filename
stringlengths
4
100
text
stringlengths
0
254k
american airlines group.txt
American Airlines Group (tiếng Anh: American Airlines Group, Inc.) là một công ty hàng không Hoa Kỳ có trụ sở ở Fort Worth, Texas. Nó được thành lập ngày 9 tháng 12 năm 2013 trên cơ sở hợp nhất tập đoàn AMR, công ty mẹ của American Airlines, với US Airways, công ty mẹ của US Airways. Sáp nhập giữa American Airlines và US Airways hoàn tất khi Cục Quản lý Hàng không Liên bang cấp một chứng chỉ hoạt động cho cả hai hàng vào ngày 8 tháng 4 năm 2015. == Lịch sử == === Sáp nhập giữa tập đoàn AMR và tập đoàn US Airways === == Tổng quan == === Trung tâm === Sau sáp nhập, hãng hàng không mới hoạt động ở các sân bay sau: == Tham khảo == == Liên kết ngoài == Website chính thức
mendelevi.txt
Mendelevi là một nguyên tố kim loại tổng hợp có ký hiệu Md (trước đây là Mv) và số hiệu nguyên tử là 101. Mendelevi là nguyên tố siêu urani thuộc nhóm actini, thường được tổng hợp bằng cách bắn phá hạt nhân einsteini bởi các hạt anpha. Nguyên tố này được đặt theo tên của Dimitri Ivanovich Mendeleev, người đã lập ra bảng tuần hoàn.Hệ thống tuần hoàn của Mendeleev là cơ sở để phân nhóm các nguyên tố hóa học. == Lịch sử == Mendelevi (đặt theo tên của Dimitri Ivanovich Mendeleev, họ thường được chuyển sang ký tự Latin là Mendeleev, Mendeleyev, Mendeléef, hoặc Mendelejeff, và tên là Dmitry hay Dmitriy) được Albert Ghiorso, Glenn T. Seaborg, Gregory R. Choppin, Bernard G. Harvey, và Stanley G. Thompson (trưởng nhóm) phát hiện đầu tiên vào đầu năm 1955 tại đại học California tại Berkeley. Nhóm này đã tạo ra 256Md (chu kỳ bán rã 87 phút) khi họ bắn phá hạt nhân 253Es bằng các hạt anpha (hạt nhân heli) trong máy cyclôtron 60 in của phòng thí nghiệm phóng xạ Berkely (Berkeley Radiation Laboratory). Nguyên tố 101 là nguyên tố siêu urani thứ 9 được tổng hợp. 17 nguyên tử đầu tiên của nguyên tố này đã được tạo ra và phân tích bằng phương pháp tách-hấp thụ trao đổi-ion. Trong quá trình này, mendelevi có ưng xử rất giống thuli, một dạng đồng đẳng tự nhiên của nó. == Đặc điểm == Các nhà nghiên cứu chứng minh rằng mendelevi có trạng thái ôxy hóa (II) khá ổn định, kèm theo trạng thái ôxy hóa (III) đặc trưng của nhóm actini. Trạng thái ôxy hóa (III) thể hiện rõ hơn trong các dung dịch có nước. Đôi khi, mendelevi có thể thể hiện trạng thái (I).256Md đã được sử dụng để phát hiện các đặc tính hóa học của nguyên tố này khi nó nằm trong dung dịch. Chưa có những ứng dụng khác của mendelevi và chỉ một lượng rất ít mendelevi đã được tạo ra. == Các đồng vị == 16 đồng vị của mendelevi có số khối từ 245 đến 260 đã được nhận biết, trong đó đồng vị ổn định nhất là 258Md có chu kỳ bán rã 51,5 ngày, 260Md là 31,8 ngày, và 257Md là 5,52 hours. Tất cả các đồng vị phóng xạ còn lại có chu kỳ bán rã nhỏ hơn 97 phút, và đa số trong đó có chu kỳ bán rã nhỏ hơn 5 phút. Nguyên tố này có một meta state, 258mMd (t½ = 57 phút). Các đồng vị của mendelevi có khối lượng nguyên tử từ 245,091 u (245Md) đến 260,104 u (260Md). == Tham khảo == == Đọc thêm == Hoffman, D.C., Ghiorso, A., Seaborg, G. T. The transuranium people: the inside story, (2000), 201-229 Morss, L. R., Edelstein, N. M., Fuger, J., The chemistry of the actinide and transactinide element, 3, (2006), 1630–1636 Seaborg, G. T., Les elements tranuraniens artificiels, (1967), 39-45 Gol’danskii, V. I., Polikanov, S. M., The transuranium elements, (1973), 101-103 Seaborg, G.T., The transcalifornium elements. Journal of Chemical Education, (1959), 36, 38-44 Guide to the Elements - Revised Edition, Albert Stwertka, (Oxford University Press; 1998) ISBN 0-19-508083-1 == Liên kết ngoài == Los Alamos National Laboratory - Mendelevium It's Elemental - Mendelevium WebElements.com - Mendelevium Environmental Chemistry- Md info
hōryū-ji.txt
Hōryū-ji (法隆寺, ほうりゅうじ, còn được biết với tên: Pháp Long Tự) là một ngôi chùa Phật giáo ở Ikaruga, tỉnh Nara, Nhật Bản, là một phần của Quần thể kiến trúc Phật giáo khu vực chùa Horyuji. Tên đầy đủ là Hōryū Gakumonji (法隆学問寺, ほうりゅうがくもんじ). == Lịch sử == Chùa do Thánh Đức Thái tử hưng công xây dựng từ năm 607 (thời kỳ Asuka). Chùa nổi tiếng vì đây là những công trình kiến trúc bằng gỗ cổ nhất thế giới. Tuy ở Nhật có một số ngôi chùa lâu đời và quan trọng hơn nhưng chùa Hōryū là nơi được tiến hành nghi lễ nhiều nhất tại Nhật. Năm 1993, chùa Hōryū là một phần của Quần thể kiến trúc Phật giáo khu vực chùa Horyuji được UNESCO công nhận là di sản thế giới. Chính phủ Nhật Bản công nhận đây là quốc bảo. == Công trình == Pháp Long Tự có hai khu vực chính: Saiin (Tây viện) và Toin (Đông viện). Tây viện bị thiêu rụi năm 670 nhưng được tái thiết vào cuối thế kỷ thứ 7. Đông viện thì có niên đại cuối thế kỷ thứ 8. Tây viện không phải là một tòa nhà mà là một tu viện lớn, gồm Kim đường, Ngũ trùng tháp, Trung môn... xây dần thêm cho đến thế kỷ 13. == Hình ảnh == == Chú thích ==
20 tháng 3.txt
Ngày 20 tháng 3 là ngày thứ 79 trong mỗi năm thường (ngày thứ 80 trong mỗi năm nhuận). Còn 286 ngày nữa trong năm. Đây cũng thường là ngày đầu của mùa xuân (xuân phân) ở Bắc Bán Cầu, và ngày đầu của mùa thu (thu phân) ở Nam Bán Cầu, do đó nó thường là ngày lễ truyền thống Norouz của người Iran ở nhiều quốc gia. == Sự kiện == 235 – Maximinus Thrax trở thành hoàng đế của Đế quốc La Mã, ông là hoàng đế La Mã đầu tiên chưa bao giờ đặt chân đến thành La Mã. 1127 – Kim Thái Tông hạ chiếu phế hai tù binh chiến tranh là Tống Khâm Tông và Tống Huy Tông làm thứ nhân, kết thúc 167 năm cai trị của Bắc Tống. 1815 – Napoléon Bonaparte, sau khi trốn khỏi Elba, tiến vào Paris, chính thức bắt đầu thời kỳ trị vì trăm ngày. 1852 – Cuốn tiểu thuyết Túp lều bác Tôm của Harriet Beecher Stowe được xuất bản. Quyển sách gây ảnh hưởng rất lớn đối với công dân Mỹ về chế độ nô lệ da đen. 1922 – USS Langley được tái biên chế thành tàu sân bay đầu tiên của Hải quân Hoa Kỳ. 1987 – Cục quản lý Thực phẩm và Dược phẩm Hoa Kỳ công nhận thuốc AZT có thể làm chậm tiến trình của HIV/AIDS. 2003 – Quân đội Hoa Kỳ, Anh Quốc, Úc, Ba Lan bắt đầu các chiến dịch quân sự tại Iraq. == Sinh == 1477 - Jerome Emser, nhà thần học người Đức (m. 1527) 1502 - Pierino Belli, luật gia người Ý (m. 1575) 1735 - Torbern Bergman, nhà hóa học người Thụy Điển (m. 1784) 1737 - Rama I, vua Thái Lan (m. 1809) 1741 - Jean Antoine Houdon, nhà điêu khắc người Pháp (m. 1828) 1770 - Friedrich Hölderlin, nhà văn người Đức (m. 1843) 1799 - Karl August Nicander, nhà thơ người Thụy Điển (m. 1839) 1823 - Ned Buntline, nhà xuất bản người Mỹ (m. 1886) 1828 - Henrik Ibsen, nhà văn người Na Uy (m. 1906) 1836 - Sir Edward Poynter, họa sĩ người Anh (m. 1919) 1840 - Illarion Pryanishnikov, họa sĩ người Nga (m. 1894) 1856 - Sir John Lavery, nghệ sĩ người Ireland (m. 1941) 1856 - Frederick Winslow Taylor, nhà phát minh người Mỹ (m. 1915) 1870 - Paul Emil von Lettow-Vorbeck, tướng người Đức (m. 1964) 1874 - Börries von Münchhausen, nhà thơ người Đức (m. 1945) 1876 - Payne Whitney, doanh nhân người Mỹ (m. 1927) 1879 - Maud Menten, nhà hóa sinh vật học người Canada (m. 1960) 1890 - Beniamino Gigli, người hát giọng nam cao người Ý (m. 1957) 1890 - Lauritz Melchior, người hát giọng nam cao người Đan Mạch (m. 1973) 1895 - Fredric Wertham, nhà tâm lý học người Đức (m. 1981) 1903 - Edgar Buchanan, diễn viên người Mỹ (m. 1979) 1904 - B. F. Skinner, nhà tâm lý học người Mỹ (m. 1990) 1906 - Abraham Beame, chính khách người Mỹ (m. 2001) 1906 - Ozzie Nelson, người chỉ huy dàn nhạc nhỏ, diễn viên người Mỹ (m. 1975) 1908 - Michael Redgrave, diễn viên người Anh (m. 1985) 1911 - Alfonso García Robles, giải thưởng Nobel (m. 1991) 1914 - Wendell Corey, diễn viên người Mỹ (m. 1968) 1915 - Rudolf Kirchschläger, tổng thống người Áo (m. 2000) 1915 - Sviatoslav Richter, nghệ sĩ dương cầm người Liên Xô (m. 1997) 1916 - Pierre Messmer, chính khách, thủ tướng người Pháp (m. 2007) 1917 - Vera Lynn, nữ diễn viên, ca sĩ người Anh 1918 - Marian McPartland, nhạc Jazz nghệ sĩ dương cầm người Anh 1920 - Pamela Harriman, nhà ngoại giao người Anh (m. 1997) 1921 - Sister Rosetta Tharpe, ca sĩ người Mỹ (m. 1973) 1922 - Larry Elgart, nhạc công saxophon, người chỉ huy dàn nhạc nhỏ người Mỹ 1922 - Ray Goulding, diễn viên hài người Mỹ (m. 1990) 1922 - Carl Reiner, đạo diễn phim người Mỹ 1924 - Jozef Kroner, diễn viên người Slovakia (m. 1998) 1927 - John Joubert, Anh nhà soạn nhạc người Nam Phi 1929 - Germán Robles, diễn viên người Tây Ban Nha 1931 - Hal Linden, diễn viên người Mỹ 1933 - George Altman, vận động viên bóng chày người Mỹ 1933 - Alexander Gorodnitsky, nhà địa chất, nhà thơ người Nga 1934 - Willie Brown, chính khách người Mỹ 1935 - Ted Bessell, diễn viên người Mỹ (m. 1996) 1936 - Vaughn Meader, diễn viên hài người Mỹ (m. 2004) 1937 - Lam Phương, nhạc sĩ người Việt Nam 1937 - Jerry Reed, ca sĩ, diễn viên người Mỹ 1939 - Brian Mulroney, thủ tướng Canada nguyên 1941 - Pat Corrales, vận động viên bóng chày người Mỹ 1943 - Gerard Malanga, nhà thơ, nhà nhiếp ảnh người Mỹ 1945 - Jay Ingram, người dẫn chương trình truyền hình, tác gia người Canada 1945 - Pat Riley, cầu thủ bóng rổ, huấn luyện viên người Mỹ 1947 - John Boswell, sử gia người Mỹ (m. 1994) 1948 - John de Lancie, diễn viên người Mỹ 1948 - Bobby Orr, vận động viên khúc côn cầu trên băng người Canada 1949 - Marcia Ball, ca sĩ, nghệ sĩ dương cầm người Mỹ 1950 - William Hurt, diễn viên người Mỹ 1951 - Jimmie Vaughan, nhạc blues nghệ sĩ đàn ghita người Mỹ 1952 - Geoff Brabham, người đua xe người Úc 1954 - Mike Francesa, thể thao người dẫn chương trình người Mỹ 1954 - Liana Kanelli, nhà báo, chính khách người Hy Lạp 1957 - Vanessa Bell Calloway, nữ diễn viên người Mỹ 1957 - Spike Lee, đạo diễn phim người Mỹ 1957 - Theresa Russell, nữ diễn viên người Mỹ 1958 - Phil Anderson, vận động viên xe đạp người Úc 1958 - Holly Hunter, nữ diễn viên người Mỹ 1959 - Steve McFadden, diễn viên người Anh 1959 - Sting, đô vật Wrestling chuyên nghiệp người Mỹ 1961 - Jesper Olsen, cầu thủ bóng đá người Đan Mạch 1962 - Stephen Sommers, đạo diễn phim người Mỹ 1963 - Paul Annacone, vận động viên quần vợt người Mỹ 1963 - Yelena Romanova, vận động viên người Nga (m. 2007) 1963 - Manabu Suzuki, người đua xe, phát thanh viên truyền thanh người Nhật Bản 1963 - David Thewlis, diễn viên người Anh 1964 - Natacha Atlas, ca sĩ người Bỉ 1966 - Alka Yagnik, ca sĩ Ấn Độ 1967 - Mookie Blaylock, cầu thủ bóng rổ người Mỹ 1969 - Mannie Fresh, nhà sản xuất người Mỹ 1970 - Michael Rapaport, diễn viên người Mỹ 1971 - Manny Alexander, vận động viên bóng chày người Dominica 1971 - Touré, nhà văn người Mỹ 1973 - Jane March, nữ diễn viên người Anh 1973 - Jung Woo-sung, diễn viên người Hàn Quốc 1973 - Cedric Yarbrough, diễn viên người Mỹ 1974 - Paula Garces, nữ diễn viên người Colombia 1974 - Andrzej Pilipiuk, nhà văn người Ba Lan 1979 - Silvia Abascal, nữ diễn viên người Tây Ban Nha 1979 - Bianca Lawson, nữ diễn viên người Mỹ 1979 - Keven Mealamu, cầu thủ bóng bầu dục người New Zealand 1980 - Jamal Crawford, cầu thủ bóng rổ người Mỹ 1980 - Ock Ju-Hyun, ca sĩ người Hàn Quốc 1982 - Terrence Duffin, cầu thủ cricket người Zimbabwe 1982 - Tomasz Kuszczak, cầu thủ bóng đá người Ba Lan 1982 - José Moreira, cầu thủ bóng đá người Bồ Đào Nha 1984 - Rami Malek, diễn viên Ai Cập 1984 - Markus Niemelä, người đua xe người Phần Lan 1984 - Christy Carlson Romano, nữ diễn viên người Mỹ 1984 - Fernando Torres, cầu thủ bóng đá người Tây Ban Nha 1984 - Marcus Vick, cầu thủ bóng đá người Mỹ 1984 - Winta, nhạc sĩ người Na Uy 1987 - Daniel Maa Boumsong, cầu thủ bóng đá người Cameroon 1987 - Patrick Boyle, cầu thủ bóng đá người Scotland 1987 - Sergei Kostitsyn, vận động viên khúc côn cầu người Belarus 1987 - Jô, cầu thủ bóng đá người Brasil 1987 - Rollo Weeks, diễn viên người Anh 1987 - Pedro Ken, cầu thủ bóng đá người Brasil 1989 - Tamim Iqbal, cầu thủ cricket người Bangladesh 2006 - Barron Trump, con trai Tổng thống Mỹ Donald Trump và Đệ nhất Phu nhân Melania Trump == Mất == 1586 - Richard Maitland, chính khách, sử gia người Scotland (s. 1496) 1619 - Mathias, hoàng đế Đế quốc La Mã Thần thánh (s. 1557) 1727 - Isaac Newton 1730 - Adrienne Lecouvreur, nữ diễn viên người Pháp (s. 1692) 1732 - Johann Ernst Hanxleden, nhà ngữ văn người Đức (s. 1681) 1746 - Nicolas de Largillière, họa sĩ người Pháp (s. 1656) 1801 - Hoàng tử Cảnh, con trai trưởng chúa Nguyễn Ánh 1835 - Louis-Leopold Robert, họa sĩ người Pháp (s. 1794) 1855 - Joseph Aspdin, Mason, nhà phát minh người Anh (s. 1788) 1865 - Keisuke Yamanami, Samurai người Nhật Bản (s. 1833) 1874 - Hans Christian Lumbye, nhà soạn nhạc người Đan Mạch (s. 1810) 1878 - Julius Robert von Mayer, thầy thuốc, nhà vật lý người Đức (s. 1814) 1890 - Alexander F. Mozhaiski, người đi đầu trong lĩnh vực hàng không (s. 1825) 1897 - Apollon Maykov, nhà thơ người Nga (s. 1821) 1899 - Franz Ritter von Hauer, nhà địa chất người Áo (s. 1822) 1918 - Lewis A. Grant, nội chiến tướng người Mỹ (s. 1828) 1925 - George Nathaniel Curzon, chính khách người Anh (s. 1859) 1931 - Hermann Müller, Đức Chancellor (s. 1876) 1940 - Alfred Ploetz, thầy thuốc, nhà sinh vật học, nhà ưu sinh học người Đức (s. 1860) 1964 - Brendan Behan, nhà soạn kịch, tác gia người Ireland (s. 1923) 1969 - Henri Longchambon, chính khách người Pháp (s. 1896) 1972 - Marilyn Maxwell, nữ diễn viên người Mỹ (s. 1921) 1983 - Ivan Matveyevich Vinogradov, nhà toán học người Nga (s. 1891) 1990 - Lev Yashin, cầu thủ bóng đá người Liên Xô (s. 1929) 1993 - Polykarp Kusch, Mỹ nhà vật lý, giải thưởng Nobel người Đức (s. 1911) 1994 - Lewis Grizzard, nghệ sĩ hài người Mỹ (s. 1946) 1995 - Big John Studd, đô vật Wrestling chuyên nghiệp người Mỹ (s. 1948) 1997 - Tony Zale, võ sĩ quyền Anh người Mỹ (s. 1913) 2000 - Gene Eugene, diễn viên, ca sĩ người Canada (s. 1961) 2001 - Luis Alvarado, vận động viên bóng chày người Puerto Rican (s. 1949) 2003 - Sailor art Thomas, đô vật Wrestling chuyên nghiệp người Mỹ (s. 1924) 2004 - Pierre Sévigny, sĩ quan quân đội, chính khách người Canada (s. 1917) 2005 - Armand Lohikoski, đạo diễn phim người Phần Lan (s. 1912) 2007 - Taha Yassin Ramadan, chính khách người Iraq (s. 1938) 2007 - Hawa Yakubu, chính khách Ghana (s. 1948) 2008 - Eric Ashton, cầu thủ Liên đoàn Bóng bầu dục người Anh (s. 1935) 2008 - Shoban Babu, diễn viên Ấn Độ (s. 1937) 2008 - Brian Wilde, diễn viên người Anh (s. 1921) 2008 - Klaus Dinger, nhạc sĩ người Đức (s. 1946) == Ngày lễ và kỷ niệm == Ngày quốc tế Pháp ngữ Lễ hội holi của Ấn Độ theo tháng Purnima của Phalgun Ngày Quốc tế Hạnh phúc == Tham khảo ==
ủy viên trưởng ủy ban thường vụ đại hội đại biểu nhân dân toàn quốc.txt
Ủy viên trưởng Ủy ban Thường vụ Đại hội Đại biểu Nhân dân Toàn quốc (giản thể: 全国人民代表大会常务委员会委员长; phồn thể: 全國人民代表大會常務委員會委員長; bính âm: Quánguó Rénmín Dàibiǎo Dàhuì Chángwù Wěiyuánhuì Wěiyuánzhǎng) là Chủ tịch hay người phát ngôn của Ủy ban Thường vụ Đại hội Đại biểu Nhân dân Toàn quốc của nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa, là cơ quan đứng đầu ngành lập pháp của Trung Quốc.Ủy viên trưởng hiện nay là Trương Đức Giang. Từ năm 1998 đến năm 2003, vị trí được xếp hạng thứ 2 trong hệ thống chính trị Trung Quốc kể từ khi Lý Bằng không ứng cử nhiệm kỳ thứ 3 làm Thủ tướng năm 1998.Trong danh sách xếp hạng trong Đảng thì Ủy viên trưởng dưới chức vụ của Tổng Bí thư và Chủ tịch nước nhưng trên chức vụ Thủ tướng Quốc vụ viện == Quyền hạn == Theo Hiến pháp Ủy viên trưởng chủ trì cuộc họp của Ủy ban Thường vụ và công việc của Ủy ban Thường vụ, trong mỗi phiên họp xây dựng một dự thảo chương trình nghị sự cho cuộc họp chuyển tới Ủy ban Thường vụ. Ủy ban Thường vụ sẽ xem xét hoặc quyết định tại phiên họp toàn thể, hướng dẫn, phối hợp công việc của Ủy ban trong công việc thường nhật. Các Phó Ủy viên trưởng và Tổng thư ký có trách nhiệm giúp đỡ Ủy viên trưởng. Ủy viên trưởng có thể ủy thác cho Phó Ủy viên trưởng có quyền hạn nhất định của mình. Ủy viên trưởng có trách nhiệm như Nguyên thủ quốc gia khi Chủ tịch nước, Phó Chủ tịch nước không thể đảm đương được công việc hoặc bị trống trong thời gian bầu cử cho tới khi Chủ tịch và Phó Chủ tịch có thể đảm đương được công việc hay bầu ra được Chủ tịch mới. Năm 1975, tại Đại hội Đại biểu Nhân dân Toàn quốc khóa 4 Ủy viên trưởng kiêm nhiệm chức vụ Chủ tịch nước tới năm 1983 khi chức vụ được tái lập. Ủy viên trưởng có nhiệm kỳ 5 năm, sau năm 1982 quy định không được phục vụ quá 2 nhiệm kỳ. Kể từ thời kỳ Kiều Thạch thì Ủy viên trưởng do 1 thành viên của Ban Thường vụ Bộ Chính trị đảm trách. == Danh sách các Ủy viên trưởng qua từng thời kỳ == Nguyên thủ Quốc gia trong thời kỳ Hiến pháp 1975 và Hiến pháp 1978) Các thế hệ lãnh đạo Thế hệ thứ nhất Thế hệ thứ hai Thế hệ thứ ba Thế hệ Hồ-Ôn Thế hệ Tập-Lý == Tham khảo ==
plutoni.txt
Plutoni là một nguyên tố hóa học hiếm, có tính phóng xạ cao với ký hiệu hóa học Pu và số nguyên tử 94. Nó là một kim loại thuộc nhóm actini với bề ngoài màu trắng bạc và bị xỉn khi tiếp xúc với không khí, tạo thành một lớp phủ mờ khi bị ôxi hóa. Nguyên tố này thông thường biểu hiện (exhibit) 6 dạng thù hình (allotrope) và bốn trạng thái ôxi hóa. Nó phản ứng với cácbon, halogen, nitơ và silicon. Khi tiếp xúc với không khí ẩm, nó tạo thành các ôxít và hiđrua làm thể tích các mẫu giãn nở lên đến 70%, hay nói cách khác là nó bong ra thành dạng bột có thể tự bốc cháy. Nó cũng là một chất độc phóng xạ mà tích tụ trong tủy xương. Những đặc tính này và các tính chất khác khiến cho việc việc xử lý plutoni nguy hiểm. Plutoni là nguyên tố nguyên thủy nặng nhất, đồng vị bền nhất của nó là plutoni-244 có chu kỳ bán rã khoảng 80 triệu năm đủ lâu để nguyên tố này có thể được tìm thấy ở dạng vết trong tự nhiên. Nhưng plutoni là sản phẩm phụ thường xuyên có mặt khi nguyên tử urani bị tách làm đôi trong lò phản ứng hạt nhân. Một số hạt hạ nguyên tử được tăng tốc trong quá trình phân hạch biến đổi urani thành plutoni. Đồng vị quan trọng nhất của plutoni là plutoni-239, với chu kỳ bán rã 24.100 năm. Plutoni-239 là đồng vị có ích nhất trong các vũ khí hạt nhân. Plutoni-239 và plutoni-241 có khả năng phân hạch, có nghĩa là các nguyên tử của nó có thể tách ra bằng cách bắn phá bởi neutron nhiệt chuyển động chậm giải phóng năng lượng, tia gamma và nhiều neutron hơn. Các neutron này sau đó có thể duy trì phản ứng hạt nhân dây chuyền, được ứng dụng trong các vũ khí hạt nhân và lò phản ứng hạt nhân. Plutoni-238 có chu kỳ bán rã 88 năm và phát ra các hạt anpha. Nó là một nguồn cung cấp nhiệt trong các máy phát điện hạt nhân, một loại động cơ cung cấp điện cho tàu không gian. Plutoni-240 có tỷ lệ phân hạch tự phát cao, làm tăng thông lượng neutron của bất kỳ mẫu nào. Sự có mặt của plutoni-249 hạn chế khả năng sử dụng của các mẫu trong vũ khí hạt nhân hoặc nhiên liệu hạt nhân, và xác định cấp của nó. Các đồng vị của plutoni đắt và khó tách, vì thế các đồng vị riên biệt thường được sản xuất trong các lò phản ứng chuyên dụng. Plutoni được một nhóm nghiên cứu đứng đầu là Glenn T. Seaborg và Edwin McMillan tổng hợp đầu tiên năm 1940 tại Đại học California, Berkeley bằng cách bắn phá urani-238 bởi hạt nhân deuteron. McMillan đặt tên nguyên tố mới theo tên Pluto (Sao Diêm Vương), và Seaborg đề nghị ký hiệu nó là Pu. Sau đó, một lượng nhỏ plutoni ở dạng vết cũng được phát hiện trong tự nhiên. Việc tạo ra plutoni được sử dụng với lượng lớn lần đầu tiên trong phần chính của dự án Manhattan suốt chiến tranh thế giới thứ 2, để tạo ra bom nguyên tử đầu tiên. Vụ thử hạt nhân đầu tiên, "Trinity" (tháng 7 năm 1945), và bom nguyên tử lần thứ 2 được sử dụng để phá hủy thành phố (Nagasaki, Nhật Bản tháng 8 năm 1945), "Fat Man", cả hai lõi đều dùng plutoni-239. Các nghiên cứu thí nghiệm ảnh hưởng của plutoni đối với con người đã được tiến hành mà không có sự đồng ý trước, và một số tai nạn (criticality accident), gây chết người đã xảy ra trong và sau chiến tranh. Chất thải plutoni từ các nhà máy điện hạt nhân và từ việc giải trừ vũ khí hạt nhân được tạo ra trong suốt thời kỳ chiến tranh lạnh là những mối nguy hiểm cho môi trường. Các nguồn khác của plutoni trong môi trường như bụi phóng xạ từ các vụ thử hạt nhân trên mặt đất (hiện nay đã bị cấm). == Tính chất == === Tính chất vật lý === Plutoni có màu trắng bạc sáng ban đầu nhìn thì rất giống niken, nhưng nó bị ôxy hóa rất nhanh trong không khí làm chuyển sang màu xám tối, mặc dù đôi khi cũng gặp màu lục xanh oliu và lục vàng. Ở nhiệt độ phòng, plutoni có dạng thu hình α (anpha). Hình dạng cấu trúc phổ biến nhất của nguyên tố này giòn và cứng giống như gang xám trừ khi nó ở dạng hợp kim với các kim loại khác làm cho nó mềm và dễ uốn/dát. Không giống với hầu hết kim loại khác, nó không dẫn nhiệt và dẫn điện tốt. Plutoni có điểm nóng chảy thấp (640 °C) và có điểm sôi cao bất thường (3,327 °C). Phát xạ hạt anpha giải phóng hạt nhân heli năng lượng cao là cách phát xạ phổ biến của plutoni. 5 kg lõi của vũ khí hạt nhân đặc trưng chứa khoảng 12,5 × 1024 nguyên tử. Với chu kỳ bán rã 24.100 năm, khoảng 11,5 × 1012 trong số nguyên tử trên phân rã mỗi giây phát ra 5,157 MeV hạt anpha bằng với 9,68 W. Nhiệt sinh ra từ việc bắt giữ các hạt này làm chúng ta có cảm giác ấm khi chạm tay vào. Điện trở suất của plutoni ở nhiệt độ phòng là rất cao so với mặt bằng chu của các kim loại, và giá trị này sẽ cao hơn ở nhiệt độ thấp hơn, đó là điều bất thường đối với một kim loại. Xu hướng này tiếp tục khi nhiệt độ giảm xuốn 100 K, dưới mức này điện trở suất giảm nhanh chóng đối với các nguyên chất (chưa bị ôxy hóa). Sau đó điện trở suất bắt đầu tăng theo thời gian ở khoảng 20 K do sự phá hủy bức xạ, với tốc độ được quyết định bởi thành phần đồng vị của mẫu. Do tự chiếu xạ, một mẫu plutoni sẽ mỏi diễn ra trong hầu hết cấu trúc tinh thể của nó, tức là sự sắp xếp có thứ tự của các nguyên tử của nó bị phá vở do phóng xạ theo thời gian. Tự chiếu xạ cũng có thể dẫn đến việc tôi làm chống lại một vài hiệu ứgn mỏi khi nhiệt độ tăng trên 100 K. Không giống hầu hết các kim loại khác, plutoni tăng tỷ trọng khoảng 2,5% khi nó nóng chảy, nhưng tỷ trọng của kim loại lỏng thì thể hiện sự suy giảm tuyến tính theo nhiệt độ. Gần điểm nóng chảy, plutoni lỏng cũng có độ nhớt và ứng suất mặt rất cao so với các kim loại khác. === Thù hình === Plutoni bình thường có 6 dạng thù hình và một dạng thứ 7 (zeta, ζ) ở nhiệt độ trong dãi áp suất giới hạn. Các dạng thù hình khác nhau về hình dạng sắp xếp của nguyên tố có điểm rất giống nhau là nội năng nhưng có tỉ trọng và cấu trúc tinh thể thay đổi đáng kể. Điều này làm cho plutoni rất nhạy cảm với những thay đổi về nhiệt độ, áp suất hoặc và điều đó làm cho thể tích thay đổi đặc trưng sau khi chuyển pha từ dạng thù hình này sang sang khác. Tỷ trọng của các thù hình khác nhau thay đổi từ 16,00 g/cm3 đến 19,86 g/cm3. Việc tồn tại các dạng thù hình này làm cho việc gia công plutoni trở nên rất khó, vì nó thay đổi trạng thái một cách dễ dàng. Ví dụ dạng α tồn tại ở nhiệt độ phòng trong plutoni chưa được gia công. Nó có đặc điểm gia công tương tự như gang nhưng biến đổi thành dạng β có tính dẻo và dễ uốn ở nhiệt độ cao hơn một chút. Các nguyên nhân dẫn đến sự phức tạp về các pha thì chưa được hiểu một cách toàn vẹn. Dạng α có cấu trúc tinh thể đơn tà có tính đối xứng thấp, có tính giòn, bền, nén được, và dẫn suất kém. Plutoni ở dạng δ thường hình thành ở nhiệt độ từ 310 °C đến 452 °C, nhưng nó ổn định ở nhiệt độ phòng khi ở dạng hợp kim với một lượng nhỏ galli, nhôm, hay cesi, làm tăng khả năng làm việc và làm cho có thể hàn nó được. Dạng delta có các tính chất kim loại đặc trưng hơn, và tương đối bền và dễ uốn như nhôm. Trong vũ khí phân hạch, sóng sóc nổ được dùng để nén lõi plutoni cũng gây ra sự chuyển dạng từ pha delta thông thường sang pha anpha đặc hơn, có ý nghĩa ứng dụng để đạt đến mức siêu tới hạn. Pha ε là dạng thù hình rắn ở nhiệt độ cao nhất, thể hiện tính tự khuếch tán nguyên tử cao bất thường so với các nguyên tố khác. === Phân hạch hạt nhân === Plutoni là một nguyên tố có các electron ngoài cùng thuộc lớp 5f đây là ranh giới chuyển tiếp giữa giới hạn mà các electron của nó có thể có liên kết hoặc không có liên kết với một nguyên tử riêng biệt; nó được xem là một trong số những nguyên tử phức tạp nhất. Đây là kim loại actini có tính phóng xạ, đặc biệt là đồng vị plutoni-239 là một trong 3 đồng vị phân hạch nguyên thủy (hai đồng vị còn lại là urani-233 và urani-235); plutoni-241 cũng có khả năng phân hạch cao. Xét về khả năng phân hạch, một đồng vị hạt nhân nguyên tử phải có khả năng tách đôi khi bị tác động bởi neutron chuyển động chậm, và giải phóng đủ lượng neutron cần thiết để duy trì phản ứng dây chuyền. Plutoni-239 có hệ số sinh neutron (k) lớn hơn 1, do đó nếu kim loại có đủ khối lượng và yếu tố hình học thích hợp (như khối cầu nén), nó có thể đạt đến khối lượng tới hạn. Trong quá trình phân hạch, một phần năng lượng lên kết được giải phóng ở dạng nhiệt, điện từ và động năng mal; một kg plutoni-239 có thể tạo ra một vụ nổ tương đương với 20.000 tấn thuốc nổ TNT. Do tạo ra nguồn năng lượng khổng lồ nên plutoni-239 được ứng dụng làm vũ khí hạt nhân và được dùng trong lò phản ứng. Việc có mặt đồng vị plutoni-240 trong mẫu sẽ làm giới hạn khả năng của bom hạt nhân, vì plutoni-240 có tốc độ phân hạch tự phát tương đối cao (~440 phân hạch một giây/1 gram sinh ra hơn 1.000 neutron/giây/gram) nên sẽ làm tăng mức neutron ban đầu và làm tăng nguy cơ đạt đến trang thái siêu tới hạn cực nhanh mà chưa đạt đến trạng thái tối đa của một chuỗi phản ứng dây chuyền cần thiết. Plutoni được xác định đạt cấp vũ khí, cấp nhiên liệu hay cấp năng lượng lò phản ứng tùy thuộc vào phần trăm plutoni-240 có trong đó. Plutoni cấp vũ khí chứa ít hơn 7% plutoni-240, còn cấp nhiên liệu thì chứa từ 7% đến dưới 19%, và cấp năng lượng lò phản ứng thì chứa từ 19% plutoni-240 trở lên. Plutoni siêu cấp chứ đồng vị plutoni-240 ít hơn 4% thì được dùng trong các vũ khí đặt trên các tàu và tàu ngầm của hải quân Hoa Kỳ do nó có độ phóng xạ thấp hơn. Đồng vị plutoni-238 không thể phân hạch nhưng có thể trải qua quá trình phân hạch một cách dễ dàng bằng cách dùng neutron nhanh và nó phát ra hạt anpha. === Các đồng vị === Có 20 đồng vị phóng xạ của plutoni đã được nhận biết. Các đồng vị sống lâu nhất là plutoni-244 có chu kỳ bán rã 80,8 triệu năm, plutoni-242 là 373.300 năm, và plutoni-239 là 24.110 năm. Tất cả các đồng vị phóng xạ còn lại có chu kỳ bán rã nhỏ hơn 7.000 năm. Nguyên tố này cũng có 8 đồng phân hạt nhân, mặc dù không có đồng phân nào ổn định và tất cả có chu kỳ bán rã nhỏ hơn 1 giây. Các đồng vị của plutoni có số khối nằm trong khoảng từ 228 đến 247. Các cơ chế phân rã ban đầu của các đồng vị có số khối thấp hơn đồng vị bền nhất plutoni-244, là phân hạch tự phát, phát ra hạt anpha và hầu hết tạo thành các đồng vị urani (92 proton) và neptuni (93 proton). Cơ chế phân rã ban đầu đối với các đồng vị có số khối cao hơn đồng vị plutoni-244 là phát ra hạt beta và hầu hết tạo thành các đồng vị americi (95 proton). Plutoni-241 là đồng vị mẹ của chuỗi phân rã neptuni phân rã tạo ra americi-241 và hạt β hoặc electron. Plutoni-238 và 239 là các đồng vị tổng hợp phổ biến nhất. Plutoni-239 được tổng hợp thông qua phản ứng giữa urani (U) và neutron (n) thông qua giai đoạn trung gian với phân rã beta (β−) và neptuni (Np): 92 238 U + 0 1 n ⟶ 92 239 U → 23.5 m i n β − 93 239 N p → 2.3565 d β − 94 239 P u {\displaystyle \mathrm {^{238}_{\ 92}U\ +\ _{0}^{1}n\ \longrightarrow \ _{\ 92}^{239}U\ {\xrightarrow[{23.5\ min}]{\beta ^{-}}}\ _{\ 93}^{239}Np\ {\xrightarrow[{2.3565\ d}]{\beta ^{-}}}\ _{\ 94}^{239}Pu} } Neutron từ sự phân hạch urani-235 được bắt giữ bởi hạt nhân urani-238 để tạo ra urani-239; qua một phân rã beta sẽ biến đổi một neutron thành proton để tạo ra Np-239 (chu kỳ bán rã 2,36 ngày) và qua một phân rã beta khác để tạo ra plutoni-239. Những người làm việc cho dự án Tube Alloys đã dự đoán trên lý thuyết phản ứng nào năm 1940. Plutoni-238 được tổng hợp từ việc bắn phá urani-238 bằng các hạt nhân deuteron theo phản ứng sau: 92 238 U + 1 2 D ⟶ 93 238 N p + 2 0 1 n ; 93 238 N p → 2.117 β − 94 238 P u {\displaystyle \mathrm {^{238}_{\ 92}U\ +\ _{1}^{2}D\ \longrightarrow \ _{\ 93}^{238}Np\ +\ 2\ _{0}^{1}n\quad ;\quad _{\ 93}^{238}Np\ {\xrightarrow[{2.117\ }]{\beta ^{-}}}\ _{\ 94}^{238}Pu} } Trong quá trình này, hạt nhân Deuteri đụng vào urani-238 sinh ra 2 neutron và neptuni-238, đến lượt nó neptuni-238 phân rã tự phát bằng cách phát ra các hạt beta âm để tạo thành plutoni-238. === Nhiệt phân rã và đặc điểm phân hạch === Các đồng vị plutoni trải qua phân rã phóng xạ sinh ra nhiệt phân rã. Các đồng vị khác nhau sinh ra những lượng nhiệt khác nhau theo khối lượng của chúng. Nhiệt phân rã thường được tính theo đơn vị watt/kilogram, hay milliwatt/gram. Americi-241, sản phẩm phân rã của plutoni-241, có chu kỳ bán rã 430 năm, 1,2 phân hạch tự phát/1 gram/1 giây, và nhiệt phân rã là 114 watt/kg. Khi phân rã nó phát ra các tia gamma có khả năng đâm xuyên mạnh. Sự có mặt của nó trong plutoni, xác định theo hàm lượng ban đầu của plutoni-241, được xem là làm tăng nguy hiểm phơi nhiễm phóng xạ đối với các cấu túc xung quanh và con người. === Các hợp chất === Ở nhiệt độ phòng, plutoni nguyên chất có màu bạc nhưng sẽ chuyển sang màu xỉn khi bị ôxy hóa. Plutoni có 4 trạng thái ôxy hóa phổ biến trong dung dịch gốc nước và một dạng hiềm gặp hơn gồm: Pu(III), ion Pu3+ (oải hương lam) Pu(IV), ion Pu4+ (nâu vàng) Pu(V), ion PuO2+ (pink?) Pu(VI), as PuO22+ (vàng hồng) Pu(VII), as PuO53− (lục)–ion hóa trị 7 thì hiếm gặp Màu sắc của các dung dịch plutoni tùy thuộc vào trạng thái ôxy hóa và anion axit tự nhiên. Anion axit ảnh hưởng đếnn cấp độ tạo phức - cách mà cách nguyên tử liên kết với một nguyên tử trung tâm của các đồng vị plutoni. Plutoni kim loại được tạo ra từ phản ứng của plutoni tetraflorua với bari, canxi hoặc liti ở 1200 °C. Nó phản ứng với các axít, ôxy, và hơi nước nhưng không phản ứng với kiền, và dễ dàng hòa tan trong các axit clohydric, hydroiodic và perchloric. Kim loại nóng chảy phải được cất giữ trong môi trường chân không hoặc khí trơ để ngăn phản ứng với không khí. Ở 135 °C kim loại plutoni sẽ bốc cháy trong không khí và sẽ nổ nếu có mặt cacbon tetrachlorua. Plutoni là một kim loại hoạt động. Trong không khí ẩm hoặc argon ẩm, nó bị ôxy hóa một cách nhanh chóng tạo ra hỗn hợp các ôxit và hydrit. Nếu kim loại của nó tiếp xúc đủ lâu với một lượng hơi nước nhất định thì sẽ hình thành một lớp bột PuO2 phủ lên bề mặt của nó. Quá trình này cũng tạo thành plutoni hydrit nhưng với lượng nước nhiều hơn thì chỉ tạo ra PuO2. Với lớp áo này, kim có khả năng tự bốc cháy, vì thế kim loại plutoni thường được vận chuyển trong môi trường trơ và không như nitơ hay argon. Ôxy là chậm các hiệu ứng của các chất ẩm và đóng vai trò như chất thụ động. Plutoni thể hiện tốc độ phản ứng mạnh, thuận nghịch với hydro tinh khiết tạo thành plutonium hydrua. Nó cũng sẵn sàng phản ứng với ôxy tạo thành PuO và PuO2 cũng như các ôxit trung gian; plutoni ôxit tăng hơn 40% thể tích so với plutoni kim loại. Nó phản ứng với các halogen tạo ra các hợp chất dạng PuX3, với X có thể là F, Cl, Br hoặc I; PuF4 cũng có mặt. Các oxyhalua sau cũng được tìm thấy: PuOCl, PuOBr và PuOI. Nó sẽ phản ứng ớ cacbon để tạo ra PuC, nitơ tạo ra PuN và silic tạo ra PuSi2. Nồi được dùng để chứa plutoni cần chịu được các tính chất khử mạnh của nó. Các kim loại chịu lửa như tantalum và tungsten cùng với các ôxit bền hơn như boride, carbide, nitride và silicide có thể chịu được các tính chất này. Quá trình nóng chảy trong electric arc furnace có thể được dùng để tạo ra các thỏi nhỏ kim loại mà không cần dùng nồi nấu. Cerium được dùng làm chất có tính chất hóa học giống plutoni để làm vật dụng chứa, chiết tách và các công nghệ khác. === Tạo hợp kim === Plutoni có thể tạo một số hợp kim và các hợp chất trung giann với hầu hết các kim loại khác, ngoại trừ các kim loại kiềm như lithi, natri, kali, và rubidi; và các kim loại kiềm thổ như magiê, canxi, stronti, và bari; và kim loại đất hiếm như europi và ytterbi. Ngoài ra, các kim loại có thể gia công như crôm, molybden, niobi, tantali, và tungsten có thể hòa tan trong dung dịch plutoni, nhưng không hòa tan hoặc hòa tan rất ít trong plutoni rắn. Galli, nhôm, americi, scandi và ceri có thể ổn định hóa đồng phân δ của plutoni ở nhiệt độ phòng. Silic, indi, kẽm và zirconi cho phép tạo thành đồng phân δ khi làm lạnh nhanh. Một lượng lớn hafni, holmi và thali cũng cho phép duy trì pha δ ở nhiệt độ phòng. Neptuni là nguyên tố duy nhất có thể ổn định pha α ở nhiệt độ cao hơn. Các hợp kim plutoni có thể được tạo ra bằng cách cho kim loại cần thiết vào plutoni nóng chảy. Nếu kim loại tạo hợp kim đủ tính khử, plutoni có thể được cho vào ở dạng ôxít hay halua. Các hợp kim gali-plutoni pha δ và nhôm-plutoni được tạo ra bằng cách thêm plutoni(III) florua vào gali hoặc nhôm nóng chảy, đây là một điểm thuận lợi nhằm tránh việc tiếp xúc trực tiếp với kim loại plutoni có tính phản ứng cao. Plutoni-galli được dùng để ổn định hóa pha δ của plutoni, nhằm tránh các vấn đề gặp phải khi nó chuyển sang pha α và pha α-δ. Ứng dụng chủ yếu của nó là trong các pit của implosion nuclear weapons. Plutoni-nhôm là một hợp kim thay thế cho hợp kim Pu-Ga. Nó là thành phần ban đầu dùng trong việc ổn định hóa pha δ, nhưng nó có khuynh hướng phản ứng với các hạt anpha và giải phóng neutron làm giảm công năng của nó trong các vũ pit của vũ khí hạt nhân. Hợp kim plutoni-nhôm cũng có thể được ứng dụng làm một phần của nhiên liệu hạt nhân. Hợp kim plutoni-galli-coban (PuCoGa5) là một chất siêu dẫn phi truyền thống ở nhiệt độ dưới 18,5 kelvin, cường độ lớn hơn giá trị cao nhất giữa các hệ fermion nặng, và có dòng điện tới hạn lớn. Hợp kim plutoni-zirconi có thể được sử dụng làm nhiên liệu hạt nhân. Các hợp kim plutoni-ceri và plutoni-ceri-coban cũng được dùng làm nhiên liệu hạt nhân. Plutoni-urani, với khoảng 15–30% mol. plutoni, có thể được dùng làm nhiên liệu hạt nhân cho các lò phản ứng tái sinh nhan. Do tính tự cháy và sự nhạy cảm cao của nó đối với ăn mòn tại điểm tự bốc cháy hay việc phân hủy sau khi tiếp xúc với không khí nên cần tạo hợp kim với các thành phần khác. Thêm nhôm, cacbon hay đồng vào sẽ không làm cải thiện tôlàm tăng tôc độ tự phân hủy một cách đáng kể; còn nếu thêm zirconi và sắt sẽ tăng tính chống ăn mòn nhưng chúng có thể phân hủy trong vài tháng trong không khí. nếu thêm vào titan hay zirconi sẽ làm tăng điểm nóng chảy của hợp kim. Các hợp kim plutoni-urani-titan và plutoni-urani-zirconi đã được nghiên cứu để dùng làm nhiên liệu hạt nhân. Việc thêm vào nguyên tố thứ 3 sẽ làm tăng khả năng chống ăn mòn, giảm tính cháy, và tăng tính dẻo, tính kéo sợi, độ bền và sự nở vì nhiệt. Plutoni-urani-molybden có khả năng chống ăn mòn tốt nhất, vì nó tạo thành một lớp ôxít mỏng bảo vệ, nhưng với titan và zirconi thì chỉ có tác dụng về mặt vật lý. Hợp kim thori-urani-plutoni đã được nghiên cứu để làm nhiên liệu hạt nhân cho các lò phản ứng tái sinh nhanh. === Xuất hiện === Một lượng rất nhỏ dạng vết của ít nhất 2 đồng vị plutoni (plutoni-239 và 244) có thể được tìm thấy trong tự nhiên. Các vết của plutoni-239 chỉ chiếm khoảng vài ppt, và các sản phẩm phân rã của nó cũng được tìm thấy trong tự nhiên ở một số mỏ urani, như trong "lò phản ứng phân hạch tự nhiên" ở Oklo, Gabon. Tỷ lệ plutoni-239/urani ở urani Mỏ Cigar Lake dao động trong khoảng từ 2.4 × 10−12 đến 44 × 10−12. Thậm chí một lượng nhỏ hơn của plutoni-244 nguyên thủy có mặt trong tư nhiên do chúng có chu kỳ bán rã tương đối cao khoảng 80 triệu năm. Các hàm lượng vết của Pu-239 có nguồn gốc từ các kiểu sau: trong những trường hợp hiếm, U-238 trải qua phân hạch tự phát, và trong quá trình này, hạt nhân phát ra một hoặc hai neutron tự do cùng với động năng. Khi một trong các neutron này va chạm vào nguyên tử U-238 khác, nó bị thấp thụ tạo ra U-239. Với toh72i gian tồn tại khá ngắn, U-239 phân rã thành neptuni-239 (Np-239), và sau đó Np-239 phân rã thành Pu-239. Vì đồng vị Pu-240 có thời gian tồn tại tương đối lâu có mặt trong chuỗi phân rã của plutoni-244, nó cũng có thể có mặt, mặc dù gấp 10.000 lần nhưng vẫn hiếm hơn. Cuối cùng, một lượng cực nhỏ plutoni-238 tham gia vào phân rã beta kép của urani-238 cực kì hiếm gặp, được tìm thấy trong các mẫu urnai tự nhiên. Một lượng vết nhỏ plutoni thường được tìm thấy trong cơ thể con người từ các nguồn trong các vụ thử hạt nhân dưới nước và trong khí quyển và một lượng nhỏ từ các tai nạn hạt nhân lớn. Hầu hết các vụ thử hạt nhân dưới nước và trong khí quyển đã bị dừng theo Hiệp ước Cấm thử hạt nhân năm 1963, trong đó, các nước tham gia ký kết gồm Hoa Kỳ, Vương quốc Anh, Liên Xô, và các nước khác. Việc thử vũ khí hạt nhân trong khí quyển đã được tiếp tục ở các nước không tham gia vào Hiệp ước trên như Trung Quốc (thử bom hạt nhân trên sa mạc Gobi năm 1964, thử bom hydro năm 1967, và các thử nghiệm sau đó), và Pháp (thử trong thập niên 1980). Plutoni-239 là đồng vị dồi dào nhất của plutoni có khả năng dùng để chế tạo vũ khí hạt nhân và trong lò phản ứng. Cũng có giả thuyết cho rằng một lượng nhỏ plutoni được tạo ra từ việc bắn phát các quặng urani bởi tia vũ trụ. == Lịch sử == === Phát hiện === Enrico Fermi và nhóm nhà khoa học của Đại học Rome đã thông báo rằng họ phát hiện ra nguyên tố thứ 94 năm 1934. Fermi gọi nguyên tố này là hesperium và đã đề cập đến nó trong Nobel Lecture của ông năm 1938. Thực sự, mẫu đó là một hỗn hợp gồm bari, krypton, và các nguyên tố khác, nhưng điều đó đã chưa được biết đến vào thời điểm đó do sự phân hạch hạt nhân chưa được phát hiện. Plutoni (đặc biệt là plutoni-238) đã được tạo ra đầu tiên vào ngày 14 tháng 12 năm 14, 1940, và được xác định tính chất hóa học vào ngày 23 tháng 2 năm 1941, bởi Dr. Glenn T. Seaborg, Edwin M. McMillan, J. W. Kennedy, and A. C. Wahl khi họ dùng hạt nhân deuteron bắn phá urani trong máy gia tốc 60 inch (150 cm) ở Đại học California, Berkeley. Trong thí nghiệm năm 1940, neptuni-238 đã được tạo ra một cách trực tiếp từ việc bắn phá nhưng bị phân rã phát ra tia beta 2 ngày sau đó, và tạo ra nguyên tố 94. Một bài báo về việc phát hiện này đã được nhóm nghiên cứu gởi đến tạp chí Physical Review vào tháng 3 năm 1941. Bài báo đã được rút lại trước khi được đăng do họ phát hiện rằng một đồng vị của nguyên tố mới (plutoni-239) có thể trải qua sự phân hạch hạt nhân theo cách mà có thể dùng nó làm bom hạt nhân. Việc xuất bản đã được trì hoãn đến 1 năm sau khi kết thúc chiến tranh thế giới thứ 2 do vấn đề an ninh. Edwin McMillan gần đây đã đặt tên cho nguyên tố siêu urani đầu tiên theo tên hành tinh Neptune và đã đề xuất rằng nguyên tố 94 tiếp theo trong dãi này cần đặt theo tên hành tinh tiếp theo là Pluto. Seaborg ban đầu dự định đặt tên nguyên tố này là "plutium", nhưng sau đó ông nghĩ rằng nó nghe không hay bằng "plutonium." Ông chọn ký hiệu "Pu" như cách nói đùa, mà không cần chú ý vào bảng tuần hoàn. Các tên thay thế cũng đã được Seaborg và những người khác xét đến như "ultimium" hay "extremium" do các niềm tin sai lâm rằng họ đã tìm thấy nguyên tố có thể cuối cùng trong bảng tuần hoàn. === Nghiên cứu thời kỳ đầu === Tính chất hóa học cơ bản của plutoni được phát hiện là giống với urani sau một vài tháng đầu nghiên cứu. Việc nghiên cứu nguyên tố này thời kỳ đầu tiên đã được tiến hành tạo phòng thí nghiệm Metallurgical bí mật thuộc Đại học Chicago. Vào ngày 18 tháng 8 năm 1942, một hàm lượng vết của nguyên tố này đã được cô lập và được đo đạc lần đầu tiên. Khoảng 50 microgram plutoni-239 cộng với urani và các sản phẩm phân hạch đã được tạo ra và chỉ có khoảng 1 microgram plutoni đã được cô lập. Công đoạn này cho phép các nhà hóa học có thể xác định khối lượng nguyên tử của nguyên tố mới. Vào tháng 11 năm 1943, một lượng plutoni triflorua đã được khử để tạo ra mẫu plutoni kim loại đầu tiên: chỉ một vài microgram kim lại ở dạng hạt. Một lượng vừa đủ plutoni đã được tạo ra bằng phương pháp tổng hợp để có thể nhận thấy bằng mắt thường. Các tính chất hạt nhân của plutoni-239 cũng đã được nghiên cứu sau đó; các nhà nghiên cứu phát hiện rằng khi một neutron va chạm vào nó, nó sẽ tách ra (phân hạch) bằng cách giải phóng các neutron và năng lượng. Các neutron mới này có thể tương tác với các nguyên tử plutoni-239 khác và quá trình cứ tiếp tục theo một phản ứng dây chuyền nhanh theo hàm mũ. Quá trình này có thể tạo ra một vụ nổ đủ lớn để phá hủy một thành phố nếu có đủ đồng vị được cô đọng để tạo thành một khối lượng tới hạn. === Sản xuất trong Dự án Manhattan === Trong suốt chiến tranh thế giới thứ 2, chính phủ Hoa Kỳ đã tiến hành một dự án chế tạo bom nguyên tử mang tên Dự án Manhattan (Manhattan Project). Ba vị trí sản xuất và nghiên cứu cơ bản của dự án là nhà máy sản xuất plutoni ở nơi mà ngày nay là Hanford Site, các cơ sở làm giàu urani ở Oak Ridge, Tennessee, và phòng thí nghiệm thiết kế và nghiên cứu vũ khí, ngày nay là Phòng thí nghiệm Los Alamos. Lò phản ứng sản xuất đầu tiên tạo ra plutoni-239 là lò phản ứng than chì X-10. Nó đã được xây dựng năm 1943 ở cơ sở Oak Ridge mà sau đó trở thành Phòng thí nghiệm Oak Ridge. Ngày 5 tháng 4 năm 1944, Emilio Segrè ở Los Alamos nhận được mẫu plutoni được tạo ra trong lò phản ứng ở Oak Ridge. Chỉ trong vòng vài chục ngày sau, ông phát hiện ra rằng plutoni từ lò phản ứng có nồng độ cao hơn đồng vị plutoni-240 được tạo ra từ máy gia tốc. Plutoni-240 có tốc độ phân hạch tự phát cao, làm tăng lượng neutron cơ bản của mẫu plutoni. Vũ khí plutoni loại súng được đặt tên theo mã là "Thin Man", phải bị hủy bỏ do số lượng các neutron sinh ra từ quá trình phân hạch tự phát tăng cao. Toàn bộ thiết kế vũ khí plutoni ở Los Alamos đã được thay đổi nhanh chóng sau đó để tạo ra một mẫu có khả năng nổ phức tạp hơn mang tên "Fat Man". Là vũ khí nổ nên một chất rắn plutoni hình cầu đã được nén chặt với mật độ cao với các thấu kính nổ, nhưng cần thiết để dùng plutoni cho mục đích làm vũ khí. Việc xây dựng lò phản ứng B ở Hanford, một lò phản ứng hạt nhân kích thước công nghiệp đầu tiên phục vụ việc sản xuất vật liệu, đã được hoàn thành vào tháng 3 năm 1945. Lò phản ứng B tạo ra vật liệu có khả năng phân hạch cho các vũ khí plutoni được sử dụng trong suốt chiến tranh thế giới thứ 2. B, D và F là những lò phản ứng đầu tiên được xây dựng ở Hanford, và sáu lò phản ứng sản xuất plutoni đã được xây thêm sau đó cũng tại vị trí này. Năm 2004, một hòm an toàn được phát hiện trong khi khai quật một máng bị chôn vùi ở Hanford nuclear site. Bên trong nó có nhiều vật gồm chai thủy tinh lớn chứa xi măng màu trắng loại này sau đó được xác định là mẫu plutoni cấp vũ khí cổ nhất còn tồn tại. Phân tích đồng vị tại Phòng thí nghiệm Pacific Northwest cho thấy rằng plutoni trong chai đã được sản xuất trong lò X-10 tại Oak Ridge trong năm 1944. === Bom Trinity và Fat Man === Quả bom nguyên tử thử nghiệm đầu tiên có tên gọi là "Trinity", được tiến hành ngày 16 tháng 7 năm 1945 ở gần Alamogordo, New Mexico, sử dụng plutoni làm nguyên liệu phân hạch. Thiết kế nổ của "the Gadget" sử dụng các thấu kính nổ truyền thống để nén một hình cầu plutoni thành một khối siêu tới hạn, được bắn phá neutron một cách liên tục từ "Urchin", một nguồn neutron được làm từ poloni và berylli. Khi đi cùng nhau, chúng đảm bảo rằng một phản ứng chuỗi và vụ nổ xảy ra và vụ nổ xảy ra. Khối lượng của vũ khí nặng hơn 4 tấn, mặc dù người ta chỉ dùng 6,2 kg plutoni trong lõi. Khoảng 20% plutoni được dùng trong vũ khí Trinity đã trải qua quá trình phân hạch để tạo ra vụ nổ tương đương khoảng 20.000 tấn TNT. Một thiết kế giống hệt được sử dụng trong quả bom "Fat Man" đã thả xuống Nagasaki, Nhật Bản, vào ngày 9 tháng 8 năm 1945, làm chết 70.000 người và làm bị thương 100,000. Quả bom "Little Boy" thả xuống Hiroshima 3 ngày trước đó đã sử dụng urani-235 chứ không phải plutoni. === Sử dụng trong chiến tranh Lạnh và trở thành chất thải === Các kho dự trữ plutoni cấp vũ khí lớn được cả Liên Xô và Hoa Kỳ xây dựng trong thời kỳ chiến tranh Lạnh. Các lò phản ứng hạt nhân của Hoa Kỳ ở Hanford và Savannah River Site miền nam Carolina đã sản xuất ra 103 tấn, và ước tính có 170 tấn đã được sản xuất ở Nga. Mỗi năm có khoảng 20 tấn nguyên tố này được sản xuất đều đều ở dạng sản phẩm phụ của ngành công nghiệp điện hạt nhân. Có khoảng 1000 tấn plutoni có thể được dự trữ với hơn 200 tấn được lấy ra từ các vũ khí hạt nhân. SIPRI đã ước tính rằng plutoni thế giới năm 2007 vào khoảng 500 tấn, phân đều trong các ứng dụng dân dụng và vũ khí. Khi chiến tranh Lạnh kết thúc, các kho vũ khí này trở thành tâm điểm của sự phổ biến hạt nhân. Ở Hoa Kỳ, một số plutoni được lấy ra từ các vũ khí hạt nhân đã được tháo gỡ và được làm nóng chảy để tạo thành những khúc thủy tinh plutoni ôxit nặng 2 tấn. Thủy tinh này được làm thành borosilicate được trộn với cadmi và gadolini. Các khúc này được bao bọc trong thép không gỉ và được trữ các nhiều càng tốt ở độ sâu 4 km dưới lòng đất trong các lỗ khoan và sẽ được lấp bằng bê tông. Cho đến năm 2008, chỉ có cơ sở ở Hoa Kỳ đã lên kế hoạch lưu trữ plutoni theo cách này tại khu chứa chất thải hạt nhân núi Yucca, nằm cách Las Vegas, Nevada khoảng 100 dặm (160 km) về phía đông bắc. === Thí nghiệm y học === Trong và sau khi kết thúc chiến tranh thế giới thứ 2, các nhà khoa học làm việc trong dự án Manhattan và các dự án nghiên cứu các vũ khí hạt nhân khác đã tiến hành nghiên cứu những ảnh hưởng của plutoni trên các động vật trong phòng thí nghiêm và trên con người. Các nghiên cứu trên động vật cho thấy rằng vài gram plutoni/1 kg mô là một liều gây chết. Trong trường hợp trên con người, điều này liên quan đến việc bơm một dung dịch chứa 5 microgram (điểm hình) trên các bệnh nhân ở bệnh viện được cho là hoặc bệnh nhân đã vào giai đoạn cuối của đợt điều trị hoặc có thời gian sống còn lại dưới 10 năm tùy thuộc vào tuổi hoặc tình trạng bệnh mãn tính. Liều tiêm này giảm 1 microgram vào tháng 7 năm 1945 sau khi các nghiên cứu trên động vật cho thấy rằng cái cách mà plutoni phân bố trong xương lại nguy hiểm hơn so với radi. Đã có 18 thử nghiệm trên người được điến hành với plutoni mà không có việc thông báo chấp chuận của đối tượng. Các thử nghiệm đã được sử dụng để tạo ra các công cụ chẩn đoán như để xác định mức độ hấp thu plutoni trong cơ thể người và cũng nhằm để phát triển các tiêu chuẩn an toàn khi làm việc với plutoni. Vấn đề này ngày nay được xem là vi phạm nghiêm trọng y đức và Hippocratic Oath. More sympathetic commentators have noted that while it was definitely a breach in trust and ethics, "the effects of the plutonium injections were not as damaging to the subjects as the early news stories painted, nor were they so inconsequential as many scientists, then and now, believe." == Ứng dụng == === Nhiên liệu ôxit hỗn hợp === Nhiên liệu hạt nhân đã sử dụng từ các lò phản ứng nước nhẹ chứa Plutoni ở dạng hỗn hợp gồm plutoni-242, 240, 239 và 238. Hỗn hợp này không được làm giàu một cách đầy đủ để dùng cho các vũ khí hạt nhân, nhưng nó có thể được sử dụng làm nhiên liệu MOX. Bắt giữ neutron ngẫu nhiên làm cho một lượng plutoni-242 và 240 tăng theo thời gian Plutoni bị chiếu xạ trong lò phản ứng bởi các neutron "nhiệt" tốc độ chậm, vì thế sau chu kỳ thứ 2, Plutoni chỉ có thể được tiêu thụ bởi các lò phản ứng neutron nhanh. Nếu các lò phản ứng neutron nhanh không có, lượng Plutoni dư thường sẽ bị loại bỏ, và trở thành một loại chất thải hạt nhân có thành tố tồn tại lâu trong môi trường. Việc mong muốn tiêu thụ loại plutoni này và các nhiêu liệu siêu urani khác và làm giảm lượng phóng xạ trong chất thải là một trong những lý do khiến người ta phát triển các lò phản ứng neutron nhanh. Công nghệ hóa học phổ biến nhất dùng để tái xử lý nhiên liệu hạt nhân đã qua sử dụng để tách plutoni và urani có thể được sử dụng để tạo ra một ôxit hỗn hợp là "nhiên liệu MOX" cho một số lò phản ứng hạt nhân. Plutonii cấp vũ khí có thể cần được cho thêm vào hỗn hợp nhiêu liệu này. Nhiên liệu MOX được dùng trong các lò phản ứng nước nhẹ và chiếm khoảng 60 kg plutoni trên 1 tấn nhiên liệu; sau 4 năm, 3/4 lượng plutoni bị tiêu thụ (chuyển thành các nguyên tố khác). Các lò phản ứng tái sinh được thiết kế đặc biệt để tạo ra vật liệu phân hạch nhiều hơn lượng chúng tiêu thụ. Nhiên liệu MOX đã được sử dụng từ thập niên 1980 và hiện nay được sử dụng rộng khắp ở châu Âu. Tháng 9 năm 2000, Hoa Kỳ và Nga ký kết một thỏa thuận về loại bỏ và quản lý plutoni, theo đó, mỗi bên đồng ý loại bỏ 34 tấn plutoni cấp vũ khí. Bộ Năng lượng Hoa Kỳ lên kế hoạch loại bỏ 34 tấn plutoni cấp vũ khí ở Hoa Kỳ vào cuối năm 2019 bằng cách chuyển plutoni thành nhiên liệu MOX dùng cho các lò phản ứng hạt nhân thương mại. Nhiên liệu MOX nâng cao tổng lượng đốt cháy. Một thanh nhiên liệu sau 3 năm sử dụng được tái xử lý để loại bỏ các sản phẩm thải, chúng chiếm khoảng 3% tổng khối lượng các thanh nhiên liệu. Bất kỳ đồng vị urani hay plutoni được tạo ra trong thời gian 3 năm này đều được loại bỏ và thanh nhiên liệu được đưa trở lại lò phản ứng. Khi galli chiếm 1% về khối lượng trong các hợp kim plutoni cấp vũ khí thì nó có khả năng gây cản trở việc vận hành lâu dài các lò phản ứng nước nhẹ. Plutoni được thu hồi từ các nhiên liệu lò phản ứng hạt nhân đã qua sử dụng đặt ra một mối nguy hiểm phổ biến vũ khí hạt nhân ở mức ít hơn, vì sự ô nhiễm nhiều hơn với các đồng vị không phân hạch như plutoni-240 và plutoni-242. Việc tách các đồng vị này là không khả thi. Một lò phản ứng chuyên dụng vận hành dựa trên việc đốt nhiên liệu ở mức rất thấp nhìn chung cần phải tạo ra vật liệu thích hợp cho việc sử dụng chúng có hiệu quả trong các vũ khí hạt nhân. Trong khi plutoni cấp vũ khí được định nghĩa là có chứa ít nhất 92% plutoni-239, thì Hoa Kỳ đã quản lý để làm thiết bị nổ dưới 20Kt (kilo tấn) dùng plutoni được tin là chỉ chứa khoảng 85% plutoni-239, còn được gọi là plutoni 'cấp nhiên liệu'. Plutoni 'cấp lò phản ứng' được tạo ra từ chu trình đốt trong lò phản ứng nước nhẹ thông thường chứa lượng Pu-239 ít hơn 60%, với parasitic Pu-240/Pu-242 lên tới 30%, và 10-15% Pu-241 có khả năng phân hạch. Người ra không rõ liệu một thiết bị sử dụng plutoni được tạo ra từ các chất thải hạt nhân dân dụng được tái xử lý có thể nổ được không, tuy nhiên, các thiết bị này có thể tạo ra các tiếng xèo xèo theo giả thuyết và phát tán các vật liệu phóng xạ trên phạm vi rộng. IAEA phân loại một cách thận trọng plutoni của tất cả vectors đồng vị như vật liệu "sử dụng trực tiếp", đó là, "vật liệu hạt nhân có thể được sử dụng cho việc chế tạo các chất nổ hạt nhân không bao gồm các thành phần biến tố hay làm giàu sau đó". 241Am gần đây đã được đề nghị dùng làm chất biến tính trong các thanh nhiên liệu hạt nhân dùng plutoni nhằm hạn chế khả năng phát tán hạt nhân của nó. == Xem thêm == Kỹ thuật hạt nhân Chu trình nhiên liệu hạt nhân Vật lý hạt nhân == Ghi chú == == Tham khảo == == Tài liệu == CRC contributors (2006). David R. Lide, biên tập. Handbook of Chemistry and Physics (ấn bản 87). Boca Raton (FL): CRC Press, Taylor & Francis Group. ISBN 0-8493-0487-3. Emsley, John (2001). “Plutonium”. Nature's Building Blocks: An A–Z Guide to the Elements. Oxford (UK): Oxford University Press. tr. 324–329. ISBN 0-19-850340-7. Greenwood, N. N.; Earnshaw, A. (1997). Chemistry of the Elements (ấn bản 2). Oxford (UK): Butterworth-Heinemann. ISBN 0-7506-3365-4. Heiserman, David L. (1992). “Element 94: Plutonium”. Exploring Chemical Elements and their Compounds. New York (NY): TAB Books. tr. 337–340. ISBN 0-8306-3018-X. Miner, William N.; Schonfeld, Fred W. (1968). “Plutonium”. Trong Clifford A. Hampel (editor). The Encyclopedia of the Chemical Elements. New York (NY): Reinhold Book Corporation. tr. 540–546. LCCN 68-29938. Stwertka, Albert (1998). “Plutonium”. Guide to the Elements . Oxford (UK): Oxford University Press. ISBN 0-19-508083-1. Bảo trì CS1: Văn bản dư (link) == Liên kết ngoài == Sutcliffe, W.G.; et al. (1995). “A Perspective on the Dangers of Plutonium”. Lawrence Livermore National Laboratory. Bản gốc lưu trữ ngày 29 tháng 9 năm 2006. Johnson, C.M.; Davis, Z.S. (1997). “Nuclear Weapons: Disposal Options for Surplus Weapons-Usable Plutonium”. CRS Report for Congress # 97-564 ENR. Truy cập ngày 15 tháng 2 năm 2009. IEER contributors (2005). “Physical, Nuclear, and Chemical, Properties of Plutonium”. IEER. Truy cập ngày 15 tháng 2 năm 2009. Bhadeshia, H. “Plutonium crystallography”. Samuels, D. (2005). “End of the Plutonium Age”. Discover Magazine 26 (11). Pike, J.; Sherman, R. (2000). “Plutonium production”. Federation of American Scientists. Truy cập ngày 15 tháng 2 năm 2009. Nuclear Weapon Archive contributors. “Plutonium Manufacture and Fabrication”. Nuclearweaponarchive.org. Ong, C. (1999). “World Plutonium Inventories”. Nuclear Files.org. Truy cập ngày 15 tháng 2 năm 2009. LANL contributors (2000). “Challenges in Plutonium Science”. Los Alamos Science. I & II (26). Truy cập ngày 15 tháng 2 năm 2009. NLM contributors. “Plutonium, Radioactive”. NLM Hazardous Substances Databank. Truy cập ngày 15 tháng 2 năm 2009. Alsos contributors. “Annotated Bibliography on plutonium”. Alsos Digital Library for Nuclear Issues. Truy cập ngày 15 tháng 2 năm 2009. Chemistry in its element podcast (MP3) from the Royal Society of Chemistry's Chemistry World: Plutonium
tây ban nha.txt
Tây Ban Nha (tiếng Tây Ban Nha: España) hay Vương quốc Tây Ban Nha (tiếng Tây Ban Nha: Reino de España) là một nước trên bán đảo Iberia phía tây nam châu Âu. Tây Ban Nha giáp biển Địa Trung Hải ở hướng đông-nam và nam, giáp lãnh thổ Vương quốc Anh Gibraltar ở một rẻo đất hẹp ở phía cực nam, giáp Pháp, Andorra ở hướng đông-bắc, giáp vịnh Biscay ở phía bắc và giáp Đại Tây Dương cùng Bồ Đào Nha về phía tây và tây-bắc. Lãnh thổ Tây Ban Nha cũng bao gồm quần đảo Baleares trong Địa Trung Hải, quần đảo Canaria ngoài khơi châu Phi thuộc Đại Tây Dương và hai thành phố tự trị ở Bắc Phi là Ceuta và Melilla, giáp với Maroc. Với diện tích 504.782 km², Tây Ban Nha là nước lớn thứ nhì ở Tây Âu và Liên minh châu Âu, chỉ sau Pháp. Lãnh thổ Tây Ban Nha có một vị trí chịu nhiều tác động từ bên ngoài từ thời tiền sử và buổi ban đầu của đất nước. Ngược lại, Tây Ban Nha cũng gây ra ảnh hưởng lên các vùng khác, chủ yếu là vào thời kỳ lịch sử hiện đại, khi Tây Ban Nha trở thành một đế quốc để lại hơn 400 triệu người nói tiếng Tây Ban Nha ngày nay, trở thành thứ tiếng mẹ đẻ phổ biến thứ hai trên thế giới. Tây Ban Nha là một quốc gia dân chủ và quân chủ lập hiến phát triển với nền kinh tế lớn thứ 9 hoặc thứ 10 trên thế giới tính theo GDP danh nghĩa và có chỉ số phát triển con người đứng thứ 15. Tây Ban Nha là thành viên của Liên hiệp quốc, Liên minh châu Âu, NATO, OECD, và WTO. == Tên gọi == Tên gọi “Tây Ban Nha” trong tiếng Việt bắt nguồn từ tiếng Trung. Trong tiếng Trung, Tây Ban Nha được gọi là “西班牙”. “西班牙” có âm Hán Việt là “Tây Ban Nha”. Trước đây văn tịch của người Việt dùng tên Y Pha Nho "衣坡儒", phiên âm theo tiếng Việt. Danh từ Y Pha Nho hầu như không được sử dụng nữa. Tên gọi của Tây Ban Nha trong tiếng Tây Ban Nha là "España" (Ét-xpa-nha). Trước đây tên gọi chính thức của nước này là Vương quốc Tây Ban Nha (Reino de España), nhưng năm 1978 đã được Hiến pháp thay đổi để làm rõ hơn về tình hình đất nước hiện tại. Tuy nhiên, ngày nay tên gọi Vương quốc Tây Ban Nha vẫn còn được sử dụng khá phổ biến. Có một số giả thuyết cho rằng khởi đầu của cái tên España là từ cái tên trong tiếng La Mã cổ Hispania. Trong tiếng Anh, Tây Ban Nha có tên là Spain và trong tiếng Pháp là Espagne. == Lịch sử == === Thời kỳ Tiền sử và Tiền La Mã === Giống người hiện đại Cro-Magnon bắt đầu đến bán đảo Iberia qua dãy núi Pyrenees vào khoảng 35.000 năm trước. Vết tích nổi tiếng nhất về những sự định cư thời tiền sử tại đây là những bức tranh được khắc trên đá ở hang động Altamira, miền bắc Tây Ban Nha. Những bức họa này được vẽ khoảng 15.000 năm trước Công nguyên. Những người đầu tiên đến sống tại Tây Ban Nha chủ yếu là người Iberia và người Celt. Trước đó, họ sống ở quanh vùng Địa Trung Hải trong khu vực từ phía đông bắc đến phía tây nam bán đảo. Sau đó, họ đến sống tại vùng bờ biển Đại tây Dương, ở vùng phía bắc và tây bắc bán đảo Iberia. Các nền văn hóa tại đây đã hòa trộn vào nhau và bây giờ được biết đến với cái tên Celtiberian. Người ta tin rằng nền văn hóa thành thị đầu tiên thuộc về một thành phố bán thần thoại ở miền nam Tây Ban Nha, thành phố Tartessos (có lẽ tồn tại khoảng 1100 năm trước Công nguyên). Giữa năm 500 và 300 trước Công nguyên, người Phoenici và Hy Lạp đã thực hiện những chuyến vượt biển và thành lập các thuộc địa thương mại của mình trên khắp vùng biển Địa Trung Hải, trong đó có Tây Ban Nha ngày nay. Người Carthage đã thống trị Địa Trung hải trong một thời gian ngắn trước khi bị người La Mã đánh bại trong Chiến tranh Punic. === Phụ thuộc Đế chế La Mã, bộ tộc German xâm lăng === Trong chiến tranh Punic lần thứ hai, Đế chế La Mã đã sát nhập các thuộc địa thương mại của người Carthage trên biển Địa Trung Hải vào lãnh thổ của mình (từ năm 210 đến 205 trước Công nguyên). Đế chế La Mã đã cai quản toàn bộ bán đảo Iberia trong suốt 500 năm, ràng buộc vùng đất này bởi luật pháp và ngôn ngữ của La Mã. Những con đường lớn cũng được xây dựng nối bán đảo Iberia với đế chế. Người La Mã đã trùng tu lại các đô thị còn lại như Lisbon (hay còn gọi là Olissipo, nay là thủ đô của Bồ Đào Nha), Tarragona (Tarraco) và thành lập các đô thị mới như Zaragoza (Caesaraugusta), Mérida (Augusta Emerita), và Valencia (Valentia). Nền kinh tế của bán đảo đã phát triển hưng thịnh dưới sự cai trị của La Mã. các sản phẩm nông nghiệp ngày càng tăng lên cùng với việc đưa vào vận hành hệ thống tưới tiêu đồng ruộng, một trong số chúng ngày nay vẫn còn được sử dụng. Các hoàng đế Trajan, Hadrian, Marcus Aurelius và Theodosius I, cùng với triết gia nổi tiếng Seneca đều sinh ra tại Tây Ban Nha. Kitô giáo đã lan đến Tây Ban Nha vào thế kỉ 1 và trở nên phổ biến vào thế kỉ 2 tại các đô thị. Phần lớn ngôn ngữ, tôn giáo, cơ sở luật pháp của Tây Ban Nha ngày nay đều bắt nguồn từ giai đoạn này. Các bộ tộc người còn lạc hậu đã xâm chiếm Tây Ban Nha vào thế kỉ 5, khi mà Đế chế La Mã đang trên đà sụp đổ. Người Visigoth, Suebi, Vandal and Alan đã vượt qua dãy núi Pyrenees để tiến vào Tây Ban Nha. Người Visigoth sau đó đã tiếp quản Tây Ban Nha vào năm 415. Sau khi cải đạo theo Công giáo Rôma, vương quốc Visigoth đã trở thành một triều đại lớn ở bán đảo Iberia. === Thời kỳ Hồi giáo === Vào thế kỷ 8, bán đảo Bán đảo Iberia bị người Berber theo Đạo Hồi từ Bắc Phi vượt eo biển Địa Trung Hải xâm lăng (711-718) và chiếm đóng. Đây là một bước trên đà bành trướng của triều đại Omeyyad từ Ả Rập. Iberia bị người Hồi khống chế chỉ chừa ba xứ Asturias, Navarre và Aragón ở miền núi phía bắc là chống trả được nên thoát ách đô hộ của người Hồi. Trong Thời kỳ Hồi giáo, Tây Ban Nha được biết đến là "Al-Andalus", đạt mức cực thịnh dưới triều vua Abd-ar-Rahman III. Dưới sự cai trị của người Hồi, dân đạo Kitô và Do Thái vẫn được tự do hành đạo tuy rằng ai theo đạo Hồi được chiếu cố hơn. Triều đình Al-Andalus tiếp tục củng cố địa vị, xây dựng một đất nước Hồi giáo hùng mạnh vào thế kỷ 10 và thế kỷ 11.. Dần dà chính người Hồi giáo ở Tây Ban Nha bị chia rẽ; tuy cùng đạo Hồi nhưng người Berber gốc Bắc Phi không phục người Ả Rập từ Trung Đông. Một số ly khai, lập tiểu quốc riêng ở thung lũng sông Guadalquivir, vùng ven biển Valencia và vùng núi ở Granada. Córdoba bấy giờ là kinh đô của đế chế Hồi giáo Tây Ban Nha, cũng là thành phố lớn nhất, giàu có nhất và hoa lệ nhất ở Châu Âu thời Trung Cổ. Thương mại và văn hóa đều phát triển rực rỡ. Người Hồi giáo cho du nhập vào Tây Ban Nha những nét văn hóa đặc sắc truyền thống của các vùng Trung Đông và Bắc Phi. Về học thuật các học giả Hồi giáo và Do Thái đã đóng góp nhiều trong việc phục hồi và phát triển văn hóa Hy Lạp cổ đại tại Tây Âu. Nhiều công trình kiến trúc mỹ thuật mang phong cách Hồi giáo vẫn còn tồn tại nhiều nơi ở Tây Ban Nha, tiêu biểu nhất là cung điện Alhambra. Về mặt kinh tế, quyền sở hữu đất đai từ thời La Mã vẫn được duy trì, không bị tước đoạt, củng cố bền vững xã hội nông thôn. Một số kỹ thuật canh tác cũng thúc đẩy nền nông nghiệp phát triển dồi dào. === Đế chế Hồi giáo sụp đổ, Tây Ban Nha thống nhất === Trong khi người Hồi mở cuộc xâm lăng năm 711 ở phía nam thì ở phía bắc, người dân vùng Asturias lập một tiểu quốc riêng theo Kitô giáo năm 722. Sang năm 739 thì quân Hồi phải triệt thoái khỏi Galicia, nơi có thánh tích Santiago de Compostela mà giáo dân thường trảy hội hành hương đến chiêm bái. Cũng không lâu sau đó người Frank cũng chiến thắng ở đông bắc bán đảo Iberia, buộc quân Hồi phải rút khỏi vùng bình nguyên phía nam dãy Pyrenees, lập ra tiểu quốc Navarre. Đế chế Hồi giáo Al-Andalus trong khi đó suy yếu dần với nhiều lãnh chúa Taifa nổi lên chống lại triều đình trung ương. Lợi dụng sự phân rã các vương quốc Kitô giáo mở cuộc tái chiếm, tiến sâu về phía Nam. Năm 1085 Toledo của quân Hồi thất thủ; từ đấy phần lớn miền bắc Tây Ban Nha đổi chủ, thuộc quyền kiểm soát của quân Kitô. Quân Hồi lại phục hồi vào thế kỷ 12 nhưng sang thế kỷ 13 thì lại bị quân Kitô đánh rát: người Hồi mất Córdoba năm 1236 và Sevilla năm 1248. Từ đó trở đi quân Hồi chỉ kiểm soát vùng Granada như một tiểu quốc ở vùng cực nam bámn đảo. trong khi đó vương quốc Kitô giáo Aragón ở vùng đông bắc càng hùng mạnh, lan ra đến bờ Địa Trung Hải, thâu nhận cả Sicilia ở ngoài khơi nước Ý. Năm 1469, ngai vàng của hai vương quốc Kitô giáo Aragón và Castilla đã được hợp nhất bởi lễ cưới giữa vua Fernando II của Aragon và nữ hoàng Isabella I của Castilla. Năm 1492, vương quốc hợp nhất đã chiếm đóng Granada, chấm dứt 781 năm cai trị của người Hồi giáo tại bán đảo Iberia. Cũng trong năm 1492, với sự hỗ trợ của vua Fernando và nữ hoàng Isabel, nhà thám hiểm Christopher Columbus đã vượt Đại Tây Dương và tìm ra châu Mỹ, một phát kiến địa lý quan trọng hàng đầu của lịch sử. Trong cùng năm, một lượng lớn người Do Thái đã bị trục xuất khỏi Tây Ban Nha bởi Tòa án Dị giáo Tây Ban Nha. Vua Fernando và nữ hoàng Isabel đã củng cố vững chắc hệ thống quyền lực trung ương, đồng thời cái tên España (Tây Ban Nha) bắt đầu được dùng để chỉ vương quốc hợp nhất. Với những cải cách lớn về chính trị, pháp luật, tôn giáo và quân đội, Tây Ban Nha đã vươn lên trở thành một cường quốc trên thế giới. === Từ Thời kỳ Khai sáng cuối thế kỉ 18 === Sự thống nhất của các vương quốc Aragón, Castilla, León và Navarre đã làm nên nền tảng của đất nước Tây Ban Nha hiện nay và Đế chế Tây Ban Nha. Tây Ban Nha đã trở thành một trong những quốc gia hùng mạnh hàng đầu châu Âu trong thế kỷ 16 và nửa đầu của thế kỷ 17, vị thế đó được tạo nên bởi thương mại phát triển và sự chiếm hữu thuộc địa. Tây Ban Nha đã vươn tới đỉnh cao dưới sự trị vì của hai vua đầu tiên của hoàng triều Habsburg là Carlos I (1516-1556) và Felipe II (1556-1598). Hệ thống thuộc địa ở đế chế Tây Ban Nha trải rộng khắp Trung Mỹ và Nam Mỹ, México, một phần lớn miền nam Hoa Kỳ, Philippines ở Đông Á, bán đảo Iberia (trong đó có cả Bồ Đào Nha), miền nam Ý, đảo Sicilia và một số nơi ngày nay thuộc các nước Đức, Bỉ, Luxembourg và Hà Lan. Tây Ban Nha là đế quốc đầu tiên được gọi là đất mặt trời không bao giờ lặn. Thời kỳ này được gọi là Kỉ nguyên Khai phá với việc các nước châu Âu đi chiếm thuộc địa, mở ra các trung tâm buôn bán. Cùng với nguồn kim loại, hương liệu, các mặt hàng xa xỉ phẩm mang về từ thuộc địa, các nhà thám hiểm Tây Ban Nha và châu Âu đã mang về rất nhiều kiến thức, làm thay đổi cách nhìn của người châu Âu về thế giới. Vào thế kỉ 16 và thế kỉ 17, Tây Ban Nha cũng bắt đầu đối mặt với nhiều khó khăn. Đầu thế kỉ 16, bọn cướp biển Barbary hung hãn dưới sự bảo hộ của đế chế Ottoman đã đột kích vào những vùng ven biển của Tây Ban Nha, với âm mưu lập ra các vùng đất Hồi giáo mới. Thời gian này, những cuộc chiến tranh giữa Tây Ban Nha và Pháp cũng thường nổ ra tại Ý và một vài nơi khác. Tiếp đó, phong trào cải cách tôn giáo ở châu Âu đã khiến đất nước rơi vào bãi lầy của những cuộc chiến tranh tôn giáo. Giữa thế kỉ 17, những dấu hiệu của sự căng thẳng tại châu Âu ngày càng lộ rõ. Triều đại Habsburg ở Tây Ban Nha đã liên tiếp vướng vào những cuộc xung đột về chính trị, tôn giáo, gây ra nhiều hậu quả về kinh tế. Tây Ban Nha đã giúp đỡ Đế chế La Mã Thần thánh chống lại những người theo Đạo Tin lành. Nhưng Tây Ban Nha sau đó lại phải công nhận quyền độc lập của Bồ Đào Nha và Hà Lan, từ bỏ một số vùng đất cho Pháp. Từ năm 1640, Tây Ban Nha ngày càng suy yếu dần. Cuộc tranh luận về quyền kế thừa ngôi báu đã nổ ra vào những năm đầu của thế kỉ 18. Cuộc chiến tranh về quyền thừa kế đã nổ ra tại Tây Ban Nha (1701-1714) với cái giá phải trả là Tây Ban Nha đã mất đi vị trí là một cường quốc ở khu vực. Vương triều Bourbon Pháp đã lên thay thế. Vị vua Bourbon đầu tiên là Felipe V đã thống nhất đất nước dưới một chính quyền tập trung, thủ tiêu rất nhiều đặc quyền đặc lợi của quý tộc địa phương. Thế kỉ 18 chứng kiến sự phục hồi dần dần và sự thịnh vượng đã quay trở lại Tây Ban Nha dưới triều đại Bourbon. Những ý tưởng của Thời kỳ Khai sáng đã phát huy tác dụng. Vào cuối thế kỉ 18, thương mại tăng trưởng nhanh chóng. Sự giúp đỡ quân sự đối với các thuộc địa Anh trong cuộc Chiến tranh giành độc lập Bắc Mỹ đã cải thiện vị thế quốc tế của Tây Ban Nha. === Thế kỉ 19 === Cuối thế kỷ 18, Tây Ban Nha (cùng với Anh, Áo, đế chế Ottoman và Phổ,...) giúp đỡ Hoàng gia Bourbon mất ngôi trong Chiến tranh Cách mạng Pháp chống lại nước Cộng hòa Pháp. Nhưng sự thất bại trên chiến trường đã dẫn đến việc vua Carlos IV phải có những thỏa hiệp với nước Pháp cách mạng. Năm 1804, Đế chế thứ nhất được Hoàng đế Napoléon I của Pháp thành lập. Các cuộc chiến giữa Napoléon và Liên minh chống Pháp của Anh, Áo, Phổ,... xảy ra liên miên trong khi Tây Ban Nha bấy giờ về phe Pháp. Trong trận Trafalgar vào năm 1805, Hải quân Anh do Đô đốc Horatio Nelson thống lĩnh đập tan tác hạm đội hỗn hợp của Hải quân Tây Ban Nha và Pháp, và Đô đốc Tây Ban Nha bị thương chí mạng. Sau đó, việc Tây Ban Nha rút khỏi Hệ thống Phong tỏa Lục địa đã khiến Napoléon hết sức tức giận. Ông ta đã đem quân chiếm đóng và hạ bệ vua Carlos IV của Tây Ban Nha. Người dân Tây Ban Nha phản ứng rất mãnh liệt và quyết định ủng hộ con trai vua Carlos là Fernando. Ngày 2 tháng 5 năm 1808, cuộc khởi nghĩa giành độc lập người dân thủ đô Madrid bùng nổ, chống lại quân đội Pháp chiếm đóng. Tây Ban Nha bị đặt vào vòng phong tỏa của Đế quốc Anh. Trong khi đó, các ủy ban hành chính tuyên bố ủng hộ Fernando, và họ mong có được nhiều quyền tự trị từ Madrid với một bản hiến pháp tự do. Năm 1812, Cádiz Cortes đã thành lập bản hiến pháp đầu tiên của nước Tây Ban Nha, Hiến pháp năm 1812 (còn có tên là La Pepa). Quân đội Anh, dưới sự lãnh đạo của công tước của Wellington, đã đánh bại quân đội Pháp ở bán đảo Iberia. Cuộc chiến tranh ở bán đảo Iberia có thể coi là cuộc chiến tranh du kích đầu tiên trong lịch sử cận đại Tây Âu. Những con đường tiếp tế của quân Pháp đã bị ngăn chặn và phá hủy bởi những chiến sĩ du kích Tây Ban Nha. Quân đội Pháp chính thức bị đánh bại trong trận Vitoria năm 1813, và đến năm sau, Fernando IV đã trở thành vua của Tây Ban Nha. Sự xâm lược của Pháp đã để lại nhiều hậu quả tai hại cho Tây Ban Nha. Nền kinh tế bị tàn phá nặng nề, các thuộc địa của Tây Ban Nha ở châu Mỹ Latinh đua nhau đòi độc lập, nước này chỉ còn lại mỗi hai thuộc địa ở châu Mỹ là Cuba và Puerto Rico. Từ năm 1820-1823, một cuộc cách mạng đã diễn ra ở Tây Ban Nha đòi vua Fernando VII phải thực hiện bản Hiến pháp 1812, lãnh đạo bởi Rafael del Riego và được người dân ủng hộ. Trước phong trào cách mạng, nhà vua đã phải thừa nhận bản hiến pháp và một số cải cách tư sản đã được tiến hành. Đến tháng 11 năm 1823, quân Bourbon của Pháp theo lệnh của Liên minh Thần thánh tiến vào đàn áp, Riego bị xử tử. Đến năm 1873, nền cộng hòa đầu tiên ở Tây Ban Nha được thành lập. Nhưng đến năm 1874, nền cộng hòa đã bị Giáo hội Công giáo Rôma đàn áp. Vào cuối thế kỉ 19, những phong trào dân tộc bùng nổ ở Cuba và Philippines, gây ra những cuộc chiến tranh đòi độc lập. Hoa Kỳ đã can thiệp vào các nước này và vào năm 1898, cuộc chiến tranh Hoa Kỳ-Tây Ban Nha bùng nổ. Kết quả là Tây Ban Nha đã mất nốt những thuộc địa cuối cùng của mình là Philippines, Guam ở châu Á và Cuba, Puerto Rico ở biển Caribbean. === Đầu thế kỉ 20 === Những năm đầu thế kỉ 20, tình hình Tây Ban Nha tương đối ổn định. Tây Ban Nha đã chiếm một số thuộc địa ở châu Phi như Tây Sahara, Maroc và Guinea Xích Đạo. Tuy nhiên, cuộc chiến tranh Rif nổ ra tại Morocco vào năm 1931 đã làm suy giảm ảnh hưởng của Tây Ban Nha tại các thuộc địa này. Khoảng thời gian cai trị độc tài của tướng Miguel Primo de Rivera (1923-1931) kết thúc với việc nền cộng hòa thứ hai được thành lập. Chính quyền cộng hòa đã trao quyền tự trị cho các vùng như xứ Basque, Catalonia và Galacia, đồng thời công nhận quyền bầu cử của phụ nữ. Năm 1936, cuộc nội chiến Tây Ban Nha bùng nổ giữa phe của viên tướng độc tài Francisco Franco với phe Cộng hòa. Cho đến ngày 21 tháng 3 năm 1939, Francisco Franco, (generalisimo de todos los ejercitos) chiếm được thủ đô Madrid, chính phủ Cộng hòa bị lật đổ. Franco thiết lập nền thống trị độc tài ở Tây Ban Nha và ông ta trở thành nguyên thủ của đất nước này cho đến khi mất. Dưới thời Franco, một nền thống trị độc tài được thiết lập ở Tây Ban Nha. Chỉ có duy nhất một đảng của Franco là hợp pháp, còn tất cả các chính đảng khác đều bị thủ tiêu. Nhiều nhân sĩ tiến bộ đã bị bắt giam hoặc bị giết, nhiều người đã phải chạy sang châu Mỹ Latinh. Năm 1956, nền thống trị của Tây Ban Nha tại Maroc đã kết thúc. Đến năm 1968, đến lượt Guinea thuộc Tây Ban Nha tuyên bố độc lập, trở thành một quốc gia với tên gọi Guinea Xích Đạo. Sau chiến tranh thế giới thứ hai, Tây Ban Nha về mặt chính trị và kinh tế khá tách biệt so với thế giới bên ngoài. Nước này vẫn giữ mình đứng ngoài Liên Hiệp Quốc cho đến tận năm 1955. Trong thập niên 1960, Tây Ban Nha đã đạt được sự tăng trưởng kinh tế chưa từng thấy và được gọi Phép màu Tây Ban Nha, giúp chuyển đổi nước này thành một quốc gia công nghiệp hóa hiện đại. Các chính sách tự do hóa chính trị và kinh tế trong những năm cuối cầm quyền của Franco được thực hiện khiến cho ngành du lịch hết sức phát triển, chỉ số phát triển con người được nâng cao. === Từ sau năm 1978 đến nay === Sau khi Franco qua đời, Juan Carlos trở thành vua của Tây Ban Nha và được coi là người đứng đầu quốc gia. Năm 1978, hiến pháp mới được ban hành, đưa đất nước trở lại với tiến trình dân chủ. Năm 1982, Đảng Công nhân Xã hội Tây Ban Nha (PSOE) lên nắm quyền, đại diện cho sự trở lại của lực lượng cánh tả Tây Ban Nha sau 43 năm. Trong cuộc bầu cử năm 1996, Đảng Nhân dân Tây Ban Nha (PP) đã vượt lên trong cuộc đua tranh vào quốc hội. Vào ngày 1 tháng 1 năm 2002, Tây Ban Nha đã thông qua việc sử dụng đồng tiền chung châu Âu là euro, đồng tiền chung của 13 quốc gia thành viên của Liên minh châu Âu. == Chính trị == === Chính quyền Tây Ban Nha === Tây Ban Nha là một quốc gia quân chủ lập hiến, với ngôi vua cha truyền con nối và quốc hội lưỡng viện. Hội đồng Bộ trưởng nắm quyền hành pháp, đứng đầu bởi Chủ tịch Chính phủ, cũng có thể coi là thủ tướng Tây Ban Nha. Người đảm nhiệm chức vị này được chọn qua cuộc tổng tuyển cử toàn quốc. Ngành lập pháp thuộc quốc hội với 350 nghị sĩ bầu lên với nhiệm kỳ 4 năm. Quốc trưởng: Vua Felipe VI, đăng quang ngày 19 tháng 6 năm 2014 Chủ tịch Quốc hội (hay Thủ tướng): Mariano Rajoy Brey, đắc cử ngày 20 tháng 11 năm 2011 Hội đồng Bộ trưởng: bổ nhiệm bởi thủ tướng. Tây Ban Nha ngày nay là một quốc gia nhất thể, mặc dù chính phủ hoạt động gần như một quốc gia liên bang với nhiều đơn vị tự trị. Cơ chế chính phủ Tây Ban Nha phân định rõ quyền lực trung ương khác quyền lực địa phương. Có thể nói rằng mô hình phân tỏa quyền lực xuống các cấp địa phương liệt Tây Ban Nha vào một trong những quốc gia với chính quyền địa phương nắm nhiều quyền lực nhất châu Âu. Mỗi vùng đều có riêng hệ thống y tế, giáo dục và đối với hai xứ Basque và Navarre thì có hệ thống tài chính riêng. Kể từ hậu bán thế kỷ 20 chính quyền Tây Ban Nha phải đối phó với lực lượng ETA, một tổ chức địa phương ly khai thành lập ở xứ Basque vào năm 1959 với mục đích chống lại Franco và giành độc lập cho xứ Basque bằng võ lực. Họ tự nhận là một tổ chức du kích trong khi Liên minh châu Âu và Hoa Kỳ xếp ETA vào danh sách các tổ chức khủng bố. Lực lượng này bị kết án đã gây ra hơn 800 tử vong trong các hoạt động chống chính phủ. === Hiến pháp === Bản hiến pháp đầu tiên của nước Tây Ban Nha ra đời vào năm 1812. Năm 1975, sau cái chết của nhà độc tài Francisco Franco, cuộc bầu cử tự do đã được thực hiện vào năm 1977 với mục tiêu là phác thảo và soạn ra bản hiến pháp tự do. Năm 1978, hiến pháp mới được ban hành, đưa Tây Ban Nha trở lại quá trình dân chủ. Hiến pháp quyết định thay đổi tên gọi chính thức của Tây Ban Nha từ Vương quốc Tây Ban Nha sang chỉ còn là Tây Ban Nha, để làm rõ tình hình đất nước hiện tại. Tây Ban Nha có 17 vùng tự trị và 2 thành phố tự trị mới các mức độ khác nhau, mặc dù Hiến pháp không công nhận nước này là một nhà nước liên bang. === Quan hệ ngoại giao === Từ sau năm 1975, Tây Ban Nha chủ trương thực hiện chính sách ngoại giao rộng mở với các nước. Tây Ban Nha đã gia nhập vào Cộng đồng châu Âu (mà sau này là Liên minh châu Âu) vào năm 1986. Trước đó, Tây Ban Nha cũng đã gia nhập NATO vào năm 1982. Với việc bình thường hóa quan hệ ngoại giao với Bắc Triều Tiên vào năm 2001, Tây Ban Nha đã hoàn thành chính sách ngoại giao rộng mở của mình. Nước này cũng giữ một mối liên hệ đặc biệt với các nước châu Mỹ Latinh, nơi tiếng Tây Ban Nha được sử dụng rộng rãi. Tây Ban Nha là một ví dụ thành công của sự chuyển hóa từ nền chính trị độc tài sang một đất nước dân chủ. Tây Ban Nha thiết lập quan hệ ngoại giao với Việt Nam vào ngày 23 tháng 5 năm 1977. Ngày 20 tháng 2 năm 2006, nhà vua Tây Ban Nha Juan Carlos I cùng hoàng hậu Sofia đã thăm chính thức Việt Nam. == Phân chia hành chính == Tây Ban Nha được chia làm 17 vùng tự trị (comunidades autónomas) và 2 thành phố tự trị (ciudades autónomas) là Ceuta và Melilla. Các vùng tự trị này được chia tiếp thành tổng cộng 50 tỉnh (provincias). Các tỉnh lại được chia tiếp thành các hạt (comarcas). Đơn vị hành chính thấp nhất của Tây Ban Nha là các đô thị tự quản (municipio). Danh sách các vùng tự trị của Tây Ban Nha: == Địa lý == === Diện tích === Diện tích của Tây Ban Nha là 504.782 km² và đứng hàng thứ 50 trên thế giới về diện tích. Còn tại châu Âu, Tây Ban Nha là quốc gia có diện tích rộng thứ 4, chỉ sau Nga, Ukraina và Pháp. Trong đó, diện tích phần đất của Tây Ban Nha là 499.542 km² và diện tích phần nước là 5.240 km². 88% ranh giới của Tây Ban Nha là giáp với các biển và vịnh (4 964 km). Phần biên giới trên bộ của Tây Ban Nha dài tổng cộng 1917,8 km. Trong đó, phần biên giới giáp với Bồ Đào Nha dài 1214 km, với Pháp 623 km, với Andorra 63,7 km, với Gibraltar 1,2 km. Riêng hai vùng lãnh thổ tách biệt của Tây Ban Nha thuộc châu Phi là Melilla và Ceuta giáp với Maroc, dài tổng cộng 15,9 km. Tây Ban Nha có hai quần đảo chính là quần đảo Balearic ở vùng Địa Trung Hải và quần đảo Canary ở Đại Tây Dương. Quần đảo Balearic có diện tích khoảng 5 000 km², cách bờ biển phía đông của Tây Ban Nha 80 km. Quần đảo Canary cách bờ biển châu Phi 90 km, được tạo thành bởi hoạt động của núi lửa. Những hòn đảo rộng nhất của quần đảo này, đảo Tenerife và Gran Canaria, đều có những đỉnh núi rất cao. Trên đảo Tenerife có đỉnh núi Teide cao 3 717 m, là ngọn núi cao nhất Tây Ban Nha. Teide là một ngọn núi lửa đã tắt. === Địa hình === Địa hình của Tây Ban Nha có thể chia làm 3 miền chính: miền Trung tâm Meseta, các miền núi khác và miền đất thấp. Miền Trung tâm của Meseta có thể coi như một vùng cao nguyên khổng lồ ở trung tâm Tây Ban Nha với độ cao trung bình từ 610 đến 700 m. Được bao quanh bởi những vùng núi, miền Trung tâm Meseta dốc thoai thoải về phía tây, nơi có những con sông đổ sang Bồ Đào Nha. Dãy Trung tâm Sistema là xương sống của vùng, chia miền Trung tâm Meseta thành hai khu vực phía bắc và phía nam. Những miền núi khác bao gồm dãy núi Pyrenees ở phía đông bắc và dãy Sistema Penibético ở phía đông nam. Dãy Pyrenees đã làm thành một đường biên giới tự nhiên giữa Tây Ban Nha với Pháp và Andorra, và trong quá trình lịch sử đã góp phần làm cách biệt Tây Ban Nha với các nước châu Âu khác. Đỉnh núi cao nhất dãy Pyrenees là đỉnh Pico de Aneto, cao 3 400 m. Dãy Sistema Penibético chạy dài từ phía đông bắc đến phía nam Tây Ban Nha, song song với đường bờ biển. Dãy Sierra Nevada, một phần của dãy Sistema Penibético có đỉnh núi cao nhất bản đảo Iberia là đỉnh Mulhacén, cao 3479 m. Các vùng đất thấp bao gồm đồng bằng Andalusia phía tây nam, lòng chảo Ebro phía đông bắc và các đồng bằng ven biển. Đồng bằng Andalusia thực chất là một thung lũng sông rộng do sông Guadalquivir chảy qua. Vùng lòng chảo Ebro thì được sông Ebro chảy qua, và bị bao bọc bởi dãy núi Sistema Ibérico ở phía nam và phía tây, và dãy Pyrenees phía bắc. Các đồng bằng ven biển là những dải đất hẹp giữa những rằng núi ven biển. Đồng bằng ven biển rộng nhất chạy theo con sông Golfo de Cádiz, nơi tiếp liền với đồng bằng Andalusia. === Khí hậu === Do có nhiều đồi núi, khí hậu Tây Ban Nha phân hóa rất phức tạp. Ta có thể chia làm 3 khu vực khí hậu chính như sau: Khí hậu lục địa: ở những vùng đất ở sâu trong nội địa, trong đó có thủ đô Madrid. Khí hậu Địa Trung Hải: trải dài từ đồng bằng Andalusia đến phía nam và vùng bờ biển phía đông chạy lên gần dãy núi Pyrenees, những phía núi chạy theo đường bờ biển, trong đó có thành phố Barcelona. Khí hậu Hải dương: ở Galacia, những dải đồng bằng ven vịnh Biscay. Khu vực có khí hậu hải dương còn được gọi là Tây Ban Nha Xanh. === Tài nguyên thiên nhiên === Tây Ban Nha là một quốc gia có nhiều tài nguyên về khoáng sản như: than đá, than non, sắt, uranium, thủy ngân, quặng Pyrit, fluorit, thạch cao, kẽm, chì, tungsten, đồng, cao lanh, năng lượng nước, đất trồng. === Sử dụng đất === Đất trồng trọt: 30%. Đất trồng cây lâu năm: 9%. Đồng cỏ lâu năm: 21%. Rừng: 32%. Mục đích khác: 8%. Diện tích đất tưới tiêu: 34 530 km² (năm 1993). == Nhân khẩu == Dân số của Tây Ban Nha hiện nay khoảng 45 triệu người. Mật độ dân số của Tây Ban Nha là 87,8 người/km², thấp hơn so với nhiều nước Tây Âu khác. Dân cư của nước này phân bố không đều. Ngoại trừ khu vực xung quanh thủ đô Madrid thì phần lớn dân cư tập trung tại các thành phố lớn ven biển. Dân số của Tây Ban Nha đã tăng gấp đôi trong thế kỉ 20, đặc biệt là trong cuộc bùng nổ dân số vào những thập niên 1960 và 1970. Thời gian này chứng kiến một sự thay đổi lớn về phân bố nhân khẩu khi nhiều người dân từ nông thôn nhập cư vào những vùng đô thị giàu có hơn. Tuy nhiên tỉ lệ sinh đã bắt đầu giảm dần từ thập niên 1980 và hiện nay xuống còn khá thấp, đe dọa đến sự ổn định dân số của nước này. Năm 2007, tốc độ tăng dân số của Tây Ban Nha chỉ đạt khoảng 0,1%. Bên canh đó, Tây Ban Nha còn tiếp nhận một dòng người nhập cư khá lớn từ các nước đang phát triển như các nước Mỹ Latinh, Đông Âu, Bắc Phi và Hạ Sahara. == Tôn giáo == Công giáo Rôma từ lâu đã là tôn giáo chính của Tây Ban Nha, và mặc dù nó không còn là tôn giáo chính thức của nhà nước nữa, nhưng trong tất cả các trường công lập ở Tây Ban Nha sinh viên phải lựa chọn hoặc là một tôn giáo hay lớp học đạo đức, và Công giáo là tôn giáo duy nhất chính thức giảng dạy. Theo một nghiên cứu do Trung tâm nghiên cứu xã hội học của Tây Ban Nha công bố tháng 4 năm 2012 thì có khoảng 71% người Tây Ban Nha tự nhận mình là người Công giáo Rôma, 2,7% tôn giáo khác, và khoảng 24% xác định không có tôn giáo (9,4% trong số đó là người vô thần). Hầu hết người Tây Ban Nha không tham gia thường xuyên buổi lễ tôn giáo. Nghiên cứu này cho thấy rằng tuy tự nhận mình là Công giáo Rôma, nhưng 59% người dân hầu như không bao giờ hoặc không bao giờ đi dự các lễ tại nhà thờ, 15% đi nhà thờ một lần một năm, 8% mỗi tháng và 14% chủ nhật hàng tuần hoặc nhiều lần mỗi tuần. Nhìn chung, khoảng 22% của toàn bộ dân số Tây Ban Nha tham dự nghi lễ tôn giáo ít nhất một lần mỗi tháng. Mặc dù xã hội Tây Ban Nha đã trở thành một xã hội thế tục hơn đáng kể trong những thập kỷ gần đây, thì dòng người nhập cư Mỹ Latinh, thường là những tín hữu Công giáo tích cực, đã giúp cho Giáo hội Công giáo Tây Ban Nha phục hồi phần nào. Tổng số linh mục tại các giáo xứ đã giảm từ 24.300 người năm 1975 xuống còn 19.307 năm 2005. Nữ tu cũng giảm 6,9% xuống còn 54.160 người trong giai đoạn 2000-2005. Nhà thờ Tin Lành có khoảng 1.200.000 thành viên. Có khoảng 105.000 tín hữu Nhân chứng Giê-hô-va. Giáo hội Các Thánh hữu Ngày sau của Chúa Giêsu Kitô có khoảng 46.000 tín đồ ở 133 hội đoàn trong tất cả các vùng của đất nước và có một nhà thờ ở quận Moratalaz của Madrid. Một nghiên cứu được thực hiện bởi tổ chức Unión de comunidades islámicas de España đã chứng minh rằng có khoảng 1.700.000 người dân Hồi giáo sống ở Tây Ban Nha chiếm 3-4% tổng dân số của Tây Ban Nha. Sau khi cuộc "tái chinh phục" Reconquista diễn ra trong năm 1492, người Hồi giáo đã không còn sống ở Tây Ban Nha trong nhiều thế kỷ. Phần lớn họ là hậu duệ của những người nhập cư và con cháu của những công dân Tây Ban Nha có nguồn gốc từ các nước Bắc Phi và các quốc gia khác. Hơn 514.000 người (30%) của tổng số người Hồi giáo có quốc tịch Tây Ban Nha. Những làn sóng nhập cư gần đây cũng đã dẫn đến một số lượng ngày càng tăng người Ấn giáo, Phật giáo, Đạo Sikh, Bahá'ís và Hồi giáo. Hiệp hội dữ liệu lưu trữ các Tôn Giáo ước tính có khoảng 13.300 người tôn giáo Bahá'ís trong năm 2005 ở Tây Ban Nha. Đến năm 2007, các cộng đồng Bahá'ís đã thành lập tại tất cả các đảo thuộc Quần đảo Canaria và đang lan rộng trong khoảng năm mươi thành phố ở Tây Ban Nha. Tây Ban Nha đã công nhận chính thức Ấn Độ giáo vào năm 2006, hiện tại Tây Ban Nha có khoảng 25.000 người theo đạo Ấn và đa phần họ là người nhập cư từ Ấn Độ. Ngoài ra một số người Tây Ban Nha cũng đã chuyển đổi sang Ấn Độ giáo. Do Thái giáo thực tế không tồn tại ở Tây Ban Nha từ năm 1492 do bị trục xuất cho đến thế kỷ 19, khi người Do Thái một lần nữa được phép nhập cảnh vào Tây Ban Nha. Hiện nay có khoảng 62.000 người Do Thái ở Tây Ban Nha, tương đương 0,14% tổng dân số. Đông nhất số này là người nhập cư đến trong thế kỷ vừa qua, trong khi một số ít là con cháu của người Do Thái sống trước đó ở Tây Ban Nha. Khoảng 80.000 người Do Thái được cho là đã sống ở Tây Ban Nha vào ngày trước khi Toà án dị giáo Tây Ban Nha trục xuất họ. == Kinh tế == Tây Ban Nha là một quốc gia có nền kinh tế phát triển cao. Hiện nay, nền kinh tế nước này lớn thứ 14 trên thế giới và thứ 6 tại châu Âu, sau Đức, Anh, Pháp, Ý và Nga. Năm 2016, GDP của Tây Ban Nha đạt khoảng 1.252.160 tỉ USD, thu nhập bình quân đầu người là 38,096 USD (đứng thứ 34 trên thế giới). Vào thập niên 1960, những chính sách cải cách kinh tế dưới sự cai trị của nhà độc tài Francisco Franco đã gỡ bỏ bớt sự tập trung về mặt kinh tế và thực hiện nhiều dự án phát triển hạ tầng lớn, khiến cho nền kinh tế Tây Ban Nha bùng nổ nhanh chóng và được gọi là Phép màu Tây Ban Nha. Tuy nhiên sau khi Franco qua đời và chính quyền quân chủ lập hiến lên nắm quyền điều hành đất nước, chính phủ đã kiểm soát chặt chẽ hoạt động của nền kinh tế, trong đó có việc kiểm soát giá cả những mặt hàng thiết yếu như thực phẩm. Những biến động của thị trường thế giới, đặc biệt là cuộc Khủng hoảng Dầu mỏ 1973 đã gây ra sự khủng hoảng trong sản xuất công nghiệp của Tây Ban Nha. Từ cuối thập niên 1980, Tây Ban Nha buộc phải tiến hành hiện đại hóa nền kinh tế đất nước để hội nhập với các nước châu Âu khác. Với việc gia nhập Cộng đồng châu Âu (sau là Liên minh châu Âu - EU) vào năm 1986, Tây Ban Nha đã tiến hành mở cửa và xây dựng nền kinh tế thị trường. Hệ thống cơ sở hạ tầng được hoàn chỉnh hiện đại, tốc độ tăng trưởng kinh tế tăng lên, tỉ lệ thất nghiệp giảm từ 23% xuống còn 10% và tỷ lệ lạm phát giảm xuống dưới 3%. Vào năm 1992, mức sản xuất của Tây Ban Nha khôi phục lại bằng thời điểm cuối thập niên 1980. Sự mất giá của đồng peseta đã làm tăng tính cạnh tranh cho hàng hóa xuất khẩu của nước này. Tây Ban Nha là một trong những quốc gia tiên phong trong việc sử dụng thay thế đồng tiền chung châu Âu euro vào ngày 1 tháng 1 năm 2002. Năm 2006, kinh tế Tây Ban Nha tăng trưởng với tốc độ 3,9%, cao hơn so với mức trung bình của Liên minh châu Âu là 3,2%. Những vấn đề chính của nền kinh tế Tây Ban Nha là thâm hụt thương mại gia tăng, hàng hóa xuất khẩu bị cạnh tranh ngày càng mạnh mẽ, lạm phát cao hơn so với các nước châu Âu khác và giá nhà đất tăng nhanh. Tuy nhiên nền kinh tế Tây Ban Nha được dự đoán sẽ vẫn tiếp tục tăng trưởng khả quan trong thời gian tới do sự phát triển mạnh của nền công nghiệp nước này và ngoại thương giữa Tây Ban Nha với các nước châu Á và Mỹ Latinh được đẩy mạnh. Bên cạnh đó, du lịch cũng là một ngành thế mạnh của Tây Ban Nha khi nước này có rất nhiều các công trình văn hóa lịch sử cũng như nhiều quang cảnh thiên nhiên đẹp. Hiện nay Tây Ban Nha là địa điểm du lịch hấp dẫn thứ hai trên thế giới, sau Pháp. Trong năm 2006, Tây Ban Nha đón tiếp gần 60 triệu khách du lịch, nhiều hơn dân số của cả nước này. Các đối tác thương mại chính của Tây Ban Nha là Pháp, Đức, Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland, Italia. Về cơ cấu kinh tế, nông nghiệp chiếm 5,3%, công nghiệp chiếm 30,1% và dịch vụ chiếm 64,6% tổng giá trị kinh tế (năm 2006). == Văn hóa == Tây Ban Nha là một quốc gia rộng lớn ở miền tây nam châu Âu, gồm rất nhiều vùng đất khác nhau và chịu ảnh hưởng của nhiều nền văn hóa khác nhau. Trong lịch sử, nền văn hóa của Tây Ban Nha đã trải qua các thời kỳ như Celtiberian, La Mã, Visigothic, Hồi giáo, Công giáo. Tây Ban Nha là một trong những quốc gia có nền văn hóa đặc sắc nhất trên thế giới. Do từng có hệ thống thuộc địa rộng lớn vào thế kỉ 16 nên những ảnh hưởng văn hóa của Tây Ban Nha đã trải rộng trên khắp thế giới, từ vùng Địa Trung Hải cho đến tất cả thuộc địa cũ của nước này (bao gồm miền nam nước Mỹ, México, Trung Mỹ, các nước Nam Mỹ trừ Brasil và một số nước khác, vùng biển Caribbean, Philippines). Ngày nay Tây Ban Nha nổi tiếng với lễ hội đấu bò tót hay như là đất nước sản sinh ra vũ điệu flamenco và cây đàn ghita làm nức lòng hàng triệu trái tim trên thế giới. Với 42 di sản thế giới được công nhận bởi UNESCO, Tây Ban Nha là quốc gia có số lượng di sản thế giới lớn thứ hai chỉ sau Ý. === Văn học === Văn học Tây Ban Nha là một trong những nền văn học có ảnh hưởng lớn trên thế giới. Nhắc đến văn học Tây Ban Nha, người ta không thể không nhắc tới tác phẩm văn học kinh điển và được yêu thích nhất của đất nước này: tác phẩm Đôn Kihôtê của nhà văn Miguel de Cervantes Saavedra (1547-1616). Đôn Kihôtê là một trong những tiểu thuyết sớm nhất ở châu Âu thuộc thể loại chấm biếm, trào phúng. Tác phẩm nói về nhân vật chính Đôn Kihôtê bị hoang tưởng bởi những câu chuyện kiếm hiệp và những chuyến phiêu lưu kỳ cục, lố bịch của ông ta. Đây là một trong những tác phẩm văn học kinh điển được không chỉ người Tây Ban Nha mà cả thế giới yêu thích. Tây Ban Nha đã từng có 5 nhà văn đoạt giải thưởng Nobel về văn học. Đó là José Echegaray (năm 1904), Jacinto Benavente (năm 1922), Juan Ramón Jiménez (năm 1956), Vicente Aleixandre (năm 1977) và Camilo José Cela (năm 1989). === Tiếng Tây Ban Nha === Tiếng Tây Ban Nha là một ngôn ngữ thuộc nhóm ngôn ngữ Rôman. Do từng có một hệ thống thuộc địa rộng lớn trong lịch sử nên tiếng Tây Ban Nha đã trở thành ngôn ngữ chính thức của rất nhiều quốc gia trên thế giới, chủ yếu là các nước Trung Mỹ, Nam Mỹ (trừ Brasil và một số nước khác) và một số bang ở miền nam nước Mỹ. Theo ước tính, tiếng Tây Ban Nha là ngôn ngữ mẹ đẻ của khoảng 352 triệu người và dự đoán số người nói tiếng Tây Ban Nha sẽ còn tăng mạnh nữa, chủ yếu do tỉ suất sinh cao ở các nước Mỹ Latinh. Bên cạnh đó, văn học và âm nhạc tiếng Tây Ban Nha cũng là một nhân tố khiến cho thứ tiếng này ngày càng chiếm vai trò quan trọng trên toàn cầu. Có một điều thú vị là tuy Tây Ban Nha là nơi bắt nguồn nhưng nước có số người nói tiếng Tây Ban Nha nhiều nhất lại là México. === Âm nhạc === Đối với rất nhiều người, vũ điệu flamenco gần như đi liền với những nét văn hóa đặc sắc về âm nhạc của Tây Ban Nha. Chiếc đàn ghita hiện đại ngày nay được sử dụng phổ biến trên toàn thế giới là một nhạc cụ có xuất xứ cũng từ đất nước này. Ngoài ra, Tây Ban Nha còn có một kho tàng âm nhạc dân gian đặc sắc với những bài hát dân ca của nhiều vùng miền khác nhau. Tuy nhiên ngày nay các hình thức nhạc trẻ như pop, rock và hip hop đang trở nên phổ biến. === Hội họa === Hội họa Tây Ban Nha là một thành phần không thể thiếu của hội họa châu Âu và có tầm ảnh hưởng rất lớn. Do sự đa dạng về lịch sử, địa lý, văn hóa, hội họa Tây Ban Nha cũng chịu ảnh hưởng của rất nhiều những nền hội họa khác nhau như Pháp, Ý. Đất nước này là quê hương của rất nhiều họa sĩ nổi tiếng toàn thế giới trong hai trường phái Baroque và hiện đại. Trong trường phái hội họa Baroque, Tây Ban Nha có hai họa sĩ rất nổi tiếng là Diego Velázquez (1599-1660) và Francisco Goya (1746-1828). Diego Velázquez là họa sĩ hàng đầu dưới triều vua Philip IV. Ông là một họa sĩ theo chủ nghĩa cá nhân, ngoài những tác phẩm vẽ những bối cảnh lịch sử và văn hóa, ông còn vẽ về các gia đình hoàng tộc của Tây Ban Nha và những người bình dân. Còn Francisco Goya là một họa sĩ chuyên vẽ những tranh chân dung về các vị vua của Tây Ban Nha và gia đình hoàng tộc của các vua Charles IV của Tây Ban Nha và vua Ferdinand VII. Ông còn vẽ tranh về các dịp lễ hội, phác thảo tranh châm biếm, những cảnh chiến tranh và các trận đánh. Ông cũng từng tham gia cách mạng Tây Ban Nha. Trong thế kỉ 20, một trong những họa sĩ nổi tiếng nhất toàn thế giới của Tây Ban Nha là danh họa Pablo Picasso (1881-1973). Cùng với Georges Braque, ông được coi là người đồng sáng lập của trường phái hội họa lập thể. Cũng không thể không nhắc tới Salvador Dalí (1904-1989), một họa sĩ lớn khác của Tây Ban Nha theo chủ nghĩa siêu thực. Ông còn là một nhà điêu khắc, nhiếp ảnh và sản xuất phim và từng đoạt giải Oscar với bộ phim hoạt hình Destiny. Năm 1982, ông được vua Tây Ban Nha Juan Carlos phong chức hầu tước và được trao tặng huân chương Isabella. === Kiến trúc === Kiến trúc Tây Ban Nha, cũng như các mặt khác của nền văn hóa này cũng trải qua nhiều giai đoạn và chịu ảnh hưởng của nhiều phong cách kiến trúc khác nhau, đồng thời cũng có ảnh hưởng lớn đến kiến trúc của một số quốc gia khác. Dưới Đế chế Hồi giáo, mà cụ thể là vương triều Umayyad, thành phố Cordoba được thành lập và trở thành một thủ đô văn hóa của người Hồi giáo. Phong cách kiến trúc Hồi giáo được du nhập vào Tây Ban Nha và để lại rất nhiều công trình kiến trúc nổi tiếng, tiêu biểu là cung điện Alhambra. Đồng thời, những vương quốc Công giáo ở Tây Ban Nha cũng hình thành phong cách nghệ thuật của riêng họ, ban đầu khá cách biệt với những phong cách kiến trúc châu Âu nhưng về sau đã hòa nhập vào các dòng kiến trúc La Mã và Gothic và đạt đến đỉnh cao nghệ thuật. Phong cách kiến trúc Mudéjar từ thế kỉ 12 đến thế kỉ 17 là kết quả của sự hòa trộn giữa các ảnh hưởng văn hóa của châu Âu và Ả Rập. Vào đầu thế kỉ 20, phong cách kiến trúc tân thời đã được hình thành bởi một số kiến trúc sư tài danh như Antoni Gaudí. Những phong cách kiến trúc hiện đại của quốc tế ngày càng phát triển. Tây Ban Nha đã có một cuộc cách mạng trong lĩnh vực kiến trúc, được xây dựng nên bởi hàng loạt những kiến trúc sư nổi tiếng như Rafael Moneo, Santiago Calatrava, Ricardo Bofill và rất nhiều người khác đã làm nên những công trình kiến trúc của thế giới hiện đại ngày nay. === Thể thao === Đấu bò tót (được khởi nguồn từ thế kỉ 17) là một thể thao truyền thống của người Tây Ban Nha và nổi tiếng toàn thế giới bởi tính hấp dẫn và mạo hiểm của nó. Ngày nay, môn thể thao phổ biến nhất ở Tây Ban Nha là bóng đá. La Liga của Tây Ban Nha được coi là một trong những giải đấu bóng đá chất lượng nhất trên thế giới với sự tham gia của nhiều câu lạc bộ bóng đá nổi tiếng như Real Madrid, FC Barcelona hay Valencia CF. Đội tuyển bóng đá quốc gia Tây Ban Nha đã từng 12 lần lọt vào vòng chung kết và luôn vượt qua vòng loại World Cup từ năm 1978. Họ đã trở thành quán quân của mùa World Cup thứ 19 vào năm 2010. Đó là lần đầu tiên đội tuyển Tây Ban Nha giành chức vô địch tại World Cup. Tại Giải vô địch bóng đá châu Âu, Tây Ban Nha vô địch năm 1964, đoạt ngôi á quân năm 1984, giành chức vô địch Euro 2008 tại Áo và Thụy Sĩ, vô dịch Euro 2012 tại Ba Lan và Ukraine. Tây Ban Nha là một trong hai đội thành công nhất đấu trường Euro với 3 lần vô địch và là đội duy nhất bảo vệ được ngôi vô địch. Ngoài ra Tây Ban Nha cũng có rất nhiều các môn thể thao thế mạnh khác như golf, tennis, bơi lội, trượt tuyết, đua xe đạp... Từ khi tổ chức thành công Olympic 1992 tại thành phố Barcelona, Tây Ban Nha đã được coi là một trong những cường quốc thể thao của thế giới === Ẩm thực === Ẩm thực Tây Ban Nha rất đa dạng và phong phú. Do là một quốc gia với đường bờ biển dài nên Tây Ban Nha có rất nhiều các món hải sản. Sự đa dạng về văn hóa gốc Địa Trung Hải cũng được thể hiện rõ trên các món ăn của nước này với hàng ngàn cách chế biến và hương vị khác nhau. Thông thường, các món ăn của Tây Ban Nha được chế biến với khoai tây, cà chua, ớt xanh và hạt đậu. Một trong những hương liệu hay xuất hiện trong các món ăn của Tây Ban Nha là dầu ôliu, khi mà nước này sản xuất 44% sản lượng dầu ôliu trên thế giới. Một trong những phong tục ăn uống độc đáo của Tây Ban Nha là các món khai vị (tapas) luôn được phục vụ kèm với đồ uống. Món churro, một loại bánh bột dài chấm với chocolate cũng là một món ăn rất đặc sắc của Tây Ban Nha. == Hình ảnh về Tây Ban Nha == == Xem thêm == Chocolate Hồi giáo Nông nghiệp Châu Âu == Liên kết ngoài == La Moncloa.es – website chính thức của chính phủ administracion.es – cổng e-government Casa Real – Hoàng gia Tây Ban Nha Congreso de los Diputados – Hạ Nghị viện El Senado – Thượng Nghị viện Ministerio de Asuntos Exteriores – Bộ Ngoại giao INEBase cơ sở dữ liệu của Viện Thông tin Quốc tế SpainMaster.com Dự báo thời tiết == Chú thích == == Tham khảo ==
ukraina.txt
Ukraina (tiếng Ukraina: Україна, chuyển tự Latinh: Ukrayina) là một quốc gia thuộc khu vực Đông Âu. Ukraina giáp với Liên bang Nga về phía Đông, giáp với Belarus về phía Bắc, giáp với Ba Lan, Slovakia và Hungary về phía Tây, giáp với Rumani và Moldova về phía Tây Nam và giáp với biển Đen và biển Azov về phía Nam. Thành phố Kiev là thủ đô của Ukraina. Lịch sử của Ukraina cũng như lịch sử Nga bắt đầu từ khoảng thế kỉ 9 sau công nguyên khi vùng đất này trở thành trung tâm của nền văn minh Đông Slav với quốc gia Rus Kiev hùng mạnh tồn tại đến thế kỉ 12. Khi đế quốc Mông Cổ của Thành Cát Tư Hãn trỗi dậy và bành trướng, Rus Kiev bị Mông Cổ đánh tan và chịu cảnh nô lệ suốt nhiều thế kỷ. Sau khi Mông cổ suy yếu, lãnh thổ của Ukraina lại bị phân chia giữa nhiều thế lực khác nhau tại châu Âu, cụ thể là Ba Lan, Thổ Nhĩ Kỳ và Nga. Đến thế kỉ 19, khi Nga bành trướng và đánh bại hai địch thủ còn lại, hầu hết lãnh thổ của Ukraina đã nằm trong Đế quốc Nga. Năm 1922, Ukraina trở thành một nước đồng sáng lập Liên bang Xô viết và trở thành một nước cộng hòa theo thể chế xã hội chủ nghĩa nằm trong Liên Xô. Năm 1991, Liên Xô sụp đổ và Ukraina lại trở thành một quốc gia độc lập. Từ đó đến nay, Ukraina đã tiến hành mở cửa và xây dựng nền kinh tế thị trường. Tuy nhiên kinh tế Ukraina vẫn gặp nhiều thách thức to lớn và đây vẫn là một trong những quốc gia có thu nhập bình quân thấp nhất châu Âu. Ukraina là một quốc gia thống nhất gồm 24 tỉnh, một nước cộng hòa tự trị (Cộng hòa Tự trị Krym) và hai thành phố có địa vị pháp lý đặc biệt là Kiev và Sevastopol. Nước này theo thể chế cộng hòa bán tổng thống. == Lịch sử == === Buổi đầu lịch sử === Khu định cư của con người trong lãnh thổ Ukraina ít nhất có từ năm 4500 trước Công Nguyên, khi nền văn hoá Cucuteni thời kỳ Đồ đá mới phát triển tại một khu vực lớn bao phủ nhiều vùng của Ukraina hiện đại gồm Trypillia và toàn bộ vùng Dnieper-Dniester. Trong thời kỳ đồ sắt, vùng đất này được cư trú bởi người Cimmeria, Scythia, và Sarmatia. Từ năm 700 trước Công Nguyên tới 200 trước Công Nguyên nó là một phần của Vương quốc Scythian, hay Scythia. Sau này, các thuộc địa của Hy Lạp cổ đại, La Mã cổ đại, và Đế chế Đông La Mã, như Tyras, Olbia, và Hermonassa, đã được thành lập, bắt đầu ở thế kỷ thứ 6 trước Công Nguyên, trên bờ phía đông bắc Biển Đen, và trở nên thịnh vượng trong thế kỷ thứ 6th sau Công Nguyên. Người Goths sống trong vùng nhưng nằm dưới sự thống trị của người Hung từ những năm 370 sau Công Nguyên. Ở thế kỷ thứ 7, lãnh thổ đông Ukraina là trung tâm của Đại Bulgaria Cổ. Cuối thế kỷ đó, đa số các bộ tộc Bulgar di cư theo nhiều hướng và vùng đất lại rơi vào tay người Khazar. === Thời kỳ huy hoàng của Kiev, sự khai sinh ra nước Nga, Belarus và Ucraina === Trong thế kỷ thứ 9, đa phần Ukraina hiện nay là nơi sinh sống của người Rus', họ lập ra Nước Rus Kiev. Nước Rus Kiev bao gồm hầu như toàn bộ lãnh thổ Ukraina, Belarus hiện đại với một phần lớn lãnh thổ của nó nằm trong lãnh thổ nước Nga hiện nay. Trong thế kỷ thứ 10 và 11, nó trở thành nước lớn nhất và mạnh nhất ở châu Âu. Trong những thế kỷ tiếp sau, nó đặt nền móng cho tính đồng nhất quốc gia của người Ukraina và người Nga. Kiev, thủ đô của Ukraina hiện đại, đã trở thành thành phố quan trọng nhất của Nga. Theo Biên niên sử Đầu tiên, giới thượng lưu Nga ban đầu gồm những người Varangian từ Scandinavia. Người Varangian sau này bị đồng hoá vào xã hội cư dân Slavơ địa phương và trở thành một phần của triều đại Nga đầu tiên là nhà Rurik. Kievan Rus' gồm nhiều công quốc do các Hoàng tử nhà Rurik có quan hệ huyết thống với nhau cai trị. Khu vực Kiev, công quốc thịnh vượng và có ảnh hưởng nhất, trở thành mục tiêu tranh giành giữa các hoàng tử nhà Rurik và là đích tối thượng cho cuộc tranh giành quyền lực của họ. Thời kỳ huy hoàng của nước Rus Kiev bắt đầu với sự cai trị của Vladimir Vĩ đại (980–1015), ông đã đưa Rus' theo Thiên Chúa giáo Byzantine. Trong thời cầm quyền của con trai ông, Yaroslav Thông thái (1019–1054), nước Rus Kiev đạt tới cực điểm phát triển văn hoá và quyền lực quân sự. Tiếp sau đó là sự tan rã ngày càng nhanh của quốc gia khi các cường quốc trong vùng lại xuất hiện. Sau một cuộc nổi dậy cuối cùng dưới thời cai trị của Vladimir Monomakh (1113–1125) và con trai ông Mstislav (1125–1132), nước Rus Kiev cuối cùng tan rã thành nhiều công quốc sau cái chết của Mstislav. Trong thế kỷ 11 và 12, những cuộc xâm lược thường xuyên của các bộ tộc Turk du mục như Pechenegs và Kipchak, gây ra những cuộc di cư lớn của dân cư Slavơ tới những vùng an toàn và có nhiều rừng cây hơn ở phía bắc. Thế kỷ 13, cuộc xâm lược của Mông Cổ đã tàn phá nước Rus Kiev. Kiev bị phá huỷ hoàn toàn năm 1240. Trên lãnh thổ Ukraina, nhà nước Kievan Rus' được kế tục bởi các công quốc Galich (Halych) và Volodymyr-Volynskyi, chúng sáp nhập thành nhà nước Galicia-Volhynia. Trong thời gian này, một số lãnh đạo địa phương, đặc biệt là xứ Novgorod và xứ Pskov, đã chiến đấu để thừa kế di sản văn hoá và chính trị của nước Nga Kiev, theo thời gian các xử này dần phát triển và trở thành nước Nga ngày nay. Trong khi đó, các vùng miền tây bị Đại công quốc Litva và Ba Lan chiếm giữ. Sự chia cắt về chính trị của Rus Kiev đã tách người Nga ở phía bắc ra khỏi người Belarus và người Ukraine ở phía tây. Như vậy, 3 quốc gia Nga, Belarus và Ucraina đều chia sẻ chung một cội nguồn là xứ Rus Kiev của người Rus'. Cho tới nay, 3 quốc gia này tuy độc lập với nhau nhưng có rất nhiều điểm chung về ngôn ngữ, phong tục, tôn giáo... Năm 2015, Tổng thống Nga Vladimir Putin đã tuyên bố rằng "Người Nga và người Ukraine là một dân tộc" === Sự đô hộ của nước ngoài === Giữa thế kỷ 14, Galicia-Volhynia bị Casimir Đại đế của Ba Lan chinh phục, tuy vùng đất trung tâm của Nga, gồm cả Kiev, rơi vào tay Gediminas của Lãnh địa Đại công tước Litva sau Trận đánh trên Sông Irpen'. Sau năm 1386 Liên minh Krevo, một liên minh các triều đại giữa Ba Lan và Litva, hầu hết lãnh thổ Ukraina bị giới quý tộc Litva địa phương ngày càng Ruthenia hoá cai trị như một phần của Lãnh địa Đại công tước Litva. Ở thời điểm này, thuật ngữ Ruthenia và người Ruthenia như các phiên bản La tinh hoá của "Rus'", bắt đầu được áp dụng rộng rãi cho vùng đất và con người Ukraina. Tới năm 1569, Liên minh Lublin thành lập Khối thịnh vượng chung Ba Lan-Litva, và một phần lớn lãnh thổ Ukraina được chuyển từ quyền cai trị chủ yếu Litva sang cho bộ máy hành chính Ba Lan, như nó đã được chuyển giao cho Vua Ba Lan. Dưới áp lực văn hoá và chính trị của quá trình Ba Lan hoá đa phần thượng Ruthenia chuyển theo Cơ đốc giáo và trở nên không thể phân biệt với giới quý tộc Ba Lan. Vì thế, những người thường dân Ukraina, mất đi những người bảo hộ địa phương của mình trong giới quý tộc Ruthenia, quay sang tìm kiếm sự bảo hộ của người Cozak, họ luôn kiên quyết trung thành với chính thống giáo và có khuynh hướng quay sang dùng bạo lực chống lại những kẻ mà họ cho là kẻ thù, đặc biệt là nhà nước Ba Lan và những đại diện của nó. Giữa thế kỷ 17, một quân đội kiểu nhà nước của người Cozak, Đạo quân Zaporozhia được thành lập bởi những người Cozak sông Dnieper và các nông dân Ruthenia chạy trốn chế độ nông nô Ba Lan. Ba Lan ít có quyền kiểm soát thực tế với vùng đất này, quả thực họ thấy rằng người Cossack là một lực lượng chiến đấu hữu hiệu chống lại người Thổ và người Tatar, ở những thời điểm hai lực lượng liên kết trong các chiến dịch quân sự. Tuy nhiên, quá trình tiếp tục nông nô hoá các nông dân của giới quý tộc Ba Lan được tăng cường thêm bởi tham muốn mãnh liệt khai thác nguồn nhân lực, và quan trọng nhất, là sự đàn áp Nhà thờ Chính thống được thúc đẩy bởi tham muốn của người Cossack rời bỏ Ba Lan. Mong muốn của họ là có đại diện trong Sejm, công nhận các truyền thống Chính thống và sự mở rộng dần dần của Cossack Registry. Tất cả chúng đều bị giới quý tộc Ba Lan kịch liệt phản đối. Cuối cùng người Cozak quay sang tìm kiếm sự bảo hộ của Chính thống giáo Nga, một quyết định sau này sẽ dẫn tới sự sụp đổ của nhà nước Ba Lan-Litva, và sự bảo tồn Nhà thờ Chính thống và tại Ukraina. Năm 1648, Bohdan Khmelnytsky lãnh đạo những cuộc nổi dậy lớn nhất của người Cossack chống lại Khối thịnh vượng chung và vua Ba Lan John II Casimir. Bờ tả Ukraina cuối cùng sáp nhập vào Nga như Cossack Hetmanate, sau Hiệp ước Pereyaslav năm 1654 và cuộc Chiến tranh Nga Ba Lan sau đó. Sau cuộc phân chia Ba Lan ở cuối thế kỷ 18 bởi Phổ, nhà Habsburg của Áo, và Nga, Tây Ukraina Galicia bị Áo chiếm, trong khi phần còn lại của Ukraina dần bị sáp nhập vào Đế quốc Nga. Từ đầu thế kỷ 16 tới cuối thế kỷ 17 các nhóm cướp phá của người Tatar vùng Krym hầu như đột nhập hàng năm vào các vùng đất nông nghiệp Slavơ bắt người để bán làm nô lệ. Sau sự sáp nhập Khả hãn quốc Crimea năm 1783, vùng này là nơi định cư của những người du cư từ các vùng khác của Ukraina. Dù có những lời hứa trao cho Ukraina quyền tự trị trong Hiệp ước Pereyaslav, giới lãnh đạo Ukraina và người Cossack không bao giờ có tự do và tự trị mà họ chờ đợi từ Đế quốc Nga. Tuy nhiên, bên trong Đế chế, người Ukraina lên được những chức vụ cao nhất của nhà nước Nga, và Nhà thờ Chính thống Nga. Ở giai đoạn sau này, chính quyền Sa hoàng tiến hành chính sách Nga hoá các vùng đất Ukraina, cấm sử dụng ngôn ngữ Ukraina trong xuất bản và công cộng. === Cách mạng và Chiến tranh thế giới thứ nhất === Ukraina bước vào Chiến tranh thế giới thứ nhất bên cạnh cả phe Liên minh, với đế quốc Áo-Hung, và phe Hiệp ước, với Nga. 3.5 triệu người Ukraina chiến đấu trong Quân đội Đế quốc Nga, trong khi 250,000 người chiến đấu cho Quân đội Áo-Hung. Trong cuộc chiến, chính quyền Áo-Hung thành lập Quân đoàn Ukraina để chiến đấu chống lại Đế quốc Nga. Quân đoàn này là nền tảng của Quân đội Galician Ukraina chiến đấu chống lại cả những người Bolshevik và Ba Lan trong giai đoạn hậu Chiến tranh thế giới thứ nhất (1919–23). Những người bị nghi ngờ có các tình cảm thân Nga tại Áo bị đối xử tàn nhẫn. Lên tới 5,000 người ủng hộ Đế quốc Nga thuộc Galicia bị giam giữ và đưa vào các trại tập trung Áo tại Talerhof, Styria, và trong các khu rừng tại Terezín (hiện ở Cộng hoà Séc). Với sự sụp đổ của Đế quốc Nga và Áo-Hung sau chiến tranh và cuộc Cách mạng Nga năm 1917, một phong trào quốc gia Ukraina đòi quyền tự quyết tái xuất hiện. Trong giai đoạn 1917–20, nhiều nhà nước Ukraina riêng biệt xuất hiện trong một giai đoạn ngắn: Cộng hoà Nhân dân Ukraina, Hetmanate, Tổng cục Ukraina và Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Xô viết Ukraina (hay Xô viết Ukraina, được đảng Bolshevik giúp đỡ) liên tiếp được thành lập trong các lãnh thổ cũ của Đế quốc Nga; đồng thời Cộng hoà Nhân dân Tây Ukraina xuất hiện một thời gian ngắn trong lãnh thổ của Áo-Hung cũ. Trong bối cảnh cuộc Nội chiến, một phong trào vô chính phủ được gọi là Hắc quân lãnh đạo bởi Nestor Makhno cũng phát triển ở miền Nam Ukraina. Tuy nhiên với sự thất bại của Tây Ukraina trong Chiến tranh Ba Lan-Ukraina tiếp theo là sự thua trận của cuộc tấn công của Ba Lan bị những người Bolshevik đẩy lùi. Theo Hiệp ước Hoà bình Riga được ký kết giữa người Xô viết và Ba Lan, tây Ukraina chính thức bị sáp nhập vào Ba Lan đổi lại Ba Lan công nhận nước Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Xô viết Ukraina vào tháng 3 năm 1919, sau này trở thành một thành viên sáng lập Liên bang Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Xô viết hay Liên xô tháng 12 năm 1922. === Ukraina Xô viết giữa hai cuộc chiến === Sau cuộc cách mạng, chính phủ Xô viết phải đối đầu với sự tàn phá Ukraina. Hậu quả của chiến tranh là 1.5 triệu người chết và hàng trăm nghìn người mất nhà cửa. Xô viết Ukraina phải đối mặt với nạn đói năm 1921. Chứng kiến một xã hội đang kiệt quệ, chính phủ Xô viết trở nên rất mềm dẻo trong thập kỷ 1920. Vì thế, Văn hoá Ukraina và ngôn ngữ đã có sự phục hồi, bởi sự Ukraina hoá trở nên một phần địa phương của việc áp dụng chính sách Korenisation (nghĩa đen bản xứ hoá) trên khắp Liên xô. Người Bolshevik cũng cam kết thực hiện chăm sóc y tế phổ thông, cung cấp các lợi ích giáo dục và an sinh xã hội, cũng như quyền làm việc và có nhà ở. Các quyền của phụ nữ được tăng cường mạnh thông qua các bộ luật mới có mục đích loại bỏ những sự bất bình đẳng từ nhiều thế kỷ. Tuy nhiên, cách chính sách kinh tế của Lenin đã bị đảo ngược hồi đầu thập niên 1930 sau khi Iosif Stalin dần củng cố quyền lực để trên thực tế trở thành người lãnh đạo tuyệt đối của đảng cộng sản và Liên bang Xô viết. Bắt đầu từ cuối thập niên 1920, Ukraina tham gia vào cuộc công nghiệp hoá Liên xô và sản phẩm công nghiệp của nước cộng hoà đã tăng gấp bốn lần trong thập niên 1930. Tuy nhiên, cuộc công nghiệp hoá khiến tầng lớp nông dân phải trả giá đắt, về nhân khẩu họ là xương sống của quốc gia Ukraina. Để đáp ứng nhu cầu của quốc gia về nguồn lương thực ngày càng tăng, và để cung cấp tài chính cho cuộc công nghiệp hoá, Stalin tiến hành một chương trình tập thể hoá nông nghiệp khi nhà nước công hữu hóa ruộng đất và gia súc của nông dân vào trong các trang trại tập thể và ép buộc thực hiện các chính sách bằng quân đội thường trực và cảnh sát. Những người chống đối bị bắt giữ và trục xuất và hạn ngạch sản xuất gia tăng lại được đặt lên vai người nông dân. Stalin tin rằng các nông trường quốc doanh rộng lớn trang bị máy nông nghiệp cơ khí hóa sẽ làm tăng năng suất, nhưng sự tập thể hoá vội vã quá mức thực tế lại gây tác động xấu với sản xuất nông nghiệp. Bởi các thành viên của các nông trang tập thể không được phép nhận bất kỳ hoa lợi nào cho tới khi đạt mức hạn ngạch nộp thuế, sự thiếu ăn đã xảy ra. Trong năm 1932–33, khi hạn hán xảy ra, cả triệu người đã chết trong một nạn đói được gọi là Holodomor. Các học giả đang tranh cãi liệu nạn đói này có thích hợp với định nghĩa diệt chủng, nhưng nghị viện Ukraina và hơn 10 quốc gia khác công nhận nó là như vậy. Những thời gian công nghiệp hoá và Holodomor cũng trùng với cuộc tấn công của Liên xô vào giới lãnh đạo chính trị và văn hoá quốc gia thường bị buộc tội "chệch hướng quốc gia". Hai làn sóng thanh trừng chính trị và truy tố của Stalin tại Liên bang Xô viết (1929–34 và 1936–38) đã bắt giữ gần bốn phần năm giới lãnh đạo Ukraina và ba phần tư toàn bộ sĩ quan cao cấp của quân đội. === Chiến tranh thế giới thứ hai === Sau cuộc Xâm lược Ba Lan vào tháng 9 năm 1939, quân đội Đức và Liên xô phân chia lãnh thổ Ba Lan. Vì thế, Đông Galicia và Volhynia với dân số Ukraina ở đó được tái thống nhất với phần còn lại của Ukraina. Sự thống nhất Ukraina lần đầu tiên trong lịch sử được hoàn thành và là sự kiện mang tính quyết định trong lịch sử đất nước. Sau khi Pháp đầu hàng Đức, România nhượng Bessarabia và bắc Bukovina theo các yêu cầu của Liên xô. Cộng hoà Xã hội chủ nghĩa Ukraina sáp nhập các quận phía bắc và phía nam của Bessarabia, bắc Bukovina, và vùng chiếm đóng Hertsa của Liên xô. Nhưng nó nhượng lại phần phía tây Cộng hoà Xã hội chủ nghĩa Tự trị Moldavia cho nước Cộng hoà Xã hội chủ nghĩa Xô viết Moldavia mới được thành lập. Toàn bộ những lãnh thổ giành được đó đều được quốc tế công nhận theo Các Hiệp ước Hoà bình Paris năm 1947. Quân đội Đức xâm lược Liên xô ngày 22 tháng 6 năm 1941, khởi động một cuộc chiến tranh tổng lực kéo dài trong bốn năm liền. Liên minh phe Trục ban đầu tiến nhanh trước những nỗ lực tuyệt vọng nhưng không hiệu quả của Hồng quân. Trận bao vây Kiev, thành phố được ca ngợi như một "Thành phố anh hùng", diễn ra bởi lo ngại sự kháng cự của Hồng Quân và dân chúng địa phương Hơn 600,000 binh sĩ Xô viết (hay một phần tư của Mặt trận phía Tây) bị giết hay bị bắt giữ tại đó. Dù đại đa số người Ukraina chiến đấu bên cạnh Hồng quân và cuộc kháng chiến Xô viết, một số thành phần quốc gia Ukraina bí mật lập ra một phong trào quốc gia chống Liên xô tại Galicia, Quân đội Nổi dậy Ukraina (1942) chiến đấu cùng các lực lượng Phát xít và tiếp tục chiến đấu với Liên bang Xô viết trong những năm hậu chiến. Sử dụng các chiến thuật chiến tranh du kích, những người nổi dậy thực hiện ám sát và khủng bố những người họ cho là đại diện, hay hợp tác ở bất kỳ mức độ nào với nhà nước Xô viết. Cùng lúc ấy một phong trào quốc gia khác chiến đấu bên cạnh quân Phát xít. Tổng cộng, số người Ukraina chiến đấu trong mọi cấp bậc Quân đội Liên xô được ước tính từ 4.5 triệu tới 7 triệu. Cuộc kháng chiến du kích của quân kháng chiến ủng hộ Liên xô tại Ukraina ước tính ở con số 47,800 người từ đầu cuộc xâm lược lên tới đỉnh điểm 500,000 người năm 1944; với khoảng 50 phần trăm trong số họ là người Ukraina. Nói chung, các con số lính của Quân đội Nổi dậy Ukraina rất không đáng tin cậy, thay đổi trong khoảng từ 15,000 tới 100,000 chiến binh. Ban đầu, người Đức được đón nhận như những người giải phóng bởi một số người gốc Ba Lan ở tây Ukraina, họ chỉ mới gia nhập Liên xô năm 1939. Tuy nhiên, sự cai trị hà khắc của người Đức tại các vùng lãnh thổ chiếm đóng cuối cùng đã khiến những người ủng hộ họ quay sang chống đối sự chiếm đóng. Các viên chức Phát xít tại các vùng lãnh thổ Liên xô đã bị chiếm đóng ít có nỗ lực để khai thác sự bất mãn của dân chúng trong lãnh thổ Ukraina với các chính sách kinh tế và chính trị của Stalin. Thay vào đó, Phát xít duy trì hệ thống trang trại tập thể, tiến hành một cách có hệ thống các chính sách diệt chủng chống lại người Do Thái, bắt những người khác tới làm việc tại Đức, và bắt đầu một cuộc di dân có hệ thống tại Ukraina để chuẩn bị cho việc thực dân hoá của Đức, gồm cả phong toả lương thực với Kiev. Đại đa số trận đánh trong Chiến tranh thế giới thứ hai diễn ra tại Mặt trận phía Đông, và theo nguồn thống kê mang tính thổi phồng của Liên Xô thì Phát xít Đức chịu 93 phần trăm thương vong tại đây (dù tỷ lệ thực tế cũng khá cao là khoảng 75%). Tổng cộng thiệt hại với dân số Ukraina trong cuộc chiến được ước tính trong khoảng năm tới tám triệu người, gồm hơn một nửa triệu người Do thái bị Einsatzgruppen giết hại, thỉnh thoảng với sự giúp đỡ của những kẻ cộng tác người địa phương. Trong ước tính 8.7 triệu lính Xô viết hi sinh trong chiến đấu chống Phát xít, 1.4 triệu là người Ukraina. Vì thế tới ngày nay, Ngày Chiến thắng được coi là một trong mười ngày lễ quốc gia của Ukraina. === Hậu Chiến tranh thế giới thứ hai === Nước cộng hoà bị thiệt hại nặng trong chiến tranh, và cần những nỗ lực to lớn để khôi phục. Hơn 700 thành phố và thị trấn và 28,000 ngôi làng bị phá huỷ. Tình hình càng nghiêm trọng hơn bởi một nạn đói năm 1946–47 do hạn hán và hư hỏng cơ sở hạ tầng khiến hàng chục nghìn người chết. Năm 1945 Ukraina là một trong những thành viên sáng lập tổ chức Liên hiệp quốc. Máy tính đầu tiên của Liên xô MESM được chế tạo tại Viện kỹ thuật điện Kiev và đi vào hoạt động năm 1950. Theo các con số thống kê, tới ngày 1 tháng 1 năm 1953, người Ukraina đứng thứ hai chỉ sau người Nga trong số người lớn "bị trục xuất đặc biệt", chiếm 20% tổng số. Ngoài người Ukraina, hơn 450,000 người thuộc sắc tộc Đức từ Ukraina và hơn 200,000 người Tatar Crimea là những nạn nhân của những cuộc di cư bắt buộc. Sau cái chết của Stalin năm 1953, Nikita Khrushchev trở thành lãnh đạo mới của Liên bang Xô viết. Là Thư ký thứ nhất của Đảng Cộng sản Cộng hoà Xã hội chủ nghĩa Ukraina trong giai đoạn 1938-49, Khrushchev rất gần gũi với nước cộng hoà sau khi nắm quyền trên toàn liên bang, ông bắt đầu nhấn mạnh tình hữu nghị giữa quốc gia Ukraina và Nga. Năm 1954, kỷ niệm lần thứ 300 Hiệp ước Pereyaslav được tổ chức khắp nơi, và đặc biệt, Krym được chuyển từ Liên bang Cộng hoà Xã hội chủ nghĩa Xô viết Nga cho Cộng hoà Xã hội chủ nghĩa Xô viết Ukraina. Tới năm 1950, nước cộng hoà đã vượt qua mức sản xuất công nghiệp thời tiền chiến. Trong kế hoạch năm năm 1946-1950 gần 20 phần trăm ngân sách Liên xô được đầu tư vào Ukraina Xô viết, tăng 5% so với các kế hoạch tiền chiến. Nhờ thế lực lượng lao động Ukraina tăng 33.2% từ 1940 tới 1955 trong khi sản lượng công nghiệp tăng 2.2 lần trong cùng thời kỳ. Xô viết Ukraina nhanh chóng trở thành một nước dẫn đầu châu Âu về sản xuất công nghiệp. Nó cũng trở thành một trung tâm quan trọng của ngành công nghiệp vũ khí và nghiên cứu kỹ thuật cao của Liên xô. Vai trò quan trọng đó dẫn tới một ảnh hưởng to lớn tới giới tinh hoa địa phương. Nhiều thành viên ban lãnh đạo Liên xô tới từ Ukraina, đáng chú ý nhất là Leonid Brezhnev, người sau này đã lật đổ Khrushchev và trở thành lãnh đạo Liên xô từ năm 1964 tới năm 1982, cũng như nhiều vận động viên thể thao, nhà khoa học, nghệ sĩ ưu tú khác của Liên xô. Ngày 26 tháng 4 năm 1986, một lò phản ứng của Nhà máy điện hạt nhân Chernobyl nổ, dẫn tới thảm hoạ Chernobyl, tai nạn lò phản ứng hạt nhân nghiêm trọng nhất trong lịch sử. Ở thời điểm vụ tai nạn bảy triệu người đang sống tại các vùng lãnh thổ bị ô nhiễm, gồm 2.2 triệu người tại Ukraina. Sau vụ tai nạn, một thành phố mới, Slavutych, được xây dựng bên ngoài khu vực cấm làm nơi ở và hỗ trợ cho các nhân viên của nhà máy chất dứt công việc năm 2000. Một báo cáo do Cơ quan Năng lượng Nguyên tử Quốc tế và Tổ chức Y tế Thế giới cho rằng 56 thiệt mạng trực tiếp do vụ tai nạn và ước tính có thể có tới 4,000 ca chết vì ung thư khác. === Độc lập === Ngày 16 tháng 7 năm 1990, một nghị viện mới thông qua Tuyên bố Nhà nước Ukraina có Chủ quyền. Tuyên bố lập ra các nguyên tắc tự quyết của nhà nước Ukraina, nền dân chủ, sự độc lập chính trị và kinh tế và sự ưu tiên của luật pháp Ukraina trong lãnh thổ Ukraina so với luật pháp Liên Xô. Một tháng trước đó, một tuyên bố tương tự đã được nghị viện Cộng hoà Xã hội chủ nghĩa Xô viết Liên bang Nga thông qua. Các sự kiện trên khởi đầu một giai đoạn ngắn có sự bất đồng giữa chính quyền trung ương Liên Xô và các chính quyền Cộng hoà mới. Tháng 8 năm 1991, Ủy ban Khẩn cấp Nhà nước chỉ huy một số sư đoàn Hồng quân, KBG cùng chính phủ Xô viết các nước Belarus và Azerbaijan tiến hành nổi dậy/đảo chính để loại bỏ Mikhail Gorbachev và tái lập quyền lực của Đảng Cộng sản Liên Xô. Sau khi cuộc đảo chính thất bại, ngày 24 tháng 8 năm 1991 nghị viện Ukraina thông qua Luật Độc lập trong đó nghị viện tuyên bố Ukraina là một nhà nước dân chủ độc lập. Một cuộc trưng cầu dân ý và bầu cử tổng thống đầu tiên diễn ra ngày 1 tháng 12 năm 1991. Ngày hôm đó, hơn 90% người dân Ukraina thể hiện sự ủng hộ Luật Độc lập, và họ bầu chủ tịch nghị viện, Leonid Kravchuk trở thành Tổng thống đầu tiên của đất nước. Tại cuộc gặp gỡ ở Brest, Belarus ngày 8 tháng 12, tiếp sau là cuộc gặp tại Alma Ata ngày 21 các lãnh đạo Belarus, Nga, và Ukraina chính thức giải tán Liên bang Xô viết và lập ra Cộng đồng các quốc gia độc lập (CIS). Ban đầu Ukraina được coi là một nước cộng hoà có nhiều điều kiện thuận lợi về kinh tế so với các vùng khác của Liên Xô. Tuy nhiên, nước này rơi vào tình trạng giảm phát kinh tế sâu hơn một số nước cộng hoà thuộc Liên Xô cũ khác. Trong thời kỳ giảm phát, Ukraina mất 60% GDP từ 1991 tới 1999, và có tỷ lệ lạm phát ở mức năm con số. Bất mãn với các điều kiện kinh tế, cũng như tình trạng tội phạm và tham nhũng, người dân Ukraina tiến hành các cuộc biểu tình và bãi công có tổ chức. Nền kinh tế Ukraina ổn định vào cuối thập niên 1990. Một đồng tiền tệ mới, hryvnia, được đưa vào lưu thông năm 1996. Từ năm 2000, nước này đã có tăng trưởng kinh tế thực bền vững khoảng 7% hàng năm. Một Hiến pháp Ukraina mới được thông qua năm1996, biến Ukraina thành một nhà nước cộng hoà bán tổng thống và thiết lập một hệ thống chính trị ổn định. Tuy nhiên, Kuchma bị phe đối lập chỉ trích vì tập trung quá nhiều quyền lực vào tay mình, tình trạng tham nhũng, chuyển tài sản vào tay giới đầu sỏ trung thành, không khuyến khích tự do ngôn luận và gian lận bầu cử. === Cách mạng Cam === Năm 2004, Viktor Yanukovych, khi ấy là Thủ tướng, được tuyên bố là người chiến thắng trong cuộc bầu cử tổng thống, đã bị gian lận ở diện rộng, như Toà án Tối cao Ukraina tuyên bố sau này. Các kết quả dẫn tới một sự phản đối của công chúng ủng hộ ứng cử viên đối lập, Viktor Yushchenko, người không thừa nhận kết quả của cuộc bầu cử và lãnh đạo cuộc Cách mạng Cam hoà bình. Cuộc cách mạng đưa Viktor Yushchenko và Yulia Tymoshenko lên nắm quyền lực, biến Viktor Yanukovych thành phe đối lập. Tuy nhiên Yanukovych lại trở thành Thủ tướng năm 2006 cho tới cuộc bầu cử đột xuất vào tháng 9 năm 2007 đưa Tymoshenko lên làm Thủ tướng trở lại. Các cuộc xung đột với Nga về giá khí tự nhiên (ngắn) đã ngừng toàn bộ nguồn cung cấp khí tự nhiên cho Ukraina năm 2006 và 2009, dẫn tới những thiếu hụt khí đốt tại nhiều nước châu Âu khác (cả hai lần). Vào cuộc bầu cử tổng thống 2010, Viktor Yanukovych đã đánh bại Tymoshenko trong vòng nhì với tỷ lệ 48%-45%. == Chính phủ và Chính trị == Ukraina là một nước cộng hoà bán tổng thống với các nhánh lập pháp, hành pháp, và tư pháp riêng biệt. Tổng thống được bầu bởi các cử tri phổ thông với nhiệm kỳ năm năm là lãnh đạo chính thức của nhà nước. Nhánh lập pháp Ukraina gồm nghị viện lưỡng viện 450 ghế, Verkhovna Rada. Nghị viện chịu trách nhiệm chính về việc thành lập nhánh hành pháp và Nội các, do Thủ tướng lãnh đạo. Luật, đạo luật của nghị viện và nội các, nghị định tổng thống, và đạo luật của nghị viện Crimea có thể bị Toà án Hiến pháp huỷ bỏ, nếu chúng vi phạm vào Hiến pháp Ukraina. Các đạo luật có tính quy phạm khác và là đối tượng xem xét lại của nhánh tư pháp. Toà án Tối cao là cơ quan chính trong hệ thống toà án của tư pháp chung. Việc tự quản lý của địa phương được chính thức đảm bảo. Các hội đồng địa phương và các thị trưởng thành phố được dân chúng bầu ra và thực hiện quyền kiểm soát với ngân sách địa phương. Các lãnh đạo vùng và các cơ quan hành chính quận được tổng thống chỉ định. Ukraina có rất nhiều đảng chính trị, nhiều đảng trong số đó có ít thành viên và không được công chúng biết tới. Các đảng nhỏ thường tham gia vào các liên minh đa đảng (khối bầu cử) cho mục tiêu tham gia vào bầu cử nghị viện. === Quân đội === Sau sự sụp đổ của Liên bang Xô viết, Ukraina được thừa hưởng một lực lượng quân sự 780,000 lính trên lãnh thổ của mình, được trang bị kho vũ khí hạt nhân lớn thứ ba thế giới. Tháng 5 năm 1992, Ukraina ký Hiệp ước Cắt giảm Vũ khí Chiến lược (START) theo đó nước này đồng ý trao mọi vũ khí hạt nhân cho Nga và gia nhập Hiệp ước Không Phổ biến Vũ khí Hạt nhân như một quốc gia phi hạt nhân. Ukraina phê chuẩn hiệp ước năm 1994, và tới năm 1996 nước này không còn sở hữu vũ khí hạt nhân. Quân đội Ukraina hiện tại lớn thứ hai ở châu Âu, sau Nga. Ukraina đã thực hiện các bước kiên quyết nhằm cắt giảm các vũ khí quy ước. Họ đã ký Hiệp ước về Các lực lượng Vũ trang Quy ước tại châu Âu, kêu gọi giảm bớt số lượng xe tăng, pháo và các phương tiện thiết giáp (các lực lượng quân đội được giảm xuống 300,000 người). Nước này có kế hoạch chuyển chế độ nghĩa vụ quân sự sang một chế độ quân sự tự nguyện không chậm hơn năm 2011. Ukraina đã đóng một vai trò ngày càng quan trọng hơn trong các chiến dịch gìn giữ hoà bình. Quân Ukraina đã được triển khai tại Kosovo như một phần của Tiểu đoàn Ukraina-Ba Lan. Một đơn vị Ukraina đã được triển khai tại Liban, như một phần của Lực lượng Lâm thời Liên hiệp quốc đảm bảo việc thực hiện thoả thuận ngừng bắn. Cũng có một tiểu đoàn bảo dưỡng và huấn luyện được triển khai tại Sierra Leone. Năm 2003–05, một đơn vị Ukraina được triển khai tại Iraq, như một phần của Lực lượng Đa quốc gia tại Iraq dưới quyền chỉ huy của Ba Lan. Tổng cộng số quân Ukraina được triển khai trên khắp thế giới là 562 người. Sau khi độc lập, Ukraina tự tuyên bố mình là một nhà nước trung lập. Nước này đã có sự đối tác quân sự hạn chế với Nga, các quốc gia thành viên Hội đồng các quốc gia độc lập khắc và một đối tác của NATO từ năm 1994. Trong những năm 2000, chính phủ nước này nghiêng về phía NATO, và một sự hợp tác sâu hơn với liên minh đã được thiết lập theo Kế hoạch Hành động NATO-Ukraina được ký kết năm 2002. Sau đó nước này đã đồng ý rằng vấn đề gia nhập NATO phải được giải quyết bằng một cuộc trưng cầu dân ý toàn quốc ở một thời điểm nào đó trong tương lai. == Phân chia hành chính == Hệ thống phân chia hành chính Ukraina phản ánh vị thế quốc gia như một nhà nước đơn nhất (như đã được ghi trong hiến pháp nhà nước) với các chế độ pháp lý và hành chính thống nhất cho mỗi đơn vị. Ukraina được chia thành 24 oblast (tỉnh) và một nước cộng hoà tự trị (avtonomna respublika), Krym. Ngoài ra, các thành phố Kiev, thủ đô, và Sevastopol, đều có vị thế pháp lý đặc biệt. 24 oblast và Krym được chia thành 490 raion (quận), hay các đơn vị hành chính cấp hai. Diện tích trung bình của một tỉnh Ukraina là 1,200km2; dân số trung bình của một quận là 52,000 người. Các vùng đô thị (thành phố) hoặc có thể phụ thuộc vào các cơ quan hành chính nhà nước (như trong trường hợp của Kiev và Sevastopol), oblast hay raion, phụ thuộc vào dân số và tầm quan trọng kinh tế xã hội của nó. Các đơn vị hành chính thấp hơn gồm các khu định cư kiểu đô thị, tương tự như các cộng đồng nông nghiệp, nhưng đô thị hoá hơn, gồm các doanh nghiệp công nghiệp, các cơ sở giáo dục và các kết nối giao thông, và các làng. Tổng cộng, Ukraina có 457 thành phố, 176 trong số đó được xếp hạng oblast, 279 nhỏ hơn là các thành phố cấp raion, và hai thành phố có vị thế pháp lý đặc biệt. Tiếp theo đó là 886 khu định cư kiểu đô thị và 28,552 làng. Bản mẫu:Danh sách phân chia Ukraina == Địa lý == Với diện tích 603,700 km2 và bờ biển rộng 2782 km2, Ukraina là nước lớn thứ 44 trên thế giới (sau Cộng hoà Trung Phi, trước Madagascar). Nó là nước nằm toàn bộ ở châu Âu lớn nhất và nước lớn thứ hai ở châu Âu (sau phần châu Âu của Nga, trước Mẫu quốc Pháp). Phong cảnh Ukraina gồm chủ yếu là các đồng bằng phì nhiêu (hay thảo nguyên) và các cao nguyên, bị cắt ngang bởi các con sông như Dnieper (Dnipro), Seversky Donets, Dniester và Southern Buh khi chúng chảy về phía nam vào Biển Đen và Biển Azov nhỏ hơn. Ở phía tây nam, đồng bằng Danube tạo thành biên giới với Romania. Vùng núi duy nhất của nước này là Núi Carpathian ở phía tây, trong đó đỉnh cao nhất là Hora Hoverla ở độ cao 2061 m, và những ngọn núi trên bán đảo Krym, ở cực nam dọc theo bờ biển. Ukraina chủ yếu có khí hậu ôn hoà và lục địa, dù một kiểu khí hậu mang nhiều đặc điểm khí hậu Địa Trung Hải hơn có tại bờ biển nam Crimea. Lượng mưa phân bố không đều; cao nhất ở phía tây và phía bắc và thấp nhất ở phía đông và đông nam. Tây Ukraina, có lượng mưa khoảng 1200mm hàng năm, trong khi Krym có lượng mưa khoảng 400mm. Những mùa đông từ mát dọc Biển Đen tới lạnh ở sâu hơn trong lục địa. Nhiệt độ trung bình năm trong khoảng từ 5.5–7 °C (42–45 °F) ở phía bắc, tới 11–13 °C (52–55.4 °F) ở phía nam. == Kinh tế == Trong thời Xô viết, kinh tế Ukraina lớn thứ hai bên trong Liên xô, là một thành phần công nghiệp và nông nghiệp quan trọng trong nền kinh tế kế hoạch của đất nước. Với sự sụp đổ của hệ thống Xô viết, nước này chuyển từ một nền kinh tế kế hoạch sang kinh tế thị trường. Quá trình chuyển tiếp rất khó khăn cho hầu hết dân cư và đa số họ rơi vào tình trạng nghèo khổ. Kinh tế Ukraina giảm phát nghiêm trọng trong những năm sau sự sụp đổ của Liên xô. Cuộc sống hàng ngày cho người dân thường sống tại Ukraina là một cuộc chiến đấu. Một số lớn công dân tại các vùng nông thôn Ukraina sống bằng lương thực tự trồng, thường làm hai hay nhiều việc và có được các nhu yếu phẩm thông qua trao đổi. Năm 1991, chính phủ tự do hoá hầu hết giá cả để giải quyết sự thiếu hụt hàng hoá trên diện rộng, và đã thành công. Cùng lúc ấy, chính phủ tiếp tục bao cấp cho các ngành công nghiệp và nông nghiệp do nhà nước quản lý bằng các khoản tiền công khai. Các chính sách tiền tệ lỏng lẻo đầu thập niên 1990 đẩy lạm phát lên các mức độ siêu lạm phát. Năm 1993, Ukraina giữ kỷ lục thế giới về mức lạm phát trong một năm. Những người sống nhờ thu nhập cố định gặp khó khăn nhiều nhất. Giá cả chỉ ổn định lại sau khi đồng tiền tệ mới ra đời, đồng hryvnia, năm 1996. Nước này cũng chậm chạm trong việc áp dụng các cải cách cơ cấu. Sau khi giành độc lập, chính phủ đã thành lập một cơ cấu pháp lý cho việc tư nhân hoá. Tuy nhiên, sự chống đối lan rộng với các cải cách bên trong chính phủ và từ một phần đông dân chúng nhanh chóng làm đóng băng các nỗ lực cải cách. Một số lớn doanh nghiệp thuộc sở hữu nhà nước đã bị loại khỏi quá trình tư nhân hoá. Cùng lúc ấy, tới năm 1999, GDP đã rơi xuống thấp hơn 40% so với mức năm 1991, nhưng đã hổi phục tới hơn 100% ở cuối năm 2006. Đầu những năm 2000, nền kinh tế cho thấy sự tăng trưởng mạnh 5 tới 10% và dựa nhiều vào xuất khẩu với sản xuất công nghiệp tăng trưởng hơn 10% mỗi năm. Ukraina đã bị tác động từ cuộc khủng hoảng kinh tế năm 2008 và vào tháng 11 năm 2008, IMF đã thông qua một khoản vay khẩn cấp $16.5 tỷ cho nước này. GDP (theo PPP) năm 2016 của Ukraina theo tính toán của IMF, xếp hạng 117 trên thế giới và ước tính ở mức $8,638 tỷ. GDP trên đầu người năm 2016 của nước này theo IMF ở mức $2,125 (theo PPP), xếp hạng 132 thế giới. GDP danh nghĩa (theo dollar Mỹ, được tính theo tỷ giá trao đổi thị trường) là $87.198 tỷ, xếp hạng 66 trên thế giới. Ở thời điểm tháng 7 năm 2008 lương danh nghĩa trung bình tại Ukraina đạt 1,930 hryvnias mỗi tháng. Dù vẫn ở mức thấp hơn các quốc gia trung Âu láng giềng, tăng trưởng thu nhập năm 2008 đứng ở mức 36.8% Theo UNDP năm 2003 4.9% dân số Ukraina sống với dưới 2 dollar Mỹ mỗi ngày và 19.5% dân cư sống dưới ngưỡng nghèo quốc gia cùng trong năm ấy. Ukraina chế tạo hầu như mọi kiểu phương tiện vận tải và tàu vũ trụ. Các máy bay Antonov và xe tải KrAZ đã được xuất khẩu tới nhiều quốc gia. Đa số xuất khẩu của Ukraina là sang Liên minh châu Âu và Cộng đồng các quốc gia độc lập. Từ khi độc lập, Ukraina đã duy trì cơ quan vũ trụ của riêng minh, Cơ quan Vũ trụ Quốc gia Ukraina (NSAU). Ukraina đã trở thành một bên tham gia tích cực vào việc thám hiểm khoa học vũ trụ và các phi vụ tìm kiếm từ xa. Trong giai đoạn 1991 tới 2007, Ukraina đã phóng sáu vệ tinh và 101 phương tiện phóng do họ tự chế tạo, và tiếp tục thiết kế tàu vũ trụ. Vì thế tới ngày nay, Ukraina được công nhận là nước hàng đầu thế giới trong việc chế tạo tên lửa và kỹ thuật liên quan tới tên lửa. Nước này nhập khẩu hầu hết năng lượng, đặc biệt là dầu mỏ và khí tự nhiên, và ở mức độ lớn hơn phụ thuộc vào Nga trong năng lượng. Tuy 25% khí tự nhiên ở Ukraina có từ các nguồn nội địa, khoảng 35% đến từ Nga và số còn lại 40% từ Trung Á qua các đường vận chuyển thuộc quyền kiểm soát của Nga. Cùng lúc đó, 85% khí của Nga được chuyển tới Tây Âu qua Ukraina. Ngân hàng Thế giới xếp hạng Ukraina là quốc gia có thu nhập trung bình. Các vấn đề lớn gồm cơ sở hạ tầng và vận tải kém phát triển, tham nhũng và quan liêu. Năm 2007 thị trường chứng khoán Ukraina ghi nhận mức tăng trưởng cao thứ hai thế giới với 130%. Theo CIA, năm 2006 tư bản hoá thị trường của thị trường chứng khoán Ukraina là $111.8 tỷ. Các lĩnh vực đang phát triển của kinh tế Ukraina gồm thị trường công nghệ thông tin (IT), đứng đầu các nước Trung và Đông Âu năm 2007, tăng trưởng khoảng 40%. == Du lịch == Ukraina đứng thứ 8 thế giới về số lượng khách du lịch, theo xếp hạng của Tổ chức Du lịch Thế giới. Bảy kì quan Ukraina là bảy công trình lịch sử và văn hóa được bình chọn trong một cuộc thi vào tháng 7-2007, ở Ukraina. == Văn hoá == Các phong tục Ukraina bị ảnh hưởng nhiều bởi Thiên chúa giáo, là tôn giáo vượt trội trong nước. Các vai trò giới tính cũng thường có tính truyền thống hơn, và người ông đóng một vai trò lớn hơn trong giáo dục trẻ em so với tại phương Tây. Văn hoá Ukraina cũng đã bị ảnh hưởng bởi các nước láng giềng phía đông và phía tây, nó được phản ánh trong kiến trúc, âm nhạc và nghệ thuật Ukraina. Thời kỳ cộng sản có một ảnh hưởng khá mạnh trong nghệ thuật và văn học Ukraina. Năm 1932, Stalin đã đưa ra chính sách nhà nước chủ nghĩa hiện thực xã hội chủ nghĩa tại Liên xô khi ông ban hành nghị định "Về việc Xây dựng các Tổ chức Văn học và Nghệ thuật". Chính sách này đã kìm chế khả năng sáng tác rất nhiều. Trong thập niên 1980 chính sách glasnost (mở cửa) được đưa ra và các nghệ sĩ cùng nhà văn Liên xô đã được tự do thể hiện mình như họ muốn. Truyền thống trứng Phục sinh, còn được gọi là pysanky, có nguồn gốc từ lâu ở Ukraina. Những quả trứng này được vẽ sáp để tạo ra một hình mẫu; sau đó, trứng được nhuộm màu để khiến nó có những màu sắc vui mắt, màu nhuộm không ăn lên những phần đã được vẽ sáp trước đó trên quả trứng. Sau khi toàn bộ quả trứng được nhuộm, lớp sáp bị loại bỏ chỉ để lại những mẫu hình màu sắc đẹp mắt. Truyền thống này đã có từ hàng nghìn năm, và có trước khi Thiên chúa giáo xuất hiện tại Ukraina. Tại thành phố Kolomya gần chân dãy các ngọn đồi dưới dãy núi Carpathian năm 2000 một bảo tàng Pysanka đã được xây dựng và nó được coi như một công trình hiện đại của Ukraina năm 2007, một phần của hoạt động xây dựng Bảy kỳ quan của Ukraina. Món ăn truyền thống Ukraina gồm gà, lợn, bò, cá và nấm. Người Ukraina cũng thường ăn rất nhiều khoai tây, ngũ cốc rau tươi. Các món ăn truyền thống bình dân gồm varenyky (bánh bao hấp với nấm, khoai tây, dưa cải bắp, phó mát làm từ sữa gạn kem hay anh đào), borscht (súp nấu từ củ cải đường, cải bắp và nấm hay thịt) và holubtsy (cải bắp cuộn với gạo, cà rốt và thịt). Các món đặc sản Ukraina còn gồm Gà Kiev và Bánh Kiev. Các món đồ uống Ukraina gồm quả hầm, các loại nước hoa quả, sữa, nước sửa (họ làm phó mát sữa gạn bằng thứ này), nước khoáng, trà và cà phê, bia, rượu và horilka. === Ngôn ngữ === Theo Hiến pháp, ngôn ngữ nhà nước của Ukraina là tiếng Ukraina. Tiếng Nga, trên thực tế là ngôn ngữ chính thức của Liên xô, được sử dụng rộng rãi, đặc biệt tại phía đông và phía nam Ukraina. Theo cuộc điều tra dân số năm 2001, 67.5 phần trăm dân số tuyên bố tiếng Ukraina là tiếng mẹ đẻ và 29.6 phần trăm tuyên bố là tiếng Nga. Đa số người dùng tiếng Ukraina như tiếng mẹ đẻ biết tiếng Nga như một ngôn ngữ thứ hai. Các chi tiết kết quả khác biệt nhau rất nhiều tuỳ theo từng cuộc điều tra, và thậm chí một câu hỏi chỉ hơi khác biệt cũng dẫn tới những câu trả lời khác từ một nhóm người khá lớn. Tiếng Ukraina chủ yếu được dùng ở phía tây và trung Ukraina. Ở phía tây Ukraina, tiếng Ukraina cũng là nguôn ngữ phổ biến trong các thành phố (như Lviv). Ở trung Ukraina, tiếng Ukraina và tiếng Nga được sử dụng như nhau trong các thành phố, tiếng Nga hơi phổ biến hơn ở Kiev, trong khi tiếng Ukraina là ngôn ngữ chính tại các cộng đồng nông thôn. Tại phía đông và phía nam Ukrain, tiếng Nga được dùng chủ yếu trong các thành phố, tiếng Ukraina được dùng ở các vùng nông thôn. Trong một phần lớn thời gian thời kỳ Xô viết, số người nói tiếng Ukraina giảm sút sau mỗi thế hệ, và tới giữa thập niên 1980, việc sử dụng tiếng Ukraina trong đời sống công cộng đã sụt giảm đáng kể. Sau khi giành độc lập, chính phủ Ukraina bắt đầu chính sách Ukraina hoá, để tăng cường việc sử dụng tiếng Ukraina, trong khi không khuyến khích tiếng Nga, vốn đã bị cấm hay hạn chế trên truyền thông và phim ảnh. Điều này có nghĩa các chương trình tiếng Nga phải được dịch hay chạy tít tiếng Ukraina, nhưng điều này không áp dụng với các tác phẩm truyền thông được thực hiện trong thời Xô viết. Theo Hiến pháp của Cộng hoà Tự trị Krym, tiếng Ukraina là ngôn ngữ nhà nước duy nhất của nước cộng hoà. Tuy nhiên, hiến pháp nước cộng hoà đặc biệt công nhận tiếng Nga là một ngôn ngữ được đa số người dân của nó sử đụng và đảm bảo việc sử dụng tiếng Nga 'trong mọi lĩnh vực của đời sống công cộng'. Tương tự, tiếng Tatar Crimea (ngôn ngữ của 12% dân số Crimea) được đảm bảo một sự bảo hộ đặc biệt của nhà nước cũng như trong 'các ngôn ngữ của các sắc tộc khác'. Những người nói tiếng Nga chiếm đại đa số dân cư Crimea (77%), tiếng Ukraina chỉ chiếm 10.1%, và người nói tiếng Tatar Crimea chiếm 11.4%. Nhưng trong đời sống hàng ngày đa số người Tatar Crimea và người Ukraina ở Crimea sử dụng tiếng Nga. === Văn học === Lịch sử văn học Ukraina có từ thế kỷ 11, sau sự Thiên chúa giáo hóa Kievan Rus’. Các tác phẩm thời gian này chủ yếu là về nghi thức tôn giáo và được viết bằng tiếng Nhà thờ Slavơ cổ. Các văn bản lịch sử thời gian này được gọi là biên niên sử, tác phẩm quan trọng nhất là Biên niên sử Đầu tiên. Hoạt động văn học bất thần suy tàn trong thời Mông Cổ xâm lược Rus'. Văn học Ukraina lại bắt đầu phát triển một lần nữa ở thế kỷ 14, và tiến bộ vượt bậc ở thế kỷ 16 với sự ra đời của kỹ thuật in và với sự khởi đầu của thời đại Cossack, dưới cả sự ảnh hưởng của Nga và Ba Lan. Người Cossack đã lập ra một xã hội độc lập và truyền bá một kiểu thơ sử thi mới, đánh dấu đỉnh cao của văn học truyền khẩu Ukraina. Những tiến bộ này mất đi trong thế kỷ 17 đầu thế kỷ 18, khi việc xuất bản bằng tiếng Ukraina bị đặt ra ngoài vòng pháp luật và bị ngăn cấm. Tuy nhiên, tới cuối thế kỷ 18 văn học hiện đại Ukraina cuối cùng đã xuất hiện trở lại. Thế kỷ 19 khởi đầu một thời kỳ tiếng địa phương tại Ukraina, khởi đầu với tác phẩm Eneyida của Ivan Kotliarevsky, tác phẩm xuất bản đầu tiên của Ukraina hiện đại. Tới thập niên 1830, chủ nghĩa lãng mạn Ukraina bắt đầu phát triển, và nhân vật văn hoá nổi tiếng nhất Ukraina là nhà thơ/hoạ sĩ lãng mạn Taras Shevchenko. Nếu Ivan Kotliarevsky được coi là người cha của văn học tiếng địa phương Ukraina; Shevchenko là người cha của sự hồi phục quốc gia Ukraina. Sau đó, vào năm 1863, việc sử dụng tiếng Ukraina trong in ấn đã hoàn toàn bị ngăn cấm bởi Đế quốc Nga. Điều này đã hoàn toàn hạn chế hoạt động văn học trong khu vực, và các tác giả Ukraina bị buộc hoặc phải xuất bản tác phẩm bằng tiếng Nga hoặc phát hành chúng tại vùng Galicia do Áo quản lý. Lệnh cấm chưa từng bị chính thức dỡ bỏ, nhưng nó đã mất nhiều hiệu lực sau cuộc cách mạng và khi những người Bolshevik lên nắm quyền. Văn học Ukraina tiếp tục phát triển trong những năm đầu thời kỳ Xô viết, khi hầu hết mọi khuynh hướng văn học đều được cho phép. Những chính sách này đã thay đổi trong thập niên 1930, khi Stalin áp dụng chính sách chủ nghĩa hiện thực xã hội chủ nghĩa. Học thuyết này không đàn áp tiếng Ukraina, nhưng nó buộc các tác giả phải theo một số kiểu cách trong tác phẩm của mình. Các hoạt động văn học tiếp tục bị hạn chế ở một số điểm bởi đảng cộng sản, và chỉ tới khi Ukraina giành độc lập năm 1991 thì các tác giả mới có thể thể hiện mình như mình muốn. === Thể thao === Ukraina được hưởng lợi nhiều từ chính sách nhấn mạnh trên giáo dục thể chất thời Liên xô. Những chính sách này khiến Ukraina có hàng trăm sân vận động, bể bơi, phòng tập thể dục và nhiều cơ sở thể thao khác. Môn thể thao được ưa chuộng nhất là bóng đá. Giải chuyên nghiệp hàng đầu là Vyscha Liha, cũng được gọi là Ukrainian Premier League. Hai đội có nhiều thành tích nhất tại Vyscha Liha là hai đối thủ FC Dynamo Kyiv và FC Shakhtar Donetsk. Dù Shakhtar là nhà đương kim vô địch Vyscha Liha, Dynamo Kyiv có lịch sử giàu truyền thống hơn, đã giành hai UEFA Cup Winners' Cup, một UEFA Super Cup, một kỷ lục 13 lần vô địch Liên xô và kỷ lục 12 lần giành Ukrainian Championship; trong khi Shakhtar chỉ giành bốn Ukrainian championship. Nhiều cầu thủ Ukraina cũng đã chơi cho Đội tuyển bóng đá quốc gia Liên Xô, đáng chú ý nhất là Ihor Belanov và Oleh Blokhin, người giành giải Quả bóng vàng châu Âu danh giá cho cầu thủ hay nhất năm. Giải thưởng này chỉ được trao cho một người Ukraina sau khi Liên Xô tan rã, đó là Andriy Shevchenko, cựu thủ quân của đội tuyển bóng đá quốc gia Ukraina. Đội tuyển Ukraina lần đầu tiên có mặt tại 2006 FIFA World Cup, và lọt vào tới vòng tứ kết trước khi thua nhà vô địch sau đó, đội tuyển Ý. Người Ukraina cũng ưa thích đấm bốc, nơi hai anh em trai Vitali Klitschko và Vladimir Klitschko đang giữ nhiều chức vô địch quyền anh hạng nặng thế giới. Ukraina lần đầu tiên đồng đăng cai Euro 2012 (cùng với Ba Lan) và cũng là lần đầu tiên được tổ chức tại hai quốc gia thuộc Đông Âu. Ukraina lần đầu tham dự Olympic tại Olympic Mùa đông năm 1994. Tuy nhiên, Ukraina có nhiều thành công hơn tại Olympic Mùa hè (96 huy chương cho bốn lần tham gia) so với Olympic Mùa đông (năm huy chương vàng cho bốn lần tham gia). Ukraina hiện xếp thứ 35 về số lượng huy chương vàng giành được tại tất cả các kỳ Olympic, nơi tất cả các nước xếp trên, ngoại trừ Nga, đều có số lần tham dự nhiều hơn. Bước mới của Ukraina trong thể thao thế giới là tham gia đăng cai tổ chức Olympic Mùa đông năm 2018. Chính phủ Ukraina đã đưa Bukovel - khu thể thao trượt tuyết mới nhất của Ukraina để làm nơi tổ chức năm 2018. Bên chiến thắng sẽ được thông báo năm 2011 tại cuộc họp thứ 123 của IOC tại Durban, Nam Phi. == Nhân khẩu == Theo Điều tra dân số Ukraina năm 2001, người Ukraina chiếm 77.8% dân số. Các nhóm sắc tộc lớn khác gồm người Nga (17.3%), người Belarus (0.6%), người Moldova (0.5%), người Tatar Crimea (0.5%), người Bulgari (0.4%), người Hungary (0.3%), người Romania (0.3%), người Ba Lan (0.3%), người Do Thái (0.2%), người Armenia (0.2%), người Hy Lạp (0.2%) và người Tatars (0.2%). Các vùng công nghiệp ở phía đông và đông nam có dân số đông đúc nhất, và khoảng 67.2% dân số sống tại các vùng đô thị. Ukraina được coi là đang ở trong khủng hoảng nhân khẩu vì tỷ lệ tử cao và tỷ lệ sinh thấp. Tỷ lệ sinh hiện tại của Ukraina là 9.55 sinh/1,000 dân, và tỷ lệ tử là 15.93 tử/1,000 dân. Một yếu tố góp phần vào tỷ lệ tử cao là tỷ lệ tử vong trẻ sơ sinh cao trong nhóm nam ở độ tuổi làm việc từ các lý do có thể tránh được như nhiễm độc rượu và hút thuốc. Năm 2007, dân số nước này giảm ở tỷ lệ nhanh thứ tư thế giới. Để giúp giải quyết tình trạng này, chính phủ tiếp tục tăng các khoản hộ trợ cho trẻ em. Chính phủ cung cấp khoản chi trả một lần 12,250 Hryvnia cho đứa trẻ thứ nhất, 25,000 Hryvnia cho đứa trẻ thứ hai và 50,000 Hryvnia cho đứa trẻ thứ ba và thứ tư, cùng với các khoản chi trả theo tháng là 154 Hryvnia cho mỗi đứa trẻ. Khuynh hướng nhân khẩu cho thấy các dấu hiệu cải thiện, bởi tỷ lệ sinh đã tăng vững chắc từ năm 2001. Tăng dân số thực trên chín tháng đầu tiên của năm 2007 được ghi nhận ở năm tỉnh (trong số 24 tỉnh), và sự hao hụt dân số cho thấy những dấu hiệu ổn định trên toàn quốc. Năm 2007 tỷ lệ sinh cao nhất thuộc các tỉnh phía tây. Nhập cư lớn diễn ra ở những năm đầu tiên sau khi Ukraina độc lập. Hơn một triệu người đã tới Ukraina trong giai đoạn 1991–2, chủ yếu từ các nước cộng hoà thuộc Liên xô cũ. Tổng cộng, trong giai đoạn 1991 và 2004, 2.2 triệu người đã nhập cư vào Ukraina (trong số đó 2 triệu người tới từ các nước cộng hoà thuộc Liên xô cũ) và 2.5 triệu người di cư khỏi Ukraina (trong số đó 1.9 triệu người tới các nước cộng hoà thuộc Liên xô cũ). Hiện tại, người nhập cư chiếm khoảng 14.7% tổng dân số, hay 6.9 triệu người; đây là con số lớn thứ tư thế giới. Năm 2006, có ước tính 1.2 triệu người Canada có tổ tiên là người Ukraina, khiến Canada là nước đứng thứ ba thế giới về số người Ukraina sau Ukraina và Nga. Bản mẫu:Thành phố Ukraina == Tôn giáo == Tôn giáo chủ yếu tại Ukraina là Chính thống giáo Đông phương, hiện thuộc về ba Giáo hội: Giáo hội Chính thống Ukraina - Tòa Thượng phụ Kiev, Giáo hội Chính thống Ukraina (Tòa Thượng phụ Moscow) cơ quan nhà thờ tự quản thuộc Tòa Thượng phụ Moscow, và Giáo hội Chính thống Độc lập Ukraina. Đứng thứ hai về số lượng tín đồ là Giáo hội Công giáo Hy Lạp Ukraina thuộc Nghi lễ Đông phương, thực hành truyền thống phụng vụ và tinh thần như Chính thống giáo Đông phương, nhưng hiệp thông với Toà thánh Vatican của Giáo hội Công giáo Rôma và công nhận vị trí lãnh đạo của Giáo hoàng như người lãnh đạo Hội Thánh. Ngoài ra, có 863 cộng đồng Công giáo Rôma theo Nghi lễ Latin, và 474 giáo sĩ phục vụ khoảng một triệu tín đồ Công giáo Latin tại Ukraina. Nhóm này chiếm khoảng 2.19% dân số và chủ yếu gồm sắc tộc Ba Lan và Hungary, sống tại các vùng phía tây đất nước. Đạo Tin Lành cũng chiếm khoảng 2.19% dân số. Số tín đồ Tin lành đã tăng nhiều kể từ khi Ukraina giành độc lập. Liên đoàn Phúc âm Báp tít Ukraina là nhóm lớn nhất với hơn 150,000 thành viên và khoảng 3000 tăng lữ. Nhà thờ Tin lành đứng thứ hai là Hội thánh Đức tin Phúc Âm Ukraina (Phong trào Ngũ tuần) với 110000 thành viên và 1500 nhà thờ địa phương cùng hơn 2000 tăng lữ, nhưng cũng tồn tại các nhóm và liên hiệp Ngũ tuần khác tất cả là hơn 300,000 người với hơn 3000 nhà thờ địa phương. Tương tự có nhiều trường giáo dục cao học Ngũ tuần như Lviv Theological Seminary và Kiev Bible Institute. Các nhóm khác gồm thuyết Canvin, Giáo hội Lutheran, Giám lý, Nhân chứng Jehovah và Giáo hội Cơ đốc Phục lâm. Giáo hội Các Thánh hữu Ngày sau của Chúa Giêsu Kitô (Mormon) cũng tồn tại. Có ước tính 500,000 tín đồ Hồi giáo tại Ukraina, và khoảng 300,000 trong số họ là người Tatar Crimea. Có 487 cộng đồng Hồi giáo có đăng ký, 368 trong số đó ở bán đảo Crimea. Ngoài ra, khoảng 50,000 người Hồi giáo sống tại Kiev; chủ yếu là người sinh ở nước ngoài. Cộng đồng Do Thái chỉ bằng một phần nhỏ cộng đồng có trước Thế chiến II. Các thành phố có đông người Do Thái nhất năm 1926 là Odessa, 154,000 hay 36.5% tổng dân số; và Kiev, 140,500 hay 27.3%. Cuộc điều tra dân số năm 2001 cho biết có 103,600 người Do Thái tại Ukraina, dù các lãnh đạo cộng đồng tuyên bố dân Do Thái lên tới 300,000 người. Không có các con số thống kê về tỷ lệ người Do Thái Ukraina, nhưng Đạo Do Thái Chính thống có sự hiện diện mạnh nhất tại Ukraina. Các nhóm Cải cách và Bảo thủ (Masorti) cũng có tồn tại. == Giáo dục == Theo hiến pháp Ukraina, giáo dục miễn phí được cung cấp tới mọi công dân. Hoàn thành giáo dục cấp hai là bắt buộc tại các trường nhà nước và đại đa số học sinh đều qua cấp này. Giáo dục cao hơn miễn phí tại các cơ sở giáo dục nhà nước và vùng được cung cấp trên một cơ sở cạnh tranh. Cũng có một số nhỏ trường học và các cơ sở giáo dục cấp cao của tư nhân. Vì sự nhấn mạnh của Liên xô trên tổng số người tiếp cận giáo dục trên toàn bộ dân số, vẫn tiếp tục đến ngày nay, tỷ lệ biết chữ được ước tính ở mức 99.4%. Từ năm 2005, một chương trình học mười một năm đã được thay thế bằng chương trình mười hai năm: giáo dục cấp một bốn năm (bắt đầu từ khi sáu tuổi), cấp hai năm năm; giáo dục cấp ba ba năm. Ở lớp 12, học sinh thực hiện các bài Kiểm tra Chính phủ, cũng được gọi là kỳ thi ra trường. Những bài kiểm tra này sau đó được sử dụng cho việc vào đại học. Hệ thống giáo dục cao học Ukraina gồm các cơ sở giáo dục cao học, khoa học và phương pháp luận thuộc liên bang, địa phương và các cơ sở tự quản chịu trách nhiệm giáo dục. Tổ chức giáo dục cao học tại Ukraina được xây dựng theo cơ cấu giáo dục cao học của các nước phát triển trên thế giới, như được định nghĩa bởi UNESCO và UN. == Cơ sở hạ tầng == Đa phần hệ thống đường bộ Ukraina đã không được nâng cấp từ thời Xô viết, và hiện nay đã quá cũ. Chính phủ Ukraina đã cam kết xây dựng khoảng 4,500 km (2,800 dặm) đường cao tốc tới thời điểm năm 2012. Tổng cộng, đường trải nhựa tại Ukraina có chiều dài 164,732 km. Vận tải đường sắt tại Ukraina đóng vai trò quan trọng kết nối mọi vùng đô thị, cơ sở hải cảng và trung tâm công nghiệp quan trọng với các quốc gia láng giềng. Nơi tập trung nhiều mạng lưới đường sắt nhất là vùng Donbas của Ukraina. Mặc dù số lượng hàng hoá được vận chuyển bằng đường sắt đã giảm 7.4% năm 1995 so với năm 1994, Ukraina vẫn là một trong các quốc gia sử dụng đường sắt với mật độ cao nhất thế giới. Tổng chiều dài đường sắt tại Ukraina là 22,473 km, trong số đó 9,250 km đã được điện khí hoá. Ukraina là một trong những quốc gia tiêu thụ năng lượng lớn nhất Châu Âu; nước này sử dụng lượng điện gấp đôi Đức, trên mỗi đơn vị GDP. Một phần lớn lượng điện cung cấp tại Ukraina có từ các nhà máy điện hạt nhân, và nước này có được nguồn nguyên liệu hạt nhân chủ yếu từ Nga. Ukraina phụ thuộc nặng vào nguồn năng lượng nguyên tử của mình. Nhà máy điện hạt nhân lớn nhất châu Âu, Nhà máy điện hạt nhân Zaporizhzhia, nằm ở Ukraina. Năm 2006, chính phủ có kế hoạch xây dựng 11 lò phản ứng mới vào năm 2030, trên thực tế, hầu như tăng gấp đôi năng lực sản xuất điện hạt nhân. Lĩnh vực năng lượng Ukraina lớn hàng thứ 12 thế giới về công suất đã xây dựng, với 54 gigawatt (GW). Năng lượng tái tạo vẫn đóng một vai trò yếu kém trong sản xuất điện, và vào năm 2005 lượng điện được đáp ứng từ các nguồn sau: hạt nhân (47%), nhiệt điện (45%), thuỷ điện và khác (8%). Khác Bản mẫu:Geology locale (8-way) == Tham khảo == == Ghi chú == == Nguồn xuất bản == == Liên kết ngoài == Chính phủ The President of Ukraine Government Portal of Ukraine The Parliament of Ukraine Chief of State and Cabinet Members Thông tin chung Mục “Ukraine” trên trang của CIA World Factbook. Ukraine information from the United States Department of State Portals to the World from the United States Library of Congress Ukraine at UCB Libraries GovPubs Ukraina tại DMOZ Wikimedia Atlas của Ukraine, có một số bản đồ liên quan đến Ukraine. Văn hoá Ukrainia Ukrainian art. Most famous modern painters
