filename stringlengths 4 100 | text stringlengths 0 254k |
|---|---|
mùa xuân.txt | Mùa xuân là một trong bốn mùa thường được công nhận ở những vùng ôn đới và cận cực, tiếp nối mùa đông và diễn ra trước mùa hạ. Về mùa xuân có rất nhiều định nghĩa, nhưng cách sử dụng khác nhau tùy vào khí hậu, văn hóa và tập quán của mỗi khu vực. Khi ở Bắc bán cầu đang là mùa xuân thì ở Nam bán cầu sẽ là mùa thu. Vào ngày xuân phân, ngày dài xấp xỉ 12 giờ và kể từ đó trở đi quảng thời gian ban ngày bắt đầu tăng lên. Ngoài đề cập đến một mùa trong năm, mùa xuân hay "thời kỳ mùa xuân" còn thường được liên tưởng đến sự tái sinh, trẻ hóa, đổi mới, sự sống lại và tái phát triển.
== Thời gian ==
Trong thiên văn học người ta định nghĩa mùa xuân bắt đầu từ thời điểm diễn ra tiết xuân phân (khoảng ngày 21 tháng 3 ở Bắc bán cầu và ngày 23 tháng 9 ở Nam bán cầu) và kết thúc vào thời điểm diễn ra tiết hạ chí (khoảng ngày 21 tháng 6 ở Bắc bán cầu và 21 tháng 12 ở Nam bán cầu). Trong khí tượng học, để thuận tiện thì người ta tính mùa xuân bao gồm toàn bộ các tháng Ba, Tư và Năm ở Bắc bán cầu còn tại Nam bán cầu là toàn bộ các tháng Chín, Mười và Mười Một.
Tuy nhiên, theo truyền thống thì lịch của một số nền văn hóa như lịch Ireland chẳng hạn, người ta tính toàn bộ các tháng Hai, Ba và Tư. Tại Việt Nam cũng như các nước khác chịu ảnh hưởng của nền văn minh Trung Hoa thì người ta tính mùa xuân bắt đầu từ thời điểm diễn ra tiết lập xuân (khoảng ngày 5 tháng 2) và kết thúc tại thời điểm diễn ra tiết lập hạ (khoảng ngày 5 tháng 5).
== Đặc điểm ==
Từ "mùa xuân" được sử dụng rộng rãi trên Trái Đất để chỉ một trong bốn mùa, kể cả cho khu vực ôn đới và nhiệt đới, mặc dù đôi khi tại vùng nhiệt đới người ta cũng dùng các khái niệm mùa mưa và mùa khô thay vì bốn mùa: xuân, hạ, thu, đông.
Trong mùa xuân, trục tự quay của Trái Đất nghiêng tăng dần về phía Mặt Trời, và các giờ được chiếu sáng được tăng dần lên để bằng hoặc lớn hơn 12 giờ mỗi ngày và nó tăng rất nhanh ở các vĩ độ lớn. Bán cầu có mùa xuân bắt đầu được sưởi ấm một cách đáng kể, làm cho thực vật đâm chồi nở hoa.
Các thông tin dưới đây đưa ra theo quan điểm định nghĩa mùa xuân trong thiên văn học và áp dụng cho các vùng ôn đới nhưng không được đúng lắm cho các vùng nhiệt đới.
Tuyết (nếu có) bắt đầu tan chảy và các con sông, dòng suối được làm đầy dần lên do tuyết tan. Phần lớn các loài thực vật có hoa nở hoa trong thời gian này của năm, trong một sự nối tiếp kéo dài được bắt đầu thậm chí từ khi vẫn còn tuyết trên mặt đất và tiếp tục cho đến đầu mùa hè. Trong các khu vực thông thường có ít tuyết hoặc không có tuyết, mùa xuân có thể bắt đầu sớm vào đầu tháng Hai (Bắc bán cầu) trong những năm ấm áp, với các khu vực cận nhiệt đới có sự khác biệt không đáng kể, còn các khu vực nhiệt đới thì không có gì khác biệt đáng kể. Tại các khu vực cận kề vùng Bắc cực có thể người ta không quan sát thấy mùa xuân cho đến tận tháng Năm hay thậm chí tháng Sáu, hoặc tháng Mười Hai ở vùng ven châu Nam Cực.
Thời tiết khắc nghiệt thông thường hay xảy ra nhất trong mùa xuân, khi không khí ấm bắt đầu lan tỏa từ các vĩ độ thấp trong khi không khí lạnh vẫn còn thổi xuống từ các vùng cực. Ngập lụt cũng phổ biến nhất trong và gần các khu vực miền núi trong thời gian này của năm do tuyết tan chảy được gia tốc thêm bởi các trận mưa ấm. Tại Hoa Kỳ, hành lang lốc xoáy hoạt động tích cực nhất vào thời gian này của năm, đặc biệt là do dãy núi Rocky ngăn cản sự lan tỏa của các khối khí nóng và lạnh không cho chúng lan về phía tây và thay vì thế ép chúng va chạm trực tiếp với nhau. Ngoài ra các trận lốc xoáy, mưa dông "siêu tế bào" có thể sinh ra các đuôi lớn rất nguy hiểm và gió rất mạnh, đối với chúng các cảnh báo mưa dông khắc nghiệt hay thậm chí các cảnh báo lốc xoáy thông thường hay được đưa ra. Thông thường, các trận giông tố vào mùa xuân thường tạo ra hàng loạt các cảnh báo. Thậm chí còn nhiều hơn trong mùa đông, các trận gió xoáy đóng một vai trò quan trọng trong thời tiết khắc nghiệt vào mùa xuân.
Thời tiết nóng bức có thể diễn ra vào mùa xuân, thậm chí chỉ một khoảng thời gian rất ngắn ngay sau khi thời tiết lạnh giá. Nhiệt độ trong tháng Năm có thể lên tới 30 °C (86 °F) và có thể có rủi ro của sự đột quỵ do nhiệt (chứng tăng thân nhiệt) do người ta đánh giá thấp các hiệu ứng thời tiết. Cũng có rủi ro do chứng giảm thân nhiệt nếu thời tiết đang nóng bức chuyển đột ngột sang lạnh giá giống như nó thường diễn ra trong tháng Ba và tháng Tư. Một số trận bão tuyết tồi tệ nhất diễn ra vào mùa xuân, bao gồm Đại bão tuyết 1993, sinh ra các điều kiện của bão và sau đó làm cho tuyết rơi xuống miền bắc Florida ngày 13 tháng 3, và tích tụ lại thành lớp dày tới 5 ft (1,5 mét) trong nhiều khu vực của dãy núi Appalaches (Apalaxơ). Trận giông tố lớn mùa xuân năm 2003 đã tạo ra lớp tuyết dày tới 11 ft (3,3 mét) tại nhiều khu vực thuộc Colorado và 3 ft (90 cm) ở Denver, nó tạo ra nhiều tuyết trong tháng 3 và 4 hơn so với toàn bộ mùa đông trước đó (tháng 12 tới tháng 2).
Mùa bão cũng bắt đầu vào cuối mùa xuân, vào ngày 15 tháng 5 ở đông bắc Thái Bình Dương và 1 tháng 6 ở bắc Đại Tây Dương. Trước những ngày này, các trận bão hay thậm chí là áp thấp nhiệt đới cũng rất hiếm, một trong những trận áp thấp nhiệt đới sớm nhất có tên gọi là Ana đã diễn ra vào giữa tháng 4 năm 2003.
Thời gian mùa xuân được coi là thời gian của sự phát triển, sự hồi sinh của cuộc sống mới (cho cả động và thực vật) và một chu kỳ sống mới lại bắt đầu. Một trong các ngày lễ quan trọng của nhiều nền văn minh trên thế giới là lễ đón mừng năm mới, diễn ra vào mùa xuân; ví dụ như Tết Nguyên Đán ở Việt Nam.
== Trên các hành tinh ==
Các hành tinh có trục tự quay không vuông góc với mặt phẳng quỹ đạo đều có hiện tượng mùa, bao gồm mùa xuân. Mùa xuân ở bắc bán cầu là khoảng thời gian bắt đầu khi hành tinh nằm ở điểm xuân phân (Ls = 0°) trên quỹ đạo, và kết thúc khi nó nằm ở điểm hạ chí (Ls = 90°). Mùa xuân ở bắc bán cầu trùng với mùa thu ở nam bán cầu, và mùa xuân ở nam bán cầu trùng với mùa thu ở bắc bán cầu.
== Xem thêm ==
Sự nghiêng trục Trái Đất
Mùa hạ
Mùa thu
Mùa đông
== Tham khảo ==
== Liên kết ngoài ==
Mùa trong năm tại Từ điển bách khoa Việt Nam
Spring (Season) tại Encyclopædia Britannica (tiếng Anh)
"Mùa xuân của động và thực vật ở Phần Lan" của Northern Nature Project |
wakefield and district league.txt | Wakefield and District Football Association League là một giải bóng đá nằm ở Yorkshire, Anh. Giải có tổng cộng 4 hạng đấu, cao nhất là Premier Division, nằm ở Cấp độ 14 trong Hệ thống các giải bóng đá ở Anh. Giải đấu này góp đội cho West Riding County Amateur Football League và West Yorkshire Association Football League. Horbury Town, Garforth Rangers, Rothwell, Thornes, và Thornhill là những đội gần đây nhất lên hạng từ giải này. Horbury (năm 2005), Garforth & Rothwell (năm 2010) và Thornhill (năm 2013) chọn thi đấu ở West Yorkshire League trong khi Thornes (2013) thi đấu ở West Riding County Amateur League.
Fieldhead Hospital, dựa trên bệnh viện cùng tên, là đội lâu đời nhất giải đấu, gia nhập từ mùa giải 1973–74, và hiện tại vẫn đang thi đấu trong giải.
== Đội vô địch ==
== Các câu lạc bộ mùa giải 2015–16 ==
Premier Division
AFC Kettlethorpe
AFC Ossett
Beechwood Gate
Crackenedge
Crofton Sports
Fieldhead Hospital
FC Gawthorpe
Halton Moor
Leodis
Prince of Wales
Snydale Athletic
Walton
Division One
Eastmoor
Featherstone Colliery Dự bị
Healdfield
Marsh
New Pot Oil
Nostell Miners Welfare Dự bị
Old Bank Working Mens Club
Ossett Dynamos
Pontefract Sports & Social
Royston Cross
Seacroft Dự bị
Division Two
Durkar
FC Prince
Fox & Hounds Batley
Horbury Athletic
Methley United
Queen
Red Lion Alverthorpe
Ryhill
Stanley United Dự bị
Wakefield City Dự bị
Division Three
AFC Junction
Crofton Sports Dự bị
Eastmoor Dự bị
Fleece
Henry Boons
Middleton Old Boys
New Carlton
Overthorpe Sports Dự bị
Snydale Athletic Dự bị
Waterloo
Wheatsheaf
== Tham khảo ==
== Liên kết ngoài ==
FA Full Time page |
long an.txt | Long An là một tỉnh thuộc vùng đồng bằng sông Cửu Long, Việt Nam. Tỉnh lỵ của Long An hiện nay là thành phố Tân An, cách trung tâm Thành phố Hồ Chí Minh khoảng 50 km theo đường Quốc lộ 1A. Long An là tỉnh nằm trong Vùng kinh tế trọng điểm phía Nam và là cửa ngõ nối liền Đông Nam Bộ với khu vực Đồng bằng sông Cửu Long, nhất là có chung đường ranh giới với Thành phố Hồ Chí Minh, bằng hệ thống giao thông đường bộ như tuyến Quốc lộ 1A, Quốc lộ 50,...Tỉnh được xem là thị trường tiêu thụ hàng hóa nông sản lớn nhất của Đồng bằng Sông Cửu Long.
== Điều kiện tự nhiên ==
=== Khí hậu ===
Long An nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, ẩm. Do tiếp giáp giữa 2 vùng Đông Nam Bộ và Tây Nam Bộ cho nên vừa mang các đặc tính đặc trưng cho vùng Đồng bằng sông Cửu Long lại vừa mang những đặc tính riêng biệt của vùng miền Đông.
Nhiệt độ trung bình hàng tháng 27,2-27,7 °C. Thường vào tháng 4 có nhiệt độ trung bình cao nhất 28,9 °C, tháng 1 có nhiệt độ trung bình thấp nhất là 25,2 °C.
Lượng mưa hàng năm biến động từ 966–1325 mm. Mùa mưa chiếm trên 70-82% tổng lượng mưa cả năm. Mưa phân bổ không đều, giảm dần từ khu vực giáp ranh Thành phố Hồ Chí Minh xuống phía tây và Tây Nam. Các huyện phía Đông Nam gần biển có lượng mưa ít nhất. Cường độ mưa lớn làm xói mòn ở vùng gò cao, đồng thời mưa kết hợp với cường triều, với lũ gây ra ngập úng, ảnh hưởng đến sản xuất và đời sống của dân cư.
Độ ẩm tương đối trung bình hàng năm là 80-82%. Thời gian chiếu sáng bình quân ngày từ 6,8 - 7,5 giờ/ngày và bình quân năm từ 2.500-2.800 giờ. Tổng tích ôn năm 9.700-10.100 °C. Biên độ nhiệt giữa các tháng trong năm dao động từ 2-4 °C.
Mùa khô từ tháng 11 đến tháng 4 có gió Đông Bắc, tần suất 60-70%. Mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 10 có gió Tây Nam với tần suất 70%.
Tỉnh Long An nằm trong vùng đặc trưng của khí hậu nhiệt đới gió mùa cận xích đạo có nền nhiệt ẩm phong phú, ánh nắng dồi dào, thời gian bức xạ dài, nhiệt độ và tổng tích ôn cao, biên độ nhiệt ngày đêm giữa các tháng trong năm thấp, ôn hòa.
Những khác biệt nổi bật về thời tiết khí hậu như trên có ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống xã hội và sản xuất nông nghiệp.
=== Địa hình ===
Tỉnh Long An thuộc khu vực Đồng bằng sông Cửu Long, có tọa độ địa lý từ 105030' 30 đến 106047' 02 kinh độ Đông và 10023'40 đến 11002' 00 vĩ độ Bắc. phía Đông giáp với Thành phố Hồ Chí Minh và tỉnh Tây Ninh, phía Bắc giáp với tỉnh Svay Rieng, Vương Quốc Campuchia, phía Tây giáp với tỉnh Đồng Tháp và phía Nam giáp với tỉnh Tiền Giang. Sở hữu vị trí địa lý khá đặc biệt bên cạnh đó còn thuộc Vùng kinh tế trọng điểm phía Nam, Long An được xác định là vùng kinh tế động lực có vai trò đặc biệt quan trọng trong chiến lược phát triển kinh tế Việt Nam.
Dù xếp vào vùng Đồng bằng sông Cửu Long nhưng Long An là phần đất chuyển tiếp giữa Đông Nam Bộ và Tây Nam Bộ, nên địa hình có xu hướng thấp dần từ đông bắc xuống tây nam. phía bắc và đông bắc tỉnh có một số gò đồi thấp; giữa tỉnh là vùng đồng bằng và phía tây nam tỉnh là vùng trũng Đồng Tháp Mười, trong đó có khu rừng tràm ngập phèn rộng 46.300 ha.
Tỉnh có 6 nhóm đất chính, nhưng phần lớn là dạng phù sa bồi lắng lẫn nhiều tạp chất hữu cơ, cấu tạo bở rời, tính chất cơ lý kém, nhiều vùng bị chua phèn và tích tụ độc tố.
Địa hình Long An bị chia cắt nhiều bởi hệ thống sông và kênh rạch chằng chịt với tổng chiều dài lên tới 8.912 km, sông Vàm Cỏ Đông và Vàm Cỏ Tây hợp thành sông Vàm Cỏ, kênh Dương Văn Dương,... trong đó lớn nhất là sông Vàm Cỏ Đông chảy qua Long An.
=== Thuỷ văn ===
Long An chịu ảnh hưởng của chế độ bán nhật triều không đều từ biển Đông qua cửa sông Soài Rạp. Thời gian 1 ngày triều là 24 giờ 50 phút, một chu kì triều là 13-14 ngày. Vùng chịu ảnh hưởng của triều nhiều nhất là các huyện phía Nam Quốc lộ 1A, đây là nơi ảnh hưởng mặn từ 4 đến 6 tháng trong năm. Triều biển Đông tại cửa sông Soài Rạp có biên độ lớn từ 3,5 đến 3,9 m, đã xâm nhập vào sâu trong nội địa với cường độ triều mạnh nhất là mùa khô. Biên độ triều cực đại trong tháng từ 217 đến 235 cm tại Tân An và từ 60 đến 85 cm tại Mộc Hoá. Do biên độ triều lớn, đỉnh triều mùa gió chướng đe doạ xâm nhập mặn vào vùng phía nam. Trong mùa mưa có thể lợi dụng triều tưới tiêu tự chảy vùng ven 2 sông Vàm Cỏ Đông, Vàm Cỏ Tây làm giảm chi phí sản xuất.
Bị ngập mặn chủ yếu là từ biển Đông qua cửa sông Soài Rạp do chịu ảnh hưởng của chế độ bán nhật triều. Trước đây, sông Vàm Cỏ Tây mặn thường xâm nhập trên Tuyên Nhơn (huyện Thạnh Hóa) khoảng 5 km. Mặn xâm nhập bắt đầu từ tháng 1 đến tháng 6 với mức 2 đến 4 gam/lít. Đất phèn tập trung với 2084,49 km2, chiếm 69,8% diện tích toàn vùng Đồng Tháp Mười và bằng 46,41% diện tích tự nhiên của tỉnh. Lũ thường bắt đầu vào trung tuần tháng 8 và kéo dài đến tháng 11, mưa tập trung với lưu lượng và cường độ lớn nhất trong năm gây khó khăn cho sản xuất và đời sống. Lũ đến tỉnh Long An chậm và mức ngập không sâu.
== Lịch sử ==
Thời Việt Nam Cộng hòa tỉnh Long An được chia thành bảy quận:
Bến Lức
Bình Phước
Cần Đước
Cần Giuộc
Rạch Kiến
Tân Trụ
Thủ Thừa
== Hành chính ==
Tỉnh Long An có 15 đơn vị hành chính cấp huyện, gồm 1 thành phố, 1 thị xã và 13 huyện. Trong đó có với 191 đơn vị hành chính cấp xã, gồm có 14 thị trấn, 12 phường và 165 xã:
== Kinh tế ==
Nổi tiếng với nhiều sản phẩm nông nghiệp như gạo tài nguyên, gạo nàng thơm Chợ Đào, Rượu Đế Gò Đen, dưa hấu Long Trì, dứa Bến Lức, đậu phộng Đức Hòa, mía Thủ Thừa...Đặc biệt, lúa gạo là sản phẩm nông nghiệp chủ lực chất lượng cao phục vụ xuất khẩu.
Công nghiệp đạt khoảng 40% giá trị trong nền kinh tế tỉnh, được biết đến với những sản phẩm như dệt may, thực phẩm chế biến, xây dựng... Trong bảng xếp hạng về Chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh của Việt Nam năm 2011, tỉnh Long An xếp ở vị trí thứ 3 trong 63 tỉnh thành trong cả nước.
Đầu tư trong nước ước đến hết năm 2012 cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh cho 650 doanh nghiệp, đến cuối năm 2012 có 4.810 doanh nghiệp với tổng vốn đăng ký trên 81.750 tỷ đồng, cấp mới 70 dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài với vốn đầu tư khoảng 250 triệu USD, cấp chứng nhận đầu tư cho 477 dự án với tổng vốn đầu tư đăng ký trên 3.700 triệu USD và có 270 dự án đi vào hoạt động với tổng vốn đầu tư thực hiện 1.700 triệu USD.
Bên cạnh công nghiệp, Long An cũng tập trung phát triển thương mại, dịch vụ và du lịch, phấn đấu tốc độ tăng trưởng đạt 17%/năm trong giai đoạn đến 2020. Các ngành nông nghiệp, lâm nghiệp và thủy sản cũng sẽ được phát triển toàn diện theo hướng sản xuất hàng hóa chất lượng cao, phấn đấu tốc độ tăng trưởng bình quân đạt 5,7%/năm giai đoạn 2011-2020.
Với định hướng phát triển các ngành, lĩnh vực như trên, tỉnh Long An đặt mục tiêu phấn đấu tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân thời kỳ 2012-2030 đạt 12,5%/năm, trong đó giai đoạn 2012-2020 tăng 13%/năm.
Theo ước tính của ngành Thuế, đến cuối năm 2016, tổng số thu ngân sách năm 2016 ước đạt 7.583 tỉ đồng, cao hơn năm 2015 khoảng 626 tỉ đồng. Nếu cộng cả nguồn thu từ xổ số kiến thiết thì tổng thu năm nay là 8.633 tỉ đồng- đứng thứ 2 khu vực Tây Nam Bộ sau TP Cần Thơ, theo dự toán ngân sách trung ương giao năm 2017 là 11.550 tỷ đồng, đứng đầu khu vực, dự kiến đên năm 2018, tỉnh sẻ tự chủ ngân sách và điều tiết về trung ương
Tổng sản phẩm GDP năm 2016 của tỉnh đạt gần 86 nghìn tỷ đồng, thu nhập bình quân đâu người đạt mốc 56 triệu đông/ người/năm.
== Giao thông ==
Long An là cửa ngõ nối liền Đông Nam Bộ với Đồng bằng Sông Cửu Long, có chung đường ranh giới với Thành phố Hồ Chí Minh. Hệ thống giao thông kết nối tỉnh với khu vực khá hoàn chỉnh, bao gồm đường bộ lẫn đường thuỷ.
Các tuyến quốc lộ như quốc lộ 1A với 30km chiều dài, quốc lộ 62, quốc lộ 50, quốc lộ N1, quốc lộ N2, đường Hồ Chí Minh, Đường cao tốc Thành phố Hồ Chí Minh - Trung Lương.
Các tuyến tỉnh lộ như tỉnh lộ 7, tỉnh lộ 8, tỉnh lộ 9, tỉnh lộ 22, tỉnh lộ 817, tỉnh lộ 819, tỉnh lộ 821, tỉnh lộ 822, tỉnh lộ 823, tỉnh lộ 824, tỉnh lộ 825, tỉnh lộ 826, tỉnh lộ 827, tỉnh lộ 828, tỉnh lộ 829, tỉnh lộ 830, tỉnh lộ 831, tỉnh lộ 832, tỉnh lộ 833, tỉnh lộ 834, tỉnh lộ 835, tỉnh lộ 836, tỉnh lộ 837, tỉnh lộ 838 và tỉnh lộ 839.
Ngoài hệ thống giao thông đường bộ Long An cũng là tỉnh có hệ thống giao thông đường thuỷ chằng chịt với các tuyến giao thông như Sông Vàm Cỏ Đông, sông Vàm Cỏ Tây, sông Rạch Cát (sông Cần Giuộc). Các tuyến đường thuỷ quan trọng như Thành phố Hồ Chí Minh - Kiên Lương, Thành phố Hồ Chí Minh - Cà Mau, Thành phố Hồ Chí Minh - Tây Ninh đều qua Long An theo kênh Nước Mặn, sông Rạch Cát, sông Vàm Cỏ Đông. Các loại phương tiện vận tải thuỷ trên 100 tấn có thể theo các kênh rạch như Phước Xuyên, Dương Văn Dương, Trà Cú, Kinh Xáng, sông Bến Lức, sông Rạch Cát, kinh Thủ Thừa... đi từ miền Tây đến Thành phố Hồ Chí Minh.
Dọc theo tuyến biên giới ở Long An, hiện nay có 5 cửa khẩu, bao gồm:
Mỹ Quý Tây (Xòm-Rông) - Đức Huệ
Hưng Điều A (Đức Huệ)
Bình Hiệp (Prây-Vo) – Thị xã Kiến Tường
Vàm Đồn – Vĩnh Hưng
Kênh 28 – Vĩnh Hưng
Ngoài ra, còn có 5 điểm trao đổi hàng hoá khác như Voi Đình, Sóc Rinh thuộc huyện Đức Huệ, Tà Lọt thuộc huyện Mộc Hoá, Rạch Chanh, Tàu Nu, Cây Trâm Dồ thuộc huyện Vĩnh Hưng.
Theo thông tin từ Tổng cục Thống kê năm 2008, khối lượng vận chuyển hành khách của tỉnh là 38,5 triệu lượt người, khối lượng luân chuyển hành khách đạt 1176,8 triệu lượt người/km, khối lượng vận chuyển hàng hoá đạt 12.972,0 nghìn tấn (đường bộ đạt 4.147 nghìn tấn, đường thuỷ đạt 8.798 nghìn tấn), khối lượng luân chuyển hàng hoá đạt 483,2 triệu tấn/km (đường bộ đạt 51,9 triệu tấn/km, đường thuỷ đạt 431,3 triệu tấn/km).
== Môi trường ==
Cụm công nghiệp (CCN) Hoàng Gia với 52 doanh nghiệp, có tổng diện tích hơn 128ha do Công ty TNHH Hoàng Gia Long An làm chủ đầu tư tại xã Mỹ Hạnh Nam, Đức Hòa, hoạt động suốt hơn 10 năm qua nhưng chỉ có 4 doanh nghiệp có hồ xử lý nước thải. Hai bên đường dẫn vào các doanh nghiệp của CCN, nhiều đoạn cống hở thoát nước với nước thải ô nhiễm từ các phân xưởng, nhà máy sản xuất đổ ra bốc mùi hôi thối, hăng hắc của hóa chất cực kỳ khó chịu. Những đường cống này xả nước ô nhiễm thẳng ra môi trường xung quanh.
== Văn hoá ==
Long An có nhiều di tích lịch sử từ cổ tới kim, nổi bật là văn hoá Óc-eo tại Đức Hoà, đền thờ Nguyễn Huỳnh Đức tại Tân An, Chùa Tôn Thạnh ở Cần Giuộc và Nhà trăm cột tại Cần Đước. Hiện tỉnh có khoảng 186 di tích lịch sử, có 16 di tích được xếp hạng di tích lịch sử cấp quốc gia và 63 di tích được xếp hạng cấp tỉnh.
=== Di tích lịch sử ===
=== Phong tục tập quán ===
Long An còn có các lễ hội như lễ Kỳ Yên, lễ cầu mưa, lễ tống phong với nhiều trò chơi dân gian như đua thuyền, kéo co, đánh vật, có khả năng thu hút được nhiều khách du lịch. Các nghề thủ công truyền thống của tỉnh như nghề chạm gỗ (Cần Đước, Bến Lức), nghề kim hoàn (Phước Vân), nghề đóng ghe (Cần Đước),nghề làm trống (Tân Trụ), nghề làm bánh tráng (Tân An)…
Các lễ hội là một phần trong văn hóa và đời sống xã hội của Long An như: Kỳ Yên, lễ hội cầu mưa và Tòng Phóng. Du khách sẽ hết sức thú vị với mô hình du lịch sinh thái Đồng Tháp Mười, nghe đờn ca tài tử cải lương – một loại hình dân ca đặc sắc của Nam bộ mà Long An là chiếc nôi của dòng dân ca này.
== Dân số ==
Tính đến năm 2011, dân số toàn tỉnh Long An đạt gần 1.449.600 người, mật độ dân số đạt 323 người/km² Trong đó dân số sống tại thành thị đạt gần 258.000 người, dân số sống tại nông thôn đạt 1.191.600 người. Dân số nam đạt 719.900 người, trong khi đó nữ đạt 729.700 người. Tỷ lệ tăng tự nhiên dân số phân theo địa phương tăng 8.3 ‰
Theo thống kê của tổng cục thống kê Việt Nam, tính đến ngày 1 tháng 4 năm 2009, toàn tỉnh Long An có 28 dân tộc cùng 23 người nước ngoài sinh sống. Trong đó dân tộc kinh có 1.431.644 người, Người Hoa có 2.690 người, 1.195 người Khơ Me cùng nhiều dân tộc khác, ít nhất là các dân tộc Cờ Lao, Chu Ru và Raglay chỉ có 1 người...
Tính đến ngày 1 tháng 4 năm 2009, Toàn tỉnh Long An có 11 Tôn giáo khác nhau chiếm 206.999 người. Trong đó, nhiều nhất là Phật giáo với 125.118 người, tiếp theo đó là đạo Cao Đài với 98.000 người, thứ 3 là Công giáo 31.160 người cùng các tôn giáo it người khác như Đạo Tin Lành có 3.480 người, Phật giáo Hòa Hảo có 2.2221 người, Tịnh độ cư sĩ Phật hội Việt Nam có 242 người, Hồi Giáo có 230 người, Bửu Sơn Kỳ Hương có 43 người Minh Sư Đạo và Minh Lý Đạo mỗi đạo có 38 người, ít nhất là Đạo Tứ Ân Hiếu Nghĩa với chỉ 11 người.
xxxxnhỏ|trái|Ảnh chụp người sáng lập và Ban Cố vấn trước tòa nhà trung tâm của Đại học Tân Tạo]]
== Y tế - Giáo dục ==
=== Giáo dục ===
Tính đến thời điểm ngày 30 tháng 9 năm 2011, trên địa bàn toàn tỉnh có 422 trường học ở cấp phổ trong đó có Trung học phổ thông có 33 trường, Trung học cơ sở có 122 trường, Tiểu học có 246 trường, trung học có 11 trường, có 10 trường phổ thông cơ sở, bên cạnh đó còn có 183 trường mẫu giáo. Với hệ thống trường học như thế, nền giáo dục trong địa bàn Tỉnh Long An cũng tương đối hoàn chỉnh, góp phần giảm thiểu nạn mù chữ trong địa bàn tỉnh. Hệ thống trường tiêu biểu như:
Trường Chính trị Long An (1005 QL1A, Khánh Hậu, tp. Tân An, Long An - Tel: 072 3511 574)
Hệ thống trường Đại học:
Trường Đại học Kinh tế Công nghiệp Long An (Quốc lộ 1, Khánh Hậu, TP. Tân An)
Trường Đại học Tân Tạo (Khu công nghiệp Tân Đức, Xã Đức Hòa Hạ 824, Đức Hòa, Long An)
Hệ thống trường Cao đẳng:
Trường Cao đẳng nghề Long An (trường công lập - 60 QL1, Phường 5, tp. Tân An, Long An)
Trường Cao đẳng Sư phạm Long An (trường công lập - QL1, Khánh Hậu, tp. Tân An, Long An)
Trường Cao đẳng Nghề kỹ thuật công nghệ Ladec (trường tư thục - 164 Châu Thị Kim, phường 3, tp Tân An, Long An)
Trung cấp:
Trường Trung cấp Kinh tế - Kỹ thuật Long An (Số 277, Quốc lộ 1A, Voi Lá, Thị trấn Bến Lức, Bến Lức, Long An)
Trường Trung cấp Y tế Long An (93 QL62, Phường 6, tp. Tân An, Long An)
Trường Trung cấp Phật học Long An
Ngoài ra, Long An còn có xây dựng thêm rất nhiều trường trung học phổ thông, cơ sở, tiểu học và rất nhiều trường mầm non trong địa bàn toàn tỉnh nhằm đáp ứng nhu cầu về giáo dục cho người dân.
=== Y tế ===
Đến ngày 05 tháng 11 năm 2008, hệ thống y tế của tỉnh bao gồm: Bệnh viện tuyến tỉnh, 11 Bệnh viện tuyến huyện, 8 phòng khám khu vực và có 183/188 xã, phường, thị trấn có trạm y tế. Năm 2009, tỉnh Long An có 211 cơ sở khám chữa bệnh trực thuộc Sở Y tế. Trong đó có 16 bệnh viện, 5 phòng khám đa khoa khu vực, và 190 trạm y tế phường xã, tổng số giường bệnh là 2.807 giường, trong đó các bệnh viện có 1.980 giường, phòng khám đa khoa khu vực có 95 giường, trạm y tế có 732 giường.
Theo thống kê về y tế năm 2011, trên địa bàn toàn tỉnh có 211 cơ sở khám chữa bệnh trực thuộc Sở Y tế. Trong đó có 16 Bệnh viện, 5 phòng khám đa khoa khu vực, 190 Trạm y tế phường xã, với 3332 giường bệnh và 751 bác sĩ, 1034 y sĩ, 907 y tá và khoảng 455 nữ hộ sinh.
== Chú thích ==
== Liên kết ngoài ==
Cổng thông tin điện tử tỉnh Long An
Bản mẫu:Danh sách đơn vị hành chính thuộc tỉnh Long An |
tre.txt | Tre là một nhóm thực vật thân xanh nên thân gỗ,thân tre thẳng,bên trong rỗng, phân thành nhiều đốt, trên thân tre có các mấu mắt.Tre thuộc Bộ Hòa thảo, Phân họ Tre, Tông Tre (Bambuseae), một số loài của nhóm này rất lớn, và được coi là lớn nhất trong Bộ Hòa thảo. Tre cũng là một loại thực vật có hoa, nhưng chỉ nở hoa một lần duy nhất vào lúc cuối đời. Thường thì tre có thời gian nở hoa trong khoảng 5 - 60 năm một lần. Hoa tre có mùi hương hơi nồng và có màu vàng nhạt như màu đất. Tre nhỏ thì cao khoảng 2-3 mét còn có những cây già cao tới 5 mét.Lá tre nhỏ,thon.dẹp, thuôn nhọn về phía đầu, sắc.
== Công dụng ==
Tre được sử dụng làm các đồ vật gia dụng, nhà, (cột, kèo), làm đũa, làm máng nước, làm rổ rá, vật dụng nông nghiệp (gầu, cán cuốc, cán xẻng). Tre non làm thức ăn (măng). Tre khô kể cả rễ làm củi đun. Trong chiến tranh, tre được sử dụng làm vũ khí rất lợi hại (chông tre, gậy, cung tên).
== Phân loại ==
Tông Bambuseae bao gồm khoảng 1.000 loài, phân chia thành 9 phân tông và chứa khoảng 91 chi:
=== Phân tông Arthrostylidiinae ===
Phân tông này chứa 12 chi:
Actinocladum
Alvimia
Arthrostylidium
Athroostachys
Atractantha
Aulonemia (Matudacalamus)
Colanthelia
Elytrostachys
Glaziophyton
Merostachys
Myriocladus
Rhipidocladum
=== Phân tông Arundinariinae ===
Phân tông này chứa 17 chi:
Vầu xanh Acidosasa
Trúc dây Ampelocalamus
Arundinaria
Borinda
Sặt gai Chimonocalamus (Sinarundinaria)
Drepanostachyum
Fargesia
Ferrocalamus
Gaoligongshania
Gelidocalamus
Himalayacalamus
Indocalamus
Oligostachyum
Pseudosasa
Sasa
Thamnocalamus
Yushania
=== Phân tông Bambusinae ===
Phân tông này chứa 10 chi:
Tre Bambusa (Dendrocalamopsis)
Le Bắc Bộ Bonia (Monocladus)
Luồng Dendrocalamus (Klemachloa, Oreobambos, Oxynanthera, Sinocalamus)
Gigantochloa
Dinochloa
Holttumochloa
Kinabaluchloa (Maclurochloa, Soejatmia)
Melocalamus
Sphaerobambos
Thyrsostachys
=== Phân tông Chusqueinae ===
Phân tông này chứa 2 chi:
Chusquea (Dendragrostis, Rettbergia)
Neurolepis (Planotia)
=== Phân tông Guaduinae ===
Phân tông này chứa 5 chi:
Apoclada
Eremocaulon (Criciuma)
Guadua
Olmeca
Otatea
=== Phân tông Melocanninae ===
Phân tông này chứa 9 chi:
Cơm lam Cephalostachyum
Davidsea
Leptocanna
Melocanna (Beesha)
Neohouzeaua
Ochlandra
Pseudostachyum
Schizostachyum
Teinostachyum
=== Phân tông Nastinae ===
Phân tông này chứa 6 chi:
Decaryochloa
Greslania
Hickelia
Hitchcockella
Nastus
Perrierbambus
=== Phân tông Racemobambodinae ===
Phân tông này chứa 1 chi:
Racemobambos (Neomicrocalamus, Vietnamosasa)
=== Phân tông Shibataeinae ===
Phân tông này chứa 9 chi:
Brachystachyum
Trúc vuông Chimonobambusa
Indosasa
Phyllostachys
Qiongzhuea
Semiarundinaria
Shibataea
Sinobambusa
Temburongia (incertae sedis)
== Việt Nam ==
=== Trong văn hóa dân gian ===
Truyện cổ tích Cây tre trăm đốt
Tre già măng mọc
=== Tre trong chiến tranh ===
Ngày xưa, Thánh Gióng nhổ những cụm tre cạnh đường quật vào giặc. Trong chiến tranh Việt Nam. Tại chiến trường Khe Sanh, sự hiện diện của những khóm tre đóng góp một phần không nhỏ vào chiến thắng của quân đội Bắc Việt. Quân phục của quân đội nhân dân Việt Nam dựa trên đặc thù địa hình Việt Nam, trong đó cây tre có thành tích lớn trong việc xây dựng hình tượng này.
=== Xem thêm ===
Phù Đổng Thiên Vương, người anh hùng dân tộc cưỡi ngựa sắt với bó tre trong tay đánh đuổi quân xâm lược. Ngoài ra, tre còn xuất hiện trong nhiều truyện cổ tích dân gian Việt Nam.
== Hình ảnh ==
== Tham khảo ==
== Liên kết ngoài ==
Chisholm, Hugh biên tập (1911). “Bamboo”. Encyclopædia Britannica (ấn bản 11). Nhà in Đại học Cambridge.
Bamboo Structural Design ISO Standards
Resources on Bamboo
Bamboo Art(Video) |
okino tori-shima.txt | Okino Tori-shima (沖ノ鳥島 (Xung (Chi) Điểu đảo), Okino Tori-shima) là một đảo san hô vòng ở biển Philippines có tọa độ 20°25′31″B 136°05′11″Đ, cách đảo Oki Daitō 534 km theo hướng đông nam, cách đảo Minami Iwo Jima thuộc quần đảo Ogasawara 567 km về hướng tây-tây nam và cách Tokyo 1740 km về hướng nam. Tên đảo có nghĩa là "Đảo Chim xa xôi" và đảo được coi là "các đảo cực nam của Nhật Bản". Tên gốc của hòn đảo là Parece Vela, tiếng Tây Ban Nha nghĩa là "nhìn giống như cánh buồm" (ám chỉ hình dáng lúc đó của bãi đá ngầm). Trong các tài liệu tiếng Anh, cái tên Parece Vela cũng được tiếp nhận.
== Lịch sử ==
Có thể thuyền trưởng người Tây Ban Nha Bernando de la Torre là người đầu tiên đã thấy Okinotorishima vào năm 1543. Năm 1565, Miguel López de Legazpi chắc chắn đã thấy Okinotorishima. Các ghi chép đầu tiên gọi hòn đảo là Parece Vela.
Năm 1789, William Douglas cùng với một tàu của Anh tên là Iphigenia đi qua vùng này. Một năm sau đó, nơi này được đặt tên là rạn đá ngầm Douglas (có thế viết là Douglass). Có vẻ như người Nhật không biết tới sự tồn tại của đảo san hô vòng này cho đến tận năm 1888. Vào năm 1922 và 1925, tàu Hải quân Nhật Bản Manshu khám phá ra khu vực này. Năm 1931, sau khi xác nhận được là không có quốc gia nào tuyên bố chủ quyền với đảo san hô vòng này, Nhật Bản đã tuyên bố đây là lãnh thổ Nhật, trực thuộc tỉnh Tokyo, xếp đảo vào thôn Ogasawara và đặt tên là Okinotorishima.
Từ 1939 đến 1941, Nhật Bản đã thiết lập hoàn chính "một hải đăng và một trạm quan trắc khí tượng". Tuy nhiên, việc xây dựng bị ngắt quãng vì Chiến tranh Thế giới lần thứ hai bùng nổ. Sau khi Nhật Bản thất trận, Hoa Kỳ đã nắm được chủ quyền của quần đảo Ogasawara và sau đó trao trả quần đảo cho Nhật Bản năm 1968.
Giữa năm 1987 và 1993, chính quyền Tokyo và sau đó là Chính quyền Trung ương đã xây dựng các đê chắn sóng bằng thép và tường bê tông để ngăn chặn sự xói mòn của Okinotorishima. Ngày nay, chỉ còn ba trong số năm khối đá hiện diện năm 1939 là còn nổi trên mực nước biển. Năm 2007, một cột mốc nhẹ được Lực lượng Bảo vệ bờ biển Nhật Bản hoàn thành để nghiên cứu về thủy văn.
== Địa chất học ==
Các hòn đảo là một bồn trũng sau cung đã dừng hoạt động được hình thành vào Oligocene muộn và Miocene. Parece Vela là một megamullion dài nhất thế giới. Tên tiếng Tây Ban Nha của các đảo này được dùng để đặt cho hệ tầng, Parece Vela megamullion, sống núi Parece Vela, rift Parece Vela hay bồn trũng Parece Vela.
Vùng biến xung quanh rạn đá ngầm này có tiềm năng lớn về dấu mỏ và các tài nguyên khác và nằm ở một khu vực chiến lược về quốc phòng. Khi thủy triều lên, một khu vực của các đá ngầm có kích cỡ xấp xỉ một cái giường đơn và nhô lên 7,4 centimét so với đại dương, hầu hết đều chìm phía dưới mực nước triều
Khu vực này có ba hòn đảo nhỏ riêng biệt:
Higashikojima (東小島, "Đông Tiểu Đảo")
Kitakojima (北小島, "Bắc Tiểu Đảo"), tuy nhiên đúng hơn là nằm ở phía tây
Minamikojima (南小島, "Nam Tiểu Đảo")
Minamikojima là một hòn đảo nhân tạo được tạo thành trong vùng nước nông. Tại hai hòn đảo còn lại, cũng xuất hiện những yếu tố tác động của con người với rất ít dấu vết của hai khối đá tự nhiên này xuất hiện trong bức ảnh năm 1987. Vào năm 1925, năm khối đá vẫn còn nổi trên mặt biển nhưng đã bị ăn mòn dần. Các báo cáo năm 1947 cũng đề cập đến năm khối đá ở trên mực nước biển. Ba khối đá nhỏ hơn ở phía tây gần như không thể thấy được từ biển bởi những con sóng. Các khối đá lớn nhất nằm ở phía tây nam và phía đông bắc, có lẽ là Kitakojima và Higashikojima, được ghi nhận là cao lần lượt 0,6 mét và 0,4 mét. Các khối đá vốn không có cây cối. Các khối đất khô nhân tạo hiện tại với bề mặt bê tông xuất hiện không thích hợp cho các cây trồng trên cạn.
Sau khi được đổ bê tông, mỗi hòn đảo xuất hiện như một vòng tròng đường kính 60 mét trên các bức ảnh vệ tinh, tương xứng với một vùng đất liền mặc dù hầu hết là do nhân tạo; diện tích mối đảo là 2.827 m² và tổng 3 đảo là 8482 m². Cộng thêm đó, các đảo nằm trên nền là một vòng san hô lớn hình chữ nhật có kích cỡ 100 mét và 60 mét. Ngoài ra, nơi đây còn được xây dựng bến đỗ trực thăng.
Các khối đá nằm ở phía tây của phá được bao quanh bởi một dải san hô ngầm, bảo vệ chúng khỏi sóng biển với chiều dài khoảng 4,5 km từ đông sang tây và 1,7 km từ bắc xuống nam, với một khu vực rộng xấp xỉ 5 km² bên trong vành của đá ngầm. Phá sâu từ 3 đến 4,6 mét nhưng có một số đỉnh san hô sâu ít hơn khắp khu vực. Viền đá ngầm của đảo san hô có hình quả lê có chiều đông-tây với phần rộng nhất ở cực phía đông. Cũng có một lạch nhỏ cho tàu thuyền qua lại phá ở phía tây nam, rộng khoảng 15 mét và sâu 6 mét.
== Hành chính ==
Về mặt hành chính, hòn đảo được coi là một phần của thôn Ogasawara, Tokyo. Năm 1939, việc xây dựng một Căn cứ Hải quân được Nhật Bản bắt đầu tiến hành, nhưng đã bị đình chỉ năm 1941, khi bắt đầu Chiến tranh Thái Bình Dương.
== Tranh cãi về vùng đặc quyền kinh tế ==
Ngày 22 tháng 4 năm 2004, các nhà ngoại giao Trung Quốc đã bắt đầu hội đàm song phương với Nhật Bản về việc họ nhìn nhận đây chỉ là những khối đá chứ không phải một hòn đảo. Trong khi thừa nhận chủ quyền của Nhật Bản ở Okinotorishima, Trung Quốc không chấp nhận việc Nhật Bản tuyên bố vùng đặc quyền kinh tế quanh Okinotorishima. Theo Công ước của Liên Hợp Quốc về Luật Biển, một hòn đảo là "một vùng đất tự nhiên có nước bao bọc, khi thuỷ triều lên vùng đất này vẫn ở trên mặt nước."
== Chú thích ==
== Liên kết ngoài ==
Page with overhead photograph of the entire atoll
report about appearance in 1947 (under the name Parece Vela/Douglas Reef)
Keihin Website with pictures of original rocks in 1987
close-up photo of Higashikojima (東小島, "Eastern Islet")
Brief article with close-up photo of the center of Higashikojima, May 2005
page with photograph of platform
Italian page with history in English and oblique aerial photograph of Okinotori from southwest
detailed satellite images
Japanese map
Tokyo governor stirs reef dispute
Political background |
tiếng hawaii.txt | Tiếng Hawaii (Tiếng Hawaii: ʻŌlelo Hawaiʻi). là một ngôn ngữ thuộc nhóm Polynesia của Ngữ tộc Malay-Polynesia trong Ngữ hệ Nam Đảo. Tên của ngôn ngữ này được gọi theo tên của Hawaiʻi, hòn đảo lớn nhất quần đảo Hawaii và cả Hoa Kỳ. Tiếng Hawaii cùng với tiếng Anh là ngôn ngữ chính thức của tiểu bang Hawaii. Vua Kamehameha III đã ban hành Hiến pháp dầu tiên bằng tiếng Hawaii vào các năm 1839 và 1840.
Vì nhiều nguyên nhân, bao gồm việc từng bị cấm xuất hiện trong trường học, số người nói tiếng Hawaii bản địa đã giảm dần từ những năm 1830 đến những năm 1950. Tiếng Hawaii về cơ bản bị thay thế bởi tiếng Anh tại 6 trong số 7 hòn đảo có người sinh sống (trừ đảo Niʻihau). Năm 2001, số người nói tiếng Hawaii bản địa là dưới 0,1% dân số toàn bang. Các nhà ngôn ngữ học lo ngại về sự tuyệt chủng của ngôn ngữ này
Tuy thế, từ năm 1949 đến nay, ngôn ngữ này đang dần dần được chú ý và khuyến khích. Một ngôn ngữ khác được nói tại Hawaii nói chung được gọi là "Hawaii Creolr English". Ngôn ngữ này được phát triển từ tiếng Anh bồi và thường được gọi là "Pidgin"(tiếng bồi). Chỉ có 12 chữ cái trong bảng chữ cái tiếng Hawaii, cộng thêm dấu ʻ(okina) cho âm tắc hầu, được coi là một phụ âm.
== Tham khảo ==
== Xem thêm ==
Danh sách ngôn ngữ
Danh sách các nước theo ngôn ngữ nói
== Liên kết ngoài ==
Ulukau - the Hawaiian electronic library, includes English to/from Hawaiian dictionary
Hawaiian Vocabulary List (from the World Loanword Database)
Ka Haka ʻUla O Keʻelikōlani, College of Hawaiian Language
Kulaiwi — learn Hawaiian through distance learning courses
Was Hawaiian outlawed?
Examples of published claims that Hawaiian was outlawed
Lewis, M. Paul; Gary F. Simons; Charles D. Fennig biên tập (2013). Ethnologue: Languages of the World (bằng tiếng Anh) (ấn bản 17). Dallas, Texas, Hoa Kỳ: SIL International.
Hawaiian.saivus.org — Detailed Hawaiian Language Pronunciation Guide
Hawaiian and Indonesian with Japanese translation incl. sound file
Traditional and Neo Hawaiian: The Emergence of a New Form of Hawaiian Language as a Result of Hawaiian Language Regeneration
"Hale Pa'i" Article about Hawaiian language newspapers printed at Lahainaluna on Maui. Maui No Ka 'Oi Magazine Vol.12 No.3 (May 2008).
"Speak Hawaiian" Article about Hawaiian language resource on iPhone. (May 2010).
A Hawaiian Glossary
How to Pronounce "Hawai'i", Kelley L. Ross, Ph.D, 2008
OLAC Resources in and about the Hawaiian language |
bầu cử ở việt nam.txt | Bầu cử ở Việt Nam là quá trình các cử tri của quốc gia này đưa ra quyết định của họ theo các cách thức mà pháp luật quy định để chọn ra các đại biểu đại diện cho mình nắm giữ các chức vụ trong cơ quan dân cử của chính quyền ở trung ương và địa phương trong phạm vi lãnh thổ của Việt Nam. Việc bầu cử ở Việt Nam gồm bầu cử Quốc hội (ở Trung ương) và bầu cử Hội đồng nhân dân các cấp (ở địa phương).
Thông thường, các cuộc bầu cử được tiến hành khi các cơ quan dân cử (hay cơ quan quyền lực nhà nước) hết nhiệm kỳ thì sẽ được ấn định vào vị trí công tác khác. Còn những người trúng cử sau này cũng được ấn định từ trước từ Uy ban bầu cử. Theo quy định của Hiến pháp năm 1992, nhiệm kỳ của Quốc hội mỗi khóa là năm năm, tương tự, năm năm cũng là nhiệm kỳ của Hội đồng nhân dân các cấp chính vì vậy cứ năm năm một lần, ở Việt Nam lại định kỳ tiến hành bầu cử Quốc hội và Hội đồng nhân dân các cấp.
Tại Việt Nam, các cuộc bầu cử có tính chất pháp lý rất quan trọng, đó là một khâu quan trọng để thành lập các cơ quan quyền lực nhà nước từ trung ương đến địa phương. Là phương thức quan trọng để nhân dân thực hiện quyền lực của mình. Điều 6 Hiến pháp Việt Nam năm 1992 khẳng định: "Nhân dân sử dụng quyền lực Nhà nước thông qua Quốc hội và Hội đồng nhân dân là những cơ quan đại diện cho ý chí và nguyện vọng của nhân dân, do nhân dân bầu ra và chịu trách nhiệm trước nhân dân".
Thuật ngữ bầu cử ở Việt Nam được cho là gắn mật thiết với khái niệm dân chủ, trong đó những cuộc bầu cử tự do và công bằng là phương thức đảm bảo cho việc tôn trọng các quyền tự do, dân chủ đó. Trong một nền dân chủ, quyền lực của nhà nước chỉ được thực thi khi có sự nhất trí của người dân (người bị quản lý). Cơ chế căn bản để chuyển sự nhất trí đó thành quyền lực nhà nước là tổ chức bầu cử tự do và công bằng.
Bầu cử cũng được hiểu là cách thức nhân dân trao quyền cho Nhà nước và với tư cách là một chế độ tiên tiến, Nhà nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam không thể bằng một phương pháp nào khác hơn là bầu cử để thành lập ra các cơ quan của mình.
Cuộc bầu cử là một trong những hình thức hoạt động xã hội – chính trị quan trọng của nhân dân. Bầu cử thu hút sự tham gia đông đảo của cử tri đại diện cho các giai cấp, tầng lớp, tôn giáo, giới tính… Bởi vậy để đạt được kết quả, các cuộc bầu cử phải được tiến hành có tổ chức, theo những trình tự chặt chẽ nhất định.
Những trình tự thủ tục này được pháp luật quy định rất chặt chẽ, ở Việt Nam có hàng loạt các văn bản pháp luật điều chỉnh về bầu cử từ Hiến pháp – văn bản có hiệu lực pháp luật cao nhất đến các đạo luật hiện hành như Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội năm 1997 đã được sửa đổi bổ sung vào năm 2001 và năm 2007 (gọi chung là Luật bầu cử đại biểu Quốc hội) Luật Bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân năm 2003 và cho đến các văn bản dưới luật như Nghị định của Chính phủ cụ thể hóa và hướng dẫn chi tiết các văn bản nêu trên.
== Quyền bầu cử, ứng cử ==
Quyền bầu cử và ứng cử vào cơ quan quyền lực Nhà nước cao nhất là một trong những quyền cơ bản về chính trị của công dân. Pháp luật hiện hành đã quy định công dân có quyền bầu cử, có quyền ứng cử vào Quốc hội, Hội đồng nhân dân. Theo đó, công dân Việt Nam đủ mười tám tuổi trở lên đều có quyền bầu cử và đủ hai mươi mốt tuổi trở lên đều có quyền ứng cử đại biểu Quốc hội. Những công dân này không phân biệt dân tộc, nam nữ, thành phần xã hội, tín ngưỡng, tôn giáo, trình độ văn hóa, nghề nghiệp, thời hạn cư trú đều được ghi tên vào danh sách cử tri để bầu cử.
Mặc dù vậy, cũng có những công dân đủ các điều kiện trên nhưng không được ghi tên vào danh sách cử tri là các trường hợp người đang bị tước quyền bầu cử theo bản án, quyết định của tòa án đã có hiệu lực pháp luật hay người đang phải chấp hành hình phạt tù hoặc người đang bị tạm giam và người mất năng lực hành vi dân sự. Những quy định kiểu như vậy cũng phù hợp với thông lệ quốc tế.
Ngoài ra, những người sau đây cũng không được tham gia ứng cử đại biểu Quốc hội gồm: Những người không được tham gia bầu cử thì đương nhiên không được ứng cử, người đang bị khởi tố về hình sự, người đang phải chấp hành bản án, quyết định hình sự của Toà án hoặc đã chấp hành xong nhưng chưa được xóa án tích hay là những người đang chấp hành quyết định xử lý hành chính khác.
== Các nguyên tắc bầu cử ==
Các nguyên tắc bầu cử là các quy tắc, nguyên lý chỉ đạo được áp dụng cho quyền bầu cử chủ thể (quyền bầu cử chủ động và quyền bầu cử bị động). Nguyên tắc bầu cử là điều kiện được quy định bởi pháp luật bầu cử của mỗi nước, mà việc thực hiện và tuân thủ quy định đó trong quá trình bầu cử quyết định tính hợp pháp của cuộc bầu cử.
Các nước trên thế giới áp dụng các nguyên tắc bầu cử sau: phổ thông, bình đẳng, trực tiếp (gián tiếp) và bỏ phiếu kín. Những nguyên tắc đó thống nhất với nhau, đảm bảo cho cuộc bầu cử được khách quan, dân chủ, thực hiện đúng nguyện vọng của cử tri khi lựa chọn đại biểu.
Nguyên tắc bầu cử được thể hiện chặt chẽ, thống nhất và xuyên suốt trong toàn bộ quá trình tiến hành bầu cử, bảo đảm cho cuộc bầu cử khách quan, dân chủ, thể hiện đúng nguyện vọng của cử tri khi lựa chọn. Nguyên tắc bầu cử yêu cầu phải quy định rõ quyền và trách nhiệm của cử tri trong bầu cử, trách nhiệm của Nhà nước phải bảo đảm các quy định về bầu cử.
Ở Việt Nam, các nguyên tắc bầu cử dân chủ được kế thừa, bổ sung và phát triển để làm một căn cứ thực hiện một chế độ bầu cử mới thực sự dân chủ. Các nguyên tắc bầu cử theo quy định của pháp luật gồm bốn nguyên tắc đó là phổ thông, bình đẳng, trực tiếp và bỏ phiếu kín.
Điều 7 Hiến pháp Việt Nam năm 1992 quy định: "Việc bầu cử đại biểu Quốc hội và Hội đồng nhân dân được tiến hành theo nguyên tắc phổ thông, bình đẳng, trực tiếp và bỏ phiếu kín".
Những nguyên tắc bầu cử ở Việt Nam theo quy định của pháp luật hiện hành phù hợp với các nguyên tắc bầu cử thông dụng trên thế giới.
== Trình tự tiến hành bầu cử ==
Trình tự tiến hành cuộc bầu cử là vấn đề trung tâm trong việc bầu cử. Đó là một loạt các công việc từ ấn định ngày bầu cử, thành lập đơn vị bầu cử, thành lập các tổ chức phụ trách bầu cử, công tác chuẩn bị bầu cử cho đến việc lập danh sách cử tri, cư tri thực hiện bỏ phiếu và việc kiểm phiếu, công bố kết quả. Đó cũng là một quy trình chặt chẽ được pháp luật quy định nghiêm ngặt.
Trình tự tiến hành một cuộc bầu cử ở Việt Nam gồm các bước sau:
=== Ấn định ngày bầu cử ===
Để tiến hành một cuộc bầu cử, trước hết phải xác định cho được ngày bầu cử (ngày bỏ phiếu). Hiến pháp và Luật bầu cử của đa số các nước chỉ quy định thời hạn chung cho các cuộc bầu cử, còn ngày bầu cử cụ thể do một quan chức hay cơ quan có thẩm quyền xác định.
Ở Việt Nam, ngày bầu cử đại biểu Quốc hội và Hội đồng nhân dân do Ủy ban thường vụ Quốc hội ấn định và công bố chậm nhất là 105 ngày trước ngày bầu cử. Điều 85 Hiến pháp Việt Nam năm 1992 quy định: Hai tháng trước khi Quốc hội hoặc hội đồng nhân dân hết nhiệm kỳ, Quốc hội khóa mới phải được bầu xong.
Ngày bầu cử được ấn định phải là ngày chủ nhật để mọi người có điều kiện tham gia một cách đầy đủ.
Điều 54 Luật bầu cử Quốc hội quy định: Việc bỏ phiếu bầu cử đại biểu Quốc hội được tiến hành cùng một ngày trong cả nước. Ngày bầu cử phải là ngày chủ nhật, do Uỷ ban thường vụ Quốc hội ấn định và công bố chậm nhất là một trăm lẻ năm ngày trước ngày bầu cử.
Việc Ủy ban thường vụ Quốc hội ấn định ngày bầu cử là công đoạn đầu tiên của công việc tiến hành một cuộc bầu cử. Bắt đầu từ đây, mọi việc có liên quan đến việc bỏ phiếu và xác định kết quả bầu cử bắt đầu được tiến hành.
Trước đây, ở Việt Nam, ngày bầu cử được ấn định chậm nhất là 60 ngày trước ngày bầu cử nhưng thời hạn này là quá ngắn là cho công tác chuẩn bị bầu cử của các cơ quan tổ chức vốn yếu kém về năng lực lại tỏ ra bị động, lúng túng. Pháp luật hiện hành đã nâng thời gian chuẩn bị bầu cử dài hơn bằng cách kéo dài thời gian chậm nhất phải ấn định từ 60 – 90 ngày, kể cả cuộc bầu cử Quốc hội lẫn các cuộc bầu cử Hội đồng nhân dân.
Trong trường hợp đặc biệt cần hoãn ngày bỏ phiếu hoặc bỏ phiếu sớm hơn thì Ban bầu cử phải báo cáo với Uỷ ban bầu cử để đề nghị Hội đồng bầu cử xem xét, quyết định.
Trước cuộc bỏ phiếu 10 ngày, Tổ bầu cử phải thường xuyên thông báo cho cử tri biết ngày bầu cử, nơi bỏ phiếu, thời gian bỏ phiếu.
Cử tri chỉ được đi bỏ phiếu đúng vào ngày đã được ấn định trước trên toàn quốc. Tuy vậy, đối với một số vùng miền có khó khăn về giao thông, liên lạc, việc bầu cử có thể tiến hành sớm hơn ngày đã ấn định để kết quả bầu cử có thể kịp chuyển về tổng hợp chung. Trong kỳ bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XII, một số vùng như huyện đảo Trường Sa (Khánh Hoà) và huyện đảo Bạch Long Vĩ (thành phố Hải Phòng) đã bỏ phiếu sớm hơn.
=== Thành lập các tổ chức phụ trách bầu cử ===
Để tổ chức bầu cử, các nước thành lập các tổ chức phụ trách bầu cử, thường được gọi là Ủy ban bầu cử. Các loại tổ chức phụ trách bầu cử thông dụng như sau:
Tổ chức bầu cử ở Trung ương: Có nhiệm vụ lãnh đạo cuộc bầu cử trên phạm vi cả nước.
Tổ chức phụ trách bầu cử ở đơn vị bầu cử: Có nhiệm vụ phối hợp và giám sát hoạt động của các tổ chức phụ trách bầu cử ở khu vực bỏ phiếu, lập và đăng ký danh sách ứng cử viên của đơn vị bầu cử, bảo đảm quá trình vận động tranh cử, xác định kết quả bầu cử trong đơn vị bầu cử.
Tổ chức bầu cử ở khu vực bỏ phiếu: Có nhiệm vụ lập danh sách cử tri (nếu không lập thì hiệu đính), tổ chức việc bầu cử và xác định kết quả kiểm phiếu ở khu vực bỏ phiếu.
Tại Việt Nam, việc thành lập các tổ chức phụ trách bầu cử được chuẩn bị chu đáo. Các tổ chức phụ trách bầu cử được pháp luật quy định thành lập từ trung ương đến địa phương. Đồng thời, Luật quy định khi ra quyết định thành lập các tổ chức phụ trách bầu cử thì ấn định luôn các chức danh cụ thể của các tổ chức này, để giảm bớt các thủ tục hành chính không cần thiết. Ngoài ra việc phụ trách bầu cử còn được sự hỗ trợ rất lớn từ phía Mặt trận Tổ quốc và Hội đồng nhân dân các cấp.
Các tổ chức phụ trách bầu cử bao gồm:
=== Hội đồng bầu cử ===
Giai đoạn tiếp theo của cuộc bầu cử là thành lập Hội đồng bầu cử. Đây là cơ quan lãnh đạo chung cho cuộc bầu cử. Hội đồng bầu cử ở Trung ương được thành lập cho cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội. Hội đồng bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương. Hội đồng bầu cử Hội đồng nhân dân quận, huyện, xã, phường và cấp tương đương.
Thành phần Hội đồng bầu cử bao gồm đại diện các tổ chức xã hội, tổ chức đảng, Nhà nước.
Hội đồng bầu cử có nhiêm vụ:
1. Lãnh đạo việc tổ chức bầu cử chung; kiểm tra, đôn đốc việc thi hành các quy định của pháp luật về bầu cử và tiến hành cuộc bầu cử.
2. Quy định mẫu thẻ cử tri và phiếu bầu cử; lập và công bố danh sách ứng cử viên theo từng đơn vị bầu cử.
3. Giải quyết khiếu nại, tố cáo về công tác của Uỷ ban bầu cử, Ban bầu cử và Tổ bầu cử; Giải quyết khiếu nại, tố cáo về bầu cử do các tổ chức bầu cử cấp dưới chuyển đến; Giải quyết khiếu nại, tố cáo về người ứng cử; Giải quyết khiếu nại về kết quả bầu cử.
4. Kiểm tra biên bản xác định kết quả bầu cử do Uỷ ban bầu cử, Ban bầu cử gửi đến; làm biên bản tổng kết cuộc bầu cử trong cả nước; Xét và quyết định việc bầu cử lại, bầu cử thêm hoặc huỷ bỏ kết quả bầu cử ở đơn vị bầu cử.
5. Công bố kết quả bầu cử trong cả nước, cấp giấy chứng nhận cho đại biểu trúng cử.
Trong các nhiệm vụ trên thì công việc lãnh đạo công việc bầu cử chung, công bố danh sách ứng cử viên và tuyên bố kết quả bầu cử là những công việc quan trọng của Hội đồng bầu cử.
Hội đồng bầu cử Quốc hội ở Trung ương:
Hội đồng này do Ủy ban Thường vụ Quốc hội thành lập.
Số lượng thành viên được ấn định từ 15 đến 21 người, thành phần gồm Chủ tịch, các Phó Chủ tịch, Tổng thư ký và các uỷ viên là đại diện Uỷ ban thường vụ Quốc hội, Chính phủ, Uỷ ban trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, một số cơ quan, tổ chức hữu quan.
Theo Luật bầu cử đại biểu Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội phải thành lập và công bố thành phần bầu cử trung ương chậm nhất 105 ngày.
Hội đồng bầu cử ở địa phương:
Tương tự, ở địa phương, Hội đồng bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân do Ủy ban nhân dân cùng cấp phối hợp với thường trực Hội đồng nhân dân cấp đó thành lập.
Thời gian thành lập: Chậm nhất là 90 ngày trước ngày bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp.
Thành phần Hội đồng gồm đại diện Thường trực Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân, Ban thường trực Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các cơ quan khác của Nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội. Hội đồng bầu cử bầu Chủ tịch, Phó Chủ tịch và Thư ký.
Số lượng thành viên: Hội đồng bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân cấp tỉnh có từ 15 đến 21 người. Cấp huyện có từ 11 đến 15 người. Cấp xã có từ 9 đến 11 người.
Tất cả các công việc chuẩn bị cho một cuộc bầu cử tiếp theo chủ yếu do các đơn vị bầu cử thực hiện.
=== Ủy ban bầu cử ===
Lãnh đạo bầu cử ở các đơn vị do Ủy ban bầu cử (Ban bầu cử) tiến hành. Việc bầu cử về cơ bản lấy đơn vị hành chính cấp huyện là cơ sở, do vậy, mỗi địa phương, tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương có thể có từ 2 đến 5 đơn vị. Để phụ trách chung công việc bầu cử trong lãnh thổ trực thuộc trung ương có từ hai đơn vị bầu cử trở lên, pháp luật quy định thành lập các ủy ban bầu cử. Ủy ban bầu cử có nhiệm vụ lãnh đạo chung hoạt động của các ban bầu cử.
Thời gian thành lập:
Chậm nhất là 95 ngày trước ngày bầu cử, Thường trực Hội đồng nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương sau khi thống nhất với Uỷ ban nhân dân và Ban thường trực Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc cùng cấp quyết định thành lập Uỷ ban bầu cử. Đối với Hội đồng nhân dân thì gọi là ban bầu cử.
Số lượng và cơ cấu:
Ủy ban bầu cử có từ 9 đến 15 người, gồm Chủ tịch, các Phó Chủ tịch, Thư ký và các uỷ viên là đại diện Thường trực Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân, Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc cùng cấp, một số cơ quan, tổ chức hữu quan khác. Đối với việc bầu cử Hội đồng nhân dân các cấp, ban bầu cử ở các đơn vị bầu cử do Ủy ban nhân dân và Ủy ban mặt trận tổ quốc cùng cấp phối hợp thành lập gồm đại diện của các tổ chức xã hội và tập thể các cử tri ở địa phương từ 5 đến 15 người. Ban bầu cử gồm có trưởng ban, phó trưởng ban và thư ký ban.
Nhiệm vụ của Ủy ban bầu cử/Ban bầu cử gồm:
1. Chuẩn bị và tổ chức bầu cử ở các đơn vị bầu cử. Kiểm tra, đôn đốc việc thi hành, chấp hành pháp luật về bầu cử của các tổ bầu cử.
2. Xem xét hồ sơ của người được giới thiệu ứng cử, người tự ứng cử.
3. In thẻ cử tri và phiếu bầu theo mẫu của Hội đồng bầu cử.
4. Lập danh sách những người ứng cử theo đơn vị bầu cử. Kiểm tra việc lập và niêm yết danh sách cử tri.
5. Giải quyết khiếu nại, tố cáo về công tác của Ban bầu cử, Tổ bầu cử. Giải quyết khiếu nại, tố cáo về bầu cử do Ban bầu cử, Tổ bầu cử chuyển đến. Giải quyết khiếu nại, tố cáo về người ứng cử.
6. Nhận và kiểm tra biên bản xác định kết quả bầu cử của các Ban bầu cử; lập biên bản xác định kết quả bầu cử ở địa phương. Thông báo kết quả bầu cử ở địa phương.
7. Báo cáo tình hình tổ chức và tiến hành bầu cử; Chuyển hồ sơ, biên bản xác định kết quả bầu cử đến Hội đồng bầu cử. Tổ chức việc bầu cử lại, bầu cử thêm (nếu có).
Trong tất cả các nhiệm vụ kể trên, nhiệm vụ làm biên bản tổng hợp các biên bản kiểm phiếu do các tổ bầu cử đưa đến để xác định kết quả trúng cử hoặc không trúng cử hoặc không trúng cử cho từng ứng cử viên là rất quan trọng.
Trong trường hợp tổ chức bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân nhiều cấp (tối đa là ba cấp) cùng một ngày, nếu đơn vị bầu cử Hội đồng nhân dân cấp tỉnh là huyện thì Hội đồng bầu cử Hội đồng nhân dân huyện kiêm cả nhiệm vụ Ban bầu cử Hội đồng nhân dân tỉnh; nếu đơn vị bầu cử Hội đồng nhân dân huyện là xã thì Hội đồng bầu cử xã làm luôn nhiệm vụ của Ban bầu cử Hội đồng nhân dân huyện.
=== Tổ bầu cử ===
Phụ trách công việc bầu cử ở khu vực bỏ phiếu là tổ bầu cử. Tổ bầu cử có nhiệm vụ:
Tổ chức việc bầu cử trong khu vực bỏ phiếu.
Bố trí phòng bỏ phiếu, nơi bỏ phiếu (buồng bỏ phiếu), bàn bỏ phiếu và chuẩn bị hòm phiếu.
Phát thẻ cử tri cho cử tri chậm nhất là hai ngày trước ngày bầu cử, phát phiếu bầu cử cho cử tri có đóng dấu của Tổ bầu cử. Bảo đảm trật tự trong phòng bỏ phiếu.
Kiểm phiếu và làm biên bản kết quả kiểm phiếu để gửi đến Ban bầu cử. Giao biên bản kết quả kiểm phiếu và toàn bộ phiếu bầu cho Uỷ ban nhân dân cấp xã. Báo cáo tình hình tổ chức và tiến hành bầu cử theo quy định của các tổ chức phụ trách bầu cử cấp trên (Ủy ban bầu cử, ban bầu cử, Hội đồng bầu cử);
Tổ chức thực hiện việc bầu cử lại, bầu cử thêm (nếu có).
Trong các nhiệm vụ trên thì việc phát phiếu bầu cử và kiểm phiếu bầu cử là những nhiệm vụ quan trọng của tổ bầu cử.
=== Sự tham gia của các cơ quan hữu quan ===
Ngoài các tổ chức phụ trách bầu cử được thành lập mang tính lâm thời, phục vụ cho các kỳ bầu cử, luật pháp Việt Nam còn quy định các cơ quan hữu quan khác cũng tham gia vào quá trình bầu cử đó là Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam (thường được gọi là Mặt trận Tổ quốc) các cấp và Hội đồng nhân dân các cấp.
Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là tổ chức liên minh chính trị, liên hiệp tự nguyện của tổ chức chính trị, các tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội và các cá nhân tiêu biểu trong các giai cấp, các tầng lớp xã hội, các dân tộc, các tôn giáo và người Việt Nam định cư ở nước ngoài”. Mặt trận tổ quốc có vai trò rất lớn trong việc bầu cử. Mặt trận Tổ quốc Việt Nam có trách nhiệm tổ chức hiệp thương lựa chọn, giới thiệu người ứng cử đại biểu Quốc hội và tham gia giám sát việc bầu cử đại biểu Quốc hội để làm rõ vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là tổ chức đại diện khối đại đoàn kết toàn dân, là cơ sở chính trị của chính quyền nhân dân.
Bên cạnh đó, để phát huy và đề cao trách nhiệm của Hội đồng nhân dân các cấp với tư cách là cơ quan quyền lực Nhà nước ở địa phương trong việc tổ chức và tiến hành bầu cử đại biểu Quốc hội, tại Điều 6 của Luật đã xác định rõ vị trí của Thường trực Hội đồng nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, huyện, quận, thị xã thuộc tỉnh, xã, phường, thị trấn trong phạm vi nhiệm vụ và quyền hạn của mình có trách nhiệm thực hiện công tác bầu cử theo quy định của pháp luật.
Và tại các Điều 15, 16 và 17 đã chính thức giao cho Thường trực Hội đồng nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương sau khi thống nhất với Uỷ ban nhân dân và Ban thường trực Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc cùng cấp quyết định thành lập Uỷ ban bầu cử, Ban bầu cử; Chủ tịch Hội đồng nhân dân xã, phường, thị trấn sau khi thống nhất với Uỷ ban nhân dân, Ban thường trực Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc cùng cấp quyết định thành lập các Tổ bầu cử.
=== Về kinh phí hoạt động ===
Kinh phí trang trải cho hoạt động của bộ phận phụ trách cũng như trang trải cho toàn bộ cuộc bầu cử được lấy từ ngân sách nhà nước.
Kinh phí dành cho mỗi cuộc bầu cử là khá lớn. Gần đây nhất là cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XII đã tiêu tốn đến 350 tỷ đồng tăng 1,5 lần so với mức kinh phí của cuộc bầu cử năm 2002 (tốn hết 230 tỉ đồng).
Theo ông Bùi Ngọc Thanh – Chủ nhiệm Văn phòng Quốc hội thì số kinh phí trên sẽ được chia về các địa phương theo nguyên tắc: Đầu tiên là mức kinh phí gốc dành cho tất cả các tỉnh, thành (phục vụ những công việc giống nhau của công tác bầu cử). Sau đó phân chia theo số lượng cử tri của từng tỉnh (lấy từ con số thống kê dân số- do Tổng cục thống kê cung cấp); Cuối cùng mới tính đến các địa bàn khó khăn, vùng sâu, vùng xa… nguồn kinh phí dự phòng sẽ chỉ cấp cho những tỉnh thực sự có khó khăn.
Thực tế ở Việt Nam thường tổ chức các cuộc bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp cùng một ngày và có thể kết hợp chung với các cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội để “đỡ tốn kém về mặt vật chất”.
=== Phân chia đơn vị bầu cử ===
Song song với việc thành lập các tổ chức phụ trách bầu cử là việc phân chia đơn vị bầu cử. Đây là một bước hết sức quan trọng, nó xác định số lượng đại biểu cho mỗi vùng, miền, cơ cấu đại biểu... và nó tác động trực tiếp đến kết quả bầu cử. Đặc biệt là việc phân chia này diễn ra rất quyết liệt đối với các nước theo chế độ đa đảng.
Đơn vị bầu cử là một đơn vị địa dư có số dân (cử tri) nhất định được bầu một số lượng đại biểu nhất định. Đơn vị bầu cử là khái niệm chỉ một phạm vi địa lý hành chính với số lượng dân cư nhất định, được bầu một số lượng đại biểu Quốc hội nhất định.
Các đơn vị bầu cử được thành lập trên cơ sở luật định hay bởi chính quyền trung ương. Đơn vị bầu cử có một ghế đại biểu là đơn vị được bầu một đại biểu, đơn vị bầu cử có nhiều ghế bầu cử là đơn vị được bầu từ hai đại biểu trở lên.
Về nguyên tắc các đơn vị được bầu cử được thành lập để bảo đảm sự cân bằng lá phiếu của cư tri, tức là bảo đảm tôn trọng nguyên tắc bình đẳng. Điều đó có nghĩa là những đơn vị có một ghế đại biểu thì phải có dân số như nhau.
Ở Việt Nam, đơn vị bầu cử được hiểu là lãnh thổ với một số dân tương ứng nhất định và được bầu ra một lượng đại biểu Quốc hội hoặc hội đồng nhân dân nhất định. Cơ sở để phân chia đơn vị bầu cử cho các cuộc bầu cử khác nhau là tổng số đại biểu Quốc hội hoặc Hội đồng nhân dân phải bầu và số dân sống trên lãnh thổ của đơn vị bầu cử được phân chia. Số đại biểu được bầu cho mỗi đơn vị bầu cử phụ thuộc vào số lượng dân cư sống trên một đơn vị bầu cử.
Ví dụ: Số đại biểu Quốc hội khóa XII được phân bố cho tỉnh Quảng Trị là 06 người trên 2 đơn vị bầu cử, mỗi đơn vị bầu cử là 03 người.
Theo quy định của pháp luật, tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương được chia thành các đơn vị bầu cử. Ủy ban thường vụ Quốc hội ấn định và công bố số đơn vị bầu cử, danh sách các đơn vị bầu cử và số đại biểu của mỗi đơn vị được tính theo số dân. Ví dụ: số đại biểu Quốc hội khóa XI của thành phố Hồ Chí Minh là 25 đại biểu, là đoàn đại biểu đông nhất cả nước.
Cũng theo quy định của pháp luật thì tổng số đại biểu Quốc hội là không quá 500 người. Đây là con số hợp lý được nhiều nước áp dụng.
Việc phân bổ số lượng đại biểu Quốc hội cho các tỉnh, thành như sau: Mỗi tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương có ít nhất 3 đại biểu cư trú, làm việc tại địa phương. Số đại biểu tiếp theo được tính theo số dân và dặc điểm của mỗi địa phương.
Riêng Thủ đô Hà Nội được phân bổ số đại biểu thích đáng.
Ngoài ra bên cạnh việc phân chia số ghế cho đại biểu theo lãnh thổ, thì ở Việt Nam, việc dự kiến cơ cấu, thành phần, số lượng đại biểu Quốc hội được bầu của các tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, lực lượng vũ trang nhân dân, cơ quan Nhà nước ở trung ương và địa phương, người dân tộc thiểu số, đại biểu là phụ nữ cũng được xem xét để bảo đảm một tỷ lệ thích đáng cho các đại biểu này.
Về nguyên tắc, một nghị viện càng nhiều thành viên thì càng bảo đảm tính đại diện cho tất cả các tầng lớp trong xã hội, quá trình thảo luận càng được sôi nổi, kỹ lưỡng tuy nhiên số lượng như thế nào để đạt hiệu quả còn phải tùy thuộc vào tình hình mỗi nước để ấn định số lượng cho phù hợp.
Dựa trên con số cụ thể được Ủy ban thường vụ Quốc hội ấn định cho mỗi khóa Quốc hội và tổng số dân cư toàn quốc theo số liệu điều tra dân số gần nhất, các đơn vị bầu cử cũng như các địa phương nhận được số lượng đại biểu được bầu tỷ lệ thuận với dân số của đơn vị mình.
Tổng số đại biểu của Hội đồng nhân dân các cấp do Luật bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân quy định theo đó:
Hội đồng nhân dân cấp xã: Tối đa được 35 đại biểu.
Đối với các xã, thị trấn miền xuôi có từ bốn nghìn người trở xuống được bầu 25 đại biểu, có trên bốn nghìn người thì cứ thêm 2.000 người được bầu thêm 01 đại biểu, nhưng tổng số không quá ba mươi lăm đại biểu.
Các xã, thị trấn miền núi và hải đảo có từ 3.000 người trở xuống đến 2.000 người được bầu 25 đại biểu, có trên 3.000 người thì cứ thêm 1.000 người được bầu thêm 01 đại biểu, nhưng tổng số không quá 35 đại biểu;
Các xã, thị trấn có dưới 2.000 người trở xuống đến 1.000 người được bầu 19 đại biểu (ví dụ: Thị trấn Gio Linh), các xã, thị trấn có dưới 1.000 người được bầu 15 đại biểu.
Các phường có từ 8.000 người trở xuống được bầu 25 đại biểu, có trên 8.000 người thì cứ thêm 4.000 người được bầu thêm 01 đại biểu, nhưng tổng số không quá 35 đại biểu.
Hội đồng nhân dân cấp huyện và tương đương: Nhiều nhất không quá 40 đại biểu:
Các huyện miền xuôi và quận có từ 80.000 người trở xuống được bầu 30 đại biểu, có trên 80.000 người thì cứ thêm 10.000 người được bầu thêm một đại biểu, nhưng tổng số không quá 40 đại biểu.
Các huyện miền núi và hải đảo có từ 40.000 người trở xuống được bầu 30 đại biểu, có trên 40.000 người thì cứ thêm 5.000 người được bầu thêm 01 đại biểu, nhưng tổng số không quá 40 đại biểu.
Các thị xã có từ 70.000 người trở xuống được bầu 30 đại biểu, có trên 70.000 người thì cứ thêm 10.000 người được bầu thêm 01 đại biểu, nhưng tổng số không quá 40 đại biểu.
Các thành phố thuộc tỉnh (ví dụ: Thành phố Đông Hà) có từ một trăm nghìn người trở xuống được bầu ba mươi đại biểu, có trên một trăm nghìn người thì cứ thêm mười nghìn người được bầu thêm một đại biểu, nhưng tổng số không quá bốn mươi đại biểu.
Hội đồng nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương: Không quá 95 đại biểu
Đối với các tỉnh miền xuôi và thành phố trực thuộc trung ương có từ 1.000.000 người trở xuống được bầu 50 đại biểu, có trên 1.000.000 người thì cứ thêm 50.000 người được bầu thêm 01 đại biểu, nhưng tổng số không quá 85 đại biểu.
Các tỉnh miền núi có từ 500.000 người trở xuống được bầu 50 đại biểu, có trên 500.000 người thì cứ thêm 30.000 người được bầu thêm 01 đại biểu, nhưng tổng số không quá 85 đại biểu.
Thủ đô Hà Nội và các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương khác có trên 3.000.000 người được bầu không quá 95 đại biểu.
=== Xác định khu vực bỏ phiếu ===
Để việc bỏ phiếu được thuận tiện, mỗi đơn vị bầu cử được chia thành nhiều khu vực bỏ phiếu. Khu vực bỏ phiếu là đơn vị địa dư thống nhất lượng cử tri nhất định, nơi cử tri tiến hành bỏ phiếu bầu đại diện.
Việc phân chia khu vực bỏ phiếu mang ý nghĩa kỹ thuật thuần túy nhằm tạo điều kiện cho cử tri thực hiện quyền bầu cử của mình. Các nước tiến hành chia đơn vị bầu cử thành các khu vực bỏ phiếu theo các phương pháp khác nhau.
Ở Việt Nam, lãnh thổ các đơn vị bầu cử đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân tỉnh, huyện, xã và tương đương thường rất rộng, một số địa phương hiện nay đi lại rất khó khăn mặt khác Việt Nam là một nước nghèo, việc đầu tư cho hệ thống giao thông còn hạn chế, nhiều hệ thống giao thông thi công kém do nhiều nguyên nhân đã nhanh chóng xuống cấp vì vậy gây thêm khó khăn cho việc bầu cử.
Để thuận tiện cho cử tri thực hiện quyền bầu cử của mình, các đơn vị bầu cử này thường phân chia thành các nơi bỏ phiếu (khu vực bỏ phiếu). Mỗi khu vực có thể có từ 300 đến 2.000 cử tri hoặc có thể cao hoặc thấp hơn, miễn là bảo đảm thuận tiện cho cử tri bỏ phiếu đồng thời cũng dễ cho đơn vị bầu cử.
Để đạt được thuận tiện cao nhất, nếu các cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội và Hội đồng nhân dân diễn ra cùng một ngày thì có thể tổ chức chung một khu vực bỏ phiếu. Việc bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân cấp cơ sở (xã, phường, thị trấn) các đơn vị bầu cử đồng thời là các khu vực bỏ phiếu nếu thuận tiện.
việc phân chia khu vực bỏ phiếu do Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn lập và được Ủy ban nhân dân cấp trên trực tiếp phê chuẩn. Các khu vực bỏ phiếu trong cùng một đơn vị bầu cử có chung một danh sách ở một đơn vị bầu cử.
Điều 12 Luật bầu cử Quốc hội quy định cụ thể như sau: Việc chia khu vực bỏ phiếu bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp do Uỷ ban nhân dân cấp xã ấn định và phải được Uỷ ban nhân dân cấp trên trực tiếp phê chuẩn.
Mỗi đơn vị bầu cử chia thành nhiều khu vực bỏ phiếu. Mỗi khu vực bỏ phiếu có từ 300 đến 2.000 cử tri.
Ở miền núi, hải đảo và những nơi dân cư không tập trung thì dù chưa có tới ba trăm cử tri cũng có thể thành lập một khu vực bỏ phiếu.
Đơn vị vũ trang nhân dân thành lập những khu vực bỏ phiếu riêng hoặc đơn vị vũ trang nhân dân và địa phương có thể có chung một khu vực bỏ phiếu.
Bệnh viện, nhà an dưỡng, nhà hộ sinh, nhà nuôi người tàn tật có từ 50 cử tri trở lên có thể thành lập khu vực bỏ phiếu riêng.
Cơ sở giáo dục, cơ sở chữa bệnh đối với những người đang chấp hành quyết định xử lý vi phạm hành chính có thể thành lập khu vực bỏ phiếu riêng.
Nội quy phòng bỏ phiếu:
Để cho cuộc bầu cử có kết quả, đồng thời bảo đảm tính dân chủ, hợp pháp trong cuộc bầu cử, nhất là trong ngày bỏ phiếu, các tổ chức phụ trách bầu cử và mọi công dân phải nghiêm chỉnh chấp hành Luật Bầu cử và những văn bản pháp luật về bầu cử. Ngoài ra, mọi người đều phải tuân theo nội quy của phòng bỏ phiếu.
Nội quy phòng bỏ phiếu là tập hợp các quy định do Tổ bầu cử căn cứ vào điều kiện cụ thể nơi bỏ phiếu đề ra, bảo đảm cho việc bầu cử được tiến hành dân chủ, đúng pháp luật và bảo đảm trật tự, an toàn. Nội quy phòng bỏ phiếu gồm:
1. Các quy định của Luật bầu cử
2. Các quy định về bảo vệ an toàn, an ninh trật tự
3. Các quy định phòng cháy và chữa cháy
4. Một số quy định hướng dẫn cách thức bỏ phiếu.
5. Cách khắc phục và bảo vệ bình chữa cháy.
Thùng phiếu (hòm phiếu):
Tại các khu vực bỏ phiếu, tùy tình hình cụ thể của từng nơi, người ta thường bố trí ít nhất là một hòm phiếu, nhiều nơi bố trí từ hai đến ba hòm phiếu để cử tri đến bỏ phiếu.
Những địa điểm đặt hòm phiếu như vậy được hiểu là hòm phiếu chính và yêu cầu tất cả các cử tri có tên ghi trong danh sách cử tri đều đến bỏ phiếu trực tiếp.
Ngoài ra, tại mỗi khu vực bỏ phiếu, tổ bầu cử thường chuẩn bị hòm phiếu phụ để trong trường hợp lý do đặc biệt nào đó (ốm đau, già yếu...) cử tri không thể đến phòng bỏ phiếu được thì tổ bầu cử mang hòm phiếu này và phiếu bầu đến tận chỗ ở của cử tri để cử tri nhận phiếu và trực tiếp bỏ phiếu bầu.
Hình dáng, kích thước của hòm phiếu phụ nhỏ hơn hòm phiếu chính. Nhưng, trước khi tiến hành bỏ phiếu ở hòm phiếu phụ cũng phải tuân thủ các bước như ở địa điểm bỏ phiếu chính thức (phải kiểm tra hòm phiếu trước sự chứng kiến của cử tri, niêm phong hoặc khóa lại và niêm phong rồi mới tiến hành bỏ phiếu).
=== Lập danh sách cử tri ===
Để thực hiện quyền bầu cử của mình, công dân phải đăng ký, ghi tên vào danh sách cử tri. Việc lập danh sách cử tri không những nhằm mục đích bảo đảm quyền bầu cử của công dân mà còn ngăn chặn hiện tượng gian lận trong bầu cử. Có hai phương pháp lập danh sách cử tri đó là bắt buộc và tự nguyện.
Phương pháp bắt buộc là việc lập danh sách do nhà nước hay tổ chức phụ trách ở khu vực bỏ phiếu lập. Phương pháp này còn chia thành hai loại danh sách cử tri thường xuyên và tạm thời.
Danh sách cử tri thường xuyên là danh sách được lập hàng năm không phụ thuộc vào năm đó có tiến hành bầu cử hay không.
Danh sách cử tri tạm thời là danh sách cử tri được lập vào những năm tiến hành bầu cử. Trước mỗi cuộc bầu cử các cơ quan có thẩm quyền mới lập danh sách cử tri và danh sách này không còn giá trị khi cuộc bầu cử kết thúc.
Phương pháp tự nguyện: Cử tri chỉ cần mang theo giấy tờ tùy thân đến cơ quan có thẩm quyền để đăng ký bỏ phiếu.
Ở Việt Nam áp dụng phương pháp lập danh sách bắt buộc khi cử tri tại địa điểm nào thì phải đăng ký danh sách tại nơi đó. Khẩu hiệu thường thấy trong các cuộc bầu cử là: “Bầu cử là quyền và nghĩa vụ của công dân”.
Cần lưu ý là việc lập danh sách theo phương pháp bắt buộc nhưng việc bỏ phiếu (đi bầu) lại hoàn toàn tự nguyện. Các công dân có thể tùy ý đi bỏ phiếu hoặc không mà không phải chịu bất cứ một chế tài nào cả.
Theo quy định của pháp luật, những người có quyền bầu cử được ghi tên vào danh sách cử tri nơi mình thường trú hoặc tạm trú. Danh sách cử tri này do Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn lập theo khu vực bỏ phiếu. Sau đó, cơ quan này phải niêm yết danh sách cử tri tại trụ sở và những nơi công cộng của khu vực bỏ phiếu, đồng thời phải thông báo rộng rãi việc niêm yết này cho cộng đồng dân cư.
Việc lập danh sách cử tri ở Việt Nam được lập là danh sách cử tri theo danh sách cử tri tạm thời. Nhà nước quy định việc lập danh sách cử tri theo các cuộc bầu cử và phục vụ luôn cho cuộc bầu cử. Khi kết thúc cuộc bầu cử thì danh sách cử tri cũng hết hiệu lực pháp lý.
Người có tên trong danh sách cử tri mới có quyền bầu cử. Cử tri là công dân Việt Nam không phân biệt điều kiện, từ 18 tuổi trở lên thì được đăng ký vào danh sách cử tri.
Ở Việt Nam, cách tính tuổi để công dân bầu cử, ứng cử như sau:
Tuổi để thực hiện quyền bầu cử và ứng cử của công dân được tính từ ngày, tháng, năm sinh ghi trong Giấy khai sinh đến ngày bầu cử đại biểu Quốc hội.
Đối với trường hợp không có Giấy khai sinh thì căn cứ vào sổ hộ khẩu hoặc Giấy chứng minh nhân dân để tính tuổi thực hiện quyền bầu cử, ứng cử. Mỗi tuổi tròn được tính từ ngày, tháng, năm sinh (dương lịch) của năm trước đến ngày, tháng, năm sinh (dương lịch) của năm sau.
Trường hợp không xác định được ngày sinh thì lấy ngày 01 của tháng sinh làm căn cứ để xác định tuổi thực hiện quyền bầu cử và ứng cử. Trường hợp không xác định được ngày và tháng sinh thì lấy ngày 01 tháng 01 của năm sinh làm căn cứ để xác định tuổi thực hiện quyền bầu cử và ứng cử.
Việc lập và niêm yết danh sách cử tri phải được thực hiện chậm nhất là 30 ngày trước ngày bầu cử. Mỗi cử tri được ghi rõ họ tên, năm sinh vào danh sách cử tri.
Khi phát hiện thấy có sai sót trong việc lập danh sách thì cử tri báocáo (bằng miệng hoặc bằng văn bản) với cơ quan lập danh sách cử tri. Họ có quyền khiếu nại, tố cáo hoặc kiến nghị về những sai sót này.
Ngoài việc lập danh sách cử tri theo đơn vị cư trú do Ủy ban nhân dân cấp xã lập thì đối với những người trong lực lượng quân đội, cảnh sát thì danh sách cử tri của họ sẽ do chỉ huy đơn vị lập.
Tuy vậy, để tạo điều kiện thuận lợi cho quân nhân thực hiện quyền bầu cử của mình, pháp luật hiện hành cũng cho phép quân nhân có hộ khẩu thường trú ở địa phương gần khu vực họ đóng quân thì có thể được ghi tên vào danh sách cử tri nơi thường trú và được tham gia bỏ phiếu ở địa phương đó.
Thông thường, mỗi cử tri chỉ được ghi tên vào một danh sách cử tri ở một nơi mình thường trú hoặc tạm trú. Từ khi niêm yết danh sách cử tri cho đến ngày bầu cử, nếu cử tri nào vì đi nơi khác, không thể tham gia bỏ phiếu ở nơi đã ghi tên vào danh sách cử tri thì có quyền được ghi tên và bỏ phiếu ở nơi khác. (Với điều kiện phải có giấy chứng nhận của Uỷ ban nhân dân cấp xã nơi đã đăng ký danh sách cử tri) Ủy ban nhân dân nơi cử tri đã đăng phải ghi ngay vào danh sách bên cạnh tên cử tri “Đi bỏ phiếu nơi khác”.
Trong thời hạn 10 ngày trước ngày bầu cử, Tổ bầu cử phải thường xuyên thông báo cho cử tri biết ngày bầu cử, nơi bỏ phiếu, thời gian bỏ phiếu bằng hình thức niêm yết, phát thanh và các phương tiện thông tin khác của địa phương.
Đối với việc bầu cử Hội đồng nhân dân các cấp còn có các quy định khác như: Mỗi cử tri chỉ được ghi tên vào một danh sách cử tri nơi mình cư trú. Trong thời gian lập danh sách cử tri, những người thay đổi nơi cư trú trong phạm vi một đơn vị hành chính cấp huyện được ghi tên vào danh sách cử tri để bầu đại biểu Hội đồng nhân dân cấp huyện, cấp tỉnh; thay đổi nơi cư trú trong phạm vi một đơn vị hành chính cấp tỉnh được ghi tên vào danh sách cử tri để bầu đại biểu Hội đồng nhân dân cấp tỉnh.
Cử tri là sinh viên, học sinh, học viên ở các trường chuyên nghiệp, trường đại học, trường cao đẳng, trường trung học chuyên nghiệp và cử tri là quân nhân ở các đơn vị vũ trang nhân dân được ghi tên vào danh sách cử tri để bầu đại biểu Hội đồng nhân dân cấp tỉnh và cấp huyện ở nơi tạm trú hoặc đóng quân.
=== Giới thiệu ứng cử viên ===
Giới thiệu ứng cử viên hay đưa người ra ứng cử là một giai đoạn quan trọng trong tiến trình bầu cử, vì cử tri chỉ được lựa chọn bầu trong số những ứng cử viên là đại diện cho mình. Hay nói một cách khác chính giai đoạn này xác định phạm vi nhất định những cá nhân mà trong số đó sẽ bầu ra đại biểu của cơ quan dân cử trung ương hay địa phương.
Hiện nay, trên thế giới phổ biến các phương pháp đưa người ra ứng cử như: tự ứng cử, ứng cử viên được đề cử bởi nhóm cử tri, ứng cử viên được đề cử bởi đảng chính trị hay tổ chức xã hội – chính trị mà biến dạng của nó là phương pháp Praimeris ở Mỹ là phương pháp đề cử ứng cử viên dựa vào ý kiến của cử tri.
Ở Việt Nam, song song với việc thành lập các tổ chức phụ trách bầu cử là việc giới thiệu ứng cử viên. Đây cũng là giai đoạn cực kỳ quan trọng của cuộc bầu cử. Sự dân chủ không chỉ thể hiện trong khi xác định kết quả bầu cử mà còn ngay từ khi giới thiệu ứng cử viên. Nếu công dân không được giới thiệu ra ứng cử, không lập được danh sách ứng cử thì không có cơ hội để trở thành đại biểu được.
Về mặt nguyên tắc, chủ thể giới thiệu ứng cử viên càng rộng bao nhiêu thì thể hiện sự dân chủ bấy nhiêu của giai đoạn này. Pháp luật hiện hành không hạn chế việc giới thiệu ứng cử viên của các tổ chức chính trị - xã hội và ứngcử viên cũng không bắt buộc phải nộp một khoản tiền ký quỹ để tranh cử.
Pháp luật hiện hành đề cao vai trò của mặttrận tổ quốc Việt Nam trong việc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân. Mặt trận tổ quốc là chủ thể duy nhất lập danh sách ứng cử viên đại biểu Quốc hội và Hội đồng nhân dân.
Pháp luật quy định việc tự ứng cử của công dân nếu đủ điều kiện về độ tuổi,năng lực và sự tín nhiệm của cử tri. Những ứng cư viên này được mặt trận giớithiệu về các nơi ở cơ sở và nơi côngtác để họ đuợc góp ý trước khi được mặt trận tổ quốc hiệp thương lập danh sách ứng cử viên chính thức.
Việc giới thiệu ứng cử viên:
Ở tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức chính trị xã hội- nghề nghiệp, tổ chức xã hội- nghề nghiệp, tổ chức xã hội thì Ban lãnh đạo của tổ chức đó dự kiến người của tổ chức mình ứng cử đại biểu Quốc hội, tổ chức lấy ý kiến nhận xét của Hội nghị cử tri nơi người đó công tác.
Trên cơ sở ý kiến của Hội nghị cử tri, Ban lãnh đạo tổ chức hội nghị Ban Thường vụ mở rộng, Ban Thường trực mở rộng hoặc Đoàn Chủ tịch mở rộng để thảo luận, giới thiệu người của tổ chức mình ứng cử đại biểu Quốc hội.
Ở cơ quan Nhà nước thì Ban lãnh đạo cơ quan phối hợp với Ban Chấp hành công đoàn dự kiến người của cơ quan mình ứng cử đại biểu Quốc hội, tổ chức lấy ý kiến nhận xét của Hội nghị cử tri nơi người đó công tác.
Trên cơ sở ý kiến của Hội nghị cử tri, Thủ trưởng cơ quan tổ chức hội nghị gồm Ban lãnh đạo cơ quan, Ban Chấp hành công đoàn, đại diện lãnh đạo các đơn vị trực thuộc để thảo luận, giới thiệu người của cơ quan mình ứng cử đại biểu Quốc hội.
Ở đơn vị vũ trang nhân dân thì lãnh đạo, chỉ huy đơn vị dự kiến người của đơn vị mình ứng cử đại biểu Quốc hội, tổ chức lấy ý kiến nhận xét của Hội nghị cử tri nơi người đó công tác.
Trên cơ sở ý kiến của Hội nghị cử tri, lãnh đạo, chỉ huy đơn vị tổ chức hội nghị gồm lãnh đạo, chỉ huy đơn vị, đại diện Ban Chấp hành công đoàn (nếu có), đại diện quân nhân và chỉ huy cấp dưới trực tiếp để thảo luận, giới thiệu người của đơn vị mình ứng cử đại biểu Quốc hội.
=== Hiệp thương lập danh sách ứng cử viên ===
Muốn có được danh sách ứng cử viên chính thức cho các đơn vị bầu cử niêm yết để cử tri bỏ phiếu bầu cử, mặt trận tổ quốc Việt Nam phải tổ chức ba hội nghị hiệp thương cơ bản giữa các tổ chức là thành viên: Hội nghị hiệp thương để phân bổ số lượng ứng cử viên mà các tổ chức xã hội được giới thiệu, hội nghị hiệp thương sơ bộ các ứng cử viên để đưa về đơn vị nơi công tác và nơi cư trú lấy ý kiến đóng góp của Hội nghị cử tri, và cuối cùng là hiệp thương để lập danh sách ứng cử viên để đưa về các đơn vị bầu cử.
Các bước hiệp thương:
Luật bầu cử đại biểu Quốc hội quy định rõ quy trình hiệp thương giới thiệu người ứng cử đại biểu Quốc hội gồm 3 bước như sau:
1. Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tổ chức hội nghị hiệp thương lần thứ nhất chậm nhất là 85 ngày trước ngày bầu cử, để thoả thuận về cơ cấu, thành phần đại biểu Quốc hội, số lượng người của cơ quan, tổ chức, đơn vị được bầu làm đại biểu Quốc hội, trên cơ sở dự kiến của Uỷ ban thường vụ Quốc hội.
2. Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tổ chức hội nghị hiệp thương lần thứ hai chậm nhất là 60 ngày trước ngày bầu cử để thoả thuận lập danh sách sơ bộ những người ứng cử đại biểu Quốc hội và gửi lấy ý kiến cử tri nơi cư trú (đối với người tự ứng cử đại biểu Quốc hội thì đồng thời gửi lấy ý kiến cử tri nơi người đó công tác hoặc làm việc (nếu có)), trên cơ sở điều chỉnh lần thứ nhất của Uỷ ban thường vụ Quốc hội.
3. Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tổ chức hội nghị hiệp thương lần thứ ba chậm nhất là 35 ngày trước ngày bầu cử để lựa chọn, lập danh sách chính thức những người ứng cử đại biểu Quốc hội, trên cơ sở điều chỉnh lần thứ hai của Uỷ ban thường vụ Quốc hội và kết quả lấy ý kiến cử tri.
Thành phần hội nghị hiệp thương:
Hội nghị hiệp thương ở trung ương do Đoàn Chủ tịch Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tổ chức, thành phần gồm: Đoàn Chủ tịch Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, đại diện Ban lãnh đạo các tổ chức thành viên của Mặt trận. Đại diện Hội đồng bầu cử, Uỷ ban thường vụ Quốc hội và Chính phủ được mời tham dự Hội nghị này.
Hội nghị hiệp thương ở địa phương do Ban Thường trực Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương tổ chức, thành phần gồm: Ban Thường trực Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc cấp tỉnh, đại diện ban lãnh đạo các tổ chức thành viên của Mặt trận và đại diện Ban Thường trực Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc quận, huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh. Đại diện Uỷ ban bầu cử, Thường trực Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân cùng cấp được mời tham dự Hội nghị này.
Lập danh sách đại biểu và niêm yết danh sách:
Sau khi hiệp thương lần thứ ba và lập danh sách ứng cử đại biểu Quốc hội lần thứ ba, Ban Thường trực Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam gửi đến Hội đồng bầu cử, Ban Thường trực Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương gửi đến Uỷ ban bầu cử danh sách chính thức những người được Mặt trận Tổ quốc Việt Nam giới thiệu ứng cử đại biểu Quốc hội. Thời hạn chậm nhất để thực hiện là 30 ngày trước ngày bầu cử.
Sau khi nhận được danh sách danh sách chính thức do Ban Thường trực Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các Uỷ ban bầu cử gửi đến, Hội đồng bầu cử lập và công bố danh sách những người ứng cử theo từng đơn vị bầu cử trong cả nước chậm nhất là 25 ngày trước ngày bầu cử và Ban bầu cử phải niêm yết danh sách người ứng cử ở địa phương mình theo quyết định của Hội đồng bầu cử Ban bầu cử phải niêm yết danh sách người ứng cử ở địa phương mình theo quyết định của Hội đồng bầu cử.
Việc hiệp thương có ý nghĩa quan trọng về mặt kỹ thuật, quy trình này giúp loại khỏi danh sách nhiều ứng cử viên không đủ tiêu chuẩn, hoặc bị phát hiện có dấu hiệu vi phạm... để chốt danh sách ứng cử viên cuối cùng, giảm bớt hiện tượng “loãng phiếu” khi bầu cử.
Ví dụ: Ở kỳ bầu cử đại biểu hội đồng nhân dân nhiệm kỳ 2004 – 2009, sau Hội nghị hiệp thương lần 3, có 27 ứng cử viên Hội đồng nhân dân cấp tỉnh, 134 cấp huyện, 1.712 cấp xã bị đưa ra khỏi danh sách bầu cử.
=== Vận động bầu cử ===
Giai đoạn này là một giai đoạn quan trọng trong tiến trình bầu cử, bởi chính giai đọan này phần nhiều quyết định sự thành bại của ứng cử viên.
Kể từ khi lập danh sách cho đến ngày bỏ phiếu, các ứng cử viên cũng như các chủ thể giới thiệu ứng cử viên được quyền bình đẳng trong việc vận động, tuyên truyền bầu cử.
Vận động bầu cử là hoạt động gặp gỡ, tiếp xúc của người ứng cử với cử tri và các phương tiện thông tin đại chúng. Mục đích là tạo điều kiện cho người ứng cử đại biểu Quốc hội gặp gỡ, tiếp xúc với cử tri để báo cáo với cử tri dự kiến chương trình hành động của mình nếu được bầu làm đại biểu...
Ở Việt Nam, việc tổ chức vận động bầu cử phải tuân theo các quy tắc sau:
Nguyên tắc vận động bầu cử:
Nguyên tắc tiến hành vận động bầu cử là bảo đảm dân chủ, bình đẳng đúng pháp luật và bảo đảm trật tự, an toàn xã hội
Theo đó, việc bầu cử phải bảo đảm: Dân chủ, bình đẳng và xây dựng trong vận động bầu cử, tạo không khí trao đổi thẳng thắn, cởi mở giữa người ứng cử và cử tri. Các ứng cử viên không được lợi dụng vận động bầu cử để tuyên truyền trái với Hiến pháp và pháp luật hoặc làm tổn hại đến danh dự, uy tín và quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân. Không biến vận động bầu cử thành nơi để khiếu nại, tố cáo hoặc giải quyết khiếu nại, tố cáo. Không được lạm dụng uy tín, chức vụ, quyền hạn trong việc quản lý các phương tiện thông tin đại chúng trong vận động bầu cử. Không được lợi dụng vận động bầu cử để vận động tài trợ, quyên góp ở trong nước và ngoài nước cho tổ chức, cá nhân mình. Không được sử dụng tiền, tài sản của Nhà nước, tập thể và cá nhân để lôi kéo, mua chuộc cử tri. Bảo đảm an ninh, trật tự, an toàn trong quá trình vận động bầu cử.
Hình thức vận động bầu cử:
Những người bầu cử đại biểu Quốc hội (hoặc Hội đồng nhân dân) tiến hành vận động bằng hình thức: gặp gỡ, tiếp xúc với cử tri và các phương tiện thông tin đại chúng để báo cáo với cử tri dự kiến thực hiện trách nhiệm của người đại biểu nếu được bầu làm đại biểu thông qua hội nghị tiếp xúc cử tri do Ủy ban Mặt trận Tổ quốc các cấp ở địa phương nơi mình ứng cử tổ chức. Trả lời phỏng vấn trên các phương tiện thông tin đại chúng.
Luật bầu cử đại biểu Quốc hội quy định về quy trình tiến hành hội nghị cử tri như sau:
Hội nghị cử tri ở xã, phường, thị trấn được tổ chức theo đơn vị cấp cơ sở (cơ sở ở đây được hiểu là thôn, xóm, tổ dân phố buôn, bản, ấp) nơi cư trú thường xuyên của người ứng cử do Mặt trận Tổ quốc xã, phường, thị trấn phối hợp với Uỷ ban nhân dân cùng cấp triệu tập và chủ trì. Người ứng cử đại biểu Quốc hội, đại diện cơ quan, tổ chức, đơn vị có người ứng cử được mời tham dự Hội nghị này.
Hội nghị cử tri ở tổ chức chính trị - xã hội do Ban lãnh đạo và Ban Chấp hành công đoàn tổ chức triệu tập và chủ trì.
Hội nghị cử tri ở cơ quan Nhà nước do Ban lãnh đạo phối hợp với Ban Chấp hành công đoàn cơ quan triệu tập và chủ trì.
Hội nghị cử tri ở đơn vị vũ trang nhân dân là Hội nghị quân nhân do lãnh đạo, chỉ huy đơn vị triệu tập và chủ trì. Người ứng cử đại biểu Quốc hội được mời tham dự Hội nghị này.
Tại các Hội nghị trên, cử tri đối chiếu với tiêu chuẩn đại biểu nhận xét, bày tỏ sự tín nhiệm đối với người ứng cử đại biểu bằng cách giơ tay hoặc bỏ phiếu kín theo quyết định của Hội nghị.
Biên bản Hội nghị cử tri lấy ý kiến về những người do cơ quan, tổ chức, đơn vị ở trung ương giới thiệu được gửi đến Mặt trận Tổ quốc ở Trung ương. Biên bản Hội nghị cử tri lấy ý kiến về những người do cơ quan, tổ chức, đơn vị ở địa phương giới thiệu và những người tự ứng cử được gửi đến Mặt trận Tổ quốc tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương.
Việc tổ chức Hội nghị cử tri nêu trên do Uỷ ban thường vụ Quốc hội phối hợp với Mặt trận Tổ quốc Việt Nam hướng dẫn.
Trình tự của việc vận động bầu cử:
1. Người ứng cử trình bày dự kiến chương trình hành động của mình nếu được bầu làm đại biểu Quốc hội hoặc đại biểu hội đồng nhân dân
2. Người ứng cử trình bày ý kiến của mình về vai trò, nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của đại biểu Quốc hội hoặc đại biểu hội đồng nhân dân
3. Người ứng cử và cử tri trao đổi về những vấn đề cùng quan tâm;
4. Người ứng cử trả lời các câu hỏi của cử tri.
5. Hội đồng tiếp xúc cử tri trong vận động bầu cử
Ban thường trực Ủy ban Mặt trận Tổ quốc tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương chủ trì phối hợp với chính quyền địa phương ở đơn vị bầu cử tổ chức hội nghị tiếp xúc cử tri, thành phần gồm đại diện các cơ quan, tổ chức, đơn vị và cử tri ở địa phương.
Tại hội nghị tiếp xúc cử tri, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh phối hợp với Mặt trận Tổ quốc cùng cấp giới thiệu nội dung cơ bản về tình hình chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội và kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của địa phương để người ứng cử xây dựng dự kiến chương trình hành động của mình.
Đối với những người được trung ương giới thiệu ứng cử đại biểu Quốc hội ở địa phương nào cần kết hợp nghiên cứu tình hình địa phương đó và tình hình chung của cả nước để xây dựng dự kiến chương trình hành động của mình.
Chương trình hội nghị tiếp xúc cử tri gồm:
1. Tuyên bố lý do, giới thiệu đại biểu.
2. Đại diện Ban thường vụ Ủy ban Mặt trận Tổ quốc tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương chủ trì cuộc tiếp xúc cử tri giới thiệu và đọc tiểu sử tóm tắt của từng người ứng cử.
3. Từng người cử tri báo cáo với cử tri về dự kiến việc thực hiện trách nhiệm của người đại biểu nếu được bầu làm đại biểu Quốc hội.
4. Cử tri nêu ý kiến, đề đạt nguyện vọng của mình với những người ứng cử. Cử tri và những người ứng cử trao đổi dân chủ, thẳng thắn và cởi mở những vấn đề cùng quan tâm.
5. Người chủ trì hội nghị phát biểu kết thúc hội nghị.
=== Bỏ phiếu ===
Bỏ phiếu kín là một trong những nguyên tắc quan trọng và là một trong những đảm bảo quan trọng của sự tự do thể hiện nguyện vọng của cử tri.
Thủ tục bỏ phiếu được pháp luật bầu cử của các nước (theo những thể thức khác nhau) điều chỉnh tương đối cụ thể. Một điểm chung cho các nước là pháp luật bầu cử đều quy định nguyên tắc bỏ phiếu kín và chỉ có những người có tên trong danh sách cử tri mới có quyền đi bỏ phiếu.
Khi đến phòng bỏ phiếu, cử tri phải xuất trình giấy tờ tùy thân hoặc thẻ cử tri do nhân viên phụ trách bầu cử cung cấp đồng thời nhận phiếu bầu. Cử tri viết trong phòng kín sau đó gấp lại hoặc cho vào phong bì gián lại rồi ra ngoài tự tay bỏ vào thùng phiếu.
Theo thông lệ trên, pháp luật hiện hành ở Việt Nam cũng quy định rất cụ thể về thể thức bỏ phiếu.
Thời gian bỏ phiếu:
Việc bỏ phiếu bắt đầu từ bảy giờ sáng (07giờ GMT) đến bảy giờ tối (19 giờ GMT). Tuỳ tình hình địa phương, Tổ bầu cử có thể quyết định cho bắt đầu sớm hơn nhưng không được trước năm giờ sáng hoặc kết thúc muộn hơn nhưng không được quá mười giờ đêm. Trong ngày bầu cử, việc bỏ phiếu phải được tiến hành liên tục. Và không được phép tổ chức tuyên truyền vận động bầu cử tại phòng bỏ phiếu.
Trong trường hợp có sự kiện bất ngờ làm gián đoạn việc bỏ phiếu, thì Tổ bầu cử lập tức niêm phong hòm phiếu, tài liệu liên quan trực tiếp đến cuộc bầu cử, kịp thời báo cáo cho Ban bầu cử biết, đồng thời phải có những biện pháp cần thiết để việc bỏ phiếu được tiếp tục.
Nếu vì một lý do đặc biệt cần phải hoãn ngày bỏ phiếu thì tổ bầu cử phải kịp thời báo cáo cho ban bầu cử biết để hội đồng bầu cử xem xét, quyết định.
Thể thức bỏ phiếu:
Trước khi bỏ phiếu, Tổ bầu cử phải kiểm tra hòm phiếu trước sự chứng kiến của cử tri. Mỗi cử tri có quyền bỏ một phiếu bầu, họ sẽ nhận được một phiếu bầu do tổ bầu cử phát ra sau khi lá phiếu đó đã được đóng dấu của tổ bầu cử. khi bầu cử phải xuất trình thẻ cử tri. Cử tri phải tự mình đi bầu, không được bầu bằng cách gửi thư. Mọi người đều phải tuân theo nội quy của phòng bỏ phiếu.
Luật quy định rõ cử tri phải tự mình đi bầu và phải tự nhận phiếu bầu, không nhờ người khác nhận thay, tự mình viết phiếu bầu, tự mình gạch tên ứng cử viên mình không tín nhiệm (nguyên tắc bầu cử trực tiếp).
Trong trường hợp cử tri không thể tự mình viết được phiếu thì nhờ người khác viết hộ, nhưng phải tự mình bỏ phiếu, người viết hộ phải bảo đảm bí mật phiếu bầu.
Người vì tàn tật không tự bỏ phiếu được thì nhờ người khác bỏ phiếu vào hòm phiếu. Trong trường hợp cử tri ốm đau, già yếu, tàn tật không thể đến phòng bỏ phiếu được thì Tổ bầu cử mang hòm phiếu phụ và phiếu bầu đến chỗ ở của cử tri để cử tri nhận phiếu và bầu.
Người vừa câm, vừa điếc không thuộc các trường hợp quy định không được ghi tên vào danh sách cử tri, vì vậy, người vừa câm, vừa điếc đều được ghi tên vào danh sách cử tri, tham gia bầu cử đại biểu Quốc hội.
Về việc viết và bỏ phiếu, nếu họ không tự viết được phiếu bầu thì áp dụng theo quy định: "Cử tri không thể tự viết được phiếu bầu thì nhờ người khác viết hộ, nhưng phải tự mình bỏ phiếu; người viết hộ phải bảo đảm bí mật phiếu bầu của cử tri; nếu cử tri vì tàn tật không tự bỏ phiếu được thì nhờ người khác bỏ phiếu vào hòm phiếu".
Người viết phiếu hộ phải đảm bảo giữ bí mật phiếu bầu của cử tri nhờ viết, không được tiết lộ với bất cứ ai, kể cả những người trong tổ chức phụ trách bầu cử về việc người nhờ mình bầu cho ứng cử viên nào. Nếu người viết phiếu hộ mà tiết lộ là vi phạm nguyên tắc bỏ phiếu kín của cử tri.
Mỗi cử tri chỉ có quyền bỏ một phiếu bầu. Khi cử tri viết phiếu bầu, không ai được đến xem, kể cả thành viên Tổ bầu cử; nếu viết hỏng, cử tri có quyền đề nghị Tổ bầu cử đổi phiếu bầu khác.
Khi đã hết giờ bỏ phiếu, nếu còn cử tri có mặt tại phòng bỏ phiếu mà chưa kịp bỏ phiếu thì chỉ sau khi số cử tri này bỏ phiếu xong, Tổ bầu cử mới được tuyên bố kết thúc cuộc bỏ phiếu.
=== Kiểm phiếu ===
Sau khi cuộc bỏ phiếu kết thúc, các tổ chức phụ trách bầu cử ở khu vực bỏ phiếu lập tức tiến hành việc kiểm phiếu. Việc kiểm phiếu được tiến hành công khai.
Thông thường, bộ phận kiểm phiếu trước hết phải xác định số lượng cử tri ở khu vực bỏ phiếu đã tham gia bỏ phiếu, sau đó đối chiếu với số phiếu bầu ở trong thùng phiếu có phù hợp hay không, rồi xác định số phiếu hợp lệ và không hợp lệ.
Nếu tổng số phiếu trong hòm phiếu phù hợp với số lượng phiếu mà tổ bầu cử phát ra thì tiến hành kiểm phiếu. Trong trường hợp khác nhau thì phải lập tức báo cho ban bầu cử biết và quyết định.
Giai đoạn kiểm phiếu hoàn toàn do các nhân viên của tổ chức phụ trách bầu cử đảm nhiệm.
Theo quy định của pháp luật Việt Nam, việc kiểm phiếu phải được tiến hành tại phòng bỏ phiếu ngay sau khi cuộc bỏ phiếu kết thúc.
Trước khi mở hòm phiếu, Tổ bầu cử phải thống kê, lập biên bản, niêm phong số phiếu không sử dụng đến và phải mời hai cử tri không phải là người ứng cử chứng kiến việc kiểm phiếu.
Người ứng cử, đại diện cơ quan, tổ chức, đơn vị giới thiệu người ứng cử hoặc người được uỷ nhiệm có quyền chứng kiến việc kiểm phiếu và khiếu nại về việc kiểm phiếu. Các phóng viên báo chí được chứng kiến việc kiểm phiếu.
Việc kiểm phiếu bao gồm các bước sau:
Thống kê, lập biên bản, niêm phong tất cả số phiếu bầu không sử dụng đến.
Xác định tổng số phiếu đã phát ra.
Xác định tổng số cử tri tham gia bỏ phiếu.
Nghiêm cấm việc bỏ phiếu sau khi đã mở hòm phiếu.
Kiểm tra hòm phiếu và tiến hành mở hòm phiếu (cả hòm phiếu phụ nếu có).
Xác định tổng số phiếu được lấy ra từ hòm phiếu.
So sánh tổng số phiếu được lấy ra từ hòm phiếu với số phiếu đã phát ra và với tổng số cử tri tham gia bỏ phiếu.
Xác định số phiếu hợp lệ và không hợp lệ.
Phiếu hợp lệ là phiếu bầu theo mẫu quy định do Tổ bầu cử phát, có dấu của Tổ bầu cử. Phiếu bầu đủ hoặc ít hơn số đại biểu Quốc hội mà đơn vị bầu cử được bầu. Phiếu bầu gạch tên các ứng cử viên không được tín nhiệm bằng cách gạch chéo, gạch xiên, gạch dọc hoặc gạch ngang, nhưng phải gạch hết họ và tên.
Phiếu không hợp lệ là phiếu không theo mẫu quy định do Tổ bầu cử phát. Phiếu không có dấu của Tổ bầu cử (phiếu không do Tổ bầu cử phát ra). Phiếu để số người được bầu quá số đại biểu mà đơn vị bầu cử được bầu. Phiếu gạch xoá hết tên những người ứng cử (hay còn gọi là phiếu trắng). Phiếu ghi tên người ngoài danh sách ứng cử. Phiếu có viết thêm. Phiếu có gạch vào khoảng cách giữa họ và tên hai ứng cử viên. Phiếu không xác định được cử tri bỏ phiếu cho ai (như phiếu gạch không đúng vị trí của tên ứng cử viên hay số ứng cử viên không bị gạch nhiều hơn số đại biểu cần bầu) Phiếu khoanh tròn họ và tên ứng cử viên.
Trong trường hợp có phiếu nghi là không hợp lệ thì Tổ trưởng Tổ bầu cử đưa ra để toàn Tổ giải quyết. Tổ bầu cử không được gạch xoá hoặc sửa các tên ghi trên phiếu bầu.
Đếm số phiếu bầu cho mỗi người ứng cử.
Giải quyết những khiếu nại, tố cáo về bầu cử hoặc chuyển lên Ban bầu cử giải quyết. Những khiếu nại tại chỗ về việc kiểm phiếu do Tổ bầu cử nhận, giải quyết và ghi cách giải quyết vào biên bản. Trong trường hợp Tổ bầu cử không giải quyết được thì phải ghi rõ ý kiến của Tổ vào biên bản giải quyết khiếu nại và chuyển đến Ban bầu cử.
Làm biên bản và báo cáo về kết quả kiểm phiếu.
Sau khi kiểm phiếu xong, Tổ bầu cử phải lập biên bản kết quả kiểm phiếu. Biên bản kết quả kiểm phiếu phải ghi rõ: Số đại biểu Quốc hội được ấn định cho đơn vị bầu cử. Số người ứng cử. Tổng số cử tri của đơn vị bầu cử, khu vực bỏ phiếu. Số cử tri đã tham gia bỏ phiếu. Tỷ lệ cử tri đã tham gia bỏ phiếu so với tổng số cử tri. Số phiếu hợp lệ. Số phiếu không hợp lệ. Số phiếu bầu cho mỗi người ứng cử. Danh sách những người trúng cử. Những khiếu nại do các Tổ bầu cử đã giải quyết, những khiếu nại do Ban bầu cử giải quyết, những khiếu nại chuyển đến Uỷ ban bầu cử, Hội đồng bầu cử. Biên bản được lập thành 4 bản, có chữ ký của Tổ trưởng, Thư ký và hai cử tri được mời chứng kiến việc kiểm phiếu.
Chuyển biên bản và báo cáo kết quả kiểm phiếu cho Ban bầu cử. Biên bản được gửi đến Ban bầu cử và Chủ tịch Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân, ban thường trực Uỷ ban mặt trận Tổ quốc xã, phường, thị trấn chậm nhất là ba ngày sau ngày bầu cử.
=== Xác định kết quả bầu cử ===
Kết quả cuộc bầu cử được xác định trước hết ở từng đơn vị bầu cử. Kết quả này được chuyển lên cho Ủy ban bầu cử ở Trung ương (Hội đồng bầu cử). Trên cơ sở những văn bản do các tổ chức phụ trách ở đơn vị bầu cử gửi đến, Ủy ban bầu cử Trung ương xác nhận tính hợp pháp của cuộc bầu cử ở từng đơn vị bầu cử rồi công bố kết quả bầu cử. Trong trường hợp cần thiết có thể tuyên bố bỏ phiếu vòng hai.
Sau khi nhận được biên bản kết quả kiểm phiếu của các Tổ bầu cử, Ban bầu cử kiểm tra các biên bản đó và lập biên bản xác định kết quả bầu cử ở đơn vị bầu cử của mình.
Biên bản phải ghi rõ: Số lượng ứng cử viên, tổng số cử tri trong đơn vị bầu cử, số lượng cử tri tham gia bỏ phiếu, số lượng phiếu thuận của từng ứng cử viên (số phiếu bầu cho mỗi người) và những vấn đề khác có liên quan đến bầu cử. Cuối cùng là danh sách những người trúng cử.
Biên bản được thành lập thành năm bản, có chữ ký của Trưởng ban, các Phó Trưởng ban và Thư ký. Biên bản được gửi đến Hội đồng bầu cử, Uỷ ban bầu cử, Thường trực Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân, Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương chậm nhất là năm ngày sau ngày bầu cử.
Theo quy định của pháp luật về bầu cử, trong số đại biểu mà đơn vị bầu cử được bầu, người ứng cử được quá nửa số phiếu hợp lệ và được nhiều phiếu hơn là người trúng cử. Trong trường hợp nhiều người được số phiếu ngang nhau thì người nhiều tuổi hơn là người trúng cử. Đối với đại biểu Hội đồng nhân dân, trong trường hợp có nhiều số phiếu ngang nhau thì theo đề nghị của ban bầu cử cùng Mặt trận Tổ quốc cùng cấp thì hội đồng bầu cử sẽ quyết định.
=== Công bố kết quả bầu cử ===
Sau khi nhận và kiểm tra biên bản xác định kết quả bầu cử của các Ban bầu cử, Uỷ ban bầu cử và giải quyết các khiếu nại, tố cáo (nếu có), Hội đồng bầu cử lập biên bản tổng kết cuộc bầu cử trong cả nước.
Biên bản phải ghi rõ: Tổng số đại biểu được ấn định, tổng số người ứng cử, tổng số cử tri. tổng số cử tri đã tham gia bỏ phiếu, tỷ lệ cử tri đã tham gia bỏ phiếu so với tổng số cử tri, tổng số phiếu hợp lệ, số phiếu không hợp lệ. số phiếu bầu cho mỗi người ứng cử, số người trúng cử và danh sách những người trúng cử, những vấn đề quan trọng khác có liên quan đến bầu cử như việc vi phạm pháp luật về bầu cử, những khiếu nại, tố cáo do Hội đồng bầu cử giải quyết....
Biên bản được lập thành năm bản, có chữ ký của Chủ tịch, Tổng thư ký Hội đồng bầu cử. Biên bản được gửi đến Uỷ ban thường vụ Quốc hội, Chính phủ, Uỷ ban trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam chậm nhất là 7 ngày sau ngày bầu cử. Một bản trình Quốc hội hoặc Hội đồng nhân dân khoá mới và một bản lưu trữ.
Hội đồng bầu cử căn cứ vào biên bản tổng kết cuộc bầu cử trong cả nước công bố kết quả bầu cử và danh sách những người trúng cử đại biểu Quốc hội (hoặc Hội đồng nhân dân).
=== Bầu cử thêm, bầu bổ sung ===
Để đảm bảo công bằng, bình đẳng đối với người trúng cử trong cuộc bầu cử lần thứ nhất và người trúng cử trong cuộc bầu cử thêm, bầu cử lại, Pháp luật hiện hành quy định:
Đối với cuộc bầu cử thêm và bầu cử lại chỉ có giá trị khi có quá nửa số cử tri đi bầu. Người trúng cử phải được quá nửa số phiếu hợp lệ. Nếu bầu cử thêm mà vẫn chưa đủ số đại biểu thì không tổ chức bầu cử thêm lần thứ hai. Nếu bầu cử lại mà số cử tri đi bầu vẫn chưa được quá nửa số cử tri ghi tên trong danh sách thì không tổ chức bầu cử lại lần thứ hai.
Bầu cử thêm:
Bầu cử thêm là cuộc bầu cử do Hội đồng bầu cử quyết định cho đơn vị bầu cử nào đó mà ở cuộc bầu cử đầu tiên, số người trúng cử chưa đủ số đại biểu do Ủy ban thường vụ Quốc hội ấn định cho đơn vị bầu cử đó.
Trong cuộc bầu cử nếu số người trúng cử chưa đủ số đại biểu được bầu ở đơn vị bầu cử thuộc địa phương nào thì Uỷ ban bầu cử ở địa phương đó báo cáo ngay đến Hội đồng bầu cử xem xét, quyết định việc bầu cử thêm số đại biểu còn thiếu.
Khi lập biên bản xác định kết quả bầu cử ở đơn vị bầu cử, Ban bầu cử phải ghi rõ các nội dung và báo cáo ngay cho Ủy ban bầu cử để đề nghị Hội đồng bầu cử xem xét, quyết định việc bầu cử thêm.
