filename stringlengths 4 100 | text stringlengths 0 254k |
|---|---|
hypena masurialis.txt | Hypena masurialis là một loài bướm đêm thuộc họ Erebidae. It is has a wide range, bao gồm Úc, Fiji, Quần đảo Cook, Eritrea, Kenya, Somalia, Uganda, Yemen and quần đảo Canaria.
Sải cánh dài khoảng 20 mm.
Ấu trùng ăn Commelina cyanea.
== Chú thích ==
== Tham khảo == |
trận châlons.txt | Trận Châlons, hay còn gọi là trận đồng bằng Catalaunian hoặc trận Campus Mauriacus, diễn ra vào năm 451 giữa một bên là người Hung cùng các đồng minh do vua Attila chỉ huy đối đầu với một liên minh do Đại tướng quân La Mã Flavius Aetius thống suất, bao gồm đế quốc Tây La Mã, người Visigoth cùng một số quốc gia khác của người German. Đây là trận đánh lớn cuối cùng của đế quốc Tây La Mã và cũng là trận thắng làm nên đỉnh cao vinh quang cho danh tướng Flavius Aetius - ông đã thể hiện bản lĩnh đẹp đẽ của một bậc đại anh hùng của thời đại trong chiến thắng. Nhiều nhà sử học xem đây là một trong những trận đánh quan trọng nhất trong lịch sử châu Âu, và ít ra thì chiến thắng này của Aetius đã trở nên một trong những trận chiến tiêu biểu nhất của thời kỳ Trung Cổ. Ngoài ra, đây cũng là một trong những trận thư hùng mãnh liệt nhất, một trong những thắng lợi quyết định hơn cả trong lịch sử nhân loại. Trận đánh này được xem là một thất bại về mặt chiến lược của người Hung và đã ngăn trở kế hoạch xâm chiếm Tây Âu của Attila. Vì tính chất vô cùng trọng đại của trận ấy ghi hằn trong sử sách, nó cũng đã chấm dứt huyền thoại về một Attila bất khả chiến bại, khiến cho vua Attila vô cùng tức giận. Đại bại này cũng chính là trận thua đầu tiên và duy nhất trong suốt võ nghiệp của ông. Có lẽ, chiến thắng quyết định của Aetius trong trận này không những bảo vệ được nền văn minh La Mã, mà đã giải cứu toàn bộ nền văn minh Tây Âu thoát khỏi nguy cơ rơi vào ách đô hộ của người châu Á. Do đó, thắng lợi này không chỉ đẩy lùi rợ Hung ra khỏi xứ Gaul mà còn trở thành một bước ngoặt của lịch sử thế giới, đại diện cho chiến thắng của thế giới văn minh trước các rợ tộc.
Đoàn quân La Mã - German của Aetius đã thẳng tay tàn sát quân Hung. Trận đánh kịch liệt này chấm dứt khi màn đêm buông xuống, quân ông đã tiêu diệt được hữu quân và buộc trung quân của Attila phải lui về trại. Attila thất thế lại suýt nữa thì bị tận diệt, phải đóng cứ thật chắc trong trại và sau đã ra lệnh thoái binh, để lại chiến thắng vang dội cho Aetius. Thấy nơi chiến địa máu chảy thành sông, Attila không còn dám ra quân thêm một lần nữa, rồi bắt đầu tháo chạy. Do mục đích chính trị nên Aetius đã không truy đuổi quân Hung để họ an toàn triệt binh. Dù sao đi chăng nữa, khả năng triệu tập một đội quân đa sắc tộc của ông đã đem lại cho ông chiến thắng quyết định này. Tuy trận huyết chiến này được coi là một trong những chiến dịch quân sự cuối cùng của Đế quốc Tây La Mã, các chiến binh Visigoth là đội quân chính yếu của quân Liên minh. Vua Visigoth là Theodoric I đã hy sinh trong chiến đấu. Trận đánh này hết sức là đẫm máu và tục truyền rằng có khoảng từ 162 nghìn cho tới 30 vạn chiến binh đã hy sinh. Nhiều huyền thoại có sức hút lâu dài về trận chiến khốc liệt này, chẳng hạn như chuyện vong hồn các tử sĩ đánh nhau ác liệt trong khói bụi trong một thời gian lâu sau khi Attila thua trận. Flavius Aetius đã làm nên thời khắc huy hoàng của Đế quốc La Mã. Tuy Đế quốc La Mã chiến thắng không thể mở ra một kỷ nguyên chinh phạt mới hay thịnh vượng, trận thắng này giữ vững đức tin Ki-tô giáo và quyết định dân tộc nào sẽ chia nhau di sản đồ sộ của Đế quốc La Mã. Với chiến thắng lớn lao này, nhiều người Giéc-man đã có ý thức được rằng họ có thể đánh thắng người Hung ngay cả khi người Hung được các tộc Giéc-man khác hỗ trợ, do đó chiến thắng ác liệt này đã đặt nền tảng cho chiến thắng quyết định của quân Giéc-man trong trận Nedao một năm sau khi Attila qua đời, dẫn đến sự sụp đổ của Đế quốc Hung. Thành thử, dù chiến thắng lừng lẫy tại Châlons cứu nguy nền văn minh La Mã trong một thời gian nhưng thắng lợi cũng mở ra thời kỳ oanh liệt của các man tộc Giéc-man tại châu Âu. Nhà vua Merovech của người Frank, vốn dĩ đã cùng san sẻ chiến thắng với Aetius, bắt đầu xưng hùng xưng bá kể từ sau trận đánh.
== Bối cảnh ==
Vào năm 395, trước khi qua đời không lâu, Hoàng đế Theodosius I đã chia Đế quốc La Mã thành 2 bộ phận là Đế quốc Tây La Mã và Đế quốc Đông La Mã, và giao cho hai người con trai của mình cai quản. Hai nhà nước Đông và Tây này về sau trải qua những số phận khác nhau.
Trong khi Đế quốc Đông La Mã, dù diện tích nhỏ hơn nhưng lại thừa hưởng những vùng đất màu mỡ và đông dân cư (Ai Cập, Tiểu Á, Hy Lạp, v.v...) tiếp tục trụ vững thêm một thời gian dài, Đế quốc Tây La Mã nhanh chóng bộc lộ sự khủng hoảng và suy yếu. Những phần đất nó thừa hưởng tuy rộng lớn nhưng không có những lợi thế như Đông La Mã. Chính sự rộng lớn của Đế quốc Tây La Mã đã dẫn đến sự khó kiểm soát của chính quyền trung ương. Hơn nữa Đế quốc Tây La Mã lại phải hứng chịu hậu quả các đợt di dân của các bộ tộc German vào các thế kỷ 4 và 5. Đã quá suy yếu do các cuộc nội chiến liên miên, những cuộc khởi nghĩa của nô lệ và các tầng lớp bị trị, do sự phân liệt cát cứ của các thế lực quý tộc và sự rệu rã của quân đội, đế quốc không còn đủ sức ngăn chặn các làn sóng xâm nhập này nữa. Họ buộc phải cho phép các bộ tộc người German định cư trên các vùng đất của mình và, từ đó, mất luôn những vùng đất này về tay các bộ tộc xâm nhập.
Hoàng đế Valentinianus III lên kế vị Honorius, và cũng chỉ là một ông vua bù nhìn như tiên đế. Vào năm 450, Đế quốc Tây La Mã đang trải qua những khoảnh khắc cuối cùng của nó. Các vùng đất của người Tây La Mã ở Gaul cũng như ở ngoài bán đảo Ý gần như đã mất kiểm soát. Vùng Armorica hầu như chỉ còn được kiểm soát trên danh nghĩa. Vùng phía bắc Gaul giữa hai con sông Rhine và Marne đã lọt vào tay người Frank. Người Visigoth đã chiếm giữ Gallia Aquitania và sau đó là bán đảo Iberia. Người Burgundy sống gần dãy Alps mặc dù tỏ vẻ phục tùng nhưng sẽ sẵn sàng nổi loạn bất cứ lúc nào. Tây La Mã lúc này chỉ còn kiểm soát phần đất ven biển Địa Trung Hải kéo dài từ Aurelianum (ngày nay là Orléans) cho tới thượng lưu sông Loire và hạ lưu sông Rhine.
Lúc bấy giờ thì người Hung ở phía đông đã trở thành một mối hiểm họa thực sự cho cả hai Đế chế Tây và Đông La Mã. Dưới sự chỉ huy của vua Attila, người Hung đã nhiều lần vượt sông Danube cướp phá Đông La Mã, buộc các Hoàng đế ở thành Constantinopolis phải cống nạp cho họ rất nhiều của cải. Nhà sử học Jordanes ghi nhận rằng Attila đã bị vua Gaiseric của người Vandal xúi giục để phát động chiến tranh với người Visigoth. Đồng thời, Gaiseric sẽ cố gắng để gây xung đột giữa người Visigoth và Đế chế Tây La Mã .
Các tác giả đương thời khác cung cấp những động cơ khác. Honoria, nguyên là một người chị gái rắc rối của Hoàng đế Valentinianus III, lúc đó đang bị giam lỏng và hứa gả cho một thành viên Viện nguyên lão. Năm 450, bà đã gửi một bức thư cho vua Hung yêu cầu sự giúp đỡ của Attila giải thoát cho bà khỏi tình trạng giam cầm. Đáp lại bà sẽ kết hôn với ông và dâng tặng một nửa đế chế như của hồi môn. Attila yêu cầu Honoria sẽ được đưa tới cùng với của hồi môn. Valentinianus III từ chối những yêu cầu này, và Attila sử dụng nó như một cái cớ để đem một lực lượng lớn tiến quân sang phía tây, phát động một chiến dịch tàn phá xứ Gaul. Ban đầu, với tư cách là vị "cứu tinh" của Công chúa Honoria, Attila phân vân không biết nên tiến đánh kinh thành La Mã hay là Constantinopolis, cũng giống như vua Alaric I của người Goth trước thời ông. Và cuối cùng, ông đã quyết định tấn công La Mã, nhưng trước đó phải thâu được xứ Gaul.
Vua Attila vượt qua sông Rhine vào đầu năm 451 với những người lính của ông và một số lượng lớn các đồng minh, cướp phá miền Divodurum (Metz) vào ngày 7 tháng 4. Việc các thành phố khác bị tấn công có thể được xác định qua các ghi chép được viết để tưởng nhớ các giám mục của họ: Nicasius đã bị giết trước bàn thờ trong nhà thờ của ông tại Rheims; Servatus được cho là đã bảo vệ Tongeren với lời cầu nguyện của mình, cũng như Genevieve được cho là đã bảo vệ Paris. Lupus, giám mục của Troyes, cũng được ghi nhận là đã bảo vệ thành phố của mình bằng cách gặp trực tiếp Attila. Theo nhà chép sử Prosper xứ Gaul, sau khi Attila băng qua sông Rhine, nhiều thành phố tại Gaul đã phải hứng chịu sự tàn phá ghê gớm nhất của ông.
Vào tháng 6, quân đội của Attila tiến tới Aurelianum (Orléans). Thành phố vững chãi này là cửa ngõ quan trọng để vượt qua sông Loire. Theo sử gia Jordanes, vị vua người Alan là Sangiban đã hứa sẽ mở cổng thành để quy hàng. Tuy nhiên, dân trong thành Aurelianum đã đóng kín cổng thành trước những kẻ xâm lược. Attila bắt đầu vây hãm thành phố, trong lúc chờ Sangiban thực hiện lời hứa. Cuộc vây hãm cũng được xác nhận bởi những tài liệu của Vita S. Anianus và Gregory thành Tours, mặc dù họ không nhắc đến tên của Sangiban.
== Trận chiến ==
Sau khi nắm được tình hình, Đại tướng quân Flavius Aetius mau chóng đưa đại quân từ Ý tới xứ Gaul. Aetius cố gắng thuyết phục vua Theodoric I của người Visigoth tham gia cùng mình. Vua Visigoth nghĩ rằng lực lượng của Aetius là không đủ, và dự định sẽ chờ tới lúc người Hung tới đất mình rồi mới chiến đấu với họ. Aetius xoay sang một người rất có tiếng nói là Avitus để nhờ giúp đỡ. Avitus không những thuyết phục được Theodoric I mà còn lôi kéo thêm được một số man tộc khác ở xứ Gaul cùng tham gia. Liên quân này tiến về Aurelianum và tới nơi vào ngày 14 tháng 6.
Theo tác giả Vita S. Anianus, họ chỉ tới Aurelianum vừa kịp lúc, khi đó quân của Attila đã xâm nhập được vào tường thành. Lúc này người Hung đã biết về việc quân địch đang kéo tới. Họ đã sắp chiếm được thành, nhưng đóng quân lại tại thành phố này cũng có nghĩa là sẽ bị vây hãm bên trong thành (đó là một điều bất lợi, vì người Hung quen với việc vây thành hơn là bị vây trong thành). Vì vậy mà họ đã nhổ trại và rút quân, hẳn nhiên là để tìm một vị trí thuận lợi để giao chiến. Theodoric và Aetius bám theo sát nút, và hai đội quân cuối cùng đã giáp mặt tại những cánh đồng Catalaunian vào ngày 20 tháng 6. Ngày này được sử gia J.B. Bury nêu ra và nhiều người chấp nhận, mặc dù một số tin rằng đó là ngày 20 tháng 9.
Đêm trước trận chiến, một đội quân người Frank thuộc phe La Mã đã đụng độ một nhóm người Gepid trung thành với Attila. Jordanes ghi nhận 15.000 quân mỗi bên đã tử trận, nhưng con số này chưa được xác thực.
Theo phong tục người Hung, sáng sớm hôm đó, Attila lệnh cho các thầy pháp của mình dùng những bộ lòng để tiên đoán kết quả trận đánh. Họ tiên đoán một thảm họa sẽ xảy ra cho người Hung và một kẻ chỉ huy của phe địch sẽ tử trận. Sẵn sàng đánh liều với tính mạng mình và hy vọng rằng Aetius sẽ là kẻ phải chết, Attila cuối cùng cũng ra lệnh xung trận, nhưng trì hoãn tới giờ thứ 9, để việc mặt trời lặn có thể giúp quân đội của ông rút lui, nếu bại trận.
Theo Jordanes, đồng bằng Catalaunian nhô lên về một phía theo một sườn dốc, tới một dãy đồi. Địa hình này là trung tâm của trận chiến. Người Hung chiếm bên phải còn liên quân La Mã chiếm bên trái dãy đồi, còn phần đỉnh đồi chưa thuộc về ai. Cũng theo Jordanes, quân Visigoth đóng ở cánh phải, quân La Mã ở cánh trái, còn Sangiban với lòng trung thành vẫn trong vòng nghi vấn, cùng người Alan của ông ta, bị kẹp ở trung tâm của liên quân. Bên phía quân Hung, Attila đích thân chỉ huy ở trung tâm, còn người Ostrogoth ở cánh trái và người Gepid ở cánh phải.
Khởi đầu cuộc chiến, quân Visigoth đã chiếm được ngọn đồi nhỏ chiến lược. Attila đã cho một số binh lính từ trung tâm qua hỗ trợ người Ostrogoth, còn bản thân ông mang quân tiến đánh trung tâm của liên quân. Khi quân Hung tiến đánh vị trí ở giữa mang tính chất quyết định, họ đã bị đồng minh Alan của La Mã chặn lại. Aetius cũng từ từ đẩy lui cánh của người Gepid. Ở bên cánh kia, quân Visigoth lúc này đã đánh bật cánh của Ostrogoth. Các chiến binh rút chạy hỗn loạn về chỗ đóng quân, làm rối đội hình của Attila. Attila cố gắng tập hợp lại lực lượng và giữ vị trí, nhưng quân Visigoth xoay sang tấn công chính ông, khi mà lực lượng của Attila đã bị phân tán. Khi đang dẫn đầu người của mình truy đuổi quân địch hỗn loạn, Theodoric đã bất ngờ tử trận mà chẳng ai hay biết. Sử gia Jordanes cho rằng Theodoric đã bị ngã ngựa và bị chính người của mình từ phía sau tràn lên giẫm chết, nhưng ông cũng kể một câu chuyện khác rằng Theodoric có thể đã bị giết bởi Andag người Ostrogoth, thuộc phe Attila (nhưng nên nhớ Jordanes là cận thần dưới quyền con của Andag là Gunthigis). Sách khác thì viết rằng Theodoric I bị trúng tên của địch, và bị chết khi lực lượng Kỵ binh của liên quân La Mã - Giéc-man ồ ạt tấn công.
