hệ thống công bằng hơn qua sự thương lượng qua trung gian là ông Palwankar Baloo, vốn là một người Dalit chơi ngoạn bản cầu (cricketer), sau trở thành nhà chính trị. Đây cũng là khởi điểm của một chiến dịch mới của Gandhi với mục đích cải thiện cuộc sống của dân ti tiện, những người được ông gọi là Harijan, "con của trời Hari". Ngày 8 tháng 5 năm 1933, Gandhi bắt đầu một cuộc tuyệt thực 21 ngày để phản đối sự đàn áp của người Anh tại Ấn Độ. Mùa hè năm 1934, ông ba lần bị mưu hại không thành công.
Khi đảng Quốc dân Đại hội Ấn Độ tranh luận về tuyển cử và chấp nhận quyền chính trị dưới kế hoạch liên bang, Gandhi quyết định rời đảng. Ông hoàn toàn không chống đối phương án này của đảng nhưng cảm thấy rằng nếu ông rút lui thì hình tượng của ông đối với thường dân Ấn Độ sẽ ngưng đè nén toàn thể hội viên của đảng vốn có bản chất đa dạng: thành viên theo chủ nghĩa cộng sản, xã hội, công đoàn, sinh viên, tôn giáo bảo thủ, kinh doanh và quyền sở hữu. Gandhi cũng không muốn mình là mục tiêu của sự tuyên truyền của chính quyền Anh khi lãnh đạo một đảng đã có lần tạm thời thừa nhận sự phù hợp chính trị với chính quyền Anh.
Gandhi trở về địa vị lãnh đạo năm 1936 khi Jawaharlal Nehru nắm chức chủ tịch và Quốc dân Đại hội đang họp tại Lucknow. Mặc dù Gandhi mong muốn sự tập trung tuyệt đối vào việc giành độc lập, không chú tâm vào việc suy đoán về chính quyền Ấn Độ tương lai, nhưng ông không ngăn được việc Quốc dân Đại hội chọn chủ nghĩa xã hội là mục tiêu.
Gandhi cũng phê bình Subhas Chandra Bose và việc ông thăng tiến, nhậm chức chủ tịch vào năm 1938. Trong khi một số sử gia cho rằng đây là một cuộc tranh quyền giữa hai nhà lãnh đạo lớn thì Gandhi cơ bản phản đối việc Bose không thừa nhận nguyên tắc bất bạo lực cũng như dân quyền, hai điểm được Gandhi xem là nền tảng cho cuộc đấu tranh. Nguyện vọng phát động một cuộc khởi nghĩa khắp nơi chống chính quyền Anh của Bose không hàm dung việc chuẩn bị không dùng bạo lực của những người tham gia và trong năm đầu giữ quyền chủ tịch, Bose tập trung vào việc đưa những người thân cận lên nắm những chức quan trọng.
Bose được nhậm chức lần thứ hai mặc dù bị Gandhi chỉ trích, nhưng rời Quốc dân Đại hội khi tất cả những thành viên chức cao khác từ chức hàng loạt để phản đối việc ông từ bỏ những nguyên tắc Gandhi đã đưa vào trong những năm đầu thập niên 1920. Năm 1938-1939, tất cả những ứng cử viên của Quốc dân Đại hội từ chức khi Quốc hội phản đối sự sáp nhập Ấn Độ một mặt vào Chiến tranh thế giới thứ hai mà không tham vấn những đại biểu được bầu.
Gandhi tiếp tục cuộc đấu tranh chống sự kì thị dân Dalit, khuyến khích việc dệt tay và các ngành kĩ nghệ tại gia khác. Ông cũng cố gắng kiến lập một hệ thống giáo dục mới thích hợp cho những vùng thôn dã. Gandhi sống giản dị trong những năm này trong một thôn làng trung tâm Ấn Độ với tên Sevagram. Ngày 3 tháng 3 năm 1939, ông lại tuyệt thực một lần nữa.
=== "Làm hay chết": Chiến tranh thế giới thứ hai và "Rời Ấn Độ" ===
Chiến tranh thế giới thứ hai bùng nổ năm 1939 khi Đức quốc xã xâm lấn Ba Lan. Gandhi hoàn toàn đồng cảm với nạn nhân của sự xâm chiếm này. Sau khi cân nhắc kĩ cùng những người đồng nghiệp trong Quốc hội, ông công bố rằng Ấn Độ không thể tham gia một cuộc chiến với mục đích bề ngoài là giành tự do dân chủ trong khi chính tự do dân chủ này bị phủ nhận tại Ấn Độ. Gandhi nói rằng ông sẽ hỗ trợ người Anh nếu họ cho ông thấy cách áp dụng mục đích của cuộc chiến tại Ấn Độ sau chiến tranh. Phản ứng của chính quyền Anh hoàn toàn phủ định. Họ bắt đầu tạo sự căng thẳng giữa môn đồ Ấn Độ giáo và Hồi giáo. Khi chiến tranh tiến hành, Gandhi nâng cao yêu cầu, thảo một nghị quyết kêu gọi người Anh "Rời Ấn Độ" (Quit India).
Đây là sự phản đối quyết định nhất, cực lực nhất của Gandhi và đảng Quốc dân Đại hội với mục tiêu xác nhận việc người Anh rời nước Ấn. Gandhi bị một số người trong Quốc hội và một số nhóm chính trị khác - thuộc cả hai mặt, theo Anh và chống Anh - chỉ trích. Một số người cho rằng, đối lập người Anh trong thời đoạn chiến đấu sinh tử của họ là một việc phi đạo đức trong khi một số người khác lại cho rằng Gandhi chưa thực hiện đủ yêu cầu. Nhiều đảng chính trị phản đối lời kêu gọi của Gandhi. Ngoài sức khoẻ và tuổi tác ra, đây có lẽ là bước tiến dẫn cuối cùng của Gandhi.
Nó đã dẫn khởi một cuộc vận động đấu tranh giành độc lập Ấn Độ lớn nhất cho đến bây giờ - với sự bắt giam số đông và bạo lực ở một mức độ chưa từng có. Hàng nghìn người kháng cự bị sát hại hoặc bị thương dưới nòng súng cảnh sát, và hàng trăm nghìn người đấu tranh giành độc lập bị bắt giam. Gandhi và những người hỗ trợ ông nói rõ rằng họ sẽ không giúp người Anh trong thế chiến nếu Ấn Độ không được đảm bảo tự do ngay lập tức. Gandhi thậm chí nói rằng không thể đình chỉ cuộc vận động trong thời điểm này ngay trong trường hợp những hành vi bạo lực cá nhân xảy ra. Ông cho rằng, tình trạng "vô chính phủ có tổ chức" xung quanh ông "nguy hiểm hơn là vô chính phủ thật sự". Ông yêu cầu tất cả những thành viên Quốc hội và dân chúng duy trì kỉ luật hòa bình và "làm hay chết" vì tự do tuyệt đối.
Gandhi và toàn bộ ban chấp hành Quốc hội bị bắt giam ngày 9 tháng 8 năm 1942 tại Mumbai bởi lực lượng quân đội nước Anh. Gandhi bị giam hai năm trong điện Aga Khan tại Pune. Tại đây, Gandhi trải qua những nỗi khổ lớn nhất của cuộc đời, đó là cái chết của vợ Kasturbai chỉ vài tháng sau khi Mahadev Desai - người thư ký được ông xem như con trai - chết vì bị nhồi máu cơ tim vào tuổi 42. Gandhi được thả trước khi chiến tranh chấm dứt vì sức khoẻ sa sút và một ca mổ cần thiết. Chính quyền Anh không muốn ông chết trong tù vì đây là một sự kiện có thể làm lòng căm phẫn của công chúng vượt khỏi tầm kiểm soát.
Mặc dù sự đàn áp tàn nhẫn này mang đến một trạng thái trật tự tương đối tại Ấn Độ cuối năm 1943, nhưng phong trào "Rời Ấn Độ" đã thành công với những mục tiêu của nó. Khi chiến tranh chấm dứt, người Anh đã đưa ra những dấu hiệu rõ ràng là quyền cai trị sẽ được chuyển đến tay Ấn Độ. Gandhi đình chỉ cuộc đấu tranh, những người lãnh đạo Quốc hội và khoảng 100.000 người tù chính trị được thả. Sau 90 năm phấn đấu, tự do giờ đây nằm trong tầm tay Ấn Độ.
=== Tự do và sự phân chia Ấn Độ ===
Gandhi khuyên Quốc hội từ khước những đề nghị trong kế hoạch của phái đoàn chính phủ Anh năm 1946 vì ông rất nghi ngờ việc chia quyền với Liên minh Hồi giáo (Muslim League) cũng như sự phân chia và hạ giảm chính quyền trung ương có thể xảy ra. Gandhi cảnh cáo sự tập hợp được đề nghị dành cho những liên bang có số đông người Hồi. Tuy nhiên, đây là một trong những lần ít ỏi mà Quốc hội không nghe lời Gandhi (nhưng không đặt câu hỏi về quyền lãnh đạo) vì những người cầm đầu không những muốn lập chính quyền nhanh như có thể khi người Anh trao quyền lại, mà còn muốn ngăn cản Mohammed Ali Jinnah và Liên minh Hồi giáo đạt vị trí ngang hàng với đảng Quốc dân Đại hội, vốn có bản chất dân tộc và hiện thế hơn.
Trong thời gian 1946-1947, hơn 5000 dân bị sát hại. Liên minh được ủng hộ mạnh ở những bang có nhiều người theo Hồi giáo như Punjab, Bengal, Sindh, NWFP (North-West Frontier Province, Pakistan) và Baluchistan. Kế hoạch phân chia được ban lãnh đạo Quốc hội thừa nhận là phương pháp duy nhất để ngăn cản một cuộc nội chiến lớn giữa môn đồ Ấn Độ giáo và Hồi giáo.
Những nhà lãnh đạo cố cựu của Quốc hội biết rõ Gandhi sẽ phản đối cực lực sự phân chia, nhưng họ cũng thừa biết là Quốc hội không tiến bước nếu không có sự thoả thuận của ông vì sự hỗ trợ trong đảng và toàn quốc dành cho Gandhi rất sâu rộng. Những người bạn đồng nghiệp thân cận nhất của ông đã chấp nhận việc phân chia như phương án giải đáp tốt nhất, và Sardar Patel cố gắng thuyết phục Gandhi đây là con đường duy nhất để tránh cuộc nội chiến. Gandhi cuối cùng xuôi lòng, tán đồng bước thực hiện này.
Gandhi có ảnh hưởng lớn trong các cộng đồng Ấn Độ giáo và Hồi giáo tại Ấn Độ. Tương truyền chỉ sự hiện diện của ông thôi cũng đủ chấm dứt các cuộc bạo động. Ông phản đối kịch liệt tất cả những kế hoạch phân chia Ấn Độ thành hai quốc gia độc lập. Liên minh Hồi giáo luận cứ rằng thiểu số người Hồi giáo sẽ bị bức áp một cách có hệ thống bởi phần lớn môn đồ Ấn Độ giáo trong một quốc gia Ấn Độ thống nhất, và một quốc gia riêng cho người theo Hồi giáo là một giải pháp hợp lý. Tuy nhiên, nhiều người Hồi giáo ở trung tâm Ấn Độ - vốn chung sống với người Ấn giáo, đạo Sikhs, Phật giáo, Kì-na giáo, đạo Parsi, Kitô giáo và đạo Do Thái - lại muốn một quốc gia Ấn Độ thống nhất. Nhưng Jinnah ra lệnh hỗ trợ rộng rãi các vùng Tây Punjab, Sindh, NWFP và Đông Bengal, tất cả những vùng đã hợp thành dạng Pakistan và Bangladesh ngày nay. Xứ sở mới của người theo Hồi giáo được kiến lập từ các vùng Đông và Tây Ấn Độ. Ban đầu nó được gọi là Tây và Đông Pakistan, và giờ đây tương ưng với Pakistan và Bangladesh. Ngày trao quyền chính trị, Gandhi không ăn mừng độc lập cùng với công chúng Ấn Độ mà chỉ đơn độc tại Kolkata, đau buồn về sự phân chia và tiếp tục công việc nhằm chấm dứt bạo lực.
== Đời sống cá nhân trong thời kì đấu tranh ==
Gandhi và vợ Kasturba đi khắp nước và lưu trú ở những Già-lam ở Gujarat và Maharashtra hoặc tại nhà những người bạn và những người hâm mộ. Những lần đến Delhi, họ ngụ tại tòa nhà Birla (Birla House) được cấp bởi người bạn thân là Ghanshyamdas Birla. Một thời Gandhi trú tại chung cư Bhangi (Bhangi Colony), trung tâm của sự việc chống kì thị giai cấp của ông.
Gandhi là một người say mê viết thư, luôn thử nghiệm các cách điều chế ăn uống, trau dồi nhận thức tôn giáo và triết học, nhưng chủ yếu là tư duy về các sự kiện chính trị. Ông cũng đã chỉ đạo những công việc trong một Già-lam và chỉ dẫn các môn đệ trong những vấn đề cá nhân.
== Bị ám sát ==
Ngày 30 tháng 1 năm 1948, trên đường đến một nơi thờ tụng, Gandhi bị bắn chết bởi Nathuram Godse tại tòa nhà Birla ở New Delhi. Godse là một môn đồ Ấn giáo cực đoan được người đương thời cho là có mối quan hệ với cánh cực hữu của các tổ chức Ấn Độ giáo như Hindu Mahasabha. Tổ chức này cho Gandhi là người chịu trách nhiệm cho việc chính quyền suy nhược vì đã khăng khăng bắt buộc nộp một khoản tiền cho Pakistan. Godse và người cùng âm mưu là Narayan Apte sau bị đưa ra tòa kết án, và bị xử tử ngày 15 tháng 11 năm 1949. Vinayak Damodar Savarkar, chủ tịch của Hindu Mahasabha, một nhà cách mạng và môn đồ Ấn giáo cực đoan bị tố cáo là người nắm đầu dây của mưu đồ này, nhưng sau được giải tội vì thiếu bằng chứng.
Tương truyền câu nói trước khi chết của Gandhi là "Ô kìa Rama!" (Hey Rama!) và nó được xem là câu tôn kính hướng đến thần Rama, là một dấu hiệu gợi cảm tâm linh Gandhi cũng như lý tưởng đạt sự thống nhất với hòa bình vĩnh hằng của ông. Câu này được khắc vào đài tưởng niệm của ông tại New Delhi. Có người nghi vấn về tính có thật của câu này nhưng một số người đã chứng kiến và xác nhận ông đã nói như thế. Một vài nguồn ghi lại những lời cuối của ông là "He Ram, He Ram" hoặc "Rama, Rama", và nó cũng tường thuật rằng ông lăn xuống đất, chắp hai tay trước ngực ở tư thế chào.
== Nguyên tắc: Chấp trì chân lý ==
Như đã nói trong phần dẫn nhập, nguyên tắc chính của Gandhi là Satyāgraha, "Chấp trì chân lý" và người thực hiện việc này được gọi là một Satyāgrahī. Trong nhiều bài viết, Gandhi định nghĩa Chấp trì chân lý như sau (Collected Works of Mahatma Gandhi [CWMG], Vol. 16, p. 9-10):
Chấp trì chân lý là gì? Chấp trì chân lý không phải là năng lực thể chất. Người chấp trì chân lý không tổn thương đối thủ; ông ta không tìm cách huỷ diệt người ấy. Một người chấp trì chân lý không bao giờ dùng súng. Không có lòng sân ác hoặc bất cứ tâm bất thiện nào khác khi ứng dụng chấp trì chân lý.
Chấp trì chân lý là một năng lực tâm linh thanh tịnh. Chân lý chính là thể chất của linh hồn. Đây là nguyên do vì sao năng lực này được gọi là chấp trì chân lý. Linh hồn bao gồm trí huệ. Ngọn lửa của lòng từ bi bùng cháy trong nó. Nếu một ai đó tổn thương ta vì vô minh thì ta thắng họ bằng tình thương. Bất hại là pháp tối cao (sa. ahiṃsā paramo dharmaḥ). Nó chính là sự chứng minh của năng lực tình thương. Bất hại là trạng thái ngủ. Khi tỉnh thức thì nó là tình thương. Được chỉ đạo bởi tình thương, thế giới tiến bước...
Theo Gandhi thì nguyên tắc Chấp trì chân lý nên đi xa hơn, ảnh hưởng nhiều hơn những dạng kháng cự xưa nay như Kháng cự thụ động, bất phục tòng của công chúng và bất hợp tác. Chấp trì chân lý bao gồm cả ba dạng này, nhưng lại tiến xa hơn (Harijan, 21.07.1940):
Theo nghĩa thường gặp thì chấp trì chân lý có nghĩa là thế lực của chân lý (truth force).... Bạo lực là sự phủ nhận năng lực tâm linh to lớn này, một năng lực chỉ có thể được sử dụng hoặc phát triển bởi những người hoàn toàn lìa xa bạo lực. Nó là một năng lực có thể được áp dụng bởi cá nhân hoặc cộng đồng, và nó cũng có thể được ứng dụng trong lãnh vực chính trị hoặc tại gia.... Tính năng có thể được áp dụng mọi nơi của nó chính là sự biểu hiện của tính trường tồn cũng như vô địch của nó. Nó có thể được áp dụng bởi đàn ông, đàn bà và trẻ em.... Những người tự thấy mình yếu hèn không thể dùng năng lực này được. Chỉ những người nhận thức được một cái gì đó của con người siêu việt bản năng thô bạo trong mình và năng lực thứ hai này luôn quy hướng về nó thì những người này mới có thể là những người kháng cự thụ động hữu hiệu.
Lúc đầu, Gandhi xem Chấp trì chân lý như là kháng cự thụ động, nhưng sau ông từ khước cách dùng này, bởi vì đối với ông, "thụ động" chỉ đến một trạng thái thừa nhận định mệnh, một cách thầm nhận những gì bất công và như vậy, nó hạ thấp năng lực nằm trong từ "kháng cự". Theo Gandhi, kháng cự đòi hỏi một tư thái anh hùng và năng nỗ hơn là trạng thái thụ động hoặc khoan nhượng.
Câu hỏi được đặt ra ở đây là đặc điểm nào đưa Chấp trì chân lý lên cao hơn ba dạng kia? Ba thành phần chính của nguyên tắc Chấp trì chân lý sẽ làm sáng tỏ sự việc, đó là Chân lý (sa. satya), Bất hại (sa. ahiṃsā) và Khổ hạnh (sa. tapas)
=== Chân lý ===
Gandhi phân biệt hai loại chân lý, chân lý tương đối và chân lý tuyệt đối. Trong trường hợp Chấp trì chân lý thì chân lý tương đối đóng vai trò chính. Trong phần dẫn nhập của Tự truyện, Gandhi ghi như sau:
Nhưng đối với tôi, chân lý là một nguyên tắc căn bản bao gồm nhiều nguyên tắc khác. Chân lý này không chỉ là sự chân thật trong lời nói, mà cũng là sự chân thật trong tư duy, và cũng không chỉ là chân lý tương đối của khái niệm của chúng ta, mà là chân lý tuyệt đối, chân lý vĩnh hằng, và đó là Thượng đế. Có rất nhiều cách định nghĩa Thượng đế bởi vì Ngài có rất nhiều cách thể hiện. Chúng chinh phục tôi với sự kinh ngạc và kính trọng và tôi tê liệt trong một khoảnh khắc. Nhưng tôi chỉ tôn kính Thượng đế như chân lý. Tôi chưa tìm thấy Ngài, nhưng tôi tìm Ngài. Tôi sẵn sàng cống hiến những gì quý báu nhất của tôi để đi tìm. Ngay cả trường hợp sự cống hiến này đòi hỏi ngay sinh mệnh của tôi thì tôi hi vọng là sẽ sẵn lòng hiến dâng nó. Nhưng khi nào tôi chưa trực chứng chân lý tuyệt đối thì cho đến khi ấy, tôi phải nắm giữ chân lý tương đối như tôi hiểu nó. Trong thời gian này thì chân lý tương đối phải là ngọn đèn, tấm mộc và vật che chở của tôi.
Trong nguyên tắc Chấp trì chân lý, chân lý tương đối - mang khái niệm thực dụng để tìm chân lý - quan trọng hơn các khái niệm về Thượng đế, Brahman hoặc chân lý tuyệt đối. Trong khi khái niệm chân lý tuyệt đối của Gandhi bị ảnh hưởng về mặt siêu hình thì mặt khác, khái niệm chân lý tương đối, như cơ sở của chấp trì chân lý, lại rất khoa học và chính xác. Chỉ qua sự áp dụng và thực nghiệm ta mới biết được lập trường nào đứng gần chân lý tuyệt đối hơn.
Nhưng, để không bị tấm màn vô minh và huyễn giác mê hoặc, người ta phải giữ những giới luật nhất định. Chúng được hàm dung trong hai thành phần khác của Chấp trì chân lý, là Bất hại và Khổ hạnh.
=== Bất hại ===
Bất hại cũng được hiểu là Bất bạo động. Theo Gandhi, chỉ một con đường dẫn đến chân lý, và con đường này mang tên Bất hại. Theo ông, chỉ nguyên tắc bất hại mới hòa hợp với quy luật vũ trụ là Dharma. Nguyên tắc bất hại toàn hảo đòi hỏi một niềm tin vào tính nhất thể của sự sống.
Theo nguyên tắc Chấp trì chân lý, sinh mệnh của toàn thể được đặt cao hơn sinh mệnh của cá nhân và như vậy, nó đòi hỏi một tấm lòng vị tha và vô uý. Để đạt được đẳng cấp này, người ta phải tu luyện thân tâm, cụ thể là thực hiện các phép tu khổ hạnh.
=== Khổ hạnh ===
Tapas - được dịch là Khổ hạnh ở đây - có nguyên nghĩa theo Ấn Độ giáo là "sự nóng", một "ngọn lửa" có thể đốt cháy các nghiệp trước đây. Thuật ngữ này sau được dùng để chỉ sự hành hạ thể xác, tuyệt dục, lãnh đạm đối với các cảm nhận khổ lạc,... Tuy nhiên, dạng Khổ hạnh Gandhi đề cao không phải là dạng ẩn lánh vào rừng mà là dạng hết lòng phục vụ những người xung quanh, trong xã hội (CWMG, Vol. 73, S. 43-44).
Đây là một thử nghiệm mới. Bất bạo lực chưa được áp dụng trong chính trị. Bất bạo lực cũng đã được áp dụng thời xưa. Nhưng nó lúc nào cũng là việc làm của một cá nhân. Những người như thế sau này ẩn tránh trong núi hoặc sống đơn độc trong các thôn làng. Họ không lưu tâm đến hạnh phúc chung. Tôi đã bắt đầu một phong trào mới. Bất bạo lực, nếu chỉ giới hạn ở một cá nhân thôi thì chẳng phải là pháp tối cao. Tôi không kính phục một người thực hiện bất bạo lực trong một hang động. Bất bạo lực như vậy chẳng có sở dụng gì cho tôi. Tôi tin vào một dạng bất bạo lực có thể được thực hiện trong thế gian với những hiện thực rõ ràng. Tôi chẳng lưu tâm đến sự giải thoát của một người thực hiện bất bạo lực sau khi từ khước thế gian. Tôi chẳng để ý đến một sự giải thoát cá nhân loại trừ những người khác ra. Người ta có thể đạt giải thoát qua việc phục vụ người khác. Đây chính là lý do tôi đến đây để thuyết giảng sự việc cho quý vị.
Năng lực của một tâm thức chấp nhận khổ đau với chủ ý có khả năng dung hòa bạo lực. Giữ chặt chân lý mình cho là đúng có thể gây khổ đau nhiều dạng, ví như mất mát của cải, mang thương tích, thậm chí tử vong. Nhưng Gandhi lại đòi hỏi ở những người đi theo mình một sự kham khổ tuyệt đối vì ông quan niệm rằng, mức độ khổ đau chính là thước đo chiều sâu tình thương của người chấp trì chân lý dành cho đối thủ cũng như của tính chất nghiêm trọng của niềm tin của ông ấy (CWMG, Vol. 17, trang 374).
=== Ăn chay ===
Mặc dù có thử ăn thịt lúc còn nhỏ nhưng Gandhi sau này trở thành một người ăn chay tuyệt đối. Ông viết sách về chủ đề này trong thời gian du học tại Luân Đôn, sau khi gặp người tranh đấu cho việc ăn chay là Henry Stephens Salt ở những cuộc hội họp của Hội người ăn chay. Nguyên tắc ăn chay có truyền thống lâu đời trong các tôn giáo Ấn Độ như Ấn Độ giáo, Kì-na giáo và Phật giáo, và trong tiểu bang của Gandhi, Gujarat, phần lớn môn đồ Ấn giáo đều ăn chay. Ông thử nhiều cách ăn và kết luận rằng, ăn chay đủ cung cấp chất dinh dưỡng tối thiểu cho thân thể. Tuy nhiên, cách ăn của ông cũng linh hoạt và ông cũng không ngần ngại khi ăn trứng như bài viết "chìa khoá sức khoẻ" (Key to Health) năm 1948 cho thấy. Ông thường nhịn ăn lâu ngày, dùng nhịn ăn như một vũ khí chính trị. Ông từ chối không ăn cho đến chết hoặc cho đến khi những yêu cầu của ông được thực hiện.
=== Sống tuyệt dục ===
Gandhi sống tuyệt dục từ năm 36 tuổi. Quyết định này của ông bị ảnh hưởng mạnh bởi khái niệm Phạm hạnh (sa. brahmacarya) trong các tôn giáo Ấn Độ, tức là sự thanh tịnh của tâm linh và hành động, có mối liên hệ trực tiếp với việc tu khổ hạnh (sa. tapas) được nhắc bên trên. Tuy vậy, Gandhi không tin đây là một việc mỗi người nên làm. Trong Tự truyện, ông có nhắc lại cuộc phấn đấu chống lại sự thôi thúc tính dục và những cuộc ghen tuông vì bà Kasturba. Ông cho rằng, sống tuyệt dục là trách nhiệm riêng của ông để có thể phát triển lòng từ bi thay vì đam mê nhục dục.
=== Im lặng ===
Gandhi giữ giới không nói một ngày trong tuần. Ông tin là không nói sẽ mang đến sự an tĩnh nội tâm. Giới không nói bắt nguồn từ truyền thống Ấn giáo, mouna "tịnh khẩu" và śānti "tịch tĩnh". Trong những ngày này, ông trao đổi với những người xung quanh bằng cách viết trên giấy. Từ năm 37 tuổi, hơn ba năm liền ông không đọc báo vì cho rằng, trạng thái huyên náo của sự kiện thế giới làm tâm ông hỗn loạn hơn là hỗn loạn nội tâm sẵn có.
=== Y phục ===
Trở về Ấn Độ sau khi làm luật sư thành công tại Nam Phi, ông từ khước mặc y phục phương Tây - cách ăn mặc được ông liên tưởng đến phú quý và thành công. Ông ăn mặc để người nghèo nhất Ấn Độ cũng có thể chấp nhận. Gandhi khuyến khích việc mặc y phục tự dệt (khadi). Ông và môn đệ dệt vải từ sợi chỉ tự se và khuyến khích người khác cũng làm như thế. Mặc dù công nhân Ấn Độ thường ngồi không vì thất nghiệp, họ vẫn mua quần áo sản xuất bởi người Anh. Gandhi cho rằng, nếu người Ấn tự sản xuất vải, họ sẽ gây một chấn động kinh tế cho các tổ chức Anh tại Ấn Độ. Qua sự việc này, biểu tượng bánh xe se chỉ sau này được đưa vào lá cờ của Quốc dân Đại hội Ấn Độ.
=== Tôn giáo ===
Mặc dù sinh ra trong một gia đình Ấn Độ giáo, Gandhi vẫn giữ thái độ phê phán phần lớn các tôn giáo, bao gồm cả Ấn Độ giáo. Trong Tự truyện, ông ghi như sau:
Như vậy, nếu tôi không thừa nhận Thiên chúa giáo là toàn hảo hoặc vĩ đại nhất thì tôi cũng chẳng tin Ấn Độ giáo được như vậy. Những nhược điểm của Ấn Độ giáo đập ngay vào mắt tôi. Nếu kì thị người ti tiện (untouchability) là một thành phần của Ấn Độ giáo thì nó là thành phần hủ nát hoặc là một cục bướu. Tôi không thể hiểu lý do tồn tại của đa số phe phái và giai cấp xã hội. Thế nào là ý nghĩa của câu nói "Phệ-đà là những lời cảm hứng của Thượng đế"? Nếu chúng được truyền cảm, thì tại sao Thánh kinh và Koran lại không? Khi các người bạn Thiên chúa giáo tìm cách thuyết phục cải đạo, các người bạn Hồi giáo cũng làm như vậy. Abdullah Sheth liên tục khuyến dụ tôi nghiên cứu Hồi giáo và dĩ nhiên là ông ta luôn có những gì để nói về cái đẹp của nó.
Và ông cũng nói thêm:
Khi mất cơ sở đạo đức, chúng ta mất lòng thành tín. Không có gì ta có thể gọi là Đạo đức siêu việt tôn giáo. Con người không thể giả dối, ác hại hoặc phóng dật rồi sau đó xác định là có Thượng đế bên cạnh.
Nhưng Gandhi phê phán tính đạo đức giả trong tôn giáo có tổ chức hơn là những nguyên tắc cơ bản của chúng. Ông nói như sau về Ấn Độ giáo:
Ấn Độ giáo, như tôi hiểu, làm tôi mãn nguyện hoàn toàn, vun đầy thể chất của tôi.... khi hoài nghi lai vãng, khi thất vọng đối diện tôi, và khi tôi không còn thấy một tia sáng nào ở chân trời, lúc đó tôi mở quyển Chí tôn ca, tìm đọc một câu an ủi; và ngay lập tức, tôi có được một nụ cười ngay trong nỗi lo bức bách. Cuộc đời tôi đầy những thảm kịch và nếu chúng không để lại hiệu quả hiển nhiên không thể tẩy đi được nơi tôi thì đó kết quả của những lời dạy trong Chí tôn ca.
Quan niệm Jihad của Hồi giáo cũng có thể được hiểu là một cuộc đấu tranh bất bạo động hoặc Chấp trì chân lý như Gandhi đã áp dụng. Ông nói như sau về Hồi giáo:
Những lời dạy của Muhammad là kho báu trí huệ, không những cho môn đồ Hồi giáo, mà cho toàn nhân loại.
Sau này, khi được hỏi có phải là môn đồ Ấn giáo hay không, ông ứng đáp:
Đúng, tôi là môn đồ Ấn giáo. Tôi cũng là một tín đồ Thiên chúa giáo, một tín đồ Hồi giáo, một Phật tử và một môn đồ Do Thái.
Gandhi tin rằng, tinh hoa của mỗi tôn giáo là chân lý và tình thương. Ông bị ảnh hưởng lớn bởi giáo lý bất kháng cự (nonresistance) và "đưa má thứ hai" ra (khi bị đánh một bên má) của Thiên chúa giáo, và ông có lần nói là nếu Thiên chúa giáo được áp dụng như trong Bài giảng trên núi thì ông là một tín đồ Thiên chúa giáo.
=== Niềm tin ===
Mặc dù rất kính trọng nhau nhưng Gandhi và Rabindranath Tagore tranh luận dai dẳng nhiều lần và các cuộc tranh luận này là những ví dụ tiêu biểu cho những quan điểm triết học dị biệt giữa hai danh nhân Ấn Độ vĩ đại nhất thời đó. Ngày 15 tháng 1 năm 1934, một cơn động đất xảy ra tại Bihar, gây tử vong và thiệt hại lớn. Gandhi tin chắc rằng sự việc xảy ra vì tội lỗi của những môn đồ Ấn giáo thuộc giai cấp cao, vì họ không cho những kẻ ti tiện vào đền thờ. Tagore phản đối cực lực lập trường của Gandhi, cho rằng, một cơn động đất chỉ có thể xảy ra trên cơ sở năng lực thiên nhiên, không phải vì lý do đạo đức cho dù việc kì thị người vô giai cấp đáng chê trách như thế nào đi nữa.
== Tưởng niệm ==
Gandhi không được giải Nobel bao giờ mặc dù được đề cử năm lần từ 1937 đến 1948. Vài thập niên sau, Hội đồng giải Nobel công bố sự ân hận đã bỏ lỡ thời cơ và họ cũng thừa nhận là những ý kiến bị phân chia bởi tư tưởng dân tộc đã ngăn cản việc trao giải cho Gandhi. Khi Đạt-lại Lạt-ma thứ 14 nhận giải năm 1989, chủ tịch hội cũng đã nói là "đây cũng là một phần cống phẩm để tưởng niệm Gandhi". Viện bảo tàng điện tử của hiệp hội giải Nobel có một bài về mục này .
Tạp chí Time gọi Gandhi là người thứ hai sau Albert Einstein trong mục "Nhân vật thế kỉ" và có một bài viết với những chủ mục viết tường tận của Dalai Lama, Lech Wałęsa, Martin Luther King, Jr. và Nelson Mandela với tên "Những người con của Gandhi" (Children of Gandhi), với mục đích nhận thức ảnh hưởng của Gandhi đến những người lãnh đạo tương lai.
Chính quyền Ấn Độ trao giải Hòa bình Gandhi cho những người phục vụ xã hội, những người lãnh đạo trên thế giới và lãnh đạo công dân xuất sắc. Nelson Mandela, người dẫn đầu cuộc đấu tranh chống kì thị chủng tộc và phân li quốc gia là người ngoài Ấn Độ nổi danh được trao giải này.
Năm 1996, chính phủ Ấn Độ phát hành một loạt tiền giấy có hình Gandhi bào gồm những tờ 5, 10, 20, 50, 100, 500 và 1000 rupee.
=== Hình tượng trong nghệ thuật ===
Cách trình bày cuộc đời Gandhi nổi tiếng nhất có lẽ là bộ phim Gandhi (1982), được đạo diễn bởi Richard Attenborough và diễn viên Ben Kingsley (chính ông là người nửa phần Gujarati) trong vai chính. Tuy nhiên, bộ phim sau này bị chỉ trích bởi các học giả hậu thực dân. Họ luận cứ là bộ phim miêu tả Gandhi như một người dùng một tay đưa Ấn Độ đến sự độc lập và bỏ qua những nhân vật quan trọng khác (của cả hai nhóm, tinh duệ và cấp dưới) trong cuộc kháng chiến chống thực dân. Bộ phim The Making of the Mahatma, với Shyam Benegal đạo diễn và Rajat Kapur trong vai chính là một phim nói về 21 năm hoạt động của Gandhi tại Nam Phi.
Philip Glass soạn ca kịch Satyagraha nói về sự nghiệp của Gandhi.
Có nhiều tượng Gandhi nổi tiếng tại Anh, đáng lưu ý nhất là tượng ở Tavistock Gardens, Luân Đôn, gần Đại học College London, nơi ông đã học luật.
Tại Hoa Kỳ, người ta có thể chiêm ngưỡng tượng Gandhi bên ngoài Ferry Building tại San Francisco, tại Hermann Park, Houston Garden Center ở Houston, tại Union Square Park ở Thành phố New York, tại Martin Luther King, Jr. National Historic Site ở Atlanta, bên ngoài Thảo cầm viên Honolulu ở Kapiolani Park, Hawaii, ở Village of Skokie (một vùng bên ngoài Chicago, Illinois), và gần tòa đại sừ Ấn Độ ở khu phố Dupont Circle của Washington, DC.
Thành phố Pietermaritzburg, Nam Phi, nơi Gandhi bị tống ra khỏi toa xe năm 1893, giờ đây có một bức tượng tưởng niệm hình tượng người đấu tranh giành độc lập Ấn Độ, được dựng lên 100 năm sau khi sự kiện xảy ra.
Cũng có những hình tượng Gandhi ở các thành phố khác như Moskva, Paris, Amsterdam, Barcelona, Lisbon, Canberra, San Fernando, Trinidad và Tobago. Chính phủ Ấn Độ tặng tượng Gandhi cho thành phố Winnipeg, tỉnh Manitoba, Canada, để tỏ lòng ủng hộ viện bảo tàng dân quyền tương lai được lập ở đây (Canadian Museum for Human Rights).
Cũng có một bức tượng bán thân to lớn của Gandhi trước thư viện của Đại học Laurentian ở Sudbury, Ontario. Tại St. Louis, một bức tượng bán thân của Gandhi đứng trước International Institute.
== Phê bình ==
Nhiều nhà sử học và chú giải đã phê bình Gandhi vì cái nhìn của ông về Adolf Hitler và Chủ nghĩa Đức quốc xã, bao gồm những lời trần thuật là người Do Thái có thể đạt được tình thương của Thượng đế nếu họ sẵn lòng đi đến cái chết như những cảm tử chết vì nghĩa.. Penn và Teller, trong một đoạn của chương trình "Bullshit!" ("Holier than Thou"), đã tấn công Gandhi một phần về tính đạo đức giả qua những lập trường tiền hậu bất nhất trí trong khi thực hiện bất bạo lực, thái độ không thích hợp về phía phụ nữ và những lời nói có bản chất kì thị chủng tộc. Gandhi nói trước công chúng tại Mumbai, 26 tháng 9 năm 1896 (Collected Works, quyển II, trang 74) về người châu Phi như sau:
Cuộc chiến của chúng ta là một cuộc đấu tranh chống sự suy đồi mà người châu Âu tìm cách áp đặt vào chúng ta. Họ muốn hạ cấp chúng ta thành một Kaffir (tên gọi hạ miệt, chỉ người Phi da đen) thô tục với việc làm là săn bắt, với hoài bão duy nhất là sưu tập một số gia súc nhất định để mua được một người vợ và sau đó sống một cuộc sống lười nhác và loã lộ.
Tagore nhận xét về ông như sau:
Ông ngừng lại ở ngưỡng cửa các căn nhà tồi tàn của hằng ngàn người cùng khốn, y phục của ông y hệt y phục của họ. Ông nói với họ bằng ngôn ngữ của họ. Đó mới thực là một chân lý sinh động chứ không phải chỉ là những lời suông trong sách vở. Vì vậy mà tiếng tôn xưng Mahatma (Thánh) mà dân Ấn tặng ông đã thành tên thực của ông. Ai là người cảm thấy như ông rằng tất cả mọi người Ấn chính là da thịt của mình, máu mủ của mình? Khi tình thương tới gõ cửa Ấn Độ thì cửa đã mở toang chờ sẵn rồi… Nghe tiếng gọi của Gandhi, Ấn Độ xông ngay tới một cảnh vinh quang cao quý mới, như hồi xưa, rất xa xăm, khi Phật Tổ tuyên bố đạo từ bi, thương yêu cả mọi sinh vật.
== Xem thêm ==
Chấp trì chân lý
Jawaharlal Nehru
Sardar Vallabhbhai Patel
Quốc Dân Đại hội Ấn Độ
Subhas Chandra Bose
== Thư mục tham khảo ==
M. Blume: Satyagraha. Wahrheit und Gewaltfreiheit, Yoga und Widerstand bei Gandhi. Gladenbach 1987.
J. Bondurant: Conquest of Violence, Princeton 1958.
M. Chatterjee: Gandhi’s Religious Thought, London 1983.
Elst, K. (2001). Gandhi and Godse: A review and a critique. New Delhi: Voice of India.
Gandhi: Hind Swaraj in Iyer: Writings (Bd. I, S. 199-264).
Gandhi: Multimedia, E-book. CD-ROM Version. New Delhi: Publications Division, Ministry of Information and Broadcasting, 1999. (The Collected Works of Mahatma Gandhi).
Harijan. A journal of applied Gandhiism, New York 1933-54.
J.L. Garfield: The Satya in Satyagraha.
R.N. Iyer: The Moral and Political Thought of Mahatma Gandhi, New York 1973.
J.T.F. Jordens: Gandhi’s Religion. A Homespun Shawl, Basingstoke 1998.
B. Parekh: Gandhi's Political Philosophy, Delhi 1995.
U. Prell: Ziviler Ungehorsam, Berlin 1984.
G. Richards: The Philosophy of Gandhi, London 1982.
R.J. Terchek: Gandhi, New Delhi 2001.
Young India, Ahmedabad 1919-32.
Gandhi: A Photo biography by Peter Rühe ISBN 0714892793
The Essential Gandhi: An Anthology of His Writings on His Life, Work, and Ideas by Louis Fischer ISBN 1400030501
Gandhi: A Life by Yogesh Chadha ISBN 0471350621
Gandhi (1982), phim của Richard Attenborough.
Gandhi and India: A Century in Focus by Sofri, Gianni (1995) ISBN 1900624125
The Kingdom of God is Within You by Leo Tolstoy (1894) ISBN 0803294042
An Autobiography, or the Story of My Experiments with Truth M.K. Gandhi (1929).
Patel: A Life by Rajmohan Gandhi.
Exploring Jo'burg with Gandhi, Lucille Davie.
== Chú thích ==
== Liên kết ngoài ==
Viện M.K. Gandhi về sự Bất bạo lực
Lưu trữ và Thư viện Tham khảo Điện tử Chính thức về Mahatma Gandhi
mkgandhi.org
Quỹ Hỗ Trợ Gandhi
Trung tâm Thông tin Gandhi
Quỹ Hỗ Trợ GandhiServe – Phục vụ Nghiên cứu và Giao thông Mahatma Gandhi
Nhà bảo tàng và Thư viện Mani Bhavan Gandhi Sangrahalaya Gandhi |
bedfordshire.txt | Bedfordshire là một hạt của Anh. Hạt có diện tích km², dân số người. Thủ phủ hạt đóng ở.
== Tham khảo == |
david ferrer.txt | David Ferrer Ern (phát âm tiếng Valencia: [daˈvit feˈreɾ ˈɛɾn] (sinh 2 tháng 4 1982 tại Jávea/Xàbia, Tây Ban Nha) là một vận động viên quần vợt chuyên nghiệp nam người Tây Ban Nha. Là Nhà vô địch Davis Cup ba lần với đội tuyển Tây Ban Nha, Ferrer has won tournaments at all levels (ATP 250, ATP 500, Masters 1000) Anh sống tại Valencia và trở thành tay vợt chuyên nghiệp năm 2000.
Ferrer được biết đến là một tay vợt đặc biệt nguy hiểm trên sân đất nện và là một tay vợt thuận tay phải. Anh là mẫu tay vợt cần cù, di chuyển khắp mặt sân không biết mệt mỏi.