Nếu xét thấy việc khuyết đó có ảnh hưởng đến cơ cấu và hoạt động thì Hội đồng bầu cử mới quyết định việc bầu cử thêm cho đỡ tốn kém và phiền phức. Nếu bầu cử thêm thì ngày bầu cử phải được tiến hành chậm nhất là 20 ngày sau cuộc bầu cử đầu tiên.
Điều 50 Luật bầu cử Hội đồng nhân dân quy định: Trong cuộc bầu cử thêm, cử tri chỉ chọn trong danh sách những người ứng cử nhưng không trúng cử kỳ đầu. Nếu bầu thêm mà vẫn không đủ số lượng thì không tổ chức bầu thêm lần thứ hai.
Ở đơn vị bầu cử thuộc địa phương nào nếu số cử tri đi bỏ phiếu chưa được quá nửa số cử tri ghi trong danh sách thì Uỷ ban bầu cử ở địa phương đó báo cáo ngay đến Hội đồng bầu cử xem xét, quyết định việc bầu cử lại ở đơn vị bầu cử đó. Nếu bầu cử lại thì ngày bầu cử được tiến hành chậm nhất là 20 ngày sau ngày bầu cử đầu tiên. Bầu cử thêm không phải thực hiện lại các bước hiệp thương giới thiệu, lựa chọn người ứng cử, mà cử tri chỉ bầu chọn trong danh sách những người đã ứng cử lần đầu chưa trúng cử.
Danh sách cử tri của cuộc bầu cử thêm vẫn căn cứ vào danh sách cử tri trong cuộc bầu cử đầu tiên. Trong cuộc bầu cử thêm, người trúng cử phải là người được quá nửa số phiếu hợp lệ và được nhiều phiếu hơn. Nếu bầu cử thêm mà vẫn chưa đủ số đại biểu theo quy định thì không tổ chức bầu cử thêm lần thứ hai.
Bầu cử lại:
Đối với việc bầu cử đại biểu Quốc hội, luật quy định thẳng cho Ủy ban bầu cử có quyền quyết định việc bầu lại ngay mà không cần qua Hội đồng bầu cử trung ương.
Nếu bầu cử lại mà số cử tri đi bầu vẫn chưa được quá nửa số cử tri ghi tên trong danh sách thì không tổ chức bầu cử lại lần thứ hai.
Luật bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân còn quy định trường hợp các đơn vị vi phạm pháp luật bầu cử nghiêm trọng phải tiến hành bầu lại. Hội đồng bầu cử quyết định hủy bỏ kết quả bầu cử trước đó và ấn định ngày bầu lại cho các đơn vị bầu cử này.
Bầu bổ sung:
Về việc bầu bổ sung, trong nhiệm kỳ có trường hợp khuyết đại biểu ở một đơn vị nào đó thì có thể tổ chức bầu cử bổ sung. Ủy ban thường vụ Quốc hội quyết định việc bầu cử bổ sung đại biểu Quốc hội.
Điều 79 Luật bầu cử đại biểu Quốc hội quy định: Trong nhiệm kỳ, nếu đơn vị bầu cử nào khuyết đại biểu Quốc hội thì có thể bầu bổ sung đại biểu Quốc hội ở đơn vị đó; nếu thời gian còn lại của nhiệm kỳ Quốc hội dưới hai năm thì không tổ chức bầu cử bổ sung.
Viêc bầu cử bổ sung đại biểu ỏ Hội đồng nhân dân tỉnh, thành phô trực thuộc trung ương do Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định. Đối vơí việc bầu cử Hội đồng nhân dân huyện, xã và tương đương do thường trực Hội đồng nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương quyết định.
Điều 80 Luật bầu cử Quốc hội quy định cho Uỷ ban thường vụ Quốc hội có thẩm quyền quyết định việc bầu cử bổ sung, thành lập Uỷ ban bầu cử bổ sung, quyết định ngày bầu cử bổ sung và công bố chậm nhất là 30 ngày trước ngày bầu cử.
Cơ quan có thẩm quyền quyết định việc bầu cử bổ sung phải xem xét các mặt như: Thời hạn của nhiệm kỳ đại biểu, số đại biểu khuyết có ảnh hưởng đến hoạt động của cơ quan quyền lực nhà nước và đến hoạt động của các tổ đại biểu (do nhu cầu của việc thiếu các cương vị chủ chốt ở địa phương).
Việc bầu cử bổ sung phải tiến hành theo quy định của pháp luật bầu cử. Để phụ trách công việc bầu cử bổ sung, pháp luật quy định thành lập các tổ chức phụ trách bầu cử bổ sung gồm: Ủy ban bầu cử bổ sung, ban bầu cử bổ sung và tổ bầu củ bổ sung. Quyền hạn và nhiệm vụ của các tổ chức bầu cử bổ sungvà thể thức bỏ phiếu bầu cử giống như những nhiệm vụ, quyền hạn của các tổ chức bầu cử và các quy định về bầu cử trong Luật bầu cử đại biểu Quốc hội và Luật bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân.
Điều 82 Luật bầu cử Quốc hội quy định chậm nhất là 20 ngày trước ngày bầu cử bổ sung, Thường trực Hội đồng nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương sau khi thống nhất ý kiến với Uỷ ban nhân dân, Ban Thường trực Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc cùng cấp quyết định thành lập Ban bầu cử bổ sung.
Điều 83 Luật này quy định chậm nhất là 15 ngày trước ngày bầu cử bổ sung, Chủ tịch Hội đồng nhân dân xã, phường, thị trấn sau khi thống nhất với Uỷ ban nhân dân, Ban Thường trực Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc cùng cấp quyết định thành lập Tổ bầu cử bổ sung.
== Quy định mới đối với việc bầu cử Hội đồng nhân dân ==
Việc bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân được thực hiện theo quy định của Luật bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân và các văn bản hướng dẫn thi hành. Nhìn chung, trình tự, thủ tục không khác biệt nhiều so với việc bầu cử đại biểu Quốc hội. Chỉ khác biệt đó là phạm vi bầu cử (bầu cử Quốc hội diễn ra trên phạm vi toàn quốc), thành phần tổ chức bầu cử (việc bầu cử Quốc hội do các tổ chức ở cấp trung ương đảm nhiệm). Chính vì vậy mà thực tế các cuộc bầu cử hội đồng nhân dân các cấp thường gộp chung, thậm chí gộp chung với cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội.
Ở Việt Nam, Hội đồng nhân dân được tổ chức làm ba cấp
Hội đồng nhân dân cấp tỉnh: Bao gồm Hội đồng nhân dân của các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương
Hội đồng nhân dân cấp huyện: Bao gồm Hội đồng nhân dân các huyện (ví dụ: Hội đồng nhân dân huyện Gio Linh), quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh (Ví dụ: Hội đồng nhân dân thành phố Đông Hà).
Hội đồng nhân dân cấp xã: Bao gồm Hội đồng nhân dân xã, phường, thị trấn (ví dụ Hội đồng nhân dân thị trấn Gio Linh).
Theo Luật bầu cử Hội đồng nhân dân năm 2003 thì việc bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân được diễn ra ở cả ba cấp. Cử tri ở mỗi cấp sẽ bầu ra những người đại diện cho mình.
Tuy nhiên, ngày 15 tháng 11 năm 2008, Quốc hội đã ban hành Nghị quyết số 26/2008/QH12 về việc thực hiện thí điểm không tổ chức hội đồng nhân dân huyện, quận, phường.
Theo đó, bắt đầu từ ngày 25 tháng 4 năm 2009, sẽ không tổ chức Hội đồng nhân dân ở một số quận, huyện, phường, cụ thể là 67 huyện, 32 quận và 483 phường của 10 tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương.
Đối với các quận, huyện, phường còn lại thì vẫn tổ chức bầu cử Hội đồng nhân dân tại đó như bình thường.
Với việc ban hành quy định mới này thì trong nhiệm kỳ tiếp theo, cử tri ở một số quận, huyện, phường sẽ không phải bỏ phiếu để bầu ra hội đồng nhân dân tại những đơn vị đó. Đây là những nỗ lực của Nhà nước Việt Nam trong công cuộc cải cách hành chính, giảm bớt các cơ quan đại biểu trung gian hoạt động không hiệu quả, giảm bớt sự cồng kềnh trong bộ máy nhà nước, tiết kiệm ngân sách cho quốc gia.
== Nhận định ==
Xung quanh việc bầu cử ở Việt Nam, có nhiều nhận định khác nhau về vấn đề này
=== Theo các nhà chức trách hữu quan ===
Nhận định về bầu cử ở Việt Nam, các nhà chức trách hữu quan đều có nhũng đánh giá hết sức lạc quan về việc bầu cử, dựa trên những con số thống kê, báo cáo tổng kết về kết quả bầu cử các kỳ. Theo đó, kết quả bầu cử được công bố được cho là khả quan với số lượng cử tri đi bầu luôn đạt hơn 99%.
Ở kỳ bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XII, theo công bố thì tổng số cử tri đi bầu cử là 56.252.543 người trên tổng số 56.467.532 cử tri của cả nước, đạt 99,64%.
Chưa ghi nhận trường hợp gian lận trong bỏ phiếu. Tổng số phiếu bầu: 56.252.543 phiếu. Số phiếu hợp lệ: 55.802.444 phiếu (99,20%). Số phiếu không hợp lệ: 450.099 phiếu (0,80%).
Cơ cấu đại biểu được bầu cũng được cho là tích cực với Tỷ lệ đại biểu quốc hội, hội đồng nhân dân là nữ giới chiếm tỷ lệ khá cao. Tỷ lệ nữ đại biểu Quốc hội liên tiếp tăng trong 3 khoá liền và đạt 27,31% ở khoá XI, đứng thứ nhất ở khu vực Châu á và thứ 9 trong 135 nước trong Liên minh Quốc hội thế giới. Trong kỳ bẩu cử Quốc hội khóa XII, tỷ lệ đại biểu là phụ nữ 127 người (chiếm 25,76%), dân tộc thiểu số 87 người (17,65%)...
Đối với các cuộc bầu cử Hội đồng nhân dân cũng có những số liệu tương tự như: Kỳ bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân ba cấp nhiệm kỳ 2004 – 2009 Tổng số cử tri cả nước: 51.551.349 người Số đại biểu được bầu: 3.869 (cấp tỉnh), 23.554 (cấp huyện), 284.507(cấp xã). Số người được giới thiệu ứng cử: 6.052 (cấp tỉnh), 36.281 (cấp huyện), 441.856 (cấp xã). Số người tự ứng cử: 77 (cấp tỉnh), 137 (cấp huyện), 851 (cấp xã). Tỷ lệ ứng cử viên nữ: 32,4% (cấp tỉnh), 30,6% (cấp huyện), 26.4% (cấp xã). Tỷ lệ ứng cử viên ngoài Đảng: 24.3% (cấp tỉnh), 25.9% (cấp huyện), 42% (cấp xã). Số khu vực bỏ phiếu: 87.239.
Với những số liệu đó, nhà cầm quyền cho rằng kết quả bầu cử đã phản ánh "ý nguyện và sức mạnh toàn dân", thể hiện qua việc số cử tri đi bầu cao hơn, kể cả những vùng miền có khó khăn do địa bàn và thời tiết, "không khí dân chủ cao hơn", trong ước muốn xây dựng một Quốc hội mạnh hơn, đủ sức quyết định những vấn đề trọng đại của đất nước trong thời kỳ hội nhập. Trong ngày bầu cử, "đất trời nước Việt vui cùng lòng người". Trong không khí dân chủ, trách nhiệm và phấn khởi, mỗi người dân như "thấy rõ hơn khát vọng của mình nơi khát vọng dân tộc", và cùng đó, thấy rõ hơn những đòi hỏi cao trong sự lựa chọn trước khi gửi lá phiếu bầu vào "niềm hy vọng và tin tưởng lớn".
Các nhà chức trách đều khẳng định các cuộc bầu cử đề diễn ra thành công tốt đẹp, kết quả cuộc bầu cử thể hiện tinh thần yêu nước của nhân dân Việt Nam, sự tin tưởng của nhân dân vào đường lối đổi mới của Đảng, là sự phát huy quyền làm chủ của nhân dân, tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Các cuộc bầu cử đều đảm yêu cầu dân chủ, đúng luật, an toàn, tiết kiệm.
Hòa trong niềm vui chung khi được trúng cử, đại biểu Nông Ðức Mạnh phát biểu: "Tôi hy vọng Quốc hội khóa XII sẽ là Quốc hội của những đại biểu có đức, có tài, đại diện cho ý chí, nguyện vọng của nhân dân, góp phần xây dựng một Quốc hội thực sự vững vàng, đưa Việt Nam tiếp tục phát triển nhanh hơn, bền vững hơn".
=== Phương tiện truyền thông trong nước ===
Trong mỗi kỳ bầu cử đại biểu Quốc hội và Hội đồng nhân dân các cấp, các phương tiện truyền thông trong nước đề tham gia tích cực vào quá trình đưa tin về diễn biến và kết quả bầu cử.
Trang nhất của các tờ báo ở Việt Nam như báo Nhân dân, Người Lao động, Lao động, Tuổi Trẻ, Sài Gòn Giải Phóng, Pháp luật.... cho đến các tờ báo liên về quảng cáo, thể thao... đều đồng loạt đưa tin, bài, phóng sự, ảnh về cuộc bầu cử.
Các phương tiện truyền thông như Đài Truyền hình Việt Nam, Đài Tiếng nói dân dân Việt Nam, các đài truyền hình, đài tiếng nói ở từng địa phương đồng loạt đưa tin, cập nhật thông tin về bầu cử. phản ánh quang cảnh "tấp nập, đông vui" tại khắp các điểm bỏ phiếu.
Các Trang thông tin điện tử cũng đồng loạt đăng tải các hình ảnh, bài viết, tin tức, bình luận, nhận định của công chúng đối với các cuộc bầu cử. Như VietNamNet Lao động....
Nhìn chung, các phương tiện truyền thông đề tuyên truyền, cổ vũ cho các kỳ đại biểu quốc hội và hội đồng nhân dân. Tất cả đều nhấn mạnh vị trí, vai trò, tầm quan trọng của cuộc bầu cử, sự nhiệt tình tham gia bầu cử của nhân dân.
Một số thuật ngữ thường nhắc đến khi đưa tin về bầu cử là: bầu cử là quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân trong việc xây dựng chính quyền của dân, do dân, vì dân, "Ngày hội lớn của quyền làm chủ đất nước". Không khí bầu cử luôn "hân hoan", "phấn khởi", "tưng bừng"….
Nhưng cũng có một số phương tiện truyền thông có ý kiến cho rằng, với sự băn khoăn của xã hội đối với phẩm chất năng lực của nhiều đại biểu các cấp như hiện nay, không thể nói rằng chất lượng các cuộc bầu cử đó không có vấn đề, không trực tiếp thì gián tiếp, và đã đến lúc cần thiết nên tiến hành tổ chức các diễn đàn đối thoại trực tiếp công khai giữa các ứng cử viên với nhân dân để từ đó người dân có thêm điều kiện lựa chọn khách quan sáng suốt, chính xác nhất những người mà mình sẽ bầu vào cơ quan quyền lực tối cao của Nhà nước.
=== Phương tiện truyền thông quốc tế ===
Bầu cử ở Việt Nam được sự quan tâm khá sát sao của giới truyền thông quốc tế. Như cuộc bầu cử Quốc hội khoá XII được nhiều phương tiện truyền thông lớn trên thế giới đưa tin.
Đài Truyền hình NHK của Nhật Bản đã dành thời lượng 3 phút để đưa tin về cuộc bầu cử Quốc hội của Việt Nam. Kênh truyền hình NHK cũng sẽ dành thời gian 30 phút để nói về sự kiện này.
Đưa tin về cuộc bầu cử, hãng Reuters nhận xét: chính sách đổi mới của Đảng Cộng sản Việt Nam đã mở cửa cho nên kinh tế, cho cải tổ thị trường và cạnh tranh, giúp cải thiện mức sống của người dân.
Bên cạnh việc đưa tin, bài về diễn biến và kết quả bầu cử, một số phương tiện truyền thông quốc tế cũng đã có những chỉ trích về bầu cử ở Việt Nam.
Theo phóng viên Bill Hayton của BBC, những ứng cử viên phải được Đảng cộng sản thông qua, sự kiểm soát này có nghĩa bất cứ ai mà quan điểm không được đảng Cộng sản chấp nhận sẽ không có cơ hội để ra ứng cử.
Đối với tổng tuyển cử, vì các ứng cử viên phải qua đến ba lần Hiệp thương tổng tuyển cử của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam nên có chỉ trích cho rằng đây chỉ là quá trình thanh lọc các ứng cử viên ngoài Đảng có tâm huyết.
BBC trích lời ông Nguyễn Văn Yểu phó chủ tịch Quốc hội Việt Nam: "Ở các nước khác có chế độ tranh cử, ở Việt Nam không có tranh cử mà là vận động bầu cử và theo quy định". "Quốc hội là cơ quan đại biểu cao nhất của nhân dân, Đảng Cộng sản Việt Nam với đại diện cao nhất là Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, theo điều 4 Hiến pháp 1992 là lãnh đạo Nhà nước và xã hội".
Theo BBC thì chính vì nhiều trường hợp chỉ có một ứng cử viên duy nhất, và người ứng cử viên đó đã thông qua một số thử thách, khảo nghiệm, giám sát, chất vấn từ các thành viên Quốc hội, cũng như trong những quá trình làm việc họ đã gây được uy tín và tạo được sự tin tưởng của Quốc hội rằng họ có khả năng làm việc hiệu quả, nên số phiếu tán thành thường rất cao, hầu hết trên 90%.
BBC còn cho rằng nhân sự cấp cao ở Việt Nam với các chức vụ Chủ tịch nước, Thủ tướng, Chủ tịch quốc hội thường đã được Đảng Cộng sản lựa chọn trước thông qua một quá trình khảo nghiệm, giám sát, xem xét cách làm việc, và dựa trên ý kiến chung, việc đưa ra để Quốc hội bầu cử mang nặng tính hình thức hơn là một cuộc bầu cử thật sự.
Họ nhận định bầu cử ở Việt Nam thực chất là bỏ phiếu tín nhiệm, vì các chức vụ đều do Đảng Cộng sản Việt Nam chỉ định trước dựa trên ý kiến của mọi người và thông qua quá trình giám sát khả năng làm việc của các nhân vật.
=== Một số ý kiến của các nhà nghiên cứu ===
Một số nhà nghiên cứu cho rằng, dù có nhiều điểm tiến bộ, tuy nhiên, cùng với thời gian, thể chế bầu cử ở Việt Nam đã bộc lộ một số nhược điểm cơ bản như:
Quá nhấn mạnh về tính tập trung, thống nhất, biểu hiện cụ thể là số lượng đại biểu Quốc hội hoặc Hội đồng nhân dân chủ yếu được bầu theo dự kiến, theo sự định hướng của lãnh đạo Đảng các cấp. Việc tuyệt đối hoá quan điểm của cấp uỷ trong việc lựa chọn các đại biểu của các tầng lớp nhân dân nhiều khi thể hiện được sự thống nhất, đảm bảo cơ cấu, nhưng thiếu toàn diện.
Trên thực tế, phương pháp này được thể hiện là bệnh hình thức, áp đặt cơ cấu thành phần đại biểu một cách bình quân, máy móc, xơ cứng, không phát huy được tính tích cực của quần chúng nhân dân trong việc lựa chọn người đại diện xứng đáng nhất cho mình. Vì thế, nhiều khi trong các cuộc bầu cử còn có biểu hiện mang tính phong trào, hình thức. Do đó, có nhiều đại biểu được bầu tuy đủ phẩm chất, tư cách nhưng lại không hẳn là đại biểu xứng đáng nhất của nhân dân. Trong tổng số 493 đại biểu được đắc cử ở kỳ họp Quốc hội khóa 12, 92% là đảng viên đảng cộng sản tức đảng cầm quyền.
Ở một số nơi, việc cố gắng thực hiện các dự kiến của cấp uỷ dẫn tới sự không thống nhất, đặc biệt là ở cơ sở. Có người được cấp uỷ giới thiệu nhưng cử tri không bầu, đại biểu có thể được cử tri bầu thì không được giới thiệu hoặc công nhận...Những đại biểu trúng cử theo cách như vậy rất khó làm việc với dân, mặt khác, lại gây mất lòng tin của dân đối với sự lãnh đạo của Đảng.
Ngoài ra, quá trình hiệp thương còn nặng về hợp thức hoá sự chỉ đạo định hướng từ cấp trên. Cử tri ở cơ sở bị rơi vào tình thế bị động, không được giới thiệu người mình tín nhiệm. Mặc dù pháp luật hiện nay có quy định cho người tự ứng cử, nhưng những quy định này cũng chưa đảm bảo công bằng, bình đẳng và chưa đảm bảo rằng người tự ứng cử là người được nhân dân tín nhiệm (chưa có một số lượng nhất định chữ ký hợp pháp của cử tri ủng hộ, như ở nhiều nước).
Việc tự ứng cử, cho đến nay còn chưa được quy định chặt chẽ, thậm chí còn tùy tiện. Về chủ trương, thể chế và tâm lý xã hội vẫn chưa thật sự sẵn sàng cho các cá nhân tự ứng cử. Cơ cấu cho đại biểu tự ứng cử rất thấp (khoảng 10% cho đại biểu Quốc hội lần thứ XII).
Và thể chế bầu cử ở Việt Nam, đặc biệt là những thay đổi từ cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khoá XI và vào Hội đồng nhân dân ba cấp năm 2004, đã bộc lộ nhiều điểm hạn chế, đã từng rút kinh nghiệm, nhưng Luật Bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân và Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội vẫn chưa có những điều chỉnh thích hợp, nhiều điểm chưa đáp ứng được sự chờ đợi của nhân dân, nhất là mâu thuẫn giữa cơ cấu và chất lượng, vấn đề "số dư tương đối lớn" và chuẩn mực "ít nhất từ hai chọn một", vấn đề tự ứng cử, tỉ lệ, chất lượng và tiêu chí giữa đại biểu Quốc hội chuyên trách và không chuyên trách...
Trong điều kiện một Đảng cầm quyền như ở Việt Nam, việc không cho phép hoặc không khuyến khích đảng viên tự ứng cử là một hạn chế, đồng thời cũng làm thu hẹp khả năng lựa chọn của cử tri.
Việc lấy ý kiến cử tri nơi công tác và nơi cư trú thường xuyên chưa phản ánh thực chất quyền dân chủ của nhân dân. vì cử tri còn thụ động, họ chỉ được bày tỏ tín nhiệm đối với những người đã có sẵn trong danh sách. Sự tín nhiệm này cũng chỉ mới so với tiêu chuẩn cần thiết (tư cách) của người đại biểu chứ chưa phải là người cử tri lựa chọn trong số những người tốt nhất, xứng đáng hơn giới thiệu ra ứng cử. Đại biểu, đặc biệt là đại biểu Quốc hội nếu mới chỉ nhận được sự "đảm bảo" tư cách của cử tri nơi công tác và nơi cư trú thường xuyên thì chưa đủ, còn phải có sự "đảm bảo" rộng rãi hơn.
Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội, Luật Bầu cử Hội đồng nhân dân quy định danh sách ứng cử viên phải nhiều hơn số lượng đại biểu được bầu, nhưng không nói rõ phải nhiều hơn số tối thiểu là bao nhiêu, nên chưa thực sự dân chủ và khoa học. Thông thường, số ứng cử viên chỉ nhiều hơn số đại biểu được bầu 1 đến 2 người vì vậy chưa tạo điều kiện cho cử tri trong việc lựa chọn.
Trong các cuộc bầu cử, còn thiếu các cuộc vận động tranh cử và cũng thiếu các chế định cho việc vận động tranh cử. Đại biểu đắc cử chủ yếu phụ thuộc vào định hướng của lãnh đạo, vào cơ cấu chứ không phải vì năng lực và chương trình hành động của họ được thể hiện qua vận động tranh cử.
Giáo sư Trịnh Duy Luận, một nhà xã hội học ở Học viện Khoa học Xã hội Việt Nam nói điều có thật là một người đi bầu cho cả nhà chứng tỏ người dân Việt Nam không thiết tha gì đến quyền công dân của mình. Và nó chứng tỏ nhà nước Việt Nam không làm cho người dân hiểu quyền lợi và nghĩa vụ của họ như thế nào. Dĩ nhiên, tất cả những nhà lãnh đạo cao cấp của Việt Nam đều tái đắc cử. Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng được số phiều bầu cao nhất trong những ứng cử viên với 99.1%.
Nhưng chính sự thiếu ủng hộ cho những ứng cử viên ngoài đảng và những ứng cử viên độc lập đã làm cho mọi người chú ý đến lần bầu cử kỳ này. Cuộc bầu cử quốc hội năm 1977, đã có ba ứng cử viên độc lập đắc cử. Năm năm trước có hai ứng cử viên viên độc lập đắc cử. Nhưng trong kỳ bầu cử khóa XII chỉ có một người tự ứng cử. (ở Nghệ An) Hầu hết các nhà phân tích đồng ý rằng cuộc bầu cử quá thiên vị cho những ứng cử viên của đảng đến nỗi đại chúng cử tri thấy chả có ích lợi gì để đi bầu.
Nhưng quốc hội gồm 500 đại biểu dùng để đánh giá những quyết định của chế độ cộng sản, giờ đây sẽ chỉ có một đại biểu duy nhất không là đảng viên hoặc là người không được đảng đề cử.
Bên cạnh đó thì cơ chế tự ứng cử cũng có những nhược điểm nhất định như: những thủ tục, điều kiện tự ra ứng cử (ví dụ như phải thu thập chữ ký cử tri, phải đóng tiền…) chưa thật sự chặt chẽ. Tiêu chuẩn đại biểu còn chung chung, chưa định lượng một cách cụ thể nên cử tri cũng không hình dung được người mình bầu có đáp ứng được mong đợi của mình không. Còn người tự ứng cử cũng cứ nghĩ mình có điều kiện như vậy là làm đại biểu được. Quy định về vận động bầu cử chưa tạo điều kiện cho người được đề cử và cả người tự ứng cử có cơ hội bình đẳng như nhau trên các kênh thông tin truyền thông, rồi điều kiện để tiếp xúc, xâm nhập với thực tiễn, gần gũi với cử tri...
Ông Nguyễn Văn An nguyên Chủ tịch Quốc hội Việt Nam cho rằng nếu "không có tranh cử, dân sẽ không có cơ hội lựa chọn cương lĩnh và nguyên thủ. Làm như lâu nay thì chưa thật dân chủ trong Đảng, cũng chưa thật dân chủ trong dân, còn mang nhiều tính hình thức, thụ động, dân ít quan tâm." Để giải quyết lỗi hệ thống này, ông An đưa ra giải pháp rằng "có thể có nhiều đồng chí đưa ra những cương lĩnh tranh cử khác nhau, dăm ba cương lĩnh chẳng hạn, sau đó trong Đảng lựa chọn ra hai ba cương lĩnh tranh cử để đưa ra dân lựa chọn, như sự tranh cử trong nội bộ một Đảng của các nước có đa đảng tham chính. Như vậy, dân sẽ có cơ hội lựa chọn cương lĩnh tranh cử và người đứng đầu cương lĩnh để trở thành cương lĩnh phát triển của đất nước và nguyên thủ quốc gia trong một nhiệm kỳ xác định...
== Tham khảo ==
Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992 (đã được sửa đổi bổ sung vào năm 2001)
Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội (ban hành năm 1997 đã được sửa đổi bổ sung vào năm 2001 và năm 2007)
Luật Bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân năm 2003
Nghị định số 81-CP ngày 01/8/1994 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành Luật bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân (sửa đổi).
Giáo trình Luật Hiến pháp Việt Nam, Trường Đại học Luật Hà Nội, Nhà xuất bản Công an nhân dân, năm 1999
Giáo trình Luật Hiến pháp nước ngoài, Trường Đại học Luật Hà Nội, Nhà xuất bản Công an nhân dân, năm 1999
Chế độ bầu cử của một số nước trên thế giới, Vũ Hồng Anh, Nhà xuất bản chính trị Quốc gia, Hà Nội, năm 1997
Góp phần nghiên cứu Hiến pháp và Nhà nước pháp quyền, Bùi Ngọc Sơn, Nhà xuất bản Tư pháp, năm 2005
Thực trạng và giải pháp đổi mới công tác bầu cử ở nước ta, Phan Xuân Sơn, Tạp chí Khoa học pháp lý - Trường Đại học Luật thành phố Hồ Chí Minh, số 03 năm 2005.
Tự do, công bằng trong bầu cử và liên hệ với bầu cử ở Việt Nam, Lưu Đức Quang, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp – Văn phòng Quốc hội, số 89, năm 2007.
Hỏi đáp về việc thực hiện thí điểm không tổ chức Hội đồng nhân dân quận, huyện, phường, Hội đồng phối hợp công tác phổ biến, giáo dục pháp luật thành phố Hồ Chí Minh, năm 2009 (Tài liệu được xuất bản theo Quyết định cho phép xuất bản số 480/GP-STTTT của Sở Thông tin và Truyền thông Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 01/4/2009)
Các văn bản quy phạm pháp luật về việc thực hiện thí điểm không tổ chức Hội đồng nhân dân quận, huyện, phường, Hội đồng phối hợp công tác phổ biến, giáo dục pháp luật thành phố Hồ Chí Minh, năm 2009 (Tài liệu được xuất bản theo Quyết định cho phép xuất bản số 481/GP-STTTT của Sở Thông tin và Truyền thông Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 01/4/2009)
== Chú thích ==
== Xem thêm ==
Hiến pháp Việt Nam
Chính trị Việt Nam
Quốc hội Việt Nam
Đảng Cộng sản Việt Nam |
giải quần vợt úc mở rộng 2008 - đơn nam.txt | Đây là sơ đồ tóm tắt kết quả thi đấu giải đơn nam thuộc Giải quần vợt Úc Mở rộng 2008.
== Hạt giống ==
== Sơ đồ ==
=== Viết tắt ===
VL = Vượt qua vòng loại
DC = đặc cách
TM = thua cuộc may mắn
BC = bỏ cuộc
=== Chung kết ===
=== Nửa trên ===
==== Nhánh 1 ====
==== Nhánh 2 ====
==== Nhánh 3 ====
==== Nhánh 4 ====
=== Nửa dưới ===
==== Nhánh 5 ====
==== Nhánh 6 ====
==== Nhánh 7 ====
==== Nhánh 8 ====
== Xem thêm ==
Giải quần vợt Úc Mở rộng 2008 - Đơn nữ
Giải quần vợt Úc Mở rộng 2008 - Đôi nam
Giải quần vợt Úc Mở rộng 2008 - Đôi nữ
Giải quần vợt Úc Mở rộng 2008 - Đôi nam nữ
== Liên kết ngoài ==
Sơ đồ tóm tắt kết quả thi đấu |
shimadzu corp..txt | Shimadzu Corporation (株式会社 島津製作所, Kabushiki-gaisha Shimadzu Seisakusho) (株式会社 島津製作所, Kabushiki-gaisha Shimadzu Seisakusho) là một Công ty Cổ phần Nhật Bản, sản xuất thiết bị với độ chính xác cao, dụng cụ đo lường và thiết bị y tế, trụ sở tại Kyoto, Nhật bản. Công ty được thành lập năm 1875. Chi nhánh của Công ty tại Mỹ - Shimadzu Scientific Instruments, được hình thành vào năm 1975.
== Lịch sử ==
=== Sáng lập và thời kì đầu ===
Công ty được sáng lập bởi Genzo Shimadzu (島津 源蔵, Shimazu Genzō) vào năm 1875. Các thiết bị tia X, thiết bị camera quang phổ, kính hiển vi điện tử, và các sắc ký khí đã được phát triển và thương mại hóa nhằm phục vụ các Công ty khác tại Nhật Bản. Chi nhánh của Công ty tại Mỹ - Shimadzu Scientific Instruments, được hình thành vào năm 1975..
=== Thành tựu gần đây ===
Trong năm 2002, Koichi Tanaka, một nhân viên lâu năm, giành được giải Nobel với việc phát triển một phương pháp phân tích khối lượng phổ phân thuộc ngành sinh học đại phân tử.
Công ty cũng phát triển đáng kể trong năm 2005 bằng việc cho ra đời một máy quay video tốc độ siêu cao (HyperVision HPV-1), với khả năng ghi hình ở tốc độ 1,000,000 FPS, Tiếp nối thành tự đó, HyperVision HPV-X, một máy quay tốc độ lên tới 10 triệu khung mỗi giây được ra mắt vào năm 2014. Các sản phẩm khác được phát triển bởi Shimadzu như màn hình head-mounted.
Công ty đã doanh thu của ¥264.048 tỷ yên ($2.8 tỷ USD) trong năm tài chính 2012, với 10,395 nhân viên tính đến ngày 31 tháng 03 năm 2013.
== Thư viện ==
=== Tòa nhà ===
=== Sản phẩm ===
== Tham khảo == |
bóng đá đường phố.txt | Bóng đá đường phố là thuật ngữ dùng để chỉ về một loại hình bóng đá không được diễn ra một cách chính thức hoặc được diễn ra tại một địa điểm chính thức với những quy tắc khắt khe theo luật bóng đá mà được diễn ra một cách tự phát, ngẫu hứng trên những địa điểm mà người chơi có thể tận dụng không gian để đá bóng như đường phố, hẻm phố, các ngõ, ngách, kho bãi, đất trống…
Đây là thứ bóng đá manh mún, tự phát, chỉ cần một bãi đất trống, một quả bóng làm bằng giẻ rách hoặc bất kỳ vật liệu gì miễn sao có hình cầu là được, thế là đã có bóng đá đường phố với những cầu thủ chơi theo cảm hứng không chịu bất kỳ sự ràng buộc vào từ đôi chân cho đến cái đầu.
== Tổng quan ==
Bóng đá đường phố là thứ mà ai cũng có thể chơi được, ở đâu cũng có thể chơi được nó không phân chia giàu, nghèo, đội tuổi, giới tính, không quá chú trọng đến luật lệ, trang phục, phong cách... và vì tính đơn giản của nó nên nó phổ biến trên thế giới. Bóng đá đường phố cung cấp cho thế giới những ngôi sao bóng đá đẳng cấp với những kỹ thuật độc đáo.
Bóng đá đường phố được biết đến nhiều tại Brasil. Bóng đá Brazil có đặc trưng về tính ngẫu hứng, sự sáng tạo xuất phát từ nguyên nhân chính là rất nhiều danh thủ trong lịch sử bóng đá xứ sở samba trưởng thành từ bóng đá đường phố. Nhiều quốc gia cũng có phong trào bóng đá đường phố như Nam Phi, Việt Nam...
Ngày nay, bóng đá đường phố được hiểu là những cầu thủ trẻ, cầu thủ nhí đến cọ xát, thi đấu, thư giãn tại các hoạt động bóng đá cộng đồng do các câu lạc bộ chuyên nghiệp tổ chức. Đó là cách làm bóng đá đường phố mang tính chuyên nghiệp chứ không nghiệp dư như tại Nam Phi hoặc một số quốc gia châu Phi.
== Các giải bóng đá đường phố ==
Ngày nay, người ta thường tổ chức các giải bóng đá đường phố để tìm kiếm tài năng ví dụ như Cúp bóng đá đường phố Andrés Escobar diễn ra tại Mariannenplatz, thủ đô Berlin với sự tham dự của 180 cầu thủ nam nữ trẻ. Giải này là một trong những hoạt động gắn kết giữa bóng đá và tuyên truyền cho hòa bình, đẩy lùi bạo lực, ma túy và AIDS. Tên của cúp bóng đá đường phố kỳ này là Copa Andrés Escobar - nhằm tưởng niệm cầu thủ Colombia bị bắn chết sau World Cup 1994 - với 22 đội bóng được mời tham dự (Ghana và Nigeria không được cấp visa đến Đức). Trong số này đáng chú ý có đội Afghanistan, Kenya, Colombia, Peru, Rwanda, Senegal, Nam Phi, đội hỗn hợp Israel và Palestine... Nước chủ nhà Đức có hai đội và huấn luyện viên Jürgen Klinsmann làm đại sứ quảng bá cho giải này.
== Trên thế giới ==
=== Ở Brazil ===
Bóng đá đường phố Brazil phổ biến từ khi người Brazil bắt đầu yêu bóng đá cuồng nhiệt vào đầu thế kỷ XX. Một quốc gia nghèo, thiếu cơ sở vật chất, diện tích rộng (so với mặt bằng dân số) thì dễ phát triển bóng đá đường phố. Vua bóng đá Pele từng nói ông thành danh là nhờ những kỹ năng đá phủi học được từ bóng đá đường phố. Vua lừa bóng qua mọi thời đại Garrincha cũng là ông vua của bóng đá đường phố. Và từ những ngôi sao kiệt xuất như Pele hay Garrincha, bóng đá đường phố trở thành niềm đam mê và hy vọng của rất nhiều thế hệ cầu thủ trẻ muốn thành công trong sự nghiệp bóng tròn.
Ngày nay bóng đá đường phố tại Brazil đã được thay thế bằng thứ bóng đá cộng đồng được phát triển có định hướng và rất hiệu quả. Những sân bóng mini, các giải thi đấu vào cuối tuần hoặc vào buổi tối, hằng hà sa số sân bóng mọc lên được sự tài trợ và theo dõi sát sao của các đội bóng khắp Brazil cạnh tranh quyết liệt trong khâu tuyển chọn, phát hiện nhân tài trẻ.
Brazil hàng năm xuất khẩu gần 1.000 cầu thủ nhưng nguồn lực cầu thủ nội vẫn dồi dào. Bóng đá là nghề có thể kiếm sống, không quá sung túc thì ít nhất cũng đủ ăn, đủ mặc. Các trường đào tạo trẻ của các câu lạc bộ khắp đất nước Brazil đủ sức chứa tất cả những tài năng bóng đá thật sự có tài. Không có tiền vẫn có thể đến với bóng đá cộng đồng. Câu lạc bộ Sao Paulo chẳng hạn, hơn 3 thập kỷ qua, Marcelo Figueiredo Portugal Gouvea đã phát hiện không ít nhân tài.
Edmilson, Luis Fabiano, Julio Baptista và nhất là Kaka xuất thân từ bóng đá trẻ Sao Paulo. Thông qua bóng đá cộng đồng, Kaka tự tìm đến Sao Paulo thay vì ngược lại. Goueva không gọi đó là bóng đá đường phố vì sân bóng không còn là bãi đất trống mà có đủ hai cầu môn, giới hạn biên thậm chí trọng tài.
=== Nam Phi ===
Nam Phi là đất nước nơi mà sự phân biệt giàu nghèo lớn hơn bất kỳ quốc gia nào tại châu phi, bóng đá ở đây phát triển sau thời kỳ Apactime. Bóng đá là môn thể thao dành cho người da đen, tức những người nghèo. Còn những người giàu, tức người da trắng, đa phần thích bóng bầu dục. Chế độ Apartheid sụp đổ cũng là lúc bóng đá Nam Phi mới có cơ hội và triển vọng cất cánh. Sự ra đời của câu lạc bộ bóng đá Ajax Cape Town vào năm 1999 đánh dấu một bước tiến mới về bóng đá trẻ - bước tiếp theo của bóng đá đường phố - nhưng mức độ phát triển không như ý.
Ở Nam Phi có không ít khu ổ chuột, những con đường, những khu vực dơ dáy với những đứa trẻ da đen quần thảo với trái bóng từ sáng đến tối nhưng như thế không thể xem là thứ bóng đá đường phố sẽ góp phần vào sự phát triển của bóng đá Nam Phi trong tương lai. Ngày nay Nam Phi đã có quy hoạch phát triển bóng đá, giảm tải nền bóng đá dựa trên bóng đá đường phố
=== Việt Nam ===
Ở Việt Nam, bóng đá đường phố cũng thông dụng, vào buổi sáng, hay buổi chiều, buổi tối, từ thành thị tới nông thôn, bóng đá đường phố luôn diễn ra một cách sôi nổi. Các đường phố, hẻm phố, ngỏ cụt, hẻm lồi hay những bãi đất trống, thậm chí là những nơi vừa giải tỏa mặt bằng đang ngổn ngang cũng được tận dụng tối đa, các sân bóng tự tạo luôn có những người thi đấu. Những trái bóng cho trận đấu rất đa dạng, từ bóng da đến bóng đúc, bóng chuyền, banh nhựa…. Xuất phát từ nhu cầu chơi bóng ngày càng cao trong khi số lượng các sân bóng có hạn và giá cả cao so với nhiều đối tượng thu nhập thấp, trẻ em....
Thành phần tham gia bóng đá đường phố có thể nói là rất đa dạng, từ những em học sinh, sinh viên cho đến những người công nhân, lao động chân tay đến những người lao động trí óc, lứa tuổi cũng đa dạng, từ nhỏ đến lớn... tất cả mọi người đều không phân biệt lứa tuổi, giàu nghèo, địa vị... đều tham gia một cách vui vẽ và sôi nổi.
== Những cầu thủ nổi tiếng ==
Vua bóng đá Pele là cầu thủ xuất thân từ bóng đá đường phố
Garrincha một danh thủ của bóng đá Brazil và cũng là ông vua của bóng đá đường phố.
Nani – cầu thủ của MU và đội tuyển Bồ Đào Nha với rất nhiều kỹ năng bóng đá đường phố độc đáo nữa mà chưa phô diễn hết
Tiago Manuel Dias Correia, biệt danh: Bebe (tiếng Bồ Đào Nha có nghĩa là "Cậu bé"). Bebe vốn là trẻ mồ côi, lớn lên trong trại trẻ mồ côi, từng nổi danh từ bóng đá đường phố và đã từng tham dự World Cup cho người vô gia cư (Homeless World Cup) trong màu áo ĐT Bồ Đào Nha.
== Xem thêm ==
Bóng đá
Bóng đá mini
Luật bóng đá
== Chú thích == |
nhã nhạc cung đình huế.txt | Nhã nhạc cung đình Huế là thể loại nhạc của cung đình thời phong kiến, được biểu diễn vào các dịp lễ hội (vua đăng quang, băng hà, các lễ hội tôn nghiêm khác) trong năm của các triều đại nhà Nguyễn của Việt Nam. Nhã nhạc cung đình Huế đã được UNESCO công nhận là Kiệt tác truyền khẩu và phi vật thể nhân loại vào năm 2003. Theo đánh giá của UNESCO, "trong các thể loại nhạc cổ truyền ở Việt Nam, chỉ có Nhã nhạc đạt tới tầm vóc quốc gia" . "Nhã nhạc đã được phát triển từ thế kỷ 13 ở Việt Nam đến thời nhà Nguyễn thì Nhã nhạc cung đình Huế đạt độ chín muồi và hoàn chỉnh nhất" . Cùng với không gian văn hóa Cồng Chiêng Tây Nguyên, đây là di sản phi vật thể của Việt Nam đã được UNESCO chính thức công nhận. Nhã nhạc Cung Đình Huế là một sự kế thừa,kể từ khi những dàn nhạc - trong đó có mặt nhiều nhạc khí cung đình - xuất hiện dưới dạng tác phẩm chạm nổi trên các bệ đá kê cột chùa thời Lý, thế kỉ XI-XII, đến lúc ông vua cuối cùng triều Nguyễn thái vị vào giữa thế kỷ XX.
Về cơ bản, nhạc nghi thức trong âm nhạc cung đình Việt Nam, nhạc tế trong các đình làng cũng như loại nhạc nghi thức được chơi trong đám cưới hay đám tang, tất cả thường được chia thành hai nhóm chính: nhóm phe văn và nhóm phe võ. Việc phân chia của các nhóm nhạc cụ hòa tấu trong dàn nhạc cung đình ở Huế từ đầu thế kỷ XIX và nguồn gốc của nó đã được tìm thấy trong các quy luật của nhiều nghi thức cúng đình tại các làng xã của người Việt ở Bắc Bộ từ nhiều thế kỷ trước đây.
== Niên biểu Nhã nhạc cung đình Huế ==
=== Thế kỉ XVII - XVIII ở Phú Xuân và Đàng Trong: thời các chúa Nguyễn (1558 - 1777) ===
Từ những năm 30 của thế kỉ XVII, nhà văn hóa lớn Đào Duy Từ(1572 - 1634) tương truyền là tác giả của một số bài hát, điệu múa và vở hát bội cung đình thời các chúa Nguyễn, ông tổ lớn nhất của âm nhạc Huế và hát bội Huế được thờ tại nhà thờ Thanh Bình ở Huế đã tiếp thu nhạc Đàng Ngoài, và đã giúp chúa Nguyễn Phúc Nguyên (1623 - 1634) lập ra một hệ thống lễ nhạc, triều nhạc mới. Hòa thanh thự của các chúa là tổ chức âm nhạc cung đình lớn của Đàng Trong gồm ban nhạc, đội ca, đội múa đông đảo (Đại Nam thực lục tiên biên). Cuối thế kỉ XVII - đầu thế kỉ XVIII, nhạc cung đình Đàng Trong đã khá hoàn chỉnh, phong phú, hấp dẫn, theo những ghi chép và đánh giá của nhà sư Trung Quốc Thích Đại Sán, thượng khách của chúa Nguyễn Phúc Chu (1692 - 1725) sau chuyến đi thăm Đàng Trong và Phú Xuân của ông. Được mời xem ca múa nhạc và hát bội tại phủ chúa, nhà sư cho biết điệu múa thời đó là điệu múa Thái liên diễn tả dáng dấp đài các, trang nhã, tình tứ của các cô " tiểu hầu " của đô thành Phú Xuân vừa chèo thuyền vừa tươi cười hái sen. Các ca nhi vũ nữ ấy " đội mão vàng, áo hoa xanh dài phết đất, thoa son dồi phấn rất mực diễm lệ, làm nao lòng người xem " (hồi ký Hải ngoại kỷ sự, bản dịch, 1963).
=== Cuối thế kỉ XVIII: thời Tây Sơn (1788 - 1802) ===
Năm 1790, tức một năm sau khi đại thắng Đống Đa ở Thăng Long, một vua Quang Trung (giả) cầm đầu một đoàn ngoại giao sang triều đình nhà Thanh, cầu hòa và chúc thọ hoàng đế Càn Long 80 tuổi. Càn Long ý phong cho vua Đại Việt là "An Nam quốc vương" và vui lòng thưởng thức đoàn "An Nam quốc nhạc" biểu diễn chúc thọ. Nhờ những ghi chép cụ thể của Đại Thanh hội điển sự lệ và tập văn kiện ngoại giao Đại Việt quốc thư mà âm nhạc cung đình thời Tây Sơn hiện ra khá rõ nét. Hội điển triều Thanh đã mô tả chính xác trang phục các nhạc công, ca công và vũ công người Việt. Nghệ nhân cung đình Tây Sơn chơi 8 loại nhạc khí mà Hội điển triều Thanh đã ghi lại bằng chữ nôm: "một cái cổ (kai kou: trống), một cái phách (kai p'o), hai cái sáo (kai chao), một cái đàn huyền tử (kai t'an hien tse, có thể là đàn tam), một cái đàn hồ cầm (kai t'an hou k'in), một cái đàn song vận (kai t'an choang wen, có thể là đàn nguyệt) một cái đàn tỳ bà (kai t'an p'i p'a), một cái tam âm la (kai san in lo). Đó là phần nhạc khí.
Về phần hát, Đại Việt quốc thư cho biết bổ sung như sau: nhân dịp lễ thượng thọ của Càn Long 80 tuổi, đoàn quốc nhạc của ta gồm 6 nhạc công và 6 ca công cung đình đã biểu diễn cho hoàng đế nhà Thanh nghe "nhạc phủ từ khúc thập điệu". Rất có thể đây là liên khúc 10 bản "Thập thủ liên hoàn" trong nhã nhạc cung đình Huế, cũng gọi là 10 bản Tấu, hay 10 bài Ngự, thậm chí có nghệ nhân gọi là mười bản Tàu(?) (mà khi được nghe chúng, người Trung Quốc chính hiệu đã cho rằng không có gì là "Tàu" cả). (Đại Thanh HĐSL, bản in 1908, Quyển 528, Thư viện Hội châu Á Paris; Đại Việt quốc thư, TT Học liệu (Bộ Giáo dục) xb., Sài gòn 1972).
=== Thế kỉ XIX: Thời thịnh của triều Nguyễn (1802 - 1885) ===
Theo những tài liệu tham khảo hiện có, thời kỳ vàng son của âm nhạc cung đình Đại Việt - Việt Nam - Đại Nam là thịnh thời triều Nguyễn trước khi kinh đô Phú Xuân (Huế) thất thủ vào năm 1885. Hai tài liệu chủ yếu là Lịch triều hiến chương loại chí của Phan Huy Chú (đầu thế kỉ XIX) và Khâm định Đại Nam hội điển sự lệ của Quốc sử quán (giữa thế kỉ XIX) cho biết: Từ sau khi Gia Liều nhạc, Thường triều nhạc, Yến nhạc, Cung trung chi nhạc đã ảnh hưởng qua lại nhiều với nhạc dcổ điển đất nước và con người thính phòng (ca Huế, đờn Huế) và nhạc tuống cổ điển, cung đình đmmai (thanh nhạc và nhạc múa của hát bội Huế). Đáng chú ý là nhiều nhà hát rạp hát lớn nhỏ của vua, đại thần và dân thường được xây dựng làm nơi biểu diễn nhạc cung đình, nhạc cổ điển, hát bội hay nhạc dân gian: Duyệt thị đường trong hoàng thành, Minh Khiêm đường trong lăng Tự Đức, Cửu tư đài trong cung Ninh Thọ, rạp hát ông Hoàng Mười, nhà hát Mai Viên tại tư dinh thượng thư Đào Tấn, đã không loại trừ sự tấp nập của những rạp hát ông Sáu Ớt (Nguyễn Nhơn Từ), rạp hát gia đình họ Đoàn (ở An Cựu), rạp hát bà Tuần (tồn tại đến 1975), v.v...
1802 - 1819: Thời Gia Long, Việt tương đội, một tổ chức âm nhạc cung đình lớn được thành lập với 200 nghệ nhân. Vua lại cho dựng đài Thông minh, một sân khấu ca múa nhạc và hát bội trong cung Ninh Thọ.
1820 - 1840: Minh Mạng cho xây dựng Nhà hát lớn Duyệt thị đường (1824), đổi Việt tương đội thành Thanh bình thự, lập thêm một Đội nữ nhạc với 50 ca nữ, vũ nữ, lại cho xây dựng Nhà thờ các tổ sư nghệ thuật âm nhạc và hát bội Huế: Thanh bình từ đường (1825). Trước nhà thờ dựng một tấm bia, một sân khấu hát bội và ca vũ nhạc. Văn bia cho biết vào đời Minh Mạng, nghệ thuật âm nhạc và sân khấu đã phát triển tốt đẹp:
" Vũ đài xuân rạng hàng ngũ chỉnh tề, sân khấu mây lồng âm thanh dìu dặt (...) Khánh chuông ra lệnh xướng hòa, kèn trống nhịp nhàng đánh thổi (...) Trải mấy triều vương đều khuyến khích, Biết bao âm nhạc thảy dồi dào (...) Giữa điện đình ca múa, tỏ điềm thái vận nước nhà; Trên lăng miếu xướng hòa, ngưỡng đức cao thâm biển núi... (bản dịch của Ưng Dự).
1841 - 1883: Đời Tự Đức, âm nhạc cổ điển, nhã nhạc cung đình và hát bội cung đình đạt tới đỉnh cao. Nhà hát Minh khiêm đường được xây dựng (1864) trong Khiêm cung (sau khi vua mất sẽ gọi là Khiêm lăng). Tương truyền chính Tự Đức đã sáng tác bản nhạc Tứ đại cảnh nổi tiếng. Say mê thơ, nhạc và hát bội hơn chính trị, vua lập nên Hiệu thơ phòng để cùng các danh nho trong triều đình xướng họa thơ văn, thưởng thức âm nhạc, sáng tác hay nhuận sắc các vở hát bội. Nhà thơ và nhà soạn tuồng lỗi lạc thời Tự Đức là Đào Tấn (1845 - 1907)
=== Thế kỉ XIX: Thời suy của triều Nguyễn (1885 - 1945) ===
1858 - 1885: Thực dân Pháp gây hấn và bắt đầu xâm lược nước ta từ Đà Nẵng, rồi chiếm dần Nam Bộ, Bắc Bộ. Tháng 8 năm 1885 kinh đô Phú Xuân (Huế) thất thủ. Các vua Nguyễn sau Tự Đức đều được Pháp đưa ra làm vì, mất hết quyền bính. Đời sống cung đình tẻ nhạt, âm nhạc cung đình ngày càng sa sút.
1889 - 1925: Thành Thái lập Võ can đội, rồi thêm một đội Đồng ấu (nghệ nhân thiếu niên, làm dự bị cho Võ can đội). Tất cả đều hoạt động cầm chừng.
1914-1944: Tập san Những người bạn của Huế cổ kính (B.A.V.H.) (bằng tiếng Pháp) ra đời và sẽ xuất bản tổng cộng 120 tập (dày nhiều vạn trang) trong suốt 30 năm dưới sự điều khiển của nhà Việt Nam học lỗi lạc L.M. Léopold Cadière. Nhiều bài nghiên cứu có giá trị về nhạc Huế được công bố trên tập san, nổi bật nhất là công trình của nhạc sĩ cổ điển Hoàng Yến (1919): Âm nhạc ở Huế, đàn nguyệt và tranh.
1925 - 1945: Dưới thời Bảo Đại, Võ can đội đổi thành Ba vũ đội gồm cả một đội Đại nhạc và một đội Tiểu nhạc tổng cộng khoảng 100 nghệ nhân hoạt động rời rạc, trong lúc chờ đợi làm nhiệm vụ chính: tham gia phục vụ lễ Tế Nam giao (3 năm một lần) (theo lời kể của cụ Lữ Hữu Thi).
Năm 1942 là năm cuối cùng triều Nguyễn cử hành lễ Tế Nam giao, cũng là lần cuối cùng Nhã nhạc cung đình Huế được biểu diễn trọng thể trước công chúng.
Ngày 31 tháng 8 năm 1945, trên Ngọ Môn, hoàng đế cuối cùng của triều Nguyễn vương quốc Đại Nam thoái vị. Nhã nhạc cung đình Huế tạm thời tan rã.
== Xem thêm ==
Đăng đàn cung
Ca Huế
Duyệt Thị Đường
Minh Khiêm Đường
== Chú thích ==
== Liên kết ngoài ==
5 năm Nhã nhạc "sống lại" từ lãng quên: Không quên cái thuở ban đầu
Đánh giá về Nhã Nhạc của UNESCO
YouTV.vn | Nhã nhạc Cung đình Huế trong lòng Hà Nội (xem Video clip)
Jähnichen, Gisa: Truyền thống hát thi và triết học thông tin hiện nay tại Việt Nam [The tradition of musical competitions and the actual media philosophy in Vietnam]. Trong: Kỷ yếu Hội thảo quốc tế về Bảo tồn và phát triển các bài hát dân ca trong xã hội đương đại, 29 – 31 tháng 3, Viện Văn hóa và Thông tin, Hà Nội 2006.
Jähnichen, Gisa (2012). ÂM NHẠC TÀI TỬ NAM BỘ - MỘT LỐI TƯ DUY ÂM NHẠC CỦA NGƯỜI PHƯƠNG NAM. The Art of Don Ca Tai Tu and Styles of Improvisation. Edited by Vietnamese Institute for Musicology. Hanoi: Vietnamese Institute for Musicology, pp. 163–179. |
buổi hoà nhạc.txt | Một buổi hòa nhạc hay còn gọi là hòa tấu là một buổi trình diễn trực tiếp (thường là trình diễn âm nhạc) trước một đám đông khán giả. Buổi trình diễn có thể được thực hiện bởi một nhạc sĩ duy nhất, gọi là độc tấu, hoặc bởi một đoàn ca múa nhạc đồng diễn, như một dàn nhạc, đội hợp xướng hay một ban nhạc. Các buổi hòa nhạc được tổ chức trong nhiều phạm vi khác nhau, có thể tại nhà riêng, câu lạc bộ đêm, nhà hát chuyên dụng, các trung tâm giải trí, các công viên, tòa nhà đa năng, thậm chí là các sân vận động thể thao. Các buổi hòa nhạc tổ chức trong nhà tại các cuộc thi đấu lớn thường được gọi là vũ đài hòa tấu. Bất kỳ nơi tổ chức ở đâu đi chăng nữa, các nhạc sĩ thường biểu diễn ngay trên sân khấu. Trước khi thu âm phần nhạc, buổi hòa tấu sẽ chỉ đưa ra một cơ hội duy nhất cho một người sẽ được chính thức nghe các nhạc sĩ chơi nhạc cụ. Tên thường gọi của một buổi hòa tấu (concert) là "show" (sô diễn) và "gig" (buổi diễn).
== Các loại hòa tấu ==
Bản chất của một buổi hòa nhạc sẽ thay đổi tùy theo thể loại âm nhạc và thành phần biểu diễn. Buổi hòa nhạc của một ban nhạc jazz nhỏ hoặc của một ban nhạc bluegrass nhỏ có thể có cùng thứ tự chương trình, điệu nhạc, và âm lượng, nhưng thay đổi theo âm nhạc và phục trang. Tương tự, một nhạc sĩ riêng lẻ, một ban nhạc, hoặc một thể loại âm nhạc có thể thu hút khán giả tham dự buổi hòa nhạc của mình bằng những trang phụ tương tự, kiểu tóc và cách cư xử. Ví dụ, phong trào hippie vào những năm thập niên 60 thường để tóc dài (đôi khi cuốn lọn dài), mang sandal và những quần áo rẻ tiền làm từ sợi tự nhiên. Những người tham dự một buổi hòa nhạc thường xuyên cũng có một phong cách rất dễ nhận ra, để phù hợp với quang cảnh của buổi hòa nhạc đó.
=== Sân khấu ===
Một số nghệ sĩ trình diễn hoặc các nhóm nhạc đem đến những buổi hòa nhạc rất phức tạp và tốn kém. Để tạo ra một bầu không khí đáng nhớ và phấn khích, tăng thêm sự thu hút, các nghệ sĩ sẽ thường xuyên cung cấp các thiết bị giải trí kèm theo buổi hòa nhạc của họ. Những thiết bị này bao gồm thiết bị chiếu sáng xuyên sân khấu; một hệ thống phóng đại hình ảnh (IMAG) và/hoặc video được ghi hình trước đó; bong bóng, bìa ảnh, sương mù và khói sân khấu, pháo hoa; cộng với những phục trang khác thường trong kho quần áo biểu diễn. Một số ca sĩ, đặc biệt là ca sĩ nhạc nhẹ, tăng âm lượng giọng hát trong buổi hòa nhạc với những phần được thu âm trước, vũ công nhảy nền và thậm chí các bài hát của chính ca sĩ đó. Các hoạt động diễn ra trong buổi hòa nhạc bao gồm nhảy, hát và moshing (một điệu nhảy thường thấy trong hardcore punk và heavy metal). Một số nghệ sĩ nổi tiếng được biết đến với nhiều màn trình diễn mang đầy đủ các yếu tố kể trên bao gồm:Pink Floyd, Jean Michel Jarre, Sarah Brightman và KISS.
=== Liên hoan âm nhạc ===
Các buổi hòa nhạc bao gồm nhiều nghệ sĩ trình diễn, nhất là kéo dài trong nhiều ngày, được gọi là liên hoan âm nhạc. Không giống những buổi hòa nhạc khác, thường chỉ có một thể loại âm nhạc riêng lẻ hoặc một nghệ sĩ solo, liên hoan âm nhạc thường bao trùm cả một phạm vi rộng lớn của các thể loại âm nhạc và nghệ thuật khác nhau. Do quy mô này, các liên hoan hầu hết đều được tổ chức ngoài trời. Một số ít trong hàng trăm liên hoan âm nhạc được tổ chức như Big Day Out, Coachella, Falls Festival, Glastonbury Festival, Newport Jazz Festival, Oxegen, Parachute Music Festival, Rock in Rio, Rockwave Festival, Salzburg Festival, Summer Sonic Festival, Woodstock Music and Art Festival, và Warped Tour.
Để xem danh sách đầy đủ hơn về các liên hoan âm nhạc diễn ra trên toàn thế giới, xem: Danh sách của các liên hoan âm nhạc.
== Chuyến lưu diễn ==
Một chuyến lưu diễn là một chuỗi các buổi hòa nhạc của một nghệ sĩ hay một nhóm các nghệ sĩ từ nhiều thành phố và lãnh thổ khác nhau. Thông thường các chuyến lưu diễn này được gọi tên, để phân biệt với các chuyến lưu diễn khác nhau của cùng một nghệ sĩ hay liên kết các chuyến lưu diễn riêng biệt với một album riêng lẻ hay một sản phẩm âm nhạc (ví dụ: chuyến lưu diễn Bad Tour của Michael Jackson). Đặc biệt là trong thế giới nhạc thị trường, những chuyến lưu diễn như thế có thể trở thành một chuyến đi dài, quy mô lớn, kéo dài qua hàng tháng, thậm chí hàng năm, được hàng trăm và hàng ngàn người đến xem, đem lại hàng triệu đôla (hoặc tương đương) cho công việc bán vé.
== Tham khảo ==
== Liên kết mở rộng == |
sân vận động rajamangala.txt | Sân vận động Rajmangala (tiếng Thái: สนามราชมังคลากีฬาสถาน) là sân vận động quốc gia lớn nhất Thái Lan. Nó nằm tại Hua Mak, Bang Kapi, Bangkok. Sân vận động này được xây dựng vào năm 1998 nhằm phục vụ Đại hội Thể dục thể thao châu Á lần thứ 15, có sức chứa 65.000 chỗ ngồi. Đây là nơi tổ chức giải Cúp bóng đá châu Á 2007 và giải Vô địch bóng đá nữ U-20 thế giới 2004. Cùng với sân vận động Suphachalasai, đây cũng là nơi tổ chức giải Cúp bóng đá châu Á 2007.
13°45′20″B 100°37′20″Đ
== Tham khảo == |
tögrög.txt | Tögrög (tiếng Mông Cổ: төгрөг, phát âm như Tugrug; các cách viết khác và ký hiệu: MNT, Tugrik, ₮) là đơn vị tiền tệ chính thức của Mông Cổ được đưa vào sử dụng từ ngày 9 tháng 12 năm 1925 với giá trị neo vào Ruble Liên Xô. Mỗi Tögrög bằng một Ruble và bằng 18 gam bạc. Nó thay thế cho Dollar Mông Cổ làm đơn vị tiền tệ chính thức của Mông Cổ từ ngày 1 tháng 4 năm 1928.
Một Tögrög được chia thành 100 Möngö.
Các tiền giấy và tiền kim loại Tögrög đang lưu thông là loạt phát hành từ năm 1993 thay cho loạt phát hành trong thời Cộng hòa Nhân dân Mông Cổ.
== Tỉ giá hối đoái hiện thời của đồng MNT ==
== Tham khảo ==
Phương tiện liên quan tới Tiền Mông Cổ tại Wikimedia Commons |
bóng đá nữ.txt | Bóng đá nữ là một trong các môn thể thao đồng đội nữ phổ biến trên thế giới, thậm chí cả ở những nơi mà việc phái nữ chơi bóng bị đe dọa. Bóng đá nữ được thi đấu ở tầm chuyên nghiệp hoặc bán chuyên ở một số quốc gia trên thế giới và hiện có 177 đội tuyển quốc gia tham gia thi đấu quốc tế. Môn thể thao này đã được FIFA chính thức công nhận từ năm 1970, nhưng mãi tới năm 1991 kì World Cup đầu tiên mới được tổ chức, dù nhiều giải bóng đá nữ quốc gia và quốc tế đã diễn ra từ thập niên 1970. Tuy nhiên do bóng đá, nói chung, được coi là môn thể thao của riêng nam giới ở một số nơi, điều khiến phụ nữ bị chỉ trích nặng nề hơn khi tham gia môn thể thao này so với nhiều môn khác mà họ cũng tham gia.
Bóng đá nữ được thi đấu thường xuyên bắt đầu từ cuối thế kỷ 19, và ít thường xuyên hơn trong giai đoạn từ năm 1921 đến 1970 khi FIFA chính thức công nhận. Bóng đá cũng là một trong số ít các môn mà cả nam và nữ thi đấu trên kích thước mặt sân và trái bóng như nhau. Trong thập niên 70 và đầu 80 các trận đấu kéo dài ngắn hơn, chỉ 40 phút một hiệp, nhưng hiện nay cả bóng đá nam và nữ đều phải tuân thủ các quy tắc và luật lệ như nhau. Ngày nay các tổ chức bóng đá, đặc biệt là FIFA, vẫn đang cố gắng nỗ lực quảng bá bóng đá nữ, khuyến khích phái nữ tham gia vào môn thể thao vua, mà tiêu biểu là câu nói của vị chủ tịch Sepp Blatter rằng "tương lai bóng đá là của phái nữ".
== Lịch sử ==
=== Thời kì sơ khai ===
Phụ nữ có lẽ đã chơi "bóng đá" kể từ khi môn thể thao này bắt đầu xuất hiện từ xa xưa. Nhiều tài liệu và tranh vẽ đã chứng minh rằng phiên bản cổ đại của trò chơi (môn xúc cúc) được phụ nữ chơi vào thời nhà Hán (25–220 SCN). Tuy nhiên có nhiều ý kiến tranh cãi về mốc thời gian trò chơi này xuất hiện, với niên đại xa nhất là vào những năm 5000 TCN. Người ta cũng ghi chép lại những bằng chứng về sự tham gia của phụ nữ trong bóng đá. Ở Pháp, phụ nữ tham gia vào bóng đá các trò chơi dân gian từ thế kỷ 12. Các ghi chép về một trận đấu diễn ra thường niên tại khu vực Mid-Lothia của Scotland có lịch sử từ những năm 90 của thế kỷ 18. Trận đấu đầu tiên được Liên đoàn bóng đá Scotland ghi nhận diễn ra vào năm 1892 tại Glasgow. Ở Anh, trận đấu bóng đá nữ đầu tiên được biết tới diễn ra vào năm 1895. Trước đó vào năm 1863, các cơ quan điều hành bóng đá đã giới thiệu các luật lệ tiêu chuẩn nhằm chống lại bạo lực trên sân, điều giúp phụ nữ dễ được xã hội chấp nhận hơn khi chơi bóng.
=== Thời kì hiện đại và sự cản trở ===
Giống như bóng đá nam, bóng đá nữ hiện đại khởi nguồn tại Anh Quốc. Vào năm 1881 Anh nhiều lần thi đấu với Scotland, dù vấn đề quốc tịch của cả hai đội tuyển là không rõ ràng và việc họ chơi bóng đá "thuần túy" hay là nửa bóng đá nửa rugby. Scotland giành nhiều trận thắng hơn, nhưng nhiều trận trong số đó bị gián đoạn bởi khán giả tràn vào sân. Sự cố này khiến phải mãi tới năm 1889 mới có một trận đấu quốc tế được công nhận giữa Canada và chủ nhà Anh.
Đội bóng nữ nổi tiếng đầu tiên được ghi nhận do bởi nhà hoạt động xã hội Nettie Honeyball thành lập tại Anh vào năm 1894 mang tên British Ladies' Football Club. Nettie Honeyball nói, "Tôi thành lập đội vào cuối năm ngoái [1894], với quyết tâm không đổi là chứng minh cho thế giới thấy rằng phụ nữ không phải là những kẻ 'chỉ để trang trí và vô dụng' mà người ta vẫn hay miêu tả. Tôi phải thừa nhận là mọi lý lẽ của tôi trong các vấn đề nơi mà sự phân biệt giới là vô cùng sâu rộng đều nghiêng về việc giải phóng nữ giới, và tôi mong có ngày phụ nữ có thể có chỗ trong nghi viện và có tiếng nói trong việc giải quyết các vấn đề, đặc biệt là các vấn đề liên quan tới họ nhiều nhất." Honeyball và những người như bà đã mở đường cho phụ nữ tới với môn thể thao. Tuy nhiên họ bị cản trở quyết liệt từ phía các liên đoàn bóng đá Anh Quốc, và phải tiếp tục con đường mà không được những người kia ủng hộ. Một trong các lý do của sự cản trở là từ việc người ta cho rằng những người như Honeyball muốn đe dọa "tính nam giới" của môn thể thao.
Bóng đá nữ bắt đầu phổ biến rộng rãi vào thời kỳ Chiến tranh thế giới thứ nhất, khi nền công nghiệp đẩy mạnh sự phát triển của môn thể thao nữ này, giống như những gì nó đã đem tới cho bóng đá nam 50 năm trước. Câu lạc bộ thành công nhất thời kì này là Dick, Kerr's Ladies của Preston, Anh. Câu lạc bộ này thi đấu trận quốc tế đầu tiên vào tháng 4 năm 1920, trước một đội bóng tới từ Paris, Pháp, và các cầu thủ của đội cũng đóng góp phần lớn trong đội hình đội tuyển nữ Anh đối đầu với đội Scotland Ladies XI cũng trong năm 1920, và giành thắng lợi tuyệt đối 22-0.
Mặc dù có những lúc còn nổi tiếng hơn nhiều trận đấu của nam (từng có một trận đấu bóng đá nữ thu hút 53.000 khán giả tới xem), bóng đá nữ Anh vẫn phải chịu sự trừng phạt vào ngày 5 tháng 12 năm 1921 1921 khi FA cấm bóng đá nữ được phép thi đấu trên các sân vận động của các thành viên của Liên đoàn, với lý do trò chơi này (của phụ nữ) gây ra sự khó chịu. Một số cho rằng lệnh cấm này được đặt ra vì sự ghen tị với lượng khán giả mà các trận bóng đá nữ thu hút được. Điều đó dẫn đến sự thành lập của English Ladies FA (Hiệp hội Bóng đá nữ Anh) và các trận đấu được chuyển sang thi đấu trên các sân bóng bầu dục. Một chiếc cúp bạc được tài trợ bởi chủ tịch hiệp hội, bà Len Bridgett, để làm giải thưởng cho giải đấu mang tên English Ladies' Football Association Challenge Cup. Tổng cộng 24 đội tham gia mùa giải đầu tiên vào mùa xuân năm 1922. Đội vô địch Stoke Ladies đánh bại Doncaster and Bentley Ladies 3-1 trong trận chung kết vào ngày 24 tháng 6 năm 1922.
Vào tháng 8 năm 1917, trước khi lệnh cấm có hiệu lực, một giải đấu được tổ chức cho câu lạc bộ nữ công nhân ở các xưởng đạn dược ở miền đông bắc nước Anh với tên gọi chính thức là Tyne Wear & Tees Alfred Wood Munition Girls Cup hay The Munitionettes' Cup. Đội đầu tiên đăng quang là Blyth Spartans, những người đả bại Bolckow Vaughan 5–0 trong trận chung kết đá lại tại Middlesbrough vào ngày 18/5/1918. Mùa giải thứ hai 1918–19 tiếp tục được tổ chức, lần này đội thắng cuộc là các cô gái của xưởng đóng tàu Palmer ở Jarrow sau khi vượt qua Hartlepool của Christopher Brown với tỉ số 1–0 tại sân St James' Park ở Newcastle vào ngày 22/3/1919.
Từ năm 1937, Dick, Kerr's Ladies thi đấu với Edinburgh City Girls tại giải Championship of Great Britain and the World (Giải vô địch bóng đá nữ Anh Quốc và Thế giới). Dick Kerr giành thắng lợi 2 lần vào năm 1937 và 1938 với cùng tỉ số 5-1. Tuy nhiên tại giải đấu tổ chức quy mô hơn vào năm 1939, Edinburgh City Girls lại là người chiến thắng trước Dick Kerr tại Edinburgh với kết quả 5-2. City Girls tiếp nối chiến quả trên bằng thắng lợi hủy diệt 7-1 trước Glasgow Ladies tại Falkirk để giành chức vô địch.
=== Sự phát triển trở lại ===
Sau kì World Cup được tổ chức tại Anh năm 1966 Liên đoàn bóng đá nữ Anh được thành lập vào năm 1969, và lệnh cấm của FA bị bãi bỏ vào năm 1971. Cùng năm này, UEFA khuyến khích việc tổ chức thi đấu bóng đá nữ nên được đặt dưới sự kiểm soát của các liên đoàn thành viên ở mỗi quốc gia. Trong thập niên 1970, Ý là quốc gia đầu tiên có cầu thủ nữ thi đấu bán chuyên nghiệp. Vào năm 1985, đội tuyển nữ quốc gia Hoa Kỳ được thành lập còn vào năm 1989, Nhật là nước đầu tiên có giải vô địch bóng đá nữ quốc gia bán chuyên nghiệp mang tên L. League vẫn tồn tại cho đến ngày nay.
== Bóng đá nữ ngày nay ==
Sau khi được công nhận, bóng đá nữ nhanh chóng phát triển, bằng chứng là việc chất lượng cơ sở vật chất phục vụ cho giải thế giới vào năm 2015 tốt hơn rất nhiều lần so với kì giải đầu tiên vào năm 1991. Bóng đá có thể coi là môn thể thao dành cho nữ giới được phân bố rộng rãi nhất, và số lượng đội tuyển quốc gia nữ tham gia vào FIFA vẫn không ngừng gia tăng. Trong thời gian gần đây tại một số quốc gia Hồi giáo bảo thủ và hà khắc như Pakistan hay Các Tiểu vương quốc Ả Rập Thống nhất, những nơi mà phụ nữ bị hạn chế rất nhiều thứ, thì giờ đã có cả các đội tuyển quốc gia và các câu lạc bộ bóng đá nữ. Theo số liệu từ FIFA, vào năm 2006 có khoảng 26 triệu nữ cầu thủ, và kể từ năm 2000 con số này đã tăng lên trên 4,5 triệu. 448 trận đấu bóng đá quốc tế đã diễn ra tại 134 quốc gia, và sóng truyền hình của Giải vô địch bóng đá nữ thế giới đã tiếp cận tới 200 quốc gia vào năm 2007 so với con số 67 của năm 1999. Ước tính số lượng cầu thủ nữ tại các châu lục vào năm 2006: 10 triệu ở Bắc Trung Mỹ và Caribe (trong đó có 7 triệu tại Hoa Kỳ), 6,4 triệu tại châu Âu và các quốc gia khác thuộc UEFA, 5,1 triệu tại châu Á (tính cả Úc), 3 triệu tại Nam Mỹ, gần 1,4 triệu ở châu Phi và 56.000 ở châu Đại Dương. Số cầu thủ có đăng ký tăng 54% so với năm 2000 lên con số 4,1 triệu trên tổng số 38,3 triệu cầu thủ có đăng ký cả nam lẫn nữ.
Tại châu Âu có 13.000 câu lạc bộ có ít nhất một đội bóng nữ. Có 51 câu lạc bộ của 43 quốc gia tham gia vào các vòng đấu của UEFA Women's Champions League mùa giải 2010–11. Trong số này có một câu lạc bộ là câu lạc bộ vô địch bóng đá nữ của đảo Síp, dù nước này chưa có đội tuyển quốc gia nữ chính thức vào thời điểm đó. Ngược lại Latvia, Armenia và Azerbaijan có đội tuyển quốc gia nữ nhưng không có câu lạc bộ nào tham dự. Số đội tham dự mùa giải 2014–15 tăng lên 54 đội của 46 quốc gia thành viên. Albania, Malta và Montenegro là ba nước lần đầu góp mặt. Các quốc gia chưa từng có đại diện nào là Luxembourg, Gruzia, Andorra, Armenia, Azerbaijan, Gibraltar, Liechtenstein và San Marino.
Tại giải đấu vô địch các câu lạc bộ Nam Mỹ Copa Libertadores dành cho nữ, cả mười quốc gia tham gia vào mùa giải đầu tiên vào năm 2009. Tất cả thành viên của CONMEBOL cũng tham gia vào giải vô địch cấp độ đội tuyển quốc gia, và bốn trong số các đội này tham dự World Cup 2015.
Mặc dù sự quan tâm dành cho bóng đá nữ ngày một tăng, vẫn chỉ có rất ít các sản phẩm truyền thông được đầu tư dành riêng cho nó. Hiện nay có một số tờ báo gây sự chú ý đáng kể, điển hình như Shekicks. Trước đây tại một số quốc gia như Na Uy cũng phát hành tạp chí dành riêng cho môn thể thao nữ này nhưng không tồn tại được lâu trước khi phải dừng hoạt động. Về mặt truyền hình, tại các quốc gia như Đức và Thụy Điển, các trận đấu tại giải vô địch quốc gia và Champions League được phát sóng khá đều đặn. Cả Na Uy và Anh đều chiếu trận chung kết cúp quốc gia trên TV. Trong số các kênh truyền hình phi chính phủ, Eurosport là kênh nổi bật nhất trong việc phát sóng các trận bóng đá nữ thuộc khuôn khổ các giải bóng đá lớn như giải vô địch thế giới hay Euro.
== Các giải đấu lớn hiện nay ==
Xem thêm thông tin: Bóng đá nữ trên thế giới và Danh sách các giải bóng đá nữ quốc tế
=== Giải vô địch bóng đá nữ thế giới ===
Trước khi FIFA Women's World Cup ra đời, một số giải đấu đã diễn ra từ thập niên 1970 và 1980, trong đó có giải đấu thử nghiệm mang tên Women's Invitation Tournament của FIFA tại Trung Quốc năm 1988.
Giải vô địch bóng đá nữ thế giới đầu tiên được tổ chức vào tháng 11 năm 1991 với chức vô địch thuộc về Hoa Kỳ. Giải đấu tại Hoa Kỳ vào hè năm 1999 thu hút sự chú ý trên toàn thế giới với một trận chung kết được chứng kiến bởi lượng khán giả kỉ lục trên 90.000 người tại sân Pasadena. Hoa Kỳ chiến thắng 5–4 trên loạt luân lưu trước Trung Quốc. Hoa Kỳ là đội tuyển vô địch nhiều lần nhất (3 lần) và đồng thời là đội đương kim vô địch.
=== Giải vô địch bóng đá nữ châu Âu ===
Các giải đấu bóng đá nữ châu Âu không chính thức đầu tiên được tổ chức tại Ý vào các năm 1969 và 1979. Tới năm 1982 UEFA quyết định tổ chức một giải bóng đá nữ châu Âu mang tên Giải các đội tuyển nữ đại diện châu Âu, tên ban đầu của Giải vô địch bóng đá nữ châu Âu hay Euro Nữ. Vòng chung kết đầu tiên vào năm 1984 chứng kiến sự lên ngôi của đội tuyển Thụy Điển. Đến nay đội tuyển giành nhiều chức vô địch nhất và đồng thời đương kim vô địch là đội Đức.
=== Thế vận hội mùa hè ===
Kể từ Thế vận hội Mùa hè 1996, nội dung bóng đá nữ được thêm vào chương trình thi đấu của Thế vận hội. Không giống như nội dung của nam (hầu hết là các cầu thủ dưới 23 tuổi), nội dung nữ không giới hạn độ tuổi hay chứng nhận chuyên nghiệp. Các liên đoàn bóng đá tại Vương quốc Anh và Bắc Ireland không được Ủy ban Olympic Quốc tế cho phép cử đội thi đấu riêng. Tuy nhiên Thế vận hội Mùa hè 2012 tổ chức tại Luân Đôn chứng kiến sự xuất hiện lần đầu tiên của đội tuyển bóng đá Vương quốc Anh với thành phần từ hai đội tuyển Anh và Scotland. Hoa Kỳ hiện là đội đang giữ tấm huy chương vàng Olympic.
== Bóng đá nữ trẻ ==
Vào năm 2002, FIFA tổ chức giải đấu bóng đá nữ trẻ đầu tiên với tên gọi Giải vô địch U-19 nữ thế giới của FIFA, diễn ra lần đầu tại Canada. Trận chung kết năm 2002 là câu chuyện nội bộ của khu vực CONCACAF khi U19 Hoa Kỳ đánh bại chủ nhà 1-0 nhờ bàn thắng vàng trong hiệp phụ. Giới hạn độ tuổi sau này được tăng lên con số 20 kể từ kì giải 2006 ở Nga với đội vô địch là Triều Tiên. Đội đương kim giữ cúp vô địch hiện nay là Đức. Vào năm 2008, FIFA cho ra đời Giải vô địch bóng đá nữ U-17 thế giới. Triều Tiên là đội vô địch đầu tiên tại giải đấu ở New Zealand. Đương kim vô địch của giải là Nhật Bản, một đại diện châu Á khác. Ngoài ra bóng đá nữ còn xuất hiện tại các giải đấu trẻ của các liên đoàn khu vực và các đại hội thể thao trong đó có Thế vận hội Trẻ và Thế vận hội Sinh viên.
Tại Hoa Kỳ, sau 60 năm đấu tranh để được xã hội chấp nhận, vào cuối những năm 1970, các câu lạc bộ bóng đá nữ bắt đầu xuất hiện trong các trường đại học. Tuy nhiên phải tới thập niên 1980 các đội này mới được công nhận thực sự và được đại diện cho bộ mặt thể thao của các trường. Đại học Brown là trường đầu tiên có đội bóng đá nữ được công nhận làm đội đại diện cho trường. Hiệp hội thể thao nữ liên đại học (AIAW) tài trợ cho giải bóng đá nữ đại học vùng đầu tiên ở Mỹ, diễn ra tại Đại học Brown. Giải bóng đá nữ đại học toàn quốc đầu tiên được tổ chức tại trường cao đẳng Colorado bởi AIAW vào năm 1981. Hiện nay có trên 700 đội bóng đá nữ thi đấu theo nhiều hình thức và quy mô tại các trường cao đẳng và đại học trực thuộc ba tổ chức thể thao đại học là National Collegiate Athletic Association (NCAA), National Association of Intercollegiate Athletics (NAIA) và National Junior College Athletic Association (NJCAA).
== Bóng đá nữ tại Việt Nam ==
Kể từ khi người Pháp đem bóng đá tới Việt Nam, bóng đá từng bước trở thành môn thể thao số một. Vào năm 1932 xuất hiện đội bóng đá nữ đầu tiên là đội Cái Vồn ở Cần Thơ do ông Phan Khắc Sửu thành lập. Vài năm sau, có thêm đội Bà Trưng ở Rạch Giá - Long Xuyên. Năm 1933, đội nữ Cái Vồn thi đấu với đội nam Paul Bert tại sân Mayer và hòa 2-2, một kỳ tích trong lịch sử bóng đá Việt Nam.
Đội tuyển bóng đá nữ Việt Nam là một trong các đội mạnh nhất khu vực Đông Nam Á. Đội tuyển bắt đầu tham dự các giải đấu khu vực kể từ Sea Games 19 ở Indonesia năm 1997 và kết thúc giải đấu bằng tấm huy chương đồng. Kể từ đó đội đã bốn lần vô địch Sea Games (các năm 2001, 2003, 2005 và 2011), hai lần vô địch Giải vô địch bóng đá nữ Đông Nam Á (các năm 2006 và 2012). Tuy nhiên trên đấu trường châu lục đội tuyển Việt Nam vẫn chưa có nhiều tiếng nói khi thường dễ dàng thua với tỉ số đậm trước các đội lớn như Nhật Bản hay Trung Quốc. Thành tích tốt nhất của đội là lọt vào bán kết Đại hội Thể thao châu Á 2014 tại Incheon, Hàn Quốc. Kể từ khi tham gia vòng loại vào năm 1999, đội tuyển chưa từng dự World Cup nữ.
Giải vô địch nữ quốc gia được VFF lần đầu tổ chức vào năm 1998 với chức vô địch thuộc về Hà Nội (giờ là đội Hà Nội 1). Hiện nay giải có 8 đội bóng tham dự.
== Xem thêm ==
Bóng đá nữ trên thế giới
Danh sách các giải đấu bóng đá nữ quốc tế
== Tham khảo ==
== Đọc thêm ==
David J. Williamson (1991). Belles of the ball: The Early History of Women's Association Football. R&D Associates. tr. 100. ISBN 0-9517512-0-4.
Gail J Newsham (1997). In a League of Their Own! The Dick, Kerr Ladies 1917-1965. London: Scarlet Press. ISBN 1-85727-029-0.
Jean Williams (2003). A Game for Rough Girls?: a history of women's football in England. London: Routledge. ISBN 978-0-415-26338-2.
== Liên kết ngoài ==
Bóng đá nữ trên trang chủ FIFA
Lịch sử bóng đá nữ (tiếng Anh)
Women's Soccer United |
cam lộ.txt | Cam Lộ là một huyện ở phía tây bắc tỉnh Quảng Trị. phía đông giáp thành phố Đông Hà, phía tây giáp huyện [Dakrong], phía nam giáp huyện Triệu Phong, phía bắc giáp huyện Gio Linh. Có sông Cam Lộ (sông Hiếu) chảy qua. Cam Lộ là địa bàn có nhiều tuyến giao thông quan trọng đi ngang qua: Quốc lộ 1A, Đường Hồ Chí Minh, Đường 9, tuyến hành lang kinh tế Đông - Tây, đường xuyên Á từ Lào về cảng Cửa Việt
== Dân số, hành chính ==
Diện tích 346,9 km². Dân số 46.300 người (2003), gồm các dân tộc: Kinh, Bru - Vân Kiều.
Gồm thị trấn Cam Lộ (huyện lị) và 8 xã: Cam An, Cam Chính, Cam Hiếu, Cam Nghĩa, Cam Thanh, Cam Thành, Cam Thủy, Cam Tuyền.
Đây cũng là địa phương có dự án Đường cao tốc Quảng Bình – Quảng Trị và dự án Đường cao tốc Quảng Trị – Đà Nẵng đi qua đang được xây dựng.
== Lịch sử ==
Dấu tích cư trú của người nguyên thủy thời hậu kỳ đồ đá cũ được tìm thấy chủ yếu ở khu vực Tân Sở - vùng Cùa, gồm nhiều công cụ làm bằng đá quacdit có hình thù đặc trưng cho thời kỳ văn hóa Sơn Vi (niên đại từ 2 đến 3 vạn năm về trước); tại các hang Dơi (Tân Lâm - xã Cam Thành) tìm thấy một số công cụ chặt, chày nghiền... làm bằng đá và một số dụng cụ làm bằng xương, đồ gốm đặc trưng văn hóa Hòa Bình (niên đại từ 1,5 đến 2 vạn năm về trước); ở "Đồi không tên" (Tân Lâm) phát hiện dấu tích của một công xưởng chế tác công cụ đá lửa (Silic) của người nguyên thủy thuộc hậu kỳ đá mới, cách ngày nay chừng 5.000 năm.
Đến thời Trần - Lê (thế kỷ XIV - XVI) đã có người Việt vào cư trú ở Cam Lộ dọc theo bờ sông Hiếu và tên Cam Lộ cũng xuất hiện từ đó, được gọi là nguồn Cam Lộ. Nguồn Cam Lộ có 2 châu Sa Bôi và Thuận Bình. Đến thời các Chúa Nguyễn, chính sách khẩn hoang lập làng được đẩy mạnh hơn đã phát triển khu cư trú về phía nam sông Hiếu đến vùng gò đồi và một số làng được thành lập ở Cùa đầu thế kỷ XVII.
Năm 1803, sau khi đánh bại Tây Sơn và lên ngôi hoàng đế, vua Gia Long lấy các huyện: Hải Lăng, Đăng Xương, Minh Linh để lập ra doanh Quảng Trị và phía tây đặt đạo Cam Lộ, lỵ sở đóng tại làng Nghĩa An, tổng An Lạc (Thuộc vùng đất xã Cam An ngày nay).
Năm 1831 vua Minh Mạng đổi đạo Cam Lộ thành phủ Cam Lộ. Trong triều đại này, năm 1829 (Minh Mạng thứ 10) thành Vĩnh Ninh cũng được xây dựng tại làng Cam Lộ (Nay là di tích Khu Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hòa Miền nam Việt Nam)
Năm 1851 vua Tự Đức đổi đạo Cam Lộ thành bảo Cam Lộ. Cũng thời kỳ này (1883 -1885) Sơn phòng Tân Sở được xây dựng tại Vùng Cùa. Vào niên hiệu Đồng Khánh (1886-1888) huyện Cam Lộ có 3 tổng: Tổng An Lạc gồm các xã Cam An, Cam Thanh và Thị xã Đông Hà ngày nay; tổng Cam Đường (đến trước cách mạng tháng 8 năm 1945 đổi tên thành tổng Cam Vũ) gồm các xã Cam Hiếu, Cam Thủy, Cam Thành, Cam Tuyền và thị trấn Cam Lộ; tổng Mai Lộc bao gồm các xã Cam Chính, Cam Nghĩa.
Dưới thời Việt Nam Cộng Hòa, ngày 17/5/1958 chính quyền cho lập quận Cam Lộ.
Trong Chiến tranh Việt Nam, huyện Cam Lộ là một đơn vị hành chính có tổ chức Đảng, các đoàn thể và chính quyền cách mạng.
Ngày 11/3/1977 huyện Cam Lộ, Gio Linh và Vĩnh Linh được sáp nhập lại thành huyện Bến Hải, trực thuộc tỉnh Bình Trị Thiên.
Ngày 20/4/1978, xã Cam Giang được sáp nhập vào xã Cam An (xã Cam Giang ngày nay là phường Đông Giang thuộc thành phố Đông Hà).
Ngày 19/8/1991 huyện Cam Lộ được lập lại trên cơ sở tách 8 xã nguyên thuộc huyện Cam Lộ được sát nhập vào thị xã Đông Hà năm 1981, với dân số 44.232 người và diện tích 346/9 km2.
Ngày 1/8/1994, thành lập thị trấn Cam Lộ - thị trấn huyện lị huyện Cam Lộ - trên cơ sở tách đất của xã Cam Thành.
== Cùa ==
Ở Cam Lộ có vùng Cùa nổi tiếng. Cùa là tên gọi từ xưa, nghe âm vang chất dân dã và hoang vu, còn trên bản đồ hành chính, đây là địa bàn hai xã Cam Chính và Cam Nghĩa thuộc huyện Cam Lộ, Quảng Trị. Từ ngã ba quốc lộ 9 vào Cùa, ngày xưa là con đường đất đỏ, giữa cằn cỗi gió nắng, đất xứ Cùa lại mỡ màu với những vườn cây trái, Vào tới trung tâm vùng Cùa sẽ thấy bóng tán mít vây bọc những vuông vườn dâu da, cam, bưởi, ổi. Từ xa xưa, vùng đất Cùa được xem là xứ hồ tiêu và nức tiếng với các loại sản vật như mít ngọt, chè xanh, măng khô, mộc nhĩ.
== Di tích lịch sử - văn hóa ==
Chợ phiên Cam Lộ, Di tích Tân Sở, Cầu Xoài Vĩnh Đại, Miếu Cây xoài Tam Hiệp, Khu chính Phủ Lâm thời cộng Hòa Miền Nam Việt Nam, Miếu An Mĩ, Nhà Tằm Tân Tường. Nhiều nơi tại Cam Lộ, các nhà khảo cổ tìm thấy dấu vết của cư dân người tiền sử sinh sống từ 1,5 vạn đến 3 vạn năm về trước.
== Các làng ==
Cam Hiếu (10 thôn): Vĩnh An, Thạch Đâu, Bích Giang, Vĩnh Đại, Trương Xá, Định Xá, Mộc Đức, Tân Trúc, Đường 9, Tân Hiếu.
Thị trấn Cam Lộ: Trung Viên, Thượng Viên, Nghĩa Hy, Thiết Tràng, Nam Hùng, Thượng Nguyên
Cam Thủy: Cam Vũ, Cam Vũ 2, Cam Vũ 3, Thiện Chánh, Tân Xuân, Lâm Lang, Lâm Trang, Vĩnh Đại, Tam Hiệp 1, Tam Hiệp 2, Tam Hiệp 3, Tam Hiệp 4,Tam Hiệp 5
Cam Nghĩa: Bảng Sơn, Quật Xá, Tân Sơn, Cam Lộ Phường, Cu Hoan, Nghĩa Phong
Cam Chính (14 thôn): Mai Lộc 1, Mai Lộc 2, Mai Lộc 3, Mai Đàn, Cồn Trung, Minh Hương, Tân Chính, Đốc Kinh, Lộc An, Thiết Xá, Thượng Nghĩa, Trung Chi, Sơn Nam, Thanh Nam.
Cam Tuyền (12 thôn): Đâu Bình 1, Đâu Bình 2, Tân Hoà, Tân Quang, Xuân Mỹ, Bắc Bình, Tân Hiệp, Bản Chùa, Ba Thung, An Thái, An Mỹ, Bích Lộ.
Cam Thành: Cam Phú 1, Cam Phú 2, Cam Phú 3, Tân Tường, Quật Xá, Tân Mỹ, Tân Định, Phước Tuyền, An Hưng, Phan Xá
Cam Thanh: An Bình, Cam Lộ, Phú Ngạn
Cam An: Kim Đâu, Cẩm Thạch, An Xuân, Phi Thừa, Phổ Lại, Mĩ Hòa, Trúc Kinh, Trúc khê, Xuân Khê
== Chùa Cam Lộ ==
Trên địa bàn huyện có chùa Cam Lộ, đây là là ngôi chùa lớn và linh thiêng nhất Quảng Trị, có ngọn Bảo tháp thờ Phật và Xá lợi Phật cao nhất Việt Nam. Trong đó, Giác Nhiên Bảo Tháp, là công trình xây dựng để tưởng niệm Cố Trưởng Lão Đức đệ nhị Tăng Thống, được khởi công vào ngày 19/2/2011 và hoàn thành vào dịp Lễ hội Quán Thế Âm 19/2/2014; tổng kinh phí 15 tỷ đồng. Vào những ngày đầu Xuân năm mới Đinh Dậu, chùa Cam Lộ đã có hàng vạn lượt người khắp các địa phương trong tỉnh Quảng Trị cũng như khách thập phương đã về đây để lễ phật cầu may mắn. Đã thành một nét đẹp truyền thống của người Việt Nam, cứ vào những ngày đầu năm mới, nhiều gia đình lại cùng nhau đi lễ chùa cầu chúc một năm mới an lành, nhiều may mắn đến với gia đình mình và mọi người.
== Chú thích ==
== Liên kết ngoài == |
guam.txt | Guam (tiếng Chamorro: Guåhan), tên chính thức là Lãnh thổ Guam, là một hải đảo nằm ở miền tây Thái Bình Dương và là một lãnh thổ có tổ chức nhưng chưa hợp nhất của Hoa Kỳ. Người Chamorros, cư dân bản thổ của Guam là nhóm người đầu tiên sinh sống tại hòn đảo khoảng 6.000 năm về trước. Guam là hòn đảo lớn nhất ở vị trí cực nam của Quần đảo Mariana. Thủ phủ của đảo là Hagåtña, trước đây viết là "Agana". Kinh tế của Guam chính yếu trông vào du lịch (đặc biệt là từ Nhật Bản, Hàn Quốc và Đài Loan) và các căn cứ quân sự của Hoa Kỳ.
== Lịch sử ==
Nhà hàng hải người Bồ Đào Nha Ferdinand Magellan phụng lệnh Vua Tây Ban Nha phát hiện ra đảo Guam năm 1521 trong chuyến đi vòng quanh Trái Đất. Sau đó Tướng Miguel López de Legazpi nhân danh vua Tây Ban Nha đã đến Guam và tuyên bố chủ quyền năm 1565. Người Tây Ban Nha đặt nền cai trị thuộc địa Guam từ năm 1668 khi linh mục San Vitores sang Guam truyền giáo phổ biến đạo Công giáo. Lúc bấy giờ Guam cũng như toàn phần Quần đảo Mariana và Quần đảo Caroline phụ thuộc Philippines như một phần của xứ Đông Ấn thuộc Tây Ban Nha. Trong thời gian non 200 năm (1668-1815), Guam là trạm dừng chân quan trọng trên chặng hải hành của thương thuyền Tây Ban Nha từ México sang Philippines. Dưới sự cai trị của Tây Ban Nha, văn hóa Chamorro và các thổ dân nói chung chịu sự chi phối mạnh mẽ của văn hóa Tây Ban Nha.
Tây Ban Nha và Hoa Kỳ xung chiến vào cuối thế kỷ 19, kết quả là Tây Ban Nha nhượng đứt Philippines và Guam cho Hoa Kỳ năm 1898. Quần đảo Mariana thì Madrid bán cho Đức với giá 837.500 đồng vàng Đức. Hoa Kỳ từ đấy dùng đảo Guam làm trạm tiếp tế cho tàu chiến hải quân khi vượt đại dương đi lại sang Philippines.
Khi Chiến tranh thế giới thứ hai bùng nổ thì Quân đội Đế quốc Nhật Bản tiến chiếm ngày 8 tháng 12 năm 1941. Vì được dự đoán trước, Hoa Kỳ đã di tản phần lớn kiều dân khỏi đảo. Trước đó từ năm 1914 thời Chiến tranh thế giới thứ nhất Nhật đã tiếp thu Quần đảo Bắc Mariana từ Đức và cai trị chiếu theo hiệp định Ủy thác Nam Dương. Thổ dân Chamorro từ Quần đảo Bắc Mariana được Nhật đưa đến Guam làm thông dịch viên cho lực lượng chiếm đóng Nhật Bản. Trong khi đó dân Chamorro ở Guam thì bị liệt vào thành phần địch quân. Cũng vì sự kiện này mà sau chiến tranh, dân Chamorro ở Guam mang mối thù với thổ dân từ Bắc Mariana mặc dù cả hai đều là người Chamorro.
Trong suốt thời giam bị chiếm đóng 31 tháng, dân Guam bị quân Nhật bắt người thì lao dịch, kẻ thì bị giết hại, giam cầm, có khi ép buộc cả phụ nữ phục vụ sinh lý cho Quân đội Nhật dưới dạng mãi dâm, nhiều gia đình ly tán. Theo cuộc điều tra của Quốc hội Hoa Kỳ năm 2004 thì trong gần ba năm Nhật chiếm đóng, có khoảng một nghìn người ở Guam bị giết.
Ngày 21 tháng 7 năm 1944 Hoa Kỳ mở cuộc tái chiếm Guam, giao tranh ác liệt. Nhật phải rút lui, bỏ cả Quần đảo Bắc Mariana. Sau chiến tranh, Hoa Kỳ thông qua Đạo luật Tổ chức Guam năm 1950 nhằm thiết lập Guam như một lãnh thổ có tổ chức nhưng chưa sát nhập của Hoa Kỳ. Đây là cơ chế pháp lý cai trị Guam, thiết lập guồng máy hành chính và trao quyền công dân Hoa Kỳ cho cư dân Guam.
Tháng Tư 1975 khi Sài Gòn thất thủ, Hoa Kỳ mở cuộc di tản bằng hàng không cũng như đường biển thì Guam được dùng làm chặng dừng chân đầu tiên của hơn 100.000 người Việt tỵ nạn đến đất Mỹ. Chính nơi này cũng là nơi con tàu Việt Nam Thương Tín cập bến vào Tháng Chín năm 1975 sau khi thoát khỏi Việt Nam từ Tháng Tư. Ngày 16 tháng 10 chính con tàu này đã làm cuộc hành trình về Việt Nam chở 1.546 người Việt muốn hồi hương.
Guam là nơi tạm trú của 111.919 người Việt tỵ nạn trước khi chính phủ Liên bang Hoa Kỳ dàn xếp chuyển họ sang Bắc Mỹ định cư ở Hoa Kỳ.
== Địa lý ==
Guam nằm ở vị trí 13.5° bắc 144.5° đông và có diện tích là 210 dặm vuông (544 km²). Nó là đảo cận nam nhất của Quần đảo Mariana và là đảo lớn nhất trong Quần đảo Micronesia. Chuỗi đảo này được hình thành bởi các mảng kiến tạo Thái Bình Dương và Philippines. Rãnh Mariana, một vùng bị quằn sâu, nằm bên cạnh chuỗi đảo về phía đông. Challenger Deep, điểm sâu nhất trên Trái Đất, ở phía tây nam của Guam có độ sâu khoảng 35.797 ft (10.911 mét). Điểm cao nhất tại Guam là Núi Lamlam cao 1.332 ft (406 m). Đảo Guam dài 30 dặm Anh (48 km) và rộng từ 4 dặm (6 km) đến 12 dặm (19 km). Thỉnh thoảng Đảo bị động đất vì nó ở rìa phía tây của Mảng Thái Bình Dương và gần mảng Philippines. Trong những năm vừa qua, các trận động đất có trung tâm chấn động gần Guam có cường độ từ 5,0 đến 8,7. Không như núi lửa Anatåhan tại Quần đảo Bắc Mariana, Guam không phải là vùng núi lửa còn hoạt động. Tuy nhiên, vì hướng gió và gần Anatahan, các hoạt động núi lửa nhất là tàn tro đôi khi ảnh hưởng đến Guam.
Phần phía bắc của đảo có bình nguyên rừng với đất đá vôi và bờ đá san hô trong khi phía nam có những đỉnh núi lửa có thảo nguyên và rừng. Một bờ đá san hô bao quanh phần lớn đảo, trừ những nơi có vịnh cung cấp lối ra cho các con sông nhỏ và suối nước chảy từ các ngọn đồi xuống Thái Bình Dương và biển Philippines. Dân số của đảo tập trung nhiều nhất ở khu vực phía bắc và miền trung.
== Khí hậu ==
Khí hậu có nét nhiệt đới. Thời tiết thường nóng và rất ẩm với ít thay đổi nhiệt độ theo mùa. Nhiệt độ cao trung bình là 86 °F (30 °C) và nhiệt độ thấp trung bình là 74°F (24 °C) với lượng mưa trung bình hàng năm là 96 inch (2.180 mm). Mùa khô kéo dài từ tháng 12 đến tháng sáu. Những tháng còn lại là mùa mưa. Tháng 1 và tháng 2 được xem là tháng mát nhất trong năm với nhiệt độ ban đêm khoảng từ 75 đến 70 °F và thông thường có độ ẩm thấp hơn. Tháng dễ có bão nhất là tháng 10 và tháng 11. Tuy nhiên chúng cũng có thể xảy ra quanh năm.
Trung bình có ba cơn bão nhiệt đới và một cơn bão lớn đi qua Guam trong vòng 180 hải lý (330 km) mỗi năm. Cơn bão có cường độ mạnh nhất đi qua Guam mới vừa qua là Siêu bão Pongsona với sức gió gần trung tâm là 125 dặm một giờ đập vào Guam ngày 8 tháng 12 năm 2002 để lại sự tàn phá khủng khiếp. Từ sau Siêu bão Pamela năm 1976 các cấu trúc nhà cửa bằng gỗ đã được thay thế bằng các cấu trúc bê tông. Trong thập niên 1980, các cột điện bằng gỗ bắt đầu được thay thế bằng các cột chống bão bằng bê tông cốt thép. Trong thập niên 1990, nhiều chủ nhà và cơ sở thương mải đã lắp đặt các cửa chớp chống bão.
== Nhân khẩu ==
Theo Điều tra Dân số Hoa Kỳ năm 2000, dân số của Guam là 154.805 Dân số ước tính năm 2007 cho Guam là 173.456. Cho đến năm 2005, sự gia tăng dân số hàng năm là 1,76%. Nhóm dân đông nhất là người bản xứ Chamorros, chiếm 57% tổng dân số. Nhóm dân lớn thứ nhì là người Philippines chiếm 25.5%, người da trắng 10%, Việt Nam, Trung Hoa, Nhật, Triều Tiên và các nhóm dân khác. Ngày nay, Giáo hội Công giáo Rôma là tôn giáo lớn nhất chiếm 85%. Ngôn ngữ chính của đảo là tiếng Anh và tiếng Chamorro.
Những người Việt chọn lựa ở lại và sinh cư lập nghiệp tại Guam không tới 200 người. Hiện tại, Guam có tới bảy tám tiệm ăn do người Việt Nam làm chủ, tiệm nào cũng có món phở nhưng người địa phương thích nhất là món hủ tiếu nấu theo kiểu Việt Nam mà họ gọi là combination soup. Ở Guam chỉ có hai bác sĩ người Việt, còn phần đông là buôn bán. Có người từ California hay từ những tiểu bang khác qua Guam mở quán Karaôkê hay hộp đêm để phục vụ du lịch.
== Văn hóa ==
Văn hóa Chamorro truyền thống được thể hiện trong điệu múa, đi biển, nấu ăn, bắt đánh cá, các trò chơi (như batu, chonka, estuleks, và bayogu), các bài hát và kiểu cách bị ảnh hưởng bởi sự di dân của những người từ những nơi khác đến. Chính sách của Tây Ban Nha thời thuộc địa (1668-1898) là một chính sách thu phục và khuyến khích cải đạo sang Giáo hội Công giáo Rôma. Tình trạng dẫn đến việc loại dần các chiến binh nam của Guam và đẩy người Chamorro ra khỏi quê hương của họ.
Sử gia Lawrence Cunningham vào năm 1992 có viết "Theo ý nghĩ của người Chamorro, vùng đất và các sản phẩm từ đất sinh ra thuộc về mọi người. Inafa'maolek, hay là phụ thuộc liên đới, là chìa khóa hay giá trị trung tâm trong văn hóa Chamorro... Inafa'maolek phụ thuộc vào một tinh thần hợp tác. Đây là ý nghĩa cốt lõi rằng mọi thứ trong văn hóa Chamorro xoay tròn quanh nhau. Mối quan tâm mạnh mẽ là vì nhau hơn là chủ nghĩa cá nhân và quyền tư hữu."
Văn hóa cốt lõi của Chamorro là sự kết hợp phức tạp quy định xã hội đặt trọng tâm vào sự kính trọng: Từ việc hôn bàn tay của người già, lưu truyền những huyền thoại, bài hát, và các nghi lễ tán tỉnh, đến việc một người cầu xin tha thứ từ tổ tiên đã khuất khi đi vào rừng sâu. Những phong tục tập quán có từ trước khi Tây Ban Nha xâm chiếm bao gồm làm thuyền galaide, làm nhạc cụ belembaotuyan,...
== Tham khảo ==
== Liên kết ngoài ==
=== Chính quyền ===
Congresswoman Madeleine Z. Bordallo, Delegate, U.S. Congress
Guam Customs and Quarantine Agency
Guam Election Commission
Guam Code Annotated
Guam Department of Revenue and Taxation
=== Tin tức ===
Marianas Variety "Guam's only true independent news source"
Pacific Daily News, A Gannett Newspaper
KUAM, Guam's Primary News Channel
"Pacific News Center - News You Can Trust
=== Tổng quan ===
allthingsguam A Guam History resource—virtual textbook, virtual workbook and more
Guampedia from the Guam Humanities Council and the University of Guam
Open Directory Project - Guam directory category
U.S. Library of Congress - Portals to the World: Guam
The World Factbook on Guam
Guam Connection - Guam directory and internet portal.
=== Quân sự ===
Commander, Naval Forces Marianas (COMNAVMAR) Guam
Andersen Air Force Base (AAFB) Guam
War in the Pacific - Liberation of Guam
Congressional Testimony - Guam War Claims
=== Du lịch ===
Wikitravel's Guide to Guam
Guam Visitors Bureau
Guam Portal
=== Những thông tin khác ===
Guam Chamber of Commerce
Maps - Perry-Castañeda Library Map Collection |
sắc lệnh.txt | Sắc lệnh (hay Sắc lệnh hành pháp, lệnh) là văn bản quy phạm pháp luật hoặc văn bản pháp luật cá biệt của người đứng đầu bộ máy nhà nước hoặc bộ máy hành pháp. Sắc lệnh là văn bản do Chủ tịch nước ban hành, ở một số nước nó có thể do Tổng thống, Thủ tướng hoặc Tòa án ban hành.
== Việt Nam ==
Trong Điều 91 Hiến pháp 2013 có ghi: "Chủ tịch nước ban hành lệnh, quyết định để thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của mình". Cụ thể theo Điều 13 Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật (Luật số: 17/2008/QH12) ghi là "Lệnh, quyết định của Chủ tịch nước được ban hành để thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của Chủ tịch nước do Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định". Như vậy, chủ tịch nước có quyền ban hành lệnh mà không cần Quốc hội thông qua, song lệnh đó cần phải tuân thủ theo Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của Uỷ ban thường vụ Quốc hội.
Lệnh của Chủ tịch nước thường được đăng tải trên Cổng thông tin điện tử của Chủ tịch nước, các lệnh quan trọng được đưa tin trên bản tin thời sự Việt Nam 19h.
== Hoa Kỳ ==
Sắc lệnh hành pháp về cơ bản là một sắc lệnh bằng văn bản do tổng thống ban hành cho chính phủ liên bang mà không cần sự phê chuẩn của quốc hội. Thẩm quyền ban hành sắc lệnh hành pháp bắt nguồn từ Điều II trong Hiến pháp Mỹ, trong đó ghi nhận: “Quyền hành pháp sẽ được trao cho tổng thống của nước Mỹ”. Phạm vi của sắc lệnh hành pháp khá rộng, có thể trải dài từ các chính sách quan trọng, như sắc lệnh phê chuẩn việc xây dựng hai đường ống dẫn dầu gây tranh cãi vừa qua của Tổng thống Donald Trump, cho đến các hoạt động quy mô nhỏ như đề xuất đóng cửa các văn phòng của chính phủ trong khoảng thời gian nửa ngày vào đêm Giáng sinh năm 2015 của cựu Tổng thống Barack Obama.
== Tham khảo == |
wilford brimley.txt | Anthony Wilford Brimley (sinh ngày 27 tháng 9 năm 1934), hay A. Wilford Brimley và Wilford Brimley, là một diễn viên người Mỹ. Ông xuất hiện trong nhiều bộ phim như The China Syndrome (1979), The Thing (1982), Cocoon (1985) and The Firm (1993). Ông còn tham gia loạt phim truyền hình The Waltons vào những năm 1970.
Ông mắc bệnh tiểu đường loại 2 và xuất hiện trong nhiều quảng cáo liên quan đến căn bệnh này của Liberty Medical.
== Tuổi thơ ==
Brimley sinh ra ở Salt Lake City, Utah ngày 27 tháng 9 năm 1934, con trai của Leonard Douglas Simmons, Sr. và Shirley May và ông lớn lên trong khu phố Pháp.
== Sự nghiệp điện ảnh ==
== Tham khảo ==
== Liên kết ngoài ==
Wilford Brimley tại Internet Movie Database |
muối ăn.txt | Muối ăn hay trong dân gian còn gọi đơn giản là muối (tuy rằng theo đúng thuật ngữ khoa học thì không phải muối nào cũng là muối ăn) là một khoáng chất, được con người sử dụng như một thứ gia vị tra vào thức ăn. Có rất nhiều dạng muối ăn: muối thô, muối tinh, muối iốt. Đó là một chất rắn có dạng tinh thể, có màu từ trắng tới có vết của màu hồng hay xám rất nhạt, thu được từ nước biển hay các mỏ muối. Muối thu được từ nước biển có các tinh thể nhỏ hoặc lớn hơn muối mỏ. Trong tự nhiên, muối ăn bao gồm chủ yếu là clorua natri (NaCl), nhưng cũng có một ít các khoáng chất khác (khoáng chất vi lượng). Muối ăn thu từ muối mỏ có thể có màu xám hơn vì dấu vết của các khoáng chất vi lượng. Muối ăn là cần thiết cho sự sống của mọi cơ thể sống, bao gồm cả con người. Muối ăn tham gia vào việc điều chỉnh độ chứa nước của cơ thể (cân bằng lỏng). Vị của muối là một trong những vị cơ bản. Sự thèm muối có thể phát sinh do sự thiếu hụt khoáng chất vi lượng cũng như do thiếu clorua natri.
Muối ăn là tối thiết cho sự sống, nhưng việc sử dụng quá mức có thể làm tăng độ nguy hiểm của các vấn đề sức khỏe, chẳng hạn như bệnh cao huyết áp. Trong việc nấu ăn, muối ăn được sử dụng như là chất bảo quản cũng như là gia vị.
== Lịch sử ==
Khả năng bảo quản của muối là cơ sở của các nền văn minh. Nó góp phần loại bỏ sự phụ thuộc vào khả năng cung ứng thực phẩm theo mùa và cho phép con người có thể đi xa khỏi nơi cư trú mà không lo sợ thiếu thực phẩm. Vào thời Trung cổ, các đoàn lữ hành cùng với khoảng 40.000 lạc đà đã đi tới 4.000 dặm xuyên qua Sahara có chở theo muối, đôi khi để trao đổi lấy nô lệ. Cho đến những năm đầu thế kỷ 20, muối vẫn còn là một trong các động cơ chủ yếu của các nền kinh tế và các cuộc chiến tranh. Muối đóng một vai trò nổi bật trong việc xác định quyền lực và sự phân bổ vị trí của các thành phố lớn nhất trên thế giới. Timbuktu đã từng là một trong các thị trường muối lớn nhất. Liverpool phát triển từ một cảng nhỏ của Anh để trở thành hải cảng xuất khẩu chủ yếu đối với các loại muối mỏ được khai thác từ mỏ muối lớn Cheshire và vì thế trở thành nguồn của muối thế giới trong những năm thế kỷ 19. Muối đã tạo ra và hủy diệt các vương quốc. Các mỏ muối ở Ba Lan đã dẫn tới sự ra đời của hoàng loạt các vương quốc trong thế kỷ 16, và chỉ bị tiêu diệt khi người Đức đưa ra loại muối biển (thông thường, đối với phần lớn trên thế giới, được coi là 'hơn hẳn' muối mỏ). Người Venezuela đã đánh nhau và giành thắng lợi trong cuộc chiến với người Genova về vấn đề muối. Tuy nhiên, người Genova mới là người giành thắng lợi cuối cùng. Những công dân Genova như Christopher Columbus và Giovanni Caboto đã "phá hủy" thương mại ở Địa Trung Hải bằng việc giới thiệu Tân Thế giới đối với thị trường. Muối đã từng là một trong số các hàng hóa có giá trị nhất đối với loài người. Muối đã từng bị đánh thuế có lẽ từ thế kỷ 20 TCN ở Trung Quốc. Trong thời kỳ Đế chế La Mã, muối đôi khi được sử dụng như là đơn vị tiền tệ, và có lẽ là nguồn gốc của từ salary ("salt money"-tức tiền muối, xem dưới đây từ nguyên học). Cộng hòa La Mã và Đế chế La Mã đã kiểm soát giá muối, tăng nó để có tiền cho các cuộc chiến hay giảm nó để đảm bảo cho các công dân nghèo nhất cũng có thể dễ dàng có được phần quan trọng trong khẩu phần thức ăn này. Trong tiến trình lịch sử, muối ăn đã có ảnh hưởng tới diễn biến các cuộc chiến, chính sách tài chính của các nhà nước và thậm chí là sự khởi đầu của các cuộc cách mạng. Tại đế chế Mali, các thương nhân ở Timbuktu thế kỷ 12 - cánh cửa tới sa mạc Sahara và trung tâm văn học - đánh giá muối có giá trị đến mức chỉ có thể mua nó theo trọng lượng tính đúng bằng trọng lượng của vàng; việc kinh doanh này dẫn tới truyền thuyết về sự giàu có khó tưởng tượng nổi của Timbuktu và là nguyên nhân dẫn tới lạm phát ở châu Âu, là nơi mà muối được xuất khẩu tới. Thời gian sau này, ví dụ trong thời kỳ đô hộ của người Anh thì việc sản xuất và vận chuyển muối đã được kiểm soát ở Ấn Độ như là các biện pháp để thu được nhiều tiền thuế. Điều này cuối cùng đã dẫn tới cuộc biểu tình muối ở Dandi, do Mahatma Gandhi dẫn đầu vào năm 1930 trong đó hàng nghìn người Ấn Độ đã ra biển để sản xuất muối cho chính họ nhằm phản đối chính sách thuế của người Anh. Việc buôn bán muối dựa trên một thực tế — nó đem lại nhiều lợi nhuận hơn khi bán các thực phẩm có chứa muối chứ không phải chính muối. Trước khi các mỏ muối ở Cheshire được phát hiện thì việc kinh doanh khổng lồ các loại cá của người Anh đối với muối của người Pháp đã từng tồn tại. Điều này không phải là sự hòa hợp tốt đẹp cho mỗi quốc gia khi họ không muốn phụ thuộc vào nhau. Cuộc tìm kiếm cá và muối đã dẫn tới cuộc chiến tranh bảy năm giữa hai nước. Với sự kiểm soát của người Anh đối với nghề muối ở Bahamas và cá tuyết Bắc Mỹ thì tầm ảnh hưởng của họ đã tăng lên nhanh chóng trên thế giới. Việc tìm kiếm các mỏ dầu vào cuối thế kỷ 19 và đầu thế kỷ 20 đã sử dụng các công nghệ và phương thức mà những người khai thác muối đã dùng, thậm chí đến mức mà họ tìm kiếm dầu ở những nơi có các mỏ muối.
== Các dạng muối ăn ==
=== Muối thô ===
Một số người cho rằng muối thô tốt hơn cho sức khỏe hay tự nhiên hơn. Tuy nhiên muối thô có thể chứa không đủ lượng i-ốt cần thiết để phòng ngừa một số bệnh do thiếu i-ốt như bệnh bướu cổ.
=== Muối tinh ===
Muối tinh, được sử dụng rộng rãi hiện nay, chủ yếu là chứa clorua natri (NaCl). Tuy nhiên, chỉ có khoảng 7% lượng muối tinh được sử dụng trong đời sống hàng ngày như là chất thêm vào thức ăn. Phần lớn muối tinh được sử dụng cho các mục đích công nghiệp, từ sản xuất bột giấy và giấy tới việc hãm màu trong công nghệ nhuộm vải hay trong sản xuất xà phòng và chất tẩy rửa và nó có một giá trị thương mại lớn.
Việc sản xuất và sử dụng muối là một trong những ngành công nghiệp hóa chất lâu đời nhất. Muối có thể thu được bằng cách cho bay hơi nước biển dưới ánh nắng trong các ruộng muối. Muối thu được từ nước biển đôi khi còn được gọi là muối biển. Ở những nước có mỏ muối thì việc khai thác muối từ các mỏ này có thể có giá thành thấp hơn. Các mỏ muối có lẽ được hình thành do việc bay hơi nước của các hồ nước mặn cổ. Việc khai thác các mỏ muối này có thể theo các tập quán thông thường hay bằng cách bơm nước vào mỏ muối để thu được nước muối có độ bão hòa về muối.
Sau khi thu được muối thô, người ta sẽ tiến hành các công nghệ làm tinh để nâng cao độ tinh khiết cũng như các đặc tính để dễ dàng vận chuyển, lưu giữ. Việc làm tinh muối chủ yếu là tái kết tinh muối. Trong quá trình này người ta sẽ làm kết tủa các tạp chất (chủ yếu là các hợp chất của magiê và canxi). Quá trình bay hơi nhiều công đoạn sau đó sẽ được sử dụng để thu được clorua nátri tinh khiết và nó được làm khô.
Các chất chống đóng bánh hoặc iốtua kali (KI) (nếu làm muối iốt) sẽ được thêm vào trong giai đoạn này. Các chất chống đóng bánh là các hóa chất chống ẩm để giữ cho các tinh thể muối không dính vào nhau. Một số chất chống ẩm được sử dụng là tricanxi phốtphát, cacbonat canxi hay magiê, muối của các axít béo, ôxít magiê, điôxít silic, silicat nátri-nhôm, hay silicat canxi-nhôm. Cũng lưu ý rằng có thể có độc tính của nhôm trong hai hóa chất sau cùng, tuy nhiên cả liên minh châu Âu (EU) và FDA của Mỹ vẫn cho phép sử dụng chúng với một liều lượng có điều chỉnh.
Muối tinh sau đó được đóng gói và phân phối theo các kênh thương mại.
=== Muối iốt ===
Muối ăn ngày nay là muối tinh, chứa chủ yếu là clorua nátri nguyên chất (95% hay nhiều hơn). Nó cũng chứa các chất chống ẩm. Thông thường nó được bổ sung thêm iốt dưới dạng của một lượng nhỏ iốtua kali. Nó được sử dụng trong nấu ăn và làm gia vị. Muối ăn chứa iốt làm tăng khả năng loại trừ các bệnh có liên quan đến thiếu hụt iốt. Iốt là chất quan trọng trong việc ngăn chặn việc sản xuất không đủ của các hoóc môn tuyến giáp, thiếu iốt là nguyên nhân của bệnh bướu cổ hay chứng đần ở trẻ em và chứng phù niêm ở người lớn.
== Các ứng sức khỏe ==
Natri là một trong những chất điện giải cơ bản trong cơ thể. Quá nhiều hay quá ít muối ăn trong ăn uống có thể dẫn đến rối loạn điện giải, có thể dẫn tới các vấn đề về thần kinh rất nguy hiểm, thậm chí có thể gây chết người. Việc sử dụng quá nhiều muối ăn còn liên quan đến bệnh cao huyết áp.
Các chất thay thế cho muối ăn (với mùi vị tương tự như muối ăn thông thường) cho những người cần thiết phải hạn chế ion natri Na+ trong cơ thể, chủ yếu là chứa clorua kali (KCl).
== Lợi ích khác của muối ==
Muối dùng để ướp các thực phẩm tươi sống như cá, tôm, cua, thịt trước khi chế biến để tránh bị ươn, hư, dùng làm chất bảo quản cho các thực phẩm, để làm một số món ăn như muối dưa, muối cà, làm nước mắm,... Do có tính sát trùng nên muối ăn còn được pha loãng làm nước súc miệng hay rửa vết thương ngoài da.
Muối ăn không chỉ dùng để ăn mà còn dùng cho các việc khác trong ngành công nghiệp đặc biệt là ngành hóa chất:
2NaCl + 2H2O (điện phân dung dịch có màng ngăn)-> 2NaOH + H2 + Cl2
NaOH dùng làm điều chế xà phòng, công nghiệp giấy. H2 làm nhiên liệu, bơ nhân tạo, sản xuất axit. Cl2 sản xuất chất dẻo, chất diệt trùng và sản xuất HCl
NaCl (điện phân nóng chảy) -> Na + 1/2Cl2
Na điều chế hợp kim, chất trao đổi nhiệt,chất tẩy rửa
2NaOH + Cl2 -> NaCl + NaClO + H2O
NaClO là chất sản xuất tẩy rửa, diệt trùng
NaClO + H2O + CO2 -> NaHCO3 + HClO
NaHCO3 dùng để sản xuất thủy tinh, xà phòng, chất tẩy rửa tổng hợp
== Xem thêm ==
muối
== Tham khảo ==
== Liên kết ngoài ==
Natri Clorua tại Từ điển bách khoa Việt Nam
Salt (NaCl) (sodium chloride) tại Encyclopædia Britannica (tiếng Anh)
International Council for the Control of Iodine Deficiency Disorders
Salt Institute |
truyền thuyết arthur.txt | Truyền thuyết Arthur (tiếng Anh: Arthurian legend) là dụng ngữ mô tả hệ thống dật sự xoay quanh nhân vật vua Arthur, xuất hiện ở trung đại trung thế kỷ với mục đích gầy dựng bộ quy tắc hiệp sĩ cho các nhóm Thập Tự quân.
== Xem thêm ==
Danh sách nhân vật trong Truyền Thuyết Arthur
Bộ quy tắc hiệp sĩ
Kị sĩ Bàn Tròn
Chén Thánh
Excalibur
== Tham khảo ==
Derek Pearsall, Arthurian Romance: a short introduction, Blackwell, Oxford, 2005
D. H. Green, The Beginnings of Medieval Romance: Fact and fiction, 1150-1220, CUP Cambridge 2005
Carol Dover (ed), A Companion to the Lancelot-Grail Cycle, Boydell & Brewer, 2005
Historia Britonum (Latin) at The Latin Library
Historia Britonum (English)
Brut by Layamon (Middle English)
The Chronicles of England, Scotland, and Ireland by Raphael Holinshed (partial)
The History of Britain by John Milton
The Camelot Project contains a large selection of Arthurian etexts from the sixth to the early 20th century |
ipod.txt | iPod là dòng máy nghe nhạc của Apple. Các loại iPod ban đầu thường có giao diện đơn giản với trung tâm ở bánh trượt (trừ iPod shuffle). iPod hiện nay gồm 4 dòng chính: loại siêu nhỏ iPod Shuffle, loại trung iPod Nano, loại cảm ứng iPod Touch (gần giống iPhone), loại ổ cứng iPod Classic. iPod Classic sử dụng ổ cứng gắn liền làm bộ nhớ, còn lại đều sử dụng ổ flash. Đa phần như những máy nghe nhạc khác, iPod có thể làm thiết bị lưu trữ dữ liệu khi gắn vào máy tính. Những loại iPod bị gián đoạn kể cả hai thế hệ iPod mini phổ biến và bốn thế hệ iPod lớn bình thường, tất cả có màn đơn sắc, trừ ra iPod thế hệ thứ tư có màn hình màu (đầu tiên được bán dưới tên iPod photo trước khi nó thay cho iPod đơn sắc làm loại iPod chính).
Theo tháng 1 năm 2006, đội hình bao gồm iPod thế hệ thứ năm có thể chơi video, iPod nano với màn màu, và iPod shuffle; cả ba được phát hành năm 2005. Hiện nay iPod là máy nghe nhạc nén phổ biến nhất. Phần mềm bên cạnh iPod dùng để truyền nhạc, hình ảnh, và video lên tới iPod được gọi iTunes. iTunes là chương trình chơi nhạc mà lưu giữ thư viện đựng cả âm nhạc trên máy của người dùng, và cũng có thể chơi và sao chép nhạc từ CD. Những loại iPod và phiên bản iTunes mới nhất có tính năng chơi video. Có thể lưu giữ định dạng khác vào iPod, làm nó thành đĩa cứng bên ngoài.
Tháng 2 năm 2006, iPod là máy nghe nhạc số phổ biến nhất ở Mỹ, với thị phần chiếm hơn 70% và 42 triệu máy iPod đã được bán.
iPod luôn là sản phẩm được ưa chuộng, tuy nhiên doanh số bán ra của iPhone và iPad đã vượt qua iPod trong những năm gần đây(2012-2013).
== Các dòng iPod ==
=== iPod Classic ===
==== iPod thế hệ 1 (23/10/2001) ====
iPod thế hệ 1 đánh dấu sự ra đời của thương hiệu máy nghe nhạc iPod. Hệ máy đầu tiên này được Apple cho ra mắt vào ngày 23 tháng 10 năm 2001. Thế hệ đầu tiên này dùng màn hình đen trắng, sử dụng hệ thống điều khiển với các nút bấm vật lý (scroll wheel) và ra mắt dưới 2 phiên bản dung lượng bộ nhớ là 5GB và 10GB. Với phiên bản 5GB, nó có thể lưu trữ khoảng 1000 bài nhạc mp3 chất lượng 160kb/s, pin có thời lượng 10 tiếng. Tại thời điểm đó, Apple bán ra bản 5GB với giá 400USD, bản 10GB là 500USD.