Người Visigoth đã đuổi lên nhanh hơn những người Alan bên cạnh họ và giáp mặt với lực lượng thân cận của chính Attila. Attila suýt nữa thì bị hạ sát, và trong lúc này ông đành phải lui về ẩn náu trong trại của mình, nơi mà ông đã gia cố với những cỗ xe. Liên quân La Mã-Goth càn quét tới tận trại quân Hung. Khi đêm xuống, con trai của vua Theodoric là Thorismund quay về với quân mình, nhưng lại đi nhầm tới trại của Attila và bị thương trong trận giáp lá cà trước khi được những quân lính đi theo giải cứu. Bóng tối cũng đã chia cắt Aetius khỏi lực lượng của ông. Lo sợ tai họa đã xảy ra với họ, ông trú lại qua đêm cùng những người Goth đồng minh.
Đến đây, đội tả quân của Attila vẫn chưa bị đánh bại, nhưng đội hữu quân của ông đã bị đánh tan tác còn trung quân thì phải lui về. Nhìn chung, quân lực của ông đã bị đại bại. Ngày hôm sau, nhận thấy thây lính chết chất cao như núi và người Hung không dám mạo hiểm tiến lên, người Goth và La Mã phải quyết định hành động tiếp theo. Biết rằng Attila không có đủ nguồn dự trữ và e ngại không dám lao lên bởi trận mưa tên từ phía La Mã, họ quyết định tấn công trại của ông ta. Trong tình hình tưởng như tuyệt vọng này, Attila vẫn không chịu khuất phục và thậm chí là đã chuẩn bị sẵn giàn thiêu cho mình để không bị địch thủ bắt giữ và hành hạ nếu thất trận.
Khi Attila bị vây khốn trong trại, người Visigoth đi tìm vị vua bị mất tích cùng con trai của ông là Thorismund. Sau một thời gian dài tìm kiếm, họ thấy xác Theodoric nằm dưới một đống xác chết khác, và đã tiễn đưa ông với những bài ca anh hùng ngay trước mắt kẻ thù. Sau khi biết cha mình đã chết, Thorismund muốn đánh thẳng vào trại của Attila. Quân Visigoth căm giận tột độ, họ đồng loạt kêu gào lên "Hãy báo thù cho Đức Vua !" khi một người lính hô lên rằng "Bọn giặc đã sát hại Đức Vua của chúng ta". Quân Hung và quân Ostrogoth không thể nào cầm chặn được họ. Thế nhưng, Đại tướng quân Aetius đã ngăn Thorismund lại. Theo Jordanes, Aetius sợ rằng nếu người Hung bị tiêu diệt hoàn toàn, người Visigoth của Thorismund sẽ phá vỡ liên minh với La Mã và trở thành một đối thủ đáng gờm khác. Ông không muốn Thorismund - vốn là một vị vua giỏi về quân sự, sẽ là một Alaric I khác đối với Đế quốc Tây La Mã. Vì vậy nên Aetius đã thuyết phục Thorismund quay trở về quê nhà để bảo vệ ngôi vị khỏi tay những người anh em của ông ta, nếu không thì có thể sẽ xảy ra nội chiến. Thorismund sau đó trở về Tolosa (Toulouse ngày nay) và lên ngôi mà không gặp khó khăn gì. Gregory thành Tours cho rằng Aetius cũng dùng mưu kế tương tự để giải tán những đồng minh người Frank, và thu các chiến lợi phẩm từ chiến trường cho riêng mình.
Khi người Visigoth rút lui, lúc đầu Attila nghĩ đó là âm mưu để dụ quân của ông ta ra khỏi trại. Vì vậy ông ta án binh bất động và cố thủ thêm một thời gian nữa. Khi thấy không có tình hình mới nào diễn ra, Attila cho nhổ trại và trở về quê nhà. Những tổn thất quá lớn của cả hai phía khiến Aetius và Attila đều không chắc chắn vào một chiến thắng để tiếp tục trận chiến. Theo biên niên sử của Hydatius, Attila "nổi cáu lên vì chiến bại khó thể đoán trước được của ông ta tại Gaul".
== Lực lượng hai bên ==
Số quân tham chiến trên trận địa Châlons phải nói là hết sức đông đảo. Quân đội của cả hai bên gồm nhiều chiến binh từ các dân tộc khác nhau. Jordanes nêu ra các đồng minh của Aetius (ngoài Visigoth) gồm người Salic Frank và Ripuarian Frank, Sarmatian, Armorican, Litician, Burgundy, Saxon, một số tộc Celt và German khác.
Bên phía Attila thì Jordanes nêu ra các đồng minh bao gồm người Gepid dưới quyền vua Ardaric, người Ostrogoth do anh em Valamir, Theodemir (cha của Theodoric Đại đế sau này) lãnh đạo, và người Widimer, một nhánh của người Amali.
Một số sử gia khác nêu ra những danh sách dài hơn. Sử gia E.A. Thompson thì giữ quan điểm cho rằng người Burgundy đã ngả theo phe Attila. Mặc dù vậy, con số chính xác về số lượng người đã tham gia cuộc chiến thì đến nay vẫn chỉ là phỏng đoán. Các sử gia như Jordanes và Hydatius đưa ra những con số mà các sử gia sau này cho là quá cao. A.H.M. Jones đưa ra con số tổng binh lính của hai bên là dưới 100.000, không tính tới những người hầu và tùy tùng đi theo.
Dầu sao đi chăng nữa, quân Giéc-man chiếm số đông trong cả hai đoàn binh. Phần lớn quân tinh nhuệ La Mã là người gốc Giéc-man, và Aetius đã tuyển mộ nhiều người rợ Giéc-man vào quân ngũ. Ông đã nỗ lực hết mình để tuyển mộ cả quân Visigoth hùng mạnh do vua Theodoric I lãnh đạo.
== Địa điểm chiến trường ==
Đây cũng là một vấn đề mà các sử gia còn tranh cãi. Thomas Hodgkin cho rằng nó nằm gần Méry-sur-Seine, nhưng một số người khác lại nghĩ rằng nó ở Châlons-en-Champagne. Achille Peigné-Delacourt (1797–1881) khẳng định một bộ hài cốt tìm thấy ở Pouan-les-Vallées (Aube), một làng nằm ở bờ nam sông Aube, là của vua Theodoric I, nhưng các sử gia thế kỷ 20 đã nghi ngờ chuyện này.
== Tầm quan trọng trong lịch sử ==
Trận đánh Châlons, là chiến thắng của Đại tướng quân Flavius Aetius, trở thành một trong những trận chiến lớn nhất của thời kỳ Trung Cổ, đã đánh lùi cuộc xâm lược của rợ Hung vào xứ Gaul. Thắng lợi vang dội ấy là thành quả của công lao xây cất một đội quân đa sắc tộc của ông, họ đã mặc sức tàn sát quân Hung trong trận đánh đẫm máu này.
=== Quan điểm truyền thống: trận Châlons có ý nghĩa lịch sử quan trọng ===
Trận chiến này, đặc biệt là khi được Edward Gibbon nêu ra trong cuốn The History of the Decline and Fall of the Roman Empire và Edward Creasy đưa vào trong cuốn The Fifteen Decisive Battles of the World, đã được rất nhiều sử gia xem là một trong những trận chiến quan trọng nhất của thời Hậu Cổ đại, ít nhất là với thế giới nói tiếng Latinh.
Sử gia John Julius Norwich thì nói rằng mặc dù trận đánh Châlons không có thắng lợi quyết định nghiêng về bên nào, nhưng nó đã cản bước được người Hung. Nếu không có trận đánh này thì có thể thủ lĩnh của họ đã chiếm được kinh đô Ravenna và thành La Mã, và qua đó thì cả xứ Gaul và Ý sẽ bị suy tàn nghiêm trọng về mặt văn hóa (khác với các man tộc khác là người Goth hay Vandal, người Hung của Attila không hề tin vào Thiên chúa hay có chút sự kính trọng nào đối với văn hóa La Mã). Arthur Ferrill thì cho rằng trận đánh này có ý nghĩa quan trọng vì nó là trận đánh quan trọng đầu tiên diễn ra giữa hai liên minh lớn chứ không phải chỉ là hai quốc gia.
Bàn đến uy danh đáng sợ của Attila, và tầm quan trọng của trận chiến, Gibbon cho rằng những gì viết về Attila là từ phe đối địch, vì vậy mà không có lý do gì để phóng đại nỗi kinh hoàng mà Attila gieo rắc cho đối phương và tầm quan trọng của trận Châlons trong việc chứng minh rằng Attila là một ông vua bất khả chiến bại (hiểu là: không có lý do gì để các sử gia La Mã nói quá và dựng chuyện lên rằng Aetius phải trải qua một trận đánh khốc liệt mới chặn được Attila, nếu thiên lệch mà muốn ca ngợi "phe mình" thì có thể đã viết rằng Aetius chiến thắng huy hoàng và dễ dàng rồi).
Theo tác giả Edward Creasy thì chiến thắng lẫy lừng của Aetius tại Châlons chính là khoảnh khắc huy hoàng cuối cùng của Đế quốc La Mã. Tuy nhiên, khác với những chiến tích khác của các Binh đoàn La Mã, thắng lợi này không mở ra một kỷ nguyên chinh phạt mới hay là ngăn ngừa quá trình suy yếu và sụp đổ của Đế quốc La Mã. Thực chất, nền văn minh La Mã đã hoàn thành sứ mệnh kế thừa tinh hoa văn hóa Hy Lạp cổ đại của mình. Song, chiến thắng ở Châlons lại định đoạt cho câu hỏi: Ai sẽ là người phân chia di sản đồ sộ của Đế quốc La Mã ? Xét về trận thắng, các chiến binh Visigoth của vua Theodoric I đã anh dũng chiến đấu và hy sinh trên chiến địa, cũng đóng góp lớn. Không những trận thắng cứu nguy được Đế quốc La Mã trong một thời gian, mà nó còn quyết định đến thời đại huy hoàng của người Giéc-man lấn át cả nền văn minh châu Âu. Gần đây, tác giả Spencer Tucker trong cuốn A global chronology of conflict: from the ancient world to the modern Middle East đánh giá rằng trận chiến ở Châlons là một trong những chiến thắng quyết định hơn cả trong suốt lịch sử nhân loại, vì nhờ đó mà có lẽ nền văn minh Tây Âu đã được cứu thoát khỏi người châu Á.
Ngoài ra, chiến thắng này còn tạo điều kiện cho Vương triều Merovingian của người Frank được kiến lập, dưới quyền vua Meroveus. Vị vua này đã chiến đấu sát cánh với Aetius trong trận chiến ở Châlons ấy. Theo bài viết của tác giả Ralph W. Mathisen của Medieval Italy: an encyclopedia, Tập 1, chiến thắng của liên quân La Mã - Giéc-man tại trận Châlons có ý nghĩa trọng đại như là một bước ngoặt trong suốt bề dày lịch sử nhân loại, trở thành một thắng lợi của thế giới văn minh trước các tộc người man rợ. Trong cuốn sách Profiles in leadership, tác giả Alan Axelrod cũng ghi nhận rằng Attila đã thua to trong trận đánh vô cùng trọng đại này: đây là trận quyết chiến vì sự tồn vong của nền văn minh La Mã và Ki-tô giáo, vậy mà cuối cùng Attila đã phải tháo chạy.
=== Quan điểm đối lập: trận Châlons không có ý nghĩa lịch sử quan trọng ===
Tuy nhiên, theo tác giả Charles Kingsley, trận thắng này cũng như chiến thắng của quân German tại trận Nedao sau này đều không có ý nghĩa cứu nguy cả châu Âu. Sau thất bại tại trận Châlons, Attila vẫn chưa bị tận diệt, và lại Đế quốc Tây La Mã vẫn không thể vững tồn được lâu. Tuy nhiên, ông cũng cho biết chiến thắng này thể hiện bản lĩnh thường thấy của vị anh hùng chiến thắng Aetius như một vị dũng tướng - một Marlborough của thời đại. Ngoài ra, J.B. Bury có ý kiến khác. Ông cho rằng tầm quan trọng của sự kiện này đã bị phóng đại lên. Quan điểm của ông là trận chiến này diễn ra khi Attila thực ra đã đang trên đường rút quân, và giá trị của nó chỉ nằm ở chỗ làm tổn thương thanh thế của một kẻ chinh phục bất khả chiến bại trước đó mà thôi. Ông cũng dẫn chứng rằng tới năm sau Attila vẫn đủ sức mạnh để dẫn quân trực tiếp vào Ý, và tới tận gần thành La Mã thì mới dừng lại quay về. Ngoài ra thì Bury cũng cho rằng nếu có thắng thì người Hung cũng không đủ sức thống trị lâu dài ở Tây Âu vì sức mạnh của họ chỉ xoay quanh một vị vua vĩ đại duy nhất. Một vài sử gia khác cũng có quan điểm tương tự.
== Kết quả và danh tiếng của trận chiến ==
Người La Mã nói sau trận chiến: "Cadavera vero innumera," ("Thật sự là vô số xác chết!"). Tục truyền rằng tổng thương vong của hai bên bao gồm từ 162 nghìn cho tới 30 vạn chiến binh, dù con số này hẳn là phóng đại. Song, ít nhất thì nó cũng nêu lên sự hết sức đẫm máu của trận đánh này, dẫu cho người ta cũng xem những con số nhỏ hơn là phóng đại.
Theo Gibbon, việc vua Attila rút quân qua bên kia sông Rhine đã chứng tỏ chiến thắng lớn lao cuối cùng của Đế chế Tây La Mã. Chiến thắng vang dội này cũng làm cho tiếng tăm của Đại tướng quân Flavius Aetius - một danh nhân xuất sắc trong giai đoạn cuối của Đế quốc La Mã - trở nên bất hủ.
Một năm sau, Attila lại đòi Honoria và các vùng của Tây La Mã. Lần này ông nghĩ rằng đánh thẳng vào Ý sẽ hợp lý hơn. Vượt dãy Alps, Attila chinh phục Aquileia, Vicetia, Verona, Brixia, Bergomum, và Milano. Khi đã đến gần thành La Mã thì ông quay về, nguyên do của việc này có thể là do sự kết hợp giữa dịch bệnh đang hoành hành trong nội bộ quân Hung, cuộc đàm phán sáng suốt của Giáo hoàng Lêô I và việc quân Đông La Mã tấn công vùng đất của ông ta từ phía sau. Mối nguy hiểm từ người Hung chỉ hoàn toàn kết thúc sau cái chết của Attila vào năm 453. Tuy nhiên, sau chiến bại của Châlons thì sức tàn phá khủng khiếp của Attila vào thế giới văn minh đã giảm hơn hẳn. Thực chất, trong thời điểm Attila qua đời, người Hung không thể đe dọa nghiêm trọng đến Đế quốc Tây La Mã được nữa. Về phần danh tướng Aetius, Hoàng đế La Mã Valentinianus III giết hại ông vào năm 454 để rồi một năm sau chính hoàng đế bị ám sát chết bởi những người ủng hộ viên tướng này. Hình như Aetius đã bị thất sủng do ông không truy sát quân Hung sau chiến thắng tại trận Châlons. Người Vandal nhân cơ hội đó để tiến vào cướp phá thành La Mã (năm 455).
Mặt khác, với chiến thắng lớn lao tại Chalons thì nhiều người Giéc-man đã ý thức được khả năng đánh bại người Hung của họ, dù trong trận Chalons quân Hung được quân các tộc Giéc-man khác hỗ trợ. Ấy thế là, chỉ một năm sau khi Attila qua đời, các tộc Giéc-man thần phục Attila đã dấy binh đè bẹp Đế quốc Hung trong trận Nedao. Thế cho nên chiến thắng ở trận Chalons mới tạo tiền đề cho sự sụp đổ của Đế quốc Hung là vậy. Một lý do khiến trận Châlons (và cả chiến dịch) để lại ấn tượng sâu đậm đối với những người đương thời là vì mức độ tàn bạo và sự tàn sát của nó. Hai sử gia sống trong thời đó đã miêu tả về sự thảm khốc của trận chiến như sau. Jordanes viết rằng dòng sông nơi trận chiến xảy ra ngập tràn máu đỏ hòa với nước sông. Damascius thì viết rằng chỉ có chỉ huy của hai bên cùng một vài binh sĩ là trở về an toàn, còn linh hồn của các tử sĩ vẫn tiếp tục hung hãn chiến đấu với nhau suốt nhiều ngày đêm sau đó, như thể họ đang còn sống. Bức tranh tuyệt đẹp "Trận chiến của người Hung" (Hunnenschlacht) của nhà họa sĩ Wilhelm von Kaulbach (người Đức) đã khắc họa rõ nét cảnh tượng này. Trong đó, cứ mỗi đêm, những chiến binh trận vong của hai phe trỗi dậy từ nấm mồ của họ. Ở nơi chiến địa hoang vu, họ giáp chiến với nhau trong mây mù, trong khi khắp vùng phải ớn lạnh trước những tiếng gào thét ghê rợn của họ. Đây là một trong những huyền thoại có sức hút lâu dài về trận chiến kinh hoàng này. Và trận chiến đã trở thành một trong những cuộc giao tranh khốc liệt nhất trong suốt bề dày lịch sử nhân loại.