athletic bilbao.txt
Athletic Bilbao (còn được biết đến với tên Athletic Club), là một câu lạc bộ bóng đá chuyên nghiệp Tây Ban Nha, có trụ sở ở thành phố Bilbao, tỉnh Biscay và được thành lập vào năm 1898. Athletic Bilbao đang tham dự giải bóng đá vô địch quốc gia Tây Ban Nha (La Liga). Athlectic Bilbao là câu lạc bộ giàu truyền thống thứ ba tại Tây Ban Nha sau Real Madrid C.F. và F.C. Barcelona với 8 lần vô địch La Liga và Cúp Nhà Vua Tây Ban Nha 23 lần. Cùng với F.C. Barcelona và Real Madrid C.F., Athletic Bilbao chưa bao giờ xuống hạng. Sân nhà của Athletic Bilbao là San Mamés với sức chứa 53.289 người. Câu lạc bộ bóng đá nữ Athletic Bilbao cũng đồng thời giành được 4 chức vô địch giải bóng đá nữ chuyên nghiệp Tây Ban Nha (Primera División Femenina). Athletic Bilbao là đối thủ không đội trời chung với Real Sociedad và Real Madrid C.F. Trong đó, trận Derby xứ Basque giữa Athletic Bilbao và Real Sociedad là một trong những trận Derby lâu đời nhất trong lịch sử bóng đá thế giới. == Lịch sử == === Bilbao FC, Athletic Club và Câu lạc bộ Bizcaya === Bóng đá đến với thành phố Bilbao bởi hai con đường riêng biệt, cả hai đều gắn liền đến nước Anh. Công nhân nhà máy Thép, nhà máy đóng tàu Anh và sinh viên Basque trở về từ trường học ở Anh đã đem bóng đá tới Bilbao. Vào cuối thế kỷ 19, Bilbao là một thành phố cảng hàng đầu của khu vực công nghiệp quan trọng với các mỏ sắt và nhà máy đóng tàu. Đó là động lực thúc đẩy nền kinh tế Tây Ban Nha và kết quả là thu hút nhiều lao động nhập cư. Trong số đó có thợ mỏ từ phía Đông Bắc nước Anh, và công nhân nhà máy đóng tàu từ Southampton, Portsmouth và Sunderland. Các công nhân Anh đã mang bóng đá tới Tây Ban Nha theo họ. Trong những năm 1890 những công nhân này thành lập Câu lạc bộ Bilbao (Bilbao Football Club). Trong khi đó, các sinh viên Basque qua lớp đào tạo đã thực hiện cuộc hành trình ngược lại. Họ đến Anh để nghiên cứu công trình dân dụng và thương mại. Trong thời gian ở Vương quốc Anh, các sinh viên nắm bắt và bắt đầu quan tâm đến bóng đá, sau đó, trên đường trở về Bilbao, họ sắp xếp một trận đấu với nhóm công nhân người Anh. Năm 1898, sinh viên thuộc Gymnasium Zamacois thành lập Athletic Club, tên đội sử dụng ngôn ngữ Anh. Năm 1901 một cuộc họp đã được tổ chức tại Cafe Garcia, nhiều quy tắc và quy định chính thức được thông qua. Năm 1902 hai CLB Bilbao đã thành lập một câu lạc bộ liên kết hai câu lạc bộ với nhau, được gọi là Bizcaya, trong lần đầu tiên xuất hiện tại Copa del Rey. Họ trở về với chiếc cúp sau khi đánh bại FC Barcelona trong trận chung kết. Điều này dẫn đến việc sáp nhập của hai câu lạc bộ, trở thành một Athletic Club thống nhất vào năm 1903. Cũng trong thời gian đó, sinh viên Basque cũng thành lập Athletic Club Madrid. Câu lạc bộ này sau đó phát triển thành Atlético Madrid. Ngày thành lập của câu lạc bộ là một chủ đề gây tranh cãi của giới chuyên môn. Câu lạc bộ tuyên bố năm thành lập là năm 1898, nhưng những người khác cho rằng năm 1901 hay 1903 mới là năm thành lập của câu lạc bộ. === Lần đầu tham dự La Liga === Athletic Bilbao không phải đội bóng Basque duy nhất đại diện cho xứ Basque năm 1920. Các câu lạc bộ khác như Real Unión, Arenas Club de Getxo và Real Sociedad cũng tham gia La Liga. Bốn câu lạc bộ là thành viên tham gia La Liga vào năm 1928 và tới năm 1930 CD Alaves gia nhập La Liga, trở thành câu lạc bộ thứ năm. Điều này có nghĩa là năm trong số mười câu lạc bộ ở Primera División - giải đấu quốc gia Tây Ban Nha đến từ xứ Basque. Câu nói "Con cantera y afición, no hace falta importación", dịch là "Với những đội bóng quê hương và người hâm mộ, không cần thiết phải nhập khẩu thêm gì nữa". === Kỉ nguyên Fred Pentland === Mùa giải 1930-31, Athletic Bilbao vô địch La Liga. Năm 1921, một huấn luyện viên mới đến với câu lạc bộ là Fred Pentland, từ Racing de Santander. Năm 1923, ông đã dẫn dắt câu lạc bộ giành chiến thắng tại Copa del Rey. Ông đã cách mạng hóa cách chơi, bằng cách sử dụng lối chơi chuyền ngắn. Năm 1927, ông rời Athletic và dẫn dắt Athletico Madrid, Real Oviedo và tuyển quốc gia Tây Ban Nha. Năm 1929, ông trở lại Athletic và sau đó ông đã dẫn dắt Athletic vô địch La Liga / Copa del Rey hai lần liên tiếp vào các năm 1930 và 1931. Câu lạc bộ giành Copa del Rey bốn lần liên tiếp từ 1930 đến 1933, và họ cũng là Á quân La Liga trong năm 1932 và 1933. Năm 1931, Athletic Bilbao hủy diệt FC Barcelona 12-1, thất bại tồi tệ nhất trong lịch sử FC Barcelona. === Atlético Bilbao === Năm 1941, câu lạc bộ đổi tên thành Atlético Bilbao, sau một nghị định ban hành bởi Franco, cấm sử dụng tên ngôn ngữ ngoài ngôn ngữ Tây Ban Nha và tháo dỡ các chính sách cũng như chỉ cho phép cầu thủ gốc Basque trong đội. Cùng năm đó, Telmo Zarra ra mắt lần đầu tiên. Trong 13 mùa giải tiếp theo, ông đã ghi 294 bàn thắng trong trên mọi mặt trận cho Atlético, thêm 20 bàn cho tuyển quốc gia Tây Ban Nha trong nhiều trận đấu. 38 bàn thắng trong mùa giải 1950-51 là một kỷ lục trong vòng 60 năm trước khi bị phá vỡ bởi Lionel Messi. Một cầu thủ vĩ đại khác thời đại này là José Luis Panizo. Năm 1943, câu lạc bộ giành cú đúp danh hiệu Liga / Copa del Generalísimo và sau đó họ vẫn giữ được danh hiệu vô địch Copa del Rey trong cả hai năm 1944 và 1945. Trong những năm đầu thập niên 1950, câu lạc bộ là một bức tranh bao gồm các huyền thoại Zarra, Panizo, Rafa Iriondo, Venancio, và Agustín Gaínza. Họ đã giúp câu lạc bộ giành chiến thắng tại Copa del Generalísimo vào năm 1950. Sự xuất hiện của HLV Ferdinand Daučík càng cải thiện sức mạnh của câu lạc bộ. Ông đã giúp đội bóng giành cú đúp khác trong năm 1956 và hơn nữa là giành hai Copa del Generalísimo vào năm 1955 và 1958. Năm 1956, câu lạc bộ cũng đã lần đầu tiên xuất hiện ở Cup châu Âu, nhưng bị Manchester United đánh bại. Điều giúp câu lạc bộ thành công trong những năm 1930, năm 1940 và 1950 là những quy định nghiêm ngặt đối với cầu thủ nước ngoài. Trong hầu hết các trường hợp câu lạc bộ chỉ có thể có ba cầu thủ nước ngoài trong đội hình của mình, có nghĩa là ít nhất tám cầu thủ địa phương chơi trong mọi trận đấu. Trong khi Real Madrid và FC Barcelona phá vỡ những quy tắc này bằng cách sử dụng các cầu thủ công dân kép (có hai quốc tịch) như Alfredo Di Stéfano, Ferenc Puskás, José Santamaria và Ladislao Kubala, Athletic tuân thủ nghiêm ngặt chính sách Cantera của họ, mặc dù vậy chính sách lộ rõ sự thiếu linh hoạt. Những năm 1960, Real Madrid quá mạnh và chiếm ưu thế ở Tây Ban Nha, Atletico Bilbao chỉ có duy nhất một Copa del Rey giành được vào năm 1969. Giống như các đội bóng quốc tế khác, câu lạc bộ đã sử dụng quy tắc "Thế hệ trong gia đình", cho phép tuyển một số cầu thủ gốc Basque. Điều này cho phép Armando Merodio - người sinh ở Barcelona có cha mẹ gốc Basque, chơi cho câu lạc bộ. Trong những năm 1960, các cầu thủ khác như Jesús María Pereda, Miguel Jones, và José Eulogio Gárate đã bị bỏ qua. Mặc dù không ai trong số họ gốc Basque, cả ba chỉ lớn lên ở Basque nhưng được phân loại là cầu thủ gốc Basque; Gárate thậm chí có cha mẹ gốc Basque. Năm 1960 chứng kiến sự xuất hiện của một huyền - thoại Athletic José Ángel Iribar. Những năm 1970, thành tích của câu lạc bộ không tốt hơn là bao với chỉ duy nhất một Copa del Rey giành được trong năm 1973. Trong tháng 12 năm 1976, trước một trận đấu với Real Sociedad, Iribar và đội trưởng Inaxio Kortabarria của Sociedad, mang Ikurriña - cờ xứ Basque cờ và đặt nó để thực hiện nghi thức tại vòng tròn giữa sân. Đây là lần đầu tiên lá cờ này được công khai kể từ cái chết của Francisco Franco. Năm 1977, câu lạc bộ đạt vào chung kết UEFA Cup, chỉ thua trên sân khách trước Juventus. Đến nay, câu lạc bộ sử dụng tên Athletic Bilbao. === Thời đại Bielsa === Trước khi bắt đầu mùa giải 2011-12, các thành viên của Câu lạc bộ Athletic Bilbao tổ chức cuộc bầu cử chủ tịch, chủ tịch đương nhiệm Fernando García Macua bị đánh bại bởi cựu cầu thủ phục vụ lâu dài cho câu lạc bộ trước kia Josu Urrutia. Một trong những cam kết mà Urrutia đã thực hiện là mang lại cựu Argentina và Chile - HLV trưởng Marcelo Bielsa dẫn dắt câu lạc bộ. Joaquín Caparrós rời câu lạc bộ với hợp đồng đã hết hiệu lực, ông đã cải thiện đáng kể tầm vóc của Athletic Bilbao. Bielsa gia nhập đã mang đến danh tiếng của việc sử dụng đội hình và chiến thuật độc đáo, và thiết lập thay đổi sao cho phù hợp với câu lạc bộ. Một số cầu thủ đã bắt đầu chơi ở vị trí không quen thuộc, bao gồm cả nhà vô địch World Cup - tiền vệ Javi Martínez, những người được sử dụng như một trung vệ và Óscar de Marcos, người dù đã được biết đến như một tiền vệ đã được sử dụng hậu vệ cánh trái. Kết quả bước đầu không được tốt và bản hợp đồng mới Ander Herrera bị chấn thương. Các cầu thủ bắt đầu điều chỉnh để thay đổi. Sau một chiến thắng trên sân của Real Sociedad, Athletic Bilbao có một quãng thời gian thăng hoa vào mùa thu trong đó bao gồm các chiến thắng trước Paris Saint-Germain, CA Osasuna và Sevilla FC cũng như hòa Valencia CF và FC Barcelona. Câu lạc bộ cũng vượt qua vòng bảng Europa League và đánh bại Lokomotiv Moskva ở vòng 32 đội. Athletic sau đó làm nên chiến thắng 3-2 trước Manchester United trong trận lượt đi tại Old Trafford, họ tiếp tục đánh bạn đội bóng 3 lần vô địch châu Âu và loại họ khỏi giải đấu với một chiến thắng ấn tượng 2-1 trên sân nhà. Fernando Llorente và Oscar de Marcos ghi bàn trong cả hai lượt trận. Trong trận tứ kết lượt đi, họ đụng độ FC Schalke 04 của Đức và chiến thắng trận lượt đi 4-2, mặc dù bị dẫn 2-1 tới phút 72 khi Raul lập cú đúp. Athletic tiếp tục hòa trận lượt về gặp Schalke 2-2, để vào bán kết Europa League đối mặt với Sporting Lisbon. Athletic thua trận lượt đi ở Bồ Đào Nha 2-1 sau khi vượt lên dẫn trước, nhưng họ đã đánh bại Sporting 3-1 trên sân nhà bằng bàn thắng của Markel Susaeta,Ibai Gómez và Fernando Llorente ở phút 89 khiến khán giả nhà bùng nổ. Họ hiên ngang vào chung kết, 4-3 chung cuộc. Trong trận chung kết cúp châu Âu chính thức đầu tiên của họ từ năm 1977, Athletic không thể duy trì mạch chiến thắng cũng như dành danh hiệu Cúp châu Âu sau 28 năm chờ đợi khi họ thua Atletico Madrid 3-0 nhờ sự tỏa sáng của Radamel Falcao. Trận chung kết diễn ra vào ngày 09 tháng 5 năm 2012 tại Arena Naţională ở Bucharest, Romania. Mặc dù suy sụp bởi thất bại này, vẫn còn có một cơ hội khác cho Athletic Club để đòi vinh quang với một lối chơi tích cực và kết quả của mùa giải đầu tiên không thể nói trước được điều gì. Sau khi đạt Copa del Rey 2012, đánh bại CD Mirandés, Athletic phải đối mặt với gã khổng lồ FC Barcelona, ​​đội bóng tỏ ra vượt trội về đẳng cấp so với Athletic và kết quả là 3-0 nghiêng về phía Barcelona. Tuy nhiên, việc trở thành Á quân Copa de Rey có nghĩa là Athletic đủ điều kiện tham dự UEFA Europa League, mặc dù họ kết thúc mùa giải ở vị trí thứ 10. Trước khi bắt đầu mùa giải 2012-13, Athletic đã trải qua một khoảng thời gian với một số xáo trộn. Sau khi gây ấn tượng tại Europa League, rất nhiều cầu thủ hàng đầu (theo truyền thông đồn) đã được các câu lạc bộ ở Anh, Ý và Đức nhòm ngó, và họ có thể cung cấp mức lương cao hơn và còn có thể được thi đấu ở Champions League. Trong đó, tiền đạo Fernando Llorente, người có hợp đồng đã gần kết thúc, không đồng ý một bản hợp đồng mới mới do nhu cầu tăng lương của mình (bị cáo buộc cao hơn nhiều so với mức trung ở câu lạc bộ, nhưng ít hơn so với một số tiền đạo hàng đầu khác ở những giải đấu khác). Và khi vị trí của mình bị lung lay, Javi Martínez muốn ra đi. Với tình hình tài chính của câu lạc bộ tương đối tốt và với một số trường hợp, nếu có, họ có những thay thế có sẵn dựa theo chính sách Basque của họ, Athletic có lập trường cứng rắn về vấn đề này, bất kỳ cầu thủ muốn rời khỏi sẽ phải đáp ứng điều khoản hợp đồng mua đứt. Martinez đã làm như vậy, gia nhập Bayern Munich trước thời hạn chuyển giao sau khi cầu thủ và đội bóng Đức đã đồng ý một thỏa thuận để tài trợ cho các khoản giá trị €40m, bất chấp sự từ chối của Athletic. Llorente thất bại trong việc đảm bảo một thỏa thuận như vậy và vẫn là một cầu thủ Athletic vào lúc đóng cửa của thị trường chuyển nhượng, mâu thuẫn vốn đã phát triển giữa anh và quản lý câu lạc bộ. Martínez và Llorente - được cho là hai cầu thủ quan trọng nhất trong 5 mùa trước - phải đối mặt với tình trạng phản bội người hâm mộ khi họ tìm đường ra đi, mà không đồng ý cải thiện để hòa hợp. Tình hình là phức tạp hơn nữa khi Marcelo Bielsa có một bất đồng lớn với các nhà thầu thực hiện việc cải thiện sân tập CLB Lezama. ông cảm thấy họ không phù hợp, chi phí lại đắt đỏ và chậm tiến độ, do đó hủy chuyến chuẩn bị trước mùa giải của ông với đội. Các tranh chấp trở thành một cuộc ẩu đả, tiếp theo Bielsa tuyên bố chỉ trích công việc - mà hệ thống phân cấp câu lạc bộ có phần tách mình ra. Đã có giai đoạn, huấn luyện viên người Argentina dường như đã rời vị trí của mình, và mặc dù vấn đề này cuối cùng đã được giải quyết,nó không phải là bầu không khí tích cực của câu lạc bộ mong muốn khi mùa giải tiếp mới sắp bắt đầu. Tiền đạo giàu kinh nghiệm Aritz Aduriz trở về từ Valencia CF và Ismael López là bản hợp đồng mới khác. Cùng với việc bán Javi Martinez, lão hóa đội hình bởi Koikili, Igor Gabilondo và Aitor Ocio vào cuối mùa giải, họ theo dõi cầu thủ chạy cánh David López và hậu vệ Ustaritz vào ngày cuối cùng của thị trường chuyển nhượng. Với bối cảnh không chắc chắn này, cùng với chấn thương của một số cầu thủ trong đội hình có lẽ không ngạc nhiên khi Athletic bắt đầu mùa giải của họ với một số kết quả nghèo nàn. Không có sự hiện diện của Llorente, mặc dù Aduriz có khả năng, các chiến thuật sử dụng các cầu thủ được coi là tiền vệ phòng thủ để tăng cấp độ kỹ thuật chung của đội bóng được xem là phản tác dụng phần nào khi đối thủ tạo ra cơ hội một cách dễ dàng đến mức báo động. Trong 8 trận đấu đầu tiên của họ (4 ở La Liga và 4 ở vòng sơ loại Europa League), Athletic ghi được 21 bàn thắng nhưng thủng lưới tới 18. Tiền vệ triển vọng Iñigo Ruiz de Galarreta cũng kết thúc mùa giải sớm với một chấn thương dây chằng trước. Mặc dù Athletic tham gia vòng bảng Europa League, họ đã có nguy cơ bị loại khi chỉ giành một điểm duy nhất trong bốn trận đầu tiên. Tại Copa del Rey, Athletic bối rối ở sân nhà khi họ bị đánh bại trong trận mở màn bởi SD Eibar - câu lạc bộ như là công ty con Athletic Bilbao. Bilbao bị loại một cách không thể ngẩng đầu lên được bởi một đội bóng yếu hơn của xứ Basque. Trớ trêu thay, một cựu cầu thủ Athletic Bilbao, Mikel Arruabarrena, ghi bàn thắng loại câu lạc bộ cũ của mình. Một tuần trước đó, tại trận đấu cuối cùng ở Cúp châu Âu,trên sân vận động của Sparta Prague họ có một trận hòa 0-0. Mặc dù chỉ còn lại một giải đấu để tập trung vào,Athletic vẫn bất thường. Họ vẫn tiếp tục chiếm ưu thế kiểm soát bóng và tạo cơ hội, vấn đề công làm thủ phá bởi gây ra sự mệt mỏi khiến thủng lưới và nhiều và hơn nữa số điểm họ giành được giảm. Tại San Mames, họ chiến thắng Atlético Madrid sau thất bại trước Zaragoza và Rayo và tiếp theo là khủng hoảng sâu hơn nữa khi để Espanyol đánh bại (0-4) và thua Real Sociedad, và chiến thắng Osasuna, Valencia và Granada trong tháng ba, do đó giảm lo ngại về nguy cơ xuống hạng. Với hậu vệ Fernando Amorebieta bị chấn thương, sau đó ra khỏi đội hình chính thức và rời khỏi câu lạc bộ, Bielsa đôn hậu vệ trẻ người Pháp Aymeric Laporte lên như một sự thay thế tiềm năng. Sự thiếu kinh nghiệm khiến cho anh này dẫn đến một số sai lầm (và hai thẻ đỏ) mặc dù tốc độ và kỹ năng của anh này có tiềm năng trong tương lai. Laporte đã ký một hợp đồng dài hạn với câu lạc bộ. Athletic bất bại trong tháng Tư và đầu tháng Năm (bao gồm cả trận hòa với Barcelona), và do kết quả kém từ các đối thủ, họ có khả năng đủ điều kiện tham dự cúp châu Âu một lần nữa bất chấp tất cả những khó khăn của mùa giải. Tuy nhiên niềm tin dập tắt trong thất bại 0-1 đến một UD Levante, và trận đấu đó là tổng kết mùa giải: tiềm năng đáng kể và mang niềm hy vọng của sự thành công với bối cảnh của niềm tự hào truyền thống trong một đấu trường mang tính biểu tượng đó sẽ sớm được phát triển, nhưng cuối cùng kết thúc với một kết quả đáng thất vọng không đạt kì vọng, được sự phấn khích của các mùa giải trước và sự đồng thuận của cả câu lạc bộ và và người hâm mộ có thể nhìn ra đây là một đội hình các cầu thủ và huấn luyện viên đã có thể thực hiện tốt hơn. Những điểm sáng trong chiến dịch áp đảo thuộc về Athletic Bilbao, mà cầu thủ trẻ thực hiện tốt trong suốt mùa giải và thăng hạng Liga Adelante, nuôi hy vọng một số đội hình có thể cung cấp nhiều hơn cầu thủ dự phòng khẩn cấp cho đội bóng sau mùa giải. Các một điều chắc chắn sẽ là Athletic sẽ được chơi trong một sân vận động mới, San Mames Barria, mặc dù trong một trạng thái chưa hoàn thành một phần. Fernando Llorente rời câu lạc bộ tới Juventus sau khi hội đồng quản trị Athletic liên tục bác bỏ các lựa chọn của bất kỳ bản hợp đồng nào liên quan đến một khoản phí trong kỳ chuyển nhượng mùa đông, ngôi sao này ngồi trên ghế dự bị ở Athletic và mất phong độ. Amorebieta, người cũng không đóng vai trò quan trọng trong các kế hoạch sau này, chuyển tới Fulham. == Thành tích == Vô địch Tây Ban Nha (La Liga): 8 1930, 1931, 1934, 1936, 1943, 1956, 1983 & 1984 Cúp Nhà vua (Copa del Rey): 23 1903, 1904, 1909, 1911, 1914, 1915, 1916, 1921, 1923 1930, 1931, 1932, 1933, 1943, 1944, 1945, 1950, 1955, 1956 1958, 1969, 1973 & 1984 Siêu cúp bóng đá Tây Ban Nha: 2 1950, 2015 Cúp UEFA: chung kết mùa bóng 1976-1977, 2011-2012 == Đội hình hiện tại == Số liệu thống kê chính xác tới 1 tháng 9 năm 2015 Ghi chú: Quốc kỳ chỉ đội tuyển quốc gia được xác định rõ trong điều lệ tư cách FIFA. Các cầu thủ có thể giữ hơn một quốc tịch ngoài FIFA. === Cho mượn === Ghi chú: Quốc kỳ chỉ đội tuyển quốc gia được xác định rõ trong điều lệ tư cách FIFA. Các cầu thủ có thể giữ hơn một quốc tịch ngoài FIFA. == Trang phục áo đấu == == Nhà tài trợ == == Chú thích == == Liên kết ngoài == Trang web chính thức
thanh niên (báo).txt
Báo Thanh Niên là một tờ báo Việt Nam phát hành hàng ngày có trụ sở tại Thành phố Hồ Chí Minh. Đây là một trong những tờ báo có số lượng phát hành lớn nhất Việt Nam với 300.000 bản một ngày (có thời điểm phát hành hơn 400.000 bản). Ngày 3 tháng 1 năm 1986, báo ra số đầu tiên với tên gọi Tuần tin Thanh Niên trực thuộc Hội Liên hiệp Thanh niên Việt Nam. Trước đây, ngày 21 tháng 6 năm 1925, cũng có một tờ báo mang tên Thanh Niên do Nguyễn Ái Quốc sáng lập nhưng không phải là tiền thân của tờ Thanh Niên ngày nay. == Lịch sử == Ngày 3 tháng 1 năm 1986, báo ra số đầu tiên với tên gọi Tuần tin Thanh Niên trực thuộc Hội Liên hiệp Thanh niên Việt Nam. Tổng biên tập đầu tiên của tờ báo là ông Huỳnh Tấn Mẫm, người từng là Chủ tịch Tổng hội Sinh viên Sài Gòn trong thời kỳ chiến tranh . Ban đầu, tờ báo đặt trụ sở tại hành lang văn phòng Câu lạc bộ Hội Liên hiệp Thanh Niên số 145, đường Pasteur, phường 6, Quận 3, TP.HCM (là trụ sở của VP Trung ương Đoàn Thanh Niên Cộng sản Hồ Chí Minh - phía Nam). Sau đó, từ tháng 10/1986, tòa soạn báo Thanh Niên chuyển về số 1 Ter, đường Nguyễn Thành Ý, Quận 1, TP.HCM. Từ ngày 1/5/1987, tòa soạn chính thức chuyển về số 20 Ter, đường Trần Hưng Đạo B, Quận 5, TP.HCM. Từ ngày 1/7/1992, tòa soạn chính thức chuyển về số 248, đường Cống Quỳnh, Quận 1, TP.HCM. Tháng 2/1998, tòa soạn chuyển về số 189 Cống Quỳnh, Quận 1, TP.HCM (nhà thuê), để chuẩn bị khởi công xây dựng lại trụ sở tại 248 Cống Quỳnh. Ngày 7/6/1999, tòa soạn chuyển về lại số 248 Cống Quỳnh, Quận 1, TP.HCM. Từ tháng 10/2015, tòa soạn chuyển về số 268 - 270 đường Nguyễn Đình Chiểu, Quận 3, TP.HCM. Ngoài tòa soạn chính tại TP.HCM, báo Thanh Niên còn có tòa soạn tại Hà Nội. Cụ thể: Từ tháng 4/1989, Tuần tin Thanh Niên bắt đầu mở cơ quan đại diện tại số 55 Phố Quang Trung, Hà Nội. Ngày 11/7/1990, Ban Bí thư Trung ương Đoàn ra Quyết định thành lập Ban đại diện Tuần tin Thanh Niên tại Hà Nội, đặt tại số 139A Mai Hắc Đế, Hà Nội. Đến tháng 11/1990, tòa soạn Hà Nội được chuyển về số 5A Hàm Long, Hà Nội. Tháng 7/1996, tòa soạn Hà Nội tiếp tục chuyển về số 197 Tây Sơn, Hà Nội. Sau này, số nhà trên được đổi thành số 218 Tây Sơn, Hà Nội. Từ năm 2009, tòa soạn tạm chuyển về 167 Tây Sơn, Hà Nội để chuẩn bị xây mới trụ sở 218 Tây Sơn. Đến tháng 6/2014 tòa soạn mới tại 218 Tây Sơn chính thức hoạt động Kế nhiệm ông Huỳnh Tấn Mẫm (1/1986 - 9/1989), ông Lương Ngọc Bộ (10/1989 -9/1990), ông Nguyễn Công Khế là tổng biên tập tờ báo từ năm 1990 đến cuối năm 2008. Từ tháng 1/2009 đến tháng 8/2009 ông Đặng Thanh Tịnh là Phó tổng biên tập phụ trách. Hiện nay tổng biên tập của tờ báo là ông Nguyễn Quang Thông (từ 9/2009). Ngoài hoạt động báo chí, báo Thanh Niên còn tổ chức nhiều hoạt động văn hóa xã hội như chương trình ca nhạc Duyên Dáng Việt Nam, Khát vọng trẻ, giải vô địch bóng đá U21 Việt Nam, quỹ học bổng Nguyễn Thái Bình..., chương trình Tư vấn Mùa thi, Tiếp sức mùa thi,... == Các ấn phẩm == Thanh Niên (Nhật báo - Tiếng Việt) Thanh Niên Tuần San (Tạp chí -Ttiếng Việt) Thanh Niên Online Tiếng Việt (http://thanhnien.vn) Thanh Niên Online Thể thao (http://thethao.thanhnien.vn) Tin giải trí - Sao Ihay (http://ihay.thanhnien.vn) Tin nóng (http://tinnong.thanhnien.vn) == Chú thích == == Xem thêm == Hội Liên hiệp Thanh niên Việt Nam
anh thuộc la mã.txt
Anh thuộc La Mã (tiếng Latin: Britannia hay, sau đó, Britanniae; tiếng Anh: Roman Britain) là các vùng nhất định trên đảo Anh trong khoảng thời gian vùng này bị đế chế La Mã cai trị., từ năm 43 tới 409/410. Julius Caesar xâm chiếm nước Anh năm 55 và 54 TCN như là một phần của cuộc chiến tranh Gallic. Người Anh đã bị xâm chiếm hay đồng hóa về mặt văn hóa của những bộ lạc Celtic khác trong thời kỳ đồ sắt và đã giúp đỡ các kẻ thù của Caesar. Caesar nhận tiền cống, đưa một vua thân thiện hơn lên ngôi cai trị vùng Trinovantes, và trở về Gaul. == Tham khảo == == Đọc thêm == == Liên kết ngoài == Roman Britain trên chương trình In Our Time của BBC. (Nghe tại đây) Timeline of Roman Britain at BBC The Romans in Britain Roman Britain, by Kevan W. White The Roman Army and Navy in Britain, by Peter Green Roman Britain, by Guy de la Bédoyère Roman Britain at LacusCurtius Roman London: "In their own words"PDF by Kevin Flude Roman Britain – History Roman Colchester Roman Wales RCAHMW
chuyến tàu mang tên dục vọng (kịch).txt
Chuyến tàu mang tên dục vọng (tên gốc tiếng Anh: A Streetcar Named Desire) là một vở kịch của Tennessee Williams được công diễn lần đầu tiên năm 1947. Vở kịch này đã đem lại cho Tennessee Williams giải Pulitzer năm 1948. Tennessee Williams còn đoạt giải thưởng này một lần nữa vào năm 1955 với Con mèo trên mái nhà nóng bỏng (Cat on a Hot Tin Roof). Năm 1951, đạo diễn Elia Kazan đã quay bộ phim Chuyến tàu mang tên dục vọng với hai diễn viên chính Vivien Leigh trong vai Blanche DuBois và Marlon Brando trong vai Stanley Kowalski. Nhiều nhà phê bình chú ý nhiều điểm tương đồng của vở kịch với tác phẩm Blue Jasmine (2013) của đạo diễn Woody Allen và gọi đây là một phiên bản chuyển thể điện ảnh đương đại. Ngoài ra còn có vở opera Chuyến tàu mang tên dục vọng của André Prévin năm 1995. == Dàn diễn viên gốc == Jessica Tandy vai Blanche DuBois Karl Malden vai Harold "Mitch" Mitchell Marlon Brando vai Stanley Kowalski Kim Hunter vai Stella Kowalski Rudy Bond vai Steve Hubbell Nick Dennis vai Pablo Gonzales Peg Hillias vai Eunice Hubbell Vito Christi vai Young Collector Richard Garrick vai A Strange Man Ann Dere vai A Strange Woman Gee Gee James vai Negro Woman Edna Thomas vai Mexican Woman == Giải thưởng và đề cử == Giải thưởng 1948 New York Drama Critics' Circle Best Play 1948 Tony Award for Best Actress in a Play – Jessica Tandy 1948 Pulitzer Prize for Drama 1992 Theater World Award for Best Actress in a Play – Jessica Lange 2010 Olivier Award for Best Actress in a Play – Rachel Weisz 2010 Olivier Award for Best Supporting Actress in a Play - Ruth Wilson Đề cử 1988 Tony Award for Best Revival of a Play 1988 Tony Award for Best Actress in a Play – Frances McDormand 1988 Tony Award for Best Actress in a Play – Blythe Danner 1992 Tony Award for Best Actor in a Play – Alec Baldwin 2005 Tony Award for Best Featured Actress in a Play – Amy Ryan 2005 Tony Award for Best Costume Design of a Play 2005 Tony Award for Best Lighting Design of a Play 2010 Olivier Award for Best Revival of a Play 2015 Olivier Award for Best Revival of a Play 2015 Olivier Award for Best Actress in a Play – Gillian Anderson == Tham khảo == == Liên kết ngoài == Bản mẫu:IBDB show
samsung galaxy s4 mini.txt
Samsung Galaxy S4 Mini là một điện thoại thông minh Android được phát triển bởi nhà sản xuất Hàn Quốc Samsung Electronics. Được công bố vào ngày 31 tháng 3 năm 2013 và phát hành vào tháng 7 năm 2013, S4 Mini là phiên bản tầm trung của chiếc điện thoại thông minh chủ lực Galaxy S4 và là thiết bị kế nhiệm của Galaxy S III Mini. Nó có thiết kế phần cứng và tính năng phần mềm tương tự như phiên bản cao cấp của nó. == Thông số kĩ thuật == === Phần mềm & cập nhật === === Biến thể quốc tế === == Samsung Galaxy S4 Mini Plus == == Thiết bị kế nhiệm == Thiết bị kế nhiệm Galaxy S4 Mini là Galaxy S5 Mini. Nó được công bố ngày 30 tháng 5 năm 2014, và sau đó được phát hành vào tháng 7 năm 2014. == Xem thêm == Samsung Galaxy S series HTC One Mini == Tham khảo == == Liên kết ngoài == Full phone specifications
giải quần vợt wimbledon 2014.txt
Giải quần vợt Wimbledon 2014 diễn ra tại Câu lạc bộ quần vợt và croquet sân cỏ toàn Anh ở Wimbledon, Luân Đôn, Vương quốc Anh từ 23 tháng 6 đến 6 tháng 7 năm 2014. Đây là mùa giải thứ 128, và là giải Grand Slam thứ ba của năm 2014, diễn ra trên sân cỏ và là một phần của ATP World Tour, WTA Tour, ITF Junior Tour và NEC Tour. Giải do Câu lạc bộ quần vợt sân cỏ toàn Anh và Liên đoàn quần vợt Quốc tế tổ chức. Andy Murray đến từ Vương quốc Anh là đương kim vô địch đơn nam nhưng đã để thua Grigor Dimitrov tại tứ kết. Marion Bartoli đến từ Pháp là đương kim vô địch đơn nữ nhưng việc cô giã từ sự nghiệp ngay sau chiến thắng trước có nghĩa là cô sẽ không quay trở lại để cạnh tranh ngôi vương này tại giải năm nay. Các vận động viên vô địch đơn nam và đơn nữ năm nay lần lượt là Novak Djokovic của Serbia và Petra Kvitova của Cộng hòa Séc. == Cách tính điểm và giải thưởng == ==== Điểm hạng mục chính ==== === Giá trị giải thưởng === Tổng giá trị giải thưởng của giải Wimbledon năm 2014 đã tăng 10,8% so với năm trước lên £25.000.000. Các nhà vô địch đơn nam và đơn nữ sẽ nhận được £1,76 triệu, tăng £160.000 so với năm trước. Giải thưởng ở các hạng mục đôi được tính tùy từng VĐV. == Hạt giống == ==== Withdrawn players ==== == Vô địch == === Nội dung lớn === ==== Đơn nam ==== Novak Djokovic thắng Roger Federer, 6–7(7–9), 6–4, 7–6(7–4), 5–7, 6–4 ==== Đơn nữ ==== Petra Kvitová thắng Eugenie Bouchard, 6–3, 6–0 ==== Đôi nam ==== Vasek Pospisil / Jack Sock thắng Bob Bryan / Mike Bryan, 7–6(7–5), 6–7(3–7), 6–4, 3–6, 7–5 ==== Đôi nữ ==== Sara Errani / Roberta Vinci thắng Tímea Babos / Kristina Mladenovic, 6–1, 6–3 ==== Đôi hỗn hợp ==== Nenad Zimonjić / Samantha Stosur thắng Max Mirnyi / Chan Hao-ching, 6–4, 6–2 === Nội dung trẻ === ==== Đơn nam trẻ ==== Noah Rubin thắng Stefan Kozlov, 6–4, 4–6, 6–3 ==== Đơn nữ trẻ ==== Jeļena Ostapenko thắng Kristína Schmiedlová, 2–6, 6–3, 6–0 ==== Đôi nam trẻ ==== Orlando Luz / Marcelo Zormann thắng Stefan Kozlov / Andrey Rublev, 6–4, 3–6, 8–6 ==== Đôi nữ trẻ ==== Tami Grende / Ye Qiuyu thắng Marie Bouzková / Dalma Gálfi, 6–2, 7–6(7–5) === Huyền thoại === ==== Đôi nam khách mời ==== Thomas Enqvist / Mark Philippoussis thắng Jacco Eltingh / Paul Haarhuis, 3–6, 6–3, [10–3] ==== Đôi nữ khách mời ==== Jana Novotná / Barbara Schett thắng Martina Navratilova / Selima Sfar, 6–0, 7–6(7–2) ==== Đôi nam khách mời cao tuổi ==== Guy Forget / Cédric Pioline thắng Rick Leach / Mark Woodforde, 6–4, 6–3 === Xe lăn === ==== Đôi nam xe lăn ==== Stéphane Houdet / Shingo Kunieda thắng Maikel Scheffers / Ronald Vink, 5–7, 6–0, 6–3 ==== Đôi nữ xe lăn ==== Yui Kamiji / Jordanne Whiley thắng Jiske Griffioen / Aniek van Koot, 2–6, 6–2, 7–5 == Tham khảo == Bản mẫu:ATP World Tour 2014 Bản mẫu:WTA Tour 2014 Bản mẫu:Quần vợt năm 2014 == Liên kết ngoài == Website chính thức
nhà nước.txt
Nhà nước, hiểu theo nghĩa pháp luật, là một tổ chức xã hội đặc biệt của quyền lực chính trị được giai cấp thống trị thành lập nhằm thực hiện quyền lực chính trị của mình. Nhà nước vì thế mang bản chất giai cấp. Nhà nước xuất hiện kể từ khi xã hội loài người bị phân chia thành những lực lượng giai cấp đối kháng nhau; nhà nước là bộ máy do lực lượng nắm quyền thống trị (kinh tế, chính trị, xã hội) thành lập nên, nhằm mục đích điều khiển, chỉ huy toàn bộ hoạt động của xã hội trong một quốc gia, trong đó chủ yếu để bảo vệ các quyền lợi của lực lượng thống trị. Thực chất, nhà nước là sản phẩm của cuộc đấu tranh giai cấp. == Bản chất == === Học thuyết Mác - Lênin === Theo quan điểm của học thuyết Mác - Lênin, nhà nước mang bản chất giai cấp. Nhà nước chỉ ra đời từ khi xã hội phân chia giai cấp. Giai cấp nào thì nhà nước đó. Do trong xã hội nguyên thủy không có phân chia giai cấp, nên trong xã hội nguyên thủy không có Nhà nước. Cho đến nay, đã có 4 kiểu Nhà nước được hình thành: Nhà nước chủ nô, Nhà nước phong kiến, Nhà nước tư sản, Nhà nước vô sản (Nhà nước xã hội chủ nghĩa). Nhà nước được giai cấp thống trị thành lập để duy trì sự thống trị của giai cấp mình, để làm người đại diện cho giai cấp mình, bảo vệ lợi ích của giai cấp mình. Bản chất nhà nước có hai thuộc tính: tính xã hội và tính giai cấp cùng tồn tại trong một thể thống nhất không thể tách rời và có quan hệ biện chứng với nhau. Tính giai cấp là thuộc tính cơ bản, vốn có của bất kỳ nhà nước nào. Nhà nước ra đời trước hết phục vụ lợi ích của giai cấp thống trị; tính xã hội của nhà nước thể hiện ở chỗ nhà nước là đại diện chính thức của toàn xã hội, và ở múc độ này hay mức độ khác nhà nước thực hiện bảo vệ lợi ích cơ bản, lâu dài của quốc gia dân tộc và công dân mình. == Đặc trưng cơ bản == === Học thuyết Mác - Lênin === Theo quan điểm của học thuyết Mác - Lênin, nhà nước có năm đặc trưng cơ bản sau đây: Nhà nước có quyền lực chính trị công cộng đặc biệt; có bộ máy cưỡng chế, quản lý những công việc chung của xã hội. Nhà nước có quyền quản lý dân cư, phân chia lãnh thổ thành các đơn vị hành chính. Nhà nước có chủ quyền quốc gia. Nhà nước có quyền xây dựng, sáng tạo pháp luật và có quyền điều chỉnh các quan hệ xã hội bằng pháp luật. Nhà nước có quyền ban hành các sắc thuế và thu thuế. == Vai trò == Ban hành pháp luật và văn bản dưới luật; Ban hành các chính sách kinh tế vĩ mô, điều tiết, điều phối các chính sách kinh tế - xã hội; Đầu tư, cung cấp sản phẩm, dịch vụ xã hội cơ bản (cấp phép, kiểm dịch, kiểm định, giám sát, kiểm tra, v.v...); Giải quyết các vấn đề xã hội (người già, trẻ em, người tàn tật, v.v...); Bảo vệ môi trường, giao thông, phòng chống thiên tai, bão lụt, v.v... == Bộ máy Nhà nước == Bộ máy nhà nước được tổ chức thành các cơ quan nhà nước để thực hiện các nhiệm vụ và chức năng Nhà nước. Có thể phân loại thành ba hệ thống cơ quan Nhà nước, đó là hệ thống các cơ quan lập pháp, cơ quan hành pháp và cơ quan tư pháp. Hệ thống các cơ quan lập pháp là các cơ quan quyền lực Nhà nước, bao gồm Quốc hội (hoặc Nghị viện) và các hội đồng địa phương. Hệ thống các cơ quan hành pháp là các cơ quan hành chính Nhà nước, bao gồm Chính phủ (hay Nội các), các Bộ và cơ quan ngang Bộ, các cơ quan trực thuộc Chính phủ, các chính quyền địa phương. Hệ thống các cơ quan tư pháp bao gồm các cơ quan xét xử (các hệ thống tòa án) và các cơ quan kiểm sát (ở các nước Xã hội chủ nghĩa). Các cơ quan Nhà nước khác với các tổ chức xã hội khác là có quyền lực Nhà nước, có nhiệm vụ, chức năng Nhà nước và thẩm quyền theo quy định của pháp luật (nghĩa là chỉ được làm những việc luật cho phép), có hình thức hoạt động theo quy định của pháp luật. == Hình thức == Hình thức của Nhà nước được xác định thông qua chính thể, cấu trúc lãnh thổ và chế độ chính trị. === Hình thức theo chủ quyền === Nhà nước độc lập; Nhà nước lệ thuộc. === Hình thức chính thể === ==== Theo cách thức mà người đứng đầu nhà nước (Staatsoberhaupt) được lập ra ==== Machiavelli (1469-1527) phân chia hình thức nhà nước theo cách thức mà người đứng đầu nhà nước (president of the state/ Staatsoberhaupt) được lập nên: Nhà nước Cộng hòa (Republik), tức người đứng đầu nhà nước qua bầu cử và Nhà nước quân chủ (Monarchie), tức người đứng đầu nhà nước qua cha truyền con nối. Nhà nước quân chủ: Nhà nước quân chủ tuyệt đối (absolute Monarchie): đây là hình thức Nhà nước mà quyền lực tối cao của Nhà nước tập trung hoàn toàn trong tay nhà vua (nguyên thủ quốc gia) theo nguyên tắc thế tập (truyền ngôi). Nhà nước quân chủ hạn chế (konstitutionelle Monarchie): còn gọi là Nhà nước quân chủ lập hiến hay quân chủ đại nghị, quyền lực của nhà Vua bị hạn chế, nhường quyền lực cho các thiết chế khác của Nhà nước (Quốc hội, Nghị viện, Chính phủ). Hiến pháp là văn bản thể hiện sự hạn chế này. Nhà nước cộng hòa: Trong chính thể cộng hoà, nguyên thủ quốc gia là do bầu cử. Nhà nước cộng hòa quý tộc: đây là hình thức Nhà nước trong đó các cơ quan đại diện là do tầng lớp quý tộc bầu ra. Nhà nước cộng hòa dân chủ: đây là hình thức Nhà nước trong đó các cơ quan đại diện là do nhân dân bầu ra. Hình thức này lại chia làm 3 loại dưới đây. Nhà nước cộng hòa đại nghị: Trong Nhà nước hình thức này, nghị viện có quyền lực rất lớn và nguyên thủ quốc gia là do nghị viện bầu ra, Chính phủ do đảng nắm đa số ghế trong nghị viện thành lập và chịu trách nhiệm trước nghị viện, nghị viện có quyền bỏ phiếu tín nhiệm đối với Chính phủ. Các nước theo chế độ này: CHLB Đức (từ 1949), Áo (từ 1955), Cộng hòa Séc (từ 1993), Đông Timor (1999), Hungary (1990), Ấn Độ (1950), Italia (từ 1948), Ba Lan (1990), Bồ Đào Nha (1976), Singapore (1965), Thổ Nhĩ Kỳ (từ 1923), Cộng hòa Nam Phi (từ 1961)… Nhà nước cộng hòa tổng thống: Trong Nhà nước hình thức này, nguyên thủ quốc gia (tổng thống) đứng đầu hành pháp, có rất nhiều quyền lực. Tổng thống do nhân dân bầu ra, hoặc bằng hình thức trực tiếp hoặc bằng hình thức gián tiếp (thông qua đại cử tri). Các thành viên Chính phủ do Tổng thống bổ nhiệm và chịu trách nhiệm trước Tổng thống. Các nước hiện nay theo chế độ này: Hoa Kỳ, Hàn Quốc, Uruguay, Brazil, Afghanistan, Colombia, Indonesia, Iran, Chile, Paraguay, Venezuela, Mexico, Nigeria, Philippines… Nhà nước cộng hòa lưỡng tính (bán tổng thống): Nhà nước hình thức này mang đặc trưng của cả cộng hòa nghị viện lẫn cộng hòa tổng thống. Tổng thống do dân bầu (trực tiếp hoặc gián tiếp); Tổng thống vừa là nguyên thủ quốc gia vừa là người lãnh đạo nội các; Nội các do Thủ tướng đứng đầu, do Nghị viện thành lập, vừa chịu trách nhiệm trước Nghị viện vừa chịu trách nhiệm trước Tổng thống; Tổng thống có quyền giải tán Nghị viện. Chính thể ở Pháp, và Nga là điển hình cho loại hình cộng hoà lưỡng tính. === Hình thức cấu trúc === Nhà nước đơn nhất: Trong Nhà nước hình thức này, hệ thống cơ quan Nhà nước được tổ chức thống nhất từ trung ương tới địa phương, hệ thống pháp luật thống nhất, các chính quyền địa phương hoạt động trên cơ sở các quy định của chính quyền trung ương và thường được xem là cấp dưới của chính quyền trung ương. Ví dụ: Việt Nam, Pháp, Trung Quốc. Nhà nước liên bang: Trong Nhà nước hình thức này, ngoài hệ thống pháp luật chung của toàn quốc, mỗi địa phương có thể có pháp luật riêng; ngoài hệ thống cơ quan Nhà nước chung, mỗi địa phương có thể có hệ thống cơ quan Nhà nước riêng. Quan hệ giữa chính quyền trung ương và chính quyền địa phương là quan hệ đối đẳng. Ví dụ: Nhà nước liên bang Hoa Kỳ, Nhà nước Cộng hòa liên bang Đức. Nhà nước liên hiệp (Hay còn gọi là nhà nước liên minh): Đây là sự liên kết tạm thời giữa các nhà nước để nhằm thực hiện một nhiệm vụ nhất định. Sau khi hoàn thành nhiệm vụ các nhà nước có thể trở thành các nhà nước đơn nhất hoặc nhà nước liên bang. Ví dụ: Tháng 10/ 1776 Hội đồng lục địa (Chính quyền tư sản liên bang) Hoa Kỳ đã ban hành các điều khoản của liên bang. Theo các điều khoản này nhà nước tư sản Mỹ là một nhà nước liên minh. Chính quyền tư sản liên bang muốn giải quyết về vấn đề gì quan trọng phải được 9/13 bang đồng ý. Tháng 5/1787 Hội nghị toàn liên bang được triệu tập đã xóa bỏ các Điều khoản liên bang, xây dựng một nhà nước liên bang và một bản Hiến pháp chung cho toàn liên bang === Chế độ chính trị === Chế độ chính trị của nhà nước có hai dạng: Chế độ chính trị dân chủ; Chế độ chính trị phản dân chủ: bao gồm các hình thức Nhà nước phát xít, Nhà nước độc tài, Nhà nước chuyên chế. === Kiểu nhà nước === Nhà nước chiếm hữu nô lệ; Nhà nước phong kiến; Nhà nước tư bản chủ nghĩa; Nhà nước xã hội chủ nghĩa. == Con số quốc gia == Tổng cộng có 194 nước được Liên hiệp quốc công nhận là các quốc gia có chủ quyền, xem Danh sách quốc gia. Trong đó 193 nước là thành viên của Liên hiệp quốc và Thành quốc Vatican. Tòa Thánh (không phải Thành quốc Vatican) và Nhà nước Palestine được Đại hội đồng Liên Hiệp Quốc cho quyền quan sát. Các nước không được Liên hiệp quốc công nhận, nhưng được một thiểu số các nước trên thế giới công nhận (→ Danh sách quốc gia được công nhận hạn chế): Abkhazia (được Nauru, Nicaragua, Russland, Tuvalu, Vanuatu và Venezuela công nhận) Trung Hoa Dân Quốc (tức Đài Loan, được 23 nước công nhận) Kosovo (được 109 nước công nhận trong đó có Đức, Liechtenstein, Áo và Thụy Sĩ, công nhận. Cộng hòa Bắc Síp Thổ Nhĩ Kỳ (được Thổ Nhĩ Kỳ công nhận) Cộng hòa Dân chủ Ả Rập Xarauy (được 46 nước công nhận) Nam Ossetia (được Nauru, Nicaragua, Nga và Venezuela công nhận) == Tham khảo == Giáo trình Đại cương Nhà nước và Pháp luật, Nguyễn Văn Thảo, Nhà xuất bản Thống kê, Hà Nội, tháng 4/2008. Giáo trình Pháp luật Đại cương, Ngô Văn Tăng Phước, Nhà xuất bản Thống kê, Hà Nội, 2006. == Chú thích ==
thẩm phán.txt
Thẩm phán cũng còn gọi là quan tòa là người thực hiện quyền xét xử chính tại một phiên tòa, có thể là chủ tọa một mình hoặc là một thành phần trong hội đồng xét xử gồm nhiều thẩm phán. Các quốc gia khác nhau thì cũng có các quy định khác nhau về quyền hạn, chức năng, cách thức bổ nhiệm, kỷ luật, và đào tạo thẩm phán. Thẩm phán thực hiện việc xét xử một cách không thiên vị tại các phiên tòa công khai. Thẩm phán nghe những người làm chứng và các bên trong vụ án trình bày chứng cứ, đánh giá mức độ xác thực của các bên, và sau đó đưa ra phán quyết về vấn đề được trình bày dựa trên việc giải thích pháp luật và đánh giá chủ quan của mình. Tại một số quốc gia, quyền hạn của thẩm phán được chia sẻ với bồi thẩm đoàn hoặc hội thẩm, trong khi đó một số quốc gia khác lại giảm dần việc chia sẻ quyền hạn này. Trong hệ thống tố tụng hình sự thẩm vấn, thẩm phán đã tham gia vào việc điều tra sẽ không được là thẩm phán xét xử vụ án đó. == Các biểu tượng gắn liền với thẩm phán == Có rất nhiều truyền thống gắn liền với thứ bậc và chức vị của thẩm phán. Ở nhiều nơi trên thế giới, thẩm phán mặc áo choàng dài (thường là màu đen hoặc đỏ) và có vị trí ngồi trên một bục cao trong phiên tòa (được gọi là the bench). Ở một số quốc gia, đặc biệt là các quốc gia thuộc Khối Thịnh Vượng Chung, đôi khi các thẩm phán đội tóc giả màu trắng. Trong nhiều thế kỷ trước, những bộ tóc giả dài là một phần trang phục thông thường gắn liền với thẩm phán trong phiên tòa, nhưng giờ đây chúng chỉ được dùng trong những dịp lễ trang trọng. Hiện nay, trong phiên tòa các thẩm phán có thể đội các bộ tóc giả ngắn, nhìn tương tự nhưng không giống hệt bộ tóc giả của luật sư. Tuy nhiên, truyền thống này đang dần dần bị loại bỏ trong những phiên tòa không liên quan đến các vụ án hình sự. Ở Mỹ, các thẩm phán thường mặc áo choàng màu đen. Tuy nhiên, tại một số tiểu bang miền Tây, ví dụ như California, các thẩm phán không phải mọi lúc đều mặc áo choàng mà có thể mặc trang phục thông thường. Hiện nay, một số thẩm phán của tòa án tối cao cấp tiểu bang thì mặc các trang phục riêng biệt, ví dụ như tại Tòa Phúc Thẩm bang Maryland. Thẩm phán ở Mỹ sử dụng một chiếc búa mang tính nghi lễ để duy trì trật tự trong phiên tòa, mặc dù thực tế thì thẩm phán dựa vào các trợ lý hoặc chấp hành viên của tòa án và quyền hạn của mình là công cụ chính để làm việc này. Tại Ý, thẩm phán và luật sư đều mặc áo choàng đen riêng biệt. Tại Trung Quốc, trước năm 1984 các thẩm phán mặc trang phục thường ngày, kể từ năm 1984, thẩm phán mặc các bộ đồng phục mang kiểu cách quân đội, nhằm thể hiện quyền năng. Đến năm 2000, các bộ đồng phục này được thay thế bằng các bộ áo choàng đen tương tự như trang phục của nhiều nước khác. Tại Oman, thẩm phán mặc áo thụng (gồm các dải màu đỏ, xanh lá và trắng), còn các luật sư mặc áo thụng màu đen. Tại Việt Nam, thẩm phán của toà án quân sự mặc lễ phục quân đội; thẩm phán của toà án nhân dân mặc trang phục công sở, gồm quần âu, áo vest màu đen, áo sơ mi màu trắng. == Tước hiệu và danh xưng == Tại một số nước, thẩm phán được xưng hô bằng các danh xưng cao quý, như Your Honor (tại Mỹ), hoặc "Your Right Honorable Lordship" (Vuestra Señoría Excelentísima or Excelentísimo Señor/Excelentísima Señora). Tại một số nước khác, thẩm phán được xưng hô bằng chức vị của mình (Ông/Bà Chủ toạ phiên toà), như thẩm phán ở Ý được xưng hô là Signor presidente della corte, tương tự là tại Đức Herr Vorsitzender/Frau Vorsitzende. Tại Việt Nam, trong phiên toà, thẩm phán cùng với các hội thẩm nhân dân được xưng hô chung là "Quý Toà", (ví dụ: khi thẩm phán hỏi một đương sự trong vụ án thì đương sự đó có thể trả lời bằng mở đầu câu là: Thưa Quý Toà). Khi được nhắc đến với tư cách là ngôi thứ ba trong câu nói thì thẩm phán được gọi đơn giản là "(Ông/Bà) Thẩm phán" (ví dụ: một người có thể nói Thẩm phán Nguyễn Văn A là chánh án toà án nhân dân tỉnh B). == Tham khảo == == Liên kết ngoài == Nên thay đổi trang phục ngành Tòa án nhân dân
tiếng hausa.txt
Tiếng Hausa là một ngôn ngữ Chadic (một chi nhánh của hệ ngôn ngữ Phi-Á) với 35 triệu người sử dụng làm ngôn ngữ đầu tiên, 15 triệu người sử dụng làm ngôn ngữ thứ hai tại Nigeria, và hàng triệu người ở các nước khác, với tổng số ít nhất 50 triệu người. == Phạm vi sử dụng == Những người bản ngữ sử của tiếng Hausa, người Hausa, chủ yếu sinh sống ở Niger, ở phía bắc Nigeria và Chad. Hơn nữa, ngôn ngữ được sử dụng như một ngôn ngữ thương mại trên một khu vực rộng lớn hơn nhiều của Tây Phi (Benin, Ghana, Cameroon, Togo, Côte d'Ivoire, vv), Trung Phi (Chad, Cộng hòa Trung Phi, Guinea Xích Đạo) và tây bắc Sudan, đặc biệt là tín đồ Hồi giáo. Nó được giảng dạy tại các trường đại học ở châu Phi và trên thế giới. Ngôn ngữ này là ngôn ngữ phổ biến nhất được sử dụng ở Nigeria, nhưng không giống như các tiếng Yoruba và Igbo, nó cũng được sử dụng rộng rãi bên ngoài Nigeria, đặc biệt là ở Niger, Ghana, Cameroon và Sudan. Tiếng Hausa là trong văn hóa của Hoa Kỳ, với những lời Hausa sử dụng trong âm nhạc phổ biến như những giai điệu jazz, "FRIM Fram Sauce". Các đài phát thanh như BBC, Radio France Internationale, Đài Phát thanh Quốc tế Trung Quốc, Tiếng nói nước Nga, Voice of America, Deutsche Welle, và IRIB phát sóng tiếng Hausa. == Chú thích ==
vmware.txt
VMware Inc. là một công ty phần mềm lớn vốn thuộc tập đoàn EMC chuyên làm phần mềm tạo máy ảo cho các hệ thống máy tính tương thích chip x86 của Intel. Sản phẩm chính của công ty bao gồm phần mềm ảo hóa VMware Workstation cho máy tình để bàn và VMware ESX server, VMware GSX server cho máy chủ. Các phần mềm tạo máy ảo của VMware được coi là tốt nhất trên thế giới bởi nó hỗ trợ nhiều hệ điều hành khác nhau như GNU/Linux, Mac OS X và Microsoft Windows. Các phần mềm máy ảo khác như Virtual PC chỉ hoạt động trên hệ điều hành Microsoft Windows. Đặc biệt VMware là công ty hàng đầu cung cấp các giải pháp ảo hóa cho các trung tâm dữ liệu với các sản phẩm như: VMware vSphere, VMware vCloud, VMware Director,.... Công ty VMware Inc. có trụ sở chính ở thành phố Palo Alto, California, Hoa Kỳ và văn phòng nghiên cứu, phát triển ở Palo Alto, San Francisco, Massachusetts và ở Bangalore (Ấn Độ). Bạn có thể tìm hiểu thêm các thông tin bằng tiếng Việt về các giải pháp ảo hóa của VMware tại website: www.vmware.vn(Đường dẫn đã hỏng, hiện nay bạn chỉ có thể tìm hiểu các thông tin thêm về VMware bằng Tiếng Anh qua vmware.com). == Tham khảo == VMware Workstation, VMware Player,....
trường trung học phổ thông chuyên ngoại ngữ, đại học quốc gia hà nội.txt
Trường Trung học Phổ thông Chuyên Ngoại ngữ là trường trung học phổ thông chuyên trực thuộc trường Đại học Ngoại ngữ, Đại học Quốc gia Hà Nội. Đây là trường trung học phổ thông duy nhất ở Việt Nam chuyên giảng dạy các môn ngoại ngữ. Hiện nay, trường có các lớp chuyên ngữ sau: tiếng Anh, tiếng Pháp, tiếng Trung, tiếng Nga,tiếng Nhật, tiếng Đức và tiếng Hàn == Lịch sử == Trường Trung học phổ thông Chuyên Ngoại ngữ ra đời năm 1969 theo quyết định trực tiếp của Thủ tướng lúc bấy giờ là Phạm Văn Đồng, với nhiệm vụ đào tạo những học sinh giỏi về ngoại ngữ trên cơ sở vững vàng các bộ môn văn hoá phổ thông để tiếp tục đào tạo thành những cán bộ giỏi ngoại ngữ cho mọi lĩnh vực văn hoá và kinh tế sau này. Học sinh sau khi học xong lớp 7 (hệ 10 năm) được tuyển chọn thông qua lý lịch - và thi tuyển các môn Toán, Văn, Năng khiếu ngôn ngữ. Trường trực thuộc Đại học Sư phạm Ngoại ngữ- còn gọi là Đại học Sư phạm 3, phân biệt với Đại học Sư phạm 2: Toán-Lý-Hóa và Đại học Sư phạm 1: Văn-Sử-Địa. Do những yêu cầu hồi đó, học sinh vào trường này được coi như là cán bộ nhà nước- có học bổng và phiếu E, với mức lương thực bao cấp là 18 kg gạo/tháng. Trong năm học 1969-1970, trường trải qua nhiều nơi sơ tán (Thọ Trai- Hải Hưng). Tuy khó khăn của Chiến tranh Việt Nam, trường đã hoàn thành nhiệm vụ đào tạo những học sinh phổ thông cấp III để trường Ðại học Sư phạm Ngoại ngữ (nay là Đại học Ngoại ngữ - Đại học Quốc gia Hà Nội) đào tạo thành những cán bộ giảng dạy cho các trường đại học. Từ đầu năm 1973, trường chuyển về Km2 Cầu Giấy - địa điểm của trường cho đến giờ. Các giáo viên lãnh đạo ban đầu của Khoa Anh văn là: thầy Đặng Chấn Liêu, thầy Dương Ngọc Cơ. Khoa Nga văn là: các chuyên gia Nga, thầy Ca Sơn. Khoa Pháp văn là: cô Monique. Khoa Trung văn là: các chuyên gia Trung Quốc. Hiện nay, trường có nhiệm vụ đào tạo học sinh năng khiếu ngoại ngữ là nguồn cung cấp học sinh chất lượng cao cho trường Ðại học Ngoại ngữ và các trường đại học khác. == Hoạt động == Giống với các trường chuyên cấp quốc gia, chương trình học của Trung học phổ thông Chuyên Ngoại ngữ được cho là khá nặng và căng thẳng. Nhưng chính điều này là một phương châm giáo dục đúng đắn của nhà trường, được cho là chất lượng các môn học đều được đảm bảo, không chạy theo lối học ứng thí. Tuy nhiên các hoạt động ngoại khóa trong và ngoài nhà trường luôn được chú trọng. Chương trình Dạ hội tiếng (đổi tên thành Sắc màu Chuyên Ngoại ngữ năm 2008) được tổ chức vào ngày 26 tháng 3 hàng năm luôn để lại tiếng vang lớn. Mới đây, 10+ chương trình định hướng tân học sinh khối 10 đã được tổ chức thành công theo mô hình học tập từ Singapore. Nhà trường còn có các hoạt động khác như chương trình Leadership Camp (Bắt đầu được tổ chức một cách chuyên nghiệp và bài bản từ năm 2010 tại Ba Vì hay chương trình ngoại khoá, cắm trại cho học sinh cuối cấp tại Trung tâm hỗ trợ đào tạo và phát triển đô thi đại học - nằm tại khu vực chân núi Ba Vì kết hợp tham quan, dâng hương và báo công khu di tích K9 trong không khí vui vẻ và ấm áp. == Thành tích và khen thưởng == Nhà trường và các cá nhân đã đạt được những thành tích và danh hiệu sau. === Tập thể === Huân chương Độc lập hạng Ba năm 2014 Huân chương Lao động hạng Nhất năm 2004 Huân chương Lao động hạng Nhì năm 1999 Huân chương Lao động hạng Ba năm 1994 Bằng khen của Thủ tướng Chính phủ năm 2009 Bằng khen của Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam năm 2008 9 năm liền đạt danh hiệu Tập thể Lao động Xuất sắc của Đại học Quốc gia Hà Nội === Cán bộ, giáo viên === 4 giáo viên được Nhà nước phong tặng danh hiệu Nhà giáo Ưu tú (Nguyễn Phú Cường, Nguyễn Minh Cầu, Nguyễn Thị Chi, Nguyễn Thị Hiền) 6 giáo viên được tặng thưởng Huân chương Lao động hạng Ba (Nguyễn Phú Cường, Trần Quốc Thụy, Lê Đỗ Minh, Nguyễn Thị Chi, Nguyễn Thị Hồng, Lê Thị Chính) 12 cán bộ, giáo viên được nhận Bằng khen của Thủ tướng Chính phủ 8 cán bộ, giáo viên được nhận Bằng khen của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo 61 Bằng khen của Giám đốc Đại học Quốc gia Hà Nội cho cán bộ, giáo viên 3 Bằng khen của Liên đoàn Lao động thành phố Hà Nội Nhiều cán bộ, giáo viên được tặng thưởng: Huân, Huy chương Kháng chiến chống Mỹ cứu nước, Huy chương "Vì sự nghiệp Giáo dục", danh hiệu Chiến sĩ thi đua, Giáo viên dạy giỏi, Lao động giỏi các cấp. === Học sinh === 5 Huy chương Vàng và 3 Huy chương Đồng Olympic tiếng Nga Quốc tế Giải Nhì đồng đội và giải Nhì, Ba cá nhân tại vòng chung kết cuộc thi Quốc tế Nhịp cầu Hán ngữ năm 2008, giải Nhì toàn đoàn tại vòng Chung kết cuộc thi Quốc tế Nhịp cầu Hán ngữ năm 2009 408 giải Học sinh giỏi Quốc gia sau 20 năm dự thi Nhiều học sinh của trường được nhận Bằng khen của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo 5 học sinh được nhận giải thưởng Hoa Trạng nguyên trong hai năm 2008 và 2009 Giải Nhất Hội thi Tin học trẻ không chuyên toàn quốc năm 1999 Giải Nhì chung kết "Đường lên đỉnh Olympia" năm 2003 Giải Ba chung kết cuộc thi "Khám phá thế giới Computer" năm 2004 Nhiều lần giải Nhất các cuộc thi hùng biện tiếng Anh, tìm hiểu kiến thức do Đài Truyền hình Việt Nam và các Đại sứ quán tổ chức Nhiều lượt học sinh giành danh hiệu Thủ khoa toàn quốc trong kì thi tốt nghiệp Trung học phổ thông và Thủ khoa trong kì thi tuyển sinh đại học, trong đó có hai học sinh đạt điểm tuyệt đối 60/60 trong kì thi tốt nghiệp Trung học phổ thông (không tính điểm cộng) được Thủ tướng gửi thư khen (năm 1998 và 1999) == Ban giám hiệu hiện tại == Hiệu trưởng: PGS.TS. Nguyễn Thành Văn Phó Hiệu trưởng: ThS. Trần Thị Thu Nga Phó Hiệu trưởng: TS. Nguyễn Phú Chiến Phó Hiệu trưởng: TS. Lại Thị Phương Thảo == Các CLB == CNN Dance Club - CLB nhảy CNN English Club - CLB Tiếng Anh CNN Shine - CLB hoạt động cộng đồng CHJ (CNN Hanyu Julebu) - CLB Tiếng Trung CNN Music Club - CLB Âm nhạc Team CNN Leaders - CLB lãnh đạo và tổ chức các hoạt động CNN Rock Club - CLB nhạc rock CNN Science Intelligence - CLB khoa học CNN Pencil Club - CLB Hội họa CFC - CLB bóng đá DIAO - CLB bóng rổ CHR - CLB bóng chày JFA (Jeunes Francophiles de I'Annexe) - CLB Tiếng Pháp CNN Zoom - Nội san và kênh truyền thanh chính thức của trường THPT Chuyên Ngoại ngữ DKF - CLB Tiếng Đức CNN Japanese Club - CLB Tiếng Nhật == Các hoạt động ngoại khóa == Ten Plus - Chương trình định hướng và phát triển tân học sinh Hội vui khoa học CNN Charm CNN Can Cook Spring Sports - Hội thao chào xuân Sắc màu Chuyên Ngoại ngữ CNN Idol Prom Hùng biện tiếng Anh Hùng biện tiếng Nga-Pháp-Trung-Đức-Nhật Sân khấu hoá tác phẩm văn học Lễ báo công dâng Bác tại K9 Ba Vì Tham quan học tập == Chú thích == flss.edu.vn http://www.facebook.com/newcnnconfessions https://www.facebook.com/ChuyenNgoaiNguNews?fref=ts == Liên kết ngoài == Trang chủ Panorama cảnh trường
khóc.txt
Khóc là trạng thái chảy nước mắt tùy thuộc theo một cảm xúc nào đó, đa số là buồn cũng có thể là vui. Hành động khóc được định nghĩa là một hiện tượng vận tiết (secretomotor) phức tạp được biểu thị bởi việc chảy nước mắt từ bộ máy tiết lệ (lacrimal apparatus), mà không có dị ứng nào ở cấu trúc mắt người. == Tham khảo == == Đọc thêm == Frey, William H.; Langseth, Muriel (1985). Crying: The Mystery of Tears. Minneapolis: Winston Press. ISBN 0-86683-829-5. Lutz, Tom (1999). Crying: The Natural and Cultural History of Tears. New York: W.W. Norton. ISBN 0-393-04756-3. Walter, Chip (tháng 12 năm 2006). “Why do we cry?”. Scientific American Mind 17 (6): 44. == Liên kết ngoài == Damian Corless (ngày 8 tháng 8 năm 2008). “Boys don't cry?”. Irish Independent. : examines the Taboo that still surrounds public crying. John-Paul Flintoff (ngày 30 tháng 8 năm 2003). “Why we cry”. Melbourne: The Age. Gina Stepp (ngày 14 tháng 1 năm 2009). “It's No Party, But I'll Cry if I Want To”. Vision Media.
mê kông.txt
Sông Mê Kông là một trong những con sông lớn nhất trên thế giới, bắt nguồn từ Tây Tạng, chảy qua Trung Quốc, Lào, Myanma, Thái Lan, Campuchia và đổ ra Biển Đông ở Việt Nam. Tính theo độ dài đứng thứ 12 (thứ 2 tại châu Á), còn tính theo lưu lượng nước đứng thứ 10 trên thế giới (lưu lượng hàng năm đạt khoảng 475 triệu m³). Lưu lượng trung bình 13.200 m³/s, vào mùa nước lũ có thể lên tới 30.000 m³/s. Lưu vực của nó rộng khoảng 795.000 km² (theo số liệu của Ủy hội sông Mê Kông) hoặc hơn 810.000 km² (theo số liệu của Encyclopaedia Britannica 2004). Sông này xuất phát từ vùng núi cao tỉnh Thanh Hải, băng qua Tây Tạng theo suốt chiều dài tỉnh Vân Nam (Trung Quốc), qua các nước Myanma, Thái Lan, Lào, Campuchia trước khi vào Việt Nam. Các quốc gia kể trên (trừ Trung Quốc) nằm trong Ủy hội sông Mê Kông. Giao thông bằng đường thủy trên sông Mê Kông gặp nhiều khó khăn do dòng chảy bị thay đổi nhiều theo mùa, các đoạn chảy xiết và các thác nước cao. So với tiềm năng to lớn nếu được khai thác đúng mức, hiện nay, chỉ một phần nhỏ của sông được dùng trong việc dẫn thủy nhập điền và tạo năng lực thủy điện. Tuy nhiên lưu lượng và nhịp độ nước lũ ban phát nhiều lợi ích: biên độ dao động cao (sai biệt khoảng 30 lần giữa mùa hạn và mùa nước lũ) đem lại nhiều tốt đẹp cho lối canh tác ruộng lúa ngập cho nhiều vùng rộng lớn. Đặc điểm thủy năng nổi bật của sông Mê Kông là vai trò điều lượng dòng nước bởi hồ Tonlé Sap - hồ thiên nhiên lớn nhất Đông Nam Á - người Việt thường gọi là "Biển Hồ" . == Dòng chảy == Người Tây Tạng cho rằng thượng nguồn sông Mê Kông chia ra hai nhánh: nhánh tây bắc (Dzanak chu) và nhánh bắc (Dzakar chu). Nhánh tây bắc được biết đến nhiều hơn, vị thế gần đèo Lungmug với chiều dài 87,75 km. Nhánh bắc chảy xuống từ rặng núi Guosongmucha. Nhánh này, từ độ cao 5224 m - kinh tuyến đông 94°41'44", vĩ tuyến bắc 33°42'41", gồm hai nhánh phụ có chiều dài 91,12 km và 89,76 km. Đầu nguồn của dòng sông đến nay đã được xác định rõ qua những cuộc thám hiểm gần đây. Năm 1994, một phái đoàn Trung Quốc và Nhật Bản đã đến nguồn phía Bắc đồng lúc phái đoàn Pháp, do M. Peissel dẫn đầu, đến nguồn mạch phía tây với cùng một mục đích: chứng minh nguồn mạch chính của sông Mê Kông. Sau đó, những cuộc thám hiểm kế tiếp cho đến năm 1999 dưới sự hợp tác các nước Trung Hoa, Mỹ và Nhật Bản đã chính thức xác minh nguồn mạch sông Mekong thuộc nhánh bắc. Các con số về độ dài của sông dao động trong khoảng 4.200 km đến 4.850 km. Ngày nay vùng khởi nguồn sông Mekong, cùng với sông Dương Tử và sông Salween (Nộ Giang) hợp thành khu bảo tồn Tam Giang Tịnh Lưu tại tỉnh Vân Nam, Trùng Quốc. Gần một nửa chiều dài con sông này chảy trên lãnh thổ Trung Quốc, ở đó đoạn đầu nguồn nó được gọi là Dza Chu trong tiếng Tây Tạng tức Trát Khúc (扎曲; bính âm: Zā Qū), và nói chung được gọi là Lan Thương Giang trong tiếng Hán (瀾滄江; bính âm: Láncāng Jiāng; Wade-Giles: Lan-ts'ang Chiang), có nghĩa là "con sông cuộn sóng". Trát Khúc hợp lưu với một nhánh khác tên là Ngang Khúc (橫曲; bính âm: Áng Qū) ở gần Xương Đô (昌都; bính âm: Chāngdū) tạo ra Lan Thương Giang. Phần lớn đoạn sông này có các hẻm núi sâu, và con sông này rời Trung Quốc khi độ cao chỉ còn khoảng 500 m so với mực nước biển. Sau đó, đoạn sông Mê Kông dài khoảng 200 km tạo thành biên giới giữa hai nước Myanma và Lào. Tại điểm cuối của biên giới, con sông này hợp lưu với sông Ruak tại Tam giác vàng. Điểm này cũng là điểm phân chia phần Thượng và phần Hạ của Mê Kông. Sông Mê Kông sau đó tạo thành biên giới của Lào và Thái Lan, trước khi dòng chảy chạy vào đất Lào ở tỉnh Bokeo. Nó được người Lào và người Thái gọi với tên Mènam Khong (Mè là mẹ, nam là sông, tức "sông mẹ", tựa như "sông cái" theo thói quen gọi sông lớn của người Việt cổ), và là cội nguồn của tên quốc tế "Mekong" hiện nay khi bỏ đi từ "nam". Sử Việt Nam thì gọi là Sông Khung. Khoảng sông Mê Kông ở Lào đặc trưng bởi các hẻm núi sâu, các dòng chảy xiết và những vũng nước sâu khoảng nửa mét vào mùa khô. Sau khi tiếp nhận dòng Nam Ou từ Phongsaly chảy đến ở Pak Ou phía trên Luang Prabang dòng sông mở rộng ra, ở đó nó có thể rộng tới 4 km và sâu tới 100 mét, mặc dù dòng chảy của nó vẫn rất trái ngược nhau. Con sông này sau đó lại làm biên giới của Lào và Thái Lan trong đoạn chảy qua Viêng Chăn đến tỉnh Champasack. Từ phía đông thì có dòng Se Bangfai đổ vào sông Mekong ở ranh giới tỉnh Savannakhet với Khammouan, và dòng Se Banghiang đổ vào ở Muang Songkhone, Savannakhet. Từ phía Thái Lan thì có phụ lưu hữu ngạn là Mènam Mun dài 750 km, đổ vào tại Khong Chiam thuộc Ubon Ratchathani, Thái Lan. Sau đó lại là một đoạn ngắn chảy trên đất Lào, với một phụ lưu bờ trái là dòng Xe Don đổ vào ở Pak Se. Ở cực nam Lào tại tỉnh Champasack, nó bao gồm cả khu vực Si Phan Don (bốn ngàn đảo) phía trên thác Khone gần biên giới Campuchia. Thác nước này dài 15 km, cao 18 m khá hùng vĩ và gần như không thể vượt qua đối với giao thông bằng đường thủy. Tại Campuchia, con sông này có tên là sông Mékôngk (theo tiếng thiểu số gốc Lào ở đây) hay Tông-lê Thơm (sông lớn, theo tiếng Khmer). Tại khu vực tỉnh lỵ Stung Treng là nơi dòng Tonlé San đổ vào. Tonlé San là hợp lưu của các dòng Se Kong từ Nam Lào, và sông Sê San (Tonlé San) và sông Serepok (Tonlé Srepok) bắt nguồn từ Tây Nguyên ở Việt Nam chảy đến. Vùng nước chảy xiết (ghềnh) Sambor phía trên Kratie là cản trở giao thông cuối cùng. Ở phía trên Phnom Penh nó hợp lưu với Tonlé Sap, con sông nhánh chính của nó ở Campuchia. Vào mùa lũ, nước chảy ngược từ sông Mê Kông vào Tonlé Sap. Bắt đầu từ Phnôm Pênh, nó chia thành 2 nhánh: bên phải là sông Ba Thắc (sang Việt Nam gọi là Hậu Giang hay sông Hậu) và bên trái là Mê Kông (sang Việt Nam gọi là Tiền Giang hay sông Tiền), cả hai đều chảy vào khu vực đồng bằng châu thổ rộng lớn ở Nam Bộ Việt Nam, dài chừng 220–250 km mỗi sông. Tại Việt Nam, sông Mê Kông còn có tên gọi là sông Lớn, sông Cái. Tập hợp của cả 9 nhánh sông lớn tại Việt Nam được gọi chung là sông Cửu Long. == Các phụ lưu == Sông Ruak bắt nguồn từ bang Shan, Myanmar, chảy đến vùng Tam giác vàng, có đoạn cửa sông là biên giới Myanmar - Thái Lan. Nam Ou bắt nguồn từ Vân Nam, Trung Quốc, chảy dọc tỉnh Phongsaly, đổ vào sông Mê Kông tại Muang Pak Ou 20°3′34″B 102°12′59″Đ, phía trên Luang Prabang chừng 15 km. Có một nhánh nhỏ thượng lưu là Nậm Nứa, bắt nguồn từ xã Nứa Ngam tỉnh Điện Biên, Việt Nam, khi sang đất Lào nó có tên Nam Neua, đến Muang Khua (Mường Khoa) đổ vào Nam Ou. Ở thung lũng Mường Thanh có nhánh nhỏ Nậm Rốm đổ vào Nậm Nứa ở bản Pa Nậm . Nam Ngum (Nậm Ngừm) dài 354 km, bắt nguồn từ vùng núi phía bắc tỉnh Xiengkhuang, chảy về phương nam qua tỉnh Viêng Chăn, đổ vào Mê Kông tại phía nam thành phố Vientiane 18°11′25″B 103°3′19″Đ. Nam Theun (Nậm Thơn), đoạn cuối được gọi là Nam Kading, bắt nguồn từ dãy Trường Sơn ở biên giới Lào - Việt ở tỉnh Khammouan (giáp với huyện Hương Khê tỉnh Hà Tĩnh, Việt Nam). Dòng chảy uốn lượn, đổ vào Mê Kông tại muang Pak Kading tỉnh Bolikhamxai 18°20′34″B 103°59′39″Đ. Se Bangfai bắt nguồn từ dãy Trường Sơn ở biên giới Lào - Việt, tại muang Bualapha tỉnh Khammouan, (giáp với xã Lâm Thủy huyện Lệ Thủy tỉnh Quảng Bình, Việt Nam), đổ vào Mekong ở ranh giới tỉnh Savannakhet và Khammouan 16°56′46″B 104°44′41″Đ. Se Banghiang bắt nguồn từ dãy Trường Sơn ở xã Hướng Lập huyện Hướng Hóa tỉnh Quảng Trị, Việt Nam, chảy qua biên giới Lào - Việt ở tỉnh Savannakhet, đổ vào Mekong ở gần thành phố Savannakhet 16°4′30″B 105°14′24″Đ. Một phụ lưu của Se Banghiang là sông Sê Pôn, bắt nguồn từ Lao Bảo ở Việt Nam. Mènam Mun dài 750 km, đổ vào Mekong tại Khong Chiam thuộc Ubon Ratchathani, Thái Lan. Se Don là phụ lưu chảy ở tỉnh Champasack đổ vào Mekong tại Pak Se. Se Kong là phụ lưu cấp 2, ở đông nam Lào. Se Kong bắt nguồn từ phía tây huyện A Lưới, tỉnh Thừa Thiên Huế, Việt Nam với tên Xê Asap. Se Kong chảy dọc tỉnh Sekong và Attapeu của Lào, đến biên giới phía nam. Ở đây còn có một nhánh là Se Kaman bắt nguồn là dòng Đăk P'Lô ở xã Đăk P'Lô huyện Đăk Glei tỉnh Kon Tum bên Việt Nam. Ở bên Lào Se Kaman chảy qua huyện biên giới Muang Dak Cheung đến muang Xaysetha, Attapeu thì nhập vào Se Kong. Sang Campuchia thì Se Kong có tên Tonlé Kong, hợp lưu với Tonlé San ở Hang Savat gần tỉnh lỵ Stung Treng thành một đoạn ngắn 8 km rồi đổ vào sông Mekong. Hai phụ lưu cấp 2 quan trọng khác bắt nguồn từ Tây Nguyên của Việt Nam là sông Sê San (Tonlé San) và sông Serepok (Tonlé Srepok), hợp lưu với nhau trên lãnh thổ Campuchia tại khu vực Stung Treng, sau đó hợp với Se Kong rồi đổ vào Mekong. Tonlé Sap là sông có lưu vực rộng chiếm phần lớn lãnh thổ Campuchia ở Trung và Tây Bắc, cùng với Biển Hồ, đổ vào Mekong ở phía trên Phnom Penh. == Lịch sử == Sự khó khăn về giao thông thủy của con sông này làm chia cắt con người sống hai bên bờ hơn là liên kết họ. Nền văn minh được biết sớm nhất là nền văn hóa Mã Lai, Ấn Độ hóa hồi thế kỷ 1, của Vương quốc Phù Nam, trong lưu vực sông Mê Kông. Sự khai quật ở Óc Eo, gần Rạch Giá ngày nay, đã tìm thấy những đồng tiền khác xa với Đế chế La Mã. Vương quốc Phù Nam được nối tiếp bởi quốc gia Khmer Chân Lạp (Chenla) cho đến thế kỷ 5. Đế chế Khmer Angkor là quốc gia chịu ảnh hưởng của văn hóa Ấn Độ cuối cùng trong khu vực. Sau khi quốc gia này bị tiêu diệt sông Mê Kông đã là đường biên giới của các quốc gia đối đầu nhau như Xiêm và Việt Nam, với Lào và Campuchia nằm trong tầm ảnh hưởng của họ. Người châu Âu đầu tiên thám hiểm sông Mê Kông là người Bồ Đào Nha có tên là Antonio de Faria vào năm 1540; bản đồ của người châu Âu năm 1563 có vẽ lại con sông này, mặc dù chỉ có một đoạn nhỏ ở khu vực đồng bằng châu thổ. Sự quan tâm của người châu Âu không có chung mục đích: những người Tây Ban Nha và người Bồ Đào Nha chỉ thực hiện những cuộc thám hiểm nhằm mục đích truyền giáo và buôn bán, trong khi đó người Hà Lan Gerrit van Wuysthoff đã dẫn đầu một cuộc thám hiểm đến tận Viêng Chăn (1641-1642). Người Pháp có sự quan tâm đặc biệt tới khu vực này vào giữa thế kỷ 19, sau khi chiếm đóng Sài Gòn năm 1861 và thiết lập sự bảo hộ Campuchia năm 1863. Cuộc thám hiểm có hệ thống đầu tiên là cuộc thám hiểm sông Mekong 1866-1868 do người Pháp là Ernest Doudart de Lagrée và Francis Garnier thực hiện. Họ đã phát hiện ra rằng Mekong có quá nhiều thác nước và những chỗ chảy xiết, không thể coi là có lợi trong giao thông thủy. Từ năm 1893, người Pháp mở rộng quyền kiểm soát của họ đối với con sông này tới tận Lào bằng việc thiết lập ra Liên bang Đông Dương trong những năm đầu tiên của thế kỷ 20. Điều này đã chấm dứt sau Chiến tranh Đông Dương lần thứ nhất kết thúc và người Mỹ can thiệp vào khu vực. Sau Chiến tranh Việt Nam, những bất đồng giữa Thái Lan, Việt Nam và Trung Quốc khi đó đã hạn chế sự hợp tác của các bên trong việc khai thác tiềm năng của dòng sông này. Tuy nhiên, hiện nay các bên đã xích lại gần nhau hơn trong vấn đề này. == Các vấn đề == Theo tiến sĩ C. Hart Schaaf, cựu ủy viên Ủy ban Mê Kông, "...Đây là người khổng lồ đang ngủ, chứa trong lòng một khối tiềm năng to tát về thủy điện, về dẫn thủy nhập điền củng như khả năng phòng lụt, một nguồn năng lượng bị bỏ quên...". Có hai vấn đề chính gây mâu thuẫn giữa các bên là việc xây dựng các con đập hay việc phá hủy những chỗ chảy xiết. Một loạt các đập đã được xây dựng trên các nhánh của dòng sông này, đáng kể nhất là đập Pak Mun tại Thái Lan. Nó bị công kích dữ dội do chi phí cao cũng như ảnh hưởng xấu tới môi trường và tới cuộc sống của những khu dân cư chịu ảnh hưởng. Người Trung Quốc hiện đang tiến hành một chương trình lớn về xây dựng các đập trên sông: họ đã hoàn thành các đập tại Mạn Loan (漫湾), Đại Triều Sơn (大朝山), Cảnh Hồng (景洪), đang tiến hành xây đập Tiểu Loan (小湾 Xiaowan) và khoảng hơn một chục đập khác đang được nghiên cứu. Tính đến đầu năm 2016, Trung Quốc đã hoàn thành ít nhất 8 đập chính trên sông Lan Thương (dòng chính tại thượng nguồn sông Mekong) và đang xây tối thiểu thêm 4 đập nữa. Người ta lo ngại rằng các đập này sẽ ngăn cản chuyển động của trầm tích và sẽ gây thiệt hại cho nông nghiệp và nghề cá ở phía hạ lưu. Sự giảm đi của các dao động mức nước theo mùa cũng sẽ ảnh hưởng mạnh đến Tonlé Sap và Biển Hồ.. Các chính phủ Lào và Campuchia cũng có kế hoạch xây dựng các đập ngăn nước, hiện đang bị một số người phản đối. Chính quyền Trung Quốc cũng thực hiện việc làm sạch các tảng đá và cồn cát từ dòng chảy để tạo điều kiện thuận lợi cho giao thông, và điều này cũng khuyến khích Lào làm như vậy. Các nhà môi trường cho rằng điều này sẽ làm tăng sự lưu thông nước và kết quả của nó là sự gia tăng xói mòn cũng như gây thiệt hại cho nguồn cá. Tại Việt Nam thì đồng bằng sông Cửu Long là nơi chịu tác động trực tiếp của những hoạt động làm thay đổi chế độ thủy văn của sông Mekong, nên thường lên tiếng về các tác động này. Đặc biệt là đợt hạn hán miền Nam Việt Nam 2016 được cho là do lượng nước đổ về đồng bằng sông Cửu Long từ sông Mê Kông bị giảm mạnh do hệ thống các đập thủy điện được nhiều quốc gia xây dựng trên dòng chính của con sông . Việt Nam tìm cách phản đối việc xây dựng đập trên dòng chính, nhưng các công ty đầu tư thì đang chạy đua trong việc xây dựng thủy điện trên các phụ lưu. == Các động vật quý hiếm == Quỹ Quốc tế Bảo vệ Thiên nhiên (World Wide Fund for Nature hay World Wildlife Fund - WWF) cho biết các nhà khoa học đang tìm kiếm các sinh vật như cá úc, cá trê, cá đuối gai độc khổng lồ, cá nhái răng nhọn, cá chép lớn, ăn thịt ở sông Mê Kông – các loài cá này có thể nặng tới hơn 90 kg và dài hơn 1,80 mét. Ngoài ra sông Mê Kông còn có các loài cá chiên và cá lăng quý hiếm, chưa kể đến cá hô và cá chép khổng lồ, dịch vụ du lịch câu cá vì thế rất phát triển ở đây. Đặc biệt, đoạn sông Mê Kông ở Campuchia và vùng hồ Tonlé Sap còn có cá heo sông (Irrawaddy dolphin, Orcaella brevirostris), số lượng có thể chỉ còn vài chục cá thể. Người Campuchia không săn bắt chúng, trừ ra thời kỳ chiến tranh thì lính Khmer Đỏ đã từng nã đạn cối vào đàn của chúng, và được quay phim tư liệu, sau này phim được National Geographic Channel đưa vào loạt phóng sự về cá heo sông Mekong, thỉnh thoảng được phát từ năm 2010 đến nay. Loài này đang bị đe dọa tuyệt chủng vì môi môi trường sống và nguồn thức ăn đang bị phá vỡ nghiêm trọng. Ngày 24/8/2012 chính phủ Campuchia đã lập khu bảo tồn cá heo sông Mekong với chiều dài 180 km, trải từ tỉnh Kratie ở phía đông tới biên giới với Lào. Người dân vẫn được phép câu cá trong khu bảo tồn, song chính phủ cấm sử dụng nhà nổi, lồng cá và lưới quét bởi chúng đe dọa mạng sống của cá heo sông. Zed Hogan, phụ trách dự án do WWF và Hội địa lý quốc gia tài trợ cho biết, các động vật này là "độc nhất" và "đang biến mất với tốc độ nhanh chóng". Theo Hogan, khi nghiên cứu cá úc khổng lồ ở sông Mê Kông, Campuchia, các nhà khoa học sẽ theo dõi sự di chuyển của cá với hy vọng hiểu thêm về hướng di trú của chúng và nguyên nhân chúng bị chết. Sự biến mất các loài cá này là dấu hiệu đầu tiên cảnh báo tình trạng đánh bắt quá mức hoặc các xáo trộn khác ở các sông, hồ nơi chúng cư trú. Một số sinh vật khổng lồ nước ngọt được ghi vào sách đỏ các loài đang bị đe dọa của Liên minh Bảo tồn Thiên nhiên Quốc tế (IUCN). Cá úc khổng lồ sông Mê Kông được coi là loài cá nước ngọt lớn nhất cùng họ với loài cá nhám chó, đã được đưa vào danh sách những loài bị đe dọa vào năm 2003, sau khi nghiên cứu chỉ ra số lượng cá giảm ít nhất 80% trong hơn 13 năm qua. Robin Abell, nhà sinh học của WWF cho biết: "Các loài cá khổng lồ là những sinh vật nước ngọt có trọng lượng tương đương với voi và tê giác và nếu chúng biến mất thì thế giới sẽ bất ổn. Cuối cùng, chúng ta sẽ nhận thức tốt hơn về cách quản lý việc đánh bắt và bảo vệ các nơi cư trú nhằm cứu vớt các loài trong tương lai". == Cầu qua sông == Đoạn hạ lưu trên khu vực Đông Nam Á: == Chỉ dẫn == == Tham khảo == == Xem thêm == Nam Ou Sê Bănghiêng Sê Kông Sê San Sê Repôk == Liên kết ngoài == http://www.mekongriver.org/ trang web tiếng Việt với nhiều bài nghiên cứu công phu và giá trị http://www.mrcmekong.org/vietnamese/ trang web của Ủy hội sông Mekong http://www.wisdom.eoc.dlr.de/ WISDOM Water related Ìnormation System for the Sustainable Development of the Mekong Delta
1872.txt
Bản mẫu:C19YearInTopicX 1872 (MDCCCLXXII) là một năm nhuận bắt đầu từ ngày Chủ Nhật của lịch Gregory hay bắt đầu từ ngày thứ Hai, chậm hơn 12 ngày, theo lịch Julius. Đây là năm trong thế kỷ 19. == Sự kiện == === Tháng 1-Tháng 6 === 2 tháng 1 - Brigham Young bị bắt giữ vì tội đa thê (28 vợ) 12 tháng 1 - Yohannes IV lên ngôi ở Axum, trở thành vị Hoàng đế Ethiopia đầu tiên đăng quang ở thành phố này trong hơn 500 năm 13 tháng 2 - Rex, cuộc diễu hành nổi tiếng nhất trong ngày Mardi Gras, các cuộc diễu hành ở New Orleans cho Đại Công tước Aleksei Mikhailovich của Nga === Tháng 7-Tháng 12 === 30 tháng 11 – Trận đấu bóng đá quốc tế đầu tiên được FIFA (sau này) công nhận là "chính thức" diễn ra tại Hamilton Crescent, Scotland; kết quả hai đội Scotland và Anh hòa nhau 0-0. == Sinh == == Mất == Tăng Quốc Phiên, tướng Nhà Thanh == Tham khảo ==
paul ryan.txt
Paul Davis Ryan (sinh ngày 29 tháng 1 năm 1970) là một nhà chính trị Hoa Kỳ thuộc Đảng cộng hòa Hoa Kỳ. Ông là dân biểu Hạ viện Hoa Kỳ đang giữ chức Chủ tịch Ủy ban Ngân sách Hạ viện. Ông lớn lên ở Janesville, Wisconsin và tốt nghiệp ngành kinh tế-chính trị tại Đại học Miami. Ông bắt đầu làm việc ở Washington DC với vai trò thực tập sinh, rồi trợ lý cho Bob Kasten, Sam Brownback, và Jack Kemp trước khi tranh cử ở Janesville, Wisconsin. ông trúng cử Hạ viện Hoa kỳ năm 1998. Paul Ryan là người đã đề xuất tư nhân hóa chăm sóc y tế cho những người hiện dưới 55 tuổi, và chuyển Medicaid và Chương trình Trợ giúp Dinh dưỡng Bổ sung (Chương trình tem thực phẩm) vào các block grant cho các tiểu bang. Ryan đã giới thiệu chương trình chi tiêu cho Ủy bang Ngân sách Hạ viện vào tháng 4 năm 2012 và trong một phiên bản cập nhật tháng 3 năm 2012. Ông là người có kế hoạch cắt giảm thuế và điều chỉnh lại Chương trình của chính phủ Mỹ về việc chăm sóc người già trên 65 tuổi (Chương trình Medicare) và các chương trình xã hội khác nhằm khuyến khích đầu tư, kiểm soát chi tiêu công. Ngày 11 tháng 8 năm 2012, Mitt Romney thông báo chọn Ryan làm bạn tranh cử trong cuộc bầu cử tổng thống năm 2012, vị trí tranh cử Phó Tổng thống. Từ ngày 29 tháng 10 năm 2015, ông là Chủ tịch Hạ viện Hoa Kỳ. == Tham khảo ==
an huy.txt
An Huy (tiếng Trung: 安徽; bính âm: Ānhuī, IPA:ánxwéi) là một tỉnh của Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa. Tỉnh nằm ở Hoa Đông và trải dài trên các đồng bằng Trường Giang và Hoài Hà, An Huy giáp với Giang Tô ở phía đông, Chiết Giang ở phía đông nam, Giang Tây ở phía nam, Hồ Bắc ở phía tây nam, Hà Nam ở phía tây bắc, và giáp với Sơn Đông trên một đoạn nhỏ ở phía bắc. Tỉnh lị An Huy là Hợp Phì. Vào đầu thời Thanh, An Huy thuộc tỉnh Giang Nam, đến năm Khang Hi thứ 6 (1667), triều đình đã tách tỉnh Giang Nam thành tỉnh Giang Tô và An Huy. Tên gọi "An Huy" bắt nguồn từ tên của hai thành phố phía nam của tỉnh là An Khánh và Huy Châu (nay là Hoàng Sơn). Tên tắt của An Huy là "皖" (Wǎn, âm Hán Việt là Hoản, Hoàn hay Hoán) == Lịch sử == An Huy được xem là một trong những nơi khởi nguyên của dân tộc Trung Hoa, vào thời đại đồ đá cũ cách nay khoảng từ 2 đến 3 triệu năm trước, trên địa bàn An Huy ngày nay đã xuất hiện người Hòa Huyện Viên (和县猿人) có khả năng đứng thẳng người khi di chuyển. Vào cuối những năm 1970 và đầu 1980, tại di chỉ Tiết Gia Cương (薛家岗遗址) thuộc huyện Tiềm Sơn của An Huy đã phát hiện được dấu tích về hoạt động của loài người thời đại đồ đá mới cách nay khoảng từ 5 đến 6 nghìn năm, sau đó tại nhiều nơi trên địa bàn An Huy cũng đã phát hiện được những di chỉ văn hóa thời đại đồ đá mới. Quân chủ khai quốc nhà Thương là Thành Thang đã từng định đô tại đất "Bạc", nay thuộc Bạc Châu ở bắc bộ An Huy. Khi đó, đại bộ phận cư dân tại An Huy không phải là tộc Hoa Hạ, song về sau những người Đông Di và Sơn Việt này đã dần dần đồng hóa thành tộc Hán. Thời nhà Chu, trên địa bàn An Huy có nhiều nước chư hầu như Chung Li (钟离), Lục (六), Anh (英), Thư (舒), Thư Dung (舒庸), Thư Cưu (舒鸠), Thư Lục (舒蓼), Sào (巢), Từ (徐), Tiêu (萧) và Hoản (皖). Các nước nhỏ này dần bị hai thế lực lớn mạnh là nước Ngô và nước Sở thôn tính. Đến cuối thời Chiến Quốc, kinh đô Dĩnh (nay thuộc tỉnh Hồ Bắc) của nước Sở bị nước Tần công chiếm, vì thế Sở đã phải thiên đô đến Thọ Xuân (nay thuộc Thọ huyện của An Huy) vào năm 241 TCN. Đến năm 224 TCN, đại tướng nước Sở là Hạng Yên (项燕) đã bại trận trước 60 vạn đại quân Tần dưới sự chỉ huy của Vương Tiễn; đến năm 223 TCN, Thọ Xuân rơi vào tay Tần, nước Sở cũng diệt vong. Năm 221 TCN, Tần hoàn thành việc chinh phục sáu nước, thống nhất Trung Hoa. Thời Tần, đại bộ phận khu vực An Huy thuộc Cửu Giang quận, đầu phía bắc thuộc Tứ Thủy quận và Nãng quận. Trong chiến tranh Hán-Sở, Hạng Vũ đã thua Lưu Bang trong trận Cai Hạ tại vùng thuộc huyện Cổ Trấn ngày nay, sau đó Hạng Vũ đã tự vẫn tại Ô Giang (nay thuộc Hòa huyện). Thời Hán Vũ Đế, do áp lực từ nước Mân Việt, toàn bộ nước Đông Âu đã di dời từ nam bộ Chiết Giang đến Lư Giang quận (nay thuộc khu vực Thư Thành). Những năm cuối thời Hán, Thọ Xuân trở thành căn cứ của quân phiệt Viên Thuật. Năm 197, Viên Thuật chính thức xưng đế, tự xưng là Trọng Gia, đóng đô ở Thọ Xuân, song vùng đất kiểm soát của ông khi đó chỉ có 2 quận Cửu Giang và Lư Giang. Sau khi bị Lưu Bị đánh bại, Viện Thuật bị bệnh mất. Sau đó, Thọ Xuân về tay quân phiệt Tào Tháo. Đến thời Ngũ Hồ thập lục quốc, các sắc dân du mục xâm nhập Hoa Bắc và lập nên các chính quyền khác nhau, còn ở phương Nam vẫn do các triều đại của người Hán cai quản. Trong khoảng thời gian này, bắc bộ An Huy trở thành tiền tuyến đối đầu giữa miền Nam và miền Bắc, ngọn lửa chiến tranh liên tục bùng lên. Năm 383, đã xảy ra đại chiến Phì Thủy giữa Tiền Tần và Đông Tấn, Phì Thủy được cho là con sông cổ chảy qua vùng mà nay là Lục An. Những năm Khai Hoàng chi trị thời Tùy Văn Đế, kinh tế khu vực An Huy khôi phục và đạt được trình độ rất cao. Sau khi trải qua thời gian hỗn chiến cuối thời Tùy, đến khi nhà Đường thống nhất Trung Hoa, An Huy lại có được hòa bình. Trong loạn An Sử, khu vực Hoài Hà ở bắc bộ An Huy đã bị chiến tranh tàn phá. Năm 875, tức cuối thời nhà Đường, đã xảy ra khởi nghĩa Vương Tiên Chi, Hoàng Sào, quân nổi dậy từ Hà Nam đã sang Hòa huyện của An Huy rồi vượt sông Trường Giang để tới Hoản Nam, sau đó tiến đến tận Phúc Kiến, Quảng Đông, sau đó lại qua An Huy để đánh Trường An. Thời Ngũ Đại Thập Quốc, nam bộ An Huy thuộc nước Ngô. Lý Biện (Nam Đường Liệt Tổ) sau đó đã đoạt lấy quyền kiểm soát nước Ngô vào năm 937 và lập ra nước Nam Đường. Khi đó, bắc bộ An Huy thuộc quyền kiểm soát của Ngũ Đại. Cuối thời Bắc Tống, đã xuất hiện nhà Kim của người Nữ Chân ở phương Bắc. Sau năm 1127, vùng bắc bộ Hoài Hà của An Huy trở thành đất của triều Kim, An Huy một lần nữa trở thành nơi đối đầu giữa thế lực hai miền: phía bắc là Kim và phía nam là Nam Tống. Năm 1161, Kim Hải Lăng vương Hoàn Nhan Lượng xuất binh phạt Tống, song đã thất bại trong đại chiến Thái Thạch ở vùng nay thuộc Mã An Sơn. Năm 1234, Kim bị đế quốc Mông Cổ tiêu diệt. Năm 1276, quân Mông Cố công chiếm kinh thành Hàng Châu của Nam Tống, từ đó toàn bộ An Huy quy thuộc nhà Nguyên. === Thời Minh === Sau khi Chu Nguyên Chương sáng lập nhà Minh, do ban đầu triều đại này định đô ở Nam Kinh, khu vực hai tỉnh An Huy và Giang Tô hiện nay do Lục bộ của triều đình Trung ương trực tiếp quản lý, gọi là "Trực Lệ". Minh Thái Tổ định quê hương Phượng Dương của mình là "Trung Đô" và đã từng tính đến chuyện thiên đô về đây song sau đó đã từ bỏ kế hoạch và chỉ xây dựng lăng mộ tổ tiên và một phần tường thành. Thời Minh, tại địa phận nay là An Huy có tổng cộng 7 phủ, trong đó 4 phủ ở phía nam Trường Giang: Huy Châu phủ, Ninh Quốc phủ, Thái Bình phủ, Trì Châu phủ; 2 phủ ở bờ bắc Trường Giang: An Khánh phủ, Lư Châu phủ; còn lưu vực Hoài Hà của An Huy thì chỉ có một phủ là Phượng Dương phủ. Thời nhà Minh, Vu Hồ huyện tại bờ nam Trường Giang đã phát triển thành một trung tâm kinh tế mới. Những năm Vĩnh Lạc thời Minh Thành Tổ, kinh đô được di dời về Bắc Kinh, khu vực Trực Lệ trước đó được đổi tên thành Nam Trực Lệ. Năm 1635, Lý Tự Thành đã công hãm Phượng Dương, đào mộ tổ tiên của hoàng thất triều Minh, phá hủy "chùa Hoàng Giác", ngôi chùa mà Chu Nguyên Chương đã xuất gia. === Thời Thanh === Năm 1645, quân Thanh công chiếm Nam Kinh, sau đó đã đổi Nam Trực Lệ thành Giang Nam tỉnh; đến năm 1667, triều Thanh lại phân Giang Nam tỉnh thành Giang Tô và An Huy. Tỉnh hội An Huy được thiết lập tại An Khánh, là nơi đóng trụ sở của An Huy tuần phủ và An Huy án sát sứ. Quản lý dân chính tại An Huy là phận sự của Giang Nam tả bố chánh sứ, trường kỳ trú tại Giang Ninh phủ (Nam Kinh), đến năm 1760 (năm Càn Long thứ 25), thì di dời đến An Khánh. Ranh giới An Huy từ đó đến nay ít có thay đổi. Thời cuối nhà Thanh, Thái Bình Thiên Quốc đã định đô tại Nam Kinh, khi đó nam bộ An Huy là căn cứ lương thực và quân sự chủ yếu của cuộc khởi nghĩa này. Tương quân của Tăng Quốc Phiên và quân Thái Bình của Trần Ngọc Thành đã giao chiến rất dữ dội, đại bộ phận cư dân nam bộ An Huy đã thiệt mạng hoặc chạy trốn, kinh tế địa phương bị ảnh hưởng nghiêm trọng. Sau chiến tranh, cư dân các vùng Hà Nam và Hồ Bắc đã di cư đến Hoản Nam, vì thế văn hóa tập tục khu vực này đã có nhiều biến đổi. Cũng trong thời kỳ đó, Niệp quân hoành hành ở khu vực bắc bộ An Huy. Lý Hồng Chương đã chiêu mộ Hoài quân tại vùng phụ cận Hợp Phì tiến đến vùng Giang Chiết tác chiến với quân Thái Bình. Sau khởi nghĩa Thái Bình Thiên Quốc, Hoài quân trở thành một trong những lực lượng trọng yếu của triều Thanh. === Thời Trung Hoa Dân Quốc === Sau khi thành lập Trung Hoa Dân Quốc, đường sắt Tân-Phố đã thông tuyến vào năm 1912, khiến Bạng Phụ khởi sắc. Năm 1912, Bách Văn Uý trở thành người cai quản An Huy, kế tục ông ta là Nghê Tự Xung (倪嗣冲) vào năm 1913, Trương Văn Sinh (张文生) vào năm 1920, Mã Liên Giáp (马联甲) vào năm 1922, Lã Điệu Nguyên (吕调元) vào năm 1923, Khương Đăng Tuyển (姜登选) vào năm 1924, Trần Điệu Nguyên (陈调元) vào năm 1925. Đến năm 1926, Trần Điệu Nguyên đã quy thuận Quốc Dân cách mạng quân trong Bắc phạt. Đến năm 1937, trên địa bàn An Huy bùng phát các trận chiến trong chiến tranh Trung-Nhật, An Huy trở thành nơi đan xen kiểm soát giữa bốn thế lực là quân Nhật, chính quyền Uông Tinh Vệ, Quốc quân và Cộng sản đảng. Năm 1940, tại An Huy đã xảy ra xung đột Quốc-Cộng, gọi là sự biến Hoản Nam. Năm 1946, sau khi Nhật Bản đầu hàng, chính phủ Quốc dân đã chuyển thủ phủ của An Huy từ An Khánh đến Hợp Phì. Từ năm 1948 đến 1949, An Huy là một chiến trường chủ yếu trong hội chiến Từ-Bạng hay còn gọi là chiến dịch Hoài-Hải trong nội chiến Quốc-Cộng. === Thời Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa === Sau khi Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa thành lập vào năm 1949, An Huy bị phân thành hai công thự hành chính cấp tỉnh là Hoản Bắc và Hoản Nam, lấy Trường Giang làm ranh giới, song đến năm 1952 lại hợp lại như cũ. Địa giới An Huy sau năm 1949 cũng có điều chỉnh nhỏ: huyện Vụ Nguyên được trao cho tỉnh Giang Tây, hai huyện Hu Dị và Tứ Hồng được trao cho tỉnh Giang Tô; ngược lại, hai huyện Tứ và Nãng Sơn vốn thuộc Giang Tô thì lại được trao cho An Huy. Trong thời kỳ Nạn đói lớn 1959-1961, số người tử vong vì nguyên nhân không bình thường tại tỉnh An Huy là 6,33 triệu người, chiếm 18,37% trong tổng dân số 34,46 triệu dân của tỉnh khi đó, đạt tỷ lệ cao nhất trong số các tỉnh tại Trung Quốc. Ngày 24 tháng 11 năm 1978, nông dân ở thôn Tiểu Cương tại Phượng Dương, An Huy đã ký một thỏa thuận bí mật, chia ruộng đất của thôn cho các hộ nông dân nhận khoán. Hành vi này vi phạm pháp luật và chính sách Trung Quốc lúc đó, nhưng cuối cùng, hành động này đã được Chính phủ Trung Quốc chấp nhận và tích cực nhân rộng, trở thành một mốc lịch sử trong quá trình cải cách mở cửa của Trung Quốc. Trong cuốn sách China Road năm 2007, tác giả Rob Gifford đã ghi rằng người Trung Quốc xem An Huy là một "nông nghiệp đại tỉnh" (农业大省). Theo Gifford thì đây là một uyển ngữ để chỉ một khu vực "rất nghèo" và mọi người đề cập đến An Huy như là "Appalachia của Trung Quốc." == Địa lý == An Huy giáp với các tỉnh Sơn Đông, Giang Tô, Chiết Giang, Giang Tây, Hồ Bắc và Hà Nam. Địa mạo An Huy chủ yếu là đồng bằng và gò đồi. Đồng bằng, gò đồi và núi thấp tại An Huy nằm xen kẽ nhau. Trường Giang và Hoài Hà chảy từ tây sang đông An Huy với chiều dài tương ứng là 416 km và 430 km. Toàn An Huy có thể được phân thành năm khu vực tự nhiên: đồng bằng Hoài Bắc, vùng đồi Giang Hoài, vùng Đại Biệt Sơn ở Hoản Tây, vùng đồng bằng ven sông Trường Giang và vùng núi Hoản Nam. Vùng đồng bằng chiếm 31,3% diện tích An Huy (bao gồm 5,8% đất cải tạo), gò đồi chiếm 29,5% diện tích, núi non chiếm 31,2% diện tích, các hồ và đầm lầy chiếm 8% diện tích. Các dãy núi chủ yếu tại An Huy gồm Đại Biệt Sơn, Hoàng Sơn, Cửu Hóa Sơn, Thiên Trụ Sơn. Đỉnh cao nhất là đỉnh Liên Hoa thuộc Hoàng Sơn với cao độ 1.860 mét. Vùng đồng bằng Hoản Bắc bao gồm khu vực rừng lá rộng rụng lá bán hạn bình nguyên Hoa Bắc ở bờ bắc Hoài Hà và khu vực đất ngập nước ở bờ nam Hoài Hà. Vùng đồng bằng Hoản Bắc này có địa thế bằng phẳng và rộng rãi, thuộc khu vực phía nam của bình nguyên Hoa Bắc. Vùng đồng bằng Hoản Bắc có độ cao khoảng 20-50 mét so với mực nước biển, thấp dần từ tây bắc xuống đông nam. Các chi lưu phía bắc của Hoài Hà chảy theo hướng đông nam rồi nhập vào Hoài Hà và hồ Hồng Trạch. phía bắc của vùng đồng bằng Hoản Bắc chịu ảnh hưởng từ các trận lụt của Hoàng Hà nên hiện nay có lớp trầm tích sâu. Do được tiến hành khai khẩn nông nghiệp từ rất lâu, hiện nay vùng đồng bằng Hoản Bắc đã không còn thảm thực vật tự nhiên, hiện chỉ có các loài do con người trồng như trắc bách, dương, liễu, hông, dương hòe, du. Ở phía nam, địa hình không được bằng phẳng như ở phía bắc, Đại Biệt Sơn chiếm hầu hết khu vực tây nam An Huy và một loại các đồi và dãy núi cắt qua phần đông nam. Trường Giang chảy qua An Huy giữa hai vùng đồi núi này. Cùng với địa hình, khí hậu của An Huy cũng có sự khác biệt giữa bắc và nam. phía bắc có khí hậu ôn hòa hơn và các mùa rõ rệt hơn. Nhiệt độ trung bình năm tại An Huy là 16-18 °C, chênh lệc bắc-nam là khoảng 2 °C; nhiệt độ trung bình vào tháng 1 là khoảng từ -1 °C đến 2 °C ở phía bắc Hoài Hà và từ 0 °C đến 3 °C ở phía nam Hoài Hà; nhiệt độ trung bình vào tháng 7 là khoảng 27 °C hoặc cao hơn. Lượng mưa trung bình hàng năm của An Huy là 800-1.600mm, các cơn mưa lớn xuất hiện vào tháng 6 và tháng 7 và có thể dẫn đến lũ lụt. An Huy có trung bình 1.800-2.500 giờ nắng mỗi năm, và có 200-250 ngày không có sương. An Huy có trên 2.000 sông suối, hơn 110 hồ. Các sông quan trọng tại An Huy là Trường Giang, Hoài Hà, Tân An Giang; các hồ quan trọng của An Huy là hồ Sào, hồ Long Cảm và hồ Nam Y; hồ Sào với diện tích bề mặt 800 km² là một trong năm hồ nước ngọt lớn nhất Trung Quốc. Tổng lượng tài nguyên nước của An Huy là 68 tỉ m³, chủ yếu là tại các sông thuộc lưu vực Hoài Hà, Trường Giang và Tiền Đường Giang. Trong đó, diện tích thuộc lưu vực Hoài Hà là 66.900 km², diện tích thuộc lưu vực Trường Giang là 66.000 km², diện tích thuộc lưu vực Tiền Đường Giang là 6.500 km². == Động thực vật == Thảm thực vật rừng tại An Huy có sự chuyển tiếp rõ ràng giữa bắc và nam, phía bắc Hoài Hà thuộc đới rừng lá rộng ôn đới ấm với nhiều cây dương, hòe, đồng; phía nam Hoài Hà là khu vực thuộc đới rừng lá rộng hỗn giao thường xanh và rụng lá bắc cận nhiệt đới và đới rừng lá rộng thường xanh trung cận nhiệt đới với nhiều cây tùng, sam và trúc. Năm 2011, toàn An Huy có 4,4 triệu ha đất rừng, chiếm 31,7% diện tích toàn tỉnh. Tổng diện tích rừng của An Huy là khoàng 3,6 triệu ha, tỷ lệ che phủ rừng đạt 26,06%. An Huy có 21 đơn vị cấp huyện đồi núi, toàn bộ nằm tại vùng Đại Biệt Sơn ở Hoản Nam và Hoản Tây, tỷ lệ che phủ rừng trung bình ở các địa phương này lên tới trên 50%; 65 đơn vị cấp huyện đồng bằng dọc Trường Giang và Hoài Hà có tỷ lệ che phủ rừng bình quân là trên 15%; khu vực gò đồi và sườn đồi giữa Trường Giang và Hoài Hà có tỷ lệ che phủ rừng trên dưới 12%. Tỉnh An Huy có tài nguyên động thực vật vật hoang dã phong phú, với nhiều loài khác nhau. An Huy có 4.245 loài thực vật có mạch, chiếm 14,2% số loài thực vật có mạch tại Trung Quốc, trong đó có 6 loài thực vật được bảo hộ quốc gia cấp 1 và 25 loài được bảo hộ quốc gia cấp 2. Toàn tỉnh An Huy có 44 bộ, 121 họ với 742 loài động vật có xương sống, chiếm 14,1% toàn quốc, trong đó có 21 loài động vật được bảo hộ quốc gia cấp 1, 70 loài được bảo hộ quốc gia cấp 2, với các loài đặc hữu như cá sấu Dương Tử (Alligator sinensis) và cá heo Dương Tử (Lipotes vexillifer) tại lưu vực Trường Giang ở trung bộ An Huy. == Nhân khẩu == Năm 2011, tổng số nhân khẩu có hộ tịch tại An Huy là 68,759 triệu người, tăng 489.000 người so với năm trước; tổng số nhân khẩu thường trú của An Huy trong cùng năm là 59,68 triệu người, tăng 110.000 người so với năm trước đó. Theo tổng điều tra nhân khẩu toàn quốc lần thứ 6 vào năm 2010, tại An Huy có sự hiện diện của tất cả 55 dân tộc thiểu số được công nhận tại Trung Quốc với tổng nhân khẩu là 395.600 người, chiếm 0,66% tổng nhân khẩu toàn tỉnh. Trong số các dân tộc thiểu số tại An Huy, người Hồi, người Mãn và người Xa là các dân tộc lớn nhất; riêng người Hồi chiếm tới 82,92% tổng nhân khẩu các dân tộc thiểu số tại An Huy. Các dân tộc thiểu số tại An Huy chủ yếu phân bố phân tán, toàn tỉnh vào năm 2011 có 9 hương dân tộc, 1 nông trường dân tộc, 135 thôn dân tộc. An Huy là tỉnh mất cân bằng giới tính. Theo một nghiên cứu vào năm 2009 do British Medical Journal phát hành thì trong nhóm tuổi từ 1-4 tại An Huy, trung bình cứ 138 bé trai thì có 100 bé gái. === Ngôn ngữ === Quan thoại được nói ở bắc bộ và trung bộ An Huy, tức phía bắc Trường Giang. Các phương ngôn ở bắc bộ An Huy được phân loại là Quan thoại Trung Nguyên, cùng một hệ với các phương ngôn tại Hà Nam và Sơn Đông; các phương ngôn ở trung bộ An Huy được phân loại là Quan thoại Giang Hoài, cùng một hệ với các phương ngôn tại trung bộ tỉnh Giang Tô lân cận. Các phương ngữ không thuộc Quan thoại được nói ở phía nam Trường Giang: các phương ngôn của tiếng Ngô được nói tại Tuyên Thành, song nó đang dần bị Quan thoại Giang Hoài thay thế; các phương ngôn của tiếng Cám được nói ở một vài huyện ở vùng tây nam giáp với tỉnh Giang Tây; và tiếng Huy được nói tại khoảng 10 huyện ở cực nam của An Huy. === Tôn giáo === Trên địa bàn An Huy, các tôn giáo phổ biến nhất là tôn giáo dân gian Trung Quốc, Phật giáo Hán và Đạo giáo. Một số công trình tôn giáo nổi tiếng tại An Huy là tháp Chấn Phong (振风塔) tại An Khánh, hay Hóa Thành tự, Nhục Thân bảo điện, Bách Tuế cung, Thiên Đài tự trên Kim Hoa Sơn, một trong tứ đại danh sơn của Phật giáo Trung Quốc. Tại Hợp Phì có đền thờ Bao Công. An Huy cũng có các cộng đồng Hồi giáo và là một trong những nơi có nhiều tín hữu Ki-tô giáo nhất tại Đông Á. == Các đơn vị hành chính == An Huy được chia làm 17 đơn vị hành chính, toàn bộ là thành phố thuộc tỉnh (địa cấp thị, 地级市): Các đơn vị hành chính cấp địa khu trên đây được chia thành 105 đơn vị hành chính cấp huyện, gồm 44 quận (thị hạt khu), 5 thị xã (huyện cấp thị), và 56 huyện. Các đơn vị hành chính cấp huyện này lại được nhỏ thành 1845 đơn vị hành chính cấp hương, gồm 972 thị trấn (trấn), 634 hương, 9 hương dân tộc, và 230 phường (nhai đạo). == Kinh tế == Theo tính toán sơ bộ, tổng sản phẩm quốc nội (GDP) của An Huy năm 2011 là 1,51103 nghìn tỉ NDT, theo giá cả so sánh, tỷ lệ tăng trưởng so với năm trước là 13,5%. Theo khu vực, khu vực một của nền kinh tế đạt giá trị 202,03 tỉ NDT, tăng trưởng 4% so với năm trước; khu vực hai đạt giá trị 822,64 tỉ NDT, tăng trưởng 17,9% so với năm trước; khu vực ba đạt giá trị 486,36 tỉ NDT, tăng trưởng 10,5% so với năm trước đó. Tỷ lệ giữa ba khu vực trong nền kinh tế của An Huy đã thay đổi từ 14:52,1:33,9 của năm 2010 thành 13,4:54,4:32,2 vào năm 2011, trong đó giá trị công nghiệp chiếm tỷ trọng 46,2% trong GDP, tăng 2,4% so với năm trước. Năng suất lao động toàn xã hội của tỉnh An Huy vào năm 2011 là 36.986 NDT/người, thu nhập bình quân đầu người đạt 25.340 NDT/người (tức khoảng 3.923 USD). === Nông nghiệp === Phần lớn tỉnh An Huy có lượng quang nhiệt lớn, lượng mưa phong phú, mưa và nắng trong cùng một thời kỳ, điều này có lợi cho sự phát triển của cây trồng. Ngoài ra, trung bộ và bắc bộ An Huy là vùng đồng bằng rộng lớn, đất đai phì nhiêu. Năm 2011, diện tích trồng cây lương thực có hạt của An Huy là 6621,5 nghìn ha, trong đó diện tích chuyên dụng trồng lúa mì chất lượng cao là 1.985 nghìn ha. Ngoài ra, diện tích trồng cây có dầu là 878,3 nghìn ha, diện tích trồng bông là 350,4 nghìn ha, diện tích trồng rau xanh là 790,3 nghìn ha. Năm 2010, tổng sản lượng lương thực của An Huy là 308,05 triệu tấn, là mức cao nhất so với những năm trước đó. Sản lượng hạt có dầu đạt 2,276 triệu tấn, sản lượng bông đạt 316 nghìn tấn, sản lượng thuốc lá đạt 29 nghìn tấn, sản lượng trà đạt 83 nghìn tấn, sản lượng rau xanh đạt 21,374 triệu tấn và sản lượng hoa quả đạt 8,053 triệu tấn. Tính đến cuối năm 2011, số lợn chăn nuôi tại trên địa bàn An Huy là 14,673 triệu con; số lợn nuôi xuất chuồng mỗi năm là 27,211 triệu con. Sản lượng các loại thịt chủ yếu vào năm 2011 là 3,718 triệu tấn, trong đó lượng thịt lợn, thịt bò và thịt cừu là 2,651 triệu tấn. Sản lượng trứng gia cầm đạt 1,197 triệu tấn. Sản lượng sữa bò đạt 225 nghìn tấn. Sản lượng thủy sản đạt 1,995 triệu tấn. === Công nghiệp === Sau cải cách mở cửa, lĩnh vực công nghiệp của tỉnh An Huy đã có các tiến bộ, hình thành được một hệ thống công nghiệp tương đối hoàn chỉnh, bao gồm cả ngành năng lượng và luyện kim. Chery Automobile Co., Ltd. là biểu tượng cho ngành công nghiệp ô tô của An Huy. Các công ty lớn nhất của tỉnh An Huy bao gồm Anhui Conch Cement Company, chuyên về sản xuất và phân phối xi măng, Guoyang Securities Co, một nhà cung cấp dịch vụ tài chính, và Ma’anshan Iron & Steel, một nhà sản xuất gang thép. Năm 2011, giá trị công nghiệp của An Huy đạt 706,17 tỷ NDT, đạt mức tăng trưởng 21,1% so với năm trước; trong đó công nghiệp nhẹ tăng trưởng 27,2% còn công nghiệp nặng tăng trưởng 18,6%, tỷ lệ giữa hai ngành này vào năm 2011 là 30,8:69,2. Các nhà máy sản xuất theo hình thức cổ phần hoặc vốn đầu tư nước ngoài (bao gồm cả vốn Hồng Kông, Ma Cao và Đài Loan) tiếp tục tăng trưởng nhanh chóng với tỷ lệ tương ứng là 22% và 20%. Bảy ngành công nghiệp hàng đầu của An Huy là thông tin điện tử, chế tạo ô tô và thiết bị, vật liệu và vật liệu mới, năng lượng mới, thực phẩm và y dược, dệt may và quần áo, ngành công nghiệp dịch vụ hiện đại. === Khoáng sản === An Huy là một tỉnh lớn về tài nguyên khoáng sản với trữ lượng phong phú. Tính đến cuối năm 2011, người ta đã phát hiện được 158 loại khoáng sản trên địa bàn An Huy, trong đó đã xác minh được trữ lượng của 126 loại khoáng sản với 5 loại khoáng sản năng lượng, 22 loại khoáng sản kim loại, 96 loại khoáng sản phi kim. Các vùng mỏ quan trọng của An Huy bao gồm sắt tại Mã An Sơn, than đá ở Hoài Nam và đồng tại Đồng Lăng. == Giao thông == === Đường sắt === Hệ thống đường sắt của tỉnh An Huy do cục đường sắt Thượng Hải quản lý. Năm 2011, tổng chiều dài mạng lưới đường sắt hoạt động tại An Huy là 3144 km. Các tuyến đường sắt chính trên địa bàn An Huy là Kinh-Hỗ, Lũng-Hải, Kinh-Cửu, Thanh-Phụ, Phụ-Hoài, Hoài Nam, Tuyên-Hàng, Hoản-Cám, Ninh-Tây, Hỗ-Dong. Các tuyến đường sắt cao tốc đi qua địa phận An Huy bao gồm đường sắt cao tốc Kinh-Hỗ, đường sắt liên thành Ninh-An, đường sắt vận chuyển hành khách Hợp-Bạng, đường sắt vận chuyển hành khách Thương-Hàng, đường sắt cao tốc Hợp-Vũ. An Huy có ba ga vận chuyển hành khách cấp một là ga Phụ Dương, ga Bạng Phụ và ga Hợp Phì; cùng với bốn ga vận chuyển hàng hóa cấp một là ga Phụ Dương Bắc, ga Bạng Phụ Đông, ga Vu Hồ Đông, ga Hoài Nam Tây. Các ga vận chuyển hành khách cấp hai tại An Huy gồm ga Hợp Phì Nam, ga Vu Hồ, ga Hoài Nam, ga Túc Châu, ga Trừ Châu, ga Hoài Bắc, ga Mã An Sơn, ga Đồng Lăng, ga Bạc Châu, ga Hoàng Sơn, ga Nãng Sơn, ga Thủy Gia Hồ, ga Hợp Phì Tây, ga Tích Khê. === Đường bộ === Mật độ đường bộ tại An Huy đứng vào hàng đầu trong số các tỉnh tại Trung Quốc. An Huy có 14 bến xe hành khách cấp địa khu, 65 bến xe hành khách cấp huyện và 20 bến vận chuyển hàng hóa. Tính đến cuối năm 2011, tổng chiều dài các tuyến công lộ tại An Huy là 149.534,65 km, mật độ là 107,27 km/100 km²; trong đó có 3.009 km đường cao tốc đã thông xe, có đến 99.98% số thôn hành chính tại An Huy đã thông công lộ. Tất cả các địa cấp thị tại An Huy đều đã thông đường cao tốc, nếu đi theo các tuyến cao tốc này sẽ mất khoảng 6 tiếng để quá cảnh theo chiều bắc-nam của An Huy, và mất khoảng 3 tiếng nếu quá cảnh theo chiều đông-tây. Tại An Huy có 3 cây cầu lớn vượt Trường Giang, đó là cầu Trường Giang An Khánh, cầu Trường Giang Vu Hồ và cầu Trường Giang Mã An Sơn; và có 12 cầu vượt Hoài Hà. Năm 2011, hệ thống đường bộ của An Huy đã thực hiện vận chuyển 1,79 tỷ lượt hành khách và 2,19 tỷ tấn hàng hóa. Các tuyến đường cao tốc chủ yếu chạy trên địa phận An Huy là đoạn Hợp Từ của tuyến đường cao tốc Kinh-Đài (một trong các tuyến chính của hệ thống đường cao tốc Trung Quốc), đường cao tốc Hợp-Ninh, đường cao tốc Hợp-An, đường cao tốc Lư-Đồng, đường cao tốc Đồng-Thang, đường cao tốc Thang-Đồn, đoạn Ninh-Hoài của đường cao tốc Trường-Thẩm, đoạn Bạc-Phụ và An-Cảnh của đường cao tốc Tế-Quảng, đoạn An Huy của đường cao tốc Liên-Hoắc, đoạn Bạng-Minh và đoạn Giới-Phụ-Bạng của đường cao tốc Ninh-Lạc, đoạn Hợp-Ninh và đoạn Hợp-Lục-Diệp của đường cao tốc Hỗ-Thiểm, đoạn Hợp-Ninh và đoạn Hợp-Từ và đoạn Hợp-Lục Diệp của đường cao tốc Hỗ-Dong, đoạn Quảng-Từ và đoạn Tuyên-Quảng và đoạn Vu-Tuyên và đoạn Duyên Giang và đoạn Cao-Giới của đường cao tốc Hỗ-Du, đoạn Huy-Hàng của đường cao tốc Hàng-Thụy, đoạn Ninh-Mã và Mã-Vu của đường cao tốc Ninh-Vu, đường cao tốc Hợp-An, đoạn Hợp-Sào-Vu của đường cao tốc Vu-Hiệp, đường cao tốc vành đai Hợp Phì. === Đường thủy === An Huy nằm trong lưu vực hai con sông lớn là Hoài Hà và Trường Giang nên có điều kiện thuận lợi để phát triển giao thông đường thủy. Tỉnh An Huy có các cảng cấp một là cảng Bạng Phụ, cảng Hoài Nam, cảng Phụ Dương, cảng Vu Hồ, cảng Mã An Sơn, cảng An Khánh; các cảng cấp hai là cảng Phượng Dương, cảng Phượng Đài, cảng Lợi Tân, cảng Đồng Lăng. Tính đến cuối năm 2011, tổng lý trình các tuyến đường sông có thể thông hành của An Huy là 5.596 km, trong đó có 1.084 km các tuyến đường thủy cấp cao. Toàn tỉnh An Huy có khoảng 30.000 tàu thuyền hoạt động với tổng tải trọng là 26 triệu tấn. Năm 2011, hệ thống cảng của An Huy đã thông qua khối lượng hàng hóa lên đến 370 triệu tấn, với 388 nghìn container. Ở ven sông trên địa bàn An Huy có trên 380 bến có thể đón tàu trọng tải cấp 1000 tấn trở lên, số lượng cảng sông của An Huy là cao nhất trong các tỉnh miền Trung và miền Tây của Trung Quốc. === Đường không === An Huy có ba sân bay hàng không dân dụng là sân bay quốc tế Lạc Cương Hợp Phì, sân bay Đồn Khê Hoàng Sơn và sân bay Phụ Dương, ngoài ra tại An Khánh có một sân bay kết hợp cả quân sự lẫn dân dụng (sân bay Thiên Trụ Sơn An Khánh), dự tính sẽ xây dựng mới sây bay quốc tế Tân Kiều Hợp Phì và sân bay Cửu Hoa Sơn Trì Châu. Sân bay quốc tế Lạc Cương Hợp Phì là cửa khẩu hàng không cấp một quốc gia, với 400 chuyến bay mỗi tuần trên 46 đường bay. Năm 2011, hệ thống cảng hàng không của An Huy đã phục vụ vận chuyển 5,21 triệu lượt hành khách và 40.000 tấn hàng hóa. == Văn hóa == Hoàng Mai hí (黃梅戲) có nguồn gốc từ vùng ven của An Khánh, là một loại hình hí khúc phổ biến trên khắp Trung Quốc. Hoàng Mai hí bao gồm các điệu ca vũ thôn quê và có thể đã ra đời từ 200 năm trước hoặc thậm chí lâu hơn; loại hình này có truyền thống ca bằng phương ngôn Quan thoại tại An Khánh. Huy kịch (徽剧) là một loại hình nhạc kịch truyền thống bắt nguồn từ khu vực nói tiếng Huy ở nam bộ An Huy, nó là một trong các tiền thân của Kinh kịch. Vào thập niên 1950, Huy kịch đã hồi sinh sau một thời gian bị lãnh quên. Lư kịch (廬劇) là một loại hình nhạc kịch truyền thống xuất hiện khắp vùng trung bộ An Huy, từ đông sang tây. Ngoài ra, còn có Hoa Cổ hí (花鼓戏) tại Phượng Dương, Tứ Châu hí ở Tứ huyện, Bang kịch (梆剧) tại Bạc Châu, Na hí (傩戏) tại Quý Trì Ẩm thực An Huy là một trong tám trường phái truyền thống chính của ẩm thực Trung Quốc. Trường phái này kết hợp cách nấu nướng từ bắc bộ An Huy (ven Hoài Hà), trung-nam An Huy (ven Trường Giang) và các khu vực nói tiếng Huy ở nam bộ An Huy; trong đó các món ở khu vực Hoản Nam là đại biểu chủ yếu của ẩm thực An Huy, bắt nguồn từ cách nấu nướng của khu vực Hoàng Sơn. Ẩm thực An Huy được biết đến với việc sử dụng các loại thú săn và thảo mộc hoang dã cả trên cạn lẫn dưới nước, chế biến bằng cách cách rán lâu trên lửa, ninh và hấp thức ăn; cũng như cách chuẩn bị tương đối đơn giản. Đại diện tiêu biểu của ẩm thực An Huy là món vịt hồ lô (vịt quay Lư Châu), hổ lốn Lý Hồng Chương... An Huy có nhiều sản phẩm truyền thống có liên quan đến thư pháp: Tuyên Châu (nay là Tuyên Thành) và Huy Châu (nay là Hoàng Sơn) nổi tiếng với sản phẩm giấy Tuyên (宣纸) và mực Huy (徽墨), chúng được xem là những loại giấy và mực tốt nhất trong thư pháp Trung Quốc. Huyện Hấp nổi tiếng với sản phẩm nghiên Hấp (歙砚), một trong những loại nghiên dùng để mài mực được ưa thích nhất. == Du lịch == Các thôn cổ ở nam bộ An Huy: Tây Đệ và Hoành thôn, là di sản thế giới từ năm 2000 Hoàng Sơn, dãy núi với nhiều thắng cảnh ở nam bộ An Huy, là di sản thế giới từ năm 1990 Cửu Hoa Sơn, một trong tứ đại danh sơn của Phật giáo Trung Quốc, ở nam bộ An Huy Tề Vân Sơn (齐云山), một trong tứ đại danh sơn của Đạo giáo Trung Quốc, ở nam bộ An Huy Thiên Trụ Sơn (天柱山), có biệt danh là "Giang Hoài đệ nhất sơn", ở nam bộ An Huy Lang Da Sơn (琅琊山), là thắng cảnh cấp AAAA của Trung Quốc, nằm ở trung bộ An Huy Đồn Khê lão nhai (屯渓老街), phố cổ ở thành phố Hoàng Sơn Túy Ông đình (醉翁亭), đặt theo hiệu của thi nhân Âu Dương Tu thời Bắc Tống Hồ Sào, một trong năm hồ nước ngọt lớn nhất Trung Quốc Động Thái Cực (太极洞), được thi nhân Phùng Mộng Long mô tả là một trong "Thiên hạ tứ tuyệt", cũng là một địa điểm linh thiêng của tín đồ Đạo giáo, là hang động karst dài nhất tại Đông Á Tháp Chấn Phong (振风塔), ngôi chùa tháp từ thời Minh tại An Khánh == Giáo dục == == Địa phương kết nghĩa == Hoa Kỳ, Maryland 10/6/1980 Đức, Niedersachsen 8/9/1984 Pháp, Franche-Comté 18/5/1987 Nhật Bản, Kochi 8/11/1994 Ba Lan, Dolnośląskie 8/6/1997 Yemen, Hadhramaut 17/2/1998 Úc, Lãnh thổ Bắc Úc 23/10/2000 Nam Phi, Limpopo 31/10/2000 Bỉ, Walloon Brabant 9/5/2002 Ai Cập, Dakahlia 2/9/2003 Philippines, Nueva Ecija 10/9/2003 Thụy Điển, Västra Götaland 28/9/2005 Argentina, La Pampa 2/2005 == Chú thích == == Tham khảo ==
ẩm thực ấn độ.txt
Ẩm thực Ấn Độ có đặt trưng bởi việc sử dụng các loại gia vị, các loại rau gia vị và rau quả khác và đôi khi trái cây được trồng ở Ấn Độ và cũng như chế độ ăn chay phổ biến trong một bộ phận của xã hội Ấn Độ. Mỗi khu vực ở Ấn Độ có đặc trưng món ăn và kỹ thuật nấu ăn khác nhau. Kết quả là, phong cách ấm thực thay theo vùng, phản ánh cơ cấu nhân khẩu khác nhau của tiểu lục địa Ấn Độ đa dạng về sắc tộc. Niềm tin tôn giáo và văn hóa Ấn Độ đã đóng một vai trò có ảnh hưởng trong sự tiến hóa của ẩm thực của quốc gia này. Tuy nhiên, ẩm thực trên khắp Ấn Độ cũng đã tiến hóa do sự tương tác văn hóa quy mô lớn của tiểu lục địa này đồi với Hy Lạp cổ đại, Ba Tư, Mông Cổ và Tây Á, khiến cho ẩm thực quốc gia này có một nét độc đáo pha trộn của các nền ẩm thực khác nhau trên khắp châu Á. Mậu dịch gia vị giữa Ấn Độ và châu Âu thường được xem như là chất xúc tác chính cho Thời đại Khám phá của châu Âu. Thời kỳ thuộc địa đã giúp du nhập phong cách ẩm thực châu Âu đến với Ấn Độ và làm gia tăng tính linh hoạt và tính đa dạng của ẩm thực Ấn Độ . Ẩm thực Ấn Độ đã có một ảnh hưởng đáng kể đối với các nền ẩm thực trên toàn thế giới, đặc biệt là đối với các quốc gia Đông Nam Á. == Tham khảo ==
tà sùa.txt
Tà Xùa là một xã thuộc huyện Bắc Yên, tỉnh Sơn La, Việt Nam. Xã có diện tích 44,97 km², dân số năm 1999 là 2.104 người, mật độ dân số đạt 47 người/km². == Chú thích == == Tham khảo ==
bộ tư pháp hoa kỳ.txt
Bộ Tư pháp Hoa Kỳ (United States Department of Justice hay viết tắt là DOJ) là một bộ cấp nội các trong Chính phủ Liên bang Hoa Kỳ có trách nhiệm thi hành luật pháp, bảo vệ quyền lợi của Hoa Kỳ theo luật pháp, bảo đảm làm sao việc thực thi luật pháp một cách công bằng và không thiên vị cho tất cả người Mỹ (xem 28 U.S.C. § 501). Bộ Tư pháp do Bộ trưởng Tư pháp Hoa Kỳ (hay Tổng chưởng lý Hoa Kỳ là cách dịch khác từ tiếng Anh Attorney General) lãnh đạo. Bộ trưởng hiện tại là Eric Holder. == Nhiệm vụ == Điều tra và truy tố các vi phạm luật liên bang. Đại diện cho Hoa Kỳ trong các vấn đề liên quan đến pháp lý, trong đó bao gồm các sự vụ trước Tối cao Pháp viện Hoa Kỳ. Thi hành các luật về di trú, cung cấp thông tin và tiến hành các thủ tục đơn xin nhập tịch. Quản lý hệ thống nhà tù liên bang, các chương trình quản thúc tội phạm và các chương trình cộng đồng. == Lịch sử == Ban đầu Tổng chưởng lý chỉ là một người đơn độc, làm việc một phần thời gian, được lập ra theo Đạo luật Tư pháp năm 1789. Có khi người này giúp tư vấn pháp luật cho Quốc hội Hoa Kỳ cũng như cho Tổng thống Hoa Kỳ nhưng sau đó thì chấm dứt vào năm 1819 vì sức tải của công việc. Năm 1867, Ủy ban Hạ viện Hoa Kỳ đặc trách về Tư pháp (U.S. House Committee on the Judiciary), do dân biểu William Lawrence lãnh đạo, đã tiến hành một cuộc thăm dò để thành lập một "bộ luật pháp" có một Tổng chưởng lý lãnh đạo và gồm có nhiều luật sư các bộ khác nhau và các Công tố viên Hoa Kỳ. Vào ngày 19 tháng 2 năm 1868, Lawrence giới thiệu một đạo luật tại Quốc hội Hoa Kỳ để thành lập Bộ Tư pháp Hoa Kỳ. Tuy nhiên đạo luật đầu không thành công vì Lawrence không thể tận dụng nhiều thời gian để nó được thông qua mà ông bận phải dành thời gian cho việc luận tội Tổng thống Andrew Johnson. Đạo luật thứ hai được dân biểu Rhode Island là Thomas Jenckes trình lên Quốc hội ngày 25 tháng 2 năm 1870, và nó được thông qua ở cả Thượng viện và Hạ viện. Tổng thống Ulysses S. Grant ký đạo luật này thành luật vào ngày 22 tháng 6 năm 1870. Bộ Tư pháp chính thức bắt đầu hoạt động vào ngày 1 tháng 7 năm 1870. Đạo luật có tên "Đạo luật thành lập Bộ Tư pháp" đã không thay đổi trách nhiệm của Tổng chưởng lý nhiều cũng như tiền lương và nhiệm kỳ vẫn giữ như cũ. Luật dựng lên một văn phòng mới có tên là Tổng biện lý sự vụ (Solicitor General) để giám sát và thực hiện các vụ kiện hay tranh chấp của chính phủ trước Tối cao Pháp viện Hoa Kỳ. Với việc thông qua Đạo luật Thương mại Liên tiểu bang năm 1887, Chính phủ liên bang Hoa Kỳ bắt đầu bắt tay đảm nhiệm một số trách nhiệm thi hành pháp lý mà Bộ Tư pháp là cơ quan thực hiện các bổn phận này. Năm 1872, việc giám sát các nhà tù liên bang đã được thuyên chuyển từ Bộ Nội vụ Hoa Kỳ sang cho bộ mới thành lập này. Các cơ sở vật chất mới được xây dựng trong đó có trại cải huấn ở Leavenworth năm 1895, và một nhà tù dành cho phụ nữ ở Tây Virginia. Trại tù Alderson được xây vào năm 1924. == Tổng hành dinh == Tòa nhà Bộ Tư pháp Hoa Kỳ được xây hoàn thành vào năm 1935 từ bản thiết kế của Milton Bennett Medary. Sau khi Medary mất vào năm 1929, các cộng sự khác trong công ty Philadelphia của ông lãnh trách nhiệm đối với dư án. Tòa nhà có khoảng 1 triệu ft vuông chỗ văn phòng, nằm trên một lô đất được bao bọc bởi Đại lộ Constitution và Đại lộ Pennsylvania, Phố số 9 và Phố số 10, khu định hướng Tây Bắc của thủ đô Washington D.C. Nhà điêu khắc C. Paul Jennewein đóng vai trò là nhà tư vấn thiết kế cho toàn bộ dư án tòa nhà, đóng góp hơn 50 mẫu điêu khắc bên trong và ngoài tòa nhà. Nhiều cố gắng được thực hiện nhưng không hoàn toàn thành công để định nghĩa ý nghĩa của khẩu hiệu bằng chữ Latin nằm trên con dấu của Bộ Tư pháp Qui Pro Domina Justitia Sequitur. Thậm chí người ta cũng không biết rõ là từ khi nào phiên bản gốc của con dấu được sử dụng hay từ khi nào mà khẩu hiệu xuất hiện trên con dấu lần đầu tiên. Ý kiến có uy nhất là từ Bộ Tư pháp thì cho rằng khẩu hiệu này ám chỉ đến Tổng chưởng lý (và vì thế ám chỉ Bộ Tư pháp) "người đứng ra truy tố thay mặt công lý (hay Nữ thần Công lý)". Tòa nhà được đổi tên để vinh danh cựu Tổng chưởng lý Robert F. Kennedy vào năm 2001. Đôi khi tòa nhà này còn được gọi là "Main Justice". == Tổ chức == === Các văn phòng lãnh đạo === Văn phòng Bộ trưởng Tư Pháp hay Tổng chưởng lý (Attorney General) Văn phòng Phó Bộ trưởng Tư pháp (Deputy Attorney General) Văn phòng Thứ trưởng Bộ Tư pháp (Associate Attorney General) Văn phòng Tổng Biện lý Sự vụ (Solicitor General) === Các vụ === Vụ chống độc quyền (Antitrust Division) Vụ Dân sự (Civil Division) Vụ Dân quyền (Civil Rights Division) Vụ Hình sự (Criminal Division) Vụ Tài nguyên Môi trường và Tự nhiên (Environment and Natural Resources Division) Vụ Quản lý Tư pháp (Justice Management Division) Vụ An ninh Quốc gia (National Security Division) Vụ Thuế (Tax Division) === Các cơ quan thi hành luật pháp === Một số cơ quan thi hành luật pháp do Bộ Tư pháp quản lý gồm có: Cục Rượu, Thuốc lá, Vũ khí và Chất nổ (Bureau of Alcohol, Tobacco, Firearms, and Explosives) Cơ quan đặc trách chống chất gây nghiện (Drug Enforcement Administration) Cục Điều tra Liên bang (FBI) Cục đặc trách Nhà tù Liên bang (Federal Bureau of Prisons) Viện Quản giáo Quốc gia (National Institute of Corrections) Cục Cảnh sát Hoa Kỳ (United States Marshals Service) Văn phòng Tổng thanh tra Bộ Tư pháp Hoa Kỳ (United States Department of Justice Office of the Inspector General) === Các văn phòng === Văn phòng Hành chính đặc trách Cứu xét Di dân (Executive Office for Immigration Review) Văn phòng Hành chính Biện lý Hoa Kỳ (Executive Office for U.S. Attorneys) Văn phòng Hành chính Ủy thác Hoa Kỳ (Executive Office of the United States Trustee) Văn phòng Tuyển dụng Biện lý và Quản trị (Office of Attorney Recruitment and Management) Văn phòng Giới chức trưởng Thông tin (Office of the Chief Information Officer) Văn phòng Giải quyết Tranh chấp (Office of Dispute Resolution) Văn phòng Ủy thác Câu lưu Liên bang (OFDT) Văn phòng Thông tin và đặc trách Quyền riêng tư (Office of Information and Privacy) Văn phòng Chính sách và Xem xét Tình báo (Office of Intelligence Policy and Review) Văn phòng Liên chính quyền và Liên lạc Công chúng (Office of Intergovernmental and Public Liaison) Văn phòng đặc trách các chương trình Tư pháp (Office of Justice Programs) Cục Hỗ trợ Tư pháp (Bureau of Justice Assistance) Cục Thống kê Tư pháp (Bureau of Justice Statistics) Văn phòng Pháp triển Khả năng Cộng đồng (Community Capacity Development Office) Viện Tư pháp Quốc gia (National Institute of Justice) Văn phòng Ngăn ngừa Tội phạm và Tư pháp Thiếu niên (Office of Juvenile Justice and Delinquency Prevention) Văn phòng kết án, theo dõi, tìm hiểu, lập hồ sơ chống tội phạm tình dục (Sex Offender Sentencing, Monitoring, Apprehending, Registering, and Tracking Office) Văn phòng giúp đỡ nạn nhân của tội phạm (Office for Victims of Crime) Văn phòng Giáo dục Lực lượng Thi hành Luật pháp và cảnh vụ (Office of the Police Corps and Law Enforcement Education) Văn phòng Tư vấn Pháp lý (Office of Legal Counsel) Văn phòng Chính sách Pháp lý (Ofice of Legal Policy) Văn phòng Lập pháp vụ (Office of Legislative Affairs) Văn phòng Điều tra Khiếu nại (Office of the Ombudsperson) Văn phòng Biện lý đặc trách Ân xá (Office of the Pardon Attorney) Văn phòng Điều tra Trách nhiệm Nghiệp vụ (Office of Professional Responsibility) Văn phòng Công vụ (Office of Public Affairs) Văn phòng đặc trách Bạo lực Tình dục và Tội phạm đối với Trẻ (Office on Sexual Violence and Crimes against Children) Văn phòng đặc trách Pháp lý người Mỹ bản thổ (Office of Tribal Justice) Văn phòng đặc trách Bạo lực đối với Phụ nữ (Office on Violence Against Women) Văn phòng Tư vấn Trách nhiệm Nghiệp vụ (Professional Responsibility Advisory Office) Các văn phòng Biện lý Hoa Kỳ (United States Attorney) Các văn phòng Ủy thác Hoa Kỳ (United States Trustee) Văn phòng dịch vụ Cảnh sát Cộng đồng (Office of Community Oriented Policing Services) Sở Quan hệ Cộng đồng (Community Relations Service) == Tham khảo == == Liên kết ngoài == Department of Justice Meeting Notices and Rule Changes from The Federal Register RSS Feed Organization chart for the United States Department of Justice United States Department of Justice website USDOJ Documents Post 9/11 Memos, OIG Reports... 4 Torture Memos Released 16Apr2009 in response to FOIA suit by ACLU. Home Page of The November Coalition: Working to End Drug War Injustice
hồ ngải đinh.txt
Hồ Ngải Đinh (tiếng Trung: 艾丁湖, tiếng Duy Ngô Nhĩ: ئايدىڭكۆل, Aydingkul hay Ayding) là một hồ nằm trong bồn địa Thổ Lỗ Phồn thuộc huyện cấp thị Thổ Lỗ Phồn của địa khu Thổ Lỗ Phồn trong khu tự trị Tân Cương, Trung Quốc. Nằm tại độ cao 154 m dưới mực nước biển, nó là vùng đất có cao độ thấp thứ hai trên Trái Đất, chỉ sau thung lũng biển Chết. Hồ này hiện nay đã hoàn toàn khô cạn và ở trạng thái nhiều bùn lầy và muối lắng đọng. Người Trung Quốc cổ đại gọi nó là 觉洛浣 (giác lạc hoán), tên gọi trong tiếng Duy Ngô Nhĩ đọc tựa như Ngải Đinh khố lặc, về ý nghĩa là hồ của ánh sáng mặt trăng (Nguyệt Quang hồ), do ven hồ là sắc trắng do muối lắng đọng tạo ra. Hồ cách huyện cấp thị Thổ Lỗ Phồn khoảng 33 km về phía nam đông nam của đô thị ốc đảo này. Nguyên thủy, hồ này có chiều dài theo hướng đông tây khoảng 40 km, chiều rộng theo hướng bắc-nam khoảng 8 km, diện tích khoảng 152 kilômét vuông, do vận động kiến tạo sơn hình thành dãy núi Himalaya tạo nên khoảng 2,49 triệu năm trước. Tới năm 1958 hồ chỉ còn diện tích khoảng 22 km² và độ sâu không quá 0,8 m. Tới năm 2000, trừ phần phía tây nam còn một hồ nhỏ thì toàn bộ hồ đã khô cạn. == Chú thích == == Tham khảo == Bản mẫu:Sơ khai Uyghur
quốc huy vương quốc anh.txt
Quốc huy Vương quốc Anh là quốc huy chính thức của quốc vương Anh, hiện là Nữ hoàng Elizabeth II. Tấm khiên trong quốc huy được chia làm bốn phần, ở góc thứ nhất và thứ tư là hình ba con sư tử hộ vệ đại diện cho Anh; ở góc thứ hai là hình một con sử tử đang chồm lên và dãi hẹp kép chạm hoa bích hợp đại diện cho Scotland và ở góc thứ ba là cái đàn hạc bằng vàng tượng trưng cho Bắc Ireland. == Tham khảo ==
don't be afraid of the dark.txt
Đừng sợ bóng tối (tựa tiếng Anh: Don't Be Afraid of the Dark) là một bộ phim kinh dị - viễn tưởng - tâm lý năm 2011 của Mỹ do Troy Nixey làm đạo diễn, đây là phim làm lại từ bộ phim kinh dị có cùng tên năm 1973. Diễn viên trong phim gồm có Guy Pearce, Katie Holmes và Bailee Madison. == Nội dung == Vào thế kỷ 19, ở Rhode Island, có người đàn ông tên Blackwood đang sống với người hầu gái của ông ta trong tòa lâu đài. Blackwood tự động lấy kềm nhổ răng rồi đem số răng đó xuống nộp cho bọn sinh vật lạ dưới lò sưởi, ông ta giết luôn cô hầu gái để lấy răng cô ta. Bọn quái vật dưới lò sưởi đã bắt cóc con trai Blackwood, chúng sẽ thả cậu bé nếu Blackwood cho chúng răng trẻ em. Bọn quái vật không chịu nhận số răng Blackwood đưa, chúng kéo Blackwood xuống lò sưởi và giết ông ta. Năm 2011, Alex và cô bạn gái Kim dọn đến Rhode Island sống ở tòa lâu đài cổ, Alex đã li dị vợ và anh ta có một đứa con gái tên Sally, Sally đi theo Alex. Alex, Kim và Sally rất hài lòng khi nhìn thấy tòa lâu đài rộng lớn, xinh đẹp mà họ không biết rằng có bọn quái vật đang sống ở đây. Ngay ngày đầu tiên, Sally đã cảm thấy có điều gì lạ trong lâu đài này. Ngày tiếp theo, Sally đi vòng quanh khu vườn và nhìn thấy nhà kho bí mật. Ông người làm Harris cảnh báo Alex, Kim và Sally không nên xuống nhà kho. Sally lén đi xuống nhà kho, cô bé nghe được ai đó gọi tên mình rồi đi theo âm thanh bí ẩn đó. Sally tìm được cái răng cũ sau khi mở lò sưởi ra, cô bé đem cái răng về phòng. Bọn quái vật ăn cắp dao cạo râu của Alex và xé nát quần áo của Kim, tưởng Sally gây ra nên Alex khiển trách Sally. Sally tìm thấy một đồng bạc từ thế kỷ 19 dưới gối sau khi cái răng cũ biến mất. Alex và Kim có việc đi vào thị trấn, Sally lén đi xuống nhà kho lần nữa để tiếp cận bọn quái vật, Harris liền đưa Sally ra ngoài rồi ông ta cố đóng lò sưởi lại. Bọn quái vật tấn công Harris, Harris bị thương nặng đến nỗi phải nhập viện. Sally lấy giấy viết vẽ lại hình bọn quái vật cho Alex xem, tuy nhiên Alex cho là Sally tưởng tượng. Kim vào bệnh viện thăm Harris, cô ta hỏi Harris chuyện gì đã xảy ra với ông ta, Harris bảo Kim đến thư viện địa phương để tìm bức tranh có hình quái vật của Blackwood vẽ. Khi đến thư viện và thấy bức tranh có hình quái vật của Blackwood, Kim tin rằng có quái vật đang trong lâu đài, cô nhanh chóng lái xe quay về. Alex và Kim quyết định bỏ tòa lâu đài, đưa Sally đi nơi khác sống. Sally bất ngờ bị bọn quái vật bắt xuống nhà kho, chúng tính kéo Sally vào độ sâu không đáy dưới lò sưởi để biến cô bé thành quái vật giống chúng. Alex bị bọn quái vật đóng cửa nhốt bên ngoài, còn Kim chạy xuống nhà kho cứu Sally. Cởi trói cho Sally xong thì Kim bị mắc vào cọng dây, sau đó bọn quái vật kéo cô ta vào lò sưởi. Sally lấy máy chụp hình đập chết con quái vật đầu đàn, Alex vừa xông vào thì Kim đã bị kéo đi mất. Một thời gian sau, Alex đưa Sally về nhìn lại tòa lâu đài, Sally để một bức tranh trước cửa rồi bỏ đi với bố. Cơn gió thổi bức tranh bay vào tận lò sưởi. == Diễn viên == Bailee Madison vai Sally Hurst Katie Holmes vai Kim Guy Pearce vai Alex Hurst Jack Thompson vai William Harris Alan Dale vai Charles Jacoby Julia Blake vai Bà Underhill Garry McDonald vai Emerson Blackwood Nicholas Bell vai Bác sĩ tâm lý Trudy Hellier vai Evelyn Jacoby James Mackay vai Thủ thư Abbe Holmes vai Joanne Hurst (giọng nói) == Tham khảo == == Liên kết ngoài == Trang web chính thức. Don't Be Afraid of the Dark tại Internet Movie Database Don't Be Afraid of the Dark tại Box Office Mojo Don't Be Afraid of the Dark tại Allmovie Don't Be Afraid of the Dark tại Rotten Tomatoes Trailer phim.