==== iPod thế hệ 2 (17/07/2002) ====
Vào năm 2002, Apple nâng cấp iPod lên thế hệ cao hơn. Kiểu dáng của phiên bản này tương tự bản trước đó. Ngoài nâng cấp về dung lượng bộ nhớ từ 5GB & 10GB lên thành 10GB & 20GB thì iPod thế hệ thứ hai còn có thêm chức năng cảm ứng đi kèm với nút bấm vật lý. Cả hai thế hệ đầu này đều dùng cổng kết nối Firewire chứ chưa dùng chuẩn kết nối USB thông thường.
==== iPod thế hệ 3 (28/04/2003) ====
Một năm sau đó, Apple ra mắt thế hệ 3 của iPod với nhiều mức dung lượng bộ nhớ hơn: 10GB, 15GB, 20GB, 30GB và 40GB. Ở phiên bản này, các nút chức năng như chạy/tạm dừng, chuyển bài...đã được chuyển lên một hàng phía trên bàn rê cảm ứng. Thời gian sử dụng pin của iPod thế hệ 3 đã giảm từ 10 tiếng xuống còn 8 tiếng do Apple chuyển sang dùng loại pin Li-ion thay vì Li-polymer. Tháng 9 năm 2003, Apple phát hành phần mềm iTunes phiên bản dành cho HĐH Windows của Microsoft, giúp các máy iPod có thể kết nối và đồng bộ với Windows.
==== iPod thế hệ 4 (19/07/2004) ====
iPod Photo
Từ phiên bản mới này, các nút bấm vật lý đã bị loại bỏ hoàn toàn. Thay vào đó nó thừa hưởng công nghệ cảm ứng clickwheel từ iPod Mini, cùng với đó là thiết kế đẹp hơn, mỏng và nhẹ hơn. iPod thế hệ này có 2 mức dung lượng là 20GB và 40GB. Hai phiên bản khác của iPod thuộc thế hệ 4 cũng được Apple giới thiệu đó là iPod Photo và iPod Color với màn hình màu và khả năng xem ảnh, mức dung lượng lớn nhất đạt 60GB.
==== iPod thế hệ 5 (12/10/2005) ====
iPod thế hệ 5 là đợt nâng cấp đánh dấu bước ngoặt của Apple, nó có thiết kế khác các bản trước đó với màn hình to hơn, mỏng và nhẹ hơn cùng với khả năng chơi video. Năm 2006, Apple nâng cấp dung lượng bộ nhớ cho thế hệ này lên cao nhất là 80GB (trước đó là 60GB) đi kèm với bản 30GB. Năm 2005 cũng là năm đánh dấu thời điểm Apple trang bị màn hình màu cho toàn bộ dòng iPod (trừ Shuffle không có màn hình).
==== iPod Classic thế hệ 6 (05/09/2007) ====
Đây là hệ máy đánh dấu tên gọi "Classic" được Apple đưa vào sử dụng. Với nhiều thay đổi đáng kể như vỏ hợp kim nhôm, màu bạc thay thế trắng, giao diện người dùng mới và ra mắt dưới 3 phiên bản gồm 80GB, 120GB và 160GB, giúp thỏa mãn các tín đồ nhạc số di động. Ngoài những cải tiến bên ngoài, thời lượng pin cũng nâng cao đáng kể, phiên bản 160GB có thời gian sử dụng khoảng 40 tiếng cho nghe nhạc và 6 tiếng chơi video. Tới nay, Apple chưa ra mắt thế hệ tiếp theo của dòng iPod Classic này vì vậy thế hệ 6 là mới nhất bây giờ, vả lại với những tính năng mà Apple trang bị cho nó thì chưa cần thiết để nâng cấp dòng iPod lâu đời nhất này.
=== iPod Mini ===
Đúng với tên gọi, Mini là hệ máy iPod nhỏ nhất của "quả táo" tại thời điểm ra mắt (2004). Chỉ có vỏn vẹn hai phiên bản ra mắt năm 2004 và 2005 với dung lượng bộ nhớ là 4GB và 6GB. iPod Mini là chiếc máy đầu tiên mà "quả táo" trang bị tính năng điều khiển cảm ứng (clickwheel), công nghệ này hiện vẫn đang được Apple sử dụng nhờ tính hiệu quả và đơn giản.
=== iPod Nano ===
Nếu đầu năm 2005, Apple ra mắt iPod Mini thế hệ 2 thì cuối năm, họ lập tức giới thiệu chiếc iPod Nano đầu tiên, đây là dòng máy thay thế Mini của Apple. Tính đến nay, iPod Nano trải qua 7 thế hệ với đủ màu sắc thời trang khác nhau.
==== iPod Nano thế hệ 1 (07/09/2005) ====
Apple quảng cáo Nano có độ mỏng chỉ như một chiếc bút chì và nhỏ tí hon. iPod Nano thế hệ 1 là chiếc iPod đầu tiên dùng bộ nhớ flash, nhờ đó giảm thiểu kích thước của iPod trong khi dung lượng không hề giảm. Thế hệ 1 có hai màu đen và trắng gồm các phiên bản 1GB, 2GB và 4GB, màn hình màu, thời gian chơi nhạc đạt 24 tiếng.
==== iPod Nano thế hệ 2 (12/09/2006) ====
Một năm sau, iPod thế hệ 2 ra mắt với nhiều màu sắc hơn (6 màu). Vỏ nhựa của thế hệ trước bị thay bằng vỏ nhôm, một kiểu thiết kế truyền thống của Apple sau này. Nó hiện diện dưới 3 phiên bản 2GB, 4GB và 8GB.
==== iPod Nano thế hệ 3 (05/09/2007) ====
Thế hệ Nano này được trang bị công nghệ màn hình QVGA với kích thước 2", clickwheel thiết kế nhỏ hơn, giao diện người dùng mới (cover flow) và khả năng chơi video. Nó có 2 phiên bản 4GB và 8GB, thời gian dùng pin là 24 tiếng.
==== iPod Nano thế hệ 4 (09/09/2008) ====
Giống như iPhone, iPod Nano thế hệ này được tích hợp gia tốc kế, giúp việc xem ảnh, video ngang màn hình dễ dàng hơn. Vỏ ngoài làm từ nhôm và gồm 9 phiên bản màu sắc khác nhau với các mức dung lượng bộ nhớ là 4GB, 8GB, 16GB.
==== iPod Nano thế hệ 5 (09/09/2009) ====
Nano giờ đây có thể quay video
Thế hệ này đánh dấu sự tiến hóa của dòng máy nghe nhạc iPod với khả năng quay video. Ngoài ra, nó còn có màn hình lớn hơn, đài FM tích hợp, loa ngoài và vỏ ngoài được sơn bóng bắt mắt hơn. Phiên bản 4GB của thế hệ 4 đã bị loại bỏ, chỉ còn 8GB và 16GB.
Sản phẩm ngừng bán vào 1/9/2010
==== iPod Nano thế hệ 6 (01/09/2010) ====
Với kích thước siêu nhỏ so với các đời trước đây, chỉ vào khoảng 1.48 x 1.61 x 0.35 inch, iPod Nano thế hệ 6 gây sốc với không ít người hâm mộ. Thay thế cho hệ thống phím điều khiển clickwheel vốn đã tồn tại trên các đời Nano cũ là màn hình cảm ứng đa chạm 1,54 inch (240 x 240 pixel). iPod Nano mới còn đi kèm với tính năng radio FM tích hợp và pin sử dụng liên tục 24 giờ
Apple phát hành iPod Nano đời mới với 7 màu sắc khác nhau dành cho 2 phiên bản bộ nhớ 8GB và 16GB với giá lần lượt là 129 và 149usd
==== iPod Nano thế hệ 7 (12/09/2012) ====
Chiếc iPod Nano thế hệ mới xuất hiện với thiết kế như một chiếc iPhone tí hon. "Đây là máy nghe nhạc iPod Nano nhất. máy có màn hình 2,5 inch cảm ứng đa điểm với một phím Home như iPhone, các phím điều khiển nhạc nằm ở sườn trái. Một điều rất hấp dẫn là iPod Nano có tới 7 màu sắc khác nhau. Tích hợp FM, hỗ trợ Bluetooth là những điểm nhấn trên sản phẩm nghe nhạc mới của Apple.Máy chỉ có phiên bản 16 gb với giá 149usd
=== iPod Shuffle ===
Nếu như iPod Classic, iPod Nano có màn hình thì Shuffle là chiếc máy nhỏ gọn không có màn hình. Nó là dòng iPod nhỏ nhất của Apple, thế hệ mới nhất chỉ nhỉnh hơn chiếc USB một chút. Nhờ đó có thể kẹp vào áo, quần dễ dàng, không nặng và vướng như iPod Classic.
==== iPod Shuffle thế hệ 1 (11/01/2005) ====
Shuffle được Apple trang bị cổng kết nối USB, có thể cắm trực tiếp vào máy tính. Vì không có màn hình nên Shuffle được bán với mức giá dễ chịu hơn các dòng khác. Bản 512MB có giá 100USD, bản 1GB là 150USD tại thời điểm ra mắt. Ngoại trừ iPod Classic, từ phiên bản này trở đi thì Apple bắt đầu dùng bộ nhớ flash cho các dòng iPod giúp giảm kích thước của máy đáng kể.
==== iPod Shuffle thế hệ 2 (12/09/2006) ====
Nếu thế hệ 1 có thiết kế dạng thanh thì thế hệ 2 này có hình chữ nhật và được tích hợp chiếc kẹp nhỏ phía sau máy. Có hai phiên bản 1GB và 2GB được Apple giới thiệu. Sau này, Apple còn thêm cho chiếc Shuffle thế hệ 2 này 4 màu sắc khác nhau, không chỉ là một màu đơn thuần nữa.
==== iPod Shuffle thế hệ 3 (11/03/2009) ====
Thế hệ này lại quay về kiểu dáng gần giống thế hệ Shuffle đầu tiên, dạng thanh dài, tương tự một chiếc USB và trên thân máy không có nút bấm. Nó có thêm chức năng điều khiển bằng giọng nói (Voice Over) giúp việc chọn bài hát dễ dàng hơn rất nhiều. Đây là thế hệ Shuffle với hai bản 2GB và 4GB, thời lượng pin là 10 tiếng.
==== iPod Shuffle thế hệ 4 (01/09/2010) ====
iPod Shuffle mới có thiết kế cực kỳ nhỏ gọn với kiểu dáng vuông vắn. Điểm đáng chú ý trên phiên bản Shuffle thứ tư vừa ra mắt là sự trở lại của hệ thống phím bấm điều khiển tương tự như các mẫu Shuffle thế hệ đầu tiên và thứ hai. iPod Shuffle mới có 5 màu sắc khác nhau, thời lượng pin sử dụng 15 giờ và giá bán 49 USD cho phiên bản 2gb duy nhất.
=== iPod Touch ===
Touch là dòng máy cao cấp nhất trong đại gia đình iPod, có thiết kế tương tự iPhone. Cho tới bây giờ iPod Touch đã trải qua 5 lần thay đổi, mỗi lần đều được Apple thêm vào một vài nâng cấp: Bluetooth, quay phim HD, màn hình Retina,... Nhiều người gọi đây là bản sao của iPhone mà họ có thể mua không cần hợp đồng 2 năm với nhà mạng.
==== iPod Touch thế hệ 1 (05/09/2007) ====
Thế hệ đầu tiên này được ra mắt cùng năm với iPhone. Được tích hợp công nghệ cảm ứng đa chạm nổi tiếng của Apple, kết nối wifi và một thiết kế sang trọng, bắt mắt. Bề ngoài của iPod Touch hoàn toàn giống iPhone và chức năng bên trong cũng gần như tương tự. Thế hệ đầu có các phiên bản 8GB, 16GB và 32GB.
==== iPod Touch thế hệ 2 (09/09/2008) ====
Một năm sau đó Apple nâng cấp chiếc iPod Touch lên thế hệ 2 với dung lượng bộ nhớ giữ nguyên, vỏ sau được mạ crom sáng bóng. Thời lượng dùng pin cũng được cải thiện đáng kể, nếu thế hệ trước có thể dùng được 22 tiếng nghe nhạc thì ở thế hệ này tăng lên thành 36 tiếng.
==== iPod Touch thế hệ 3 (09/09/2009) ====
Sự kiện "999" của Apple là nơi chiếc iPod Nano thế hệ 5 được giới thiệu, cùng với đó Apple cũng nâng cấp iPod Touch lên thế hệ 3 mới hơn. Những đặc điểm được nâng cấp như đồ họa được cải thiện, 2 phiên bản bộ nhớ lớn hơn, 32GB và 64GB.
==== iPod Touch thế hệ 4 (01/09/2010) ====
iPod thế hệ thứ tư là mẫu iPod có cấu hình và tính năng gần giống với iPhone 4 nhất, khi được trang bị cả camera quay phim HD lẫn camera Face Time,màn hình retina...Đây là mẫu iPod Touch đầu tiên có trang bị camera(2mp).Máy có phiên bản 8,16,32 và 64gb.
==== iPod Touch thế hệ 5 (12/09/2012) ====
iPod Touch thế hệ thứ 5 là sản phẩm sở hữu những thiết kế tương tự như iPhone 5 như màn hình 4 inch...và camera được nâng cấp lên 5mp,có thêm đèn flash. Chiếc máy nghe nhạc này gây ấn tượng khi mỏng chỉ 6,1 mm, mảnh mai hơn cả iPhone 5. Đây là chiếc iPod Touch mỏng và nhẹ nhất từ trước đến nay.Điều gây bất ngờ nhất là iPod Touch thế hệ mới được tích hợp Siri.iPod Touch mới có tới 5 tùy chọn màu sắc khác nhau ở mặt lưng,có thêm phụ kiện để đeo tay và chống rơi khá đặc biệt.Máy được bán với giá lần lượt là 229,299 và 399 usd cho phiên bản 16,32 và 64gb.
== Thời điểm phát hành ==
Tháng 10 năm 2001: iPod (scroll wheel), 5/10 GB
Tháng 7 năm 2002: iPod (touch wheel), 10/20 GB
Tháng 4 năm 2003: iPod (Dock Connector), 10/15/20/30/40 GB
Tháng 1 năm 2004: iPod Mini, 4 GB
Tháng 7 năm 2004: iPod (click wheel), 20/40 GB
Tháng 10 năm 2004: iPod U2 Special Edition, 20 GB - iPod Photo, 30/40/60 GB
Tháng 1 năm 2005: iPod Shuffle, 512 MB/1 GB
Tháng 2 năm 2005: iPod Mini (2. generation), 4/6 GB
Tháng 5 năm 2005: iPod (màn hình màu), 20/60 GB - iPod U2 Special Edition (màn hình màu), 20 GB
Tháng 9 năm 2005: iPod Nano, 1/2/4 GB
Tháng 10 năm 2005: iPod (5. generation), 30/60 GB
Tháng 10 năm 2006: iPod U2 Special Edition (5. generation), 30 GB
Tháng 9 năm 2006: iPod nano 2G,ipod shuffle 2G, iPod video 80 GB
== Hình ảnh ==
== Tham khảo ==
== Liên kết ngoài ==
Apple iPod – Trang chủ của Apple
iPodLinux – iPod với Linux |
tập đoàn tân tạo.txt | Tập đoàn Tân Tạo (TANTAO GROUP) bao gồm Công ty cổ phần đầu tư công nghiệp Tân Tạo, tên viết tắt là ITACO, có tên tiếng Việt khi mới thành lập là Công ty cổ phần đầu tư khu công nghiệp Tân Tạo, tên tiếng Anh là Tan Tao Investment & Industry Corporation là một doanh nghiệp phát triển khu công nghiệp và cơ sở hạ tầng hàng đầu tại Việt Nam. Công ty được thành lập vào ngày 14 tháng 11 năm 1996 và vào ngày 15 tháng 11 năm 2006, cổ phiếu của công ty được chính thức niêm yết trên Sở Giao dịch Chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh với mã chứng khoán là ITA. Công ty là một trong 9 doanh nghiệp hàng đầu của Việt Nam được chọn gia nhập chỉ số chứng khoán Russell Global Index và là một trong 10 công ty có giá trị vốn hóa lớn và tính thanh khoản tốt nhất Việt Nam hiện nay được lựa chọn tính toán trong chỉ số S&P Vietnam 10 Index. Theo bảng xếp hạng 1000 doanh nghiệp nộp thuế thu nhập doanh nghiệp lớn nhất Việt Nam năm 2011 được Công ty Vietnam Report phối hợp với báo VietNamNet và tạp chí Thuế công bố, Công ty cổ phần đầu tư công nghiệp Tân Tạo xếp thứ 129 và xếp thứ 35 trong danh sách 200 doanh nghiệp tư nhân đóng thuế thu nhập lớn nhất 2011 .
== Lịch sử ==
Tập đoàn Tân Tạo được thành lập năm 1993 tại Thành phố Hồ Chí Minh có tên ban đầu là Công ty TNHH Hoàng Yến, tiền thân của Tập đoàn Tân Tạo ngày nay.
Chủ tịch Hội đồng quản trị Tập đoàn Tân Tạo từ khi thành lập đến nay là bà Đặng Thị Hoàng Yến.
Công ty cổ phần đầu tư công nghiệp Tân Tạo thành lập ngày 14 tháng 11 năm 1996 và khởi công xây dựng khu công nghiệp Tân Tạo trên diện tích 442 hecta tại huyện Bình Tân Thành phố Hồ Chí Minh vào ngày 3 tháng 2 năm 1997.
Ngày 14 tháng 7 năm 2001 Tập đoàn Tân Tạo khởi công xây dựng khu công nghiệp dệt may Nhơn Trạch 184 ha tại tỉnh Đồng Nai.
Ngày 14 tháng 11 năm 2001, tập đoàn Tân Tạo được trao tặng Huân chương Lao động hạng ba.
Ngày 14 tháng 11 năm 2003, khởi công xây dựng khu công nghiệp Tân Đức giai đoạn 1 trên diện tích 537 hecta tại tỉnh Long An
Ngày 14 tháng 11 năm 2005, Tập đoàn Tân Tạo nhận Huân chương Lao động hạng hai.
Ngày 14 tháng 11 năm 2006, Tập đoàn Tân Tạo khởi công xây dựng khu công nghiệp Nhơn Hội tại tỉnh Bình Định.
Ngày 15 tháng 11 năm 2006, ITACO chính thức được niêm yết trên Sở Giao dịch Chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh với mã niêm yết là ITA và đến nay đã trở thành một trong những cổ phiếu bluechip trên sàn chứng khoán Việt Nam.
Ngày 15 tháng 12 năm 2007, Tập đoàn Tân Tạo khởi công xây dựng khu công nghiệp Tân Đức giai đoạn 2 và khu đô thị Tân Đức trên diện tích 618 hecta
Ngày 8 và 9 tháng 1 năm 2008, tại hội nghị Việt Nam - Ngôi sao đang lên của châu Á được báo The Economist’ của nước Anh, ITACO và báo ‘Thế giới và Việt Nam’ phối hợp tổ chức, ITACO được Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Phú Trọng trao giải Siêu sao phát triển đất nước
== Cơ cấu tổ chức ==
Các công ty thành viên của Tập đoàn Tân Tạo :
Công ty Cổ phần Đầu tư & Công nghiệp Tân Tạo (ITACO) - www.itaexpress.com.vn
Công ty cổ phần đầu tư Tân Đức (TADICO)- www.tanduccity.com
Công ty cổ phần truyền thông Việt Nam: (Kênh truyền hình VBC)- www.vbc.com.vn
Công ty cổ phần đầu tư khai thác và cung cấp nước sinh hoạt ITA-Water
Công ty cổ phần đô thị Sài Gòn - Mêkông (Saigon-Mekong Science City)
Công ty TNHH Khai thác dịch vụ-kinh doanh văn phòng và nhà xưởng Tân Tạo (Taserco)
Công ty cổ phần đầu tư - tin học & tư vấn xây dựng Phương Nam (SEI)- www.southern-corp.com
Công ty xi măng Tân Tạo
Công ty Phát triển năng lượng Tân Tạo (TEDC)
Công ty cổ phần Năng lượng Tân Tạo (TEC)
Công ty cổ phần đầu tư - xây dựng và khai thác cầu đường (Ita-Ways)
Công ty cổ phần khai thác & phát triển kho vận Tân Tạo (Itatrans)
Công ty cổ phần Đầu tư và Phát triển Đô thị Tân Tạo (ITA.Ecity) www.ita-ecity.com
Đại học Tân Tạo (TTU) - www.ttu.edu.vn
== Lĩnh vực hoạt động chính của Tập đoàn Tân Tạo ==
Đầu tư, phát triển, xây dựng, khai thác thương mại các khu công nghiệp
Cung cấp các dịch vụ hỗ trợ trong khu công nghiệp bao gồm cả xúc tiến kinh doanh, cho thuê nhà xưởng, thiết bị xây dựng, văn phòng, cao ốc, trung tâm thương mại, các trang thiết bị.
Đầu tư, phát triển, xây dựng, khai thác hạ tầng thương mại bao gồm:
- Hệ thống giao thông, đường cao tốc:
- Hệ thống cảng biển và cảng sông, kho hải quan, vận chuyển hàng hóa, xúc tiến thương mại
- Các nhà máy thủy điện, nhiệt điện, phong điện, điện khí đốt
- Các nhà máy nước cung cấp nước sạch và xử lý nước thải, hệ thống cấp thoát nước
- Hệ thống truyền tải điện.
- Hệ thống truyền hình vô tuyến và truyền hình cáp, viễn thông,VOIP, Internet (ISP)…
Xây dựng và phát triển các khu đô thị, khu dân cư, khu du lịch, Phim trường.
Xuất nhập khẩu trực tiếp
Thành lập các trường dạy nghề
Lĩnh vực và quy mô hoạt động có thể thay đổi theo nghị quyết của Đại hội đồng Cổ đông.
Sản xuất gạo
Sản xuất điện
== Các dự án đầu tư ==
Khu công nghiệp:
Khu công nghiệp Tân Tạo: KCN Tân Tạo được thành lập năm 1996 tại quận Bình Tân, thành phố Hồ Chí Minh (cách trung tâm thành phố 12 km)có tổng diện tích 442 ha và là một trong các khu công nghiệp lớn nhất tại thành phố Hồ Chí Minh và cả khu vực phía Nam nói chung..
Khu công nghiệp Tân Đức: Vị trí nằm tại xã Đức Hòa Hạ, huyện Đức Hòa, tỉnh Long An. Quần thể Khu công nghiệp – Dân cư – Dịch vụ Tân Đức là một hệ thống kiến trúc hiện đại với tổng diện tích 1159ha..
Khu công nghiệp Nhơn Hội tại tỉnh Bình Định có tổng diện tích 630 ha
Khu công nghiệp Nhơn Trạch tại tỉnh Đồng Nai có tổng diện tích 184 ha.
Hạ tầng:
Cảng nước sâu Nam Du: Dự án Cảng biển nước sâu Nam Du có vốn đầu tư dự kiến khoảng 800 triệu USD, được chia thành 2 giai đoạn. Giai đoạn 1 với công suất 12 triệu T/năm (than) và 5 triệu tấn/năm (hàng tổng hợp), tiếp nhận tàu có trọng tải lên đến 80.000 DWT.Giai đoạn 2 là 50 triệu T/năm (than) và 12 triệu T/năm (hàng tổng hợp), tiếp nhận tàu có trọng tải lên đến 150.000-200.000 DWT..
Trường Đại học Tân Tạo: là một đại học tư thục của Việt Nam giảng dạy bằng tiếng Anh theo chương trình của đại học Duke danh tiếng của Hoa Kỳ, đặt tại Long An. Đây là trường với mục tiêu trở thành trường đại học Việt Nam đạt tiêu chuẩn quốc tế.
Năng lượng
Trung tâm điện lực Kiên Lương: Trung tâm điện lực Kiên Lương có công suất 4.400 MW đến 5.200 MW được xây dựng trên diện tích 555,9ha tại khu vực vịnh Ba Hòn, thị trấn Kiên Lương, huyện Kiên Lương, tỉnh Kiên Giang. Trung tâm Điện lực Kiên Lương đã được Thủ tướng Chính phủ, UBND tỉnh Kiên Giang và các Bộ, ngành liên giao cho Công ty Cổ phần Năng lượng Tân Tạo làm chủ đầu tư với tổng vốn đầu tư 6,7 tỉ USD . Trung tâm sẽ được xây dựng theo công nghệ đốt than công nghệ truyền thống được chia làm 3 giai đoạn: Giai đoạn 1: 1.200 MW, Giai đoạn 2: 1.200-2.000 MW, Giai đoạn 3: 2.000 MW.
== Hoạt động từ thiện ==
Tập đoàn Tân Tạo tham gia tích cực vào nhiều hoạt động từ thiện tại rất nhiều địa phương trong cả nước.
Ngày 30 tháng 9 năm 2007 tại Nhà hát lớn Hà Nội, Tập đoàn Tân Tạo đã ra mắt 3 quỹ từ thiện với sự tham dự của Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết gồm:
Quỹ ITA vì tương lai: Hỗ trợ các em học sinh nghèo học giỏi, giáo viên vùng sâu vùng xa có hoàn cảnh khó khăn
Quỹ ITA chiến thắng bệnh tật: Hỗ trợ các nạn nhân chất độc màu da cam và các bệnh nhân nghèo
Quỹ ITA hàn gắn vết thương: Hỗ trợ các bà mẹ Việt Nam anh hùng, các gia đình thương binh liệt sĩ, neo đơn, các đối tượng bị ảnh hưởng bởi thiên tai lũ lụt
Giải thưởng Hoa Trạng nguyên: Nhằm tôn vinh và khích lệ những tài năng trong học tập, đồng thời góp phần thúc đẩy phong trào phấn đấu rèn luyện trong học sinh, sinh viên vươn tới đỉnh cao, Tập đoàn Tân Tạo phối hợp cùng Ban Tuyên giáo trung ương, Bộ Giáo dục và đào tạo, Trung ương Đoàn TNCS Hồ Chí Minh... sáng lập Giải thưởng tuyên dương các học sinh đạt giải quốc tế, quốc gia, thủ khoa kỳ thi đầu vào các trường đại học, học viện và học sinh đạt thành tích học tập xuất sắc trong cả nước.
== Chú thích ==
== Liên kết ngoài ==
Trung tâm điện lực Kiên Lương.
Trang chủ Tập đoàn Tân Tạo
Đại Học Tân tạo - TTU
Công ty cổ phần viễn thông Tân Tạo (ITATelecom)
Công ty cổ phần khai thác & phát triển kho vận Tân Tạo (Itatrans)
Công ty cổ phần Đầu tư - Tin Học & Tư vấn xây dựng Phương Nam
Các khu đô thị E.city của Tập đoàn Tân Tạo |
liên minh miền nam hoa kỳ.txt | Liên minh miền Nam Hoa Kỳ hay Hợp bang miền Nam Hoa Kỳ (tiếng Anh: Confederate States of America, gọi tắt Confederate States, viết tắt: CSA) là chính phủ thành lập từ 11 tiểu bang miền nam Hoa Kỳ trong những năm Nội chiến (1861–1865).
Năm 1861 Abraham Lincoln đắc cử tổng thống và muốn thay đổi dự luật để xóa bỏ thể chế nô lệ. Bảy tiểu bang miền nam Hoa Kỳ phản đối chính sách cởi mở này và tuyên bố ly khai chính phủ liên bang, thành lập chính phủ riêng do Jefferson Davis làm tổng thống. Chính quyền Abraham Lincoln không công nhận chính phủ liên minh miền Nam này. Khi quân miền Nam tấn công đồn Sumter, Nội chiến Hoa Kỳ bùng nổ và thêm 4 tiểu bang khác gia nhập phe miền nam chống lại lực lượng Liên bang miền Bắc. Tuy các cường quốc châu Âu như Anh và Pháp lợi dụng cơ hội bán vũ khí và tàu chiến cho chính phủ miền Nam, chính phủ này không được quốc tế công nhận.
Chính phủ Liên minh miền Nam Hoa Kỳ tan rã sau khi hai đại tướng Robert E. Lee và Joseph Johnston của quân miền Nam đầu hàng quân miền Bắc vào tháng 4 năm 1865.
== Các tiểu bang thuộc Liên minh miền Nam ==
== Thành phần Chính phủ ==
== Tham khảo ==
== Liên kết ngoài ==
The McGavock Confederate Cemetery at Franklin, TN
Confederate offices Index of Politicians by Office Held or Sought
Civil War Research & Discussion Group -*Confederate States of Am. Army and Navy Uniforms, 1861
The Countryman, 1862-1866, published weekly by Turnwold, Ga., edited by J.A. Turner
The Federal and the Confederate Constitution Compared
The Making of the Confederate Constitution, by A. L. Hull, 1905.
Confederate Currency
Photographs of the original Confederate Constitution and other Civil War documents owned by the Hargrett Rare Book and Manuscript Library at the University of Georgia Libraries.
Photographic History of the Civil War, 10 vols., 1912.
DocSouth: Documenting the American South - numerous online text, image, and audio collections.
Confederate States of America: A Register of Its Records in the Library of CongressBản mẫu:Sơ khai lịch sử Hoa Kỳ |
câu lạc bộ bóng đá thanh hóa (cũ).txt | Câu lạc bộ bóng đá Thanh Hóa là đội bóng đá đã bị giải thể trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa. Đội bóng này có nhiều giai đoạn thành lập, giải thể, sáp nhập, tái lập và dùng lại tên.
== Lịch sử ==
=== Giai đoạn 1962 đến 1965 ===
Sau năm 1954, phong trào thể thao và bóng đá ở Thanh Hóa phát triển mạnh, dự định thành lập một đội bóng đá của tỉnh để làm nòng cốt phát triển phong trào bóng đá trong tỉnh.
Năm 1962, để làm nòng cốt phát triển phong trào bóng đá ban thể dục thể thao tỉnh Thanh Hóa (tiền thân của sở Văn hóa - thể thao - du lịch Thanh Hóa) đã thành lập Đội bóng đá Thanh niên Thanh Hóa, quy tụ các tài năng bóng đá được tuyển chọn từ các giải phong trào trong địa phương.
Cuối năm 1962 để giải quyết đầu ra cho vận động viên sau khi hoàn thành nhiệm vụ đá bóng, tỉnh Thanh Hóa đã quyết định chuyển đội bóng đá Thanh niên Thanh Hóa về nhà máy cơ khí Thanh Hóa để vận động viên vừa đá bóng vừa học nghề tại nhà máy với tên gọi mới là Đội bóng đá Cơ khí Thanh Hóa.
Năm 1965 tỉnh Thanh Hóa giải tán đội bóng đá Cơ khí Thanh Hóa và sáp nhập vào đội bóng đá Công an Thanh Hóa.
=== Giai đoạn 2000 đến 2010 ===
Trong những năm cuối thập niên 1990, niềm tự hào của bóng đá Thanh Hóa là đội Công an Thanh Hóa thi đấu không ổn định và bị giải thể vào năm 1994, các đội tuyển trẻ của Thanh Hóa, do Sở Thể dục thể thao Thanh Hóa quản lý và đào tạo vẫn đạt các thành tích tốt, như chức Vô địch Quốc gia của đội tuyển U19 Thanh Hóa vào năm 1997. Để vực dậy nền bóng đá đã sa sút, UBND tỉnh Thanh hóa đã quyết định thành lập Đoàn bóng đá Thanh Hóa.
Năm 2000, sở thể dục thể thao (tiền thân của sở Văn hóa - thể thao - du lịch Thanh Hóa) đã tái lập Đội bóng đá Thanh Hóa chơi ở giải bóng đá hạng nhì Việt Nam 2000 - 2001.
Ngày 11 tháng 5 năm 2005 đội bóng đá Thanh Hóa ký hợp đồng tài trợ 1,5 tỷ đồng với công ty liên doanh IBD và quyết định ghép tên Halida cũng như đổi tên thành Câu lạc bộ bóng đá Halida Thanh Hóa.
Năm 2008, từ giai đoạn 2 của V-League 2008, tài trợ của đội chuyển giao cho Tập đoàn Công Thanh tiếp nhận và đội chuyển sang cái tên mới Câu lạc bộ bóng đá Xi măng Công Thanh Thanh Hóa.
Ngày 25 tháng 6 năm 2009, nhà tài trợ Xi măng Công Thanh rút tài trợ khi chưa hết mùa giải. Câu lạc bộ bóng đá Xi măng Công Thanh Thanh Hóa được chuyển giao về ủy ban nhân dân tỉnh Thanh Hóa và chính thức được dùng tên gọi Câu lạc bộ bóng đá Thanh Hóa lần đầu tiên bởi quyết định số 3339/QĐ-UBND phó Chủ tịch ủy ban nhân dân tỉnh Thanh Hóa Vương Văn Việt ký ngày 29 tháng 9 năm 2009..
Ngày 18 tháng 1 năm 2010, ông Vương Văn Việt phó chủ tịch ủy ban nhân dân tỉnh Thanh Hóa ký quyết định giải tán câu lạc bộ bóng đá Thanh Hóa và sáp nhập vào câu lạc bộ bóng đá Lam Sơn Thanh Hóa (nay là câu lạc bộ bóng đá FLC Thanh Hóa)..
=== Dùng lại tên sau giải thể ===
Từ đầu mùa giải bóng đá vô địch quốc gia 2011 đến hết giai đoạn 1 mùa giải bóng đá vô địch quốc gia 2015, công ty Cổ phần bóng đá Thanh Hóa đã sử dụng lại tên gọi câu lạc bộ bóng đá Thanh Hóa cho đội bóng thuộc quyền quản lý của họ. Bắt đầu từ vòng 13 V-League 2015 khi đội bóng này bắt đầu chuyển giao chủ sở hữu thì đã bỏ không còn dùng tên gọi câu lạc bộ bóng đá Thanh Hóa nữa mà chuyển dùng tên gọi câu lạc bộ bóng đá FLC Thanh Hóa.
== Thành tích ==
=== Đội hình chính thức ===
V-League 1
V-League 2
Hạng nhì
=== Đội trẻ ===
Giải vô địch U19 quốc gia Việt Nam
Vô địch (1): 1997
== Logo của câu lạc bộ ==
== Các cầu thủ và huấn luyện viên nổi tiếng ==
=== Cầu thủ ===
Tăng Ngọc Thái
Nguyễn Ngọc Xuất
Nguyễn Hồng Quân
Lê Thiết Hùng
Lương Vũ Thanh (Thanh Em)
Nguyễn Quang Lâm
Văn Lâm
Lê Đăng Tiến
Phạm Như Thuần
Lê Hồng Minh
Mai Tiến Thành
Mai Xuân Hợp
Hoàng Thanh Tùng
Đồng Huy Thái
Ukraina Mykola Oleksandrovych Lytovka
Kenya Rodgers Omusulah Nandwa
Hoàng Đình Tùng
=== Các huấn luyện viên trong lịch sử ===
== Xem thêm ==
Câu lạc bộ bóng đá Thanh Hóa
Câu lạc bộ bóng đá Công an Thanh Hóa
== Liên kết ngoài ==
Website tự phát của cổ động viên bóng đá Thanh Hóa
Diễn đàn tự phát của cổ động viên bóng đá xứ Thanh
== Ghi chú == |
bắc bộ phủ.txt | Bắc Bộ phủ là ngôi nhà hai tầng ở số 12 phố Ngô Quyền, Hà Nội. Đây là từng là nơi đặt trụ sở chính quyền Bắc kỳ, và là một di tích lịch sử của Việt Nam.
== Lịch sử ==
Thời thuộc Pháp, tòa nhà này là Phủ thống sứ Bắc Kỳ.
Sau khi Nhật đảo chính Pháp (9 tháng 3 năm 1945), tòa nhà được đổi thành Phủ khâm sai Bắc Kỳ.
Trong Cách mạng tháng Tám, ngày tổng khởi nghĩa ở Hà Nội (19 tháng 8 năm 1945), lực lượng Việt Minh cùng nhân dân Hà Nội đã tiến công và chiếm giữ tòa nhà này.
Sau Cách mạng tháng 8 năm 1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Chính phủ lâm thời Việt Nam Dân chủ Cộng hòa về làm việc tại đây cho đến ngày toàn quốc kháng chiến. Trong thời gian này, tòa nhà được đổi tên thành Bắc Bộ phủ.
Mở đầu Toàn quốc kháng chiến, ngày 20-12-1946 tại đây đã nổ ra một trận đánh giữa một đại đội Vệ quốc đoàn bảo vệ Bắc bộ phủ và quân Pháp có xe tăng hỗ trợ. Đây là trận đánh ác liệt nhất và kéo dài nhất trong những ngày đầu của chiến tranh Đông Dương. Sau 6 đợt tấn công bị đẩy lui, thương vong 122 lính lê dương, thiệt hại 4 xe tăng và thiết giáp, 3 xe vận tải, lực lượng tấn công đã chiếm được tòa nhà. Số binh sĩ Vệ quốc đoàn tử trận là 45 người.
Kết thúc Chiến tranh Đông Dương (1954), Bắc Bộ phủ được tu sửa lại và trở thành Nhà khách Chính phủ.
Năm 2005, Bắc Bộ phủ được gắn biển Di tích lịch sử cách mạng.
== Tham khảo == |
thượng hải.txt | Thượng Hải (chữ Hán: 上海, bính âm: Shànghǎi) là thành phố lớn nhất Trung Quốc về dân số và là thành phố không bao gồm vùng ngoại ô lớn nhất thế giới.. Thượng Hải là một trong 4 thành phố trực thuộc trung ương của nước này. Diện tích: 6.340,5 km2. Theo điều tra dân số năm 2010 của Trung Quốc, Thượng Hải có tổng dân số 23.019.148 người (trong đó nội ô là 20,6 triệu người). Năm 2010, GDP của Thượng Hải là 1.687 tỷ nhân dân tệ (tương đương 256,3 tỷ USD) với GDP đầu người đạt 76.000 nhân dân tệ (tương đương 11.540 USD). Thượng Hải được xem là thủ đô kinh tế của Trung Quốc.
Ngày nay, Thượng Hải có hải cảng sầm uất nhất thế giới, hơn cả cảng Singapore và Rotterdam. Xuất phát là một làng chài hẻo lánh, Thượng Hải đã trở thành một thành phố quan trọng bậc nhất cho đến Thế kỷ 20, và là trung tâm văn hóa phổ thông, các mưu đồ chính trị và nơi tụ họp của giới trí thức trong thời kỳ Trung Hoa dân quốc. Thượng Hải đã từng một thời là trung tâm tài chính lớn thứ 3 thế giới, chỉ xếp sau Thành phố New York và Luân Đôn, và là trung tâm thương mại lớn nhất Viễn Đông cuối thế kỷ 19 và đầu thế kỷ 20. Sau khi Mao Trạch Đông cầm quyền Trung Quốc kể từ năm 1949, Thượng Hải đã đi vào thời kỳ sụt giảm tốc độ phát triển do chế độ thuế má cao và do sự triệt thoát kinh tế tư bản của chính quyền mới. Nhờ sự cải cách, mở cửa theo mô hình kinh tế thị trường do Đặng Tiểu Bình khởi xướng và lãnh đạo mà đặc biệt là từ năm 1992, Thượng Hải đã có những bước bứt phá ngoạn mục về phát triển kinh tế và nhanh chóng vượt qua Thâm Quyến và Quảng Châu - một thành phố đặc khu được tự do hóa sớm nhất Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa để trở thành đầu tàu kinh tế Trung Quốc. Vẫn còn nhiều thách thức cho thành phố này đầu thế kỷ 21 như nạn di dân ồ ạt và sự phân hóa giàu nghèo. Tuy nhiên, bất chấp những thách thức đó, các khu nhà chọc trời và cuộc sống đô thị sôi động của Thượng Hải vẫn là biểu tượng của sự thần kỳ kinh tế Trung Quốc.
== Nguồn gốc tên gọi ==
Dân Thượng Hải đọc tên thành phố là /zɑ̃.'he/, phiên âm pinyin theo tiếng Quan Thoại là Shànghǎi. Thượng Hải (Thượng là trên, Hải là biển) là cái tên xuất phát từ thời Nhà Tống (thế kỷ 11) - lúc này đã có một cửa sông và một thị trấn cùng tên gọi. Nghĩa của tên gọi đang là vấn đề gây tranh cãi "phía trên biển" hoặc "đi ra biển". Người Việt Nam gọi là Thượng Hải; Người Đức viết là Schanghai, tiếng Hà Lan là Sjanghai, tiếng Bồ Đào Nha là Xangai, tiếng Pháp là Shanghaï. Tuy nhiên, kể từ những năm 1990, phiên âm pinyin Shanghai đã được sử dụng rộng rãi trên toàn thế giới. Tiếng Nhật viết tên thành phố gần với cách đọc trong Quan Thoại là シャンハイ shanhai.
Tên viết tắt của thành phố là Hỗ /Hộ (滬/沪) và Thân (申). Tên đất Hỗ/Hộ do tên cổ Hỗ/Hộ Độc (滬瀆/沪渎) của con sông Tô Châu. Tên Thân lấy tên theo Xuân Thân quân (春申君), một viên quan thời nước Sở vào thế kỷ 3 Trước Công Nguyên - Xuân Thân là một anh hùng thời đó của nước Sở (trong lãnh thổ đó có đất Thượng Hải bây giờ). Do vậy Thượng Hải còn được gọi là "Thân Thành" (申城). Trong tiếng Anh thành phố này có nhiều biệt danh: Paris phương Đông, Nữ hoàng phương Đông, Hòn ngọc phương Đông và thậm chí cả Gái điếm châu Á (gọi trong thời kỳ 1920-1930, lúc đó thành phố là một trung tâm tội phạm, ma túy và mãi dâm).
== Ngôn ngữ ==
Tiếng mẹ đẻ của dân Thượng Hải là tiếng Thượng Hải, một phương ngữ của Ngô ngữ trong khi ngôn ngữ chính thức là tiếng Quan Thoại. Tiếng Thượng Hải và tiếng Quan Thoại khác nhau và thông thường dân Bắc Kinh không thể trò chuyện với dân Thượng Hải thông qua tiếng Thượng Hải. Tiếng Thượng Hải ngày nay là một phương ngữ của Ngô ngữ nói ở Tô Châu với các phương ngữ của Ninh Ba và các vùng phụ cận có dân nhập cư vào Thượng Hải với số lượng lớn vào thế kỷ 20. Gần như toàn bộ dân Thượng Hải dưới 40 tuổi có thể nói tiếng Quan Thoại thông thạo. Dân cư có thể nói ngoại ngữ phân bố không đều. Những người tốt nghiệp đại học trước cách mạng và những người làm cho các công ty nước ngoài có thể nói tiếng Anh. Những người dưới 26 tuổi đã có tiếp xúc với tiếng Anh kể từ tiểu học do tiếng Anh được bắt đầu dạy ở lớp 1.
== Dân số ==
Theo điều tra dân số năm 2010 của Trung Quốc, Thượng Hải có tổng dân số 23.019.148 người, mức tăng 37,53% từ 16.737.734 người năm 2000. 20,6 triệu dân trong đó, hay 89,3%, là dân thành thị và 2,5 triệu dân (10,7%) là dân nông thôn. Theo tổng dân số trong khu vực hành chính, Thượng Hải là thành phố trực thuộc trung ương lớn thứ nhì trong 4 thành phố trực thuộc trung ương của Trung Quốc, sau Trùng Khánh, nhưng Thượng Hải được xem là thành phố lớn hơn vì Trùng Khánh có dân số đô thị ít hơn.
== Các đơn vị hành chính ==
Xem thêm "Danh sách các đơn vị hành chính Thượng Hải
Thượng Hải là một trong 4 thành phố trực thuộc Trung ương (trực hạt thị) và gồm 17 quận (thị hạt khu) và 1 huyện. Thượng Hải không có quận nào độc chiếm vị thế trung tâm thành phố, mà khu vực trung tâm trải ra vài quận. Các khu vực kinh doanh có tiếng là Lục Gia Chủy (陆家嘴; Lujiazui) bên bờ đông sông Hoàng Phố, Bund tức Ngoại Than (外灘; Wàitān) và Hồng Kiều (虹桥) ở bờ tây sông Hoàng Phố. Tòa thị chính và các cơ quan hành chính chủ yếu nằm ở quận Hoàng Phố. Đây cũng là khu vực thương mại, kể cả đường Nam Kinh (Nam Kinh lộ) nổi tiếng.
Chín quận thuộc Phố Tây, khu vực Thượng Hải lâu đời, nằm phía bờ tây sông Hoàng Phố. Chín quận này được gọi chung là Thượng Hải thị khu (上海市区) hay trung tâm thành phố (市中心):
Hoàng Phố (黄浦区Huángpǔ Qū)
Lô Loan hay Lư Loan (卢湾区 Lúwān Qū)
Từ Hối (徐汇区 Xúhuì Qū)
Trường Ninh (长宁区 Chángníng Qū)
Tĩnh An (静安区 Jìng'ān Qū)
Phổ Đà (普陀区 Pǔtuó Qū)
Áp Bắc hay Hạp Bắc (闸北区 Zháběi Qū)
Hồng Khẩu (虹口区 Hóngkǒu Qū)
Dương Phố (杨浦区 Yángpǔ Qū)
Phố Đông (浦东) là khu vực mới khai phá của Thượng Hải thuộc bờ đông sông Hoàng Phố, có quận mới Phố Đông (浦东新区 Pǔdōng Xīn Qū, Phố Đông tân khu), từ năm 1992 trở về trước vẫn còn là huyện Xuyên Sa.
Tám quận của Thượng Hải bao quát các thị xã vệ tinh, các vùng ngoại ô và nông thôn cách xa trung tâm thành phố:
Bảo Sơn (宝山区 Bǎoshān Qū) — cho đến năm 1988 là huyện Bảo Sơn
Mẫn Hàng (闵行区 Mǐnháng Qū) — cho đến năm 1992 là huyện Thượng Hải
Gia Định (嘉定区 Jiādìng Qū) — cho đến năm 1992 là huyện Gia Định
Kim Sơn (金山区 Jīnshān Qū) — cho đến năm 1997 là huyện Kim Sơn
Tùng Giang (松江区 Sōngjiāng Qū) — cho đến năm 1998 là huyện Tùng Giang
Thanh Phố (青浦区 Qīngpǔ Qū) — cho đến năm 1999 là huyện Thanh Phố
Phụng Hiền (奉贤区 Fèngxián Qū) — cho đến năm 2001 là huyện Phụng Hiền
Đảo Sùng Minh nằm ở cửa sông Trường Giang là địa bàn huyện Sùng Minh (崇明县 Chóngmíng Xiàn).
Tính đến năm 2003, Thượng Hải có 220 đơn vị hành chính cấp hương: 114 trấn, 3 hương và 103 nhai đạo.
== Lịch sử ==
Trước khi thành lập thành phố Thượng Hải, Thượng Hải là một phần của huyện Tùng Giang (松江縣), thuộc phủ Tô Châu (蘇州府). Từ thời Nhà Tống (960-1279), Thượng Hải dần trở thành một hải cảng sầm uất, vượt lên trên vai trò chính trị là một địa phương thuộc huyện. Ngày nay, Tùng Giang (淞江) là 1 quận thuộc thành phố Thượng Hải.
Một bức tường thành được xây dựng năm 1553 Công nguyên - thời điểm được xem như bắt đầu hình thành thành phố Thượng Hải. Tuy nhiên, trước thế kỷ 19, Thượng Hải không được xem là thành phố lớn của Trung Hoa. Do đó, so với phần lớn các thành phố khác của Trung Quốc, có rất ít công trình cổ tiêu biểu ở thành phố này ngày nay. Một vài địa điểm văn hóa ít ỏi có thể thấy ở Thượng Hải ngày nay rất cổ kính và tiêu biểu thời Tam Quốc do địa điểm này nằm trong trung tâm văn hóa lịch sử của Đông Ngô (222-280).
Trong thời kỳ Càn Long nhà Thanh, Thượng Hải đã trở thành một cảng khu vực quan trọng của khu vực sông Trường Giang và sông Hoàng Phố. Thành phố cũng trở thành hải cảng chính của các tỉnh Giang Tô và Triết Giang gần đấy dù trao đổi mậu dịch với nước ngoài thời kỳ này bị triều đình cấm. Một khu vực lịch sử quan trọng của thời kỳ này là Ngũ Giác Trường (五角场) (ngày nay là quận Dương Phố) - là nền tảng của trung tâm thành phố. Khoảng cuối thời Càn Long, Thập Lục Phố (ngày nay là quận Hoàng Phố) trở thành cảng lớn nhất Đông Á.
=== Thế kỷ 19 và đầu thế kỷ 20 ===
Tầm quan trọng của Thượng Hải tăng lên nhanh chóng vào thế kỷ 19 do vị trí chiến lược của thành phố này ở cửa sông Dương Tử khiến cho nó có vị trí lý tưởng để buôn bán với phương Tây. Trong cuộc chiến tranh nha phiến thứ nhất vào đầu thế kỷ 19, các lực lượng của Anh đã tạm thời chiếm giữ Thượng Hải. Cuộc chiến kết thúc năm 1842 với hòa ước Nam Kinh với kết quả là các cảng nhượng quyền trong đó có Thượng Hải, mở cửa cho các nước buôn bán. Hiệp ước Bogue được ký năm 1843 và Hiệp ước Wangsia Trung-Mỹ ký năm 1844 khiến cho phương Tây giành được có đặc quyền ngoại giao trên đất Trung Hoa và chính thức tồn tại cho đến năm 1943 nhưng về bản chất không còn tồn tại từ cuối những năm 1930. Từ những năm 20 đến cuối những năm 30 của thế kỷ 20, Thượng Hải được gọi là thành phố tội phạm. Các băng nhóm chiếm giữ quyền lực và điều hành các sòng bạc và các nhà thổ.
Thái Bình Thiên Quốc nổ ra năm 1850 và năm 1853 Thượng Hải bị chiếm giữ bởi hội Tam Hoàng gọi là Tiểu Đao hội (Small Swords Society). Các cuộc thanh trừng phá hủy các miền quê nhưng không đụng chạm đến các khu định cư của phương Tây. Mặc dù trước đó người Hoa bị cấm sống trong các khu định cư của người nước ngoài, năm 1854 các quy định mới đã cho phép người Hoa được đến ở. Giá đất tăng lên đáng kể.
Trong năm 1854, cuộc họp thường niên đầu tiên của Hội đồng thành phố Thượng Hải đã họp, Hội đồng này được tạo ra để quản lý các khu định cư của dân ngoại quốc. Năm 1863, khu định cư của Anh, tọa lạc dọc theo bờ Tây sông Hoàng Phố đến phía nam nhánh sông Tô Châu (quận Hoàng Phố) và khu định cư người Mỹ tọa lạc ở bờ Tây sông Hoàng Phố đến phía Bắc của nhánh sông Tô Châu (quận Hán Khẩu) sát nhập với nhau thành Khu định cư quốc tế. Người Pháp chọn lựa phương án ra khỏi Hội đồng thành phố Thượng Hải và thay vào đấy là duy trì Khu nhượng địa Pháp, tọa lạc ở phía Tây của Khu định cư quốc tế. Thời kỳ này có một lượng lớn dân di cư từ châu Âu và Bắc Mỹ, những người tự gọi mình là "Shanghighlanders".
Chiến tranh Thanh-Nhật nổ ra năm 1894-1895 với kết quả là Nhật Bản giành quyền kiểm soát Triều Tiên theo hiệp ước Shimonoseki, cùng với đó nước này nổi lên như là một cường quốc bổ sung ở Thượng Hải, và ngay sau đó các cường quốc khác cũng theo gương.
== Địa lý và khí hậu ==
== Kinh tế ==
Thượng Hải thường được xem như trung tâm tài chính và thương mại của Trung Hoa đại lục. Thượng Hải bắt đầu thực sự phát triển nhanh từ 1992, sau các thành phố ở các tỉnh phía nam Trung Quốc (Quảng Châu, Thâm Quyến, Chu Hải,Sán Đầu, Hạ Môn...) khoảng 10 năm. Trước đó, ngân sách của thành phố phần lớn để lại cho chính quyền trung ương ở Bắc Kinh, phần để lại cho thành phố này rất ít. Dù đã giảm gánh nặng thuế má kể từ 1992, nguồn thuế thu tại Thượng Hải vẫn đóng góp cho chính quyền trung ương chiếm khoảng 20-25%, trước đấy là 70%. Thượng Hải ngày nay vẫn là thành phố phát triển và đông dân nhất Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa. Cảng Thượng Hải xếp hàng đầu thế giới về lượng hàng hóa thông qua, khoảng 443 triệu tấn hàng/năm. Nếu tính về lượng container vận chuyển, các cảng của Thượng Hải xếp thứ 3, sau Singapore và Hong Kong. Thượng Hải và Hong Kong gần đây đang tranh đua vị trí trung tâm kinh tế của Trung Quốc. GDP đầu người của Thượng Hải là 12784 USD, của Hong Kong là 37.400. Hong Kong có lợi thế hơn về hệ thống pháp luật, hội nhập quốc tế, tự do hóa hơn và kinh nghiệm kinh tài cao hơn. Thượng Hải có mối liên hệ với lục địa Trung Hoa sâu hơn, mạnh hơn về ngành chế tạo và công nghệ. Thượng Hải đã và đang nâng cao vai trò là địa điểm của nhiều trụ sở các tập đoàn kinh tế, tài chính, thương mại, ngân hàng và giáo dục quốc tế. Tăng trưởng GDP đã đạt 2 con số liên tục trong 14 năm. Năm 2005, tỷ lệ tăng trưởng GDP là 11,1%, đạt 114 tỷ USD. Năm 2010, GDP của Thượng Hải là 1.687 tỷ nhân dân tệ (tương đương 256,3 tỷ USD) với GDP đầu người đạt 76.000 nhân dân tệ (tương đương11.540 USD).. Thượng Hải được xem là thủ đô kinh tế của Trung Quốc.
Thượng Hải đang trải qua thời kỳ bùng nổ xây dựng, đặc biệt là xây dựng các cao ốc, các công trình công cộng khổng lồ với thiết kế hiện đại, độc đáo (như tháp truyền hình, nhà hát...). Khu Phố Đông là một khu đô thị mới với tốc độ xây dựng nhanh chóng, khoảng hơn 10 năm và đã trở thành trung tâm mới của Thượng Hải với rừng cao ốc. Năm 2009, Sở giao dịch chứng khoán Thượng Hải xếp thứ 3 thế giới về khối lượng chứng khoán giao dịch và xếp thứ 6 về tổng giá trị vốn hóa thị trường của các công ty niêm yết, và khối lượng giao dịch của 6 mặt hàng chính bao gồm cao su, đồng và kẽm trên Shanghai Futures Exchange đều xếp hạng nhất trên thế giới. Cảng Thượng Hải là cảng container bận rộn nhất thế giới, 29,05 triệu TEU thông qua vào năm 2010. Thượng Hải đang hướng tới múc tiêu trở thành trung tâm hải vận quốc tế trong tương lai gần.
== Tháp truyền hình Minh Châu ==
Tháp truyền hình Minh Châu (Hán tự: 明珠, nghĩa là viên ngọc sáng) là tháp truyền hình cao thứ ba thế giới - sau tháp truyền hình ở Toronto (Canada) và Moskva (Nga) - nó cao tới 468 mét. Mặc dù vậy, khách chỉ có thể tham quan từ độ cao 350 mét trở xuống. Tháp có hệ thống thang máy rất nhanh (10 m/s).
Ở độ cao 263 mét là một khu sân hình tròn. Đây là nơi để du khách ngắm toàn cảnh Thượng Hải.
== Thành phố kết nghĩa ==
Thượng Hải là thành phố kết nghĩa với:
== Giáo dục ==
=== Quốc lập ===
Đại học Giao thông Thượng Hải (thành lập năm 1896) (Dự án 985 trường học)
Đại học Phục Đán (thành lập năm 1905) (Dự án 985 trường học)
Đại học Đồng Tế (thành lập năm 1907) (Dự án 985 trường học)
Đại học Sư phạm Hoa Đông (thành lập năm 1951) (Dự án 985 trường học)
Đại học Quân y số 2
Đại học Khoa học và Công nghệ Hoa Đông
Đại học Đông Hoa
Đại học Ngoại ngữ Thượng Hải
Đại học Tài chính và Kinh tế Thượng Hải
Đại học Y khoa Thượng Hải
=== Công lập ===
Học viện Mỹ thuật Trung Quốc
Học viện Âm nhạc Thượng Hải
Học viện Hí kịch Thượng Hải
Đại học Thượng Hải
Học viện Chính trị và Pháp luật Hoa Đông
Đại học Kỹ thuật công trình Thượng Hải
Đại học Sư phạm Thượng Hải
Học viện Tài chính Thượng Hải
Đại học Hàng hải Thượng Hải
Đại học Trung y dược Thượng Hải
Học viện Điện lực Thượng Hải
Đại học Khoa học và Công nghệ Thượng Hải
Đại học Thuỷ sản Thượng Hải
Học viện Ngoại thương Thượng Hải
Học viện Thể dục Thượng Hải
=== Tư thục ===
Học viện Kỹ thuật ứng dụng Thượng Hải
Học viện Thương mại Lập Tín Thượng Hải
Học viện Sam Đạt Thượng Hải
Học viện Đông Hải Thượng Hải
Học viện Công thương quốc tế Trung Âu
Đại học Công nghiệp Thượng Hải số 2
=== Trung học ===
Trung học Thượng Hải
Trung học Tùng Giang Thượng Hải số 2
Trung học Thượng Hải số 2
== Thông tin khác ==
Nhà chọc trời Tháp Trung tâm Tài chính Thế giới Thượng Hải là tòa nhà chọc trời cao nhất ở thành phố này và cũng là tháp cao nhất Trung Quốc đại lục, cao thứ 5 thế giới. Ngoài ra còn có các công trình kiến trúc nổi bật khác như Tháp Minh Châu Phương Đông và Tháp Kim Mậu.
Thuọng Hải là thành phố chủ nhà của Hội chợ Thế giới Expo 2010 tổ chức vào giữa tháng 5 đến tháng 10 2010.
== Xem thêm ==
Danh sách vùng đô thị châu Á
Danielson, Eric N. (2010). Discover Shanghai. Singapore: Marshall Cavendish.
Danielson, Eric N. (2004). Shanghai and the Yangzi Delta. Singapore: Marshall Cavendish/Times Editions. ISBN 981-232-597-2.
Elvin, Mark (1977). "Market Towns and Waterways: The County of Shanghai from 1480 to 1910," in The City in Late Imperial China, ed. by G. William Skinner. Stanford: Stanford University Press.
Johnson, Linda Cooke (1995). Shanghai: From Market Town to Treaty Port. Stanford: Stanford University Press.
Johnson, Linda Cooke (1993). Cities of Jiangnan in Late Imperial China. Albany: State University of New York (SUNY). ISBN 0791414248.
Horesh, Niv (2009). Shanghai's Bund and Beyond. New Haven: Yale University Press.
Erh,Deke and Johnston, Tess (2007). Shanghai Art Deco. Hong Kong: Old China Hand Press.
== Tham khảo ==
== Liên kết ngoài ==
Website chính quyền Thượng Hải |
pazar, rize.txt | Pazar là một huyện thuộc tỉnh Rize, Thổ Nhĩ Kỳ. Huyện có diện tích 110 km² và dân số thời điểm năm 2007 là 30764 người, mật độ 280 người/km².
== Chú thích ==
== Tham khảo ==
== Xem thêm ==
“Geonames Database”. Cơ quan Tình báo Địa không gian Quốc gia. Truy cập ngày 11 tháng 5 năm 2011. |
tantan.txt | Tantan (tiếng Latinh: Tantalum) là tên một nguyên tố hóa học trong bảng tuần hoàn nguyên tố có ký hiệu Ta và số nguyên tử bằng 73.
Nó là nguyên tố hiếm, cứng, có màu xám-xanh óng ánh, là kim loại chuyển tiếp, chống ăn mòn rất tốt, thường có trong khoáng chất tantalít. Tantan được dùng trong các dụng cụ phẫu thuật và cấy ghép trong cơ thể, vì nó không phản ứng với các dịch thể.
== Thuộc tính ==
Tantan màu xám, nặng, dễ uốn, cứng, dễ gia công, chống ăn mòn bởi axít rất tốt, dẫn điện và nhiệt tốt. Ở nhiệt độ dưới 150 C Tantan không phản ứng hóa học với chất nào, ngay cả với nước cường toan, và chỉ bị ăn mòn bởi axít flohiđríc, dung dịch axít chứa iôn flo và sulfua triôxít. Nhiệt độ nóng chảy của Tantan chỉ thấp hơn vonfram và reni (chảy tại 3.290 K, sôi tại 5.731 K). Tantan có điện dung lớn nhất trong số các hóa chất dùng trong tụ điện.
== Ứng dụng ==
Tantan được sử dụng chủ yếu, dưới dạng bột kim loại, để tạo ra các linh kiện điện tử, như trong các tụ điện Tantan, có điện dung lớn mà kích thước nhỏ. Do kích thuớc và khối lượng nhỏ, các tụ điện Tantan được dùng nhiều trong các điện thoại di động, máy nhắn tin, máy tính cá nhân và điện tử của ô tô.
Tantan cũng được dùng để tạo ra nhiều hợp kim có nhiệt độ nóng chảy cao, cứng mà dễ gia công. Khi pha với các kim loại khác, nó cũng được dùng để làm các dụng cụ tôi luyện chế tạo các siêu hợp kim cho động cơ phản lực, dụng cụ thí nghiệm hóa học, lò phản ứng hạt nhân, các bộ phận của lò luyện chân không và các bộ phận của tên lửa.
Nó dẻo và có thể kéo thành sợi nhỏ, có thể dùng như dây tóc làm bốc hơi các kim loại khác như nhôm.
Vì không phản ứng với các dung dịch trong cơ thể, và không gây dị ứng Tantan được dùng nhiều để chế tạo dụng cụ phẫu thuật.
Ôxít Tantan còn được dùng để tạo kính có chiết suất cao cho thấu kính của máy quay.
== Lịch sử ==
Tantan (tiếng Hy Lạp là Tantalos, một nhân vật huyền thoại) được tìm thấy ở Thụy Điển năm 1802 bởi Anders Ekeberg và được chiết tách năm 1820 bởi Jöns Berzelius. Nhiều nhà hóa học thời đó đã tin là Niobi và Tantan là một nguyên tố cho mãi đến năm 1844 và 1866 khi các nghiên cứu đã cho thấy axít Niobic và Tantanc là khác nhau. Các nghiên cứu đầu tiên chỉ tạo ra được Tantan không nguyên chất và mẫu nguyên chất đầu tiên được tạo ra bởi Werner von Bolton năm 1903. Các dây tóc làm bởi Tantan được dùng cho bóng đèn cho đến khi vonfram thay thế nó.
Tên Tantan được đặt theo Tantalus, cha của Niobe trong thần thoại Hy Lạp.
== Độ phổ biến ==
Tantan được ước tính chiếm khoảng 1 ppm hoặc 2 ppm trong lớp vỏ Trái Đất theo khối lượng.
Có một số loại khoáng vật Tantan, chỉ vài loại trong số đó được dùng làm nguyên liệu thô trong công nghiệp sản xuất Tantan như: Tantant, microlit, wodginit, euxenit, polycrase. Tantant (Fe,Mn) Ta2O6 là khoáng vật tách Tantan quan trọng nhất. Tantant có cùng cấu trúc khoáng vật với columbit (Fe,Mn) (Ta,Nb)2O6; nếu Ta nhiều hơn Nb thì nó được gọi là Tantant và ngược lại thì gọi là columbit (hay niobit). Tỷ trọng của Tantant và các khoáng vật chứa Tantan khác cao làm cho nó được tác ra bằng phương pháp trọng lực. Các khoáng vật khác gồm samarskit và fergusonit.
Quặng Tantan có ở Úc, Brasil, Canada, Congo, Mozambique, Nigeria, Bồ Đào Nha, Thái Lan...
Tantant hay lẫn với columbit trong quặng coltan. Việc khai khoáng quặng này ở Congo đã gây nên nhiều vấn đề về quyền con người và bảo vệ môi trường thiên nhiên.
Nhiều quy trình phức tạp cần thực hiện để tách Tantan khỏi niobi. Các phương pháp điều chế thương mại có thể gồm: điện phân hợp chất kali florotantalat nóng chảy, khử hợp chất trên bằng natri, hay bằng phản ứng giữa hợp chất Tantan Cacbua với Tantan ôxít. Tantan còn là sản phẩm phụ của tinh luyện thiếc.
== Hợp chất ==
Các nhà khoa học tại Los Alamos National Laboratory đã chế tạo được chất composít chứa Tantan và cacbon thuộc vào loại vật liệu cứng nhất mà con người tạo ra.
== Đồng vị ==
Tantan tự nhiên có hai đồng vị. Ta-181 là đồng vị bền còn Ta-180m là đồng vị phóng xạ chuyển hóa chậm thành chất đồng phân nguyên tử với chu kỳ bán rã khoảng 1015 năm.
== Cảnh báo ==
Các hợp chất chứa Tantan rất hiếm gặp, và kim loại này thường không gây nên vấn đề gì trong phòng thí nghiệm, nhưng nó vẫn nên được coi là rất độc. Có bằng chứng cho thấy hợp chất của Tantan có thể gây nên khối u, và bụi kim loại Tantan có thể gây cháy hay nổ.
== Tham khảo ==
(tiếng Anh)
Los Alamos National Laboratory - Tantalum
== Liên kết ngoài ==
(tiếng Anh)
WebElements.com - Tantalum
EnvironmentalChemistry.com - Tantalum
Tantalum-Niobium International Study Center |
chữ viết mông cổ.txt | Chữ viết Mongol được gây ra từ ảnh hưởng xung quanh. Mongol từng dùng vài giống chữ viết:
== Chữ Hán ==
Người Mông Cổ hay Trung Hoa chỉ mượn chữ Hán để đọc tiếng Mông Cổ. Tiêu biểu là cuốn Mông Cổ bí sử.
== Chữ Uyghur ==
Năm 1204, Genghis Khan đánh cướp Naimans. Dù bị bắt nhưng Tata Tonga vẫn giữ cái dấu đất nước của Uyghur. Ghenghis Khan khen ngợi ông trung thành với đất nước rồi cho ông giữ cái dấu tài liệu của Mongol và dạy dỗ thái tử. Ông dùng chữ Uyghur ghi tiếng Mongol. Đến lúc này người Mongol dùng chữ Uyghur ghi tiếng mình. Phe trí thức gọi là chữ Mongol kiểu Uyghur. Chữ này có hai kiểu khác:
Chữ Todo
Năm 1648, người Oirat Mongol bộ Khoshut sư Zaya Pandita sửa chữ viết gây ra chữ Todo. Nó chỉ được dùng ở lộ Thiên Sơn Nam Bắc và vùng Volga.
Chữ Galik
Năm 1587, người Kharchin Mongol kẻ dịch Ayouxigushen sửa chữ viết gây ra chữ Galik thể tỏ tiếng Mongol, Sanskrit và Tây Tạng. Phe trí thức gọi là chữ Mongol cổ điển.
== Chữ Phagpa ==
Vua Nguyên Kublai bảo quốc sư Drogon Chogyal Phagpa gây ra chữ viết mới. Phe trí thức gọi là chữ Phagpa. Dù có lệnh cấm nhưng người Mongol vẫn dùng chữ Mongol kiểu Uyghur. Đến thời Bắc Nguyên, chữ Phagpa dần không dùng.
== Chữ Soyombo ==
Năm 1686, người Khalkha Mongol sư Jebtsundamba Khutuktu/Bogda Gegegen dựa theo chữ Sanskrit và Tibet gây ra chữ Soyombo có 90 chữ cái. Chữ này thể tỏ tiếng Mongol, Sanskrit và Tibet. Chữ này rất đẹp thường dùng nó trang trí chùa chiền. Nó cũng có trong lá cờ Mongol ngày nay. Chữ này không tiện lợi hơn chữ Phagpa nên ít dùng. Cùng năm, ông lại gây ra kiểu chữ viết ngang thường dùng trong chùa vùng Khalkha.
== Chữ Latin ==
Thế kỉ 20, Mongol ảnh hưởng phương tây dùng chữ Latin ghi tiếng Mongol.
== Chữ Kirin ==
Mongol được Liên Xô giúp đỡ và nhận ảnh hưởng. Năm 1946, Nhà nước Mongol dùng chữ cái Kirin ghi tiếng Khalkha Mongol làm chuẩn.
Ngày nay, chữ Mông Cổ truyền thống được dùng ở Nội Mông và phục hồi ở Mông Cổ.
== Tham khảo == |
lịch sử.txt | Lịch sử là bộ môn khoa học nghiên cứu về quá khứ, đặc biệt là những sự kiện liên quan đến con người. Đây là một thuật ngữ chung có liên quan đến các sự kiện trong quá khứ cũng như những ghi nhớ, phát hiện, thu thập, tổ chức, trình bày, giải thích và thông tin về những sự kiện này. Những học giả viết về lịch sử được gọi là nhà sử học. Các sự kiện xảy ra trước khi có những ghi chép lại được coi là thời tiền sử.
Lịch sử có thể tham khảo những môn học trừu tượng, trong đó sử dụng một câu chuyện để kiểm tra và phân tích một chuỗi các sự kiện trong quá khứ, và khách quan xác định các mô hình nhân quả đã ảnh hưởng đến các sự kiện trên. Các nhà sử học đôi khi tranh luận về bản chất của lịch sử và tính hữu dụng của nó bằng cách thảo luận nghiên cứu về chính lịch sử như một cách để cung cấp "tầm nhìn" về những vấn đề của hiện tại.
Các câu chuyện phổ biến của một nền văn hóa nhất định, nhưng không được các nguồn thông tin khách quan khẳng định (ví dụ như những câu chuyện truyền thuyết về vua Arthur trong văn hóa phương Tây và Lạc Long Quân và Âu Cơ trong văn hóa Việt) thường được phân loại là di sản văn hoá hay truyền thuyết, bởi vì những câu chuyện này không hỗ trợ việc "điều tra khách quan" vốn là một yêu cầu khắt khe của bộ môn sử học.
Herodotus, một nhà sử học Hy Lạp ở thế kỷ thứ 5 TCN được coi là trong là "cha đẻ của lịch sử phương Tây", và cùng với người cùng thời Thucydides đã góp phần tạo nền tảng cho việc nghiên cứu hiện đại của lịch sử nhân loại. Các tác phẩm của họ vẫn còn được đọc cho đến tận ngày nay. Sự khác biệt giữa cách tiếp cận lịch sử tập trung vào văn hóa của Herodotus và cách tiếp cận lịch sử tập trung vào quân sự của Thucydides vẫn còn gây tranh cãi giữa các nhà sử học khi họ viết lịch sử của thời hiện đại. Ở các nước phương Đông, cuốn sử đầu tiên Kinh Xuân Thu là biên niên sử nổi tiếng được biên dịch từ 722 TCN mặc dù chỉ còn bản in ở thế kỷ thứ 2 TCN còn truyền lại đến nay.
Ảnh hưởng từ thời cổ đại đã giúp tạo ra hàng loạt các quan niệm về bản chất của lịch sử. Các quan niệm này đã phát triển qua nhiều thế kỷ và tiếp tục thay đổi cho đến ngày hôm nay. Nghiên cứu hiện đại về lịch sử có phạm vi rộng, nó bao gồm việc nghiên cứu các mảng cụ thể và nghiên cứu một số yếu tố mang tính tức thời tại chỗ hoặc theo các chủ đề điều tra lịch sử. Thường lịch sử được giảng dạy như một phần của giáo dục tiểu học và trung học, và nghiên cứu khoa học lịch sử là một môn học chính trong các khoa nghiên cứu của trường đại học.
== Khái niệm ==
Tiếng Hy Lạp: ἱστορία, historia, có nghĩa là "sự tìm hiểu kiến thức bằng cách điều tra". Khi nói đến lịch sử, theo giải thích đơn giản, lịch sử là những gì thuộc về quá khứ và gắn liền với xã hội loài người. Với ý này, lịch sử bao trùm tất cả mọi lĩnh vực trong xã hội, đa diện do đó khó định nghĩa chính xác và đầy đủ. Vì thế, định nghĩa về lịch sử được rất nhiều nhà nghiên cứu đưa ra.
Định nghĩa ngắn gọn của tiến sĩ Sue Peabody: lịch sử là một câu chuyện chúng ta nói chúng ta là ai.
Nhà bác học người La Mã Cicero (106-45 TCN) đưa ra quan điểm: "Historia magistra vitae" (lịch sử chính yếu của cuộc sống) với yêu cầu đạt tới "lux veritatis" (ánh sáng của sự thật).
Các định nghĩa dưới thường cũng chỉ đúng một phần, lịch sử được hiểu theo ba ý chính được các nhà nghiên cứu đồng ý:
Việc diễn ra trong quá khứ: Những sự kiện diễn ra trong quá khứ cho đến thời điểm hiện tại, không thể thay đổi được, cố định trong không gian và thời gian, mang tính chất tuyệt đối và khách quan.
Ghi lại những việc diễn ra trong quá khứ: con người muốn nắm bắt quá khứ, diễn đạt theo sự kiện theo từ ngữ và giải thích ý nghĩa của sự kiện, mang tính chất tương đối và chủ quan của người ghi lại bằng những câu chuyện kể.
Làm thành tài liệu của việc diễn ra trong quá khứ: cách làm hoặc quá trình tập hợp những sự việc diễn ra trong quá khứ thành tài liệu cũng chính là câu chuyện kể đối với hiện tại.
Lịch sử ít nhất có hai nghĩa. Thứ nhất là sự biến đổi của vật tồn tại trong hiện thực được diễn đạt khác đi và định nghĩa là Lịch sử. Tuy nhiên việc bảo tồn quá trình đó là không có và cuối cùng biến mất. Một ý nghĩa khác của lịch sử là chỉ kết quả ghi chép lại với đối tượng là sự biến chuyển đang dần biến mất đó tức là ghi chép lịch sử. Như vậy cái trước được gọi là nghĩa rộng: toàn thể các sự kiện, cái thứ hai được gọi là sách lịch sử. Các nhà nghiên cứu đều có mong muốn nghiên cứu sâu lịch sử và dự đoán tương lai.
Tuy nhiên cả ghi chép lịch sử cũng không có khả năng ghi chép toàn bộ khuôn mặt nó chịu sự chi phối của tri thức, giá trị quan, bối cảnh thời đại, lực lượng của người chấp bút và nó trở thành hiện tượng được ghi chép qua bộ lọc và bóp méo sự thật. Edward Hallett Carr trong tác phẩm Lịch sử là gì đã chỉ ra điều đó. Các ghi chép trong chính sử bao gồm sự phản tỉnh hay bất lợi cho kẻ thắng thường có độ tin cậy cao hơn.
== Cách mô tả ==
Sự kiện bao gồm sự kiện bản thể luận và sự kiện nhận thức luận nên do đó, trong thực tế, chỉ có một số sự kiện lịch sử được xem là "thật". Đa số các nhà nghiên cứu các sự kiện lịch sử này (thường được gọi là sử gia) tin rằng quan điểm hiện tại của chúng ta có thể đổi cách hiểu những sự kiện xưa. Vì thế cách giải thích những sự kiện xưa thay đổi thường xuyên qua các thời kỳ. Những giải thích dựa theo các nguồn gốc "căn bản" – những văn kiện được viết ra vào lúc đó hay gần sau lúc đó – thường được xem là có giá trị nhất.
Cuối thế kỷ XX, đặc biệt sau sự tan rã của hệ thống Xã hội Chủ nghĩa và kết thúc cuộc Chiến tranh Lạnh, nhiều nhà triết học nổi bật như là Francis Fukuyama ra tuyên bố lịch sử đã chấm dứt. Đây cũng là xuất phát điểm cho nhiều lý luận cơ sở hình thành nên các nhánh của môn lịch sử sau thời hậu hiện đại (after post-modernism).
Phương pháp nghiên cứu lịch sử chủ yếu là phương pháp theo tiến trình lịch sử, hoặc phương pháp logic.
=== Phương tây ===
Nhà sử học viết sử trong bối cảnh lịch sử của họ, và lưu ý do những ý tưởng giải thích về quá khứ chủ đạo đương đại, và đôi khi viết để cung cấp những bài học cho xã hội của họ. Theo lời của Benedetto Croce, "Tất cả lịch sử là lịch sử đương đại". Lịch sử được thúc đẩy bởi sự hình thành của một "luận thức thực sự của quá khứ thông qua các tường thuật và phân tích các sự kiện trong quá khứ liên quan đến con người. Nguyên tắc hiện đại của lịch sử là dành riêng cho các tác phẩm của cách diễn thuyết này.
Người được nhắc đến đầu tiên là Herodotus, "cha đẻ của sử học", tác phẩm Historíai, ghi nhận những lời kể, câu chuyện nào đáng tin cậy hay kém tin cậy. Ông đi đến nhiều nơi để xác minh những ghi nhận tìm ra được câu chuyện lịch sử trung thực của vùng Địa Trung Hải, trong sách của ông không có một ghi chép bình luận nào về các câu chuyện được nêu ra. Theo cách này, lịch sử là câu chuyện kể, phương pháp kể lại câu chuyện được biết như phương pháp đầu tiên trong viết sử, được nhiều nhà nghiên cứu đề cao vì cho rằng sự kiện lịch sử mang tính chất khách quan nhất, trung thực nhất.
Trái với cách viết của Herodotus, Thucydides được xem là nhà sử học khoa học đầu tiên vì ông bỏ qua yếu tố thần thánh trong các sự kiện lịch sử, tác phẩm History of the Peloponnesian War- kể lại cuộc chiến tranh giữa hai thành bang Sparta và Athena. Như thế, ông trở thành người thiết lập yếu tố giải thích cho sự kiện lịch sử, đưa ra nguyên sâu xa và trực tiếp đối với sự kiện lịch sử.
Về sau, các nhà sử gia châu Âu thời Trung cổ, là những người viết sử với mục đích giáo huấn, chủ yếu viết về lịch sử nhà thờ và các nhà cai trị tại địa phương, các vị vua của các triều đại. Các sử gia này xem việc diễn ra trong quá khứ như một định luật và viết sử chỉ ra bài học trong quá khứ, việc chép sử chính là công việc để nêu gương cho nhân dân và đem lại bài học cho nhà cầm quyền, thể hiện trong các tác phẩm History of the Church của Eusebius xứ Caesarea, Lịch sử người Frank của Grégoire de Tours. Như thế, thường thì các sử gia chọn chép những sự kiện nào có lợi cho nhà cầm quyền hoặc Giáo hội mà thôi.
Người đã đưa cách viết sử giải thích áp dụng vào những sự kiện lịch sử hiện đại là Leopold von Ranke, nhà sử gia Đức thế kỷ XIX, cha đẻ nền sử học hiện đại. Ông đã thiết lập nền tảng cho cách viết sử sau này với việc nhấn mạnh nguồn tư liệu, chú trọng tài liệu lưu trữ, những câu chuyện lịch sử (narrative history), phát triển lịch sử chính trị. Ranke được nhiều người nhắc đến với nguyên tắc gây nhiều tranh cãi: "Wie es eigentlich gewes" (thể hiện những gì đã thực sự diễn ra), từ nguyên tắc đó, có ý kiến cho rằng "sử gia chỉ nên đưa ra các sự kiện lịch sử và không kèm theo bất cứ quan điểm cá nhân nào; và một số nhà nghiên cứu khác thì cho rằng ý của Ranke là sử gia phải khám phá các sự kiện lịch sử và tìm ra tư tưởng phổ biến của thời đại tác động lên những sự kiện này".
=== Á Đông ===
==== Trung Quốc ====
Vào thời Tây Hán sử gia Trung Quốc, Tư Mã Thiên (司馬遷) (145 – 90 TCN) được xem là "cha đẻ sử học Trung Quốc", đã dùng cách viết biên niên để soạn tác phẩm Sử ký ("Những ghi chép của nhà sử học vĩ đại") ghi chép lại những câu lịch sử Trung Quốc theo thời gian, không có lời bình luận nào trong sách. Nó đã xây dựng một phong cách viết sử mà sau này trở thành "khuôn mẫu chính thức" cho tài liệu lịch sử Trung Hoa. Trong Sử ký, Tư Mã Thiên trình bày các sự kiện theo chuỗi kèm theo chú giải, nguồn tham khảo. Công trình này gồm 526.500 chữ, 130 thiên; không theo trình tự thời gian, mà theo 5 chủ đề, bao gồm bản kỷ, biểu, thư, thế gia, liệt truyện; viết về nhiều lĩnh vực của xã hội gồm âm nhạc, lễ hội, lịch, tín ngưỡng, kinh tế; kèm theo một nguồn tham khảo lớn. Trước ông, lịch sử được viết dành cho triều đình. Phong cách viết sử mở rộng cho nhiều mặt của xã hội trong Sử ký sau này ảnh hưởng đến Trịnh Tiều (鄭樵 - Zhèngqiáo) khi viết Thông sử (通史 - Tongshi) hay Tư Mã Quang (司馬光 - Sima Guang) khi viết Tư trì thông giám (資治通鑑 - Zizhi Tongjian). Phong cách này còn ảnh hưởng đến cách viết sử thời trung cổ của các nước láng giềng, như Triều Tiên, Việt Nam.
== Xem thêm ==
Lịch sử quân sự
Tiểu sử
== Chú thích ==
== Liên kết ngoài ==
Best history sites.net
BBC History Site
Internet History Sourcebooks Project See also Internet History Sourcebooks Project. Collections of public domain and copy-permitted historical texts for educational use
The History Channel Online
History Channel UK |
ngày độc lập hoa kỳ.txt | Tại Hoa Kỳ, Ngày Độc Lập, còn gọi là 4 tháng 7 (the 4th of July), là một ngày lễ liên bang để kỷ niệm Tuyên ngôn Độc lập được ký năm 1776.
Ngày lễ này thường được đi kèm với những cuộc diễu hành, liên hoan ngoài trời, và nhiều buổi lễ công cộng. Từ năm 1777, pháo hoa đã được đốt để đón mừng ngày lễ.
== Lịch sử ==
Tuy ngày 4 tháng 7 đã được kỷ niệm từ lâu, nhiều người cho rằng ngày này không chính xác. Trong cuộc Chiến tranh Cách mạng, những người thuộc địa ở vùng Tân Anh (New England) đã đấu với Anh từ tháng 4 năm 1775. Kiến nghị đầu tiên trong Quốc hội Lục địa để giành độc lập được đưa ra trong ngày 8 tháng 6. Sau khi có nhiều bàn cãi, Hội nghị đã bí mật nhất trí bầu (12-0) đòi độc lập từ Đế quốc Anh trong ngày 2 tháng 7. Hội nghị sau đó sửa đổi văn bản tuyên ngôn cho đến sau 11 giờ ngày 4 tháng 7, khi 12 thuộc địa bầu chấp nhận và đưa ra một phiên bản chưa ký cho các nhà in. (New York không bầu trong cả hai cuộc). Philadelphia đón mừng Tuyên ngôn bằng cách đọc nó với công chúng và đốt lửa mừng trong ngày 8 tháng 7. Mãi đến ngày 2 tháng 8 thì một phiên bản sạch mới được các thành viên trong hội nghị ký, nhưng vẫn giữ bí mật để họ khỏi bị quân Anh đánh trả đũa.
John Adams, được Thomas Jefferson cho là một trong những người quan trọng nhất trong phía đòi độc lập, viết thư cho vợ Abigail trong ngày 3 tháng 7 rằng ông tin rằng ngày 2 tháng 7 sẽ được kỷ niệm làm ngày độc lập trong các thế hệ tới. Ông đã sai hai ngày. Tuy biểu quyết trong ngày 2 tháng 7 là việc quyết định, ngày 4 tháng 7 là ngày được viết trong bản tuyên ngôn. Văn bản của Jefferson, sau khi được Hội nghị hiệu đính, được chấp nhận trong ngày 4. Đó cũng là ngày đầu tiên dân chúng Philadelphia nghe được tin về việc đòi độc lập chính thức này.
== Phong tục ==
Ngày Độc lập được chào đón với những biểu hiện yêu nước. Nhiều nhà chính trị thường đọc diễn văn ca ngợi các di sản và người dân của Hoa Kỳ. Các gia đình thường làm cuộc liên hoan ngoài trời, thường tụ họp với những người bà con ở xa, vì được nghỉ nhiều ngày cuối tuần hơn. Các cuộc diễu hành được diễn ra sáng ngày 4, vào buổi tối thường có pháo hoa ngoạn mục. Trong dịp lễ thì nhiều gia đình treo cờ Hoa Kỳ ở trước nhà để mừng.
Trong một số tiểu bang, dân thường được phép mua pháo hoa nhỏ hơn để đốt. Vì lý do an toàn, một số tiểu bang cấm điều này hay hạn chế cỡ của pháo hoa, nhưng có nhiều người đem pháo hoa lậu từ những tiểu bang ít hạn chế hơn.
== Tham khảo ==
== Liên kết ngoài ==
Những lễ kỷ niệm quốc gia: từ đại sứ quán Hoa Kỳ tại Việt Nam |
cầu thủ xuất sắc nhất nam mỹ.txt | Cầu thủ xuất sắc nhất Nam Mỹ là danh hiệu (giải thưởng) hàng năm được trao tặng cho cầu thủ bóng đá Nam Mỹ xuất sắc nhất chơi cho một câu lạc bộ của Nam Mỹ . Danh hiệu này được bắt đầu trao từ năm 1971. Từ 1971 đến 1985, giải thưởng do báo El Mundo (Venezuela) tổ chức. Từ năm 1986, báo El Pais (Uruguay) với danh hiệu Rey del Fútbol de América (Ông vua bóng đá châu Mỹ) được coi là giải thưởng chính thức. (Danh hiệu do báo El Mundo trao tặng còn kéo dài tới năm 1992).
== Cầu thủ nhận giải ==
== Thống kê ==
=== Theo quốc gia ===
=== Theo câu lạc bộ ===
Danh sách các câu lạc bộ có hơn 1 danh hiệu.
=== Theo cá nhân ===
Danh sách các cầu thủ nhận được hơn 1 danh hiệu.
== Chú thích ==
== Liên kết ngoài ==
Cầu thủ xuất sắc nhất Nam Mỹ trên trang chủ của RSSSF
(tiếng Tây Ban Nha) Trang chủ báo El Mundo
(tiếng Tây Ban Nha) Trang chủ báo El Pais |
trường trung học phổ thông chuyên hà nội - amsterdam.txt | Trường Trung học phổ thông chuyên Hà Nội - Amsterdam hay còn được gọi đơn giản là trường Ams là một trường trung học phổ thông công lập của thành phố Hà Nội được thành lập vào năm 1985. Ngày nay, trường là một trong số các trường trung học phổ thông và trung học cơ sở nổi tiếng nhất thành phố Hà Nội và được nhiều nguồn tin đánh giá là một trong số các trường trung học có chất lượng giáo dục cao nhất Việt Nam.
Trường Hà Nội - Amsterdam được thành lập bởi vốn hỗ trợ của nhân dân Amsterdam, Hà Lan với mục đích ban đầu là trở thành mô hình trường trung học phổ thông chuyên toàn diện đầu tiên của thành phố Hà Nội. Ngày nay, trường đã được chia làm hai khối: khối trung học cơ sở và khối trung học phổ thông. Địa điểm ban đầu của trường nằm tại quận Ba Đình, Hà Nội vào tháng 8 năm 2010 đã chuyển sang địa điểm mới nằm ở quận Cầu Giấy, Hà Nội.
Trường đã được ghi nhận về những thành thích học tập xuất sắc và sự đổi mới thường xuyên trong cách giáo dục của trường. Nhiều học sinh trong trường đã giành được rất nhiều giải thưởng trong nước và ngoài nước như kỳ thi học sinh giỏi quốc gia, kỳ thi Olympic Toán học Quốc tế, Olympic Vật lý Quốc tế, Olympic Vật lý châu Á, Olympic Hóa học quốc tế, Olympic Tin học quốc tế, Olympic Sinh học quốc tế. Hiện nay, trường Trung hoc phổ thông Chu Văn An, trường Trung học phổ thông chuyên Nguyễn Huệ, trường Trung hoc phổ thông Sơn Tây và trường Trung học phổ thông chuyên Hà Nội - Amsterdam là bốn trường trung học phổ thông có hệ thống lớp chuyên của Sở Giáo dục - Đào tạo Hà Nội. Trường đã được công nhận đạt chuẩn quốc gia.
== Lịch sử ==
Vào năm 1972, khi cuộc Chiến tranh Việt Nam bước vào một trong những giai đoạn ác liệt nhất với việc Không quân Mỹ thực hiện Chiến dịch Linebacker II hủy diệt Hà Nội, nhân dân thủ đô Amsterdam, Hà Lan đã thể hiện thái độ phản đối và mong muốn ủng hộ chính phủ và nhân dân miền Bắc Việt Nam. Thị trưởng của thành phố Amsterdam, Tiến sĩ Ivo Samkalden sau đó đã vận động nhân dân của mình quyên góp tiền để giúp Việt Nam tái thiết cơ sở sau chiến tranh.
Vào những năm 1980, với sự có mặt của các trường chuyên theo từng môn học như trường Trung học phổ thông Chu Văn An, trường Trung học phổ thông chuyên Khoa học Tự nhiên Hà Nội, trường Trung học phổ thông chuyên Sư phạm, Trường Trung học phổ thông chuyên ngoại ngữ, Đại học Đại học ngoại ngữ Quốc gia Hà Nội, trường Trung học phổ thông Lê Hồng Phong (thành phố Hồ Chí Minh), Ủy ban Nhân dân Thành phố Hà Nội và Sở Giáo dục - Đào tạo Hà Nội đã quyết định xây dựng một mô hình trường phổ thông kiểu mới theo mô hình một trường chuyên toàn diện, nhằm tuyển sinh những học sinh có năng khiếu đặc biệt trong các môn học. Trường bắt đầu được khởi công vào đầu năm 1985 với nguồn vốn từ nguồn quyên góp của nhân dân thành phố Amsterdam. Ban đầu, tên trường là Trường THPT Hà Nội - Amsterdam. Để thể hiện mối quan hệ hợp tác giữa hai thủ đô Hà Nội và Amsterdam, trường đã được đặt tên là Trường Trung học phổ thông chuyên Hà Nội - Amsterdam.
Năm học đầu tiên của trường được khai giảng vào ngày 5 tháng 9 năm 1985 với khoảng 400 học sinh và 50 giáo viên. Học sinh của trường trong khóa học đầu tiên được chuyển đến từ nhiều trường Trung học Phổ thông khác nhau bao gồm khối chuyên Toán của trường Trung học Phổ thông Chu Văn An; khối chuyên Văn, chuyên Lý của trường Trung học Phổ thông Việt Đức; khối chuyên Nga, Anh, Hóa của trường Trung học Phổ thông Lý Thường Kiệt và khối chuyên Sinh của trường Trung học Phổ thông Ba Đình.
Trong giai đoạn từ 1985 đến năm 2010, trường đã đào tạo 20 thế hệ học sinh 25 khóa trung học phổ thông và 18 khóa trung học cơ sở. Trong giai đoạn này, trường đã đi đến việc mở rộng và phát triển toàn diện mô hình trường chuyên. Năm 1989, trường mở thêm khối chuyên Pháp. Năm 1992, trường mở khối Trung học cơ sở và bắt đầu tuyển sinh vào lớp 6. Năm 1996, trường mở khối chuyên Tin. Năm 2002, trường mở khối chuyên Trung và chuyên Địa. Từ năm 2010, trường có thêm khối chuyên Sử. Từ số giáo viên ban đầu, Sở Giáo dục và Đào tạo Hà Nội đã điều thêm những thầy cô giáo ưu tú ở các trường khác đến. Từ đó, trường trở thành một hệ thống đào tạo hoàn chỉnh, trở thành một trong những trường Trung học phổ thông và Trung học cơ sở đạt thành tích cao của thành phố và nhà nước (Xem phần thành tích của trường).
=== Địa điểm mới ===
Vào năm 2005, chủ tịch Ủy ban Nhân dân thành phố Hà Nội là ông Nguyễn Quốc Triệu đã đến làm việc tại trường Hà Nội - Amsterdam và nhận thấy sự xuống cấp về cơ sở vật chất của trường Hà Nội - Amsterdam cũ và đã đồng ý dành quỹ đất 5 ha ở khu đô thị Trung Hòa Nhân Chính để xây cơ sở mới cho trường với kinh phí dự kiến hồi đó là 1,5 tỷ đồng. Lễ khởi công xây dựng đã diễn ra vào ngày 19 tháng 5 năm 2008. Công trình có tổng mức đầu tư 469 tỷ đồng (25 triệu USD) và đã được phê chuẩn là một trong những công trình chào mừng Đại lễ 1000 năm Thăng Long - Hà Nội. Trong quá trình xây dựng trường mới, có một số mâu thuẫn xảy ra giữa Sở Giáo dục - Đào tạo và Ban giám hiệu nhà trường như tin đồn đổi tên trường thành Trường Trung học Phổ Thông chuyên Hà Nội, tuy nhiên đã được gạt bỏ.
Ngày 4 tháng 9 năm 2010, trường khai giảng khóa học đầu tiên tại địa điểm mới đồng thời cũng được gắn biển công trình chào mừng kỷ niệm 1000 năm Thăng Long. Trường mới có hệ thống cơ sở vật chất đạt tiêu chuẩn quốc gia, và được coi là trường Trung học Phổ thông hiện đại nhất Hà Nội.
== Mô hình đào tạo ==
=== Cơ cấu tổ chức ===
Trường được tổ chức với mô hình ban giám hiệu điều hành và quản lý chung với hiệu trưởng là Lê Thị Oanh và các hiệu phó Bùi Văn Phúc phụ trách chuyên môn, Hồ Quốc Việt phụ trách cơ sở vật chất và khối Trung học cơ sở, thầy Nguyễn Đình Vinh phụ trách Giáo vụ, và cô Dương Tú Anh phụ trách Công tác chủ nhiệm Công tác giáo dục được chia thành hai khối Trung học phổ thông và Trung học cơ sở. Hệ thống giáo viên của trường được chia làm 7 tổ chuyên môn: tổ Hóa - Sinh - Thể, tổ Toán, tổ Xã hội, tổ Hóa, tổ Văn, tổ Ngoại ngữ và tổ Vật lý, ngoài ra, trường còn có đội ngũ giáo viên thực tập. Trường có Đảng ủy và ban chấp hành công đoàn đứng đầu là cô Ninh Thị Hạnh Quyên. Ngoài ra, nhà trường còn có tổ hành chính bao gồm các nhóm: nhóm Tài vụ; nhóm Văn phòng – Máy tính; nhóm Thư viện – Thí nghiệm; nhóm Y tế; nhóm Bảo vệ - Lái xe và nhóm Lao công - Phục vụ.
=== Xét tuyển ===
==== Trung học cơ sở ====
Việc lựa chọn đầu vào cho khối Trung học cơ sở của trường bắt đầu từ lớp 6 với chỉ tiêu số học sinh đầu vào dao động trong khoảng 180-200. Bắt đầu bằng việc xét học bạ lấy 5.000 hồ sơ trúng tuyển để vào vòng 2 thi văn hóa. Việc xét học bạ theo các tiêu chí: học lực 5 năm tiểu học đạt loại giỏi, điểm thi cũng như điểm trung bình lớp 4 và 5 và điểm ưu tiên. Việc xét học bạ bắt đầu từ năm 2008 nhằm loại bỏ bớt 1.000 hồ sơ để vào vòng trong. 1.000 học sinh còn lại vào vòng 2 bằng việc thi 2 môn Toán và Tiếng Việt để lựa chọn những học sinh có tổng điểm cao nhất vào trường. Ngoài ra, trường còn nhận một số trường hợp chuyển ngang được Sở Giáo dục - Đào tạo Hà Nội chấp thuận với lý do đặc biệt. Trong năm học 2012 - 2013, đã có 200 học sinh được tuyển sinh từ hơn 3.200 học sinh dự thi.
Bắt đầu từ năm học 2015 - 2016, trường xét tuyển các học sinh thi vào khối 6 bằng cách xét học bạ và xét giải, cụ thể như sau: điểm tối đa học bạ là 140 (gồm 5 môn Toán, Tiếng Việt và 2 môn Khoa - Sử - Địa, mỗi môn 10 điểm) và cộng thêm điểm từ các giải thưởng và điểm quy đổi ưu tiên.
==== Trung học phổ thông ====
Theo quy định của Sở Giáo dục và Đào tạo Hà Nội thì trường Hà Nội - Amsterdam cùng trường Trung học phổ thông Chu Văn An, trường Trung học Phổ thông chuyên Nguyễn Huệ và trường Trung hoc phổ thông chuyên Sơn Tây là bốn trường trung học phổ thông có hệ thống lớp chuyên của Sở, vì vậy học sinh tốt nghiệp lớp 9 muốn vào học tại các trường này ngoài việc phải tham gia kì thi vào lớp 10 chung cho các trường trung học phổ thông chuyên và không chuyên trực thuộc Sở, còn phải tham gia kì thi chuyên chung của bốn trường. Tương tự như ba trường trường chuyên còn lại, trường Hà Nội - Amsterdam cho thi 3 môn bắt buộc là Toán, Văn (hai môn thi dành cho tất cả thí sinh muốn thi vào khối trung học phổ thông công lập toàn thành phố) và môn Ngoại ngữ điều kiện (dành cho thí sinh muốn thi vào khối trung học phổ thông chuyên). Các thi sinh muốn được vào lớp chuyên sẽ phải thi thêm môn chuyên tương ứng. Học sinh có thể đăng ký thi các môn chuyên khác nhau của hai trường khác nhau với điều kiện các môn chuyên thi không trùng nhau. Điểm xét tuyển sẽ là tổng điểm ba môn Toán, Văn, Anh (mỗi môn lấy hệ số 1) cộng với điểm môn chuyên nhân đôi (hệ số 2), thí sinh lấy từ cao xuống thấp đến hết chỉ tiêu của lớp chuyên. Các thí sinh chỉ đăng ký xét tuyển vào các lớp không chuyên sẽ thi hai môn Toán Văn và lấy điểm xét tuyển là tổng điểm hai môn này. Học sinh đăng ký nguyện vọng tại hai trường có cùng 1 môn chuyên, xếp thứ tự ưu tiên là nguyện vọng 1 và nguyện vọng 2. Trong năm học 2012 - 2013, đã có 595 học sinh trúng tuyển vào 32 lớp chuyên từ 900 học sinh thi tuyển.
Học sinh học hết lớp 5 bắt đầu thi tuyển vào khoảng giữa tháng 6 hàng năm còn ngày thi tuyển vào lớp 10 thường bắt đầu diễn ra vào ngay sau kỳ thi tuyển vào lớp 6 một tuần. Kết quả được thông báo nửa tháng sau đó.
=== Cấu trúc đào tạo ===
Trường Trung học phổ thông chuyên Hà Nội – Amsterdam đào tạo theo hai hệ: hệ phổ thông cơ sở và hệ phổ thông trung học. Cả hai hệ này đều thuộc quyền quản lý của trường Hà Nội - Amsterdam và Sở Giáo dục - Đào tạo Hà Nội.
Hệ phổ thông cơ sở kéo dài bốn năm từ lớp 6 đến lớp 9. Nhà trường tuyển chọn học sinh có năng lực vào học từ lớp 6. Trong chương trình học của hệ phổ thông cơ sở, nhà trường thực hiện đổi mới và nâng cao chương trình giáo dục cho học sinh các lớp: trang bị cho học sinh những kiến thức giáo dục phổ thông từ sách giáo khoa, đồng thời mở rộng kiến thức cho học sinh. Sau khi học hai năm đầu của hệ phổ thông cơ sở (học hết lớp bảy), toàn bộ học sinh sẽ phải thực hiện kỳ thi phân loại chất lượng để được phân vào các lớp 8. Kỳ thi sẽ chia đều các học sinh khối bảy vào năm lớp tám: lớp chuyên Toán (Toán 1 và Toán 2), lớp chuyên Văn và lớp chuyên Anh (Anh 1 và Anh 2). Trong năm học 2011 - 2012, khối Trung học cơ sở của trường bao gồm 20 lớp: năm lớp mỗi khối 6, 7, 8, và 9.
Hệ phổ thông trung học kéo dài ba năm từ lớp 10 đến lớp 12. Học sinh vào lớp 10 phải trải qua kỳ thi tuyển trung học phổ thông do Sở Giáo dục - Đào tạo tổ chức. Trong các năm học từ năm học 1985 - 1988 cho đến năm học 2011 - 2012, khối phổ thông trung học được chia làm 2 hệ: Hệ chuyên và hệ không chuyên. Trong các hệ chuyên, ngoài việc học các môn học chính, học sinh sẽ được dạy tăng cường (số tiết, khối lượng kiến thức nhiều hơn so với các lớp còn lại) các môn chuyên trong các lớp chuyên thuộc khối Trung học phổ thông. Các học sinh chuyên giỏi sẽ được đưa vào đội tuyển học sinh chuyên và được đầu tư học môn chuyên để dự các kỳ thi học sinh giỏi quốc gia, quốc tế. Khác với hệ chuyên, hệ không chuyên không có việc dạy tăng cường các môn chuyên, tuy nhiên vẫn đề cao một số môn học trong chương trình trung học phổ thông. Cho đến năm học 2011 - 2012, trường Hà Nội - Amsterdam có 12 lớp chuyên: chuyên Toán, chuyên Nga, chuyên Lý, chuyên Anh, chuyên Văn, chuyên Hóa, chuyên Pháp, chuyên Trung, chuyên Sử, chuyên Địa, chuyên Sinh và chuyên Tin, 5 lớp không chuyên: Anh (Anh 2), Toán (Toán 2), Hóa (Hóa 2) và Lý (Lý 2) và 1 lớp tiếng Pháp tăng cường (Pháp 2). Bắt đầu từ năm học 2012 - 2013, khối trung học phổ thông trường Hà Nội - Amsterdam sẽ xóa bỏ hệ thống lớp không chuyên, thay vào đó là hệ thống hai lớp chuyên cân bằng về chương trình và cách thức dạy học.
== Cơ sở vật chất và trang thiết bị ==
=== Địa điểm cũ ===
Địa điểm cũ của nhà trường được xây dựng vào năm 1985 và là cơ sở học tập của học sinh cho đến năm 2010. Khu vực chính của trường là tòa nhà A bao gồm khu nhà học chính, phòng truyền thống, sảnh chính và khu vực ban giám hiệu. Cơ sở thực hành của trường gồm ba phòng thực hành vật lý, hai phòng thực hành hoá học, bốn phòng thực hành tin học, một phòng mô hình với máy chiếu và hai phòng nghe nhìn. Ngoài tòa nhà A, khuôn viên trường có một dãy nhà tôn làm cơ sở cho học sinh khối trung học cơ sở và một nhà kho. Hệ thống thể chất của trường bao gồm hai sân bóng rổ, một sân tập trong nhà và một đường nhảy xa. Trong các năm 1990 và 2010, trường có chia sẻ khuôn viên với một số trường khác như trường Alexander Yersin và trường Trung học cơ sở Giảng Võ.
Địa chỉ cũ của trường là số 50 đường Nam Cao. Hiện tại địa điểm này thuộc về trường Trung học phổ thông Nguyễn Trãi.
=== Địa điểm mới ===
Địa điểm mới của trường Hà Nội - Amsterdam có tổng diện tích diện tích lên tới 5 ha bắt đầu hoạt động từ năm học 2010 - 2011 và được chia làm 5 bộ phận chính:
Kiến trúc chính của trường chính là khu nhà học được chia làm ba dãy nhà và được nối với nhau bởi trục đa năng khối học - hàng lang dài giúp học sinh có thể dễ dàng di chuyển giữa các khối nhà học. Khu vực này gồm năm tầng (kể cả tầng hầm và bãi đỗ xe) sẽ được dùng để làm phòng học cho khối 6 đến khối 12 cũng như hệ thống các phòng thí nghiệm Hóa - Sinh - Vật lý và các phòng đội tuyển. Trường có tổng cộng 71 phòng học, 12 phòng cho các đội tuyển Văn, Toán, Trung, Lý, Hóa, Sinh, Nga, Anh, Pháp, Sử, Địa, Tin và 15 phòng học riêng biệt cho từng bộ môn.
Kiến trúc cạnh dãy nhà học là khu vực thư viện, phòng vi tính và nhà ăn cho học sinh. Phòng trực ban giám hiệu nhà trường ở khu vực cổng chính cạnh nhà học là nơi để ban giám hiệu làm việc, hội họp và đưa ra các quy định cùng với hệ thống giáo viên. Nơi đây cũng có một phòng họp hội đồng 700 chỗ dành cho học sinh và các đại biểu họp và tổ chức sự kiện.
Tại cơ sở mới có hai khu vực hoạt động thể chất: khu vực thể chất trong nhà và ngoài trời. Khu thể chất trong nhà là một nhà thể thao đa năng có sân bóng rổ, sân cầu lông và bể bơi. Tại khu thể chất ngoài trời có một sân bóng đá, hai sân cầu lông, một sân bóng rổ, một đường nhảy xa, chạy đà và đường chạy 100 mét.
Ngoài ra, nhà trường còn có một số khu vực khác: khu vực phòng y tế, bố trí các phòng làm việc, tra cứu cho từng chuyên ngành, phòng khảo thí với chức năng phục vụ việc ra đề, chấm bài cho các kỳ thi chuyên của nhà trường; khu thực nghiệm được dành riêng diện tích khoảng 1000 mét vuông để làm vườn thực nghiệm môn sinh học, địa lý; tháp truyền thống và khu vực căng tin.
Địa chỉ mới của trường là số 1, đường Hoàng Minh Giám, phường Nhân Chính, quận Thanh Xuân.
== Học sinh ==
=== Thể thao ===
Trường Hà Nội - Amsterdam là một trong số các trường trung học phổ thông có cơ sở vật chất cho thể thao đạt loại tốt của Hà Nội. Hàng năm, trường tổ chức các giải bóng đá và giải bóng rổ giữa các khóa. Trường cũng là đơn vị đạt nhiều thành tích như: vô địch giải bóng đá toàn thành phố Hà Nội - Cúp Viettel (2007), vô địch giải bóng rổ các trường trung học phổ thông thành phố Hà Nội (2005; 2006; 2007, 2008).
=== Hoạt động ngoại khóa ===
Ngoài việc học tập và hoạt động thể chất, các học sinh trường Hà Nội - Amsterdam (thường được gọi là Amser) còn tổ chức rất nhiều hoạt động ngoại khóa khác nhau, gồm cả hoạt động thường niên và không thường niên. Các hoạt động ngoại khóa thường niên phần lớn đều là các hoạt động nghệ thuật - khoa học, bao gồm: "Ngày hội anh tài", lễ ra trường "Made In 12" của học sinh khối 12, "Ams' Got Talent"; "Nineternal" và "Ngày hội Tìm hiểu Toán học".
Ngoài các hoạt động thường niên, trường còn tổ chức nhiều hoạt động không thường niên khác như: nhạc kịch giữa các khối chuyên, chuyển thể tác phẩm văn học, ngày hội văn hóa, làm sạch môi trường,... Cùng với đó là các câu lạc bộ ngoại khóa như CLB nhiếp ảnh, CLB nghệ thuật,...
Trường Hà Nội - Amsterdam cũng là một ngôi trường có nhiều hoạt động, tổ chức xã hội khác nhau. Các tổ chức này phần lớn do những học sinh khối trung học phổ thông của trường lập nên và quản lý. Một số tổ chức xã hội lớn bao gồm: tổ chức y tế nhân đạo SJ Việt Nam - "Bring a smile, soothe the pain", tổ chức môi trường GHA - Greener Hanoi-Amsterdam.
=== Cựu học sinh và H-A-O ===
Với mong muốn có một nơi gặp gỡ, giao lưu giữa các lớp, các khoá, các thế hệ học sinh trường Ams, các trường đại học và các tổ chức xã hội trên thế giới, việc thành lập một tổ chức dành cho học sinh của trường đã được xúc tiến bởi các cựu học sinh trường. Vào ngày 20 tháng 11 năm 2000, hiệp hội học sinh trường Hà Nội – Amsterdam xuất hiện.
Sau hơn một năm hoạt động, H-A-O nhận được nhiều đóng góp, và ủng hộ không chỉ từ học sinh/cựu học sinh của trường Ams mà còn của nhiều học sinh từ các trường khác trong cả nước. Với sự đóng góp không ngừng của các thành viên, H-A-O trở thành một hiệp hội hoạt động mạnh mẽ, dành cho học sinh, cựu học sinh của trường Ams cũng như nhiều trường khác.
Ngày 23 tháng 11 năm 2004, "Hiệp hội học sinh Hà nội-Amsterdam" (Hanoi Amsterdam Organization, Inc.) chính thức được đăng ký tại Hoa Kỳ, bởi một số cá nhân, là một tổ chức phi lợi nhuận hải ngoại ở Hoa Kỳ, hoạt động trong lĩnh vực giáo dục và các mảng liên quan. Tính tới ngày 20 tháng 6 năm 2010, hiệp hội đã có 28.206 thành viên với 2.729.546 bài viết trong diễn đàn thảo luận.
== Hợp tác quốc tế ==
Từ khi thành lập, trường Hà Nội Amsterdam đã có nhiều hoạt động giao lưu và hợp tác quốc tế với các trường phổ thông, đại học và nhiều tổ chức trên thế giới. Suốt nhiều năm qua, nhà trường đã giữ được những mối quan hệ tốt đẹp với các trường đại học, cao đẳng và trung học tại các nước phát triển: Học viện INSA (Pháp), Đại học Connnecticut, Đại học Oregon, Đại học Carroll (Hoa Kỳ), Taylor’s Culverhay (Anh), Đại học Bellereys (Úc), Đại học Nam Ninh (Trung Quốc), Trung học Nayang (Hàn Quốc), Trung học Jean de la Fontaine (Pháp), Trung học Anglo-Chinese (Singapore), Trường chuyên ngữ Anyang (Hàn Quốc).
Hàng năm, các khối chuyên ngữ của trường Trung học phổ thông chuyên Hà Nội - Amsterdam thường tổ chức những buổi gặp gỡ giao lưu giữa các khoá trong khối với nhau hoặc với các tổ chức quốc tế. Các học sinh của các khối chuyên Pháp, chuyên Nga, chuyên Trung đã thực hiện nhiều hoạt động ngoại khóa với nhiều Đại sứ quán và đã đón tiếp nhiều học sinh từ các trường trung học phổ thông khác nhau trên thế giới. Trường Hà Nội - Amsterdam cũng là một trong những trường đầu tiên của Hà Nội chuẩn bị cho kế hoạch dạy Toán và các bộ môn khoa học bằng Tiếng Anh vào năm học 2011 - 2012. Ngoài ra, trường còn cho tổ chức nhiều chương trình giao lưu với nước ngoài bao gồm: đào tạo và bồi dưỡng giáo viên ở nước ngoài; học tập các phương pháp đào tạo ở các nước phát triển như Anh, Singapore, Hàn Quốc và Đài Loan; thực hiện phương pháp trao đổi giáo viên, học sinh để giao lưu giữa các trường đại học của Hoa Kỳ, Hàn Quốc, Úc và Singapore; cho bạn bè quốc tế giới thiệu du học với học sinh trong trường (như hội thảo du học Anh Quốc).
Nhiều học sinh trường Hà Nội - Amsterdam đã được gửi đi tham dự nhiều hội nghị cấp quốc tế đại diện cho trường như Hội nghị về Quyền trẻ em ở Mỹ (tháng 5 năm 2002), Hội nghị Môi trường ở Nam Phi (tháng 7 năm 2002), Hội nghị Diễn đàn về Quyền trẻ em ở Hàn Quốc (tháng 9 năm 2003), Nghị viện Thanh niên Thế giới tại Sydney (2000, 2004), Hội thảo các nhà khoa học trẻ các quốc gia APEC (tháng 4 năm 2011). Nhiều cuộc thi mang tính quốc tế như cuộc thi tìm hiểu ASEAN, cuộc thi "Cải thiện việc sử dụng và bảo vệ nguồn nước" cũng đã được nhiều học sinh tham gia.
== Thành tích dạy và học ==
=== Trường học ===
Trường đã vinh dự được đón tiếp Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng Phạm Văn Đồng, Tổng Bí thư Đỗ Mười, Đại tướng Võ Nguyên Giáp, Tổng Bí thư Nông Đức Mạnh, Thủ tướng Phan Văn Khải, Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết, Phu nhân Thủ tướng Hà Lan, Chủ tịch UBND Thành phố Hà Nội Nguyễn Thế Thảo... cùng nhiều vị khách quý về thăm. Trường đã có nhiều năm liên tiếp được công nhận là trường tiên tiến xuất sắc; đảng bộ trong sạch vững mạnh; tổ chức công đoàn, đoàn thanh niên vững mạnh và đơn vị thi đua xuất sắc.
Ngoài ra, trường còn được Đảng Cộng sản Việt Nam và Nhà nước Việt Nam trao tặng 3 huy chương:
Huân chương Lao động Hạng Ba (1995)
Huân chương Lao động Hạng Hai (2000)
Đơn vị Anh hùng trong thời kỳ Đổi Mới (2000)
Được công nhận là Trường chuẩn quốc gia (2004)
Huân chương Lao động Hạng Nhất (2005)
Huân chương Độc lập Hạng Ba (2010)
Huân chương Độc lập Hạng Nhì (2015)
=== Giải trí ===
Trường Hà Nội - Amsterdam đã tham gia Đường lên đỉnh Olympia và có 1 giải 3 chung kết năm thứ 1, 1 giải nhất chung kết năm thứ 10, 1 giải 3 chung kết năm thứ 16.
=== Thành tích trong nước ===
Trong vòng 25 năm từ 1985, các học sinh của trường Hà Nội - Amsterdam đã đạt được 3.500 giải nhất, nhì, ba trong các cuộc thi học sinh giỏi cấp thành phố cũng như cấp khu vực và hơn 1.000 giải nhất, nhì, ba trong các kỳ thi học sinh giỏi cấp quốc gia. Trong số 134 giáo viên chính thức của trường, có 4 tiến sĩ, 44 thạc sĩ. Nhiều thầy cô giáo của trường đã được nhận bằng khen của chính phủ, được công nhận là giáo viên dạy giỏi. Có bảy thầy cô giáo đã được nhà nước phong tặng danh hiệu nhà giáo ưu tú. và một tổ giáo viên được phong tặng Huân chương Lao động hạng Ba
=== Thành tích thi tốt nghiệp và thi đại học ===
Vào năm 2011, trường đạt 100% học sinh tốt nghiệp Trung học phổ thông và có 2 học sinh là thủ khoa và á khoa của thành phố Hà Nội. Đồng thời, học sinh trường Hà Nội - Amsterdam cũng đã xếp thứ 11 trong số 200 trường trung học phổ thông có điểm thi đại học cao nhất cả nước. 95% học sinh trường Hà Nội - Amsterdam được nhận vào các trường đại học lớn của Việt Nam và nước ngoài. Khoảng 30%-35% học sinh nhập học ở các trường đại học nước ngoài. Nhiều cựu học sinh trường Hà Nội - Amsterdam đã và đang theo học tại Harvard, Yale, Princeton, Columbia, MIT, Đại học Carnegie Mellon, Johns Hopkins, Hitotsubashi, Tokyo, CalTech, Stanford, Dartmouth, Amherst, Brown, Williams, Swarthmore, Cambridge, Oxford, Học viện Kinh tế - Chính trị London, RMIT, Technische Universität Dresden, École Polytechnique, École Normale Supérieure và các đại học uy tín khác của Hoa Kỳ, Anh, Singapore, Úc, Đức, Pháp, Hàn Quốc, Trung Quốc,...
=== Thành tích thi quốc tế ===
Chỉ riêng trong thời kỳ 25 năm tính từ năm 1985 đến 2010, đã có 81 em học sinh đi tham dự các kỳ thi Olympic khoa học quốc tế ở Trung Quốc, Canada, Mỹ,... và đạt tổng cổng 77 huy chương vàng, bạc, đồng trong các kỳ thi. Đặc biệt, tại Olympic Hóa học Quốc tế 2014, Phạm Mai Phương, học sinh lớp 12 chuyên Hóa của trường đã trở thành một trong 3 thí sinh có điểm số cao nhất của toàn kỳ thi.
Chú thích: IMO = Olympic Toán học Quốc tế; IChO = Olympic Hóa học Quốc tế; IPhO = Olympic Vật lý Quốc tế; IOI = Olympic Tin học Quốc tế; IBO = Olympic Sinh học Quốc tế; IJSO = Olympic Khoa học trẻ Quốc tế RO = Olympic Tiếng Nga; APMO = Olympic Toán học châu Á – Thái Bình Dương; SEAMO = Olympic Toán học Đông Nam Á; APhO = Olympic Vật lý châu Á; APIO = Olympic Tin học châu Á - Thái Bình Dương
HCV = Huy chương Vàng; HCB = Huy chương Bạc; HCĐ = Huy chương Đồng;
Năm 2012, tại Hội thi Khoa học và Kỹ thuật Quốc tế Intel ISEF diễn ra tại Pittsburgh, Pennsylvania, Hoa Kỳ, ba học sinh của trường Hà Nội - Amsterdam đại diện cho Việt Nam là Trần Bách Trung, Bùi Thị Quỳnh Trang và Vũ Anh Vinh đã giành giải Nhất trong lĩnh vực Vật liệu và Kỹ thuật sinh học với đề tài "Xử lý nước mặn thành nước ngọt bằng kỹ thuật chân không và năng lượng Mặt Trời phục vụ cho sinh hoạt". Ðây là chiến thắng vang dội của đoàn Việt Nam tại sự kiện khoa học quốc tế được đánh giá là lâu đời và uy tín nhất thế giới dành cho học sinh trung học hiện nay.
== Xem thêm ==
Xếp hạng trường trung học phổ thông Việt Nam
Việt Nam tại Olympic Toán học Quốc tế
Việt Nam tại Olympic Hóa học Quốc tế
Việt Nam tại Olympic Toán học châu Á - Thái Bình Dương APMO
== Chú thích ==
== Liên kết bên ngoài khác ==
Hiệp hội Học sinh Hà Nội - Amsterdam
Website của Trường Trung hoc phổ thông chuyên Hà Nội - Amsterdam |
2015.txt | Năm 2015 (số La Mã: MMXV) là một năm thường bắt đầu vào ngày thứ năm trong lịch Gregory hay một năm thường bắt đầu vào thứ Hai của lịch Julius chậm hơn 11 ngày.
== Sự kiện ==
=== Tháng 1 ===
1 tháng 1:
Liên minh Kinh tế Á Âu có hiệu lực, lập ra một liên minh chính trị và kinh tế giữa Nga, Belarus, Armenia, Kazakhstan và Kyrgyzstan.
Litva chính thức chấp thuận euro là tiền tệ của mình, thay thế đồng litas trước đó, và trở thành quốc gia thứ 19 trong Khu vực đồng euro.
3–7 tháng 1: Một loạt vụ thảm sát tại Baga, Nigeria và các làng xung quanh của Boko Haram.
7 tháng 1: 2 tay súng thuộc chi nhánh Yemen của Al-Qaeda giết 12 người và làm bị thương 11 người khác trong trụ sở tờ báo trào phúng Charlie Hebdo tại Paris.
15 tháng 1: Ngân hàng Quốc gia Thụy Sĩ từ bỏ việc neo giá trị franc Thụy Sĩ so với euro, gây rối loạn trên thị trường tài chính quốc tế.
22 tháng 1: Sau khi Quân Houthi chiếm được phủ tổng thống, Tổng thống Yemen, Abd Rabbuh Mansur Hadi từ chức sau nhiều tháng bất ổn.
=== Tháng 2 ===
12 tháng 2:
Các nhà lãnh đạo Nga, Ukraina, Đức và Pháp đạt được thỏa thuận về xung đột tại miền đông Ukraina, bao gồm một lệnh ngừng bắn và rút các vũ khí hạng nặng. Tuy nhiên, sau đó giao tranh vẫn tiếp diễn.
Hội đồng Bảo an Liên Hiệp Quốc thông qua Nghị quyết 2199 về chiến đấu chống chủ nghĩa khủng bố.
16 tháng 2: Quân đội Ai Cập bắt đầu tiến hành không kích chống chi nhánh của Nhà nước Hồi giáo Iraq và Levant tại Libya nhằm trả đũa việc tổ chức này chặt đầu những người Cơ Đốc giáo Ai Cập.
=== Tháng 3 ===
5–8 tháng 3: Các di chỉ thành phố cổ Nimrud, Hatra và Dur-Sharrukin tại Iraq bị Nhà nước Hồi giáo Iraq và Levant phá hủy.
6 tháng 3 – Tàu thăm dò Dawn của NASA tiến vào quỹ đạo quanh Ceres, trở thành tàu vũ trụ đầu tiên đến một hành tinh lùn.
12 tháng 3: Nhà nước Hồi giáo Iraq và Levant trở thành đồng minh với tổ chức thánh chiến Boko Haram, sáp nhập thực tế tổ chức này.
24 tháng 3 – Máy bay Airbus A320-211 do Germanwings vận hành bị rơi tại phần Dãy Alpes thuộc Pháp, khiến toàn bộ 150 người trên khoang thiệt mạng.
25 tháng 3: Liên minh các quốc gia Ả Rập do Ả Rập Saudi lãnh đạo bắt đầu can thiệp quân sự tại Yemen nhằm chống đỡ cho Chính phủ Yemen chống lại các cuộc tấn công của Houthis vào miền nam.
=== Tháng 4 ===
2 tháng 4: 148 người bị giết, đa số là sinh viên, trong vụ xả súng hàng loạt tại Đại học Garissa của Kenya, thủ phạm là những phần tử thuộc tổ chức Al-Shabaab.
25 tháng 4: Một trận động đất có cường độ 7,8 Mw tấn công Nepal và khiến 8.857 người thiệt mạng tại Nepal, 130 người thiệt mạng tại Ấn Độ, 27 người thiệt mạng tại Trung Quốc và 4 người thiệt mạng tại Bangladesh tổng cộng có 9.018 người thiệt mạng.
29 tháng 4: Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) tuyên bố rằng Rubella đã bị tiệt trừ khỏi châu Mỹ.
=== Tháng 5 ===
1 tháng 5–31 tháng 10: Triển lãm Thế giới 2015 được tổ chức tại Milano, Ý.
11–12 tháng 5: Phiên bản O bộ tranh Les Femmes d'Alger của Pablo Picasso được bán với giá 179,3 triệu USA tại New York, trong khi tượng điêu khắc L'Homme au doigt của Alberto Giacometti được bán với giá 141,3 triệu USD, lần lượt lập kỷ lục thế giới mới cho một tác phẩm hội họa và điêu khắc.
12 tháng 5: Trận động đất lớn thứ 2 tại Nepal, với cường độ 7,3 theo thang độ lớn mô men, khiến 153 người thiệt mạng tại Nepal, 62 người tại Ấn Độ, 1 người tại Trung Quốc và 2 người tại Bangladesh tổng cộng có 218 người thiệt mạng.
20 tháng 5: 2 nước cộng hòa cấu thành của Novorossiya là Cộng hòa Nhân dân Donetsk và Cộng hòa Nhân dân Luhansk tuyên bố đình chỉ dự án Novorossiya, trở lại tình trạng các nhà nước (không được quốc tế công nhận) riêng biệt.
23 tháng 5: Cử tri Ireland bỏ phiếu tán thành hợp pháp hóa hôn nhân đồng giới, trở thành quốc gia đầu tiên hợp pháp hóa điều này thông qua bỏ phiếu phổ thông.
=== Tháng 6 ===
2 tháng 6: Chủ tịch FIFA, Sepp Blatter tuyên bố ông có ý định từ chức trong lúc FBI dẫn đầu cuộc điều tra tham nhũng, ông kêu gọi đại hội bất thường để bầu tân chủ tịch sớm nhất có thể.
6 tháng 6: Chính phủ Ấn Độ và Bangladesh chính thức phê chuẩn thỏa thuận năm 1974 giữa họ về trao đổi các lãnh thổ tách rời dọc biên giới.
25–26 tháng 6: Nhà nước Hồi giáo Iraq và Levant tuyên bố nhận trách nhiệm về 3 cuộc tấn công trong dịp lễ Ramadan:
Thảm sát Kobanî: Các chiến binh của tổ chức này cho phát nổ ba quả bom xe, tiến vào Kobanî, Syria, và khai hỏa vào thường dân, giết chết hơn 220 người.
Tấn công Sousse 2015: Seifeddine Rezgui khai hỏa trong một khu nghỉ dưỡng tại Cảng El Kantaoui, Tunisia, giết chết 38 người.
Đánh bom nhà thờ Hồi giáo Kuwait: Một vụ tấn công bom tự sát tại Thánh đường Shia Imam Ja'far as-Sadiq tại Kuwait, giết chết 27 người và làm bị thương 227 người khác.
30 tháng 6: Cuba trở thành quốc gia đầu tiên trên thế giới tiệt trừ lây nhiễm HIV và giang mai từ mẹ sang con.
=== Tháng 7 ===
1 tháng 7: Khủng hoảng nợ công Hy Lạp: Hy Lạp trở thành quốc gia tiến bộ đầu tiên trễ hẹn trả nợ cho Quỹ Tiền tệ Quốc tế trong lịch sử 71 năm của tổ chức này.
14 tháng 7:
Tàu vũ trụ New Horizons của NASA tiến hành bay ngang sát qua Sao Diêm Vương, trở thành tàu vũ trụ đầu tiên trong lịch sử đến thế giới xa xôi.
Iran chấp thuận các hạn chế dài hạn về chương trình hạt nhân của mình để đổi lấy giảm nhẹ trừng phạt.
20 tháng 7: Cuba và Hoa Kỳ tái lập quan hệ ngoại giao đầy đủ, kết thúc khoảng thời gian 54 năm thù địch giữa hai bên.
24 tháng 7: Thổ Nhĩ Kỳ bắt đầu một loạt cuộc không kích chống các mục tiêu của Đảng Công nhân người Kurd và Nhà nước Hồi giáo Iraq và Levant sau Vụ đánh bom Suruç 2015.
=== Tháng 8 ===
5 tháng 8: Các mảnh vỡ phát hiện tại Đảo Réunion được xác nhận là thuộc về Chuyến bay 370 của Malaysia Airlines, mất tích từ tháng 3 năm 2014.
17 tháng 8: 1 quả bom phát nổ trong Đền Erawan tại Bangkok, Thái Lan, giết chết 20 người và làm bị thương 125 người.
=== Tháng 9 ===
10 tháng 9: Các nhà khoa học công bố phát hiện Homo naledi, một loài người ban đầu tại Nam Phi chưa được biết đến trước đây.
14 tháng 9: Quan sát trực tiếp sóng hấp dẫn lần đầu tiên: Các sóng hấp dẫn được phát hiện lần đầu tiên bởi LIGO. Điều này không được công bố cho đến ngày 11 tháng 2 năm 2016.