Ngoài ra, trong võ nghiệp của Attila, trận thua lớn này cũng chính là chiến bại đầu tiên và duy nhất của ông. Một lý do nữa để trận chiến trở nên nổi tiếng là vì nó là trận chiến lớn đầu tiên kể từ thời Đại Đế Constantinus I diễn ra giữa một lực lượng theo Thiên chúa giáo và một thế lực ngoại đạo. Suy nghĩ này rõ ràng là có hiện hữu ở những người đương thời, khi những người này cho rằng việc cầu nguyện đã đóng góp không nhỏ đến kết cục trận chiến. Nhưng sử cũ cho thấy sau chiến thắng này, chính các dân rợ German mới trở thành mối hiểm họa chính yếu của Đế quốc Tây La Mã, dẫu họ không đến nỗi quái ác như rợ Hung. Sau này, khi quân Đồng minh Anh - Pháp bẻ gãy cuộc tiến công của quân Đức trong trận sông Marne lần thứ nhất vào năm 1914 trong cuộc Đại chiến thế giới lần thứ nhất, có viên tướng Pháp đã nêu ý định đặt tên thắng lợi quyết định ấy là trận đồng Catalaunian, để ghi dấu sự thất trận của một "tân Attila" (ở đây chỉ Quân đội Đức) với Đại tướng Joseph Joffre.
== Chú thích ==
== Tham khảo ==
J.F.C. Fuller, "The Battle of Chalons", A Military History of the Western World: From he Earliest Times To The Battle of Lepanto, Da Capo Press, New York, vol. 1. pp. 282–301 ISBN 0-306-80304-6.
Man, John, Attila: The Barbarian King Who Challenged Rome New York: Thomas Dunne Books, 2006.
Christopher Kleinhenz, Medieval Italy: an encyclopedia, Tập 1, Routledge, 2004. ISBN 0-415-93930-5. |
cúp bóng đá đông á.txt | Cúp bóng đá Đông Á (tiếng Anh: EAFF E-1 Football Championship) là giải đấu bóng đá quốc tế dành cho các liên đoàn thành viên của Liên đoàn bóng đá Đông Á (EAFF). Trước khi EAFF thành lập vào năm 2002, Cúp Hoàng triều (Dynasty Cup) được tổ chức cho bốn đội tuyển quốc gia hàng đầu Đông Á, và được xem là Giải vô địch Đông Á không chính thức. Hai giải đấu riêng biệt dành cho nam (từ năm 2003) và nữ (từ năm 2005) được tổ chức song song.
== Lịch sử ==
Cúp Hoàng Triều là giải đấu được xem là tiền thân của Giải vô địch bóng đá Đông Á, được tổ chức 4 lần từ 1990 tới 1998. Mục đích của giải là cải thiện chất lượng bóng đá Đông Á. Sau khi Liên đoàn bóng đá Đông Á ra đời năm 2002, Giải vô địch bóng đá Đông Á thế chỗ cho Cúp Hoàng Triều.
Trung Quốc, Hàn Quốc và Nhật Bản được đặc cách vào vòng chung kết, trong khi các đội tuyển khác phải tham gia vòng loại. Các đội tuyển khác bao gồm Trung Hoa Đài Bắc, Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Triều Tiên, Quần đảo Bắc Mariana, Guam, Hồng Kông, Mông Cổ, và Ma Cao. Úc được mời tham dự giải đấu năm 2013.
== Giải đấu ==
== Thành tích= ==
== Các danh hiệu ==
=== Cầu thủ xuất sắc nhất ===
=== Vua phá lưới ===
== Xem thêm ==
Cúp Hoàng Triều
Cúp bóng đá châu Á
Bóng đá tại Đại hội Thể thao Đông Á
== Tham khảo ==
== Liên kết ngoài ==
Cúp Đông Á 2017
Cúp Hoàng Triều trên RSSSF |
merseyside.txt | Merseyside là một hạt vùng đô thị ở vùng Tây Bắc Anh, với dân số 1.365.900. Lấy tên từ sông Mersey, Merseyside ra đời như một hạt vùng đô thị vào năm 1974, sau khi thông qua Đạo luật Chính quyền địa phương năm 1972, và hạt gồm có năm huyện vùng đô thị liền kề các cửa sông Mersey, bao gồm cả thành phố Liverpool. Hội đồng hạt Merseyside đã bị bãi bỏ vào năm 1986, và như vậy nó là khu vực (các huyện vùng đô thị) đang có hiệu quả quyền lực thấp nhất. Tuy nhiên, hạt vùng đô thị vẫn tiếp tục tồn tại trong luật pháp và như một mô hình tham khảo địa lý.
Merseyside được chia thành hai phần bởi cửa sông Mersey: Huyện vùng đô thị của Wirral nằm về phía tây của cửa sông bán đảo Wirral; phần còn lại của hạt nằm ở phía đông cửa sông. Các huyện phía đông của biên giới Lancashire vùng merseyside về phía bắc và Greater Manchester về phía đông, và cả hai phần của vùng Merseyside, phía tây và phía đông cửa sông, biên giới, Cheshire về phía nam. Các lãnh thổ có chứa các huyện của vùng Merseyside trước đây bao gồm các huyện của Birkenhead, Wallasey, Liverpool, Bootle, Southport và St Helens. Birkenhead và Wallasey là một phần của hạt Cheshire, trong khi Liverpool, Bootle, Crosby, Formby, Southport và St Helens là một phần của hạt Lancashire.
== Địa lý ==
Merseyside được chia thành hai phần bởi các cửa sông Mersey, Wirral nằm ở phía tây của cửa sông, ở phía trên của bán đảo Wirral và phần còn lại của hạt nằm ở phía đông cửa sông. Phần phía đông của đường biên giới vùng Merseyside lên trên Lancashire về phía bắc, Greater Manchester về phía đông, với cả hai phần của hạt giáp Cheshire về phía nam. Các lãnh thổ bao gồm các quận của vùng Merseyside trước đó tạo thành một phần của các quận hành chính của Lancashire (phía đông của sông Mersey) và Cheshire (phía tây của sông Mersey).
Hai bộ phận được liên kết bởi hai đường hầm đường bộ, một đường hầm đường sắt, và Mersey nổi tiếng Ferry.
== Chính quyền địa phương ==
=== Metropolitan boroughs ===
Merseyside bao gồm Liverpool, Knowsley, Sefton, St Helens và Wirral.
=== Chức năng cấp huyện ===
Mặc dù việc bãi bỏ một số dịch vụ hội đồng quận hạt địa phương vẫn còn chạy trên một cơ sở huyện rộng, hiện nay do liên doanh, Ban của năm quận đô thị này bao gồm:
Cảnh sát vùng Merseyside
Hỏa hoạn ở Merseyside & dịch vụ cứu hộ
Điều hành vận tải hành khách của Merseyside (người cũng chịu trách nhiệm về mạng lưới đường sắt Mersey)
Merseyside Waste Disposal Authority
Đề án trợ cấp của Merseyside, quản lý bởi Hội đồng Wirral Borough, có văn phòng tại Liverpool
Một số tổ chức vẫn được công nhận sử dụng tên tuổi của "Merseyside". Các dịch vụ của tòa án tại Tòa án Liverpool chẳng hạn, đăng ký merseysidemcc.org.uk miền ngày 25 tháng 3 năm 2000, hơn một thập kỷ sau khi Hội đồng Merseyside đã bị bãi bỏ.
== Kinh tế ==
Đây là một biểu đồ của xu hướng của tổng giá trị tăng thêm của khu vực vùng Merseyside với giá hiện hành cơ bản được xuất bản (trang 240-253) do Văn phòng Thống kê Quốc gia với con số trong hàng triệu Bảng Anh.
== Tham khảo ==
== Liên kết ngoài ==
Merseyside tại DMOZ
Mersey Wiki
Merseyside RTR (trang web của Brian Gills)
Trang web của Merseytravel
Trang web của Cơ quan Cảnh sát Merseyside
Trang web về hỏa hoạn ở Merseyside và công tác giải cứu
Hướng dẫn địa phương Merseyside.com từ A-Z
Merseyside Today - khu vực hướng dẫn
Lịch sử Merseyside
Doanh nghiệp trực tuyến ở Merseyside |
kiến trúc norman.txt | Kiến trúc Norman là một loại của kiến trúc Romanesque được phát triển bởi người Norman vào thế kỉ 11 và thế kỉ 12. Người Norman đã xây dựng một số lượng lớn những lâu đài, pháo đài bao gồm cả những công trình phòng thủ. Cùng thời điểm đó, những tu viện, nhà dòng, nhà thờ và thánh đường được dựng lên với những đặc điểm của kiến trúc Romanesque (như hình cung tròn thường áp dụng cho cổng, cửa sổ) với kích thước lớn hơn so với các kiểu khác.
== Nguồn gốc ==
== Normandie ==
Người Viking đổ bộ ở cửa sông Seine vào năm 911, trong lúc người Frank đang chiến đấu trên lưng ngựa và các lãnh chúa Frank đang xây dựng lâu đài cho chính mình. Vào thế kỷ tiếp theo, người dân trong lãnh thổ phải chấp nhận những phong tục của người Viking như theo đạo Kitô và ngôn ngữ oïl.
== Anh ==
== Scotland ==
== Tham khảo ==
=== Sách tham khảo === |
e.txt | E, e (phát âm là /e/ trong tiếng Việt; /i/ trong tiếng Anh) là chữ thứ năm trong phần nhiều chữ cái dựa trên Latinh và là chữ thứ tám trong chữ cái ớtiếng Việt, nó đến từ chữ epsilon của tiếng Hy Lạp. Chữ hê của tiếng Xê-mit có lẽ có nghĩa đầu tiên là "người cầu nguyện". Trong tiếng Xê-mit, chữ này đọc như /h/ (nhưng đọc là /e/ trong những từ có gốc từ tiếng khác); trong tiếng Hy Lạp, hê trở thành epsilon, đọc như /e/. Người Etruscan và người La Mã dùng lối phát âm này.
Trong bảng mã ASCII dùng ở máy tính, chữ E hoa có giá trị 69 và chữ e thường có giá trị 101.
Trong âm nhạc, E đồng nghĩa với nốt Mi.
E cũng là tên của một loại vitamin.
Trong hệ đo lường quốc tế, e được dùng cho tiền tố êxa – hay 1018.
Trong toán học:
Số e là hằng số Euler, một số siêu việt (vào khoảng 2,71828182846). Nó được sử dụng như là cơ số trong các phép tính lôgarít tự nhiên.
E trong cách ghi khoa học của một số biểu thị x10y. Ví dụ 7E8 = 7x108 = 700.000.000
Trong các hệ đếm cơ số từ 15 trở lên, E được sử dụng như ký hiệu của số 14. Xem thêm hệ thập lục phân.
Trong vật lý học:
E là ký hiệu cho năng lượng như trong E=mc2.
E cũng có thể là ký hiệu cho điện trường.
e
−
{\displaystyle e^{-}}
là ký hiệu cho electron.
Trong thống kê và xác suất, E là giá trị biểu kiến mong đợi.
€ là ký hiệu của đồng Euro, đơn vị tiền tệ của Liên Minh Âu Châu.
Theo mã số xe quốc tế, E được dùng cho Tây Ban Nha (España).
E được gọi là Echo trong bảng chữ cái âm học NATO.
Trong bảng chữ cái Hy Lạp, E tương đương với Ε và e tương đương với ε.
Trong bảng chữ cái Cyrill, E có 2 tương đương: E và Э cho chữ hoa, e và э cho chữ thường.
== Tham khảo == |
vùng tây bắc (việt nam).txt | Vùng Tây Bắc là vùng miền núi phía tây của miền Bắc Việt Nam, có chung đường biên giới với Lào và Trung Quốc. Vùng này có khi được gọi là Tây Bắc Bắc Bộ và là một trong 3 tiểu vùng địa lý tự nhiên của Bắc Bộ Việt Nam (2 tiểu vùng kia là Vùng Đông Bắc và Đồng bằng sông Hồng).
== Địa lý ==
=== Không gian địa lý ===
Không gian địa lý của vùng Tây Bắc hiện còn chưa được nhất trí. Một số ý kiến cho rằng đây là vùng phía nam (hữu ngạn) sông Hồng. Một số ý kiến lại cho rằng đây là vùng phía nam của dãy núi Hoàng Liên Sơn. Nhà địa lý học Lê Bá Thảo cho rằng vùng Tây Bắc được giới hạn ở phía đông bởi dãy núi Hoàng Liên Sơn và ở phía tây là dãy núi Sông Mã.
=== Đặc điểm địa hình ===
Địa hình Tây Bắc hiểm trở, có nhiều khối núi và dãy núi cao chạy theo hướng Tây Bắc-Đông Nam. Dãy Hoàng Liên Sơn dài tới 180 km, rộng 30 km, với một số đỉnh núi cao trên từ 2800 đến 3000 m. Dãy núi Sông Mã dài 500 km, có những đỉnh cao trên 1800 m. Giữa hai dãy núi này là vùng đồi núi thấp lưu vực sông Đà (còn gọi là địa máng sông Đà). Ngoài sông Đà là sông lớn, vùng Tây Bắc chỉ có sông nhỏ và suối gồm cả thượng lưu sông Mã. Trong địa máng sông Đà còn có một dãy cao nguyên đá vôi chạy suốt từ Phong Thổ đến Thanh Hóa, và có thể chia nhỏ thành các cao nguyên Tà Phình, Mộc Châu, Nà Sản. Cũng có các lòng chảo như Điện Biên, Nghĩa Lộ, Mường Thanh.
=== Lịch sử địa chất ===
Lịch sử hình thành vùng Tây Bắc bắt đầu từ cách đây 500 triệu năm và đến bây giờ vẫn tiếp tục. Thuở ban đầu, vùng này là biển và chỉ có một số đỉnh ở dãy Hoàng Liên Sơn và dãy Sông Mã là nổi lên trên mặt biển. Biển liên tục rút ra xa rồi lại lấn vào suốt hàng trăm triệu năm. Trong quá trình ấy, đã có những sự sụt lún mạnh, góp phần hình thành các tầng đá phiến và đá vôi. Vào cuối đại Cổ sinh (cách đây chừng 300 triệu năm), dãy Hoàng Liên Sơn và dãy Sông Mã đã được nâng hẳn lên. Địa máng sông Đà lúc đó vẫn chìm dưới biển. Cho đến cách đây 150 triệu năm, chu kỳ tạo núi Indochina làm cho hai bờ địa máng từ từ tiến lại gần nhau, khiến cho trầm tích trong địa máng uốn lên thành những nếp uốn khổng lồ, đồng thời làm cho tầng đá vôi có tuổi cổ hơn lại trồi lên trên tầng đá phiến, tạo thành những cao nguyên đá vôi ngày nay. Trong quá trình tạo núi, còn có sự xâm nhập của macma. Kết quả là, vùng Tây Bắc được nâng lên với một biên độ đến 1000 mét.
=== Nguy cơ động đất ===
Vì là địa máng, vùng vỏ rất động của trái đất, nên Tây Bắc là vùng có nguy cơ động đất cao nhất Việt Nam.