Anh lọt vào top 10 tay vợt đơn nam của ATP lần đầu năm 2006. Vị trí cao nhất của anh là hạng 3, đạt được vào tháng 7 năm 2013
== 2002 - 2012 ==
Bắt đầu từ năm 2002, anh đã tham dự Grand Slam và từ đầu năm 2002 đến năm 2012 anh đã tham gia đầy đủ tất cả giải Grand Slam nhưng thành tích cao nhất của anh chỉ là vào tới Bán kết của 4 giải Grand Slam trong năm mà chưa bao giờ lọt vào chung kết một giải Grand Slam vì trong thời gian anh thi đấu đã xuất hiện rất nhiều tài năng như Roger Federer, Rafael Nadal, Novak Djokovic... chứ đừng nói đến việc vô địch.
Trong năm 2012 anh cũng giành được danh hiệu Master 1000 đầu tiên trong sự nghiệp tại BNP Paribas Master sau khi đánh bại tay vợt người Ba Lan Jerzy Janowicz trong trận chung kết với tỉ số 6-4,6-3.
== 2013: Trận chung kết Grand Slam đầu tiên ==
Tại giải Australia Open 2013 đầu năm anh đã xuất sắc lọt vào bán kết sau khi lội ngược dòng thắng Nicolás Almagro sau khi bị dẫn tước 2 set với các tỷ số 4-6, 4-6, 7-5, 7-6, 6-2 nhưng đã bị đánh bại ở trận bán kết khi thua Novak Djokovic qua 3 set chóng vánh 6-2, 6-2, 6-1.
Bước vào French Open 2013 anh may mắn không chung nhánh với bất cứ đối thủ mạnh nào cho đến trận bán kết gặp tay vợt chủ nhà hạt giống số 6 Tsonga nhưng vượt qua được sức ép khi rất nhiều khán đài trống trong trận này (Tsonga là tay vợt chủ nhà nên đáng lẽ khán giả phải đến đầy sân để cổ vũ) nên anh đã lần đầu tiên góp mặt ở 1 trận chung kết Grand Slam mặc dù sau đó đã thua Nadal ở trận chung kết.
Tại Wimbledon 2013, anh đã lọt vào tới trận tứ kết trước khi bị thua Juan Martín del Potro, mặc dù chỉ được vào tới tứ kết nhưng các tay vợt mạnh khác như Roger Federer và Rafael Nadal đều sớm ra về và lọt vào trận chung kết French Open trước đó nên lần đầu tiên Ferrer đạt hạng 3 trên bảng tổng sắp đơn nam của ATP vào tháng 7 năm 2013.
== Thống kê sự nghiệp ==
=== Chung kết: 51 (26-25) ===
=== Year–End Championships performance timeline ===
Chung kết: 1 (1 Á quân)
== Liên kết ==
David Ferrer trên trang chủ ATP (tiếng Anh)
Trang chủ của David Ferrer
Kết quả các trận đấu gần đây của Ferrer
Lịch sử xếp hạng thế giới của Ferrer
Thống kê về David Ferrer
== Tham khảo == |
herman melville.txt | Herman Melville (1 tháng 8 năm 1819 – 28 tháng 9 năm 1891 đều tại Thành phố New York) là một nhà văn, nhà viết truyện ngắn, nhà thơ, nhà văn tiểu luận người Mỹ. Ông nổi tiếng với tác phẩm Moby-Dick. Những tiểu thuyết đầu tiên của ông là những tác phẩm bán chạy và ăn khách nhất, nhưng danh tiếng của Melville tụt thê thảm vài năm sau đó. Quãng thời gian Melville qua đời cũng là quãng thời gian mà ông gần như bị lãng quên, tuy nhiên tiểu thuyết dài nhất của ông, Moby-Dick - một tác phẩm được coi là thất bại thời ông còn sống - đã được khám phá lại ở thế kỉ 20 và đã được coi là một trong những kiệt tác hàng đầu của văn học Mỹ cũng như thế giới.
== Tác phẩm ==
=== Tiểu thuyết ===
Typee: A Peep at Polynesian Life (1846)
Omoo: A Narrative of Adventures in the South Seas (1847)
Mardi: And a Voyage Thither (1849)
Redburn: His First Voyage (1849)
White-Jacket, or The World in a Man-of-War (1850)
Moby-Dick, or The Whale (1851)
Pierre: or, The Ambiguities (1852)
Isle of the Cross (ca. 1853, since lost)[2]
Israel Potter: His Fifty Years of Exile (1856)
The Confidence-Man: His Masquerade (1857)
Billy Budd, Sailor (An Inside Narrative) (1924)
=== Short stories ===
The Piazza Tales (1856)
"The Piazza]]"—the only story specifically written for the collection. (The other five had previously been published in Putnam's Magazine|Putnam's Monthly Magazine.)
"Bartleby the Scrivener"
"Benito Cereno"
"The Lightning-Rod Man"
"The Encantadas, or Enchanted Isles"
"The Bell-Tower"
Uncollected
"Cock-A-Doodle-Doo!" (Harper's New Monthly Magazine, tháng 12 năm 1853)
"Poor Man's Pudding and Rich Man's Crumbs]]" (Harper's New Monthly Magazine, tháng 6 năm 1854)
"The Happy Failure" (Harper's New Monthly Magazine, tháng 7 năm 1854)
"The Fiddler" (Harper's New Monthly Magazine, tháng 9 năm 1854)
"The Paradise of Bachelors and the Tartarus of Maids" (Harper's New Monthly Magazine, tháng 4 năm 1855)
"Jimmy Rose" (Harper's New Monthly Magazine, tháng 11 năm 1855)
"The 'Gees" (Harper's New Monthly Magazine, tháng 3 năm 1856)
"I and My Chimney" (Putnam's Monthly Magazine, tháng 3 năm 1856)
"The Apple-Tree Table" (Putnam's Monthly Magazine, tháng 5 năm 1856)
Unpublished in Melville's lifetime
"The Two Temples"
"Daniel Orme"
=== Thơ ca ===
=== Sách ===
Battle Pieces and Aspects of the War (1866)
Clarel|Clarel: A Poem and Pilgrimage in the Holy Land (1876)
John Marr and Other Sailors (1888) Online edition
Timoleon (1891) Online edition
Weeds and Wildings, and a Rose or Two (1924)
==== Những bài thơ không được sưu tầm hoặc xuất bản ====
"Epistle to Daniel Shepherd"
"Inscription for the Slain at Fredericksburgh" [sic]
"The Admiral of the White"
"To Tom"
"Suggested by the Ruins of a Mountain-temple in Arcadia"
"Puzzlement"
"The Continents"
"The Dust-Layers"
"A Rail Road Cutting near Alexandria in 1855"
"A Reasonable Constitution"
"Rammon"
"A Ditty of Aristippus"
"In a Nutshell"
"Adieu"
==== Tuyển tập thơ ====
"The Maldive Shark"
"Song from Mardi"
"Jonah's Song" (from Moby-Dick) ["The ribs and terrors in the whale"]
"The Portent (1859)"
"Misgivings (1860)"
"The Conflict of Convictions (1860-1)"
"Shiloh: A Requiem (tháng 4 năm 1862)"
"Malvern Hill (tháng 7 năm 1862)"
"The House-top: A Night Piece (tháng 7 năm 1863)"
"'The Coming Storm': A Picture by S. R. Gifford, and owned by E. B. Included in the N. A. Exhibition, April, 1865"
"'Formerly a Slave': An idealized Portrait, by E. Vedder, in the Spring Exhibition of the National Academy, 1865"
"America"
"The Tuft of Kelp"
"The Berg (A Dream)"
"After the Pleasure Party"
"The Ravaged Villa"
"Art"
"Shelley's Vision"
"In a Bye-Canal"
"Pontoosuce"
"Billy in the Darbies" (from Billy Budd)
"Monody"
=== Tiểu luận (tất cả đều không được sưu tầm trong thời Melvile) ===
"Fragments from a Writing Desk, No. 1" (Democratic Press, and Lansingburgh Advertiser, 4 tháng 5 năm 1839)
"Fragments from a Writing Desk, No. 2" (Democratic Press, and Lansingburgh Advertiser, 18 tháng 5 năm 1839)
"Etchings of a Whaling Cruise" (New York Literary World, 6 tháng 3 năm 1847)
"Authentic Anecdotes of 'Old Zack'" (Yankee Doodle, II, weekly [September 4 excepted] from July 24 to 11 tháng 9 năm 1847)
"Mr Parkman's Tour" (New York Literary World, 31 tháng 3 năm 1849)
"Cooper's New Novel" (New York Literary World, 28 tháng 4 năm 1849)
"A Thought on Book-Binding" (New York Literary World, 16 tháng 3 năm 1850)
"Hawthorne and His Mosses" (New York Literary World, August 17 and 24 tháng 8 năm 1850)
=== Các tác phẩm khác ===
Correspondence, Ed. Lynn Horth. Evanston, IL and Chicago: Northwestern University Press and The Newberry Library (1993). ISBN 0-8101-0995-6Journals, Ed. Howard C. Horsford with Lynn Horth. Evanston, IL and Chicago: Northwestern Univ. Pr. and The Newberry Library (1989). ISBN 0-8101-0823-2
== Tham khảo ==
== Liên kết ngoài ==
Arrowhead—The Home of Herman Melville
Letters from Melville to Hawthorne
Melville's page at Literary Journal.com-research articles on Melville's works
Melville Room at the Berkshire Athenaeum
New Bedford Whaling Museum
The Life and Works of Herman Melville
The Melville Society
Các tác phẩm của Herman Melville tại Dự án Gutenberg
Biographical resources dedicated to Herman Melville |
thảo thư.txt | Thảo thư (草書, cǎoshū, sousho) hay chữ thảo là một kiểu viết chữ Hán của thư pháp Trung Hoa.
So với triện thư, lệ thư, khải thư và hành thư, thảo thư có bút pháp phóng khoáng và tốc độ viết chữ nhanh hơn cả. Mức độ đơn giản hóa của chữ thảo là lớn nhất trong số các kiểu chữ Hán có những chữ Hán mà theo lối khải thư thì viết nhiều nét nhưng theo lối thảo thư thì chỉ cần một nét. Vì vậy thảo thư thường được dùng trong các trường hợp như tốc ký, thực hành nghệ thuật thư pháp, viết thư hay viết nháp một bản thảo. Tuy nhiên, thảo thư rất khó đọc, những người chỉ quen dùng khải thư (kiểu viết thông thường) có thể không đọc được các văn bản viết bằng thảo thư.
== Tên gọi ==
Chữ "thảo" (草) trong "thảo thư" thường mang nghĩa là "cỏ", cho nên một số tài liệu gọi "thảo thư" là "chữ cỏ". Có ý kiến cho rằng "thảo" dùng ở đây hàm ý nét chữ giống như cọng cỏ bay dập dờn. Một số ý kiến khác cho rằng "thảo" ở đây hàm ý không phải là "cỏ" mà có nghĩa là "nháp", "giản lược" hay "thô", giống như trong "thảo nghĩ" (草擬) hay "thảo cảo" (草稿).
== Lịch sử ==
Chữ thảo được hình thành vào khoảng đời Hán cho tới trước đời Tấn và có nguồn gốc từ lối chữ lệ thông dụng trong triều Hán. Chữ thảo được thành hình khi người ta viết chữ lệ theo kiểu tốc ký một lối "ẩu" hơn, "tháu" hơn nhưng nhanh và tiện lợi hơn. Một trong những nguyên nhân phát sinh nhu cầu "viết nhanh" như vậy là do vào cuối thời Hán và trong thời Tam Quốc thì các phe phái tranh đoạt nhau cần phải phát triển một hệ thống thông tin nhanh gọn, kịp thời để có thể ra tay trước các địch thủ của mình.
Thảo thư trong thời Hán vẫn còn mang nhiều dấu nét của lệ thư và được gọi là "chương thảo" (章草), với chữ "chương" có nghĩa là "mạch lạc, trật tự" vì so với kiểu kim thảo (今草) của thời Ngụy-Tấn sau đó thì chương thảo vẫn còn trông rõ ràng và dễ đọc hơn hẳn. Đến thời Tam Quốc và đời Tân, chương thảo bỏ dần các dấu tích của chữ lệ, lược bớt và hòa lẫn nhiều nét, sử dụng nhiều nét "tháu" hơn và trở thành kim thảo (今草). Đến thời nhà Đường, chữ thảo lại phát triển thêm một bước với lối viết càng ngày càng phóng khoáng và mãnh liệt hơn và trở thành cuồng thảo (狂草) - kiểu viết này gần như không thể đọc được và trên thực tế cuồng thảo gần như chỉ được dùng như là một kiểu viết mang tính nghệ thuật cao chứ không áp dụng trong sinh hoạt thực tế hàng ngày.
== Đặc điểm ==
Các chữ Hán viết theo kiểu thảo thư đều bị giản lược đến cao độ, ngay cả người đọc được chữ hành chưa chắc đọc được chữ thảo. Các nét chữ được giản lược hoặc điều chỉnh sao cho lối viết được mềm mại và tạo ra hình dáng chữ tao nhã và mang tính trừu tượng cao, nhiều chữ được viết nên chỉ bằng một nét liền, bút không hề rời khỏi mặt giấy, và nhiều chữ liên tiếp nhau có các nét nối liền và hòa vào nhau. Các chữ thảo thường có hình dạng tròn, mềm, ít góc cạnh.
== Phân loại ==
Ngoài cách phân loại chương, kim và cuồng thảo theo lịch sử hình thành, chữ thảo có thể được phân thành:
Độc thảo (獨草): các chữ được viết tách bạch rõ ràng.
Liên miên (連綿): nét chữ này nối liền với nét chữ kế tiếp thành một chuỗi dài.
== Ảnh hưởng ==
So với chữ lệ và chữ khải, chữ thảo có nhiều nét bị lược bỏ, trộn lẫn, nhiều nét "viết tháu" và chỉ giữ lại dáng vẻ thô sơ của chữ gốc, điều này khiến rất ít người có thể đọc hiểu được chữ thảo và điều này ảnh hưởng tiêu cực đến việc giao tiếp nếu áp dụng chữ này vào sinh hoạt và hành chính. Chính vì vậy, dù xuất hiện từ sớm, thảo thư không thể có vị trí là chữ viết "hành chính" của một quốc gia như các chữ triện, lệ và khải, nó chỉ xuất hiện nhằm đáp ứng như cầu "tốc ký" vì các lối chữ triện, lệ, khải khó có thể nào viết nhanh được. Tuy nhiên, chữ thảo lại tìm thấy vị trí quan trọng trong nghệ thuật viết chữ Trung Hoa, và nó là một lối chữ được nhiều đại thư pháp gia ưa thích, tỉ như Trương Chi, Trương Húc và Hoài Tố.
Một vai trò nổi bật khác của chữ thảo đó là, các dạng chữ thảo là nguồn tham khảo quan trọng trong quá trình đơn giản hóa chữ viết của Trung Hoa để hình thành nên chữ giản thể của CHND Trung Hoa và tân tự thể (shinjitai) của Nhật Bản; người Trung Quốc đã dùng cụm từ "cảo thư khải hóa" (草書楷化) để ám chỉ các chữ giản thể được hình thành dựa trên dạng chữ thảo kiểu in ấn của các chữ phồn thể gốc. Hệ thống chữ cái bình giả danh (hiragana) được xây dựng trên kiểu chữ thảo hoặc chữ hành của các chữ Hán dùng để ký âm Nhật Bản (Man'yōgana). Thảo thư cũng là lối viết từng được ưa chuộng của phụ nữ Nhật và được gọi là "nữ thủ" (女手, onnade), trong khi lệ thư được cho là thích hợp với nam giới và gọi là "nam thủ" (男手, otokode).
== Hình ảnh ==
== Một số thư pháp gia nổi tiếng ==
== Xem thêm ==
Giáp cốt văn
Kim văn
Triện thư
Lệ thư
Khải thư
Hành thư
== Chú thích ==
== Tham khảo ==
The Art of Japanese Calligraphy, 1973, Yujiro Nakata, Weatherhill/Heibonsha, ISBN 0-8348-1013-1.
Cừu Tích Khuê (Qiú Xīguī, 裘錫圭) Chinese Writing (2000). Translation of 文字學概要 by Gilbert L. Mattos and Jerry Norman. Early China Special Monograph Series No. 4. Berkeley: The Society for the Study of Early China and the Institute of East Asian Studies, University of California, Berkeley. ISBN 1-55729-071-7. |
abraham lincoln.txt | Abraham Lincoln /ˈeɪbrəhæm ˈlɪŋkən/ (12 tháng 2, 1809 – 15 tháng 4, 1865), còn được biết đến với tên Abe Lincoln, tên hiệu Honest Abe, Rail Splitter, Người giải phóng vĩ đại, là Tổng thống thứ 16 của Hoa Kỳ từ tháng 3 năm 1861 cho đến khi bị ám sát vào tháng 4 năm 1865. Lincoln thành công trong nỗ lực lãnh đạo đất nước vượt qua cuộc khủng hoảng hiến pháp, quân sự, và đạo đức – cuộc Nội chiến Mỹ – duy trì chính quyền Liên bang, đồng thời chấm dứt chế độ nô lệ, và hiện đại hóa nền kinh tế, tài chính của đất nước. Sinh trưởng trong một gia đình nghèo ở vùng biên thùy phía Tây, kiến thức Lincoln thu đạt được hầu hết là nhờ tự học. Ông trở thành luật sư nông thôn, nghị viên Viện Lập pháp tiểu bang Illinois, nghị sĩ một nhiệm kỳ ở Viện Dân biểu Hoa Kỳ, rồi trải qua hai lần thất bại trong nỗ lực giành một ghế tại Thượng viện.
Bày tỏ lập trường chống đối chế độ nô lệ tại Mỹ qua những bài diễn văn và các cuộc tranh luận trong chiến dịch tranh cử, Lincoln nhận được sự đề cử của Đảng Cộng hòa ra tranh cử Tổng thống năm 1860. Sau khi các tiểu bang chủ trương nô lệ ở miền Nam tuyên bố rút khỏi Liên bang Hoa Kỳ, chiến tranh bùng nổ ngày 12 tháng 4, 1861, Lincoln tập trung nỗ lực vào hai phương diện quân sự và chính trị nhằm tái thống nhất đất nước. Ông mạnh dạn hành xử quyền lực trong thời chiến chưa từng có, trong đó có việc bắt giữ và cầm tù không qua xét xử hàng chục ngàn người bị nghi là những kẻ ly khai. Ông ngăn cản Anh Quốc công nhận Liên minh bằng những hành xử khôn ngoan trong sự kiện Trent liên quan đến quan hệ ngoại giao giữa Anh và Hoa Kỳ xảy ra cuối năm 1861. Năm 1861, Lincoln công bố Tuyên ngôn Giải phóng Nô lệ và vận động thông qua Tu chính án thứ Mười ba nhằm bãi bỏ chế độ nô lệ.
Lincoln luôn theo sát diễn biến cuộc chiến, nhất là trong việc tuyển chọn các tướng lĩnh, trong đó có tướng Ulysses S. Grant. Các sử gia đã kết luận rằng Lincoln rất khéo léo giải quyết các chia rẽ trong Đảng Cộng Hòa, ông mời lãnh đạo các nhóm khác nhau trong đảng tham gia nội các và buộc họ phải hợp tác với nhau. Dưới quyền lãnh đạo của ông, Liên bang mở một cuộc phong tỏa hải quân cắt đứt mọi giao thương đến miền Nam, nắm quyền kiểm soát biên giới ngay từ lúc cuộc chiến mới bùng nổ, sử dụng chiến thuyền kiểm soát lưu thông trên hệ thống sông ngòi miền Nam, và nhiều lần cố chiếm thủ đô Liên minh tại Richmond. Mỗi khi có một tướng lĩnh thất trận, ông liền bổ nhiệm một tướng lĩnh khác thay thế cho đến lúc Tướng Grant đạt đến chiến thắng sau cùng năm 1865. Là một chính trị gia sắc sảo từng can thiệp sâu vào các vấn đề quyền lực tại mỗi tiểu bang, ông tạo lập mối quan hệ tốt với nhóm đảng viên Dân chủ ủng hộ cuộc nội chiến, và tái đắc cử trong cuộc bầu cử tổng thống năm 1864.
Là lãnh tụ nhóm ôn hòa trong đảng Cộng hòa, Lincoln bị "công kích từ mọi phía": Đảng viên Cộng hòa cấp tiến đòi hỏi những biện pháp cứng rắn hơn đối với miền Nam, nhóm Dân chủ ủng hộ chiến tranh thì muốn thỏa hiệp, đảng viên Dân chủ chống chiến tranh khinh miệt ông, trong khi những người ly khai cực đoan tìm cách ám sát ông. Trên mặt trận chính trị, Lincoln tự tin đánh trả bằng cách khiến các đối thủ của ông đối đầu với nhau, cùng lúc ông sử dụng tài hùng biện để thuyết phục dân chúng. Diễn văn Gettysburg năm 1863 là bài diễn từ được trích dẫn nhiều nhất trong lịch sử Mỹ Quốc. Đó là bản tuyên ngôn tiêu biểu của tinh thần Mỹ hiến mình cho các nguyên lý cao cả của tinh thần dân tộc, quyền bình đẳng, tự do, và dân chủ.
Sau khi chiến tranh kết thúc, Lincoln chủ trương một quan điểm ôn hòa nhằm tái thiết và nhanh chóng tái thống nhất đất nước thông qua chính sách hòa giải và bao dung trong một bối cảnh phân hóa đầy cay đắng với hệ quả kéo dài. Tuy nhiên, chỉ sáu ngày sau khi Tướng Robert E. Lee của Liên minh miền Nam tuyên bố đầu hàng, Lincoln bị ám sát bởi một diễn viên và là người ủng hộ Liên minh, John Wilkes Booth, tại Hí viện Ford khi ông đang xem vở kịch ‘’Our American Cousin’’. Đây là lần đầu tiên một tổng thống Hoa Kỳ bị ám sát. Lincoln liên tục được cả giới học giả và công chúng xếp vào danh sách ba vị tổng thống vĩ đại nhất của nước Mỹ.
== Gia cảnh và tuổi thơ ==
=== Thiếu thời ===
Abraham Lincoln sinh ngày 12 tháng 2 năm 1809 (cùng ngày sinh với Charles Darwin), là con thứ hai của Thomas Lincoln và Nancy Lincoln (nhũ danh Hanks), trong một căn nhà gỗ một phòng ở Nông trại Sinking Spring thuộc Hạt Hardin, Kentucky rộng 348 acre (1.4 km²) ở phía đông nam Quận Hardin, Kentucky, khi ấy còn bị coi là biên giới (nay là một phần của Quận LaRue, ở Nolin Creek, cách Hodgenville 3 dặm (5 km). Cậu được đặt theo tên của ông nội, người đã dời gia đình từ Virginia đến Hạt Jefferson, Kentucky, tại đó ông bị thiệt mạng trong một trận phục kích của người da đỏ năm 1786 trước sự chứng kiến của các con, trong đó có cha của Lincoln, Thomas. Sau đó, Thomas một mình tìm đường đến khu biên thùy. Mẹ của Lincoln, Nancy, là con gái của Lucy Hanks, sinh tại một địa điểm nay là Hạt Mineral, West Virginia, khi ấy thuộc bang Virginia. Lucy đem Nancy đến Kentucky. Nancy Hanks kết hôn với Thomas, lúc ấy Thomas đã là một công dân khả kính trong cộng đồng. Gia đình gia nhập một nhà thờ Baptist chủ trương tuân thủ nghiêm nhặt các chuẩn mực đạo đức, chống đối việc uống rượu, khiêu vũ, và chế độ nô lệ.
Cha mẹ Lincoln là những nông dân thất học và mù chữ. Khi Lincoln đã trở nên nổi tiếng, những nhà báo và những người viết truyện đã thổi phồng sự nghèo khổ và tối tăm của ông khi ra đời. Tuy nhiên, Thomas Lincoln là một công dân khá có ảnh hưởng ở vùng nông thôn Kentucky. Ông đã mua lại Trang trại Sinking Spring vào tháng 12 năm 1808 với giá $200 tiền mặt và một khoản nợ. Trang trại này hiện được bảo tồn như một phần của Địa điểm di tích lịch sử quốc gia nơi sinh Abraham Lincoln. Thomas được chọn vào bồi thẩm đoàn, và được mời thẩm định giá trị các điền trang. Vào thời điểm con trai của ông Abraham sinh, Thomas sở hữu hai nông trang rộng 600 mẫu Anh (240 ha), vài khu đất trong thị trấn, bầy gia súc và ngựa. Ông ở trong số những người giàu có nhất trong hạt. Tuy nhiên, đến năm Thomas bị mất hết đất đai trong một vụ án vì sai sót trong việc thiết lập chủ quyền điền thổ.
Ba năm sau khi mua trang trại, một người chủ đất trước đó đưa hồ sơ ra trước Toà án Hardin Circuit buộc gia đình Lincoln phải chuyển đi. Thomas theo đuổi vụ kiện cho tới khi ông bị xử thua năm 1815. Những chi phí kiện tụng khiến gia cảnh càng khó khăn thêm. Năm 1811, họ thuê được 30 acres (0.1 km²) trong trang trại Knob Creek rộng 230 acre (0.9 km²) cách đó vài dặm, nơi họ sẽ chuyển tới sống sau này. Nằm trong lưu vực Sông Rolling Fork, đó là một trong những nơi có đất canh tác tốt nhất vùng. Khi ấy, cha Lincoln là một thành viên được kính trọng trong cộng đồng và là một nông dân cũng như thợ mộc tài giỏi. Hồi ức sớm nhất của Lincoln bắt đầu có ở trang trại này. Năm 1815, một nguyên đơn khác tìm cách buộc gia đình Lincoln phải rời trang trại Knob Creek. Nản chí trước sự kiện tụng cũng như không được các toà án ở Kentucky bảo vệ, Thomas quyết định đi tới Indiana, nơi đã được chính phủ liên bang khảo sát, nên quyền sở hữu đất đai cũng được bảo đảm hơn. Có lẽ những giai đoạn tuổi thơ ấy đã thúc đẩy Abraham theo học trắc địa và trở thành một luật sư.
Gia đình băng qua sông Ohio để dời đến một lãnh thổ không có nô lệ và bắt đầu cuộc sống mới ở Hạt Perry, Indiana. Tại đây, năm 1818 khi Lincoln lên chín, mẹ cậu qua đời. Sarah, chị của Lincoln, chăm sóc cậu cho đến khi ông bố tái hôn năm 1820; về sau Sarah chết ở lứa tuổi 20 trong lúc sinh nở.
Vợ mới của Thomas Lincoln, Sarah Bush Johnston, nguyên là một góa phụ, mẹ của ba con. Lincoln rất gần gũi với mẹ kế, gọi bà là "Mẹ". Khi còn bé, Lincoln không thích nếp sống lao động cực nhọc ở vùng biên thùy, thường bị người nhà và láng giềng xem là lười biếng. Nhưng khi đến tuổi thiếu niên, cậu tình nguyện đảm trách tất cả việc nhà, trở thành một người sử dụng rìu thành thục khi xây dựng hàng rào. Cậu cũng được biết tiếng nhờ sức mạnh cơ bắp và tính gan lì sau một trận đấu vật quyết liệt với thủ lĩnh một nhóm côn đồ gọi là "the Clary's Grove boys". Cậu cũng tuân giữ tập tục giao hết cho cha toàn bộ lợi tức cậu kiếm được cho đến tuổi 21. Giáo dục tiểu học cậu bé Lincoln tiếp nhận chỉ tương đương một năm học do các giáo viên lưu động giảng dạy, hầu hết là do cậu tự học và tích cực đọc sách. Trên thực tế Linoln là người tự học, đọc mọi cuốn sách có thể mượn được. Cậu thông thạo Kinh Thánh, các tác phẩm của William Shakespeare, lịch sử Anh, lịch sử Mỹ, và học được phong cách trình bày giản dị trước thính giả. Lincoln không thích câu cá và săn bắn vì không muốn giết hại bất cứ một con vật nào kể cả để làm thực phẩm dù cậu rất cao và khoẻ, cậu dành nhiều thời gian đọc sách tới nỗi những người hàng xóm cho rằng cậu cố tình làm vậy để tránh phải làm việc chân tay nặng nhọc.
Năm 1830, để tránh căn bệnh nhiễm độc sữa mới vừa bùng nổ dọc theo sông Ohio, gia đình Lincoln di chuyển về hướng tây và định cư trên khu đất công ở Hạt Macon, Illinois, một tiểu bang không có nô lệ. Năm 1831, Thomas đem gia đình đến Hạt Coles, Illinois. Lúc ấy, là một thanh niên đầy khát vọng ở tuổi 22, Lincoln quyết định rời bỏ gia đình để tìm kiếm một cuộc sống tốt hơn. Cậu đi xuồng xuôi dòng Sangamon đến làng New Salem thuộc Hạt Sangamon. Mùa xuân năm 1831, sau khi thuê mướn Lincoln, Denton Offutt, một thương nhân ở New Salem, cùng một nhóm bạn, vận chuyển hàng hóa bằng xà lan từ New Salem theo sông Sangamon và Mississippi đến New Orleans. Tại đây, lần đầu tiên chứng kiến tận mắt tệ nạn nô lệ, Lincoln đi bộ trở về nhà.
Trong một tự truyện, Lincoln miêu tả mình trong giai đoạn này - ở lứa tuổi 20, rời bỏ vùng rừng núi hẻo lánh để tìm đường tiến vào thế giới – như là "một gã trai kỳ dị, không bạn bè, không học thức, không một xu dính túi".
=== Hôn nhân và con cái ===
Năm 1840, Lincoln đính hôn với Mary Todd, con gái của một gia đình giàu có sở hữu nô lệ ở Lexington, Kentucky. Họ gặp nhau lần đầu ở Springfield, Illinois vào tháng 12 năm 1839, rồi đính hôn vào tháng 12 năm sau. Hôn lễ được sắp đặt vào ngày 1 tháng 1, 1841, nhưng bị Lincoln đề nghị hủy bỏ. Sau này họ lại gặp nhau và kết hôn ngày 4 tháng 11 năm 1842, hôn lễ tổ chức tại ngôi biệt thự của người chị của Mary ở Springfield. Ngay cả khi đang chuẩn bị cho hôn lễ, Lincoln vẫn cảm thấy lưỡng lự. Khi được hỏi cuộc hôn nhân này sẽ dẫn ông đến đâu, Lincoln trả lời, "Địa ngục, tôi nghĩ thế." Năm 1844, hai người mua một ngôi nhà ở Springfield gần văn phòng luật của Lincoln. Mary Todd Lincoln là người vợ đảm đang, chu tất việc nội trợ như đã từng làm khi còn sống với cha mẹ ở Kentucky. Cô cũng giỏi vén khéo với đồng lương ít ỏi chồng cô kiếm được khi hành nghề luật. Robert Todd Lincoln sinh năm 1843, kế đó là Edward (Eddie) trong năm 1846. Lincoln "đặc biệt yêu thích lũ trẻ", và thường tỏ ra dễ dãi với chúng. Robert là người con duy nhất còn sống cho đến tuổi trưởng thành. Edward mất ngày 1 tháng 1, 1850 ở Springfield do lao phổi. "Wille" Lincoln sinh ngày 21 tháng 12 năm 1850 và mất ngày 20 tháng 2 năm 1862. Đứa con thứ tư của Lincoln, "Tad" Lincoln, sinh ngày 4 tháng 4 năm 1853, và chết vì mắc bệnh tim ở tuổi 18 (16 tháng 7 năm 1871).
Cái chết của những cậu con trai đã tác động mạnh trên cha mẹ chúng. Cuối đời, Mary mắc chứng u uất do mất chồng và các con, có lúc Robert Todd Lincoln phải gởi mẹ vào viện tâm thần trong năm 1875. Abraham Lincoln thường khi vẫn "u sầu, phiền muộn", ngày nay được coi là triệu chứng của bệnh trầm cảm.
Robert có ba con và ba cháu. Không một ai trong số cháu của ông có con, vì thế dòng dõi Lincoln chấm dứt khi Robert Beckwith (cháu trai của Lincoln) chết ngày 24 tháng 12 năm 1985.
== Khởi nghiệp ==
Năm 1832, ở tuổi 23, Lincoln cùng một đối tác mua chịu một cửa hàng tạp hóa ở New Salem, Illinois. Mặc dù kinh tế trong vùng đang phát triển, doanh nghiệp của họ phải vất vả để tồn tại, cuối cùng Lincoln phải sang nhượng cổ phần của ông. Tháng 3 năm ấy, Lincoln bắt đầu sự nghiệp chính trị bằng cách tranh cử vào Nghị viện Illinois. Ông giành được thiện cảm của dân địa phương, thu hút nhiều đám đông ở New Salem bằng biệt tài kể chuyện đầy hóm hỉnh, mặc dù ông thiếu học thức, thân hữu có thế lực, và tiền bạc, là những yếu tố có thể khiến ông thất cử. Khi tranh cử, ông chủ trương cải thiện lưu thông đường thủy trên sông Sangamon.
Trước cuộc bầu cử, Lincoln phục vụ trong lực lượng dân quân Illinois với cấp bậc đại úy suốt trong Chiến tranh Black Hawk (một cuộc chiến ngắn ngủi chống lại người da đỏ). Sau chiến tranh, ông trở lại vận động cho cuộc bầu cử ngày 6 tháng 8 vào Nghị viện Illinois. Với chiều cao 6 foot 4 inch (193 cm), Lincoln cao và "đủ mạnh để đe dọa bất kỳ đối thủ nào." Ngay từ lần diễn thuyết đầu tiên, khi nhìn thấy một người ủng hộ ông trong đám đông bị tấn công, Lincoln liền đến "túm cổ và đáy quần gã kia" rồi ném hắn ra xa. Lincoln về hạng tám trong số mười ba ứng cử viên (chỉ bốn người đứng đầu được đắc cử).
Lincoln quay sang làm trưởng bưu điện New Salem, rồi đo đạc địa chính; suốt thời gian ấy ông vẫn say mê đọc sách. Cuối cùng ông quyết định trở thành luật sư, bắt đầu tự học bằng cách nghiền ngẫm quyển Commentaries on the Laws of England của Blackstone, và những sách luật khác. Về phương pháp học, Lincoln tự nhận xét về mình: "Tôi chẳng học ai hết." Lincoln thành công khi ra tranh cử lần thứ hai năm 1834. Ông vào viện lập pháp tiểu bang. Sau khi được nhận vào Đoàn Luật sư Hoa Kỳ năm 1836, ông dời đến Springfield, Illinois bắt đầu hành nghề luật dưới sự dẫn dắt của John T. Stuart, một người anh em họ của Mary Todd. Dần dà, Lincoln trở thành một luật sư tài năng và thành đạt. Từ năm 1841 đến 1844, ông cộng tác với Stephen T. Logan, rồi với William Herndon, ông đánh giá Herndon là "một thanh niên chuyên cần".
Năm 1841, Lincoln hành nghề luật cùng William Herndon, một người bạn trong Đảng Whig. Năm 1856, hai người tham gia Đảng Cộng hoà. Sau khi Lincoln chết, Herndon bắt đầu sưu tập các câu chuyện về Lincoln từ những người từng biết ông ở Illinois, và xuất bản chúng trong cuốn Lincoln của Herndon.
Trong kỳ họp 1835-1836, ông bỏ phiếu ủng hộ chủ trương mở rộng quyền bầu cử cho nam giới da trắng, dù có sở hữu đất đai hay không. Ông nổi tiếng với lập trường "free soil" chống chế độ nô lệ lẫn chủ trương bãi bỏ nô lệ. Lần đầu tiên trình bày về chủ đề này trong năm 1837, ông nói, "Định chế nô lệ được thiết lập trên sự bất công và chính sách sai lầm, nhưng tuyên bố bãi nô chỉ làm gia tăng thay vì giảm thiểu tội ác này." Ông theo sát Henry Clay trong nỗ lực ủng hộ việc trợ giúp những nô lệ được tự do đến định cư tại Liberia ở châu Phi. Ông phục vụ bốn nhiệm kỳ liên tiếp ở Viện Dân biểu tiểu bang Illinois, đại diện cho Hạt Sangamon.
== Nghị trường Liên bang ==
Từ đầu thập niên 1830, Lincoln là thành viên kiên trung của đảng Whig, tự nhận mình là "một đảng viên Whig bảo thủ, một môn đệ của Henry Clay". Đảng Whig ủng hộ hiện đại hóa nền kinh tế trong các lĩnh vực ngân hàng, dùng thuế bảo hộ để cung ứng ngân sách cho phát triển nội địa như đường sắt, và tán thành chủ trương đô thị hóa.
Năm 1846, Lincoln đắc cử vào Viện Dân biểu Hoa Kỳ, phục vụ một nhiệm kỳ hai năm. Ông là đảng viên Whig duy nhất trong đoàn đại biểu đến từ Illinois, ông sốt sắng bày tỏ lòng trung thành với đảng của mình trong các cuộc biểu quyết và phát biểu ủng hộ chủ trương của đảng. Cộng tác với Joshua R. Giddings, một dân biểu chủ trương bãi nô, Lincoln soạn thảo một dự luật nhằm bãi bỏ chế độ nô lệ tại Hạt Columbia, nhưng ông phải từ bỏ ý định vì không có đủ hậu thuẫn từ trong đảng Whig. Về chính sách ngoại giao và quân sự, Lincoln lớn tiếng chống cuộc chiến Mễ-Mỹ, chỉ trích Tổng thống James K. Polk là chỉ lo tìm kiếm "thanh danh về quân sự - một ảo vọng nhuốm máu".
Bằng cách soạn thảo và đệ trình Nghị quyết Spot, Linconln quyết liệt bác bỏ quan điểm của Polk. Cuộc chiến khởi phát do người Mexico sát hại binh sĩ Mỹ ở vùng lãnh thổ đang tranh chấp giữa México và Hoa Kỳ; Polk nhấn mạnh rằng binh sĩ Mexico đã "xâm lăng lãnh thổ chúng ta" và làm đổ máu đồng bào chúng ta ngay trên "đất của chúng ta". Lincoln yêu cầu Polk trình bày trước Quốc hội địa điểm chính xác nơi máu đã đổ và chứng minh địa điểm đó thuộc về nước Mỹ. Quốc hội không chịu thảo luận về nghị quyết, báo chí trong nước phớt lờ nó, và Lincoln bị mất hậu thuẫn chính trị ngay tại khu vực bầu cử của ông. Một tờ báo ở Illinois gán cho ông biệt danh "spotty Lincoln". Về sau, Lincoln tỏ ra hối tiếc về một số phát biểu của ông, nhất là khi ông tấn công quyền tuyên chiến của tổng thống.
Nhận thấy rằng Clay không thể thắng cử, Lincoln, năm 1846 đã cam kết chỉ phục vụ một nhiệm kỳ tại Viện Dân biểu, ủng hộ Tướng Zachary Taylor đại diện đảng Whig trong cuộc đua năm 1848 tranh chức tổng thống. Khi Taylor đắc cử, Lincoln hi vọng được bổ nhiệm lãnh đạo Tổng cục Địa chính (General Land Office), nhưng chức vụ béo bở này lại về tay một đối thủ của ông, Justin Butterfield, người được chính phủ đánh giá là một luật sư lão luyện, nhưng theo Lincoln, Butterfield chỉ là một "tảng hóa thạch cổ lỗ". Chính phủ cho ông giải khuyến khích là chức thống đốc Lãnh thổ Oregon. Vùng đất xa xôi này là căn cứ địa của đảng Dân chủ, chấp nhận nó đồng nghĩa với việc chấm dứt sự nghiệp chính trị và luật pháp của ông ở Illinois, Lincoln từ chối và quay trở lại nghề luật.
== Luật sư vùng Thảo nguyên ==
Lincoln trở lại hành nghề luật ở Springfield, xử lý "mọi loại công việc dành cho luật sư vùng thảo nguyên". Hai lần mỗi năm trong suốt mười sáu năm, mỗi lần kéo dài hai tuần, ông phải có mặt tại quận lỵ nơi tòa án quận có phiên xét xử. Lincoln giải quyết nhiều vụ tranh chấp trong lĩnh vực giao thông ở miền Tây đang mở rộng, nhất là việc điều vận xà lan sông qua gầm cầu đường hỏa xa mới được xây dựng. Lúc đầu, Lincoln chỉ nhận những vụ ông thích, về sau ông làm việc cho bất cứ ai chịu thuê mướn ông.
Ông dần được biết tiếng, và bắt đầu xuất hiện trước Tối cao Pháp viện Hoa Kỳ, tranh luận trong một vụ án liên quan đến một chiếc thuyền bị chìm do va chạm cầu. Năm 1849, ông được cấp bằng sáng chế về phương tiện đường thủy ứng dụng cho việc lưu thông thuyền trên dòng nước cạn. Dù ý tưởng này chưa từng được thương mại hóa, Lincoln là vị tổng thống duy nhất từng được cấp bằng sáng chế.
Lincoln xuất hiện trước Tòa án Tối cao bang Illinois trong 175 vụ án, 51 vụ ông là luật sư biện hộ duy nhất cho thân chủ, trong đó có 31 phán quyết của tòa có lợi cho ông.
Vụ án hình sự nổi bật nhất của Lincoln xảy ra năm 1858 khi ông biện hộ cho William "Duff" Armstrong, bị xét xử vì tội danh sát hại James Preston Metzker. Vụ án nổi tiếng do Lincoln sử dụng một sự kiện hiển nhiên để thách thức sự khả tín của một nhân chứng. Sau khi một nhân chứng khai trước tòa rằng đã chứng kiến vụ án diễn ra dưới ánh trăng, Lincoln rút quyển Niên lịch cho nhà nông, chỉ ra rằng vào thời điểm ấy Mặt Trăng còn thấp nên giảm thiểu đáng kể tầm nhìn. Dựa trên chứng cứ ấy, Armstrong được tha bổng. Hiếm khi Lincoln phản đối trước tòa; nhưng trong một vụ án năm 1859, khi biện hộ cho Peachy Harrison, một người anh em họ, bị cáo buộc đâm chết người, Lincoln giận dữ phản đối quyết định của thẩm phán bác bỏ một chứng cứ có lợi cho thân chủ của ông. Thay vì buộc tội Lincoln xúc phạm quan tòa, thẩm phán là một đảng viên Dân chủ đã đảo ngược phán quyết của ông, cho phép sử dụng chứng cứ và tha bổng Harrison.