18 tháng 9: Nhà sản xuất ô tô Volkswagen bị cáo buộc tham gia gian lận kiểm tra khí thải diesel trên toàn cầu, ảnh hưởng đến khoảng 11 triệu phương tiện.
24 tháng 9: Một vụ giẫm đạp trong lễ hành hương Hajj tại Mecca, Ả Rập Saudi, khiến cho ít nhất 2.200 người thiệt mạng và làm bị thương hơn 900 người khác, với trên 650 người mất tích.
28 tháng 9: NASA tuyên bố rằng phát hiện được nước ở thể lỏng trên Sao Hỏa.
30 tháng 9: Nga bắt đầu các cuộc không kích chống lại Nhà nước Hồi giáo Iraq và Levant và các lực lượng chống chính phủ tại Syria.
=== Tháng 10 ===
3 tháng 10: Một cuộc không kích nhầm lẫn của Hoa Kỳ vào một bệnh viện của Bác sĩ không biên giới tại Afghanistan khiến khoảng 20 người thiệt mạng.
10 tháng 10: Một vụ đánh bom tự sát giết chết ít nhất 100 người trong một cuộc tuần hành hòa bình tại Ankara, Thổ Nhĩ Kỳ, và làm bị thương hơn 400 người khác.
23 tháng 10: Bão Patricia trở thành bão có cường độ mạnh nhất từng ghi nhận được tại Tây bán cầu và mạnh thứ nhì toàn cầu, với sức gió 215 mph và áp suất 872 mbar.
26 tháng 10: 1 vụ động đất cường độ 7,5 Mw tấn công khu vực Hindu Kush và khiến 398 người thiệt mạng, tại Pakistan, Afghanistan và Ấn Độ.
31 tháng 10: Chuyến bay 9268 của Metrojet khi đang trên hành trình đến Saint Petersburg từ Sharm el-Sheikh thì rơi gần Al-Hasana tại Sinai, làm thiệt mạng toàn bộ 217 hành khách và 7 thành viên phi hành đoàn trên khoang.
=== Tháng 11 ===
7 tháng 11: Tại Singapore, các nhà lãnh đạo Trung Quốc đại lục và Đài Loan là Tập Cận Bình và Mã Anh Cửu chính thức hội kiến lần đầu tiên.
12 tháng 11: Một số cuộc đánh bom tự sát diễn ra tại Beirut, Liban, khiến 43 người thiệt mạng và 239 người bị thương. Nhà nước Hồi giáo Iraq và Levant tuyên bố nhận trách nhiệm.
13 tháng 11: Nhiều vụ tấn công khủng bố do Nhà nước Hồi giáo Iraq và Levant nhận trách nhiệm xảy ra tại Paris, Pháp, khiến 130 người thiệt mạng.
24 tháng 11: Nội chiến Syria: Thổ Nhĩ Kỳ bắn hạ một chiến đấu cơ của Nga, lần đầu tiên một thành viên NATO tiêu diệt một máy bay Nga kể từ thập niên 1950.
30 tháng 11: Hội nghị về Biến đổi khí hậu của Liên Hiệp Quốc 2015 (COP 21) được tổ chức tại Paris, có sự tham gia của các nhà lãnh đạo đến từ 147 quốc gia.
=== Tháng 12 ===
12 tháng 12: Công ước biến đổi khí hậu toàn cầu được chấp thuận tại hội nghị thượng đỉnh COP 21, lần đầu tiên cam kết tất cả các quốc gia giảm khí phát thải carbon.
22 tháng 12: SpaceX cho đổ bộ tên lửa Falcon 9, tên lửa tái sử dụng đầu tiên tiến vào quỹ đạo không gian và trở về.
== Sinh ==
2 tháng 5 – Công chúa Charlotte xứ Cambridge, thành viên vương thất Anh
15 tháng 6 – Hoàng tử Nicolas, thành viên vương thất Thụy Điển
== Mất ==
=== Tháng 1 ===
23 tháng 1 – Quốc vương Abdullah của Ả Rập Saudi (s. 1924)
27 tháng 1 – Charles Townes, nhà vật lý học người Mỹ, đoạt giải Nobel (s. 1915)
28 tháng 1 – Yves Chauvin, nhà hóa học người Pháp, đoạt giải Nobel (s. 1930)
29 tháng 1 – Colleen McCullough, nhà văn người Úc (s. 1937)
31 tháng 1 – Richard von Weizsäcker, tống thống của Đức (s. 1920)
=== Tháng 2 ===
27 tháng 2 – Boris Nemtsov, chính trị gia người Nga (s. 1959)
=== Tháng 3 ===
9 tháng 3
Camille Muffat, vận động viên bơi lội người Pháp (s. 1989)
Frei Otto, kiến trúc sư người Đức (s. 1925)
Alexis Vastine, vận động viên quyền Anh người Pháp (s. 1986)
12 tháng 3
Michael Graves, kiến trúc sư người Mỹ (s. 1934)
Terry Pratchett, nhà vă người Anh (s. 1948)
15 tháng 3 – Từ Tài Hậu, tướng lĩnh quân đội Trung Quốc (s. 1943)
20 tháng 3 – Malcolm Fraser, thủ tướng thứ 22 của Úc (s. 1930)
23 tháng 3 – Lý Quang Diệu, thủ tướng đầu tiên của Singapore (s. 1923)
26 tháng 3 – Tomas Tranströmer, nhà văn và dịch giả người Thụy Điển, đoạt giải Nobel (s. 1931)
=== Tháng 4 ===
13 tháng 4 – Günter Grass, nhà văn người Đức, đoạt giải Nobel (s. 1927)
30 tháng 4 – Ben E. King, ca sĩ người Mỹ (s. 1938)
=== Tháng 5 ===
2 tháng 5 Maya Plisetskaya, vũ công, biên đạo múa, diễn viên người Nga (s. 1925)
9 tháng 5 – Kenan Evren, sĩ quan quân đội, tổng thống thứ bảy của Thổ Nhĩ Kỳ (s. 1917)
14 tháng 5 – B.B. King, ca sĩ và nhạc công người Mỹ (s. 1925)
23 tháng 5 – John Forbes Nash, Jr., nhà toán học người Mỹ, đoạt giải Nobel (s. 1928)
27 tháng 5 – Nils Christie, nhà tội phạm học người Na Uy (s. 1928)
=== Tháng 6 ===
2 tháng 6 – Irwin Rose, nhà hóa sinh học người Mỹ, đoạt giải Nobel (s. 1926)
7 tháng 6 – Christopher Lee, diễn viên người Anh (s. 1922)
11 tháng 6 – Ornette Coleman, nhạc công người Mỹ (s. 1930)
14 tháng 6 – Kiều Thạch, chính trị gia người Trung Quốc (s. 1924)
15 tháng 6 – Zhanna Friske, ca sĩ, diễn viên, người mẫu Nga (s. 1974)
22 tháng 6
Laura Antonelli, diễn viên người Ý (s. 1941)
James Horner, nhà soạn nhạc phim người Mỹ (s. 1953)
26 tháng 6 – Yevgeny Primakov, thủ tướng của Nga (s. 1929)
29 tháng 6 – Josef Masopust, cầu thủ và huấn luyện viên bóng đá người Séc (s. 1931)
=== Tháng 7 ===
1 tháng 7 – Nicholas Winton, nhà nhân đạo người Anh (s. 1909)
5 tháng 7 – Nambu Yōichirō, nhà vật lý học người Mỹ gốc Nhật, đoạt giải Nobel (s. 1921)
10 tháng 7 – Omar Sharif, diễn viên người Ai Cập (s. 1932)
15 tháng 7 – Vạn Lý, chính trị gia người Trung Quốc (s. 1916)
17 tháng 7 – Jules Bianchi, tay đua người Pháp (s. 1989)
21 tháng 7 – E. L. Doctorow, tác gia người Mỹ (s. 1931)
27 tháng 7 – A. P. J. Abdul Kalam, nhà khoa học và chính trị Ấn Độ, tổng thống thứ 11 của Ấn Độ (s. 1931)
28 tháng 7 – Edward Natapei, thủ tướng thứ sáu của Vanuatu (s. 1954)
=== Tháng 8 ===
22 tháng 8 – Ieng Thirith, chính trị gia người Campuchia (s. 1932)
30 tháng 8
Wes Craven, đạo diễn phim và nhà văn người Mỹ (s. 1939)
Oliver Sacks, nhà thần kinh học và nhà văn người Anh (s. 1933)
=== Tháng 9 ===
5 tháng 9 – Hara Setsuko, diễn viên người Nhật Bản (s. 1920)
=== Tháng 10 ===
3 tháng 10 – Denis Healey, chính trị gia người Anh (s. 1917)
5 tháng 10 – Henning Mankell, tác gia người Thụy Điển (s. 1948)
10 tháng 10 – Richard Heck, nhà hóa học người Mỹ (s. 1931)
14 tháng 10 – Mathieu Kérékou, tổng thống thứ năm của Benin (s. 1933)
=== Tháng 11 ===
10 tháng 11
Klaus Roth, nhà toán học người Anh (s. 1925)
Helmut Schmidt, thủ tướng của Tây Đức (s. 1918)
12 tháng 11 – Mohammed Emwazi, thành viên người Kuwait của IS (s. 1988)
22 tháng 11 – Kim Young-sam, tổng thống của Hàn Quốc (s. 1927)
23 tháng 11 – Douglass North, nhà kinh tế học người Mỹ (s. 1920)
=== Tháng 12 ===
6 tháng 12 – Franzl Lang, ca sĩ người Đức (s. 1930)
13 tháng 12 – Benedict Anderson, viện sĩ hàn lâm người Mỹ (s. 1936)
23 tháng 12 – Alfred G. Gilman, nhà dược lý học và hóa sinh học người Mỹ (s. 1941)
28 tháng 12 – Lemmy, ca sĩ và nhạc công người Anh (s. 1945)
31 tháng 12 – Natalie Cole, ca sĩ người Mỹ (s. 1950)
== Các giải Nobel ==
Y học: William C.Campbell, Satoshi Omura(một phần hai giải), Youyou Tu (một phần hai giải).
Vật lý: Takaaki Kajita, Arthur B. McDonald.
Hóa học: Tomas Lindahl, Paul Modrich.
Văn học: Savetlana Alexievich.
Hòa bình: Bộ tứ Đối thoại Quốc gia Tunisia.
Kinh tế: Angus Deaton.
== Tham khảo ==
== Liên kết ngoài == |
ascii media works.txt | ASCII Media Works, Inc. (株式会社アスキー・メディアワークス, Kabushiki kaisha Asukī Media Wākusu) là một công ty xuất bản của Nhật Bản nằm trong khối Kadokawa Group, thành lập ngày 1 tháng 4 năm 2008 như là kết quả từ sự sáp nhập giữa ASCII và MediaWorks (MediaWorks chính thức mua lại ASCII). Mặc dù vậy, chủ tịch trước đây của ASCII, Takano Kiyoshi, vẫn giữ nguyên cương vị trong ASCII Media Works. Công ty chuyên phát hành sách, tạp chí máy tính và tạp chí giải trí, manga, và trò chơi điện tử. ASCII Media Works nổi tiếng nhờ thương hiệu tạp chí và sách của họ, Dengeki (電撃, Dengeki), trong đó bao gồm nhiều tạp chí nổi tiếng như Dengeki Daioh và Dengeki G's Magazine, cùng với nhãn hiệu xuất bản light novel chính của công ty là Dengeki Bunko.
Hầu hết sản phẩm của ASCII Media Works phục vụ cho thị hiếu của đại đa số otaku Nhật, gồm các đề tài về anime, light novel, manga, mô hình nhựa và visual novel, cùng với máy tính và các doanh nghiệp hoạt động trong ngành công nghệ thông tin (IT). Công ty cũng phát hành Monthly Business ASCII, một trong những ấn phẩm lâu đời và uy tín nhất về máy tính, cùng với một số tạp chí PC và IT khác. ASCII Media Works đã xuất bản nhiều tạp chí dánh cho giới nữ như Character Parfait, Dengeki Girl's Style và Sylph, mặc dù hai quyển đầu chỉ là ấn bản đặc biệt của các tạp chí khác. Công ty tổ chức các cuộc thi đệ trình tiểu thuyết và manga hàng năm, chẳng hạn như giải light novel Dengeki Novel Prize.
== Chú thích ==
== Liên kết ngoài ==
Website chính thức (tiếng Nhật)
Dengeki.com (tiếng Nhật)
ASCII Index (tiếng Nhật)
ASCII Media Works tại từ điển bách khoa của Anime News Network (tiếng Anh) |
cristiano roland.txt | Cristiano Rocha Canedo Roland, tên thường gọi là Cristiano, là một cầu thủ bóng đá người Brasil hiện đang thi đấu cho câu lạc bộ Hà Nội T&T ở vị trí trung vệ tại V-League. Anh cũng đồng thời là đội trưởng của câu lạc bộ.
== Danh hiệu ==
CR Vasco da Gama
Campeonato Brasileiro Série A: 1997
Benfica
Taça de Portugal: 2004
== Liên kết ngoài ==
Tiểu sử tại Sambafoot
== Chú thích == |
pheng xat lao.txt | Pheng Xat Lao là quốc ca của Lào có từ năm 1947. Khi Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào được thành lập vào năm 1975, lời mới được thay cho lời cũ, nhưng giai điệu và tên bài ca vẫn được giữ nguyên.
== Lời ==
=== Tiếng Lào ===
ຊາດລາວຕັ້ງແຕ່ໃດມາ ລາວທຸກຖ້ວນຫນ້າເຊີດຊູສຸດໃຈ
ຮ່ວມແຮງຮ່ວມຈິດຮ່ວມໃຈ ສາມັກຄີກັນເປັນກຳລັງດຽວ
ເດັດດ່ຽວພ້ອມກັນກ້າວຫນ້າ ບູຊາຊູກຽດຂອງລາວ
ສົ່ງເສີມໃຊ້ສິດເປັນເຈົ້າ ລາວທຸກຊົນເຜົ່າສະເໝີພາບກັນ
ບໍ່ໃຫ້ຝູງຈັກກະພັດ ແລະພວກຂາຍຊາດເຂົ້າມາລົບກວນ
ລາວທັງມວນຊູເອກະລາດ ອິດສະລະພາບຂອງຊາດລາວໄວ້
ຕັດສິນໃຈສູ້ຊິງເອົາໄຊ ພາຊາດກ້າວໄປສູ່ຄວາມວັດທະນາ
=== Chuyển tự Latinh ===
Xat Lao Tang Tae Day Ma, Lao Thook Thuan Na Xeut Xoo Soot Chay,
Huam Haeng Huam Chit Huam Chay, Samakkhi Kan Pen Kamlang Diao.
Det Diao Phom Kan Kao Na, Boo Xa Xu Kiat Khong Lao,
Song Seum Xay Sit Pen Chao, Lao Thook Xon Phao Sameu Pab Kan.
Bo Hay Fung Chackkaphat, Lae Phuak Khay Xat Khao Ma Lob Kuan,
Lao Thang Muan Xoo Ekkalat, Itsalaphab Khong Xat Lao Vai,
Tatsin Chay Soo Xing Ao Xay, Pa Xat Kao Pay Soo Khuam Vatthana.
== lời năm 1947 ==
=== tiếng Lào ===
ຊາດລາວຕັ້ງແຕ່ເດີມມາ ຂື້ນຊື່ລືຊາຢູ່ໃນອາຊີ
ຊາວລາວຜູກພັນໄມຕຼີ ຮ່ວມສາມັກຄີຮັກຫໍ່ໂຮມກັນ
ຮັກຊາດຮັກປະເທດເຮົາ ຮັກເຈົ້າປົກເກດເກສາ
ໂຮມຮັກຮ່ວມສາສນາ ແຕ່ບູຮານມາຮັກສາດິນແດນ
ບໍ່ໃຫ້ຊາດໃດມາລວນ ຮາວີຮົບກວນຍາດແຍ່ງຊີງເອົາ
ໃຜຂືນເຂົ້າມາລູ່ວຸ່ນວາຍ ສູ້ຈົນຕົວຕາຍຕ້ານທານສັດຕຼູ
ຊ່ວຍເຊີດຊູເລືອດເນື້ອເຊື້ອເຜົ່າ ຟື້ນຟູກູ້ເອົາບັນເທົາທຸກກັນ
=== Chuyển tự Latinh ===
Xat Lao Tang Tae Deum Ma, Keun Seu Leu Xa Yu Nay Asie,
Xao Lao Pouk Pan Maitli, Huam Samakkhi Hak Hoh Hoam Khan.
Hak Xat Hak Pathet Hao, Hak Jao Pok Ket Kesa,
Hoam Hak Huam Sasna, Tae Buhan Ma Haksa Din Dan.
Bo Hay Xat Day Ma Luan, Havi Hob Kuan Yaat Yeang Xing Ao,
Pai Kuen Khao Ma Lou Vunvay, Sou Jon Tua Thay Than Tan Sattlou,
Xuay Xeat Xou Luad Neua Xeua Pao, Fuen Fu Kou Ao Bantao Tuk Kan.
== Lời Việt ==
Quốc gia Lào từ ngàn xưa đến nay, tất cả người Lào đều ngợi ca hết lòng,
Chung sức chung lòng, đoàn kết thành một khối.
Quyết cùng nhau tiến lên, tôn vinh quốc gia Lào,
Khuyến khích quyền làm chủ, tất cả các dân tộc Lào đều bình đẳng.
Không cho bọn đế quốc, và bè lũ bán nước xâm lăng,
Toàn thể dân tộc Lào giữ gìn độc lập, tự do cho quốc gia Lào,
Quyết tâm đấu tranh giành chiến thắng, đưa quốc gia tiến tới thịnh vượng.
== Tham khảo ==
== Liên kết ngoài ==
Tải xuống bài Pheng Xat Lao (không lời) |
bảng mẫu tự ngữ âm quốc tế.txt | Bảng mẫu tự ngữ âm quốc tế hay Bảng ký hiệu ngữ âm quốc tế (viết tắt IPA từ tiếng Anh International Phonetic Alphabet) là hệ thống các ký hiệu ngữ âm được các nhà ngôn ngữ học tạo ra và sử dụng nhằm thể hiện các âm tiết trong mọi ngôn ngữ của nhân loại một cách chuẩn xác và riêng biệt. Nó được phát triển bởi Hội Ngữ âm Quốc tế (ban đầu là Hội Giáo viên Ngữ âm – Dhi Fonètik Tîcerz' Asóciécon) với mục đích trở thành tiêu chuẩn phiên âm cho mọi thứ tiếng trên thế giới.
Nguyên tắc của IPA nói chung là để cung cấp một ký hiệu độc nhất cho mỗi âm đoạn, trong khi tránh những đơn âm được viết bằng cách kết hợp hai mẫu tự khác nhau (như th và ph trong tiếng Việt) và tránh những trường hợp có hai cách đọc đối với cùng một cách viết. Theo nguyên tắc này, mỗi mẫu tự trong bảng chỉ có duy nhất một cách đọc và không phụ thuộc vào vị trí của nó trong từ. Do đó, hệ thống này đòi hỏi rất nhiều mẫu tự khác nhau. Để học cách sử dụng hệ thống này thường phải qua một khóa đào tạo chuyên sâu về IPA từ các trường Đại học lớn trên thế giới. Vì hệ thống âm khá nhiều và phức tạp. Các trường Đại học lớn ở Châu Âu như Đại học Marburg, Đại học Newcastle có dạy về IPA cho sinh viên chuyên ngành Ngôn ngữ học.
== Các phụ âm pulmonic ==
=== Một vị trí phát âm ===
Bảng phụ âm pulmonic bao gồm phần nhiều phụ âm và được xếp từng dòng chỉ cách phát âm và từng cột chỉ đặc tính phát của âm, ví dụ: âm mũi là âm vang lên ở mũi, âm bật là âm được tạo ra bằng cách chặn dòng khí và thả lỏng để khí bật ra phát ra âm. Bảng chính của bao gồm các phụ âm chỉ có một vị trí phát âm.
Lưu ý:
Các dấu chữ thập (†) chỉ đến những chữ IPA chưa được hỗ trợ chính thức trong Unicode. Kể từ tháng 5 năm 2005, âm vỗ môi răng có vấn đề này do chữ v đặc biệt mới được chấp nhận: . Trong khi chờ đợi, chữ izhitsa (ѵ) được sử dụng ở đây do nhìn giống chữ chính xác, và những phông ngữ âm học của SIL hỗ trợ ký tự đúng trong Khu vực Sử dụng Cá nhân ().
Ở những ô có 2 chữ bên cạnh nhau (các obstruent), chữ bên phải là [phụ âm hữu thanh]. Riêng các phụ âm họng [ɦ], [h], [ʔ] không là phụ âm hữu thanh. Ở những ô kia (các sonorant), chữ duy nhất là phụ âm hữu thanh.
Tuy mỗi vị trí phát âm phụ âm đầu lưỡi (trừ âm xát) chỉ có một chữ, nhưng khi ấy một ngôn ngữ nào đó, các chữ tiêu biểu cho âm răng, chân răng, và chân răng sau, tùy ngôn ngữ.
Các ô được tô đậm chỉ đến phụ âm không thể phát âm.
Các chữ [ʁ], [ʕ], và [ʢ] có thể là âm xát hữu thanh hay âm tiếp cận.
Các âm xát [ʃ ʒ], [ɕ ʑ], và [ʂ ʐ] được phân biệt phần lớn do hình dạng của lưỡi, thay vì vị trí của nó.
Chưa biết đến ngôn ngữ nào có âm mũi môi răng [ɱ] là âm vị.
=== Hơn một vị trí phát âm ===
Lưu ý:
[ɧ] được miêu tả là "[ʃ] và [x] cùng lúc". Tuy nhiên, cách giải thích này bị bàn cãi. Xem bài Âm xát vòm – vòm mềm vô thanh để biết thêm chi tiết.
== Các phụ âm không pulmonic ==
Lưu ý:
Tất cả những âm mút có hơn một vị trí phát âm và cần hay chữ: một âm tắc vòm mềm hay lưỡi nhỏ, và một chữ cho âm sau: [k͡ǂ, ɡ͡ǂ, ŋ͡ǂ, q͡ǂ, ɢ͡ǂ, ɴ͡ǂ] v.v., hay [ǂ͡k, ǂ͡ɡ, ǂ͡ŋ, ǂ͡q, ǂ͡ɢ, ǂ͡ɴ]. Nếu không có chữ tiêu biểu cho âm lưỡi giữa, thường có thể nhận [k].
Những chữ tiêu biểu cho các âm khép vô thanh [ƥ, ƭ, ƈ, ƙ, ʠ] không còn được hỗ trợ bởi IPA, tuy nó vẫn còn trong Unicode. Thay vì sử dụng các chữ này, IPA sử dụng chữ tương đương và dấu vô thanh: [ɓ̥, ʛ̥], v.v.
Tuy nó chưa được nhận trong ngôn ngữ nào, và vì đó không được "nhận rõ ràng" bởI IPA, chữ âm khép quặt lưỡi hữu thanh, [ᶑ], được hỗ trợ trong Phần phụ Ngữ âm Mở rộng Unicode (Unicode Phonetic Extensions Supplement), được thêm vào phiên bản 4,1 của Tiêu chuẩn Unicode, hay có thể được viết bằng hai ký tự [ɗ̢].
Chữ âm tống ra thường được sử dụng để tiêu biểu cho các âm sonorant họng nhưng pulmonic, như là [mʼ], [lʼ], [wʼ], [aʼ], nhưng cách viết các âm này chính xác hơn là ([m̰], [l̰], [w̰], [a̰]) có dấu kẹt.
== Các nguyên âm ==
Xem biểu đồ nguyên âm trong hình
Lưu ý:
Biểu đồ mô tả lại vòm miệng với tỷ lệ phía trên cùng là 4, chiều cao bên phải là 3, ở dưới là 2. Vị trí các nguyên âm thể hiện vị trí mà âm đó được phát ra.
Khi nào có hai ký tự bên cạnh nhau, ký tự bên phải là nguyên âm tròn môi; [ʊ] cũng làm là nguyên âm tròn môi. Các ký tự kia không tròn môi.
Chưa xác định ngôn ngữ nào có [ɶ] là âm vị riêng.
[a] là nguyên âm trước chính thức, nhưng các nguyên âm mở trước và giữa gần nhau lắm, và [a] thường được sử dụng cho nguyên âm mở giữa.
[ʊ] và [ɪ] được viết là [ɷ] và [ɩ] trong những phiên bản IPA cũ.
== Ứng dụng của IPA ==
Bảng mẫu tự phiên âm quốc tế được ứng dụng trong việc học một ngôn ngữ mới về khả năng phát âm và khả năng nghe. Nó cũng được dùng trong việc huấn luyện giọng nói cho các diễn viên để có một giọng nói truyền cảm hoặc thay đổi giọng điệu của ngôn ngữ, ví dụ: tiếng anh giọng Anh và tiếng Anh giọng Mỹ. IPA có thể giúp sử dụng khẩu hình miệng, môi, răng, lưỡi đúng vị trí và cách điều khiển dòng khí để tạo ra âm thanh chuẩn khi học ngoại ngữ. Ở Châu Âu, các trường đại học lớn như Đại học Marburg và Đại học NewCastle có dạy về IPA cho ngành Ngôn ngữ học.
Trong tiếng Anh chỉ có 26 ký tự chữ viết để kết hợp thành chữ viết, nhưng có tới 44 âm khác biệt kết hợp tạo thành ngôn ngữ nói. Chính vì vậy Bảng phiên âm tiếng Anh Phonetics ra đời để chuẩn hóa hệ thống phiên âm cho các từ điển. Bảng phiên âm tiếng Anh Phonetics dựa trên Bảng phiên âm quốc tế và có sự khác nhau giữa một số từ đối với tiếng Anh giọng Mỹ và tiếng Anh giọng Anh. Phiên âm tiếng Anh Phonetics là một cách tiếp cận nhanh chóng và phù hợp cho người học ngoại ngữ vì có thể phân biệt chính xác các âm và bắt chước lại giống y hệt.
== Chú thích ==
== Xem thêm ==
Thuật ngữ ngữ âm học
Khóa học miễn phí Phonetics, Phonology and Transcription của Đại học Marburg
Phonetics Hệ thống âm của tiếng Anh Mỹ
Video dạy Bảng phiên âm quốc tế của Đại học NewCastle
== Liên kết ngoài ==
Trang chủ của Hội Phiên âm Quốc tế
Gentium, phông chữ quốc tế được vẽ thành thạo, có chữ Latinh, Hy Lạp, và Kirin và kiểu chữ thẳng và xiên; bao gồm IPA, nhưng chưa bao gồm các chữ thanh và chữ âm vỗ môi răng mới.
Charis SIL, phông chữ quốc tế đầy đủ (chữ Latinh, Hy Lạp, và Kirin; kiểu thẳng, xiên, và đậm) có các chữ thanh và dấu phụ dựng sẵn trên nguyên âm IPA, chữ âm vỗ môi răng, và nhiều ký tự ngữ âm không chuẩn.
Doulos SIL, phông chữ giống Times hay Times New Roman. Nó bao gồm các ký tự của Charis SIL, nhưng chỉ có kiểu chữ thẳng.
Bàn phím trên mạng
Bàn phím và công cụ phát âm máy tính
Bảng IPA bằng Unicode và XHTML/CSS |
trần trường giang.txt | Trần Trường Giang (sinh 1 tháng 11 năm 1976) là một cựu cầu thủ bóng đá Việt Nam. Anh từng là đội trưởng kiêm trợ lý HLV tại đội Bình Dương. Anh thi đấu cho đội tuyển Việt Nam từ năm 2002 đến đầu năm 2009.
== Sự nghiệp ==
Trần Trường Giang chơi cho câu lạc bộ bóng đá Tiền Giang từ khi còn trẻ và khi mới 20 tuổi đã trở thành đội trưởng của câu lạc bộ này. Năm 2002, khi đội Tiền Giang đang tham gia giải hạng nhất, Trần Trường Giang được gọi vào đội tuyển Việt Nam chuẩn bị cho Cúp Tiger 2002. Tại giải đấu này, Giang ghi 3 bàn thắng, trong đó có bàn thằng mở tỷ số trong trận thắng đội tuyển bóng đá quốc gia Malaysia giành huy chương đồng.
Một năm sau, 2003, Trần Trường Giang chuyển sang câu lạc bộ bóng đá Bình Dương với giá chuyển nhượng 1 tỷ đồng và nhận lương khoảng 25 triệu/tháng, cái giá đuọc xem là kỷ lục vào thời đó. Tại câu lạc bộ mới, Giang cũng trở thành đội trưởng, cùng câu lạc bộ vô địch Việt Nam 2 năm liên tiếp 2007 và 2008.
Năm 2008, một lần nữa ông Henrique Calisto gọi Trần Trường Giang vào đội tuyển quốc gia chuẩn bị cho Cúp AFF 2008. Và tại giải đấu này, Giang cùng đội tuyển Việt Nam đoạt chức vô địch Đông Nam Á. Sau trận thắng đội tuyển bóng đá quốc gia Liban trong vòng loại cúp bóng đá châu Á 2011, Giang xin từ giã đội tuyển vì lý do tuổi tác.
Năm 2010, anh chia tay Bình Dương trong "nỗi buồn khôn tả", bởi theo anh, anh đã tưởng rằng khi giải nghệ sẽ tiếp tục tìm được một công việc liên quan đến bóng đá ở đất Bình Dương. Trước đó, anh đã được chọn làm trợ lý HLV trong mùa giải cuối cùng thi đấu cho Bình Dương.
Sau khi rời Bình Dương anh đầu quân cho đội bóng Navibank Sài Gòn ở V-League 2011. Sau khi kết thúc mùa giải này anh tuyên bố giải nghệ ở tuổi 35.
== Thành tích ==
Với đội tuyển Việt Nam
Vô địch giải vô địch bóng đá Đông Nam Á 2008
Hạng 3 giải vô địch bóng đá Đông Nam Á 2002
Với Bình Dương
Vô địch V-League 2007 và 2008
Đoạt Siêu cúp 2007 và 2008
Với Navibank Sài Gòn
Đoạt Cúp Quốc gia 2011
== Chú thích ==
== Tham khảo == |
quân sự.txt | Quân sự theo khái niệm rộng: là lĩnh vực hoạt động đặc biệt của xã hội liên quan đến đấu tranh vũ trang, chiến tranh và quân đội hay các lực lượng vũ trang.
Quân sự theo nghĩa hẹp: là một trong những hoạt động cơ bản trong quân đội, cùng với các hoạt động khác như chính trị, hậu cần, kỹ thuật... tạo nên sức mạnh chiến đấu của quân đội.
== Các thuật ngữ liên quan đến quân sự ==
Lịch sử quân sự: Là lịch sử về quá trình phát sinh, phát triển các hoạt động quân sự.
Học thuyết Quân sự: là hệ thống quan điểm được chấp nhận trong một Nhà nước ở một thời kỳ nhất định về mục đích, tính chất của cuộc chiến tranh có thể xảy ra, về việc chuẩn bị và phương thức tiến hành cuộc chiến tranh đó.
Sức mạnh quân sự: là hệ thống quan điểm về sức chiến đấu, số lượng, chất lượng con người và vũ khí, khí tài, trang bị quân sự của một hội, tổ chức, nhóm, tập đoàn trong một thời kỳ nhất định.
Tư tưởng Quân sự: là hệ thống các quan điểm về quân sự và các vấn đề có liên quan đến quân sự của cá nhân, giai cấp hoặc tổ chức nhất định.
Nghệ thuật Quân sự: là hệ thống các quan điểm về quân sự và các vấn đề liên quan đến vấn đề về Chiến lược, chiến thuật, chiến dịch trong hoạt động quân sự của một tổ chức, tập đoàn quân.
Chính sách Quân sự: là đường hướng của tập đoàn lãnh đạo và phương thức hoạt động của tập đoàn đó về mặt quân sự.
Khoa học quân sự: Là khoa học nghiên cứu và phát triển về kỹ thuật, công nghệ, tâm lý, về các hiện tượng thực tế, hoàn thiện chúng để sử dụng trong chiến tranh, đặc biệt là trong các cuộc chiến đấu.
Kỹ thuật quân sự: là một ngành khoa học kỹ thuật nghiên cứu cơ bản và ứng dụng những thành tựu của khoa học vào thiết kế và chế tạo vũ khí và các phương tiện kỹ thuật chiến đấu và phòng thủ.
Hoạt động quân sự: Là những hành động quân sự hoặc có mục đích quân sự như xây dựng các kế hoạch quân sự, tổ chức lực lượng vũ trang, phát động và tiến hành chiến tranh
Quân sự hóa
Phi quân sự hóa
== Xem thêm ==
Chiến tranh
Quân đội
Danh sách vũ khí
Căn cứ quân sự
== Tham khảo == |
1940.txt | 1940 (số La Mã: MCMXL) là một năm nhuận bắt đầu vào thứ Hai trong lịch Gregory. Bản mẫu:Tháng trong năm 1940
== Sự kiện ==
=== Tháng 1 ===
10 tháng 1: Sự kiện Altmark
=== Tháng 4 ===
9 tháng 4:
Đức xâm lược Đan Mạch
Mở đầu chiến dịch Na Uy
=== Tháng 5 ===
10 tháng 5: Phát xít Đức xâm lược Pháp
17 tháng 5: Quân Đức đánh chiếm Bỉ
=== Tháng 6 ===
10 tháng 6: Kết thúc chiến dịch Na Uy
14 tháng 6: Quân Đức công chiếm Paris
17 tháng 6: Tổng thống Pháp tuyên bố đầu hàng phát xít Đức
18 tháng 6: Tướng Charles de Gaulle tuyên bố tiếp tục kháng chiến chống phát xít Đức.
22 tháng 6: Pháp đầu hàng phát xít Đức.
=== Tháng 7 ===
10 tháng 7: Mở đầu không chiến tại Anh Quốc
=== Tháng 8 ===
20 tháng 8: xảy ra chiến dịch Bách Đoàn tại Hoa Bắc, Trung Quốc.
=== Tháng 9 ===
22 tháng 9: Quân đội Nhật Bản tiến vào Đông Dương.
27 tháng 9: bùng nổ khởi nghĩa Bắc Sơn. Đức, Ý, Nhật ký hiệp ước tam cường
=== Tháng 10 ===
7 tháng 10: Phát xít Đức xâm lược Rumani.
31 tháng 10: Kết thúc không chiến tại Anh Quốc
=== Tháng 11 ===
23 tháng 11: Bùng nổ khởi nghĩa Nam Kỳ
== Sinh ==
=== Tháng 1 ===
2 tháng 1 - Jim Bakker, televangelist người Mỹ
4 tháng 1 - Brian David Josephson, nhà vật lý, giải thưởng Nobel người Wales
4 tháng 1 - Cao Hành Kiện, nhà văn, giải thưởng Nobel người Trung Quốc
6 tháng 1 - Penny Lernoux, nhà báo, tác gia người Mỹ, (m. 1989)
9 tháng 1 - Miguel Ángel Rodríguez, chính trị gia, luật sư, nhà kinh tế học, người Costa Rica
14 tháng 1 - Julian Bond, nhà đấu tranh cho nhân quyền người Mỹ
19 tháng 1 - Mike Reid, diễn viên người Anh (m. 2007)
20 tháng 1 - Carol Heiss, vận động viên trượt băng nghệ thuật người Mỹ
22 tháng 1 - John Hurt, diễn viên người Anh
27 tháng 1 - James Cromwell, diễn viên người Mỹ
31 tháng 1 - Kitch Christie, huấn luyện viên bóng bầu dục, người Nam Phi, (m. 1998)
=== Tháng 2 ===
2 tháng 2 - David Jason, diễn viên người Anh
3 tháng 2 - Fran Tarkenton, cầu thủ bóng đá người Mỹ
4 tháng 2 - George Romero, người viết kịch bản phim, nhà sản xuất phim, đạo diễn người Mỹ
5 tháng 2 - H.R. Giger, nghệ sĩ người Thụy Sĩ
6 tháng 2 - Tom Brokaw, truyền hình tin tức phóng viên người Mỹ
6 tháng 2 - Jimmy Tarbuck, diễn viên hài người Anh
8 tháng 2 - Ted Koppel, nhà báo người Mỹ
8 tháng 2 - Joe South, ca sĩ, người sáng tác bài hát người Mỹ
9 tháng 2 - John Maxwell Coetzee, nhà văn, giải thưởng Nobel người Nam Phi
12 tháng 2 - Richard Lynch, diễn viên người Mỹ
17 tháng 2 - Gene Pitney, ca sĩ người Mỹ, (m. 2006)
19 tháng 2 - Smokey Robinson, nhạc sĩ người Mỹ
20 tháng 2 - Jimmy Greaves, cầu thủ bóng đá người Anh
21 tháng 2 - James Wong, nhà soạn nhạc người Hồng Kông, (m. 2004)
22 tháng 2 - Johnson Mlambo, chính trị gia người Nam Phi
22 tháng 2 - Billy Name, nhà nhiếp ảnh, Archivist người Mỹ
23 tháng 2 - Peter Fonda, diễn viên người Mỹ
24 tháng 2 - Denis Law, cầu thủ bóng đá người Scotland
25 tháng 2 - Ron Santo, vận động viên bóng chày người Mỹ
28 tháng 2 - Mario Andretti, tay đua xe người Mỹ
29 tháng 2 - Edward Frederic Benson, nhà văn người Mỹ
=== Tháng 3 ===
3 tháng 3 - Germán Castro Caycedo, nhà văn, nhà báo người Colombia
3 tháng 3 - Owen Spencer-Thomas, nhà báo, người Anh
6 tháng 3 - Willie Stargell, vận động viên bóng chày, (m. 2001)
7 tháng 3 - Rudi Dutschke, sinh viên người Đức, (m. 1979)
9 tháng 3 - Raúl Juliá, diễn viên người Puerto Rican, (m. 1994)
10 tháng 3 - Chuck Norris, diễn viên, nghệ sĩ người Mỹ
12 tháng 3 - Al Jarreau, ca sĩ người Mỹ
15 tháng 3 - Phil Lesh, nhạc sĩ người Mỹ
16 tháng 3 - Bernardo Bertolucci, nhà văn, đạo diễn phim người Ý
16 tháng 3 - Jan Pronk, chính trị gia, nhà ngoại giao người Đức
17 tháng 3 - Mark White, thống đốc
22 tháng 3 - Haing S. Ngor, diễn viên người Campuchia, (m. 1996)
25 tháng 3 - Anita Bryant, Entertainer người Mỹ
26 tháng 3 - James Caan, diễn viên người Mỹ
27 tháng 3 - Austin Pendleton, diễn viên người Mỹ
27 tháng 3 - Cale Yarborough, tay đua người Mỹ
29 tháng 3 - Ray Davis, nhạc sĩ người Mỹ
30 tháng 3 - Astrud Gilberto, ca sĩ người Brasil
=== Tháng 4 ===
1 tháng 4 - Wangari Muta Maathai, nhà môi trường học, giải thưởng Nobel hòa bình người Kenya
2 tháng 4 - Penelope Keith, nữ diễn viên người Anh
12 tháng 4 - Herbie Hancock, nhạc sĩ người Mỹ
12 tháng 4 - John Hagee, televangelist người Mỹ
18 tháng 4 - Joseph L. Goldstein, nhà khoa học, giải thưởng Nobel người Mỹ
20 tháng 4 - George Takei, diễn viên người Mỹ
25 tháng 4 - Al Pacino, diễn viên người Mỹ
26 tháng 4 - Giorgio Moroder, nhà soạn nhạc người Ý
=== Tháng 5 ===
1 tháng 5 - Elsa Peretti, nhà thiết kế người Ý
8 tháng 5 - Peter Benchley, tác gia người Mỹ (m. 2006)
8 tháng 5 - Angela Carter, tác gia, chủ bút người Anh (m. 1992)
8 tháng 5 - Ricky Nelson, ca sĩ người Mỹ (m. 1985)
8 tháng 5 - Toni Tennille, ca sĩ người Mỹ
9 tháng 5 - James L. Brooks, nhà sản xuất phim, nhà văn người Mỹ
11 tháng 5 - Juan Downey, nghệ sĩ người Chile, (m. 1993)
17 tháng 5 - Alan Kay, nhà khoa học người Mỹ
18 tháng 5 - Lenny Lipton, nhà phát minh người Mỹ
20 tháng 5 - Stan Mikita, vận động viên khúc côn cầu người Slovakia
20 tháng 5 - Sadaharu Oh, vận động viên bóng chày người Nhật Bản
22 tháng 5 - Bernard Shaw, nhà báo, phóng viên truyền hình tin tức người Mỹ
24 tháng 5 - Joseph Brodsky, nhà thơ, giải thưởng Nobel người Nga, (m. 1996)
29 tháng 5 - Farooq Leghari, tổng thống Pakistan
=== Tháng 6 ===
1 tháng 6 - René Auberjonois, diễn viên người Mỹ
6 tháng 6 - Richard Paul, diễn viên người Mỹ (m. 1998)
7 tháng 6 - Tom Jones, ca sĩ người Wales
8 tháng 6 - Carole Ann Ford, nữ diễn viên người Anh
8 tháng 6 - Nancy Sinatra, ca sĩ người Mỹ
16 tháng 6 - Neil Goldschmidt, Thống đốc bang Oregon
17 tháng 6 - George Akerlof, nhà kinh tế học, giải thưởng Nobel người Mỹ
20 tháng 6 - John Mahoney, diễn viên người Anh
21 tháng 6 - Mariette Hartley, nữ diễn viên người Mỹ
22 tháng 6 - Abbas Kiarostami, đạo diễn phim, người viết kịch bản phim, nhà sản xuất phim người Iran
22 tháng 6 - Esther Rantzen, phát thanh viên người Anh
23 tháng 6 - Adam Faith, ca sĩ, diễn viên người Anh, (m. 2003)
23 tháng 6 - Wilma Rudolph, vận động viên điền kinh người Mỹ (m. 1994)
25 tháng 6 - A.J. Quinnell, nhà văn người Anh, (mất 2005)
29 tháng 6 - Vyacheslav Artyomov, nhà soạn nhạc người Nga
=== Tháng 7 ===
3 tháng 7 - César Tovar, vận động viên bóng chày người Venezuela, (m. 1994)
7 tháng 7 - Ringo Starr, nhạc công đánh trống người Anh
10 tháng 7 - Gene Alley, vận động viên bóng chày
10 tháng 7 - Tom Farmer, chủ doanh nghiệp người Scotland
10 tháng 7 - Helen Donath, ca sĩ soprano người Mỹ
13 tháng 7 - Patrick Stewart, diễn viên người Anh
17 tháng 7 - Tim Brooke-Taylor, diễn viên hài người Anh
17 tháng 7 - Verne Lundquist, phóng viên thể thao người Mỹ
18 tháng 7 - Joe Torre, nhà quản lý, vận động viên bóng chày
18 tháng 7 - James Brolin, diễn viên, người đạo diễn người Mỹ
22 tháng 7 - George Clinton, nhạc sĩ người Mỹ
22 tháng 7 - Alex Trebek, game show host người Canada
24 tháng 7 - Stanley Hauerwas, theologian người Mỹ
26 tháng 7 - Mary Jo Kopechne, người Mỹ aide to Ted Kennedy người Mỹ (m. 1969)
27 tháng 7 - Bharati Mukherjee, tiểu thuyết gia người Ấn Độ
31 tháng 7 - Roy Walker, Presenter diễn viên hài
=== Tháng 8 ===
3 tháng 8 - Martin Sheen, diễn viên người Mỹ
7 tháng 8 - Jean-Luc Dehaene, thủ tướng Bỉ
9 tháng 8 - Beverlee McKinsey, nữ diễn viên người Mỹ
10 tháng 8 - Bobby Hatfield, ca sĩ người Mỹ (m. 2003)
19 tháng 8 - Jill St. John, nữ diễn viên người Mỹ
20 tháng 8 - Rubén Hinojosa, chính trị gia người Mỹ
22 tháng 8 - Valerie Harper, nữ diễn viên người Mỹ
25 tháng 8 - José Van Dam, bass-baritone người Bỉ
28 tháng 8 - Tom Baker, diễn viên người Mỹ, (m. 1982)
29 tháng 8 - Johnny Paris, nhạc sĩ, người Mỹ (m. 2006)
29 tháng 8 - Bennie Maupin, nhạc sĩ người Mỹ
=== Tháng 9 ===
5 tháng 9 - Raquel Welch, nữ diễn viên người Mỹ
7 tháng 9 - Đặng Vũ Chư
10 tháng 9 - David Mann, nghệ sĩ người Mỹ (m. 2004)
12 tháng 9 - Skip Hinnant, diễn viên người Mỹ
12 tháng 9 - Mickey Lolich, vận động viên bóng chày
13 tháng 9 - Óscar Arias, chính trị gia, giải thưởng Nobel hòa bình người Costa Rica
14 tháng 9 - Larry Brown, huấn luyện viên người Mỹ
23 tháng 9 - Mohammad-Reza Shajarian, ca sĩ người Iran
=== Tháng 10 ===
9 tháng 10 - John Lennon, nhạc sĩ, ca sĩ người Anh (m. 1980)
13 tháng 10 - Pharoah Sanders, nhạc công saxophon người Mỹ
14 tháng 10 - Cliff Richard, ca sĩ người Anh
15 tháng 10 - Peter Doherty, nhà miễn dịch học, giải thưởng Nobel người Áo Hung, người Áo, người Úc
19 tháng 10 - Michael Gambon, diễn viên người Ireland
20 tháng 10 - Robert Pinsky, Poet Laureate of the United States
21 tháng 10 - Manfred Mann (Manfred Lubowitz), nhạc sĩ người Hàn Quốc, người Nam Ossetia, người Nam Phi
21 tháng 10 - Geoffrey Boycott, cầu thủ cricket người Anh
23 tháng 10 - Pelé, cầu thủ bóng đá người Brasil
25 tháng 10 - Bobby Knight, huấn luyện viên người Mỹ
27 tháng 10 - John Gotti, găngxtơ người Mỹ (m. 2002)
=== Tháng 11 ===
15 tháng 11 - Sam Waterston, diễn viên người Mỹ
25 tháng 11 - Joe Gibbs, huấn luyện viên người Mỹ
27 tháng 11 - Bruce Lee, nghệ sĩ, diễn viên người Trung Quốc (m. 1973)
=== Tháng 12 ===
1 tháng 12 - Richard Pryor, diễn viên, diễn viên hài người Mỹ (m. 2005)
4 tháng 12 - Gary Gilmore, kẻ giết người người Mỹ
5 tháng 12 - Peter Pohl, nhà văn người Thụy Điển
12 tháng 12 - Sharad Pawar, chính trị gia người Ấn Độ
12 tháng 12 - Dionne Warwick, ca sĩ người Mỹ
21 tháng 12 - Frank Zappa, nhạc sĩ, nhà soạn nhạc, nhà văn châm biếm người Mỹ (m. 1993)
22 tháng 12 - Noel Jones, đại sứ người Anh (m. 1995)
26 tháng 12 - Edward C. Prescott, nhà kinh tế học, giải thưởng Nobel người Mỹ
=== Không rõ ngày ===
Spencer Johnson
Yên Lang, soạn giả cải lương người Việt
== Mất ==
=== Tháng 1 ===
4 tháng 1 - Flora Finch, nữ diễn viên, diễn viên hài người Anh (s. 1869)
18 tháng 1 - Kazimierz Tetmajer, nhà thơ, nhà văn người Ba Lan (s. 1865)
27 tháng 1 - Isaac Babel, nhà văn người Ukraina (s. 1894)
=== Tháng 3 ===
5 tháng 3 - Cai Yuanpei, nhà sư phạm người Trung Quốc (s. 1868)
10 tháng 3 - Mikhaïl Boulgakov, nhà văn người Nga (s. 1891)
16 tháng 3 - Selma Lagerlöf, nhà văn, giải thưởng Nobel người Thụy Điển (s. 1858)
20 tháng 3 - Alfred Ploetz, thầy thuốc, nhà sinh vật học, nhà ưu sinh học người Đức (s. 1860)
26 tháng 3 - Spiridon Louis, runner người Hy Lạp
31 tháng 3 - Tinsley Lindley, cầu thủ bóng đá người Anh (s. 1865)
=== Tháng 4 ===
26 tháng 4 - Carl Bosch, nhà hóa học, giải thưởng Nobel người Đức (s. 1874)
=== Tháng 5 ===
14 tháng 5 - Emma Goldman, người Litva (s. 1869)
15 tháng 5 - Menno ter Braak, nhà văn người Đức (s. 1902)
20 tháng 5 - Verner von Heidenstam, nhà văn, giải thưởng Nobel người Thụy Điển (s. 1859)
25 tháng 5 - Joe De Grasse, đạo diễn phim người Canada (s. 1873)
=== Tháng 6 ===
10 tháng 6 - Marcus Garvey, Publisher, chủ doanh nghiệp người Jamaica (s. 1887)
11 tháng 6 - Alfred S. Alschuler, kiến trúc sư người Mỹ (s. 1876)
17 tháng 6 - Arthur Harden, nhà hóa học, giải thưởng Nobel người Anh (s. 1865)
29 tháng 6 - Paul Klee, nghệ sĩ người Thụy Sĩ (s. 1879)
=== Tháng 8 ===
8 tháng 8 - Johnny Dodds, nhạc Jazz Clarinetist người Mỹ (s. 1892)
18 tháng 8 - Walter Chrysler, nhà tiên phong trong công nghiệp ô tô người Mỹ (s. 1875)
21 tháng 8 - Lev Davidovich Trotsky, nhà cách mạng người Nga (s. 1879)
21 tháng 8 - Hermann Obrecht, Federal Councillor người Thụy Sĩ (s. 1882)
22 tháng 8 - Mary Vaux Walcott, nghệ sĩ người Mỹ (s. 1860)
30 tháng 8 - Joseph John Thomson, nhà vật lý, giải thưởng Nobel người Anh (s. 1856)
=== Tháng 9 ===
5 tháng 9 - Charles de Broqueville, thủ tướng Bỉ (s. 1860)
27 tháng 9 - Julius Wagner-Jauregg, giải thưởng Nobel người Áo Hung, người Áo, người Úc (s. 1857)
=== Tháng 10 ===
5 tháng 10 - Ballington Booth, người Mỹ co-founder of Volunteers of America (s. 1857)
9 tháng 10 - Wilfred Grenfell, Missionary người Anh (s. 1865)
10 tháng 10 - Berton Churchill, diễn viên người Canada (s. 1876)
=== Tháng 11 ===
9 tháng 11 - Neville Chamberlain, thủ tướng Anh (s. 1869)
17 tháng 11 - Eric Gill, nhà điêu khắc, nhà văn người Anh (s. 1882]])
17 tháng 11 - Raymond Pearl, nhà sinh vật học người Mỹ (s. 1879)
=== Tháng 12 ===
5 tháng 12 - Jan Kubelík, nghệ sĩ vĩ cầm người Séc (s. 1880)
19 tháng 12 - Kyösti Kallio, tổng thống Phần Lan, (s. 1873)
21 tháng 12 - F. Scott Fitzgerald, nhà văn người Mỹ (s. 1896)
25 tháng 12 - Agnes Ayres, nữ diễn viên người Mỹ (s. 1898)
== Giải Nobel ==
Vật lý - ?
Hóa học - không có giải
Y học - Brendan Michales
Văn học - không có giải
Hòa bình - không có giải
== Xem thêm ==
== Tham khảo == |
bạn tình.txt | Bạn tình là những người tham gia vào các hoạt động tình dục với nhau. Bạn tình hay còn gọi là đối tác tình dục có thể chỉ bất kỳ về số lượng người, giới tính, quan hệ tình dục, hoặc khuynh hướng tình dục (chẳng hạn như đồng tính. Bạn tình có thể trở thành bạn đời (thuật ngữ dùng để chỉ về những cặp chung sống trọn đời hoặc có tình dục có sự cam kết, ràng buộc bằng một cuộc hôn nhân mà rõ nhất là có hôn thú hoặc hôn ước) hoặc chỉ là quan hệ tình dục đơn thuần. Bạn tình cũng có thể được chuyển hóa từ tình bạn.
== Đối tượng ==
Thuật ngữ bạn thông thường được áp dụng để chỉ về quan hệ tình dục có sự đồng thuận, không dùng để những người bị ép buộc hoặc quan hệ từ một sự cưỡng ép như hiếp dâm hoặc quan hệ tình dục với súc vật. Trong những trường hợp tình dục cưỡng ép thì một bên gây ra thường được gọi là thủ phạm, và người chống lại người quan hệ tình dục bất thành hoặc thành công được gọi là một nạn nhân. Nói chung, một người bạn tình là một trong những người mà hiện nay tham gia vào một hoạt động tình dục, hoặc thường xuyên tham gia vào các hoạt động như vậy và hy vọng sẽ làm như vậy một lần nữa trong tương lai.
Các đối tác tình dục có thể là trong một mối quan hệ, âu yếm riêng rẽ với nhau hoặc họ đơn thuần tham gia vào các hoạt động tình dục một cách bình thường. Những người có quan hệ trong những điều kiện thân mật gắn bó với nhau thì có thể gọi bằng thuật ngữ người yêu, người tình, nhân tình. Cũng có thể đó là quan hệ tình dục một cách chóng vánh không để lại danh tính ví dụ như trong trường hợp quan hệ tình dục với một người lạ, tình một đêm, hoặc quan hệ với gái mại dâm.
Một người có thể là đối tác tình dục của người khác ngay cả khi hoạt động tình dục là bất hợp pháp, là một điều cấm kỵ trong xã hội hoặc vi phạm một sự tin tưởng hoặc cam kết ví dụ như ngoại tình, phản bội, lăng nhăng, lang chạ với người khác. Một người có thể có nhiều hơn một người bạn tình cùng một lúc ví dụ như tình tay ba, tình dục tập thể... Hoặc trường hợp hôn nhân đa thê, đa thiếp…..
Một đối tác cũ của hoạt động tình dục hay người cũ là một người mà người mà không có ý định tham gia vào bất kỳ hoạt động tình dục này nữa, trong khi một người bạn tình tiềm năng là một trong những người mà tuy trước đây không tham gia vào bất kỳ hoạt động tình dục nào với nhau, nhưng có sự ham muốn chuyện này.
Giới nữ luôn có sự mâu thuẫn nội tâm khi lựa chọn bạn tình và bạn đời, phần lớn phụ nữ dễ bị cuốn hút bởi những chàng trai có chất giọng trầm ấm, nhưng khi tìm kiếm một người chồng thì họ lại lựa những người đàn ông có chất giọng cao.
== Chú thích == |
lý quang diệu.txt | Lý Quang Diệu (tên chữ Latin: Lee Kuan Yew; tên chữ Hán: 李光耀; bính âm: Lǐ Guāngyào, 16 tháng 9 năm 1923 – 23 tháng 3 năm 2015), là Thủ tướng đầu tiên của nước Cộng hòa Singapore, ông đảm nhiệm chức vụ này từ năm 1959 đến năm 1990.
Mặc dù đã rời bỏ chức vụ thủ tướng, ông vẫn được xem là một chính trị gia có ảnh hưởng nhất tại đảo quốc này. Ông tiếp tục phục vụ trong chính phủ của thủ tướng Ngô Tác Đống trong cương vị Bộ trưởng Cao cấp.
Cho đến khi qua đời Lý Quang Diệu giữ một chức vụ được kiến tạo riêng cho ông, Bộ trưởng Cố vấn (Minister Mentor) dưới quyền lãnh đạo của con trai ông, Lý Hiển Long, thủ tướng thứ ba của Singapore (nhậm chức ngày 12 tháng 8 năm 2004), và là người thứ hai thuộc gia tộc Lý đảm nhiệm cương vị này. Ông còn được biết đến trong vòng thân bằng quyến hữu với tên "Harry".
== Xuất thân ==
Theo cuốn hồi ký của ông, Lý Quang Diệu là thế hệ thứ tư thuộc một gia đình người Khách Gia định cư tại Singapore. Ông cố Lý Mộc Văn (Lee Bok Boon - 李沐文) (sinh năm 1846), rời bỏ quê nhà thuộc huyện Đại Bộ, tỉnh Quảng Đông để đến Singapore vào năm 1863. Ông lấy con gái của một ông chủ hiệu là Seow Huan Nio, và đã trở về Trung Quốc vào năm 1882, bỏ lại vợ và ba đứa con. Lý Mộc Văn đã xây dựng một thái ấp nhỏ ở quê nhà và mất 2 năm sau đó.
Ông của Lý Quang Diệu tên là Lý Vân Long (Lee Hoon Leong - 李雲龍), sinh tại Singapore năm 1871, lúc đó đang là thuộc địa Anh. Ông đã được hưởng nền giáo dục ở Anh tại Học viện Raffles, và trở thành người chuyên bào chế thuốc không hợp pháp, sau đó chuyển sang làm người phụ trách tài chính trên tàu hơi nước được sở hữu bởi một chủ người Hoa, Oei Tiong Ham.. Lý Vân Long, ở tuổi 26 đã lấy Ko Liem Nio, lúc đó 16 tuổi tại Semarang, Java, thuộc địa Đông Ấn Hà Lan (Hiện tại thuộc Indonesia). Đây là cuộc đám cưới được gia đình 2 bên sắp đặt theo phong tục truyền thống. Gia đình 2 bên đều thuộc tầng lớp trung lưu. Cả cô dâu và chú rể đều được hưởng nền giáo dục Anh quốc. Ông ngoại Lý Vân Long sở hữu bất động sản và việc mua bán cao su tại đường Orchard. Lý Vân Long cuối cùng trở thành giám đốc quản lý của công ty Heap Eng Moh Steamship.
Ông Lý Vân Long có 2 người vợ, là việc bình thường vào thời đó, là cha của 5 người con gái và 2 người con trai. Con trai của ông là Lý Tiến Khôn (Lee Chin Koon - 李進坤) cũng đã được hưởng nền giáo dục Anh quốc sau đó đã lấy Thái Nhận Nương (Chua Jim Neo - 蔡認/认娘), là mẹ của ông Lý Quang Diệu. Lý Quang Diệu chào đời trong một nhà lều rộng và thoáng tại số 92 đường Kampong Java, Singapore. Ngay từ khi còn bé, văn hoá Anh đã có ảnh hưởng đậm nét trên Lý, một phần là do ông nội, Lý Vân Long, đã cho các con trai của mình hấp thụ nền giáo dục của Anh. Cũng chính ông nội đã cho cậu bé Lý tên Harry để thêm vào tên Quang Diệu mà người cha đặt cho con mình.
Tài sản của ông Lý Quang Diệu bị tiêu tán do ảnh hưởng của cuộc Đại khủng hoảng, và do đó làm cho cha ông, Lý Tiến Khôn trở thành một chủ cửa hiệu nghèo.
Ngày 30 tháng 9 năm 1950, Lý Quang Diệu kết hôn với Kha Ngọc Chi. Cả 2 đều sử dụng tiếng Anh như là ngôn ngữ mẹ đẻ. Ông Diệu do không sõi tiếng Trung Quốc nên đã bắt đầu học tiếng Trung Quốc vào năm 1955 ở độ tuổi 32.. Ông Diệu lúc trưởng thành mới bắt đầu học tiếng Nhật và làm phiên dịch cho người Nhật trong khoảng thời gian Nhật Bản chiếm đóng Singapore. Họ có hai con trai và một con gái.
Vài thành viên trong gia tộc Lý đảm nhiệm những vị trí quan trọng trong xã hội Singapore, các con trai và con gái của ông hiện giữ các chức vụ cao cấp trong chính quyền hoặc liên quan đến chính quyền.
Cậu con cả, Lý Hiển Long, cựu chuẩn tướng quân đội, từ năm 2004 là Bộ trưởng Tài chính và nay là Thủ tướng đương nhiệm. Lý Hiển Long cũng là Phó chủ tịch Ban quản trị Công ty Đầu tư Singapore (Lý Quang Diệu là chủ tịch).
Ho Ching (Hà Tinh), vợ của thủ tướng Lý Hiển Long, là giám đốc điều hành của Tamasek Holdings.
Con trai thứ của ông Lý, Lý Hiển Dương, cựu chuẩn tướng, hiện là chủ tịch và tổng giám đốc của Sing Tel, một tập đoàn truyền thông xuyên châu Á, cũng là công ty lớn nhất trong thị trường tư bản (liệt kê trên thị trường chứng khoán Singapore, SGX). Bảy mươi hai phần trăm cổ phần của Sing Tel thuộc quyền sở hữu của công ty Temasek Holdings, một công ty đầu tư của chính phủ có cổ phần nắm quyền kiểm soát tại những công ty có liên hệ với chính phủ như Singapore Airlines và ngân hàng DBS.
Con gái của ông Lý, Lý Vĩnh Linh, lãnh đạo Viện Khoa học Thần kinh Quốc gia, đến nay vẫn sống độc thân. Vợ của Lý Quang Diệu, bà Kha Ngọc Chi từng là thành viên của công ty luật nổi tiếng Lee & Lee. Các em trai của ông, Dennis, Freddy và Suan Yew đều là thành viên của công ty luật nói trên. Ông có một em gái tên Monica. Lý Quang Diệu luôn bác bỏ mọi cáo buộc về gia đình trị, cho rằng những vị trí đặc quyền mà các thành viên trong gia đình ông có được là nhờ những nỗ lực bản thân.
== Thiếu thời ==
Lý Quang Diệu theo học tại trường tiểu học Telok Kurau, ông cũng mô tả thời học tiểu học thành tích học tập của ông không có gì nổi bật. Sau đó ông theo học Học viện Raffles, ông đã phải nỗ lực để theo kịp vì tại đây có tới 150 học viên đứng đầu toàn Singapore. Ông đã vào được top đầu và tham gia phong trào hướng đạo trong 3 năm. Ông cũng tham gia các hoạt động thể dục thể thao như tennis, cricket, hay tham gia các buổi thảo luận của học viện.
Những năm đầu tại đại học Cambridge ông giành được nhiều học bổng và sau đó đã giành được tấm bằng hạng nhất của nhà trường và giành được học bổng John Anderson cho phép ông theo học đại học Raffles (hiện tại là Đại học quốc gia Singapore). Ông phải bỏ dở việc học khi Nhật Bản chiếm đóng Singapore suốt những năm 1942-1945 trong Chiến tranh thế giới thứ hai. Trong thời kỳ chiếm đóng, ông vận hành hiệu quả những thương vụ chợ đen tiêu thụ một loại keo tapioca gọi là Stikfas. Bắt đầu học tiếng Hán và tiếng Nhật từ năm 1942, ông làm việc với người Nhật trong công việc của một người ghi chép những bức điện báo của phe Đồng Minh, cũng như biên tập bản tiếng Anh cho tờ Hodobu (報道部 — thuộc ban thông tin tuyên truyền của người Nhật) từ năm 1943 đến năm 1944.
Sau chiến tranh, ông theo học luật tại Đại học Fitzwilliam, Đại học Cambridge tại Anh Quốc, và trong một thời gian ngắn, theo học tại Trường Kinh tế Luân Đôn. Năm 1949, Lý Quang Diệu trở về Singapore và hành nghề luật sư tại Laycock và Ong, một công ty luật của John Laycock, một nhà tiên phong trong các hoạt động đa chủng tộc, người cùng với A.P. Rajah và C.C. Tan, thành lập câu lạc bộ đa chủng đầu tiên tại Singapore, thâu nhận người châu Á.
== Sự nghiệp chính trị (1951–1959) ==
Trong hồi ký của ông Diệu, ông có nhắc đến dự định trở về Singapore để làm việc và khi trở về ông đã làm cho công ty luật John Laycock, với mức lương 500$/tháng. Ông trở thành người tư vấn luật cho các hoạt động thương mại và các tổ chức liên đoàn sinh viên..
=== Trước thời kỳ Đảng Hành động Nhân dân ===
Trải nghiệm đầu tiên của Lý Quang Diệu trên chính trường Singapore là vai trò một nhân viên vận động bầu cử cho ông chủ John Laycock dưới ngọn cờ của Đảng Tiến bộ (Progressive Party) thân Anh, trong cuộc bầu cử hội đồng lập pháp năm 1951. Song, Lý Quang Diệu dần dần nhận ra hậu vận đen tối của chính đảng này do thiếu sự ủng hộ của quần chúng, nhất là của giới lao động thuộc cộng đồng nói tiếng Hoa. Nhân tố này là đặc biệt quan trọng khi ủy ban Rendel, vào năm 1953, quyết định mở rộng quyền bầu cử cho tất cả người dân sinh tại địa phương, làm gia tăng đáng kể số cử tri người Hoa. Lý Quang Diệu tiến đến ngả rẽ chính trị của mình khi ông tham gia tư vấn pháp lý cho các nghiệp đoàn thương mại và sinh viên. Các nghiệp đoàn này cung cấp cho ông mối quan hệ với giới công nhân nói tiếng Hoa (về sau, đảng Hành động Nhân dân của ông sử dụng mối quan hệ lịch sử này như là một công cụ đàm phán trong các tranh chấp công nghiệp).
=== Thành lập Đảng Hành động Nhân dân ===
Ngày 21 tháng 11 năm 1954, Lý Quang Diệu cùng với một nhóm bạn hữu thuộc giai cấp trung lưu có học vấn Anh, những người mà ông miêu tả là "những tay tư sản nghiện bia", thành lập Đảng Hành động Nhân dân (PAP - 人民行动党) có khuynh hướng xã hội và liên minh với các nghiệp đoàn theo chủ nghĩa cộng sản. Một hội nghị sáng lập được tổ chức tại Victoria Memorial Hall, sảnh đường đầy cứng với 1.500 người ủng hộ và thành viên nghiệp đoàn. Lý Quang Diệu trở thành Tổng thư ký, chức vụ mà ông nắm giữ cho đến năm 1992, ngoại trừ một thời gian ngắn trong năm 1957. Tunku Abdul Rahman của Đảng UMNO và Tan Cheng Lock của MCA được mời làm quan khách nhằm tăng uy tín cho đảng vừa mới ra đời.
=== Đối lập ===
Lý Quang Diệu ra tranh cử và giành được chiếc ghế đại diện cho Tanjong Pagar trong cuộc tuyển cử năm 1955. Ông trở thành nhà lãnh đạo phe đối lập, chống lại chính phủ liên hiệp dưới sự lãnh đạo của Mặt trận Lao động của David Saul Marshall. Ông cũng là một trong số hai đại diện của PAP đến tham dự những cuộc thương thảo về hiến pháp tổ chức tại Luân Đôn; cuộc thương thảo lần thứ nhất đặt dưới sự hướng dẫn của Marshall, lần thứ hai của Lâm Hữu Phúc. Chính trong giai đoạn này Lý Quang Diệu phải đấu tranh với các đối thủ cả trong lẫn ngoài đảng PAP.
== Thủ tướng, trước khi độc lập (1959–1965) ==
=== Chính phủ tự trị (1959-1963) ===
Trong cuộc bầu cử toàn quốc ngày 1 tháng 6 năm 1959, PAP giành được 43 trong tổng số 51 ghế trong hội đồng lập pháp. Singapore giành quyền tự trị trong mọi lĩnh vực của đất nước ngoại trừ quốc phòng và ngoại giao, Lý Quang Diệu trở thành thủ tướng đầu tiên của quốc gia này vào ngày 3 tháng 6 năm 1959, thay thế thủ tướng Lâm Hữu Phúc. Trước khi nhậm chức ông yêu cầu trả tự do cho Lâm Thanh Tường và Devan Nair, hai người này đã bị giam giữ bởi chính phủ Lâm Hữu Phúc.
Sau khi giành được quyền tự trị từ tay người Anh, Singapore phải đối diện với nhiều vấn đề xã hội như giáo dục, nhà ở và tình trạng thất nghiệp. Lý Quang Diệu cho thành lập Ban phát triển gia cư để bắt đầu chương trình xây dựng chung cư hầu làm giảm nhẹ sự thiếu hụt nhà ở.
=== Sáp nhập rồi tách khỏi Malaysia (1963–1965) ===
Sau khi thủ tướng của Malaysia, Tunku Abdul Rahman, đưa ra đề nghị thành lập một liên bang bao gồm Mã Lai, Singapore, Sabah, Sarawak và Brunei vào năm 1961, Lý Quang Diệu khởi phát chiến dịch đòi sáp nhập với Malaysia với mục đích chấm dứt sự cai trị của người Anh. Sử dụng những kết quả thu được từ cuộc trưng cầu dân ý tổ chức ngày 1 tháng 9 năm 1962, theo đó có đến 70% lá phiếu ủng hộ đề nghị của mình, Lý Quang Diệu tuyên bố nhân dân đứng về phía ông. Suốt trong chiến dịch Coldstore, Lý Quang Diệu tìm cách loại bỏ những thành phần chống đối kế hoạch sáp nhập.
Ngày 16 tháng 9 năm 1963, Singapore trở nên một phần của Liên bang Malaysia. Tuy nhiên, liên bang này không tồn tại được lâu. Chính quyền trung ương Malaysia, dưới sự lãnh đạo của Tổ chức Liên hiệp Dân tộc Mã Lai (UMNO), tỏ ra quan ngại về thành phần đa số của người Hoa ở Singapore cũng như những thách thức chính trị của PAP tại Malaysia. Lý Quang Diệu công khai chống lại chủ trương dân tộc cực đoan Mã Lai (bumiputra). Mối quan hệ giữa PAP và UMNO trở nên căng thẳng gay gắt. Một số người trong UMNO muốn bắt giữ ông.
Bạo động chủng tộc bùng nổ sau đó gần Kallang Gasworks vào dịp sinh nhật tiên tri Mohamet (ngày 21 tháng 6 năm 1964), có 25 người thiệt mạng khi người Hoa và người Mã Lai tấn công lẫn nhau. Đến nay vẫn còn tranh cãi về nguyên nhân của cuộc bạo động này, có người cho rằng một người Hoa đã ném chai lọ vào đám đông người Mã Lai trong khi có người nghĩ ngược lại, cho rằng một người Mã Lai đã làm điều này. Thêm những vụ bạo động bùng nổ trong tháng 9 năm 1964, khi đám đông cướp phá xe hơi và các cửa hiệu, khiến cả Tunku Abdul Rahman và Lý Quang Diệu phải xuất hiện trước công chúng nhằm xoa dịu tình hình. Trong lúc này giá thực phẩm tăng cao do tắc nghẽn giao thông, làm cho tình hình càng xấu hơn.
Không tìm ra phương cách giải quyết cuộc khủng hoảng, Tunku Abdul Rahman chọn lấy quyết định trục xuất Singapore ra khỏi Malaysia, "cắt đứt mọi quan hệ với chính quyền của một tiểu bang đã không đưa ra bất cứ biện pháp nào chứng tỏ lòng trung thành với chính quyền trung ương". Lý Quang Diệu cố gắng xoay xở để tìm ra một thỏa hiệp nhưng không thành công. Sau đó, do sự thuyết phục của Ngô Khánh Thụy (Goh Keng Swee), ông nhận ra rằng ly khai là điều không thể tránh khỏi. Ngày 7 tháng 8 năm 1965, Lý Quang Diệu ký thoả ước ly khai, trong đó có bàn về mối quan hệ sau ly khai với Malaysia hầu có thể tiếp tục duy trì sự hợp tác trong những lãnh vực như thương mại và quốc phòng.
Đây là một đòn nặng đánh vào Lý Quang Diệu, vì ông tin rằng sự hợp nhất là yếu tố căn cốt cho sự tồn vong của Singapore. Trong cuộc họp báo được truyền hình trực tiếp, khóc oà trong xúc cảm, Lý Quang Diệu thông báo với dân chúng về quyết định ly khai:
Cũng trong ngày ấy, 9 tháng 8 năm 1965, Quốc hội Malaysia biểu quyết thông qua nghị quyết cắt đứt quan hệ với tiểu bang Singapore, như vậy nước Cộng hoà Singapore được hình thành. Tân quốc không có tài nguyên thiên nhiên, không có nguồn nước và khả năng quốc phòng thì hết sức nhỏ bé. Nay Lý Quang Diệu phải đứng ra gánh vác trọng trách xây dựng đảo quốc mới vừa được khai sinh này.
== Thủ tướng, sau độc lập (1965–1990) ==
Trong quyển hồi ký của mình, Lý Quang Diệu nói rằng ông không thể ngủ ngon và ngã bệnh sau ngày Singapore độc lập. Sau khi nghe Cao uỷ John Robb tường trình về hoàn cảnh của Lý Quang Diệu, Thủ tướng Anh Harold Wilson bày tỏ những quan ngại của mình và nhận được phúc đáp của Lý Quang Diệu:
Lý Quang Diệu khởi sự tìm kiếm sự công nhận của quốc tế cho quốc gia Singapore độc lập. Ngày 21 tháng 9 năm 1965, Singapore gia nhập Liên Hiệp Quốc, và ngày 8 tháng 8 năm 1967, gia nhập Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN). Ngày 25 tháng 5 năm 1973, Lý Quang Diệu chính thức viếng thăm Indonesia, chỉ vài năm sau chính sách đối đầu (Konfrontasi) dưới chế độ của Sukarno. Quan hệ giữa Singapore và Indonesia có những bước cải thiện căn bản nhờ những cuộc viếng thăm qua lại sau đó giữa hai nước.
Vì Singapore chưa bao giờ có một nền văn hoá chủ đạo để dân nhập cư có thể hoà nhập, cũng không có một ngôn ngữ chung, trong hai thập niên 1970 và 1980, cùng với các nỗ lực từ chính phủ và đảng cầm quyền, Lý Quang Diệu cố gắng kiến tạo một bản sắc chung cho Singapore.
Lý Quang Diệu và chính quyền luôn nhấn mạnh đến tầm quan trọng của chủ trương bao dung tôn giáo và hoà hợp chủng tộc, sẵn sàng sử dụng luật pháp để chống lại bất kỳ hiểm hoạ nào có thể kích hoạt bạo động tôn giáo và chủng tộc. Điển hình, Lý Quang Diệu đã cảnh cáo "việc truyền bá phúc âm cách thiếu nhạy cảm" khi đề cập đến những trường hợp các tín hữu Cơ Đốc chia sẻ đức tin của mình cho người Mã Lai (tuyệt đại đa số theo Hồi giáo). Năm 1974, chính phủ khuyến cáo Thánh Kinh Hội Singapore nên ngưng xuất bản các ấn phẩm tôn giáo bằng tiếng Mã Lai.
=== Chính sách ===
Trong cương vị lãnh đạo quốc gia suốt trong thời kỳ hậu độc lập, ông Lý có ba mối quan tâm chính: an ninh quốc gia, kinh tế và những vấn đề xã hội.
==== An ninh quốc gia ====
Tính dễ bị tổn thương của Singapore luôn được cảm nhận sâu sắc khi xảy ra các mối đe doạ từ nhiều phía khác nhau, trong đó có Indonesia (với chính sách đối đầu), cũng như thành phần cực đoan trong đảng UMNO, những người này muốn đem Singapore trở về với Malaysia. Ngay khi Singapore được gia nhập Liên Hiệp Quốc, Lý Quang Diệu vội vàng tìm kiếm sự công nhận của quốc tế dành cho nước Singapore độc lập. Theo gương Thuỵ Sĩ, ông tuyên bố chính sách trung lập và không liên kết. Cùng lúc, ông giao cho Ngô Khánh Thụy trọng trách xây dựng Lực lượng vũ trang Singapore và xin trợ giúp từ các quốc gia khác trong các lãnh vực tư vấn, huấn luyện và cung ứng quân dụng.
Năm 1967, khi người Anh tỏ ý cắt giảm hoặc triệt thoái quân đội khỏi Singapore và Malaysia, Lý Quang Diệu và Goh đưa ra chương trình quân dịch National Service nhằm phát triển một lực lượng trừ bị quy mô có thể huy động trong một thời gian ngắn. Tháng 1 năm 1968, ông mua một ít xe tăng AMX-13 do Pháp chế tạo, đến năm 1972, tổng số xe tăng tân trang được mua là 72 chiếc.
Sau này, Singapore thiết lập quan hệ quân sự với các quốc gia thành viên của ASEAN, với Hiệp ước Phòng thủ Ngũ Cường (Five-Powers Defense Agreement, FPDA) và các nước khác, giúp phục hồi nền an ninh quốc gia sau cuộc triệt thoái ngày 31 tháng 10 năm 1971 của quân đội Anh.
==== Luật pháp ====
Lý Quang Diệu không bao giờ tin tưởng vào một xã hội dân sự nhấn mạnh quá mức vào tự do cá nhân như các nước phương Tây. Trong cuốn Lý Quang Diệu - Bàn về Trung Quốc, Hoa Kỳ và thế giới, ông thấy nước Mỹ có nhiều điều hoàn toàn không thể chấp nhận được: súng ống, ma túy, tội phạm, bạo lực... tính không ổn định, ứng xử thiếu văn minh nơi công cộng, tóm lại là tình trạng sa sút của một xã hội dân sự. Ngày nào cũng có những hình ảnh bạo lực và khiêu dâm trên truyền hình thì cả xã hội sẽ bị phơi nhiễm và điều này sẽ hủy hoại cả một cộng đồng. Việc mở rộng quá mức các quyền cá nhân khiến con người ứng xử tùy tiện, bất chấp chuẩn mực chung và làm tổn hại đến xã hội có trật tự. Các quyền cá nhân được phương Tây coi trọng thái quá đã làm ảnh hưởng đến cả cộng đồng; và tội phạm thường xuyên thoát khỏi sự trừng phạt vì luật pháp bảo vệ quyền con người một cách thái quá.
Để giữ vững kỷ cương xã hội, chính phủ Lý Quang Diệu đề ra các hình phạt rất nghiêm khắc, bao gồm cả trừng phạt thân thể dưới dạng đánh đòn hoặc phạt roi nơi công cộng, có thể áp dụng đối với các tội hình như hiếp dâm, gây rối loạn, phá hoại, và các vi phạm di trú nhất định. Tổ chức Ân xá Quốc tế cho rằng một số điều khoản pháp lý của Singapore xung đột với quyền được cho là vô tội cho đến khi bị chứng minh là có tội, và rằng Singapore "có thể có tỷ lệ hành quyết cao nhất trên thế giới so với dân số của quốc gia". Chính phủ Singapore luôn phản bác các tuyên bố của Tổ chức Ân xá Quốc tế.
==== Kinh tế ====
Tách rời khỏi Malaysia có nghĩa là mất luôn thị trường chung và thị trường nội địa. Khó khăn càng chồng chất khi quân đội Anh triệt thoái làm mất thêm 50.000 chỗ làm. Mặc dù người Anh ủng hộ những cam kết trước đó duy trì các căn cứ quân sự cho đến năm 1975, Lý Quang Diệu không muốn làm căng thẳng mối quan hệ với Luân Đôn. Ông tìm cách thuyết phục Harold Wilson cho phép chuyển đổi các cơ sở quân sự (như xưởng sửa chữa và đóng tàu của hải quân) cho các mục đích dân sự, thay vì phá huỷ chúng như theo luật của nước Anh. Với sự tư vấn của Tiến sĩ Albert Winsemius, Lý Quang Diệu dẫn đưa Singapore vào con đường công nghiệp hoá. Năm 1961, Ban Phát triển Kinh tế được thành lập với nhiệm vụ thu hút đầu tư nước ngoài, đưa ra những ưu đãi thuế hấp dẫn và xây dựng một lực lượng lao động lương thấp nhưng có kỷ luật lao động và tay nghề cao. Đồng thời chính phủ duy trì biện pháp kiểm soát chặt chẽ nền kinh tế, ban hành những quy định về phân phối đất đai, lao động và nguồn vốn. Tiến hành xây dựng hạ tầng cơ sở hiện đại như phi trường, hải cảng, đường sá và mạng lưới truyền thông. Ban Xúc tiến Du lịch cũng được thành lập để phát triển du lịch và tạo thêm việc làm. Trong vai trò lãnh đạo công cuộc xây dựng và phát triển nền kinh tế Singapore, Lý Quang Diệu nhận được sự hỗ trợ từ những bộ trưởng tài năng nhất, đặc biệt là Goh Keng Swee và Hon Sui sen. Họ cố xoay xở để hạ giảm tỷ lệ người thất nghiệp từ 14% trong năm 1965 xuống còn 4,5% vào năm 1973.
==== Ấn định ngôn ngữ chính thức ====
Lý Quang Diệu chọn Anh ngữ là ngôn ngữ công sở và ngôn ngữ chung cho các chủng tộc khác nhau, trong khi vẫn công nhận tiếng Mã Lai, tiếng Trung Hoa và tiếng Tamil là ngôn ngữ chính thức. Hầu hết trường học đều sử dụng tiếng Anh như là chuyển ngữ cho học tập, mặc dù tiếng mẹ đẻ vẫn được dạy trong trường học.
Lý Quang Diệu khuyến khích người dân ngưng sử dụng các phương ngữ của tiếng Hoa, và phát triển tiếng Phổ thông (Standard Mandarin) như một ngôn ngữ thay thế, chiếm lấy vị trí "tiếng mẹ đẻ" với mục tiêu xây dựng một ngôn ngữ giao tiếp chung cho cộng đồng người Hoa. Năm 1979, Lý Quang Diệu chính thức phát động phong trào nói tiếng Hoa phổ thông. Ông cho hủy bỏ tất cả chương trình truyền hình bằng tiếng địa phương, ngoại trừ các chương trình tin tức và nhạc kịch (phục vụ cho người lớn tuổi). Biện pháp này đã làm suy tàn các phương ngữ của tiếng Hoa; ngày nay người ta nhận ra rằng giới trẻ Singapore gốc Hoa không còn thông thạo khi sử dụng phương ngữ tiếng Hoa, vì vậy họ gặp nhiều khó khăn khi tiếp xúc với ông bà của họ là những người chỉ biết nói tiếng Hoa địa phương.
Trong thập kỷ 1970, sinh viên tốt nghiệp từ Đại học Nanyang nói tiếng Hoa gặp trở ngại khi kiếm việc làm vì không thông thạo tiếng Anh, ngôn ngữ cần có tại chỗ làm, đặc biệt là trong khu vực công. Lý Quang Diệu phải sử dụng biện pháp triệt để bằng cách sáp nhập Đại học Nanyang vào Đại học Singapore để trở thành Đại học Quốc gia Singapore. Động thái này gây ảnh hưởng lớn trên các giáo sư nói tiếng Hoa vì họ buộc phải dạy bằng tiếng Anh. Những người có công xây dựng Đại học Nanyang cũng lên tiếng chống đối vì những tình cảm ràng buộc với trường này.
==== Quy chế chính phủ ====
Giống các quốc gia châu Á khác, Singapore cũng không miễn nhiễm đối với nạn tham nhũng. Lý Quang Diệu nhận thức rõ rằng tham nhũng là một trong những nguyên do dẫn đến sự sụp đổ của chính quyền Trung Hoa Dân quốc tại Trung Hoa. Ông ban hành những luật lệ cần thiết dành cho Văn phòng Điều tra Tham nhũng (Corrupt Practices Investigation Bureau, CPIB) nhiều quyền hạn hơn để bắt giữ, lục soát, triệu tập nhân chứng, điều tra các tài khoản ngân hàng và các khoản hoàn trả thuế lợi tức của những cá nhân bị tình nghi cùng với gia đình của họ. Với sự ủng hộ của Lý Quang Diệu, CPIB được giao thẩm quyền tiến hành các cuộc điều tra đối với bất kỳ viên chức hoặc bộ trưởng nào. Trong thực tế, sau đó đã có vài bộ trưởng bị cáo buộc tham nhũng.
Lý Quang Diệu tin rằng các bộ trưởng nên được trả lương cao để duy trì một chính quyền sạch và chân thật. Năm 1994, ông đề nghị nối kết mức lương của bộ trưởng, thẩm phán và viên chức công quyền cao cấp với mức lương của giới chuyên nghiệp hàng đầu trong khu vực tư, vì ông cho rằng như thế sẽ giúp tuyển mộ và duy trì nhiều tài năng phục vụ trong khu vực công.
Năm 1983, Lý Quang Diệu gây ra nhiều tranh cãi gay gắt về hôn nhân khi ông lên tiếng khuyến khích nam giới Singapore kết hôn với phụ nữ thuộc thành phần học thức. Ông bày tỏ mối quan ngại khi hiện có nhiều phụ nữ đã tốt nghiệp đại học vẫn chưa lập gia đình. Một số nhóm dân cư, trong đó có những phụ nữ tốt nghiệp đại học, tỏ ra giận dữ vì quan điểm này. Dù vậy, một cơ quan môi giới hôn nhân, Social Development Unit, đã được thành lập nhằm tạo điều kiện giao tiếp cho những người tốt nghiệp đại học của cả hai giới. Ông cũng đưa ra những biện pháp khuyến khích các bà mẹ học thức có ba hoặc bốn con, đảo ngược chiến dịch kế hoạch hoá gia đình "chỉ nên có hai con" trong hai thập niên 1960 và 1970.
=== Bang giao với Malaysia ===
==== Mahathir bin Mohamad ====
Lý Quang Diệu mong muốn cải thiện quan hệ với Mahathir bin Mohamad ngay từ khi Mahathir được bổ nhiệm vào chức vụ phó thủ tướng. Nhận biết rằng Mahathir đang ở vị trí chuẩn bị cho chức thủ tướng Malaysia, năm 1978 ông mời Mahathir (thông qua tổng thống Singapore lúc ấy là Devan Nair) đến thăm Singapore. Cuộc viếng thăm lần đầu và những lần sau đó giúp cải thiện mối quan hệ cá nhân giữa hai nhà lãnh đạo cũng như mối bang giao giữa hai quốc gia. Mahathir yêu cầu Lý Quang Diệu cắt đứt quan hệ với các thủ lĩnh gốc Hoa thuộc đảng Hành động Dân chủ (tại Malaysia); đổi lại, Mahathir cam kết không can thiệp vào các vấn đề của người Singapore gốc Mã Lai.
Tháng 12 năm 1981, Mahathir quyết định thay đổi múi giờ của bán đảo Mã Lai để tạo nên một múi giờ thống nhất cho toàn thể đất nước Malaysia, Lý Quang Diệu chấp nhận sự thay đổi này vì những lý do kinh tế và xã hội. Nhờ vậy, mối quan hệ giữa hai phía càng được cải thiện trong năm 1982.
Tháng 1 năm 1984, Mahathir áp đặt thuế RM100 trên tất cả phương tiện vận chuyển từ Malaysia sang Singapore. Khi Musa Hitam cố phản đối chính sách này của Mahathir, thuế suất được tăng gấp đôi với mục đích ngăn cản việc sử dụng cảng biển của Singapore, vì vậy một sự đổ vỡ trong bang giao giữa hai nước trở nên rõ ràng.
Tháng 6 năm 1988, Lý Quang Diệu và Mahathir tiến tới một thoả thuận chung tại Kuala Lumpur về việc xây dựng đập Linggui trên sông Johor. Năm 1989, Lý Quang Diệu tìm cách thăm dò lập trường của Mahathir khi muốn dời những trạm hải quan đường sắt từ Tanjong Pagar ở miền Nam Singapore đến Woodlands ở đoạn cuối Causeway, một phần do sự gia tăng nạn buôn lậu ma tuý vào Singapore. Điều này gây bất bình tại Malaysia, vì một vùng đất sẽ thuộc về Singapore khi đường sắt ngưng hoạt động. Mahathir giao cho Daim Zainuddin, khi ấy là bộ trưởng tài chính Malaysia, giải quyết vấn đề này.
Sau nhiều tháng thương thảo, hai bên đạt được thỏa thuận cùng phát triển ba vùng đất ở Tanjong Pagar, Kranji và Woodlands. Malaysia được 60% vùng đất, trong khi phần của Singapore là 40%. Thoả ước được ký kết ngày 27 tháng 11 năm 1990, một ngày trước khi Lý Quang Diệu nghỉ hưu.
=== Quan điểm về Việt Nam ===
Trong thời kỳ lãnh đạo của Lý Quang Diệu, kinh tế Singapore được hưởng lợi từ việc cung cấp nhu yếu phẩm, nhiên liệu, vũ khí và phương tiện chiến tranh cho quân viễn chinh Mỹ trong Chiến tranh Việt Nam. Riêng xăng dầu và nhiên liệu, mỗi tháng Singapore bán cho Mỹ lượng hàng trị giá 600 triệu đôla, thu nhập từ việc làm hậu cần cho quân đội Mỹ chính là nguồn lực ban đầu giúp Singapore xây dựng kinh tế đất nước.. Ông nhìn nhận vai trò của Hoa Kỳ trong cuộc Chiến tranh Việt Nam và tác động của nó tới chủ nghĩa cộng sản tại Đông Nam Á:
Lý Quang Diệu tin vào lý thuyết rằng những lãnh đạo vĩ đại sẽ xoay vần lịch sử. Nhờ điều này, Singapore đã thành công trong khi Việt Nam Cộng Hòa đã thất bại. Ông từng nói: "Sài Gòn có thể làm được những gì Singapore đã làm... Nếu nhìn vào Sài Gòn và Singapore vào năm 1954, ai đó có thể nói Singapore là thứ vứt đi, không phải Sài Gòn", nhưng rồi Singapore đã tự đứng vững trong khi Việt Nam Cộng Hòa thì ngày một suy sụp và phải dựa vào Mỹ để tồn tại. Lý Quang Diệu cho rằng chính phủ Mỹ thời Eisenhower là nguyên nhân cho tình trạng sa lầy của Mỹ, bởi vì Eisenhower đã "cho phép Ngô Đình Diệm loại bỏ khỏi hệ thống chính trị tất cả các lựa chọn thay thế cho ông ta". Chính phủ Việt Nam Cộng Hòa đã không còn một ai có đủ tài năng để đóng vai trò dẫn dắt, dẫn tới sự lụn bại và sụp đổ của chính phủ này.
==== Về cải cách của Việt Nam ====
Quan điểm của Lý Quang Diệu về cải cách của Việt Nam đã thay đổi đáng kể từ chỗ khá lạc quan vào đầu những năm 1990. Tới năm 2000, Lý Quang Diệu tin rằng thế hệ các nhà lãnh đạo lớn tuổi của Việt Nam không có khả năng phá vỡ tư duy xã hội chủ nghĩa một cách cơ bản. Lúc đầu họ đồng ý bắt tay vào chặng đường cải cách bởi vì họ thấy rằng đất nước đang chẳng đi đến đâu. Nhưng từ đó đến giờ họ vẫn chưa thể hiện được quyết tâm thật sự trong việc đại tu hệ thống, điều mà người ta đã chứng kiến ở các lãnh đạo Trung Quốc. Theo Lý Quang Diệu, các nhà lãnh đạo lão thành cách mạng (Old Guard leaders) khiến Việt Nam trì trệ, chỉ khi họ qua đời thì Việt Nam mới có thể tạo ra đột phá trong các nỗ lực hiện đại hóa của mình.
== Bộ trưởng Cao cấp (1990–2004) ==
Sau khi lãnh đạo đảng PAP giành được chiến thắng trong 7 cuộc bầu cử, ngày 28 tháng 11 năm 1990, Lý Quang Diệu quyết định về hưu và bàn giao chức vụ thủ tướng cho Ngô Tác Đống (Goh Chok Tong) con của Ngô Khánh Thụy. Ông là chính khách có quãng thời gian dài nhất phục vụ trong cương vị thủ tướng.
Cuộc chuyển giao quyền lãnh đạo được chuẩn bị và tiến hành hết sức chu đáo. Chu trình tuyển chọn và đào tạo thế hệ lãnh đạo thứ hai khởi sự từ đầu thập niên 1970. Trong thập niên 1980, Goh và các nhà lãnh đạo trẻ tuổi khác bắt đầu đảm nhận các vị trí quan trọng trong nội các. Trước cuộc chuyển giao, tất cả các nhà lãnh đạo thế hệ thứ nhất ("những cựu binh") đều về hưu, kể cả Ngô Khánh Thụy (Goh Keng Swee), S. Rajaratnam và Đỗ Tiến Tài (Toh Chin Chye). Vì được chuẩn bị tốt, cuộc chuyển giao không gây ra bất cứ biến động nào, mặc dù đây là cuộc chuyển giao quyền lực lần đầu tiên kể từ khi Singapore độc lập.
Khi Ngô Tác Đống đảm nhận vị trí lãnh đạo chính phủ, Lý Quang Diệu vẫn tiếp tục ở lại nội các trong cương vị bộ trưởng cao cấp và đưa ra những tư vấn. Trước công chúng, ông vẫn thường nhắc đến Ngô như là "thủ tướng của tôi" để bày tỏ sự tôn trọng dành cho thẩm quyền của Ngô. Tuy vậy, quan điểm của ông vẫn được lắng nghe trong công luận và trong các buổi họp nội các. Ông vẫn tiếp tục hành xử ảnh hưởng đặc biệt to lớn trên đảo quốc này và ông cũng sẵn lòng sử dụng ảnh hưởng ấy khi cần thiết. Như ông đã phát biểu trong ngày Quốc khánh năm 1988:
Lý Quang Diệu cố tự kìm chế không can thiệp vào các biện pháp của chính phủ đối với các nước ASEAN, trong đó có Malaysia, vì không muốn dẫm chân người kế nhiệm Ngô Tác Đống. Dù vậy, ông vẫn giữ vai trò quan trọng trong các vấn đề kinh tế như thoả thuận với phó chủ tịch Lý Lam Thanh ngày 26 tháng 2 năm 1994 về việc chuyển đổi phần mềm hành chính công về quản trị và phát triển của Khu công nghiệp Tô Châu.
== Bộ trưởng Cố vấn (2004–2015) ==
Ngày 12 tháng 8 năm 2004, Ngô Tác Đống rút lui để bàn giao chức vụ thủ tướng cho Lý Hiển Long, con trai đầu của Lý Quang Diệu. Goh trở thành bộ trưởng cao cấp và ông Lý đảm nhiệm một chức vụ mới được thành lập, Bộ trưởng Cố vấn (Minister Mentor).
Mặc dù chống đối bài bạc trong "cảm xúc và trí tuệ", Lý Quang Diệu không hành động chống lại đề án của Lý Hiển Long cho phép thành lập casino trên lãnh thổ Singapore. Ông nói: "Có casino hay không là điều mà những nhà lãnh đạo mới phải quyết định".
Gần đây, Lý Quang Diệu bày tỏ những quan ngại về ảnh hưởng đang suy giảm của tiếng Hoa phổ thông trong giới trẻ Singapore. Trong một bài diễn văn đọc trước quốc hội, ông nói: "Người Singapore cần phải học để thông thạo cả tiếng Anh và tiếng Hoa phổ thông". Sau đó, vào tháng 1 năm 2005, ông cho xúc tiến một chương trình truyền hình gọi là 华语 Cool!, trong nỗ lực thu hút giới trẻ đến với tiếng Hoa phổ thông.
Ngày 12 tháng 6 năm 2005, trong một cuộc phỏng vấn thực hiện bởi Đài Truyền hình Trung ương Trung Quốc (CCTV), ông Lý nhấn mạnh đến nhu cầu liên tục đào tạo những nhân tài lãnh đạo đất nước, ông nói:
== Bệnh nặng và qua đời ==
Từ đầu tháng 2 năm 2015, Lý Quang Diệu đã phải điều trị ở bệnh viện vì bị viêm phổi. Văn phòng thủ tướng của con trai cả ông nói ngày 17.03 là tình trạng đã xấu đi vì ông bị nhiễm trùng, ngày hôm sau lại càng trầm trọng trong đơn vị chăm sóc đặc biệt.
Ông Lý Quang Diệu qua đời lúc 3 giờ 18 phút (giờ địa phương) ngày 23 tháng 3 năm 2015, khi đang điều trị tại Bệnh viện Singapore General, Singapore, hưởng thọ 91 tuổi. Thông tin từ Văn phòng thủ tướng Lý Hiển Long nêu rõ, do tuổi cao và bị bệnh viêm phổi cấp tính nên ông qua đời.
== Giá trị và niềm tin ==
Lý Quang Diệu là một trong số những người ủng hộ các giá trị châu Á, mặc dù cách giải thích của ông về các giá trị này thường gây tranh cãi. Trong thập kỷ 1980, ông tích cực cổ xuý các giá trị châu Á như Nho giáo, hoặc ở mức độ ít hơn, các đức hạnh của Phật giáo. Điều này được thể hiện trong những lần viếng thăm của ông đến các đền chùa Trung Hoa.
Lý Quang Diệu luôn phát biểu nhấn mạnh tầm quan trọng của đạo Nho đối với xã hội Singapore. Bản thân ông năm 1985 đã được bầu làm Chủ tịch Hội Khổng học thế giới.
Trong một cuộc phỏng vấn với báo The Straits Times, ông nói rằng ông là người theo thuyết bất khả tri (agnostic).
Trả lời phỏng vấn trên Foreign Affairs năm 1995, ông Lý Quang Diệu nói về tầm quan trọng của văn hóa và đạo đức truyền thống đối với sự phát triển của Đông Á, điều mà các nước phương Tây đã đánh mất:
Tôi thấy có những điều không chấp nhận được trong xã hội Mỹ: súng ống, thuốc phiện, tội phạm bạo lực, người vô gia cư, các hành vi lố lăng ngoài đường, nói tóm lại là xã hội đổ vỡ. Sự mở rộng quyền tự do cá nhân thích hành động hay phá phách thế nào tuỳ ý gây ra tổn thất với trật tự xã hội. Ở phương Đông, mục đích chính luôn là trật tự xã hội ổn định để mọi người có thể có hưởng tự do của mình. Sự tự do này chỉ tồn tại trong xã hội ổn định chứ không phải ở đất nước của tranh cãi và vô chính phủ.
Tại Singapore, nếu nước tiểu dương tính, anh ta phải đi cai nghiện ngay. Ở Mỹ anh làm vậy thì lại bị coi là xâm phạm quyền tự do cá nhân và bị kiện ngay tức khắc. Quyền cá nhân ở Mỹ được coi là bất khả xâm phạm. Nhưng chẳng ai quan tâm khi quân đội Mỹ bắt tổng thống của một nước khác rồi đưa đến Florida và ném ông ta vào tù. Tôi chẳng thể nào hiểu được.
Con người cần những ý thức đạo đức nhất định về đúng và sai. Có những thứ là xấu xa. Anh đơn giản là xấu xa, dễ làm những việc xấu thì phải chặn anh không làm những việc xấu vậy. Người phương Tây từ bỏ những nền tảng đạo đức của xã hội, tin rằng mọi vấn đề có thể giải quyết bằng một chính phủ tốt – đây là điều mà phương Đông chúng tôi không bao giờ tin.
Xã hội phương Đông tin rằng cá nhân tồn tại trong khuôn khổ gia đình. Anh ta không tách rời ra bối cảnh đó. Gia đình là một phần của gia đình rộng lớn hơn, rồi bạn bè rồi xã hội. Người lãnh đạo hay chính quyền không cố cung cấp cho cá nhân những gì mà gia đình có thể. Có câu thành ngữ của Trung Quốc khái quát vấn đề này: "tu thân, tề gia, trị quốc, bình thiên hạ". Tu thân nghĩa là tự lo bản thân, tự rèn luyện, làm mọi việc để mình trở nên có ích; tề gia là lo lắng cho gia đình; trị quốc là lo lắng cho đất nước; bình thiên hạ là tất cả dưới bầu trời đều thái bình. Đó là quan niệm cơ bản của văn minh chúng tôi. Chính quyền lên rồi chính quyền xuống, nhưng quan điểm này vẫn duy trì. Chúng tôi bắt đầu bằng sự tự túc của bản thân.
Mặt nữa, chúng tôi may mắn là chúng tôi có nền văn hoá tràn đầy niềm tin vào sự tiết kiệm, làm việc chăm chỉ, kính trọng cha mẹ, tôn kính gia đình, và trên hết, là tôn trọng trí thức và sự học.
== Di sản và hồi ức ==
=== Di sản ===
Qua ba thập kỷ nhiệm quyền của Lý Quang Diệu, Singapore từ một quốc gia đang phát triển nay đứng trong hàng ngũ những quốc gia phát triển nhất thế giới, mặc cho dân số ít ỏi, diện tích nhỏ bé và tài nguyên thiên nhiên nghèo nàn. Lý Quang Diệu thường nói rằng tài nguyên duy nhất của Singapore là người dân và tinh thần làm việc hăng say của họ. Ông nhận được sự kính trọng của nhiều người Singapore, đặc biệt là những người lớn tuổi, họ luôn nhớ đến khả năng lãnh đạo của ông trong thời kỳ độc lập và tách rời khỏi Malaysia. Lý Quang Diệu vẫn thường được xem là nhà kiến trúc cho sự phú cường của Singapore ngày nay, mặc dù vai trò này có sự đóng góp đáng kể của phó thủ tướng, Tiến sĩ Goh Keng Swee, nhân vật chịu trách nhiệm xây dựng và phát triển nền kinh tế Singapore.
== Phê phán ==
Mặt khác, một số người trong và ngoài nước, cho rằng Lý Quang Diệu là người chủ trương dành đặc quyền lãnh đạo đất nước cho giới thượng lưu tinh hoa (elitism), hoặc có cả những cáo buộc ông là một nhà lãnh đạo chuyên quyền. Người ta thuật lại rằng có lần Lý Quang Diệu từng nói ông thích được sợ hơn là được thương.
Lý Quang Diệu cũng bị chỉ trích vì đã áp dụng những biện pháp cứng rắn nhằm đàn áp phe đối lập và quyền tự do ngôn luận., cấm biểu tình nơi công cộng mà không có giấy phép của cảnh sát, hạn chế các ấn phẩm và sử dụng các luật lệ về tội phỉ báng để đẩy những đối thủ chính trị của ông vào tình trạng phá sản. Về vấn đề này, năm 1999 Devan Nair, cựu tổng thống Singapore lúc đó sống tha hương ở Canada, trong một cuộc phỏng vấn với tờ báo The Globe and Mail ở Toronto đưa ra nhận xét rằng chiến lược của Lý Quang Diệu là khởi kiện đối thủ của ông cho đến khi họ phá sản hay thân bại danh liệt, như vậy chẳng khác gì thủ tiêu các quyền chính trị. Nair cho rằng Lý Quang Diệu "ngày càng trở nên loại người tự cho mình biết đủ và biết đúng mọi sự", cũng như bị vây quanh bởi "những kẻ bù nhìn". Phản ứng với những nhận xét này, Lý Quang Diệu lại đâm đơn khởi kiện Nair tại một tòa án tại Canada và Nair đã kiện ngược lại.
Trong một trường hợp, sau khi toà kháng án bác bỏ một phán quyết của toà dưới có lợi cho Lý Quang Diệu, chính phủ bèn hủy bỏ quyền kháng án. Suốt trong thời gian đảm nhiệm chức thủ tướng từ 1965 đến 1990, Lý Quang Diệu đã bỏ tù Tạ Thái Bảo (Chia Thye Poh), một cựu dân biểu quốc hội thuộc đảng đối lập Barisan Socialis, trong 22 năm mà không xét xử, chiếu theo Luật An ninh Nội chính, ông này chỉ được trả tự do vào năm 1989. Cũng vậy, để có thể dành quyền hạn tuyệt đối cho các thẩm phán, Lý Quang Diệu đã huỷ bỏ luật "Xét xử có bồi thẩm đoàn" tại toà án.
=== Vụ kiện phỉ báng ===
Vào năm 2010 ông Diệu, cùng với con trai là Lý Hiển Long, và ông Goh Chok Tong, dọa sẽ đưa hãng The New York Times Company, mà làm chủ tờ báo International Herald Tribune ra tòa, vì một bài báo có tựa là 'All in the Family (tất cả trong gia đình)' được viết vào ngày 15 tháng 2 năm 2010 bởi Philip Bowring, một nhà báo tự do và trước đó là chủ bút tờ Far Eastern Economic Review. Báo International Herald Tribune xin lỗi vào tháng 3 là độc giả của bài báo này có thể ' phỏng đoán là Lý con không xứng đáng để đạt được chức vụ thủ tướng'. The New York Times Company và Bowring cũng đồng ý trả SG$60,000 cho Lý Hiển Long, SG$50,000 cho Diệu và SG$50,000 cho Goh (tổng cổng khoảng US$114,000 vào lúc đó), cộng thêm với tiền luật sư. Câu chuyện bắt nguồn từ một dàn xếp vào năm 1994 giữa 3 lãnh tụ đề cập tới nền chính trị kiểu cha truyền con nối tại các nước Đông Á, bao gồm cả Singapore. Trong cuộc thỏa thuận, Bowring đồng ý là không có ý nói Lý Hiển Long đạt được chức vụ là do chủ trương gia đình trị của cha ông là Lý Quang Diệu. Phản ứng lại việc này, tổ chức bảo vệ thông tin báo chí Reporters Without Borders viết một lá thư công khai bảo Diệu và các viên chức cao cấp của chính phủ Singapore hãy ngưng ngay đơn tố tụng phỉ báng này đối với các ký giả.
=== Hồi ký ===
Lý Quang Diệu đã viết hai cuốn hồi ký dài hai tập: Câu chuyện Singapore, trình bày quan điểm của ông về lịch sử Singapore cho đến khi tách rời khỏi Malaysia năm 1965, và Từ thế giới thứ ba đến thế giới thứ nhất: Câu chuyện Singapore, thuật lại sự chuyển đổi của Singapore để trở thành; quốc gia thuộc thế giới thứ nhất.
== Cảm nhận ==
Tổng thống Hoa Kỳ, Obama: " Ông ta là một nhân vật vĩ đại trong lịch sử, mà sẽ được tưởng nhớ trong nhiều thế hệ như là người cha của một nước Singapore tân tiến và là một chiến lược gia tài giỏi về quan hệ Á Châu"
== Chú thích ==
== Xem thêm ==
Singapore
Lý Hiển Long
== Liên kết ngoài ==
Con rồng Singapore và dấu ấn của những người lãnh đạo
Văn hoá là Đinh mệnh; Mạn đàm với Lý Quang Diệu – tạp chí Foreign Affairs, phỏng vấn bởi Fareed Zakaria
Tạp chí Time Asia – Lý Quang Diệu được chọn vào danh sách 100 nhân vật có ảnh hưởng lớn nhất ở Á châu trong thế kỷ bởi tạp chí TIME Á châu.
Cuộc chiến Ngôn ngữ Alejandro Reyes, Asiaweek.com, 25 tháng 9 năm 1998. Truy cập 2004-12-08
Lý Quang Diệu: Tiểu sử, 1923-1965 Dựa trên Lý Quang Diệu. Câu chuyện Singapore: Hồi ức của Lý Quang Diệu: Singapore: Times, 1998. Truy cập 2004-12-08
Tự do sau 32 năm giam cầm Chia Thye Poh nói chuyện với tạp chí Newsweek. Truy cập 2004-12-12
Lời xin lỗi của tạp chí The Economist Tạp chí The Economist xin lỗi Lý Quang Diệu và Lý Hiển Long vì một bài báo năm 2004 viết về tệ gia đình trị của nhà họ Lý.
Gene expression: Lý Quang Diệu
Obituary of Lý Tiến Khôn
Tháng 8 năm 2005 Phỏng vấn với nhật báo Đức Der Spiegel |
luiz felipe scolari.txt | Luiz Felipe Scolari (sinh ngày 9 tháng 1 năm 1962 tại Passo Fundo, Rio Grande do Sul, Brasil), thường gọi là Felipão (Phil lớn) là huấn luyện viên bóng đá người Brasil. Ông từng đưa đội tuyển Brasil đến chức vô địch World Cup 2002. Hiện nay, ông đang là huấn luyện viên cho SE Palmeiras tại Brasil.
== Sự nghiệp cầu thủ ==
Scolari sinh ra trong một gia đình có cha là cầu thủ bóng đá chuyên nghiệp, ông Benjamin và có biệt danh là "perna-de-pau" (tạm dịch là "chân gỗ", biệt danh Tiếng Bồ Đào Nha dành cho các cầu thủ dở). Ông thi đấu ở vị trí hậu vệ và từng thi đấu cho các câu lạc bộ Caxias, Juventude, Novo Hamburgo và CSA. Danh hiệu cao nhất trong sự nghiệp cầu thủ của ông là chức vô địch bang Alagoano cùng CSA.
== Sự nghiệp huấn luyện viên ==
=== Buổi đầu sự nghiệp ===
Năm 1982, ông giã từ sự nghiệp cầu thủ bóng đá và chuyển sang làm huấn luyện viên. Câu lạc bộ đầu tiên ông dẫn dắt là CSA và ngay mùa giải đầu tiên, ông đã giúp câu lạc bộ này giành danh hiệu vô địch bang Alagoano. Sau đó ông chuyển sang dẫn dắt 1 loạt các câu lạc bộ khác như Juventude (2 lần), Brasil de Pelotas và Al-Shabab của Ả Rập Saudi từ 1983 đến 1987. 1987, ông trở thành huấn luyện viên của Grêmio, và giành danh hiệu vô địch bang Gaúcho cùng năm đó.
=== Kuwait ===
Năm 1988, ông đến Kuwait dẫn dắt câu lạc bộ Al Qadisiya Kuwait và giành danh hiệu vô địch Kuwait Emir Cup năm 1989]]. Năm 1990, ông chuyển sang dẫn dắt đội tuyển bóng đá quốc gia Kuwait và giành Gulf Cup. Ông trở về Brasil sau khi Saddam Hussein ra lệnh tấn công Kuwait và dẫn dắt Criciúma giành Copa do Brasil.
=== Grêmio ===
Năm 1993, ông trở về Grêmio. Trong 3 năm dẫn dội bóng này, ông giành 6 danh hiệu trong đó có Copa Libertadores năm 1995]] và vô địch quốc gia Brasil năm 1996. Grêmio còn lọt vào đến trận chung kết Intercontinental Cup và để thua câu lạc bộ Hà Lan Ajax Amsterdam trong loạt sút luân lưu.
=== Palmeiras ===
Năm 1997, Scolari đến Nhật Bản để dẫn dắt câu lạc bộ đang thi đấu ở J. League, Júbilo Iwata. Tuy nhiên chỉ sau 11 trận tại đây, ông đã trở về Brasil và câu lạc bộ tiếp theo của ông là Palmeiras. Trong 3 năm, ông đem về cho Palmeiras danh hiệu Copa do Brasil, Mercosur Cup và Copa Libertadores sau chiến thắng trước Deportivo Cali của Colombia. Tại Intercontinental Cup 1999, họ cũng trở thành á quân sau khi thua câu lạc bộ Anh Manchester United. Nhờ những thành tích trên, ông được bầu chọn là huấn luyện viên bóng đá xuắt sắc nhất Nam Mỹ 1999.
=== Đội tuyển Brasil ===
Tháng 6 năm 2001, Scolari trở thành huấn luyện viên trưởng Brasil. Mặc dù ngay trận đầu tiên dưới thời Scolari, Brasil để thua Uruguay 1-0 nhưng chung cuộc Brasil vẫn giành quyền tham dự World Cup 2002 tại Hàn Quốc và Nhật Bản.
Ngay trước khi World Cup 2002 bắt đầu, Scolari đã gây chấn động dư luận khi loại bỏ tiền đạo kì cựu Romário khỏi danh sách các cầu thủ Brasil tham dự World Cup. Brasil dễ dàng đứng đầu vòng bảng khi toàn thắng 3 trận trước Thổ Nhĩ Kỳ, Trung Quốc, Costa Rica. Tại vòng 1/16, họ đánh bại Bỉ và tiếp theo là Anh ở tứ kết. Đến vòng bán kết, Brasil gặp lại Thổ Nhĩ Kỳ và tiếp tục đánh bại họ để vào chung kết gặp Đức. Hai bàn thắng của tiền đạo Ronaldo trong trận chung kết đã mang về chức vô địch thế giới lần thứ 5 cho đội tuyển Brasil và đầu tiên của Scolari. Cuối năm 2002, Scolari đã từ chức huấn luyện viên tuyển Brasil.
=== Đội tuyển Bồ Đào Nha ===
Scolari chuyển sang làm huấn luyện viên Bồ Đào Nha từ năm 2003 và nhiệm vụ của ông là đưa đội tuyển nước này đến chức vô địch Giải vô địch bóng đá châu Âu 2004, giải đấu mà họ là chủ nhà.
Tại Euro 2004, Bồ Đào Nha vượt qua vòng bảng với vị trí đầu bảng. Tại vòng tứ kết, họ đánh bại đội tuyển Anh sau loạt sút luân lưu và thắng Hà Lan 2-1 ở trận bán kết để lọt vào chung kết gặp lại Hy Lạp, đội bóng đã đánh bại họ trong trận khai mạc. Tuy nhiên cuối cùng bàn thắng duy nhất trong trận đấu của Angelos Charisteas đã đem về danh hiệu vô địch Euro 2004 cho Hy Lạp.
Tại World Cup 2006 tại Đức, Scolari đưa Bồ Đào Nha vào bán kết sau khi lần lượt loại được Hà Lan, Anh và để thua Pháp 1-0 ở bán kết. Trong trận tranh hạng 3, họ tiếp tục để thua chủ nhà Đức 3-1 và giành vị trí hạng 4 thế giới chung cuộc. Sau giải đấu này, nhiều thông tin cho biết ông sẽ chuyển sang dẫn dắt đội tuyển Anh thay thế Sven-Göran Eriksson nhưng cuối cùng ông đã đống ý gia hạn hợp đồng với đội tuyển Bồ Đào Nha đến năm 2008.
Tại Giải vô địch bóng đá châu Âu 2008 tại Áo và Thụy Sĩ, Bồ Đào Nha tiếp tục đứng đầu vòng đấu bảng để vào vòng tứ kết gặp Đức. Và họ đành chịu dừng bước ở tứ kết khi bị Đức đánh bại 3-2. Trận đấu đó cũng là trận đấu cuối cùng của Scolari trong cương vị huấn luyên viên trưởng đội tuyển Bồ Đào Nha trước khi ông chuyển sang dẫn dắt câu lạc bộ Chelsea từ ngày 1 tháng 7 năm 2008.
=== Chelsea FC ===
Từ ngày 1 tháng 7]] năm 2008]], Scolari chính thức trở thành huấn luyện viên mới của Chelsea FC, thay thế huấn luyện viên người Israel Avram Grant vừa bị sa thải. Nhiệm vụ hàng đầu của ông là đem về cho Chelsea thêm nhiều danh hiệu vô địch, nhất là danh hiệu UEFA Champions League. Scolari đã được chủ tịch Chelsea Roman Abramovich tuyên bố sẽ chi 500 triệu USD để ông tăng cường cầu thủ. Bản hợp đồng đầu tiên của ông kể từ khi đặt chân đến Chelsea là tiền vệ Deco, học trò cưng của ông ở đội tuyển Bồ Đào Nha.
Trận đấu đầu tiên của Scolari với Chelsea là trận giao hữu gặp đội bóng Trung Quốc Guangzhou Pharmaceutical. Trận này Chelsea thắng 4-0. Còn trận đấu chính thức đầu tiên là trận đấu tại Premier League gặp Portsmouth. Trận này Chelsea cũng thắng 4-0.
Dưới thời Scolari, Chelsea có được thắng lợi lớn nhất trên sân khách trong 5 năm với chiến thắng 5-0 trước Middlesbrough tại sân Riverside vào tháng 10 năm 2008. Chelsea cũng đạt được thành tích thắng 8 trận liên tiếp trên sân khách tại đầu mùa giải Premier League 2008-2009.
Thất bại đầu tiên của Chelsea dưới thời Scolari là trận thua 1-0 trước Liverpool ngày 26 tháng 10 năm 2008. Trận thua này cũng chấm dứt chuỗi 86 trận bất bại trên sân Stamford Bridge kéo dài 4 năm 8 tháng kể từ sau thất bại 2-1 trước Arsenal vào tháng 2 năm 2004 dưới thời Claudio Ranieri. Đến vòng đấu thứ 21 ngày 11 tháng 1 năm 2009, Chelsea đã bị Manchester United đánh bại 3-0 khiến cho Chelsea mất lợi thế trong cuộc đua giành chức vô địch
Sau những kết quả không được như mong đợi, Scolari bắt đầu mất dần lòng tin của các cầu thủ và ban lãnh đạo câu lạc bộ Chelsea. Ngày 1 tháng 2 năm 2009, Chelsea để thua Liverpool 2-0 và khiến cho họ rơi xuống vị trí thứ ba. Và giọt nước làm tràn li cho sự sa thải của Scolari là trận hòa Hull City 0-0. Trận hòa này đẩy Chelsea xuống vị trí thứ tư, sau cả Aston Villa và gần như mất luôn cơ hội vô địch Premier League. Ngày 10 tháng 2, Scolari chính thức bị sa thải khỏi cương vị huấn luyện viên trưởng Chelsea. Trợ lý Ray Wilkins được đưa lên tạm quyền dẫn dắt câu lạc bộ. Để sa thải Scolari, Chelsea đã phải trả một số tiền bồi thường là 22 triệu USD. Trong thời gian 8 tháng làm huấn luyện viên tại Chelsea, ông Scolari đã trải qua 36 trận, trong đó thành tích của Chelsea là thắng 20, hòa 11 và thua 5. Ngay sau khi sa thải Scolari, Chelsea đã ngay lập tức mời huấn luyện viên người Hà Lan đang dẫn dắt đội tuyển Nga Guus Hiddink để nắm giữ cương vị huấn luyện viên trưởng đội bóng đến hết mùa giải 2008-2009.
=== Bunyodkor ===
Ngày 8 tháng 6 năm 2009, Scolari đã đặt bút ký vào bản hợp đồng có thời hạn một năm rưỡi dẫn dắt đương kim vô địch Uzbekistan, FC Bunyodkor và đưa ông trở thành huấn luyện viên được trả lương cao nhất thế giới với 13 triệu euro/năm. Ông thay thế Zico, nhà cầm quân đồng hương vừa hết hợp đồng và sang Nga làm việc cho CSKA Moskva. Tại đây, Scolari có dịp tái ngộ với học trò cũ ở đội tuyển Brasil, tiền vệ Rivaldo.
Scolari đã giúp Bunyodkor vô địch giải vô địch quốc gia Uzbekistan nhưng bị loại ở tứ kết AFC Champions League trước Pohang Steelers của Hàn Quốc. Ngày 29 tháng 5 năm 2010, ông đã từ chức huấn luyện viên Bunyodkor 6 tháng trước khi kết thúc hợp đồng vì lý do chuyện học hành của con trai.
=== Trở lại Palmeiras ===
Ngày 13 tháng 6 năm 2010, Scolari đã trở thành tân huấn luyện viên của Palmeiras theo bản hợp đồng có thời hạn hai năm rưỡi.
=== Trở lại đội tuyển Brasil ===
Ngày 28 tháng 11 năm 2012, sau hơn 2 tháng không dẫn dắt một CLB nào, Scolari trở lại huấn luyện đội tuyển Brasil, thay thế cho Mano Menezes, ông được trao nhiệm vụ là vô địch Giải bóng đá vô địch thế giới 2014.
Ở trận chung kết Cúp Liên đoàn các châu lục 2013, ông dẫn dắt Brasil đánh bại Tây Ban Nha 3-0 qua đó giành chức vô địch.
Tại World Cup 2014, sau khi vượt qua vòng bàng, Brasil đã loại hai đội bóng Nam Mỹ khác là Chile và Colombia ở vòng 16 đội và vòng tứ kết, nhưng đã bị đội tuyển Đức đánh bại với tỷ số kỷ lục 7-1 ở trận bán kết. Sau trận thua Hà Lan 0-3, ông đã bị sa thải.
Trước thất bại kỷ lục này, Scolari đã cho biết kết quả này là "trận thua tồi tệ nhất của đội tuyển quốc gia Brasil" và chấp nhận hoàn toàn trách nhiệm cho thất bại.
== Rắc rối ngoài sân cỏ ==
Bản tính nóng nảy thường gây cho huấn luyện viên Scolari nhiều rắc rối ngoài sân cỏ. Ngày 9 tháng 12 năm 2007, ở những phút cuối trận Bồ Đào Nha bị Serbia cầm hòa 1-1 trên sân nhà, trong khuôn khổ bảng A vòng loại Euro 2008, Ivica Dragutinovic của Serbia khi đó vừa bị truất quyền thi đấu và đang lời qua tiếng lại với Ricardo Quaresma bên phía Bồ Đào Nha. Bất thần Scolari nhảy xổ đến và vung tay đấm vào mặt anh, nhưng trượt sang bên mang tai phải. Dragutinovic cũng không vừa. Anh này kịp định thần lại rồi định nhảy vào trả đũa. May mắn là sự việc không trở nên tồi tệ hơn khi một số cầu thủ khác kịp lao đến can ngăn. Sau đó, Scolari đã phải gửi lời xin lỗi đến người dân Bồ Đào Nha vì cho rằng hành động trên đã làm xấu hình ảnh bóng đá nước này.
Sau sự việc trên, Liên đoàn bóng đá Bồ Đào Nha đã quyết định phạt huấn luyện viên Scolari 49.990 đô la Mỹ do hành động đấm vào mặt cầu thủ Dragutinovic của Serbia. Ngoài ra, UEFA cũng phạt ông 17.080 USD.
== Danh hiệu ==
=== Câu lạc bộ ===
Vô địch bang Algoano: 1982 với Centro Sportivo Alagoano
Kuwait Emir Cup: 1989 với Al Qadisiya Kuwait
Copa do Brasil: 1991 với Criciúma, 1994]] với Grêmio và 1998 với Palmeiras
Vô địch bang Gaúcho: 1987, 1995, 1996 với Grêmio
Copa Libertadores: 1995 với Grêmio và 1999]] với Palmeiras
Campeonato Brasileiro Série A: 1996 với Grêmio
Recopa Sudamerican: 1996 với Grêmio
Copa Mercosur: 1998]] với Palmeiras
Torneio Rio-São Paulo: 2000]] với Palmeiras
Copa Sul-Minas: 2001]] với Cruzeiro
=== Đội tuyển quốc gia ===
==== Kuwait ====
Cúp bóng đá Vùng Vịnh: 1990
==== Brasil ====
Giải bóng đá vô địch thế giới: 2002
Cúp Liên đoàn các châu lục: 2013
==== Khác ====
Á quân Euro: 2004 với đội tuyển Bồ Đào Nha
== Chú thích ==
== Liên kết ngoài ==
Luiz Felipe Scolari trên FiFA.com |
tiêu khiển.txt | Tiêu khiển hay thú tiêu khiển được hiểu là việc làm cho tâm trạng thoái mái bằng những thú vui chơi giải trí nhẹ nhàng, nó là một yếu tố thiết yếu của con người về mặt sinh học và tâm lý học nhằm hướng đến niềm vui. Tùy theo từng người, nhóm xã hội, tâm trạng, hoàn cảnh mà người ta có những trò tiêu khiển khai thú tiêu khiển khác nhau. Một số tầng lớp những người giàu có, thành đạt thường có những thú tiêu khiển độc đáo và khá tốn kém như nuôi chó Tây, chim hiếm, cá cảnh độc, nuôi trăn khổng lồ, rắn độc, gấu, hổ, cá sấu, ăn uống dát vàng. hoặc có những bộ sưu tập đắt tiền chơi những môn thể thao, lập kỷ lục... hoặc một số trò tiêu khiển khác người thậm chí là quái đản, dị hợm
== Chú thích ==
== Xem thêm ==
Sở thích
Giải trí |
terbi.txt | Terbi (tên La tinh: terbium), còn gọi là tecbi, là một nguyên tố hóa học với ký hiệu Tb và số nguyên tử 65. Terbi không được tìm thấy trong tự nhiên ở dạng nguyên chất, nhưng nó có trong nhiều loại khoáng vật, bao gồm cerit, gadolinit, monazit, xenotim và euxenit.
== Đặc trưng ==
=== Vật lý ===
Nó là một kim loại đất hiếm màu trắng bạc, mềm, dẻo, dễ uốn, đủ để cắt bằng dao. Nó ổn định vừa phải trong không khí (không bị xỉn sau 19 tháng ở nhiệt độ phòng) và 2 thù hình tinh thể tồn tại, với nhiệt độ chuyển dạng là 1.289 °C.
Cation terbi (III) là các chất huỳnh quang rực rỡ, có màu vàng chanh tươi, là kết quả của vạch bức xạ xanh lục mạnh kết hợp với các vạch khác trong phổ màu đỏ và cam. Biến thể yttrofluorit của khoáng vật fluorit có được huỳnh quang màu vàng kem một phần là do terbi. Nguyên tố này dễ bị ôxi hóa và vì thế được sử dụng ở dạng nguyên chất chỉ với mục đích nghiên cứu. Ví dụ, các nguyên tử Tb riêng lẻ đã được cô lập bằng cách cấy chúng vào các phân tử fulleren.
Terbi có trật tự sắt từ đơn giản ở nhiệt độ dưới 219 K. Trên 219 K, nó chuyển sang trạng thái phản sắt từ xoắn ốc trong đó mọi mômen nguyên tử trong một lớp mặt phẳng cơ sở cụ thể là song song, và định hướng ở một góc cố định với các mômen của các lớp cận kề. Tính chất phản sắt từ bất thường này chuyển thành trạng thái thuận từ không trật tự ở nhiệt độ 230 K.
=== Hóa học ===
Trạng thái hóa trị phổ biến nhất của terbi là +3, như trong ôxít terbi (III) (Tb2O3). Trạng thái +4 được biết đến trong TbO2 và TbF4. Terbium dễ dàng cháy tạo ra hỗn hợp của các ôxít hóa trị 3 và 4:
8 Tb + 7 O2 → 2 Tb4O7
Trong dung dịch, terbi chỉ tạo ra các ion hóa trị 3. Terbi có độ âm điện thấp và phản ứng chậm với nước lạnh nhưng khá nhanh với nước nóng để tạo ra hiđrôxít terbi:
2 Tb(rắn) + 6 H2O(hơi nóng) → 2 Tb(OH)3(dung dịch) + 3H2(khí)
Terbi kim loại phản ứng với mọi halogen:
2 Tb(rắn) + 3 F2(khí) → 2 TbF3(rắn) [màu trắng]
2 Tb(rắn) + 3 Cl2(khí) → 2 TbCl3(rắn) [màu trắng]
2 Tb(rắn) + 3 Br2(khí) → 2 TbBr3(rắn) [màu trắng]
2 Tb(rắn) + 3 I2(khí) → 2 TbI3(rắn)
Terbi hòa tan dễ dàng trong axít sulfuric loãng để tạo ra các dung dịch chứa các ion Tb (III) màu hồng nhạt, tồn tại như là các phức hợp [Tb(OH2)9]3+:
2 Tb(rắn) + 3 H2SO4(dung dịch) → 2 Tb3+(dung dịch) + 3 SO42-(dung dịch) + 3 H2(khí)
=== Hợp chất ===
Terbi kết hợp với nitơ, cacbon, lưu huỳnh, phốtpho, bo, selen, silic và asen ở nhiệt độ cao, tạo thành các hợp chất hóa trị hai khác nhau như TbH2, TbH3, TbB2, Tb2S3, TbSe, TbTe và TbN. Trong các hợp chất này, Tb chủ yếu thể hiện hóa trị +3 và đôi khi là +2. Các halogenua terbi (II) thu được bằng cách ủ các halogenua Tb (III) với sự có mặt của Tb kim loại trong thùng chứa bằng tantali. Terbi cũng có thể tạo ra sesquiclorua Tb2Cl3, là chất có thể khử tiếp thành TbCl bằng cách ủ ở 800 °C. Clorua terbi (I) tạo thành các viên nhỏ với cấu trúc tạo lớp giống như than chì.