francis garnier.txt
Marie Joseph François (Francis) Garnier (25 tháng 7 năm 1835? – 21 tháng 12 năm 1873) là một sĩ quan người Pháp và đồng thời là một nhà thám hiểm, được biết đến vì cuộc thám hiểm sông Mekong 1866-1868 tại khu vực Đông Nam Á, cũng như vì chiến dịch quân sự do ông chỉ huy ở Bắc Kỳ năm 1873 và bị giết ở đó. Sử Việt cũ thường phiên âm tên Garnier là Ngạc Nhi. Năm 1943, Liên bang Đông Dương đã phát hành tem bưu chính để ghi công Garnier. == Tiểu sử == Ông sinh tại St. Etienne, tốt nghiệp trung học (lycée) tại Montpellier, rồi nhập học học viện hải quân (l'Ecole Navale) năm 1855. Ra trường, Garnier gia nhập hải quân Pháp. Sau những chuyến đi tới vùng biển Brasil và Thái Bình Dương ông nhận chức vụ trong ban tham mưu của đô đốc Charner, người chỉ huy cuộc tấn công Nam Kỳ trong những năm 1860 đến 1862. Sau khi về Pháp nghỉ một thời gian, Garnier trở lại vùng Viễn Đông, và năm 1862 được bổ nhiệm làm thanh tra dân sự tại Nam Kỳ, trong đó có nhiệm vụ quản lý hành chính khu vực Chợ Lớn, khi đó là ngoại ô Sài Gòn. Trong thời gian này Garnier có viết hai tác phẩm: "La Cochinchine" (Nam Kỳ) và "De la colonisation de la Cochinchine" (Về quá trình thực dân hóa Nam Kỳ), trong đó manh nha ý tưởng thám hiểm sông Mê Kông và niềm say mê truyền thống văn hóa Trung Hoa. === Thám hiểm sông Mê Kông === Theo đề nghị của Garnier, hầu tước Chasseloup-Laubat (lúc bấy giờ là Bộ trưởng Bộ Hải quân và Thuộc địa của chính phủ Pháp) đã quyết định gửi một phái đoàn đi thám hiểm lưu vực sông Mê Kông. Garnier vì nhỏ tuổi nên đại tá hải quân Ernest Doudart de Lagrée được chọn là chỉ huy còn Garnier làm phó. Đoàn thám hiểm có 3 mục đích chính: khoa học, chính trị và ngoại giao. Đoàn người khởi hành ngày 5 tháng 6 năm 1866, ngược dòng Cửu Long lên tận Trung Hoa. Chủ tịch Hiệp hội Địa lý Hoàng gia Anh Sir Roderick Murchison có lời khen ngợi Garnier như sau: "từ Kratié tại Campuchia tới Thượng Hải họ vượt 5.392 dặm đường. Chặng đường 3.625 dặm của hơn 5.000 dặm đó phải băng qua vùng hoang dã, đất nước xa lạ, địa lý mù mịt, không ai biết mà họ thực hiện được cuộc khảo sát kỹ lưỡng, định vị địa hình bằng quan sát thiên văn, gần như toàn phần khảo sát là do chính Garnier thực hiện". Cũng vì đó mà Garnier được Hiệp hội Địa lý Hoàng gia Anh trao tặng huy chương Victoria vào năm 1870. Trong chuyến thám hiểm lưu vực sông Mê Kông, Garnier tình nguyện dẫn một chi đội tới Đại Lý, tỉnh Vân Nam vào tháng 11 năm 1867; lúc bấy giờ Đại Lý là thủ phủ của quân phiến loạn người Hồi. Thủ lĩnh loạn quân là Đỗ Văn Tú xưng quốc hiệu là "Bình Nam quốc" đem quân chống lại nhà Thanh. Chặng đường này nhiều hiểm nguy mà Garnier không ngần ngại, chứng tỏ tính phiêu lưu của ông. Sang năm 1868 ngày 12 tháng 3 Doudart de Lagrée chết nên quyền bính sang tay Garnier. Ông tiếp tục hành trình, dẫn đoàn thám hiểm đến bờ sông Dương Tử (Trường Giang) rồi theo ngả sông này ra biển, về đến Sài Gòn ngày 29 tháng 6 cùng năm. Garnier về Pháp, cố hoàn tất bản tường trình chuyến đi dài nhưng chiến tranh Pháp-Phổ làm gián đoạn công việc này. Thủ đô Paris bị địch quân Phổ vây hãm. Garnier đảm nhận làm trưởng ban tham mưu của đô đốc Mequet đang phòng thủ Paris. Garnier có ghi lại hồi ức của thời kỳ Paris bị vây hãm. Những ghi chép của Garnier sau đó được in ra thành nhiều kỳ trên báo Le Temps và sau đó đúc kết lại trong cuốn Le Siege de Paris, journal d'un officier de marine (1871). Bài báo lúc in không ghi đích tên Garnier mà chỉ đề là khuyết danh. Cũng năm đó, Garnier cùng David Livingstone nhận được huy chương danh dự của Congrès de Géographie (Hiệp hội Địa lý Pháp). Năm 1872 Garnier xin nghỉ phép 3 năm nhưng rồi trở lại Nam Kỳ. Nhận thấy tình hình chính trị ở Sài Gòn không còn thích hợp với tính mạo hiểm của mình nên Garnier cùng vợ (cưới năm 1870) bỏ sang Thượng Hải. Garnier ấp ủ giấc mơ thám hiểm thượng nguồn sông Mê Kông ở tận Tây Tạng, đồng thời làm trung gian giải hòa giữa triều đình nhà Thanh và lực lượng Hồi giáo cát cứ ở Vân Nam. === Trở lại quân trường === Cuối năm 1873, ông được thống đốc Nam Kỳ là đô đốc Dupré gọi sang Đông Dương giúp giải quyết tranh chấp giữa triều đình Huế và người Pháp tại Bắc Kỳ. Thực tâm của Pháp lúc bấy giờ là tìm cách đặt cuộc bảo hộ ở Đông Dương. Garnier chỉ huy 200 lính rồi chuyển 4 khẩu pháo ra Bắc Kỳ. Thay vì mở cuộc điều đình thương thuyết với quan người Việt, ông quyết định ra quân và ngày 20 tháng 11 năm 1873 Hà Nội mất về tay người Pháp. Garnier liền ra lệnh mở rộng cuộc đánh chiếm tràn các tỉnh thành chung quanh. Chỉ trong vài ngày mà cả ba tỉnh trung châu đều bị Pháp chiếm đoạt mà không có sự kháng cự nào. Vài tuần sau trong khi cầm cự với quân Cờ Đen của Lưu Vĩnh Phúc ở gần Cầu Giấy ngoại ô Hà Nội thì Garnier bị giết. (Địa điểm Garnier bị giết nằm gần đường La Thành bên bờ hồ Ngọc Khánh nay thuộc phường Ngọc Khánh quận Ba Đình Hà Nội). Sự việc vỡ lở, người Pháp buộc phải rút khỏi Hà Nội sau khi ký kết hiệp ước với triều đình Huế. Đại tá Thomazi, nhà sử học Đông Dương thuộc Pháp, ghi lại những giờ phút cuối cùng của Garnier như sau: Năm 1875 mộ phần Garnier được cải táng đưa về Sài Gòn chôn cất cạnh Ernest Doudart de Lagrée. == Trở về Pháp == Đêm 1 tháng 3 năm 1983, thi thể của Francis Garnier, sau khi được khai quật (cũng như của Ernest Doudart de Lagrée) đã được hỏa táng. Các lọ đựng tro đã được bàn giao lại cho tổng lãnh sự Pháp tại thành phố Hồ Chí Minh ngày 2 tháng 3 năm 1983 và được chuyển về Pháp ngay sau đó để chôn cất tại Paris. == Đề tài trong văn học Việt Nam == Tương truyền sau khi Garnier bị giết năm 1873, tổng đốc Hà Nội là Trần Đình Túc vâng lệnh triều đình tìm cách hoà hoãn với quân Pháp nên phải tổ chức lễ truy điệu. Nguyễn Khuyến bậc đại khoa được cử viết bài Văn tế Ngạc Nhi. Bài này đã đi vào văn học Việt Nam với lời văn mỉa mai tỏ ý đối kháng mặc dù tình thế lúc bấy giờ đã bắt người Việt phải nhượng bộ trước sức mạnh quân lực của người Pháp. == Xem thêm == Henri Rivière Lưu Vĩnh Phúc Ernest Doudart de Lagrée Tàu vận tải nhẹ Francis Garnier của hải quân Pháp, được đặt tên như vậy để ghi công lao của Francis Garnier, hạ thủy ngày 17 tháng 11 năm 1973. == Ghi chú == == Tham khảo == Baker, Daniel chủ biên Explorers and Discoverers of the World. Detroit: Gale Research, 1993 Milton Osborne, River Road to China: The Search for the Source of the Mekong, 1866-73 (Atlantic Monthly Press, 1999) ISBN 0-87113-752-6 Milton Osborne, "Francis Garnier (1839-1873), Explorer of the Mekong River", Explorers of South-east Asia, Six Lives, chủ biên Victor T. King, (Kuala Lumpur: OUP, 1995) Milton Osborne, River Road to China: The Mekong River Expedition, 1866-1873 (London and New York, 1975) Câu chuyện về chuyến thám hiểm chính đã xuất hiện năm 1873, dưới tên gọi Voyage d'exploration en Indo-Chine effectue pendant les annees 1866, 1867 et 1868, publie sous la direction de M. Francis Garnier, avec le concours de M. Delaporte et de MM. Joubert et Thorel (2 tập). Chỉ có 800 bản được in ra, nguyên bản hiện nay ít có. Bản dịch ra tiếng Anh của Walter E. J. Tips: Travels in Cambodia and Part of Laos: the Mekong Exploration Commission report (1866-1868), tập 1 (White Lotus Press, 1996) A pictorial journey on the old Mekong: Cambodia, Laos and Yunnan: the Mekong Exploration Commission report (1866-1868), tập 2 (White Lotus Press, 1998) Ghi chép về sông Dương Tử của Garnier, lấy từ Bulletin de la Soc. de Geog. (1874). Chronique royale du Cambodje của Garnier, được in lại từ Journal Asiatique năm 1872. Ocean Highways (1874), ký sự của đại tá Yule Hugh Clifford, Further India, trong loạt Story of Exploration (1904). John Keay, Mad About The Mekong ISBN 0-00-711115-0
hoàng thái tử naruhito.txt
Hoàng thái tử Naruhito (皇太子徳仁親王 (Hoàng thái tử Đức Nhân thân vương)/ こうたいし なるひとしんのう, Kōtaishi Naruhito Shinnō, 23 tháng 2, 1960(1960-02-23)) là con trai cả của đương kim Thiên hoàng Akihito và hoàng hậu Michiko, là người thừa kế đương nhiên ngai vị Thiên hoàng của Nhật Bản. == Thời niên thiếu và giáo dục == Trước lúc chính thức được phong Thái tử, Naruhito mang danh hiệu Hiro-no-miya (浩宮 (Hạo Cung), Hiro-no-miya). Ông được phong Hoàng thái tử ngày 23 tháng 2 năm 1991, sau khi ông nội ông là Thiên hoàng Chiêu Hòa qua đời ngày 7 tháng 1 năm 1989. Ông tốt nghiệp cử nhân và thạc sĩ lịch sử ở Đại học Gakushuin lần lượt vào các năm 1982 và 1988. Giai đoạn 1983 - 1985, ông du học ở Vương quốc Anh tại Merton College, Oxford. Thái tử Naruhito có thể chơi viola và hay đi bộ, leo núi trong thời gian rảnh. Ông đã viết nhiều bài báo và một hồi ký trong thời gian ở Oxford, The Thames And I: A Memoir Of Two Years At Oxford (ISBN 1-905246-06-4). == Tham khảo == Phương tiện liên quan tới Naruhito, Crown Prince of Japan tại Wikimedia Commons
dương thụ.txt
Dương Thụ (sinh ngày 10 tháng 2 năm 1943) là một nhạc sĩ của Việt Nam đã đi vào đời sống của âm nhạc Việt Nam đương đại với những tình khúc êm ái, nhẹ nhàng, ca từ tinh tế và tình cảm. Những sáng tác của Dương Thụ khúc chiết, trữ tình, có phong cách riêng độc đáo không thể lẫn lộn, mang hơi thở của âm nhạc hiện đại nhưng vẫn phảng phất âm hưởng của âm nhạc truyền thống dân tộc và những sáng tác ấy đã trở nên vô cùng quen thuộc với khán giả Việt Nam từ những năm thập niên 80 - 90 trở lại đây. Ông còn có các bút danh khác: Trần Xuân Nam, Vân Đình, Ái Nhạc. Những nhạc phẩm của Dương Thụ luôn đón nhận được sự yêu thích của khán giả và tạo được dấu ấn riêng. Có nhiều ca sĩ đã từng thể hiện những sáng tác của ông nhưng nhiều nhất và nổi tiếng nhất vẫn là ba diva: Thanh Lam, Hồng Nhung và Mỹ Linh. == Tiểu sử == Dương Thụ sinh năm 1943 tại thị trấn Vân Đình, huyện Ứng Hòa, Hà Nội, thuộc gia tộc họ Dương danh giá có hai cụ cố đỗ tiến sĩ triều Nguyễn và làm quan nhà Nguyễn: Dương Khuê và Dương Lâm tức 'cụ Thiếu Vân đình'. Ông là cháu họ nhạc sĩ của Dương Thiệu Tước và Giáo sư Tiến sĩ Dương Thiệu Tống. Do sinh ra trong gia đình địa chủ, nên trong cuộc cải cách ruộng đất, gia đình ông đã li tán, do đó ông phải tự mình kiếm sống để đi học. Trong những năm cấp 3, ông học piano với gia đình nghệ sĩ Thái Thị Sâm tại trường âm nhạc tư thục của cụ Lưu Quang Duyệt ở Hà Nội. Năm 1965, ông tốt nghiệp Khoa Văn - Đại học Sư phạm Hà Nội, sau đó đi lên dạy học cấp 3 ở Tuyên Quang. Sáng tác đầu tiên của ông được biết tới là Nhớ làng xưa, được phát trên sóng Đài Tiếng nói Việt Nam năm 1962. Năm 1972, ông thi đỗ vào Khoa Sáng tác của Nhạc viện Hà Nội (cùng đợt với Nguyễn Cường và Trần Tiến), tuy nhiên do những rắc rối về hành chính nên năm thứ hai Đại học ông phải trở về Tuyên Quang làm giáo viên dạy Văn tại trường Thanh niên Lao động XHCN Tuyên Quang (Nay là trường THPT ATK Tân Trào thuộc huyện Sơn Dương) Năm 1978, ông chuyển vào miền Nam, làm Giảng viên khoa lý luận Đại học Mỹ thuật Thành phố Hồ Chí Minh. Năm 1982, ông chuyển sang hoạt động âm nhạc chính thức, vừa sáng tác vừa chỉ đạo nghệ thuật cho nhiều đoàn biểu diễn, rồi làm biên tập cho Nhà xuất bản Âm nhạc và Ðĩa hát Việt Nam, Tạp chí Âm nhạc của Hội Nhạc sĩ Việt Nam. Vào thập niên 1990, những sáng tác của ông bắt đầu được công chúng biết đến và đón nhận. Hàng loạt ca khúc của ông được phát trên sóng phát thanh truyền hình, xuất hiện trong nhiều chương trình, băng đĩa, được rất nhiều ca sĩ thể hiện như Lệ Quyên, Thanh Lam, Mỹ Linh, Hồng Nhung, Bằng Kiều,... Tháng 6 năm 2005. Theo ông chia sẻ: "Hồng Nhung là người hát nhạc của tôi hay nhất (Album Bài hát ru cho anh, Ngày không mưa, Khu vườn yên tĩnh)", sau đó là Mỹ Linh. Nhiều ca sĩ trẻ được ông kỳ vọng là Khánh Linh, Nguyên Thảo,... Chương trình "Con đường âm nhạc số 2" mang tên "Im lặng" đã được tổ chức để vinh danh ông. Người bạn đời của ông là Phạm Thị Thu Thủy, nữ phóng viên Báo Thể thao & Văn hóa. Hiện ông đang là chủ quán Cafe 3a Ngô Quyền Hà nội. == Đánh giá về Dương Thụ == == Câu nói ấn tượng == Phong cách Dương Thụ: Hà Nội rất đời thường trong Dương Thụ: == Tác phẩm == === Nhạc phẩm === === Văn chương === Cà phê... mưa == Chú thích == == Tham khảo == == Liên kết ngoài == Mỹ Hiền (thực hiện), Nhạc sĩ Dương Thụ: Không ai học được chữ ngờ, Báo Công An Nhân dân, Chuyên đề An Ninh Thế giới và Văn nghệ Công An, cập nhật ngày 06/02/2011, truy cập ngày 13/2/2011. Dương Thụ trên trang của Hội Nhạc sĩ Việt Nam
hypena obsoleta.txt
Hypena obsoleta là một loài bướm đêm thuộc họ Erebidae. Nó là loài đặc hữu của Kauai, Oahu, Molokai, Maui, Lanai và Hawaii. Ấu trùng ăn Paspalum conjugatum và dãy núi other grasses in the == Liên kết ngoài == Insects of Hawaii. Volume 7, Macrolepidoptera == Chú thích ==
liban.txt
Cộng hòa Liban (phiên âm tiếng Việt: Li-băng; tiếng Pháp: Liban; tiếng Anh: Lebanon; tiếng Ả Rập: الجمهوريّة اللبنانيّة Al-Jumhuriyah al-Lubnaniya) là một quốc gia nhỏ tại vùng Trung Đông. Liban có nhiều núi, nằm cạnh bờ biển đông của Địa Trung Hải. Nó giáp với Syria về phía bắc và Đông, và Israel về phía nam, có bờ biển hẹp dọc theo ranh giới Tây. Quốc kỳ Liban có cây tuyết tùng Liban màu xanh trên nền trắng, và hai đường sọc đỏ có chiều cao một phần tư. Cái tên Liban (cũng được viết là "Loubnan" hay "Lebnan") có nguồn gốc từ ngôn ngữ Semitic, nghĩa là "trắng", để chỉ đỉnh núi tuyết phủ ở Núi Liban. Trước cuộc nội chiến (1975–1990), quốc gia này khá thịnh vượng. Vào tháng 6 năm 2006, phần lớn của nước này được ổn định hóa, xung đột giữa Israel và Hezbollah làm cả lính và thường dân bị thương nặng nề, cơ sở hạ tầng dân cư bị hư nặng nề, và nhiều dân bị đuổi ra nhà cửa. == Lịch sử == Từ đầu thiên niên kỉ 3 TCN, người Canaan và người Phoenicia đến xâm chiếm các vùng ven biển và lập các thành bang (Babylon, Berytos, Sidon và Tyr). Từ thế kỉ 7 TCN, đến thế kỉ 1 TCN, vùng lãnh thổ này lần lượt rơi vào ách thống trị của các đế quốc Assyria, Babylon, Ba Tư và Hy Lạp, rồi sáp nhập vào tỉnh Syria thuộc quyền kiểm soát của người La Mã (Thế kỷ 1 TCN), người Byzantin. Vào thế kỉ 7, cuộc chinh phục của người Ả Rập đã đẩy lùi những cộng đồng người Kitô giáo về phía các miền núi. Vùng này bị người Franc chiếm đóng (1098-1291), rồi đến người Ai Cập trước khi hoàn toàn rơi vào sự thống trị của đế quốc Ottoman (1516). Từ thế kỉ 17, các tiểu vương quốc Hồi giáo người Druze đã thống nhất vùng núi Liban và tìm cách giành quyền tự trị, trong khi ảnh hưởng của cộng đồng Công giáo Maronite ngày càng lớn mạnh. Năm 1861, tiếp theo những xung đột giữa cộng đồng Hồi giáo và cộng đồng Công giáo, Pháp đã can thiệp nhằm bảo vệ người Công giáo và thành lập vùng tự trị Mont-Liban cho người Công giáo năm 1864. Sau Chiến tranh thế giới thứ I, Liban trở thành lãnh thổ ủy trị của Pháp. Năm 1943, Liban tuyên bố độc lập. Một "Hiệp ước dân tộc" được ký kết nhằm duy trì sự cân bằng quyền lực chính trị giữa các cộng đồng Hồi giáo Sunni, Shia và người Druze, Chính thống Hy Lạp và Chính thống Armenia. Chức vụ Tổng thống thuộc về một thành viên thuộc cộng đồng người Maronite nhờ ưu thế đa số của người Cơ Đốc giáo, Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng là một người Hồi giáo Shia; Chủ tịch Quốc hội là một người Hồi giáo Sunni. Năm 1945, Liban tham gia thành lập Liên minh Ả Rập. Thịnh vượng kinh tế đi kèm theo những gia tăng bất công xã hội làm phát sinh những căng thẳng giữa các cộng đồng, dẫn đến cuộc nội chiến đầu tiên năm 1958. Quân đội Hoa Kỳ được gởi đến theo yêu cầu của Tổng thống Camille Chamoun và rút quân sau khi thành lập chính quyền mới. Năm 1967, sau cuộc Chiến tranh Ả Rập-Israel 1948, người Palestine ồ ạt chạy sang lánh nạn ở Liban. Sự hiện diện của khoảng 350.000 người tị nạn Palestine và Tổ chức Giải phóng Palestine (PLO) bị Jordan trục xuất (1970- 1971) đã khiến cho cuộc nội chiến lần thứ hai bùng nổ năm 1976. Tình hình trở nên trầm trọng hơn khi quân đội Syria hiện diện ở một phần lãnh thổ Liban (1976) và sự can thiệp quân sự của Israel (1978). Năm 1982, quân đội Israel phong tỏa thủ đô Beyrouth và đánh đuổi lực lượng vũ trang của tổ chức PLO. Năm 1985, quân đội Israel rút khỏi Liban, nhưng vẫn duy trì sự hiện diện ở phần lãnh thổ phía nam, được gọi là "vùng an toàn". Cuộc nội chiến vẫn tiếp tục kéo dài tình hình càng trở nên phức tạp hơn do những cuộc đối đầu giữa các khuynh hướng Hồi giáo khác nhau. Từ năm 1985, nhóm Hồi giáo Hezbollah gia tăng các vụ bắt cóc con tin người phương Tây. Tình hình này đã khiến cho quân đội Syria quay trở lại chiếm đóng ở Tây Beyrouth năm 1987. Nhiệm kì của Tổng thống Amine Gemayel kết thúc năm 1988 nhưng không có cuộc bầu cử người kế nhiệm. Hai chính phủ được hình thành: một chính phủ thuộc dân sự và Hồi giáo do Selim Hoss lãnh đạo đặt trụ sở tại Tây Beyrouth, chính phủ còn lại thuộc về giới quân sự và người Cơ Đốc giáo do Tướng Michel Aoun lãnh đạo có trụ sở ở Đông Beyrouth. Năm 1989, Elias Hraoui trở thành Tổng thống. Hiến pháp mới năm 1990 thành lập Đệ nhị Cộng hòa ở Liban đồng thời thừa nhận lại các thỏa thuận được ký kết tại Taif năm 1989. Thoả thuận được ký kết tại Taif dự kiến lập lại sự cân bằng đại diện hợp pháp giữa các cộng đồng Hồi giáo và cộng đồng Cơ Đốc giáo trong đó quân đội Liban được sự ủng hộ của Syria đã chấm dứt cuộc đối đầu của tướng Aoun. Năm 1991, hiệp ước Damascus lập quyền bảo hộ của Syria tại Liban. Năm 1996, cuộc chiến giữa tổ chức Hezbollah và quân đội Israel lại diễn ra ác liệt ở miền Nam Liban. Tháng 5 năm 2000, quân đội Israel rút quân khỏi miền Nam Liban, nhưng tình trạng xung đột giữa Israel và tổ chức Hồi giáo Hezbollah vẫn tiếp tục diễn ra. Vụ ám sát cựu Thủ tướng Rafik Hariri ngày 2 tháng 2 năm 2005 làm dấy lên các cuộc biểu tình chống lại sự hiện diện của quân đội Syria tại Liban và buộc Syria rút hết quân khỏi Liban tháng 4 năm 2005. Tháng 5 và tháng 6 năm 2005, Liban tổ chức cuộc bầu cử Quốc hội đầu tiên sau nội chiến không có sự can dự của nước ngoài dẫn đến thắng lợi cho liên minh của Saad Hariri (con trai cựu Thủ tướng Hariri bị sát hại) chiếm gần 2/3 số ghế Quốc hội. Sau 18 tháng khủng hoảng chính trị và 6 tháng bỏ trống ghế tổng thống, ngày 25 tháng 5 năm 2008. Quốc hội Liban đã bầu ông Michel Suleiman làm Tổng thống mới, chấm dứt cuộc khủng hoảng chính trị nói trên. == Chính trị == Liban là một nước cộng hòa trong đó ba chức vụ cao nhất được dành cho các thành viên thuộc các nhóm tôn giáo cụ thể: Tổng thống phải là tín đồ Công giáo Maronite. Thủ tướng phải là tín đồ Hồi giáo Sunni. Chủ tịch Nghị viện phải là một tín đồ Hồi giáo Shia. Bên cạnh đó, Phó Thủ tướng và Phó Chủ tịch Nghị viện là 2 chức vụ dành cho tín đồ Chính thống giáo. Sự sắp đặt này là một phần của "Hiệp ước Quốc gia" (tiếng Ả Rập: الميثاق الوطني - al Mithaq al Watani), một thỏa thuận không được ghi thành văn bản được đưa ra năm 1943 trong cuộc gặp gỡ giữa tổng thống đầu tiên của Liban (một tín đồ Maronite) và thủ tướng đầu tiên (một tín đồ Sunni), dù nó không được chính thức hóa trong Hiến pháp Liban cho tới tận năm 1990, tiếp sau Thỏa thuận Taif. Hiệp ước gồm cả một lời hứa của những người Kitô giáo không tìm kiếm sự bảo vệ của Pháp và chấp nhận "bộ mặt Ả Rập" cho Liban, và lời hứa của người Hồi giáo công nhận sự độc lập và tính hợp pháp của nhà nước Liban trong biên giới được vạch ra năm 1920 và từ bỏ tham vọng liên bang với Syria. Hiệp ước này dù khi ấy chỉ là một thỏa hiệp tạm thời, vẫn rất cần thiết cho tới khi Liban thật sự có được một sự đồng nhất quốc gia. Nó vẫn tiếp tục hiện diện và các cuộc nội chiến tiếp diễn sau đó tiếp tục có ảnh hưởng thống trị tới chính trị Liban. Hiệp ước cũng quy định rằng số ghế trong Nghị viện phải được phân chia theo tôn giáo và theo vùng, với tỷ lệ 6 thành viên Kitô giáo trên 5 thành viên Hồi giáo, một tỷ lệ dựa trên cuộc điều tra dân số năm 1932, được tiến hành ở thời điểm các tín đồ Kitô giáo vẫn chiếm một đa số nhỏ. Thỏa thuận Taif thêm rằng tỷ lệ số ghế của hai tôn giáo sẽ là ngang nhau. Hiến pháp cho phép người dân thay đổi chính phủ. Mặc dù, từ giữa thập niên 1970 cho tới cuộc bầu cử nghị viện năm 1992, cuộc nội chiến đã không cho phép người dân thực thi quyền này. Theo hiến pháp, các cuộc bầu cử nghị viện trực tiếp phải được tiến hành bốn năm một lần. Cuộc bầu cử gần đây nhất diễn ra năm 2000; cuộc bầu cử dự định năm 2004 đã bị trì hoãn một năm. Thành phần nghị viện dựa trên sắc tộc và tôn giáo nhiều hơn ý thức hệ. Sự phân chia số ghế trong nghị viện gần đây đã được thay đổi. Nghị viện bầu ra Tổng thống nước cộng hòa với nhiệm kỳ sáu năm. Tổng thống bị cấm giữ nhiệm kỳ liên tục. Quy định hiến pháp này đã được thông qua bởi hai lần sửa đổi gần đây, tuy nhiên, dưới sức ép của chính phủ Syria. Nhiệm kỳ của Elias Hrawi đúng ra đã kết thúc năm 1995, nhưng được kéo dài thêm ba năm nữa. Việc này lại được lặp lại năm 2004 cho phép Emile Lahoud tiếp tục giữ ghế tới năm 2007. Những người ủng hộ dân chủ đã phản đối những hành động này. Cuộc bầu cử tổng thống cuối cùng diễn ra năm 1998. Tổng thống chỉ định Thủ tướng dựa trên sự đề xuất của Nghị viện. Liban có nhiều đảng chính trị, nhưng vai trò của chúng kém quan trọng trong đa số các hệ thống nghị viện. Trên thực tế, đa số chỉ đại diện cho quyền lợi của riêng mình; nhiều người trong số họ được lọt vào danh sách ứng cử viên chỉ vì là người nổi tiếng trong nước hay trên thế giới. Phiếu bầu thường dựa theo các cuộc đàm phán giữa các lãnh đạo địa phương, lãnh đạo dòng họ, các nhóm tôn giáo và các đảng chính trị; những liên minh lỏng lẻo này chỉ tồn tại trong thời gian bầu cử và hiếm khi hợp tác chặt chẽ với nhau thành một khối trong Nghị viện sau đó. Hệ thống tư pháp Liban dựa trên Luật Napoléon. Các bồi thẩm đoàn không hiện diện tại các phiên xử. Hệ thống tòa án Liban có ba mức - tòa sơ thẩm, tòa phúc thẩm, và tòa phá án. Cũng có một hệ thống tòa án tôn giáo có quyền tái phán đối với các cá nhân bên trong cộng đồng của họ, phán xử các vụ như hôn nhân, ly dị, và thừa kế. Luật pháp Liban không quản lý hôn nhân dân sự (dù nó vẫn quản lý các cuộc hôn nhân có yếu tố nước ngoài); những nỗ lực của cựu Tổng thống Elias Hrawi nhằm hợp pháp hóa hôn nhân vào cuối thập kỷ 1990 về vấn đề này chỉ nhận được sự phản đối từ các giáo sĩ Hồi giáo. Ngoài ra, Liban có một hệ thống các tòa án quân sự cũng có quyền tài phán đối với cá nhân dân sự đối với các tội như gián điệp, phản bội, và các tội khác bị coi có liên quan tới an ninh. Các tòa án quân sự này bị các tổ chức nhân quyền như Ân xá quốc tế chỉ trích vì "vi phạm nghiêm trọng các tiêu chuẩn quốc tế về xét xử công bằng" và có "quyền tài phán quá rộng đối với các công dân". == Các vùng hành chính == Liban được chia thành sáu tỉnh (muhafazah, số nhiều muhafazat); các tỉnh này lại được chia thành 25 quận (qadaa, số nhiều aqdya), dưới nữa là nhiều khu đô thị bao quanh một nhóm các thành phố hay làng mạc. Tỉnh; Quận; Thể loại: Các thành phố và làng mạc tại Liban. == Địa lý == Là một quốc gia ở phía đông vùng Trung Đông, Liban giáp với Địa Trung Hải ở phía tây (bờ biển: 225 km) và phía đông giáp với Vùng trũng Syria-Châu Phi. Liban có 375 km biên giới ở phía bắc với Syria và 79 km biên giới ở phía nam với Israel. Biên giới với Israel đã được Liên hiệp quốc thông qua (xem Đường Xanh (Liban)), dù một phần lãnh thổ nhỏ, gọi là Shebaa Farms nằm trong Cao nguyên Golan được Liban tuyên bố chủ quyền nhưng bị Israel chiếm đóng, Israel tuyên bố trên thực tế vùng đất này thuộc Syria. Liên hiệp quốc đã chính thức tuyên bố vùng này thuộc Syria và không phải lãnh thổ của Liban, nhưng Hezbollah thỉnh thoảng tung ra các đợt tấn công vào Israeli vào các vị trí bên trong đó, với danh nghĩa giải phóng lãnh thổ Liban. == Kinh tế == Liban có một nền kinh tế dựa trên thị trường. Kinh tế theo định hướng dịch vụ; các lĩnh vực tăng trưởng chính gồm ngân hàng và du lịch. Không hề có hạn chế trao đổi ngoại tệ hay di chuyển đồng vốn, và độ bảo mật ngân hàng rất chặt chẽ. Đặc biệt không hề có hạn chế đối với đầu tư nước ngoài. Tính đến năm 2016, GDP của Liban đạt 51.815 USD, đứng thứ 80 thế giới, đứng thứ 28 châu Á và đứng thứ 10 Trung Đông. Cuộc nội chiến giai đoạn 1975-1991 đã tàn phá nghiêm trọng hạ tầng kinh tế Liban, làm giảm một nửa sản lượng sản xuất, và chấm dứt vị trí trung tâm phân phối vùng đông Trung Đông và đầu mối ngân hàng của nước này. Hòa bình giúp chính phủ trung ương tái kiểm soát quyền lực ở Beirut, bắt đầu thu thuế và tái kiểm soát cảng biển chính và các cơ sở chính phủ. Kinh tế hồi phục nhờ một hệ thống tài chính ngân hàng lành mạnh và nhờ sự phục hồi nhanh chóng các cơ sở sản xuất nhỏ và vừa với các khoản tiền hỗ trợ gia đình gửi về từ nước ngoài, các dịch vụ ngân hàng, xuất khẩu sản phẩm nông nghiệp, trợ giúp nước ngoài và các nguồn trao đổi ngoại tệ. Trong những năm qua Liban đã có bước phát triển đáng kể. Mức tài sản của các ngân hàng đạt tới tới hơn 70 tỷ dollar. Thậm chí với mức giảm sút 10% trong lĩnh vực du lịch năm 2005, hơn 1.2 triệu khách đã tới nước này. Sự tư bản hóa thị trường đang ở mức cao nhất. Tư bản hóa đạt hơn 7 tỷ dollar vào cuối tháng 1 năm 2006. Tuy nhiên, với hậu của những cuộc tấn công từ phía Israel vào tháng 7 năm 2006, nền kinh tế nước này bắt đầu bước vào giai đoạn suy thoái nghiêm trọng. == Nhân khẩu == Dân số Liban gồm ba nhóm sắc tộc và tôn giáo chính: Hồi giáo (Shi'ites, Sunnis, Alawite), giáo phái Druze, và Kitô giáo (đa số là Công giáo Maronite, Chính thống giáo Hy Lạp, Tông truyền Armenia, Công giáo Melkite, cũng như Chính thống giáo Syria, Công giáo Armenia, Công giáo Syria, Công giáo Chaldea, Công giáo Latinh, Cảnh giáo, Chính thống giáo Coptic và Tin Lành). Không có số liệu điều tra dân số chính thức nào được tiến hành từ năm 1932, phản ánh sự nhạy cảm chính trị tại Liban về sự cân bằng tôn giáo. Theo ước tính khoảng 27% dân số là người Hồi giáo Sunni, 27% là người Hồi giáo Shia, 39% là người Kitô giáo và 5% người Druze. Từng có một số lượng nhỏ người Do Thái, chủ yếu sống tại trung tâm Beirut. Tương tự, một cộng đồng nhỏ (chưa tới 1%) người Kurds (cũng được gọi là Mhallamis hay Mardins) sống tại Liban. Có gần 15 triệu người Liban sống trên khắp thế giới, chủ yếu là tín đồ Kitô giáo, Brasil là nước có cộng đồng người Liban ở nước ngoài lớn nhất Argentina, Úc, Canada, Colombia, Pháp, México, Venezuela và Hoa Kỳ cũng là những nước có số người nhập cư vào Liban đông đảo. 360.000 người tị nạn Palestine đã đăng ký với Cơ quan cứu trợ và việc làm Liên hợp quốc (UNRWA) tại Liban từ năm 1948, ước tính số người này hiện còn khoảng từ 180.000 đến 250.000. Dân số thành thị, tập trung chủ yếu tại Beirut và Núi Liban, có số lượng doanh nghiệp thương mại rất đáng chú ý. Một thế kỉ rưỡi di cư rồi quay trở lại khiến mạng lưới thương mại của người Liban mở rộng trên toàn cầu từ Bắc và Nam Mỹ tới Châu Âu, Vịnh Ba Tư và Châu Phi. Liban có lực lượng lao động trình độ và tay nghề cao gần tương đương với đa số các nước châu Âu. == Giáo dục == === Lịch sử giáo dục Liban === Hai bộ đầu tiên quản lý giáo dục ở Liban là Bộ giáo dục và giáo dục cao học, và Bộ nghề nghiệp và đào tạo kỹ thuật, để thúc đẩy hệ thống giáo dục Liban. Năm 1946, sau khi giành độc lập (26 tháng 11 năm 1941) chính phủ đã thông báo chương trình giảng dạy cũ, từ thời bảo hộ Pháp, bằng các chương trình đào tạo mới và ngôn ngữ Ả Rập được dùng làm ngôn ngữ giảng dạy chính tại mọi trường, mang tính bắt buộc đối với mọi cấp học. Chính phủ cũng cho phép mọi sinh viên quyền tự do chọn lựa ngôn ngữ thứ hai hay thứ ba (tiếng Pháp, tiếng Anh, vân vân). Sau đó vào năm 1968 và 1971, chương trình giảng dạy lại được sửa đổi một lần nữa. Mỗi bậc giáo dục được quy định với mục tiêu chi tiết và nội dung các kỳ thi cũng được tiêu chuẩn hóa. Trước chiến tranh, năm 1975, Liban có tỷ lệ biết chữ thuộc hàng cao nhất thế giới Ả Rập. Hơn 80% người dân Liban biết đọc và viết. Nhưng kể từ đó, Liban trở thành một đất nước hỗn loạn làm héo hon nhân dân, tất cả đều vì lý do nội chiến và sự can thiệp nước ngoài. Khi cuộc chiến được tuyên bố "kết thúc", người dân Liban đã bắt đầu tái thiết lại xã hội của mình, thúc đẩy giáo dục thông qua các biện pháp tự do hóa và khuyến khích. === Trường học tại Liban === Các trường học ở Liban được chia theo ba tiêu chí - trường tư, trường công và bán công. Các trường công thuộc quyền quản lý của chính phủ (Bộ Giáo dục) và miễn phí, được hỗ trợ từ tiền thuế. Bộ Giáo dục cung cấp cho các trường công mọi cuốn sách cần thiết, đối với mỗi cấp giáo dục, số học phí hầu như không đáng kể và thường là miễn phí. Các trường bán công, đa số là trường của nhà thờ như Ecoles des Saint Coeurs, hoạt động như các trường tư nhưng cũng không thu học phí giống như trường công. Các trường còn lại có thu học phí nhưng vẫn được hưởng trợ cấp của chính phủ. Chính phủ buộc mọi trường học ở Liban đều phải theo một chương trình giảng dạy do Bộ giáo dục đưa ra. Các trường tư có thể thêm các môn học khác nhưng phải được sự đồng ý của Bộ Giáo dục. Ví dụ, các tiết học máy tính có tại hầu hết các trường học dù không thuộc trong chương trình giảng dạy chính thức. Đối với các trường học không có cơ sở vật chất dạy môn này, mọi sinh viên quan tâm đều có thể theo học các khoá máy tính tại các học viện hay các trung tâm khác có mặt ở hầu hết các vùng của Liban. Tổng số trường công là 192 trường trung học và 1,125 trường tiểu học. Trong số trường trung học, 16 trường dành riêng cho nam sinh và 12 cho nữ sinh, 164 trường còn lại cho cả hai giới. Các trường tiểu học có tổng số 238.556 học sinh với 24.463 giáo viên. Ở tất cả các trường, học sinh được học với các giáo viên chuyên trách từng môn, không có giáo viên chung cho tất cả các môn. Mỗi lớp có khoảng 25 học sinh (một số trường công có thể lên tới 40 học sinh vì thiếu giáo viên). Các môn học chính là Toán học, Khoa học, Lịch sử, Giáo dục công dân, Địa lý, tiếng Ả Rập và tiếng Pháp/tiếng Anh/hay cả hai. Các cơ sở vật chất phục vụ giáo dục khác như Giáo dục thể chất, nghệ thuật, thư viện (không phải ở mọi trường), và chủ yếu tại các trường tư có thêm chuyên gia tư vấn. === Chương trình giảng dạy tại các trường Liban === Trường công, trường tư và bán công phải theo một chương trình giảng dạy đồng nhất do Bộ giáo dục đề ra đối với trẻ em từ 6 đến 11 tuổi Trung học cơ sở – Bốn năm, học sinh được cấp Bằng trung học khi hoàn thành Trung học – Ba năm, học sinh qua các kỳ thi chính thức được cấp Bằng tú tài toán, khoa học thực nghiệm và triết học Giáo dục là miễn phí đối với mọi học sinh và là bắt buộc theo luật. Tuy nhiên, "bắt buộc" không hoàn toàn được tôn trọng. Đã có các kế hoạch nhằm thay đổi vấn đề này trong tương lai gần. === Các trường cao đẳng và đại học === Sau trung học, sinh viên Liban có thể lựa chọn học tập tại một trường đại học, một trường cao đẳng, một học viện hay một "trường kỹ thuật cao cấp". Số năm học thay đổi tuỳ theo từng trường. Liban có 15 trường đại học trong số đó Đại học Hoa Kỳ tại Beirut (AUB) và Đại học Hoa Kỳ Liban được công nhận quốc tế. AUB là trường đại học sử dụng tiếng Anh đầu tiên mở cửa tại Liban, trong khi trường đại học đầu tiên là Đại học Saint-Joseph của Pháp. 15 trường đại học, cả công và tư đều có sử dụng tiếng Ả Rập, tiếng Pháp hay tiếng Anh bởi vì đây là những ngôn ngữ được dùng nhiều nhất ở Liban. Có bốn học viện Pháp, 7 học viện Anh và 1 học viện Armenia. Nói chung, các trường đều dạy tiếng Ả Rập và bởi vì đây là ngôn ngữ được dùng nhiều nhất, vì thế nó cũng là ngôn ngữ căn bản trong chương trình học. Tại các trường đại học dùng tiếng Anh, sinh viên nào đã tốt nghiệp từ một trường sử dụng chương trình dạy kiểu Mỹ vào học sẽ được cấp bằng tương đương với bằng của Bộ giáo dục cao học Liban. Bằng này chứng nhận cho họ được theo học các mức cao hơn. Các sinh viên đó cần có trình độ SAT I, SAT II và TOEFL để không phải qua các kỳ thi chính thức. == Giao thông vận tải == == Văn hóa == Liban từng là ngã ba đường giữa các nền văn minh trong nhiều thiên niên kỷ, vì vậy không ngạc nhiên khi một đất nước nhỏ lại sở hữu một nền văn hóa giàu có và mạnh mẽ đến như vậy. Số lượng lớn các nhóm sắc tộc, tôn giáo ở Liban khiến nước này có một nền văn hóa ẩm thực, âm nhạc và các truyền thống văn học cũng như lễ hội rất lớn và đa dạng. Các trường phái nghệ thuật ở Beirut phát triển đầy sinh khí với nhiều cuộc trưng bày nghệ thuật sắp đặt, triển lãm, các buổi trình diễn thời trang, và các buổi hòa nhạc được tổ chức quanh năm tại các gallery, các bảo tàng, nhà hát và các tụ điểm công cộng. Liban có một xã hội hiện đại, giáo dục cao và có lẽ có thể so sánh được với các nước châu Âu ở vùng Địa Trung Hải. Đa số người Liban có thể sử dụng hai thứ tiếng, tiếng Ả rập và tiếng Pháp, điều này giải thích việc Liban là một thành viên của Cộng đồng Pháp ngữ (La Francophonie); tuy nhiên, tiếng Anh cũng đã dần trở nên phổ biến, đặc biệt trong các sinh viên đại học. Đất nước này không chỉ là nơi giao hòa giữa Thiên chúa giáo và Hồi giáo mà Liban còn là cánh cổng nối thế giới Ả Rập với châu Âu cũng như là cây cầu cho châu Âu tới Ả Rập. Liban cũng có nhiều trường đại học lớn, gồm Đại học Liban, Đại học Hoa Kỳ tại Beirut, Đại học Saint-Joseph và Đại học Hoa Kỳ Liban. Nhiều lễ hội quốc tế được tổ chức tại Liban, với những nghệ sĩ và khán giả từ Liban cũng như từ nước ngoài. Những lễ hội mùa hè nổi tiếng nhất tại Baalbek, Beiteddine và Byblos. == Xem thêm == Viễn thông ở Liban Danh sách các chủ đề liên quan tới Liban: nhằm liệt kê mọi bài viết liên quan tới Liban trên Wikipedia. Danh sách người Liban: danh sách những người Liban nổi tiếng, gồm cả những người nước ngoài có tổ tiên là người Liban. Quân đội Liban Xung đột Nam Liban Vận tải ở Liban == Chú thích == == Liên kết ngoài == Văn hóa và Giáo dục Du lịch Thông tin chung Nhân dân Liban
nhà hát opera hoàng gia.txt
Nhà hát opera Hoàng gia là một nhà hát opera và địa điểm tổ chức nghệ thuật biểu diễn quan trọng toạ lạc ở Covent Garden, trung tâm London. Toà nhà thường được gọi đơn giản là "Covent Garden". Đây là nơi khởi nguồn của Opera Hoang gia, Ballet Hoàng gia, và dàn nhạc giao hưởng của Nhà hát opera Hoàng gia. Trong một trăm năm đầu sử dụng, đây chủ yếu là nhà hát. Một năm sau, mùa opera đầu tiên của Handel bất đầu. Nhiều vở opera và oratorio được viết riêng cho Vườn Covent và được ra mắt tại đây. Toà nhà hiện nay là nhà hát thứ ba được xây dựng trên khu đất này sau hai trận hoả hoạn kinh khủng vào các năm 1808 và 1856. Mặt chính, phòng giải lao và thính phòng có từ năm 1858, nhưng hầu như mọi chi tiết của tổ hợp hiện tại bắt nguồn từ một cuộc đại tu vào thập niên 1990. Nhà hát opera Hoàng gia có sức chứa 2.256 người, gồm bốn tầng hộp và ban công và ban công và khu biểu diễn ngoài trời. Sân khấu rộng 12,2 m và cao 14,8 m. Thính phòng chính được xếp hạng di sản hạng nhất tại Anh. == Tham khảo == Chú thích Nguồn dẫn Banham, Martin The Cambridge Guide to Theatre, Cambridge University Press, 1995 ISBN 0-521-43437-8. Jefferson, Alan, Sir Thomas Beecham: a Centenary Tribute, London: Macdonald and Jane's, 1979 ISBN 0-354-04205-X Rosenthal, Harold, Opera at Covent Garden, A Short History, London: Victor Gollancz, 1967. ISBN 0-575-01158-0 ISBN 0-575-01158-0 Sheppard, F.H.W.,(Ed.), Survey of London, Volume XXXV: The Theatre Royal, Drury Lane and The Royal Opera House, Covent Garden, London: The Athlone Press, 1972. ISBN 0-485-48235-5 ISBN 978-0-485-48235-5 Đọc thêm Allen, Mary, A House Divided, Simon & Schuster, 1998. Beauvert, Thierry, Opera Houses of the World, The Vendome Press, New York, 1995. Donaldson, Frances, The Royal Opera House in the Twentieth Century, Weidenfeld & Nicolson, London, 1988. Earl, John and Sell, Michael Guide to British Theatres 1750–1950, pp. 136–8 (Theatres Trust, 2000) ISBN 0-7136-5688-3. Haltrecht, Montague, The Quiet Showman: Sir David Webster and the Royal Opera House, Collins, London, 1975. Isaacs, Jeremy, Never Mind the Moon, Bantam Press, 1999. Lebrecht, Norman, Covent Garden: The Untold Story: Dispatches from the English Culture War, 1945–2000, Northeastern University Press, 2001. Lord Drogheda, et al., The Covent Garden Album, Routledge & Kegan Paul, London, 1981. Mosse, Kate, The House: Inside the Royal Opera House Covent Garden, BBC Books, London, 1995. Tooley, John, In House: Covent Garden, Fifty Years of Opera and Ballet, Faber and Faber, London, 1999. Thubron, Colin (text) and Boursnell, Clive (photos), The Royal Opera House Covent Garden, Hamish Hamilton, London, 1982. == Liên kết ngoài == Royal Opera House official website Royal Opera House Collections Online (Archive Collections Catalogue and Performance Database) Royal Opera House elevation The Royal Ballet School official website Select Committee on Culture, Media and Sport's 1998 Report on funding and management issues at the Royal Opera House Theatre History Articles, Images, and Archive Material
mạ điện.txt
Kỹ thuật mạ điện hay kỹ thuật Galvano (lấy theo tên nhà khoa học Ý Luigi Galvani), là tên gọi của quá trình điện hóa phủ lớp kim loại lên một vật. Trong quá trình mạ điện, vật cần mạ được gắn với cực âm catôt, kim loại mạ gắn với cực dương anôt của nguồn điện trong dung dịch điện môi. Cực dương của nguồn điện sẽ hút các electron e- trong quá trình ôxi hóa và giải phóng các ion kim loại dương, dưới tác dụng lực tĩnh điện các ion dương này sẽ di chuyển về cực âm, tại đây chúng nhận lại e- trong quá trình ôxi hóa khử hình thành lớp kim loại bám trên bề mặt của vật được mạ. Độ dày của lớp mạ tỉ lệ thuận với cường độ dòng điện của nguồn và thời gian mạ.Ví dụ: mạ đồng trong dung dịch điện môi SO42-, tại cực dương: Cu → Cu2+ + 2e- Cu2+ + SO42- → CuSO4 CuSO4 dễ tan trong dung dịch, tại cực âm CuSO4 → Cu2+ + SO42- Cu2+ + 2e- → Cu Kim loại mạ thường là vàng, bạc, đồng, niken và được dùng trong việc sản xuất đồ trang sức, linh kiện điện tử, tế bào nhiên liệu, đồ gia dụng không gỉ,... == Lịch sử == Ngành mạ điện được nhà hóa học ý Luigi V. Brugnatelli khai sinh vào năm 1805. Ông đã sử dụng thành quả của người đồng nghiệp Alessandro Volta, pin Volta để tạo ra lớp phủ điện hóa đầu tiên. Phát minh của ông không có ứng dụng trong công nghiệp trong suốt 30 năm và chỉ được nghiên cứu trong các phòng thí nghiệm. Năm 1839, hai nhà hóa học Anh và Nga khác độc lập nghiên cứu quá trình mạ kim loại đồng cho những nút bản in. Ngay sau đó, John Wright, Birmingham, Anh sử dụng Kali Xyanua cho dung dịch mạ vàng, bạc. Vào thời kì này, đó là dung dịch duy nhất có khả năng cho lớp mạ kim loại quý rất đẹp. Tiếp bước Wright, George Elkington và Henry Elkington đã nhận được bằng sáng chế kĩ thuật mạ điện vào năm 1840. Hai năm sau đó, ngành công nghiệp mạ điện tại Birmingham đã có sản phẩm mạ điện trên khắp thế giới. Cùng với sự phát triển của khoa học điện hóa, cơ chế điện kết tủa lên bề mặt kim loại ngày càng được nghiên cứu và sáng tỏ. Kĩ thuật mạ điện phi trang trí cũng được phát triển. Lớp mạ kền, đồng, kẽm, thiếc thương mại chất lượng tốt đã trở nên phổ biến từ những năm 1850. Kể từ khi máy phát điện được phát minh từ cuối thế kỉ 19, ngành công nghiệp mạ điện đã bước sang một kỉ nguyên mới. Mật độ dòng điện tăng lên, năng suất lao động tăng, quá trình mạ được tự động hóa từ một phần đến hoàn toàn. Những dung dịch cùng với các phụ gia mới làm cho lớp mạ đạt chất lượng tốt hơn. Các lớp mạ được nghiên cứu phát triển để thỏa mãn cả yêu cầu chống ăn mòn lẫn trang trí, làm đẹp... Kể từ sau chiến tranh thế giới thứ hai, người ta còn nghiên cứu thành công kĩ thuật mạ crom cứng, mạ đa lớp, mạ đồng hợp kim. mạ kền sunfamat... Nhà vật lý Mỹ Richard Feynman đã nghiên cứu thành công công nghệ mạ lên nền nhựa. Hiện nay công nghệ này đã được ứng dụng rộng rãi. Kĩ thuật mạ hiện là một trong ba quá trình trong chu trình LIGA - được sử dụng trong sản xuất robot điện tử siêu nhỏ (MEMS). == Sự hình thành lớp mạ điện == Điều kiện tạo thành lớp mạ điện Mạ điện là một công nghệ điện phân. Quá trình tổng quát là: -Trên anot xảy ra quá trình hòa tan kim loại anot: M – ne → Mn+ -Trên catot xảy ra quá trình cation phóng điện trở thành kim loại mạ: Mn+ + ne → M Thực ra quá trình trên xảy ra theo nhiều bước liên tiếp nhau, bao nhiều giai đoạn nối tiếp nhau như: quá trình cation hidrat hóa di chuyển từ dung dịch vào bề mặt catot (quá trình khuếch tán); cation mất lớp vỏ hidrat, vào tiếp xúc trực tiếp với bề mặt catot (quá trình hấp phụ); điện tử chuyển từ catot điền vào vành hóa trị của cation, biến nó thành nguyên tử kim loại trung hòa (quá trình phóng điện); các nguyên tử kim loại này sẽ tạo thành mầm tinh thể mới, hoặc tham gia nuôi lớn mầm tinh thể đã hình thành trước đó. Mọi trở lực của các quá trình trên đều gây nên một độ phân cực catot, (quá thế catot), tức là điện thế catot dịch về phía âm hơn một lượng so với cân bằng: ηc = φcb - φ = ηnđ + ηđh + ηkt Trong đó: ηc: quá thế tổng cộng ở catot φcb: điện thế cân bằng của catot φ: điện thế phân cực catot (đã có dòng i) ηnđ: quá thế nồng độ (phụ thuộc vào quá trình khuếch tán) ηđh: quá thế chuyển điện tích ηkt: quá thế kết tinh Do đó, điện kết tủa kim loại trên catot sẽ chỉ diễn ra khi nào điện thế catot dịch chuyển khỏi vị trí cân bằng về phía âm một lượng đủ để khắc phục các trở lực nói trên. Điều kiện xuất hiện tinh thể Trong điều kiện điện kết tủa kim loại trong dung dịch, yếu tố quyết định tốc độ tạo mầm tinh thể là tỷ số giữa mật độ dòng điện catot Dc và mật độ dòng trao đổi i0: β = Dc / i0 Mặt khác, theo phương trình Tafel: η = a + b.log Dc Suy rộng ra, mọi yếu tố làm tăng phân cực catot đều cho lớp mạ có tinh thể nhỏ mịn, và ngược lại. Các mầm tinh thể ban đầu mới xuất hiện được ưu tiên tham gia vào mạng lưới tinh thể của kim loại nền ở vị trí có lợi nhất về mặt năng lượng. Đó là những chỗ tập trung nhiều nguyên tử láng giềng nhất, vì ở đó năng lượng dư bề mặt lớn nhất, các mối liên kết chưa được sử dụng là nhiều nhất. Nếu kim loại nền và kim loại kết tủa có cấu trúc mạng khá giống nhau về hình thái, kích thước thì cấu trúc của kim loại nền được bảo tồn và kim loại kết tủa sẽ phát triển theo cấu trúc đó (cấu trúc lai ghép (epitaxy)), xảy ra ở những lớp nguyên tử đầu tiên. Sau đó sẽ dần chuyển về cấu trúc vốn có của nó ở những lớp kết tủa tiếp theo. Trường hợp này cho lớp kim loại mạ có độ gắn bám rất tốt, xấp xỉ với độ bền liên kết của kim loại nền. Nếu thông số mạng của chúng khác khá xa nhau, hoặc bề mặt chúng có tạp chất hay chất hấp phụ, thì sự lai ghép sẽ không xảy ra. Đấy là một trong những nguyên nhân gây nên ứng suất nội và làm lớp mạ dễ bong. Thành phần chất điện giải Chất điện giải dùng trong mạ điện thường là dung dịch nước của muối đơn hay muối phức. Dung dịch muối đơn còn gọi là dung dịch axit. Cấu tử chính của dung dịch này là muối của các axit vô cơ hòa tan nhiều trong nước và phân ly hoàn toàn trong dung dịch thành các ion tự do. Ở dung dịch này, phân cực nồng độ và phân cực hóa học không lớn lắm nên lớp mạ thu được thô, to, dày mỏng không đều, rất dễ bị lỏi. Mặt khác dung dịch muối đơn cho hiệu suất dòng điện cao, và càng cao khi mật độ dòng lớn. Thường được dùng để mạ những chi tiết có hình thù đơn giản như dạng tấm, dạng hộp… Dung dịch muối phức dược tạo thành khi pha chế dung dịch từ các cấu tử ban đầu. ion kim loại mạ sẽ tạo phức với các ligan thành ion phức. hoạt độ của ion kim loại tự do giảm đi rất nhiều. do đó điện thế tiêu chuẩn dịch về phía âm rất nhiều. điều này giúp cho lớp mạ mịn, phủ kín, dày đều… được dùng để mạ các chi tiết có hình thù phức tạp… Để tăng độ dẫn điện cho dung dịch, thường pha thêm các chất điện giải trơ. Các chất này không tham gia vào quá trình catot và anot mà chỉ đóng vai trò chuyển điện trong dung dịch, làm giảm điện thế bể mạ. Các chất dẫn điện thường dùng là Na2SO4, H2SO4, Na2CO3… Để ổn định pH cho dung dịch mạ, cần phải thêm vào dung dịch chất đệm pH thích hợp để tạo môi trường thích hợp nhất cho phản ứng điện kết tủa xảy ra. Các chất hoạt động bề mặt bao gồm các chất bóng loại I, loại II, các chất thấm ướt, chất chống thụ động anot thường là những hợp chất hữu cơ, có tác dụng hấp phụ lên bề mặt phân chia pha, tham gia vào một số quá trình mong muốn, làm cho lớp mạ thu được có chất lượng tốt hơn. == Gia công bề mặt kim loại trước khi mạ == Gia công cơ học Gia công cơ học là quá trình giúp cho bề mặt vật mạ có độ đồng đều và độ nhẵn cao, giúp cho lớp mạ bám chắc và đẹp. có thể thực hiện gia công cơ học bằng nhiều cách: mài, đánh bóng (là quá trình mài tinh), quay xóc đối với các vật nhỏ, chải, phun tia cát hoặc tia nước dưới áp suất cao Quá trình gia công cơ học làm lớp kim loại bề mặt sản phẩm bị biến dạng, làm giảm độ gắn bám của lớp mạ sau này. Vì vậy trước khi mạ cần phải hoạt hóa bề mặt trong axit loãng rồi đem mạ ngay. Tẩy dầu mỡ Bề mặt kim loại sau nhiều công đoạn sản xuất cơ khí, thường dính dầu mỡ, dù rất mỏng cũng đủ để làm cho bề mặt trở nên kị nước, không tiếp xúc được với dung dịch tẩy, dung dịch mạ… Có thể tiến hành tẩy dầu mỡ bằng các cách sau: Tẩy trong dung môi hữu cơ như tricloetylen C2HCl3, tetracloetylen C2Cl4, cacbontetraclorua CCl4… chúng có đặc điểm là hòa tan tốt nhiều loại chất béo, không ăn mòn kim loại, không bắt lửa. Tuy nhiên, sau khi dung môi bay hơi, trên bề mặt kim loại vẫn còn dính lại lớp màng dầu mỡ rất mỏng => không sạch, cẩn phải tẩy tiếp trong dung dịch kiềm. Tẩy trong dung dịch kiềm nóng NaOH có bổ sung thêm một số chất nhũ tương hóa như Na2SiO3, Na3PO4… Với các chất hữu cơ có nguồn gốc động thực vật sẽ tham gia phản ứng xà phòng hóa với NaOH và bị tách ra khỏi bề mặt. Với những loại dầu mỡ khoáng vật thì sẽ bị tách ra dưới tác dụng nhũ tương hóa của Na2SiO3. Tẩy trong dung dịch kiềm bằng phương pháp điện hóa, dưới tác dụng của dòng điện, oxy và hidro thoát ra có tác dụng cuốn theo các hạt mỡ bám vào bề mặt. tấy bằng phương pháp này dung dịch kiềm chỉ cần pha loãng hơn so với tẩy hóa học đã đạt hiệu quả. Tẩy dầu mỡ siêu âm là dùng sóng siêu âm với tần số dao động lớn tác dụng lên bề mặt kim loại, những rung động mạnh sẽ giúp lớp dầu mỡ tách ra dễ dàng hơn. Tẩy gỉ Bề mặt kim loại nền thường phủ một lớp oxit dày, gọi là gỉ. tẩy gỉ hóa học cho kim loại đen thường dùng axit loãng H2SO4 hay HCl hoặc hỗn hợp của chúng. Khi tẩy thường diễn ra đồng thời 2 quá trình: hòa tan oxit và kim loại nền. Tẩy gỉ điện hóa là tẩy gỉ hóa học đồng thời có sự tham gia của dòng điện. Có thể tiến hành tẩy gỉ catot hoặc tẩy gỉ anot. Tẩy gỉ anot lớp bề mặt sẽ rất sạch và hơi nhám nên lớp mạ sẽ gắn bám rất tốt. Tẩy gỉ catot sẽ sinh ra H mới sinh, có tác dụng khử một phần oxit. Hidro sinh ra còn góp phần làm tơi cơ học màng oxit và nó sẽ bị bong ra. Tẩy gỉ bằng catot chỉ áp dụng cho vật mạ bằng thép cacbon, còn với vật mạ Ni, Cr thì không hiệu quả lắm. Tẩy bóng điện hóa và hóa học Tẩy bóng điện hóa cho độ bóng cao hơn gia công cơ học. lớp mạ trên nó gắn bám tốt, tinh thể nhỏ, ít lỗ thủng và tạo ra tính chất quang học đặc biệt. Khi tẩy bóng điện hóa thường mắc vật tẩy với anot đặt trong một dung dịch đặc biệt. Do tốc độ hòa tan của phần lồi lớn hơn của phần lõm nên bề mặt được san bằng và trở nên nhẵn bóng. Cơ chế tẩy bóng hóa học cũng giống tẩy bóng điện hóa. Khi tẩy bóng hóa học cũng xuất hiện lớp màng mỏng cản trở hoặc kìm hãm tác dụng xâm thực của dung dịch với kim loại tại chỗ lõm. Tẩy nhẹ Tẩy nhẹ hay còn gọi là hoạt hóa bề mặt, nhằm lấy đi lớp oxit rất mỏng, không nhìn thấy được, được hình thành trong quá trình gia công ngay trước khi mạ. khi tẩy nhẹ xong, cấu trúc tinh thể của nền bị lộ ra, độ gắn bám sẽ tăng lên. == Xem thêm == Anot hóa Mạ Crom Điện hóa Các ngành công nghiệp == Tham khảo == === Ghi chú === === Thư mục === Dufour, Jim (2006). An Introduction to Metallurgy, 5th ed. Cameron. Mohler, James B. (1969). Electroplating and Related Processes. Chemical Publishing Co. ISBN 0-8206-0037-7. Todd, Robert H.; Dell K. Allen and Leo Alting (1994). “Surface Coating”. Manufacturing Processes Reference Guide. Industrial Press Inc. ISBN 0-8311-3049-0. Trần Minh Hoàng. Mạ điện. Nhà xuất bản khoa học và kĩ thuật, Hà Nội, 2001. Trần Minh Hoàng, Nguyễn Văn Thanh, Lê Đức Tri. Sổ tay Mạ điện. Nhà xuất bản khoa học và kĩ thuật, Hà Nội, 2002. Trương Ngọc Liên. Điện hóa lý thuyết. Nhà xuất bản khoa học và kĩ thuật, Hà Nội, 2000 == Liên kết ngoài == Electrochemistry Encyclopedia article
thiên thần quyến rũ.txt
Thiên thần quyến rũ (Hangul: 천사의 유혹; RR: Cheonsaui Yuhok) là một bộ phim truyền hình Hàn Quốc 2009 với sự tham gia của diễn viên Bae Soo-bin và Lee So-yeon. Phim chiếu trên SBS vào mỗi thứ 2&3 lúc 20:55 gồm 21 tập == Phân vai == Han Sang-jin vai Shin Hyun Woo (trước vụ cháy nhà) Bae Soo-bin vai Shin Hyun Woo, Ahn Jae Sung (sau vụ cháy nhà) Lee So-yeon vai Joo Ah Ran - vợ Shin Hyun Woo. Jin Tae-hyun vai Nam Joo Seung - người yêu của Joo Ah Ran. Hong Soo-hyun vai Yoon Jae Hee / Joo Kyeong Ran Jung Gyu-Su... ba Joo Ah-Ran Kang Yu-mi... Kim Yeon-Jae Park Ha-young... Jae-Hee (khi trẻ) Han Jin-hee... Shin Woo-Sub Cha Hwa-yeon.. Jo Kyung-Hee Kim Dong-keon.. Shin Hyun-Min Kim Ho-chang... journalist Lee Sol-gu.. money lender Jin Ye-sol.. Shin Hyun-Ji Sung Chang-hoon.. Secretary Kang Son Hyun-joo Choi Ji-na vai Jung Sang Ah / Julie Jung Lee Jong-hyuk vai Jung Sang Mo == Giải thưởng == 2009 SBS Drama Awards Best Supporting Actress in a Special Planning Drama: Cha Hwa-yeon New Star Award: Lee So-yeon == Chú thích == == Liên kết ngoài == Official SBS Website Temptation of an Angel tại HanCinema
viễn thông.txt
Viễn thông là việc truyền dẫn thông tin giao tiếp qua một khoảng cách đáng kể để về địa lý. Vào thời xưa, viễn thông gồm việc dùng các tín hiệu hình ảnh, chẳng hạn như đèn hiệu, tín hiệu khói, điện báo semaphore, tín hiệu cờ, quang báo, hoặc tin nhắn âm thanh như tiếng trống, tiếng tù và, tiếng còi. Thời hiện đại, viên thông là việc dùng các thiết bị điện như máy điện báo, điện thoại, máy telex, cũng như dùng thông tin liên lạc vi ba, vô tuyến, sợi quang và kết hợp với vệ tinh thông tin và Internet. Cuộc cách mạng trong ngành viễn thông không dây bắt đầu vào thập niên 1900 với những phát triển tiên phong trong lĩnh vực vô tuyến và thông tin liên lạc không dây nhờ Nikola Tesla và Guglielmo Marconi. Marconi đã giành giải Nobel Vật lý năm 1909 cho những nỗ lực của ông. Các nhà phát minh và phát triển tiên phong đáng chú ý khác trong lĩnh vực điện và điện tử gồm Charles Wheatstone và Samuel Morse (điện báo), Alexander Graham Bell (điện thoại), Edwin Armstrong, và Lee de Forest (vô tuyến), cũng như John Logie Baird và Philo Farnsworth (truyền hình). Dung lượng hiệu dụng của thế giới để trao đổi thông tin qua mạng viễn thông hai chiều đã tăng từ 281 petabyte thông tin (đã nén tối ưu) năm 1986 lên 471 petabyte vào năm 1993, và tới 2,2 exabyte (đã nén tối ưu) vào năm 2000, cho đến năm 2007 thì lên tới 65 exabyte (đã nén tối ưu). Lượng thông tin này tương đương với 2 trang báo cho mỗi người trong một ngày vào năm 1986 và toàn bộ 6 tờ báo cho mỗi người một ngày vào năm 2007. Với sự tăng trưởng này, viễn thông đóng một vai trò ngày càng quan trọng trong nền kinh tế thế giới và doanh thu của ngành công nghiệp viễn thông toàn thế giới ước tính đạt 3,85 nghìn tỷ USD vào năm 2008. Doanh thu dịch vụ của ngành công nghiệp viễn thông toàn cầu ước tính đạt 1,7 nghìn tỷ USD năm 2008 và dự kiến đạt 2,7 nghìn tỷ USD vào năm 2013. == Nguồn gốc từ ngữ == Từ viễn thông (telecommunication trong tiếng Anh) đã được chuyển thể từ télécommunication trong tiếng Pháp. Đây là từ ghép của tiền tố Hy Lạp tele- (τηλε-), có nghĩa là "xa", và từ communicare trong tiếng Latin có nghĩa là "chia sẻ". Từ tiếng Pháp télécommunication lần đầu tiên xuất hiện tại French Grande École "Telecom ParisTech", trước đây còn được gọi là "École nationale supérieure des télécommunications" vào năm 1904 bởi kỹ sư và tiểu thuyết gia người Pháp Édouard Estaunié. == Những khái niệm cơ bản == === Thành phần chính === Một hệ thống viễn thông bao gồm ba thành phần chính: Bộ phát nhận thông tin vào và chuyển thành tín hiệu; Môi trường truyền dẫn truyền tín hiệu đi; Bộ thu nhận tín hiệu và chuyển thành thông tin hữu ích. Chẳng hạn, trong hệ thống truyền hình, tháp truyền hình là một bộ phát, không gian xung quanh là môi trường truyền dẫn, tivi là bộ thu. Thông thường trong các hệ thống viễn thông khác, một thiết bị vừa là bộ phát vừa là bộ thu, ví dụ điện thoại di động là một bộ thu phát. Thông tin thông qua đường dây điện thoại được gọi là thông tin điểm-điểm là do nó được thực hiện giữa một bộ phát và một bộ thu. Thông tin thông qua hệ thống truyền hình là thông tin quảng bá là do nó được thực hiện giữa một bộ phát mạnh và nhiều bộ thu. === Tương tự-số === Tín hiệu có thể là tương tự hoặc số. Tương ứng ta có hệ thống viễn thông số và hệ thống viễn thông tương tự. Một tín hiệu tương tự thay đổi liên tục phụ thuộc vào thông tin cần truyền. Trong tín hiệu số, thông tin được mã hóa thành những giá trị rời rạc (ví dụ như 0 và 1). Trong suốt quá trình truyền và nhận, thông tin truyền bằng tín hiệu tương tự chắc chắn sẽ bị suy giảm bởi những nhiễu vật lý không mong muốn (đầu ra của máy phát không bị nhiễu). Bình thường, nhiễu trong tín hiệu truyền thông được nhận biết như tăng hoặc giảm tín hiệu ban đầu một cách hoàn toàn ngẫu nhiên. Kiểu nhiễu này được gọi là "additive noise", nghĩa là nhiễu có thể có lợi hoặc có hại trong những khoảng thời gian khác nhau. Nhiễu không phải là "additive noise" sẽ khó hơn trong việc miêu tả hoặc phân tích, những kiểu nhiễu này sẽ không được đề cập ở đây. Ngược lại, trong truyền thông số, dù xảy ra nhiễu, những thông tin được mã hóa trong tín hiệu vẫn còn nguyên vẹn. Khả năng kháng nhiễu là ưu điểm của truyền thông số so với truyền thông tương tự. === Mạng === Một tập hợp các bộ phát, bộ thu hoặc bộ thu phát thông tin với nhau được gọi là một mạng. Mạng thông tin số có thể bao gồm một hay nhiều router (bộ định tuyến) để định tuyến thông tin đến đúng người nhận. Mạng thông tin tương tự có thể bao gồm một hay nhiều tổng đài dùng để thiết lập kết nối giữa các người dùng. Trong cả hai mạng repeater (bộ lặp) có thể dùng đến để khuếch đại hoặc tái tạo tín hiệu khi tín hiệu được truyền đi xa. Thiết bị này dùng để giảm suy hao bộ thu có thể phân biệt và tách được tín hiệu ra khỏi nhiễu. === Kênh truyền === Một kênh truyền là một phần trong môi trường truyền dẫn được dùng để truyền một kênh thông tin. Chẳng hạn, một trạm vô tuyến phát quảng bá ở tần số 90.1 MHz trong khi một trạm khác phát quảng bá ở tần số 94.5 MHz. Trong trường hợp ghép kênh phân chia tần số này, môi trường truyền dẫn được chia thành các phần có tần số khác nhau. Trong ghép kênh phân chia thời gian người ta cũng sử dụng cách chia theo thời gian. == Lịch sử == Viễn thông là một thuật ngữ liên quan tới việc truyền tin và tín hiệu. Ngay từ ngày xa xưa, những người tiền sử đã biết dùng khói để báo hiệu, những người thổ dân ở những hòn đảo xa xôi dùng các cột khói để liên lạc, báo hiệu và truyền tin. Mai An Tiêm dùng dưa hấu để truyền tin về đất liền,... có thể nói thuật ngữ viễn thông đã có từ xa xưa. Tuy nhiên có thể nói, khái niệm viễn thông được chính thức sử dụng khi cha đẻ của máy điện báo Samuel Finley Breese Morse sau bao ngày đêm nghiên cứu vất vả, ông đã sáng chế chiếc máy điện báo đầu tiên. Bức điện báo đầu tiên dùng mã Morse được truyền đi trên trái đất từ Nhà Quốc hội Mỹ tới Baltimore cách đó 64 km đã đánh dấu kỷ nguyên mới của viễn thông. Trong bức thông điệp đầu tiên này Morse đã viết "Thượng đế sáng tạo nên những kỳ tích". Nói đến lịch sử của Viễn thông, không thể không nhắc đến Alexander Graham Bell, ông là người đầu tiên sáng chế ra điện thoại. Để tưởng nhớ ông, ngày 7 tháng 8 năm 1922 mọi máy điện thoại trên nước Mỹ đều ngừng hoạt động để tưởng nhớ và bày tỏ lòng biết ơn nhà khoa học xuất sắc A.G Bell (1847 - 1922). Trên quy mô xã hội, nếu điện tín (1884), điện thoại (1876), radio (1895) và vô tuyến truyền hình (1925) đã làm thay đổi cách giao tiếp trong quan hệ con người thì sự xuất hiện của vệ tinh viễn thông (1960) sợi quang học (1977), công nghệ không dây đã làm nên một hệ thần kinh thông minh nhạy bén trên trái đất. Có thể nói lĩnh vực viễn thông đã làm thay đổi bộ mặt, tính cách của trái đất, đã hiện thực hóa khả năng liên kết của mỗi người của mỗi quốc gia, gắn kết mọi người với nhau nhờ một mạng lưới viễn thông vô hình và hữu hình trên khắp trái đất và vũ trụ. Sự hội tụ trong lĩnh vực viễn thông Cùng với sự phát triển của xã hội, nhu cầu sử dụng và truyền dữ liệu của con người cũng tăng lên theo hàm số mũ. Ngành VT đóng góp vai trò lớn lao trong việc vận chuyển đưa tri thức của loài người đến mỗi người, thúc đẩy quá trình sáng tạo đưa thông tin khắp nơi về các ngành lĩnh vực khoa học, các thông tin giải trí cũng như thời sự khác. Viễn thông đem lại sự hội tụ, hay sự thống nhất về các loại hình dịch vụ truyền dữ liệu dịch vụ như thoại, video (truyền hình quảng bá và truyền hình theo yêu cầu), và dữ liệu Internet băng rộng thúc đẩy ngành công nghệ thông tin phát triển lên một mức cao hơn với đa dạng các loại hình dịch vụ và chi phí rẻ hơn. Mạng viễn thông giúp người sử dụng có thể gọi điện thoại qua mạng Internet, có thể xem hình ảnh của bạn bè trên khắp thế giới, có thể chia sẻ nguồn dữ liệu, có thể thực hiện những giao dịch mua bán tới mọi nơi trên thế giới một cách đơn giản. Viễn thông ngày càng tạo nên một thế giới gần hơn hội tụ cho tất cả mọi người. == Viễn thông hiện đại == === Điện thoại === Xem thêm thông tin: Video phone Đối với hệ thống điện thoại có dây truyền thống, người sử dụng ở bên chủ gọi quay số (gửi số bằng xung) hoặc bấm số (gửi số bằng tone) của bên bị gọi. Bên chủ gọi sẽ được kết nối với bên bị gọi thông qua một số tổng đài. Tiếng nói được thu bằng một micrô nhỏ nằm trong ống nghe, chuyển thành tín hiệu điện và truyền tới tổng đài gần nhất. Tín hiệu này sẽ được chuyển thành tín hiệu số để truyền đến tổng đài kế tiếp. Ở đầu người nghe, tín hiệu điện sẽ được chuyển thành tín hiệu âm thanh và phát ra ở ống nghe. Hầu hết điện thoại cố định là điện thoại tương tự. Các cuộc gọi ở cự li ngắn (cùng một tổng đài) có thể chỉ sử dụng tín hiệu tương tự. Đối với cuộc gọi đường dài, tín hiệu được biến thành tín hiệu số để truyền đi xa. Tín hiệu số có thể được truyền đi chung với dữ liệu Internet, giá rẻ hơn, và có thể phục hồi lại khi truyền qua một khoảng cách xa trong khi đó tín hiệu tương tự thì không tránh khỏi bị nhiễu làm sai lệch. Điện thoại di động ra đời đã tác động nhiều lên mạng viễn thông. Ở một số nước, số lượng thuê bao điện thoại di động còn nhiều hơn điện thoại cố định. Mạng viễn thông đã trải qua nhiều tiến bộ vượt bậc khi xuất hiện những công nghệ mới. Vào thập niên 90, thông tin quang được chấp nhận và sử dụng rộng rãi. Ưu điểm của nó là tốc độ truyền dẫn được tăng lên rất cao. Để có được điều này là do vài nguyên nhân. Thứ nhất, sợi quang nhỏ hơn rất nhiều so với các loại cáp trước đó. Thứ hai, không có hiện tượng xuyên âm nên hàng trăm sợi quang có thể được gộp chung lại thành một sợi cáp. Thứ ba, những công nghệ ghép kênh đã tăng tốc độ truyền dẫn trên sợi quang theo cấp số nhân. Tín hiệu thoại sau khi được số hóa sẽ trở thành những mẫu có dung lượng một byte. Các mẫu của mỗi cuộc điện thoại sẽ được xếp cạnh và xen kẽ nhau theo một trật tự nhất định để truyền đi xa. Kỹ thuật này gọi là phân kênh theo thời gian (TDM). === Vô tuyến truyền hình === Xem thêm thông tin: Truyền hình giao thức Internet và Hội nghị truyền hình phương thức truyền hình ảnh và âm thanh từ xa đến người xem qua làn sóng mặt đất hoặc vệ tinh mà không cần đến dây cáp dẫn tín hiệu. Theo phương thức này, tín hiệu hình ảnh và âm thanh được điều chế vào một sóng cao tần và được khuếch đại đến một mức cần thiết để phát đi đến máy thu thông qua mạng máy phát trên mặt đất hoặc máy phát trực tiếp trên vệ tinh. Trong VTTH áp dụng nguyên tắc truyền liên tục hình ảnh đối tượng [nguyên tắc do nhà khoa học người Bồ Đào Nha Paiva (A. de Paiva) đề xuất vào cuối thế kỉ 19, và độc lập với ông là nhà khoa học Nga Bakhơmetievưi (P. I. Bakhmet'evyj)]: ở trạm truyền, hình ảnh đối tượng được biến đổi liên tục thành các tín hiệu điện tử (phân tích hình ảnh) chuyển theo kênh thông vào các máy thu; ở đó, lại thực hiện việc biến đổi ngược lại (tổng hợp hình ảnh). VTTH đã được phát triển cùng với việc sử dụng phân tích và tổng hợp thiết bị quang cơ, và mở đầu là một kĩ sư người Đức Nipkôp (P. G. Nipkow) vào năm 1884. Giữa những năm 30 thế kỉ 20, đã xuất hiện những hệ thống đầu tiên VTTH điện tử. Sự phát triển của hệ thống hiện đại VTTH gắn liền với việc nâng cao độ nét hình ảnh, độ chống nhiễu và tác động tầm xa. Từ giữa những năm 80 của thế kỉ 20, hệ thống VTTH kĩ thuật số đã bắt đầu được ứng dụng === Internet === === Mạng nội bộ === Còn có tên gọi là mạng LAN. == Kinh tế == Các doanh nghiệp trong ngành viễn thông được phân biệt giữa những nhà vận hành các mạng lưới viễn thông (carrier), doanh nghiệp cung cấp dịch vụ (service provider) và doanh nghiệp cung cấp các giải pháp viễn thông (supplier). Một số nhà cung cấp dịch vụ viễn thông ở Việt Nam: Tập đoàn Bưu chính Viễn thông Việt nam Công ty cổ phần viễn thông FPT Tập đoàn Viễn thông Quân đội Công ty Thông tin Điện tử Hàng hải Việt Nam Công ty Cổ phần Dịch vụ Bưu chính Viễn thông Sài Gòn Công ty Viễn thông Hà Nội 10 doanh nghiệp viễn thông lớn nhất thế giới là: NTT, Nhật Deutsche Telekom, Đức Verizon, Mỹ France Télécom, Pháp Vodafone, Anh NTT DoCoMo, Nhật SBC Communications, Mỹ Telecom Italia, Ý British Telecom, Anh Telefónica, Tây Ban Nha Thời điểm: tháng 11 năm 2004 theo doanh thu. Nguồn: [1] 10 nhà cung cấp trang thiết bị lớn nhất cho doanh nghiệp viễn thông là Alcatel Ericsson Lucent Technologies Motorola Nokia Nortel đước đây là Nortel Networks Siemens Marconi == Chú thích == == Liên kết ngoài == Tạp chí Bưu chính Viễn thông ATIS Telecom Glossary Communications Engineering Tutorials Federal Communications Commission Unified Communications IEEE Communications Society International Telecommunication Union Ericsson's Understanding Telecommunications at archive.org (Ericsson removed the book from their site in September 2005) VoIP, Voice over Internet Protocol and Internet telephone calls
tiếng yakut.txt
Tiếng Yakut, còn gọi là tiếng Sakha, là một ngôn ngữ Turk với khoảng 450.000 người nói tập trung tại cộng hòa Sakha của Liên Bang Nga. Như đa số ngôn ngữ Turk khác và ngôn ngữ tổ tiên Tiền Turk, tiếng Yakut là một ngôn ngữ chắp dính. == Phân loại == Tiếng Yakut là một thành viên của nhóm ngôn ngữ Turk Xibia, cùng với tiếng Shor, tiếng Tuva, tiếng Dolgan và một số khác. Như tiếng Thổ Nhĩ Kỳ (thành viên đông người nói nhất ngữ hệ Turk), tiếng Yakut là một ngôn ngữ chắp dính với sự hài hòa nguyên âm và không có giống ngữ pháp. Cấu trúc từ ngữ thường là chủ-tân-động. Tiếng Yakut cũng được ảnh hưởng bởi các ngôn ngữ Tungus và Mongol. == Phân bố địa lý == Tiếng Yakut chủ yếu được nói tại cộng hòa Sakha. Nó cũng được sử dụng bởi người Yakut tại vùng Khabarovsk, với những cộng đồng Yakut di cư nhỏ tại Thổ Nhĩ Kỳ. Tiếng Dolgan, một họ hàng gần của tiếng Yukut, là ngôn ngữ của người Dolgan tại vùng Krasnoyarsk. Tiếng Yakut còn được các dân tộc thiểu số tại cộng hòa Sakha sử dụng như lingua franca – nhiều người Dolgan, người Evenk, người Even và người Yukagir nói tiếng Yakut. Khoảng 8% người tại Sakha thuộc các dân tộc khác ngoài Yakut báo cáo rằng họ có hiểu biết tiếng Yakut (thống kê 2002). == Xem thêm == Người Yakut Tiếng Dolgan == Tham khảo == Sakha Open World – Орто Дойду – A platform to promote the Yakut Language on the web; News, Lyrics, Music, Fonts, Forum, VideoNews (in Yakut, Unicode) Baayaga village website – news and stories about and by the people of Baayaga (in Yakut) Kyym.ru – site of Yakut newspaper
franc pháp.txt
Franc Pháp, còn gọi đơn giản là Franc, là đơn vị tiền tệ cũ của Pháp trước được thay thế bởi đồng euro. Đồng Franc từng được sử dụng từ năm 1360 thay thế cho đồng livre trước đó, nhưng đến năm 1641 nó bị loại bỏ. Từ năm 1795, tiền Franc được sử dụng một lần nữa và tới 1999, nó bị thay thế bởi đồng euro. == Tỉ giá hối đoái hiện thời của đồng FRF == == Tham khảo == == Liên kết ngoài == Overview of French franc from the BBC Coins of France with pictures Banknotes of France Tiền giấy từ Pháp (tiếng Đức) (tiếng Anh) ^ 1999 by law, 2002 de facto. Bản mẫu:Euro topics
25 tháng 12.txt
Ngày 25 tháng 12 là ngày thứ 359 (360 trong năm nhuận) trong lịch Gregory. Còn 6 ngày trong năm. == Sự kiện == 36 – Sau khi Công Tôn Thuật tử chiến vào hôm trước, Diên Sầm đầu hàng dâng Thành Đô cho quân Đông Hán, Đông Hán chiếm được đất Thục. 333 – Hoàng đế La Mã Constantinus Đại đế trao cho con út là Constans I tước Caesar. 350 – Vetranio gặp Constantius II tại Naissus (Serbia) và bị buộc phải thoái vị (Caesar). Constantius cho phép ông tiếp tục sống như một công dân và được hưởng trợ cấp. 496 – Quốc vương của người Frank Clovis I được thanh tẩy để hiệp nhất với tín ngưỡng Ki-tô giáo tại Reims. 800 – Charlemagne đăng quang hoàng đế của Đế quốc La Mã Thần thánh tại thành La Mã. 967 – Giáo hoàng Gioan XIII phong Otto II làm đồng hoàng đế của Đế quốc La Mã Thần thánh cùng với cha. 1000 – István I thành lập nên Vương quốc Hungary, một vương quốc Kitô giáo. 1066 – Công tước xứ Normandy William đăng quang quốc vương của Vương quốc Anh tại Tu viện Westminster, Luân Đôn. 1643 – Thuyền trưởng William Mynors của Công ty Đông Ấn Anh phát hiện và đặt tên cho Đảo Christmas, tức đảo Giáng Sinh, trên Ấn Độ Dương. 1868 – Tổng thống Hoa Kỳ Andrew Johnson ban lệnh ân xá vô điều kiện cho toàn thể binh sĩ của Liên minh quốc tham gia trong Nội chiến Hoa Kỳ. 1915 – Quân phiệt Thái Ngạc tuyên bố Vân Nam độc lập, khởi đầu Chiến tranh hộ quốc tại Trung Quốc. 1926 – Dụ Nhân thân vương Hirohito trở thành thiên hoàng của Nhật Bản, đặt niên hiệu là Chiêu Hòa. 1927 – Một số thành viên của Nam Đồng Thư xã thành lập nên Việt Nam Quốc dân Đảng trong một cuộc họp bí mật tại Hà Nội, Đông Dương thuộc Pháp. 1932 - Một trận động đất 7,6 độ richter ở Cam Túc, Trung Quốc. 1936 – Sự biến Tây An: Ủy viên trưởng Ủy ban quân sự Chính phủ Quốc dân- Viện trưởng Hành chính viện Trung Hoa Dân Quốc Tưởng Giới Thạch được trả tự do và đích thân Trương Học Lương đưa ông đi máy bay về Nam Kinh. 1941 – Chiến tranh thế giới thứ hai: Tổng đốc Hồng Kông Mark Aitchison Young dẫn đạo quân Anh đóng tại Bán Đảo Tử Điếm đầu hàng quân đội Nhật Bản, trận Hồng Kông kết thúc, bắt đầu thời kỳ Nhật Bản cai trị Hồng Kông. 1950 – Chiến tranh Đông Dương: Chiến dịch Trần Hưng Đạo khởi đầu khi quân Liên hiệp Pháp tiến công vào lãnh thổ do Việt Minh kiểm soát ở Vĩnh Yên-Phú Thọ. 1953 – Hoa Kỳ trao trả quyền quản trị quần đảo Amami cho Nhật Bản. 1989 – Cựu lãnh tụ cộng sản Romania Nicolae Ceauşescu cùng phu nhân là Phó thủ tướng thứ nhất Elena Ceaușescu bị kết tội tử hình trong một phiên tòa chiếu lệ và bị hành hình. 1991 – Mikhail Gorbachev từ chức Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Liên Xô. Cuộc trưng cầu dân ý tại Ukraina hoàn thành và Ukraina chính thức thoát ly Liên Xô. 2000 – Các đại diện của chính phủ Việt Nam và Trung Quốc ký kết Hiệp định Phân định Vịnh Bắc Bộ và Hiệp định hợp tác nghề cá ở Vịnh Bắc Bộ tại Bắc Kinh. 2000 – Tổng thống Nga Vladimir Vladimirovich Putin ký thành luật về việc hình thành Quốc ca Nga mới, với phần nhạc dựa theo Quốc ca Liên Xô. 2009 – Umar Farouk Abdulmutallab không thành công trong một nỗ lực khủng bố chống Hoa Kỳ trên một chuyến bay đến Detroit của hãng Northwest Airlines. 2010 – Trung Hoa Dân Quốc thành lập và sáp nhập nên các trực hạt thị Tân Bắc, Đài Trung, Đài Nam, Cao Hùng. == Sinh == 824 – Hàn Dũ, quan lại nhà tư tưởng, nhà thơ triều Đường, tức 2 tháng 12 năm Giáp Thìn (s. 768) 1642 - Isaac Newton, nhà vật lý, nhà thiên văn học, nhà triết học, nhà toán học, nhà thần học và nhà giả kim người Anh. 1796 – Karl Friedrich von Steinmetz, quý tộc và tướng lĩnh quân đội người Đức (m. 1877) 1849 – Nogi Maresuke, tướng lĩnh quân đội người Nhật Bản, tức 11 tháng 11 năm Kỉ Dậu (m. 1912) 1876 – Muhammad Ali Jinnah, luật sư và chính trị gia người Ân Độ-Pakistan, người sáng lập nên Pakistan (m. 1948) 1876 – Adolf Otto Reinhold Windaus, nhà hóa học người Đức, đoạt giải Nobel (m. 1959) 1886 – Gotthard Heinrici, tướng lĩnh người Đức (m. 1971) 1887 – Conrad Nicholson Hilton, doanh nhân người Mỹ (m. 1979) 1899 – Humphrey Bogart, diễn viên người Mỹ (m. 1957) 1902 – Đặng Thai Mai, giáo sư, nhà văn, nhà phê bình văn học Việt Nam 1904 – Gerhard Herzberg, nhà vật lý học và hóa học người Đức-Canada, đoạt giải Nobel (m. 1999) 1906 – Ernst Ruska, nhà hóa học người Đức, đoạt giải Nobel (m. 1988) 1918 – Anwar Al-Sadad, chính trị gia người Ai Cập, tổng thống của Ai Cập, đoạt giải Nobel (m. 1981) 1924 – Đinh Gia Khánh, nhà nghiên cứu văn hóa và văn học người Việt Nam (m. 2003) 1927 – Ram Narayan, nhạc công người Ấn Độ 1931 – Bắc Sơn, nhạc sĩ người Việt Nam 1931 – Nguyễn Thị Oanh, nhà hoạt động xã hội người Việt Nam (m. 2009) 1933 – Phan Văn Khải, chính trị gia người Việt Nam, thủ tướng của Việt Nam 1933 – Nguyễn Vĩnh Nghiệp, chính trị gia, nhà hoạt động xã hội người Việt Nam 1935 – Phạm Trọng Cầu, nhạc sĩ người Việt Nam (m. 1998) 1936 – Alexandra, thành viên vương thất Anh Quốc 1944 – Jairzinho, cầu thủ bóng đá người Brasil 1945 – Lê Văn Dũng, tướng lĩnh quân đội người Việt Nam 1949 – Nawaz Sharif, chính trị gia người Pakistan, thủ tướng của Pakistan 1964 – Gary McAllister, cầu thủ bóng đá người Anh Quốc 1971 – Dido, ca sĩ-người viết ca khúc người Anh 1976 – Tuomas Holopainen, người viết ca khúc, nhạc công, nhà sản xuất âm nhạc người Phần Lan == Mất == 317 TCN – Philippos III, quốc vương của Vương quốc Macedonia (s. 358 TCN) 795 – Giáo hoàng Ađrianô I (s. 700) 1887 – Alfred von Kaphengst, sĩ quan người Đức (s. 1828) 1888 – Friedrich August von Etzel, sĩ quan người Đức (s. 1808) 1899 – Elliott Coues nhà điểu học người Mỹ (s. 1842) 1926 – Thiên hoàng Đại Chính của Nhật Bản (s. 1879) 1977 – Charlie Chaplin, diễn viên người Anh (s. 1889) 1983 – Joan Miró, họa sĩ người Tây Ban Nha (s. 1893) 1989 – Nicolae Ceauşescu, chính trị gia người Romania (s. 1918) 1992 – Hoàng Quốc Việt, chính trị gia người Việt Nam (s. 1905) 2005 – Ngô Xuân Quýnh, cầu thủ bóng đá người Việt Nam (s. 1933) 2006 – James Brown, ca sĩ người Mỹ (s. 1933) 2010 – Carlos Andrés Pérez, chính trị gia người Venezuela, tổng thống của Venezuela (s. 1922) == Những ngày lễ và kỷ niệm == Giáng sinh == Tham khảo ==
3 tháng 3.txt
Ngày 3 tháng 3 là ngày thứ 62 (63 trong năm nhuận) trong lịch Gregory. Còn 303 ngày trong năm. == Sự kiện == 473 – Tổng tư lệnh quân đội mới đảm nhiệm là Gundobad quyết định chọn Glycerius làm hoàng đế của Đế quốc Tây La Mã. 875 – Tiết độ sứ Đổng Xương của triều Đường xưng là hoàng đế, đặt quốc hiệu là "Đại Việt La Bình Quốc", tức ngày Tân Mão (3) tháng 2 năm Ất Mão. 1575 – Hoàng đế Mogul Akbar Đại đế đánh bại quân đội Bengal trong Trận Tukaroi. 1845 – Florida trở thành bang thứ 27 của Hoa Kỳ. 1857 – Chiến tranh thuốc phiện lần hai: Pháp và Vương quốc Anh tuyên chiến với Trung Quốc. 1861 – Nga hoàng Aleksandr II ban hành Sắc lệnh giải phóng nông nô. 1875 – Vở opera Carmen của nhà soạn nhạc người Pháp Georges Bizet công diễn lần đầu tại Opéra-Comique tại Paris, nhưng bị đa số các nhà phê bình chỉ trích. 1878 – Bulgaria giành lại độc lập từ tay Đế quốc Ottoman sau Hòa ước San Stefano. 1918 – Đế quốc Đức, Đế quốc Áo Hung và nước Nga Xô Viết ký kết Hòa ước Brest-Litovsk với kết quả là nước Nga rút khỏi Chiến tranh thế giới thứ nhất, đồng thời đem đến độc lập cho Phần Lan, Estonia, Latvia, Litva và Ba Lan. 1923 – Tạp chí TIME xuất bản lần đầu tiên. 1924 – Abdul Mejid II bị Đại hội Quốc gia Thổ Nhĩ Kỳ lật đổ ngôi khalip, theo lệnh của tổng thống Mustafa Kemal Ataturk. 1938 – Dầu mỏ được phát hiện tại Ả Rập Saudi. 1942 – Chiến tranh thế giới thứ hai: Mười máy bay Nhật Bản ném bom thị trấn Broome, Tây Australia, giết chết hơn 100 người. 1944 – Huân chương Nakhimov và Huân chương Ushakov bắt đầu được áp dụng tại Liên Xô và đây là danh hiệu cao quý nhất cho hải quân. 1945 – Chiến tranh thế giới thứ hai: Mỹ và Philippines lấy lại Manila từ tay Nhật Bản. 1951 – Hai tổ chức Việt Minh và Liên Việt hợp nhất thành Mặt trận Liên Việt. 1958 – Nuri as-Said trở thành thủ tướng của Iraq lần thứ 14. 1959 – Ngày truyền thống Bộ Đội Biên phòng Việt Nam 1961 – Hassan II trở thành vua Maroc. 1968 – Chiến tranh Việt Nam: Kết thúc trận Mậu Thân tại Huế với thắng lợi chiến thuật thuộc về Việt Nam Cộng hòa và Hoa Kỳ. 1991 – Trưng cầu ý dân: 74 % dân số Latvia và 83 % dân số Estonia đồng ý đòi độc lập từ tay Liên Xô. 1992 – Quốc gia Bosna và Hercegovina ra đời. 2009 – Cuộc tấn công đội tuyển cricket quốc gia Sri Lanka tại Lahore 2009 khiến cho 6 cảnh sát hộ tống cùng với 2 dân thường thiệt mạng trong khi 6 cầu thủ cricket và một trợ lý huấn luyện viên bị thương. 2009 – Tòa nhà Historisches Archiv der Stadt Köln tại Cologne, Đức, đổ sập. == Sinh == 1589 - Gisbertus Voetius, nhà thần học người Đức (m. 1676) 1606 - Edmund Waller, nhà thơ người Anh (m. 1687) 1652 - Thomas Otway, nhà viết kịch người Anh (m. 1685) 1793 - William Charles Macready, diễn viên người Anh (m. 1873) 1800 - Heinrich Georg Bronn, nhà địa chất người Đức (m. 1862) 1831 - George Pullman, nhà phát minh, nhà tư bản công nghiệp người Mỹ (m. 1897) 1839 - Jamsetji Tata, nhà tư bản công nghiệp Ấn Độ (m. 1904) 1845 - Georg Cantor, nhà toán học người Đức (m. 1918) 1847 - Alexander Graham Bell, nhà phát minh người Scotland (m. 1922) 1848 - Adelaide Neilson, nữ diễn viên người Anh (m. 1880) 1851 - Alexandros Papadiamantis, tác gia người Hy Lạp (m. 1911) 1860 - John Montgomery Ward, vận động viên bóng chày người Mỹ (m. 1925) 1863 - Arthur Machen, tác gia Wales (m. 1947) 1866 - Fred A. Busse, thị trưởng Chicago (m. 1914) 1871 - Maurice Garin, vận động viên xe đạp người Pháp (m. 1957) 1880 - Florence Auer, nữ diễn viên người Mỹ (m. 1962) 1886 - Tore Ørjasæter, nhà thơ người Na Uy (m. 1968) 1890 - Norman Bethune, bác sĩ, người theo chủ nghĩa nhân đạo người Canada (m. 1939) 1895 - Ragnar Anton Kittil Frisch, nhà kinh tế học, giải thưởng Nobel người Na Uy (m. 1973) 1911 - Jean Harlow, nữ diễn viên người Mỹ (m. 1937) 1918 - Dr. Arthur Kornberg, giải thưởng Nobel người Mỹ (m. 2007) 1920 - Julius Boros, vận động viên golf người Mỹ (m. 1994) 1920 - James Doohan, diễn viên người Canada (m. 2005) 1920 - Ronald Searle, người minh họa người Anh 1922 - Nándor Hidegkuti, cầu thủ bóng đá người Hungary (m. 2002) 1923 - Barney Martin, diễn viên người Mỹ (m. 2005) 1923 - Doc Watson, nhạc sĩ người Mỹ 1924 - Tomiichi Murayama, thủ tướng người Nhật Bản nguyên 1926 - Lys Assia, ca sĩ Thụy Sĩ 1926 - Joseph Anthony Ferrario, giáo chủ thiên chúa giáo người Mỹ (m. 2003) 1926 - James Merrill, nhà thơ người Mỹ (m. 1995) 1930 - Heiner Geißler, chính khách người Đức 1930 - Ion Iliescu, tổng thống România 1933 - Margaret Fink, nhà sản xuất phim người Úc 1933 - Lee Radziwill, thời trang người điều hành người Mỹ 1933 - Alfredo Landa, diễn viên người Tây Ban Nha 1937 - Bobby Driscoll, diễn viên người Mỹ (m. 1968) 1940 - Germán Castro Caycedo, nhà văn, nhà báo người Colombia 1940 - Perry Ellis, nhà thiết kế thời trang (m. 1986) 1945 - George Miller, đạo diễn phim người Úc 1946 - John Virgo, người chơi bi da người Anh 1947 - Jennifer Warnes, ca sĩ, người sáng tác bài hát người Mỹ 1947 - Otto Stuppacher, người đua xe người Áo (m. 2001) 1947 - Clifton Snider, nhà thơ, nhà văn người Mỹ 1949 - Jüri Allik, nhà tâm lý học người Estonia 1949 - Gloria Hendry, nữ diễn viên người Mỹ 1949 - Jesse Jefferson, vận động viên bóng chày người Mỹ 1950 - Tim Kazurinsky, diễn viên, diễn viên hài người Mỹ 1952 - Dermot Morgan, diễn viên, diễn viên hài người Ireland (m. 1998) 1953 - Robyn Hitchcock, nhạc sĩ người Anh 1953 - Zico, cầu thủ bóng đá người Brasil 1955 - Andy Breckman, diễn viên hài, nhân vật truyền thanh nổi tiếng người Mỹ 1956 - Zbigniew Boniek, cầu thủ bóng đá người Ba Lan 1958 - Miranda Richardson, nữ diễn viên người Anh 1959 - Ira Glass, người dẫn chương trình phát thanh người Mỹ 1960 - Neal Heaton, vận động viên bóng chày người Mỹ 1960 - Colin Wells, cầu thủ cricket người Anh 1961 - Perry McCarthy, người đua xe người Anh 1961 - Mary Page Keller, nữ diễn viên người Mỹ 1961 - Knut Nærum, diễn viên hài người Na Uy 1962 - Jackie Joyner-Kersee, vận động viên người Mỹ 1962 - Glen E. Friedman, nhà nhiếp ảnh, nghệ sĩ người Mỹ 1962 - Herschel Walker, cầu thủ bóng đá người Mỹ 1964 - Raúl Alcalá, vận động viên xe đạp người México 1964 - Laura Harring, Mỹ nữ diễn viên người México 1966 - Fernando Colunga, diễn viên người México 1966 - Tone Lōc, ca sĩ nhạc Rapp, diễn viên người Mỹ 1968 - Brian Leetch, vận động viên khúc côn cầu trên băng người Mỹ 1970 - Julie Bowen, nữ diễn viên người Mỹ 1970 - Inzamam-ul-Haq, cầu thủ cricket người Pakistan 1972 - Darren Anderton, cầu thủ bóng đá người Anh 1973 - Romāns Vainšteins, vận động viên xe đạp người Latvia 1973 - Matthew Marsden, diễn viên, ca sĩ người Anh 1973 - Victoria Zdrok, người mẫu, người Ukraina 1974 - David Faustino, diễn viên người Mỹ 1977 - Ronan Keating, ca sĩ người Ireland 1977 - Stéphane Robidas, vận động viên khúc côn cầu trên băng người Canada 1978 - Matt Diaz, vận động viên bóng chày người Mỹ 1978 - Seomoon Tak, ca sĩ người Hàn Quốc 1979 - Patrick Renna, diễn viên người Mỹ 1979 - Alex Zane, diễn viên hài người Anh 1980 - Mason Unck, cầu thủ bóng đá người Mỹ 1981 - Dusty Dvoracek, cầu thủ bóng đá người Mỹ 1981 - Kim Yoo-Jin (Eugene), ca sĩ, nữ diễn viên người Hàn Quốc 1981 - Lil' Flip, ca sĩ nhạc Rapp người Mỹ 1981 - Emmanuel Pappoe, cầu thủ bóng đá Ghana 1981 - Sung Yu Ri, ca sĩ, nữ diễn viên người Hàn Quốc 1982 - Jessica Biel, nữ diễn viên người Mỹ 1982 - Colton Orr, vận động viên khúc côn cầu trên băng người Canada 1984 - Alexander Semin, vận động viên khúc côn cầu trên băng người Nga 1985 - Sam Morrow, cầu thủ bóng đá người Bắc Ireland 1986 - Stacie Orrico, ca sĩ người Mỹ == Mất == 1497 – Lê Thánh Tông, vị vua thứ năm của nhà Hậu Lê trong lịch sử Việt Nam (s. 1442) 1703 – Robert Hooke, nhà khoa học người Anh (s. 1635) 1706 – Johann Pachelbel, nhà soạn nhạc người Đức (s. 1653) 1707 - Aurangzeb - vị vua thứ sáu của nhà Mogul trong lịch sử Ấn Độ (s. 1618) 1744 – Jean Barbeyrac, luật gia người Pháp 1765 – William Stukeley, nhà khảo cổ người Anh (s. 1687) 1768 – Nicola Porpora, nhà soạn nhạc người Ý (s. 1686) 1792 – Robert Adam, kiến trúc sư người Scotland (s. 1728) 1822 - Phan Huy Ích, danh sĩ triều Hậu Lê và Tây Sơn (s. 1751) 1850 – Oliver Cowdery, lãnh đạo tôn giáo người Mỹ (s. 1806) 1894 – Ned Williamson, vận động viên bóng chày người Mỹ (s. 1857) 1927 – Mikhail Artsybashev, nhà văn người Nga (s. 1878) 1932 – Eugen d'Albert, nhà soạn nhạc người Đức (s. 1864) 1943 – George Thompson, cầu thủ cricket người Anh (s. 1877) 1953 – James J. Jeffries, hạng nặng võ sĩ quyền Anh người Mỹ (s. 1875) 1959 – Lou Costello, diễn viên, diễn viên hài người Mỹ (s. 1906) 1961 – Paul Wittgenstein, nghệ sĩ dương cầm người Áo (s. 1887) 1966 – William Frawley, diễn viên người Mỹ (s. 1887) 1966 – Alice Pearce, nữ diễn viên người Mỹ (s. 1917) 1982 – Georges Perec, nhà văn người Pháp (s. 1936) 1983 – Arthur Koestler, nhà văn người Áo (s. 1905) 1987 – Danny Kaye, diễn viên, ca sĩ, diễn viên hài người Mỹ (s. 1913) 1988 – Sewall Wright, nhà sinh vật học người Mỹ (s. 1889) 1993 – Carlos Marcello, găngxtơ người Tunisia (s. 1910) 1996 – Marguerite Duras, nhà văn người Pháp (s. 1914) 1999 – Gerhard Herzberg, nhà hóa học, giải thưởng Nobel người Đức (s. 1904) 2001 – Louis Edmonds, diễn viên người Mỹ (s. 1923) 2002 – Harlan Howard, nhạc sĩ người Mỹ (s. 1927) 2003 – Horst Buchholz, diễn viên người Đức (s. 1933) 2003 – Luis Marden, phóng viên nhiếp ảnh người Mỹ (s. 1913) 2003 – Goffredo Petrassi, nhà soạn nhạc người Ý (s. 1904) 2003 – Peter Smithson, kiến trúc sư người Anh (s. 1923) 2005 – Max M. Fisher, người làm việc thiện người Mỹ (s. 1928) 2006 – Ivor Cutler, nhà thơ người Scotland (s. 1923) == Ngày lễ và kỷ niệm == == Tham khảo ==
thế vận hội mùa hè 2008.txt
Thế vận hội Mùa hè 2008, tên chính thức là Thế vận hội Mùa hè thứ XXIX, là một sự kiện thể thao quốc tế quan trọng diễn ra tại thủ đô Bắc Kinh (Trung Quốc) từ ngày 8 (riêng môn bóng đá bắt đầu thi đấu từ ngày 6 tháng 8) đến 24 tháng 8 năm 2008. Tiếp theo đó là Thế vận hội mùa hè dành cho người khuyết tật sẽ diễn ra từ 6 tháng 9 đến 17 tháng 9. 11.028 vận động viên tranh tài ở 302 nội dung thi đấu thuộc 28 môn thể thao, nhiều hơn 1 nội dung so với Thế vận hội Mùa hè 2004. Thế vận hội Bắc Kinh 2008 đánh dấu việc lần thứ 3 sự kiện thể thao quốc tế này được tổ chức trong vùng lãnh thổ có 2 Ủy ban Olympic khác nhau, với môn đua ngựa được tổ chức tại Hồng Kông. Quyền tổ chức Thế vận hội được trao cho Bắc Kinh sau một cuộc bầu chọn hết sức nghiêm ngặt của Ủy ban Olympic Quốc tế (IOC) vào ngày 13/7/2001. Biểu tượng chính thức của thế vận hội, tên gọi "Bắc Kinh nhảy múa" (Dancing Beijing), dựa theo từ kinh (京) để nói đến thủ đô của nước chủ nhà. Năm linh vật của Olympics 2008 là năm Bé Phúc (福娃), mỗi linh vật tượng trưng cho 1 màu sắc trên vòng tròn olympic và cũng là biểu tượng của văn hoá Trung Hoa. Khẩu hiệu "Cùng một thế giới, chung một ước mơ" (One World, One Deam) kêu gọi toàn thế giới đoàn kết lại trong tinh thần Olympic. Chính phủ Trung Quốc đã truyền bá về Thế vận hội nhằm làm nổi bật vị thế của Trung Quốc trên thế giới, tích cực đầu tư xây dựng những công trình mới và phát triển hệ thống giao thông. Tổng cộng 37 khu thi đấu được sử dụng để tổ chức các sự kiện thể thao, trong đó bao gồm 12 công trình được xây mới. Từ đầu năm 2007, cựu Chủ tịch Uỷ ban Tổ chức Olympic Quốc tế, ông Juan Antonio Samaranch đã phát biểu rằng đây là "Thế vận hội tuyệt vời nhất" trong lịch sử các kỳ Olympic; Chủ tịch đương nhiệm IOC cũng khẳng định rằng IOC không chút hối hận khi quyết định tổ chức Thế vận hội Mùa hè lần thứ 29 tại Bắc Kinh. Tuy nhiên, do kỳ Olympic được tổ chức vào đúng thời điểm sau vụ bạo loạn Tây Tạng 2008, nhiều người đã cáo buộc đây là kì Olympic của bọn vi phạm nhân quyền. Nhiều cuộc biểu tình và tẩy chay Olympic đã nổ ra, gây căng thẳng chưa từng có tiền lệ nhất Trung Quốc. == Cuộc đua giành quyền đăng cai == Trong phiên họp lần thứ 112 của IOC diễn ra tại thủ đô Moskva, Liên bang Nga, vào ngày 13 tháng 7, năm 2000, Bắc Kinh vượt qua các thành phố Toronto, Paris, Istanbul và Osaka để trở thành nơi đăng cai Thế vận hội Mùa hè lần thứ 29. Trước phiên họp này, 5 thành phố khác (Băng Cốc, Cairo, La Habana, Kuala Lumpur, và Sevilla) cũng đệ trình hồ sơ xin đăng cai đến IOC nhưng không bao gồm bản tóm lược vào năm 2000. Sau vòng bỏ phiếu đầu tiên, Bắc Kinh có số phiếu vượt trội so với 4 ứng cử viên còn lại. Thành phố Osaka chỉ chiếm được 6 phiếu bầu, đứng ở vị trí cuối cùng, và bị loại khỏi cuộc đua. Đến vòng 2, Bắc Kinh chiếm được đa số phiếu, đợt bỏ phiếu lần 3 xem như không cần thiết. Sau khi giành được quyền đăng cai, Phó Thủ tướng Trung Quốc Lý Lam Thanh tuyên bố rằng:" thắng lợi của Trung Quốc minh chứng cho sự nhìn nhận của thế giới về sự bền vững xã hội, phát triển kinh tế của Trung Quốc và đời sống khoẻ mạnh của người dân Trung Quốc." Trước đây, Bắc Kinh đã từng mất quyền đăng cai Thế vận hội Mùa hè năm 2000 về tay thành phố Sydney. == Xây dựng cơ sở vật chất và công tác chuẩn bị == === Khu thể thao liên hợp === Vào tháng 5 năm 2007, Bắc Kinh tiến hành xây dựng 31 khu thể thao liên hợp trong khu vực thủ đô nhằm phục vụ thế vận hội. Chính phủ Trung Quốc cũng đầu tư nâng cấp và xây dựng 6 khu liên hợp và 59 trung tâm huấn luyện nằm ngoài Bắc Kinh. Những công trình kiến trúc lớn nhất là Sân vận động quốc gia Bắc Kinh, Nhà thi đấu Bắc Kinh, Trung tâm thể thao dưới nước quốc gia Bắc Kinh, Trung tâm hội nghị quốc gia, Công viên Thế vận hội Bắc Kinh, và Nhà thi đấu Ngũ Khỏa Tùng. 85% ngân sách dành cho công tác xây dựng 6 khu liên hợp chính này là 2,1 tỉ đô la Mĩ (17.4 tỉ nhân dân tệ), đến từ nhiều nhà tài trợ. Nhiều nguồn tài trợ đang mong đợi có được quyền sở hữu các công trình này sau kỳ thế vận hội. Tổng cục điều hành thể dục thể thao nhà nước sẽ sở hữu và quản lý một vài khu với chức năng là những tiện ích cho những sự kiện thể thao quốc gia trong tương lai. Olympic Bắc Kinh trở thành sự kiện thể thao đắt giá nhất trong lịch sử các kỳ thế vận hội, với tổng số tiền đầu tư là 40,9 tỉ USD, tính từ năm 2001 đến 2007, vào dự án xây dựng cơ sở hạ tầng, năng lượng, giao thông, và hệ thống cung cấp nước. Một vài môn thể thao thi đấu ngoài địa phận Bắc Kinh như môn bóng đá ở Tần Hoàng Đảo, Thượng Hải, Thẩm Dương và Thiên Tân; đua thuyền ở Thanh Đảo; và vì "tình trạng bấp bênh của các bệnh dịch ở ngựa và một số khó khăn chính trong việc thiết lập khu cách ly bệnh", môn đua ngựa diễn ra ở Hồng Kông. ==== Sân vận động quốc gia Bắc Kinh ==== Sân vận động quốc gia Bắc Kinh là nơi diễn ra những sự kiện chính của Olympic mùa hè 2008, thường được gọi là sân vận động "tổ chim" do hình dáng của nó. Việc xây dựng sân Tổ chim bắt đầu vào ngày 24 tháng 12 năm 2000. Sân vận động Quảng Đông đã được thiết kế, xây dựng và hoàn tất vào năm 2001 cho thế vận hội, nhưng Bắc Kinh quyết định xây dựng 1 sân vận động mới. Các quan chức chính phủ Trung Quốc đã kêu gọi các nhà thiết kế trên thế giới cùng tranh tài thiết kế kiến trúc cho sân vận động mới này. Công ty Thuỵ Sĩ Herog & de Meuron Architekten AG cộng tác với Tập đoàn Xây dựng và Khảo sát Trung Quốc đã thắng. Sân vận động có khung bê tông như đan chéo nhau với sức chứa hơn 90.000 người. Ban đầu, kiến trúc sư mô tả thiết kế tổng thể tương tự như tổ chim với tầm nhìn trải rộng và mái vòm co rút phía trên khán đài. Tuy nhiên, vào năm 2004, mái vòm đã không được triển khai vì một số lý do kinh tế và an toàn. Sân vận động quốc gia Bắc Kinh là nơi diễn ra lễ khai mạc và bế mạc của thế vận hội 2008, nơi thi đấu môn điền kinh và hai trận chung kết môn bóng đá. Làng vận động viên Olympic Bắc Kinh mở cửa vào ngày 16 tháng 7 năm 2008 và cho phép tham quan từ ngày 26 tháng 7 năm 2008. === Giao thông === Để chuẩn bị cho thế vận hội, hệ thống tàu điện ngầm Bắc Kinh mở rộng, tăng gấp đôi kích cỡ và công suất hoạt động so với trước. Hệ thống cũ bao gồm 4 tuyến đường tàu và 64 trạm. 7 tuyến mới và hơn 80 trạm mới đã được xây dựng, bao gồm tuyến đường nối trực tiếp thành phố với sân bay quốc tế của thủ đô Bắc Kinh. Ngay tại sân bay, có 11 xe lửa tự động hoạt động, mỗi xe chứa khoảng 83 hành khách, giúp giải quyết nhu cầu di chuyển giữa các ga hàng không. Hầu hết các phương tiện giao thông này sẽ được vận hành từ ngày 30 tháng 6, năm 2008, một tháng trước ngày khai mạc thế vận hội. Vào tháng 1, năm 2007, Ủy ban tổ chức thế vận hội Bắc Kinh (viết tắt là BOCOG) thông báo rằng xe điện ngầm sẽ gắn thêm màn hình tivi trong suốt kỳ thế vận hội để hành khách theo dõi những tin tức và sự kiện mới nhất xảy ra tại Olympic Bắc Kinh 2008; đồng thời, mạng lưới sóng di động cũng có thể hoạt động, giúp hành khách có thể sử dụng phương tiện liên lạc trong ga tàu điện ngầm. Vào ngày mùng 1 tháng 8, năm 2008, Ga Xe lửa Nam Bắc Kinh đã hoạt động lại sau 2 năm nâng cấp. Tuyến xe lửa liên tỉnh Bắc Kinh - Thiên Dương dài 120 km cũng được khánh thành cùng ngày, nối ga mới với thành phố đồng đăng cai - Thiên Tân với tốc độ di chuyển 350 km/h, cao nhất thế giới hiện nay. Theo Tổng cục Quản lý Hàng không dân dụng Trung Quốc, 5 cấp báo động mới cho thời tiết xấu và an toàn bay sẽ được bổ sung tại sân bay. Hệ thống này được thiết kế nhằm đảm bảo độ an toàn khi di chuyển cho hơn 3 triệu khách tham quan trong nước và quốc tế đổ đến Bắc Kinh tại kỳ thế vận hội lần này. Đối với đường bộ, Bắc Kinh lập ra 38 tuyến xe bus công cộng chính nối các địa điểm thi đấu Olympic với nhau. 2.500 xe buýt cỡ lớn và 4.500 xe buýt nhỏ, được hơn 8.000 lái xe điều khiển làm nhiệm vụ chuyên chở khán giả giữa các khu thi đấu. Trước khi thế vận hội diễn ra, hệ thống giao thông công cộng của thành phố cũng đã được điều chỉnh lại, để hợp lý hóa hơn 110 tuyến xe bus đã tồn tại từ trước. Các vận động viên, các vị khách mời của Ủy ban Olympic và giới truyền thông sẽ được chuyên chở trong thành phố bởi đội xe 5.000 chiếc Volkswagen "tiết kiệm nhiên liệu, và thải ít khí thải". Bắc Kinh cũng đã tạm thời thiết lập hệ thống điều chỉnh lưu lượng giao thông theo biển số xe để cải thiện tình trạng ô nhiễm không khí của thành phố. Hệ thống chính thức được áp dụng từ ngày 20 tháng 6 năm 2008, và sẽ được kéo dài trong hai tháng, từ ngày 20 tháng 6 cho đến ngày 20 tháng 9. Tùy vào số cuối cùng của biển số xe là số chẵn hay số lẻ mà xe sẽ chỉ được ra đường vào ngày chẵn hay ngày lẻ. Biện pháp này hy vọng có thể làm giảm khoảng 45% lưu lượng trong tổng số 3.3 triệu xe thường xuyên di chuyển trên đường phố Bắc Kinh. Ngoài ra, 300.000 xe cũ thải nhiều khí thải sẽ bị cấm từ ngày mùng 1 tháng 7, kế hoạch cũng cấm phần lớn các xe cộ đến từ ngoài Bắc Kinh vào thành phố. Việc tăng cường hệ thống giao thông công cộng hy vọng có thể đảm bảo được việc đi lại của hành khách, ước tính tăng khoảng hơn 4 triệu người hàng ngày trong kỳ đại hội, so với thường nhật. === Quảng bá hình ảnh === ==== Biểu trưng ==== Biểu tượng chính thức của Olympic Bắc Kinh 2008 được ra mắt chính thức vào ngày mùng 3 tháng 8, năm 2003 trong buổi lễ tại Thiên Đàn được tổ chức bởi Ủy ban tổ chức Thé vận hội lần thứ 29 Bắc Kinh (第29届奥林匹克运动会组织委员会 - Đệ nhị thập cửu giới áo lâm thất khắc vận động hội tổ chức ủy viên hội, gọi tắt là 北京奥组委 - Bắc Kinh áo tổ ủy). Biểu tượng chính thức của thế vận hội, tên gọi là "Bắc Kinh nhảy múa" (舞动的北京), gồm một chữ tượng hình thể hiện một hình nhân nhảy múa, dựa theo chữ kinh (京) được viết cách điệu như bản in của một chiếc ấn Trung Hoa, để nói đến thủ đô của nước chủ nhà. Phía dưới là năm vòng tròn của lá cờ Olympic, biểu tượng của phong trào Olympic, và chữ Beijing 2008 (Bắc Kinh 2008) được viết cách điệu theo thư pháp Trung Hoa. ==== Linh vật ==== Linh vật chính thức của Thế vận hội mùa hè lần này là 5 Bé Phúc (福娃 Fúwá). Chúng được Cơ quan quốc gia ngiên cứu văn học cổ điển Trung Hoa giới thiệu vào ngày 11 tháng 11 năm 2005, đúng một nghìn ngày trước khi khai mạc Olympic 2008. 5 Phúc Oa là: Bối Bối (贝贝), Tinh Tinh (晶晶), Hoan Hoan (欢欢), Nghênh Nghênh (迎迎) và Ni Ni (妮妮). Nếu lấy âm đầu tiên của mỗi tên vừa rồi gắp lại với nhau, ta sẽ ghép được một câu có cách phát âm gần với « 北京欢迎你 - Běijīng huānyíng nǐ », có nghĩa là « Bắc Kinh chào đón bạn». Mỗi một bé Phúc mang một màu của phong trào Olympic. Đồng thời, mỗi một Bé Phúc cũng thể hiện một hành trong ngũ hành: Cô cá Bối Bối (贝贝), màu xanh nước biển thuộc mệnh Thuỷ. Chú gấu trúc Tinh Tinh (晶晶), màu đen thuộc mệnh Kim. Ngọn lửa Hoan Hoan (欢欢), màu đỏ thuộc mệnh Hoả. Chú sơn dương Tây Tạng Nghênh Nghênh (迎迎), màu vàng thuộc mệnh Thổ. Và chim yến Ni Ni (妮妮), màu xanh lá cây thuộc mệnh Mộc. ==== Khẩu hiệu ==== Ngày 26 tháng 6 năm 2005, BOCOG đã công bố khẩu hiệu của Olumpic lần này là « Cùng một thế giới, chung một ước mơ » (Tiếng Hoa: 同一个世界 同一个梦想; Tiếng Anh: One World, One Dream) » . Khẩu hiệu mong muốn mọi người áp dụng tinh thần Olympic để tham gia xây dựng một tương lai rực rỡ hơn cho nhân loại. Khẩu hiệu này đã được chọn trong tổng số hơn 210 000 ý tưởng được gửi đến từ khắp nơi trên thế giới. ==== Bài hát chính thức ==== Bài hát chính thức đầu tiên được phát hành mang tên 'We Are Ready' (Chúng tôi đã sẵn sàng), đúng một năm trước khi Thế vận hội 2008 chính thức khởi tranh. Bài hát được 133 nghệ sĩ đến từ Hồng Kông, Đài Loan, Trung Hoa lục địa, Singapore và Hàn Quốc thể hiện. Bài hát thứ hai được phát hành mang tên Bắc Kinh đón chào bạn (tiếng Trung Quốc: 北京歡迎你, giản thể: 北京欢迎你, Bính âm: Beijing huanying ni, Hán Việt: Bắc Kinh hoan nghênh nhĩ, tiếng Anh: Beijing Welcomes You) là bài hát nhân dịp đếm ngược 100 ngày đến Olympic của Thế vận hội Mùa hè 2008 tổ chức tại Bắc Kinh. Bài hát được trình bày bởi 100 ca sĩ nổi tiếng đến từ các nước Trung Hoa đại lục, Đài Loan, Hồng Kông, Hàn Quốc, Nhật Bản và Singapore. Video của bài hát chiếu những nơi nổi tiếng ở khắp khu vực Bắc Kinh. Lời bài hát được sáng tác bởi nhạc sĩ người Hồng Kông, Lâm Tịch và nhạc được sáng tác bởi nhạc sĩ người Trung Quốc, Tiểu Kha. Còn bài hát được hát ở lễ khai mạc Bắc Kinh 2008 là bài Bạn và tôi (我和你) được thể hiện qua giọng ca của cặp nghệ sĩ Lưu Hoan và Sarah Brightman. === Phát sóng truyền hình === Thế vận hội lần này là kỳ Olympic đầu tiên mà chương trình thi đấu được sản xuất và phát sóng trên truyền hình hoàn toàn theo chuẩn HDTV. == Hành trình rước đuốc == === Ngọn đuốc của thế vận hội 2008 === Thiết kế của ngọn đuốc Olympic dựa trên cuộn giấy truyền thống và sử dụng thiết kế truyền thống gọi là "tường vân" (tường của cát tường). Ngọn đuốc có thể giữ lửa trong điều kiện sức gió là 65 km/h, nhiệt độ -40 độ C và dưới cơn mưa có lượng nước 50mm/h. Hành trình rước đuốc, với tên gọi "Chuyến hành trình hợp nhất" kéo dài 130 ngày với đoạn đường dài 137.000 km, hành trình dài nhất trong lịch sử các cuộc rước đuốc tại thế vận hội từ năm 1936 tại Đức. Tại một số quốc gia trên tuyến đường, ngọn đuốc đã gặp nhiều người biểu tình chống các chính sách của chính phủ Trung Quốc. Theo tạp chí Times, đây là "thảm hoạ tuyên truyền" cho Trung Quốc, với lời cáo buộc về việc vi phạm nhân quyền tại đất nước Trung Quốc, đặc biệt là khu vực Tây Tạng. === Hành trình rước đuốc === Ngọn đuốc được đưa từ ngày 24/3/2008, bắt đầu từ đỉnh Olympia tại Hy Lạp. Tiếp đó, ngọn đuốc băng qua Hy Lạp đến sân vận động Panathinaiko tại thủ đô Athens, đến Bắc Kinh ngày 31/3/2008. Từ Bắc Kinh, ngọn đuốc bắt đầu chuyến du hành qua khắp các châu lục, ngoại trừ Nam Cực, ghé qua các thành phố nằm trên con đường tơ lụa, con đường nối liền Trung Quốc với phần còn lại của thế giới xưa. Khoảng 21.880 người, được tuyển chọn bởi nhiều tổ chức, tham gia rước đuốc. Ngọn lửa thiêng Olympic được đem đến đỉnh Everest theo đoạn dường "cao tốc" dài 108 km nằm 1 bên ngọn núi, phía giáp với cao nguyên Tây Tạng, được xây dựng riêng cho cuộc rước đuốc. Dự án trị giá 19.7 triệu đô này kéo dài từ địa phận Tingri của quận Xigazê đến trại dừng chân dưới chân núi Everest. Vào tháng 3 năm 2008, Trung Quốc đã cấm các nhà leo núi đến khu vực này; sau đó, Trung Quốc thuyết phục chính phủ Nepal đóng cửa khu vực núi Everest thuộc lãnh thổ Nepal, chính thức bày tỏ mối lo ngại về môi trường tại khu vực. Việc này cũng cho thấy Trung Quốc lo ngại các nhà hoạt động tại Tây Tạng có thể gây ra những bất lợi cho quá trình rước đuốc lên "nóc nhà thế giới". Ban đầu, ngọn đuốc dự định sau khi qua Việt Nam sẽ đến Đài Loan rồi về Hương Cảng. Tuy nhiên, chính phủ Đài Loan đã bác bỏ đề nghị trên, cho rằng lộ trình qua Đài Loan hiện diện như một phần lộ trình nội địa trên đất nước Trung Hoa, không phải là lộ trình quốc tế. Việc quốc kỳ và quốc ca của Trung Hoa Dân quốc bị cấm dọc theo lộ trình cũng là một phần của lời bác bỏ. Đài Loan và Trung Quốc đều đổ lỗi cho nhau vì lôi vấn đề chính trị vào sự kiện quốc tế này. == Thế vận hội == === Lễ khai mạc === Lễ khai mạc Thế vận hội Mùa hè 2008 diễn ra tại Sân Vận Động Quốc gia Bắc Kinh vào ngày mùng 8 tháng 8, năm 2008 lúc 8 giờ tối (giờ Trung Quốc, múi giờ UTC+8). Con số 8 mang ý nghĩa thịnh vượng và tự tin trong truyền thống văn hoá Trung Hoa. Buổi lễ được đạo diễn bởi nhà làm phim Trương Nghệ Mưu với sự tham gia trình diễn của 15.000 diễn viên. Bề dày văn hoá nghệ thuật Trung Hoa cổ bao quát lễ khai mạc. Bắt đầu bằng tiếng trống Fou đếm lùi thời gian, cuộn giấy khổng lồ bất thình lình hiện ra và trở thành sân khấu chính của buổi biểu diễn. Bài hát chính thức của Olympic 2008, tựa đề "Bạn và Tôi" vang lên với giọng ca của nữ ca sĩ người Anh Sarah Brightman và nam danh ca Trung Quốc Lưu Hoan. Cựu vận động viên Lý Ninh được vinh dự nhóm lên ngọn lửa thiêng tại sân vận động quốc gia. Thứ tự diễu hành của các đoàn vận động viên cũng khác biệt so với những lễ khai mạc trước đây. Thay vì tiến vào sân vận động theo thứ tự bảng chữ cái La-tinh, các đoàn vận động viên (từ nhỏ đến lớn) diễu hành theo số nét trong tên theo phiên âm tiếng Hoa của quốc gia mình. Ví dụ như Australia (một trong những đoàn đầu tiên theo thứ tự thông thường) trở thành đoàn cuối cùng bước vào sân vận động vì chữ đầu tiên trong tên của quốc gia này (澳大利亚, Hoa giản thể) có 16 nét. Đất nước của truyền thống Olympic Hy Lạp diễu hành đầu tiên và nước chủ nhà Trung Quốc sau cùng cũng là một điểm đáng lưu ý. Cả thế giới nhìn nhận buổi lễ khai mạc "ngoạn mục và phi chính trị". Nhưng một vài chi tiết kỹ xảo được sử dụng cũng đã bị phanh phui sau buổi lễ. Đầu tiên là màn pháo hoa mà khán giả truyền hình được chứng kiến bao gồm nhiều hình ảnh được vẽ trước bằng đồ họa vi tính và ghép vào đoạn phim, do Ban tổ chức vì lý do an ninh đã quyết định không cho máy bay trực thăng bay quanh sân vận động để quay cảnh này. Tiếp sau là sự kiện cố bé Lâm Diệu Khả, ca sĩ nhí hát bài Ca xướng tổ quốc trong lễ khai mạc, bị phát hiện hát nhép. Người trình diễn ca khúc này là một bé gái khác, tên là Dương Bái Nghi, có chất giọng hoàn hảo nhưng không được lên hình do bị sún răng và có ngoại hình kém hơn Lâm Diệu Khả. Chi tiết không chính xác cuối cùng bị phát hiện là việc hình ảnh 56 em nhỏ rước lá cờ Trung Hoa tiến vào Sân vận động, trong đó có 55 em mặc các trang phục khác nhau của các dân tộc thiểu số Trung Quốc, dù đã tuyên bố em nhỏ mặc sắc phục của dân tộc nào đều chính xác là người dân tộc đó, nhưng thật ra, tất cả các em đều là người Hán. Hơn 100 nhà cầm quyền cấp cao, các nguyên thủ quốc gia và chủ tịch nước cùng 170 Bộ trưởng Bộ Thể thao đã tham dự trong lễ khai mạc Olympic Bắc Kinh 2008. === Lễ bế mạc === Lễ khai mạc Thế vận hội Mùa hè 2008 diễn ra tại Sân Vận Động Quốc gia Bắc Kinh vào ngày mùng 24 tháng 8, năm 2008 lúc 8 giờ tối (giờ Trung Quốc, múi giờ UTC+8). Trong buổi lễ cũng có lễ bàn giao quyền tổ chức Thế vận hội giữa Bắc Kinh và Luân Đôn. Ông Quách Kim Long, Thị trưởng Bắc Kinh, đã trao lại lá cờ Olympic cho vị thị trưởng London là ông Boris Johnson, kèm theo sau đó là màn trình diễn ngắn của các nghệ sĩ Anh quốc do Ủy ban tổ chức Thế vận hội London (London Organising Committee for the Olympic Games - LOGOG) thực hiện. === Các đoàn tham dự Thế vận hội 2008 === Sau buổi lễ khai mạc diễn ra ngày 08 tháng 8, năm 2008, 205 quốc gia có Ủy ban Olympic (trừ Brunei) đã cử đoàn vận động viên tham gia tranh tài ở các nội dung. Trung Quốc và Mỹ là 2 đoàn lớn nhất với số lượng thành viên lần lượt là 639 và 539 người. Một số quốc gia chỉ cử 1 vận động viên làm đại diện tham dự Olympic. Thế vận hội lần này chào đón sự tham dự của 3 thành viên mới lần đầu tham dự là: quần đảo Marshall, Montenegro, và Tuvalu. Vận động viên bơi lội Nam Phi Natalie du Toit, người đã giành được 5 huy chương vàng trong Thế vận hội dành cho người khuyết tật tại Athens năm 2004, đủ tiêu chuẩn để tranh tài tại Thế vận hội Olympic Bắc Kinh, trở thành vận động viên khuyết tật đầu tiên đủ tiêu chuẩn tham gia thi đấu tại thế vận hội (sau vận động viên Olivér Halassy vào năm 1936). Một vận động viên khác là Natalia Partyka (cụt cẳng tay phải bẩm sinh) tham gia tranh tài nội dung bóng bàn cho tuyển Ba Lan. == Các môn thể thao == == Lịch thi đấu == Sau đây là lịch thi đấu chính thức tại Thế vận hội Mùa hè 2008. == Bảng tổng sắp huy chương == == Sự kiện nổi bật == Vận động viên bơi lội Hoa Kỳ Michael Phelps phá vỡ kỷ lục số huy chương vàng đạt được trong một Thế vận hội sau khi đoạt được huy chương vàng thứ 8 tại Bắc Kinh. Vận động viên điền kinh Jamaica Usain Bolt đoạt huy chương vàng trong môn chạy cự ly 100 mét và 200 mét tại Thế vận hội, phá vỡ kỷ lục thế giới với thời gian 9,69 và 19,30 giây. Trong kỳ Thế vận hội này, lần đầu tiên có ba VĐV khuyết tật đạt đủ điều kiện để tham gia tranh tài cùng những VĐV bình thường là VĐV bơi lội Natalie du Toit và VĐV điền kinh Oscar Pistorius, cả hai đều là người Nam Phi và VĐV bóng bàn Natalia Partyka người Ba Lan. Trung Quốc lần đầu tiên trong lịch sử giữ vị trí nhất bảng tổng sắp Huy chương vàng toàn đoàn một Thế vận hội Mùa hè với 51 HCV, bỏ cách đoàn xếp thứ hai là Hoa Kỳ (từng nhiều năm đứng đầu bảng) tới 15 HCV, tuy tổng số huy chương đoạt được thua đoàn Hoa Kỳ. Một phần của thành tích này là thực lực của Trung Quốc, nhưng một phần thành tích này có được do vị thế của nước chủ nhà. == Chú thích == == Liên kết ngoài == Trang chủ của Thế vận hội Mùa hè Bắc Kinh 2008 Trang chủ của Ủy ban Olympic Quốc tế về Bắc Kinh 2008
con gái (mối quan hệ).txt
Con gái là đứa con mang giới tính nữ, tức đứa bé gái hoặc người phụ nữ trong mối quan hệ với cha mẹ của cô ta. Ngược với con gái là con trai. Trong các xã hội theo chế độ phụ hệ, con gái trong gia đình thường được hưởng ít quyền hơn hoặc hưởng quyền khác biệt so với con trai. Nhiều gia đình thường thích có con trai hơn con gái, và con gái là đối tượng của nạn giết trẻ gái. Có những xã hội còn có tục "bán" con gái cho người trả tiền mua dâu. Ngược lại với tục này là tục gia đình nhà gái trả một khoản tiền để bồi thường cho gánh nặng tài chính mà cô dâu mang tới cho nhà chồng trong những xã hội mà ở đó phụ nữ không ra ngoài làm việc; khoản tiền đó được gọi là của hồi môn. Thông thường, tỷ số giới tính khi sinh là cứ 100 bé gái thì có 104 đến 106 bé trai. Tuy nhiên, tại một số nước ở châu Á, tỷ lệ này cao hơn hẳn. Từ cuối thập niên 1970, con số này bắt đầu tăng lên tại Trung Quốc, Hàn Quốc, Ấn Độ,...khi các cặp vợ chồng biết giới tính thai nhi trước khi sinh nhờ kỹ thuật mới. Tỷ số giới tính khi sinh của Trung Quốc tăng đến 122,8 trẻ trai/100 trẻ gái vào năm 2010. Trong khi đó, tỷ số này ở Việt Nam năm 2012 là 112,3, tăng liên tục so với mức 110,5 theo Tổng điều tra dân số 2009, 107 (1999), 106 (1989) và 105 (1979). == Tham khảo ==
quần đảo pitcairn.txt
25°04′0″N 130°06′0″T Quần đảo Pitcairn (tiếng Pitkern: Pitkern Ailen), tên gọi chính thức: Pitcairn, Henderson, Ducie và Oeno, là một quần đảo nằm ở Nam Thái Bình Dương. Quần đảo là lãnh thổ hải ngoại của Anh (thuộc địa cũ của Anh), là vùng đất cuối cùng của Anh ở Thái Bình Dương. Chỉ có Đảo Pitcairn - đảo lớn thứ nhì - là có người ở. Quần đảo nổi tiếng nhất do nó là ngôi nhà của những hậu duệ của những người nổi loạn trên tàu Bounty và những người Tahiti đi cùng họ, một sự kiện được thuật lại trong nhiều cuốn sách và phim truyện. Câu chuyện vẫn còn rõ ràng do họ của nhiều cư dân trên đảo. Với chỉ 50 cư dân (từ chín gia đình), Pitcairn cũng đáng chú ý vì là vùng đất có chính quyền ít dân nhất thế giới (mặc dù nó không phải là quốc gia độc lập). Ủy ban Liên Hiệp Quốc về Phi thuộc địa hóa liệt Quần đảo Pitcairn vào Danh sách các Vùng lãnh thổ không có chính quyền tự trị của Liên Hiệp Quốc. == Chú thích == == Liên kết ngoài == Pitcairn Island trên trang WikiMapia Lonely Planet WorldGuide profile Bloody history of empire's last outpost BBC News examines the settlement's history, including the 2004 sex-abuse trial. ccTLD registry Editorial story of travel writer Dea Birkett's time on Pitcairn Island News accounts of Pitcairn sexual abuse trial: (ABC) (New Zealand Herald) Official Website of the Pitcairn Government Google Listing of.PN sites Pitcairn Islands Philatelic Bureau Pitcairn Philatelic Bureau & Stamps at NZ Post Pitcairn Islands Study Center Pitcairn Islands Study Group Pitcairn Island Website Who's Who on Pitcairn - Names, ages, and photos of residents Nice photos by a visitor Screensaver and videos from Pitcairn Video of a visit to Pitcairn Island in June 2004 Map of Pitcairn Island Archaeological project on Pitcairn Island Simon Winchester on Pitcairn, in Travel Intelligence Living interminably on the periphery by Alkan Chaglar Island Evolution: Pitcairn Island from NASA Earth Observatory The general info about the Island from The CIA World Factbook Pitcairn Islands - Pitcairn Islands at Britlink. Profile from the British Foreign & Commonwealth Office
đức.txt
Đức (tiếng Đức: Deutschland, phát âm [ˈdɔʏtʃlant]), tên chính thức là Cộng hòa Liên bang Đức (tiếng Đức: Bundesrepublik Deutschland, ), là một nước cộng hòa nghị viện liên bang nằm tại Trung-Tây Âu. Liên bang gồm có 16 bang, có diện tích là 357.021 km² và có khí hậu theo mùa phần lớn là ôn hòa. Dân số của Đức vào khoảng 82 triệu, là quốc gia thành viên đông dân nhất trong Liên minh châu Âu. Đức là quốc gia có nhiều người nhập cư thứ nhì thế giới, sau Hoa Kỳ theo số liệu năm 2014. Thủ đô và vùng đô thị lớn nhất của Đức là Berlin. Các thành phố lớn khác gồm có Hamburg, München, Köln, Frankfurt, Stuttgart và Düsseldorf. Các bộ lạc German khác nhau cư trú tại miền bắc của nước Đức ngày nay từ thời đại cổ điển. Một khu vực mang tên Germania được ghi lại trước năm 100 TCN. Trong Giai đoạn Di cư, các bộ lạc German bành trướng về phương nam. Bắt đầu vào thế kỷ 10, các lãnh thổ của người Đức hình thành bộ phận trung tâm của Đế quốc La Mã Thần thánh. Trong thế kỷ 16, các khu vực miền bắc Đức trở thành trung tâm của Cải cách Tin Lành. Năm 1871, Đức trở thành một quốc gia dân tộc khi hầu hết các quốc gia Đức thống nhất trong Đế quốc Đức do Phổ chi phối. Sau Chiến tranh thế giới thứ nhất và Cách mạng Đức 1918-1919, Đế quốc này bị thay thế bằng Cộng hòa Weimar theo chế độ nghị viện. Chế độ độc tài quốc xã được hình thành vào năm 1933, dẫn tới Chiến tranh thế giới thứ hai và một nạn diệt chủng. Sau một giai đoạn Đồng Minh chiếm đóng, hai nước Đức được thành lập: Cộng hòa Liên bang Đức và Cộng hòa Dân chủ Đức. Năm 1990, quốc gia được tái thống nhất. Trong thế kỷ 21, Đức là một đại cường quốc và có kinh tế lớn thứ tư thế giới theo GDP danh nghĩa, lớn thứ năm theo sức mua tương đương. Đức đứng hàng đầu thế giới trong một số lĩnh vực công nghiệp và công nghệ, và là nước xuất khẩu và nhập khẩu đều ở vị trí lớn thứ ba thế giới (2015). Đức là một quốc gia phát triển, có tiêu chuẩn sinh hoạt rất cao được duy trì nhờ một xã hội có kỹ năng và năng suất. Liên bang này duy trì một hệ thống an ninh xã hội và chăm sóc y tế phổ quát, bảo vệ môi trường và giáo dục đại học miễn học phí. Đức là một thành viên sáng lập của Liên minh châu Âu vào năm 1993, là bộ phận của Khu vực Schengen, và trở thành đồng sáng lập của Khu vực đồng euro vào năm 1999. Đức là một thành viên của Liên Hiệp Quốc, NATO, G8, G20 và OECD. Chi tiêu quân sự quốc gia của Đức cao thứ chín thế giới. Đức có lịch sử văn hóa phong phú, liên tục sản sinh nhiều nhân vật có ảnh hưởng trong nghệ thuật, triết học, âm nhạc, thể thao, giải trí, khoa học, kỹ thuật và phát minh. == Tên gọi == Tên gọi của nước Đức trong tiếng Việt bắt nguồn từ tên gọi của nước Đức trong tiếng Trung. Trong tiếng Trung nước Đức được gọi là “德意志” (âm Hán Việt: Đức Ý Chí), gọi tắt là “德國” (Đức quốc). Thuật ngữ Deutschland trong tiếng Đức, ban đầu là diutisciu land ("các vùng người Đức") có nguồn gốc từ deutsch (tương tự dutch), bắt nguồn từ tiếng Thượng Đức Cổ diutisc "dân", ban đầu được sử dụng để phân biệt ngôn ngữ của thường dân khỏi tiếng Latinh và các hậu duệ của nó. Đến lượt mình, nó lại bắt nguồn từ tiếng German nguyên thủy *þiudiskaz "dân", từ *þeudō, bắt nguồn từ tiếng Ấn-Âu nguyên thủy *tewtéh₂- "người", từ "Teuton" cũng bắt nguồn từ đó. Từ Germany trong tiếng Anh bắt nguồn từ Germania trong tiếng Latinh- là từ được sử dụng sau khi Julius Caesar chọn nó để chỉ các dân tộc phía đông sông Rhine. == Lịch sử == Việc phát hiện Di cốt Mauer cho thấy rằng người cổ đại hiện diện tại Đức từ ít nhất là 600.000 năm trước. Các vũ khí săn bắn hoàn thiện cổ nhất được phát hiện trên thế giới nằm trong một mỏ than tại Schöningen, tại đó khai quật được ba chiếc lao bằng gỗ có niên đại 380.000 năm. Thung lũng Neandertal là địa điểm phát hiện di cốt người phi hiện đại đầu tiên từng biết đến; loài người mới được gọi là Neanderthal. Các hóa thạch Neanderthal 1 được cho là 40.000 năm tuổi. Bằng chứng về người hiện đại, có niên đại tương tự, được phát hiện trong các hang tại Dãy Schwäbische Alb gần Ulm. Trong những vật tìm thấy có các sáo bằng xương chim và ngà voi ma mút 42.000 năm tuổi- là các nhạc cụ cổ nhất từng phát hiện được, Tượng người sư tử thời đại băng hà 40.000 năm tuổi là nghệ thuật tạo hình không thể tranh luận cổ nhất từng phát hiện được, và Tượng Venus ở Hohle Fels 35.000 năm tuổi là nghệ thuật tạo hình con người không thể tranh luận cổ nhất từng phát hiện được. Đĩa bầu trời Nebra là một đồ tạo tác bằng đồng điếu được tạo ra trong thời đại đồ đồng châu Âu được quy cho một địa điểm gần Nebra, Sachsen-Anhalt. Nó nằm trong Chương trình Ký ức Thế giới của UNESCO. === Các bộ lạc German và Đế quốc Frank === Các bộ lạc German được cho là có niên đại từ Thời đại đồ đồng Bắc Âu hoặc Thời đại đồ sắt tiền La Mã. Từ miền nam Scandinavia và miền bắc Đức ngày nay, họ bành trướng về phía nam, đông và tây từ thế kỷ 1 TCN, tiếp xúc với các bộ lạc Celt tại Gallia, cũng như với các bộ lạc Iran, Balt, Slav tại Trung và Đông Âu. Dưới thời Augustus, La Mã bắt đầu xâm chiếm khu vực Germania (tức khu vực có cư dân chủ yếu là người German). Năm 9 CN, ba quân đoàn La Mã dưới quyền Varus thất bại trước thủ lĩnh Arminius của bộ lạc Cherusker. Đến năm 100 CN, khi Tacitus viết sách Germania, các bộ lạc German đã định cư dọc Sông Rhine và Sông Danube, chiếm hầu hết lãnh thổ Đức ngày nay; tuy nhiên Áo, Baden-Württemberg, miền nam Bayern, miền nam Hesse và miền tây Rheinland là các tỉnh của La Mã. Đến thế kỷ 3, một số lượng lớn các bộ lạc Tây German nổi lên: Alemanni, Frank, Chatti, Sachsen, Frisii, Sicambri và Thuringii. Khoảng năm 260, các dân tộc German đột nhập vào các khu vực do La Mã kiểm soát. Sau cuộc xâm chiếm của người Hung vào năm 375, và La Mã suy tàn từ năm 395, các bộ lạc German di chuyển xa hơn về phía tây-nam. Một vài bộ lạc lớn được hình thành đồng thời tại khu vực nay là Đức và thay thế hoặc hấp thu các bộ lạc German nhỏ hơn. Các khu vực lớn được biết đến từ giai đoạn Merowinger với tên gọi Austrasia, Neustria, và Aquitaine bị người Frank chinh phục, họ lập ra Vương quốc Frank. và bành trướng hơn nữa về phía đông nhằm khuất phục Sachsen và Bayern. Các khu vực nay là phần đông của Đức là nơi các bộ lạc Tây Slav cư trú: Sorb, Veleti và liên minh Obotrit. === Đông Frank và Đế quốc La Mã Thần thánh === Năm 800, Quốc vương Frank Charlemagne đăng quang hoàng đế và lập ra Đế quốc Karoling, đế quốc này tồn tại đến năm 843 thì bị các người thừa kế của ông phân chia. Sau khi Vương triều Frank tan vỡ, lịch sử Đức trong vòng 900 năm gắn chặt với lịch sử của Đế quốc La Mã Thần thánh, là thế lực nổi lên sau đó từ phần phía đông đế quốc ban đầu của Charlemagne. Lãnh thổ ban đầu được gọi là Đông Frank trải dài từ Sông Rhine ở phía tây đến Sông Elbe ở phía đông, và từ Biển Bắc đến Dãy Alpen. Những quân chủ của vương triều Otto (919–1024) hợp nhất một số công quốc lớn và Quốc vương người German/Đức Otto I đăng quang Hoàng đế La Mã Thần thánh của các khu vực này vào năm 962. Năm 996, Giáo hoàng Grêgôriô V trở thành giáo hoàng người Đức đầu tiên, do người họ hàng của ông là Otto III bổ nhiệm- không lâu sau đăng quang Hoàng đế La Mã Thần thánh. Đế quốc La Mã Thần thánh sáp nhập miền bắc Ý ngày nay và khu vực Bourgogne nay thuộc Pháp dưới thời trị vì của các hoàng đế thuộc gia tộc Salier (1024–1125), song các hoàng đế mất đi quyền lực do tranh luận phong chức với giáo hội. Trong thế kỷ 12, dưới thời các hoàng đế thuộc gia tộc Staufer (1138–1254), các vương công Đức thay vào đó gia tăng ảnh hưởng của họ về phía nam và phía đông đến các lãnh thổ mà người Slav cư trú; họ khuyến khích người Đức định cư tại các khu vực này, gọi là phong trào định cư miền đông là (Ostsiedlung). Các thành viên của Liên minh Hanse hầu hết là các thành thị miền bắc Đức, họ thịnh vượng nhờ mở rộng mậu dịch. Tại phương nam, Công ty Mậu dịch Đại Ravensburg (Große Ravensburger Handelsgesellschaft) giữ chức năng tương tự. Hoàng đế Karl IV hành hành sắc chỉ Goldene Bulle vào năm năm 1356, tạo cấu trúc hiến pháp cơ bản của Đế quốc, và hệ thống hóa tuyển cử hoàng đế bởi bảy tuyển đế hầu- những người cai trị một số thân vương quốc và tổng giáo phận mạnh nhất. Dân số suy giảm trong nửa đầu thế kỷ 14, bắt đầu từ nạn đói lớn năm 1315, tiếp đến là Cái chết Đen năm 1348–50. Tuy vậy, các nghệ sĩ, kỹ sư và nhà khoa học Đức phát triển một loạt các kỹ thuật tương tự như thứ được các nghệ sĩ và nhà thiết kế Ý sử dụng vào đương thời, những người phát triển hưng thịnh tại các thành bang thương nghiệp như Venezia, Firenze và Genova. Các trung tâm nghệ thuật và văn hóa khắp các quốc gia Đức sản sinh các nghệ sĩ như họa sĩ Hans Holbein và con trai, và Albrecht Dürer. Johannes Gutenberg giới thiệu in ấn kiểu di động đến châu Âu, một bước phát triển đặt cơ sở để truyền bá kiến thức đến đại chúng. Năm 1517, tu sĩ Martin Luther công khai hóa 95 luận đề, thách thức Giáo hội Công giáo La Mã và khởi xướng Cải cách Tin Lành. Năm 1555, Hòa ước Augsburg công nhận Giáo hội Luther là một lựa chọn có thể chấp thuận cho Công giáo La Mã, song cũng ra sắc chỉ rằng đức tin của vương công là đức tin của các thần dân của ông ta, một nguyên tắc gọi là "lãnh địa của ai thì tôn giáo theo người đó". Thỏa thuận tại Augsburg thất bại trong việc xác định các đức tin tôn giáo khác: chẳng hạn đức tin Cải cách vẫn bị cho là dị giáo và nguyên tắc không giải quyết khả năng cải đạo của một người thống trị giáo hội, như từng diễn ra tại Tuyển hầu quốc Köln vào năm 1583. Từ Chiến tranh Köln cho đến khi kết thúc Chiến tranh Ba mươi Năm (1618–1648), xung đột tôn giáo tàn phá các vùng đất Đức. Chiến tranh Ba mươi Năm làm giảm dân số tổng thể của các quốc gia Đức đến khoảng 30%, và lên đến 80% tại một số nơi. Hòa ước Westfalen kết thúc chiến tranh tôn giáo giữa các quốc gia Đức. Các quân chủ Đức có thể lựa chọn Công giáo La Mã, Giáo hội Luther hay đức tin Cải cách làm tôn giáo chính thức của họ sau năm 1648. Trong thế kỷ 18, Đế quốc La Mã Thần thánh gồm có khoảng 1.800 lãnh thổ. Hệ thống pháp lý phức tạp khởi đầu từ một loạt cải cách (khoảng 1450–1555) tạo ra các lãnh thổ đế quốc, và tạo ra quyền tự trị địa phương đáng kể tại các quốc gia tăng lữ, thế tục và thế tập, được phản ánh tại Quốc hội Đế quốc. Gia tộc Habsburg nắm giữ đế vị từ năm 1438 cho đến khi Karl VI mất vào năm 1740. Do không có nam giới thừa kế, ông thuyết phục các tuyển đế hầu duy trì quyền bá chủ của gia tộc Habsburg đối với chức hoàng đế bằng việc chấp thuận một chiếu thư vào năm 1713. Điều này cuối cùng được giải quyết nhờ Chiến tranh Kế vị Áo; theo Hiệp ước Aix-la-Chapelle, chồng của Công chúa Maria Theresa trở thành Hoàng đế La Mã Thần thánh, còn bà cai trị đế quốc với thân phận hoàng hậu. Từ năm 1740, cạnh tranh giữa Vương triều Habsburg Áo và Vương quốc Phổ chi phối lịch sử Đức. Năm 1772, sau đó là vào năm 1793 và 1795, hai quốc gia Đức chiếm ưu thế là Phổ và Áo, cùng với Đế quốc Nga thỏa thuận phân chia Ba Lan với nhau. Kết quả là, hàng triệu cư dân nói tiếng Ba Lan thuộc quyền thống trị của hai chế độ quân chủ Đức. Tuy nhiên, các lãnh thổ bị sáp nhập vào Phổ và Áo không được nhìn nhận về pháp lý là bộ phận của Đế quốc La Mã Thần thánh. Trong thời kỳ Chiến tranh Cách mạng Pháp, cùng với việc xuất hiện thời kỳ Napoléon và sau đó là phiên họp cuối cùng của Quốc hội Đế quốc, hầu hết các thành phố đế quốc tự do thế tục được sáp nhập vào lãnh thổ của các vương triều; các lãnh thổ tăng lữ bị thế tục hóa và sáp nhập. Năm 1806, Đế quốc La Mã Thần thánh bị giải thể; các quốc gia Đức, đặc biệt là các quốc gia Rheinland, nằm dưới ảnh hưởng của Pháp. Cho đến năm 1815, Nga, Phổ và Vương triều Habsburg cạnh tranh quyền bá chủ trong các quốc gia Đức thời Chiến tranh Napoléon. === Bang liên và Đế quốc Đức === Sau khi Napoléon thất bại, Đại hội Wien (triệu tập vào năm 1814) hình thành Bang liên Đức (Deutscher Bund), một liên minh không chặt chẽ của hàng chục quốc gia có chủ quyền. Hoàng đế Áo được bổ nhiệm làm tổng thống vĩnh viễn của Bang liên, phản ánh việc Đại hội không chấp thuận ảnh hưởng của Phổ trong các quốc gia Đức, và làm trầm trọng cạnh tranh trường kỳ giữa quyền lợi của gia tộc Hohenzollern cai trị Phổ và gia tộc Habsburg cai trị Áo. Bất đồng về kết quả của Đại hội góp phần khiến các phong trào tự do nổi lên, tiếp đó là các biện pháp đàn áp mới của chính khách Áo Metternich. Liên minh thuế quan Zollverein xúc tiến thống nhất kinh tế trong các quốc gia Đức. Các tư tưởng dân tộc và tự do của Cách mạng Pháp được ủng hộ ngày càng tăng trong nhiều người Đức, đặc biệt là thanh niên. Lễ hội Hambach vào tháng 5 năm 1832 là một sự kiện chính nhằm ủng hộ thống nhất Đức, tự do và dân chủ. Trong bối cảnh một loạt phong trào cách mạng diễn ra tại châu Âu, lập ra một cộng hòa tại Pháp, giới trí thức và thường dân bắt đầu tiến hành cách mạng tại các quốc gia Đức vào năm 1848. Quốc vương Friedrich Wilhelm IV của Phổ được đề nghị tước hiệu hoàng đế song với quyền lực hạn chế; ông bác bỏ đế vị và đề xuất hiến pháp, dẫn đến một bước lùi tạm thời cho phong trào. Quốc vương Wilhelm I bổ nhiệm Otto von Bismarck làm Thủ tướng Phổ vào năm 1862. Bismarck kết thúc thắng lợi chiến tranh với Đan Mạch vào năm 1864, giúp xúc tiến lợi ích của Đức tại bán đảo Jylland. Tiếp đến là thắng lợi quyết định của Phổ trong chiến tranh với Áo vào năm 1866, cho phép Bismarck lập ra Bang liên Bắc Đức (Norddeutscher Bund) không bao gồm Áo. Sau khi Pháp thất bại trong Chiến tranh Pháp-Phổ, các vương công Đức tuyên bố thành lập Đế quốc Đức vào năm 1871 tại Versailles, thống nhất toàn bộ các bộ phận rải rác của Đức ngoại trừ Áo. Phổ là quốc gia cấu thành chi phối đế quốc mới; Quốc vương Phổ thuộc gia tộc Hohenzoller cai trị Đức với thân phận Hoàng đế, và Berlin trở thành thủ đô của đế quốc. Trong giai đoạn Gründerzeit sau khi Thống nhất nước Đức, chính sách ngoại giao của Thủ tướng Đức Bismarck dưới quyền Hoàng đế Wilhelm I là đảm bảo vị thế đại quốc của Đức bằng các liên minh giả mạo, cô lập Pháp theo các cách thức ngoại giao, và tránh chiến tranh. Dưới thời Wilhelm II, Đức tương tự các cường quốc châu Âu khác bước vào tiến trình chủ nghĩa đế quốc, dẫn đến xích mích với các quốc gia láng giềng. Hầu hết các liên minh mà Đức tham gia trước đó không được gia hạn. Kết quả là hình thành một liên minh kép với Đế quốc Áo-Hung đa dân tộc. Sau đó, Liên minh Tam cường 1882 có thêm Ý, hoàn thành một liên minh địa lý Trung Âu, thể hiện lo ngại của người Đức, Áo và Ý trước khả năng Pháp và/hoặc Nga xâm nhập chống lại họ. Tương tự, Anh, Pháp và Nga cũng dàn xếp liên minh nhằm bảo vệ họ chống lại can thiệp của Vương triều Habsburg đến các quyền lợi của Nga tại Balkan hay Đức can thiệp chống Pháp. Tại Hội nghị Berlin vào năm 1884, Đức yêu sách một vài thuộc địa gồm Đông Phi thuộc Đức, Tây-Nam Phi thuộc Đức, Togoland và Kamerun. Sau đó, Đức bành trướng đế quốc thực dân của minh thêm đến Tân Guinea thuộc Đức, Micronesia thuộc Đức và Samoa thuộc Đức tại Thái Bình Dương, và Vịnh Giao Châu tại Trung Quốc. Từ năm 1904 đến năm 1907, chính phủ thực dân Đức tại Tây-Nam Phi (nay là Namibia) ra lệnh tiêu diệt người bản địa Herero và Namaqua. Vụ ám sát thái tử của Áo vào ngày 28 tháng 6 năm 1914 tạo cớ để Đế quốc Áo-Hung tấn công Serbia và kích hoạt Chiến tranh thế giới thứ nhất. Sau bốn năm giao tranh, có khoảng hai triệu binh sĩ Đức bị giết, một thỏa thuận đình chiến tổng thể kết thúc giao tranh vào ngày 11 tháng 11, và các binh sĩ Đức trở về quê. Trong Cách mạng Đức tháng 11 năm 1918, Hoàng đế Wilhelm II và toàn bộ các vương công cai trị tại Đức phải thoái vị. Ban lãnh đạo chính trị mới của Đức ký kết Hòa ước Versailles vào năm 1919. Theo hiệp định này, Đức với tư cách là bộ phận của Liên minh Trung tâm chấp thuận chiến bại trước Đồng Minh. Người Đức nhận định hiệp định này là điều sỉ nhục và bất công, và sau này được các sử gia cho là ảnh hưởng đến việc Adolf Hitler vươn lên. Sau khi chiến bại trong Chiến tranh thế giới thứ nhất, Đức bị mất khoảng 30% lãnh thổ của họ tại châu Âu (các khu vực này có cư dân chủ yếu là người thuộc dân tộc Ba Lan, Pháp và Đan Mạch), và toàn bộ thuộc địa tại châu Phi và Thái Bình Dương. === Cộng hòa Weimar và Đức Quốc xã === Đức được tuyên bố là một nước cộng hòa vào đầu Cách mạng Đức tháng 11 năm 1918. Đến ngày 11 tháng 8 năm 1919, Tổng thống Friedrich Ebert ký Hiến pháp Weimar dân chủ. Trong đấu tranh quyền lực tiếp sau, phái cộng sản cánh tả cấp tiến đoạt quyền tại Bayern, song các thành phần bảo thủ tại các địa phương khác của Đức nỗ lực lật đổ Cộng hòa trong Kapp Putsch. Nó nhận được ủng hộ từ một bộ phận trong Reichswehr (quân sự) và các phái bảo thủ, dân tộc và bảo hoàng khác. Sau một giai đoạn náo loạn có giao tranh đổ máu trên đường phố tại các trung tâm công nghiệp lớn, binh sĩ Bỉ và Pháp chiếm đóng Ruhr và lạm phát gia tăng với đỉnh điểm là lạm phát phi mã năm 1922-1923, một kế hoạch tái cơ cấu nợ và tạo một tiền tệ mới vào năm 1924 mở ra Thập niên 20 hoàng kim, một thời kỳ gia tăng sáng tạo nghệ thuật và sinh hoạt văn hóa tự do. Tuy nhiên, bên dưới đó lại tạo ra luồng tư tưởng oán hận và thất vọng về Hòa ước Versailles, được nhìn nhận phổ biến là đâm sau lưng, tạo cơ sở tư tưởng bài Do Thái trong các thập niên sau. Các sử gia mô tả giai đoạn từ 1924 đến 1929 là "ổn định cục bộ". Đại khủng hoảng toàn cầu lan đến Đức vào năm 1929. Sau bầu cử liên bang vào năm 1930, chính phủ của Thủ tướng Heinrich Brüning được Tổng thống Paul von Hindenburg trao quyền hành động mà không cần nghị viện phê chuẩn. Chính phủ của Brüning theo đuổi chính sách khắc khổ tài chính và giảm lạm phát, dãn đến tỷ lệ thất nghiệp cao đến gần 32% vào năm 1932. Đảng Quốc xã dưới quyền lãnh đạo của Adolf Hitler giành thắng lợi trong bầu cử liên bang đặc biệt năm 1932. Sau một loạt các nội các thất bại, Hindenburg bổ nhiệm Hitler làm thủ tướng của Đức vào năm 1933. Sau vụ hỏa hoạn tại Tòa nhà Quốc hội vào cùng năm, một sắc lệnh bãi bỏ các dân quyền cơ bản và trong vài tuần trại tập trung Quốc xã tại Dachau được mở cửa. Đạo luật Cho quyền năm 1933 trao cho Hitler quyền lực lập pháp không bị hạn chế; sau đó, chính phủ của ông tạo ra một nhà nước toàn trị tập trung hóa, rút khỏi Hội Quốc Liên sau một cuộc trưng cầu dân ý quốc gia, và bắt đầu tái vũ trang quân sự. Sử dụng chi tiêu thâm hụt, một chương trình do chính phủ bảo trợ nhằm khôi phục kinh tế tập trung vào các dự án công trình công cộng. Trong các dự án công trình cộng cộng vào năm 1934, 1,7 triệu người Đức lập tức có công việc, trao cho họ thu nhập và phúc lợi xã hội. Dự án nổi tiếng nhất là đường bộ cao tốc gọi là autobahn. Các dự án xây dựng chủ yếu khác gồm các hạ tầng thủy điện như Đập Rur, cung cấp nước như Đập Zillierbach, và trung tâm vận chuyển như Ga Zwickau Hauptbahnhof. Trong 5 năm tiếp theo, tỷ lệ thất nghiệp giảm mạnh và lương trung bình theo giờ và theo tuần đều tăng lên. Năm 1935, chế độ Quốc xã rút khỏi Hòa ước Versailles và áp dụng Luật Nürnberg nhắm mục tiêu vào người Do Thái và các dân tộc thiểu số khác. Đức cũng giành lại quyền kiểm soát Saar vào năm 1935, sáp nhập Áo vào năm 1938, và chiếm đóng Tiệp Khắc vào đầu năm 1939 bất chấp Hiệp ước München. Tháng 9 năm 1939, chính phủ của Hitler đàm phán và ký kết Hiệp ước Molotov–Ribbentrop theo đó phân chia Đông Âu thành các khu vực ảnh hưởng của Đức và Liên Xô. Sau hiệp ước này, vào ngày 1 tháng 9 năm 1939 Đức xâm chiếm Ba Lan, đánh dấu bắt đầu Chiến tranh thế giới thứ hai. Phản ứng trước hành động của Hitler, Anh và Pháp tuyên chiến với Đức. Đến mùa xuân năm 1940, Đức chinh phục Đan Mạch và Na Uy, Hà Lan, Bỉ, Luxembourg, và Pháp. Anh Quốc đẩy lui các cuộc không kích của Đức trong Không chiến tại Anh Quốc vào cùng năm. Đến năm 1941, binh sĩ Đức xâm chiếm Nam Tư, Hy Lạp và Liên Xô. Đến năm 1942, Đức và các thế lực Phe Trục khác kiểm soát hầu hết châu Âu lục địa và Bắc Phi, song từ sau chiến thắng của Liên Xô trong Trận Stalingrad, Đồng Minh tái chiếm Bắc Phi và xâm chiếm Ý vào năm 1943, quân Đức chịu các thất bại quân sự liên tiếp. Đến tháng 6 năm 1944, Đồng Minh phương Tây đổ bộ tại Pháp và Liên Xô tiến vào Đông Âu. Sau khi Hitler tự sát trong Trận Berlin, quân đội Đức đầu hàng vào ngày 8 tháng 5 năm 1945, kết thúc Chiến tranh thế giới thứ hai tại châu Âu. Trong các hành động mà về sau được gọi là Holocaust, chính phủ Đức ngược đãi các cộng đồng thiểu số và sử dụng một hệ thống trại tập trung và hành quyết trên khắp châu Âu để tiến hành diệt chủng những người mà họ cho là thuộc chủng tộc hạ đẳng. Tổng cộng, có trên 10 triệu thường dân bị sát hại có hệ thống, trong đó có sáu triệu người Do Thái, từ Đức và các quốc gia bị Đức chiếm đóng. Chính sách của Quốc xã tại các quốc gia bị Đức chiếm đóng gây ra cái chết của 2,7 triệu người Ba Lan, 1,3 triệu người Ukraina, và ước tính lên đến 2,8 triệu tù binh Liên Xô. Số binh sĩ Đức tử vong do chiến tranh ước tính là 3,2-5,3 triệu, và có đến 2 triệu thường dân Đức thiệt mạng. Khoảng 12 triệu người dân tộc Đức bị trục xuất khỏi Đông Âu (gồm lãnh thổ bị mất). Đức phải nhượng lại khoảng một phần tư lãnh thổ trước chiến tranh của mình. Sau chiến tranh, nhiều cựu thành viên của chế độ Quốc xã bị xét xử vì tội ác chiến tranh tại Tòa án Nürnberg. === Đông và Tây Đức === Sau khi Đức đầu hàng, Đồng Minh phân chia Berlin và lãnh thổ còn lại của Đức thành bốn khu vực chiếm đóng quân sự. Các khu vực miền tây do Pháp, Anh và Hoa Kỳ kiểm soát được hợp nhất vào ngày 23 tháng 5 năm 1949 để hình thành Cộng hòa Liên bang Đức (Bundesrepublik Deutschland); đến ngày 7 tháng 10 năm 1949, khu vực do Liên Xô chiếm đóng trở thành Cộng hòa Dân chủ Đức (Deutsche Demokratische Republik). Hai quốc gia lần lượt được gọi không chính thức là "Tây Đức" và "Đông Đức". Đông Đức chọn Đông Berlin làm thủ đô, còn Tây Đức chọn Bonn làm thủ đô lâm thời, nhằm nhấn mạnh lập trường của mình rằng giải pháp hai nhà nước là một tình trạng nhân tạo và tạm thời. Tây Đức là một nước cộng hòa nghị viện liên bang, theo "kinh tế thị trường xã hội". Bắt đầu vào năm 1948 Tây Đức trở thành một quốc gia nhận viện trợ tái thiết chính trong Kế hoạch Marshall và sử dụng viện trợ này để tái thiết ngành công nghiệp của mình. Konrad Adenauer được bầu làm thủ tướng liên bang (Bundeskanzler) đầu tiên của Đức vào năm 1949 và vẫn giữ chức vụ này cho đến năm 1963. Dưới quyền lãnh đạo của ông và Ludwig Erhard, Tây Đức có tăng trưởng kinh tế dài hạn bắt đầu vào đầu thập niên 1950, được cho là một "kì tích kinh tế" (Wirtschaftswunder). Tây Đức gia nhập NATO vào năm 1955 và là một thành viên sáng lập của Cộng đồng Kinh tế châu Âu vào năm 1957. Đông Đức là một quốc gia thuộc Khối phía Đông, nắm dưới quyền kiểm soát chính trị và quân sự của Liên Xô thông qua lực lượng chiếm đóng và Khối Warszawa. Mặc dù Đông Đức tự nhận là một quốc gia dân chủ, song quyền lực chính trị do các thành viên Bộ chính trị của Đảng Xã hội chủ nghĩa Thống nhất Đức độc quyền thi hành, được hỗ trợ từ cơ quan an ninh mật Stasi. Một nền kinh tế chỉ huy theo kiểu Liên Xô được lập nên và Đông Đức trở thành một quốc gia thuộc Hội đồng Tương trợ Kinh tế SEV. Tuyên truyền của Đông Đức dựa trên quyền lợi của các chương trình xã hội do chính phủ thực hiện, và liên tục cáo buộc mối đe dọa về Tây Đức xâm chiếm, song nhiều công dân của Đông Đức nhìn nhận phương Tây đại diện cho tự do và thịnh vượng. Bức tường Berlin được xây dựng vào năm 1961 ngằm ngăn người Đông Đức đào thoát sang Tây Đức, nó trở thành một tượng trưng cho Chiến tranh Lạnh. Sự kiện bức tường này sụp đổ vào năm 1989 trở thành một tượng trưng cho chủ nghĩa cộng sản sụp đổ, tái thống nhất Đức và bước ngoặt tại Đông Đức (Die Wende). Căng thẳng giữa Đông Đức và Tây Đức giảm thiểu vào đầu thập niên 1970 do chính sách mới của Thủ tướng Willy Brandt đối với phía Đông. Trong mùa hè năm 1989, Hungary quyết định phá Bức màn sắt và mở cửa biên giới, khiến hàng nghìn người Đông Đức nhập cư đến Tây Đức qua Hungary. Điều này có tác động tàn phá đến Đông Đức, tại đây các cuộc tuần hành đại chúng định kỳ nhận được ủng hộ ngày càng lớn. Nhà đương cục Đông Đức nới lỏng hạn chế biên giới, cho phép công dân Đông Đức đi sang Tây Đức; ban đầu nhằm giúp duy trì Đông Đức, song việc mở cửa biên giới thực tế dẫn đến tăng tốc chương trình cải cách Wende. Đỉnh điểm của chương trình này là Hiệp ước 2 + 4 vào ngày 12 tháng 9 năm 1990, theo đó bốn thế lực chiếm đóng từ bỏ mọi quyền lợi của họ theo Văn kiện Đầu hàng trước đây, và Đức thu hồi chủ quyền đầy đủ. Điều này cho phép Tái thống nhất Đức vào ngày 3 tháng 10 năm 1990, khi Cộng hòa Liên bang Đức tiếp nhận năm bang tái lập của Cộng hòa Dân chủ Đức cũ. === Nước Đức Thống nhất === Nước Đức thống nhất được nhìn nhận là sự mở rộng thêm Cộng hòa Liên bang Đức và không phải là một quốc gia kế thừa. Do đó, họ duy trì toàn bộ tư cách thành viên của Tây Đức trong các tổ chức quốc tế. Dựa theo Đạo luật Berlin/Bonn được thông qua vào năm 1994, Berlin lại trở thành thủ đô của nước Đức tái thống nhất, trong khi Bonn duy trì vị thế duy nhất là một Bundesstadt (thành phố liên bang) giữ lại một số bộ của liên bang. Việc di chuyển chính phủ hoàn thành vào năm 1999. Sau bầu cử năm 1998, chính trị gia Gerhard Schröder của SPD trở thành thủ tướng đầu tiên của một liên minh đỏ-lục với đảng Liên minh 90/Đảng Xanh. Hiện đại hóa và hội nhập kinh tế miền đông nước Đức là một quá trình lâu dài, được dự trù kéo dài cho đến năm 2019, với chuyển khoản hàng năm từ miền tây sang miền đông lên đến khoảng 80 tỷ USD. Kể từ khi tái thống nhất, Đức giữ một vai trò tích cực hơn trong Liên hiệp châu Âu. Cùng với các đối tác châu Âu, Đức ký kết Hiệp ước Maastricht vào năm 1992, lập ra Khu vực đồng euro vào năm 1999, và ký kết Hiệp ước Lisbon vào năm 2007. Đức phái một lực lượng duy trì hòa bình đi đảm bảo ổn định tại Balkan và phái một lực lượng binh sĩ Đức đến Afghanistan trong một nỗ lực của NATO nhằm cung cấp an ninh tại đó sau khi Taliban bị lật đổ. Các hành động triển khai này gây tranh luận do Đức hạn chế do luật của Đức chỉ cho phép triển khai binh sĩ trong vai trò phòng thủ. Sau bầu cử năm 2005, Angela Merkel trở thành nữ thủ tướng đầu tiên của Đức với vị thế là thủ lĩnh một đại liên minh. Năm 2009, chính phủ Đức phê chuẩn một kế hoạch kích thích kinh tế trị giá 50 tỷ euro nhằm bảo vệ một vài lĩnh vực khỏi suy thoái. Năm 2009, một liên minh tự do-bảo thủ dưới quyền Angela Merkel nắm quyền lãnh đạo quốc gia. Năm 2013, một đại liên minh được lập ra trong nội các thứ ba của Angela Merkel. Trong số các dự án chính trị lớn của Đức vào đầu thế kỷ 21 có tiến bộ của hội nhập châu Âu, chuyển đổi năng lượng (Energiewende) sang nguồn cung cấp năng lượng bền vững, các biện pháp nhằm tăng tỷ lệ sinh, và các chiến lược công nghệ cao nhằm chuyển đổi tương lai nền kinh tế Đức, tổng kết là Công nghiệp 4.0. Đức chịu tác động từ khủng hoảng di cư châu Âu năm 2015 khi quốc gia này trở thành điểm đến cuối cùng trong lựa chọn của hầu hết di dân vào EU. Quốc gia này tiếp nhận trên một triệu người tị nạn và phát triển một hệ thống hạn ngạch nhằm tái phân bổ các di dân khắp các bang của mình dựa trên thu nhập từ thuế và mật độ dân cư hiện hữu. == Địa lý == === Vị trí === Nước Đức nằm trong Trung Âu, giữa 47°16′15″ và 55°03′33″ vĩ độ bắc và 5°52′01″ và 15°02′37″ kinh độ đông. Về phía bắc Đức có ranh giới với Đan Mạch (có chiều dài 67 km), về phía đông-bắc là Ba Lan (442 km), về phía đông là Séc 811 km), về phía đông nam là Áo (815 km không kể ranh giới trên hồ Bodensee), về phía nam là Thụy Sĩ (316 km, với biên giới của lãnh thổ bên ngoài (tiếng Anh: exclave) Büsingen nhưng không kể ranh giới trên hồ Bodensee), về phía tây nam là Pháp (448 km), về phía tây là Luxembourg (135 km) và Bỉ (156 km) và về phía tây bắc là Hà Lan (567 km). Chiều dài ranh giới tổng cộng là 3.757 km. Trong khi ở phía tây-Bắc bờ biển của biển Bắc và ở phía đông-Bắc là biển Baltic tạo thành biên giới quốc gia tự nhiên thì về phía nam nước Đức là một phần của dãy núi Alpen. Lãnh thổ bên ngoài duy nhất của Đức là Büsingen nằm trong vùng thượng lưu sông Rhein thuộc về huyện Konstanz của bang Baden-Württemberg. Büsingen có diện tích là 7,62 km² và được bao bọc hoàn toàn bởi 3 bang là Schaffhausen, Thurgau và Zürich. Ngoài ra còn có Kleinwalsertal thuộc Áo và nếu bằng đường bộ hay bằng đường thủy thì chỉ xuyên qua lãnh thổ quốc gia Đức mới có thể đến được. === Điểm trung tâm và các điểm ngoài cùng của Đức === Theo Sách thống kê hằng năm Đức (Statistisches Jahrbuch Deutschland – thời điểm năm 2000) điểm trung tâm về địa lý của Đức nằm trong làng Niederdorla thuộc bang Thüringen, giữa đoạn đường từ Erfurt đến Göttingen, trên 51°09´54´´ vĩ độ bắc và 10°27´19´´ kinh độ đông. Điểm cực bắc của Đức nằm trên bán đảo Elenbogen thuộc đảo Sylt, điểm cực bắc trên đất liền của quốc gia nằm trên bờ biển tây của bang Schleswig-Holstein tại Rickelsbüller Koog, điểm cực nam là Haldenwanger Eck nằm về phía nam của Oberstdorf (Bayern) trên núi Alpen. Từ Ellenbogen đến Haldenwanger Eck là khoảng 886 km (đường chim bay). Điểm cực tây của Đức nằm trong bang Nordrhein-Westfalen, không xa Isenbruch (là địa danh cực tây của quốc gia), điểm cực đông nằm giữa Neißeaue-Deschka (làng cực đông của quốc gia) và Neißeaue-Zentendorf trong một vòng cung của sông Neiße. Từ Isenbruch đến vòng cung này của sông Neiße gần Zentendorf là tròn 636 km (đường chim bay). === Địa hình === Địa hình thay đổi đặc biệt là theo hướng từ Bắc vào Nam vì địa thế có chiều hướng cao hơn và dốc hơn về phía nam. Phần miền Bắc của nước Đức, vùng đồng bằng Bắc Đức, là một vùng đồng bằng mà phần lớn được tạo thành từ thời kỳ Băng hà, kế tiếp về phía nam là vùng đồi núi có rừng ở trung tâm và các phần đất miền Nam của Đức. Đặc biệt là tại bang Bayern nhưng cũng ở tại bang Baden-Württemberg địa hình này chuyển tiếp đến vùng Alpenvorland Bắc tương đối cao, vùng mà sau đấy lại chuyển tiếp đến vùng núi cao của dãy núi Alpen. === Địa chất === Nước Đức đa dạng về địa chất. Trong khi các địa hình mang dấu ấu của thời kỳ Băng hà, các vùng đất thấp và các lưu vực sông chỉ thành hình từ niên đại Phân đại đệ Tam thì vùng đồi núi trung bình có niên đại lâu đời hơn rất nhiều. Các vùng đồi núi đã bị xói mòn, ví dụ như vùng Rừng Đen (Schwarzwald), đã hình thành từ thời Đại Cổ sinh và được cấu thành chủ yếu từ loại đá xâm nhập (tiếng Anh: plutonic rock) như đá gơnai và granite. Vùng Rheinisches Schiefergebirge cũng có niên đại tương tự, được thành hình trong kỷ Silur và kỷ Devon. Tại ranh giới về phía bắc của vùng này còn có các thành hệ từ kỷ Than đá, trong đó vùng Ruhr có các mỏ than đá có trữ lượng lớn. Địa mạo miền Nam nước Đức phần lớn do những phát triển trong Đại Trung Sinh: trong khi Pfalz, Thüringen, nhiều phần của Bayern và Sachsen được tạo thành về mặt địa chất trong kỷ Trias thì vùng Schwäbische Alb và Fränkische Alb chạy ngang qua miền Nam nước Đức là kết quả của việc đáy biển nâng lên trong kỷ Juras. Các vùng được nhắc đến đầu tiên có sa thạch, các vùng sau có đá vôi là những thành hệ địa chất chiếm ưu thế. Hoạt động núi lửa không được quan sát thấy tại Đức. Tuy vậy, trong một số vùng vẫn có đá núi lửa xuất phát từ hoạt động núi lửa trước đây, đặc biệt là trong Vulkaneifel và trên Vogelsberg trong bang Hessen. Nước Đức nằm hoàn toàn trên mảng Á-Âu vì vậy không có những trận Động đất gây hậu quả nặng nề. Mặc dầu vậy đứt gãy Rhein (Rheingraben) thuộc bang Nordrhein-Westfalen được xếp vào vùng nguy hiểm động đất trung bình, kéo dài đến các nước láng giềng Bỉ và Hà Lan (đọc vùng động đất Kölner Bucht). === Sông ngòi === Nước Đức giáp biển Bắc tại các bang Niedersachsen và Schleswig-Holstein. Đây là một biển nằm trên thềm lục địa thuộc Đại Tây Dương. Cùng với eo biển Manche, vùng phía nam của biển Bắc là vùng biển có mật độ giao thông cao nhất thế giới. Các bang Mecklenburg-Vorpommern và Schleswig-Holstein nằm cạnh biển Baltic, là một biển nội địa được nối liền với biển Bắc qua eo biển Skagerrak. Độ thay đổi thủy triều ở biển Baltic ít hơn ở biển Bắc rất nhiều. Những sông chính là các sông Rhein, Donau, Elbe, Oder, Weser và Ems. Dài nhất trong các sông này là sông Donau (tiếng Anh: Danube). Với 2.845 km từ nơi giao lưu của hai sông Brigach và Breg và là nguồn của sông Donau tại Donaueschingen hay với 2.888 km từ nguồn của sông Breg tại vùng ranh của Rừng Đen (Schwazwald) sông Donau là sông dài thứ nhì trong châu Âu sau sông Volga. Thế nhưng chỉ một phần nhỏ của toàn bộ đoạn đường của sông Donau là chảy qua Đức (47 km). Sông Donau đổ ra biển Đen. Tất cả những sông Đức khác chảy ra biển Bắc hay biển Baltic. Đường phân thủy châu Âu qua nước Đức chạy về phía đông của vùng đồng bằng thượng lưu sông Rhein trên chỏm núi chính của vùng Rừng Đen. Trong những sông này sông Rhein chính là con sông có đoạn đường dài nhất trong nước Đức. Trong số 1.320 km đường sông có 865 km nằm trong nước Đức. Thêm vào đó sông này còn có một vai trò tạo cá tính riêng cho người Đức, được kết tụ từ lịch sử và nhiều thần thoại cũng như truyền thuyết. Chức năng kinh tế của con sông này cũng rất quan trọng: sông Rhein là một trong những đường thủy có mật độ giao thông nhiều nhất châu Âu. Sông Elbe bắt nguồn từ Riesengebirge (tiếng Séc: Krkonoše) tại biên giới của Séc và Ba Lan và đổ ra biển Bắc tại Cuxhaven sau khoản 1.165 km, trong đó là 725 km nằm trong nước Đức. Đã có thời gian sông này là một trong những sông bị ô nhiễm chất độc hại nhiều nhất châu Âu, nhưng trong thời gian gần đây chất lượng nước đã tốt hơn rõ rệt. Nguồn sông Oder nằm tại Beskiden (tiếng Séc: Beskydy) của Séc. Sau vài ki lô mét sông Oder chảy sang Ba Lan và trung lưu của nó chạy qua Schlesien (tiếng Ba Lan: Śląsk, tiếng Séc: Slezsko). Hạ lưu sông này tạo thành biên giới Đức-Ba Lan để rồi lại đổ vào vùng nước đông Stettin trong lãnh thổ Ba Lan. Qua eo biển Świna dòng sông này chảy qua giữa các đảo Usedom và Wollin đổ vào biển Baltic. Các hồ trong nước Đức phần lớn thành hình sau khi thời kỳ Băng hà chấm dứt. Do vậy mà đa số các hồ lớn nằm trong các vùng đã từng bị băng tuyết bao phủ hay vùng đất cạnh trước đó, đặc biệt là tại Mecklenburg và Alpenvorland. Hồ lớn nhất có phần thuộc Đức là Bodensee, hồ cũng là biên giới của Áo và Thụy Sĩ. Hồ lớn nhất hoàn toàn thuộc về lãnh thổ quốc gia của Đức là Müritz. === Núi và vùng thấp === Núi Alpen là dãy núi cao duy nhất mà một phần thuộc về nước Đức.Tại đấy là ngọn Zugspitze (2.962 m), ngọn núi cao nhất Đức. Vùng núi với độ cao trung bình có khuynh hướng cao dần và rộng ra từ Bắc xuống Nam. Ngọn núi cao nhất ở đấy là Feldberg trong vùng Rừng Đen (Schwarzwald) với 1.493 m, kế tiếp là Arber Lớn (Große Arber) trong Rừng Bayern (Bayerischer Wald) với 1.456 m. Ngoài ra, có các ngọn núi trên 1.000 m là các vùng Erzgebirge, Fichtelgebirge, Schwäbische Alb và trường hợp đặc biệt là Harz bị cô lập hẳn như là vùng đồi núi ở về phía bắc nhiều nhất trong các vùng đồi núi của nước Đức với ngọn Brocken nhô cao đến 1.142 m. Về phía bắc của đợt đồi núi này chỉ còn một vài thành hệ địa chất cao hơn 100 m, trong số đó có Hagelberg trong Fläming với 200 m là ngọn cao nhất. Địa điểm thấp nhất vẫn còn có thể đi được của Đức nằm dưới mực nước biển 3,54 m trong một vùng trũng gần Neuendorf-Sachsenbande trong Wilstermarsch (bang Schlewig-Holstein). Cũng nằm trong bang này là điểm thấp nhất với 39,10 m dưới mực nước biển nằm ở đáy của hồ Hemmelsdorf về phía bắc-đông bắc của Lübeck. Điểm nhân tạo thấp nhất với 293 m dưới mực nước biển nằm ở đáy của mỏ lộ thiên Hambach về phía đông của Jülich trong bang Nordrhein-Westfalen. === Đảo === So với chiều dài bờ biển thì Đức có một số lượng đảo đáng kể. Các đảo này trong biển Bắc phần lớn nằm trong dạng hình chuỗi trước đất liền. Chúng được chia ra thành các đảo bắc Friesen và đông Friesen, là một phần của bãi bồi Wattenmeer Đức. Các đảo bắc Friesen của Đức thuộc bang Schleswig-Holstein và bao gồm các đảo lớn Sylt, Föhr, Amrum và Pellworm cũng như là các đảo Hallig nhỏ hơn rất nhiều. Từ khi đắp đập Beltringharder Koog thì Nordrand đã trở thành một bán đảo. Các đảo đông Friesen thuộc bang Niedersachsen có độ lớn tương tự. Các đảo này hình thành từ những bãi cát bồi do tác động của sóng biển. Lớn nhất trong các đảo này là Borkum. Một trường hợp ngoại lệ là đảo Helgoland nằm ngoài khơi xa của biển Bắc. Các đảo trong biển Baltic nằm gần bờ biển Bodden của Đức có chiều hướng lớn hơn và có địa hình thay đổi nhiều hơn. Đảo lớn nhất trong các đảo này và đồng thời cũng là hòn đảo lớn nhất của Đức là Rügen, tiếp theo đó là Usedom mà đầu mũi đảo về phía đông đã thuộc về Ba Lan. Cũng như các đảo trên biển Bắc, các đảo của biển Baltic là điểm đến du lịch được ưa thích. Trong một số sông hồ nội địa Đức cũng có đảo mà trong đó được biết đến nhiều nhất là Mainau và Reichenau trên Bodensee cũng như là Herrenchiemsee trên Chiemsee. === Khí hậu === Nước Đức thuộc về vùng khí hậu ôn hòa Trung Âu, trong khu vực của vùng gió Tây và nằm trong khu vực chuyển tiếp giữa khí hậu biển trong Tây Âu và khí hậu lục địa trong Đông Âu. Ngoài những yếu tố khác, khí hậu chịu ảnh hưởng của dòng hải lưu Golfstream tạo nên những trị khí hậu ấm áp khác thường so với vị trí vĩ độ này. Điều kiện thời tiết khắt nghiệt như hạn hán kéo dài, gió xoáy (Tornado), băng giá lạnh với nhiệt độ cực thấp hay nóng cao độ tương đối hiếm. Thế nhưng thỉnh thoảng vẫn xuất hiện giông bão mà đã gây ra nhiều thiệt hại nặng như trong năm 2000 và 2002. Tại Đức cũng thường hay xảy ra nước lũ sau thời gian mưa nhiều trong mùa hè (lũ lụt Oder năm 1997, lũ lụt Elbe năm 2002) hay sau khi tan tuyết trong mùa đông mà có thể dẫn đến lụt và gây tàn phá nặng. Việc hay có nước lũ tại sông Rhein có thể là do việc đắp đập và đào thẳng sông Rhein trong thế kỷ 19 dưới sự lãnh đạo của Tulla đã xóa bỏ các vùng ngập nước tự nhiên trước kia của con sông này. Hạn hán chủ yếu chỉ xảy ra ở vùng đông bắc nước Đức nhưng đôi lúc cũng ảnh hưởng đến trên toàn nước Đức như lần cuối cùng là trong đợt nóng năm 2003. Số liệu khí hậu (giá trị trung bình của các năm 1961–1990): Tùy theo vùng mà các trị về khí hậu vượt quá hay thấp dưới giá trị trung bình về khí hậu của toàn nước Đức rất nhiều. Miền Nam Baden ghi nhận nhiệt độ trung bình cả năm cao nhất là 11 °C trong khi ở Oberstdorf trị trung bình nằm dưới 6 °C. Thêm vào đó một xu hướng nóng lên đang hình thành: theo số liệu của Deutscher Wetterdienst (Nha khí tượng quốc gia Đức) thì ngoại trừ năm 1996 nhiệt độ trung bình của tất cả các năm từ 1988 đều trên nhiệt độ trung bình lâu năm là 8,3 °C, trong năm 2003 còn đạt đến 9,9 °C. Đặc biệt là mùa hè đã nóng hơn rõ rệt. Thêm vào đó là mùa xuân cứ đến sớm hơn 5 ngày mỗi một thập niên. Chim di trú ở lại Đức lâu hơn gần 1 tháng so với thập niên 1970. Nhiệt độ thấp nhất từng được đo ở Đức là -45,9 °C được ghi nhận vào ngày 24 tháng 12 năm 2003 tại Funtensee. Nhiệt độ cao nhất cho đến nay là 40,3 °C vào ngày 8 tháng 8 năm 2003 tại Nennig. === Đất và sử dụng đất === Thành phần và chất lượng đất rất khác nhau tùy theo vùng. Tại miền Bắc Đức một vòng đai gần biển từ đất đầm lầy màu mỡ tạo cơ sở cho một nền nông nghiệp có sản lượng cao trong khi vùng đất cát nằm tiếp sau đó chịu nhiều ảnh hưởng của thời kỳ Băng hà chỉ có đất rất cằn cỗi. Tại Lüneburger Heide đất này đã bị thoái hóa trở thành đất podsol vì trồng cỏ qua nhiều thế kỷ nên gần như không còn có thể trồng trọt được nữa. Cũng rất cằn cỗi là các vùng băng tích cũ và mới có cát bồi tụ lại. Thí dụ như Brandenburg trong lịch sử đã nổi tiếng như là "hộp cát rải của Đế quốc La Mã Thần thánh". Giữa những vùng băng tích và vùng núi cao trung bình là một dãy đất hoàng sa màu mỡ chạy từ Tây sang Đông và được sử dụng nông nghiệp cao độ. Trong vùng núi cao trung bình ở miền trung nước Đức phần nhiều là đất không màu mỡ, phần lớn diện tích là rừng. Trong miền Nam nước Đức các vùng đất tốt đặc biệt là nằm dọc theo các sông Rhein, Main và Donau. Tổng cộng có 53,5% diện tích nước Đức là đất nông nghiệp, 29,5% diện tích là đất rừng, 12,3% diện tích là đất ở và đất giao thông (với xu hướng ngày càng tăng) và 1,8% diện tích là nước mặt. == Hệ thực vật và hệ động vật == === Hệ thực vật === Nước Đức nằm ở vùng khí hậu ôn hòa. Do vậy, hệ thực vật được đặc trưng bằng những rừng cây lá rộng và lá kim. Sự khác biệt về các đặc điểm địa hình, khí hậu theo từng khu vực tạo nên một hệ thực vật phong phú và đa dạng. Hệ thực vật tự nhiên từ tây sang đông đánh dấu quá trình thay đổi của khí hậu: Từ khí hậu đại dương phía tây sang khí hậu lục địa. Loại cây chủ yếu trong các rừng cây lá rộng là cây dẻ gai đỏ. Bên cạnh đó, những khu rừng ngập nước cạnh sông hồ(ngày càng ít dần) và rừng hỗn hợp các loại cây sồi, dẻ gai cũng là những loại rừng đặc trưng. Tiêu biểu cho khu vực núi Alpen và khu vực đồi núi miền trung là rừng khe núi dọc sông. Rừng trẻ được tạo thành từ các loại cây bạch dương và thông trên những vùng đất cát. Dĩ nhiên, những loại cây lá rộng rất phổ biến trước đây được thay thế bằng những rừng thông. Nếu như không có sự tác động của con người thì hệ thực vật ở Đức cũng như ở phần lớn các nước ở vùng khí hậu ôn hòa được tạo thành từ rừng, trừ những vùng đất trũng nhiễm phèn, vùng đầm lầy cũng như vùng núi cao thuộc dãy Alpen và khu vực lân cận, là vùng núi nghèo thực vật và có khí hậu lạnh ôn hòa đặc trưng. 