== Đảng Cộng hòa 1854 – 1860 ==
=== "Một nhà tự chia rẽ" ===
Trong thập niên 1850, chế độ nô lệ được xem là hợp pháp tại các tiểu bang miền Nam trong khi ở tiểu bang miền Bắc như Illniois nó bị đặt ngoài vòng pháp luật. Lincoln chống chế độ nô lệ và việc mở rộng chế độ nô lệ đến những vùng lãnh thổ mới ở miền Tây. Vì muốn chống đối Đạo luật Kansas-Nebraska (1854) ông đã trở lại chính trường; đạo luật này được thông qua để hủy bỏ Thỏa hiệp Missouri hạn chế chế độ nô lệ. Thượng Nghị sĩ lão thành Stephen A. Douglas của Illinois đã liên kết quyền phổ thông tự quyết vào Đạo luật. Điều khoản của Douglas mà Lincoln bác bỏ là cho những người định cư quyền tự quyết cho địa phương của họ công nhận chế độ nô lệ trong những vùng lãnh thổ mới của Hoa Kỳ.
Foner (2010) phân biệt quan điểm của nhóm chủ trương bãi nô cùng nhóm Cộng hòa cấp tiến ở vùng Đông Bắc là những người xem chế độ nô lệ là tội lỗi, với các đảng viên Cộng hòa bảo thủ chống chế độ nô lệ vì họ nghĩ rằng nó làm tổn thương người da trắng và kìm hãm sự tiến bộ của đất nước. Foner tin rằng Lincoln theo đường lối trung dung, ông phản đối chế độ nô lệ vì nó vi phạm các nguyên lý của chế độ cộng hòa xác lập bởi những nhà lập quốc, nhất là với quyền bình đằng dành cho mọi người và quyền tự quyết lập nền trên các nguyên tắc dân chủ đã được công bố trong bản Tuyên ngôn Độc lập.
Ngày 16 tháng 10 năm 1854, trong "Diễn văn Peoria", Lincoln tuyên bố lập trường chống nô lệ dọn đường cho nỗ lực tranh cử tổng thống. Phát biểu với giọng Kentucky, ông nói Đạo luật Kansas "có vẻ vô cảm, song tôi buộc phải nghĩ rằng ẩn chứa trong nó là một sự nhiệt tình thực sự dành cho nỗ lực phổ biến chế độ nô lệ. Tôi không thể làm gì khác hơn là căm ghét nó. Tôi ghét nó bởi vì sự bất công đáng ghê tởm của chế độ nô lệ. Tôi ghét nó bởi vì nó tước đoạt ảnh hưởng công chính của hình mẫu nền cộng hòa của chúng ta đang tác động trên thế giới..."
Cuối năm 1854, Lincoln ra tranh cử trong tư cách đảng viên đảng Whig đại diện Illinois tại Thượng viện Hoa Kỳ. Lúc ấy, viện lập pháp tiểu bang được dành quyền bầu chọn thượng nghị sĩ liên bang. Sau khi dẫn đầu trong sáu vòng bầu cử đầu tiên tại nghị viện Illinois, hậu thuẫn dành cho Lincoln suy yếu dần, ông phải kêu gọi những người ủng hộ ông bầu phiếu cho Lyman Trumbull, người đã đánh bại đối thủ Joel Aldrich Matteson. Đạo luật Kansas gây ra sự phân hóa vô phương cứu chữa trong nội bộ đảng Whig. Lôi kéo thành phần còn lại của đảng Whig cùng những người vỡ mộng từ các đảng Free Soil, Tự do, Dân chủ, ông hoạt động tích cực trong nỗ lực hình thành một chính đảng mới, Đảng Cộng hòa. Tại đại hội đảng năm 1856, Lincoln là nhân vật thứ hai trong cuộc đua giành sự đề cử của đảng cho chức vụ phó tổng thống.
Trong khoảng 1857-58, do bất đồng với Tổng thống James Buchanan, Douglas dẫn đầu một cuộc tranh đấu giành quyền kiểm soát Đảng Dân chủ. Một số đảng viên Cộng hòa cũng ủng hộ Douglas trong nỗ lực tái tranh cử vào Thượng viện năm 1858 bởi vì ông chống bản Hiến chương Lecompton xem Kansas là tiểu bang chấp nhận chế độ nô lệ. Tháng 3 năm 1857, khi ban hành phán quyết trong vụ án Dred Scott chống Sandford, Chánh án Roger B. Taney lập luận rằng bởi vì người da đen không phải là công dân, họ không được hưởng bất kỳ quyền gì quy định trong Hiến pháp. Lincoln lên tiếng cáo giác đó là âm mưu của phe Dân chủ, "Các tác giả của bản Tuyên ngôn Độc lập không ‘nói mọi người bình đẳng trong màu da, thể hình, trí tuệ, sự phát triển đạo đức, khả năng xã hội’, song họ ‘thực sự xem mọi người sinh ra đều bình đẳng trong những quyền không thể chuyển nhượng, trong đó có quyền sống, tự do, và mưu cầu hạnh phúc.’"
Sau khi được đại hội bang Đảng Cộng hòa đề cử tranh ghế tại Thượng viện năm 1858, Lincoln đọc bài diễn văn Một nhà tự chia rẽ, gợi ý từ Phúc âm Mác trong Kinh Thánh:
Bài diễn văn đã tạo dựng được một hình ảnh sinh động liên tưởng đến hiểm họa phân hóa đất nước gây ra bởi những bất đồng về chế độ nô lệ, và là lời hiệu triệu tập hợp đảng viên Cộng hòa khắp miền Bắc.
=== Tranh luận giữa Lincoln và Douglas ===
Năm 1858 chứng kiến bảy cuộc tranh luận giữa Lincoln và Douglas khi diễn ra cuộc vận động tranh cử vào Thượng viện, đây là những cuộc tranh luận chính trị nổi tiếng nhất trong lịch sử Hoa Kỳ. Lincoln cảnh báo rằng chế độ nô lệ đang đe dọa những giá trị của chủ thuyết cộng hòa, và cáo buộc Douglas là bẻ cong các giá trị của những nhà lập quốc về nguyên lý mọi người sinh ra đều bình đẳng, trong khi Douglas nhấn mạnh đến quyền tự quyết của cư dân địa phương xem họ có chấp nhận chế độ nô lệ hay không.
Các ứng cử viên Cộng hòa giành nhiều phiếu phổ thông hơn, nhưng những người Dân chủ chiếm được nhiều ghế hơn trong viện lập pháp tiểu bang. Viện Lập pháp đã tái bầu Douglas vào Thượng viện Hoa Kỳ. Dù bị thất bại cay đắng, khả năng hùng biện của Lincoln mang đến cho ông danh tiếng trên chính trường quốc gia.
=== Diễn văn Cooper Union ===
Ngày 27 tháng 2 năm 1860, giới lãnh đạo đảng ở New York mời Lincoln đọc diễn văn tại Liên minh Cooper, trước một cử tọa gồm những nhân vật có thế lực trong đảng Cộng hòa. Lincoln lập luận rằng những nhà lập quốc không mấy quan tâm đến quyền tự quyết phổ thông, nhưng thường xuyên tìm cách kìm chế chế độ nô lệ. Ông nhấn mạnh rằng nền tảng đạo đức của người Cộng hòa đòi hỏi họ phải chống lại chế độ nô lệ, và mọi sự "cám dỗ chấp nhận lập trường trung dung giữa lẽ phải và điều sai trái."
Việc phô bày khả năng lãnh đạo đầy trí tuệ đã đưa Lincoln vào nhóm những chính trị gia hàng đầu của đảng và dọn đường cho ông trong nỗ lực giành sự đề cử của đảng tranh chức tổng thống. Nhà báo Noah Brooks tường thuật, "Chưa từng có ai tạo được ấn tượng mạnh mẽ như thế như lẩn đầu tiên ông hiệu triệu một cử tọa ở New York." Donald miêu tả bài diễn văn là "một động thái chính trị siêu đẳng cho một ứng cử viên chưa tuyên bố tranh cử, xuất hiện ở chính tiểu bang của đối thủ (William H. Seward), ngay tại một sự kiện do những người trung thành với đối thủ thứ hai (Salmon P. Chase) bảo trợ, mà không cần phải nhắc đến tên của họ trong suốt bài diễn văn.
=== Chiến dịch Tranh cử Tổng thống năm 1860 ===
Đại hội tiểu bang Đảng Cộng hòa tổ chức tại Decatur trong hai ngày 9 và 10 tháng 5 năm 1860. Lincoln nhận được ủng hộ để ra tranh cử tổng thổng. Ngày 18 tháng 5, tại Đại hội Toàn quốc Đảng Cộng hòa năm 1860, tổ chức ở Chicago, ở vòng bầu phiếu thứ ba, Lincoln giành được sự đề cử, một người từng là đảng viên Dân chủ đến từ Maine, Hannibal Hamlin, được chọn đứng cùng liên danh với ông để tạo thế cân bằng. Thành quả này có được là nhờ danh tiếng của ông như là một chính trị gia có lập trường ôn hòa về vấn đề nô lệ cũng như sự ủng hộ mạnh mẽ của ông dành cho các chương trình của Đảng Whig cải thiện các vấn đề trong nước và bảo hộ hàng nội địa.
Trong suốt thập niên 1850, Lincoln không tin sẽ xảy ra cuộc nội chiến, những người ủng hộ ông cũng bác bỏ việc ông đắc cử sẽ dẫn đến khả năng chia cắt đất nước. Trong lúc ấy, Douglas được chọn làm ứng cử viên cho Đảng Dân chủ. Những đoàn đại biểu từ 11 tiểu bang ủng hộ chế độ nô lệ bỏ phòng họp vì bất đồng với quan điểm của Douglas về quyền tự quyết phổ thông, sau cùng họ chọn John C. Breckinridge làm ứng cử viên.
Lincoln là ứng cử viên duy nhất không đọc diễn văn tranh cử, nhưng ông theo dõi sát sao cuộc vận động và tin cậy vào bầu nhiệt huyết của đảng viên Cộng hòa. Họ di chuyển nhiều và tạo lập những nhóm đa số khắp miền Bắc, in ấn và phổ biến một khối lượng lớn áp-phích, tờ rơi, và viết nhiều bài xã luận trên các nhật báo. Có hàng ngàn thuyết trình viên Cộng hòa quảng bá cương lĩnh đảng và những trải nghiệm sống của Lincoln, nhấn mạnh đến tuổi thơ nghèo khó của ông. Mục tiêu của họ là trình bày sức mạnh vượt trội của quyền lao động tự do, nhờ đó mà một cậu bé quê mùa lớn lên từ nông trại nhờ nỗ lực bản thân mà trở thành một chính trị hàng đầu của xứ sở. Phương pháp quảng bá hiệu quả của Đảng Cộng hòa đã làm suy yếu các đối thủ; một cây bút của tờ Chicago Tribune viết một tiểu luận miêu tả chi tiết cuộc đời Lincoln, bán được khoảng từ 100 đến 200 ngàn ấn bản.
== Tổng thống ==
=== Bầu cử năm 1860 ===
Ngày 6 tháng 11 năm 1860, Lincoln đắc cử để trở thành tổng thống thứ mười sáu của Hoa Kỳ. Ông vượt qua Stephen A. Douglas của Đảng Dân chủ, John C. Breckinridge của Đảng Dân chủ miền Nam, và John Bell của Đảng Liên minh Hiến pháp mới được thành lập năm 1860. Lincoln là đảng viên Cộng hòa đầu tiên đảm nhận chức vụ tổng thống. Chiến thắng của ông hoàn toàn dựa trên sự ủng hộ ở miền Bắc và miền Tây. Không có phiếu bầu cho Lincoln tại mười trong số mười lăm tiểu bang miền Nam sở hữu nô lệ; ông chỉ về đầu ở 2 trong số 996 hạt trên tất cả các tiểu bang miền Nam. Lincoln nhận được 1 866 452 phiếu bầu, trong khi Douglas có 1 376 957 phiếu, Breckinridge 849 781 phiếu, và Bell được 588 789 phiếu.
=== Ly khai ===
Khi kết quả bầu cử đã rõ ràng, những người chủ trương ly khai nói rõ ý định của họ là sẽ tách khỏi Liên bang trước khi Lincoln nhậm chức vào tháng 3 tới. Ngày 20 tháng 12 năm 1860, tiểu bang South Carolina dẫn đầu bằng cách chấp nhận luật ly khai; ngày 1 tháng 2 năm 1861, Florida, Mississippi, Alabama, Georgia, Louisiana, và Texas tiếp bước. Sáu trong số các tiểu bang này thông qua một bản hiến pháp, và tuyên bố họ là một quốc gia có chủ quyền, Liên minh miền Nam. Các tiểu bang Delaware, Maryland, Virginia, North Carolina, Tennessee, Kentucky, Missouri, và Arkansas có lắng nghe nhưng không chịu ly khai. Tổng thống đương nhiệm Buchanan và Tổng thống tân cử Lincoln từ chối công nhận Liên minh, tuyên bố hành động ly khai là bất hợp pháp. Ngày 9 tháng 2 năm 1861, Liên minh miền Nam chọn Jefferson Davis làm Tổng thống lâm thời.
Khởi đầu là những nỗ lực hòa giải. Thỏa hiệp Crittenden mở rộng thêm những điều khoản của Thỏa hiệp Missouri năm 1820, phân chia thành các vùng tự do và vùng có nô lệ, điều này trái ngược với cương lĩnh của Đảng Cộng hòa. Bác bỏ ý tưởng ấy, Lincoln phát biểu, "Tôi thà chết còn hơn chấp nhận... bất cứ sự nhượng bộ hoặc sự thỏa hiệp nào để có thể sở hữu chính quyền này, là chính quyền chúng ta có được bởi quyền hiến định." Tuy nhiên, Lincoln ủng hộ Tu chính Corwin được Quốc hội thông qua nhằm bảo vệ quyền sở hữu nô lệ tại những tiểu bang đã có sẵn chế độ nô lệ. Chỉ vài tuần lễ trước khi xảy ra chiến tranh, Lincoln đi xa đến mức viết một bức thư gởi tất cả thống đốc kêu gọi họ ủng hộ việc thông qua Tu chính Corwin, ông xem đó như là nỗ lực tránh nguy cơ ly khai.
Trên đường đến lễ nhậm chức bằng tàu hỏa, Lincoln diễn thuyết trước những đám đông và các viện lập pháp khi ông băng ngang qua lãnh thổ phương Bắc. Ở Baltimore, nhờ Allen Pinkerton, trưởng toán cận vệ, dùng thân mình che Tổng thống tân cử mà ông thoát chết. Ngày 23 tháng 2 năm 1861, Lincoln phải ngụy trang khi đến Washington, D.C., trong sự bảo vệ của một toán binh sĩ. Nhắm vào dân chúng miền Nam, trong bài diễn văn nhậm chức lần thứ nhất, Lincoln tuyên bố rằng ông không có ý định hủy bỏ chế độ nô lệ ở các tiểu bang miền Nam:
Kết thúc bài diễn văn, Tổng thống kêu gọi dân chúng miền Nam: "Chúng ta không phải là kẻ thù, nhưng là bằng hữu. Không thể nào chúng ta trở thành kẻ thù của nhau... Sợi dây đàn mầu nhiệm của ký ức, trải dài từ những bãi chiến trường và mộ phần của những người yêu nước đến trái tim của mỗi người đang sống, đến chỗ ấm cúng nhất của mỗi mái ấm gia đình, khắp mọi nơi trên vùng đất bao la này, sẽ làm vang tiếng hát của ban hợp xướng Liên bang, khi dây đàn ấy được chạm đến một lần nữa, chắc chắn sẽ như thế, bởi phần tốt lành hơn trong bản chất của chúng ta."
=== Chiến tranh ===
Chỉ huy trưởng Đồn Sumter ở tiểu bang South Carolina, Thiếu tá Robert Anderson, yêu cầu tiếp liệu từ Washington, và khi Lincoln chỉ thị đáp ứng yêu cầu ấy, phe ly khai xem đó là hành động gây chiến. Ngày 12 tháng 4 năm 1861, lực lượng Liên minh tấn công doanh trại Sumter, buộc họ phải đầu hàng. Chiến tranh bùng nổ. Sử gia Allen Nevins cho rằng tổng thống vừa nhậm chức đã tính toán nhầm khi tin rằng ông có thể duy trì Liên bang. William Tecumseh Sherman, viếng thăm Linconln trong tuần lễ diễn ra lễ nhậm chức, đã "thất vọng trong đau buồn" vì thấy Lincoln không thể nhận ra sự thật là "đất nước đang ngủ mê ngay trên ngọn núi lửa", và miền Nam đang chuẩn bị cho chiến tranh. Donald đúc kết, "Chính nỗ lực của Lincoln nhiều lần cố tránh va chạm trong thời gian giữa lễ nhậm chức và trận Đồn Sumter chỉ ra rằng ông trung thành với lời hứa sẽ không phải là người khởi phát cuộc huynh đệ tương tàn. Mặt khác, ông cũng thề hứa không chịu để các đồn binh bị thất thủ. Giải pháp duy nhất cho phe Liên minh là họ phải khai hỏa trước; và họ đã hành động."
Ngày 15 tháng 4, Lincoln kêu gọi các tiểu bang gởi 75 000 binh sĩ tái chiếm các đồn binh, bảo vệ Washington, và "duy trì Liên bang", theo ông, vẫn đang còn nguyên vẹn bất kể hành động của những bang ly khai. Lời kêu gọi này buộc các tiểu bang phải quyết định dứt khoát. Virginia tuyên bố ly khai, liền được ban thưởng để trở thành thủ đô của Liên minh. Trong vòng hai tháng, North Carolina, Tennessee, và Arkansas cũng biểu quyết ly khai. Cảm tình ly khai phát triển ở Missouri và Maryland, nhưng chưa đủ mạnh để chiếm ưu thế, trong khi Kentucky cố tỏ ra trung lập.
Binh sĩ di chuyển về hướng nam đến Washington để bảo vệ thủ đô, đáp lời kêu gọi của Lincoln. Ngày 19 tháng 4, những đám đông chủ trương ly khai ở Baltimore chiếm đường sắt dẫn về thủ đô. George William Brown, Thị trưởng Baltimore, và một số chính trị gia khả nghi khác ở Maryland bị cầm tù mà không cần trát lệnh, Lincoln đình chỉ quyền công dân được xét xử trước tòa. John Merryman, thủ lĩnh nhóm ly khai ở Maryland, thỉnh cầu Chánh án Tối cao Pháp viện Roger B. Taney ra phán quyết cho rằng vụ bắt giữ vụ bắt giữ Merryman mà không xét xử là vi phạm pháp luật. Taney ra phán quyết, theo đó Merryman phải được trả tự do, nhưng Lincoln phớt lờ phán quyết. Từ đó, và trong suốt cuộc chiến, Lincoln bị chỉ trích dữ dội, thường khi bị lăng mạ, bởi những đảng viên Dân chủ chống chiến tranh.
=== Hành xử quyền lực trong thời chiến ===
Sau khi Đồn Sumter bị thất thủ, Lincoln nhận ra tầm quan trọng của việc trực tiếp nắm quyền chỉ huy nhằm kiểm soát cuộc chiến và thiết lập chiến lược toàn diện để trấn áp phe nổi loạn. Đối đầu với cuộc khủng hoảng chính trị và quân sự chưa từng có, Lincoln, với tư cách là Tổng Tư lệnh Quân lực, sử dụng quyền lực chưa từng có. Ông mở rộng những quyền đặc biệt trong chiến tranh, áp đặt lệnh phong tỏa trên tất cả thương cảng của Liên minh, ra lệnh cầm tù không qua xét xử hàng ngàn người bị nghi là ủng hộ Liên minh. Quốc hội và công luận miền bắc ủng hộ ông. Hơn nữa, Lincoln phải đấu tranh để củng cố sự ủng hộ mạnh mẽ từ những tiểu bang có nô lệ ở vùng biên, và phải kiềm chế cuộc chiến không trở thành một cuộc tranh chấp quốc tế.
Nỗ lực dành cho cuộc chiến chiếm hết thời gian và tâm trí của Lincoln cũng như khiến ông trở nên tâm điểm của sự dèm pha và miệt thị. Nhóm phản chiến trong Đảng Dân chủ chỉ trích Lincoln không chịu thỏa hiệp trong vấn đề nô lệ, trong khi nhóm cấp tiến trong Đảng Cộng hòa phê phán ông hành động quá chậm trong nỗ lực bãi nô. Ngày 6 tháng 8 năm 1861, Lincoln ký ban hành Luật Tịch biên, cho phép tịch biên tài sản và giải phóng nô lệ của những người ủng hộ Liên minh trong cuộc chiến. Trong thực tế, dù ít khi được áp dụng, luật này đánh dấu sự ủng hộ chính trị dành cho nỗ lực bãi bỏ chế độ nô lệ.
Lincoln mượn từ Thư viện Quốc hội quyển Elements of Military Art and Science của Henry Halleck để đọc và nghiên cứu về quân sự. Lincoln nhẫn nại xem xét từng báo cáo gởi bằng điện tín từ Bộ Chiến tranh ở Washington D. C., tham vấn các thống đốc tiểu bang, một số tướng lãnh được tuyển chọn dựa trên thành tích của họ. Tháng 1 năm 1862, sau nhiều lời than phiền về sự thiếu hiệu quả cũng như những hành vi vụ lợi ở Bộ Chiến tranh, Licoln bổ nhiệm Edwin Stanton thay thế Cameron trong cương vị bộ trưởng. Stanton là một trong số nhiều đảng viên Dân chủ bỏ sang đảng Cộng hòa dưới quyền lãnh đạo của Lincoln. Mỗi tuần hai lần, Lincoln họp với nội các. Ông học hỏi từ Tướng Henry Halleck về sự cần thiết kiểm soát các điểm chiến lược, như sông Mississippi; ông cũng biết rõ tầm quan trọng của thị trấn Vicksburg, và hiểu rằng cần phải triệt tiêu sức mạnh quân sự của đối phương chứ không chỉ đơn giản là chiếm được lãnh thổ.
=== Tướng McClellan ===
Năm 1861, Lincoln bổ nhiệm Thiếu tướng George B. McClellan làm tổng tham mưu trưởng quân lực Liên bang thay thế tướng Winfield Scott về hưu. Tốt nghiệp Trường Võ bị West Point, từng lãnh đạo công ty đường sắt, và đảng viên Dân chủ từ Pensylvania, McClellan phải mất đến vài tháng để lập kế hoạch cho chiến dịch Penisula nhằm chiếm Richmond để tiến về thủ đô của Liên minh. Sự chậm trễ này đã gây bối rối cho Lincoln và Quốc hội.
Tháng 3 năm 1862, Lincoln bãi chức McClellan và bổ nhiệm Henry Wager Halleck thay thế. Trên biển, chiến hạm CSS Virginia gây thiệt hại ba chiến hạm của Liên bang ở Norfolk, Virginia trước khi bị chiến hạm USS Monitor đánh bại. Trong lúc tuyệt vọng, Lincoln phải mời McClellan trở lại lãnh đạo lực lượng vũ trang khu vực Washington. Hai ngày sau, lực lượng của Tướng Lee băng qua sông Potomac tiến vào Maryland tham gia trận Antietam trong tháng 9 năm 1862. Đây là một trong những trận đánh đẫm máu nhất trong lịch sử nước Mỹ dù chiến thắng thuộc về Liên bang, và cũng là cơ hội để Lincoln công bố bản Tuyên ngôn Giải phóng Nô lệ nhằm tránh những đồn đoán cho rằng Lincoln phải công bố bản tuyên ngôn vì đang ở trong tình thế tuyệt vọng. McClellan chống lại lệnh của tổng thống yêu cầu truy đuổi Tướng Lee, trong khi đồng đội của ông, Tướng Don Carlos Buell không chịu động binh đánh quân nổi dậy ở phía đông Tennessee. Lincoln bổ nhiệm William Rosecrant thay thế Buell; sau cuộc bầu cử giữa nhiệm kỳ, ông chọn Ambrose Burnside thay thế McClellan. Hai nhà lãnh đạo quân sự mới đều có quan điểm chính trị ôn hòa và đều ủng hộ vị tổng tư lệnh quân lực.
Tháng 12, do vội vàng mở cuộc tấn công băng qua sông Rappahannock, Burnside bị Lee đánh bại trong trận Fredericksburg khiến hàng ngàn binh sĩ bất mãn và đào ngũ trong năm 1863. Lincoln thay thế Burnside bằng Joseph Hooker, mặc dù Hooker là người luôn khăng khăng yêu cầu thành lập một chế độ độc tài quân sự.
Trong cuộc bầu cử giữa kỳ năm 1862, đảng Cộng hòa mất nhiều ghế ở Viện Dân biểu do cử tri bất bình với chính phủ vì không thể kết thúc sớm cuộc chiến, và vì nạn lạm phát, tăng thuế, những đồn đại về tham ô, và nỗi e sợ thị trường lao động sẽ sụp đổ nếu giải phóng nô lệ. Tuyên ngôn Giải phóng Nô lệ được công bố vào tháng 9 đã giúp đảng Cộng hòa giành phiếu bầu ở các khu vực nông thôn vùng New England và phía bắc vùng Trung Tây, nhưng mất phiếu ở các đô thị và phía nam vùng Tây Bắc. Đảng Dân chủ được tiếp thêm sức mạnh và hoạt động tốt ở Pennsylvania, Ohio, Indiana, và New York. Tuy nhiên, đảng Cộng hòa vẫn duy trì thế đa số ở Quốc hội và các tiểu bang quan trọng ngoại trừ New York. Theo tờ Cincinnati, cử tri "thất vọng vì thấy cuộc chiến tiếp tục kéo dài, cũng như sự cạn kiệt tài nguyên quốc gia mà không có sự tiến bộ nào."
=== Tuyên ngôn Giải phóng Nô lệ ===
Lincoln hiểu rằng quyền lực của Chính phủ liên bang để giải phóng nô lệ đang bị hạn chế bởi Hiến pháp, mà hiến pháp, từ trước năm 1865, đã dành quyền này cho các tiểu bang.
Lúc bắt đầu cuộc chiến, Lincoln cố thuyết phục các tiểu bang chấp nhận giải phóng nô lệ có bồi thường (nhưng chỉ được Washington, D. C. áp dụng) Ông bác bỏ các đề nghị giới hạn việc giải phóng nô lệ theo khu vực địa lý.
Ngày 19 tháng 6 năm 1862, với sự ủng hộ của Lincoln, Quốc hội thông qua luật cấm chế độ nô lệ trên toàn lãnh thổ liên bang. Tháng 7, dự luật thứ hai được thông qua, thiết lập trình tự tài phán để tiến hành giải phóng nô lệ của những chủ nô bị kết án ủng hộ phe phiến loạn. Dù không tin Quốc hội có quyền giải phóng nô lệ trong lãnh thổ các tiểu bang, Lincoln phê chuẩn dự luật để bày tỏ sự ủng hộ dành cho ngành lập pháp.
Ông cảm nhận rằng tổng thống trong cương vị tổng tư lệnh quân lực có thể sử dụng quyền hiến định hành động trong tình trạng chiến tranh để thực thi luật pháp, và ông lập kế hoạch hành động. Ngay trong tháng 6, Lincoln thảo luận với nội các nội dung bản Tuyên ngôn, trong đó ông viết, "như là một biện pháp quân sự cần thiết và thích đáng, từ ngày 1 tháng 1, 1863, mọi cá nhân bị xem là nô lệ trong các tiểu bang thuộc Liên minh, từ nay và vĩnh viễn, được tự do."
Trong chỗ riêng tư, Lincoln khẳng quyết rằng không thể chiến thắng mà không giải phóng nô lệ. Tuy nhiên, phe Liên minh và thành phần chống chiến tranh tuyên truyền rằng giải phóng nô lệ là rào cản đối với nỗ lực thống nhất đất nước. Lincoln giải thích rằng mục tiêu chính của ông trong cương vị tổng thống là bảo vệ sự thống nhất của Liên bang:
Công bố ngày 22 tháng 9 năm 1862, bản Tuyên ngôn Giải phóng Nô lệ có hiệu lực từ ngày 1 tháng 1 năm 1863, tuyên bố giải phóng nô lệ trong 10 tiểu bang ngoài vòng kiểm soát của Liên bang, với sự miễn trừ dành cho những khu vực trong hai tiểu bang thuộc Liên bang. Quân đội Liên bang càng tiến sâu về phía Nam càng có nhiều nô lệ được tự do cho đến hơn ba triệu nô lệ trong lãnh thổ Liên minh được giải phóng. Lincoln nhận xét về bản Tuyên ngôn, "Chưa bao giờ trong đời tôi tin quyết về những gì tôi đang làm là đúng như khi tôi ký văn kiện này."
Sau khi ban hành Tuyên ngôn Giải phóng Nô lệ, tuyển mộ cựu nô lệ vào quân đội là chủ trương chính thức của chính phủ. Lúc đầu còn miễn cưỡng, nhưng từ mùa xuân năm 1863, Lincoln khởi xướng chương trình "tuyển mộ đại trà binh sĩ da đen". Trong thư gởi Andrew Johnson, thống đốc quân sự Tennessee, Lincoln viết, "Chỉ cần quang cảnh 50 000 chiến binh da đen được huấn luyện và trang bị đầy đủ cũng có thể chấm dứt cuộc nổi loạn ngay lập tức."
Cuối năm 1863, theo chỉ đạo của Lincoln, Tướng Lorenzo Thomas tuyển mộ 20 trung đoàn da đen từ Thung lũng Mississippi. Frederick Douglass có lần nhận xét, "Khi gặp Lincoln, chưa bao giờ tôi nhớ đến xuất thân thấp hèn, hoặc màu da không được ưa thích của mình."
=== Diễn văn Gettysburg ===
Tháng 7 năm 1863, Binh đoàn Potomac dưới quyền tướng George Meade thắng lớn trong trận Gettysburg. Trên chính trường, nhóm Copperheads bị thất bại trong kỳ tuyển cử mùa thu ở Ohio, nhờ đó Lincoln duy trì sự ủng hộ bên trong đảng cùng vị thế chính trị vững chãi đủ để tái thẩm định cuộc chiến. Tình thế thuận lợi cho Lincoln vào thời điểm ông đọc bài diễn văn tại nghĩa trang Gettysburg.
Trái với lời tiên đoán của Lincoln, "Thế giới không quan tâm, cũng chẳng nhớ những gì chúng ta nói ở đây," thì bài diễn văn của ông đã trở nên một trong những diễn từ được trích dẫn nhiều nhất trong lịch sử Mỹ Quốc.
Diễn văn Gettysburg được đọc trong lễ cung hiến Nghĩa trang Liệt sĩ Quốc gia tại Gettysburg, Pennsylvania, vào chiều thứ Năm, ngày 19 tháng 11 năm 1863. Chỉ với 273 từ, trong bài diễn văn kéo dài ba phút này, Lincoln nhấn mạnh rằng đất nước được sản sinh, không phải năm 1789, mà từ năm 1776, "được thai nghén trong Tự do, được cung hiến cho niềm xác tín rằng mọi người sinh ra đều bình đẳng."
Ông định nghĩa rằng chiến tranh là sự hi sinh đấu tranh cho nguyên tắc tự do và bình đẳng cho mọi người. Giải phóng nô lệ là một phần của nỗ lực ấy. Ông tuyên bố rằng cái chết của các chiến sĩ dũng cảm là không vô ích, rằng chế độ nô lệ sẽ thất bại và cáo chung, tương lai của nền dân chủ sẽ được bảo đảm, và "chính quyền của dân, do dân, vì dân sẽ không lụi tàn khỏi mặt đất." Lincoln đúc kết rằng cuộc nội chiến có một mục tiêu cao quý – sản sinh một nền tự do mới cho dân tộc.
=== Tướng Grant ===
Sự kiện Meade không thể khống chế đạo quân của Lee khi ông này triệt thoái khỏi Gettysburg cùng với sự thụ động kéo dài của Binh đoàn Potomac khiến Lincoln tin rằng cần có sự thay đổi ở vị trí tư lệnh mặt trận. Chiến thắng của Tướng Ulysses S. Grant trong trận Shiloh và trong chiến dịch Vicksburg tạo ấn tượng tốt đối với Lincoln. Hồi đáp những lời chỉ trích Grant sau trận Shiloh, Lincoln từng nói: "Tôi rất ần nười này. Ông ta chiến đấu." Vào năm 1864, Grant phát động Chiến dịch Overland đẫm máu thường được mô tả là chiến tranh tiêu hao, khiến phía Liên bang thiệt hại nặng nề trong các mặt trận như Wilderness và Cold Harbor. Dù được hưởng lợi thế của phía phòng thủ, quân đội Liên minh cũng bị tổn thất không kém.
Do không có nguồn lực dồi dào, đạo quân của Lee cứ hao mòn dần qua mỗi trận chiến, bị buộc phải đào hào phòng thủ bên ngoài Petersburg, Virginia trong vòng vây của quân đội Grant.
Linconln cho phép Grant phá hủy cơ sở hạ tầng của Liên minh như nông trang, đường sắt, và cầu cống nhằm làm suy sụp tinh thần cũng như làm suy yếu khả năng kinh tế của đối phương. Di chuyển đến Petersburg, Grant chặn ba tuyến đường sắt từ Richmond, Virginia về phía nam tạo điều kiện cho Tướng Sherman và Tướng Philip Sheridan hủy phá các nông trang và các thị trấn ở Thung lũng Shenandoah thuộc Virginia.
Vào ngày 1 tháng 4 năm 1865, Grant thọc sâu vào sườn của lực lượng của Lee trong trận Five Forks và bao vây Petersburg, chính phủ Liên minh phải di tản khỏi Richmond. Lincoln đến thăm thủ đô của Liên minh khi vừa bị thất thủ, người da đen được tự do chào đón ông như một vị anh hùng trong khi người da trắng tỏ vẻ lạnh lùng với tổng thống của phe chiến thắng. Vào ngày 9 tháng 4 năm 1865, tại làng Appomattox Court House, Lee đầu hàng trước Grant, kết thúc cuộc nội chiến.
=== Năm 1864, tái tranh cử ===
Là chính trị gia lão luyện, Lincoln không chỉ có khả năng đoàn kết tất cả phe phái chính trong đảng Cộng hòa mà còn thu phục những người Dân chủ như Edwin M. Stanton và Andrew Johnson. Ông dành nhiều giờ trong tuần để đàm đạo với các chính trị gia đến từ khắp đất nước, và sử dụng ảnh hưởng rộng lớn của ông để tạo sự đồng thuận giữa các phe nhóm trong đảng, xây dựng hậu thuẫn cho các chính sách của ông, và đối phó với nỗ lực của nhóm cấp tiến đang cố loại ông khỏi liên danh năm 1864.
Đại hội đảng năm 1864 chọn Andrew Johnson đứng cùng liên danh với Lincoln. Nhằm mở rộng liên minh chính trị hầu lôi cuốn các đảng viên Dân chủ và Cộng hòa, Lincoln tranh cử dưới danh nghĩa của Đảng Liên hiệp Quốc gia tân lập.
Khi các chiến dịch mùa xuân của Grant đi vào bế tắc trong khi tổn thất tiếp tục gia tăng, sự thiếu vắng các chiến thắng quân sự phủ bóng trên triển vọng đắc cử của Tổng thống, nhiều đảng viên Cộng hòa trên khắp nước e sợ Lincoln sẽ thất cử.
Khi cánh chủ hòa trong đảng Dân chủ gọi cuộc chiến là một "thất bại" thì ứng cử viên của đảng, Tướng George B. McClellan, ủng hộ chiến tranh và lên tiếng bác bỏ luận cứ của phe chủ hòa. Lincoln cấp thêm lính cho Grant, đồng thời vận động đảng của ông tăng cường hỗ trợ cho Grant. Trong tháng 9, Thắng lợi của Liên bang khi Sherman chiếm Atlanta và David Farragut chiếm Mobile dập tắt mọi hoài nghi;
Đảng Dân chủ bị phân hóa trầm trọng, một số nhà lãnh đạo và phần lớn quân nhân quay sang ủng hộ Lincoln. Một mặt, Đảng Liên hiệp Quốc gia đoàn kết chặt chẽ hỗ trợ cho Lincoln khi ông tập chú vào chủ đề giải phóng nô lệ; mặt khác, các chi bộ Cộng hòa cấp tiểu bang nỗ lực hạ giảm uy tín phe chủ hòa. Lincoln thắng lớn trong cuộc tuyển cử, giành được phiếu bầu của tất cả ngoại trừ ba tiểu bang.
Ngày 4 tháng 3 năm 1865, trong bài diễn văn nhậm chức lần thứ hai, Lincoln bày tỏ rằng sự tổn thất lớn lao từ hai phía là do ý chỉ của Thiên Chúa. Sử gia Mark Noll xếp diễn từ này vào trong "một số ít các văn bản hàm chứa tính thiêng liêng, nhờ đó người dân Mỹ ý thức được vị trí của mình trên thế giới."
=== Tái thiết ===
Thời kỳ tái thiết đã khởi đầu ngay từ lúc còn chiến tranh, khi Lincoln và các phụ tá của ông tính trước phương cách giúp các tiểu bang miền nam tái hội nhập, giải phóng nô lệ, và quyết định số phận của giới lãnh đạo Liên minh. Không lâu sau khi Tướng Lee đầu hàng, khi được hỏi nên đối xử với phe thất trận như thế nào, Lincoln trả lời, "Hãy để họ thoải mái".
Trong nỗ lực tiến hành chính sách hòa giải, Lincoln nhận được sự ủng hộ của nhóm ôn hòa, nhưng bị chống đối bởi nhóm cấp tiến trong đảng Cộng hòa nhự Dân biểu Thaddeus Stevens, các Thượng Nghị sĩ Charles Summer và Benjamin Wade, là những đồng minh chính trị của ông trong các vấn đề khác. Quyết tâm tìm ra giải pháp hiệp nhất dân tộc mà không thù địch với miền Nam, Lincoln thúc giục tổ chức bầu cử sớm theo các điều khoản phóng khoáng. Tuyên cáo Ân xá của tổng thống ngày 8 tháng 12 năm 1863 công bố không buộc tội những ai không có chức vụ trong Liên minh, chưa từng ngược đãi tù binh Liên bang, và chịu ký tuyên thệ trung thành với Liên bang.
Sự chọn lựa nhân sự của Lincoln là nhằm giữ hai nhóm ôn hòa và cấp tiến cùng làm việc với nhau. Ông bổ nhiệm Salmon P. Chase thuộc nhóm cấp tiến vào Tối cao Pháp viện thay thế Chánh án Taney.
Sau khi Tuyên ngôn Giải phóng Nô lệ có hiệu lực, dù không được áp dụng trên tất cả tiểu bang, Lincoln gia tăng áp lực yêu cầu Quốc hội ra một bản tu chính đặt chế độ nô lệ ngoài vòng pháp luật trên toàn lãnh thổ. Lincoln tuyên bố rằng một bản tu chính như thế sẽ "giải quyết dứt điểm toàn bộ vấn đề". Tháng 6 năm 1864, một dự luật tu chính được trình Quốc hội nhưng không được thông qua vì không đủ đa số hai phần ba. Việc thông qua dự luật trở thành một trong những chủ đề vận động trong cuộc bầu cử năm 1864. Ngày 13 tháng 1, 1865, sau một cuộc tranh luận dài ở Viện Dân biểu, dự luật được thông qua và được gửi đến các viện lập pháp tiểu bang để phê chuẩn để trở thành Tu chính án thứ mười ba của Hiến pháp Hoa Kỳ vào ngày 6 tháng 12 năm 1865.
Khi cuộc chiến sắp kết thúc, kế hoạch tái thiết của tổng thống tiếp tục được điều chỉnh. Tin rằng chính phủ liên bang có một phần trách nhiệm đối với hàng triệu nô lệ được giải phóng, Lincoln ký ban hàng đạo luật Freedman’s Bureau thiết lập một cơ quan liên bang đáp ứng các nhu cầu của những cựu nô lệ, cung ứng đất thuê trong hạn ba năm với quyền được mua đứt cho những người vừa được tự do.
=== Tái định nghĩa khái niệm cộng hòa và chủ nghĩa cộng hòa ===
Những sử gia đương đại như Harry Jaffa, Herman Belz, John Diggins, Vernon Burton, và Eric Foner đều nhấn mạnh đến nỗ lực tái định nghĩa các giá trị cộng hòa của Lincoln. Từ đầu thập niên 1850 khi các luận cứ chính trị đều hướng về tính thiêng liêng của Hiến pháp, Lincoln đã tập chú vào bản Tuyên ngôn Độc lập, xem văn kiện này là nền tảng của các giá trị chính trị của nước Mỹ mà ông gọi là "thành lũy" của chủ nghĩa cộng hòa.
Sự kiện bản Tuyên ngôn nhấn mạnh đến quyền tự do và sự bình đẳng dành cho mọi người, trái ngược với Hiến pháp dung chịu chế độ nô lệ, đã làm thay đổi chiều hướng tranh luận. Luận điểm của Lincoln đã gây dựng được ảnh hưởng vì ông làm sáng tỏ nền tảng đạo đức của chủ nghĩa cộng hòa, thay vì chỉ biết tuân thủ hiến pháp.
=== Các đạo luật ===
Lincoln trung thành với chủ thuyết của đảng Whig về chức vụ tổng thống, theo đó Quốc hội có trách nhiệm làm luật và nhánh hành pháp thực thi luật pháp. Chỉ có bốn dự luật đã được Quốc hội thông qua đã bị Lincoln phủ quyết. Năm 1862, ông ký ban hành đạo luật Homestead bán cho người dân với giá rất thấp hàng triệu héc-ta đất chính phủ đang sở hữu. Đạo luật Morrill Land-Grant Colleges ký năm 1862 cung ứng học bổng chính phủ cho các trường đại học nông nghiệp tại mỗi tiểu bang. Đạo luật Pacific Raiway năm 1862 và 1864 dành sự hỗ trợ của liên bang cho công trình xây dựng đường sắt xuyên lục địa hoàn thành năm 1869.
Lincoln cũng mở rộng ảnh hưởng kinh tế của chính phủ liên bang sang các lãnh vực khác. Đạo luật National Banking cho phép thành lập hệ thống ngân hàng quốc gia cung ứng mạng lưới tài chính dồi dào trên toàn quốc, cũng như thiết lập nền tiền tệ quốc gia. Năm 1862, Quốc hội đề xuất và tổng thống phê chuẩn việc thành lập Bộ Nông nghiệp. Năm 1862, Lincoln cử Tướng John Pope bình định cuộc nổi dậy của bộ tộc Sioux. Tổng thống cũng cho lập kế hoạch cải cách chính sách liên bang đối với người da đỏ.