Các hợp chất khác còn có:
Clorua: TbCl3
Bromua: TbBr3
Iodua: TbI3
Florua: TbF3, TbF4
Florua terbi (IV) là tác nhân flo hóa mạnh, giải phóng ra flo nguên tử tương đối tinh khiết khi bị nung nóng chứ không phải hỗn hợp của hơi flo giải phóng ra từ CoF3 hay CeF4.
=== Đồng vị ===
Terbi nguồn gốc tự nhiên chỉ bao gồm 1 đồng vị ổn định là Tb159. Ngoài ra, 33 đồng vị phóng xạ cũng đã được miêu tả đặc trưng, với ổn định nhất là Tb158 có chu kỳ bán rã là 180 năm, Tb157Tb có chu kỳ bán rã 71 năm và Tb160 có chu kỳ bán rã 72,3 ngày. Tất cả các đồng vị còn lại đều là đồng vị phóng xạ với chu kỳ bán rã nhỏ hơn 6,907 ngày, và phần lớn có chu kỳ bán rã không quá 24 giây. Nguyên tố này ũng có 18 trạng thái giả ổn định, với ổn định nhất là Tb156m1 (t½ 24,4 giờ), Tb154m2 (t½ 22,7 giờ) và Tb154m1 (t½ 9,4 giờ).
Phương thức phân rã chủ yếu trước đồng vị phổ biến nhất, Tb159, là bắt điện tử, còn phương thức phân rã chủ yếu sau đồng vị phổ biến nhất là phân rã beta trừ. Sản phẩm phân rã chủ yếu trước đồng vị phổ biến nhất là các đồng vị của Gd (gadolini), còn sản phẩm phân rã chủ yếu sau đồng vị phổ biến nhất là các đồng vị của Dy (dysprosi).
== Lịch sử ==
Terbi được nhà hóa học người Thụy Điển là Carl Gustaf Mosander phát hiện năm 1843, ông đã phát hiện nó như là tạp chất trong ôxít yttri, Y2O3, và đặt tên cho nó theo làng Ytterby ở Thụy Điển. Nó đã không được cô lập ở dạng tinh khiết mãi cho tới phát minh ra kỹ thuật trao đổi ion gần đây.
Ban đầu Mosander phân chia "yttria" thành ba phân đoạn, "terbia" là phân đoạn có màu hồng (do nguyên tố hiện nay gọi là erbi), và "erbia" là phân đoạn về thực chất là không màu trong dung dịch, nhưng tạo ra ôxít màu nâu. Các công nhân khi đó rất khó quan sát phân đoạn sau, nhưng phân đoạn màu hồng thì không thể bỏ sót. Các tranh cãi quay qua quay lại về việc "erbia" có tồn tại hay không. Trong sự lộn xộn đó, các tên gọi ban đầu đã bị đảo lại, và sự tráo đổi các tên gọi bị làm rối lên. Hiện nay, người ta cho rằng những công nhân này đã dùng các sulfat kép của natri và kali để loại bỏ "ceria" ra khỏi "yttria", vô tình làm mất hàm lượng terbi trong của hệ thống trong kết tủa chứa ceria. Trong bất kỳ trường hợp nào, chất hiện nay gọi là terbi chỉ chiếm khoảng 1% của yttria ban đầu, nhưng như thế đã là đủ để truyền màu hơi vàng cho ôxít. Vì thế, terbi chỉ là thành phần thiểu số trong phân đoạn terbia ban đầu, với thành phần chủ yếu là các họ hàng gần của nó như gadolini và dysprosi. Sau này, khi các nguyên tố đất hiếm khác được tách ra khỏi hỗn hợp này, bất kỳ phân đoạn nào tạo ra ôxít màu nâu đều giữ tên gọi terbia, cho tới khi cuối cùng nó là tinh khiết. Các nhà nghiên cứu trong thế kỷ 19 không có được ích lợi gì từ công nghệ huỳnh quang, mà bằng cách đó việc quan sát huỳng quang tươi màu có thể làm cho việc theo dõi dấu vết của nguyên tố này trong hỗn hợp trở nên dễ dàng hơn.
== Phổ biến ==
Terbi không được tìm thấy ở dạng tự do trong tự nhiên, nhưng nó có trong nhiều khoáng vật, như cerit, gadolinit, monazit ((Ce,La,Th,Nd,Y)PO4, chứa tới 0,03% terbi), xenotim (YPO4) và euxenit ((Y,Ca,Er,La,Ce,U,Th)(Nb,Ta,Ti)2O6, chứa tới trên 1% terbi). Mật độ phổ biến trong lớp vỏ Trái Đất là khoảng 1,2 mg/kg.
Các nguồn thương mại giàu terbi nhất hiện tại là lớp đất sét ion hấp phụ ở miền nam Trung Quốc. Các mẫu chứa nhiều yttri từ lớp đất sét này chứa khoảng 2/3 là ôxít yttri (theo trọng lượng) và khoảng 1% terbia. Tuy nhiên, các lượng nhỏ cũng có trong bastnasit và monazit, và khi chúng được chế biến bằng chiết dung dịch để phục hồi các kim loại nặng trong nhóm Lantan dưới dạng "cô đặc samari-europi-gadolini" thì hàm lượng terbi của quặng còn lại trong đó. Do một lượng lớn bastnasit được chế biến, một tỷ lệ đáng kể (tương đối so với đất sét giàu ion hấp phụ) nhu cầu về terbi trên thế giới có nguồn gốc từ bastnasit.
== Sản xuất ==
Các khoáng vật chứa terbi thô nghiền nát được xử lý bằng axít sulfuric đặc nóng để tạo ra sulfat hòa tan trong nước của các kim loại đất hiếm. Nước lọc có tính axít được trung hòa một phần bằng NaOH tới khi pH đạt giá trị 3-4. Thori kết tủa khỏi dung dịch dưới dạng hiđrôxít và bị loại bỏ. Sau đó dung dịch được xử lý bằng oxalat ammoni để chuyển đổi các kim loại đất hiếm thành các dạng oxalat không hòa tan của chúng. Các oxalat được chuyển hóa thành các ôxít nhờ ủ. Các ôxít được hòa tan trong axít nitric để tiếp tục loại bỏ một trong các thành phần chính là xeri, do ôxít của nó không hòa tan trong HNO3. Terbi được tách ra ở dạng muối kép với nitrat ammoni bởi sự kết tinh.
Phương thức hiệu quả nhất để tách các muối terbi ra khỏi dung dịch muối của các kim loại đất hiếm khác là trao đổi ion. Trong phương thức này, các ion kim loại đất hiếm được hấp thụ thành nhựa trao đổi ion thích hợp bằng trao đổi với các ion hiđrôni, ammoni hay đồng có trong nhựa. Các ion đất hiếm sau đó được rửa sạch có chọn lọc bằng các tác nhân tạo phức chất thích hợp. Giống như các kim loại đất hiếm khác, terbi kim loại được sản xuất bằng cách khử clorua hay florua khan bằng canxi kim loại. Các tạp chất canxi và tantali có thể loại bỏ bằng tái nóng chảy trong chân không, chưng cất, tạo hỗn hống hay nung chảy theo khu vực.
== Ứng dụng ==
Terbi được sử dụng làm tác nhân kích thích cho florua canxi, tungstat canxi và molypdat stronti, các vật liệu được sử dụng trong các thiết bị trạng thái rắn, và như là tác nhân ổn định tinh thể của các tế bào nhiên liệu khi phải làm việc ở nhiệt độ cao, cùng với ZrO2.
Terbi cũng được sử dụng trong các hợp kim và trong sản xuất các thiết bị điện tử. Là một thành phần của Terfenol-D, terbi được sử dụng trong các thiết bị truyền động, trong các hệ thống định vị thủy âm và cảm biến của hải quân, trong thiết bị SoundBug (ứng dụng thương mại đầu tiên của nó) cũng như trong các thiết bị cơ-từ khác. Terfenol-D là hợp kim giãn nở hay co ngót trong từ trường. Nó có độ từ giảo cao nhất trong số tất cả các hợp kim đã biết.
Ôxít terbi được sử dụng trong các chất lân quang màu xanh lục trong các đèn huỳnh quang và các ống TV màu. Các chát lân quang "xanh lục" terbi (phát màu vàng chanh tươi) được kết hợp với các chất lân quang màu xanh lam của europi hóa trị 2 và các chất lân quang màu đỏ của europi hóa trị 3 để tạo ra công nghệ chiếu sáng "ba màu". Chiếu sáng ba màu cung cấp lượng sáng cao hơn khi xét cùng một lượng điện năng đầu vào so với các đèn nóng sáng. Đây cũng là lĩnh vực tiêu thụ terbi nhiều nhất trên thế giới. Borat terbi natri được sử dụng trong các thiết bị trạng thái rắn. Huỳnh quang tươi màu cho phép sử dụng terbi làm mẫu thăm dò trong hóa sinh học, trong đó nó là gần giống như canxi về hành vi.
== Phòng ngừa ==
Giống như các nguyên tố trong nhóm Lantan khác, các hợp chất của terbi có độc tính từ nhẹ tới vừa phải, mặc dù mức độ độc của chúng vẫn chưa được kiểm tra chi tiết. Terbi không có vai trò sinh học nào đã biết.
== Tham khảo ==
== Liên kết ngoài ==
WebElements.com – Terbi
Terbi |
chất độc.txt | Trong ngữ cảnh sinh học, các chất độc là các chất có thể gây hư hại, bệnh, hoặc tử vong cho các cơ thể, thường bằng các phản ứng hóa học hoặc các hoạt tính khác trên phạm vi phân tử, khi một số lượng vừa đủ được cơ thể sinh vật hấp thụ vào. Paracelsus, cha đẻ của ngành độc chất học, đã từng viết: "Mọi thứ đều là chất độc, trong mọi thứ đều có chất độc. Chỉ có liều lượng là làm cho một thứ không phải là một chất độc".
== Thuật ngữ và phân biệt ==
Một vài chất độc cũng là các độc tố, thường là các chất được tạo ra trong tự nhiên, như các protein của vi khuẩn gây ra bệnh uốn ván và chứng ngộ độc thịt. Nhưng sự phân biệt giữa hai thuật ngữ nay thường không được người ta tuân thủ, thậm chí giữa các nhà khoa học.
=== Ngành y khoa và động vật học ===
Một độc tố thường được phân biệt với một nọc độc.
==== Độc tố ====
Là các chất độc được tạo ra thông qua một vài chức năng sinh học tự nhiên. Một cơ thể có thể vừa có nọc độc vừa có chất độc.
==== Nọc độc ====
Tiếng Anh là venomous. Gồm các độc tố động vật được phun ra khi sinh vật cắn hoặc đốt để truyền qua dưới da để gây hiệu ứng. Cơ thể có nọc độc thì sử dụng chất độc để tự vệ khi nó vẫn còn sống. Một số loài động vật chứa nọc độc: 1. Sứa hộp (lớp Cubozoa), 2. Rắn hổ mang chúa (King Cobra), 3. Bạch tuộc nhẫn xanh, 4. Ốc sên Marbled Cone, 5. Cá đá (Stone Fish), 6. Bọ cạp Death Stalker, 7. Rắn Taipan Inland, 8. Nhện Phoneutria
==== Chất độc ====
Tiếng Anh là poisonous. Thường được định nghĩa là các chất được hấp thụ thông các màng biểu mô như da hay ruột. Trong cách sử dụng thông thường, một cơ thể độc là thứ mà gây hại khi ăn phải hoặc chạm phải. Một số loài động vật chứa chất độc: 1. Ếch phi tiêu độc (Poison Dart Frog), 2. Họ cá nóc
=== Ngành hóa học và vật lý ===
Một chất độc là một chất cản trở hoặc ngăn chặn một phản ứng, ví dụ như bằng liên kết với một chất xúc tác.
== Tham khảo ==
Chất độc tại Từ điển bách khoa Việt Nam |
công ty cổ phần.txt | Công ty cổ phần là một dạng pháp nhân có trách nhiệm hữu hạn, được thành lập và tồn tại độc lập đối với những chủ thể sở hữu nó. Vốn của công ty được chia nhỏ thành những phần bằng nhau gọi là cổ phần và được phát hành huy động vốn tham gia của các nhà đầu tư thuộc mọi thành phần kinh tế.
== Nguyên tắc cơ cấu ==
Công ty cổ phần là một thể chế kinh doanh, một loại hình doanh nghiệp hình thành, tồn tại và phát triển bởi sự góp vốn của nhiều cổ đông. Trong công ty cổ phần, số vốn điều lệ của công ty được chia nhỏ thành các phần bằng nhau gọi là cổ phần. Các cá nhân hay tổ chức sở hữu cổ phần được gọi là cổ đông. Cổ đông được cấp một giấy chứng nhận sở hữu cổ phần gọi là cổ phiếu. Chỉ có công ty cổ phần mới được phát hành cổ phiếu. Như vậy, cổ phiếu chính là một bằng chứng xác nhận quyền sở hữu của một cổ đông đối với một Công ty Cổ phần và cổ đông là người có cổ phần thể hiện bằng cổ phiếu. Công ty cổ phần là một trong loại hình công ty căn bản tồn tại trên thị trường và nhất là để niêm yết trên thị trường chứng khoán.
Bộ máy các công ty cổ phần được cơ cấu theo luật pháp và điều lệ công ty với nguyên tắc cơ cấu nhằm đảm bảo tính chuẩn mực, minh bạch và hoạt động có hiệu quả.
Công ty Cổ phần phải có Đại hội đồng Cổ đông, Hội đồng Quản trị và Ban Điều hành. Đối với công ty cổ phần có trên mười một cổ đông là cá nhân hoặc tổ chức sở hữu trên 50% tổng số cổ phần của công ty phải có Ban Kiểm soát.
== Cơ cấu thể chế ==
Khái niệm công ty cổ phần được xem đồng nghĩa với công ty đại chúng bởi cấu trúc, mục tiêu và tính chất của nó. Quy định trong một số bộ luật, trong đó có Luật Việt Nam ghi rõ công ty cổ phần cần có tối thiểu 3 cổ đông, bất kể đó là pháp nhân hay thể nhân. Tuy nhiên, các quy định đối với một công ty niêm yết thường yêu cầu công ty phải có số cổ đông lớn hơn nhiều. Các quy định cụ thể của cả 6 sàn chứng khoán Hoa Kỳ đều cho thấy điều này, từ các sàn sơ khai như Pink Sheet, OTCBB, NASDAQ, NYSE; trong đó OTCBB yêu cầu công ty ít nhất có 40 cổ đông, còn NYSE lại yêu cầu công ty phải có ít nhất 2.000 cổ đông.
Cơ quan tối cao của các công ty cổ phần là Đại hội đồng Cổ đông. Các cổ đông sẽ tiến hành bầu ra Hội đồng Quản trị với Chủ tịch Hội đồng Quản trị, các Phó Chủ tịch và thành viên (kiêm nhiệm và không kiêm nhiệm). Sau đó, Hội đồng quản trị sẽ tiến hành thuê, bổ nhiệm Giám đốc (Tổng giám đốc) và/ hoặc Giám đốc điều hành. Hội đồng này cũng có thể tiến hành thuê, bổ nhiệm các Phó Giám đốc (Phó Tổng Giám đốc) hoặc ủy quyền cho Ban Giám đốc (công ty) làm việc này.
Quan hệ giữa Hội đồng Quản trị và Ban giám đốc là quan hệ quản trị công ty. Quan hệ giữa Ban giám đốc và cấp dưới, người lao động nói chung là quan hệ quản lý. Xung quanh vấn đề quan hệ giữa các chủ sở hữu là cổ đông của công ty và những người quản lý thông thường cần được tách bạch và kể cả các đại cổ đông cũng không nhất nhất là được hay có thể tham gia quản lý công ty. Để đảm bảo khách quan, nhiều công ty đã quy định chặt chẽ về điều này.
== Ưu điểm ==
Nhà đầu tư chỉ chịu trách nhiệm hữu hạn tương ứng với tỷ lệ góp vốn trong công ty;
Quy mô hoạt động lớn và khả năng mở rộng kinh doanh dễ dàng từ việc huy động vốn cổ phần;
Nhà đầu tư có khả năng điều chuyển vốn đầu tư từ nơi này sang nơi khác, từ lĩnh vực này sang lĩnh vực khác dễ dàng thông qua hình thức chuyển nhượng, mua bán cổ phần;
Việc hoạt động của công ty đạt hiệu quả cao do tính độc lập giữa quản lý và sở hữu.
== Nhược điểm ==
Mức thuế tương đối cao vì ngoài thuế mà công ty phải thực hiện nghĩa vụ với ngân sách nhà nước, các cổ đông còn phải chịu thuế thu nhập bổ sung từ nguồn cổ tức và lãi cổ phần theo quy định của luật pháp;
Chi phí cho việc thành lập doanh nghiệp khá tốn kém;
Khả năng bảo mật kinh doanh và tài chính bị hạn chế do công ty phải công khai và báo cáo với các cổ đông;
Khả năng thay đổi phạm vi lĩnh vực kinh doanh cũng như trong hoạt động kinh doanh không linh hoạt do phải tuân thủ theo những quy định trong Điều lệ của công ty, ví dụ có trường hợp phải do Đại hội đồng Cổ đông của Công ty Cổ phần quyết định.
== Tại Việt Nam (trích Luật Doanh nghiệp 2005) ==
=== Định nghĩa ===
Theo điều 77 Luật Doanh nghiệp 2005 (của Việt Nam), công ty cổ phần được định nghĩa như sau:
Công ty cổ phần là doanh nghiệp, trong đó:
Vốn điều lệ được chia thành nhiều phần bằng nhau gọi là cổ phần;
Cổ đông có thể là tổ chức, cá nhân; số lượng cổ đông tối thiểu là ba và không hạn chế số lượng tối đa;
Cổ đông chỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của doanh nghiệp trong phạm vi số vốn đã góp vào doanh nghiệp;
Cổ đông có quyền tự do chuyển nhượng cổ phần của mình cho người khác, trừ trường hợp quy định tại khoản 3 Điều 81 và khoản 5 Điều 84 của Luật này.
Công ty cổ phần có tư cách pháp nhân kể từ ngày được cấp Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh.
Công ty cổ phần có quyền phát hành chứng khoán các loại để huy động vốn.
=== Các loại cổ phần ===
Theo điều 78 Luật Doanh nghiệp 2005 (của Việt Nam), các loại cổ phần bao gồm:
Công ty cổ phần phải có cổ phần phổ thông. Người sở hữu cổ phần phổ thông là cổ đông phổ thông.
Công ty cổ phần có thể có cổ phần ưu đãi. Người sở hữu cổ phần ưu đãi gọi là cổ đông ưu đãi. Cổ phần ưu đãi gồm các loại sau đây:
Cổ phần ưu đãi biểu quyết;
Cổ phần ưu đãi cổ tức;
Cổ phần ưu đãi hoàn lại;
Cổ phần ưu đãi khác do Điều lệ công ty quy định.
Trong các loại cổ phần ưu đãi trên thì cổ phần ưu đãi biểu quyết chịu một số ràng buộc như:
chỉ có tổ chức được Chính phủ uỷ quyền và cổ đông sáng lập được quyền nắm giữ cổ phần ưu đãi biểu quyết.
Ưu đãi biểu quyết của cổ đông sáng lập chỉ có hiệu lực trong ba năm, kể từ ngày công ty được cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh. Sau thời hạn đó, cổ phần ưu đãi biểu quyết của cổ đông sáng lập chuyển đổi thành cổ phần phổ thông.
Người được quyền mua cổ phần ưu đãi cổ tức, cổ phần ưu đãi hoàn lại và cổ phần ưu đãi khác do Điều lệ công ty quy định hoặc do Đại hội đồng cổ đông quyết định.
Các cổ phần còn lại (ưu đãi cổ tức, ưu đãi hoàn lại và ưu đãi khác) thường tuân theo các quy tắc do Đại hội đồng cổ đông quyết định.
Ngoài ra, cổ phần phổ thông không thể chuyển đổi thành cổ phần ưu đãi; trong khi cổ phần ưu đãi có thể chuyển thành cổ phần phổ thông theo quyết định của Đại hội đồng cổ đông. Mỗi cổ phần của cùng một loại đều tạo cho người sở hữu nó các quyền, nghĩa vụ và lợi ích ngang nhau.
== Xem thêm ==
Cổ phần hóa
Công ty trách nhiệm hữu hạn
Công ty đại chúng
Cổ phần
Cổ đông
Cổ phiếu
Chứng khoán
Công ty chứng khoán
Thị trường chứng khoán
Sàn giao dịch chứng khoán
== Chú thích == |
amerigo vespucci.txt | Amerigo Vespucci (9 tháng 3 năm 1454 - 22 tháng 2 năm 1512) là một nhà buôn, nhà thám hiểm và người vẽ bản đồ người Ý. Ông giữ vai trò chính trong hai cuộc thám hiểm vùng bờ biển phía đông của Nam Mỹ từ 1499 đến 1502. Trong chuyến thám hiểm thứ hai, ông phát hiện ra rằng Nam Mỹ mở rộng về phía nam hơn là những kiến thức người châu Âu đã biết. Điều đó làm ông tin rừng vùng đất này là một lục địa mới, một luận điểm dũng cảm vào thời điểm đó, khi các nhà thám hiểm châu Âu vượt qua Đại Tây Dương đều cho rằng họ đã tới được châu Á (hay Ấn Độ, theo cách gọi của người thời đó). Những chuyến thám hiểm của Vespucci được biết đến rộng rãi ở châu Âu sau khi hai báo cáo được xem là của ông được xuất bản từ năm 1502 đến 1504. Năm 1507, Martin Waldseemüller vẽ một bản đồ thế giới, trong đó ông đặt tên cho lục địa mới là "America" (châu Mỹ), lấy theo tên của Vespucci là Amerigo. Trong cuốn sách đi kèm, Waldseemüller in một báo cáo của Vespucci, đã dẫn tới sự chỉ trích rằng Vespucci đã tìm cách chiếm đoạt danh tiếng của Cristoforo Colombo. Tuy nhiên, những nghiên cứu sau này ở thế kỉ 18 về những bức thư, tài liệu khác của Vespucci cho thấy rằng những báo cáo xuất bản lần đầu đã bị nguỵ tạo, nhưng không phải của Vespucci mà của người khác.Có thể coi Vespucci là người phát hiện ra Châu Mĩ
== Cuộc đời ==
Amerigo Vespucci sinh tại Firenze, là con thứ ba trong một gia đình danh giá. Cha ông là công chứng viên cho Phường hội đổi tiền ở Firenze. Amerigo Vespucci làm việc cho Lorenzo di Pierfrancesco de' Medici và em trai ông ta, Giovanni. Năm 1492 họ gửi ông tới chi nhánh của họ ở Sevilla, Tây Ban Nha để làm việc.
Năm 1508, sau hai chuyến đi tới châu Mỹ, Vespucci giữ chức hoa tiêu chính (lãnh đạo hướng dẫn đường) của Tây Ban Nha, có trách nhiệm huấn luyện các hoa tiêu cho các chuyến đi biển. Ông mất năm 1512 vì bệnh sốt rét tại Sevilla, Tây Ban Nha.
Hai bức thư được cho là của Vespucci đã được xuất bản khi ông còn sống. Mundus Novus (Thế giới mới, Tân thế giới) là bản dịch Latin của một bức thư tiếng Ý bị thất lạc gửi từ Lisboa đến Lorenzo di Pierfrancesco de 'Medici. Nó miêu tả một chuyến thám hiểm đến Nam Mỹ trong khoảng thời gian 1501-1502. Mundus Novus được xuất bản vào cuối năm 1502 hoặc đầu năm 1503 và nhanh chóng được tái bản và lan truyền đến nhiều quốc gia châu Âu. Lettera di Amerigo Vespucci delle isole nuovamente trovate in quattro suoi viaggi (Thư của Amerigo Vespucci liên quan đến các hòn đảo nhỏ mới được phát hiện trong bốn chuyến thám hiểm), còn được biết đến với cái tên Lettera al Soderini, hoặc đơn giản là Lettera, là một lá thư có địa chỉ từ Ý gửi tới cho Piero Soderini. Được in vào năm 1504 hoặc 1505, nó nhắc lại bốn chuyến thám hiểm của Vespucci tới châu Mỹ từ 1497 đến 1504. Một bản dịch tiếng Latin được một người Đức là Martin Waldseemüller xuất bản năm 1507 trong tác phẩm Cosmographiae Introductio, một cuốn sách về thiên văn học và địa lý học, với cái tên Quattuor Americi Vespuccij navigationes (Bốn chuyến thám hiểm của Amerigo Vespucci).
== Chú thích == |
luật bóng đá.txt | Luật bóng đá là hệ thống quy định của FIFA trong việc chơi bóng đá, kể cả bóng đá trên sân cỏ chính thức, bóng đá trong nhà..., áp dụng trên tất cả các nước.
Có tất cả 17 điều luật trong Luật bóng đá chính thức. Luật này được thiết kế để áp dụng cho tất cả đẳng cấp bóng đá, mặc dù nó cho phép các liên đoàn bóng đá quốc gia được phép thay đổi để phù hợp với các giải trẻ, không chuyên nghiệp, nữ... Thông thường, luật chỉ là một khung cho phép thay đổi linh hoạt tùy vào đặc điểm trận đấu. Ngoài 17 điều luật, nhiều quyết định của IFAB và các chỉ dẫn cũng được đóng góp vào luật bóng đá.
== Luật bóng đá hiện nay ==
Luật bóng đá hiện tại bao gồm 17 điều luật sau:
Luật I: Sân thi đấu
Luật II: Bóng
Luật III: Số lượng cầu thủ
Luật IV: Trang phục của cầu thủ
Luật V: Trọng tài
Luật VI: Trợ lý trọng tài
Luật VII: Thời gian trận đấu
Luật VIII: Bắt đầu và bắt đầu lại trận đấu
Luật IX: Bóng trong cuộc và bóng ngoài cuộc
Luật X: Bàn thắng hợp lệ
Luật XI: Việt vị
Luật XII: Lỗi và hành vi khiếm nhã
Luật XIII: Những quả phạt (trực tiếp và gián tiếp)
Luật XIV: Quả phạt đền
Luật XV: Ném biên
Luật XVI: Quả phát bóng
Luật XVII: Quả phạt góc.
== Lịch sử và phát triển ==
== Tham khảo ==
== Liên kết ngoài ==
Toàn văn Luật bóng đá Việt Nam
The current Laws of the Game (FIFA)
Liên đoàn Bóng đá Việt Nam
Văn bản pháp quy về bóng đá tại Việt Nam
Văn bản sửa đổi, bổ sung luật thi đấu bóng đá năm 2005
Văn bản sửa đổi, bổ sung luật thi đấu bóng đá năm 2006
Quy định về kỷ luật của FIFA (FDC) |
quốc hội việt nam.txt | Quốc hội Việt Nam là một cơ quan quan trọng trong hệ thống chính trị Việt Nam, là cơ quan đại biểu cao nhất của nhân dân Việt Nam và là cơ quan quyền lực Nhà nước cao nhất của nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam. Cơ quan này có ba chức năng chính:
Lập hiến, Lập pháp
Quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước
Giám sát tối cao hoạt động của Nhà nước.
Thành phần nhân sự của cơ quan này là các đại biểu quốc hội Việt Nam, do cử tri Việt Nam bầu ra theo nguyên tắc phổ thông, bình đẳng, trực tiếp và bỏ phiếu kín. Các đại biểu được bầu chịu trách nhiệm trước cử tri bầu ra mình và trước cử tri cả nước. Thông qua các đại biểu và thông qua quốc hội, nhân dân Việt Nam sử dụng quyền lực của mình để định đoạt các vấn đề của đất nước.
Theo hiến pháp và luật pháp nhà nước, các đại biểu quốc hội không có nghĩa vụ phải tuân theo các chỉ thị của Đảng Cộng sản Việt Nam. Tuy nhiên, Chủ tịch Quốc hội được đề cử bởi Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam, và phần lớn các đại biểu quốc hội là đảng viên của Đảng Cộng sản Việt Nam (hiện nay là khoảng 90%) và họ phải tuân thủ các chỉ thị của đảng. Do đó, Quốc hội Việt Nam không có được sự độc lập khỏi Đảng Cộng sản Việt Nam khi quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước.
Các nhiệm vụ và quyền hạn cụ thể của quốc hội Việt Nam được quy định theo Điều 84 trong Hiến pháp Việt Nam. Quốc hội Việt Nam tổ chức và hoạt động theo nguyên tắc tập trung dân chủ làm việc theo chế độ hội nghị và quyết định theo đa số. Cơ quan này có các đơn vị trực thuộc là Ủy ban Thường vụ Quốc hội và Hội đồng Dân tộc và các Ủy ban của Quốc hội Việt Nam.
Quốc hội Việt Nam họp thường lệ mỗi năm 2 kỳ do Uỷ ban thường vụ Quốc hội triệu tập. Uỷ ban thường vụ Quốc hội có thể triệu tập phiên họp bất thường theo quyết định của mình, hoặc khi Chủ tịch nước, Thủ tướng Chính phủ hoặc khi có ít nhất 1/3 tổng số Đại biểu Quốc hội yêu cầu. Các cuộc họp của Quốc hội đều công khai, một số được truyền hình trực tiếp, phát sóng toàn quốc và ra nước ngoài. Quốc hội Việt Nam cũng có thể họp kín theo đề nghị của Uỷ ban thường vụ Quốc hội, Chủ tịch nước, Thủ tướng Chính phủ hoặc của ít nhất 1/3 tổng số đại biểu Quốc hội. Thành viên của Chính phủ không phải là đại biểu Quốc hội được mời tham dự các phiên họp toàn thể của Quốc hội. Đại diện cơ quan Nhà nước, tổ chức xã hội, tổ chức kinh tế, đơn vị vũ trang, cơ quan báo chí, công dân và khách quốc tế có thể được mời dự các phiên họp công khai của Quốc hội.
Chức vụ đứng đầu Quốc hội Việt Nam là Chủ tịch Quốc hội, hiện là bà Nguyễn Thị Kim Ngân.
Quốc hội Việt Nam hiện nay là thành viên của Liên minh Nghị viện thế giới (IPU), Liên minh Nghị viện Hiệp hội các nước ASEAN (AIPO), Liên minh Nghị viện Cộng đồng Pháp ngữ (APF), là thành viên sáng lập Diễn đàn Nghị sĩ các nước châu Á - Thái Bình Dương (APPF), Tổ chức Liên nghị viện các nước châu Á vì Hoà bình (AAPP).
== Lịch sử ==
Quốc hội Việt Nam hiện nay, ra đời cùng nhà nước này sau cuộc tổng tuyển cử ngày 6 tháng 1 năm 1946. Từ đó đến nay, cơ quan này đã trải qua 13 khóa làm việc, với 8 đời Chủ tịch Quốc hội.
Theo chiều dài thời gian thì từ những năm đầu đến Khóa VII thập niên 1980 hoạt động của Quốc hội rất yếu ớt, mờ nhạt. Mỗi năm Quốc hội chỉ nhóm họp một lần, kéo dài không quá năm ngày. Có đôi lần Quốc hội nhóm họp lâu hơn vì tính cách tượng trưng lịch sử, như Khóa VI họp đến chín ngày nhân dịp nghị hội toàn quốc thống nhất hai Miền Nam Bắc. Những năm đó Quốc hội có mỗi một chức năng duy nhất là hợp thức hóa đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam.
Phải đến năm 1985 Quốc hội Việt Nam mới bắt đầu khởi sắc, tuy vẫn do Đảng và Bộ Chính trị chi phối nhưng cũng có những tiếng nói riêng dưới sự điều hành của Chủ tịch Quốc hội. Quốc hội từ đấy có những đại biểu lên tiếng phát biểu tự do hơn, không như trước kia khi Tổng Thư ký Quốc hội phải duyệt trước bài diễn văn trước khi đại biểu được nói. Cũng theo đó Quốc hội không còn việc biểu quyết với tỷ số 100% răm rắp. Sang thập niên 1990 Quốc hội mới có lệ chất vấn chính phủ, và kể từ năm 1998 thì có truyền hình phát hình trực tiếp để công chúng theo dõi.
Năm 2013, Quốc hội bắt đầu bỏ phiếu tín nhiệm các thành viên chính phủ (Thủ tướng và các bộ trưởng).
=== Khóa I (1946-1960) ===
Quốc hội khóa đầu tiên được bầu 6 tháng 01 năm 1946. Gồm 403 đại biểu: 333 đại biểu được bầu, 70 ghế theo đề nghị của Hồ Chí Minh (dành cho người của Việt Nam Quốc dân Đảng [50] và Việt Nam Cách mạng Đồng minh Hội [20]), những đại biểu không qua bầu cử được gọi là đại biểu "truy nhận".
Kỳ họp thứ nhất (2 tháng 3 năm 1946) công nhận: Chính phủ liên hiệp kháng chiến do Hồ Chí Minh làm Chủ tịch, Kháng chiến ủy viên hội do Võ Nguyên Giáp làm Chủ tịch, Vĩnh Thụy làm Cố vấn tối cao, Ban dự thảo Hiến pháp gồm 11 thành viên.
Quốc hội khóa I đã thông qua hiến pháp đầu tiên (Hiến pháp 1946) ngày 9 tháng 11 năm 1946, thông qua Hiến pháp sửa đổi (Hiến pháp 1959) ngày 31 tháng 12 năm 1959.
Ban hành sắc lệnh cải cách ruộng đất và phê chuẩn Hiệp định Geneva.
Tuy lúc đầu Quốc hội có 403 đại biểu nhưng đến khóa mùa thu năm 1946 thì số đại biểu chỉ còn 291 và khi mãn khóa thì chỉ còn 242 vì hầu hết các đại biểu đối lập thuộc Việt Nam Cách mạng đồng minh hội (Việt Cách) và Việt Nam Quốc dân đảng (Việt Quốc) đã bỏ chạy sang Hoa Nam khi không còn sự hậu thuẫn về quân sự và chính trị của quân đội Trung Hoa Dân quốc sau Hiệp định Sơ bộ ngày 6 tháng 3 năm 1946.
=== Khóa II (1960-1964) ===
Bầu ngày 8 tháng 5 năm 1960. Gồm 453 đại biểu (362 đại biểu được bầu, 91 đại biểu khóa I của Miền Nam được lưu nhiệm).
Kỳ họp thứ nhất (từ ngày 6 đến 15 tháng 7 năm 1960) bầu Chủ tịch nước Hồ Chí Minh, Phó Chủ tịch nước Tôn Đức Thắng và Thủ tướng Phạm Văn Đồng.
Ủy ban Thường vụ Quốc hội gồm 21 ủy viên chính thức, 5 ủy viên dự khuyết.
=== Khóa III (1964-1971) ===
Bầu ngày 26 tháng 4 năm 1964. Gồm 453 đại biểu: 366 đại biểu được bầu, 87 đại biểu khóa I của Miền Nam được lưu nhiệm.
Kỳ họp thứ nhất (từ ngày 25 tháng 6 đến ngày 3 tháng 7 năm 1964) bầu Chủ tịch nước Hồ Chí Minh, Phó Chủ tịch nước Tôn Đức Thắng và Thủ tướng Phạm Văn Đồng.
Ủy ban Thường vụ Quốc hội gồm 23 ủy viên chính thức, 3 ủy viên dự khuyết.
=== Khóa IV (1971-1975) ===
Bầu ngày 11 tháng 4 năm 1971. Bầu 420 đại biểu.
Kỳ họp thứ nhất (từ ngày 6 đến ngày 10 tháng 6 năm 1971) bầu Chủ tịch nước Tôn Đức Thắng, Phó Chủ tịch nước Nguyễn Lương Bằng và Thủ tướng Phạm Văn Đồng.
Ủy ban Thường vụ Quốc hội gồm 24 ủy viên chính thức, 3 ủy viên dự khuyết.
=== Khóa V (1975-1976) ===
Bầu ngày 6 tháng 4 năm 1975. Bầu 424 đại biểu.
Kỳ họp thứ nhất (từ ngày 3 đến ngày 6 tháng 6 năm 1975) bầu Chủ tịch nước Tôn Đức Thắng, Phó Chủ tịch nước Nguyễn Lương Bằng và Thủ tướng Phạm Văn Đồng.
Ủy ban Thường vụ Quốc hội gồm 19 ủy viên chính thức, 3 ủy viên dự khuyết.
=== Khóa VI (1976-1981) ===
Quốc hội đầu tiên của nước Việt Nam thống nhất. Bầu ngày 25 tháng 4 năm 1976. Bầu 492 đại biểu.
Kỳ họp thứ nhất (từ ngày 24 tháng 6 đến ngày 3 tháng 7 năm 1976) bầu Chủ tịch nước Tôn Đức Thắng, 2 Phó Chủ tịch nước Nguyễn Lương Bằng và Nguyễn Hữu Thọ, Thủ tướng Phạm Văn Đồng. Cũng tại kỳ họp này, ngày 2 tháng 7 năm 1976, Quốc hội đã quyết định đổi tên nước thành Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam và đổi tên Sài Gòn thành Thành phố Hồ Chí Minh.
Ủy ban Thường vụ Quốc hội gồm 21 ủy viên chính thức, 2 ủy viên dự khuyết.
Thông qua Hiến pháp 1980 tại kỳ họp 7 ngày 18 tháng 12 năm 1980.
=== Khóa VII (1981-1987) ===
Bầu ngày 26 tháng 4 năm 1981. Bầu 496 đại biểu.
Kỳ họp thứ nhất (từ ngày 24 tháng 6 đến ngày 4 tháng 7 năm 1981) bầu Chủ tịch Hội đồng Nhà nước Trường Chinh và Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng Phạm Văn Đồng.
Hội đồng Nhà nước gồm 12 thành viên đảm nhận chức năng của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, là cơ quan cao nhất hoạt động thường xuyên của Quốc hội.
=== Khóa VIII (1987-1992) ===
Bầu ngày 19 tháng 4 năm 1987. Bầu 496 đại biểu.
Kỳ họp thứ nhất (từ ngày 17 đến ngày 22 tháng 6 năm 1987) bầu Chủ tịch Hội đồng Nhà nước Võ Chí Công và Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng Phạm Hùng.
Hội đồng Nhà nước gồm 15 thành viên.
Thông qua Hiến pháp 1992 tại kỳ họp 11 ngày 15 tháng 4 năm 1992.
=== Khóa IX (1992-1997) ===
Bầu ngày 19 tháng 7 năm 1992. Bầu 395 đại biểu.
Kỳ họp thứ nhất (từ ngày 19 tháng 9 đến ngày 8 tháng 10 năm 1992) bầu Chủ tịch nước Lê Đức Anh, Phó Chủ tịch nước Nguyễn Thị Bình và Thủ tướng Võ Văn Kiệt.
Quay trở lại mô hình Ủy ban Thường vụ Quốc hội: gồm 13 ủy viên. Đoàn thư ký kỳ họp Quốc hội do Vũ Mão làm trưởng đoàn.
Chủ tịch Quốc hội là Nông Đức Mạnh
=== Khóa X (1997-2002) ===
Bầu ngày 20 tháng 7 năm 1997. Bầu 450 đại biểu.
Kỳ họp thứ nhất (từ ngày 20 đến ngày 29 tháng 9 năm 1997) bầu Chủ tịch nước Trần Đức Lương, Phó Chủ tịch nước Nguyễn Thị Bình và Thủ tướng Phan Văn Khải.
=== Khóa XI (2002-2007) ===
Bầu ngày 19 tháng 5 năm 2002. Bầu 498 đại biểu.
Kỳ họp thứ nhất (từ ngày 19 tháng 7 đến ngày 12 tháng 8 năm 2002) bầu Chủ tịch nước Trần Đức Lương, Phó Chủ tịch nước Trương Mỹ Hoa và Thủ tướng Phan Văn Khải.
Ủy ban Thường vụ Quốc hội: gồm 9 ủy viên. Đoàn thư ký kỳ họp Quốc hội do Bùi Ngọc Thanh làm trưởng đoàn.
Kỳ họp thứ 9 (đến ngày 29 tháng 6 năm 2006) bầu Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Phú Trọng, Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết và Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng.
=== Khóa XII (2007-2011) ===
Bầu ngày 20 tháng 5 năm 2007. Bầu được 493 đại biểu. Quốc hội khoá XII rút ngắn thời gian hoạt động 1 năm để tiến hành bầu cử Quốc hội khoá XIII cho cùng thời gian với cuộc bầu cử đại biểu HĐND các cấp năm 2011.
=== Khóa XIII (2011-2016) ===
Quốc hội khóa XIII được bầu trong cuộc Tổng tuyển cử ngày 22/5/2011.
Kỳ họp thứ nhất Quốc hội khóa XIII họp vào tháng 07/2011.
Tại kỳ họp thứ 6, Quốc hội khóa XIII thông qua Hiến pháp năm 2013 vào ngày 28/11/2013.
Tại kỳ họp thứ 11, Quộc hội khóa XIII bỏ phiếu miễn nhiệm các chức vụ Chủ tịch Quốc hội, Chủ tịch nước, Thủ tướng Chính phủ và bầu người mới cho các chức danh này.
Ngày 30/3/2016, Quốc hội bỏ phiếu thông qua việc miễn nhiệm Chủ tịch Quốc hội và Chủ tịch Hội đồng bầu cử quốc gia đối với ông Nguyễn Sinh Hùng, với 87,25% đồng ý, 8,5% không đồng ý đối với chức vụ Chủ tịch Quốc hội; 87,04% đồng ý, 8,5% không đồng ý đối với chức vụ Chủ tịch Hội đồng bầu cử quốc gia.
Ngày 31/3/2016, bà Nguyễn Thị Kim Ngân, Phó Chủ tịch Quốc hội được Quốc hội bầu làm Chủ tịch Quốc hội và Chủ tịch Hội đồng bầu cử quốc gia, với 95,5% tán thành, 1,82% không tán thành. Cụ thể, có 472/484 ĐB có mặt đồng ý và 9 ĐB không đồng ý. Bà trở thành nữ chính khách Việt Nam đầu tiên giữ các cương vị này, đồng thời cũng là người đầu tiên thực hiện quy định tuyên thệ khi nhậm chức.
Chiều 31/3/2016, Quốc hội bỏ phiếu thông qua việc miễn nhiệm Chủ tịch nước đối với ông Trương Tấn Sang với 90,49% tán thành, 5,26% không tán thành. Cụ thể, có 447/474 ĐB có mặt đồng ý, 26 không đồng ý. Ông Trương Tấn Sang cũng đồng thời thôi giữ chức vụ Chủ tịch Hội đồng Quốc phòng và An ninh.
Sáng 02/4/2016, ông Trần Đại Quang, Đại tướng, Bộ trưởng Bộ Công an được Quốc hội bầu làm Chủ tịch nước với 91,5% tán thành, 5,87% không tán thành. Cụ thể, có 452/483 ĐB có mặt đồng ý và 29 ĐB không đồng ý.
Chiều 06/4/2016, Quốc hội bỏ phiếu thông qua việc miễn nhiệm Thủ tướng Chính phủ đối với ông Nguyễn Tấn Dũng với 84,62% tán thành, 13,77% không tán thành. Cụ thể 418/487 ĐB có mặt đồng ý, 68 ĐB không đồng ý.
Sáng 07/4/2016, ông Nguyễn Xuân Phúc, Phó Thủ tướng Chính phủ được Quốc hội bầu làm Thủ tướng chính phủ với 90,28% tán thành, 8,91% không tán thành. Cụ thể, có 446/490 ĐB có mặt đồng ý và 44 ĐB không đồng ý.
Chủ tịch
Nguyễn Sinh Hùng, UVBCT khóa XI, Chủ tịch UB Sửa đổi hiến pháp 1992 (đến 30/03/2016)
Nguyễn Thị Kim Ngân, UVBCT khóa XII, Chủ tịch Ủy ban Bầu cử Quốc gia (từ 31/03/2016)
Các Phó Chủ tịch
Bà Tòng Thị Phóng, sinh năm 1954;
Bà Nguyễn Thị Kim Ngân, sinh năm 1954; (đến 31/03/2016)
Ông Uông Chu Lưu, sinh năm 1955;
Ông Huỳnh Ngọc Sơn, sinh năm 1951; (đến 02/04/2016)
Ông Phùng Quốc Hiển, sinh năm 1958; (từ 04/04/2016)
Ông Đỗ Bá Tỵ, sinh năm 1954; (từ 04/04/2016)
=== Khóa XIV (2016-2021) ===
Quốc hội khóa XIV được bầu cử vào ngày 22 tháng 5 năm 2016. Kỳ họp thứ nhất Quốc hội khóa XIV họp vào 20 tháng 07 năm 2016.
== Tổ chức của Quốc hội ==
Điều 3 Luật tổ chức Quốc hội quy định: Quốc hội tổ chức và hoạt động theo nguyên tắc tập trung dân chủ làm việc theo chế độ hội nghị và quyết định theo đa số. Hiệu quả hoạt động của Quốc hội được bảo đảm bằng hiệu quả của các kỳ họp Quốc hội, hoạt động của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Hội đồng Dân tộc và các Ủy ban của Quốc hội, các Đoàn đại biểu Quốc hội và các Đại biểu Quốc hội.
Các cơ quan của Quốc hội gồm có:
Ủy ban Thường vụ Quốc hội
Hội đồng Dân tộc
Ủy ban Pháp luật
Ủy ban Tư pháp
Ủy ban Kinh tế
Ủy ban Tài chính, Ngân sách
Ủy ban Quốc phòng và An ninh
Ủy ban Văn hóa, Giáo dục, Thanh niên, Thiếu niên và Nhi đồng
Ủy ban về các Vấn đề Xã hội
Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường
Ủy ban Đối ngoại
Hội đồng Dân tộc và các Ủy ban của Quốc hội là các cơ quan của Quốc hội Quốc hội quyết định số lượng Ủy ban và bầu các thành viên của Hội đồng Dân tộc và các Ủy ban của Quốc hội. Khi xét thấy cần thiết, Quốc hội thành lập Ủy ban lâm thời để nghiên cứu, thẩm tra một dự án hoặc điều tra một vấn đề nhất định.
Một vấn đề liên quan đến sự độc lập Quốc hội và chức năng chấp hành là cơ cấu giữa Quốc hội và Đảng Cộng sản Việt Nam. Theo giáo sư và cựu đại biểu Nguyễn Minh Thuyết thì mọi việc đã do Trung ương Đảng Cộng sản quyết định rồi, nên Quốc hội bị hạn chế không có toàn quyền suy xét nghị luận. Hơn nữa vì đại đa số Đại biểu Quốc hội là đảng viên nên cũng không thể làm trái với nghị quyết của Trung ương Đảng.
== Lấy phiếu tín nhiệm ==
== Quyền lực lãnh đạo của Đảng Cộng sản ==
=== Tổ chức của Đảng đoàn Quốc hội ===
Vai trò lãnh đạo rõ rệt nhất của Đảng Cộng sản đối với Quốc hội là cơ quan Đảng đoàn Quốc hội. Đây là một tổ chức của Đảng Cộng sản trong Quốc hội, gồm các đảng viên nắm vai trò trọng yếu trong Quốc hội như Chủ tịch, Phó Chủ tịch, Ủy viên Ủy ban Thường vụ Quốc hội. Đảng đoàn Quốc hội chịu sự lãnh đạo, chỉ đạo trực tiếp của Bộ Chính trị, Ban Bí thư. Các chức vụ Bí thư, Phó Bí thư và các Ủy viên Đảng đoàn đều do Bộ Chính trị chỉ định.
Về danh nghĩa, Đảng đoàn Quốc hội là một tổ chức có tư cách pháp nhân có con dấu độc lập. Trên thực tế, các hoạt động của Quốc hội đều được Bộ Chính trị và Ban Bí thư định hướng gián tiếp thông qua Đảng đoàn Quốc hội.
Thành viên Đảng đoàn Quốc hội hiện gồm: Chủ tịch, các Phó Chủ tịch, các ủy viên Ủy ban Thường vụ Quốc hội; thành viên khác (nếu có) do Đảng đoàn đề nghị, Bộ Chính trị quyết định. Chủ tịch Quốc hội làm Bí thư Đảng đoàn, 1 Phó Chủ tịch Quốc hội làm Phó Bí thư Đảng đoàn.
=== Nhiệm vụ của Đảng đoàn Quốc hội ===
Lãnh đạo Quốc hội thực hiện đúng đắn đường lối, chủ trương, nghị quyết của Đảng.
Thực hiện các nghị quyết của Đảng về tổ chức, cán bộ; quyết định những vấn đề về tổ chức, cán bộ theo sự phân công, phân cấp của Bộ Chính trị.
Kiểm tra việc thực hiện đường lối, chủ trương, nghị quyết của Đảng trong hoạt động của Quốc hội.
Được triệu tập đảng viên hoặc đại diện đảng viên ở các đoàn đại biểu Quốc hội để bàn chủ trương và biện pháp thực hiện nghị quyết của Đảng trong Quốc hội.
Báo cáo và kiến nghị với cấp ủy có thẩm quyền biện pháp xử lý đối với đảng viên là đại biểu Quốc hội vi phạm nguyên tắc kỷ luật Đảng trong hoạt động Quốc hội.
Chịu trách nhiệm trước Bộ Chính trị, Ban Bí thư về những đề xuất và các quyết định của Đảng đoàn.
Phối hợp với Đảng ủy khối và Đảng ủy cơ quan xây dựng Đảng bộ cơ quan Văn phòng Quốc hội trong sạch, vững mạnh.
=== Vấn đề thuộc thẩm quyền của Bộ Chính trị ===
Đảng đoàn Quốc hội trình Bộ Chính trị:
Những vấn đề Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội có ý kiến khác với ý kiến Bộ Chính trị trước khi Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội biểu quyết thông qua (nếu có).
Về định hướng trọng tâm hoạt động giám sát trong cả nhiệm kỳ của Quốc hội.
Về việc Quốc hội bỏ phiếu tín nhiệm các chức danh do Quốc hội bầu hoặc phê chuẩn khi có sai phạm.
Về kết quả giám sát, các kiến nghị, đề xuất sau giám sát đối với việc thực hiện các công trình trọng điểm quốc gia, các chủ trương lớn của Đảng có ảnh hưởng đến kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh, đối ngoại của đất nước; kiến nghị xử lý các vi phạm, kết luận về trách nhiệm của các cá nhân thuộc diện Bộ Chính trị quản lý.
Kiến nghị xử lý về trách nhiệm cá nhân cán bộ thuộc diện Bộ Chính trị quản lý khi có vi phạm trong hoạt động Quốc hội.
Những vấn đề khác Đảng đoàn Quốc hội thấy cần xin ý kiến Bộ Chính trị.
=== Vấn đề thuộc thẩm quyền của Ban Bí thư ===
Đảng đoàn Quốc hội trình Ban Bí thư:
Kiến nghị xử lý về trách nhiệm cá nhân cán bộ thuộc diện Ban Bí thư quản lý khi có vi phạm trong hoạt động Quốc hội.
Bí thư Đảng đoàn Quốc hội hiện là Nguyễn Thị Kim Ngân, phó bí thư: Tòng Thị Phóng
== Xem thêm ==
Hệ thống chính trị Việt Nam
Ủy ban thường vụ Quốc hội
Kênh Truyền hình Quốc hội Việt Nam
== Nhận định ==
Giáo sư Gerry Ferguson, trưởng khoa quan hệ pháp luật vùng châu Á - Thái Bình Dương thuộc đại học Victoria, Canada nhận định về Quốc hội Việt Nam: "từ năm 1945, Quốc hội Việt Nam hoạt động như là một cơ quan "gật đầu" (rubber stamp) mọi quyết định được đưa ra trước từ các ban cao nhất thuộc đảng hợp pháp độc nhất (Đảng Cộng sản Việt Nam)".
Theo nhà phân tích David Koh của Viện Nghiên cứu Đông Nam Á ở Singapore thì dù Quốc hội đã bắt đầu bỏ phiếu tính nhiệm chính phủ từ năm 2013 nhưng vẫn không giải quyết được những mâu thuẫn trong cơ chế chính trị Việt Nam. Ví dụ như nếu Quốc hội bất tín nhiệm nhân sự trong chính phủ nhưng Đảng vẫn tín nhiệm thì sao? Cuộc bỏ phiếu vẫn không có tác động nào.
Luật gia Nguyễn Minh Tuấn, giảng sư đại học Hà Nội nhận xét: "Quốc hội nắm quyền lập pháp, nhưng thực tế phần lớn các dự thảo luật là do Chính phủ và các Bộ ngành soạn thảo, đệ trình."
== Tham khảo ==
Fall, Bernard. The Viet Minh Regime. Ithaca, NY: Cornell University Press, 1956.
Huy Đức. Bên thắng cuộc II: Quyền bính. Boston, MA: Osinbook, 2012.
== Chú thích ==
== Liên kết ngoài ==
Trang mạng chính thức của Quốc hội Việt Nam
Luật Tổ chức Quốc hội Việt Nam |
đình.txt | Đình là một công trình kiến trúc cổ truyền ở làng quê Việt Nam, là nơi thờ Thành hoàng và cũng là nơi hội họp của người dân.
== Lịch sử ==
Trước kia theo tình hình chung của cả nước, đình của các làng mạc Việt Nam chỉ là quán để nghỉ. Năm 1231 Trần Nhân Tông xuống chiếu cho đắp tượng Phật ở đình quán. Năm 1491 nhà vua cho xây dựng Quảng Văn đình là nơi để dân chúng đánh trống kêu oan và nơi ban bố, giảng giải các chính sách của nhà nước phong kiến tại Thăng Long.
Ngôi đình làng với chức năng là nơi thờ thành hoàng và là nơi hội họp của dân chúng có lẽ bắt đầu vào thời Lê sơ và định hình vào thời nhà Mạc. Có lẽ sự phát triển của Nho giáo vào cuối thế 15 đã cấy dần Thành hoàng vào đình làng. Nhưng hiện nay dấu vết sớm nhất của đình làng thì Thành hoàng chỉ gặp từ thế kỷ 16. Trước đây đình thường chỉ có 3 gian và 2 trái. Gian giữa không có sạp, trong gian thờ Thành hoàng. Cuối thế kỷ 17 từ gian giữa và kéo dài về sau gọi là chuôi vồ, tạo cho đình làng mang kiểu chữ Đinh. Cuối thế kỷ 17, nhất là thế kỷ 19, đình làng được bổ sung tòa tiền tế.
== Kiến trúc ==
Kiến trúc truyền thống được xây dựng dựa trên những nguyên tắc của thuật phong thủy. Địa điểm của đình khác đền chùa. Trong khi chùa và đền chuộng địa điểm tĩnh mịch, có khi u tịch, khuất lối thì đình làng chủ yếu lấy địa điểm trung tâm. Lý tưởng nhất là đình có địa điểm thoáng đãng nhìn ra sông nước. Nếu không có được ao hồ thiên nhiên thì dân làng có khi đào giếng khơi để có mặt nước phía trước đình cho đúng thế "tụ thủy" vì họ cho đó là điềm thịnh mãn cho làng. Kiểu xây dựng bằng gỗ bao gồm các yếu tố nghiêng về trang trí và chạm khắc.
Đình làng thường là một ngôi nhà to, rộng được dựng bằng những cột lim tròn to thẳng tắp đặt trên những hòn đá tảng lớn. Vì, kèo, xà ngang, xà dọc của đình cũng làm toàn bằng gỗ lim. Tường đình xây bằng gạch. Mái đình lợp ngói mũi hài, hai đầu hồi xây bít đốc hoặc làm bốn góc đầu đao cong. Trên nóc đình là hai con rồng chầu mặt nguyệt, tục gọi là "lưỡng long triều nguyệt" hay "lưỡng long tranh châu".
Sân đình được lát gạch. Trước đình có hai cột trụ cao vút, trên đình được tạc hình con nghê.
Trong đình, gian giữa có bàn thờ, thờ một vị thần của làng gọi là Thành hoàng. Một chiếc trống cái cũng được để trong đình để đánh vang lên theo nhịp ngũ liên thúc giục dân làng về đình tụ họp bàn tính công việc của làng.
== Các ngôi đình tiêu biểu Việt Nam ==
Một số ngôi đình tiêu biểu Việt Nam được công nhận là di tích cấp quốc gia, di tích cấp quốc gia đặc biệt:
== Ảnh một số đình ở Việt Nam ==
== Chú thích ==
== Xem thêm ==
Đền
Chùa
Cổng làng
Nhà rông
Nhà gơl
Đình (Á Đông)
== Liên kết ngoài ==
Đình Việt Nam
Về những ngôi đình nổi tiếng ven sông Cầu |
cầu giấy (quận).txt | Cầu Giấy là một quận của thủ đô Hà Nội, được lập theo nghị định của Chính phủ Việt Nam năm 1996.
== Đặc điểm chung ==
Khi thành lập, quận Cầu Giấy hợp bởi 4 thị trấn: Nghĩa Đô, Nghĩa Tân, Mai Dịch, Cầu Giấy và 3 xã: Dịch Vọng, Yên Hòa, Trung Hòa thuộc huyện Từ Liêm. Vì trùng tên với quận nên thị trấn Cầu Giấy phải đổi tên thành phường Quan Hoa.
Quận có diện tích 12,04 km², bao gồm gồm 8 phường
Dân số là 236.981 người (thời điểm 2010).
Trụ sở UBND quận đặt tại số 36 phố Cầu Giấy.
== Lịch sử hình thành ==
Thời trước Cầu Giấy là một phần của huyện Từ Liêm, phủ Quốc Oai, trấn Sơn Tây. Từ năm 1831 thời nhà Nguyễn thuộc phủ Hoài Đức, tỉnh Hà Nội. Sau khi giải phóng Thủ đô năm 1954 thuộc quận VI. Đến năm 1961, Hà Nội mở rộng địa giới, xóa bỏ các quận, lập ra 4 khu phố nội thành và 4 huyện ngoại thành, từ đó huyện Từ Liêm được lập lại, gồm đất hai quận V và VI, dân cư sống tập trung tại các vùng như: Vùng Kẻ Bưởi (Nghĩa Đô, Nghĩa Tân); Vùng Kẻ Vòng (Dịch Vọng, Mai Dịch); Vùng Kẻ Cót-Giấy (Quan Hoa, Yên Hòa); Vùng Đàn Kính Chủ (Trung Hòa).
Ngày 22 tháng 11 năm 1996, Chính phủ Việt Nam ra Nghị định 74-CP thành lập quận Cầu Giấy trên cơ sở toàn bộ diện tích tự nhiên và dân số của 4 thị trấn: Cầu Giấy, Nghĩa Đô, Nghĩa Tân, Mai Dịch và 3 xã: Dịch Vọng, Yên Hòa, Trung Hòa thuộc huyện Từ Liêm. Trong đó, thị trấn Cầu Giấy được đổi tên thành phường Quan Hoa. Khi mới thành lập, quận có 7 phường: Dịch Vọng, Mai Dịch, Nghĩa Đô, Nghĩa Tân, Quan Hoa, Trung Hòa, Yên Hòa.
Ngày 5 tháng 1 năm 2005, thành lập phường Dịch Vọng Hậu trên cơ sở điều chỉnh 52,88 ha diện tích tự nhiên và 8.684 nhân khẩu của phường Quan Hoa, điều chỉnh 94,84 ha diện tích tự nhiên và 11.281 nhân khẩu của phường Dịch Vọng.. Như vậy, quận Cầu Giấy có 8 phường: Dịch Vọng, Dịch Vọng Hậu, Mai Dịch, Nghĩa Đô, Nghĩa Tân, Quan Hoa, Trung Hòa, Yên Hòa.
== Đơn vị hành chính ==
Quận Cầu Giấy có 8 phường: Dịch Vọng, Dịch Vọng Hậu, Mai Dịch, Nghĩa Đô, Nghĩa Tân, Quan Hoa, Trung Hòa, Yên Hòa.
== Đường phố ==
== Văn hóa ==
Nơi đây cũng là cái nôi văn hiến và nghề cổ truyền: làng Giấy (Thượng Yên Quyết) từng có 9 tiến sĩ, làng Cót (Hạ Yên Quyết) cũng có 9 tiến sĩ, làng Nghĩa Đô (làng Nghè) 3 tiến sĩ, cử nhân tú tài thì lên đến hàng trăm người. Vùng Bưởi có nghề dệt lụa, gấm, làm giấy. Làng Vòng (Dịch Vọng Hậu) làm cốm; Cốm Vòng nổi tiếng tới bây giờ. Làng Giấy làm giấy phất quạt, gói hàng. Làng Giàn có nghề làm hương. Trên địa bàn quận ngay nay có nhiều đình đền khá tôn nghiêm như: đền Lê (thờ hai chị em họ Lê đã giúp Lê Đại Hành phá quân Tống); chùa Hoa Lăng (thờ mẹ của sư Từ Lộ); chùa Hà; chùa Thánh Chúa.Làng Nghĩa Đô cũng là quê ngoại của nhà văn Tô Hoài.
== Cơ sở giáo dục và Khoa học ==
Trên địa bàn quận Cầu Giấy có đến hơn 80 cơ sở đào tạo và nghiên cứu khoa học cấp Nhà nước và cấp Bộ. Một số trường Đại học và Viện nghiên cứu lớn là: Đại học Quốc gia Hà Nội, Học viện Kỹ thuật Quân sự, Học viện Báo chí và Tuyên truyền, Đại học Công nghệ, Đại học Sư phạm Hà Nội, Học viện Công nghệ Bưu chính Viễn thông, Học viện Quốc phòng, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, Đại học Thương mại, Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam, Viện Khoa học và Công nghệ Quân sự, Viện Khoa học và Kỹ thuật Hạt nhân, Trung tâm nhiệt đới Việt- Nga,...
== Bệnh viện ==
Viện Huyết học Trung ương, Bệnh viện 19-8 Bộ Công an, Bệnh viện Y học cổ truyền Hà nội.
== Công sở ==
Trên địa bàn quận có nhiều cơ quan nhà nước như: Bộ Tài nguyên Môi trường, Bộ Nội vụ, Thanh tra Chính phủ, Viện kiểm sát nhân dân Tối cao, Tổng cục Đường bộ, Tổng cục Dân số, Tổng cục Hải quan, Hội Nông dân Việt Nam, Cục Hàng hải, Cục Đường sông, Cục Đăng kiểm, Sở Công thương Hà nội.
== Hạ tầng kỹ thuật ==
Trên địa bàn quận Cầu Giấy có một số khu đô thị như khu đô thị Dịch Vọng, khu đô thị Trung Hòa - Nhân Chính, khu tập thể Nghĩa Tân, khu đô thị Yên Hòa, khu đô thị Trung Yên, khu đô thị Nam Trung Yên, khu đô thị Cầu Giấy, khu đô thị Nghĩa Đô, khu đô thị An Sinh Hoàng Quốc Việt, khu đô thị Constrexim Complex Dịch Vọng, khu đô thị Đông Nam Trần Duy Hưng, khu đô thị Vimeco II, khu đô thị Mai Dịch, khu đô thị Mandarin Garden...
Các dự án đường sắt đô thị đi qua địa bàn quận là các tuyến số 3 (Trôi - Nhổn - Yên Sở), tuyến số 4 (Liên Hà - Bắc Thăng Long), tuyến số 8 (An Khánh - Dương Xá), trong đó tuyến số 3 đoạn Nhổn - Ga Hà Nội (một phần của tuyến Trôi - Nhổn - Yên Sở) hiện đang được thi công.
== Tham khảo ==
== Liên kết ngoài ==
Trang web chính thức của quận Cầu Giấy |
nghĩa dũng quân tiến hành khúc.txt | Nghĩa dũng quân tiến hành khúc (phồn thể: 義勇軍進行曲, giản thể: 义勇军进行曲; phanh âm: Yìyǒngjūn Jìnxíngqǔ) là quốc ca của nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa được nhà thơ và soạn giả ca kịch Điền Hán viết lời và Niếp Nhĩ phổ nhạc vào khoảng giữa giai đoạn Chiến tranh Trung-Nhật (1937-1945). Bài này thuộc thể loại hành khúc.
== Nguồn gốc ==
Điền Hán viết "Hành khúc nghĩa dũng quân" vào năm 1934 cho một vở kịch ông soạn cũng vào năm đó. Theo dân gian thì ông viết lời bài này trên một mẩu giấy thuốc lá sau khi bị bắt tại Thượng Hải và bị đưa vào nhà lao Quốc Dân Đảng năm 1935. Bài hát này sau khi được sửa lại đôi chút đã trở thành bài hát chủ đề trong bộ phim Phong vân nhi nữ do Công ty Điện ảnh Điện Thông (电通影片公司) Thượng Hải dàn dựng vào năm 1935. Bộ phim này thuật lại câu chuyện một nhà thơ tên là Tân Bạch Hoa đại diện cho tầng lớp trí thức của nước Trung Hoa cũ, đã gác lại ngòi bút sáng tác của mình, cầm súng xung phong ra mặt trận chống Nhật, xông pha trước quân thù. "Hành khúc nghĩa dũng quân" xuất hiện ở phần đầu và phần cuối của bộ phim này đã để lại ấn tượng sâu sắc cho đông đảo khán giả hồi đó. Không bao lâu nó liền trở thành chiến ca nổi tiếng của Trung Quốc trong thời kỳ kháng chiến chống Nhật. Bài hát này cũng được Pathé thuộc tập đoàn EMI phát hành trong một đĩa hát vào năm 1935.
Bài này lần đầu tiên được dùng làm quốc ca là trong một hội thảo quốc tế tổ chức tại Praha, Tiệp Khắc tháng 2 năm 1949. Vào thời gian đó Bắc Kinh vừa lọt vào tầm kiểm soát của những người cộng sản Trung Quốc. Lúc đó nổ ra một tranh luận xung quanh câu "Đất nước Trung Hoa đã gặp lúc hiểm nguy". Nhà sử học Quách Mạt Nhược liền đổi câu trên thành "Dân tộc Trung Quốc đã đến hồi giải phóng".
Người đầu tiên nêu đề nghị lấy bài "Hành khúc nghĩa dũng quân" làm quốc ca của nước Trung Hoa mới là Từ Bi Hồng, một họa sĩ nổi tiếng của Trung Quốc. Tháng 6 năm 1949, hội nghị trù bị thành lập nước Trung hoa mới của Hội nghị Hiệp thương Chính trị Nhân dân (gọi tắt là Chính Hiệp) Trung Quốc thảo luận việc quyết định quốc ca, nhiều đại biểu đưa ra ý kiến của mình, một số đại biểu bày tỏ nên kết nạp đề nghị của họa sĩ Từ Bi Hồng lấy bài "Hành khúc nghĩa dũng quân" làm quốc ca, nhưng hội nghị chưa đưa ra quyết định cuối cùng. Ngày 2 tháng 9 năm 1949, Mao Trạch Đông, Chu Ân Lai... đã đến nghe ý kiến của các đại biểu, ngày 25 tháng 9 năm 1949, tại Trung Nam Hải, Mao Trạch Đông và Chu Ân Lai lại tổ chức buổi tọa đàm hiệp thương về vấn đề quyết định quốc kỳ, quốc huy, quốc ca, cách tính năm và thủ đô của nước Trung Hoa mới, mời nhân sĩ các đảng phái và nhân sĩ giới văn hóa tham gia. Tổ 6 của hội nghị trù bị Chính Hiệp quyết định đề án lấy "Hành khúc nghĩa dũng quân" làm quốc ca và chính thức trình lên Hội nghị Hiệp thương Chính trị Nhân dân Trung Quốc xét duyệt.
Ngày 27 tháng 9 năm 1949, toàn thể đại biểu của hội nghị Chính Hiệp nhất trí thông qua, trước khi xét định quốc ca của nước Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa, lấy bài "Hành khúc nghĩa dũng quân" làm quốc ca. Tuy nhiên, vẫn còn nhiều ý kiến không đồng ý đối với câu thứ ba. Khi đó Chu Ân Lai đưa ra đánh giá cuối cùng: "Trước mắt chúng ta vẫn còn kẻ thù đế quốc. Chúng ta càng tiến, kẻ thù sẽ càng tìm cách tấn công và phá hoại chúng ta. Liệu có thể nói là chúng ta sẽ không còn nguy hiểm không?" Quan điểm này được Mao Trạch Đông tán thành và vào ngày 27 tháng 9 năm 1949, bài này trở thành quốc ca tạm thời, chỉ vài ngày trước khi Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa được thành lập. Đến kỳ họp thứ nhất quốc hội Trung Quốc khóa 5 vào năm 1978, lại thông qua việc chính thức lấy bài "Hành khúc nghĩa dũng quân" làm quốc ca.
== Sau Cách mạng văn hóa ==
Trong thời kỳ Cách mạng văn hóa, Điền Hán bị bắt giam, và cũng vì thế mà bài "Hành khúc nghĩa dũng quân" cũng bị cấm hát; kết quả là trong giai đoạn đó bài "Đông phương hồng" được chọn làm quốc ca không chính thức.
"Hành khúc nghĩa dũng quân" được Đại hội Đại biểu Nhân dân Toàn quốc Trung Quốc khôi phục lại vào năm 1978, nhưng với lời khác hẳn; tuy vậy, lời ca mới không được thông dụng lắm và thậm chí gây nhầm lẫn [1]. Vào ngày 4 tháng 12 năm 1982, Đại hội Đại biểu Nhân dân Trung Quốc thống nhất chọn lại bản gốc năm 1935 của Điền Hán làm quốc ca chính thức. Điểm nổi bật trong lời hiện nay là không đề cập đến Đảng cộng sản Trung Quốc lẫn Mao Trạch Đông và việc quay lại lời ca cũ đánh dấu sự đi xuống của Hoa Quốc Phong và tệ sùng bái cá nhân đối với Mao cũng như uy thế đi lên của Đặng Tiểu Bình.
Đại hội Đại biểu Nhân dân Trung Quốc công nhận bài này là quốc ca chính thức của CHNDTH trong bản sửa đổi năm 2004 của Hiến pháp nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa. Phần quốc ca được đề cập ngay sau phần nói về quốc kỳ.
Mặc dù được lưu hành rộng rãi giữa các thành viên của Quốc Dân Đảng trong thời kỳ Chiến tranh Trung-Nhật (1937-1945), nhưng bài này đã bị cấm tại Đài Loan đến tận thập niên 1990.
Quốc ca này chính thức được cử hành tại Hồng Kông lần đầu tiên [2] vào năm 1997, và tại Macao năm 1999 sau khi hai lãnh thổ này được trao trả cho CHNDTH.
== Lời (hiện nay và là lời gốc) ==
== Lời (1978-1982) ==
== Nghe ==
== Tham khảo ==
== Liên kết ngoài ==
Tải bài này dưới các định dạng khác nhau
Nghĩa dũng quân tiến hành khúc (không lời)
Nghĩa dũng quân tiến hành khúc (có lời) |
sự chia cắt ấn độ.txt | Sự chia cắt Ấn Độ là quá trình chia tách Đế quốc Ấn Độ thuộc Anh dẫn đến sự hình thành của các quốc gia có chủ quyền là Pakistan tự trị (sau này phân chia thành Cộng hòa Hồi giáo Pakistan và Cộng hòa Nhân dân Bangladesh) và Liên hiệp Ấn Độ (sau này là Cộng hòa Ấn Độ) vào ngày 15 tháng 8 năm 1947. "Sự chia cắt" ở đây không chỉ nói về sự phân tách tỉnh Bengal của Ấn Độ thuộc Anh thành Đông Pakistan và Tây Bengal (Ấn Độ), và các cuộc chia cắt tương tự khác của tỉnh Punjab thành Punjab (Tây Pakistan) và Punjab, Ấn Độ, mà còn nói đến sự phân chia trong các vấn đề khác, như Quân đội Ấn Độ thuộc Anh, dịch vụ công và các cơ quan hành chính, đường sắt, và ngân quỹ trung ương.
Trong những cuộc bạo loạn xảy ra trước việc phân chia khu vực Punjab, khoảng 200.000 đến 500.000 người đã bị chết trong những cuộc tàn sát mang tính chất báo thù. UNHCR ước tính có 14 triệu người Hindu, Sikh, và Hồi giáo phải di chuyển khỏi nơi sinh sống; khiến nó trở thành cuộc di dân lớn nhất trong lịch sử loài người.
Quá trình tách Bangladesh ra khỏi Pakistan vào năm 1971 không được tính trong thuật ngữ Sự chia cắt Ấn Độ, tương tự như vậy đối với sự phân tách trước đó của Miến Điện (nay là Myanma) khỏi sự quản lý của Ấn Độ thuộc Anh, và ngay cả sự phân tách xảy ra còn sớm hơn của Tích Lan (Sri Lanka ngày nay). Tích Lan từng là một phần của Bang Madras của Ấn Độ thuộc Anh từ năm 1795 đến năm 1798 cho đến khi nó trở thành một nước Thuộc địa Hoàng gia của Đế quốc. Miến Điện, bị người Anh sát nhập dần dần trong thời gian từ 1826 đến 1868 và trở thành một bộ phận của Ấn Độ thuộc Anh cho đến năm 1937, sau đó được quản lý trực tiếp bởi người Anh. Miến Điện được trao trả độc lập vào ngày 4 tháng 1 năm 1948 còn Tích Lan là vào ngày 4 tháng 2 năm 1948. (Xem Lịch sử Sri Lanka và Lịch sử Miến Điện.)
Bhutan, Nepal và Maldives, những quốc gia còn lại của khu vực Nam Á ngày nay, hoàn toàn không bị ảnh hưởng bởi sự chia chắt này. Hai nước Nepal và Bhutan đã ký hiệp ước với người Anh để trở thành quốc gia độc lập, và chưa bao giờ là một phần của Đế quốc Ấn Độ thuộc Anh, do đó biên giới của họ không bị ảnh hưởng của cuộc chia cắt. Quần đảo Maldives, trở thành đất bảo hộ của Hoàng gia Anh vào năm 1887 và sau đó giành được độc lập vào năm 1965, cũng không bị ảnh hưởng bởi cuộc chia cắt.
== Bối cảnh ==
=== Chia cắt Bengal (1905) ===
Năm 1905, Toàn quyền Curzon, được một số người công nhận là một người thông minh và hăng hái, người đã có một kỷ lục ấn tượng về việc bảo tồn khảo cổ và tạo ra một nền hành chính hiệu quả trong nhiệm kỳ đầu, đến nhiệm kỳ thứ hai, chính ông là người đã chia khu vực hành chính lớn nhất của Ấn Độ thuộc Anh, Bang Bengal, thành hai tỉnh Đông Bengal và Assam với đa số dân là người Hồi giáo và tỉnh Bengal với đa số dân theo đạo Hindu (tỉnh này ngày nay bao gồm Tây Bengal, Bihār, Jharkhand và Odisha của Ấn Độ). Quyết định Chia cắt Bengal của Curzon—một hành động được xem là cực kỳ tài tình về mặt hành chính, và được nhiều toàn quyền trước dự tính từ thời Toàn quyền William Bentinck, nhưng chưa bao giờ thực hiện—đã lật nền chính trị dân tộc chủ nghĩa sang một trang mới chưa từng có trước đó. Thành phần quý tộc Hindu tại Bengal, nhiều người trong số họ sở hữu đất đai ở Đông Bengal và sau đó cho những nông dân đạo Hồi thuê lại, đã phản đối quyết định này một cách kịch liệt. Tầng lớp trung lưu Hindu tại Bengal chiếm số đông (Bhadralok), thì cảm thấy thất vọng với viễn cảnh dân Bengal sẽ dần dần bị áp đảo trong tỉnh Bengal mới bởi người đến từ Bihar và Oriya, cảm thấy hành động của Curzon là một sự trừng phạt đối với các quyết định chính trị của mình. Nhiều cuộc phản đối mạnh mẽ quyết định của Curzon đã diễn ra dưới hình thức chủ yếu là chiến dịch Swadeshi ("dùng hàng Ấn") do người từng hai lần làm chủ tịch Quốc hội Surendranath Banerjee dẫn đầu và tẩy chay hàng hóa Anh. Một vài lần những người phản đối đã có những hành động bạo lực lộ liễu nhằm vào thường dân. Tuy vậy, những hành động bạo lực không có hiệu quả, vì đa số những kế hoạch tấn công bị người Anh ngăn chặn từ đầu hoặc bị thất bại. Những khẩu hiệu được sử dụng cho cả hai loại biểu tình là Bande Mataram (tiếng Bengal, nghĩa là: "Hoan hô Mẹ"), tựa đề của bài hát do Bankim Chandra Chatterjee sáng tác, nhắc đến hình tượng một thánh mẫu, người đứng lên vì Bengal, Ấn Độ, và vì thánh Kali của Hindu. Những cuộc biểu tình lan từ Calcutta đến các khu vực lân cận của Bengal khi các sinh viên được thụ hưởng nền giáo dục Anh trở về nhà ở các làng mạc và thị trấn. Màu sắc tôn giáo trong câu khẩu hiệu và sự nổi giận chính trị xuất phát từ quyết định chia tách bắt đầu pha trộn khi những nhóm thanh niên, như Jugantar, tiến hành các vụ đánh bom tòa nhà chính quyền, và thực hiện những vụ cướp có vũ khí, và ám sát các quan chức người Anh. Vì Calcutta là thủ đô của đế quốc, cả sự nổi loạn lẫn câu khẩu hiệu đều nhanh chóng được cả nước biết đến.
Những cuộc biểu tình chống chia cắt Bengal với thành phần tham gia đa số là người theo đạo Hindu đã khiến cho thành phần quý tộc theo đạo Hồi ở Ấn Độ lo ngại sẽ diễn ra một cuộc cải cách có lợi cho người Hindu chiếm đa số. Vào năm 1906, những người này diện kiến ông Toàn quyền mới Bá tước Minto và yêu cầu một khu vực riêng dành cho người Hồi giáo. Đồng thời, họ đòi hỏi một cơ quan đại diện lập pháp tương xứng, phản ánh địa vị thống trị cũ của họ cũng như lịch sử trung thành của họ với người Anh. Việc này dẫn tới việc thành lập Liên đoàn Hồi giáo Toàn Ấn vào tháng 12 năm 1906 tại Dacca. Mặc dù Curzon khi đó đã từ chức vì có mâu thuẫn với người điều hành quân đội Kitchener và đã trở về nước Anh, Liên đoàn này vẫn ủng hộ kế hoạch phân tách của ông. Vị trí của giới quý tộc Hồi giáo, thể hiện bằng các vị trí khác nhau trong Liên đoàn, đã được hình thành trong ba thập kỷ trước đó, bắt đầu từ cuộc Tổng điều tra dân số Ấn Độ thuộc Anh năm 1871, lần đầu tiên ước tính được dân số của những vùng có đa số dân theo đạo Hồi. (Về phần mình, ý muốn ve vãn người Hồi giáo ở Đông Bengal của Curzon xuất phát từ sự lo lắng của người Anh kể từ cuộc điều tra năm 1871—do lịch sử đấu tranh chống người Anh của người Hồi giáo trong Cuộc binh biến 1857 và Chiến tranh Anh-Afghanistan lần hai.) Trong ba thập niên kể từ cuộc tổng điều tra, các lãnh đạo Hồi giáo ở các khu vực phía bắc Ấn Độ đã vài lần chứng kiến sự thù địch của một số tổ chức xã hội và chính trị mới của người Hindu. Ví dụ như nhóm Arya Samaj không chỉ ủng hộ các Nhóm Bảo vệ Bò mang tính kích động, mà còn do số lượng người Hồi giáo được biết đến qua cuộc Điều tra 1871, tổ chức các sự kiện "hoàn đạo" với mục đích đón chào người Hồi giáo trở về lại với đạo Hindu. Tại Uttar Pradesh, những người Hồi giáo trở nên lo lắng, khi vào cuối thế kỷ 19, các đại diện chính trị dần tăng lên, trao cho người Hindu nhiều quyền lực hơn, và người Hindu trở nên tích cực hơn về chính trị trong cuộc tranh cãi Hindu-Urdu và những cuộc bạo lực chống giết bò vào năm 1893. Năm 1905, khi Tilak và Lajpat Rai nỗ lực chạy đua vào vị trí lãnh đạo trong Quốc hội, và chính Quốc hội cũng biểu tình dưới biểu tượng Kali, nỗi lo sợ của người Hồi giáo càng tăng lên. Nhiều người Hồi giáo vẫn chưa quên rằng câu khẩu hiệu trong các cuộc biểu tình, "Bande Mataram," xuất hiện lần đầu trong tiểu thuyết Anand Math trong đó người Hindu đã chiến đấu chống lại những kẻ xâm lăng theo đạo Hồi. Cuối cùng, nhóm quý tộc người Hồi, trong số đó có Dacca Nawab, Khwaja Salimullah, người tổ chức cuộc họp đầu tiên của Liên đoàn tại tư dinh ở Shahbag, nhận ra rằng việc ra đời một tỉnh mới với đa số người Hồi giáo sẽ có lợi trực tiếp cho những người Hồi giáo đang có tham vọng chính trị.
== Liên kết ==
Lịch sử Ấn Độ
Lịch sử Pakistan
Lịch sử Bangladesh
Lịch sử Sri Lanka
Lịch sử Myanma
Phương tiện liên quan tới Partition of British India tại Wikimedia Commons
== Tham khảo == |
colón.txt | Colón là một đô thị thuộc bang Querétaro, México. Năm 2005, dân số của đô thị này là 51625 người.
== Tham khảo ==
Bản mẫu:Sơ khai địa lý bang Querétaro |
chèo.txt | Chèo là một loại hình nghệ thuật sân khấu cổ truyền Việt Nam. Chèo phát triển mạnh ở phía bắc Việt Nam với trọng tâm là vùng châu thổ sông Hồng cùng hai khu vực lan tỏa là trung du miền núi Bắc Bộ và Bắc Trung Bộ. Loại hình sân khấu này phát triển cao, giàu tính dân tộc. Chèo mang tính quần chúng và được coi là một loại hình sân khấu của hội hè với đặc điểm sử dụng ngôn ngữ đa thanh, đa nghĩa kết hợp với cách nói ví von giàu tính tự sự, trữ tình. Nếu sân khấu truyền thống Trung Quốc có đại diện tiêu biểu là Kinh kịch của Bắc Kinh và sân khấu Nhật Bản là kịch nô thì đại diện tiêu biểu nhất của sân khấu truyền thống Việt Nam là chèo.
Nghệ thuật sân khấu chèo đã trải qua một quá trình lịch sử lâu dài từ thế kỉ thứ X tới nay, đã đi sâu vào đời sống xã hội Việt Nam. Chèo phản ánh đầy đủ mọi góc độ của bản sắc dân tộc Việt Nam: lạc quan, nhân ái, yêu cuộc sống yên lành, bình dị, nhưng tràn đầy tự hào dân tộc, kiên cường đuổi giặc ngoại xâm, bảo vệ tổ quốc. Cũng chính vì nội dung tư tưởng lành mạnh đó mà trong chèo có đầy đủ các thể loại văn học: trữ tình, lãng mạn, anh hùng ca, sử thi, thơ ca giáo huấn,... hơn hẳn các loại hình nghệ thuật khác như tuồng, cải lương, quan họ…
== Nguồn gốc hình thành chèo ==
Chèo có lịch sử hình thành từ thế kỷ X, dưới thời nhà Đinh. Kinh đô Hoa Lư (Ninh Bình) là đất tổ của sân khấu chèo, người sáng lập là bà Phạm Thị Trân, một vũ ca tài ba trong hoàng cung nhà Đinh. Sau đó chèo phát triển rộng ra vùng châu thổ Bắc Bộ. Địa bàn phố biến từ Nghệ - Tĩnh trở ra. Chèo bắt nguồn từ âm nhạc và múa dân gian, nhất là trò nhại từ thế kỷ 10. Qua thời gian, người Việt đã phát triển các tích truyện ngắn của chèo dựa trên các trò nhại này thành các vở diễn trọn vẹn dài hơn. Sự phát triển của chèo có một mốc quan trọng là thời điểm một binh sĩ quân đội Mông Cổ đã bị bắt ở Việt Nam vào thế kỷ 14. Binh sĩ này vốn là một diễn viên nên đã đưa nghệ thuật Kinh kịch của Trung Quốc vào Việt Nam. Trước kia chèo chỉ có phần nói và ngâm các bài dân ca, nhưng do ảnh hưởng của nghệ thuật do người lính bị bắt mang tới, chèo có thêm phần hát.
Vào thế kỷ 15, vua Lê Thánh Tông đã không cho phép biểu diễn chèo trong cung đình, do chịu ảnh hưởng của đạo Khổng. Chèo trở về với nông dân, kịch bản lấy từ truyện viết bằng chữ Nôm. Tới thế kỷ 18, hình thức chèo đã được phát triển mạnh ở vùng nông thôn Việt Nam và tiếp tục phát triển, đạt đến đỉnh cao vào cuối thế kỷ 19. Những vở nổi tiếng như Quan Âm Thị Kính, Lưu Bình Dương Lễ, Kim Nham, Trương Viên xuất hiện trong giai đoạn này. Đến thế kỷ 19, chèo ảnh hưởng của tuồng, khai thác một số tích truyện như Tống Trân, Phạm Tải, hoặc tích truyện Trung Quốc như Hán Sở tranh hùng. Đầu thế kỷ 20, chèo được đưa lên sân khấu thành thị trở thành chèo văn minh. Có thêm một số vở mới ra đời dựa theo các tích truyện cổ tích, truyện Nôm như Tô Thị, Nhị Độ Mai. Hiện nay chèo có các vở diễn kinh điển như: Oan khuất một thời, Ngọc Hân công chúa, Linh khí Hoa Lư, Nàng Sita, Tấm áo bào hoàng đế, Trang chủ Sơn Đông, Thái hậu Dương Vân Nga, Chiếc bóng oan khiên, Cô gái làng chèo, Đồng tiền vạn lịch, Chiến trường không tiếng súng,...
Chèo gắn liền với sinh hoạt đời sống, hội hè của người Việt. Đồng bằng châu thổ sông Hồng luôn là cái nôi của nền văn minh lúa nước của người Việt. Mỗi khi vụ mùa được thu hoạch, họ lại tổ chức các lễ hội để vui chơi và cảm tạ thần thánh đã phù hộ cho vụ mùa no ấm. Nhạc cụ chủ yếu của chèo là trống chèo. Chiếc trống là một phần của văn hoá cổ Việt Nam, người nông dân thường đánh trống để cầu mưa và biểu diễn chèo.
== Đặc trưng của chèo ==
Chèo là nghệ thuật tổng hợp, muốn thấy được cái hay, cái đẹp, cái đặc sắc của Chèo phải trực tiếp đến với các chiếu Chèo, các vở diễn. Đặc biệt, nếu thuộc được một số làn điệu thì mới thấy được sức cuốn hút lạ kỳ của Chèo đối với người nghe. Phải hát được Chèo mới học được Chèo, từ đó mới có cơ sở sáng tạo, nâng cao và bổ sung những đặc sắc mới cho nghệ thuật Chèo. Hát Chèo là lối hát sân khấu, có thể một người, có thể nhiều người hát đồng ca. Giai điệu của các làn điệu hát Chèo rất phù hợp với giọng tự nhiên và ngôn ngữ của người Việt. Hát Chèo được hình thành bắt nguồn từ các làn điệu dân ca, lời hát Chèo lấy trong các sáng tác văn học dân gian ở vùng đồng bằng Bắc Bộ là chủ yếu. Ngoài ra các làn điệu Chèo còn chịu những ảnh hưởng từ hát Văn, hát Xẩm, hát Ca trù, hát Xoan, hát Quan họ... Hát Chèo là loại hình nghệ thuật dân tộc có sức sống lâu bền, độc đáo và phổ biến. Nó đáp ứng được nhu cầu thẩm mỹ, giáo dục và phục vụ đắc lực cho đời sống tinh thần của nhân dân nên Chèo luôn được nhân dân yêu mến, gìn giữ.
Về nội dung, không giống tuồng chỉ ca tụng hành động anh hùng của các giới quyền quý, chèo còn miêu tả cuộc sống bình dị của người dân nông thôn, ca ngợi những phẩm chất cao cả của con người. Nội dung của các vở chèo lấy từ những truyện cổ tích, truyện Nôm; được nâng lên một mức cao bằng nghệ thuật sân khấu mang giá trị hiện thực và tư tưởng sâu sắc. Trong chèo, cái thiện thường thắng cái ác, các sĩ tử tốt bụng, hiền lành, luôn đỗ đạt, làm quan còn người vợ thì tiết nghĩa, cuối cùng sẽ được đoàn tụ với chồng. Các tích trò chủ yếu lấy từ truyện cổ tích, truyện Nôm; ca vũ nhạc từ dân ca dân vũ; lời thơ chủ yếu là thơ dân gian. Lối chèo thường diễn những việc vui cười, những thói xấu của người đời như các vai: Thầy mù, Hương câm, Đồ điếc, Quan Âm Thị Kính. Ngoài ra chèo còn thể hiện tính nhân đạo, như trong vở Trương Viên. Chèo luôn gắn với chất "trữ tình", thể hiện những xúc cảm và tình cảm cá nhân của con người, phản ánh mối quan tâm chung của nhân loại: tình yêu, tình bạn, tình thương.
Nhân vật trong chèo thường mang tính ước lệ, chuẩn hóa và rập khuôn. Tính cách của các nhân vật trong chèo thường không thay đổi với chính vai diễn đó. Những nhân vật phụ của chèo có thể đổi đi và lắp lại ở bất cứ vở nào, nên hầu như không có tên riêng. Có thể gọi họ là thầy đồ, phú ông, thừa tướng, thư sinh, hề v.v...Tuy nhiên, qua thời gian, một số nhân vật như Thiệt Thê, Thị Kính, Thị Mầu, Súy Vân đã thoát khỏi tính ước lệ đó và trở thành một nhân vật có cá tính riêng.
"Hề chèo" là một vai diễn thường có trong các vở diễn chèo. Anh hề được phép chế nhạo thoải mái cũng như những anh hề trong cung điện của vua chúa Châu Âu. Các cảnh diễn có vai hề là nơi để cho người dân đả kích những thói hư tật xấu của xã hội phong kiến hay kể cả vua quan, những người có quyền, có của trong làng xã. Có hai loại hề chính bao gồm:hề áo dài và hề áo ngắn
Sân khấu Chèo là loại hình nghệ thuật tổng hợp các yếu tố dân ca, dân vũ và các loại hình nghệ thuật dân gian khác ở vùng đồng bằng Bắc Bộ. Nó là hình thức kể chuyện bằng sân khấu, lấy sân khấu và diễn viên làm phương tiện giao lưu với công chúng, và có thể được biểu diễn ngẫu hứng. Sân khấu chèo dân gian đơn giản, những danh từ chèo sân đình, chiếu chèo cũng phát khởi từ đó. Đặc điểm nghệ thuật của chèo bao gồm yếu tố kịch tính, kỹ thuật tự sự, phương pháp biểu hiện tính cách nhân vật, tính chất ước lệ và cách điệu. Ngôn ngữ chèo có những đoạn sử dụng những câu thơ chữ Hán, điển cố, hoặc những câu ca dao với khuôn mẫu lục bát rất tự do, phóng khoáng về câu chữ.
Chèo không có cấu trúc cố định năm hồi một kịch như trong sân khấu châu Âu mà các nghệ sĩ tham gia diễn chèo thường ứng diễn. Do vậy, vở kịch kéo dài hay cắt ngắn tuỳ thuộc vào cảm hứng của người nghệ sĩ hay đòi hỏi của khán giả. Không giống các vở opera buộc các nghệ sĩ phải thuộc lòng từng lời và hát theo nhạc trưởng chỉ huy, nghệ sĩ chèo được phép tự do bẻ làn, nắn điệu để thể hiện cảm xúc của nhân vật.
Chèo sử dụng tối thiểu là ba loại nhạc cụ dây là đàn nguyệt, đàn nhị và đàn bầu đồng thời thêm cả sáo nữa. Ngoài ra, các nhạc công còn sử dụng thêm trống và chũm chọe. Bộ gõ nếu đầy đủ thì có trống cái, trống con, trống cơm, thanh la, mõ. Trống con dùng để giữ nhịp cho hát, cho múa và đệm cho câu hát. Có câu nói " phi trống bất thành chèo" chỉ vị trí quan trọng của chiếc trống trong đêm diễn chèo. Trong chèo hiện đại có sử dụng thêm các nhạc cụ khác để làm phong phú thêm phần đệm như đàn thập lục, đàn tam thập lục, tiêu v.v...
== Các làn điệu chèo ==
Số làn điệu chèo theo ước tính có khoảng trên 200 làn điệu, chủ yếu được hình thành và bắt nguồn từ các làn điệu dân ca, ca dao, thơ giàu chất văn học đằm thắm trữ tình...
Mỗi làn điệu chèo đều có những chức năng biểu cảm, diễn đạt trạng thái của nhân vật trong hoàn cảnh cụ thể của vở diễn.... Trong chèo có “Tứ quý”. Đó là những làn điệu “Đào liễu”, “Lới lơ”, “Ru kệ”, “Làn thảm”, những làn điệu này chứa trong mình đủ những yếu tố quan trọng của thanh nhạc: trữ tình, kịch tính và màu sắc. Hát được tứ quý là được làng chèo kính trọng. Thêm vào tứ quý một làn điệu “Đò đưa” nữa là được “Ngũ phúc”… Nếu ai hát thêm được những làn điệu độc đáo như “Con gà rừng”, “Nón thúng quai thao”, “Vãn”, “Sổng”… thì tâm hồn người đó sẽ rất phong phú. Vì những làn điệu trên tràn ngập những tình cảm cao quý của con người như lãng đãng, phất phơ, chòng chành, sương khói…
Dưới đây là danh sách một số làn điệu chèo tiêu biểu
Bà chúa con cua, Bắt hò, Bát mật con ruồi, Binh thảo, Bình tửu, Bồ kếch bồ các, Bóng quế giãi thềm, Cách cú, Cấm giá, Chèo quế, Chi tải vu quy, Chức cẩm hồi văn, Con nhện giăng mùng, Con tò vò, Dậm chân, Đào liễu, Đào lý một cành, Đò đưa, Du xuân, Đường trường duyên phận, Đường trường phải chiều, Đường trường thu không, Đường trường tiếng đàn, Đường trường trong rừng, Dương xuân, Duyên tình, Gà rừng, Gánh nước tưới cà, Ghẹo nguyệt trêu hoa, Gió thổi màn loan, Hát cách, Hát cách gối hạc, Hát đúm, Hát sắp, Hát sắp thường, Hát tiên, Hát xuôi ngược, Hề bát môn, Hề đơm đó, Hề đom đóm, Hề mồi anh kiêu nàng thấp, Hề mồi bằng vàng, Hề mồi cơm canh, Hề mồi cu sứt, Hề mồi duyên tình, Hề mồi sư cụ, Hề tiểu, Làn say, Làn thảm, Lới lơ, Luyện năm cung, Luyện tam tầng, Nhân khang (loại hát vỡ nước), Nhịp đuổi, Nói hạnh, Nói rỉ vong, Nói sử rầu, Nón thúng quai thao, Quá giang, Quân tử vu dịch, Quạt màn, Rót chén rượu đào, Ru bống, Ru kệ, Rủ nhau lên núi thiên thai, Sa lệch bằng, Sa lệch chênh, Sắp bắt hề, Sắp cá rô, Sắp chênh, Sắp chò, Sắp cổ phong, Sắp đan lồng, Sắp đánh cờ, Sắp đặt để mà chơi, Sắp mưa ngâu, Sắp phòng loan, Sắp qua cầu, Sắp thường, Sử bằng, Sử chuyện, Sử xuân, Tháp trị vì (thiếp trả cho chàng), Thiếp bỏ cho chàng, Tiền xướng ca hậu lâm khúc, Tiểu gấm hoa chanh, Tình thư hạ vị, Tò vò, Tòng nhất nhi chung, Tú bà khấn tiên sư, Tuyết sương, Vãn cầm, Vãn canh 1, Vãn canh 2, Vãn theo, Xẩm dựng, Xẩm thày bói, Xẩm xoan, Xe tơ, Xuông hời.
== Phân loại chèo ==
Chèo sân đình là loại hình chèo cổ của những phường chèo xưa, thường được biểu diễn ở các sân đình, sân chùa, sân nhà các gia đình quyền quý. Sân khấu chèo sân đình thường chỉ là một chiếc chiếu trải ngoài sân, đằng sau treo chiếc màn nhỏ, diễn viên và nhạc công ngồi hai bên mép chiếu tạo dàn đế. Chèo diễn theo lối ước lệ, cảnh trí chỉ được thể hiện theo ngôn ngữ, động tác cách điệu của diễn viên. Đạo cụ của người diễn hay sử dụng là chiếc quạt.
Chèo cải lương là một dạng chèo cách tân do Nguyễn Đình Nghị khởi xướng và theo đuổi để thực hiện từ đầu những năm 1920 đến trước Cách mạng tháng Tám 1945, theo xu hướng phê phán tính ước lệ của chèo cổ. Chèo cải lương được soạn thành màn, lớp, bỏ múa và động tác cách điệu trong diễn xuất, xử lý những mô hình làn điệu chèo cổ, đưa nguyên những bài dân ca có sẵn vào bổ sung cho hát chèo. Bộ "Tám trận cười" của Nguyễn Đình Nghị gồm những vở nổi tiếng.
Chèo chái hê là loại hình dân ca hát vào rằm tháng bảy hàng năm, hoặc trong đám tang, đám giỗ của người có tuổi thọ, có nguồn gốc từ việc kết nghĩa giữa 2 làng Vân Tương (Bắc Ninh) và Tam Sơn (Đông Anh, Hà Nội), gồm có các phần:
Giáo roi
Nhị thập tứ hiếu
Múa hát chèo thuyền cạn
Múa hát kể thập ân. Kết thúc chương trình hát chèo chái hê thường là hát quan họ.
Chèo hiện đại: trong quá trình hội nhập quốc tế và bảo lưu truyền thống văn hóa dân tộc, nghệ thuật chèo của Việt Nam một mặt được quảng bá khắp năm châu, mặt khác, cũng tự hiện đại hóa để đáp ứng thị hiếu của khán - thính giả. Quá trình hiện đại hóa luôn đi đôi với quá trình bảo lưu những tinh hoa văn hóa dân tộc được bồi đắp qua nhiều thế kỷ. Hướng hiện đại hóa đầu tiên diễn ra sau năm 1954 ở miền Bắc cùng với quá trình cuộc Chiến tranh Việt Nam. Sau chiến tranh, quá trình này vẫn tiếp tục với một số vở chèo cải biên phản ánh các chủ đề hiện đại. Sau năm 1954, nhiều đoàn nghệ thuật chèo Việt Nam đã đi biểu diễn ở các nước xã hội chủ nghĩa và được công chúng hoan nghênh. Sau Chiến tranh Việt Nam, nghệ thuật chèo Việt Nam đã có mặt trong nhiều kỳ liên hoan văn hóa nghệ thuật dân gian ở nhiều nước và thu được sự mến mộ của công chúng nhiều quốc gia. Về âm nhạc, một số điệu hát chèo đã được các nghệ sĩ mạnh dạn cải biên, phối khí theo phong cách và nhạc cụ hiện đại nhưng vẫn giữ giai điệu gốc vốn có.
== Các vùng chèo xưa ==
=== Tứ chiếng Chèo ===
Chiếng Chèo là những phường Chèo hoạt động trong một vùng văn hóa, địa lý nhất định. Phong trào hát Chèo xưa phân nôi vùng chèo châu thổ sông Hồng thành 4 chiếng Chèo Đông, Đoài, Nam, Bắc với kinh đô Thăng Long - Hà Nội ở vị trí trung tâm. Mỗi chiếng có những “ngón nghề” riêng, kỹ thuật riêng, khó lưu truyền và phát triển ra đến bên ngoài do sự khác nhau trong phong cách nghệ thuật dựa trên cơ sở dân ca, dân vũ địa phương, chỉ người trong chiếng mới diễn được với nhau. Nhưng có những nghệ nhân chèo tài năng, nhập vào chiếng nào cũng diễn được, diễn hay, được tôn là “nghệ nhân tứ chiếng”.
Chiếng chèo Đông gồm khu vực các tỉnh Hải Dương, Hải Phòng, Quảng Ninh và phía bắc Hưng Yên. Vùng này xưa là trấn Hải Đông. Chèo xứ Đông mang âm hưởng của ca trù, hát đúm và trống quân.
Chiếng chèo Đoài gồm khu vực các tỉnh Hà Tây, Phú Thọ, Vĩnh Phúc, Tuyên Quang. Vùng này xưa là trấn Sơn Tây. Chèo xứ Đoài mang âm hưởng của hát xoan, hát dô, dân ca Phú Thọ và cò lả.
Chiếng chèo Nam gồm khu vực các tỉnh Hà Nam, phía nam Hưng Yên, Thái Bình, Nam Định, Ninh Bình và Thanh Hóa. Vùng này xưa là trấn Sơn Nam. Chèo xứ Nam mang âm hưởng của hát văn, hát xẩm.
Chiếng chèo Bắc gồm khu vực các tỉnh Bắc Giang, Bắc Ninh, bắc Hà Nội, Thái Nguyên. Vùng này xưa là trấn Kinh Bắc. Chèo xứ Bắc mang âm hưởng của quan họ, phát triển mạnh ở các huyện Yên Dũng, Quế Võ, Gia Lương.
Trung tâm Chèo Thăng Long hiện có 3 đơn vị Chèo chuyên nghiệp là Nhà hát Chèo Quân đội (Việt Nam), Nhà hát Chèo Việt Nam và Nhà hát Chèo Hà Nội. Chèo Thăng Long mang nét đặt trưng là tinh túy, nhẹ nhàng và hội tụ.
Trong Tứ Chiếng Chèo thì Chiếng Chèo Nam thường là mạnh hơn cả vì là quê hương của nghệ thuật Chèo và còn tập trung các địa phương có thế mạnh về Chèo như Thái Bình, Ninh Bình và Nam Định. Tiếp theo là Chiếng Chèo Đông, Chiếng Chèo xứ Đoài trước đây với trung tâm là vùng Hà Tây nay đã về Hà Nội. Xứ Bắc là quê hương của quan họ nên hoạt động Chèo thường yếu nhất và Bắc Ninh cũng là tỉnh duy nhất ở khu vực châu thổ sông Hồng hiện nay không có đoàn Chèo.
=== Các làng chèo cổ nổi tiếng ===
Niềm đam mê chèo của người dân Việt thể hiện trong các câu thơ sau:
Ăn no rồi lại nằm khoèo
Nghe giục trống chèo vỗ bụng đi xem
Chẳng thèm ăn chả ăn nem
Thèm no cơm tẻ, thèm xem hát chèo.
Thái Bình là tỉnh thuần khiết đặc trưng nền văn minh lúa nước đồng bằng sông Hồng. Thái Bình dần hội tụ và phát triển vốn truyền thống văn hoá dân gian. Nơi đây là một trong những cái nôi của những làn điệu hát chèo. Nhắc đến chèo Thái Bình, phải kể tới chèo làng Khuốc. Đây là dòng chèo đặc trưng của địa phương:
Hỡi cô thắt dải lưng xanh
Có xem chèo Khuốc với anh thì về
Làng Khuốc nay là xã Phong Châu, huyện Đông Hưng, cùng với Hà Xá (Hưng Hà) và Sáo Diền (Vũ Thư) xưa kia là những chiếng chèo nổi tiếng của Thái Bình. Những năm đầu thế kỷ thứ 19, có lúc trong làng có đến 15 gánh hát chèo. Chèo diễn quanh năm suốt tháng, không chỉ được biểu diễn ở trong làng mà gánh hát chèo còn đi đến các vùng miền khác biểu diễn phục vụ nhân dân. Trong tổng số 151 làn điệu và ca khúc chèo thì riêng các phường chèo Thái Bình đã chiếm 30 ca khúc và bốn kiểu hát nói. Trong số 155 nghệ sĩ chèo là người Thái Bình trong các đoàn chèo cả nước thì riêng làng Khuốc có 50 người. Một số chiếu chèo ở Thái Bình khác như: CLB chèo Ô Mễ 2 (Vũ Thư).
Từ đầu thế kỷ 20, huyện Mỹ Lộc, Nam Định đã có 3 làng chèo khá nổi tiếng: làng Đặng, làng Quang Sán, làng Nhân Nhuế, xã Mỹ Thuận. Trong thơ của Nguyễn Bính có nhắc đến hội chèo làng Đặng
Bữa ấy mưa xuân phơi phới bay
Hoa xoan lớp lớp rụng vơi đầy
Hội chèo làng Đặng đi ngang ngõ
Mẹ bảo: "Thôn Đoài hát tối nay
Vào thời kỳ nhà Nguyễn đầu thế kỷ XX, trên đất Đông Triều, Quảng Ninh đã có những phường chèo, đội chèo hoạt động khá bài bản như: Gánh hát chèo làng An Biên (xã Thuỷ An), gánh hát chèo làng Mỹ Cụ (xã Hưng Đạo), gánh hát chèo làng Quế Lạt (xã Hoàng Quế). Các làng chèo cổ nổi tiếng khác như: Làng chèo Thiết Trụ (xã Bình Minh, Hưng Yên); Làng chèo Phúc Trì (Nam Thành, Ninh Bình).
== Các tổ chức chèo hiện nay ==
=== Các đoàn chèo chuyên nghiệp ===
Quy mô lớn nhất của các đơn vị nghệ thuật Chèo là Nhà hát Chèo rồi đến Đoàn Chèo, một số tỉnh chỉ biên chế đội hoặc tổ Chèo thuộc đoàn nghệ thuật.
Các đoàn chèo sau khi phát triển đủ điều kiện, UBND tỉnh sẽ ra quyết định thành lập nhà hát Chèo. Một nhà hát Chèo có thể có nhiều đoàn chèo như Nhà hát Chèo Hà Nội có 3 đoàn, các nhà hát khác thường có 2 đoàn.
Ở Việt Nam hiện có 18 đơn vị chèo chuyên nghiệp gồm 11 nhà hát chèo và 4 đoàn chèo và 3 đội chèo thuộc đoàn nghệ thuật có chèo gồm:
=== Các làng chèo, câu lạc bộ chèo ===
Các làng chèo
Làng chèo là danh xưng để chỉ những làng còn bảo tồn và lưu giữ được nghệ thuật sân khấu chèo chuyền thống, những buổi sinh hoạt chèo trong quan hệ xã hội cộng đồng, trong lao động sản xuất và đời sống văn hoá nói chung. Các huyện có nhiều làng chèo hoặc câu lạc bộ chèo được gọi là Vùng chèo hay đất chèo, tiêu biểu hiện nay như vùng chèo Yên Khánh (Ninh Bình); vùng chèo Yên Dũng (Bắc Giang); vùng chèo Đông Triều (Quảng Ninh),... đặc biệt tỉnh Thái Bình với phong trào hát chèo quần chúng nở rộ được gọi là đất chèo Thái Bình.
Các làng chèo nổi tiếng hiện nay phải kể đến là: Làng chèo Hậu Trạch, xã Vạn Thắng, Ba Vì; Làng chèo Trung Lập, xã Tri Trung, Phú Xuyên; Làng chèo Xa Mạc, xã Liên Mạc, huyện Mê Linh (Hà Nội); Làng chèo Lũng Quý, xã Kiến Quốc, Ninh Giang; Làng chèo Hữu Chung, xã Tân Phong, Ninh Giang; Làng chèo Tuyển Cử, xã Tân Hồng, Bình Giang (Hải Dương); Làng chèo Tân Mỹ, xã Đồng Sơn, Yên Dũng; Làng chèo Đồng Quan, xã Đồng Sơn, Yên Dũng; Làng chèo Tân Ninh, xã Tư Mại, Yên Dũng; Làng chèo Hoàng Mai, Hoàng Ninh, Việt Yên; Làng chèo Thanh Trà, xã Lệ Viễn, Sơn Động (Bắc Giang); Làng chèo Ngò, xã Tiên Nội, Duy Tiên; Làng chèo Đức Lý, huyện Lý Nhân; Làng chèo Tháp, Thị trấn Kiện Khê, Thanh Liêm; Làng chèo Quỳnh Chân, xã Lam Hạ, Phủ Lý (Hà Nam); Làng chèo Khánh Lợi, huyện Yên Khánh; Làng chèo Khánh Thủy, huyện Yên Khánh; Làng chèo Khánh Cường, huyện Yên Khánh; Làng chèo Khương Dụ, xã Yên Phong, Yên Mô; Làng chèo Quảng Phúc, xã Yên Phong, Yên Mô; Làng chèo Bình Hải, xã Yên Nhân, Yên Mô (Ninh Bình); Làng chèo Ngân Cầu, thị trấn Chờ, Yên Phong; Làng chèo Thất Gian, xã Châu Phong, Quế Võ; Làng chèo Ngang Nội, xã Hiên Vân, Tiên Du; Làng chèo Nga Hoàng, xã Yên Giả, Quế Võ; Làng chèo Ngăm Lương, xã Lãng Ngâm, Thuận Thành (Bắc Ninh); Làng chèo Hoành Nhị, xã Giao Hà, Giao Thủy; Làng chèo Kiên Hành, xã Giao Hải, Giao Thủy; Làng chèo Duyên Thọ, xã Giao Nhân, Giao Thủy; làng chèo Bồng Xuyên, xã Yên Phong, Ý Yên; Làng chèo Trung Khu, xã Yên Phong, Ý Yên; Làng chèo Quang Sán, xã Mỹ Hà, Mỹ Lộc; Làng chèo Phú Văn Nam, xã Hải Châu, Hải Hậu (Nam Định); Làng chèo An Phú, xã Quỳnh Hải, Quỳnh Phụ (Thái Bình); Làng chèo Phạm Xá, xã Đồng Than, Yên Mỹ (Hưng Yên); Làng chèo Phượng Mao, xã Hoằng Phượng, Hoằng Hóa (Thanh Hóa); Làng chèo Trung Bản, xã Liên Hoà, Yên Hưng; Làng chèo Đình Lục, xã Hồng Phong, Đông Triều (Quảng Ninh); Làng chèo Ngũ Phúc, huyện Kiến Thụy (Hải Phòng); Làng chèo Ngọc Lương huyện Yên Thủy (Hòa Bình);
Các câu lạc bộ Chèo
Hình thức sinh hoạt câu lạc bộ chèo hiện nay là thông dụng nhất bởi nó có thể vượt ra khỏi không gian làng xã và trở thành nơi tập hợp những người yêu chèo. Các câu lạc bộ Chèo cấp tỉnh, huyện, xã thường được thành lập và sinh hoạt tại Trung tâm văn hóa các tỉnh, huyện, xã. Do các nghệ sĩ chèo về hưu và những người yêu chèo sáng lập. Hiện nay có một số câu lạc bộ chèo tiêu biểu như:
Bắc Giang: chiếu chèo Tân Ninh (xã Tư Mại, Yên Dũng) và Ðồng Nhân (xã Ðồng Phúc, Yên Dũng); CLB chèo Đồng Cống (Lục Nam); chiếu chèo làng Then (Lạng Giang); CLB chèo Hoàng Mai (Việt Yên); CLB chèo Bắc Lý (Hiệp Hòa)
Bắc Ninh: cả tỉnh có 60 CLB chèo đang hoạt động, riêng ở huyện Quế Võ có 35 CLB chèo đang hoạt động nổi bật như: Châu Phong, Mộ Đạo, Yên Giả, Nhân Hòa, Bồng Lai…
Hà Nam: các chiếu chèo Xuân Khê, chiếu chèo Hợp Lý, các chiếu chèo Lê Hồ, Đồng Hoá, chèo Liêm Sơn, Thanh Hà,...
Hà Nội có nhiều câu lạc bộ chèo nổi tiếng như: CLB chèo Cổ Phong xã Đại Đồng, Thạch Thất. Huyện Thạch Thất vẫn còn 10 xã có CLB người hát chèo như Đại Đồng, Canh Nậu, Dị Nậu, Chàng Sơn, Bình Phú, Phú Kim, Cẩm Yên. Các làng chèo Tòng Bạt, Hậu Trạch (Ba Vì), Tam Thuấn, Phụng Thượng (Phúc Thọ), Canh Nậu, Đại Đồng (Thạch Thất), Đại Thành, Phượng Cách (Quốc Oai), Tử Dương (Ứng Hòa), Phú Nhi (Sơn Tây), Tri Trung, Hoàng Long (Phú Xuyên), Nghiêm Xuyên, Vân Tảo (Thường Tín).
Hải Dương hiện có 191 đội chèo quần chúng tiêu biểu như: CLB hát chèo Hải Dương, CLB chèo Thượng Đạt, phường Tứ Minh (TP Hải Dương).
Hải Phòng: CLB chèo Vĩnh Khê (An Dương), CLB chèo Ngũ Phúc (Kiến Thụy).
Hưng Yên: CLB chèo huyện Văn Lâm, CLB chèo Phạm Xá.
Hòa Bình: CLB hát chèo thị trấn Hàng Trạm, CLB chèo Ngọc Lương, CLB chèo Yên Trị đều thuộc phía nam huyện Yên Thủy.
Thanh Hóa: Chiếu chèo Man Thôn (xã Thọ Vực, Triệu Sơn), CLB chèo Bút Sơn, CLB múa chèo chải xã Hoằng Quỳ, CLB hát chèo làng Nhân Trạch, xã Hoằng Đạo và CLB chèo các xã Hoằng Thái, Hoằng Hà, Hoằng Quỳ, Hoằng Minh (Hoàng Hóa).
Nam Định có gần 200 CLB chèo tiêu biểu như: CLB chèo làng Đặng Xá, Làng chèo An Lại Hạ, Thụ Ích xã Yên Nhân (Ý Yên); làng chèo Phú Vân Nam ở xã Hải Châu (Hải Hậu)...
Ninh Bình: CLB chèo Tp Ninh Bình và các chiếu chèo ở Khánh Cường, Khánh Mậu, Khánh Hội, Khánh Thiện, Khánh Trung (Yên Khánh), Yên Phong, Yên Từ, Khánh Thịnh (Yên Mô); Thượng Kiệm, Như Hoà, thị trấn Phát Diệm (Kim Sơn); CLB chèo Tràng An, CLB chèo thôn Xưa (xã Sơn Lai), CLB chèo xã Sơn Thành, CLB chèo thôn Ngọc Nhị (xã Gia Thủy).
Nghệ An: Làng chèo Lăng Thành (xã Lăng Thành, huyện Yên Thành) được biết tới như “địa chỉ đỏ” của nghệ thuật hát chèo miền Trung.
Thái Bình: CLB chèo ở các xã Quốc Tuấn; Vũ Thắng (Kiến Xương); CLB chèo ở các xã Đông La, An Châu (Đông Hưng); các CLB chèo truyền thống huyện Thái Thụy, Vũ Thư, câu lạc bộ UNESCO bảo tồn nghệ thuật sân khấu chèo Đông Hà...
Vĩnh Phúc: CLB nghệ thuật Chèo Vĩnh Phúc, CLB sân khấu Chèo Vĩnh Tường. Huyện Yên Lạc có 6 CLB chèo.
Ngoài ra có các CLB hát chèo cấp tỉnh như: Câu lạc bộ Chèo Cần Thơ; Câu lạc bộ hát Chèo Điện Biên; Câu lạc bộ chèo Tuyên Quang.
== Các nghệ sĩ nổi tiếng ==
=== Các cố nghệ sĩ ===
Phạm Thị Trân, một vũ ca tài ba trong hoàng cung nhà Đinh, người sáng lập nghệ thuật sân khấu chèo.
Trùm Thịnh (Cụ Nguyễn Văn Thịnh), (1883-1973), được truy phong Nghệ sĩ nhân dân; là người phục hồi nghệ thuật chèo và xây dựng sân khấu chèo hiện đại.
Cả Tam (Cụ Trịnh Thị Lan), (1888 - 1971), được truy phong Nghệ sĩ nhân dân; một trong những nghệ nhân có công khôi phục vốn chèo cổ đồng thời có đóng góp lớn cho việc hiện đại hoá chèo.
An Văn Mược (Cả Mược): Nghệ nhân trùm chèo nổi tiếng ở Ninh Bình, có công lưu giữ các làn điệu chèo.
Tào Mạt: là người có đóng góp lớn trong sự phát triển chèo hiện đại. Tác phẩm nổi tiếng nhất của ông là bộ ba vở chèo Bài ca giữ nước kể về lịch sử Việt Nam thời nhà Lý với nhân vật chính là Lý Thánh Tông, Nguyên phi Ỷ Lan và Lý Nhân Tông.
Nguyễn Thị Minh Lý, bà sinh năm 1912, là con gái Trùm Thịnh (1883 - 1973), người đã cùng với Nguyễn Đình Nghị và Cả Tam (1888 - 1971) đóng góp lớn cho việc hiện đại hóa chèo đầu thế kỷ 20.
Dịu Hương (1919-?), người Bình Lục, Hà Nam, thành công với những trích đoạn Suý Vân giả dại và Thị Màu lên chùa.
Năm Ngũ, Tư Liên, Lý Mầm, Mạnh Tuấn, những nghệ nhân nổi danh với loại vai hề chèo
Vũ Thị Tý (1936-1974); được truy phong Nghệ sĩ ưu tú năm 1995; nổi tiếng với các vai: Thị Kính trong "Quan âm Thị Kính"(tác giả: Nguyễn Văn Thịnh); Đào Huế trong "Chu Mãi Thần" (tác giả: Nguyễn Văn Mầm); Mụ quán trong "Súy Vân" (tác giả: Hàn Thế Du); Út Tịch trong "Cô Giải phóng" (tác giả: Tào Mạt); Chị Tâm trong "Phiến đá" (tác giả: Hà Văn Cầu).
Kiều Bạch Tuyết (1939-1975); được truy phong Nghệ sĩ ưu tú năm 1995; nổi tiếng với các vai: Thị Mầu trong "Quan âm Thị Kính" (tác giả: Nguyễn Văn Thịnh); Đào nấp trong "Chu Mãi Thần" (tác giả: Nguyễn Văn Mầm); Mụ Cám trong "Tấm Cám" (tác giả: Lưu Quang Thuận).
Hoa Tâm (1906 - 1986), người xã Kim Động, tỉnh Hưng Yên.
Phạm Hồng Lô: Nghệ nhân chèo người Yên Khánh, Ninh Bình.
=== Các nghệ sĩ đương đại ===
NSND Thúy Mùi, Giám đốc Nhà hát Chèo Hà Nội
NSND Mai Thủy, Phó Giám đốc Nhà hát Chèo Ninh Bình
NSND Quốc Trượng, Giám đốc Nhà hát Chèo Quân đội
NSND Tự Long, Phó giám đốc Nhà hát Chèo Quân đội
NSUT Thúy Ngần, Giám đốc Nhà hát thể nghiệm
NSUT Hồng Ngát, Phó Giám đốc Nhà hát Đài tiếng nói Việt Nam
NSUT Thanh Ngoan, Giám đốc Nhà hát Chèo Việt Nam.
NSƯT Nguyễn Quang Thập, Giám đốc Nhà hát Chèo Ninh Bình
Các nghệ sĩ khác như: NSUT Thu Hiền (Chèo Hà Nội); NSND Mạnh Tường, NSND Văn Mởn (Chèo Thái Bình); Thanh Nhạn; Vân Quyền; NSND Thanh Tâm, NSND Hàn Hải (Chèo Thanh Hóa), NSND Trần Văn Thông (Chèo Bắc Giang); Lâm Bình, NSUT Lý Thanh Kha, NSƯT Xuân Nghị (Chèo Ninh Bình)...
=== Nghệ sĩ nhân dân chèo ===
Dưới đây là danh sách 34 nghệ sĩ ưu tú lĩnh vực sân khấu chèo được công nhận là nghệ sĩ nhân dân tính đến hết năm 2015.
Tính đến năm 2015, trong danh sách 34 NSND chèo trên:
Đơn vị nghệ thuật có nhiều nghệ sĩ nhân dân nhất:Nhà hát Chèo Việt Nam: 11 NSND; Nhà hát Chèo Quân đội: 5 NSND; Nhà hát Chèo Hà Nội: 3 NSND
Vùng quê có nhiều nghệ sĩ nhân dân nhất: Ninh Bình: 5 NSND; Thái Bình: 5 NSND; Hưng Yên: 4 NSND và Hải Dương: 4 NSND.
Các nghệ sĩ nhân dân trẻ nhất khi được công nhận: Vũ Tự Long (Nhà hát Chèo Quân đội): 42 tuổi; Mai Thị Thủy (Nhà hát Chèo Ninh Bình): 45 tuổi; Trịnh Minh Tiến (Nhà hát Chèo Quân đội): 45 tuổi
== Hội diễn chèo, lễ hội chèo ==
=== Cuộc thi chèo ===
Cuộc thi dành cho các đơn vị nghệ thuật Chèo.
Cuộc thi nghệ thuật Sân khấu Chèo chuyên nghiệp toàn quốc dành cho các đơn vị nghệ thuật Chèo từ năm 2013 thay thế các Hội diễn Sân khấu Chèo chuyên nghiệp tổ chức từ trước đó. Đây là hoạt động mang tính thi đua cao nhằm đánh giá, tổng kết toàn diện về khuynh hướng nghệ thuật, phương pháp sáng tạo, chất lượng tác phẩm, cách thức hoạt động, năng lực và hiệu quả trong hoạt động nghệ thuật Chèo của các đơn vị nghệ thuật chuyên nghiệp trên toàn quốc sau thời gian 3 năm; từ đó định hướng phát triển cho các đơn vị trong 3 năm tiếp theo. Đây còn là dịp tôn vinh các tập thể, các nhân nghệ sĩ có thành tích xuất sắc trong quá trình lao động sáng tạo nghệ thuật, khuyến khích các đơn vị xây dựng tác phẩm đạt chất lượng cao phục vụ nhân dân. Thời gian tổ chức Cuộc thi dành cho các đơn vị nghệ thuật Chèo chuyên nghiệp là 3 năm một lần.
Cuộc thi dành cho nhóm nghệ sĩ, cá nhân nghệ sĩ.
Các cuộc thi này nhằm khẳng định đẳng cấp, tôn vinh tài năng của các cá nhân và nhóm nghệ sĩ, ghi nhận công sức tìm tòi, sáng tạo của nghệ sĩ trong quá trình lao động nghệ thuật. Các Cuộc thi được tổ chức theo từng chuyên ngành cho nghệ sĩ trẻ đang hoạt động ở các loại hình nghệ thuật Sân khấu và Ca, Múa, Nhạc để khuyến khích, phát hiện, bồi dưỡng tài năng. Đối với hai loại hình nghệ thuật Múa và Âm nhạc, tiêu chí Cuộc thi pháo tiếp cận quy chuẩn quốc tế và khu vực để tạo điều kiện cho thí sinh Việt Nam tham gia các Cuộc thi quốc tế tổ chức ở nước ngoài. Thời gian tổ chức Cuộc thi dành cho nhóm nghệ sĩ, cá nhân nghệ sĩ tổ chức định kỳ 3 năm một lần. Đối với sân khấu chèo có các cuộc thi dành cho nhóm nghệ sĩ, cá nhân nghệ sĩ sau:
Cuộc thi tài năng trẻ diễn viên Sân khấu Tuồng, Chèo.
Cuộc thi tài năng trẻ đạo diễn Sân khấu toàn quốc.
Cuộc thi tài năng biểu diễn Múa.
Cuộc thi tài năng trẻ biên đạo Múa.
=== Liên hoan chèo ===
Liên hoan nghệ thuật sân khấu Chèo là hoạt động nhằm tạo điều kiện cho các đơn vị nghệ thuật, các nghệ sĩ giao lưu, trao đổi, học tập kinh nghiệm trong quá trình lao động, tìm tòi, sáng tạo nghệ thuật; tôn vinh các tập thể, cá nhân có thành tích xuất sắc trong sáng tạo nghệ thuật. Liên hoan chỉ tổ chức cho các loại hình nghệ thuật Chèo không tham gia các Cuộc thi dành cho các đơn vị nghệ thuật Chèo.
Đơn vị tổ chức các cuộc Liên hoan nghệ thuật Chèo tại Việt Nam xây dựng chủ đề cho mỗi cuộc, gắn với việc kỷ niệm các ngày lễ trọng đại của dân tộc, các sự kiện chính trị diễn ra hàng năm. Ngoài các Liên hoan định kỳ được đặt tên trong Đề án, các Liên hoan được tổ chức nhằm phục vụ các nhiệm vụ chính trị của Đảng và Nhà nước sẽ có Đề án riêng trình Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch phê duyệt. Các cuộc Liên hoan tổ chức xen kẽ trong khoảng thời gian giữa hai kỳ tổ chức các Cuộc thi. Thời gian tổ chức Liên hoan đối với từng loại hình nghệ thuật là 3 năm một lần. Đối với Chèo có các dạng liên hoan sau:
Liên hoan Sân khấu thể nghiệm quốc tế.
Liên hoan Nghệ thuật 04 nước Việt Nam, Lào, Campuchia, Mianma.
Liên hoan Âm nhạc truyền thống các nước ASEAN.
Liên hoan các Dàn nhạc sân khấu truyền thống Việt Nam.
=== Các lễ hội hát Chèo ===
Các lễ hội ở vùng châu thổ sông Hồng hầu hết ngoài phần lễ, phần hội bao giờ cũng có các trò chơi dân tộc và bao giờ cũng có hát chèo. Các lễ hội tiêu biểu ở Việt Nam gắn liền với các di tích lịch sử thời Đinh, Lê, Lý, Trần đều có hát chèo làm chủ đạo. Dưới đây là một số lễ hội mà nghệ thuật hát Chèo là trọng tâm và linh hồn của lễ hội:
Lễ hội Hoa Lư ở Ninh Bình với hội thi hát Chèo và các tiết mục sân khấu hóa do Nhà hát Chèo Ninh Bình thực hiện.
Lễ hội Côn Sơn Kiếp Bạc ở Hải Dương với hội thi hát Chèo và các tiết mục nghệ thuật do Nhà hát Chèo Hải Dương thực hiện.
Lễ hội chùa Keo ở Nam Định với hội thi hát Chèo và các tiết mục sân khấu hóa do Nhà hát Chèo Nam Định thực hiện.
Lễ hội chùa Keo ở Thái Bình với hội thi hát Chèo và các tiết mục sân khấu hóa do Nhà hát Chèo Thái Bình thực hiện..