29,5 phần trăm diện tích lãnh thổ Đức hiện nay là rừng. Như vậy, Đức là một trong những nước có nhiều rừng ở Liên minh châu Âu. Tuy nhiên, các loại cây rừng được xác định do mục đích sử dụng, tỉ lệ rừng thông không phù hợp với các điều kiện tự nhiên vốn thích hợp hơn cho các loại rừng dẻ gai hỗn hợp. Bên cạnh các loại cây bản địa thì một loạt các loại cây được nhập về trồng(như keo gai) cũng chiếm một vai trò quan trọng. Phần lớn đất hoang đã được sử dụng để trồng các loại cây lương thực và cây ăn trái như đại mạch, kiều mạch, lúa mạch đen, lúa mì, cũng như khoai tây và ngô được đưa về từ châu Mỹ. Ngoài ra còn có táo và cải dầu. Ở các Thung lũng sông của các sông như Morsel, Ahr và Rhein được cải tạo để trồng nho. Bảo tồn thiên nhiên là nhiệm vụ công cộng ở Đức, phục vụ mục đích của nhà nước, được quy định trong điều 20 của hiến pháp. Mục tiêu của việc bảo vệ thiên nhiên ở Đức là giữ gìn thiên nhiên và cảnh vật tự nhiên(chương 1 Luật Bảo vệ thiên nhiên của liên bang). Đối tượng quan trọng phải bảo vệ là cảnh vật tự nhiên, thực vật và động vật. Những khu vực và đối tượng quan trọng nhất được bảo vệ hiện nay là 14 vườn quốc gia, 19 khu dự trữ sinh quyền, 95 công viên tự nhiên cũng như hàng ngàn khu bảo tồn thiên nhiên, khu bảo tồn cảnh vật tự nhiên và di tích thiên nhiên. === Hệ động vật === Phần lớn các loại động vật có vú ở Đức sống trong các khu rừng lá rộng ôn hòa. Ở rừng có các loại chồn khác nhau, hươu đỏ, hươu hoang, lợn rừng, linh miêu và cáo. Hải li và rái cá là những động vật đã trở nên hiếm ở các khu rừng ngập nước, song gần đây số lượng của chúng lại phần nào có tăng. Các loại động vật có vú lớn khác từng sống ở Trung Âu đã bị diệt vong: Bò rừng châu Âu (vào khoảng năm 1470), gấu nâu (1835), nai sừng tấm (ở thời Trung cổ hãy còn nhiều), ngựa rừng (thế kỷ 19), bò bizon châu Âu (thế kỷ 17/18), sói (1904). Thời gian gần đây, thỉnh thoảng có một số nai sừng tấm, sói từ Ba Lan và Séc tới cư trú. Ở các nước đó, số lượng các loài vật này đã tăng trở lại. Trong trường hợp loài sói thậm chí đã hình thành những bầy đàn mới, đầu tiên ở vùng Sorben, thời gian vừa qua cả ở phía tây, kể từ khi vào năm 2000 con sói con đầu tiên được sinh ra. Vào tháng 3 năm 2010, một đàn bò bizon châu Âu được đưa vào cư trú ở vùng núi Rothaargebirge thuộc bang Nordrhein-Westfalen. Trong trường hợp sói và gấu nâu thì do một số điều phiền toái chúng đã gây ra trong thời gian qua làm cho việc quy hoạch cư trú cho chúng gặp vấn đề. Ở các vùng núi cao thuộc dãy Alpen có dê núi Alpen và sói mác-nốt. Ở vùng trung du như khu vực rừng Schwarzwald, khu vực Frankische Alp có sơn dương. Các loài bò sát quen thuộc nhất ở Đức gồm có rắn cỏ, rắn vipera berus (rắn lục), rùa orbicularis. Bên cạnh đó còn có các loài lưỡng cư như kỳ giông, ếch, cóc, cóc tía, kỳ nhông: Tất cả các loài này đã được đưa vào sách đỏ. Đại bàng đuôi trắng được xem là nguyên mẫu cho biểu tượng hình chim trên huy hiệu các vùng, miền lãnh thổ, hiện nay còn tới 500 đôi, chủ yếu sống ở vùng Mecklenburg-Vorpommern và Brandenburg. Đại bàng vàng chỉ có ở vùng núi Alpen thuộc bang Bayern, loài diều hâu ở đó đã bị diệt vong, song hiện nay đã lại có một số từ Áo và Thụy Sĩ tới cư trú. Các loài chim săn mồi phổ biến nhất ở Đức hiện nay là diều hâu thường và cắt lưng hung. Tuy nhiên số lượng cắt lớn lại ít đi một các rõ rệt. Hơn một nửa số chim ưng milvus được sinh ra ở Đức, song do sự phát triển của sản xuất nông nghiệp nên số lượng của chúng ngày càng giảm. Đáng lưu ý là có một số lượng lớn các loài chim sống dựa vào sự hiện diện của con người: Đó là các loài bồ câu, hoét thông thường, sẻ, bạc má, sống nhờ thức ăn công nghiệp mùa đông; cũng như quạ và mòng biển sống nhờ rác thải. Một điều đặc biệt là đàn chim hồng hạc ở phía bắc trong vùng rừng đầm lầy Zwillbrocker Venn. Cá hồi trước đây thường có ở các sông song gần như đã bị diệt vong ở khắp nơi do quá trình công nghiệp hóa vào thế kỷ 19, được thả nuôi trở lại ở sông Rhein vào những năm 80 của thế kỷ 20. Con cá tầm cuối cùng ở Đức bắt được vào năm 1969. Ở nhiều ao đầm được thả nuôi cá chép là loài cá mà người La Mã cổ đại đã mang đến. Hải cẩu sống ở Biển Bắc và Biển Baltic, có lúc gần như bị biến mất. Vừa qua có lại được khoảng mấy nghìn con ở Biển Wadden thuộc Biển Bắc. Hải cẩu xám đã có lúc hoàn toàn không còn nữa ở Bắc Âu do bị đánh bắt, song gần đây lại có nhiều và một số đã di chuyển tới vùng bờ biển của Đức. Biển Wadden có ý nghĩa lớn là nơi dừng chân của 10 đến 12 triệu chim di trú mỗi năm. Loài cá voi quen thuộc nhất của Biển Bắc và Biển Baltic là cá voi họ chuột, ngoài ra còn có 7 loại cá voi khác như: cá nhà táng, cá hố kình. Bên cạnh đó còn có loài cá heo mõm ngắn. Bên cạnh các loài thú bản địa thì một số lượng đáng kể các loài thú nhập cư đã tới sinh sống. Đại diện tiêu biểu nhất là gấu mèo châu Mỹ, lửng chó, vẹt cổ hồng và ngỗng Ai Cập. Các loài thú nhập cư khác là ngỗng Canada, đà điểu Nam Mỹ, tôm sông châu MỸ, ếch bò châu Mỹ, cừu núi châu Âu, cá rô gai. == Chính trị == Đức là một nước cộng hòa liên bang, nghị viện, và dân chủ đại diện. Hệ thống chính trị Đức được vận hành theo khuôn khổ được quy định trong văn bản hiến pháp năm 1949 mang tên Grundgesetz (Luật Cơ bản). Sửa đổi theo thường lệ cần có đa số hai phần ba của cả lưỡng viện quốc hội; các nguyên tắc cơ bản của hiến pháp được biểu thị trong các điều khoản về đảm bảo nhân phẩm, cấu trúc liên bang và pháp quyền có giá trị vĩnh viễn. Tổng thống là nguyên thủ quốc gia và chủ yếu được trao trách nhiệm và quyền lực tượng trưng. Ông được bầu ra bởi Bundesversammlung (hội nghị liên bang), một thể chế gồm các thành viên của Bundestag (Quốc hội) và một số lượng bình đẳng đại biểu từ các bang. Chức vụ cao thứ nhì theo thứ tự ưu tiên của Đức là Bundestagspräsident (Chủ tịch Bundestag), là người do Bundestag bầu ra và chịu trách nhiệm giám sát các phiên họp thường nhật của cơ cấu. Chức vụ cao thứ ba và người đứng đầu chính phủ là Thủ tướng, do Bundespräsident bổ nhiệm sau khi được Bundestag bầu ra. Thủ tướng Angela Merkel là người đứng đầu chính phủ từ năm 2005 và thi hành quyền lực hành pháp. Quyền lực lập pháp liên bang được trao cho quốc hội gồm có Bundestag (Viện Liên bang) và Bundesrat (Hội đồng Liên bang), tạo thành cơ cấu lập pháp. Bundestag được bầu thông qua tuyển cử trực tiếp theo đại diện tỷ lệ (thành viên hỗn hợp). Thành viên của Bundesrat đại diện cho chính phủ của mười sáu bang và là thành viên của các nội các cấp bang. Kể từ năm 1949, hệ thống chính đảng nằm dưới thế chi phối của Liên minh Dân chủ Cơ Đốc giáo và Đảng Dân chủ Xã hội Đức. Cho đến nay mọi thủ tướng đều là thành viên của một trong các đảng này. Tuy nhiên, Đảng Dân chủ Tự do (Đức) (có ghế trong nghị viện từ 1949 đến 2013) và Liên minh 90/Đảng Xanh (có ghế trong nghị viện từ 1983) cũng giữ vai trò quan trọng. Tỷ lệ nợ/GDP của Đức đạt đỉnh vào năm 2010 khi nó đạt 80,3% và giảm xuống kể từ đó. Theo Eurostat, tổng nợ chính phủ của Đức lên đến 2.152 tỷ euro hay 71,9% GDP vào năm 2015. Chính phủ liên bang đạt được thặng dư ngân sách 12,1 tỷ euro vào năm 2015. Các cơ quan xếp hạng tín dụng Standard & Poor's, Moody's và Fitch Ratings xếp hạng Đức ở mức cao nhất có thể là AAA với triển vọng ổn định vào năm 2016. === Pháp luật === Đức có hệ thống pháp luật dân sự dựa theo luật La Mã với một số tham khảo luật German cổ. Bundesverfassungsgericht (Tòa án Hiến pháp Liên bang) là tòa án tối cao của Đức chịu trách nhiệm về sự vụ hiến pháp, có quyền lực phúc thẩm tư pháp. Hệ thống tòa án tối cao của Đức gọi là Oberste Gerichtshöfe des Bundes và có tính chuyên biệt: đối với các vụ án dân sự và hình sự, tòa án kháng cáo cao nhất là Tòa án Tư pháp Liên bang, đối với các vụ án khác thì tòa án cao nhất là Tòa án Lao động Liên bang, Tòa án Xã hội Liên bang, Tòa án Tài chính Liên bang, và Tòa án Hành chính Liên bang. Pháp luật hình sự và cá nhân được hệ thống hóa ở cấp quốc gia lần lượt trong Strafgesetzbuch và Bürgerliches Gesetzbuch. Hệ thống hình phạt của Đức tìm cách cải tạo tội phạm và bảo vệ dân chúng. Ngoại trừ các vụ án nhỏ do một thẩm phán chuyên nghiệp xét xử, cũng như các tội chính trị nghiêm trọng, tất cả các cáo buộc được xét cử trước tòa án hỗn hợp, tại đó các thẩm phán không chuyên (Schöffen) ngồi cạnh các thẩm phán chuyên nghiệp. Nhiều vấn đề cơ bản trong pháp luật hành chính nằm dưới thầm quyền của cấp bang. === Các bang === Đức gồm mười sáu bang, chúng được gọi chung là Bundesländer. Mỗi bang có hiến pháp bang riêng của mình và phần lớn được tự trị về vấn đề tổ chức nội bộ. Do khác biệt về kích thước và dân số, phân cấp của các bang khác nhau, đặc biệt là giữa các thành bang (Stadtstaaten) và các bang có lãnh thổ lớn (Flächenländer). Vì mục đích hành chính khu vực, có năm bang là Baden-Württemberg, Bayern, Hessen, Nordrhein-Westfalen và Sachsen có tổng cộng 22 huyện chính quyền (Regierungsbezirke). Tính đến năm 2013 Đức được chia thành 402 huyện (Kreise) ở cấp khu tự quản; trong đó có 295 huyện nông thôn và 107 huyện đô thị. === Ngoại giao === Đức có mạng lưới 277 phái bộ ngoại giao tại nước ngoài và duy trì quan hệ với trên 190 quốc gia. Tính đến năm 2011, Đức là nước đóng góp lớn nhất vào ngân sách của Liên minh châu Âu (cung cấp 20%) và là nước đóng góp nhiều thứ ba cho Liên Hiệp Quốc (cung cấp 8%). Đức là một thành viên của NATO, OECD, G8, G20, Ngân hàng Thế giới và IMF. Đức giữ vai trò có ảnh hưởng trong Liên minh châu Âu từ khi tổ chức này bắt đầu, và duy trì một liên minh mạnh với Pháp và toàn bộ các quốc gia láng giềng khác kể từ năm 1990. Đức xúc tiến hình thành một bộ máy chính trị, kinh tế và an ninh châu Âu thống nhất hơn. Chính sách phát triển của Đức là một khu vực độc lập trong chính sách đối ngoại. Nó do Bộ Hợp tác và Phát triển Kinh tế xây dựng, và do các tổ chức thực hiện. Chính phủ Đức nhận thức chính sách phát triển là trách nhiệm chung của cộng đồng quốc tế. Đây là nhà tài trợ lớn thứ ba thế giới vào năm 2009 sau Hoa Kỳ và Pháp. Năm 1999, chính phủ của Thủ tướng Gerhard Schröder xác định một cơ sở mới cho chính sách đối ngoại của Đức khi tham gia trong quyết định của NATO xung quanh Chiến tranh Kosovo và lần đầu tiên phái binh sĩ Đức đi chiến đấu kể từ năm 1945. Các chính phủ Đức và Hoa Kỳ là đồng minh chính trị mật thiết. Liên hệ văn hóa và lợi ích kinh tế mối ràng buộc giữa hai quốc gia đưa đến kết quả là chủ nghĩa Đại Tây Dương. === Quân sự === Quân đội Đức gọi theo tiếng Đức là Bundeswehr, được tổ chức thành các nhánh Heer (lục quân và lực lượng đặc biệt KSK), Marine (hải quân), Luftwaffe (không quân), Cục Y tế chung và Cục Hậu cần chung. Theo giá trị tuyệt đối, chi tiêu quân sự của Đức cao thứ chín trên thế giới. Năm 2015, chi tiêu quân sự là 32,9 tỷ euro, chiếm khoảng 1,2% GDP quốc gia, dưới mục tiêu của NATO là 2%. Tính đến tháng 12 năm 2015 Bundeswehr sử dụng khoảng 178.000 thành viên phục vụ, trong đó có 9.500 tình nguyện viên. Binh sĩ dự bị sẵn sàng cho quân đội và tham gia diễn tập phòng thủ và triển khai tại nước ngoài. Từ năm 2001 phụ nữ có thể phục vụ trong toàn bộ các nhiệm vụ mà không bị hạn chế. Khoảng 19.000 nữ binh sĩ đang tại ngũ. Theo SIPRI, Đức là nước xuất khẩu vũ khí hạng nặng lớn thứ tư trên thế giới vào năm 2014. Vào thời bình, Bundeswehr do Bộ Quốc phòng chỉ huy. Trong tình trạng phòng thủ, Thủ tướng sẽ trở thành tổng tư lệnh của Bundeswehr. Vai trò của Bundeswehr được mô tả trong Hiến pháp Đức là chỉ để phòng thủ. Sau sau một phán quyết của Tòa án Hiến pháp Liên bang vào năm 1994, thuật ngữ "phòng thủ" được xác định không chỉ bao gồm bảo vệ biên giới Đức, mà còn là đối phó với khủng hoảng và ngăn ngừa xung đột, hoặc rộng hơn là đảm bảo an ninh của Đức trên toàn thế giới. Tính đến tháng 1 năm 2015, quân đội Đức có khoảng 2.370 binh sĩ đồn trú tại nước ngoài trong vị thế thuộc các lực lượng duy trì hòa bình, trong đó có khoảng 850 binh sĩ Bundeswehr trong lực lượng ISAF do NATO lãnh đạo tại Afghanistan và Uzbekistan, 670 binh sĩ Đức tại Kosovo, và 120 binh sĩ trong UNIFIL tại Liban. Cho đến năm 2011, phục vụ quân sự là bắt buộc đối với nam giới vào tuổi 18, và các binh sĩ nghĩa vụ phục vụ trong thời hạn sáu tháng; những người phản đối vì lương tâm có thể chọn phục vụ dân sự với thời gian tương tự, hoặc sáu năm phục vụ khẩn cấp (tự nguyện) như cứu hỏa tự nguyện và Chữ thập Đỏ. Năm 2011, nghĩa vụ quân sự chính thức bị đình chỉ và bị thay thế bằng phục vụ tự nguyện. == Nhân khẩu == Theo điều tra nhân khẩu năm 2011, dân số Đức là 80,2 triệu, và tăng lên 81,5 triệu theo ước tính ngày 30 tháng 6 năm 2015 và lên đến ít nhất là 81,9 triệu vào ngày 31 tháng 12 năm 2015, Đức là quốc gia đông dân nhất trong Liên minh châu Âu, và có dân số đông thứ nhì tại châu Âu sau Nga, và là quốc gia đông dân thứ 16 trên thế giới. Tuổi thọ dự kiến khi sinh tại Đức là 80,19 năm (77,93 năm với nam giới và 82,58 năm với nữ giới). Tỷ suất sinh là 1,41 trẻ em với mỗi phụ nữ (ước tính năm 2011), hay 8,33‰, một trong các mức thấp nhất trên thế giới. Kể từ thập niên 1970, tỷ lệ tử vong của Đức đã vượt tỷ lệ sinh. Tuy nhiên, Đức đang chứng kiến tỷ lệ sinh và tỷ lệ nhập cư gia tăng bắt đầu trong thập niên 2010, đặc biệt là tăng số lượng người nhập cư có học thức. Bốn nhóm dân cư lớn được quy là "dân tộc thiểu số" do tổ tiên của họ sinh sống tại các khu vực tương ứng trong nhiều thế kỷ. Đó là người dân tộc thiểu số Đan Mạch (khoảng 50.000) tại bang cực bắc Schleswig-Holstein. Người Sorb thuộc nhóm Slav có khoảng 60.000 người, sống tại khu vực Lusatia của các bang Sachsen và Brandenburg. Người Roma cư trú khắp lãnh thổ liên bang, và người Frisia sống tại duyên hải miền tây bang Schleswig-Holstein, và tại phần tây bắc của Hạ Sachsen. Có khoảng 5 triệu người có quốc tịch Đức cư trú tại nước ngoài (2012). Năm 2014, có khoảng bảy triệu người trong số 81 triệu cư dân Đức không có quyền công dân Đức. Sáu mươi chín phần trăm trong số đó sống tại miền tây của liên bang và hầu hết là tại các khu vực đô thị. Năm 2015, Đức là quốc gia có số lượng di dân quốc tế cao thứ hai thế giới, với khoảng 5% hay 12 triệu người. Đức xếp hạng bảy trong EU và thứ 37 toàn cầu về tỷ lệ người nhập cư so với tổng dân số. Tính đến năm 2014, các dân tộc-quốc gia đông nhất là từ Thổ Nhĩ Kỳ (2.859.000), tiếp đến là Ba Lan (1.617.000), Nga (1.188.000), và Ý (764.000). Từ năm 1987, có khoảng 3 triệu người dân tộc Đức, hầu hết từ các quốc gia Khối phía Đông, đã thực hiện quyền trở về của mình và di cư đến Đức. === Tôn giáo === Từ khi thống nhất vào năm 1871, khoảng 2/3 dân số Đức theo Tin Lành và 1/3 dân số theo Công giáo, cùng một cộng đồng thiểu số Do Thái giáo đáng kể. Các giáo phái khác cũng hiện diện tại Đức, song chưa từng có ý nghĩa về nhân khẩu và tác động về văn hóa như ba nhóm trên. Cộng đồng Do Thái giáo thiểu số tại Đức gần như biến mất trong Holocaust và thành phần tôn giáo của Đức cũng biến đổi dần trong các thập niên sau năm 1945, khi Tây Đức trở nên đa dạng hơn về tôn giáo do nhập cư còn Đông Đức trở thành quốc gia không tôn giáo áp đảo do chính sách của nhà nước. Tôn giáo tại Đức tiếp tục đa dạng sau khi Đức tái thống nhất vào năm 1990, về tổng thể là tính mộ đạo giảm đi nhiều trên toàn quốc song tín đồ Phúc Âm và Hồi giáo lại tăng lên. Theo điều tra nhân khẩu Đức năm 2011, Cơ Đốc giáo là tôn giáo lớn nhất tại Đức khi 66,8% tổng dân số tuyên bố là tín đồ của nó. So với toàn thể dân số, 31,7% tuyên bố họ là tín đồ Tin Lành, và 31,2% tuyên bố họ là tín đồ Công giáo La Mã. Tín đồ Chính thống giáo chiếm 1,3%, còn tín đồ Do Thái giáo chiếm 0,1%. Các tôn giáo khác chiếm 2,7%. Năm 2014, Giáo hội Công giáo có 23,9 triệu thành viên (29,5% dân số) và Giáo hội Phúc Âm có 22,6 triệu thành viên (27,9% dân số). Cả hai giáo hội lớn đều để mất số lượng tín đồ đáng kể trong những năm gần đây. Về phương diện địa lý, tín đồ Tin Lành tập trung tại miền bắc, miền trung và miền đông của quốc gia. Họ hầu hết là thành viên Giáo hội Phúc Âm Đức- bao gồm Giáo hội Luther và Thần học Cải cách. Tín đồ Công giáo La Mã tập trung tại miền nam và miền tây. Năm 2011, 33% người Đức không phải thành viên của các tổ chức tôn giáo được công nhận chính thức với tình trạng đặc biệt. Nhóm Không tôn giáo tại Đức mạnh nhất là tại Đông Đức và các khu vực đại đô thị. Hồi giáo là tôn giáo lớn thứ hai tại Đức, theo điều tra nhân khẩu năm 2011 thì 1,9% người Đức tự nhận là người Hồi giáo. Các ước tính gần đây hơn cho thấy rằng có khoảng 2,1-4,3 triệu người Hồi giáo cư trú tại Đức. Hầu hết người Hồi giáo thuộc phái Sunni và Alevi từ Thổ Nhĩ Kỳ, song có lượng nhỏ tín đồ thuộc các phái khác như Shia. Các tôn giáo khác chiếm dưới 1% dân số Đức là Phật giáo với 250.000 tín đồ (khoảng 0,3%) và Ấn Độ giáo với khoảng 100.000 tín đồ (0,1%). Các cộng đồng tôn giáo còn lại tại Đức có ít hơn 50.000 tín đồ mỗi tôn giáo. === Ngôn ngữ === Tiếng Đức là ngôn ngữ chính thức và chiếm ưu thế tại Đức. Đây là một trong 24 ngôn ngữ chính thức và công việc của Liên minh châu Âu, và là một trong ba ngôn ngữ công việc của Ủy ban châu Âu. Tiếng Đức là ngôn ngữ thứ nhất được nói phổ biến nhất trong Liên minh châu Âu, với khoảng 100 triệu người bản ngữ. Các ngôn ngữ thiểu số bản địa được công nhận là tiếng Đan mạch, tiếng Hạ Đức, tiếng Sorbia, tiếng Roma, và tiếng Frisia; chúng được bảo vệ chính thức theo Hiến chương châu Âu về các ngôn ngữ khu vực và thiểu số. Các ngôn ngữ nhập cư được sử dụng phổ biến nhất là tiếng Thổ Nhĩ Kỳ, tiếng Kurd, tiếng Ba Lan, các ngôn ngữ Balkan, và tiếng Nga. Người Đức có đặc trưng là đa ngôn ngữ: 67% công dân Đức tuyên bố có thể giao thiệp bằng ít nhất một ngoại ngữ và 27% bằng ít nhất hai ngoại ngữ. Tiếng Đức tiêu chuẩn thuộc hệ Tây German, có liên hệ mật thiết và được phân loại cùng nhóm với tiếng Hạ Đức, tiếng Hà Lan, tiếng Frisia và tiếng Anh. Trong phạm vi nhỏ hơn, nó cũng có liên hệ với các hệ ngôn ngữ Đông German (đã tuyệt diệt) và Bắc German. Hầu hết từ vựng trong tiếng Đức bắt nguồn từ nhánh German của ngữ hệ Ấn-Âu. Thiểu số đáng kể các từ có nguồn gốc từ tiếng Latinh và Hy Lạp, cùng một lượng nhỏ hơn từ tiếng Pháp và gần đây nhất là tiếng Anh. Tiếng Đức sử dụng bảng chữ cái Latinh để viết. Các phương ngữ tiếng Đức bắt nguồn từ dạng địa phương truyền thống của các bộ lạc German, và khác biệt với các dạng tiêu chuẩn của tiếng Đức qua từ vựng, âm vị, và cú pháp. === Giáo dục === Trách nhiệm giám sát giáo dục tại Đức chủ yếu được tổ chức trong mỗi bang. Giáo dục mầm non tùy chọn được cung cấp cho toàn bộ trẻ từ ba đến sáu tuổi, sau cấp trường này trẻ tham gia giáo dục nghĩa vụ trong ít nhất chín năm. Giáo dục tiểu học thường kéo dài từ bốn đến sáu năm. Giáo dục trung học gồm ba loại hình trường học truyền thống, tập trung vào các cấp độ học thuật: Các trường lý thuyết (Gymnasium) dành cho các trẻ tài năng nhất và chuẩn bị cho học sinh học tập tại bậc đại học; các trường thực tế (Realschule) dành cho học sinh trung bình và kéo dài trong sáu năm, và các trường học phổ thông (Hauptschule) chuẩn bị cho học sinh theo học giáo dục nghề. Các trường toàn diện (Gesamtschule) hợp nhất toàn bộ các loại hình giáo dục trung học. Một hệ thống học nghề gọi là Duale Ausbildung có kết quả là có chuyên môn lành nghề, hầu như tương đương với một bằng cấp học thuật. Nó cho phép các học sinh khi tham gia đào tạo nghề được học tại một công ty cũng như tại một trường thương mại quốc lập. Mô hình này được đánh giá cao và được mô phỏng trên khắp thế giới. Hầu hết các đại học tại Đức là cơ sở công lập, và sinh viên có truyền thống không phải trả học phí. Điều kiện chung cho bậc đại học là kỳ thi Abitur. Tuy nhiên, có một số ngoại lệ thùy theo mỗi bang, trường học và đối tượng. Giáo dục học thuật miễn phí không hạn chế đối với sinh viên quốc tế và lưu học tại Đức ngày càng phổ biến. Theo một báo cáo của OECD trong năm 2014, Đức là quốc gia đứng thứ ba thế giới về địa điểm học tập quốc tế. Đức có truyền thống lâu dài về giáo dục bậc đại học, phản ánh vị thế là một nền kinh tế hiện đại trên toàn cầu. Trong số đại học được thành lập tại Đức, có một số trường ở vào hàng lâu năm nhất thế giới, Đại học Heidelberg (thành lập 1386) là cổ nhất tại Đức. Tiếp đến là Đại học Leipzig (1409), Đại học Rostock (1419) và Đại học Greifswald (1456). Đại học Berlin do nhà cải cách giáo dục Wilhelm von Humboldt thành lập vào năm 1810, trở thành hình mẫu học thuật cho nhiều đại học châu Âu và phương Tây. Tại nước Đức đương đại, phát triển được 11 đại học ưu tú: Đại học Humboldt Berlin, Đại học Bremen, Đại học Köln, Đại học Công nghệ Dresden, Đại học Tübingen, Đại học Công nghệ Rhein-Westfalen Aachen, Đại học Tự do Berlin, Đại học Heidelberg, Đại học Konstanz, Đại học Ludwig Maximilian München, và Đại học Công nghệ München. === Y tế === Hệ thống nhà tế bần của Đức mang tên spitals có từ thời Trung Cổ, và ngày nay Đức có hệ thống chăm sóc y tế phổ quát lâu năm nhất thế giới, từ pháp luật xã hội của Bismarck trong thập niên 1880, Kể từ thập niên 1880, các cải cách và điều khoản đảm bảo một hệ thống chăm sóc y tế cân bằng. Hiện nay cư dân được bảo hộ thông qua một kế hoạch bảo hiểm y tế theo quy chế, có tiêu chuẩn cho phép một số nhóm lựa chọn một hợp đồng bảo hiểm y tế tư nhân. Theo Tổ chức Y tế Thế giới, hệ thống chăm sóc y tế của Đức có 77% là do chính phủ tài trợ và 23% là do cá nhân chi trả tính đến năm 2013. Năm 2005, Đức dành 11% GDP của mình cho chăm sóc y tế. Đức xếp hạng 20 trên thế giới về tuổi thọ dự tính với con số 77 năm cho nam giới và 82 năm cho nữ giới, và có tỷ lệ tử vong trẻ sơ sinh rất thấp (4 trên 1.000 ca sinh). Năm 2010, nguyên nhân tử vong chính là bệnh tim mạch với 41%, tiếp đến là u ác tính với 26%. Năm 2008, khoảng 82.000 người Đức bị nhiễm HIV/AIDS và 26.000 chết vì dịch bệnh này (lũy tích, từ 1982). Theo một khảo sát vào năm 2005, 27% người Đức trưởng thành hút thuốc lá. Béo phì tại Đức ngày càng được cho là một vấn đề sức khỏe nghiêm trọng. Một nghiên cứu vào năm 2007 cho thấy Đức có số người thừa cân cao nhất tại châu Âu. == Kinh tế == Đức có nền kinh tế thị trường xã hội, với lực lượng lao động trình độ cao, vốn tư bản lớn, mức độ tham nhũng thấp, và mức độ sáng tạo cao. Đây là nước xuất khẩu hàng hóa lớn thứ ba trên thế giới, và có nền kinh tế quốc dân lớn nhất tại châu Âu, đứng thứ tư trên thế giới theo GDP danh nghĩa và thứ năm theo sức mua tương đương. Khu vực dịch vụ đóng góp khoảng 71% cho tổng GDP (bao gồm công nghệ thông tin), công nghiệp 28%, và nông nghiệp 1%. Tỷ lệ thất nghiệp do Eurostat công bố đạt 4,7% trong tháng 1 năm 2015, là mức thấp nhất trong toàn bộ 28 quốc gia thành viên Liên minh châu Âu. Với mức 7,1%, Đức cũng có tỷ lệ thất nghiệp thanh niên thấp nhất trong toàn bộ 28 quốc gia thành viên EU. Theo OECD, Đức nằm trong các quốc gia có mức năng suất lao động cao nhất trên thế giới. Đức nằm trong Thị trường chung châu Âu, tương ứng với hơn 500 triệu người tiêu dùng. Một số chính sách thương nghiệp nội bộ được xác định theo các thỏa thuận giữa các thành viên EU và theo pháp luật EU. Đức cho lưu thông đồng tiền chung châu Âu Euro vào năm 2002. Đức nằm trong khu vực đồng Euro đại diện cho khoảng 338 triệu công dân. Chính sách tiền tệ được thiết lập bởi Ngân hàng Trung ương Châu Âu có trụ sở tại Frankfurt, trung tâm tài chính của châu Âu lục địa. Đức là quê hương của ô tô hiện đại, ngành công nghiệp ô tô tại Đức được nhìn nhận là nằm vào hàng cạnh tranh và cải tiến nhất trên thế giới, và đứng thứ tư về sản lượng. Mười mặt hàng xuất khẩu lớn nhất của Đức là xe cộ, máy móc, hóa chất, sản phẩm điện tử, thiết bị điện, dược phẩm, thiết bị vận chuyển, kim loại thường, sản phẩm thực phẩm, cao su và chất dẻo (2015). Tính đến năm 2016, GDP của Đức đạt 3.494.900 USD, đứng thứ 3 thế giới và đứng số 1 châu Âu. === Công ty === Trong số 500 công ty niêm yết thị trường chứng khoán lớn nhất thế giới theo doanh thu vào năm 2014, Fortune Global 500, có 28 công ty có trụ sở tại Đức. 30 công ty có căn cứ tại Đức được liệt vào trong DAX, chỉ số thị trường chứng khoán Đức. Các nhãn hãng nổi tiếng quốc tế gồm có Mercedes-Benz, BMW, SAP, Volkswagen, Audi, Siemens, Allianz, Adidas, Porsche, và DHL. Đức có một bộ phận lớn các doanh nghiệp vừa và nhỏ chuyên ngành, gọi là mô hình Mittelstand. Khoảng 1.000 trong số đó là các công ty hàng đầu thị trường toàn cầu trong phân khúc của chúng và được gán cho là các nhà vô địch ẩn hình. Berlin đã phát triển thành một trung tâm thịnh vượng, toàn cầu cho các công ty khởi nghiệp và trở thành một địa điểm hàng đầu đối với các hãng tài trợ đầu tư mạo hiểm trong Liên minh châu Âu. Danh sách liệt kê các công ty lớn nhất của Đức theo doanh thu vào năm 2014: === Giao thông === Do có vị trí tại trung tâm của châu Âu, Đức là trung tâm giao thông của lục địa. Giống như các quốc gia láng giềng tại Tây Âu, mạng lưới đường bộ của Đức nằm vào hàng dày đặc nhất thế giới. Hệ thống xa lộ (Autobahn) được xếp hạng ba thế giới về chiều dài và được biết đến do không hạn chế tốc độ chung. Đức thiết lập một hệ thống đường sắt cao tốc đa tâm. Mạng lưới InterCityExpress hay ICE của Công ty Deutsche Bahn phục vụ các thành phố lớn của Đức cũng như điểm đến tại các quốc gia láng giềng với tốc độ lên đến 300 km/h (190 mph). Đường sắt Đức được chính phủ trợ cấp, với 17 tỷ euro vào năm 2014. Các sân bay lớn nhất tại Đức là Sân bay Frankfurt và Sân bay München, cả hai đều là trung tâm của Lufthansa, trong khi Air Berlin có trung tâm tại Berlin Tegel và Düsseldorf. Các sân bay lớn khác bao gồm Berlin Schönefeld, Hamburg, Köln/Bonn và Leipzig/Halle. Cảng Hamburg là một trong hai mươi cảng container lớn nhất thế giới. === Năng lượng và hạ tầng === Năm 2008, Đức là nước tiêu thụ năng lượng lớn thứ sáu thế giới, và 60% năng lượng sơ cấp được nhập khẩu. Năm 2014, các nguồn năng lượng là: dầu (35,0%); than đá, trong đó có than non (24,6%); khí đốt tự nhiên (20,5%); hạt nhân (8,1%); thủy điện và nguồn tái tạo (11,1%). Chính phủ và ngành năng lượng hạt nhân chấp thuận ngưng dần toàn bộ các nhà máy điện hạt nhân đến năm 2021. Họ cũng tiến hành các hoạt động bảo tồn năng lượng, công nghệ xanh, giảm phát thải, và đặt mục tiêu vào năm 2020 các nguồn tái tạo sẽ đáp ứng 40% nhu cầu điện năng của quốc gia. Đức cam kết Nghị định thư Kyoto và một vài hiệp ước khác đề xướng đa dạng sinh học, tiêu chuẩn phát thải thấp, quản lý nước, và thương mại hóa năng lượng tái tạo. Tỷ lệ tái chế tại hộ gia đình của Đức nằm vào hàng cao nhất thế giới, vào khoảng 65% (2015). Tuy thế, tổng phát thải khí nhà kính của Đức cao nhất trong EU vào năm 2010. Chuyển đổi năng lượng Đức (Energiewende) là bước đi được công nhận để hướng đến một nền kinh tế bền vững bằng các biện pháp hiệu suất năng lượng và năng lượng tái tạo. === Khoa học và công nghệ === Đức là nước hàng đầu toàn cầu về khoa học và kỹ thuật do có thành tựu đáng kể trong các lĩnh vực này. Các nỗ lực nghiên cứu và phát triển tạo thành một bộ phận không thể thiếu của kinh tế Đức. Hơn 100 người Đức từng được trao Giải Nobel. Tỷ lệ sinh viên tốt nghiệp ngành khoa học và công nghệ của Đức cao thứ nhì thế giới (31%) sau Hàn Quốc (32%) vào năm 2012. Đầu thế kỷ 20, người Đức giành được nhiều giải Nobel hơn bất kỳ quốc gia nào khác, đặc biệt là trong khoa học (vật lý, hóa học, y học). Các nhà vật lý học Đức nổi tiếng trước thế kỷ 20 gồm có Hermann von Helmholtz, Joseph von Fraunhofer và Gabriel Daniel Fahrenheit, cùng những người khác. Albert Einstein đưa thuyết tương đối cho ánh sáng và lực hấp dẫn lần lượt vào năm 1905 và năm 1915. Cùng với Max Planck, ông có công trong khai phá cơ học lượng tử , lĩnh vực mà Werner Heisenberg và Max Born sau đó có các đóng góp lớn. Wilhelm Röntgen phát hiện tia X. Otto Hahn là một người tiên phong trong lĩnh vực hóa học phóng xạ và phát hiện phân rã nguyên tử, trong khi Ferdinand Cohn và Robert Koch là những người sáng lập vi sinh học. Một số nhà toán học sinh tại Đức, bao gồm Carl Friedrich Gauss, David Hilbert, Bernhard Riemann, Gottfried Leibniz, Karl Weierstrass, Hermann Weyl và Felix Klein. Đức là quê hương của nhiều nhà phát minh và kỹ thuật nổi tiếng, bao gồm Hans Geiger sáng tạo bộ đếm Geiger; và Konrad Zuse tạo ra máy tính kỹ thuật số tự động hoàn toàn đầu tiên. Các nhà phát minh, kỹ sư và nhà công nghiệp như Ferdinand von Zeppelin, Otto Lilienthal, Gottlieb Daimler, Rudolf Diesel, Hugo Junkers và Karl Benz giúp định hình công nghệ vận chuyển ô tô và hàng không hiện đại. Các viện của Đức như Trung tâm Vũ trụ Đức (DLR) có đóng góp lớn nhất cho ESA. Kỹ sư vũ trụ Wernher von Braun phát triển tên lửa không gian đầu tiên tại Peenemünde và về sau là một thành viên nổi bật của NASA và phát triển tên lửa Mặt Trăng Saturn V. Công trình của Heinrich Rudolf Hertz trong lĩnh vực bức xạ điện từ là mấu chốt để phát triển viễn thông hiện đại. Các tổ chức nghiên cứu tại Đức gồm có Hiệp hội Max Planck, Hiệp hội Helmholtz và Hiệp hội Fraunhofer. Lò phản ứng Wendelstein 7-X tại Greifswald có các cơ sở hạ tầng để nghiên cứu năng lượng hợp hạch. Giải Gottfried Wilhelm Leibniz được trao cho mười nhà khoa học và viện sĩ hàng năm. Với tối đa 2,5 triệu euro cho mỗi giải thưởng đây là một trong các giải nghiên cứu tặng thưởng cao nhất thế giới. === Du lịch === Đức là quốc gia được viếng thăm nhiều thứ bảy trên thế giới (2011), với tổng cộng 407 triệu khách nghỉ qua đêm vào năm 2012. Con số này bao gồm 68,83 triệu đêm của du khách ngoại quốc. Năm 2012, có trên 30,4 triệu du khách quốc tế đến Đức. Berlin trở thành địa điểm thành phố được viếng thăm nhiều thứ ba tại châu Âu. Ngoài ra, trên 30% người Đức giành kỳ nghỉ của họ ở trong nước, nhiều nhất là đi Mecklenburg-Vorpommern. Du lịch và lữ hành nội địa và quốc tế kết hợp đóng góp trực tiếp trên 43,2 tỷ euro cho GDP của Đức. Bao gồm các tác động gián tiếp và cảm ứng, ngành công nghiệp này đóng góp 4,5% GDP của Đức và cung cấp hai triệu việc làm (4,8% tổng số việc làm). Đức nổi tiếng với các tuyến du lịch đa dạng, như Con đường lãng mạn, Tuyến đường rượu vang, Con đường Thành lũy, Con đường hai hàng cây. Con đường nhà khung gỗ Đức (Deutsche Fachwerkstraße) liên kết các thị trấn với các mẫu kiến trúc như vậy. Đức có 41 di sản thế giới UNESCO, trong đó có các vùng lõi đô thị cổ của Regensburg, Bamberg, Lübeck, Quedlinburg, Weimar, Stralsund và Wismar. Các cảnh quan được viếng thăm nhiều nhất tại Đức có thể kể đến như Lâu đài Neuschwanstein, Nhà thờ chính tòa Köln, Bundestag Berlin, Hofbräu München, Lâu đài Heidelberg, Zwinger Dresden, Tháp truyền hình Berlin và Nhà thờ chính tòa Aachen. Europa-Park gần Freiburg là khu nghỉ dưỡng công viên chủ đề đông khách thứ nhì tại châu Âu. == Văn hóa == Văn hóa tại các bang của Đức được định hình từ các trào lưu tri thức và đại chúng lớn tại châu Âu, cả tôn giáo và thế tục. Nước Đức trong lịch sử được gọi là Das Land der Dichter und Denker ("vùng đất của các nhà thơ và các nhà tư tưởng"), do vai trò lớn của các nhà văn và triết gia Đức trong quá trình phát triển của tư tưởng phương Tây. Đức nổi tiếng với các truyền thống lễ hội dân gian như Oktoberfest và phong tục Giáng sinh- gồm các vòng hoa Mùa Vọng, hoạt cảnh Chúa Giáng sinh, cây Giáng sinh, bánh Stollen, và các nghi thức khác. Tính đến năm 2016 UNESCO ghi danh 41 di sản tại Đức vào danh sách di sản thế giới. Có một số ngày nghỉ lễ công cộng tại Đức, do mỗi bang xác định; ngày 3 tháng 10 là ngày quốc khánh của Đức từ năm 1990, được kỷ niệm với tên gọi Tag der Deutschen Einheit (Ngày thống nhất nước Đức). Trong thế kỷ 21, Berlin nổi lên thành một trung tâm sáng tạo quốc tế lớn. Theo Anholt–GfK Nation Brands Index, vào năm 2014 Đức là quốc gia được tôn trọng nhất trong 50 quốc gia khảo sát (trên Hoa Kỳ, Anh và Pháp). Một cuộc thăm dò quan điểm toàn cầu của BBC cho thấy rằng Đức được công nhận là có ảnh hưởng tích cực nhất trên thế giới trong năm 2013 và 2014. === Ân nhạc === Âm nhạc cổ điển Đức có các tác phẩm của một số nhà soạn nhạc nổi tiếng nhất thế giới. Dieterich Buxtehude sáng tác ôratô cho organ, có ảnh hưởng đến tác phẩm sau này của Johann Sebastian Bach và Georg Friedrich Händel; họ là các nhà soạn nhạc có uy thế trong thời kỳ Baroque. Trong thời gian làm nhạc công violon và giáo viên tại nhà thờ lớn Salzburg, nhà soạn nhạc Leopold Mozart sinh tại Augsburg đã dìu dắt một trong các nhạc sĩ được chú ý nhất mọi thời đại: Wolfgang Amadeus Mozart. Ludwig van Beethoven là một nhân vật cốt yếu trong chuyển đổi giữa các thời kỳ cổ điển và lãng mạn. Carl Maria von Weber và Felix Mendelssohn là những người quan trọng vào thời kỳ đầu lãng mạn. Robert Schumann và Johannes Brahms sáng tác bằng cách diễn đạt lãng mạn. Richard Wagner nổi tiếng với các tác phẩm opera của mình. Richard Strauss là một nhà soạn nhạc hàng đầu vào cuối thời kỳ lãng mạn và đầu thời kỳ hiện đại. Karlheinz Stockhausen và Hans Zimmer là các nhà soạn nhạc quan trọng trong thế kỷ 20 và đầu thế kỷ 21. Đức là thị trường âm nhạc lớn thứ nhì tại châu Âu, và lớn thứ tư trên thế giới. Âm nhạc đại chúng Đức trong thế kỷ 20 và 21 bao gồm các phong trào Neue Deutsche Welle, disco (Boney M., Modern Talking, Bad Boys Blue), pop, Ostrock, Heavy metal/rock (Rammstein, Scorpions, Accept, Helloween), punk, pop rock (Herbert Grönemeyer), indie và schlager pop. Âm nhạc điện tử Đức giành được ảnh hưởng toàn cầu, với Kraftwerk và Tangerine Dream đi tiên phong trong thể loại này. Các DJ và nghệ sĩ sân khấu techno và house music của Đức trở nên nổi tiếng. === Mỹ thuật === Các họa sĩ Đức có ảnh hưởng đến mỹ thuật phương Tây, Albrecht Dürer, Hans Holbein Trẻ, Matthias Grünewald và Lucas Cranach Già là các họa sĩ quan trọng của Đức trong Thời kỳ Phục hưng, Peter Paul Rubens và Johann Baptist Zimmermann của thời kỳ Baroque, Caspar David Friedrich và Carl Spitzweg của thời kỳ lãng mạn, Max Liebermann của thời kỳ ấn tượng và Max Ernst của thời kỳ siêu thực. Các nhà điêu khắc Đức như Otto Schmidt-Hofer, Franz Iffland, và Julius Schmidt-Felling có đóng góp quan trọng cho lịch sử mỹ thuật Đức vào cuối thế kỷ 19 và đầu thế kỷ 20. Một số nhóm mỹ thuật Đức được thành lập trong thế kỷ 20, như Nhóm Tháng 11 hay Die Brücke (Cây cầu) và Der Blaue Reiter (Kỵ sĩ Xanh), bởi Wassily Kandinsky sinh tại Nga, tác động đến sự phát triển của chủ nghĩa biểu hiện tại München và Berlin. Tân Khách quan nổi lên với vị thế một phản phong cách với nó trong thời Cộng hòa Weimar. Xu hướng mỹ thuật sau Chiến tranh thế giới thứ hai tại Đức đại khái có thể chia thành chủ nghĩa tân biểu hiện, nghệ thuật trình diễn và nghệ thuật quan niệm. Các nghệ sĩ tân biểu hiện nổi bật đặc biệt gồm có Georg Baselitz, Anselm Kiefer, Jörg Immendorff, A. R. Penck, Markus Lüpertz, Peter Robert Keil và Rainer Fetting. Các họa sĩ trường phái quan niệm hàng đầu của Đức gồm Bernd và Hilla Becher, Hanne Darboven, Hans-Peter Feldmann, Hans Haacke, Joseph Beuys, HA Schult, Aris Kalaizis, Neo Rauch và Andreas Gursky. Các triển lãm và lễ hội mỹ thuật lớn tại Đức là documenta, Berlin Biennale, transmediale và Art Cologne. === Kiến trúc === Phần đóng góp kiến trúc từ Đức bao gồm các phong cách Karoling và Otto, tiền thân của Kiến trúc Roman. Gothic Gạch là một phong cách Trung Cổ đặc biệt được tiến triển tại Đức. Trong kiến trúc Phục Hưng và Baroque, các yếu tố khu vực và điển hình của Đức tiến triển (như Phục hưng Weser và Baroque Dresden ). Trong số nhiều bậc thầy Baroque nổi danh có Pöppelmann, Balthasar Neumann, Knobelsdorff và anh em nhà Asam. Trường phái Wessobrunner gây ảnh hưởng quyết định lên, và đương thời thậm chí là chi phối, nghệ thuật trát vữa stucco tại miền nam Đức trong thế kỷ 18. Con đường Baroque Thượng Schwaben là một tuyến du lịch có chủ đề baroque, nêu bật đóng góp của các nghệ sĩ và thợ thủ công như Johann Michael Feuchtmayer, một trong các thành viên của gia tộc Feuchtmayer và anh em Johann Baptist Zimmermann và Dominikus Zimmermann. Kiến trúc bản xứ tại Đức thường được nhận biết thông qua truyền thống khung gỗ (Fachwerk) và khác biệt giữa các khu vực, và trong các phong cách mộc. Khi công nghiệp hóa lan khắp châu Âu, chủ nghĩa cổ điển và một phong cách đặc biệt của chủ nghĩa lịch sử phát triển tại Đức, đôi khi được gọi là phong cách Gründerzeit, do bùng nổ kinh tế vào cuối thế kỷ 19. Các phong cách lịch sử khu vực gồm có Trường phái Hannover, Phong cách Nuremberg và Trường phái Semper-Nicolai của Dresden. Trong số các tòa nhà nổi tiếng nhất của Đức, Lâu đài Neuschwanstein tiêu biểu cho Phục hưng Roma. Các tiểu phong cách nổi bật tiến hóa từ thế kỷ 18 là kiến trúc suối khoáng và nghỉ dưỡng bờ biển. Các nghệ sĩ, nhà văn và nhà trưng bày của Đức như Siegfried Bing, Georg Hirth và Bruno Möhring cũng có đóng góp cho sự phát triển của Art Nouveau khi bước sang thế kỷ 20, được gọi là Jugendstil trong tiếng Đức. Kiến trúc biểu hiện phát triển trong thập niên 1910 tại Đức và ảnh hưởng đến Art Deco và các phong cách hiện đại khác, có các kiến trúc sư nổi bật như Erich Mendelsohn. Đức đặc biệt quan trọng vào đầu phong trào hiện đại: đây là quê hương của Werkbund do Hermann Muthesius khởi xướng (Tân Khách quan), và của phong trào Bauhaus do Walter Gropius thành lập. Do đó, Đức thường được nhận định là cái nôi của kiến trúc và thiết kế hiện đại. Ludwig Mies van der Rohe trở thành một trong các kiến trúc sư nổi tiếng nhất thế giới vào nửa sau thế kỷ 20. Ông thai nghén tòa nhà chọc trời có kính bao phủ bề ngoài. Các kiến trúc sư và văn phòng đương đại nổi tiếng gồm có Hans Kollhoff, Sergei Tchoban, KK Architekten, Helmut Jahn, Behnisch, GMP, Ole Scheeren, J. Mayer H., OM Ungers, Gottfried Böhm và Frei Otto - được trao giải Pritzker. === Văn học và triết học === Văn học Đức có thể truy nguyên đến thời kỳ Trung Cổ và tác phẩm của các nhà văn như Walther von der Vogelweide và Wolfram von Eschenbach. Các tác gia Đức nổi tiếng gồm Johann Wolfgang von Goethe, Friedrich Schiller, Gotthold Ephraim Lessing và Theodor Fontane. Bộ sưu tập các truyện dân gian do Anh em nhà Grimm xuất bản đã truyền bá văn học dân gian Đức trên cấp độ quốc tế. Anh em nhà Grimm cũng thu thập và hệ thống hóa các biến thể khu vực của tiếng Đức; tác phẩm Deutsches Wörterbuch (từ điển tiếng Đức) của họ được bắt đầu vào năm 1838 và các tập đầu tiên phát hành vào năm 1854. Các tác gia có ảnh hưởng trong thế kỷ 20 gồm Gerhart Hauptmann, Thomas Mann, Hermann Hesse, Heinrich Böll và Günter Grass. Thị trường sách của Đức lớn thứ ba trên thế giới, sau Hoa Kỳ và Trung Quốc (2014). Hội chợ Sách Frankfurt có vị thế quan trọng nhất trên thế giới về giao dịch và mua bán quy mô quốc tế, có truyền thống kéo dài hơn 500 năm. Hội chợ Sách Leipzig cũng duy trì một vị thế quan trọng tại châu Âu. Triết học Đức có tầm quan trọng lịch sử: các đóng góp của Gottfried Leibniz cho chủ nghĩa duy lý; triết học khai sáng của Immanuel Kant; chủ nghĩa duy tâm Đức cổ điển được lập ra bởi Johann Gottlieb Fichte, Georg Wilhelm Friedrich Hegel và Friedrich Wilhelm Joseph Schelling; tác phẩm của Arthur Schopenhauer về chủ nghĩa bi quan trừu tượng; Karl Marx và Friedrich Engels xây dựng lý thuyết cộng sản; Friedrich Nietzsche phát triển chủ nghĩa quan điểm; Gottlob Frege đóng góp cho buổi đầu của triết học phân tích; Martin Heidegger có các tác phẩm về sự tồn tại; trường phái Frankfurt phát triển nhờ công Max Horkheimer, Theodor Adorno, Herbert Marcuse và Jürgen Habermas. === Truyền thông === Các công ty truyền thông hoạt động quốc tế lớn nhất tại Đức là Bertelsmann, Axel Springer SE và ProSiebenSat.1 Media. Thông tấn xã Đức DPA cũng đáng chú ý. Thị trường truyền hình của Đức lớn nhất tại châu Âu, với khoảng 38 triệu hộ xem TV. Khoảng 90% số hộ gia đình Đức có truyền hình cáp và vệ tinh (2012), đa dạng về các kênh truyền hình đại chúng miễn phí và thương mại. Có hơn 500 đài phát thanh công cộng và tư nhân tại Đức, trong đó Deutsche Welle là cơ quan phát thanh và truyền hình chủ yếu của Đức phát bằng các ngoại ngữ. Mạng lưới phát thanh quốc gia của Đức là Deutschlandradio, trong khi các đài ARD bao phủ phục vụ địa phương. Nhiều báo chí bán chạy nhất châu Âu được xuất bản tại Đức. Các báo (và phiên bản internet) có lượng lưu hành lớn nhất là Bild, Die Zeit, Süddeutsche Zeitung, Frankfurter Allgemeine Zeitung và Die Welt, các tạp chí lớn nhất là Der Spiegel, Stern và Focus. Thị trường video game của Đức nằm vào hàng lớn nhất thế giới. Hội chợ Gamescom tại Köln là hội nghị game dẫn đầu thế giới. Các loạt game phổ biến đến từ Đức gồm có Turrican, Anno, The Settlers, Gothic, SpellForce, FIFA Manager, Far Cry và Crysis. Các nhà phát triển và phát hành game liên quan là Blue Byte, Crytek, Deep Silver, Kalypso Media, Piranha Bytes, Yager Development, và một số công ty game mạng xã hội lớn nhất thế giới như Bigpoint, Gameforge, Goodgame và Wooga. === Điện ảnh === Điện ảnh Đức có đóng góp lớn về kỹ thuật và nghệ thuật cho thế giới. Các tác phẩm đầu tiên của Anh em Skladanowsky được chiếu cho khán giả vào năm 1895. Xưởng phim Babelsberg nổi tiếng tại Potsdam được thành lập vào năm 1912, là xưởng phim quy mô lớn đầu tiên trên thế giới và nay là xưởng phim lớn nhất châu Âu. Các xưởng phim ban đầu và vẫn hoạt động là UFA và Bavaria Film. Điện ảnh Đức ban đầu có ảnh hưởng đặc biệt với các nhà biểu hiện Đức như Robert Wiene và Friedrich Wilhelm Murnau. Metropolis (1927) của đạo diễn Fritz Lang được cho là phim khoa học viễn tưởng lớn đầu tiên. Năm 1930, Josef von Sternberg làm đạo diễn cho Der blaue Engel, phim có âm thanh quy mô lớn đầu tiên của Đức, có mặt diễn viên Marlene Dietrich. Các phim của Leni Riefenstahl đặt ra các tiêu chuẩn nghệ thuật mới, đặc biệt là Niềm tin chiến thắng. Sau năm 1945, nhiều phim vào giai đoạn ngay sau chiến tranh có thể được mô tả là Trümmerfilm (phim gạch vụn), như Die Mörder sind unter uns (1946) của Wolfgang Staudte và Irgendwo in Berlin (1946) của Werner Krien. Các phim Đông Đức nổi bật phần lớn do hãng quốc doanh DEFA sản xuất, gồm có Ehe im Schatten của Kurt Maetzig (1947), Der Untertan (1951); Die Geschichte vom kleinen Muck (1953), Der geteilte Himmel (1964) của Konrad Wolf và Jakob der Lügner (1975) của Frank Beyer. Thể loại phim được định nghĩa tại Tây Đức trong thập niên 1950 có lẽ là Heimatfilm ("phim quê hương"); các phim này miêu tả cảnh đẹp của địa phương và đạo đức chính trực của cư dân sống tại đó. Đặc trưng của phim trong thập niên 1960 là các phim thể loại bao gồm các phim phỏng theo tác phẩm của Edgar Wallace và Karl May. Một trong các loạt phim Đức thành công nhất trong thập niên 1970 có phim phóng sự tình dục mang tên Schulmädchen-Report (Phóng sự nữ sinh). Trong thập niên 1970 và 1980, các đạo diên Điện ảnh Đức Mới như Volker Schlöndorff, Werner Herzog, Wim Wenders, và Rainer Werner Fassbinder khiến điện ảnh tác giả chủ nghĩa Tây Đức được hoan hô. Trong số các phim thành công về doanh thu phòng vé, có Erinnerungen an die Zukunft (1970), Das Boot (1981), Die unendliche Geschichte (1984), Otto – Der Film (1985), Lola rennt (1998), Der Schuh des Manitu (2001), Resident Evil series (2002–2016), Good Bye, Lenin! (2003), Gegen die Wand (2004), Das weiße Band – Eine deutsche Kindergeschichte (2009), Konferenz der Tiere (2010), và Cloud Atlas (2012). Giải Oscar cho phim ngoại ngữ hay nhất từng được trao cho Die Blechtrommel vào năm 1979, cho Nirgendwo in Afrika vào năm 2002, và cho Das Leben der Anderen vào năm 2007. Nhiều người Đức từng thắng giải "Oscar" vì thực hiện các bộ phim khác. Giải thưởng Điện ảnh châu Âu được trao tặng mỗi năm tại Berlin, nơi đặt trụ sở của Viện Hàn lâm Điện ảnh châu Âu. Liên hoan phim quốc tế Berlin trao giải "Gấu Vàng" và được tổ chức thường niên kể từ năm 1951, là một trong các liên hoan phim hàng đầu thế giới. Tượng "Lola" được trao tặng thường niên tại Berlin trong khuôn khổ Giải phim Đức được tổ chức từ năm 1951. === Ẩm thực === Ẩm thực Đức biến đổi giữa các khu vực và thường thì các khu vực lân cận chia sẻ một số điểm tương đồng về nấu nướng (như các khu vực miền nam là Bayern và Schwaben chia sẻ một số truyền thống với Thụy Sĩ và Áo). Các loại đồ ăn quốc tế như pizza, sushi, đồ ăn Trung Hoa, đồ ăn hy Lạp, đồ ăn Ấn Độ và doner kebab cũng phổ biến và hiện diện, nhờ các cộng đồng dân tộc đa dạng. Bánh mì là một bộ phận quan trọng trong ẩm thực Đức và các tiệm bánh Đức sản xuất khoảng 600 loại bánh mì chính và 1.200 loại bánh ngọt và bánh mì nhỏ (Brötchen). Pho mát Đức chiếm khoảng một phần ba toàn bộ pho mát sản xuất tại châu Âu. Năm 2012, trên 99% số thịt sản xuất tại Đức là thịt lợn, gà hoặc bò. Người Đức sản xuất xúc xích khắp nơi với khoảng 1.500 loại, trong đó có Bratwurst, Weisswurst, và Currywurst. Năm 2012, thực phẩm hữu cơ chiếm 3,9% tổng doanh số bán thực phẩm. Mặc dù rượu vang đang trở nên phổ biến hơn tại nhiều phần của Đức, đặc biệt là tại các khu vực sản xuất rượu vang, song đồ uống có cồn quốc gia là bia. Tiêu thụ bia Đức bình quân đạt 110 lít vào năm 2013 và duy trì ở các mức cao nhất thế giới. Các quy tắc nguyên chất của bia Đức có niên đại từ thế kỷ 15. Năm 2015, Michelin Guide trao tặng cho mười một nhà hàng tại Đức hạng ba sao, là đánh giá cao nhất, trong khi có thêm 38 nhà hàng được hai sao và 223 nhà hàng được một sao. Các nhà hàng Đức được trao tặng huy chương nhiều thứ nhì thế giới sau Pháp. === Thể thao === Hai mươi bảy triệu người Đức là thành viên của các câu lạc bộ thể thao, và có thêm mười hai triệu người tập luyện thể thao cá nhân. Bóng đá là môn thể thao phổ biến nhất, Hiệp hội bóng đá Đức có trên 6,3 triệu thành viên và là hiệp hội bóng đá đông đảo nhất thế giới. Giải bóng đá cao nhất của Đức là Bundesliga, thu hút lượng khán giả bình quân cao thứ nhì trong các giải thể thao chuyên nghiệp trên thế giới. Đội tuyển bóng đá quốc gia Đức giành chức vô địch FIFA World Cup vào các năm 1954, 1974, 1990, và 2014, và giành chức vô địch châu Âu vào các năm 1972, 1980 và 1996. Đức từng đăng cai FIFA World Cup năm 1974 và 2006 và UEFA Euro 1988. Các môn thể thao có khán giả phổ biến khác gồm thể thao mùa đông, quyền Anh, bóng rổ, bóng ném, bóng chuyền, khúc côn cầu trên băng, quần vợt, đua ngựa và golf. Các môn thể thao dưới nước như thuyền buồm, chèo thuyền, và bơi cũng phổ biến tại Đức. Đức là một trong các quốc gia dẫn đầu thế giới về thể thao ô tô, các hãng như BMW và Mercedes là nhà sản xuất nổi bật của thể thao ô tô. Porsche giành chiến thắng giải đua 24 giờ tại Mans trong 17 lần, và Audi 13 lần (tính đến năm 2015). Tay đua Michael Schumacher từng lập nhiều kỷ lục thể thao ô tô trong sự nghiệp của mình, giành bảy chức vô địch thế giới đua xe công thức một. Ông là một trong các vận động viên được trả lương cao nhất trong lich sử. Sebastian Vettel cũng nằm trong số năm tay đua công thức một thành công nhất mọi thời đại. Trong lịch sử, các vận động viên Đức là các đối thủ thành công tại Thế vận hội, xếp hạng ba trong bảng tổng sắp huy chương Thế vận hội mọi kỳ (tính cả các huy chương của Đông Đức và Tây Đức). Đức từng đăng cai thế vận hội mùa hè và mùa đông năm 1936 lần lượt tại Berlin và Garmisch-Partenkirchen. In Munich it hosted the Summer Games of 1972. === Thời trang và thiết kế === Các nhà thiết kế Đức là những người dẫn đầu về thiết kế sản phẩm hiện đại, với các nhà thiết kế Bauhaus như Mies van der Rohe, và Dieter Rams của Braun có vai trò chủ chốt. Đức là quốc gian dẫn đầu trong ngành công nghiệp thời trang. Công nghiệp dệt may Đức gồm có khoảng 1.300 công ty với trên 130.000 người lao động trong năm 2010, tạo ra doanh thu 28 tỷ euro. Gần 44% sản lượng được xuất khẩu. Tuần lễ Thời trang Berlin và hội chợ thương mại thời trang Bread & Butter được tổ chức hai lần mỗi năm. München, Hamburg và Düsseldorf cũng là các trung tâm thiết kế, sản xuất và thương mại quan trọng của công nghiệp thời trang nội địa. Các nhà thiết kế thời trang có tiếng đến từ Đức gồm có Karl Lagerfeld, Jil Sander, Wolfgang Joop, Philipp Plein và Michael Michalsky. Các nhãn hiệu quan trọng là Hugo Boss, Escada, Adidas, Puma và Triumph. Các siêu mẫu Đức Claudia Schiffer, Heidi Klum, Tatjana Patitz và Nadja Auermann đạt được danh tiếng quốc tế. == Ghi chú == == Tham khảo == == Liên kết ngoài == Chính phủ Trang chính thức của Chính phủ Liên bang Trang chính thức của Tổng thống Liên bang Trang Chính thức của Thủ tướng Đức Trang Du lịch Đức chính thức Thôn tin tổng quát Đức từ BBC News Mục “Germany” trên trang của CIA World Factbook. Đức từ UCB Libraries GovPubs Đức tại DMOZ Đức trên Encyclopædia Britannica Đức trên OECD Đức trên EU Wikimedia Atlas của Germany, có một số bản đồ liên quan đến Germany. Bản mẫu:Osmrelation-inline
international plant names index.txt
International Plant Names Index (bằng tiếng Anh, viết tắt: IPNI) là một "cơ sở dữ liệu tên gọi và chi tiết thư mục cơ bản đi kèm về thực vật có hạt, dương xỉ và thạch tùng." Cơ sở dữ liệu này bao quát chủ yếu tên gọi ở cấp độ loài và chi. IPNI cũng có danh sách chuẩn hóa tên viết tắt các tác giả, ban đầu dựa trên Authors of Plant Names nhưng liên tục bổ sung tên và từ viết tắt mới. IPNI miễn phí. == Miêu tả == IPNI là sản phẩm cộng tác giữa Vườn thực vật hoàng gia Kew (Index Kewensis), Phòng mẫu cây Đại học Harvard (Gray Herbarium Index) và Phòng mẫu cây Quốc gia Úc (Australian Plant Name Index). Cơ sở dữ liệu này là tập hợp tên gọi lấy nguồn từ ba tổ chức này, đồng thời ba tổ chức này cùng nhau hướng đến việc chuẩn hóa thông tin. Tiêu chuẩn viết tắt tên tác giả - được khuyến nghị bởi ICBN - là Authors of Plant Names của Brummitt và Powell. Có thể xem danh sách cập nhật tại IPNI. IPNI cung cấp tên gọi thường dùng trong các xuất bản phẩm học thuật với mục tiêu cung cấp một mục lục tên gọi đã được các xuất bản phẩm sử dụng chứ không quy định bắt buộc về mặt danh pháp thực vật học. Dự án The Plant List ra mắt năm 2010 mới có mục đích là quy định tên gọi được chấp nhận. == Xem thêm == The Plant List Index Fungorum, một dự án tương tự có nội dung liệt kê tên gọi các loài nấm. == Tham khảo == == Liên kết ngoài == Tiếng Anh Website chính thức của IPNI Plant Name search – Tìm kiếm tên gọi thực vật trên IPNI Author search – Tìm kiếm tên tác giả và cách viết tắt tiêu chuẩn dành cho tên tác giả trên IPNI
phố cổ hội an.txt
Phố cổ Hội An là một đô thị cổ nằm ở hạ lưu sông Thu Bồn, thuộc vùng đồng bằng ven biển tỉnh Quảng Nam, Việt Nam, cách thành phố Đà Nẵng khoảng 30 km về phía Nam. Nhờ những yếu tố địa lý và khí hậu thuận lợi, Hội An từng là một thương cảng quốc tế sầm uất, nơi gặp gỡ của những thuyền buôn Nhật Bản, Trung Quốc và phương Tây trong suốt thế kỷ 17 và 18. Trước thời kỳ này, nơi đây cũng từng có những dấu tích của thương cảng Chăm Pa hay được nhắc đến cùng con đường tơ lụa trên biển. Thế kỷ 19, do giao thông đường thủy ở đây không còn thuận tiện, cảng thị Hội An dần suy thoái, nhường chỗ cho Đà Nẵng khi đó đang được người Pháp xây dựng. Hội An may mắn không bị tàn phá trong hai cuộc chiến tranh và tránh được quá trình đô thị hóa ồ ạt cuối thế kỷ 20. Bắt đầu từ thập niên 1980, những giá trị kiến trúc và văn hóa của phố cổ Hội An dần được giới học giả và cả du khách chú ý, khiến nơi đây trở thành một trong những điểm du lịch hấp dẫn của Việt Nam. Đô thị cổ Hội An ngày nay là một điển hình đặc biệt về cảng thị truyền thống ở Đông Nam Á được bảo tồn nguyên vẹn và chu đáo. Phần lớn những ngôi nhà ở đây là những kiến trúc truyền thống có niên đại từ thế kỷ 17 đến thế kỷ 19, phần bố dọc theo những trục phố nhỏ hẹp. Nằm xen kẽ giữa các ngôi nhà phố, những công trình kiến trúc tôn giáo, tín ngưỡng minh chứng cho quá trình hình thành, phát triển và cả suy tàn của đô thị. Hội An cũng là vùng đất ghi nhiều dấu ấn của sự pha trộn, giao thoa văn hóa. Các hội quán, đền miếu mang dấu tích của người Hoa nằm bên những ngôi nhà phố truyền thống của người Việt và những ngôi nhà mang phong cách kiến trúc Pháp. Bên cạnh những giá trị văn hóa qua các công trình kiến trúc, Hội An còn lưu giữ một nền văn hóa phi vật thể đa dạng và phong phú. Cuộc sống thường nhật của cư dân phố cổ với những phong tục tập quán, sinh hoạt tín ngưỡng, nghệ thuật dân gian, lễ hội văn hóa vẫn đang được bảo tồn và phát triển. Hội An được xem như một bảo tàng sống về kiến trúc và lối sống đô thị. Với những giá trị nổi bật, tại kỳ họp lần thứ 23 cuối năm 1999 (ngày 4 tháng 12), Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa Liên Hiệp Quốc (UNESCO) đã công nhận đô thị cổ Hội An là một di sản văn hóa thế giới, dựa trên hai tiêu chí: Hội An là biểu hiện vật thể nổi bật của sự kết hợp các nền văn hóa qua các thời kỳ trong một thương cảng quốc tế. Hội An là điển hình tiêu biểu về một cảng thị châu Á truyền thống được bảo tồn một cách hoàn hảo. == Tên gọi == Tên gọi Hội An ngày nay được hình thành từ rất lâu trong lịch sử, nhưng thật khó có thể xác định chính xác thời điểm ra đời của nó. Theo tác giả Dương Văn An trong cuốn sách Ô Châu cận lục, vào năm 1553, huyện Điện Bàn có 66 xã, trong đó có các xã Hoài Phô, Cẩm Phô, Lai Nghi, nhưng chưa thấy cái tên Hội An được ghi lại. Dưới thời Lê, tấm bản đồ do đại thần Đỗ Bá vẽ in trong Thiên Nam tứ chí lộ đồ có ghi lần đầu tiên các địa danh Hội An phố, Hội An đàm, Hội An kiều. Trên tấm bia Phổ Đà Linh Sơn Trung Phật tại động Hoa Nghiêm, Ngũ Hành Sơn ghi tên những người góp tiền xây dựng chùa, tên làng Hội An được nhắc tới ba lần. Thời chúa Nguyễn Phúc Lan, làng Minh Hương được thành lập bên cạnh làng Hội An đã có trước đó. Căn cứ vào văn bản của dinh trấn Quảng Nam thời Minh Mạng gửi trưởng bang Hoa kiều, Hội An phố gồm 6 làng: Hội An, Minh Hương, Cổ Trai, Đông An, Diêm Hộ, Hoa Phô. Nhà nghiên cứu người Pháp Albert Sallet cho rằng làng Hội An là làng quan trọng nhất trong năm làng tạo nên quần cư Hội An cổ, gồm Hội An, Cẩm Phô, Phong Niên, Minh Hương và An Thọ. Người phương Tây xưa kia gọi Hội An bằng cái tên Faifo. Xuất xứ của cái tên này ngày nay vẫn tồn tại nhiều giả thuyết. Trong cuốn Từ điển Việt-Bồ-La của Alexandre de Rhodes in tại Roma năm 1651, chữ Hoài phô được định nghĩa: một làng trong xứ Cochinchine mà người Nhật ở và gọi là Faifo. Một giả thuyết phổ biến cho rằng Faifo xuất phát từ tên Hội An phố, cái tên sử sách và địa chí Trung, Việt đều nhắc tới. Theo một thuyết khác, sông Thu Bồn trước kia có tên là sông Hoài, nên Hội An còn được gọi là Hoài Phố, sau Hoài Phố biến thành Phai Phố, từ đó xuất hiện cái tên Faifo. Trong những thư từ, ghi chép của những giáo sĩ, học giả phương Tây, những cái tên Faifo, Faifoo, Fayfoo, Faiso, Facfo... từng xuất hiện nhiều lần. Alexandre de Rhodes trong bản đồ An Nam gồm Đàng Trong và Đàng Ngoài ấn hành năm 1651 có ghi rõ tên Haifo. Về sau, trên bản đồ chính thức của chính quyền Đông Dương, người Pháp đều sử dụng tên Faifo để chỉ Hội An. == Lịch sử == === Thời kỳ tiền Hội An === Khu đô thị cổ Hội An nằm gần cửa sông Thu Bồn, con sông lớn nhất của tỉnh Quảng Nam. Mặc dù vậy, ngày nay từ trung tâm thành phố tới đến cửa sông cũng không còn gần lắm. Hạ lưu sông Thu Bồn khi đổ ra biển Đông được chia thành nhiều nhánh. Nhánh tiếp xúc với khu phố cổ mang tên sông Hội An, còn dòng chảy giữa hai cồn Cẩm Nam và Cẩm Kim là dòng chính của sông Thu Bồn. Trên những bản đồ cổ thế kỷ 17, 18, Hội An nằm trên bờ Bắc của sông Thu Bồn, thông với biển Đông bẳng cửa Đại Chiêm và một dòng sông nối với cửa Đại của Đà Nẵng, phía ngoài là một doi cát rộng. Dấu vết dòng sông nối liền Hội An với biển Cửa Hàn có thể xác định là con sông Cổ Cò - Đế Võng ngày nay. Trên thủy trình cổ này đã từng tìm thấy nhiều lô tàu, mỏ neo bị chôn vùi trong lòng đất. Tuy địa danh "Hội An" được cho rằng xuất hiện vào khoảng cuối thế kỷ 16, nhưng vùng đất xung quanh đô thị này đã có một lịch sử rất lâu đời. Trong suốt thời kỳ "tiền Hội An", nơi đây từng tồn tại hai nền văn hóa lớn, đó là văn hóa Sa Huỳnh và văn hóa Chăm Pa. Di chỉ đầu tiên của văn hóa Sa Huỳnh là phố Sa huỳnh ở Quảng Ngãi bị cát vùi lấp, được các nhà khảo cổ người Pháp phát hiện. Năm 1937, nữ học giả Madeleine Colani chính thức xác nhận đây là một nền văn hóa. Chỉ riêng trong khu vực thành phố Hội An đã phát hiện được hơn 50 địa điểm là di tích của nền văn hóa này, phần lớn tập trung ở những cồn cát ven sông Thu Bồn cũ. Đặc biệt, sự phát hiện hai loại tiền đồng Trung Quốc thời Hán, những hiện vật sắt kiểu Tây Hán... đã minh chứng ngay từ đầu Công nguyên, nơi đây đã bắt đầu có những giao dịch ngoại thương. Một đặc điểm khác có thể nhận thấy là khu vực Hội An không có những dấu tích của thời kỳ đầu và giữa, nhưng mảnh đất nơi đây đã từng tồn tại và có sự phát triển rực rỡ nền văn hóa Sa Huỳnh muộn. Tiếp sau nền văn hóa Sa Huỳnh, suốt từ thế kỷ 2 đến đến thế kỷ 15, một dải đất miền trung Việt Nam nằm dưới sự thống trị của vương quốc Chăm Pa. Những di tích đặc trưng của nền văn hóa này là các nhóm điện thờ đạo Hindu phân bổ dọc từ miền Trung tới miền Nam, và một trong những trung tâm đó nằm ở lưu vực con sông Thu Bồn. Ở đây, có thể thấy một thủ phủ mang tính chính trị tại Trà Kiệu và một trung trung tâm mang tính tôn giáo nằm tại Mỹ Sơn. Những dấu tích đền tháp Chăm còn lại, những giếng nước Chăm, những pho tượng Chăm, những di vật của người Đại Việt, Trung Hoa, Trung Đông thế kỷ 2 - 14 làm sáng tỏ giả thuyết nơi đây từng có một Lâm Ấp Phố với một cảng biển là Đại Chiêm phát triển hưng thịnh. Nhiều thư tịch cổ ghi nhận trong một thời gian khá dài, Chiêm cảng - Lâm Ấp Phố đóng một vai trò quan trọng trong việc tạo nên sự phồn vinh của kinh thành Trà Kiệu và khu di tích đền tháp Mỹ Sơn. Trải qua nhiều cuộc chiến tranh, vương quốc Chăm Pa bị Đại Việt đẩy dần về phía Nam. Năm 1471, thủ phủ cuối cùng của Chăm Pa ở Bầu Giá, Bình Định ngày nay, bị nhà Lê chiếm. Vùng đất Hội An trở thành lãnh thổ của Đại Việt từ đó, nhưng phải về sau nơi đây mới phát triển thành một khu vực thương mại. Hội An được hình thành dựa trên sự kế thừa cảng biển của người Chăm và người Việt bắt đầu tới đây từ thế kỷ 15. Đó là bước chuẩn bị trực tiếp cho sự ra đời của đô thị Hội An. === Thời kỳ Hội An === ==== Ra đời và phát triển phồn vinh ==== Hội An ra đời vào khoảng nửa cuối thế kỷ 16, thời kỳ Việt Nam nằm dưới sự trị vì của nhà Lê. Vào năm 1527, Mạc Đăng Dung giành ngôi nhà Lê, vùng Đông Kinh thuộc quyền cai quản của nhà Mạc. Năm 1533, Nguyễn Kim nhân danh nhà Lê tập hợp binh sĩ chống lại nhà Mạc. Sau khi Nguyễn Kim chết năm, người con rể Trịnh Kiểm nắm giữ quyền hành, dòng họ Nguyễn Kim bị lấn át. Năm 1558, người con thứ của Nguyễn Kim là Nguyễn Hoàng cùng gia quyến và một số binh lính lui về cố thủ ở vùng Thuận Hóa và từ sau năm 1570, Nguyễn Hoàng tiếp tục nắm quyền trấn thủ Quảng Nam. Cùng với con trai là Nguyễn Phúc Nguyên, Nguyễn Hoàng xây dựng thành lũy, ra sức phát triển kinh tế Đàng Trong, mở rộng giao thương buôn bán với nước ngoài và Hội An trở thành thương cảng quốc tế sầm uất bậc nhất khu vực Đông Nam Á thời kỳ đó. Thế kỷ 17, trong khi vẫn tiếp tục cuộc chiến với chúa Trịnh ở miền Bắc, chúa Nguyễn không ngừng khai phá miền Nam, lấn chiếm lãnh thổ của người Chăm. Trên những vùng đất do chúa Nguyễn cai quản, có những khu phố nước ngoài hình thành dựa trên một số luật lệ nhằm bảo hộ cho các hoạt động thương mại của người ngoại quốc. Vào năm 1567, triều đình nhà Minh của Trung Quốc từ bỏ chủ trương bế quan tỏa cảng, cho thuyền buôn vượt biển giao thương với các quốc gia vùng Đông Nam Á, nhưng vẫn cấm xuất khẩu một số nguyên liệu quan trọng sang Nhật Bản. Điều này đã bắt buộc Mạc phủ Toyotomi rồi Mạc phủ Tokugawa cấp phép cho các thuyền buôn Châu Ấn sang mở rộng quan hệ thông thương với Đông Nam Á và mua lại hàng hóa Trung Quốc từ các quốc gia đó. Những con tàu Châu Ấn bắt đầu xuất dương từ năm 1604 dưới thời Mặc phủ Tokugawa, cho tới năm 1635, khi chính sách đóng cửa được ban bố, đã có ít nhất 356 con tàu Châu Ấn ra đời. Nơi thuyền Châu Ấn đi qua nhiều nhất chính là cảng Hội An. Trong vòng 30 năm, 75 con tàu Châu Ấn đã cập cảng nơi đây, so với 37 con tàu cập bến Đông Kinh, khu vực do chúa Trịnh cai trị. Các thương nhân người Nhật khi đó tới bán những đồ đồng, tiền đồng, sắt, đồ gia dụng... và mua lại đường, tơ lụa, trầm hương... Khoảng năm 1617, phố Nhật Bản ở Hội An được hình thành và phát triển cực thịnh trong đầu thế kỷ 17. Qua bức họa Giao Chỉ quốc mậu dịch độ hải đồ của Chaya Shinroku, có thể thấy khu phố người Nhật với những công trình kết cấu gỗ hai, ba tầng. Thuyền trưởng người Hà Lan Delft Haven ghi lại năm 1651, Hội An khi đó có khoảng 60 căn nhà của người Nhật nơi dọc bờ sông, nhà cửa xây bằng đá để tránh hỏa hoạn, nằm sát vách nhau. Nhưng khoảng thời gian tiếp sau, do chính sách bế quan của Mạc phủ Tokugawa cũng những chính sách đàn áp người Nhật Công giáo của chúa Nguyễn, khu phố Nhật ở Hội An dần bị lu mờ. Mặc dù vẫn còn một số nhỏ người Nhật định cư lại đây nhưng người Hoa dần thay thế vai trò của người Nhật trong việc buôn bán. Khác với người Nhật, những người Hoa biết đến Hội An từ rất sớm, ngày từ thời vùng đất này còn thuộc về vương quốc Chăm Pa. Đến thời kỳ người Việt thay thế người Chăm, những thương nhân Trung Hoa vẫn tiếp tục tới buôn bán vì các tỉnh miền Nam của Trung Quốc rất cần các mặt hàng muối, vàng, quế... Mặc dù vậy, trong suốt thời kỳ tiền Hội An, người Hoa chỉ tới buôn bán rồi trở về, không ở lại định cư, lập phố xá. Phải sau loạn Minh Thanh xảy ra khoảng giữa thế kỷ 17, đặc biệt sau khi nhà Minh bị thất thủ, rất nhiều người Hoa di cư tới Trung Bộ Việt Nam và xây dựng nên nhiều cộng đồng Minh Hương Xã. Tại Hội An, người Hoa tới lưu trú ngày một nhiều và thế chân người Nhật nắm quyền buôn bán. Cảng thị Hội An khi đó là nơi tập trung nhiều nhất hàng hóa ngoại quốc. Khu phố dọc bờ sông, được gọi khu Đại Đường, kéo dài 3, 4 dặm. Các cửa hàng hai bên phố không khi nào rảnh rỗi. Dân cư ở đây phần lớn là người Phúc Kiến, mọi người ăn vận theo trang phục của nhà Minh. Nhiều người Trung Quốc tới định cư để buôn bán đã kết hôn với những phụ nữ bản địa. Bên cạnh những người Hoa nhập quốc tịch Việt Nam, nhiều người Hoa khác vẫn giữ quốc tịch Trung Quốc mà người Việt thường gọi là Khách trú. Năm 1695, sứ giả người Anh Thomas Bowyear của Công ty Đông Ấn Anh đến đàm phán với chúa Nguyễn về việc xây dựng một khu cư trú tại Hội An. Việc thương thảo tuy không thành, nhưng cũng đã để lại một ghi chép: ==== Thời kỳ suy vong ==== Thế kỷ 18, khi cuộc khởi nghĩa Tây Sơn diễn ra ở miền Nam, chúa Trịnh đánh chiếm Quảng Nam dinh năm 1775, cảng thị Hội An rơi vào cảnh chiến tranh loạn lạc. Sau khi chiếm được Hội An, quân Trịnh đã triệt phá những nhà cửa thuộc khu vực thương mại, chỉ để lại các công trình tín ngưỡng. Nhiều nhân vật quan trọng của dòng họ Nguyễn cùng những thương gia người Hoa giàu có đã di cư vào miền Nam, mang theo của cải và lập nghiệp tại Sài Gòn - Chợ Lớn, để lại một Hội An điêu tàn, đổ nát. Năm 1778, một người Anh Charles Chapman đi qua đây sau thời Tây Sơn đã ghi lại: "Khi tới Hội An, thành phố lớn này chẳng còn lại là bao những khu phố được quy hoạch quy củ với những ngôi nhà xây bằng gạch, đường lát đá mà chỉ thấy một cảnh hoang tàn làm cho ta cảm thấy xót xa. Trời ơi, những công trình ấy bây giờ chỉ còn đọng lại trong ký ức mà thôi." Khoảng 5 năm sau, cảng thị Hội An mới dần dần hồi sinh, hoạt động thương mại được phục hồi nhưng không được như trước. Người Việt cùng người Hoa cùng xây lại thành phố từ những đống đổ nát cũ, những ngôi nhà mới mọc lên theo kiến trúc của họ và vô tình, dấu vết của khu phố Nhật Bản đã bị xóa đi mãi mãi. Thế kỷ 19, cửa sông Cửa Đại ngày càng bị thu hẹp lại và con sông Cổ Cò cũng bị phù sa bồi lấp, khiến các thuyền lớn không còn ghé được cảng Hội An. Bên cạnh đó, triều đình nhà Nguyễn cũng thực hiện chính sách đóng cửa, hạn chế quan hệ với nước ngoài, đặc biệt các quốc gia phương Tây. Từ đó, Hội An dần suy thoái, mất đi vị thế cảng thị quốc tế quan trọng. Mặc dù vậy, với vai trò một trung tâm thương nghiệp lớn, thành phố vẫn được phát triển, những con đường mới về phía Nam dòng sông được xây dựng và các khu phố được mở rộng thêm. Năm Minh Mạng thứ 5, nhà vua có qua Hội An, nhận thấy nơi đây không còn sầm uất như xưa, nhưng vẫn hưng thịnh hơn các thị trấn khác của người Việt. Năm 1888, khi Đà Nẵng trở thành nhượng địa của Pháp, nhiều người Hoa tới đó để bỏ vốn lập các cơ sở vận tải, thương mại, một số khác tiếp tục duy trì hoạt động kinh doanh ở cả Hội An và Đà Nẵng. Nhưng do giao thông đường thủy ngày càng trở nên khó khăn, cùng với chính sách phát triển Đà Nẵng của người Pháp, hoạt động thương nghiệp ở Hội An dần bị đình trệ. Mặc dù vậy, phần lớn các kiến trúc nhà ở trong khu phố cổ, các hội quán còn lại đến ngày nay đều có hình dáng được tạo nên từ giai đoạn này. Đầu thế kỷ 20, tuy mất đi vai trò cảng thị quan trọng, hoạt động buôn bán ở Hội An chưa khi nào chấm dứt và nơi đây vẫn là thị xã, thủ phủ của tỉnh Quảng Nam. Khi tỉnh Quảng Nam-Đà Nẵng được thành lập vào năm 1976, thành phố Đà Nẵng trở thành tỉnh lỵ của tỉnh mới, Hội An rơi vào một thời kỳ bị quên lãng. Chính nhờ sự thay đổi vai trò trong lịch sử, cộng với nhiều yếu tố khác nên Hội An đã may mắn tránh được sự biến dạng của quá trình đô thị hóa mạnh mẽ ở Việt Nam trong thế kỷ 20. Từ thập niên 1980, Hội An bắt đầu nhận được sự chú ý của các học giả Việt Nam, Nhật Bản và phương Tây. Tại kỳ họp lần thứ 23 từ 29 tháng 11 đến 4 tháng 12 năm 1999 ở Marrakech, Tổ chức Giáo dục Khoa học và Văn hóa Liên Hiệp Quốc đã ghi tên Hội An vào danh sách các di sản thế giới. Đô thị cổ Hội An dần phồn vinh trở lại nhờ những hoạt động du lịch. == Kiến trúc đô thị == === Khu phố cổ === Khu phố cổ nằm trọn trong phường Minh An, diện tích khoảng 2 km², với những con đường ngắn và hẹp, có đoạn uốn lượn, chạy dọc ngang theo kiểu bàn cờ. Nằm sát với bờ sông là đường Bạch Đằng, tiếp đó tới đường Nguyễn Thái Học rồi đường Trần Phú nối liền với Nguyễn Thị Minh Khai bởi Chùa Cầu. Do địa hình khu phố nghiêng dần từ Bắc xuống Nam, các con đường ngang Nguyễn Huệ, Lê Lợi, Hoàng Văn Thụ và Trần Quý Cáp hơi dốc dần lên nếu đi ngược vào phía sâu trong thành phố. Đường Trần Phú xưa kia là con đường chính của thị trấn, nối từ Chùa Cầu tới Hội quán Triều Châu. Vào thời Pháp thuộc, đường này được mang tên Rue du Pont Japonnais, tức Phố cầu Nhật Bản. Ngày nay, đường Trần Phú rộng khoảng 5 mét với nhiều ngôi nhà không có phần hiên, kết quả của lần mở rộng khoảng cuối thế kỷ 19 đầu thế kỷ 20. Hai con đường Nguyễn Thái Học và Bạch Đằng hình thành muộn hơn, đều do bùn đất bồi lấp. Đường Nguyễn Thái Học xuất hiện năm 1840, sau đó được người Pháp đặt tên là Rue Cantonnais, tức Phố người Quảng Đông. Đường Bạch Đằng ra đời năm 1878, nằm sát bờ sông nên xưa kia từng có tên gọi là Đường Bờ Sông. Nằm sâu về phía thành phố, tiếp theo đường Trần Phú là đường Phan Chu Trinh, con đường mới được xây dựng thêm vào khoảng thời gian sau này. Trong khu phố cổ còn nhiều đường hẻm khác nằm vuông góc với đường chính kéo dài ra đến tận bờ sông. Đường Trần Phú là con đường chính, nơi tập trung nhiều nhất những công trình kiến trúc quan trọng, cũng như những ngôi nhà cổ điển hình cho kiến trúc Hội An. Nổi bật nhất trong số này là các hội quán do người Hoa xây dựng để tưởng nhớ đến quê hương của họ. Nếu bắt đầu từ Chùa Cầu, sẽ thấy năm hội quán trên đường Trần Phú, tất cả đều bên số chẵn: Hội quán Quảng Đông, Hội quán Trung Hoa, Hội quán Phúc Kiến, Hội quán Quỳnh Phủ và Hội quán Triều Châu. Ở góc đường Trần Phú và Nguyễn Huệ là miếu Quan Công, di tích đặc trưng cho kiến trúc đền miếu của người Minh Hương ở Việt Nam. Ngay sát miếu về phía Bắc, có thể thấy Bảo tàng Lịch sử - Văn hóa Hội An, nguyên trước đây là ngôi chùa Quan Âm của dân làng Minh Hương. Bảo tàng văn hóa Sa Huỳnh và Bảo tàng Gốm sứ Mậu dịch cũng nằm trên con đường này. Theo đường Trần Phú, đi qua Chùa Cầu sẽ dẫn tới đường Nguyễn Thị Minh Khai. Những ngôi nhà truyền thống ở đây được tu bổ và bảo tồn rất tốt, phần lối đi bộ hai bên được lát gạch đỏ, phía cuối đường là vị trí của đình Cẩm Phô. Phía Tây đường Nguyễn Thái Học có một dãy phố được hình thành bởi những ngôi nhà có kiến trúc mặt tiền kiểu Pháp, còn phần phía Đông là khu phố mua bán nhộn nhịp với những ngôi nhà kiểu hai tầng, diện tích lớn. Bảo tàng Văn hóa Dân gian Hội An nằm ở số 33 của con đường này là ngôi nhà cổ lớn nhất khu phố cổ, có chiều dài 57 mét, chiều ngang 9 mét. Trong mùa mưa bão, đường Nguyễn Thái Học và khu vực xung quanh thường bị ngập lụt, dân cư phải sử dụng thuyền để đi mua sắm và đến các quán ăn. Khu phố phía Đông phố cổ từng là khu phố của người Pháp. Trên đường Phan Bội Châu, dãy phố phía Tây được xây dựng san sát những ngôi nhà với mặt đứng kiểu châu Âu, đa số một tầng. Nơi đây từng là nhà ở của các công chức dưới thời Pháp thuộc. === Kiến trúc truyền thống === Kiểu nhà ở phổ biến nhất ở Hội An chính là những ngôi nhà phố một hoặc hai tầng với đặc trưng chiều ngang hẹp, chiều sâu rất dài tạo nên kiểu nhà hình ống. Những vật liệu chính dùng để xây dựng nhà ở đây đều có sức chịu lực và độ bền cao do đặc điểm khí hậu khắc nghiệt và bão lụt hàng năm của vùng này. Thông thường, các ngôi nhà có kết cấu kiểu nhà khung gỗ, hai bên có tường gạch ngăn cách. Khuôn viên trung bình của các ngôi nhà có chiều ngang khoảng 4 đến 8 mét, chiều sâu khoảng 10 đến 40 mét, biến thiên theo từng tuyến phố. Bố cục mặt bằng phổ biến của những ngôi nhà ở đây gồm: vỉa hè, hiên, nhà chính, nhà phụ, hiên, nhà cầu và sân trong, hiên, nhà sau ba gian, vườn sau. Thực chất, nhà phố ở Hội An bao gồm nhiều nếp nhà bố trí theo chiều sâu và cấu thành không gian kiến trúc gồm 3 phần: không gian buôn bán, không gian sinh hoạt và không gian thờ cúng. Cách phân chia này phù hợp với mặt bằng hẹp và kết hợp nhiều công năng của ngôi nhà. Có thể nhận thấy đây là một sản phẩm kiến trúc mang tính văn hóa khu vực. Ở không gian nhà chính, hệ thống 16 cây cột phân bố 4 x 4 tạo thành phân vị chiều ngang và chiều sâu theo cấu trúc 3 x 3 gian, trong đó 4 cột trung tâm cao hơn hẳn các cột còn lại. Đây chính là không gian dành cho buôn bán với gian đầu từ đường vào là chỗ bán hàng, gian kế tiếp là kho hàng hóa được ngăn bằng vách, gian thứ ba bố trí nhà thờ quay mặt vào bên trong. Điểm đặc biệt này là một đặc trưng rất quan trọng của nhà phố Hội An, dù đôi khi cũng có trường hợp bàn thờ quay ra phía đường. Bên cạnh các nhà chính phổ biến dạng 3 x 3 gian, một số ít ngôi nhà khác có nhà chính rộng hoặc hẹp hơn, kiểu 3 x 2 gian hoặc 3 x 5 gian. Không gian tiếp theo nhà chính là nhà phụ, thường thấy ở những ngôi nhà hai tầng có chiều cao thấp. Khoảng không gian mở này vừa được tiếp nối với mặt đường, vừa tách biệt với những hoạt động buôn bán phía ngoài, lại có thể tiếp nhận ánh sáng của sân trời, được dùng làm nơi gia chủ tiếp khách. Nhà cầu và sân trong là không gian được chia hai phần theo chiều dọc, có kết cấu độc lập với nhà trước và nhà sau, mang chức năng chuyển tiếp. Phần sân trời được lát đá, trang trí bể nước, non bộ, cây cảnh, giúp ngôi nhà thoáng và hòa hợp với thiên nhiên hơn. Ngược lại, phần nhà cầu có mái nối liền nhà trước với nhà sau thành một cơ cấu liên tục, rất phù hợp với điều kiện khí hậu nhiều mưa và nắng nóng ở đây. Dù trong bất kỳ điều kiện thời tiết nào, mọi sinh hoạt trong nhà vẫn có thể diễn ra bình thường. Nhà sau là không gian sinh hoạt của cả gia đình, được ngăn buồng bằng các vách gỗ. Phía sau nhà sau còn một khoảng không gian nữa, dành cho bếp, nhà vệ sinh và các chức năng phụ khác. Đối với một ngôi nhà thông thường, không gian thờ cúng chỉ chiếm một phần nhỏ, nhưng luôn được dành riêng một vị trí quan trọng. Để các công năng buôn bán, vận chuyển hàng hóa, sinh hoạt không bị cản trở, ban thờ thường được chuyển lên gác lửng. Ở những ngôi nhà một tầng, ban thờ được đặt ở phần mái phụ của nhà trước hoặc trung tâm nhà sau. Trong những ngôi nhà hai tầng, toàn bộ tầng hai của nhà chính thường được dùng làm kho hàng và ban thờ cũng được bố trí ở tầng này. Những ngôi nhà ở Hội An hầu hết được làm theo dạng hai mái, đa số nhà chính và nhà phụ không chung một mái mà là hai nếp mái kế tiếp nhau. Rất ít trường hợp mái nhà chính phủ lên cả phần nhà phụ. Ngược lại, đa số nhà cầu được lợp theo kiểu bốn mái. Trên mặt bằng tổng thể thì nhà trước, nhà cầu và nhà sau được lợp bằng những mái riêng biệt. Ngói ở Hội An là loại ngói làm từ đất, mỏng, nung thô, mang hình vuông, mỗi cạnh khoảng 22 cm và có dạng hơi cong. Khi lợp, đầu tiên người ta xếp một hàng ngói ngửa lên và sau đó tiếp tới một hàng ngói úp xuống. Cách lợp này được gọi là kiểu lợp ngói âm dương. Khi lợp xong mái, các viên ngói được cố định bằng vữa, tạo thành những dải ngói nhô lên dọc xuôi theo mái, khiến toàn bộ mái toát nên một vẻ cứng cáp, mạnh mẽ. Ở trên đỉnh mái, phần nóc mái được xây cao lên hình chữ nhật như một cái hộp, cũng có một số trường hợp hai bên tường hồi cũng được xây cao hẳn làm cho toàn bộ tổng thể dường như bị mất cân đối. Hình thức và cách trang trí của tường hồi luôn gây một ấn tượng mạnh và là yếu tố tạo ra giá trị rất riêng của phố cổ Hội An. === Các di tích kiến trúc === Mặc dù phần lớn các ngôi nhà phố của Hội An ngày nay được hình thành vào thời kỳ thuộc địa, nhưng trong khu phố cổ vẫn gìn giữ được nhiều di tích phản ánh các giai đoạn lịch sử hình thành, hưng hịnh và suy tàn của đô thị. Các loại hình kiến trúc từ thế kỷ 16 đến đầu thế kỷ 18 thường mang chức năng có bản, bị tác động bởi nền kinh tế, yếu tố cảng thị của Hội An khi đó. Tiêu biểu cho giai đoạn này là những bến thuyền, giếng nước, chùa chiền, đền miếu, cầu, mộ, những nhà thờ tộc và các thương điếm. Từ thế kỷ 18, Hội An không còn vị trí thương cảng bậc nhất nữa. Thời kỳ này xuất hiện phổ biến những văn miếu, văn chỉ, đình, nhà thờ và đặc biệt là các hội quán. Qua sự phân bố, quy mô, hình thức, chức năng của các công trình kiến trúc, có thể thấy sự chuyển đổi của Hội An trong giai đoạn này. Thời kỳ Pháp thuộc, cũng như nhiều đô thị khác của Việt Nam, Hội An chịu ảnh hưởng sâu đậm của kiến trúc Pháp. Những ngôi nhà mang phong cách thuộc địa xuất hiện nhiều và tập trung trên một tuyến phố. Sự đan xen phong cách kiến trúc Pháp giữa những ngôi nhà cổ truyến thống là hệ quả của một lối sống phương Tây đã xuất hiện trong đời sống của cư dân Hội An. Các công trình thời kỳ này giữ được vẻ hài hòa trong ngôn ngữ kiến trúc, mềm dẻo trong trang trí, phù hợp với không gian đô thị, mang lại cho Hội An một dáng vẻ mới. Theo thống kê tháng 12 năm 2000, Di sản thế giới Hội An có 1360 di tích gồm 1068 nhà cổ, 11 giếng nước cổ, 38 nhà thờ tộc, 19 ngôi chùa, 43 miếu thờ thần, 23 đình, 44 mộ cổ loại đặc biệt và 1 cây cầu. Khoảng hơn 1100 di tích trong số này nằm trong khu vực đô thị cổ. ==== Chùa, đền miếu ==== Hội An từng là một trung tâm của Phật giáo sớm của Đàng Trong với đa số các ngôi chùa theo dòng Tiểu thừa. Nhiều ngôi chùa ở đây có niên đại khởi dựng khá sớm, nhưng hầu hết kiến trúc gốc đã bị thay đổi, thậm chí mai một qua những biến thiên của lịch sử và những lần trùng tu. Ngôi chùa sớm nhất được biết đến là chùa Chúc Thánh, tương truyền có gốc gác từ năm 1454, nằm cách trung tâm khu phố cổ khoảng 2 km về phía Bắc. Nơi đây vẫn lưu giữ nhiều di vật, tượng thờ, bia ký liên quan đến quá trình du nhập và phát triển của Phật giáo ở Đàng Trong. Ngoại ô khu phố cổ còn nhiều ngôi chùa khác như Phước Lâm, Vạn Đức, Kim Bửu, Viên Giác... mang niên đại muộn hơn. Giai đoạn đầu thế kỷ 20 cũng là thời kỳ ra đời của nhiều ngôi chùa mới, nổi bật trong số này là chùa Long Tuyền hoàn thành vào năm 1909. Bên cạnh những ngôi chùa tách khỏi làng xóm, nằm ven những dòng chảy cổ, ở Hội An còn có các ngôi chùa làng gắn với những quần cư như một thành phần hữu cơ của tổng thể làng xóm. Điều này phản ánh giới tu hành gắn bó với thế tục và chứng tỏ Minh Hương Xã ở đây đã có một thiết chế văn hóa sinh hoạt cộng đồng khá mạnh. Trong khu phố cổ, Bảo tàng Lịch sử - Văn hóa Hội An nguyên trước đây là ngôi chùa thờ Phật bà Quan Âm do người Việt và người Minh Hương khởi dựng vào khoảng thế kỷ 17. Các công trình đền miếu ở Hội An mang chức năng chính là nơi thờ cúng các vị tiên hiền có công sáng lập phố, hội và Minh Hương Xã. Loại hình kiến trúc này thường có hình thức đơn giản, nằm ngay trong làng xóm, bố cục mặt bằng 1 x 3 gian tường gạch chịu lửa, mái ngói âm dương với ban thờ được đặt ở gian chính giữa. Tiêu biểu nhất cho loại hình kiến trúc này chính là miếu Quan Công, còn được gọi là Chùa Ông, nằm trong trung tâm khu phố cổ, số 24 đường Trần Phú. Công trình được người Minh Hương và người Việt khởi dựng vào năm 1653, thờ Quan Công, vị tướng thời Tam Quốc, biểu tượng của trung hiếu, tiết nghĩa. Tuy đã qua nhiều lần trùng tu, miếu Quan Công vẫn không mất đi dáng vẻ ban đầu. Toàn bộ miếu bao gồm nhiều nếp nhà với các mái lợp bằng ngói ống men màu xanh lục, kết cấu gồm ba phần: tiền sảnh, sân trời và hậu sảnh. Ở phần tiền sảnh, công trình nổi bật với màu sơn đỏ, những trang trí cầu kỳ, mái ngói vững trãi và hai cánh cửa chính lớn chạm nổi đôi rồng màu xanh đang uốn mình trong mây. Hai bên, sát với tường là chiếc chuông đồng nặng trên nửa tấn và chiếc trống lớn đặt trên giá gỗ do vua Bảo Đại ban tặng. Tiếp đó đến phần sân trời, khoảng trống lộ thiên trang chí các hòn non bộ, tạo cho miếu vẻ sáng sủa, thoáng mát. Hai bên sân trời là hai nếp nhà dọc Đông, Tây. Một bia gắn vào tường nhà Đông ghi lại lần trùng tu miếu đầu tiên vào năm 1753. Chính điện nằm ở hậu sảnh, nếp nhà sau cùng, là nơi đặt hương án thờ Quan Công. Tượng Quan Công cao gần 3 mét, mặt đỏ, mắt phượng, râu dài, mặc áo bào màu xanh lục, tọa trên mình con ngựa bạch đang quỳ. Hai bên là tượng Quan Bình và Châu Thương, hai người con nuôi, cũng là hai võ quan trung thành của Quan Công. Trước đây, miếu Quan Công là trung tâm tín ngưỡng của các thương gia Hội An, nơi chứng giám, tạo niềm tin cho các thương gia trong những cuộc giao kèo thương mại. Ngày nay, vào ngày 13 tháng 1 và 24 tháng 6 âm lịch hàng năm, lễ hội Chùa Ông được tổ chức thu hút rất đông tín đồ và dân chúng tới dự. ===== Nhà thờ tộc ===== Tại Hội An, cũng như nhiều địa phương khác của Việt Nam, các dòng họ đều có nơi thờ cúng tổ tiên, được gọi là miếu tộc hay nhà thờ họ. Đây là một dạng kiến trúc nhà ở đặc biệt, của những dòng họ lớn có công lập làng dựng phố từ thời kỳ sơ khai của Hội An và truyền lại cho con cháu làm nơi thờ tự tổ tiên. Những dòng họ nhỏ, nhà thờ họ kết hợp với nhà ở của vị trưởng họ có nguồn gốc từ Trung Hoa. Hậu duệ về sau có trách nhiệm hương khói và tu sửa kiến trúc tùy theo tình trạng ngôi nhà. Phần lớn các nhà thờ họ tập trung ở khoảng giữa hai đường Phan Chu Trinh và Lê Lợi, một số ít rải rác trên đường Nguyễn Thị Minh Khai hay nằm ngay sau những ngôi nhà phố trên đường Trần Phú. Các nhà thờ tộc có niên đại sớm nhất hầu hết của người Hoa kiều, vào đầu thế kỷ 17, số có niên đại thế kỷ 18 chỉ chiếm một phần nhỏ. Khác với những nhà thờ tộc ở thôn quê, nhà thờ họ ở Hội An thường mang phong cách đô thị. Vì là nơi thờ tự nên nhà thờ tộc được xây dựng theo dạng khuôn viên, có bố cục và kết cấu chặt chẽ, bao gồm cả sân vườn, cổng, tường rào, nhà phụ... Nhiều nhà thờ họ ở đây có quy mô và kiến trúc rất đẹp, như nhà thờ tộc Trần, nhà thờ tộc Trương, nhà thờ tộc Nguyễn hay nhà thờ Tiền hiền Minh Hương. Nhà thờ tộc Trần nằm ở số 21 đường Lê Lợi, được xây dựng vào đầu thế kỷ 19. Cũng giống như các nhà tộc khác ở Hội An, nhà thờ tọa sâu trong một khuôn viên rộng khoảng 1500 m², tường cao bao quanh, sân trước trồng cây cảnh, hoa, cây ăn quả. Ngôi nhà có kiến trúc chịu ảnh hưởng từ Trung Quốc, Nhật Bản và Việt Nam, dựng từ gỗ quý, 3 gian 2 nếp, mái dốc lợp ngói âm dương. Không gian trong nhà được chia làm hai phần, phần chính để thờ cúng, phần phụ là nơi ở của vị trưởng tộc và tiếp khách. Gian thờ cúng có ba cửa ra vào, trong đó cửa bên phải dành cho nữ, bên trái dành cho nam, cửa chính ở giữa dành cho những người cao tuổi có vai vế trong họ và chỉ mở vào dịp lễ tết. Trên bàn thờ, các hộp nhỏ đựng di vật và tiểu sử những người họ Trần xếp theo vai vế trong dòng tộc. Trong ngày lễ hay giỗ kỵ, vị trưởng tộc sẽ mở những hộp gỗ này để tưởng nhớ đến người quá cố. Phía sau ngôi từ đường có một vạt đất cao dùng để chôn những núm nhau của các thành viên trong tộc khi sinh ra. Cũng trên vạt đất này, phía sau còn trồng một cây khế, tượng trưng cho sự gắn bó với quê hương đất tổ của các thế hệ con cháu trong họ. ==== Hội quán ==== Một trong những đặc tính nổi trội của người Hoa là bất cứ nơi cư trú nào của họ ở ngoại quốc đều có các hội quán, sản phẩm sinh hoạt cộng đồng dựa trên cơ sở những người đồng hương. Tại Hội An ngày nay vẫn tồn tại 5 hội quán tương ứng với 5 bộ phận dân cư Hoa kiều lớn ở đây: Phúc Kiến, Trung Hoa, Triều Châu, Quỳnh Phủ và Quảng Đông. Các hội quán này có quy mô khá lớn, đều nằm trên trục phố Trần Phú và thống nhất hướng chính ra sông Thu Bồn. Về hình thức, các hội quán ở Hội An được xây dựng theo một nguyên mẫu các hội quán vẫn thường gặp ở những đô thị cổ khác. Đó là một tổng thể bao gồm: cổng lớn phía trước, tiếp đến một khoảng sân rộng có trang trí cây cảnh, non bộ và hai nhà phụ thờ Tả thần và Hữu thần, sau đó là phương đình, nơi tiến hành các nghi lễ, kết thúc bởi nhà thờ, kiến trúc lớn nhất của tổng thể. Các hội quán đều được trang trí cầu kỳ, tỷ mỷ với bộ khung gỗ được chạm trổ, sơn son thếp vàng, phần mái tô điểm các con thú bằng sành tráng men nhiều màu. Ngày nay, các hội quán tuy đã bị thay đổi sửa chữa nhiều, nhưng bộ khung gỗ vẫn bảo lưu được nhiều yếu tố gốc. Ngoài chức năng duy trì sinh hoạt cộng đồng, hội quán còn một chức năng quan trọng khác, đó là tín ngưỡng. Tùy theo tục quán tín ngưỡng của từng cộng đồng mà hội quán lấy cơ sở để thờ phụng. Trong năm hội quán ở Hội An, Phúc Kiến là hội quán lớn nhất, nằm ở số 46 đường Trần Phú. Buổi ban đầu, nơi đây chỉ là một ngôi chùa lợp tranh do người Việt dựng vào năm 1697 để thờ Phật. Qua thời gian, ngôi chùa bị hư hỏng và người Việt không đủ khả năng để sửa chữa. Những thương nhân Phúc Kiến mua lại ngôi chùa vào năm 1759 và sau nhiều lần trùng tu, năm 1792 đổi thành Hội quán Phúc Kiến. Công trình có kiến trúc theo kiểu chữ Tam, kéo dài từ đường Trần Phú đến đường Phan Chu Trinh, theo thứ tự: cổng tam quan, sân, hai dãy nhà Đông Tây, chính điện, sân sau và hậu điện. Cổng tam quan của hội quán mới được xây dựng trong lần trùng tu lớn đầu thập niên 1970. Chiếc cổng có một hệ mái ngoạn mục gồm 7 mái lợp ngói ống men xanh uốn lượn, xếp nối nhau thấp dần xuống, cân xứng giữa hai bên. Phía cao của cổng, dưới tầng mái trên, một tấm bảng trắng có ghi ba chữ Hán màu đỏ "Kim Sơn Tự". Phía dưới tầng mái dưới cũng có một tấm biển đá xanh đề bốn chữ Hán màu đỏ "Hội quán Phúc Kiến". Hai bức tường hai bên cổng tam quan ngăn cách sân trong của hội quán với một sân bên ngoài. Phần chính điện của hội quán được trang trí những cây cột màu đỏ son, treo những đôi liễn gỗ ca tụng Thiên Hậu Thánh Mẫu. Chính điện thờ tượng Quan Thế Âm Bồ Tát đang ngồi thiền, phía trước là một lư hương lớn. Hai bên hương án sẽ thấy hai bức tượng Thiên Lý Nhãn và Thượng Phong Nhĩ, hai vị thần phụ tá cho Thiên Hậu cứu giúp các thuyền buôn người Hoa gặp nạn. Tiếp theo chính điện, băng qua sân sau sẽ tới hậu điện. Ở đây phần chính giữa được dành để thờ sáu vị tướng nhà Minh người Phúc Kiến, bên trái là ban thờ 3 bà chúa Sanh Thai và 12 bà mụ, bên phải là ban thờ Thần Tài. Ngoài ra, hậu điện còn thờ những người đã có công đóng góp tiền của xây dựng hội quán và chùa Kim Sơn. Hàng năm, vào ngày 23 tháng 3 âm lịch, lễ vía Thiên Hậu Thánh Mẫu được người Hoa tổ chức với nhiều hoạt động như múa lân, bán pháo hoa, xộ cỗ, xin lộc... thu hút nhiều người dân Hội An và những vùng khác đến tham dự. ==== Chùa Cầu ==== Chiếc cầu cổ duy nhất còn lại ở Hội An ngày nay là Chùa Cầu, còn có tên gọi khác là Cầu Nhật Bản. Cây cầu này dài khoảng 18 mét, bắc qua một lạch nước nhỏ chảy ra sông Thu Bồn, nối liền đường Trần Phú với đường Nguyễn Thị Minh Khai. Theo sự tích kể lại thì Cầu Nhật Bản được xây dựng vào năm 1593, nhưng không có một cơ sở chính xác nào để khẳng định điều này. Trong Thiên Nam tứ chí lộ đồ năm 1630, cái tên "Hội An Kiều" và hình ảnh một cây cầu có mái đã xuất hiện. Nhà sư Thích Đại Sán cũng nhắc tới cái tên "Nhật Bản Kiều" trong cuốn Hải ngoại ký sự năm 1695. Trải qua rất nhiều lần trùng tu, hình dáng cây cầu đã bị thay đổi nhiều, dáng vẻ ngày nay được hình thành trong những lần sửa chữa vào thế kỷ 18 và 19. Những trang trí bằng mảnh sứ tráng men hay đĩa sứ là biểu hiện đặc trưng của kiến trúc thời Nguyễn. Cầu Nhật Bản có một kiến trúc khá độc đáo, kiểu thượng gia hạ kiều, tức trên là nhà dưới là cầu, một loại hình kiến trúc khá phổ biến ở những quốc gia châu Á nhiệt đới. Dù mang tên Cầu Nhật Bản nhưng sau nhiều lần trùng tu, thật khó có thể tìm thấy một chút dấu tích kiến trúc Nhật Bản trên cây cầu này. Nhìn từ bên ngoài, cây cầu nổi bật nhờ hệ mái cong mềm mại nâng đỡ bởi một hệ thống kết cấu gỗ, và phần móng được làm bằng vòm trụ đá. Mặt cầu vồng lên kiểu cầu vồng, được lát ván làm lối qua lại, hai bên có bệ gỗ nhỏ, trước kia làm nơi bày hàng buôn bán. Gắn liền với cầu về phía thượng nguồn là một ngôi chùa rất nhỏ thờ Huyền Thiên đại đế, xây dựng sau cầu khoảng nửa thế kỷ. Ngôi chùa nằm ngay cạnh cầu, ngăn cách bởi một lớp vách gỗ và bộ cửa "thượng song hạ bản", tạo không gian riêng biệt. Trên cửa chùa treo bức hoành màu đỏ với ba chữ "Lai Viễn Kiều" do chúa Nguyễn Phúc Chu ban tặng vào năm 1719 với ý nghĩa cây cầu của những người bạn từ phương xa đến. Ở mỗi đầu cầu, hai bên lối đi đều có hai bức tượng thú, một bên tượng khỉ, bên kia tượng chó. Các tượng đều được chạm bằng gỗ mít trong tư thế ngôi chầu, phía trước mỗi tượng có một bát nhang. Theo truyền thuyết, con thủy quái Mamazu có đầu nằm ở Nhật Bản, đuôi ở Ấn Độ Dương và thân thì ở Việt Nam, mỗi khi cựa mình sẽ gây ra động đất, thiên tai, lũ lụt. Vì vậy những người Nhật đã xây dựng cây cầu cùng tượng Thần Khỉ và Thần Chó để trấn yểm con quái vật. Một thuyết khác cho rằng những bức tượng khỉ và chó xuất hiện trên cầu vì công trình này được khởi dựng vào năm Thân, hoàn thành vào năm Tuất. Cây cầu nhỏ này ngày nay đã trở thành biểu tượng của thành phố Hội An. == Văn hóa == So với các đô thị khác của Việt Nam, Hội An có những đặc điểm lịch sử và địa lý nhân văn rất riêng biệt. Mảnh đất nơi đây có một lịch sử lâu đời và là nơi gặp gỡ, giao thoa của nhiều nền văn hóa. Đặc điểm đầu tiên có thể nhận thấy ở văn hóa Hội An chính là tính đa dạng. Những người Việt vào cư trú ở Hội An từ cuối thế kỷ 15 chung sống hòa bình với bộ phận dân cư người Chăm vẫn định cư rất lâu từ trước đó. Khi Hội An trở thành thương cảng quốc tế sầm uất, nơi đây đã tiếp nhận nhiều cư dân mới đến từ nhiều nền văn hóa khác nhau. Điều này giúp cho Hội An có được một nền văn hóa nhiều tầng, nhiều lớp và đa dạng, thể hiện ở tất cả các hình thái văn hóa phi vật thể như phong tục tập quán, văn học dân gian, ẩm thực, lễ hội... Một đặc điểm nổi bật khác của văn hóa Hội An là tính bình dân. Khác với Huế, kinh thành cũ, nơi nhiều di sản văn hóa mang tính chất cung đình, hệ thống di tích của Hội An là những thiết chế văn hóa cổ truyền của cuộc sống đời thường. Ở Hội An, văn hóa phi vật thể vẫn đang sống và tương thích với hình thái văn hóa vật thể. === Tín ngưỡng === Tại Hội An, bên cạnh tục thờ cúng gia tiên, những người dân còn có tục thờ Ngũ tự gia đường. Theo quan niệm ở đây, nước có vua nhà có chủ, thần chủ nhà chính là Ngũ tự gia đường. Phần đông ý kiến cho rằng Ngũ tự gia đường là năm vị thần trong coi cai quản và sắp đặt vận mệnh cho một gia đình, gồm thần Bếp, thần Giếng, thần Cổng, Tiên sư bổn mạng và Cửu thiên huyền. Với một số ít người Hoa, Ngũ tự gia đường gồm năm vị thần Táo quân, Môn thần, Hộ thần, Tỉnh thần và Trung Lưu thần. Khám thờ Ngũ tự gia đường được đặt trang trọng ngay giữa nhà, trên bàn thờ gia tiên. Thực tế, trong các ngôi nhà ở Hội An, ngoài khám thờ chung, mỗi vị thần trong Ngũ tự gia đường lại có nơi thắp hương riêng, như thần Táo được thờ ở bếp, thần Cổng được thắp nhang nơi cổng, thần Giếng có ban thờ gần giếng... Đặc biệt, trong các gia đình người Hoa, thay vì thờ Táo Quân trong bếp, họ lại đặt khám thờ Táo Quân ở không gian sân trời, bên cạnh khám thờ thần Thiên quan tứ phước. Về tôn giáo, có thể thấy ở Hội An tồn tại nhiều tôn giáo khác nhau như Phật giáo, Công giáo Rôma, Tin Lành, Cao Đài... nhưng Phật giáo vẫn chiếm đa số nhất. Nhiều gia đình ở Hội An không theo Phật giáo những vẫn thờ Phật và ăn chay. Những vị phật được thờ chủ yếu là Phật Bà Quan Âm và Thích Ca Mâu Ni, một số gia đình còn thờ Tam thế phật, gồm Thích Ca Mâu Ni và hai vị Quân Âm Bồ Tát, Thế Chí Bồ Tát. Trong mỗi nhà, khám thờ Phật được đặt nơi trang nghiêm, thanh tịnh, thường cao hơn ban thờ gia tiên một bậc. Thậm chí có những gia đình dành riêng một gian rộng để thờ Phật và làm nơi tụng niệm. Một điểm khác biệt nữa trong tín ngưỡng ở Hội An là tục thờ Quan Công, tuy ít gặp ở nông thôn nhưng đặc biệt phổ biến ở thành thị. Tuy hệ thống thần thánh được tôn thờ ở Hội An rất đa dạng và phong phú, nhưng Quan Công lại được xem như vị thánh linh thiêng nhất. Miếu thờ Quan Công được xây dựng ngay trong trung tâm khu phố cổ, trở thành một trung tâm tín ngưỡng thiêng liêng, quanh năm hương khói nghi ngút. Trong các gia đình, từ xa xưa người Hội An đã có quan niệm thờ Quan Công như thờ một vị thần hộ mạng, bảo hộ cho sự bình an của gia đình. Trên khám thờ Quan Công thường được đặt bộ tượng hoặc tranh Quan Công, Quan Bình cùng Châu Thương. Trong các di tích của người Hoa, đặc biệt là các hội quán, những vị thần thánh được thờ tùy thuộc vào tín ngưỡng riêng của cộng đồng. Tại Hội quán Phước Kiến, những người Hoa thờ Thiên Hậu Thánh mẫu, vị thần có nguồn gốc Phước Kiến, cùng Lục tánh vương gia, sáu vị trung thần của nhà Minh. Những người Hải Nam lập Hội quán Quỳnh Phủ thờ 108 vị Chiêu Ứng. Họ là 108 người dân Hải Nam đi buôn bán trên biển, không may bị nạn, sau được triều Nguyễn sắc phong làm Chiêu Ứng Công và ban thờ cúng. Người Triều Châu có Hội quán Triều Châu thờ vị thần chém sóng cứu nạn thuyền buôn trên biển Phục Ba Tướng quân. Ở Hội An còn có những hình thức tín ngưỡng khác như thờ bà cô, ông mãnh, vô danh vô vị, thờ đá bùa, đá thạch cảm đương. === Lễ hội truyền thống === Ở Hội An hiện nay vẫn gìn giữ được nhiều loại hình lễ hội truyền thống, như lễ hội kính ngưỡng thành hoàng làng, lễ hội tưởng niệm những vị tổ sư ngành nghề, lễ hội kỷ niệm các bậc thánh nhân, lễ hội tín ngưỡng tôn giáo. Quan trọng nhất chính là những lễ hội đình ở các làng ven đô thị. Thông thường, mỗi làng đều có một ngôi đình để thờ thành hoàng và các vị tiền hiên. Mỗi năm, thường vào đầu mùa xuân, các làng lại mở lễ hội để kính ngưỡng vị thánh của làng mình và tưởng nhớ công lao các vị tiên hiền. Công việc này thường do những người cao niên phụ trách, cứ đến kỳ hạn họ bầu ra một ban tế lễ và dân làng cùng đóng góp kinh phí, tham gia vệ sinh, trang hoàng đình miếu. Lễ cúng thường diễn ra trong hai ngày, ngày thứ nhất chỉ làm lễ cáo yết, ngày thứ hai mới là ngày tế chính thức. Vào dịp rằm tháng giêng và rằm tháng bảy hàng năm, những người dân vùng Hội An tổ chức lễ hội Long Chu tại các đình làng. Dịp tổ chức lễ hội chính là hai thời điểm chuyển từ mùa mưa sang mùa khô và ngược lại, khoảng thời gian dịch bệnh thường xảy ra. Trong suy nghĩ của dân gian, các dịch bệnh cho những thế lực thiên nhiên xấu xa mang tới, vì vậy tất cả mọi người trong làng, không trừ một ai, đều tham gia vào lễ hội. Vào ngày lễ chính, toàn thể dân làng rước Long Chu, một chiếc thuyền làm theo hình rồng, về đình và người chủ bái cùng thầy phù thủy sẽ khai quan điểm nhãn cho Long Chu. Sau nhiều nghi lễ cúng tế, buổi tối các tráng đinh đưa Long Chu đến những nơi cần yểm và sau đó mang đốt rồi thả ra biển. Tại các làng chài ven sông, biển của Hội An, đua ghe là một sinh hoạt văn hóa không thể thiếu, thường diễn ra trong dịp mừng xuân từ mùng 2 đến mùng 7 tháng giêng, cầu ngư vào rằm tháng hai và cầu an vào khoảng trung tuần tháng ba âm lịch. Theo quan niệm dân gian, đua ghe là dịp làm vui lòng các thánh thần thượng sơn hạ thủy và những đấng khuất mặt đã phù hộ cho thôn xóm được bình yên. Trước mỗi cuộc đua ghe, các làng xã náo nhiệt chuẩn bị, tập luyện. Chiến thắng trong các cuộc đua là niềm tự hào của dân làng và mang ý nghĩa mang lại một vận may trong mùa màng sắp tới. Trước đây, trong hội đua ghe, các yếu tố lễ, hội đều được xem trọng, nhưng ngày nay, phần hội thường nổi trội hơn và đọng lại lâu trong tâm thức mọi người. Cũng vào dịp cầu ngư hàng năm, dân cư các làng chài Hội An còn tổ chức lễ tế cá Ông, tri ân cá Ông đã cứu giúp những người hoạn nạn trên biển. Trong những lễ tế này, thường có hoạt động hát bả trạo, một loại hình văn nghệ dân gian độc đáo, miêu tả lại cảnh sinh hoạt, lao động trên sông nước. Và giống như các địa phương khác ở ven biển miền Trung, mỗi dịp cá Ông chết trôi dạt vào bờ, ngư dân thường tổ chức chôn cất, cúng tế rất linh đình. Từ năm 1998, chính quyền Hội An bắt đầu tổ chức Lễ hội đêm rằm phố cổ vào mỗi đêm 14 âm lịch hàng tháng. Ý tưởng độc đáo này xuất phát từ mong ước của kiến trúc sư Ba Lan Kazimier Kwiatkowski, người đã dành nhiều công sức trong việc bảo tồn hai di sản Hội An và Mỹ Sơn. Trong dịp lễ hội, thời gian từ 17 đến 22 giờ, tất cả các ngôi nhà, hàng quán, tiệm ăn đều tắt điện, toàn bộ khu phố chìm trong ánh sáng của trăng rằm và những ngọn đèn lồng. Trên các con phố, những phương tiện giao thông tạm thời bị cấm, chỉ dành cho người đi bộ. Tại các điểm di tích, nhiều hoạt động ca nhạc, trò chơi dân gian, thi đấu cờ tướng, đành bài chòi, thả hoa đăng... được tổ chức. Khi các ngày lễ lớn khác trùng vào đêm rằm, các hoạt động văn hóa sẽ phong phú hơn với những vũ hội hóa trang, vịnh thơ Đường, múa lân... Khách du lịch đến Hội An vào dịp đêm rằm sẽ được sống trong một không gian đô thị từ những thế kỷ trước. === Âm nhạc, diễn xướng và trò chơi dân gian === Những hình thức diễn xướng, trò chơi dân gian ở Hội An kết tinh từ quá trình lao động của cư dân địa phương, ngày nay vẫn được gìn giữ và là một phần quan trọng trong đời sống tinh thần nơi đây. Có thể kể đến những điệu hát hò khoan, các điệu hò giựt chì, hò kéo neo, những điệu lý, vè, các hình thức hát tuồng, bả trạo, hô thai, hô bài chòi... Hội An còn có truyền thống về diễn tấu cổ nhạc trong các dịp hội hè, tang ma hiếu hỉ, và truyền thống ca nhạc tài tử với những nghệ nhân khá nổi tiếng. Những người dân ở đây cũng có rất nhiều thú chơi, tiêu biểu có thể kể đến trò bài tới, trò đỗ xăm hường, trò thai đề xổ cử nhân, trò thả thơ, trò chơi thư pháp. Bài chòi, một thú giải trí đậm nét văn hóa của người dân xứ Quảng và cả vùng duyên hải miền Trung, vẫn được diễn đều đặn vào mỗi tối 14 âm lịch hàng tháng trên khuôn viên nhỏ ở góc đường Nguyễn Thái Học và Bạch Đằng. Nếu theo đúng thể thức, trong trò chơi bài chòi sẽ có khoảng 10 chiếc chòi được dựng, mỗi chòi sẽ được phát ba quân bài trên đó ghi những chữ khác nhau. Bộ bài này được gọi là bộ bài tới, in theo lối mộc bản trên giấy gió, phủ qua một lớp điệp rồi bồi thêm giấy cứng, mặt sau phết màu đỏ, xanh lá cây hoặc xanh xám. Ở chòi trung tâm có một ống thẻ đựng bài cái. Khi tiếng trống hội đã dứt, những người chơi đã vào chòi con, tay cầm quân bài, anh hiệu sẽ bước đến ống thẻ, xóc đi xóc lại rồi rút ra một quân bài. Mỗi lần rút, anh hiệu lại hô lên những tiếng, ví dụ như "ông ầm", "tam quăn", "tứ cẳng"... chòi nào có đúng quân bài đó sẽ gõ ba tiếng mõ và nhận được một lá cờ từ anh lính lệ. Khi chòi nào nhận được đủ ba cờ thì sẽ hô "Tới". Một hồi mõ kép dài, ở chòi trung tâm tiếng trống tum, trống cán sẽ vang lên. Trong trò bài chòi, tiếng hô của anh hiệu là cốt lõi của trò chơi. Anh hiệu phải là người thuộc những bài truyền khẩu dân gian cộng với tài ứng tác, để nội dung cuộc chơi luôn bất ngờ. Thay vì chỉ hô tên con bài, anh hiệu có thể hô một hay nhiều câu lục bát ứng tác bát có liên quan đến con bài. Hô bài chòi là một hình thức diễn xướng mang đậm nét dân dã, điểm hấp dẫn chính của trò chơi. Một hình thức diễn xướng dân gian có vai trò rất lớn trong đời sống tinh thần, tâm linh của cư dân vùng biển Hội An là hát bả trạo. Trình tự một buổi biểu diễn bả trạo có kết cấu như một hoạt cảnh thể hiện những diễn biến từ khi con thuyền ra khơi cho đến khi cập bến an toàn. Bả trạo thuộc thể loại dân ca lễ nghi, có sự kết hợp với hình thức diễn tuồng, một loại hình sân khấu rất được người dân Quảng Nam yêu thích. Ngoài lối múa hát chèo thuyền đã được nghệ thuật hóa, lối hát trong bả trạo còn có lối xướng, hô và trình diễn các điệu dân ca như hò, lý, ngâm, hát... được thể hiện qua tài năng của các nghệ nhân tạo nên sự hấp dẫn với người xem. Trong lễ hội nghinh Ông, hát bả trạo thể hiện sự thành kính, thương tiếc cá Ông "Ngọc Lân Nam Hải", vị thần cứu giúp ngư dân trong cơn hoạn nạn trên biển, đồng thời cũng thể hiện mong ước bình yên trước cảnh sóng nước mênh mông, bão tố rập rình. Những cư dân Hội An còn dùng diễn xướng bả trạo làm nghi thức trong tang lễ những người dân ven biển, than khóc số phận người xấu số, ca ngợi công đức người đã khuất. === Ẩm thực dân gian === Với vị trí vùng cửa sông ven biển, nơi gặp nhau của các tuyến giao thông đường thủy và cũng là nơi hội tụ về kinh tế, văn hóa liên tục trong nhiều thế kỷ, Hội An có được một nền ẩm thực đa dạng và mang những sắc thái riêng biệt. Vùng đất nơi đây không có được những cách đồng rộng lớn như đồng bằng sông Cửu Long hay đồng bằng sông Hồng, nhưng bù lại Hội An có các cồn bãi ven sông màu mỡ và những thửa ruộng hẹp giàu phù sa. Môi trường sông biển này đã ảnh hưởng trực tiếp đến cuộc sống hàng ngày, phong tục tập quán, lối sống của cư dân địa phương, trong đó có thói quen ẩm thực. Trong bữa ăn hàng ngày của người dân Hội An, thủy hải sản luôn chiếm một phần lớn, còn ngoài chợ, số lượng tôm cua cá được tiêu thụ thường gấp đôi số lượng thịt. Cá trở thành một món ăn không thể thiếu trong khẩu phần hàng ngày của dân cư Hội An và người ta quen gọi khu vực bày bán thức ăn là chợ cá. Ngày nay tại Hội An vẫn lưu truyền một số thói quen, tập quán ẩm thực của một số gia đình người Hoa. Vào những dịp lễ tết, các dịp hôn hỉ, họ thường nấu một số món ăn riêng như bún xào Phước Kiến, cơm Dương Châu, kim tiền kê, phạch xồi... để cùng nhau thưởng thức, cũng là dịp nhớ lại nguồn gốc dân tộc. Những người Hoa đã góp phần đáng kể làm nên sự phong phú của ẩm thực Hội An, cũng là tác giả của nhiều món đặc sản chỉ có ở đây. Một trong những món ăn tiêu biểu của ẩm thực Hội An là món cao lầu. Nguồn gốc món ăn, cùng như cái tên Cao lầu, ngày nay rất khó xác định. Những Hoa kiều ở Hội An không công nhận đây là món ăn của họ. Một số nhà nghiên cứu Nhật Bản cho rằng cao lầu có nét giống món mỳ ở vùng Ise, nhưng trên thực tế hương vị và cách chế biến của cao lâu khác món mỳ này. Sợi cao lầu được chế biến rất công phu. Người ta ngâm gạo và nước trong được lọc kỹ, sau đó xay thành nước bột. Bột được dùng vải bòng nhiều lần để khô, dẻo rồi cán thành miếng vừa cỡ và cắt thành con mỳ. Cao lầu không cần nước lèo, nước nhân, thay vào đó là thịt xíu, nước xíu, tép mỡ và để bớt béo người ta dùng kèm với giá trụng, rau sống. Khi bán, người ta trần mỳ, giá đổ ra bát và thêm mất lát thịt xíu hoặc thịt ba chỉ, đổ tép mỡ, thêm một muỗng mỡ heo rán sẵn ở lò bên. Trước đây ở Hội An có các tiệm cao lầu ông Cảnh, Năm Cơ từng đi vào câu ca dao: Hội An có Hạ Uy Di. Chùa Cầu, Âm Bổn, cao lầu Năm Cơ. Bên cạnh những món đặc sản mang tính phố thị như cao lầu, hoành thánh, bánh bao, bánh vạc... Hội An còn có nhiều món ăn dân dã hấp dẫn như bánh bèo, hến trộn, bánh xèo, bánh tráng... và đặc biệt là mì Quảng. Đúng như tên gọi, món mỳ này có nguồn gốc xuất phát từ Quảng Nam. Mỳ Quảng cũng như phở, bún đều được chế biến từ gạo nhưng lại có sắc thái và hương vị rất riêng biệt. Để làm mỳ, người ta dùng gạo tốt ngâm nước cho mềm, đem xay thành bột nước mịn rồi pha thêm phèn sa để sợi mỳ giòn, cứng, đem tráng thành lá mỳ. Khi mỳ chín được vớt ra đặt lên vỉ cho nguội, thoa sơ một lớp mỡ cho mỳ khỏi dính rồi cắt thành sợi. Nước nhân mỳ được làm bằng tôm, thịt lợn hoặc thịt gà, có khi được làm bằng cá lóc, thịt bò. Nước nhân mỳ không cần nhiều màu mè, không nhiều gia vị mà phải trong và có vị ngọt. Ở Hội An, mỳ Quảng được bán khắp nơi, từ các quán ăn thành thị đến những hàng quán ở thôn quê, đặc biệt là những quán mỳ trên hè phố. Bánh bao, bánh vạc là một trong những món ăn sang trọng, ngon và lạ của phố cổ Hội An. Bánh bao, bánh vạc thường đi đôi với nhau, cả hai đều được làm bằng nguyên liệu chính là bột gạo. Ngay từ khâu chọn gạo đã thấy bánh bao bánh vạc là loại bánh kén chọn nguyên liệu. Bột gạo làm bánh phải lấy từ loại gạo thơm ngon, mua về sàng sảy kỹ rồi cho vào nước và xay thành bột. Nước dùng để xay phải trong, không nhiễm mặn, nhiễm phèn, thường là nước từ giếng cổ Bá Lễ. Sau nhiều lần chắt lọc, bột được vê lại và để trong một chiếc thau sạch. Cùng với việc chế biến bột, người thợ tiến hành làm nhân bánh, gia chế hành, khử vàng hành dùng trải trên bánh trước khi ăn. Nhân bánh được chia làm hai loại, nhân bánh bao và nhân bánh vạc. Nhân bánh bao chủ yếu gồm tôm và gia vị được pha trộn và giã nhiều lần trong cối. Nhân bánh vạc hơi khác và phong phú hơn, ngoài chả tôm còn có giá hột, nấm mèo, măng tre, thịt heo thái hình hạt lựu, lá hành. Tất cả hỗn hợp nhân này được cho vào xoong và xào với muối, mắm. Bắt đầu vào công đoạn chế biến bánh, cả bánh bao và bánh vạc được làm song song, thường có từ 2 đến 4 thợ làm bánh. Bánh bao được làm với lớp bột thật mỏng, cách điệu như những cánh hoa hồng. Bánh vạc lớn hơn bánh bao, trông giống hình quai vạc. Khi làm xong, bánh được chưng cách thủy trên bếp, khoảng chừng 10 đến 15 phút là chín. Lúc ăn, hai loại bánh được dùng chung với nhau, nhưng thực khách có thể chọn bánh bao bánh vạc tùy thích. Những chiếc bánh được bày cầu kỳ, bánh bao xếp ở giữa và bên trên, bánh vạc xếp xung quanh và bên dưới. Bánh xếp xong được trải lớp hành phi vàng, kế đó rưới thêm một muỗng dầu phụng khử chín. Bánh bao, bánh vạc được dùng với nước chấm riêng, pha chế từ nước mắm, có vị ngọt của thịt tôm, có vị chua của chanh và vị cay nồng của những lát ớt vàng được xắt khéo léo. Không chỉ có những món ăn ngon, phong phú, các hàng quán ở Hội An còn có cách bài trí, phục vụ mang những nét riêng. Những nhà hàng trong khu phố cổ thường treo một vài bức tranh xưa, xung quanh trang trí chậu hoa, cây cảnh hoặc đồ mỹ nghệ. Một số hàng quán còn có thêm hồ cá, hòn non bộ... tạo sự thư giãn, thoải mái cho thực khách. Tên những nhà hàng cũng mang tính truyền thống, được kế thừa từ đời này sang đời khác. Bên cạnh ẩm thực truyền thống, một số món ăn, thói quen xuất phát từ Pháp, Nhật và phương Tây vẫn được duy trì và phát triển, góp phần làm phong phú nếp ẩm thực của Hội An, phục vụ nhu cầu đa dạng của những du khách. == Xem thêm == Khu phố cổ Hà Nội Phố Hiến Cảng thị cổ Thanh Hà Phố cổ Thành Nam Phố cổ Đồng Văn == Tham khảo == === Thư mục === == Liên kết ngoài == Di sản văn hóa thế giới Hội An - Trang của Trung tâm Văn hóa và Thể thao Hội An
samsung galaxy a9 pro.txt
Samsung Galaxy A9 Pro (2016) là dòng điện thoại thông minh do Samsung Electronics sản xuất. Điện thoại này được giới thiệu vào tháng 3 năm 2016. Samsung Galaxy A9 Pro (2016) chạy hệ điều hành Android 6.0.1 Marshmallow. Sự khác biệt giữa Samsung Galaxy A9 (2016) và phiên bản PRO là A9 (2016) có bộ nhớ RAM 3GB, trong khi đó A9 PRO (2016) có bộ nhớ RAM 4GB. == Chú thích ==
iso 3166-1 alpha-2.txt
Mã ISO 3166-1 alpha-2 là những mã quốc gia hai ký tự trong tiêu chuẩn ISO 3166-1 để đại diện cho quốc gia và lãnh thổ phụ thuộc. Chúng được Tổ chức tiêu chuẩn hoá quốc tế (ISO) phát hành như một phần của tiêu chuẩn ISO 3166 của tổ chức. Chúng là những mã được sử dụng nhiều nhất trong các bộ mã do ISO phát hành, và được dùng nhiều cho tên miền quốc gia cấp cao nhất (với một số thay đổi). Những mã này lần đầu xuất hiện trong bộ tiêu chuẩn ISO 3166 phiên bản đầu tiên vào năm 1974. == Việc sử dụng và ứng dụng == Những mã này được dùng trong nhiều môi trường khác nhau và cũng là một phần của những tiêu chuẩn khác. Trong một số trường hợp, chúng không được chính xác lắm. === Thi hành đầy đủ === Những mã 2 ký tự ISO 3166-1 được dùng trong: ISO 3901 — Mã thu chuẩn quốc tế ISO 4217 — Mã tiền tệ ISO 6166 — Hệ thống số nhận dạng Chứng khoán quốc tế (ISIN) ISO 7372 — Trao đổi dữ liệu thương mại (Danh mục phần tử dữ liệu thương mại) ISO 9362 — Mã SWIFT codes (Mã nhận dạng Ngân hàng) ISO 9375 ISO 13616 — Số tài khoản ngân hàng quốc tế UN/LOCODE — Mã Liên hiệp quốc về Vị trí Thương mại và Vận tải, do implemented by the Ủy ban Kinh tế châu Âu của Liên hiệp quốc Đánh dấu ngôn ngữ IETF === Thi hành không đầy đủ === Bắt đầu từ năm 1985, mã hai ký tự đã được dùng trong hệ thống phân giải tên miền làm tên miền quốc gia cấp cao nhất (ccTLD). Ngày nay, Tổ chức cấp phát số hiệu Internet gán ccTLD, đa số theo mã ISO 3166-1 alpha-2, nhưng có một số ngoại lệ (ví dụ, Liên hiệp Vương quốc Anh và Bắc Ireland yêu cầu bảo lưu ngoại lệ .uk cho ccTLD của họ thay vì tên gốc .gb) Tiêu chuẩn ghi mã ST.3 của WIPO sử dụng mã alpha-2 để mã hóa các bang, những thực thể và tổ chức liên chính phủ khác (và Cơ quan Sáng chế/Thương hiệu), nhưng bao gồm một số mã thêm vào. Đối với những mã thêm vào này, xem phần Mã hiện không được phép dùng. Mã quốc gia NATO cũng dựa trên ISO 3166-1 alpha-2. == Các thay đổi == Những thay đổi của ISO 3166-1 alpha-2 được ghi trong ISO 3166-3. == Các mã hiện nay == === Bảng giải mã === Dưới đây là bảng giải mã theo màu của tất cả các yếu tố mã ISO 3166-1 alpha-2. Nhấn vào ô để xem mục tương ứng. === Yếu tố mã được gán chính thức === Dưới đây là danh sách đầy đủ những mã ISO 3166-1 alpha-2 bia dat, với ba cột: Alpha-2 – mã quốc gia 2 ký tự (với liên kết đến mã địa lý ISO 3166-2) Tên quốc gia – Tên ngắn bằng tiếng Anh được Cục Bảo trì ISO 3166 (ISO 3166/MA) sử dụng chính thức Ghi chú – Ghi chú không chính thức === Yếu tố mã tự gán === Những mã alpha-2 sau đây người dùng có thể tự gán: AA, từ QM đến QZ, từ XA đến XZ, và ZZ. Những yếu tố mã này tùy vào cách bố trí của người dùng nào cần thêm các tên quốc gia, vùng lãnh thổ hoặc khu vực địa lý khác vào ứng dụng ISO 3166-1 của riêng họ, và ISO 3166/MA sẽ không bao giờ dùng chúng khi cập nhật tiêu chuẩn. Ví dụ: UN/LOCODE gán XZ cho Các cơ sở nước trên thế giới. Tổng cục Hải quan của Bộ Tài chính Cộng hòa Trung Hoa đang kiểm soát Đài Loan chỉ định bốn mã sử dụng cá nhân cho nhu cầu thống kê của mình [1] [2]: XA – Quần đảo Ryukyu, Cộng hòa Trung Hoa chưa bao giờ xem là lãnh thổ Nhật Bản XB – Nevis XC – Tahiti ZZ – các quốc gia khác === Yếu tố mã bảo lưu === Những yếu tố mã bảo lưu là những mã, tuy không phải là mã ISO 3166-1, vẫn được sử dụng cho một số ứng dụng cùng với các mã ISO 3166. ISO 3166/MA do đó bảo lưu chúng, để không dùng chúng cho những mã ISO 3166 chính thức mới, như thế sẽ tạo ra mâu thuẫn giữa tiêu chuẩn và các ứng dụng đó. Danh sách yếu tố mã bảo lưu alpha-2 được chia thành những loại sau. ==== Bảo lưu ngoại lệ ==== Những mã alpha-2 được bảo lưu ngoại lệ được bảo lưu vĩnh viễn do yêu cầu của các cơ quan thành viên ISO của quốc gia, chính phủ và tổ chức quốc tế vì chúng cần thiết cho những mục đích nào đó. ISO 3166/MA chỉ cho phép sử dụng chúng với mục đích đã đề xuất. Những mã alpha-2 sau hiện đang được bảo lưu ngoại lệ: Ba mã sau cũng nằm trong danh sách bảo lưu ngoại lệ, cho đến khi được cập nhật từ ngày 29 tháng 3 năm 2006 đưa chúng vào mã chính thức trong tiêu chuẩn: ==== Bảo lưu chuyển tiếp ==== Một sự bảo lưu chuyển tiếp liên quan đến một mã trước đây hiện diện trong ISO 3166, nhưng đã bị xóa. Nó sẽ được duy trì ở đó như sự bảo lưu chuyển tiếp trong vòng ít nhất năm năm, phòng ngừa người dùng vẫn vần tham khảo đến thành phần cũ hoặc những hệ thống chưa được cập nhật mã mới. Những mã alpha-2 sau hiện đang được bảo lưu chuyển tiếp: ==== Bảo lưu mơ hồ ==== Những yếu tố mã alpha-2 được bảo lưu mơ hồ là những yếu tố mã được dùng để xác định những phương tiện giao thông theo như Quy ước Giao thông Đường bộ Liên hiệp quốc n ăm 1949 và 1968. Những mã này khác với những mã dùng trong ISO 3166. ISO 3166/MA hy vọng rằng những mã này cuối cùng sẽ được xóa và rằng những mã ISO 3166-1 sẽ được dùng thay thế; nhưng trong thời gian đó chúng được bảo lưu, để tránh mâu thuẫn giữa ISO 3166-1 và bản Quy ước, và để thuận tiện cho bất kỳ sự chuyển đổi nào từ mã Quy ước sang mã ISO 3166-1. Tuy nhiên, chúng có thể được gán lại bất cứ lúc nào bởi ISO 3166/MA. Những mã alpha-2 sau hiện được bảo lưu mơ hồ: Những mã sau đã được gán lại Ghi chú: Mã được thông báo Tổng thư ký LHQ theo Quy ước Giao thông Đường bộ năm 1949 và/hoặc 1968 Mã được dùng cho mục đích giao thông, nhưng không được thông báo cho Tổng thư khí LHQ theo Quy ước Giao thông Đường bộ năm 1949 Mã theo Quy ước Giao thông Đường bộ năm 1949 Mã theo Quy ước Giao thông Đường bộ năm 1968 Mã này được dùng để chỉ đến cả Bolivia lẫn Botswana ==== Mã hiện không được phép dùng ==== Ngoài ra, ISO 3166/MA đã quyết định, cho đến khi giải quyết xong, không dùng những mã alpha-2 sau theo Tiêu chuẩn ST.3 của WIPO. Tuy nhiên, quyết định này không được xếp vào bảo lưu chuyển tiếp hay mơ hồ, vì những mã này không chỉ đến quốc gia, vùng lãnh thổ hoặc khu vực địa lý nào: Chuẩn ST.3 của WIPO thực ra sử dụng EA để ghi mã cho Tổ chức Sáng chế Âu-Á. Tuy nhiên, ISO 3166/MA cho rằng không thể bảo đảm việc bảo lưu mã EA không cho dùng, vì nó đã được dùng cho mục đích hải quan đại diện cho Ceuta và Melilla. ISO 3166/MA đề nghị vào năm 1995 rằng EV được WIPO dùng với mục đích đại diện cho Tổ chức Sáng chế Âu-Á, đề nghị không được WIPO thực hiện. == Những mã đã rút ra khác == để xem danh sách đầy đủ những mã đã rút ra Ngoài những mã hiện được bảo lưu chuyển tiếp và FX (đang được bảo lưu ngoại lệ), những mã alpha-2 này đã được rút ra so với phiên bản đầu tiên của ISO 3166 vào năm 1974: == Xem thêm == ISO 3166 ISO 3166-1 ISO 3166-1 alpha-3, mã quốc gia 3 ký tự ISO 3166-1 numeric, mã quốc gia 3 chữ số ISO 3166-2 ISO 3166-3 == Nguồn và liên kết ngoài == Tổ chức Tiêu chuẩn Quốc tế (ISO): Cơ quan Bảo trì Danh sách các quốc gia và các yếu tố mã ISO 3166-1 alpha 2 chính thức Bảng giải mã ISO 3166-1 alpha-2 chính thức CIA World Factbook, Phụ lục D – Danh sách tham khảo chéo các mã dữ liệu quốc gia (phạm vi công cộng) Mã quốc gia trong ISO 3166 (có cả mã đã xóa) Lịch sử thay đổi ISO 3166-1 == Tham khảo ==
melbourne.txt
Melbourne (/ˈmɛlbən/ ( nghe);) là thủ phủ và thành phố lớn nhất bang Victoria, và là thành phố lớn thứ hai ở Úc. Địa danh "Melbourne" dùng để gọi tên toàn bộ vùng đô thị rộng hơn 9.900 km2 gồm nhiều khu dân cư khác nhau, đồng thời cũng là tên gọi phần trung tâm nội ô thành phố. Vùng đô thị ngày nay toạ lạc quanh một vịnh kín tự nhiên gọi là Vịnh Port Phillip và bao trùm trên một vùng rộng lớn từ vùng đồi xen lẫn đồng cỏ ở gần chân núi Macedon đến Dãy núi Dandenong và bán đảo Mornington ở phía đông và đông nam. Trải qua nhiều thập niên phát triển và nhập cư ồ ạt, Melbourne đã trở thành nhà của hơn 4,5 triệu người đến từ hàng trăm nước trên thế giới. Được thành lập năm 1835, bởi những người định cư từ Launceston trong Vùng đất Van Diemen (Tasmania ngày nay), Melbourne từ một thị trấn vùng sâu vùng xa của New South Wales nhanh chóng phát triển thành thủ phủ một thuộc địa. Toàn quyền NSW Richard Bourke đã đặt tên nơi đây là Melbourne, theo tên của William Lamb, Tử tước Melbourne, Thủ tướng nước Anh đương thời. Không lâu sau khi được nâng cấp lên Thành phố năm 1847, Melbourne đón nhận dòng dòng người nhập cư ồ ạt do hai cuộc đổ xô tìm vàng kéo đến. Nguồn vốn nhân lực và tài lực mới đã biến nơi này thành một trong những đô thị hào hoa và thịnh vượng bậc nhất thế giới trong giai đoạn cuối thế kỷ 19. Có lẽ vì thế mà sau khi Liên bang Úc được thành lập năm 1901, Melbourne đã được chọn làm thủ đô lâm thời đến tận năm 1927. Thứ hạng cao về giáo dục, nghiên cứu, y tế, du lịch, thể thao cùng môi trường trong lành, mát mẻ và mạng lưới giao thông công cộng rộng khắp giúp Melbourne giữ vững vị trí quán quân "thành phố đáng sống" trong suốt 6 năm liền. Về kinh tế, Melbourne còn là trung tâm thương mại, tài chính quan trọng trong khu vực châu Á - Thái Bình Dương và xếp hạng thứ 30 trên Bảng chỉ số Trung tâm Tài chính Toàn cầu. Còn đối với người dân xứ sở chuột túi, thành phố còn đảm nhiệm vai trò là "kinh đô văn hoá" nước nhà, và là nơi khởi nguồn của nền điện ảnh truyền hình nước nhà, nơi khai sinh ra môn thể thao bóng đá Úc và trường phái hội hoa ấn tượng phong cách Úc. Thành phố còn được liệt kê trong danh sách các Thành phố Văn chương UNESCO, và là thiên đường của âm nhạc, kịch nói, nghệ thuật truyền thống và nhiều loại hình nghệ thuật đường phố đặc sắc. Melbourne đăng cai Thế vận hội Olympic năm 1956. Theo tiêu chuẩn về "dịch vụ cao cấp", Melbourne được nhóm nghiên cứu GaWC xếp vào loại hai ("các thành phố nhỏ của thế giới") đằng sau các thành phố như Montréal, Osaka hay Praha. Thành phố này có số lượng sinh viên quốc tế thuộc loại đông nhất trên thế giới, sau London, New York và Paris. Melbourne hiện đang sở hữu mạng lưới xe điện mặt đất (tramway) lớn nhất trên thế giới, với gần 250 km đường sắt đôi phủ kín khu vực đô thị và vùng ngoại ô của thành phố. == Tên gọi == Thành phố được đặt tên theo Thủ tướng Anh, William Lamb, Tử tước Melbourne, người sống gần Melbourne ở Derbyshire, Anh. Melbourne có gốc từ Mylla Burne trong tiếng Anh cổ và có nghĩa là "Mill Stream". == Địa lý == Melbourne nằm ở góc đông-nam lục địa châu Úc, và là thành phố nằm ở cực nam lục địa. Về mặt địa chất, thành phố được xây dựng trên nơi hợp dòng của dòng dung nham Quaternary chảy về hướng tây và vùng trầm tích cát Holocene theo hướng đông-nam dọc cảng Phillip. Vùng ngoại ô của thành phố vươn ra theo hướng đông, hướng con sông Yarra đến dãy núi Yarra và dãy Dandenong phía đông-nam của cửa vịnh và dọc theo sông Maribyrnong và các nhánh sông hướng tây và hướng bắc của nó đến các vùng đồng bằng. Khu trung tâm kinh doanh (thành phố gốc ban đầu) thì nằm trên khu nổi tiếng Hoddle Grid, bờ phía nam của nó đối diện với Yarra. === Khí hậu === == Lịch sử == Melbourne được thành lập vào năm 1835 bởi những người khai hoang đến từ vùng Van Diemen (Tasmania). Nó được xây dựng trên đất của người Kulin, cư dân bản địa của vùng đất này. Melbourne là thủ phủ đầu tiên của quận Port Phillip, New South Wales và sau đó là thuộc địa tách biệt của bang Victoria. Việc tìm thấy vàng ở Victoria vào thập niên 1850 đã dẫn đến một làn sóng tìm vàng ở Victoria, Melbourne nhanh chóng trở thành một trung tâm cảng biển và dịch vụ. Sau đó, nó trở thành trung tâm sản xuất hàng đầu của Úc. Suốt thập niên 1880, Melbourne là thành phố lớn thứ hai của Đế quốc Anh, và được biết đến với cái tên "Melbourne kỳ diệu" (Marvellous Melbourne). Kiến trúc thời Victoria hiện diện khắp nơi ở Melbourne và ngày nay thành phố này là nơi có nhiều nhất những kiến trúc thời đại Vitoria còn tồn tại so với các thành phố khác trên khắp thế giới ngoại trừ Luân Đôn. Vào ngày 1 tháng 1 năm 1901, Melbourne đã trở thành Thủ đô của Liên bang Úc. Quốc hội Liên bang đầu tiên được thành lập vào ngày 9 tháng 5 ở Tòa nhà Triển lãm Hoàng gia. Trụ sở chính phủ và thủ đô của quốc gia được đặt ở Melbourne cho đến năm 1927, khi nó được chuyển đến Canberra. Melbourne tiếp tục phát triển trong suốt nửa đầu thế kỷ 20, đặc biệt với các dân di cư sau Chiến tranh thế giới thứ hai và uy tín trong việc tổ chức Thế vận hội mùa hè 1956 vào năm 1956. Ngay cả sau khi thủ đô chính trị được dời đến Canberra, Melbourne vẫn tiếp tục là trung tâm kinh doanh và tài chính cho đến thập niên 1970, khi nó bắt đầu đánh mất vị trí dẫn đầu vào tay Sydney. Thêm vào đó, Melbourne cũng là một trung tâm phát triển của các loại hình nghệ thuật. Vào thập niên 1980, Melbourne trải qua một cuộc khủng hoảng do nạn chảy máu nhân lực cho New South Wales và Queensland. Vào thập niên 1990, chính phủ của Thủ hiến Jeff Kennett thuộc Đảng Tự do tìm cách thay đổi xu hướng trên bằng sự phát triển các tòa cao ốc công cộng mới (như Viện bảo tàng Melbourne, Trung tâm Triển lãm và Hội nghị Melbourne, Crown Casino), và việc quảng bá những sự kiện, thành tựu xuất sắc của Melbourne ra bên ngoài và cộng đồng cư dân Melbourne. Việc làm này được tiếp tục dưới chính phủ của thủ hiến đương nhiệm, Steve Bracks, thuộc Đảng Lao động. == Con người == === Dân số === Dân số Melbourne tăng một cách đột ngột vào thời kỳ mọi người đổ xô đi tìm vàng. Gần 125.000 người từ khắp nơi trên thế giới đã đến đây chỉ trong một năm. Trong 2 thập niên sau đó, 1870 và 1880, Melbourne là thành phố đông dân nhất Úc. Vào thập niên 1890, sự suy sụp kinh tế sâu sắc đã hạ gục Melbourne. Dân số Melbourne sụt giảm một lượng lớn trong những năm 1890 là kết quả của làn sóng những người thất nghiệp di cư về phía tây để tìm vàng hoặc việc làm trong những ngành công nghiệp mới mẻ được kích thích bởi thứ kim loại quý giá này. Nhu cầu về dân số tăng lên và lực lượng lao động đã tiếp nhận nhiều người Anh, Nam Tư, Hà Lan, Đức, Ả Rập và Maltese di cư đến sau năm 1945. Một số lớn người Ý và Hy Lạp cũng đã đến vào những thập niên 1950 và 1960, trở thành những cộng đồng lớn nhất bên cạnh những cộng đồng khác từ Anh và Ireland. Melbourne là nơi có cộng đồng người Hy Lạp có tổ tiên sinh sống ngoài đất nước Hy Lạp đông nhất thế giới. Trong những thập niên 1970 và 1980, những người tị nạn từ Campuchia và Việt Nam đã chọn Melbourne làm quê hương cùng với người Ấn Độ, Philippines và Malaysia. Làn sóng dân di cư gần đây nhất đến từ Nam Phi. Mặc dù Brisbane và Perth là những thành phố phát triển nhanh hơn (chỉ trong một vài giai đoạn) và sự di cư nội bộ trong mạng lưới các tiểu bang của Victoria thay đổi bất thường, thống kê cho thấy dân số Melbourne tăng xấp xỉ 50.000 người một năm kể từ năm 2003, nhiều hơn bất kỳ thành phố nào khác ở Úc. Sự thu hút một tỉ lệ lớn những người di cư từ hải ngoại và di cư trong nội bộ các tiểu bang từ Sydney có nguyên nhân chủ yếu từ việc "dễ dàng" được cấp nhà. Trong những năm gần đây, ở Melton, Wyndham và Casey các thống kê đã ghi nhận tỉ lệ tăng trưởng cao nhất trong tất cả các chính quyền địa phương ở Úc. Dân số Melbourne theo năm: 1836: 177 1851: 20.000 1854: 300.800 (nhập cư tìm vàng) 1860: 500.000 1895: 900.000 1956: 1.500.000 1981: 2.806.000 1991: 3.156.700 2001: 3.366.542 2004: 3.559.700 2012: 4.000.000 (dự đoán) === Mật độ dân số === Melbourne là một thủ phủ trải dài. Mật độ dân số của Melbourne đã giảm đi sau Chiến tranh thế giới thứ hai, cùng với những xe hơi riêng và sự quyến rũ của việc mở rộng nhà cửa và đất đai ra ngoại ô, chủ yếu là về hướng Đông. Sau nhiều cuộc tranh luận vào thập niên 1980 (thường là rất mãnh liệt, trên công chúng rộng rãi cũng như trong giới chuyên môn quy hoạch), sự suy giảm trên đã thật sự được đảo lại vào những năm đầu thập niên 1990. Lúc đó Melbourne trở nên nóng bỏng bởi sự suy sụp của thị trường bất động sản, và thành phố đã có sự gia tăng mật độ ở nội ô cũng như các vùng ngoại ô phía Đông. Mật độ dân số nội thành (người/ha) theo năm: 1951 23,4 Melb. Metro. Planning Scheme 1954, p. 23 1961 21,4 Australian Bureau of Statistics 1971 18,1 A.B.S. 1976 16,75 Melbourne Social Atlas, 1976 (A.B.S.) 1981 15,9 Social Atlas, 1981 1986 16,05 Soc. Atlas/"Supermap" Census Data, 1986 1991 16,8 Social Atlas/Supermap, 1991 1996 17,9 Department of Infrastructure, 1998 == Chính phủ == Vùng đô thị Melbourne không có một cơ quan chính phủ cai trị toàn bộ. Người dân trực tiếp bầu ra một đô trường Melbourne, hiện tại là ông Robert Doyle, và cũng chọn bầu ra Hội đồng thành phố Melbourne, nhưng những người này chỉ chịu trách nhiệm cho Thành phố Melbourne, bao gồm vùng thương mại trung tâm và vài vùng ngoại ô phía trong. Tuy nhiên ông đô trưởng thường được xem là đại diện của toàn bộ thành phố. Phần còn lại của thủ phủ được chia làm 30 đô thị tự trị, tất cả đều được gọi là những thành phố (city), ngoại trừ 5 đô thị ở vùng ven của Thành phố được gọi là quận (shire). Những đô thị này đều có hội đồng được cử ra để chịu trách nhiệm về những chức năng được ủy thác cho họ bởi chính phủ bang Victoria. Những chức năng này bao gồm quy hoạch, thu gom rác, làm vệ sinh các bãi tắm, công viên và vườn tược, chăm sóc trẻ em và nhà trẻ, các lễ hội địa phương và các hoạt động văn hóa, chăm sóc người cao tuổi, giám sát sức khỏe cộng đồng, hệ thống vệ sinh và những vấn đề tương tự. Tiền thuế thu được từ người dân được chi tiêu cho các hoạt động này. Hội đồng được đại diện chung bởi Hiệp hội chính phủ địa phương bang Victoria (Local Government Association of Victoria). Phần lớn những hoạt động của chính quyền thành phố được chính quyền bang Victoria kiểm soát. Những hoạt động này bao gồm vận tải, quản lý các đường chính, điều khiển giao thông, các chính sách, giáo dục trên mức mẫu giáo, việc hoạch định các dự án lớn. Bởi vì ba phần tư dân số của bang Victoria sống ở Melbourne, chính quyền bang đã có truyền thống miễn cưỡng trong việc cho phép phát triển hệ thống chính quyền thành phố, vì đây là việc ảnh hưởng đến sự sống còn của chính quyền bang. Vì lý do trên, Ban việc làm Melbourne và Vùng thủ phủ được thành lập năm 1992 đã trở nên một cơ quan quyền lực tự trị hùng mạnh. == Giáo dục == Một số đại học được đặt ở Melbourne, bao gồm các trường như Đại học Deakin, Đại học La Trobe, Đại học Monash, Đại học RMIT, Đại học Kỹ thuật Swinburne, Đại học Melbourne và Đại học Kỹ thuật Victoria. === Trường học === == Kinh tế == Melbourne là một trung tâm công nghiệp và thương mại rộng lớn. Nhiều công ty lớn của Úc, và nhiều liên doanh đa quốc gia đã đặt trụ sở tại đây (khoảng một phần ba các công ty đa quốc gia lớn nhất tại Úc vào năm 1992). Cơ quan đầu não đại diện cho công nhân Úc cũng đặt trụ sở tại Melbourne. Melbourne là nơi có hải cảng lớn nhất của Úc và có nhiều ngành công nghiệp tự động (kể cả nhà máy sản xuất động cơ Holden, Ford và Toyota), và nhiều ngành công nghệ sản xuất khác. Các đại hội thể thao cũng mang lại nhiều dự án xây dựng hạ tầng cơ sở. == Giao thông == Melbourne được trang bị một hệ thống giao thông công cộng. Nó có một hệ thống xe điện dày đặc, 300 tuyến xe buýt và hệ thống xe lửa với hơn 15 đường ray. Giống như bất cứ thành phố lớn khác trên thế giới, Melbourne có một hệ thống giao thông hoà nhập, tuy nhiên những vùng ngoại ô vẫn gặp khó khăn về đi lại. Cảng Melbourne là hải cảng vận chuyển hàng hoá lớn nhất nước Úc. Sân bay Melbourne đứng thứ hai của quốc gia về số lượng khách. == Truyền thông == Melbourne có hai tờ báo lớn và một tờ báo nhỏ. Có ba kênh truyền hình thương mại và ba kênh truyền hình công cộng. Melbourne có một lĩnh vực rộng các đài phát thanh dựa trên mạng lưới Austereo. == Melbourne trong văn hóa == Melbourne có mối liên hệ mật thiết với sự thiết lập nền nghệ thuật hình ảnh của nước Úc. Trường phái Heidelberg, được xem là phong trào nghệ thuật thuần Úc đầu tiên, (ít nhất là về những tác phẩm phương Tây kinh điển), phần lớn là các tác phẩm của các nghệ sĩ Melbourne, và nhiều tác phẩm đang được trưng bày tại Viện bảo tàng Nghệ thuật bang Victoria. Melbourne đã là cảnh cho nhiều tiểu thuyết, nhiều vở kịch truyền hình và phim. Mystery of a Hansom Cab, tác phẩm bán chạy nhất thế giới của Fergus Hume, mà đã vượt qua cả truyện Sherlock Holmes lúc bấy giờ, được lấy bối cảnh trong thời đại tìm vàng tại Melbourne. Quyển Power Without Glory (Quyền lực không vinh quang) của Frank Hardy kể về một thương gia Melbourne tên là John West và lấy bối cảnh tại Collingwood, một vùng ngoại ô của tầng lớp lao động Melbourne. Có lẽ tác phẩm được thế giới biết đến nhiều nhất là quyển On the Beach (Trên bãi biển) của Nevil Shute. Vào năm 1959, nó được chuyển thành phim với sự tham gia diễn xuất của Gregory Peck, Ava Gardner và được Stanley Kramer đạo diễn. Bộ phim miêu tả các cư dân Melbourne lặng lẽ trượt vào cõi vĩnh hằng như những nạn nhân cuối cùng của vụ thảm sát hạt nhân toàn cầu. Được quay tại Melbourne và các vùng phụ cận (một sự lạ thường cho Melbourne lúc đó), bộ phim có lẽ được nhớ nhất về lời bình luận mà Ava Gardner không bao giờ nói ra – mô tả Melbourne như một nơi hoàn hảo để làm một bộ phim về sự tận thế, nhận xét về chủ nghĩa bảo thủ ảm đạm của Melbourne vào cuối thập niên 1950. Câu trích dẫn ngụ ý được nhà báo Neil Jillett tìm ra. Những phim tương tự được sản xuất khi sự phê bình về các phim truyền hình năm 2000 diễn ra. Trong những năm gần đây, có thêm nhiều bộ phim được làm tại Melbourne. Một số phim nổi tiếng bao gồm Mad Max, Chopper, Romper Stomper, Mr. Nice Guy và The Castle. Có lẽ nhiều thính giả đương thời đều biết đến vở kịch truyền hình hàng ngày Neighbours (Những người hàng xóm), dựng tại vùng ngoại ô hư cấu phía đông của Erinsborough, đại diện cho thế giới "bánh mì trắng" của đời sống người Úc vùng ngoại ô. Những chương trình truyền hình hiện thời khác được dựng tại Melbourne gồm Stingers (một vở kịch về cảnh sát), The Secret Life Of Us (Cuộc sống bí mật của chúng ta) và MDA. Ca sĩ Paul Kelly đã viết vài bài hát nổi tiếng về các khía cạnh của thành phố gần gũi với lòng của nhiều người dân Melbourne, đáng chú ý là "Leaps And Bounds" và "From St Kilda To King's Cross". Nhà văn châm biếm gốc Malbourne Barry Humphries đã xây dựng nhân vật chính Dame Edna Everage như một phiên bản hài kịch của một bà nội trợ vùng ngoại ô. Qua nhân vật này ông đã trình diễn những bài thơ chua cay về tập tục của Melbourne và tầng lớp trung lưu thành thị ở Moonee Ponds và Highett, giữa vòng những vùng khác. Mặc dầu không lấy bối cảnh tại Melbourne, nhưng bộ phim Queen Of The Damned được quay trong và xung quanh thành phố. Carols by Candlelight (Những bài thánh nhạc bên ánh nến), lần đầu tổ chức vào năm 1938, là một lễ Giáng sinh truyền thống tổ chức hàng năm tại Sân khấu Ca nhạc Myer Sidney. == Văn hóa và thể thao == Trong khi có một cuộc sống văn hóa và có nền nghệ thuật, đáng kể là Đại hội Hài kịch Quốc tế Melbourne và Liên hoan phim Quốc tế Melbourne hàng năm, Melbourne có lẽ được biết đến như một thành phố thể thao. === Văn hóa === Melbourne là nhà của Balê Úc và là ngôi nhà thứ hai của Opera Úc. Nhà hát Giao hưởng Melbourne được cả quê nhà và thế giới đánh giá rất cao. Melbourne cũng là nơi sinh của nghệ thuật phương Tây tại Úc qua trường phái Heidelberg (đang tranh cãi). Viện bảo tàng quốc gia Victoria có những tác phẩm nghệ thuật đẹp nhất nước Úc, đạc biệt là những tác phẩm Úc thời kỳ đầu mang truyền thống phương Tây. Một số đoàn hát chuyên nghiệp hoạt động tại Melbourne, trong đó Đoàn hát Melbourne là đoàn được tổ chức quy mô nhất, và một hệ thống những đoàn hát nhỏ khác. Nhạc pop và nhạc rock của Melbourne được xem là sống động nhất nước Úc (đặc biệt là đối với người Melbourne), và đã nuôi dưỡng nhiều nhạc sĩ, nghệ sĩ tiếng tăm trên thế giới như AC/DC, Nick Cave, Crowded House, John Farnham, Graeme Bell, Kylie Minogue và Jet. Melbourne cũng là quê nhà của những ban nhạc hip hop Úc lớn nhất, thường được biết đến với tên "Melburn" hoặc "The Burn" qua những phong cách văn hóa độc nhất. Obese Records, nhãn hiệu thâu băng hip hop Úc dẫn đầu, được thành lập năm 1995 tại Melbourne và được tọa lạc tại Prahran, phía dưới đường Chapel Street nổi tiếng. Melbourne là nhà của một phong cách cứng cỏi của hip hop trong nhà và cũng là quê nhà của những nghệ sĩ Lyrical Commission, Muphin, Reason và Pegz. Những buổi trình diễn thường tổ chức trong thành phố với những cuộc thi và những cuộc triển lãm do những nghệ sĩ có triển vọng tổ chức suốt tuần tại nhiều địa điểm khác nhau. Nhạc khiêu vũ ở Melbourne là một dòng nhạc lớn nhất và sống động nhất tại Úc. Có nhiều buổi tiệc khiêu vũ diễn ra hầu như mọi đêm trong năm, thường xuyên thu hút những người dẫn chương trình hay nhất thế giới đến thành phố. Melbourne Shuffle được sinh ra tại đây, và đã tiến triển từ lúc đó. === Thể thao === Melbourne là quê hương của mười trong mười sáu đội bóng của Liên đoàn bóng đá Úc. Mỗi tuần các đội này thi đấu năm trận với số khán giả trung bình mỗi trận khoảng 35.000 người. Melbourne là nơi khai sinh bóng bầu dục Úc và môn thể thao này vẫn là môn thể thao phổ biến nhất tại bang Victoria. Vòng chung kết Lớn (một trong những sự kiện thể thao lớn nhất nước Úc) được tổ chức vào tuần cuối của tháng 9 tại Sân vận động Cricket Melbourne (một khu vực rộng có thể chứa đến 100.000 khán giả). Melbourne là nơi đăng cai Giải quần vợt Úc Mở rộng (là một trong bốn giải Grand Slam); Melbourne Cup – một giải đua ngựa uy tín nhất thế giới; Giải đấu cricket lớn "Boxing Day" nổi tiếng tổ chức hàng năm từ 26-30 tháng 12 tại Sân vận động Cricket Melbourne; và giải đua xe F1 nước Úc. Melbourne Storm, chơi ở Liên đoàn Bóng bầu dục Quốc gia, được đặt tại Olympic Park. Olympic Park cũng là sân nhà của đội bóng Melbourne Victory, chơi ở giải bóng đá dạng mới của Úc, giải A-League. Melbourne cũng là đồng tổ chức Cúp Bóng bầu dục Thế giới 2003, gồm nhiều trận đấu vòng tròn và cả các trận bán kết - tất cả các trận đều thi đấu Etihad Stadium. Melbourne cũng là thành phố đầu tiên không thuộc Mỹ đăng cai Giải Bắn súng Cảnh sát Thế giới 1995 và Cúp President 1999 cho golf; cũng là thành phố đầu tiên ở Nam bán cầu tổ chức giải vô địch thế giới Cup Polo (2001). Sự kiện thể thao lớn mới nhất tại thành phố là Đại hội thể thao của Khối thịnh vượng chung 2006 (Commonwealth Games). Vào 2007, Melbourne sẽ là chủ nhà của Giải vô địch Thế giới các môn Thể thao dưới nước. == Công viên và vườn tược == Melbourne thường được nhắc đến như thành phố cây xanh của nước Úc, và bang Victoria là ""Bang Vườn cây", vì nhiều lý do. Có rất nhiều công viên và vườn cây gần khu trung tâm với nhiều chủng loại cây; từ cây thường đến quý hiếm ở giữa một khung cảnh tuyệt đẹp, những vỉa hè, những đại lộ với những hàng cây đã làm Melbourne trở nên một trong những thành phố xanh tươi nhất thế giới. Cũng có nhiều công viên ở những vùng ngoại ô Melbourne như Stonnington và Booroondara, phía đông nam của khu trung tâm. "Victoria – Bang Vườn Cây" được sử dụng trên biển số xe hơi ở Victoria cho đến năm 1995 và nhiều thị trấn trong vùng có những vườn thực vật được chăm sóc, những công viên và đại lộ trồng cây. == Du lịch == Melbourne thu hút một số đông du khách, đặc biệt là những du khách balô trẻ. Nó cũng đón tiếp một số lượng lớn nhưng không đều các khán giả đến xem thể thao. Các nhà hàng ở Melbourne rất nhiều, và thường có giá cả hợp lý và chất lượng tốt. Melbourne có tất cả các loại hình quán rượu, phòng trà và hộp đêm. Có rất nhiều điều thú vị để xem ngoài lãnh thổ Melbourne nhưng vẫn trong vòng một ngày đi lại từ Melbourne. == Thành phố kết nghĩa == Melbourne có nhiều thành phố kết nghĩa: Osaka, Nhật Bản - 1978 Tianjin, Trung Quốc - 1980 Thessaloniki, Hy Lạp - 1984 Boston, Hoa Kỳ - 1985 Sankt-Peterburg, Nga - 1989 Milano, Ý - 2004 Galle, Sri Lanka - 2005 (Sau cơn sóng thần 2004, Melbourne kết nghĩa Galle để hỗ trợ tiến xây lại sân chơi cricket ở đó) == Xem thêm == Danh sách các Đô trưởng Melbourne Danh sách các người Melbourne nổi tiếng Tội phạm ở Melbourne Du lịch Melbourne Hook turn - một kỹ thuật lái xe của người Melbourne == Chú thích == == Liên kết ngoài == Encyclopedia của Melbourne Australian Places - a gazetteer of Australian cities, towns and suburbs, many of which are in Melbourne Website chính thức của Melbourne Melbourne Accommodation Tourism and Business Directory Google Satellite Images WalkingMelbourne.com MelbournePhotos.net Hình ảnh về Melbourne của Bruce Ma Flickr: Photos tagged with melbourne Batmania: a fun way to explore the people and events surrounding the foundation of Melbourne at the National Museum of Australia. Melbourne and Victorian Information and History
giải thưởng thể thao chuyên nghiệp nhật bản.txt
Giải thưởng Thể thao chuyên nghiêp Nhật Bản (日本プロスポーツ大賞, Nippon Puro Supōtsu Taisyō) trao cho cho một vận động viên hoặc một đội thể thao hàng năm từ 1968 bởi Hiệp hội Thể thao chuyên nghiệp Nhật Bản. Đây là một trong những giải thưởng thể thao uy tín nhất tại Nhật Bản. Kỷ lục giành giải đang thuộc về vận động viên bóng chày Ichiro Suzuki và Sadaharu Oh (ba lần). Một hội đồng từ các tờ báo Tokyo, các dịch vụ truyền dẫn, truyền hình và phát thanh đại diện cho truyền thông thể thao sẽ chịu trách nhiệm lựa chọn ra người dành giải. Người thắng giải sẽ nhận Cúp Thủ tướng. == Danh sách người đoạt giải == == Tham khảo == Japan Professional Sports Association (tiếng Nhật)Bản mẫu:Japan-sport-stub
trinidad.txt
Trinidad (tiếng Tây Ban Nha: Trinity) là hòn đảo chính đông dân và lớn nhất của đảo quốc Trinidad và Tobago. Đây là hòn đảo cực nam của Caribe và nằm cách 11 km (6,8 mi) từ bờ biển đông bắc của Venezuela. Với diện tích 5.009 km2 (1.934 sq mi) đây cũng là hòn đảo lớn thứ năm tại Vùng Caribe và lớn thứ 117 trên thế giới. Nhiều người tin rằng tên gốc của hòn đảo trong tiếng Arawak là "Iëre", nghĩa là "Vùng đất của chim ruồi". Christopher Columbus đã đổi tên đảo thành "La Isla de la Trinidad" ("Hòn đảo của Chúa Ba Ngôi"), thực hiện một lời hứa trước khi thực hiện chuyến thám hiểm lần thứ ba của mình. == Lịch sử == Người Carib và người Arawak đã sinh sống tại Trinidad một thời gian dài trước khi Christopher Columbus gặp hòn đảo trong chuyến đi thứ ba củ ông vào năm 1498. Tobago qua tay người Anh, Pháp, Hà Lan và Courland, song cuối cùng lại về tay Anh Quốc. Trinidad vẫn nằm dưới quyền kiểm soát của Tây Ban Nha cho đến năm 1797, song những người thực dân Pháp đã định cư với số lượng lớn trên đảo. Năm 1889 hai hòn đảo trở thành một thuộc địa duy nhất. Trinidad và Tobago được tự quản vào năm 1958 và độc lập từ đế quốc Anh vào năm 1962. == Địa lý == Địa hình trên đảo chủ yếu bao gồm các ngọn đồi thuộc các dãy Bắc, Trung và Nam, các đầm lầy Caroni, Nariva và Oropouche, và các đồng bằng Caroni và Naparima. Các hệ thống sông chính bao gồm Caroni, Bắc và Nam Oropouche và sông Ortoire. Đảo có nhiều bãi biển và thác nước. Trinidad có hai mùa du lịch trong năm, mùa mưa và mùa khô. == Động vật == Hòn đảo Trinidad có sự đa dạng sinh học cả về thực vật và động vật. Các loài thú bản địa bao gồm Mazama americana, Pecari tajacu, Alouatta seniculus, cò quăm Scarlet và mèo rừng. Trinidad có một hệ chim phong phú, bao gồm một loài đặc hữu, Pipile pipile. == Tham khảo == == Liên kết ngoài == Trinidad and Tobago Tourism Website Trinidad and Tobago Entertainment Forum
điện biên.txt
Điện Biên là một tỉnh biên giới miền núi thuộc vùng Tây Bắc của Việt Nam, có tọa độ địa lý 20o54’ – 22o33’ vĩ độ Bắc và 102o10’ – 103o36’ kinh độ Đông. Nằm cách Thủ đô Hà Nội 504 km về phía Tây, phía Đông và Đông Bắc giáp tỉnh Sơn La, phía Bắc giáp tỉnh Lai Châu, phía Tây Bắc giáp tỉnh Vân Nam (Trung Quốc), phía Tây và Tây Nam giáp CHDCND Lào. Là tỉnh có chung đường biên giới với 2 quốc gia: Trung Quốc (dài 38,5 km) và Lào (dài 360 km). Trên tuyến biên giới Việt – Lào, ngoài 2 cửa khẩu đã được mở là Huổi Pôc và Tây Trang, còn 3 cặp cửa khẩu phụ khác sắp tới sẽ được mở. Trên tuyến biên giới Việt - Trung sẽ mở cặp cửa khẩu A Pa Chải - Long Phú thành cửa khẩu Quốc gia. Đặc biệt, cửa khẩu Tây Trang từ lâu đã là cửa khẩu quan trọng của vùng Tây Bắc và cả nước, được Chính phủ hai nước thỏa thuận nâng cấp thành cửa khẩu quốc tế và Khu kinh tế cửa khẩu đang được xây dựng. Đây là điều kiện và cơ hội rất lớn để Điện Biên đẩy mạnh thương mại quốc tế, tiến tới xây dựng khu vực này thành địa bàn trung chuyển chính trên tuyến đường xuyên Á phía Bắc, nối liền vùng Tây Bắc Việt Nam với khu vực Bắc Lào - Tây Nam Trung Quốc và Đông Bắc Myanmar. == Địa hình == Do ảnh hưởng của các hoạt động kiến tạo nên địa hình của Điện Biên rất phức tạp, chủ yếu là đồi núi dốc, hiểm trở và chia cắt mạnh. Được cấu tạo bởi những dãy núi chạy dài theo hướng Tây Bắc - Đông Nam với độ cao biến đổi từ 200m đến hơn 1.800m. Địa hình thấp dần từ Bắc xuống Nam và nghiêng dần từ Tây sang Đông. Ở phía Bắc có các điểm cao 1.085m, 1.162 m và 1.856 m (thuộc huyện Mường Nhé), cao nhất là đỉnh Pu Đen Đinh cao 1.886m. Ở phía Tây có các điểm cao 1.127m, 1.649m, 1.860m và dãy điểm cao Mường Phăng kéo xuống Tuần Giáo. Xen lẫn các dãy núi cao là các thung lũng, sông suối nhỏ hẹp và dốc. Trong đó, đáng kể có thung lũng Mường Thanh rộng hơn 150km2, là cánh đồng lớn và nổi tiếng nhất của tỉnh và toàn vùng Tây Bắc. Núi bị bào mòn mạnh tạo nên những cao nguyên khá rộng như cao nguyên A Pa Chải (huyện Mường Nhé), cao nguyên Tả Phình (huyện Tủa Chùa). Ngoài ra còn có các dạng địa hình thung lũng, sông suối, thềm bãi bồi, nón phóng vật, sườn tích, hang động castơ,... phân bố rộng khắp trên địa bàn, nhưng diện tích nhỏ == Lịch sử == Điện Biên là vùng đất cổ. Các di tích như hang Thẩm Khương, Thẩm Púa (ở Tuần Giáo) đã chứng minh thời thượng cổ đã có mặt người Việt cổ. Đến thế kỷ 9 - 10, người Lự ở Mường Thanh đã phát triển khá mạnh, và ảnh hưởng mạnh sang các khu vực: Sìn Hồ, Mường Lay, Tuần Giáo... Thế kỷ 11-12, người Tày Đăm (Thái đen) theo từ Mường Ôm, Mường Ai tràn xuống chiếm Mường Lò (Nghĩa Lộ) và từ Mường Lò thời gian sau đó, những cư dân này theo thủ lĩnh của mình là Pú Lạng Chượng để tràn qua Than Uyên, Văn Bàn... và cuối cùng làm chủ cả một vùng từ Mường Lò (Nghĩa Lộ) qua Mường La (Sơn La), tới Mường Thanh (Điện Biên). Thời kỳ Bắc thuộc Điện Biên thuộc huyện Lâm Tây, quận Tân Hưng. Đời Lý đất Điện Biên nằm trong hạt châu Lâm Tây. Đời Trần Việt Nam có 15 lộ Điện Biên thuộc lộ Đà Giang, cuối Trần là trấn Thiên Hưng; thời Minh thuộc lại chia làm 2 châu Gia Hưng và Quy Hoá. Sang tới thế kỷ 15 (năm 1463) trấn Hưng Hóa được thành lập (bao gồm ba phủ: Quý Hóa, Gia Hưng, An Tây). Mặc dù vậy, các thủ lĩnh người Lự cơ bản vẫn làm chủ Mường Thanh. Từ 1466 về sau, Lê Thánh Tông đặt làm 12 thừa thừa tuyên, trong đó Hưng Hóa bao gồm 3 phủ, 4 huyện và 17 châu. Năm 1831, Minh Mạng đổi thành tỉnh Hưng Hóa, tỉnh lị đặt ở thị trấn Hưng Hoá huyện Tam Nông (nay thuộc Phú Thọ). Thời Pháp thuộc, Hưng Hóa được chia thành các tỉnh Hoà Bình, Sơn La, Lai Châu, Lào Cai, Yên Bái và tách một số huyện nhập vào Phú Thọ. Tên gọi Điện Biên do Thiệu Trị đặt năm 1841 từ châu Ninh Biên; Điện nghĩa là vững chãi, Biên nghĩa là vùng biên giới, biên ải. Phủ Điện Biên (tức Điện Biên Phủ) thời Thiệu Trị gồm 3 châu: Ninh Biên, Tuần Giáo và Lai Châu. Tên gọi Điện Biên hay Điện Biên Phủ xuất hiện từ đó. Năm 1890, thực dân Pháp mới đặt được ách cai trị ở Lai Châu (bao gồm Điện Biên và Lai Châu ngày nay). Lai Châu trừ Phong Thổ thuộc Đạo quan binh thứ Tư, trực tiếp nằm trong khu quân sự Vạn Bú. Ngày 28 tháng 6 năm 1909, ngày Toàn quyền Đông Dương ra Nghị định thành lập tỉnh Lai Châu, nay là tỉnh Điện Biên và Lai Châu Ngày 7 tháng 5 năm 1954 tỉnh Điện Biên đã làm nên chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ được coi là "lừng lẫy năm châu chấn động địa cầu", chấm dứt 80 năm nô lệ dưới ách thực dân phong kiến. Để tăng cường đoàn kết giữa các dân tộc và tạo điều kiện cho các dân tộc ở Tây Bắc tiến bộ mau chóng về mọi mặt, trung ương đã quyết định lập khu vực tự trị của các dân tộc ở Tây Bắc, gọi là Khu tự trị Thái - Mèo theo Nghị quyết của Quốc hội vào ngày 29 tháng 4 năm 1955. Trước đó, theo Sắc lệnh số 143-SL ngày 28 tháng 1 năm 1953 của Chủ tịch nước, Khu Tây Bắc được thiết lập gồm các tỉnh Lào Cai, Yên Bái, Sơn La và Lai Châu, tách khỏi Liên khu Việt Bắc. Ngày 27 tháng 9 năm 1962, kỳ họp thứ 5 Quốc hội khóa II đã quyết định thành lập lại 3 tỉnh Sơn La, Nghĩa Lộ và Lai Châu. Tỉnh Lai Châu lúc đó gồm 7 huyện: Điện Biên, Tuần Giáo, Tủa Chùa, Mường Tè, Mường Lay, Sìn Hồ, Phong Thổ và thị trấn Lai Châu. Khu tự trị lúc đó có diện tích 67.300 km², với số dân 438.000 người. Từ năm 1962 đến năm 1994, thị trấn Lai Châu sau này là thị xã Lai Châu là thị xã tỉnh lỵ của tỉnh Lai Châu. Sau trận lũ quét lịch sử năm 1990, do địa hình thị xã không thể mở rộng, trong khi những trận mưa lũ rải rác từ trước đó, đặc biệt là trận lũ quét lịch sử đã làm sụt lở mất từ 20 – 30% diện tích các khu quần cư. Từ thực tiễn tình hình trên và khả năng thị xã sẽ bị ngập trong tương lai khi xây dựng thủy điện Sơn La. Theo Quyết định số 130/HĐBT của Hội đồng Bộ trưởng, ngày 18 tháng 4 năm 1992 đã quyết định thành lập thị xã Điện Biên Phủ và di chuyển tỉnh lỵ về thị xã Điện Biên Phủ. Tháng 1 năm 2002, huyện Mường Nhé được thành lập trên cơ sở một phần diện tích và dân số của các huyện Mường Tè, Mường Lay. Tháng 9 năm 2003, thành phố Điện Biên Phủ được thành lập trên cơ sở toàn bộ diện tích tự nhiên và dân số của thị xã Điện Biên Phủ. Tháng 11 năm 2003, Quốc hội ra Nghị quyết trong đó chia tỉnh Lai Châu thành tỉnh Lai Châu (mới) và tỉnh Điện Biên. Tỉnh Điện Biên có diện tích tự nhiên là 955.409,70 ha và dân số hiện tại là 440.300 người, bao gồm: diện tích và số dân của thành phố Điện Biên Phủ, thị xã Lai Châu (trừ phưường Lê Lợi) và 6 huyện: Mường Nhé, Điện Biên, Điện Biên Đông, Tuần Giáo, Tủa Chùa, Mường Lay (trừ: xã Pú Đao, xã Chăn Nưa, xã Nậm Hàng, bản Thành Chử thuộc xã Xá Tổng). Tháng 1 năm 2004, địa giới hành chính huyện Mường Lay và thị xã Lai Châu được điều chỉnh lại. Tháng 3 năm 2005, thị xã Lai Châu được mở rộng và đổi thành thị xã Mường Lay, đổi tên huyện Mường Lay thành huyện Mường Chà, cũng đổi tên huyện lỵ Mường Lay thuộc huyện Mường Lay thành thị trấn Mường Chà. Ngày 14 tháng 11 năm 2006, thành lập huyện Mường Ảng trên cơ sở điều chỉnh một phần diện tích tự nhiên và dân số của huyện Tuần Giáo. Ngày 28 tháng 8 năm 2012, thành lập huyện Nậm Pồ trên cơ sở điều chỉnh một phần diện tích tự nhiên và dân số của các huyện Mường Nhé và Mường Chà. == Hành chính == Tỉnh Điện Biên gồm 1 thành phố (tỉnh lỵ), 1 thị xã và 8 huyện: Tỉnh Điện Biên có 130 đơn vị cấp xã gồm 9 phường, 5 thị trấn và 116 xã. == Thông tin nhân khẩu == Tỉnh Điện Biên có 21 dân tộc sinh sống với tổng dân số là 547.785 người (điều tra dân số 2015), chủ yếu là người Thái (~38%), tiếp đó là H'Mông (~30%) và Kinh (~20%). == Giao thông == Mạng lưới giao thông đường bộ: Từ thành phố Điện Biên Phủ tới Hà Nội 474 km theo quốc lộ 279 và rẽ sang quốc lộ 6. Quốc lộ 12: Từ thành phố Điện Biên Phủ đến cửa khẩu Ma Lù Thàng (Lai Châu) 195 km. Quốc lộ 279: Nối Tuần Giáo qua thành phố Điện Biên Phủ đến cửa khẩu Tây Trang dài 117 km. Đường không: sân bay Điện Biên Phủ tại thành phố Điện Biên Phủ phục vụ tuyến Hà Nội - Điện Biên Phủ - Viêng Chăn - Luông Pha Băng == Du lịch == Điện Biên là tỉnh giàu tiềm năng du lịch, đặc biệt là lĩnh vực văn hoá - lịch sử. Nổi bật nhất là hệ thống di tích lịch sử chiến thắng Điện Biên Phủ gồm: Sở chỉ huy chiến dịch Điện Biên Phủ - Mường Phăng; các cứ điểm Him Lam, Bản Kéo, Độc Lập; Các đồi A1, C1, D1, E1 và khu trung tâm tập đoàn cứ điểm của Pháp (Khu hầm Đờcát). Quần thể di tích này là nguồn tài nguyên vô cùng quý giá để phát triển du lịch không những của tỉnh Điện Biên, của Tây Bắc mà còn của cả nước. Điện Biên còn có tiềm năng văn hóa phi vật thể, với 21 dân tộc anh em chung sống, mỗi dân tộc có sắc thái văn hóa riêng rất đa dạng, điển hình là dân tộc Thái, dân tộc H'Mông. Bên cạnh đó Điện Biên có nhiều hang động, nguồn nước khoáng và hồ nước tạo thành nguồn tài nguyên du lịch thiên nhiên phong phú như: Rừng nguyên sinh Mường Nhé; các hang động tại Pa Thơm (Điện Biên), Thẩm Púa (Tuần Giáo); các suối khoáng nóng Hua Pe, U Va; các hồ Pá Khoang, Pe Luông, Huổi Phạ,... == Tiềm năng kinh tế == Bên cạnh lợi thế du lịch, tỉnh Điện Biên có quỹ đất chưa sử dụng rất lớn (55%) - mũi nhọn để phát triển nông lâm nghiệp, đặc biệt là trồng cây công nghiệp ngắn ngày và chăn nuôi đại gia súc. Cánh đồng Mường Thanh cần được định hướng thành trung tâm sản xuất lúa chất lượng cao của vùng Tây Bắc. Nhiều vùng như Mường Nhé, Si Pa Thìn và Điện Biên có khả năng chăn nuôi gia súc tập trung theo hướng trang trại. Là tỉnh duy nhất giáp với cả CHDCND Lào và CHND Trung Hoa, Điện Biên có vị trí quan trọng trong thương mại quốc tế. Tỉnh có nhiều cửa khẩu: Tây Trang, Huổi Pôc (Lào), A Pa Chải - Long Phú (Trung Quốc)... Cửa khẩu Tây Trang đã được chính phủ Việt Nam và Lào thống nhất nâng cấp lên cửa khẩu quốc tế gắn liền với khu kinh tế cửa khẩu. Đây là cơ hội lớn để Điện Biên phát triển thành địa bàn trung chuyển chính của tuyến đường xuyên Á phía Bắc, nối liền Tây Bắc Việt Nam với Bắc Lào, Tây Nam Trung Quốc và Đông Bắc Myanmar. Cuối cùng, công trình thủy điện Sơn La và đồ án mở rộng ba tuyến quốc lộ đi qua địa bàn tạo thêm thuận lợi cho quá trình sắp xếp dân lại dân cư, lao động, và đẩy mạnh chuyển đổi cơ cấu kinh tế. == Tham khảo == == Liên kết ngoài == Website chính thức
tên lửa hành trình.txt