== Điều kiện khí hậu ==
Mặc dù nền khí hậu chung không có sự khác biệt lớn giữa các khu vực, nhưng sự biểu hiện của nó không giống nhau theo chiều nằm ngang và theo chiều thẳng đứng. Dãy núi cao Hoàng Liên Sơn chạy dài liền một khối theo hướng Tây Bắc - Đông Nam đóng vai trò của một bức trường thành ngăn không cho gió mùa đông (hướng đông bắc - tây nam) vượt qua để vào lãnh thổ Tây Bắc mà không bị suy yếu nhiều, trái với vùng Đông bắc có hệ thống các vòng cung mở rộng theo hình quạt làm cho các đợt sóng lạnh có thể theo đó mà xuống đến tận đồng bằng sông Hồng và xa hơn nữa về phía nam. Vì vậy, trừ khi do ảnh hưởng của độ cao, nền khí hậụ Tây Bắc nói chung ấm hơn Đông Bắc, chênh lệch có thể đến 2-3 OC. Ở miền núi, hướng phơi của sườn đóng một vai trò quan trọng trong chế độ nhiệt – ẩm, sườn đón gió (sườn đông) tiếp nhận những lượng mưa lớn trong khi sườn tây tạo điều kiện cho gió "phơn" (hay quen được gọi là "gió lào") được hình thành khi thổi xuống các thung lũng, rõ nhất là ở Tây Bắc. Nhìn chung, trong điều kiện của trung du và miền núi, việc nghiên cứu khí hậu là rất quan trọng vì sự biến dạng của khí hậu xảy ra trên từng khu vực nhỏ. Những biến cố khí hậu ở miền núi mang tính chất cực đoan, nhất là trong điều kiện lớp phủ rừng bị suy giảm, và lớp phủ thổ nhưỡng bị thoái hoá. Mưa lớn và tập trung gây ra lũ nhưng kết hợp với một số điều kiện thì xuất hiện lũ quét; hạn vào mùa khô thường xảy ra nhưng có khi hạn hán kéo dài ngoài sức chịu đựng của cây cối.
== Hành chính ==
Về mặt hành chính, vùng Tây Bắc gồm 6 tỉnh với diện tích trên 5,64 triệu ha với 3,5 triệu dân:
Hòa Bình
Sơn La (diện tích & dân số lớn nhất)
Điện Biên
Lai Châu
Lào Cai
Yên Bái
Mặc dù một số phần của Phú Thọ và 2 tỉnh Lào Cai, Yên Bái nằm ở hữu ngạn sông Hồng, do dòng sông chạy qua giữa địa phận các tỉnh này, song phạm vi hành chính của vùng Tây Bắc không bao gồm Phú Thọ, đôi khi 2 tỉnh Lào Cai, Yên Bái cũng được xếp vào Đông Bắc Bộ. Tuy nhiên, hiện nay trụ sở của Ban chỉ đạo Tây Bắc nằm ở thành phố Yên Bái, Yên Bái.
== Các sắc tộc và Văn hóa (Dân cư) ==
Về cơ bản, vùng Tây Bắc là không gian văn hóa của dân tộc Thái, nổi tiếng với điệu múa xòe tiêu biểu là điệu múa xòe hoa rất nổi tiếng được nhiều người biết đến. Mường là dân tộc có dân số lớn nhất vùng. Ngoài ra, còn khoảng 20 dân tộc khác như H'Mông, Dao, Tày, Kinh, Nùng,... Ai đã từng qua Tây Bắc không thể quên được hình ảnh những cô gái Thái với những bộ váy áo thật rực rỡ đặc trưng cho Tây Bắc. tây bắc là vùng có sự phân bố dân cư theo độ cao rất rõ rệt: vùng rẻo cao(đỉnh núi) là nơi cư trú của các dân tộc thuộc nhóm ngôn ngữ Mông - Dao, Tạng Miến,với phương thức lao động sản xuất chủ yếu là phát nương làm rẫy, phụ thuộc rất nhiều vào thiên nhiên; vùng rẻo giữa(sườn núi) là nơi cư trú của các dân tộc thuộc nhóm ngôn ngữ Môn - Khmer, phương thức lao động sản xuất chính là trồng lúa cạn, chăn nuôi gia súc và một số nghề thủ công; còn ở vùng thung lũng, chân núi là nơi sinh sống của các dân tộc thuộc nhóm ngôn ngữ Việt - Mường, Thái - Kadai,điều kiện tự nhiên thuận lợi hơn để phát triển nông nghiệp và các ngành nghề khác. sự khác biệt về điều kiện sinh sống và phương thức lao động sản xuất cũng gây ra sự khác biệt văn hóa rất lớn! mặc dù văn hóa chủ thể và đặc trưng là văn hóa dân tộc Mường.
== Lịch sử ==
Tại vùng Tây Bắc thời Pháp thuộc đã lập ra xứ Thái tự trị. Năm 1955, Khu tự trị Thái-Mèo được thành lập, gồm 3 tỉnh Lai Châu, Sơn La và Nghĩa Lộ, và đến năm 1962 gọi là Khu tự trị Tây Bắc. Khu tự trị này giải thể năm 1975.
== Quân sự ==
Vùng Tây Bắc có vị trí chiến lược trong an ninh-quốc phòng. Hiện nay, vùng Tây Bắc do Quân khu 2 bảo vệ.
Trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp, nơi đây đã diễn ra nhiều trận đánh và chiến dịch quân sự ác liệt mà đỉnh cao là chiến dịch Điện Biên Phủ. Ngoài ra còn có trận Nà Sản cũng trong thời kì Chiến tranh Đông Dương
== Xem thêm ==
Dãy núi Hoàng Liên Sơn
Sông Đà
Vùng Đông Bắc (Việt Nam)
Đồng bằng sông Hồng
Bắc Trung Bộ (Việt Nam)
Nam Trung Bộ (Việt Nam)
Tây Nguyên
Đông Nam Bộ (Việt Nam)
Đồng bằng sông Cửu Long
== Ảnh ==
Một số hình ảnh trên đường đi đến Yên Bái và Lào Cai
== Chú thích ==
== Liên kết ngoài ==
Tây Bắc - Tiềm năng và cơ hội cất cánh |
bắc trung bộ (việt nam).txt | Bắc Trung Bộ là phần phía bắc của Trung Bộ Việt Nam có địa bàn từ Nam Ninh Bình tới Bắc Đèo Hải Vân. Vùng Bắc Trung Bộ (BTB) là một trong 7 vùng kinh tế được Chính phủ giao lập quy hoạch tổng thể kinh tế xã hội. Vùng này gồm sáu tỉnh:
Thanh Hoá
Nghệ An
Hà Tĩnh
Quảng Bình
Quảng Trị
Thừa Thiên-Huế
Về quốc phòng thì các tỉnh này do Bộ tư lệnh Quân khu 3, Quân khu 4 và Quân khu 5 quản lý.
== Địa lý ==
Vùng Bắc Trung Bộ nằm kề bên vùng KTTĐ Bắc bộ và vùng KTTĐ miền Trung, trên trục giao thông Bắc Nam về đường sắt, bộ; nhiều đường ô tô hướng Đông Tây (7,8,9,29) nối Lào với Biển Đông. Có hệ thống sân bay (sân bay Thọ Xuân, sân bay Vinh, sân bay Đồng Hới, sân bay Phú Bài), bến cảng (Nghi Sơn, Cửa Lò, Cửa Hội, Vũng Áng, Sơn Dương, Cửa Gianh, Nhật Lệ, Hòn La, Cửa Việt, Thuận An, Chân Mây...) có các đầm phá thuận lợi cho việc nuôi trồng thủy hải sản, là trung tâm du lịch quan trọng của đất nước (động Phong Nha-Kẻ Bàng, Cố đô Huế.v.v.) tạo điều kiện cho viêc giao lưu kinh tế giữa Việt Nam và các nước Lào, Myanmar.v.v..
Lãnh thổ kéo dài, hành lang hẹp, Tây giáp dãy Trường Sơn và Lào, phía đông là biển Đông (Vịnh Bắc Bộ) cả trung du và miền núi, hải đảo dọc suốt lãnh thổ, có thể hình thành cơ cấu kinh tế đa dạng phong phú. Địa hình phân dị phức tạp, thời tiết khắc nghiệt, nhiều biến động, cần phải lợi dụng hợp lý. Nhiều vũng nước sâu và cửa sông có thể hình thành cảng lớn nhỏ phục vụ việc giao lưu trao đổi hàng hoá giữa các tỉnh trong vùng, với các vùng trong nước và quốc tế.
== Các tỉnh thành khu vực Bắc Trung Bộ ==
== Lịch sử - An ninh - Quốc phòng ==
Địa bàn Bắc Trung Bộ Việt Nam có vị trí chiến lược hết sức quan trọng trong việc chiến đấu, phòng thủ quốc gia, bảo vệ toàn vẹn lãnh thổ Việt Nam trong lịch sử. Từ xa xưa đây đã từng là chốn "biên thùy", là "phên dậu", là nơi xuất phát của nhiều cuộc khởi nghĩa và chiến tranh giữ nước của dân tộc Việt Nam.
Thời 1000 năm bắc thuộc, nơi đây đã hình thành nên các cuộc khởi nghĩa chống giặc ngoại xâm phong kiến Trung Hoa.
Năm 248, bà Triệu Thị Trinh quê ở vùng núi Quan Yên, nay là Yên Thôn, Định Tiến, Yên Định, Thanh Hóa đánh tan quân Đông Ngô do Lục Dận chỉ huy. Lục Dận đem 6.000 quân sang Giao Châu. Lục Dận huy động thêm lực lượng lớn vừa đánh, vừa mua chuộc, chia rẽ nghĩa quân. Cuộc khởi nghĩa bị đàn áp. Bà Triệu hi sinh trên núi Tùng (Phú Điền - Hậu Lộc - Thanh Hóa)
Lý Bí vốn là Giám quân ở Đức Châu (tức vùng Đức Thọ, Hà Tĩnh) đã liên kết với hào kiệt mấy châu mưu việc đánh đuổi thứ sử Tiêu Tư nhà Lương. Cuộc kháng chiến thành công và Lý Bí đã lập nên nhà Tiền Lý năm 542.
Năm Nhâm Tuất (722) tức năm Khai Nguyên thứ mười, đời Đường Huyền Tông ở Trung Hoa, Mai Thúc Loan đã dựng cờ khởi nghĩa ở Hoan Châu, đánh đuổi quân đô hộ nhà Đường. Ông đã cho xây dựng kinh đô Vạn An ở Nam Đàn, Nghệ An ngày nay.
Năm 931, Dương Đình Nghệ ra quân từ Ái châu, đánh đuổi thứ sử Lý Tiến của nước Nam Hán. Lý Tiến bỏ chạy, Dương Đình Nghệ giải phóng thành Đại La.
Năm 938, Ngô Quyền vốn là người cai quản Ái châu, đã tập hợp lực lượng hào kiệt trong nước tiến ra bắc, hạ thành Đại La, tiêu diệt Kiều Công Tiễn. Sau đó, ông chỉ huy trận Bạch Đằng, đánh bại quân Nam Hán, giết chết Hoằng Thao, mở đầu thời kỳ độc lập tự chủ của dân tộc Việt Nam.
Thời nhà Trần, khi quân Nguyên xâm lược nước Đại Việt, vua Trần Nhân Tông đã từng nói:
"Cối Kê cựu sự quân tu ký
Hoan Diễn do tồn thập vạn binh."
Khi nhà Hồ, nước Đại Ngu bị quân Minh xâm lược, thì địa bàn Thanh Hóa, Thuận Hóa, Nghệ An châu là nơi hình thành các cuộc chiến đấu, khôi phục chủ quyền quốc gia của các vua nhà Hậu Trần.
Khi Lê Lợi dựng cờ khởi nghĩa, đánh đuổi quân Minh, thì vùng Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh là địa bàn chiến lược, là hậu phương vững chắc giúp cho nhà Lê làm nên nghiệp lớn.
Khi Quang Trung lên ngôi Hoàng đế ở Phú Xuân, thì vùng Bắc Trung Bộ là nơi cung cấp nhân tài, nhân lực, vật lực để ông xây dựng và củng cố quân đội "thiện chiến, thần tốc" và làm nên Chiến thắng Kỷ Dậu (1789), quét sạch 20 vạn quân Thanh.
Cuối thế kỷ 19, thực dân Pháp xâm lược Việt Nam, triều đình nhà Nguyễn suy yếu phải nhượng bộ nhiều chính sách bất lợi cho dân tộc. Ở Bắc Trung Bộ là nơi phát tích nhiều cuộc nội dậy, khởi nghĩa chống Pháp, tiêu biểu là cuộc khởi nghĩa Hương Khê do Phan Đình Phùng lãnh đạo ở Hà Tĩnh và đặc biệt là khởi nghĩa Ba Đình ở Thanh Hóa - đỉnh cao của phong trào Cần Vương cuối thế kỷ 19.
Qua hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, khu vực Bắc Trung Bộ vừa là tiền tuyến, vừa là hậu phương vững chắc.
Hiện nay Quân khu 4 đảm nhiệm chức năng quản lý nhà nước về mặt quốc phòng trên địa bàn 6 tỉnh Bắc Trung Bộ, vừa tập trung xây dựng nền quốc phòng toàn dân, vừa thực hiện nhiệm vụ lãnh đạo, chỉ huy xây dựng các lực lượng vũ trang vững mạnh toàn diện, đáp ứng với yêu cầu chiến đấu và sẵn sàng chiến đấu trong mọi tình huống.
== Dân cư ==
Bắc Trung Bộ là nơi cư trú của 25 dân tộc khác nhau (Thái, Mường, Tày, Mông, Bru- Vân Kiều) sống ở Trường Sơn. Phân bố không đều từ đông sang tây. Người Kinh sinh sống chủ yếu ở đồng bằng ven biển phía đông.
== Kinh tế ==
=== Công nghiệp ===
Bắc Trung Bộ có nhiều khoáng sản quý, đặc biệt là đá vôi nên có điều kiện phát triển ngành khai thác khoáng và sản xuất vật liệu xây dưng. Đây là ngành quan trọng nhất của vùng
Ngoài ra vùng còn có các ngành khác như chế biến gỗ, cơ khí, dệt may, chế biến thực phẩm phân bố không đồng đều. Các trung tâm có nhiều ngành công nghiệp: Thanh Hóa, Vinh, Huế với quy mô vừa và nhỏ
Cơ sở hạ tầng, công nghệ,thiết bị, nhiên liệu cũng đang được cải thiện. Cung ứng được nhiên liệu, năng lượng. Hiện nay Thanh Hóa là tỉnh có Giá trị sản xuất công nghiệp lớn nhất vùng.
=== Nông nghiệp ===
Vùng đồi trước núi:
Có nhiều thuận lợi cho việc chăn nuôi gia súc: số lượng trâu có (750 nghìn con chiếm 1/4 cả nước). Đàn bò (1,1 triệu con chiếm 1/5 đàn bò cả nước)
Vùng này còn thuận lợi cho việc trồng các cây công nghiệp lâu năm, đã hình thành các khu chuyên canh cây công nghiệp như: mía (Thanh Hóa), chè (Nghệ An), cao su (Quảng Bình), hồ tiêu (Quảng Bình)....
Vùng đồng bằng hẹp ven biển:
Trừ đồng bằng Thanh Hóa có diện tích sản xuất và sản lượng lương thực lớn nhất miền Bắc, miền Trung và miền Đông Nam Bộ, thổ nhưỡng của các tỉnh còn lại chủ yếu là đất feralit và đất pha cát, không phù hợp trồng cây lúa mà thích hợp với các cây công nghiệp hàng năm: thuốc lá, lạc....
Đã hình thành được các vùng chuyên canh cây công nghiệp và thâm canh lúa.
Lương thực đầu người còn thấp: 348 kg/ người
=== Dịch vụ ===
Bắc Trung Bộ có rất nhiều cửa khẩu biên giới giữa Việt - Lào: Nậm Cắn, Cầu Treo, Cha Lo, Lao Bảo. Có bờ biển dài tạo điều kiện cho các tàu buôn hàng hóa nước ngoài xuất nhập khẩu và các tàu chở khách du lịch nước ngoài vào nước ta. Du lịch đang trên đà phát triển. Số lượng khách du lịch đang tăng lên mỗi ngày. Việc phát triển ngành dịch vụ đang được phát triển, đặc biệt là ngành giao thông vận tải và thông tin liên lạc.
== Văn hóa ==
Theo hệ thống phân vùng địa lý Việt Nam, Bắc Trung Bộ là khu vực chuyển tiếp giữa Bắc Bộ và Nam Trung Bộ. Lịch sử cho thấy cư dân nơi đây có nguồn gốc chủ yếu là người Thanh- Nghệ- Tĩnh thiên di vào Bình Trị Thiên từ thời Lý- Trần- Lê. Do đó, mối quan hệ của người Việt nơi đây liên quan, gắn bó với các sinh hoạt văn hoá dân gian nói chung.