Lincoln là nhân tố chính trong việc công nhận Lễ Tạ ơn là quốc lễ của Hoa Kỳ. Trước nhiệm kỳ tổng thống của Lincoln, Lễ Tạ ơn là ngày lễ phổ biến ở vùng New England từ thế kỷ 17. Năm 1863, Lincoln tuyên bố thứ Năm lần thứ tư của tháng 11 là ngày cử hành Lễ Tạ ơn.
=== Tối cao Pháp viện ===
Lincoln bổ nhiệm năm thẩm phán cho tòa án tối cao. Noah Haynes Swayne, được đề cử ngày 21 tháng 1, 1862 và bổ nhiệm ngày 24 tháng 1, 1862; ông là luật sư, chống chế độ nô lệ và ủng hộ Liên bang. Samuel Freeman Miller, được đề cử và bổ nhiệm ngày 16 tháng 7 năm 1862; ông ủng hộ Lincoln trong cuộc bầu cử năm 1860, và là người chủ trương bãi nô. David Davis, được đề cử ngày 1 tháng 12 năm 1862 và bổ nhiệm ngày 8 tháng 12 năm 1862; ông là người điều hành chiến dịch tranh cử năm 1860 của Lincoln, từng là thẩm phán tòa phúc thẩm liên bang ở Illinois. Stephen Johnson Field, được đề cử ngày 6 tháng 3 năm 1863 và bổ nhiệm ngày 10 tháng 3 năm 1863; từng là thẩm phán tòa tối cao bang California. Cuối cùng là Bộ trưởng Ngân khố của Lincoln, Salmon P. Chase, được đề cử và bổ nhiệm trong ngày 6 tháng 12 năm 1862 vào chức vụ Chánh án Tối cao Pháp viện Hoa Kỳ. Lincoln tin Chase là một thẩm phán có khả năng, sẽ hỗ trợ công cuộc tái thiết trong lĩnh vực tư pháp, và sự bổ nhiệm này sẽ liên kết các nhóm trong đảng Cộng hòa.
=== Các Tiểu bang gia nhập Liên bang ===
Ngày 20 tháng 6 năm 1863, tiểu bang West Virginia xin gia nhập Liên bang, bao gồm những hạt cực tây bắc từng tách khỏi tiểu bang sau khi bang này rút lui khỏi Liên bang. Nevada, tiểu bang thứ ba thuộc vùng viễn tây được gia nhập ngày 31 tháng 10 năm 1864.
== Ám sát ==
Một diễn viên nổi tiếng, John Wilkes Booth, là gián điệp của Liên minh đến từ Maryland; dù chưa bao giờ gia nhập quân đội Liên minh, Booth có mối quan hệ với mật vụ Liên minh. Năm 1864, Booth lên kế hoạch bắt cóc Lincoln để đòi thả tù binh Liên minh. Nhưng sau khi dự buổi diễn thuyết của Lincoln vào ngày 11 tháng 4 năm 1865, Booth giận dữ thay đổi kế hoạch và quyết định ám sát tổng thống. Dò biết Tổng thống, Đệ nhất Phu nhân, và Tướng Ulysses S. Grant, nhân vì ăn mừng việc chấm dứt chiến tranh, sẽ đến Nhà hát Ford, Booth cùng đồng bọn lập kế hoạch ám sát Phó Tổng thống Andrew Johnson, Bộ trưởng Ngoại giao William H. Seward, và Tướng Grant. Ngày 14 tháng 4, Lincoln đến xem vở kịch "Our American Cousin" mà không có cận vệ chính Ward Hill Lamon đi cùng. Đến phút chót, thay vì đi xem kịch, Grant cùng vợ đến Philadelphia.
Trong lúc nghỉ giải lao, John Parker, cận vệ của Lincoln, rời nhà hát cùng người đánh xe đến quán rượu Star kế cận. Lợi dụng cơ hội Tổng thống ngồi trong lô danh dự mà không có cận vệ bên cạnh, khoảng 10 giờ tối, Booth lẻn vào và bắn vào sau đầu của Tổng thống từ cự ly gần. Thiếu tá Henry Rathbone chụp bắt Booth nhưng hung thủ đâm trúng Rathbone và trốn thoát.
Sau mười ngày đào tẩu, người ta tìm thấy Booth tại một nông trang ở Virginia, khoảng 30 dặm (48 km) phía nam Washington D. C. Ngày 26 tháng 4, sau một cuộc đụng độ ngắn, Booth bị binh sĩ Liên bang giết chết.
Sau cơn hôn mê kéo dài chín giờ, Lincoln từ trần lúc 7g 22 sáng ngày 15 tháng 4. Mục sư Phineas Densmore Gurley thuộc Giáo hội Trưởng Lão được mời cầu nguyện sau khi Bộ trưởng Chiến tranh Stanton chào tiễn biệt và nói, "Nay ông thuộc về lịch sử."
Thi thể của Lincoln được phủ quốc kỳ và được các sĩ quan Liên bang hộ tống dưới cơn mưa về Tòa Bạch Ốc trong tiếng chuông nhà thờ của thành phố. Phó Tổng thống Johnson tuyên thệ nhậm chức lúc 10:00 sáng ngay trong ngày Tổng thống bị ám sát. Suốt ba tuần lễ, đoàn tàu hỏa dành cho tang lễ Tổng thống mang thi thể ông đến các thành phố trên khắp miền Bắc đến các lễ tưởng niệm có hàng trăm ngàn người tham dự, trong khi nhiều người khác tụ tập dọc theo lộ trình giăng biểu ngữ, đốt lửa, và hát thánh ca.
== Niềm tin tôn giáo ==
Xem thêm thông tin: Abraham Lincoln và tôn giáo
Giới học giả viết nhiều về các chủ đề liên quan đến đức tin và triết lý sống của Lincoln. Ông thường sử dụng hình ảnh và ngôn ngữ tôn giáo để trình bày đức tin cá nhân hoặc để thuyết phục cử tọa, phần lớn trong số họ là tín hữu Kháng Cách theo trào lưu Tin Lành. Dù chưa bao giờ chính thức gia nhập giáo hội nào, Lincoln rất gần gũi với Kinh Thánh, thường xuyên trích dẫn và tán dương Kinh Thánh.
Trong thập niên 1840, Lincoln ngả theo ‘’Học thuyết Tất yếu’’ tin rằng tâm trí con người ở dưới sự kiểm soát của một quyền lực cao hơn. Đến thập niên 1850, Lincoln thừa nhận "ơn thần hựu" theo cách chung, nhưng hiếm khi sử dụng ngôn ngữ và hình ảnh tôn giáo của người Tin Lành. Ông dành sự tôn trọng cho chủ nghĩa cộng hòa của những nhà lập quốc gần như là niềm tin tôn giáo. Song, khi đau khổ vì cái chết của con trai ông, Edward, Lincoln thường xuyên nhìn nhận rằng ông cần phải trông cậy Thiên Chúa. Khi một con trai khác của Lincoln, Willie, lìa đời trong tháng 2 năm 1862, ông càng hướng về tôn giáo để tìm câu giải đáp và sự an ủi.
== Vị Tổng thống đầu tiên của nước Mỹ có bằng sáng chế ==
Trên thực tế nhiều người xem vị tổng thống thứ ba của nước Mỹ, Thomas Jefferson là nhà phát minh vĩ đại nhất từng sống ở Nhà Trắng. Nhưng vị Tổng thống này chưa bao giờ lấy bằng sáng chế cho những ý tưởng của mình. Trong lịch sử nước Mỹ, chỉ duy nhất một Tổng thống từng được cấp bằng sáng chế cho dù bình thường ông ít quan tâm đến công nghệ, đó là Tổng thống Abraham Lincoln.
Vào cuối những năm 1890, Lincoln là đại biểu Quốc hội của bang Illinois. Ông thường đi lại giữa Washington và Illinois trên con tàu chạy bằng hơi nước Great Lakes. Một lần tàu bị mắt kẹt ở bãi cát ngay giữa sông. Tất cả hành khách và hàng hoá phải chuyển đi để con tàu nổi dần lên. Đó là một quá trình dài và buồn tẻ.
Điều này mang đến cho Lincoln một ý tưởng, khi trở về văn phòng luật sư của mình ở Illinois, ông bắt đầu sáng chế ra một thiết bị có thể làm con tàu nổi lên mà không cần phải làm cho nó nhẹ đi bằng việc bóc dở hàng hoá xuống. Ông tranh thủ gọt đẽo mô hình giữa các phiên toà. Kết quả, ông nhận được bằng sáng chế số 6469: "Cách làm nổi những con tàu lớn".
Phát minh của Lincoln được chứng minh là không thực tế và không được đưa vào sản xuất. Nhưng nó đã cho thấy vị luật sư có tài xoay xở này sở hữu một trí tuệ đầy sáng tạo và dám thực hiện những ý tưởng mới. Đó là ý chí mà nước Mỹ rất cần trong những năm tháng bất ổn sau này.
== Vinh danh ==
Theo bảng Xếp hạng Tổng thống trong Lịch sử Hoa Kỳ được thực hiện từ thập niên 1940, Lincoln luôn có tên trong ba người đứng đầu, thường khi là nhân vật số 1. Trong phần lớn các cuộc khảo sát bắt đầu thực hiện từ năm 1948, Lincoln được xếp vào hàng đầu: Schlesinger 1948, Schlesinger 1962, 1982 Murray Blessing Survey, Chicago Tribune 1982 poll, Schlesinger 1996, CSPAN 1996, Ridings-McIver 1996, Time 2008, and CSPAN 2009. Đại thể, những tổng thống chiếm ba vị trí đầu là 1) Lincoln; 2) George Washington; và 3) Franklin D. Roosevelt, mặc dù đôi khi cũng có sự đảo ngược vị trí với nhau giữa Lincoln và Washington, Washington và Roosevelt.
Lincoln sở hữu tính cách điềm tĩnh cần thiết cho một chính khách, nhất là trong tình thế phức tạp. Suốt trong năm 1862, không có ngày nào trôi qua mà không có một bài diễn thuyết kêu gọi tổng thống chấp nhận những quyết sách táo bạo nhằm chống lại nạn nô lệ và Tướng McClellan, nhưng Lincoln vẫn bất động. Ông cần phải cân nhắc cho từng bước đi để thuyết phục chính mình và giới cử tri ôn hòa ở phía Bắc rằng ông đã thử hết mọi phương cách.
Ngay cả sau khi cách chức Tướng McClellan và giải phóng nô lệ, ông vẫn kiên nhẫn chờ đợi đến thời điểm thích hợp. Sự mòn mỏi chờ đợi một chiến thắng để có thể công bố bản Tuyên ngôn Giải phóng Nô lệ có lẽ là giai đoạn nhạy cảm nhất trong nhiệm kỳ tổng thống của Lincoln. Thời kỳ chuyển tiếp là cần thiết bởi vì Lincoln biết rằng trong những lúc đất nước đang bị phân hóa nghiêm trọng thì lập trường trung dung là con đường dẫn đến thành công cho nhà lãnh đạo.
Một ngày mùa hè năm 1862, một nhóm các nhân vật tiếng tăm chủ trương bãi nô từ vùng New England đến gặp Lincoln nhằm yêu cầu ông phải chống nạn nô lệ triệt để hơn. Sau một lúc im lặng, Lincoln hỏi xem họ còn nhớ sự kiện Blondin đi dây ngang qua thác Niagara không. Dĩ nhiên là họ nhớ. Một người trong số họ thuật lại lời của Tổng thống, "Giả sử toàn bộ giá trị vật chất trên đất nước vĩ đại này của chúng ta, từ Đại Tây Dương đến Thái Bình Dương – sự giàu có, thịnh vượng, những thành quả của nó trong hiện tại và cả niềm hi vọng cho tương lai – được tập trung lại và giao cho Blondin đem chúng băng qua thác trong chuyến đi kinh khủng này;" và giả sử "bạn đang đứng trên bờ thác khi Blondin đi trên dây, khi anh đang cẩn thận dò dẫm từng bước chân và đang cố giữ thăng bằng với thanh ngang trên tay bằng kỹ năng tinh tế của mình để băng qua thác nước khổng lồ đang gầm rú bên dưới. Bạn sẽ gào thét, ‘Blondin, qua phải một bước!’ ‘Blondin, qua trái một bước!’ hay là bạn lặng lẽ đứng yên, nín thở và cầu nguyện xin Đấng Toàn Năng hướng dẫn và giúp anh ấy vượt qua cơn thử thách?"
Khi nghe tin Liconln từ trần, Walt Whitman viết bài thơ O Captain! My Captain! gọi ông là thuyền trưởng lèo lái con thuyền qua những vùng biển động để đến bến bờ bình yên, nhưng khi sắp đến nơi thì người thuyền trưởng đã không còn. Trong khi người da trắng xem Lincoln như là nhà lãnh đạo có công duy trì nền thống nhất của đất nước thì người Mỹ da đen vinh danh ông như một nhà giải phóng. Trong chuyến viếng thăm Richmond, Lincoln được người dân ở đây chào đón như một người cha. Họ còn ví sánh ông với Moses trong Kinh Thánh, người giải phóng dân Do Thái và dẫn dắt họ trên đường đến Đất Hứa nhưng từ trần trước khi dân tộc ông đặt chân vào vùng đất này.
Ngay cả Frederick Douglass, người thường chỉ trích Lincoln trong suốt nhiệm kỳ tổng thống, sau khi Lincoln bị ám sát đã gọi ông là "vị Tổng thống Hoa Kỳ đầu tiên chết vì chính nghĩa," và ca ngợi tính cách của Lincoln, "Với Abraham Lincoln, niềm tin vào chính mình và lòng tin dành cho đồng bào của ông thật vĩ đại và đáng kinh ngạc, thật sáng suốt và vững chắc. Ông hiểu rõ người dân Mỹ hơn cả chính họ, và chân lý của ông được lập nền trên sự hiểu biết này". Douglass cũng liệt kê những phẩm chất của một nhà lãnh đạo mà ông tìm thấy ở Lincoln, "Mặc dù ở địa vị cao trọng, những người thấp hèn nhất có thể tìm đến ông và cảm thấy thoải mái khi gặp ông. Mặc dù sâu sắc, ông rất trong sáng; mặc dù mạnh mẽ, ông rất dịu dàng; mặc dù quyết đoán trong xác tín, ông khoan hòa đối với những ai khác quan điểm, và kiên nhẫn lắng nghe lời chỉ trích."
Chính là bởi vì vụ ám sát mà Lincoln được xem là vị anh hùng xả thân vì dân tộc. Trong mắt của những người chủ trương bãi nô, ông là nhà tranh đấu cho quyền tự do của con người. Đảng viên Cộng hòa liên kết tên tuổi ông với đảng của họ. Ở miền Nam, nhiều người, tuy không phải tất cả, xem ông là một tài năng kiệt xuất.
Theo Schwartz, cuối thế kỷ 19 thanh danh của Lincoln tiến triển chậm cho mãi đến Giai đoạn Phát triển (1900 – thập niên 1920) ông mới được xem như là một trong những vị anh hùng được tôn kính nhất trong lịch sử Hoa Kỳ, ngay cả trong vòng người dân miền Nam. Đỉnh điểm của sự trọng vọng này là vào năm 1922 khi Đài Tưởng niệm Lincoln được cung hiến tại Washington. Trong thời kỳ New Deal, những người cấp tiến ca tụng Lincoln không chỉ như là người tự lập thân hoặc vị tổng thống vĩ đại trong chiến tranh, mà còn là nhà lãnh đạo quan tâm đến thường dân là những người có nhiều cống hiến cho chính nghĩa của cuộc chiến. Trong thời kỳ chiến tranh lạnh, hình ảnh của Lincoln được tôn cao như là biểu tượng của tự do, là người mang hi vọng đến cho những người bị áp bức.
Trong thập niên 1970, Lincoln được những người có chủ trương bảo thủ trong chính trị dành cho sự ngưỡng mộ đặc biệt do lập trường dân tộc, chủ trương hỗ trợ doanh nghiệp, tập chú vào nỗ lực chống nô lệ, và nhiệt tâm của ông đối với các nguyên lý của những nhà lập quốc. James G. Randall nhấn mạnh đến tính bao dung và thái độ ôn hòa của Lincoln trong "sự chú tâm của ông đối với sự tăng trưởng trong trật tự, sự nghi ngờ đối với những hành vi khích động nguy hiểm, và sự miễn cưỡng của ông đối với các kế hoạch cải cách bất khả thi." Randall đúc kết, "ông là người bảo thủ khi ông triệt để bác bỏ cái gọi là "thuyết cấp tiến" chủ trương bóc lột miền Nam, căm ghét chủ nô, thèm khát báo thù, âm mưu phe phái, và những đòi hỏi hẹp hòi muốn các định chế của miền Nam phải được thay đổi cấp tốc bởi tay người bên ngoài." Đến cuối thập niên 1960, những người cấp tiến như sử gia Lerone Bennett, xem xét lại sự việc, đặc biệt là quan điểm của Lincoln liên quan đến các vấn đề chủng tộc. Năm 1968, Bennett gây chấn động dư luận khi gọi Lincoln là người chủ trương người da trắng là chủng tộc thượng đẳng. Ông nhận xét rằng Lincoln thích gièm pha chủng tộc, chế giễu người da đen, chống đối sự công bằng xã hội, và đề nghị gởi nô lệ được tự do sang một đất nước khác. Những người ủng hộ Lincoln như các tác gia Dirk và Cashin, phản bác rằng Lincoln còn tốt hơn hầu hết các chính trị gia thời ấy; rằng ông là người đạo đức có viễn kiến đã làm hết sức mình để thăng tiến chủ nghĩa bãi nô.
Hình tượng Lincoln cũng thường được khắc họa rất tích cực trên màn ảnh của Hollywood.
=== Tưởng niệm ===
Nhiều thị trấn, thành phố, và quận hạt mang tên Lincoln, trong đó có thủ phủ bang Nebraska. Tượng đài đầu tiên được dựng lên để tưởng niệm Lincoln đặt trước Tòa Thị chính Hạt Columbia năm 1868, ba năm sau khi ông bị ám sát. Tên và hình ảnh của Lincoln xuất hiện tại nhiều địa điểm khác nhau như Đài Tưởng niệm Lincoln ở Washington D. C. và tượng điêu khắc Lincoln trên Núi Rushmore.
Người ta cũng thiết lập những công viên lịch sử tại các địa điểm liên quan đến những giai đoạn khác nhau trong cuộc đời của Lincoln như: nơi ông sinh (Abraham Licoln Birthplace National Historical Park) ở Hodgenville, Kentucky, chỗ ông trải qua thời niên thiếu (Lincoln Boyhood National Memorial) tại Lincoln City, Indiana, nơi ông trưởng thành (Lincoln’s New Salem) ở Illinois, và nơi ông khởi nghiệp (Lincoln Home National Historic Site) tại Springfield, Illinois.
Nhà hát Ford và tòa nhà Petersen (nơi Lincoln từ trần) được giữ lại làm viện bảo tàng, cũng như Thư viện và Bảo tàng Tổng thống Abraham Lincoln ở Springfield.
Phần mộ Lincoln trong Nghĩa trang Oak Ridge ở Springfield, Illinois, là nơi chôn cất Lincoln, vợ ông Mary cùng ba trong số bốn con trai của ông, Edward, William, và Thomas.
Ngay trong năm Lincoln từ trần, hình ảnh của ông được gởi đi khắp thế giới qua những con tem bưu điện. Hình ảnh của ông cũng xuất hiện trên tờ năm đô-la, và đồng xu Lincoln, đây là đồng tiền đầu tiên của Hoa Kỳ có đúc hình một nhân vật.
Ngày 28 tháng 7 năm 1920 một pho tượng Lincoln được đặt tại một địa điểm gần Điện Westminster, Luân Đôn. Hải quân Hoa Kỳ đã đặt tên ông cho một số chiến hạm, trong đó có hàng không mẫu hạm USS Abraham Lincoln và tiềm thủy đỉnh SSBN Abraham Lincoln.
Mặc dù ngày sinh của Lincoln, 12 tháng 2, chưa bao giờ được công nhận là quốc lễ, nó từng được cử hành tại 30 tiểu bang. Từ năm 1971 khi Ngày Tổng thống trở thành quốc lễ, trong đó có ngày sinh của Lincoln kết hợp với ngày sinh Washington, được cử hành thay thế lễ kỷ niệm ngày sinh của ông.
== Xem thêm ==
Nội chiến Mỹ
Frederick Douglass: Diễn văn Tưởng niệm Abraham Lincoln
== Chú thích ==
The Greatest Stories Never Told - 100 tales from history to astonish, bewilder, and stupefy_Rick Beyer.
== Đọc thêm ==
== Liên kết ngoài ==
Abraham Lincoln tại DMOZ
Abraham Lincoln tại DMOZ
The Collected Works of Abraham Lincoln
Lincoln Studies Center at Knox College
Photographs of Abraham Lincoln
United States Congress. “Abraham Lincoln (id: L000313)”. Biographical Directory of the United States Congress.
The Lincoln Institute
Digitized books about Abraham Lincoln from the University of Illinois at Urbana-Champaign Library
Mr. Lincoln's Virtual Library
Poetry written by Abraham Lincoln
Lincoln quotes collected by Roger Norton
The Abraham Lincoln Presidential Library and Museum Springfield, Illinois
President Lincoln's Cottage
US PATNo. 6.469—Manner of Buoying Vessels—A. Lincoln—1849
National Park Service Abraham Lincoln birthplace (includes good early history)
National Endowment for the Humanities Spotlight – Abraham Lincoln
The Abraham Lincoln Bicentennial Commission
Lincoln Memorial Washington, DC
Lincoln/Net: Abraham Lincoln Historical Digitization Project, Northern Illinois University Libraries
Lincoln Home National Historic Site: A Place of Growth and Memory, lesson plan
Lincoln Boyhood National Memorial: Forging Greatness during Lincoln's Youth, lesson plan
Abraham Lincoln: A Resource Guide from the Library of Congress
Essay on Abraham Lincoln and shorter essays on each member of his cabinet and First Lady from the Miller Center of Public Affairs
The Entire Writings of Lincoln including an introduction by Theodore Roosevelt
Văn kiện điện tử Project Gutenberg
List of Các tác phẩm của Abraham Lincoln tại Dự án Gutenberg
Richardson, James D. (compiler). A Compilation of the Messages and Papers of the Presidents and more: Volume 6, part 1: Abraham Lincoln. includes major (and minor) state papers, but not speeches or letters
Lincoln's Yarns and Stories.
Hay, John; John George Nicolay (1890). Abraham Lincoln: a History. “Volume 1”. to 1856; coverage of national politics. “Volume 2”. (1832 to 1901); covers 1856 to early 1861; coverage of national politics; part of 10 volume "life and times" by Lincoln's aides
Nicolay, Helen (1907). The Boys' Life of Abraham Lincoln. (1866 to 1954)
Ketcham, Henry (1901). The Life of Abraham Lincoln. ; popular
Morse, John T. (1899). Abraham Lincoln. ; a solid scholarly biography “Volume 1”. “Volume 2”.
Francis Fisher Browne (1913). The Every-day Life of Abraham Lincoln. ; popular
George Haven Putnam, Litt. D. (1909). Abraham Lincoln: The People's Leader in the Struggle for National Existence.
Stephenson, Nathaniel W. (1922). Lincoln's Personal Life. ; popular
Benson (Lorn Charnwood), Godfrey Rathbone (1917). Abraham Lincoln. |
người việt tại nhật bản.txt | Người Việt tại Nhật Bản, (tiếng Nhật: 在日ベトナム人 Zainichi Betonamujin; âm Hán Việt: tại Nhật Việt Nam nhân) theo số liệu của Bộ Tư pháp Nhật Bản, là cộng đồng người nước ngoài lớn thứ tám tại Nhật Bản vào năm 2004, đứng trên người Indonesia và sau người Thái. Phần lớn trong số 26.018 người Việt cư trú hợp pháp sống tại vùng Kantō (13.164 người, chiếm 50,6% tổng số người Việt) và vùng Keihanshin (5.289 người, chiếm 20% tổng số) bao gồm các phủ Kyoto, Osaka, Kobe.
== Lịch sử ==
=== Phong trào Đông Du ===
Vào đầu thế kỷ 20 khi người Pháp đang đô hộ Đông Dương, nhiều sinh viên người Việt đã tìm sang Nhật Bản theo Phong trào Đông Du của hoàng thân lưu vong Cường Để và Phan Bội Châu. Đến năm 1908 thì có khoảng hai trăm sinh viên Việt Nam ghi danh theo học tại các trường đại học của Nhật. Một số nhỏ sau đó định cư ở lại Nhật, tạo nên hạt mầm của cộng đồng người gốc Việt tuy lúc ấy rất khiêm nhường.
=== Tỵ nạn ===
Mãi đến thập niên 1970 sau chiến tranh Việt Nam con số người Việt sang Nhật mới tăng mạnh với làn sóng người tị nạn được Nhật Bản đón nhận; nhóm người này chiếm 70% tổng số Việt kiều ở Nhật vào đầu thế kỷ 21. Việc nhận dân tỵ nạn nước ngoài vào Nhật cũng đánh dấu một thời kỳ mới cho Nhật Bản kể từ sau Chiến tranh thế giới thứ hai. Trước thập niên 1970, Nhật duy trì chính sách hạn chế người nhập cư để bảo vệ tính thuần chủng của người Nhật nhưng lệ này được nới lỏng kể từ đó trở đi.
Tính đến giữa thập niên 1990 khi trại tạm trú cho người tỵ nạn Đông Dương chính thức đóng cửa thì Nhật Bản đã đón nhận 11.231 người, trong đó có 8587 người Việt; số còn lại là người Miên và Lào. Nhóm người Việt có 625 người là du học sinh thời Việt Nam Cộng hòa bị kẹt tại Nhật khi Sài Gòn thất thủ năm 1975; 3536 người tỵ nạn thuyền nhân được tàu bè Nhật Bản vớt trên biển; 1820 người bốc từ trại tỵ nạn ở Đông Nam Á, và 2606 người nhập cảnh Nhật Bản dưới dạn đoàn tụ ODP của Liên hiệp quốc.
Người tỵ nạn từ Việt Nam sau năm 1975 phần lớn định cư tại phủ Kanagawa và Hyōgo nơi có trại tạm cư ban đầu. Khi họ rời trại thì người Việt thường tìm đến khu vực đông người Nhật gốc Hàn sinh sống (Zainichi Korean). Dù vậy họ vẫn không mấy thông cảm với người gốc Hàn vì người Hàn đã hội nhập sâu rộng vào xã hội Nhật trong khi người Việt vẫn là cộng đồng non trẻ mới nhập cư.
=== Du học và di cư ===
Hiện nay, cộng đồng người Việt Nam tại Nhật Bản có 37.000 người, trong đó có khoảng 17.000 người Việt sinh sống tại Nhật Bản, 17.000 tu nghiệp sinh và 3.000 lưu học sinh. Trước khi Tổng hội người Việt Nam ở Nhật Bản được thành lập, tại Nhật Bản có nhiều tổ chức hội của người Việt hoạt động rất mạnh như Hội Thanh niên và Sinh viên Việt Nam tại Nhật Bản (VYSA), Hội Sinh viên Đông Du, Hội người Việt tại vùng Kansai và Hội người Việt vùng Kanto. Tuy nhiên, hoạt động của các tổ chức này còn bị một số giới hạn do chưa có một tổ chức chung, quy mô, có thể đại diện cho toàn bộ cộng đồng người Việt sinh sống, học tập và làm việc tại Nhật Bản. Sự ra đời của Hội người Việt Nam tại Nhật Bản đã góp phần giải quyết vấn đề này.
Tổng hội người Việt Nam tại Nhật Bản tiền thân là Hội cựu lưu học sinh tại Nhật Bản được thành lập từ năm 1969, hiện do ông Huỳnh Trí Chánh làm Chủ tịch. Hội đã có rất nhiều hoạt động sôi nổi ủng hộ trong nước khi đất nước còn bị chia cắt cũng như khi nước nhà thống nhất và phát triển. Là những người con của quê hương, bà con trong hội luôn quan tâm mong muốn chia sẻ với đồng bào chiến sĩ trong nước, nhất là đối với các chiến sĩ giữ gìn vùng biên cương của tổ quốc. Sau này Tổng hội là lực lượng quan trọng trong việc thành lập Hội người Việt Nam Nam ở Nhật Bản.
=== Mức độ hòa nhập ===
Người Việt tỵ nạn nhiều khó khăn khi hội nhập vào xã hội Nhật, đặc biệt là trong hai khía cạnh giáo dục và việc làm; trong khi tỷ lệ trình độ trung học phổ thông của người gốc Việt chỉ đạt khoảng 40%, ở Nhật con số là 96,6% cho dân Nhật. Lý do khác biệt được dẫn phần vì hệ thống giáo dục Nhật không thích ứng được với người ngoại quốc, phần vì khác biệt văn hóa sinh hoạt. Sang thế hệ thứ hai thì càng có nhiều cách biệt giữa giới trẻ lớn lên tại Nhật vốn thông thạo tiếng Nhật, trong khi nhóm phụ huynh sinh trưởng tại Việt Nam vẫn bị trở ngại ngôn ngữ.
Phần lớn người gốc Việt giữ nguyên tên tiếng Việt thay vì lấy tên tiếng Nhật. Cho dù có lấy tên Nhật vì nhu cầu mưu sinh, họ vẫn cho là bị đối xử khác biệt vì dùng "tên katakana". Giáo hội Công giáo Rôma đóng một vai trò quan trọng trong cộng đồng người Việt ở Nhật.
Dù sinh sống ở Nhật, cộng đồng người Việt vẫn thường quan tâm đến biến chuyển thời sự tại Việt Nam. Tháng Năm 2016 sau vụ cá chết hàng loạt dọc bờ biển miền Trung Việt Nam, gây nhiều bất bình vì nhà chức trách không có biện pháp đối phó cũng không có thông báo gì về nguyên do, hàng trăm người Việt ở Tokyo đã xuống đường giương biểu ngữ kêu gọi mọi người "bảo vệ môi trường".
== Sinh viên học sinh du học ==
Đại diện hiện nay của cộng động thanh niên tại Nhật Bản là Hội Thanh niên và Sinh viên Việt Nam tại Nhật Bản (VYSA) còn đại diện chung chung cho cả cộng đồng là Hội người Việt Nam tại Nhật Bản được thành lập năm 2009. VYSA mở rộng từng năm và hiện tại VYSA gồm có 13 chi hội ở các vùng trên toàn nước Nhật. Đó là: Hokkaido, Sendai, Niigata, Kanto, Tokai, Shiga, Kyoto, Osaka, Kobe, Okayama, Kita-kyushu, Fukuoka, APU.
Trên giấy tờ, Việt Nam gửi sang Nhật nhiều du học sinh, khoảng 60.000 vào năm 2016 nhưng số liệu thực tế của nhà chức trách Nhật Bản thì hơn 90% học sinh bỏ học với mục đích đi làm lậu không giấy phép. Vì vậy lằn ranh giữa người Việt qua Nhật lao động hay đi học không phải là hai nhóm riêng mà gần như hai là một. Ước tính chỉ khoảng 8% trong số 60.000, tức 5.000 người thật sự ghi danh đi học mà thôi.
== Công nhân tạm trú ==
Những người lao động nước ngoài đến Nhật sau những người tị nạn theo cái gọi là "làn sóng thứ ba" của người nhập cư gốc Việt bắt đầu vào những năm 1990. Khi những công nhân xuất khẩu lao động theo hợp đồng trở về Việt Nam từ các quốc gia khối phía Đông trước đó, các nước sau đó đã chuyển tiếp từ chế độ Cộng sản, họ đã bắt đầu tìm kiếm điểm đến khác, nơi họ có thể kiếm được mức thu nhập tốt và Nhật Bản thu hút họ bởi Nhật Bản gần gũi Việt Nam về mặt địa lý và có mức sống cao. Vào cuối năm 1994, số lượng công nhân Việt Nam hằng năm đến Nhật đã đạt đến con số 14.305 người, phần lớn bằng thị thực thực tập sinh công nghiệp. Trái ngược với các nước xuất khẩu lao động ở khu vực Đông Nam Á khác, phần lớn người di cư là đàn ông, bởi những giới hạn của chính phủ Việt Nam đối với người đi nước ngoài làm việc trong các lĩnh vực vốn phụ nữ chiếm ưu thế như làm việc nhà và giải trí.
Năm 2014, Nhật Bản đón nhận 20.000 công nhân gốc Việt sang làm việc theo hợp đồng, đứng hàng thứ nhì sau Đài Loan.
Tính đến năm 2017 thì con số đó tăng lên khoảng 50.000 công nhân lao động từ Việt Nam sang Nhật, số không nhỏ đi làm mà không có giấy phép, phần do công ty môi giới lợi dụng tuyển dụng để làm tiền, phần do hãng xưởng của Nhật muốn giảm chi phí về lương bổng khi mướn người ngoại quốc. Riêng năm 2016 nhà chức trách Nhật đã phát hiện hãng Satoshi Kogyo đã trục lợi đưa 4.000 người Việt sang làm lao công bất hợp pháp.
== Phạm pháp ==
=== 2013 ===
Theo trang Japan Today hôm 27/3 dẫn số liệu của Cục Cảnh sát Quốc gia nói trong số 9.884 vụ bắt giữ người nước ngoài trong năm 2013, 4.047 liên quan tới người Trung Quốc, 1.118 là người Việt Nam và 936 người Hàn Quốc. Theo trang Jiji Press, người Việt Nam đứng đầu danh sách các vụ trộm đồ bị bắt tại các cửa hàng, số vụ phạm tội của người Việt Nam ở Nhật Bản đã tăng gần 60% trong 9 năm qua, từ 713 người bị bắt hồi năm 2004 lên 1.118 người năm 2013.
=== 2014 ===
Cơ quan cảnh sát Nhật Bản công bố tình hình bắt giữ tội phạm nước ngoài trong năm 2014 có tổng cộng 15.215 trường hợp và trong đó các vụ liên quan đến người Việt Nam là 2.488 vụ, tăng 61,6% so với năm 2013, tính ra trung bình mỗi ngày xảy ra 8 vụ ăn trộm dính đến người VN. Trong số các vụ án hình sự, thì người Việt đứng đầu về cả số vụ lẫn số người các tội cướp giật, ăn cắp. Đặc biệt tăng là các vụ ăn cắp. Số người Việt ăn cắp bị bắt giữ là 1.745 trong tổng số 6.716 người nước ngoài bị bắt. Trong các trường hợp ăn cắp do người Việt Nam thực hiện thì số vụ ăn cắp ở cửa hàng, siêu thị đặc biệt cao với 1.437 vụ. Trong số người Việt Nam phạm tội, tỷ lệ người đi du học chiếm 54.2%, người sang Nhật học nghề chiếm 12.9%. Đặc biệt tội phạm có visa du học tăng 1,8 lần.
==== 2016 ====
Người Việt dẫn đầu tỷ lệ tội phạm ở Nhật, tập trung vào trộm cắp, tẩu tán hàng hóa ăn cắp, và "đá tàu" đi lậu tức dùng chuyên chở công cộng mà không mua vé.
== Nhân vật ==
Nguyễn Đình Đăng, Tiến sĩ vật lý, họa sĩ.
Trần Văn Thọ, giáo sư kinh tế
Nguyễn Trần Phước An (グエン・トラン・フォク・アン), vận động viên bóng chày
Phongchi (フォンチー Fonchī), thần tượng nữ
Jun Nguyen-Hatsushiba, nghệ sĩ
Masato Seto, nhiếp ảnh gia (bố là người Nhật và mẹ là người Thái gốc Việt)
Đỗ Thông Minh, giám đốc công ty Mekong Center và Câu lạc bộ Giao Lưu Văn hóa Việt-Nhật
== Xem thêm ==
Người Campuchia gốc Việt
Người Việt ở Senegal
== Chú thích == |
micronesia.txt | Micronesia (tiếng Việt: Mi-crô-nê-di) là một tiểu vùng của châu Đại Dương, gồm hàng ngàn đảo nhỏ ở tây Thái Bình Dương. Micronesia là một trong ba khu vực văn hóa ở Thái Bình Dương cùng với Melanesia về phía nam, và Polynesia về phía đông.
Khu vực này có khí hậu nhiệt đới đại dương và thuộc khu vực sinh thái châu Đại Dương. Micronesia bao gồm các quốc gia và vùng lãnh thổ sau: Liên bang Micronesia, Kiribati, Quần đảo Marshall, Nauru, Palau, Guam, Quần đảo Bắc Mariana, và đảo Wake.
Từ Micronesia bắt nguồn từ tiếng Hy Lạp mikros (μικρός), nghĩa là nhỏ, và nesos (νῆσος), nghĩa là đảo.
== Địa lý ==
Micronesia có khoảng 2100 đảo với tổng diện tích đất liền là 2700 km2. Guam là đảo lớn nhất với diện tích 582 km2. Bốn nhóm đảo chính của Micronesia là: Quần đảo Caroline, Quần đảo Gilbert, Quần đảo Mariana, và Quần đảo Marshall.
=== Quần đảo Caroline ===
Quần đảo Caroline bao gồm 500 đảo san hô và nằm ở phái bắc của New Guinea và phía đông của Philippines.
=== Quần đảo Gilbert ===
Quần đảo Gilbert là một chuỗi 16 rạn san hô vòng và các đảo san hô nằm gần như trên một đường thẳng hướng từ bắc tới nam. Quần đảo này thuộc Kiribati.
=== Quần đảo Mariana ===
Quần đảo Mariana thuộc vùng lãnh thổ của Mỹ được cấu thành bởi 15 núi lửa.
=== Quần đảo Marshall ===
==== Rạn san hồ vòng Bikini ====
=== Nauru ===
=== Đảo Wake ===
Đảo Wake là một rạn san hô vòng nằm phái bắc của quần đảo Marshall. Đảo Wake thuộc vùng lãnh thổ của Hoa Kỳ.
== Chính trị ==
=== Quốc gia và Vùng lãnh thổ ===
== Đọc thêm ==
Kirch, Patrick Vinton (2000). On the Road of the Winds. An Archaeological History of the Pacific Islands before European Contact. University of California Press. tr. 166–167. ISBN 0-520-22347-0.
== Tham khảo ==
== Liên kết ngoài ==
History of Micronesia
Micronesian Games |
đô thị.txt | Một đô thị hay thành phố là một khu vực có mật độ gia tăng các công trình kiến trúc do con người xây dựng so với các khu vực xung quanh nó. Đô thị là một trung tâm dân cư đông đúc, có thể là thành phố, thị xã hay thị trấn nhưng thuật từ này thông thường không mở rộng đến các khu định cư nông thôn như làng, xã, ấp hay bản.
Các đô thị được thành lập và phát triển thêm qua quá trình đô thị hóa. Đo đạt tầm rộng của một đô thị sẽ giúp ích cho việc phân tích mật độ dân số, sự mở rộng đô thị, và biết được các số liệu về dân số nông thôn và thành thị.
Không như một đô thị, một vùng đô thị không chỉ bao gồm đô thị mà còn bao gồm các thành phố vệ tinh cộng vùng đất nông thôn nằm xung quanh có liên hệ về kinh tế xã hội với thành phố đô thị cốt lõi, tiêu biểu là mối quan hệ từ công ăn việc làm đến việc di chuyển hàng ngày ra vào mà trong đó thành phố đô thị cốt lõi là thị trường lao động chính. Thật vậy, các đô thị thường kết hợp và phát triển như trung tâm hoạt động kinh tế/dân số trong một vùng đô thị lớn hơn.
Các vùng đô thị thường thường được định nghĩa bằng việc sử dụng các quận (như ở Hoa Kỳ) hoặc các đơn vị chính trị cấp quận làm đơn vị nền tảng. Quận có chiều hướng hình thành các ranh giới chính trị bất di bất dịch. Các kinh tế gia thường thích làm việc với các thống kê xã hội và kinh tế dựa vào các vùng đô thị. Các đô thị được dùng để thống kê thích hợp hơn trong việc tính toán việc sử dụng tỉ lệ đất quân bình trên đầu người và mật độ dân cư (theo Dumlao & Felizmenio 1976).
== Các định nghĩa ==
Định nghĩa về đô thị thì khác nhau tại các quốc gia khác nhau. Thông thường mật độ dân số tối thiểu cần thiết để được gọi là một đô thị phải là 400 người trên một cây số vuông hay 1000 người trên một dặm vuông Anh. Các quốc gia châu Âu định nghĩa đô thị dựa trên cơ bản việc sử dụng đất thuộc đô thị, không cho phép có một khoảng trống tiêu biểu nào lớn hơn 200 mét. Dùng không ảnh chụp từ vệ tinh thay vì dùng thống kê từng khu phố để quyết định ranh giới của đô thị. Tại các quốc gia kém phát triển, ngoài việc sử dụng đất và mật độ dân số nhất định nào đó, một điều kiện nữa là phần đông dân số, thường là 75% trở lên, không có hành nghề nông nghiệp hay đánh cá.
=== Việt Nam ===
Tại Việt Nam hiện có 6 loại hình đô thị: loại đặc biệt, loại I, loại II, loại III, loại IV và loại V.
Theo Nghị định số 42/2009/NĐ-CP, một đơn vị hành chính để được phân loại là đô thị thì phải có các tiêu chuẩn cơ bản như sau:
Có chức năng đô thị.
Quy mô dân số toàn đô thị đạt 4 nghìn người trở lên.
Mật độ dân số phù hợp với quy mô, tính chất và đặc điểm của từng loại đô thị và được tính trong phạm vi nội thành, nội thị, riêng đối với thị trấn thì căn cứ theo các khu phố xây dựng tập trung.
Tỷ lệ lao động phi nông nghiệp (tính trong phạm vi ranh giới nội thành, nội thị, khu vực xây dựng tập trung) phải đạt tối thiểu 65% so với tổng số lao động.
Đạt được các yêu cầu về hệ thống công trình hạ tầng đô thị (gồm hạ tầng xã hội và hạ tầng kỹ thuật).
Đạt được các yêu cầu về kiến trúc, cảnh quan đô thị.
Các đô thị ở Việt Nam
Đô thị loại đặc biệt (2 thành phố): Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh.
Đô thị loại 1 (17 thành phố): Mỹ Tho; Biên Hòa; Thanh Hóa; Hạ Long; Việt Trì; Thái Nguyên; Nam Định; Vũng Tàu; Buôn Ma Thuột; Quy Nhơn; Nha Trang; Đà Lạt; Vinh; Huế; Cần Thơ; Đà Nẵng; Hải Phòng.