Tên lửa hành trình hay hỏa tiễn hành trình (theo thuật ngữ tiếng Anh "Cruise missile") hay còn gọi là tên lửa có cánh (theo thuật ngữ tiếng Nga "Крылатая ракета") hay tên lửa tuần kích và hỏa tiễn cruise là loại vũ khí tên lửa có điều khiển mà đặc điểm bay của nó là trong toàn bộ quỹ đạo tên lửa chịu tác động của lực nâng khí động học thông qua các cánh nâng nên được gọi là tên lửa có cánh. Loại tên lửa này có rất nhiều phương án điều khiển: có thể là theo chế độ lập trình sẵn để chống các mục tiêu cố định hoặc với radar, tự dẫn để chống các mục tiêu di động như tàu chiến, máy bay. == Phân loại == Theo cách phân loại của Nga và Liên Xô trước đây, Tên lửa hành trình (người Nga gọi là tên lửa có cánh "Крылатая ракета") được phân thành hai loại chính: Loại cánh phẳng: thực chất đây là một loại khí cụ bay không người lái sử dụng một lần. Chúng được thiết kế để mang đầu đạn nổ cho chiến tranh thông thường hoặc đầu đạn hạt nhân cho chiến tranh hạt nhân. Chúng thường sử dụng động cơ phản lực khí (động cơ tuốc bin khí) như của máy bay nhưng với giá thành hạ để dùng một lần. Những loại tên lửa này thường có tốc độ dưới âm thanh và nhìn bên ngoài chúng khác với các loại tên lửa khác là có đôi cánh phẳng giống cánh máy bay để tạo lực nâng. Loại tên lửa này còn được gọi theo tên cũ là tên lửa–máy bay. Những tên lửa cánh phẳng này có tốc độ dưới âm, nên không thể dùng tiêu diệt máy bay mà chỉ dùng chủ yếu để tiêu diệt các mục tiêu cố định và các mục tiêu di chuyển chậm như: các loại xe cơ giới, tàu chiến, tàu ngầm hay tàu sân bay. Loại cánh chữ thập: loại tên lửa này có cánh dạng chữ thập và được trang bị động cơ tên lửa vượt âm thanh. Đây là một tập hợp nhiều loại tên lửa khác nhau từ loại chống tăng, chống chiến hạm, và chống máy bay, điển hình nhất như loại tên lửa không đối không Theo cách phân loại của Hoa Kỳ và rất nhiều các nước khác thì tên lửa hành trình chỉ được hiểu là loại cánh phẳng mà thôi. == Lịch sử ra đời và phát triển == Tên lửa hành trình có nguồn gốc từ rất sớm, năm 1917 trong Chiến tranh thế giới thứ nhất đã có dự án "ngư lôi bay" (Kettering bug) của quân đội Hoa Kỳ: người ta thử nghiệm một loại máy bay hai tầng cánh (biplane) chất đầy thuốc nổ cho cất cánh về phía mục tiêu. Sau một khoảng thời gian đã định cánh máy bay sẽ bị gãy ra để máy bay lao xuống đất. Dự án không được áp dụng vì chiến tranh kết thúc trước khi dự án được hoàn thiện. Trong Chiến tranh thế giới thứ hai, để chống lại lực lượng hải quân áp đảo của Hoa Kỳ, quân đội Thiên hoàng của Nhật Bản đã dùng các phi đội thần phong cảm tử để lao vào tàu chiến của địch. Đây là các "tên lửa hành trình có người lái". Đặc biệt tại chiến trường châu Âu nước Đức Quốc xã đã dùng bom bay V-1 để tấn công nước Anh và chúng thật sự là tên lửa hành trình theo đúng nghĩa hiện đại: Bom bay V-1 trang bị một động cơ phản lực còn rất thô sơ, dùng hệ thống tự động lái (autopilot) điều khiển bằng Gyroscope (hệ thống điều khiển theo quán tính tiếng Anh: Inertial guidance system). Tuy hệ thống điều khiển còn rất thô sơ trong chế tạo nhưng ý tưởng là rất mới mẻ và còn được áp dụng trong rất nhiều hệ điều khiển vũ khí hiện đại sau này. V-1 có các thông số kỹ thuật chính như sau: Kích thước (Dài × Sải cánh × Cao): 7,9 × 5,4 × 1,42 m Tốc độ: 656 km/h Bán kính hoạt động: 240 km Trọng lượng tên lửa: 2.150 kg Trọng lượng đầu đạn: 830 kg Trong những năm 1980 trong cao trào chạy đua vũ khí tên lửa tầm trung. Hoa Kỳ cho triển khai loại tên lửa hành trình Tomahawk mang đầu đạn hạt nhân với ba phương án phóng từ máy bay, phóng từ tàu chiến và tàu ngầm, trong khi Liên Xô có loại tên lửa tương đương là Raduga Kh-55. Hệ vũ khí Tomahawk của Hoa Kỳ và Raduga Kh-55 của Liên Xô tạo nên bước tiến lớn trong công nghệ chế tạo vũ khí nhất là ở hệ thống điều khiển công nghệ cao: tên lửa ngoài hệ thống dẫn đường theo quán tính cổ điển được tích hợp hệ thống dẫn đường lập trình sẵn (tự lập) dựa trên sự thay đổi cao độ của địa hình - hệ thống TERCOM (TERrain COntour Matching system - tên lửa vừa bay vừa dùng mắt thần laser đo cao độ của địa hình và hiệu chỉnh với các tham số của bản đồ số đã được lập trình bay) cho đến nay đây vẫn là bí quyết công nghệ cao của Hoa Kỳ và Nga. Công nghệ dẫn đường này cho phép tên lửa hành trình đạt độ chính xác cao. Tại Liên Xô, công việc bắt đầu tại cục Raduga với mẫu tên lửa hành trình phóng trên không mới vào năm 1971, với chuyến bay thử đầu tiên vào năm 1976. Không quân Xô viết đưa ra một yêu cầu chính thức về một loại tên lửa hành trình phóng trên không vào tháng 12-1976. Kh-55SM tầm xa được phát triển một vài năm trước khi đi vào hoạt động. Vào cuối thập niên 1980 công việc lại tiếp tục bắt đầu với một loại tên lửa thay thế trang bị đầu đạn thông thường (Kh-101) hay đầu đạn hạt nhân (Kh-102) và khả năng tàng hình tốt. Nó được thiết kế bởi kỹ sư Igor Seleznyev thuộc Raduga. Năm 1982, hãng Boeing đã giao cho Không quân Hoa Kỳ những tên lửa hành trình phóng từ trên không ALCM (Air Launched Cruise Missiles) đầu tiên của họ. Đó là những máy bay nhỏ, cánh hình mũi tên có thể gập lại được (cánh cụp-xòe). Chúng được ngoắc dưới cánh máy bay B52, mỗi máy bay 12 tên lửa. Những chuyến giao tên lửa hành trình "vô hình" (stealth) đầu tiên cho không lực Mỹ đã diễn ra vào năm 1986. Chương trình đó, được biết chính thức dưới tên gọi ACM (Advanced Cruise Missile, tên lửa hành trình tiên tiến), là một trong những bí mật nhất của Lầu năm góc. Không quân Pháp năm 1986 đã nhận tên lửa tuần tiễu đầu tiên có đầu đạn nhiệt hạch của mình, loại ASMP, tên lửa "không đối đất tầm trung bình", do Aérospatiable chế tạo. Trong những năm 1990 và sau này với sự ứng dụng rộng rãi công nghệ hệ thống định vị toàn cầu (GPS) tên lửa hành trình đã trang bị công nghệ này cho việc dẫn đường đạt độ chính xác gần như tuyệt đối (Toạ độ mục tiêu được đưa vào chương trình dẫn đường của hệ thống dẫn hướng theo quán tính, trong quá trình bay lên lửa liên tục kết nối với hệ thống định vị toàn cầu để xác định toạ độ của mình, so sánh với toạ độ mục tiêu và đưa ra các hiệu chỉnh tham số bay). Với sự áp dụng dẫn đường bằng GPS, bí mật công nghệ TERCOM của Hoa Kỳ mất vai trò độc tôn, giờ đây các nước công nghệ hạng hai cũng có thể chế tạo tên lửa hành trình có độ chính xác cao, việc này tạo thách thức phổ biến vũ khí công nghệ cao ra khắp thế giới. Hiện nay đã có ít nhất là 12 nước xuất khẩu tên lửa hành trình và hàng chục nước khác có loại vũ khí này ở các mức độ hiện đại khác nhau. == Các hệ tên lửa hành trình nổi tiếng == Bom bay V-1 của Đức Quốc xã Tomahawk chống mục tiêu mặt đất của Hoa Kỳ Kh-101 chống mục tiêu mặt đất của Liên Xô/Nga Harpoon chống tàu chiến của Hoa Kỳ Các phương án SS-N chống tàu chiến của Liên Xô/Nga (P-15 Termit, P-270 Moskit, P-700 Granit, P-800 Oniks, Kh-35, 3M-54 Klub, K-300P Bastion-P) Apache của Pháp Gabriel của Israel Otomat của Ý RBS-15 của Thuỵ Điển == Xem thêm == Tên lửa Bom bay V-1 Hệ thống tự dẫn Danh sách tên lửa == Tham khảo == == Liên kết ngoài == Các vấn đề về tên lửa hành trình – trang của Hiệp hội các nhà khoa học Hoa Kỳ (FAS – Federation of American Scientists)
chiến tranh giải phóng bangladesh.txt
Chiến tranh giải phóng Bangladesh (tiếng Bengal: মুক্তিযুদ্ধ Muktijuddho) diễn ra tại Nam Á vào năm 1971, dẫn đến việc thành lập nước Cộng hòa Bangladesh. Chiến tranh là cuộc đọ sức của Đông Pakistan (sau đó Ấn Độ tham dự) chống lại Tây Pakistan, và kéo dài trong chín tháng. Trong chiến tranh, diễn ra các hành động tàn bạo quy mô lớn, khiến 10 triệu người phải đi tị nạn và 30 triệu người phải chuyển chỗ. Chiến tranh bùng nổ vào ngày 26 tháng 3 năm 1971, khi Quân đội Pakistan phát động một chiến dịch quân sự nhằm chống lại những người Bengal yêu cầu chính phủ quân sự Pakistan chấp thuận kết quả của cuộc tổng tuyển cử dân chủ đầu tiên tại Pakistan, mà theo đó một đảng miền đông giành được chiến thắng. Phản ứng lại với chiến dịch, các chính trị gia và sĩ quan quân sự người Bengal tuyên bố nền độc lập của Bangladesh. Các lực lượng quân sự, bán quân sự, dân sự người Bengal hợp thành Mukti Bahini, tiến hành chiến tranh du kích chống lại lực lượng Pakistan. Chính phủ Bangladesh lưu vong được thành lập tại thành phố Calcutta của Ấn Độ. Sau khi Pakistan tiến hành oanh tạc miền Bắc Ấn Độ, vào ngày 3 tháng 12 năm 1971, Ấn Độ tham dự vào chiến tranh. Do phải đương đầu với cả hai mặt trận chiến tranh, các công sự của Pakistan nhanh chóng sụp đổ. Ngày 16 tháng 12, Liên quân Bangladesh và Ấn Độ đánh bại quân Pakistan tại phía đông. Sự kiện Pakistan đầu hàng dẫn đến kết quả là một lượng tù binh chiến tranh lớn nhất kể từ Chiến tranh thế giới thứ hai. == Bối cảnh == Vào tháng 8 năm 1947, hai quốc gia Pakistan và Ấn Độ chính thức thành lập. Quốc gia tự trị Pakistan gồm hai khu vực riêng biệt về địa lý và văn hóa ở phía đông và phía tây, cách biệt qua Ấn Độ. Khu vực phía tây được gọi phổ biến là Tây Pakistan còn khu vực phía đông (nay là Bangladesh) ban đầu được gọi là Đông Bengal và sau được gọi là Đông Pakistan. Mặc dù dân số của khai khu vực gần như ngang bằng, song quyền lực chính trị tập trung tại Tây Pakistan và có nhận thức rộng rãi rằng Đông Pakistan bị lợi dụng về mặt kinh tế, gây nên nhiều bất bình. Việc quản lý hai lãnh thổ không liền kề cũng được xem là một thách thức. Một chính đảng Đông Pakistan (Liên minh Awami) giành thắng lợi trong tổng tuyển cử năm 1970, song giới cầm quyền tại Tây Pakistan từ chối trao lại quyền lực, làm gia tăng bất mãn chính trị và chủ nghĩa dân tộc văn hóa tại Đông Pakistan, lực lượng của giới cầm quyền dùng vũ lực đàn áp. Hành động trấn áp mang tính bạo lực của Quân đội Pakistan khiến thủ lĩnh của Liên minh Awami là Sheikh Mujibur Rahman tuyên bố Đông Pakistan độc lập với tên gọi Bangladesh vào ngày 26 tháng 3 năm 1971. Tổng thống Pakistan Agha Mohammed Yahya ra lệnh cho Quân đội Pakistan khôi phục quyền lực của chính phủ trung ương, nội chiến bắt đầu. Chiến tranh dẫn đến dòng người đi tị nạn (ước tính khoảng 10 triệu) tràn vào miền Đông Ấn Độ. === Tranh luận ngôn ngữ === Năm 1948, Toàn quyền Pakistan đầu tiên là Mohammad Ali Jinnah tuyên bố tại Dacca rằng "Urdu, và chỉ có Urdu" sẽ là ngôn ngữ chung của toàn Pakistan. Điều này gây tranh luận cao độ, do tiếng Urdu chỉ là ngôn ngữ của người Muhajir (ở phía tây) và người Bihar (ở phía đông), mặc dù tiếng Urdu được các lãnh đạo chính trị và tôn giáo xúc tiến để trở thành ngôn ngữ chung của người Hồi giáo tại Ấn Độ. Ngôn ngữ được cho là một yếu tố quan trọng đối với văn hóa Hồi giáo của người Hồi giáo Ấn Độ; tiếng Hindi và chữ Devanagari thì được nhìn nhận là nền tảng của văn hóa Ấn Độ giáo. Đa số người phía tây của Quốc gia tự trị Pakistan nói tiếng Punjab, trong khi tiếng Bengal là ngôn ngữ của đại đa số người Đông Bengal (từ năm 1956 là Đông Pakistan). Tranh luận về ngôn ngữ cuối cùng lên đến đỉnh điểm khi Đông Bengal nổi dậy trong khi những nơi khác tại Pakistan vẫn yên ổn mặc dù tiếng Punjab là ngôn ngữ của đa số cư dân phía tây. Một số sinh viên và thường dân thiệt mạng trong một cuộc trấn áp của cảnh sát vào ngày 21 tháng 2 năm 1952. Tại Bangladesh và Tây Bengal, ngày này được kỷ niệm với tên gọi Ngày Liệt sĩ ngôn ngữ. Đến năm 1999, nhằm kỷ niệm sự kiện năm 1952, UNESCO tuyên bố ngày 21 tháng 2 là ngày Ngôn ngữ mẹ đẻ quốc tế. === Chênh lệch === Mặc dù Đông Pakistan có dân số đông hơn, song Tây Pakistan chiếm ưu thế trong chính trị quốc gia và nhận được ngân sách lớn hơn. Người Bengal không có đại diện đầy đủ trong Quân đội Pakistan, các sĩ quan có nguồn gốc Bengal trong quân đội chỉ chiếm 5% vào năm 1965; trong số đó chỉ có một số là nắm giữ các chức vụ chỉ huy, và đa số nắm giữ các chức vụ kỹ thuật hoặc quản trị. Người Tây Pakistan cho rằng người Bengal không dũng cảm như người Pashtun và người Punjab; quan điểm "các Chủng tộc thượng võ" bị người Bengal cho là lố bịch và sỉ nhục. Hơn nữa, mặc dù chi tiêu quốc phòng ở mức lớn, song Đông Pakistan không nhận được lợi ích, như các hợp đồng, mua sắm và các công việc hỗ trợ quân sự. Chiến tranh Ấn Độ-Pakistan 1965 về vấn đề Kashmir cũng khiến người Bengal bừng tỉnh về cảm giác bất an quân sự, do họ chỉ có một sư đoàn bộ binh không đủ mạnh và 15 chiến đấu cơ, không có xe tăng để có thể ngăn chặn bất kỳ vụ trả đũa nào của Ấn Độ trong xung đột. === Khác biệt chính trị === Mặc dù Đông Pakistan chiếm đa số ở mức thấp trong dân số quốc gia, song quyền lực chính trị vẫn nằm trong tay người Tây Pakistan. Do một hệ thống đại diện chỉ dựa theo dân số sẽ khiến tập trung quyền lực chính trị tại Đông Pakistan, người Tây Pakistan đưa ra kế hoạch "Một đơn vị" mà theo đó toàn bộ Tây Pakistan được xem là một tỉnh. Sau vụ ám sát thủ tướng đầu tiên của Pakistan là Liaquat Ali Khan vào năm 1951, quyền lực chính trị bắt đầu được trao cho Tổng thống Pakistan, và cuối cùng là giới quân sự. Người Đông Pakistan nhận thấy rằng thế lực Tây Pakistan sẽ nhanh chóng hạ bệ bất kỳ Thủ tướng Pakistan đắc cử nào là người Đông Pakistan, như Khawaja Nazimuddin, Muhammad Ali Bogra, hay Huseyn Shaheed Suhrawardy. Sự ngờ vực của họ càng bị ảnh hưởng do chế độ độc tài quân sự của Ayub Khan (1958– 1969) và Yahya Khan (1969–1971), cả hai đều là người Tây Pakistan. Tình hình lên đến đỉnh điểm vào năm 1970, khi chính đảng Đông Pakistan lớn nhất là Liên minh Awami giành chiến thắng trong tổng tuyển cử quốc gia. Chính đảng này giành được 167 trong số 169 ghế phân cho Đông Pakistan, và do đó chiếm đa số trong số 313 ghế trong Quốc hội. Theo hiến pháp, điều này cho phép Liên minh Awami quyền thành lập một chính phủ. Tuy nhiên, lãnh đạo của Đảng Nhân dân Pakistan là Zulfikar Ali Bhutto (một người Sindh) từ chối cho lãnh đạo của Liên minh Awami là Sheikh Mujibur Rahman trở thành Thủ tướng Pakistan. Thay vào đó, người này đề xuất ý tưởng về việc có hai thủ tướng, mỗi người quản lý một phần. Đề xuất này gây phẫn nộ tại phía đông, vốn đã tức giận trước "một đơn vị". Zulfikar Ali Bhutto cũng từ chối chấp thuận đề xuất Sáu điểm của Sheikh Mujibur Rahman. Ngày 3 tháng 3 năm 1971, hai nhà lãnh đạo của hai phần cùng với Tổng thống Yahya Khan họp tại Dacca để quyết định vận mệnh của quốc gia. Sau khi các cuộc thương thảo không đem lại kết quả khả quan, Sheikh Mujibur Rahman kêu gọi một cuộc đình công toàn quốc. Zulfikar Ali Bhutto lo sợ xảy ra một cuộc nội chiến nên cử Mubashir Hassan thương thảo. Một thông điệp được truyền đi và Sheikh Mujibur Rahman quyết định gặp Zulfikar Ali Bhutto. Cả hai chấp thuận về việc hình thành một chính phủ liên minh với thủ tướng là Sheikh Mujibur Rahman và tổng thống là Zulfikar Ali Bhutto. Tuy nhiên, quân đội không biết về những tiến triển này, và Zulfikar Ali Bhutto gia tăng áp lực với Sheikh Mujibur Rahman để đạt được một quyết định. Ngày 7 tháng 3 năm 1971, Sheikh Mujibur Rahman phát biểu tại Racecourse Ground (nay gọi là Suhrawardy Udyan). Trong bài phát biểu này ông đề cập đến một điều kiện bốn điểm để xem xét tại kỳ họp Quốc hội vào ngày 25 tháng 3: Ngay lập tức bãi bỏ thiết quân luật. Rút ngay lập tức toàn bộ nhân viên quân sự về doanh trại của họ. Một cuộc điều tra về thiệt hại sinh mạng. Chuyển giao ngay lập tức quyền lực cho các đại diện được bầu của nhân dân trước kỳ họp quốc hội ngày 25 tháng 3. === Phản ứng với xoáy thuận năm 1970 === Xoáy thuận Bhola 1970 đổ bộ vào bờ biển Đông Pakistan trong tối ngày 12 tháng 11, gần đồng thời với thủy triều cao tại địa phương, ước tính khiến 300.000 đến 500.000 người thiệt mạng. Mặc dù không rõ về tổng thiệt hại về nhân mạng, song nó được cho là xoáy thuận nhiệt đới trí tử theo các ghi chép. Một tuần sau khi xoáy thuận đổ bộ, Tổng thống Yahya Khan thừa nhận rằng chính phủ của ông đã "sơ suất" và "sai lầm" trong việc điều khiển các nỗ lực cứu trợ do thiếu hiểu biết về mức độ của thiên tai. Mười ngày sau khi xoáy thuận đổ bộ, 11 lãnh đạo chính trị tại Đông Pakistan phát hành một bản tuyên bố, trong đó buộc tội chính phủ "hiển nhiên sao lãng, vô tình và hoàn toàn lãnh đạm". Họ cũng cáo buộc tổng thống làm giảm tầm quan trọng của vấn đề trong tin tức tường thuật. Ngày 19 tháng 11, các sinh viên tổ chức tuần hành tại Dacca để phản đối việc chính phủ phản ứng chậm. Do xung đột giữa Đông và Tây Pakistan mở rộng trong tháng 3, các văn phòng tại Dacca của hai tổ chức chính phủ trực tiếp tham gia vào nỗ lực cứu trợ bị đóng cửa trong ít nhất hai tuần, đầu tiên là do tổng đình công và sau đó là lệnh cấm của Liên minh Awami. Do căng thẳng gia tăng, các nhân viên ngoại quốc được rút đi do lo ngại về bạo lực. Công tác cứu trợ vẫn tiếp tục, song các kế hoạch dài hạn bị rút ngắn. === Chiến dịch Đèn pha rọi === Quân đội Pakistan tiến hành một cuộc bình định bằng quân sự có kế hoach, đặt hiệu là Chiến dịch Đèn pha rọi, bắt đầu vào ngày 25 tháng 3 nhằm kiềm chế phong trào dân tộc chủ nghĩa Bengal nắm quyền kiểm soát các thành phố lớn vào ngày 26 tháng 3, và sau đó tiêu trừ toàn bộ thế lực đối lập về chính trị hay quân sự, trong vòng một tháng. Trước khi bắt đầu chiến dịch, toàn bộ ký giả ngoại quốc bị trục xuất có hệ thống khỏi Đông Pakistan. Giai đoạn chính của Chiến dịch Đèn pha rọi kết thúc khi thành thị lớn cuối cùng trong tay người Bengal thất thủ vào trung tuần tháng 5. Chiến dịch cũng khởi đầu cho các hành động tàn bạo, với những vụ giết người có hệ thống khiến người Bengal hết sức tức giận. Truyền thông quốc tế và các sách tham khảo bằng tiếng Anh công bố số liệu thương vong khác biệt rất lớn, từ 5.000 đến 35.000 tại Dacca, và 200.000–3.000.000 tại Bangladesh. Sheikh Mujibur Rahman bị Quân đội Pakistan bắt giữ. Yahya Khan bổ nhiệm Rahimuddin Khan chủ tọa một phiên tòa đặc biệt để truy tố Sheikh Mujibur Rahman với nhiều tội danh. Kết án của tòa chưa từng được công khai, song dù sao Yahya Khan cũng đình chỉ phán quyết. Các lãnh đạo khác của Liên minh Awami cũng bị bắt giữ, trong khi một vài người chạy khỏi Dacca để tránh bị bắt. Yahya Khan ban hành lệnh cấm đối với Liên minh Awami. Một lãnh đạo của Awami là M A Hannan được thuật là người đầu tiên công bố tuyên bố độc lập trên sóng phát thanh vào ngày 26 tháng 3 năm 1971. Ngày 26 tháng 3 năm 1971 được xem là Ngày Độc lập chính thức của Bangladesh, và tên gọi Bangladesh có hiệu lực kể từ đó. Tháng 7 năm 1971, Thủ tướng Ấn Độ Indira Gandhi công khai gọi Đông Pakistan cũ là Bangladesh. == Chiến tranh giải phóng == === Tháng 3-tháng 6 === Đầu tiên, sự kháng cự là tự phát và thiếu tổ chức, và không được dự kiến sẽ kéo dài. Tuy nhiên, khi Quân đội Pakistan đàn áp dân cư, kháng cự gia tăng. Quân đội giải phóng (Mukti Bahini) trở nên tích cực hơn. Quân đội Pakistan tìm cách để dẹp yên họ, song ngày càng nhiều binh sĩ người Bengal đào thoát sang "quân đội Bangladesh" hoạt động ngầm. Các đơn vị của người Bengal này dần sáp nhập vào Mukti Bahini và được giúp đỡ về vũ khí từ Ấn Độ. Pakistan phản ứng bằng việc không vận hai sư đoàn bộ binh và tái cấu trúc lực lượng của họ. Họ cũng xây dựng các lực lượng bán quân sự Razakar, Al-Badr và Al-Sham, cũng như những người Bengal khác phản đối độc lập, và người Hồi giáo Bihar định cư từ khi phân chia. Ngày 17 tháng 4 năm 1971, một chính phủ lâm thời được thành lập tại huyện Meherpur tại tây bộ Bangladesh, gần biên giới với Ân Độ. Sheikh Mujibur Rahman được cử làm Tổng thống mặc dù ông đang bị Pakistan giam giữ, Syed Nazrul Islam làm quyền Tổng thống, Tajuddin Ahmed làm thủ tướng, và Muhammad Ataul Ghani Osmani làm Tổng tư lệnh các lực lượng vũ trang Bangladesh. Do giao tranh giữa Quân đội Pakistan và Mukti Bahini tăng lên, ước tính có khoảng 10 triệu người Bengal tìm cách tị nạn tại các bang Assam và Tây Bengal của Ấn Độ. === Tháng 6-tháng 9 === Tướng Muhammad Ataul Ghani Osmani có quan điểm khác biệt với giới lãnh đạo của Ấn Độ đối với vai trò của Mukti Bahini trong xung đột. Giới lãnh đạo Ấn Độ ban đầu cho rằng lực lượng Bengal nên được huấn luyện thành một nhóm du kích tinh nhuệ quy mô nhỏ gồm 8.000 thành viên, dẫn đầu là các binh sĩ của trung đoàn Đông Bengal còn sống hoạt động trong các chi bộ nhỏ quanh Bangladesh để tạo thuận tiện cho sự can thiệp cuối cùng của Ấn Độ, song chính phủ Bangladesh lưu vong và Tướng Ataul Ghani Osmani thì ủng hộ chiến lược sau: Lực lượng Bengal quy ước sẽ chiếm giữ các khu vực công sự bên trong Bangladesh và sau đó chính phủ Bangladesh sẽ thỉnh cầu công nhận ngoại giao và can thiệp từ quốc tế. Ban đầu, Mymensingh được lựa chọn để tiến hành chiến dịch này, song Osmani sau đó quyết định chọn Sylhet. Gửi tối đa số du kích vào trong Bangladesh nhanh nhất có thể với các mục tiêu sau:Tăng thương vong cho Pakistan bằng cách đột kích và phục kích. Làm tê liệt hoạt động kinh tế bằng cách đánh các nhà máy điện, đường sắt, kho lưu trữ và mạng lưới truyền thông. Tiêu trừ khả năng di động của quân Pakistan bằng cách cho nổ cầu cống, kho nhiên liệu, xe lửa và tàu thủy. Mục tiêu chiến lược là khiến cho quân Pakistan trải lực lượng của họ trong tỉnh, để có thể tiến hành tiến công tại các phân đội Pakistan nằm cô lập. Bangladesh được chia thành 11 quân khu vào tháng 7, mỗi quân khu có một sĩ quan chỉ huy được lựa chọn từ các sĩ quan đào ngũ từ quân Pakistan sang Mukti Bahini để chỉ huy các hoạt động du kích và huấn luyện chiến sĩ. Hầu hết các trại huấn luyện của họ nằm gần khu vực biên giới và hoạt động với sự trợ giúp từ Ấn Độ. Quân khu 10 nằm dưới quyền chỉ huy trực tiếp của Tổng tư lệnh M. A. G. Osmani và gồm có cả đặc công hải quân cùng lực lượng đặc biệt. Ba lữ đoàn (11 tiểu đoàn) được kiến thiết cho chiến tranh quy ước; một lực lượng du kích lớn được đào tạo. Ba lữ đoàn (8 tiểu đoàn bộ binh và 3 tiểu đoàn pháo binh) được đưa vào chiến đấu từ tháng 7 đến tháng 9. Trong tháng 6-tháng 7, Mukti Bahini tái tập hợp ở bên kia biên giới với sự hỗ trợ của Ấn Độ thông qua Chiến dịch Jackpot và bắt đầu đưa 2000 – 5000 quân du kích qua biên giới, được gọi là cuộc Tấn công Gió mùa, song không đạt được mục tiêu của mình. Quân chính quy Bengal cũng tấn công tại Mymensingh, Comilla và Sylhet, song kết quả là khác nhau. Nhà cầm quyền Pakistan kết luận rằng họ đã ngăn chặn thành công Chiến dịch Gió mùa, một quan sát gần chính xác. Các chiến dịch du kích giảm bớt trong giai đoạn đào tạo, song tăng tốc sau tháng 8. Các mục tiêu kinh tế và quân sự tại Dacca bị tiến công. Trong Chiến dịch Jackpot, đặc công hải quân Bengal đặt mìn và cho nổ tung các tàu bỏ neo tại Chittagong, Mongla, Narayanganj và Chandpur vào ngày 15 tháng 8 năm 1971. === Tháng 10-tháng 12 === Lực lượng quy ước Bangladesh tiến công các đồn biên giới, như tại Kamalpur, Belonia và Boyra. Các vụ du kích tấn công tăng cao, cùng xu hướng với các hành động trả đũa nhắm vào thường dân của quân Pakistan và Razakar. Quân Pakistan được tăng cường với tám tiểu đoàn từ Tây Pakistan. Binh sĩ Bangladesh thậm chí còn từng tạm chiếm các sân bay tại Lalmonirhat và Shalutikar. == Ấn Độ tham dự == Cảnh giác với sự tham dự ngày càng lớn của Ấn Độ, vào ngày 3 tháng 12 năm 1971, Không quân Pakistan tiến hành Chiến dịch Thành Cát Tư Hãn nhằm tấn công phủ đầu các căn cứ của Không quân Ấn Độ. Cuộc tấn công được mô phỏng theo Chiến dịch Tiêu điểm của Không quân Israel trong Chiến tranh Sáu ngày, và có mục tiêu là vô hiệu hóa các máy bay của Không quân Ấn Độ trên mặt đất. Ấn Độ nhìn nhận cuộc tấn công là hành động gây hấn vô cớ, đánh dấu sự khởi đầu của Chiến tranh Ấn Độ-Pakistan 1971. Phản ứng với cuộc tấn công, cả Ấn Độ và Pakistan đều chính thức thừa nhận "sự tồn tại một tình trạng chiến tranh giữa hai quốc gia", song không chính phủ nào tuyên chiến chính thức. Ba quân đoàn của Ấn Độ tham gia vào chiến tranh giải phóng Đông Pakistan. Họ nhận được hỗ trợ từ ba lữ đoàn lân cận của Mukti Bahini. Cuộc chiến trở nên quá sức đối với Lục quân chỉ có ba sư đoàn của Pakistan. Người Ấn Độ nhanh chóng tràn qua Bangladesh, giao chiến có chọn lựa hoặc bỏ qua các đồn lũy được phòng thủ kiên cố. Lực lượng Pakistan không thể đánh chặn có hiệu quả cuộc phản công của Ấn Độ, do họ được dàn thành các đơn vị nhỏ quanh biên giới để đánh chặn các cuộc tấn công du kích của Mukti Bahini. Không thể phòng thủ Dacca, Pakistan đầu hàng vào ngày 16 tháng 12 năm 1971. == Đầu hàng và hậu quả == Ngày 16 tháng 12 năm 1971, Trung tướng Amir Abdullah Khan Niazi, sĩ quan chỉ huy của lực lượng Lục quân Pakistan đóng tại Đông Pakistan ký vào văn kiện đầu hàng. Vào thời điểm đó, chỉ có vài quốc gia công nhận ngoại giao Bangladesh. Trên 93.000 binh sĩ Pakistan đầu hàng lực lượng Ấn Độ, khiến đây trở thành cuộc đầu hàng lớn nhất kể từ Chiến tranh thế giới thứ hai. Bangladesh tìm cách gia nhập Liên Hiệp Quốc và nhận hầu hết phiếu ủng hộ, song Trung Quốc phủ quyết điều này do Pakistan là đồng minh chủ chốt của họ. Mãi đến năm 1974, sau khi Bangladesh được Pakistan công nhận, Trung Quốc mới chấm dứt phủ quyết và cho phép nước này gia nhập. Hoa Kỳ cũng là một đồng minh chủ chốt của Pakistan và nằm trong số các quốc gia cuối cùng chấp thuận công nhận Bangladesh. Để đảm bảo cho một quá trình chuyển tiếp êm thấm, Ấn Độ và Pakistan ký kết Hiệp định Simla năm 1972. Hiệp định đảm bảo rằng Pakistan công nhận tình trạng độc lập của Bangladesh để đổi lấy các tù binh chiến tranh Pakistan. Ấn Độ đối xử với các tù nhân chiến tranh này theo Công ước Genève có từ năm 1925. Ấn Độ phóng thích trên 93.000 tù binh chiến tranh Pakistan trong năm tháng. Hơn nữa, như một cử chỉ thiện chí, Ấn Độ xá tội cho gần 200 quân nhân bị người Bengal cáo buộc phạm tội ác chiến tranh. Theo hiệp định, Ấn Độ trao trả 13.000 km2 (5.019 sq mi) mà họ đoạt được tại Tây Pakistan trong chiến tranh, song Ấn Độ vẫn giữ lại một vài khu vực có tính chiến lược; Trước chiến bại và một nửa quốc gia ly khai, giới lãnh đạo quân sự và dân sự Pakistan sửng sốt. Chế độ độc tài của Yahya Khan sụp đổ và mở đường cho Zulfikar Ali Bhutto nắm quyền lực. Tướng Niazi bị nghi ngờ và khinh miệt khi ông trở về Pakistan. Chiến tranh cũng bộc lộ nhược điểm của học thuyết chiến lược mà Pakistan tuyên bố, đó là "bảo vệ Đông Pakistan nằm tại Tây Pakistan". == Tham khảo ==
giang tô.txt
Giang Tô (江苏) là một tỉnh ven biển ở phía đông Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa. Giản xưng của Giang Tô là "Tô" (苏, sū), tức chữ thứ hai trong tên tỉnh. Giang Tô có mật độ dân số cao nhất trong số các tỉnh của Trung Quốc, và xếp thứ 4 trong số các đơn vị cấp tỉnh, chỉ sau Thượng Hải, Bắc Kinh và Thiên Tân. Vào đầu thời nhà Thanh, Giang Tô thuộc tỉnh Giang Nam, đến năm Khang Hi thứ 6 (1667), triều đình đã tách tỉnh Giang Nam thành Giang Tô và An Huy. Giang Tô giáp với Sơn Đông ở phía bắc, giáp với An Huy ở phía tây, giáp với Chiết Giang và Thượng Hải ở phía nam. Giang Tô có đường bờ biển dài 1.000 kilômét (620 mi) dọc theo Hoàng Hải và một phần biển Hoa Đông, Trường Giang chảy qua và đổ ra biển ở nam bộ Giang Tô. Từ sau khi Trung Quốc tiến hành cải cách mở cửa, Giang Tô là một điểm nóng về phát triển kinh tế và hiện có GDP bình quân đầu người cao nhất trong số các tỉnh tại Trung Quốc K v. xe Tuy nhiên, có sự chênh lệch phát triển giữa vùng phía nam giàu có và vùng phía bắc còn mang tính nông thôn cao. == Lịch sử == === Cổ đại === Thời thượng cổ, nam bộ Giang Tô nằm cách xa trung tâm của nền văn minh Hoa Hạ cổ (Thiểm Tây, Hà Nam và Sơn Tây). Khu vực Hoàng Hoài và Giang Hoài thời cổ là quê hương của người Hoài Di. Tại khu vực Tô Châu-Vô Tích-Thường Châu đã xuất hiện các nền văn hóa: Khóa Hồ Kiều (跨湖桥), Mã Gia Banh (马家浜), Tùng Trạch (松泽), Lương Chử (良渚), Mã Kiều (马桥); tại khu vực Ninh Trấn tồn tại văn hóa Hồ Thục (湖熟). Trong truyền thuyết lịch sử Trung Quốc về thủy tổ của tộc Hoa Hạ, Nghiêu là một trong Ngũ Đế, theo truyền thuyết thì Nghiêu sinh ra ở phía nam của Tam A (có quan điểm cho rằng nay là tây bắc Cao Bưu hoặc phụ cận hồ Cao Bưu ở Thiên Trường). === Thời Chu === Thời Tây Chu, tiếp xúc giữa Giang Tô và Trung Nguyên đã gia tăng, trên địa bàn Giang Tô khi đó đã có một vài nước chư hầu như Vu (邘), Chung Ngô (钟吾), Bành (彭). Đặc biệt là tại nam bộ Giang Tô đã nổi lên một nước chư hầu cường thịnh là Ngô với đô thành đặt tại Cô Tô (姑苏, nay là Tô Châu). Nước Ngô từng được nước Tấn giúp đỡ để làm một đồng minh chống lại nước Sở, về sau Ngô vương Hạp Lư của nước Ngô đã trở thành một trong Ngũ Bá thời Xuân Thu. Dưới thời Hạp Lư, giữa Ngô và Sở đã xảy ra nhiều cuộc chiến tranh, Sở Chiêu vương bị nước Ngô liên tục uy hiếp nên đã phải dời bỏ Sính đô đi đóng đô ở đất Nhược. Nước Ngô tuy không chiếm được nước Sở nhưng đã trở nên lớn mạnh, nước Sở suy yếu, bị mất vị thế trong khu vực. Nhân lúc Ngô-Sở giao chiến, năm 505 TCN, nước Việt ở phía nam đã đưa quân xâm lấn nước Ngô. Năm 496 TCN, Ngô vương Hạp Lư đã đưa quân đi đánh nước Việt để trả thù, tuy nhiên Hạp Lư đã bị trúng tên trọng thương trong trận chiến này và về đến đất Ngô thì chết, trước khi chết, ông ta đã dặn con trai là Phù Sai phải báo thù. Khi Phù Sai lên nối ngôi vua nước Ngô đã tích cực luyện quân để đánh Việt. Năm 494 TCN, Phù Sai đích thân mang quân đi đánh nước Việt. Quân Ngô đã đại phá quân Việt (Việt vương Câu Tiễn chỉ huy) ở Phù Tiêu tại vùng Thái Hồ. Sau đó, Phù Sai còn đem quân Ngô đi đánh nước Tề và nước Lỗ. Việt vương Câu Tiễn vì muốn trả thù nên sau đó đã lập kế đem thóc đã hấp chín rồi phơi khô để trả nợ cho nước Ngô, Ngô vương Phù Sai thấy hạt lúa căng mẩy nên đã phát những hạt lúa này cho dân Ngô gieo trồng, năm đó nước Ngô gặp nạn đói lớn, dân chúng đều oán giận Phù Sai. Năm 484 TCN, Phù Sai lại mang quân từ biển tiến lên phía bắc đánh bại nước Tề. Đầu năm 483 TCN, Phù Sai họp chư hầu ở Hoằng Trì, muốn tranh ngôi bá chủ của nước Tấn. Trong khi hội chư hầu chưa xong thì tháng 6 năm đó, Việt Câu Tiễn mang quân đánh úp nước Ngô. Tuy nhiên, Phù Sai vẫn cố tranh ngôi bá với Tấn Định công. Cuối cùng nước Tấn yếu thế hơn, Tấn Định công phải thừa nhận Phù Sai ở hàng trên. Năm 475 TCN, Câu Tiễn tiến đánh Ngô với quy mô lớn, quân Việt bao vây đô thành nước Ngô suốt hai năm, cuối cùng nước Ngô bị nước Việt tiêu diệt. Diệt xong nước Ngô, Câu Tiễn lại đưa quân vượt Hoài Hà để hợp với các nước chư hầu tại Trung Nguyên ở Từ Châu, thiên tử nhà Chu cũng mang lễ vật đến tặng Câu Tiễn. Từ đó, quân Việt hoành hành suốt dải Giang Hoài, các nước chư hầu đều công nhận Việt là bá chủ. Sau khi diệt Ngô, nước Việt đã thiên đô đến đất Ngô (nay là Tô Châu). Sau Câu Tiễn, nước Việt dần suy yếu trước sự nổi lên của Thất hùng trong thời Chiến Quốc. Vào năm 334 TCN, nước Việt dưới thời Vô Cương (無彊) cuối cùng đã bị nước Sở đánh bại và sát nhập. Năm 223 TCN, tướng nước Tần là Vương Tiễn sau khi diệt nước Sở đã tiến vào vùng đất Việt. === Thời Tần === Năm 222 TCN, Tần Thủy Hoàng đã lấy đất Ngô và Việt để thành lập Cối Kê quận, lấy Ngô huyện (ngày nay là Tô Châu) làm quận lỵ. Năm 211 TCN, Tần Thủy Hoàng đã phân đất nước thành 36 quận, phân tây bộ Cối Kê quận thành Cố Chướng quận. Năm 210 TCN, Tần Thuỷ Hoàng đã tiến hành tuần du tại một khu vực thuộc Cối Kê (song nay thuộc Chiết Giang). Vào cuối thời nhà Tấn, Hạng Vũ (là người Túc Thiên) và thúc phụ Hạng Lương đã dấy binh phản Tần tại Ngô Trung của Cối Kê, Hạng Lương tự xưng làm thái thú Cối Kê, Hạng Vũ làm kì tướng, chiêu hàng các huyện trong quận. Sau đó, tướng Thiệu Bình của Trần Thắng đã giả làm mệnh lệnh của chúa công để phong Hạng Lương làm Thượng trụ quốc nước Sở và giục Hạng Lương tiến đánh Tần. Hạng Lương bèn đem tám nghìn người, vượt Trường Giang đi về hướng tây. Năm 206 TCN, Hạng Vũ đã công nhập kinh đô Hàm Dương của Tần, giết chết Tần Tử Anh, tự lập làm Tây Sở Bá vương, lấy Bành Thành làm kinh đô, phân phong thiên hạ. === Thời Hán === Vào thời Hán sơ, tại vùng Giang Chiết đã hình thành nước chư hầu Kinh (荆). Song do Hán Cao Tổ Lưu Bang gây hại đến đất Ngô nên dân Cối Kê không phục tùng hoàng quyền, triều đình đã phái một hoàng thân là Lưu Tị (刘濞) đến làm Ngô vương, thống trị trên danh nghĩa khu vực nay là phía nam Hoài Hà của Giang Tô và đại bộ phận Chiết Giang (thực tế Lưu Tị thống trị phần lớn Cối Kê quận, Đan Dương quận, Quảng Lăng quận). Tuy nhiên, Lưu Tị lòng dạ có dã tâm nên sau khi thế tử của mình bị thái tử Lưu Khải giết chết đã phát động Thất quốc chi loạn. Để có danh nghĩa khởi binh, Lưu Tỵ công bố hịch văn, giương cao khẩu hiệu diệt trừ gian thần Tiều Thố, "làm sạch chỗ cạnh vua" bố cáo cho thiên hạ biết. Tuy nhiên, ngay tại các nước mưu phản cũng có các đại thần phản đối. Tại nước Ngô, Lưu Tỵ giết hết các quan lại nhà Hán phản đối mình từ thái thú trở xuống. Ngô vương ra lệnh tổng động viên trong nước, nói rằng mình đã 60 tuổi, người con trai út lên 16, do đó huy động đàn ông trong nước Ngô từ 16 đến 60 tuổi phải ra trận đi đánh triều đình Hán. Tổng số quân Ngô huy động được hơn 20 vạn người. Sau khi thua trận và phần lớn quân Ngô đầu hàng quân triều Hán và nước Lương, Ngô vương Tị đã bỏ chạy qua Trường Giang, đến Đan Đồ (nay là phía đông Trấn Giang), có ý giữ Đông Âu để thế thủ. Do triều đình nhà Hán treo giải thưởng 1000 cân vàng cho ai lấy được đầu Lưu Tỵ và sai sứ giả đến Đông Âu thuyết phục giết Ngô vương, người Đông Âu đã hành thích rồi cắt thủ cấp Ngô vương đem về Trường An dâng Hán Cảnh Đế. Sau đó, vào thời Hán, tuyệt đại bộ phận Giang Tô thuộc về hai châu: phía bắc Trường Giang thuộc Từ châu thứ sử bộ, phía nam Trường Giang thuộc Dương châu thứ sử bộ. Tại bắc bộ Giang Tô ngày nay, triều đình đã thiết lập nước Sở với 4 huyện (đô thành nay thuộc Từ Châu), nước Tứ Thủy với 2 huyện (đô thành nay là phụ cận Tứ Dương), nước rồi quận Quảng Lăng với 4 huyện (trị sở nay là phụ cận Dương Châu), Lâm Hoài quận với 18 huyện (trị sở nay thuộc phụ cận Tứ Hồng), Đông Hải quận với 13 huyện (trị sở nay thuộc Đàm Thành của Sơn Đông), Cống Du huyện của Lang Da quận (trị sở nay thuộc Chư Thành của Sơn Đông). Dương châu bao trùm nam bộ Giang Tô, phần lớn An Huy, Chiết Giang, Giang Tây và Phúc Kiến, tại nam bộ Giang Tô ngày nay có 7 huyện thuộc Cối Kê quận (trị sở tại Tô Châu ngày nay) và 5 huyện thuộc Đan Dương quận (trị sở nay thuộc Tuyên Thành của An Huy. === Tam Quốc === Thời Tam Quốc, vùng Hoài Nam và Giang Nam của Giang Tô thuộc Đông Ngô. Năm 238, Tôn Quyền đã thiên đô từ Vũ Xương (Kinh Châu, Hồ Bắc) về Mạt Lăng (Dương Châu, Giang Tô) và đổi tên là Kiến Nghiệp (Nam Kinh ngày nay). Vùng Hoài Bắc của Giang Tô thuộc Tào Ngụy. Đoạn Hoài Hà chảy qua Giang Tô trở thành giới tuyến giữa Đông Ngô và Tào Ngụy. Thời Tôn Quyền là lúc Đông Ngô cường thịnh, nước này đã tiến hành di dân từ phía bắc và bình định các bộ lạc thiểu số, đặc biệt là ở hạ lưu Trường Giang. Tôn Quyền đem quân tiến về hướng Đông Nam, thúc đẩy việc mở mang khu vực này và thực hiện dung hợp dân tộc. Đông Ngô đã khai phá vùng đồng bằng Thái Hồ ở Tam Ngô (Ngô Quận, Ngô Hưng, Cối Kê) và khu vực vịnh Hàng Châu tiếp giáp với Kiến Nghiệp thuộc Đan Dương quận. Các khu vực đồn điền nông nghiệp được hình thành dưới sự giám sát của các võ quan (Điển nông Hiệu úy) tại vùng Thương Châu (nam bộ Giang Tô). Trước các cuộc tấn công mãnh liệt của quân Tấn, quân Đông Ngô tan rã và kinh đô Kiến Nghiệp đã thất thủ vào tháng 3 năm 280, Tôn Hạo đầu hàng nhà Tấn, Đông Ngô diệt vong. === Thời Tấn và Nam-Bắc triều === Bắt đầu từ năm 304, Tây Tấn diệt vong do loạn Vĩnh Gia khi các ngoại tộc tại Trung Nguyên nổi loạn, do chiến loạn, đã có một lượng lớn nhân khẩu, bao gồm cả các sĩ tộc đã di cư từ Trung Nguyên đến đồng bằng trung hạ du Trường Giang, sử gọi là "y quan nam độ" (衣冠南渡), việc này đã có tác động sâu sắc đến diện mạo chính trị thời Đông Tấn, đồng thời cũng giúp phát triển kinh tế trung hạ du Trường Giang, khiến trung tâm kinh tế của Trung Hoa chuyển xuống phương nam. Năm 317, Vương Đạo (王導) đã phụ tá Tư Mã Duệ kiến lập triều Đông Tấn tại Kiến Khang (do nhà Tấn kiêng húy Tấn Hoài Đế Tư Mã Nghiệp nên đổi thành Kiến Khang). Từ năm 420 trở đi, bốn triều đại kế tục nhau tại phương Nam Trung Quốc là Lưu Tống, Nam Tề, Lương và Trần cũng định đô ở Kiến Khang, chấm dứt khi nhà Tùy thống nhất Trung Quốc vào năm 589. Trong thời gian này, Hoài Hà ở bắc bộ Giang Tô lại một lần nữa trở thành giới tuyến phân chia giữa Bắc và Nam, là tiền tuyến trong các cuộc chiến tranh giữa hai bên. === Thời Tùy === Năm 589, Tùy diệt Trần, một lần nữa thống nhất nam-bắc. Năm 605, Tùy Dạng Đế đã giao công việc mở rộng, kéo dài Đại Vận Hà cho Vũ Văn Khải, để có thể nối liền Trác Quận (nay là Bắc Kinh) với Hàng Châu. Công việc này kéo dài trong 6 năm và đoạn kênh nằm giữa Trường Giang và Hàng Châu được đặt tên là Giang Nam Vận Hà (江南运河). Thời nhà Tùy, triều đình đã có một chính sách cậy quyền đối với các di dân Nam triều, cảnh tượng tiêu điều bao trùm lên nhiều khu vực tại Tô Nam. Về sau, do sự đấu tranh của địa chủ phương Nam, triều đình nhà Tùy đã phải áp dụng một chính sách ôn hòa hơn đối với phương nam, khiến Tô Nam và các phần khác từng nằm dưới sự thống trị của Trần xuất hiện cảnh phục hồi. Thời đại loạn Tùy mạt, quân phiệt Thẩm Pháp Hưng (沈法兴) đầu tiên đã phá hủy Dương Châu thành, và sau đó công nhập Giang Nam, chiếm được khu vực nay là Chiết Giang và nam bộ Giang Tộ, tự xưng Lương vương. Sự việc này đã khiến cho kinh tế Giang Nam chịu thiệt hại không nhỏ. === Thời Đường === Cùng với thời kỳ nhà Hán, thời kỳ nhà Đường là thời kỳ hoàng kim của Trung Quốc. Việc cung cấp lương thực của hoàng thất thời Đường dựa vào Giang Nam, triều đình quy định vào tháng 2 mỗi năm, thuyền vận lương Giang Nam sẽ tập trung tại Dương Châu, từ đó Dương Châu trở thành thành thị thương nghiệp nổi tiếng nhất Trung Quốc. Thời Đường, bộ phận phía nam Trường Giang của Giang Tô thuộc Giang Nam Đông đạo, bộ phận ở phía bắc Trường Giang và phía nam Hoài Hà thuộc Hoài Nam đạo, bộ phận ở phía bắc Hoài Hà thuộc Hà Nam đạo. Cuối thời nhà Đường, Trung Quốc xuất hiện tình trạng phiên trấn cát cứ nghiêm trọng, tại Giang Tô đã xuất hiện tình trạng đối đầu và xung đột trong một thời gian dài giữa Hoài Nam tiết độ sứ (trú địa Dương Châu) và Chiết Tây quan sát sứ (trú địa Trấn Giang). Là kinh đô của Lục triều, Kiến Khang thời Tùy đã ở trong tình trạng bị phá hoại nghiêm trọng, đến thời nhà Đường cũng không có gì khởi sắc. Đến thời cuối nhà Đường, Kiến Khang nằm ở nơi giao giới giữa ba phiên trấn lớn là Hoài Nam, Chiết Tây và Tuyên Hấp, lại càng dễ bị phá hủy trong chiến tranh, đến tận khi Nam Đường lập quốc thì thành mới bắt đầu được khôi phục. === Thời Ngũ Đại Thập Quốc === Vào cuối thời nhà Đường, tướng Dương Hành Mật đã cát cứ vùng Hoài Nam, sau đó ông được phong làm Hoài Nam tiết độ sứ năm 892. Năm 902, Dương Hành Mật được Đường Chiêu Tông phong làm Ngô vương. Sau khi nhà Hậu Lương thay thế nhà Đường, trưởng nam của Dương Hành Mật là Dương Ác đã từ chối công nhận điều này và vẫn sử dụng niên hiệu của nhà Đường. Từ thời điểm này, nước Ngô trở thành một chính thể độc lập và tự chủ. Ban đầu, Kinh đô nước Ngô đặt tại Quảng Lăng (nay là Dương Châu) và lãnh thổ bao gồm nam bộ An Huy, nam bộ Giang Tô, đại bộ phận Giang Tây, Hồ Nam cùng đông bộ Hồ Bắc. Kinh đô sau này được chuyển tới Kim Lăng (nay là Nam Kinh). Trong lúc đó, cực nam của Giang Tô (khu vực Tô Châu ngày nay) thuộc quyền cai quản của Tiền Lưu. Sau khi nhà Đường diệt vong, Tiền Lưu cũng tự xưng Ngô Việt vương, lập ra nước Ngô Việt, kinh đô nước này đặt tại tại Tây Phủ (nay là Hàng Châu). Lãnh thổ Ngô Việt gần như bao gồm toàn bộ lãnh thổ nước Việt thời Xuân Thu, chứ không bao gồm đất của nước Ngô thời đó – điều này dẫn tới những lời cáo buộc của Dương Ngô rằng Ngô Việt có mưu đồ đối với lãnh thổ của họ, và tên gọi này là nguồn gốc của các căng thẳng trong nhiều năm giữa hai quốc gia. Ngô Việt cuối cùng đã sáp nhập vào Tống một cách tương đối hòa bình. Từ Tri Cáo, tên thật Lý Biện, ban đầu là con nuôi Dương Hành Mật. Tuy nhiên đến năm 937, ông đã chính thức chiếm đoạt quyền hành của nước Ngô, cho rằng mình thuộc dòng dõi hoàng tộc nhà Đường nên đã cải lại sang họ Lý, tự xưng Hoàng đế, lập nên nước Nam Đường. Kinh đô Nam Đường được đặt ở Kim Lăng (cũng gọi là Tây Đô), ngày nay là Nam Kinh. Nước Nam Đường nắm bắt thời cơ, diệt Ân (một chính quyền ly khai khỏi Mân) và cả Mân vào năm 945, thôn tính nước Sở năm 951. Sau khi nhà Hậu Chu thay nhà Hậu Hán, Hậu Chu Thế Tông (Sài Vinh) mang quân nam tiến, đánh cho Nam Đường đại bại. Sau hai cuộc chiến năm 956 và 958, Nam Đường bị mất phần đất Giang Bắc, chỉ co cụm về Giang Nam. Lý Cảnh phải xưng thần, làm chư hầu với Hậu Chu và từ bỏ niên hiệu riêng, dùng niên hiệu của Hậu Chu. Năm 976, Tống Thái Tổ cất quân đánh Nam Đường, bắt vua Nam Đường là Lý Dục về Biện Kinh. Nước Nam Đường diệt vong. Trong thời Ngũ Đại Thập Quốc, đại bộ phận vùng Hoài Bắc của Giang Tô thuộc quyền cai quản của Ngũ Đại. === Thời Tống === Dưới sự cai trị của triều đình nhà Tống, giai tầng thương nhân giàu có cũng như kinh tế công thương nghiệp của Giang Tô có sự phát triển nhanh chóng, các thành thị chủ yếu như Tô Châu và Dương Châu đã phát triển thành các trung tâm thương nghiệp nổi bật. Dưới thời Tống, địa bàn Giang Tô ngày nay phân thuộc bốn lộ, cụ thể như sau: Giang Ninh phủ (nay là Nam Kinh]] thuộc Giang Nam Đông lộ; Tô Châu, Thường Châu, Nhuận Châu thuộc Lưỡng Chiết Tây lộ; Dương Châu, Hoài An, Thái Châu, Hải Châu, Tứ Châu, Thông Châu, Chân Châu thuộc về Hoài Nam Đông lộ; Từ Châu thuộc Kinh Đông Tây lộ. Năm 1127, nhà Kim của người Nữ Chân sau khi chinh phục Hoa Bắc đã tiến đến vùng Hoài Hà ở bắc bộ Giang Tô, Hoài Hà sau đó trở thành biên giới giữa triều Kim ở phía bắc và triều Nam Tống ở phía nam. Thời Nam Tống, Kinh Đông Tây lộ bị bãi bỏ, còn Hoài Nam Đông lộ, Giang Nam Đông lộ, Lưỡng Chiết Tây lộ vẫn tồn tại song ranh giới có sự điều chỉnh. === Thời Nguyên === Năm 1279, người Mông Cổ chiếm lĩnh Trung Quốc. Ban đầu, triều đình nhà Nguyên sáp nhập Lưỡng Chiết lộ và Lưỡng Hoài lộ, thiết lập Giang Hoài đẳng lộ hành trung thư tỉnh, cai quản Lưỡng Hoài (Hoài Nam Đông lộ và Hoài Nam Tây lộ), Lưỡng Chiết (Lưỡng Chiết Tây lộ và Lưỡng Chiết Đông lộ), tỉnh hội đặt tại thủ phủ của Hoài Nam Đông lộ trước đây là Dương Châu. Đến năm Chí Nguyên thứ 21 (1284) thời Nguyên Thế Tổ, do không thuận lợi về mặt địa lý và dân sự, triều đình nhà Nguyên đã chuyển tỉnh hội đến Hàng Châu. Đến năm Chí Nguyên thứ 22 (1285), triều Nguyên cắt Giang Bắc để nhập vào Hà Nam Giang Bắc đẳng xứ hành trung thư tỉnh, phần đất trước đây thuộc Lưỡng Chiết lộ thì thành lập Giang Chiết đẳng xứ hành trung thư tỉnh. === Thời Minh === Năm 1368, Chu Nguyên Chương đã lập nên nhà Minh, ban đầu triều đình này định đô ở Nam Kinh. Triều đình Minh sau đó đã đưa các phủ và trực lệ châu tại khu vực thuộc hai tỉnh An Huy và Giang Tô ngày nay nằm dưới quyền cai trị trực tiếp của trung ương, gọi là "Trực Lệ". Năm Vĩnh Lạc thứ 19 (1421), Minh Thái Tông Chu Lệ sau khi thiên đô đến Bắc Kinh đã cải "Trực Lệ" thành "Nam Trực Lệ". Khi đó, khu vực thuộc tỉnh Giang Tô ngày nay tồn tại 7 phủ, trong đó có 5 phủ ở Giang Nam là: Ứng Thiên phủ (Nam Kinh), Tô Châu phủ, Tùng Giang phủ, Thường Châu phủ và Trấn Giang phủ, ở Giang Bắc có 2 phủ là Dương Châu phủ và Hoài An phủ. Thời Minh, kinh tế và văn hóa của Giang Tô phát triển ở thời đỉnh cao: Nam Kinh cũng có được vị thế "kinh thành" bên cạnh Bắc Kinh; Tô Châu và Tùng Giang dựa trên ngành dệt phát triển vẫn tiếp tục nắm giữ vị thế là trung tâm kinh tế của toàn Trung Quốc, trở thành khu vực có trình độ công nghiệp hóa và đô thị hóa cao nhất trong số các địa phương, các thành thị lớn nhỏ xuất hiện ở nhiều nơi, giá đất ở mức cao, tiền thuế nộp cho triều đình đứng hàng đầu cả nước. Cũng vào thời Minh, trình độ phát triển văn hóa của Giang Tô cũng đứng hàng đầu tại Trung Quốc. Trong một thời gian dài, Giang Tô là nơi sản sinh một tỷ lệ lớn trạng nguyên trong các kỳ thi khoa cử. Đối với toàn Trung Quốc, các phong cách văn hóa và quan điểm thẩm mỹ tại Giang Tô có ảnh hưởng sâu rộng. Dương Châu và Hoài An nằm trên tuyến Đại Vân Hà nối kinh thành và Hàng Châu (tuyến vận chuyển lương thực từ phương Nam lên kinh thành) và là điểm khống chế mậu dịch muối ăn, nằm trong số các thành thị phồn hoa nhất ở phía bắc Trường Giang tại Trung Quốc khi đó. === Thời Thanh === Sau khi kinh đô Bắc Kinh bị Lý Tự Thành chiếm được vào năm 1644. Một số hoàng tộc và quan lại nhà Minh đã tìm cách di cư lánh nạn về phía nam Trung Quốc và tập hợp lực lượng còn lại xung quanh Nam Kinh, kinh đô thứ hai của nhà Minh, lập nên nhà Nam Minh. Đến năm Thuận Trị thứ 2 (1645), quân Thanh do Đa Đạc lãnh đạo đã đưa quân xuống phía nam, Sử Khả Pháp đã chỉ huy quân tứ trấn của Nam Minh chống lại và thắng được một số trận. Tuy nhiên, lúc này triều đình Nam Minh lại lục đục, tướng Tả Lương Ngọc đã đưa quân từ Vũ Xương tiến đánh Nam Kinh, Mã Sĩ Anh sợ hãi nên đã gọi quân tứ trấn phải từ Giang Bắc trở về đối phó. Sử Khả Pháp hiểu rõ rằng quân Thanh đã áp sát, không nên dời Dương Châu, song bất đắc dĩ vẫn quyết định vượt Trường Giang ứng cứu. Khi hay tin Tả Lương Ngọc đã bị đánh thua, ông lại vượt Trường Giang, song lúc này quân Thanh đã áp sát Dương Châu. Sử Khả Pháp ban hịch kêu gọi mọi người đem binh về cứu thành Dương Châu song không ai hưởng ứng. Đa Đạc sau đó dã ra lệnh bao vây và tiến đánh Dương Châu suốt ngày đêm, quân và dân trong thành kiên quyết chống lại. Cuối cùng, Đa Đạc lệnh cho bắn pháo vào thành, tường thành dẫn sụp đổ rồi vỡ, quân Thanh xông vào thành Dương Châu. Đa Đạc thấy quân Thanh bị thương vong quá lớn khi công thành nên đã quyết định làm cỏ toàn bộ dân trong thành, cuộc đại tàn sát kéo dài trong suốt mười ngày, sử gọi là Dương Châu thập nhật (揚州十日). Sau khi Dương Châu thất thủ, quân Thanh đã tiến đến Nam Kinh, chính quyền Hoàng Quang Đế bị tiêu diệt. Sau đó, quân Thanh bắt toàn thể dân chúng Giang Nam phải theo phong tục Mãn Thanh như phải cạo tóc ở phía trước đầu và để bím tóc ở phía sau, ai trái lệnh sẽ bị chém, khiến nhân dân Giang Nam bất bình. Quân dân Gia Định đã chống lại quân Thanh trong ba tháng, bị quân Thanh tàn sát ba lần với hơn 20.000 người chết, sử gọi là Gia đình tam đồ (嘉定三屠). Triều Thanh cũng đổi "Nam Trực Lệ" thành Giang Nam tỉnh. Đến năm Khang Hy thứ 6 (1667), triều Thanh lại chia Giang Nam thành hai tỉnh Giang Tô và An Huy. Khi đó, tuần phủ nha môn của Giang Tô trú tại Tô Châu và bao gồm các phủ Giang Ninh, Tô Châu, Hoài An, Dương Châu, Từ Châu, Thông Châu, Trấn Giang, Trùng Giang (nay là Thượng Hải), đại thể tương tự như tỉnh Giang Tô hiện nay. Ngoài ra, triều Thanh cũng quy định tiết chết Lưỡng Giang tổng đốc trú tại Nam Kinh và phạm vi bao gồm ba tỉnh Giang Tô, An Huy và Giang Tây. Từ năm 1780 trở về trước, An Huy bố chính sứ trường kì trú tại Nam Kinh, đến năm 1780 thì mới chuyển đến tỉnh hội An Khánh. Tại Nam Kinh, thiết lập chức Giang Ninh bố chính sứ, Giang Tô bố chính sứ trú tại Tô Châu và quản lý vùng Tô Nam, Giang Tô học chính trú tại Giang Âm. Lưỡng Hoài diêm vận sứ trú tại Dương Châu, phụ trách quản lý diêm trường Lưỡng Hoài, một diêm trường trọng yếu của đất nước. Phạm vi tiêu thụ theo quy định bao gồm 4 tỉnh trung du Trường Giang là Hồ Nam, Hồ Bắc, Giang Tây và An Huy, cùng với nam bộ Hà Nam, Giang Ninh phủ và các phủ ở phía bắc Trường Giang của Giang Tô. Bốn phủ ở nam bộ Giang Tô là Tô Châu, Tùng Giang, Thường Châu và Trấn Giang chịu sự quản lý về muối của Lưỡng Chiết Giang Nam diêm vận sứ ti trú tại Hàng Châu. Thời Thanh, tại khu vực duyên hải Giang Tô dã thiết lập thêm ba trực lệ châu là: Thái Thương, Thông Châu và Hải Châu, thăng Từ Châu từ cấp trực lệ châu thành cấp phủ. Do dân số gia tăng với số lượng lớn, nhiều huyện ở nam bộ Giang Tô đã chia đôi song vẫn chung huyện thành (đến thời Dân Quốc mới bãi bỏ điều này), trong thành Tô Châu thậm chí còn có huyện nha của ba huyện là Ngô, Trường Châu và Nguyên Hòa. Trong những năm 1840, Giang Tô bắt đầu chịu ảnh hưởng của phương Tây. Năm 1843, theo điều ước Nam Kinh, một khu vực ít được biết đến ở đông nam Giang Tô là Thượng Hải đã trở thành một thương cảng hiệp ước, về sau tại đó đã hình thành nên tô giới quốc tế và tô giới Pháp. Thượng Hải đã nhanh chóng phát triển thành một đại đô thị mậu dịch, tài chính và quốc tế hóa, đến đầu thế kỷ 20 thì nơi này đã có hàng triệu cư dân. Năm 1927, Thượng Hải đã chính thức tách ra khỏi Giang Tô và trở thành một viện hạ thị độc lập. Tại Trấn Giang và Tô Châu cũng lần lượt thiết lập tô giới Anh và tô giới Nhật, song với quy mô nhỏ hơn. Cuối thời nhà Thanh, nam bộ Giang Tô từng nằm dưới quyền kiểm soát của cuộc khởi nghĩa Thái Bình Thiên Quốc. Đến năm 1853, Thái Bình Thiên Quốc thiên đô đến Nam Kinh và đổi tên thành Thiên Kinh. Các trận chiến quyết liệt giữa nhà Thanh và Thái Bình Thiên Quốc đã khiến Giang Tô chịu tổn thất vô cùng nặng nề, các thành thị chủ yếu như Nam Kinh, Thanh Giang Phố (nay là Hoài An), hay các khu phố phồn hoa của Tô Châu và Dương Châu, đều bị hủy diệt. Sau đó, các cư dân nói Quan thoại đã di cư đến Giang Tô, khiến cho Nam Kinh, Trấn Giang và Dương Châu không còn là vùng nói tiếng Ngô; vị thế trung tâm kinh tế Trung Quốc của Tô Châu cũng về tay Thượng Hải. === Thời Dân Quốc === Sau khi Trung Hoa Dân Quốc được thành lập, chính phủ Quốc dân sau đó đã phế bỏ chế độ phủ, châu, thính và phân toàn tỉnh Giang Tô thành 60 huyện. Năm 1916, sau khi Viên Thế Khải chết, toàn bộ Trung Quốc rơi vào cảnh quân phiệt cát cứ. Tỉnh Giang Tô từng thuộc quyền thống trị của Trực Lệ quân phiệt do Trương Tông Xương đứng đầu, cùng quản lý khu vực Thượng Hải với Hoàn hệ quân phiệt tại Chiết Giang song về sau giữa hai bên đã bùng phát chiến tranh Giang-Chiết. Sau nhiều tháng, chiến tranh kết thúc với thắng lợi thuộc về Trực hệ. Tuy nhiên, sau đó giữa Trương Tông Xương và Tôn Truyền Phương quay sang đối mặt nhau, Tôn Truyền Phương đã mở rộng địa bàn sang tỉnh Giang Tô. Ông ta đặt tổng hành dinh tại Nam Kinh với tư cách Đốc quân Giang Tô ngày 25 tháng 11 năm 1925. Sau Bắc phạt, Giang Tô nằm dưới quyền kiểm soát của Chính phủ Quốc dân. Trong thời gian này, công thương nghiệp của Giang Tây phát triển nhanh chóng, ngành dệt tại Vô Tích, Nam Thông và Thường Châu đã phát triển lớn mạnh. Tháng 4 năm 1927, Tưởng Giới Thạch đã thiết lập chính phủ trung ương tại Nam Kinh. Chính quyền Tưởng Giới Thạch quản lý một cách thống nhất hơn một nửa Trung Quốc, đồng thời đã tiến hành kiến thiết hiện đại hóa đất nước, bao gồm cả xây dựng mạng lưới công lộ. Năm 1928, sau khi chính phủ Quốc dân chính thức định đô tại Nam Kinh, đã tiến hành kiến thiết thủ đô với quy mô lớn, tỉnh lị của Giang Tô được chuyển đến Trấn Giang vào năm 1929. Sau khi chiến tranh Trung-Nhật bùng phát toàn diện vào năm 1937, quân Nhật đã oanh tạc dữ dội những nơi nằm dọc theo tuyến đường sắt Hỗ-Ninh (Thượng Hải-Nam Kinh) như Trấn Giang, Vô Tích, Tô Châu và các thành phố khác. Ngàu 13 tháng 12, quân Nhật công hãm Nam Kinh, trong vòng ba tháng đã có hàng trăm nghìn thường dân và binh lính Trung Quốc đã giải giáp bị lính của Quân đội Đế quốc Nhật Bản sát hại.. Các hành động hãm hiếp và cướp bóc trên quy mô lớn cũng đã diễn ra tại Nam Kinh. Các sử gia và nhân chứng ước tính rằng đã có từ 250.000 đến 300.000 người bị giết trong cuộc thảm sát này. Chính quyền tỉnh Giang Tô tạm thời đã di dời từ Trấn Giang đến Hoài An để tránh sự uy hiếp của quân Nhật, đến năm 1939, chính quyền tỉnh di dời đến Hưng Hóa. Nam Kinh cũng là thủ đô của chính quyền Uông Tinh Vệ cho đến khi Nhật Bản đầu hàng vào năm 1945. Chính quyền Uông Tinh Vệ đã di dời chính quyền tỉnh Giang Tô do mình quản lý đến Tô Châu. Đến năm 1944, chính quyền Uông Tinh Vệ đã thành lập tỉnh Hoài Hải tại bắc bộ Giang Tô và An Huy, lấy Từ Châu làm trung tâm. Trong chiến tranh, Tân Tứ quân (do Cộng sản đảng điều hành) đã tiến vào Tô Bắc, khống chế một bộ phận khu vực nông thôn, trụ sở quân sự được thiết lập tại Diêm Thành. Sau chiến tranh, chính phủ Quốc dân đã hoàn đô từ Trùng Khánh về Nam Kinh, song lúc này Cộng sản đảng đã kiểm soát được một bộ phận khu vực Tô Bắc và Tô Trung và họ đã thành lập chính phủ biên khu Tô Hoàn đặt tại Hoài An. Không lâu sau, nội chiến Quốc-Cộng bùng phát, Cộng sản đảng triệt thoái khỏi Giang Tô. Tuy nhiên, đến năm 1948, những người cộng sản đã giành chiến thắng trong chiến dịch Hoài Hải ở khu vực phụ cận Từ Châu. Tháng 4 năm 1949, quân Cộng sản đã dễ dàng vượt Trường Giang và chiếm Nam Kinh, chính phủ Quốc dân triệt thoái đến Đài Loan. === Thời Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa === Sau khi Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa thành lập, Bắc Kinh trở thành thủ đô. Ban đầu, Giang Tô được phân thành hành thự Tô Bắc và hành thự Tô Nam, song đến năm 1953 thì lại hợp lại thành tỉnh Giang Tô, tỉnh lị đặt tại Nam Kinh. Ranh giới giữa Giang Tô và An Huy cũng có điều chỉnh nhỏ: hai huyện Hu Dị và Tứ Hồng được chuyển cho Giang Tô, ngược lại, hai huyện Tiêu và Nãng Sơn của Từ Châu thì được chuyển sang cho An Huy. Đến đầu thập niên 1980, các xí nghiệp tại nam bộ Giang Tô khá phát triển, Tô Nam trở thành khu vực giàu có và phát triển nhất Trung Quốc lúc đó. Tuy nhiên, trong thời kỳ đầu cải cách mở cửa, tâm điểm kinh tế là vùng ven biển đông nam, nhất là tại tỉnh Quảng Đông, điều này đã khiến Giang Tô dần bị tụt lại phía sau. Kinh tế Giang Tô vào cuối thập niên 1980 và đầu thập niên 1990 rơi vào tình trạng đình trệ. Tuy nhiên, đến đầu thập niên 1990, trung tâm kinh tế của vùng đồng bằng châu thổ Trường Giang là Thượng Hải đã nhận được sự quan tâm to lớn, các thành thị ở nam bộ Giang Tô gần gũi với Thượng Hải như Tô Châu và Vô Tích cũng phát triển nhanh chóng. Trong cùng thời kỳ, xuất hiện dòng vốn đầu tư nước ngoài đổ vào Tô Nam với số lượng lớn, kinh tế Giang Tô từ đó xuất hiện chênh lệch phát triển giữa nam và bắc. Thực lực kinh tế tổng hợp của Nam Kinh cũng có sự đột phá, đứng hàng đầu tại Giang Tô. Khu công nghiệp Trung Quốc-Singapore tại Tô Châu là khu phát triển kinh tế-kỹ thuật cấp quốc gia. == Địa lý == Giang Tô nằm ở phía đông đại lục Trung Quốc, giới hạn từ 116°22'-121°55' kinh Đông, 30°46′-35°07′ vĩ Bắc. Có Trường Giang và Hoài Hà chảy qua ở phía nam và bắc, đông giáp Hoàng Hải, đông nam giáp Thượng Hải, nam giáp Chiết Giang, tây giáp An Huy, bắc giáp Sơn Đông. Giang Tô nằm ở vùng chuyển giao giữa miền Bắc và miền Nam Trung Quốc, khí hậu và thảm thực vật mang cả đặc điểm của phương Bắc và phương Nam. Giang Tô có diện tích 102.600 km², là tỉnh có diện tích nhỏ thứ hai Trung Quốc, chỉ sau Hải Nam. Đường ranh giới trên đất liền của tỉnh Giang Tô dài 3.383 km, cùng với 954 km đường bờ biển. === Địa hình === Đại bộ phận Giang Tô là đồng bằng phù sa hạ du Trường Giang và Hoài Hà, địa thế toàn tỉnh nhìn chung là khá thấp và bằng phẳng, cũng là tỉnh thấp và bằng phẳng nhất tại Trung Quốc. Diện tích vùng đồng bằng tại Giang Tô là trên dưới 70.000 km², chiếm 69% diện tích toàn tỉnh; vùng mặt nước chiếm 17% diện tích của tỉnh, đồi núi thấp chiếm 14% diện tích của tỉnh và tập trung tại tây nam và bắc bộ. Đỉnh Ngọc Nữ (玉女峰) trên Hoa Quả Sơn thuộc Liên Vân Cảng là điểm cao nhất Giang Tô với cao độ 624,4 mét trên mực nước biển. Hoa Quả Sơn tại Giang Tô được công nhận tương đối rộng rãi là nguyên mẫu của Hoa Quả Sơn trong Tây du ký. === Sông hồ === Hầu hết các khu vực tại Giang Tô đều có hệ thống thủy khá phát triển, diện tích mặt nước của toàn tỉnh là 17.300 km², chiếm một tỷ lệ lớn trong tổng diện tích và đứng đầu trong số các tỉnh tại Trung Quốc. Đặc biệt là ở khu vực đồng bằng Thái Hồ ở phía nam của Trường Giang và đồng bằng Lý Hạ Hà ở giữa Trường Giang và Hoài Hà, các sông và kênh rạch hình thành một mạng lưới vô cùng dày đặc. Trường Giang là sông lớn nhất tại Giang Tô, chảy theo hướng đông-tây, đoạn chảy qua Giang Tô của Trường Giang dài 425 km. Trường Giang phân Giang Tô thành hai phần bắc và nam. Trên địa bàn Giang Tô, có sông Tần Hoài nhập vào Trường Giang tại Nam Kinh. Trong lịch sử, Hoài Hà từng chảy qua trung bắc bộ Giang Tô rồi đổ ra Hoàng Hải, tuy nhiên, kể từ năm 1194 thì Hoàng Hà đã đoạt mất đường thông ra biển của Hoài Hà. Đến năm 1885, khi Hoàng Hà lại chuyển dòng lên phía bắc để đổ ra Bột Hải, Hoài Hà không còn có thể thông ra biển qua đường cũ được nữa, mà phải theo hồ Hồng Trạch, hồ Cao Bưu cùng Đại Vận Hà để đổ nước vào Trường Giang. Các sông lớn khác tại Giang Tô là sông Nghi (沂河), sông Thuật (沭河) và sông Tứ (泗水). Ngoài các dòng chảy tự nhiên, Giang Tô cũng có rất nhiều kênh. Trong đó Kinh-Hàng Đại Vận Hà trải dài 718 km từ nam đến bắc của tỉnh, có cả thảy 8 địa cấp thị tại Giang Tô nằm ven tuyến Kinh-Hàng Đại Vận Hà, trong đó có các danh thành trong lịch sử và văn hóa Trung Quốc như Tô Châu hay Dương Châu. Ngoài ra, Giang Tô còn có các kênh nổi danh khác như kênh thủy lợi Tô Bắc (苏北灌溉总渠, dẫn nước từ Hoài Hà ra biển theo dòng chảy cũ) và Thông Dương Vận Hà (通扬运河). Giang Tô là tỉnh tập trung nhiều hồ nhất Trung Quốc, với trên 290 hồ lớn nhỏ, tổng diện tích mặt hồ của toàn tỉnh Giang Tô là 6.853 km², chiếm tỷ lệ 6% diện tích, đứng đầu cả nước. Trong đó các hồ có diện tích trên 1000 km² là Thái Hồ (2250 km²) và hồ Hồng Trạch (2069 km²), đứng vị trí thứ 3 và thứ 4 trong năm hồ nước ngọt lớn nhất Trung Quốc. Các hồ có diện tích từ 100–1000 km² có hồ Cao Bưu (高邮湖), hồ Lạc Mã (骆马湖), hồ Thạch Cữu (石臼湖), hồ Cách (滆湖), hồ Bạch Mã (白马湖) và hồ Dương Trừng (阳澄湖). Các hồ có diện tích từ 50–100 km² tại Giang Tô gồm hồ Trường Đãng (长荡湖), hồ Thiệu Bá (邵伯湖), hồ Điến Sơn (淀山湖), hồ Cố Thành (固城湖). Các hồ tại Giang Tô không chỉ là một nguồn nước quan trọng mà còn là những nơi có nguồn lợi thủy sản, có giá trị trong giao thông đường thủy. Với một tỉnh có địa thế thấp như Giang Tô, các hồ nước còn có tác dụng chứa nước trong các cơn lụt lớn. === Khí hậu === Hầu hết Giang Tô nằm trong đới khí hậu cận nhiệt đới ẩm (Cfa hay Cwa trong phân loại khí hậu Köppen), và bắt đầu chuyển sang đới khí hậu lục địa ẩm (Köppen Dwa) ở xa về phía bắc. Giữa các mùa có sự phân biệt rõ ràng, với nhiệt độ trung bình từ −1 đến 4 °C (30 đến 39 °F) vào tháng 1 đến 26 đến 29 °C (79 đến 84 °F) vào tháng 7. Mưa rơi thường xuyên giữa mùa xuân và mùa hè (mai vũ), các cơn bão nhiệt đới cùng với mưa bão xuất hiện vào cuối mùa hè và đầu mùa thu. Lượng mưa bình quân hàng năm của Giang Tô là 800 đến 1.200 milimét (31 đến 47 in), tập trung chủ yếu vào mùa hè, khi có gió mùa đông nam. == Nhân khẩu == Tính đến cuối năm 2011, tổng số nhân khẩu thường trú tại Giang Tô là 78,988 triệu người, tăng 295.000 người so với năm trước. Trong năm, tỷ xuất sinh của Giang Tô là 9,59‰ và tỷ suất tử vong là 6,98‰, đạt mức tăng trưởng tự nhiên là 2,61‰. Bên cạnh người Hán chiếm tuyệt đại đa số, tỉnh Giang Tô có sự hiện diện của toàn bộ 55 dân tộc thiểu số được công nhận tại Trung Quốc. Các dân tộc thiểu số đã sinh sống nhiều đời tại Giang Tô là người Hồi và người Mãn. === Ngôn ngữ === Quan thoại và tiếng Ngô là hai ngôn ngữ hay phương ngữ chính tại Giang Tô. Trong đó, tiếng Ngô phân bổ ở khu vực đông nam mà trung tâm là Tô Châu, Vô Tích và Thường Châu; Quan thoại Trung Nguyên phân bố ở phía tây bắc, bao trùm toàn bộ Từ Châu và vùng đô thị của Túc Thiên; Quan thoại Giao-Liêu chỉ được nói ở huyện Cống Du thuộc Liên Vân Cảng; các khu vực còn lại, bao gồm cả tỉnh lị Nam Kinh, chủ yếu nói Quan thoại Giang Hoài. Ngoài ra, ở vùng Tô Nam còn hình thành một số đảo phương ngữ bắt nguồn từ các di dân ngoại tỉnh, như của tiếng Mân Nam. == Các đơn vị hành chính == Giang Tô được chia làm 13 đơn vị hành chính, toàn bộ là thành phố thuộc tỉnh (địa cấp thị, 地级市): Các đơn vị hành chính cấp địa khu trên đây được chia thành 106 đơn vị hành chính cấp huyện, gồm 54 quận (thị hạt khu), 27 thị xã (huyện cấp thị), và 25 huyện. Các đơn vị hành chính cấp huyện này lại được nhỏ thành 1488 đơn vị hành chính cấp hương, gồm 1078 thị trấn (trấn), 122 hương, 1 hương dân tộc, và 287 phường (nhai đạo). == Kinh tế == Theo tính toán sơ bộ, tổng GDP của Giang Tô trong năm 2011 là 4,86043 nghìn tỉ NDT, tăng trưởng 11% so với năm trước đó. Kết cấu các khu vực trong nền kinh tế của tỉnh cũng tiến triển theo hướng ưu hóa, năm 2011, khu vực một của nền kinh tế đạt giá trị 306,48 tỉ NDT, tăng trưởng 4%; khu vực hai của nền kinh tế đạt giá trị 2,50238 nghìn tỉ NDT, tăng trưởng 11,7%; khu vực ba của nền kinh tế đạt giá trị 2,05157 nghìn tỉ NDT, tăng trưởng 11,1%; tỷ lệ giữa ba khu vực theo thứ tự là 6,3:51,5:42,2. Cũng trong năm này, tổng kim ngạch xuất nhập khẩu của Giang Tô là 539,76 tỉ USD, trong đó kim ngạch xuất khẩu đạt 312,6 tỉ USD. === Công nghiệp === Theo truyền thống, Giang Tô hướng theo phát triển các ngành công nghiệp nhẹ như dệt may và công nghiệp thực phẩm. Từ năm 1949, Giang Tô cũng đã phát triển các ngành công nghiệp nặng như công nghiệp hóa chất và vật liệu xây dựng. Các lĩnh vực công nghiệp quan trọng tại Giang Tô bao gồm máy móc, điện tử, hóa chất và ô tô. Trong thời gian gần đây, chính quyền cũng khá tích cực để thức đẩy ngành công nghiệp năng lượng mặt trời và hy vọng vào năm 2012, ngành này sẽ đạt giá trị 100 tỉ NDT. Hiện nay, Giang Tô là vùng trọng yếu tại Trung Quốc trong các ngành điện tử, máy móc, dệt may, hóa dầu và vậy liệu xây dựng. Quy mô giá trị công nghiệp năm 2011 gia tăng 13,8% so với năm trước đó, trong đó các ngành công nghiệp nhẹ và công nghiệp nặng lần lượt có mức tăng trưởng 11,1% và 14,8%. Cũng trong năm 2011, khu vực công nghiệp thuộc sở hữu nhà nước tăng trưởng 10,3%, khu vực công nghiệp tập thể tăng trưởng 5,3%, khu vực công nghiệp theo chế độ cổ phần tăng trưởng 13,9%, khu vực đầu tư nước ngoài (bao gồm cả vốn Hồng Kông, Ma Cao và Đài Loan) tăng trưởng 13,8%. === Nông nghiệp === Giang Tô có một lịch sử nông nghiệp lâu dài, từ 6.000 năm trước những người sống trên vùng đất mà nay là Giang Tô đã trồng lúa cạn và lúa nước. Giang Tô là khu vực sản xuất nông nghiệp trọng yếu tại Trung Quốc trong một thời gian dài, có được danh tiếng "ngư mễ chi hương" (vùng đất của cả và gạo, vùng đất giàu có). Giang Tô có một mạng lưới thủy lợi rộng khắp phục vụ cho nông nghiệp. Hiện nay, nền nông nghiệp của tỉnh phần lớn dựa trên việc trồng lúa gạo và lúa mì, sau đó đến ngô và lúa miến. Các loại cây trồng để thu hoa lợi khác bao gồm bông, đỗ tương, lạc, cải dầu, vừng, gai dầu, chè. Các cây trồng để phục vụ cho các mục đích khác bao gồm bạc hà, bạc hà lục, tre, thảo mộc. Các loại cây ăn quả được trồng tại Giang Tô là táo tây, lê, đào, nhót tây, bạch quả. Dâu tằm cũng là một cây trồng quan trọng trong nền nông nghiệp của Giang Tô, vùng Thái Hồ là một trung tâm sản xuất tơ lụa chính tại Trung Quốc. Năm 2011, tổng sản lượng lương thực của Giang Tô đạt 33,078 triệu tấn, tổng sản lượng thịt gia súc và gia cầm là 3,656 triệu tấn, tổng sản lượng trứng gia cầm là 1,949 triệu tấn, tổng sản lượng sữa là 3,337 triệu tấn, các sản phẩm thủy hải sản có sản lượng 1,422 triệu tấn. === Tài nguyên khoáng sản === Tính đến năm 2011, người ta đã phát hiện được 133 loại khoáng sản trên địa bàn Giang Tô, trong đó đã xác minh được trữ lượng của 67 loại. Giang Tô có tài nguyên than đá, dầu mỏ và khí thiên nhiên, song các loại khoáng sản quan trọng nhất của tỉnh là những loại phi kim như thạch diêm, lưu huỳnh, phốtpho và đá hoa. Các mỏ muối tại Hoài Âm có trữ lượng trên 0,4 nghìn tỉ tấn và là một trong những khu vực có trữ lượng lớn nhất Trung Quốc. == Du lịch == Giang Tô là một trong các tỉnh trọng điểm về du lịch tại Trung Quốc, với các danh hồ, danh sơn, danh tuyền, danh viên, danh tự nổi tiếng khắp đất nước. Giang Tô có 28 "thành thị du lịch ưu tú Trung Quốc", 9 khu thắng cảnh cấp 5A, 98 khu thắng cảnh loại 4A. Các danh hồ tại Giang Tô bao gồm: Thái Hồ, hồ Huyền Vũ 玄武湖 và hồ Mạc Sầu (莫愁湖) ở Nam Kinh, hồ Sấu Tây (瘦西湖) ở Dương Châu, hồ Dương Trừng ở Tô Châu, hồ Vân Long (云龙湖) ở Từ Châu, hồ Thiên Mục (天目湖) ở Lật Dương. Suối Trung Linh (中泠泉) ở Trấn Giang được gọi là "Thiên hạ đệ nhất tuyền", suối Huệ Sơn (惠山泉) ở Vô Tích được gọi là "Thiên hạ đệ nhị tuyền". Chung Sơn ở Nam Kinh, Tam Sơn (Bắc Cố Sơn, Kim Sơn, Tiêu Sơn) ở Trấn Giang với màu xanh tươi. Mao Sơn ở nơi giáp giới giữa Cú Dung và Kim Đàn là trung tâm Đạo giáo ở Đông Nam Trung Quốc, còn được gọi là "Đệ nhất phúc địa" và "Đệ bát động thiên" của Đạo giáo. Hoa Quả Sơn tại Liên Vân Cảng nhờ kết duyên với "Tây du ký" mà nổi danh khắp trong và ngoài nước. Minh Hiếu lăng (明孝陵) tại Nam Kinh là một phần của quần thể Lăng tẩm hoàng gia Minh-Thanh, một di sản thế giới của UNESCO. Các viên lâm cổ điển tại Giang Tô nổi tiếng trên toàn thế giới, trong đó Chuyết Chính viên (拙政园), Lưu Viên (留园) tại Tô Châu là một trong tứ đại danh viên của Trung Quốc, 9 viên lâm cổ điển tại Tô Châu hình thành một quần thể di sản thế giới của UNESCO. Tê Hà tự (栖霞寺) tại Nam Kinh, Kim Sơn tự (金山寺) tại Trấn Giang, Đại Danh tự (大名寺) tại Dương Châu, Hàn Sơn tự (寒山寺) tại Tô Châu, Long Xương tự (隆昌寺) tại Cú Dung là các đền chùa cổ trứ danh. Các thắng cảnh nổi tiếng khác tại Giang Tô còn có Linh Sơn Đại Phật (灵山大佛) ở Vô Tích, cầu Trường Giang Nam Kinh, một công trình được xem là biểu tượng cho tinh thần và khả năng của người Trung Quốc dưới thời Mao Trạch Đông, lăng Tôn Trung Sơn. == Văn hóa == Thế kỷ 17, triều đình nhà Thanh đã tách tỉnh Giang Nam thành Giang Tô và An Huy, tuy nhiên danh xưng Giang Nam vẫn thường được nhắc đến sau đó. Hai phần phía bắc và phía nam của Giang Tô xưa kia không có nhiều kết nối với nhau như trong các thế kỷ gần đây. Theo truyền thống, Tô Nam được dùng để chỉ ba thành phố thịnh vượng hơn là Tô Châu, Vô Tích và Thường Châu; văn hóa Tô Nam thuộc vòng văn hóa Ngô cùng với Thượng Hải và Chiết Giang. Tại khu vực Giang Hoài thì các thành phố Hoài An, Dương Châu và Trấn Giang thuộc vòng văn hóa Giang Hoài (Đông), hay còn gọi là văn hóa Hoài Dương; Nam Kinh thuộc khu vực văn hóa Hoài Tây, hay văn hóa Ninh Lư. Khu vực Thái Châu cùng đại bộ phận Diêm Thành và Nam Thông là nơi nhiều nét văn hóa cùng tồn tại. Nam bộ Túc Thiên, khu vực đô thị và nam bộ của Liên Vân Cảng thuộc vùng văn hóa Hải Tứ, khu vực này nằm ở phía bắc Hoài Hà, phong tục vùng này là sự quá độ từ văn hóa Trung Nguyên sang văn hóa Giang Hoài. Từ Châu, khu vực đô thị của Túc Thiên và 2 huyện bắc bộ của Liên Vân Cảng thuộc khu vực văn hóa Trung Nguyên. Ngoài ra, từ năm 1998, đã có một cách phân loại mới được sử dụng thường xuyên, đó là vùng phía nam Trường Giang thì được gọi là Tô Nam, các thành phố Dương Châu, Nam Thông và Thái Châu được gọi là Tô Trung và các nơi còn lại của Giang Tô thì được gọi là Tô Bắc. Giâng Tô là tỉnh giàu truyền thống văn hóa: Côn khúc, bắt nguồn từ Côn Sơn, là một trong các loại hình hí khúc nổi tiếng và có thanh thế nhất. Bình đàn (评弹), một hình thức kể chuyện kèm theo âm nhạc, cũng khá phổ biến ở Giang Tô: có thể phân loại loại hình ca kịch này dựa theo nguồn gốc: Bình đàn Tô Châu, Bình đàn Dương Châu và Bình đàn Nam Kinh. Tích kịch (锡剧), một loại hình hí kịch truyền thống Trung Quốc, khá thông dụng tại Vô Tích, trong khi Hoài kịch (淮剧) phổ biến ở các khu vực phía bắc, xung quanh Diêm Thành. Ẩm thực Giang Tô là một trong tám trường phái lớn của ẩm thực Trung Quốc. Ẩm thực Giang Tô lại được chia tiếp thành các phong cách ẩm thực nhỏ hơn: ẩm thực Kim Lăng (hay ẩm thực Kinh Tô), trung tâm là Nam Kinh với đặc điểm là tinh tế cùng khẩu vị "bình hòa"; ẩm thực Hoài Dương tập trung tại Hoài An, Dương Châu và Trấn Giang với đặc điểm là chú trọng đến việc lựa chọn nguyên liệu và dao, khẩu vị "thanh đạm"; ẩm thực Tô Tích tập trung tại Tô Châu, Vô Tích cùng Thường Châu với đặc điểm là thường dùng bã rượu để điều vị, có thế mạnh về các loại thủy sản, khẩu vị "thiên điềm"; ẩm thực Từ Hải, tập trung ở Từ Châu và Liên Vân Cảng, có thế mạnh về hải sản và rau xanh, khẩu vị "giác trọng". Nhìn chung, các nguyên liệu điển hình trong món ăn Giang Tô là thủy sản tươi sống, trà, măng, nấm,..Ngoài ra, kỹ thuật gọt tỉa, trang trí thức ăn cũng đóng vai trò quan trọng. Ẩm thực Giang Tô nổi tiếng về các món hầm, ninh, tần. Tô Châu nổi tiếng với tơ lụa, thêu nghệ thuật, trà hoa nhài, thạch kiều, đền miếu, và các viên lâm cổ. Nghi Hưng gần đó nổi tiếng với trà cụ (những đồ dùng trong việc thưởng trà), còn Dương Châu nổi tiếng với nghệ thuật sơn mài và đồ bằng ngọc. Vân cẩm (云锦) của Nam Kinh là một loại lụa dệt nổi tiếng. Từ thời cổ, Tô Nam đã nổi tiếng với sự thịnh vượng và sang trọng, các địa danh ở Giang Nam như Tô Châu hay Dương Châu đã đi vào thi ca, kể cả trong tác phẩm của những thi nhân nổi tiếng, với vẻ thơ mộng. Sự nổi danh của Tô Châu cũng như Hàng Châu ở Chiết Giang đã khiến xuất hiện câu nói nổi tiếng "Thượng hữu thiên đường, hạ hữu Tô Hàng" (上有天堂, 下有蘇杭). Tương tự, sự thịnh vượng của Dương Châu đã khiến ra đời câu thơ: "Eo quấn mười vạn xâu (tiền), cưỡi hạc xuống Dương Châu" (腰纏十萬貫, 騎鶴下揚州, Yêu triền thập vạn quán, kị hạc hạ Dương Châu). == Giao thông == === Đường thủy === Giang Tô giáp Hoàng Hải ở phía đông, Trường Giang và Kinh Hàng Đại Vận Hà tạo thành một hình chữ thập (十) trên địa bàn tỉnh, vùng đồng bằng Thái Hồ và đồng bằng Lý Hạ Hà có mạng lưới đường thủy dày đặc. vì thế, giao thông đường thủy đóng một vị thế quan trọng trong tổng thể giao thông của Giang Tô. Tuyệt đại bộ phận các thành thị của Giang Tô nhờ có ưu thế giao thông thủy mà đã phát triển phồn vinh. Trên địa bàn Giang Tô hiện nay có các cảng như cảng Thái Thương, cảng Thường Thục, cảng Trương Gia Cảng, cáng Liên Vân Cảng, cảng Nam Thông, cảng Nam Kinh, cảng Trấn Giang, cảng Giang Âm. Hệ thống cảng Tô Châu (bao gồm ba cảng Thái Thương, cảng Thường Thục và cảng Trương Gia Cảng) là cảng lớn nhất Giang Tô, cũng là cảng đường sông lớn nhất Trung Quốc. === Đường sắt === Tính đến cuối năm 2011, tỉnh Giang Tô có 2348 km đường sắt đã thông tuyến. Đường sắt Kinh-Hỗ, đường sắt Lũng-Hải là các tuyến đường sắt trọng yếu đi qua tỉnh Giang Tô. Đường sắt Kinh-Hỗ chủ yếu là theo hướng đông-tây và xuyên qua Giang Tô ở phía nam, còn đường sắt Lũng-Hải đi theo chiều đông-tây ở cực bắc của Giang Tô, qua Từ Châu và Liên Vân Cảng. Đoạn Nam Kinh-Thượng Hải của đường sắt Kinh-Hỗ là đoạn đường sắt bận rộn nhất tại Trung Quốc, vào lúc cao điểm cứ mỗi 5 phút sẽ có một chuyến tàu. Mặc dù Giang Tô là một tỉnh phát triển về kinh tế tại Trung Quốc, song giao thông đường sắt của tỉnh lại tụt hậu, một khu vực rộng lớn của tỉnh, nhất là đại bộ phận Giang Bắc vẫn có rất ít các tuyến đường sắt, khiến sự phát triển kinh tế bị cản trở. Ngày 28 tháng 9 năm 2009, cầu đường sắt vượt Trường Giang thứ hai trên địa bàn Giang Tô đã hợp long thuận lợi. === Đường bộ === Tính đến cuối năm 2011, toàn tỉnh Giang Tô có 152.247 km công lộ, đạt mật độ 148 km/100 km², trong đó có 4122 km đường cao tốc, đứng thứ 5 cả nước; mật độ đường cao tốc là 4,02 km/100 km², đứng đầu trong số các tỉnh và khu tự trị tại Trung Quốc. Trên địa phận Giang Tô, các tuyến đường cao tốc Liên-Hoắc (G30), đường cao tốc Hỗ-Thiểm (G40), đường cao tốc Hỗ-Dong (G42) chạy theo chiều đông-tây; các tuyến đường cao tốc Thẩm-Hải (G15), đường cao tốc Kinh-Hỗ (G2), đường cao tốc Trường-Thẩm (G25) chạy theo hướng nam-bắc; tuyến đường cao tốc Ninh-Lạc (G36) nối liền hai thành thị lớn là Nam Kinh và Lạc Dương; tuyến đường cao tốc Hỗ-Du (G50) từ Thượng Hải đi qua Tô Châu để tiến đến Chiết Giang; tuyến đường cao tốc Kinh-Đài từ Sơn Đông đi qua Từ Châu để tiến vào An Huy. Ngoài ra, Giang Tô còn có nhiều tuyến đường bộ cao tốc cấp tỉnh. === Đường không === Tính đến đầu năm 2012, Giang Tô có 185 tuyến bay quốc nội và 39 tuyến bay quốc tế. Giang Tô có 9 sân bay dân dụng là Sân bay quốc tế Lộc Khẩu Nam Kinh, Sân bay Thạc Phóng Vô Tích, Sân bay Bôn Ngưu Thường Châu, sân bay Liên Thủy Hoài An, sân bay Diêm Thành, Sân bay Quan Âm Từ Châu, Sân bay Bạch Tháp Phụ Liên Vân Cảng, Sân bay Hưng Thông Nam Thông, sân bay Thái Châu Dương Châu. Ngoài ra, tỉnh còn có ba sân bay kết hợp cả mục đích quân sự và dân dụng là sân bay Đại Hiệu Trường Nam Kinh, sân bay Quang Phúc Tô Châu, sân bay Như Cao. === Cầu === Giang Tô nằm ở hạ du Trường Giang, là nơi con sông lớn này đổ ra biển. Các cây cầu vượt Trường Giang tại Giang Tô đều phải là những cây cầu lớn (từ tây sang đông): cầu Trường Giang Đại Thắng Quan Nam Kinh (南京大胜关长江大桥), là cầu đường sắt, thông xe năm 2011 Cầu Trường Giang 3 Nam Kinh (南京长江三桥), cầu đường bộ, thông xe năm 2005 Cầu Trường Giang Nam Kinh, cầu kết hợp cả đường bộ lẫn đường sắt, thông xe năm 1958 Cầu Trường Giang 2 Nam Kinh (南京长江二桥), cầu đường bộ, thông xe năm 2001 Trường Giang Nhuận Dương (润扬长江大桥), cầu đường bộ, thông xe năm 2005 Cầu Trường Giang Thái Châu (泰州长江大桥), cầu đường bộ, thông xe năm 2012 Cầu Trường Giang Giang Âm (江阴长江大桥), cầu đường bộ, thông xe năm 1999 Cầu Trường Giang Tô Thông (苏通长江大桥), cầu đường bộ, thông xe năm 2008 Cầu Sùng Khải (崇启大桥), cầu đường bộ, thông xe năm 2012 == Trường đại học == == Địa phương kết nghĩa == == Chú thích == == Tham khảo ==
giải bóng đá vô địch quốc gia 2015.txt
Giải bóng đá vô địch quốc gia 2015 có tên gọi chính thức là Giải bóng đá vô địch quốc gia – Toyota V.League 2015 hay Toyota V.League 1 – 2015 diễn ra từ ngày 4 tháng 1 đến ngày 20 tháng 9 năm 2015. == Thay đổi trước mùa giải == Danh sách các đội bóng có sự thay đổi so với mùa giải 2014. == Các đội tham dự == == Thay đổi huấn luyện viên trưởng trong giải == === Cầu thủ ngoại binh === V.League cho phép sử dụng hai cầu thủ ngoại binh và 1 cầu thủ nhập tịch trong một trận đấu. ^1 Cầu thủ ngoại binh rời câu lạc bộ ở nửa đầu mùa giải. ^2 Cầu thủ nhập tịch rời câu lạc bộ ở nửa đầu mùa giải. == Bảng xếp hạng == === Vị trí của các vòng đấu === Cập nhật lần cuối: 21 tháng 9 năm 2015 Nguồn: Công ty Cổ phần Bóng đá chuyên nghiệp Việt Nam (VPF). == Lịch thi đấu và kết quả == === Tóm tắt === Cập nhật lần cuối: ngày 21 tháng 9 năm 2015. Nguồn: [1] 1 ^ Đội chủ nhà được liệt kê ở cột bên tay trái.Màu sắc: Xanh = Chủ nhà thắng; Vàng = Hòa; Đỏ = Đội khách thắng. == Thống kê mùa giải == === Ghi nhiều bàn thắng nhất giải === Số liệu thống kê chính xác tới ngày 21 tháng 5 năm 2015 === Phản lưới nhà === === Hat-trick === *: Ghi được bốn bàn thắng == Giải thưởng == === Giải thưởng tháng === == Khán giả == Số liệu thống kê chính xác tới ngày 22 tháng 9 năm 2015 === Theo câu lạc bộ === Cập nhật lần cuối vào ngày 22 tháng 9 năm 2015 Nguồn: Công ty Cổ phần Bóng đá Chuyên nghiệp Việt Nam === Theo vòng đấu === == Tổng kết mùa giải == Các danh hiệu cá nhân và tập thể được bình chọn sau khi kết thúc V.League 1-2015 Trọng tài xuất sắc nhất: Võ Minh Trí. Trợ lý trọng tài xuất sắc nhất: Nguyễn Trung Hậu. Ban tổ chức trận đấu tốt nhất: Than Quảng Ninh. Câu lạc bộ có mặt sân tốt nhất: Becamex Bình Dương. Câu lạc bộ đào tạo trẻ tốt nhất: Hoàng Anh Gia Lai. Huấn luyện viên xuất sắc nhất: Phan Thanh Hùng (Hà Nội T&T). Cầu thủ xuất sắc nhất: Nguyễn Anh Đức (Becamex Bình Dương). Vua phá lưới: Patiyo Tambwe (QNK Quảng Nam). Bàn thắng đẹp nhất: Lê Quốc Phương (FLC Thanh Hóa). Cầu thủ trẻ xuất sắc nhất: Đỗ Duy Mạnh (Hà Nội T&T). Hội cổ động viên xuất sắc nhất: Hội cổ động viên Than Quảng Ninh. Danh sách các cầu thủ xuất sắc nhất câu lạc bộ: == Xem thêm == Giải bóng đá hạng nhất quốc gia 2015 Giải bóng đá hạng nhì quốc gia 2015 Giải bóng đá hạng ba quốc gia 2015 Giải bóng đá Cúp Quốc gia 2015 Siêu cúp bóng đá Việt Nam 2014 == Chú thích == == Liên kết ngoài == Trang chủ Công ty Cổ phần Bóng đá Chuyên nghiệp Việt Nam (VPF) (tiếng Việt) Trang chủ Liên đoàn bóng đá Việt Nam (VFF) (tiếng Việt) Trang chủ flashscore.pl (tiếng Ba Lan)
đô la singapore.txt
Đôla Singapore (tiếng Mã Lai: Ringgit Singapura, ký hiệu: $; mã: SGD) là tiền tệ chính thức của Singapore. Đô la Singapore thường được viết tắt với ký hiệu đô la $, hoặc S $ để phân biệt với các đồng tiền bằng đồng đô la khác. Đô la Singapore được chia thành 100 cents. Đô la Singapore là một đồng tiền tự do chuyển đổi và điều này cho phép nó được thả nổi theo cung và cầu trên thị trường ngoại hối, nhưng nó cũng được Cục Tiền tệ Singapore giám sát dựa vào một rổ tiền tệ theo tỷ trọng thương mại. Các đồng tiền liên quan không được công khai để bảo vệ đồng tiền này khỏi các cuộc tấn công đầu cơ và các áp lực bất thường khác lên giá trị của nó. Kể từ cuộc khủng hoảng tài chính châu Á, nhiều quốc gia như Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa đã áp dụng hệ thống thả nổi có quản lý của Singapore. Dollar Brunei được neo vào đồng dollar Singapore với tỷ giá 1:1 , và loại tiền này được chấp nhận như là "phương tiện thanh toán quen thuộc" (customary tender), nhưng không phải là phương tiện thanh toán hợp pháp (legal tender), ở nước kia và ngược lại. == Lịch sử == Từ năm 1845 đến năm 1939, Singapore đã sử dụng đồng đô la Straits. Sau đó được thay thế bằng đồng đô la Malayan. Từ năm 1953, Singapore sử dụng đồng đô la Malaya và British Borneo, được ban hành bởi Hội đồng Ủy viên tiền tệ Malaya và British Borneo. Singapore tiếp tục sử dụng đồng tiền chung khi tham gia Malaysia vào năm 1963. Nhưng chỉ hai năm sau, khi tách khỏi Malaysia và dành độc lập vào năm 1965, liên minh tiền tệ giữa Malaysia, Singapore và Brunei tan vỡ. Singapore thành lập Uỷ ban tiền tệ Singapore vào ngày 7 Tháng Tư năm 1967 và phát hành tiền xu và tiền giấy đầu tiên. Tuy nhiên, đồng đô la Singapore vẫn được trao đổi ngang với đồng ringgit của Malaysia cho đến năm 1973, và hoán đổi tỉ giá với đồng đô la Brunei vẫn được duy trì. Ban đầu, đồng đô la Singapore đã được neo vào bảng Anh với tỷ lệ S $ 60 = £ 7. Điều này kéo dài cho đến sự sụp đổ của Khu vực Sterling do cú sốc Nixon trong đầu những năm 1970, sau đó đồng đô la Singapore đã được liên kết với đồng đô la Mỹ trong một thời gian ngắn. Khi nền kinh tế Singapore đã tăng trưởng và liên kết thương mại đa dạng với nhiều quốc gia, Singapore đã chuyển hướng neo giá đồng tiền của mình với rổ thương mại cố định và không được tiết lộ từ năm 1973 đến năm 1985. Từ năm 1985 trở đi, Singapore đã thông qua một định hướng thị trường hơn chế độ trao đổi, phân loại giám sát, trong đó đồng đô la Singapore được phép dao động, nhưng chịu giám sát chặt chẽ bởi Cơ quan Tiền tệ Singapore (MAS). Điều này, theo lý thuyết, cho phép chính phủ Singapore để có nhiều kiểm soát lạm phát nhập khẩu và đảm bảo rằng xuất khẩu của Singapore vẫn cạnh tranh. Trước năm 1970, các chức năng tiền tệ khác nhau được liên kết với một ngân hàng trung ương đã được thực hiện bởi một số phòng ban và các cơ quan chính phủ. Singapore ngày càng phát triển, nhu cầu của một ngân hàng ngày càng phức tạp và môi trường tiền tệ đòi hỏi phải đơn giản các chức năng để tạo thuận lợi cho sự phát triển của một chính sách năng động hơn và chặt chẽ hơn về vấn đề tiền tệ. Do đó, Quốc hội đã thông qua Cơ quan tiền tệ trong Đạo luật Singapore vào năm 1970, dẫn đến sự hình thành của MAS vào ngày 1 tháng 1 năm 1971. Đạo luật MAS đã trao cho MAS quyền điều hành tất cả các yếu tố của tiền tệ, ngân hàng, và các khía cạnh tài chính của Singapore. Ngày 31 tháng 3 năm 2003, Hội đồng quản trị của Uỷ của tệ Singapore (BCC) sáp nhập với Cơ quan tiền tệ Singapore (MAS), nhận trách nhiệm về việc phát hành tiền giấy. == Tình hình lưu thông == Tính đến năm 2012, tổng số tiền trong lưu thông là S $ 29.1 tỷ. Tất cả tiền Singapore được ban hành trong lưu thông (tiền xu và tiền giấy) được thống kê đầy đủ trong tài sản bên ngoài vào Quỹ ngoại tệ của Singapore để duy trì niềm tin trong công chúng. Tài sản bên ngoài bao gồm tất cả hoặc bất kỳ những điều sau đây: (A) vàng và bạc dưới mọi hình thức; (B) trao đổi nước ngoài theo hình thức không kỳ hạn hoặc tiền gửi; số dư ngân hàng; kho bạc; ghi chú hoặc tiền kim loại; (C) Chứng khoán hoặc bảo lãnh của chính phủ nước ngoài hoặc các tổ chức tài chính quốc tế; (D) thị trường chứng khoán; (E) trái phiếu doanh nghiệp; (F) tiền tệ và tài chính trong tương lai; (G) bất kỳ tài sản khác mà Cơ quan, với sự chấp thuận của Tổng thống Singapore, xem xét phù hợp để tiếp nhận. Dự trữ ngoại tệ của Singapore chính thức đứng ở mức trên $ 277,9 tỷ USD, tính đến tháng 6 năm 2014 theo công bố của MAS. == Tiền xu == Vào năm 1967, những tiền xu đầu tiên đã được giới thiệu với các mệnh giá 1, 5, 10, 20 và 50 cents và 1 đô la. Những đồng tiền miêu tả các động vật hoang dã và các hình ảnh khác liên quan đến quốc đảo này và được thiết kế bởi Stuart Devlin, người đã vẽ mẫu thiết kế trên đồng tiền thập phân của Úc vào năm 1966. Các kích thước đều giống như đồng Ringgit Malaysia và dựa trên loại tiền đúc cũ của Singapore là đô la Malaya và British Borneo. Đồng 1 cent đúc làm bằng đồng trong khi các mệnh giá khác được đúc bằng đồng-niken. Sau đó, vào năm 1976 đồng 1 cent được chuyển sang đúc bằng đồng mạ thép. Việc sản xuất dòng tiền xu đầu tiên kết thúc vào năm 1985. Vào năm 1985, những đồng xu thế hệ thứ hai đã được giới thiệu với các mệnh giá 1, 5, 10, 20 và 50 xu và 1 đô la. Mặt sau của những đồng tiền này được thiết kế bởi Christopher Ironside. Những đồng xu mới này cung cấp các đồng xu mệnh giá nhỏ hơn và mô tả chủ đề hoa văn. Tiền giấy một đô la bị ngưng phát hành và dần dần được thay bằng tiền xu được làm bằng nhôm đồng. Đồng 5 xu được đổi nguyên liệu thành nhôm đồng trong khi các đồng 10, 20, và 50 xu vẫn được làm bằng đồng niken. Ngoài ra, đồng tiền kỷ niệm bimetalic 5 đô la với các cạnh sò được định kỳ phát hành sau này. Những đồng xu này dự định sẽ bị ngưng lưu thông vào năm 2017. Vào ngày 21 tháng 2 năm 2013, Cơ quan tiền tệ Singapore đã ra mắt một loạt tiền xu mới với các mệnh giá 5, 10, 20, 50 xu và 1 đô la, và đã được đưa vào lưu thông vào ngày 26 tháng 6 năm 2013, với hình ảnh quốc huy và hình ảnh các danh lam thắng cảnh của Singapore. Các đồng xu được đúc bằng planchet mạ nhiều lớp, (đã được sử dụng bởi Cục Đúc tiền Hoàng gia Canada) và đi kèm với các tính năng bảo mật nâng cao để chống giả mạo. Các đồng xu cũng có thiết kế mới. Đồng xu một đồng đô la mới được làm bằng Bi-Metallic và có hình ảnh Merlion. Đồng xu 50 cents mới có hình cảng Singapore, đồng 20 cents mới miêu tả Sân bay Quốc tế Changi, đồng xu 10 cents miêu tả nhà ở công cộng. Đồng xu 5 cents miêu tả khu vực Esplanade. Ghi chú: 6.71 triệu đồng tiền xu 1 cent đang trong lưu hành vào ngày 1 tháng 12 năm 2011, mặc dù đã ngừng đúc từ năm 2003. == Tiền giấy == === Series Hoa Lan (Orchid Series) === Series Hoa Lan là dòng tiền tệ là sớm nhất được phát hành tại Singapore. Nó phát hành từ năm 1967 đến năm 1976, và có chín mệnh giá: $ 1, $ 5, $ 10, $ 25, $ 50, $ 100, $ 500, $ 1000 và $ 10.000. Mọi mệnh giá đều có một hình ảnh hoa lan ở chính giữa mặt trước của tờ tiền, hoa lan là quốc hoa của Singapore. Hình ảnh của Singapore được miêu tả ở mặt sau, và được thay đổi thay đổi theo mệnh giá. Tiêu chuẩn của tờ tiền bao gồm Quốc huy, hình chìm đầu sư tử và chữ ký của Bộ trưởng Bộ Tài chính và Chủ tịch Hội đồng Quản lý Tiền tệ Singapore ở mặt trước. Mỗi mệnh giá đều có một tính năng bảo mật, trong khi tờ $ 10.000 có hai tính năng. === Series Chim (Bird Series) === Bird Series là thế hệ tiền tệ thứ hai được phát hành vào lưu thông tại Singapore. Phát hành từ năm 1976 đến năm 1984, nó có chín mệnh giá, bằng với Orchid Series, tờ $ 25 đã được thay thế bởi tờ $ 20. Mỗi tờ tiền có hình một con chim ở phía bên trái ở mặt trước, mặt sau là các chủ đề được lựa chọn để đại diện cho một Singapore trẻ "đã sẵn sàng để bay lên những đỉnh cao hơn". Tiêu chuẩn của tờ tiền là Quốc huy, hình chìm đầu sư tử và chữ ký của Bộ trưởng Bộ Tài chính và Chủ tịch Hội đồng Quản lý Tiền tệ Singapore ở mặt trước. Có một tính năng bảo mật được thêm vào, tất cả các mệnh giá đều có một sợi chỉ an toàn đặt theo chiều dọc, trong khi các mệnh giá $ 1.000 và $ 10.000 có hai. === Series Thuyền (Ship Series) === Ship Series là thế hệ tiền tệ thứ ba được phát hành trong lưu thông tại Singapore. Được phát hành từ năm 1984 đến năm 1999. Thế hệ này vẫn có số lượng mệnh giá giống như trong hai thế hệ trước đó, nhưng tờ $ 20 được chuyển thành tờ $ 2. Thế hệ này có chủ đề hàng hải, miêu tả các di sản hàng hải của Singapore, và được thể hiện qua các mệnh giá khác nhau, bao gồm hình ảnh các loại tàu khác nhau và quá trình lấn biển của Singapore khi đất nước phát triển. Những họa tiết này được đặt ở mặt trước của mệnh tiền. Ở mặt sau, những cảnh khác nhau mô tả thành tựu của Singapore cũng hình ảnh loài hoa lan, quốc hoa của Singapore. Tiêu chuẩn của từng tờ tiền là Quốc huy, hình ảnh đầu sư tử và chữ ký của Bộ trưởng Bộ Tài chính và Chủ tịch Hội đồng Quản lý Tiền tệ Singapore, ở mặt trước của tờ tiền. Có một tính năng bảo mật bổ sung, tất cả các mệnh giá đều có một thiết kế bảo mật được nhúng theo chiều dọc. === Series Portrait (hiện tại) === Series Portrait (hiện tại) được giới thiệu vào năm 1999, với việc loại bỏ mệnh giá $1 và $500. Những tờ tiền này có một đặc trưng là miêu tả khuôn mặt của Yusof bin Ishak, vị tổng thống đầu tiên của nước Cộng hòa Singapore ở mặt trước, và miêu tả một phúc lợi công dân ở mặt sau. Các mệnh giá được in bằng cotton và polymer. Các thiết kế của các mệnh giá tiền polymer rất giống với mệnh giá tiền giấy tương ứng, ngoại trừ cảm giác trượt, trơn nhẹ và có một cửa sổ nhỏ trong suốt ở góc của tờ tiền. Các mệnh giá bằng polymer dần dần thay thế các mệnh giá tiền giấy tương đương trong lưu thông. Các mệnh giá cũng có các mẫu chữ nổi Braille ở góc trên cùng bên phải của mặt trước. Tờ S$10,000 và B$10,000 là những tờ tiền có giá trị nhất thế giới (trong lưu thông chính thức). Tháng 8 năm 2011, nó có giá trị hơn gấp 7 lần tờ tiền có giá trị tiếp theo, tờ 1000 Franc Thụy Sĩ. Ngày 2 tháng 7 năm 2014, Cục Quản lý Tiền tệ Singapore(MAS) thông báo sẽ ngừng việc in ấn tờ $10,000 từ ngày 1 tháng 10 năm 2014, để ngăn chặn nạn rửa tiền. Singapore đã chính thức ngừng phát hành tờ $10000 và đang tiến hành rút khỏi lưu thông. Điều này đã từng được bởi Canada với việc ngừng phát hành tờ tiền mệnh giá C$1000 và việc Ngân hàng Trung ương Châu Âu thông báo vào ngày 4 tháng 5 năm 2016 thông báo ngừng sản xuất và phát hành tờ 500 Euro. MAS thông báo rằng tờ tiền $10000 vẫn được xem là phương tiện thanh toán hợp pháp cho đến khi chúng được thu hồi khi bị hư hỏng. === Tiền lưu niệm === Tiền lưu niệm cũng được phát hành, nhưng với số lượng nhất định. Tờ tiền lưu niệm đầu tiên được phát hành vào ngày 24 tháng 7 năm 1990 nhằm kỷ niệm 25 Quốc khánh Singapore. Đã có 5,1 triệu tờ $50 polymer được in ấn, với 300.000 tờ được in ngày kỷ nhiệm “9 August 1990”. Đây là tờ tiền lưu niệm đầu tiên được phát hành bởi Hội đồng Quản lý Tiền tệ Singapore (BCCS) và là tờ tiền polymer đầu tiên trong lịch sử tiền tệ của Singapore. Thêm vào đó, đây là tờ tiền đầu tiên được thiết kế tại Singapore bởi một hoạ sĩ người Singapore. Vào ngày 8 tháng 12 năm 1999, để chào đón thiên nhiên kỷ thứ 3 (năm 2000), 3 triệu tờ $2 phiên bản Thiên nhiên kỷ đã được đưa vào lưu thông. Tờ tiền này được dựa trên tờ $2 Series Portrait, ngoại trừ các chữ cái đầu của số series được thay thế bằng logo Millennium 2000. Tờ tiền này được in trên giấy thay vì polymer vì vào lúc đó, những tờ tiền $2 polymer chưa được phát hành. Vào ngày 27 tháng 6 năm 2007, để kỷ niệm 40 năm Liên minh tiền tệ giữa Singapore và Brunei, tờ tiền $20 kỷ niệm đã được phát hành; mặt sau giống như tờ B$20 được phát hành cùng lúc. Phiên bản này của tờ $20 có thể được đổi tại các ngân hàng tại Singapore bắt đầu từ ngày 16 tháng 7 năm 2007, giới hạn hai tờ cho mỗi giao dịch. Vào ngày 18 tháng 8 năm 2015, nhằm kỷ niệm 50 năm xây dựng đất nước Singapore, Cơ quan tiền tệ Singapore (MAS) đã phát hành 1 bộ gồm 6 tờ tiền lưu niệm. Trong đó bao gồm 5 tờ $10 và 1 tờ $50. Việc thiết kế những tờ tiền này lấy cảm hứng từ các cột mốc và thành tụ trong lịch sử Singapore, có nội dung nhằm giới thiệu quốc gia, những giá trị và khát khao phát triển của Singapore. Tất cả những tờ $10 và tờ $50 đều có chân dung Yusof bin Ishak, Tổng thống đầu tiên của Singapore, giống như Series portrait đang trong lưu thông. Tờ $50 gợi lên lịch sử Singapore, sự thay đổi và khát vọng tương lai. Nó cũng in hình Thủ tướng đầu tiên của Singapore Lý Quang Diệu hô to "Merdeka!" – lời kêu gọi trong cuộc đấu tranh giành độc lập cho Singapore. Tờ tiền tạo nên sự đặc biệt bằng màu vàng đất, gợi lên màu sắc của Singapore's Golden Jubilee. 5 tờ $10 có mặt trước được thiết kế giống nhau và có thiết kế đa dạng ở mặt sau cùng với dòng chữ 'Vibrant Nation, Endearing Home' (Quốc gia năng động, Quê hương đánh kính). Mỗi tờ tiền miêu tả mệnh giá và phản ánh khát vọng qua mỗi chủ đề ‘Quan tâm cộng đồng’, ‘Cơ hội cho mọi người’, ‘An toàn và Bảo mật’, ‘Gia đình mạnh mẽ’ và ‘Bất kể chủng tộc, ngôn ngữ, tôn giáo’. == Tỉ giá hối đoái hiện thời của đồng SGD == == Chú thích ==
electron.txt
Electron (tiếng Việt đọc là: ê lếch t-rôn hay ê lếch t-rông) còn gọi là điện tử, được biểu diễn như là e−, là một hạt hạ nguyên tử, hay hạt sơ cấp. Trong nguyên tử, electron chuyển động xung quanh hạt nhân (bao gồm các proton và neutron) trên quỹ đạo electron. Từ electron bắt nguồn từ tiếng Hy Lạp ηλεκτρον (phát âm là "êlectron") có nghĩa là "hổ phách" do người Hy Lạp cổ đại lần đầu tiên quan sát thấy khả năng hút các vật nhỏ (do lực hút tĩnh điện) của một miếng hổ phách sau khi được chà xát với lông thú. Các electron có điện tích và khi chúng chuyển động sẽ sinh ra dòng điện. Vì các electron trong nguyên tử xác định phương thức mà nó tương tác với các nguyên tử khác nên chúng đóng vai trò quan trọng trong hóa học. == Electron trong thực tế == === Phân loại electron === Electron thuộc về một lớp các hạt dưới nguyên tử gọi là lepton, người ta tin rằng chúng là những hạt cơ bản (có nghĩa là chúng không thể bị phân chia thành những phần nhỏ hơn). Từ "hạt" có thể gây nhầm lẫn, vì cơ học lượng tử đã chỉ ra rằng electron có những tính chất như là sóng, ví dụ như trong thí nghiệm giao thoa; nó được gọi là lưỡng tính sóng-hạt. === Các thuộc tính và tính chất của electron === Êlectron có điện tích âm −1.602 × 10−19 coulomb, và khối lượng khoảng 9.1094 × 10−31 kg (0.51 MeV/c²), xấp xỉ 1/1836 khối lượng của proton. Các thuyết quỹ đạo nêu lên chuyển động của electron xung quanh hạt nhân là một chủ đề gây tranh cãi. Electron không chuyển động trên một quỹ đạo cố định mà có lẽ nó xuất hiện tại một số điểm trong khu vực xung quanh quỹ đạo hạt nhân (với xác suất khoảng 90% thời gian là trên quỹ đạo tính toán). Electron có spin ½, nghĩa là nó thuộc về lớp hạt fermion, hay tuân theo thống kê Fermi-Dirac. Trong khi phần lớn các electron tìm thấy trong nguyên tử thì một số khác lại chuyển động độc lập trong vật chất hay cùng với nhau như những chùm điện tử trong chân không. Trong một số chất siêu dẫn, các electron chuyển động theo từng cặp. Khi các electron chuyển động tự do theo một hướng xác định thì tạo thành dòng điện. Tĩnh điện không phải là dòng chuyển động của các electron. Nó chỉ tới những vật có nhiều hoặc ít electron hơn số lượng cần thiết để cân bằng với điện tích dương của hạt nhân. Khi có nhiều electron hơn proton, vật được gọi là có "tích điện âm", ngược lại khi có ít electron hơn proton, vật được gọi là có "tích điện dương". Khi số electron bằng số prôton, vật được gọi là "trung hòa" về điện. Các electron và positron có thể tiêu hủy lẫn nhau để sản xuất ra photon. Ngược lại, một photon cao năng lượng có thể chuyển hóa thành electron và positron bởi một quy trình gọi là sản xuất cặp. Electron là một hạt cơ bản – có nghĩa là nó không có cấu trúc hạ tầng (ít nhất, các thí nghiệm đã không tìm thấy và đây là lý do tốt để tin rằng nó không có). Vì vậy, nó được miêu tả như là một điểm, có nghĩa trong nó không có khoảng không. (Tuy nhiên, nếu chúng ta tiến đến thật gần một electron, chúng ta có thể nhận thấy các thuộc tính của nó (như điện tích và khối lượng) dường như đã biến đổi. Hiệu ứng này là chung cho tất cả các hạt cơ bản: vì các hạt này tác động tới những dao động trong chân không trong những vùng phụ cận chúng, vì vậy các thuộc tính được nhận thấy từ xa là tổng của các thuộc tính thực sự và các ảnh hưởng của chân không – Xem thêm tiêu chuẩn hóa.) Trong vật lý có một hằng số gọi là bán kính êlectron cổ điển, với giá trị là 2.8179 × 10−15 m. Lưu ý rằng đây là bán kính được suy ra từ điện tích của nó nếu như các nhà vật lý chỉ sử dụng các lý thuyết điện từ học cổ điển của động lực điện mà không có cơ học lượng tử (vì thế, nó là một khái niệm đã lỗi thời, tuy nhiên thỉnh thoảng người ta vẫn sử dụng trong tính toán). Vận tốc của êlectron trong chân không xấp xỉ nhưng không bao giờ bằng c, hay vận tốc ánh sáng trong chân không. điều này là do hiệu ứng của thuyết tương đối. Hiệu ứng của thuyết tương đối dựa trên một đại lượng được biết đến như là gamma hay hệ số Lorentz. Gamma là một hàm của v - vận tốc của hạt, và c. Dưới đây là công thức của gamma: γ = 1 / 1 − ( v 2 / c 2 ) {\displaystyle \gamma =1/{\sqrt {1-(v^{2}/c^{2})}}} Năng lượng cần thiết để gia tốc một hạt thì bằng gamma trừ đi 1 lần khối lượng tĩnh. Ví dụ, máy gia tốc tại Đại học Stanford có thể gia tốc êlectron tới khoảng 51 GeV. Máy gia tốc này cung cấp gamma bằng 100.000 lần khối lượng tĩnh của êlectron là 0.51 MeV/c² (khối lượng tương đối của êlectron nhanh này là 100.000 lần khối lượng tĩnh của nó). Giải phương trình trên ta có vận tốc của êlectron nhanh nói trên là ( 1 − 1 2 γ − 2 ) c {\displaystyle (1-{\frac {1}{2}}\gamma ^{-2})c} = 0.99999999995 c. (Công thức này áp dụng khi γ lớn.) === Electron trong vũ trụ === Người ta cho rằng số lượng electron để có thể bao trùm vũ trụ là 10130 (1 với 130 số 0 theo sau.) Người ta cho rằng số lượng electron hiện có trong vũ trụ là khoảng 1079 (1 với 79 số 0 theo sau.) Các dòng electron từ gió Mặt Trời tương tác với tầng cao của khí quyển Trái Đất, có thể gây nên hiện tượng phát sáng, gọi là cực quang. === Electron trong cuộc sống === Dòng điện cung cấp cho các thiết bị điện trong nhà và tại công nghiệp là dòng chuyển động có hướng của các electron. Ống tia âm cực của ti vi sử dụng chùm điện tử trong chân không để tạo ra hình ảnh trên màn hình lân quang. Tính chất lượng tử của electron được sử dụng trong các thiết bị bán dẫn như transistor. === Electron trong công nghiệp === Chùm electron được sử dụng trong hàn điện cũng như trong kỹ thuật in đá. == Electron trong phòng thí nghiệm == === Các thí nghiệm phát kiến === Bản chất lượng tử hay rời rạc của điện tích của electron được quan sát bởi Robert Millikan trong thí nghiệm dầu nhỏ giọt năm 1909. === Đo lường === Spin của electron được phát hiện trong thí nghiệm Stern-Gerlach. Điện tích có thể đo trực tiếp bằng các électromètre. Dòng điện có thể đo trực tiếp bằng các galvanomètre. === Sử dụng electron trong phòng thí nghiệm === Kính hiển vi điện tử được sử dụng để phóng to các chi tiết tới 500.000 lần. Hiệu ứng lượng tử của êlectron được sử dụng trong Kính hiển vi quét chui hầm (Microscope à effet tunnel) để nghiên cứu các vật liệu ở thang đo kích thước nguyên tử (2x10−10 m). == Electron trong lý thuyết == Trong cơ học lượng tử, electron được mô tả trong phương trình Dirac. Trong mô hình chuẩn của vật lý hạt, nó tạo thành một cặp trong SU(2) với neutrino, vì chúng tương tác với nhau bằng lực tương tác yếu. Electron có hai "người bạn" to lớn, với cùng điện tích nhưng khác nhau về khối lượng là: muyon và tauon. Trong thế giới phản vật chất, phản hạt của electron là positron. Positron có cùng các giá trị thuộc tính (khối lượng, spin, giá trị tuyệt đối của điện tích) như electron, ngoại trừ nó mang điện tích dương. Khi electron gặp positron, chúng có thể tiêu diệt lẫn nhau, tạo thành hai photon trong tia gamma, mỗi tia có năng lượng 0.511 MeV (511 keV). Xem thêm Sự hủy diệt electron-positron. Electron còn là yếu tố cơ bản trong điện từ trường, là lý thuyết gần đúng cho các hệ thống vĩ mô. == Lịch sử == Electron được đề nghị bởi George Johnstone Stoney như là đơn vị điện tích trong điện hóa học, nhưng cũng nhận ra rằng nó còn là hạt hạ nguyên tử. Electron được khám phá bởi J.J. Thomson năm 1897 tại phòng thí nghiệm Cavendish của trường Đại học Cambridge, trong khi nghiên cứu về "tia âm cực". Chịu ảnh hưởng bởi nghiên cứu của James Clerk Maxwell, cũng như sự phát minh ra tia X, ông đã suy ra rằng tia âm cực tồn tại và là những hạt mang điện tích âm, ông gọi nó là "corpuscles". == Xem thêm == Mô hình chuẩn Hạt hạ nguyên tử Proton Neutron Hiệu ứng quang điện Ánh sáng Danh sách các hạt Tia âm cực == Tham khảo == Brumfiel, G. (6 tháng 1 năm 2005). "Can electrons do the splits?" Trong Nature, 433, 11. an article about physicist Senthil Todadri; describes efforts to reform the current understanding of electrons (tiếng Anh) == Liên kết ngoài == Electron tại Từ điển bách khoa Việt Nam Electron (Subatomic particle) tại Encyclopædia Britannica (tiếng Anh) Particle Data Group Stoney, G. Johnstone, "Of the 'Electron,' or Atom of Electricity". Philosophical Magazine. Series 5, Volume 38, p. 418-420 October 1894. Electron tại Eric Weisstein's World of Physics
virginia.txt
Virginia (phát âm tiếng Việt: Vơ-gin-ni-a; phát âm tiếng Anh: /vərˈdʒɪnjə/), tên chính thức là Thịnh vượng chung Virginia (tiếng Anh: Commonwealth of Virginia), là một bang nằm tại khu vực Nam Đại Tây Dương của Hợp chúng quốc Hoa Kỳ. Virginia có tên hiệu là "Old Dominion" do từng là một lãnh thổ tự trị cũ của quân chủ Anh, và "Mother of Presidents" do bang là nơi sinh của nhiều tổng thống Hoa Kỳ nhất. Dãy núi Blue Ridge và vịnh Chesapeake định hình địa lý và khí hậu của Virginia, cung cấp môi trường sống cho phần lớn động thực vật trong bang. Thủ phủ của bang là Richmond; song Virginia Beach là thành phố đông dân nhất, còn Fairfax là quận hành chính đông dân nhất. Năm 2013, dân số Virginia được ước tính đạt trên 8,2 triệu. Lịch sử khu vực bắt đầu cùng với một vài nhóm người bản địa, trong đó có Powhatan. Năm 1607, Công ty London thiết lập Thuộc địa Virginia, đây là thuộc địa thường trú đầu tiên của Anh tại Tân Thế giới. Lao động nô lệ và đất đai giành được từ việc chiễm chỗ các bộ lạc da đỏ đóng vai trò quan trọng trong chính trị và kinh tế đồn điền thời kỳ đầu thuộc địa. Virginia là một trong 13 thuộc địa trong Cách mạng Mỹ và gia nhập Liên minh quốc trong Nội chiến Mỹ. Trong Nội chiến, Richmond được lập làm thủ đô của Liên minh quốc và các quận nằm ở phía tây bắc của Virginia ly khai để hình thành bang Tây Virginia. Virginia do một đảng cầm quyền trong gần một thế kỷ sau Tái thiết, song ngày nay cả hai chính đảng quốc gia lớn đều cạnh tranh tại Virginia. Đại hội Virginia là cơ cấu lập pháp liên tục lâu năm nhất tại Tân Thế giới. Chính phủ bang nhiều lần được Trung tâm Pew về các bang xếp hạng là hoạt động hữu hiệu nhất. Virginia có điểm độc đáo là đối đãi bình đẳng giữa các thành phố độc lập và các quận, quản lý các tuyến đường bộ địa phương, và cấm thống đốc của bang phục vụ các nhiệm kỳ liên tiếp. Kinh tế Virginia gồm có nhiều khu vực: nông nghiệp tại thung lũng Shenandoah; các cơ quan liên bang tại Bắc Virginia, bao gồm trụ sở chính của Bộ Quốc phòng và CIA; các cơ sở quân sự tại Hampton Roads. Kinh tế Virginia chuyển từ dựa chủ yếu vào nông nghiệp sang công nghiệp trong thập niên 1960 và 1970, và vào năm 2002 thì chip máy tính trở thành mặt hàng xuất khẩu hàng đầu của bang. == Địa lý == Tổng diện tích của Virginia là 42.774,2 dặm vuông Anh (110.784,7 km2), trong đó có 3.180,13 dặm vuông Anh (8.236,5 km2) mặt nước, và là bang rộng lớn thứ 35 tại Hoa Kỳ. Virginia giáp với Maryland và Washington, D.C. ở phía bắc và đông; giáp với Đại Tây Dương ở phía đông; giáp với Bắc Carolina và Tennessee ở phía nam; giáp với Kentucky ở phía tây; và giáp với Tây Virginia ở phía bắc và tây. Biên giới của Virginia với Maryland và Washington, D.C. kéo dài theo mực triều thấp ở bờ nam sông Potomac. Biên giới phía nam được xác định theo vĩ tuyến 36° 30′ Bắc, song sai số về trắc lượng khiến độ lệch lên đến ba phút. Vấn đề biên giới Tennessee được giải quyết vào năm 1893 khi tranh chấp giữa hai bang được đưa lên Tối cao Pháp viện Hoa Kỳ. === Địa chất và địa hình === Vịnh Chesapeake tách biệt phần liền kề của bang với hai quận tại Eastern Shore thuộc Virginia, là một phần của bán đảo Delmarva. Vịnh hình thành sau khi các thung lũng sông Susquehanna và sông James bị ngập nước. Nhiều sông của Virginia chảy vào vịnh Chesapeake, gồm có Potomac, Rappahannock, York, và James, chúng tạo thành ba bán đảo giáp vịnh. Về mặt địa lý và địa chất, Virginia được phân thành năm khu vực, từ đông sang tây là: Tidewater (nước triều), Piedmont, dãy núi Blue Ridge, Ridge and Valley (đỉnh núi và thung lũng), và cao nguyên Cumberland. Tidewater là một đồng bằng ven biển nằm giữa bờ biển Đại Tây Dương và tuyến thác (fall line). Khu vực này gồm có Eastern Shore và các vùng cửa sông lớn của vịnh Chesapeake. Piedmont gồm một loạt vùng chân núi có nền đá trầm tích và mácma nằm ở phía đông của các dãy núi vốn được hình thành vào Đại Trung sinh. Khu vực có lớp đất sét dày, và bao gồm cả dãy núi Southwest. Dãy núi Blue Ridge là một khu vực địa lý tự nhiên thuộc dãy Appalachian, và có các đỉnh cao nhất trong bang, cao nhất trong số đó là núi Rogers với cao độ 5.729 foot (1.746 m). Vùng Ridge and Valley ở phía tây của dãy núi, và bao gồm thung lũng Đại Appalachian. Khu vực có nền đá cácbonat, và gồm có núi Massanutten. Cao nguyên Cumberland và dãy núi Cumberland nằm tại góc tây-nam của Virginia, ở bên dưới cao nguyên Allegheny. Trong khu vực này, các sông chảy theo hướng tây bắc vào lưu vực sông Ohio với một thủy hệ hình cây. Nền đá cácbonat của bang có trên 4.000 hang động, 10 trong số đó mở cửa cho hoạt động du lịch. Đới địa chấn Virginia không có lịch sử hoạt động địa chấn thường xuyên. Các trận động đất trong bang hiếm khi có cường độ trên 4,5 độ Richter do Virginia nằm xa rìa của mảng Bắc Mỹ. Trận động đất lớn nhất từng ghi nhận được trong bang xảy ra vào năm 1897 gần Blacksburg, được ước tính có cường độ 5.9 độ richter. Một trận động đất có cường độ 5,8 độ Richter tấn công trung bộ Virginia vào ngày 23 tháng 8 năm 2011, gần Mineral. Theo tường thuật, có thể cảm nhận được trận động đất ở những nơi xa như Toronto, Atlanta và Florida. Hoạt động khai thác than đá được tiến hành trong ba khu vực núi, tại 45 thành tầng than đá riêng biệt gần các bồn địa Đại trung sinh. Trên 62 triệu tấn tài nguyên phi nhiên liệu khác, như slate, kyanit, cát, hay sỏi, được khai thác tại Virginia trong năm 2012. === Khí hậu === Càng về phía nam và đông Virginia, khí hậu càng trở nên ấm hơn và ẩm hơn. Nhiệt độ cực theo mùa dao động từ trung bình thấp 26 °F (−3 °C) trong tháng 1 đến trung bình cao 86 °F (30 °C) trong tháng 7. Đại Tây Dương có ảnh hưởng mạnh đối với khí hậu các khu vực ven biển miền đông và miền đông nam của bang. Do chịu ảnh hưởng của hải lưu Gulf Stream, thời tiết vùng ven biển lệ thuộc vào các cơn bão, rõ rệt nhất là gần cửa vịnh Chesapeake. Trung bình hàng năm, Virginia có 35–45 ngày có hoạt động giông bão, đặc biệt là ở miền tây của bang, và lượng giáng thủy là 42,7 inch (108 cm). Các khối khí lạnh tràn qua các dãy núi vào mùa đông có thể dẫn đến lượng tuyết rơi đáng kể. Tác động tương hỗ của các yếu tố này với địa hình của bang tạo ra các vi khí hậu riêng biệt tại thung lũng Shenandoah, dãy núi Southwest, và các đồng bằng ven biển. Mỗi năm, trung bình có 7 lốc xoáy xảy ra tại Virginia, hầu hết ở cấp F2 hoặc thấp hơn theo thang độ Fujita. Trong những năm gần đây, việc vùng ngoại ô phía nam của Washington, D.C. mở rộng sang Bắc Virginia dẫn đến đảo nhiệt đô thị, chủ yếu là do gia tăng hấp thu bức xạ mặt trời tại các khu vực dân cư đông đúc hơn. Trong một tường trình năm 2011 của Hiệp hội Phổi Hoa Kỳ, 11 quận tại Virginia không đạt chuẩn về chất lượng không khí, trong đó quận Fairfax là tệ nhất, do ô nhiễm từ xe ô tô. Sương mù trên các dãy núi có nguyên nhân một phần là từ các nhà máy điện sử dụng than đá. === Động thực vật === Rừng bao phủ 65% diện tích bang, chủ yếu là các cây rụng lá, lá rộng. Những nơi có cao độ thấp thì càng có khả năng có nhiều độc cần và rêu ưa ẩm nhỏ song dày đặc, với các cây mại châu và sồi trên Blue Ridge. Tuy nhiên từ đầu thập niên 1990, sự tàn phá của sâu bướm Gypsy làm xói mòn sự thống trị của các khu rừng sồi. Tại khu vực Tidewater đất thấp, thông vàng có xu hướng chiếm ưu thế, với các rừng bách ngập nước trong các đầm lầy Great Dismal và Nottoway. Các loài thực vật thông thường khác gồm có dẻ, phong, hoàng dương, nguyệt quế núi, bông tai, cúc, và nhiều loài dương xỉ. Các khu vực hoang vu rộng lớn nhất nằm dọc theo bờ biển Đại Tây Dương và tại các dãy núi miền tây, là nơi phát hiện ra số lượng cá thể Trillium grandiflorum lớn nhất tại Bắc Mỹ. Các loài thú tại Virginia gồm hươu đuôi trắng, gấu đen, hải ly, linh miêu đuôi cộc, sói đồng cỏ, gấu mèo, chồn hôi, macmot, ôpôt Virginia, cáo xám, cáo đỏ, và thỏ đuôi bông miền Đông. Các loài thú khác gồm có: chuột hải ly, sóc cáo, sói xám, sóc bay, sóc chuột, dơi nâu, và chồn. Các loài chim tại Virginia gồm có giáo chủ (bang điểu), cú kẻ dọc, bạc má Carolina, ưng đuôi lửa, ó cá, bồ nông nâu, cút, mòng biển, đại bàng đầu trắng, và gà tây hoang. Virginia cũng là nơi sinh sống của cả gõ kiến đầu đỏ lớn và nhỏ, cũng như gõ kiến thông thường. Cắt lớn lại được đưa đến vườn quốc gia Shenandoah vào giữa thập niên 1990. Sander vitreus, Salvelinus fontinalis, Ambloplites cavifrons, và Ictalurus furcatus nằm trong số 210 loài cá nước ngọt được biết đến tại Virginia. Các suối chảy với phần đáy nhiều đá thường là môi trường sống của một lượng lớn các loài tôm tùm và kỳ giông. Vịnh Chesapeake là nơi sinh sống của nhiều loài thủy sinh, trong đó có cua xanh, nghêu, hàu, và Morone saxatilis (cá pecca sọc). Virginia có 30 đơn vị thuộc Cục Công viên Quốc gia, như vườn Great Falls và đường mòn Appalachian, và một vườn quốc gia là Shenandoah. Shenandoah được thành lập vào năm 1935 và bao gồm thắng cảnh Skyline Drive. Gần 40% diện tích của vườn (79.579 acres/322 km2) được xác định là vùng hoang dã theo Hệ thống Bảo tồn Hoang dã Quốc gia. Thêm vào đó, Virginia có 34 vườn cấp bang và 17 rừng cấp bang, chúng nằm dưới quyền quản lý của Bộ Bảo hộ và Tiêu khiển và Bộ Lâm nghiệp của bang. Vịnh Chesapeake không phải là một vườn quốc gia, song được cả pháp luật bang và liên bang bảo hộ, và cùng vận hành Chương trình vịnh Chesapeake nhằm phục hồi vịnh và lưu vực của vịnh. Khu bảo tồn loài hoang dã quốc gia đầm lầy Great Dismal kéo dài sang Bắc Carolina, nó cũng như khu bảo tồn loài hoang dã quốc gia Back Bay đánh dấu sự khởi đầu của dãy đảo chắn Outer Banks. == Lịch sử == === Thuộc địa === Theo ước tính, những người đầu tiên đến Virginia từ trên 12.000 năm trước. Đến 5.000 năm trước, xuất hiện các khu định cư lâu dài hơn, và nông nghiệp bắt đầu từ năm 900. Đến năm 1500, nhóm người Algonquian đã lập nên các đô thị như Werowocomoco tại khu vực Tidewater (mà họ gọi với tên Tsenacommacah). Các nhóm ngôn ngữ khác trong khu vực là Siouan ở phía tây, và Iroquois (gồm Nottoway và Meherrin) ở phía bắc và nam. Sau năm 1570, người Algonquian thống nhất dưới quyền Tù trưởng Powhatan nhằm phản ứng với các mối đe dọa từ những nhóm người khác trên mạng lưới mậu dịch của họ. Powhatan kiểm soát trên 30 bộ lạc nhỏ và trên 150 khu định cư, những người này nói cùng một ngôn ngữ Algonquian Virginia. Đến năm 1607, dân số bản địa tại khu vực Tidewater là từ 13.000 dến 14.000. Một vài đoàn thám hiểm của người châu Âu đã thám hiểm vịnh Chesapeake trong thế kỷ 16, trong đó có một nhóm linh mục dòng Tên người Tây Ban Nha. Năm 1583, Nữ vương Elizabeth I của Anh ban cho Walter Raleigh một đặc quyền để thiết lập một thuộc địa ở phía bắc của Florida thuộc Tây Ban Nha. Năm 1584, Walter Raleigh phái một đoàn thám hiểm đến vùng bờ biển Đại Tây Dương của Bắc Mỹ. Tên gọi "Virginia" có thể được Raleigh hay Elizabeth đề xuất sau đó, có lẽ nhằm ghi nhận tình trạng của bà là "Nữ vương Đồng trinh" (Virgin Queen), và có thể cũng liên quan đến một nhóm từ bản địa "Wingandacoa," hay tên gọi "Wingina." Ban đầu, tên gọi được áp dụng cho vùng ven biển từ Nam Carolina đến Maine, trừ đảo Bermuda. Công ty London được Quốc vương Anh trao quyền sở hữu đất đai trong khu vực theo Hiến chương 1606. Công ty cung cấp tài chính cho khu định cư thường trực đầu tiên của Anh tại "Tân Thế giới" là Jamestown. Khu định cư được đặt theo tên Quốc vương James I, và do Christopher Newport thành lập vào tháng 5 năm 1607. Năm 1619, những người thực dân thu được quyền lực lớn hơn khi có một cơ quan lập pháp được bầu ra mang tên Thị dân viện (House of Burgesses). Công ty London phá sản vào năm 1624, khu định cư do vậy chuyển sang nằm dưới quyền lực vương thất với tình trạng một thuộc địa vương thất Anh. Sinh hoạt tại thuộc địa đầy nguy hiểm, và có nhiều người tử vong trong nạn đói năm 1609 và các cuộc chiến tranh với Liên minh Powhatan của người da đỏ, trong đó có cuộc tàn sát năm 1622, thúc đẩy quan điểm tiêu cực của những người thực dân về tất cả các bộ lạc. Đến năm 1624, chỉ có 3.400 trong số 6.000 người định cư ban đầu còn sống sót. Tuy nhiên, nhu cầu về thuốc lá tại châu Âu thúc đẩy thêm nhiều người định cư và đầy tớ đến thuộc địa. Hệ thống tiền đăng (headright) được áp dụng nhằm cố gắng giải quyết tình hình thiếu lao động bằng cách cung cấp đất đai cho những người thực dân tương ứng với số lao công khế ước mà họ chở đến Virginia. Những người lao công người châu Phi được nhập khẩu lần đầu tiên đến Jamestown vào năm 1619, ban đầu là theo nguyên tắc nô lệ khế ước. Việc chuyển sang một chế độ nô lệ người châu Phi tại Virginia được thúc đẩy theo sau án kiện pháp lý của John Punch, người này bị tuyên án phải làm nô lệ suốt đời vào năm 1640 do cố gắng chạy trốn, và của John Casor, người này bị Anthony Johnson yêu cầu phải làm nô lệ suốt đời cho ông ta vào năm 1655. Vào năm 1661 và năm 1662, chế độ nô lệ xuất hiện lần đầu tiên trong các đạo luật tại Virginia, khi một luật quy định thân phận nô lệ được kế thừa theo thân phận của mẹ. Những căng thẳng và khác biệt về địa lý giữa các tầng lớp lao động và thống trị dẫn đến cuộc nổi dậy Bacon vào năm 1676, đương thời những người đã và đang là lao công khế ước chiếm tới 80% dân số thuộc địa. Các phiến quân phần lớn đến từ vùng biên giới của thuộc địa, họ cũng phản đối chính sách hòa giải đối với các bộ lạc bản địa, và một kết quả của cuộc nổi dậy là ký kết Hiệp ước 1677 tại Middle Plantation, biến các bộ lạc ký hiệp ước thành các phiên thuộc quốc và nằm trong một mô thức chiếm đoạt đất đai bộ lạc bằng vũ lực và hiệp ước. Năm 1693, Học viện William & Mary được thành lập tại Middle Plantation, Middle Plantation được đổi thành Williamsburg khi nó trở thành thủ đô vào năm 1699. Đến năm 1747, một nhóm đầu cơ người Virginia thành lập Công ty Ohio với sự ủng hộ của vương thất Anh Quốc nhằm khởi đầu hoạt động định cư và mậu dịch của người Anh tại lãnh thổ Ohio ở phía tây của dãy Appalachian. Pháp tuyên bố rằng lãnh thổ Ohio là bộ phận của thuộc địa Tân Pháp, và nhìn nhận hành động này là một mối đe dọa. Chiến tranh giữa các thuộc địa châu Mỹ thuộc Anh với Tân Pháp kế tiếp đó là bộ phận của Chiến tranh Bảy Năm (1756–1763). Trong chiến tranh với Pháp tại Bắc Mỹ, trung đoàn Virginia là một lực lượng dân quân đến từ nhiều thuộc địa của Anh, người chỉ huy trung đoàn là Trung tá George Washington. === Trở thành bang === Sau Chiến tranh với Pháp và người da đỏ tại Bắc Mỹ, các thuộc địa hết sức không hoan nghênh các nỗ lực của Quốc hội Anh nhằm đánh các khoản thuế mới. Trong Thị dân viện, Patrick Henry và Richard Henry Lee và những người khác lãnh đạo hoạt động phản đối việc bị đánh thuế mà không có đại diện. Người Virginia bắt đầu phối hợp hành động của họ với các thuộc địa khác vào năm 1773, và cử các đại biểu đến Đại hội Lục địa vào năm sau đó. Sau khi Thị dân viện bị thống đốc vương thất giải thể vào năm 1774, các lãnh đạo cách mạng của Virginia tiếp tục cầm quyền thông qua Các hội nghị Virginia. Ngày 15 tháng 5 năm 1776, Hội nghị tuyên bố Virginia độc lập từ Đế quốc Anh và thông qua bản Tuyên ngôn Quyền lợi Virginia của George Mason, nội dung bản tuyên ngôn sau đó được đưa vào một bản hiến pháp mới. Một người Virginia khác là Thomas Jefferson dựa trên tác phẩm của George Mason trong việc soạn thảo Tuyên ngôn độc lập quốc gia. Khi Cách mạng Mỹ bắt đầu, George Washington được chọn làm người đứng đầu lục quân thuộc địa. Trong chiến tranh, thủ phủ của Virginia được chuyển đến Richmond theo đề xuất của Thống đốc Thomas Jefferson, lý do là vì ông lo sợ thủ phủ Williamsburg nằm ở vùng ven biển nên dễ bị lực lượng Anh tấn công. Năm 1781, hành động liên hiệp của các lực lượng lục quân và hải quân Lục địa và Pháp bẫy được quân Anh trên bán đảo Virginia, tại đây quân của George Washington và Bá tước xứ Rochambeau đánh bại quân của Tướng Charles Cornwallis trong Cuộc vây hãm Yorktown. Việc Charles Cornwallis đầu hàng vào ngày 19 tháng 10 năm 1781 dẫn đến các cuộc hòa đàm tại Paris và bảo đảm nền độc lập của các thuộc địa. Những người Virginia tham gia viết Hiến pháp Hoa Kỳ. James Madison phác thảo kế hoạch Virginia vào năm 1787 và tuyên ngôn nhân quyền vào năm 1789. Virginia phê chuẩn Hiến pháp Hợp chúng quốc vào ngày 25 tháng 6 năm 1788. Virginia có một lượng lớn nô lệ, và "Thỏa hiệp Ba phần năm" bảo đảm rằng ban đầu bang sẽ có đại diện đông nhất trong Hạ viện. Cùng với triều đại Virginia các tổng thống, những điều này giúp cho Thịnh vượng chung có tầm quan trọng quốc gia. Năm 1790, cả Virginia và Maryland đều nhượng lãnh thổ của mình để hình thành quận Columbia mới, song khu vực từng thuộc Virginia được nhượng lại cho bang vào năm 1846. Virginia được gọi là "mẹ của các bang" do các lãnh thổ của bang bị tách ra thành các bang như Kentucky (trở thành bang thứ 15 vào năm 1792), và vì đa số những "người tiên phong Hoa Kỳ" sinh tại Virginia. === Nội chiến và hậu quả === Ngoài nông nghiệp, việc sử lao động nô lệ ngày càng tăng trong khai mỏ, đóng tàu và các ngành công nghiệp khác. Việc hành hình Gabriel Prosser vào năm 1800, cuộc nổi dậy nô lệ Nat Turner vào năm 1831 và vụ tấn công phà Harpers của John Brown vào năm 1859 đánh dấu gia tăng sự bất mãn xã hội của nô lệ và vai trò của họ trong kinh tế đồn điền. Đến năm 1860, gần nửa triệu người tại Virginia bị nô dịch hóa, chiếm gần 31% tổng dân số bang. Virginia bỏ phiếu thông qua việc ly khai Hợp chúng quốc vào ngày 17 tháng 4 năm 1861, sau trận đồn Sumter và lời kêu gọi tình nguyện tòng quân của Abraham Lincoln. Ngày 24 tháng 4, Virginia gia nhập Liên minh quốc châu Mỹ, Liên minh chọn Richmond làm thủ đô. Sau Hội nghị Wheeling 1861, 48 quận tại tây bắc bộ Virginia ly khai để hình thành bang mới Tây Virginia, bang này lựa chọn vẫn trung thành với Liên bang. Tướng người Virginia Robert E. Lee nắm quyền chỉ huy Binh đoàn Bắc Virginia vào năm 1862, và lãnh đạo các cuộc xâm nhập vào lãnh thổ của Liên bang, sau cùng ông trở thành người chỉ huy của toàn bộ các lực lượng Liên minh miền Nam. Trong Nội chiến Mỹ, Virginia là bang xảy ra nhiều trận đánh nhất, bao gồm cả Bull Run, Chuỗi trận Bảy ngày, Chancellorsville, và trận Appomattox Court House mang tính quyết định. Sau khi Richmond bị chiếm vào tháng 4 năm 1865, thủ phủ của bang được chuyển đến Lynchburg trong một thời gian ngắn, trong khi hàng ngũ lãnh đạo của Liên minh dời đến Danville. Virginia chính thức khôi phục vị thế là một bộ phận của Hợp chúng quốc vào năm 1870, nhờ công của Ủy ban Chín người. Trong thời kỳ Tái thiết sau chiến tranh, Virginia thông qua một hiến pháp mà theo đó cung cấp giáo dục trường công miễn phí, và bảo đảm các quyền chính trị, dân sự và tuyển cử. Đảng Tái chỉnh lý (Readjuster Party) theo chủ nghĩa dân túy vận hành một liên minh cầm quyền bao dung cho đến khi Đảng Dân chủ của người Da trắng bảo thủ giành được quyền lực sau năm 1883. Chính phủ của đảng này thông qua các luật Jim Crow với nội dung phân biệt chủng tộc, và đến năm 1902 thì viết lại Hiến pháp Virginia nhằm thêm vào một thuế thân và các tiêu chuẩn đăng ký cử tri khác mà trên thực tế đã tước quyền tuyển cử của hầu hết người Mỹ gốc Phi và nhiều người Da trắng nghèo. Mặc dù các trường học và dịch vụ công của người Mỹ gốc Phi bị cô lập và thiếu kinh phí do thiếu đại diện chính trị, song họ vẫn có thể đoàn kết trong các cộng đồng và đóng vai trò lớn hơn trong xã hội Virginia. === Thời hiện đại === Các động lực kinh tế mới cũng biến đổi Thịnh vượng chung. Một người Virginia là James Albert Bonsack phát minh ra máy cán thuốc lá vào năm 1880, dẫn đầu sản xuất quy mô công nghiệp mới tập trung quanh Richmond. Năm 1886, trùm tư bản đường sắt Collis Potter Huntington thành lập hãng Đóng tàu Newport News, hãng này chịu trách nhiệm đóng sáu chiến hạm lớn trong thời kỳ Chiến tranh thế giới thứ nhất cho Hải quân Hoa Kỳ từ 1907–1923. Trong Chiến tranh thế giới thứ nhất, các tàu ngầm của Đức như U-151 từng tấn công các tàu bên ngoài cảng. Năm 1926, Tiến sĩ W.A.R. Goodwin, mục sư nhà thờ giáo xứ Bruton tại Williamsburg, bắt đầu tiến hành khôi phục các tòa nhà thời kỳ thuộc địa trong khu vực mang tính lịch sử với hỗ trợ tài chính của John D. Rockefeller, Jr. Giống như các bang khác, Virginia phải đương đầu với Đại khủng hoảng và Chiến tranh thế giới thứ hai, song công việc phục hồi của các cá nhân này vẫn tiếp tục và Williamsburg thời thuộc địa trở thành một địa điểm du lịch lớn. Barbara Rose Johns khởi đầu các cuộc biểu tình trong năm 1951 tại Farmville nhằm phản đối các trường học cách ly chủng tộc, dẫn đến một vụ tố tụng. Vụ tố tụng này do các cư dân địa phương tại Richmond là Spottswood Robinson và Oliver Hill đệ trình, và được phân xử vào năm 1954, trong đó bác bỏ thuyết cách ly chủng tộc "cách ly nhưng bình đẳng". Tuy nhiên, đến năm 1958, theo chính sách "đề kháng đại quy mô" dẫn đầu bởi Thượng nghị sĩ có thế lực theo chủ nghĩa phân biệt chủng tộc Harry F. Byrd và Tổ chức Byrd của ông, Thịnh vượng chung cấm các trường học địa phương thực hiện phế bỏ kỳ thị được nhận kinh phí của bang. Phong trào dân quyền thu hút nhiều người tham gia trong thập niên 1960, giành được sức mạnh đạo đức và sự ủng hộ để thông qua Đạo luật dân quyền 1964 và Đạo luật quyền đầu phiếu vào năm 1965. Năm 1964, Tối cao Pháp viện Hoa Kỳ phán quyết quận Prince Edward và các quận khác phải hợp nhất chủng tộc các trường học. Năm 1967, Tối cao Pháp viện cũng bác lệnh cấm của Virginia về hôn nhân dị chủng. Từ năm 1969 đến năm 1971, dưới sự lãnh đạo của Thống đốc Mills Godwin, các nhà lập pháp của bang viết lại hiến pháp sau khi đạt được các mục tiêu như hủy bỏ các luật Jim Crow. Năm 1989, Douglas Wilder trở thành người Mỹ gốc Phi đầu tiên được bầu làm thống đốc tại Hoa Kỳ. Chiến tranh Lạnh dẫn đến việc mở rộng các chương trình chính phủ về quốc phòng trong các văn phòng tại Bắc Virginia gần Washington, D.C., kéo theo là tăng trưởng dân số. Cơ quan Tình báo Trung ương tại Langley liên quan đến nhiều sự kiện khác nhau trong Chiến tranh Lạnh, bao gồm cả việc là mục tiêu của các hoạt động tình báo của Liên Xô. Virginia còn có Lầu Năm Góc, tòa nhà được xây dựng trong Chiến tranh thế giới thứ hai để làm trụ sở cho Bộ Quốc phòng. Lầu Năm Góc là một trong các mục tiêu của các cuộc tấn công ngày 11 tháng 9 năm 2001; 189 người thiệt mạng khi một máy bay hành khách phản lực đâm vào tòa nhà. == Hành chính == Virginia được phân chia thành 95 quận (hạt) và 38 thành phố độc lập, cả hai hoạt động theo cùng một cách thức do các thành phố độc lập được xem như tương đương với quận. Cách đối đãi bình đẳng giữa các thành phố độc lập và các quận là điểm độc đáo của Virginia, chỉ có ba thành phố độc lập khác tại Hoa Kỳ có được tình trạng bình đẳng với các quận. Virginia giới hạn quyền lực của các thành phố và quận khiến việc hủy bỏ các luật tuyệt đối phải được Đại hội Virginia chấp thuận, dựa theo điều được gọi là quy tắc Dillon. Ngoài các thành phố độc lập, Virginia còn có các thành thị hợp nhất hoạt động dưới quyền chính quyền của họ, song là bộ phận của một quận. Virginia có hàng trăm cộng đồng chưa hợp nhất trong các quận. Virginia có 11 vùng thống kê đô thị, trong đó Bắc Virginia, Hampton Roads, và Richmond-Petersburg là ba vùng đông dân nhất. Richmond là thủ phủ của Virginia, vùng đô thị của nó có dân số trên 1,2 triệu. Tính đến năm 2010, Virginia Beach là thành phố đông dân nhất trong Thịnh vượng chung, xếp thứ nhì và thứ ba lần lượt là Norfolk và Chesapeake. Norfolk tạo thành lõi đô thị của vùng đô thị Hampton Roads, vùng đô thị này có dân số trên 1,6 triệu và có căn cứ hải quân lớn nhất thế giới mang tên Căn cứ hải quân Norfolk. Suffolk là thành phố có diện tích lớn nhất Virginia với 429,1 dặm vuông Anh (1.111 km2). Với trên một triệu cư dân, quận Fairfax là đơn vị hành chính đông dân nhất tại Virginia, song số liệu này không bao gồm quận lỵ Fairfax do đây là một thành phố độc lập. Quận Fairfax có một trung tâm thương nghiệp và mua sắm lớn tại Tysons Corner, đây là thị trường chính thức lớn nhất tại Virginia. Fairfax và Loudoun láng giềng là hai quận tăng trưởng nhanh nhất tại Virginia và có thu nhập trung bình hộ gia đình cao nhất (114.204 USD) trong toàn quốc tính đến năm 2010. Arlington là quận tự quản có diện tích nhỏ nhất tại Hoa Kỳ, và là một cộng đồng đô thị được tổ chức thành một quận. Khu vực Roanoke là vùng thống kê đô thị lớn nhất tại miền tây Virginia. == Nhân khẩu == Cục Thống kê Dân số Hoa Kỳ ước tính rằng dân số Virginia là 8.260.405 vào ngày 1 tháng 7 năm 2013, tăng 3,2% kể từ cuộc điều tra dân số toàn quốc năm 2010. Sự gia tăng là kết quả của cả con số di cư thuần 314.832 người đến Thịnh vượng chung kể từ cuộc điều tra dân số năm 2000. Nhập cư từ bên ngoài Hoa Kỳ đạt tăng thuần 159.627 người, và di cư trong nước đạt tăng thuần 155.205 người. Trung tâm dân số của Virginia nằm tại quận Louisa bên ngoài Richmond. === Dân tộc === Người da trắng phi Hispanic, tức người da trắng không có nguồn gốc Mỹ Latinh hoặc Iberia, là nhôm dân tộc đông đảo nhất tại Virginia, tỷ lệ của họ trong tổng dân số bang giảm từ 76% vào năm 1990 đến 64,0% vào năm 2012. Năm 2011, 50,9% toàn bộ ca sinh tại Virginia có cha, mẹ hoạc cả hai là người da trắng phi Hispanic. Người có nguồn gốc Anh định cư trên khắp Thịnh vượng chung từ thời thuộc địa, và những người khác có nguồn gốc Anh Quốc và Ireland nhập cư sau đó. Những người tự nhận định là "dân tộc Mỹ" chủ yếu có gốc Anh, song tổ tiên của họ sinh sống tại Bắc Mỹ quá lâu nên họ lựa chọn nhận định chỉ là người Mỹ. Trong số những người Anh nhập cư đến Virginia vào thập niên 1600, 75% đến với thân phận lao công khế ước. Trước Cách mạng Mỹ, những người nhập cư Scotland-Ireland lập ra nhiều khu định cư tại các dãy núi phía tây. Có một số lượng đáng kể người có nguồn gốc Đức tại các dãy núi phía tây bắc và thung lũng Shenandoah, và số người trả lời có nguồn gốc Đức đứng ở vị trí cao nhất trong cuộc Điều tra Xã hội năm 2010, với 11,7%. 2,9% người Virginians mô tả bản thân là người song chủng. Nhóm thiểu số lớn nhất tại Virginia là người Mỹ gốc Phi, chiếm tỷ lệ 19,7% tính đến năm 2012. Hầu hết người Mỹ gốc Phi tại Virginia là hậu duệ của những người châu Phi bị nô dịch hóa từng phải làm việc trong các đồn điền thuốc lá, bông, và gai dầu. Những người này được đưa đến từ tây-trung châu Phi, chủ yếu là Angola và vịnh Biafra. Dân tộc Igbo có nguồn gốc từ khu vực mà nay là miền nam của Nigeria là dân tộc châu Phi đơn lẻ lớn nhất trong số các nô lệ tại Virginia. Dân số da đen tại Virginia suy giảm do Đại di trú, song từ năm 1965 tình hình di trú của người da đen đảo nghịch khi họ trở về miền Nam. Theo Trung tâm nghiên cứu Pew, Virginia là nơi có tỷ lệ cao nhất các cuộc hôn nhân dị chủng giữa người da đen và người da trắng. Cuối thế kỷ 20 và đầu thế kỷ 21, có nhiều người Hispanic và người châu Á nhập cư đến Virginia. Tính đến năm 2012, 8,4% dân cư Virginia là người Hispanic hoặc Latino (thuộc mọi chủng tộc), và 6,0% là người châu Á. Dân số Hispanic trong bang tăng 92% trong giai đoạn từ năm 2000 đến năm 2010, với hai phần ba số người Hispanic sống tại Bắc Virginia. Các công dân Hoa Kỳ là người Hispanic tại Virginia có thu nhập trung bình hộ gia đình và trình độ học vấn cao hơn mức trung bình của dân cư Virginia. Bắc Virginia cũng có một số lượng đáng kể người Mỹ gốc Việt, làn sóng nhập cư chính của cộng đồng này là sau Chiến tranh Việt Nam; còn người Mỹ gốc Hàn nhập cư gần đây hơn và bị thu hút một phần vì hệ thống trường học có chất lượng trong bang. Cộng đồng người Mỹ gốc Philippines có khoảng 45.000 người tại khu vực Hampton Roads, nhiều người trong số họ có liên hệ với Hải quân Hoa Kỳ và các lực lượng vũ trang. Ngoài ra, 0,5% dân cư Virginia là người da đỏ hoặc người Alaska bản địa, và 0,1% là người Hawaii bản địa hoặc người các đảo Thái Bình Dương khác. Virginia mở cộng công nhận cấp bang đến tám bộ lạc da đỏ cư trú tại bang, song liên bang chưa công nhận tình trạng của họ. Hầu hết các nhóm da đỏ cư trú tại vùng Tidewater. === Ngôn ngữ === Phương ngôn của khu vực Piedmont có ảnh hưởng mạnh mẽ đối với tiếng Anh miền Nam Hoa Kỳ. Tiếng Anh Mỹ tại các khu vực đô thị phát âm đồng đều hơn, song các trọng âm khác nhau cũng được sử dụng, trong đó có trọng âm Tidewater, trọng âm Virginia cũ, và trọng âm Elizabeth lỗi thời trên đảo Tangier. Năm 2010, 85,87% (6.299.127) dân cư Virginia 5 tuổi và lớn hơn nói tiếng Anh tại nhà như một ngôn ngữ chính, trong khi 6,41% (470.058) nói tiếng Tây Ban Nha, 0,77% (56.518) nói tiếng Hàn, 0,63% (45.881) nói tiếng Việt, 0,57% (42.418) nói tiếng Trung Quốc, và tiếng Tagalog là một ngôn ngữ chính của 0,56% (40.724). Tổng cộng, 14,13% (1.036.442) dân số Virginia 5 tuổi và lớn hơn có ngôn ngữ mẹ đẻ không phải là tiếng Anh. Các đạo luật vào năm 1981 và năm 1996 xác định tiếng Anh là ngôn ngữ chính thức của Thịnh vượng chung, song Hiến pháp Virginia không quy định tình trạng này. === Tôn giáo === Virginia là bang mà Cơ Đốc giáo, cụ thể là Tin Lành, chiếm ưu thế; Báp-tít là nhóm đơn lẻ lớn nhất với 27% dân số tính đến năm 2008. Các giáo đoàn Báp-tít tại Virginia có 763.655 thành viên. Các nhóm giáo phái Báp-tít tại Virginia gồm có Tổng hội Báp-tít Virginia với khoảng 1.400 nhà thờ thành viên, giáo phái này ủng hộ cả Giáo hội Báp-tít phương Nam và Giáo hội Báp-tít Hợp tác; và Giáo hội Bảo thủ Báp-tít phương Nam Virginia với hơn 500 nhà thờ thành viên, giáo phái này ủng hộ Giáo hội Báp-tít phương Nam. Công giáo La Mã là nhóm tôn giáo lớn thứ nhì với 673.853 thành viên. Giáo phận Công giáo Arlington bao gồm hầu hết các nhà thờ Công giáo tại Bắc Virginia, và Giáo phận Công giáo Richmond bao gồm các nhà thờ Công giáo còn lại trong bang. Hội nghị Virginia là đoàn thể khu vực của Giáo hội Giám Lý Thống nhất, và Hội nghị tôn giáo Virginia chịu trách nhiệm về giáo đoàn của Giáo hội Luther. Các đức tin Trưởng Lão, Ngũ Tuần, Công Lý, và Thánh Công đều chiếm dưới 2% dân số tính đến năm 2010. Tín đồ của Giáo hội các Thánh hữu Ngày sau của Chúa Giê Su Ky Tô chiếm 1% dân số, với 197 giáo đoàn tại Virginia tính đến tháng 3 năm 2014. Tại Fairfax Station có chùa Phật giáo Ekoji (Huệ Quang tự) thuộc giáo phái Tịnh độ chân tông, và đền Ấn Độ giáo thờ Durga. Số người Do Thái tại Virginia có quy mô nhỏ, song có tổ chức từ năm 1789 với Giáo đoàn Beth Ahabah. Hồi giáo là một tôn giáo đang phát triển trên khắp Thịnh vượng chung do nhập cư. Các đại giáo đoàn trong Thịnh vượng chung gồm có Nhà thờ Báp-tít Thomas Road, Nhà thờ Kinh Thánh Immanuel, và Nhà thờ Kinh Thánh McLean. == Kinh tế == Virginia là một bang quy định thuê lao động theo ý muốn (có thể sa thải người lao động vì lý do bất kỳ); và kinh tế bang có các nguồn thu nhập khác nhau, bao gồm chính phủ địa phương và liên bang, quân sự, nông nghiệp và thương nghiệp. Virginia có 4,1 triệu lao động dân sự, và một phần ba số việc làm là trong lĩnh vực dịch vụ. Tỷ lệ thất nghiệp tại Virginia nằm trong hàng thấp nhất toàn quốc, ở mức 5,2% vào tháng 4 năm 2013. Tổng sản phẩm quốc nội (GDP) của Virginia là 424 tỷ USD theo số liệu năm 2010. Theo Cục phân tích kinh tế, Virginia là bang có nhiều quận nhất trong số 100 quận giàu nhất tại Hoa Kỳ dựa theo thu nhập trung bình vào năm 2007. Bắc Virginia là khu vực có thu nhập cao nhất tại Virginia, sở hữu năm trong 10 quận có thu nhập cao nhất tại Hoa Kỳ theo số liệu năm 2014, và sở hữu hai vị trí đầu tiên. Theo một nghiên cứu năm 2013, Virginia có số triệu phú bình quân đầu người cao thứ bảy tại Hoa Kỳ, với tỷ lệ 6,64%. === Chính phủ === Virginia có chi tiêu quốc phòng trên đầu người cao nhất toàn quốc, lĩnh vực này đem đến cho bang 900.000 công việc. 12% toàn bộ tiền mua sắm liên bang được chi tiêu tại Virginia, đây là lượng lớn thứ nhì toàn quốc sau California. Nhiều người Virginia làm việc cho các cơ quan liên bang tại Bắc Virginia, trong đó có Cơ quan Tình báo Trung ương và Bộ Quốc phòng, cũng như Tổ chức Khoa học Quốc gia (NSF), Cục Khảo sát Địa chất Hoa Kỳ và Cục Sáng chế và Thương hiệu Hoa Kỳ. Nhiều người khác làm việc cho các nhà thầu chính phủ, bao gồm các hãng quốc phòng và an ninh có hàng nghìn hợp đồng với liên bang. Virginia có là một trong những bang có tỷ lệ cựu chiến binh cao nhất toàn quốc, và đứng thứ nhì sau California về tổng số nhân viên của Bộ Quốc phòng. Khu vực Hampton Roads là vùng đô thị tập trung nhiều nhân viên và tài sản quân sự nhất trên thế giới, bao gồm cả căn cứ hải quân lớn nhất thế giới là Norfolk. Chính phủ bang Virginia sử dụng 106.143 công chức, họ có thu nhập trung bình là 44.656 USD tính đến năm 2013. === Doanh nghiệp === Virginia là bang có tỷ lệ lao động kỹ thuật cao nhất, và xếp thứ tư về số lượng lao động kỹ thuật sau California, Texas, và New York. Chip máy tính trở thành mặt hàng xuất khẩu có doanh thu cao nhất của bang trong năm 2006, vượt qua tổng của hai mặt hàng xuất khẩu hàng đầu vốn có truyền thống là than đá và thuốc lá. Bắc Virginia môth thời từng được xem là thủ đô bơ sữa của bang, song nay có các công ty phần mềm, công nghệ truyền thông, nhà thầu quốc phòng, đặc biệt là tại Hành lang kỹ thuật Dulles. Tính đến năm 2013, Virginia nằm trong số những nơi có tốc độ Internet trung bình cao nhất trên thế giới, và các trung tâm dữ liệu tại Bắc Virginia truyền 70% lưu lượng internet toàn quốc. Trong nửa đầu năm 2011, các công ty tại Virginia nhận được số vốn đầu tư mạo hiểm cao thứ tư toàn quốc, sau California, Massachusetts, và New York. Năm 2009, Tạp chí Forbes xác định Virginia là bang tốt nhất toàn quốc đối với doanh nghiệp trong năm thứ tư liên tiếp, còn CNBC xác định Virginia là bang tốt nhất đối với doanh nghiệp trong các năm 2007, 2009, và 2011. Virginia có 20 công ty nằm trong bảng xếp hạng Fortune 500 (2011), xếp thứ tám toàn quốc. Du lịch tại Virginia ước tính tạo ra 210.000 công việc và ước tính tạo ra 21,2 tỷ USD trong năm 2012. Quận Arlington là địa điểm du lịch đứng đầu trong bang theo chi tiêu quốc nội, tiếp đến là quận Fairfax, quận Loudoun, và Virginia Beach. === Nông nghiệp === Nông nghiệp sử dụng 32% đất tại Virginia. Tính đến năm 2012, có khoảng 357.000 công việc tại Virginia là trong nông nghiệp, với trên 47.000 nông trại, trung bình mỗi nông trại rộng 171 mẫu Anh (0,27 sq mi; 0,69 km2), và tổng diện tích đất nông trại là 8,1 triệu dặm vuông (32.780 km²). Nông nghiệp hiện nay suy giảm đáng kể so với năm 1960, khi đó số nông trại trong bang nhiều gấp đôi, song đây vẫn là ngành kinh tế đơn lẻ lớn nhất tại Virginia. Cà chua vượt qua đậu tương để giành vị thế cây trồng sinh lợi nhất tại Virginia trong năm 2006, lạc và rơm là các nông sản khác. Mặc dù thuốc lá không còn là cây trồng chính trong bang, song Virginia vẫn là nơi sản xuất thuốc lá lớn thứ năm toàn quốc. Thu hoạch hàu Virginia (Crassostrea virginica) là một bộ phận quan trọng trong kinh tế vịnh Chesapeake, song số lượng hàu suy giảm do dịch bệnh, ô nhiễm, và khai thác quá mức khiến cho sản lượng khai thác giảm. Các nhà máy rượu vang và vườn nho tại Northern Neck và dọc theo dãy núi Blue Ridge cũng phát đầu sinh lợi và thu hút du khách. === Thuế === Virginia đánh thuế thu nhập cá nhân theo năm mức thu nhập khác nhau, dao động từ 3,0% đến 5,75%. Thuế tiêu thụ và thuế sử dụng ở mức 4%, trong khi mức thuế đối với thực phẩm là 1,5%. Ngoài ra, còn có thêm 1% thuế địa phương, tổng cộng phải trả thuế là 5% khi mua hầu hết hàng hóa tại Virginia và 2,5% đối với hầu hết thực phẩm. Thuế tài sản tại Virginia do chính quyền cấp địa phương định ra và thu, và ở mức khác nhau giữa các quận trong bang. Bất động sản cũng bị đánh thuế ở cấp địa phương dựa theo 100% giá thị trường. Tài sản cá nhân hữu hình cũng bị đánh thuế ở cấp địa phương và dựa theo một phần trăm hoặc vài phần trăm giá gốc. == Văn hóa == Những nhân vật như George Washington, Thomas Jefferson, và Robert E. Lee giúp văn hóa Virginia phổ cập và truyền bá khắp miền Nam và toàn Hoa Kỳ. Nhà của họ tại Virginia tượng trưng cho sinh quán của Hoa Kỳ và miền Nam. Văn hóa Virginia hiện đại có nhiều nguồn gốc, và là bộ phận của văn hóa miền Nam Hoa Kỳ. Viện Smithsonian phân chia Virginia thành chín vùng văn hóa. Bên cạnh các đặc điểm chung của ẩm thực miền Nam Hoa Kỳ, Virginia vẫn duy trì các truyền thống đặc biệt của riêng mình. Rượu vang Virginia được sản xuất tại nhiều nơi trong bang. Giăm bông Smithfield, đôi khi được gọi là "giăm bông Virginia", là một loại giăm bông thôn dã được luật của bang bảo hộ về chỉ dẫn địa lý, và chỉ có thể được sản xuất tại thị trấn Smithfield. Đồ nội thất và kiến trúc Virginia mang đặc trưng của kiến trúc Hoa Kỳ thời thuộc địa. Thomas Jefferson và nhiều lãnh đạo thời kỳ ban đầu của bang ưa chuộng phong cách kiến trúc Tân cổ điển, dẫn đến việc các tòa nhà quan trọng của bang được xây dựng theo phong cách này. Người Đức Pennsylvania và phong cách của họ cũng xuất hiện tại một số nơi trong bang. Văn học tại Virginia thường đối diện với quá khứ quảng đại và đôi khi hỗn loạn của bang. Các tác phẩm của tiểu thuyết gia đoạt giải Pulitzer Ellen Glasgow thường đối diện với các bất bình đẳng xã hội và vai trò của nữ giới trong văn hóa của bà. Đồng bối và bạn thân của Ellen Glasgow là James Branch Cabell viết nhiều về sự thay đổi địa vị của giới thân sĩ trong thời kỳ Tái thiết, và thách thức tiêu chuẩn đạo đức của giới này qua tác phẩm Jurgen, A Comedy of Justice. William Styron tiếp cận với lịch sử trong các tác phẩm như The Confessions of Nat Turner và Sophie's Choice. Tom Wolfe thỉnh thoảng đối diện với di sản miền Nam của mình trong các tác phẩm bán chạy như I Am Charlotte Simmons. Matt Bondurant nhận được các phê bình tán dương cho tiểu thuyết lịch sử The Wettest County in the World của ông, tác phẩm viết về những người nấu rượu lậu tại quận Franklin trong thời kỳ cấm rượu. Virginia cũng bổ nhiệm một 'quế quan thi nhân' (Poet Laureate) cấp bang. Chính phủ bang cung cấp kinh phí cho một số thể chế, trong đó có Bảo tàng Virginia về Mỹ thuật và Bảo tàng Khoa học Virginia. Các bảo tàng khác gồm có Trung tâm Steven F. Udvar-Hazy thuộc Bảo tàng Hàng không Vũ trụ Quốc gia, và Bảo tàng Mỹ thuật Chrysler. Ngoài ra, Virginia còn có nhiều bảo tàng ngoài trời, chẳng hạn như Williamsburg Thuộc địa, Bảo tàng Văn hóa Biên giới Virginia, và các chiến trường lịch sử khác nhau. Quỹ Virginia về Nhân văn (VFH) hoạt động nhằm cải thiện sinh hoạt dân sự, văn hóa, và tri thức trong bang. Các thành phố và vùng ngoại ô của Virginia đều có các kịch viện và nơi biểu diễn nghệ thuật khác. Nhà hát Opera Harrison tại Norfolk là nơi biểu diễn chính của Công ty Virginia Opera. Dàn nhạc giao hưởng Virginia hoạt động tại và quanh Hampton Roads. Công ty American Shakespeare Center tại Staunton có các kịch đoàn cố định và lưu dộng. Kịch viện Barter tại Abingdon được xác định là kịch viện cấp bang của Virginia, kịch viện giành giải Tony cho kịch viện khu vực mùa đầu tiên vào năm 1948, còn Kịch viện Signature tại Arlington giành được giải thưởng này vào năm 2009. Virginia cũng có một kịch viện dành cho thiếu nhi là Theatre IV, kịch đoàn của Theatre IV là kịch đoàn lưu động lớn thứ nhì toàn quốc. Virginia có nhiều nghệ sĩ âm nhạc truyền thống được nhận giải thưởng, các nghệ sĩ âm nhạc đại chúng thành công ở tầm quốc tế, cũng như các diễn viên Hollywood. Virginia có truyền thống về thể loại âm nhạc old-time và bluegrass, với các nhóm nhạc như Carter Family và Stanley Brothers, cũng như các thể loại Phúc Âm, blues, và shout band. Âm nhạc Virginia đương đại còn được biết đến với các nghệ sĩ folk rock như Dave Matthews và Jason Mraz, các ngôi sao hip hop như Pharrell và Missy Elliott, cũng như các nhóm thrash metal như GWAR và Lamb of God. Những nơi biểu diễn nghệ thuật nổi tiếng tại Virginia gồm có The Birchmere, Kịch viện Landmark, và Jiffy Lube Live. Vườn quốc gia Wolf Trap cho nghệ thuật biểu diễn (Wolf Trap National Park for the Performing Arts) nằm tại Vienna và là vườn quốc gia duy nhất có mục đích sử dụng như một trung tâm biểu diễn nghệ thuật. Nhiều quận và địa phương tại Virginia tổ chức các hội chợ quận và lễ hội. Hội chợ bang Virginia được tổ chức tại công viên Meadow Event vào tháng chín hàng năm. Trong tháng 9 còn có Lễ hội Neptune tại Virginia Beach. Norfolk's Harborfest được tổ chức trong tháng 9, đáng chú ý với hoạt động đua thuyền và trình diễn hàng không. Quận Fairfax cũng bảo trợ cho lễ hội Celebrate Fairfax!, lễ hội có những tiết mục trình diễn âm nhạc đại chúng và truyền thống. Lễ hội Virginia Lake được tổ chức vào cuối tuần thứ ba của tháng 7 tại Clarksville. Wolf Trap có Công ty Opera Wolf Trap, công ty tổ chức một lễ hội opera vào mùa hè hàng năm. Trên đảo Chincoteague thuộc vùng Eastern Shore có hoạt động đua bơi và bán đấu giá ngựa Chincoteague hoang vào cuối tháng 7, đây là một truyền thống địa phương độc đáo và được khoách trương thành một hội kéo dài trong một tuần. Lễ hội hoa táo nở Shenandoah kéo dài trong sáu ngày mỗi năm tại Winchester, lễ hội gồm có hoạt động diễu hành và hòa nhạc bluegrass. Đại hội vĩ cầm cổ tại Galax bắt đầu được tổ chức vào năm 1935, và là một trong các sự kiện lâu năm nhất và lớn nhất so với các sự kiện tương tự trên thế giới. Hai liên hoan phim quan trọng là Liên hoan phim Virginia và Liên hoan phim tiếng Pháp VCU được tổ chức thường niên tương ứng tại Charlottesville và Richmond. == Truyền thông == Khu vực Hampton là thị trường truyền thông lớn thứ 45 tại Hoa Kỳ theo xếp hạng của Viện Nghiên cứu Truyền thông Nielsen], trong khi khu vực Richmond-Petersburg xếp hạng thứ 57 và khu vực Roanoke-Lynchburg xếp hạng thứ 66 tính đến năm 2013. Bắc Virginia là bộ phận của thị trường truyền thông Washington, D.C. có quy mô lớn hơn nhiều. Có 36 đài truyền hình tại Virginia đại diện cho các mạng lưới truyền thông lớn của Hoa Kỳ, nằm trong số 42 đài phục vụ khán giả Virginia. Có trên 720 đài phát thanh FM có giấy phép của FCC phát sóng tại Virginia, cùng với 300 đài AM được FCC cấp phép. Dịch vụ Truyền thông Công cộng (PBS) khả dụng trên toàn quốc và có trụ sở tại Arlington. Các báo địa phương có lượng lưu hành lớn nhất tại Virginia là The Virginian-Pilot, Richmond Times-Dispatch, và The Roanoke Times tính đến năm 2014. Một số báo địa phương của Washington, D.C. đặt trụ sở tại Virginia, như The Washington Examiner và Politico. Báo phát hành rộng rãi nhất toàn quốc là USA Today có trụ sở tại McLean. Tại Bắc Virginia, The Washington Post là báo chiếm ưu thế. == Giáo dục == Hệ thống giáo dục của Virginia luôn nằm trong mười bang đứng đầu trong Đánh giá quốc gia về tiến triển giáo dục (NAEP) của Bộ Giáo dục Hoa Kỳ, các học sinh Virginia đạt kết quả trên mức trung bình trong tất cả các phạm vi môn học và các niên cấp được kiểm tra. Báo cáo Quality Counts năm 2011 xếp hạng giáo dục K-12 (tiểu học cùng trung học) của Virginia tốt thứ tư toàn quốc. Toàn bộ các đơn vị trường học phải tuân thủ các tiêu chuẩn giáo dục do Bộ Giáo dục Virginia đặt ra, trong đó duy trì một chế độ đánh giá và nhận biết được gọi là Các tiêu chuẩn học tập (SOL) nhằm bảo đảm trách nhiệm. Năm 2010, 85% học sinh trung học tốt nghiệp sau đúng bốn năm. Từ năm 2000 đến năm 2008, tỷ lệ nhập học tăng 5%, số lượng giáo viên tăng 21%. Các trường học K-12 công lập tại Virginia thường do các quận và thành phố điều hành thay vì cấp bang. Tính đến tháng 4 năm 2011, tổng số 1.267.063 học sinh nhập học tại 1.873 trường học địa phương và khu vực trong Thịnh vượng chung, trong đó có ba trường đặc hứa (charter school), và có thêm 109 trung tâm giáo dục thay thế và đặc biệt trong 132 đơn vị trường. Bên cạnh các trường công lập phổ thông, Virginia còn có các trường Thống đốc và trường nam châm, tức trường có tuyển chọn. Các trường Thống đốc là một tập hợp gồm trên 40 trường trung học khu vực và chương trình mùa hạ với mục đích dành riêng cho các học sinh có tài năng. Hội đồng Virginia về Giáo dục tư thục giám sát các quy định đối với 320 trường tư được công nhận chính thức cấp bang và 130 chưa được công nhận chính thức. Năm 2010, Virginia có 24.682 học sinh tiếp nhận giáo dục tự học tại gia. Tính đến năm 2011, có 176 học viện và đại học tại Virginia. Theo U.S. News & World Report về xếp hạng các học viện công lập, Đại học Virginia xếp hạng nhì (2010) còn Học viện William & Mary xếp hạng sáu (2008). Đại học Thịnh vượng chung Virginia đứng đầu trong số các trường công cấp bằng tốt nghiệp đại học ngành mỹ thuật, còn Đại học James Madison được công nhận là có chương trình thạc sĩ công lập đứng đầu khu vực tại miền Nam Hoa Kỳ kể từ năm 1993. Học viện Quân sự Virginia là học viện quân sự cấp bang lâu năm nhất và đứng đầu trong các học viện khai phóng công lập. Đại học George là đại học lớn nhất tại Virginia với trên 32.000 sinh viên. Học viện và Đại học bang lập Bách khoa Virginia và Đại học bang lập Virginia là những đại học tặng đất (land-grant) lớn nhất trong bang. Virginia cũng điều hành 23 trường cao đẳng cộng đồng và 40 giáo khu, phục vụ trên 260.000 sinh viên. Trong bang còn có 129 trường đại học tư thục, bao gồm Đại học Washington and Lee, Học viện Randolph, Học viện Hampden–Sydney, Học viện Emory & Henry, Học viện Roanoke, cùng Đại học Richmond, Học viện Randolph-Macon. == Y tế == Virginia có tình trạng y tế hỗn hợp, và là bang có tình hình y tế tổng thể tốt thứ 20 theo Xếp hạng y tế năm 2011 của Tổ chức Y tế Liên hiệp. Năm 2008, Virginia đạt tỷ suất tử vong trẻ sơ sinh thấp chưa từng thấy là 6,7‰. Tuy nhiên, có sự chênh lệch về y tế theo sắc tộc và xã hội, vào năm 2010 người Mỹ gốc Phi chết sớm hơn 28% so với người da trắng, và 13% người Virginia không có bất kỳ loại bảo hiểm y tế nào. Theo nghiên cứu năm 2009 của Trung tâm kiểm soát và phòng ngừa dịch bệnh, 26% người Virginia bị béo phì và có thêm 35% khác bị thừa cân. Năm 2007, 78% cư dân trong bang tự nhận rằng họ tập thể dục ít nhất một lần trong ba tháng trở lại. Khoảng 30% thiếu niên Virginia từ 10 đến 17 tuổi bị thừa cân hoặc béo phì. Virginia cấm hút thuốc lá trong các quán bar và nhà hàng kể từ tháng 1 năm 2010. 19% người Virginia hút thuốc lá (2011). Các cư dân thuộc khu vực bầu cử quốc hội số 8 của Virginia có mức tuổi thọ dự tính trung bình lâu nhất toàn quốc, trên 83 năm. Virginia có 89 bệnh viện được liệt kê trong danh sách của Bộ Y tế và Dịch vụ Nhân sinh Hoa Kỳ. Bệnh viện Inova Fairfax là bệnh viện lớn nhất trong Vùng đô thị Washington, Trung tâm Y tế VCU nằm trong giáo khu của Đại học Thịnh vượng chung Virginia là hai trong số các bệnh viện có tiếng tại Virginia. Trung tâm Y tế Đại học Virginia là bộ phận của Hệ thống Y tế Đại học Virginia, trung tâm được tạp chí U.S. News & World Report xếp hạng cao về khoa nội tiết. Bệnh viện đa khoa Sentara Norfolk là bộ phận của Hệ thống Y tế Sentara có cơ sở tại Hampton Roads và cũng là nơi giảng dạy của Trường Y tế Đông Virginia, bệnh viện này là nơi có ca sinh thành công đầu tiên từ thụ tinh trong ống nghiệm. Virginia đạt tỷ lệ 127 bác sĩ chăm sóc sơ cấp trên 10,000 cư dân, cao thứ 16 toàn quốc (2011). Virginia là một trong năm bang nhận được số điểm hoàn hảo về tính sẵn sàng chuần bị trước tai họa theo báo cáo năm 2008 của Tổ chức Trust for America's Health, dựa trên tiêu chuẩn như phát hiện mầm bệnh và phân phối vắc-xin và các vật tư y tế. == Giao thông == Do Đạo luật Đường bộ Byrd năm 1932, chính phủ bang kiểm soát hầu hết đường bộ tại Virginia, thay vì hội đồng quận như thường thấy tại các bang khác. Tính đến năm 2011, Bộ Giao thông Virginia sở hữu và khai thác 57.867 dặm (93.128 km) trong tổng số 70.105 dặm (112.823 km) đường bộ tại bang, khiến nó trở thành hệ thống xa lộ cấp bang lớn thứ ba tại Hoa Kỳ. Vùng đô thị Washington bao gồm cả Bắc Virginia có tình trạng giao thông tệ thứ nhì trong toàn quốc, song về tổng thể thì tắc nghẽn giao thông tại Virginia thấp thứ 21 toàn quốc và thời gian đi lại trung bình giữa nơi ở và nơi làm việc là 26,9 phút. Dịch vụ đường sắt hành khách Amtrak phục vụ dọc theo một số hành lang, và Virginia Railway Express (VRE) duy trì hai tuyến đường sắt đi làm đến Washington, D.C. từ Fredericksburg và Manassas. VRE là một trong số các dịch vụ đường sắt đi làm tăng trưởng nhanh nhất toàn quốc, vận chuyển gần 20.000 hành khách mỗi ngày (2010). Hệ thống tàu nhanh Washington Metro phục vụ Bắc Virginia xa về phía tây đến các cộng đồng dọc theo I-66 tại quận Fairfax, và có các dự án mở rộng xa hơn. Các tuyến đường sắt chở hàng chính tại Virginia gồm có Norfolk Southern và CSX Transportation. Các dịch vụ xe buýt đi làm gồm có Fairfax Connector và Shenandoah Valley Commuter Bus. Bộ Giao thông Virginia điều hành một số tuyến phà miễn phí trên khắp Virginia, nối tiếng nhất trong số đó là phà Jamestown-Scotland qua sông James tại quận Surry. Virginia có năm không cảng lớn: Sân bay quốc tế Washington Dulles vận chuyển trên 23 triệu hành khách mỗi năm, và Sân bay quốc gia Ronald Reagan Washington phục vụ thủ đô và hầu hết Bắc Virginia, Sân bay quốc tế Norfolk phục vụ khu vực Hampton Roads, Sân bay quốc tế Richmond, và Sân bay quốc tế Newport News/Williamsburg. Một vài cảng hành không khác cung cấp dịch vụ hành khách thương mại hạn chế, và 66 cảng hàng không công lập phục vụ các nhu cầu hàng không của bang. Các hải cảng chính thuộc Cục cảng Virginia là những cảng nằm tại khu vực Hampton Roads, chúng vận chuyển lượng hàng hóa có tải trọng 17.726.251 tấn thiếu (16.080.984 t) trong năm 2007, xếp thứ sáu trong các cụm cảng của Hoa Kỳ. Trung tâm năng lực phi hành Wallops (WFF) nằm tại Eastern Shore của Virginia là một trung tâm thử tên lửa thuộc sở hữu của NASA, tại Eastern Shore còn có một sân bay vũ trụ thương mại là Sân bay vũ trụ Khu vực Trung Đại Tây Dương (MARS). Dịch vụ du lịch vũ trụ được cung ứng thông qua công ty Space Adventures đặt tại Vienna. == Pháp luật và chính phủ == Thời thuộc địa tại Virginia, nam giới tự do bầu ra hạ nghị viện được gọi là Thị dân viện, cùng với Hội đồng Thống đốc tạo thành "Đại hội". Đại hội Virginia hình thành vào năm 1619, và nay là cơ quan lập pháp lâu năm nhất vẫn còn tồn tại ở Tây Bán cầu. Năm 2008, chính phủ Virginia được Trung tâm Pew về các bang xếp hạng A− về các điều kiện hiệu suất, hiệu ích, và cơ sở hạ tầng. Đây là lần thứ nhì Virginia được xếp hạng cao nhất toàn quốc. Kể từ năm 1971, chính phủ Virginia hoạt động theo hiến pháp thứ bảy, trong đó quy định một cơ quan lập pháp mạnh và một hệ thống tư pháp thống nhất. Tương tự như cấu trúc của chính phủ liên bang, chính phủ Virginia được phân thành ba nhánh: lập pháp, hành pháp, và tư pháp. Cơ quan lập pháp là Đại hội, đây là một thể chế lưỡng viện gồm Đại biểu viện (House of Delegates) với 100 thành viên và Tham nghị viện (Senate) với 40 thành viên, soạn ra các luật của Thịnh vượng chung. Cơ quan lập pháp mạnh hơn cơ quan hành pháp, và được quyền lựa chọn các thẩm phán. Thống đốc và Phó Thống đốc được bầu mỗi bốn năm trong các cuộc bầu cử riêng biệt. Các thống đốc đương nhiệm không thể vận động tái tranh cử, song phó thống đốc và tổng chưởng lý thì có thể, và các thống đốc có thể phục vụ các nhiệm kỳ không liên tiếp. Hệ thống tư pháp của Virginia là hệ thống tư pháp lâu đời nhất tại châu Mỹ, gồm có một hệ thống cấp bậc từ Tòa án Tối cao Virginia và Tòa án Thượng tố Virginia đến các tòa án tuần tra (tức tòa án sơ thẩm), và ở cấp thấp hơn là các tòa án địa phương quần chúng và các tòa án địa phương vị thành viên và quan hệ dân sự. Cảnh sát bang Virginia là cơ quan thực thi pháp luật lớn nhất tại Virginia. Cảnh sát tòa nhà nghị viện Virginia là cục cảnh sát lâu năm nhất tại Hoa Kỳ. Đội cảnh vệ quốc dân Virginia gồm có 7.500 binh sĩ thuộc Lục quân cảnh vệ quốc dân Virginia và 1.200 quân nhân thuộc Không quân cảnh vệ quốc dân Virginia. Kể từ khi án tử hình được khôi phục tại Virginia vào năm 1982, có tổng cộng 107 người bị hành hình (2010), đây là con số cao thứ nhì toàn quốc. "Tổng nguy cơ tội phạm" tại Virginia thấp hơn 28% so với mức trung bình toàn quốc (2009). Kể từ khi Virginia chấm dứt tạm tha (parole) tù nhân vào năm 1995, tỷ lệ tái phạm tội giảm xuống còn 28,3% (2011), thuộc hàng thấp nhất toàn quốc. Virginia là bang cho phép công khai mang vũ khí, thay vì phải che không cho người khác trông thấy như một số bang khác. == Chính trị == Trong thế kỷ 20, Virginia chuyển đổi từ một bang chủ yếu là nông thôn, tính chính trị miền Nam, và bảo thủ sang một bang đô thị hóa hơn, đa nguyên hơn, và môi trường chính trị ôn hòa hơn. Cho đến thập niên 1970, Virginia là một bang độc đảng phân chia chủng tộc do Tổ chức Byrd chiếm ưu thế. Di sản của chế độ nô lệ trong bang được thể hiện qua việc tước quyền bầu cử trên thực tế của người Mỹ gốc Phi cho đến sau khi thông qua các pháp luật về dân quyền vào giữa thập niên 1960. Việc cấp quyền bầu cử cho người Mỹ gốc Phi và sự nhập cư của các nhóm khác, đặc biệt là người Hispanic, khiến cho phiếu của cộng đồng thiểu số ngày càng quan trọng, trong khi số cử tri được xác định là "tầng lớp lao động da trắng" giảm ba phần trăm từ năm 2008 đến năm 2012. Khác biệt khu vực đóng một vai trò lớn trong chính trị Virginia. Các khu vực miền nam và miền tây thôn dã chuyển sang ủng hộ Đảng Cộng hòa trong "chiến lược phương Nam" của đảng này, trong khi các khu vực đô thị hoặc ngoại ô đang phát triển, bao gồm cả phần lớn Bắc Virginia, tạo thành căn cứ của Đảng Dân chủ. Sự ủng hộ đối với Đảng Dân chủ vẫn còn tồn tại ở những nơi chịu ảnh hưởng của công đoàn thuộc Tây Nam Virginia, các đô thị đại học như Charlottesville và Blacksburg, và khu vực Vành đai Kinh Thánh ở đông nam. Sức mạnh chính đảng tại Virginia cũng thay đổi liên tục. Trong bầu cử cấp bang năm 2007, Đảng Dân chủ giành quyền kiểm soát Tham nghị viện, và thu hẹp khoảng cách với Đảng Cộng hòa chiếm đa số trong Đại biểu viện. Trong bầu cử năm 2009, đảng viên Cộng hòa là Bob McDonnell đắc cử Thống đốc, đảng viên của Đảng Cộng hòa cũng được bầu làm Phó Thống đốc và Tổng chưởng lý, Đảng Cộng hòa giành thêm ghế trong Đại biểu viện. Đến năm 2011, Đảng Cộng hòa chiếm trên hai phần ba số ghế trong Đại biểu viện, và chiếm đa số trong Tham nghị viện do Phó Thống đốc Bill Bolling trở thành người bỏ phiếu quyết định. Sau bầu cử năm 2013, đảng viên Dân chủ Terry McAuliffe được bầu làm Thống đốc, đảng viên Dân chủ Ralph Northam được bầu làm Phó Thống đốc. Tuy nhiên, Đảng Cộng hòa duy trì siêu đa số trong Đại biểu viện. Các mùa bầu cử trong bang có truyền thống khởi đầu với sự kiện thường niên Shad Planking tại Wakefield. Kể từ năm 2006, cả hai đảng Dân chủ và Cộng hòa đều có các chiến thắng tại Virginia trong các cuộc bầu cử liên bang. Năm 2006, Thượng nghị sĩ George Allen của Đảng Cộng hòa thất bại trước đảng viên Dân chủ Jim Webb, và tiếp tục thất bại vào năm 2012 trước một đảng viên Dân chủ khác là cựu Thống đốc Tim Kaine. Năm 2008, các đảng viên Dân chủ chiếm cả hai ghế của bang tại Thượng viện Hoa Kỳ khi cựu Thống đốc Mark Warner được bầu thay đảng viên Cộng hòa John Warner. Virginia có 13 phiếu đại cử tri đoàn trong bầu cử tổng thống Hoa Kỳ, đảng viên Dân chủ Barack Obama chiến thắng tại Virginia trong các cuộc bầu cử tổng thống vào năm 2008 và 2012, bất chấp việc các ứng viên của Đảng Cộng hòa giành chiến thắng tại Virginia trong 10 kỳ bầu cử tổng thống trước đó. Virginia được xem là một "bang dao động" trong các cuộc bầu cử tổng thống trong tương lai. == Thể thao == Virginia là bang đông dân nhất trong số các bang không có đội tuyển nào có quyền tham gia các giải thể thao chuyên nghiệp lớn tại Hoa Kỳ. Nguyên nhân là bang thiếu thành phố hay thị trường có ảnh hưởng lớn, gần các đội tại Washington, D.C. và Bắc Carolina, và miễn cưỡng công khai tài chính các sân vận động. Norfolk là chủ nhà của hai đội trong bang tham gia thi đấu trong hạng cao nhất của giải nhỏ: Norfolk Tides tại giải bóng chày hạng AAA và Norfolk Admirals tại giải vô địch khúc côn cầu Mỹ, Norfolk Admirals giành được cúp Calder năm 2012. Đội tuyển bóng chày Richmond Flying Squirrels là hội viên của San Francisco Giants, và bắt đầu chơi tại sân The Diamond vào năm 2010, thay thế đội Richmond Braves di chuyển sang bang khác sau năm 2008. Thêm vào đó, Washington Nationals, Boston Red Sox, Seattle Mariners, Chicago White Sox, và Atlanta Braves cũng có các đội tuyển trẻ hạng A và tân binh tại Virginia. Đội tuyển bóng đá kiểu Mỹ chuyên nghiệp Washington Redskins có trụ sở tại Redskins Park thuộc địa phận Ashburn và nơi tập luyện của họ nằm tại Richmond, Đội tuyển khúc côn cầu trên băng chuyên nghiệp Washington Capitals tập luyện tại sân Kettler Capitals Iceplex thuộc địa phận Arlington. NASCAR hiện có lịch trình tiến hành các giải đua xe tranh cup Sprint trên hai đường đua tại Virginia: Martinsville Speedway và Richmond International Raceway. Virginia không cho phép bang dành kinh phí cho các hoạt động thể thao liên đại học. Tuy vậy, cả Virginia Cavaliers và Virginia Tech Hokies đều có thể cạnh tranh trong Đại hội Duyên hải Đại Tây Dương (ACC) và duy trì cơ sở vật chất hiện đại. Một số đại học khác tham gia trong giải hạng nhất của Hiệp hội Thể thao đại học quốc gia (NCAA), đặc biệt là trong Hiệp hội Thể thao Thuộc địa (CAA). Ba trường da đen lịch sử tham gia trong giải hạng hai Hiệp hội Thể thao liên đại học Trung ương (CIAA), và hai trường khác tham gia trong giải hạng nhất Đại hội Thể thao Trung Đông (MEAC). Một vài trường nhỏ hơn tham gia trong giải hạng ba Đại hội Thể thao Old Dominion (ODAC) và Đại hội Thể thao USA South của NCAA. NCAA tổ chức cố định các giải hạng ba về bóng đá kiểu Mỹ, bóng rổ nam, bóng chuyền và bóng mềm tại Salem. == Phù hiệu cấp bang == Tên hiệu của bang là phù hiệu lâu năm nhất, song nó chưa từng được chính thức hóa theo luật. Quốc vương Charles II của Anh ban xưng hiệu "Dominion" (chính thể tự trị) cho Virginia trong thời kỳ Anh khôi phục chế độ quân chủ năm 1660, do thuộc địa vẫn trung thành với vương thất trong Nội chiến Anh (1642–1651), và biệt danh hiện nay là "Old Dominion" ám chỉ đến xưng hiệu đó. Tên hiệu khác của Virginia là "Mother of Presidents" (Mẹ của các tổng thống), nó cũng mang tính lịch sử do từng có tám người Virginia đảm nhiệm chức vụ Tổng thống Hoa Kỳ, bao gồm bốn trong năm người đầu tiên. Khẩu hiệu của Virginia là Sic Semper Tyrannis, đây là một cụm từ trong tiếng Latinh và có thể dịch là "luôn như vậy với các bạo chúa", và được sử dụng trên ấn của bang, và thông qua đó cũng xuất hiện trên bang kỳ. Ấn được thiết kế vào năm 1776, còn hiệu kỳ được sử dụng lần đầu tiên trong thập niên 1830, cả hai đều được chính thức hóa vào năm 1930. Phần lớn các phù hiệu khác được chính thức hóa trong cuối thế kỷ 20. Vũ điệu quay Virginia nằm trong số các vũ điệu khối vuông được phân loại là vũ điệu cấp bang. Virginia hiện không ca khúc cấp bang. Năm 1940, Virginia từng chọn "Carry Me Back to Old Virginny" làm ca khúc cấp bang, song việc này kết thúc vào năm 1997 và ca khúc được tái phân loại là ca khúc danh dự của bang. Các lựa chọn thay thế khác nhau, trong đó có một phiên bản của "Oh Shenandoah", gặp phải sự chống đối trong Đại biểu viện Virginia. == Tham khảo == == Thư mục == == Liên kết ngoài == Virginia tại DMOZ Bách khoa Virginia Trang thông tin của chính phủ bang Đại hội Virginia Hệ thống tư pháp của Virginia Hiến pháp Virginia Trang thông tin du lịch Virginia Các công viên cấp bang của Virginia Hội sử học Virginia Thư viện Virginia Tài nguyên địa lý USGS của Virginia Văn phòng khí hậu học bang Virginia Virginia State Fact Sheet Dữ liệu địa lý liên quan đến Virginia tại OpenStreetMap