Lễ hội đền Trần ở Nam Định, Thái Bình, Ninh Bình và Quảng Ninh đều là những lễ hội có hát chèo làm chủ đạo.
== Tác phẩm chèo tiêu biểu ==
Một số vở chèo tiêu biểu: Bài ca giữ nước, Chu Mãi Thần, Đồng tiền Vạn Lịch, Hoàng Trìu kén vợ, Kim Nham, Lưu Bình Dương Lễ, Nghêu sò ốc hến, Quan Âm Thị Kính, Tuần Ty Đào Huế, Từ Thức gặp tiên, Trần Tử Lệ, Trương Viên.
Một số trích đoạn tiêu biểu: Thị Mầu lên chùa & Xã trưởng - Mẹ Đốp (vở Quan Âm Thị Kính), Súy Vân giả dại (vở Kim Nham), Đánh ghen (vở Tuần ty Đào Huế), Hồ Nguyệt Cô hóa cáo... Chính vở Tuần ty Đào Huế được trích và phát triển từ vở Chu Mãi Thần mà ra.
Nghiên cứu về chèo, Lương Thế Vinh đã viết Hý Phường Phổ Lục.
Hà Văn Cầu (1964), Tim hiểu phương pháp viết Chèo, Nhà xuất bản Văn hóa nghệ thuật Hà Nội.
Bùi Đức Hạnh (2006), 150 làn điệu chèo cổ, Nhà xuất bản Văn hoá dân tộc, Hà Nội.
Vũ Khắc Khoan (1974), Tìm hiểu Sân khấu Chèo, Nhà xuất bản Lửa thiêng, Sài Gòn.
Nguyễn Thanh Phương (2003), Âm nhạc sân khấu chèo nửa cuổi thể kỷ XX, trường Đại học Sân khấu - Điện ảnh Hà Nội.
== Chú thích ==
Chèo tại Từ điển bách khoa Việt Nam
Hát chèo tại Từ điển bách khoa Việt Nam |
internet tại việt nam.txt | Internet tại Việt Nam được coi như chính thức bắt đầu từ cuối năm 1997. Ngày 19 tháng 11 năm 1997 là ngày đầu Việt Nam được hòa vào mạng Internet toàn cầu.
== Lịch sử ==
Rob Hurle, giáo sư tại Đại học Quốc gia Australia (ANU), được xem là người đầu tiên đặt nền móng cho sự phát triển Internet tại Việt Nam với việc trình bày ý tưởng của mình với các sinh viên Việt Nam đã từng du học tại Úc và mang một chiếc "modem" to bằng "cục gạch" sang Việt Nam năm 1991 để thử nghiệm. Sau đó, ông Rob Hurle cùng với ông Trần Bá Thái, Viện Công nghệ thông tin tại Hà Nội (IOIT) tiến hành thí nghiệm kết nối các máy tính ở Úc và Việt Nam thông qua đường dây điện thoại, ông cũng viết một phần mềm mới cho hệ thống UNIX để có thể sử dụng modem liên lạc sang Việt Nam. Thí nghiệm thành công và năm 1992, IOIT Hà Nội có hộp thư điện tử riêng với "đuôi" ở tận Úc (.au) để trao đổi e-mail với ông Rob và có lẽ đó là lần đầu tiên người ở Việt Nam gửi e-mail ra nước ngoài. Tháng 9 năm 1993, ông Rob và một đồng nghiệp Việt kiều ở Đại học Tasmania tới Hà Nội dự hội thảo để bàn về kế hoạch phát triển Internet tại Việt Nam. Năm 1994, với tiền tài trợ của Chính phủ Úc, ông Rob và các đồng nghiệp tại ANU mua tặng Khoa Lịch sử Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội 1 chiếc máy tính đầu tiên tại Việt Nam và modem và thực hiện việc kết nối Internet qua cổng.au. Ông Rob cũng là một trong những người đầu tiên nghĩ tới và được ủy quyền việc đăng ký tên miền .vn cho VN thay cho tên miền.au (Australia). Đến năm 1995, nhu cầu sử dụng Internet tại Việt Nam tăng quá lớn và tiền tài trợ từ Chính phủ Úc không còn đủ chi dụng, nên bắt đầu thu tiền của người VN sử dụng Internet và thương mại hóa Internet, ông Rob và các đồng nghiệp ở IOIT bắt đầu hợp tác với Tổng công ty Bưu chính Viễn thông Việt Nam (VNPT) để phát triển dịch vụ.
Như vậy, sau 2 năm thử nghiệm cung cấp dịch vụ điện thư, vào năm 1994, Viện Công nghệ thông tin IOIT (qua công ty NetNam được họ thành lập) trở thành nhà cung cấp dịch vụ Internet đầu tiên tại Việt Nam, với dịch vụ thư điện tử dưới tên miền quốc gia .vn. Các dịch vụ dựa trên thư điện tử như diễn đàn, liên lạc nội bộ, thư viện điện tử... được cung cấp cho hàng ngàn khách hàng chỉ sau 1 năm giới thiệu. Các dịch vụ khác như thiết kế Web, FTP, TelNet... được NetNam cung cấp đầy đủ khi Internet được chính thức cho phép hoạt động tại Việt Nam từ 1997.
Tháng 11 năm 1997, VNPT, NetNam, và 3 công ty khác trở thành những nhà cung cấp dịch vụ Internet (ISP) đầu tiên tại Việt Nam.
Trước đó, việc thử nghiệm Internet ở Việt Nam xảy ra ở bốn địa điểm như sau:
Viện Công nghệ thông tin thuộc Trung tâm Khoa học tự nhiên và Công nghệ quốc gia hợp tác với Đại học Quốc gia Australia để phát triển thử nghiệm mạng Varenet vào năm 1994.
Trung tâm thông tin Khoa học công nghệ Quốc gia thuộc Bộ Khoa học công nghệ và Môi trường liên kết với mạng Toolnet thuộc Amsterdam (Hà Lan) vào năm 1994.
Trung tâm Khoa học và công nghệ thuộc Sở Khoa học công nghệ và Môi trường TP HCM liên kết với nút mạng ở Singapore vào năm 1995 với tên gọi là mạng HCMCNET.
Công ty Điện toán và Truyền số liệu (VDC) thuộc Tổng công ty Bưu chính Viễn thông (VNPT) tại hai địa điểm Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh thông qua hai cổng quốc tế 64 Kb/giây kết nối Internet Sprintlink (Mỹ) vào năm 1996.
Internet Việt Nam cũng nhận được nhiều trợ giúp từ nước ngoài để phát triển, như năm 2010, Bill Gates, giúp đỡ Việt Nam 30 triệu đôla Mỹ để phát triển Internet tại vùng thôn quê
== Phát triển ==
=== Giai đoạn 2000 - 2010 ===
Vào ngày 17/10/2000, Chỉ thị số 58-CT/TW được phê duyệt bởi ông Phạm Thế Duyệt, thường trực Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam về việc "Đẩy mạnh ứng dụng và phát triển công nghệ thông tin phục vụ sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá".
Khoảng thời gian từ tháng 1 đến tháng 2 năm 2001, lần đầu tiên ở Việt Nam, cơ quan an ninh bắt hai hacker là Phan Quang Trung và Nguyễn Đắc Thuận ở Thành phố Hồ Chí Minh vì hành vi đánh cắp mật khẩu và phát tán trên mạng.
Ngày 14/7/2005, ký kết thông tư liên tịch 02/2005/TTLT về quản lý đại lý Internet do Bộ Bưu chính Viễn thông, Bộ Văn hóa-Thông tin, Bộ Công an và Bộ Kế hoạch và Đầu tư ban hành
Năm 2007, các hình thức kinh doanh quán cà phê Internet được khai trương tại Thành phố Hồ Chí Minh và Hà Nội .
Ngày 09/10/2010, Đại hội thành lập Hiệp hội Internet Việt Nam (VIA) diễn ra tại Hà Nội nhằm lập ra ban lãnh đạo nhiệm kỳ đầu tiên và đồng thời ra mắt Ban chấp hành của Hiệp hội chính thức số lượng thành viên là 33.
=== Giai đoạn 2011 - đến nay ===
Số người dùng tại Việt Nam tính đến thời điểm cuối tháng 7 năm 2011 đã vượt 31 triệu người, trong đó có tới 4 triệu người dùng Internet băng rộng. Số lượng người dùng Internet đông đảo được xem là nền tảng tiềm năng, tạo ra cơ hội và nhiều thách thức để phát triển thương mại điện tử ở Việt Nam.
Theo thống kê của Tổng cục Thống kê vào tháng 3 năm 2012, số người sử dụng Internet ở Việt Nam đã đạt đạt 32,1 triệu người với số thuê bao Internet trên cả nước ước tính đạt 4,2 triệu thuê bao (so sánh với 134 triệu thuê bao điện thoại, bao gồm: 15,3 triệu thuê bao cố định và 118,7 triệu thuê bao di động)
== Chất lượng Internet Việt Nam ==
Theo khảo sát của hãng khảo sát thị trường Internet Pando Networks (Mỹ), năm 2011 Việt Nam đạt tốc độ kết nối Internet trung bình 374 KBps (1 B bằng khoảng 8 b), nhanh nhất khu vực Đông Nam Á, đứng thứ 3 ở Châu Á, sau Hàn Quốc (2.202 KBps) và Nhật Bản (1.364 KBps) (và sau Nga, Đài Loan, Hồng Kông). Còn theo báo cáo của Akamai, hãng khảo sát Internet của Mỹ, cuối năm 2011 tốc độ đường truyền Internet Việt Nam đạt khoảng 1,7 Mbps, xếp hạng 32/50 quốc gia được khảo sát và thấp hơn mức trung bình trên thế giới (2,6 Mbps).
Theo NetIndex (trang web, tính toán theo kết quả đo của Speedtest.net) cho biết: cuối năm 2011 tốc độ tải xuống Internet Việt Nam ở mức 9,79 Mbps (39/180 quốc gia) và tốc độ tải lên là 5,47 Mbps (đứng thứ 22/180 quốc gia).
Những trục trặc đường truyền không ổn định và sự cố đứt tuyến cáp quang đường biển (Asia America Gateway) luôn gây ảnh hưởng đến chất lượng Internet tại Việt Nam trong việc liên lạc, trao đổi thông tin với nước ngoài trên các dịch vụ web, email, video.
Vào 13h30 ngày 08/03/2011, tuyến cáp quang biển AAG (Asia America Gateway) bị đứt đã tác động không nhỏ tới việc cung cấp dịch vụ của một số ISP ở Việt Nam như FPT Telecom, Viettel Telecom, VDC.
Vào lúc 21h45 ngày 28/09/2011, sự cố đứt cáp quang biển Liên Á đã xảy ra làm chất lượng Internet bị chậm đối khách hàng dùng dịch vụ của EVN Telecom.
== Thói quen người dùng ==
Internet đã vượt báo giấy và radio để trở thành phương tiện thông tin phổ biến tại Việt Nam theo cuộc khảo sát của Net Index vào năm 2011. Theo đó, thư điện tử (60%) và tin nhắn (73%) là hai phương tiện kết nối trực tuyến thịnh hành. Xem tin tức trên mạng, truy cập trang chủ các cổng thông tin và sử dụng công cụ tìm kiếm là ba hoạt động trực tuyến phổ biến nhất lần lượt chiếm 97%, 96% và 96% số người tham gia. Số lượng người dùng tham gia mạng xã hội tăng từ 41% năm 2010 lên 55% năm 2011.
Theo cuộc khảo sát hành vi người dùng sử dụng Internet tại Việt Nam năm 2011 do Consumer Probe thực hiện dưới sự ủy nhiệm của PC Tools cho thấy người dùng ở Việt Nam còn thiếu kỹ năng và kiến thức về an toàn trực tuyến. Theo khảo sát, có hơn 3/4 số người tham gia (chiếm khoảng 77%) dùng một mật khẩu truy nhập cho tất cả các tài khoản của mình trên Internet. Trong khi đó số người lên mạng ở các tiệm dịch vụ Internet, nơi không an toàn là 41%.
Mặc dù dân số chưa phải là cao so với thế giới nhưng Việt Nam lại là quốc gia có số lượng người dùng tìm kiếm về sex nhiều nhất thế giới năm 2007 đến 2010, theo thống kê từ khóa của Google. Hà Nội là thành phố có nhiều người tìm sex nhất thế giới năm 2010.
Việc nghiện Internet và trò chơi trực tuyến đang trở nên phổ biến ở trẻ em Việt Nam do "thiếu sân chơi", thiếu các phương tiện và cơ sở giải trí khác và "muốn thể hiện cái tôi" trên không gian ảo. Hậu quả của nó rất nặng nề và tác động trực tiếp đến bản thân người nghiện, gia đình và xã hội. Hiện nay, ở Việt Nam vẫn chưa có trung tâm cai nghiện Internet và trò chơi trực tuyến.
== ISP Việt Nam ==
Internet Việt Nam chính thức xuất hiện ngày 19/11/1997, khi đó đặt dưới sự quản lý duy nhất của một IPX là VNPT.
Các nhà cung cấp dịch vụ (ISP) Việt Nam:
Tập đoàn Bưu chính Viễn thông Việt Nam VNPT
Tổng Công ty Viễn thông Quân đội - Viettel
Công ty FPT thuộc Bộ Khoa học và Công nghệ
NetNam thuộc Viện Công nghệ thông tin - Viện Khoa học và công nghệ Việt Nam
Công ty Cổ phần Dịch vụ Bưu chính Viễn thông Sài Gòn - SPT
Công ty Cổ phần Viễn thông Hà Nội
Tổng Công ty Truyền thông Đa phương tiện VTC
Công ty Cổ phần Viễn thông Di động Toàn cầu (G-Tel)
Công ty Thông tin Viễn thông Điện lực (EVNTelecom)
Công ty Thông tin Điện tử Hàng hải Việt Nam(Vishiped)
Công ty Điện toán và Truyền số liệu VDC
Công ty cổ phần Hạ tầng viễn thông CMC (CMC TI)
== Quản lý Internet ==
Thời gian đầu, Tổng công ty nhà nước VNPT quản lý máy chủ Hệ thống tên miền quốc gia (DNS) và tên miền.vn, từ năm 2000 chuyển giao qua Trung tâm Internet Việt Nam, khi Trung tâm này được nhà nước Việt Nam thành lập
Internet ở Việt Nam hiện nay do Trung tâm Internet Việt Nam (VNNIC), một đơn vị trực thuộc Bộ Thông tin và Truyền thông quản lý.
VNNIC thành lập vào ngày 28/04/2000 có nhiệm vụ thực hiện các chức năng như sau:
Quản lý, phân bổ, giám sát và thúc đẩy việc sử dụng nguồn tài nguyên tên miền, địa chỉ, số hiệu mạng Internet tại Việt Nam
Thông tin hướng dẫn, thống kê về mạng Internet
Tham gia các hoạt động quốc tế về Internet.
=== Hệ thống máy chủ tên miền quốc gia ===
Hệ thống máy chủ tên miền quốc gia do Trung tâm Internet Việt Nam phụ trách bao gồm việc quản lý không gian tên miền cấp quốc gia .vn đồng thời nhận yêu cầu, phản hồi các truy vấn tên miền .vn.
Hệ thống bao gồm các cụm máy chủ như sau:
Trong nước: 2 cụm máy chủ tại Thành phố Hồ Chí Minh; 2 cụm máy chủ tại Hà Nội và 1 cụm máy chủ đặt tại Đà Nẵng.
Ngoài nước: 2 cụm máy chủ ở các nơi trên thế giới.
=== Kiểm duyệt ===
Chính quyền Việt Nam kiểm duyệt việc truy cập Internet một cách rộng rãi, dùng nhiều biện pháp, cả về pháp lý lẫn kỹ thuật. Công trình nghiên cứu OpenNet Initiative của Đại học Harvard, Đại học Toronto, Đại học Oxford và Đại học Cambridge đánh giá mức kiểm duyệt của Việt Nam trong lĩnh vực chính trị là "sâu rộng" (pervasive), trong khi tổ chức Ký giả không biên giới mấy năm liền liệt kê Việt Nam trong danh sách 10 nước "kẻ thù của Internet". Nỗ lực của chính phủ Việt Nam để quản lý, kiểm tra, và giám sát việc sử dụng Internet còn được gọi là "bức tường lửa tre" ("bamboo firewall").
Trong khi chính quyền Việt Nam cho rằng các nỗ lực kiểm duyệt Internet là để bảo vệ người dùng khỏi phải đối mặt với các nội dung tục tĩu hay "đồi trụy", phần lớn các website bị kiểm duyệt chứa các nội dung nhạy cảm về chính trị hay tôn giáo mà có thể thách thức sự thống trị của Đảng Cộng sản Việt Nam. Các báo của nhà nước cũng liên tục đả phá và lên án các trang cá nhân Theo nghiên cứu của OpenNet, các website bị chặn hầu hết có nội dung về các hoạt động chống đối của người Việt hải ngoại, các tổ chức báo chí hải ngoại hay tổ chức độc lập, nhân quyền, hay các đề tài tôn giáo hoặc bất đồng chính kiến. Năm 2010, Bộ phận an ninh mạng của tập đoàn Google cho hay đã phát hiện ra chiến dịch tấn công các trang web nhạy cảm chính trị bằng tiếng Việt và hãng bảo mật McAfee cáo giác tin tặc có thể có liên hệ với chính phủ Việt Nam. Một số mạng xã hội, như Facebook, đôi khi cũng gặp vấn đề truy cập. Chính quyền đã công khai phá sập một số website hay trang blog với nội dung "không phù hợp", trong khi một số website đối lập bị tin tặc tấn công. Tổ chức Ân xá Quốc tế cũng đã đưa ra nhiều trường hợp các nhà hoạt động Internet bị bắt giữ vì các hoạt động trên mạng.
=== Các văn bản pháp luật ===
Nghị định số 72/2013/NĐ-CP ngày 15 tháng 07 năm 2013 của Chính phủ về Quản lý, cung cấp, sử dụng dịch vụ Internet và thông tin trên mạng.
Quyết định số 18/QĐ-VNNIC ngày 10/1/2011 của Giám đốc Trung tâm Internet Việt Nam quy định thời điểm cho phép đăng ký lại các tên miền ".vn" không còn nhu cầu sử dụng đề nghị trả lại, tên miền hết thời hạn sử dụng mà không đóng tiếp phí duy trì.
Thông tư số 189/2010/TT-BTC ngày 24/11/2010 của Bộ Tài chính quy định về phí, lệ phí tên miền quy định mức thu, chế độ thu, nộp và quản lý sử dụng phí, lệ phí tên miền quốc gia và địa chỉ Internet của Việt Nam.
Quyết định số 73/QĐ-VNNIC ngày 17/3/2010 của Giám đốc Trung tâm Internet Việt Nam hướng dẫn xử lý tên miền quốc gia ".vn" có tranh chấp.
Quyết định số 196/QĐ-VNNIC ngày 6/8/2010 của Giám đốc Trung tâm Internet Việt Nam quy định hướng dẫn việc đăng ký và quản lý sử dụng địa chỉ IP/số hiệu mạng tại Việt Nam.
Nghị định 28/2009/NĐ-CP ngày 20/3/2009 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong quản lý, cung cấp, sử dụng dịch vụ Internet và thông tin điện tử trên Internet
Thông tư số 09/2008/TT-BTTTT ngày 24 tháng 12 năm 2008 của Bộ Thông tin và Truyền thông hướng dẫn về quản lý và sử dụng tài nguyên Internet.
Chỉ thị số 03/2008/CT-BTTTT ngày 6/5/2008 của Bộ trưởng Bộ Thông tin và Truyền thông về việc thúc đẩy sử dụng địa chỉ Internet thế hệ mới IPv6.
Quyết định số 848/1997/QĐ-BNV(A11) ngày 23/10/1997 của Bộ trưởng Bộ Nội vụ quy định về biện pháp và trang thiết bị kiểm tra, kiểm soát đảm bảo an ninh quốc gia trong hoạt động Internet ở Việt Nam.
== An ninh mạng ==
Theo khảo sát của hãng an ninh máy tính McAfee, .vn là tên miền quốc gia cấp cao nhất nguy hiểm nhất trong năm 2010 vì việc đăng ký tên miền dễ dàng, giá rẻ và nguy cơ bị bắt rất thấp. Các nhà nghiên cứu của McAfee đã tìm thấy 58% tên miền.vn bị đánh giá là "nguy hiểm". Điều này hết sức bất ngờ vì một năm trước đó, năm 2009, mức độ nguy hiểm của tên miền.vn chỉ có 0,9% và đứng thứ 39 trên thế giới, mà đến năm 2010 đã nhảy vọt lên 29,4%.
Năm 2011 đã có đã có hàng nghìn website của Việt Nam bị tấn công và cũng ghi nhận 64,2 triệu lượt máy tính ở Việt Nam bị nhiễm độc virus máy tính, 38.961 dòng virus xuất hiện mới. Theo tin hãng bảo mật Symantec, số lượng máy chủ, hosting độc hại của Việt Nam nhiều thứ 11 trên thế giới
Vào đầu tháng 2 năm 2012, một nhóm hacker tự xưng là LulzSec của Việt Nam đã tấn công hệ thống diễn đàn vào công ty an ninh mạng BKAV để trả thù việc một "hacker trong sạch" đã xâm nhập vào hệ thống BKAV trước đó nhưng chỉ lại một tập tin có nội dung là "hacked:))" trên trang con của BKAV là webscan.vn.
Xu hướng gần đây của các nhóm hacker Việt Nam là mượn danh các nhóm hacker tên tuổi của nước ngoài như "Anonymous" và "LulzSec" để tạo thanh thế cho riêng mình. Hơn nữa, trên trang blog của nhóm "Anonymous Việt Nam" đã kêu gọi tấn công vào các trang web tại Việt Nam vì thể hiện tinh thần "chính nghĩa" của mình.
== Tin học hóa xã hội ==
=== Giáo dục và Đào tạo ===
Theo chỉ thị số 58-CT/TW ban hành ngày 17/10/2000 của Bộ Chính trị đã nêu: "Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin trong công tác giáo dục và đào tạo ở các cấp học, bậc học, ngành học. Phát triển các hình thức đào tạo từ xa phục vụ cho nhu cầu học tập của toàn xã hội. Đặc biệt tập trung phát triển mạng máy tính phục vụ cho giáo dục và đào tạo, kết nối Internet tới tất cả các cơ sở giáo dục và đào tạo".
Bộ Giáo dục và Đào tạo cũng đã đề ra các điều khoản triển khai chương trình đào tạo trực tuyến (E-Learning) trên Internet ở quy mô trường học như là một phần của công tác triển khai công nghệ thông tin năm học 2008-2009.
Tại Việt Nam hiện nay, Internet đang ngày càng đóng vai trò chủ chốt trong lĩnh vực giáo dục và đào tạo. Việc áp dụng Internet vào lĩnh vực này đã thúc đẩy một bước tiến lớn mạnh mẽ mang tri thức phổ cập đến công dân trong xã hội. Theo khảo sát, Việt Nam đã có gần 9.000 trường học ở các bậc học khác nhau trên cả nước được VNPT hỗ trợ kết nối Internet nếu tính đến thời điểm năm 2009.
=== Chính phủ điện tử ===
Chính phủ Việt Nam từ lâu đã mong tiến dần đến chính phủ điện tử và nối mạng liên kết các hoạt động hành chính nhà nước. Tuy nhiên, sau sự thất bại của Đề án 112 (Đề án Tin học hóa hành chính nhà nước) năm 2006, tiến trình này đã chậm lại.
== Văn hóa Internet ==
Tại Việt Nam, văn hóa người dùng Internet đang gặp nhiều thách thức khi các vấn đề spam, quảng cáo và nói tục, tung tin đồn nhảm trên các diễn đàn, blog và mạng xã hội kèm theo việc a dua, "ném đá hội đồng" vẫn đang là vấn đề lớn với xã hội cũng như các nhà quản lý. Tránh các vấn đề xã hội, chính trị bị kiểm duyệt gắt nên các trang web thường "câu khách truy cập" bằng cách tạo tin đồn, tung tin scandal, đôi khi bôi nhọ hay tin đồn nhảm nặc danh về những người của công chúng để thu hút người ham vui hay tò mò, "người ta có thể thoải mái tung tin, bởi chẳng cần phải "có lửa thì mới có khói" mà người ta làm luôn cả việc "đốt lửa cho có khói" để tung hỏa mù"" và "chính những chuyện đồn thổi vỉa hè hay những pha lộ hàng, tung ảnh nóng đang dẫn showbiz Việt đi vào quỹ đạo "lá cải" một cách ngoạn mục" và không quan tâm đến thiệt hại cho người khác. Ngoài ra còn tìm kiếm sex, khiêu dâm và tung ảnh nóng, phim đen (nhất là quay và phát tán phim cá nhân làm hại nạn nhân, như trường hợp phim đen cá nhân của Yến Vy và Hoàng Thùy Linh) và vi phạm bản quyền khi lưu chuyền qua mạng những tài sản sở hữu trí tuệ trái phép.
Việc "ném đá hội đồng" được nhận định là sự phản đối một cách gay gắt về một quan điểm của một cá nhân, tập thể nào đó mà trái ngược với góc nhìn nhận của đa số lớn hơn trên Internet thông qua hình thức đăng tải bình luận. Hình thức này có thể bị đẩy lên cao trào khi có sự trợ giúp của các thành viên hoặc người dùng quá khích, khi dùng những lời lẽ "cay độc" để chỉ trích thậm tệ các cá nhân, tập thể khác có ý kiến khác với mình hoặc về một quan điểm, cách thức giải quyết hoạt động của vấn đề nào đó, và có thể kích thích, kêu gọi đám đông hưởng ứng và tạo thành phong trào a dua, hùa theo. Một ví dụ cụ thể đó là sự việc anh chàng có nickname "Kẹo Mút Chơi Bời" đã đăng tải một đoạn thông tin trên trang Facebook của mình về vụ việc gây tai nạn chết người. Ngay sau đó, "Kẹo Mút Chơi Bời" đã bị cộng đồng "ném đá" thậm chí nhiều người hăm họa tính mạng.
== Các câu nói sự ra đời của Internet tại Việt Nam ==
Vào năm 1999, trong chuyến gặp gỡ em trai tổng thống Mỹ G.Bush là Thống đốc Bang Florida Jeb Bush, Nguyên Thứ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ Chu Hảo đã có câu nói ấn tượng "Cờ Việt Nam hiện lên trong phòng Thống đốc bang Florida, Mỹ" với tâm trạng "hân hoan và tràn đầy tự hào".
Nguyên Thứ trưởng Bộ Bưu chính Viễn thông Mai Liêm Trực: "Báo điện tử ra đời làm tôi vững tin vào việc mở cửa Internet hơn".
"Đối với người dân Việt Nam thì Internet không phải là mạng toàn cầu (world wide web) mà là chờ đợi toàn cầu (world wide wait)" được nói bởi ông Jordan Ryans để chỉ đến sự chậm chạp về chất lượng và dịch vụ Internet Việt Nam vào năm 2003.
== Các nhân vật có tầm ảnh hưởng đến sự phát triển Internet tại Việt Nam ==
Vào ngày 28/11/2007, báo Bưu điện Việt Nam cùng Câu lạc bộ Nhà báo Công nghệ thông tin Việt Nam bình chọn, công bố 10 nhân vật có ảnh hướng lớn và sâu sắc đến sự phát triển Internet ở Việt Nam như sau:
Mai Liêm Trực, nguyên tổng cục trưởng Tổng cục Bưu điện.
Trần Bá Thái, Giám đốc Công ty NetNam.
Vũ Hoàng Liên, Giám đốc Công ty Điện toán và truyền số liệu VDC.
Đặng Hữu, nguyên trưởng ban chỉ đạo công nghệ thông tin của cơ quan Đảng Cộng sản Việt Nam.
Chu Hảo, nguyên thứ trưởng Bộ Khoa học công nghệ.
Nguyễn Quang A, nguyên chủ tịch Hội Tin học Việt Nam.
Trương Gia Bình, Chủ tịch Hội đồng quản trị, Tổng giám đốc tập đoàn FPT.
Đỗ Trung Tá, nguyên bộ trưởng Bưu chính viễn thông, nay là Bộ Thông tin và Truyền thông.
Trương Đình Anh, Tổng giám đốc Công ty Cổ phần viễn thông FPT (FPT Telecom).
Nguyễn Khánh, nguyên phó thủ tướng.
== Chú thích ==
== Xem thêm ==
Tên miền Việt Nam
Trang web
Công nghệ thông tin
Bộ Thông tin và Truyền thông (Việt Nam)
Nhà cung cấp dịch vụ Internet
Tên miền tiếng Việt
Giáo dục trực tuyến
Chính phủ điện tử
== Liên kết ngoài ==
Cập nhật tốc độ đường truyền VN, theo netindex |
jimmy carter.txt | James Earl "Jimmy" Carter, Jr (sinh ngày 1 tháng 10 năm 1924) là chính khách, và là Tổng thống thứ 39 của Hiệp Chúng Quốc Hoa Kỳ (1977–1981), cũng là quán quân Giải Nobel Hòa bình năm 2002. Trước đó ông là thống đốc thứ 76 của Tiểu bang Georgia (1971-1975). Năm 1976, Carter giành được sự đề cử của Đảng Dân chủ, được xem là "ngựa ô" trong cuộc đua, rồi vượt qua Tổng thống đương nhiệm Gerald Ford với chiến thắng sít sao trong cuộc bầu cử tổng thống năm 1976.
Nhiệm kỳ tổng thống của Carter đánh dấu với sự suy thoái sau khi nước Mỹ gánh chịu những vết thương nhức nhối như Chiến tranh Việt Nam, cùng với sự trì trệ kinh tế trong nước. Với vụ khủng hoảng con tin tại Iran, và sự kiện quân đội Liên Xô tiến chiếm Afghanistan năm 1979, Hoa Kỳ chứng kiến ảnh hưởng của mình đang bị suy giảm trên trường quốc tế. Lạm phát và lãi suất lên đến đỉnh điểm kể từ Chiến tranh thế giới thứ hai, khi chính phủ cho đóng băng giá dầu nội địa hầu đối phó với việc tăng giá dầu từ OPEC; các chỉ số lạm phát và thất nghiệp tăng 50% trong bốn năm.
Trong số các thành tựu chính phủ Carter đạt được cần kể đến Thoả ước Kênh đào Panama, Hòa ước Trại David, Hiệp ước SALT II với Liên Xô, và việc thiết lập bang giao đầy đủ với Trung Quốc. Bên cạnh đó, Carter tích cực tranh đấu cho nhân quyền trên quy mô toàn cầu và xem nhân quyền là tâm điểm cho chính sách đối ngoại của chính phủ ông. Carter theo đuổi chính sách khuyến khích các nước khác tuân theo những tiêu chuẩn đạo đức khả dĩ cao nhất, là chuẩn mực đạo đức mà ông tin rằng người dân Mỹ cũng muốn tuân thủ.
Nhưng Carter thất bại trong nỗ lực cải cách thuế, và thu hẹp bộ máy hành chánh của chính quyền, như ông đã hứa khi ra tranh cử năm 1976. Carter cũng không thể thông qua đạo luật thiết lập ngày quốc lễ kỷ niệm Martin Luther King, Jr., dù Đảng Dân chủ của ông đang nắm quyền kiểm soát tại lưỡng viện Quốc hội lẫn Tòa Bạch Ốc. Nhiệm kỳ này của Tổng thống Carter chứng kiến sự ra đời của hai bộ năng lượng và giáo dục, cũng như sự thông qua các đạo luật bảo vệ môi trường. Ông thiết lập chính sách năng lượng quốc gia, và củng cố các cơ quan chính quyền, ban hành những đạo luật ủng hộ mạnh mẽ chủ trương bảo vệ môi trường; điều chỉnh các quy định về vận tải đường bộ, hàng không, hoả xa, tài chính, truyền thông và công nghiệp dầu mỏ cũng như hỗ trợ hệ thống an sinh xã hội; ông lập kỷ lục trong việc bổ nhiệm phụ nữ và các nhân vật thuộc chủng tộc thiểu số vào các vị trí hành pháp và tư pháp.
Những người chỉ trích xem sự kiện khủng hoảng con tin tại Iran là đòn chí tử đánh vào lòng tự hào dân tộc; Carter đã phải liên tục tranh đấu trong 444 ngày tìm kiếm sự phóng thích cho các con tin. Sự thất bại trong nỗ lực giải thoát con tin dẫn đến sự từ chức của Bộ trưởng Ngoại giao Cyrus Vance. Các con tin chỉ được trả tự do sau khi Carter rời bỏ chức vụ, năm phút sau lễ nhậm chức của Ronald Reagan.
Tuy nhiên, sau khi rời Tòa Bạch Ốc, Carter nhận được nhiều sự kính trọng trong vai trò trung gian hòa giải và kiến tạo hòa bình trên chính trường quốc tế. Ông cũng hành động tích cực với cương vị một cựu tổng thống Hoa kỳ trong nỗ lực phát triển các hoạt động từ thiện. Ông đi đến nhiều nơi trên thế giới để quan sát các cuộc bầu cử, xúc tiến những vòng đàm phán cho hòa bình, và thiết lập nhiều đề án cứu trợ. Năm 1982, ông thành lập Trung tâm Carter như là một diễn đàn cho các vấn đề liên quan đến dân chủ và nhân quyền. Năm 2002, Carter được trao tặng Giải Nobel Hòa bình cho "những nỗ lực của ông nhằm tìm kiếm các giải pháp hòa bình cho các cuộc xung đột quốc tế, nhằm thăng tiến dân chủ và nhân quyền, và thúc đẩy sự phát triển kinh tế và xã hội".
Carter tiếp tục duy trì sự hợp tác tích cực và lâu dài với Tổ chức Hỗ trợ Gia cư (Habitat for Humanity), một tổ chức từ thiện Cơ Đốc với mục tiêu xây dựng nhà ở cho người nghèo.
Carter viết nhiều, ông là tác giả của 28 cuốn sách. Đến năm 2008, ông là tổng thống cố cựu nhất hiện còn sống, và đứng thứ hai trong số các tổng thống có tuổi thọ cao nhất vẫn còn sống.
== Thời thơ ấu ==
Sinh ra là anh cả trong gia đình bốn con của James Earl Carter và Bessie Lillian Gordy tại Plains, một thị trấn thuộc vùng tây nam tiểu bang Georgia, Carter là tổng thống Mỹ đầu tiên chào đời trong bệnh viện. Cậu bé Carter chứng tỏ mình là một học sinh giỏi ngay từ khi còn rất bé. Cậu luôn ham thích đọc sách. Khi còn là một học sinh trung học, Carter chịu ảnh hưởng bởi một trong các giáo viên ở đây.
Em trai của ông, Billy Carter (1937-1988) gây ra một số rắc rối khi ông còn đương chức, trong khi người em gái chẳng có gì nổi bật ngoại trừ thú vui sưu tầm và chạy xe mô tô Harley Davidson. Nhưng cô em út, Gloria Carter Spann (1929-1983), là một nhà truyền bá phúc âm nổi tiếng.
Carter theo học tại Đại học Tây Nam Georgia, Học viện Kỹ thuật Georgia, và nghiên cứu vật lý hạt nhân tại Đại học Union. Năm 1946, Carter nhận văn bằng cử nhân khoa học tại Học viện Hải quân Hoa Kỳ, Carter tốt nghiệp học viện hải quân với thứ hạng 59 trong tổng số 820 học viên cùng khoá.
Carter phục vụ tại các tiềm thuỷ đỉnh thuộc Hạm đội Thái Bình Dương và Hạm đội Đại Tây Dương. Về sau, ông được Đô đốc Hyman G. Rickover tuyển chọn vào chương trình tiềm thuỷ đỉnh hạt nhân của hải quân, tại đây ông phục vụ trong cương vị một kỹ sư hạt nhân. Rickover là một sĩ quan nghiêm khắc, tạo lập nhiều ảnh hưởng trên Carter. Về sau, Carter nói rằng, sau cha mẹ ông, Rickover là người ông chịu ảnh hưởng nhiều nhất.
Yêu binh chủng hải quân, nhưng sau khi cha qua đời, Trung úy Carter xin giải ngũ; ngày 9 tháng 10 năm 1953, Carter rời quân ngũ trở về thị trấn quê hương và thành lập trang trại.
Từ khi còn trẻ tuổi, Carter đã là một tín hữu Cơ Đốc sùng tín, ông phục vụ hội thánh trong cương vị một giáo viên Trường Chúa Nhật suốt cuộc đời chính trị của ông. Ngay cả khi trở thành tổng thống, Carter vẫn dành thời gian vài lần trong ngày để cầu nguyện, và xưng nhận rằng Chúa Giê-xu Cơ Đốc là động lực chủ đạo trong cuộc đời ông.
Carter kết hôn với Rosalynn Smith. Dù đã biết nhau từ trước, hai người có cuộc hẹn lần đầu vào năm 1945, khi Jimmy gia nhập hải quân tại Annapolis. Ngày 7 tháng 7 năm 1946, Jimmy và Rosalynn tổ chức hôn lễ tại Plains, thị trấn quê hương của cả hai.
Rosalynn sinh cho ông ba người con trai, John William (sinh năm 1947); James Earl III (1950), Donnel Jeffrey (1952), và sau này, một cô con gái Amy Lynn (1967).
Rosalynn hoạt động tích cực trong các cuộc vận động tranh cử tổng thống năm 1976 và 1980. Sau khi vào Tòa Bạch Ốc, Rosalynn trở thành cố vấn thân cận và tín cẩn nhất của tổng thống. Bà thường xuyên có mặt trong các buổi họp nội các, và là Đệ nhất Phu nhân đầu tiên mang theo cặp khi đến làm việc tại văn phòng của bà trong Tòa Bạch Ốc.
== Chính trường ==
Carter bắt đầu sự nghiệp chính trị của mình bằng cách tham gia ban quản trị của trường học, bệnh viện và thư viện tại thị trấn Plains. Trong thập niên 1960, ông phục vụ hai nhiệm kỳ tại thượng viện tiểu bang Georgia.
Năm 1970, Carter đắc cử thống đốc tiểu bang Georgia. Trong bài diễn văn nhậm chức, Carter gây kinh ngạc trong tiểu bang và thu hút sự chú ý toàn quốc khi tuyên bố rằng thời kỳ phân biệt chủng tộc đã qua rồi, và tinh thần kỳ thị không còn chỗ đứng trong tương lai của tiểu bang Georgia. Ông là viên chức cấp tiểu bang đầu tiên tại khu vực "Cực Nam" (Deep South) công khai bày tỏ quan điểm này. (Chỉ chưa đầy 15 năm trước, một phát biểu tương tự đồng nghĩa với sự kết thúc một sự nghiệp chính trị như trường hợp của thị trưởng Atlanta, Ivan Allen, Jr., người đã ra làm chứng trước Quốc hội ủng hộ Đạo luật Quyền bầu cử), vì vậy chiến thắng của Carter thu hút sự chú ý của công luận vì được xem là một chỉ dấu của sự thay đổi. Sau đó, ông bổ nhiệm nhiều người da đen vào các vị trí công quyền trên khắp tiểu bang, ông còn cho treo ảnh Martin Luther King, Jr. tại Tòa nhà Tiểu bang như là dấu hiệu của sự khởi đầu từ bỏ quá khứ kỳ thị chủng tộc ở miền Nam Hoa Kỳ. Carter đảm nhiệm chức vụ thống đốc tiểu bang Georgia từ năm 1971 đến năm 1975.
== Tranh cử Tổng thống năm 1976 ==
Năm 1975, Carter bắt đầu vận động tranh cử tổng thống hầu như ngay sau khi rời chức vụ thống đốc tiểu bang Georgia. Khi tiến vào các cuộc bầu cử sơ bộ để tranh sự đề cử của đảng Dân chủ, nhiều người xem Carter là nhân vật ít có cơ may khi đối đầu với các chính khách tiếng tăm hơn. Tuy vậy, ký ức về vụ tai tiếng Watergate vẫn tồn lưu cách sống động trong tâm trí của cử tri. Được xem là một chính trị gia ngoại vi và xa cách trung tâm quyền lực Washington, D.C., Carter trở thành một tài sản quý hiếm. Tâm điểm của diễn đàn tranh cử của ông là kêu gọi tái tổ chức bộ máy chính quyền.
Carter, "chú ngựa ô" có ít cơ may nhất, lại thành công trong nỗ lực trở thành ứng viên dẫn đầu trong các cuộc bầu cử sơ bộ ở tiểu bang Iowa và tiểu bang New Hampshire. Carter sử dụng chiến thuật hai mũi tấn công. Ở miền Nam, ông chọn cách nhượng bộ chiến thuật cho George Wallace, trong khi vận động cử tri với hình ảnh của một người con được yêu mến của địa phương. Khi Wallace đã tiêu hao sức lực, ông tiến lên càn quét toàn vùng. Ở miền Bắc, Carter nhận được sự ủng hộ của các tín hữu Cơ Đốc bảo thủ và cử tri nông thôn, nhưng lại có ít cơ may chiếm được đa số phiếu ở hầu hết các tiểu bang. Trong vùng đông dân có nhiều người theo khuynh hướng tự do, ông tìm cách xây dựng những khu vực riêng lẻ có quy mô lớn nhất hầu có thể chiến thắng trong vài tiểu bang. Lúc đầu, nhiều người xem Carter là một ứng viên chỉ có khả năng vận động ở quy mô khu vực, nhưng sau cùng ông đã chứng tỏ mình là ứng cử viên đảng Dân chủ duy nhất có thể kiến tạo một sách lược toàn quốc, dần dần Carter có trong tay sự đề cử của Đảng Dân chủ Hoa Kỳ.
Trong cuộc tổng tuyển cử, Carter khởi đầu với sự cách biệt lớn so với Tổng thống Gerald Ford đang lẽo đẽo theo sau, nhưng qua các cuộc thăm dò Ford dần dần thu ngắn khoảng cách, do công luận bắt đầu tỏ vẻ nghi ngờ về năng lực của ứng viên ít được biết tiếng này. Nhưng Carter kiên trì tiến bước và cuối cùng đã đánh bại Ford với kết quả sít sao trong ngày bầu cử tổ chức trong tháng 11 năm 1976, nhận được 50,1% số phiếu phổ thông, trở thành một trong hai ứng viên tổng thống Đảng Dân chủ giành được đa số phiếu phổ thông kể từ năm 1944 khi Franklin Delano Roosevelt đắc cử tổng thống.
Tâm điểm của chiến dịch tranh cử của Carter là kế hoạch cải tổ chính quyền. Ông là ứng cử viên đầu tiên đến từ vùng "Cực Nam" đắc cử tổng thống kể từ Thời kỳ Tái thiết.
Trong diễn từ nhậm chức, ông nói, "Chúng ta đã biết rằng chất lượng quý hơn số lượng, và đất nước vĩ đại này cũng cần nhận ra những giới hạn của nó, để biết rằng chúng ta không thể giải đáp mọi câu hỏi, cũng không thể giải quyết hết mọi vấn đề." Hành động đầu tiên của Carter khi vào Tòa Bạch Ốc là ra lệnh cắt giảm một nửa số nhân viên ở đây, và yêu cầu các thành viên nội các sử dụng xe riêng khi làm việc.
== Tòa Bạch ốc ==
=== Chính sách ===
Chính sách đối ngoại của chính quyền Carter được nhớ đến nhiều nhất với vụ khủng hoảng con tin tại Iran, Hiệp ước Hòa bình Trại David giữa Israel và Ai Cập, Hiệp ước SALT II giữa Hoa Kỳ và Liên Xô, Hiệp ước Kênh đào Panama, theo đó con kênh được bàn giao cho Panama, thiết lập quan hệ ngoại giao đầy đủ với Trung Quốc sau những nỗ lực mở đường của Richard Nixon, ấn định nhân quyền là tâm điểm của chính sách đối ngoại, và cuối cùng là cuộc khủng hoảng năng lượng. Trong các vấn đề quốc nội, Carter ít thành công hơn, ông tỏ ra đối nghịch với chính đảng của ông và với các đối thủ qua cung cách hành xử được xem là thái độ bất hợp tác với quốc hội – tương tự như khi ông còn là thống đốc. Dù vậy, Carter đã thành công trong việc điều chỉnh một vài ngành công nghiệp, củng cố các cơ quan chính quyền, thiết lập chính sách năng lượng quốc gia và thành lập Bộ Năng lượng và Giáo dục, hỗ trợ hệ thống an sinh xã hội, bổ nhiệm con số kỷ lục phụ nữ và những người thuộc các dân tộc thiểu số vào chính quyền và ngành tư pháp, ban hành các đạo luật mạnh mẽ ủng hộ việc bảo vệ môi trường và mở rộng gấp đôi Cơ quan Quản lý Công viên Quốc gia.
Khi thị trường năng lượng bùng nổ, điều mà Carter làm mọi cách để không xảy ra, ông tính đến việc xuất hiện trước công chúng với bài diễn văn quan trọng thứ năm về năng lượng. Dù vậy, ông cảm thấy người dân Mỹ không còn muốn lắng nghe. Thay vào đó, Carter đến Trại David, suốt trong mười ngày gặp gỡ các thống đốc, thị trưởng, lãnh tụ tôn giáo, nhà khoa học, kinh tế gia và đại diện cử tri. Ông ngồi trên sàn nhà và ghi lại tất cả lời nhận xét của họ, đặc biệt là những lời chỉ trích. Những chuyên gia thăm dò dư luận nói với ông rằng người dân Mỹ đang đối diện với một cuộc khủng hoảng niềm tin khởi phát từ vụ ám sát John F. Kennedy, Chiến tranh Việt Nam, và vụ tai tiếng Watergate. Phó Tổng thống của ông, Walter Mondale, tỏ ý bất đồng và nói rằng luôn có những câu giải đáp đúng đắn cho những vấn nạn thật; và không nên triết lý hoá chúng. Ngày 15 tháng 7 năm 1979, Carter đọc bài diễn văn truyền hình toàn quốc, trong đó ông nhận diện điều mà ông tin là "cuộc khủng hoảng niềm tin" của người dân Mỹ. Được biết đến như là bài "diễn văn phiền muộn", ngay cả khi ông không hề dùng đến từ "phiền muộn" trong nội dung của nó:
Bài diễn văn của Carter, soạn bởi Chris Matthews, được đón nhận rộng rãi, dù một số người cho rằng nó trông giống một bài thuyết giáo. Song, đất nước đang gồng gánh một nền kinh tế suy yếu do lạm phát hai con số bởi giá dầu của OPEC, nhiều công dân tỏ ra thất vọng vì tổng thống không đưa ra nổi giải pháp cụ thể nào. Hai ngày sau khi đọc diễn văn, Carter yêu cầu toàn thể nội các từ chức để rồi chấp thuận sự từ chức của năm người. Về sau ông thú nhận rằng lẽ ra ông chỉ nên yêu cầu năm người này từ chức, sự kiện cả nội các từ chức ngụ ý một sự phân hoá trong Tòa Bạch Ốc. Do không có nỗ lực cụ thể nào giúp đưa đất nước thoát khỏi cuộc khủng hoảng, uy tín của Carter càng sút giảm trong các cuộc thăm dò.
Ngày 1 tháng 10 năm 1979, Tổng thống Carter tuyên bố thành lập Lực lượng Triển khai Nhanh (Rapid Deployment Forces - RDF), đơn vị quân đội có khả năng đáp trả nhanh được dùng để điều chuyển đến những địa điểm có rắc rối trên toàn cầu mà không cần phải điều động các đơn vị của NATO. RDF là tiền thân của CENTCOM (United States Central Command - Bộ Chỉ huy Trung ương Hoa Kỳ, đơn vị chỉ huy phối hợp chiến đấu của Quân lực Hoa Kỳ, đặt dưới quyền chỉ huy hành quân của Bộ trưởng Quốc phòng).
Trong số các tổng thống phục vụ ít nhất một nhiệm kỳ, Carter là tổng thống duy nhất chưa bao giờ bổ nhiệm thẩm phán cho Tối cao Pháp viện.
=== Đối nội ===
Ngay trong ngày nhậm chức, 20 tháng 1 năm 1977, Carter thực hiện lời hứa khi vận động tranh cử bằng cách ban hành sắc lệnh tuyên bố ân xá cho những thanh niên trốn nghĩa vụ quân sự trong Chiến tranh Việt Nam.
Nền kinh tế đang gánh chịu lạm phát hai con số, lại thêm lãi suất rất cao, thiếu hụt dầu mỏ, thất nghiệp cao và tăng trưởng kinh tế chậm. Xem ra, Carter chẳng làm được gì để cải thiện tình hình trong khi các chỉ số vạch ra rằng nền kinh tế đang trên đà suy thoái, và Carter phải chịu trách nhiệm về tình trạng này. Ông thuyết phục Quốc hội cho phép nâng Bộ Năng lượng lên cấp nội các. Sau những nỗ lực khuyến khích bảo tồn năng lượng, Carter mặc áo lạnh, cho lắp đặt panô năng lượng Mặt Trời trên mái nhà Tòa Bạch Ốc, ra lệnh Ban Dịch vụ khoá đường dẫn nước nóng trong một số khu vực và không cho trang trí thắp sáng trong các ngày lễ trong năm 1979 và 1980. Các tòa nhà thương mại và công thự trên toàn quốc phải lắp đặt nhiệt kế để ngăn cản nhân viên tăng nhiệt độ phòng trong mùa đông và hạ nhiệt độ phòng trong mùa hè.
Chính phủ cũng được cải tổ bằng cách tách Bộ Y tế, Giáo dục và Phúc lợi Hoa Kỳ (HEW) thành Bộ Giáo dục Hoa Kỳ và Bộ Y tế và Dịch vụ Nhân sinh Hoa Kỳ.
Lạm phát đẩy lãi suất đến mức cao chưa từng có (trên 12% mỗi năm), vào thời điểm tháng 12 năm 1980 lên đến mức cao nhất trong lịch sử 21,5%. Sự thay đổi nhanh chóng mức lãi suất làm giảm hiệu suất tín dụng của lượng tiền dự trữ trong ngân hàng, gieo mầm cho cuộc khủng hoảng tín dụng và tiền tiết kiệm. Tiền đầu tư vào các khoản lợi tức cố định (trái phiếu, hưu bổng) ngày càng mất giá, lãi suất cao dẫn đến tình trạng suy thoái kinh tế trong thập niên 1980. Do thị trường cung ứng tiền vay cho chính phủ đang chịu sức ép, Carter bổ nhiệm Paul Volcker làm Chủ tịch Quỹ Dự trữ Liên bang, thay thế William Miller, người được điều chuyển vào chức vụ Bộ trưởng Tài chánh. Volcker áp dụng các biện pháp siết chặt tiền tệ nhằm làm nguội nền kinh tế và hạ giảm lạm phát. Vockler thành công, nhưng với cái giá phải trả là kinh tế tăng trưởng chậm và tỷ lệ thất nghiệp tăng cao.
Tuy nhiên, trong lúc ấy cũng có những điểm sáng như việc Carter ký ban hành luật hỗ trợ hệ thống an sinh xã hội, làm tăng đôi chút tiền thuế lợi tức và cống hiến việc làm trong chính phủ và bộ máy tư pháp cho phụ nữ, người da đen và người nói tiếng Tây Ban Nha. Carter ban hành luật bảo vệ môi trường. Đạo luật Alaska National Interest Lands Conservation do ông ký ban hành giúp thành lập công viên quốc gia rộng 103 triệu acre (417.000 km²) ở Alaska. Ông cũng thành công trong việc điều chỉnh các ngành công nghiệp vận tải, hoả xa, hàng không, truyền thông, dầu khí và tài chính.
=== Đối ngoại ===
==== Nhân quyền ====
Trong lĩnh vực đối ngoại, Tổng thống Carter bắt đầu tách rời khỏi chính sách được theo đuổi lâu nay với chủ trương kiềm chế Liên Xô. Thay vào đó là sách lược ngoại giao với ưu tiên hàng đầu là nhân quyền. Đây là sự khác biệt lớn so với lập trường của những tổng thống tiền nhiệm, theo đó các vi phạm nhân quyền sẽ được xem nhẹ nếu chúng xảy ra tại những nước đồng minh của Hoa Kỳ. Tại Nicaragua, chính phủ Carter ngưng ủng hộ nhà độc tài Somoza và chi hàng triệu đô la viện trợ chính phủ Sandinista lên cầm quyền sau một cuộc cách mạng. Những người Sandanista theo chủ nghĩa Marx và đang xây dựng một chế độ chuyên chế, nhưng họ có quan hệ với các phong trào Marxist đang hoạt động ở Honduras và El Salvador. Họ cũng có các mối quan hệ khác (về vũ khí, chính trị và hậu cần) với Cuba, mà Carter quan tâm nhiều đến quyền xã hội và nhân quyền trong mối xung đột lâu dài của Hoa Kỳ với Cuba.
Carter nối tiếp những người tiền nhiệm duy trì lệnh cấm vận đối với Rhodesia, đả kích việc những người Marxitst như Robert Mugabe và Joshua Nkomo bị trục xuất khỏi các cuộc bầu cử. Do áp lực mạnh từ Hoa Kỳ và Anh mà các cuộc tuyển cử mới được tiến hành ở đất nước lúc ấy được gọi là Zimbabwe Rhodesia. Carter nổi tiếng vì những chỉ trích của ông dành cho Alfredo Stroessner, Augusto Pinochet, chính quyền phân biệt chủng tộc ở Nam Phi và những đồng minh truyền thống khác của Hoa Kỳ.
==== Trung Quốc ====
Carter tiếp tục chính sách của Richard Nixon bình thường hoá bang giao, thiết lập quan hệ ngoại giao và thương mại với Trung Quốc, do đó chấm dứt bang giao chính thức với Trung hoa Dân quốc (dù hai nước vẫn duy trì quan hệ thương mại và Hoa Kỳ vẫn chính thức công nhận Đài Loan qua Đạo luật Quan hệ Đài Loan).
==== Hiệp ước Kênh đào Panama ====
Carter cũng thành công trong nỗ lực thuyết phục Thượng viện phê chuẩn Hiệp ước Kênh đào Panama nhằm chuyển giao kênh đào cho Panama. Tuy nhiên, việc đàm phán và ký kết Hiệp ước Kênh đào Panama vào tháng 9 năm 1977 là một trong những sự kiện gây tranh cãi nhiều nhất trong nhiệm kỳ tổng thống của Jimmy Carter. Hiệp ước này gặp sự chống đối mạnh mẽ từ công luận Mỹ và từ Đảng Cộng hòa. Lý do chính được viện dẫn là Hoa Kỳ đang chuyển giao một tài sản có giá trị chiến lược lớn cho chính phủ thối nát dưới quyền lãnh đạo của nhà độc tài Omar Torrijos. Còn những người ủng hộ hiệp ước lập luận rằng kênh đào được xây dựng trên lãnh thổ Panama, tiếp tục kiểm soát kênh đào có nghĩa là Hoa Kỳ đang chiếm đóng lãnh thổ của một quốc gia khác. Như vậy, qua hiệp ước, Hoa Kỳ hoàn tất việc trao trả chủ quyền cho Panama.
==== Hiệp ước Trại David ====
Nhưng thành tựu rực rỡ nhất của Carter trong suốt nhiệm kỳ tổng thống là Hiệp ước Trại David, là hòa ước được ký kết giữa Israel và Ai Cập nhờ những nỗ lực đàm phán của Tổng thống Carter. Carter mời Thủ tướng Israel, Menachem Begin và Tổng thống Ai Cập, Anwar Sadat, đến Trại David để thương thảo. Có lúc Sadat muốn bỏ về, nhưng Carter cho biết Sadat đang làm tổn thương một người bạn và điều này có thể làm hại mối bang giao giữa hai nước, và Sadat đồng ý ở lại. Lúc khác, Begin cương quyết rút lui, Carter ký tặng ảnh và nói chuyện với các cháu của Begin khiến Begin thay đổi quyết định khi nhận ra rằng các cháu của ông và thế hệ kế tiếp của dân tộc Do Thái cần phải sống trong hòa bình. Cho đến nay, hòa bình vẫn được duy trì giữa Israel và Ai Cập.
==== Đàm phán Hạn chế Vũ khí Chiến lược ====
Một vấn đề ngoại giao quan trọng khác thu hút nhiều quan tâm của Carter là Hiệp ước SALT II (Strategic Arms Limitations Talks – Đàm phán Hạn chế Vũ khí Chiến lược) là một chuỗi những thương thảo giữa Hoa Kỳ và Liên Xô. Những nỗ lực từ Gerald Ford và Richard Nixon giúp hình thành hiệp ước SALT I, nhưng Carter muốn tiến xa hơn trong lộ trình cắt giảm vũ khí hạt nhân. Ấy là mục tiêu chính của ông, như được trình bày trong bài diễn văn nhậm chức, các loại vũ khí hạt nhân cần phải biến mất khỏi mặt đất. Carter và Leonid Brezhnev, lãnh tụ Liên Xô, đã đạt được thoả ước và tổ chức lễ ký kết. Tuy nhiên, do Liên Xô chiếm đóng Afghanistan vào cuối năm 1979, hiệp ước này không bao giờ được phê chuẩn, nhưng cả hai bên hứa tôn trọng những cam kết đạt được qua đàm phán.
==== Afghanistan ====
Tháng 12 năm 1979, quân đội Liên Xô tiến vào Afghanistan sau khi chính phủ thân Moskva bị lật đổ. Chính phủ Carter, cùng nhiều chính trị gia thuộc đảng Cộng hòa và Dân chủ, lo ngại Liên Xô đang tìm cách kiểm soát nguồn dầu mỏ Trung Đông. Những người khác cho rằng Liên Xô quan ngại những cuộc nổi dậy Hồi giáo sẽ lan toả từ Iran và Afghanistan đến hàng triệu người Hồi giáo đang sống trong lãnh thổ Liên Xô. Carter công bố Chủ thuyết Carter: Hoa Kỳ không cho phép bất cứ lực lượng bên ngoài nào kiểm soát Vịnh Ba Tư. Carter tuyên bố chấm dứt hợp đồng lúa mì với Nga, văn kiện then chốt theo sáng kiến của Nixon nhằm thiết lập quan hệ mậu dịch với Liên Xô hầu giảm nhẹ những căng thẳng của cuộc Chiến tranh Lạnh. Xuất khẩu mễ cốc là mối lợi lớn cho nhiều người thuộc khu vực nông nghiệp, và lệnh cấm vận của Carter gây khó khăn cho nông gia Mỹ. Ông cũng cấm người Mỹ tham gia Thế vận hội Mùa hè năm 1980 tổ chức ở Moskva, và phục hồi chế độ đăng ký quân dịch. Carter và Zbigniew Brzezinski khởi xướng một chương trình bí mật trị giá 40 tỉ USD huấn luyện người Hồi giáo bảo thủ tại Pakistan và Afghanistan nhắm vào mục tiêu đánh đổ Liên Xô. Những người chỉ trích qui cho Carter và Reagan trách nhiệm tạo ra tình trạng bất ổn của các chính phủ Afghanistan sau này, lót đường cho sự trỗi dậy của các chế độ thần quyền Hồi giáo trong vùng và những vấn đề hiện nay liên quan đến người Hồi giáo bảo thủ. Tuy nhiên, một số sử gia cho rằng sự bất ổn của Afghanistan xuất phát từ những nhân tố kết hợp từ việc chiếm đóng của Liên Xô.
==== Khủng hoảng Con tin tại Iran ====
Sự xung đột giữa nhân quyền và quyền lợi Hoa Kỳ thể hiện trong cung cách xử lý của Carter trong vụ Quốc vương Iran. Kể từ Chiến tranh thế giới thứ hai, nhà vua của Iran (Shah) là đồng minh thân cận của Mỹ, là một trong hai "trụ cột song đôi" là nền tảng cho chính sách chiến lược của Hoa Kỳ ở Trung Đông. Song nhà vua cai trị đất nước cách chuyên chế, năm 1953 dựa vào kế hoạch của chính phủ Eisenhower để lật đổ thủ tướng Mohamed Mossadegh. Dù Carter ca ngợi nhà vua như một nhà lãnh đạo khôn ngoan và tài năng, khi các cuộc nổi dậy chống vương quyền bùng nổ ở Iran, chính phủ Carter đã không can thiệp.
Nhà vua bị phế truất và lưu vong. Nhiều người tin rằng không có sự ủng hộ của Hoa Kỳ là nguyên nhân chính dẫn đến sự sụp đổ của vương triều. Carter chuẩn bị công nhận chính quyền mới tại Iran, nhưng nỗ lực của ông không có kết quả.
Ngày 22 tháng 10 năm 1979, Carter cho phép quốc vương bị phế truất, Mohamed Rezza Pahlavi đến Mỹ để tị nạn chính trị và chữa bệnh; ngày 15 tháng 12, Pahlavi rời Mỹ đến Panama. Phản ứng với việc cho phép Pahlavi vào nước Mỹ, quân dân Iran chiếm giữ đại sứ quán Hoa Kỳ tại Tehran và bắt giữ 52 con tin người Mỹ. Iran yêu cầu (1) giao trả nhà vua về Iran để chịu xét xử, (2) hoàn trả tài sản của nhà vua cho nhân dân Iran, (3) thừa nhận lỗi lầm của Hoa Kỳ tại Iran trong quá khứ và đưa ra lời xin lỗi, (4) cam kết sẽ không can thiệp vào Iran. Mặc dù nhà vua rời Hoa Kỳ và qua đời ở Ai Cập, cuộc khủng hoảng con tin tiếp tục kéo dài và ảnh hưởng sâu sắc đến năm cuối cùng của nhiệm kỳ tổng thống, ngay cả sau khi một nửa số con tin được phóng thích. Các phản ứng đối với cuộc khủng hoảng, từ "chiến lược Vườn Hồng" đến nỗ lực bất thành nhằm giải thoát con tin được xem là những nhân tố góp phần vào sự thất bại của Carter trong cuộc bầu cử năm 1980.
== Bầu cử năm 1980 ==
Carter rời Tòa Bạch Ốc sau chiến thắng vang dội của Ronald Reagan trong cuộc tuyển cử năm 1980. Reagan giành được xấp xỉ 51% phiếu phổ thông, trong khi Carter chỉ có 41%, nhưng vì sự ủng hộ của cử tri dành cho Carter không tập trung vào các khu vực địa dư, Reagan chiếm được 91% phiếu của cử tri đoàn, chỉ để lại cho Carter vỏn vẹn sáu tiểu bang và Đặc khu Columbia. Ứng cử viên độc lập John Bayard Anderson thu hút phiếu của cử tri có khuynh hướng tự do bất bình với chính sách của Carter, tuy chỉ được 7% phiếu nhưng gây khó khăn cho Carter ở những bang có truyền thống ủng hộ Đảng Dân chủ như tiểu bang New York, Wisconsin và Massachusetts.
Cảm giác chung của công luận là việc chính phủ Carter đã không giải quyết hiệu quả cuộc khủng hoảng con tin ở Iran góp phần vào thất bại của ông trong cuộc bầu cử tổng thống. Mặc dù nhóm thương thuyết đã đàm phán thành công với những người bắt giữ con tin, bản thoả thuận chỉ được ký vào ngày 19 tháng 1 năm 1981, sau khi Ronald Reagan đắc cử. Các con tin được trả tự do năm phút sau lễ nhậm chức tổng thống sau 444 ngày bị cầm giữ. Reagan đã yêu cầu Carter đến Đức để chào đón các con tin.
=== Chính phủ ===
== Sau khi rời Tòa Bạch Ốc ==
Từ khi rời Tòa Bạch Ốc, Carter trở về sống trong nông trang ở Georgia, để biết mình đang mắc một khoản nợ lên đến một triệu USD, do đã tin cậy những người được ủy thác quản lý tài sản trong thời gian ông tại chức - nhằm mục đích tránh tình trạng xung đột lợi ích khi ông đang phục vụ đất nước trong cương vị tổng thống. Carter tập trung viết sách để trả nợ, tất cả 23 cuốn sách của ông đều được công luận đón nhận rộng rãi, trong số đó có vài quyển là sách bán chạy nhất. Đồng thời, ông cũng dành thì giờ để thành lập Trung tâm Carter và xây dựng thư viện tổng thống
Trong lịch sử nước Mỹ, cựu Tổng thống Jimmy Carter và cựu Phó Tổng thống Walter Mondale là những người từng đứng chung liên danh còn sống lâu nhất sau khi rời chức vụ. Đến ngày 23 tháng 5 năm 2006, Carter và Mondale đã rời nhiệm sở 25 năm và 123 ngày, vượt qua kỷ lục của Tổng thống John Adams và Phó Tổng thống Thomas Jefferson. Adams và Jefferson qua đời trong cùng một ngày – 4 tháng 7 năm 1826.
=== Ngoại giao ===
Năm 1994, Carter đến Bắc Triều Tiên theo yêu cầu của Tổng thống Clinton, khi cuộc khủng hoảng Bán đảo Triều Tiên đang nóng dần do Bắc Triều Tiên trục xuất nhóm thanh tra của Cơ quan Năng lượng Nguyên tử Quốc tế và doạ sẽ bắt đầu xử lý nhiên liệu hạt nhân đã qua sử dụng. Cuộc hội kiến giữa Carter và Kim Il Sung dẫn đến việc ký kết bản thoả hiệp khung, theo đó Bắc Triều Tiên đồng ý ngưng xử lý nhiên liệu hạt nhân đổi lấy việc bình thường hoá bang giao với Mỹ, được nhập dầu và hai lò phản ứng nước nhẹ để thay thế lò graphite của họ. Nhưng Bắc Triều Tiên đã không tuân thủ thoả ước và tìm cách che giấu những vi phạm của họ.
Dù công luận khen ngợi bản thoả ước khung do Jimmy Carter thương thảo như là một thành quả ngoại giao, Bắc Triều Tiên không có ý định chấm dứt chương trình chế tạo vũ khí hạt nhân. Năm 2005, Bắc Triều Tiên tuyên bố đã có vũ khí hạt nhân.
Tháng 5 năm 2002, Carter đến thăm Cuba, gặp Fidel Castro và nói chuyện với công chúng Cuba qua hệ thống truyền hình quốc gia, ông viết và đọc bài diễn văn bằng tiếng Tây Ban Nha. Sự kiện này biến Carter thành tổng thống đầu tiên của Hoa Kỳ, đương nhiệm hoặc mãn nhiệm, đến thăm đảo quốc này kể từ cuộc cách mạng năm 1959 mặc dù khi đương nhiệm ông đã không chịu dỡ bỏ lệnh cấm vận.
Tháng 6 năm 2005, Carter kêu gọi đóng cửa nhà tù Vịnh Guantanamo ở Cuba, địa danh đã trở nên tâm điểm của những lời than phiền về những ngược đãi tù nhân.
Không phải mọi nỗ lực của Carter đều có được sự ủng hộ của Washington; người ta thuật lại rằng các tổng thống Clinton, George H. W. Bush và George W. Bush tỏ ra không hài lòng về những hoạt động ngoại giao "tự do" của Carter ở Iraq và những nơi khác. Những người chỉ trích cho rằng những nỗ lực ngoại giao của Carter (lúc đương nhiệm hoặc mãn nhiệm) là chân thật và có thiện ý, nhưng ông thường thiếu hiểu biết về ẩn ý của những nhà lãnh đạo nước ngoài thiếu thiện chí.
Tháng 10 năm 2007, Carter đến thăm Darfur cùng với các nhà lãnh đạo châu Phi, trong đó có Tổng Giám mục Anh giáo Desmond Tutu, nhưng bị lực lượng an ninh Sudan ngăn cản. Điều này dẫn đến những tranh cãi gay gắt giữa cựu tổng thống Mỹ và giới chức an ninh Sudan.
=== Hoạt động nhân đạo ===
Từ sau thất bại trong nỗ lực tái tranh cử, Carter, qua Trung tâm Carter, tham gia tích cực vào các lĩnh vực như chính sách công quốc gia và quốc tế, tìm kiếm giải pháp cho các cuộc tranh chấp, nhân quyền và những hoạt động từ thiện. Ông thành lập Trung tâm Carter ngay sau khi rời Tòa Bạch Ốc, hiện nay cùng với vợ, Rosalynn, đang là đồng chủ tịch trung tâm. Trung tâm Carter tập chú vào các hoạt động như chương trình chăm sóc sức khoẻ với quy mô toàn cầu, trong đó có chiến dịch kiểm soát bệnh sán guinea. Carter và các thành viên khác của trung tâm thường tham gia các hoạt động giám sát tiến trình bầu cử nhằm ủng hộ các cuộc bầu cử tự do và công bằng. Họ đến châu Phi và châu Mỹ Latin với tư cách quan sát viên bầu cử.
Carter và Rosalynn được nhiều người biết tiếng qua sự cộng tác của họ với Tổ chức Hỗ trợ Gia cư Habitat (Habitat for Humanity), một tổ chức từ thiện Cơ Đốc chuyên xây dựng nhà ở cho người nghèo. Sau thất bại trong nỗ lực ở lại Tòa Bạch Ốc cho nhiệm kỳ thứ hai, Carter đến với Habitat trong năm 1984. Từ đó, Carter và vợ mỗi năm dành một tuần lễ cùng làm việc với các thiện nguyện viên khác của tổ chức từ thiện này xây dựng nhà ở cho người nghèo.
Jimmy Carter là tổng thống Hoa Kỳ thứ ba, sau Theodore Roosevelt và Woodrow Wilson, được trao Giải Nobel Hòa bình. Trong bài diễn văn nhận giải, đọc trước một cử tọa đoàn Âu châu, ông nói rằng hành động của Hoa Kỳ sau khi quân đội Liên Xô tiến vào Afghanistan, Chiến tranh vùng Vịnh năm 1991, cũng giống NATO, là sự tiếp nối chủ thuyết an ninh tập thể của Tổng thống Wilson.
=== Chính trị Mỹ ===
Carter là bạn rất thân với người tiền nhiệm Gerald Ford, bất kể sự kiện ông là người đánh bại Tổng thống Ford trong kỳ bầu cử tổng thống năm 1976. Carter và vợ thường xuyên đến thăm nhà ông bà Ford.
Ngày 26 tháng 12 năm 2006, tờ New York Times thuật lại rằng, theo yêu cầu của Ford, người kế nhiệm ông, cựu Tổng thống Jimmy Carter, sẽ là người đọc điếu văn trong tang lễ của ông, "Ông Ford đề nghị người kế nhiệm xem xét việc đọc điếu văn trong tang lễ của ông; ngược lại ông sẽ làm như vậy trong tang lễ của Carter, phụ thuộc vào việc người nào sẽ ra đi trước." Ngày 3 tháng 1 năm 2007, Carter đọc bài điếu văn đầy cảm xúc trong tang lễ của Gerald Ford cử hành tại Nhà thờ Grace Episcopal (Anh giáo) ở East Grand Rapids.
Năm 2001, Carter tỏ ra bất bình với lệnh ân xá gây nhiều tranh cãi của Tổng thống Clinton dành cho Marc Rich, gọi nó là "một sự ô nhục" và cho rằng chính số tiền 520 triệu USD Rich đóng góp cho Đảng Dân chủ là nhân tố dẫn đến quyết định ân xá của Clinton.
Tháng 3 năm 2004, Carter công khai chỉ trích George W. Bush và Tony Blair vì đã tiến hành một cuộc chiến không cần thiết, chỉ "dựa trên những lời nói dối và những giải thích sai lệch" nhằm đánh đổ Saddam Hussein. Ông cho rằng Blair đã để những phán đoán chính xác hơn của mình bị tác động bởi định ý của Bush muốn kết thúc cuộc chiến mà cha ông ấy (George H. W. Bush) đã bắt đầu. Tháng 8 năm 2006, Carter chỉ trích Blair là "phụ thuộc" chính phủ Bush, cáo buộc Blair ủng hộ mà không hề tra vấn chính sách "cực đoan hoặc thiếu sáng suốt" của Bush. Ngày 19 tháng 5 năm 2007, khi Blair thực hiện chuyến viếng thăm sau cùng đến Iraq trong cương vị Thủ tướng Anh, Carter sử dụng cơ hội này để đả kích Blair. Ông nói với đài BBC rằng rõ ràng là Blair "phục tùng" Bush và dành sự ủng hộ mù quáng cho Iraq. Carter hi vọng Gordon Brown, người kế nhiệm Blair, sẽ "ít nhiệt tình hơn" đối với chính sách của Bush về Iraq.
=== Tuyên dương ===
Carter được trao bằng danh dự tại nhiều trường đại học ở Mỹ như Harvard, Bates và Đại học Pennylvania.
Ngày 22 tháng 11 năm 2004, Thống đốc thuộc Đảng Cộng hòa của Tiểu bang New York, George Pataki bổ nhiệm Carter và các cựu tổng thống khác hiện còn sống, Gerald Ford, George H. W. Bush, và Bill Clinton, là những thành viên danh dự của ban tái thiết tòa nhà World Trade Center.
Do đã phục vụ trong một tiềm thuỷ đỉnh (tổng thống duy nhất từng làm điều này), một tiềm thuỷ đỉnh được chọn để đặt theo tên của Carter. Tiềm thuỷ đỉnh USS Jimmy Carter (SSN-23) được đặt tên vào ngày 27 tháng 4 năm 1998 khiến nó trở nên một trong số rất ít phương tiện của Hải quân Hoa Kỳ được đặt tên theo một nhân vật còn sống.
Carter nhận dạy một lớp học Trường Chúa Nhật tại nhà thờ Baptist Maranatha ở thị trấn Plain, tiểu bang Georgia. Thông thạo nghề mộc, thỉnh thoảng Carter xuất hiện trên những trang báo của tạp chí Fine Wood Working của nhà xuất bản Taunton Press, ông cũng sử dụng kỹ năng này khi tham gia xây dựng nhà ở cho người nghèo trong các đề án của Tổ chức Hỗ trợ Gia cư Habitat.
Carter là khách mời tại những buổi lễ như lễ khánh thành thư viện của các tổng thống Ronald Reagan, George H. W. Bush và Bill Clinton. Ông cũng tham dự nhiều diễn đàn, buổi diễn thuyết, uỷ ban, tang lễ và các sự kiện khác. Gần đây nhất, ông đọc điếu văn tại tang lễ của Coretta Scott King, vợ của nhà lãnh đạo Phong trào Dân quyền Mỹ Martin Luther King, Jr.. Ông là hội viên danh dự của Câu lạc bộ Madrid.
Năm 1997, ông được trao Giải Indira Gandhi.
Năm 1998, ông được trao Giải Nhân quyền của Liên Hiệp Quốc.
== Chú thích ==
== Xem thêm ==
Rosalynn Carter
Trung tâm Carter
Tổ chức Hỗ trợ Gia cư Habitat
== Tác phẩm ==
Carter là tác giả của nhiều cuốn sách:
Why Not the Best? (1975 and 1996)
A Government as Good as Its People (1977 and 1996)
Keeping Faith: Memoirs of a President (1982 and 1995)
Negotiation: The Alternative to Hostility (1984)
The Blood of Abraham (1985 and 1993)
Everything to Gain: Making the Most of the Rest of Your Life (1987 and 1995), with Rosalynn Carter
An Outdoor Journal (1988 and 1994)
Turning Point: A Candidate, a State, and a Nation Come of Age (1992)
Talking Peace: A Vision for the Next Generation (1993 and 1995)
Always a Reckoning (1995), a collection of poetry, illustrated by his granddaughter
The Little Baby Snoogle-Fleejer (1995), a children's book, illustrated by his daughter
Living Faith (1996)
Sources of Strength: Meditations on Scripture for a Living Faith (1997)
The Virtues of Aging (1998)
An Hour before Daylight: Memories of a Rural Boyhood (2001)
Christmas in Plains: Memories (2001)
The Nobel Peace Prize Lecture (2002)
The Hornet's Nest (2003), a historical novel and the first work of fiction written by a U.S. President
Sharing Good Times (2004)
Our Endangered Values: America's Moral Crisis (2005)
== Tham khảo ==
=== Hồi ký về Carter ===
Califano, Joseph A., Jr. Governing America: An insider's report from the White House and the Cabinet 1981
Jordan, Hamilton. Crisis: The Last Year of the Carter Presidency. 1982
Lance, Bert. The Truth of the Matter: My Life in and out of Politics. 1991
=== Nghiên cứu học thuật ===
Bourne, Peter. Jimmy Carter: A comprehensive biography from Plains to post-presidency. 1997
Brinkley, Douglas. 1996. "The rising stock of Jimmy Carter: The "hands on" legacy of our thirty-ninth president". Diplomatic History 20: 505-29.
Dumbrell, John. The Carter presidency: A re-evaluation. Manchester University Press 1995.
Gary Fink and Hugh Davis Graham, eds. The Carter presidency: Policy choices in the post-New Deal era University Press of Kansas. 1998.
Andrew R. Flint; "Jimmy Carter: The Re-emergence of Faith-Based Politics and the Abortion Rights Issue" Presidential Studies Quarterly. Volume: 35. Issue: 1. 2005. pp 28+.
Gillon, Steven M. The Democrats' dilemma: Walter F. Mondale and the liberal legacy Columbia University Press. 1992.
Glad, Betty. Jimmy Carter: In search of the great White House W. W. Norton. 1980.
Hahn, Dan F. "The rhetoric of Jimmy Carter, 1976-1980". In Essays in presidential rhetoric, edited by Theodore O. Windt and Beth Ingold, 331-65. Kendall/Hunt. 1992.
Hargrove, Erwin. Jimmy Carter as president: Leadership and the politics of the public good Louisiana State University Press. 1988.
Jones, Charles O. The Trusteeship Presidency: Jimmy Carter and the United States Congress. 1988.
Jordan, William J. Panama Odyssey. 1984.
Kaufman, Burton I. The Presidency of James Earl Carter, Jr. 1993.
Kucharsky, David. The Man from Plains: The Mind and Spirit of Jimmy Carter. 1976
Ribuffo, Leo P. "God and Jimmy Carter" in Transforming faith: The sacred and secular in modern American history, edited by Myles L. Bradbury and James B. Gilbert, pp 141–59. Greenwood Press. 1989
Ribuffo, Leo P. "'Malaise' revisited: Jimmy Carter and the crisis of confidence". in The liberal persuasion: Arthur Schlesinger, Jr. and the challenge of the American past, edited by John Patrick Diggins, 164-85. Princeton University Press. 1997
Herbert D. Rosenbaum and Alexej Ugrinsky, eds. The presidency and domestic policies of Jimmy Carter, (1994) pp, 83-116. Greenwood Press.
Schram, Martin. Running for president, 1976: The Carter campaign (1977)
Strong, Robert. "Recapturing leadership: The Carter administration and the crisis of confidence" Presidential Studies Quarterly 1986. 16 (Fall): 636-50.
Strong, Robert. Working in the world: Jimmy Carter and the making of American foreign policy Louisiana State University Press. 2000.
White, Theodore H. America in search of itself: The making of the president, 1956-1980. 1983
Witcover, Jules. Marathon: The pursuit of the presidency, 1972-1976 1977
== Liên kết ngoài ==
Carter Center
Jimmy Carter Library and Museum
Jimmy and Rosalynn Carter Partnership Foundation
Biography, via whitehouse.gov
Biography, via Britannica.com - Jimmy Carter
Biography via ourgeorgiahistory.com
Biography, via geocities.com
Navy Years, via submarinehistory.com
Inaugural Address of Jimmy Carter via re-quest.net
State of the Union Addresses: 1978, 1979, 1980, 1981 (written message) at UCSB's American Presidency Project
Audio recordings of Carter's speeches, via Michigan State University
Nobel lecture, Oslo, Na Uy (10 December 2002)
Nobel Prize for Carter
About the malaise speech, via PBS
The malaise speech text, via PBS
The 1980 October Surprise
"The U.S. President was here" — about Carterpuri, a village in Haryana, India named after President Carter
Instruments of Statecraft: U.S. Guerrilla Warfare, Counterinsurgency, and Counterterrorism, 1940-1990 Chap. 3 The Carter Years
Carter's hand written UFO sighting report of 1969
Carter's church and Sunday school teaching schedule
More information about the "killer rabbit" incident
Các tác phẩm của Jimmy Carter tại Dự án Gutenberg
Jimmy Carter tại Internet Movie Database
Jimmy Carter's thoughts on Earth Day 2006 |
trần công minh.txt | Trần Công Minh (sinh ngày 01/9/1970 ở xã Hòa Long, huyện Lai Vung, tỉnh Sa Đéc (nay là Đồng Tháp)) là một cựu cầu thủ của Câu lạc bộ Đồng Tháp và đội tuyển Việt Nam, hiện nay ông là huấn luyện viên bóng đá. Ông thi đấu ở vị trí hậu vệ phải và được xem là một trong những hậu vệ cánh xuất sắc nhất của Việt Nam từ trước tới nay và là một thành viên chủ chốt của đội tuyển Việt Nam từ năm 1995 đến 2000. Ông giành được danh hiệu Quả bóng vàng Việt Nam vào năm 1999 và một số danh hiệu Quả bóng bạc và đồng ở các năm trước đó. Sau khi giải nghệ vào năm 2002, Trần Công Minh chuyển sang công tác huấn luyện. Hiện ông đang là HLV trưởng Câu lạc bộ Đồng Tháp.
== Sự nghiệp tại câu lạc bộ ==
Trần Công Minh vốn không phải cầu thủ được đào tạo chuyên nghiệp. Ông xuất thân là một sinh viên của trường Cao đẳng Sư phạm Đồng Tháp. Với năng khiếu chơi bóng, năm 1987, ông tham gia đội bóng đá trẻ Đồng Tháp, sau đó chuyển lên đội hình chính cùng lứa với các cầu thủ như Trần Thanh Nhạc, Trịnh Tấn Thành, Huỳnh Quốc Cường, Phạm Anh Tuấn, Ngô Công Nhậm. Năm 1989 và 1996, Trần Công Minh đoạt chức vô địch quốc gia trong màu áo Đồng Tháp. Ông đã thi đầu cho Đồng Tháp đến khi giải nghệ vào năm 2002.
== Sự nghiệp thi đấu quốc tế ==
Trần Công Minh được gọi vào đội tuyển quốc gia lần đầu tiên vào năm 1995 để chuẩn bị cho SEA Games 18. Tại Sea Games này, ông chia sẻ vị trí hậu vệ phải với hậu vệ Nguyễn Chí Bảo (Công an TP.HCM). Trong trận đấu cuối cùng của vòng bảng gặp Indonesia, chính nỗ lực dốc bóng lăn xả của ông đã tạo cơ hội để tiền vệ Nguyễn Hữu Đang đệm bóng ghi bàn thắng quyết định của trận đấu, loại đội tuyển chủ nhà Indonesia, đồng thời đem lại chiếc vé vào bán kết cho đội tuyển Việt Nam.
Kể từ sau SEA Games 18, ông trở thành hậu vệ phải không thể thay thể trong đội tuyển Việt Nam. Với lối chơi công thủ toàn diện và tinh thần thi đấu cao độ, ông để lại ấn tượng sâu sắc trong lòng người hâm mộ.
Tại Tiger Cup 1996, Trần Công Minh là một trong những tuyển thủ thi đấu xuất sắc nhất. Ông đã ghi được 2 bàn thắng cho đội tuyển: một bàn trong trận thắng Campuchia 3-1 và một bàn thắng đáng nhớ trong trận thắng Myanmar 4-1.
Tại SEA Games 19, do chấn thương, ông đã không tham dự trận đấu đầu tiên gặp Malaysia. Thế vào chỗ của ông là cầu thủ Nguyễn Phúc Nguyên Chương. Đội tuyển Việt Nam đã để thua 0-1.
Tại Tiger Cup 1998, ông một lần nữa tỏa sáng trong vai trò hậu vệ phải. Trong trận đấu đầu tiên gặp Lào, ông đã kiến tạo 2 đường chuyền thành bàn cho đồng đội. Tuy nhiên, đội tuyển Việt Nam một lần nữa lỗi hẹn với chức vô địch.
Tại SEA Games 20, hàng phòng ngự của Việt Nam gồm Đỗ Khải, Mai Tiến Dũng, Phạm Như Thuần, Nguyễn Đức Thắng và Trần Công Minh được xem là hàng phòng ngự chắc chắn nhất giải. Cho đến trước trận chung kết, họ không để lọt lưới một bàn nào. Tuy nhiên, đội tuyển Việt Nam cũng chỉ giành được huy chương Bạc, sau khi thúc thủ 0-2 trước Thái Lan. Trần Công Minh giành được danh hiệu Quả bóng vàng năm đó.
Tiger Cup 2000 là giải đấu cuối cùng của Trần Công Minh cho đội tuyển Việt Nam. Mặc dù đã lớn tuổi nhưng ông vẫn làm tròn vai trò phòng ngự của mình. Tại giải đấu này, Việt Nam bị loại tại bán kết sau khi thua 2-3 trước Indonesia trong hiệp phụ.
== Sự nghiệp huấn luyện ==
Trần Công Minh từ giã sân cỏ năm 2002. Năm 2003, Công Minh bắt đầu công việc huấn luyện và đã từng giữ vai trò huấn luyện viên trưởng đội 1 Đồng Tháp. Ông từng là trợ lý huấn luyện viên trưởng đội Đồng Tâm Long An. Tháng 7, 2008 ông lên thay huấn luyện viên Ednaldo Patricio làm huấn luyện viên trưởng và có trận thắng đầu tiên trước Hải Phòng với tỷ số 2-1 ngày 27 tháng 7 năm 2008. Sau đó ông liên tục là người đóng thế ở Đồng Tâm Long An. Tháng 4, 2012 Trần Công Minh chính thức thanh lý hợp đồng với Đồng Tâm Long An và trở về quê nhà Sa Đéc ba ngày sau ông được lãnh đạo đội Đồng Tháp mời làm huấn luyện viên trưởng thay thế Trang Văn Thành và đúng 1 năm sau khi thành tích của đội bóng không như mong muốn thì đội bóng đã quyết định sa thải.
Từ tháng 2.2015 ông được Liên đoàn bóng đá Việt Nam VFF mời làm trợ lý cho HLV Miura ở Đội tuyển Quốc gia và Đội tuyển U23 Việt Nam.
Tháng 12.2015 ông cho biết về việc nhận lời làm HLV trưởng, dẫn dắt đội Cà Mau thi đấu tại Giải hạng nhất 2016 với mục tiêu đến năm 2020 đưa Cà Mau lên V-League. Tuy dẫn dắt Cà Mau tham dự Giải hạng nhất 2016 nhưng ông và đội Cà Mau không ký kết hợp đồng với nhau "vì không tìm được tiếng nói chung". Đến tháng 5 năm 2016, ông quyết định nhận lời làm HLV trưởng đội Đồng Tháp sau khi đội Đồng Tháp chỉ có được 3 điểm sau 7 trận tại V-League 2016.
== Thành tích ==
Vô địch Việt Nam: Vô địch: 1989, 1996
Cúp Tiger
Hạng nhì: 1998
Hạng ba: 1996
Các lần tham dự khác: 2000
SEA Games
Hạng nhì: SEA Games 1995, SEA Games 1999
Hạng ba: SEA Games 1997
Quả bóng vàng Việt Nam:
Quả bóng vàng: 1999
Quả bóng bạc: 1996
Quả bóng đồng: 1997, 1998
== Chú thích ==
== Liên kết ngoài ==
huấn luyện viên Trần Công Minh "đốt" mình cho khát vọng trên Việt Nam Net ngày 1 tháng 2 năm 2007 |
lexus.txt | Lexus (レクサス, Rekusasu) là phân khúc xe hạng sang của nhà sản xuất ô tô Nhật Bản Toyota. Được giới thiệu lần đầu tiên tại Hoa Kỳ năm 1989, Lexus đã nhanh chóng trở thành thương hiệu xe hơi hạng sang bán chạy nhất tại đây, tới năm 2006 Lexus đã có mặt tại 68 quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới. Năm 2005, phân khúc xe này được giới thiệu tại Nhật Bản và trở thành xe marque đầu tiên được giới thiệu tại thị trường nội địa. Từ đó, Lexus đã được ra mắt tại nhiều thị trường xuất khẩu khác như là một chiến dịch mở rộng thị trường của công ty.
Lexus khởi nguồn từ một dự án phát triển mẫu xe sedan flagship của Toyota bắt đầu từ năm 1983. Nỗ lực này đã đưa đến sự phát triển thành công chiếc lexus đầu tiên của dòng Lexus LS, đây là chiếc xe đầu tiên gắn mác thương hiệu Lexus khi ra mắt năm 1989. Những năm sau đó, Lexus bổ sung thêm các mẫu xe sedan, coupe, mui trần và xe thể thao đa dụng. Năm 2005, mẫu xe hybrid của dòng RX ra mắt và nhiều mẫu hybrid bổ sung cũng lần lượt được giới thiệu sau đó. Năm 2007, Lexus cho ra đời phân khúc xe biểu diễn F marque với sự ra mắt của mẫu sedan thể thao IS F.
Từ khi ra đời cho tới nay, các xe của Lexus vẫn thường xuyên được sản xuất tại Nhật Bản, với trung tâm sản xuất được đặt tại vùng Chūbu và Kyūshū, và đặc biệt là tại nhà máy Tahara của Toyota tại tỉnh Aichi, Chūbu và nhà máy Kyūshū tại Miyata, Fukuoka. Chiếc Lexus đầu tiên được lắp ráp ngoài Nhật Bản là chiếc RX 330 được sản xuất tại Ontario, Canada năm 2003. Sau một cuộc tái cơ cấu công ty từ năm 2001 tới 2005, Lexus đã tự chịu trách nhiệm mọi khâu sản xuất từ thiết kế cho đến cơ khí.
Kể từ năm 1989, Lexus đã phát triển danh tiếng với chất lượng đáng tin cậy và dịch vụ chăm sóc khách hàng. Công ty thăm do khách hàng, J.D. Power and Associates đã bốn mươi lần chọn Lexus là dòng xe đáng tin cậy nhất tại Mỹ, lần gần nhất là năm 2008 , dựa vào những cuộc thăm dò về độ đáng tin cậy của các hãng xe với sự tham gia của hơn 53,000 chủ sở hữu ô tô cũng như những vấn đề gặp phải trong 3 năm đầu kể từ khi mua xe .
Khẩu hiệu của Lexus là "The Pursuit of Perfection." (Theo đuổi sự hoàn hảo).
== Chú thích ==
== Liên kết ==
Website chính thức tại Úc, Canada, Chile, Trung Quốc, Nhật Bản, Philippines, Anh, Mỹ
Lexus tại DMOZ |
georgia.txt | Georgia là một tiểu bang tại Đông Nam Hoa Kỳ.
Ðây là nơi sinh của Tổng thống Jimmy Carter (tại Plains).
== Địa lý ==
Georgia nằm giáp với Florida về phía nam, với Đại Tây Dương và Nam Carolina về phía đông, với Alabama về phía tây, và với Tennessee và Bắc Carolina về phía bắc. Miền bắc của tiểu bang này nằm trên dãy núi Blue Ridge, một dãy núi thuộc hệ thống núi của dãy Appalachian. Vùng piedmont ở miền trung kéo dài từ chân núi tới đường thác nước, ở đường này các sông chảy xuống thác nước tới cao độ của đồng bằng ven biển của lục địa ở phần nam của tiểu bang. Nơi cao nhất ở Georgia là Brasstown Bald (núi Brasstown) có cao độ 1.458 mét (4.784 foot); những nơi thấp nhất của tiểu bang bằng với mực nước biển.
Thủ phủ của Georgia là Atlanta, nằm ở miền trung bắc của tiểu bang, và quả đào là trái cây tượng trưng cho tiểu bang. Các sản phẩm nông nghiệp quan trọng của Georgia là cây hồ đào (pecan), bông, cây thuốc lá, và lâm sản, nhất là những cái gọi "naval store", như là nhựa và colophan được lấy từ những rừng cây thông.
Georgia là tiểu bang lớn nhất theo diện tích nằm về phía đông của sông Mississippi, kể từ khi Tây Virginia ly khai khỏi Virginia trong Nội chiến Hoa Kỳ. Michigan (250.494 kilômét vuông hay 96.716 dặm vuông), Florida (170.451 km² hay 65.768 dặm vuông), và Wisconsin (169.790 km² hay 65.603 dặm vuông) đều lớn hơn Georgia (154.077 km² hay 59.441 dặm vuông) khi tính vào cả diện tích đất và nước.
Các vùng dưới quyền của Dịch vụ Vườn Quốc gia (NPS) bao gồm:
Khu lưu niệm Quốc gia Andersonville tại Andersonville
Đường mòn Appalachian
Khu vực giải trí Quốc gia sông Chattahoochee gần Atlanta
Công viên quân đội Quốc gia Chickamauga và Chattanooga tại Fort Oglethorpe
Bờ biển Quốc gia đảo Cumberland gần Saint Marys
Đài kỷ niệm Quốc gia Fort Frederica trên Đảo St. Simons
Đài kỷ niệm Quốc gia Fort Pulaski tại Savannah
Nơi lịch sử Quốc gia Jimmy Carter gần Plains
Công viên Chiến trường Quốc gia núi Kennesaw gần Kennesaw
Nơi lịch sử Quốc gia Martin Luther King, Jr. tại Atlanta
Đài kỷ niệm Quốc gia Ocmulgee tại Macon
Đường lịch sử Quốc gia Con đường Nước mắt
=== Các thành phố quan trọng ===
== Lịch sử ==
Mới đầu, nhiều nhà thám hiểm Tây Ban Nha tới vùng nội địa của Georgia, để lại phá hoại ở chỗ nào đến. Nền văn hóa xây mô địa phương mà được miêu tả bởi Hernando de Soto năm 1540 đã bị phá hết vào 1560.
Cuộc xung đột giữa Tây Ban Nha và Vương quốc Anh về quyền đất Georgia bắt đầu thực sự vào khoảng 1670, khi dân Anh di chuyển về hướng nam từ thuộc địa Carolina ở Nam Carolina ngày nay và gặp quân đội Tây Ban Nha đang lên từ căn cứ tại Florida. Năm 1724, miền này được một người đề nghị gọi thuộc địa Anh này là Địa phận Georgia để kỷ niệm Quốc vương George II của Vương quốc Anh.
Người Anh bắt đầu tới ở rất nhiều vào năm 1732 do James Oglethorpe, người Anh phục vụ trong Nghị viện Anh, ông đề xướng một kế hoạch để sử dụng miền này là tù người mắc nợ. Ngày 12 tháng 2 năm 1733, 113 tù nhân đi tàu HMS Anne và đổ bộ tại Savannah ngày nay. Ngày này hiện được gọi Ngày Georgia, đó không phải là ngày lễ chung nhưng được những trường học và một số hội công dân địa phương tổ chức. Năm 1752, Georgia được trở thành thuộc địa hoàng gia. Hiến pháp đầu tiên của Georgia được phê chuẩn năm 1777 nhưng bị thay đổi sau đó.
Georgia là một trong 13 thuộc địa mà nổi dậy chống cải trị Anh trong Cách mạng Mỹ. Nó là thuộc địa cuối được tăng cấp thành thuộc địa, nhưng nó được trở thành tiểu bang thứ tư sau khi họ phê chuẩn Hiến pháp Hoa Kỳ ngày 2 tháng 1 năm 1788.
== Tham khảo ==
== Liên kết ngoài ==
georgia.gov – chính phủ Georgia (tiếng Anh; cũng có tại state.ga.us)
Georgia Information Locator (tiếng Anh)
georgia.net – wiki cộng đồng Georgia |
17 tháng 10.txt | Ngày 17 tháng 10 là ngày thứ 290 (291 trong năm nhuận) trong lịch Gregory. Còn 75 ngày trong năm.
== Sự kiện ==
1604 – Nhà thiên văn học Johannes Kepler quan sát một ngôi sao trong chòm sao Xà Phu, về sau được gọi siêu tân tinh Kepler.
1448 – Trong Trận Kosovo, đội quân chủ yếu là người Hungary của John Hunyadi chiến bại trước quân Ottoman dưới quyền Sultan Murad II.
1610 – Quốc vương Pháp Louis XIII đăng quang tại Reims.
1806 – Hoàng đế Jacques I của Haiti bị ám sát gần Port-au-Prince.
1887 – Liên bang Đông Dương được thành lập với bốn thành viên ban đầu là Bắc Kỳ, Trung Kỳ, Nam Kỳ và Campuchia.
1907 – Lương Khải Siêu triển khai đại hội thành lập "Chính văn xã" tại Tokyo, Nhật Bản nhằm ủng hộ chế độ quân chủ lập hiến tại Trung Quốc.
1943 – Đường sắt Miến Điện được hoàn thành, tuyến đường được Đế quốc Nhật Bản xây dựng trong Chiến tranh thế giới thứ hai với thiệt hại cao về nhân mạng.
1967 – Trong Chiến tranh Việt Nam, Quân Giải phóng miền Nam giành thắng lợi trước Quân đội Hoa Kỳ trong trận Ông Thành.
1990 – Hòa ước chính thức kết thúc Nổi dậy Sarawak tại Malaysia được ký kết tại thủ phủ Kuching.
2003 – Tháp nhọn được lắp đặt trên nóc tòa nhà Đài Bắc 101 tại Đài Loan, khiến tòa nhà này vượt qua Petronas Towers tại Malaysia để trở thành tòa nhà cao nhất thế giới đương thời.
1979 – Mẹ Têrêsa được trao giải Nobel Hòa bình do những hoạt động nhằm đấu tranh vượt qua nghèo khó tại Ấn Độ.
== Sinh ==
1892 – Theodor Eicke, viên chức chính phủ Đức Quốc xã (m. 1943)
1892 – Herbert Howells, nhà soạn nhạc Anh (m. 1983)
1898 – Shinichi Suzuki, giáo viên dạy violon Nhật Bản (m. 1998)
1898 – Simon Vestdijk, nhà văn Hà Lan (m. 1971)
1900 – Jean Arthur, nữ diễn viên người Mỹ (m. 1991)
1902 – Irene Ryan, nữ diễn viên người Mỹ (m. 1973)
1903 – Nathanael West, nhà văn người Mỹ (m. 1940)
1906 – Paul Derringer, cầu thủ bóng chày người Mỹ (m. 1987)
1908 – Red Rolfe, cầu thủ bóng chày người Mỹ (m. 1969)
1912 – Giáo hoàng Gioan Phaolô I, (m. 1978)
1912 – Jack Owens, ca sĩ / nhạc sĩ người Mỹ (m. 1982)
1914 – Jerry Siegel, hoạ sĩ vẽ tranh biếm hoạ người Mỹ (m. 1996)
1915 – Arthur Miller, nhà soạn kịch người Mỹ (m. 2005)
1917 – Sumner Locke Elliott, tiểu thuyết gia người Mỹ (m. 1991)
1917 – Marsha Hunt (diễn viên), nữ diễn viên
1918 – Rita Hayworth, nữ diễn viên (m. 1987)
1918 – Ralph Wilson, chủ sở hữu của Buffalo Bills
1919 - Isaak Markovich Khalatnikov, nhà vật lý học Nga
1920 – Miguel Delibes, nhà văn người Tây Ban Nha
1920 – Montgomery Clift, diễn viên người Mỹ (m. 1966)
1921 – Tom Poston, diễn viên, diễn viên hài (m. 2007)
1921 – Maria Gorokhovskaya, thể dục của Liên Xô (m. 2001)
1922 – Pierre Juneau, nhà điều hành phim truyền hình Canada
1922 – Luiz Bonfá, nhà soạn nhạc người Brasil (m. 2001)
1923 – Charles McClendon, huấn luyện viên bóng đá người Mỹ (m. 2001)
1923 – Barney Kessel, nhạc sĩ người Mỹ (m. 2004)
1925 – Harry Carpenter, bình luận viên thể thao
1926 – Julie Adams, nữ diễn viên phim người Mỹ
1926 – Beverly Garland, nữ diễn viên (m. 2008)
1930 – Robert Atkins, nhà dinh dưỡng học người Mỹ (m. 2003)
1930 – Jimmy Breslin, phóng viên và tác gia người Mỹ
1931 – Ernst Hinterberger, nhà văn Áo
1933 – Jeanine Deckers, nữ tu người Bỉ (m. 1985)
1934 – Johnny Haynes, cầu thủ bóng đá Anh (m. 2005)
1935 – Sydney Chapman, chính khách và kiến trúc sư
1936 – Onoda Kanamori, địa chấn học Nhật Bản
1937 – Paxton Whitehead, diễn viên người Anh
1938 – Evel Knievel, tay đua xe gắn máy mạo hiểm người Mỹ (m. 2007)
1940 – Peter Stringfellow, chủ sở hữu hộp đêm Anh
1940 – Jim Smith, cầu thủ bóng đá và quản lý Anh
1941 – Earl Thomas Conley, ca sĩ
1941 - Jim Seals, ca sĩ người Mỹ (Seals và Crofts)
1942 – Gary Puckett, nhạc sĩ người Mỹ
1942 – Steve Jones, cầu thủ bóng rổ
1946 – Sir Cameron Mackintosh, nhà sản xuất chương trình sân khấu Anh
1946 – Adam Michnik, nhà hoạt động Ba Lan
1946 – Bob Seagren, nữ vận động viên
1946 – Michael Hossack, nhạc sĩ người Mỹ (Brothers Doobie)
1946 – Drusilla Modjeska, nhà văn và biên tập viên Úc
1947 – Gene xanh, chính khách người Mỹ
1947 – Michael McKean, diễn viên người Mỹ
1948 – Margot Kidder, nữ diễn viên người Canada
1948 – George Wendt, diễn viên người Mỹ
1948 – Robert Jordan, tiểu thuyết gia người Mỹ (m. 2007)
1950 – Howard Rollins, diễn viên người Mỹ (m. 1996)
1951 – Roger Pontare, ca sĩ Thụy Điển
1954 – Carlos Buhler, vận động viên leo núi người Mỹ
1955 – Georgios Alogoskoufis, chính khách Hy Lạp
1956 – Mae Jemison, nữ du hành vũ trụ
1956 – Patrick McCrory, chính khách người Mỹ
1957 – Lawrence Bender, người Mỹ sản xuất phim
1957 – Steve McMichael, cầu thủ bóng đá người Mỹ
1958 – Alan Jackson, ca sĩ, nhạc sĩ
1959 – Ron Drummond, nhà văn người Mỹ
1959 – Mark Peel, nhà sử học tại Úc
1959 – Richard Roeper, nhà phê bình phim người Mỹ
1959 – Russell Gilbert, diễn viên hài người Úc
1960 – Rob Marshall, nữ giám đốc
1960 – Guy Henry, diễn viên người Anh
1962 – Mike Judge, hoạ sĩ vẽ tranh biếm hoạ, nhà làm phim và diễn viên thoại người Mỹ
1963 – Sergio Goycochea, cầu thủ bóng đá Argentina
1963 – Norm Macdonald, diễn viên hài, diễn viên người Canada
1965 – Aravinda de Silva, cầu thủ cricket Sri Lanka
1966 – Mark Gatiss, diễn viên, nhà văn người Anh
1966 – Tommy Kendall, đua xe và phát thành viên truyền hình người Mỹ
1966 – Danny Ferry, cầu thủ bóng rổ
1967 – René dif, nhạc sĩ người Đan Mạch (Aqua)
1968 – Ziggy Marley, nhạc sĩ người Jamaica
1969 – Wood Harris, diễn viên người Mỹ
1969 – Ernie Els, vận động viên golf Nam Phi
1969 – Rick Mercer, diễn viên hài người Canada
1970 – Anil Kumble, cầu thủ cricket Ấn Độ
1970 – John Mabry, cầu thủ bóng chày
1970 – Blues Saraceno, diễn đàn ghita
1971 – Chris Kirkpatrick, ca sĩ ('N Sync)
1972 – Eminem, ca sĩ nhạc rap, nhà sản xuất, diễn viên Mỹ
1972 – Tarkan, ca sĩ Thổ Nhĩ Kỳ
1972 – Wyclef Jean, ca sĩ sinh tại Haiti
1972 – Sharon Leal, nữ diễn viên
1972 – Joe McEwing, cầu thủ bóng chày
1974 – Matthew Macfadyen, diễn viên người Anh
1974 – Ariel Levy, nhà văn nữ người Mỹ
1974 – Janne Puurtinen, Phần Lan keyboard (HIM)
1974 – John Rocker, cầu thủ bóng chày
1975 – Francis Bouillon, diễn viên khúc côn cầu
1976 – Sebastián Abreu, cầu thủ bóng đá Uruguay
1977 – Dudu Aouate, cầu thủ bóng đá Israel
1977 – Bryan Bertino, đạo diễn phim và kịch
1979 – Marcela Bovio, ca sĩ, nghệ sĩ vĩ cầm Mexico (Stream of Passion)
1979 – Kimi Räikkönen, lái xe đua Phần Lan
1979 – Kostas Tsartsaris, cầu thủ bóng rổ Hy Lạp
1980 – Ekaterina Gamova, cầu thủ bóng chuyền Nga
1980 – Alessandro Piccolo, tay đua xe người Ý
1982 – Nick Riewoldt, cầu thủ bóng đá Úc
1983 – Daniel Booko, diễn viên người Mỹ
1983 – Ivan Saenko, cầu thủ bóng đá Nga
1984 – Jelle Klaasen, vận động viên chơi phi tiêu Hà Lan
1984 – Chris Lowell, diễn viên người Mỹ
1984 – Randall Munroe, hoạ sĩ vẽ tranh biếm hoạ người Mỹ
1985 – Baran Kosari, nữ diễn viên Iran
1987 – Bea Alonzo, nữ diễn viên Philippines
1987 – Jarosław Fojut, cầu thủ bóng đá Ba Lan
1992 – Sam Concepcion, người biểu diễn và diễn viên Philippines
== Mất ==
532 – Giáo hoàng Bônifaciô II
1849 – Frédéric Chopin
1996 – Lê Công Tuấn Anh, diễn viên điện ảnh Việt Nam (s. 1967)
== Những ngày lễ và kỷ niệm ==
Ngày Thế giới chống đói nghèo
== Tham khảo == |
yangon.txt | Yangon hay Ngưỡng Quang (tiếng Myanma: ရန်ကုန်မြို့ trước đây gọi là Rangoon là thành phố lớn nhất Myanma (trước đây là Miến Điện)) với dân số 4.082.000 (2005). Thành phố nằm ở ngã ba sông Yangon và sông Bago, cách Vịnh Martaban 30 km. Tọa độ của Yangon là 16°48' vĩ bắc, 96°09' độ kinh đông (16.8, 96.15), theo múi giờ UTC/GMT +6:30 h.
Tháng 11 năm 2005, Hội đồng hành chính quân sự Myanma đã quyết định dời đô từ Yangon về Naypyidaw thuộc tỉnh Mandalay. Naypyidaw chính thức trở thành thủ đô mới của Myanma từ ngày 26 tháng 3 năm 2006.
So với các thành phố lớn ở Đông Nam Á, Yangon tương đối kém phát triển. Việc bùng nổ xây dựng phần lớn là do đầu tư nước ngoài từ Trung Quốc và Singapore. Nhiều cao ốc thương mại và nhà ở đã được xây dựng ở trung tâm thành phố. Yangon có nhiều tòa nhà thời thuộc địa nhất Đông Á hiện nay. Các văn phòng chính phủ ở trong các tòa nhà được xây thời thuộc địa (ví dụ: Tòa án Tối cao Myanma, Tòa thị chính, Chợ Bogyoke và Bệnh việc đa khoa đang được đưa vào kế hoạch gia cố nâng cấp. New Towns (မ္ရုိ့သစ္) và các khu ngoại ô khác như thị trấn Thaketa vẫn tiếp tục nghèo khổ.
Yangon là kết hợp của hai từ: Yan (những kẻ thù) và koun (chạy thoát). Yangon là một thành viên của Hệ thống các thành phố lớn châu Á 21.
== Lịch sử ==
== Hành chính ==
=== Các đơn vị hành chính ===
Thành phố Yangon được chia làm 32 thị trấn. Thị trấn vệ tinh không được tính vào các đơn vị hành chính loại này.
Quận phía Tây (Trung tâm)
Thị trấn Ahlone
Thị trấn Bahan
Thị trấn Dagon
Thị trấn Kyauktada
Thị trấn Kyeemyintdine
Thị trấn Lanmadaw
Thị trấn Latha
Thị trấn Pabedan
Thị trấn Sanchaung
Thị trấn Seikkan
Quận phía Đông
Thị trấn Dagon Seikkan
Thị trấn Đông Dagon
Thị trấn Bắc Dagon
Thị trấn Bắc Okkalapa
Thị trấn Nam Dagon
Thị trấn Nam Okkalapa
Thị trấn Thingangyun
Thị trấn Botahtaung
Quận phía Bắc
Thị trấn Hlaing
Thị trấn Hlaingthaya
Thị trấn Insein
Thị trấn Kamayut
Thị trấn Mayangone
Thị trấn Mingaladone
Thị trấn Pazundaung
Thị trấn Shwepyitha
Quận phía Nam
Thị trấn Dala
Thị trấn Dawbon
Thị trấn Mingalataungnyunt
Thị trấn Thaketa
Thị trấn Tamwe
Thị trấn Yankin
Thị trấn Seikkyi Kanaungto
== Khí hậu ==
Yangon có khí hậu xích đạo gió mùa. Theo hệ thống phân loại khí hậu Köppen.
== Văn hóa ==
Ngôn ngữ chính thức là tiếng Myanma. Tiếng Anh cũng được những người lớn tuổi hoặc có học sử dụng rộng rãi ở nội ô. Yangon có trường đại học lâu đời nhất Myanma (thành lập năm 1920). Hai trong bốn học viên y khoa đặt ở thành phố này.
=== Các địa điểm văn hóa ===
Chùa Shwedagon
Chùa Sule
Nhà thờ lớn Saint Mary
Đại học Yangon
Bia tưởng niệm chiến tranh của quân đồng minh
Alan Pya Paya (trước kia là Chùa Signal)
Chaukhtatgyi Paya
Kyaukdawgyi Paya
Kandawgyi Lake (formerly Great Lakes)
Inya Lake (formerly Victoria Lakes)
Mahabandoola Park (formerly Fitche Square)
Yangon Zoological Gardens
Chợ Bogyoke Market (Chợ Scott)
National Race Village
Chùa Botahtaung
== Kinh tế ==
Yangon là trung tâm kinh tế của Myanma. Phần lớn xuất nhập khẩu đến từ Yangon. Năm 2004, chính phủ đã cho phép Công ty phát triển khu chế xuất Shanghai Jingqiao (Thượng Hải Kim Kiều) triển khai kế hoạch lập Đặc khu kinh tế lớn nhất Myama ở Thanlying Township gần cảng Thilawa. Quy hoạch đã được hoàn thành năm 2006 nhưng vẫn chưa được phê duyệt.
== Giao thông ==
Sân bay quốc tế Yangon cách trung tâm thành phố 19 km. Xe bus luôn chật cứng khách. Hệ thống đường sắt tỏa lên các tỉnh phía bắc Myama. Chính phủ thường xuyên hạn chế nhập khẩu xe hơi. Do đó, thị trường chợ đen cung cấp xe mới và xe đã qua sử dụng từ Thái Lan và Trung Quốc. Xăng dầu cũng được phân phối theo tiêu chuẩn và cũng có chợ đen cấp xăng dầu. Việc đi xe máy trong thành phố là bất hợp pháp.
== Hình ảnh ==
== Tham khảo ==
The Popular Encyclopedia or Conversation Lexicon. Blackie & Son, 1890.
== Ghi chú ==
== Liên kết ngoài ==
Satellite picture by Google Maps
Yangon City Hall website
YCDC website
16°47′B 96°09′Đ |
wiktionary.txt | Wiktionary [1] là một trong những dự án trực thuộc Quỹ Hỗ trợ Wikimedia, cùng với Wikipedia, để biên soạn một bộ từ điển nội dung mở dùng hệ thống wiki, bao gồm nhiều ngôn ngữ. Dựa vào ý tưởng của ông Daniel Alston, nó được thành lập vào ngày 12 tháng 12 năm 2002. Vào ngày 29 tháng 3 năm 2004, hai phiên bản ngôn ngữ đầu tiên của Wiktionary được mở cửa, tiếng Pháp và tiếng Ba Lan. Sau đó, nhiều phiên bản ngôn ngữ khác được bắt đầu và đang được phát triển. Wiktionary đã ở một địa chỉ tạm đến ngày 1 tháng 5 năm 2004, khi nó được di chuyển đến địa chỉ chính của nó. Wiktionary tiếng Anh đã có hơn 896.000 mục từ và Wiktionary tiếng Việt là phiên bản ngôn ngữ lớn thứ năm có hơn 228.000 mục từ (tháng 9 năm 2009).
Khác với nhiều từ điển thường chỉ gồm một hai ngôn ngữ, Wiktionary gồm mục từ thuộc mọi ngôn ngữ.
== Xem thêm ==
UrbanDictionary
== Tham khảo ==
== Liên kết ngoài ==
Wiktionary
Wiktionary tiếng Việt
Wiktionary tiếng Anh |
đại hội thể thao đông nam á 2005.txt | Đại hội Thể thao Đông Nam Á năm 2005 là SEA Games lần thứ 23 được tổ chức tại Philippines từ 27 tháng 11 đến 5 tháng 12 năm 2005, trong đó môn bóng đá nam đã khởi tranh từ ngày 20 tháng 11, bóng nước từ ngày 21 tháng 11, bóng đá nữ từ ngày 23 tháng 11, đua thuyền buồm và quần vợt từ ngày 26 tháng 11. Huy chương vàng đầu tiên thuộc về đội Singapore vào ngày 25 tháng 11 trong môn bóng nước.
Đây là lần thứ ba Philippines đăng cai SEA Games, hai lần trước là vào các năm 1981 và 1991. Lễ khai mạc đầy màu sắc diễn ra tại quảng trường Quirino Grandstand ở thủ đô Manila.
== Biểu trưng ==
Biểu trưng của Đại hội lấy từ các loại mặt nạ hóa trang truyền thống của các nước Đông Nam Á. Nó thể hiện sự phong phú của các sắc thái văn hóa và tinh thần cởi mở và hiếu khách của người Philippines. Biểu tượng lấy cảm hứng từ Lễ hội Maskara tổ chức hằng năm tại Bacolod, một trong những địa điểm thi đấu của SEA Games lần này.
== Linh vật ==
Linh vật của SEA Games lần này là loài đại bàng Filipin Gilas. Loài này là một trong những loài đại bàng lớn nhất thế giới với đặc trưng là một chùm lông lớn trên đầu. Đại bàng sẽ tượng trưng cho sức mạnh và niềm kiêu hãnh. Nó sẽ thể hiện tinh thần chiến thắng của tất cả các vận động viên tham gia. Gilas lấy tên từ các từ Maliksi, Malakas, Matalino, Angat, Matalas nghĩa là "năng động", "mạnh mẽ", "thông minh", "cao cả" và "sắc sảo" trong tiếng Filipino.
== Bảng xếp hạng ==
Chủ nhà
== Sự kiện ==
SEA Games sẽ có 43 môn diễn ra trong hơn 393 sự kiện thể thao. Liên đoàn Thể thao Đông Nam Á đã quyết định loại bóng rổ, môn thể thao phổ biến tại Philippines, khỏi danh sách thi đấu, với sự đồng thuận của Ủy ban Tổ chức SEA Games Philippines (PHILSOC), vì FIBA đã quyết định cấm nước chủ nhà tham gia vào bất kỳ giải thi đấu quốc tế nào của bộ môn này.
Danh sách các môn thi đấu:
¹ - không phải môn thể thao được thi đấu chính thức tại Thế vận hội.
² - môn thể thao chỉ được thi đấu tại SEA Games.
³ - không phải môn thể thao thường được thi đấu tại Thế vận hội hay SEA Games, lần này được thi đấu do sự mong muốn của nước chủ nhà.
° - trước đây là môn thi đấu chính thức tại Thế vận hội, nhưng tại kỳ đại hội trước đã không được thi đấu và bây giờ chỉ được thi đấu với sự đồng ý của nước chủ nhà.
== Các đoàn ==
== Lễ khai mạc ==
Lần đầu tiên trong lịch sử SEA Games lễ khai mạc đã được phá lệ diễn ra ở quảng trường chứ không phải trong sân vận động như truyền thống. Bà Gloria Arroyo, Tổng thống Philippines, sẽ tuyên bố khai mạc và chào mừng hơn 7.000 vận động viên và quan chức thể thao các nước tham gia Đại hội Thể thao Đông Nam Á lần thứ 23.
Một điều đặc biệt là thủ lĩnh mặt trận Hồi giáo Moro, một trong những nhóm phiến quân tại Philippines, ông Hadji Murad, cùng các đại diện nhóm Hồi giáo ly khai khác, đã nhận lời tham dự buổi lễ này để thể hiện "thiện chí" hòa bình với chính phủ.
Sau lễ khai mạc, một màn pháo hoa rực rỡ đã thắp sáng bầu trời Manila.
== Địa điểm thi đấu ==
== Tham khảo ==
== Kỷ lục thể thao lập tại Đại hội Thể thao Đông Nam Á 2005 ==
== Bơi lội ==
Tiếp sức 4x200 m tự do nam: 7:35.85, Chay Jung Jun Mark, Cheah Mingzhe Marcus, Tan Lee Yu Gary và Tay Zhi Rong Bryan của Singapore
(kỷ lục cũ: 7:38:82, đội tuyển bơi tiếp sức Singapore, 2001)
50 m tự do nam: 22.98, Arwut Chinnapasaen của Thái Lan
(kỷ lục cũ: 23.03, Richard Sambera)
50 m tự do nữ: 26.13, Yeo Wei Ling Joscelin của Singapore
(kỷ lục cũ: 26.23)
100 m bơi ếch nữ: 1:03.83, Tao Li của Singapore
(kỷ lục cũ:?)
100 m bơi bướm nữ: 59.91, Yeo Wei Ling Joscelin của Singapore
(kỷ lục cũ: 1:00.44, Yeo Wei Ling Joscelin của Singapore, 1999)
200 m bơi bướm nữ: 2:14.11, Tao Li của Singapore
(kỷ lục cũ: Yeo Wei Ling Joscelin của Singapore, 1999)
Tiếp sức 4x100 m hỗn hợp nữ: 4:14.49, Tao Li, Yeo Wei Ling Joscelin, Ho Shu Yong, Teo Wei Min Nicolette của Singapore
(kỷ lục cũ: 4:19.23, đội tuyển bơi tiếp sức Indonesia, 1997)
== Điền kinh ==
Nhảy cao nữ: 1,89 m, Bùi Thị Nhung của Việt Nam
(kỷ lục cũ: 1,88 m, Achalach Kerdchang của Thái Lan, 1997)
Nhảy sào nữ: 4,1 m, Rosalinda Samsu của Malaysia
(kỷ lục cũ: ?)
800 m nữ: 2′03″65, Đỗ Thị Bông của Việt Nam
(kỷ lục cũ: 2′03″75, Sasithorn Chanthanuhong của Thái Lan, 1985)
1500 m nữ: 4′18″50, Trương Thanh Hằng của Việt Nam
(kỷ lục cũ: 4′19″42, Nguyễn Lan Anh của Việt Nam, 2003)
Nhảy xa nam: 7.81 m, Henry Dagmil của Philippines
(kỷ lục cũ: 7.79 m, Mohd Zaki Sadri của Malaysia, 1997)
Tạ xích nam: 60.47 m, Arniel Ferrera của Philippines
(kỷ lục cũ: 58.80 m, Dudung Suhendri của Indonesia, 1993)
Ném lao nữ: 55.06 m, Bouban Pamang của Thái Lan
(kỷ lục cũ: ?)
Nhảy ba bước nữ: 13.61 m, Ngew Sin Mei của Malaysia
(kỷ lục cũ: ?)
== Bắn súng ==
Súng ngắn 50 m nam (60 viên tự chọn): 648,8 điểm, Nguyễn Mạnh Tường của Việt Nam
(kỷ lục cũ: 648,1 điểm)
Súng trường nằm bắn 50 m nam (60 viên): 597 điểm, Nguyễn Tấn Nam của Việt Nam
(kỷ lục cũ: 592 điểm tại SEA Games 1989)
== Cử tạ ==
- 85 kg nam: 334 kg (146-188), Dudung Suhendri của Indonesia
(kỷ lục cũ: ?)
- 63 kg nữ: 230 kg (100-130), Wanee Kameaim của Thái Lan
(kỷ lục cũ: ?)
- 94 kg nam: 346 kg (155-191), Khunchai Nuchpum của Thái Lan
(kỷ lục cũ: ?)
- 69 kg nam: 257 kg (115-142), Pawina Thongsuk của Thái Lan
(kỷ lục cũ: ?)
- 75 kg nữ: 240 kg (107-133), Mya Sanda Oo của Myanma
(kỷ lục cũ: 232.5 kg (102.5-130), Cho Cho Win của Myanma, 2003)
+ 105 kg nam: 350 kg (160*-190), Che Mod Azrol Che Mat của Malaysia
(kỷ lục cũ: 155 kg, Nupadol Wandwang của Thái Lan, 2003)
== Tham khảo ==
== Liên kết ngoài ==
Trang SEA Games ở chuyên mục thể thao của Vietnam Net
Trang chủ SEA Games 23
Southeast Asian Games Information |
cục cá và động vật hoang dã hoa kỳ.txt | Cục Hoang dã và Cá Hoa Kỳ (tiếng Anh: United States Fish and Wildlife Service hay viết tắt là FWS) là một cơ quan chính phủ liên bang Hoa Kỳ nằm trong Bộ Nội vụ Hoa Kỳ, có trách nhiệm quản lý cá, loài hoang dã, và môi trường sống sinh thái. Sứ mệnh của cục là "làm việc với các cơ quan khác nhằm mục đích bảo tồn, bảo vệ, và tăng cường phát triển cá, hoang dã, thực vật và môi trường sinh sống của chúng vì lợi ích liên tục của nhân dân Mỹ."
Lãnh đạo cơ quan này là giám đốc Cục Hoang dã và Cá Hoa Kỳ.
Các đơn vị bên trong Cục Hoang dã và Cá Hoa Kỳ gồm có:
Hệ thống Nơi nương náu Hoang dã Quốc gia (548 nơi nương náu hoang dã quốc gia và 66 khu sinh sản cá quốc gia)
Phân vụ Quản lý Chim di cư
Chương trình "Federal Duck Stamp" (tạm dịch là "giấy phép săn vịt liên bang" nhưng có thể dùng để săn bất cứ loại chim nước nào)
Hệ thống Ươm ấp Cá Quốc gia (National Fish Hatchery System)
Chương trình đặc trách loài có nguy cơ tuyệt chủng (Endangered Species program)
Văn phòng thi hành luật pháp của Cục Hoang dã và Cá Hoa Kỳ (United States Fish and Wildlife Service Office of Law Enforcement)
Phòng thí nghiệm Pháp y Cục Hoang dã và Cá Quốc gia Clark R. Bavin
== Lịch sử ==
Cục Hoang dã và Cá có nguồn gốc từ năm 1871 với tên gọi là Ủy ban Hoa Kỳ đặc trách Cá và Ươm ấp cá do Quốc hội Hoa Kỳ thành lập với mục đích nghiên cứu và đưa ra giải pháp đối với sự xúc giảm cá thực phẩm. Spencer Fullerton Baird được bổ nhiệm là ủy viên đầu tiên của uy ban này. Năm 1885, Phân bộ nghiên cứu kinh tế về chim và động vật có vú được thành lập trong Bộ Nông nghiệp Hoa Kỳ mà sau đó vào năm 1896 trở thành Phân bộ Thị sát Sinh học. Công việc làm đầu tiên của nó tập trung vào sự hữu hiệu của chim muôn đối với việc kiềm chế côn trùng gây hại nông nghiệp và vẽ bản đồ sự phân bố địa lý của thực vật và thú tại Hoa Kỳ. Jay Norwood Darling được bổ nhiệm là trưởng Cục Thị sát Sinh học Hoa Kỳ năm 1934; dưới sự chỉ đạo của ông, cục khởi sự một di sản vẫn còn được tiến hành là bảo vệ nơi cư trú tự nhiên cho sinh vật khắp đất nước. Cuối cùng Cục Hoang dã và Cá được thành lập vào năm 1940 khi hai văn phòng Cá và Thị sát Sinh học được nhập lại sau khi chúng được chuyển sang cho Bộ Nội vụ Hoa Kỳ. Ngày nay, cục gồm có một văn phòng trung tâm với 8 văn phòng vùng và gần 700 văn phòng tại địa phương được phân bố khắp Hoa Kỳ.
Theo luật lông chim đại bàng (cho phép người bản thổ Mỹ sử dụng lông chim đại bàng cho mục đích tôn giáo hay truyền thống), điều khoản 50, phần 22 trong Bộ Quy tắc Liên bang (50 CFR 22) và theo Đạo luật bảo vệ đại bàng hói và đại bàng vàng, Cục Hoang dã và Cá Hoa Kỳ quản lý trung tâm lưu trử chim đại bàng chết có tên là National Eagle Repository và hệ thống giấy phép sử dụng lông chim đại bàng của người bản thổ Mỹ cho mục đích tôn giáo hay truyền thống.
Cục quản lý hai tượng đài quốc gia là Tượng đài Quốc gia Hanford Reach trong tiểu bang Washington và Tượng đài Quốc gia Papahānaumokuākea Marine, một khu vực biển khổng lồ nằm ở tây bắc Hawaii (cùng quản lý chung với Cơ quan Quản trị Khí quyển và Đại dương Quốc gia).
== Xem thêm ==
Phòng thí nghiệm Pháp y Hoang dã và Cá Quốc gia
Cơ quan Quản trị Khí quyển và Đại dương Quốc gia
Cục Công viên Quốc gia Hoa Kỳ
Tuần duyên Hoa Kỳ
== Tham khảo ==
== Liên kết ngoài ==
Official web site of the U.S. Fish and Wildlife Service
Fish And Wildlife Service
FWS Midwest Region
U.S. fishery agency Annual Reports 1871-1940 and 1947-1979
Meeting Notices and Rule Changes from The Federal Register
Lower Great Lakes Fishery Resources Office
Director of U.S. Fish and Wildlife Service dies at Keystone
DOI Secretary Ken Salazar's Statement on the Passing of Fish and Wildlife Service Director Sam Hamilton |
ginkakuji.txt | Ginkaku-ji (銀閣寺, Ginkaku-ji), tức Ngân Các Tự (chùa Gác Bạc) là một thiền viện thuộc phường Sakyo, Kyoto, Nhật Bản. Tuy dân chúng quen gọi đây là Ngân Các Tự nhưng đúng ra chùa mang tên là Jishō-ji (慈照寺, Jishō-ji), tức Từ Chiếu Tự. Chùa thuộc môn phái Shokoku-ji của thiền tông Rinzai. Công trình kiến trúc này tiêu biểu cho thời kỳ Muromachi.