Đô thị loại 2 (25 huyện, thành phố): Trà Vinh; Tam Kỳ; Phú Quốc; Đồng Hới; Uông Bí; Bắc Giang; Bắc Ninh; Ninh Bình; Bạc Liêu; Bà Rịa; Thái Bình; Rạch Giá; Cà Mau; Long Xuyên; Phan Rang - Tháp Chàm; Tuy Hòa; Phan Thiết; Pleiku; Thủ Dầu Một; Hải Dương; Vĩnh Yên; Lào Cai; Châu Đốc; Cẩm Phả, Quảng Ngãi.
Đô thị loại 3 (42 thị trấn, thị xã, thành phố): 1 thị trấn: Tĩnh Gia, 12 thị xã: Long Khánh; Gia Nghĩa; Đồng Xoài; Chí Linh; Ngã Bảy; Cửa Lò; Sầm Sơn; Bỉm Sơn; Hà Tiên; Phúc Yên; Phú Thọ; Sơn Tây và 29 thành phố còn lại.
Đô thị loại 4:(93 thị trấn, thị xã): 54 thị trấn và 39 thị xã còn lại.
Đô thị loại 5: 54 xã; 570 thị trấn.
=== Úc ===
Tại Úc, các đô thị thường được ám chỉ là các "trung tâm thành thị" và được định nghĩa như là những khu dân cư chen chúc có từ 1000 người trở lên và mật độ dân cư phải tối thiểu là 200 người trên một cây số vuông.
=== Canada ===
Tại Canada, một đô thị là một vùng có trên 400 người trên một cây số vuông và tổng số dân phải trên 1.000 người. Nếu có hai đô thị hoặc nhiều hơn trong phạm vi 2 km của nhau, các đô thị này được nhập thành một đô thị duy nhất. Các ranh giới của một đô thị không bị ảnh hưởng bởi ranh giới của các khu tự quản (thành phố) hoặc thậm chí là ranh giới tỉnh bang.
=== Trung Quốc ===
Tại Trung Quốc, một đô thị là một khu thành thị, thành phố và thị trấn có mật độ dân số hơn 1.500 người trên một cây số vuông. Đối với các khu thành thị có mật độ dân số ít hơn 1.500 người trên một cây số vuông thì chỉ dân số sống trong các đường phố, nơi có dân cư đông đúc, các làng lân cận nhau được tính là dân số thành thị.
=== Pháp ===
Tại Pháp, một đô thị là một khu vực bao gồm một vùng phát triển do xây cất (gọi là một "đơn vị thành thị" (unité urbaine) - gần giống như cách định nghĩa của đô thị Bắc Mỹ và các vùng vành đai ngoại ô (couronne périurbaine). Mặc dù cách dịch chính thức thuật từ aire urbaine của INSEE là "urban area" trong tiếng Anh, đa số người Bắc Mỹ sẽ nhận thấy rằng nó tương tự với định nghĩa về vùng đô thị của mình.
=== Thụy Sĩ ===
Tại Thụy Sĩ chỉ có những đơn vị hành chánh được gọi là thành phố, hoặc là nó có hơn 10 ngàn dân hoặc dưới thời Trung cổ nó được ban cho quyền được gọi là thành phố.
=== Nhật Bản ===
Tại Nhật Bản, các đô thị được định nghĩa như là các vùng cận kề nhau gồm các khu dân cư đông đúc. Điều kiện cần thiết là đô thị phải có mật độ dân số trên 4.000 người trên một cây số vuông.
=== New Zealand ===
Cục thống kê New Zealand định nghĩa đô thị New Zealand cho các mục đích thống kê. Chúng là các khu định cư có dân số trên 1000 người.
=== Ba Lan ===
Tại Ba Lan, định nghĩa chính thức về "đô thị" đơn giản là ám chỉ đến các địa phương có danh xưng là thị trấn, thành phố. Vùng "nông thôn" là những vùng nằm ngoài ranh giới của các thị trấn này. Sự phân biệt đơn giản này có thể gây nhầm lẫn trong một số trường hợp vì một số địa phương có danh xưng làng xã có thể có dân số đông hơn các thị trấn nhỏ.
=== Hoa Kỳ ===
Tại Hoa Kỳ, có hai loại khu đô thị. Thuật từ urbanized area dùng để chỉ một khu đô thị có từ 50.000 dân trở lên. Các khu đô thị dưới 50.000 dân được gọi là urban cluster. Cụm từ Urbanized areas được sử dụng lần đầu tiên tại Hoa Kỳ trong cuộc điều tra dân số năm 1950 trong khi cụm từ urban cluster được thêm vào trong cuộc điều tra dân số năm 2000. Có khoảng 1371 khu đô thị trên 10.000 người tại Hoa Kỳ.
Cục điều tra dân số Hoa Kỳ định nghĩa một khu đô thị như "những cụm thống kê cốt lõi có mật độ dân số ít nhất là 1.000 người trên một dặm vuông Anh hay 386 người trên một cây số vuông và những cụm thống kê xung quanh nó có tổng mật độ dân số ít nhất là 500 người trên một dặm vuông hay 193 người trên một cây số vuông."
Khái niệm về khu đô thị được Cục điều tra dân số Hoa Kỳ định nghĩa thường được dùng như thước đo chính xác hơn diện tích của một thành phố vì trong các thành phố khác nhau cũng như tiểu bang khác nhau, đường phân giới giữa các ranh giới thành phố và khu đô thị của thành phố đó thường không như nhau. Thí dụ, thành phố Greenville, Nam Carolina có dân số thành phố dưới 60.000 nhưng khu đô thị có trên 300.000 người trong khi đó Greensboro, Bắc Carolina có dân số thành phố trên 200.000 nhưng dân số khu đô thị khoảng 270.000. Điều đó có nghĩa là Greenville thật sự "lớn hơn" theo một số ý nghĩa và mục đích nào đó nhưng không phải theo một số ý nghĩa và mục đích khác, thí dụ như thuế, bầu cử địa phương.
Khoảng 70% dân số Hoa Kỳ sống bên trong ranh giới của các khu đô thị (210 trong số 300 triệu người). Tổng cộng thì các khu đô thị này chiếm khoảng 2% diện tích Hoa Kỳ. Phần lớn cư dân đô thị là những người sống ở ngoại ô. Cư dân sống trong thành phố trung tâm cốt lõi chiếm khoảng 30% dân số khu đô thị (khoảng 60 trong 210 triệu người).
== Đô thị và nông thôn dưới khía cạnh xã hội học ==
=== Khái niệm đô thị dưới khía cạnh xã hội học ===
Dưới khía cạnh xã hội học, đô thị và nông thôn là hai khái niệm về mặt nội dung có hàng loạt đặc điểm có tính đối lập nhau. Các nhà xã hội học đã đưa ra rất nhiều cơ sở khác nhau để phân biệt đô thị và nông thôn. Sự phân chia đó có thể dựa trên cơ sở các lĩnh vực hoạt động sống của xã hội như lĩnh vực công nghiệp, nông nghiệp, thủ công nghiệp, thương nghiệp, giao thông, vận tải, dịch vụ,... hoặc dựa trên các thiết chế chủ yếu của xã hội như thiết chế kinh tế, văn hóa, giáo dục, chính trị, gia đình,... hoặc theo các nhóm, các giai cấp, tầng lớp xã hội, hay theo bình diện lãnh thổ.
Cũng có một số nhà lý luận xã hội học lại cho rằng, để phân biệt giữa đô thị và nông thôn theo sự khác biệt giữa chúng về các mặt kinh tế, xã hội và môi trường. Như về mặt kinh tế thì giữa đô thị và nông thôn có sự khác biệt về lao động, nghề nghiệp, mức độ và cách thu nhập về dịch vụ, v.v... Về mặt xã hội thì đó là sự khác biệt trong lối sống, giao tiếp, văn hóa, gia đình, mật độ dân số, nhà ở, v.v... Về mặt môi trường thì chủ yếu ở đây là môi trường tự nhiên, mức độ ô nhiễm, v.v...
Nhấn mạnh từ góc độ xã hội thì cả đô thị và nông thôn đều được coi là những hệ thống xã hội, những cộng đồng xã hội có những đặc trưng riêng biệt như những xã hội nhỏ và trong đó có đầy đủ các yếu tố, các vấn đề xã hội và các thiết chế xã hội. Vì vậy, trước hết đô thị và nông thôn cần được xem xét như một cơ cấu xã hội, trong đó có hàng loạt các yếu tố, các lĩnh vực nằm trong mối quan hệ chặt chẽ với nhau.
Để xác định đô thị và nông thôn dễ dàng được chấp nhận, là việc coi đô thị và nông thôn như các hệ hệ thống xã hội được phân biệt theo ba đặc trưng cơ bản sau:
Về các nhóm giai cấp, tầng lớp xã hội thì ở đô thị đặc trưng chủ yếu là giai cấp công nhân, ngoài ra còn có các tầng lớp giai cấp khác như tư sản, thợ thủ công, viên chức, trí thức, v.v... Còn đối với nông thôn thì đặc trưng chủ yếu ở đây là nông dân, ngoài ra ở từng xã hội còn có các giai cấp, tầng lớp như địa chủ, phú nông, nhóm thợ thủ công nghiệp, buôn bán nhỏ, v.v...
Về lĩnh vực sản xuất chủ yếu ở đô thị có đặc trưng là sản xuất công nghiệp; ngoài ra, còn có các lĩnh vực khác như dịch vụ, thương nghiệp, sản xuất tinh thần, v.v... Còn đối với nông thôn thì đặc trưng rõ nét nhất là sản xuất nông nghiệp; ngoài ra, còn phải kể đến cấu trúc phi nông nghiệp bao gồm: dịch vụ, buôn bán, tiểu thủ công nghiệp mà có vai trò rất lớn đối với lĩnh vực sản xuất nông nghiệp.
Về lối sống, văn hóa của từng loại cộng đồng, thì đối với nông thôn thường rất đặc trưng với lối sống văn hóa của cộng đồng làng xã mà được phân biệt rất rõ ràng với lối sống thị dân đặc trưng cho khu vực đô thị. Đặc trưng này có rất nhiều khía cạnh để chỉ ra sự khác biệt giữa đô thị và nông thôn: từ hệ thống dịch vụ, sự giao tiếp, đời sống tinh thần, phong tục, tập quán, hệ giá trị, chuẩn mực cho hành vi,... đến khía cạnh dân số, lối sống gia đình, sinh hoạt kinh tế,... ngay cả đến hệ thống đường sá, năng lượng, nhà ở đều nói lên đây là hai cộng đồng có các khía cạnh văn hóa, lối sống tách biệt nhau. Đây là đặc trưng cơ bản nhất về mặt xã hội học khi phân tích sự khác biệt giữa đô thị và nông thôn. Chính đặc trưng thứ ba đã tạo ra bản sắc riêng, diện mạo riêng cho hai hệ thống xã hội đô thị và nông thôn.
=== Xã hội học đô thị ===
== Xem thêm ==
Đô thị hóa
Quy hoạch xây dựng đô thị
Thiết kế đô thị
Nông thôn
Ngoại ô
Ấp
Làng
Thị trấn
Thành phố
== Tham khảo ==
== Liên kết ngoài ==
United Nations Statistics Division (UNSTAT): Definition of "urban"
World Urban Areas All identified world urbanized areas 500,000+ and others: Population & Density. Author seeks advice on any that appear to be missing: wcox@demographia.com
City Mayors - The World's Largest Urban Areas Projected for 2020 |
stefan edberg.txt | Stefan Bengt Edberg (sinh ngày 19 tháng 2 năm 1966) là cựu tay vợt số 1 thế giới người Thụy Điển. Là người khởi tạo ra lối đánh giao bóng và lên lưới trong môn quần vợt, anh vô địch 6 giải đơn Grand Slam đơn và 3 giải đôi nam Grand Slam
== Sự nghiệp ==
Edberg bắt đầu chơi quần vợt từ lúc rất trẻ. Anh vô địch 4 Grand Slam trẻ trong năm 1983 để trở thành tay vợt đầu tiên giành được danh hiệu "Junior Grand Slam". Cũng trong năm đó, Edberg chuyển sang thi đấu chuyên nghiệp và thắng giải đôi tại Basel.
Năm 1984, Edberg giành danh hiệu lớn đầu tiên tại in Milan. Edberg cũng giành chức vô địch tại Thế vận hội Mùa hè 1984 khi môn này được đưa ra trình diễn tại đại hội, anh cùng Anders Järryd vào đến chung kết đôi giải Mỹ Mở rộng. Edberg và Järryd cũng vào đến chung kết giải Pháp Mở rộng năm 1986 và trở thành đôi vợt số 1 thế giới trong năm đó.
Edberg lần đầu tiên vô địch giải Grand Slam với 2 giải Úc Mở rộng. Edberg cũng thắng giải đôi Úc Mở rộng và Mỹ Mở rộng năm 1987 (cùng với Anders Järryd).
Giải Grand Slam duy nhất còn thiếu là igiải Pháp Mở rộng. Anh vào đến chung kết năm 1989 nhưng để thua 5 set với đối thủ 17 tuổi Michael Chang, người sau đó trở thành tay vợt trẻ nhất trong lịch sử đoạt được 1 giải Grand Slam.
Lối chơi của Edberg rất phù hợp mặt sân có bề mặt cứng. Trong 6 danh hiệu Grand Slam, 4 danh hiệu trên mặt sân cỏ tại giải Úc Mở rộng (1985, 1987) và Wimbledon (1988, 1990) and 2 giải mặt sân cứng tại Mỹ Mở rộng (1991, 1992).
== Thành tích ==
=== Grand Slam ===
==== Vô địch đơn(6) ====
==== Á quân đơn(5) ====
==== Vô địch đôi(3) ====
==== Á quân đôi(3) ====
=== Masters Series ===
==== Vô địch(4) ====
==== Á quân(5) ====
==== Vô địch đôi (1) ====
==== Á quân đôi (1) ====
== Tham khảo == |
ngày quốc khánh.txt | Ngày quốc khánh là ngày lễ quan trọng của một quốc gia. Nó đánh dấu một sự kiện lịch sử, chính trị hoặc văn hóa gắn liền với lịch sử Nhà nước hiện tại của quốc gia đó. Tại hầu hết các nước, ngày quốc khánh đánh dấu sự khai sinh của quốc gia: ngày giành được độc lập như ở Mỹ, lật đổ chế độ cũ như tại Pháp, ngày thông qua hiến pháp như ở Thổ Nhĩ Kỳ...
=== B ===
Bahamas: 10 tháng 7
Bahrain: 16 tháng 12
Bangladesh: 26 tháng 3
Barbados: 30 tháng 11
Belarus: 3 tháng 7
Bỉ: 21 tháng 7
Belize: 10 tháng 9 và 21 tháng 9
Bénin: 1 tháng 8
Bermuda: 24 tháng 5
Bhutan: 17 tháng 12
Bolivia: 6 tháng 8
Bonaire (Hà Lan) 6 tháng 9
Bosnia và Herzegovina: 1 tháng 3
Botswana: 30 tháng 9
Brasil: 7 tháng 9
Anh (11 tháng 6 Ngày nước Anh)
Quần đảo Virgin thuộc Anh 1 tháng 7
Bồ Đào Nha: 10 tháng 6
Brunei: 23 tháng 2
Bulgaria: 3 tháng 3
Burkina Faso: 4 tháng 8
Burundi: 1 tháng 7
=== C ===
Campuchia: 9 tháng 11
Cameroon: 20 tháng 5
Canada: 1 tháng 7
Cape Verde: 12 tháng 9
Catalonia (Tây Ban Nha) 11 tháng 9
Quần đảo Cayman thứ Hai đầu tiên của tháng 7
Cộng hoà Trung Phi: 1 tháng 12
Tchad: 11 tháng 8
Chile: 18 tháng 9
Trung Quốc 1 tháng 10
Colombia: 20 tháng 7
Comoros: 6 tháng 7
Quần đảo Cook: 4 tháng 8
Costa Rica: 15 tháng 9
Bờ biển Ngà: 7 tháng 8
Croatia: 25 tháng 6
Cuba: 1 tháng 1
Curaçao (Hà Lan) 2 tháng 7
Síp: 1 tháng 10
Cộng hoà Séc: 28 tháng 10 (ngày này của Cộng hòa Séc hơi phức tạp)
=== D ===
Cộng hoà Dân chủ Congo: 30 tháng 6
Đan Mạch: 5 tháng 6
Djibouti: 27 tháng 6
Dominica: 3 tháng 11
Cộng hòa Dominicana: 27 tháng 2 16 tháng 8
=== E ===
Đông Timor: 28 tháng 11
Ecuador: 10 tháng 8
Ai Cập: 23 tháng 7: 6 tháng 10
El Salvador: 15 tháng 9
Anh: 23 tháng 4
Guinea xích đạo: 12 tháng 10
Eritrea: 24 tháng 5
Estonia: 24 tháng 2
Ethiopia: 28 tháng 5
=== F ===
Quần đảo Falkland: 14 tháng 6
Quần đảo Faroe (Đan Mạch) 29 tháng 7
Fiji: 10 tháng 10
Phần Lan: 6 tháng 12
Pháp: 14 tháng 7 (Ngày Fête de la Fédération)
Guyana thuộc Pháp (Pháp) 14 tháng 7
Polynesia thuộc Pháp (Pháp) 14 tháng 7
=== G ===
Gabon: 17 tháng 8
Gambia: 18 tháng 2
Gruzia: 26 tháng 5
Đức: 3 tháng 10
Ghana: 6 tháng 3
Gibraltar 10 tháng 9
Hy Lạp: 25 tháng 3 & 28 tháng 10
Greenland (Đan Mạch) 21 tháng 6 (Ngày dài nhất trong năm)
Grenada: 7 tháng 2
Guadeloupe (Pháp) 14 tháng 7
Guam (Hoa Kỳ) 21 tháng 7
Guatemala: 15 tháng 9
Guernsey and Dependencies: 9 tháng 5
Guinea: 3 tháng 4
Guinea-Bissau: 24 tháng 9
Guyana: 23 tháng 2
=== H ===
Haiti: 1 tháng 1
Herm: 9 tháng 5
Honduras: 15 tháng 9
Hong Kong: 1 tháng 7
Hungary: 15 tháng 3: 20 tháng 8 23 tháng 10
=== I ===
Iceland: 17 tháng 6
Ấn Độ: 26 tháng 1-Republic Day (Anniversary of India becoming the first republic in the British Commonwealth of Nations on 26 tháng 1 năm 1950); 15 tháng 8-Independence Day (Anniversary of India gaining independence from the British Empire on 15 tháng 8 năm 1947); 2 tháng 10-Birthday of Mahatma Gandhi, Father of the Nation.
Indonesia: 17 tháng 8
Iran: 1 tháng 4
Iraq: 3 tháng 10
Ireland: 17 tháng 3 (St. Patrick's Day)
Đảo Man: 5 tháng 7
Israel: 14 tháng 5 (around the --, according to Jewish calendar)
Ý: 2 tháng 6 (Festa della Repubblica)
Nhật Bản: 11 tháng 2 (National Foundation Day)
Jersey: 9 tháng 5
Jordan: 25 tháng 5
=== K ===
Kazakhstan: 25 tháng 10
Kenya: 16 tháng 12
Kiribati: 12 tháng 7
Kuwait: 25 tháng 2
Kyrgyzstan: 31 tháng 8
=== L ===
Lào: 2 tháng 12
Latvia: 18 tháng 11
Liban: 22 tháng 11
Lesotho: 4 tháng 10
Liberia: 26 tháng 7
Libya: 1 tháng 9
Liechtenstein: 15 tháng 8
Litva: 16 tháng 2
Luxembourg: 23 tháng 6
=== M ===
Macedonia: 8 tháng 9
Macau: 20 tháng 12
Madagascar: 26 tháng 6
Malawi: 6 tháng 7
Malaysia: 31 tháng 8
Maldives ngày đầu tiên của tháng thứ ba trong lịch Hồi giáo
Mali: 22 tháng 9
Malta: 21 tháng 9; 31 tháng 3; 8 tháng 9; 13 tháng 12; 7 tháng 6
Quần đảo Marshall: 1 tháng 5
Martinique (Pháp) 14 tháng 7
Mauritanie: 28 tháng 11
Mauritius: 12 tháng 3
Mayotte (Pháp) 14 tháng 7
México: 16 tháng 9
Liên bang Micronesia: 3 tháng 11 (Independence Day)
Moldova: 27 tháng 8
Monaco: 19 tháng 11
Mông Cổ: 11 tháng 7
Montenegro 13 tháng 7
Montserrat ngày thứ bảy của tuần thứ hai vào tháng 6
Maroc: 2 tháng 3
Mozambique: 25 tháng 6
Myanma: 14 tháng 11
=== N ===
Namibia: 21 tháng 3
Nauru: 31 tháng 1
Nepal: 18 tháng 2: 28 tháng 12
Antille thuộc Hà Lan (Hà Lan) 30 tháng 4
Hà Lan (quốc gia) (Queensday) 30 tháng 4, (Bevrijdingsdag|Liberation Day) 5 tháng 5, 15 tháng 12
New Caledonia (Pháp) 14 tháng 7
New Zealand: 6 tháng 2 (Waitangi Day)
Nhật Bản: 11 tháng 2 (National Foundation Day)
Nicaragua: 15 tháng 9
Niger: 18 tháng 12
Nigeria: 1 tháng 10 và 29 tháng 5
Niue: 6 tháng 2
Đảo Norfolk (Úc) 8 tháng 6
Triều Tiên: 8 tháng 9.
Bắc Ireland: 17 tháng 3 (St. Patrick's Day) and 12 tháng 7 (Battle of the Boyne Day)
Quần đảo Bắc Mariana: 8 tháng 1
Na Uy: 17 tháng 5
=== O ===
Oman: 18 tháng 11
=== P ===
Pakistan: 28 tháng 1 (Pakistan day), 23 tháng 3 (Ngày Cộng Hoà), 14 tháng 8 (Ngày Độc Lập)
Palau: 9 tháng 7
Panama: 3 tháng 11
Papua New Guinea: 16 tháng 9
Paraguay: 14 tháng 5
Peru: 28 tháng 7
Philippines: 12 tháng 6
Quần đảo Pitcairn Thứ bảy của tuần thứ 2 trong tháng 6
Ba Lan: 3 tháng 5, Ngày Công bố hiến pháp, và 11 tháng 11, (Ngày Độc Lập)
Puerto Rico (Hoa Kỳ) 25 tháng 7 (Ngày công bố hiến pháp)
=== Q ===
Qatar, 18 tháng 12 (Official National Day)
Québec, 24 tháng 6 (Quebec's National Holiday)
=== R ===
Cộng hoà Congo: 15 tháng 8
Réunion (Pháp) 14 tháng 7
România: 1 tháng 12
Nga: 12 tháng 6
Rwanda: 1 tháng 7
=== S ===
Saba (Hà Lan) 3 tháng 12
Sint Eustatius (Hà Lan) 16 tháng 11
Saint Helena Ngày thứ bảy của tuần thứ 2 trong tháng 6
Saint Kitts và Nevis: 19 tháng 9
Saint Lucia: 13 tháng 12
Saint Maarten (Hà Lan) 11 tháng 11
Saint-Pierre và Miquelon (Pháp) 14 tháng 7
Saint Vincent và Grenadines: 27 tháng 10
Sami (Thuỵ Điển, Phần Lan, Na Uy, Nga) 6 tháng 2
Samoa: 1 tháng 6
San Marino: 3 tháng 9
São Tomé và Príncipe: 12 tháng 7
Sark: 9 tháng 5
Ả Rập Saudi: 23 tháng 9
Scotland: 30 tháng 11 (St. Andrew's Day)
Senegal: 4 tháng 4
Serbia: 15 tháng 2
Seychelles: 18 tháng 6
Sierra Leone: 27 tháng 4
Singapore: 9 tháng 8
Slovakia: 29 tháng 8: 1 tháng 9
Slovenia: 25 tháng 6
Quần đảo Solomon: 7 tháng 7
Somalia: 21 tháng 10
Nam Phi: 27 tháng 4
Quần đảo Nam Georgia và Nam Sandwich Ngày thứ 7 của tuần thứ 2 trong tháng 6
Hàn Quốc: 15 tháng 8
Tây Ban Nha: 12 tháng 10 (Hispanic Day)
Sri Lanka: 4 tháng 2
Sudan: 1 tháng 1
Suriname: 25 tháng 11
Swaziland: 6 tháng 9
Thụy Điển: 6 tháng 6
Thụy Sĩ: 1 tháng 8
Syria: 17 tháng 4
=== T ===
Triều Tiên (Bắc Triều Tiên): 9 tháng 9
Tajikistan: 9 tháng 9
Trung Hoa Dân Quốc (thường gọi là Đài Loan) 10 tháng 10
Tanzania: 26 tháng 4
Tartarstan: 30 tháng 8
Thái Lan: 5 tháng 12
Togo: 27 tháng 4
Tonga: 4 tháng 6
Transnistria: 2 tháng 9
Trinidad và Tobago: 31 tháng 8
Tunisia: 20 tháng 3
Thổ Nhĩ Kỳ: 29 tháng 10
Bắc Síp: 15 tháng 11
Turkmenistan: 27 tháng 10
Quần đảo Turks và Caicos: 30 tháng 8
Tuvalu: 1 tháng 10
=== U ===
Uganda: 9 tháng 10
Ukraina: 24 tháng 8
Các Tiểu Vương quốc Ả Rập Thống nhất: 2 tháng 12
Anh Quốc
Hoa Kỳ: 4 tháng 7
Quần đảo Virgin thuộc Mỹ (Hoa Kỳ) 31 tháng 3
Uruguay: 25 tháng 8
Uzbekistan: 1 tháng 9
Uzupis: 1 tháng 4
=== V ===
Vanuatu: 30 tháng 7
Vatican: 24 tháng 4
Venezuela: 5 tháng 7
Việt Nam: 2 tháng 9
=== W ===
Wales 2 tháng 3 (St. David's Day)
=== Y ===
Yemen: 22 tháng 5
Nam Tư 29 tháng 11
=== Z ===
Zambia: 24 tháng 10
Zimbabwe: 18 tháng 4
== Tham khảo == |
tần thủy hoàng.txt | Tần Thủy Hoàng (tiếng Hán: 秦始皇)(tháng 1 hoặc tháng 12, 259 TCN – 10 tháng 8, 210 TCN) , tên thật là Doanh Chính (嬴政), còn có tên khác là Triệu Chính (趙政), là vua của nước Tần ở Trung Quốc từ năm 246 TCN đến 221 TCN trong thời kỳ Chiến Quốc và trở thành vị Hoàng đế sáng lập ra nhà Tần, đồng thời là hoàng đế đầu tiên của Trung Quốc thống nhất vào năm 221 trước Công nguyên sau khi tiêu diệt các nước chư hầu khác. Ông cai trị cho đến khi qua đời vào năm 210 trước Công nguyên ở tuổi 49
Tự gọi mình là Thủy Hoàng (始皇帝) sau khi Trung Nguyên (Trung Quốc ngày nay) được thống nhất, Tần Thủy Hoàng là một nhân vật quan trọng trong lịch sử Trung Quốc, mở ra gần hai thiên niên kỷ của hoàng gia cai trị Trung Quốc. Sau khi thống nhất, ông và thừa tướng Lý Tư đã thông qua một loạt các cải cách lớn về kinh tế và chính trị . Ông đã tiến hành nhiều dự án khổng lồ, bao gồm việc xây dựng và hợp nhất các bộ phận của Vạn Lý Trường Thành, lăng mộ kích thước thành phố nổi tiếng được bảo vệ bởi đội quân đất nung có kích thước thật, và một hệ thống đường quốc gia lớn, với cái giá của rất nhiều mạng người. Để đảm bảo sự ổn định, ông đặt ra ngoài vòng pháp luật và đốt cháy nhiều cuốn sách và chôn sống một số học giả .
== Tên gọi ==
=== Ý nghĩa ===
Trong thời gian trước thời nhà Chu và sau đó, các nhà cai trị các quốc gia độc lập của Trung Quốc theo quy ước đều xưng "vương" (王). Sau khi đánh bại vị vua chư hầu cuối cùng của Chiến Quốc vào năm 221 trước Công nguyên, vua Doanh Chính của Tần đã trở thành người cai trị trên thực tế của toàn Trung Nguyên. Để ăn mừng thành tích này và củng cố cơ sở quyền lực của mình, Doanh Chính đã tạo ra một danh hiệu mới tự xưng là Tần Thủy Hoàng Đế (秦始皇帝), thường được rút ngắn là Tần Thủy Hoàng (秦始皇), cũng gọi là Tần Vương (秦王). (Xem Vương triều đại Tần và Kinh kha hành thích Tần Vương)
Chữ Thủy (始) có nghĩa là "đầu tiên" . Người thừa kế sau đó sẽ được gọi tiếp là "Nhị Thế", "Tam Thế" và như vậy cho đến muôn đời.
Chữ Hoàng Đế (皇帝) đến từ thần thoại Tam Hoàng Ngũ Đế (三皇五帝) (thế kỷ thứ 3 trước Công nguyên), nơi chữ này được trích ra . Bằng cách thêm vào một tiêu đề như vậy, Tần Thủy Hoàng hy vọng sẽ có sự thiêng liêng và uy tín của Hoàng Đế (黄帝) trước kia.
Ngoài ra, chữ "Hoàng" (皇) có nghĩa là "sáng" hay "lộng lẫy" và "thường xuyên nhất được sử dụng như là một chữ chỉ thiên đường" .
=== Sử dụng ===
Cả hai tên gọi "Tần Thủy Hoàng Đế" (秦始皇帝) và "Tần Thủy Hoàng" (秦始皇) đều xuất hiện trong Sử ký bằng văn bản của Tư Mã Thiên. Cái tên Tần Thủy Hoàng Đế xuất hiện lần đầu tiên trong chương 5 , mặc dù cái tên Tần Thủy Hoàng ngắn hơn lại là tên của chương 6 (秦始皇本纪) . Tuy nhiên, tên Tần Thủy Hoàng Đế được coi là chính xác do Doanh Chính hợp nhất chữ Hoàng (hoàng gia) và Đế (cai trị), để tạo ra chữ Hoàng đế
== Thân thế ==
Tần Thủy Hoàng là con trai cả của Trang Tương Vương nước Tần , mẹ là Triệu Cơ, vốn là một người thiếp của Lã Bất Vi - một thương nhân và sau trở thành Tướng quốc nước Tần. Ông sinh ra vào tháng giêng năm 259 TCN , ở đô thành Hàm Đan của nước Triệu (趙). Vì lý do nơi sinh này nên có ý kiến cho rằng lúc nhỏ, ông họ Triệu tên Chính. Tổ tiên của ông được cho là đến từ vùng Cam Túc .
Sử sách, mà cụ thể là sử ký Tư Mã Thiên ghi nơi sinh và cha mẹ ông; nhưng chính Tư Mã Thiên cũng cho biết, có thuyết nói rằng Tần Thủy Hoàng là con của Lã Bất Vi.
Năm 265 TCN, vua Tần là Tần Chiêu Vương lập con trai thứ là An Quốc quân Doanh Trụ làm Thái tử. Công tử Tử Sở là con trai giữa của Thái tử với một người vợ thứ, Hạ Cơ. Hạ Cơ không được An Quốc quân yêu mến, nên Tử Sở phải đi làm con tin của Tần ở nước Triệu để đảm bảo cho một hiệp ước đình chiến giữa hai quốc gia . Tần nhiều lần đem quân đánh Triệu, làm Triệu thua to trong trận Trường Bình đẫm máu, nên nước Triệu càng bạc đãi Tử Sở. Sau ông có quen với Lã Bất Vi, một thương gia giàu có. Bằng mưu mô của mình, Lã Bất Vi đã dâng Triệu Cơ, vũ nữ và người thiếp của Lã đang mang thai , cho Tử Sở, lại giúp Tử Sở về Tần làm Thái tử rồi lên ngôi vua, thành Trang Tương Vương nước Tần. Cái thai trong bụng được Triệu Cơ giấu kín, để đủ tháng sinh ra, đặt tên là Chính, tức Tần Thủy Hoàng sau này.
Tuy nhiên, theo ý kiến của một số sử gia Trung Quốc hiện đại gần đây thì Doanh Chính là con của Tử Sở chứ không phải là con của Lã Bất Vi. Thuyết này lập luận tập trung vào 2 điểm:
Một bộ phận lớn triều thần nước Tần vẫn tin vào việc Doanh Chính là con Tử Sở và vẫn hết lòng ủng hộ Doanh Chính trước sau như một. Do đó, chính quyền của Doanh Chính vẫn đứng vững trước cuộc binh biến do Phàn Ô Kỳ phát động nhằm dựng Thành Kiệu lên ngôi. Đại tướng Vương Tiễn đi dẹp cuộc binh biến này trả lời Phàn Ô Kỳ: "Thái hậu có mang mười tháng mới sinh, vậy nay tức là con tiên vương đẻ ra..." Ngay trong thời đó, những người theo thuyết gán Lã Bất Vi là cha Doanh Chính cũng không thể lý giải một cách khoa học vì sao Triệu Cơ lại mang thai Doanh Chính tới 12 tháng mà lập luận theo cách "thiên mệnh" rằng: "Có thể tại lòng trời muốn sinh ra một vị chân mạng thiên tử nên mới để người mẹ hoài thai lâu như vậy...". Các nhà sử học lý giải rằng: Thực tế, Doanh Chính vẫn chỉ nằm trong bụng mẹ 10 tháng như những đứa trẻ khác kể từ khi Vu Cơ về với Tử Sở. Do cộng thêm thời gian Vu Cơ ở với Bất Vi, thời gian mới là 12 tháng.
Thuyết này là sản phẩm của sĩ phu các nước chư hầu Sơn Đông bị Tần Thủy Hoàng tiêu diệt. Họ căm hờn vì bị mất nước, nên nhân việc mẹ vua Tần từng là thiếp của Bất Vi để đặt ra chuyện này nhằm hạ thấp kẻ thù không đội trời chung của mình.
Các giáo sư John Knoblock và Jeffrey Riegel, trong bản dịch Lã thị Xuân Thu của họ, gọi câu chuyện này "rõ ràng là sai, nhằm mục đích phỉ báng Bất Vi và xúc phạm Hoàng đế đầu tiên."
== Thời trẻ lưu lạc ==
Hai năm ngay trước khi Tần Thủy Hoàng ra đời (262 TCN - 260 TCN), nước Tần và nước Triệu đánh nhau đẫm máu trong trận chiến Trường Bình, kết cục 450.000 quân Triệu đều bị thảm sát, Triệu đại bại. Vì vậy, Triệu đối xử với công tử Tử Sở hết sức khắc nghiệt, "xe ngựa, vật dụng dùng chẳng được sẵn, ở cảnh cùng khốn có vẻ bực bội", dù ông đã nổi danh khắp chư hầu với tư cách là người kế thừa vương vị khi cha ông lên ngôi. Năm 257 TCN, Tần Chiêu Vương sai tướng Vương Ý vây đô thành Hàm Đan, Triệu cùng quẫn muốn giết Tử Sở, ông cùng Lã Bất Vi chạy thoát về với quân Tần, nhưng Triệu Cơ cùng Doanh Chính không kịp trốn theo, phải ở lại Triệu. Triệu muốn giết cả hai người nhưng Triệu Cơ là con nhà tai mắt ở Triệu, vì thế hai mẹ con đều sống. Họ lẩn trốn trong dân gian suốt 7 năm trời đằng đẵng (257 TCN - 250 TCN).
Năm 250 TCN, Tần Chiêu Tương vương chết, An Quốc quân lên ngôi, tức là Tần Hiếu Văn Vương, lập Tử Sở làm Thái tử, nước Triệu bèn đưa Triệu Cơ và Doanh Chính về Tần. Hiếu Văn Vương làm vua không lâu thì chết, Tử Sở kế thừa vương vị, tức là Tần Trang Tương Vương, phong Lã Bất Vi chức Thừa tướng, tước Văn Tín hầu. Năm 247 TCN, Trang Tương Vương mất sau ba năm trị vì, ngôi vua thuộc về Doanh Chính, khi ấy mới 13 tuổi .
== Tần vương Chính ==
=== Củng cố quyền lực ===
Tần Vương lên ngôi, tôn mẹ là Triệu Cơ (趙姬) làm Thái hậu, phong Thừa tướng Lã Bất Vi làm Tướng quốc, gọi là "trọng phụ", coi như người cha thứ hai của mình.
Tướng quốc vốn là chồng cũ của thái hậu, thường ra vào cung cấm tư thông với bà ta. Tần Vương còn nhỏ nên không hay biết hoặc giả vờ không hay biết. Sau đó thì Lã Bất Vi cảm thấy lo sợ nhà vua nhỏ tuổi biết chuyện nên ngầm sai người tìm kiếm một nam nhân cường tráng, dương vật lớn là Lao Ái (嫪毐) . Theo Sử ký, ông trước tiên dùng Lao Ái làm gia nhân rồi dâng Ái vào cung giả làm hoạn quan bằng cách nhổ râu để "hầu hạ" thái hậu. Sau một thời gian thái hậu sợ Tần vương biết chuyện bèn dời Hàm Dương về cựu đô là Ung Thành (雍) sống cùng Lao Ái và sinh được 2 con trai .
Nhờ thái hậu, Lao Ái được phong làm Trường Tín hầu, cũng mưu xây dựng thế lực, mở phủ nuôi thực khách như Lã Bất Vi. Lao Ái mưu đồ cho con mình và thái hậu nối ngôi khi Tần vương Chính qua đời. Nhưng trong một bữa ăn tối do say rượu nên Lao Ái bắt đầu khoác lác về việc là cha dượng của vị vua trẻ .
Năm 238 trước Công nguyên, Doanh Chính đi du lịch đến Ung Thành. Lao Ái chiếm con dấu của thái hậu và huy động một đội quân trong một nỗ lực để bắt đầu một cuộc đảo chính và nổi loạn . Hơn 1 triệu đồng tiền đồng được đặt trên đầu của Lao Ái nếu bị bắt sống hoặc nửa triệu nếu chết . Những người ủng hộ Lao Ái bị bắt và bị chặt đầu còn Lao Ái thì bị trói và xé xác bởi 5 cỗ xe ngựa, trong khi toàn bộ gia đình của ông ta thì bị giết cả 3 họ. Hai người con riêng của thái hậu đều bị giết và bà bị giam lỏng cho đến khi chết nhiều năm sau đó. Vụ việc liên quan tới Lã Bất Vi, ông bị cách chức, lưu đày rồi sang năm 235 TCN thì được cho một chén rượu độc để tự tử . Doanh Chính sau đó nắm quyền đầy đủ như vua của nước Tần. Thay thế Lã Bất Vi, Lý Tư trở thành thừa tướng mới.
=== Nhiệm vụ ám sát của Kinh Kha ===
Nước Yên khi đó nhỏ, yếu và thường xuyên bị sách nhiễu bởi các binh sĩ nên không phải là đối thủ của nước Tần . Vì vậy Thái tử Đan nước Yên cầu xin dũng sĩ Kinh Kha đi hành thích Tần vương Chính vào năm 227 TCN . Đi theo Kinh Kha có Tần Vũ Dương. Họ giả vờ tặng cho Doanh Chính bản đồ của Đốc Cương và cái đầu của Phàn Ư Kỳ .
Mang theo một thanh chuỷ thủ tẩm thuốc độc giấu trong tờ bản đồ, Kinh Kha và Tần Vũ Dương vào trong triều đình nước Tần. Tần Vũ Dương mang tờ bản đồ còn Kinh Kha mang đầu Phàn Ư Kỳ. Tần Vũ Dương hoảng sợ biến sắc mặt do run lên vì sợ hãi. Kinh Kha giải thích rằng cộng sự của ông "chưa bao giờ dám đặt mắt vào Thiên tử" và lấy bản đồ trong tay Tần Vũ Dương dâng nộp vua Tần . Khi mở bản đồ Kinh Kha rút thanh chuỷ thủ đâm Doanh Chính. Nhà vua liền lùi lại và rút thanh kiếm sau lưng để bảo vệ mình . Vào thời điểm đó, các quan đều không được phép mang vũ khí. Kinh Kha đuổi theo, cố gắng để đâm nhà vua nhưng lại trượt. Doanh Chính lại rút kiếm của mình và cắt đùi Kinh Kha. Kinh Kha liền ném con dao găm nhưng lại trượt một lần nữa. Chịu tám vết thương từ thanh kiếm của nhà vua, Kinh Kha nhận ra nỗ lực của ông đã thất bại. Cả Kinh Kha và Tần Vũ Dương đều bị giết sau đó Nước Yên bị chinh phục bởi nước Tần 5 năm sau đó .
=== Vụ ám sát của Cao Tiệm Ly ===
Cao Tiệm Ly là một người bạn thân của Kinh Kha, người muốn trả thù cho cái chết của ông.. Là một người nghệ sĩ gảy đàn trúc nổi tiếng, một ngày kia ông được triệu tập bởi Doanh Chính để chơi các nhạc cụ. Một số người trong cung điện biết đến ông trong quá khứ kêu lên, "Đây là Cao Tiệm Ly" . Do không muốn giết một nhạc sĩ có tay nghề cao, hoàng đế đã ra lệnh móc mắt ông nhưng lại cho phép Cao Tiệm Ly chơi đàn trong sự hiện diện của ông Ông nghe Cao Tiệm Ly gảy đàn rất thích thú nên mỗi ngày lại cho phép xích lại gần hơn. Cao Tiệm Ly lén đổ chì vào bầu đàn rồi nhân dịp Doanh Chính ngồi cạnh mà đánh nhưng vì mắt mù nên đánh không trúng. Cao Tiệm Ly sau đó bị xử tử
== Thống nhất Trung Hoa ==
Khi Tần vương Chính lên ngôi, nước Tần đã rất lớn mạnh, có ưu thế áp đảo so với 6 nước chư hầu còn lại. Đất Tần đã mở mang về phía đông rất rộng, lấy từ các nước lân cận như Hàn, Triệu, Ngụy, Sở và nhà Chu (bị diệt năm 249 TCN). Các nước chư hầu Sơn Đông luôn bị đẩy vào thế chống đỡ, nhiều lần tổ chức liên minh chống Tần nhưng chỉ đạt được một số thắng lợi tạm thời, không ngăn cản được quân Tần đông tiến. Tần vương tiếp tục duy trì chính sách "thân xa đánh gần", giao hảo với nước Tề, uy hiếp lấn chiếm Tam Tấn và Sở. Nước Tề giữ quan hệ với Tần nên không ra quân cứu các chư hầu khác.