.net framework.txt
.NET Framework là một nền tảng lập trình và cũng là một nền tảng thực thi ứng dụng chủ yếu trên hệ điều hành Microsoft Windows được phát triển bởi Microsoft. Các chương trình được viết trên nền.NET Framework sẽ được triển khai trong môi trường phần mềm (ngược lại với môi trường phần cứng) được biết đến với tên Common Language Runtime (CLR). Môi trường phần mềm này là một máy ảo trong đó cung cấp các dịch vụ như an ninh phần mềm (security), quản lý bộ nhớ (memory management), và các xử lý lỗi ngoại lệ (exception handling). .NET framework bao gồm tập các thư viện lập trình lớn, và những thư viện này hỗ trợ việc xây dựng các chương trình phần mềm như lập trình giao diện; truy cập, kết nối cơ sở dữ liệu; ứng dụng web; các giải thuật, cấu trúc dữ liệu; giao tiếp mạng... CLR cùng với bộ thư viện này là 2 thành phần chính của.NET framework. .NET framework đơn giản hóa việc viết ứng dụng bằng cách cung cấp nhiều thành phần được thiết kế sẵn, người lập trình chỉ cần học cách sử dụng và tùy theo sự sáng tạo mà gắn kết các thành phần đó lại với nhau. Nhiều công cụ được tạo ra để hỗ trợ xây dựng ứng dụng.NET, và IDE (Integrated Developement Environment) được phát triển và hỗ trợ bởi chính Microsoft là Visual Studio. == Lịch sử phát triển == === .NET Framework 1.0 === Đây là phiên bản đầu tiên của.NET framework, nó được phát hành vào năm 2002 cho các hệ điều hành Windows 98, NT 4.0, 2000 và XP. Việc hỗ trợ chính thức từ Microsoft cho phiên bản này kết thúc vào 10/7/2007, tuy nhiên thời gian hỗ trợ mở rộng được kéo dài đến 14/7/2009. === .NET Framework 1.1 === Phiên bản nâng cấp đầu tiên được phát hành vào 4/2003. Sự hỗ trợ của Microsoft kết thúc vào 14/10/2008, và hỗ trợ mở rộng được định đến 8/10/2013. Những thay đổi so với phiên bản 1.0: Tích hợp hỗ trợ mobile ASP.NET (trước đây chỉ là phần mở rộng tùy chọn) Thay đổi về kiến trúc an ninh - sử dụng sandbox khi thực thi các ứng dụng từ Internet. Tích hợp hỗ trợ ODBC và cơ sở dữ liệu Oracle .NET Compact Framework Hỗ trợ IPv6 (Internet Protocol version 6) Vài thay đổi khác trong API === .NET Framework 2.0 === Kể từ phiên bản này,.NET framework hỗ trợ đầy đủ nền tảng 64-bit. Ngoài ra, cũng có một số thay đổi trong API; hỗ trợ các kiểu "generic"; bổ sung sự hỗ trợ cho ASP.NET; .NET Micro Framework - một phiên bản.NET framwork có quan hệ với Smart Personal Objects Technology. === .NET Framework 3.0 === Đây không phải là một phiên bản mới hoàn toàn, thực tế chỉ là một bản nâng cấp của.NET 2.0. Phiên bản 3.0 này còn có tên gọi khác là WinFX, nó bao gồm nhiều sự thay đổi nhằm hỗ trợ việc phát triển và chuyển đổi (porting) các ứng dụng trên Windows Vista. Tuy nhiên, không có sự xuất hiện của.NET Compact Framework 3.0 trong lần phát hành này. Bốn thành phần chính trong phiên bản 3.0: Windows Presentation Foundation (WPF - tên mã là Avalon): Đây là một công nghệ mới, và là một nỗ lực của Microsoft nhằm thay đổi phương pháp hay cách tiếp cận việc lập trình một ứng dụng sử dụng giao diện đồ họa trên Windows với sự hỗ trợ của ngôn ngữ XAML. Windows Communication Foundation (WCF - tên mã là Indigo): Một nền tảng mới cho phép xây dựng các ứng dụng hướng dịch vụ (service-oriented). Windows Workflow Foundation (WF): Một kiến trúc hỗ trợ xây dựng các ứng dụng workflow (luồng công việc) một cách dễ dàng hơn. WF cho phép định nghĩa, thực thi và quản lý các workflow từ cả cách nhìn theo hướng kĩ thuật và hướng thương mại. Windows CardSpace (tên mã là InfoCard): một kiến trúc để quản lý định danh (identity management) cho các ứng dụng được phân phối. Ngoài ra Silverlight (hay WPF / E), một phiên bản nhánh.NET Framework hỗ trợ các ứng dụng trên nền web, được Microsoft tạo ra để cạnh tranh với Flash. Có thể minh học.NET 3.0 bằng một công thức đơn giản: .NET 3.0 =.NET 2.0 + WPF + WCF + WF + WCS === .NET Framework 3.5 === Được phát hành vào 11/2007, phiên bản này sử dụng CLR 2.0. Đây có thể được xem là tương đương với phiên bản .NET Framework 2.0 SP1 và .NET Framework 3.0 SP1 cộng lại. .NET Compact Framework 3.5 được ra đời cùng với phiên bản.NET framework này. Các thay đổi kể từ phiên bản 3.0: Các tính năng mới cho ngôn ngữ C# 3.0 và VB.NET 9.0 Hỗ trợ Expression Tree và Lambda Các phương thức mở rộng (Extension methods) Các kiểu ẩn danh (Anonymous types) LINQ Phân trang (paging) cho ADO.NET API cho nhập xuất mạng không đồng bộ (asynchronous network I/O) Peer Name Resolution Protocol resolver Cải thiện WCF và WF Tích hợp ASP.NET AJAX Namespace mới System.CodeDom Microsoft ADO.NET Entity Framework 1.0 Cũng như phiên bản 3.0, có thể minh họa sự thay đổi của.NET 3.5 bằng công thức: .NET 3.5 =.NET 3.0 + LINQ + ASP.NET 3.5 + REST === .NET Framework 4.0 === Phiên bản beta đầu tiên của.NET 4 xuất hiện vào 5/2009 và phiên bản RC (Release Candidate) được ra mắt vào 2/2010. Bản chính thức của.NET 4 được công bố và phát hành cùng với Visual Studio 2010 vào 12/4/2010. Các tính năng mới được Microsoft bổ sung trong.NET 4: Dynamic Language Runtime Code Contracts Managed Extensibility Framework Hỗ trợ các tập tin ánh xạ bộ nhớ (memory-mapped files) Mô hình lập trình mới cho các ứng dụng đa luồng (multithreaded) và bất đồng bộ (asynchronous) Cải thiện hiệu năng, các mô hình workflow. === .NET Framework 4.5 === Những thông tin đầu tiên của.NET 4.5 được Microsoft công bố vào 14/9/2011 tại BUILD Windows Conference, và nó chính thức được ra mắt vào 15/8/2012 . Kể từ phiên bản này, Microsoft bắt đầu cung cấp 2 gói cài đặt riêng biệt, gói đầy đủ và gói giản chức năng client profiles . == Xem thêm == ASP.NET C Sharp CodePlex == Tham khảo == == Liên kết ngoài == Cổng thông tin.Net Framework dành cho cộng đồng lập trình viên Những tính năng mới có trong.Net Framework 4.0 Khái niệm căn bản về.Net Framework Trung tâm phát triển khung lập trình.NET Trang blog của đội BCL (Base Class Library)
sân vận động thanh hóa.txt
Sân vận động Thanh Hóa là một sân vận động tại Thanh Hóa. Địa chỉ: 37 Lê Quý Đôn, Phường Ba Đình, thành phố Thanh Hóa. Sân có sức chứa là 14000 khán giả. Đây là sân nhà của câu lạc bộ bóng đá Thanh Hóa. Sân còn được gọi nôm là Căng - Xít - Tát, phiên âm từ tiếng Pháp: "Cour Stade". == Chú thích ==
tuyến đường châu âu e40.txt
Tuyến đường châu Âu E40 là tuyến đường dài nhất trong số các tuyến đường của Mạng lưới Đường bộ Quốc tế châu Âu. Nó dài hơn 8.000 km (4.971 dặm), bắt đầu từ Calais ở Pháp chạy qua các quốc gia là Bỉ, Đức, Ba Lan, Ukraina, Nga, Kazakhstan, Uzbekistan, Turkmenistan, Kyrgyzstan và kết thúc tại Ridder của Kazakhstan, gần biên giới với Trung Quốc. == Tuyến đường == Các địa danh mà nó chạy qua bao gồm: Pháp: Calais - Dunkerque Bỉ: Adinkerke - Veurne - Bruges - Ghent - Brussels - Leuven - Liège - Eupen Đức: Aachen - Cologne - Gummersbach - Olpe - Siegen - Wetzlar - Giessen - Bad Hersfeld - Herleshausen - Eisenach - Gotha - Erfurt - Weimar - Jena - Gera - Chemnitz - Dresden - Bautzen - Görlitz Ba Lan: Zgorzelec - Legnica - Wrocław - Opole - Gliwice - Katowice - Jaworzno - Kraków - Tarnów - Rzeszów - Korczowa Ukraina: L'viv - Dubno - Rivne - Zhytomyr - Kiev - Lubny - Poltava - Kharkiv - Slovyansk - Debaltseve - Luhans'k Nga: Kamensk-Shakhtinsky - Volgograd - Astrakhan' (Tuyến đường M21 và Tuyến đường M6) Kazakhstan: Atyrau - Beyneu Uzbekistan: Kungrad - Nukus Turkmenistan: Daşoguz Uzbekistan: Buchara - Samarkand - Jizzakh - Tashkent Kazakhstan: Shymkent - Taraz Kyrgyzstan: Bishkek Kazakhstan: Korday - Almaty - Sary-Ozek - Taldykorgan - Usharal - Taskesken - Ayagoz - Georgiyevka - Öskemen - Ridder == Đường giao thông địa phương == Tuyến đường bộ Quốc tế châu Âu E40 trùng với các đường giao thông tại các quốc gia như sau: Pháp: Calais - Dunkirk (biên giới với Bỉ) Bỉ: Dunkirk - Jabbeke Jabbeke - Brussels Brussels - Eynatten (biên giới với Đức) Đức: Eynatten - Aachen Aachen - Olpe Olpe - Wetzlar Wetzlar - Giessen Giessen Giessen - Reiskirchen Reiskirchen - Hattenbach Hattenbach - Kirchheim Kirchheim - Görlitz (biên giới) Ba Lan: Zgorzelec (biên giới) - Tarnów Tarnów - Radymno Radymno - Przemyśl Przemyśl - Medyka (biên giới) Ukraina: M10 Krakovets (biên giới) - Lviv 11 (biên giới) - Lviv 06 Lviv - Kiev 03 Kiev - Debaltseve 04 Debaltseve - Krasnodon (biên giới) Nga: 21 Donetsk (biên giới) - Volgograd 6 Volgograd - Astrakhan Kazakhstan, Uzbekistan, Turkmenistan, Uzbekistan, Kazakhstan, Kyrgyzstan, và Kazakhstan: A340 Astrakhan - Nukus A380 Nukus - Bukhara M37 Bukhara - Samarkand M39 Samarkand - Korday (biên giới) M33/M39 Korday (biên giới) - Almaty А350 Almaty - Ridder == Hình ảnh == == Tham khảo == == Liên kết ngoài == Con đường tưởng niệm E40 tại châu Âu
đội tuyển bóng đá nữ quốc gia đức.txt
Đội tuyển bóng đá nữ quốc gia Đức bao gồm các cầu thủ bóng đá nữ do huấn luyện viên quốc gia lựa chọn. Đội đại diện cho Hiệp hội bóng đá Đức trên bình diện quốc tế trong các trận thi đấu giao hữu quốc tế cũng như trong Giải vô địch bóng đá nữ châu Âu của UEFA, Giải vô địch bóng đá nữ thế giới của FIFA và Thế vận hội Mùa hè. Đội bóng đá nữ quốc gia Đức là một trong các đội tuyển bóng đá nữ quốc gia có nhiều thành tích nhất trên thế giới. Đội đã hai lần vô địch bóng đá nữ thế giới và 8 lần đoạt vô địch châu Âu. Đội đã liên tục đoạt giải vô địch bóng đá nữ châu Âu trong 6 lần tổ chức gần đây nhất. Nước Đức vì thế là quốc gia đầu tiên và duy nhất cho đến nay từng vô địch bóng đá thế giới và châu lục ở cả nam lẫn nữ. Đức cũng giành huy chương vàng bóng đá nữ Thế vận hội Mùa hè vào năm 2016. Birgit Prinz là nữ cầu thủ giữ kỷ lục thi đấu trong đội tuyển quốc gia và đồng thời cũng là người có số bàn thắng nhiều nhất trong lịch sử đội tuyển. Dù từng bị kì thị và bị cấm tại Đức (DFB cấm mọi hoạt động của bóng đá nữ cho tới năm 1970), tuy nhiên đội tuyển dần nhận được sự chú ý của người hâm mộ kể từ chức vô địch World Cup 2003 và được chọn là Đội tuyển thể thao Đức của năm 2003. Cựu cầu thủ Steffi Jones là huấn luyện viên trưởng của đội từ năm 2016, thay thế cho Silvia Neid, người đã dẫn dắt đội từ năm 2005. Đội hiện đang xếp thứ nhất trên Bảng xếp hạng bóng đá nữ FIFA. == Lịch sử == === Thời kì đầu === Trong đại hội năm 1955 Liên đoàn bóng đá Đức (DFB) đã quyết định cấm thi đấu bóng đá nữ với lý do "...hình thức thi đấu thể thao này về bản chất không phù hợp cho phụ nữ", "...có hại cho tinh thần lẫn thể xác", và "...việc phơi bày cơ thể sẽ làm tổn thương đến đức hạnh...". Mãi đến đại hội liên đoàn vào ngày 30 tháng 10 năm 1970 tại Lübeck-Travemünde việc cấm đoán này mới được bãi bỏ. Ngoài ra, đại hội cũng quyết định khuyến khích bóng đá nữ. Trong khi các liên đoàn bóng đá quốc gia khác đã thành lập đội tuyển nữ quốc gia trong những năm của thập niên 1970, liên đoàn bóng đá Đức cả một thời gian dài đã không hề đả động đến việc này. Năm 1980, khi tháp tùng đội tuyển nam thiếu niên B của Eintracht Frankfurt thi đấu tại Đài Loan, thành viên của giới lãnh đạo DFB là Horst R. Schmidt đã nhận được giấy mời tham dự giải vô địch thế giới bóng đá nữ không chính thức. Schmidt lặng lẽ nhận giấy mời mà không hề nói rằng vào thời điểm đấy Liên đoàn bóng đá Đức vẫn chưa có một đội tuyển bóng đá nữ quốc gia. Để không mất mặt, Liên đoàn bóng đá Đức đã gửi đội bóng đá nữ đương kim vô địch quốc gia vào thời điểm đấy là SSG 09 Bergisch Gladbach sang châu Á tham dự, là đội đã đoạt chức vô địch giải này. Sau đấy DFB đã thành lập đội bóng đá nữ quốc gia vào năm 1982. Chủ tịch Liên đoàn bóng đá Đức Hermann Neuberger giao nhiệm vụ xây dựng đội tuyển cho Gero Bisanz, vào thời điểm đấy là người đào tạo huấn luyện viên tại trường Đại học Thể thao Köln. === 1982-1987: Những năm đầu khó khăn === Trận thi đấu giao hữu đầu tiên được tổ chức vào ngày 10 tháng 11 năm 1982, đối thủ theo truyền thống là Thụy Sĩ, cũng là đối thủ của đội bóng đá nam trong trận thi đấu giao hữu đầu tiên. Đội tuyển bóng đá nữ Đức bao gồm chủ yếu là các nữ cầu thủ của SSG 09 Bergisch Gladbach. Bàn thắng đầu tiên do Doris Kresimon ghi vào phút thứ 25. Nữ cầu thủ Silvia Neid, lúc đấy mới 18 tuổi, được thay vào trong hiệp hai và đã ghi thêm 2 bàn thắng, góp phần mang lại chiến thắng 5:1 cho đội nữ Đức. Neid trở thành trợ lý huấn luyện viên đội tuyển từ năm 1996 và từ 2005 là huấn luyện viên trưởng của Đội bóng đá nữ quốc gia Đức. Nước Đức không tham dự Giải vô địch bóng đá nữ châu Âu đầu tiên. Bisanz mong muốn rút ngắn khoảng cách so với các đội bóng Bắc Âu và Ý bằng các luyện tập cơ bản và đào tạo mầm non. Từ năm 1985 ông đã trẻ hóa đội tuyển, việc mà ban đầu đã làm cho đội thất bại tại vòng loại Giải vô địch bóng đá nữ châu Âu 1987. === 1988-1993: Những thành tích đầu tiên === Năm 1989 là năm mang lại các thành quả đầu tiên cho đội tuyển. Đội lần đầu tiên đã vượt qua được vòng loại vào thi đấu Giải vô địch bóng đá nữ châu Âu. Giải năm 1989 được tổ chức ngay tại Đức. Trận bán kết gặp đội tuyển Ý là trận thi đấu quốc tế đầu tiên của đội bóng đá nữ quốc gia được truyền hình trực tiếp. Người hùng của trận đấu này là thủ môn Marion Isbert, phá được 3 quả luân lưu 11m và tự sút thành công một quả 11m. Trong trận chung kết Giải vô địch bóng đá nữ châu Âu 1989 giữa đội bóng nữ Đức và Na Uy diễn ra vào ngày 2 tháng 7 năm 1989 tại Osnabrück trước 23.000 khán giả, đội bóng của DFB đã chiến thắng với tỷ số 4:1, đánh dấu bước đột phá cho nền bóng đá nữ của Đức. Silvia Neid đóng vai trò đạo diễn khu trung tuyến, ngôi sao Doris Fitschen nổi bật ở hàng hậu vệ và Heidi Mohr thuộc vào trong số những tiền đạo xuất sắc nhất trên thế giới tại thời điểm đấy. Đội bóng bảo vệ thành công danh hiệu này 2 năm sau đấy. Đội chiến thắng tất cả 11 trận trong vòng loại. Gặp lại Ý trong trận bán kết, lần này đội đã chiến thắng rất cách biệt với tỷ số 3:0 để vào chung kết gặp Na Uy tại thành phố Đan Mạch Aalborg. Hai bàn thắng của Heidi Mohr và Silvia Neid trong hiệp phụ đầu tiên đã mang về chiến thắng cho đội bóng Đức với tỉ số chung cuộc là 3:1. Tháng 11 cùng năm Đội tuyển bóng đá nữ quốc gia Đức đã đến Cộng hòa Nhân dân Trung hoa tham dự Giải vô địch bóng đá nữ thế giới được tổ chức lần đầu tiên. Tuy chiến thắng các đội bóng nữ của Ý, Đài Loan, Nigeria, Đan Mạch nhưng đội bóng đã thất bại trong trận gặp Hoa Kỳ cũng như trong trận tranh hạng ba với đội bóng của Thụy Điển. Giải vô địch bóng đá nữ châu Âu 1993 là giải đấu mang lại nhiều thất vọng. Đội đã thất bại trước đội Ý trong trận bán kết ở loạt đá luân lưu và cũng thất bại trong trận tranh hạng ba khi gặp đội Đan Mạch. Bisanz đã đưa Steffi Jones, Maren Meinert, Birgit Prinz và Silke Rottenberg là các nữ cầu thủ trẻ nhiều tài năng vào đội hình, tạo nền tảng cho các thành công sau này. === 1994-2001: Chiến thắng liên tục tại châu Âu, thất vọng tại Giải thế giới và Thế vận hội === Năm 1995 đội lại vào vòng chung kết của Giải bóng đá vô địch châu Âu, thắng trong tất cả các trận thi đấu ở vòng loại và mãi cho đến trận bán kết gặp đội tuyển Anh đội vẫn chưa thua một bàn. Trận chung kết diễn ra vào ngày 26 tháng 3 năm 1995 trên Sân vận động Fritz Walter tại thành phố Kaiserslautern. Đội tuyển Đức đã chiến thắng đội tuyển Thụy Điển với kết quả sít sao 3:2. Giải vô địch thế giới lần thứ hai được tổ chức vào mùa hè 1995 tại Thụy Điển. Tuy vào được trận chung kết nhưng ước mơ vô địch thế giới đã không thành khi thua đội tuyển Na Uy với tỉ số 2:0. Một năm sau tại Atlanta, bóng đá nữ lần đầu tiên được tổ chức thi đấu trong Thế vận hội Mùa hè. Bettina Wiegmann ghi bàn thắng đầu tiên tại Thế vận hội trong trận khai mạc gặp Nhật. Thế nhưng đội tuyển Đức không qua được vòng đầu. Gero Bisanz xin từ chức sau giải này. Dưới sự lèo lái của ông, đội Đức đã trở thành một trong những đội tuyển nữ mạnh nhất. Tina Theune-Meyer, từ 1983 là phụ tá huấn luyện viên, trở thành người kế nhiệm. Theune-Meyer trẻ hóa đội ngũ, còn Silvia Neid chấm dứt sự nghiệp thi đấu bóng đá, các cầu thủ trẻ như Ariane Hingst, Kerstin Stegemann hay Sandra Smisek bắt đầu nổi tiếng. Thử thách đầu tiên cho đội bóng trẻ là Giải vô địch bóng đá nữ châu Âu 1997 tại Na Uy. Nhờ chiến thắng 2:0 trong trận gặp đội nữ Đan Mạch, đội đã lọt vào bán kết và tại đây, thắng tiếp đội tuyển Thụy Điển với tỉ số 1:0. Trong trận chung kết, đội bóng của huấn luyện viên Theune-Meyer lại gặp đội bóng nữ Ý. Nhờ vào các bàn thắng của Sandra Minnert và Birgit Prinz, đội tuyển nữ của Đức đã đoạt giải vô địch châu Âu lần thứ tư. Đội tuyển bóng đá nữ của Đức chỉ qua được vòng loại của Giải vô địch bóng đá nữ thế giới lần thứ ba tại Hoa Kỳ một cách rất chật vật. Ngay trận đầu tiên đội đã hòa đội tuyển Ý một cách không may mắn. Sau đấy là chiến thắng đội tuyển México với tỉ số 6:0. Trong trận thi đấu cuối cùng của bảng, đội đã hòa Brasil với tỉ số 3:3. Bàn gỡ hòa của Brasil được ghi vào phút cuối cùng của trận đấu, đội tuyển Đức vì thế đánh mất vị trí đầu bảng, phải gặp đội chủ nhà trong trận tứ kết. Trong trận tứ kết mặc dù hai lần dẫn trước nhưng đội đã đánh mất tinh thần và cuối cùng đã thua với tỉ số 2:3. Liên đoàn bóng đá Đức kỷ niệm 100 năm ngày thành lập trong năm kế tiếp sau đó. Để chuẩn bị cho Thế vận hội mùa hè 2000 Liên đoàn đã tổ chức cuộc thi đấu với các đội tuyển quốc gia của Hoa Kỳ, Na Uy và Trung Quốc. Đội tuyển Đức đã về chót sau khi thua cả ba trận. Tuy vậy, đội đã thi đấu tốt hơn trong Thế vận hội mùa hè. Đội bị loại trong trận bán kết do bàn đá vào lưới nhà của Tina Wunderlich. Đội đoạt huy chương đồng sau khi chiến thắng đội Brasil với tỉ số 2:0 trong trận tranh hạng ba. Đây là huy chương Thế vận hội đầu tiên cho Liên đoàn bóng đá Đức. Năm 2001 đội bóng nữ Đức tiếp tục vượt qua được vòng loại của Giải vô địch bóng đá châu Âu 2001. Sau chiến thắng 1:0 trong trận bán kết gặp Na Uy, đội bóng Đức lại gặp đội tuyển Thụy Điển trong trận chung kết trên Sân vận động Donau tại Ulm. Claudia Müller đã ghi bàn thắng vàng ở phút thứ 98, mang lại chiến thắng lần thứ 5 cho đội tuyển. === 2002-2010: Hai chức vô địch thế giới và tiếp tục thống trị châu Âu === Đội tuyển của Theune-Meyer vượt qua được vòng loại của Giải vô địch bóng đá nữ thế giới năm 2003 được tổ chức ở Hoa Kỳ mà không để mất một điểm nào. Sau vòng đấu bảng với các chiến thắng cách biệt, đội tuyển Đức đã chiến thắng đội tuyển Nga trong trận tứ kết với tỉ số 7:1. Gặp đội chủ nhà Hoa Kỳ trong trận bán kết, đội tuyển Đức đã chiến thắng với tỉ số 3:0 nhờ vào các bàn thắng của Maren Meinert và Birgit Prinz trong những phút thi đấu cuối cùng. Trận này được nhiều chuyên gia cho là trận thi đấu bóng đá nữ hay nhất từ trước đến nay.. Đội tuyển gặp Thụy Điển trong trận chung kết. Thụy Điển mở tỉ số trước ở phút thứ 41 do lỗi của hàng hậu vệ Đức. Ngay sau khi bắt đầu hiệp 2, Maren Meinert đã gỡ hòa cho đội tuyển Đức. Nia Künzer đội đầu ghi bàn trong hiệp phụ và Đức đoạt chức vô địch thế giới nhờ vào quy định bàn thắng vàng. Liên đoàn bóng đá Đức là liên đoàn đầu tiên và cho đến nay là liên đoàn duy nhất đã đoạt giải vô địch bóng đá thế giới ở cả nam lẫn nữ. Chiến thắng này là một bước đột phá cho nền bóng đá nữ ở Đức. Hàng ngàn người hâm mộ đã nhiệt liệt đón chào khi đội tuyển vô địch thế giới về đến quê hương. Trận thi đấu đầu tiên sau giải vô địch thế giới là trận thắng Bồ Đào Nha trong vòng loại Giải vô địch bóng đá nữ châu Âu 2005. Tỉ số 13:0 là một trong những chiến thắng cao nhất của một đội tuyển thuộc Liên đoàn bóng đá Đức. Trong năm kế tiếp đội đến Athens tham dự Thế vận hội Mùa hè 2004. Trận đầu tiên gặp Trung Quốc đã mang lại chiến thắng 8:0. Birgit Prinz ghi 4 bàn thắng trong trận này. Trận tứ kết gặp Nigeria là một trận thắng nhọc nhằn. Nhờ vào bàn thắng của Steffi Jones và Conny Pohlers mà đội Đức đã lật ngược được tình thế. Hoa Kỳ đã phục thù cho Giải vô địch thế giới năm trước đấy khi gặp đội tuyển Đức trong trận bán kết. Kristine Lilly mở tỉ số trước cho đội tuyển Hoa Kỳ, tuy Isabell Bachor đã gỡ hòa ngay trong những phút cuối cùng của hiệp 2 nhưng cuối cùng đội Hoa Kỳ đã ghi bàn thắng trong hiệp phụ. Đội tuyển Đức nhận huy chương đồng thứ nhì sau khi chiến thắng đội Thụy Điển trong trận tranh giải hạng ba. Giải vô địch bóng đá nữ châu Âu 2005 được tổ chức tại Anh. Sau chiến thắng đầu tiên đầy khó nhọc 1:0 trong trận gặp Na Uy, đội tuyển Đức đã chiến thắng các đội Ý và Pháp đầy thuyết phục. Đối thủ của trận bán kết là Phần Lan. Đội bóng Bắc Âu đã bị bất ngờ trước các bàn thắng nhanh chóng của Inka Grings (2 bàn) và Conny Pholers. Sau bàn gỡ của đối phương, Birgit Prinz đã ghi bàn mang lại quyết định cho trận đấu. Na Uy là đối thủ trong trận chung kết. Đội tuyển Đức dẫn trước với hai bàn thắng của Inka Grings và Renate Lingor. Dany Mellgren rút ngắn khoảng cách tỉ số ngay trước khi nghỉ giữa trận. Birgit Prinz đã ghi bàn thắng quyết định cho đội tuyển Đức. Sau giải vô địch này Tina Theune-Meyer đã giao lại chức vụ huấn luyện viên cho người phụ tá là Silvia Neid. Với Silvia Neid là huấn luyện viên trưởng, đội tuyển Đức lần đầu tiên đoạt Cúp Algarve năm 2006. Đội tuyển một lần nữa được trẻ hóa, các nữ cầu thủ mới như Annike Krahn hay Célia Okoyino da Mbabi trở thành những cầu thủ đá chính mặc dù vẫn còn trong độ tuổi rất trẻ. Đội bóng của Silvia đã thắng tất cả 8 trận trong vòng loại của Giải vô địch bóng đá nữ thế giới 2007 được tổ chức tại Trung Quốc. Lần đầu tiên, đội tuyển Đức đã nhận được một khoản tiền thưởng từ Liên đoàn bóng đá Đức khi qua được vòng loại của một giải vô địch lớn. Đội tuyển đã nhận được tổng cộng 200.000 Euro. Năm 2007 khởi đầu không mấy may mắn cho đội tuyển Đức. Giải đấu 4 đội tuyển quốc gia tại Trung Quốc chỉ mang lại 3 trận hòa trước Trung Quốc, Anh và Hoa Kỳ. Tại Cúp Algarve vào tháng 3 đội chỉ có một trận thắng duy nhất trong trận gặp Đan Mạch nhưng lại thua 3 trận khi gặp các đội tuyển của Na Uy, Pháp và Ý, đứng hạng thứ 8. Đội tuy đã thi đấu áp đảo trong tất cả các trận nhưng lại bỏ lỡ cơ hội ghi bàn thắng rất nhiều lần. Vì kết quả của cúp này mà vào tháng 3 năm 2007 đội tuyển Đức đã phải nhường vị trí dẫn đầu trong danh sách xếp hạng của FIFA lại cho Hoa Kỳ sau hơn 3 năm đứng đầu bảng. Cùng với các trận thi đấu vòng loại của Giải vô địch bóng đá nữ châu Âu 2009, đội đã có thể tiếp tục kết nối với các thành tích trước đây: thắng Hà Lan với tỉ số 5:1. Trận thi đấu gặp Thụy Sĩ trong vòng loại Giải vô địch châu Âu cũng là dịp kỷ niệm 25 năm ngày thành lập đội bóng nữ, chiến thắng 7:0 trong trận này cũng là chiến thắng lần thứ 200 trong các trận thi đấu quốc tế. Tại vòng bảng Giải vô địch bóng đá thế giới 2007, đội tuyển gặp các đội bóng của Argentina, Anh và Nhật. Nhờ chiến thắng đội Argentina (11:0, chiến thắng đậm nhất từ trước đến nay trong lịch sử Giải vô địch bóng đá thế giới) và đội Nhật (2:0) cũng như hòa đội Anh mà đội tuyển Đức lọt vào vòng tứ kết. Đội Đức thắng trận tứ kết gặp Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Triều Tiên với tỉ số 3:0. Cũng với tỉ số 3:0, đội đã thắng đội tuyển Na Uy trong trận bán kết. Đánh bại đội tuyển Brasil trong trận chung kết ngày 30 tháng 9 năm 2007 tại Thượng Hải (2:0), đội lại một lần nữa đoạt chức vô địch thế giới. Nhờ vào tài năng của thủ môn Nadine Angerer mà đội đạt thêm một kỷ lục mới: không một bàn thua trong suốt một giải vô địch. Đội tuyển Đức hòa không bàn thắng trong trận mở màn với chính Brasil tại Thế vận hội Mùa hè 2008. Họ sau đó đánh bại Nigeria và Triều Tiên để lọt vào tứ kết, nơi họ đánh bại Thụy Điển 2-0 trong hiệp phụ. Ở bán kết, Đức gặp lại Brasil. Mặc dù Birgit Prinz ghi bàn ở ngay phút thứ 10, Đức vẫn thua chung cuộc 1-4 sau khi để đối thủ ghi liền ba bàn trong hiệp hai. Họ đánh bại Nhật 2-0 trong trận tranh huy chương đồng nhờ cú đúp của Fatmire Bajramaj. Lần thứ ba liên tiếp thất bại tại Olympic bị coi là sự thất vọng lớn dành cho các cầu thủ và giới truyền thông Đức. Đức vượt qua vòng loại Giải vô địch bóng đá nữ châu Âu 2009 tổ chức tại Phần Lan với thành tích toàn thắng và ghi 34 bàn. Họ vượt qua Na Uy, Pháp và Iceland ở vòng bảng và thắng Ý 2-1 tại tứ kết. Tại bán kết, sau khi bị Na Uy dẫn trước trong hiệp một, Đức lội ngược dòng để giành chiến thắng 3-1. Vào ngày 10 tháng 9 năm 2009, họ đánh bại đội tuyển Anh 6-2 ở trận chung kết để lên ngôi vô địch lần thứ 7. Inka Grings tiếp tục giành giải vua phá lưới giống như vòng chung kết 2005, còn Đức nối dài chuỗi trận toàn thắng tại giải châu Âu từ năm 1997 lên con số 19. === 2011-nay: Vô địch châu Âu và huy chương vàng Thế vận hội === Vào năm 2011, Đức là chủ nhà của vòng chung kết Giải vô địch bóng đá nữ thế giới. Đức chiến thắng cả ba trận vòng bảng trước Canada, Pháp và Nigeria. Tại tứ kết đội họ bất ngờ bị đội sau đó lên ngôi vô địch là Nhật Bản vượt qua bằng bàn thắng của Maruyama Karina, kết thúc chuỗi 16 trận bất bại tại World Cup. Cũng vì thất bại này mà Đức không thể có vé dự Thế vận hội Mùa hè 2012 do không nằm trong top 2 đội có thành tích tốt nhất World Cup. Tại Euro 2013 ở Thụy Điển, người Đức lần thứ 8 giành ngôi vô địch (lần thứ 6 liên tiếp), với chiến thắng 1-0 trong trận chung kết trước Na Uy. Thủ môn Nadine Angerer, người đẩy được 2 quả phạt đền của Na Uy, được bầu là cầu thủ xuất sắc nhất giải. Giải vô địch bóng đá nữ thế giới 2015 chứng kiến Đức trở lại top 4. Trong trận bán kết với Hoa Kỳ, Célia Šašić, vua phá lưới của giải, bỏ lỡ một quả phạt 11m và các bàn thắng sau đó của Carli Lloyd và Kelley O'Hara khiến Đức không thể có mặt tại trận chung kết. Trận tranh giải ba là lần đầu tiên Đức thua trước đội tuyển Anh sau 21 lần đối đầu với bàn thắng duy nhất của trận đấu đến từ quả penalty của Fara Williams trong hiệp phụ. Tại Thế vận hội Mùa hè 2016, Đức khởi đầu vòng bảng với chiến thắng dễ dàng 6–1 trước Zimbabwe. Tuy nhiên họ gặp nhiều khó khăn trong hai lượt trận sau đó khi để thua Canada 1–2 và chật vật cầm hòa đội tuyển Úc. Tại vòng tứ kết, bàn thắng duy nhất của đội trưởng Saskia Bartusiak giúp Đức vượt qua Trung Quốc. Họ gặp lại đội tuyển Canada ở trận bán kết và đòi nợ tại vòng bảng thành công với chiến thắng 2–0. Đức giành tấm huy chương vàng bóng đá đầu tiên cho đoàn thể thao Đức (cả nam và nữ) sau khi đánh bại Thụy Điển 2–1 trong trận tranh huy chương vàng. Tiền vệ Melanie Behringer là vua phá lưới của giải với 5 bàn thắng. Cô và hai cầu thủ kỳ cựu khác là Annike Krahn và Saskia Bartusiak cũng nói lời chia tay đội tuyển quốc gia sau giải đấu. == Thành tích tại các giải đấu lớn == === Giải vô địch bóng đá nữ thế giới === *Bao gồm các trận đấu phải quyết bằng luân lưu. === Thế vận hội Mùa hè === * Thắng penalty được tính là hòa === Giải vô địch bóng đá nữ châu Âu === *Phải giải quyết bằng luân lưu 11m. **Không có nước chủ nhà. Các đội thi đấu lượt đi và về trên sân của nhau. == Các trận thi đấu quốc tế == === 2016 === === 2017 === == Đội hình hiện tại == Đội hình triệu tập cho các trận giao hữu gặp Na Uy ngày 29 tháng 11 năm 2016. Số trận và bàn thắng tính tới 29 tháng 11 năm 2016. == Huấn luyện viên trưởng == Gero Bisanz (1982-1996) sinh ngày 3 tháng 11 năm 1935 là huấn luyện viên đầu tiên của Đội bóng đá nữ quốc gia Đức. Vị huấn luyện viên trưởng này đã dẫn dắt thành công đội bóng trong các Giải vô địch bóng đá nữ châu Âu 1989, 1991 và 1995. Năm 1993 đội về hạng 4, cho đến nay là thành tích kém nhất trong Giải vô địch bóng đá nữ châu Âu. Trong các Giải vô địch bóng đá thế giới Bisanz đã cùng với đội tuyển đứng hạng 4 năm 1991 và hạng nhì năm 1995. Ông đã cùng Tina Theune-Meyer định hướng thành công cho việc đào tạo đội cầu thủ trẻ. Tina Theune-Meyer (1996-2005) sinh ngày 4 tháng 11 năm 1953 tiếp nhận chức vụ huấn luyện viên trưởng sau Thế vận hội Mùa hè 1996. Theune-Meyer là người phụ nữ đầu tiên có bằng huấn luyện viên bóng đá. Dưới sự lãnh đạo của bà đội tuyển Đức đã đoạt chức vô địch trong các Giải vô địch bóng đá nữ châu Âu 1997, 2001 và 2005. Đội đoạt huy chương đồng trong Thế vận hội 2000 và 2004. Thành công lớn nhất của bà là các chiến thắng trong Giải vô địch bóng đá nữ thế giới 2003 tại Hoa Kỳ. Tina Theune-Meyer là nữ huấn luyện viên đội tuyển quốc gia thành công nhất cho đến nay. Bà đã gặt hái thành quả đào tạo mầm non và đã đưa nhiều nữ tuyển thủ của đội U-19 vào đội tuyển quốc gia. Bà xin từ chức sau thành công tại Giải vô địch bóng đá nữ châu Âu 2005. Silvia Neid (2005-2016) sinh ngày 2 tháng 5 năm 1964, là cựu tuyển thủ đầu tiên ngồi lên ghế huấn luyện đội tuyển. Trước khi nhận nhiệm vụ bà là phụ tá của Tina Theune-Meyer và đã là huấn luyện viên của đội tuyển quốc gia U-19. Bà đã cùng đội U-19 đoạt chức vô địch thế giới năm 2005. Việc Silvia Neid kế nhiệm chức vụ huấn luyện viên không phải là không gây ra tranh cãi. Sau thất bại tại Cúp Algarve 2007, bà đã bị nhiều cổ động viên chỉ trích về phương pháp làm việc cũng như trong việc tuyển lựa nữ cầu thủ cho đội tuyển. Tuy vậy Neid đã bảo vệ thành công danh hiệu vô địch thế giới tại Giải vô địch bóng đá nữ thế giới 2007. Ngày 30 tháng 3 năm 2015 DFB thông báo hợp đồng của Neid sẽ kết thúc vào năm 2016 và kể từ tháng 9 năm 2016 bà trở thành trưởng ban tuyển chọn và tìm kiếm tài năng bóng đá nữ trẻ của DFB. Bà kết thúc sự nghiệp huấn luyện đội tuyển bằng tấm huy chương vàng Thế vận hội 2016. Steffi Jones (2016-nay) sinh ngày 22 tháng 12 năm 1972, cũng như Neid, là cựu tuyển thủ Đức từ năm 1993 tới 2007 với 111 lần khoác áo. Sau khi giải nghệ, Jones chuyển sang các công tác quản lý bóng đá nữ, trong đó có chức vụ Trưởng ban tổ chức World Cup 2011 ở Đức và giám đốc của ban bóng đá nữ và học đường của DFB. Vào năm 2015, bà được DFB ấn định là đồng huấn luyện viên đội tuyển quốc gia nữ Đức cùng Silvia Neid. Sau Thế vận hội Mùa hè 2016 bà chính thức tiếp quản vị trí huấn luyện viên trưởng. === Thống kê thành tích của các huấn luyện viên === Số liệu thống kê chính xác tới 29 tháng 11 năm 2016. == Kỷ lục == Cựu đội trưởng Birgit Prinz, người từ giã sự nghiệp sau World Cup 2011, giữ kỷ lục về số trận đấu cho đội tuyển với 214 lần ra sân từ 1994 tới 2011. Cô là một trong 22 cầu thủ nữ của Đức có trên 100 trận quốc tế. Kerstin Stegemann thứ 2 với 191 trận. Bettina Wiegmann, đội trưởng tại Giải vô địch bóng đá nữ thế giới 2003, đứng thứ tư với 154 trận. Prinz vượt qua kỷ lục mà Wiegmann từng giữ vào tháng 11 năm 2006. Wiegmann là đội trưởng danh dự duy nhất của đội tuyển bóng đá nữ Đức. Nadine Angerer là thủ môn ra sân nhiều nhất với 146 trận. Cầu thủ ghi nhiều bàn nhất cho đội tuyển cũng là Prinz. Cô ghi bàn thắng đầu tiên vào tháng 7 năm 1994 trong trận gặp Canada và kết thúc sự nghiệp với 128 bàn (trung bình 0,6 bàn/trận). Heidi Mohr, cầu thủ ghi bàn nhiều thứ hai, là người có hiệu suất ghi bàn tốt nhất với 83 bàn sau 104 trận (trung bình 0,80 bàn/trận). Hai cầu thủ giữ kỷ lục ghi nhiều bàn thắng nhất trong 1 trận: Conny Pohlers ghi 5 bàn vào tháng 10 năm 2001 trận gặp Bồ Đào Nha. Cũng trước Bồ Đào Nha, Inka Grings năm lần điền tên lên bảng tỉ số vào tháng 2 năm 2004. Trận thắng cách biệt nhất của Đức là chiến thắng 17-0 trước Kazakhstan trong khuôn khổ vòng loại Euro vào tháng 11 năm 2011. Trận thua cách biệt nhất là thảm bại 0-6 trước Hoa Kỳ trong một trận giao hữu vào tháng 3 năm 1996. == Trang phục == Thông thường các nữ cầu thủ mang áo trắng, quần đen và tất trắng. Màu trắng đen là màu truyền thống của nước Phổ. Áo trắng có mang vạch của adidas trên vai. Từ khi đoạt Giải vô địch bóng đá nữ thế giới 2007 các nữ tuyển thủ quốc gia Đức mang hai ngôi sao trên áo. Trước đấy đội mang 3 ngôi sao tượng trưng cho 3 lần vô địch thế giới của Đội tuyển bóng đá quốc gia Đức. Adidas là doanh nghiệp trang bị cho đội tuyển. == Sân thi đấu == Cũng như đội tuyển nam, đội tuyển nữ của Đức không có sân thi đấu cố định. Các trận thi đấu trên sân nhà được luân phiên tổ chức tại nhiều sân vận động khác nhau. Cho đến thời điểm tháng 11 năm 2015 đội tuyển nữ của Đức đã thi đấu tại 89 thành phố Đức. Phần lớn các trận thi đấu được tổ chức tại Osnabrück (7 lần), Ulm (5 lần) và Duisburg (4). Trận sân nhà đầu tiên tại một thành phố ở Đông Đức cũ diễn ra tại Aue tháng 5 năm 1991. Trong những năm của thập niên 1980 và 1990 các trận thi đấu trên sân nhà thường được tổ chức tại các thành phố nhỏ, không có câu lạc bộ bóng đá thuộc các hạng cao. Vì thế mà Helmstedt, Warendorf hay Spremberg đã từng là nơi thi đấu của đội tuyển. Nhờ vào thành tích của đội tuyển mà lượng khán giả ngày càng đông. Khi trên 10.000 khán giả bắt đầu trở thành thường lệ, các sân vận động lớn hơn trở nên cần thiết. Ngày nay đội tuyển của Liên đoàn bóng đá Đức thường thi đấu trên các sân vận động có sức chứa từ 10.000 đến 25.000 khán giả. Ngược lại, đội thường ít khi thi đấu tại các đô thị lớn. Cho đến nay đội chỉ thi đấu tại Berlin, Frankfurt am Main, Hamburg (2 lần), München và Essen (1 lần). Các thành phố lớn khác như Bremen, Dortmund, Köln, Leipzig, Nürnberg và Stuttgart chưa từng là nơi thi đấu của đội tuyển. Faro là nơi đội tuyển thi đấu nhiều nhất ngoài nước Đức. Đội tuyển Đức đã thi đấu tổng cộng 15 lần tại đây. Việc này có nguyên nhân là do đội tuyển của DFB tham dự Cúp Algarve được tổ chức hằng năm tại đây. == Danh hiệu == == Xem thêm == Đội tuyển bóng đá quốc gia Đức Đội tuyển bóng đá U-20 nữ quốc gia Đức == Chú thích == == Liên kết ngoài == Đội tuyển bóng đá nữ quốc gia Đức trên trang Web của DFB Đội tuyển bóng đá nữ quốc gia Đức trên FIFA
trận trân châu cảng.txt
Trận tấn công Trân Châu Cảng (hay Chiến dịch Hawaii theo cách gọi của Bộ Tổng tư lệnh Đế quốc Nhật Bản) là một đòn tấn công quân sự bất ngờ được Hải quân Nhật Bản thực hiện nhằm vào căn cứ hải quân của Hoa Kỳ tại Trân Châu Cảng thuộc tiểu bang Hawaii vào sáng Chủ Nhật, ngày 7 tháng 12 năm 1941, dẫn đến việc Hoa Kỳ sau đó quyết định tham gia vào hoạt động quân sự trong Chiến tranh thế giới thứ hai. Trận đánh này được trù tính sẽ ngăn ngừa và giữ chân Hạm đội Thái Bình Dương Hoa Kỳ không can thiệp đến cuộc chiến mà Nhật Bản đang hoạch định nhằm xâm chiếm Đông Nam Á, chống lại Anh Quốc, Hà Lan và Hoa Kỳ. Cuộc tấn công bao gồm hai đợt không kích với tổng cộng 353 máy bay xuất phát từ 6 tàu sân bay Nhật Bản. Trận tấn công đã đánh chìm 4 thiết giáp hạm Hoa Kỳ (2 chiếc trong số đó sau này được vớt lên và đưa trở lại hoạt động), và gây hư hỏng cho 4 chiếc khác. Quân Nhật còn đánh chìm hoặc phá hoại 3 tàu tuần dương, 3 tàu khu trục và 1 tàu thả mìn, phá hủy 188 máy bay, gây tổn thất về nhân mạng là 2.402 người tử trận và 1.282 người khác bị thương. Các trạm phát điện, xưởng tàu, xưởng sửa chữa và các kho chứa nhiên liệu và ngư lôi, cùng các bến tàu dành cho tàu ngầm và tòa nhà sở chỉ huy (cũng là nơi đặt bộ phận tình báo) đã không bị đánh trúng. Nhật Bản thiệt hại ít nhất, chỉ mất 29 máy bay và 4 tàu ngầm bỏ túi, với 65 người thương vong. Cuộc tấn công là một sự kiện lớn trong Chiến tranh thế giới thứ hai. Nó đã diễn ra trước khi có bất cứ một lời tuyên chiến chính thức nào được đưa ra, cả trước khi phần cuối cùng trong một thông điệp gồm 14 phần được chuyển hoàn tất đến Bộ Ngoại giao ở Washington, D.C. Tòa Đại sứ Nhật Bản ở Washington đã được chỉ thị phải chuyển giao thông điệp này ngay trước thời điểm trù định cho cuộc tấn công ở Hawaii. Cuộc tấn công, và đặc biệt là bản chất "bất ngờ" của nó, là hai nhân tố khiến cho công chúng Hoa Kỳ thay đổi quan điểm từ những người theo chủ nghĩa biệt lập (Isolationism) như vào những năm giữa thập niên 1930 sang ủng hộ việc Hoa Kỳ tham chiến. Nhật Bản đã không đưa ra một lời tuyên chiến chính thức nào trước khi thình lình tấn công Trân Châu Cảng, trong khi hai quốc gia Hoa Kỳ và Nhật Bản vẫn còn đang trong giai đoạn đàm phán hoà bình, vì thế cuộc tấn công bất ngờ này bị dư luận quốc tế xem là đánh lén (sneak attack), và Tổng thống Franklin D. Roosevelt tuyên bố rằng ngày 7 tháng 12 năm 1941 "sẽ sống mãi trong sự ô nhục" ("A date which will live in infamy"). Tiếp theo Hoa Kỳ, Anh và các thuộc địa của Anh, chính phủ Hà Lan và một loạt các quốc gia Mỹ Latinh cũng tuyên chiến với Nhật. Về phía phe Trục, ngày 11 tháng 12, Đức Quốc xã và Ý cũng tuyên chiến với Hoa Kỳ lấy cớ là Hoa Kỳ đã phá vỡ "sự trung lập". Theo đó, România, Hungary, Bulgaria và Slovakia cũng tuyên chiến với Hoa Kỳ. Việc Đức nhanh chóng tuyên chiến với Hoa Kỳ mà không bị thúc ép bởi bất kỳ cam kết nào với Nhật Bản đã lập tức khiến Hoa Kỳ can dự vào Mặt trận châu Âu. == Bối cảnh của cuộc xung đột == === Kế hoạch của đòn tấn công === Đòn tấn công được trù tính sẽ vô hiệu hóa Hạm đội Thái Bình Dương Hoa Kỳ, nhờ đó bảo vệ cho kế hoạch xâm lược Malaya và Đông Ấn thuộc Hà Lan của Nhật Bản, nơi người Nhật đang tìm kiếm các nguồn nguyên liệu thiên nhiên như dầu mỏ và cao su. Cả hai phía Hoa Kỳ và Nhật Bản đều duy trì lâu dài các kế hoạch phòng hờ một cuộc chiến tranh nổ ra tại Thái Bình Dương, vốn luôn thay đổi khi căng thẳng giữa hai quốc gia ngày càng leo thang trong những năm 1930, do sự đáp trả bằng cấm vận và trừng phạt với mức độ tăng dần của Hoa Kỳ và các quốc gia khác khi Nhật Bản bành trướng vào Mãn Châu và Đông Dương. Vào năm 1940, dựa vào điều khoản trong Đạo luật Kiểm soát Xuất khẩu, phía Hoa Kỳ đã hoãn lại mọi chuyến hàng xuất khẩu máy bay, linh kiện, máy công cụ và xăng máy bay, điều mà phía Nhật Bản xem là một hành động không thân thiện. Hoa Kỳ không ngưng toàn bộ việc xuất khẩu dầu mỏ sang Nhật vào lúc đó một phần là vì quan điểm đa số tại Washington cho rằng hành động như vậy có thể quá cực đoan, do Nhật còn bị phụ thuộc vào dầu mỏ Hoa Kỳ, và dễ bị phía Nhật xem là một hành động khiêu khích. Ban tham mưu hải quân Nhật đã nghiên cứu một cách sâu sắc sự kiện Anh Quốc tấn công hạm đội Ý tại cảng Taranto vào năm 1940. Sự kiện này đã được tận dụng triệt để nhằm lên kế hoạch cho cuộc tấn công vào căn cứ hải quân Hoa Kỳ ở Trân Châu Cảng. Sau khi Nhật Bản xâm chiếm Đông Dương, Hoa Kỳ đã cấm xuất khẩu dầu mỏ sang Nhật vào mùa Hè năm 1941, một phần do các giới hạn mới của Hoa Kỳ trong việc tiêu thụ dầu mỏ trong nước. Tổng thống Franklin D. Roosevelt trước đó đã điều Hạm đội Thái Bình Dương đến Hawaii và yêu cầu xây dựng một lực lượng quân sự tại Philippines với hy vọng có thể làm nản lòng Nhật Bản trong việc tiếp tục xâm chiếm miền Viễn Đông. Như giới lãnh đạo quân sự tối cao Nhật nhận định (một cách nhầm lẫn) rằng mọi hành động chống lại các thuộc địa Anh Quốc ở Đông Nam Á sẽ thúc đẩy Hoa Kỳ can dự vào chiến tranh, một cú tấn công phủ đầu được xem như là giải pháp duy nhất để Nhật Bản tránh được sự can thiệp của Hải quân Hoa Kỳ. Nhật Bản cũng cân nhắc đến việc xâm lược Philippines và cho đó là cần thiết trong kế hoạch chiến tranh của Nhật; trong khi về phía Hoa Kỳ, việc chiếm lại quần đảo này đã được quy định trong Kế hoạch Cam trong những năm giữa hai cuộc thế chiến. Nhật Bản và Hoa Kỳ đều nhận thức được nguy cơ chiến tranh (và đều xây dựng các kế hoạch chuẩn bị điều này) ngay từ những năm 1920, cho dù sự căng thẳng trong mối quan hệ chưa thực sự bắt đầu leo thang đến tận khi Nhật Bản xâm chiếm Mãn Châu năm 1931. Trong thập niên tiếp theo, Nhật Bản tiếp tục bành trướng vào Trung Quốc, dẫn đến cuộc Chiến tranh Trung-Nhật vào năm 1937. Đến năm 1940, Nhật Bản tiến hành xâm chiếm Đông Dương nhằm ngăn chặn các con đường tiếp tế đến được Trung Quốc, đồng thời cũng là một bước đi đến việc sở hữu các nguồn tài nguyên ở Đông Nam Á. Hành động này khiến Hoa Kỳ ra lệnh cấm xuất khẩu dầu mỏ sang Nhật Bản, buộc Nhật Bản phải khởi động kế hoạch chiếm hữu việc sản xuất xăng dầu tại Đông Ấn. Hơn nữa, việc chuyển Hạm đội Thái Bình Dương từ căn cứ trước đây ở San Diego đến các căn cứ mới ở Trân Châu Cảng được giới quân sự Nhật Bản xem là Hoa Kỳ đang chuẩn bị cho một cuộc đối đầu tiềm tàng giữa hai quốc gia. Kế hoạch sơ thảo cho một cuộc tấn công vào Trân Châu Cảng nhằm bảo vệ cuộc tiến quân vào "Khu vực Tài nguyên phía Nam" (tên mà phía Nhật đặt cho khu vực Đông Ấn và Đông Nam Á nói chung) được bắt đầu ngay từ đầu năm 1941, dưới sự đỡ đầu của Đô đốc Yamamoto, lúc đó đang là Tư lệnh của Hạm đội Liên hợp Nhật Bản. Ông giành được sự ủng hộ chính thức của Bộ Tổng tham mưu Hải quân Đế quốc Nhật Bản để vạch kế hoạch và huấn luyện cho cuộc tấn công sau nhiều cuộc tranh luận căng thẳng với Bộ chỉ huy Hải quân; ông thậm chí đã đe dọa từ chức. Công việc lên kế hoạch toàn diện được tiến hành vào đầu mùa Xuân năm 1941, chủ yếu do Đại tá Minoru Genda thực hiện. Trong những tháng tiếp theo sau, phi công được huấn luyện, trang bị được cải tiến và thông tin tình báo được thu thập. Cho dù có những sự chuẩn bị như vậy, kế hoạch tấn công chỉ được Thiên hoàng Chiêu Hòa phê chuẩn chính thức vào ngày 5 tháng 11, sau ba trong tổng số bốn cuộc họp Hội nghị Hoàng gia để xem xét vấn đề. Nhật Hoàng chỉ đưa ra lời cho phép cuối cùng vào ngày 1 tháng 12, sau khi phần lớn các nhà lãnh đạo Nhật thuyết phục với ông rằng bản "ghi chú của Hull" có thể "phá hủy thành quả của các sự kiện tại Trung Quốc, đe dọa Mãn Châu Quốc và hạ thấp khả năng kiểm soát Triều Tiên của Nhật Bản." Đến cuối năm 1941, các căn cứ và cơ sở quân sự Hoa Kỳ tại Thái Bình Dương đã nhiều lần bị đặt trong tình trạng báo động, và xung đột giữa Hoa Kỳ và Nhật là điều mà nhiều quan sát viên nghĩ đến. Tuy nhiên, các quan chức Hoa Kỳ đã hoài nghi việc Trân Châu Cảng sẽ trở thành mục tiêu đầu tiên trong một cuộc chiến tranh với Nhật. Họ cho là Philippines sẽ bị tấn công trước tiên do mối đe dọa mà nó đặt ra cho các con đường vận chuyển trên biển về phía Nam, và do niềm tin sai lầm rằng Nhật không có khả năng tung ra hai chiến dịch tấn công hải quân chủ lực cùng một lúc. Hiện đang nổi lên một cuộc tranh luận xuất phát từ các cáo buộc của các nhà âm mưu học, các sử gia quân sự và các cựu quân nhân cho rằng một số thành viên trong nội các của Roosevelt đã biết trước về cuộc tấn công và đã lờ đi nhằm tìm kiếm sự hỗ trợ từ phía công chúng và Quốc hội trong việc cho phép Hoa Kỳ tham chiến theo phe Vương quốc Anh và các đồng minh hay không. === Vị trí chiến lược của Trân Châu Cảng === Quần đảo Hawaii của Hoa Kỳ ở giữa Thái Bình Dương là một chuỗi đảo dài nối tiếp nhau theo hướng từ Tây-tây Bắc sang Đông-đông Nam có diện tích tổng cộng gần 17.000 km² với khoảng nửa triệu người (ở thập kỉ 40). Lớn nhất là đảo Hawaii (trên 10.000 km²) nằm ở cực trong quần đảo, nhưng quan trọng nhất lại là đảo Oahu với diện tích khoảng 1500 km², nằm cách Hawaii khoảng 140 dặm về phía Tây Bắc. Trên bờ biển phía Nam đảo Oahu có thành phố Honolulu (200.000 dân), thủ phủ của cả quần đảo. Cũng trên bờ biển phía Nam đảo, cách Honolulu về phía Tây chừng 6 dặm là Trân Châu Cảng, căn cứ chính của hạm đội Thái Bình Dương Hoa Kỳ (kể từ năm 1940). Dựng trên một vịnh biển ăn sâu vào đất liền của đảo rồi chia thành nhiều vụng biển và luồng lạch kín đáo lại có một cù lao ở giữa vịnh được gọi là "đảo Ford" như một cầu tàu thiên nhiên. Trân Châu Cảng có điều kiện tự nhiên lý tưởng để bảo vệ hạm đội chống lại mọi sự tấn công từ bên ngoài. Việc bố phòng ở cảng hết sức cẩn mật với một hệ thống lưới thép đặc biệt chống ngư lôi và tàu ngầm. Ngoài Trân Châu Cảng ra, hạm đội còn một căn cứ khác là cảng Lahaina trên đảo Maui, một đảo nằm ở khoảng giữa Oahu và Hawaii. Nằm ở tọa độ 21°20′38″ Bắc, 157°58′30″ Tây trên đảo Oahu, hòn đảo lớn thứ ba của nhóm đảo phía Tây quần đảo Hawaii, Trân Châu Cảng có vị trí chiến lược cực kỳ quan trọng đối với toàn bộ vùng Bắc Thái Bình Dương. Với khoảng cách tương ứng với một tầm bay tối đa của các "pháo đài bay" B-17 từ Oahu đến bờ biển phía Tây Hoa Kỳ, Trân Châu Cảng có thể trở thành căn cứ triển khai các hoạt động của không quân oanh tạc ở Tây Thái Bình Dương. Vai trò vị trí của Trân Châu Cảng đối với hải quân còn quan trọng hơn. Do vị trí gần như ở giữa vùng Bắc Thái Bình Dương, Trân Châu Cảng vừa là căn cứ chỉ huy, căn cứ hậu cần, là cơ sở bảo duỡng, sửa chữa các chiến hạm của hạm đội Thái Bình Dương. Từ căn cứ này, Hạm đội Thái Bình Dương của Hải quân Hoa Kỳ có thể tung sức mạnh của họ khống chế toàn bộ vùng Bắc Thái Bình Dương bằng các lực lượng tàu nổi, tàu ngầm và không quân của Hạm đội. Nếu như đối với Hoa Kỳ, Trân Châu Cảng và Midway là hai bàn đạp quan trọng nối tiếp nhau để vươn sang lục địa châu Á thì đối với Nhật Bản, Trân Châu Cảng là bàn đạp để tiến đến Hoa Kỳ và toàn bộ lục địa Bắc Mỹ. Tuy nhiên, vào những năm 1941-1942, lục quân và hải quân Nhật Bản không có tham vọng đánh chiếm hoàn toàn quần đảo này như họ đã làm với quần đảo Midway. Với trận tấn công Trân Trâu Cảng, Nhật Bản chỉ đủ sức làm tê liệt Hạm đội Thái Bình Dương của Hoa Kỳ trong một khoảng thời gian vừa đủ để họ có thể rảnh tay đánh chiếm toàn bộ vùng bờ biển và các quần đảo Tây Thái Bình Dương, uy hiếp Ấn Độ và Australia, đẩy lùi ảnh hưởng của Hoa Kỳ khỏi châu Á, chia đôi Thái Bình Dương với Hoa Kỳ trong một thế cân bằng chiến lược mới ở đại dương rộng nhất thế giới này, tiến tới hiện thực hóa học thuyết "Đại Đông Á". === Mục tiêu === Cuộc tấn công có nhiều mục đích chính. Trước tiên, người Nhật hi vọng nó sẽ tiêu diệt các đơn vị của hạm đội Hoa Kỳ, và do đó ngăn cản hạm đội Thái Bình Dương can thiệp vào việc Nhật chinh phục Đông Ấn. Kế tiếp, đó là cách người Nhật tranh thủ thời gian để củng cố vị thế của họ và tăng cường sức mạnh hải quân, trước khi các tàu chiến mới của Hoa Kỳ được chế tạo theo Đạo luật Vinson-Walsh sẽ xóa tan mọi cơ hội chiến thắng. Cuối cùng, nó được trù tính sẽ là một đòn mạnh giáng vào tinh thần của người Mỹ, có thể gây nản lòng, cho phép Nhật tiếp tục chinh phục Đông Nam Á mà không bị can thiệp. Đặt mục tiêu chính vào những chiếc thiết giáp hạm là một cách đánh vào tinh thần, vì chúng là niềm tự hào của mọi lực lượng hải quân vào thời điểm đó. Vì các ý tưởng chiến lược và văn kiện quân sự của cả hai phía Nhật Bản và Hoa Kỳ đều xuất phát từ công trình của Đại tá Hải quân Alfred Mahan, vốn cho rằng những chiếc thiết giáp hạm có vai trò quyết định trong các trận hải chiến. Nó cũng là cách đánh vào sức mạnh tác chiến của Hạm đội Thái Bình Dương; và nếu như thành công, điều đó sẽ trì hoãn, nếu không thể ngăn ngừa vĩnh viễn, trận chiến Thái Bình Dương tổng lực ("trận đánh quyết định", theo suy nghĩ của Hải quân Nhật), một cuộc chiến chắc chắn là cuộc đối đầu giữa các thiết giáp hạm. Với những suy nghĩ ấy, Yamamoto dự định phải tìm kiếm và tấn công Hạm đội Thái Bình Dương "bất cứ nơi nào có thể tìm gặp tại Thái Bình Dương." Ngày 14 tháng 11 năm 1941, cuộc diễn tập trên sa đồ đã đưa ra giả định lực lượng phòng thủ khi được báo động sẽ có thể đánh chìm hai tàu sân bay của Nhật và làm hư hại thêm hai chiếc nữa, ngay cả khi có thời tiết thuận lợi; đó là tất cả sức mạnh mà Bộ Tổng tham mưu Hải quân Nhật dự định tung ra cho chiến dịch này. Dù sao, Yamamoto vẫn ra lệnh tiếp tục tiến hành. Phía Nhật Bản đã quá tin tưởng vào khả năng đạt được thắng lợi nhanh chóng trong Thế Chiến Thứ Hai, và do đó đã bỏ qua các mục tiêu khác trong cảng, đặc biệt là các xưởng tàu hải quân, kho chứa dầu và căn cứ tàu ngầm, vì tin rằng chiến tranh sẽ kết thúc trước khi các cơ sở đó có thể phát huy tác dụng. == Kế hoạch và binh lực hai bên == === Kế hoạch sử dụng binh lực của Hải quân Nhật Bản === Không lực của Hải quân của các tàu sân bay Nhật Bản tham gia vào các cuộc tấn công Trân Châu Cảng sử dụng ba loại máy bay chủ yếu, thường được biết đến với tên mã cho chúng trong Hải quân Hoa Kỳ: máy bay tiêm kích Mitsubishi A6M Kiểu 11 ("Zero"), máy bay phóng ngư lôi Nakajima B5N Kiểu 97 ("Kate") và máy bay ném bom bổ nhào Aichi D3A Kiểu 99 ("Val"). Đặc điểm của các phương tiện này như sau: Máy bay chiến đấu Mitsubishi A6M kiểu 11 ("Zero") do một phi công điều khiển; tốc độ tối đa 545 km/giờ; tầm hoạt động tối đa 1.870 km; được trang bị một súng máy 20 mm và hai bom 60 kg dưới cánh. Tổng số lần xuất kích trong trận đánh: 10 đợt từ các tàu sân bay Akagi, Kaga, Sōryū, Hiryū, Shōkaku và Zuikaku với 78 chiếc. Máy bay ném bom bổ nhào Aichi D3A kiểu 99 ("Val") do hai phi công điều khiển; tốc độ tối đa 450 km/giờ; tầm hoạt động tối đa 1.400 km; được trang bị một bom 250 kg dưới thân và hai bom 60 kg dưới cánh. Tổng số lần xuất kích trong trận đánh: 6 đợt từ các tàu sân bay Agaki, Kaga, Sōryū, Hiryū, Shōkaku và Zuikaku với 129 chiếc. Máy bay phóng ngư lôi Nakajima B5N kiểu 97 ("Kate") do hai đến ba phi công điều khiển; tốc độ tối đa 360 km/giờ; tầm hoạt động tối đa 1.100 km; được trang bị một ngư lôi MK-91 457 mm hoặc một quả bom 800 kg dưới thân. Tổng số lần xuất kích trong trận đánh: 11 đợt từ các tàu sân bay Agaki, Kaga, Sōryū, Hiryū, Shōkaku và Zuikaku với 143 chiếc, trong đó có 49 chiếc mang bom 800 kg và 94 chiếc mang ngư lôi MK-91. Các tàu sân bay được hộ tống bởi một hạm đội tàu nổi mạnh gồm các thiết giáp hạm nhanh Hiei và Kirishima, tàu tuần dương hạng nặng Chikuma, 9 tàu khu trục. Soái hạm của hạm đội Nhật Bản là chiếc tàu tuần dương hạng nhẹ Nagara. Phân hạm đội liên hợp số 1 của đế quốc Nhật Bản chịu trách nhiệm tấn công Trân Châu Cảng do đô đốc Nagumo Chūichi chỉ huy, có 2 tàu sân bay Akagi và Kaga với sự phân công nhiệm vụ như sau: Tàu sân bay Akagi do hạm trưởng Kiichi Hasegawa chỉ huy, chỉ huy không quân Masuda Shogo; được giao nhiệm vụ tấn công các thiết giáp hạm USS Maryland (BB-46), USS Tennessee (BB-43), USS West Virginia (BB-48), USS Oklahoma (BB-37) và USS California (BB-44); tàu chở dầu USS Neosho (AO-23), căn cứ không quân Hickam, căn cứ thủy phi cơ Ford, khu vực Eva. Trong biên chế có: Liên đội hỗn hợp phóng lôi - ném bom có 15 chiếc Nakajima B5N do thiếu tá Fuchida Mitsuo chỉ huy, gồm phi đội 1 của thiếu tá Fuchida, phi đội 2 của trung úy Goro Iwasaki và phi đội 3 của trung úy Izumi Furukawa. Liên đội phóng lôi có 15 chiếc Nakajima B5N do trung tá Murata Shigeharu chỉ huy, gồm các phi đội 1 và 2 do trung tá Shigeharu chỉ huy, phi đội 3 và 4 do trung úy Asao Negishi chỉ huy. Phi đoàn ném bom có 18 chiếc Aichi D3A do trung úy Takehiko Chihaya chỉ huy gồm các phi đội 21, 22, 23 do trung úy Takehiko Chihaya chỉ huy, các phi đội 25, 26, 27 do trung úy Zenji Abe chỉ huy. Liên đội tiêm kích đánh chặn có 18 chiếc A6M Zero do trung tá Shigeru Itaya chỉ huy, gồm phi đội 1 của trung tá Itaya, phi đội 2 của trung úy Saburo Shindo. Liên đội này còn có 9 chiếc A6M Zero dự trữ. Tàu sân bay Kaga do hạm trưởng Okada Jisaku chỉ huy, không quân do thiếu tá Sata Naohito chỉ huy; được giao nhiệm vụ tấn công các thiết giáp hạm USS Arizona (BB-39), USS Tennessee (BB-43), USS West Virginia (BB-48), USS Oklahoma (BB-37), USS Nevada (BB-36), căn cứ không quân Hickam và căn cứ thủy phi cơ Ford. Trong biên chế có: Liên đội hỗn hợp phóng lôi - ném bom có 15 chiếc Nakajima B5N do trung tá Kakuichi Hashiguchi chỉ huy, gồm phi đội 1 của trung tá Kakuichi Hashiguchi, phi đội 2 của trung úy Hideo Maki, phi đội 3 của trung uý Yoshitaka Mikami. Liên đội phóng lôi có 12 chiếc Nakajima B5N do trung tá Kazuyoshi Kitajima chỉ huy, gồm các phi đội 1 và 2 của trung tá Kazuyoshi Kitajima chỉ huy, các phi đội 3 và 4 của trung úy Mimori Suzuki. Liên đội ném bom có 27 chiếc Aichi D3A do trung úy Saburo Makino chỉ huy, gồm các phi đội 21, 22, 23 do đích thân Makino chỉ huy, các phi đội 24, 25, 26 do trung úy Shoichi Ogawa chỉ huy, các phi đội 27, 28, 29 do trung úy Shoichi Ibuki chỉ huy. Liên đội tiêm kích đánh chặn có 18 chiếc A6M Zero do trung úy Yoshio Shiga chỉ huy, gồm phi đội 1 do đích thân trung úy Yoshio Shiga chỉ huy, phi đội 2 do trung úy Yaushi Nikaido chỉ huy. Liên đội này có 9 chiếc A6M Zero dự trữ. Phân hạm đội liên hợp số 2 của đế quốc Nhật Bản chịu trách nhiệm tấn công Trân Châu Cảng do phó đô đốc Yamaguchi Tamon chỉ huy, có 2 tàu sân bay Sōryū và Hiryū với sự phân công nhiệm vụ như sau: Tàu sân bay Sōryū do hạm trưởng Yanagimoto Ryusaku chỉ huy; không quân do thiếu tá Kusumoto Ikuto chỉ huy được giao nhiệm vụ tấn công các chiến hạm USS Nevada (BB-36), USS Tennessee (BB-43), USS West Virginia (BB-48), USS Utah (BB-31), USS Helena (CL-50), USS California (BB-44) và USS Raleigh (CL-7); sân bay Wheeler và cơ sở sửa chữa máy bay tại Barbers. Trong biên chế có: Liên đội hỗn hợp ném bom - phóng lôi có 10 chiếc Nakajima B5N do trung úy Heijiro Abe chỉ huy, gồm phi đội 1 do trong úy Abe chỉ huy và phi đội 2 do trung úy Sadao Yamamoto chỉ huy. Liên đội phóng lôi có 8 chiếc Nakajima B5N do trung úy Tsuyoshi Nagai chỉ huy, gồm phi đội 1 và phi đội 2 do trung úy Nagai chỉ huy, phi đội 3 và phi dội 4 do trung úy Tatsumi Nakajima chỉ huy. Liên đội ném bom có 18 chiếc Aichi D3A do thiếu tá Egusa Takeshige chỉ huy, gồm các phi đội phi đội 21, 22, 23 của thiếu tá Egusa Takeshige và các phi đội 24, 25, 26 của trung úy Masatake Ikeda. Liên đội tiêm kích đánh chặn có 18 chiếc A6M Zero do trung úy Masaji Suganami chỉ huy gồm phi đội 1 của trung úy Masaji Suganami và phi đội 2 của trung úy Fusata Iida. Liên đội này có 9 chiếc A6M Zero dự trữ. Tàu sân bay Hiryū do hạm trưởng Kaku Tomeo chỉ huy, Amagai Takahisa chỉ huy không quân, được giao nhiệm vụ tấn công các chiến hạm USS Arizona (BB-39), USS California (BB-44), USS West Virginia (BB-48), USS Oklahoma (BB-37) và USS Helena (CL-50); các công trình ngầm và cơ sở sửa chữa máy bay tại Barbers. Trong biên chế có: Liên đội hỗn hợp ném bom - phóng lôi có 10 chiếc Nakajima B5N do trung tá Tadashi Kosumi chỉ huy gồm phi đội 1 của trung tá Kosumi và phi đội 2 của trung úy Toshio Hashimoto. Liên đội phóng lôi có 8 chiếc Nakajima B5N do trung úy Heita Matsumura gồm các phi đội 1 và 2 của trung úy Heita Matsumura, các phi đội 3 và 4 của trung úy Hiroharu Sumino. Liên đội ném bom có 10 chiếc Aichi D3A do trung tá Michio Kobayashi chỉ huy gồm các phi đội 21, 22, 23 của trung tá Michio Kobayashi, các phi đội 24, 25, 26 của trung úy Shun Nakagawa. Liên đội tiêm kích đánh chặn có 15 chiếc A6M Zero do trung úy Kiyokima Okajima gồm phi đội 1 của trung úy Kiyokima Okajima và phi đội 2 của trung úy Sumio Nono. Liên đội này có 9 chiếc A6M Zero dự trữ. Phân hạm đội liên hợp số 5 của đế quốc Nhật Bản chịu trách nhiệm tấn công Trân Châu Cảng do phó đô đốc Chūichi Hara chỉ huy có 2 tàu sân bay Shōkaku và Zuikaku với sự phân công nhiệm vụ như sau: Tàu sân bay Shōkaku do hạm trưởng Jojima Takatsugu chỉ huy, Wada Tetsujiro chỉ huy không quân được giao nhiệm vụ tấn công căn cứ không quân Hickam, sân bay Kane'ohe và các trận địa cao xạ. Trong biên chế có: Liên đội hỗn hợp ném bom - phóng lôi có 27 chiếc Nakajima B5N do trung úy Tatsuo Ichihara chỉ huy gồm phi đội 1 của trung úy Tatsuo Ichihara, phi đội 2 của trung úy Tsutomu Hagiwara và phi đội 3 của trung úy Yoshiaki Ikuin Liên đội ném bom do có 27 chiếc Aichi D3A do trung tá Takahashi Kakuichi chỉ huy gồm phi đội 1 của trung tá Takahashi Kakuichi, phi đội 2 của trung úy Masao Yamaguchi và phi đội 3 của trung úy Hisayoshi Fujita. Liên đội tiêm kích đánh chặn có 5 chiếc A6M Zero do trung úy Tadashi Kaneko chỉ huy, liên đội này có 9 chiếc A6M Zero trong lực lượng dự trữ. Tàu sân bay Zuikaku do hạm trưởng Yokokawa Ichibei chỉ huy, Shimoda Hisao chỉ huy không quân, được giao nhiệm vụ tấn công căn cứ không quân Hickam, sân bay Kane'ohe và các trận địa cao xạ. Trong biên chế có: Liên đội hỗn hợp ném bom - phóng lôi có 27 chiếc Nakajima B5N do trung tá Shigekazu Shimazaki chỉ huy gồm phi đội 1 của Shigekazu Shimazaki, phi đội 2 của trung úy Takemi Iwami và phi đội 3 của trung úy Yoshiaki Tsubota. Liên đội ném bom có 27 chiếc Aichi D3A do trung tá Sakamoto Akira chỉ huy gồm phi đội 1 của Sakamoto Akira, phi đội 2 của trung úy Tomatsu Ema và phi đội 3 của trung úy Hayashi. Liên đội tiêm kích đánh chặn có 6 chiếc A6M Zero do trung úy Masao Sato chỉ huy và 9 chiếc trong lực lượng dự trữ. Tàu khu trục Akigumo thuộc lớp Yugumo hoạt động độc lập. Phân hạm đội thiết giáp hạm số 3 do phó đô đốc Gunichi Mikawa chỉ huy gồm hai thiết giáp hạm Hiei và Kirishima. Phân hạm đội tuần dương số 8 do đô đốc Hiroaki Abe chỉ huy gồm các tuần dương hạm Tone và Chikuma. Phân hạm đội khu trục số 1 do phó đô đốc Sentarō Ōmori chỉ huy chỉ có khu trục hạm Abukuma thuộc lớp Nagara. Phân hạm đội khu trục số 17' gồm các tàu khu trục Urakaze, Isokaze, Tanikaze và Hamakaze đều thuộc lớp Kagerō. Phân hạm đội khu trục số 18' gồm các tàu khu trục Kagerō và Shiranuhi thuộc lớp Kagerō, các tàu khu trục Arare và Kasumi thuộc lớp Asashio Đơn vị khu trục Midway do hạm trưởng Ohishi Kaname gồm các tàu khu trục Akebono (1930) và Ushio (1930) đều thuộc lớp Fubuki. Phân hạm đội tàu ngầm số 2 do hạm trưởng Imaizumi Kijiro chỉ huy gồm tàu ngầm I-10 thuộc lớp Kiểu A, các tàu ngầm I-21 và I-23 thuộc phân lớp I-15, Kiểu B1. Đoàn tàu vận tải số 1 gồm tàu chở dầu Kyokuto Maru, các tàu vận tải Kenyo Maru, Kokuyo Maru, Shinkiku Maru và Akebono Maru. Đoàn tàu vận tải số 2 gồm tàu chở dầu Tōhō Maru, các tàu vận tải Toei Maru và Nippon Maru. Hạm đội tàu ngầm số 6 do phó đô đốc Shimizu Mitsumi chỉ huy trong biên chế có: Phân hạm đội tàu ngầm số 1 do phó đô đốc Sato Tsutomu chỉ huy gồm tàu ngầm I-9 thuộc lớp I-9, kiểu A1, các tàu ngầm I-15, I-17 và I-25 đều thuộc lớp I-15 kiểu B1. Phân hạm đội tàu ngầm số 2 do phó đô đốc Yamazaki Shigeaki chỉ huy gồm tàu ngầm I-7 thuộc lớp I-7, kiểu J3, các tàu ngầm I-1, I-2, I-3, I-4 đều thuộc lớp I-1, kiểu J1, tàu ngầm I-5 thuộc lớp I-5, kiểu J1M và tàu ngầm I-6 thuộc lớp I-6, kiểu J2. Phân hạm đội tàu ngầm số 3 do đô đốc Shigeyoshi Miwa chỉ huy gồm các tàu ngầm I-8 lớp I-7 kiểu J3, I-68, I-69, I-70, I-71, I-72, I-73 đều thuộc lớp I-68 kiểu KD6A, các tàu ngầm I-74 và I-75 thuộc lớp I-74 kiểu KD6B. Phân hạm công kích đặc biệt do hạm truởng Sasaki Hanku chỉ huy tàu ngầm "mẹ" gồm các tàu ngầm "bỏ túi" I-22 và I-22A do thuyền trưởng Naoji Iwasa chỉ huy, I-16 do thuyền truởng Hiroshi Hanabusa chỉ huy, I-16A, I-18, I-18A, I-20, I-20A, I-21 và I-21A. Đơn vị tàu ngầm trinh sát do hạm trưởng Kashihara Yasuchika chỉ huy gồm các tàu ngầm I-10 và I-26 do Minoru Yokota chỉ huy. === Binh lực của Hải quân Hoa Kỳ === Hạm đội Thái Bình Dương của Hoa Kỳ thực sự là hạm đội mạnh nhất thế giới lúc bấy giờ với khoảng 170 hạm tàu các loại Tư lệnh hải quân Hoa Kỳ, Đô đốc Harold Rainsford Stark. Chỉ huy hạm đội Hoa Kỳ tại Thái Bình Dương, Đô đốc Husband Edward Kimmel. Lực lượng đặc nhiệm số 1 do Phó Đô đốc William Satterlee Pye chỉ huy, trong biên chế có: Hạm đội thiết giáp do Chuẩn Đô đốc Walter Stratton Anderson chỉ huy, gồm các đơn vị: Hải đoàn 1 do Chuẩn Đô đốc Issac C. Kidd chỉ huy gồm các chiến hạm USS Nevada (BB-36) của hạm trưởng Francis W. Scanland, USS Pennsylvania (BB-38) của hạm truởng Charles M. "Saavy" Cooke, Jr. và USS Arizona (BB-39) của hạm trưởng Franklin Van Valkenburgh Hải đoàn 2 gồm các chiến hạm USS Oklahoma (BB-37) của hạm truởng Howard D. "Ping" Bode, USS Tennessee (BB-43) và USS California (BB-44) của hạm truởng Joel W. Bunkley. Hải đoàn 4 do Chuẩn Đô đốc Walter S. Anderson chỉ huy gồm các chiến hạm USS Maryland (BB-46) của hạm trưởng D. C. Godwin và USS West Virginia (BB-48) của hạm truởng Mervyn Sharp Bennion. Hạm đội tuần dương do Chuẩn Đô đốc H. Fairfax Leary chỉ huy, gồm các đơn vị: Hải đoàn tuần dương số 6 gồm các tàu tuần dương USS New Orleans (CA-32) và USS San Francisco (CA-38) Hải đoàn tuần dương số 9 do đích thân Chuẩn Đô đốc H. Fairfax Leary chỉ huy gồm các tuần dương hạm USS Phoenix (CL-46), USS Honolulu (CL-48), USS Helena (CL-50) và USS St. Louis (CL-49) của hạm trưởng George A. Rood Hạm đội khu trục do Chuẩn Đô đốc Milo F. Draemel chỉ huy gồm các đơn vị: Phân hạm đội khu trục 1 gồm các tàu khu trục USS Raleigh (CL-7) và USS Phelps (DD-360). Hải đoàn khu trục số 1 gồm các tàu khu trục USS Dewey (DD-349), USS Hull (DD-350), USS Macdonough (DD-351) và USS Worden (DD-352) Hải đoàn khu trục số 2 gồm các tàu khu trục USS Farragut (DD-348), USS Dale (DD-353), USS Monaghan (DD-354) và USS Aylwin (DD-355) Tiểu hạm đội 3 chỉ có tàu khu trục USS Selfridge (DD-357) Hải đoàn khu trục số 5 gồm các tàu khu trục USS Reid (DD-369), USS Conyngham (DD-371), USS Cassin (DD-372) và USS Downes (DD-375). Hải đoàn khu trục số 6 gồm các tàu khu trục USS Cummings (DD-365), USS Case (DD-370), USS Shaw (DD-373) và USS Tucker (DD-374). Phân hạm hạm đội khu trục 2 gồm các tàu USS Detroit (CL-8), USS Bagley (DD-386), USS Blue (DD-387), USS Helm (DD-388), USS Mugford (DD-389), USS Ralph Talbot (DD-390), USS Henley (DD-391), USS Patterson (DD-392), USS Jarvis (DD-393) Các tàu khu trục độc lập USS Allen (DD-66), USS Schley (DD-103), USS Chew (DD-106), USS Ward (DD-139) Các tàu ngầm USS Narwhal (SS-167), USS Dolphin (SS-169), USS Cachalot (SS-170), USS Tautog (SS-199). Tàu rải mìn USS Oglala (CM-4). Các tàu quét mìn USS Turkey (AM-13), USS Bobolink (AM-20), USS Rail (AM-26), USS Tern (AM-31), USS Grebe (AM-43), USS Vireo (AM-52). Các tàu quét mìn ven bờ USS Cockatoo (AMc-8), USS Crossbill (AMc-9), USS Condor (AMc-14), USS Reedbird (AMc-30). Các tàu khu trục rải mìn USS Gamble (DM-15), USS Ramsay (DM-16), USS Montgomery (DM-17), USS Breese (DM-18), USS Tracy (DM-19), USS Preble (DM-20), USS Sicard (DM-21), USS Pruitt (DM-22). Các tàu khu trục quét mìn USS Zane (DMS-14), USS Wasmuth (DMS-15), USS Trever (DMS-16), USS Perry (DMS-17 Pháo hạm tuần tra USS Sacramento (PG-19) Các tàu khu trục hạng nhẹ USS Dobbin (AD-3) và USS Whitney (AD-4) Các tàu chở thủy phi cơ USS Curtiss (AV-4) và USS Tangier (AV-8) Các tàu chở thủy phi cơ loại nhỏ USS Avocet (AVP-4) và USS Swan (AVP-7) Các tàu chở thủy phi cơ được cải biến từ tàu khu trục USS Hulbert (AVD-6) và USS Thornton (AVD-11). Tàu chở đạn USS Pyro (AE-1) Các tàu chở dầu USS Ramapo (AO-12) và USS Neosho (AO-23) Các tàu công xưởng USS Medusa (AR-1), USS Vestal (AR-4) và USS Rigel (AR-11). Tàu ngầm loại nhẹ USS Pelias (AS-14) Tàu ngầm cứu hộ USS Widgeon (ASR-1) Tàu bệnh viện USS Solace (AH-5) Tàu chở hàng USS Vega (AK-17) Các tàu cung cấp USS Castor (AKS-1) và USS Antares (AKS-3) Các tàu kéo USS Ontario (AT-13), USS Sunnadin (AT-28), USS Keosanqua (AT-38) và USS Navajo (AT-64). Các tàu hỗ trợ USS Utah (AG-16), USS Argonne (AG-31), USS Sumner (AG-32) và USS Baltimore (CM-1). Bảo vệ hạm đội và toàn bộ quần đảo, có một lực lượng lục quân gồm 43.000 binh lính và sĩ quan, trong đó 35.000 đóng tại Oahu. Lực lượng này được trang bị các vũ khí rất hiện đại. Trên đảo Oahu có 5 sân bay, quan trọng nhất là sân bay Hickam ở ngay gần Trân Châu Cảng và sân bay Wheeler ở phía Bắc đảo. Vào ngày 7 tháng 12 năm 1941, trên đảo có tất cả 233 máy bay quân sự của Lục quân, trong đó 150 chiến đấu cơ, 35 pháo đài bay hiện đại B17, còn lại là các máy bay ném bom khác. Với lực lượng nói trên, tướng Walter Short, tư lệnh Lục quân tại đảo Hawaii (từ tháng 2 năm 1941) vẫn cho rằng ông thiếu phương tiện phòng thủ, đặc biệt là những vũ khí để giáng trả những cuộc tấn công bằng không quân của kẻ địch. Có 81 chiếc thủy phi cơ Catalina và bổ sung thêm 6 chiếc B17 làm nhiệm vụ trinh sát cho toàn quần đảo, đô đốc Kimmel cũng tho rằng ông không đủ khả năng thường xuyên thám sát từ xa toàn bộ vùng biển xung quanh quần đảo. Bởi thế, ông chỉ chú trọng tuần tra vùng biển phía Nam, nơi gần quần đảo Marshall của Nhật. Đã nhiều lần, Short đề nghị bổ sung những phương tiện còn thiếu, nhưng các thượng cấp không tán thành, vì họ không cùng quan điểm với ông. Trong một bản báo cáo đệ trình Tổng thống Franklin Roosevelt ngày 24 tháng 4 năm 1941, Bộ trưởng Quốc phòng Henry Stimson và Tổng tham mưu trưởng Lục quân George Marshall nhất trí khẳng định rằng: == Tiếp cận và tấn công == Ngày 26 tháng 11 năm 1941, một lực lượng đặc nhiệm Nhật Bản (Kido Butai, hay là Lực lượng Tấn công) gồm sáu tàu sân bay hạm đội cùng một số tàu hộ tống và tàu chở dầu tiếp nhiên liệu, dưới quyền chỉ huy của Phó Đô đốc Chuichi Nagumo đã lên đường rời miền Bắc Nhật Bản đi đến một địa điểm ở phía Tây Bắc Hawaii, dự định sẽ tung số máy bay trên đó, 405 chiếc, để tấn công vào Trân Châu Cảng. Cuộc tấn công dự định được chia làm hai đợt với 360 chiếc dành cho hai đợt tấn công, và 48 máy bay làm nhiệm vụ phòng thủ tuần tra chiến đấu trên không (CAP), kể cả chín chiếc của đợt thứ nhất quay về. Đợt thứ nhất sẽ là đòn tấn công chủ lực, trong khi đợt thứ hai sẽ hoàn tất những công việc còn sót lại. Đợt thứ nhất mang theo phần lớn vũ khí, chủ yếu là ngư lôi, để tấn công các tàu chủ lực. Các phi công được lệnh phải chọn những mục tiêu có giá trị cao nhất có mặt tại Trân Châu Cảng để tấn công. Máy bay ném bom bổ nhào dùng để tấn công các mục tiêu trên mặt đất. Trong khi đó, Máy bay tiêm kích được yêu cầu phải bắn phá các sân bay và tiêu diệt số máy bay đậu trên mặt đất càng nhiều càng tốt nhằm đảm bảo chúng không thể cất cánh để phản công lại các máy bay ném bom, đặc biệt là trong đợt đầu tiên. Khi những máy bay tiêm kích bị cạn nhiên liệu, chúng sẽ được tiếp thêm nhiên liệu từ các tàu sân bay rồi quay trở lại chiến đấu. Những máy bay tiêm kích sẽ làm nhiệm vụ tuần tra chiến đấu trên không ở nơi cần thiết, đặc biệt là bên trên các sân bay Hoa Kỳ. Để bảo đảm bí mật, đoàn tàu được lệnh đánh chìm mọi tàu bè của các nước trung lập mà nó gặp. Nếu gặp tàu Mỹ trước ngày 6 tháng 12 thì hủy bỏ cuộc hành quân quay trở về; trong ngày 6 thì tùy theo tình hình mà có quyết định thích hợp; còn trong ngày 7 thì tấn công tiêu diệt trong bất cứ tình huống nào. May mắn thay, đúng như kế hoạch đã dự tính, trong suốt cuộc hành hình hơn 10 ngày, "Kido Butai" không gặp một tàu bè nào khác trên đường đi. Trong khi đó, mỗi ngày nó đều nhận được những tin tức tình báo về tình hình Trân Châu Cảng và những chỉ thị cần thiết của Tư lệnh chiến dịch do đô đốc Isoroku Yamamoto phát đi từ hạm đội Liên hợp đang thả neo trong vịnh Hashirajima thuộc biển Nội Hải (Nhật Bản). Những tin tình báo ấy do tòa Tổng lãnh sự Nhật ở Honolulu điện về cho đô dốc Yamamoto theo những giờ quy định. Sáng 6 tháng 12, khi đoàn tàu còn cách đảo Oahu 600 dặm về phía Bắc-tây Bắc, phó đô đốc Nagumo đã được đô đốc Yamamoto thông báo về chỉ thị của Thiên hoàng quyết định tiến hành chiến tranh với Hoa Kỳ. Đoàn tàu được tiếp nhiên liệu lần cuối cùng, các tàu chở dầu quay trở lại còn "Kido Butai" chuyển sang hướng Nam-Đông Nam, tăng tốc độ để tiến đến mục tiêu. Buổi trưa, đô đốc Yamamoto lại thông báo cho Nagumo rằng tại Trân Châu Cảng không có tàu sân bay Mĩ. Tin ấy làm cho trung tá Minoru Genda và một số nhân vật quan trọng khác của "Kido Butai" có phần thất vọng, nhưng nó không được Nagumo quan tâm vì ông vẫn luôn cho rằng các thiết giáp hạm mới là lực lượng chủ yếu của hải quân. Trước khi cuộc tấn công được thực hiện, hai máy bay trinh sát được phóng lên từ các tàu tuần dương để thám sát bên trên Oahu và báo cáo về thành phần và vị trí của hạm đội đối phương. Bốn chiếc máy bay thám sát khác sẽ tuần tra trong khu vực giữa Kido Butai và Niihau nhằm ngăn ngừa lực lượng đặc nhiệm khỏi bị phản công bất ngờ. Theo kế hoạch máy bay của hạm đội sẽ tiến công Trân Châu Cảng trước lúc rạng đông nhưng nhiều phi công đã than phiền về nguy cơ có thể gặp khi họ phải cất cánh lúc đêm tối. Bởi thế Genda cùng Bộ chỉ huy hạm đội đã quyết định lùi thời hạn xuất phát lại hai tiếng đồng hồ vào thời điểm mà họ cho là rất thuận lợi vì người Mỹ hết sức lơ là mất cảnh giác. Trong khi đó, về phía Hoa Kỳ, ngày 26 tháng 11, vài giờ sau khi Lực lượng đặc nhiệm Z của Nhật rời khỏi vịnh Hitokapu, trung tá Wilfred Holmes, người chịu trách nhiệm theo dõi hoạt động của các chiến hạm Nhật đã mật báo về phòng tình báo hải quân Trân Châu Cảng rằng 6 tàu sân bay Nhật "vẫn còn ở trong nước". Nhưng kể từ lúc đó, ông ta hoàn toàn bị mất dấu vết của chúng, và các ngày sau đó đều báo cáo rằng "không có tin tức gì". Bằng giọng khôi hài, đô đốc Kimmel đã trách trưởng phòng tình báo của ông là trung tá Eward Layton:"Anh nghĩ sao, nếu như trong giờ phút này chúng xuất hiện ngay trên trước Đồi kim cương, còn anh thì không biết gì về chúng ?" Tuy vậy, Kimmel vẫn không có biện pháp nào để đề phòng các tàu sân bay mất tích này. === Tàu ngầm === Các tàu ngầm hạm đội của Nhật Bản I-16, I-18, I-20, I-22 và I-24, mỗi chiếc mang theo một tàu ngầm con Kiểu A để chở đến vùng biển ngoài khơi Oahu. Năm chiếc tàu ngầm này rời Căn cứ hải quân Kure vào ngày 25 tháng 11 năm 1941, đi đến một vị trí cách lối vào Trân Châu Cảng 19 km (10 hải lý) rồi tung các tàu ngầm con ra lúc khoảng 01 giờ 00 giờ Hawaii sáng sớm ngày 7 tháng 12. Lúc 03 giờ 42 phút, chiếc tàu quét mìn USS Condor phát hiện kính tiềm vọng của một chiếc tàu ngầm bỏ túi ở phía Đông Nam của phao dẫn vào cảng và đã báo động cho chiếc tàu khu trục USS Ward. Con tàu ngầm bỏ túi này có thể đã lọt vào Trân Châu Cảng, nhưng Ward đã đánh chìm được một chiếc khác vào lúc 06 giờ 37 phút trong phát súng đầu tiên của Hoa Kỳ trong Chiến tranh thế giới thứ hai. Một chiếc tàu ngầm con khác ở phía Bắc đảo Ford đã bắn trượt tàu Curtiss với quả ngư lôi đầu tiên của nó rồi lại bắn trượt tàu khu trục Monaghan với quả ngư lôi còn lại trước khi bị Monaghan đánh chìm lúc 08 giờ 43 phút. Chiếc tàu ngầm con thứ ba bị mắc cạn hai lần, một lần bên ngoài lối vào cảng và một lần nữa ở phía Đông của Oahu, nơi nó bị bắt giữ vào ngày 8 tháng 12. Thiếu úy Kazuo Sakamaki rời khỏi nó bơi lên bờ và trở thành tù binh chiến tranh người Nhật Bản đầu tiên trong Chiến tranh Thái Bình Dương. Chiếc thứ tư bị hư hại bởi cuộc tấn công bằng mìn sâu khiến thủy thủ đoàn phải bỏ tàu khi chưa bắn được quả ngư lôi nào. Viện Hải quân Hoa Kỳ vào năm 1999, sau khi đã tiến hành một cuộc phân tích các bức ảnh chụp cuộc tấn công, cho biết một tàu ngầm bỏ túi có thể đã bắn trúng một ngư lôi vào chiếc thiết giáp hạm USS West Virginia. Lực lượng Nhật Bản nhận được một liên lạc vô tuyến từ một tàu ngầm bỏ túi lúc 00 giờ 41 phút ngày 8 tháng 12 báo cáo đã gây hư hại cho một tàu chiến lớn bên trong Trân Châu Cảng. Số phận của chiếc cuối cùng này cho đến nay vẫn chưa được xác định. === Nhật Bản tuyên chiến === Dù cuộc tấn công trên thực tế đã xảy ra trước khi có một lời tuyên chiến chính thức của Nhật Bản, Đô đốc Yamamoto ban đầu đã quy định rằng cuộc tấn công chỉ được thực hiện 30 phút sau khi Nhật Bản thông báo cho Hoa Kỳ rằng họ muốn chấm dứt các cuộc đàm phán về hòa bình. Bằng cách này, người Nhật cố gắng đồng thời duy trì các quy ước về chiến tranh trong khi vẫn đạt được yếu tố bất ngờ. Cho dù có những dự định như thế, cuộc tấn công đã được khởi sự trước khi bản thông điệp dài 5.000 từ này được chuyển giao. Tokyo truyền bức thông điệp đến Tòa đại sứ Nhật Bản (chia thành hai phần), mà cuối cùng thời gian truyền quá lâu để có thể kịp trao cho Hoa Kỳ đúng lúc, trong khi các chuyên viên mật mã Hoa Kỳ đã giải mã và dịch xong phần lớn bức thông điệp nhiều giờ trước khi Đại sứ Nhật Bản dự định trao bức thông điệp đó. Tuy được xem là một lời tuyên chiến, "bức thông điệp không hề tuyên bố chiến tranh hay ảnh hưởng đến quan hệ ngoại giao hai nước". Việc tuyên chiến chính thức chỉ được đăng tải trên trang đầu của các tờ nhật báo Nhật Bản trong số phát hành buổi chiều tối ngày 8 tháng 12. === Đợt tấn công thứ nhất === Rạng ngày 7, Nagumo ra lệnh chuyển đội hình hành quân thành đội hình chiến đấu. Đúng 3 giờ 30 lệnh báo thức phát ra, tất cả thành viên của "Kido Butai", chuẩn bị sẵn sàng chiến đấu. Đó là lúc đoàn tàu đã đến địa điểm quy định và thả neo ở vị trí này, cách Trân Châu Cảng hơn 200 dặm về phía Bắc. Mặc dù đã được thông báo chính thức rằng hạm đội Thái Bình Dương của Mĩ hiện đang tập trung ở Trân Châu Cảng, Nagumo vẫn quyết định kiểm tra lại một lần nữa. Lúc 5 giờ 30, ông ra lệnh cho 4 máy bay trinh sát bay đi quan sát: 2 chiếc đến Trân Châu Cảng, 2 chiếc kia đến cảng Lahaina trên đảo Maui. Dưới ánh sáng mờ nhạt của buổi bình minh, sóng biển vỗ mạnh, tàu nghiêng hơn 12 độ. Thông thường nếu tàu nghiêng hơn 5 độ, máy bay không được cất cánh. Nhưng hôm nay quy định này đã bị bỏ qua. Đúng 6 giờ, tham mưu trưởng Lực lượng đặc nhiệm là phó đô đốc Kusaka hạ lệnh kéo lên lá cờ có chữ Z trên tàu sân bay - kì hạm Akagi để làm hiệu lệnh chiến đấu. Đó là lá cờ mà đô đốc Togo đã dùng trong trận hải chiến Tsushima đánh chìm hạm đội Nga hoàng năm 1905. Tư lệnh hành quân, trung tá Mitsuo Fuchida mặc sơmi đỏ, quấn ngang đầu một tấm băng trắng để biểu thị tinh thần quyết tử của truyền thống võ sĩ đạo, bước vào buồng lái chiếc máy bay ném bom cùng với viên phi công và hiệu thính viên của mình. Trên đường băng của 6 tàu sân bay, các máy bay của đợt tiến công đầu tiên đã sẵn sàng cất cánh. Đợt tấn công thứ nhất gồm 183 máy bay được phóng lên ở phía Bắc Oʻahu, do Đại tá Mitsuo Fuchida chỉ huy. Sáu máy bay không thể cất cánh do trục trặc kỹ thuật. Chúng bao gồm: Nhóm thứ nhất (mục tiêu: các thiết giáp hạm và tàu sân bay)50 máy bay ném ngư lôi Nakajima B5N trang bị bom xuyên thép 800 kg (1.760 lb), được tổ chức thành bốn đội 40 máy bay ném ngư lôi B5N trang bị ngư lôi Kiểu 91, cũng được tổ chức thành bốn đội Nhóm thứ hai — (mục tiêu: Ford Island và Wheeler Field) 54 máy bay ném bom bổ nhào Aichi D3A trang bị bom đa dụng 250 kg (550 lb) Nhóm thứ ba — (mục tiêu: máy bay tại các sân bay Ford Island, Hickam Field, Wheeler Field, Barber’s Point và Kaneohe) 45 máy bay tiêm kích Mitsubishi A6M để kiểm soát trên không và bắn phá Đúng 6 giờ 20, lệnh xuất kích được ban ra. Chỉ trong khoảnh khắc, trong tiếng gầm rú kinh khủng, 183 máy bay chiến đấu, theo trình tự định sẵn lao vút lên trời theo những đội hình chữ "V" nối tiếp nhau ào ạt tiến với tốc độ 125 hải lý/giờ. Mãi đến 7 giờ 35, các máy bay trinh sát mới điện về "Kido Butai": "Hạm đội địch không có ở Lahaina". Và một lát sau: Khi đợt máy bay tấn công thứ nhất tiến đến gần Oʻahu, một trạm radar SCR-270 của Lục quân Hoa Kỳ đặt tại Opana Point gần mũi cực Bắc của hòn đảo (một vị trí chưa đưa vào hoạt động, đang trong giai đoạn huấn luyện được vài tháng) phát hiện ra chúng và phát đi lời cảnh báo. Dù những người vận hành radar báo cáo rằng sóng dội của một mục tiêu lớn chưa từng thấy; một viên sĩ quan chưa được huấn luyện tại một Trung tâm Thông tin vừa được đưa vào vận hành một phần, Trung úy Kermit A. Tyler, đoán chừng rằng đó là do sự có mặt của sáu chiếc máy bay ném bom B-17 đang được dự định sẽ bay đến. Hướng mà những chiếc máy bay bay đến khá gần (hai hướng bay vào chỉ lệch nhau vài độ), trong khi những người vận hành chưa từng thấy một đội hình lớn như vậy trên radar; họ đã thờ ơ không báo cho Tyler về kích cỡ, trong khi Tyler, vì những lý do an ninh, không thể báo cho họ biết những chiếc B-17 đang sắp đến (dù điều này được biết một cách rộng rãi). Nhiều máy bay Hoa Kỳ bị bắn rơi khi đợt tấn công đầu tiên tiến vào đất liền, và ít nhất một chiếc qua radio đã phát đi lời cảnh báo dù không được mạch lạc. Các lời cảnh báo khác, xuất phát từ những chiếc tàu bên ngoài lối vào cảng, vẫn còn đang được xử lý hoặc chờ đợi để được xác nhận khi những chiếc máy bay tấn công bắt đầu ném bom và bắn phá. Dù sao, vẫn không rõ là những lời cảnh báo này có đem lại hiệu quả thiết thực nào hay không ngay cả khi chúng được hiểu đúng đắn và kịp thời hơn. Có thể thấy điều đó qua kết quả mà quân Nhật đạt được tại Philippines về cơ bản giống như tại Trân Châu Cảng, cho dù tướng MacArthur có đến gần chín giờ báo động rằng quân Nhật đã tấn công Trân Châu Cảng, và đã có các chỉ thị đặc biệt để tiến hành các hoạt động trước khi đối phương thực sự tấn công sở chỉ huy của ông. Từ độ cao 3500 m, đoàn máy bay Nhật bay giữa một biển mây dày dặc tưởng chừng như vô tận khiến các phi công không tránh khỏi lo lắng. Sau gần một giờ bay, Fuchida ra lệnh cho hiệu thính viên dò bắt sóng của dài phát thanh Honolulu để ông theo đó mà xác định hướng bay của phi đoàn. Cũng nhờ thông tin bắt được qua sóng, Fuchida biết được tình hình thời tiết vùng trời Hawaii nhiều mây riêng tại Oahy mây thưa thớt; khu vực Trân Châu Cảng hoàn toàn trong sáng đúng với mong muốn của Fuchida. Lúc 7 giờ 40 phút, Fuchida mừng rỡ nhận ra bầu trời quả nhiên không còn mây mù. Đúng theo kế hoạch, Fuchida cho toàn phi đoàn lượn theo bờ biển phía Tây Bắc đảo để tiếp cận mục tiêu. Qua ống nhòm, toàn cảnh Trân Châu cảng đã hiện ra dưới mắt Fuchida với đầy đủ 8 thiết giáp hạm xếp hàng thẳng tắp. Chiếc Oklahoma đứng cạnh Maryland, sau đó là chiếc West Virginia bên chiếc Tennesse, tiếp đến chiếc Arizona đứng cạnh chiếc tàu công xưởng mang tên Vestal, chiếc Nevada đứng cuối hàng, còn chiếc California dẫn đầu đứng chếch hàng một chút. Cách một quãng về phía trước là kì hạm của hạm đội, chiếc Pensylvania có hai khu trục hạm hộ tống. Ngoài ra còn nhiều tuần dương hạm và khu trục hạm khác nhưng không có tàu sân bay nào. Cả một hạm đội lớn chưa từng thấy đã gây cho các phi công Nhật một ấn tượng rất mạnh. Phần không kích của cuộc tấn công vào Trân Châu Cảng bắt đầu lúc 7 giờ 48 phút sáng giờ Hawaii (3 giờ 18 phút sáng ngày 8 tháng 12 giờ tiêu chuẩn Nhật Bản, như ghi nhận trên các con tàu thuộc Bộ đội cơ động), bằng việc tấn công vào Kaneohe. Tổng cộng có 353 máy bay Nhật Bản gồm hai đợt bay đến được đến Oʻahu. Để phát lệnh tấn công, Fuchida đã phát đi mật mã "To... To... To..." với một phát súng bắn pháo hiệu màu đen, đây là hiệu lệnh tấn công trong điều kiện địch quân đã bị bất ngờ. Theo đúng dự kiến, 40 máy bay phóng ngư lôi của trung tá Shigeharu Murata hạ thấp xuống lượn về Trân Châu cảng. 49 máy bay do Fuchida chỉ huy bắt đầu triển khai theo hướng đó để sẵn sàng nhập cuộc. Đoàn máy bay ném bom bổ nhào tách làm hai nhóm: 25 chiếc của trung tá Akira Sakamoto đến sân bay Wheeler, căn cứ máy bay tiêm kích chủ yếu của Không lực Lục quân Hoa Kỳ còn 26 chiếc do trung tá Kakuichi Takahasi chỉ huy thì đến Trân Châu cảng và sân bay Hickam gần đó. Nhưng nhóm chiến đấu cơ 43 chiếc do trung tá Shigeru Itaya chỉ huy lại không triển khai được đội hình do không nhìn thấy pháo hiệu. Fuchida buộc phải bắn thêm phát pháo hiệu nữa. Các phi công lái máy bay ném bom bổ nhào trông thấy cho rằng pháo hiệu thứ hai này có nghĩa là tính bất ngờ đã mất nên họ thực hiện theo phương án hai dự phòng là bổ nhào ném bom xuống các sân bay làm cho kế hoạch bị xáo trộn vì các máy bay phóng ngư lôi và ném bom bổ nhào đã hành động cùng một lúc. Đúng 7 giờ 53 phút, ngay trước khi trái bom đầu tiên rơi xuống Trân Châu cảng, Fuchida đánh đi mật mã thứ hai "Tora... Tora... Tora... ". Mật mã này có nghĩa là cuộc tấn công đã được đảm bảo hoàn toàn bất ngờ. 171 máy bay trong đợt thứ hai tấn công các sân bay Bellows Field của Không lực Hoa Kỳ gần Kaneohe ở rìa phía Đông của hòn đảo và Ford Island. Chỉ có khoảng một chục chiếc P-36 Hawk và P-40 Warhawk đối đầu với lực lượng Nhật Bản. Thủy thủ trên những con tàu chiến Hoa Kỳ tỉnh giấc do tiếng báo động, bom nổ và tiếng súng; buộc những con người còn đang ngái ngủ vội vã mặc quần áo và lao đến các vị trí trực chiến. Bức điện nổi tiếng "Air raid Pearl Harbor. This is not drill" (Trân Châu Cảng bị không kích. Đây không phải là diễn tập), được gửi từ sở chỉ huy Không đoàn Thám sát 2, là vị chỉ huy cao cấp đầu tiên tại Hawaii trả lời. Những người phòng thủ hoàn toàn không được chuẩn bị. Các kho đạn còn đang bị khóa lại, máy bay đậu sát cánh lại với nhau ngoài bãi đậu để ngăn ngừa phá hoại, các khẩu pháo không có người (không có khẩu pháo 5 inch/38 nào của hải quân và chỉ có một phần tư số súng máy hoạt động, và chỉ có ba trong tổng số 31 khẩu đội Lục quân đi vào hoạt động). Cho dù với tình huống như vậy và tình trạng báo động thấp, nhiều quân nhân Hoa Kỳ đã phản ứng một cách hiệu quả trong trận đánh. Thiếu úy Joe Taussig đã đưa chiếc thiết giáp hạm USS Nevada của anh khởi hành từ tình trạng lạnh máy trong quá trình cuộc tấn công. Một trong các tàu khu trục, chiếc USS Aylwin, di chuyển chỉ với bốn sĩ quan trên tàu, tất cả đều là Thiếu úy và không ai trong số họ có thâm niên phục vụ nhiều hơn một năm; nó hoạt động ngoài biển được bốn ngày trước khi sĩ quan chỉ huy của nó tìm cách lên được tàu. Thuyền trưởng Mervyn Bennion, người chỉ huy chiếc thiết giáp hạm USS West Virginia (soái hạm của Kimmel), đã lãnh đạo người của ông cho đến khi bị trúng phải mảnh bom từ một quả bom phát nổ trên chiếc thiết giáp hạm USS Tennessee thả neo bên cạnh. Sự dũng cảm được thể hiện ở nhiều nơi khác. Tổng cộng đã có 14 sĩ quan và thủy thủ được trao tặng Huân chương Danh dự. Sau này, một phần thưởng quân sự đặc biệt, Huy chương Tưởng niệm Trân Châu Cảng, đã được đặt ra và tưởng thưởng cho mọi cựu quân nhân từng tham gia trong cuộc tấn công này. === Đợt tấn công thứ hai === Đúng 7 giờ 15, các máy bay của đợt tấn công thứ hai dưới sự chỉ huy của Trung tá Shigekazu Shimazaki bắt đầu cất cánh bao gồm 171 máy bay: 54 chiếc B5N, 81 chiếc D3A và 36 chiếc A6M. Bốn máy bay đã không thể cất cánh do gặp trục trặc kỹ thuật. Thành phần và mục tiêu của đợt tấn công này là: Nhóm thứ nhất: 54 chiếc B5N trang bị bom đa dụng 250 kg (550 lb) và 55 kg (120 lb)27 chiếc B5N – mục tiêu: kho và máy bay tại các sân bay Kaneohe, đảo Ford và Barbers Point 27 chiếc B5N – mục tiêu: kho và máy bay tại sân bay Hickam Nhóm thứ hai (mục tiêu: các tàu sân bay và tuần dương hạm) 81 chiếc D3A trang bị bom đa dụng 250 kg (550 lb), được tổ chức thành bốn đội Nhóm thứ ba (mục tiêu: máy bay tại các sân bay Ford Island, Hickham Field, Wheeler Field, Barber’s Point, Kaneohe) 36 chiếc A6M để phòng thủ và bắn phá Đợt tấn công thứ hai được chia làm ba nhóm. Một nhóm được giao nhiệm vụ tấn công Kāneʻohe, số còn lại tập trung vào Trân Châu Cảng. Các nhóm tấn công tách rời đã bay đến địa điểm tấn công hầu như đồng thời từ nhiều hướng khác nhau. === Tấn công các chiến hạm === Hai quả ngư lôi đầu tiên đã đánh trúng thiết giáp hạm Oklahoma. Hai giây sau, thêm 2 quả nữa đập mạnh vào sườn tàu và nổ tung. Nước tràn vào, tàu nghiêng 30 độ. Phó hạm trưởng Ken Worthy ra lệnh đóng kín các của sập, ngăn không cho nước tràn vào các khoang khác. Tàu không bị chìm ngay, nhưng nước vẫn vào. Vài phút sau nó lại nhận thêm một chùm bom nữa. Loạt ngư lôi tiếp theo đánh trúng chiếc USS Utah, vốn là một thiết giáp hạm đã 33 năm đi biển, nay được tháo bỏ mọi vũ khí để trở thành chiếc tàu bia dành cho huấn luyện. Tiếp đó các thiết giáp hạm West Virginia và California bắt đầu bị trúng ngư lôi riêng thiết giáp hạm California trúng phải hai bom và hai ngư lôi. Khói đen cuồn cuộn bốc lên từ nhũng chiếc tàu bị ngư lôi đánh trúng. người Mỹ cho rằng, độ sâu của vịnh biển chỉ 10m không thể phóng ngư lôi được, cho nên họ chỉ đề phòng máy bay ném bom và tàu ngầm mà không thả lưới ngăn ngư lôi quanh các chiến hạm. Giờ đây, họ đã phải bất ngờ chứng kiến phát minh mới của người Nhật về cách dùng ngư lôi ở vùng biển nông: cho máy bay bay sát mặt biển với tốc độ chậm để phóng ra những quả ngư lôi lướt trên mặt nước với tốc độ cũng rất chậm, chỉ khoảng 30-40 hải lý/giờ. Đến lúc 8 giờ, tin về cuộc tấn công Trân Châu cảng mới được báo về Washington và các hạm tàu trên biển. Hỏa lực phòng không từ các chiến hạm và trên bờ bắn lên mỗi lúc một mạnh. Trên nhiều chiến hạm, người ta buộc phải phá cửa các hầm chứa vũ khí đạn dược vì không có thời gian để tìm chìa khóa. Những đám khói đen, trắng của đạn phòng không nổ tung trên nền trời xanh mỗi lúc một thêm dày đặc, gây khó khăn cho các phi công Nhật. Hỏa lực phòng không tuy rất mạnh nhưng lại thiếu tổ chức, nên kết quả bị hạn chế. Trong lúc hoảng loạn, người ta đã lắp cả đạn huấn luyện vào pháo phòng không để vạch lên trời những đường đạn vô ích. Tám phút sau khi bị quả ngư lôi đầu tiên đánh trúng thiết giáp hạm Oklahoma đã bị lật nhào. Nước tràn qua những chiếc cửa sập không thể đóng lại được nữa. Hơn 400 sĩ quan và thủy thủ mắc kẹt bên trong chết chìm cùng với tàu. Các cột buồm nằm dưới nước, trên mặt biển chỉ còn nhô lên mạn bên phải và một phần của sống tàu. Tiếp theo đó, thêm một loạt bom và ngư lôi đánh trúng chiếc California khiến nó bốc cháy dữ dội và chìm tại chỗ chỉ còn nhô mấy cột buồm lên khỏi mặt nước. Chiếc Arizona bị ngư lôi đánh hụt, nhưng các máy bay ném bom đã rót trúng nó 5 trái bom cùng một lúc. Một trong 5 trái đó chui vào ống khói xuống bên dưới nổ ngay ở hầm chứa đạn. Chiếc tàu phát nổ long trời lở đất với một cột khói và lửa cao 300m rồi gãy làm đôi trong 9 phút. Cả hai phần tàu chúi xuống biển rồi từ từ chìm dần làm 1.102 người chết theo tàu. Trong số các tổn thất về nhân mạng về phía Hoa Kỳ, gần một nửa là do vụ nổ hầm đạn phía trước của chiếc thiết giáp hạm USS Arizona sau khi nó bị trúng phải một quả bom 40 cm (16 inch) cải biến. Trên mặt nước, hàng ngàn người bơi khỏi các tàu đang cháy, định vào bờ đảo Ford nhưng mặt nước bị ngập dầu dày hơn 3 phân, bắt cháy như một biển lửa. Phần đông những người nhảy xuống nước đều chết cháy. Từ trên không nhìn xuống, nhiều phi công Nhật lầm tưởng chiếc Utah là một tàu sân bay, vì nó đậu riêng một chỗ ở bờ bên kia đảo Ford và có mặt boong trống trải. Do đó khoảng nửa tá máy bay Nhật đã lao vào tấn công liên tục chiếc tàu bia không có vũ khí tự vệ này. Lúc 8 giờ 12 phút, chiếc Utah bị lật úp. Giống như chiếc Maryland đã bị thương sau khi chiếc Oklahoma đậu bên ngoài nó bị đánh chìm, chiếc Tennessee bắt đầu bị trúng bom và ngư lôi sau khi chiếc West Virginia không còn đứng bên để che cho nó nữa. Còn Nevada là chiếc tàu duy nhất dứng cuối hàng các thiết giáp hạm, phơi mình chịu hỏa lực máy bay Nhật. Một quả ngư lôi đánh trúng mũi tàu làm nó hơi chúi xuống và một quả bom rơi trúng boong phía mạn tàu. Mặc dù bị thương, nhưng các bộ phận điều khiển và vô tuyến điện trên tàu vẫn còn tốt. Một sĩ quan đã nhận lấy quyền chỉ huy trong khi vắng hạm trưởng để đưa tàu chạy thoát ra biển. Thông thường, muốn cho thiết giáp hạm di chuyển, cần phải có hai giờ rưỡi để khởi động các nồi hơi và sử dụng 4 tàu kéo. Lần này may mắn là một nồi hơi của tàu đã được khởi động từ sáng sớm để thử máy, nhờ đó tàu có thể rời cảng sau 45 phút kể từ lúc máy bay Nhật bắt đầu tấn công. Nhờ sự chỉ dẫn luồng lạch của viên thuyền trưởng một tàu cuốc đậu tại lối ra vào cảng, chiếc Nevada vừa chạy vừa chiến đấu và khéo léo xoay chuyển trong bến cảng thật chội đầy khói lửa để tránh bom và ngư lôi. Hai tàu kéo được phái đến giúp thiết giáp hạm này đi vào luồng lạch. 8 giờ 50 phút, các máy bay của đợt tấn công thứ hai tiếp cận Oahu theo hướng ngược với đợt 1: vòng qua bờ đông của đảo để tiến tới mục tiêu. Với sự yểm trợ của 36 chiến đấu cơ, 54 máy bay ném bom độ cao hướng tới các sân bay và 78 máy bay ném bom bổ nhào do trung tá Takashige Egusa chỉ huy ập đến Trân Châu Cảng. 8 giờ 55, Shimazaki hạ lệnh tấn công, nhưng khói lửa mịt mù và hỏa lực phòng không cực mạnh đã làm cho các phi công mới nhập cuộc khó có thể ném bom chính xác. Fuchida ra lệnh cho các máy bay đợt 1 quay trở về còn mình thì nhập vào đợt 2, lập tức bắt liên lạc với Shimazaki để chỉ dẫn và giao nhiệm vụ cho các phi công mới tới. Các máy bay ném bom bổ nhào của Egusa đã nhanh chóng xác định được mục tiêu của mình: đánh tiếp vào các thiết giáp hạm còn lại và tấn công các tuần dương hạm, khu trục hạm. Từ trên không nhìn qua màn khói, các phi công Nhật vẫn thấy rõ chiếc Nevada đang di chuyển. Khi thiết giáp hạm đã tiến vào luồng lạch, máy bay Nhật đã dồn dập tấn công nhằm đánh chìm nó để bịt kín lối ra vào Trân Châu Cảng. Thêm 6 quả bom rơi trúng tàu làm tung lên trời chiếc cầu gần ống khói và những cấu trúc phía trước. Tuy vậy chiếc Nevada vẫn ngoan cường bắn trả mãnh liệt và tiếp tục tiến lên. Nhưng đến 9 giờ 10 phút thì tàu bị mắc cạn ngay gần lối ra vào cảng. Nhờ đó, viên hạm trưởng mới đuổi kịp và leo lên mạn tàu, nhận lại trách nhiệm chỉ huy của mình. Trong suốt trận đánh, trên chiếc Nevada có 50 người tử trận và hơn 100 người khác bị thương. Nhưng các thủy binh dũng cảm đã giữ cho con tàu của mình không bị đánh chìm. Thiết giáp hạm Pennsylvania, kì hạm của hạm đội, với hai khu trục hạm đứng sát hai bên cùng đậu ở ụ tàu. Nước trong ụ tàu đã được hút ra, các chiến hạm được hạ xuống và nhũng tấm chắn cao của ụ tàu khô đã che chở cho các chiến hạm bên trong thoát khỏi đòn giáng của ngư lôi Nhật. Nhưng những tấm chắn đó lại cản trở tầm nhìn của các xạ thủ phòng không trên tàu, khiến họ không thể thấy máy bay địch từ xa và luôn bị tấn công bất ngờ. Nhận ra điều đó, một công nhân lái chiếc cần cẩu chạy trên đường ray dọc theo tấm chắn ụ tàu tên là George Walters đã quyết định đóng góp phần mình vào việc bảo vệ các chiến hạm. Ngồi trên buồng lái cần cẩu ở độ cao 15m, Walters theo dõi các máy bay địch tiến đến ụ tàu và cho cần cẩu di động về hướng có máy bay. Các xạ thủ nhận ra ý nghĩa của hành động này đã hướng mũi súng theo chiếc cần cẩu để kịp thời bắn chặn máy bay địch, hạn chế độ chính xác của các trận mưa bom. Nhờ vậy, mặc dù cả hai khu trục hạm cùng chiếc cần cẩu có người công nhân anh hùng ấy bị bom phá hủy tan tành, thiết giáp hạm Pennsylvania chỉ bị thương không nặng lắm. Theo nhận định của Fuchida, các máy bay của đợt 2 đã lao vào tấn công những chiến hạm có hỏa lực phòng không mạnh nhất bởi vì những chiến hạm này đã bị tổn thất ít hơn trong đợt tấn công thứ nhất. Thiết giáp hạm USS West Virginia trúng phải bảy ngư lôi, quả thứ bảy xé rách bánh lái của nó. Trong giây lát, chiếc West Virginia bốc cháy và chìm xuống biển khi vẫn giữ thăng bằng. Thiết giáp hạm USS Oklahoma trúng phải bốn ngư lôi, hai quả cuối cùng chạm đích phía trên đai giáp bảo vệ làm cho nó bị lật úp. Thiết giáp hạm USS Maryland trúng phải hai quả đạn 40 cm được cải biến, nhưng không bị hư hại nghiêm trọng. Mặc dù quân Nhật tập trung vào các tàu chiến lớn quan trọng nhất, họ cũng không bỏ qua các mục tiêu khác. Tàu tuần dương hạng nhẹ USS Helena bị trúng ngư lôi, và sự rung chuyển của vụ nổ đã làm lật úp chiếc tàu thả mìn USS Oglala kế cận. Hai tàu khu trục đang nằm trong ụ tàu bị phá hủy khi bom xuyên trúng bồn chứa nhiên liệu của chúng. Nhiên liệu bị rò rỉ đã bắt lửa, và nỗ lực dập lửa bằng cách làm ngập ụ tàu đã khiến dầu đang bốc cháy dâng cao thiêu rụi con tàu. Tàu tuần dương hạng nhẹ USS Raleigh bị thủng một lỗ bởi ngư lôi. Tàu tuần dương hạng nhẹ USS Honolulu bị hư hại nhưng vẫn tiếp tục hoạt động. Tàu khu trục USS Cassin bị lật úp, còn tàu khu trục USS Downes bị hư hỏng nặng. Chiếc tàu sửa chữa USS Vestal neo đậu bên cạnh chiếc Arizona bị hư hỏng nặng và mắc cạn. Tàu chở thủy phi cơ USS Curtiss cũng bị hư hại. Tàu khu trục USS Shaw bị hư hỏng đáng kể khi hai quả bom xuyên trúng hầm đạn phía trước. === Tấn công các sân bay === Nếu như hải quân chỉ lo đối phó với tàu ngầm thì lục quân và không quân của lục quân trên đảo chỉ đề phòng bọn phá hoại, không hề chuẩn bị đối phó với một cuộc tấn công bằng không quân. Theo lệnh tướng Short, máy bay trên các sân bay đều được xếp thành từng tốp cánh sát cánh và thẳng hàng với nhau trên những bãi đậu hoàn toàn trống trải. Bố trí như vậy là để chống phá hoại máy bay, nhưng lại tạo ra điều kiện lý tưởng để không quân dịch tiêu diệt chúng. Các thủy phi cơ tại căn cứ Kaneohe của hải quân cũng xếp hàng thẳng tắp. 7 giờ 50 phút, loạt bom đầu tiên đã rơi xuống sân bay Wheeler, căn cứ chính của các chiến đấu cơ. Các sĩ quan không quân Hoa Kỳ đang ngủ trong một doanh trại gần sân bay choàng tỉnh dậy và nhốn nháo hẳn lên. Có người tưởng là động đất, người khác cho rằng máy bay của hải quân diễn tập. Nhưng khi chạy ra ngoài thì họ đã hiểu: các máy bay Nhật nối tiếp nhau bổ nhào xuống ném bom sân bay. Đó chính là đoàn máy bay ném bom bổ nhào của trung tá Akira Sakamoto. Những tốp máy bay Mĩ đậu sát nhau trên bãi đã bùng cháy. Một số phi công Hoa Kỳ nâng đệm trải giường lên đầu chạy ra sân bay để cố cứu máy bay của mình. 7 giờ 55 phút, máy bay Nhật thuộc phi đoàn của trung tá Kakuichi Takashi bắt đầu ném bom tấn công sân bay Hickam. Lục quân và không quân trên đảo được báo động gần như cùng lúc với hải quân. Từ các sân bay, người ta dùng bất cứ loại vũ khí nào kiếm được để bắn lên trời: từ súng máy, súng trường cho đến cả súng lục. Nhưng hỏa lực chủ yếu vẫn dựa vào hơn 80 khẩu pháo phòng không cỡ 3 inches, 20 pháo phòng không 37 mm và hơn 100 súng máy cỡ lớn nhưng vì thiếu tổ chức phối hợp nên không gây thiệt hại đáng kể cho máy bay Nhật. Chỉ trong ít phút đầu, các căn cứ không quân của lục quân là Wheeler, Hickam, Bellows cũng như các căn cứ không quân của hải quân ở Kaneohe, đảo Ford và sân bay Ewa đều bị tàn phá khủng khiếp. Phối hợp với các máy bay ném bom bổ nhào, các chiến đấu cơ Nhật cũng sà xuống xả súng vào các sân bay và các ổ phòng không. Không một máy bay nào của hải quân Mĩ có thể bay lên được vì hầu hết chúng đã bị phá hủy. Các thủy phi cơ đã chìm hoặc cháy ngay trong nhà để máy bay. Các phi công của hải quân trên đảo Ford mất hết máy bay đã nấp sau các cây cọ để chiến đấu bằng súng lục và súng trường. Trên tất cả các sân bay của lục quân, cũng chỉ có 10 máy bay Mĩ cất cánh. Trong trận không chiến không cân sức trên bầu trời Oahu sáng hôm đó, các máy bay này đã hạ được 11 máy bay Nhật. Trong đó, chỉ riêng hai trung úy George Welch và Kenneth Taylor đã bắn rơi 7 chiếc và trở thành các anh hùng không quân đầu tiên của Hoa Kỳ trong cuộc chiến tranh này. Khoảng 8 giờ, các pháo đài bay khổng lồ B-17 có 4 động cơ của Hoa Kỳ mà người ta chờ đón đã đến Oahu sau khi hoàn tất chuyến bay kỉ lục 14 giờ không nghỉ. Thiếu tá Truman Landon chỉ huy phi đội đi trong tốp đầu gồm 6 chiếc. Trông thấy nhiều chiến đấu cơ lượn vòng trên đảo, ông nghĩ rằng không quân Mĩ ở đây đang bay lên để đón chào đội bay của mình. Nhưng khi các chiến đấu cơ ấy lao vút đến gần các pháo đài bay và bắn xả vào các máy bay Mĩ, thì Landon đã nhận rõ tình hình. Các máy bay của Landon bay tán loạn và vội vã tìm nơi hạ cánh. Chịu đựng cùng một lúc từng tràng đạn súng máy của các máy bay Nhật và hỏa lực phòng không Mĩ, chiếc pháo đài bay của Landon cùng 4 chiếc khác lần lượt đáp xuống sân bay Hickam giữa những máy bay đang bốc cháy trên mặt đất, còn 1 chiếc bay lên phía Bắc và hạ cánh xuống sân bay Bellows đang bị tàn phá. Tốp 6 chiếc pháo đài bay thứ hai do đại úy Richard Cannichael chỉ huy cũng dự định đáp xuống Hickam nhưng tình hình nguy hiểm ở đây đã làm chúng phải phân tán đi nhiều hướng. Hai chiếc đến Wheeler nhưng bị bắn mạnh lại phải vòng về Haleiwa và hạ cánh một cách khó khăn trên đường băng quá ngắn của sân bay này. Một chiếc bay lên tận mỏm cực bắc của đảo để đáp xuống một bãi đất hoang gần biển. Ba chiếc còn lại liều mạng hạ cánh tại Hickam giữa làn đạn phòng không bắn xối xả. Trên thân các pháo đài bay, ngoài phù hiệu không quân còn có hàng chữ "USARMY" viết rất lớn. Nhưng trong cơn hoảng loạn, các xạ thủ phòng không Mĩ hoặc đã không nhận thấy hoặc cho rằng quân Nhật đã sơn lên thân máy bay chữ ấy để đánh lừa họ. Nhờ có vỏ thép dày và cấu tạo đặc biệt, các pháo đài bay Mĩ không bị đạn súng máy và đạn phòng không hủy diệt. Tất cả đã hạ cánh an toàn với một số tổn thương. Một lúc sau, sau khi hoàn tất việc đua một đội hạm tàu và các chiến đấu cơ đến đảo Wake, tàu sân bay Mĩ Enterprise do đô đốc William Halsey điều khiển trở về căn cứ. Sáng 7 tháng 12, còn cách Oahu 200 dặm về phía Tây, khi chưa được biết về cuộc tấn công Trân Châu Cảng, đô đốc Halsey đã phái một đoàn máy bay gồm 19 chiếc bay về trước để thăm dò tình hình và báo cáo với Bộ tư lệnh hạm dội về nhiệm vụ đã hoàn thành. Gần 8 giơ 30 phút, tốp đầu tiên trong số đó gồm 6 máy bay phóng ngư lôi đã tiếp cận Trân Châu Cảng và chứng kiến một cảnh tượng mà các phi công của đội bay cho là "cuộc diễn tập ngày chủ nhật". Lúc sắp sửa hạ cánh xuống sân bay trên đảo Ford, máy bay của họ bị các chiến đấu cơ Nhật bám đuôi và bắn xối xả đồng thời hỏa lực phòng không Mĩ cũng tập trung bắn vào họ. Khi các phi công Mĩ hiểu rõ sự tình thì đã muộn: 5 máy bay của họ bị bắn rơi, thỉ còn 1 chiếc đáp xuống sân bay với thương tích đầy mình. Thành phố Honolulu chỉ bị một trái bom Nhật lạc hướng rơi trúng. Còn 40 vụ nổ khác trong thành phố là do lực lượng phòng không Mĩ gây ra, làm 68 thường dân chết và bị thương. Đúng 9 giờ 45 phút, Mitsuo Fuchida ra lệnh cho tất cả các máy bay Nhật quay tụ về mũi đất Kaena để quay về hạm đội, kết thúc cuộc tấn công. Tiếng đạn bom im bặt, nhưng trên bầu trời Oahu vẫn còn một máy bay Nhật bay lượn thêm nửa giờ nữa. Đó là máy bay của tư lệnh hành quân Fuchida đang xác định lại lần cuối cùng kết quả của trận đánh. Những đám cháy vẫn còn bốc cao trên cảng làm ông khó quan sát, nhưng Fuchida cũng chụp được nhiều bức ảnh tốt. Việc đánh giá mức độ hủy diệt tại các sân bay có khó khăn hơn nhưng thực tế trên trời không hề có một máy bay Hoa Kỳ nào đã cho thấy được kết quả. === Cuộc tập kích kết thúc === Gần 10 giờ sáng, lần lượt các máy bay phóng ngư lôi, các máy bay ném bom và sau cùng là các chiến đấu cơ của đợt tấn công thứ nhất đã quay trở về đoàn chiến hạm "Kido-Butai". Một giờ sau, đến lượt các máy bay của đợt hai hạ cánh. Các máy bay vừa mới trở về lập tức được sửa chữa, nạp nhiên liệu, lắp vũ khí để chờ lệnh xuất kích. Trung tá Genda lên gặp đô đốc Nagumo đề nghị cho hạm đội lưu lại Hawaii thêm một số ngày nữa để tìm kiếm và tiêu diệt các tàu sân bay địch. Khoảng gần giữa trưa, chiếc máy bay cuối cùng mang số hiệu AI - 301 đáp vội vã xuống boong kì hạm Akagi, đó là máy bay của Fuchida. Bất chấp những lời nài nỉ của Fuchida và Genda nên xuất kích đợt tấn công thứ ba, đúng 13 giờ, đô đốc Nagumo ra lệnh nhổ neo và toàn thể các chiến hạm của "Kido-Butai" quay sang hướng Tây thẳng tiến về bờ biển Nhật Bản. Ở cách Hawaii hơn 5000 dặm, Hạm đội Liên hợp thả neo tại một vịnh biển thuộc hòn đảo nhỏ Hashirajima gần thành phố Hiroshima bên bờ Nội Hải (Nhật Bản) được đặt trong tình trạng sẵn sàng chiến đấu từ khi bắt đầu cuộc tấn công Trân Châu Cảng. Ngay từ 2 giờ sáng, đô đốc Isoroku Yamamoto và Bộ tham mưu của ông đã có mặt trong buồng chỉ huy thiết giáp hạm Nagato với một tấm bản đồ lớn của vùng Hawaii trên bàn và một máy khuếch đại âm thanh vô tuyến trên tường. Khoảng 8 giờ, trung tá Watanabe ghi nhận tổn thất của Hoa Kỳ trên một tờ giấy và trao cho tư lệnh đọc: Thiết giáp hạm: 3 chiếc chìm, 4 chiếc bị hư hỏng. Tuần dương hạm: 2 chiếc bị hư hỏng. Khu trục hạm: 2 hoặc 3 chiếc bị hư hỏng. Máy bay bị phá: hàng trăm chiếc. Sau khi nghiên cứu một lát, Yamato ra lệnh "Quá tốt nếu là sự thật. Kiểm chứng lại. Chiều nay khi nào chắc chắn rồi mới trình Thiên hoàng.". Trên thực tế, số liệu thực sự về tổn thất Hoa Kỳ còn lớn hơn báo cáo ấy. === Kết quả cuộc tập kích === Chín mươi phút kể từ khi bắt đầu, cuộc tấn công kết thúc. 2.386 người Mỹ bị thiệt mạng (55 người là thường dân, đa số bị giết khi các quả đạn pháo phòng không không được kích nổ rơi xuống các khu vực dân cư), và thêm 1.139 người khác bị thương. Mười tám tàu bị đánh chìm, kể cả năm chiếc thiết giáp hạm. Trong số 402 máy bay Mỹ có mặt tại Hawaii, 188 chiếc bị phá hủy và 159 chiếc bị hư hỏng, 155 trong số đó đậu trên mặt đất. Hầu như không có chiếc nào thực sự sẵn sàng để cất cánh nhằm bảo vệ căn cứ. Trong số 33 chiếc thủy phi cơ PBY ở Hawaii, 24 chiếc bị phá hủy và sáu chiếc khác bị hư hỏng nặng đến mức không thể sửa chữa, ba chiếc khác đang phiên đi tuần tra khi cuộc tấn công xảy ra đã quay trở về an toàn. Pháo phòng không cũng đã bắn nhầm một số máy bay Mỹ, kể cả năm chiếc xuất phát từ tàu sân bay USS Enterprise trên đường quay về. Cuộc tấn công của Nhật vào các trại binh cũng đã gây thêm một số thương vong. Về phía Nhật, 55 phi công và chín thủy thủ tàu ngầm tử trận cùng một người bị bắt làm tù binh. Trong số 414 máy bay tham gia tấn công, 29 chiếc bị mất trong trận đánh (chín chiếc trong đợt tấn công thứ nhất và 20 chiếc trong đợt thứ hai), cùng 74 chiếc khác bị hư hại do hỏa lực phòng không từ mặt đất. === Khả năng thực hiện đợt tấn công thứ ba === Nhiều sĩ quan cấp dưới của Nhật Bản, trong đó có cả Mitsuo Fuchida và Minoru Genda, kiến trúc sư chính của cuộc tấn công, đã thuyết phục Đô đốc Nagumo tiếp tục thực hiện đợt không kích thứ ba nhằm tiêu diệt càng nhiều càng tốt nhiên liệu và ngư lôi dự trữ tại Trân Châu Cảng, cũng như các cơ sở sửa chữa và ụ tàu. Các sử gia quân sự đều cho rằng việc phá hủy các cơ sở này sẽ ảnh hưởng đến hoạt động của Hạm đội Thái Bình Dương nặng nề hơn nhiều so với phá hủy các thiết giáp hạm. Nếu chúng bị quét sạch, "các chiến dịch quân sự nghiêm túc tại Thái Bình Dương phải bị trì hoãn hơn một năm." Tuy nhiên, Nagumo đã quyết định rút lui vì nhiều lý do: Hỏa lực phòng không Hoa Kỳ đã cải thiện đáng kể trong đợt tấn công thứ hai, và hai phần ba các tổn thất của phía Nhật Bản xảy ra trong đợt này. Nagumo cảm thấy nếu ông tung ra đợt tấn công thứ ba, ông sẽ phải đặt ba phần tư sức mạnh tấn công của Hạm đội Liên hợp vào nguy hiểm để càn quét các mục tiêu còn lại (bao gồm các cơ sở nói trên) trong khi phải chịu nhiều tổn thất máy bay hơn nữa. Vị trí của các tàu sân bay Hoa Kỳ vẫn còn chưa được biết. Thêm vào đó, vị Đô đốc còn lo ngại rằng lực lượng của ông giờ đây nằm trong tầm hoạt động của những máy bay ném bom Mỹ xuất phát từ mặt đất. Nagumo không chắc chắn rằng liệu Hoa Kỳ có còn đủ số máy bay còn sót tại Hawaii để tung ra một cuộc tấn công vào các tàu sân bay của ông hay không Một đợt tấn công thứ ba đòi hỏi phải có sự chuẩn bị thích đáng và thời gian quay vòng, điều này có nghĩa là những máy bay tấn công khi quay trở về sẽ phải hạ cánh lúc trời tối. Cho đến thời ấy, chưa có lực lượng hải quân nào phát triển hay thực hành kỹ thuật tàu sân bay ban đêm, nên đây là rủi ro lớn. Tình hình nhiên liệu của Lực lượng Đặc nhiệm không cho phép ông nán lại vùng biển phía Bắc Hawaii lâu hơn nữa, vì ông đang ở sát giới hạn của khả năng tiếp vận. Việc tiếp tục tấn công sẽ mạo hiểm làm cạn đáng kể nhiên liệu, thậm chí đến mức phải bỏ lại các tàu khu trục trên đường quay trở về. Ông tin rằng đợt tấn công thứ hai về cơ bản đã thỏa mãn mục đích chủ yếu của nhiệm vụ, đó là vô hiệu hóa Hạm đội Thái Bình Dương, và không cần thiết phải mạo hiểm để gánh thêm nhiều thiệt hại khác. Hơn nữa, hoạt động của Hải quân Đế quốc Nhật Bản thiên về việc bảo toàn sức mạnh hơn là tiêu diệt toàn bộ đối phương. Chưa kể, quân đội Nhật đã đánh mất đi yếu tố bất ngờ. Khi mà quân đội Mỹ đã bắn rơi hàng chục chiếc máy bay của họ. Trong một hội nghị trên chiếc thiết giáp hạm Yamato vào buổi sáng ngày hôm sau, Yamamoto thoạt tiên ủng hộ Nagumo. Sau này, khi nhìn lại, việc bỏ sót các ụ tàu, công xưởng sửa chữa và kho dầu mang ý nghĩa sống còn đó khiến cho người Mỹ có thể phản ứng tương đối nhanh chóng các hoạt động của Nhật tại Thái Bình Dương. Yamamoto sau đó đã lấy làm tiếc cho quyết định rút lui của Nagumo và thẳng thừng cho rằng đó là một sai lầm lớn khi không tung ra đợt tấn công thứ ba. == Quá trình trục vớt của Hải quân Hoa Kỳ == Sau cuộc tìm kiếm có hệ thống những người còn sống sót, các công việc trục vớt được bắt đầu. Sĩ quan chỉ huy hậu cần của Hạm đội Thái Bình Dương, Đại tá Hải quân Homer N. Wallin, người chuẩn bị đi đến Massawa nhằm giúp người Anh dọn sạch các con tàu Đức và Italy bị đánh đắm tại đây, lập tức được giữ lại để chỉ huy các công việc trục vớt. Chung quanh Trân Châu Cảng, thợ lặn của hải quân (trên bờ và trên các tàu vận chuyển), xưởng tàu và các nhà thầu tư nhân (Pacific Bridge và các hãng khác) bắt đầu công việc với các con tàu có thể nổi trở lại. Họ vá các lỗ thủng, dọn sạch các mảnh vỡ, và bơm nước ra khỏi tàu. Các thợ lặn hải quân làm việc bên trong các con tàu bị hư hỏng. Trong vòng sáu tháng, năm chiếc thiết giáp hạm và hai tàu tuần dương đã được vá các lỗ thủng hay trục vớt để có thể đưa vào các xưởng tàu ở Trân Châu Cảng hoặc đất liền sửa chữa triệt để. Các hoạt động trục vớt khẩn trương được tiếp tục trong một năm sau đó, tốn kém tổng cộng 20.000 giờ lao động dưới nước. Oklahoma, cho dù được vớt lên thành công, không bao giờ được sửa chữa. Arizona và chiếc tàu mục tiêu giả Utah bị hư hại nặng nề đến mức không được vớt lên, nhưng nhiều vũ khí và thiết bị của chúng được tháo ra để sử dụng trên những con tàu khác. Ngày nay, xác của hai con tàu này vẫn còn lại nơi chúng bị đắm, với Arizona trở thành một bảo tàng chiến tranh. == Diễn biến tiếp theo == Sau trận tấn công, 16 Huân chương Danh dự Quốc hội, 51 Huân chương Chữ thập Hải quân, 53 Huân chương Chữ thập Bạc, bốn Huân chương Hải quân và Thủy quân Lục chiến, một Chữ thập Bay Xuất sắc, bốn Chữ thập Phục vụ Xuất sắc, một Huân chương Phục vụ Xuất sắc và ba Ngôi sao Đồng được tặng thưởng cho các quân nhân Hoa Kỳ đã tỏ ra xuất sắc trong chiến đấu tại Trân Châu Cảng. 12 giờ 30 phút ngày 8 tháng 12, tổng thống Roosevelt đã đọc Tuyên cáo chiến tranh của Hoa Kỳ đối với Nhật Bản. Ông mở đầu bài diễn văn như sau: Sau khi nói rõ thiện chí hòa bình và sự tráo trở của Nhật Bản trong các cuộc hội đàm và trong hành động thực tế để dẫn đến chiến tranh, tổng thống Roosevelt tuyên bố: Hoa Kỳ đã chính thức bước vào cuộc chiến tranh tổng lực với Nhật Bản. Trong ngày 7 tháng 12, Úc cũng tuyên chiến với Nhật Bản và một ngày sau đến lượt Hà Lan. Tiếp đó, nước Pháp Tự do, New Zealand, Canada,… tất cả hơn 20 nước cũng lần lượt tuyên chiến với Nhật. Tin chiến tranh giữa Nhật và Hoa Kỳ bùng nổ bay đến Berlin một cách đột ngột trong lúc Đức Quốc xã đang tập trung mọi sự chú ý vào mặt trận phía Đông, nơi Hồng quân Liên Xô đã phản công mãnh liệt đẩy lùi quân Đức trước Moscow. Liền đó, cũng trong ngày 8 tháng 12, Quốc trưởng Adolf Hitler đã nhận được thông điệp của chính phủ Nhật, yêu cầu Đức và Ý tuyên chiến với Hoa Kỳ theo như cam kết trong Hiệp ước Tam cường. Đêm ngày 9 tháng 12, cả Hitler lẫn Mussolini đã điện trả lời chính phủ Nhật rằng cam đoan cả ba nước sẽ chiến đấu đến thắng lợi cuối cùng, không giảng hòa riêng rẽ nhưng vẫn né tránh việc tuyên chiến với Hoa Kỳ. Trưa ngày 10 tháng 12, đại sứ Nhật Oshima đã trình lên Quốc trưởng một thông điệp mới của chính phủ Nhật trả lời điện văn nói trên của Đức và Ý. Thông điệp này bày tỏ hi vọng quân đội Đức sẽ tiến ngay vào Trung Cận Đông với ngụ ý Đức nên tuyên chiến. Ngoại trưởng Đức Joachim von Ribbentrop cố gắng thuyết phục Hitler không nên tuyên chiến với Hoa Kỳ vì theo Hiệp ước Tam Cường, Đức sẽ chiến đấu bên cạnh Nhật chỉ khi Nhật bị một nước khác tấn công. Tuy nhiên, vào lúc ấy, bộ ngoại giao Đức lại nhận được điện của tham tán ngoại vụ Hans Thompson ở Washington D.C rằng 24 giờ nữa Hoa Kỳ sẽ tuyên chiến hoặc cắt quan hệ ngoại giao với Đức. Chụp lấy cơ hội này, Hitler vội vã triệu tập Quốc hội vào ngày 11 tháng 12 và chính thức tuyên chiến với Hoa Kỳ. Cùng trong ngày hôm ấy, Ý cũng tuyên chiến với Hoa Kỳ và Hoa Kỳ tuyên chiến với Đức. Hitler đã phát biểu trong dịp này như sau: "Sự kiện Chính phủ Nhật Bản, vốn đã thương lượng trong nhiều năm cùng con người này Franklin D. Roosevelt, cuối cùng đã trở nên mệt mỏi vì bị ông ta chơi xấu một cách vô ơn, đã khiến cho tất cả chúng ta, dân tộc Đức, cùng tất cả các dân tộc có lương tri khác trên thế giới, cảm thấy vô cùng thất vọng... Đức và Ý, sau khi xem xét tất cả các điều này và vì sự trung thành với Hiệp ước ba bên, cuối cùng đã buộc phải tiến hành cuộc chiến chống lại Hoa Kỳ và Anh Quốc, hiệp cùng và sát cánh với Nhật Bản để bảo vệ và từ đó duy trì sự tự do và độc lập của các quốc gia và vương quốc của họ... Là kết quả của sư bành trướng chính sách của Tổng thống Roosevelt, vốn nhắm vào việc chinh phục thế giới và độc tài vô giới hạn, Hoa Kỳ cùng với Anh Quốc đã không ngần ngại sử dụng mọi phương cách để tranh chấp các quyền lợi của các quốc gia Đức, Ý và Nhật Bản thậm chí đến quyền sinh tồn... Không chỉ vì chúng ta là đồng minh của Nhật Bản, mà còn vì Đức và Ý có đủ sáng suốt và sức mạnh để nhận thức rằng, trong khoảnh khắc lịch sử này, sự tồn tại hay biến mất của các quốc gia, có thể được quyết định mãi mãi." Cho dù cuộc tấn công gây thiệt hại trên diện rộng cho tàu chiến và máy bay Mỹ, nó đã không ảnh hưởng đến các cơ sở dự trữ nhiên liệu, xưởng sửa chữa và các cơ quan tình báo tại Trân Châu Cảng. Cuộc tấn công là một cú sốc thật sự đối với tất cả các nước Đồng Minh tại Mặt trận Thái Bình Dương. Các thiệt hại tiếp theo sau tạo ra một sự thụt lùi đáng báo động. Ba ngày sau, sự kiện các tàu chiến Prince of Wales và Repulse bị đánh chìm ngoài khơi bờ biển Malaya khiến Thủ tướng Anh Quốc Winston Churchill sau này nhớ lại: "Trong suốt cuộc chiến tranh tôi chưa bao giờ nhận được một cú sốc trực tiếp đến như thế. Khi tôi trăn trở trên giường, nỗi sợ hãi bao trùm lấy tâm trí tôi. Không còn chiếc tàu chiến chủ lực Anh hay Hoa Kỳ nào còn lại trên Ấn Độ Dương và Thái Bình Dương trừ những chiếc của Hoa Kỳ còn sống sót tại Trân Châu Cảng đang vội vã lui về California. Trên các vùng biển mênh mông này người Nhật đang là bá chủ, và chúng ta đang yếu đuối và trần trụi ở mọi nơi". May mắn cho phía Hoa Kỳ, các tàu sân bay Hoa Kỳ đã không bị đụng đến trong cuộc tấn công của Nhật; nếu không thì khả năng tiến hành các chiến dịch tấn công của Hạm đội Thái Bình Dương sẽ bị tê liệt trong khoảng một năm (nếu không chuyển hướng một phần lực lượng Hạm đội Đại Tây Dương). Như đã thấy, lực lượng thiết giáp hạm bị loại bỏ khiến Hải quân Hoa Kỳ không còn sự lựa chọn nào khác ngoài cách dựa vào các tàu sân bay và tàu ngầm, chính những vũ khí đã giúp Hoa Kỳ chặn đứng và đảo ngược thế thượng phong của Nhật Bản. Năm trong số tám thiết giáp hạm được sửa chữa và quay trở lại hoạt động, nhưng vận tốc chậm của chúng làm giới hạn hoạt động được bố trí, và chúng phục vụ chủ yếu trong vai trò bắn phá bờ biển. Một thiếu sót lớn trong tư duy chiến lược của Nhật Bản là niềm tin về một trận chiến Thái Bình Dương cuối cùng được đấu giữa những thiết giáp hạm theo đúng học thuyết của Thuyền trưởng Alfred Mahan. Hậu quả là, Yamamoto (và những người kế tiếp ông) cố dành dụm những chiếc thiết giáp hạm cho một "trận chiến quyết định" không bao giờ xảy ra. Cuối cùng, các mục tiêu không nằm trong danh sách của Genda, như căn cứ tàu ngầm và ngôi nhà sở chỉ huy cũ, đã chứng tỏ tầm quan trọng lớn hơn mọi chiếc tàu chiến. Chính những chiếc tàu ngầm đã vô hiệu hóa những con tàu nặng nề của Hải quân Đế quốc Nhật Bản và đưa tình trạng kinh tế của Nhật Bản đến mức trì trệ bằng cách phá hỏng sự vận chuyển dầu mỏ và nguyên liệu thô. Tương tự, tầng hầm của ngôi nhà sở chỉ huy cũ là trụ sở của đơn vị phân tích mật mã vốn đã góp phần đáng kể vào trận mai phục Midway và thành công của lực lượng tàu ngầm. === Các ảnh hưởng chiến lược === Đô đốc Hara Tadaichi đã tóm lược kết quả cuộc tấn công về phía Nhật Bản bằng một câu nói súc tích: "Chúng ta thắng một chiến thắng chiến thuật vĩ đại tại Trân Châu Cảng, và do đó đã thua cả cuộc chiến." Trong khi đạt được các mục tiêu đặt ra, cuộc tấn công lại tỏ ra hoàn toàn không cần thiết. Điều mà Đô đốc Isoroku Yamamoto - người đầu tiên nghĩ ra kế hoạch - chưa bao giờ biết đến, đó là Hải quân Hoa Kỳ ngay từ năm 1935 đã từ bỏ dự định "xung phong" băng ngang suốt Thái Bình Dương đến tận Philippines để trả đũa hành động mở đầu chiến tranh (như quy định trong Kế hoạch Cam). Thay vào đó Hoa Kỳ chấp thuận "Kế hoạch Dog" vào năm 1940, nhấn mạnh đến việc giữ cho Hải quân Đế quốc Nhật Bản bên ngoài khu vực Đông Thái Bình Dương và cách xa con đường biển vận chuyển đến Úc trong khi Hoa Kỳ tập trung vào việc đánh bại Đức Quốc xã. Tác giả Robert Leckie nhận xét rằng "Tổng thống Franklin Roosevelt đã khôn ngoan che giấu những chi tiết của thảm họa này hơn là chịu đựng nguy cơ về sự hoảng sợ của công chúng, và chỉ công bố những chi tiết này sau khi Hoa Kỳ đã bắt đầu phản công tại Guadalcanal" vào tháng 8 năm 1942. == Những hình ảnh về trận Trân Châu Cảng == == Phim và sách về sự kiện == === Hư cấu === The Final Countdown là một bộ phim lấy bối cảnh chung quanh Trân Châu Cảng, trong đó chiếc tàu sân bay nguyên tử USS Nimitz vào năm 1980 được cho đi ngược thời gian về ngày 6 tháng 12 năm 1941, một ngày trước khi xảy ra trận tấn công vào cảng. From Here to Eternity của tác giả James Jones. Trận tấn công Trân Châu Cảng đóng một vai trò thiết yếu trong cuộc sống của Robert E. Lee Prewitt. === Hư cấu dựa trên lịch sử === Tora! Tora! Tora! năm 1970 là một bộ phim về cuộc tấn công của Nhật Bản vào Trân Châu Cảng. Nhiều người đã đánh giá nó là bộ phim trung thực nhất kể lại cuộc tấn công này vì nó liên hệ đến nhiều khía cạnh của trận đánh có chú ý đến các sự kiện có thật trong lịch sử. Trân Châu Cảng (Pearl Harbor) là tựa của một bộ phim sản xuất năm 2001 về cuộc tấn công năm 1941. Cuốn phim là một câu chuyện tình hơn là một biên niên sử chính xác của sự kiện này, cho dù một số sự kiện được trình bày đã thực sự xảy ra. Một số cảnh trong phim trên tàu được quay trên chiếc USS Lexington ở Corpus Christi, Texas. Phim được đạo diễn bởi Michael Bay và gồm các diễn viên Ben Affleck, Josh Hartnett, Cuba Gooding Jr. và Kate Beckinsale. December 7th, đạo diễn bởi John Ford cho Hải quân Hoa Kỳ vào năm 1943, là một cuốn phim tái tạo lại các đợt tấn công của lực lượng Nhật Bản. Các tài liệu khác cũng như các tài liệu nghe nhìn thường nhầm lẫn chiếu lại các hình ảnh trong phim này cho là các cảnh quay thực của cuộc tấn công Trân Châu Cảng. === Sách lịch sử === At Dawn We Slept: The Untold Story of Pearl Harbor của tác giả Gordon W. Prange là một công trình cực kỳ toàn diện về những sự kiện dẫn đến cuộc tấn công Trân Châu Cảng. Đây là một bản báo cáo công bằng xem xét đến cả khía cạnh của Nhật Bản lẫn Hoa Kỳ. Prange đã bỏ ra 37 năm cho quyển sách này bằng cách nghiên cứu các tài liệu về Trân Châu Cảng và phỏng vấn những người tham gia còn sống sót để thử lần ra sự thật thấu đáo về những gì đã xảy ra khiến Nhật Bản tấn công Hoa Kỳ tại Trân Châu Cảng, tại sao tình báo Hoa Kỳ đã thất bại trong việc dự đoán trận tấn công, và tại sao một thỏa thuận hòa bình đã không thể đạt được. The Village đã nói về At Dawn We Slept như sau: "là công trình toàn diện và đầy đủ nhất mà chúng ta muốn có về chính xác những gì đã xảy ra và bằng cách nào và tại sao." The Attack on Pearl Harbor: An Illustrated History của tác giả Larry Kimmett và Margaret Regis là một công trình tái dựng một cách cẩn thận "Day of Infamy" (Ngày ô nhục) sử dụng bản đồ, hình ảnh, minh họa và một CD hoạt hình. Nó mô tả lại các giai đoạn vạch kế hoạch ban đầu của Nhật, quá trình tấn công cho đến việc trục vớt Hạm đội Thái Bình Dương. Quyển sách cung cấp một cái nhìn toàn cục khá chi tiết về cuộc tấn công. Pearl Harbor Countdown: Admiral James O. Richardson của tác giả Skipper Steely là một công trình sâu sắc và chi tiết về những sự kiện đưa đến thảm họa Trân Châu Cảng. Thông qua sự bàn luận súc tích về cuộc đời và các mốc thời gian của Đô đốc James O. Richardson, Steely khảo sát bốn thập niên về chính sách ngoại giao của Hoa Kỳ, truyền thống thực hành trong quân đội, tình báo Hoa Kỳ và khía cạnh quản trị của quân đội, bộc lộ nhiều câu chuyện chưa được kể về những sự kiện dẫn đến cuộc tấn công của Nhật. === Phóng tác lịch sử === Days of Infamy là một tiểu thuyết của Harry Turtledove trong đó việc Nhật Bản tấn công Hawaii không chỉ giới hạn trong việc không kích Trân Châu Cảng, mà là một cuộc tấn công toàn diện và chiếm đóng sau khi quân Hoa Kỳ bị đánh bật ra khỏi quần đảo (điều mà một trong những người vạch kế hoạch chủ chốt của cuộc tấn công, Đại tá Minoru Genda mong muốn nhưng bị cấp trên từ chối). Nhiều quan điểm đặc trưng (thương hiệu của Turtledove) được rút ra từ những người thường dân Hawaii (cả người da trắng và người Nhật) cũng như binh lính và thủy thủ của cả hai phía Hoa Kỳ và Nhật. Đến nay Turtledove đang viết tiếp chương kế tiếp The End of the Beginning. Trong game trên máy tính Command & Conquer: Red Alert 2, Trân Châu Cảng là địa điểm hứng chịu một đòn tấn công của Liên Xô trong Thế Chiến III. Trong màn đầu tiên của loạt game Red Alert, Adolf Hitler được loại bỏ khỏi lịch sử bởi hệ thống ‘Chronosphere’ của Einstein, ngăn ngừa được sự diệt chủng hàng loạt (và suy đoán là không có vụ tấn công năm 1941 nhắm vào Trân Châu Cảng). Một vị tướng trong game đã bông đùa rằng "như là ai đó có thể tung một cuộc tấn công thành công vào nơi đây". Điều thú vị là, Bảo tàng Tưởng niệm Arizona vẫn hiện diện trong game, cho dù chiếc tàu đó không hề bị phá hủy do lịch sử trong game đã được thay đổi. Tiền đề của việc không kích và chiếm đóng Hawaii trong Days of Infamy trước đó đã được sử dụng trong phần thứ nhất của loạt phim hoạt hình OVA Konpeki no Kantai. Trong phần này, quân Nhật thực hiện cuộc tấn công vào những giờ đầu tiên của buổi sáng, và có các hoạt động tàu sân bay ban đêm hoàn hảo. Cuộc không kích được mở đầu bằng một pháo sáng được những máy bay chỉ điểm thả xuống. Toàn bộ căn cứ (kể cả các xưởng sửa chữa) và một số tàu tiếp liệu trong cảng bị tiêu diệt vào buổi sáng sớm. Đối phó với lực lượng chủ yếu của Hạm đội Thái Bình Dương, Hạm đội Liên hợp Nhật Bản đã tái bố trí lại và tiêu diệt khi chúng quay trở lại Trân Châu Cảng. Phần này, vốn được chia thành ba hiệp trong loạt game mang cùng tên, kết thúc với việc quân Nhật đổ bộ lên tất cả các hòn đảo ở Hawaii. == Xem thêm == Chiến tranh thế giới thứ hai Trân Châu cảng Isoroku Yamamoto == Tham khảo == === Chú thích === === Thư mục tham khảo === ==== Tư liệu ==== === Đọc thêm === == Liên kết ngoài == Trận Trân Châu Cảng (7.12.1941) tại Từ điển bách khoa Việt Nam Attack on Pearl Harbor tại Encyclopædia Britannica (tiếng Anh) Remembering Pearl Harbor: The USS Arizona Memorial, a National Park Service Teaching with Historic Places (TwHP) lesson plan === Nguồn === The Pearl Harbor Attack Official U.S. Army history of Pearl Harbor Christmas 1941 in Hawaii was not a time to rejoice Honolulu Star-Bulletin, Monday, ngày 13 tháng 9 năm 1999 === Truyền thông === Video of first Newsreel from ngày 23 tháng 12 năm 1941 attack on Pearl Harbor === Tài liệu lịch sử === WW2DB: US Navy Report of Japanese Raid on Pearl Harbor Second World War — USA Declaration of War on Japan. Collection of extensive Japanese preparation military documents
edward i của anh.txt