== Lịch sử ==
Shogun Ashikaga Yoshimasa sai vẽ sơ đồ xây cất cơ sở này làm tư dinh từ năm 1460 với ý định làm nơi an dưỡng tuổi già, Khi Chiến tranh Ōnin nổ ra thì việc xây cất bị đình trệ. Shogun Yoshimasa muốn dùng bạc lá dát lên vách nhưng kế hoạch đó trì hoãn mãi rồi cuối cùng khi Yoshimasa mất vẫn không được thực hiện. Hình dạng vách bằng gỗ để mộc, hoàn toàn không tô phết (kiểu "wabi-sabi" theo mỹ quan Nhật Bản) là y như cảnh quan Yoshimasa đã ngước trông trước khi nhắm mắt.
Khi còn sinh thời, Shogun Ashikaga Yoshimasa đã rút về đây trong khi nội chiến Onin cấu xé đất nước và cả kinh thành Kyoto ngụt lửa. Cảnh trí vườn tược, đình quán xây dựng ở Ngân Các Tự phát sinh phong trào khai phóng nghệ thuật theo phong cách mới với tên Higashiyama Bunka (Đông Sơn Văn hóa).
Năm 1485 Yoshimasa bỏ ngôi Shogun mà đi tu rồi mất vào đầu năm 1490 (nhằm ngày 7 tháng Giêng âm lịch, niên hiệu Entoku 延徳 Diên Đức thứ nhì). Tư dinh Ngân Các được đổi làm chùa thờ Phật,. lấy tên là Jishō-ji (Từ Chiếu Tự) theo pháp danh của Yoshimasa. rồi sau khi ông mất thì nơi này được lập thành chùa thờ Phật
== Kiến trúc ==
Tòa gác hai tầng Kannon-den (観音殿, Quán Âm Điện) là công trình chính trong chùa, khởi xây vào đầu năm 1482 (ngày 4 tháng 2 âm lịch niên hiệu Bummei 文明 thứ 14). Thiết kế tòa nhà phỏng theo Kim Các Tự của Ashikaga Yoshimitsu. Tương truyền chùa có tên là Ngân Các Tự vì ý định nguyên thủy là dát bạc lá lên vách gác nhưng danh hiệu thông dụng này chỉ có từ thời kỳ Edo (1600–1868), gần 200 năm sau khi thành lập chùa.
== Chú thích == |
kendo.txt | Kendo (剣道 (劍道) (Kiếm đạo)/ けんどう, Kendou, Ken có nghĩa là kiếm, Do có nghĩa là đạo; Kendo -Kiếm đạo hay Đạo dùng kiếm), là một môn võ thuật đánh kiếm hiện đại của Nhật Bản, phát triển từ các kỹ thuật truyền thống của kiếm sĩ Nhật, ví dụ như kenjutsu Katori Shintō-ryū. Từ năm 1975, mục đích của Kendo được đề ra bởi Liên đoàn Kendo Nhật Bản là để "trui rèn nhân cách con người thông qua đường kiếm" Tuy nhiên, Kendo kết hợp các giá trị võ thuật với các yếu tố thể thao, có người luyện tập ưa thích phần võ thuật cũng có người chuộng phần thể thao.
Liên đoàn Kendo quốc tế (The International Kendo Federation – FIK) được thành lập vào năm 1970 và giải Vô địch Kendo Thế giới được tổ chức 3 năm một lần và lần đầu tiên tại Nippon Budokan trong cùng năm đó. Vào tháng7 năm 2003, giải Vô địch Kendo Thế giới lần thứ 12 được tổ chức tại Glasgow, Scotland. Những người tập Kendo đến từ 41 quốc gia và các vùng lãnh thổ khác nhau
== Võ phục và dụng cụ tập luyện ==
Kendo được tập luyện với bộ trang phục truyền thống của Nhật Bản (hakama), bộ giáp bảo vệ cơ thể (防具 bōgu) và thường sử dụng một (hoặc đôi khi là hai) thanh kiếm tre (shinai).
=== Dụng cụ tập luyện ===
Thanh kiếm tre shinai được dùng thay thế cho thanh kiếm Nhật Katana trong tập luyện và nó được làm từ bốn thanh tre ghép lại, giữ chặt với nhau bằng các miếng da. Ngày nay còn có thêm cây Shinai được làm từ vật liệu carbon được gia cố bằng các thanh nhựa tổng hợp.
Kendoka (những người tập kendo) cũng thường sử dụng những thanh kiếm gỗ cứng (木刀 -bokutō- ぼくとう) để tập luyện kata.
Bộ giáp bảo vệ được dùng để bảo vệ các bộ phận chính, là mục tiêu trên cơ thể là đầu, cổ tay và thân.
Đầu được bảo vệ bằng một loại mũ đặc biệt (面 - Men -めん) với lưới sắt để bảo vệ mặt, kết cấu bằng da và bìa cứng để bảo vệ đỉnh đầu, cổ và hai bên vai.
Cẳng tay, cổ tay và bàn tay được bảo vệ bằng loại găng tay dài, dày và có đệm (小手 - kote -こて).
Phần hông được bảo vệ bằng áo giáp (胴 - dō - どう), phần eo và phía trước háng được bảo vệ bằng (垂れ - tare - たれ).
=== Võ phục ===
Bộ võ phục mặc bên trong bōgu bao gồm một áo khoác (kendogi or keikogi) và hakama, một loại quần có dây buộc ở thắt lưng với 2 ống quần rất rộng. Cái khăn bằng cotton (手拭い - tenugui - てぬぐい) được quấn quanh đầu trước khi đội men dùng để thấm mồ hôi đồng thời làm cho "men" được đội chặt
== Tập luyện ==
Tập luyện Kendo khá ồn ào khi so sánh với các môn võ hay các môn thể thao khác. Bởi các kendōka thường sử dụng tiếng thét, hoặc tiếng (気合い/ きあい, kiai), để biểu lộ tinh thần thi đấu và đe doạ đối phương. Đồng thời các kendōka cũng sử dụng các bước dậm chân (踏み込み足/ ふみこみあし, fumikomi-ashi) để tăng thêm sức mạnh của đòn đánh.
Cũng giống như các môn võ thuật khác của Nhật Bản, các kendoka tập luyện và thi đấu với chân không. Vì vậy Kendo được tập luyện lý tưởng nhất là ở trong các võ đường hoặc nhà thi đấu dōjō lớn với sàn gỗ sạch và có độ đàn hồi tốt cho động tác dậm chân fumikomi-ashi.
Theo như truyền thống của kiếm đạo Nhật Bản là nhất chiêu tất sát (chỉ cần một chiêu là giết được đối thủ), vì vậy các đòn đánh của kiếm đạo thường nhằm vào những chỗ hiểm yếu trên cơ thể. Đó là chém vào đỉnh đầu, chém vào hông nơi giữa xương sườn và xương chậu, chém vào cổ tay và đâm vào cổ họng. Tập luyện kendo ngày nay các kendoka cũng tập trung vào các điểm đánh này (打突-部位/ だとつ-ぶい, datotsu-bui) và các điểm này đều có giáp bảo vệ. Những mục tiêu cụ thể là men, sayu-men hoặc yoko-men (bên trái hoặc bên phải phía trên đỉnh đầu), cổ tay kote bên phải vào bất cứ lúc nào hoặc cổ tay bên trái khi tay đang ở trên cao, và phần hông bên trái hoặc bên phải dō. Đòn đâm (突き/ つき, tsuki) chỉ được phép đâm vào cổ họng. Tuy nhiên với những cú đâm trượt vào cổ họng rất nguy hiểm, có thể gây chấn thương nghiêm trọng, vì vậy những đòn đâm này được giới hạn chỉ cho những người ở cấp độ 1 dan trở lên.
Khi một kendoka bắt đầu tập luyện với giáp, các bài tập luyện có thể là một hoặc tất cả các bài tập sau:
Kiri-kaeshi (切-返し/ きり-かえし, Kiri-kaeshi):Chém liên tục bên trái và bên phải của Men bằng 4 bước tiến và 5 bước lùi, mục đích là tập luyện để giữ vững trọng tâm, khoảng cách và các kỹ thuật, đồng thời cũng để nâng cao tinh thần và thể lực.
Waza-geiko (技-稽古/ わざ-げいこ, Waza-geiko): waza là các kỹ thuật, chiến thuật tập luyện để các kendoka rèn luyện và chuẩn hoá các kỹ thuật trong kendo.
Kakari-geiko (掛-稽古/ かかり-げいこ, Kakari-geiko):Đánh nhanh, liên tục và mạnh mẽ trong một khoảng thời gian ngắn, mục đích để rèn luyện sự tỉnh táo và sẵn sàng trong mọi đòn đánh, đồng thời cũng để nâng cao tinh thần và thể lực.
Ji-geiko (地-稽古/ じ-げい, Ji-geiko): Đánh tự do, sử dụng tất cả những gì mình học được để thi đấu với người cùng tập.
Gokaku-geiko (互角-稽古/ ごかく-げいこ, Gokaku-geiko):Tập luyện giữa 2 kendoka có cùng đẳng cấp.
Hikitate-geiko (引立-稽古/ ひきたて-げいこ, Hikitate-geiko):Tập luyện dưới sự hướng dẫn của kendoka cấp cao hơn.
Shiai-geiko (試合-稽古/ しあい-げいこ, Shiai-geiko):Thi đấu có trọng tài.
=== Mục đích tập luyện của Kendo ===
Rèn luyện trí óc và thân thể
Trau dồi tu dưỡng sức mạnh tinh thần
Thông qua cách tập luyện đúng và nghiêm khắc:
Để cố gắng phát triển nghệ thuật của Kendo
Gìn giữ tính nhân bản, sự tôn trọng và lịch sự giữa con người.
Để kết giao với mọi người trên cơ sở chân thành, ngay thật.
Và luôn luôn tự trau dồi tu dưỡng bản thân.
== Chú thích ==
== Liên kết ngoài ==
Liên đoàn Kendo quốc tế
Lịch sử Kendo trên trang web của Liên đoàn Kendo Nhật Bản |
trần quốc vượng (sử gia).txt | Trần Quốc Vượng (12 tháng 12 năm 1934 – 8 tháng 8 năm 2005) là một giáo sư, nhà sử học, nhà khảo cổ học Việt Nam.
== Tiểu sử ==
Ông sinh tại Hải Dương, nhưng quê quán ở thôn Lê Xá, xã Châu Sơn, huyện Duy Tiên, tỉnh Hà Nam. Sau khi tốt nghiệp thủ khoa cùng với Phan Huy Lê, Đinh Xuân Lâm năm 1956 ông được giữ lại làm cán bộ giảng dạy tại Khoa Lịch sử, Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội (nay là Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội).
1956-1980 ông là Cán bộ giảng dạy Cổ sử Việt Nam, Khoa Sử, Đại học Tổng hợp
1959 ông là Trưởng nhóm/ Trưởng môn Khảo cổ học, Khoa Sử, Đại học Tổng hợp
1980-1993 ông là Giáo sư, Chủ nhiệm Bộ môn Khảo cổ học, Khoa Sử, Đại học Tổng hợp
1989-2005 ông trở thành Nhà giáo Ưu tú, Giám đốc Trung tâm Liên Văn hoá - Lịch sử Khoa Sử, Đại học Tổng hợp
1993-1996 Trưởng môn Văn hoá học, Đại học Đại cương, Đại học Quốc gia Hà Nội
1993-1996 Trưởng ngành Du lịch học, Đại học Tổng hợp
1996-2005 Chủ tịch Hội đồng Khoa học và đào tạo, Khoa Du lịch, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội; Chủ nhiệm Bộ môn Lịch sử Văn hoá Khoa Lịch sử, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội
Ngày 22 tháng 9 năm 2003 ông lập gia đình lần thứ hai với người vợ trẻ kém ông gần 30 tuổi (sinh năm 1963). Người vợ trước của ông đã mất trước đó khá lâu.
== Tứ trụ sử học Việt Nam đương đại ==
Ông được xem là một trong "tứ trụ" "Lâm, Lê, Tấn, Vượng"(tức gồm các Giáo sư Đinh Xuân Lâm, Phan Huy Lê, Hà Văn Tấn và Trần Quốc Vượng) của sử học Việt Nam đương đại. Theo lời giải thích của chính ông, đó là chuyện huyền thoại có lẽ hình thành vào cuối thập kỷ 1960, khi cả bốn ông đều nổi tiếng học giỏi. Ra trường vào giữa thập kỷ 1950, ba ông "Lâm, Lê, Vượng" học cùng khoá, còn ông "Tấn" học sau (thủ khoa năm 1957). Sau đó, theo lệnh của khoa, ông và giáo sư Hà Văn Tấn góp sức xây dựng ngành Khảo cổ học của khoa Sử, vì sau năm 1954, khi Pháp rút khỏi Việt Nam thì ngành Khảo cổ Việt Nam hầu như chỉ còn là con số 0, không có một nhà khảo cổ học nào. Ông đã lên lớp đầu tiên về Khảo cổ học Việt Nam niên khoá 1959 – 1960, cùng với sự giúp đỡ tư liệu của giáo sư Hà Văn Tấn.
== Tác phẩm ==
Ông đã viết nhiều bài nghiên cứu khoa học (trên 400 bài) đăng trên các tạp chí chuyên môn trong nước (Khảo cổ, Lịch sử, Văn học, Văn hoá Dân gian, Văn hoá Nghệ thuật...) và ngoài nước (Cornell University Press, North Ilinois, Yale University (Mỹ), Tokyo, Kyoto, Osaka University (Nhật), Seoul University (Hàn Quốc), Oxford University Press (Anh)…). Ngoài ra, ông đã viết và được in ấn nhiều sách (trên 40 cuốn) ở cả trong và ngoài nước, có thể kể đến như:
Việt Nam khảo cổ học (tiếng Nhật, Tokyo, 1993)
Trong cõi (California, 1993)
Theo dòng lịch sử (1995)
Some aspects of Vietnam culture (Mỹ, 1995)
Tìm hiểu văn hoá dân gian Hà Nội (1997)
Việt Nam, cái nhìn địa văn hoá (1998)
Vietnam folklore and history (Mỹ, North Ilinois, 1998)
Essay into the Vietnam past (New York, Mỹ, 1999)
Ngành nghề, tổ nghề, làng nghề Việt Nam (1999)
Làng nghề, phố nghề Thăng Long, Hà Nội (2000)
Văn hoá Việt Nam, tìm tòi và suy ngẫm (2000)
Trên mảnh đất nghìn năm văn vật (2001)
Tìm hiểu bản sắc văn hoá xứ Huế (2001)
Confusianism in East Asia (Seoul, Hàn Quốc, 2001)
Khoa Sử và tôi (2001)
Tìm hiểu bản sắc văn hoá xứ Quảng (2002)
Tìm hiểu bản sắc văn hoá dân gian Nam Bộ (2004)
Hà Nội như tôi hiểu (2005)
Con người – Môi trường – Văn hoá (2005)
== Các hoạt động khác ==
- Tổng Thư ký Hội Văn nghệ Dân gian Hà Nội (từ 1976 đến 2005)
- Phó Tổng Thư ký Hội Văn hoá Văn nghệ Dân gian Việt Nam (từ 1989 đến 2005)
- Chủ tịch Hội Sử học Hà Nội (từ 1990 đến 1996)
- Uỷ viên Ban Chấp hành Hội Sử học Việt Nam (từ 1993 đến 2005)
- Chủ tịch Câu lạc bộ Ngành nghề thủ công truyền thống
- Chủ nhiệm câu lạc bộ Văn hoá Ẩm thực Việt Nam (từ 1995 đến 2005)
- Cố vấn Bộ trưởng Bộ Văn hoá Thông tin về Chương trình thiết kế - tu bổ - tôn tạo các di tích lịch sử (từ 1995 đến 2005)
- Tư vấn Uỷ ban nhân dân Hà Nội về các di tích lịch sử Hà Nội và Chương trình "Ngàn năm Thăng Long" (từ 1995 đến 2005)
- Uỷ viên Hội đồng tư vấn của Viện Khoa học Xã hội Việt Nam về Khu di tích Hoàng thành Thăng Long (2003-2004)
== Khen thưởng ==
Ông đã được Chính phủ Việt Nam tặng Huân chương Lao động hạng Nhất (1997) và rất nhiều Huân Huy chương khác.
Ngày 20 tháng 1 năm 2012, ông được Chủ tịch nước ký quyết định truy tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh đợt IV về Khoa học - công nghệ với cụm công trình Văn hóa Việt Nam: Truyền thống và Hiện đại gồm 3 tác phẩm: Văn hóa Việt Nam - Tìm tòi và Suy ngẫm, Việt Nam cái nhìn Địa - Văn hóa, Trên mảnh đất ngàn năm văn vật .
== Vinh danh ==
Tên ông được đặt cho một phố ở quận Cầu Giấy, thành phố Hà Nội, đoạn từ ngã ba giao cắt với đường Xuân Thủy (tại số nhà 165) đến ngã ba giao cắt đường Phạm Hùng (đối diện Bệnh viện Y học Cổ truyền), dài 750 m, rộng 13,5 m.
Tên ông cũng được đặt cho một phố tại Khu đô thị Liêm Chính, thành phố Phủ Lý, tỉnh Hà Nam, dài 1000 m, rộng 18 m, đoạn từ điểm giao cắt phố Trần Quang Tặng đến đoạn giao cắt với đường 68 m.
== Chú thích ==
== Liên kết ngoài ==
Cùng GS. Trần Quốc Vượng tìm tòi và suy ngẫm, trên báo Hà Nội mới
GS. Trần Quốc Vượng - "mõ làng" của Hà Nội, trên VietNamNet, nguồn từ báo Pháp Luật, Thành phố Hồ Chí Minh
GS. Trần Quốc Vượng - thác là thể phách, còn là tinh anh, trên trang web của Đại học Quốc gia Hà Nội
GS.NGƯT Trần Quốc Vượng: Thầy tôi, cây đại thụ của nền sử học Việt Nam |
quicktime.txt | QuickTime là phần mềm chạy video của Apple, có 2 phiên bản: QuickTime gốc dành cho Windows XP hoặc mới hơn, cũng như Mac OS X Leopard hoặc mới hơn; QuickTime X hiện chỉ dành cho Mac OS X Snow Leopard, Lion và Mountain Lion.
== Tính năng ==
Chơi những
File nhạc có dạng đuôi: mov,
Danh Sách các bản nhạc có dạng đuôi: qt
== Tham khảo ==
== Liên kết ngoài ==
http://www.w3schools.com/media/media_quicktime.asp
http://www.mioplanet.com/rsc/embed_mediaplayer.htm
http://www.stream24.org/?lang=en&page=playereinbinden |
tạ khoa.txt | Tạ Khoa là một xã thuộc huyện Bắc Yên, tỉnh Sơn La, Việt Nam.
Xã có diện tích 74,56 km², dân số năm 2008 là 3.729 người, mật độ dân số đạt 50 người/km².
== Chú thích ==
== Tham khảo == |
fifa (loạt trò chơi).txt | FIFA hay FIFA Football hoặc FIFA Soccer là series trò chơi bóng đá được phát hành hàng năm bởi hãng Electronic Arts dưới thương hiệu EA Sports.
Khi trò chơi ra mắt vào năm 1993 nó được chú ý nhờ việc là trò chơi đầu tiên được FIFA cấp phép chính thức. Các phiên bản gần đây bao gồm các giải đấu và đội bóng được cấp phép độc quyền trong đó có Bundesliga và 2. Bundesliga của Đức, Premier League và The Football League của Anh, Serie A của Ý, La Liga của Tây Ban Nha, Primeira Liga của Bồ Đào Nha, Ligue 1 của Pháp, Eredivisie của Hà Lan, Campeonato Brasileiro Série A của Brasil, Liga MX của México, Major League Soccer của Hoa Kỳ, K-League của Hàn Quốc, Professional League của Ả Rập Saudi và A-League của Úc, cho phép sử dụng tên giải, tên câu lạc bộ, và tên cầu thủ đời thực trong game. Ngoài series chính ra, EA còn sản xuất một số phiên bản dựa trên các giải đấu lớn như FIFA World Cup, UEFA Euro, và UEFA Champions League, cũng như một series quản lý bóng đá.
Kể từ FIFA 13, Lionel Messi là gương mặt đại diện của trò chơi, xuất hiện trên bìa đĩa và các hình thức quảng cáo. Anh thay thế cho Wayne Rooney, người xuất hiện trên bìa game từ phiên bản FIFA 06 tới FIFA 12.
FIFA cũng có sẵn ở 18 ngôn ngữ khác nhau và được bán ở 51 quốc gia. Tính tới tháng 10/2010, series đã bán ra trên 100 triệu bản toàn thế giới, trở thành chuỗi trò chơi điện tử thể thao bán chạy nhất thế giới, và là một trong những series trò chơi điện tử bán chạy nhất. FIFA 12 giữ kỉ lục "game thể thao bán ra nhanh nhất" với 3,2 triệu bản và doanh thu 186 triệu đôla Mỹ trong tuần đầu tiên.
Phiên bản mới nhất của trò chơi là FIFA 17, ra mắt vào ngày 27 tháng 9 năm 2016 tại Bắc Mỹ và 29 tháng 9 năm 2016 trên toàn thế giới.
== Các phiên bản FIFA ==
=== Thập niên 1990 ===
==== FIFA International Soccer ====
Khẩu hiệu: "FIFA International Soccer has it all... experience sheer brilliance" (Tạm dịch: "FIFA International Soccer có tất cả... hãy trải nghiệm sự tuyệt hảo")
Cầu thủ bìa game: David Platt và Piotr Świerczewski (Packie Bonner và Ruud Gullit ở một số phiên bản khác)
Định dạng: PC, DOS, Amiga, Sega CD (với tên "FIFA International Soccer Championship Edition"), 3DO, SNES, Mega Drive/Genesis, Master System, Sega Game Gear, Game Boy
Ngày phát hành: 15/7/1993
Được biết tới với tên EA Soccer trong quá trình phát triển và sau thường được gọi là FIFA '94, game đầu tiên trong series được phát hành trong các tuần gần cuối năm 1993. Tựa game được quảng bá rộng rãi này góc nhìn khác với các game 16-bit khi giới thiệu góc nhìn isometric so với góc nhìn thẳng góc từ trên cao (Kick Off), góc nhìn cạnh (European Club Soccer), hay góc nhìn toàn cảnh từ trên cao (Sensible Soccer). Game chỉ bao gồm các đội tuyển quốc gia, và không dùng tên thật của cầu thủ. Một lỗi trong game cho phép cầu thủ ghi bàn bằng cách đứng trước mặt thủ môn khi thủ môn chuẩn bị phát bóng để bóng bật vào cầu thủ tấn công vào lưới. Game giữ vị trí số một trên các bản xếp hạng ở Anh Quốc, thế chỗ của Street Fighter II Special Champion Edition, và tại vị trong tròn 6 tháng. Mega đặt game ở vị trí 11 trong danh sách Top 50 Game Mega Drive mọi thời đại. Phiên bản Sega Mega CD được phát hành với tên "FIFA International Soccer Championship Edition" bao gồm nhiều đặc tính sẽ có mặt trong tựa FIFA tiếp theo, và là phiên bản hoàn thiện hơn so với bản gốc. Phiên bản này xếp thứ 7 trong danh sách Top 10 game Mega CD mọi thời đại. Phiên bản trên hệ console 3DO sử dụng camera giả 3D và là phiên bản tiên tiến nhất. Game ra đời để chào đón vòng chung kết Giải bóng đá vô địch thế giới 1994 tại Mỹ - đặc biệt đáng chú ý với phiên bản SNES bao gồm ba đội tuyển lọt vào VCK World Cup: Bolivia, Ả Rập Saudi và Hàn Quốc, dù có ít lựa chọn đội bóng hơn bản chạy trên Genesis. Game được đặt tên là "International Soccer" để EA có thể tiêu thụ game thuận lợi hơn tại châu Âu, sau khi cho rằng người Mỹ sẽ không có hứng thú với nó.
==== FIFA Soccer 95 ====
Khẩu hiệu: "The best console football can get"
Cầu thủ bìa game: Erik Thorstvedt (Alexi Lalas ở một số phiên bản)
Nền tảng: Mega Drive/Genesis
Ngày phát hành: 8/7/1994
Ngoài việc dử dụng cùng engine với FIFA International Soccer với một vài sửa đổi nhỏ, FIFA 95 giới thiệu các câu lạc bộ tại 8 giải: Brasil, Bundesliga của Đức, Serie A của Ý, La Liga của Tây Ban Nha, Premier League của Anh, 1re division của Pháp, Eredivisie của Hà Lan và giải của Hoa Kỳ. Hầu hết danh sách cầu thủ các đội lấy từ mùa 1993-94, và vẫn có các cầu thủ tưởng tượng, nhiều trong số này lấy từ game trước. Giải của Hoa Kỳ bao gồm các đội từ A-League, giải hạng nhì Mỹ vào thời điểm đó. Các phiên bản sau sẽ có các giải hạng nhất "tự tạo" cho tới phiên bản năm 2000 khi Major League Soccer được đưa vào lần đầu tiên. Thêm vào đó giải Brasil chỉ gồm các đội từ São Paulo và Rio de Janeiro, với ngoại lệ Internacional từ Porto Alegre. Mãi tới FIFA 07 Campeonato Brasileiro mới được đưa vào. Game loại bỏ cách chuyền một chạm có trong FIFA International Soccer. Đây cũng là game duy nhất trong series chính chỉ phát hành cho một platform duy nhất (nếu tính cả các game phụ thì có FIFA 64 và một vài phiên bản của FIFA Manager).
==== FIFA Soccer 96 ====
Khẩu hiệu: "Next Generation Soccer"
Cầu thủ bìa game: Frank de Boer và Jason McAteer (Phiên bản châu Âu)
Nền tảng: DOS/Windows, PlayStation, Sega Saturn, Sega 32X, SNES, Mega Drive/Genesis, Sega Game Gear, Game Boy
Ngày phát hành: 1/7/1995
Đây là tựa FIFA đầu tiên sử dụng đồ họa 3D thời gian thực đối với các nền tảng Sega Saturn, PlayStation và PC, sử dụng công nghệ "Virtual Stadium" (Sân vận động ảo). Đây cũng là tựa đầu tiên trong series để tên và vị trí giống đời thực với các chức năng chỉnh chỉ số, chuyển nhượng và đội bóng. Tuy nhiên, các câu lạc bộ của Brasil vẫn gồm tên cầu thủ không có thực, một số đội còn có tên của các cầu thủ đã nghỉ hưu lâu năm (chỉ tới FIFA 99 điều này mới được sửa chữa), còn giải của Mỹ bao gồm toàn các đội bóng và cầu thủ không có thực (Major League Soccer mới chỉ bắt đầu vài tháng trước khi game ra mắt và chỉ có mặt từ FIFA 2000). Các bản chạy nền SNES và Mega Drive sử dụng phiên bản update từ FIFA 95 với các đội bóng và đồ họa mới. Cùng với 8 giải đấu ở game trước thì giờ đây có thêm ba giải: Scottish Premier League, Allsvenskan và Super League Malaysia. Đây là bản FIFA đầu tiên có một phần giới thiệu game hoàn chỉnh.
==== FIFA 97 ====
Khẩu hiệu: "Emotion Captured"
Cầu thủ bìa game: David Ginola (Châu Âu); Bebeto (Thế giới)
Nền tảng: DOS/Windows, PlayStation, Sega Saturn, Mega Drive/Genesis, SNES, Game Boy
Ngày phát hành: 24/6/1996
Thay đổi lớn nhất là sự có mặt của chế độ indoor soccer 6 người và các cầu thủ có góc cạnh, với chuyển động mẫu do David Ginola thực hiện. Game bao gồm nhiều giải đấu từ Anh, Tây Ban Nha, Pháp, Ý, Hà Lan, Đức và Malaysia. Bình luận thực hiện bởi John Motson và Andy Gray, với Des Lynam giới thiệu các trận đấu.
==== FIFA: Road to World Cup 98 ====
Khẩu hiệu: "Your only goal - qualify"
Cầu thủ bìa game: Roy Lassiter (Hoa Kỳ); David Beckham (Anh Quốc); Paolo Maldini (Ý); David Ginola (Pháp); Andreas Möller (Đức); Raúl González (Tây Ban Nha)
Bài hát chủ đề: "Song 2" của Blur
Nền tảng: Microsoft Windows, PlayStation, Nintendo 64, Sega Saturn, SNES, Mega Drive/Genesis, Game Boy
Ngày phát hành: 17/6/1997
Trò chơi này đánh dấu sự đi lên của series với engine đồ họa cải tiến, các mục chỉnh sửa cầu thủ và đội bóng, 16 sân vận động, AI tốt hơn, chế độ "Road to World Cup" với tất cả các đội tuyển quốc gia thuộc FIFA, và một soundtrack được cấp phép với những cái tên nổi tiếng. Game cung cấp đội hình chuẩn của các đội tại vòng loại World Cup. Một tính năng mới là điều chỉnh độ nghiêm khắc của trọng tài, giúp một vài pha phạm lỗi được bỏ qua hoặc không bị phạt thẻ. Thêm vào đó là lần đầu tiên luật việt vị được áp dụng hợp lý. Ở các game trước, một cầu thủ vẫn bị bắt lỗi khi đồng đội chuyền ngược về. FIFA 98 cũng là tựa game FIFA đầu tiên có bài hát chủ đề, "Song 2" của Blur. Đây cũng là game cuối cùng phát hành trên hệ máy console 16-bit.
==== FIFA 99 ====
Khẩu hiệu: "All the Clubs, Leagues and Cups"
Cầu thủ bìa game: Dennis Bergkamp (Quốc tế), Kasey Keller (Hoa Kỳ), Fabien Barthez (Pháp), Nakata Hidetoshi (Nhật); Olaf Thon (Đức); Rui Costa (Bồ Đào Nha); Christian Vieri (Ý); Ahn Jung-Hwan (Hàn Quốc); Fernando Morientes (Tây Ban Nha);
Bài hát chủ đề: "The Rockafeller Skank (Remix)" của Fatboy Slim
Nền tảng: Microsoft Windows, PlayStation, Nintendo 64
Ngày phát hành: 10/6/1998
Cùng với việc chế độ bóng đá trong nhà không còn xuất hiện, độ lưu động và khả năng phản ứng của gameplay được gia tăng. Sự gia tăng số website dành riêng cho game và lượng lớn các giải đấu (giải của Malaysia bị loại, thay thế là Giải hạng nhất Bỉ và Primeira Liga của Bồ Đào Nha). Về mặt đồ họa, đây là bước tiến lớn so với FIFA '98 với những cử động khuôn mặt cơ bản, chiều cao khác nhau của cầu thủ cũng như các chi tiết bên ngoài như trang phục và huy hiệu, mặc dù chúng chưa được cấp phép. Người chơi có thể tạo ra giải đấu cúp và giải vô địch theo ý thích với bất kỳ đội bóng nào trong trò chơi.
Đây là cũng là game đầu tiên bao gồm cả các đội không thuộc các giải có sẵn trong trò chơi (khi đó các đội này được phân loại vào nhóm "Rest of Europe" bởi tất cả các đội đều thuộc châu Âu, chủ yếu là các đội thuộc mùa giải 1998-99 của Cúp UEFA hoặc Champions League).
=== Thập niên 2000 ===
==== FIFA 2000 ====
Bài hát chủ đề: "It's Only Us" của Robbie Williams
Cầu thủ bìa game: Sol Campbell (Anh Quốc); Vincenzo Montella (Ý); Pep Guardiola (Tây Ban Nha); Emmanuel Petit (Pháp); Jaap Stam (Hà Lan); Vassilios Tsiartas (Hy Lạp); Mehmet Scholl (Đức); Simão Sabrosa (Bồ Đào Nha); Eddie Pope (Hoa Kỳ); Par Zetterberg (Thụy Điển); Kim Byung-Ji (Hàn Quốc);
Nền tảng: Microsoft Windows, PlayStation, Game Boy Color
Ngày phát hành: 26/10/1999
Bản FIFA này bao gồm 40 đội "cổ điển", giúp người chơi có cơ hội thi đấu cùng các cựu cầu thủ. Nó đánh dấu sự khởi đầu của Major League Soccer thay cho giải vô địch Mỹ tưởng tượng trước đây, cũng như các giải Đan Mạch, Hy Lạp, Israel, Na Uy và Thổ Nhĩ Kỳ (tuy nhiên Galatasaray S.K. không có trong game). Game có sự hiện diện của 40 đội tuyển quốc gia, các mùa giải được tích hợp đầy đủ, các lựa chọn tình huống cố định, va chạm vật lý được tăng cường, cử động khuôn mặt, khả năng che chắn mới cùng việc xoạc bóng quyết liệt hơn.
Sau khi nhận nhiều ý kiến trái chiều do đồ họa còn non nớt và gameplay hời hợt, một engine mới toanh được tích hợp nhằm tạo ra nhiều "cảm xúc" hơn cho các cầu thủ. Game nhìn chung được xem là kém xa đối thủ cạnh tranh. Video giới thiệu của FIFA 2000 chiếu cầu thủ Sol Campbell thể hiện các cử động mẫu của trò chơi, và cầu thủ ảo đại diện cho anh thi đấu với đội bóng từ năm 1904 - năm FIFA ra đời. Một phiên bản beta của FIFA 2000 chạy trên Nintendo 64 tồn tại dù game không ra mắt chính thức trên hệ máy này.
==== FIFA 2001 ====
Bài hát chủ đề: "Bodyrock" của Moby
Cầu thủ bìa game: Edgar Davids (Hà Lan); Paul Scholes (Anh Quốc); Gheorghe Hagi; Ben Olsen (Hoa Kỳ); Sá Pinto (Bồ Đào Nha); Gaizka Mendieta (Tây Ban Nha); Filippo Inzaghi (Ý); Lothar Matthäus (Đức); Thierry Henry (Pháp); Leonardo (Brasil); Shimon Gershon (Israel); Ko Jong-Su (Hàn Quốc)
Nền tảng: Microsoft Windows, PlayStation 2, PlayStation
Ngày phát hành: 8/11/2000
FIFA 2001 có engine đồ họa mới cho phép mỗi đội có trang phục chi tiết, và một số cầu thủ có khuôn mặt riêng. Lần đầu tiên huy hiệu chính thức của các câu lạc bộ xuất hiện, dù một số giải như của Hà Lan chưa được cấp phép. Giải Bundesliga của Áo cũng lần đầu xuất hiện, cũng với sự vắng bóng của Primeira Liga của Bồ Đào Nha và Süper Lig của Thổ Nhĩ Kỳ. Đây là tựa game đầu tiên của series có sự xuất hiện của thanh lực sút (từng xuất hiện trong phiên bản Super NES của game đầu tiên, nhưng không có trong các hệ máy game khác). FIFA 2001 là bản đầu tiên (cho PC) có thể chơi online, một bước tiến đột phá, và là game đầu tiên chơi trên hệ PlayStation 2.
==== FIFA Football 2002 ====
Bài hát chủ đề: "19-2000 (Soulchild Remix)" của Gorillaz
Cầu thủ bìa game: Nakata Hidetoshi (Nhật); Thierry Henry (Pháp); Zlatan Ibrahimović (Thụy Điển); Nuno Gomes (Bồ Đào Nha); Francesco Totti (Ý); Ruud van Nistelrooy (Hà Lan); İlhan Mansız (Thổ Nhĩ Kỳ); Gerald Asamoah (Đức); Lampros Choutos (Hy Lạp); Hong Myung-Bo (Hàn Quốc); Sibusiso Zuma (Nam Phi); Nawaf Al-Temyat (Ả Rập Saudi); Tomasz Radzinski (Hoa Kỳ); Roberto Carlos (Brasil); Iker Casillas (Tây Ban Nha);
Nền tảng: Microsoft Windows, PlayStation 2, GameCube, PlayStation
Ngày phát hành: 1/11/2001
Trong FIFA Football 2002, thanh lực chuyền được giới thiệu, và khả năng rê dắt bóng được giảm thiểu nhằm tăng độ khó. Huy hiệu của các câu lạc bộ châu Âu lớn trong đó có các câu lạc bộ Hà Lan như PSV, Ajax và Feyenoord cũng được thêm vào dù giải của Hà Lan không có mặt (các câu lạc bộ này ở mục "Rest of World"). Giải của Thụy Sĩ cũng lần đầu ra mắt, thế cỗ của giải Hy Lạp. Ngoài ra còn có một game phụ dành cho các đội được đặc cách dự World Cup 2002 (Pháp, Nhật Bản và Hàn Quốc), nơi người chơi cố gắng nâng thứ hạng trên BXH FIFA của các đội bóng này bằng các trận giao hữu. Đối với các đội tuyển khác, người chơi sẽ tham dự vòng loại ở các khu vực tương ứng (ngoại trừ châu Úc và châu Phi vì không đầy đủ các đội).
FIFA Football 2002 là game cuối cùng của series có sự góp mặt của đội tuyển Nhật do JFA bán bản quyền của đội cho riêng Konami từ năm 2002, do đó không chỉ riêng FIFA, mà tất cả các trò chơi bóng đá trên thị trường (ngoại trừ series World Cup của EA Sports), không thể sử dụng đội hình và các thông tin của các cầu thủ (mặc dù vậy các cầu thủ Nhật thi đấu ở nước ngoài vẫn hiện diện như thường).
==== FIFA Football 2003 ====
Khẩu hiệu: "Be the Twelfth Man"
Cầu thủ bìa game: Roberto Carlos, Ryan Giggs và Edgar Davids (tại Hoa Kỳ, Roberto Carlos thay bởi Landon Donovan)
Bài hát chủ đề: "To Get Down (Fatboy Slim Remix)" của Timo Maas
Nền tảng: Microsoft Windows, PlayStation 2, Xbox, GameCube, PlayStation, Game Boy Advance, Điện thoại di động
Ngày phát hành: 25/10/2002
==== FIFA Football 2004 ====
Khẩu hiệu: "Create brilliance"
Cầu thủ bìa game: Thierry Henry, Alessandro Del Piero và Ronaldinho
Bài hát chủ đề: "Red Morning Light" của Kings of Leon
Nền tảng: Microsoft Windows, PlayStation 2, Xbox, GameCube, PlayStation, Game Boy Advance, Nokia N-Gage, Điện thoại di động
Ngày phát hành: 18/10/2003
==== FIFA Football 2005 ====
Khẩu hiệu: "A great player needs a great first touch"
Cầu thủ bìa game: Patrick Vieira, Fernando Morientes và Andriy Shevchenko (ở Bắc Mỹ, Oswaldo Sánchez thay cho Patrick Vieira)
Nền tảng: Microsoft Windows, PlayStation 2, Xbox, GameCube, PlayStation, PlayStation Portable (chỉ có ở Mỹ), Game Boy Advance, N-Gage, Gizmondo, Điện thoại di động
Ngày phát hành: 11/10/2004
==== FIFA 06 ====
Khẩu hiệu: "You Play, They Obey"
Cầu thủ bìa game: Wayne Rooney và Ronaldinho (ở Bắc Mỹ, Omar Bravo và Freddy Adu thay cho Rooney)
Bài hát chủ đề: "Helicopter" của Bloc Party
Nền tảng: Xbox 360 (Road to FIFA World Cup), Microsoft Windows, PlayStation 2, Xbox, GameCube, PlayStation Portable, Nintendo DS, Game Boy Advance, J2ME
Ngày phát hành: 4/10/2005
==== FIFA 07 ====
Khẩu hiệu: "This is the Season"
Cầu thủ bìa game: Wayne Rooney và Ronaldinho
Bài hát chủ đề: "Can't Get Enough (Mekon Remix)" của The Infadels
Nền tảng: Microsoft Windows, Xbox 360, PlayStation 2, Xbox, GameCube, PlayStation Portable, Nintendo DS, Game Boy Advance, J2ME
Ngày phát hành: 27/9/2006
==== FIFA 08 ====
Khẩu hiệu: "Can you FIFA 08?", "Got what it takes?"
Cầu thủ bìa game: Wayne Rooney và Ronaldinho
Bài hát chủ đề: "Sketches (20 Something Life)" của La Rocca
Nền tảng: Microsoft Windows, Xbox 360, PlayStation 3, Wii, PlayStation 2, PlayStation Portable, Nintendo DS, J2ME
Ngày phát hành: 20/9/2007
==== FIFA 09 ====
Khẩu hiệu: "Let's FIFA 09"
Cầu thủ bìa game: Wayne Rooney và Ronaldinho
Bài hát chủ đề: "Let U Know" của Plastilina Mosh
Nền tảng: Microsoft Windows, PlayStation 3, Xbox 360, Wii, PlayStation 2, PlayStation Portable, Nintendo DS, J2ME
Ngày phát hành: 3/10/2008
=== Thập niên 2010 ===
==== FIFA 10 ====
Khẩu hiệu: "Let's FIFA 10", "How big can football get?"
Cầu thủ bìa game: Theo Walcott, Frank Lampard và Wayne Rooney (Tim Cahill và Rooney trên bìa bản tại Úc; Andreas Ivanschitz và Rooney trên bìa bản tại Áo)
Bài hát chủ đề: "Nothing to Worry About" của Peter Bjorn and John
Nền tảng: Microsoft Windows, Xbox 360, PlayStation 3, Wii, PlayStation 2, PlayStation Portable, Nintendo DS, iOS, Android, J2ME
Ngày phát hành: 2/10/2009 (Châu Âu), 20/10/2009 (Hoa Kỳ)
==== FIFA 11 ====
Khẩu hiệu: "We are 11"
Cầu thủ bìa game: Kaká và Wayne Rooney
Nền tảng: Microsoft Windows, Xbox 360, PlayStation 3, Wii, PlayStation 2, PlayStation Portable, Nintendo DS, iOS, BlackBerry OS, J2ME
Ngày phát hành: 28/9/2010 (Hoa Kỳ), 1/10/2010 (Châu Âu)
==== FIFA 12 ====
Khẩu hiệu: "Love Football, Play Football"
Cầu thủ bìa game: Wayne Rooney và Jack Wilshere (Anh Quốc và Ireland), Landon Donovan và Rafael Márquez (Bắc Mỹ)
Bài hát chủ đề: "Kids" của Sleigh Bells
Nền tảng: Microsoft Windows, OS X, PlayStation 3, Xbox 360, Wii, PlayStation 2, PlayStation Vita, Nintendo 3DS, PlayStation Portable, iOS, J2ME
Ngày phát hành: 27/9/2011 (Hoa Kỳ), 30/9/2011 (Châu Âu)
==== FIFA 13 ====
Khẩu hiệu: "JOIN THE CLUB" (chữ "B" cách điệu giống số "13")
Cầu thủ bìa game: Lionel Messi (Joe Hart và Alex Oxlade-Chamberlain cũng xuất hiện ở một số phiên bản)
Bài hát chủ đề: "Club Foot" của Kasabian
Nền tảng: Microsoft Windows, Wii U, PlayStation 3, Xbox 360, Wii, PlayStation 2, PlayStation Vita, Nintendo 3DS, PlayStation Portable, iOS, Windows Phone, Android, J2ME
Ngày phát hành: 25/9/2012 (Hoa Kỳ), 27/9/2012 (Úc), 28/9/2012 (Châu Âu)
==== FIFA 14 ====
Khẩu hiệu: "We are FIFA 14"
Cầu thủ bìa game: Lionel Messi (Argentina), Javier Hernández (Bắc Mỹ), Stephan El Shaarawy (Ý), Arturo Vidal và Radamel Falcao (Argentina, Chile, Panama, Venezuela), Gareth Bale (Anh Quốc, Cộng hòa Ireland), Michal Kadlec (Cộng hòa Séc), Robert Lewandowski (Ba Lan), Balázs Dzsudzsák (Hungary), Xherdan Shaqiri (Thụy Sĩ), David Alaba (Áo), Tim Cahill (Úc), Yoshida Maya và Hasebe Makoto (Nhật), Mustafa Al-Bassas (Trung Đông)
Nền tảng: Microsoft Windows, PlayStation 4, Xbox One, PlayStation 3, Xbox 360, Wii, PlayStation 2, PlayStation Vita, Nintendo 3DS, PlayStation Portable, iOS, Windows Phone, Android, J2ME.
Ngày phát hành: 24/9/2013 (Hoa Kỳ), 26/9/2013 (Châu Âu)
==== FIFA 15 ====
Khẩu hiệu: "Feel the Game"
Cầu thủ bìa game: Lionel Messi (Quốc tế), Eden Hazard (Anh Quốc, Cộng hòa Ireland, Pháp, Bỉ, Hà Lan), Gonzalo Higuaín (Ý), Clint Dempsey (Hoa Kỳ), Tim Cahill (Úc), Robert Lewandowski (Ba Lan), David Alaba (Áo), Xherdan Shaqiri (Thụy Sĩ), Javier Hernández (México), Arturo Vidal (Nam Mỹ), Michal Kadlec (Cộng hòa Séc), Arda Turan (Thổ Nhĩ Kỳ), Atsuto Uchida (Nhật), Yahya Al-Shehri (Bán đảo Ả Rập).
Nền tảng: Microsoft Windows, PlayStation 3, PlayStation 4, PlayStation Vita, Nintendo 3DS, Wii, iOS, Android, Xbox 360, Xbox One
Ngày phát hành: 23/9/2014 (Hoa Kỳ), 25/9/2014 (Châu Âu), 26/9/2014 (Anh Quốc)
==== FIFA 16 ====
Khẩu hiệu: "Play Beautiful"
Cầu thủ bìa game: Lionel Messi (Quốc tế, châu Á (Ấn Độ)), Jordan Henderson (Anh Quốc), Kagawa Shinji (Nhật), David Alaba (Áo), Oscar (Brasil), Antoine Griezmann (Pháp), Yann Sommer (Thụy Sĩ), Juan Cuadrado (Mỹ Latinh), Marco Fabián (Mexico), Steph Catley & Tim Cahill (Úc), Alex Morgan (Hoa Kỳ), Christine Sinclair (Canada), Mauro Icardi (Ý), Arkadiusz Milik (Ba Lan)
Nền tảng: Microsoft Windows, PlayStation 3, PlayStation 4, Xbox 360, Xbox One, iOS, Android
Ngày phát hành: 22/9/2015 (Bắc Mỹ), 24/9/2015 (Châu Âu), 8/10/2015 (Nhật Bản và Brasil)
==== FIFA 17 ====
FIFA 17 sử dụng engine Frostbite cũng như cho ra mắt chế độ chơi "The Journey". J.League lần đầu xuất hiện trong game.
Khẩu hiệu: "Own Every Moment"
Cầu thủ bìa game: Marco Reus (Thế giới, bầu chọn của công chúng)
Nền tảng: Microsoft Windows, PlayStation 3, PlayStation 4, Xbox 360, Xbox One
Ngày phát hành: 27/9/2016 (Bắc Mỹ), 29/9/2016 (toàn cầu)
== Các tựa game khác ==
FIFA 64
Game FIFA đầu tiên trên Nintendo 64, ra mắt cuối 1997. Tương tự bản 32-bit của FIFA 97.
FA Premier League Stars
Hai bản, năm 2000 và 2001, được xây dựng chủ yếu quanh Premier League.
FIFA Soccer World Championship
Ra mắt tại riêng Nhật Bản năm 2000, bản độc quyền trên PlayStation 2 này là game FIFA đầu tiên trên hệ console thế hệ thứ 6.
UEFA Champions League
Hai game được ra đời: UEFA Champions League 2004-2005 và UEFA Champions League 2006–2007.
FIFA Total Football (FIFAトータルフットボール)
Ra mắt tại Nhật Bản tháng 3 năm 2004 trên PlayStation 2 và dựa trên FIFA 2004.
FIFA Online 2
Được đồng sản xuất bởi EA và hãng Neowiz của Hàn Quốc và phát hành tại nhiều quốc gia. Vào tháng 7/2006 game đạt 180.000 người chơi trực tuyến cùng một lúc. Cuối năm 2008 phiên bản Đông Nam Á được công bố và được thương mại hóa và ngày 23/7/2009.
FIFA Online
FIFA Online là phiên bản phương Tây ra đời vào năm 2010 của FIFA Online 2.
FIFA Online 3
Đồng sản xuất bởi EA và Nexon.
FIFA Superstars
Một game Facebook được phát triển cho EA Sports bởi Playfish, gần tương tự với mục "Ultimate Team" trên các game FIFA từ 2010.
FIFA World
Một game MMO free-to-play dựa trên FIFA 14 với mục đích tạo trải nghiệm FIFA Ultimate Team cho những người chơi không có điều kiện mua game. Một bản open beta được ra mắt ngày 12/11/2013 tại Brasil và Nga, trước khi được ra mắt toàn cầu ngày 20/5/2014.
=== UEFA European Championship ===
UEFA Euro 2000
UEFA Euro 2004
UEFA Euro 2008
UEFA Euro 2012 (không phải game riêng mà là một phần mở rộng của FIFA 12)
=== FIFA World Cup ===
World Cup 98
2002 FIFA World Cup
2006 FIFA World Cup
2010 FIFA World Cup South Africa
2014 FIFA World Cup Brazil
2014 FIFA World Cup Brazil World-class Soccer (Một game sưu tầm thẻ cho Android và iOS được phát hành tại Nhật Bản và Trung Quốc đại lục.)
=== FIFA Street ===
FIFA Street (2005)
FIFA Street 2 (2006)
FIFA Street 3 (2008)
FIFA Street (2012)
=== Game quản lý bóng đá ===
FIFA Manager
FIFA Soccer Manager (1997)
The F.A. Premier League Football Manager 99
The F.A. Premier League Football Manager 2000
The F.A. Premier League Football Manager 2001
The F.A. Premier League Football Manager 2002
Total Club Manager 2003
Total Club Manager 2004
Total Club Manager 2005
FIFA Manager 06
FIFA Manager 07
FIFA Manager 08
FIFA Manager 09
FIFA Manager 10
FIFA Manager 11
FIFA Manager 12
FIFA Manager 13
FIFA Manager 14
== Âm nhạc trong game ==
Xem thêm thông tin: EA Trax
Các bài hát trong game lần đầu xuất hiện trong FIFA: Road to World Cup 98. Các bài hát trong series được nhiều nghệ sĩ nổi tiếng thể hiện như Kasabian, Muse, Linkin Park, Imagine Dragons, Kings of Leon, Bloc Party, Oasis, Fatboy Slim, Blur, Robbie Williams, Duffy, Moby, Gorillaz, Paul van Dyk, Kraftklub và Tiësto.
== Xem thêm ==
Pro Evolution Soccer
== Tham khảo ==
== Liên kết ngoài ==
Website chính thức
EA Sports Football |
1805.txt | Bản mẫu:C19YearInTopicX
Năm 1805 (MDCCCV) là một năm thường bắt đầu vào thứ Ba theo lịch Gregory (hay một năm thường bắt đầu vào Chủ Nhật, chậm hơn 12 ngày theo lịch Julius).
Theo âm dương lịch Việt Nam, năm 1805 có đa số các ngày trùng với năm âm lịch Ất Hợi.
== Sự kiện năm1805 ==
=== Tháng 1 - tháng 3 ===
11 tháng 1 - Michigan Territory được thành lập.
15 tháng 2 - Harmony Society chính thức thành lập.
25 tháng 4-Thành Cửa Bắc nổ ra chiến tranh.
1 tháng 3 - Thẩm phán Samuel Chase được tuyên trắng án, không bị Thượng viện Mỹ luận tội.
4 tháng 3 - Thomas Jefferson tuyên thệ nhậm chức Tổng thống Hoa Kỳ nhiệm kỳ thứ 2.
== Sinh năm 1805 ==
Hans Christian Andersen
Johann Peter Gustav Lejeune Dirichlet
Phạm Văn Nghị
Alexis de Tocqueville
William Rowan Hamilton
== Mất năm 1805 ==
Horatio Nelson
Friedrich Schiller
== Tham khảo == |
chiến binh baek dong-soo.txt | Chiến binh Baek Dong-soo (Hangul: 무사 백동수; RR: Mu-sa Baek Dong-su) là một bộ phim truyền hình Hàn Quốc 2011 với sự tham gia của diễn viên Ji Chang-wook, Yoo Seung-ho, Yoon So-yi, Shin Hyun-bin, Choi Min-soo và Jun Kwang-ryul. Phim chiếu trên SBS từ 4 tháng 7 đến 10 tháng 10 năm 2011 vào mỗi thứ 2&3 lúc 21:55 gồm 29 tập. Dựa trên manhwa Honorable Baek Dong-soo 2010 của Lee Jae-heon,.
== Phân vai ==
Ji Chang-wook vai Baek Dong-soo (Yeo Jin-goo vai Dong-soo khi trẻ)
Yoo Seung-ho vai Yeo Woon (Park Gun-tae vai Woon khi trẻ)
Yoon So-yi vai Hwang Jin-joo (Lee Hye-in vai Jin-joo khi trẻ)
Shin Hyun-bin vai Yoo Ji-sun
Hong Jong-hyun vai Vua Jeongjo
Choi Min-soo vai Chun
Jun Kwang-ryul vai Kim Gwang-taek
Park Jun-gyu vai Heuk Sa-mo
Park Won-sang vai Jang Dae-pyo
Lee Jin-ah vai Jang-mi
Oh Man-seok vai Crown Prince Sado
Yoon Ji-min vai Ji
Park Chul-min vai In
Jeon Guk-hwan vai Vua Yeongjo
Geum Dan-bi vai hoàng hậu Jungsoo
Lee Won-jong vai Hong Dae-ju
Ahn Suk-hwan vai Seo Yoo-dae
Kim Dong-kyun vai Boo Gwan
Choi Jae-hwan vai Yang Cho-rip (Shin Dong-woo vai Cho-rip khi trẻ)
Uhm Hyo-sup vai Baek Sa-king
Kim Hee-jung vai Park Shi
Lee Kye-in vai Yeo Cho-sang
Sung Ji-roo vai Hwang Jin-gi
Kim Da-yeon vai Kim Hong-do
Kim Eung-soo vai Yoo So-kang
Choi Yoon-so vai Goo-hyang
Lee Si-eon vai Dae-heung
Lee Young-woo vai Kenzo
Choi Yoo-sung
== Chú thích ==
== Liên kết ngoài ==
Warrior Baek Dong-soo official SBS website (tiếng Hàn)
Warrior Baek Dong-soo tại HanCinema
Warrior Baek Dong-soo tại Internet Movie Database |
ô tô.txt | Ô tô hay xe hơi (tên thường gọi ở miền Nam Việt Nam) là loại phương tiện giao thông chạy bằng bốn bánh có chở theo động cơ của chính nó. Tên gọi ô-tô được nhập từ tiếng Pháp (automobile), tên tiếng Pháp xuất phát từ từ auto (tiếng Hy Lạp, nghĩa là tự thân) và từ mobilis (tiếng La Tinh, nghĩa là vận động). Từ automobile ban đầu chỉ những loại xe tự di chuyển được gồm xe không ngựa và xe có động cơ. Còn từ ô tô trong tiếng Việt chỉ dùng để chỉ các loại có 4 bánh. Chữ "Xe Hơi" bắt nguồn từ chữ Hoa 汽车, phát âm theo Hán Việt là Khí Xa. Còn người Nhật gọi Xe hơi là 自動車 (Tự động xa) nghĩa là Xe tự động. Các kiểu khác nhau của xe hơi gồm các loại xe, xe buýt, xe tải. Tới năm 2005 có khoảng 600 triệu xe hơi trên khắp thế giới (0,074 trên đầu người).
Khi lần đầu tiên ra mắt, xe hơi được hoan nghênh như một (phương tiện) cải tiến về môi trường so với ngựa. Trước khi nó ra mắt, ở Thành phố New York, hơn 10.000 tấn phân hàng ngày được dọn khỏi các đường phố. Tuy nhiên, năm 2006, các xe hơi là một trong những nguồn gây ô nhiễm không khí và tiếng ồn cũng như ảnh hưởng tới sức khoẻ trên khắp thế giới.
== Cấu trúc ==
Đa số xe hơi có từ 4 bánh trở lên, sử dụng động cơ đốt trong để tiêu thụ nhiên liệu (như xăng, dầu Diesel, hay các nhiên liệu hóa thạch hay nhiên liệu sinh học khác) nhằm sinh ra momen quay ở bánh xe giúp cho nó có thể di chuyển trên đường bộ. Một số xe hơi sử dụng động cơ điện hoặc kết hợp cả động cơ đốt trong và động cơ điện (hybrid), với nguồn điện lấy từ ắc quy, máy phát điện, pin nhiên liệu,...
Các xe hơi sử dụng động cơ đốt trong thường có thêm hệ thống nhiên liệu, hệ thống khởi động, phát điện,...
Xe hơi hiện đại còn có hệ thống dẫn lái, hệ thống treo (hệ thống giảm xóc), hệ thống chiếu sáng xe hơi, hệ thống điều hòa không khí, hay các hệ thống đảm bảo an toàn cho người sử dụng như túi khí (airbag), hệ thống chống bó phanh (ABS),...
== Lịch sử ==
Chiếc xe hơi chạy bằng động cơ xăng (động cơ Otto) được Karl Benz phát minh ra ở Đức năm 1885. Mặc dù Karl Benz được công nhận là người sáng tạo ra chiếc xe hơi hiện đại, nhiều kỹ sư người Đức khác cũng đã làm việc để chế tạo ra những chiếc xe hơi khác trong cùng thời gian. Các nhà phát minh đó là: Karl Benz, người được cấp một bằng sáng chế ngày 29 tháng 1 năm 1886 ở Mannheim cho chiếc xe hơi ông chế tạo năm 1885, Gottlieb Daimler và Wilhelm Maybach ở Stuttgart năm 1886 (cũng là những nhà phát minh ra chiếc xe motor đầu tiên), và năm 1888/89 nhà phát minh người Đức - Áo Siegfried Marcus ở Viên, mặc dù Marcus không đạt tới giai đoạn thực nghiệm.
=== Các phương tiện dùng động cơ đốt trong ===
Năm 1806 Fransois Isaac de Rivaz, một người Thụy Sĩ, đã thiết kế ra chiếc động cơ đốt trong (hiện nay thỉnh thoảng được viết tắt là "ICE") đầu tiên. Sau đó, ông dùng nó để phát triển ra loại phương tiện đầu tiên trên thế giới chạy bằng động cơ sử dụng một hỗn hợp hydro và oxy để phát ra năng lượng. Thiết kế này không thành công lắm, cũng giống như trường hợp nhà phát minh người Anh Samuel Brown, và nhà phát minh người Mỹ, Samuel Morey, những người đã chế tạo ra những phương tiện có động lực từ các động cơ đốt trong kềnh càng vào khoảng năm 1826.
Etienne Lenoir đã chế tạo thành công một động cơ đốt trong đứng yên năm 1860, và trong vòng vài năm, khoảng bốn trăm chiếc như vậy đã hoạt động ở Paris. Khoảng tới năm 1863, Lenoir đã lắp cái động cơ của ông lên một chiếc xe. Có lẽ động cơ của nó dùng nhiên liệu từ các bình gas thắp đèn thành phố, và Lenoir đã nói rằng nó "chạy chậm hơn một người đi bộ, và luôn luôn gặp trục trặc". Trong bằng sáng chế năm 1860 của mình, Lenoir đã thêm vào một cái chế hoà khí (carburettor), nhờ thế nhiên liệu lỏng có thể được dùng để thay thế cho khí gas, đặc biệt cho các mục đích chuyển động của phương tiện. Lenoir được cho rằng đã thử nghiệm nhiên liệu lỏng, như cồn, vào các động cơ đứng yên của mình; nhưng không có vẻ rằng ông đã dùng các động cơ đó để lắp lên xe của mình. Nếu ông làm thế, chắc chắn ông không dùng xăng, bởi vì nó chưa tiện dụng vào lúc ấy và bị coi là một sản phẩm phụ bỏ đi.
Cải tiến tiếp sau xảy ra cuối thập kỷ 1860, với Siegfried Marcus, một người Đức làm việc ở Viên, Áo. Ông đã phát triển ý tưởng sử dụng xăng làm nhiên liệu cho động cơ đốt trong hai kỳ. Năm 1870, sử dụng một xe đẩy tay đơn giản, ông đã chế tạo một phương tiện thô không có chỗ ngồi, thiết bị lái, hay phanh, nhưng nó rất đáng chú ý ở một điểm: nó là phương tiện lắp động cơ đốt trong đầu tiên trên thế giới sử dụng nhiên liệu xăng. Nó được đem ra thử nghiệm ở Viên tháng 9 năm 1870 và bị xếp xó. Năm 1888 hay 1889, ông chế tạo một cái ô tô thứ hai, cái này có ghế ngồi, phanh và thiết bị lái và được lắp một động cơ đốt trong bốn kỳ do chính ông thiết kế. Thiết kế này có thể đã được đem ra thử nghiệm năm 1890. Mặc dù ông có được các bằng sáng chế cho nhiều phát minh của mình, ông không bao giờ xin cấp bằng phát minh cho các thiết kế ở thể loại này.
Động cơ đốt trong bốn thì đã được thu thập tài liệu và đưa ra xin cấp bằng phát minh vào năm 1862 bởi một người Pháp là Beau de Rochas trong một cuốn sách mỏng và dài dòng. Ông đã in khoảng ba trăm bản sách đó và chúng được đem phân phát ở Paris, nhưng không mang lại điều gì, và bằng sáng chế này cũng nhanh chóng hết hạn sau đó – còn cuốn sách thì hoàn toàn bị lãng quên. Trên thực tế, sự hiện diện của nó không được biết tới và Beau de Rochas không bao giờ chế tạo một động cơ riêng biệt.
Đa số các nhà sử học đồng ý rằng Nikolaus Otto người Đức đã chế tạo ra chiếc động cơ bốn thì đầu tiên dù bằng sáng chế của ông bị bác bỏ. Ông không hề biết gì về bằng sáng chế hay ý tưởng của Beau de Rochas và hoàn toàn tự mình nghĩ ra ý tưởng đó. Thực tế ông đã bắt đầu suy nghĩ về khái niệm này năm 1861, nhưng đã bỏ rơi nó cho tới giữa thập kỷ 1870. Có một số bằng chứng, dù chưa được xác định, rằng Christian Reithmann, một người Áo sống ở Đức, đã chế tạo ra một chiếc động cơ bốn thì hoàn toàn dựa trên ý tưởng của mình năm 1873. Reithmann đã thực nghiệm các động cơ đốt trong ngay từ đầu năm 1852.
Năm 1883, Edouard Delamare-Deboutteville và Leon Malandin nước Pháp đã lắp một động cơ đốt trong dùng nhiên liệu là một bình khí gas đốt đèn thành phố lên một chiếc xe ba bánh. Khi họ thử nghiệm thiết bị này, chiếc vòi bình gas bị hở, gây ra một vụ nổ. Năm 1884, Delamare-Deboutteville và Malandin chế tạo và xin cấp bằng sáng chế cho một phương tiện thứ hai. Chiếc xe này gồm một động cơ bốn thì dùng nhiên liệu lỏng lắp trên một cái xe ngựa bốn bánh cũ. Bằng sáng chế, và có lẽ cả chiếc xe, chứa nhiều cải tiến, và một số cải tiến đó còn được ứng dụng trong nhiều thập kỷ tiếp theo. Tuy nhiên, trong lần thử nghiệm đầu tiên, cái khung rời ra, và chiếc xe "rung lắc và rời ra từng mảnh" theo đúng nghĩa đen, theo lời thuật lại của Malandin. Hai người này không chế tạo tiếp các xe khác nữa. Dự án kinh doanh của họ hoàn toàn không được nhắc tới và bằng sáng chế cũng không được sử dụng. Những kinh nghiệm và kết quả thực nghiệm của họ bị lãng quên trong nhiều năm sau.
Có lẽ, cuối thập kỷ 1870, một người Italia tên là Murnigotti đã xin cấp bằng phát minh cho ý tưởng lắp đặt một đông cơ đốt trong lên trên một loại phương tiện, dù không có bằng chứng là đã từng chế tạo được một thứ như thế. Năm 1884, Enrico Bernardi, một người Italia khác đã lắp một động cơ đốt trong lên chiếc xe ba bánh của con ông. Dù nó đơn giản chỉ là một thứ đồ chơi, có thể nói rằng về mặt nào đó nó đã hoạt động khá thành công, nhưng một số người cho rằng động cơ quá yếu để có thể làm chiếc xe di chuyển được.
Tuy nhiên, nếu tất cả những cuộc thực nghiệm trên không diễn ra, có lẽ sự phát triển của xe hơi sẽ không thể nhanh chóng như vậy bởi vì có nhiều cuộc thực nghiệm không được biết tới và chúng không bao giờ tiến tới được giai đoạn thử nghiệm. Ô tô dùng động cơ đốt trong thực sự có thể cho là đã bắt đầu ở Đức với Karl Benz năm 1885, và Gottlieb Daimler năm 1889, vì những chiếc xe của họ thành công nên họ có thể đưa vào sản xuất hàng loạt, và họ bị ảnh hưởng lẫn nhau.
Karl Benz bắt đầu xin những bằng phát minh mới về động cơ năm 1878. Ban đầu ông tập trung nỗ lực vào việc tạo ra một động cơ hai thì dùng nhiên liệu gas dựa trên thiết kế của Nikolaus Otto về loại động cơ bốn thì. Một bằng sáng chế về thiết kế của Otto đã bị bác bỏ. Karl Benz hoàn thành chiếc động cơ của mình vào đêm giao thừa và được cấp bằng phát minh cho nó năm 1879. Karl Benz chế tạo chiếc ô tô ba bánh đầu tiên của mình năm 1885 và nó được cấp bằng ở Mannheim, đề ngày tháng 1, 1886. Đây là -"chiếc ô tô đầu tiên được thiết kế và chế tạo theo đúng nghĩa"- chứ không phải là một cái xe ngựa, tàu, hay xe kéo được chuyển đổi. Trong số những thiết bị mà Karl Benz phát minh cho xe hơi có chế hoà khí, hệ thống điều chỉnh tốc độ cũng được gọi là chân ga, đánh lửa sử dụng các tia lửa điện từ một ắc quy, bugi, khớp ly hợp, sang số, và làm mát bằng nước. Ông đã chế tạo thêm các phiên bản cải tiến năm 1886 và 1887 – đưa vào sản xuất năm 1888 - chiếc xe đầu tiên trên thế giới được đưa vào sản xuất. Gần hai nhăm chiếc đã được chế tạo ra trước năm 1893, khi chiếc xe bốn bánh của ông được đưa ra giới thiệu. Chúng được lắp các động cơ bốn thì theo thiết kế của riêng ông. Emile Roger nước Pháp, đã chế tạo các động cơ của Benz dưới bằng phát minh của ông, và lúc ấy cũng đưa ô tô của Benz vào dây chuyền sản xuất của mình. Bởi vì Pháp là nơi có thái độ chấp nhận hơn với những chiếc ô tô đầu tiên, nói chung ô tô được chế tạo và bán ở Pháp qua Roger nhiều hơn số lượng của Benz lúc ban đầu ở chính nhà máy của ông ở Đức.
Gottlieb Daimler, năm 1886, lắp động cơ bốn thì của mình lên một chiếc xe ngựa ở Stuttgart. Năm 1889, ông chế tạo hai chiếc xe có thể coi là những chiếc ô tô với rất nhiều cải tiến. Từ 1890 đến 1895 khoảng ba mươi chiếc đã được Daimler và người trợ lý sáng tạo của ông là Wilhelm Maybach, chế tạo ở cả các xưởng của Daimler hay tại Hotel Hermann, nơi họ lập ra một phân xưởng sau khi những người hỗ trợ rút lui. Hai người Đức đó, Benz và Daimler, dường như không biết tới công việc của nhau và làm việc độc lập. Daimler chết năm 1900. Trong thời chiến tranh thế giới thứ nhất, Benz đề xuất hợp tác giữa hai công ty do hai người lập ra, nhưng mãi tới năm 1926 hai công ty mới hợp nhất dưới cái tên Daimler-Benz với cam kết sẽ cùng tồn tại dưới tên này cho tới tận năm 2000.
Năm 1890, Emile Levassor và Armand Peugeot nước Pháp bắt đầu sản xuất hàng loạt các phương tiện gắn động cơ của Daimler, và từ đó mở ra nền tảng ban đầu cho công nghiệp ô tô ở Pháp. Chúng đều bị ảnh hưởng từ chiếc Stahlradwagen của Daimler năm 1889, từng được triển lãm ở Paris năm 1889.
Ở Mỹ, Henry Ford lập nên Ford Motor Company và đưa việc sản xuất ô tô thành dây chuyền. Năng suất tăng cao, giá thành mỗi chiếc rẻ hơn nên ô tô dần trở nên phổ biến ở Mỹ từ thập niên 1920.
Chiếc ô tô Hoa Kỳ đầu tiên bằng động cơ đốt trong chạy nhiên liệu gas có lẽ đã được thiết kế năm 1877 bởi George Baldwin Selden ở Rochester, New York, ông đã xin cấp một bằng sáng chế cho một chiếc ô tô năm 1879. Selden không hề chế tạo một chiếc ô tô riêng biệt cho tới tận năm 1905, khi ông bị bắt buộc phải làm thế, theo luật. Selden nhận được bằng phát minh của mình và sau đó kiện Ford Motor Company vì vi phạm bằng phát minh của mình. Henry Ford hiển nhiên là chống đội lại hệ thống cấp bằng sáng chế Hoa Kỳ và trường hợp của Selden kiện Ford đã phải đưa lên Toà án tối cao, toà phán quyết rằng Ford, và bất kỳ người nào khác, tự do chế tạo ô tô mà không cần trả tiền cho Selden, bởi vì công nghệ ô tô đã phát triển mạnh từ khi Selden được cấp bằng và không ai còn chế tạo ô tô theo thiết kế của ông ta nữa.
Trong lúc ấy, những cải tiến quan trọng trong lĩnh vực năng lượng hơi nước ở Birmingham, Anh bởi Lunar Society đã xảy ra. Cũng chính ở nước Anh, thuật ngữ sức ngựa được đem ra sử dụng lần đầu tiên. Và cũng chính ở Birmingham những chiếc xe ô tô bốn bánh chạy bằng dầu được chế tạo lần đầu năm 1895 bởi Frederick William Lanchester. Lanchester cũng được cấp bằng phát minh ra phanh đĩa tại thành phố này. Các phương tiện chạy điện được một số nhỏ những công ty chế tạo.
=== Cải tiến ===
Bằng sáng chế ô tô đầu tiên ở Hoa Kỳ được trao cho Oliver Evans năm 1789 cho chiếc "Amphibious Digger" (Máy xúc chạy trên cạn và dưới nước) của ông. Nó là một chiếc xà lan dùng động cơ hơi nước được lắp thêm bánh. Năm Evans trưng bày phương tiện tự hành thành công đầu tiên của mình, nó không chỉ là chiếc xe hơi đầu tiên ở Mỹ mà còn là chiếc xe lội nước đầu tiên, vì khi nó dùng bánh xe để chạy trên mặt đất, và bánh guồng trên mặt nước. Chiếc xe không mang lại thành công và bị dỡ ra bán.
Chiếc Benz Motorwagen, chế tạo năm 1885, được trao bằng sáng chế ngày 29 tháng 1 năm 1886 của Karl Benz là chiếc xe đầu tiên sử dụng động cơ đốt trong. Năm 1888, diễn ra một đột phá mới trong lĩnh vực xe hơn với lần lái xe lịch sử của Bertha Benz. Bà đã lái chiếc xe do chồng mình chế tạo vượt khoảng cách hơn 106 km hay năm mươi dặm. Sự kiện này chứng tỏ khả năng áp dụng vào thực tế của ô tô và gây được tiếng vang trong dư luận, bà cho rằng đây là sự quảng cáo cần thiết cho phát để thúc đẩy thêm các phát minh. Chiếc xe của Benz là ôtô đầu tiên được đưa vào sản xuất và bán thương mại. Lần lái xe lịch sử của Bertha Benz hàng năm vẫn được coi là ngày lễ tại Đức, với các cuộc diễu hành xe hơi cổ.
Ngày 5 tháng 11 năm 1895, George B. Selden được trao bằng sáng chế của Hoa Kỳ cho một động cơ ô tô hai thì (Bằng sáng chế Hoa Kỳ số 549.160). Bằng sáng chế này gây trở ngại nhiều hơn là góp phần phát triển ôtô ở Mỹ. Các ôtô dùng động cơ hơi nước, điện và xăng đã cạnh tranh với nhau trong nhiều thập kỷ, cuối cùng động cơ xăng đốt trong đã giành ưu thế áp đảo trong thập niên 1910.
Dây chuyền sản xuất ô tô lớn bắt đầu được Oldsmobile đưa ra năm 1902, sau này được Henry Ford phát triển thêm trong thập kỷ 1910. Kỹ thuật ô tô phát triển nhanh chóng, một phần nhờ sự cạnh tranh lẫn nhau giữa hàng trăm nhà sản xuất nhỏ nhằm giành được sự quan tâm của thế giới. Những phát triển quan trọng gồm hệ thống đánh lửa và tự khởi động điện (cả hai đều của Charles Kettering, cho loại xe của Cadillac Motor Company năm 1910-1911), bộ treo độc lập và phanh bốn bánh.
=== Model cải tiến và thay đổi về thiết kế ===
Xe hơi không chỉ đơn thuần là một công cụ cơ khí được hoàn thiện; kể từ những năm 1920 gần như tất cả đã được sản xuất hàng loạt để đáp ứng nhu cầu thị trường, do vậy các dự án tiếp thị và sản xuất đáp ứng thị trường thường thống lĩnh việc thiết kế xe hơi. Chính Alfred P. Sloan là người thiết lập ý tưởng nhiều kiểu xe được sản xuất bởi một hãng, để người mua có thể "vươn lên" khi họ trở nên giàu lên. Những kiểu khác nhau này dùng chung một số linh kiện do vậy số lượng sản xuất nhiều sẽ làm giảm giá thành cho từng mệnh giá khác nhau. Ví dụ, vào năm 1950s, Chevrolet dùng chung phần trước xe, của, mái xe và của sổ với Pontiac; LaSalle của những năm 1930, bán ra bởi Cadillac, sử dụng những linh kiện cơ khí rẻ hơn được sản xuất bởi phân xưởng của Oldsmobile.
== Những bộ phận giúp xe có thiết kế khí động học ==
Cánh gió đuôi xe: Nhiều người thắc mắc tại sao những chiếc xe hơi, đặc biệt là xe đua lại được thiết kế một chiếc cánh gió phía sau đuôi xe. Nhưng nó là bộ phận giúp luồng không khí trên mui xe thoát ra sau và sẽ không thể quay trở lại. Qua đó, giảm lực nâng và sẽ chỉ còn lực cản khi xe di chuyển. Cánh chia gió phía trước: Nhiệm vụ chính của cánh chia gió phía trước là biến đổi luồng gió dưới gầm xe hơi giảm bớt lực cản của xe khi di chuyển. Cánh cản ngang: Nhờ có cánh cản ngang mà luồng không khí tiếp cận với xe sẽ được hướng đi qua 2 bên cạnh của xe. Nó sẽ giúp giảm cả lực cản và lực nâng do luồng không khí phía dưới gây ra.
Gầm xe trơn: Những nhà sản xuất khi thiết kế chiếc xe có khí động học sẽ thiết kế gầm xe trơn, nó sẽ giúp xe không bị nhiễu loạn bởi không khí và lực nâng.
Bí quyết đến từ lốp xe: Điều này được Collin Chapman tìm ra một phương thức hoàn toàn mới đó là hiệu ứng mặt đường để tạo lực nén mà không làm ảnh hưởng đến lực cản. Ông đã tạo một đường dẫn không khí ở dưới đáy chiếc xe đua của mình. Đường dẫn không khí này khá hẹp ở phía trước và mở rộng dần về phía sau.
Do gầm xe gần sát mặt đường, sự kết hợp giữa đường dẫn không khí và mặt đường tạo thành một đường hầm gần như đóng kín. Khi chiếc xe đang chạy, không khí vào đường hầm từ phía mũi rồi thoát thẳng ra phía sau khiến áp suất không khí giảm dần về phía đuôi xe và như vậy sẽ phát sinh lực nén.
== Các loại nhiên liệu thay thế và pin nhiên liệu ==
Với thuế xăng dầu cao, đặc biệt là ở châu Âu và các luật về môi trường ngày càng chặt chẽ, đặc biệt là ở California, và khả năng về các giới hạn thêm gắt gao về việc xả các khí hiệu ứng nhà kính, các nghiên cứu về các hệ thống xe sử dụng năng lượng khác vẫn tiếp tục.
Xe hơi sử dụng dầu diesel có thể chạy bằng biodiesel nguyên chất 100% với một ít hay không cần thay đổi về máy móc. Biodiesel có thể được làm ra từ dầu thực vật nhưng cần chế biến lại nếu muốn sử dụng trong các nước xứ lạnh. Thế mạnh chính của động cơ Diesel là 50% nhiên liệu cháy hết lợi hơn 23% trong các động cơ chạy xăng tốt nhất. Điều này làm động cơ Diesel có khả năng đạt hiệu năng trung bình 17 kilometers/một lít nhiên liệu. Nhiều xe hơi hiện nay sử dụng xăng có thể chạy bằng ethanol, một loại nhiên liệu làm từ cây mía. Đa số xe thiết kế để chạy bằng xăng có khả năng chạy với nhiên liệu có tới 15% ethanol được trộn vào. Với một ít cải tiến, các xe chạy xăng có thể chạy bằng hỗn hợp xăng với tỉ lệ ethanol có thể cao đến 85%. Tất cả các xe chạy xăng có thể chạy bằng LPG. Có một số lo ngại rằng hỗn hợp ethanol-gasoline mài mòn các nắp van và phụ tùng sớm hơn. Theo lý thuyết, mức năng lượng thấp hơn của alcohol sẽ dẫn đến suy giảm đáng kể hiệu quả và tầm xa của động cơ khi so với động cơ xăng. Tuy nhiên, các thử nghiệm EPA thực tế cho thấy chỉ có giảm đi 20-30% về tầm xa. Do đó, nếu xe của bạn có khả năng chạy được 750 kilomet với một bình 50 lit (15 kilomet một lit), tầm xa của nó sẽ giảm xuống khoảng 600 kilometers (12 kilometers một liter). Đương nhiên, có nhiều phương pháp hiện tại để tăng hiệu năng này, ví dụ như cấu hình camshaft khác, thay đổi thời gian đánh lửa, tăng độ nén, hay đơn giản là sử dụng một bình xăng lớn hơn.
Ở Hoa Kỳ, nhiên liệu alcohol được sản xuất trong alcohol bắp chưng cất cho đến khi việc sản xuất alcohol bị cấm vào năm 1919. Brasil là nước duy nhất sản xuất xe hơi chạy bằng ethanol nguyên chất, tên gọi là Flex, kể từ cuối những năm 1970.
Các cố gắng chế tạo xe chạy bằng pin acquy tiếp tục trong suốt những năm 1990 (đáng chú ý nhất là General Motors với kiểu xe EV1), nhưng chúng không có hiệu quả kinh tế. Các loại xe chạy bằng pin acquy chủ yếu sử dụng pin acquy acid chì và pin NiMH. Khả năng nạp lại của loại pin acid chì giảm đáng kể nếu như chúng bị sử dụng hết trên 75% thường xuyên, làm chúng không là một giải pháp lý tưởng. Các pin NiMH là lựa chọn tốt hơn, nhưng đắt hơn đáng kể so với chì-acid.
Các nghiên cứu và phát triển hiện nay xoay quanh loại xe "hybrid" sử dụng cả năng lượng điện và động cơ đốt trong. Loại xe hybrid đầu tiên bán ra ở USA là loại Honda Insight. Cho đến 2005, loại xe này vẫn được sản xuất và đạt được khoảng 25.5 kilomet một lit.
Các nỗ lực nghiên cứu và phát triển trong các dạng nhiên liệu khác tập trung vào việc phát triển pin nhiên liệu, các dạng động cơ đốt trong khác như GDI và HCCI, và ngay cả chứa đựng năng lượng dưới dạng khí nén (xem động cơ nước).
== An toàn ==
Tai nạn dường như cũng cổ xưa như là xe hơi. Joseph Cugnot đâm chiếc xe chạy bằng hơi nước "Fardier" vào bức tường vào năm 1771. Tai nạn xe hơi tử vong đầu tiên được ghi lại là Bridget Driscoll vào 1896-08-17 ở Luân Đôn và tai nạn đầu tiên ở Hoa Kỳ là Henry Bliss vào ngày 1899-09-13 ở Thành phố New York.
Xe hơi có hai vấn đề an toàn cơ bản: Người lái phạm lỗi, và bánh xe mất đi sức kéo lúc thắng gấp. Điều khiển tự động đã được đưa ra và thiết kế thành công. Các băng an toàn ngang vai hành khách có thể chịu được cú dừng khẩn cấp với gia tốc 32G (giảm đi khoảng cách an toàn giữa hai xe 64-lần) nếu các đường cao tốc có thể thêm vào một đường ray bằng thép cho việc thắng gấp. Cả hai cải tiến an toàn cho đường xe được nghĩ là quá đắt đối với các chính quyền, mặc dù những cải tiến này có thể tăng đáng kể số lượng xe sử dụng đường cao tốc một cách an toàn.
Các nghiên cứu an toàn sớm nhất tập trung vào tăng sự bảo đảm của thắng và giảm đi sự dễ bắt lửa của hệ thống nhiên liệu. Ví dụ, các khoang máy hiện đại mở ra dưới đáy để hơi nhiên liệu, nặng hơn không khí, có thể thông ra môi trường bên ngoài. Các thắng là thủy lực do đó các hư hỏng thường là rò rỉ chậm chạp, hơn các dây thắng bị đứt đột ngột. Các nghiên cứu có hệ thống về tai nạn xe bắt đầu từ 1958 tại Công ty Ford Motor. Kể từ đó, đa số nghiên cứu đã tập trung vào việc hấp thu năng lượng đụng xe với những tấm có thể phá vỡ được và làm giảm chuyển động của cơ thể con người trong khoang hành khách. Có những thử nghiệm quy chuẩn cho các xe hơi loại mới, như là thử nghiệm EuroNCAP và US NCAP. Cũng có những thử nghiệm bởi các tổ chức khác như là IIHS và được ủng hộ bởi công nghiệp bảo hiểm.
Dù cho các tiến bộ về kỹ thuật, vẫn có số lượng tử vong đáng kể từ tai nạn xe hơi: Khoảng 40.000 người chết hàng năm ở Hoa Kỳ, số lượng tương tự ở châu Âu. Con số này tăng lên hàng năm cùng với sự tăng lên của dân số và việc đi lại nếu như không có biện pháp nào được đưa ra, như tỉ lệ tính trên đầu người và trên từng dặm đi lại giảm xuống đều đặn. Tổng số tử vong dự đoán sẽ tăng gần gấp đôi vào năm 2020. Một con số cao hơn các tai nạn đem lại kết quả là thương tích hay tàn phế vĩnh viễn. Các con số tai nạn cao nhất được thống kê ở Trung Quốc và Ấn Độ. Liên minh châu Âu có một chương trình chặt chẽ để giảm tử vong ở EU phân nửa cho đến năm 2010 và các nước thành viên bắt đầu thi hành các biện pháp đó.
== Sản xuất hiện nay ==
Trong năm 2005, 63 triệu xe hơi và xe tải hạng nhẹ đã được sản xuất toàn thế giới. Nhà sản xuất xe hơi lớn nhất thế giới (bao gồm cả những xe vận tải hạng nhẹ) là Liên hiệp châu Âu chiếm tới 29% sản phẩm của thế giới, phía đông Âu chỉ chiếm 4%. Nhà sản xuất lớn thứ hai là NAFTA Với 25.8%, theo sau là Nhật Bản 16.7%, Trung Quốc 8.1%, MERCOSUR là 3.9%, Ấn Độ 2.4% và phần còn lại của thế giới là 10.1% (vda-link)
Các vùng thương mại tự do lớn như EU, NAFTA và MERCOSUR thu hút các nhà sản xuất xe hơi trên khắp thế giới tới chế tạo sản phẩm bên trong khu vực của mình với ưu thế không bị rủi ro tiền tệ và thuế quan, hơn nữa khả năng tiếp cận khách hàng cũng tốt hơn. Vì thế nhưng con số sản lượng không phản ánh khả năng kỹ thuật hay trình độ thương mại của các vùng. Trên thực tế, đa số nếu không phải toàn bộ xe hơi thuộc thế giới thứ ba sử dụng công nghệ và các kiểu xe phương Tây (và thỉnh thoảng thậm chí toàn bộ dây chuyền sản xuất đã lạc hậu từ các nhà máy phương tây được chuyển thẳng tới nước đó), điều này được phản ánh ở con số thống kê bằng sáng chế cũng như vị trí của các trung tâm r&d.
Công nghiệp xe hơi bị thống trị bởi một số lượng khá nhỏ các nhà sản xuất (không nên nhầm lẫn với số lượng nhiều thương hiệu), những nhà sản xuất lớn nhất (theo con số xe sản xuất ra) hiện là General Motors, Toyota và Ford Motor Company. Mọi người cho rằng Toyota sẽ đạt vị trí nhà sản xuất số một trong năm 2006. Nhà sản xuất có lợi nhuận trên từng sản phẩm cao nhất trong những năm gần đây là Porsche vì giá cả và chất lượng hàng đầu của họ.
Công nghiệp xe hơi ở mức độ lớn vẫn bị rủi ro cao khi sản xuất dưới công suất thiết kế.
== Tương lai xe hơi ==
Để hạn chế tai nạn, đã có những nỗ lực phát triển các xe hơi tự lái. Nhiều dự án như vậy đã được NHTSA tài trợ, gồm cả dự án của nhóm NavLab tại Đại học Carnegie Mellon. Cuộc đua nổi tiếng Grand Challenge do DARPA tài trợ cũng là một phần trong nỗ lực này.
Một phát minh mới đây là Hệ thống ổn định điện tử (ESP) do Bosch đưa ra và được cho rằng có khả năng giảm con số thiệt mạng tới 30% và được nhiều nhà làm luật cũng như các công ty sản xuất xe hơi đề xuất là tính năng tiêu chuẩn cho mọi xe hơi bán tại EU. ESP ghi nhận những tình trạng nguy hiểm và sửa đổi sự điều khiển của người lái trong một thời gian ngắn nhằm ổn định xe.
Mối đe dọa lớn nhất với xe hơi là sự cạn kiệt nguồn cung dầu mỏ, điều này không làm ngừng hoàn toàn việc sử dụng xe hơi nhưng khiến nó trở nên rất đắt đỏ. Bắt đầu từ năm 2006 1 lít xăng có giá xấp xỉ 1.60 USD tại Đức và các nước châu Âu khác. Nếu không có biện pháp tìm ra loại nhiên liệu rẻ hơn trong tương lai gần, xe hơi cá nhân có thể sẽ giảm sút lớn về số lượng. Tuy nhiên, sự di chuyển của cá nhân rất quan trọng trong xã hội hiện đại, vì vậy nhu cầu với ô tô khó giảm sút nhanh chóng. Các phương tiện di chuyển cá nhân thay thế như Personal rapid transit, có thể biến xe hơi thành phương tiện lỗi thời nếu nó chứng minh được về tính hữu dụng cũng như có giá thành thấp.
Xe hơi hybrid, chạy bằng pin nhiên liệu và động cơ điện, hoặc được tích hợp cả một động cơ đốt trong truyền thống, được cho là phương tiện thay thế xe hơi dùng nhiên liệu hóa thạch trong vài thập kỷ tới. Vật cản lớn nhất cho việc sản xuất xe hơi chạy hydro là giá thành sản xuất ra loại nhiên liệu này bằng quy trình điện phân, nó có hiệu quả thấp và đòi hỏi tiêu tốn khá nhiều điện, vốn cũng là một nguồn nhiên liệu đắt đỏ. Tuy nhiên, hydro tạo ra năng lượng gấp 5 lần so với xăng 93, không thải khí CO2 và hứa hẹn sẽ có giá thành thấp khi sản xuất hàng loạt. Các kỹ sư của BMW đã công bố về việc lắp đặt động cơ nhiên liệu hydro hiệu suất cao trên những chiếc series 7 của họ.
Xe chạy điện cũng là một ý tưởng về loại xe dùng nhiên liệu thay thế; động cơ điện có hiệu năng cao hơn động cơ đốt trong và có tỷ lệ công suất trên trọng lượng lớn. Chúng cũng hoạt động hiệu quả hơn và tạo ra momen xoắn lớn hơn khi đang đỗ, vì thế rất thích hợp để dùng cho xe hơi. Ngoài ra không cần tới một hệ thống truyền lực phức tạp. Tuy nhiên, ô tô điện lại bị những trở ngại do kỹ thuật pin điện - còn rất lâu pin nhiên liệu mới có nguồn năng lượng tương đương với một bình nhiên liệu lỏng cho những chặng đường xa, và cũng không hề có cơ sở hạ tầng cung cấp nhiên liệu cho chúng. Một phương án khác khả dĩ hơn có thể là sử dụng một động cơ đốt trong nhỏ để phát điện - phương án này có thể có hiệu năng cao hơn bởi vì động cơ đốt trong luôn chạy ở một vận tốc, sử dụng nhiên liệu rẻ hơn như dầu diesel và giảm được trọng lượng, hệ thống truyền động phức tạp của các xe hơi kiểu cũ. Phương án này đã chứng minh hữu ích trên đầu tàu hoả nhưng vẫn còn một chặng đường dài để có thể áp dụng cho ô tô.
Ngành công nghiệp xe hơi gần đây đã xác định rằng thị trường tiềm năng phát triển nhất (cả về doanh thu và lợi nhuận), là phần mềm. Ô tô ngày nay được trang bị phần mềm mạng rất hữu dụng; từ việc nhận biết tiếng nói tới các hệ thống định vị và các hệ thống giải trí khác trong xe (DVD/Games)... Phần mềm hiện chiếm 35% giá trị xe, và phần trăm giá trị này sẽ còn tiếp tục tăng thêm. Lý thuyết đằng sau sự kiện này là các hệ thống cơ khí ô tô sẽ chỉ còn là một loại tiện nghi, và sản phẩm thực sự sẽ có sự khác biệt ở phần mềm. Nhiều ô tô hiện nay được trang bị full blown 32bit real-time memory protected operating systems such as QNX.
== Các bộ phận của Ô tô ==
== Một số tên hiệu xe hơi ==
Volkswagen, Mercedes, Opel, BMW, Audi, Ford, Renault, Toyota, Skoda, Peugeot, Citroen, Fiat, Mazda, Seat, Nissan, Hyundai, Honda, Kia, Volvo, Mitsubishi, Suzuki, Smart, Mini (BMW), Chevrolet, Porsche, Alfa Romeo, Daihatsu, Chrysler, Subaru, Land Rover, Jeep, Lexus, Jaguar, Ssangyong, Lancia, General Motors, Sonstige, Gesamt, Daewoo, Range Rover, Infinite, Bugati.
== Xem thêm ==
Xe máy
Xe đạp
North American Eagle
Thrust SSC
Hybrid vehicle
Roadway air dispersion modeling
Roadway noise
Pac-Car
Khoa Cơ khí động lực
== Ghi chú ==
== Liên kết ngoài ==
Insurance Institute for Highway Safety
NHTSA.gov
Automobile University of Milan Safety research
Motor Vehicle Factory Sales and Retail Sales 1970-1997 (US Census)
Automuseum Dr. Carl Benz, Ladenburg/Germany
Bertha Benz Memorial Route |
quần đảo andaman và nicobar.txt | Quần đảo Andaman và Nicobar là một trong bảy lãnh thổ liên bang của Cộng hòa Ấn Độ.
== Địa lý ==
Về mặt địa lý, đơn vị hành chính này thực chất gồm 2 quần đảo riêng cách nhau khoảng 150 km, lần lượt từ bắc xuống nam là quần đảo Andaman và quần đảo Nicobar. Xét về vị trí địa lý cả hai quần đảo này thường được xem là thuộc Đông Nam Á vì nó gần Đông Nam Á hơn là gần tiểu lục địa Ấn Độ. Điểm cực bắc của lãnh thổ cách cửa sông Hooghly của Ấn Độ 910 km, nhưng cách Myanma chỉ 190 km. Điểm cực nam của lãnh thổ chỉ cách đảo Sumatra của Indonesia có 150 km.
Toàn bộ lãnh thổ gồm 394 hòn đảo trải rộng trong một phạm vi từ vĩ tuyến bắc 6 tới 8 và từ kinh tuyến đông 92 đến 94, nhưng tổng diện tích mặt đất chỉ là 8.249 km2. Chỉ có 38 hòn đảo trong số trên là có người định cư.
== Dân cư ==
Số nhân khẩu của lãnh địa này là 356.152. Trong đó, số người nói tiếng Bengal chiếm 32,6%, tiếng Hindi 25,95%, tiếng Tamil (bao gồm cả tiếng Tamil Sri Lanka) 17,84%, tiếng bản địa Nicobar và Telugu 12,93%. Ngoài ra còn có các bộ phân dân cư nói tiếng Malayalam và tiếng Anh. Hầu hết người dân theo ấn Độ giáo; một số ít theo đạo Hồi.
Ngoài ra còn có bộ lạc sống biệt lập như người Sentinel ở đảo Sentinel Bắc, là cộng đồng chống lại mọi nỗ lực liên lạc với bên ngoài, nên không xác định được số lượng và thành phần dân cư của họ.
== Hành chính ==
Trung tâm hành chính của Quần đảo Andaman và Nicobar đặt ở Port Blair. Đây cũng là thị trấn lớn nhất lãnh thổ này. Người lãnh đạo hành chính hiện nay (2016) là trung tướng Bhopinder Singh.
Toàn bộ lãnh thổ liên bang này chia thành 3 huyện, gồm:
Huyện North and Middle Andaman, huyện lỵ là Mayabunder
Huyện South Andaman, huyện lỵ là Port Blair
Huyện Nicobar, huyện lỵ là Car Nicobar
Các huyện lại chia thành 7 phó huyện.
== Lịch sử ==
=== Những cư dân đầu tiên ===
Những người dân bản địa thuộc các sắc tộc Nicobar (thuộc nhóm ngôn ngữ Môn-Khmer) và Shompen (thuộc nhóm ngôn ngữ Polynesia) là những người đầu tiên tới định cư ở đây.
=== Đế chế Chola ===
Nửa đầu thế kỷ 11, Vua Chola I của Ấn Độ cho chiếm các quần đảo Andaman và Nicobar làm bàn đạp để tấn công Đế quốc Srivijaya.
=== Đế chế Maratha ===
=== Thuộc địa của Đan Mạch và Ấn Độ thuộc Anh ===
Thế kỷ 18, Công ty Đông Ấn Đan Mạch chiếm hai quần đảo này. Sau đó, tới năm 1868, Đan Mạch bán lại cho Vương quốc Anh. Anh nhập hai quần đảo này vào Ấn Độ thuộc Anh.
=== Thế chiến thứ hai ===
Khi Ấn Độ giành độc lập từ tay Anh, họ tiếp tục kiểm soát hai quần đảo. Ngày nay, người nước ngoài muốn tới Andaman và Nicobar phải xin giấy phép đặc biệt.
=== Động đất và sóng thần năm 2004 ===
Lần động đất và sóng thần Ấn Độ Dương 2004, sóng thần cao 10 mét đã tấn công lãnh thổ này, làm ít nhất 5.930 người thiệt mạng. Đáng ngạc nhiên là rất ít trong số này là người bản địa. Nhờ kinh nghiệm dân gian, người bản địa đã rút lên chỗ cao ngay khi có động đất.
== Kinh tế ==
== Tham khảo == |
đội tuyển bóng đá quốc gia paraguay.txt | Đội tuyển bóng đá quốc gia Paraguay, còn có biệt danh là "La Albirroja", là đội tuyển của Hiệp hội bóng đá Paraguay và đại diện cho Paraguay trên bình diện quốc tế.
Trận thi đấu quốc tế đầu tiên của đội tuyển Paraguay là trận gặp đội tuyển Argentina vào năm 1919. Thành tích tốt nhất của đội cho đến nay là lọt vào tứ kết của World Cup 2010, tấm huy chương bạc của Thế vận hội Mùa hè 2004 cùng với hai chức vô địch Nam Mỹ giành được vào các năm 1953 và 1979.
== Danh hiệu ==
Vô địch Nam Mỹ: 2
Vô địch (2): 1953; 1979
Á quân (6): 1922; 1929; 1947; 1949; 1963; 2011
Hạng ba (7): 1923; 1924; 1925; 1939; 1946; 1959; 1983
Hạng tư (6): 1921; 1926; 1937; 1942; 1967; 1989; 2015
Bóng đá nam tại Olympic:
2004
== Thành tích quốc tế ==
=== Giải bóng đá vô địch thế giới ===
== Cúp bóng đá Nam Mỹ ==
== Đại hội Thể thao Liên Mỹ ==
1951 - Hạng năm
1955 đến 1983 - Không tham dự
1987 - Vòng 1
1991 - Không tham dự
1995 - Tứ kết
1999 - Không tham dự
2003 - Vòng 1
== Cầu thủ ==
=== Đội hình hiện tại ===
Đội hình dưới đây được triệu tập tham dự vòng loại World Cup 2018 gặp Ecuador ngày 23 và Brasil ngày 28 tháng 3 năm 2017.
Số liệu thống kê tính đến ngày 28 tháng 3 năm 2017 sau trận gặp Brasil.
=== Triệu tập gần đây ===
PRE Đội hình sơ bộ.
== Kỷ lục ==
Số liệu thống kê chính xác tới 23 tháng 3 năm 2017
Cầu thủ in đậm vẫn còn thi đấu ở đội tuyển quốc gia.
== Cầu thủ nổi tiếng ==
Francisco Arce
Roberto Miguel Acuña
Saturnino Arrúa
Celso Ayala
Roberto Cabañas
José Saturnino Cardozo
José Luis Chilavert
Arsenio Erico
Roberto Fernández
Carlos Gamarra
Nelson Haedo Valdez
Aurelio González
Carlos Humberto Paredes
Romerito
Roque Santa Cruz
Juan Bautista Villalba
== Huấn luyện viên nổi tiếng ==
Aurelio González
Manuel Fleitas Solich
Ranulfo Miranda
Ladislao Kubala
Paulo César Carpegiani
== Chú thích ==
== Liên kết ngoài ==
Đội tuyển bóng đá quốc gia Paraguay trên trang chủ của FIFA |
vôn.txt | Vôn, Volt, ký hiệu V, là đơn vị đo hiệu điện thế, sức điện đông được lấy tên theo nhà vật lý người Ý Alessandro Volta.
== Định nghĩa ==
Một vôn là hiệu điện thế giữa hai điểm của 1 dây dẫn khi có dòng điện chạy qua với cường độ 1 ampe và cho công suất 1 watt. nó cũng bằng sự chênh lệch điện áp giữa 2 mặt phẳng vô hạn song song cách nhau 1 mét, tạo ra một điện trường có giá trị 1 newton/ 1 coulomb. Ngoài ra, nó còn là sự chênh lệch điện thế giữa 2 điểm truyền điện tích với mức năng lượng 1 joule /coulomb. Volt được tính bằng hệ đơn vị SI (m, kg, s, và A) như sau:
V
=
potential energy
charge
=
N
⋅
m
coulomb
=
kg
⋅
m
⋅
m
s
2
⋅
A
⋅
s
=
kg
⋅
m
2
A
⋅
s
3
.
{\displaystyle {\text{V}}={\frac {\text{potential energy}}{\text{charge}}}={\frac {{\text{N}}\cdot {\text{m}}}{\text{coulomb}}}={\frac {{\text{kg}}\cdot {\text{m}}\cdot {\text{m}}}{{\text{s}}^{2}\cdot {\text{A}}\cdot {\text{s}}}}={\frac {{\text{kg}}\cdot {\text{m}}^{2}}{{\text{A}}\cdot {\text{s}}^{3}}}.}
Volt cũng có thể được tính theo công thức của định luật Ohm, đinh luật Joule như sau:
V
=
A
⋅
Ω
=
W
A
=
J
C
=
eV
e
.
{\displaystyle {\text{V}}={\text{A}}\cdot \Omega ={\frac {\text{W}}{\text{A}}}={\frac {\text{J}}{\text{C}}}={\frac {\text{eV}}{e}}.}
== Các ước số-bội số của vôn ==
=== Các tiền tố kết hợp với đơn vị vôn ===
=== Bảng chuyển đổi giá trị giữa các ước số-bội số khác nhau ===
== Tham khảo == |
kinh tế românia.txt | Nền kinh tế România năm 2007 đứng thứ 17 trong Liên minh châu Âu về GDP danh nghĩa và đứng thứ 11 về GDP theo sức mua tương đương, là một trong những nước có mức tăng trưởng liên tục nhanh nhất với tỉ lệ tăng trưởng GDP hàng năm trên 7%. România là thành viên của Liên minh châu Âu và là một đối tác thương mại quan trọng trong liên minh. Thủ đô Bucharest (với 2,5 triệu người) là một trong những trung tâm tài chính lớn nhất trong khu vực.
GDP của România sẽ tăng gấp đôi vào năm 2011.. Năm 2007 kinh tế tăng trưởng vững chắc trên 7%. România ngày càng có tầm quan trọng và vị thế trong quá trình hội nhập là một quốc gia thành viên của EU.
România cũng có một hải cảng chiến lược cạnh tranh tốt với nhiều quốc gia láng giềng trong việc tiến hành các hoạt động kinh doanh trên biển. Hải cảng Constanta là hải cảng náo nhiệt nhất ở Biển Đen, vượt trội so với những nơi khác. Thêm vào đó, cơ sở hạ tầng của hải cảng và lực lượng lao động được giáo dục đào tạo tốt, có kỹ năng, cũng là nền tảng cho việc phát triển nền kinh tế sản xuất hàng hóa và các hoạt động xuất nhập khẩu.
Do sự tăng trưởng nhanh về kinh tế mà vào năm 2007, România đã có 9 tỉ phú USD so với mức 2 tỉ phú trong năm 2006.
== Chú thích == |
sân bay quốc tế palonegro.txt | Sân bay quốc tế Palonegro (tiếng Tây Ban Nha: Aeropuerto Internacional de Palonegro) (IATA: BGA, ICAO: SKBG) là một sân bay nằm ở thị xã Lebrija, Santander, khoảng 30 km về phía tây Bucaramanga, Colombia. Sân bay này phục vụ Vùng đô thị Bucaramanga và các thị xã phụ cận.
Sân bay này được xây trên núi bao quanh cao nguyên Bucaramanga. Một con đường núi nối sân bay này với thành phố, nằm ở độ cao 1200 mét trên mực nước biển (thành phố Bucaramanga nằm ở độ cao 950 mét trên mực nước biển. Sân bay được khởi công xây năm 1969 và hoàn thành năm 1974 để thay sân bay cũ Gómez Niño.
== Các hãng hàng không và tuyến bay ==
Aerolínea de Antioquia (Cúcuta, Medellín-Olaya Herrera)
AeroRepública (Bogotá, Panama City, San Andrés Island (seasonal))
AIRES (Cúcuta, El Yopal, Medellín-Olaya Herrera)
Avianca (Bogotá)
operated by SAM (Bogotá)
EasyFly (Cúcuta, Medellín-Olaya Herrera)
SATENA (Arauca, Cúcuta, Medellín-Olaya Herrera, Saravena)
== Tham khảo == |
phạm văn đồng.txt | Phạm Văn Đồng (1 tháng 3 năm 1906 – 29 tháng 4 năm 2000) là vị Thủ tướng Việt Nam tại vị lâu nhất (1955–1987).
Ông là học trò, cộng sự của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Ông giữ chức vụ Thủ tướng Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa từ năm 1955 đến năm 1976 và Thủ tướng của nước Việt Nam thống nhất từ năm 1976 (từ năm 1981 gọi là Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng) cho đến khi nghỉ hưu năm 1987. Ông có tên gọi thân mật là "Tô", đây từng là bí danh của ông. Ông còn có tên gọi là Lâm Bá Kiệt khi làm Phó chủ nhiệm cơ quan Biện sự xứ tại Quế Lâm (Chủ nhiệm là Hồ Học Lãm).
== Tiểu sử ==
Phạm Văn Đồng sinh ra ở xã Đức Tân, huyện Mộ Đức, tỉnh Quảng Ngãi.
Ông tham gia phong trào bãi khóa chống Pháp của học sinh, sinh viên năm 1925, khi Phan Châu Trinh mất. Năm 1926, ông sang Quảng Châu dự lớp huấn luyện cách mạng do Hồ Chí Minh tổ chức và gia nhập Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên. Đến năm 1929, ông được cử vào Kỳ bộ Nam Kỳ, rồi vào Tổng bộ Việt Nam Thanh niên Cách mạng Đồng chí Hội và tham gia đại hội của tổ chức này họp ở Hồng Kông. Tháng 7 năm 1929, ông bị thực dân Pháp bắt, kết án 10 năm tù, đày đi Côn Đảo.
Năm 1936, ông ra tù, hoạt động ở Hà Nội. Năm 1940, ông bí mật sang Trung Quốc cùng với Võ Nguyên Giáp, gia nhập Đảng Cộng sản Đông Dương và được Nguyễn Ái Quốc giao nhiệm vụ về nước xây dựng căn cứ địa ở biên giới Việt – Trung.
Năm 1945, tại Đại hội Quốc dân Tân trào, ông được bầu vào Ủy ban Thường trực gồm 5 người thuộc Ủy ban Dân tộc giải phóng, chuẩn bị cho Cách mạng tháng Tám.
== Tham gia chính phủ ==
Sau khi nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa thành lập, vào ngày 16 tháng 8 năm 1945, ông được giữ chức Bộ trưởng Tài chính. Tuy nhiên ông để lại dấu ấn nhiều trong lĩnh vực ngoại giao.
Ngày 2 tháng 3 năm 1946 tại Hà Nội, ông được bầu làm Phó Trưởng ban Thường vụ Quốc hội (khóa I).
Ngày 31 tháng tháng 5 năm 1946, ông là Trưởng phái đoàn Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tại Hội nghị Fontainebleau (Pháp) thay cho Nguyễn Tường Tam không nhận nhiệm vụ, nhằm tìm một giải pháp độc lập cho Đông Dương. Tuy nhiên, hội nghị này thất bại do Pháp không trả lời dứt khoát về việc ấn định thời hạn thực hiện cuộc trưng cầu dân ý ở Nam Kỳ.
Chiến tranh Đông Dương bùng nổ, ông được cử làm Đặc phái viên của Trung ương Đảng và Chính phủ tại Nam Trung Bộ. Năm 1947 ông được bầu làm Ủy viên dự khuyết Ban chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương (uỷ viên chính thức từ năm 1949). Từ tháng 7 năm 1949, ông được cử làm Phó Thủ tướng duy nhất.
Tại Đại hội Đảng Cộng sản Đông Dương/Đảng Lao động Việt Nam lần thứ hai năm 1951, ông trở thành Ủy viên Bộ Chính trị Trung ương Đảng.
Năm 1954, ông được giao nhiệm vụ Trưởng phái đoàn Chính phủ dự Hội nghị Genève về Đông Dương. Những đóng góp của đoàn Việt Nam do ông đứng đầu là vô cùng quan trọng, tạo ra những đột phá đưa Hội nghị tới thành công. Trải qua 8 phiên họp toàn thể và 23 phiên họp rất căng thẳng và phức tạp, với tinh thần chủ động và cố gắng của phái đoàn Việt Nam, ngày 20/7/1954, bản Hiệp định đình chỉ chiến sự ở Việt Nam, Campuchia và Lào đã được ký kết thừa nhận tôn trọng độc lập, chủ quyền, của nước Việt Nam, Lào và Campuchia.
Tháng 9 năm 1954, ông kiêm chức Bộ trưởng Ngoại giao nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Trưởng ban Đối ngoại Trung ương Đảng. Từ tháng 9 năm 1955, ông là Thủ tướng Chính phủ của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và từ năm 1976 là Thủ tướng của nước Việt Nam thống nhất, Phó Chủ tịch Hội đồng Quốc phòng cho đến khi về hưu năm 1987. Ông cũng liên tục là đại biểu Quốc hội từ năm 1946 đến năm 1987.
Trong thời gian làm thủ tướng chính phủ, ông và Nguyễn Văn Linh là người đã giải oan cho đạo diễn Trần Văn Thủy trong sự kiện về bộ phim tài liệu Hà Nội trong mắt ai.
Vào năm 1972 khi "Mùa hè đỏ lửa" đang diễn ra quyết liệt, Phạm Văn Đồng có chuyến đi cùng đoàn xe chở chủ tịch Cuba ở vùng giới tuyến. Trên đường đi, ông và chủ tịch Cuba chứng kiến một nữ du kích huyện đội Vĩnh Linh bị thương do bom, ông cùng chủ tịch Cuba đã dốc lòng giúp đỡ để cứu chữa người nữ du kích này.
Tại Đại hội Đảng lần thứ V đã bầu Phạm Văn Đồng vào Ban Chấp hành Trung ương Đảng và Uỷ viên Bộ Chính trị
== Hoạt động sau khi nghỉ hưu ==
Ông là Cố vấn Ban chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam từ tháng 12 năm 1986 đến 1997. Ông cùng Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh và Thủ tướng Đỗ Mười đã tham gia cuộc gặp không chính thức với lãnh đạo Trung Quốc tại Thành Đô tháng 9 năm 1990 nhằm bình thường hóa mối quan hệ giữa hai nước sau hơn 10 năm căng thẳng và xung đột.
Ngày 21 tháng 8 năm 1998, thủ tướng Phan Văn Khải ký quyết định số 746/QĐ - TTg bổ nhiệm ông làm chủ tịch danh dự Hội đồng Quốc gia Chỉ đạo Biên soạn Từ điển bách khoa Việt Nam
Ông đã được tặng thưởng Huân chương Sao Vàng của Việt Nam và nhiều huân chương khác của Liên Xô, Lào, Campuchia, Cuba, Bulgaria, Ba Lan và Mông Cổ.
Từ đầu thập niên 80 thế kỷ XX, do bị teo dây thần kinh đáy mắt nên mắt ông bắt đầu mờ dần.
Ông mất tại Hà Nội ngày 29 tháng 4 năm 2000, hưởng thọ 94 tuổi.
== Gia đình ==
Mẹ của Phạm Văn Đồng là cụ Nguyễn Thị Tuân
Phạm Văn Đồng có vợ là bà Phạm Thị Cúc và một người con trai duy nhất tên là Phạm Sơn Dương, hiện là thiếu tướng Quân đội Nhân dân Việt Nam, phó giám đốc Viện Khoa học và Công nghệ Quân sự. Sau khi lấy bà Cúc (tháng 10 năm 1946) Phạm Văn Đồng vào công tác trong liên khu 5. Mấy năm sau bà Cúc được phép vào Nam sống với chồng. Vào đến nơi thì Phạm Văn Đồng lại được lệnh ra Bắc. Sau đó bà Cúc bị bệnh "nửa quên nửa nhớ" (theo lời của Việt Phương, người từng làm thư ký cho Phạm Văn Đồng trong 53 năm) kéo dài cho đến tận bây giờ. Phạm Văn Đồng từng đưa bà Cúc sang Trung Quốc, Liên Xô chữa bệnh nhưng vẫn không khỏi. Phạm Văn Đồng mất trước bà Cúc.
Phạm Sơn Dương có vợ là Minh Châu và hai người con: con trai Quốc Hoa, con gái Quốc Hương. Tên của Quốc Hoa và Quốc Hương là do Phạm Văn Đồng đặt, ý là "hoa, hương của đất nước".
== Đánh giá ==
Với bề dày hơn 70 năm hoạt động trong sự nghiệp Cách mạng của Đảng Cộng sản Việt Nam, trong đó nhiều năm giữ các cương vị lãnh đạo chủ chốt, ông được nhiều nhà lãnh đạo của Đảng Cộng sản và học giả trong nước, những người gần gũi với ông đánh giá là có nhiều đóng góp quan trọng trên nhiều lĩnh vực.
Cựu Thủ tướng Võ Văn Kiệt nhận xét về ông "tác phong giản dị mà lịch thiệp", "lối sống đạm bạc mà văn hóa" "rất mực ôn hòa" "hết mức bình dị" và "Năm trước, ở bài viết trong cuốn sách kỷ niệm về anh Sáu Thọ, tôi có nhắc tới biệt danh "Sáu Búa" thể hiện tính quyết đoán cao và sự thẳng thắn trong đấu tranh nội bộ của anh Sáu. Với Anh Tô, tôi thấy dường như Anh là sự bù trừ cho anh Sáu và một số anh khác."..
== Văn kiện gây tranh cãi ==
Chính phủ Trung Quốc ra Tuyên bố về lãnh hải 12 hải lý ngày 4 tháng 9 năm 1958. Phạm Văn Đồng sau đó đã viết một Công hàm gửi cho thủ tướng Trung Quốc Chu Ân Lai vào ngày 14 tháng 9 năm 1958 và sau đó cho đăng trên báo Nhân dân ngày 22 tháng 9 năm 1958, trong đó có đoạn:
Thủ tướng Việt Nam Dân chủ Cộng hòa: Phạm Văn Đồng gửi thứ trưởng Bộ Ngoại giao Trung Quốc, ghi nhận và tán thành bản tuyên bố ngày 4 tháng 9 năm 1958 của chính phủ Trung Quốc về hải phận.
Theo quan điểm của Trung Quốc (tài liệu Bộ Ngoại giao), công hàm của Thủ tướng nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hoà Phạm Văn Đồng đương nhiên "công nhận" chủ quyền của Trung Quốc đối với các quần đảo trên biển Đông vì trước đó trong số báo ngày 6 tháng 9 báo Nhân dân "đã đăng chi tiết về Tuyên bố Lãnh hải của chính phủ Trung Quốc trong đó đường cơ sở để tính lãnh hải bao gồm bờ biển hai quần đảo Tây Sa và Nam Sa trên biển Đông". Các tài liệu công bố công khai cho công chúng Trung Quốc bản dịch tiếng Trung đều không dịch đầy đủ nội dung của văn kiện này, thiếu một số nội dung trong đó có đoạn "triệt để tôn trọng hải phận 12 hải lý của Trung Quốc".
Theo Tuyên bố của Bộ Ngoại giao nước CHXHCN Việt Nam về quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa ngày 7 tháng 8 năm 1979 thì: Sự diễn giải của Trung quốc về bản công hàm ngày 14 tháng 9 năm 1958 của Thủ tướng nước Việt Nam Dân chủ Cộng Hoà như một sự công nhận chủ quyền của phía Trung quốc trên các quần đảo là một sự xuyên tạc trắng trợn khi tinh thần và ý nghĩa của bản công hàm chỉ có ý định công nhận giới hạn 12 hải lý của lãnh hải Trung quốc. (Tức là khoảng 22 km, mà không cho biết đường cơ sở để tính chủ quyền 12 hải lý có bao gồm đường bờ biển hai quần đảo đó hay không). Văn bản này không đề cập đến hai quần đảo (chỉ là cơ sở Trung Quốc tính hải phận và không thuộc hải phận). Việt Nam khẳng định lại chủ quyền đối với 2 quần đảo này, nhắc lại lập trường của Việt Nam về việc giải quyết sự tranh chấp về 2 quần đảo giữa hai nước bằng thương lượng hoà bình.
== Hình ảnh công cộng ==
Hiện nay ở thủ đô Hà Nội, tên của ông được đặt cho đoạn đường nối từ ngã tư Xuân Thủy - Phạm Hùng - Hồ Tùng Mậu đến cầu Thăng Long mở đầu cho tuyến đường dẫn từ nội thành Hà Nội tới sân bay quốc tế Nội Bài. Ngoài ra tại Việt Nam, tên ông còn được đặt cho nhiều tuyến đường lớn ở Đà Nẵng, Nha Trang, Hải Phòng, thành phố Hồ Chí Minh... Tại Quảng Ngãi, một trường đại học mang tên ông, dựa trên cơ sở nâng cấp trường Cao đẳng Sư phạm Quảng Ngãi và Trường Cao đẳng cộng đồng Quảng Ngãi.
== Phát biểu ==
Trước khi qua đời, Phạm Văn Đồng đã dặn dò Phạm Sơn Dương, người con trai duy nhất của mình:
Bộ phim tài liệu "Hà Nội trong mắt ai" đã bị cấm chiếu cho đến khi được đích thân Thủ tướng Phạm Văn Đồng xem và nhận xét. Đây là mệnh lệnh ngày 18/10/1983 của ông.
Trong Tạp chí Học tập, số 4-1966 ông viết về việc giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt:
Về vấn đề bồi dưỡng và rèn luyện đội ngũ cán bộ đảng viên ông phát biểu:
Trong bài báo cuối cùng của ông, bài "Nêu cao danh hiệu Đảng Cộng sản Việt Nam, đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam" đăng trên trang nhất báo Nhân dân ngày 19 tháng 5 năm 1999, ông viết:
== Chú thích ==
== Xem thêm ==
Thủ tướng Việt Nam
== Liên kết ngoài ==
Tiểu sử Phạm Văn Đồng trên website Bộ Ngoại giao Việt Nam.
Phỏng vấn Phạm Văn Đồng, 1981
Phạm Văn Đồng tại Từ điển bách khoa Việt Nam
Nhìn lại Công hàm Phạm Văn Đồng 1958 BBC |
bóng.txt | Bóng hay banh có dạng tròn, thường có hình cầu nhưng đôi khi có hình bầu dục, được sử dụng dưới nhiều mục đích khác nhau. Trong tiếng Việt, những vật có hình cầu tương tự nhưng có kích thước tương đối nhỏ được gọi là bi. Chúng được sử dụng trong những trờ chơi với bóng và bi (ball game), trong người chơi chạm, đá, ném theo trạng thái của quả bóng. Bóng được dùng trong những hoạt động đơn giản như đuổi theo, tung hứng. Bóng chủ yếu làm từ cao su.
== Hình ảnh ==
== Chú thích == |
cầu thủ nữ xuất sắc nhất thế kỷ của fifa.txt | Cầu thủ nữ xuất sắc nhất thế kỷ của FIFA (tiếng Anh: FIFA Female Player of the Century) là giải thưởng do FIFA tổ chức nhằm tìm ra cầu thủ bóng đá nữ xuất sắc nhất thế kỷ 20. Michelle Akers của Hoa Kỳ và Tôn Văn là những người chiến thắng trong buổi trao thưởng tại Roma, Italia vào ngày 11 tháng 12 năm 2000.
== Bối cảnh ==
Kể từ năm 1991 FIFA bắt đầu tổ chức trao giải Cầu thủ xuất sắc nhất năm. Tổ chức này quyết định chào đón thiên niên kỷ mới bằng việc phát động cuộc bầu chọn công khai nhằm tìm ra Cầu thủ xuất sắc nhất thế kỷ của FIFA (dành cho cầu thủ nam), Thủ môn xuất sắc nhất thế kỷ của FIFA, và Cầu thủ nữ xuất sắc nhất thế kỷ của FIFA.
== Quá trình bầu chọn ==
Akers được chọn là Cầu thủ thế kỷ của FIFA thông qua bầu chọn chung của độc giả FIFA Magazine (có giá trị 50%) và từ FIFA Football Committee (có giá trị 50% còn lại). Tôn Văn được trao giải FIFA Internet Award dựa trên phiếu bầu trên trang chủ của FIFA.
== Chú thích ==
== Liên kết ngoài ==
Who is the greatest women's footballer of all time? (FIFA)
Sun Wen and Akers on Top (FIFA) |
giải quần vợt wimbledon 2012 - đơn nam.txt | Novak Djokovic là đương kim vô địch, nhưng thua Roger Federer ở bán kết trong trận đối đầu đầu tiên của họ trên mặt sân cỏ.
Hạt giống số 2 Rafael Nadal thất bại ở vòng hai, là thất bại sớm nhất của anh ở một Grand Slam kể từ Giải quần vợt Wimbledon 2005. Andy Murray trở thành tay vợt nam của Anh đầu tiên lọt vào chung kết Wimbledon từ sau Bunny Austin năm 1938
Roger Federer đánh bại tay vợt chủ nhà được ưa thích Andy Murray 4–6, 7–5, 6–3, 6–4 để đạt tới đồng kỷ lục vô địch Wimbledon 7 lần và lập kỷ lục mới 17 lần vô địch Grand Slam, như Pete Sampras. Với chiến thắng này, Federer cũng giành lại vị trí số 1 thế giới.
== Hạt giống ==
== Vòng loại ==
== Kết quả ==
=== Chú giải ===
=== Tứ kết, bán kết và chung kết ===
=== Nhánh trên ===
==== Section 1 ====
==== Section 2 ====
==== Section 3 ====
==== Section 4 ====
=== Nhánh dưới ===
==== Section 5 ====
==== Section 6 ====
==== Section 7 ====
==== Section 8 ====
== Tham khảo ==
Main Draw
Bản mẫu:Wimbledon – Gentlemen's Singles tournaments (Open Era) |
khoai lang.txt | Khoai lang (danh pháp hai phần: Ipomoea batatas) là một loài cây nông nghiệp với các rễ củ lớn, chứa nhiều tinh bột, có vị ngọt, được gọi là củ khoai lang và nó là một nguồn cung cấp rau ăn củ quan trọng, được sử dụng trong vai trò của cả rau lẫn lương thực. Các lá non và thân non cũng được sử dụng như một loại rau. Khoai lang có quan hệ họ hàng xa với khoai tây (Solanum tuberosum) có nguồn gốc Nam Mỹ và quan hệ họ hàng rất xa với khoai mỡ (một số loài trong chi Dioscorea) là các loài có nguồn gốc từ châu Phi và châu Á.
Chi Ipomoea có khoai lang, rau muống (Ipomoea aquatica) và một số loài hoa dại được gọi bằng một số tên như bìm bìm (chung với các chi khác), mặc dù từ này không được dùng để chỉ khoai lang, rau muống. Một vài giống cây trồng của Ipomoea batatas cũng được trồng như là cây trồng trong nhà.
Khoai lang là loài cây thân thảo dạng dây leo sống lâu năm, có các lá mọc so le hình tim hay xẻ thùy chân vịt, các hoa có tràng hợp và kích thước trung bình. Rễ củ ăn được có hình dáng thuôn dài và thon, lớp vỏ nhẵn nhụi có màu từ đỏ, tím, nâu hay trắng. Lớp cùi thịt có màu từ trắng, vàng, cam hay tím.
== Nguồn gốc và phân bổ ==
Khoai lang có nguồn gốc từ khu vực nhiệt đới châu Mỹ, nó được con người trồng cách đây trên 5.000 năm [2] [3]. Nó được phổ biến rất sớm trong khu vực này, bao gồm cả khu vực Caribe. Nó cũng đã được biết tới trước khi có sự thám hiểm của người phương tây tới Polynesia. Nó được đưa tới đây như thế nào là chủ đề của các cuộc tranh luận dữ dội, có sự tham gia của các chứng cứ từ khảo cổ học, ngôn ngữ học và di truyền học.
Ngày nay, khoai lang được trồng rộng khắp trong các khu vực nhiệt đới và ôn đới ấm với lượng nước đủ để hỗ trợ sự phát triển của nó.
Theo số liệu thống kê của FAO năm 2004, thì sản lượng toàn thế giới là 127 triệu tấn [4], trong đó phần lớn tại Trung Quốc với sản lượng khoảng 105 triệu tấn và diện tích trồng là 49.000 km². Khoảng một nửa sản lượng của Trung Quốc được dùng làm thức ăn cho gia súc và gia cầm [5].
Sản lượng trên đầu người là lớn nhất tại các quốc gia mà khoai lang là mặt hàng lương thực chính trong khẩu phần ăn, đứng đầu là quần đảo Solomon với 160 kg/người/năm và Burundi với 130 kg.
Bắc Carolina, tiểu bang đứng đầu Hoa Kỳ về sản xuất khoai lang, hiện nay cung cấp 40% sản lượng khoai lang hàng năm của quốc gia này.
Mississippi cũng là bang chủ lực trong việc trồng khoai lang, tại đây khoai lang được trồng trên diện tích khoảng 8.200 mẫu Anh. Khoai lang từ Mississippi đóng góp khoảng 19 triệu USD vào nền kinh tế bang này và hiện nay có khoảng 150 trang trại ở Mississippi trồng khoai lang. Năm quận đứng đầu canh tác khoai lang ở Mississippi là Calhoun, Chickasaw, Pontotoc, Yalobusha và Panola. Lễ hội khoai lang quốc gia (Hoa Kỳ) được tổ chức hàng năm tại Vardaman vào tuần đầu tiên của tháng 11, và Vardaman được gọi là "The Sweet Potato Capital" (tạm dịch: Thủ đô khoai lang).
Thị trấn Benton, Kentucky kỷ niệm khoai lang hàng năm cùng với Lễ hội Ngày Tater vào thứ hai đầu tiên của tháng 4.
== Canh tác trồng trọt ==
Khoai lang không chịu được sương giá. Nó phát triển tốt nhất ở nhiệt độ trung bình khoảng 24 °C (75 °F). Phụ thuộc vào giống cây trồng và các điều kiện khác, các rễ củ sẽ phát triển đầy đủ trong vòng từ 2 đến 9 tháng. Với sự chăm sóc cẩn thận, các giống ngắn ngày có thể trồng như cây một năm để cho thu hoạch vào mùa hè tại các khu vực có khí hậu ôn đới, như miền bắc Hoa Kỳ. Khoai lang ít khi ra hoa nếu khoảng thời gian ban ngày vượt quá 11 giờ. Chúng được nhân giống chủ yếu bằng các đoạn thân (dây khoai lang) hay rễ hoặc bằng các rễ bất định mọc ra từ các rễ củ trong khi lưu giữ bảo quản. Các hạt hầu như chỉ dành cho mục đích gây giống mà thôi.
Trong các điều kiện tối ưu với 85-90% độ ẩm tương đối ở 13-16 °C (55-61 °F), các củ khoai lang có thể giữ được trong vòng 6 tháng. Nhiệt độ thấp hoặc cao hơn đều nhanh chóng làm hỏng củ.
Khoai lang phát triển tốt trong nhiều điều kiện về đất, nước và phân bón. Nó cũng có rất ít kẻ thù tự nhiên nên thuốc trừ dịch hại là ít khi phải dùng tới. Do nó được nhân giống bằng các đoạn thân nên khoai lang là tương đối dễ trồng. Do thân phát triển nhanh che lấp và kìm hãm sự phát triển của cỏ dại nên việc diệt trừ cỏ cũng tiêu tốn ít thời gian hơn. Trong khu vực nhiệt đới, khoai lang có thể để ở ngoài đồng và thu hoạch khi cần thiết còn tại khu vực ôn đới thì nó thường được thu hoạch trước khi sương giá bắt đầu.