Tần vương Chính bên trong dùng Úy Liêu, Lý Tư bày mưu kế, bên ngoài dùng cha con Vương Tiễn, Vương Bí và Mông Ngao, Mông Vũ làm tướng đánh dẹp các nước.
Năm 230 TCN, Tần vương Chính tung ra các chiến dịch cuối cùng của thời kỳ Chiến Quốc nhằm chinh phục các vương quốc độc lập còn lại. Nước Hàn (韓) trước đó bị Tần đánh bại nhiều lần, đã rất nhỏ yếu không còn khả năng kháng cự nên là nước đầu tiên bị hạ. Hàn vương An sợ hãi, vội thu hết sổ sách, địa đồ trong nước sang đầu hàng nộp đất. Tần vương chính thức thôn tính nước Hàn.
Sau khi diệt Hàn, Tần vương Chính điều quân đánh Triệu. Tướng Triệu là Lý Mục đẩy lui được quân Tần. Tần vương bèn dùng kế ly gián, sai người đút lót cho gian thần nước Triệu là Quách Khai, xui Khai gièm pha Lý Mục. Triệu U Mục vương nghe lời gièm, tin rằng Lý Mục có mưu phản, bèn giết chết Lý Mục. Sau đó quân Tần nhân cơ hội nước Triệu bị động đất liền tấn công để chinh phục nơi Doanh Chính được sinh ra . Năm 228 TCN, quân Tần phá vỡ kinh thành Hàm Đan, bắt sống Triệu vương Thiên. Anh Thiên là Triệu Gia chạy lên đất Đại phía bắc xưng vương.
Tần vương Chính quay sang đánh Ngụy để hoàn tất chiến thuật diệt Tam Tấn đầu tiên trong 6 nước. Năm 225 TCN, quân Tần hùng mạnh tấn công Đại Lương, tháo nước sông vào thành. Ngụy vương Giả không chống nổi phải ra hàng.
Ngay trong năm 225 TCN, Tần vương Chính sai Lý Tín mang 20 vạn quân đánh Sở. Lý Tín bị tướng Sở là Hạng Yên đánh bại. Tần vương Chính bèn nghe theo lão tướng Vương Tiễn, tổng động viên 60 vạn quân giao cho Vương Tiễn ra mặt trận.
Vương Tiễn đánh Sở trong 2 năm, đánh bại Hạng Yên, bắt sống Sở vương Phụ Sô. Hạng Yên chạy thoát, lập vua Sở mới là Xương Bình quân lên ngôi. Vương Tiễn lại tấn công xuống phía nam, giết chết vua Sở và Hạng Yên, bình định nước Sở. Nước Sở, quốc gia chư hầu lớn lớn nhất và kình địch nhất của nước Tần đến năm 223 TCN bị chinh phục .
Chỉ còn 2 nước Tề phía đông và Yên phía bắc. Năm 222 TCN, Tần vương sai con Vương Tiễn là Vương Bí mang quân tấn công Yên. Yên vương Hỉ sợ hãi bỏ Kế tại Liêu Đông để chạy sang Bình Nhưỡng, rồi lừa bắt giết thái tử Đan, nộp đầu cho nước Tần để tạ tội với Tần vương Chính. Nhưng Tần vương Chính vẫn hạ lệnh tiến quân, phá vỡ thành Bình Nhưỡng, bắt sống Yên vương Hỷ và gia đình hoàng gia.
Quân Tần nhân đó tiến sang đánh đất Đại. Đại vương Gia (anh Triệu vương Thiên) bị bắt bèn tự sát.
Còn lại nước Tề ở phía đông nước Tần mà bây giờ là bán đảo Sơn Đông, vốn không quen việc chiến tranh suốt hơn 40 năm. Năm 221 TCN, Tần vương Chính lấy cớ Tề vương Kiến mang 300.000 quân phòng thủ ở biên giới phía tây là hành động gây hấn, bèn sai Vương Bí mang quân từ nước Yên tiến thẳng xuống phía nam đánh úp kinh thành Lâm Tri. Tề vương Kiến không chống nổi, phải đầu hàng. Cả 6 nước hoàn toàn bị thôn tính.
Lần đầu tiên trong lịch sử, toàn Trung Quốc đã được thống nhất bởi một nhà cai trị mạnh mẽ. Trong cùng năm đó, Doanh Chính tự xưng là "Thủy Hoàng Đế" (始皇帝), không còn là một vị vua theo nghĩa cũ và vượt xa những thành tựu của các vị vua nhà Chu cũ .
Ở miền Nam, các cuộc mở rộng bằng quân sự tiếp tục trong suốt triều đại của ông, với các vùng khác nhau được sáp nhập với tỉnh Quảng Đông và một bộ phận hiện nay của Việt Nam .
Sau khi đã thôn tính các chư hầu, Tần Vương Chính đề nghị các bầy tôi bàn về danh hiệu cho mình. Thừa tướng là Vương Quán, Ngự sử Đại phu Phùng Kiếp, Đình úy Lý Tư cho rằng cơ nghiệp của Tần vương Chính lớn hơn cả Ngũ Đế thời cổ; trong các vua cổ đại thì Thái Hoàng là cao quý nhất nên khuyên ông xưng là Thái Hoàng. Tần vương Chính quyết định bỏ chữ thái, lấy chữ hoàng, thêm chữ đế, của những vị đế thời thượng cổ hiệu gọi là Hoàng Đế.
Đồng thời, ông phê chuẩn các kiến nghị khác của bầy tôi, từ đó mệnh ban ra gọi là chế, lệnh ban ra gọi là chiếu, thiên tử tự xưng gọi là trẫm. Ông truy tôn vua cha Tần Trang Tương Vương là Thái thượng hoàng.
Vì là hoàng đế Trung Hoa đầu tiên nên ông xưng hiệu Thủy Hoàng Đế. Thủy Hoàng có nghĩa là "hoàng đế đầu tiên", và ông muốn con cháu đời sau lấy danh hiệu: Nhị thế, Tam thế... cho đến vạn thế.
Tần Thủy Hoàng cũng theo thuyết Ngũ hành: đất, gỗ, kim loại, lửa và nước. Người ta tin rằng nhà Chu trước đó cai trị bởi sức mạnh của lửa, đại diện bởi màu đỏ. Nhà Tần kế tục, lấy hành thủy (nước) mà cai trị, đại diện là màu đen. Màu đen trở thành màu sắc cho hàng may mặc, cờ, cờ hiệu. Các mối liên quan khác bao gồm phía bắc là hướng hồng y, mùa đông và số sáu .
=== Hành chính ===
Tần Thủy Hoàng bắt vương tộc sáu nước mà ông đã chiếm, kể cả gia đình các đại thần của họ, phải dời đến Hàm Dương, kinh đô của Tần, để cho ông dễ kiểm soát họ. Triều đình đem phát mãi hết đất đai của họ.
Sau khi thống nhất Trung Quốc, trong một nỗ lực để tránh cục diện chư hầu cát cứ như đời Chu, lập tức thực hiện một loạt cải cách quan trọng, hủy bỏ chế độ cũ, các quốc gia chinh phục được không được phép được gọi là quốc gia độc lập . Ông chia cả nước thành 36 quận (郡) và sau đó là 40 ; quận thú, huyện lệnh do triều đình bổ nhiệm, có thể điều động bất cứ lúc nào. Quận là một quân khu lớn, nhất là ở những miền mới chiếm được. Vì muốn thống nhất quốc gia, Tần Thủy Hoàng chia mỗi quận thành nhiều huyện (县), hương (乡) và các đơn vị lý (里) , có một quận thú coi về dân sự, và một quân uý coi về quân sự. Ở trên cùng, có một viên giám ngự sử chỉ chịu trách nhiệm với nhà vua, như vậy không một viên quan nào chuyên quyền được, không thể thành một ông chúa như thời trước khi thành lập nhà nước. Quan lại lớn nhỏ đều không truyền lại cho đời sau, mà là do Hoàng đế đích thân bổ nhiệm dựa trên thành tích . Ông còn đưa các quý tộc cũ chuyển về thủ phủ Hàm Dương để tiện giám sát quản lý. Thời Tần Thủy Hoàng, 36 quận tương ứng với tỉnh ngày nay. Hệ thống này là khác với triều đại trước, vốn có liên minh lỏng lẻo và liên đoàn . Người dân không còn có thể được xác định bởi khu vực bản địa hoặc nhà nước phong kiến trước đây của họ, như khi một người từ Sở được gọi là "người Sở" (楚人)
Tới năm 213 TCN, vị Đại phu người Tề là Thuần Vu Việt nhắc lại đề nghị xin phong đất cho người tông tộc làm chư hầu, Thủy Hoàng theo ý kiến của Lý Tư bác đi.
=== Nông nghiệp ===
Tần Thủy Hoàng theo Pháp gia nên khuyến khích binh, nông; ghét công, thương. Muốn nắm hết mối lợi thương nghiệp, triều đình đày hết phú thương có những xưởng sản xuất sắt lại miền Thiểm Tây và miền Tứ Xuyên. Hai trăm ngàn gia đình phú thương, tiểu thương bị đày tại xứ Thục và miền An Dương (phía nam Lạc Dương ngày nay), hẳn là để làm ruộng.
Nông dân được ưu đãi. Đất không còn là sở hữu của nhà vua nữa, mà của người làm ruộng. Người chủ ruộng có quyển bán ruộng và ai cũng có quyền mua. Chế độ đó gọi là danh điền, tạo nên một giới địa chủ có những cơ sở rất lớn, dần dần thành một giai cấp có quyền hành tương tự như các chư hầu nhỏ thời trước.
Năm hay mười nhà họp nhau thành một liên gia, chịu chung trách nhiệm với nhau. Chế độ này được áp dụng ở Trung Hoa cho tới đầu đời nhà Hán. Tráng đinh nào cũng phải đi lính tới già. Gia đình nào có ba người đàn ông thì phải chia làm hai hộ. Hình luật khắc nghiệt hơn thời trước nhiều.
=== Kinh tế và văn tự ===
Ông cũng thống nhất Trung Quốc về kinh tế bằng cách tiêu chuẩn hóa các đơn vị phép đo của Trung Quốc như trọng lượng và đơn vị đo, tiền tệ, chiều dài các trục bánh xe để tạo điều kiện thuận lợi cho vận chuyển trên hệ thống đường bộ và để dễ tính thuế và thu thuế. Thuế trả bằng lúa, phải dùng thuyền, xe chở đến các quận và kinh đô. Hoàng đế cũng phát triển một mạng lưới rộng lớn đường giao thông và kênh kết nối các tỉnh để cải thiện thương mại giữa chúng . Các loại tiền tệ của các quốc gia khác nhau cũng tiêu chuẩn hóa .
Trước triều đại Tần, mỗi miền có một ngôn ngữ và chữ viết riêng. Một quan chức Tần đi cai trị một nước khác, không hiểu ngôn ngữ nước đó thì khó làm tròn nhiệm vụ. Theo Lý Tư, chữ viết của nhà nước Tần đã được chuẩn hóa thông qua việc loại bỏ các hình thức biến thể trong chữ viết của nước Tần. Chữ viết mới được tiêu chuẩn hóa này sau đó đã được chính thức phổ biến trong tất cả các khu vực được chinh phục, do đó cùng với các chữ viết khu vực để hình thành một ngôn ngữ, một hệ thống truyền thông cho toàn cõi Trung Quốc .
=== Vụ ám sát của Trương Lương ===
Năm 230 TCN, nước Tần đánh bại nước Hàn. Một quý tộc Hàn có tên là Trương Lương thề trả thù hoàng đế Tần. Ông bán tất cả tài sản có giá trị của mình và vào năm 218 TCN, ông đã thuê 1 lực sĩ làm sát thủ và làm cho anh ta 1 một cái chuỳ sắt nặng một trăm hai mươi cân (khoảng 160 lb hoặc 97 kg) Cả 2 người ẩn nấp trong 1 bụi cây dọc theo tuyến đường đi chơi của hoàng đế và khi đoàn xa giá đến gần, sát thủ liền ném chùy làm vỡ tan toa xe đi đầu. Tuy nhiên, Thủy Hoàng thực ra là ở trong toa xe thứ hai. Do đó, nỗ lực không thành công , Cả hai người đều trốn thoát được mặc dù bị truy lùng gắt gao .
=== Xây dựng ===
==== Bắc: Vạn Lý Trường Thành ====
Tần trong nhiều năm đã chiến đấu với nhiều bộ tộc du mục ở phía bắc và tây bắc. Các bộ lạc Hung Nô không bị đánh bại và chinh phục, do đó chiến dịch kéo dài và không thành công, và để ngăn chặn Hung Nô xâm lấn biên giới phía bắc, Thủy Hoàng đã ra lệnh xây dựng một bức tường phòng thủ to lớn . Bức tường này có hàng trăm ngàn người được huy động để xây dựng và là tiền thân của Vạn Lý Trường Thành hiện tại của Trung Quốc. Nó kết nối với rất nhiều khúc thành được xây dựng trong suốt bốn thế kỷ trước bởi các nước Yên, Triệu, Nguỵ nên là một mạng lưới các bức tường nhỏ liên kết bảo vệ những vách đá khó vượt qua. Một tượng đài vĩ đại của Trung Quốc cho đến ngày nay, Vạn Lý Trường Thành vẫn còn tồn tại, mở cửa cho công chúng .
==== Nam: Kênh Linh Cừ ====
Miền Nam Trung Quốc có một câu nói nổi tiếng "Ở miền Bắc có Trường Thành, ở miền Nam có kênh Linh Cừ" (北有长城,南有灵渠) . Năm 214 TCN, Thủy Hoàng bắt đầu dự án xây dựng một kênh đào lớn để vận chuyển quân nhu cho quân đội Kênh cũng cho phép vận chuyển nước giữa phía bắc và phía nam Trung Quốc . Với chiều dài 34 km, con kênh này nối liền sông Tương chảy vào sông Dương Tử và sông Li Giang rồi lại chảy vào sông Châu Giang . Con kênh kết nối hai tuyến đường thủy chính của Trung Quốc và hỗ trợ sự mở rộng của nhà Tần vào phía tây nam . Công trình được coi là một trong những 3 những kỳ công tuyệt vời của kỹ thuật Trung Quốc cổ đại bên cạnh Vạn Lý Trường Thành và Đô Giang Yển của Tứ Xuyên .
==== Khác ====
Sau khi thống nhất đất nước, Tần Thủy Hoàng di chuyển ra khỏi cung điện Hàm Dương (咸阳宫) và bắt đầu xây dựng cung A Phòng (阿房宫) khổng lồ về phía nam của sông Vị, dựa trên tên người thiếp yêu nhất của Tần Thủy Hoàng . Phải dùng 70 vạn tù nhân để cất, chở đá từ các núi phương bắc xuống, chở gỗ từ các rừng phương nam lên.
Chưa hết, trong một khoảng mà bán kính dài trên trăm cây số chung quanh kinh đô, còn xây thêm 270 cung điện nữa. Bao nhiêu châu báu, nhạc công và vũ nữ của lục quốc, ông gom cả về đó để làm vui tai mắt cho ông. Tương truyền cuối đời Tần, kinh đô bị chiếm và đốt, ba tháng sau ngọn lửa mới tắt.
Khi chiếm được kinh đô một nước chư hầu nào, Thủy Hoàng sai người vẽ kiểu cung điện của nước đó để về xây dựng lại y hệt tại Hàm Dương, ở bên cung điện của ông, thành một dãy dài cả mấy dặm. Bao nhiêu đồng và vũ khí trong thiên hạ gom cả về để đúc 12 pho tượng, mỗi tượng nặng 24.000 cân bày trong cung.
=== Tư tưởng ===
Trong khi Trung Quốc thời Chiến Quốc trước đó là có chiến tranh triền miên, nó cũng được xem như là thời của tự do tư tưởng . Tần Thủy Hoàng loại bỏ hàng hàng trăm tư tưởng bao gồm Nho giáo và các triết lý khác . Sau khi Trung Quốc thống nhất, với tất cả các trường phái khác bị cấm, Pháp gia đã trở thành hệ tư tưởng ủng hộ của triều đại nhà Tần . Pháp gia là một hệ thống mà về cơ bản yêu cầu mọi người tuân theo pháp luật hoặc bị trừng phạt.
Bắt đầu từ năm 213 TCN, với nỗ lực vận động của Lý Tư và để tránh việc các học giả so sánh triều đại của ông với quá khứ, Tần Thủy Hoàng ra lệnh cho đốt phần lớn sách, chỉ cho giữ những sách về chiêm tinh học, nông nghiệp, y học, bói toán, và lịch sử của nhà nước Tần . Điều này cũng phục vụ mục đích thúc đẩy hơn nữa việc cải cách liên tục của hệ thống chữ viết bằng cách loại bỏ các chữ viết lỗi thời. Kẻ nào không tuân lệnh mà lén lút giữ thì bị trừng phạt một cách nặng nề.
Theo Sử ký Tư Mã Thiên, vào năm sau ở Hàm Dương có hơn 460 nhà nho bị chôn sống do sở hữu những cuốn sách bị cấm . Con cả của Thủy Hoàng là hoàng tử Phù Tô can ông không nên thi hành lệnh này vì sợ thiên hạ không yên nên Tần Thủy Hoàng nổi giận sai Phù Tô đi lên miền bắc để giám sát tướng Mông Điềm ở Thượng Quận. Thư viện triều đình thì vẫn còn giữ bản sao của những cuốn sách bị cấm nhưng hầu hết trong số này đã bị phá hủy khi Hạng Vũ đốt cháy cung điện Hàm Dương vào năm 206 TCN .
=== Mở mang cương thổ ===
Mới hoàn thành sự thống nhất Trung Quốc, chưa kịp củng cố ở trong, Thủy Hoàng đã nghĩ đến việc mở mang bờ cõi ra nước ngoài.
Các dân tộc du mục miền bắc gọi chung là Hung Nô vẫn là mối lo từ đời Thương, Chu. họ thường xâm lấn biên giới, có chỗ sống lẫn lộn với người Trung Hoa. Đầu đời Tần họ đã len lỏi vào Hà Nam, Tần Thủy Hoàng vội chặn họ lại, sai Mông Điềm làm chánh tướng cầm quân, cùng với con Vương Bí, cháu Vương Tiễn là Vương Ly làm phó tướng, đưa quân đánh dẹp và trấn thủ biên giới phía bắc.
Trong thời gian hơn một năm, Mông Điềm đã chỉ huy quân Tần đánh lui quân Hung Nô ở phía bắc, giành được thắng lợi. Quân Hung Nô bị đánh đuổi từ Du Trung dọc theo sông Hoàng Hà đi về đông đến Âm Sơn tất cả 31 huyện, xây thành trên sông Hoàng Hà để làm giới hạn. Lại sai Mông Điềm vượt sông Hoàng Hà lấy đất Cao Khuyết, Đào Sơn, Bắc Giả, xây đình và thành lũy ở đấy để đuổi người Nhung và đưa những người bị đày đến đấy để ở và lần đầu những nơi này trở thành huyện.
Mông Điềm đánh bại Hung Nô, trấn thủ Thượng Quận (nay là phía đông nam huyện Du Lâm – Thiểm Tây), bắt đầu việc cai trị biên giới. Trong quá trình chinh phạt, Mông Điềm trước sau chú trọng khai phá vùng biên ải, lấy các vùng đất mới làm thành "Tân Tần Địa", chia thành 44 huyện, cắt đặt quan lại.
Mông Điềm chiêu tập nam đinh trong nước đi xây dựng các tuyến phòng thủ ở những nơi hiểm yếu dọc theo biên giới. Trong vài năm, ở biên giới phía bắc Hàm Dương đã xây dựng được ba tuyến phòng ngự.
Tuyến thứ nhất nằm ở Bắc sông Hoàng Hà, giữa núi Âm Sơn và Dương Sơn.
Tuyến thứ hai là phía tây, quận Cửu Nguyên, nằm dọc theo phía tây dãy Âm Sơn nối với Trường Thành ở nước Triệu.
Tuyến thứ ba chính là Trường Thành có từ thời Tần được điều chỉnh lại.
Trên cơ sở đó, Mông Điềm còn huy động sức dân trong nước xây dựng Trường Thành dọc theo biên giới phía đông. Lúc bây giờ, ở biên giới phía bắc nước Tần, ngoài Trường Thành của nước Tần còn có Trường Thành của nước Triệu và nước Yên còn lại từ thời Chiến Quốc. Phía tây Trường Thành bắt nguồn từ Lâm Thao . Phía đông trải dài tới tận Liêu Đông, dài hơn vạn dặm. Đây chính là Vạn Lý Trường Thành nổi tịếng thế giới ngày nay.
Tần Thủy Hoàng còn sai Đồ Thư đem quân, sai Sử Lộc đào ngòi vận lương đi đánh lấy Bách Việt, tức các tỉnh Chiết Giang, Lục Lương (???), Nam Hải (Quảng Đông), Quế Lâm (Quảng Tây), và một phần miền Bắc của Việt Nam, thời đó gọi là Âu Lạc của An Dương Vương (hay Tượng quận theo cách gọi của Trung Quốc).
Năm 214 TCN, Tần Thủy Hoàng sai Triệu Đà đưa những người thường trốn tránh, người ở rể và người đi buôn đánh lấy đất Lục Lương, đóng đồn ở núi Ngũ Lĩnh, lập thành Quế Lâm, Tượng quận, Nam Hải cho những người bị đi đày đến đấy canh giữ.
Năm 213 TCN, Thủy Hoàng lại đem đày những quan coi ngục không thanh liêm đi xây Trường Thành và đi thú ở đất Nam Việt.
Có thể coi Tần Thủy Hoàng đã lập được một đế quốc lớn vào bậc nhất thế giới thời đó, và người phương Tây, do những thương nhân chở lụa sang bán, đã biết danh nhà Tần, gọi Trung Hoa là nước Tần.
Chỉ trong mười mấy năm Thủy Hoàng thực hiện được bấy nhiêu công trình về nội trị, tổ chức hành chính, thống nhất ngôn ngữ, văn tự v.v..., xây cất, đắp đường, mở mang cương vực, được nhiều sử gia coi là vĩ đại.
== Những năm cuối và qua đời ==
=== Tìm kiếm trường sinh bất lão ===
Trong những năm cuối đời, Tần Thủy Hoàng sợ cái chết và tuyệt vọng tìm kiếm thuốc trường sinh, được cho là sẽ cho phép ông sống mãi mãi. Ông bị ám ảnh với việc có được sự bất tử và bị lừa bởi nhiều người nói có thể cung cấp thuốc trường sinh . Ông cũng viếng thăm đảo Chi Phù ba lần để đạt được sự bất tử
Tần Thủy Hoàng nghe theo lời Hầu Sinh và Lư Sinh muốn tu tiên, bèn tự xưng là chân nhân nhưng ít lâu sau hai người lại bất bình vì sự hà khắc của Thủy Hoàng nên cùng nhau bỏ trốn. Thủy Hoàng cũng cấp cho Từ Phúc một con tàu chở hàng trăm đồng nam và đồng nữ tìm kiếm núi Bồng Lai thần bí . Họ cũng được gửi đi để tìm An Cơ Sinh, một người bất tử 1.000 năm tuổi mà Tần Thủy Hoàng cho là đã gặp trong một chuyến vi hành và là người đã mời ông đi tìm mình ở Bồng Lai . Những người này không bao giờ trở lại, có lẽ bởi vì họ biết rằng nếu họ quay về mà không có thuốc trường sinh như đã hứa, họ chắc chắn sẽ bị tử hình. Truyền thuyết cho rằng họ đến Nhật Bản và thuộc địa hóa nó . Cũng có thể là việc đốt sách, vốn được xem như là một sự lãng phí về văn học, là một phần trong nỗ lực của Thủy Hoàng để tập trung tâm trí của các học giả giỏi nhất của ông trong việc nghiên cứu giả kim thuật. Một số học giả bị tử hình là những người không thể cung cấp bất kỳ bằng chứng về khả năng siêu nhiên của họ. Điều này có thể là phương tiện cuối cùng để kiểm khả năng của họ: nếu bất kỳ người trong số họ có sức mạnh siêu nhiên, họ chắc chắn sẽ sống lại . Do Thủy Hoàng sợ chết và các "linh hồn xấu xa", ông cho xây dựng một loạt các đường hầm và lối đi thông qua mỗi cung điện của mình, bởi vì chúng sẽ giữ cho ông an toàn từ các linh hồn xấu xa vì ông di chuyển mà không bị nhìn thấy.
=== Cái chết ===
Năm 211 TCN, một thiên thạch được cho là rơi xuống Đông Quận (东郡) ở chỗ thấp của sông Hoàng Hà. Trên thiên thạch có người ghi dòng chữ "Thủy Hoàng chết thì đất bị chia." Khi Thủy Hoàng biết được, ông đã phái người đi điều tra. Không ai nhận là người đã viết dòng chữ nên tất cả những người sống gần đó đều bị giết. Tảng thiên thạch sau đó bị đốt cháy và nghiền thành bột .
Sau đó, Thủy Hoàng đi kinh lý phía đông, Tả Thừa tướng Lý Tư đi theo, Hữu Thừa tướng Khứ Tật ở nhà. Hồ Hợi, con nhỏ của Thủy Hoàng, được nhà vua yêu mến xin đi theo, vua bằng lòng.
Sau khi tế vua Hạ Vũ ở Cối Kê, Tần Thủy Hoàng trở về kinh. Trên đường trở về phía tây đến bến Bình Nguyên thì bị bệnh.
Thủy Hoàng ghét người ta nói đến việc chết, cho nên quần thần không ai dám nói với nhà vua về việc chuẩn bị cho việc ông qua đời. Khi bệnh càng nặng, nhà vua viết thư đóng dấu của vua gửi đến hoàng tử Phù Tô nói: "Con về Hàm Dương với đám tang, và chôn cất ta ở đấy." Bức thư đã niêm phong ở trong phủ trung xa thuộc quyền Triệu Cao. Bức thư có dấu của nhà vua làm tin chưa giao cho sứ giả, thì Thủy Hoàng qua đời ở Bình Đài (平台), thuộc đất Sa Khâu (沙丘), là nơi cách khoảng hai tháng đi bằng đường bộ cách kinh thành Hàm Dương vào ngày 10 tháng 9 năm 210 TCN theo lịch Julius . Sử liệu phương Tây cho rằng ông chết do uống phải thuốc thủy ngân do các ngự y chế ra mà những viên thuốc này vốn được làm nhằm mục đích giúp cho Tần Thủy Hoàng bất tử .
Thừa tướng Lý Tư thấy nhà vua mất ở xa kinh đô nên đã trở thành vô cùng lo lắng rằng tin tức về cái chết của Thủy Hoàng có thể kích hoạt một cuộc nổi dậy lớn trong toàn đế chế , bèn giấu kín điều đó, không báo tang, chở quan tài trong một cỗ xe mát, cho một hoạn quan được vua yêu ngồi trong xe, đến đâu thì dâng thức ăn, trăm quan vẫn tâu việc như thường . Viên hoạn quan ở trong xe nghe lời tâu, liền bảo: "Được!". Chỉ có Hồ Hợi, Triệu Cao và một vài hoạn quan thân tín của nhà vua, tất cả có năm sáu người biết là nhà vua đã chết .
Xe đi từ Tỉnh Hình đến Cửu Nguyên. Gặp lúc trời nắng, chiếc xe mát phát ra mùi thối, đòng tùy tùng sai các quan đi theo chở trên xe một thạch cá muối để đánh lẫn mùi thối . Đi theo đường thẳng đến Hàm Dương mới báo tang.
Tổng cộng, ông ở ngôi được 35 năm, trong đó 24 năm là làm vua nước Tần từ năm 246 TCN đến năm 222 TCN, và 11 năm làm hoàng đế của đế chế Tần từ năm 221 TCN đến năm 210 TCN.
=== Âm mưu của người kế vị ===
Cuối cùng, sau khoảng hai tháng, Lý Tư và xa giá trở lại Hàm Dương, nơi mà các tin tức về cái chết của Tần Thủy Hoàng mới được công bố . Sau khi ông chết, Phù Tô theo lệ sẽ là hoàng đế nối ngôi .
Lý Tư và Triệu Cao âm mưu giết Phù Tô vì vị tướng được yêu thích bởi Phù Tô là Mông Điềm, người mà họ không ưa và sợ; anh trai của Mông Điềm là 1 viên quan cấp cao, người đã có lần trừng phạt Triệu Cao . Họ đã sợ rằng nếu Phù Tô được lên ngôi, họ sẽ bị mất quyền lực , vì vậy nên Triệu Cao bèn cùng Lý Tư âm mưu phá hủy bức thư của Thủy Hoàng gửi cho hoàng tử Phù Tô (con cả của Thủy Hoàng), đặt ra chuyện thừa tướng Lý Tư đã nhận được tờ chiếu của Thủy Hoàng ở Sa Khâu trước khi chết bảo lập Hồ Hợi làm thái tử; sau đó lại làm một bức thư khác gửi cho hoàng tử Phù Tô và tướng Mông Điềm kể tội hai người, ra lệnh cho hai người phải chết . Kế hoạch này đã thành công, và em của Phù Tô là Hồ Hợi bèn lên nối ngôi, tức là Nhị Thế hoàng đế
Tần Nhị Thế tuy nhiên lại không có khả năng như người cha của mình. Các cuộc khởi nghĩa nhanh chóng nổ ra. Triều đại của ông là một thời điểm bất ổn về dân sự và tất cả mọi thứ được xây dựng bởi Tần Thủy Hoàng sụp đổ chỉ trong một thời gian ngắn . Một trong những nỗ lực nổi dậy ngay lập tức là việc Trần Thắng và Ngô Quảng khởi nghĩa ở làng Đại Trạch .
== Lăng mộ và di tích ==
Một trong những dự án đầu tiên mà Tần Thủy Hoàng thực hiện trong khi còn sống là xây dựng lăng mộ cho mình. Năm 215 TCN, ông ra lệnh cho tướng Mông Điềm dùng 300.000 người để bắt đầu việc xây dựng . Các nguồn khác lại cho rằng ông ra lệnh cho 720.000 lao động để xây dựng ngôi mộ . Một lần nữa, với quan sát của John Man của về dân số của thời gian (xem đoạn trên), các ước tính lịch sử có vẻ còn gây tranh cãi. Ngôi mộ chính (nằm ở vị trí 334°22′52,75″B 109°15′13,06″Đ) có chứa xá Thủy Hoàng vẫn chưa được mở ra và có bằng chứng cho thấy rằng nó vẫn còn tương đối nguyên vẹn .
Tư Mã Thiên mô tả ngôi mộ rất nhiều châu báu, có một bản đồ của một trăm con sông, trên đó sông Hoàng Hà, sông Dương Tử và biển Đông đều bằng thủy ngân. Hầm mộ ngày đêm đều thắp đèn đốt bằng dầu cá, một loại cá đặc biệt giống hình người. Quan tài hạ rồi, người ta nấu đồng để gắn phần mộ và đặt một cái máy để hễ có kẻ nào lén vào đào mả thì sẽ bị những mũi tên từ mọi chỗ phát ra tự động bắn vào . Ngôi mộ được xây dựng trên núi Li Sơn, cách Tây An 30 km. Các nhà khảo cổ học hiện đại đã xác định ngôi mộ, và đã đưa người máy vào thăm dò sâu bên trong. Các thăm dò cho thấy số lượng thủy ngân cao bất thường, tỷ lệ cao khoảng 100 so với tự nhiên, cho thấy rằng một số phần của truyền thuyết là đáng tin cậy . Bí mật của ngôi mộ được duy trì vì hầu hết các công nhân xây dựng ngôi mộ đều bị giết .
Nhà sử học Trung Quốc Tư Mã Thiên, viết một thế kỷ sau cái chết của hoàng đế đầu tiên, đã viết rằng cần đến hơn 700,000 người để xây dựng lăng mộ. Nhà sử học người Anh John Man chỉ ra rằng con số này lớn hơn bất kỳ thành phố nào trên thế giới tại thời điểm đó và tính toán nền móng đã được xây dựng bởi 16.000 người trong hai năm . Trong khi Tư Mã Thiên không bao giờ đề cập đến đội quân đất nung, những bức tượng này đã được phát hiện bởi một nhóm các nông dân đào giếng vào ngày 29 tháng 3 năm 1974 . Các binh sĩ này được tạo ra với một loạt các hỗn hợp khuôn đất sét và sau đó tiếp tục được cá nhân hóa bằng tay bởi các nghệ sĩ. Có khoảng 6.000 Chiến binh đất nung và mục đích của họ là để bảo vệ Hoàng đế trong thế giới bên kia khỏi các linh hồn xấu xa. Cũng trong đội quân này là xe ngựa và 40.000 vũ khí thực sự bằng đồng .
== Gia đình ==
Sau đây là một số thành viên gia đình của Tần Thủy Hoàng:
Cha mẹ
Tần Trang Tương Vương
Triệu Cơ
Anh em
Hai em cùng mẹ khác cha, do Triệu thái hậu tư thông với Lao Ái
Doanh Tử Anh, sau là Tần Tam Thế
Con cái
Doanh Phù Tô (tự sát)
Doanh Hồ Hợi, sau là Tần Nhị Thế (con thứ 18)
Doanh Cao (bị Tần Nhị Thế giết)
Doanh Tương Lư (bị Tần Nhị Thế giết)
10 con gái (bị Tần Nhị Thế giết)
dòng tộc lưu lạc đời sau:
Thiên Đại Hải Sơn
Thiên Đại Vũ Anh
Thiên Đại Thế Anh
Thiên Đại Thế Phương
và một số hoàng thân chưa rõ(Trung Quốc,Việt Nam,Ấn Độ)
Tần Thủy Hoàng có khoảng 100 người con, nhưng hầu hết tên của họ đều chưa được biết. Sử sách cũng không nhắc đến tên một người vợ nào của ông. (số liệu Việt Nam,Trung Quốc tiết lộ năm 2010 theo bộ văn hóa bảo tồn hoàng gia Trung Quốc)
== Nhận định ==
Trong truyền thống chép sử của Trung Quốc, Tần Thủy Hoàng luôn được miêu tả như một vị vua tàn bạo, người bị ám ảnh bởi các vụ ám sát. Sau này, ông các nhà sử học Khổng giáo lên án việc ông cho đốt sách và chôn sống Nho sĩ. Họ cuối cùng đã biên soạn danh sách Mười tội ác của Tần để làm nổi bật hành động bạo ngược của Thủy Hoàng.
Nhà thơ và chính khách nổi tiếng đời nhà Hán là Giả Nghị kết luận bài viết Kiều Tần Di (过秦论) của mình với những gì đã trở thành bản án Nho giáo tiêu chuẩn trong những lý do cho sự sụp đổ của nhà Tần. Bài tiểu luận của Giả Nghị, được ngưỡng mộ như kiệt tác của thuật hùng biện và lý luận, đã được chép trong 2 tác phẩm lịch sử đời Hán và đã có ảnh hưởng sâu rộng về tư tưởng chính trị Trung Quốc như một minh hoạ cổ điển của lý thuyết Nho giáo . Ông cho sự tan rã của Tần là do sự thất bại trong việc biểu thị nhân tính và sự công bình và không nhận ra sự khác biệt giữa sức mạnh tấn công và sức mạnh để củng cố
Tuy nhiên, các sử gia phương Tây nhìn nhận ông là một trong những nhân vật ngoại hạng trong mọi thời đại. Ông chỉ cầm quyền chưa đầy mười lăm năm mà làm cho nước Trung Hoa thay đổi hẳn, thống nhất về mọi mặt, mở mang thêm bờ cõi, thành một đế quốc lớn thời thượng cổ. Đó là một thành tựu được kể là vượt bậc. Ngày nay cái tên "China" hay "Sino" mà người phương Tây dùng để gọi Trung Quốc đều xuất phát từ phiên âm chữ "Tần" (Sin) mà ra. Nhiều nhà sử học nhắc tới Tần Thủy Hoàng song song với Napoleon.
Trong thời hiện đại hơn, đánh giá lịch sử về Hoàng đế đầu tiên khác với sử học truyền thống Trung Quốc đã bắt đầu xuất hiện. Các đánh giá lại này được thúc đẩy bởi điểm yếu của Trung Quốc trong nửa cuối của thế kỷ 19 và đầu thế kỷ 20, cùng việc truyền thống Nho giáo tại thời điểm đó bắt đầu được nhìn thấy bởi một số người như là trở ngại cho sự hòa nhập của Trung Quốc vào thế giới hiện đại, mở đường cho việc thay đổi quan điểm.
Trong thời gian lãnh thổ Trung Quốc xâm phạm bởi các quốc gia nước ngoài, Quốc Dân Đảng nhấn mạnh vai trò của Tần Thủy Hoàng trong việc đẩy lui các rợ phía Bắc, đặc biệt là trong việc xây dựng Vạn lý trường thành.
Một nhà sử học tên là Mã Phi Bách (馬非百) đã cho xuất bản một tiểu sử xét lại về Hoàng đế đầu tiên mang tên Tần Thủy Hoàng Đế Truyền (秦始皇帝传) vào năm 1941, gọi ông là "một trong những anh hùng vĩ đại của lịch sử Trung Quốc". Ông so sánh Thủy Hoàng với các nhà lãnh đạo đương đại Tưởng Giới Thạch và nhìn thấy nhiều điểm tương đồng trong sự nghiệp, chính sách của họ, vốn là hai người mà ông ngưỡng mộ. Cuộc chiến tranh Bắc phạt cuối những năm 1920 trực tiếp dưới sự chỉ đạo chính phủ Quốc Dân Đảng tại Nam Kinh được so sánh với sự thống nhất mang lại bởi Tần Thủy Hoàng.
Với sự ra đời của Cách mạng Cộng sản vào năm 1949, giải thích mới lại nổi lên. Việc thành lập của chế độ cách mạng mới đã dẫn đến việc định nghĩa lại đánh giá về Tần Hoàng, lần này là cho phù hợp với cách nghĩ của chủ nghĩa Mao. Giải thích mới về Tần Hoàng nói chung là một sự kết hợp của quan điểm truyền thống và hiện đại, nhưng về cơ bản là quan trọng. Điều này được minh họa trong Sử ký toàn thư của Trung Quốc, được biên soạn vào tháng 9 năm 1955 như là một cuộc khảo sát chính thức của lịch sử Trung Quốc. Công trình này mô tả những bước tiến lớn của Tần Thủy Hoàng theo hướng thống nhất và tiêu chuẩn tương ứng với lợi ích của nhóm cầm quyền và tầng lớp thương gia, không phải là quốc gia của nhân dân, và sự sụp đổ của triều đại của ông sau đó là một biểu hiện của đấu tranh giai cấp. Các cuộc tranh luận lâu năm về sự sụp đổ của nhà Tần cũng giải thích về chủ nghĩa Mác là các cuộc khởi nghĩa của nông dân là một cuộc nổi dậy chống lại sự đàn áp - một cuộc nổi dậy làm suy yếu các triều đại, nhưng luôn thất bại vì sự thỏa hiệp với "yếu tố tầng lớp chủ đất".
Từ năm 1972, tuy nhiên, điểm khác biệt căn bản chính thức của Tần Thủy Hoàng đã được nổi bật trên khắp Trung Quốc. Việc đánh giá lại được khởi xướng bởi tiểu sử Tần Thủy Hoàng của Hồng Sĩ Đệ. Nghiên cứu được xuất bản bởi báo chí nhà nước này được phổ biến đại chúng và đã bán được 1,85 triệu bản trong vòng hai năm. Trong thời đại mới, Tần Thủy Hoàng được xem như là một nhà lãnh đạo nhìn xa trông rộng, phá hủy các lực lượng của các bộ phận và thành lập thống nhất nhà nước đầu tiên tập trung, thống nhất trong lịch sử Trung Quốc bằng cách từ bỏ quá khứ. Các thuộc tính cá nhân, chẳng hạn như cuộc tìm kiếm của ông cho sự bất tử, được nhấn mạnh trong sử học truyền thống, hầu như đã đề cập. Các đánh giá mới mô tả trong thời gian trị vì của mình (một kỷ nguyên thay đổi chính trị và xã hội), ông không chống lại việc sử dụng phương pháp bạo lực để nghiền nát sự chống cách mạng. Tuy nhiên, ông bị chỉ trích là không còn kỹ lưỡng như ông đã từng làm và kết quả là, sau khi ông chết, sự phá hoại ẩn dưới sự lãnh đạo của thái giám Triệu Cao đã có thể thu được quyền để khôi phục lại trật tự phong kiến cũ.
Để vòng này đánh giá lại, một giải thích mới cho sự sụp đổ của triều đại nhà Tần nhanh chóng được đưa ra trong một bài báo mang tên "Cuộc đấu tranh giai cấp trong thời kỳ giữa Tần và Hán" trong số ra năm 1974 của Cờ Đỏ để thay thế lời giải thích cũ. Các giả thuyết mới tuyên bố rằng nguyên nhân gây ra sự sụp đổ của nhà Tần là nằm trong sự thiếu triệt để của chế độ độc tài của Tần Thủy Hoàng, thậm chí đến mức độ cho phép chúng đi sâu vào các cơ quan quyền lực chính trị và chiếm lấy các vị trí quan trọng.
Mao Trạch Đông, Chủ tịch nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa, bị nguyền rủa do sự đàn áp trí thức của mình. Khi được so sánh với Tần Thủy Hoàng, Mao trả lời: "Ông ấy chôn sống 460 học giả; chúng tôi chôn cất 46.000 học giả còn sống... Bạn [trí thức] nguyền rủa chúng tôi là Tần Thủy Hoàng. Bạn đã sai. Chúng tôi đã hơn Tần Thủy Hoàng gấp trăm lần".
== Trong văn hóa ==
=== Tác phẩm viễn tưởng ===
Trong cuộc Chiến tranh Triều Tiên, vở kịch Song of the Yi River được sản xuất. Vở kịch dựa trên vụ ám sát Tần Thủy Hoàng của Kinh Kha. Trong vở kịch, Doanh Chính được miêu tả như một bạo chúa độc ác và là kẻ xâm lược của các quốc gia khác. Ngược lại, Kinh Kha là một chiến binh hào hiệp, người đã nói rằng "Hàng chục ngàn người bị thương là tất cả đồng chí của tôi." Một quảng cáo trên báo rất lớn cho vở kịch này đã tuyên bố: "Cuộc xâm lược chắc chắn sẽ kết thúc trong thất bại, hòa bình phải được chiến thắng bằng mọi giá." Vở kịch miêu tả một kẻ yếu chiến đấu chống lại kẻ xâm lược nước ngoài mạnh mẽ, độc ác với sự giúp đỡ từ một tình nguyện viên nước ngoài giao cảm.