Edward I (17/18 tháng 6 1239 – 7 tháng 7 1307), còn được gọi lav Edward Longshanks và Kẻ đánh bại người Scots (Latin: Malleus Scotorum), là Vua của Anh từ 1272 đến 1307. Là trưởng tử của Henry III, Edward có dính líu đến những âm mưu chính trị dưới thời phụ hoàng, bao gồm cả cuộc nổi dậy của các nam tước. Năm 1259, ông tham gia vào phong trào cải cách của các nam tước trong một thời gian ngắn, ủng hộ Điều khoản Oxford. Tuy nhiên, sau khi hòa giải với phụ thân, ông lại đứng về phía hoàng gia trong cuộc xung đột vũ trang sau đó, được gọi là Chiến tranh Nam tước lần thứ hai. Sau trận Lewes, Edward bị các nam tước nổi loạn bắt làm con tin, song ông trốn thoát sau vài tháng và tham gia vào cuộc chiến chống lại Simon de Montfort. Montfort bị đánh bại trại trận Evesham năm 1265, và trong vòng hai năm tiếp theo cuộc nổi dậy bị dẹp tan. Nền hòa bình tái lập ở nước Anh, Edward lại tham gia Cuộc Thập tự chinh thứ chín vào vùng Đất Thánh. Cuộc Thập tự chinh kết thúc sau một thời gian ngắn, và Edward đang trên đường trở về quê hương năm 1272 khi ông nhận được tin phụ vương đã băng hà. Trở về một cách chậm chạp, ông đặt chân tới Anh quốc năm 1274 và làm lễ gia miện tại Westminster ngày 19 tháng 8. Trong triều đại của mình, ông dành nhiều thời gian cải cách chính phủ hoàng gia và luật pháp công cộng. Qua một cuộc điều tra pháp lý quy mô lớn, Edward điều tra về sự chiếm hữu đất đai của nhiều quý tộc phong kiến, trong khi luật pháp được cải cách thông qua một loạt các đạo luật chỉnh đốn hình phạt và quyền sử hữu. Tuy nhiên, càng ngày, mối quan tâm của Edward lại càng hướng về những chiến dịch quân sự ở nước ngoài. Sau khi đàn áp một cuộc nổi loạn nhỏ ở Wales năm 1276–77, Edward đáo lại cuộc nổi loạn thứ hai năm 1282–83 bằng một cuộc chiến tranh xâm lược toàn diện. Sau thành công của chiến dịch, Edward đắt xứ Wales dưới quyền tể trị của Anh, xây dựng hàng loạt lâu đài và thị trấn ở nông thôn và đưa người Anh đến định cư. Sau đó, mối quan tâm của ông hướng về Scotland. Ban đầu được mời giải quyết tranh chấp thừa kế, Edward tuyên bố quyền bá chủ phong kiến đối với vương quốc này. Trong cuộc chiến tranh diễn ra sau đó, người Scots vẫn kiên trì chiến đấu, dù cho người Anh có vẻ đã sắp chiến thắng tại nhiều thời điểm. Cùng lúc đó trong nước xảy ra nhiều vân đề. Giữa những năm 1290, những chiến dịch quân sự quy mô lớn đòi hỏi phải tăng thuế, và Edward phải đối mặt với phe chống đối. Những cuộc khủng hoảng ban đầu đã được ngăn chặn, nhưng vẫn đề vẫn chưa giải quyết triệt để. Khi nhà vua băng hà năm 1307, để lại con trai ông, Edward II, một cuộc chiến tranh với Scotland vẫn còn tiếp diễn và nhiều vẫn đề tài chính, chính trị. Edward I là một người cao lớn trong thời đại của mình, vì thế có biệt danh "Longshanks". Tính khí của ông thất thường, và điều đó, cùng với chiều cao của ông, khiến ông trở thành một người đáng sợ, và ông thường đem đến nỗi sợ hãi cho người cùng thời với ông. Tuy nhiên, ông dành sự tôn trọng cho các thần dân và thể hiện là một vị vua thành công, như một người lính, một nhà cai trị và một người sùng đạo. Các sử gia hiện đại khi đánh giá về Edward I chia ra hai luồng ý kiến: trong khi một số khen ngợi ông vì những đóng góp của ông cho pháp luật và hành chính, những người khác chỉ trích ông vì thái độ kiên quyết đối với giới quý tộc. Hiện nay, Edward I được ghi nhận là đã có được nhiều thành tựu trong thời gian trị vì, bao gồm cả trung hưng quyền lực hoàng gia sau thời Henry III, thiết lạp Quốc hội là một tổ chức thường trực và vì thế cũng là một hệ thống để tăng thuế, và cải cách pháp luật thông qua các đạo luật. Cùng lúc đó, ông cũng bị chỉ trích bởi những hành động khác, chẳng hạn những hành vi tàn bạo đối với người Scots, và ban hành Sắc lệnh Trục xuất năm 1290, đuổi cổ người Do Thái ra khỏi nước Anh. Sắc lệnh vẫn có hiệu lực suốt phần còn lại của thời Trung Cổ, và kéo dài hơn 350 năm cho đến khi nó bị bãi bỏ bởi Oliver Cromwell năm 1656. == Cuộc sống ban đầu, 1239 – 63 == === Tuổi thơ và hôn nhân === Edward chào đời tại Cung điện Westminster vào đêm ngày 17–18 tháng 6, 1239, là con của Henry III và Eleanor xứ Provence. Edward là một cái tên Anglo-Saxon, và không thường được đặt cho các thành viên hoàng tộc sau Cuộc chinh phục của người Norman, nhưng Henry rất tôn kính Edward the Confessor, và quyết định dùng tên này đặt làm tên thánh cho con trai trưởng của mình. Trong số những người bạn hồi nhỏ của ông có Henry xứ Almain, con người anh trai của Henry là Richard xứ Cornwall. Henry xứ Almain vẫn tiếp tục là một người bạn thân thiết của hoàng tử, họ đồng hành trong cuộc nội chiến và sau đó là cuộc Thập tự chinh. Edward được chăm sóc bởi Hugh Giffard – phụt hân của Quan Thủ quỹ sau này Godfrey Giffard – cho đến khi Bartholomew Pecche lên thay khi Giffard chết năm 1246. Có những mối lo ngại về sức khỏe của Edward trong thời trẻ, ông ngã bệnh năm 1246, 1247 và 1251. Tuy nhiên, ông trở thành một người đàn ông tráng kiện; cao 6 feet 2 inches (1.88 m) vượt qua hầu hết những người cùng thời, và có lẽ do đó ông có biệt danh "Longshanks", có nghĩa là "chân dài" hay "cẳng chân dài". Sử gia Michael Prestwich nói rõ rằng "cánh tay dài mang lại cho ông những thợi thế của một kiếm vị, đùi dài cần cho một kị sĩ. Vào thời trẻ, ông có mái tóc xoăn vàng; đến lúc trường thành là màu tối, và khi về già nó ngả sang màu trắng. [Những nét nổi bật của ông bị làm hỏng bởi mí mắt trái vị cụp.] Cách ăn nói của ông, dù là nói ngọng, được cho là có sức thuyết phục." Năm 1254, người Anh lo ngại về một cuộc xâm lược của Castile vào tỉnh Gascony nên cha của Edward đã sắp xếp một cuộc hôn nhân giữa đứa con trai 14 tuổi của mình và Eleanor 13 tuổi, em gái khác mẹ của Alfonso X của Castile. Eleanor và Edward kết hôn vào 1 tháng 11 1254 ở Nhà nguyện Santa María la Real de Las Huelgas thuộc Castile. Một phần của thỏa thuận hôn nhân, hoàng tử trẻ được nhận trợ cấp trị giá 15,000 marks một năm. Mặc dù vua Henry đã gửi một khoản bộng lộc khá lớn, chúng cho Edward một ít sự độc lập. Ông đã được phong đất Gascony đầu 1249, nhưng Simon de Montfort, Bá tước Leicester thứ 6, đã được bổ nhiệm làm Trung úy hoàng gia vào năm trước đó, do vậy, đã lấy hết lợi tức ở đây, cho nên trong thực tế Edward không nhận được gì nhiều từ cả chính quyền và cả từ các nguồn thu trong tỉnh này. Phụ cấp ông nhận được năm 1254 bao gồm phần lớn Ireland, nhiều vùng đất ở Wales và Anh, bao gồm Lãnh địa Bá tước Chester, nhưng nhà vua vẫn giữa lại nhiều quyền kiểm soát đối với những vùng đất đó, đặc biệt ở Ireland, nên quyền lực của Edward bị giới hạn, và nhà vua nhận phần lớn lợi tức từ các vùng đất này. Từ 1254 đến 1257, Edward nằm dưới sự ảnh hưởng của người bà con bên ngoại, được gọi là Savoyards, người đáng chủ ý nhất là Peter xứ Savoy, cậu của hoàng hậu. Sau 1257, Edward ngày càng gắn bó với phái Poitevin và Lusignan – em trai khác mẹ của nhà vua Henry III – dẫn đầu là William de Valence. Sự liên kết này là đáng chú ý, bởi vì hai nhóm quý tộc gốc ngoại quốc nắm nhiều đặc quyền đang bực bội với tầng lớp quý tộc Anh, và họ sẽ đứng trung tâm trong phong trào cải cách của các nam tước những năm tiếp theo. Có những câu chuyện kể về các hành vi ngang ngược và bạo lực bởi Edward và phe cánh Lusignan của ông, trong đó đặt ra câu hỏi về phẩm chất cá nhân của người thừa kế hoàng gia. Những năm tiếp theo sẽ hình thành con người Edward. === Khát vọng ban đầu === Edward thể hiện sự độc lập của mình về chính trị vào đầu 1255, khi ông đứng về phía gia tộc Soler ở Gascony, trong cuộc xung đột dai dẳng giữa hai nhà Soler và Colomb. Điều này trái với chính sách chủ trương hòa giải giữa các phe phái địa phương của phụ thân ông. Tháng 5 năm 1258, một nhóm người có quyền thế đã lập ra một yêu sách cải cách chính phủ của nhà vua - nó được gọi là Điều khoản Oxford – nội dung chủ yếu là chống lại Lusignans. Edward đứng về phía các đồng minh chính trị của mình và phản đối mạnh mẽ Điều khoản. Phong trào cải cách thành công trong việc hạn chế ảnh hưởng của Lusignan, tuy nhiên, dần dần thái độ của Edward bắt đầu thay đổi. Tháng 3 năm 1259, ông tham gia liên minh với một trong những nhà lãnh đạo phái cải cách, Richard de Clare, Bá tước Gloucester. Sau đó, vào 15 tháng 10 1259, ông tuyên bố rằng ông ủng hộ mục đích của các nam tước, và lãnh đạo của họ, Simon de Montfort. Động cơ đằng sau sự thay đổi của Edward có thể là hoàn toàn thực dụng; Montfort sẽ hỗ trợ đáng kể cho sự nghiệp của ông ở Gascony. Khi nhà vua sang Pháp vào tháng 11, những hành vi của Edward trở nên hoàn toàn không chịu phục tùng. Ông có rất nhiều cuộc hẹn với các nhà lãnh đạo của cách, khiến phụ vương của ông tin rằng ông đang lên kế hoạch về một cuộc đảo chính. Khi nhà vua trở về từ Pháp, ban đầu ông từ chối gặp con trai, nhưng qua sự trung gian hòa giải của Bá tước Cornwall và Tổng Giám mục Canterbury, hai người đã hòa giải với nhau. Edward được gửi ra nước ngoài, vào tháng 11 năm 1260 ông lại liên minh với Lusignans, người đã bị đày sang Pháp. Trở về Anh quốc, đầu năm 1262, Edward bị mất ưu thế cùng với một vì đồng minh Lusignan do vấn đề tài chính. Năm sau, vua Henry cử ông đến một chiến dịch ở Wales chống lại Llywelyn ap Gruffudd, và chỉ giành được những kết quả không đáng kể. Vào lúc này, Simon de Montfort, người đã rời khỏi đất nước năm 1261, trở về Anh và khơi lại phong trào cải cách nam tước. Vào thời khác đó, nhà vua dường như chuẩn bị thoái vị để đáp ứng đòi hỏi của các nam tước, và Edward bắt đầu kiểm soát tình hình. Trong khi đó, dù trước kia đã lưỡng lự không đứng về phe nào, đến nay Edward kiên quyết bảo vệ quyền lực của hoàng gia và của phụ thân của ông. Ông liên minh lại với những người mà ông đã xa lánh trước kia, trong số đó có người bạn thân thời trẻ, Henry xứ Almain, và John de Warenne, Bá tước Surrey – và lấy lại Lâu đài Windsor từ tay quân phiến loạn. Qua sự trung gian của Vua Louis IX của Pháp, một thỏa thuận được lập ra giữa hai bên. Đó gọi là Mise of Amiens với phần lớn các điều khoản thuận lợi cho phe hoàng gia, và gieo mầm cho cuộc xung đột lớn hơn nữa. == Nội chiến và Thập tự chinh, 1264–73 == === Chiến tranh Nam tước thứ hai === Những năm 1264 - 1267 chứng kiến cuộc xung đột gọi là Chiến tranh Nam tước thứ hai, giữa lực lượng các nam tước chống đối dẫn đầu là Simon de Montfort chống lại những người trung thành với nhà vua. Trận chiến đầu tiên diễn ra ở thành phố Gloucester, mà Edward khơi nguồn nhằm chiếm lại đất này từ tay quân thù. Khi Robert de Ferrers, Bá tước Derby, đến hỗ trợ lực lượng phiến quân, Edward đàm phán một thỏa thuận ngừng chiến với bá tước, thỏa thuận này sau đó bị ông phá vỡ. Sau Edward lấy được Northampton từ con trai của Montfort là Simon, trước khi bắt đầu chiến dịch trả đũa vào lãnh địa của Derby. Phe nam tước và hoàng gia lại gặp nhau ở Trận Lewes, ngày 14 tháng 5, 1264. Edward, chỉ huy hữu quân, chiến đấu tốt, và sớm tất công lực lượng của Montfort ở London. Tuy nhiên, một cách dại dột, ông đã mải mê đuổi theo quân thù, và khi ông trở lại thì lực lượng hoàng gia còn lại đã bị đánh bại. Theo thỏa thuận Mise of Lewes, Edward và Henry xứ Almain bị đưa đến làm con tin của Montfort. Edward bị giam cầm cho đến tháng 3, và thậm chí là sau khi được phóng thích ông vẫn bị canh giữ một cách nghiêm ngặt. Sau đó, ngày 28 tháng 5, ông tìm cách trốn thoát khỏi người cai quản và hợp tác với Bá tước Gloucester, người không lâu trước đó đã bỏ sang phe nhà vua. Sự ủng hộ dành cho Montfort ngày càng cạn kiệt, và Edward giành lại Worcester và Gloucester mà không cần nhiều cố gắng. Trong khi đó, Montfort lập liên minh với Llywelyn và bắt đầu tiến về phía đông để hợp nhất lực lượng với con trai Simon. Edward lập kế mở cuộc tấn công bất ngờ vào Lâu đài Kenilworth, nơi Montfort con bị phanh thây, trước khi ông tiếp tục đánh bá tước Leiceiter. Hai bên gặp nhau trận đại chiến thứ hai trong Chiến tranh Nam tước, là Trận Evesham, ngày 4 tháng 8 1265. Montfort không có nhiều hi vọng có thể đánh thắng quân đội hoàng gia, và sau khi thua trận ông bị giết và phanh thây trên chiến trường. Qua những hành động lừa dối bá tước Derby tại Gloucester, Edward bị mang tiếng là người không đáng tin cậy. Trong chiến dịch mùa hè, ông bắt đầu học hỏi nhiều thứ từ những sai lầm, và có những hành động giành được sự tôn trọng và ngưỡng mộ của người đương thời. Chiến tranh không kết thúc chỉ với cái chết của Montfort, và Edward tiếp tục các chiến dịch. Vào Giáng sinh, ông ký một thỏa thuận với Simon de Montfort con và các đồng minh của hắn tại Đảo Axholme thuộc Lincolnshire, và tháng 3 ông lãnh đạo một chiến dịch thành công ở Cinque Ports. Một nhóm phiến quân cố bthur ởLaau đài Kenilworth và không đầu hàng cho đến khi có sự hòa giải với Tuyên ngôn Kenilworth. Vào tháng 4 có vẻ như Gloucester sẽ khởi động phong trào cải cách, và nội chiến tiếp tục, nhưng sau một cuộc đàm phán lại về các điều khoản của Tuyên ngôn Kenilworth, hai bên đã đi đến thỏa thuận. Edward, tuy nhiên, không tham gia nhiều vào các cuộc đàm phán sau chiến tranh; mối quan tâm chính của ông là cuộc thập tự chinh sắp sửa diễn ra. === Thập tự chinh và Kế vị === Edward bắt đầu cuộc thập tự chinh bằng một buổi lễ trang trọng ngày 24 tháng 6 1268, với em trai ông Edmund và em họ Henry xứ Almain. Một trong số những người tham gia vào cuộc Thập tự chinh thứ 9 là cựu thù của Edward - như Bá tước Gloucester, mặc dù de Clare cuối cùng không tham gia. Bấy giờ đất nước đã hòa bình trở lại, trở ngại lớn nhất là vấn đề tài chính. Vua Louis IX của Pháp, là người dẫn đầu đoàn quân thập tự, đã trao cho một khoản vay £17,500. Số này, tuy nhiên, là không đủ; phần còn lại phải được cung cấp thông qua việc thu thuế lên giáo dân, vốn loại thuế này đã không còn được thu kể từ 1237. Tháng 5 năm 1270, Nghị viện chấp thuận mức thuế 1/20, đổi lại nhà vua đồng ý tái công nhận Magna Carta, và áp đặt các hạn chế cho vay tiền của người Do Thái. Ngày 20 tháng 8 Edward giong buồm từ Dover sang Pháp. Các sử gia không xác định chắc chắn lực lượng của cuộc viễn chinh là bao nhiêu, nhưng Edward có thể là đã mang theo khoảng 225 hiệp sĩ và không nhiều hơn 1000 quân. Ban đầu, đoàn quân Thập tự dự định giải vây cho các đồn lũy của người Cơ Đốc ở Acre, nhưng Louis lại chuyển hướng sau Tunis. Nhà vua nước Pháp và em trai ông ta Charles xứ Anjou, người đã tự lập làm Vua của Sicily, quyết định tấn công các tiểu vương quốc và thiết lập một tòa thành trì kiên cố ở Bắc Phi. Kế hoạch thấy bại khi lực lượng Pháp gặp phải một đợt bệnh dịch và ngày 25 tháng 8, bệnh dịch đã lấy đi mạng sống của vua Louis. Vào thời điểm Edward đến Tunis, Charles đã ký một hiệp ước với các tiểu vượng, và không làm thêm việc gì nữa trừ việc trở lại Sicily. Cuộc thập tự chinh bị hoãn lại cho đến mùa xuân năm sau, nhưng một cơn bão ập tới và tàn phá ngoài khơi bờ biển Sicily khiến cho Charles xứ Anjou và người kế vị Louis là Philippe III từ bỏ chiến dịch. Edward quyết định một mình tiếp tục, và ngày 9 tháng 5 1271 ông đặt chân lên Acre.. Sau đó, tình hình tại Vùng đất Thánh trở nên bất ổn. Jerusalem thất thủ năm 1244, và Acre bấy giờ là trung tâm của Nhà nước Kito giáo. Các quốc gia Hồi giáo đang ở thế tấn công dưới sự lãnh đạo của Mamluk xứ Baibars, và nay đã đe dọa đến Acre. Mặc dù quân của Edward là một sự bổ sung lớn cho lực lượng quân đồn trú, họ không có nhiều cơ hội chống lại lực lượng của Baibars, và một cuộc tấn công vào vùng gần St Georges-de-Lebeyne vào tháng 6 không thu được kết quả gì. Một đoàn sứ giả được gửi đến chỗ Ilkhan Abaqa (1234–1282) của Mongols giúp đem lại một cuộc tấn công vào Aleppo ở phía bắc, nhằm giúp đánh lạc hướng lực lượng của Baibars. Tháng 11, Edward dẫn đầu một đội quân đánh vào Qaqun, mà được coi là một cầu nối tới Jerusalem, nhưng cả cuộc xâm lược của Mongol và cuộc tấn công Qaqun đều thất bại. Mọi thứ dường như rơi vào tuyệt vọng, và tháng 5 năm 1272 Hugh III của Cyprus, người trên danh nghĩa là vua của Jerusalem, ký thỏa thuận ngừng bắn 10 năm với Baibars. Edward bị thách thức, nhưng một cuộc tấn công của một sát thủ người Hồi giáp vào tháng 6 buộc ông phải từ bỏ mọi chiến dịch. Mặc dù chống chọi lại và giết được tên sát thủ, ông bị thương ở cánh tay do bị đâm bởi một con dao găm tẩm độc, và ngã bệnh trầm trọng trong những tháng sau. Mãi cho đến ngày 24 thánh 9 Edward mới rời Acre. Đến Sicily, ông nhận được tin phụ vương đã băng hà vào ngày 16 tháng 11, 1272. Edward rất đau buồn bởi tin này, nhưng thay vì ngay lập tức trở về quê hương, ông tiến hành một cuộc du ngoạn về phương bắc. Điều này một phần là do sức khỏe của ông vẫn chưa hồi phục, cũng như chuyện trở về cũng không cấp thiết lắm. Tình hình chánh trị ở Anh đã ổn định sau nhiều biến động đã qua, và Edward đã lên ngôi hoàng đế ngay sau cái chết của phụ thân, thay vì phải đợi đến lễ đăng quang của chính ông, theo như tục lệ. Bởi sự vắng mặt của Edward, một hội đồng điều hành đất nước được thành lập, lãnh đạo bởi Robert Burnell. Vị tân vương có một hành trình trên bộ xuyên qua các nước Ý và Pháp, ở những nơi đó ông ghé thăm Giáo hoàng Gregory X ở Rome, Vua Philippe III ở Paris, và đàn áp một cuộc nổi dậy ở Gascony. Chỉ đến ngày 2 tháng 8 1274 ông mới trở lại Anh, và làm lễ gia miện ngày 19 tháng 8. == Thời kì đầu, 1274–96 == === Chiến dịch xứ Wales === ==== Chinh phạt ==== Llywelyn ap Gruffudd thấy mừng vì tình hình bất ổn bởi hậu quả của Chiến tranh Nam tước. Vào năm 1267 với Hiệp ước Montgomery, ông ta nhận được những vùng đất mà ông ta đã chinh phục trong Four Cantrefs of Perfeddwlad và được công nhận danh hiệu Hoàng tử xứ Wales. Các cuộc xung đột không dừng lại, đặc biệt là sự bất mãn từ các Lãnh chúa Marcher, chẳng hạn như Gilbert de Clare, Bá tước Gloucester, Roger Mortimer và Humphrey de Bohun, Bá tước Hereford. Vấn đề trở nên nghiêm trọng hơn khi em trai của Llywelyn, Dafydd vàGruffydd ap Gwenwynwyn xứ Powys, sau thất bại trong nỗi lực chống lại Llywelyn, đã đào thoát sang Anh năm 1274.. Lấy lý do là cuộc chiến tranh đang diễn ra và nhà vua nước Anh chứa chấp kẻ thù của mình, Llywelyn từ chối làm lễ phiên thần với Edward. Đối với Edward, một sự khiêu khích lớn hơn nữa là kế hoạch của Llywelyn nhằm kết hôn với Eleanor, con gái của Simon de Montfort. Tháng 11 năm 1276, cuộc chiến được khởi động. Các cuộc hành quân ban đầu được khởi động bởi đại úy của Mortimer, Lancaster (em trai của Edward, Edmund) và William de Beauchamp, Bá tước Warwick. Sự ủng hộ đối với Llywelyn từ những người đồng hương. Tháng 7 năm 1277 Edward tiến hành chiến dịch với lực lượng 15,500, trong đó 9,000 là người bản địa Wales. Chiến dịch không bao giờ dẫn đến một trận đánh lớn, và Llywelyn sớm nhận ra rằng mình không còn lựa chọn nào khác ngoài việc đầu hàng. Với Hiệp ước Aberconwy tháng 11 năm 1277, ông ta chỉ còn giữ lại lãnh địa Gwynedd, dù vẫn được phép xưng là Hoàng tử xứ Wales. Khi chiến tranh lại bùng phát năm 1282, nó mang một tính chất hoàn toàn khác. Đối với người Wales, cuộc chiến tranh này đe dọa đến bản sắc dân tộc của họ, đặc biệt bị kích động bởi nỗ lực áp đặt luật pháp Anh lên thần dân Wales. Với Edward, đây là một cuộc chiến tranh xâm lược chứ không đơn phản chỉ là cuộc viễn chinh mang tính trừng phạt như chiến dịch trước. Chiến tranh bắt đầu với một cuộc nổi loạn của Dafydd, người bất mãn với những phần thưởng mà ông ta cho là không tương xứng từ Edward năm 1277. Llywelyn và các thủ lĩnh người Wales khác sớm tham gia vào, và ban đầu quân đội Wales giành được nhiều thành công. Tháng 6, Gloucester bị đánh bại tại Trận Llandeilo Fawr. Ngày 6 tháng 11, trong lúc John Peckham, Tổng Giám mục Canterbury, đã tiến hành các cuộc đàm phán hòa bình, tướng chỉ huy quân đội của Edward ở Anglesey, Luke de Tany, quyết định tổ chức tiến công bất ngờ. Một cây cầu phao được xây dựng trên đất liền, nhưng ngay sau khi Tany và quân của ông vượt qua được, họ bị người Wales phục kích và bị tổn thất nặng nề trong Trận Moel-y-don. Tuy nhiên những thắng lợi của người Wales chấm dứt ngày 11 tháng 12, khi khi Llywelyn bị dụ vào ổ phục kích và bị giết tại Trận cầu Orewin. Cuộc chinh phạt Gwynedd kết thúc với việc bắt giữ Dafydd thàng 6 năm 1283, và bị dẫn tới Shrewsbury và bị xử tử với cáo buộc là kẻ phản bội vào mùa thu năm sau. Các cuộc nổi loạn tiếp tục nổ ra trong năm 1287-88, và nghiêm trọng hơn, năm 1294, dưới sự lãnh đạo của Madog ap Llywelyn, bà con xa của Llywelyn ap Gruffudd. Cuộc xung đột cuối cùng khiến nhà vua phải bận tâm đến, nhưng tất cả các cuộc nổi dậy đều bị dập tắt nhanh chóng. ==== Thuộc địa hóa ==== Đến năm 1284 với Đạo luật Rhuddlan, Lãnh địa Hoàng thân xứ Wales được sáp nhập vào nước Anh và được đưa vào một hệ thống hành chính tương tự như tại Anh, với các quận huyện được kiểm soát bởi quận trưởng. Luật pháp Anh được áp dụng trong các vụ án hình sự, mặc dù người Wales được pháp duy trì một số luật tục riêng của mình trong vài trường hợp tranh chấp tài sản. Sau 1277, và nhất là sau 1283, Edward bắt tay vào một dự án định cư quy mô dành cho người Anh trên đất Wales, thành lập các thị trấn mới như Flint, Aberystwyth và Rhuddlan. Những cư dân mới là người gốc Anh, và người Wales bản địa bị cấm cư trú ở những thị trấn này, và phần nhiều vùng được bao bọc bởi các bức tường rộng lớn. Một dự án xây dựng một loạt các tòa lâu đài có quy mô lớn được khởi xướng, dưới sự chỉ đạo của Master James xứ Saint George, một kiến trúc sư lão luyện mà Edward đã gặp tại Savoy trong chuyến hồi hương sau cuộc viễn chinh thập tự. Đó bao gồm các tòa lâu đài như Beaumaris, Caernarfon, Conwy và Harlech, được sử dụng làm pháo đài và cung điện hoàng gia dành cho Quốc vương. Chương trình xây dựng lâu đài ở Wales của ông đã báo trước việc sử dụng các lỗ châu mai trong các bức tường thành khắp lục địa châu Âu, dựa trên ảnh hưởng từ phương Đông. Ngoài ra cũng còn có một sản phẩm của cuộc viễn chinh thập tự là sự khởi đầu của lâu đài đồng tâm, và bốn trong tám lâu đài mà Edward lập ra ở Wales được thiết kế theo mô hình này. Những tòa lâu đài này đã thể hiện rõ ràng ý định lâu dài của Edward là cai trị miền bắc Wales một cách lâu dài, và dựng lên hình ảnh gắn liền với Đế quốc Đông La Mã và Vua Arthur trong một nỗ lực xây dựng tính hợp pháp đối với chế độ mới của ông. Năm 1284, Vua Edward sắp xếp cho con trai ông Edward (về sau là Edward II) chào đời tại lâu đài Caernarfon, có lẽ là để đảm bảo một tuyên bố có chủ đích về trật tự chính trị mới ở xứ Wales. David Powel, một mục sư thế kỉ XVI, đoán rằng đứa trẻ được công bố là một ông hoàng "sinh ra ở Wales và không nói một chữ tiếng Anh nào", nhưng không có bằng chứng nào có thể chứng minh được. Năm 1301 tại Lincoln, Edward con trở thành hoàng tử Anh đầu tiên được trao tặng danh hiệu Hoàng tử xứ Wales, khi Vua Edward cấp cho ông Lãnh địa Bá tước Chester và các vùng đất ở phía bắc xứ Wales. Dường như nhà vua hi vọng rằng điều này sẽ giúp đỡ cho việc bình định tình hình trong khu vức này, và nó sẽ cung cấp cho con trai ông sự độc lập về tài chính. === Ngoại giao và chiến tranh trên lục địa === Edward không bao giờ tham gia cuộc thập tự chinh nào nữa sau khi về nước năm 1274, nhưng ông duy trì dự định làm như vậy, và lấy thập giá một lần nữa năm 1287. Dự định này ảnh hưởng đến nhiều chính sách đối ngoại của ông, ít nhất là cho tới năm 1291. Để chuẩn bị cho một cuộc viễn chinh thập tự, điều cần thiết là ngăn chặn các xung đột lớn có thể xảy ra giữa các vương hầu trên lục địa. Một trở ngại lớn lúc này là xung đột giữa Nhà Anjou gốc Pháp cai trị miền nam Italia, với Vương quốc Aragon ở Tây Ban Nha. Năm 1282, công dân xứ Palermo nổi dậy chống lại Carlo I của Naples và quay sang tìm kiếm sự giúp đỡ từ Pedro de Aragón, trong cái được gọi là Sicilian Vespers. Trong cuộc chiến diễn ra sau đó, con trai của Carlo d'Angiò, Carlo xứ Salerno, bị người Aragon bắt làm tù binh. Người Pháp bắt đầu tiến công vào Aragon, thắp một ngọn lửa về cuộc chiến quy mô lớn ở châu Âu. Đối với Edward, điều bắt buộc là ngăn chặn cuộc chiến tranh diễn ra, và ở Paris năm 1286 ông làm trung gian hòa giải giữa Pháp và Aragon và đảm bảo giúp phóng thích Carlo. Vì cuộc thập tự chinh, vấn đề này được xét đến, tuy nhiên, những nỗ lực của Edward tỏ ra thiếu hiệu quả. Một đòn nặng nề đánh vào kế hoạch của ông vào năm 1291, khi Mamluks chiếm lấy Acre, thành lũy cuối cùng của người Công giáo Tây phương ở Vùng đất Thánh. Sau khi Arce thất thủ, vai trò quốc tế của Edward thay đổi từ một nhà ngoại giao chuyển sang một nhân vật phản diện. Từ lâu ông đã tham gia các công việc riêng của ông tại Lãnh địa Công tước Gascon. Năm 1278 ông chỉ định một ủy ban điều tra gồm những người cộng sự Otto de Grandson và tể tướng Robert Burnell, người lên thay thế cho Luke de Tany. Năm 1286, Edward đến thăm vùng lãnh địa này và ở lại đó trong vòng ba năm. Tuy nhiên, vấn đề lâu dài, là tình trạng của Gascon thuộc về Vương quốc Pháp, và Edward trên danh nghĩa là chư hầu của vua Pháp. Một phần của chính sách ngoại giao vào năm 1286, Edward làm lễ phiên thần với nhà vua mới, Philip IV, nhưng vào 1294 Philippe tuyên bố thu hồi Gascon khi Edward từ chối hiện diện trước mặt ông ra ở Paris để thảo thuận về các cuộc xung đột giữa các thủy thủ Anh, Gascon, và Pháp (điều này dẫn đến kết quả các tàu của Pháp bị bắt giữ, cùng với việc đóng cửa cảng La Rochelle của người Pháp). Hoàng hậu Eleanor xứ Castile băng hà ngày 28 tháng 11 1290. Một điều hiếm thấy trong các cuộc hôn nhân hoàng gia thời kì này, hai người thực sự yêu thương nhau. Hơn thế nữa, cũng như phụ thân, Edward rất tận tâm với hoàng hậu với chung thủy với bà trong suốt thời gian hôn nhân - một vị quân vương hiếm có vào thời điểm đó. Ông bị ảnh hưởng sâu sắc trước cái chết của vợ và thể hiện lòng thương tiếc bằng cách dựng lên 12 cái gọi là Eleanor cross, ở mỗi nơi đoàn đưa tang của bà ghé lại nghỉ một đêm. Một phần hiệp ước hòa bình giữa Anh và Pháp năm 1294, một kế hoạch hôn nhân được xếp đặt giữa Edward với em gái khác mẹ của Philippe IV là Marguerite, nhưng cuộc hôn nhân phải trì hoãn vì chiến tranh bùng nổ. Edward thiết lập liên minh với vua Đức, các Bá tước xứ Flanders và Guelders, và người Burgundy, để tấn công Pháp quốc từ phía bắc. Liên minh tỏ ra không chắc chắn, và Edward lại phải đối mặt với các rắc rối trong nước vào thời điểm đó, cả ở Wales và Scotland. Mãi cho tới tháng 8 năm [1297]ư ông mmoiws có thể đi thuyền đến Flanders, và lúc đó các đồng minh của ông đã bị đánh bại. Sự hỗ trợ của người Đức không bao giờ phát huy tác dụng, và Edward buộc phải tìm kiếm hòa bình. Cuộc hôn nhân của ông với Marguerite (Margaret) năm 1299 đã kết thúc chiến tranh, nhưng toàn bộ cuộc chiến đã chứng minh là quá trình thiếu hiệu quả và tốn kém đối với người Anh. === Đại Khủng hoảng === Quan hệ giữa hai nước Anh và Scotland trước những năm 1280 khá êm dịu. Vấn đề thần phục không dẫn đến nhiều xung đột như trong tình hình ở Wales; năm 1278 Vua Alexander III của Scotland xưng thần với Edward I, nhưng dường như chỉ là đối với những vùng đất ông nắm giữ của Edward ở England. Vấn đề nảy sinh từ cuộc khủng hoảng kế vị Scotland đầu những năm 1290. Từ 1281 đến 1284, hai con trai và một con gái của Alexander đều chết yểu. Sau đó, năm 1286, chính Alexander cũng băng hà, để lại ngai vàng cho người cháu gái mới lên ba tuổi, Margaret. Với Hiệp ước Birgham, quy định rằng Margaret sẽ kết hôn với cậu con trai mới lên 1 tuổi của Edward là Edward xứ Carnarvon, mặc dù Scotland vẫn duy trì quyền tự do dưới sự tể trị của vua nước Anh. Margaret, khi lên bảy tuổi, giong buồm từ Na Uy về Scotland vào mùa thu năm 1290, nhưng ngã bệnh trên đường và chết ở Orkney. Điều này dẫn đến việc Scotland không có vua, và dẫn đến một cuộc tranh chấp mà sử gọi là Great Cause. Mặc dù có đến 14 phe phái tranh chấp chủ quyền đối với ngai vàng, cuộc cạnh tranh thực sự chỉ nổ ra giữa John Balliol và Robert de Brus. Các lãnh chúa Scotland đề nghị Edward tiến hành quản lý sự việc và kết quả, nhưng không phải là phân xử giữa các bên tranh chấp. Quyết định thực tế được đưa ra bởi 104 người - 40 người được bổ nhiệm bởi BBalliol, 40 bởi Bruce và 24 người được chỉ định bởi Edward I từ các thành viên cao cấp trong Hội đồng chính trị Scotland. Tại Birgham, với triển vọng về một liên minh cá nhân giữa hai vương quốc, vấn đề bá quyền đã không còn quan trọng đối với Edward. Bây giờ ông nhấn mạnh rằng, nếu ông giải quyết được tranh chấp, ông sẽ được công nhận một cách đầy đủ là lãnh chúa của Scotland. Người Scots miễn cưỡng nhượng bộ, và trả lời rằng khi đất nước không có vua, thì không ai có quyền đưa ra quyết định như vậy. Thế cờ này bị phá hỏng khi những người tranh chấp đồng ý rằng vương quốc sẽ được bàn giao cho Edward cho đến khi tìm ra người thừa kế. Sau cuộc lựa chọn kéo dài, quyết định cuối cùng là ngai vàng trao cho John Balliol ngày 17 tháng 11, 1292. Ngay cả sau khi Balliol lên ngôi, Edward vẫn tiếp tục thể hiện quyền bá chủ ở Scotland. Chống lại sự phản đối của người Scots, ông tiếp nhận những bức thư tố cáo về những phán quyết vào thời kì giữa hai đời vua Scotland. Một sự khiêu khích xa hơn nữa là sự kiện gây ra bởi Macduff, con trai của Malcolm, Bá tước Fife, và khi đó Edward bắt Balliol phải đến trình diện tại Nghị viện Anh để trả lời những cáo buộc. Vua Scotland đã làm theo, nhưng cuối cùng những giọt nước cũng làm tràn li khi Edward bắt bọn quý tộc Scotland cung cấp cho quân đội giúp ông chống lại Pháp dưới danh nghĩa chư hầu. Điều này không thể chấp nhận; thay vào đó người Scots lập ra một liên minh với Pháp và phát động một cuộc tấn công bất thành vào Carlisle. Edward đáp trả và tiến hành xâm lược Scotland năm 1296 và chiếm lấy thị trấn Berwick bằng một cuộc tấn công đẫm máu. Tại đại chiến Dunbar, những người Scotland chống lại ông đã bị nghiền nát. Edward tịch thu Hòn đá vận mệnh – vật báu đăng cơ của vua Scotland – và đem nó về Westminster rồi đăth lên một thứ gọi là King Edward's Chair; ông lật đổ Balliol và tống cố ông ta vào Tháp London, và bố trí người Anh cai quản đất nước này. Chiến dịch rất thành công, nhưng chiến thắng của người Anh sẽ chỉ là tạm thời. == Chính phủ và luật pháp == === Tính cách nhà vua === Edward nổi tiếng là một người khắc nghiệt, và rất đáng sợ; một câu chuyện kể về sự kiện Trưởng Tu viện St Paul's, muốn đối đầu với Edward khi ông tăng thuế lên cao năm 1295, bị đẩy ngã từ trên cao và chết khi nhà vua có mặt ở đó. Khi Edward xứ Caernarfon đòi ông phong cho sủng nam của hắn Gaveston một lãnh địa bá tước, nhà vua nổi cơn thịnh nộ và rứt từng nắm tóc của con trai ông. Một số người đương thời coi Edward là người đáng sợ, đặc biệt là trong những ngày đầu của ông. Bài hát Lewes năm 1264 mô tả ông giống như một loài báo, loài động vật đáng sợ, mạnh mẽ và không thể lường trước được. Tuy nhiên mặc dù có những tính cách đáng sợ như vậy, người cùng thời với Edward coi ông là một vị vua có năng lực, thậm chí là một vị vua lý tưởng. Dù không được thần dân yêu thương, ông vẫn nhận được sự kính sợ và tôn trọng. Ông được người đương thời kì vọng về vai trò lãnh đạo có năng lực, một người chỉ huy quyết đoán và tính hào hiệp của mình. Trong các nghi lễ tôn giáo ông cũng làm thỏa mãn sự kì vọng của người thời đó: ông đến nhà thờ đều đặn và thường xuyên bố thí một cách hào phóng. Edward thích thú với những sự tích về Vua Arthur, chúng rất nổi tiếng khắp cả châu Âu trong suốt triều đại của ông. Năm 1278 ông đến thăm Glastonbury Abbey để khai trương những địa điểm được tin là mộ của Arthur và Guinevere, khôi phục "Arthur's crown" từ Llywelyn sau cuộc chinh phạt Bắc Wales, trong khi, như đã nói ở trên, những tòa lâu đài mới của ông được xây dựng dựa trên những thiết kế và vị trí của thời Arthur. Ông mở các sự kiện "Bàn tròn" vào các năm 1284 và 1302, bao gồm các cuộc thi đấu và những buổi tiệc tùng phè phỡn, và biên niên sử so sánh ông và những sự kiện trong triều đình ông với lại Arthur. Trong vài sự kiện Edward dường như sự sử dụng mối quan tâm dành cho thời Arthur của mình để phục vụ cho những công việc chính sự của riêng ông, bao gồm hợp pháp hóa nền thống trị ở Wales và gây niềm tin đối với người Wales cho rằng Arthur có thể trở lại như một vị cứu tinh của họ. === Cai trị và luật pháp === Không lâu sau khi tuyên bố lên ngôi, Edward đã thiết lập lại trật tự và tái lập vương quyền sau một triều đại đầy biến động của phụ thân ông. Để thực hiện điều này, ông ngay lập tức thực hiện những thay đổi sâu rộng về nhân sự trong chánh quyền. Chính sách quan trọng nhất đó là bổ nhiệm Robert Burnell làm tể tướng, ông này vẫn giữ chức vụ đó đến năm 1292 và là một trong những cộng sự thân cận nhất của nhà vua. Edward sau đó thay thế hầu hết các quan chức địa phương, chẳng hạn như escheator và cảnh sát trưởng. Những biện pháp cuối cùng để thi hành để chuẩn bị cho cuộc điều tra rộng khắp nước Anh, ông có thể lắng nghe những lời phàn nàn với chuyện các quan chức triều đình lạm quyền. Những cuộc điều tra về sản xuất được tiến hành bằng việc thành lập cái gọi là Hundred Rolls, ở các phân khu hành chính trong các hạt. Mục đích thứ hai của các cuộc điều tra là để thiết lập lại những vùng đất và quyền lực của ngôi vua đã mất dươi thời Henry III.. The Hundred Rolls đã hình thành những cơ sở pháp lý cho cái mà sau này gọi là vụ kiện Quo warranto. Mục đích của những vấn đề này là bởi những mệnh lệnh (tiếng Latinh: Quo warranto) thay cho với sự tự do. Nếu bị cáo không có giấy phép từ hoàng gia chứng minh việc được cấp quyền tự do, và sau đó là ý kiến từ quốc vương, thì quyền tự do sẽ bị nhà vua thu hồi. Với việc ban hành Đạo luật Gloucester năm 1278 nhà vua đã thách thức đặc quyền của các nam tước qua việc lập lại hệ thống tòa án lưu động (thẩm phán hoàng gia có thể đi đến mọi ngóc ngách trong nước) và sự tăng trưởng đáng kể số lượng lời biện hộ của các bị cáo được lắng nghe bởi các tòa án này. Điều này gây ra sự ngạc nhiên lớn đối với tầng lớp quý tộc, họ khẳng định rằng việc sử dụng lâu dài sự tự nó thành lập giấy phép. Một thỏa hiệp cuối cùng đạt được năm 1290, theo đó một quyền tự do được coi là hợp pháp nếu nó được chứng minh là bắt đầu từ lễ đăng quang của Richard Trái tim Siw tử năm 1189. Những gì hoàng gia thu được từ Quo warranto không đáng kể; chỉ một ít quyền tự do bị nhà vua thu hồi lại. Edward vẫn giành được một chiến thắng quan trọng, trong việc khẳng định rõ ràng các nguyên tắc mà tất cả các quyền tự do cơ bản bắt nguồn từ ngôi vua. Đạo luật Quo warranto năm 1290 chỉ là một phần trong nỗ lực lập pháp rộng lớn hơn, đó là một trong những đóng góp quan trọng nhất của triều đại Edward I. Thời đại của những hành động hợp pháp này bắt đầu từ thời điểm phong trào cải cách nam tước; Đạo luật Marlborough (1267) chứa những cơ sở cho Điều khoản Oxford và Tuyên ngôn Kenilworth. Việc biên soạn Hundred Rolls được tiếp tục ngay sau sự kiện Westminster I (1275), trong đó nêu rõ những đặc quyền hoàng gia và những nguyên tắc chung về hạn chế quyền tự do. Trong Mortmain (1279), vấn đề là việc cấp đất cho nhà thờ. Điều khoản đầu tiên của Westminster II (1285), được biết đến là De donis conditionalibus, dàn xếp phân phát đất đai và chế độ thừa kế trong gia đình. Merchants (1285) thiết lập quy định thu hồi các khoản nợ, trong khi Winchester (1285) giải quyết việc giữ gìn hòa bình ở các địa phương. Quia emptores (1290) – ban hành kèm với Quo warranto – đặt ra để khắc phục các tranh chấp quyền sở hữu đất đai do chuyển nhượng đất. Thời kì của những đạo luật lớn kết thúc với cái chết của Robert Burnell năm 1292. === Tài chính, Nghị viện và trục xuất người Do Thái === Các chiến dịch quân sự thường xuyên của Edward I đã làm gia tăng tình trạng căng thẳng về tài chính trên toàn quốc. Có một vài cách để nhà vua có tiền trang trải cho chiến tranh, bao gồm thuế hải quan, cho vay tiền và bắt trợ cấp. Năm 1275, Edward I đàm phán một thỏa thuận với hội đồng các thương gia trong nước để vay một khoản vay lâu dài. Năm 1303, một thỏa thuận tương tự với các thương gia nước ngoài, đổi lại ông cho họ một số đặc quyền nhất định. Các khoản thu từ thuế hải quan được xếp đặt bởi Riccardi, một nhóm ngân hàng đến từ Lucca của Ý. Điều này đổi lấy vị trí của họ là cho quốc vương vay tiền, giúp đỡ tài chính cho cuộc chiến tranh Wales. Khi chiến tranh với Pháp nổ ra, nhà vua nước Pháp tịch thu tài sản trong Riccardi, và ngân hàng phá sản. Sau vụ đó, Frescobaldi xứ Florence đảm nhận vai trò người cho vay tiền của quốc vương nước Anh. Một nguồn thu nhập khác cho ngôi vua đến từ Người Do Thái. Người Do Thái là vật sở hữu của các nhân nhà vua, và ông tự do đánh thuế họ theo ý thích. Trước năm 1280, người Do Thái đã bị khai thác đến một mức độ là họ không còn là nguồn tài chính lớn của ngôi vua, nhưng họ vẫn được sử dụng trong thương lượng chánh trị. Việc họ cho vay nặng lãi – một điều cấm đối với tín hữu Kito giáo – khiến nhiều người mắc nợ họ và gây ra sự bất bình phổ biến trong quần chúng. Năm 1275, Edward ban hành Quy chế của người Do Thái, cấm cho vay nặng lãi và khuyến khích người Do Thái chuyển qua ngành nghề khác; năm 1279, với việc có một xết nứt trên đồng xu, ông bắt giữ tất cả gia chủ người Do Thái ở An và khoảng 300 người bị hành hình. Năm 1280, ông ra lệnh cho toàn bộ người Do Thái đến một buổi thuyết giải đặc biệt, được thuyết giảng bởi các tu sĩ dòng Đa Minh, với hi vọng họ thay đổi, nhưng những lời hô hào đó chẳng được tuân theo. Đòn cuối cùng đánh vào người Do Thái ở Anh đến trong Sắc lệnh Trục xuất năm 1290, kh đó Edward trục xuất toàn bộ người Do Thái ra khỏi Anh quốc. Đây không những là tạo ra một nguồn thu nhập đáng kể cho hoàng gia thông qua các khoản vay và tài sản của người Do Thái, và nó cũng cho Edward cơ hội chính trị quan trọng để thương lượng về khoản trợ cấp trong cuộc họp Nghị viện năm 1290. Việc trục xuất, về sau bị dỡ bỏ năm 1656, được các vương hầu châu Âu tiếp bước: Philipoe II của Pháp had đuổi hết người Do Thái trong lãnh địa của riêng mình năm 1181; Johann I, Công tước Brittany, đuổi họ ra khỏi Công quốc của mình năm 1239; và cuối những năm 1240 Louis IX của Pháp trục xuất tất cả người Do Thái ra khỏi nước Pháp. Edward tổ chức Quốc hội trên cơ sở pháp lý rất thường xuyên trong triều đại của ông. Tuy nhiên năm 1295, một sự thay đổi đáng kể diễn ra. Trong Nghị viện lần này, ngoài các lãnh chúa thế tục và tu sĩ trong Giáo hội, hai hiệp sĩ đến từ mỗi quận và hai đại diện trong mỗi quận được triệu tập. Những đại diện của quần chúng trong Nghị viện không có gì mới, cái mới là uy quyền dưới sự triệu tập các đại biểu. Trong khi Nghị viện trước kia Nghị viện chỉ đơn giản là tán thành quyết định của các lãnh chúa, bây giờ nó được tuyên bố là sẽ được triệu tập với quyền lực đầy đủ (plena potestas) của quần chúng của họ, để tán thành những quyết định trong Nghị viện. Nhà Vua bây giờ có đủ sự ủng hộ để thu trợ cấp giáo dân trên toàn quốc. Trợ cấp là thuế được thu một phần từ tài sản lưu động của các giáo dân. Trong khi Henry III chỉ thu được bốn lần dưới triều của mình, Edward I thu tới chín. Khuôn khổ này về sau trở thành tiêu chuẩn của Quốc hội sau này, được các sử gia gọi tên là "Mô hình Quốc hội". == Thời kì cuối, 1297–1307 == === Khủng hoảng Hiến pháp === Các cuộc chiến tranh dai dẳng những năm 1290 đặt ra một đòi hỏi lớn về tài chính lên các thần dân của Edward. Trong khi Nhà Vua chỉ đánh ba lần trợ cấp giáo dân cho đến 1294, thì lại đánh tới bốn lần trong những năm 1294–97, số tiền lên tới £200,000. Cùng với điều đó là gánh nặng về thuế đánh lên thực phẩm, hàng len và da, và thuế len không được quần chúng tán thành, gọi là maltolt. Việc vắt kiệt tài chính từ các thần dân của nhà vua gây nên sự oán giận và cuối cùng dẫn đến tranh chấp quyết liệt về chính trị. Sự phản kháng ban đầu không bắt nguồn từ việc đánh thuế, tuy nhiên, là do khoản trợ cấp giáo dân. Năm 1294, Edward yêu cầu được cung cấp một nửa doanh thu giáo sĩ. Một số người chống lại, nhưng Nhà Vua trả lời bằng cách đe dọa và trục xuất, nên cuối cùng việc cấp cũng được thực hiện. Thời điểm đó, chức Tổng Giám mục Canterbury bỏ trống, kể từ khi Robert Winchelsey đến Italia tiến hành lễ tôn phong. Winchelsey trở về vào tháng 1 năm 1295 và phải đồng ý nhận một chức vụ khác vào tháng 11 năm đó. Tuy nhiên năm 1296, địa vị của ông thay đổi khi ông nhận được sắc lệnh Clericis laicos từ đức Giáo hoàng. Sắc chỉ này cấm các tu sĩ nộp thuế cho chính quyền nếu ông có sự đồng ý của Giáo hoàng. Khi đó giới tăng lữ, viện dẫn sắc chỉ, từ chối nộp thuế, Edward hồi đáp lại bằng thái độ coi thường sắc dụ đó. Winchelsey gặp khó xử khi phải lựa chọn giữa lòng trung thành với nhà vua và tuân theo ý chỉ của Giáo hoàng, và ông hồi đáp bằng việc để lại vấn đề này cho các mục sư khác trả lời. Vào cuối năm đó, một giải pháp được đưa ra bởi sắc chỉ mới Etsi de statu của Giáo hoàng, cho phép đánh thuế trong trường hợp khẩn cấp. Sự phản đối từ các giảo dân mất nhiều thời gian để trở nên công khai. Những chống đối tập trung vào hai điều: quyền triệu tập quân đội của nhà vua, và quyền thu thuế của ông. Tại Nghị viện Salisbury vào tháng 2 năm 1297, Roger Bigod, Bá tước Norfolk, trên cương vị là Thống soái nước Anh, phản đối giấy triệu tập quân sự của hoàng gia. Bigod lập luận rằng quân đội chỉ đi cùng với nhà vua; nếu nhà vua giong buồm tới Flanders, ông không thể gửi thần dân của mình tới Gascony. Tháng 7, Bigod và Humphrey de Bohun, Bá tước Hereford và Quan Đại Nguyên soái, đã lập ra một danh sách những lời khiếu nại gọi là Lời Can gián, trong đó có cả lời phản đối việc tăng thuế. Không nản lòng, Edward lại yêu cầu trợ cấp giáo dân lần nữa. Đây là một sự khiêu khích, bởi vì nhà vua chỉ có được sự đồng ý từ một nhóm nhỏ các lãnh chúa, chứ không phải là đa số đại diện trong Nghị viện. Trong khi Edward đang ở Winchelsea, chuẩn bị cho chiến dịch Flanders, Bigod và Bohun đến chỗ quan Thủ quỹ ngăn việc thu thuế. Vì Nhà vua đã rời khỏi đất nước với một lực lượng ít hơn nhiều, vương quốc dường như đã ở bờ vực của cuộc nội chiến. Để giải quyết tình hình là người Anh bị người Scots đánh bại ở Trận cầu Stirling, các mối đe dọa mới đối với đất nước khiến nhà vua và các lãnh chúa đi đến hòa nghị. Edward ký vào Confirmatio cartarum – xác nhận Magna Carta và kèm theo đó là Charter of the Forest – đổi lại giới quý tộc đồng ý phục vụ cho vua trong chiến dịch Scotland. Những vấn đề đối với Edward và phe đối lập không dừng lại với chiến dịch Falkirk. Trong những năm sau không bị buộc phải thực hiện những lời mà ông đã hứa, đặc biệt là tán thành Charter of the Forest. Trong cuộc họp Nghị viện năm 1301, nhà vua buộc phải ra lệnh đánh thuế những khu rừng hoàng gia, nhưng năm 1305, ông nhận được một sắc chỉ của giáo hoàng miễn cho sự nhượng bộ đó. Cuối cùng là sự thất bại về nhân sự dành cho phe đối lập chống lại Edward I. Bohun chết vào cuối năm 1298, sau khi trở về từ chiến dịch Falkirk. Đối với Bigod, năm 1302 ông ta có một thỏa thuận có lợi đôi bên với nhà vua: Bigod, không có con, coi Edward là người thừa kế, để đổi lại một khoản trợ cấp hào phóng. Edward cuối cùng đã trả thù Winchelsey năm 1305, khi Clement V được bầu làm Giáo hoàng. Clement người Gascon có tình thân ái với nhà vua, và bởi sự xúi giục của Edward Winchelsey bị lột hết chức tước. === Trở lại Scotland === Tình hình Scotland tưởng như đã được giải quyết khi Edward rời khỏi đất nước này năm 1296, nhưng sự phản kháng bắt đầu trỗi dậy với người lãnh đạo William Wallace. Ngày 11 tháng 9 1297, một đội quân lớn của người Anh dưới sự chỉ huy của John de Warenne, Bá tước Surrey, và Hugh de Cressingham bị đánh bại bởi lực lượng Scotland vốn ít hơn nhiều, dưới sự lãnh đạo của Wallace và Andrew Moray tại cầu Stirling. Tin thất bại bay về triều đình Anh, ngay lập tức sau đó cuộc tấn công trả đũa được tiến hành. Không lâu sau khi Edward trở về từ Flanders, ông quyết định bắc phạt. Ngày 22 tháng 7 1298, trong trận đánh lớn duy nhất của ông kể từ sau trận Evesham năm 1265, Edward đánh bại lực lượng của Wallace ở trận Falkirk. Tuy nhiên Edward, không thể tận dụng được lợi thế này, và sang năm sau người Scotland giành lại quyền kiểm soát Cầu Stirling. Mặc dù Edward tham gia chiến dịch tại Scotland suốt năm 1300, khi ông bao vây thành công Lâu đài Caerlaverock và năm 1301, người Scots từ chối tiến hành một trận chiến lớn nữa, thay vào đó họ tổ chức đột kích bằng các nhóm nhỏ vào miền biên giới nước Anh. Những người Scots thua trận, bị người Pháp bí mật thúc đẩy, kêu gọi đức Giáo hoàng, xác nhận tuyên bố chúa tể Scotland không dành cho người Anh. Sắc chỉ của Giáo hoàng. gửi cho vua Edward đã bị người đại diện của ông từ chối trong Barons' Letter năm 1301. Người Anh lập kế hoạch khuất phục vương quốc này bằng những cách khác. Tuy nhiên năm 1303, một thỏa thuận hòa bình đạt được giữa Anh và Pháp, cũng chính thức phá vỡ liên minh Pháp-Scotland. Robert the Bruce, cháu nội của người đòi ngôi vua năm 1291, đứng về phía người Anh vào mùa đông những năm 1301–02. Trước 1304, hầu hết các nhà quý tộc Scotland tuyên bố trung thành với Edward, và năm đó người Anh lập kế hoạch chiếm lại Cầu Stirling. Một chiến thắng lớn đã đến năm 1305 khi Wallace bị Sir John de Menteith phản bội và bắt nộp cho người Anh, ông bị dẫn đến London và bị xử tử một cách công khai. Bấy giờ Scotland phần lớn nằm trong tay người Anh, Edward bổ nhiệm người Anh và các cộng tác người Scots cai trị đất nước. Tình thế một lần nữa đổi thay vào ngày 10 tháng 2 năm 1306, khi Robert the Bruce giết chết đối thủ của hắn ta, John Comyn và vài tuần sau đó, ngày 25 tháng 3, ông ta lên ngôi vua Scotland bởi sự giúp sức của Isobel, chị gái của Bá tước Buchan. Bruce giờ đây bắt tay vào chiến dịch khôi phục độc lập cho Scotland, và chiến dịch này làm người Anh phải bất ngờ. Edward lúc này đang lâm bệnh, và thay vì đích thân dẫn quân viễn chinh, ông quyết định cử một lực lượng khác dưới sự chỉ huy của Aymer de Valence và Henry Percy, trong khi lực lượng chính của hoàng gia được dẫn dắt bởi Hoàng tử xứ Wales. Quân Anh giành nhiều chiến thắng; ngày 19 tháng 6, Aymer de Valence đánh bại Bruce ở Trận Methven. Bruce phải bố trốn trong khi quân Anh lấy lại những lâu đài và đất đai vừa mới để mất. Edward trả thù bằng cách đối xử tàn bạo đối với những đồng minh và người ủng hộ nhà Bruce. Chị gái của Bruce, Mary, bị giam trong một cái lồng sắt đặt ngoài Roxburgh trong bốn năm. Isabella MacDuff, Nữ Bá tước Buchan, người gia miện cho Bruce, bị giam ngoài Lâu đài Berwick trong bốn năm. Em trai nhỏ của Bruce là Neil bị xử tử bằng hình thức treo cổ, rút ruột, và phanh thây; ông ta bị bắt sau khi bản thân và quân đội của mình thất bại trước Edward, và người Anh bắt được vợ của Bruce(Elizabeth), con gái Marjorie, chị em gái Mary và Christina, và Isabella. Rõ ràng Edward không còn coi cuộc xung đột này là cuộc chiến giữa hai quốc gia, đó chỉ là cuộc đàn áp những kẻ không trung thành. Tuy nhiên sự tàn bạo này không giúp ông ổn định tình hình Scotland, mà chỉ có tác dụng ngược lại và làm tăng sự ủng hộ giành cho Bruce. == Qua đời và di sản == === Giá băng, 1307 === Tháng 2 năm 1307, Bruce quay trở lại và tập hợp lực lượng, đến tháng 5 ông ta đánh bại Aymer de Valence tại Trận Loudoun Hill. Edward, lúc này đã phần nào hồi phục, lại chuẩn bị viễn chinh phương bắc. Tuy nhiên trên đường đi, ông phát bệnh kiết lị, và tình trạng ngày càng tồi tệ. Ngày 6 tháng 7 ông dựng trại tại Burgh by Sands, ngay ở phía nam biên giới Scotland. Khi những người đầy tớ đến vào sáng hôm sau và đỡ ông dậy đút ăn, ông đã chết trong vòng tay của họ. Rất nhiều cầu chuyện được đồn tại về lời di chúc lúc lâm chung của Edward; theo như truyền thống, ông đề nghị rằng quả tim của ông sẽ được đưa đến Vùng Đất Thánh, cùng với quân đội ở đó chống lại những kẻ ngoại đạo. Một câu chuyện đáng ngờ kể rằng ông muốn xương của mình được mang theo trong cuộc chinh phạt người Scots sắp tới. Một lời giải thích khác về khung cảnh giường bệnh lúc đó có vẻ đáng tin cậy hơn; theo như biên sử, Edward triệu tập đến quanh ông các bá tước xứ Lincoln và Warwick, Aymer de Valence, và Robert Clifford, và căn dặn họ trông nom con trai ông Edward. Đặc biệt ông nhấn mạnh rằng Piers Gaveston không được phép trở lại đất nước. Lời dặn này, tuy nhiên, đã ngay lập tức bị con trai ông gạc đi, và anh ta ngay sau đó triệu về lại sủng nam của mình. Vị tân vương, Edward II, tiếp tục bắc phạt và đến tháng 8, nhưng sau đó chấm dứt chiếm dịch và rút về phía nam. Anh ta đăng cơ ngôi vua ngày 25 tháng 2 1308. Di thể của Edward I được đưa về phía nam, quàn tại Waltham Abbey, trước khi được an táng ở Tu viện Westminster vào ngày 27 tháng 10. Có không nhiều tư liệu về lễ tang của ông, nó tiêu tốn £473. Mộ phần của Edward có vẻ khác thường khi được dựng lên bằng đá cẩm thạch Purbeck, nhưng lại không có hình nộm hoàng gia, có thể là do kết quả của việc thâm hụt ngân sách hoàng gia sau khi nhà vua giá băng. Quan tài bình thường có thể đã được bao phủ bởi những tấm vải đắt tiền, và ban đầu có thể được bao quanh bởi bức chạm khắc bán thân và những hình ảnh tôn giáo, tất cả đều bị thất lạc. Hội khảo cổ Antiquaries khai quật ngôi mộ năm 1774, tìm thấy di thể của nhà vua đã được bảo quản tốt qua 467 năm, và nhân dịp đó xác định được chiều cao thực sự của quốc vương.Bản mẫu:Eff Dấu vết của dòng chữ tiếng Latin Edwardus Primus Scottorum Malleus hic est, 1308. Pactum Serva ("Đây là Edward I, Kẻ đánh bại người Scots, 1308. Y theo lời thề"), vẫn có thể nhìn thấy được ở phần bên của lăng mộ, đề cập đến lời thề của ông là sẽ trả thù cuộc nổi loạn của Robert the Bruce. Việc này dẫn đến Edward có biệt danh "Kẻ đánh bại người Scots" bởi các nhà sử học, nhưng không phải là ngay từ đương thời, nó được đặt bởi Cha xứ John Feckenham vào thế kỉ XVI. === Chép sử === Những sử gia đầu tiên viết về Edward vào các thế kỉ XVI và XVII chủ yếu viết các công trình biên niên sử, và ít sử dụng làm hồ sơ chính thức vào thời kì này. Họ cảm nhận về tầm quan trọng của Edward trên cương vị một vị quân vương, và lặp lại lời khen của các nhà biên niên sử về những thành tích của ông. Trong thế kỉ XVII, luật sư Edward Coke viết nhiều về pháp luật thời Edward, đã gọi nhà Vua là the "Justinian của Anh", theo tên của nhà làm luật Đông La Mã nổi tiếng, Justinian I. Trong các thế kỉ sau, các quyển sử sử dụng những chứng cứ có sẵn để xác định vai trò của Quốc hội, và Vương quyền dưới thời Edward, làm ra một so sánh về thời của ông với những xung đột chính trị trong thời của họ. Các sử gia thế kỉ XVIII xây dựng hình ảnh Edward là một vị quân vương có năng lực, tàn nhẫn, và lạnh lùng vì những hoàn cảnh dưới thời của ông. Sử gia có uy tín thời Victoria William Stubbs lại cho rằng Edward đã tích cực địch hình cho lịch sử quốc gia, lập ra luật pháp và các tổ chức trong nước Anh, và bước đầu giúp cho Anh phát triển Quốc hội và chính phủ lập hiến. Những điểm mạnh và điểm yếu của ông trên cương vị nhà cai trị được cho là điển hình cho toàn thể người Anh. Học trò của Stubbs, Thomas Tout, ban đầu những có những quan điểm tương tự, nhưng sau khi nghiên cứu sâu hơn về gia đình hoàng tộc của Edward, và được hỗ trợ bởi những nghiên cứu đương đại đối với Quốc hội thời kì đầu này, ông thay đổi quan điểm. Tout coi Edward như một nhà lãnh đạo bảo thủ, tư lợi, sử dụng Nghị viện như một công cụ để làm "công cụ thông minh của một nhà vua chuyên quyền, sử dụng quần chúng để làm thứ kìm hãm những kẻ thù địch truyền kiếp là các nam tước có thể lực lớn." Các sử gia thế kỉ XX và XXI đã tiến hành nghiên cứu sâu rộng về Edward và triều đại của ông. Hầu hết họ đã kết luận đây là một giai đoạn rất quan trọng trong lịch sử thời Trung cổ nước Anh, một số đi xa hơn và mô tả Edward là một trong những vị vua lớn thời Trung Cổ, mặc dù hầu hết cũng đồng ý rằng năm cuối của ông ít thành công hơn so với thập kỷ đầu cầm quyền. Ba câu chuyện về Edward được xuất bản trong thời kì này. Tác phẩm của Frederick Powicke, xuất bản năm 1947 và 1953, hình thành một công trình chuẩn mực về Edward trong nhiều thập kỉ, và phần lớn đều ca ngợi những thành công tích cực dưới triều đại của ông, đặc biệt là tập trung vào công lý và luật pháp. Năm 1988, Michael Prestwich xuất bản một quyển tiểu sử về Nhà vua, tập trung vào sự nghiệp chánh trị của ông, vẫn miêu tả về tình cảm của ông, nhưng làm nổi bật những hậu quả từ những thất bại chánh trị của ông. Tiểu sử của Marc Morris theo sau đó năm 2008, đưa ra nhiều chi tiết hơn về con người Edward, và xem điểm yếu của nhà vua là tính tình khắc nghiệt và chẳng mấy dễ chịu. Có những tranh luận học thuật diễn ra quanh nhân vật vua Edward, những khả năng chánh trị của ông, và đặc biệt là sự cai trị của ông đối với các bá tước, cộng tác hay đàn áp tùy theo tình hình tự nhiên. Ngoài ra cũng có sự khác biệt rất lớn giữa lịch sử Anh và Scotland về Vua Edward. G. W. S. Barrow, trong tiếu sử viết về Robert the Bruce, cáo buộc Edward đã xâm lược một cách tàn nhẫn vào một nhà nước đang không có chủ như Scotland để nhằm chiếm lấy địa vị phong kiến lên vương quốc. Cái nhìn này về Edward được phản ánh trong nhận thức của quần chúng về nhà vua, có thể thấy trong bộ phim năm 1995 Braveheart', miêu tả nhà vua là một bạo chúa tàn nhẫn. == Gia đình và con cái == Edward kết hôn hai lần: === Hôn nhân thứ nhất === Với người vợ đầu Eleanor of Castile, Edward có ít nhất 14 người con, có thể lên đến 16. Trong số đó, năm cô con gái sống đến tuổi trưởng thành, nhưng chỉ có một cậu con trai chết sau cha mình, tức là Edward II (1307–1327). Các con của ông với Eleanor xứ Castile bao gồm: ==== Con trai từ cuộc hôn nhân đầu tiên ==== John (13 tháng 7 1266 – 3 tháng 8 1271), chết trước cha của mình và qua đời ở Wallingford trong khi bị tạm giam bởi ông chú Richard, Bá tước Cornwall, an táng ở Tu viện Westminster. Henry (6 tháng 5 1268 – 14 tháng 10 1274), chết trước cha mình, chôn ở Tu viện Westminster. Alphonso, Bá tước Chester (24 tháng 11 1273 – 19 tháng 8 1284), chết trước cha mình, chôn ở Tu viện Westminster. Con trai (1280/81 – 1280/81), chết trước cha mình; rất ít bằng chứng về sự tồn tại của đứa trẻ này. Vua Edward II (25 tháng 4 1284 – 21 tháng 9 1327), con trai sống sót và người thừa kế, kế vị cha mình làm vua của Anh. Năm 1308, ông kết hôn với Isabella của Pháp, họ có 4 người con. ==== Con gái từ cuộc hôn nhân thứ nhất ==== Con gái (tháng 5 1255 – 29 tháng 5 1255), chết lưu hay chết không lâu sau khi chào đời. Katherine (trước 17 tháng 6 1264 – 5 tháng 9 1264), an táng tại Tu viện Westminster. Joanna (Mùa hạ hay tháng 1 1265 – trước 7 tháng 9 1265), an táng tại Tu viện Westminster. Eleanor (c. 18 tháng 6 1269 – 19 tháng 8 1298), năm 1293 bà kết hôn với Henry III, Bá tước xứ Bar, họ có 2 người con, an táng tại Tu viện Westminster. Juliana (sau tháng 5 1271 – 5 tháng 9 1271), sinh và mất lúc Edward và Eleanor đang ở Acre. Joan xứ Acre (1272 – 23 tháng 4 1307), kết hôn lần 1 năm 1290 Gilbert de Clare, Bá tước Hertford, ông này chết năm 1295, và lần thứ hai năm 1297 với Ralph de Monthermer. Bà có 4 người con với Clare, và ba hay bốn con với Monthermer. Margaret (c.15 tháng 3 1275 – sau 11 tháng 3 1333), kết hôn với John II của Brabant năm 1290, từ cuộc hôn nhân này bà có 1 con. Berengaria (Tháng 5 1276 – giữa 7 tháng 6 1277 và 1278), an táng tại Tu viện Westminster. Con gái (tháng 12 1277 – tháng 1 1278), an táng ở Tu viện Westminster. Mary xứ Woodstock (11/12 tháng 3 1279 – 29 tháng 5 1332), một nữ tu Benedictine ở Amesbury, Wiltshire, có lẽ bà được chôn cất ở đó. Elizabeth xứ Rhuddlan (c. 7 tháng 8 1282 – 5 tháng 5 1316), kết hôn lần 1 năm 1297 John I, Bá tước Holland, lần hai năm 1302 với Humphrey de Bohun, Bá tước Hereford. Cuộc hôn nhân thứ nhất vô hậu; với Bohun Elizabeth có 10 người con. === Hôn nhân thứ hai === Với Margaret của Pháp ông có hai con trai, cả hai đều sống qua tuổi trưởng thành, và một con gái chết yểu. Biên niên sử Hailes Abbey cho rằng John Botetourt có thể là con ngoại hôn của Edward; tuy nhiên, tuyên bố này là vô căn cứ. Các con của ông với Margaret của Pháp gồm có: ==== Con trai từ chộc hôn nhân thứ hai ==== Thomas xứ Brotherton, Bá tước Norfolk thứ nhất (1 tháng 6, 1300 – 4 tháng 8, 1338), an táng ở Nhà nguyện Bury St Edmunds. Kết hôn lần 1 với Alice Hales, có con; lần thứ hai với Mary Brewes, không có con. Edmund xứ Woodstock, Bá tước thứ nhất của Kent (1 tháng 8, 1301 – 19 tháng 3, 1330), kết hôn với Margaret Wake có con. ==== Con gái từ cuộc hôn nhân thứ hai ==== Eleanor (6 tháng 5, 1306 – 1310) == Tổ tiên == == Ghi chú == == Chú thích nguồn == == Nguồn tham khảo == == Liên kết ngoài == Edward I at the Royal Family website King Edward I Monument Bản mẫu:UK National Archives ID Chân dung của King Edward I tại Phòng Trưng bày Chân dung Quốc gia, Luân Đôn
5 tháng 3.txt
Ngày 5 tháng 3 là ngày thứ 64 (65 trong năm nhuận) trong lịch Gregory. Còn 301 ngày trong năm. == Sự kiện == 1824 – Chiến tranh Anh-Miến thứ nhất: Anh chính thức tuyên chiến với Miến Điện. 1936 – Máy bay tiêm kích Supermarine Spitfire của Anh Quốc tiến hành chuyến bay đầu tiên từ Sân bay Eastleigh. 1940 – Bốn thành viên của Bộ chính trị Đảng Cộng sản Liên Xô ký một sắc lệnh hành quyết 25.700 "phần tử dân tộc chủ nghĩa và phản cách mạng" Ba Lan đang bị Liên Xô giam giữ tại các trại và các nhà tù tại vùng phía Tây Ukraina và Belarus. 1944 – Chiến tranh thế giới thứ hai: Hồng quân Liên Xô mở màn Chiến dịch tấn công Uman–Botoşani chống quân Đức-Romania ở tây bộ Ukraina. 1946 – Thủ tướng Anh Quốc Winston Churchill sử dụng cụm từ "Bức màn sắt" trong bài phát biểu của ông tại Westminster College, Missouri, Hoa Kỳ. 1958 – Chính phủ Trung Quốc thành lập Khu tự trị dân tộc Choang Quảng Tây trên cơ sở tỉnh Quảng Tây trước đó. 1960 – Nhà nhiếp ảnh Alberto Korda chụp bức ảnh có tính hình tượng về nhà cách mạng Marxist Che Guevara. 1970 – Hiệp ước không phổ biến vũ khí hạt nhân có hiệu lực sau khi được 43 quốc gia phê chuẩn. == Sinh == 1563 - John Coke, chính khách người Anh (m. 1644) 1575 - William Oughtred, nhà toán học người Anh (m. 1660) 1693 - Johann Jakob Wettstein, nhà thần học Thụy Sĩ (m. 1754) 1696 - Giovanni Battista Tiepolo, họa sĩ người Ý (m. 1770) 1703 - Vasily Kirillovich Trediakovsky, nhà thơ người Nga (m. 1768) 1748 - Jonas C. Dryander, nhà thực vật học người Thụy Điển (m. 1810) 1748 - William Shield, nhạc sĩ người Anh (m. 1829) 1750 - Jean-Baptiste Gaspard d'Ansse de Villoison, nhà học giả kinh điển người Pháp (m. 1805) 1794 - Jacques Babinet, nhà vật lý người Pháp (m. 1872) 1814 - Wilhelm von Giesebrecht, sử gia người Đức (m. 1889) 1815 - John Wentworth, chính khách người Mỹ (m. 1888) 1817 - Austen Henry Layard, nhà khảo cổ người Anh (m. 1894) 1853 - Howard Pyle, tác gia, người minh họa người Mỹ (m. 1911) 1867 - Louis-Alexandre Taschereau, Quebec thủ tướng (m. 1952) 1869 - Michael von Faulhaber, giáo chủ hồng y, tổng giám mục người Đức (m. 1952) 1870 - Frank Norris, nhà văn người Mỹ (m. 1902) 1874 - Henry Travers, diễn viên người Anh (m. 1965) 1879 - Sir William Beveridge, nhà kinh tế học người Anh (m. 1963) 1887 - Heitor Villa-Lobos, nhà soạn nhạc người Brasil (m. 1959) 1897 - Set Persson, nhà cộng sản chính khách người Thụy Điển (m. 1960) 1898 - Zhou Enlai, Trung Quốc thủ tướng (m. 1976) 1904 - Karl Rahner, nhà thần học người Đức (m. 1984) 1908 - Irving Fiske, nhà văn, nhà soạn kịch người Mỹ (m. 1990) 1908 - Sir Rex Harrison, diễn viên người Anh (m. 1990) 1915 - Laurent Schwartz, nhà toán học người Pháp (m. 2002) 1918 - James Tobin, nhà kinh tế học, giải thưởng Nobel người Mỹ (m. 2002) 1920 - Virginia Christine, nữ diễn viên người Mỹ (m. 1996) 1921 - Elmer Valo, vận động viên bóng chày người Mỹ (m. 1998) 1922 - Pier Paolo Pasolini, nhà văn, đạo diễn phim người Ý (m. 1975) 1923 - Laurence Tisch, nhà đầu tư người Mỹ 1925 - Nguyễn Văn Tý, nhạc sĩ Việt Nam 1927 - Jack Cassidy, diễn viên người Mỹ (m. 1976) 1929 - Erik Carlsson, người đua xe người Thụy Điển 1930 - Del Crandall, vận động viên bóng chày người Mỹ 1933 - Tommy Tucker, nhạc blues ca sĩ, nghệ sĩ dương cầm người Mỹ (m. 1982) 1934 - Daniel Kahneman, nhà kinh tế học, giải thưởng Nobel người Israel 1934 - James B. Sikking, diễn viên người Mỹ 1934 - Gioan Baotixita Phạm Minh Mẫn - Hồng y, nguyên Tổng giám mục Tổng giáo phận Thành phố Hồ Chí Minh, người Việt Nam 1936 - Canaan Banana, tổng thống Zimbabwe đầu tiên (m. 2003) 1936 - Dean Stockwell, diễn viên người Mỹ 1937 - Olusẹgun Ọbasanjọ, tổng thống Nigeria 1938 - Paul Evans, ca sĩ, người sáng tác bài hát người Mỹ 1938 - Fred Williamson, cầu thủ bóng đá, diễn viên người Mỹ 1939 - Samantha Eggar, nữ diễn viên người Anh 1939 - Peter Woodcock, kẻ giết người hàng loạt người Canada 1939 - Pierre Wynants, vua đầu bếp người Bỉ 1940 - Malcolm Hebden, diễn viên người Anh 1942 - Felipe González, thủ tướng Tây Ban Nha 1943 - Billy Backus, võ sĩ quyền Anh người Mỹ 1946 - Murray Head, diễn viên, ca sĩ người Anh 1947 - Eddie Hodges, diễn viên, ca sĩ người Mỹ 1947 - Clodagh Rodgers, ca sĩ người Ireland 1947 - Kent Tekulve, vận động viên bóng chày người Mỹ 1948 - Eddy Grant, ca sĩ người Guyana 1948 - Elaine Paige, ca sĩ, nữ diễn viên người Anh 1951 - Giorgos Ninios, diễn viên người Hy Lạp 1955 - Penn Jillette, Magician, diễn viên hài người Mỹ 1956 - Adriana Barraza, nữ diễn viên người México 1956 - Teena Marie, ca sĩ người Mỹ 1966 - Michael Irvin, cầu thủ bóng đá người Mỹ 1966 - Bob Halkidis, vận động viên khúc côn cầu người Canada 1966 - Aasif Mandvi, Mỹ diễn viên, diễn viên hài Ấn Độ 1969 - Paul Blackthorne, diễn viên người Anh 1969 - MC Solaar, ca sĩ nhạc rap người Pháp 1970 - Lisa Robin Kelly, nữ diễn viên người Mỹ 1971 - Jeffrey Hammonds, vận động viên bóng chày người Mỹ 1971 - Yuri Lowenthal, diễn viên, tác gia, họa sĩ người Mỹ 1973 - Yannis Anastasiou, cầu thủ bóng đá người Hy Lạp 1973 - Ryan Franklin, vận động viên bóng chày người Mỹ 1974 - Jens Jeremies, cầu thủ bóng đá người Đức 1974 - Matt Lucas, diễn viên hài người Anh 1974 - Eva Mendes, nữ diễn viên người Mỹ 1975 - Jolene Blalock, nữ diễn viên người Mỹ 1975 - Sasho Petrovski, cầu thủ bóng đá người Úc 1975 - Niki Taylor, người mẫu, người Mỹ 1975 - Luciano Burti, người đua xe người Brasil 1976 - Šarūnas Jasikevičius, cầu thủ bóng rổ người Litva 1976 - Paul Konerko, vận động viên bóng chày người Mỹ 1976 - Katerina Matziou, nữ diễn viên người Hy Lạp 1977 - Bryan Berard, vận động viên khúc côn cầu trên băng người Mỹ 1977 - Mike MacDougal, vận động viên bóng chày người Mỹ 1977 - Wally Szczerbiak, cầu thủ bóng rổ người Mỹ 1978 - Mike Hessman, vận động viên bóng chày người Mỹ 1978 - Kimberly McCullough, nữ diễn viên người Mỹ 1978 - Papoose, ca sĩ nhạc rap người Mỹ 1979 - Tang Gonghong, vận động viên cử tạ người Trung Quốc 1981 - Paul Martin, vận động viên khúc côn cầu trên băng người Mỹ 1981 - Shugo Oshinari, diễn viên người Nhật Bản 1982 - Daniel Carter, cầu thủ bóng bầu dục người New Zealand 1985 - Ken'ichi Matsuyama, diễn viên người Nhật Bản 1986 - Matty Fryatt, cầu thủ bóng đá người Anh 1987 - Anna Chakvetadze, vận động viên quần vợt người Nga 1988 - Trevor Carson, cầu thủ bóng đá người Bắc Ireland 1988 - Bjarni Viðarsson, cầu thủ bóng đá người Iceland 1989 - Jake Lloyd, diễn viên người Mỹ 1999 - Yeri, ca sĩ người Hàn Quốc == Mất == 1534 - Antonio da Correggio, họa sĩ người Ý (s. 1489) 1695 - Henry Wharton, nhà văn người Anh (s. 1664) 1778 - Thomas Arne, nhà soạn nhạc người Anh (s. 1710) 1827 - Pierre-Simon Laplace, nhà toán học người Pháp (s. 1749) 1827 - Alessandro Volta, nhà vật lý người Ý (s. 1745) 1849 - David Scott, họa sĩ người Scotland (s. 1806) 1876 - Marie d'Agoult, nhà văn người Đức (s. 1805) 1895 - Nikolai Leskov, nhà văn người Nga (s. 1831) 1895 - Henry Rawlinson, người lính, học giả người Anh (s. 1810) 1903 - George Francis Robert Henderson, người lính người Anh (s. 1854) 1907 - Friedrich Blass, nhà học giả kinh điển người Đức (s. 1843) 1925 - Johan Jensen, nhà toán học người Đan Mạch (s. 1859) 1926 - Clément Ader, hàng không người đi đầu trong lĩnh vực người Pháp (s. 1841) 1927 - Franz Mertens, nhà toán học người Đức (s. 1840) 1929 - David Dunbar Buick, Mỹ ô tô người đi đầu trong lĩnh vực người Scotland (s. 1854) 1940 - Cai Yuanpei, nhà sư phạm người Trung Quốc (s. 1868) 1944 - Max Jacob, nhà thơ, nhà văn người Pháp (s. 1876) 1945 - Lena Baker, kẻ giết người người Mỹ (s. 1901) 1947 - Alfredo Casella, nhà soạn nhạc người Ý (s. 1883) 1953 - Sergei Prokofiev, nhà soạn nhạc người Nga (s. 1891) 1953 - Joseph Stalin, lãnh tụ người Liên Xô người Gruzia (s. 1879) 1953 - Herman J. Mankiewicz, người viết kịch bản phim người Mỹ (s. 1897) 1955 - Antanas Merkys, tổng thống Litva (s. 1888) 1963 - Patsy Cline, ca sĩ người Mỹ (s. 1932) 1963 - Cowboy Copas, ca sĩ người Mỹ (s. 1913) 1963 - Hawkshaw Hawkins, ca sĩ người Mỹ (s. 1921) 1965 - Chen Cheng, chính khách người Trung Quốc (s. 1897) 1965 - Pepper Martin, vận động viên bóng chày người Mỹ (s. 1904) 1966 - Anna Akhmatova, nhà thơ người Nga (s. 1889) 1967 - Georges Vanier, tướng Canada thống đốc (s. 1888) 1974 - Billy De Wolfe, diễn viên người Mỹ (s. 1907) 1977 - Tom Pryce, tay đua xe Công thức 1 Wales (s. 1949) 1980 - Jay Silverheels, diễn viên người Canada (s. 1912) 1981 - Yip Harburg, nhà thơ trữ tình người Mỹ (s. 1896) 1982 - John Belushi, diễn viên người Mỹ (s. 1949) 1984 - Tito Gobbi, ca sĩ giọng nam trung người Ý (s. 1915) 1984 - William Powell, diễn viên người Mỹ (s. 1892) 1988 - Alberto Olmedo, diễn viên hài người Argentina (s. 1933) 1990 - Gary Merrill, diễn viên người Mỹ (s. 1915) 1993 - Cyril Collard, tác gia, nhà sản xuất phim người Pháp (s. 1957) 1996 - Whit Bissell, diễn viên người Mỹ (s. 1909) 1999 - Richard Kiley, diễn viên người Mỹ (s. 1922) 2004 - Walt Gorney, diễn viên người Mỹ (s. 1912) == Ngày lễ và kỷ niệm == == Tham khảo ==
vùng núi shirakami.txt
Vùng núi Shirakami (kanji: 白神山地, rōmaji: Shirakami-Sanchi, phiên âm Hán-Việt: Bạch thần sơn địa), với cách gọi khác là vùng núi Kosai (弘西山地), là một di sản thế giới UNESCO của Nhật Bản, trên đảo Honshū. Vùng này là một rải rừng nguyên sinh rộng lớn trên những dãy núi nằm ở vùng Tây Nam tỉnh Akita và Tây Bắc Aomori. Diện tích toàn bộ khu rừng là 1.300 km², trong đó một vùng rộng 169,7 km² là thuộc danh sách di sản thiên nhiên thế giới từ 1993. Sồi là loại cây chính bao phủ phần lớn khu rừng. Vùng rừng núi này có nhiều thác nước đẹp, như hệ thống ba thác Anmon (Anmon no taki) là một hạng mục trong di sản thế giới Vùng núi Shirakami. == Hình ảnh == == Xem thêm == Du lịch Nhật Bản == Tham khảo ==
samsung omnia 7.txt
Samsung Omnia 7 (được biết đến như SGH-i8700) là điện thoại thông minh chạy hệ điều hành Windows Phone của Microsoft. Sử dụng vi xử lý Qualcomm Snapdragon QSD8250 SoC xung nhịp 1 GHz, màn hình 4.0-inch Super AMOLED với độ phân giải 480x800, và bộ nhớ trong 8GB hoặc 16GB. Điện thoại không có khe microSD để mở rộng bộ nhớ. Nó có sẵn ở châu Âu và Nam Phi, trong khi Samsung Focus được bán tại Mỹ. Samsung Omnia 7 hỗ trợ Windows Phone 7.8. == Vấn đề phần mềm == Một số người dùng của Omnia 7 với Samsung Focus gặp vấn đề với gói nâng cấp đến tháng 3 năm 2011 và một lần nữa với cập nhật của NODO. Samsung và Microsoft cùng làm việc chung để giải quyết vấn đề cập nhật đến vấn đề nâng cấp điện thoại. == Xem thêm == Windows Phone == Tham khảo == == Liên kết == Trang chủ chính thức Samsung Omnia 7
lịch sử chữ viết.txt
Lịch sử chữ viết bắt đầu khi các hệ thống chữ viết đầu tiên của loài người xuất hiện vào đầu thời kỳ đồ đồng (cuối thiên niên kỷ 4 trước Công nguyên) từ các biểu tượng tiền ký tự của thời kỳ đồ đá mới. == Hệ thống biểu tượng tiền ký tự == Những hệ thống chữ viết đầu tiên không tự xuất hiện. Chúng bắt nguồn từ các tập quán cổ xưa của các hệ thống biểu tượng. Những hệ thống này không thể coi là chữ viết, nhưng chúng có rất nhiều đặc điểm liên hệ với chữ viết sau này, vì vậy có thể gọi là hệ thống tiền ký tự (nguồn gốc của chữ viết). Chúng là các hệ thống biểu tượng khá dễ nhớ và ghi lại ý, cho phép truyền đạt thông tin nhất định. Tuy vậy, chúng không có nội dung ngôn ngữ. Những hệ thống này xuất hiện ở đầu thời kỳ đồ đá mới, khoảng thiên niên kỷ thứ 7 TCN. Đáng chú ý có hệ biểu tượng Vinca có những cải tiến về biểu tượng giản đơn ở đầu thiên niên kỷ 7 TCN, dần tăng tính phức tạp trong thiên niên kỷ tiếp theo và lên đến đỉnh cao là những bản ghi Tartaria vào thiên niên kỷ 5 TCN. Những biểu tượng được xếp theo hàng lối chặt chẽ, giúp chúng ta liên tưởng ngay đến văn bản. Các ký tự tượng hình của Cận đông thời cổ đại (Ai Cập, Cuneiform – tiền thân nền văn minh Sumer, Cretan) dường như không bắt nguồn từ những hệ thống biểu tượng trên. Vì vậy, khó có thể kết luận rằng hệ thống chữ viết đã kế thừa biểu tượng tiền chữ viết ở thời điểm nào. Năm 2003, các biểu tượng khắc trên mu rùa được phát hiện ở Jiahu, tỉnh Hà Nam, Trung Quốc. Phương pháp xác định tuổi bằng đồng vị carbon cho thấy những mu rùa này có từ thiên niên kỷ 2 trước công nguyên. Các mu rùa được tìm thấy khi khai quật những di chỉ ở 24 hang động thời đồ đá mới ở Jiahu, tỉnh Hà Nam, Trung Quốc. Theo một số nhà khảo cổ, những chữ viết trên mai rùa có những điểm tương đồng với ký tự viết trên những thẻ xương động vật ở thiên niên kỷ 2 TCN. Tuy nhiên, nhiều nhà khảo cổ khác không đồng ý với quan điểm đó. Họ cho rằng những phác họa hình học giản đơn như thế không hề liên hệ đến chữ viết cổ xưa. Ở nền văn minh sông Ấn, chuỗi biểu tượng tìm thấy có thể tạo thành hệ biểu tượng tiền ký tự, có thể là chịu ảnh hưởng từ sự xuất hiện chữ viết ở Lưỡng Hà. == Phát minh ra chữ viết == Những dạng cổ xưa nhất của chữ viết mang những yếu tố như ký tự viết tắt dựa trên những yếu tố tượng hình và tượng ý. Đa phần các hệ thống chữ viết có thể chia làm ba loại: tượng ý, tượng thanh và chia đoạn. Tuy vậy, cả ba loại này đều tìm thấy ở bất kỳ hệ thống chữ viết nào với mức độ cấu thành khác nhau và khiến việc xếp loại mỗi hệ chữ viết trở nên khó khăn và nhiều mâu thuẫn. Phát minh chữ viết đầu tiên cùng lúc với sự ra đời của thời kỳ đồ đồng ở cuối thời đồ đá mới, thiên niên kỷ 4 TCN. Người ta tin rằng hệ thống chữ viết đầu tiên của loài người ra đời cuối thiên niên kỷ 3 TCN tại vùng Sumer (Lưỡng Hà) ở dạng chữ hình nêm cổ xưa ở Triều đại Ur thứ ba. Cùng thời gian đó, những dạng tiền chữ viết Elamite phát triển thành chữ viết Elamite có hàng lối (dạng chữ viết này cho đến nay vẫn chưa giải mã được). Sự phát triển của chữ viết tượng hình Ai cập song song với những ký tự vùng Lưỡng Hà và không nhất thiết là độc lập với nhau. Hệ thống tiền ký tự của người Ai Cập tiến hóa thành những ký tự tượng hình cổ xưa vào khoảng 3.200 năm TCN và phổ biến rộng rãi ở giữa thiên niên kỷ 3 TCN. Ký tự của nền văn minh sông Ấn phát triển trong suốt thiên niên kỷ 3 cả ở dạng tiền chữ viết hoặc dạng chữ viết cổ xưa tuy vậy quá trình phát triển này tiến nhanh hơn khi nền văn minh đi qua giai đoạn đỉnh điểm vào khoảng 1.900 năm TCN. Chữ viết của người Trung Quốc có lẽ là không cùng nguồn gốc với các nền văn minh Trung Đông. Từ hệ thống biểu tượng tiền chữ viết ở cuối thời kỳ đồ đá mới khoảng 6.000 năm TCN, chữ viết Trung Quốc ra đời khoảng 1.500 năm TCN vào thời nhà Thương. Những hệ thống chữ viết ở châu Mỹ (bao gồm nền văn minh Maya và Olmec) cũng có những nguồn xuất xứ độc lập. Phần lớn các hệ thống chữ viết trên thế giới ngày này đều bắt nguồn từ Ai Cập hoặc Trung Quốc. Có một vài ngoại lệ là hệ thống tượng ý của người Maya xuất hiện thế kỷ thứ 3 TCN và các ký tự tìm thấy trên đảo Phục Sinh. == Chữ viết thời kỳ đồ đồng == === Chữ viết hình nêm === Hệ thống chữ viết nguyên thủy của người Sumer bắt nguồn từ những phiến đất sét được sử dụng để chỉ tên đồ vật. Cho đến cuối thiên niên kỷ 4 TCN, hệ thống này đã phát triển thành một phương pháp lưu lại các bản kê, sử dụng bút trâm đầu tròn ấn lên tấm đất sét theo các góc khác nhau để ký hiệu con số. Cách ghi này dần được gia tố các biểu tượng ghi bằng bút trâm sắc để chỉ ra cái gì được đếm. Ghi chép sử dụng bút trâm đầu tròn và bút trâm đầu sắc, theo thời gian, được thay thế bằng bút trâm đầu hình nêm (vì thế mà có tên chữ viết hình nêm) vào khoảng 2.700 – 2.500 năm TCN. Ban đầu chỉ có những ký hiệu ghi hình (xem chữ tượng hình) nhưng đã phát triển, đưa vào yếu tố ngữ âm ở thời gian thế kỷ 29 TCN. Chừng 2.600 năm TCN, chữ viết hình nêm bắt đầu thể hiện âm tiết trong nhóm ngôn ngữ Sumer vùng Lưỡng Hà. Cuối cùng, chữ viết hình nêm trở thành hệ thống chữ viết phổ biến ghi lại ký hiệu ghi hình, âm tiết và con số. Kể từ thế kỷ 26 TCN, dạng chữ viết này du nhập vào ngôn ngữ Akkad (một ngôn ngữ trong nhóm Sumer) và các ngôn ngữ khác như Hurria (ngôn ngữ được nói ở phía bắc Lưỡng Hà khoảng 2.300 năm TCN và gần như biến mất 1.000 năm TCN) và Hittite (ngôn ngữ đã biến mất, đã từng được nói ở trung tâm Tiểu Á từ 1.600 đến 1.100 năm TCN). Những ký tự tương tự còn được tìm thấy trong ngôn ngữ Ugaritic (ngôn ngữ đã biến mất, từng được sử dụng ở Ugarit, Syria) và Ba Tư cổ. === Chữ tượng hình Ai Cập cổ đại === Chữ viết đóng vai trò quan trọng trong việc duy trì đế chế Ai Cập, và đọc và viết là đặc quyền của nhóm người được giáo dục để ghi chép và giữ gìn văn bản. Chỉ những người với xuất thân nhất định mới được đào tạo để trở thành người ghi chép và giữ gìn văn bản. Họ phục vụ trong đền thờ, quân đội và hệ thống hành chính của nhà vua (Pharaon). Hệ thống chữ viết tượng hình Ai Cập luôn phức tạp, khó học, nhưng trong nhiều thế kỷ sau khi ra đời, chúng còn trở nên khó học hơn nhiều. Chủ ý của thực tế này là nhằm duy trì đặc quyền của những người ghi chép và giữ gìn văn bản === Chữ viết Trung Hoa === Ở Trung Quốc, các nhà sử học biết được rất nhiều điều về những Triều đại Trung Hoa đầu tiên nhờ những văn bản còn sót lại. Từ thời nhà Thương, đa số những ghi chép này tìm thấy trên xương động vật hoặc bản ghi bằng đồng. Những chữ ghi trên mai rùa, qua phương pháp xác định tuổi bằng đồng vị carbon cho thấy chúng được viết khoảng 1.500 năm TCN. Các nhà sử học phát hiện ra rằng loại vật liệu được sử dụng có ảnh hưởng đến văn bản được ghi chép và cách thức sử dụng chúng. Có những phát hiện gần đây về các mai rùa có niên đại khoảng 6.000 năm TCN như các ký hiệu tìm thấy ở Jiahu, nhưng liệu chúng đã đủ phức tạp để được coi là chữ viết hay chưa thì vẫn còn tranh cãi. Nếu những hình vẽ này được xác định là ngôn ngữ ở dạng viết thì chữ viết Trung Hoa là chữ viết cổ nhất của nhân loại, thậm chí ra đời tới 2.000 năm sớm hơn chữ viết hình nêm của vùng Lưỡng Hà. Hiện nay, những bằng chứng có hệ thống về chữ viết Trung Hoa bắt đầu từ 1.600 năm TCN. === Ký tự Elamite === Những biểu tượng tiền ký tự Elamite vẫn chưa giải nghĩa được xuất hiện có lẽ từ 3.200 năm TCN và trở thành có hàng lối vào cuối thiên niên kỷ 3 TCN, chúng sau đó được thay thế bằng chư viết hình nêm Elamite du nhập từ ngôn ngữ Akkad. === Chữ tượng hình Tiểu Á === Chữ tượng hình Tiểu Á là ký tự ghi lại hình để biểu đạt thông tin ra đời ở phía tây Tiểu Á. Lần đầu tiên xuất hiện trên các con dấu hoàng gia để ghi lại ngôn ngữ Luwian (một ngôn ngữ ngày nay đã tuyệt chủng) khoảng thế kỷ 20 TCN. === Ký tự Cretan === Chữ tượng hình Cretan được tìm thấy tại các di chỉ của nền Văn minh Minos đảo Crete (xuất hiện ở giữa thiên niên kỷ 2 TCN). Vẫn chưa được giải mã. === Những chữ cái cổ Semitic (Trung Đông) === Những chữ cái đúng nghĩa đầu tiên (những chữ cái phụ âm, gán mỗi biểu tượng tương ứng với một âm vị, nhưng không nhất thiết mỗi âm vị ứng với một biểu tượng) xuất hiện khoảng 1.800 năm TCN ở Ai Cập Cổ đại, như một cách miêu tả ngôn ngữ được phát triển bởi những người Semitic phục vụ ở Ai Cập, nhưng những nguyên tắc chữ cái này không được du nhập vào hệ thống chữ viết tượng hình của Ai cập trong suốt thiên niên kỷ. Những chữ cái phụ âm ban đầu này vẫn ít được coi trọng trong nhiều thế kỷ. Và chúng chỉ trở nên quan trọng khi vào cuối thời kỳ đồ đồng, khi ký tự tiền chữ viết Sinaitic phân thành hai nhánh là hệ thống tiền chữ cái Canaanite (khoảng 1.400 TCN) và hệ thống chữ cái nam Ả rập (khoảng 1.200 TCN). Hệ thống tiền chữ cái Canaanite có lẽ bị ảnh hưởng bởi hệ thống chữ viết ghép vần Byblos mà hiện này vẫn chưa giải mã được và sau đó truyền ảnh hưởng vào chữ cái Ugantic (khoảng 1.300 TCN). === Chữ viết Ấn Độ === Những ký hiệu tìm thấy của nền văn minh sông Ấn thời đồ đồng giữa vẫn chưa giải nghĩa được. Vẫn chưa rõ những ký hiệu này được xếp vào ký hiệu tiền ký tự hay đó là một dạng chữ viết biểu tượng-ngữ âm của các hệ thống chữ viết thời kỳ đồ đồng khác. == Thời kỳ đồ sắt và sự ra đời hệ thống chữ viết Alphabet == Bảng chữ cái Phoenicia là hệ thống tiền chữ cái Canaanite được tiếp tục phát triển ở thời kỳ đồ sắt (được cho là kế thừa từ sự chấm dứt của hệ thống này năm 1.050 TCN). Hệ thống chữ cái này đưa đến sự ra đời của chữ cái Aramaic và chữ cái Hy Lạp; rồi thông qua người Hy Lạp, dẫn đến sự ra đời của các chữ cái Tiểu Á và chữ cái Italic cổ (bao gồm tiếng Latin) vào thể kỷ 8 TCN. Chữ cái Hy Lạp đưa vào các ký hiệu nguyên âm. Nhóm chữ viết Brahmic của Ấn Độ có lẽ hình thành từ thế kỷ 5 TCN từ những tiếp xúc với chữ viết Aramaic. Chữ viết Hy Lạp và Latin vào các thế kỷ đầu Công nguyên là phát tích của một số hệ thống ký tự châu Âu như chữ cái Runes, chữ cái Gothic và chữ cái Cyrillic. Trong khi đó, chữ viết Aramaic là khởi nguồn của chữ cái Hebrew, chữ cái Syriac và chữ cái Arabic; chữ cái nam Ả rập mang đến sự hình thành chữ cái Ge’ez. Cũng thời gian này (thế kỷ 4 đầu Công nguyên), chữ viết Nhật Bản ra đời từ chữ viết Trung Hoa. == Chữ viết và lịch sử == Các nhà sử học phân định rạch ròi thời tiền sử và thời lịch sử, theo đó thời lịch sử bắt đầu kể từ khi có các nguồn ghi chép đáng tin cậy. Sự xuất hiện của chữ viết ở một khu vực được kế tiếp, trong vài thế kỷ sau đó, bằng những ghi chép rời rạc thì không được đưa vào thời lịch sử được. Chỉ khi có sự hiện diện của những văn bản liền mạch, đan kết thì mới đánh dấu thời lịch sử. Trong các xã hội học vấn ban đầu, phải mất đến 600 năm để những ghi chép đầu tiên được kế thừa bằng những nguồn văn bản chặt chẽ (khoảng năm 3.200 đến 2.600 TCN). Trong trường hợp nước Ý, quãng thời gian này là 500 năm từ khi có chữ cái Italic cổ đến khi Plautus viết hài kịch (năm 750 đến 250 TCN). Với những tộc German, khoảng thời gian cũng dài tương đương: 500 năm kể từ những ghi chép rời rạc đầu tiên của chữ viết cổ Futhark khoảng năm 200 đến những văn bản đầu tiên như quyển Abrogans năm 750. == Tham khảo ==
liên xô.txt
Liên Xô, tên đầy đủ là Liên bang các nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Xô viết (tiếng Nga: Союз Советских Социалистических Республик, chuyển tự. Soyuz Sovietskikh Sotsialisticheskikh Respublik Phát âm tiếng Nga: [sɐˈjus sɐˈvʲetskʲɪx sətsɨəlʲɪˈstʲitɕɪskʲɪx rʲɪsˈpublʲɪk], viết tắt: СССР; tiếng Anh: Union of Soviet Socialist Republics, viết tắt: USSR) là một cựu quốc gia có lãnh thổ chiếm phần lớn châu Âu và châu Á, tồn tại từ 30 tháng 12 năm 1922 cho đến khi chính thức giải thể vào ngày 25 tháng 12 năm 1991. Các tên gọi không chính thức: Liên bang Xô viết (tiếng Nga: Советский Союз, chuyển tự. Sovietsky Soyuz, tiếng Anh: Soviet Union), Liên Xô. Sự thành lập quốc gia này gắn liền với quá trình sụp đổ của Đế chế Nga trong Chiến tranh thế giới thứ nhất: cuộc Cách mạng tháng Hai lật đổ chính quyền Nga hoàng và Cách mạng tháng Mười năm 1917 lật đổ Chính phủ Lâm thời của Aleksandr Fyodorovich Kerensky sau đó. Liên Xô hình thành là chiến thắng của những người cộng sản Nga (Bolshevik) đứng đầu là Vladimir Ilyich Lenin trong cuộc Cách mạng Tháng Mười và trong cuộc nội chiến Nga (1918 – 1922). Liên Xô là quốc gia đầu tiên trên thế giới xây dựng Chủ nghĩa Cộng sản. Là quốc gia rộng nhất thế giới và sự xuất hiện của nhà nước Liên Xô xã hội chủ nghĩa đã ảnh hưởng rất lớn đến tiến trình lịch sử của thế giới. Trong thế kỷ 20, sau khi Liên Xô xuất hiện, mọi sự kiện lớn của thế giới – nhiều hay ít – đều có dấu ấn và chịu ảnh hưởng của Liên Xô. Liên Xô thuộc về phe chiến thắng trong Chiến tranh thế giới thứ hai và mạnh lên thành một siêu cường của thế giới. Nửa sau thế kỷ 20 là cuộc đấu tranh giữa hai phe Tư bản chủ nghĩa (tự gọi là Thế giới tự do) do Hoa Kỳ đứng đầu và phe Xã hội chủ nghĩa do Liên Xô đứng đầu mà cuộc Chiến tranh Lạnh là đỉnh cao. Sau đó là thời gian trì trệ kéo dài, dẫn đến sự cải tổ và tan rã trong năm 1991. Lãnh thổ Liên Xô thay đổi theo thời gian. Gần đây nhất nó giống lãnh thổ Đế quốc Nga, trừ các nước Ba Lan và Phần Lan, ngoài ra còn có Alaska Đế quốc Nga đã bán cho Mĩ trước đó vào năm 1867. == Thành phần và những thay đổi về lãnh thổ == Thành phần Liên bang Xô viết như sau: Theo Hiệp ước về thành lập Liên Xô (30 tháng 12 năm 1922), 4 nước đầu tiên ký vào hiệp ước thành lập Liên Xô bao gồm: Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Xô viết Liên bang Nga (sau tách ra thành Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Xô viết Uzbekistan, Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Xô viết Turkmenia, Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Xô viết Tajikistan, Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Xô viết Kazakhstan, Cộng hoà Xã hội chủ nghĩa Xô viết Kirghizia), Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Xô viết Ukraina, Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Xô viết Belorussia, Cộng hoà Xã hội chủ nghĩa Xô viết Liên bang Ngoại Kavkaz (từ 1936 tách thành Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Xô viết Azerbaijan, Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Xô viết Armenia và Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Xô viết Gruzia). Năm 1940 có thêm Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Xô viết Moldavia, Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Xô viết Latvia, Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Xô viết Litva và Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Xô viết Estonia Trong thời kỳ 1940 – 1954 tồn tại Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Xô viết Karelia-Phần Lan, về sau là Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Xô viết Tự trị Karelia trong Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Xô viết Liên bang Nga. Ở thời điểm 1990, Liên Xô có tổng cộng 15 nước Cộng hòa trực thuộc. == Lịch sử == === Cách mạng và sự hình thành === Sự hình thành Liên Xô gắn liền với sự sụp đổ của Đế quốc Nga trong Chiến tranh thế giới thứ nhất và hoạt động của Đảng Cộng sản Nga (Bolshevik) do Vladimir Ilyich Lenin đứng đầu. Vào đầu thế kỷ 20, Đế quốc Nga là một cường quốc ở châu Âu có tiềm lực đất đai và dân số to lớn, nhưng trình độ phát triển kinh tế – xã hội còn rất lạc hậu so với các cường quốc châu Âu khác như Anh, Đức, Pháp... Xã hội ẩn chứa nhiều mâu thuẫn gay gắt không được giải tỏa: xã hội Nga là xã hội chuyên chế độc tài của quý tộc và tư sản lớn, tự do tư tưởng bị bóp nghẹt không làm hài lòng giới trí thức (интеллигенция – intelligentsia), trung lưu thành thị và giới tư sản quý tộc nhỏ; nước Nga lại là nơi có phong trào Marxist cấp tiến mạnh nhất, do Lenin đứng đầu với đảng Bolshevik chủ trương làm cách mạng xã hội chủ nghĩa để xây dựng chủ nghĩa cộng sản. Những mâu thuẫn trên trong Chiến tranh thế giới thứ nhất không những không được giải quyết mà cùng với những thất bại to lớn trong chiến tranh, xã hội Nga đi vào bất ổn. Quốc khố cạn kiệt, nợ nước ngoài cao, lạm phát không kiểm soát được, dân chúng cực khổ, chiến tranh làm phá sản hàng loạt doanh nghiệp gây thất nghiệp đô thị trầm trọng, nạn đói lan tràn tại nông thôn, các tầng lớp nhân dân, binh lính oán ghét nhà cầm quyền và chiến tranh, trong quân đội mâu thuẫn giữa binh lính và tầng lớp sĩ quan quý tộc phát triển thành chống đối. Tháng 2 năm 1917 đã nổ ra Cách mạng tháng Hai: khởi nghĩa vũ trang tại Petrograd đã lật đổ chính phủ Nga hoàng và thành lập Chính phủ Lâm thời của giai cấp tư sản do Aleksandr Fyodorovich Kerensky – một đảng viên của Đảng Cách mạng Xã hội Nga đứng đầu. Chính phủ Lâm thời chủ trương phá bỏ chế độ độc tài chuyên chế, tự do hóa xã hội Nga theo các tiêu chuẩn như các quốc gia châu Âu đương thời, nhưng vẫn chủ trương theo đuổi chiến tranh bên phía Đồng Minh Anh – Pháp đến thắng lợi cuối cùng. Chính phủ cũng tuyên bố đảm bảo quyền lợi của giai cấp công nhân, nông dân và các tầng lớp xã hội khác. Sau Cách mạng tháng Hai, tại các địa phương ở Nga đồng loạt xuất hiện các tổ chức "hội đồng" (tiếng Nga: совет) hay Xô viết của công nhân, nông dân và binh lính để bảo vệ quyền lợi của chính họ. Thời gian giữa hai cuộc cách mạng là khi hai chính quyền song song tồn tại: chính quyền trung ương là của Chính phủ Lâm thời, nhưng các sắc lệnh muốn được thi hành phải có sự chấp thuận của các Xô viết gồm công – nông – binh địa phương, mà các Xô viết này lại ủng hộ sự lãnh đạo của đảng Bolshevik. Đảng Bolshevik rầm rộ tung khuếch trương cho cách mạng vô sản với khẩu hiệu "tất cả chính quyền về tay các Xô viết" và kêu gọi nhân dân, binh lính phản chiến làm cách mạng "Biến chiến tranh đế quốc thành nội chiến cách mạng". Chính phủ Lâm thời trong thời gian 8 tháng tồn tại đã tiếp tục tiến hành chiến tranh với Đức-Áo-Hung, song Chính phủ này đã thất bại trong cả nỗ lực chiến tranh và ổn định tình hình trong nước. Sau một loạt thất bại trước quân Đức, quân đội trở nên chán nản, binh lính tan rã không còn tuân lệnh cấp trên, bắt giết sĩ quan và tự động đào ngũ. Các lực lượng bảo hoàng tiến quân về thủ đô để dẹp bỏ chính phủ lâm thời, khôi phục chế độ Nga hoàng (cuộc hành quân của tướng Kornilov - Корнилов). Chính phủ Lâm thời bất lực, phải kêu gọi hỗ trợ từ tầng lớp công nhân, nông dân thuộc các Xô viết, và do đó càng mất uy tín vào phía Bolshevik. Nước Nga vào đêm trước của Cách mạng tháng Mười hỗn loạn, chính phủ lâm thời không còn có thể kiểm soát được tình hình. Ngày 25 tháng 10 năm 1917 (theo lịch Julius, thời đó Nga còn dùng lịch Julius), tức ngày 7 tháng 11 theo lịch Gregory, Lenin và các đảng viên Bolshevik lãnh đạo các Xô viết làm Cách mạng tháng Mười lập chính quyền Xô viết của công, nông, binh. Sau khi cách mạng thành công, chính quyền lập tức ban hành sắc lệnh về hòa bình, sắc lệnh về ruộng đất và ra khỏi chiến tranh với các điều kiện rất ngặt nghèo của phía Đức (Hòa ước Brest-Litovsk). Ngay sau Cách mạng tháng Mười, nước Nga rơi vào thời kỳ nội chiến cực kỳ đẫm máu (1918-1922). Hồng quân Xô viết có thành phần chủ yếu là tầng lớp dưới của xã hội, học vấn thấp nhưng có số lượng đông đảo như công nhân, nông dân, cựu quân nhân và một bộ phận cựu sĩ quan của Đế quốc Nga cũ. Phía bên kia là các thành phần thuộc lực lượng bảo hoàng, các đảng phái đối lập, một bộ phận trung lưu thành thị, sĩ quan, một bộ phận nông dân, Cozak... gọi chung là Bạch vệ. Lực lượng Bạch vệ nhận được sự giúp đỡ của các quốc gia tư bản châu Âu để chống lại phe công - nông - binh nổi dậy. Đặc trưng của cuộc nội chiến là tính ác liệt không khoan nhượng. Đến cuối năm 1920 về cơ bản Hồng quân đã giành chiến thắng, quân bạch vệ bị thất bại và mất quyền lực hoàn toàn, thay vào đó chính quyền của những người Bolshevik được thành lập trên toàn lãnh thổ còn lại của Đế quốc Nga. Ngày 30 tháng 12 năm 1922, đại biểu Xô viết đến từ những vùng lãnh thổ còn lại của Đế chế Nga hoàng cũ (trừ Ba Lan, Phần Lan và các nước Baltic) đã nhóm họp và thống nhất quốc hiệu là Liên bang Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Xô viết. === Trước Chiến tranh thế giới thứ hai === Ngay sau nội chiến kết thúc, nền kinh tế Liên Xô đứng trước nguy cơ phá sản: ở nông thôn, nạn đói hoành hành, cướp bóc thổ phỉ nổi lên khắp nơi, hàng đoàn dân đói chạy vào thành phố ăn xin; còn ở thành phố, công nghiệp đình đốn, thất nghiệp cực điểm, tiền không còn giá trị, nguyên liệu, tài chính cạn kiệt – và tình hình xã hội lúc đó cực kỳ căng thẳng. Đứng trước tình hình đó, Lenin cho tiến hành chính sách kinh tế mới, hay NEP (Новая экономическая политика – НЭП), để thay thế cho chính sách cộng sản thời chiến đã được áp dụng trong nội chiến. NEP là chính sách dùng cơ chế kinh tế thị trường để kích thích sản xuất, kêu gọi đầu tư tư bản dưới sự định hướng kiểm soát của nhà nước. Đối với nông nghiệp, thay vì trưng thu mọi nông sản của nông dân như trong thời chiến, NEP dùng cơ chế thuế để điều tiết, nông dân sau khi làm nghĩa vụ thuế có thể mua bán nông sản trên thị trường tự do. Tại thành phố chính sách mới khuyến khích đầu tư của tư bản trong nước và nước ngoài, nhà nước chỉ kiểm soát những ngành quan trọng sống còn với quốc gia. NEP của Lenin đã nhanh chóng cho kết quả rất tốt: nạn đói nhanh chóng bị đẩy lùi, công nghiệp, thương mại được phục hồi, tình hình nông thôn và thành thị được ổn định, xã hội có tích luỹ và đời sống người dân tốt lên nhanh chóng. Ngay sau khi Lenin mất (1924), trong ban lãnh đạo đất nước này đã diễn ra cuộc đấu tranh nội bộ quyết liệt do những bất đồng về đường lối xây dựng đất nước, chủ yếu là giữa hai nhóm của Iosif Vissarionovich Stalin và Lev Davidovich Trotsky. Dần dần Stalin thắng thế, nắm vị trí độc tôn trong bộ máy lãnh đạo đảng và nhà nước. Để củng cố vị trí lãnh đạo cũng như giữ vững kỷ cương xã hội, Stalin kiểm soát tất cả cơ cấu quyền lực vào tay mình, dùng trấn áp trong nội bộ đảng, nhà nước và ngoài xã hội để loại bỏ mọi mầm mống bất ổn ngay từ trước khi bộc lộ. Bộ máy Bộ dân ủy nội vụ (NKVD – Народный коммисариат внутренних дел – НКВД) được dùng như công cụ để phát hiện các đối tượng cần phải loại bỏ, từ những nhóm đối lập với Stalin, gián điệp cho tới quan chức tham nhũng, tội phạm hình sự... Sự theo dõi, tố cáo được khuyến khích, đề cao trong nhân dân như một phẩm chất trung thành với đảng và lãnh tụ. Về mặt kinh tế và xã hội, những năm 1920 – 1930 sau Lenin được đặc trưng bởi việc chấm dứt chính sách kinh tế mới và thiết lập nền kinh tế nhà nước tập trung cao độ theo kinh tế kế hoạch hóa toàn diện. Đất nước đặc trưng bởi sự bao trùm của bộ máy đảng trong mọi chức năng xã hội. Một quá trình to lớn có ảnh hưởng lâu dài của Liên Xô ở thời gian này là việc tiến hành thành công nghiệp hóa xã hội chủ nghĩa. Cho đến nay trong và ngoài nước Nga vẫn còn nhiều tranh luận về sự nghiệp công nghiệp hóa này của Liên Xô trong các thập kỷ 1920, 1930. Kết quả thực tế là Liên Xô đã trở thành một nước công nghiệp đứng thứ 2 trên thế giới trong một thời gian rất ngắn, và điều này là nền tảng kinh tế cho chiến thắng của Liên Xô trong Chiến tranh thế giới thứ hai. Mặt khác, công nghiệp hóa với tốc độ và quy mô rất lớn đã đòi hỏi các nỗ lực cực cao của xã hội và đã gây ra các căng thẳng, mất cân đối kinh tế. Thiên tai cùng với việc tập trung các nguồn lực cho công nghiệp hóa tạo nên nạn đói làm chết cả triệu người, nhất là tại Ukraina. Ban lãnh đạo Xô viết đã tiến hành tập thể hóa nông nghiệp ở nông thôn, với mục tiêu xóa bỏ sở hữu tư nhân ruộng đất và biến nền nông nghiệp từ sản xuất gia đình nhỏ lẻ thành nền sản xuất tập trung quy mô lớn (nông trường) để có thể áp dụng cơ giới hóa vào hoạt động sản xuất nông nghiệp và giảm chi phí nhờ lợi thế quy mô. Tập thể hóa nông nghiệp đã vấp phải sự phản đối dữ dội của tầng lớp địa chủ giàu có (được gọi là Kulak). Để hỗ trợ cho tập thể hóa, Stalin đã cho tiến hành chiến dịch cưỡng bức tầng lớp Kulak rất quyết liệt: toàn bộ tài sản của Kulak bị tịch thu, gia đình họ bị đưa đến những vùng xa xôi hẻo lánh... Sau công nghiệp hóa và tập thể hóa kinh tế, Liên Xô chỉ còn hai thành phần kinh tế nhà nước và tập thể với đặc điểm quản lý tập trung hóa và kế hoạch hóa cao độ. Đời sống tâm lý xã hội tại Liên Xô trong những năm 1920 – 1930 là kết hợp của hai yếu tố: Một mặt, kỷ luật sắt tạo nên kỷ cương xã hội: không một ai (trừ Stalin) dù ở cương vị hay tầng lớp nào cũng có khả năng bị NKVD điều tra, nỗi sợ bị pháp luật xử lý là chính sách chính thống để duy trì kỷ luật xã hội và đạo đức cán bộ Nhà nước. Người ta đã lập ra GULAG (Tổng cục quản lý các trại tập trung lao động – Главное управление лагерей – ГУЛАГ) trực thuộc bộ dân ủy nội vụ NKVD. Chức năng của GULAG không chỉ là để giam giữ tù nhân mà còn có tác dụng tích cực là cách giải quyết vấn đề nhân lực để khai phá những vùng đất hoang dã và thiếu thốn của đất nước. Mặt khác, những nhân tố giải phóng tích cực của cuộc sống mới xã hội chủ nghĩa (thanh toán mù chữ và giáo dục miễn phí cho trẻ em, hệ thống y tế miễn phí, thực hiện bình đẳng nam nữ, chia ruộng đất cho nông dân, quốc hữu hóa tài nguyên và các nhà máy, mức sống ngày càng được nâng cao...) đã tạo động lực lớn, gây nên những làn sóng phấn khởi trong cuộc sống xã hội, những phong trào lớn được sự hưởng ứng của nhân dân, tâm lý chung của xã hội là chấp nhận hy sinh cho tương lai tươi sáng của đất nước và Chủ nghĩa xã hội, với niềm tin tuyệt đối vào lãnh tụ Stalin và Đảng Cộng sản Liên Xô. Giáo dục ở Liên Xô được phổ cập và miễn phí ngay sau khi chế độ xã hội chủ nghĩa được thành lập. Công dân trực tiếp tham gia lực lượng lao động có quyền hiến định về việc làm và đào tạo nghề miễn phí. Ước tính năm 1917, có 75-85% dân số Nga không biết chữ, và các nhà chức trách của Liên Xô rất chú trọng đến việc loại bỏ nạn mù chữ. Những người biết chữ đã được thuê làm giáo viên. Trong một thời gian ngắn, số người được xóa mù chữ đã tăng nhanh. Vào năm 1940, Liên Xô đã có thể tự hào thông báo rằng nạn mù chữ đã được loại bỏ, điều mà nhiều cường quốc tư bản phương Tây đương thời như Mỹ, Pháp... cũng chưa hoàn thành được. Về y tế, nguyên tắc xã hội chủ nghĩa về chăm sóc sức khỏe đã được hình thành ngay trong năm 1918. Chăm sóc sức khỏe được kiểm soát bởi nhà nước và sẽ được cung cấp miễn phí cho mọi công dân, điều này đồng thời là một khái niệm mang tính cách mạng. Điều 42 của Hiến pháp năm 1977 quy định: tất cả công dân có quyền được bảo vệ sức khỏe và truy cập miễn phí đến bất kỳ cơ sở y tế nào ở Liên Xô. Sau cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa, tuổi thọ cho tất cả các nhóm tuổi đã tăng lên. Trong giai đoạn 1922-1950, nhờ việc thiết lập hệ thống y tế rộng khắp, tỷ lệ tử vong trẻ em đã giảm nhanh chóng, từ 286,6/1000 trẻ (năm 1913) xuống còn 81/1000 trẻ (năm 1950). Tiêu thụ rượu giảm 2 lần. Tỷ lệ dân số tử vong hàng năm giảm từ 2,91% (năm 1913) xuống còn 1% (năm 1950). Việc được tiếp cận chăm sóc sức khoẻ và giáo dục miễn phí đã giúp dập tắt các dịch bệnh như sốt rét, dịch tả... và tuổi thọ trung bình của công dân Liên Xô đã tăng lên hàng chục năm. Trước cách mạng Tháng Mười, số lượng bác sĩ ở Đế quốc Nga là 20.000; con số này tăng lên 105.000 vào năm 1937. Số giường bệnh cũng tăng từ 175.000 lên đến 618.000 Phụ nữ Liên Xô lần đầu tiên được sinh đẻ trong những bệnh viện an toàn, với khả năng tiếp cận chăm sóc trước khi sinh. Chăm sóc y tế rộng rãi và miễn phí được nhìn nhận là sự ưu việt của hệ thống xã hội chủ nghĩa so với hệ thống tư bản chủ nghĩa. Những tiến bộ tiếp tục được thực hiện và vào năm 1960, tuổi thọ trung bình ở Liên Xô đã vượt qua cả Hoa Kỳ. Liên Xô còn thi hành chính sách cấm phân biệt chủng tộc, bảo đảm sự bình đẳng giữa các dân tộc trên lãnh thổ Liên bang Xô Viết và thực hiện nam nữ bình quyền. Chính phủ Liên Xô chi ra những khoản đầu tư lớn để phát triển kinh tế xã hội tại các vùng kém phát triển như Trung Á, Siberia... nhằm thúc đẩy sự tiến bộ của các dân tộc chậm tiến tại các vùng này. Liên Xô cho phép phụ nữ có quyền bầu cử trước cả các nước phương Tây, đồng thời khuyến khích, tạo điều kiện để phụ nữ được giáo dục ở bậc cao và tham gia vào các hoạt động chính trị - xã hội. Với sự hỗ trợ của chuyên gia nước ngoài và sau đó là tự lực trong nước, Liên Xô đã xây dựng được một loạt các tổ hợp công nghiệp khổng lồ ở dọc sông Dniepr, các nhà máy luyện kim như Magnitogorsk, Lipetsk và Chelyabinsk, Novokuznetsk, Norilsk và Uralmash, nhà máy máy kéo ở Volgograd, Chelyabinsk, Kharkov, Uralvagonzavod... và nhiều nơi khác. Năm 1935, Liên Xô đã khởi công giai đoạn đầu tiên của Tuyến tàu điện ngầm Moscow với tổng chiều dài 11,2 km, một công trình hiện đại thời bấy giờ và vẫn được sử dụng cho tới ngày nay. Tới năm 1940, sản lượng công nghiệp của Liên Xô đã tăng gấp 7,7 lần so với năm 1913, bình quân hàng năm tăng 14%. Công nghiệp Liên Xô đã chiếm 77,4% cơ cấu nền kinh tế và chiếm 10% toàn thế giới. Cho đến lúc đó, thế giới chưa từng chứng kiến nhịp độ tăng trưởng nào nhanh như vậy Tới trước Chiến tranh thế giới thứ hai, từ xuất phát điểm là Đế quốc Nga với nền sản xuất lạc hậu với tổng sản lượng công nghiệp chỉ đứng thứ 6 thế giới (năm 1917), Liên Xô đã vươn lên trở thành cường quốc công nghiệp thứ 2 thế giới và đứng đầu châu Âu, vượt qua Anh-Pháp-Đức và chỉ đứng sau Mỹ. Sản lượng công nghiệp năm 1937 đã tăng gấp 4,5 lần so với năm 1927 (so với năm 1917 thì tăng gần gấp 10 lần) và chiếm 77,4% tổng sản phẩm kinh tế quốc dân. Sản lượng nông nghiệp tăng 2 lần so với 1927, thu nhập bình quân đầu người tăng 3 lần so với 1927. Nạn mù chữ vốn chiếm gần 90% dân số Nga năm 1917, sau 20 năm đã cơ bản được thanh toán. Sản xuất quốc phòng tăng 2,8 lần chỉ sau 5 năm, vũ khí trang bị và trình độ cơ giới hóa cho quân đội Liên Xô đã đạt tương đương với các cường quốc khác trên thế giới. Nếu tổng sản lượng công nghiệp năm 1913 được coi là 100 đơn vị, các chỉ số tương ứng của năm 1938 là 93,2 cho Pháp; 113,3 cho Anh, 120 cho Hoa Kỳ; 131,6 đối với Đức, và 908,8 cho Liên Xô (tức là tăng gấp 9 lần). Trong chuyến thăm mùa hè năm 1944 của Eric Johnston, Chủ tịch Phòng Thương mại Hoa Kỳ, người đã đến thăm Ural, Siberia và Kazakhstan, đã tuyên bố rằng tiến bộ kinh tế của Liên Xô từ năm 1928 là "một thành tựu phi thường trong lịch sử phát triển công nghiệp của cả thế giới" Trong lịch sử, nước Anh cần 200 năm để trở thành một nước công nghiệp, nước Mỹ cần 120 năm, Nhật Bản cần 40 năm. Trong khi đó, Liên Xô chỉ cần 18 năm để hoàn thành về cơ bản quá trình công nghiệp hóa của mình. Đây là tốc độ công nghiệp hóa nhanh nhất mà thế giới từng ghi nhận. Nói một cách hình tượng, trong một khoảng thời gian ít hơn 1/4 thế kỷ, trình độ kỹ thuật của nước Nga đã nhảy vọt từ thế kỷ 16 đến thế kỷ 20. Kenneth Neill Cameron nhận xét: "Rõ ràng là chúng ta đang chứng kiến một ​​sự tiến bộ kinh tế to lớn nhất từng được ghi nhận, ngay cả so với các cuộc cách mạng công nghiệp. Trong thời hạn 10 năm, một xã hội ​​chủ yếu là phong kiến đã thay đổi thành một đất nước công nghiệp. Và lần đầu tiên trong lịch sử, một bước tiến như vậy không phải do chủ nghĩa tư bản, mà là do chủ nghĩa xã hội tiến hành. Giáo sư Kolesov tin rằng nếu không có các chính sách công nghiệp hóa của Stalin thì Liên Xô không thể duy trì nền độc lập chính trị và kinh tế của đất nước. Giá trị của công nghiệp hóa đã được xác định trước bởi tình trạng lạc hậu về kinh tế và một thời hạn quá ngắn để loại bỏ nó. Liên Xô đã loại bỏ tình trạng lạc hậu của đất nước chỉ trong thời gian rất ngắn là 13 năm (ngay trước khi Đức Quốc xã tấn công Liên Xô), thành quả rất lớn này đã cho phép Liên Xô chiến đấu, và cuối cùng giành chiến thắng trong Chiến tranh thế giới thứ hai. === Chiến tranh thế giới thứ hai === Năm 1939, nguy cơ chiến tranh thế giới đã hiển hiện rất rõ ràng tại châu Âu. Liên Xô trước đó vài năm đã theo đuổi chính sách an ninh tập thể, Liên Xô kêu gọi một sự hợp tác với các nước Anh, Pháp để cùng kiềm chế nước Đức phát xít của Adolf Hitler đang quân phiệt hóa rất mạnh, nhưng Anh-Pháp đã không hồi đáp đề nghị này. Năm 1939, sau khi Anh-Pháp ký với Đức Hiệp ước München và làm ngơ cho việc Đức chiếm toàn bộ Tiệp Khắc, ban lãnh đạo của Liên bang Xô viết tin rằng Anh-Pháp muốn hướng cỗ máy chiến tranh Đức nhắm vào họ. Phản ứng lại, Liên Xô thay đổi đột ngột chính sách đối ngoại của mình: quay sang hòa hoãn với Hitler. Liên Xô và Đức đã ký hiệp định không xâm phạm lẫn nhau (Hiệp ước Molotov-Ribbentrop) và đi xa hơn nữa hai bên ký biên bản thỏa thuận bí mật (секретный протокол) phân chia ảnh hưởng ở các nước khác. Khi Đức tấn công Ba Lan, phần lãnh thổ Tây Ukraina, Tây Belarusia vốn bị quân Ba Lan chiếm năm 1919 sẽ được quay trở về Liên Xô. Liên Xô có quyền đòi lại những lãnh thổ từng thuộc nước Nga cũ: 3 quốc gia vùng biển Baltic (Estonia, Latvia, Litva), phần đất Karelia (bị Phần Lan chiếm năm 1921) và Bessarabia (Moldova ngày nay) bị România chiếm năm 1920. Đổi lại Liên Xô sẽ trung lập trong chiến tranh giữa Đức và khối Anh – Pháp. Theo đúng tinh thần của biên bản bí mật, sau khi Đức tấn công Ba Lan gây chiến tranh thế giới (1 tháng 9 năm 1939), Quân đội Xô viết kéo vào Ba Lan, thu hồi lại Tây Belarusia, Tây Ukraina, thu hồi lại vùng Bessarabia lập nên nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Moldavia (ngày nay là Moldova). Năm 1940, Liên Xô sáp nhập ba quốc gia vùng biển Baltic: Estonia, Latvia, Litva và lập nên ba nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa vùng Baltic (ban đầu không được Quốc tế công nhận) và gây chiến tranh chống Phần Lan để thu hồi dải đất Karelia (bị Phần Lan chiếm năm 1921) để lập nên nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Xô viết tự trị Karelia. Trong Chiến tranh Liên Xô-Phần Lan (1940) quân đội Xô viết đã bộc lộ những yếu kém, lạc hậu của mình và đó cũng là một nguyên nhân để Hitler tấn công Liên Xô năm 1941. Ngày 22 tháng 6 năm 1941 nước Đức Quốc xã tấn công Liên bang Xô viết và bắt đầu "Chiến tranh vệ quốc vĩ đại" của Liên Xô (1941 – 1945). Liên Xô tham gia vào khối Liên minh chống phát xít gồm Anh, nước Pháp tự do và sau này là Mỹ, Úc, New Zealand, Canada, Trung Quốc... Quân đội Liên Xô trong giai đoạn đầu 1941 – 1942 đã chịu nhiều thất bại lớn, bị đẩy lùi với tổn thất rất lớn vì những nguyên nhân sau: Quân đội Xô viết dù đã nỗ lực hoàn thiện nhưng năm 1941 vẫn còn kém khá xa Wehrmacht (quân đội Đức Quốc xã) về mọi mặt: quân số, trang bị vũ khí (quân đội Đức được tái vũ trang từ trước, rất hiện đại, nhất là sau khi chiếm được nước Pháp với các nguồn công nghiệp chiến tranh khổng lồ của nước này), trình độ tác chiến, tinh thần chiến đấu và nhất là quân đội Đức đã đi trước các nước khác khá xa về tư duy quân sự trong nghệ thuật chiến tranh: Đức đã phát kiến ra các chiến thuật chiến tranh cơ động, đây là cuộc cách mạng trong nghệ thuật quân sự với sự sử dụng tập trung các mũi nhọn xe tăng thiết giáp, không quân và bộ binh cơ giới... Trong khi đó quân đội Xô viết cũng như các quân đội châu Âu khác vẫn còn nặng về tư duy chiến tranh trận địa của Chiến tranh thế giới thứ nhất (thảm bại của liên quân Anh – Pháp năm 1940 tại chiến trường châu Âu cũng cho thấy rất rõ điều này). Nền kinh tế của Đức đã được chuẩn bị sẵn sàng cho chiến tranh và nước Đức có tiềm lực công nghiệp khổng lồ với nguồn nhân công lao động chất lượng cao của các nước châu Âu bị chiếm đóng, cộng với lao động nô lệ của người Do Thái. Dự đoán của Stalin đã sai: ông tin rằng chiến tranh với Đức sẽ nổ ra nhưng không sớm hơn 1942, do vậy ông không cho phép quân đội cũng như toàn quốc áp dụng các biện pháp quốc phòng ở mức độ cao vì sợ là sẽ khiêu khích Đức tấn công sớm hơn. Các cuộc thanh lọc trong tầng lớp sĩ quan của Hồng quân Liên Xô từ năm 1937 – 1938 khiến nhiều tướng lĩnh, sĩ quan các cấp có kiến thức và kinh nghiệm quân sự đều đã bị cách chức, bắt giam, đi đày hoặc bị xử bắn. Các tổn thất về cán bộ quân sự khiến Hồng quân bị thiếu sĩ quan có kinh nghiệm chiến đấu. Trong hai năm 1941 – 1942, quân Đức đã chiếm đóng một phần lớn lãnh thổ phía tây của phần châu Âu của Liên Xô, nơi có 40% dân số và một phần đáng kể tiềm lực kinh tế của đất nước. Cuộc chiến tranh này đối với Liên Xô là có tính chất sống còn: không những sự tồn tại của quốc gia bị đe doạ mà dân tộc đứng trước nguy cơ diệt chủng (đối với Đức, chiến tranh chống Liên Xô không phải là để kết thúc bằng một hiệp ước có lợi như mọi cuộc chiến tranh khác trước đây, mà là để tiêu diệt số lớn giống người Slav "hạ đẳng", đuổi số còn lại sang vùng Siberia hoang dã để chiếm đất cho "không gian sinh tồn" của giống người Đức Aryan "thượng đẳng" (xem kế hoạch Barbarossa và chủ nghĩa phát xít). Chính phủ Liên Xô đã có những nỗ lực vô cùng to lớn để di chuyển toàn bộ các nhà máy và nguồn lực kinh tế sang các vùng sâu sau dãy Ural và Siberia và thiết lập dây chuyền sản xuất tại chỗ mới, thậm chí ngay trên đất trống ngoài trời. Khoảng 8 triệu thường dân cũng được sơ tán khẩn cấp về phía Đông, xa khỏi đòn tấn công của Đức. Tại nơi ở mới, người dân bắt tay ngay vào sản xuất với những dây chuyền sản xuất được di tản cùng họ. Chỉ sau một năm, sản xuất đã đạt mức trước chiến tranh và sau đó tiếp tục tăng lên với tốc độ rất cao, người Xô viết đã lao động tự giác, quên mình vì chiến thắng với các nỗ lực rất phi thường. Phần lớn các dân tộc các nước Cộng hòa của Liên bang Xô viết đã đoàn kết hiệp lực tin tưởng vào sự lãnh đạo của đảng cộng sản Liên Xô và lãnh tụ Stalin để đẩy lùi mối họa phát xít. Quân đội Xô Viết tuy thất bại nặng nề, bị tiêu diệt và bị bắt làm tù binh hàng triệu người nhưng đã chống trả rất kiên cường theo khẩu hiệu "tử thủ" (стоять насмерть) và gây cho quân Đức những tổn thất lớn, khiến đà tiến của Đức chậm dần. Đến cuối năm 1941, họ đã chặn đứng được quân đội Đức quốc xã tại cửa ngõ thủ đô Moskva. Trong các năm 1942 – 1943, các nỗ lực chiến tranh và kinh tế to lớn của Liên bang Xô viết cộng với sự giúp đỡ của đồng minh Anh – Mỹ trong Liên minh chống Phát xít đã tạo được bước ngoặt cơ bản của chiến tranh bằng các chiến thắng Stalingrad và Kursk. Đến cuối năm 1944, Liên Xô đã giải phóng được toàn bộ đất đai của mình và đánh đuổi quân Đức trên lãnh thổ các nước Đông Âu và Trung Âu và đưa chiến tranh vào chính nước Đức. Tháng 4 năm 1945, quân đội Xô viết công phá Berlin. Nước Đức Quốc xã sụp đổ và đầu hàng. Ngay sau chiến thắng đối với nước Đức, Liên Xô tham chiến chống Nhật Bản và vào đầu tháng 8 năm 1945, đã dễ dàng đánh tan đạo quân Quan Đông của Nhật tại Mãn Châu. Ngày 15 tháng 8 năm 1945, Nhật Bản tuyên bố đầu hàng Đồng Minh vô điều kiện và Chiến tranh thế giới thứ hai chấm dứt. Khi quân Đức tấn công, đã có những dân tộc bất mãn với chính quyền Xô Viết như người Chechen và người Thổ tại Kavkaz, người Tartar ở Krym, người Kozak tại Ukraina và các dân tộc chống Xô Viết khác đã cộng tác với Đức quốc xã và được tham gia các lực lượng như Waffen-SS Đức, lực lượng Don Cossack (Kozak sông Đông)... Vì lý do này, nhiều dân tộc thiểu số do cộng tác với Đức Quốc xã đã bị trục xuất khỏi quê hương và bị tái định cư cưỡng bức. Trong giai đoạn từ 1941 đến 1948, Liên Xô trục xuất 3.266.340 người dân tộc thiểu số đến các khu định cư đặc biệt bên trong Liên Xô, hai phần ba trong số đó là thành viên của các dân tộc bị trục xuất hoàn toàn dựa trên sắc tộc của họ, hơn một phần mười trong số đó qua đời trong thời gian này. Theo số liệu của Bộ Nội vụ Liên Xô, vào tháng 1 năm 1953, số người "định cư đặc biệt" từ 17 tuổi trở lên là 1.810.140 người, trong đó có 56.589 người Nga.. Theo Krivosheev, có khoảng 215.000 người Liên Xô đã tử trận khi phục vụ trong hàng ngũ quân đội Đức Quốc xã (quân Đức gọi những người Liên Xô phục vụ cho họ là Hiwi) Chiến tranh thế giới thứ hai đã làm hơn 20 tới 26 triệu người Xô viết thiệt mạng, 1.710 thành phố, thị trấn và hơn 70.000 làng mạc bị phá huỷ, 32.000 cơ sở công nghiệp, 98.000 nông trang tập thể, nhiều công trình văn hóa của Liên bang Xô viết bị phá huỷ, hơn 25 triệu người mất nhà cửa. Tổng cộng, Liên Xô mất gần 30% tài sản quốc gia và gần 1/8 dân số. Các trận đánh như Trận Moscow, Trận Stalingrad, Trận Kursk, Chiến dịch Bagration là những chiến dịch có quy mô, sức tàn phá và số thương vong ghê gớm nhất trong Chiến tranh thế giới thứ hai. Dù vậy, mỗi người dân Liên Xô đã có những nỗ lực lao động phi thường để bù đắp tổn thất và góp phần làm nên chiến thắng chung cuộc. Chỉ trong 1 năm rưỡi (từ tháng 6/1941 đến hết 1942), Liên Xô đã sơ tán hơn 2.000 xí nghiệp và 25 triệu dân và sâu trong hậu phương. Các nhà máy tăng nhanh tốc độ sản xuất, năm 1942, sản lượng vũ khí đã tăng gấp 5 lần so với 1940 và đã bắt kịp Đức, tới năm 1944 thì đã cao gấp đôi Đức. Giai đoạn 1941-1945, trung bình mỗi năm Liên Xô sản xuất được 27.000 máy bay chiến đấu, 23.774 xe tăng và pháo tự hành, 24.442 khẩu pháo (từ 76mm trở lên); con số này ở phía Đức là 19.700 máy bay chiến đấu, 13.400 xe tăng và pháo tự hành, 11.200 khẩu pháo. Nhờ sản lượng vũ khí khổng lồ, sau chiến tranh, Liên Xô đã có trong tay một lực lượng lục quân mạnh nhất thế giới với 13 triệu người, trang bị 40.000 xe tăng và pháo tự hành và hơn 100.000 khẩu pháo các loại. Trên vùng đất mới chiếm đóng trong quá trình chiến tranh xuất hiện các nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa mới thuộc Liên Xô: Moldavia, Estonia, Latvia, Litva, Karelia. Mặc dù có những khó khăn to lớn do hậu quả của chiến tranh, Liên Xô bước ra khỏi chiến tranh với tư thế người chiến thắng góp phần quan trọng nhất vào việc đánh thắng chủ nghĩa phát xít với uy tín quốc tế cực kỳ cao và niềm phấn khởi tự hào lớn lao của nhân dân đối với cường quốc xã hội chủ nghĩa của mình tạo tiền đề để Liên Xô mạnh lên thành siêu cường thế giới sau thế chiến. === Sau chiến tranh === ==== Liên Xô phục hồi (1945 – 1955), Chiến tranh Lạnh ==== Sau khi Chiến tranh thế giới thứ hai chấm dứt, ngay lập tức các mâu thuẫn tư tưởng, chính trị giữa chủ nghĩa tư bản và chủ nghĩa cộng sản đã phân các đồng minh cũ ra hai chiến tuyến của Chiến tranh Lạnh: Hoa Kỳ đứng đầu phe tư bản chủ nghĩa muốn hạn chế và triệt tiêu sự phát triển của chủ nghĩa cộng sản, còn Liên bang Xô viết lãnh đạo phe xã hội chủ nghĩa vì mục tiêu xây dựng chủ nghĩa cộng sản và truyền bá chủ nghĩa này ra khắp thế giới. Sau chiến tranh thế giới II, Liên Xô bị tàn phá nặng nề. Tổn thất vật chất ước tính là 2,5 nghìn tỷ rúp, tương đương với 30% toàn bộ nguồn của cải của đất nước. Sự phát triển các ngành kinh tế quan trọng bị thụt lùi tới 10-15 năm. Khoảng 20 tới 27 triệu người Liên Xô đã chết trong chiến tranh. Trước những tổn thất nặng nề đó, Liên Xô đề ra một kế hoạch 5 năm nhằm khôi phục nền kinh tế và đã hoàn thành mục tiêu này trong 4 năm 3 tháng. Đến năm 1950, Liên Xô đã đạt tổng sản phẩm quốc dân là 126 tỷ đôla (thời giá 1950), đứng thứ hai thế giới chỉ sau Mỹ (381 tỷ đôla). Tại châu Âu sau chiến tranh, các nước Đông Âu (Ba Lan, Hungary, Cộng hòa Dân chủ Đức, Bulgaria, Tiệp Khắc, România, Albania, Nam Tư) mặc nhiên được Hoa Kỳ và phương Tây coi là khu vực ảnh hưởng của Liên Xô. Tại đây Liên Xô giúp đỡ tài chính và quân sự cho các nước này phục hồi nền kinh tế, thành lập các nhà nước xã hội chủ nghĩa dưới sự kiểm soát của mình. Phần lớn các nước này vào năm 1955 đã tham gia Khối Warszawa với Liên bang Xô viết làm trụ cột để đối đầu với khối quân sự Hiệp ước Bắc Đại Tây Dương (NATO) của phương Tây do Hoa Kỳ lãnh đạo. Sau này các quốc gia này tham gia Hội đồng tương trợ kinh tế COMECON. Liên Xô thông qua lực lượng quân sự hùng hậu của mình đóng trên lãnh thổ đông Âu và bằng thỏa thuận kinh tế trong COMECON để uốn nắn đường lối chính trị của các đồng minh đông Âu và sau này từng can thiệp trực tiếp để ngăn chặn các cuộc bạo động tại các nước này như tại Hungary (1956), Tiệp Khắc (1968) và Ba Lan (1982). Ở châu Á sau chiến tranh, Liên Xô giúp những người Cộng sản thành lập nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Triều Tiên của Kim Nhật Thành tại vùng do Liên Xô chiếm đóng trên bán đảo Triều Tiên. Đặc biệt ngay sau chiến tranh không lâu (1949), với sự giúp đỡ to lớn về viện trợ của Liên Xô, Đảng Cộng sản Trung Quốc của Mao Trạch Đông đã chiến thắng trong Nội chiến Trung Quốc và thiết lập nhà nước xã hội chủ nghĩa tại quốc gia đông dân nhất thế giới, làm cho thế và lực của phong trào cộng sản trên toàn thế giới tăng lên rất mạnh. Cùng với Chiến tranh Triều Tiên do Bắc Triều Tiên khởi xướng với sự ủng hộ tích cực của Liên Xô và Trung Quốc, tình hình thế giới trở nên rất căng thẳng: hai phe đã đụng độ quân sự trực tiếp, nguy cơ sử dụng vũ khí hạt nhân là rất nghiêm trọng. Sau chiến tranh, lãnh thổ Liên Xô được mở rộng từ các quốc gia thất trận: Nam Sakhalin (Южный Сахалин) và quần đảo Kuril (Курильские острова) từ Nhật Bản, vùng Petsamo (Петсамо – Печенга) từ Phần Lan, Klaipeda (Kлайпеда), Koenisberg (Кёнигсберг, tên Nga là Kaliningrad – Калининград) từ Đông Phổ của Đức, Ukraina Ngoại Karpat (Закарпатская Украина) từ România. Chính quyền Xô viết tiến hành trấn áp rất mạnh các cuộc bạo loạn vũ trang ly khai tại Tây Ukraina, Tây Belarus, các nước cộng hòa Baltic và trấn áp các thành phần bất mãn đặc biệt là như các quan chức chính quyền, quân đội, cảnh sát cũ, các lực lượng tư sản, địa chủ và dân tộc chủ nghĩa, thành phần trí thức thành thị của chính quyền cũ. Sau Chiến tranh thế giới thứ hai, tuy không còn quy mô và ở mức độ cực đoan như những năm 1930 nhưng theo dõi, bắt giữ vẫn là một thành tố của chính sách nhất quán giữ yên kỷ cương xã hội Liên Xô. Sau chiến tranh và đến trước khi chết (1953), Stalin còn kịp chỉ đạo NKVD tiến hành vài đợt thanh lọc lớn như vụ Leningrad (bắt giam thành viên tỉnh uỷ Leningrad), vụ các bác sĩ giết người (bắt giam một số giáo sư bác sĩ nổi tiếng của Liên Xô chủ yếu là người Do Thái, vụ này mang sắc thái bài Do Thái rất rõ), vụ chống chủ nghĩa thế giới (cosmopolitism)... Chỉ sau khi Stalin chết, lãnh đạo mới Khrushchov phát động chống sùng bái cá nhân Stalin và xử bắn Beria (Лаврентий Павлович Берия) (giám đốc NKVD) thì Liên Xô mới đoạn tuyệt hẳn với chính sách kỷ luật sắt của chủ nghĩa Stalin. Nhìn chung, Thời kỳ 1945 – 1955 là thời kỳ niềm phấn khởi tự hào của dân chúng Liên Xô dâng cao, nền kinh tế hồi phục và phát triển khá nhanh làm cơ sở để chạy đua vũ trang. Liên Xô lúc này (và cả sau này) chủ yếu phát triển kinh tế theo chiều rộng: gia tăng sản xuất bằng việc xây dựng thêm các công trường, nhà máy mới, khai phá thêm các nguồn tài nguyên thiên nhiên, huy động thêm nguồn nhân lực... nhưng chưa đi vào phát triển theo chiều sâu (bằng cách tăng năng suất lao động và hiệu quả kinh tế). Cả đất nước như một công trường lớn với các dự án rất ấn tượng như chinh phục Angara, chinh phục Bắc Băng Dương, chinh phục Taiga và miền Siberia... Về khoa học - kỹ thuật và quân sự, vào ngày 10/10/1948, Liên Xô đã bắn quả tên lửa đạn đạo đầu tiên (P-1). Tiếp đến ngày 29/8/1949, bom nguyên tử được Liên Xô thử thành công, phá vỡ thế độc quyền vũ khí hạt nhân của Mỹ. Năm 1954, Liên Xô là quốc gia đầu tiên trên thế giới xây dựng được nhà máy điện nguyên tử. Đồng thời đất nước này còn chế tạo được tuốc-bin hơi nước có công suất 100 triệu oát, lớn nhất thế giới lúc bấy giờ. Công nghệ vũ trụ được nghiên cứu, tạo tiền đề cho việc phóng tàu vũ trụ đầu tiên trên thế giới vào năm 1959. Những sự việc này ngoài những ý nghĩa quân sự, chiến lược, kinh tế còn có ý nghĩa tinh thần tượng trưng rất lớn: nó đánh dấu Liên Xô đã trở thành siêu cường thế giới với mục tiêu vươn lên vượt qua Hoa Kỳ. ==== Siêu cường thế giới (1955 – 1975) ==== Thời kỳ sau Stalin, nhất là từ đại hội 20 Đảng Cộng sản Liên Xô (1956) đến năm 1965 khi Bí thư thứ nhất Đảng Cộng sản Khrushchyov đã bị bãi chức được gọi là thời kỳ "tan băng". Trong thời kỳ này tổng bí thư Nikita Sergeyevich Khrushchyov phát động phong trào chống sùng bái cá nhân Stalin: công khai lên án những sai lầm của Stalin, phục hồi danh dự cho những người bị oan, giải tán các trại tập trung lao động của GULAG và cho phép các dân tộc bị định cư cưỡng bức trở về quê hương xứ sở, truy cứu trách nhiệm hình sự các lãnh đạo NKVD và các cơ cấu quyền lực đã gây ra tình trạng trấn áp bừa bãi, khôi phục pháp chế nhà nước. Việc này có tiếng vang lớn và gây ra hệ quả hai mặt: Một mặt phong trào này rất được lòng giới trí thức và những thành phần muốn nới lỏng kiểm soát xã hội và được họ gọi là thời kỳ "tan băng", nó gây nên một trào lưu tự do tư tưởng, văn hóa văn nghệ tự do và các xu hướng mới trong giới trí thức, văn hóa, khoa học. Hầu hết các tác phẩm văn hóa nổi tiếng, các trường phái mới gây tiếng vang của Liên Xô là kết quả của thời kỳ tan băng này. Các tầng lớp nhân dân cũng phấn khởi vì đời sống được nâng cao, các quyền tự do dân chủ được mở rộng, dân chúng không còn sống trong tâm lý sợ bị trừng phạt như thời Stalin. Mặt khác phong trào này cũng gây ra các hệ lụy tiêu cực cho Liên Xô. Nó khiến Mao Trạch Đông cảm thấy bị động chạm và gây ra chia rẽ với Trung Quốc, là nguồn gốc của sự phân ly trong phong trào Cộng sản thế giới: từ nay phe xã hội chủ nghĩa phân thành hai phía coi nhau như đối thủ. Nó đồng thời động chạm đến một bộ phận lớn các cán bộ ủng hộ chính sách thời Stalin và tạo ra bất mãn với nhà lãnh đạo mới, những người này bỏ phiếu phản đối Nikita Khrushchyov và sau này đã buộc ông từ chức. Liên Xô vào thời kỳ Khrushchyov đã có sự tiếp cận mới về đối ngoại tìm cách hòa hoãn với Hoa Kỳ, thi hành chính sách cùng tồn tại hòa bình, ngoại giao nhân dân được phát triển, xóa bỏ tâm lý coi các nước phương Tây như quỷ dữ, tránh gây căng thẳng có thể làm phương hại đến hòa bình thế giới. Tuy nhiên trong thời kỳ này trên thế giới đã xảy ra vài sự kiện làm căng thẳng tình hình thế giới đó là việc trấn áp cuộc bạo động tại Hungary (1956) và Khủng hoảng tên lửa Cuba năm 1962. Thời kỳ của Khrushchyov ngoài sự nới lỏng tương đối về kỷ luật chính trị, tư tưởng còn có sự chuyển dịch lớn về kinh tế xã hội: Các nguồn lực thay vì trước đây chỉ dồn cho các mặt hàng công nghiệp nặng cho nhiệm vụ phát triển lực lượng sản xuất (công nghiệp nhóm A) nay nhà nước Liên Xô tập trung hơn đến các ngành công nghiệp nhẹ (nhóm B) và xây dựng, nông nghiệp để đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của người dân Xô viết. Trong nông nghiệp đã cho phép kinh doanh vườn tược nhỏ của các hộ. Ở thời kỳ này người dân Liên Xô đã cho phép mình có được nhà ở căn hộ tiện nghi và các tiện nghi sinh hoạt cao cấp, phát triển tâm lý hưởng thụ: có xe ô tô riêng và nhà nghỉ ngoại ô (tuy chưa nhiều). Đời sống của dân chúng sung túc lên rất nhiều. Đây là thời kỳ Liên Xô phóng thành công vệ tinh nhân tạo đầu tiên và đưa người đầu tiên vào vũ trụ, biểu tượng của sự vượt lên của Liên Xô đối với đối thủ tư bản chủ nghĩa Hoa Kỳ. Những thay đổi to lớn này đã tạo ra sự phấn chấn trong các tầng lớp người Xô viết. Về cơ bản, chính sách của thời kỳ này vẫn là cố gắng cải cách xã hội trong khuôn khổ một xã hội tập quyền do Đảng lãnh đạo. Tuy đã đạt được một số thành quả quan trọng nhưng cố gắng cải cách của Khrushchyov đã gây ra một số bất mãn và gặp phải các địch thủ trong nội bộ đảng và cuối cùng các lực lượng này đã thành công trong việc buộc Khrushchyov phải từ chức. Nhìn chung, đây là giai đoạn Liên Xô đạt mức phát triển cao nhất và có vị thế chưa từng có trong lịch sử, ngay cả khi so với nước Nga đầu thế kỷ 21: Về kinh tế, năm 1972, tổng sản lượng công nghiệp Liên Xô đã tăng 321 lần so với năm 1922 (năm Liên Xô thành lập), thu nhập quốc dân tăng 112 lần. Năm 1975, chỉ cần 2 ngày rưỡi, Liên Xô đã sản xuất ra lượng sản phẩm bằng cả năm 1913 (năm cao nhất của Đế quốc Nga cũ). Sản lượng công nghiệp Liên Xô chiếm 20% thế giới, tổng sản lượng nền kinh tế (GDP) chỉ đứng sau Mỹ. Liên Xô là nước dẫn đầu trên thế giới về trình độ học vấn tại thập niên 1970, với gần 3/4 công dân có trình độ đại học và trung học. Một số lĩnh vực như khoa học vũ trụ, điện hạt nhân, luyện kim, công nghệ vũ khí... Liên Xô đã có được vị trí dẫn đầu thế giới. Trong lĩnh vực thể thao, Liên Xô đã vươn lên vị thế dẫn đầu thế giới. Kể từ khi bắt đầu tham gia Thế vận hội (Olympic) vào năm 1952 cho tới năm 1988, trong tổng số 9 đại hội Olympic mà đoàn thể thao Liên Xô tham gia, họ đứng đầu thế giới tại 6/9 kỳ đại hội, 3 kỳ đại hội còn lại họ cũng chỉ chịu đứng thứ 2. Đặc biệt, Liên Xô đã trở thành quốc gia đầu tiên mở màn cho kỷ nguyên thám hiểm vũ trụ của loài người với hàng loạt thành tựu: Ngày 4 tháng 10 năm 1957, con tàu Sputnik 1 được Liên Xô phóng lên vũ trụ từ sân bay vũ trụ Baikonur ở Kazakhstan, mang theo vệ tinh nhân tạo đầu tiên của loài người được đưa vào quỹ đạo Trái Đất. Ngày 3 tháng 11 năm 1957, chó Laika đã trở thành sinh vật sống đầu tiên bay lên quỹ đạo trên tàu Sputnik II. Ngày 19 tháng 8 năm 1960, hai chú chó Belka và Strelka đã trở thành những sinh vật sống đầu tiên bay vào quỹ đạo và trở về an toàn. Ngày 12 tháng 4 năm 1961, phi hành gia Liên Xô Yuri Gagarin trở thành người đầu tiên bay vào vũ trụ trên chuyến bay kéo dài 1 giờ 48 phút cùng con tàu Vostok 1. Khi hạ cánh ở một nông trang, Gagarin gặp một bà già, anh nói: "Bác đừng hoảng sợ. Con là một người Xô Viết!". Câu nói của Gagarin thể hiện niềm tự hào về đất nước Xô viết, song anh đã trở thành anh hùng - không chỉ ở Liên Xô mà trên toàn thế giới. Tiếp sau Gagarin là phi hành gia Gherman Titov với chuyến bay kéo dài 25 giờ, Titov là người đầu tiên ngủ trong không gian vũ trụ. Ngày 16 tháng 6 năm 1963, Valentina Tereshkova là người phụ nữ đầu tiên bay vào vũ trụ. Ngày 18 Tháng 3 năm 1965, phi hành gia Alexei Leonov bước ra khỏi tàu vũ trụ Voskhod 2, trở thành người đầu tiên đi bộ trong vũ trụ. Ngày 3 tháng 2 năm 1966, tàu thám hiểm không người lái Luna-9 đã trở thành tàu vũ trụ đầu tiên hạ cánh trên mặt trăng. Ngày 17 tháng 11 năm 1970, Lunokhod 1 đã trở thành chiếc xe tự hành đầu tiên được điều khiển từ Trái Đất để đến một hành tinh khác. Nó đã tiến hành phân tích bề mặt của Mặt Trăng và gửi hơn 20.000 bức ảnh về Trái Đất. Ngày 19 tháng 4 năm 1971, Salyut 1 trở thành Trạm không gian đầu tiên trong lịch sử loài người. Năm 1975, Venera 9 trở thành con tàu đầu tiên hạ cánh trên một hành tinh khác và tập hợp các hình ảnh về bề mặt của sao Kim. Theo tài liệu của Chính phủ Mỹ thống kê về kinh tế các nước trên thế giới, năm 1975, tổng sản lượng kinh tế của Liên Xô đã đạt 943,5 tỷ USD (đứng thứ 2 thế giới và bằng 62% so với Hoa Kỳ), bình quân đầu người đạt 4.135 USD (bằng 52% so với Hoa Kỳ) tính theo thời giá năm 1977 (tương đương khoảng 12.000 USD theo thời giá năm 2015). Tuy bình quân thu nhập thấp hơn nhưng mức sống của người dân Liên Xô đã tương đương với mức sống bình quân tại Hoa Kỳ khi đó (do người dân Liên Xô được Nhà nước chu cấp toàn bộ chi phí y tế, giáo dục và nhà ở, còn người dân Mỹ thì phải tự trả tiền cho những phúc lợi đó). Công dân Liên Xô được hưởng mức phúc lợi xã hội rất cao so với các nước cùng thời: Liên Xô là nước đầu tiên trên thế giới quy định chế độ làm việc 8 giờ một ngày. Người lao động Liên Xô được phép nghỉ một tháng mỗi năm và trong thời gian nghỉ phép đó, họ vẫn được hưởng lương bình thường. Người lao động cũng sẽ không bị sa thải nếu không có sự chấp thuận của công đoàn. Người dân Liên Xô được đưa tới nơi làm việc bằng phương tiện công cộng mà không phải trả tiền. Người dân Liên Xô được miễn học phí tại mọi cơ sở giáo dục, từ mẫu giáo cho tới đại học. Nhà nước đảm bảo các sinh viên tốt nghiệp cao đẳng, đại học đều có việc làm sau khi nhận bằng. Người dân Liên Xô được khám chữa bệnh miễn phí hoàn toàn. Mỗi thành phố đều có hàng chục cơ sở y tế nơi người dân có thể gặp bác sĩ, được khám bệnh, chụp X-quang, chỉnh răng. Tất cả dịch vụ đều không mất tiền. Các bà mẹ mới sinh sẽ được phát sữa miễn phí cho tới khi con được ba tuổi. Các sản phụ có quyền nghỉ thai sản trong ba năm. Năm đầu tiên, họ vẫn được nhận lương bình thường, sau đó nếu không muốn trở lại đi làm thì sẽ được nhận trợ cấp xã hội. Sự lớn mạnh của Liên Xô trong giai đoạn này đã tạo sức ép cạnh tranh rất lớn đối với các nước phương Tây. Do sức hút từ mô hình phúc lợi xã hội của Liên Xô, trong nội bộ các nước phương Tây nổ ra nhiều phong trào đòi quyền lợi cho người lao động, đòi tăng lương và giảm giờ làm, chống sa thải tùy tiện... Chính phủ các nước phương Tây phải đề ra những biện pháp cải tổ kinh tế, tăng ngân sách an sinh xã hội cho y tế, giáo dục, tăng quyền lợi cho người lao động... để làm dịu đi những mâu thuẫn nội bộ. Trong thập niên 1970, ở một số nước phương Tây như Đức, Thụy Điển, Phần Lan... đã hình thành những kiểu Nhà nước xã hội với mô hình nền kinh tế thị trường xã hội, các nước này vẫn áp dụng kinh tế thị trường nhưng Nhà nước đề ra các chính sách an sinh xã hội rộng khắp để làm giảm đi những khiếm khuyết và bất công của kinh tế thị trường. Có thể nói rằng: trong cuộc chạy đua với Liên Xô, nhiều nước phương Tây cũng phải tự biến đổi mình, giảm bớt sự bất công xã hội và người lao động đã có quyền lợi tốt hơn so với trước. Đó là sự đóng góp về tiến bộ xã hội mà Liên Xô đã trực tiếp hay gián tiếp tạo ra cho nhân loại. Trên bình diện quốc tế, là nước Xã hội chủ nghĩa lớn và hùng mạnh nhất, Liên Xô đã trở thành đối trọng cân bằng với khối Tư bản chủ nghĩa do Mỹ đứng đầu và là nguồn viện trợ chính cho các phong trào giải phóng dân tộc tại các nước Á-Phi-Mỹ latinh. Các phong trào cách mạng tại châu Á, châu Phi và Mỹ Latinh liên tiếp thành công, phần nhiều các phong trào này coi Liên Xô là đồng minh hữu hảo, khiến vị thế quốc tế của Liên Xô tăng lên rất cao, khiến Mỹ và phương Tây lo ngại rằng "làn sóng Đỏ" dường như sắp bao vây họ. ==== Trì trệ (1975 – 1985) ==== Năm 1964, Hội nghị bất thường của Trung ương Đảng Cộng sản Liên Xô đã bãi nhiệm Bí thư thứ nhất Khrushchov và đưa Leonid Ilyich Brezhnev (Леонид Ильич Брежнев) vào cương vị Bí thư thứ nhất (từ ngày 8 tháng 4 năm 1966 gọi là Tổng Bí thư). Thời gian từ năm 1965 đến 1985 chủ yếu dưới quyền Brezhnev thường được gọi đơn giản là thời kỳ "trì trệ" mặc dù thật ra "trì trệ" chỉ thực sự trầm trọng vào 10 năm cuối của Brezhnev (tức là từ năm 1975 trở về sau) và khái niệm này có tính tương đối. Thời kỳ này là thời kỳ mà những mâu thuẫn của xã hội Liên Xô đã chín muồi và phát tác gây những hệ quả xấu cho nền kinh tế và đời sống tâm lý, chính trị, xã hội của nhân dân. Trong kinh tế, nền sản xuất duy trì theo phương thức kế hoạch hóa và bao cấp không tạo được kích thích quyền lợi của người sản xuất nên kỷ luật lao động suy giảm, năng suất tăng kém. Việc trả lương theo mức chỉ tiêu kế hoạch và kế hoạch hóa theo sản lượng thậm chí kéo lùi việc áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật: sản phẩm chế tạo ra càng tốn nhiều nguyên liệu thì càng nhanh hoàn thành và vượt chỉ tiêu kế hoạch sản lượng và càng có lợi cho người sản xuất, nên hàng hóa của Liên Xô nhanh chóng thụt lùi về chất lượng, mẫu mã và tính cạnh tranh so với các nước phương Tây và nền kinh tế không được khuyến khích chuyển sang phát triển theo chiều sâu. Kinh tế dựa nhiều vào khai thác ồ ạt các nguồn tài nguyên thiên nhiên nên không kích thích tiến bộ kỹ thuật và ô nhiễm môi trường gia tăng. Kết quả là hàng hóa trong thị trường nội địa bị thừa các sản phẩm khó tiêu thụ và đồng thời lại khan hiếm hàng hóa dễ tiêu thụ, làm nảy nở đầu cơ, tích trữ và các loại kinh tế ngầm bất hợp pháp. Thời kỳ này Liên Xô tiếp tục lao vào lập kế hoạch và triển khai các dự án lớn rất tốn kém, được tuyên truyền rầm rộ mang tính phô trương nhưng sau này thực tế cho thấy hiệu quả kinh tế kém, nặng về ý nghĩa tuyên truyền hình thức... Cũng chính vì không có động lực kinh tế nên dù là đất đai rộng lớn, phì nhiêu mà sản xuất nông nghiệp sa sút không đáp ứng được nhu cầu xã hội, càng ngày vấn đề nông nghiệp càng trầm trọng, đến cuối thời Brezhnev thì đã thật sự nóng bỏng. Tâm lý dân chúng chán nản trở nên thờ ơ đối với các chính sách của Đảng và chính phủ. Hơn nữa hệ thống cán bộ của Đảng và nhà nước – bộ máy theo chỉ định (Номенклатура) đang trở thành tầng lớp bất bình đẳng mới ít chịu sự giám sát của nhân dân mà như sau này Mikhail Gorbachov đã từng gọi là các vị "cường hào mới" gây bất bình lớn trong xã hội khi tạo ra tham nhũng và làm suy thoái đạo đức xã hội. Đây là thời kỳ Liên Xô chạy đua vũ trang và chạy đua vũ trụ với cường độ cao và coi ưu thế quân sự và vũ trụ so với Hoa Kỳ như một minh chứng cho tính ưu việt của chủ nghĩa xã hội và đã có lúc Phương Tây cho rằng Liên Xô đã phá vỡ thế cân bằng chiến lược. Thời kỳ này đối đầu giữa hai phe khá căng thẳng nhưng cả hai bên đều có ý thức kiềm chế trong phạm vi an toàn. Trong thời gian này, Liên Xô còn giúp đỡ các lượng lượng cánh tả trên thế giới chống lại sự can thiệp của phương Tây. Cuộc chạy đua vũ trang và vũ trụ tạo thêm gánh nặng cho ngân sách của Xô viết và sau này nhiều người Nga cho đó cũng là một trong các nguyên nhân để Liên Xô sụp đổ. Trong nội bộ Liên Xô các mâu thuẫn dân tộc càng ngày càng sâu sắc. Tuy được chính quyền kiềm chế nhưng ở nhiều nước Cộng hòa (đặc biệt là ở ba nước cộng hòa Baltic – điểm đầu của sự phân rã Liên Xô sau này), dân địa phương không che giấu thái độ căm ghét người Nga và xuất hiện rất nhiều căng thẳng giữa các dân tộc giữa các nước Cộng hòa và trong nội bộ từng nước. Trong nội bộ các nước cộng sản Đông Âu tình cảm chống Liên Xô cũng được bộc lộ công khai. Năm 1968 Quân đội Xô viết đã phải can thiệp để ngăn cản Tiệp Khắc thoát khỏi tầm ảnh hưởng của chủ nghĩa cộng sản và điều này càng làm gia tăng chủ nghĩa bài Nga trong dân chúng các nước Đông Âu, họ coi sự hiện diện của Liên Xô đã kìm hãm sự phát triển của dân tộc mình. Việc Liên Xô đem quân tiến vào Afghanistan (1979) và sa lầy tại đây lại càng làm nước này bị mất đi nguồn lực cho phát triển đất nước. Chính quyền Xô Viết đã có cố gắng cải cách mà điển hình nhất là cố gắng cải cách kinh tế của thủ tướng Aleksei Nikolayevich Kosygin (Алексей Николаевич Косыгин) nhưng vì nhiều lý do của hệ thống mà đã không thu được kết quả. Các mâu thuẫn càng ngày càng tích tụ và đến giữa những năm 1980 thì xã hội Xô viết đã ở tình trạng cần có một cải cách cơ bản sâu rộng. Đến cuối những năm 1980, Liên Xô vẫn duy trì được vị thế siêu cường với nền kinh tế lớn thứ hai thế giới (chỉ kém Mỹ) với GDP đạt 2,66 nghìn tỷ USD (năm 1990), bình quân đầu người đạt 9.500 USD. Tuy nhiên, nền kinh tế Liên Xô đã bộ lộ nhiều khiếm khuyết so với các nước phương Tây phát triển nhất gồm Mỹ, Nhật và Đức. Trong nền kinh tế tích tụ rất nhiều mâu thuẫn ảnh hưởng lớn lên xã hội và đó là nguyên nhân để Tổng bí thư Gorbachov tiến hành cải cách cải tổ (perestroika), tuy nhiên cải cách chỉ tập trung vào cơ cấu chính trị trong khi không quan tâm đến cải cách mô hình kinh tế nên cuối cùng đã thất bại. === Cải tổ và tan rã === Năm 1985 Tổng bí thư mới được bầu, Mikhail Sergeyevich Gorbachov và những người cùng chí hướng như Aleksandr Nikolayevich Yakovlev bắt đầu tiến hành chính sách cải tổ (perestroika – Перестройка) và công khai hóa (glasnost – Гласность) để giải phóng các tiềm năng chưa được khai thác của xã hội. Cải tổ tìm cách nới lỏng sự kiểm soát tập trung của Đảng và nhà nước trong một số lĩnh vực kinh tế, chính trị, xã hội, tự do hóa ngôn luận, bầu cử cạnh tranh và tiến đến loại bỏ sự can thiệp của các cơ cấu đảng vào kinh tế và một số mặt của đời sống chính trị xã hội. Nhưng những nỗ lực cải cách đã không thu được kết quả như mong đợi. Khi sự tích cực của dân chúng dâng cao thì khủng hoảng xuất hiện và trở nên sâu sắc: các tổ chức và trào lưu dân tộc chủ nghĩa xuất hiện ngày càng nhiều và ngày càng có xu hướng chống chính quyền trung ương, đòi ly khai độc lập. Tốc độ và quy mô của các sự kiện làm những người chủ xướng cải cách không còn kiểm soát được tình hình và bị cuốn theo các sự kiện. Các thành quả kinh tế thì còn rất nhỏ bé mà khủng hoảng chính trị ngày càng trầm trọng: các lực lượng đòi ly khai dần dần nắm các vị trí lãnh đạo của các Nước Cộng hòa và ra các tuyên bố về chủ quyền của Nước Cộng hòa. Xung đột sắc tộc trở nên phức tạp có đổ máu, thậm chí có nơi chính quyền các Nước Cộng hòa lãnh đạo cuộc xung đột với các Nước Cộng hòa lân cận. Mâu thuẫn dân tộc rất lớn trong lòng Liên Xô trước đây được kiềm chế thì nay đã bộc lộ và tiến triển không thể kiểm soát được. Một khi tình hình hỗn loạn thì các mối liên hệ kinh tế giữa các vùng miền và các nước cộng hòa cũng bị gián đoạn làm tình hình kinh tế trở nên sa sút, tình hình xã hội trở nên hỗn loạn. Các đảng viên cộng sản bị mất hoàn toàn sự kiểm soát và kỷ luật của Đảng, nhiều người quay sang trở thành các lực lượng quốc gia dân tộc chủ nghĩa. Ngay cả Xô viết Tối cao Nga, nước cộng hòa trụ cột của Liên Xô, cũng ra nghị quyết đặt luật pháp nước cộng hòa cao hơn hiến pháp Liên Xô, quyền lực của nhà nước trung ương Liên Xô dần dần bị tan rã. Tháng 4/1989, Gorbachev kêu gọi các ủy viên Trung ương Đảng Cộng sản Liên Xô tuổi đã cao hãy nghỉ hưu. 115 ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng đã viết đơn xin nghỉ hưu vì tin rằng đất nước sẽ phát triển hơn với đội ngũ được trẻ hóa. Đây chính là sai lầm của những người cộng sản trung thành trong Đảng Cộng sản Liên Xô. Trong ba năm 1987-1989, khoảng 50% cán bộ cơ quan chiến lược trong quân đội, hơn 100 cán bộ chính trị cấp chiến dịch - chiến lược và 30% tướng lĩnh bị cách chức hoặc loại khỏi quân đội với lý do “tư tưởng bảo thủ, không ủng hộ cải tổ”, thay thế họ là những phần tử “cấp tiến” Sức kháng cự của những Đảng viên trung thành dần suy yếu và cuối cùng đã tê liệt. Phương Tây cũng đã thành công trong việc cài cắm những nhân vật có tư tưởng cải cách nắm quyền tại các cơ quan truyền thông, báo chí, tuyên truyền lớn của Liên Xô. Từ 1986 đến 1988, một loạt cán bộ chủ chốt của các tờ báo lớn tại Liên Xô được thay thế bởi những người ủng hộ chủ trương “Tây hóa”, mặt trận báo chí của Đảng Cộng sản Liên Xô dần bị "đánh chiếm". Từ đó, báo chí Liên Xô liên tục gây khuynh đảo dư luận khi ngấm ngầm (rồi sau đó công khai) viết bài chỉ trích lịch sử cách mạng, trong khi lại tán dương chủ nghĩa tư bản phương Tây. Ảnh hưởng từ báo chí, tư tưởng Đảng viên và nhân dân Liên Xô trở nên dao động dữ dội, ngày càng có nhiều người bi quan về đất nước trong khi lại ảo tưởng về phương Tây Năm 1994, nhà văn Yuri Boldarev khi nhìn lại tình cảnh của thời kỳ này đã nói: “Trong sáu năm, báo chí Liên Xô đã thực hiện được mục tiêu mà quân đội Đức Quốc xã với hàng triệu quân tinh nhuệ nhất cũng không thể thực hiện được khi xâm lược nước ta, đó là đánh đổ Nhà nước Liên Xô. Quân đội Đức có thiết bị kỹ thuật hàng đầu nhưng thiếu một thứ, đó là hàng triệu ấn phẩm mang vi khuẩn hủy diệt tư tưởng của nhân dân Liên Xô”. Trước tình hình đất nước rối ren, ngày 19 tháng 8 năm 1991 một số nhà lãnh đạo theo đường lối cứng rắn (Chủ tịch Quốc hội Lukyanov, Chủ nhiệm KGB Kryuchkov, Phó Tổng thống Yanaev, Thủ tướng Pavlov) tiến hành đảo chính với mục tiêu bảo toàn sự thống nhất của Liên bang Xô viết, lập Uỷ ban nhà nước về tình trạng khẩn cấp, tước bỏ quyền lực của Tổng thống Liên Xô Gorbachov và đưa quân đội vào thủ đô. Nhưng lực lượng đảo chính không đạt được sự ủng hộ của dân chúng và quân đội các địa phương, các chỉ huy đảo chính thì do dự không quyết đoán. Đảo chính càng làm tăng thêm mâu thuẫn giữa các nước cộng hòa và các thế lực chính trị lãnh đạo các khu vực. Chỉ qua 2 ngày (21 tháng 8) Bộ trưởng Quốc phòng, Nguyên soái Yazov ra lệnh rút quân khỏi Moskva, đảo chính thất bại. Trong việc đánh bại đảo chính có vai trò nổi bật của Tổng thống Liên bang Nga Boris Yeltsin, người đã hiệu triệu dân chúng bảo vệ Nhà Trắng, trụ sở chính phủ Nga. Thực ra chính tình báo Mỹ đã thông đồng với Boris Yeltsin và và báo trước cho ông ta biết về những kế hoạch quan trọng của phe đối lập, giúp ông ta giành thắng lợi trong cuộc đối đầu với Uỷ ban nhà nước về tình trạng khẩn cấp do CIA đã đặt máy nghe trộm ngay dưới chân điện Kremli. Đích thân tổng thống Mỹ George Bush (cha) và thủ tướng Anh là John Major đã gọi điện báo trước về âm mưu đảo chính và thúc giục Yeltsin phải có hành động nhằm tranh thủ sự đồng tình và nắm chắc quân đội. Cho đến tận sau này, nhiều người Nga vẫn đánh giá Boris Yeltsin rất tiêu cực vì sự thông đồng của ông ta với tình báo nước ngoài. Sau đảo chính, tình hình biến chuyển nhanh chóng. Ngày 8 tháng 12 tại Minsk, thủ đô của Belarus, các nhà lãnh đạo ba nước cộng hòa Nga, Belarus và Ukraina ra tuyên bố ký thỏa thuận thành lập Cộng đồng các quốc gia độc lập (SNG – Содружество Независимых Государств), chấm dứt sự tồn tại của Liên bang Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Xô viết. Ngày 21 tháng 12 tại Alma Alta, thủ đô của Kazakhstan, tất cả các nước cộng hòa trừ ba nước vùng biển Baltic ký tuyên ngôn tôn trọng các tôn chỉ và mục đích của thỏa thuận thành lập Cộng đồng các quốc gia độc lập. Ngày 25 tháng 12 năm 1991, Liên Xô chính thức chấm dứt tồn tại. Khi Liên bang Xô-viết tan rã, tương ứng với Công ước Viên năm 1983, phân định tỷ lệ của từng quốc gia trên cơ sở phân tích đóng góp và phần của các nước Cộng hòa được phân chia như sau: Nga có 61,34 %, Ukraina - 16,37%, Belarus - 4,13%, Kazakhstan - 3,86%, Uzbekistan - 3,27%, Gruzia - 1,62%, tiếp theo ít dần đến Estonia với 0,62%. Theo nguyên phó trưởng ban Tuyên giáo Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam, ông Vũ Ngọc Hoàng, thì một nguyên nhân khiến Liên Xô sụp đổ là vì sự tha hóa của một bộ phận giới lãnh đạo "đã phản bội nhân dân, bán rẻ Tổ quốc vì ngai vàng của cá nhân", "Nhiều người đã giải thích rằng do địch phá bằng “diễn biến hòa bình”... Đấy là cách giải thích miễn cưỡng, tự trấn an mình. Địch thì lúc nào mà chẳng phá ta? Phá là việc của địch, còn ngã đổ là chuyện của ta... thời kỳ trước đó, khi 14 nước đế quốc tập trung bao vây nhà nước Xô viết còn non trẻ, rồi nội chiến, rồi chủ nghĩa phát-xít đã tập trung cao độ lực lượng với 500 sư đoàn thiện chiến trong đại chiến thế giới lần thứ 2 để tiêu diệt Liên Xô, nhưng không tiêu diệt được. Ngược lại, Liên Xô đã lớn mạnh thành một cường quốc hàng đầu thế giới... nhưng về sau địch chẳng tốn một viên đạn mà Liên Xô vẫn đổ ào không cứu vãn được, cứ như một cơn đột quỵ dữ dội và bất ngờ..." "Bản chất của vấn đề Liên Xô đổ là tự đổ, do tha hóa quyền lực mà đổ, do không thể tự đứng được nữa mà đổ, do thối nát mà đổ, chứ chẳng phải ai xô ngã được." Từ khi dựng nước, Liên Xô đã trải qua rất nhiều khó khăn thử thách và đã vượt qua tất cả: Năm 1917, 35 vạn đảng viên Bolshevik đã lãnh đạo giai cấp công nhân Nga lật đổ ách thống trị của Sa hoàng, cùng nhân dân đánh bại sự can thiệp vũ trang của 14 nước phương Tây để bảo vệ thành công cách mạng. Năm 1941, 5.540.000 đảng viên đã cùng nhân dân chiến thắng quân đội phát xít Đức trong cuộc chiến tranh Vệ quốc vĩ đại, rồi sau đó lãnh đạo công cuộc xây dựng Liên Xô trở thành siêu cường thế giới. Vậy nhưng, năm 1991, Liên Xô lại sụp đổ, không phải do quân đội kẻ thù tấn công, cũng không phải do kinh tế hay khoa học kỹ thuật yếu kém, mà chính là do sự phản bội của các quan chức cấp cao bên trong nội bộ Đảng và Nhà nước Liên Xô. Sau này, Tổng thống Nga Vladimir Putin cho biết ông phản đối sự tan rã của Liên Xô. Ông cho rằng lẽ ra Liên bang Xô Viết đã không bị sụp đổ, nếu như Đảng Cộng sản Liên Xô tiến hành cải cách đúng hướng và không “thả cửa” cho những tư tưởng phá hoại đất nước của báo chí cũng như các phần tử cơ hội trong nội bộ Đảng. === Hậu quả của sự tan rã Liên Xô === Sau khi Liên Xô tan rã, theo “liệu pháp sốc” do người Mỹ bày cho các chính khách Nga thân phương Tây mới nắm quyền , ở nước Nga tiến hành cưỡng chế tư hữu hóa trong lĩnh vực kinh tế. Kết quả rất nhanh là đưa đến một nền kinh tế tiêu điều và suy thoái nghiêm trọng. Đất nước nghèo đi nhanh chóng, xã hội rơi vào hỗn loạn, phạm tội xảy ra tràn lan. Theo tài liệu của Bộ Nội vụ Nga, lúc đó toàn quốc xuất hiện hơn 8.000 băng nhóm tội phạm cỡ lớn có tổ chức. Trong Thông điệp tình hình đất nước năm 1996, Boris Yeltsin thừa nhận: “Nước Nga hiện nay đã vượt Italia, trở thành vương quốc băng đảng mafia lớn nhất thế giới”. Từ năm 1991 đến cuối thế kỷ 20, tổng giá trị sản xuất trong nước (GDP) của Nga giảm xuống 52% so năm 1990 (trong khi đó, vào thời kỳ chiến tranh từ năm 1941 đến năm 1945 chỉ giảm 22%). Sản xuất công nghiệp giảm 64,5%, sản xuất nông nghiệp giảm 60,4%. Vật giá tăng cao hơn 5.000 lần. Hệ thống y tế miễn phí và rộng khắp của Liên Xô bị hủy bỏ, hàng loạt bệnh viện công bị tư hữu hóa. Viện phí theo đó tăng chóng mặt, nhiều người dân không có đủ tiền đi chữa bệnh (điều chưa từng xảy ra dưới thời Liên Xô). Từ năm 1992 trở đi, dân số nước Nga luôn có xu thế giảm. Tuổi thọ bình quân của người Nga năm 1990 là 69,2 tuổi, đến năm 2001 sụt còn 65,3 tuổi. Thậm chí, tuổi thọ bình quân của nam giới ở một số vùng giảm xuống chỉ còn 50 tuổi. Dưới thể chế đa đảng, hệ thống Nhà nước yếu ớt và việc thiếu vắng một lý tưởng đoàn kết xã hội, tinh thần dân tộc chủ nghĩa ở các nước cộng hòa cũ thuộc Liên Xô đã không ngừng dâng cao, khuynh hướng ly khai, dân tộc hẹp hòi ngày càng trở nên trầm trọng. Thập niên 1990, hàng loạt các cuộc chiến tranh ly khai nổ ra tại các nước thành viên thuộc Liên Xô cũ, khiến hàng trăm ngàn người thiệt mạng. Đảng Cộng sản Liên Xô biến mất, Liên Xô tan rã đã mang lại hậu quả tai hại cho nhân dân Liên Xô. Rất nhiều học giả Nga cũng rút ra kết luận rằng, Liên Xô tan rã làm cho phát triển kinh tế - xã hội tại Nga thụt lùi mấy chục năm Sự sụp đổ của Liên Xô sau này được tổng thống Nga Putin gọi là "thảm họa địa chính trị tồi tệ nhất thế kỷ 20. Đối với nước Nga, nó đã trở thành một bi kịch thực sự. Hàng triệu công dân và những người yêu nước của chúng ta bỗng nhiên thấy họ đang sống bên ngoài lãnh thổ Nga.". Cựu Thủ tướng Nga Evgeny Primakov cho rằng: "Cái giá của sự sụp đổ Liên Xô là rất khủng khiếp, nền kinh tế Nga tổn thất còn nhiều hơn Chiến tranh thế giới thứ hai. Sẽ là điên rồ nếu nói rằng đất nước này được hưởng lợi từ những năm 1990." Cựu Tổng thống Ukraine Leonid Kravchuk, một trong ba nhân vật hàng đầu tham gia ký kết hiệp định giải thể Liên Xô sau này đã nói: “Nếu như năm 1991, tôi biết được đất nước sẽ phát triển đến như cục diện như ngày hôm nay thì khi đó tôi đã nhất quyết chặt đứt cánh tay mình chứ không ký vào Hiệp định đó. Theo cuộc khảo sát của Sputnik.Mneniya tại 9 nước trong số 11 quốc gia thuộc Liên Xô cũ vào năm 2016, phần lớn cư dân trên 35 tuổi (những người đã trải qua cuộc sống dưới thời Liên Xô) cho rằng cuộc sống ở Liên Xô tốt hơn so với thời kỳ sau khi đất nước tan rã. Ở Nga, 64% số người đã trải qua thời kỳ Liên Xô đánh giá rằng chất lượng cuộc sống thời đó cao hơn. Ở Ukraina, đồng ý với tuyên bố này có 60% số người trả lời, còn tỷ lệ cao nhất là ở Armenia (71%) và Azerbaijan (69%) Khảo sát của hai cơ quan điều tra dư luận ở Nga cho thấy: đa số người dân Liên Xô cũng không muốn đất nước Liên Xô tan rã. Cuối năm 2005, kết quả một cuộc điều tra dư luận của hai cơ quan độc lập nổi tiếng ở Nga cho thấy: 66% người Nga ngày nay cảm thấy nuối tiếc cho sự sụp đổ của Liên Xô; 76% số người cho rằng Liên Xô có rất nhiều điểm đáng để tự hào. 72% và 80% số người được hỏi lần lượt cho rằng Gorbachev và Yeltsin đã đẩy đất nước vào con đường sai lầm; chỉ có 1% số người được hỏi mong muốn sống dưới thời Yeltsin., 60% người Nga tin rằng: sự sụp đổ của Liên Xô gây nhiều tác hại nhiều hơn là lợi ích. Trong cơn đại hồng thủy đó, nhiều nước cộng hòa hậu Xô viết đã rơi vào bạo lực sắc tộc sau khi có được độc lập, khiến cả trăm ngàn người thiệt mạng. Theo sử gia Geoffrey Roberts, trên bình diện thế giới, sự sụp đổ của Liên Xô khiến phương Tây không còn một đối trọng đủ mạnh mẽ, thế giới ngày nay vẫn còn xa mới có thể gọi là an toàn. == Hệ thống chính trị == Liên Xô là nước cộng sản đầu tiên, mô hình chính trị của nhà nước Liên Xô là mẫu hình chung cho các quốc gia xã hội chủ nghĩa khác. Đặc điểm bao trùm của thể chế chính trị của nhà nước Liên Xô là chế độ một đảng lãnh đạo. Khác với đa số các nhà nước hiện đại trên thế giới theo nguyên tắc tam quyền phân lập, hệ thống chính trị Xô viết theo nguyên tắc tập trung dân chủ. Đảng Cộng sản lãnh đạo tối cao và toàn diện mọi mặt: chính trị, xã hội, kinh tế, văn hóa (điều 6 Hiến pháp Liên Xô). "Cơ quan quyền lực cao nhất" của Liên Xô là Xô viết Tối cao Liên Xô (Верховный Совет), có cả 3 quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp và trực tiếp đảm nhiệm chức năng lập pháp. Cơ quan thường trực của Xô viết Tối cao là Đoàn chủ tịch Xô Viết tối cao Liên Xô. Chủ tịch Đoàn Chủ tịch Xô viết Tối cao là nguyên thủ quốc gia trên danh nghĩa, nhưng Tổng Bí thư Ủy ban Trung ương Đảng Cộng sản mới là nhân vật số một. (Từ năm 1988 "cơ quan quyền lực cao nhất" là Đại hội đại biểu nhân dân, cơ quan thường trực của nó là Xô viết Tối cao). Ở các cấp địa phương "cơ quan quyền lực cao nhất" là Xô viết địa phương do dân bầu. Xô viết Tối cao bầu ra Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng (Thủ tướng) và phê chuẩn thành phần Hội đồng Bộ trưởng (Chính phủ) là cơ quan chấp hành của nó, đảm nhiệm chức năng hành pháp ở trung ương. Tương tự, Xô viết địa phương bầu ra Uỷ ban hành chính (Испольнительный коммитет, viết tắt là Исполком - Ispolkom) để đảm nhiệm chức năng hành pháp ở địa phương. Xô viết Tối cao cũng bầu Chánh án Tòa án Tối cao đứng đầu cơ quan tư pháp trung ương là Toà án Tối cao. Xô viết địa phương bầu chánh án toà án các cấp địa phương. Hiến pháp Liên Xô cũng quy định về các quyền cơ bản của công dân như quyền tự do ngôn luận, quyền tự do hội họp, tự do tín ngưỡng... như các nhà nước hiện đại khác trên thế giới. Nhưng về thực chất đặc điểm nổi bật của hệ thống chính trị của Liên Xô là sự bao trùm của Đảng Cộng sản lên hệ thống chính trị. Đảng Cộng sản Liên Xô (Коммунистическая партия Советского Союза - КПСС) là cơ quan lãnh đạo theo hiến pháp quy định, không do dân bầu. Để bảo đảm sự lãnh đạo của Đảng, Liên Xô áp dụng hệ thống nhân sự theo "Nomenclatura" nghĩa là hệ thống cơ cấu cán bộ theo sự chỉ định của Đảng: ở mỗi cấp chính quyền hành chính, Xô viết hoặc tư pháp thì luôn song hành với đảng ủy (Parkom - Партийный коммитет viết tắt là Парком). Các đảng viên lãnh đạo đảng ủy (hay Parkom) luôn nắm các vị trí chi phối của các Xô viết theo một tỷ lệ đảm bảo sự lãnh đạo: ứng cử viên vào các Xô viết đều phải được sự đề cử của các Parkom và các liên danh ứng cử của đảng viên và người ngoài đảng bao giờ cũng có một tỷ lệ áp đảo của đảng viên. Đối với cơ quan hành pháp cũng vậy các chức vụ lãnh đạo của các Ispolkom là từ các Parkom, thường thì các phó bí thư đảng ủy là chủ tịch các uỷ ban hành chính (Ispolkom). Các Xô viết và các Uỷ ban hành chính các cấp phải chấp hành các chỉ thị của cấp trên theo ngành dọc của mình và các chỉ thị, nghị quyết của Uỷ ban đảng đồng cấp của địa phương mình và thường các chỉ đạo này là nhất quán với nhau. Ở cấp các nước Cộng hòa và cấp Liên bang cũng vậy: Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng, Chủ tịch Xô viết tối cao, Chánh án Toà án tối cao thường là các Uỷ viên Bộ chính trị của Đảng, đôi khi Tổng bí thư kiêm luôn Chủ tịch Đoàn Chủ tịch Xô viết tối cao (như Brezhnev) hoặc Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng (như Khrushchov). Các Bộ trưởng thường là Uỷ viên Bộ chính trị hoặc Trung ương Đảng. Khi họp Chính phủ hoặc Đoàn Chủ tịch Xô viết tối cao thì thực tế là họp Bộ Chính trị mở rộng. Nhân sự các nhiệm kỳ của các cơ quan chính trị, nhà nước trùng với nhân sự của đại hội Đảng, khi một cá nhân thôi chức tại Parkom thì họ cũng thôi nhiệm vụ tại Xô viết hoặc Ispolkom... Tại Liên Xô chỉ đạo của Đảng là trực tiếp: Đảng ủy có thể đưa ra các chỉ đạo thẳng đến các Xô viết và các Uỷ ban hành chính chứ không cần thiết phải biến các nghị quyết đảng đó thành các văn bản của các cơ quan này nữa. Hệ thống chính trị như vậy của nhà nước Liên Xô làm xã hội Xô viết mang đặc tính tập trung quyền lực rất lớn của Đảng. Có lúc nào đó đặc tính này có thể mang lại tác dụng tốt nhưng đồng thời nó là nguyên nhân rất dễ dẫn đến các hiện tượng lạm dụng quyền lực của các cấp đảng vì các cấp ủy đảng thực tế gần như không bị nhân dân kiểm soát vì Đảng vừa làm ra pháp luật và vừa thi hành pháp luật, mà hệ quả là hiện tượng vi phạm các quyền tự do của công dân được hiến pháp quy định, cũng như các tiêu cực khác ví dụ tình trạng không quy được trách nhiệm cá nhân... Trong giai đoạn cuối của Liên Xô hệ thống này đã mất tính uyển chuyển năng động gây ra thời kỳ được gọi là "thời kỳ trì trệ" của Brezhnev. Để hạn chế các khiếm khuyết của hệ thống chính trị một đảng lãnh đạo tập quyền tập trung như vậy, năm 1985 Tổng bí thư Gorbachov đã tiến hành cải cách chính trị. Cuộc cải cách chính trị của Gorbachov nhằm giảm bớt sự lãnh đạo của Đảng đối với các cơ cấu nhà nước và xã hội đã gây ra khủng hoảng chính trị và gây ra sự tan rã của Liên Xô. == Hệ thống kinh tế == Mô hình hệ thống kinh tế Liên Xô cơ bản là kinh tế nhà nước, là nền kinh tế phi cạnh tranh, không định hướng theo thị trường, chịu sự lãnh đạo của Đảng và tập trung hóa, kế hoạch hóa cao độ cả ở cấp vi mô và vĩ mô. Đây cũng là mô hình kinh tế chung của các Quốc gia xã hội chủ nghĩa. Nền kinh tế nhà nước tập trung: Tuy trong nền kinh tế Xô viết còn có thành phần kinh tế tập thể trong nông nghiệp là các nông trang tập thể (Kolkhoz – Коллективное хозяйство, viết tắt là Колхоз), nhưng tỷ trọng áp đảo trong kinh tế là thành phần nhà nước với các nhà máy xí nghiệp trong công nghiệp và nông trường quốc doanh Sovkhoz (Советское хозяйство, viết tắt là Совхоз) trong nông nghiệp, đây là nền kinh tế nhà nước, tập trung điển hình nhất. Đảng lãnh đạo toàn bộ nền kinh tế: Các định hướng dài hạn của nền kinh tế đất nước và địa phương được thông qua tại Đại hội Đảng các cấp và các cấp ủy Đảng chỉ đạo trực tiếp việc thi hành chính sách kinh tế và giải quyết các khúc mắc trong quá trình kinh tế. Kế hoạch hóa cao độ: Đại hội Đảng xác định các nhiệm vụ ưu tiên của nền kinh tế và phác thảo ra các chỉ tiêu kinh tế quan trọng của một thời kỳ dài thường là 5 năm và định hướng dài 10 năm, đó là cơ sở để kế hoạch hóa. Sau đó Gosplan Liên Xô (Cơ quan kế hoạch nhà nước – Госплан) sẽ lập ra kế hoạch cho các kế hoạch năm năm, đôi khi có kế hoạch bảy năm với các chỉ số kinh tế cụ thể cho thời hạn 5 năm và từng năm cụ thể. Các kế hoạch của Gosplan sẽ được chuyển giao cho các Bộ kinh tế. Bộ sẽ lập kế hoạch chi tiết cho ngành mình và giao các chỉ tiêu kinh tế cho các doanh nghiệp dưới sự chủ quản của bộ. Các doanh nghiệp trên cơ sở kế hoạch được giao sẽ tính toán các nguồn lực và có thể đệ trình kế hoạch sản xuất lên các cơ quan chủ quản để đề nghị hiệu chỉnh. Một khi kế hoạch được thông qua đó sẽ là pháp lệnh nhà nước. Để đảm bảo tài chính cho các kế hoạch sản xuất các doanh nghiệp sẽ nhận được tiền theo kế hoạch từ Gosbank (Ngân hàng nhà nước – Госбанк) và nhận nhiên, nguyên vật liệu và các sản phẩm trung gian theo kế hoạch từ Gossnab (Cung ứng nhà nước – Госснабжение). Việc lập kế hoạch được thực hiện rất chi tiết: thậm chí Gosplan quy định đến cả giá bán buôn và bán lẻ của các loại sản phẩm, như vậy sẽ rất phức tạp, Gosplan của Liên Xô thực sự là một cơ quan ngang bộ với chức năng đặc biệt của chính phủ Liên Xô thường do một Uỷ viên Bộ chính trị - Phó chủ tịch hội đồng bộ trưởng phụ trách kinh tế chỉ đạo với đội ngũ đông đảo các chuyên gia kinh tế, các nhà quản lý kế hoạch, nhưng việc lập kế hoạch chi tiết như vậy vẫn không thể nào sát được với thực tế cuộc sống kinh tế của đất nước, không thể tính được các yếu tố thị trường. Vì những lý do trên nền kinh tế của Liên Xô là nền kinh tế phi cạnh tranh và không định hướng đến thị trường. Những đặc điểm tập trung hóa, kế hoạch hóa cao độ dưới sự lãnh đạo của Đảng như vậy có tác dụng dễ dàng tập trung được nguồn lực quốc gia cho các mục tiêu trọng điểm, những ưu tiên của đất nước ví dụ điển hình như quá trình Công nghiệp hóa những năm 1930 đã thành công bất kể các căng thẳng của nền kinh tế, cũng như các dự án chạy đua vũ trang và các dự án lớn khác của Liên Xô sau này. Nhưng đồng thời nó thường không gắn liền với hiệu quả kinh tế nên thường gây lãng phí rất lớn: Kinh tế phát triển nhanh nhờ khai thác rất lớn các nguồn tài nguyên thiên nhiên và năng suất lao động tăng không tương xứng. Các chỉ tiêu phát triển được duy trì cao nhưng mức sống của nhân dân ngày càng kém so với các đối thủ tư bản ở nước ngoài. Kinh tế có kế hoạch và tách xa thị trường nên kinh tế Liên Xô tránh được lạm phát, tránh được các khủng hoảng và các rủi ro của thị trường như trong các nền kinh tế tư bản chủ nghĩa, giá cả có khi được duy trì cố định trong vài chục năm. Nhưng nền kinh tế như vậy không linh hoạt: một doanh nghiệp không hoàn thành kế hoạch sẽ ảnh hưởng lây lan, do đó kế hoạch được coi như pháp lệnh nhà nước và có tính bắt buộc rất cao. Vì kế hoạch hóa mang nhiều tính mệnh lệnh quan liêu và không sát thị trường khiến hàng hóa Liên Xô có chất lượng và tính cạnh tranh ngày càng thấp so với nước ngoài. Giá cả cố định trong một thời gian khá dài cộng với thu nhập tăng đều theo kế hoạch điều này là có lợi cho tầng lớp dân cư thích được sống bao cấp, sức mua của người dân tăng cao, nhưng ngược lại sức mua tăng mà chất lượng hàng hóa không theo kịp yêu cầu của xã hội nên gây nên nạn khan hiếm hàng hóa có giá trị tạo "văn hóa xếp hàng" ở mọi nơi, gây bất bình trong dân chúng nhất là dân thành thị. Lợi ích doanh nghiệp và người lao động phụ thuộc vào việc hoàn thành và vượt chỉ tiêu kế hoạch được giao mà không có đối tượng cạnh tranh (ở Liên Xô cạnh tranh chỉ dưới hình thức thi đua Xã hội chủ nghĩa). Từ những năm 1960, khi thị hiếu của người dân nâng cao, việc vượt và vượt hơn nữa chỉ tiêu tạo nên một số loại hàng hóa dư thừa cực kỳ lớn trong xã hội, nhưng những loại hàng hóa khác thì lại bị khan hiếm. Kết quả là một số loại hàng hóa thì thừa nhiều, một số khác thì lại thiếu gây mất cân đối trong nền kinh tế. Việc không có cạnh tranh và sản xuất theo kế hoạch làm cho người lao động mất động lực quyền lợi kinh tế dẫn đến sự sa sút kỷ luật và lòng hăng hái, yêu lao động và nảy sinh bàng quan, vô trách nhiệm: Vào những năm Stalin và trong chiến tranh, người lao động làm việc dưới ảnh hưởng của tinh thần yêu nước và kỷ luật sắt, chính sách công nghiệp hóa có hiệu quả cao nên không có sự sa sút, nhưng về sau vì kém động lực kinh tế nên chiều hướng làm biếng là phổ biến trong tâm lý người lao động. Đồng thời cách trả lương lao động mang tính bình quân chủ nghĩa không khuyến khích tính năng động và làm bất mãn những người muốn làm giàu. Để khuyến khích người lao động, từ những năm cuối thập kỷ 1970 Liên Xô cho áp dụng khoán sản phẩm trong các xí nghiệp công nghiệp ở phạm vi tổ đội lao động (Бригадный подряд) nhưng kết quả chỉ thành công hạn chế và không gây được động lực lớn. Tất cả những điểm yếu của nền kinh tế Xô viết tác động vào nông nghiệp Xô viết làm nền nông nghiệp Liên Xô trở nên già cỗi, nông nghiệp và nông thôn không được tái đầu tư, khoảng cách thành thị – nông thôn ngày càng lớn, thanh niên nông thôn dồn hết vào thành phố, nông thôn suy thoái, sản xuất nông nghiệp sa sút nghiêm trọng. Đến giữa những năm 1980 nông nghiệp và nông thôn đã là một vấn đề rất trầm trọng của xã hội Xô viết, một số sản phẩm nông nghiệp đã phải nhập khẩu từ nước ngoài. Đảng và chính phủ Liên Xô đã có những cố gắng đầu tư cho nông nghiệp trong những năm 1970 – 1980 bằng các dự án thành lập các tổ hợp Nông – công nghiệp nhưng vì chưa đánh giá hết những nguyên nhân gốc rễ và cách tiếp cận cũng mang tính quan liêu mệnh lệnh nên chương trình nhiều tham vọng này cũng không thành công. Đến giữa những năm 1980, nền kinh tế Xô viết đã bộc lộ những điểm yếu rất lớn. Tuy vẫn duy trì được vị thế nền kinh tế lớn thứ hai thế giới (chỉ kém Mỹ) với GDP đạt 2,66 nghìn tỷ USD (năm 1990), nhưng nền kinh tế Liên Xô đã bị lạc hậu hơn so với các nước kinh tế thị trường mạnh nhất như Mỹ, Nhật, Đức. Trong nền kinh tế tích tụ rất nhiều mâu thuẫn ảnh hưởng lớn lên xã hội và đó là nguyên nhân để Tổng bí thư Gorbachov tiến hành cải cách cải tổ (perestroika), tuy nhiên cải cách chỉ tập trung vào cơ cấu chính trị trong khi không quan tâm đến cải cách mô hình kinh tế nên đã thất bại và Liên Xô sụp đổ. == Phân chia lãnh thổ của Liên Bang Xô Viết == Giai đoạn 1954-1991, Liên Xô bao gồm 15 nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Xô viết: Armenia Azerbaidjan Belorussia Estonia Gruzia Kazakhstan Kirghizia Latvia Litva Moldavia Nga Tadjikistan Turkmenia Ukraina Uzbekistan Và phần lớn các nước này lại được phân chia thành các tỉnh (ngoại trừ 5 nước Latvia, Litva, Estonia, Moldavia và Armenia). Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Xô viết Liên bang Nga (RSFSR) được phân chia thành 16 nước cộng hòa tự trị (avtonomnaya respublika-автономная республика), 6 khu (krai-край) và 49 tỉnh (oblast-область). Dưới cấp khu có thể có tỉnh tự trị, dưới cấp tỉnh và khu còn có thể có các vùng dân tộc (thiểu số) (nationalny okrug-национальный округ), đến năm 1977 được đổi tên thành vùng tự trị (avtonomny okrug-автономный округ). Có tất cả 5 tỉnh tự trị, 10 vùng tự trị. Trong một số nước cộng hòa (Nga, Gruzia, Azerbaidjan, Uzbekistan, Tadjikistan) còn có các nước cộng hòa tự trị và tỉnh tự trị. Tất cả các đơn vị hành chính-lãnh thổ nói trên được phân chia thành các huyện (rayon-район) và thành phố trực thuộc tỉnh, vùng và nước cộng hòa. == Danh nhân thời Xô viết == === Những nhà lãnh đạo quan trọng === Vladimir Ilyich Lenin (Ulyanov) (Владимир Ильич Ленин, Ульянов) – Lãnh đạo cách mạng Tháng Mười, người sáng lập nhà nước Liên bang Xô viết. Iosif Vissarionovich Stalin (Dzhugashvili) (Иосиф Виссарионович Сталин, Джугашвили) – Đại nguyên soái, lãnh tụ Liên Xô (Tổng bí thư Đảng Cộng sản) sau Lenin. Nikita Sergeyevich Khrushchyov (Никита Сергеевич Хрущёв) – Bí thư thứ nhất Đảng cộng sản sau Stalin. Leonid Ilyich Brezhnev (Леонид Ильич Брежнев) – Tổng bí thư đảng Cộng sản sau Khrushchyov. Yuri Vladimirovich Andropov (Ю́рий Влади́мирович Андро́пов) – Tổng bí thư đảng Cộng sản sau Brezhnev Konstantin Ustinovich Chernenko (Константи́н Усти́нович Черне́нко) – Tổng bí thư đảng Cộng sản sau Andropov Mikhail Sergeyevich Gorbachyov (Михаил Сергеевич Горбачёв) – Tổng bí thư cuối cùng, người khởi xướng cải tổ, Tổng thống Liên Xô vào thời điểm Liên Xô tan rã. === Một số chính khách khác === Lev Davidovich Trotsky (Лев Давыдович Троцкий) – Nhà lãnh đạo cách mạng nổi tiếng, người sáng lập Hồng quân công nông, người lãnh đạo thắng lợi của Hồng quân Bolshevik trong nội chiến (1918 – 1922). Feliks Edmundovich Dzerzhinsky (Феликс Эдмундович Дзержинский) – Lãnh đạo cơ quan Ủy ban đặc biệt trấn áp phản cách mạng thời cách mạng và nội chiến. Maksim Maksimovich Litvinov (Максим Максимович Литвинов) – Nhà ngoại giao nổi tiếng, tác giả chính sách đối ngoại "An ninh tập thể". Vyacheslav Mikhailovich Molotov (Вячеслав Михайлович Молотов) – Chủ tịch hội đồng bộ trưởng kiêm Bộ trưởng ngoại giao thời Stalin, người ký hiệp ước Ribbentrop – Molotov. Lavrenty Pavlovich Beria (Лаврентий Павлович Берия) – Lãnh đạo Bộ dân ủy nội vụ NKVD và phụ trách an ninh, công an, mật vụ, trong thời Stalin. Andrey Andreyevich Gromyko (Андрей Андреевич Громыко) – Bộ trưởng ngoại giao Liên Xô những năm 1960 – 1980. Dmitri Fyodorovich Ustinov (Дмитрий Фёдорович Устинов) – Nguyên soái, Bộ trưởng Quốc phòng, nổi tiếng là nhà tổ chức các tổ hợp công nghiệp quốc phòng Xô viết. === Nhà quân sự === Georgi Konstantinovich Zhukov (Георгий Константинович Жуков) – Nguyên soái, chỉ huy nhiều trận đánh lớn và công phá Berlin, tiếp nhận sự đầu hàng của Đức Quốc xã trong Chiến tranh thế giới thứ hai. === Các nhà khoa học và kỹ thuật === Igor Vasilyevich Kurchatov (Игорь Васильевич Курчатов) – Viện sĩ Viện Hàn lâm khoa học Liên Xô, cha đẻ bom nguyên tử của Liên Xô. Sergei Pavlovich Korolyov (Сергей Павлович Королёв) – Viện sĩ viện Hàn lâm khoa học Liên Xô, Tổng công trình sư tên lửa vũ trụ Liên Xô thời vệ tinh nhân tạo đầu tiên, thời Gagarin bay vào vũ trụ. Andrei Dmitriyevich Sakharov (Андрей Дмитриевич Сахаров) – Viện sĩ Viện Hàn lâm khoa học Liên Xô, đóng góp quan trọng chế tạo bom khinh khí của Liên Xô, người đối lập đấu tranh vì nhân quyền tại Liên Xô. Pyotr Leonidovich Kapitsa (Пётр Леонидович Капица) – Viện sĩ Viện Hàn lâm khoa học Liên Xô, giải thưởng Nobel, chủ tịch viện các vấn đề Vật lý của Liên Xô. Mikhail Timofeevich Kalashnikov (Михаил Тимофеевич Калашников) – Tổng công trình sư hệ vũ khí bộ binh dòng súng AK. Yuri Alekseyevich Gagarin (Юрий Алексеевич Гагарин) – Nhà du hành vũ trụ đầu tiên của nhân loại. === Văn nghệ sĩ === Boris Leonidovich Pasternak (Борис Леонидович Пастернак) – Nhà văn nổi tiếng tác giả tiểu thuyết "Bác sĩ Zhivago", giải thưởng Nobel. Mikhail Aleksandrovich Sholokhov (Михаил Александрович Шолохов) – Nhà văn nổi tiếng tác giả "Sông Đông êm đềm" giải thưởng Nobel. Aleksandr Isayevich Solzhenitsyn (Александр Исаевич Солженицын) – Nhà văn nổi tiếng lên án chế độ khủng bố Stalin, tác giả "GULAG quần đảo địa ngục", giải thưởng Nobel. Galina Sergeyevna Ulanova (Галина Сергеевна Уланова) – Nữ nghệ sĩ ballet nổi tiếng. Maxim Gorky (1868-1936), nhà văn Xô Viết. Các tác phẩm nổi tiếng: người mẹ, thời thơ ấu, trường đại học của tôi... Aleksey Nikolayevich Tolstoy (1883-1945), nhà văn Xô Viết. Các tác phẩm nổi tiếng: Con đường đau khổ, thời thơ ấu của Nhi-ki-ta, chiếc chìa khoá vàng,... Nikolai Alekseyevich Ostrovsky (Николай Алексеевич Островский) (1904- 1936), nhà văn Xô Viết, tác giả cuốn Thép đã tôi thế đấy (Как закалялась сталь!) === Vận động viên === Sergey Nazarovich Bubka (Сергей Назарович Бубка) – vô địch Olympic và nhiều lần phá kỷ lục thế giới môn nhảy sào. Larisa Semyonovna Latynina (Лариса Семёновна Латынина) – Nữ vận động viên thể dục dụng cụ nổi tiếng. Vladislav Aleksandrovich Tretyak (Владислав Александрович Третьяк) – Thủ môn nổi tiếng khúc côn cầu trên băng của đội tuyển Liên Xô những năm 1970 – 1980. Lev Ivanovich Yashin (Лев Иванович Яшин) – Thủ môn bóng đá huyền thoại của đội tuyển Liên Xô những năm 1950 – 1960. == Chú thích == == Xem thêm == Nga SNG Đảng Cộng sản Liên Xô Danh sách lãnh tụ Liên Xô Quốc ca Liên Xô Quốc tế Cộng sản KGB (КГБ, tức Комитет Государственной Безопасности, Uỷ ban An ninh Nhà nước) Hệ thống xã hội chủ nghĩa Khối Warszawa Sự sụp đổ của Liên Xô và Đông Âu Liên Xô tan rã == Đọc thêm == Bôrít Enxin (Boris Yeltsin), Những ghi chép của tổng thống, Hà Nội: Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, 1995 V.A.Métvêđép (Medvedev), Ê kíp Goócbachốp – Nhìn từ bên trong. V.G.Aphanasiev, Quyền lực thứ tư và bốn đời tổng bí thư Hà Nội: Nhà xuất bản chính trị quốc gia, 1995. E.K.Ligachov, Inside Gorbachev's Kremlin The memoirs of Yegor Ligachev – Bên trong điện Cremli của Gorbachov, Hồi ký của Egor Ligachov, Pantheon Books, New York 1993. Giải mã những bí mật của CIA, Nhà xuất bản Thông tấn, 2007 == Liên kết ngoài == Câu Chuyện Xô Viết Youtube Suy nghĩ về cuộc Cách mạng tháng Mười Nga Hiến pháp Liên Xô 1924 Hiến pháp Liên Xô 1936 Hiến pháp Liên Xô 1977 Liên Xô Nhật ký của nhân chứng một giai đoạn lịch sử
những cuộc phiêu lưu của huckleberry finn.txt
Những cuộc phiêu lưu của Huckleberry Finn (tiếng Anh: Adventures of Huckleberry Finn) là tiểu thuyết được xuất bản năm 1884 của nhà văn Mỹ Mark Twain. Nó được viết trong ngôi thứ nhất, là một trong những tiểu thuyết Mỹ đầu tiên dùng phương ngữ để viết. Những cuộc phiêu lưu của Huckleberry Finn thường được đánh giá là một trong những tác phẩm vĩ đại nhất trong nền văn học Hoa Kỳ. Huckleberry Finn được xem là cuốn tiếp theo của quyển Những cuộc phiêu lưu của Tom Sawyer, xuất bản năm 1876. Nhân vật kể chuyện, Huckleberry Finn, là bạn của Tom Sawyer. Câu chuyện kể về những cuộc phiêu lưu của Huckleberry Finn trên dòng sông Mississippi với người bạn là Jim, một nô lệ đang chạy thoát. Quyển sách miêu tả những cảnh vật trên dòng sông và châm biếm những quan điểm ở miền Nam Hoa Kỳ thời tiền chiến, đặc biệt là quan điểm kỳ thị chủng tộc. Hình ảnh Huck và Jim trên chiếc bè chạy theo dòng sông, đi đến tự do, là một trong những hình ảnh bất hủ nhất trong văn học Hoa Kỳ. == Cốt truyện == == Nhận xét == Được thịnh hành đối với độc giả thiếu nhi ngay từ những ngày đầu, Huckleberry Finn đã được nhiều nhà phê bình văn học đánh giá là đỉnh cao của văn học. Nhà văn đoạt giải Nobel Văn học Ernest Hemingway đã nói về Huckleberry Finn như sau: "All modern American literature comes from one book by Mark Twain called Huckleberry Finn... American writing comes from that. There was nothing before. There has been nothing as good since." "Toàn bộ nền văn học Hoa Kỳ hiện đại bắt nguồn từ một quyển sách của Mark Twain tên là Huckleberry Finn... Đây chính là khởi nguồn của lối hành văn kiểu Mỹ. Không gì có thể sánh bằng nó được." == Tranh cãi == Ngay từ khi được xuất bản, Huckleberry Finn đã gây nhiều tranh cãi. Thư viện tại Concord, Massachussetts đã cấm lưu hành quyển này sau khi nó được xuất bản vì "đề tài lòe loẹt". Tuy nhiên, tờ báo San Francisco Chronicle đã biện hộ quyển này. Tuy đề tài của cuốn này rõ ràng chống chủ nghĩa phân biệt chủng tộc, nó dùng một số từ ngữ của thời đó mà thời nay bị xem là miệt thị (chữ "nigger" được dùng 215 lần). Vì thế, một số cá nhân và tổ chức không quen thuộc với nội dung tác phẩm cho rằng nó phân biệt chủng tộc và vận động cấm lưu hành quyển này tại thư viện cũng như tại nhà trường. Hội Thư viện Hoa Kỳ xếp quyển này thứ 5 trong danh sách các quyển sách bị vận động cấm đoán nhiều nhất trong thập niên 1990. == Thông tin thêm == Vợ của Mark Twain đã sửa chữa các bản nháp của chồng và quyển Những cuộc phiêu lưu của Huckleberry Finn đến tay người đọc dưới dạng đã bị làm sai lạc. == Chú thích ==
bảo ninh.txt
Bảo Ninh (sinh ngày 18 tháng 10 năm 1952) là nhà văn Việt Nam viết tiểu thuyết và truyện ngắn. == Tiểu sử == Bảo Ninh tên thật là Hoàng Ấu Phương, sinh tại huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An, quê ở xã Bảo Ninh, huyện Quảng Ninh, tỉnh Quảng Bình, Việt Nam. Ông là con trai của Giáo sư Hoàng Tuệ (1922 - 1999), nguyên Viện trưởng Viện Ngôn ngữ học. Ông vào bộ đội năm 1969. Thời chiến tranh, ông chiến đấu ở mặt trận B-3 Tây Nguyên, tại tiểu đoàn 5, trung đoàn 24, sư đoàn 10. Năm 1975, ông giải ngũ. Từ 1976-1981 học đại học ở Hà Nội, sau đó làm việc ở Viện Khoa học Việt Nam. Từ 1984-1986 học khoá 2 Trường viết văn Nguyễn Du. Làm việc tại báo Văn nghệ Trẻ. Là hội viên Hội Nhà văn Việt Nam từ 1997. == Tác phẩm == Năm 1987 xuất bản truyện ngắn Trại bảy chú lùn. Năm 1991, tiểu thuyết Nỗi buồn chiến tranh của Bảo Ninh (in lần đầu năm 1987 tên là Thân phận của tình yêu, được tặng Giải thưởng Hội Nhà văn Việt Nam và đã được đón chào nồng nhiệt. Đó là câu chuyện một người lính tên Kiên, đan xen giữa hiện tại hậu chiến với hai luồng hồi ức về chiến tranh và về mối tình đầu với cô bạn học Phương. Khác với những tác phẩm trước đó mang tính sử thi, miêu tả chiến tranh từ góc độ cộng đồng, hùng tâm tráng chí của người lính chiến đấu vì vận mệnh đất nước, Bảo Ninh đã miêu tả chiến tranh từ một góc độ khác, góc độ cá nhân, thân phận con người, đi sâu vào những nỗi niềm cá nhân. Nhà văn Nguyên Ngọc ca ngợi: "Về mặt nghệ thuật, đó là thành tựu cao nhất của văn học đổi mới". Tuy nhiên, trong hơn 10 năm sau đó tác phẩm đã bị cấm, không được in lại, có lẽ do quá nhạy cảm; mặc dù vậy, với làn sóng đổi mới ở Việt Nam, cuốn sách vẫn rất được ưa thích. Cuốn sách được dịch sang tiếng Anh bởi Frank Palmos và Phan Thanh Hảo, xuất bản năm 1994 với nhan đề "The Sorrow of War", được ca tụng rộng rãi, và một số nhà phê bình đánh giá là một trong những tiểu thuyết cảm động nhất về chiến tranh. Bản dịch này được photo bán rộng rãi cho du khách nước ngoài. Đây là một cuốn sách được đọc rộng rãi ở phương Tây, và là một trong số ít sách nói về chiến tranh từ quan điểm phía Việt Nam được xuất bản ở đây. Một điều đáng khâm phục là Bảo Ninh đã trình bày quan điểm này mà không hề lên án phía bên kia. Năm 2005, tác phẩm này được tái bản với nhan đề ban đầu là Thân phận của tình yêu; năm 2006 tái bản với nhan đề đã trở thành nổi tiếng: Nỗi buồn chiến tranh. Bảo Ninh còn viết một số truyện ngắn về đề tài chiến tranh, trong đó truyện Khắc dấu mạn thuyền đã được dựng thành phim. Truyện ngắn "Bội phản" trong tập truyện "Văn Mới" do Nhà xuất bản Văn học xuất bản, cũng đã được ông gửi gắm nhiều tình cảm và suy nghĩ vào trong các nhân vật. == Chú thích == == Liên kết ngoài == Báo Thể thao và Văn hóa, Nhà văn Bảo Ninh: Cái thật bao giờ cũng có sức quyến rũ, đăng lại trên Báo Tuổi trẻ online ngày 07/08/2005.