Hò sông nước Bắc Trung Bộ là sản phẩm tinh thần, biểu hiện sự cố kết của cộng đồng người Việt. Những là điệu hò đặc trưng của vùng này là:
Hò sông Mã (Thanh Hoá)
Hò ví dặm Nghệ Tĩnh
Hò khoan Quảng Bình.
Hò mái nhì Quảng Trị.
Hò mái nhì Trị Thiên và hò Huế
Bắc Trung Bộ là một trong những trung tâm văn hóa quan trọng của Việt Nam, là nơi có 4 di sản văn hóa thế giới: Thành nhà Hồ - Thanh Hóa, Vườn quốc gia Phong Nha - Kẻ Bàng, Quần thể di tích cố đô Huế, Nhã nhạc cung đình Huế. Bắc Trung Bộ cũng là nơi sinh ra nhiều anh hùng dân tộc, danh nhân văn hóa, chính trị Việt Nam như: Triệu Thị Trinh, Mai Thúc Loan, Dương Đình Nghệ, Ngô Quyền, Lê Hoàn, Hồ Quý Ly, Lê Lợi, Lê Thánh Tông, Nguyễn Hoàng, Quang Trung, Nguyễn Du, Phan Bội Châu, Hồ Chí Minh,Trần Phú, Võ Nguyên Giáp, Lê Duẩn, Lê Khả Phiêu... các vua chúa của nhà Tiền Lê, nhà Hồ, nhà Hậu Lê, chúa Trịnh, chúa Nguyễn, nhà Nguyễn,...
== Danh lam thắng cảnh ==
Bắc Trung Bộ là nơi có nhiều bãi biển đẹp như: Bãi biển Sầm Sơn, Bãi biển Cửa Lò, Bãi biển Thiên Cầm, Bãi biển Nhật Lệ, Bãi biển Cửa Tùng, Bãi biển Thuận An, Lăng Cô.
Khu vực này có các vườn quốc gia: Vườn quốc gia Bến En, Vườn quốc gia Pù Mát, Vườn quốc gia Vũ Quang, Vườn quốc gia Phong Nha - Kẻ Bàng, Vườn quốc gia Bạch Mã.
== Giao thông vận tải ==
Đường bộ và đường sắt: Quốc lộ 1A, Quốc lộ 7A, Quốc lộ 8, Quốc lộ 9, Đường Hồ Chí Minh và Đường sắt Bắc - Nam
Đường hàng không: Sân bay Thọ Xuân, Sân bay Vinh, Sân bay Đồng Hới, Sân bay Phú Bài.
Cảng lớn: Cảng Nghi Sơn,Cảng Vũng Áng, cảng Cửa Lò, cảng Chân Mây.
== Xem thêm ==
Vùng Tây Bắc (Việt Nam)
Vùng Đông Bắc (Việt Nam)
Đồng bằng sông Hồng
Duyên Hải Nam Trung Bộ
Tây Nguyên
Đông Nam Bộ (Việt Nam)
Đồng bằng sông Cửu Long
== Tham khảo ==
== Liên kết ngoài ==
Hò sông nước Bắc Trung Bộ (Số 4(106)/2006) |
emily dickinson.txt | Emily Elizabeth Dickinson (10 tháng 12 năm 1830 – 15 tháng 5 năm 1886) là một nhà thơ Mỹ. Cùng với Walt Whitman, Emily Dickinson đã trở thành nhà thơ đặc sắc nhất của Mỹ trong thế kỉ 19.
== Tiểu sử ==
Emily Dickinson sinh ở Amherst, Massachusetts trong một gia đình có 3 người con. Emily có anh trai William và em gái Lavinia. Bố là luật sư và là Thượng nghị sĩ Quốc hội. Học xong trường College, Emily Dickinson sống một cuộc sống thu mình, hầu như không ra khỏi nhà. Việc làm thơ của bà cũng không một ai biết. Tuy là một nhà thơ nổi tiếng, nhưng chỉ khoảng vài trên dưới một chục bài thơ của bà được xuất bản khi bà còn sống. Những bài thơ đầu tiên của bà được in năm 1890 nhưng không mấy ai để ý. Tuyển tập thơ đầu tiên chỉ được in ra vào năm 1955.
Thế kỷ 20, Emily Dickinson được thừa nhận là một nhà thơ lớn của nước Mỹ. Bà là người đầu tiên trong thơ Mỹ sử dụng lối thơ hai câu liền vần (para-rhyme). Emily Dickinson để lại cho đời gần 1800 bài thơ. Những bài thơ nho nhỏ nhưng được đánh giá là đầy ắp những ý tưởng mới lạ và độc đáo. Thơ của Emily Dickison được dịch ra nhiều thứ tiếng trên thế giới, trong đó có tiếng Việt.
== Tác phẩm ==
Dickinson, Emily (2006). Emily Dickinson's Herbarium. Cambridge, Mass.: Belknap Press of Harvard University Press.
Farr, Judith; Louise Carter (2004). The Gardens of Emily Dickinson. Cambridge, Mass.; London: Harvard University Press.
== Một vài bài thơ ==
== Tham khảo ==
== Liên kết ngoài ==
Dickinson Electronic Archives
Các tác phẩm của Emily Dickinson tại Dự án Gutenberg
Poems by Emily Dickinson at PoetryFoundation.org
(tiếng Anh) Emily Dickinson - Intégrale
(tiếng Anh) Dickinson Electronic Archives
(tiếng Anh) Emily Dickinson International Society
(tiếng Anh) Sélection de poèmes - Audiobook MP3 |
christopher marlowe.txt | Christopher Marlowe (26 tháng 2 năm 1564 – 30 tháng 5 năm 1593) – nhà thơ, dịch giả, nhà viết kịch Anh, một trong những nhà viết kịch lớn nhất thời đại Elizabeth và là người tiền nhiệm xuất sắc nhất của William Shakespeare. Marlowe là một tài năng xuất chúng không chỉ ở lĩnh vực thơ và kịch mà còn là người tham gia vào nhóm các nhà triết học hoài nghi về sự bất tử của linh hồn con người.
== Tiểu sử ==
Marlowe sinh ngày 26 tháng 2 năm 1564 ở Canterbury. Bố là thợ đóng giày. Học phổ thông ở Canterbury rồi học Corpus Christi College, Cambridge và nhận bằng cử nhân văn chương năm 1584, bằng thạc sĩ năm 1587.
Sau khi nhận bằng thạc sĩ, Marlowe đến London tham gia vào nhóm các nhà viết kịch chuyên nghiệp đầu tiên của nước Anh cùng với John Lyly, Robert Greene, Thomas Lodge... Marlowe mang đến London bản thảo phần đầu của bi kịch Tamburlaine được sáng tác từ những ngày còn ở Cambridge. Cuộc đời sóng gió của Marlowe được thể hiện trong nhiều tác phẩm của ông. Bản tính nóng nảy và thẳng thắn khiên cho ông có không ít kẻ thù. Ngày 30 tháng 5 năm 1593 Marlowe bị giết chết trong một quán rượu ở thị trấn Deptford, gần London trong cái độ tuổi đang dồi dào sức sáng tạo.
Vở kịch nổi tiếng nhất của Marlowe là Tamburlaine về cuộc đời của bạo chúa Timur. Đây là bi kịch xuất sắc đầu tiên của Anh được viết bằng một thể thơ không vần được mô phỏng và trích dẫn trong suốt nhiều thập kỷ sau đó. Tamburlaine mở đầu một thời kỳ mới của nền kịch nghệ Anh.
Cái chết nhiều bí ẩn của Marlowe cũng như nhiều giai thoại về những sáng tác của William Shakespeare khiến nhiều nhà nghiên cứu cho rằng nếu quả thực đã từng có một Shakespeare thì ông đã vay mượn cũng như hoàn thành nhiều vở kịch mà Marlowe còn viết dở. Họ chứng minh rằng đa số sáng tác của William Shakespeare chỉ ra đời sau khi Marlowe đã chết. Tuy nhiên, chưa có ai đưa ra được bằng chứng gì cụ thể.
== Tác phẩm ==
Kịch:
Dido, Queen of Carthage, 1583
Tamburlaine, 1587
Doctor Faustus, 1588-1589
The Jew of Malta, 1589
Edward II, 1592
The Massacre at Paris, 1593
Thơ:
Translation of Lucan’s Pharsalia (kh. 1582)
Translation of Ovid’s Amores (kh. 1582)
The Passionate Shepherd to His Love (1590-е)
Hero and Leander (kh. 1593, George Chapman hoàn thành 1598)
== Một số bài thơ ==
== Tham khảo ==
== Liên kết ngoài ==
The Marlowe Society
The International Marlowe-Shakespeare Society "Our Belief is that Christopher Marlowe - in his day England's greatest playwright - did not die in 1593 but survived to write most of what is now assumed to be the work of William Shakespeare."
The Marlowe-Shakespeare Connection a Marlovian blog/website, started in tháng 5 năm 2008, with regular contributions from the world's leading Marlovians. |
2001.txt | 2001 (số La Mã: MMI) là một năm thường bắt đầu vào thứ hai trong lịch Gregory. Năm 2000 là năm đầu của thế kỷ thứ 21 và thiên niên kỷ thứ 3 trong lịch Công Nguyên. Tuy nhiên, nếu hiểu lịch Gregory theo đúng kiểu thì năm 2001 mới đáng chú ý, bởi vì thế kỷ 1 bắt đầu từ năm 1, và không có năm 0. Cho nên thế kỷ 1 (100 năm đầu tiên kể từ công lịch) kéo từ ngày 1 tháng 1 năm 1 đến ngày 31 tháng 12 năm 100. Thế kỷ 2 bắt đầu từ ngày 1 tháng 1 năm 101, v.v.
Năm 2001 cùng lúc với những năm 5761–5762 trong lịch Do Thái, 5102–5103 (Vikrama và Vrisha) trong lịch Ấn Độ giáo, 1421–1422 trong lịch Hồi giáo, 1379–1380 trong lịch Ba Tư, 4698 (Tân Tỵ) trong lịch Trung Quốc, 2544 trong âm lịch Thái, và 2754 a.u.c.
Nó được chỉ định là:
Trăm năm liên bang của Úc
Năm Người tình nguyện quốc tế
Năm Đối thoại giữa Văn minh Liên Hiệp Quốc
== Sự kiện ==
=== Tháng 1 ===
1 tháng 1: Moritz Leuenberger trở thành Tổng thống Thụy Sĩ
6 tháng 1: Bầu cử quốc hội Thái Lan
6 tháng 1: Ariel Scharon được bầu thành làm Thủ tướng Israel
7 tháng 1: John Agyekum Kufuor trở thành Tổng thống Ghana
13 tháng 1: Động đất tại El Salvador. 852 người chết
15 tháng 1: Ngày thành lập Wikipedia
20 tháng 1: Gloria Macapagal Arroyo trở thành Tổng thống Philippin
26 tháng 1: Động đất tại Gujarat, Ấn Độ, khoảng 20.000 người chết
=== Tháng 2 ===
2 tháng 2: José Maria Neves trở thành Thủ tướng Cabo Verde
7 tháng 2: Ariel Scharon trở thành Thủ tướng Israel
13 tháng 2: Động đất tại El Salvador, 315 người chết
25 tháng 2: Pedro Pires trở thành Tổng thống Cabo Verde
=== Tháng 3 ===
25 tháng 3: Na Uy là thành viên của Hiệp ước Schengen
=== Tháng 4 ===
29 tháng 4: Bầu cử quốc hội Sénégal
=== Tháng 5 ===
8 tháng 5: Serbia và Montenegro trở thành thành viên Ngân hàng Thế giới
=== Tháng 6 ===
7 tháng 6: Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland: Tony Blair tái đắc cử thủ tướng
17 tháng 6: Bầu cử quốc hội Bulgaria
20 tháng 6: Pervez Musharraf trở thành nhà lãnh đạo quốc gia Pakistan
24 tháng 6: Ilir Meta trở thành lãnh đạo chính phủ Albania
=== Tháng 7 ===
28 tháng 7: Alejandro Toledo Manrique trở thành Tổng thống Peru
=== Tháng 9 ===
10 tháng 9: Bầu cử quốc hội Na Uy
11 tháng 9: Sự kiện 11 tháng 9
21 tháng 9: Arnold Rüütel trở thành Tổng thống Estonia
21 tháng 9: Toulouse, Pháp: Nổ tại thành phố, 31 người chết
23 tháng 9: Bầu cử quốc hội Ba Lan
=== Tháng 10 ===
19 tháng 10: Kjell Magne Bondevik trở thành Thủ tướng Na Uy
19 tháng 10: Leszek Miller trở thành lãnh đạo chính phủ Ba Lan
25 tháng 10: Microsoft phát hành Windows XP
=== Tháng 11 ===
3 tháng 11: Bầu cử tại Singapore.
5 tháng 11: Bầu cử quốc hội Azerbaijan
=== Tháng 12 ===
16 tháng 12: Bầu cử quốc hội Chile.
16 tháng 12: Bầu cử tổng thống Madagascar.
31 tháng 12: Một loạt phiên bản Microsoft Windows từ Windows 1.0 đến Windows 95 bị khai tử
== Sinh ==
18 tháng 3: Quang Anh ca sĩ Việt Nam
15 tháng 4: Anastasia Margriet Joséphine van Lippe-Biesterfeld van Vollenhoven, con gái của hoàng tử Maurits của Oranje-Nassau và Marilène van den Broek
18 tháng 5: hoàng tử Alfons Constantin Maria, con trai của hoàng tử Maximilian của Liechtenstein và Angela Gisela Brown
26 tháng 10: Elisabeth Thérèse Marie Hélène, con gái của Vua Philippe của Bỉ và Mathilde d'Udekem d'Acoz
1 tháng 12: Công chúa Aiko, con gái của Thái tử Naruhito của Nhật Bản và Owada Masako
== Mất ==
=== Tháng 1 ===
1 tháng 1: Ray Walston, diễn viên Mỹ (s. 1914)
2 tháng 1: William P. Rogers, Bộ trưởng Ngoại giao Mỹ (s. 1913)
12 tháng 1: Luiz Bonfá, nhạc công ghita, nhà soạn nhạc Brasil (s. 1922)
12 tháng 1: William Hewlett, nhà tư bản công nghiệp Mỹ, người thành lập tập đoàn Hewlett-Packard (s. 1913)
12 tháng 1: Adhemar Ferreira da Silva, vận động viên điền kinh Brasil (s. 1927)
12 tháng 1: Witold Szalonek, nhà soạn nhạc Ba Lan (s. 1927)
14 tháng 1: Karl Bednarik, họa sĩ, nhà văn Áo (s. 1915)
16 tháng 1: Laurent-Désiré Kabila, Tổng thống Cộng hòa Dân chủ Congo (s. 1939)
21 tháng 1: Ludwig Engelhardt, nhà điêu khắc Đức (s. 1924)
24 tháng 1: Eduard Schütz, nhà thần học Đức (s. 1928)
26 tháng 1: Ingeborg Bingener, nữ chính khách và tác gia Đức (s. 1922)
28 tháng 1: Hartmut Reck, diễn viên Đức (s. 1932)
28 tháng 1: Max Weiler, họa sĩ Áo (s. 1910)
31 tháng 1: Heinz Starke, chính khách Đức (s. 1911)
=== Tháng 2 ===
4 tháng 2: J. J. Johnson, nhạc sĩ jazz Mỹ (s. 1924)
8 tháng 2: Giuseppe Casoria, Hồng y Giáo hội Công giáo La Mã (s. 1908)
8 tháng 2: Tisa voncủa Schulenburg, nữ nghệ nhân Đức (s. 1903)
11 tháng 2: Maurice Zermatten, nhà văn Thụy Sĩ (s. 1910)
12 tháng 2: Kristina Söderbaum, nữ diễn viên Thụy Điển (s. 1912)
13 tháng 2: Manuela, nữ ca sĩ Đức (s. 1943)
17 tháng 2: Richard Wurmbrand, nhà thần học Romania (s. 1909)
18 tháng 2: Balthus, họa sĩ (s. 1908)
19 tháng 2: Charles Trenet, nam ca sĩ, nhà soạn nhạc, thi sĩ và họa sĩ Pháp (s. 1913)
19 tháng 2: Stanley Kramer, nhà sản xuất, đạo diễn điện ảnh Mỹ (s. 1913)
20 tháng 2: Karl Hasel, nhà lâm học Đức (s. 1909)
21 tháng 2: José Alí Lebrún Moratinos, Hồng y Giáo hội Công giáo La Mã (s. 1919)
22 tháng 2: Evelyn Holt, nữ diễn viên Đức (s. 1908)
24 tháng 2: Claude Elwood Shannon, nhà toán học Mỹ (s. 1916)
25 tháng 2: Paul Huber, nhà soạn nhạc Thụy Sĩ (s. 1918)
26 tháng 2: Jale Inan, nhà nữ khảo cổ học Thổ Nhĩ Kỳ (s. 1917)
26 tháng 2: Arturo Uslar Pietri, nhà văn, nhà ngoại giao và chính khách (s. 1906)
28 tháng 2: Dale Earnhardt, Mỹ NASCAR-Fahrer (s. 1951)
=== Tháng 3 ===
4 tháng 3: Gerardo Barbero, kỳ thủ Argentina (s. 1961)
12 tháng 3: Robert Ludlum, nhà văn, diễn viên và nhà sản xuất người Mỹ (s. 1927)
13 tháng 3: Alen Pivac, cầu thủ bóng đá người Thụy Sĩ (s. 1976)
31 tháng 3: Clifford Shull, nhà vật lý học Mỹ (s. 1915)
31 tháng 3: Gillian Dobb, nữ diễn viên Mỹ (s. 1929)
=== Tháng 4 ===
1 tháng 4: nhạc sĩ Trịnh Công Sơn (s. 1939).