Jorge Luis Borges (1899-1986), nhà văn Argentina đã viết bài luận nổi tiếng về Tần Thủy Hoàng mang tên "The Wall and the Books" ("La muralla y los libros") trong bộ sưa tầm năm 1952 của Other Inquisitions (Otras Inquisiciones). Nó tập trung vào sự đối lập giữa quy mô xây dựng của Vạn lý trường thành và việc đốt sách đã xác định triều đại của ông .
Năm 1956, cuốn sách Lord of the East là một chuyện tình lãng mạn lịch sử về con gái yêu của Tần Thủy Hoàng, người đã bỏ đi với người yêu của mình. Câu chuyện sử dụng Tần Thủy Hoàng để tạo ra các rào cản cho cặp vợ chồng trẻ .
Năm 1984, cuốn sách Bridge of Birds của Barry Hughart miêu tả Tần Thủy Hoàng là một người hoang tưởng đạt được sự bất tử do có trái tim bị lấy đi bởi "Ông già trên núi".
The Chinese Emperor của Jean Levi, xuất hiện vào năm 1984. Tác phẩm lịch sử tưởng tượng này di chuyển từ cuộc thảo luận chính trị và pháp luật của nhà Tần đến thăm dò tâm lý của Tần Thủy Hoàng, trong đó đội quân đất nung của ông thực ra là thiết bị tự động tạo ra để thay thế con người có thể sai lầm.
Trong tiểu thuyết năm 1985 Contact (tiểu thuyết) của Carl Sagan, nhân vật Xi Qiaomu, người tham gia vào cuộc khai quật lăng mộ của Hoàng đế Tần trong Cách mạng Văn hóa được viếng thăm bởi một người ngoài hành tinh trong hình dạng của Hoàng đế nhà Tần .
Trong bộ sách Area 51, Tần Thủy Hoàng được tiết lộ là một người ngoài hành tinh bị trục xuất và mắc kẹt trên Trái Đất trong một cuộc nội chiến giữa các vì sao. Vạn Lý Trường Thành thực ra được thiết kế để hiển thị biểu tượng cho 'giúp đỡ' trong ngôn ngữ của ông, và ông ra lệnh cho xây dựng nó với hy vọng rằng tàu vũ trụ đi qua sẽ nhận thấy và giải cứu ông.
Trong Hydra's Ring, tiểu thuyết thứ 39 của bộ sách Outlanders, Tần Thủy Hoàng được tiết lộ là vẫn còn sống vào đầu thế kỷ 23 thông qua công nghệ nano ngoài hành tinh đã ban cho ông một hình thức của sự bất tử.
Trong bộ sách Magic Tree House, một cuốn có tiêu đề Day of the Dragon King, tên của Tần Thủy Hoàng Đế.
Ten Dragon Tails của Candy Taylor Tutt chứa "The Wall", một truyện ngắn lịch sử tưởng tượng dựa trên việc xây dựng Vạn lý trường thành.
Emperor!: A Romance of Ancient China của Lanny Fields lấy trọng tâm quanh Tần Thủy Hoàng và một cựu chiến binh La Mã tên là Scipio Lucius Marcus, người mà Tần Thủy Hoàng trở thành bạn sau khi Marcus Scipio cứu ông nhiều lần. Tác phẩm hư cấu này được kể qua cái nhìn của nhà sử học Tư Mã Thiên, người viết về Marcus Scipio sau khi ông này đi từ Roma đến Trung Quốc.
Trong Interesting Times của Terry Pratchett, một pháp sư tên Rincewind, phát hiện ra một bộ áo giáp thuộc sở hữu trước kia của Tần Thủy Hoàng cho phép anh ta kiểm soát đội quân đất nung. Như với hầu hết các tác phẩm trong bộ sách Discworld của Pratchett, cuốn sách này là được dựa trên khái niệm thế giới thực. Trong trường hợp này, mô hình của nó là ảnh hưởng văn hóa của Hoàng đế Tần Thủy Hoàng vào Trung Quốc hiện đại.
The Tiger Warrior của David Gibbins (Bantam; tháng 6 năm 2009) thêu dệt lịch sử của Tần Thủy Hoàng và cuộc tìm kiếm sự bất tử của ông với lính lê dương La Mã, các bộ lạc Ấn Độ, các binh sĩ Anh thời Victoria và một câu chuyện khảo cổ học-phiêu lưu hiện đại.
Trong sách trò chơi nhập vai Wraith: the Oblivion, bóng ma "Tần Thủy Hoàng" tiếp tục cai trị thế giới bên kia của Trung Quốc cho đến ngày nay, với sự hỗ trợ bởi một đội quân bất khả chiến bại dựa trên đội quân đất nung.
=== Phim ===
Hoàng đế đầu tiên (1963) - Bộ phim miêu tả Tần Thủy Hoàng là một hoàng đế giỏi chiến đấu với nguồn gốc từ trong quân đội. Mặc cho thứ hạng của mình, Tần Thủy Hoàng được thể hiện ngồi xung quanh lửa trại với những người đàn ông bình thường. Tần Thủy Hoàng chuyển đổi Sở phu nhân từ kẻ thù thành một người vợ lẽ trung thành .
Cuộc chiến tại phố hoa (1986) - Bộ phim đề cập đến tên của Tần Thủy Hoàng hai lần là người đã áp đặt lời nguyền không có xác thịt cho Lopan vào năm 272 trước Công nguyên.
Người tình của Tần Thủy Hoàng
Bản hùng ca thời Tần (1996) - Bộ phim tập trung vào mối quan hệ của Tần Thủy Hoàng với Cao Tiệm Ly, một người bạn của sát thủ Kinh Kha. Tiệm Ly chơi bài Song of Yishui cho Kinh Kha trước khi ông bắt tay vào nhiệm vụ ám sát Thủy Hoàng . Vai Tần Thủy Hoàng do Khương Văn đảm nhiệm
Kinh Kha hành thích Tần vương (1999) - Bộ phim tập trung dựa trên danh tính của cha Tần Thủy Hoàng, sự đối xử nhẫn tâm của ông với các quan, và sự phản bội bởi người yêu thời thơ ấu của ông, mở đường cho nỗ lực ám sát của Kinh Kha. Đạo diễn Trần Khải Ca đã tìm cách đặt câu hỏi liệu động cơ của Tần Thủy Hoàng có xứng đáng hay không. Một chủ đề chính trong bộ phim này là cuộc xung đột giữa sự cống hiến của Tần Thủy Hoàng với sự thề ước của ông và người yêu, Triệu phu nhân (Củng Lợi). Đạo diễn Trần Khải Ca cũng đảm nhận vai Lã Bất Vi trong phim.
Anh hùng bộ phim năm 2002 của đạo diễn Trương Nghệ Mưu với Trần Đạo Minh đóng vai Tần Thủy Hoàng.
Thần thoại (2005) - Bộ phim có Thành Long trong vai Mông Nghị, một vị tướng theo Tần Thủy Hoàng. Nghị được đầu thai vào thời hiện tại là nhà khảo cổ học. Kim Hee-sun đồng đóng vai chính là một công chúa Triều Tiên, người buộc phải kết hôn với Tần Thủy Hoàng .
Xác ướp: Lăng mộ Hoàng đế Rồng (2008) - Bộ phim có Lý Liên Kiệt đóng vai chính, một xác ướp sống lại được gọi là "Hoàng đế Rồng" và có thể là một tham chiếu đến Tần Thủy Hoàng. Vai trò của nhân vật này được tưởng tượng hóa cao vì sở hữu sức mạnh kỳ diệu .
=== Truyền hình ===
Tần Thủy Hoàng (1986) - một bộ phim truyền hình 63 tập ghi lại những sự kiện từ khi sinh ra cho đến khi qua đời của Tần Thủy Hoàng. Nó được sản xuất bởi ATV của Hồng Kông. Ca từ của bài hát chủ đề mở tóm tắt câu chuyện như sau: "Mặt đất sẽ nằm ngay dưới chân ta; không ai sẽ ngang hàng với ta cả"
Histeria! (1998–1999) - một bộ phim hoạt hình. Pepper Mills muốn chữ ký của Tần Thủy Hoàng vì nghĩ ông là Scooby Doo.
Vạn lý trường thành (1999) - một trong các tập phim của History Bites. Bob Bainborough trong vai Tần Thủy Hoàng.
Khử tà diệt ma 2 (1999) - một bộ phim truyền hình siêu nhiên-tưởng tượng của Hồng Kông. Có một cảnh hồi tưởng Tần Thủy Hoàng bị lừa rằng biến thành ma cà rồng là chìa khóa để đạt được sự bất tử.
Tầm Tần ký (2001) - Một sản phẩm của TVB dựa trên cuốn tiểu thuyết khoa học viễn tưởng của Hoàng Dị. Nó có ngôi sao Lâm Phong đóng vai Triệu Phan, một người dân của nước Triệu lấy danh tính của Doanh Chính và trở thành Tần Thủy Hoàng. Ông được sự hỗ trợ của Hạng Thiếu Long, một nhà du hành vượt thời gian từ thế kỷ 21 .
Tần Thủy Hoàng (2002) - một phim truyền hình do Trung Quốc đại lục sản xuất. Nó có tính năng như là một câu chuyện bán giả tưởng cuộc đời của hoàng đế từ thời thơ ấu cho đến khi chết. Trương Phong Nghị đóng vai Tần Thủy Hoàng .
Martin bí ẩn (2003–2006) - một bộ phim hoạt hình. Nhân vật chính phát hiện rằng đội quân đất nung thực ra được tạo ra để giữ cho Tần Thủy Hoàng bên trong ngôi mộ của mình và không giúp ông trong thế giới tâm linh.
Tần Thủy Hoàng - Người tạo nên đất nước Trung Hoa (2006) - một bộ phim tài liệu đặc biệt về Tần Thủy Hoàng. James Pax đóng vai Tần Thủy Hoàng. Nó được chiếu trên Channel 4 ở Anh Quốc vào năm 2006 .
Bí mật của Tần Thủy Hoàng, bạo chúa và tầm nhìn (2006) - một phim tài liệu của National Geographic. Nó cung cấp một cái nhìn sâu sắc về nhà cai trị tuyệt vời và gây tranh cãi này .
Tần Thủy Hoàng (2008) - phim tài liệu 3 tiếng của The History Channel. Xu Pengkai đóng vai Tần Thủy Hoàng .
Thần thoại (2010) - một phim truyền hình Trung Quốc sản xuất bởi Thành Long và dựa trên bộ phim cùng tên năm 2005. Hai nhân vật vô tình quay ngược thời gian về thời kỳ nhà Tần. Họ lấy nhân dạng của Mông Nghị và Triệu Cao và trở thành đối thủ trong cung đình của đế quốc Tần.
Stargate SG-1 Trong loạt phim truyền hình này, Sytem Lord Yu Huang Shang Ti được báo cáo là dựa trên vị Hoàng đế này.
=== Âm nhạc ===
Tần Thủy Hoàng là nhân vật chính trong vở opera The First Emperor.
Nhạc sĩ Thụy Điển Evert Taube cho thấy các hành động và động cơ của Tần Thủy Hoàng trong bài hát "Muren Och Böckerna" ("The Wall And The Books").
=== Trò chơi điện tử ===
Trò chơi điện tử năm 1995 Qin: Tomb of the Middle Kingdom mô tả nhiệm vụ của một học giả khảo cổ tưởng để khám phá điểm an táng của Hoàng đế đầu tiên.
Trong trò chơi máy tính năm 2002 Prince Of Qin, người chơi đóng vai con trai cả của Tần Thủy Hoàng là Phù Tô, người bị buộc phải tự tử nhưng trong trò chơi thì Phù Tô không chết mà sẽ chiến đấu cho quyền thừa kế ngai vàng của mình và tìm kiếm sự thật về cái chết của Tần Thủy Hoàng.
Trò chơi điện tử năm 2003 Indiana Jones and the Emperor's Tomb mô tả Indiana Jones tiến vào lăng mộ của Tần Thủy Hoàng để thu hồi "The Heart of the Dragon".
Trong trò chơi điện tử năm 2005 Civilization IV, Tần Thủy Hoàng là một trong hai nhà lãnh đạo có thể chơi được của Trung Quốc .
Trong trò chơi máy tính Emperor: Rise of the Middle Kingdom, chiến dịch của nhà Tần có các người chơi là kiến trúc sư trưởng của Tần Thủy Hoàng, phụ trách giám sát việc xây dựng kinh đô, kênh Linh Cừ, Vạn Lý Trường Thành, cũng như ngôi mộ của Thủy Hoàng và đội quân đất nung, mặc dù trò chơi có quyền tự do với các khung thời gian mà trong đó các sự kiện thực sự diễn ra.
Trò chơi PlayStation Fear Effect 2: Retro Helix có rất nhiều giao dịch với những huyền thoại của ngôi mộ của hoàng đế và Bát Tiên.
Trong Rise of Nations, người chơi hoặc đối phương có thể xây dựng "Terracotta Army", một trong những "kỳ quan của thế giới" trong trò chơi.
Tần Thủy Hoàng cũng được tiết lộ là trùm cuối cùng của trò chơi điện tử Shin Sangoku Musou: Multi Raid 2
Trong Assassin's Creed II, một Assassin tên là Wei Yu đã giết chết Tần Thủy Hoàng bằng một cây giáo. Assassin's Creed Encyclopedia cũng nói rằng Tần Thủy Hoàng được hỗ trợ bởi Templar, tổ chức đối kháng chính trong thương hiệu Assassin's Creed.
Trong Tomb Raider II (1997), nhà thám hiểm Lara Croft phát hiện ra 'Dagger of Xian' sau khi viếng thăm 'Temple of Xian'. Màn chơi này cho thấy một sự tương đồng với mô tả của lăng mộ của Tần Thủy Hoàng, bao gồm cả một căn phòng với được trang trí bằng đội quân đất nung.
Tần Thủy Hoàng là một trong 32 nhân vật lịch sử xuất hiện như là nhân vật đặc biệt trong trò chơi điện tử Romance of the Three Kingdoms XI của Koei. Ông được gọi bằng tên "Doanh Chính" trong trò chơi và có các chỉ số cao hơn tất cả các nhân vật khác, ngoại trừ Quảng Trọng.
MMORPG nổi tiếng Con đường tơ lụa có map lăng mộ Tần Thủy Hoàng, vốn chỉ có sẵn cho người chơi cấp 75 hoặc cao hơn.
== Xem thêm ==
Nhà Tần
Tần Nhị Thế
Lý Tư
Triệu Cao
Hàn Phi
Mông Điềm
Lăng mộ Tần Thủy Hoàng
Ngọc bích họ Hòa
== Tham khảo ==
Clements, Jonathan (2006). The First Emperor of China. Sutton Publishing. ISBN 978-07509-3960-7.
Portal, Jane (2007). The First Emperor, China's Terracotta Army. British Museum Press. ISBN 9781932543261.
Wood, Frances (2007). The First Emperor of China. Profile. ISBN 1846680328.
Sử ký Tư Mã Thiên, thiên:
Tần bản kỷ
Tần Thủy Hoàng bản kỷ
Truyện Lã Bất Vi
Bodde, Derk (1978). “The State and Empire of Ch'in”. Trong Twitchett, Denis; Loewe, Michael. The Cambridge history of China 1. Cambridge: Cambridge Univ. Press. ISBN 0-521-21447-5.
Clements, Jonathan (2006). The First Emperor of China. Sutton Publishing. ISBN 978-0-7509-3960-7.
Cotterell, Arthur (1981). The first emperor of China: the greatest archeological find of our time. New York: Holt, Rinehart, and Winston. ISBN 0-03-059889-3.
Guisso, R.W.L.; Pagani, Catherine; Miller, David (1989). The first emperor of China. New York: Birch Lane Press. ISBN 1-55972-016-6.
Yu-ning, Li biên tập (1975). The First Emperor of China. White Plains, N.Y.: International Arts and Sciences Press. ISBN 0-87332-067-0.
Portal, Jane (2007). The First Emperor, China's Terracotta Army. British Museum Press. ISBN 978-1-932543-26-1.
Qian, Sima (1961). Records of the Grand Historian: Qin dynasty. Burton Watson, trans. New York: Columbia Univ. Press.
Wood, Frances (2007). The First Emperor of China. Profile. ISBN 1-84668-032-8.
Yap, Joseph P (2009). Wars With the Xiongnu, A Translation From Zizhi tongjian. AuthorHouse. ISBN 978-1-4490-0604-4.
== Chú thích ==
== Liên kết ngoài ==
Tần Thuỷ Hoàng tại Từ điển bách khoa Việt Nam
Shihuangdi Emperor of Qin dynasty tại Encyclopædia Britannica (tiếng Anh)
History of China
China's Great Pyramid - Terracotta Warriors, Traps, Treasure & Rivers of Mercury... What's Inside Qin Shi Huang's Tomb? MalcolmJ Mon, 08/03/2009 - 17:52 |
ngựa holstein.txt | Ngựa Holstein là một giống ngựa có nguồn gốc ở vùng Schleswig-Holstein của miền bắc nước Đức. Nó được cho là giống lâu đời nhất của dòng ngựa máu nóng warmblood, truy tìm trở lại thế kỷ thứ 13. Mặc dù dân số không lớn, ngựa Holsteinen là một lực lượng thống trị của chương trình thi nhảy quốc tế, và được tìm thấy ở các đẳng cấp cao của dressage, kéo xe phối hợp và thi eventing.
== Đặc điểm ==
Ngựa Holsteinen là ngựa có tầm khung trung bình từ 64-68 inches (163–173 cm) ở hai bả vai. Ngựa đực giống được phê duyệt phải được tối thiểu là 16hh và ngựa cái tối thiểu của 15.2hh (62 inch (157 cm)). Holsteine phải là của một con cưỡi ngựa thể thao. Là một giống, Holsteiners được biết đến với cổ cong, chứ không phải cổ cao và chân sau mạnh mẽ. Những đặc điểm về hình dạng cung cấp cho hầu hết cho các con Holsteiners khả năng cân bằng tốt và thanh lịch.
Những con ngựa đã được sử dụng trong nông nghiệp, như ngựa huấn luyện viên, và thỉnh thoảng cho việc cưỡi. Cách dễ nhất để xác định một con Holsteiner là bởi các ký tự được đóng trên hông trái. Holsteiners nói chung có dáng vẻ tròn trại, hào phóng, những bước tiến đàn hồi và cân bằng tự nhiên. Các tài sản mạnh nhất của giống Holsteiner là khả năng nhảy của mình. Ngay cả những con bình thường cũng thể hiện sức mạnh và phạm vi lớn, và kỹ thuật chính xác.
Tương tự như các giống ngựa ở các vùng lân cận của Oldenburg, Groningen, và Friesland, ngựa Holsteiners truyền thống là màu tối và tối thiểu được đánh dấu. Xu hướng này đã phát triển thành một sở thích cho màu đen, tối, và màu nâu, mặc dù sắc thái nhẹ hơn như hạt dẻ và màu xám cũng được cho phép. Ngựa với những đốm lớn màu trắng gợi của pinto khuôn mẫu hoặc bất kỳ của các đặc điểm kết hợp với báo đốm được loại trừ khỏi cơ quan đăng kiểm.
Mặc dù thực tế rằng Palomino và da hoẳng thuộc là không thể chấp nhận được màu sắc cho Holsteiner, việc cải thiện đực giống thuần chủng, Marlon xx đã tự mình một da hoẳng tối mà để lại đăng ký với một số con Palomino và con da hoẳng.Có những phàn nàn cho rằng có những con Holsteiners lười biếng và nhạy cảm, ma quái.
== Lịch sử ==
=== Thời Trung Cổ ===
Các giống ngựa Holsteiner đã được nuôi ở vùng cực bắc của Đức, Schleswig-Holstein, trong hơn 700 năm. Các đầm lầy ven biển lộng gió, nơi các giống có nguồn gốc được đặc trưng bởi phong phú, đất ướt có thể bị khô và biến cụ thể như trong một vài giờ. Kể từ thế kỷ thứ nhất, các đầm lầy màu mỡ được cho là quê hương của một con ngựa là nhỏ và phù hợp với khí hậu.
Tổ chức chăn nuôi ngựa ở Holstein được thực hiện đầu tiên trong các tu viện của Uetersen. Các linh mục thường xuyên được các thành viên biết chữ nhất của xã hội Trung cổ, lưu giữ hồ sơ rất chính xác về chúng. Từ những con ngựa bản địa nhỏ của đầm lầy Haseldorf, các linh mục Uetersen bắt đầu phát triển những con ngựa lớn hơn phù hợp cho cưỡi trong thời gian chiến tranh, và cho nông nghiệp trong môi trường đòi hỏi khắt khe.
Vào thế kỷ thứ 16, những con ngựa của Holstein đã có một danh tiếng riêng biệt, và loài này vẫn có nhu cầu cao cho đến thế kỷ thứ 18. Như chiến đấu hiệp sĩ đã nhường chỗ cho các kỵ binh, ngựa dùng trong chiến tranh cần nhiều sức chịu đựng và sự nhanh nhẹn. Tương tự như chất lượng khác ngựa châu Âu thời gian, sự phổ biến của ngựa Neapolitan và ngựa Tây Ban Nha đã được phản ánh trong các con ngựa Holsteiner.
Trong khi không phải đặc biệt cao, chúng đã có những cải tiến khác. Vua Philip II của Tây Ban Nha thường xuyên mua Holsteiner để nuôi stud của mình tại Cordoba. Sau Cải Cách Tin Lành, sự sinh sản của ngựa không còn là trách nhiệm của các linh mục, nhưng các quan chức địa phương và nông dân cá thể. Ngay trong năm 1719, nhà nước này đưa ra giải thưởng cho các nhà nhân giống tốt nhất của nông dân Holstein. Những con ngựa đã trở thành nền tảng của các giống ngựa Hanoveria.
=== Hiện đại ===
Thế kỷ 19 đã mang lại một sự thay đổi để giống ngựa châu Âu: ngựa Baroque nhỏ gọn và mạnh mẽ đã được thay thế bởi các giống ngựa Thuần Chủng Anh Thoroughbred như các loài động vật chính được sử dụng để cải tạo giống ngựa địa phương. Những cải tiến trong con đường và sự phát triển của đầu máy có nghĩa là cưỡi dài được ít thường yêu cầu. Kết quả là, sự nhấn mạnh về việc giảm độ thanh lịch, ngựa vận chuyển. Cleveland Bay và Thoroughbred truyền giống cho chúng.
Những năm đầu thế kỷ 20 đã mang về những thay đổi đáng kể cho những con ngựa Holstein và tác giả của nó. Thế chiến I và Thế chiến II dẫn đến nhu cầu tăng lên đối với các chú ngựa nặng để kéo các toa xe pháo. Năm 1926, Liên đoàn ngựa nhân giống ngựa của Marshes Holsteiner đã được thực hiện để chuyển ngựa đực giống của họ qua các stud nhà nước, trong đó phân phối lại các con đực. Những con đực giống đã sớm được bổ sung bằng những người thuộc hiệp hội khác các nhà lai tạo trong khu vực.
=== Ngày nay ===
Sau Thế chiến II, dân số ngựa vào năm 1950 là gần 10.000 cá thể; 11 năm sau, con số này đã giảm hơn một phần ba. Trong thập kỷ đó, nông dân đã từ bỏ sự sinh sản của ngựa, và Stud Nhà nước Traventhal bị giải tán. Thay vì cho phép những con ngựa nông nghiệp để chết đi như một giống, Hội đồng quản trị của các nhà tạo giống liên bang mua 30 con ngựa giống Holsteiner và ba con ngựa Thuần Chủng Thoroughbreds và hoàn toàn định hình lại hướng chăn nuôi. Những trại chăn nuôi đực giống nhà nước bây giờ đã thuộc sở hữu của các nhà tạo giống hiệp hội, một sự sắp xếp hoàn toàn độc đáo giữa các Hiệp hội nuôi ngựa máu nóng ở Đức.
Để thực hiện việc cập nhật các con ngựa Holsteiner, nhiều con ngựa Thuần Chủng Thoroughbred và ngựa đực giống Pháp đã được nhập khẩu. Bởi năm 1976, hầu hết các con ngựa đực giống Holsteiner hàng đầu là Thoroughbred hoặc nửa Thoroughbred. Các con Holsteiners phong cách mới đã nhanh nhẹn hơn, nhanh hơn, cao hơn, và có kỹ thuật nhảy tốt hơn. Những thay đổi này đã được đặc biệt quan trọng trong vòng 15 đến 20 năm, Chúng đã không chỉ phục vụ cho việc cưỡi ngựa của những nam giới và binh lính, và trở thành thống trị bởi phụ nữ và trẻ em gái như một hoạt động giải trí. Để đáp ứng nhu cầu của các thị trường mới này, ngựa Holsteiners ngày nay đã được cải tạo theo hướng đẹp hơn và tinh tế hơn.
== Chú thích ==
== Tham khảo ==
Dữ liệu liên quan tới Ngựa Holstein tại Wikispecies
Collectif 2002] Collectif, « Holstein », dans Chevaux et poneys, Paris, Éditions Artemis, 2002, 128 p. (ISBN 2-84416-025-5 et 978-2-84416-025-6, OCLC 468176930, notice BnF no FRBNF37045855, lire en ligne), p. 41-42 Document utilisé pour la rédaction de l’article
[Ravazzi 2002] Gianni Ravazzi, « Holstein », dans L'encyclopédie des chevaux de race, Bergame, Italie, De Vecchi, 2002, 190 p. (ISBN 9782732825946), p. 80 Document utilisé pour la rédaction de l’article
[Edwards 2005] Elwyn Hartley Edwards, « Holstein », dans L'œil nature - Chevaux, Nord Compo, Villeneuve-d'Ascq, Larousse, 2005, 255 p. (ISBN 9782035604088), p. 132-133 Document utilisé pour la rédaction de l’article
[Hendricks 2007] (en) Bonnie Lou Hendricks (préf. Anthony A. Dent), « Holstein », dans International Encyclopedia of Horse Breeds, Norman, University of Oklahoma Press, 2007, 486 p. (ISBN 080613884X et 9780806138848, OCLC 154690199, lire en ligne), p. 224-227 Document utilisé pour la rédaction de l’article
[Fitzpatrick 2008] Andrea Fitzpatrick, « Holstein », dans Le Monde fascinant des chevaux, Paris, Nov'edit, 2008, 437 p. (ISBN 9782350332086), p. 160-161 Document utilisé pour la rédaction de l’article
[Lynghaug 2009] (en) Fran Lynghaug, « Holsteiner: The Complete Guide to the Standards of All North American Equine Breed Associations », dans The Official Horse Breeds Standards Book, Minneapolis, Voyageur Press, 2009, 672 p. (ISBN 1616731710 et 9781616731717, OCLC 759839527, lire en ligne), p. 603-605 Document utilisé pour la rédaction de l’article
[Dutson 2012] (en) Judith Dutson, « Holsteiner », dans Storey's Illustrated Guide to 96 Horse Breeds of North America, Storey Publishing, 2012, 416 p. (lire en ligne), p. 263-265 |
samsung sph-m900.txt | Samsung Moment, còn có tên SPH-M900, là một điện thoại thông minh do Samsung sản xuất sử dụng hệ điều hành nguồn mở Android.
== Tính năng ==
== Các vấn đề ==
== Tranh cãi ==
== Thông số kĩ thuật ==
== Thị trường ==
Thiết bị này có mặt ở thị trường Hoa Kỳ.
== Xem thêm ==
Hệ điều hành Android
Galaxy Nexus
== Tham khảo == |
văn học dân gian.txt | Văn học dân gian (VHDG) hay văn học truyền miệng là những sáng tác văn học do nhân dân tạo nên và lưu truyền. VHDG cũng là những sáng tác nghệ thuật ngôn từ như văn học viết, nhưng lại có những đặc điểm riêng về lịch sử ra đời & phát triển, về người sáng tác, về cách thức sáng tác & lưu truyền, về nội dung tư tưởng & thể loại nghệ thuật
== Đặc trưng của văn học dân gian ==
=== Tính truyền miệng của văn học dân gian ===
Tác phẩm VHDG được lưu giữ bằng phương thức truyền miệng từ đời này sang đời khác, từ địa phương này sang địa phương khác.
Tính truyền miệng làm nên nhiều bản, gọi là dị bản.
=== Quá trình sáng tác tập thể (Tính tập thể) ===
Quá trình sáng tác tập thể diễn ra như sau:
Đầu tiên 1 người khởi xướng, tác phẩm hình thành và được tập thể tiếp nhận
Sau đó những người khác tiếp tục lưu truyền & sáng tác lại làm cho tác phẩm biến đổi dần, hoàn thiện & phong phú thêm về nội dung cũng như hình thức nghệ thuật.
VHDG là tài sản chung của mỗi tập thể, mỗi cá nhân đều có thể sửa chữa, bổ sung tác phẩm VHDG theo quan điểm & khả năng nghệ thuật của mình.
=== Tính hiện thực của văn học dân gian ===
Tính hiện thực của văn học dân gian thể hiện rõ nét nhất ở những bài ca nghi lễ, bài hát đối đáp giao duyên, các bài hò lao động,..., gắn bó và phục vụ cho các sinh hoạt cộng đồng của nhân dân.
== Hệ thống thể loại của văn học dân gian ==
=== Thần thoại ===
Thần thoại là loại hình tự sự dân gian thường kể về các vị thần, xuất hiện ở thời công xã nguyên thuỷ nhằm giải thích các hiện tượng tự nhiên, thể hiện khát vọng chinh phục tự nhiên của người Việt
=== Sử thi ===
Sử thi là những tác phẩm tự sự dân gian có quy mô lớn, sử dụng ngôn ngữ có vần, nhịp, xây dựng những hình tượng nghệ thuật hoành tráng, hào hùng để kể về một hay nhiều biến cố lớn lao diễn ra trong đời sống cộng đồng của nhân dân thời cổ đại. Nhân vật của sử thi mang cốt cách của cộng đồng, tượng trưng cho sức mạnh, niềm tin của cộng đồng.
Xem thêm về một số bộ sử thi nổi tiếng: Sử thi Đẻ đất đẻ nước (Mường), sử thi Đăm Săn, sử thi Uylixơ (Hy Lạp)…
=== Truyền thuyết ===
==== Khái niệm ====
Truyền thuyết là loại truyện dân gian kể về những sự kiện và nhân vật có liên quan đến lịch sử, thường có yếu tố tưởng tượng kì ảo. Truyện thể hiện cách đánh giá và thái độ của nhân dân đối với nhân vật và sự kiện lịch sử được kể đến.
==== Nhân vật ====
Trong truyền thuyết, nhân vật có liên quan đến lịch sử nhưng không phải là nhân vật lịch sử. Nhân vật trong truyền thuyết thường có xu hướng lý tưởng hoá: nhân dân gửi vào đó ước mơ, khát vọng của mình. VD: Khi có lũ lụt, họ ước mơ có thần trị thuỷ (Sơn Tinh), khi có giặc, họ ước mơ có người anh hùng cứu nước chống ngoại xâm không màng danh lợi (Thánh Gióng), khi hoà bình, họ ước mơ có thần sáng tạo văn hoá (Lang Liêu),…
==== Đặc trưng thi pháp ====
===== Hiện thực và tưởng tượng trong truyền thuyết =====
Hiện thực trong truyền thuyết là hiện tượng xã hội loài người nhưng được bó hẹp trong phạm vi từ bộ tộc đến bộ lạc, rồi tiến dần đến nhà nước có xã hội chuyên chế.
Nhân dân thường dùng yếu tố tưởng tượng kì ảo để thể hiện tính tưởng tượng trong truyền thuyết. Những yếu tố ấy không có thật ngoài đời nhưng có thật trong tâm tình của nhân dân với lịch sử.
===== Cốt truyện truyền thuyết =====
Thường xoay quanh nhiều nhân vật, thậm chí có thể xây dựng thành 2 hệ thống nhân vật đối lập nhau.
===== Đặc trưng nhân vật =====
Nhân vật của truyền thuyết chủ yếu là người hoặc bán thần (thần nhưng có khát khao, ước mong, nguyện vọng giống con người, hay còn gọi là ‘’nửa thần nửa người’’)
===== Ngôn ngữ truyền thuyết =====
Cô đọng, ít miêu tả, chủ yếu là thuật lại hành động của nhân vật, kể những hoàn cảnh xuất thân của nhân vật. Lời thoại của nhân vật là lời thể hiện lòng nhiệt huyết của nhân vật đối với đất nước trong hoàn cảnh lâm nguy. Không gian được sử dụng trong truyền thuyết là không gian đời thường – xã hội – chiến trường – đất nước.
Những truyền thuyết dân gian thường có cái cốt lõi là sự thật lịch sử mà nhân dân ta, qua nhiều thế hệ, đã lý tưởng hoá, gửi gắm vào đó tâm tình thiết tha của mình, cùng với thơ và mộng, chắp đôi cánh của trí tưởng tượng dân gian, làm nên những tác phẩm văn hóa mà đời đời con người còn ưa thích.
=== Cổ tích ===
==== Khái niệm ====
Cổ tích là loại truyện dân gian kể về một số kiểu nhân vật quen thuộc: nhân vật bất hạnh, nhân vật xấu xí, nhân vật có tài năng kì lạ, nhân vật thông minh, nhân vật ngốc nghếch,…, thường có yếu tố tưởng tượng thần kì độc đáo. Cố tích thường thể hiện ước mơ, niềm tin của nhân dân về chiến thắng cuối cùng của cái thiện đối với cái ác, cái tốt đối với cái xấu, sự công bằng đối với sự bất công… Cố tích ra đời khi xã hội đã có sự phân chia giai cấp.
==== Đặc trưng thi pháp ====
Trong mỗi truyện cổ tích đều có những yếu tố của thực tế, nhưng những yếu tố ấy lại được hư cấu kì ảo để xây dựng nên một thế giới khác với thế giới hiện tại - thế giới cổ tích, mà trong thế giới ấy, mọi điều đều có thể xảy ra.
Trong cổ tích, người ta bay trên không trung, ngồi lên tấm thảm biết bay, đi hia bảy dặm,..., và nói chung, truyện cổ tích đã mở ra trước mắt con người ta cánh cửa sổ để trông vào một cuộc sống khác, mơ tưởng cuộc sống tốt đẹp hơn.
=== Ngụ ngôn ===
==== Khái niệm ====
Loại truyện được kể, bằng văn xuôi hoặc văn vần, mượn chuyện của đồ vật, con vật,... hoặc về chính con người để nói bóng gió,kín đáo chuyện con người, nhằm khuyên nhủ, răn dạy con người ta một bài học nào đó trong cuộc sống.
==== Nguồn gốc ====
Một phần lớn của truyện ngụ ngôn bắt nguồn từ truyện loài vật do sự gần gũi giữa con người với tự nhiên nên con người đã "gán" cho con vật tính cách của con người. Khi đó, truyện ngụ ngôn dần xuất hiện.
==== Nội dung truyện ====
Đả kích giai cấp thống trị
Phê phán thói hư tật xấu
Thể hiện triết lý dân gian
==== Đặc trưng thi pháp ====
Kết cấu truyện ngụ ngôn thường ngắn, ít tình tiết. Phần truyện kể thì nổi lên, phần ý nghĩa thì lắng đọng, người đọc tự rút ra.
Nhân vật trong truyện ngụ ngôn rất đa dạng, được xây dựng đối lập nhau để tạo sức hấp dẫn cho truyện (thông minh với ngu ngốc, tốt bụng với xấu xa, to lớn với nhỏ bé,...).
Tác giả dân gian còn dùng biện pháp phủ định và biện pháp ẩn dụ để xây dựng truyện ngụ ngôn.
Nói ngay hay trái tai.
"Cứ nói thuần luân lý, thì dễ sinh lòng chán nản;
Cứ mượn truyện kể ra, thì luân lý mới trôi chảy."
=== Một số thể loại khác ===
Truyện cười: được xây dựng trên cơ sở mâu thuẫn trong cuộc sống, làm bật lên tiếng cười nhằm mục đích mua vui giải trí & phê phán thói hư tật xấu.
Tục ngữ: là những câu nói ngắn gọn, hàm xúc, có hình ảnh, nhịp, vần, thể hiện kinh nghiệm của nhân dân được đúc kết qua thực tiễn đời sống hằng ngày.
Câu đố: là những câu nói, câu văn có vần dùng để mô tả một vật, một khái niệm, một hiện tượng,… buộc người đọc, người nghe đưa ra đáp án hoặc lời giải thích nhằm mục đích giải trí, rèn luyện tư duy & cung cấp những tri thức về đời sống.
Ca dao: là những bài thơ trữ tình dân gian thường là những câu hát có vần, có điệu nhằm diễn tả thế giới nội tâm của con người.
Vè: là tác phẩm tự sự dân gian có lời thơ mộc mạc kể về những sự kiện diễn ra trong xã hội nhằm thông báo & bình luận.
Ngoài ra, VHDG còn có một số thể loại khác như truyện thơ, chèo,...
== Xem thêm ==
Văn học Việt Nam
Chèo
Văn học dân gian các dân tộc thiểu số Việt Nam
Sân khấu cổ truyền Việt Nam
== Chú thích == |
krone na uy.txt | Krone Na Uy là đơn vị tiền tệ của Na Uy (dạng số nhiều là kroner). Một krone gồm 100 øre (tương đương xu). Mã ISO 4217 là NOK, nhưng chữ địa phương viết tắt thông thường là kr.
== Lịch sử ==
Đồng krone Na Uy được sử dụng từ năm 1875, thay cho đồng daler Na Uy với tỷ giá 4 kroner = 1 daler Na Uy. Khi làm việc thay đổi tiền này, Na Uy đã gia nhập Liên minh tiền tệ Scandinavia, một tổ chức tiền tệ Bắc Âu được thành lập năm 1873. Liên minh này tồn tại tới năm 1914 nhưng, sau khi Liên minh giải thể thì Đan Mạch, Na Uy và Thụy Điển đều quyết định giữ tên tiền riêng của mình như cũ.
Trong Liên minh tiền tệ Scandinavia, đồng krone có bản vị vàng với tiêu chuẩn 2.480 kroner = 1 kilogram vàng nguyên chất (1 krone = 403,226 milligram vàng). Bản vị vàng này được tu bổ vào các năm 1916, 1920 và 1928 nhưng đình chỉ vĩnh viễn vào năm 1931, khi tỷ lệ hối đoái cố định với bảng Anh là 19,9 kroner = 1 bảng Anh được thiết lập (tỷ lệ trước kia là 18,16 kroner = 1 bảng Anh). Năm 1939, Na Uy gắn đồng krone của mình vào đồng dollar Mỹ với tỷ giá 4,4 kroner = 1 dollar.
Trong thời kỳ Na Uy bị Đức quốc xã chiếm đóng ở thế chiến thứ hai, đồng krone Na Uy được gắn với đồng Reichsmark của Đức với tỷ giá ban đầu là 1 krone = 0,6 Reichsmark, sau đó giảm xuống còn 0,57. Sau chiến tranh, thì tỷ giá 20 kroner = 1 bảng Anh (4,963 kroner = 1 dollar Mỹ) được thiết lập. Tỷ giá so với bảng Anh được giữ tới năm 1949 khi đồng bảng Anh mất giá so với đồng dollar Mỹ, thì tỷ giá là 7,142 kroner = 1 dollar Mỹ. Tháng 12 năm 1992 Ngân hàng Trung ương Na Uy từ bỏ tỷ giả hối đoái cố định, thay bằng tỷ giá hối đoái thả nổi.
Đây là chính sách tiền krone hiện hành của Ngân hàng Trung ương Na Uy.
== Các tiền kim loại ==
Năm 1875, các tiền kim loại được đưa ra lưu hành (một số từ năm 1874) với các mệnh giá 10 øre, 50 øre, 1 krone, 10 krone và 20 krone. Cũng có các tiền kim loại mang mệnh giá của tiền trước kia như 3, 15, 30 skilling và 2½ cùng 5 specidaler. Từ năm 1875 tới năm 1878, các tiền kim loại mới được lưu hành hoàn toàn, với các mệnh giá 1, 2, 5, 10, 25, 50 øre cùng 1, 2, 10, 20 krone. Các đồng 1, 2, 5 øre bằng đồng thiếc, các đồng 10, 25, 50 øre cùng 1 và 2 krone bằng bạc, trong khi các đồng 10 và 20 krone bằng vàng.
Các tiền vàng được phát hành lần chót vào năm 1910. Các tiền đúc bằng bạc được thay bằng hợp kim đồng-kền từ năm 1920. Từ năm 1917 tới năm 1921, sắt được dùng tạm thay thế cho đồng thau. Năm 1917 cũng là năm phát hành lần chót đồng 2 krone kim loại. Trong thời bị Đức quốc xã chiếm đóng ở thế chiến thứ hai thì kẽm được dùng thay thế cho hợp kim đồng-kền trong các tiền kim loại 10, 25, 50 øre, đồng thời ngưng sản xuất đồng 2 krone.
Năm 1963, phát hành tiền kim loại 5 krone. Năm 1972, ngưng phát hành đồng 1 và 2 øre. Năm1973, kích thước của đồng 5 øre kim loại được giảm bớt và tới năm 1982, thì ngưng phát hành đồng tiền này cùng với đồng 25 øre. Năm 1983 đúc đồng 10 kroner và năm 1992, đúc đồng 10 øre lần chót. Từ năm 1994 tới 1998, loạt tiền kim loại mới được phát hành gồm các đồng 50 øre và các đồng 1, 5, 10, 20 kroner.
== Các tiền giấy ==
Năm 1877, Ngân hàng Quốc gia Na Uy phát hành các giấy bạc 5, 10, 50, 100, 500 và 1000 kroner. Năm 1917, phát hành giấy bạc 1 krone. Các năm 1918 tới 1922, phát hành giấy bạc 2 kroner. Do thiếu kim loại, nên từ năm 1940 tới 1950 lại phát hành giấy bạc 1 và 2 kroner. Năm 1963, tiền giấy 5 kroner được thay thế bằng tiền kim loại, năm 1984 tiền giấy 10 kroner cũng được thay bằng tiền kim loại. Năm 1994 phát hành thêm giấy bạc 200 kroner.