xã roasting ear, quận stone, arkansas.txt
Xã Roasting Ear (tiếng Anh: Roasting Ear Township) là một xã thuộc quận Stone, tiểu bang Arkansas, Hoa Kỳ. Năm 2010, dân số của xã này là 149 người. == Chú thích == == Tham khảo == American FactFinder
abuja.txt
Abuja, chính thức là Hội đồng khu vực đô thị Abuja hay AMAC, là thủ đô của Nigeria. Thành phố này nằm ở trung tâm của Lãnh thổ Thủ đô Liên bang (FCT). Abuja là một thành phố có "quy hoạch", do các nó được xây dựng chủ yếu và thập niên 1980 và đã chính thức trở thành thủ đô của Nigeria vào ngày 12 tháng 12 năm 1991, thay thế vai trò trước đó của Lagos. Theo điều tra dân số năm 2006, Lãnh thổ Thủ đô Liên bang có dân số 778.567. Thành phố có Sân bay quốc tế Nnamdi Azikiwe. Thành phố này nổi tiếng ở châu Phi là thành phố xây dựng theo quy hoạch tốt nhất châu Phi, là một trong những nơi giàu có nhất và đắt đó nhất nhưng dân số ở khu vực bán phát triển thì sống trong các khu phố ổ chuột như Karu. Karu, được xây để làm nơi ở cho công chức và người thu nhập thấp nhưng lại không có nước máy, điện hay hệ thống vệ sinh. == Tham khảo == 9°04′B 7°29′Đ
chế độ quân chủ.txt
Chế độ quân chủ hoặc quân chủ chế hay còn gọi là Chế độ quân quyền, là một thể chế hình thức chính quyền mà trong đó người đứng đầu nhà nước là nhà vua hoặc nữ hoàng. Thể chế xưa kia trong thời quân chủ phần đông là chế độ quân chủ chuyên chế. Theo đó, mọi quyền lực, mọi chi phối các hoạt động trong xã hội gần như tuyệt đối tập trung trong tay nhà vua hay nữ hoàng lãnh đạo, được kế thừa theo nguyên tắc cha truyền con nối. Chế độ quân chủ tuyệt đối thường dùng hình thức phong kiến (hình thức phân phong đất đai) để truyền nối và chiếm hữu đất đai. Tuy nhiên, cũng có những trường hợp ngoại lệ, như vua Nghiêu, vua Thuấn,... những trường hợp thiện nhượng. Phong kiến phản ánh hình thức truyền nối và chiếm hữu đất đai của chế độ quân chủ thời xưa, trong thời quân chủ chuyên chế (Trung Quốc cổ đại, Ai Cập cổ đại, Babylon, Ba Tư...), trong đó có thể chia ra 2 hình thức là quân chủ trung ương tập quyền và quân chủ phân quyền cát cứ (với lãnh chúa, chư hầu...). Trong nhiều trường hợp, những thời kỳ quân chủ trước kia cũng được gọi là thời kỳ phong kiến. Chế độ Quân chủ chuyên chế xuất hiện ở Athena thế kỷ 5 - 6 TCN (thời kỳ Dân chủ Athena), trong đó cơ quan quyền lực nhà nước đều được bầu ra và hoạt động theo nhiệm kỳ. Cách mạng tư sản Anh năm 1642 cũng đem đến nhiều thay đổi. Trong thời hiện tại, thể chế về chế độ quân chủ phổ thông thời nay là chế độ quân chủ lập hiến, cho nên phong kiến chỉ phản ánh một giai đoạn, một thời kỳ hay là một hình thái của chế độ quân chủ. Thể chế về chế độ quân chủ phổ biến thời nay là chế độ quân chủ lập hiến. Theo đó, mọi quyền lực, mọi chi phối các hoạt động trong xã hội không còn tập trung trong tay vua hay nữ hoàng. Vua hay nữ hoàng chỉ là người lãnh đạo tinh thần mà thôi. Còn mọi quyền lực, mọi chi phối các hoạt động trong xã hội do nghị viện, thủ tướng do người dân bầu ra lãnh đạo. Thể chế quân chủ là một trong những hình thức chính quyền lâu đời nhất và từng có rất nhiều hình thái khác nhau cùng tồn tại. == Quân chủ trên thế giới == Hiện nay, trên thế giới có 44 quốc gia còn tồn tại hình thức nhà nước quân chủ với 25 vị vua và nữ hoàng, trong đó Nữ hoàng Anh Elizabeth II là nữ hoàng của Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland và đồng thời cũng là nữ hoàng của 15 quốc gia độc lập khác (tức Khối thịnh vượng chung Anh). Có thể chia ra 2 hình thức là Quân chủ hạn chế và Quân chủ tuyệt đối (Quân chủ tập trung). Quân chủ hạn chế Hầu hết các quốc gia Quân chủ hiện nay đều theo chế độ Quân chủ lập hiến hay Quân chủ đại nghị, Quân chủ Cộng hòa. Vua (hay Nữ hoàng) là nguyên thủ quốc gia nhưng chỉ mang tính tượng trưng hơn là thực quyền. Còn hoạt động lập pháp do nghị viện nắm giữ, hoạt động hành pháp do thủ tướng nắm giữ, và hoạt động tư pháp do tòa án đảm nhiệm (Tam quyền phân lập). Các quốc gia Vương quốc Khối thịnh vượng chung không có vua hay nữ hoàng riêng, mà xem Vua Anh hay là Nữ hoàng Anh như quốc vương chung của họ và ở mỗi quốc gia này đều có 1 Toàn quyền thay mặt cho vương quyền từ Anh Quốc. Tại các công quốc như Luxembourg, Monaco, Andorra, Liechtenstein, người đứng đầu là Đại công tước hay là Hoàng thân, Vương công. Tại Mã Lai Á và Các Tiểu vương quốc Ả Rập Thống nhất còn tồn tại hình thức các tiểu vương. Hiện nay không chỉ nước Anh mà nhiều quốc gia khác trên thế giới, mặc dù tên gọi là quân chủ nhưng lại được đánh giá là nhà nước dân chủ, ví dụ như nhà nước Tây Ban Nha, Bỉ, Hà Lan, Đan Mạch, Luxemburg, Thụy Điển ở châu Âu hay Nhật Bản ở châu Á. Quân chủ tập trung Ngoại trừ vài quốc gia còn theo chế độ quân chủ tuyệt đối, là Sudan, Oman, Brunei, Saudi Arabia, Swaziland và Qatar, trong số đó, hầu hết là các nền Quân chủ Hồi giáo. Quân chủ tập trung khi nhà vua hay nữ hoàng có quyền hạn lớn với 3 công cụ của pháp luật (lập pháp, hành pháp và tư pháp thay vì tam quyền phân lập). == Xem thêm == Chế độ dân chủ Chế độ độc tài == Chú thích == == Liên kết ngoài == Thomas Paine (1737-1809), Bàn về Nguồn gốc và Cơ cấu của Chính quyền Quân chủ Nói chung & Hiến pháp của Anh quốc Nói riêng
john tate.txt
John Torrence Tate Jr. (sinh ngày 13/3/1925) là một nhà toán học người Mỹ, với những đóng góp nền tảng trong lĩnh vực lý thuyết số đại số và các lĩnh vực liên quan đến hình học đại số. Năm 2010, ông giành giải thưởng Abel, một trong những giải thưởng lớn nhất của ngành toán học. Tate từng được miêu tả là "một trong những nhà toán học có ảnh hưởng cho nửa cuối thế kỉ" bởi nhà toán học William Beckner, trưởng khoa toán của Đại học Texas. == Tiểu sử == John Tate sinh ra tại Minneapolis. Ông nhận bằng cử nhân toán học tại Đại học Harvard, và bằng tiến sĩ tại Đại học Princeton năm 1950 dưới sự hướng dẫn của Emil Artin. Tate dạy toán tại Harvard trong 36 năm trước khi chuyển đến khoa Toán Đại học Texas năm 1990. Ông đã nghỉ hưu năm 2009, và hiện tại ông đang sống ở Cambridge, Massachusetts. John Tate có một vợ, bà Carol và ba con gái. == Nghiên cứu Toán học == == Các giải thưởng và vinh danh == == Các bài báo, sách nổi tiếng == Tate, John (1950), Fourier analysis in number fields and Hecke's zeta functions , Princeton University Ph.D. thesis under Emil Artin. Reprinted in Cassels, J. W. S.; Fröhlich, Albrecht biên tập (1967), Algebraic number theory, London: Academic Press, tr. 305–347, Lang, Serge; Tate, John (1958), “Principal homogeneous spaces over abelian varieties”, American Journal of Mathematics 80: 659–684, Lubin, Jonathan; Tate, John (1965), “Formal complex multiplication in local fields”, Annals of Mathematics 81: 380–387, Tate, John (1966), “Endomorphisms of abelian varieties over finite fields”, Inventiones Mathematicae 2: 134–144, Tate, John (1967), “p-divisible groups”, trong Springer, T. A., Proceedings of a Conference on Local Fields, Springer-Verlag, tr. 158–183, Artin, Emil; Tate, John (2009) [1967], Class field theory, AMS Chelsea Publishing, ISBN 978-0-821-84426-7, Serre, Jean-Pierre; Tate, John (1968), “Good reduction of abelian varieties”, Annals of Mathematics 88: 462–517, Tate, John (1971), “Rigid analytic spaces”, Inventiones Mathematicae 12: 257–289, Tate, John (1976), “Relations between K2 and Galois cohomology”, Inventiones Mathematicae 36: 257–274, == Tham khảo == == Liên kết ngoài == Tate's home page John Tate tại Mathematics Genealogy Project
đặc khu hành chính (trung quốc).txt
Đặc khu hành chính (tiếng Trung: 特別行政區/特别行政区, bính âm: tèbié xíngzhengqū, phiên âm Hán-Việt: đặc biệt hành chính khu; tiếng Anh viết tắt SAR) là các đơn vị hành chính có quyền tự trị cao theo thể chế Một quốc gia hai chế độ, chịu sự quản lý trực tiếp của Chính quyền Nhân dân Trung ương như nêu trong Điều 12 của Bộ luật cơ bản của cả hai đặc khu hành chính. Đặc khu hành chính ngang cấp với tỉnh, khu tự trị hay thành phố trực thuộc trung ương, nhưng khác với các địa phương đó, nơi luật cơ bản căn cứ vào Điều 30 của Hiến pháp 1982, các đặc khu hành chính áp dụng các căn cứ trong Điều 31. Hai đặc khu hành chính được thành lập lần lượt vào các năm 1997 và 1999 khi chủ quyền của hai lãnh thổ này được Anh quốc và Bồ Đào Nha lần lượt trao trả cho Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa. Cả hai đặc khu hành chính đều do Chính quyền Nhân dân Trung ương trực tiếp quản lý. Khác với các đơn vị hành chính cấp tỉnh khác (tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương và khu tự trị), các đặc khu hành chính được bảo lưu quyền tự trị cao hơn với các quy định riêng về courts of last resort, hệ thống pháp luật, passports, đơn vị tiền tệ, chính sách hải quan, chính sách nhập cư, chính sách dẫn độ,... ngoại trừ các quy định về ngoại giao và quốc phòng. Khi tham gia vào các tổ chức quốc tế hay các sự kiện thể thao, các đặc khu hành chính là các thành viên độc lập đối với Trung Quốc. Cả hai đặc khu hành chính đều nhỏ và không sử dụng hệ thống phân cấp hành chính của Trung Hoa đại lục. Hong Kong được chia thành 18 quận, mỗi quận có một Hội đồng quận. Ma cao được điều hành duy nhất bởi Chính quyền đặc khu mà không chia ra các cấp hành chính sau khi các đô thị kiểu Bồ Đào Nha bị bãi bỏ. == Tham khảo ==
illinois.txt
Illinois là tiểu bang thứ 21 của Hoa Kỳ, gia nhập liên bang năm 1818. Illinois là tiểu bang đông dân nhất vùng Trung Tây nước Mỹ và đứng thứ năm toàn liên bang về dân số. Chicago nằm ở phía đông bắc là thành phố lớn nhất và trung tâm kinh tế hàng đầu tại Illinois. Đây cũng là thành phố lớn thứ ba nước Mỹ, chỉ sau thành phố New York và Los Angeles. Thủ phủ của tiểu bang đặt tại thành phố nhỏ Springfield. Giữa những năm 1300 và 1400, thành phố Cahokia của người da đỏ là thành phố đông dân nhất trên lãnh thổ đất nước Hoa Kỳ sau đó với tổng dân số 40.000 người, trước khi bị thành phố New York vượt qua vào cuối thế kỉ 18. Khoảng 2000 người thổ dân da đỏ và những thợ săn thú người Pháp sống tại Illinois khi cuộc chiến tranh giành độc lập của 13 bang thuộc địa nước Mỹ nổ ra. Trước thế kỉ 19, Illinois vẫn là một vùng đất hoang vu, dân cư thưa thớt. Nhưng bắt đầu từ thập niên 1810, dân cư từ bang Kentucky bắt đầu đổ vào Illinois và những người này chính thức được cấp quyền công dân một tiểu bang mới vào năm 1818. Khu vực đại đô thị tương lai Chicago được thành lập bên bờ con sông Chicago, một trong số ít những cảng tự nhiên ở miền nam bờ hồ Michigan và đóng một vai trò huyết mạch trong giao thông tại vùng Ngũ Đại Hồ. Những phát minh quan trọng trong thập niên 1830 như đường sắt và máy cày đã biến những đồng cỏ của Illinois thành một vùng nông nghiệp trù phú, thu hút dân nhập cư đến từ các nước châu Âu như Đức và Thụy Điển. Nhân dân Illinois đã dành sự ủng hộ rất lớn đối với tổng thống Abraham Lincoln và tướng Ulysses S. Grant (cả hai đều là người Illinois) trong cuộc nội chiến Hoa Kỳ. Từ năm 1900, sự phát triển mạnh mẽ của những thành phố công nghiệp phía bắc tiểu bang cũng như những mỏ khai thác khoáng sản tại miền trung và miền nam đã thu hút thêm dân nhập cư đến từ các nước Đông Âu và Nam Âu. Dòng người da đen di cư lên miền bắc sau cuộc Nội chiến Mỹ cũng góp phần làm nên sự đa dạng chủng tộc tại Illinois và đóng góp cho nền văn hóa tại đây nhạc jazz và nhạc blue, những thể loại âm nhạc ngày nay phổ biến khắp nước Mỹ. Tiểu bang Illinois còn có tên gọi là "Quê hương của Lincoln" (Land of Lincoln), vị tổng thống đã có công xóa bỏ chế độ nô lệ và giữ vững sự thống nhất nước Mỹ trong thế kỉ 19. Ngoài ra, Illinois còn có tên gọi là "Tiểu bang Đồng cỏ" (The Prairie State). == Tên gọi == Có hai giả thuyết về nguồn gốc tên gọi của tiểu bang Illinois. Giải thuyết thứ nhất cho rằng tên gọi này bắt nguồn từ chữ ilenweewa trong tiếng thổ dân Algonquian (hay còn gọi là người Miami-Illinois) có nghĩa là "Anh/cô ấy nói bình thường". Tuy nhiên một giả thuyết khác lại cho rằng tên gọi này bắt nguồn từ tên bộ lạc thổ dân da đỏ Illiniwek một thời từng phát triển thịnh vượng tại vùng đất này. Cái tên Illiniwek có nghĩa là "những con người siêu đẳng" hoặc "con người". == Địa lý == Nằm ở phía đông bắc tiểu bang Illinois là hồ Michigan. Illinois giáp với Indiana về phía đông, giáp với Wisconsin về phía bắc. Biên giới với hai tiểu bang Missouri về phia tây nam và Iowa về phis tây bắc là con sông Mississippi. Illinois giáp với Kentucky về phía đông nam qua sông Ohio. Ngoài ra tiểu bang này còn giáp với Michigan nhưng chỉ qua đường biên giới nước trên hồ Michigan. Mặc dù Illinois nằm hoàn toàn trong khu vực Đồng bằng Trung tâm, nhưng tiểu bang này vẫn được chia làm 3 vùng địa lý với nhiều đặc điểm khác biệt nhau: Khu vực Bắc Illinois, hay khu vực đại đô thị Chicago bao gồm thành phố Chicago lớn thứ ba nước Mỹ, các vùng ngoại ô và những khu vực đô thị mở rộng bên cạnh. Theo quy hoạch của chính phủ liên bang, khu vực đại đô thị Chicago bao gồm hầu như toàn bộ vùng tây bắc của tiểu bang Illinois và cả một số quận thuộc hai bang láng giềng là Indiana và Wisconsin. Đây là một khu vực có mật độ dân số cao, được công nghiệp hóa với lối sống đô thị và đồng thời tập trung nhiều chủng tộc khác nhau. Đi về phía tây và phía nam là khu vực địa lý thứ hai của Illinois. Đó là khu vực Trung Illinois và được mệnh danh là trái tim của tiểu bang này. Đây là khu vực đặc trưng bởi những thị trấn nhỏ và những thành phố cỡ trung bình. Đây là một vùng nông nghiệp trù phú của Illinois với những ruộng ngô và đậu tương rộng lớn, cho năng suất cao và cũng là nơi tập trung nhiều viện giáo dục và trung tâm nghiên cứu của tiểu bang. Nhiều thành phố quan trọng tập trung tại miền trung Illinois là Peoria (khu vực đại đô thị lớn thứ ba tại Illinois với dân số 370.000 người) và thủ phủ Springfield. Khu vực Nam Illinois bao gồm vùng đất phía nam quốc lộ 50 và bao gồm cả khu vực Tiểu Ai Cập (Little Egypt). Khu vực này có một số đặc điểm khác với các khu vực trên ở chỗ có khí hậu ấm áp hơn, về nông nghiệp có ngành canh tác bông từ lâu đời. Là một vùng đất với địa hình tương đối gồ ghề so với những đồng cỏ bằng phẳng ở miền trung, Nam Illinois có thêm một số mỏ dầu, than và khoáng sản quý giá. St. Louis là khu vực đại đô thi lớn thứ hai tại tiểu bang Illinois, với dân số lên đến 600.000 người. Mật độ dân số tại vùng này cao hơn một chút so với Trung Illinois. Khu vực ngoài đại đô thị Chicago thường được gọi là "Hạ Illinois". Tuy nhiên cư dân ở miền Trung và Nam Illinois coi khu vực của họ là một vùng địa lý và văn hóa riêng biệt nên không sử dụng tên gọi này. === Khí hậu === Với chiều dài từ bắc đến nam trải dài 640 km và nằm ở vị trí trung tâm lục địa Bắc Mỹ, khí hậu Illinois thay đổi giữa các vùng miền khác nhau. Phần lớn lãnh thổ bang Illinois có khí hậu lục địa ẩm với mùa hè nóng và ẩm còn mùa đông thì lạnh giá. Miền nam Illinois tiếp giáp với khu vực có khí hậu cận nhiệt đới ẩm nên có mùa đông ôn hòa hơn đôi chút. Lượng mưa trung bình của Illinois dao động từ nơi cao nhất là miền nam (1220 mm) đến nơi thấp nhất ở miền bắc là 890 mm. Khu vực thành phố Chicago thường có tuyết rơi dày vào mùa đông với lượng mưa tuyết đo được trung bình là 96 cm, trong khi ở miền nam tiểu bang lượng mưa tuyết thường ít hơn 35 cm. Nhiệt độ cao nhất ghi được tại Illinois là 47 °C vào ngày 14 tháng 7 năm 1954 tại East St. Louis. Còn nhiệt độ thấp nhất ghi được là -38 °C vòa ngày 5 tháng 1 năm 1999 tại Congerville. Trung bình hàng năm, Illinois phải chịu khoảng 50 ngày mưa bão, cao hơn so với bình quân toàn nước Mỹ. Illinois là nơi thường xảy ra lốc xoáy, trung bình 35 cơn một năm. Vụ lốc xoáy gây chết người nhiều nhất trong lịch sử nước Mỹ đã xảy ra tại Illinois và hai bang kế cận vào năm 1925 làm cho 695 người chết, trong đó có 613 người sống tại Illinois. === Các thành phố lớn nhất === Thành phố Chicago là trung tâm kinh tế lớn nhất của tiểu bang Illinois cũng như của miền Trung Tây nước Mỹ. Tuy nhiên thủ phủ của tiểu bang Illinois lại đặt ở thành phố nhỏ Springfield. == Lịch sử == === Thời kỳ Tiền Colombo === Trước khi người châu Âu đến khai phá nước Mỹ, tại Illinois đã từng tồn tại một nền văn hóa với tên gọi Cahokia. Tuy nhiên nền văn minh này đã bị biến mất vào thế kỉ 15 mà không rõ lý do. Những người chủ tiếp theo của Illinois là người Illini, một liên minh chính trị giữa các bộ lạc da đỏ bản địa. Năm 1700, ước tính có khoảng 25.000 người da đỏ Illinois bản địa nhưng những cuộc tấn công của bộ lạc Iroquois đã khiến dân số của người Illini giảm đi nhiều. Thành viên của các bộ lạc Potawatomi, Miami, Sauk cũng đến định cư tại miền đông và miền bắc Illinois. === Người châu Âu khai phá === Năm 1673, hai nhà thám hiểm người Pháp là Jacques Marquette và Louis Jolliet đã khám phá ra sông Illinois. Năm 1680, người Pháp đã xây dựng đồn lũy đầu tiên của họ tại nơi mà ngày nay là thành phố Peoria. Illinois được duy trì là một lãnh thổ của Đế chế Pháp cho tới tận năm 1763, khi nó bị nhượng lại cho người Anh. Năm 1778, George Rogers Clark tuyên bố vùng Illinois thuộc về Virginia. Năm 1783, Virginia chuyển vùng đất này cho liên bang quản lý và Illinois được sát nhập vào Lãnh thổ tây bắc. === Thế kỉ 19 === Ngày 3 tháng 2 năm 1809, vùng lãnh thổ Illinois được thành lập với thủ phủ đặt tại thành phố Kaskaskia. Năm 1818, Illinois chính thức được gia nhập Hoa Kỳ và trở thành tiểu bang thứ 21. Một lượng lớn người nhập cư từ Kentucky đã đổ vào tiểu bang mới này. Những thay đổi về địa giới hành chính sau đó đã khiến Illinois mở rộng lên phía bắc để bao gồm cả hải cảng Chicago, nay là thành phố lớn nhất Illinois. Những cuộc chiến tranh giữa những bộ tộc da đỏ bản địa với người da trắng đến sau vẫn tiếp diễn. Năm 1832, cuộc chiến tranh Diều Hâu Đen (Black Hawk War) bùng nổ tại Illinois và Wisconsin. Quân đội chính phủ Mỹ được cử tới và đã đẩy người da đỏ sang vùng Iowa. Illinois nổi tiếng với việc chống lại chế độ nô lệ. Ngay từ khi gia nhập liên bang, tiểu bang Illinois đã tuyên bố bãi bỏ chế độ nô lệ. Tổng thống Abraham Lincoln đến từ Illnois là một trong những nhân vật vĩ đại nhất lịch sử nước Mỹ khi ông tuyên bố xóa bỏ chế độ nô lệ và giữ vững sự thống nhất đất nước trước việc các bang theo chế độ nô lệ ở miền Nam đòi ly khai. Trong cuộc nội chiến, đã có 250.000 đàn ông Illinois tham gia vào quân đội của Liên bang, nhiều thứ 4 cả nước. Sau cuộc nội chiến, nền công nghiệp của Illinois phát triển mạnh mẽ với những ngành như cơ khí, luyện kim, chế biến lương thực thực phẩm... Đây cũng là nơi phong trào công nhân phát triển mạnh nhất nước Mỹ. Ngày 1 tháng 5 năm 1886, cuộc Tổng bãi công của công nhân thành phố Chicago nổ ra đòi ngày làm 8 giờ đã buộc giới chủ phải nhượng bộ. Về sau ngày này được lấy làm ngày Quốc tế lao động. === Thế kỉ 20 === Bước sang thế kỉ 20, kinh tế Illinois tiếp tục phát triển cho đến cuộc Đại khủng hoảng 1929 làm một nửa số công nhân tại Illinois thất nghiệp. "Chính sách mới" của tổng thống Franklin Roosevelt đã góp phần làm ổn định lại nền kinh tế. Khi Chiến tranh thế giới thứ hai nổ ra, nhu cầu chiến trường tăng mạnh đã dẫn đến sự hồi phục của nền kinh tế Illinois. Illinois đã đóng góp rất nhiều sức người và sức của trong hai cuộc thế chiến. Trong thập niên 1960 và thập niên 1970, kinh tế Illinois bắt đầu có biểu hiện suy thoái. Ngày nay, bên cạnh những ngành công nghiệp truyền thống như luyện kim, cơ khí, chế biến lương thực thực phẩm, Illinois đang nỗ lực xây dựng một nền kinh tế hậu công nghiệp với những ngành công nghệ cao như điện tử, tin học, tài chính... Năm 1970, Hội nghị Hiến pháp lần thứ 6 được tổ chức nhằm soạn thảo một hiến pháp mới cho tiểu bang Illinois thay thế bản hiến pháp cũ có từ năm 1870. Trận lũ lịch sử tại vùng thượng sông Mississippi năm 1993 đã nhấn chìm nhiều nhà cửa và gây nhiều thiệt hại nghiêm trọng cho tiểu bang này. == Nhân khẩu == Theo số liệu năm 2006, dân số của Illinois là 12,8 triệu người, đứng hàng thứ 5 nước Mỹ sau California, Texas, New York và Florida. So với năm trước, dân số Illinois tăng thêm 65.000 người. Sự gia tăng dân số tại Illinois bao gồm cả sự gia tăng dân số tự nhiên và quá trình nhập cư của người dân các nơi khác, đặc biệt là người nước ngoài vào tiểu bang này. Thống kê năm 2004 cho biết 13,3% dân số Illinois được sinh ra tại ngoại quốc. Phân bố chủng tộc của Illinois trong năm 2005 như sau: 80,34% người da trắng 15,63% người da đen 0,62% người da đỏ bản địa 4,45% người gốc Á 0,11% người các đảo Thái Bình Dương Trong đó, người Latinh (Hispanic) thuộc mọi sắc tộc trên chiếm tỉ lệ 14,44%. Có tới gần 30% người Illinois da trắng thừa nhận có nguồn gốc Đức. Cộng đồng người Mỹ gốc Phi tập trung đông nhất tại hai thành phố Chicago và East St. Louis. Người Mỹ và người Mỹ gốc Anh tập trung nhiều ở vùng phía đông nam trong khi vùng đại đô thị Chicago lại có một lượng lớn các sắc dân gốc Ireland, México và Ba Lan. Theo thống kê, cso 10,85% dân số Illinois nói tiếng Tây Ban Nha tại nhà, và 1,6% nói tiếng Ba Lan. === Tôn giáo === Đạo Thiên chúa và Đạo Tin lành là những tôn giáo phổ biến tại Illinois. Cộng đồng người theo Đạo Thiên chúa tập trung chủ yếu quanh khu vực thành phố Chicago và chiếm khoảng 30% dân số, trong khi đó cộng đồng người theo các giáo phái khác nhau của đạo Tin lành chiếm 49%. Thành phố Chicago với sự đa văn hóa của mình cũng là nơi tập trung nhiều tôn giáo của các cộng đồng nhập cư như đạo Hindu, đạo Sikh, đạo Hồi, đạo Do Thái và nhiều tôn giáo khác nữa. == Kinh tế == Với nguồn đất đai màu mỡ, Illinois có một nền nông nghiệp khá phát triển. Các sản phẩm nông nghiệp chủ yếu của Illinois là ngô, đậu tương, lợn, gia cầm, các sản phẩm từ sữa. Illinois là tiểu bang dẫn đầu nước Mỹ về xuất đậu tương, đạt khoảng 500 triệu giạ vào năm 2004. Illinois cũng xếp thứ hai cả nước về sản lượng ngô. Các trường đại học của Illinois cũng đang xúc tiến áp dụng khoa học công nghệ vào nông nghiệp để tạo ra nhiều loại sản phẩm nông nghiệp đa dạng hơn nữa. Về công nghiệp, Illinois có nhiều lợi thế với những mỏ than, dầu hỏa, khoáng sản trữ lượng lớn ở phía nam, thúc đầy nền công nghiệp Illinois phát triển mạnh. Những ngành công nghiệp truyền thống của Illinois là cơ khí, luyện kim, hóa chất, chế biến lương thực thực phẩm... nhưng ngày nay đang phát triển những ngành công nghệ cao và du lịch. Chicago là trung tâm kinh tế và tài chính lớn nhất tiểu bang. == Chính trị == Chính quyền của tiểu bang Illinois được tổ chức thành ba nhánh là lập pháp, hành pháp và tư pháp. Nhánh tư pháp bao gồm Quốc hội lưỡng viện của Illinois gồm 118 ghế tại hạ viện và 59 ghế tại thượng viện. Đứng đầu nhánh hành pháp là thống đốc Illinois còn đứng đầu nhánh tư pháp là tòa án tối cao. Suốt chiều dài lịch sử, Illinois là một chiến trường tranh đấu quyết liệt giữa Đảng Cộng hòa và Đảng Dân chủ. Tuy nhiên trong những năm gần đây, Đảng Dân chủ đang có xu hướng chiếm ưu thế tại Illinois, đặc biệt là tại thành phố Chicago và khiến cho Illinois trở thành bang có tỉ lệ ủng hộ Đảng Dân chủ cao nhất tại vùng Trung Tây. Liên tục trong năm kỳ bầu cử tổng thống vừa qua, Illinois đã bầu cho các thượng nghị sĩ của Đảng Dân chủ làm tổng thống. Illinois đã đóng góp cho nước Mỹ hai vị tổng thống. Đó là Abraham Lincoln (sinh ở Kentucky), người đã có công xóa bỏ chế độ nô lệ và thống nhất nước Mỹ và tướng Ulysses Grant (sinh tại Ohio). Tổng thống Ronald Reagan là người sinh ra ở Illinois nhưng lại tranh cử tại tiểu bang California. Trong cuộc bầu cử tổng thống Mỹ 2008, cả hai ứng cử viên của Đảng Dân chủ đều có xuất xứ từ Illinois. Thượng nghị sĩ Hillary Clinton sinh tại Illinois nhưng tranh cử với tư cách thượng nghị sĩ bang New York. Còn ứng cử viên Barack Obama sinh tại Honolulu, Hawaii tranh cử với tư cách thượng nghị sĩ bang Illinois. Ông Barack Obama đã làm nên lịch sử khi trở thành vị tổng thống thứ ba của tiểu bang Illinois và cùng là tổng thống da màu đầu tiên của nước Mỹ. == Tham khảo == == Liên kết ngoài == Trang chủ của tiểu bang Illinois Hội Người Việt Illinois (tiếng Việt, Anh)
đan trường.txt
Đan Trường (sinh 29 tháng 11 năm 1976) là một nam ca sĩ nổi tiếng người Việt Nam xuất hiện vào những năm cuối thập niên 90, Với ngoại hình điển trai, phong cách âm nhạc lôi cuốn, anh được mệnh danh là Hoàng tử V-Pop. Anh là người sở hữu nhiều ca khúc ăn khách và thành công nhất Việt Nam với sự đa dạng về nhiều thể loại nhạc, từ nhạc trẻ, sử thi đến dân ca và bolero. == Thân thế và sự nghiệp == Đan Trường tên thật là Phạm Đan Trường, sinh ngày 29 tháng 11 năm 1976 tại Thành phố Hồ Chí Minh. Với tên gọi gia đình là Bo, Đan Trường là con trưởng và con trai duy nhất trong gia đình ở quận 6, Thành phố Hồ Chí Minh, với 3 em gái. Thời tuổi thơ khá cơ cực, phải phụ giúp gia đình kiếm sống bằng nghề sản xuất bút bi thủ công theo kiểu cha truyền con nối từ 3, 4 đời. Mặc dù xuất thân trong gia đình vốn không có ai hoạt động trong ngành nghệ thuật, Đan Trường sớm biểu lộ niềm đam mê âm nhạc, ca hát. Năm 1996, anh tham gia dự thi và đoạt giải ba với ca khúc "Gửi người tôi yêu" trong một cuộc thi giọng hát hay của Nhà văn hóa quận 10. Nhờ sự giúp đỡ của ông bầu Lê Hoàng Tuấn (biệt danh Tuấn Thaso), năm 1997, Đan Trường bước chân vào con đường âm nhạc chuyên nghiệp. Với ngoại hình ăn ảnh, nỗ lực rèn luyện tạo phong cách riêng, anh sớm có được sự thành công và có được một lực lượng khán giả hùng hậu, có thể nói là hùng hậu nhất Việt Nam yêu mến, và cho tới bây giờ anh đã thực hiện được 5 liveshow hoành tráng trên khắp cả nước, phát hành 33 CD riêng và nhiều CD tổng hợp khác. Đặc biệt anh cùng với Cẩm Ly đã tạo nên 1 đôi song ca nổi tiếng trong làn sóng V-Pop cho tới bây giờ. Trong suốt quá trình tham gia vào ca hát, Đan Trường đạt được nhiều giải thưởng như: Ca sĩ được yêu thích nhất năm 1999 do Tạp chí Thanh niên trao tặng; Nhân vật được yêu thích năm 1999 do bạn đọc và báo Mực Tím trao tặng, Cúp Vàng Ngôi sao 2000 do Báo Văn hóa, đặc san Văn hóa và Đài truyền hình Việt Nam trao tặng; Giải thưởng Mai Vàng do báo Người Lao động bình chọn; Giải thưởng Làn Sóng Xanh (Đài Tiếng nói Nhân dân TP.HCM) nhiều năm liền; Giải thưởng VTV Bài hát tôi yêu (Đài Truyền hình Việt Nam); Giải thưởng ca sĩ được yêu thích nhất của HTV 3 năm liền; cùng nhiều giải thưởng lớn nhỏ khác... Ngoài ca hát, Đan Trường còn tham gia vào lĩnh vực điện ảnh với phim cổ tích Vua hóa cò, Hoàng tử chăn lợn, hay phim điện ảnh Võ lâm truyền kỳ chiếu dịp Tết 2006 đã gây được sự chú ý lớn và gần đây nhất là phim "Người chồng bất đắc dĩ" vào năm 2012. Cuối năm 2009 Đan Trường cũng xuất hiện trong bộ phim truyền hình Nhất quỷ nhì ma với vai trò là diễn viên chính. Ngoài ra Đan Trường được Đại sứ quán Đài Loan và Hà Lan tại Thành phố Hồ Chí Minh chọn làm Đại sứ Du lịch và đang tiến hành công việc tại Đài Loan, Hà Lan và Việt Nam. Song song đó, H.T Production cũng tiến hành nhiều kế hoạch mới để quảng bá và tiếp tục đẩy mạnh thương hiệu Đan Trường trong làng nhạc Việt. Năm 2015, Đan Trường là một trong hai Giám khảo cố định (cùng với ca sĩ Siu Black) tại vòng chung kết một cuộc thi ca hát mang tên "Ngôi sao Phương Nam" do Đài Phát thanh và Truyền hình Vĩnh Long tổ chức. Năm 2016, anh xuất hiện với vai trò Huấn luyện viên trong chương trình tìm kiếm giọng hát hay theo phong cách nhạc dân ca trữ tình và bolero mang tên "Thần tượng Bolero". Thí sinh giành ngôi vị Quán quân của cuộc thi này cũng chính là thí sinh đến từ đội của Đan Trường. Cũng trong năm nay, Đan Trường tham gia làm Huấn luyện viên trong cuộc thi "Tuyệt đỉnh song ca" khi kết hợp cùng Cẩm Ly tạo nên bộ đôi hoàn hảo hấp dẫn của chương trình. == Phong cách chính == Đan Trường có chất giọng nhẹ, trầm, khả năng hát khá đa dạng các dòng nhạc nhẹ, nhạc trẻ, gần đây Đan Trường còn thể hiện khá thành công dòng nhạc cách mạng, sử thi và dân ca. Ngoài ra, Đan Trường cũng thể hiện rất nhiều thể loại khác nhau gồm rock, hip-hop, dance,... Cẩm Ly được biết đến như là ca sĩ hát đôi hợp nhất với Đan Trường. == Thành tích == Giải ba với ca khúc "Gửi người tôi yêu", cuộc thi giọng hát hay, Nhà văn hóa quận 10 tổ chức năm 1996 Đoạt giải Mai Vàng do báo Người Lao động tổ chức trong các năm 2001, 2002, 2003, 2004, 2005, 2007. Các giải Làn Sóng Xanh, Ngôi Sao Bạch Kim, Album Vàng,... Tham gia đóng một số phim như: Vua hóa cò, Hoàng tử chăn lợn, Võ lâm truyền kỳ, Thứ ba học trò (vai thầy giáo Tuấn), Nụ hôn đầu xuân, Yêu anh! Em dám không?. Được mời làm đại sứ du lịch của Hà Lan tại Việt Nam (2007) Đạt danh hiệu "Nam ca sĩ được yêu thích nhất" 3 năm liền của giải thưởng HTV Awards == Gia đình == Ngày 20 tháng 4 năm 2013, Đan Trường quyết định kết hôn với Trịnh Thủy Tiên (tên tiếng Anh: Windy Thuy Tien Trinh) - một thương gia người Mỹ gốc Việt sinh năm 1986 tại nhà thờ Five Wounds Portuguese National Church thuộc thành phố San Jose, tiểu bang California, Hoa Kỳ (đây một trong hai nhà thờ Công giáo lớn nhất San Jose). Đám cưới cử hành theo nghi thức Bồ Đào Nha và do cha xứ người Việt chủ trì. Sau đó một tiệc cưới sang trọng đã diễn ra với chi phí khoảng 145.000 USD, sự kiện này đã gây chú ý lớn trong showbiz Việt thời gian đó. Con trai của Đan Trường và Thủy Tiên được sinh vào tháng 03 năm 2017, và được đặt tên là Mathis Thiên Từ. == Scandal == Tháng 7 năm 2013, có thông tin tố cáo Đan Trường đã "lừa tình tiền" một phụ nữ xưng tên là Dung. Số tiền lừa đảo lên tới 60.000 đô la Mỹ như lời cáo buộc của người này. Theo một lá thư đăng trên trang mạng xã hội của Hoàng Tuấn (ông bầu của Đan Trường) thì Đan Trường thừa nhận đã từng nhận sự trợ giúp quay clip nhạc và 20.000 đô la Mỹ tiền mặt từ người phụ nữ này. Tuy nhiên, anh cho rằng anh đang bị tống tiền và vụ việc này là âm mưu nhằm "khủng bố tinh thần" vợ chồng anh. == Phim == Vua hóa cõ Hoàng tử chăn lợn Võ lâm truyền kỳ Nhất quỷ nhì ma – Thứ ba học trò: vai Nghiêm Tuấn Nụ hôn đầu xuân Người chồng bất đắc dĩ == Một số tác phẩm chính == === Liveshow === Cảm ơn cuộc đời - 2000, 2001 Giữ mãi niềm tin - 2002 Trái tim bình yên - 2003 Mãi mãi một tình yêu - 2004 10 năm 1 chặng đường - 2006 Thập đại mỹ nhân - 2008 Ngôi sao bay - 2010 Đêm nhạc Thiên đường vắng - 2011 Kỷ niệm 15 năm ca hát - Con sóng yêu thương - 2012 Đêm nhạc Ngày và đêm - 2013 Vẫn mãi một nụ cười - 2014 Dấu Ấn - 2014 Kỷ niệm 20 năm ca hát - Cảm ơn Đời - 2016 === Album === ==== Album chính ==== Vol.1 - Nhạc tuyển Đan Trường (1999) Vol.2 - Đi về nơi xa (1999) Vol.3 - Bóng dáng thiên thần (2000) Vol.4 - Best Collection (2000) Vol.5 - The Best of Đan Trường (2001) Vol.6 - Lời ru tình (2001) Vol.7 - Best Collection (2002) Vol.8 - Trái tim bình yên - Dòng sông băng (2002) Vol.9 - Giấc mơ màu xanh (2003) Vol.10 - The Best of Đan Trường - Đánh mất giấc mơ (2003) Vol.11 - Đến một lúc nào đó (2004) Vol.12 - Bông hồng cài áo (2005) Vol.13 - Anh phải làm sao (2005) Vol.14 - Thương thầm (2005) Vol.15 - Lời nguyện cầu tình yêu (2006) Vol.16 - Bài ca Mi Ya Hee (2006) Vol.17 - Đơn ca Đan Trường - Anh vẫn đợi chờ (2007) Vol.17 - Song ca Đan Trường - Thập nhị mỹ nhân (2007) Vol.18 - Dây đủng đỉnh buồn (2008) Vol.19 - Thiên sứ tình yêu (2008) Vol.20 - Ngôi sao bay (2009) Vol.21 - Ướt lem chữ đời (2009) Vol.22 - Người Miền Tây (2010) Vol.23 - Thiên Đường Vắng (2010) Vol.24 - Lỡ duyên rồi (2011) Vol.25 - Tuyết mùa hè (2011) Vol.26 - Thư pháp (2012) Vol.27 - Người Hai Quê (2012) Vol.28 - Ngày và Đêm (2013) Vol.29 - Lục Tỉnh Miền Tây (2013) Vol 30 - Người Thay Thế (2014) Vol 31 - Nhìn Vào Nỗi Nhớ - Chàng Ốc Tương Tư (2015) Vol 32 - Nồi Đất (2015) Vol 33 - Yêu Nhau Bao Lâu (2016) Vol 34 - Thiên Tử (2017) ==== Một số album khác ==== Album Đan Trường - Trái tim bình yên - Single (2002) Album Đan Trường - Gửi lại mùa xuân - Hợp tuyển xuân (2002) Album Đan Trường - Trương Chi Mỵ Nương (2004 Những tình khúc của Hoài An) Album Đan Trường - Ở nơi đó em cười - Những tình khúc mới của Hoài An (2006) Album Đan Trường - Một ngày đi qua - The Best of Lê Quang (2007) Album Đan Trường - The Best of Remix (2007) Album Đan Trường - Hùng thiêng Âu Lạc (2010) Album Đan Trường - Lời Tiên Tri - Single (2014) Album Đan Trường - Hết Hy Vọng - Single (2015) == Chú thích == Đan Trường 3 lần đoạt giải HTV Awards == Liên kết ngoài == Trang chủ Trang web của HT. Audio & Video Production - hãng điều hành của Đan Trường
dinh khẩu.txt
Dinh Khẩu (tiếng Trung: 营口市 bính âm: Yíngkǒu shì, Hán-Việt: Dinh Khẩu thị) là một địa cấp thị của tỉnh Liêu Ninh, nằm ở phía đông bắc Trung Quốc. Đây là một thành phố cảng bên bờ Bột Hải. Sông Liêu Hà chảy ra biển tại Dinh Khẩu. Diện tích Dinh Khẩu là 5.402 km², dân số 2,24 triệu. Dinh Khẩu trước đây được gọi là Ngưu Trang (牛莊; bính âm: Niúzhuāng; tiếng Mãn: Ishangga gašan hoton) - một trong những Cảng hiệp ước theo Hiệp ước Thiên Tân năm 1858. Trên thực tế thị trấn Ngưu Trang nằm cách đó khoảng 30 dặm về phía thượng nguồn và cảng hiệp ước trên thực tế là cảng Ngưu Trang. Dinh Khẩu là một thành phố kết nghĩa với Jacksonville, Florida từ năm 1990. Cảng Dinh Khẩu cũng ký thỏa thuận cảng kết nghĩa với Cảng vụ Hamilton của Hamilton, Ontario, Canada tháng 11 năm 2005. == Dự án căn cứ bên bờ biển == Hiện tại diện tích nội thành của Dinh Khẩu là 54 km², nhưng đang có dự án mở rộng rộng diện tích. Giai đoạn 1 đang được thực hiện sẽ bổ sung cho Dinh Khẩu 44 km² khu công nghiệp và dân cư. Giai đoạn 2 sẽ hoàn thành năm 2010 sẽ bổ sung cho Dinh Khẩu 157 km² đất công nghiệp và đô thị. == Tham khảo ==
đoan môn.txt
Đoan Môn là cửa chính phía Nam vào Hoàng thành Thăng Long được xây dựng vào thời nhà Lê và được tu sửa vào thời nhà Nguyễn. Đây là một trong 5 công trình ở Thăng Long còn sót lại là: Cột cờ Hà Nội, Cửa Bắc (Thành Hà Nội), Đoan Môn, nền Điện Kính Thiên và Văn Miếu - Quốc Tử Giám. Cửa hình chữ U. Có 5 cửa ra vào, hai cửa tận cùng bên cạnh là Tả Đoan Môn và Hữu Đoan Môn. Cửa còn nguyên vẹn. Hiện giờ cửa là lối ra vào của Hoàng Thành Thăng Long. == Tham khảo ==
trường đại học kiến trúc hà nội.txt
Trường Đại học Kiến trúc Hà Nội là trường đại học công lập nghiên cứu được thành lập năm 1969 theo đề nghị của bộ Kiến Trúc (Nay là bộ Xây dựng) thỏa thuận với Bộ Đại Học và Giáo dục chuyên Nghệp, có trụ sở tại quận Hà Đông, thành phố Hà Nội. Với tiền thân của trường là lớp kiến trúc sư trường Đại học Bách Khoa thành lập năm 1961. Năm 1965 với đề nghị của Bộ Đại Học và Trung học chuyên nghiệp (Nay là Bộ Giáo dục và Đào Tạo) lớp được xác nhập vào Trường Đại học Xây dựng, trường chuyên sâu đào tạo các ngành kiến trúc, quy hoạch, kỹ thuật xây dựng, quản lý xây dựng, và các ngành khác rất có uy tín tại Việt Nam. Trường trực thuộc Bộ Xây dựng, chịu sự quản lý chuyên môn của Bộ Giáo dục và Đào tạo và sự quản lý lãnh thổ của Uỷ ban nhân dân Thành phố Hà Nội. == Cơ cấu tổ chức == === Khoa đào tạo === Các khoa và bộ môn trực thuộc trường: Khoa Kiến trúc Khoa Xây dựng Khoa Quy hoạch đô thị - nông thôn Khoa Kỹ thuật Hạ tầng và Môi trường đô thị Khoa Quản lý đô thị Khoa Nội thất và Mỹ thuật Công nghiệp Khoa Công nghệ thông tin Khoa Sau Đại học Khoa Tại chức Khoa Lý luận chính trị Bộ môn Giáo dục thể chất === Viện và trung tâm === Viện kiến trúc nhiệt đới; Trung tâm Thông tin thư viện; Trung tâm kỹ thuật hạ tầng kỹ thuật đô thị; Trung tâm nâng cao năng lực về nghiên cứu đô thị; Trung tâm thí nghiệm; Các phòng thí nghiệm hợp chuẩn quốc gia Phòng thí nghiệm xây dựng công trình Phòng thí nghiệm nước Phòng thí nghiệm lưu động về môi trường Văn phòng tư vấn và chuyển giao công nghệ xây dựng Công ty xây dựng và phát triển đô thị == Chương trình đào tạo == Trường Đại học Kiến trúc Hà Nội cung cấp chương trình đào tạo bậc cử nhân hệ 5 năm, chương trình thạc sĩ và tiến sĩ cho các ngành liên quan tới xây dựng và đô thị. Các ngành này bao gồm: === Bậc Đại học === Kiến trúc công trình Được giảng dạy tại Khoa Kiến trúc, đây là một trong hai ngành có số lượng sinh viên theo học đông nhất trường (cùng với ngành Kỹ thuật Xây dựng dân dụng) và là một trong những chương trình đào tạo kiến trúc có uy tín nhất của Việt Nam. Sinh viên tốt nghiệp được cấp bằng Kiến trúc sư. Cho đến năm 2015, chương trình này được tuyển sinh thông qua kỳ thi đại học với ba môn Toán, Vật lý, và Vẽ. Mỹ thuật Công nghiệp Chương trình Mỹ thuật Công nghiệp được giảng dạy tại khoa Kiến trúc Công trình trước năm 2015 và Khoa Nội thất và Mỹ thuật Công nghiệp sau năm 2015. Chương trình này cấp bằng cử nhân Mỹ thuật công nghiệp, và là chương trình duy nhất tuyển sinh khối H của trường Đại học Kiến trúc Hà Nội (thi môn Vẽ chì, Bố cục màu, và Văn). Quy hoạch vùng và đô thị Ngành Quy hoạch Vùng và Đô thị được giảng dạy tại khoa Quy hoạch Đô thị và Nông thôn. Sinh viên được tuyển chọn qua kỳ thi đại học khối V và được cấp bằng Kiến trúc sư sau khi hoàn thành khóa học. Đây cũng là một trong những chương trình đào tạo Quy hoạch có uy tín nhất cả nước. Xây dựng dân dụng và công nghiệp Ngành Kỹ thuật xây dựng do khoa Xây dựng quản lý, cấp bằng Kỹ sư sau 5 năm đào tạo. Sinh viên được tuyển qua kỳ thi khối A (Toán, Vật lý, và Hóa học). Đây cũng là một trong hai ngành có số lượng sinh viên theo học đông nhất trường, và là một trong những chương trình đào tạo kĩ sư Xây dựng hàng đầu tại Hà Nội. Xây dựng công trình ngầm đô thị Ký hiệu lớp: XN; Bằng cấp: Kĩ sư; Chỉ tiêu tuyển sinh: 50 sinh viên/năm; Tuyển sinh: cả nước, khối A. Kỹ thuật vật liệu xây dựng Ký hiệu lớp: VL; Bằng cấp: Kĩ sư; Chỉ tiêu tuyển sinh: 50 sinh viên/năm; Tuyển sinh: cả nước, khối A; Ngành Kỹ thuật hạ tầng đô thị Ký hiệu lớp: D; Bằng cấp: Kĩ sư; Chỉ tiêu tuyển sinh: 100 sinh viên/năm; Tuyển sinh: cả nước, khối A. Ngành Cấp thoát nước Ký hiệu lớp: N; Bằng cấp: Kĩ sư; Chỉ tiêu tuyển sinh: 150 sinh viên/năm; Tuyển sinh: cả nước, khối A. Ngành Kỹ thuật môi trường đô thị Ký hiệu lớp: M; Bằng cấp: Kĩ sư; Chỉ tiêu tuyển sinh: 50 sinh viên/năm; Tuyển sinh: cả nước, khối A; 5. Khoa Quản lý đô thị; Ngành Quản lý xây dựng đô thị Ký hiệu lớp: QL; Bằng cấp: Kĩ sư quản lý đô thị; Chỉ tiêu tuyển sinh: 150 sinh viên/năm; Tuyển sinh: cả nước, khối A. Ngành Kinh tế xây dựng Ký hiệu lớp: KX; Bằng cấp: Kỹ sư kinh tế; Chỉ tiêu tuyển sinh: 150 sinh viên/năm; Tuyển sinh: cả nước, khối A. Hiện tại, trường đang tổ chức đào tạo hệ Đại học chính quy chương trình tiên tiến ngành Kiến trúc công trình học bằng tiếng Anh (ký hiệu lớp KTT, chỉ tiêu 50sv/năm) và chương trình kiến trúc cảnh quan liên kết với Pháp. === Bậc sau đại học === Mặc dù là trường tập trung đào tạo đại học các ngành chuyên môn sâu (professional program), Trường Đại học Kiến trúc Hà Nội cũng cung cấp các chương trình Thạc sĩ, Tiến sĩ các chuyên ngành Kiến trúc, Quy hoạch, Xây dựng, Kỹ thuật hạ tầng và môi trường đô thị, Quản lý đô thị, và chương trình Thiết kế đô thị với di sản phát triển bền vững (tiếng Pháp). == Hợp tác quốc tế == Trường Đại học Kiến trúc Hà Nội thiết lập quan hệ hợp tác với các trường đại học sau: Đại học Adelaide (Australia) Đại học Nottingham (Anh Quốc) Đại học Kiến trúc Toulouse (Pháp) Đại học Kitakyushu (Nhật Bản) Viện Công nghệ Muroran (Nhật Bản) Đại học Catholic University of America (Hoa Kỳ) Và các đại học khác. == Tham khảo == == Liên kết ngoài == Trang web chính thức của Trường Đại học Kiến trúc Hà Nội Diễn đàn thảo luận của sinh viên Trường ĐH Kiến trúc - Kho tài liệu chuyên ngành kiến trúc và xây dựng
chuồng cọp nhà cao tầng.txt
Chuồng cọp nhà cao tầng là tên (lóng) chỉ những chiếc lồng bằng khung sắt giống như chuồng cọp gắn ngoài trời xung quanh các căn hộ trên nhà cao tầng để làm tăng diện tích sinh hoạt của căn hộ, thường là ở các tỉnh miền Bắc . Khác với một ban công, phần khung sắt bên ngoài chỉ có chức năng bảo vệ phòng gian và nằm trong quy hoạch xây dựng từ lúc đầu, còn tại những khu tập thể và chung cư, chuồng cọp (hay còn gọi là "nhà balô") là sự nới rộng diện tích căn phòng và thường có cấu trúc vá víu. == Lý do hình thành == Bắt đầu từ thập niên 1960 trở đi, lượng người từ nông thôn và số lượng cán bộ công nhân viên chức được điều động công tác dồn về sinh sống và làm việc ở Hà Nội và các thành phố ở miền Bắc Việt Nam ngày một đông. Nhà nước tiến hành xây dựng lên các nhà cao tầng để phân chia cho cán bộ, viên chức nhà nước, hình thành ra các khu tập thể nhà cao tầng (thông thường cao 4 tầng: 3 lầu, một trệt). Diện tích các phòng của tòa nhà tập thể này rộng chừng 18 đến 22 m² với mục đích để phân cho những người độc thân hoặc gia đình cán bộ. Theo thời gian, những người độc thân tạo lập gia đình làm số hộ gia đình ở các khu tập thể cao tầng tăng lên, và số nhân khẩu cũng tăng theo. Diện tích sinh hoạt của các phòng trở thành chật chội, người ta tăng diện tích bằng cách gắn ra phía ngoài ban công những cái lồng bằng sắt có mái che và sinh hoạt, sử dụng bên trong cái lồng đó. Dân gian gọi cái phòng bằng khung sắt này là "chuồng cọp", dần dần tên này trở thành phổ thông. == Cách làm == Lúc đầu các chủ hộ của nhà tập thể chỉ có ý tưởng làm khung sắt che chắn làm rộng thêm ban công lấy chỗ phơi quần áo cho khỏi bị bay, hoặc trồng thêm vài chậu cây cảnh trên lan can cho khỏi bị rơi. Với quy mô đơn giản này, việc gia công lắp ráp lồng sắt bao quanh ban công không cầu kỳ, không cần phải đục tường, vách ảnh hưởng đến cấu trúc công trình. Dần về sau người ta phá bỏ hẳn lan can của ban công, làm những chuồng cọp (lồng sắt) khổng lồ vượt khỏi ban công, vươn xa ra ngoài. Sàn của chuồng cọp này đủ rộng để dùng làm nơi sinh hoạt chính hoặc làm nhà bếp, buồng ngủ. Để làm một chuồng cọp có quy mô hoành tráng người ta căn cứ vào cấu trúc cụ thể của tòa nhà và của căn phòng, nếu phòng có chiều sâu tính từ ban công thì khả năng vươn xa của chuồng cọp sẽ nhiều hơn do lắp đặt được loại dầm sắt dài. Người ta đục lỗ chân tường đối diện ban công, đục những lỗ trên sàn bê tông cho hở sắt cốt pha, phá bỏ lan can ban công, sau đó cắm sâu các dầm sắt (sắt chữ V, hoặc sắt chữ I) vào lỗ đã đục ở chân tường đối diện ban công, (những chỗ tường yếu hoặc không có tường người ta hàn thanh chống từ trên trần nhà đè vào đầu dầm sắt), hàn định vị các dầm sắt này vào cốt sắt của sàn bê tông. Các dầm sắt dài này vươn ra khỏi ban công thông thường từ 1,8m tới 2,5m, có người gia công dầm sắt vươn xa tới 3m. Số lượng các dầm sắt tùy thuộc vào độ lớn của thanh dầm, dầm lớn thì số lượng ít, dầm nhỏ thì số lượng nhiều hơn, điều này phụ thuộc vào cách tính toán của người thiết kế. Đầu ngoài của 2 dầm sắt hai bên hông người ta đấu với sợi dây cáp kéo căng vào tai sắt trên cao đã được hàn chắc vào cốt sắt của cột bê tông tòa nhà để tăng khả năng chịu tải trọng của chuồng cọp, cũng có người dùng thanh sắt hàn cứng thay cho dây cáp. Phần các dầm sắt vươn ra ngoài trời được hàn các thanh ngang để làm mặt sàn, xung quanh sàn người ta dựng khung sắt và làm vách, phía trên lợp mái tôn. Công đoạn sau cùng là đổ bê tông, người ta trải cót lên phần sàn ở ngoài trời, đặt vỉ sắt làm cốt bê tông lên trên cót, sau đó đổ bê tông phủ kín toàn bộ các thanh dầm phía trong nhà và phần sàn đã lót cót ngoài trời. Khi bê tông cứng người ta lót gạch men lên trên để làm đẹp. Phần chuồng cọp làm thêm đã làm tăng đáng kể diện tích sinh hoạt của căn phòng. Đối với những căn hộ ở tầng trên cùng của nhà tập thể có mái bằng, người ta còn làm chuồng cọp lên trên nóc nhà. Trước hết, tìm vị trí thích hợp đục một lỗ vuông vắn đặt thang gỗ làm lối đi lên sân thượng. Trên sân thượng làm một chuồng cọp, cũng hàn định vị chắc chắn vào cốt sắt của bê tông nóc nhà, vách làm bằng gỗ hoặc tôn, có khi được xây kiên cố bằng gạch đinh. Loại chuồng cọp này dễ làm và thường lớn ngang bằng với diện tích của căn hộ bên dưới. == Tác hại == Sự xuất hiện các chuồng cọp ở nhà cao tầng, cái to, cái nhỏ, cao thấp khác nhau, đủ kích cỡ lô nhô cộng với sự đa dạng của các loại vật liệu mà người ta kiếm được, và cái cũ, cái mới tạo nên màu sắc cũng đa dạng làm phá vỡ cảnh quan của toàn bộ khu vực. Khu nhà tập thể trở thành nơi mạnh ai nấy chiếm, người trên cao thì chiếm không gian làm chuồng cọp, người ở dưới so bì thì chiếm đất làm vườn, dựng nhà, hay quán bán hàng. Ý muốn làm chuồng cọp cho các căn hộ trên cao đã trở thành ý thức của một bộ phận người dân, vì vậy khi chuyển đến chỗ ở mới được xây dưng hiện đại theo tiêu chuẩn quốc tế như khu cao tầng Trung Hòa- Nhân Chính, người ta cũng đã làm thêm ra những cái chuồng cọp. Sinh hoạt đô thị trở nên luộm thuộm, hình thức thiếu mỹ quan. Để làm chuồng cọp (loại lớn) người ta phải đục tường, vách, hàn vào cốt thép của bê tông tòa nhà làm hỏng cấu trúc, giảm tuổi thọ công trình. Việc thiết kế không theo tiêu chuẩn nào, vật liệu đa dạng, đôi khi là những vật liệu tiết kiệm lấy được từ những công trình bị phá bỏ nên độ an toàn của các chuồng cọp và con người không thể đảm bảo . Chuồng cọp nhà cao tầng hình thành và phát triển đại trà ở khắp nơi trong một giai đoạn của lịch sử mang yếu tố đặc thù của một nước nghèo có chiến tranh nên không thể ngăn cấm được, nay trở thành là một vấn nạn đô thị mà chính quyền Hà Nội và các thành phố ở Miền Bắc Việt Nam đã phải tích cực đấu tranh để xóa bỏ. Tại Hà Nội, hiện tượng "chuồng cọp" cơi nới này diễn ra khá phổ biến tại một số khu tập thể: Trung Tự, Kim Liên, Thành Công, có nơi cơi nới đưa ra ngoài khung sườn tòa nhà đến 3m, điều đáng nói là những chung cư này cũng đang xuống cấp. == Ý kiến của cán bộ lãnh đạo == Ông Nguyễn Văn Bảo, Phó chủ tịch phường Giảng Võ cho biết:" việc các hộ dân tại các khu chung cư củ cải tạo diện tích bề mặt biến thành các "chuồng cọp" là mất mỹ quan. Tuy nhiên, đây là hệ lụy của việc buông lỏng quản lý hàng chục năm nên bây giờ rất khó khắc phục, tháo dỡ". Ông Nguyễn Thanh Hùng, đội trưởng đội tham mưu Phòng cháy chữa cháy Công an TP Hà Nội phát biểu: "việc tự ý xây dựng "chuồng cọp" của một số hộ dân không chỉ làm mất vẻ mỹ quan đô thị mà còn gây rất nhiều cản trở cho lực lượng cấp cứu khi có hỏa hoạn" . Ông Lê Đình Tri, Phó vụ trưởng Vụ Kiến trúc đô thị, Bộ Xây dựng: "lắp đặt "chuồng cọp" trên ban công sẽ gây nguy hiểm cho các hộ bên dưới, làm phá vỡ kiến trúc của tòa nhà, vi phạm quyền hưởng không gian đô thị của ngay chủ nhà và các hộ lân cận. Hơn nữa, tòa nhà bị sửa chữa, đeo thêm lồng sắt còn gây biến dạng kết cấu, ảnh hưởng chất lượng công trình". Để giải quyết tình trạng này, ông Tri cho rằng, chính quyền đô thị cần có biện pháp mạnh xử phạt những hộ dân lắp đặt "chuồng cọp" tại ban công theo quy định. == Xử lý == Ở Hà Nội, Ủy ban Nhân dân thành phố Hà Nội kiên quyết đầu năm 2008 : "yêu cầu các địa phương sẽ phải rà soát toàn bộ nhà "siêu mỏng, siêu méo" để xử lý. Các loại "chuồng cọp" của nhà chung cư, nhà cao tầng được cơi nới gây mất mỹ quan, không đảm bảo an toàn cũng sẽ bị phá dỡ". Quy định theo Điều 38, Nghị định 126 như sau: "Phạt từ 300.000 đồng đến 500.000 đồng đối với một trong những hành vi: đục phá, cải tạo, cơi nới dưới mọi hình thức; tháo dỡ hoặc làm thay đổi phần kết cấu chịu lực, hệ thống hạ tầng kỹ thuật, trang thiết bị sử dụng chung, kiến trúc bên ngoài của nhà chung cư. Ngoài các hình thức xử phạt, tổ chức, cá nhân vi phạm còn bị xử phạt bổ sung và bị áp dụng một hoặc nhiều biện pháp sau: Tịch thu tang vật, phương tiện được sử dụng để vi phạm hành chính đối với các vi phạm quy định tại khoản 2 Điều này; Buộc khôi phục lại tình trạng ban đầu đã bị thay đổi do vi phạm hành chính gây ra ". Tuy nhiên, cho đến cuối năm 2012, tình trạng này vẫn còn rất nhiều tại Hà Nội. == Chú thích == == Liên kết ngoài == Hãi hùng những 'cụ già chung cư' thích 'đeo ba lô'; Petrotimes, 6/9/2012 Chuồng cọp phá nát chung cư Những câu chuyện về nhà đeo "balô" Phá "chuồng cọp", cứu 5 người thoát khỏi đám cháy
f.txt
Về album nhạc, xem {Pha thăng F♯}; A♯ ∞ F, f (/ép/ hay /ép phờ/) là chữ thứ sáu trong phần nhiều chữ cái dựa trên Latinh nhưng không được sử dụng trong tiếng Việt vì Quốc Ngữ dùng chữ ghép "ph", tuy nhiên có một số người vẫn sử dụng chữ F để viết âm này. Người Etruscan là người phát minh ra chữ ghép này; chữ F một mình đọc như /w/ trong tiếng Etruscan cũng như tiếng Hy Lạp. Gốc của F là chữ wâw của tiếng Xê-mit, cũng đọc như /w/ và có lẽ có nghĩa đầu tiên là "cái móc, cái gậy". Trong bảng mã ASCII dùng ở máy tính, chữ F hoa có giá trị 70 và chữ f thường có giá trị 102. Trong âm nhạc, chữ F in hoa đồng nghĩa với nốt Fa. Chữ "f" viết thường trong âm nhạc hiện đạc là ký hiệu diễn tấu tốc độ riêng biệt của bản nhạc. Nghiên cứu đến hiện nay phân ra 3 dạng tốc độ la f;ff;fff. Trong hệ đo lường quốc tế: "F"là ký hiệu của farad. "f"được dùng cho tiền tố femtô – hay 10−15. Trong hoá học, F là ký hiệu cho chất flo. Trong hóa sinh học, F là ký hiệu cho phenylalanin. Trong vật lý học: F là hằng số Faraday. °F là ký hiệu cho nhiệt độ Fahrenheit. đôi khi f được sử dụng như tham số của tần số. Trong quang học, F thường được sử dụng như ký hiệu cho tiêu điểm của thấu kính còn f được sử dụng như tiêu cự của thấu kính đó. Trong nhiếp ảnh, f là tiêu cự và F là số F. Trong tin học, ngôn ngữ lập trình F là một bộ phận của Fortran 95, có mục đích sử dụng trong giáo dục và khoa học. Trong toán học: F được sử dụng trong các hệ đếm cơ số từ 16 trở lên để biểu diễn giá trị số 15. Xem thêm hệ thập lục phân. Chữ f nhỏ với móc (Unicode U+0192, ƒ), hay chữ f thường viết nghiêng, là ký hiệu toán học của hàm số. Trong các mệnh đề lôgic F là ký hiệu của sai. Trong tài chính-kinh tế: Chữ f nhỏ với móc (Unicode U+0192, ƒ) hay chữ f thường viết nghiêng, là ký hiệu tiền tệ của đồng florin Hà Lan (hiện nay không sử dụng). Trong in ấn, f. là viết tắt của folio (trang trong sách), mặc dù thông thường người ta dùng ff. nhiều hơn. Theo mã số xe quốc tế, F được dùng cho Pháp (France). F được gọi là Foxtrot trong bảng chữ cái âm học NATO. Trong bảng chữ cái Hy Lạp, F tương đương với Φ và f tương đương với φ. Trong bảng chữ cái Cyrill, F tương đương với Ф và f tương đương với ф. == Tham khảo ==
khủng hoảng tên lửa cuba.txt
Khủng hoảng tên lửa Cuba (tiếng Anh: Cuban Missile Crisis hay còn được biết với tên gọi Khủng hoảng tháng 10 tại Cuba) là một cuộc đối đầu giữa Liên Xô, Cuba với Hoa Kỳ vào tháng 10 năm 1962 trong thời Chiến tranh lạnh. Tháng 9 năm 1962, chính phủ Cuba và Liên Xô bắt đầu bí mật xây dựng các căn cứ trên đất Cuba để khai triển một số tên lửa đạn đạo hạt nhân tầm trung có khả năng đánh trúng đa số các mục tiêu trên Hoa Kỳ lục địa. Hành động này xảy ra sau sự kiện Hoa Kỳ triển khai tên lửa Thor IRBM trên đất Vương quốc Anh vào năm 1958 và tên lửa Jupiter IRBM trên đất Ý và Thổ Nhĩ Kỳ năm 1961; tổng cộng có hơn 100 tên lửa do Hoa Kỳ chế tạo có khả năng đánh trúng Matxcova bằng đầu đạn hạt nhân. Ngày 14 tháng 10 năm 1962, phi cơ do thám U-2 của Hoa Kỳ chụp được những bằng chứng không ảnh cho thấy các căn cứ tên lửa của Liên Xô đang được xây dựng tại Cuba. Cuộc khủng hoảng này có cấp bậc ngang tầm với cuộc phong tỏa Berlin vì đây là một trong các vụ đối đầu chính của Chiến tranh lạnh và thường được xem là khoảnh khắc mà Chiến tranh lạnh tiến gần nhất để biến thành một cuộc xung đột hạt nhân. Hoa Kỳ đã xem xét đến việc tấn công Cuba bằng không lực và hải lực và tiến hành "cách ly" Cuba bằng quân sự. Hoa Kỳ thông báo rằng họ sẽ không cho phép vũ khí tấn công được gởi đến Cuba và đòi hỏi rằng Liên Xô phải tháo bỏ các căn cứ tên lửa đang được xây hay đã xây dựng xong tại Cuba và dẹp bỏ hết tất cả các loại vũ khí tấn công. Chính phủ của Tổng thống Kennedy hy vọng mỏng manh rằng Điện Kremlin sẽ đồng ý với những đòi hỏi của họ và chờ đợi một cuộc đối đầu quân sự. Về phía Liên Xô, Nikita Khrushchev viết một lá thư gửi cho Kennedy trong đó nói rằng việc Kennedy ra lệnh phong tỏa "giao thông trong vùng biển và không phận quốc tế là một hành động gây hấn đưa con người vào vực thẳm của một cuộc chiến tranh bằng tên lửa hạt nhân toàn cầu." Fidel Castro khuyến khích Khrushchev mở một cuộc tấn công hạt nhân đánh trước phủ đầu chống Hoa Kỳ. Ngoài mặt, cả Xô Viết lẫn Hoa Kỳ đều tỏ ra không nhân nhượng trước những đòi hỏi công khai của nhau, nhưng tại các cuộc tiếp xúc bí mật sau hậu trường họ đưa ra một đề nghị giải quyết cuộc khủng hoảng. Cuộc khủng hoảng kết thúc vào ngày 28 tháng 10 năm 1962 khi Tổng thống John F. Kennedy và Tổng thư ký Liên Hiệp Quốc U Thant đạt đến một thỏa thuận với vị lãnh đạo Liên Xô Nikita Khrushchev trong việc Liên Xô tháo bỏ các vũ khí tấn công và đưa chúng trở về nước mình dưới giám sát kiểm tra của Liên Hiệp Quốc để đổi lấy việc Hoa Kỳ đồng ý sẽ không bao giờ xâm chiếm Cuba và thỏa thuận ngầm là sẽ rút các tên lửa Jupiter hạt nhân của Mỹ khỏi Thổ Nhĩ Kỳ, những tên lửa này được Mỹ lắp đặt vào năm 1961 tại Ý và Thổ Nhĩ Kỳ. Liên Xô tháo bỏ các hệ thống tên lửa và các trang bị hỗ trợ, đưa chúng xuống tám chiếc tàu Liên Xô từ ngày 5-9 tháng 11. Một tháng sau đó, ngày 5 và 6 tháng 12, các oanh tạc cơ Liên Xô Il-28 được đưa xuống ba chiếc tàu Liên Xô và đưa trở về Liên Xô. Cuộc phong tỏa chính thức kết thúc lúc 18h45 giờ miền Đông Hoa Kỳ ngày 20 tháng 11 năm 1962. Một phần trong thỏa thuận bí mật là tất cả các tên lửa đạn đạo PGM-17 Thor và PGM-19 Jupiter đã được khai triển ở châu Âu phải bị tháo dỡ trước tháng 9 năm 1963. Cuộc khủng hoảng tên lửa Cuba đã khai sinh ra thỏa hiệp đường dây nóng (hotline agreement) và đường dây nóng Moscow-Washington, một đường dây thông tin liên lạc trực tiếp giữa Matxcova và Washington, D.C. == Hành động trước đó của Hoa Kỳ == Người Mỹ lo sợ trước sự bành trướng của Liên Xô theo chủ nghĩa Stalin nhưng đối với một quốc gia châu Mỹ Latin công khai liên minh với Liên Xô được xem là không thể chấp nhận được đối với Mỹ khi Liên Xô và Mỹ trở thành kẻ thù từ khi kết thúc Chiến tranh thế giới thứ hai vào năm 1945. Một sự liên hệ như thế cũng sẽ thách thức trực tiếp đến Học thuyết Monroe, một chính sách của Hoa Kỳ với lập trường cho rằng các cường quốc châu Âu không được can thiệp vào các quốc gia nằm trong Tây Bán cầu. Hoa Kỳ bị mất mặt công khai sau vụ người Cuba lưu vong tiến hành xâm nhập Cuba thất bại vào tháng 4 năm 1961. Vụ xâm nhập của những người Cuba lưu vong này đã được Cục Tình báo Trung ương Hoa Kỳ dưới quyền của Tổng thống John F. Kennedy hỗ trợ. Sau vụ đó, cựu Tổng thống Eisenhower có bảo với Kennedy rằng "Sự thất bại của Sự kiện Vịnh Con Lợn sẽ khuyến khích người Xô Viết làm thêm cái gì đó mà chắc chắn họ sẽ không làm nếu như vụ đó không xảy ra." Cuộc xâm nhập Cuba chỉ được Hoa Kỳ hỗ trợ nữa chừng nên đã để cho nhà lãnh đạo Xô Viết, Nikita Khrushchev và các cố vấn của ông tin tưởng rằng Kennedy là người hay lưỡng lự như một cố vấn Xô Viết có viết rằng "quá trẻ, thông minh, chưa chuẩn bị tốt để tạo quyết định trong các tình huống khủng hoảng... quá thông minh và quá yếu đuối." Các hoạt động bí mật của Hoa Kỳ tiếp tục năm 1961 với Chiến dịch Mongoose không thành công. Tháng 2 năm 1962, Hoa Kỳ công khai mở cấm vận kinh tế chống Cuba. Hoa Kỳ lại xem xét đến hành động bí mật và bắt đầu cài các sĩ quan bán quân sự của CIA từ Phân bộ Hoạt động Đặc biệt vào Cuba. Tướng không quân Curtis LeMay đệ trình một kế hoạch ném bom trước khi xâm nhập lên cho Tổng thống Kennedy vào tháng 9 trong khi đó các chuyến bay gián điệp và sự gây hấn quân sự nhỏ của các lực lượng Hoa Kỳ trên Căn cứ Hải quân Vịnh Guantanamo là đề tài phản đối ngoại giao liên tục của Cuba chống chính phủ Hoa Kỳ. Đầu tháng 8 năm 1962, Hoa Kỳ nghi ngờ người Xô Viết đang xây dựng các cơ sở tên lửa tại Cuba. Trong suốt tháng đó, các cơ quan tình báo của họ thu thập thông tin về việc các nhân viên quan sát mặt đất phát hiện ra các chiến đấu cơ MiG-21 và các oanh tạc cơ hạng nhẹ Il-28 do Nga chế tạo. Các phi cơ do thám U-2 tìm thấy các nơi đặt tên lửa đất đối không S-75 Dvina (NATO đặt tên là SA-2) tại 8 vị trí khác nhau. Ngày 31 tháng 8, Thượng nghị sĩ Kenneth B. Keating, có lẽ nhận được thông tin từ những người Cuba lưu vong ở Florida, cảnh báo trong phòng họp Thượng viện Hoa Kỳ rằng Liên Xô có thể đang xây dựng một căn cứ tên lửa tại Cuba. Giám đốc CIA John A. McCone trở nên nghi ngờ hơn vì có nhiều báo cáo như thế. Ngày 10 tháng 8, ông viết một bản ghi nhớ gởi đến Tổng thống Kennedy trong đó ông đoán rằng người Xô Viết đang chuẩn bị đưa tên lửa đạn đạo vào Cuba. == Cán cân quyền lực == Khi John F. Kennedy tranh cử tổng thống vào năm 1960, một trong những vấn đề then chốt tranh cử của ông là khoảng cách về số lượng tên lửa được cho là thiên lệch theo hướng người Nga dẫn đầu. Trong thực tế thì Hoa Kỳ dẫn đầu Liên Xô. Năm 1961, Xô Viết chỉ có bốn tên lửa đạn đạo liên lục địa (ICBM). Đến tháng 10 năm 1962, họ có thể có chừng vài chục tên lửa như vậy mặc dù một số ước tính của giới tình báo cho rằng con số đó có thể lên đến 75. Về phía Hoa Kỳ, họ có đến 170 tên lửa đạn đạo liên lục địa và nhanh chóng chế tạo thêm. Hoa Kỳ cũng có 8 tàu ngầm tên lửa đạn đạo lớp George Washington và lớp Ethan Allen, mỗi chiếc có khả năng phóng 16 tên lửa Polaris có tầm xa 2.000 cây số (1.400 dặm Anh). Khrushchev vô tình làm gia tăng thêm nhận thức về sự cách biệt số tên lửa khi ông lớn tiếng khoe khoang rằng Liên Xô đang chế tạo tên lửa "giống như làm xúc xích" nhưng số lượng và khả năng của chúng thì còn xa mới là sự thật. Tuy nhiên, Liên Xô có một số lượng lớn tên lửa đạn đạo tầm trung, khoảng 700. Trong hồi ký của ông, xuất bản vào năm 1970, Khrushchev viết, "Ngoài việc bảo vệ Cuba, các tên lửa của chúng ta sẽ cân bằng cái mà phương Tây thích gọi là "cán cân quyền lực"" == Chiến lược của Khối phía Đông == Nhà lãnh đạo Xô Viết Nikita Khrushchev vào năm 1962 đã đưa ra ý tưởng đối phó lại sự dẫn đầu ngày càng gia tăng của Hoa Kỳ trong việc phát triển và triển khai các tên lửa chiến lược bằng cách đặt các tên lửa hạt nhân tầm trung của chính mình tại Cuba. Phản ứng của Khrushchev một phần là do việc Hoa Kỳ đặt các tên lửa đạn đạo tầm trung PGM-19 Jupiter trên lãnh thổ Thổ Nhĩ Kỳ vào tháng 4 năm 1962. Từ lúc mới bắt đầu, hoạt động của Xô Viết bao gồm hành động đánh lừa và chối cãi tinh vi, được biết tại Nga là Maskirovka. Tất cả các kế hoạch và chuẩn bị để chuyên chở và khai triển các tên lửa được tiến hành một cách tối mật, chỉ có một số rất ít người được thông báo về tính chất thật sự của sứ mệnh này. Thậm chí các binh sĩ được giao nhiệm vụ cũng bị đánh lạc hướng. Họ được cho biết rằng họ sẽ phải đi đến một vùng lạnh giá và được trang bị với các giày trượt tuyết, và các thứ trang bị mùa đông khác. Mật danh mà Xô Viết đặt, Chiến dịch Anadyr, cũng là tên của một con sông chảy vào trong Biển Bering và tên của thủ phủ vùng Chukotsky, một căn cứ oanh tạc cơ ở vùng viễn đông Nga. Tất cả những chi tiết này nhằm một mục đích là che giấu kế hoạch, không cho cả người trong và ngoài Xô Viết biết. Đầu năm 1962, một nhóm chuyên gia xây dựng hệ thống tên lửa và quân sự của Liên Xô tháp tùng một phái đoàn nông nghiệp đến thủ đô La Habana. Họ có cuộc họp với nhà lãnh đạo Cuba, Fidel Castro. Giới lãnh đạo Cuba tin tưởng mạnh mẽ rằng Hoa Kỳ sẽ xâm chiếm Cuba lần nữa nên họ hăng hái chấp thuận ý tưởng lắp đặt các tên lửa hạt nhân tại Cuba. Các chuyên gia xây dựng hệ thống tên lửa núp dưới bóng là "những người điều khiển máy móc cơ giới", "các chuyên gia thủy lợi" và "các chuyên gia nông nghiệp" bắt đầu đến Cuba vào tháng 7. Nguyên soái Sergei Biryuzov, tư lệnh các lực lượng tên lửa Xô Viết, dẫn một nhóm chuyên gia thị sát đến Cuba. Ông nói với Khrushchev rằng các tên lửa này sẽ được che đậy và ngụy trang bên những cây cọ. Giới lãnh đạo Cuba càng thêm tức giận khi Quốc hội Hoa Kỳ chấp thuận Giải pháp Quốc hội Hoa Kỳ số 230 vào tháng 9, cho phép sử dụng lực lượng quân sự tại Cuba nếu như lợi ích của Hoa Kỳ bị đe dọa. Cùng ngày hôm đó, Hoa Kỳ thông báo một cuộc tập trận quân sự trong vùng biển Caribe mang tên PHIBRIGLEX-62. Cuba lên án cuộc tập trận này như một sự cố ý khiêu khích và là bằng chứng cho thấy Hoa Kỳ có kế hoạch xâm chiếm Cuba. Khrushchev và Castro đồng ý đặt các tên lửa hạt nhân chiến lược bí mật trên lãnh thổ Cuba. Giống như Castro, Khrushchev cảm thấy rằng việc Hoa Kỳ xâm chiếm Cuba là hiển nhiên, và rằng việc mất Cuba sẽ rất tai hại đối với phe cộng sản, đặc biệt là tại châu Mỹ Latin. Ông nói rằng ông muốn đối đầu với người Mỹ "hơn là lời nói...sự đáp trả hợp lý là tên lửa." Người Xô Viết tiếp tục duy trì kế hoạch một cách bí mật, viết tay chi tiết kế hoạch của họ. Kế hoạch được Rodion Malinovsky chấp thuận ngày 4 tháng 7 và được Khrushchev chấp thuận ngày 7 tháng 7. Dựa vào nhận định của họ cho rằng Tổng thống Hoa Kỳ Kennedy là một người thiếu tự tin trong suốt Sự kiện Vịnh Con Lợn nên giới lãnh đạo Xô Viết tin rằng Kennedy sẽ tránh đối đầu với Liên Xô và chấp nhận các tên lửa này như là một "sự việc đã rồi". Ngày 11 tháng 9, Liên Xô công khai đưa ra cảnh cáo rằng một cuộc tấn công của Hoa Kỳ vào Cuba hay vào bất cứ tàu Xô Viết nào mang hàng tiếp tế đến hòn đảo này sẽ đồng nghĩa với chiến tranh. Người Xô Viết tiếp tục kế hoạch bí mật của mình và ngụy tạo hành động của họ tại Cuba. Họ liên tiếp chối cãi rằng vũ khí đang được đưa vào Cuba là loại vũ khí có bản chất tấn công. Ngày 7 tháng 9, Đại xứ Xô Viết Anatoly Dobrynin bảo đảm với Đại xứ Hoa Kỳ tại Liên Hiệp Quốc, Adlai Stevenson rằng Liên Xô chỉ đang cung cấp các loại vũ khí phòng thủ cho Cuba. Ngày 11 tháng 9, Hãng thông tấn Liên Xô TASS thông báo rằng Liên Xô không cần thiết hay có ý định đưa tên lửa hạt nhân tấn công vào Cuba. Ngày 13 tháng 10, Dobrynin bị cựu Thứ trưởng Ngoại giao Hoa Kỳ Chester Bowles chất vấn rằng có phải Liên Xô đang đưa vũ khí tấn công vào Cuba. Dobrynin chối cãi là không có bất cứ kế hoạch nào như thế. Và rồi ngày 17 tháng 10, một lần nữa nhân viên sứ quán Liên Xô Georgy Bolshakov mang một thông điệp cá nhân từ Khrushchev đến cho Tổng thống Kennedy. Bức thông điệp này bảo đảm với tổng thống Hoa Kỳ rằng "dưới bất cứ tình hình nào đi nữa thì cũng không có chuyện các tên lửa địa đối địa sẽ được đưa vào Cuba. Chuyến hàng đầu tiên có các tên lửa R-12 đến vào đêm 8 tháng 9, theo sau là chuyến hàng thứ hai vào ngày 16 tháng 9. Tên lửa R-12 là loại tên lửa đạn đạo tầm trung đầu tiên của Liên Xô có thể sử dụng được, loại đầu tiên được sản xuất hàng loạt, và là loại đầu tiên có trang bị 1 đầu đạn nhiệt hạch tâm do Liên Xô sản xuất. Đây là loại tên lửa nhiên liệu đẩy có thể cất giữ được trong kho, có thể di chuyển trên đường, được phóng đi từ mặt đất, có một tầng duy nhất và có khả năng mang vũ khí hạt nhân Liên Xô đang xây 9 vị trí - 6 cho các tên lửa tần trung R-12 (NATO đặt tên là SS-4 Sandal) có tầm hoạt động hữu hiệu là 2.000 km và 3 vị trí cho tên lửa đạn đạo R-14 (NATO đặt tên là SS-5 Skean) có tầm tối đa 4.500 km. === Lập trường của Cuba === Vào ngày thứ hai, 7 tháng 10, Chủ tịch Cuba, Osvaldo Dorticós nói trước Đại hội đồng Liên Hiệp Quốc như sau: "Nếu... chúng tôi bị tấn công, chúng tôi sẽ tự vệ. Tôi xin lặp lại, chúng tôi có đủ các phương tiện để tự vệ; chúng tôi thật sự có loại vũ khí thường thấy của chúng tôi, các loại vũ khí mà chúng tôi đã không muốn có và cũng như không muốn triển khai." == Tên lửa bị phát hiện == Các tên lửa này cho phép Liên Xô đặt gần như toàn bộ Hoa Kỳ lục địa vào trong tầm mục tiêu hữu hiệu của mình. Kho vũ khí được hoạt định gồm có 40 giàn phóng tên lửa. Dân chúng Cuba dễ dàng nhìn thấy các tên lửa này được đưa đến và khai triển. Có hàng trăm tin đồn lan truyền đến thành phố Miami của Hoa Kỳ. Giới tình báo Hoa Kỳ nhận được vô số báo cáo về các tên lửa này. Nhiều trong số đó rất là mù mờ và thậm chí là buồn cười. Đa số các báo cáo này bị bỏ qua vì được cho rằng đó chỉ là những tên lửa phòng thủ. Duy nhất có 5 báo cáo là làm phiền các nhà phân tích. Các báo cáo này diễn tả các xe tải to lớn chạy ngang qua các thị trấn của Cuba vào ban đêm mang theo các vật thể hình trụ rất dài và được che phủ với vải lều. Các xe tải này không thể rẽ trái phải dễ dàng trong thị trấn. Chúng phải lùi sang trái sang phải, chạy tới...mỗi khi phải rẽ trái hay phải. Các tên lửa phòng thủ có thể rẽ trái phải dễ dàng. Các báo cáo này không dễ dàng gì bị bỏ qua. === Các chuyến bay của phi cơ U-2 tìm thấy tên lửa === Mặc dù ngày càng có bằng chứng về một sự gia tăng hoạt động quân sự tại Cuba nhưng không có chuyến bay nào do thám U-2 nào được tiến hành trên bầu trời Cuba từ ngày 5 tháng 9 đến ngày 14 tháng 10. Vấn đề đầu tiên mà khiến cho Hoa Kỳ ngưng các chuyến bay do thám là sự việc xảy ra vào ngày 30 tháng 8 - một chuyến bay do thám U-2 thuộc Bộ tư lệnh Không quân Chiến lược Hoa Kỳ bay lạc vào trong không phận đảo Sakhalin trong vùng Viễn Đông Nga. Người Xô Viết đưa ra phản đối về sự kiện này và Hoa Kỳ buộc phải đưa ra lời xin lỗi. Chín ngày sau, một phi cơ U-2 của Đài Loan làm chủ bị mất tích trên không phận phía tây của Trung Quốc, có lẽ là bị trúng một tên lửa SAM. Giới chức Hoa Kỳ lo ngại rằng một trong các tên lửa SAM của Cuba hay Liên Xô có thể sẽ bắn hạ một phi cơ U-2 của CIA và sẽ tạo ra một sự kiện quốc tế khác. Cuối tháng 9, phi cơ thám thính của Hải quân Hoa Kỳ chụp được hình ảnh tàu Kasimov của Liên Xô và hai kiện hàng lớn trên sàn tàu có kích cỡ và hình thù của các oanh tạc cơ hạng nhẹ Il-28. Ngày 12 tháng 10, chính phủ Hoa Kỳ quyết định thuyên chuyển các sứ mệnh do thám bằng phi cơ U-2 sang cho Không quân Hoa Kỳ. Trong trường hợp, một phi cơ U-2 bị bắn rơi thì chính phủ nghĩ rằng chuyện chuyến bay của Không quân Hoa Kỳ sẽ dễ dàng giải thích hơn là các chuyến bay do CIA thực hiện. Cũng có thêm bằng chứng cho thấy Bộ Quốc phòng Hoa Kỳ và Không quân Hoa Kỳ vận động hành lang để được lãnh trách nhiệm thực hiện các chuyến bay do thám trên Cuba. Khi các sứ mệnh do thám được tái cho phép vào ngày 8 tháng 10 thì thời tiết đã không cho phép các chuyến bay thực hiện. Lần đầu tiên Hoa Kỳ có được bằng chứng hình ảnh về các tên lửa là vào ngày 14 tháng 10 khi phi cơ U-2, do thiếu tá Richard Heyser lái, chụp được 928 tấm hình. Những tấm hình này cho thấy hình ảnh của một vị trí xây dựng hệ thống tên lửa SS-4 ở San Cristóbal, tỉnh Pinar del Río, nằm ở phía tây Cuba. === Tổng thống Hoa Kỳ được thông báo === Thứ tư ngày 17 tháng 10, Trung tâm Tình báo Hình ảnh Quốc gia của CIA duyệt xem các tấm hình của U-2 và nhận dạng ra các vật thể mà họ cho rằng là những tên lửa đạn đạo tầm trung. Chiều hôm đó, CIA thông báo đến Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ và lúc 8:30pm giờ miền Đông Hoa Kỳ thì báo cáo đến Cố vấn An ninh Quốc gia Hoa Kỳ, McGeorge Bundy. Cố vấn An ninh Hoa Kỳ chọn giải pháp chờ đợi đến sáng mới thông báo cho tổng thống biết. Bộ trưởng Quốc phòng Hoa Kỳ Robert S. McNamara được báo cáo vắn tắc lúc nữa đêm. Lúc 8:30 a.m. giờ miền Đông Hoa Kỳ sáng thứ năm, Cố vấn An ninh Bundy họp với Tổng thống Kennedy và cho tổng thống xem các tấm hình và báo cáo ngắn ngủi với tổng thống về các phân tích hình ảnh của CIA. Lúc 6:30 p.m. giờ miền Đông Hoa Kỳ, Tổng thống Kennedy triệu tập một cuộc họp gồm 9 thành viên trong Hội đồng An ninh Quốc gia Hoa Kỳ cùng với 5 cố vấn then chốt khác trong một nhóm mà tổng thống chính thức đặt tên là Ủy ban Hành pháp Hội đồng An ninh Quốc gia sau ngày 22 tháng 10 bằng một "Bản ghi nhớ Hành động An ninh Quốc gia số 196". === Phản ứng được xem xét === Hoa Kỳ không có dự tính gì lúc đó vì giới tình báo Hoa Kỳ luôn tin tưởng rằng Liên Xô sẽ chẳng bao giờ lắp đặt các tên lửa hạt nhân tại Cuba. Ủy ban Hành pháp Hội đồng An ninh Quốc gia nhanh chóng thảo luận 5 phương sách khả dĩ: Không làm gì cả. Dùng áp lực ngoại giao để buộc Liên Xô tháo bỏ các tên lửa. Một cuộc không kích nhắm vào các tên lửa. Một cuộc xâm chiếm toàn diện bằng quân sự. Phong tỏa vùng biển Cuba. Được tái định nghĩa như một cuộc "cách ly" (ý nghĩa giống như cách ly bệnh nhân) có chọn lựa hơn. Bộ Tổng tham mưu Liên quân Hoa Kỳ nhất trí đồng ý rằng một cuộc tấn công xâm chiếm toàn diện là giải pháp duy nhất. Họ tin rằng Liên Xô sẽ không tìm cách ngăn chặn Hoa Kỳ chiếm Cuba. Tuy nhiên Tổng thống Kennedy ngờ vực chuyện này. Tổng thống Kennedy kết luận rằng sự việc Cuba sẽ ra hiệu cho Liên Xô tái khởi động "một ranh giới rõ ràng" để chiếm đóng Berlin. Kennedy cũng tin rằng các đồng minh của Hoa Kỳ sẽ nghĩ Hoa Kỳ như "những anh cao bồi hiếu chiến hung hăng" đã để mất Berlin vì không thể giải quyết tình hình Cuba một cách hòa bình. Ủy ban Hành pháp Hội đồng An ninh Quốc gia lại họp bàn về ảnh hưởng đối với cán cân quyền lực chiến lược, cả về mặt chính trị và quân sự. Bộ Tổng tham mưu Liên quân Hoa Kỳ tin rằng các tên lửa sẽ chuyển đổi cán cân quân sự trầm trọng, nhưng Bộ trưởng Quốc phòng Robert McNamara không đồng ý như vậy. Ông tin rằng các tên lửa này sẽ không có ảnh hưởng đến cán cân chiến lược gì cả. Thêm bốn mươi (tên lửa), ông lý luận rằng, sẽ làm thay đổi một ít khác biệt đối với toàn bộ cán cân chiến lược. Hoa Kỳ lúc đó đã có khoảng chừng 5.000 đầu đạn chiến lược, trong khi Liên Xô chỉ có khoảng 300. Ông kết luận rằng việc Liên Xô có 340 đầu đạn cũng sẽ không làm thay đổi gì nhiều đối với cán cân chiến lược. Năm 1990 ông lập lại rằng "điều đó không tạo ra gì khác biệt...Cán cân quân sự vẫn không thay đổi. Lúc đó tôi đã không tin về điều đó, và bây giờ tôi vẫn không tin điều đó." Tuy nhiên, Ủy ban Hành pháp Hội đồng An ninh Quốc gia đồng ý rằng các tên lửa sẽ ảnh hưởng đến cán cân chính trị. Thứ nhất, Tổng thống Kennedy đã hứa rõ ràng với dân chúng Mỹ non 1 tháng trước cuộc khủng hoảng rằng "nếu Cuba thủ đắc một khả năng tiến hành các hành động tấn công chống Hoa Kỳ...Hoa Kỳ sẽ hành động." Thứ hai, uy tín của Hoa Kỳ đối với các quốc gia đồng minh và đối với nhân dân Mỹ sẽ bị tổn thương nếu Hoa Kỳ cho phép Liên Xô lộ diện sửa đổi cán cân chiến thuật bằng cách đặt các tên lửa trên lãnh thổ Cuba. Tổng thống Kennedy giải thích sau cuộc khủng hoảng rằng "về mặt chính trị, nó đã làm thay đổi cán cân quyền lực. Nó có vẻ là như thế và cái vẽ này góp phần tạo ra thực tế." Thứ năm, ngày 18 tháng 10, Tổng thống Kennedy họp với Ngoại trưởng Liên Xô Andrei Gromyko, người tuyên bố rằng các vũ khí này chỉ là những vũ khí tự vệ. Không muốn làm lộ những gì ông biết, và không muốn gây hoang mang cho dân chúng Mỹ, tổng thống không tiết lộ rằng ông đã biết về việc Liên Xô cho xây dựng các hệ thống tên lửa tại Cuba. Thứ sáu, ngày 19 tháng 10, các chuyến bay thường xuyên của phi cơ do thám U-2 đã trưng bày ra bốn nơi có hoạt động xây dựng hệ thống tên lửa. Như một phần của cuộc phong tỏa Cuba, Quân đội Hoa Kỳ được đặt trong tình trạng cảnh báo cao độ để thi hành lệnh phong tỏa và sẵn sàng xâm chiếm Cuba khi có lệnh. Sư đoàn Cơ giới số 1 Hoa Kỳ được đưa đến tiểu bang Georgia, và năm sư đoàn lục quân được báo động chuẩn bị hành động. Bộ tư lệnh Không quân Chiến lược (SAC) gởi các oanh tạc cơ hạng trung B-47 Stratojet có tầm hoạt động ngắn hơn đến các phi trường dân sự và ra lệnh cho các oanh tạc cơ hạng nặng B-52 Stratofortress cất cánh chờ đợi ở lên cao. == Các kế hoạch hành quân == Hai kế hoạch hành quân đã được xem xét. Kế hoạch Hành quân số 316 có bối cảnh là một cuộc xâm chiếm Cuba toàn diện do các đơn vị Lục quân và Thủy quân lục chiến Hoa Kỳ thực hiện với sự hỗ trợ của Hải quân sau các vụ không kích của Không quân và Hải quân Hoa Kỳ. Tuy nhiên, các đơn vị lục quân tại Hoa Kỳ gặp phải vấn đề thiếu phương tiện tiếp vận và cơ giới trong khi đó Hải quân Hoa Kỳ không thể cung cấp đủ phương tiện tấn công đổ bộ để đưa một lực lượng tầm cỡ trung bình của Lục quân vào lãnh thổ Cuba. Kế hoạch Hành quân 312, chủ yếu là hoạt động của Không quân Hoa Kỳ và lực lượng hàng không mẫu hạm của Hải quân, được lập kế hoạch với đầy đủ tính năng linh hoạt để vô hiệu hóa từng giàn phóng tên lửa để cung cấp không yểm cho các lực lượng trên mặt đất của Kế hoạch Hành quân 316. == Cách ly == Tổng thống Kennedy họp với các thành viên trong Ủy ban Hành pháp Hội đồng An ninh Quốc gia Hoa Kỳ và các cố vấn cao cấp khác suốt ngày chủ nhật 21 tháng 10 để xem xét hai giải pháp được chọn lựa còn lại: một là không kích thẳng vào các căn cứ tên lửa tại Cuba hay phong tỏa bằng hải quân chống Cuba. Một cuộc xâm chiếm toàn diện không phải là giải pháp lựa chọn đầu tiên của chính phủ Hoa Kỳ, nhưng phải làm một cái gì đó. Bộ trưởng Quốc phòng Hoa Kỳ Robert McNamara ủng hộ cuộc phong tỏa bằng hải quân như là một hành động quân sự có giới hạn và mạnh mẽ chứng tỏ rằng Hoa Kỳ đang nắm quyền kiểm soát. Theo luật quốc tế, một cuộc phong tỏa là một hành động chiến tranh nhưng chính phủ Kennedy không nghĩ rằng Liên Xô sẽ bị khiêu khích để tấn công chỉ vì một cuộc phong tỏa. Đô đốc George Whelan Anderson, Jr., Tham mưu trưởng Hải quân Hoa Kỳ viết một bài lý luận giúp Tổng thống Kennedy phân biệt giữa một cuộc cách ly vũ khí tấn công và một cuộc phong tỏa tất cả mọi thứ hàng hóa. Đô đốc cho biết rằng một cuộc phong tỏa cổ điển không phải là chủ ý ban đầu. Vì nó xảy ra trong vùng biển quốc tế nên Tổng thống Kennedy xin sự chấp thuận của Tổ chức các Quốc gia châu Mỹ cho hành động quân sự theo các điều khoản phòng vệ bán cầu của Hiệp ước Rio. Ngày 19 tháng 10, Ủy ban Hành pháp Hội đồng An ninh Quốc gia Hoa Kỳ thành lập các nhóm hành động riêng biệt để xem xét các chọn lựa phong tỏa và không kích, và đến chiều hôm đó đa số ủng hộ Ủy ban Hành chính Hội đồng An ninh Quốc gia Hoa Kỳ chuyển sang lựa chọn phong tỏa. Lúc 3:00 p.m. (giờ miền Đông Hoa Kỳ) trưa thứ hai ngày 22 tháng 10, Tổng thống Kennedy chính thức thành lập Ủy ban Hành chính (EXCOMM) bằng Bản ghi nhớ Hành động An ninh Quốc gia số 196. Lúc 5:00 p.m., tổng thống họp với các nhà lãnh đạo Quốc hội Hoa Kỳ luôn lên tiếng chống đối một cuộc phong tỏa và đòi hỏi một biện pháp phản ứng mạnh mẽ hơn. Tại Moscow, Đại xứ Mỹ Kohler thông báo ngắn ngủi với Chủ tịch Liên Xô Khrushchev về vụ phong tỏa đang chờ lệnh và bài diễn văn của Tổng thống Kennedy gởi đến quốc dân Hoa Kỳ. Các đại xứ khắp thế giới chuyển thông báo đến các lãnh đạo ngoài Khối phía Đông. Trước khi đọc diễn văn, các phái đoàn của Mỹ họp với Thủ tướng Canada John Diefenbaker, Thủ tướng Anh Harold MacMillan, Thủ tướng Tây Đức Konrad Adenauer, và Tổng thống Pháp Charles de Gaulle để giải trình ngắn gũi với họ các tin tình báo của Hoa Kỳ và phản ứng đã được đề nghị. Tất cả đều ủng hộ lập trường của Hoa Kỳ. Chiều tối thứ hai ngày 22 tháng 10 lúc 7:00 p.m. giờ miền Đông Hoa Kỳ, Tổng thống Kennedy đọc diễn văn trên truyền hình được trình chiếu trên toàn quốc để thông báo việc khám phá ra các tên lửa tại Cuba. Tổng thống Kennedy diễn tả kế hoạch của chính phủ Hoa Kỳ như sau: Trong khi bài diễn văn được đọc thì một sắc lệnh được đưa đến các lực lượng Mỹ khắp thế giới, đặt họ dưới tình trạng báo động sẵn sàng chiến đấu cấp 3 trên biểu đồ báo động có mức độ tối đa là 5. === Khủng hoảng sâu === Ngày thứ ba 23 tháng 10 lúc 11:24 a.m. giờ miền Đông Hoa Kỳ, một bức điện tín được George Ball thảo, được gởi đến Đại sứ Hoa Kỳ tại Thổ Nhĩ Kỳ và Đại sứ Hoa Kỳ tại NATO thông báo với họ rằng chính phủ đang xem xét một lời đề nghị tháo bỏ cái mà Hoa Kỳ biết rõ là những tên lửa gần như phế thải khỏi Ý và Thổ Nhĩ Kỳ để đổi lại việc Liên Xô rút khỏi Cuba. Các giới chức Thổ Nhĩ Kỳ đáp rằng họ sẽ "bực bội sâu sắc" về bất cứ sự trao đổi nào đối với các tên lửa của Hoa Kỳ hiện diện trên lãnh thổ của họ. Hai ngày sau, vào buổi sáng thứ năm ngày 25 tháng 10, nhà báo Walter Lippman đề nghị tương tự trên trang xã luận của mình. Castro tái xác nhận quyền tự vệ của Cuba và nói rằng tất cả các vũ khí này là vũ khí tự vệ và sẽ không cho phép bất cứ một cuộc thanh tra nào. === Phản ứng của quốc tế === Bài diễn văn của Tổng thống Kennedy không mấy được người ta ưa thích tại Vương quốc Anh. Ngày hôm sau, báo chí Anh nhắc lại những hành động sai trái của CIA trước đây và ngờ vực rằng có sự hiện hữu các căn cứ của Liên Xô tại Cuba. Họ cho rằng hành động của Tổng thống Kennedy có thể là liên quan đến việc tái tranh cử của ông. Hai ngày sau khi Kennedy đọc bài diễn văn, tờ Nhân dân Nhật báo của Trung Quốc thông báo rằng "650.000.000 người Trung Hoa, nam và nữ sát cánh cùng nhân dân Cuba". Tại Tây Đức, báo chí ủng hộ phản ứng của Hoa Kỳ. Đây là phản ứng trái ngược của báo chí Tây Đức đối với những hành động quỳ gối yếu đuối của Mỹ trong vùng suốt những tháng trước đó. Họ cũng tỏ rõ một nỗi lo sợ rằng Liên Xô có thể sẽ trả đũa tại Berlin. Tại Pháp vào ngày 23 tháng 10, cuộc khủng hoảng đã chiếm trọn trang đầu của tất cả các nhật báo. Ngày hôm sau, một bài xã luật đăng trên tờ Le Monde tỏ vẻ nghi ngờ về sự xác thực của những bằng chứng ảnh của CIA. Hai ngày sau đó, sau một chuyến viếng thăm của một viên chức cao cấp của CIA, họ mới chấp nhận tính xác thực của những tấm hình. Cũng tại Pháp, số báo ra ngày 29 tháng 10 của tờ Le Figaro, Raymond Aron viết bài ủng hộ phản ứng của Hoa Kỳ. === Truyền thông Xô Viết === Vào lúc cuộc khủng hoảng tiếp diễn không ngừng, và vào đêm thứ tư ngày 24 tháng 10, thông tấn xã Liên Xô (TASS) phát đi bức điện tín của nhà lãnh đạo Liên Xô Khrushchev gởi Tổng thống Hoa Kỳ Kennedy, trong đó ông Khrushchev cảnh báo rằng "hành động ăn cướp" của Hoa Kỳ sẽ dẫn đến chiến tranh. Tuy nhiên vào lúc 9:24 p.m., theo sau bức điện tín vừa kể là một bức điện tín khác cũng từ ông Khrushchev gởi đến ông Kennedy mà được nhận vào lúc 10:52 p.m. giờ miền Đông Hoa Kỳ trong đó Khrushchev nói rằng "Nếu ông bình tĩnh định lượng tình hình đang tiến triển và không phó thác cho cảm xúc thì ông sẽ hiểu rằng Liên Xô sẽ không thể không bác bỏ những yêu sách độc đoán của Hoa Kỳ." và rằng Liên Xô xem cuộc phong tỏa như là một hành động gây hấn và tàu thuyền sẽ được chỉ thị làm ngơ cuộc phong tỏa này. === Hoa Kỳ nâng mức báo động === Liên Hiệp Quốc kêu cầu một cuộc họp khẩn cấp Hội đồng Bảo an Liên Hiệp Quốc vào ngày thứ năm 25 tháng 10. Bằng giọng nói lớn tiếng đòi hỏi, Đại sứ Hoa Kỳ tại Liên Hiệp Quốc, Adlai Stevenson, chất vấn Đại sứ Liên Xô Valerian Zorin trong cuộc họp khẩn và yêu cầu ông thừa nhận về sự tồn tại của những tên lửa tại Cuba. Đại xứ Liên Xô Zorin từ chối trả lời. Ngày hôm sau lúc 10:00 p.m. giờ miền Đông Hoa Kỳ, Hoa Kỳ nâng mức báo động sẵn sàng chiến đấu của các lực lượng thuộc Bộ tư lệnh Không quân Chiến lược Hoa Kỳ lên cấp 2 trên 5. Đây là lần duy nhất được xác nhận trong Lịch sử Hoa Kỳ, các oanh tạc cơ B-52 được phân tán đến nhiều vị trí khác nhau và sẵn sàng cất cánh với đầy đủ trang bị trong vòng 15 phút khi được lệnh. Một phần tám trong số 1.436 oanh tạc cơ của Bộ tư lệnh Không quân Chiến lược Hoa Kỳ được cảnh báo trên không trung. Khoảng 145 tên lửa đạn đạo liên lục địa được cảnh báo sẵn sàng trong khi đó Bộ tư lệnh Phòng không Hoa Kỳ (ADC) tái triển khai 161 phi cơ đánh chặn mang vũ khí hạt nhân đến 16 phi trường khắp nơi trong vòng 9 giờ. Một phần ba trong số phi cơ đánh chặn được đặt trong tình trạng sẵn sàng chiến đấu trong vòng 15 phút. "Đến ngày 22 tháng 10, Bộ tư lệnh Không quân Chiến thuật (TAC) có 511 khu trục cơ cộng các phi cơ tiếp liệu và phi cơ thám thính hỗ trợ được khai triển để đối phó với Cuba, được đặt trong tình trạng báo động trong vòng 1 giờ đồng hồ. Tuy nhiên, Bộ tư lệnh Không quân Chiến thuật và Cục Vận tải Không quân Hoa Kỳ gặp nhiều vấn đề. Việc tập trung các phi cơ quân sự tại Florida đã làm căng giản các đơn vị hỗ trợ và bộ tư lệnh; chúng ta đối mặt với sự thiếu nhân sự về thông tin liên lạc, trang bị vũ khí và an ninh; sự thiếu ủy quyền ban đầu cho phép tích trữ đạn dược thông thường dành cho chiến tranh đã buộc Bộ tư lệnh Không quân Chiến thuật phải cầu khẩn van xin; và việc thiếu các phương tiện không vận để hỗ trợ một cuộc thả trang bị lớn từ trên không xuống mà rất cần thiết để tổng động viên 24 phi đoàn trừ bị." Sáng thứ năm ngày 25 tháng 10 lúc 1:45 a.m. giờ miền Đông Hoa Kỳ, Tổng thống Kennedy trả lời điện tín của nhà lãnh đạo Liên Xô Khrushchev rằng Hoa Kỳ buộc phải hành động sau khi nhận liên tiếp những lời bảo đảm rằng không có tên lửa tấn công đang được khai triển tại Cuba, và rằng khi những lời bảo đảm này được chứng minh là sai sự thật thì việc khai triển "cần phải có những sự đáp trả mà tôi đã thông báo trước đây... Tôi hy vọng chính phủ của ông sẽ có hành động cần thiết để làm cho tình hình trở về trạng thái ban đầu." === Cách ly bị thách thức === Sáng thứ năm lúc 7:15 a.m. giờ miền Đông Hoa Kỳ, hàng không mẫu hạm chống tàu ngầm USS Essex và khu trục hạm USS Gearing tìm cách đón đầu chiếc Bucharest nhưng thất bại. Đơn giản là vì chiếc tàu không có chứa bất cứ vật liệu quân sự nào nên nó được cho qua khu vực bị phong tỏa. Chiều hôm đó lúc 5:43 p.m., tư lệnh đặc trách nỗ lực phong tỏa ra lệnh cho khu trục hạm USS Kennedy đón chặn và đưa người lên tàu hàng Marucla của Li Băng. Sự việc xảy ra vào ngày hôm sau, và chiếc Marucla được cho phép đi qua khu vực phong tỏa sau khi hàng hóa được kiểm tra. Lúc 5:00 p.m. giờ miền Đông Hoa Kỳ tối thứ năm, William Clements thông báo rằng các tên lửa tại Cuba vẫn còn đang được tiến hành triển khai. Báo cáo này sau đó được CIA kiểm chứng cho thấy không có dấu hiệu chậm tiến độ khai triển nào cả. Để đáp lại, Tổng thống Kennedy ra Bản ghi nhớ Hành động An ninh số 199, cho phép gắn các vũ khí hạt nhân vào các phi cơ theo sự chỉ đạo của SACEUR (đây là bộ phận có nhiệm vụ tiến hành các cuộc không kích trước tiên vào Liên Xô). Suốt ngày hôm đó, Liên Xô đáp ứng lại việc phong tỏa bằng cách ra lệnh quay đầu 14 tàu của họ được tin là có chở các vũ khí tấn công. === Khủng hoảng rơi vào bế tắc === Sáng thứ sáu hôm sau ngày 26 tháng 10, Tổng thống Kennedy thông báo với Ủy ban Hành pháp Hội đồng An ninh Quốc gia Hoa Kỳ rằng ông tin rằng chỉ có một cuộc xâm chiếm mới có thể tháo bỏ các tên lửa khỏi Cuba. Tuy nhiên, ông được thuyết phục chờ đợi thêm thời gian và tiếp tục bằng cả áp lực ngoại giao và quân sự. Ông đồng ý và ra lệnh thực hiện các chuyến bay ở độ thấp trên Cuba tăng từ 2 chuyến mỗi ngày lên đến một chuyến trong mỗi hai tiếng đồng hồ. Ông cũng ra lệnh một chương trình khởi sự để xây dựng một chính phủ dân sự mới tại Cuba nếu như một cuộc xâm chiếm được xúc tiến. Vào thời điểm này, bề ngoài có vẻ cuộc khủng hoảng đang bị bế tắc. Liên Xô không có dấu hiệu gì cho thấy rằng họ sẽ lùi bước mà còn phát biểu nhiều lần theo hướng đối ngược. Hoa Kỳ không có lý do gì tin tưởng có sự nhường bước của Liên Xô và chuẩn bị trong giai đoạn đầu cho một cuộc xâm chiếm song song với một cuộc tấn công bằng hạt nhân vào Liên Xô trong trường hợp Liên Xô phản ứng bằng quân sự mà được tin là sẽ xảy ra. == Các cuộc thảo luận bí mật == Lúc 1:00 p.m., giờ miền Đông Hoa Kỳ, thứ sáu ngày 26 tháng 10, thông tín viên tin tức John A. Scali của đài truyền hình ABC dùng cơm trưa với Aleksandr Fomin (là bí danh của Alexander Feklisov, một trưởng toán KGB tại Washington D.C.) theo lời mời của Fomin. Fomin nhận định "Chiến tranh dường như sắp bùng nổ" và yêu cầu thông tín viên Scali dùng mối liên hệ quen biết để nói chuyện với "những người bạn cao cấp" của ông ở Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ để xem Hoa Kỳ có thích thú đến giải pháp ngoại giao hay không. Formin đề nghị ngôn từ giao dịch sẽ gồm có một sự bảo đảm của Liên Xô về việc tháo bỏ các vũ khí dưới sự giám sát của Liên Hiệp Quốc và rằng Fidel Castro sẽ công bố rằng ông sẽ không chấp thuận những loại vũ khí như thế trong tương lai, tất cả để đánh đổi lời tuyên bố công khai của Hoa Kỳ rằng Hoa Kỳ sẽ không bao giờ xâm chiếm Cuba. Hoa Kỳ phản ứng bằng cách yêu cầu chính phủ Brasil chuyển thông điệp đến Castro rằng Hoa Kỳ sẽ "không thể nào xâm chiếm" Cuba nếu các tên lửa được dẹp bỏ. Chiều thứ sáu ngày 26 tháng 10 lúc 6:00 p.m. giờ miền Đông Hoa Kỳ, Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ bắt đầu nhận được một thông điệp có lẽ là được chính nhà lãnh đạo Liên Xô Khrushchev viết. Lúc đó là 2:00 a.m. ngày thứ bảy ở Moscow. Lá thư dài này phải mất vài phút mới đến được và phải mất thêm một khoản thời gian để phiên dịch và ghi chép lại. Robert Kennedy diễn tả bức thư này là "rất dài và đầy cảm xúc". Nhà lãnh đạo Liên Xô Khrushchev nhắc lại các ý cơ bản mà đã được đề cập với thông tín viên John Scali trước đó trong ngày là "Tôi đề nghị: Về phần chúng tôi, chúng tôi sẽ tuyên bố các tàu của chúng tôi đang hướng về Cuba không có mang bất cứ loại vũ khí nào. Ngài sẽ tuyên bố rằng Hoa Kỳ sẽ không xâm chiếm Cuba bằng lực lượng của mình và sẽ không hỗ trợ bất cứ lực lượng nào khác mà có ý định xâm nhập Cuba. Khi đó sự hiện diện cần thiết của các chuyên viên quân sự của chúng tôi tại Cuba sẽ biến mất". Lúc 6:45 p.m. giờ miền Đông Hoa Kỳ, tin tức về lời đề nghị của Fomin với thông tín viên Scali cuối cùng được loan báo và được người ta diễn giải đó như là một sự chuẩn bị để lá thư của nhà lãnh đạo Liên Xô Khrushchev gởi đến. Lúc đó lá thư được xem là chính thức và xác thực mặc dù sau này người ta biết được rằng Fomin dường như đưa ra lời đề nghị riêng của mình mà không có sự hậu thuẫn chính thức nào. Lệnh nghiên cứu thêm về lá thư được đưa ra và sự việc này tiếp tục cho đến tối. === Cuộc khủng hoảng tiếp diễn === Về phần Fidel Castro, ông tin rằng một cuộc xâm chiếm đang sắp diễn ra không lâu, và ông thảo một lá thư gởi đến nhà lãnh đạo Liên Xô, Khrushchev trong đó Fidel Castro có lẽ yêu cầu Liên Xô tiến hành một cuộc đánh phủ đầu chống Hoa Kỳ. Ông cũng ra lệnh tất cả các loại vũ khí phòng không bắn vào bất cứ phi cơ nào của Hoa Kỳ, mà trước đây chỉ được lệnh bắn vào những nhóm từ hai hay nhiều phi cơ. Lúc 6:00 a.m. giờ miền Đông Hoa Kỳ, thứ bảy ngày 27 tháng 10, CIA gởi một bản ghi nhớ báo cáo rằng ba trong số bốn địa điểm tên lửa tại San Cristobal và hai tại Sagua la Grande có vẻ là đã được đưa vào hoạt động hoàn toàn. Lúc 9:00 a.m. giờ miền Đông Hoa Kỳ, sáng thứ bảy ngày 27 tháng 10, Đài phái thanh Moscow bắt đầu truyền đi một thông điệp của nhà lãnh đạo Liên Xô, Khrushchev. Trái ngược với lá thư của đêm trước, thông điệp này đề nghị một cuộc trao đổi mới mẻ rằng các tên lửa tại Cuba sẽ được tháo bỏ để đổi lấy việc Hoa Kỳ tháo bỏ các tên lửa Jupiter khỏi Ý và Thổ Nhĩ Kỳ. Lúc 10:00 a.m. giờ miền Đông Hoa Kỳ, ủy ban hành pháp họp để thảo luận tình hình và đi đến kết luận rằng sự thay đổi trong thông điệp có lẽ là do tranh cãi nội bộ giữa nhà lãnh đạo Khrushchev và các viên chức khác trong đảng tại Điện Kremlin. Bộ trưởng Quốc phòng Hoa Kỳ, McNamara, ghi nhận rằng một chiếc tàu khác là Grozny đang ở cách xa khoảng 600 dặm Anh (970 km) và nó phải bị chặn lại. Ông cũng ghi nhận rằng Hoa Kỳ chưa cho Liên Xô biết về vòng vây phong tỏa và vì thế ông đề nghị chuyển thông tin này cho Liên Xô qua Tổng thư ký Liên Hiệp Quốc U Thant. Trong lúc cuộc họp tiếp diễn, lúc 11:03 a.m. giờ miền Đông Hoa Kỳ, một thông điệp mới từ nhà lãnh đạo Khrushchev bắt đầu được gởi đến. Một phần thông điệp nói như sau, Ủy ban Hành pháp Hội đồng An ninh Quốc gia Hoa Kỳ tiếp tục họp hết ngày hôm đó. Suốt cuộc khủng hoảng, Thổ Nhĩ Kỳ liên tiếp nói rằng họ sẽ cảm thấy bực tức nếu như các tên lửa Jupiter bị tháo bỏ. Thủ tướng Ý Fanfani, đồng thời cũng là Ngoại trưởng Ý tạm thời, ra lệnh cho phép rút bỏ các tên lửa đang khai triển tại Apulia như một con bài mặt cả. Ông gởi thông điệp đến một trong những người bạn đáng tin cẩn nhất của ông là Ettore Bernabei, tổng giám đốc đài truyền hình RAI-TV, để chuyển lời đến Arthur M. Schlesinger, Jr.. Ettore Bernabei lúc đó đang ở New York tham dự hội nghị quốc tế về truyền hình vệ tinh. Người Xô Viết không biết chuyện Hoa Kỳ xem các tên lửa Jupiter đã lỗi thời và đang được các tên lửa đạn đạo hạt nhân Polaris đặt trên tàu ngầm thay thế. Sáng ngày 27 tháng 10, chiếc phi cơ do thám U-2F (chiếc U-2A thứ ba của CIA, được cải tiến cho tiếp nhiên liệu trên không) do thiếu tá Không quân Hoa Kỳ, Rudolf Anderson lái, cất cánh từ vị trí hoạt động tiền phương của nó ở McCoy AFB, tiểu bang Florida, và vào khoảng 12:00 p.m. giờ miền Đông Hoa Kỳ, chiếc phi cơ này bị một tên lửa đất đối không S-75 Dvina (NATO đặt tên cho loại tên lửa này là SA-2 Guideline) từ Cuba bắn trúng. Chiếc phi cơ rơi và thiếu tá Anderson thiệt mạng. Căng thẳng tại các cuộc thảo luận giữa Liên Xô và Hoa Kỳ lên cao, và chỉ thời gian lâu sau đó người ta mới biết rằng quyết định khai hỏa các tên lửa được thực hiện bởi một vị tư lệnh Xô Viết tại Cuba hành động theo thẩm quyền riêng của chính mình. Cuối ngày hôm đó, vào khoảng 3:41 p.m. giờ miền Đông Hoa Kỳ, một số phi cơ RF-8A Crusader của Hải quân Hoa Kỳ thực hiện những chuyến bay thật thấp để chụp hình do thám bị bắn. Một chiếc bị một đạn pháo 37 mm bắn trúng nhưng vẫn bay trở về căn cứ an toàn. Lúc 4:00 p.m. giờ miền Đông Hoa Kỳ, Tổng thống Kennedy triệu tập những thành viên trong Ủy ban Hành pháp Hội đồng An ninh Quốc gia Hoa Kỳ vào Nhà Trắng và ra lệnh rằng một thông điệp phải được gởi ngay lập tức đến Tổng thư ký Liên Hiệp Quốc U Thant, yêu cầu Liên Xô "đình chỉ" triển khai các tên lửa trong khi các cuộc thảo luận đang tiến hành. Trong cuộc họp, Tổng tham mưu trưởng Liên quân Hoa Kỳ Maxwell Taylor đưa tin rằng chiếc phi cơ U-2 đã bị bắn rơi. Tổng thống Kennedy đã tuyên bố trước đây rằng ông sẽ ra lệnh tấn công vào những vị trí như thế nếu phi cơ Hoa Kỳ bị bắn từ những nơi đó nhưng ông quyết định không hành động trừ khi một vụ tấn công khác được thực hiện. Trong một cuộc phỏng vấn 40 năm sau đó, cựu Bộ trưởng Quốc phòng McNamara nói: === Thảo thư trả lời === Các phái viên của cả Tổng thống Kennedy và nhà lãnh đạo Nikita Khrushchev đồng ý họp tại nhà hàng Trung Hoa Yenching Palace nằm trong khu cư dân Công viên Cleveland thuộc thủ đô Washington D.C. vào buổi chiều thứ bảy ngày 27 tháng 10. Tổng thống Kennedy đề nghị rằng họ nên lấy lời đề nghị của nhà lãnh đạo Khrushchev để trao đổi loại bỏ các tên lửa. Đa số các thành viên của Ủy ban Hành pháp Hội đồng An ninh Quốc gia Hoa Kỳ không biết gì về việc Bộ trưởng Tư pháp Robert Kennedy đã có cuộc họp với Đại xứ Liên Xô tại thủ đô Washington nhằm mục đích khám phá xem có phải những chủ ý thương lượng của Liên Xô là xác thực hay không. Về tổng thể, Ủy ban Hành pháp chống đối lời đề nghị vì nó sẽ làm suy giảm quyền lực của NATO và chính phủ Thổ Nhĩ Kỳ liên tục nói rằng họ chống đối bất cứ một vụ trao đổi nào như thế. Khi cuộc họp tiếp diễn, một kế hoạch mới lộ diện và Tổng thống Kennedy từ từ bị thuyết phục. Kế hoạch mới yêu gọi tổng thống làm ngơ thông điệp mới nhất và thay vào đó xem xét lại lời đề nghị trước đó của nhà lãnh đạo Khrushchev. Ban đầu Tổng thống Kennedy do dự vì cảm thấy rằng nhà lãnh đạo Khrushchev sẽ không chấp nhận cuộc mặc cả đó nữa vì lời đề nghị mới đã được đưa ra nhưng Đại sứ Hoa Kỳ tại Liên Xô, Llewellyn Thompson cho rằng dù thế nào đi nữa thì ông có lẽ sẽ chấp nhận kế hoạch mới này. Cố vấn kiêm luật sư đặc biệt Nhà Trắng Ted Sorensen và Robert Kennedy rời phòng họp và quay trở lại 45 phút sau đó với 1 lá thư thảo theo quyết định mới này. Tổng thống Hoa Kỳ sửa đổi chút ít, nhờ người đánh máy và gởi nó đi. Sau cuộc họp của Ủy ban Hành pháp, một cuộc họp nhỏ hơn tiếp tục tại Văn phòng Bầu dục. Nhóm thành viên cuộc họp cho rằng lá thư nên được nhấn mạnh bằng một thông điệp miệng gởi đến Đại xứ Liên Xô Dobrynin, nói rằng nếu các tên lửa không bị tháo bỏ thì hành động quân sự sẽ được dùng đến để loại bỏ chúng. Bộ trưởng Ngoại giao Dean Rusk thêm vào một điều nữa là không có ngôn từ nào trong cuộc mặc cả sẽ nhắc đến Thổ Nhĩ Kỳ mà chỉ nên hiểu rằng các tên lửa sẽ được tháo bỏ "một cách tự nguyện" ngay khi kết cục. Tổng thống Hoa Kỳ đồng ý, và thông điệp được gởi đi. Theo yêu cầu của Juan Brito, Fomin và Scali lại gặp nhau. Scali hỏi tại sao có đến hai lá thư của nhà lãnh đạo Khrushchev gởi đến có nội dung rất khác nhau và Fomin tuyên bố rằng vì có "sự trục trặc về thông tin liên lạc". Scali đáp lại rằng lời tuyên bố này không đáng tin tưởng và lớn tiếng nói rằng ông nghĩ đây là một "vụ dối trá hai mang xấu xa". Ông tiếp tục bằng một tuyên bố rằng cuộc xâm chiến Cuba chỉ còn cách xa vài tiếng đồng hồ. Vào thời điểm này Fomin phát biểu rằng thư phúc đáp đối với thông điệp của Hoa Kỳ từ nhà lãnh đạo Liên Xô, Khrushchev sẽ sớm được gởi đến, và ông hối thúc Scali báo cho Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ rằng Liên Xô không có cố tình dối trá. Scali nói rằng ông không nghĩ là có người còn muốn tin tưởng Fomin nữa nhưng ông đồng ý chuyển đạt thông điệp này. Ngay lập tức Scali đánh máy một bản ghi nhớ gởi cho Ủy ban Hành pháp Hội đồng An ninh Quốc gia Hoa Kỳ. Bên trong nội bộ chính phủ Hoa Kỳ, họ hiểu rõ rằng việc làm ngơ lời đề nghị thứ hai và quay trở lại bàn về lời đề nghị thứ nhất đã khiến cho nhà lãnh đạo Liên Xô gặp vấn đề rắc rối. Những sự chuẩn bị về mặc quân sự tiếp diễn, và tất cả các nhân sự Không quân hiện dịch của Hoa Kỳ được lệnh có mặt tại căn cứ của họ để chờ đợi lệnh hành động. Bộ trưởng Tư pháp Hoa Kỳ Robert Kennedy sau đó có nhắc lại tâm trạng vào lúc đó "Chúng tôi đã không bỏ qua tất cả hy vọng nhưng những gì hy vọng lại tùy thuộc vào sự thay đổi lập trường của Khrushchev trong khoảng thời gian vài tiếng đồng hồ kế tiếp. Đấy là một hy vọng, chớ không phải là một sự mong đợi. Sự mong đợi là một cuộc đối đầu quân sự vào ngày thứ ba, và có thể là vào ngày mai..." Lúc 8:05 p.m. giờ miền Đông Hoa Kỳ, lá thư được thảo hồi sáng sớm được gởi đi. Thông điệp viết như sau "Khi ngài đọc lá thư gởi cho ngài, các điều then chốt trong lời đề nghị của ngài—mà dường như về tổng quan có thể chấp nhận được theo như tôi hiểu — là như sau: 1) Ngài sẽ đồng ý tháo bỏ những hệ thống vũ khí này khỏi Cuba dưới sự giám sát thích hợp của Liên Hiệp Quốc; và đảm trách với mức an toàn thích đáng trong việc ngừng đưa thêm những hệ thống vũ khí như thế vào Cuba. 2) Về phần chúng tôi, chúng tôi sẽ - ngay sau khi có dàn xếp đầy đủ qua Liên Hiệp Quốc, đồng ý bảo đảm tiến hành và tiếp tục những điều ràng buộc như sau (a) lập tức bãi bỏ các biện pháp cách ly mà hiện nay đang được áp dụng (b) đưa ra lời bảo đảm không xâm chiếm Cuba". Lá thư cũng được công bố trực tiếp đến báo chí để bảo đảm rằng nó không bị "trì hoãn". Với việc bức này được gởi đi, một sự mặc cả đang nằm trên bàn thương thuyết. Tuy nhiên, như Robert Kennedy ghi nhận, có rất ít trông mong là nó sẽ được chấp nhận. Lúc 9:00 p.m. giờ miền Đông Hoa Kỳ, Ủy ban Hành pháp lại họp bàn để xem xét các hành động cho ngày hôm sau. Các kế hoạch đã được phác thảo cho các cuộc không kích nhắm vào các địa điểm có tên lửa cũng như các mục tiêu kinh tế khác, đặc biệt là kho chứa dầu lửa. Bộ trưởng Quốc phòng McNamara cho biết rằng họ phải "chuẩn bị hai chuyện: một chính phủ mới cho Cuba vì chúng tôi sẽ cần có một chính phủ; và thứ hai là những kế hoạch đáp trả lại Liên Xô tại châu Âu vì chắc chắn rằng Liên Xô sẽ làm cái gì đó ở đó". Lúc 12:12 a.m. giờ miền Đông Hoa Kỳ, thứ bảy ngày 27 tháng 10, Hoa Kỳ thông báo với các đồng minh NATO của mình rằng "tình hình càng trở nên ngắn ngủi hơn... Hoa Kỳ có thể thấy cần thiết trong một khoảng thời gian ngắn vì lợi ích của mình và lợi ích của các quốc gia bạn trong Tây Bán cầu để tiến hành bất cứ hành động quân sự nào có thể được xem là cần thiết". Mối quan tâm thêm gia tăng khi vào lúc 6 a.m., CIA báo cáo rằng tất cả các tên lửa tại Cuba đã sẵn sàng hoạt động. Sau đó trong ngày, cái mà Nhà Trắng sau này gọi tên "Ngày thứ bảy đen", Hải quân Hoa Kỳ thả một loạt nhiều "bom chống tàu ngầm loại diễn tập" (khổ nhỏ cỡ bằng lựu đạn) trên một chiếc tàu ngầm Liên Xô (B-59) ở khu vực phong tỏa mà không biết rằng chiếc tàu ngầm này có trang bị thủy lôi mang đầu đạn hạt nhân và được lệnh sử dụng vũ khí này nếu chiếc tàu ngầm bị "đánh thủng" vì bom chống tàu ngầm hay đạn pháo trên mặt nước. Cùng ngày, một chiếc phi cơ do thám U-2 bay lạc vào lãnh thổ duyên hải viễn đông của Liên Xô trong vòng 90 phút. Liên Xô đưa ngay các chiến đấu cơ MIG từ Đảo Wrangel lên đón chặn và để đối phó, Hoa Kỳ ra lệnh cho các chiến đấu cơ F-102 có trang bị tên lửa hạt nhân không đối không cất cánh trên Biển Bering. == Khủng hoảng kết thúc == Sau nhiều bàn cãi giữa Liên Xô và Nội các của Tổng thống Kennedy, Tổng thống Kennedy bí mật đồng ý loại bỏ tất cả các tên lửa đặt tại Ý và Thổ Nhĩ Kỳ (các tên lửa tại Thổ Nhĩ Kỳ nằm trên biên giới với Liên Xô) để đổi lại việc nhà lãnh đạo Liên Xô, Khrushchev, tháo bỏ tất cả các tên lửa tại Cuba. Lúc 9:00 a.m. giờ miền Đông Hoa Kỳ, thứ hai ngày 29 tháng 10, một thông điệp mới của nhà lãnh đạo Khrushchev được phát trên Đài phát thanh Moscow. Nhà lãnh đạo Khrushchev phát biểu rằng "chính phủ Liên Xô, ngoài những chỉ thị được đưa ra trước đây về việc ngưng tiến hành xây dựng các vị trí dành cho vũ khi, đã đưa ra một lệnh mới là tháo bỏ các vũ khí mà ngài cho là "vũ khí tấn công" cùng với thùng chứa chúng và đưa chúng trở về Liên Xô." Ngay lập tức Tổng thống Kennedy đáp lại bằng một lời tuyên bố, gọi lá thư của nhà lãnh đạo Liên Xô là "một sự đóng góp có tính xây dựng và quan trọng đối với hòa bình". Ông tiếp tục bằng một lá thư chính thức: "Tôi xem lá thư của tôi gởi cho ngài vào ngày 27 tháng 10 và việc ngài phúc đáp hôm nay như là những cam kết chắc chắn từ cả hai phía chính phủ của chúng ta mà hiện đang được tiến hành một cách nhanh chóng... Hoa Kỳ sẽ đưa ra một tuyên bố trong khuôn khổ của Hội đồng Bảo an liên quan đến vấn đề Cuba như sau: nó sẽ tuyên bố rằng Hoa Kỳ sẽ tôn trọng sự vẹn toàn lãnh thổ, chủ quyền của Cuba, rằng Hoa Kỳ sẽ cam kết không can thiệp vào công việc nội bộ, không xâm nhập và không cho phép sử dụng lãnh thổ của mình làm nơi xuất phát tiến hành xâm chiếm Cuba, và sẽ ngăn chặn những ai có kế hoạch tiến hành một cuộc xâm chiếm chống Cuba, cả từ lãnh thổ Hoa Kỳ hay từ lãnh thổ của các quốc gia lân bang khác của Cuba." Hoa Kỳ tiếp vẫn tục công việc cách ly phong tỏa Cuba. Trong những ngày tiếp theo sau đó, các chuyến bay do thám đã cho thấy rằng Liên Xô đang dần có tiến triển trong việc tháo bỏ các hệ thống tên lửa. 42 tên lửa và trang bị hỗ trợ của chúng được đưa lên 8 chiếc tàu Liên Xô. Những chiếc tàu này rời Cuba từ 5-9 tháng 11. Hoa Kỳ tiến hành quan sát kiểm chứng lần cuối cùng khi mỗi chiếc tàu đi qua vùng cách ly. Có thêm nhiều nỗ lực ngoại giao khác được thực hiện để yêu cầu Liên Xô đưa các oanh tạc cơ Liên Xô IL-28 về nước. Sau cùng các phi cơ này cũng được đưa lên 3 tàu Liên Xô vào ngày 5 và 6 tháng 12. Cuộc cách ly chính thức kết thúc trước đó vào lúc 6:45 p.m. giờ miền Đông Hoa Kỳ ngày 20 tháng 11 năm 1962. Trong các cuộc thảo luận với Đại xứ Liên Xô, Anatoly Dobrynin, Bộ trưởng Tư pháp Hoa Kỳ, Robert Kennedy, đã đề nghị không chính thức rằng các tên lửa Jupiter tại Thổ Nhĩ Kỳ sẽ được tháo bỏ "trong một khoảng thời gian ngắn sau khi cuộc khủng hoảng chấm dứt". Các tên lửa cuối cùng của Hoa Kỳ được tháo dở vào ngày 24 tháng 4 năm 1963 và được đưa ra khỏi Thổ Nhĩ Kỳ ngay sau đó. Kết quả thực tế của Hiệp ước Kennedy-Khrushchev là nó đã hữu hiệu làm vững mạnh vị thế của Fidel Castro tại Cuba, bảo đảm rằng Hoa Kỳ sẽ không xâm chiếm Cuba. Rất có thể là nhà lãnh đạo Liên Xô, Khrushchev, chỉ đặt tên lửa tại Cuba để bắt buộc Tổng thống Kennedy tháo bỏ các tên lửa khỏi Ý và Thổ Nhĩ Kỳ. Tuy nhiên, sự kiện các tên lửa Jupiter bị tháo bỏ khỏi các căn cứ NATO ở miền nam nước Ý và Thổ Nhĩ Kỳ không được công bố chính thức vào lúc đó nên có vẻ là nhà lãnh đạo Liên Xô, Khrushchev, đã thua trong cuộc xung đột này và trở nên yếu thế. Bề ngoài thì Tổng thống Kennedy đã thắng cuộc tranh đua giữa hai siêu cường và nhà lãnh đạo Liên Xô, Khrushchev, bị mất mặt. Tuy nhiên, đây không phải là toàn bộ tình thế vì cả Tổng thống Kennedy và nhà lãnh đạo Liên Xô, Khrushchev, đã tiến hành từng bước một để tránh một cuộc xung đột toàn diện mặc dù cả hai đều bị áp lực từ chính phủ của họ. Nhà lãnh đạo Liên Xô, Khrushchev, nắm quyền lãnh đạo Liên Xô thêm hai năm nữa. === Kết cục === Thỏa hiệp đạt được là một sự sượng sùng rất lớn đối với nhà lãnh đạo Liên Xô, Khrushchev, và Liên Xô vì sự kiện Hoa Kỳ tháo bỏ các tên lửa khỏi Ý và Thổ Nhĩ Kỳ đã không được công bố chính thức vào lúc đó - đây là một cuộc mặc cả bí mật giữa Tổng thống Hoa Kỳ và nhà lãnh đạo Liên Xô. Liên Xô được xem là kẻ tháo lui tránh những cảnh ngộ mà tự họ đã khởi sự — mặc dù nếu họ diễn hay thì rất có thể họ đạt được một kết quả ngược lại. Nhà lãnh đạo Liên Xô bị mất quyền lực hai năm sau đó, rất có thể một phần có liên quan đến sự sượng sùng của Bộ chính trị Liên Xô đối với những nhân nhượng sau cùng mà Khrushchev dành cho Hoa Kỳ cũng như việc tính toán sai của ông khi hấp tấp tạo ra cuộc khủng hoảng. Tuy nhiên, Khủng hoảng tên lửa Cuba không phải là lý do duy nhất khiến ông bị mất quyền lực. Cuba một phần cảm thấy bị Liên Xô phản bội vì các quyết định giải quyết cuộc khủng hoảng đều do Tổng thống Kennedy và nhà lãnh đạo Khrushchev tiến hành. Đặc biệt Fidel Castro rất tức giận khi những vấn đề lợi ích của Cuba, thí dụ như tình trạng vịnh Guantanamo (Hoa Kỳ vẫn duy trì một căn cứ quân sự tại đó cho đến ngày nay) đã không được nói đến. Điều này dẫn đến mối quan hệ giữa Cuba và Liên Xô xuống thấp trong những năm sau đó. Tuy nhiên, theo thỏa hiệp Cuba được bảo đảm không bị xâm chiếm. Một vị tư lệnh quân sự của Hoa Kỳ không hài lòng với kết quả này. Tướng LeMay nói với Tổng thống rằng đây là "thất bại to lớn nhất trong lịch sử của chúng ta" và rằng đáng lẽ ra Hoa Kỳ nên xâm chiếm Cuba ngay lập tức. Khủng hoảng tên lửa Cuba đã khiến hai siêu cường ký thỏa hiệp đường dây nóng. Qua thỏa hiệp này, đường dây nóng Moscow-Washington được thiết lập, nối thông tin liên lạc trực tiếp giữa Moskva và Washington, D.C. Mục đích của nó là có một cách để hai nhà lãnh đạo hai quốc gia đối nghịch nhau trong Chiến tranh lạnh có thể liên lạc trực tiếp với nhau để giải quyết một cuộc khủng hoảng như thế. Xác của thiếu tá Anderson, phi công U-2 bị bắn rơi, được hồi hương về Hoa Kỳ. Ông được chôn cất với đầy đủ nghi thức vinh dự quân đội tại Nam Carolina. Ông là người đầu tiên nhận huân chương mới được lập, đó là Huân chương "Air Force Cross" sau khi mất. Mặc dù thiếu tá Rudolf Anderson là người duy nhất tử trận trong cuộc khủng hoảng này nhưng có đến 11 thành viên của 3 chiếc phi cơ thám thính Boeing RB-47 Stratojet thuộc Phi đoàn Thám thính Chiến lược số 55 bị thiệt mạng trong những vụ rớt phi cơ trong thời gian từ 27 tháng 9 đến 11 tháng 11 năm 1962. Những người chỉ trích Hoa Kỳ trong đó có Seymour Melman và Seymour Hersh cho rằng Khủng hoảng tên lửa Cuba đã khuyến khích Hoa Kỳ sử dụng các phương tiện quân sự, thí dụ như trong Chiến tranh Việt Nam. Cuộc đối đầu Nga-Mỹ đồng bộ cùng lúc với Chiến tranh Trung-Ấn, kể từ lúc Quân đội Hoa Kỳ tách ly quân sự chống Cuba; nhiều sử gia cho rằng việc Trung Quốc tấn công đánh Ấn Độ vì những vùng đất tranh chấp xảy ra vào cùng lúc với khủng hoảng tên lửa Cuba. === Lịch sử hậu-khủng hoảng === Arthur Schlesinger, một sử gia kiêm cố vấn cho Tổng thống John F. Kennedy, nói với đài phát thanh National Public Radio trong một cuộc phỏng vấn ngày 16 tháng 10 năm 2002 rằng Fidel Castro trước đó đã không muốn các tên lửa đó nhưng chính nhà lãnh đạo Khrushchev đã gây áp lực với Fidel Castro chấp nhận chúng. Chủ tịch Castro không hoàn toàn hài lòng với ý tưởng này nhưng Ban lãnh đạo Cách mạng Quốc gia Cuba đã nhận chúng để bảo vệ Cuba chống cuộc tấn công của Hoa Kỳ và cũng để giúp đồng minh Liên Xô của họ. Schlesinger tin rằng khi các tên lửa này bị tháo bỏ thì Fidel Castro tức giận với Khrushchev hơn là tức giận với Kennedy vì Khrushchev đã không hội kiến với Castro trước khi quyết định tháo bỏ chúng. Đầu năm 1992, theo xác nhận thì vào lúc cuộc khủng hoảng bùng phát, các lực lượng Liên Xô tại Cuba có nhận các đầu đạn hạt nhân chiến thuật cho các tên lửa và các oanh tạc cơ Il-28 của họ. Fidel Castro nói rằng ông sẽ đề nghị sử dụng chúng vào lúc đó nếu như Hoa Kỳ xâm chiếm Cuba mặt dù ông biết rằng Cuba sẽ bị san bằng. Có thể nói rằng khoảnh khắc nguy hiểm nhất của cuộc khủng hoảng này chỉ được biết đến trong "Hội thảo Havana về Khủng hoảng tên lửa Cuba" vào tháng 10 năm 2002. Tham dự hội thảo này có các cựu giới chức của cuộc khủng hoảng. Tất cả những người này đều được cho biết rằng vào ngày 26 tháng 10 năm 1962 Chiến hạm USS Beale phát giác và thả những quả bom loại diễn tập chống tàu ngầm (khổ cỡ bằng lựu đạn) trên chiếc tàu ngầm B-59, một tàu ngầm thuộc Dự án 641 của Liên Xô (NATO đặt tên nó là Foxtrot), có trang bị một thủy lôi hạt nhân 15 kiloton nhưng Hoa Kỳ không hề hay biết. Vì cạn không khí và bị bao vây bởi các chiến hạm Mỹ nên nó buộc phải nổi lên mặt nước. Một cuộc tranh cãi xảy ra giữa ba vị sĩ quan trên chiếc tàu ngầm B-59 trong đó có thuyền trưởng tàu ngầm Valentin Savitsky, sĩ quan chính trị Ivan Semonovich Maslennikov, và phó thuyền trưởng Vasiliy Arkhipov. Vì mệt nhọc, thuyền trưởng Savitsky trở nên giận dữ và ra lệnh cho quả thủy lôi hạt nhân trên tàu được triển khai sẵn sàng khai hỏa. Có nhiều lời kể khác nhau về việc liệu có phải do phó thuyền trưởng Arkhipov đã thuyết phục được thuyền trưởng Savitsky không tấn công bằng quả thủy lôi hạt nhân hay liệu có phải chính Savitsky sau cùng đã đi đến quyết định rằng chỉ có cách chọn lựa duy nhất mở ngỏ cho ông là cho chiếc tàu ngầm nổi lên mặt nước. Trong buổi hội thảo, cựu Bộ trưởng Quốc phòng Robert McNamara nói rằng chiến tranh hạt nhân đã đến gần hơn là mọi người nghĩ. Thomas Blanton, giám đốc Cục lưu trữ Tài liệu An ninh Quốc gia nói, "Một gã tên là Vasili Arkhipov đã cứu thế giới." Cuộc khủng hoảng là đề tài chính yếu trong bộ phim tài liệu năm 2003 có tựa đề The Fog of War, nhận được một giải Oscar dành cho phim tài liệu. == Xem thêm == Cục Tình báo Trung ương Khủng hoảng quốc tế Chiến tranh lạnh Quan hệ Cuba – Hoa Kỳ Quan hệ Cuba - Liên Xô Stanislav Petrov Chiến tranh Trung-Ấn === Truyền thông === The Missiles of October, a dramatization Thirteen Days (sách) Thirteen Days (phim) The Fog of War, a phim biography of U.S. Secretary of Defense Robert S. McNamara. Cuban Missile Crisis: The Aftermath, a videogame set in this period The World Next Door, a novel set in this period "Unarmed Conflict", Bertrand Russell, Ruskin House- George Allen & Unwin Ltd, London, 1963 == Ghi chú == == Tham khảo == == Đọc thêm == Allison, Graham; Zelikow, P. (1999). Essence of Decision: Explaining the Cuban Missile Crisis. New York: Longman. Blight, James G.; David A. Welch. (1989). On the Brink: Americans and Soviets Reexamine the Cuban Missile Crisis. New York: Hill and Wang. Chayes, Abram. (1974). The Cuban Missile Crisis, International Crisis and the Role of Law . Oxford University Press. Diez Acosta, Tomás, tháng 10 năm 1962: The 'Missile' Crisis As Seen From Cuba (2002). New York: Pathfinder Press. Divine, Robert A. The Cuban Missile Crisis; New York: M. Wiener Pub.,1988. Dobbs, Michael. (2008). One Minute to Midnight: Kennedy, Khrushchev, and Castro on the Brink of Nuclear War. New York: Alfred A. Knopf. ISBN 978-1-4000-4358-3. Faria, Miguel (2002). Cuba in Revolution—Escape from a Lost Paradise. Macon, Georgia: Hacienda Publishing. ISBN 0-9641077-3-2. Feklisov, Alexander and Sergei Kostin. (2005). The Man Behind the Rosenbergs. Enigma Books. ISBN 978-1-929631-24-7. Frankel, Max (2005). High Noon in the Cold War. Presidio Press (reprint). ISBN 0-345-46671-3. Fursenko, Aleksandr; Naftali, Timothy (1998). One Hell of a Gamble - Khrushchev, Castro and Kennedy 1958-1964. New York: W.W. Norton. Fursenko, Aleksandr (22–23 October). Night Session of the Presidium of the Central Committee (PDF) 59 (Summer 2006). Naval War College Review. George, Alice L. (2006). Awaiting Armageddon: How Americans Faced the Cuban Missile Crisis. University of North Carolina Press. ISBN 0807828289. Gonzalez, Servando. The Nuclear Deception: Nikita Khrushchev and the Cuban Missile Crisis. IntelliBooks year=2002. ISBN 0-971-1391-5-6. Kennedy, Robert F. Thirteen Days: A Memoir of the Cuban Missile Crisis. ISBN 0-393-31834-6. Khrushchev, Sergei (tháng 10 năm 2002). How my father and President Kennedy saved the world. American Heritage magazine. May, Ernest R. (editor); Zelikow, Philip D. (editor) (1997). The Kennedy Tapes: Inside the White House during the Cuban Missile Crisis. Belknap Press. ISBN 0-674-17926-9. Polmar, Norman; Gresham, John D. (foreword by Clancy, Tom) (2006). DEFCON – 2: Standing on the Brink of Nuclear War During the Cuban Missile Crisis. Wiley. ISBN 0-471-67022-7. Pope, Ronald R. (1982). Soviet Views on the Cuban Missile Crisis: Myth and Reality in Foreign Policy Analysis. University Press of America. Pressman, Jeremy. “September Statements, October Missiles, November Elections: Domestic Politics, Foreign-Policy Making, and the Cuban Missile Crisis”. Security Studies 10 (3): 80–114. Stern, Sheldon M. (2003). Averting the Final Failure: John F. Kennedy and the Secret Cuban Missile Crisis Meetings. Stanford University Press. ISBN 0-804-74846-2. Trahair, Richard C.S.; Robert Miller (2009). Encyclopedia of Cold War Espionage, Spies, and Secret Operations. Enigma Books. ISBN 978-1-929631-75-9. Stern, Sheldon M. (2005). The Week The World Stood Still: Inside The Secret Cuban Missile Crisis (Stanford Nuclear Age Series). Stanford University Press. ISBN 0804750777. The Cuban Missile Crisis: Declassified (Television Program). == Liên kết ngoài == The CWIHP at the Wilson Center for International Scholars Document Collection on the Cuban Missile Crisis New Photos (2009) of the Missile Sites of the Cuban Missile Crisis IV. Chronology of Submarine. Contact During the Cuban Missile Crisis. 1 tháng 10 năm 1962 - 14 tháng 11 năm 1962. Prepared by Jeremy Robinson-Leon and William Burr. CIA Documents on the Cuban Missile Crisis, 1962(.pdf, 354 pgs.) U.S. Central Intelligence Agency, McAuliffe, M. ed., CIA History Staff, 1992. Cuban Missile Crisis and Aftermath, 1961 - 1963, Volume XI of the Kennedy Administration in the Foreign Relations of the United States series, U.S. Department of State, Office of the Historian, Keefer, E., Sampson, C., & Smith, L., Eds., U.S. Government Printing Office, Washington, D.C., 1996. The official U.S. documentary historical record. Declassified Documents, etc. - Provided by the National Security Archive at The George Washington University. Declassified "Memorandum for the Secretary of Defense" on "Justification for U.S. Military Intervention in Cuba," from the Joint Chiefs of Staff, Washington, D.C., 13 tháng 3 năm 1962, html text from Cryptome from National Security Archive, at The George Washington University. Transcripts and Audio of EXCOMM meetings - From the Miller Center's Presidential Recordings Program, University of Virginia. The Cuban Missile Crisis, October 18-29, 1962 Includes RealPlayer streaming audio of debates between JFK and his advisors during the crisis President Kennedy's Address to the Nation on the Soviet Arms Buildup in Cuba The World On the Brink: John F. Kennedy and the Cuban Missile Crisis 14 Days in October: The Cuban Missile Crisis High-school level curriculum Nuclear Files.org Introduction, timeline and articles about the Cuban Missile Crisis Cuba Havana Documentary Documentary about what Cubans are thinking today Annotated bibliography on the Cuban Missile Crisis from the Alsos Digital Library. October, 1962: DEFCON 4, DEFCON 3 Spartacus Educational(UK): Cuban Missile Crisis Latin American Task Force What the President didn't know Document-Britain's Cuban The Cuban Missile War: an alternate history timeline No Time to Talk: The Cuban Missile Crisis The 32nd Guards Air Fighter Regiment in Cuba (1962-1963) S.Isaev.
hoàng sơn.txt
Hoàng Sơn (chữ Hán: 黄山; bính âm: Huáng Shān; nghĩa núi màu vàng) là một dãy núi ở phía nam tỉnh An Huy, đông Trung Quốc. Khu vực này nổi tiếng vì có cảnh quan đẹp, nằm bên các vách đá, đỉnh núi đá granite có hình dạng khác thường, trong khu rừng thông Hoàng Sơn cảnh trí thay đổi theo mùa và phủ đầy mây. Khu vực này cũng có các suối nước nóng và các vực nước tự nhiên. Hoàng Sơn luôn là chủ đề cho tranh thủy mặc và văn học Trung Quốc. Hoàng Sơn là di sản thế giới được UNESCO công nhận và là một trong những tuyến điểm du lịch hấp dẫn nhất Trung Quốc. Dãy Hoàng Sơn có nhiều đỉnh, trong đó có 77 đỉnh cao quá 1000 m. Ba đỉnh cao nhất của Hoàng Sơn là Đỉnh Liên Hoa (1.864 m, 30°07′B 118°10′Đ), bên cạnh Đỉnh Quang Minh (1.840 m) and Đỉnh Thiên Đô (1.829 m). Di sản thế giới có diện tích 154 km2 và một vùng đệm 142 km2. Dãy núi Hoàng Sơn được kiến tạo từ thời Trung sinh, khoảng 100 triệu năm trước, khi đó biển rút đi do một sự nâng lên. Sau đó, vào phân đại Đệ Tứ, phong cảnh được tạo lập do ảnh hưởng của các sông băng (băng hà). Trong nhiều trường hợpp, các rừng cột đá được tạo lập. Từ thời nhà Tần, Hoàng Sơn đã được biết đến với tên gọi Y Sơn (黟山), khu vực này có tên gọi ngày nay bắt đầu từ năm 747, khi nhà thơ Lý Bạch nhắc đến trong các bài thơ của ông. Thảm thực vật trong khu vực này ở mỗi độ cao lại khác nhau: dưới 1.100 m là rừng ẩm; rừng sớm rụng lá nằm từ độ cao 1.100 m đến 1.800 m; trên đó là các cánh rừng thông. Thực vật tại đây khá đa dạng, trong đó một phần ba các họ rêu và hơn một nửa các họ dương xỉ của Trung Quốc có mặt tại đây. Do các đỉnh núi thường được phủ mây nên người ta có thể quan sát chúng từ phía trên và thấy các hiệu ứng ánh sáng đặc biệt. Vân Hải (chữ Hán: 雲海, bính âm: Yun Hai) và Phật Quang (佛光, Fo Guang) là các hiện tượng đặc biệt thu hút rất nhiều khách du lịch. Tính trung bình thì hiện tượng Phật quang chỉ xuất hiện đôi lần một tháng. Các suối nước nóng trong khu vực này nằm tại chân đỉnh Mây Tím. Nước suối duy trì ở nhiệt độ khoảng 45 °C quanh năm. Hầu hết các hồ tự nhiên nằm tập trung ở Songgu Area. Một số hồ nổi tiếng như Lão Long, Thanh Long, Ô Long, Bạch Long, và Jadeite Pond. Trà Mao Phong là một loại trà xanh của Hoàng Sơn là một trong "thập đại danh trà" nổi tiếng khắp Trung Quốc, được đặt tên là Mao Phong vì đầu lá có lông tơ. Hoàng Sơn là di sản thiên nhiên thế giới từ năm 1990 do có vẻ đẹp thiên nhiên khác thường và là nơi sinh sống của nhiều loài quý hiếm bị đe dọa. == Xem thêm == Hoành thôn Tây Đệ == Một vài hình ảnh == == Tham khảo == == Liên kết ngoài == Travel spots and tips in Anhui and other provinces Photos of mystical animal-like rock formations in Huang Shan Nice photo of Huang Shan 100+ ảnh về Hoàng Sơn Unesco Site Listing 黄山 (Huang Shan, in Chinese) Site Information from China Travel Service Huangshan Tourist Map
câu lạc bộ bóng đá shb đà nẵng.txt
Câu lạc bộ bóng đá SHB Đà Nẵng là một câu lạc bộ bóng đá giàu truyền thống Việt Nam có trụ sở tại thành phố Đà Nẵng, Việt Nam. Câu lạc bộ hiện được coi là có truyền thống nhất của bóng đá Việt Nam (sau khi Thể Công và Cảng Sài Gòn giải thể) với 3 lần vô địch Giải bóng đá vô địch quốc gia và 2 lần vô địch Cúp Quốc gia cùng với nhiều lần giành được ngôi vị á quân ở Giải vô địch quốc gia.Ở các giải đấu tầm châu lục,Đà Nẵng đã từng vào đến bán kết cup C2 năm 1992 trước khi bị loại bởi đội bóng Nissan FC đến từ Nhật Bản và đến năm 2010 đội bóng đá tiến đến tứ kết AFC CUP trước khi bị loại bởi đội bóng đến từ Trung Đông Al-Riffa. == Lịch sử == Câu lạc bộ bóng đá Đà Nẵng tiền thân là đội bóng đá Công nhân Quảng Nam-Đà Nẵng rồi đội bóng đá Quảng Nam-Đà Nẵng. Vào cuối thập niên 1980 đầu thập niên 1990 Quảng Nam-Đà Nẵng là một câu lạc bộ mạnh, đỉnh cao là chức vô địch quốc gia năm 1992, cùng 3 lần giành ngôi á quân (1987, 1990, 1991). Sau đó bóng đá Đà Nẵng chia tay một loạt cầu thủ và bắt đầu thoái trào. Năm 1997, đội hợp nhất với đội Cấp nước Đà Nẵng lấy tên gọi chung là Đà Nẵng. Đến năm 2001, Đà Nẵng đạt Á Quân Hạng Nhất 2000-01 và thăng hạng chuyên nghiệp cho đến nay. Đến trước mùa giải V-League 2008, CLB bóng đá Đà Nẵng đổi tên thành SHB Đà Nẵng sau khi Sở thể dục thể thao TP Đà Nẵng chuyển giao đội bóng cho Ngân hàng SHB. Một năm sau, trước khi V-League 2009 khởi tranh vài ngày, câu lạc bộ chính thức chuyển đổi mô hình hoạt động sang thành Công ty Cổ phần Thể thao. Công ty Cổ phần Thể thao SHB Đà Nẵng chính thức ra mắt vào ngày mùng 2 tháng 2 năm 2009. Với mức đầu tư trên 55 tỉ đồng, mùa giải V-league 2009 là mùa giải thành công với câu lạc bộ SHB Đà Nẵng khi họ giành được cú đúp Vô địch quốc gia V-League 2009 và Cúp Quốc gia 2009. Tại V-League 2009, bằng lối đá tấn công đa dạng và những pha bật tường nhuần nhuyễn một chạm rồi đưa lên trung lộ hoặc ra biên, SHB Đà Nẵng đã chinh phục khán giả trên cả nước và xứng đáng lên ngôi vô địch. SHB Đà Nẵng liên tục dẫn đầu giải từ vòng 6 và vô địch trước 3 vòng (lượt 23 gặp Nam Định) mặc dù tiền đạo vua phá lưới V-league 2 mùa trước-Almeida gặp chấn thương từ giai đoạn đầu của lượt về. Tại Cúp Quốc gia 2009,SHB Đà Nẵng dễ dàng giành chiến thắng trước Thể Công bằng bàn thắng duy nhất của vua phá lưới V-League 2009 Gastón Merlo. Hội Cổ Động viên của SHB Đà Nẵng cũng giành giải Hội cổ động viên xuất sắc nhất năm 2009,2012. Tại vòng đấu cuối cùng V-League 2012, với kết quả Sài Gòn Xuân Thành và Hà Nội T&T cầm chân nhau với tỷ số hòa không bàn thắng sau 90 phút nghẹt thở trong trận cầu mang tính "chung kết" trên sân Thống Nhất đã tạo cơ hội cho SHB Đà Nẵng lặng lẽ vươn lên trở thành nhà vô địch của V-League 2012 nhờ thắng lợi 3-1 trong chuyến đến làm khách tại Ninh Bình. Mùa giải V-League 2015, là một trong những mùa giải tệ hại nhất của thầy trò HLV Lê Huỳnh Đức khi họ chỉ có thể xếp vị trí thứ 9 chung cuộc, xếp ngay sau người anh em QNK Quảng Nam trên bảng xếp hạng. Ngoài ra, tất cả các tuyến trẻ của CLB đều thất bại và không đạt thành tích nào. Trước đó, sau 5 vòng đầu tiên không giành được chiến thắng, đã có những hoài nghi đặt lên chiếc ghế của HLV trưởng Lê Huỳnh Đức. Cũng tại mùa giải này, CLB đã chịu một tổn thất vô cùng lớn khi nguyên Chủ tịch danh dự CLB Nguyễn Bá Thanh qua đời vào ngày 13/2/2015. Để tưởng niệm ông, toàn đội đã mang băng tang ở trận đấu trên sân khách gặp CLB Đồng Tâm Long An. Còn về nguyên do thất bại, BLĐ đội bóng thừa nhận là do sự chuẩn bị, đầu tư của đội bóng thiếu chu đáo, công tác chọn lựa ngoại binh kém, cũng như thiếu sự quan tâm sâu sát ở các tuyến trẻ khi quyết định bỏ 2 lứa U-11 và U-13 vì lý do kinh phí. Vào mùa giải V-League 2016, rút ra những bài học kinh nghiệm từ mùa giải trước, lãnh đạo CLB và BHL đã quyết tâm thay máu lực lượng khi đưa về những cái tên có chất lương trên thị trường chuyển nhượng như Thanh Hải (từ Long An), cựu đội trưởng Hoàng Anh Gia Lai Lê Hoàng Thiên hay cựu tuyển thủ Olympic Lâm Anh Quang (từ CLB Nam Định). Ngay sau khi kết thúc mùa giải 2015, SHB Đà Nẵng đã nhanh tay ký hợp đồng với tiền đạo người Mali Diabate Souleymane từ Long An, thế nhưng sau vài buổi tập cùng CLB mới, cầu thủ này đã gặp vấn đề về bệnh tim nên CLB đã đi đến quyết định thanh lý hợp đông trước thời hạn. Để thay thế, BHL đã mời lại cựu Vua Phá Lưới V-League 2011 Gastón Merlo, ngoài ra, CLB còn ký hợp đồng với cầu thủ Jamaica Horace James từ giải VĐQG Malaysia và cầu thủ nhập tịch gốc Brasil Đinh Văn Ta. SHB Đà Nẵng còn nhanh tay kịp bổ sung 1 cầu thủ Việt kiều đến từ Mỹ là Minh Alva Vũ, nhưng do chưa kịp hoàn thành thủ tịch nhập quốc tịch Việt Nam nên cầu thủ này sẽ được đăng ký ở giai đoạn 2 của mùa giải. Liên quan đến danh sách đăng ký mùa giải 2016, HLV Lê Huỳnh Đức đã buộc phải loại hai tuyển thủ U-23 quốc gia là Võ Huy Toàn và Hồ Ngọc Thắng. == Cổ phần hóa == Ngày 02 tháng 02 năm 2009, CLB SHB Đà Nẵng chính thức ra mắt công ty cổ phần thể thao SHB - Đà Nẵng Công ty cổ phần Thể thao SHB – Đà Nẵng, tên viết tắt là SHB DANANG SPORT J.S.C, có trụ sở chính đặt tại 38 Ngô Gia Tự, Quận Hải Châu, Thành phố Đà Nẵng với số vốn điều lệ 5 tỷ đồng. Công ty thể thao SHB – Đà Nẵng sẽ tiếp nhận câu lạc bộ bóng đá SHB – Đà Nẵng từ ngân hàng TMCP Sài Gòn – Hà Nội và bổ nhiệm ông Bùi Xuân Hòa, nguyên Giám đốc điều hành câu lạc bộ bóng đá SHB – Đà Nẵng trước đây làm Tổng giám đốc công ty. == Thành tích == === Cấp quốc gia === V-League: Vô địch (3): 1992, 2009, 2012 Á quân (5): 1987, 1990, 1991, 2005, 2013 Cúp Quốc gia: Vô địch (2): 1993, 2009 Giải hạng nhất: Vô địch (1): 1997 Á quân (1): 2000-01 === Giải giao hữu === Cúp BTV: Vô địch (1): 2008 Cúp Nutifood: Vô địch (1): 2016 Cúp Bác Tôn - An Giang: Vô địch (1): 1988 Cúp Trường Sơn: Vô địch (1): 1976 === Các đội trẻ === Giải vô địch bóng đá U21 Việt Nam: Vô địch (3): 2003, 2008, 2009 Giải vô địch bóng đá U17 Việt Nam: Vô địch (3): 2003, 2010, 2011, 2013 Giải vô địch bóng đá U15 Việt Nam: Vô địch (1): 2005 == Đội hình hiện tại == Tính đến giai đoạn 1 mùa giải V.League 2017. Ghi chú: Quốc kỳ chỉ đội tuyển quốc gia được xác định rõ trong điều lệ tư cách FIFA. Các cầu thủ có thể giữ hơn một quốc tịch ngoài FIFA. == Giải thưởng cá nhân khi thi đấu cho CLB == === Cầu thủ nước ngoài xuất sắc nhất === Cầu thủ đoạt giải Cầu thủ nước ngoài xuất sắc nhất khi đang chơi cho SHB Đà Nẵng: Almeida Jose De Emidio – 2007, 2008 Gastón Merlo – 2009 === Vua phá lưới === Cầu thủ đoạt giải Vua phá lưới khi đang chơi cho SHB Đà Nẵng: Almeida Jose De Emidio – 2007, 2008 Gastón Merlo – 2009, 2010, 2011 === Quả bóng vàng Việt Nam === Cầu thủ đoạt danh hiệu Quả bóng vàng khi đang chơi cho SHB Đà Nẵng: Huỳnh Quốc Anh – 2012 Vào năm 2015, cầu thủ Võ Huy Toàn lọt vào top 5 đề cử cho danh hiệu Quả bóng vàng 2015 sau thành tích xuất sắc tại Sea Games 28 (Huy Toàn đạt danh hiệu Vua phá lưới tại giải với 5 bàn thắng). == Thành phần ban huấn luyện == == Các nhân vật nổi tiếng == === Cầu thủ tiêu biểu === Nguyễn Minh Phương Huỳnh Quốc Anh Lê Quang Cường Võ Huy Toàn Hồ Ngọc Thắng Châu Lê Phước Vĩnh Trần Hải Lâm Nguyễn Vũ Phong Gastón Merlo Almeida Jose De Emidio === Huấn luyện viên === Lê Thụy Hải Phan Thanh Hùng Lê Huỳnh Đức == Các huấn luyện viên trong lịch sử == == Thành tích tại V-League == == Thành tích tại các Cúp châu Á == == Xem thêm == Câu lạc bộ bóng đá Hà Nội T&T Câu lạc bộ bóng đá QNK Quảng Nam Câu lạc bộ Hà Nội Câu lạc bộ bóng đá Công An Nhân dân Câu lạc bộ bóng đá SHB Viêng Chăn == Chú thích == http://bongdaplus.vn/VLeague-2012/SHBDa-Nang-Tan-vo-dich-VLeague-2012/60243.bbd == Liên kết ngoài ==
mẫu anh.txt
Bài này nói về đơn vị đo diện tích mẫu của Anh. Xem các nghĩa khác của mẫu tại mẫu. Một mẫu Anh hay đôi khi gọi tắt là mẫu (một số người gọi là mẫu vuông) là một đơn vị đo diện tích trong hệ đo lường Anh và hệ đo lường Mỹ. Nó thường dùng để đo diện tích đất đai tại Anh, Mỹ. == Hệ đo lường Anh == Theo The Units of Measurement Regulations 1995, đơn vị đo này được định nghĩa là 4.046,8564224 m² = 0.40468564224 hectar == Hệ đo lường Mỹ == Theo NIST Handbook 44, đơn vị này bằng 43.560 foot vuông. Tuy nhiên có hai định nghĩa của foot. Theo foot quốc tế (0.3048 m), mẫu quốc tế bằng 4.046,8564224 m². Theo foot điều tra (1200/3937 m), mẫu điều tra bằng 4.046,872614 m². == Xem thêm == Hệ đo lường Anh Hệ đo lường Mỹ == Tham khảo == == Liên kết ngoài == The Units of Measurement Regulations 1995 NIST Handbook 44
nội thủy.txt
Vùng nội thủy của một quốc gia có chủ quyền là toàn bộ vùng nước và đường thủy trong phần đất liền, và được tính từ đường cơ sở mà quốc gia đó xác định vùng lãnh hải của mình trở vào. Nó bao gồm toàn bộ các dạng sông, suối và kênh dẫn nước, đôi khi bao gồm cả vùng nước trong phạm vi các vũng hay vịnh nhỏ. Theo Công ước Liên hiệp quốc về luật biển, các quốc gia có biển được tự do trong việc áp dụng luật pháp của mình trong việc điều chỉnh bất kỳ việc sử dụng nào liên quan tới nội thủy cũng như các nguồn tài nguyên trong đó. Tàu thuyền nước ngoài không có quyền tự do đi qua vùng nội thủy, kể cả qua lại không gây hại. Đây là điểm khác biệt chính giữa nội thủy và lãnh hải. Để đi vào vùng nội thủy, tàu thuyền nước ngoài phải xin phép cơ quan chức năng có thẩm quyền và chỉ được đi lại theo đúng hành trình đã được cấp phép. == Cách phân định == Vùng nội thủy được phân định và căn cứ trên đường cơ sở duyên hải. Khi tính toán nội thủy thì cũng phải cân nhấc đến những cửa sông hay các vịnh nhỏ mà toàn phần thuộc về quốc gia ven biển thì theo quy thức như sau: Nếu một con sông chảy trực tiếp ra biển thì đường cơ sở sẽ là đường thẳng đi ngang qua cửa sông, nối các điểm ở mực nước thấp nhất (tức mực nước ròng đo trung bình trong nhiều năm) trên hai bờ con sông. Nếu một vịnh nhỏ thuộc toàn phần về một quốc gia thì cần xác định xem đó là một vịnh "đúng" (theo định nghĩa địa hình) hay chỉ là đoạn thụt vào tự nhiên của bờ biển (theo khoản 2 điều 10 phần II của Công ước). Một vũng hay vịnh được coi là "đúng" nếu diện tích của phần lõm vào, bị cắt bởi đường cơ sở, lớn bằng hoặc là hơn diện tích của hình bán nguyệt được tạo ra với đường kính bằng chính chiều dài của phân đoạn đường cơ sở tại phần lõm vào đó. Nếu trong đoạn lõm vào này có một số đảo thì hình bán nguyệt tưởng tượng sẽ có đường kính bằng tổng chiều dài các phân đoạn của các đường cơ sở. Ngoài ra, chiều dài của đường kính này không vượt quá 24 hải lý. Vùng nước bên trong của đường cơ sở tưởng tượng đó cũng được coi là nội thủy. Quy tắc này không áp dụng cho các vũng, vịnh đã thuộc chủ quyền của một quốc gia nào đó mang tính chất "lịch sử" hoặc trong bất kỳ trường hợp nào mà việc áp dụng đường cơ sở thẳng là hợp lý. == Xem thêm == Công ước Liên hiệp quốc về luật biển Đường cơ sở (biển) Lãnh hải Vùng tiếp giáp lãnh hải Vùng đặc quyền kinh tế Thềm lục địa Sông quốc tế Vùng biển quốc tế == Tham khảo == == Liên kết ngoài == Công ước Liên hiệp quốc về luật biển
khu tự trị tây tạng.txt
Khu tự trị Tây Tạng (tiếng Tạng: བོད་རང་སྐྱོང་ལྗོངས་; Wylie: Bod-rang-skyong-ljongs; tiếng Trung giản thể: 西藏自治区; tiếng Trung phồn thể: 西藏自治區; bính âm: Xīzàng Zìzhìqū) là một đơn vị hành chính cấp tỉnh của Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa. Nó bao trùm phân nửa Tây Tạng. Khác với các khu tự trị khác ở Trung Quốc nơi mà sắc tộc đa số vẫn là người Hán, ở Khu tự trị Tây Tạng sắc tộc đa số là người Tạng. == Lịch sử == Từ 1912 đến 1950, khu vực Khu tự trị Tây Tạng hiện nay (bao gồm Ü-Tsang và miền tây Kham) do chính phủ Tây Tạng quản lý và đứng đầu là Đạt Lai Lạt Ma. Các nơi khác của khu vực dân tộc - ngôn ngữ Tây Tạng (phía đông Kham và Amdo) không nằm dưới quyền kiểm soát của chính quyền Tây Tạng từ giữa thế kỷ 19.; và ngày nay được phân thuộc các tỉnh Thanh Hải, Cam Túc, Tứ Xuyên và Vân Nam. Năm 1950, Quân Giải phóng Nhân dân Trung Quốc tiến vào khu vực Chamdo của Tây Tạng và gặp phải sự kháng cự rất nhỏ. Năm 1951, đại diện Tây Tạng dưới sức ép của quân đội Trung Quốc đã ký một Hiệp ước 17 điểm với chính quyền Trung ương Trung Quốc xác nhận chủ quyền của Trung Quốc tại Tây Tạng. Hiệp ước được phê chuẩn tại Lhasa ít tháng sau đó. Mặc dù hiệp ước 17 điểm đảm bảo duy trì một chính quyền tự trị do Đạt Lai Lạt Ma đứng đầu, một "Ủy ban Soạn thảo về Khu tự trị Tây Tạng" được tạo ra năm 1955 để xúc tiến thành lập một hệ thống sông song về hành chính theo đường lối cộng sản dưới mô hình Xô viết: tục lệ ngầm được quy định rằng Chủ tịch Khu tự trị Tây Tạng là một người thuộc dân tộc Tạng còn bí thư Đảng ủy sẽ là người thuộc các dân tộc khác, thường là người Hán. Trong đó, đáng chú ý là Hồ Cẩm Đào, ông đã giữ chức vụ bí thư trong thập niên 1980. Đạt Lai Lạt Ma lưu vong sang Ấn Độ năm 1959 và từ bỏ hiệp ước 17 điểm. Khu tự trị Tây Tạng được thành lập năm 1965, và từ đó Tây Tạng trở thành một đơn vị hành chính ngang với cấp tỉnh tại Trung Quốc. == Địa lý == Khu tự trị Tây Tạng nằm trên cao nguyên Tây Tạng, khu vực cao nguyên cao nhất trên trái đất. Tại miền bắc Tây Tạng độ cao trung bình lên tới 4572 m (15000 ft). Đỉnh Everest nằm trên biên giới giữa Tây Tạng và Nepal. Các khu vực Tân Cương, Thanh Hải và Tứ Xuyên nằm ở phía bắc và đông của khu tự trị. Trung Quốc có tranh chấp biên giới với Ấn Độ ở phía nam bao gồm Đường McMahon tại Nam Tây Tạng, Aksai Chin ở phía tây. Các nước khác ở phía nam là Myanma, Bhutan và Nepal. Khu tự trị Tây Tạng cũng có ranh giới đông nam với tỉnh Vân Nam trên một đoạn ngắn. Về mặt tự nhiên, Khu tự trị Tây Tạng có thể được chia thành hai phần, "khu vực hồ" ở phía tây và tây bắc và "khu vực sông", trải rộng trên ba mặt đông, nam và tây. Cả hai khu vực đều nhận được lượng mưu khiêm tốn do bị dãy Himalaya chắn ở phía nam, tuy nhiên tên các khu vực tỏ ra tương phản với điều này và cũng phản ánh các khác biệt văn hóa vì khu vực hồ là nơi sinh sống của người du cư còn khu vực sông là nơi những người làm nghề nông định cư. Ranh giới phía nam là dãy núi Himalaya, phần phía bắc của nó là một hệ thống núi rộng lớn và không có các hẻm núi quá sâu để có thể tạo ra các ngọn núi riêng biệt. Các hệ thống núi tại Khu tự trị Tây Tạng là khởi nguồn của ba dòng sông lớn đổ ra Ấn Độ Dương là sông Ấn, sông Brahmaputra và sông Salween cùng các phụ lưu của chúng, ngoài ra còn có các dòng suối đổ vào các hồ muối kín ở phía bắc. Khu vực hồ trải dài từ Hồ Pasong Tso tại Ladakh, Hồ Rakshatal, Hồ Yamdrok và Hồ Manasarovar gần khởi nguồn sông Ấn, tới nguồn của các sông Mê Kông, Salween và Trường Giang. Các hồ khác bao gồm Dagze Co, Nam Co và Pagsum Co. Khu vực hồ là một sa mạc khô cằn và lộng gió và cũng không có dòng sông nào tại đây, vùng này được gọi là Chang Tang (Byang sang) hay ‘Cao nguyên phương bắc’ bởi những người dân tại Tây Tạng. Khu vực này kéo dài khoảng 1100 km (700 mi) và có diện tích tương đương với nước Pháp. Các dãy núi chia tách các thung lũng có độ cao tương đối thấp, vùng đồng quê được tô điểm với nhiều hồ lớn nhỏ, thường là hồ muối hay kiềm. Có những vùng đất đóng băng không cố định tại Chang Tang, đất trở nên lầy lội và được bao phủ bởi cỏ, giống như các lãnh nguyên Siberi. Khu vực sông bao gồm các thung lũng núi phì nhiêu và gồm cả sông Yarlung Tsangpo (thượng nguồn sông Brahmaputra) và các phụ lưu chính của sông này, sông Nyang, sông Salween, Trường Giang, Mê Kông và Hoàng Hà. Hẻm núi Yarlung Tsangpo tạo thành một chiếc móng ngựa trên sông gần Nam cha Barwa là hẻm núi sâu nhất và có thể là dài nhất trên thế giới. Giữa các dãy núi có nhiều các thung lũng hẹp. Các thung lũng Lhasa, Shigate, Gyantse và Brahmaputra không bị đóng băng, và có chất đất tốt cũng như thuận lợ về tưới tiêu nên đã trở thành những vùng trồng trọt. Thung lũng Nam Tây Tạng được tọa thành bởi sông Yarlung Zangbo ở đoạn sông này chảy từ tây sang đông, Thung lũng dài xấp xỉ 1200 km và rộng 300 km. Thung lũng có độ cao thấp nhất chỉ là 2800 mét so với mực nước biển. Các ngon núi ở hai bên thung lũng thường cao trên 5000 mét. Khu vực này cũng có một số hồ như Paiku và Puma Yumco. == Nhân khẩu == Khu tự trị Tây Tạng là đơn vị hành chính cấp tỉnh có mật độ dân số thấp nhất tại Trung Quốc, chủ yếu do địa hình núi cao và hiểm trở. Năm 2000, 92,8% cư dân khu tự trị là người Tạng, dân tộc này chủ yếu theo Phật giáo Tây Tạng và Bön. Người Hán chiếm 6,1% dân số. Tuy nhiên khu tự trị đã đón nhận rất nhiều người Hán nhập cư trong các thập niên gần đây, đặc biệt là từ năm 2006 khi hoàn thành tuyến đường sắt Thanh-Tạng giúp kết nối khu tự trị với phần còn lại của Trung Quốc. Các dân tộc Hồi giáo như người Hồi và người Tát Lạp đã có một lịch sử cư trú lâu dài tại Khu tự trị Tây Tạng. Nhóm khác là người Tạng Hồi giáo, là những người Tạng nhưng có đức tin Hồi giáo và họ được chính quyền Trung Quốc phân loại là dân tộc Tạng. Các nhóm bộ tộc nhỏ hơn là Monpa và Lhoba, họ tin theo cả Phật giáo Tạng và các thần linh truyền thống. Hai dân tộc này chủ yếu sinh sống tại khu vực phía nam của khu tự trị. == Du lịch == Việc du lịch đến Tây Tạng được cho phép lần đầu tiên vào thập niên 1980. Địa điểm du lịch chính là Cung Potala tại Lhasa, ngoài ra còn có nhiều địa điểm du lịch khác như chùa Đại Chiêu, Hồ Namtso và tu viện Tashilhumpo. Một số khu vực vẫn bị hạn chế du lịch. == Sân bay == Sân bay chính của Tây Tạng là Sân bay Lhasa Gonggar, Sân bay Qamdo Bangda và Sân bay Nuingchi. Sân bay Gunsa tại Ngari được đưa vào hoạt động từ ngày 1 tháng 7 năm 2010 và trở thành sân bay nội địa thứ tư của khu tự trị. == Hành chính == Khu tự trị Tây Tạng có 7 đơn vị hành chính cấp địa khu trong đó có Lhasa là một địa cấp thị. Bảy đơn vị cấp địa khu lại được chia thành 73 đơn vị hành chính cấp châu, huyện trong đó có 1 huyện cấp thị. == Tham khảo == == Liên kết ngoài ==
đặng tiểu bình.txt
Đặng Tiểu Bình ( giản thể: 邓小平; phồn thể: 鄧小平; bính âm: Dèng Xiǎopíng; 22 tháng 8 năm 1904 - 19 tháng 2 năm 1997) có tên khai sinh là Đặng Tiên Thánh, khi đi học mới đổi là Đặng Hi Hiền (邓希贤), là một lãnh tụ của Đảng Cộng sản Trung Quốc. Tên gọi Đặng Tiểu Bình được ông dùng từ năm 1927, sau khi Tưởng Giới Thạch đàn áp phong trào cách mạng Cộng sản tại Thượng Hải. Tuy rằng ông chưa bao giờ có chức vụ nguyên thủ quốc gia hay đứng đầu chính phủ nhưng ông là người đã cầm quyền trên thực tế (lãnh tụ) tại Trung Quốc trong suốt những năm cuối thập niên 1970 đến đầu thập niên 1990. Ông từng giữ qua các chức vụ: Phó Chủ tịch Đảng, Tổng thư ký Trung ương Thư ký Xứ Đảng Cộng sản Trung Quốc (còn gọi là Tổng thư ký Ban Bí thư Trung ương), Phó Thủ tướng Quốc vụ viện (1952-1966, 1973-4/1976, 7/1977-1987), Tổng tham mưu trưởng Quân đội Giải phóng nhân dân Trung Quốc, Chủ tịch Ủy ban toàn quốc Hội nghị Hiệp thương chính trị nhân dân Trung Quốc (1978-1983). Đặc biệt là Chủ nhiệm Ủy ban Cố vấn Trung ương Đảng (1982-1987) và Chủ tịch Quân ủy Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc (6/1981-6/1989). Với vai trò là lãnh tụ tối cao của đất nước, ông đã khởi xướng công cuộc cải cách nước Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa theo hướng "chủ nghĩa xã hội mang màu sắc Trung Quốc", có công thu hồi Hồng Kông và Ma Cao với chính sách "một nước hai chế độ". == Tiểu sử == === Thời niên thiếu === Ông sinh tại thôn Bài Phường, xã Hiệp Hưng, huyện Quảng An, phía đông tỉnh Tứ Xuyên, Trung Quốc, và là con trai ông Đặng Thiệu Xương (tự Văn Minh), một địa chủ khá giả và là hội viên của một hội nhóm hoạt động bí mật nhằm khích động lật đổ triều đình quân chủ, và bà Đàm Thị, vợ thứ hai. Bà vợ đầu không có con, bà thứ hai (Đàm Thị) sinh được một gái đầu và 3 trai: Đặng Tiên Liệt, Đặng Tiểu Bình, Đặng Khẩn, Đặng Thục Bình. Bà thứ ba sinh được một trai, bà thứ tư (Hạ Bá Căn) sinh được 2 trai, 3 gái. Mẹ đẻ Đặng Tiểu Bình mất sớm, nên sau này ông đã mời mẹ kế Hạ Bá Căn từ quê lên thủ đô sống chung cùng gia đình ông. Sau khi vào học trung học tại huyện nhà, cha Đặng Tiểu Bình đã xin cho Đặng Tiểu Bình theo học Trường dự bị cần công kiệm học Trùng Khánh để chuẩn bị xuất dương sang Pháp. Ngày 7 tháng 9 năm 1920, sau khi được Tổng lãnh sự Pháp tại Trùng Khánh trực tiếp sát hạch, Hi Hiền cùng 79 bạn khác lên tàu thủy đi Marseille. Ông đã học ở Pháp, giống như những nhà cách mạng có tiếng khác của Châu Á như Hồ Chí Minh và Chu Ân Lai. Tại đây ông đã đi theo học thuyết Marx-Lenin, gia nhập Đoàn Thanh niên Cộng sản năm 1922 và Đảng Cộng sản Trung Quốc năm 1924. === Sang Nga === Năm 1926, Đặng Tiểu Bình rời Paris sang Nga học trường Đại học Tôn Trung Sơn Moscow. Ông cùng học với Tưởng Kinh Quốc. Ông về nước đúng lúc đang diễn ra chiến tranh Bắc phạt. Ông làm ủy viên chính trị trong quân đoàn của Phùng Ngọc Tường, tham gia Bắc phạt. Sau khi bị Phùng Ngọc Tường cho giải ngũ, ông đi Tây An rồi Hán Khẩu, tiếp tục hoạt động cách mạng. Năm 1938, lúc ông chỉ huy kháng Nhật ở Thái Hàng Sơn thì cha ông bị thổ phỉ chặt đầu. === Những năm tiếp theo === Sau giải phóng, ông làm Bí thư thứ nhất Cục Tây Nam Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc, Phó Chủ tịch Quân ủy Tây Nam, Chính ủy Quân khu Tây Nam (đóng trụ sở tại Trùng Khánh), kiêm thành viên Chính phủ Nhân dân Trung ương. Tháng 7 năm 1952, ông được cử làm Phó Tổng lý (Phó Thủ tướng) Chính vụ viện (sau đổi là Quốc vụ viện), kiêm Phó Chủ nhiệm Ủy ban Tài chính-kinh tế. Năm 1955, ông cùng Lâm Bưu được bầu làm ủy viên Bộ Chính trị Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc. Năm 1956, ông vào Ban Thường vụ Bộ Chính trị, làm Tổng Bí thư Ban bí thư Trung ương, đứng cuối cùng (thứ 6) trong Ban Thường vụ, sau Mao Trạch Đông (Chủ tịch Đảng), Lưu Thiếu Kì, Chu Ân Lai, Chu Đức và Trần Vân (đều là Phó Chủ tịch Đảng). Năm 1966, trong Cách mạng văn hóa, Đặng Tiểu Bình bị phê phán nặng nề là "tên số hai trong Đảng đi theo chủ nghĩa tư bản", rồi bị cách tuột hết mọi chức vụ. Từ năm 1969 đến năm 1972, hai vợ chồng ông bị đưa về Giang Tây, con cái đều bị đưa đi cải tạo ở các tỉnh khác. Ngày 20 tháng 3 năm 1973, ông rời Giang Tây, quay trở lại Trung Nam Hải (Bắc Kinh), sau khi được phục hồi công tác. Ông được bầu vào Ban Chấp hành Trung ương Đảng, rồi Phó Chủ tịch Đảng. Về mặt chính quyền, ông trở lại cương vị Phó Thủ tướng, rồi Phó Thủ tướng thứ nhất. Khi Chu Ân Lai lâm bệnh nặng, ông chủ trì công việc của Quốc vụ viện. Năm 1976, sau khi Chu Ân Lai mất, thế lực chống đối viện cớ ông có tư tưởng phản cách mạng và tác động đến Mao Trạch Đông, vì vậy ông lại bị Mao Trạch Đông cách hết các chức vụ, chỉ còn danh hiệu đảng viên và hộ khẩu Bắc Kinh. Ông là người phát động phong trào biểu tình ủng hộ cố thủ tướng Chu Ân Lai ngày 5 tháng 4 năm 1976. Sau khi nhóm người được gọi là "bè lũ bốn tên" bị lật đổ, Đặng Tiểu Bình được khôi phục tất cả các chức vụ (1978): Phó Chủ tịch Đảng, Phó Chủ tịch Quân ủy Trung ương, Phó Thủ tướng, Tổng Tham mưu trưởng Quân giải phóng. Từ đây, ông bắt đầu đưa Trung Quốc bước vào kỉ nguyên cải cách mở cửa. Sau khi trở lại chính trường, năm 1978 Đặng Tiểu Bình tung ra chương trình ‘Bốn hiện đại hóa’ và lại để cho dân dán ‘Đại tự báo’ nhưng lần này là để tố cáo những đau khổ do Cách mạng Văn hóa gây ra. Năm 1979, Đặng Tiểu Bình thăm Mỹ nhằm bình thường hoá quan hệ hai nước. Ngay sau đó ông chỉ đạo "dạy cho Việt Nam một bài học" trong chiến tranh biên giới Việt-Trung 1979 mà kéo dài cho tới 1990 (xem Xung đột Việt–Trung 1979–90), vì Việt Nam đã đưa quân dánh đuổi chế độ Pol Pot ở Kampuchia, một đồng minh của Trung Quốc.. Nó cũng nằm trong chính sách Đặng Tiểu Bình theo đuổi nhằm ngăn chặn ảnh hưởng của Liên Xô ở Đông Nam Á. Suốt một thời gian dài sau đó, chính sách bao vây kinh tế và pháo kích biên giới của Đặng Tiểu Bình đã gây nhiều khó khăn cho Việt Nam. === Sự kiện Thiên An Môn === Vào năm 1989, Sự kiện Thiên An Môn diễn ra, đây là cuộc biểu tình đòi dân chủ của các sinh viên Trung Quốc. Đặng Tiểu Bình theo phe ủng hộ sự thay đổi trong nền kinh tế Trung Quốc, cùng với một số đồng minh như Triệu Tử Dương. Không có một báo cáo chính xác về vai trò của Đặng Tiểu Bình trong cuộc biểu tình, dù có một số người tin rằng ông ta đã tham gia vào việc ra lệnh đàn áp sinh viên bằng xe tăng. Sau cuộc thảm sát Thiên An Môn Đặng Tiểu Bình lui khỏi chính trường nhưng vẫn đóng một vai trò quan trọng ở Trung Quốc. Đặng Tiểu Bình qua đời năm 1997. == Niên biểu == Ngày 22/8/1904: Đặng Tiểu Bình (tên khai sinh là Đặng Tiên Thánh, khi đi học mới đổi thành Đặng Hy Hiền) sinh tại thôn Bài Phường, huyện Quảng An, phía tây nam tỉnh Tứ Xuyên. Ông là con trai cả của một cảnh sát trưởng ở huyện. Năm 1920: Mới 16 tuổi, Đặng Hy Hiền đã rời Tứ Xuyên để lên Thượng Hải, từ đó đón tàu sang Pháp để học. Trong thời gian học tập tại Pháp, Đặng Tiểu Bình làm rất nhiều nghề chân tay để kiếm tiền trang trải sinh hoạt, từ công nhân nhà máy sản xuất vũ khí, bồi bàn, thu vé trên xe lửa và lắp ráp ủng cao su. Tháng 6/1922: Đặng Tiểu Bình gia nhập đảng Cộng sản của Thanh niên Trung Quốc tại châu Âu. Một năm sau, ông được bầu làm chủ tịch liên đoàn. Với một tư duy rất thực tế, Đặng đã tìm cách tăng gấp đôi số lượng bản tin của đảng này và phân phát rộng rãi. Năm 1924: Gia nhập đảng Cộng sản Trung Quốc tại Pháp. Năm 1926: Sang Moscow để học và sau đó trở về Trung Quốc. Năm 1927: Sau khi Tưởng Giới Thạch đàn án phong trào cách mạng tại Thượng Hải, Đặng Hy Hiền đổi tên thành Đặng Tiểu Bình. Tháng 1/1928: Đặng Tiểu Bình kết hôn với người vợ đầu là Trương Tích Viên. Năm 1930: Trương Tích Viên chết sau một ca đẻ non đứa bé gái của hai người. Năm 1931: Đặng Tiểu Bình bắt đầu cùng Mao Trạch Đông thành lập căn cứ của Hồng Quân tại tỉnh Giang Tây. Năm 1932: Đặng Tiểu Bình kết hôn với Kim Duy Ánh, người vợ thứ hai của ông. Năm 1933: Tháng 10, Tưởng Giới Thạch phái 1 triệu quân tấn công căn cứ của Mao Trạch Đông tại tỉnh Giang Tây. Lúc này, trong nội bộ đảng Cộng sản Trung Quốc có nảy sinh một số mâu thuẫn. Cùng với Mao, Đặng Tiểu Bình bị khai trừ khỏi ban lãnh đạo đảng. Trước tình cảnh này, người vợ thứ hai đã yêu cầu ly dị Đặng để kết hôn với người khác. Năm 1939: Đặng Tiểu Bình kết hôn với người vợ thứ 3 là Trác Lâm. Bà sinh cho ông 3 người con gái và 2 con trai. Năm 1945: Đặng Tiểu Bình chỉ huy sư đoàn 129 xuống khu vực miền trung Trung Quốc, buộc lực lượng Quốc Dân Đảng rút chạy. Năm 1948: Tham gia chỉ huy chiến dịch Hoài Hải, mở rộng mặt trận sang bên kia sông Dương Tử. Năm 1950: Mao Trạch Đông trở thành người lãnh đạo Trung Quốc. Đặng Tiểu Bình được giao nhiệm vụ tại Tây Tạng. Năm 1952: Ông trở về Bắc Kinh và được bổ nhiệm giữ chức Phó Thủ tướng. Năm 1956: Đặng Tiểu Bình trở thành Ủy viên thường vụ Bộ Chính trị, kiêm Tổng Bí thư Ban Bí thư. Năm 1957: Đặng Tiểu Bình tháp tùng Mao Trạch Đông trong chuyến thăm Moscow. Năm 1960: Sau 2 năm thực hiện chính sách "Đại nhảy vọt", nền kinh tế Trung Quốc rơi vào khủng hoảng. Chủ tịch Lưu Thiếu Kỳ cùng Đặng Tiểu Bình đưa ra đề xuất cải cách kinh tế. Trong chuyến đi Quảng Châu, Đặng đã đưa ra quan điểm thực tế của mình về việc cứu đói cho dân bằng bất cứ giá nào. Năm 1966: Tháng 5, Mao Trạch Đông chỉ thị tiến hành cuộc Đại cách mạng văn hoá. Lần thứ hai trong cuộc đời chính trị của mình, Đặng Tiểu Bình bị khai trừ vì mâu thuẫn trong nội bộ đảng Cộng sản và những tư tưởng thực tế của ông trong cải cách kinh tế. Đặng Tiểu Bình bị buộc phải đội mũ tai lừa diễu hành trên phố, sau đó bị đưa về nông thôn để làm việc tại xưởng máy kéo. (Trong lúc này Lưu Thiếu Kỳ bị giam lỏng). Năm 1968: Con trai cả của Đặng Tiểu Bình là Đặng Phác Phương đang học đại học Bắc Kinh bị những sinh viên cực đoan cùng trường trùm đầu và khống chế cho tới khi bị ngã khỏi cửa sổ tầng 4. Kể từ tai nạn đó, Đặng Phác Phương trở thành người tàn phế. Năm 1969-1972: Hai vợ chồng Đặng Tiểu Bình bị đưa về Giang Tây. Tại đây, hai người đã phải nỗ lực giúp con trai phục hồi, song không thành công. Năm 1973: Tháng 8, Mao Trạch Động cho phép Đặng Tiểu Bình quay trở lại Bắc Kinh để giúp ông kiểm tra mức độ ảnh hưởng của Quân đội Giải phóng Nhân dân. Đặng Tiểu Bình tiếp tục giữ chức Phó Thủ tướng và trong vòng 2 năm sau đó, ông giúp Chu Ân Lai thực hiện "4 Hiện đại hoá". Năm 1976: Tháng 4, lần thứ 3, Đặng Tiểu Bình lại bị khai trừ sau khi chỉ trích cuộc Cách mạng Văn hóa. Ngày 9/9, Mao Trạch Đông từ trần, Hoa Quốc Phong là người thay thế. Năm 1977: Ngày 22/7, Đặng Tiểu Bình được phục chức Phó Thủ tướng, vị trí giúp ông có đủ quyền lực cần thiết để tiếp tục những ý tưởng cải cách kinh tế của mình. Năm 1978: Đặng Tiểu Bình nêu kế hoạch cải cách kinh tế trước phiên họp toàn thể đảng Cộng sản Trung Quốc, đánh dấu sự mở đầu của chính sách "mở cửa". Năm 1979: Thăm Mỹ nhằm bình thường hoá quan hệ hai nước. Năm 1980: Bè lũ bốn tên do Giang Thanh cầm đầu bị xét xử. Giang Thanh lãnh án tử hình. Lúc này, Thâm Quyến đã trở thành đặc khu kinh tế đầu tiên tại Trung Quốc, bước đầu chứng minh sự đúng đắn của cuộc cải cách kinh tế do Đặng Tiểu Bình đề xuất. Năm 1987: Thôi giữ các chức vụ trong chính phủ, trừ vị trí của ông trong quân đội. Năm 1990: Chính thức thôi giữ các chức vụ cuối cùng. Năm 1994: Lần cuối cùng xuất hiện trước công chúng trong lễ mừng Tết Nguyên đán. Ngày 19/2/1997: Đặng Tiểu Bình từ trần lúc 9h08' tối. == Gia đình == === Cha mẹ === === Người vợ === Người vợ thứ ba của ông là Trác Lâm, có 5 con. === Những người con === Đặng Lâm (trưởng nữ) Đặng Phác Phương (con thứ nhưng là trưởng nam) Đặng Nam (nữ) Đặng Dung (nữ) Đặng Chất Phương (nam). == Những câu nói == Câu nói có tầm ảnh hưởng nhất của ông là: Câu nói của Đặng Tiểu Bình được nhiều người biết đến là: Tháng 12 năm 1978 trong chuyến thăm các nước Đông Nam Á, chỉ vài tháng trước cuộc chiến với Việt Nam, ông nói một câu được Trung Quốc truyền hình trực tiếp: == Sách viết về Đặng Tiểu Bình == "Đặng Tiểu Bình – một trí tuệ siêu việt." do Nhà xuất bản Lao động ấn hành năm 2003, tái bản 2015. == Tham khảo == == Liên kết ngoài == Selected works of Deng Xiaoping Tiểu sử Mười cảnh báo của Đặng Tiểu Bình về Trung Quốc Đặng Tiểu Bình và Thiên An Môn Tầm Nhìn về "Tương Lai" qua Bộ Phim Đặng Tiểu Bình | Trung Quốc Không Kiểm Duyệt
sông tô lịch.txt
Sông Tô Lịch (chữ Hán: 蘇瀝江) là một con sông nhỏ, chảy trong địa phận thủ đô Hà Nội. Dòng chính sông Tô Lịch khi chảy qua các quận huyện: Thanh Xuân, Hoàng Mai và Thanh Trì còn được gọi là Kim Giang. Sông Tô Lịch là một đường bao của kinh đô Thăng Long xưa, nó là một cạnh của tứ giác nước Thăng Long. == Tên gọi == Tên sông Tô Lịch tương truyền lấy từ tên một vị thần sống vào thời nhà Tấn đô hộ xứ Giao Chỉ. Đến thời nhà Đường, nơi đây là vị trí xây dựng thành Đại La. == Lịch sử == Tô Lịch vốn từng là một phân lưu của sông Hồng, đưa nước từ thượng lưu ở sông Hồng sang sông Nhuệ. Đến đoạn trung lưu, nó gặp hồ Tây (là dấu tích của đoạn sông Hồng cũ, nằm cạnh Quán Thánh) và một phần nước từ hồ Tây được cung cấp cho đoạn sông từ đó đến hạ lưu. Sách Đại Nam nhất thống chí (soạn giữa thế kỷ 19) đã viết: Sông Tô ở phía Đông tỉnh thành (Hà Nội) là phân lưu của sông Nhị, chảy theo phía Bắc tỉnh thành vào cửa cống thôn Hương Bài, tổng Đồng Xuân, huyện Thọ Xương (cửa sông xưa nằm ở vị trí phố Cầu Gỗ quận Hoàn Kiếm) chuyển sang phía Tây huyện Vĩnh Thuận đến xã Nghĩa Đô ở phía Đông huyện Từ Liêm và các tổng thuộc huyện Thanh Trì, quanh co gần 60 dặm, tới xã Hà Liễu chảy vào sông Nhuệ. == Đặc điểm == === Đoạn sông bị lấp === Đoạn sông từ Cầu Gỗ đến Bưởi, nay đã bị lấp, chỉ còn lại một vài dấu tích như ở Thụy Khuê (nằm ở mặt sau của tòa chung cư Golden West Lake và một khu dân cư nhỏ ở gần chợ Tam Đa). Và do đó, Tô Lịch không còn thông với sông Hồng nữa. Dòng chảy của đoạn sông đã bị lấp này theo lộ trình sau: từ bên cạnh phố Cầu Gỗ ngược lên phía Tây Bắc (cống chéo) tới Hàng Lược, men theo phía dưới đường Phan Đình Phùng (phía ngoài mặt bắc thành Hà Nội), rồi chảy dọc theo hai phố Thụy Khuê và Hoàng Hoa Thám ngày nay ra đến đầu đường Bưởi nằm ở phía Nam Hoàng Quốc Việt (gặp đoạn sông Tô Lịch ngày nay). Đoạn sông còn lộ thiên ở Thụy Khuê đó còn được gọi là mương Thụy Khuê, nối từ cống Đõ (ở đầu dốc Lafore), chạy tới cống ngầm dưới lòng chợ Bưởi rồi đổ ra sông Tô Lịch ngày nay. Đoạn mương đó đã được bắt đầu cống hóa từ năm 2011. === Đoạn sông ngày nay === Sông Tô Lịch ngày nay bắt đầu từ phường Nghĩa Đô thuộc quận Cầu Giấy (phía nam đường Hoàng Quốc Việt), chảy cùng hướng với đường Bưởi, đường Láng, đường Khương Đình và đường Kim Giang về phía Nam, Tây Nam rồi ngoặt sang phía Đông Nam và đổ ra sông Nhuệ ở đối diện làng Hữu Từ thuộc xã Hữu Hòa, huyện Thanh Trì. === Tình hình hiện nay === Sông Tô Lịch là một sông cổ của tứ giác nước Thăng Long. Ngày trước, hai bên bờ sông buôn bán tấp nập. Từ khi bị lấp, sông chỉ là một dòng thoát nước thải của thành phố, bị ô nhiễm nặng. Từ cuối những năm 1990, Tô Lịch bắt đầu được nạo vét đáy sông, kè bờ, để làm sạch và chống lấn chiếm. Sau trận lụt lịch sử hồi đầu tháng 11 năm 2008, người dân ở Hà Nội đã được chứng kiến nước sông Tô Lịch "trong vắt" như xưa. Khi đó, sông Tô Lịch bị nước mưa làm loãng bớt bùn, dâng cao hàng mét, cuồn cuộn chảy và có cả cá bơi. Trận lụt đó đã làm sông Tô Lịch sạch sẽ trở lại chỉ trong vòng vài tuần lễ. == Đề án "làm sạch" nước sông Tô Lịch == Vào năm 2009, Hà Nội đã có đề án dùng nước Sông Hồng rửa sông Tô Lịch. Đề án này được coi như "tiểu đề án" đầu tiên thực hiện việc xử lý 3 vấn đề ô nhiễm môi trường bức xúc nhất trên địa bàn. == Xem thêm == Thánh vật ở sông Tô Lịch Sông Kim Ngưu Sông Lừ Sông Sét == Tham khảo == http://www.youtube.com/watch?v=paH1NgQvYjg (Lụt từ ngã tư đường phố - Bài hát về trận lụt lịch sử) == Liên kết ngoài == Chuyện về sông Tô Lịch trong Việt điện u linh tập Truyền thuyết về ông Dầu bà Dầu trên sông Tô Lịch
neymar.txt
Neymar da Silva Santos Júnior (sinh ngày 5 tháng 2 năm 1992 tại Mogi das Cruzes, Brasil), thường được biết đến với tên gọi Neymar, là một cầu thủ bóng đá người Brasil hiện đang chơi ở vị trí tiền đạo cho câu lạc bộ Barcelona và đội tuyển Brasil. Anh hiện đuợc xem là cầu thủ xuất sắc thứ ba thế giới hiện nay, với những phẩm chất kĩ thuật bẩm sinh, khả năng đá phạt thiên tài và tốc độ siêu việt (34.7 km/h). Neymar đã đuợc mang chiếc áo số 10 của tuyển Brazil và trở thành đội truởng của đội khi chỉ mới 21 tuổi. Khẩu ngữ Neymarmania (làn sóng Neymar) phổ dụng để mô tả trào lưu cuồng mộ cầu thủ này. == Sự nghiệp Câu lạc bộ == === Santos === Gia nhập Santos vào năm 2003, Ở tuổi 17, Neymar có trận đấu đầu tiên trong chiến thắng 2-1 trước Oeste vào ngày 7 tháng 3 năm 2009. Lần ra sân tiếp theo của Neymar là trận gặp Mogi Mirim 1 tuần sau đó, trong khoảng thời gian này anh đã ghi bàn thắng đầu tiên của mình cho Santos. ngày 11 tháng 4 năm 2009, trong trận bán kết lượt đi Campeonato Paulista 2009 gặp Palmeiras, Neymar đã ghi bàn thắng ấn định tỉ số 2–1 trên sân Estádio Vila Belmiro. Tuy vậy,trong trận chung kết Santos đã để thua trước CLB Corinthians với tổng tỉ số 4-2. Phong độ ấn tượng của Neymar trong màu áo Santos đã được so sánh với những cầu thủ Brasil nổi tiếng như Robinho và Pelé. Anh cũng đã giành được sự quan tâm từ một số CLB châu Âu như Manchester United, Inter Milan, Real Madrid, Chelsea, và Juventus. Thậm chí đi xa hơn nữa, Real Madrid tuyên bố rằng họ đã ký một thỏa thuận hợp đồng sơ bộ với đại diện của Neymar, Renato Rodrigues. Tuy vậy CLB Santos đã phủ nhận tuyên bố trên một cách quyết liệt. Sau đấy, Santos đã đặt mức giá 30 triệu € cho Neymar, và giữ chân anh bằng một bản hợp đồng mới có thời hạn tới tháng 12 năm 2014. Bản thân Neymar cũng cho biết anh không nghĩ đây là thời điểm thích hợp để rời Santos, và rằng anh chỉ tập trung vào câu lạc bộ. Mặc dù vậy,đại diện của Neymar đã nhấn mạnh rằng tiền đạo của Santos không muốn ở lại quê hương Brazil của anh. Neymar đã tiết lộ rằng anh sẽ ưu tiên chuyển đến Juventus. Vào ngày 15 tháng 4 năm 2010, Neymar đã ghi 5 bàn thắng cho Santos trong thất bại 8–1 của Guarani tại vòng 16 đội Cúp bóng đá Brasil. tại 2010 Campeonato Paulista, giải đấu mà Neymar ghi 14 bàn thắng trong 19 trận, câu lạc bộ của anh đã đăng quang ngôi vô địch sau chiến thắng với tỉ số chung cuộc 5–5 trước Santo André trong trận chung kết. Neymar sau đó đã được trao danh hiệu cầu thủ xuất sắc nhất giải đấu. vào ngày 30 tháng 11 năm 2010, Santos FC đã bán 5% quyền lợi về phí chuyển nhượng của Neymar trong tương lai cho tập đoàn đầu tư Terceira Estrela Investimentos S.A. (TEISA), tương đương với 3.549.900 R$ (1,5 triệu €). Neymar đã có 6 lần lập công cho Santos tại Copa Libertadores 2011, qua đó giúp anh đứng thứ 3 trong danh sách vua phá lưới của giải, trong đó có bàn ấn định tỉ số 4-3 ở trận bán kết. Ở lượt đi trận chung kết diễn ra tại Montevideo, Santos đã cầm hòa clb C.A. Peñarol của Uruguay với tỉ số 0-0. Trong trận lượt về trên sân nhà, Neymar đã mở tỉ số ở phút 46 và Santos đã giành chiến thắng 2-1, Neymar đồng thời cũng nhận danh hiệu cầu thủ xuất sắc nhất trận. Chiến thắng này đã mang về cho Santos danh hiệu Copa Libertadores đầu tiên kể từ năm 1963, khi huyền thoại người Brasil Pelé còn chơi cho câu lạc bộ. Tháng 9 năm 2011, Chủ tịch Luis Alvaro de Oliveira Ribeiro của Santos đe dọa sẽ kiện Real Madrid lên FIFA vì tiếp cận trái phép tiền đạo Neymar. Ngày 9 tháng 11 năm 2011, Neymar và Santos đã đồng ý ký một bản hợp đồng sẽ giữ anh lại câu lạc bộ đến World Cup 2014. Hợp đồng cũng đồng thời tăng mức lương của Neymar lên 50%, bằng với mức lương mà các câu lạc bộ châu Âu đề nghị trả cho anh. Ngày 14 tháng 12 năm 2011, Neymar ghi bàn mở tỉ số cho Santos trong chiến thắng 3-1 trước Kashiwa Reysol tại bán kết FIFA Club World Cup trên sân Toyota, Toyota, Nhật Bản, Tuy vậy anh và các đồng đội vẫn thất bại trước Barcelona với tỉ số 4-0 trong trận chung kết (18 tháng 12 năm 2011). === Barcelona === Ngày 24 tháng 5 năm 2013, Santos thông báo rằng họ đã nhận được hai lời mời cho Neymar. Ngày hôm sau, Neymar tuyên bố ông sẽ ký hợp đồng với FC Barcelona ngày 27 tháng năm 2013 và gia nhập đội sau khi chơi trong Confederations Cup năm 2013. Cả Neymar và câu lạc bộ cũng không được công bố chi tiết về mức phí chuyển nhượng hoặc các điều khoản cá nhân, ngoại trừ việc nói rằng anh đã ký một hợp đồng 5 năm. Ngày 3 tháng 6 năm 2013, Neymar đã được công bố bởi Barcelona sau khi vượt qua bài kiểm tra y tế và ký hợp đồng mà có thể giữ anh tại câu lạc bộ thông qua tháng 6 năm 2018. Neymar được ra mắt tại Nou Camp trước 56.500 người hâm mộ. Phó chủ tịch Josep Maria Bartomeu cho biết mức phí chuyển nhượng Neymar là 87.200.000 € (1 trong 10 vụ chuyển nhượng với mức phí cao nhất) và điều khoản được thiết lập ở mức 190 triệu €. Bác sĩ của Barcelona đề nghị anh có thể cần phải tăng cân để có thể thích nghi với bóng đá Tây Ban Nha. ==== Điều tra chuyển nhượng ==== Văn phòng công tố ở Madrid đang điều tra mức phí chuyển nhượng mà Barcelonddejech, là khoảng cách ăn toàn nhất, trên thì trường Các tài liệu nộp cho cơ quan theo yêu cầu nó chứa thông tin mâu thuẫn. Các mức phí chuyển nhượng được báo cáo là 57.000.000 €, nhưng 40.000.000 € "... được cho chảy vào một công ty thân với gia đình Neymar." Đây là những gì "biện minh cho một cuộc điều tra xem liệu những lời cáo buộc là đúng sự thật." Chủ tịch Barcelona Sandro Rosell bị cáo buộc là "có liên quan đến việc chuyển nhượng tham nhũng. " thực tế số tiền chuyển nhượng sang barca lên tới 140.000.000 ==== 2013-14 ==== Ngày 30 tháng 7 năm 2013, Barcelona hòa 2-2 với Lechia Gdańsk trong một trận giao hữu. Đây là trận không chính thức đầu tiên Neymar khi anh được tung vào thay thế. Anh ghi bàn thắng đầu tiên cho câu lạc bộ trong chiến thắng 7-1 trước một Thái Lan XI vào ngày 7 tháng Tám. Neymar xuất hiện lần đầu cho Barcelona trong trận mở màn của 2013-14 La Liga mùa giải sau sự thay người vào phút 63 trong chiến thắng 7-0 trước Levante. Ngày 21 tháng 8, anh ghi bàn thắng đầu tiên của mình cho câu lạc bộ trong lần đầu tiên của năm 2013 Siêu cúp bóng đá Tây Ban Nha trước Atlético Madrid. Ngày 18 tháng Chín, anh đá trận UEFA Champions League đầu tiên, kiến tạo cho Gerard Piqué khi Barca đánh bại AFC Ajax 4-0 trong trận mở màn của giải năm 2013-14. 24 tháng 9, anh ghi bàn thắng đầu tiên của mình tại La Liga vào lưới Real Sociedad trong trận thắng 4-1 trên sân Nou Camp. 26 tháng 10, anh lần đầu được góp mặt trong trận El Clasico, ghi bàn và kiến tạo cho Alexis Sánchez trong trận thắng 2-1 Real Madrid trên sân Nou Camp. 11 tháng 12, trong 1 trận UEFA Champions League, Neymar lập 1 cú hat-trick trong trận thắng 6-1 Celtic ở bảng H. ==== 2014-15 ==== Ngày 13 Tháng 9 năm 2014, Neymar, ra sân từ băng ghế dự bị, Neymar ghi được hai bàn thắng muộn, giúp Barcelona đánh bại Athletic Bilbao 2-0. 27 tháng 9, anh lập 1 cú hat-trick trong trận thắng Granada 6-0. == Sự nghiệp quốc tế == Sau màn trình diễn của Neymar cho đội tuyển U-17 Brasil tại giải U-17 World Cup 2009, trong đó anh ghi 1 bàn thắng ở trận mở màn gặp Nhật Bản, các cựu danh thủ của Brasil như Pelé và Romário đã thúc giục huấn luyện viên Dunga gọi Neymar tham dự Giải bóng đá vô địch thế giới 2010 tại Nam Phi. mặc dù nhiều ý kiến rộng rãi cho rằng Neymar xứng đáng nhận được 1 suất trong đội hình của Dunga, anh vẫn không có tên trong danh sách 23 cầu thủ và danh sách chờ. Dunga dù đã mô tả Neymar như là một cầu thủ "vô cùng tài năng" song ông cũng khẳng định rằng anh vẫn chưa được kiểm nghiệm một cách đầy đủ ở các giải đấu quốc tế để giành 1 vị trí dự World Cup và anh đã không gây đủ ấn tượng trong khi làm nhiệm vụ quốc tế. Ngày 26 tháng 7 năm 2010, Neymar được gọi vào đội tuyển Brasil bởi tân huấn luyện viên Mano Menezes cho trận giao hữu gặp Mĩ vào ngày 10 tháng 8 năm 2010. anh có mặt trong đội hình xuất phát và mang áo số 11. Anh đã ghi bàn trong trận đấu ra mắt của mình sau 28 phút với một cú đánh đầu sau đường tạt cánh của André Santos trong chiến thắng 2-0 của Brasil. Ngày 27 tháng 3 năm 2011, Neymar đã lập 1 cú đúp giúp Brasil có được chiến thắng 2-0 trước đội tuyển Scotland trong trận giao hữu diễn ra trên sân Emirates. Sau trận đấu anh đã than phiền về việc bị la ó trong suốt trận đấu. Thậm chí tiền đạo này còn cho rằng, đã có 1 trái chuối được ném vào sân, khi anh chuẩn bị bước lên thực hiện quả đá phạt penalty.Tuy nhiên, Hiệp hội bóng đá Scotland (SFA) đã phủ nhận cáo buộc trên. Tại Copa América 2011 được tổ chức ở Argentina, Neymar đã ghi được hai bàn thắng trong trận đấu đầu tiên với Ecuador. World Cup 2014 được tổ chức ngay tại Brasil, anh mang chiếc áo số 10 khi thi đấu cho đội tuyển Brasil, và thường được huấn luyện viên trưởng Luiz Felipe Scolari cho thi đấu ở vị trí sở trường là tiền đạo cánh trái (LW) trong đội hình chính. Trong trận khai mạc World Cup 2014, đội tuyển Brasil với tư cách đội chủ nhà gặp đối thủ Croatia, Neymar đã tỏa sáng khi lập 1 cú đúp, trong đó bàn thắng đầu tiên là 1 cú sút xa từ ngoài vòng cấm bằng chân trái, tuy sệt và không mạnh nhưng rất hiểm, được ghi trong hiệp 1, san hòa tỉ số trong Brasil khi đang bị dẫn 0-1, bàn thắng thứ 2 được ghi từ chấm phạt đền, sau pha ngã trong vòng cấm gây tranh cãi của tiền đạo Fred. Ở luợt trận cuối của vòng bảng gặp Cameroon, Neymar cũng lập cú đúp. Đến trận tứ kết, Neymar không ghi bàn, và gặp phải một chấn thương nặng sau pha va chạm với hậu vệ phải Juan Camillo Zuniga bên phía Colombia. Chấn thương lưng (rạn đốt sống lưng) đó khiến Neymar chính thức phải làm khán giả ở kì World Cup diễn ra ngay trên quê hương mình. Tổng cộng ở World Cup 2014, Neymar ghi được 4 bàn thắng. Anh tiếp tục có tên trong danh sách đội tuyển Brasil tham dự Copa América 2015 tổ chức ở Chile. Tại giải đấu này, anh chỉ ghi được một bàn thắng trong trận thắng Peru với tỉ số 2-1. Tuy nhiên đến lượt thứ hai gặp Colombia, vào những phút cuối trận, anh đã bị truất quyền thi đấu (cùng với Carlos Bacca bên phía Colombia) do có hành vi co chân sút bóng trúng lưng của Pablo Armero bên phía đối phương, chính vì vậy Neymar bị treo giò 4 trận, khiến cho Brasil dừng bước ở tứ kết sau khi để thua Paraguay 3-4 trên chấm 11m sau khi hai đội hòa 0-0 sau 90 phút thi đấu không có bàn thắng nào được ghi. Tại Thế vận hội Mùa hè 2016 tổ chức tại quê nhà Brasil, Neymar có tên trong danh sách thành phần đội tuyển Olympic tham dự môn bóng đá nam tại đấu trường này. Tổng cộng anh đã ghi 4 bàn thắng, trong đó anh đã thiết lập kỷ lục ghi bàn nhanh nhất trong trận bán kết gặp đội tuyển Olympic Honduras ở giây thứ 15. Đội tuyển Olympic Brasil sau đó đã lọt vào đến trận chung kết gặp đội tuyển Olympic Đức. Neymar là người ghi bàn trước nhưng đến gần cuối hiệp 2 Đức có bàn thắng gỡ hòa, buộc hai đội phải bước vào loạt đá penalty đầy may rủi. Ở loạt sút penalty cuối cùng, Neymar đã sút thành công quả quyết định, đem về chiếc huy chương vàng đầu tiên cho đội chủ nhà sau hơn 60 năm chờ đợi. == Cuộc sống cá nhân == Neymar là một Cơ Đốc nhân. Neymar đã nói về đức tin của mình rằng: "Cuộc sống chỉ có ý nghĩa khi lý tưởng cao nhất của chúng tôi là phục vụ Chúa Kitô!" Anh quyên góp 10% thu nhập của mình cho giáo hội và nhấn mạnh tới sự quan trọng của tôn giáo đối với mình. == Thống kê sự nghiệp == Số liệu thống kê chính xác tới 20 tháng 3 năm 2017. === Đội tuyển quốc gia === Số liệu thống kê chính xác tới 23 tháng 3 năm 2017. === Bàn thắng quốc tế === == Danh hiệu == === Santos FC === Copa do Brasil (1): 2010 Campeonato Paulista (2): 2010, 2011 Copa Libertadores (1): 2011 === Brasil === Giải vô địch bóng đá trẻ Nam Mỹ: 2011 Cúp Liên đoàn các châu lục 2013 Huy chương vàng Thế vận hội (1): 2016 === Cá nhân === Cầu thủ trẻ xuất sắc nhất Campeonato Paulista (1): 2009 Tiền đạo xuất sắc nhất Campeonato Paulista (2): 2010, 2011 Cầu thủ xuất sắc nhất Campeonato Paulista (2): 2010, 2011 Danh hiệu cầu thủ xuất sắc giải vô địch Brasil: 2010 Quả bóng Bạc - được tạp chí Placar bầu chọn là tiền đạo Brasil xuất sắc nhất (1): 2010 Vua phá lưới giải Bóng đá trẻ Nam Mỹ (1): 2011 Cầu thủ xuất sắc nhất Cúp Liên đoàn các châu lục 2013 Vua phá lưới UEFA Champions League: 2014-15 Quả bóng Đồng FIFA (1): 2016 F.C. Barcelona Vô địch UEFA Champions League: 2015 Vô địch La Liga: 2015, 2016 Vô địch Cúp Nhà vua Tây Ban Nha: 2015, 2016 Vô địch Siêu cúp châu Âu: 2015 Vô địch FIFA Club World Cup: 2015 == Tham khảo == == Liên kết ngoài == Official Neymar Official Neymar Biograghy Santos FC Neymar statistics FIFA Neymar FootballDatabase.com Player Profile: Neymar SouthAmericanfutbol.com Tactical Profile Football Lineups Neymar Profile All for Football
người hà lan.txt
Người Hà Lan (tiếng Hà Lan: Nederlanders) là dân tộc chủ yếu ở Hà Lan Họ chia sẻ một nền văn hóa chung và nói tiếng Hà Lan. Người Hà Lan, hoặc con cháu của những người Hà Lan, cũng hiện diện ở ở các cộng đồng di cư trên toàn thế giới, đặc biệt là ở Suriname, Brasil, Canada, Australia, South Africa, New Zealand, và Hoa Kỳ. Nghệ thuật truyền thống và văn hóa của người Hà Lan bao gồm các loại hình âm nhạc truyền thống, múa, phong cách kiến trúc và quần áo, một số trong đó được công nhận trên toàn cầu. Các họa sĩ Hà Lan như Rembrandt, Vermeer và Van Gogh được tổ chức đánh giá cao. Các tôn giáo chiếm ưu thế của người Hà Lan là Kitô giáo (cả Công giáo và Tin Lành), mặc dù trong thời hiện đại đa số không còn là (công khai) tôn giáo. Đáng kể tỷ lệ phần trăm của Hà Lan là tín đồ của chủ nghĩa nhân đạo, thuyết bất khả tri, chủ nghĩa vô thần hay tâm linh cá nhân. Trong thời Trung cổ của đất thấp đã được nằm trên biên giới Pháp và Đế quốc La Mã Thần thánh, tạo thành một phần của vùng ngoại vi của mình, và các lãnh thổ khác nhau trong đó họ bao gồm trên thực tế đã trở thành gần như tự trị của thế kỷ 13. Theo Habsburgs, Hà Lan đã tổ chức thành một đơn vị hành chính duy nhất, và trong thế kỷ 16 và 17 Bắc Hà Lan giành được độc lập từ Tây Ban Nha là nước Cộng hòa Hà Lan] Các mức độ cao của đô thị hoá đặc trưng của xã hội Hà Lan đã được. đạt được ở một tương đối ngày đầu. Trong Cộng hòa loạt đầu tiên của di cư quy mô lớn của Hà Lan ở bên ngoài châu Âu đã diễn ra. == Ngôn ngữ == Tiếng Hà Lan là ngôn ngữ được nói bởi hầu hết người dân Hà Lan. Nó là một ngôn ngữ Tây Đức được nói bởi khoảng 22 triệu người. Ngôn ngữ này lần đầu tiên được xác nhận khoảng 500 trước Công nguyên, trong một văn bản quy phạm pháp luật Frankish, các Salica Lex, và có một biên bản hơn 1500 năm, mặc dù các tài liệu trước khi khoảng 1200 năm là rời rạc và không liên tục. Là một ngôn ngữ Tây Đức, Hà Lan có liên quan đến các ngôn ngữ khác trong nhóm như Frisia, tiếng Anh và tiếng Đức. Nhiều thổ ngữ Tây Đức đã trải qua một loạt các thay đổi âm thanh. Tiếng Hà Lan không trải qua những thay đổi âm thanh và do đó có thể nói là chiếm một vị trí trung tâm trong ngôn ngữ Tây Đức. == Hậu duệ người Hà Lan == === Nam Phi === Ở Nam Phi, người Hà Lan định cư ở Cape năm 1652. Khu định cư ban đầu được xác định là vào thời điểm khi điểm tái cung cấp và nhà ga đường cho tàu Đông Ấn Hà Lan công ty trên đường qua lại giữa Hà Lan và Đông Ấn. Trạm hỗ trợ này dần dần trở thành một cộng đồng định cư. Tuy nhiên, các cư dân nông thôn thuộc địa sớm đã bắt đầu không thích quyền lực được nắm giữ bởi Công ty Đông Ấn Hà Lan (công ty này đã ngừng chính sách nhập cư mở của thuộc địa, thương mại độc quyền, kết hợp các quyền hạn hành chính, lập pháp và tư pháp vào một cơ quan, yêu cầu những người nông dân trồng loại cây gì, đòi hỏi một lượng lớn cống nộp của mỗi vụ thu hoạch nông dân, và quấy rối họ.) Từ từ những người nông dân đã rời bỏ Cape, cuối cùng trở thành được gọi là 'trekboers', và các khu định cư tiến sâu hơn vào Nam Phi và Namibia. Ngày nay, người Phi gốc Hà Lan và Cape Hà Lan được gọi chung là Afrikaners, trong khi con cháu của Cape Hà Lan và phụ nữ da đen địa phương được biết đến như là Basters. Ngôn ngữ chính của họ là tiếng Affrikan, một ngôn ngữ có nguồn gốc từ Hà Lan và được xem là một phương ngữ của Hà Lan cho đến cuối thế kỷ 19 khi nó trở thành công nhận như một ngôn ngữ khác nhau. == Tham khảo ==
masko.txt
Masku (IPA: [ˈmɑsku]) là một đô thị của Phần Lan. Vị trí ở tỉnh của Tây Phần Lan thuộc vùng Tây Nam Phần Lan. Đô thị này có dân số 5.869 người (thời điểm ngày 31 tháng 12 năm 2004)và diện tích 93,11 km² (trừ phần mặt biển) trong đó có 0,12 km² là mặt nước nội địa. Mật độ dân số là 63,11 người trên mỗi km². Dân đô thị này chỉ sử dụng tiếng Phần Lan Trước đây, tên đô thị này là "Masko" trong tiếng Thụy Điển documents, nhưng ngày nay có tên "Masku" cũng trong tiếng Thụy Điển. Cư dân nổi tiếng có Jarkko Nieminen. == Xem thêm == Lâu đài Stenberga == Liên kết ngoài == http://www.masku.fi/ - Trang mạng chính thức (bằng tiếng Phần Lan) == Tham khảo ==
webdav.txt
WebDAV là viết tắt của cụm từ Web-based Distributed Authoring and Versioning (tạm dịch hệ thống quản lý chứng thực và phiên bản dựa trên môi trường Web) là một trong những sáng chế của tổ chức IEFT. Khái niệm này cũng được hiểu là một tập hợp những mở rộng của giao thức HTTP - một tập hợp các chuẩn cho phép những người dùng có thể hợp tác sửa đổi và quản lý nhiều file trên những web server từ xa. == Mục đích == Mục đích của giao thức WebDAV là làm cho môi trường World Wide Web trở thành một phương tiện truyền thông linh hoạt, có khả năng đọc cũng như sửa đổi mọi nội dung một cách dễ dàng. Nó cung cấp những khả năng như tạo, thay đổi, di chuyển các tài liệu trên một server từ xa (thường là một web server hay "web share"). Điều này không những cung cấp khả năng chứng thực quyền tác giả trên các văn bản mà đồng thời nó còn cho phép lưu trữ những văn bản trong môi trường web để có thể truy cập tại bất kì nơi nào bạn muốn. Phần lớn những hệ điều hành hiện đại đều tích hợp khả năng hỗ trợ WebDAV. Với một client hợp pháp và hệ thống mạng tốc độ cao, chúng ta có thể sử dụng các văn bản lưu trên một WevDAV server giống như là đang làm việc trên trực tiếp trên những thư mục trong máy tính của mình == Lịch sử == WebDAV xuất phát khi một người nước ngoài có tên là Jim Whitehead thuyết phục W3C tổ chức những buổi giao lưu giữa những người quan tâm đến vấn đề phân phối những tài nguyên có tính bản quyền trên World Wide Web, với mục đích tìm ra những giải pháp hữu hiệu cho hoạt động này. Sau những cuộc họp đó, họ nhất trí đề xuất giải pháp lên tổ chức IETF. IETF đã xem xét vấn đề này và lựa chọn giao thức HTTP như một phương tiện cho việc giải quyết bài toán. Xuất phát từ đó, IETF đã bổ sung thêm một số mở rộng vào giao thức HTTP để tạo nên WebDAV. == Tổng quan về giao thức == WebDAV bổ sung thêm những hoạt động sao vào giao thức HTTP: PROPFIND - Được sử dụng để lấy ra những thuộc tính, lưu dưới dạng XML từ một tài nguyên. Nó cũng cho phép lấy ra một tập hợp cấu trúc (chẳng hạn như một phân cấp của thư mục) của một hệ thống file từ xa. PROPPATCH - Được sử dụng để thay đổi và xóa nhiều thuộc tính trên một tài nguyên ở mức độ nhỏ nhất (a single atomic act). MKCOL - Được sử dụng để tạo ra một tập hợp (ví dụ: một thư mục). COPY - Được sử dụng để di chuyển một tài nguyên từ URI này sang URI khác LOCK - Được sử dụng để đặt một khóa lên một tài nguyên. UNLOCK - Được sử dụng để loại bỏ một khóa ra khỏi tài nguyên. SEARCH - Được sử dụng để khởi tạo một tìm kiếm phía server == Những phần mềm hỗ trợ WebDAV == === Về phía Servers === Sun Java System Web Server Apache HTTP Server [1] Adobe Version Cue CS2 [2] Barracuda Embedded Web Server foXServe Apache Embedded Web Server Drupal using the WebDAV API module EXist Open Source Native XML Database [3] Ektron Content Management [4] eZ publish Gallery Project, the open source web based photo album organizer Hippo Repository [5] I(2) Drive WebDAV Server [6] infoRouter WebDAV Document Server [7] Jahia [8] Jakarta Slide (also RFC3253, RFC3744) Jakarta Tomcat Jigsaw lighttpd Microsoft IIS IT Hit WebDAV Server Engine.Net Framework-based WebDAV Server Microsoft Exchange Microsoft Office SharePoint Portal Server Microsoft Windows SharePoint Services OpenACS OpenLink Virtuoso Open Text - Livelink ECM (Enterprise Content Management) [9] Oracle Content Services and Records Management [10] PHP (See also [11]) Plone Sakai SAP NetWeaver (Knowledge Management) (also RFC3253, RFC3648, RFC3744, RFC4316, RFC4437) Software AG Tamino XML Database Subversion (including versioning) Vignette Collaboration [12] WebCT Xythos WebFile Server development platform (server); Digital Locker and Enterprise Document Manager applications (server); See also RFC3253, RFC3744. Zope === Về phía Clients === Apple iCal Cadaver [13] Eclipse (computing) BitKinex WebDAV Client [14] DataFreeway [15] davfs2 fusedav [16] and wdfs [17] - WebDAV filesystems using FUSE GanttProject [18] GNOME Desktop with Nautilus file manager WebDAV.NET WebDAV API for.NET Framework and.NET Compact Framework KDE Desktop with Konqueror file manager Mac OS X Adobe (Formerly Macromedia) Contribute và Dreamweaver IBM Tivoli Continuous Data Protection for Files Microsoft Office Microsoft Windows - "Web folders" (has many bugs [19]), Internet Explorer, and Outlook Express Mozilla Calendar Mozilla Lightning Mozilla Sunbird Neovalis WebDAV Client Library for.Net [20] Novell NetDrive Novell Evolution Open Source Applications Foundation's Chandler (PIM) SAP NetWeaver (Knowledge Management) (also RFC3253, RFC3648, RFC3744, RFC4316, RFC4437) skEdit (Code/text editor) Total Commander, requires the WebDAV plugin WebDrive [21] Virtual Drive Client maps a drive to a WebDAV Server Xythos Drive (desktop WebDAV client) Goliath for Mac OS9 and X === Services === Apple iDisk, one of the .Mac services IBackup Box.net Virtual Storage WebLife by Earthlink Bingo! == Một số liên kết bổ sung == http://test.webdav.org: Đây là server được sử dụng nhằm kiểm tra khả năng hoạt động của những WebDAV client. == Tham khảo ==
sông đà.txt
Sông Đà (còn gọi là sông Bờ hay Đà Giang) là phụ lưu lớn nhất của sông Hồng. Sông bắt nguồn từ tỉnh Vân Nam, Trung Quốc chảy theo hướng tây bắc - đông nam để rồi nhập với sông Hồng ở Phú Thọ. Sông Đà dài 910 km (có tài liệu ghi 983 km), diện tích lưu vực là 52.900 km². Ở Trung Quốc, sông có tên là Lý Tiên Giang, do hai nhánh Bả Biên Giang và A Mặc Giang hợp thành. Trong một số tiếng châu Âu, sông Đà được dịch là sông Đen (tiếng Anh: Black River; tiếng Pháp: rivière Noire). Đoạn ở Trung Quốc dài khoảng 400 km từ núi Nguy Bảo (巍寶山) ở huyện tự trị người Di người Hồi Nguy Sơn phía nam châu tự trị châu tự trị dân tộc Bạch Đại Lý chảy theo hướng tây bắc-đông nam qua Phổ Nhĩ. Đoạn ở Việt Nam dài 527 km (có tài liệu ghi 543 km). Điểm đầu là biên giới Việt Nam-Trung Quốc tại huyện Mường Tè (Lai Châu). Sông chảy qua các tỉnh Tây Bắc Việt Nam là Lai Châu, Điện Biên, Sơn La, Hòa Bình, Phú Thọ (phân chia huyện Thanh Thủy, Phú Thọ với Ba Vì, Hà Nội). Điểm cuối là ngã ba Hồng Đà, huyện Tam Nông, tỉnh Phú Thọ. Đoạn đầu sông trên lãnh thổ Việt Nam, sông Đà còn được gọi là Nậm Tè. Các phụ lưu trên lãnh thổ Việt Nam gồm Nậm Na (ở tả ngạn), Nậm Mức (ở hữu ngạn). Lê Quý Đôn viết về sông Đà như sau:"... Sông Đà ở về bên trái sông Mã, phát nguyên từ châu Ninh Viễn tỉnh Vân Nam Trung Quốc, chảy đến bên phải chỗ ngã ba thuộc huyện Kiến Thủy,... (Đoạn này Quý Đôn nói về sông Mê Kông và nhầm 2 sông thông với nhau) ..., về đường chính có một chi chảy xuống làm thành sông Hắc Thủy, chảy qua Tuy Phụ (Mường Tè), Hoàng Nham (Mường Tông), Khiêm Châu đến Mường Lễ thuộc Lai Châu nước ta. Về bên trái là sông Na, từ sông Kim Tử (Kim Thủy Hà (金水河)) châu Quảng Lăng (Mãnh Lạp (勐拉, Meng La)) chảy đến hội tụ, đấy là sông Đà, nước sông trong suốt, chảy xuống các động Phù Tây, Hảo Tế thuộc châu Quỳnh Nhai, về bên trái hợp lưu với Tề Giang chảy qua các xứ Vạn Mỏ thuộc châu Thuận, Vạn châu, Vạn Lộc thuộc châu Mai Sơn, Vạn Thụy, Vạn Giang, Hinh Miêng thuộc châu Mộc đều về bên phải. Đường sông thác ghềnh hiểm trở, gồm 83 thác có tiếng (tên), mà Vạn Bờ là thác nguy hiểm thứ nhất, bờ bên phải là Thượng Động, Hạ Động thuộc châu Mai, bờ bên trái là các động Tân An, Hào Tráng, Hiền Lương, Dĩ Lý thuộc châu Mộc. Hạ lưu, về bên trái chảy qua Vĩnh Điều, Thái Hòa, Vô Song, Sơn Bạn, Tu Vũ, Phượng Mao, Lăng Sương, Đồng Luận, Đoan Thượng, Đoan Hạ, Bảo Khang, Thượng Lạc, Đồng Lâm, La Phù, Hoa Thôn, Thạch Uyển, Quang Bị, Hạ Bì, La Thượng, La Hạ thuộc huyện Bất Bạt, đến Hoàng Cương, Hạ Nông và xứ Gót Nung thuộc huyện Tam Nông hợp lưu với sông Thao." Sông có lưu lượng nước lớn, cung cấp 31% lượng nước cho sông Hồng và là một nguồn tài nguyên thủy điện lớn cho ngành công nghiệp điện Việt Nam. Năm 1994, khánh thành Nhà máy Thủy điện Hoà Bình có công suất 1.920 MW với 8 tổ máy. Năm 2005, khởi công công trình thủy điện Sơn La với công suất theo thiết kế là 2.400 MW. Đang xây dựng nhà máy thủy điện Lai Châu 1.200 M. Khởi công năm 2011, dự kiến hoàn thành tháng 12 năm 2016 ở thượng nguồn con sông này. Lưu vực có tiềm năng tài nguyên to lớn với nhiều loại khoáng sản quý hiếm, các hệ sinh thái đặc trưng bao gồm các nguồn sinh vật với mức đa dạng sinh học cao. == Các cây cầu bắc qua sông Đà == Cầu công trình thủy điện Lai Châu Cầu Hang Tôm mới (nối huyện Nậm Nhùn của tỉnh Lai Châu và thị xã Mường Lay của Điện Biên). Cầu Pá Uôn (huyện Quỳnh Nhai, tỉnh Sơn La). Cầu công trình thủy điện Sơn La Cầu Vạn Bú (Mường La), huyện Mường La, Sơn La Cầu Tạ Bú, Mường La, Sơn La Cầu Tạ Khoa (huyện Bắc Yên, tỉnh Sơn La). Cầu Hòa Bình (thành phố Hòa Bình, tỉnh Hòa Bình). Cầu Đồng Quang nối huyện Thanh Thủy, Phú Thọ và huyện Ba Vì, Hà Nội Cầu Trung Hà (nối huyện Tam Nông của tỉnh Phú Thọ và huyện Ba Vì của thành phố Hà Nội). == Tham khảo == == Xem thêm == Nhà máy thủy điện Hòa Bình Nhà máy thủy điện Sơn La Nhà máy thủy điện Lai Châu == Liên kết ngoài == Trang web của Hội Đập lớn Việt Nam Trang web của Tổng công ty Sông Đà Quy hoạch và Quản lý tổng hợp tài nguyên nước lưu vực sông Đà Sông Đà và triển vọng thủy điện Bản đồ lưu vực Sông Đà và các nhánh Mực nước và lưu lượng một số sông chính năm 2003