3 tháng 4: Martin Christoffel, kỳ thủ Thụy Sĩ (s. 1922)
7 tháng 4: Beatrice Straight, nữ diễn viên Mỹ (s. 1914)
15 tháng 4: Joey Ramone, nam ca sĩ Mỹ (s. 1951)
16 tháng 4: Klaus Kindler, diễn viên Đức (s. 1930)
20 tháng 4: Giuseppe Sinopoli, nhà soạn nhạc, nhạc trưởng, nhà y học và nhà khảo cổ học người Ý (s. 1946)
23 tháng 4: Albert Oeckl, giáo sư Đức (s. 1909)
25 tháng 4: Michele Alboreto, tay đua ô tô người Ý (s. 1956)
28 tháng 4: Evelyn Künneke, nữ ca sĩ, vũ công, diễn viên Đức (s. 1921)
28 tháng 4: Marie Jahoda, nhà nữ xã hội học Áo (s. 1907)
29 tháng 4: Andy Phillip, cầu thủ bóng rổ Mỹ (s. 1922)
30 tháng 4: Andreas Kupfer, cầu thủ bóng đá Đức (s. 1914)
=== Tháng 5 ===
2 tháng 5: Heinz te Laake, nghệ nhân Đức (s. 1925)
2 tháng 5: Wolfgang Greese, diễn viên Đức (s. 1926)
4 tháng 5: Rudi Strahl, nhà thơ trữ tình, nhà soạn kịch người Đức (s. 1931)
9 tháng 5: Heinz Bethge, nhà vật lý học Đức (s. 1919)
9 tháng 5: Y Ngông Niê Kdăm, chính khách, Nhà giáo Nhân dân người dân tộc Êđê Việt Nam (s. 1922).
9 tháng 5: Johannes Poethen, nhà văn Đức (s. 1928)
9 tháng 5: Nikos Sampson, Tổng thống Cộng hòa Kypros (s. 1935)
10 tháng 5: Werner Schuster, chính khách Đức (s. 1930)
11 tháng 5: Douglas Adams, nhà văn Anh (s. 1952)
11 tháng 5: Klaus Schlesinger, nhà báo, nhà văn Đức (s. 1937)
12 tháng 5: Perry Como, nam ca sĩ Mỹ (s. 1912)
13 tháng 5: Jason Miller, nhà soạn kịch, diễn viên người Mỹ (s. 1939)
26 tháng 5: Alberto Korda, nhiếp ảnh gia Cuba (s. 1928)
28 tháng 5: Tony Ashton, nhạc sĩ nhạc rock Anh (s. 1944)
28 tháng 5: Francis Bebey, nhà văn, nhạc sĩ Pháp (s. 1929)
28 tháng 5: Francisco Varela, triết gia, nhà sinh vật học Chile (s. 1946)
=== Tháng 6 ===
1 tháng 6: Birendra, vua của Nepal (s. 1945)
03 tháng 6: Ngọc Lan, nữ ca sĩ người Việt (s. 1956)
3 tháng 6: Anthony Quinn, diễn viên Mỹ (s. 1915)
4 tháng 6: Felicitas Kukuck, nhà soạn nhạc Đức (s. 1914)
4 tháng 6: John Hartford, nhà soạn nhạc Mỹ (s. 1937)
6 tháng 6: Douglas Lilburn, nhà soạn nhạc New Zealand (s. 1915)
11 tháng 6: Pierre Étienne Louis Eyt, Hồng y Tổng Giám mục Bordeaux (s. 1934)
13 tháng 6: Siegfried Naumann, nhà soạn nhạc Thụy Điển (s. 1919)
17 tháng 6: Thomas Joseph Winning, Hồng y Tổng Giám mục Glasgow (s. 1925)
21 tháng 6: John Lee Hooker, nhạc sĩ nhạc blues Mỹ (s. 1917)
25 tháng 6: Kurt Hoffmann, đạo diễn phim Đức (s. 1910)
27 tháng 6: Jack Lemmon, diễn viên Mỹ (s. 1925)
28 tháng 6: Emil Bücherl, nhà khoa học Đức (s. 1919)
28 tháng 6: Arno Reinfrank, nhà văn, nhà xuất bản và dịch giả Đức (s. 1934)
28 tháng 6: Joan Sims, nữ diễn viên Anh (s. 1930)
29 tháng 6: Silvio Angelo Pio Oddi, Hồng y Giáo hội Công giáo La Mã (s. 1910)
30 tháng 6: Chet Atkins, nhạc sĩ nhạc country Mỹ (s. 1924)
30 tháng 6: Joe Henderson, nhạc sĩ jazz Mỹ (s. 1937)
=== Tháng 7 ===
3 tháng 7: Johnny Russell, nhà soạn nhạc, nhạc sĩ nhạc country Mỹ (s. 1940)
3 tháng 7: Mordecai Richler, nhà văn Canada (s. 1931)
5 tháng 7: Ernie K-Doe, nam ca sĩ Mỹ (s. 1936)
5 tháng 7: Hélène de Beauvoir, nữ họa sĩ Pháp (s. 1910)
8 tháng 7: Ernst Baier, vận động viên trượt băng nghệ thuật Đức (s. 1905)
8 tháng 7: Christl Haas, nữ vận động viên chạy ski Áo (s. 1943)
8 tháng 7: Ernst Baier, vận động viên trượt băng nghệ thuật Đức (s. 1905)
16 tháng 7: Morris, họa sĩ vẽ tranh cho truyện comic Bỉ, tác giả (Lucky Luke) (s. 1923)
21 tháng 7: Sivaji Ganesan, diễn viên Ấn Độ (s. 1927)
21 tháng 7: Einar Schleef, nhà văn, đạo diễn Đức (s. 1944)
21 tháng 7: Steve Barton, nam ca sĩ Mỹ (s. 1954)
25 tháng 7: Josef Klaus, chính khách Áo (s. 1910)
26 tháng 7: Giuseppe Maria Sensi, Hồng y Giáo hội Công giáo La Mã (s. 1907)
29 tháng 7: Wau Holland, nhà báo Đức, hacker (s. 1951)
31 tháng 7: Francisco da Costa Gomes, Thống chế, Tổng thống Bồ Đào Nha (s. 1914)
=== Tháng 8 ===
5 tháng 8: Hans Holt, diễn viên Áo (s. 1909)
6 tháng 8: Jorge Amado, tác gia Brasil (s. 1912)
6 tháng 8: Dương Văn Minh, tổng thống cuối cùng của Việt Nam Cộng hòa (s. năm 1916)
9 tháng 8: Otti Pfeiffer, nữ văn sĩ, thi sĩ trữ tình Đức (s. 1931)
10 tháng 8: Otto Schulmeister, nhà xuất bản Áo, tổng biên tập báo (s. 1916)
10 tháng 8: Werner Pirchner, nhà soạn nhạc Áo (s. 1940)
18 tháng 8: Roland Cardon, nhà soạn nhạc Bỉ, giáo sư (s. 1929)
19 tháng 8: Donald Woods, nhà báo, luật gia Nam Phi (s. 1933)
20 tháng 8: Fred Hoyle, nhà thiên văn học, nhà toán học, tác gia Anh (s. 1915)
22 tháng 8: Otto Borst, nhà sử học Đức (s. 1924)
23 tháng 8: Kathleen Freeman, nữ diễn viên Mỹ (s. 1919)
24 tháng 8: Bernard Heuvelmans, nhà động vật học (s. 1916)
24 tháng 8: Donald A. Prater, nhà văn, nhà ngoại giaoAnh (s. 1918)
25 tháng 8: Ken Tyrrell, tay đua xe người Anh (s. 1924)
=== Tháng 9 ===
2 tháng 9: Lothar Dombrowski, nhà báo Đức (s. 1930)
2 tháng 9: Christiaan Barnard, nhà y học Nam Phi (s. 1922)
7 tháng 9: Franz Muhri, chính khách Áo (s. 1924)
10 tháng 9: Alexei Suetin, kỳ thủ Nga (s. 1926)
12 tháng 9: Rudolf Pörtner, nhà văn, nhà sử học Đức (s. 1912)
13 tháng 9: Jaroslav Drobný, vận động viên khúc côn cầu trên băng (s. 1921)
13 tháng 9: Dorothy McGuire, nữ diễn viên Mỹ (s. 1916)
13 tháng 9: Charles Régnier, diễn viên Đức (s. 1914)
15 tháng 9: Herbert Burdenski, cầu thủ bóng đá Đức, huấn luyện viên bóng đá (s. 1922)
16 tháng 9: Samuel Z. Arkoff, nhà sản xuất, đạo diễn phim người Mỹ (s. 1918)
20 tháng 9: Marcos Pérez Jiménez, Tổng thống Venezuela (s. 1914)
20 tháng 9: Karl-Eduard von Schnitzler, nhà báo Đức (s. 1918)
23 tháng 9: Bruno Wiefel, chính khách, nghị sĩ quốc hội liên bang Đức (s. 1924)
23 tháng 9: Henryk Tomaszewski, diễn viên kịch câm Ba Lan (s. 1919)
25 tháng 9: Herbert Klein, vận động viên bơi lội Đức (s. 1923)
27 tháng 9: Philip Rosenthal, chính khách, doanh nhân Đức (s. 1916)
29 tháng 9: Georg Schuchter, diễn viên Áo (s. 1952)
29 tháng 9: Nguyễn Văn Thiệu, cựu tổng thống Việt Nam Cộng hòa (s. năm 1923)
30 tháng 9: Gerhard Ebeling, nhà thần học Thụy Sĩ (s. 1912)
30 tháng 9: Jenny Jugo, nữ diễn viên Áo (s. 1905)
=== Tháng 10 ===
9 tháng 10: Herbert Ross, biên đạo múa, đạo diễn phim người Mỹ (s. 1927)
14 tháng 10: David Lewis, triết gia Mỹ (s. 1941)
18 tháng 10: Micheline Ostermeyer, nữ vận động viên điền kinh, nghệ sĩ dương cầm người Pháp (s. 1922)
21 tháng 10: Anna Maria Jokl, nữ văn sĩ (s. 1911)
23 tháng 10: Ken Aston, trọng tài bóng đá Anh (s. 1915)
23 tháng 10: Ismat T. Kittani, nhà ngoại giao Iraq (s. 1929)
28 tháng 10: Dietmar Kamper, triết gia, nhà văn Đức (s. 1936)
31 tháng 10: Régine Cavagnoud, nữ vận động viên chạy ski Pháp (s. 1970)
=== Tháng 11 ===
1 tháng 11: Juan Bosch, chính khách, lãnh đạo nhà nước, nhà văn (s. 1909)
4 tháng 11: Dirk Schneider, chính khách Đức (s. 1939)
6 tháng 11: Anthony Shaffer, tác gia kịch bản Anh (s. 1926)
12 tháng 11: Tony Miles, kiện tướng cờ vua Anh (s. 1955)
14 tháng 11: Oliver Hasenfratz, diễn viên Đức (s. 1966)
14 tháng 11: Lonzo Westphal, nhạc sĩ Đức (s. 1952)
15 tháng 11: Đoàn Chuẩn, nhạc sĩ Việt Nam (s. 1924)
23 tháng 11: Gerhard Stoltenberg, chính khách Đức, bộ trưởng liên bang (s. 1928)
24 tháng 11: Melanie Thornton, nữ ca sĩ nhạc pop Mỹ (s. 1967)
26 tháng 11: Grete von Zieritz, nhà soạn nhạc, nghệ sĩ dương cầm Áo (s. 1899)
26 tháng 11: Werner-Viktor Toeffling, họa sĩ Đức (s. 1912)
26 tháng 11: Regine Hildebrandt, nhà nữ sinh vật học, chính khách người Đức (s. 1941)
28 tháng 11: Hermann Barche, chính khách Đức (s. 1913)
29 tháng 11: George Harrison, nhạc sĩ Anh (The Beatles) (s. 1943)
=== Tháng 12 ===
6 tháng 12: Alois Brügger, bác sĩ Thụy Sĩ (s. 1920)
6 tháng 12: Carla Hansen, nữ văn sĩ Đan Mạch (s. 1906)
8 tháng 12: Rolf Heyne, nhà xuất bản Đức (s. 1928)
13 tháng 12: Chuck Schuldiner, nhạc công ghita, ca sĩ người Mỹ (s. 1967)
14 tháng 12: W. G. Sebald, nhà văn Đức (s. 1944)
15 tháng 12: Rufus Thomas, nhạc sĩ blues Mỹ (s. 1917)
16 tháng 12: Stefan Heym, nhà văn Đức (s. 1913)
16 tháng 12: Christian Loidl, nhà văn Đức (s. 1957)
20 tháng 12: Léopold Sédar Senghor, thi sĩ, chính khách (s. 1906)
22 tháng 12: Angèle Durand, nữ ca sĩ, diễn viên Bỉ (s. 1925)
22 tháng 12: Grzegorz Ciechowski, nhạc sĩ nhạc rock Ba Lan (s. 1957)
30 tháng 12: Hans Hermsdorf, chính khách Đức (s. 1914)
31 tháng 12: Eileen Heckart, nữ diễn viên Mỹ (s. 1919)
== Giải Nobel ==
Vật lý: Eric A. Cornell, Wolfgang Ketterle, Carl E. Wieman
Hóa học: William S. Knowles, Ryoji Noyori, K. Barry Sharpless
Y học: Leland H. Hartwell, R. Timothy Hunt, Paul M. Nurse
Văn học: V S. Naipaul
Hòa bình: Liên Hiệp Quốc, Tổng thư ký Kofi Annan
Kinh tế học: George A. Akerlof, Michael Spence, Joseph E. Stiglitz
== Xem thêm ==
== Chú thích ==
== Tham khảo ==
Dữ liệu liên quan tới 2001 tại Wikispecies |
m.txt | M, m là chữ thứ 13 trong phần nhiều chữ cái dựa trên Latinh và là chữ thứ 15 trong chữ cái tiếng Việt.
Chữ M là âm mũi dùng hai môi nhập lại và có nguồn gốc từ chữ mu của tiếng Hy Lạp. Chữ mem của tiếng Xê-mít cũng có thể là nguồn gốc của M.
Trong bảng mã ASCII dùng ở máy tính, chữ M hoa có giá trị 77 và chữ m thường có giá trị 109.
Trong hệ đo lường quốc tế:
M được dùng cho tiền tố mêga – hay 106.
m được dùng cho tiền tố mili – hay 1/1000.
m cũng là ký hiệu của mét.
Trong hóa sinh học, M là biểu tượng cho methionine.
Trong mô hình màu CMYK, M đại diện cho màu hồng sẫm.
Trong tin học, M được dùng cho tiền tố mêga và có giá trị là 220.
Trong biểu diễn số dưới dạng số La mã, M có giá trị là 1000.
M được dùng để đại diện cho các hệ thống Métro (xe điện hay xe lửa ngầm) của các thành phố như Paris, Montréal...
Theo mã số xe quốc tế, M được dùng cho Malta.