== Bảng tóm tắt các mệnh giá phát hành ==
Nguồn: [1], [2], [3], [4]
== Tỷ giá hối đoái ==
Trị giá của tiền krone Na Uy so với các tiền khác thay đổi đáng kể từng năm một, chủ yếu căn cứ trên các biến đổi của giá dầu xăng và lãi suất. Năm 2002 đồng krone Na Uy cao kỷ lục so với đồng dollar Mỹ và đồng Euro. Ngày 2.1.2002, tỷ giá 100 kroner Na Uy = 11,14 dollar Mỹ (1 USD=8,98 kroner Na Uy). Tháng 7/2002, đồng krone Na Uy lên tới mức 100 kroner Na Uy = 13,7 dollar Mỹ (1 USD=7,36 kroner Na Uy). Ngoài giá dầu cao, còn thêm mức lãi cao, trong đó ngày 4.7.2002 lên tới 7%. Tại thời điểm này Na Uy là nước xuất cảng dầu lớn thứ 3 thế giới.
Năm 2005, giá dầu lên tới mức kỷ lục, trên 60 dollars/ thùng (barrel). Mặc dù lãi suất đã giảm tới mức khoảng 2%, đồng krone Na Uy vẫn cao.
Tuy nhiên, vào cuối năm 2007 và đầu năm 2008, đồng dollar Mỹ bị mất giá so với các đồng tiền chủ yếu khác, thì cùng lúc đồng krone Na Uy đạt được trị giá cao. Kết quả là đồng krone Na Uy mạnh hơn bao giờ hết so với đồng dollar Mỹ, khiến cho đồng dollar Mỹ chỉ còn bằng khoảng 5 kroner Na Uy trong tháng 4/2008. Tháng 10/2008, đồng dollar Mỹ đã hồi phục và trị giá khoảng 7 kroner Na Uy.
Năm 2009 đồng krone Na Uy là tiền đứng hàng thứ 10 được buôn bán trên thị trường hối đoái ngoại tệ.
Bản mẫu:Exchange Rate
== Tỉ giá hối đoái hiện thời của đồng NOK ==
== Xem thêm ==
krona Thụy Điển
krone Đan Mạch
króna Iceland
== Tham khảo ==
== Liên kết ngoài ==
Norges Bank: Sedler og mynter (tiếng Na Uy)
Norges Bank Ngân hàng Na Uy
NOK sedlar Tiền giấy krone Na Nuy
Tỷ giá hiện nay từ Yahoo |
24 tháng 10.txt | Ngày 24 tháng 10 là ngày thứ 297 (298 trong năm nhuận) trong lịch Gregory. Còn 68 ngày trong năm.
== Sự kiện ==
1260 – Nhà thờ Đức Bà Chartres tại Pháp được khánh thành với sự hiện diện của Quốc vương Louis IX.
1648 – Hòa ước Westfalen được ký kết, là phần thứ hai của Hòa ước Westfalen, kết thúc Chiến tranh Ba mươi năm và Chiến tranh Tám mươi năm, công nhận nền độc lập của Cộng hòa Hà Lan và Thụy Sĩ.
1795 – Các đại diện từ Áo, Nga và Phổ cùng soạn thảo hiệp ước chính thức giải thể Thịnh vượng chung Ba Lan và Litva.
1945 – Hiến chương Liên Hiệp Quốc bắt đầu có hiệu lực sau khi được Anh Quốc, Hoa Kỳ, Liên Xô, Pháp, Trung Quốc, và đa số quốc gia khác thông qua.
1973 – Chiến tranh Yom Kippur kết thúc.
2007 – Vệ tinh Hằng Nga 1 của Trung Quốc được phóng từ Trung tâm phóng vệ tinh Tây Xương, Tứ Xuyên.
== Sinh ==
1632: Antonie van Leeuwenhoek-Thương gia, nhà khoa học người Hà Lan
1710: Alban Butler-Linh mục Công giáo Anh, nhà văn
1898: Bành Đức Hoài - Nguyên soái Quân giải phóng nhân dân Trung Quốc
1954: Malcolm Turnbull-chính khách của Đảng Tự do Úc
1985: Wayne Mark Rooney - Cầu thủ bóng đá người Anh
1986: Tăng Thanh Hà - diễn viên Việt nam
1989: Felix Arvid Ulf Kjellberg (PewDiePie) - Gamer nổi tiếng trên YouTube
1990: İlkay Gündoğan - Cầu thủ bóng đá người Đức
1994: Krystal Jung (Jung Soo Jung) - thành viên nhóm f(x) Hàn Quốc
== Mất ==
== Những ngày lễ và kỷ niệm ==
Ngày Liên Hiệp Quốc (United Nations Day)
Ngày Phát triển Thông tin Thế giới (World Development Information Day)
== Tham khảo == |
dấu huyền.txt | Dấu huyền trong tiếng Việt là một dấu thanh nằm ở trên một số nguyên âm. Khi viết ở trên nguyên âm thì phát âm tiếng đó với giọng xuống. Dấu huyền viết bằng một gạch ngang chéo xuống từ trái sang phải.
== Các ngôn ngữ khác ==
Một số ngôn ngữ khác trên thế giới cũng dùng "dấu huyền" trong cách viết nhưng có thể mang chức năng khác không thuộc phạm vi dấu thanh. Thí dụ như Tiếng Ý thì dùng dấu huyền để đặt cách nhấn âm tiết trong khi tiếng Anh dùng dấu huyền (thường trong thể thơ) để biến nguyên âm câm thành nguyên âm bật tiếng.
== Xem thêm ==
Dấu hỏi
Dấu sắc
Dấu nặng
Dấu ngã
== Tham khảo ==
== Liên kết ngoài ==
Diacritics Project – All you need to design a font with correct accents
ASCII and Unicode quotation marks – "Please do not use the ASCII grave accent as a left quotation mark"
Keyboard Help – Learn how to create world language accent marks and other diacriticals on a computer |
tam quốc.txt | Bài này nói về một thời kỳ lịch sử Trung Quốc. Xem các nghĩa khác ở Tam Quốc (định hướng)
Thời kỳ Tam Quốc (phồn thể: 三國, giản thể: 三国, Pinyin: Sānguó) là một thời kỳ trong lịch sử Trung Quốc. Một cách chính xác theo khoa học thì nó bắt đầu vào năm 220 khi nhà Ngụy được thành lập và kết thúc năm 280 khi Đông Ngô sụp đổ và nhà Tây Tấn thống nhất Trung Hoa. Tuy nhiên, nhiều nhà sử học Trung Quốc cũng như nhiều người dân khác cho rằng thời kỳ này bắt đầu năm 190 khi liên minh chống Đổng Trác được thành lập cuối thời nhà Đông Hán.
Trước đó, phần "không chính thức" của giai đoạn này, từ năm 190 đến năm 220, được đánh dấu bởi sự hỗn loạn của các cuộc giao tranh giữa các phe phái trong rất nhiều khu vực của Trung Hoa, như các cuộc giao tranh của Tào Tháo, anh em Viên Thiệu - Viên Thuật, Tôn Kiên, Lưu Biểu, Lưu Bị, Đổng Trác, Lữ Bố, quân Khăn Vàng v.v. Phần giữa của giai đoạn này, từ năm 220 đến năm 263, được đánh dấu bằng sự giao tranh quân sự và ngoại giao của ba quốc gia thù nghịch còn lại là Ngụy (魏), Thục (蜀) và Ngô (吳). Để phân biệt các quốc gia này với các quốc gia cùng tên nhưng trong các thời kỳ trước đó, người ta đã thêm vào: Ngụy là Tào Ngụy (曹魏), Thục là Thục Hán (蜀漢), và Ngô là Đông Ngô (東吳). Phần cuối cùng của thời kỳ này được đánh dấu bằng việc Ngụy tiêu diệt Thục (năm 263), nhà Tây Tấn thay thế Ngụy (tháng 2 năm 266 theo dương lịch), và Tấn tiêu diệt Ngô (280).
Mặc dù tương đối ngắn, thời kỳ lịch sử đầy hỗn loạn và chinh chiến này đã được tiểu thuyết hóa trong văn học và rất nổi tiếng ở Trung Quốc, Nhật Bản, Triều Tiên và các nước Đông Nam Á. Nó được chuyển thể thành các vở kịch, tiểu thuyết, truyện dân gian, truyện dã sử cũng như trong phim ảnh, phim truyền hình nhiều tập và trò chơi điện tử. Nổi bật nhất trong số đó là tác phẩm Tam quốc diễn nghĩa của La Quán Trung, một tác phẩm hư cấu dựa phần lớn theo lịch sử. Ghi chép lịch sử chính thức của thời kỳ này là Tam quốc chí của Trần Thọ, với sự hiệu đính của Bùi Tùng Chi sau này.
Thời kỳ Tam quốc này cũng là một trong những thời kỳ đẫm máu nhất trong lịch sử Trung Quốc. Điều tra dân số cuối thời kỳ nhà Đông Hán cho con số là khoảng 56 triệu người, trong khi đó điều tra dân số trong thời kỳ đầu nhà Tây Tấn (sau khi Tấn thống nhất Trung Quốc) chỉ còn khoảng 26 triệu người. Cho dù con số thống kê có thể có sai số lớn nhưng hoàn toàn đủ cơ sở để nói rằng phần lớn dân số đã chết vì các cuộc chiến tranh liên miên trong thời kỳ này.
== Lịch sử ==
Cái chết của Hán Linh Đế tháng 5 năm 189 đã dẫn đến thời kỳ nhiếp chính không ổn định của Hà Tiến vốn là Đại tướng quân và sự tái phát của mối bất hòa giữa các hoạn quan và các quan lại khác. Sau khi Hà Tiến bị Trương Nhượng, Đoàn Khuê và nhóm thập thường thị giết thì bộ tướng là Viên Thiệu đã thảm sát các hoạn quan trong triều. Sự hỗn loạn trong triều đã mở đường cho thứ sử Tây Lương là Đổng Trác từ miền Tây Bắc trở về kinh thành Lạc Dương và kiểm soát toàn bộ triều chính, mở đầu cho các cuộc chiến tranh sát phạt lẫn nhau của các chư hầu trên toàn lãnh thổ Trung hoa.
Đổng Trác liên tiếp sử dụng mưu kế bức bách để vua Hán Thiếu Đế (Lưu Biện) phải nhường ngôi cho em là Trần Lưu vương Lưu Hiệp, tức là Hán Hiến Đế và phế Thiếu Đế làm Hoằng Nông Vương rồi sau đó giết đi. Năm 190 liên minh 10 sứ quân do Viên Thiệu cầm đầu gồm có Viên Thiệu, Viên Thuật, Hàn Phức, Khổng Do, Lưu Đại, Trương Mạo, Trương Siêu, Vương Khuông, Viên Di, Kiều Mạo đã nổi dậy ở các tỉnh miền đông chống lại Đổng Trác. Cùng lúc, một sứ quân ở Ngô quận là Tôn Kiên cũng dấy binh đánh Đổng Trác. Dưới áp lực này, Đổng Trác phải mang Hiến đế chạy về phía tây tới Trường An vào tháng 5 năm 191. Một năm sau đó, ông ta bị 1 tướng của mình là Lữ Bố giết chết. Từ đây, Trung Quốc bắt đầu trải qua những cuộc giao tranh quân sự trong những năm tiếp theo.
=== Trận Quan Độ và Xích Bích ===
Năm 191, qua sự việc tranh giành quyền lực, thanh toán lẫn nhau giữa tướng quân Hà Tiến và mười hoạn quan trong cung đã tạo ra mầm mống cho các cuộc bạo loạn sau này, đã có một số thảo luận bí mật trong liên minh về việc đưa ai lên nối ngôi nhưng các thành viên của liên minh dần dà bị tiêu diệt hoặc phải bỏ chạy. Chiến tranh thực sự diễn ra khi Đổng Trác rời bỏ Lạc Dương. Tháng 8 năm 195 vua Hiến Đế phải rời Trường An bắt đầu một chuyến du hành đầy nguy hiểm về phương đông để tìm những người ủng hộ. Năm 196, khi ông gặp Tào Tháo ở Hứa Đô, phần lớn các đối thủ tranh giành quyền lực cỡ nhỏ đã bị thu phục hay tiêu diệt bởi các thế lực lớn hơn. Đế chế nhà Hán đã bị chia sẻ giữa một số lãnh chúa lớn trong các khu vực. Viên Thiệu chiếm phần trung tâm phía bắc bao gồm Thanh Châu, Tinh Châu, Ký Châu và U châu (khu vực tỉnh Hà Bắc và phụ cận hiện nay), mở rộng quyền lực lên phía bắc sông Hoàng Hà chống lại Công Tôn Toản, là người chiếm giữ khu vực biên giới phía bắc. Tào Tháo, ở phía nam của họ Viên, bị lôi cuốn vào cuộc chiến với Viên Thuật là người chiếm giữ vùng lưu vực sông Hoài (Hoài Nam) và Lưu Biểu ở miền trung sông Dương Tử (Kinh Châu). Xa hơn về phía nam là viên tướng trẻ Tôn Sách (con Tôn Kiên) thiết lập quyền lực tại khu vực hạ lưu sông Dương Tử (Giang Đông). Về phía tây, Lưu Chương chiếm Ích Châu trong khi đó Hán Trung và khu vực tây bắc bị chiếm giữ bởi một số các lãnh chúa nhỏ như Trương Lỗ, Trương Tú, Hàn Toại, Mã Đằng.
Tào Tháo, sau này là người sáng lập nhà nhà Ngụy, đã nổi binh mùa đông năm 189. Ông đã thu được khoảng 300.000 quân Khăn Vàng cũng như một loạt các nhóm quân sự có nguồn gốc bộ tộc vào quân đội của mình. Năm 196 ông ta thiết lập kinh đô cho nhà Hán ở Hứa Xương (Hứa Đô) và phát triển nông nghiệp trên cơ sở sử dụng sức lính để tăng thêm lương thảo cho quân đội. Sau khi tiêu diệt Viên Thuật năm 197 và các lãnh chúa miền đông như giết Lã Bố (198) và làm suy yếu Lưu Bị (199-200) ở Từ Châu trong một sự kế tiếp nhanh chóng, Tào Tháo nhằm sự chú ý của ông ta vào phía bắc tới Viên Thiệu, người trong cùng năm đó đã tiêu diệt kẻ thù phía bắc của mình là Công Tôn Toản.
Sau nhiều tháng lập kế hoạch, hai bên đã giao tranh tại Quan Độ năm 200. Vượt qua đội quân đông đảo hơn của họ Viên (700.000 người so với hơn 70.000 quân của Tào Tháo), Tào Tháo đã đánh bại ông ta và làm tan rã quân miền bắc. Năm 202, Tào Tháo giành hoàn toàn thế chủ động sau cái chết của Viên Thiệu và sự chia rẽ của ba con trai ông ta để tiến lên phía bắc sông Hoàng Hà. Ông ta chiếm Nghiệp Thành năm 204 và xâm chiếm các tỉnh Ký Châu, Tinh Châu, Thanh Châu và U Châu. Cuối năm 207, sau những chiến dịch nhỏ chống lại người Ô Hoàn (乌桓), Tào Tháo đã giành được sự thống lĩnh không thể tranh cãi đối với miền đồng bằng Hoa Bắc gồm các tỉnh như Liêu Ninh, Sơn Tây, Nội Mông và Bắc Kinh ngày nay.
Sau khi liên minh với Viên Thiệu bị tan vỡ, Lưu Bị phải chạy về Kinh Châu nương náu dưới trướng Lưu Biểu.
Năm 208, Tào Tháo đưa quân về phía nam với ý định nhanh chóng thống nhất đế chế. Con Lưu Biểu là Lưu Tông đầu hàng, dâng đất Kinh Châu, Tương Dương cho họ Tào và Tào Tháo có thể triển khai một lực lượng thủy quân, lục quân lớn tại Giang Lăng (khoảng trên 20 vạn). Tuy nhiên, Tôn Quyền – người kế vị Tôn Sách tại Giang Đông và Lưu Bị sau khi chạy qua Hạ Khẩu, Giang Hạ vẫn tiếp tục chống cự. Mưu sĩ của Tôn Quyền là Lỗ Túc đảm bảo cho liên minh với Lưu Bị, là người đã thua chạy từ phía bắc. Liên quân của hai nhà khoảng 5 vạn quân giao tranh với thủy quân của Tào Tháo tại Xích Bích vào mùa đông. Sau vài giao tranh nhỏ, cuộc tấn công bằng hỏa công đã là đòn đánh quyết định làm quân Tào Tháo tan vỡ, và buộc ông ta phải rút chạy hỗn loạn về phương bắc. Chiến thắng của liên quân tại Xích Bích là đảm bảo cho sự sống còn của Lưu Bị và Tôn Quyền và là cơ sở để hình thành nên hai vương triều Thục và Ngô.
=== Tam Quốc đỉnh lập ===
Sau khi chạy về phía bắc, Tào Tháo thu phục các khu vực ở miền tây bắc năm 211, đặc biệt là trong trận Đồng Quan, ông đã đánh bại được hai thế lực cát cứ là Mã Siêu và Hàn Toại, qua đó củng cố vững chắc quyền lực của mình. Ông ta tăng nhanh chức vụ cũng như sức mạnh quân đội, cuối cùng đạt đến tước phong Ngụy vương năm 217. Lưu Bị tấn công vào Ích Châu và năm 214 thay thế Lưu Chương cai trị khu vực này, giao cho Quan Vũ cai quản Kinh Châu. Tôn Quyền, trong những năm sau đó bị vướng bận với việc chống lại Tào Tháo tại miền đông nam ở Hợp Phì, bây giờ bắt đầu chú ý tới mảnh đất Kinh Châu màu mỡ và miền trung sông Dương Tử. Sự bất hòa giữa hai quốc gia liên minh này ngày càng tăng lên. Năm 219, sau khi Lưu Bị chiếm được Hán Trung và Tương Dương từ Tào Tháo, đại tướng của Ngô là Lã Mông đã bắt giết Quan Vũ và tái chiếm Kinh Châu.
Đầu năm 220, Tào Tháo chết, tháng 10 năm đó con ông là Tào Phi phế bỏ vua Hán Hiến Đế giành ngôi, tức là Ngụy Văn đế, chấm dứt nhà Đông Hán. Tào Phi đặt quốc hiệu là Ngụy và lên ngôi tại Lạc Dương, Tào Tháo được truy tôn là "Thái Tổ Vũ Hoàng Đế".
Năm 221, Lưu Bị cũng tự xưng là Hoàng đế kế tục nhà Hán, tức Tiên chủ của Thục Hán với mục đích khôi phục nhà Hán. (Quốc gia này trong sử sách gọi là "Thục" hay "Thục-Hán".) Trong năm đó, Ngụy ban cho Tôn Quyền tước hiệu Ngô vương. Một năm sau, do việc Tôn Quyền sai Lã Mông bắt giết tướng Thục Hán là Quan Vũ và chiếm đóng toàn bộ Kinh Châu, quân đội Thục Hán tuyên bố chiến tranh với Đông Ngô và giao tranh với quân Ngô tại trận Di Lăng. Tại Hào Đình, Lưu Bị bị tướng của Tôn Quyền là Lục Tốn đánh bại và phải lui quân về Thục, sau đó băng hà vào năm 222 tại thành Bạch Đế. Sau cái chết của Lưu Bị, Thục và Ngô dưới sự liên kết của Khổng Minh, đã thiết lập lại quan hệ bang giao để chống Tào Ngụy, tạo nên sự ổn định của trục ba quốc gia. Cuối năm 222 sau đại thắng Di Lăng, Tôn Quyền tự xưng vua Ngô độc lập với nhà Nguỵ nhưng vẫn khiêm tốn giữ tước hiệu "Ngô Vương" cho đến năm 229, Tôn Quyền chính thức từ chối công nhận nhà Ngụy của Tào Phi và lên ngôi hoàng đế tại Vũ Xương,thành lập nhà Đông Ngô.Thế chân vạc Tam Quốc chính thức hình thành.
Phần lớn miền bắc hoàn toàn thuộc nhà Ngụy, trong khi đó Thục chiếm miền tây nam bao gồm Tứ Xuyên và Ngô chiếm miền trung tâm phía nam và phía đông. Biên giới phía ngoài của ba quốc gia này bị giới hạn bởi ảnh hưởng của nền văn minh Trung Hoa. Ví dụ, kiểm soát về chính trị của nhà Thục trên biên giới phía nam của mình bị giới hạn bởi các bộ lạc người Thái trong tỉnh Vân Nam và Myanma ngày nay, nhà Ngô không thể vươn tới mà phải tồn tại cùng nước Lâm Ấp (của người Chăm).
Năm 222, con Lưu Bị là Lưu Thiện lên ngôi kế nghiệp cha. Thất bại của Lưu Bị tại Hào Đình kết thúc thời kỳ thù địch giữa Ngô và Thục và cả hai tận dụng cơ hội này để tập trung vào những vấn đề trong nước cũng như để đối phó với nhà Ngụy. Đối với Tôn Quyền, chiến thắng này cũng kết thúc sự e ngại của ông về việc nhà Thục mở rộng về phía Kinh Châu và ông có thể nhòm ngó tới các bộ tộc thiểu số ở phía đông nam, là những bộ tộc mà người Hán gọi chung là "Sơn Việt" (xem thêm người Việt (tiếng Hoa) và Việt (tiếng Hoa) (越, 粵, 鉞)). Năm 234 ông ta đã đè bẹp các bộ lạc nổi dậy. Trong năm này, mười vạn quân Sơn Việt phải đầu hàng Gia Cát Cẩn sau ba năm bị bao vây ở Đan Dương (丹陽). Trong số này, bốn vạn người Man Di đã bị bắt đi lính cho nhà Ngô. Trong khi đó nhà Thục cũng gặp sự chống cự của bộ tộc bản xứ ở phía nam. Bộ tộc Di (彝族) ở phía tây nam đã nổi dậy chống nhà Hán, chiếm giữ Ích Châu. Gia Cát Lượng, để tránh thế hai đầu đối địch, đã dẫn ba cánh quân tiến đánh bộ tộc Di. Quân đội của ông đã đánh một số trận với vua người Man là Mạnh Hoạch, cuối cùng Mạnh Hoạch đã phải đầu hàng. Những người thổ dân (theo cách gọi của người Hán) được phép cư trú tại kinh đô nhà Thục ở Thành Đô như những công dân chính thức và người Di cũng phải đi lính cho nhà Thục.
Vào cuối cuộc chinh chiến miền nam của Gia Cát Lượng, liên minh Thục-Ngô đang hưng thịnh và nhà Thục Hán có thể đem quân lên phía bắc. Năm 227 Gia Cát Lượng đem quân đến Hán Trung, mở đầu cho những trận đánh với nhà Ngụy ở phía tây bắc. Năm sau, ông cho tướng Triệu Vân (趙雲), hay Tử Long (子龍), tấn công từ Tà Cốc để nghi binh trong khi tự mình dẫn quân đến Kỳ Sơn. Quân tiên phong của Mã Tốc tuy nhiên đã bị đánh bại tại Nhai Đình và quân Thục phải rút lui. Trong sáu năm tiếp theo Gia Cát Lượng đã vài lần đem quân tiến ra bắc Kỳ Sơn nhưng sự hạn chế về lương thảo, lại do đô đốc nhà Ngụy lúc đó là Tư Mã Ý phòng thủ nên ông đã không thành công. Năm 234 ông đem quân lần cuối tấn công ra bắc, đánh với quân Ngụy tại Vị Nam ở phía nam sông Vị Thủy. Vì cái chết đột ngột của ông, quân Thục lại phải rút lui.
Trong thời gian những cuộc đánh lớn của Gia Cát Lượng ra miền bắc thì nhà Ngô luôn luôn phải đề phòng chống lại sự xâm lấn của nhà Ngụy. Khu vực quanh Hợp Phì thường xuyên dưới áp lực của Ngụy kể từ sau trận Xích Bích và là chiến trường cho những trận giao tranh cỡ nhỏ hơn. Do lo sợ chiến tranh nhiều người dân đã phải di cư tới miền nam sông Dương Tử. Sau cái chết của Gia Cát Lượng, những cuộc tấn công vào khu vực Hoài Nam đã tăng lên nhưng không có kết quả gì, nhà Ngụy không thể phá vỡ phòng tuyến của quân Ngô trên sông, kể cả pháo đài Nhu Tu (濡鬚, Xuru).
Thời gian cai trị kéo dài của Tôn Quyền là khoảng thời gian sung túc nhất của quốc gia này. Việc di dân từ phía bắc và "giải quyết xong" các bộ lạc thiểu số Man Di đã làm tăng nhân lực cho nông nghiệp, đặc biệt là ở hạ lưu sông Dương Tử. Vận tải đường sông phát triển, với sự ra đời của các kênh Chiết Đông và Giang Nam. Thương mại với Thục phát triển, với một sự lưu thông lớn của bông từ Thục và sự phát triển của đồ tráng men và công nghệ luyện kim. Vận tải biển đã được hoàn thiện hơn để có thể đến được Mãn Châu và đảo Đài Loan. Về phía nam, các thương nhân Ngô đã đến Luy Lâu và Phù Nam). Với sự phát triển của kinh tế thì văn hóa, nghệ thuật cũng phát triển theo. Tại đồng bằng sông Dương Tử, những ảnh hưởng đầu tiên của Phật giáo đã xuất hiện ở phía nam Lạc Dương. (Xem Phật giáo ở Trung Quốc)
=== Tam Quốc quy Tấn ===
Sau khi Khai Quốc công thần và cũng là trụ cột không thể thay thế của Thục Hán là Khổng Minh Gia Cát Lượng qua đời ngay trong chiến dịch Bắc Phạt lần 6 (CN năm 234), vị trí Thừa tướng của ông lần lượt được Tưởng Uyển, Phí Vĩ và Đổng Doãn đảm nhận, chính sự tạm thời yên ổn. Sau năm 258, chính trường nhà Thục Hán ngày càng bị kiểm soát bởi các hoạn quan và tham nhũng tràn lan mà điển hình là Hoàng Hạo, lại thêm Hậu Chủ Lưu Thiện bất tài nhu nhược, tin dùng hoạn quan, ngày càng xa lánh trung thần khiến Thục Hán hoàn toàn đi trên vết xe đổ của vua Hán Linh Đế trước kia.
Cho dù có những cố gắng đầy nghị lực từ Khương Duy, học trò của Gia Cát Lượng, nhà Thục Hán không thể giành được chiến thắng quyết định trước nhà Ngụy. Tám cuộc tấn công ra Bắc khi được khi thua, nhưng không lấn chiếm được đất đai của Ngụy và khiến lực lượng của Thục bị hao mòn. Trong thì loạn ngoài thì suy, việc Thục bị tiêu diệt chỉ còn là vấn đề thời gian.
Năm 263, quân Ngụy dưới sự lãnh đạo của 2 đại tướng là Đặng Ngải và Chung Hội ồ ạt tấn công vào đất Thục bằng ba cánh quân, quân Thục phải rút lui khỏi Hán Trung. Khương Duy lui về Kiếm Các tử thủ. Tướng Ngụy Đặng Ngải cùng với con trai đã đem quân của mình từ Âm Bình qua những khu vực được cho là không thể vượt qua - đã tiến công đánh bại Gia Cát Chiêm tại Miên Trúc, Thành Đô lập tức bị đe dọa. Mùa đông năm đó, quân Ngụy bao vây chặt Thành Đô, sau 20 ngày kháng cự ác liệt, toàn bộ binh sĩ nhà Thục sống sót trong thành buông vũ khí sau khi Hậu Chủ Lưu Thiện tuyên bố đầu hàng. Khương Duy lúc đó đang ở Kiếm Các được lệnh đầu hàng. Khương Duy đến hàng tướng Ngụy Chung Hội. Mặc dù ông đã cố gắng gây chia rẽ các tướng Ngụy để thực hiện một cuộc đảo chính, khôi phục lại nhà Thục Hán nhưng nửa chừng do bệnh tim tái phát nên ông phải đã tự sát ngay giữa trận đánh cuối, kết thúc sự kháng cự cuối cùng của nhà Thục. Nhà Thục Hán chấm dứt sau 43 năm tồn tại.
Từ những năm cuối thập niên 230, những rạn nứt đã xuất hiện và ngày càng trở lên rõ nét hơn giữa họ Tào lúc đó đang cai trị và họ Tư Mã. Sau cái chết của Tào Duệ, chủ nghĩa bè phái đã rõ nét hơn giữa quan nhiếp chính Tào Sảng và tổng chỉ huy quân đội Tư Mã Ý. Cẩn thận hơn, Tào Sảng đã để cho những người thân cận nắm giữ các chức vụ quan trọng và loại bỏ họ Tư Mã, mà ông cho là mối đe dọa. Sức mạnh của họ Tư Mã, một trong những dòng họ địa chủ lớn ở Trung Quốc thời Hán, đã được tăng thêm bởi những chiến thắng quân sự của Tư Mã Ý. Ngoài ra, Tư Mã Ý còn là một nhà chiến lược và chính trị nổi tiếng. Năm 238 ông đánh bại cuộc nổi dậy của Công Tôn Uyên và đưa vùng Liêu Đông về dưới sự kiểm soát của trung ương. Cuối cùng, ông vượt qua Tào Sảng trong trò chơi quyền lực. Nắm lấy cơ hội, nhân lúc những người thuộc phe hoàng gia đi viếng Cao Bình lăng, Tư Mã Ý làm đảo chính ở Lạc Dương, ép lực lượng của Tào Sảng rời khỏi chính quyền. Rất nhiều người phản đối về việc quyền lực nghiêng về gia đình Tư Mã quá nhiều; nổi tiếng nhất là Trúc Lâm Thất Hiền. Một trong bảy người này, Kê Khang, đã bị giết như là một phần của sự thanh lọc sau khi Tào Phương thất thế.
Sau khi Tư Mã Ý chết, các con là Tư Mã Sư và Tư Mã Chiêu tiếp tục cầm quyền ở Ngụy. Việc đánh dẹp những lực lượng kháng cự trong nước Ngụy như Vô Kỳ Kiệm, Gia Cát Đản và chống lại cuộc xâm lấn của đại tướng Khương Duy bên Thục càng khiến thế lực của họ Tư Mã thêm mạnh. Việc tiêu diệt Thục (263), tuy trên danh nghĩa là Ngụy diệt nhưng thực chất là do Tấn vương Tư Mã Chiêu.
Năm 264, Tư Mã Chiêu chết, con là Tư Mã Viêm lên thay tước Tấn vương. Tháng chạp năm sau (tức tháng 2 năm 266), Viêm phế bỏ Ngụy Nguyên đế Tào Hoán lên làm vua, tức là Tấn Vũ Đế.
Sau cái chết của Tôn Quyền năm 252, không có người kế tục xứng đáng, nhà Ngô bắt đầu đi xuống. Trong nước, quyền thần đánh nhau lục đục khiến nội bộ thêm suy yếu. Những cuộc áp chế thành công do Tư Mã Sư và Tư Mã Chiêu tiến hành trước các cuộc nổi loạn ở khu vực Hoài Nam (lãnh thổ Ngụy) đã làm giảm ảnh hưởng của nhà Ngô.
Sau khi Cảnh đế Tôn Hưu chết, Tôn Hạo lên thay lại là người tàn bạo độc ác khiến nhân tâm thêm chia lìa.
Năm 269 Dương Hộ, tướng nhà Tấn tại miền nam, bắt đầu chuẩn bị xâm chiếm nước Ngô bằng việc xây dựng hạm đội và huấn luyện thủy quân tại Tứ Xuyên dưới quyền Vương Tuấn. Bốn năm sau, Lục Kháng, vị tướng giỏi cuối cùng của nhà Ngô chết, nước Ngô không còn tướng tài.
Kế hoạch xâm chiếm của nhà Tấn cuối cùng đã diễn ra vào mùa đông năm 279. Tư Mã Viêm ra lệnh tấn công bằng 5 cánh quân đồng thời dọc theo sông Dương Tử từ Kiến Khang tới Giang Lăng trong khi hạm đội từ Tứ Xuyên xuôi dòng tới Kinh Châu dưới sự chỉ huy của các tướng Đỗ Dự, Vương Tuấn. Trước các cuộc tấn công mãnh liệt của quân Tấn, lực lượng nhà Ngô tan rã và Kiến Khang mất vào tháng 3 năm 280. Tôn Hạo đầu hàng, đóng lại một thế kỷ chia cắt đầy biến động.
== Kinh tế - xã hội ==
=== Pháp luật, đời sống kinh tế ===
Các sử gia Trung Quốc nhận định: thực ra đời sống nhân dân thời Tam Quốc nếu so với cuối thời Đông Hán có phần tốt hơn. Thời Tam Quốc dù là thời chia cắt và mật độ chiến tranh dày hơn nhưng chính trong thời Đông Hán, nhân dân cũng phải chịu lao dịch nặng, thường phải tòng quân đánh các tộc Ô Hoàn, Tiên Ty.
Về đời sống sinh hoạt, các nhà nghiên cứu cho rằng tình hình tốt hơn hẳn. Ngoại trừ Thục Hán trong 9 năm cuối bị hoạn quan Hoàng Hạo thao túng, nhìn chung trong triều đình cả 3 nước đều không bị nạn hoạn quan lộng hành. Quan lại lớn nhỏ ở cả 3 nước đa số là những người thanh liêm.
Pháp luật của Tào Ngụy hơi thiên về sự nghiêm khắc. Đến thời Ngụy Minh đế Tào Tuấn, pháp luật được hiệu đính, về sau trở thành cơ sở pháp luật của một số triều đại khác.
Tào Ngụy cũng sáng lập ra chế độ "cửu phẩm" - 9 bậc quan lại. Chế độ này được đánh giá là tiến bộ hơn so với chế độ Hiếu liêm, Mậu tài thời Đông Hán chỉ dựa vào quyền thế của cha anh và cha vợ mà có được.
Chính sách đồn điền và thủy lợi của Tào Ngụy tuy nhằm mục đích quân sự là chủ yếu nhưng cũng gián tiếp giúp nhiều cho nông dân.
Về tiền tệ, Tào Ngụy sau khi dùng tiền Ngũ thù và thi hành trở lại chính sách hàng đổi hàng. Tại Tây Thục thực hiện chính sách tiền tệ tốt hơn, một thời gian phát hành tiền lớn nhưng sau đó khôi phục tiền Ngũ thù. Thời Gia Cát Lượng chấp chính luôn dùng chính sách thủ tín với nhân dân nên đời sống ở Thục tương đối ổn định. Tôn Quyền cũng phát hành tiền lớn và sau đó lại phát hành tiền lớn ăn 1000 đồng đổi lấy tiền nhỏ của dân.. Về sau, Tôn Quyền thu hết tiền lớn lại.
=== Dân số ===
Lãnh thổ của ba nước Ngụy, Thục, Ngô rộng hơn thời Đông Hán trở về trước. Ba nước không thể thôn tính được nhau nên tính tới chuyện cùng phát triển ra bên ngoài, thu thập các bộ tộc láng giềng nhỏ yếu hơn và văn hóa kém phát triển hơn. Ngụy thu phục người Tiên Ty, Ô Hoàn; Thục thu thập người Di và người Khương ở Thanh Hải; Ngô thu phục người Việt ở vùng núi ba tỉnh Giang, Chiết, Hoãn.
Về dân số, nhà Ngụy là mạnh nhất. Khi nhà Ngụy mất (265), quốc gia này có hơn 663.423 hộ gia đình và 4.190.891 người trong phạm vi biên giới của mình. Nhà Thục có 280.000 hộ dân số 940.000 người. Đông Ngô có 523.000 hộ, 2.558.000 người. Như vậy, nhà Ngụy chiếm hơn 58% dân số và khoảng 40% diện tích. Với những nguồn lực này, nhà Ngụy có thể có tới hơn 400.000 quân trong khi nhà Thục và Ngô có thể có 102.000 và 230.000 quân tương ứng: khoảng 10% dân số. Liên minh Thục-Ngô chống lại nhà Ngụy là một liên minh quân sự ổn định; biên giới của ba quốc gia này gần như không thay đổi trong hơn 40 năm. Cần lưu ý là trong thời kì này lưu dân chạy loạn rất nhiều, nhất là ba nước mới lập quốc, và các lưu dân thường cố tình che giấu hộ tịch để trốn đinh, trốn thuế nên dân số thực tế có thể cao hơn 20-50%.
Nhà Ngụy khi diệt Thục có dân số gấp 4 lần Thục, khi Tấn diệt Ngô thì dân số gấp 6,3 lần. Đây là nguyên nhân cơ bản khiến Ngô và Thục lần lượt mất về tay Ngụy và Tấn.
=== Thương mại và vận tải ===
Trong thuật ngữ kinh tế sự phân chia thời Tam Quốc phản ánh một thực tế được kéo dài đến tận sau này. Thậm chí trong thời nhà Bắc Tống, bảy trăm năm sau thời kỳ Tam Quốc, có thể nghĩ về Trung Hoa như là một thực thể của ba thị trường khu vực lớn. (Tình trạng của miền tây bắc thì hơi mâu thuẫn, vì nó được liên kết bởi khu vực tây bắc và miền Tứ Xuyên). Sự phân chia địa lý như vậy được nhấn mạnh bởi một thực tế là tất cả các tuyến giao thông chính giữa ba khu vực lớn đều là nhân tạo: Đại Vận Hà ("Kênh đào vĩ đại") liên kết miền bắc và miền nam, việc vận chuyển qua Tam Hiệp trên sông Dương Tử liên kết nam Trung Hoa với Tứ Xuyên và con đường hành lang (gallery road) nối Tứ Xuyên với miền tây bắc. Sự chia cắt thành ba thực thể riêng rẽ này là hoàn toàn tự nhiên và thậm chí được tiên đoán trước bởi những nhà chính trị như Gia Cát Lượng (Xem thêm Kế hoạch Long Trung 隆中對).
=== Văn hóa, nghệ thuật và khoa học ===
Con của Vương Lãng nhà Tào Ngụy là Vương Túc nổi tiếng trong lĩnh vực cổ văn. Có ý kiến cho rằng chính Vương Túc chứ không phải Khổng An Quốc, mới là tác giả của bộ Cổ văn Thượng thư truyện. Con Vương Túc là Vương Bật được đánh giá là thiên tài, người đã chú giải Lão tử, sau đó lại dùng Lão tử giải thích Kinh dịch.
Ba cha con Tào Tháo, Tào Phi và Tào Thực được đời sau xếp vào hàng những nhà thơ tiêu biểu cuối thời Đông Hán, đầu thời Tam Quốc. Ngoài thơ ca, Tào Thực còn nổi tiếng với bài phú đài Đồng Tước. Tào Phi tuy kém Tào Thực một bậc nhưng chính là người mở đầu cho thể thơ thất ngôn. Về tiểu thuyết, thời Tam Quốc có Lục dị ký và truyện ma quỷ Sưu thần ký, cũng được cho là của Tào Phi.
Một học giả nổi tiếng khác là Cam Bảo, để lại tác phẩm Ngụy Tấn Xuân thu, đây chính là tài liệu mà sau này Bùi Tùng Chi thời Lưu Tống dùng để chú giải Tam Quốc chí. Ngoài ra, còn có các nhà sử học khác như Ngư Quyền viết Ngụy lược, Vi Chiêu viết Ngô thư và Tiêu Chu nhà Thục Hán viết Cổ sử khảo.
Về nghệ thuật, hiện nay Bảo tàng Mỹ thuật Boston (Mỹ) còn lưu giữ bức tranh hai người du xuân rất sinh động. Trong nghệ thuật kiến trúc, các chùa Phật giáo, miếu của Đông Ngô rất phát triển: Vũ Xương có chùa Tuệ Bảo, Kiến Nghiệp có viện Thủy Tướng và chùa Bảo Ninh, Ngô huyện có chùa Thông Huyền, huyện Cần có chùa Đức Nhuận. Ở miền bắc, Tào Tháo dựng đài Đồng Tước sau khi thua trận Xích Bích.
Về khoa học, thời Tam Quốc đã bắt đầu ứng dụng ma túy và dùng thủ thuật lấy sỏi mật ra. Tên tuổi của danh y Hoa Đà còn truyền đến nhiều đời sau. Người nước Ngụy là Mã Quân có công phát minh ra xe chỉ nam, xe bắn đá; đồng thời cũng được xem là người phát minh ra guồng nước. Ngoài ra, còn có nhà toán học Lưu Huy, tác giả của bộ Hải đảo toán kinh.
== Những trận chiến lớn ==
Trận Giới Kiều, (191) giữa Viên Thiệu và Công Tôn Toản.
Trận Quan Độ, (200) giữa Tào Tháo và Viên Thiệu.
Trận Trường Bản, (208) giữa Lưu Bị và Tào Tháo.
Trận Xích Bích, (208) giữa liên quân Tôn-Lưu và Tào Tháo.
Trận Đồng Quan, (211) giữa Tào Tháo và Mã Siêu, Hàn Toại.
Trận chiến tại Phàn Thành, (219) giữa Tào Nhân và Quan Vũ.
Trận Di Lăng, (221-222) giữa Lưu Bị và Lục Tốn nhà Ngô.
Thất cầm Mạnh Hoạch, (225) 7 lần tha cho Mạnh Hoạch và cuối cùng đã thu phục được Mạnh Hoạch.
Lục xuất Kỳ Sơn, (228-234) Gia Cát Lượng 6 lần lên Kỳ Sơn.
Cửu phạt trung nguyên, (247-262) Khương Duy 9 lần phạt trung nguyên.
== Các nhân vật chủ chốt ==
Đổng Trác
Lã Bố
Tào Tháo
Viên Thiệu
Viên Thuật
Lưu Bị
Quan Vũ
Trương Phi
Mã Siêu
Triệu Vân
Tôn Quyền
Gia Cát Lượng
Khương Duy
Lục Tốn
Tư Mã Ý
Lã Mông
== Xem thêm ==
Danh sách nhân vật thời Tam Quốc
Tam Quốc diễn nghĩa
Tào Ngụy
Thục Hán
Đông Ngô
Nhà Tấn
Khởi nghĩa Khăn Vàng
== Chú thích ==
== Tham khảo ==
Lịch sử Trung Quốc, Nhà xuất bản Giáo dục, 1995
Kể chuyện Tam Quốc - Lê Đông Phương (Cao Tự Thanh dịch), Nhà xuất bản Đà Nẵng, 2007
Tam Quốc bình giảng - Nguyễn Tử Quang, Nhà xuất bản Tổng hợp An Giang, 1988
Lịch sử Trung Quốc từ thượng cổ đến Năm đời mười nước - Học viện quân sự cấp cao, 1992
Tam quốc chí của Trần Thọ (233-297) viết
== Liên kết ngoài == |
Subsets and Splits
No community queries yet
The top public SQL queries from the community will appear here once available.