Trung Quốc là quốc gia trồng nhiều khoai lang nhất; chiếm tới 80% sản lượng toàn thế giới (với sản lượng năm 1990 là 130 triệu tấn; bằng khoảng một nửa sản lượng khoai tây của quốc gia này). Trong quá khứ, phần lớn khoai lang tại Trung Quốc được trồng để làm lương thực, nhưng ngày nay phần lớn (60%) được trồng để nuôi lợn. Phần còn lại được dùng làm lương thực hay chế biến các sản phẩm khác cũng như để xuất khẩu, chủ yếu là sang Nhật Bản. Tại Trung Quốc hiện nay có trên 100 giống khoai lang.
Khoai lang trở thành phổ biến từ rất sớm tại các đảo trên Thái Bình Dương, từ Nhật Bản tới Polynesia. Một lý do có lẽ là nó có thể cho thu hoạch khá sớm nếu như các loại cây trồng khác bị thất thu do bão, lụt. Nó là đặc trưng trong nhiều món ăn ở Nhật Bản, Đài Loan, Philippines và các quốc gia khác. Indonesia, Việt Nam, Ấn Độ cùng một số quốc gia châu Á khác cũng là các quốc gia trồng nhiều khoai lang. Uganda (quốc gia đứng thứ ba sau Indonesia), Rwanda và một số quốc gia châu Phi khác cũng trồng nhiều khoai lang do nó là một thành phần quan trọng trong khẩu phần ăn tại các quốc gia này. Bắc và Nam Mỹ, quê hương của khoai lang nhưng ngày nay chỉ chiếm không quá 3% sản lượng toàn thế giới. châu Âu cũng có trồng khoai lang, nhưng sản lượng không đáng kể, chủ yếu tại Bồ Đào Nha (nguồn: JRT, FAO)
Khoai lang đã từng là một phần quan trọng trong khẩu phần ăn tại Hoa Kỳ trong phần lớn lịch sử của quốc gia này, đặc biệt là tại khu vực đông nam. Tuy nhiên, trong những năm gần đây thì nó đã trở nên ít phổ biến hơn. Tiêu thụ bình quân trên đầu người tại Hoa Kỳ ngày nay chỉ khoảng 1,5–2 kg (4 pao) mỗi năm, trong khi trong thập niên 1920 là 13 kg (31 pao). Kent Wrench viết: "Khoai lang đã gắn liền với thời kỳ khó khăn trong suy nghĩ của tổ tiên chúng ta và khi họ trở nên giàu có đủ để thay đổi thực đơn của mình thì người ta ít ăn khoai lang hơn." (NCSPC)
=== Bệnh dịch ===
== Sử dụng ==
Củ khoai lang thường được luộc, rán hay nướng. Chúng cũng có thể được chế biến thành tinh bột và có thể thay thế một phần cho bột mì. Trong công nghiệp, người ta dùng khoai lang làm nguyên liệu sản xuất tinh bột và cồn công nghiệp.
=== Ẩm thực ===
Mặc dù lá và thân non cũng ăn được, nhưng các rễ củ nhiều tinh bột mới là sản phẩm chính và quan trọng nhất từ khoai lang. Trong một số quốc gia khu vực nhiệt đới, nó là loại lương thực chủ yếu. Cùng với tinh bột, củ khoai lang cũng chứa nhiều xơ tiêu hóa, vitamin A, vitamin C và vitamin B6. Tất cả các giống đều cho củ có vị ngọt, dù nhiều hay ít. Mặc dù có vị ngọt, nhưng khoai lang trên thực tế là thức ăn tốt cho những người mắc bệnh đái tháo đường do các nghiên cứu sơ bộ trên động vật cho thấy nó hỗ trợ cho sự ổn định nồng độ đường trong máu và làm giảm sức kháng insulin .
Năm 1992, người ta đã so sánh giá trị dinh dưỡng của khoai lang với các loại rau khác. Lưu ý tới hàm lượng xơ, các cacbohydrat phức, protein, các vitamin A và C, sắt, canxi thì khoai lang đứng cao nhất về giá trị dinh dưỡng. Theo các tiêu chuẩn này thì khoai lang đạt 184 điểm và hơn loại rau đứng thứ hai (khoai tây) 100 điểm trong danh sách này.(NCSPC)
Các giống khoai lang có lớp thịt màu vàng cam sẫm chứa nhiều vitamin A hơn các giống có thịt màu nhạt và việc trồng giống này được khuyến khích tại châu Phi do thiếu hụt vitamin A là vấn đề nghiêm trọng tại khu vực này. Một số người Mỹ, như Oprah Winfrey, cổ vũ cho việc ăn nhiều khoai lang vì lý do sức khỏe cũng như vì tầm quan trọng của nó trong ẩm thực truyền thống của người miền nam Hoa Kỳ.
Candied sweet potatoes (Khoai lang tẩm đường) là món ăn phụ, được làm chủ yếu từ khoai lang, đường, kẹo dẻo, xi rô phong, mật đường hay các thành phần có vị ngọt khác. Nó thường được người Mỹ dùng trong Lễ tạ ơn, nó là tiêu biểu cho ẩm thực Mỹ truyền thống và thức ăn của người thổ dân.
Sweet potato pie (Bánh nướng khoai lang) cũng là một món ăn truyền thống được ưa thích trong ẩm thực miền nam Hoa Kỳ.
Baked sweet potatoes (Khoai lang nướng) tại Hoa Kỳ đôi khi cũng được dùng trong các nhà ăn như là sự thay thế cho khoai tây nướng. Thông thường, tại đây nó được phủ bằng đường nâu hay bơ.
Rau lang xào là món ăn khá phổ biến trong ẩm thực Đài Loan, Việt Nam, thông thường nó được xào với tỏi và dầu ăn và một chút muối ăn ngay trước khi ăn.
Rau lang luộc cũng là món ăn phổ biến của người Việt và nó hay được dùng với nước cáy.
Shōchū là một loại rượu của Nhật Bản, sản xuất từ gạo và khoai lang.
=== Phi ẩm thực ===
Tại Nam Mỹ, nước lấy từ củ khoai lang đỏ trộn lẫn với nước chanh để làm một loại thuốc nhuộm vải. Bằng cách thay đổi tỷ lệ thành phần của các loại nước này mà người ta thu được các tông màu từ hồng tới tía hay đen. (Verrill, trang 47)
Tất cả các phần của cây đều có thể dùng làm thức ăn (khô hay tươi) cho gia súc.
== Thành phần dinh dưỡng ==
=== Cách nấu có lợi cho sức khỏe ===
Một số lợi ích dinh dưỡng từ khoai lang chỉ đơn giản có thể đạt được dễ dàng hơn nếu bạn sử dụng cách nấu hấp hoặc luộc chín. Các nghiên cứu gần đây cho thấy cách bảo tồn tuyệt vời anthocyanin có trong khoai lang là hấp, và một số nghiên cứu so sánh từ cách luộc đến nướng đã cho thấy những tác dụng đường huyết tốt hơn bao gồm cả việc đạt được một chỉ số đường huyết thấp, hoặc chỉ số Glycemic (Glycemic Index GI) bằng cách luộc. Các tác động của việc hấp là đặc biệt thú vị, vì chỉ từ hai phút hấp để vô hiệu hóa các enzym peroxidase mà nếu không có quá trình này thì có thể phá vỡ các anthocyanin trong khoai lang. Trong thực tế, với các enzym peroxidase ngừng hoạt động, chiết xuất anthocyanin tự nhiên từ khoai lang được sử dụng cho thực phẩm màu có thể còn ổn định hơn màu thực phẩm tổng hợp. Lợi ích này không chỉ giới hạn đến sự xuất hiện của thực phẩm kể từ khi các anthocyanins có những lợi ích sức khỏe tuyệt vời như là chất dinh dưỡng phytochemical chống oxy hóa và chống viêm.
== Ích lợi ==
=== Phòng bệnh ===
Khoai lang có nhiều lợi ích cho sức khỏe mà không hề có tác dụng phụ khi sử dụng hàng ngày.
=== Chữa bệnh trong y học ===
Các rễ khí được sử dụng làm chất tăng tiết sữa.
Lá được dùng để diều trị bệnh đái tháo đường, sổ giun móc, điều trị áp xe và cầm máu.
Củ được dùng điều trị hen suyễn.
== Một số giống khoai lang được trồng ở Việt Nam ==
=== Khoai lang Hoàng Long ===
Khoai lang Hoàng Long là loại cây đặc sản của tỉnh Ninh Bình nói chung và vùng Nho Quan - Gia Viễn vốn nằm bên sông Hoàng Long nói riêng. Khoai Hoàng Long có thịt củ bở, màu vàng nhạt, bùi, ngọt và có mùi thơm đặc trưng. Hiện nay, Trung tâm Thực nghiệm Sinh học Nông nghiệp công nghệ cao thuộc Viện Di truyền nông nghiệp Việt Nam đã thử nghiệm và phục tráng thành công giống khoai lang Hoàng Long cho năng suất, chất lượng cao trên diện tích 3ha tại các xã Yên Quang và Phú Sơn huyện Nho Quan. Khoai Hoàng Long cùng với dê núi Ninh Bình, rượu Kim Sơn, dứa Đồng Giao, cơm cháy Ninh Bình là những đặc sản tiêu biểu được xây dựng thương hiệu và đem vào phục vụ du lịch.
=== Khoai lang Lệ Cần ===
Khoai lang Lệ Cần là đặc sản của vùng Lệ Cần, xã Tân Bình, Đắk Đoa, Gia Lai. Vì nổi tiếng nên giống khoai này được trồng ở khắp nơi. Nhưng do chỉ nhân giống bằng dây nên củ không còn nguyên phẩm chất như ban đầu.
Khoai lang Lệ Cần có thân dây to, cứng, lá mọc dài, tán có nhiều thùy màu nâu tím, củ màu đỏ, dài, thuôn. Ruột có màu vàng nghệ nên khi luộc bở vàng ươm, ăn ngọt lịm và bùi. Đặc biệt, giống khoai này chỉ trồng ở vùng Lệ Cần mới có đủ đặc điểm trên. Nếu đem giống đó trồng nơi khác thì bề ngoài tuy giống khoai Lệ Cần, nhưng ruột không có màu vàng và không ngọt, phẩm chất củ giảm rõ rệt. Qua phân tích mẫu đất tại khu vực xã Tân Bình cho thấy, một số mẫu ở vùng Lệ Cần có hàm lượng vi lượng cao hơn khu vực khác, đặc biệt là các nguyên tố Mn, Bo, nhờ đó khoai lang mới có chất lượng thơm, ngon.
Trong 3 năm (2008-2010), Trung tâm Nghiên cứu giống cây trồng tỉnh Gia Lai đã thực hiện phục tráng giống khoai lang này, tạo tiền đề cho sản xuất hàng hóa.
=== Khoai lang tím Nhật ở Bình Tân ===
Khoai lang tím Nhật Bản hiện được trồng nhiều ở huyện Bình Tân (Vĩnh Long), vì nó cho năng suất cao và có giá trị kinh tế… .
== Tham khảo ==
== Liên kết ngoài ==
Khoai lang, không phải khoai tây
Bí ẩn về khoai lang
Nhóm Tư vấn Nghiên cứu Nông nghiệp Quốc tế (CGIAR), "Khoai lang"
Khoai lang trên trang web của FAO
Hiệp hội cây trồng lấy rễ và thân củ Nhật Bản (JRT), "Khoai lang tại Nhật Bản" 2000 |
kinh tế tây ban nha.txt | Tây Ban Nha là một quốc gia có nền kinh tế phát triển cao. Hiện nay, nền kinh tế Tây Ban Nha đứng thứ 14 trên thế giới và thứ 6 tại châu Âu, sau Đức, Anh, Pháp, Ý và Nga. Năm 2016, GDP của Tây Ban Nha đạt khoảng 1.252.160 tỉ USD, thu nhập bình quân đầu người là 38,096 USD (đứng thứ 34 trên thế giới).
== Sự chuyển đổi thành một nền kinh tế hiện đại ==
Những gì mà nền kinh tế đứng thứ 9 trên thế giới của Tây Ban hiện nay có được là nhờ sự kế thừa của một nền kinh tế đã được cải cách từ thời Francoism.
Thời kỳ Franco, được bắt đầu vào những năm 1960, đã gỡ bỏ sự tập trung về kinh tế cùng với các dự án phát triển hạ tầng lớn, đã dẫn đến sự bùng nổ về kinh tế, sự phát triển nhanh chóng chỉ sau một thời gian ngắn được biết đến như là "Phép mầu Tây Ban Nha".
Sau khi Franco qua đời và chính quyền quân chủ lập hiến lên nắm quyền điều hành đất nước, chính phủ đã kiểm soát chặt chẽ hoạt động của nền kinh tế, trong đó có việc kiểm soát giá cả những mặt hàng thiết yếu như thực phẩm, giá của các mặt hàng này được cố định bởi chính phủ, các công ty nhà nước lớn điều khiển toàn bộ các ngành kinh tế chiến lược như điện thoại, thuốc lá, dầu mỏ..v.v, các cửa hàng phải mở cửa và đóng cửa vào những thời gian cố định (mặc dù điều này cũng đã từng tồn tại ở các nước châu Âu khác ví dụ như Đức), tỷ lệ lãi xuất bị quy định bởi chính phủ..v.v. Tất cả các quy định cứng nhắc này và những biến động của thị trường thế giới, đặc biệt là cuộc Khủng hoảng Dầu mỏ 1973 đã gây ra sự khủng hoảng trong sản xuất công nghiệp của Tây Ban Nha. Từ cuối thập niên 1980, Tây Ban Nha buộc phải tiến hành hiện đại hóa nền kinh tế đất nước để hội nhập với các nước châu Âu khác. Với việc gia nhập Liên minh châu Âu vào năm 1986, Tây Ban Nha đã tiến hành mở cửa và xây dựng nền kinh tế thị trường. Hệ thống cơ sở hạ tầng được hoàn chỉnh hiện đại, tốc độ tăng trưởng kinh tế tăng lên, tỉ lệ thất nghiệp giảm từ 23% xuống còn 10% và tỷ lệ lạm phát giảm xuống dưới 3%.
== Chú thích == |
everest.txt | Đỉnh Everest (tên khác: đỉnh Chomolungma) là đỉnh núi cao nhất trên Trái Đất khi so với mực nước biển, tính đến thời điểm hiện tại là 8848 mét, nó đã giảm độ cao 2,4 xentimet sau trận động đất tại Nepal ngày 25/04/2015 và đã dịch chuyển 3 cm về phía tây nam. Đường lên đỉnh Everest là biên giới giữa Nepal và Tây Tạng (Trung Quốc).
== Tên gọi ==
Tại Nepal, nó mang tên Sagarmatha (tiếng Phạn: सगरमस्तका sagaramastakā, "trán trời"). Trong tiếng Tây Tạng, nó được gọi Chomolangma (ཇོ་མོ་ཀླུངས་མ་ jo mo klungs ma, nghĩa là "Thánh mẫu của vũ trụ"). Trong tiếng Trung Quốc, nó có tên phiên âm từ tiếng Tây Tạng là Châu Mục Lãng Mã Phong (珠穆朗瑪峰) hoặc được dịch nghĩa là Thánh Mẫu Phong (聖母峰), "đỉnh núi của Thánh mẫu".
Ngọn núi này được đặt tên tiếng Anh bởi Andrew Scott Waugh, tổng trưởng quan trắc của Ấn Độ người Anh. Với cả Nepal và Tây Tạng đóng cửa với người nước ngoài, ông viết:
Do vậy Waugh đã chọn đặt tên núi theo tên của Sir George Everest, ban đầu sử dụng cách viết Mont Everest, và sau đó là Mount Everest. Tuy nhiên, cách phát âm hiện đại của Everest – IPA: [ˈɛvərɪst] hay là [ˈɛvərɨst] (EV-er-est) – khác với cách phát âm họ của Sir George là [ˈiv;rɪst] (EAVE-rest).
Tên Sagarmatha trong tiếng Nepal được đưa ra trong đầu thập niên 1960 khi nhà nước Nepal nhận ra rằng Đỉnh Everest không có tên trong tiếng Nepal. Điều này xảy ra vì ngọn núi không được biết đến và được đặt tên theo tiếng của một dân tộc thiểu số ở Nepal (vùng thung lũng Kathmandu và khu vực xung quanh). Tên trong tiếng Sherpa/Tây Tạng Chomolangma không được chấp nhận vì nó chống lại ý tưởng thống nhất Nepal.
== Số liệu đo đạc ==
Radhanath Sikdar, một nhà toán học Ấn Độ và một nhà đo đạc từ Bengal, là người đầu tiên xác định Everest là đỉnh núi cao nhất thế giới vào năm 1852, sử dụng các tính toán lượng giác dựa trên các đo đạc bằng theodolite từ khoảng cách xa 240 km (150 dặm) về phía bên trong Ấn Độ. Trước khi được đo đạc và đặt tên, nó được đặt tên là Đỉnh XV bởi đoàn đo đạc.
Núi Everest cao khoảng 8.848 m (29.029 ft), mặc dù có một số chênh lệch nhỏ trong các lần đo khác nhau. Núi K2 cao thứ nhì với độ cao 8.611 m (28.251 feet).
Điểm sâu nhất ở đại dương là hơn cả chiều cao của Everest: Challenger Deep, tọa lạc ở Vũng Mariana, sâu đến mức nếu Everest được đặt vào đó thì cần thêm trên 2 km (1,25 dặm) nước bao phủ ở phía trên.
Đỉnh Everest là đỉnh cao nhất Trái Đất nếu so với mực nước biển, còn nếu so về khoảng cách tới tâm Trái Đất thì núi lửa Chimborazo thuộc dãy Andes ở Ecuador xa hơn (6.382,3 km so với 6.384,4 km); lý do là Trái Đất không phải là một khối cầu hoàn hảo. Trái Đất có hình dáng của một khối phỏng cầu (ellipsoid tròn xoay), hơi lồi ra ở phần xích đạo.
Nếu so về phần vượt lên so với cao độ chung quanh thì nó thua núi Denali ở Alaska. Denali chỉ cao hơn mực nước biển 6.194 m, nhưng nó vượt hơn bình địa chung quanh (có độ cao so với mực nước biển dao động 300–900 m) là 5.300 đến 5.900 m, trong khi Everest chỉ vượt so với sườn phía nam là 4.200 m đến 5.200 m về phía cao nguyên Tây Tạng.
Nếu tính từ chân đến đỉnh, đỉnh Mauna Kea ở Hawaii mới là kỷ lục. Tính từ đáy biển đến đỉnh của Mauna Kea là 10.200 m (đỉnh của nó chỉ nhô trên mực nước biển 4.205 m)
== Hình ảnh ==
== Lộ trình trèo núi ==
Đỉnh Everest có hai đường leo lên chính, đường leo phía đông nam từ Nepal và đường leo đông bắc từ Tây Tạng, cũng như là 13 các đường leo ít thông dụng khác. Trong hai con đường chính, sườn núi phía đông nam dễ hơn về mặt kỹ thuật và do vậy là đường leo được sử dụng thường xuyên hơn. Đó là đường leo lên được sử dụng bởi Edmund Hillary và Tenzing Norgay vào năm 1953. Tuy nhiên quyết định chọn con đường này là do hoàn cảnh chính trị hơn là chủ ý bởi biên giới Tây Tạng đã bị đóng lại đối với người nước ngoài vào năm 1949.
Hầu hết các cố gắng xảy ra trong tháng 4 hay tháng 5 trước khi mùa mưa (monsoon) trong mùa hè. Một thay đổi trong dòng khí (jet stream) vào thời điểm này trong năm cũng làm giảm tốc độ gió trung bình trên đỉnh núi cao. Trong khi một số cố gắng xảy ra sau mùa monsoon vào tháng 9 và tháng 10, những tuyết dồn thêm vào sau mùa mưa làm việc trèo lên còn khó khăn hơn.
=== Dãy phía nam ===
Đường leo lên qua sườn núi phía đông nam bắt đầu với một con đường mòn tại Trại Nền (Base Camp) ở độ cao 5.380 m (17.600 ft) về phía nam của Everest ở Nepal. Các đoàn thám hiểm thường bay vào Lukla (2.860 m) từ Kathmandu và đi xuyên qua Namche Bazaar. Những nhà leo núi sau đó đi bộ lên Trại Nền, thường mất sáu đến tám ngày, cho phép đủ thời gian để làm quen với khí hậu độ cao và ngăn chặn chứng say độ cao. Các phương tiện leo núi và đồ tiếp tế được chuyên chở bởi yak, dzopkyos và phu khuân vác lên Trại Nền trên Khumbu Glacier. Khi Hillary và Tenzing leo lên đỉnh Everest vào năm 1953, họ bắt đầu từ thung lũng Kathmandu, bởi vì không có đường nào xa hơn về phía đông vào lúc đó.
Những nhà leo núi sẽ nghỉ lại một vài tuần ở Trại Nền, làm quen với độ cao. Trong suốt thời gian đó, những người Sherpa và một số nhà leo núi trong đoàn thám hiểm sẽ thiết lập dây và thang leo trên thác băng Khumbu hiểm trở. Serac, các kẽ nứt trong băng và các khối băng trượt làm thác băng này là một trong những đoạn nguy hiểm nhất của con đường lên đỉnh. Nhiều nhà leo núi và người Sherpa đã tử nạn ở đoạn này. Để làm giảm bớt nguy hiểm, những nhà leo núi thường bắt đầu leo trước bình minh. Một khi ánh nắng mặt trời chiếu tới thác băng, sự hiểm nguy tăng lên đáng kể. Phía trên thác băng là Trại I (hay Advanced Base Camp - ABC) tại độ cao 6.065 m (19.900 ft).
Từ Trại I, những nhà leo núi tiếp tục leo lên dọc theo Western Cwm để đến nền của mặt Lhotse, nơi Trại II được thiết lập ở độ cao 6.500 m (21.300 ft). Western Cwm là một thung lũng đóng băng tương đối bằng phẳng chỉ hơi nâng lên cao, được đánh dấu bằng một kẽ nứt khổng lồ cạnh bên trung tâm làm ngăn đường đi lên trực tiếp lên phần phía trên của Cwm. Những nhà leo núi bắt buộc phải đi băng ngang qua ở phía rìa phải gần nền của Nuptse đến một đoạn đường đèo nhỏ được biết đến như là "góc Nuptse". Western Cwm cũng còn được gọi là "Thung lũng im lặng" bởi vì địa hình của khu vực nói chung là chắn gió từ con đường leo lên. Với độ cao và một ngày trong không có gió có thể làm Western Cwm nóng vượt sức chịu đựng của những người leo núi.
Từ Trại II, các nhà leo núi đi lên theo mặt Lhotse trên những sợi dây cố định đến một mỏm nhỏ ở độ cao 7.470 m (24.500 ft). Từ nơi đó, leo thêm 500 mét nữa là đến Trại IV trên South Col ở độ cao 7.920 m (26.000 ft). Từ Trại III đến Trại IV, các nhà leo núi phải đối mặt với thêm hai thử thách nữa: Gót Geneva và Dải Vàng (Yellow Band). Gót Geneva là một sườn đá đen có hình dạng cái đe được đặt tên bởi một đoàn thám hiểm Thụy Sĩ vào năm 1952. Các sợi dây cố định giúp các nhà leo núi trong việc trèo lên dải đá đầy tuyết phủ này. Dải Vàng là một phần của đá cát trầm tích cũng cần đến 100 m dây để vượt qua nó.
Trên South Col, các nhà leo núi bước vào vùng chết. Những nhà leo núi thường chỉ có tối đa là hai đến ba ngày để họ có thể chịu đựng được độ cao này trước khi trèo lên đỉnh. Thời tiết trong và ít gió là những yếu tố quan trọng trong việc quyết định là có nên cố gắng trèo lên đỉnh hay không. Nếu thời tiết không hợp tác trong vài ngày ngắn ngủi này, những nhà leo núi bắt buộc phải leo xuống, nhiều người quay lại đến Trạm Nền.
Từ Trại IV, những nhà leo núi sẽ bắt đầu cú leo lên đỉnh vào khoảng nửa đêm với những hy vọng đạt lên tới đỉnh (vẫn còn thêm 1.000 mét nữa phía trên) trong vòng từ 10 đến 12 giờ. Những nhà leo núi sẽ đạt đến đầu tiên là "The Balcony" ở độ cao 8.400 m (27.700 ft), một thềm nhỏ nơi họ có thể nghỉ ngơi và ngắm nhìn những đỉnh núi về phia nam và phía đông trong ánh sáng sớm của bình minh. Tiếp tục len lên sườn núi, các nhà leo núi sẽ đối diện với một dãy các bậc đá với cấu trúc thường là buộc họ về phía đông vào sâu trong tuyết đến thắt lưng, với nguy hiểm về các vụ sạt lở. Ở độ cao 8.750 m (28.700 ft), một vòm băng tuyết nhỏ cỡ bằng cái bàn đánh dấu Đỉnh phía Nam (South Summit).
Từ Đỉnh phía Nam, các nhà leo núi đi theo một cạnh như lưỡi dao ở sườn đông nam dọc theo vùng được biết đến như "đường Cornice" (Cornice traverse) nơi mà tuyết xen lẫn với đá. Đây là một đoạn trống trải lộ thiên nhất của đường leo và một bước sẩy chân về phía trái sẽ đưa người leo 2.400 m (8.000 ft) xuống mặt đông nam trong khi ngay phía phải là mặt Kangshung cao 3.050 m (10.000 ft). Tại điểm cuối của con đường này là một thành đá cao 12 m (40 ft) được gọi là "Bậc Hillary" ở độ cao 8.760 m (28.750 ft). Hillary và Tenzing là những nhà leo núi đầu tiên leo lên bậc đá này và họ đã leo lên với những phương tiện thô sơ cho việc trèo lên băng và không có những sợi dây cố định. Ngày nay, những nhà leo núi sẽ leo lên bậc này sử dụng dây cố định sẵn được thiết lập trước bởi những người Sherpa. Một khi đã ở trên bậc, tương đối là đơn giản để leo lên đỉnh có những sườn tuyết không dốc lắm - mặc dù điều kiện lộ thiên trên sườn núi rất khắc nghiệt khi đi qua một vùng tuyết phủ rộng lớn. Sau Bậc Hilary, các nhà leo núi cũng phải đi qua một đoạn đầy đá dễ sụt lở và có một đống dây lớn có thể trở nên rối rắm trong thời tiết xấu. Những nhà leo núi thường trải qua ít hơn nửa giờ trên "nóc nhà của thế giới" khi họ nhận ra sự cần thiết của việc hạ xuống Trại IV trước khi trời tối hay thời tiết buổi chiều trở thành một vấn đề nghiêm trọng.
=== Dãy phía bắc ===
Đường lên theo sườn núi phía đông bắc bắt đầu từ phía bắc của Everest ở Tây Tạng. Các đoàn thám hiểm leo lên đến Tảng băng Rongbukr, thiết lập Trại Nền ở độ cao 5.180 m (17.000 ft) trên một mặt bằng đá sỏi ngay bên dưới tảng băng. Để đạt đến Trạm II, các nhà leo núi leo lên dọc theo một đường đất chính giữa phía đông của tảng băng Rongbuk đến nền của Changtse ở độ cao khoảng 6.100 m (20.000 ft). Trại III (ABC) tọa lạc bên dưới North Col ở độ cao 6.500 m (21.300 ft). Để đạt đến Trại IV trên cột phía bắc, các nhà leo núi leo lên theo tảng băng đến chân cột nơi các sợi dây cố định được sử dụng để đạt tới North Col ở độ cao 7.010 m (23.000 ft). Từ North Col, các nhà leo núi leo lên sườn núi đá phía bắc để thiết lập Trại V ở độ cao vào khoảng 7.775 m (25.500 ft). Con đường đi lên mặt phía bắc thông qua một dãy các dốc và cạnh sắc như lưỡi dao vào vùng bằng phẳng hơi dốc xuống trước khi đạt đến địa điểm của Trại VI ở độ cao 8.230 m (27.000 ft). Từ Trại VI, các nhà leo núi sẽ leo lên đoạn cuối cùng. Các nhà leo núi phải vượt qua ba dãy đá gọi là Bậc thứ 1, Bậc thứ 2 và Bậc thứ 3. Một khi đã vượt qua những bậc này, là những dốc cuối cùng (khoảng 50 đến 60 độ) để lên tận đỉnh núi.
== Con đường lên đỉnh ==
Vào 8 tháng 6 năm 1924, George Mallory và Andrew Irvine, hai người Anh, cố gắng trèo lên đỉnh núi và họ không bao giờ quay trở lại. Noel Odell, một nhà địa chất trong đoàn thám hiểm, viết trong nhật ký rằng ông "đã thấy M&I trên sườn núi, gần nền của đỉnh núi cuối cùng" vào 12:50 pm của ngày hôm đó. Vào năm 1979 nhà leo núi Trung Quốc Wang Hongbao nói với một người bạn là anh ta đã khám phá ra một xác người vào năm 1975 và vào lúc đó nghĩa rằng đó là xác của Irvine, nhưng thật không may anh ta tử nạn do rơi xuống từ sườn núi ngày hôm sau trước khi anh có thể cung cấp thêm chi tiết cho một người khác.
Tuy vậy, vào năm 1999, Đoàn Nghiên cứu Thám hiểm Mallory và Irvine đã tìm ra xác của Mallory trong khu vực tìm kiếm đã được dự đoán gần địa điểm cũ của trại Trung Quốc. Nhiều tranh luận đã diễn ra gay gắt trong cộng đồng những nhà leo núi liệu là hai người đó đã leo đến đỉnh của thế giới, 29 năm trước khi chuyến leo lên đỉnh Everest thành công (và dĩ nhiên, xuống núi an toàn) bởi Sir Edmund Hillary và Tenzing Norgay vào năm 1953. Ý kiến chung giữa những nhà leo núi là họ (Mallory và Irvine) đã chưa leo đến đỉnh, trong khi những tìm thấy mới đây chứng tỏ điều ngược lại. Mặc dù không có bằng chứng vật chất là một trong hai người nói trên đã lên quá Bậc thứ 2, nếu Mallory đã leo lên cao đến mức đó thì rất có thể là ông đã leo đến đỉnh, bởi không có khó khăn nào trong việc leo thêm cao một ít nữa. Lý thuyết được nhiều người chấp nhận là Mallory chỉ cố gắng trèo lên mặt của Bậc thứ 2 bằng cách đứng lên vai của Irvine. Được trang bị với bình ôxy dự trữ của Irvine ông đã có thể leo đến đỉnh muộn hơn trong ngày hôm đó. Đi xuống trong bóng tối ông có thể quyết định đi theo hẻm núi Norton hơn là cố gắng trèo xuống từ Bậc thứ 2 mà không nhìn thấy gì cả. Tất cả mọi người đều đồng ý là Mallory đã tử nạn trong một cú ngã ngắn trong lúc hạ xuống thông qua hẻm núi, nơi xác ông ta được tìm thấy. Irvine có thể sống sót lâu hơn một chút khi chờ người bạn đồng hành quay lại, dưới chân của Bậc thứ 2, nhưng chết sau đó vì ở lâu ngoài trời băng tuyết. Xác của Irvine có lẽ được tìm thấy bởi một nhà leo núi Trung Quốc khác vào năm 1960 (ở nơi không gần xác của Mallory, chứng tỏ là hai người đã tách ra) nhưng đã không được tìm ra trở lại, mặc cho một số cố gắng tìm kiếm vào năm 2004.
Mallory đã đi khắp Hoa Kỳ và diễn thuyết một năm trước vào năm 1923; chính vào lúc đó đã trả lời (lúc phát cáu) một câu nổi tiếng, "Bởi vì nó ở đó," khi một phóng viên ở New York hỏi "Tại sao ông muốn leo lên đỉnh Everest?" cho đến lần thứ 1000.
Thông tin đầy đủ ở đây Mallory và Irvine: Chương cuối cùng bao gồm cả những quan điểm phê phán trái ngược.
Vào năm 1995, George Mallory II từ Cộng hoà Nam Phi (cháu nội) đã leo đến đỉnh Everest.
=== 1933-1953 ===
Vào năm 1933, Lady Houston, một triệu phú và một cựu vũ nữ, đã tài trợ cho chuyến bay Houston Everest năm 1933, một phi đội dẫn đầu bởi Douglas Douglas-Hamilton, Công tước Hamilton (lúc đó chỉ là Hầu tước Clydesdale), bay qua đỉnh núi trong cố gắng đặt một lá cờ Anh (the Union Jack) lên đỉnh núi.
Sau khi tham gia một chuyến bay trinh thám năm 1935, nhà leo núi thám hiểm Bill Tilman được chỉ định là trưởng một đoàn thám hiểm Everest vào năm 1938 với cố gắng leo lên phía sườn tây bắc. Họ đạt được độ cao trên 27.000 ft (8.200 m) mà không cần thêm ôxy tiếp tế trước khi buộc phải xuống núi vì thời tiết xấu và bệnh tật.
Các đoàn thám hiểm trước đó đã leo lên núi từ phía Tây Tạng, theo mạn phía bắc. Tuy nhiên, cửa lên này đã bị đóng lại đối với những nhà thám hiểm phương Tây vào năm 1950, sau khi Trung Quốc xâm lược Tây Tạng. Tuy nhiên, vào năm 1950, Bill Tilman và một đoàn nhỏ bao gồm Charles Houston, Oscar Houston và Betsy Cowles tiến hành một cuộc thám hiểm nhỏ lên Everest thông qua Nepal theo một con đường mà bây giờ đã trở thành một cách tiếp cận đỉnh Everest quy chuẩn từ phía nam.
=== Tenzing và Hillary ===
Trong năm 1951, một đoàn thám hiểm người Anh dẫn đầu bởi Eric Shipton và gồm cả Edmund Hillary, đi đến Nepal để thăm dò một con đường leo mới qua mặt phía nam.
Theo sau người Anh, vào năm 1952 một đoàn thám hiểm Thụy Sĩ cố gắng leo lên theo mặt phía nam, nhưng đội mở đường của Raymond Lambert và người Sherpa Tenzing Norgay đã quay lại ở độ cao chỉ khoảng 200 mét nữa là tới đỉnh núi. Những người Thụy Sĩ đã cố gắng thám hiểm một lần nữa và mùa thu năm 1952; lần này thì một đội gồm cả Lambert và Tenzing quay trở lại ở một giai đoạn sớm hơn của cuộc leo.
Vào năm 1953, một đoàn thám hiểm Anh lần thứ chín, dẫn đầu bởi John Hunt, quay trở lại Nepal. Hunt chọn ra hai cặp leo với cố gắng đạt lên tới đỉnh. Cặp thứ nhất quay lại sau khi kiệt sức cao trên núi. Ngày hôm sau, đoàn thám hiểm tiến hành lần leo thứ hai và cũng là lần cuối lên đỉnh với cặp leo kinh nghiệm và quyết tâm nhất. Đỉnh núi cuối cùng đã đạt được vào 11:30 am giờ địa phương vào ngày 29 tháng 5 năm 1953 bởi người New Zealand tên là Edmund Hillary và người Sherpa tên là Tenzing Norgay từ phía Nepal leo lên theo con đường phía nam South Col. Vào thời gian đó, cả hai thừa nhận rằng đó là một cố gắng tập thể bởi cả đoàn thám hiểm, nhưng sau nhiều tra hỏi không dứt, Tenzing một vài năm sau đó tiết lộ rằng Hillary đã đặt chân lên đỉnh trước tiên. Họ dừng lại trên đỉnh núi để chụp ảnh và chôn lại một vài viên kẹo và một thánh giá nhỏ vào tuyết trước khi xuống núi. Tin tức về sự thành công của đoàn thám hiểm đã lan về đến London vào buổi sáng Nữ hoàng Elizabeth II lên ngôi. Quay lại Kathmandu một vài ngày sau đó, Hillary và Hunt khám phá ra rằng họ vừa được tấn phong danh hiệu Hiệp sĩ cho sự cố gắng của họ.
=== 1996 - thảm hoạ Everest ===
Trong mùa leo núi năm 1996 mười chín người đã chết vì cố gắng trèo lên đến đỉnh và cho năm đó là một năm chết người nhất trong lịch sử leo Everest. Ngày 10 tháng 5 năm đó là ngày chết chóc nhất trong lịch sử leo Everest, khi một cơn bão đập vào nhiều nhà leo núi ở gần đỉnh (trên bậc Hillary), giết đi tám người. Trong số những người tử nạn là những nhà leo núi kinh nghiệm Rob Hall và Scott Fischer, cả hai đều là những nhà thám hiểm được trả lương cao nhất để lên đến đỉnh. Thảm họa đã được biết đến rộng rãi trong công chúng và đặt ra những câu hỏi về việc thương mại hóa đỉnh Everest.
=== Sự kiện ===
Vào ngày 16 tháng 5 năm 1975, Junko Tabei trở thành người phụ nữ đầu tvbniên đạt đến đỉnh núi Everest. Vào 25 tháng 5 năm 2001, Erik Weihenmayer trở thành người leo núi mù đầu tiên lên đỉnh.
Cho đến cuối mùa leo năm 2003, 1.919 người đã đạt đến đỉnh núi (829 người từ 1998) và 179 người tử nạn khi cố gắng trèo lên đỉnh. Điều kiện trên núi khắc nghiệt đến nỗi các xác người phải để lại nơi mà họ đã rơi xuống; một số xác có thể thấy được từ các đường leo quy chuẩn.
Hầu hết các đoàn thám hiểm sử dụng mặt nạ và bình đựng ôxy ([1]) ở độ cao trên 26.000 ft (8.000 m); vùng này được biết đến như là vùng chết. Everest có thể được leo lên mà không cần thêm sự ôxy hỗ trợ, nhưng điều này cần các huấn luyện thể lực đặc biệt và làm tăng rủi ro cho người leo. Con người không suy nghĩ minh mẫn với lượng ôxy thấp, và tổng hợp các điều kiện thời tiết khắc nghiệt, nhiệt độ thấp, các dốc thẳng đứng đòi hỏi các quyết định nhanh chóng chính xác.
Các nhà leo núi là một nguồn thu lợi từ du lịch khá lớn cho Nepal; họ đủ các thành phần từ các nhà leo núi kinh nghiệm đến các người leo núi nghiệp dư dựa vào những người hướng dẫn thuê để dẫn họ lên đỉnh. Chính quyền Nepal cũng yêu cầu một giấy phép từ tất cả các nhà leo núi; giấy này kèm theo một khoảng lệ phí không nhỏ.
Khu vực đỉnh Everest, và dãy Himalaya nói chung, được cho là đang chịu đựng sự tan băng do hâm nóng toàn cầu. Mùa mưa dữ dội vào mùa hè năm 2005 là nhất quán với sự tiếp tục nóng lên và việc nâng lồi lên của đồng bằng Tây Tạng về phía bắc.
== Các cột mốc thời gian ==
1921 Đoàn thám hiểm người Anh thám hiểm lối vượt qua tảng băng Rongbuk.
1922 Đoàn thám hiểm Anh thứ hai, dưới sự chỉ huy của Tướng CG Bruce và lãnh đạo leo núi EI Strutt, và gồm cả George Mallory. George Finch cố gắng leo lên đỉnh lần đầu tiên sử dụng bình ôxy, và đạt được độ cao kỉ lục 8.321 mét. Chỉ một lúc sau, bảy nhà leo núi người Sherpa tử nạn trong một vụ tuyết lở, trở thành những cái chết đầu tiên được báo cáo trên Everest.
1924 Đoàn thám hiểm Anh thứ ba đạt đến độ cao 8.500 mét. Vào 6 tháng 6, George Mallory và Andrew Irvine leo lên cố gắng đạt đến đỉnh nhưng lạc mất sau khi những đám mây khép lại. Một người chứng kiến đã nói rằng ông thấy họ gần đến đỉnh.
1933 Lady Houston cấp tiếp cho một phi đội bay qua đỉnh để thả xuống một lá cờ liên hiệp Anh.
1934 Maurice Wilson (người Anh) tử nạn trong cố gắng leo lên một mình.
1938 Nhà thám hiểm leo núi Bill Tilman (Anh) dẫn đầu một đoàn thám hiểm theo sườn tây bắc, đạt được độ cao trên 8.200 meters (27.000 ft) không cần oxygen trước khi bị đẩy xuống vì thời tiết xấu.
1950 Nepal mở cửa biên giới cho người nước ngoài. Bill Tilman và Charles Houston tổ chức một cuộc thám hiểm do thám lên Everest.
1952 Một đoàn thám hiểm Thụy Sĩ, bao gồm cả Sherpa Tenzing Norgay bỏ cuộc vì kiệt sức, 200 mét nữa là đến đỉnh.
1953 Đỉnh được đạt đến lần đầu tiên (trong lịch sử có ghi lại) vào lúc 11:30 am ngày 29 tháng 5 bởi người New Zealand Sir Edmund Hillary và người Sherpa tên Tenzing Norgay từ Nepal leo theo đường South Col.
1960 Vào 25 tháng 5, một đội Trung Quốc bao gồm Wang Fuzhou, Gongbu và Qu Yinhua leo lên đỉnh lần đầu tiên theo Sườn Bắc.
1963 Vào 22 tháng 5, hai người Mỹ là Tom Hornbein và Willi Unsoeld leo lên lần đầu tiên theo Sườn Tây.
1963 Băng ngang lần đầu tiên bởi một đoàn thám hiểm Mỹ, bắt đầu leo từ phía đông và hạ xuống phía tây nam.
1965 Vào 20 tháng 5, Nawang Gombu Sherpa trở thành người đầu tiên trèo lên đỉnh Everest hai lần.
1975 Vào 16 tháng 5, Junko Tabei người Nhật là phụ nữ đầu tiên trên đỉnh núi.
1975 Vào 27 tháng 5, một phụ nữ Tibet, Phantog, trở thành người phụ nữ đầu tiên leo lên đỉnh từ phía Tibet.
1975 Đoàn thám hiểm phía tây nam người Anh dẫn đầu bởi Chris Bonington. Đạt lên đỉnh bởi 2 đội bao gồm Doug Scott, Dougal Haston, Peter Boardman, và Sirdar Pertemba. Phóng viên ảnh BBC Michael Burke không quay lại từ một cố gắng leo lên một mình.
1978 Reinhold Messner (Ý, South Tyrol) và Peter Habeler (Áo) đạt đến đỉnh mà không cần bình ôxy.
1980 Đoàn thám hiểm đầu tiên trong mùa đông bởi một đội từ Ba Lan (Leszek Cichy, Krzysztof Wielicki, Andrzej Czok và Jerzy Kukuczka).
1980 Reinhold Messner (Ý, South Tyrol), người đầu tiên leo lên Everest một mình mà không cần bình ôxy.
1982 Vào 5 tháng 10, Laurie Skreslet trở thành người Canada đầu tiên đạt đến đỉnh.
1983 Lou Reichardt, Kim Momb, và Carlos Buhler Mỹ trở thành những người đầu tiên lên đỉnh theo mặt phía Đông.
1984 Đoàn thám hiểm Úc đầu tiên leo lên Everest. Đoàn thám hiểm bao gồm Tim Macartney-Snape, Greg Mortimer, Andy Henderson và Lincoln Hall, hai người trong họ (Macartney Snape và Mortimer) đạt lên đến đỉnh. Được biết rằng nếu như Hall cố gắng leo đến đỉnh, nguyên cả đoàn sẽ tử nạn trên đỉnh núi.
1988 Jean-Marc Boivin của Pháp bắt đầu bằng một paraglider từ đỉnh núi.
1988 Stephen Venables của Anh trở thành người Anh đầu tiên đạt đến đỉnh mà không cần đến bình oxygen. Anh mở ra một con đường leo mới qua mặt phía Đông Kangshung.
1990 Bertrand "Zebulon" Roche của Pháp trở thành người phương tây trẻ tuổi nhất leo lên Everest, ở tuổi 17.
1991 Gabriel DeLeon trở thành người Mỹ pha chủng (mixed-race American) đầu tiên lên Đỉnh Everest. Không may, anh tử nạn chỉ sau 1.000 ft trên đường hạ xuống.
1993 Chín mươi nhà leo núi chỉ trong mùa thu, sự thương mại hóa của việc "leo lên Everest" bắt đầu.
1993 Ramon Blanco của Tây Ban Nha trở thành người cao tuổi nhất đạt lên đỉnh núi lúc 60 years, 160 ngày (kỉ lục bị phá năm 2001).
1995 Alison Hargreaves trở thành phụ nữ đầu tiên leo lên Everest một mình không cần bình oxygen.
1996 Hans Kammerlander (Ý, South Tyrol) leo lên núi từ phía bắc trong 16 giờ 45 phút và trở lại bằng cách trượt xuống.
1996 Göran Kropp của Thụy Điển trở thành người đầu tiên đi xe đạp nguyên chặng đường từ Thụy Điển đến núi, đem xe lên núi không cần bình oxy, và sau đó đạp xe về lại nhà.
1997 Veikka Gustafsson của Phần Lan trở thành người Phần Lan đầu tiên leo đến đỉnh mà không cần bình oxygen.
1998 Tom Whittaker là người tàn tật đầu tiên lên đến đỉnh núi.
1998 Bear Grylls trở thành người Anh trẻ nhất leo lên Everest và trở lại còn sống.
1999 Người Sherpa tên Babu Chiri Sherpa của Nepal ở 21 giờ trên đỉnh núi.
2000 Vào 7 tháng 10 Davo Karničar từ Slovenia trượt tuyết xuống một mạch từ đỉnh đến trại nền trong năm tiếng đồng hồ.
2001 Vào 23 tháng 5 nhà leo núi 32 tuổi người Guatemala tên Jaime Viñals trở thành người Trung Mỹ đầu tiên leo lên Everest và là người Mỹ Latin thứ hai đạt được điều đó, cùng với nhà leo núi Mỹ tên Andy Lapkass dọc theo Sườn Bắc của Everest.
2001 Vào 24 tháng 5 người Sherpa tên Temba Tsheri 15 tuổi trở thành người trẻ tuổi nhất leo lên Everest.
2001 Vào 24 tháng 5 22 tuổi Marco Siffredi của Pháp trở thành người đầu tiên hạ xuống từ Everest bằng bảng trượt tuyết.[2]
2001 Vào 25 tháng 5, 32 tuổi Erik Weihenmayer, từ Boulder, Colorado, trở thành người mù đầu tiên lên đến đỉnh.
2001 Cùng ngày 64 tuổi Sherman Bull, của New Canaan, Connecticut, trở thành người cao tuổi nhất đạt đến đỉnh.
2001 Cùng ngày, 19 đạt đến đỉnh, vượt qua con số 10 người trước đó. Tất cả đều sống sót.
2002 Atsushi Yamada, sinh viên 23 tuổi người Nhật đã trở thành người trẻ nhất đạt đến 7 đỉnh núi cao nhất thế giới. Tháng 5 năm đó, anh đã leo lên Everest, mang theo máy tính IBM ThinkPad suốt cuộc hành trình
2003 Vào 21 tháng 5, 21 tuổi Jess Roskelley, của Spokane, Washington, trở thành người Mỹ trẻ nhất leo lên Everest, thông qua đường theo sườn Bắc-Đông Bắc.
2003 Vào 22 tháng 5, 23 tuổi Ben Clark, từ Clarksville, Tennessee, là người Mỹ trẻ thừ nhì lên Everest, theo sườn Bắc-Đông bắc.
2003 Yuichiro Miura trở thành người cao tuổi nhất đạt đến đỉnh Everest. Ông 70 tuổi và 222 ngày khi đạt đến đỉnh (vào ngày 22 tháng 5).
2003 25 tuổi người Nepal Sherpa, Pemba Dorjie, lập kỉ lục leo lên nhanh nhất trong 12 giờ 45 phút vào 23 tháng 5.
2003 Chỉ 3 ngày sau đó, Sherpa Lakpa Gelu phá kỉ lục này với 10 giờ 56 phút. Sau khi cãi nhau với Dorjie, bộ du lịch khẳng định kỉ lục mới của Gelu vào tháng 7 [3].
2004 Pemba Dorjie phá kỉ lục của anh, lần leo lên này mất 8 giờ 10 phút vào 21 tháng 5 [4].
2005 Apa Sherpa từ Thame leo lên đỉnh lần thứ 15.
2005 Nhà nước Trung Quốc bảo trợ một đoàn đo đạc với 24 thành viên đạt lên đỉnh vào 22 tháng 5 để neo các thiết bị đo cho việc đo lại độ cao của đỉnh. GPS, các radar mặt đất, cũng như các phương pháp truyền thống được sử dụng để xem xét độ dày của băng tuyết và so sánh với các số liệu lịch sử [5].
2005. Vào 14 tháng 5, một trực thăng của Eurocopter bay lên đỉnh lần đầu tiên. Nó đã đáp xuống nhưng sau đó phi công nói với chính quyền Nepal là điểm đáp thực ra 3.300 feet (1.000 m) bên dưới đỉnh núi [6].
2005 Moni Mulepati và Pemba Dorjie cưới nhau trên đỉnh núi.
2006 Lakpa Tharke Sherpa đã lập nên một kỷ lục kỳ quái: cởi bỏ áo quần, khỏa thân 3 phút trên đỉnh Everest mà không biết rằng anh này đã bị chỉ trích vì đã làm ô uế ngọn núi linh thiêng.
2007 Katsusuke Yanagisawa trở thành người cao tuổi nhất (71) leo lên đỉnh Everest.
2007 Rob Baber lập kỷ lục về việc gọi điện và gửi tin nhắn thành công bằng chiếc ĐTDĐ Motorola Z8 từ trên đỉnh Everest.
2008 ngày 22 tháng 5 Bùi Văn Ngợi, Phan Thanh Nhiên, Nguyễn Mậu Linh là 3 vận động viên Việt Nam đầu tiên đã đạt được đỉnh Everest ; ngày 26 tháng 5 Min Bahadur Sherchan đã vượt qua cụ già người Nhật để trở thành người nhiều tuổi nhất (76) đạt đến đỉnh.
2010 ngày 21 tháng 5 Apa Sherpa là người trèo lên Everest nhiều lần nhất với 20 lần.
2010 ngày 22 tháng 5 Jordan Romero, người Mỹ, đã là người trẻ nhất chinh phục Everest khi anh 13 tuổi.
== Xem thêm ==
Danh sách các núi cao nhất thế giới
Địa lý Trung Quốc
Vườn quốc gia Sagarmatha
Địa chất của vùng Himalaya
Núi tuyết Mai Lý
Himalaya
Ojos del Salado
== Tham khảo ==
== Liên kết ngoài ==
Tiếng Anh
The Rest of Everest Video Podcast, An Almost Unabridged Expedition Experience
Everest blogs by climbers
Everest Interactive map
A fundraising expedition planned for spring 2007
EverestHistory.com, Mt. Everest timeline
MountEverest.net
Mount Everest Photograph
NOVA site on Mt. Everest, Climbing pioneer history
National Geographic's page on Mt. Everest
The Life of Bill Tilman, leader of the 1938 Expedition on Everest
Hiking to the base of Mt. Everest, GoNOMAD feature article
Mount Everest Image by Roddy Mackenzie who climbed the mountain in 1989
Mount Everest at Peakware
Google Maps satellite image
Panorama from the top of Mt.Everest
Xtreme Everest 2007
Tiếng Việt
Thám hiểm Everest lộ diện nhiều loài sinh vật lạ
Everest đang lùn đi
Trung Quốc đo lại chiều cao đỉnh Everest
Trung Quốc xây trạm khí tượng cao nhất thế giới
Người đầu tiên chinh phục đỉnh Himalaya qua đời
Người khiếm thị đầu tiên trên thế giới trèo lên đỉnh Everest
Người trẻ tuổi nhất trèo lên đỉnh Everest
Cờ Việt Nam trên đỉnh Everest |
unionoida.txt | Unionoida là một bộ trai nước ngọt, thân mềm hai mảnh vỏ thủy sinh. Bộ này bao gồm hầu hết các loài trai nước ngọt lớn, bao gồm cả trai ngọc nước ngọt. Các họ phổ biến nhất là Unionidae và Margaritiferidae.
== Phân loại ==
Siêu họ và họ trong bộ Unionoida, như được liệt kê theo Bieler và cộng sự (2010). Unionoida
Siêu họ †Archanodontoidea Modell, 1957 (placement in Unionoida uncertain)
Họ †Archanodontidae Modell, 1957
Siêu họ Etherioidea Deshayes, 1832
Họ Etheriidae Deshayes, 1832 (About 4 species) (syn: Mulleriidae, Pseudomulleriidae)
Họ Iridinidae Swainson, 1840 (About 30 species) (syn: Mutelidae, Pleiodontidae)
Họ Mycetopodidae Gray, 1840 (Between 40 to 50 species)
Siêu họ Hyrioidea Swainson, 1840
Họ Hyriidae Swainson, 1840 (Nearly 90 species)
Siêu họ †Trigonioidoidea Cox, 1952
Họ †Trigonioididae Cox, 1952
Họ †Jilinoconchidae Ma, 1989 (placement uncertain)
Họ †Nakamuranaiadidae Guo, 1981 (syn:Sinonaiinae, Nippononaiidae)
Họ †Plicatounionidae Chen, 1988
Họ †Pseudohyriidae Kobayashi, 1968
Họ †Sainschandiidae Kolesnikov, 1977
Siêu họ Unionoidea Rafinesque, 1820
Họ Unionidae Rafinesque, 1820 (Less than 700 species)
Họ Liaoningiidae Yu & Dong, 1993 (placement uncertain)
Họ Margaritiferidae Henderson, 1929 (Presumably less than 10 species) (syn:Margaritaninae, Cumberlandiinae, Promargaritiferidae)
Họ †Sancticarolitidae Simone & Mezzalira, 1997
== Tham khảo ==
The Mussel Project
Freshwater Mollusk Conservation Society
Howard Edlen, Harvesting the River, History of the Pearl Button Business in Meredosia, Illinois |
derbyshire.txt | Derbyshire là một hạt truyền thống ở đông trung bộ của Anh. Hạt có diện tích km², dân số người. Một phần đáng kể của vườn quốc gia Peak District nằm trong Derbyshire. Phần phía bắc của Derbyshire trùng lặp với các Pennines, một chuỗi nổi tiếng của những ngọn đồi và núi. Hạt chứa bên trong ranh giới của nó xấp xỉ 225 dặm Anh một phần của rừng quốc gia, và các biên giới Đại Manchester Tây Bắc, Tây Yorkshire ở phía Bắc, Nam Yorkshire về phía Đông Bắc, Nottinghamshire về phía Đông, Leicestershire về phía Đông Nam, Staffordshire với ở phía Tây và Tây Nam và Cheshire phía Tây. Năm 2003, Cục bản đồ đặt Giáo hội Flatts trang trại, khoảng 35 km (22 dặm) về phía bắc, Coton trong Elms, Derbyshire, như là điểm xa nhất từ biển ở Anh. Thành phố của Derby nay là một khu vực có thẩm quyền đơn nhất, nhưng vẫn còn một phần của hạt nghi lễ Derbyshire. Hạt thành thị này không bao gồm 30 thị xã có từ 10.000 đến 100.000 cư dân. Có một số lượng lớn của nông nghiệp vùng cao thưa thớt dân cư: 75% dân số sống ở 25% diện tích.
== Tham khảo == |
giải thưởng âm nhạc cống hiến.txt | Giải thưởng Âm nhạc Cống hiến là một giải thưởng âm nhạc của Việt Nam do báo Thể thao & Văn hóa tổ chức. Đây là giải thưởng tôn vinh uy tín và có quy mô lớn của làng nhạc nhẹ Việt Nam, được coi là một giải "Grammy" của nhạc Việt.
Năm 2004, lễ trao giải lần đầu tiên được tổ chức song chưa được gọi là giải Cống hiến (sau này được gọi là tiền Cống hiến). Giải thưởng chính thức được trao từ năm 2005 và được gọi là Giải Cống hiến 1. Giải Cống hiến quan tâm nhiều tới hoạt động của các nghệ sĩ trong suốt một năm chẵn hoạt động qua các chương trình, album, dự án âm nhạc,... Tính uy tín của giải thưởng tới từ việc các hạng mục được bình chọn từ lá phiếu của báo chí cả nước với tính công khai, minh bạch cao. Nhạc sĩ Anh Quân nói: "Đây là giải thưởng duy nhất tôi còn kỳ vọng!". Thông thường, danh sách chi tiết các đề cử được báo Thể thao & Văn hóa công bố trong một buổi họp báo lớn trước khi có một đêm gala quy tụ các nghệ sĩ vào đầu năm mới.
Có 4 hạng mục chính của lễ trao giải, bao gồm "Album của năm", "Chương trình của năm", "Nhạc sĩ của năm" và giải thưởng quan trọng nhất – "Ca sĩ của năm". Tại Giải Cống hiến 2008, sau nhiều tranh luận, giải Cống hiến có phân tách hạng mục "Ca sĩ của năm" thành 2 hạng mục cho nghệ sĩ nam và nghệ sĩ nữ (Đàm Vĩnh Hưng và Hồ Ngọc Hà đoạt giải). Tuy nhiên, 2 giải thưởng này bị chỉ trích gay gắt nên sau đó lại bị gộp lại thành hạng mục ban đầu.
Năm 2013 là năm đầu tiên, Giải Cống hiến mở rộng ra tới 6 hạng mục trong đó có 2 hạng mục mới đó là "Bài hát của năm" và "Nghệ sĩ mới của năm". Từ mùa thứ 9 (2014), giải thưởng tiếp tục mở rộng cho "Chuỗi chương trình của năm". Từ mùa thứ 11, giải thưởng bổ sung thêm hạng mục "Video âm nhạc của năm". Tại mùa thứ 12 (2017), hạng mục mới "Nhà sản xuất của năm" đã được bổ sung thành hạng mục giải thưởng thứ 9 của giải thưởng.
Tính tới năm 2012, Tùng Dương đang là nghệ sĩ thành công nhất với 5 lần đoạt giải sau 8 lần đề cử. "Diva" Thanh Lam là người được đề cử nhiều nhất với 10 lần song mới chỉ duy nhất 1 lần nhận giải (album Ru mãi ngàn năm – 2004).
Ca khúc "Tháng tư về" của nhạc sĩ Dương Thụ là ca khúc chính thức của lễ trao giải kể từ mùa 2009.
== Quy chế giải ==
=== Tiêu chí ===
"Có những khám phá, sáng tạo đóng góp thiết thực vào sự phong phú và phát triển của đời sống âm nhạc đại chúng" là tiêu chí của giải thưởng.
Giải thưởng Âm nhạc cống hiến là sự tôn vinh các nghệ sĩ và các sản phẩm do họ tạo ra (hoặc hợp tác với những nghệ sĩ khác để tạo ra) theo góc nhìn báo chí chứ không phải của chuyên ngành âm nhạc. Tiêu chí của giải thưởng Âm nhạc cống hiến dựa trên 2 yếu tố "công luận" và "phát hiện" để làm cơ sở chính cho việc xét đề cử và bầu chọn. Vì vậy những khám phá sáng tạo có thể được đông đảo công chúng biết đến (yếu tố công luận) hoặc cũng có thể chưa được đông đảo công chúng biết đến, nhưng nó thật sự là những khám phá sáng tạo thiết thực (yếu tố phát hiện).
=== Đối tượng ===
Bao gồm các thành quả của các sự kiện âm nhạc diễn ra trong phạm vi từ ngày 1/1 đến 31/12 của năm. Các đối tượng được Ban tổ chức xét đưa vào đề cử là các đối tượng liên quan đến đời sống âm nhạc đại chúng và thuộc các hạng mục sau: album, chương trình, nhạc sĩ và ca sĩ.
Album của năm: Là album được phát hành tại Việt Nam, có một trong những yếu tố Việt Nam sau đây: bài hát Việt Nam, nhạc hòa tấu Việt Nam, nhạc ngoại lời Việt, nhạc Việt lời bằng tiếng nước ngoài, ca sĩ, nghệ sĩ Việt Nam. (Nếu bài hát Việt Nam là yếu tố Việt Nam duy nhất, bắt buộc album phải có số lượng 70% bài hát Việt Nam trở lên).
Chương trình của năm: Là chương trình âm nhạc trực tiếp phục vụ khán giả hoặc diễn ra trên sóng phát thanh, sóng truyền hình tại Việt Nam, có một trong những yếu tố Việt Nam như ở mục trên. (Nếu tiết mục Việt Nam là yếu tố Việt Nam duy nhất, bắt buộc chương trình phải có số lượng 70% tiết mục Việt Nam trở lên).
Ca sĩ của năm: Là ca sĩ (hoặc nhóm hát, nhóm nhạc) hoạt động chính ở Việt Nam, có một trong những yếu tố Việt Nam như ở mục đầu tiên.
Nhạc sĩ của năm: Là nhạc sĩ hoạt động chính ở Việt Nam, có một trong những yếu tố Việt Nam như ở mục đầu tiên.
Kể từ mùa 2012:
Nghệ sĩ mới của năm: Là ca sĩ, nhạc sĩ chính thức tham gia vào những hoạt động âm nhạc mang tính chuyên nghiệp và tạo được tiếng vang trong công luận (xuất hiện trong vòng 2 năm, tính đến thời điểm xét giải thưởng) với các hình thức như album, sáng tác ca khúc, biểu diễn sân khấu) theo chiều hướng tích cực phù hợp với tiêu chí của giải Cống hiến. Nghệ sĩ mới không hạn chế về tuổi tác, ngoài ra nghệ sĩ mới cũng có thể được đề cử ở hạng mục album và chương trình của năm.
Bài hát của năm: Là bài hát được đông đảo công chúng yêu thích và phù hợp với tiêu chí của giải Cống hiến, được giới thiệu đến công chúng theo quy định thời gian chung của giải Cống hiến.
=== Đề cử và bầu chọn ===
Các đối tượng được chọn vào danh sách đề cử các hạng mục phải đáp ứng đầy đủ các yêu cầu về tiêu chí, thời gian và đối tượng như đã nêu trên. Quy trình đề cử: Sau ngày 31/12 hàng năm, Ban tổ chức đưa ra Dự kiến danh sách đề cử sau khi rà soát, đánh giá các sự kiện âm nhạc trong năm (dưới góc độ báo chí) cùng việc tham khảo ý kiến của các nhà chuyên môn. Sau đó tổ chức tham khảo ý kiến phóng viên sẽ tham gia bầu chọn để đưa ra danh sách đề cử chính thức. Mỗi hạng mục gồm 4 hoặc 5 đề cử tùy vào tình hình đời sống âm nhạc đại chúng trong năm đó.
Thành phần tham gia bầu chọn: gồm những phóng viên âm nhạc hoặc văn hóa nghệ thuật đang hoạt động ở các loại hình báo chí (báo giấy, báo điện tử, truyền hình, phát thanh) sẽ tham gia bầu chọn giải Âm nhạc Cống hiến. Thể lệ bầu chọn: Mỗi hạng mục chọn 1 đề cử; chọn đủ các hạng mục trong phiếu bầu chọn; phiếu bầu chọn phải có họ tên, chữ ký của người bầu chọn; phiếu bầu phải được niêm phong khi người tham gia bầu chọn gởi cho Ban tổ chức. Kết quả bầu chọn: Ban tổ chức sẽ kiểm phiếu công khai, có sự chứng kiến của đông đảo phóng viên (hoặc đại diện của tập thể phóng viên) của các báo.
Các giải thưởng sẽ được trao cho đề cử có số phiếu bầu chọn cao nhất. Trường hợp có 2 hoặc nhiều đề cử có phiếu bầu bằng nhau, Ban tổ chức sẽ quyết định kết quả bằng phiếu bầu xếp hạng của mình (phiếu bầu xếp hạng này được Ban tổ chức tiến hành trước khi diễn ra buổi kiểm phiếu).
== Lịch sử ==
== Tham khảo ==
== Liên kết ngoài ==
Trang web chính thức
Điểm mặt anh tài 6 mùa giải Âm nhạc Cống hiến
"Bảng vàng" Cống hiến
Uyên Linh được đề cử giải Cống hiến 2010
Giải Cống hiến 2011 loại Mỹ Tâm, Đức Tuấn
Lật giở những "trang sử" Cống hiến |
belarus.txt | Belarus ( /bɛləˈruːs/ bel-ə-ROOSS-'; tiếng Belarus: Белару́сь, tr. Bielaruś, IPA: [bʲɛlaˈrusʲ], tiếng Nga: Беларусь, Белоруссия, Belarus, Belorussiya), chính thể hiện tại là Cộng hòa Belarus (tiếng Belarus: Рэспубліка Беларусь, tiếng Nga: Республика Беларусь) là quốc gia không giáp biển nằm ở phía Đông Âu, giáp Nga ở phía Đông Bắc, Ukraina ở phía Nam, Ba Lan ở phía Tây, và Latvia và Litva ở phía Tây Bắc. Thủ đô hiện tại của Belarus là Minsk; với các thành phố lớn khác bao gồm Brest, Grodno (Hrodna), Gomel (Homiel), Mogilev (Mahilyow) và Vitebsk (Vitsebsk). Chỉ có 40% diện tích 207.595 km2 (80.200 dặm vuông) của đất nước này là rừng, và các ngành kinh tế nổi trội của đất nước này là nông nghiệp và công nghiệp chế tạo.
Đến thế kỷ 20, vùng đất của Belarus hiện nay từng thuộc về một vài nước, gồm Đại Công quốc Litva, Liên bang Ba Lan-Litva và Đế quốc Nga. Sau cuộc cách mạng Nga (1917), Belarus trở thành một trong 15 nước cộng hòa của Liên bang Xô viết và được đổi tên thành Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Xô viết Belorussia (Беларуская Савецкая Сацыялістычная Рэспубліка). Đến năm 1991, Belarus tách ra khỏi Liên Xô và tuyên bố độc lập. Tuy nhiên đất nước này vẫn giữ mối quan hệ về chính trị gần gũi với Nga. Ngày 8 tháng 12 năm 1999, Belarus và Nga ký một thỏa thuận song phương nhằm phát triển hơn nữa các mối quan hệ chính trị và kinh tế.
Tên gọi cũ của quốc gia là Belorussia (Белоруссия) và vẫn còn được sử dụng, chủ yếu trong các hoàn cảnh liên quan đến lịch sử. Một bộ phận dân cư người Belarus thường cảm thấy bị xúc phạm khi gặp phải việc sử dụng tên gọi "người Belorussia" vì theo họ nó gợi nên những hồi ức về thời gian bị Nga hóa. Tên gọi này bị dịch sai thành "Bạch Nga" trong khi thực ra nó chỉ là một vùng đất.
Belarus là một thành viên của Cộng đồng các Quốc gia độc lập (là СНГ trong tiếng Nga hay CIS trong tiếng Anh) cùng với Azerbaizan, Armenia, Gruzia, Kazakhstan, Kyrgyzstan, Moldova, Nga, Tajikistan, Turkmenistan, Uzbekistan và Ukraina.
== Lịch sử tên gọi ==
Về mặt lịch sử, nước này được gọi theo tiếng Anh là "Bạch Nga" tức "Nga Trắng" (White Russia), dù đây là sự phiên dịch sai. Nghĩa dịch đúng là "White Rus'", vừa miêu tả vùng Đông Âu nơi người Slavơ sinh sống hay nhiều quốc gia khác nhau hiện diện trong vùng. Tuy vậy việc sử dụng thuật ngữ 'Nga Trắng' vẫn tiếp diễn tới tận năm 2007 trong các ngôn ngữ: "Weißrussland" trong tiếng Đức, "Beyaz Rusya" trong tiếng Thổ Nhĩ Kỳ hay "Λευκορωσία" (Levkorosía) trong tiếng Hy Lạp (xem tại đây để có danh sách đầy đủ).
Lần đầu thuật ngữ "Nga Trắng" được dùng để chỉ Belarus là bởi Sir Jerome Horsey người Anh hồi cuối thế kỷ mười sáu. Ông dùng nó để miêu tả các vùng đất của Đế chế Ivan Hung bạo. Trong thế kỷ mười bảy, các Sa hoàng Nga đã dùng "White Rus'", xác nhận rằng họ đang tìm cách chiếm lại di sản từ Khối thịnh vượng chung Ba Lan-Litva.
Belarus được đặt tên "Belorussia" thời Đế quốc Nga, và các Sa hoàng Nga thường được gọi là "Sa hoàng của tất cả nước Nga — Đại Nga, Tiểu Nga, và Bạch Nga". Điều này kéo dài tới tận thời kỳ Xô viết, khi nước này lấy tên chính thức là "Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Xô viết Belorussia". Một số người Belarus coi cái tên "Belorussia", là cách nhắc nhở lại thời kỳ cầm quyền Xô viết. Theo chính thức, tên đầy đủ của quốc gia này là Cộng hoà Belarus (Республика Беларусь, Respublika Byelarus').
Năm 2002, một cuộc điều tra không chính thức do Web site pravapis.org tiến hành để xem tên gọi nào được dùng phổ biến nhất trên các trang web. Khi sử dụng Google, Pravapis.org thấy rằng "Belarus", tên chính thức rút gọn, được dùng trên 93% Web site đã được kiểm tra. Cách đánh vần khác sử dụng "Belorussia", "Bielorussia" và "Byelorussia," chỉ được dùng trong 1%–2% trường hợp.
== Lịch sử ==
Giữa thế kỷ thứ 6 và thế kỷ thứ mười hai, nước Belarus hiện đại ngày nay là nơi sinh sống của người Slavơ, hiện họ vẫn chiếm đa số trong nước. Người Slavơ thời kỳ đầu (Early East Slavs) dần tiếp xúc với người Varangians và được họ tổ chức dưới nhà nước Kievan Rus'.
Ở thế kỷ thứ mười ba, nhiều công quốc Ruthenian riêng biệt bị ảnh hưởng nặng nề sau cuộc xâm lược từ phía Đế chế Mông Cổ. Sau này, nhiều phần của Rus bị sáp nhập vào Đại Lãnh địa Công tước Litva. Đa số dân cư là người thuộc sắc tộc Slavơ. Những vùng đất slavơ được hưởng quyền tự trị hạn chế bên trong nhà nước Litva. Tuy thỉnh thoảng có ý kiến không chính xác rằng tiếng Belarusia là ngôn ngữ chính thức quốc gia, tiếng La tinh, tiếng Nga cổ (Ruthenian), và tiếng Ba Lan được đồng thời sử dụng trong công việc nhà nước. Tiếng Belarusia phát sinh vào giữa thế kỷ 19 khi những người nói tiếng Nga ở lãnh thổ Belarus hiện đại ngày nay chịu ảnh hưởng văn hoá mạnh từ Ba Lan.
Đầu thế kỷ 17 tiếng Nga cổ bị từ bỏ tại Litva và được thay thế bằng tiếng Ba Lan, ngôn ngữ đã giành địa vị thống trị trong nhiều thế kỷ. Việc sử dụng tiếng Nga cổ (tiếng Slavonic-Ruthenian cổ) được cho phép tại các lãnh địa Ruthenian tự trị (công quốc). Các vùng đất Belarusia nhanh chóng bị sáp nhập vào Lãnh địa Công tước trong hai trăm năm sau đó, vì sức mạnh của Litva và mối đe doạ từ phía người Mông Cổ trên những vùng đất là Belarus ngày nay. Trong thời gian đó, Lãnh địa Công tước đã tham gia vào các trận đánh giữa nhiều lực lượng khác nhau. Một trong những trận đánh lớn là Trận Grunwald giữa Lãnh địa Công tước và Các hiệp sĩ Giéc manh năm 1410. Lãnh địa Công tước thắng trận và chiến thắng cho phép họ kiểm soát các biên giới phía tây bắc của Đông Âu. Các trận đánh khác diễn ra giữa Lãnh địa Công tước và người Mông Cổ và người Turk, và đều là những chiến thắng cho Lãnh địa Công tước. Tới thế kỷ mười lăm, Đại Lãnh địa Công tước Litva trải dài hầu hết vùng Đông Âu, từ Biển Baltic tới Biển Đen.
Ngày 2 tháng 2 năm 1386, Đại Công tước Litva Jogaila lên ngôi Vua Ba Lan, và liên minh Đại Lãnh địa Công tước với Vương quốc Ba Lan trở thành một liên minh cá nhân. Liên minh hình thành sau cuộc hôn nhân giữa Jogaila và con gái Vua Luis Ba Lan, Jadwiga. Hành động này được người Ba Lan coi là sự chấm dứt liên minh với Hungary. Liên minh cá nhân này cuối cùng dẫn đến Khối thịnh vượng chung Ba Lan-Litva, một liên bang được thành lập năm 1569. Những người Muscovites, dưới sự lãnh đạo của Sa hoàng Ivan III, bắt đầu các chiến dịch chinh phục quân sự năm 1486 nhằm giành lấy những vùng đất Kievan Rus', chính xác là Belarus và Ukraina. Liên minh giữa Ba Lan và Litva chấm dứt năm 1795, với việc khối thịnh vượng chung bị phân chia và sáp nhập bởi Đế quốc Nga, Phổ, và Áo. Các lãnh thổ Belarusia vẫn tiếp tục là một phần của Đế chế Nga tới khi bị Đức chiếm trong Thế chiến thứ I.
Belarus lần đầu tuyên bố độc lập ngày 25 tháng 3 năm 1918, hình thành nên nhà nước Cộng hoà Nhân dân Belarusia. Tuy nhiên, nhà nước cộng hoà tồn tại ngắn ngủi và chế độ này bị lật đổ ngay sau khi quân Đức rút lui. Năm 1919, Belarus trở thành nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Xô viết Belorussia (BSSR). Sau khi Nga tái chiếm phần phía đông và phía bắc Litva, chúng được gộp với nhau để hình thành nên nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Xô viết Litva - Belorussia. Sau khi Chiến tranh Ba Lan-Xô viết chấm dứt năm 1921, các vùng đất Belorussia bị chia cắt, phần phía Tây rơi vào tay Ba Lan, và nhà nước Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Xô viết Belorussia mới tái thành lập và trở thành một thành viên của Liên bang các nước Cộng hoà Xã hội chủ nghĩa Xô viết năm 1922.
Tháng 9 năm 1939, theo Hiệp ước Molotov-Ribbentrop, Liên Xô tấn công Ba Lan và tái sáp nhập những vùng đất phía đông nước này, gồm cả đa phần lãnh thổ Belorussia do Ba Lan kiểm soát. Năm 1941, Phát xít Đức tiến hành xâm lược Liên bang Xô viết. Belorussia bị chiếm ngay sau đó và tiếp tục nằm trong tay quân Đức cho tới năm 1944. Hơn một triệu ngôi nhà đã bị phá huỷ và hơn hai triệu người Belarusia thiệt mạng. Người Do Thái tại Belorussia đã bị tàn sát trong Cuộc tàn sát người Do Thái. Dân số Belarus chỉ đạt mức trước chiến tranh vào năm 1971. Tuy nhiên, số lượng người Do Thái không bao giờ khôi phục lại được như cũ. Sau khi chiến tranh chấm dứt, Belorussia là một trong năm mốt nước ký kết Hiến chương Liên hiệp quốc năm 1945. Sau chiến tranh, Belarus bắt đầu một chương trình tái thiết, với sự trợ giúp của Mátxcơva. Trong thời gian này, Belarus trở thành một trung tâm sản xuất chính ở vùng phía tây Liên bang Xô viết. Sự gia tăng việc làm đã mang lại một làn sóng di cư lớn từ Cộng hoà Liên bang Xã hội chủ nghĩa Xô viết Nga.
Dưới sự kiểm soát của Joseph Stalin, một chính sách Xô viết hoá được khởi động để "bảo vệ" nước Cộng hoà Xã hội chủ nghĩa Xô viết Belorussia khỏi những ảnh hưởng từ phương Tây. Chính sách này dẫn tới việc gửi hàng nghìn người Nga từ nhiều vùng khác nhau tại Xô viết được cử tới giữ các vị trí quan trọng trong chính phủ Belorussia. Việc sử dụng chính thức tiếng Belarusia và các khía cạnh văn hoá khác bị hạn chế bởi Mátxcơva. Sau cái chết của Stalin năm 1953, người kế tục ông, Nikita Khrushchev, tiếp tục chương trình này, phát biểu, "Ngày tất cả chúng ta cùng nói tiếng Nga đến càng sớm, chúng ta càng nhanh chóng xây dựng chủ nghĩa cộng sản." Khi người đứng đầu Liên Xô Mikhail Gorbachev bắt đầu đưa ra kế hoạch cải tổ, người dân Belarusia đã gửi đơn thỉnh cầu tới ông vào tháng 12 năm giải thích sự mất mát văn hoá của họ. Sự kiện này được các nhà sử học coi là vụ "Chernobyl văn hoá". (Đầu năm ấy, Belarus vừa bị ảnh hưởng bởi bụi phóng xạ từ vụ nổ nhà máy nguyên tử Chernobyl tại nước Cộng hoà Xã hội chủ nghĩa Xô viết Ukraina láng giềng.) Tháng 6 năm 1988, những ngôi mộ tập thể được nhà khảo cổ học Zyanon Paznyak phát hiện tại Kurapaty. Một số người sử dụng khám phá này để tuyên truyền rằng chính phủ Xô viết đã tìm cách xoá sổ dân tộc Belarus, và dẫn tới một số nỗ lực tìm cách khôi phục độc lập.
Hai năm sau, tháng 3 năm 1990, những cuộc bầu cử Xô viết Tối cao Cộng hoà Xã hội chủ nghĩa Belorussia diễn ra. Tuy Mặt trận Nhân dân Belarusia chỉ chiếm 10 phần trăm số ghế, nhân dân tỏ ra hài lòng với kết quả này. Belarus tuyên bố chủ quyền ngày 27 tháng 7 năm 1990, bằng việc ra Tuyên bố Chủ quyền Quốc gia Cộng hoà Xã hội chủ nghĩa Belarusia. Với sự hỗ trợ của Đảng Cộng sản, tên nước được thay đổi thành Cộng hoà Belarus ngày 25 tháng 8 năm 1991. Chủ tịch Xô viết Tối cao Belarus Stanislav Shushkevich, cùng với Boris Yeltsin tại nước Nga và Leonid Kravchuk của Ukraina, gặp gỡ ngày 8 tháng 12 năm 1991, tại Belavezhskaya Pushcha chính thức tuyên bố giải tán Liên bang Xô viết và thành lập Cộng đồng các quốc gia độc lập. Năm 1993, một thoả thuận trong Xô viết tối cao chấp nhận giảm thời hạn hoạt động một năm, mở đường cho việc tổ chức bầu cử năm 1994. Tháng 3 năm 1994, một hiến pháp quốc gia được thông qua, thay thế chức thủ tướng bằng chức tổng thống. Những cuộc bầu cử tổng thống dẫn tới chiến thắng của một nhân vật chính trị còn chưa được biết tới nhiều Aliaksandr Ryhoravič Lukašenka với hơn 80% số phiếu. Từ cuộc bầu cử này, Lukashenka đã luôn giữ chức vụ tổng thống, được bầu lại vào các năm 2001, 2006 và 2015.
== Chính trị ==
Vì những thiếu sót lớn về tinh thần dân chủ, cũng như là lối cai trị độc đoán của chính phủ Lukašenka, Belarus được cho là có chế độ độc tài duy nhất còn sót lại tại Âu châu.
Belarus là một nước cộng hoà tổng thống, được lãnh đạo bởi Tổng thống và một nghị viện lưỡng viện -Quốc hội. Quốc hội gồm một hạ viện, Viện đại biểu 110 ghế, và thượng viện, Hội đồng Cộng hoà 64 ghế. Viện đại biểu có quyền chỉ định Thủ tướng Belarus, sửa đổi hiến pháp, đề xuất bỏ phiếu tín nhiệm thủ tướng, và đề xuất các chính sách đối nội cũng như đối ngoại của Belarus. Hội đồng Cộng hoà có quyền lựa chọn nhiều vị trí chính phủ, tiến hành buộc tội tổng thống, và có khả năng chấp nhận hay từ chối những dự luật đã được Hạ viện thông qua. Mỗi viện đều có quyền phủ quyết bất cứ dự luật nào đã được các địa phương thông qua nếu chúng trái ngược với Hiến pháp Belarus. Tổng thống Belarus từ năm 1994 là Aliaksandr Ryhoravič Lukašenka. Theo như hiến pháp cũ của Belarus thì ông ta không được tham dự vào cuộc bầu cử tổng thống năm 2006, nhưng vào tháng 10 năm 2004 ông ta đã cho trưng cầu dân ý, để cho cái giới hạn này không còn giá trị đối với ông ta nữa. Chính phủ là một Hội đồng Bộ trưởng, do thủ tướng lãnh đạo. Các thành viên Hội đồng Bộ trưởng không cần phải là thành viên của nghị viện, và được Tổng thống chỉ định. Nhánh tư pháp gồm Toà án tối cao và nhiều toà án đặc biệt khác, như Toà hiến pháp, giải quyết các vấn đề đặt trưng liên quan tới hiến pháp hay luật doanh nghiệp. Các thẩm phán của Toà án hiến pháp được tổng thống chỉ định và được Hội đồng Cộng hoà xác nhận.
Ba đảng chính trị hiện có ghế trong Viện đại biểu: Đảng Cộng sản Belarus (tám ghế), Đảng Ruộng đất Belarus (ba ghế), và Đảng Dân chủ Tự do Belarus (một ghế). Các đảng chính trị ủng hộ tổng thống Lukashenka, Đảng Xã hội chủ nghĩa Thể thao Belarus và Đảng Lao động và Công bằng cộng hoà, và các đảng đối lập, như Mặt trận Nhân dân Belarus (BPF) và Đảng Dân sự Thống nhất Belarus (UCPB) không giành được ghế nào trong cuộc bầu cử năm 2004. UCPB và BPF là hai đảng gồm Liên minh 5+ nhân dân, một nhóm các đảng chính trị phản đối Lukashenka. Nhiều tổ chức, gồm Tổ chức An ninh và Hợp tác châu Âu (OSCE), đã tuyên bố cuộc bầu cử là "không tự do" vì các đảng chính trị đối lập giành được kết quả âm và sự thiên vị của truyền thông Belarus giành ưu ái cho chính phủ. Cuộc bầu cử tổng thống gần đây nhất diễn ra ngày 19 tháng 3 năm 2006. Đối thủ của Lukashenka lần này là Alaksandar Uładzimieravič Milinkievič, một ứng cử viên đại diện cho liên minh các đảng đối lập và Alaksandar Vladislavovich Kazulin đại diện cho phe Xã hội Dân chủ. Kazulin đã bị cảnh sát đánh đập và giam giữ trong những cuộc tuần hành phản đối quanh Quốc hội của mọi người dân Belarus. Tuy Lukashenka đạt 80% số phiếu bầu, OSCE và các tổ chức khác cho rằng cuộc bầu cử không công bằng.
Lukashenka được trích dẫn là đã phát biểu rằng ông có "kiểu cầm quyền độc tài" để nắm quyền trong nước. Hội đồng châu Âu đã ngăn cản Belarus trở thành thành viên từ năm 1997 vì sự bỏ phiếu không dân chủ và những gian lận bầu cử trong cuộc trưng cầu dân ý theo hiến pháp tháng 11 năm 1996 và cuộc bầu cử bổ sung nghị viện. Chính phủ Belarus cũng bị chỉ trích vì những vi phạm nhân quyền trong những hành động chống lại các tổ chức phi chính phủ, các nhà báo độc lập, các cộng đồng thiểu số, và các chính trị gia đối lập. Belarus là quốc gia duy nhất tại châu Âu còn duy trì hình phạt tử hình cho một số tội trong thời gian chiến tranh và hoà bình. Để làm chứng trước Uỷ ban quan hệ nước ngoài Thượng viện Hoa Kỳ, Ngoại trưởng Condoleezza Rice đã nêu tên Belarus, cùng sáu quốc gia khác, như một phần trong danh sách "quốc gia độc tài". Bộ ngoại giao Belarus đã thông báo rằng những lời tuyên bố của Ngoại trưởng Rice "là nền tảng tồi" để xây dựng liên minh Belarus-Hoa Kỳ.
Trong lĩnh vực ngoại giao, Belarus và Nga có mối quan hệ liên minh thân cận từ khi Liên bang Xô viết tan rã. Nga cung cấp cho Belarus không chỉ nguyên liệu thô, mà còn yêu cầu cộng đồng quốc tế nhìn nhận Belarus với quan điểm tốt hơn, làm việc với Belarus về hội nhập kinh tế từ năm 1996. Những quan hệ giữa Belarus và Cộng đồng các quốc gia độc lập đã bị ảnh hưởng bởi các cuộc cách mạng màu diễn ra tại Gruzia, Ukraina và Kyrgyzstan. Dù Liên minh châu Âu đã ra lệnh cấm đi lại với Lukashenka và các quan chức quan trọng trong chính phủ, Belarus có các thoả thuận thương mại với nhiều quốc gia thành viên EU. Các quốc gia láng giềng như Litva và Ba Lan cùng nước cộng hoà thuộc Liên Xô cũ Latvia cũng có thoả thuận thương mại với Belarus. Trước năm 1997 quan hệ song phương với Hoa Kỳ diễn ra bình thường, khi Bộ ngoại giao Mỹ bắt đầu cung cấp các khoản trợ cấp cho các tổ chức phi chính phủ có định hướng thị trường tự do và chính phủ Belarus cũng đưa ra các biện pháp nhằm khiến các tổ chức có trụ sở tại Hoa Kỳ khó hoạt động hơn. Năm 2004, Hoa Kỳ đã thông qua một đạo luật gọi là Luật Dân chủ Belarus, cho phép Hoa Kỳ cung cấp tài chính cho các nhóm đối lập với Lukashenka và những nỗ lực làm mất ổn định tình hình nước này; không cần biết tới việc hai quốc gia đang hợp tác trong việc giải quyết các vấn đề buôn người, tội ác kỹ thuật, quyền sở hữu trí tuệ và ngăn chặn các thảm hoạ tự nhiên cũng như do con người gây ra. Belarus đã phát triển hợp tác với các quốc gia châu Phi, Trung Đông và châu Á. Trung Quốc và Belarus đã xây dựng các mối quan hệ thân thiện với nhau, được tăng cường thêm bởi chuyến thăm của Tổng thống Lukashenka tới Trung Quốc tháng 10 năm 2005. Ngoài Cộng đồng các quốc gia độc lập, Belarus còn là thành viên của các tổ chức cấp vùng như Cộng đồng Kinh tế Âu Á và Tổ chức Hiệp ước An ninh Chung. Trong các tổ chức quốc tế, Belarus là thành viên của Phong trào không liên kết từ năm 1998 và Belarus từng là một trong những thành viên sáng lập Liên hiệp quốc năm 1945.
== Tỉnh và quận ==
Belarus được chia thành sáu tỉnh ("voblast"), được đặt tên theo các thành phố thủ phủ. Thành phố Minsk, nằm tại tỉnh Minsk, có vị thế đặc biệt trực tiếp phụ thuộc quốc gia, bởi nó không bị gộp vào trong bất kỳ một voblast nào. Phân chia hành chính thành các voblasts là di sản từ thời Xô viết. Các voblast được chia nhỏ tiếp thành các raion (thường được dịch thành "quận" hay "vùng"). Các cơ quan lập pháp địa phương (raisovet, "hội đồng quận") do người dân sống tại đó bầu ra. Các cơ quan hành pháp địa phương (hành chính quận) được chỉ định bởi các cơ quan hành pháp cấp cao hơn. Tương tự, mỗi voblast có cơ quan lập pháp của riêng mình (oblsovet), do người dân bầu ra, và một cơ quan hành pháp (voblast administration), lãnh đạo cơ quan này do Tổng thống chỉ định.
Tỉnh (với trung tâm hành chính tương ứng):
Brest (Brest)
Homiel (Gomel)
Hrodna (Grodno)
Mahilioŭ (Mogilev)
Minsk (Minsk)
Vitebsk (Vitebsk)
Đơn vị hành chính đặc biệt:
Thành phố Minsk
== Địa lý ==
Belarus là nước nằm kín trong lục địa, khá phẳng và có những dải đất đầm lầy rộng. Những con sông và hồ chằng chịt trong nước. Đầm lầy lớn nhất là Polesie, đây cũng là một trong những đầm lầy lớn nhất châu Âu. Có 11.000 hồ tại Belarus, nhưng đa số hồ nhỏ hơn 0.5 kilômét vuông (124 acre). Ba sông chính chảy xuyên đất nước; Sông Neman, Sông Pripyat, và Sông Dnepr. Điểm cao nhất tại Belarus là Dzyarzhynskaya Hara (Đồi Dzyarzhynsk), 345 mét (1.132 ft), và điểm thấp nhất nằm trên sông Neman, 90 mét (295 ft). Belarus cùng với Ba Lan là quê hương của Belavegskaya Pushcha (Белавежская пушча) hay, theo tiếng Ba Lan là Rừng Białowieża, vùng rừng rộng lớn duy nhất còn lại của khu rừng từng một thời che phủ Đồng bằng châu Âu.
Khí hậu thay đổi từ khắc nghiệt trong mùa đông (trung bình nhiệt độ tháng một trong khoảng −8 °C(18 °F) tới −2 °C (28 °F)) tới mát và ẩm trong mùa hè (nhiệt độ trung bình 15 °C (59 °F) tới 20 °C(68 °F)). Trung bình, 15 tới 30 centimét tuyết rơi trong nước, chủ yếu ở phía đông bắc. Belarus có lượng mưa khoảng 600 tới 700 milimét với hơn 70% lượng mưa rơi trong giai đoạn nóng trong năm. Vì các mô hình thời tiết, các thảm họa tự nhiên như hạn hán và lũ lụt thỉnh thoảng xảy ra tại Belarus. Trong giai đoạn 1881 tới 2005, nhiệt độ trung bình tại Belarus đã tăng 1 độ Celsius, nhiệt độ tăng đáng kể trong các tháng mùa đông và mùa xuân. Từng có ý kiến rằng Belarus sẽ phải đối mặt với tình trạng tăng từ 3 đến 4 độ vào cuối thế kỷ 21.
Rừng che phủ khoảng 34% tổng diện tích, khiến các sản phẩm lâm nghiệp trở thành một trong những nguồn tài nguyên thiên nhiên phong phú nhất tại Belarus. Các nguồn tài nguyên tự nhiên khác tại Belarus gồm than bùn, một lượng nhỏ dầu mỏ và khí tự nhiên, đá granite, khoáng chất dolomite (đá vôi), marl, chalk, cát, sỏi, và đất sét. Khoảng một phần năm lãnh thổ, chủ yếu tại các tỉnh phía đông nam Homyel và Mahilyow, tiếp tục bị ảnh hưởng bởi phóng xạ từ thảm họa nhà máy điện hạt nhân tại Chernobyl, Ukraina năm 1986. Tuy lượng phóng xạ đã giảm từ sau thảm hoạ, đa phần diện tích này vẫn được coi là không thể ở được. Xấp xỉ 70% tổng lượng phóng xạ thoát ra từ nhà máy điện Chernobyl đã rơi xuống lãnh thổ Belarus.
Belarus giáp biên giới với các nước: Latvia (phía bắc), Litva (tây bắc), Ba Lan (tây), Nga (bắc và đông) và Ukraina (nam). Từ khi rút khỏi Liên bang Xô viết, Belarus đã ký hiệp ước với Latvia và Litva phân chia ranh giới lãnh thổ giữa ba nước. Ukraina đã ký một hiệp ước tương tự với Belarus, dù việc phê chuẩn bên phía Belarus còn chưa được tiến hành. Tới năm 2006, Belarus và Litva đã bắt đầu phân định biên giới.
== Kinh tế ==
Kinh tế Belarus chủ yếu vẫn thuộc nhà nước kiểm soát như thời Xô viết. Hơn một nửa doanh nghiệp thuộc kiểm soát nhà nước và công ty thuộc sở hữu nước ngoài chỉ chiếm dưới 4%. Nước này có nền kinh tế khá ổn định, nhưng phụ thuộc nhiều vào các nguồn cung nguyên liệu, như dầu mỏ, từ đồng minh thân cận là Nga. Công nghiệp và nông nghiệp chủ yếu vẫn là thủ công. Nông nghiệp phần lớn là các hợp tác xã, và những sản phẩm mũi nhọn là khoai tây và chăn nuôi gia súc.
Các ngành công nghiệp có vị trí quan trọng trong lịch sử gồm dệt may và chế biến gỗ. Sau năm 1965, các ngành công nghiệp nặng mới xuất hiện và cơ khí máy (máy cày, tủ lạnh, vân vân) đã tăng cường đáng kể sự phát triển của đất nước. Bên trong Liên bang Xô viết, Belarus từng là một trong những nước cộng hòa có nền công nghiệp phát triển nhất. Về kinh tế, Belarus là một thành viên của Cộng đồng các quốc gia độc lập (CIS), Cộng đồng kinh tế Âu Á, và Liên minh với Nga. Ngay sau năm 1990, sản xuất công nghiệp đã rơi vào tình trạng giảm sút vì những kế hoạch tái cơ cấu theo hướng thị trường tự do tại Liên Xô cũ. Tăng trưởng kinh tế đã quay trở lại năm 1996, và vào năm 2001 Belarus là nước cộng hòa đầu tiên trong Cộng đồng các quốc gia độc lập quay trở lại mức sản xuất công nghiệp và nông nghiệp thời Liên Xô. Tổng sản phẩm quốc nội (GDP) năm 2005 đạt $79.13 tỷ (ước tính), hay khoảng $7.700 trên đầu người. Năm 2005, tổng sản phẩm quốc nội tăng khoảng 8-9%, với tỷ lệ lạm phát trung bình khoảng 8%. Theo Liên hiệp quốc, mức thu nhập trung bình hàng tháng đã tăng từ US$20 lên US$225 trong mười năm qua.
Hơn bốn triệu người đang ở độ tuổi lao động tại Belarus, phụ nữ hơi chiếm đa số hơn nam giới. Năm 2005, gần một phần tư dân số làm việc trong các nhà máy công nghiệp. Số lượng nhân công trong nông nghiệp, bán hàng sản xuất, hàng thương mại và giáo dục cũng khá cao. Theo các con số thống kê của chính phủ Belarus, tỷ lệ thất nghiệp khoảng 1.5% năm 2005. Tổng số người thất nghiệp là 679.000, với khoảng hai phần ba là phụ nữ. Tỷ lệ thất nghiệp đã liên tục giảm từ năm 2003, và về tổng thể nó cũng giảm so với những con số thống kê từ năm 1995.
Đồng tiền tệ Belarus là đồng Rúp Belarus (BYR). Đồng tiền này được đưa vào sử dụng tháng 5 năm 1992, thay thế đồng ruble Xô viết. Đồng ruble được tái đưa ra thị trường với giá trị mới năm 2000 và đã được sử dụng từ thời điểm đó. Như một phần trong kế hoạch Liên minh Nga-Belarus, đã có những cuộc thảo luận giữa hai quốc gia về một đồng tiền tệ chung tương tự đồng Euro. Theo ITAR-TASS kế hoạch này đã khiến có đề xuất ngừng sử dụng đồng ruble Belarus thay bằng đồng ruble Nga (RUB), bắt đầu từ ngày 1 tháng 1 năm 2008. Hệ thống ngân hàng Belarus gồm ba mươi ngân hàng thuộc sở hữu nhà nước và một ngân hàng tư nhân.
Kinh tế Belarus từng bị tác động bởi tình hình chính trị bên trong nhà nước cộng hoà. Sự tác động chủ yếu diễn ra dưới hình thức những lệnh trừng phạt chống lại giới lãnh đạo Belarus. Ví dụ, Liên minh châu Âu đã thông qua Quy định Hội đồng (EC) Số 765/2006 ngày 18 tháng 5 năm 2006. Quy định buộc đóng băng các khoản tiền của Tổng thống Lukashenka cùng 30 tới 35 viên chức cao cấp Belarus. Lệnh trừng phạt cũng ngăn cản sự đi lại của các vị lãnh đạo đó. Lệnh này được EU đưa ra sau khi họ tuyên bố cuộc bầu cử ngày 19 tháng 3 năm 2006 không công bằng và có sự đàn áp phe đối lập.
Tính đến năm 2016, GDP của Belarus đạt 48.126 USD, đứng thứ 83 trên thế giới và đứng thứ 28 châu Âu.
== Nhân khẩu ==
Đa phần dân số Belarus là người Belarus bản xứ, chiếm 81.2% tổng số dân 10.293.011 người. Người Nga là nhóm sắc tộc lớn thứ hai, chiếm 11.4% dân số. Người Ba Lan và Người Ukraina chiếm 3.9% và 2.4% dân số. Các ngôn ngữ chính thức và thường được dùng tại Belarus là tiếng Nga và tiếng Belarus. Tuy nhiên hiện nay có 72% dân số nước này nói tiếng Nga tại gia đình trong khi chỉ 11,9% sử dụng tiếng Belarus tại gia đình. Có 29,4% người Belarus có thể đọc hoặc nói hay viết tiếng Belarus, và 52,5% có thể viết và đọc ngôn ngữ này.. Đây được cho là hậu quả của việc hạn chế sử dụng tiếng Belarus từ thời kỳ Liên Xô cũ, người dân Belarus thời đó cho rằng sử dụng ngôn ngữ của mình là "vô văn hóa" hay "ngôn ngữ quê mùa của kẻ nhà quê"
Mật độ dân số khoảng 50 người trên kilômét vuông (127/dặm vuông) và 71.7% tổng dân số sống tại các khu vực đô thị. Trong số dân thành thị, 24% sống tại Minsk, thủ đô và là thành phố lớn nhất nước. Tổng số dân tại Minsk xấp xỉ 1.741.400 người. Homel, với 481.000 người, là thành phố lớn thứ hai tại Belarus và là thủ phủ của Honel Oblast. Các thành phố lớn khác là Mogilev (365.100), Vitebsk (342.400), Hrodna (314.800) và Brest (298.300).
Đa phần dân số, 69.7%, ở giữa độ tuổi 14 và 64. Mười sáu phần trăm dân số dưới 14 tuổi, trong khi 14.6% trên 65 tuổi. Độ tuổi trung bình của dân cư là 37. Tuổi thọ trung bình của người dân Belarus là 68.72; nam giới là 63.03 và nữ là 74.96. Tỷ lệ biết chữ tại Belarus (số lượng người từ 15 trở lên biết đọc, viết) là 99%, nam giới là 99.8% và phụ nữ là 99.3%. Tỷ lệ nam trên nữ năm 2005 được ước tính là 0.88.
Đa phần các chỉ số dân cư Belarus tương tự như các quốc gia châu Âu, đáng chú ý nhất là cả tỷ lệ tăng trưởng dân số và tỷ lệ tăng trưởng dân số tự nhiên của người bản xứ. Tăng trưởng dân số hiện tại ở mức −0.06% năm 2005, với tỷ lệ sinh là 1.43. Dân số đang ngày càng già đi, và tới năm 2050, đa số dân sẽ trên 50 tuổi. Tỷ lệ di dân là +2.3 trên mỗi 1.000 người dân Belarus.
Theo tổ chức báo cáo của Tổ chức Cứu giúp Trẻ em quốc tế (so sánh 167 quốc gia), Belarus có tỷ lệ chất lượng cuộc sống cho phụ nữ và trẻ em tốt nhất trong mọi nước cộng hòa thuộc Liên Xô cũ. Belarus xếp hạng 16 về chất lượng cuộc sống bà mẹ, 14 về chất lượng cuộc sống phụ nữ, và 20 về chất lượng cuộc sống trẻ em. Nước cộng hòa thuộc Liên Xô cũ có chất lượng xếp sau là Estonia (18 cho phụ nữ), Ukraina (21/31/26) và Nga (27/34/64).
== Văn hoá ==
Trang phục truyền thống Belarus xuất phát từ giai đoạn Kievan Rus. Vì đặc điểm khí hậu, trang phục tại đây giữ ấm cho mọi người. Trang phục tại Belarus được chế tạo từ hoặc sợi lanh hay len và được trang trí các mô hình tùy theo thời kỳ, và đã gây ảnh hưởng tới các nền văn hóa lân cận: Ba Lan, Litva, Latvia, Nga và các quốc gia châu Âu khác. Mỗi vùng trong Belarus đều có kiểu thiết kế và trang trí riêng. Một kiểu trang trí thường thấy trên các loại trang phục thời kỳ đầu hiện đang được dùng trên lá cờ quốc gia Belarus.
Ẩm thực Belarus chủ yếu gồm rau, thịt và bánh mì. Thực phẩm thường được coi là những món ăn chính tại Belarus gồm thịt lợn, cải bắp, khoai tây và bánh mì. Vì các phong cách nấu ăn truyền thống thời tiền Xô viết, thực phẩm thường được nấu chín từ từ hoặc hầm. Kiểu ăn uống thông thường nhất tại Belarus gồm bữa sáng nhẹ, hai bữa chính, và bữa tối là bữa ăn chủ yếu nhất trong ngày. Bột mì và bánh mì lúa mạch đều là món ăn thường thấy tại Belarus, nhưng lúa mạch xuất hiện nhiều hơn vì khí hậu ở đây không thích hợp lắm cho cây lúa mì. Khi đón khách, một chiếc bánh mì với muối thường được mời để tỏ lòng hiếu khách. Các đồ uống cũng thường gặp tại các gia đình Belarus, chủ yếu là rượu vodka Nga nấu bằng lúa mạch và nước kvass. Kvass là kiểu nước giải khats được làm từ bánh mì xám hay bột lúa mạch ủ. Kvass cũng có thể dùng kèm với rau thái lát tạo thành món súp gọi là okroshka.
Trong lịch sử, Belarus từng là quốc gia theo Nhà thờ chính thống Nga với một thiểu số nhỏ tín đồ Cơ đốc giáo, Do thái giáo và các tôn giáo khác. Người Belarus đã cải theo Nhà thờ chính thống nga sau khi Belarus bị tách khỏi Ba Lan sau sự phân chia Ba Lan. Thiểu số Cơ đốc giáo La Mã Belarus, chiếm khoảng 10% dân số sống tập trung ở vùng phía tây đất nước, đặc biệt xung quanh Hrodna, là nhóm người pha tạp giữa người Ba Lan và người Litva. Một thiểu số nhỏ (khoảng 1%) thuộc Nhà thờ Thiên chúa Hy Lạp Belarus. Người Do Thái từng chiếm 10% dân số Belarus cho tới Thế chiến II, là một trung tâm Do thái lớn tại châu Âu, nhưng trong cuộc chiến số lượng người Do Thái đã giảm sút nhiều, vì nạn đói, nạn diệt chủng, hiện chỉ còn 1% hoặc ít hơn. Tình trạng di cư từ Belarus cũng là nguyên nhân làm giảm số người Do Thái. Trong Điều 16 Hiến pháp Belarus, không có tôn giáo chính thức tại nước này. Tuy nhiên, quyền tự do tín ngưỡng được đảm bảo theo cùng điều trên, các tôn giáo làm gây ảnh hưởng không tốt tới chính phủ hay trật tự xã hội quốc gia có thể bị cấm. Tổ chức Đoàn kết Thiên chúa giáo Quốc tế đã báo cáo rằng một số giáo đoàn đang bị quấy rầy.
Về âm nhạc, bản nhạc lớn đầu tiên do một công dân Belarus sáng tác là vở opera Faust của Radzivill cùng một số tác phẩm khác. Trong thế kỷ 17, nhà soạn nhạc Ba Lan Stanislau Maniushka sống tại Belarus, đã sáng tác một số vở opera và thính phòng tại Minsk. Trong thời gian sống tại đây, ông đã làm việc cùng nhà thơ Belarus Vincent Dunin-Marcinkevich và sáng tác vở opera Sialianka (Người phụ nữ nông dân). Cuối thế kỷ 19, các thành phố lớn tại Belarus đã hình thành nên các đội opera và ballet của riêng mình. Trong thời kỳ Xô viết, có tác phẩm ballet Nightingale của M. Kroshner. Sau Cuộc chiến tranh giữ nước vĩ đại, âm nhạc chủ yếu tập trung miêu tả sự gian khổ của người dân Belarus hay những người Belarus đã đứng lên cầm vũ khí bảo vệ quê hương. Đây cũng là giai đoạn A. Bogatyryov, tác giả vở opera "In Polesye Virgin Forest," là "người giám hộ" của những nhà soạn nhạc Belarus. Sau khi giành lại độc lập, ballet vẫn đóng một vai trò văn hóa quan trọng tại Belarus. Nhà hát Hàn lân Quốc gia Ballet, tại Minsk, đã được trao giải Benois de la Dance Prize năm 1996 với tư cách nhóm ballet hàng đầu thế giới. Âm nhạc hiện đại đã trở nên quen thuộc trong dân chúng Belarus. Các nhóm nhạc rock nổi tiếng trong nước gồm NRM, Neurodubel, Ulis, Nowaje Nieba, và Krama. Nhiều nhóm nhạc Belarus đã biểu diễn tại Ba Lan và Litva, nơi số dân nói tiếng Belarus khá đông. Ba Lan cũng là nơi tổ chức festival âm nhạc Basowiszcza của Belarus. Since 2004, Belarus has been sending artists to the Eurovision Song Contest.
Chính phủ Belarus tài trợ nhiều festival văn hóa hàng năm: "Slavianski Bazaar in Vitebsk", "Minsk Spring", "Slavonic Theatrical Meetings", International Jazz Festival, National Harvesting Festival, "Arts for Children and Youth", the Competition of Youth Variety Show Arts, "Muses of Niesvizh", "Mir Castle", và National Festival of the Belarusian Song and Poetry. Những sự kiện này là nơi các ca sĩ, nghệ sĩ, nhà soạn nhạc, diễn viên nổi tiếng Belarus thể hiện mình. Các festival kết thúc với những buổi lễ trong đó những giải thưởng được trao để vinh danh những nhà soạn nhạc nổi tiếng Belarus. Nhiều ngày lễ quốc gia, như Ngày độc lập hay Ngày chiến thắng tập trung những đám khán giả to lớn và nhiều sự kiện trình diễn như pháo hoa và duyệt binh. Đa số các festival được tổ chức tại Vitebsk hay Minsk.
Belarus có bốn Địa điểm Di sản Thế giới, hai trong số đó thuộc sở hữu chung của Belarus và nước láng giềng. Bốn địa điểm đó là Tổ hợp Lâu đài Mir; Lâu đài Niasvizh; Belovezhskaya Pushcha (chung với Ba Lan); và Struve Geodetic Arc (chung với Estonia, Phần Lan, Latvia, Litva, Na Uy, Moldova, Nga, Thụy Điển và Ukraina).
== Tôn giáo ==
Theo nguồn tin chính phủ, tính đến tháng 11 năm 2011, Chính Thống giáo Đông có số tín hữu chiếm khoảng 82% dân số, với gần 1.000 nhà thờ. Mặc dù Giáo hội Chính Thống đã bị tàn phá trong Thế chiến II và tiếp tục suy giảm cho đến đầu những năm 1980 bởi các chính sách của chính phủ cộng sản và đã trải qua một sự hồi sinh nhỏ với sự khởi đầu của công cuộc cải tổ vào ngày lễ kỷ niệm của 1.000 Kitô giáo ở Liên Xô trong năm 1988. Năm 1990, Belarus Giáo hội Chính Thống Belarus được tái lập trực thuộc Tòa Thượng phụ Moskva. Trong những năm 1990, 60% dân số tự nhận mình là tín đồ Chính Thống giáo. Giáo hội Chính Thống Belarus có một chủng viện, ba dòng tu, và một học viện thần học đã được mở ra vào năm 1995.
Ngày nay có 1.402.605 người Công giáo trong nước, khoảng 15% tổng dân số. Trong năm 1989, 05 giáo phận Công giáo chính thức, vốn đã mất kể từ Thế chiến II và đã không có một giám mục, đã được tổ chức lại vào bao gồm 455 giáo xứ và hai Tổng giáo phận Minsk và Mahilyow. Trong những năm 1990, số liệu cho thấy dân Công giáo tại Belarus dao động từ 8 phần trăm đến 20 phần trăm; một ước tính xác định 25 phần trăm của những người Công giáo thuộc sắc tộc Ba Lan. Giáo hội Công giáo Belarus có một chủng viện và gần 400 nhà thờ ở Belarus.
Trước khi chiến tranh thế giới thứ hai, số lượng tín đồ Tin Lành tại Belarus là khá thấp so với các cộng đồng Kitô hữu khác, nhưng họ đã cho thấy sự tăng trưởng đáng chú ý kể từ sau thế chiến II. Năm 1990, đã có hơn 350 cộng đồng Tin Lành trong nước. Bao gồm: Giáo hôi Luther, Mặc Môn, Baptists và thần học Calvin.
Người Hồi giáo tại Belarus được đại diện bởi các cộng đồng nhỏ sắc tộc Tatar. Một số cộng đồng Tatar là hậu duệ của người di dân và tù nhân chiến tranh định cư ở Belarus, từ vùng Volga, sau thế kỷ 11. Năm 1997, có 23 cộng đồng Hồi giáo, trong đó có 19 cộng đồng nằm ở khu vực Tây của Belarus. Hiện Hội giáo có 9 thánh đường tại nước này.
== Xem thêm ==
== Tham khảo ==
== Liên kết ngoài ==
=== Truyền thông ===
Politics and News from Belarus (eng, bel, rus)
News of Belarus (bel)
Belarus News and Analysis
=== Website chính phủ ===
President's official site
Government of Belarus
Embassy of Belarus in the United States
E-Government in Belarus
=== Thông tin/Văn hoá ===
A Belarus Miscellany
The Virtual Guide of Belarus
Eating the Belarusian way
Media in Belarus
Mục “Belarus” trên trang của CIA World Factbook. |
bath, somerset.txt | Bath (/ˈbɑːθ/ hoặc /ˈbæθ/) là thành phố ở hạt lễ nghi Somerset ở tây nam nước Anh. Thành phố có cự ly 156 km về phía tây Luân Đôn và 21 km về phía đông nam Bristol. Dân số thành phố là 83.992 người. Nó được ban tư cách thành phố theo hiến chương hoàng gia bởi nữ hoàng Elizabeth I vào năm 1590, và được chuyển thành county borough vào năm 1889 cho phép thành phố độc lập về hành chính khỏi hạt, Somerset. Thành phố đã trở thành một phần của Avon khi hạt này được lập năm 1974. Từ năm 1996, khi Avon bị giải thể, Bath đã trở thành trung tâm chính của chính quyền đơn nhất Bath and North East Somerset (B&NES). Thành phố đã được lập làm một khu nghỉ dưỡng với tên gọi Latin, Aquae Sulis ("nước của Sulis") bởi những người La Mã vào năm 43, họ cho xây các phòng tắm La Mã và một ngôi đền ở các đồi bao quanh của Bath trong thung lũng sông Avon xung quanh các suối nước nóng, là các suối nước nóng duy nhất xuất hiện tự nhiên ở Vương quốc Anh. Thành phố có công trình Royal Crescent. Thành phố Bath được đưa vào danh sách di sản thế giới năm 1987.
== Thành phố kết nghĩa ==
Aix-en-Provence, Pháp
Alkmaar, Hà Lan
Braunschweig, Đức
Kaposvár, Hungary
Beppu, Nhật Bản
== Chú thích == |
bộ tộc.txt |
== Tham khảo ==
Bộ tộc là một hình thức tổ chức cộng đồng dân cư được hình thành từ sự liên kết của nhiều bộ lạc và liên minh các bộ lạc trên cùng một vùng lãnh thổ nhất định và thường có quan hệ máu mủ nhất định (huyết tộc). Đứng đầu một bộ tộc thường là một tộc trưởng hay tộc chủ.
== Đặc điểm ==
Về số lượng, bộ tộc đông đảo hơn bộ lạc vì bộ tộc chính là tổ chức từ sự liên kết của các bộ lạc.
Mỗi bộ tộc có tên gọi và có những đặc điểm về kinh tế, văn hóa riêng. Khác với bộ lạc và thị tộc, bộ tộc có vùng lãnh thổ tương đối ổn định, dân cư đa dạng và đan xen, đa ngôn ngữ và văn hóa, trong đó ngôn ngữ của bộ lạc nào chiếm vị trí trung tâm của sự giao lưu và phát triển kinh tế sẽ trở thành ngôn ngữ chung của cả bộ tộc.
Thời kỳ hình thành bộ tộc là thời kỳ đánh dấu sự tan rã hoàn toàn của xã hội công xã nguyên thuỷ, sở hữu tư nhân và chế độ tư hữu ra đời thay thế sở hữu tập thể của thị tộc, bộ lạc. Nhà nước, tổ chức chính trị xã hội có giai cấp đầu tiên được hình thành.
Phạm vi thống trị của nhà nước có thể không trùng với bộ tộc. Có nhà nước một bộ tộc, cũng có nhà nước nhiều bộ tộc, sắc tộc. Sự xuất hiện nhà nước đã góp phần rất quan trọng vào quá trình phát triển kinh tế - xã hội, thúc đẩy sự thống nhất về kinh tế và văn hóa, mở rộng giao lưu giữa các bộ tộc...
== Xem thêm ==
Thị tộc
Bào tộc
Gia tộc
Bộ lạc
Dân tộc
Sắc tộc
Chủng tộc
Huyết tộc (hay họ hàng)
Bầy người
Chiefdom |
aaron copland.txt | Aaron Copland (1900-1990) là nhà soạn nhạc, nhà sư phạm người Mỹ. Ông sống trong thời kỳ âm nhạc có nhiều phong cách khác nhau như cấu trúc, biểu hiện, tân cổ điển,... Ông là một trong những nhà soạn nhạc có ảnh hưởng tới các nhà soạn nhạc Mỹ sau này, rõ nhất là ở phong cách âm nhạc của Leonard Bernstein. Tác phẩm nổi tiếng của ông là tổ khúc Rodeo.
== Tham khảo ==
== Liên kết ngoài ==
Hoe-down from "Rodeo" (Copland)
Copland House
American Masters "Aaron Copland" at www.pbs.org
The Aaron Copland Collection, 1900–1990, Music Division, Library of Congress
Review of "Howard Pollack, Aaron Copland: The Life and Work of an Uncommon Man" by R. James Tobin
Who Was That Masked Composer? by David Schiff
Aaron Copland and His World
Aaron Copland On Film Music
{{{name}}} trên MusicBrainz
Brief Copland Bio
Music and Imagination (1952)
Phim ngắn này Copland Portrait (1975) có thể được tải về từ Internet Archive
Keeping Score: Copland and the American Sound – Multimedia website produced by the San Francisco Symphony
Aaron Copland Meets The Shakers
Aaron Copland at NPR Music
Aaron Copland tại Find a Grave
Aaron Copland's personal library on LibraryThing
The Presidency Project – Remarks at the Presentation of the 1964 Presidential Medal of Freedom Awards.
Lifetime Honors – Nation |
william pitt trẻ.txt | William Pitt trẻ (William Pitt the Younger) (28 tháng 5 năm 1759 – 23 tháng 1 năm 1806) là một nhà chính trị Anh cuối thế kỉ 18 và đầu thế kỉ 19. Năm 1783, ông trở thành là vị Thủ tướng Anh trẻ nhất trong lịch sử khi mới 24 tuổi. Ông rời chức vụ này năm 1801 nhưng lại trở lại giữ chức vị thủ tướng năm 1804 cho đến khi qua đời. Ông được gọi là William Pitt trẻ để phân biệt với William Pitt già, cha của ông, người cũng từng là thủ tướng của vương quốc Anh.
== Tham khảo == |
xích đạo.txt | Xích đạo là một đường tròn tưởng tượng được vẽ ra trên bề mặt một hành tinh (hoặc các thiên thể khác) tại khoảng cách nằm giữa hai cực. Trên Trái Đất, xích đạo chia hành tinh ra thành Bắc bán cầu và Nam bán cầu. Theo định nghĩa thì vĩ độ của đường xích đạo là 0°. Độ dài xích đạo của Trái Đất là khoảng 40.075,0 km, hay 24.901,5 dặm.
Đường xích đạo là một trong năm vĩ tuyến chủ yếu dựa trên quan hệ giữa sự tự quay của Trái Đất với mặt phẳng quỹ đạo của nó xung quanh Mặt Trời. Ngoài ra, xích đạo là vĩ tuyến có độ dài lớn nhất.
Trong sự quan sát từ Trái Đất thì Mặt Trời trong chuyển động theo mùa của nó trên bầu trời sẽ vượt qua đường xích đạo hai lần mỗi năm vào thời điểm diễn ra tiết xuân phân và thu phân của mỗi bán cầu vào tháng 3 (khoảng ngày 21±1 tháng 3) và tháng 9 (khoảng ngày 22±1 tháng 9) hàng năm. Tại xích đạo, các tia nắng từ Mặt Trời khi đó chiếu vuông góc với bề mặt Trái Đất.
Các khu vực gần đường xích đạo có sự thay đổi độ dài của ngày và đêm theo mùa là ít nhất, chỉ dao động trong khoảng thời gian vài phút trong cả năm.
== Khí hậu vùng xích đạo ==
Trong nhiều khu vực ở vùng xung quanh xích đạo người ta chỉ xác định có hai mùa là mùa khô và mùa mưa, nhưng phần lớn các khu vực rất gần với xích đạo là ẩm ướt quanh năm, mặc dù các mùa có thể dao động phụ thuộc vào sự đa dạng của các yếu tố như độ cao của địa hình so với mặt biển cũng như khoảng cách tới các đại dương.
Bề mặt của Trái Đất tại xích đạo chủ yếu là biển.
== Các quốc gia có đường xích đạo ==
Đường xích đạo đi ngang qua lãnh thổ và lãnh hải của 14 quốc gia:
São Tomé và Príncipe - có lẽ chạy ngang qua Ilhéu das Rolas, một đảo nhỏ trong quần đảo này.
Gabon
Cộng hòa Congo
Cộng hòa Dân chủ Congo
Uganda
Kenya
Somalia
Maldives – có thể trượt qua mọi đảo
Indonesia
Sumatra
Lingga và các đảo nhỏ khác gần Sumatra
Borneo – Kalimantan
Sulawesi
Halmahera và các đảo nhỏ khác ở quần đảo Moluccas.
Kiribati
Quần đảo Gilbert – có thể trượt qua mọi đảo.
Quần đảo Phoenix – trượt qua gần đảo Baker
Line Islands – trượt qua gần đảo Jarvis
Mỹ
Đảo Baker
Ecuador
Quần đảo Galapagos – chạy ngang qua đảo Isabela.
Ecuador đại lục
Colombia
Brasil
== Xem thêm ==
Xích đạo nhiệt
Chí tuyến Bắc
Chí tuyến Nam
Vòng Bắc cực
Vòng Nam cực
== Tham khảo ==
Moritz, H (tháng 9 năm 1980). “Geodetic Reference System 1980”. Bulletin Géodésique (Berlin: Springer-Verlag) 54 (3): 395–405. Bibcode:1980BGeod..54..395M. doi:10.1007/BF02521480. (IUGG/WGS-84 data)
Taff, Laurence G (1981). Computational Spherical Astronomy. New York: Wiley. ISBN 0-471-06257-X. OCLC 6532537. (IAU data) |
thời kỳ heisei.txt | Heisei (平成 (Bình Thành), Heisei) là niên hiệu hiện tại ở Nhật Bản. Thời kỳ Heisei bắt đầu từ ngày 8 tháng 1 năm 1989, ngày đầu tiên sau cái chết của Thiên hoàng Chiêu Hòa và cùng với việc con trai của ông, Akihito lên nối ngôi. Thời kỳ này cũng đánh dấu sự kết thúc chiến tranh lạnh do đó nó còn được gọi là thời kỳ Nhật Bản sau chiến tranh lạnh. Theo phong tục Nhật Bản, thụy hiệu "Thiên hoàng Chiêu Hòa" được đặt vào ngày 31 tháng 1, giống các Thiên hoàng trước như Mutsuhito (Thiên hoàng Minh Trị) và Yoshihito (Thiên hoàng Đại Chính).
Năm 1989 tức niên hiệu Chiêu Hòa thứ 64 tính đến ngày thứ 7 của tháng đầu tiên (ngày 7 tháng 1) và tương ứng với niên hiệu Heisei thứ nhất (平成元年 (Bình Thành Nguyên Niên), Heisei gannen) kể từ ngày thứ 8 của tháng đầu tiên (ngày 8 tháng 1). Năm 2017 là năm Heisei thứ 29. Để tính nhanh năm hiện tại theo năm Heisei thì lấy 2 số cuối của năm dương lịch cộng thêm 12. Ví dụ năm 2009: 09+12 = Heisei thứ 21 và thường được viết tắt là H21. (năm Bình Thành kéo dài vĩnh viễn)
== Sự kiện ==
Năm 1989 đánh dấu sự phát triển đỉnh điểm về tăng trưởng kinh tế nhanh nhất trong lịch sử Nhật Bản. Với thế mạnh đồng yên và tỷ giá hối đối phù hợp với Đô-la Mỹ, Ngân hàng Nhật Bản giữ lãi suất thấp, đầu tư phát triển vượt bậc đã đưa giá trị tài sản Tokyo lên sáu mươi phần trăm trong năm. Trong khoảng thời gian ngắn trước ngày đầu của Năm mới, chỉ số Nikkei 225 đạt mức kỷ lục 39.000 điểm. Năm 1991, chỉ số này đã giảm còn 15.000, đánh dấu kết thúc "nền kinh tế bong bóng". Sau đó, Nhật Bản trải qua giai đoạn "khủng hoảng kinh tế thời Heisei", bao gồm hơn một thập kỷ giảm lạm phát giá cả và GDP trì trệ trong khi đó các ngân hàng Nhật Bản cố gắng giải quyết các khoản nợ xấu và các công ty trong các ngành khác cần phải cấu trúc lại. Một số nhà phân tích đổ lỗi việc khủng hoảng kinh tế kéo dài là do việc áp dụng các nguyên tắc kinh tế Neo-Keynesian liên tục của chính phủ Nhật Bản trong các giải pháp thực thi. Tuy nhiên, gần đây, các nhà bình luận cũng đưa ra các dấu hiệu cho thấy nền kinh tế của Nhật Bản đang thoát khỏi cuộc khủng hoảng.
Các vụ scandal năm 1988 đã làm giảm uy tín của Đảng Dân chủ Tự do (LDP), là đảng kiểm soát của chính phủ Nhật Bản trong 38 năm. Năm 1993, LDP đã bị hất cẳng bởi một liên minh do Morihiro Hosokawa đứng đầu. Tuy nhiên, liên minh đã giải tán vì mục đích chính của nó là lật đổ LDP và thiếu một vị trí thống nhất trên hầu hết các vấn đề xã hội. LDP trở lại chính phủ trong 1994, khi nó đã giúp bầu chọn Tomiichi Murayama đảng Xã hội (sau này là Đảng Xã hội Dân chủ) làm Thủ tướng.
Năm 1995, trận động đất lớn ở Kobe xảy ra đồng thời với vụ khủng bố bằng khí sarin vào hệ thống tàu điện ngầm tại Tokyo của những người theo giáo phái Aum Shinrikyo, chính phủ Nhật Bản không trở tay kịp với những sự kiện này làm cho vai trò của các tổ chức phi chính phủ trở nên quan trọng trong chính trị Nhật Bản.
Thời kỳ Heisei cũng đánh dấu những sự tái trỗi dậy một cách thận trọng về sức mạnh quân sự của Nhật Bản trên thế giới. Năm 1991, Nhật Bản cam kết viện trợ hàng tỷ đô la cho chiến tranh vùng Vịnh nhưng các tranh cãi xung quanh Hiến pháp không cho phép hợp tác hoặc hỗ trợ chiến tranh. Iran chỉ trích Nhật Bản về vấn đề này và không đánh giá cao cách mà Nhật Bản hợp tác trong chiến tranh vùng Vịnh. Các tàu quét mìn đã được đưa tới sau cuộc chiến để hỗ trợ cho công cuộc tái thiết đất nước này. Sau cuộc xâm chiếm Iraq lần thứ 2, năm 2003, nội các của Thủ tướng Nhật Bản Junichiro Koizumi chấp thuận kế hoạch chuyển khoảng 1.000 lính thuộc lực lượng phòng vệ Nhật Bản đến giúp cuộc tái thiết Iraq, đây là cuộc chuyển binh lớn nhất kể từ sau thế chiến thứ 2 mà không cần sự đồng ý của Hoa Kỳ. Các đội binh này được chuyển đến Iraq vào năm 2004.
Vào 23 tháng 10 năm 2004, các trận động đất năm Heisei thứ 16 ở tỉnh Niigata làm rung chuyển vùng Hokuriku, làm chết 52 người và bị thương hàng trăm người(xem động đất Chūetsu năm 2004).
Mùa thu năm 2007, Yasuo Fukuda được bổ nhiệm làm Thủ tướng sau khi Shinzō Abe bất ngờ từ chức, sau thất bại trong cuộc bầu cử vào đầu năm. Fukuda lại từ chức vào tháng 9 năm sau do không vượt qua được những chia rẽ trong Quốc hội, và sau đó Taro Aso được bầu vào vị trí của ông.
Tháng 7 năm 2009, tỉ lệ thất nghiệp tại Nhật Bản lên đến mức kỷ lục là 5,7% kể từ sau thế chiến thứ 2, vượt qua mức kỷ lục vào tháng 4 năm 2003 là 5,5%.
Ngày 16 tháng 9 năm 2008, Hatoyama Yukio, chủ tịch đảng Dân chủ Nhật Bản, trở thành Thủ tướng thứ 93 của Nhật Bản. Đây là sự chuyển giao quyền lực đầu tiên sau 16 năm ở nước này, kể từ khi chính quyền 9 đảng liên minh do Thủ tướng Morihiro Hosokawa dẫn đầu thay thế chính phủ của đảng Dân chủ Tự do vào năm 1993.
== Tham khảo == |
asus.txt | ASUSTeK Computer Incorporated (ASUS) (Chữ Hán phồn thể: 華碩電腦股份有限公司; Chữ Hán giản thể: 华硕电脑股份有限公司; Bính âm Hán ngữ: Huáshuo Diànnaǒ Gufen YǒuxiànGōngsī) là một tập đoàn đa quốc gia đặt trụ sở tại Đài Loan chuyên sản xuất các mặt hàng điện tử như bo mạch chủ, máy tính xách tay, máy chủ, điện thoại di động và các sản phẩm máy tính khác. Thường được gọi là với tên thương hiệu là ASUS, công ty được niêm yết trên Sở giao dịch chứng khoán London (LSE:ASKD) và Sở giao dịch chứng khoán Đài Loan (Bản mẫu:TSE).
ASUS còn sản xuất linh kiện các hãng khác bao gồm:
Apple Inc. (iPod, iPod Shuffle, MacBook)
Alienware
Falcon Northwest
Hewlett-Packard
Palm, Inc.
== Nguồn gốc tên Asus ==
ASUS là 4 ký tự cuối của từ "Pegasus", chú ngựa có cánh trong thần thoại Hy Lạp. Chỉ có bốn chữ cái cuối trong "Pegasus" được sử dụng với mục đích để tên Asus được đứng cao trong danh sách ABC.
== Ghi chú ==
== Liên kết ==
Website chính thức |
Subsets and Splits
No community queries yet
The top public SQL queries from the community will appear here once available.