M được gọi là Mike trong bảng chữ cái âm học NATO.
Trong bảng chữ cái Hy Lạp, M tương đương với Μ và m tương đương với μ.
Trong bảng chữ cái Cyrill, M tương đương với М và m tương đương với м.
== Tham khảo == |
nữ thiếu sinh hướng đạo.txt | Nữ Thiếu sinh Hướng đạo (Girl Guide hoặc Girl Scout) là một bé gái thường từ 10 đến 17 tuổi tham gia vào phong trào Hướng đạo thế giới (Hướng đạo Việt Nam giới hạn tuổi cho Thiếu sinh cả nam và nữ là từ 11 đến 15 tuổi). Phong trào này bắt đầu vào năm 1907 khi Trung tướng Robert Baden-Powell tổ chức trại Hướng đạo đầu tiên trên Đảo Brownsea ở miền nam Anh Quốc. Để mở rộng ý tưởng của mình, Baden-Powell viết sách Hướng đạo cho nam nhắm mục tiêu đọc giả là các bé trai, và sách có diễn tả về Phương pháp Hướng đạo sử dụng các hoạt động ngoài trời để phát triển đức tính, tính công dân, và phẩm chất cơ thể cá nhân trong giới trẻ. Phong trào Nữ Hướng đạo bắt đầu vào năm 1909 tại Cung điện Thủy tinh ở London, Anh nơi mà Baden-Powell đối diện một số Nữ Hướng đạo sinh trong đồng phục Hướng đạo và nhận thấy nhu cầu cho một chương trình tương ứng dành cho các bé gái và thanh nữ. Đoàn Nữ Hướng đạo đầu tiên là Nữ Hướng đạo Đệ nhất Pinkneys Green mà hiện nay vẫn còn hoạt động tại Pinkneys Green, một thị trấn của Maidenhead thuộc hạt Berkshire ở Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland.
Nữ Thiếu sinh Hướng đạo được tổ chức thành đoàn (troop), trung bình từ 20-30 nữ dưới sự dẫn dắt của một đội gồm các huynh trưởng. Các đơn vị được chia thành các đội gồm khoảng sáu Nữ Thiếu sinh và tham gia vào các hoạt động thích thú đặc biệt cũng như hoạt động ngoài trời. Các đơn vị có thể liên hiệp với các tổ chức quốc tế hay quốc gia. Một số đơn vị, đặc biệt là ở châu Âu, từ lâu đã trở thành đồng giáo dục từ thập niên 1970, cho phép nam và nữ làm việc sinh hoạt Hướng đạo trong cùng một đơn vị. Có một số ngành khác dành cho các thanh thiếu nữ lớn hay nhỏ tuổi hơn.
Ở Hoa Kỳ và một nước Đông Á, thuật từ Girl Scout được dùng để chỉ Nữ Thiếu sinh hoặc đơn giản là Nữ Hướng đạo sinh. Tuy nhiên thuật từ Girl Guide được dùng tại Anh và các nước như Canada, Nam Phi, Ireland.
== Thành lập ==
Phụ nữ đã tham gia vào Hướng đạo từ những ngày đầu tiên của phong trào. Charlotte Mason trước tiên nhận thấy tính khả dĩ giáo dục của Hướng đạo đối với trẻ em. Tháng tư năm 1905, bà đặt sách "Trợ giúp trinh sát" của Baden-Powell trong đề mục của Trường Liên hiệp Phụ huynh (Parents' Union School). Baden-Powell sau này có ghi nhận Katherine Loveday, một cô giáo tư gia được Mason đào tạo như một người gây cảm hứng cho ông viết sách Hướng đạo cho Nam.
Chính các bé gái đã chọn tham gia vào Hướng đạo từ khi sách "Hướng đạo cho Nam" được xuất bản năm 1908. Tại Anh, nữ đã tự thành lập các hàng đội của mình, đôi khi liên kết với các đoàn nam Hướng đạo địa phương, đôi khi hiện hữu một mình. Tại New Zealand, Nữ Hướng đạo Hòa bình bắt đầu năm 1908.
Tháng 9 năm 1909, một số bé gái xuất hiện tại buổi diễu hành Hướng đạo đầu tiên tại Cung điện Thủy tinh, tự gọi họ là Nữ Hướng đạo. Đây là một bước ngoặt đối với các bé gái trong Hướng đạo: Baden-Powell chấp nhận rằng các bé gái sẽ được tham gia vào Hướng đạo. Trong một số phát hành tháng 10 của "Công báo Tổng hành dinh Nam Hướng đạo" (Boy Scout Headquarters Gazette), một nguyệt san dành cho Huynh trưởng Hướng đạo, có một hướng dẫn xuất hiện trên công báo nói rằng tất cả các đơn xin gia nhập Nữ Hướng đạo nên gởi trực tiếp về tổng hành dinh. Một tháng sau đó, cũng trong công báo này, "Kế hoạch cho Nữ Hướng đạo" được xuất bản. Baden-Powell biết rằng các bé gái cần một tổ chức riêng nếu muốn nó được thành công. Nữ Hướng đạo được đặt tên tiếng Anh là "Girl Guides" theo tên của những đoàn trinh sát nổi tiếng ở Ấn Độ là corps of guides. Nhiều bé gái ở Anh là "Girl Scouts" (tên Nữ Hướng đạo bằng tiếng Anh khác) trở nên ngờ vực về những phát triển mới này nhưng cũng bị thuyết phục chấp nhận điều đó.
Năm 1910, Baden-Powell thành lập Nữ Hướng đạo (Girl Guides) như một phong trào song hành dành cho nữ được em gái của ông là Agnes Baden-Powell dẫn dắt. Bà đã phải vượt qua nhiều thành kiến chống Nữ Hướng đạo vào thời đó. Nhiều người nghĩ rằng Nữ Hướng đạo sẽ biến các bé gái thành các cô bé tinh nghịch như con trai.
Trong lúc Agnes đóng vai trò chính cho đến khi mất vào năm 1945, vợ của Baden-Powell là Olave Baden-Powell trở thành Nữ Hướng đạo trưởng của Anh năm 1918, và Nữ Hướng đạo trưởng thế giới vào năm 1930. Những người có ảnh hưởng khác còn có Juliette Low ở Hoa Kỳ, Olga Malkowska ở Ba Lan và Antoinette Butte ở Pháp. Baden-Powell viết một sách chỉ nam riêng dành cho tổ chức mới này, sách có tên là "Làm thế nào để nữ giúp xây dựng Đế quốc" (How Girls Can Help to Build Up the Empire) năm 1912.
Năm 1914, một ngành nhỏ tuổi hơn, ban đầu gọi là Nụ hồng (Rosebuds) chẳng bao lâu được đổi tên thành "Chim non" (Brownies) song hành với Ấu sinh (Cub Scouts) bắt đầu. Nữ có thể gia nhập nhỏ nhất là 5 tuổi tại một số quốc gia. Ở tuổi này, các bé gái được gọi là "Sparks" ở Canada, "Daisies" (hay tiếng Việt là "Nhi sinh") ở Hoa Kỳ, và nhiều tên gọi khác nữa tại 150 quốc gia có phong trào Nữ Hướng đạo và Hướng đạo.
Ngày nay, Hội Nữ Hướng đạo Thế giới là tổ chức dành cho bé gái và phụ nữ lớn nhất thế giới với số thành viên ước tính là 10 triệu người.
== Các hoạt động ==
Nữ Thiếu sinh Hướng đạo học nền tảng của phương pháp Hướng đạo. Những điều trong đó được dùng để thấm nhuần đức tính, tính công dân, phát triển thể chất, và tài lãnh đạo của giới nữ qua một chương trình có cấu trúc gồm nhiều hoạt động. Đa số các hoạt động này được thực hiện ở cấp bậc đơn vị. Các Nữ Thiếu sinh có thể lấy từng phần trong nhiều dạng chương trình từ thử thách ngoài trời như leo núi và đi thuyền đến các năng khiếu như sơ cứu. Mục tiêu của Nữ Hướng đạo là cho các bé gái những cơ hội mới như du lịch thế giới, cắm trại, các kế hoạch phục vụ cộng đồng, và thử các hoạt động mới mẻ. Những hoạt động này được tạo ra để dạy cho các bé gái góp phần cho xã hội, phát triển tâm linh, khuyến khích làm việc đồng đội, có được tự hào với thành tựu, và lấy được lòng tự trọng và tài lãnh đạo.
== Đồng phục ==
Các đồng phục và huy hiệu của từng hội Hướng đạo quốc gia có thể được tìm thấy trong bài nói về Hướng đạo của quốc gia đó.
Đồng phục là một đặc tính cá biệt của Hướng đạo. Trong Trại Họp bạn Hướng đạo Thế giới năm 1938, Robert Baden-Powell nói rằng đồng phục "che giấu đi những khác biệt về giai cấp xã hội trong một quốc gia và tạo ra sự bình đẳng; nhưng quan trọng hơn nữa là nó che đi những dị biệt về quốc gia, chủng tộc và tín ngưỡng, và tạo cho mọi người có cảm giác mình là thành viên của nhau trong tình anh em vĩ đại".
Đồng phục nữ thay đổi rộng khắp trong các nền văn hoá, khí hậu và các hoạt động xuyên suốt lịch sử. Chúng thường trang trí với các chuyên hiệu chỉ rõ trách nhiệm và những thành tựu mà nữ Hướng đạo sinh đạt được. Đồng phục trong cùng một tổ chức cũng thường khác nhau trong mỗi nhóm tuổi. Nữ Ấu sinh thường mặc đồng phục có màu nâu. Có những nơi, đồng phục được sản xuất và phân phát qua các công ty được tổ chức Hướng đạo chấp nhận hoăc là các tổ chức Nữ Hướng đạo địa phương. Có nơi thì chính thành viên tự tạo đồng phục cho mình.
== Xem thêm ==
Danh sách thành viên của Hội Nữ Hướng đạo Thế giới
Tôn giáo trong Hướng đạo
Tổ chức Phong trào Hướng đạo Thế giới
== Tham khảo == |
chỉ số nghèo.txt | Chỉ số nghèo (tiếng Anh:Human Poverty Index-HPI) một chỉ số của mức sống trong một quốc gia, được Liên hợp quốc phát triển để bổ sung cho Chỉ số phát triển con người (HDI-Human Development Index) và lần đầu tiên được báo cáo như là một phần của Báo cáo phát triển con người năm 1997. Nó được coi là phản ánh rõ nét về mức độ thiếu thốn ở các nước phát triển hơn là chỉ số HDI. Từ năm 2010, chỉ số này được Liên hợp quốc thay thế bằng Chỉ số nghèo khổ đa chiều (MPI- Multidimensional Poverty Index).
HPI là chỉ số đo lường mức độ nghèo khổ của con người trên ba phương diện cơ bản: tuổi thọ, hiểu biết và mức sống. Chỉ số này ở một quốc gia càng cao thì chứng tỏ tình trạng đói nghèo của quốc gia đó càng nghiêm trọng. Liên hợp Quốc sử dụng HPI-1 cho các nước đang phát triển, HPI-2 cho các nước OECD. Ở các nước đang phát triển, UNDP đưa ra công thức đo lường chỉ số này như sau:
== Đối với các nước đang phát triển (HPI-1) ==
HPI-1 =
[
1
3
(
P
1
α
+
P
2
α
+
P
3
α
)
]
1
α
{\displaystyle \left[{\frac {1}{3}}\left(P_{1}^{\alpha }+P_{2}^{\alpha }+P_{3}^{\alpha }\right)\right]^{\frac {1}{\alpha }}}
Trong đó:
P
1
{\displaystyle P_{1}}
: tỷ lệ người không sống đến 40 tuổi.
P
2
{\displaystyle P_{2}}
: tỷ lệ người trưởng thành mù chữ.
P
3
{\displaystyle P_{3}}
: tỷ lệ phần trăm dân số không được tiếp cận với nguồn nước sạch và tỷ lệ trẻ em suy dinh dưỡng.
α
{\displaystyle \alpha }
: 3
Giá trị HPI càng cao thì mức độ nghèo đói càng lớn; ngược lại HPI càng nhỏ thì mức độ nghèo đói càng thấp, nếu HPI về đến giá trị 0 thì về cơ bản quốc gia đó không còn tình trạng nghèo đói. Đấy là lập luận về mặt lý thuyết, còn trên thực tế chỉ có thể không còn người nghèo tuyệt đối, song không bao giờ hết nghèo tương đối do khoảng cách thu nhập và mức sống của các nhóm dân cư của từng quốc gia vẫn tồn tại.
Một điểm cần lưu ý là khi nghiên cứu chỉ tiêu HPI, có thể cảm giác nó không liên quan nhiều lắm tới nhu cầu chi tiêu hay thu nhập của gia đình, nhưng trên thực tế các chỉ tiêu thành phần của HPI có liên quan chặt chẽ đến nhu cầu chi tiêu và thu nhập của con người. Nếu thu nhập thấp, nhu cầu chi tiêu không đảm bảo sẽ làm cho sự thiếu hụt trong việc tiếp cận đến các dịch vụ xã hội như y tế, giáo dục… tăng lên. Chính mối quan hệ đó nói lên bản chất và tính đa dạng của nghèo đói.
== Đối với những nước có nguồn thu nhập cao được chọn từ Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (HPI-2) ==
HPI-2 =
[
1
4
(
P
1
α
+
P
2
α
+
P
3
α
+
P
4
α
)
]
1
α
{\displaystyle \left[{\frac {1}{4}}\left(P_{1}^{\alpha }+P_{2}^{\alpha }+P_{3}^{\alpha }+P_{4}^{\alpha }\right)\right]^{\frac {1}{\alpha }}}
P
1
{\displaystyle P_{1}}
: Tỷ lệ trẻ sinh ra không sống đến 60 tuổi (%)
P
2
{\displaystyle P_{2}}
: Tỷ lệ người trưởng thành thiếu kỹ năng đọc viết chức năng
P
3
{\displaystyle P_{3}}
: Dân số có mức thu nhập dưới 50% của mức trung bình
P
4
{\displaystyle P_{4}}
: Tỷ lệ thất nghiệp dài hạn (kéo dài trên 12 tháng)
α
{\displaystyle \alpha }
: 3
Báo cáo năm 2007-2008, dưới đây là danh sách 19 trong 22 quốc gia có Chỉ số phát triển con người cao nhất (với các quốc gia có số chỉ số nghèo đói thấp nhất ở trên cùng):
Ba quốc gia còn lại trong top 22 là Iceland, New Zealand và Liechtenstein.
== Chú thích ==
== Liên kết ngoài ==
http://hdr.undp.org/en/statistics/understanding/indices/hpi/
http://hdr.undp.org/en/media/HDR_20072008_EN_Indicator_tables.pdf
http://hdr.undp.org/en/media/HDR_20072008_Tech_Note_1.pdf
http://hdr.undp.org/en/media/hdr_20072008_en_complete.pdf
A map of world poverty that includes human poverty index Development Economics
List of Global Development Indexes and Rankings |
giải bóng đá vô địch quốc gia pháp.txt | Giải bóng đá vô địch quốc gia Pháp (tiếng Pháp: 'Ligue 1') là hạng thi đấu cao nhất của bóng đá Pháp. Giải được tổ chức từ 1932 cho đến nay ngoại trừ các năm từ 1939 đến 1945 (vì Thế chiến thứ hai). Trong thời gian đó, giải được tổ chức riêng rẽ ở các vùng khác nhau.
Theo xếp hạng của Liên đoàn bóng đá châu Âu, 3 đội đứng đầu giải vô địch bóng đá Pháp sẽ giành quyền chơi tại UEFA Champions League mùa bóng sau (2 đội đầu được vào thẳng vòng đấu bảng, đội thứ 3 phải dự vòng sơ loại thứ nhất). Đội xếp thứ 4 và thứ 5 cùng đội đoạt Cúp bóng đá Pháp sẽ được tham gia Cúp UEFA.
Tính đến năm 2008, AS Saint-Étienne là câu lạc bộ đoạt nhiều danh hiệu vô địch nhất với 10 lần. Còn Olympique Lyonnais là câu lạc bộ giữ kỷ lục 7 lần vô địch liên tiếp (2002-2008), 2 câu lạc bộ khác với 4 lần liên tiếp là AS Saint-Étienne (1967-1970) và Olympique de Marseille (1989-1992). Đáng lẽ Olympique de Marseille cũng đã 10 lần vô địch và vô địch 5 năm liên tiếp nếu không bị tước danh hiệu năm 1993 vì dàn xếp tỷ số.
== Các đội vô địch trong lịch sử == |
1956.txt | 1956 (số La Mã: MCMLVI) là một năm nhuận bắt đầu vào Chủ Nhật trong lịch Gregory. Bản mẫu:Tháng trong năm 1956
== Sự kiện ==
=== Tháng 1 ===
1 tháng 1: Thành lập nước cộng hòa dân chủ Sudan.
=== Tháng 2 ===
14 tháng 2: Đảng cộng sản Liên Xô họp đại biểu toàn quốc
=== Tháng 3 ===
20 tháng 3: Tunisia thành lập quốc
=== Tháng 7 ===
26 tháng 7: Ai Cập đòi lại chủ quyền kênh đào Suez
=== Tháng 8 ===
1 tháng 8: Trung Quốc và Syria thiết lập quan hệ ngoại giao
=== Tháng 10 ===
23 tháng 10: xảy ra sự kiện tháng 10 tại Hungary.
26 tháng 10: Việt Nam cộng hòa ban hành hiến pháp
=== Tháng 11 ===
4 tháng 11: Liên Xô xâm nhập lãnh thổ Hungary.
=== Tháng 12 ===
18 tháng 12: Nhật Bản gia nhập Liên Hợp Quốc.
== Sinh ==
Trần Đại Quang là một chính khách và là tướng lĩnh Công an Nhân dân Việt Nam. Chức vụ hiện tại của ông (tháng 1 năm 2011) là Ủy viên Bộ Chính trị Đảng Cộng sản Việt Nam khóa XI, Thứ trưởng Bộ Công an.
13 tháng 3: Dana Delany, nữ diễn viên người Mỹ
5 tháng 6 - Kenny G, nghệ sĩ Saxophone Mỹ.
== Mất ==
== Giải Nobel ==
Vật lý - William Bradford Shockley, John Bardeen, Walter Houser Brattain
Hóa học - Sir Cyril Norman Hinshelwood, Nikolay Nikolaevich Semenov
Y học - André Frédéric Cournand, Werner Forssmann, Dickinson W. Richards
Văn học - Juan Ramón Jiménez
Hòa bình - Not Awarded
== Xem thêm ==
== Tham khảo == |
samsung electronics.txt | Samsung Electronics Co., Ltd. (Tiếng Hàn: 삼성전자; Hanja: 三星電子) là công ty điện tử đa quốc gia Hàn Quốc trụ sở đặt tại Suwon, Hàn Quốc. Nó là công ty con hàng đầu của Samsung Group và trở thành công ty công nghệ lớn nhất thế giới tính theo doanh thu từ năm 2009. Samsung Electronics có nhiều nhà máy lắp ráp và mạng lưới bán hàng trên 88 quốc gia và số nhân viên lên đến 370.000 người. Đến 2012 CEO là Kwon Oh-Hyun.
Samsung từ lâu đã là nhà sản xuất lớn về điện tử như pin lithium-ion, bán dẫn, chip, bộ nhớ và đĩa cứng cho đối tác như Apple, Sony, HTC và Nokia.
Trong những năm gần đây, công ty đã đa dạng hóa hàng điện tử tiêu dùng. Nó là nhà sản xuất thiết bị di động và điện thoại thông minh lớn nhất thế giới, thúc đẩy sự phổ biến của nó là dòng thiết bị Samsung Galaxy. Công ty cũng cung cấp máy tính bảng, đặc biệt là bộ sưu tập Samsung Galaxy Tab chạy hệ điều hành Android, và dòng máy tính bảng tiên phong trên thị trường là dòng thiết bị Samsung Galaxy Note.
Samsung được xem là nhà sản xuất tấm nền LCD lớn nhất thế giới từ năm 2002, nhà sản xuất truyền hình lớn nhất thế giới từ năm 2006, và nhà sản xuất điện thoại di động lớn nhất thế giới từ năm 2011. Samsung Electronics là một phần quan trọng trong nền kinh tế Hàn Quốc.
== Lịch sử ==
=== 1969 đến 1987 - Những năm đầu ===
Samsung Electric Industries được thành lập như Samsung Group công nghiệp và 1969 ở Suwon, Hàn Quốc. Các sản phẩm thời kì đầu là điện tử thiết bị điện gia dụng bao gồm truyền hình, máy tính, tủ lạnh, máy lạnh và máy giặt. Năm 1970, Samsung Group thành lập các công ty con khác, Samsung-NEC, gia nhập với NEC Corporation của Nhật Bản để sản xuất thiết bị gia dụng và thiết bị nghe nhìn. Năm 1974, tập đoàn mở rộng sang kinh doanh bán dẫn mua lại từ Korea Semiconductor, một trong những công ty sản xuất chip đầu tiên trong cả nước vào thời điểm đó. Việc mua lại Korea Telecommunications, một nhà sản xuất hệ thống chuyển mạch điện tử, đã hoàn thành vào đầu những năm 1980.
Năm 1981, Samsung Electric Industries sản xuất hơn 10 triệu truyền hình trắng đen. Vào tháng 2 năm 1983, người thành lập Samsung, Lee Byung-chull, thông báo đặt tên lên "Tokyo declaration", và ý định của ông là Samsung sẽ trở thành một nhà cung cấp DRAM (bộ truy cập ngẫu nhiên động). Một năm sau, Samsung trở thành công ty thứ ba trên thế giới phát triển 64kb DRAM. Năm 1988, Samsung Electric Industries sát nhập với Samsung Semiconductor & Communications tạo thành Samsung Electronics.
=== 1988 đến 1995 - Cuộc đấu tranh người tiêu dùng ===
Samsung Electronics phát hành điện thoại di động đầu tiên vào năm 1988, ở thị trường Hàn Quốc. Doanh thu bán ra thấp và đầu những năm 1990 Motorola tổ chức thị phần lên đến 60% vào thị trường di động tại quốc gia này so với 10% của Samsung. Bộ phân điện thoại di động của Samsung cũng phải đấu trang với chất lượng và sản phẩm kém mãi đến giữa những năm thập kỉ 90 và thoát khỏi lĩnh vực này là một vấn đề thảo luận thường xuyên trong công ty.
Samsung Electronics mua 40% cổ phần trong AST Research, một hãng sản xuất máy tính cá nhân Mỹ, chỉ $378 triệu vào tháng 2 năm 1995.
=== 1995 đến 2008 - Sản xuất linh kiện ===
Đó là quyết định bởi Lee Kun-Hee, Samsung cần phải thay đổi chiến lược. Công ty hoãn việc sản xuất của một số dòng sản phẩm không chạy và thay vì theo đuổi một quá trình thiết kế, sản xuất các linh kiện và đầu tư cho các công ty khác. Ngoài ra, Samsung đưa ra kế hoạch 10 năm để loại bỏ hình ảnh "thương hiệu ngân sách" và thách thức với Sony một công ty sản xuất điện tử tiêu dùng lớn nhất thế giới. Hy vọng rằng bằng cách này Samsung sẽ biết được rằng bàng cách nào làm và đưa công nghệ dẫn đầu tương lai. Chiến lược theo chiều dọc này gặt hái nhiều thành công cho Samsung và cuối năm 2000.
Samsung chuyển sang thị trường tiêu dùng, công ty nghĩ ra một kế hoạch tài trợ một sự kiện thể thao lớn để ra mắt công chúng. Một trong những tài trợ là Thế vận hội Mùa đông 1998 tổ chức tại Nagano, Nhật Bản.
Như mô hình tài phiệt, Samsung Group vận dụng tài sản cho phép các công ty đầu tư và phát triển công nghệ mới hơn là xây dựng sản phẩm ở một mức độ nó sẽ không gây bất lợi về tài chính của Samsung.
Samsung đã có một số đột phá công nghệ đặc biệt trong lĩnh vực bộ nhớ mà được phổ biến trong hầu hết các sản phẩm điện tử ngày nay. Nó bao gồm 64Mb DRAM đầu tiên trên thế giới vào năm 1992, 256 Mb DRAM năm 1994, 1Gb DRAM năm 1996. Năm 2004, Samsung phát triển chip bộ nhớ NAND 8Gb đầu tiên trên thế giới và một thỏa thuận sản xuất với Apple vào năm 2005. Một thỏa thuận với Apple về chip nhớ được niêm phong từ năm 2005, tính đến tháng 10 năm 2013, Samsung vẫn còn là nhà cung cấp chính cho Apple, sản xuất vi xử lý A7 nằm bên trong sản phẩm iPhone 5s.
=== 2008 đến nay: Sản phẩm tiêu dùng ===
Trong bốn năm liền, từ năm 2000 đến năm 2003, Samsung đăng tải thị phần lợi nhuận ròng tăng hơn 5%; vào thời điểm này khi 16 trong 30 công ty hàng đầu Hàn Quốc đã ngừng hoạt động trong bối cảnh khủng hoảng kinh tế chưa từng có.
Năm 2005, Samsung Electronics vượt mặt đối thủ Nhật Bản, Sony, lần đầu tiên trở thành thương hiệu của người tiêu dùng lớn thứ 20 trên toàn cầu, được tính bằng Interbrand.
Năm 2007, Samsung Electronics trở thành nhà sản xuất di động lớn thứ hai trên thế giới, vượt qua Motorola lần đầu tiên. Năm 2009, Samsung đạt tổng doanh thu US$ 117.4 tỉ, vượt qua Hewlett-Packard trở thành công ty công nghệ lớn nhất thế giới theo doanh thu bán hàng.
Năm 2009 và 2010, Mỹ và EU đã phạt công ty, cùng với 8 nhà sản xuất chip bộ nhớ khác, về một phần trong kế hoạch ấn định giá đã xảy ra vào giữa năm 1999 và 2002. Các công ty bị phạt khác bao gồm Infineon Technologies, Elpida Memory và Micron Technology. Vào tháng 12 năm 2010, EU miễn cung cấp cho Samsung Electronics về thông tin trong khi điều tra (LG Display, AU Optronics, Chimei InnoLux, Chunghwa Picture Tubes và HannStar Display có liên quan như trí tuệ của công ty này).
Mặc dù tốc độ tăng trưởng phù hợp, Samsung, cùng với chủ tịch Lee Kun-hee, đã xây dựng uy tín cho an ninh liên quan đến ổn định tài chính và nguy cơ cho các cuộc khủng hoảng tương lai. Sau khi quay trở lại từ kỳ nghĩ hưu tạm thời vào tháng 3 năm 2010, Kun-hee nói rằng "Tương lai của Samsung Electronics không được đảm bảo bởi vì những sản phẩm hàng đầu của chúng tôi sẽ bị lỗi thời trong 10 năm tới."
Samsung đã nhấn mạnh chiến lược đổi mới trong quản lý từ đầu năm 2000 và một lần nữa đó đánh dấu sự đổi mới như một phần trong chiến lược chính khi nó được công bố tầm nhìn đến năm 2020 trong đó công ty thiết lập mục tiêu là $400 triệu doanh thu hằng năm trong vòng 10 năm. Để củng cố vai trò lãnh đạo của mình trong lĩnh vực sản xuất chip bộ nhớ và truyền hình, công tư đã đẩy mạnh và đầu tư vào nghiên cứu. Công ty có 24 trung tâm nghiên cứu và phát triển trên toàn thế giới.
Vào tháng 4 năm 2011, Samsung Electronics bán công ty thương mại HDD của mình cho Seagate Technology giá xấp xỉ US$1.4 tỉ. Khoản thanh toán được bao gồm 45.2 triệu Seagate chia sẻ (9.6% cho chia sẻ), trị giá US$687.5 triệu, và khoản tiền còn lại.
Vào Q1 năm 2012, công ty trở thành công ty di động bán chạy nhất khi nó vượt qua Nokia, bán ra 93.5 triệu đơn vị so với 82.7 triệu đơn vị của Nokia. Samsung còn trở thành nhà cung cấp điện thoại thông minh lớn nhất là doanh số bán hàng mạnh mẽ của thiết bị Galaxy SII và Galaxy Note.
Vào tháng 5 năm 2013, Samsung công bố rằng công ty cuối cùng đã thử nghiệm thành công công nghệ mạng thế hệ thứ năm (5G).
Vào tháng 4 năm 2013, Samsung Electronics mới đưa vào Galaxy S series một loạt điện thoại thông minh, Galaxy S4 có sẵn để bán. Phát hành nâng cấp của Galaxy S III, S4 được bán tại một số thị trường quốc tế với chip xử lý Exynos của công ty.
Vào tháng 7 năm 2013, Samsung Electronics dự báo lợi nhuận sẽ thấp hơn mong đợi vào tháng 4 đến tháng 6 của quý. Trong khi các nhà phân tích dự đoán khoảng 10.1 nghìn tỉ won, Samsung Electronics ước tính lợi nhuận hoạt động ₩ 9.5 nghìn tỉ (US$8.3 tỉ). Trong cùng một tháng, Samsung mua lại nhà sản xuất thiết bị phương tiện truyền thông Boxee trong báo cáo $30 triệu.
Vào 5 tháng 8 năm 2013, đã phát hành lời mời cho sự kiện "Samsung Unpacked 2013 Episode 2" vào 4 tháng 9 năm 2013 ở Berlin, Đức trong suốt hội nghị IFA hằng năm. Trong khi lời mời không đưa ra bất kì chi tiết nào trong sự kiện, ngành công nghiệp chờ đợi sự ra mắt của Galaxy Note III, như Samsung đã từng công bố Galaxy Note II tại 2012 hội nghị IFA.
Giám đốc kinh doanh di động Shin Jong-kyun của Samsung phát biểu với Korea Times vào 11 tháng 9 năm 2013 rằng Samsung Electronics sẽ phát triển hơn nữa sự hiện diện của mình ở Trung Quốc để tăng cường vị trí thị trường liên quan đến Apple. Giám đốc điều hành Samsung xác nhận rằng điện thoại thông minh 64-bit sẽ được phát hành phù hợp với bộ xử lý A7 dựa trên ARM của iPhone 5s sẽ được phát hành vào tháng 9 năm 2013.
Do doanh thu điện thoại thông minh—đặc biệt doanh thu của thiết bị cầm tay giá thấp ở một số thị trường như Ấn Độ và Trung Quốc—Samsung đạt thu nhập kỉ lục trong Q3 2013. Lợi nhuận hoạt động trong khoảng thời gian này đã tăng lên khoảng 10.1 nghìn tỉ won (US$9.4 tỉ), một con số thúc đẩy bởi doanh thu chip bộ nhớ của khách hàng như Apple, Inc. Vào 14 tháng 10 năm 2013, Samsung Electronics công khai xin lỗi về việc sử dụng các thành phần tân trang lại từ máy tính bàn rẻ hơn để sửa thành sản phẩm cao cấp.
Samsung cung cấp tài trợ cho lễ kỷ niệm Giải Oscar lần thứ 86 năm 2014, do việc sử dụng điện thoại thông minh Samsung Galaxy Note bởi chủ trì Ellen DeGeneres trong một bức ảnh tự sướng nhóm đã trở thành hiện tượng lan truyền trực tuyến, công ty quyên góp US$3 triệu cho hai nhà tổ chức từ thiện được lựa chọn bởi DeGeneres. Samsung chính thức giải thích: "... chúng tôi muốn đóng góp cho tổ chức từ thiện của Ellen lựa chọn: St Jude’ và Hội nhân đạo. Samsung sẽ quyên góp $1.5 triệu cho mỗi tổ chức."
== Thị phần ==
== Khách hàng lớn ==
== Khẩu hiệu ==
Samsung, For Today and Tomorrow (1993–2002)
Samsung, Imagine (2002–2010)
Samsung, Turn On Tomorrow (2010–nay)
== Tham khảo == |
đế quốc việt nam.txt | Đế quốc Việt Nam (chữ Hán: 越南帝國; tiếng Nhật: ベトナム帝国, Betonamu Teikoku) là tên chính thức của một chính phủ tồn tại 5 tháng trong lịch sử Việt Nam (từ tháng 3 năm 1945 đến tháng 8 năm 1945). Đế quốc Việt Nam được Đế quốc Nhật Bản hậu thuẫn sau khi triều đình Nhà Nguyễn tuyên bố xóa bỏ Hiệp ước Patenôtre.
Sau khi Đế quốc Nhật Bản tuyên bố "trao trả độc lập cho Việt Nam", Hoàng đế Bảo Đại ra tuyên cáo độc lập và thành lập chính quyền mới thân phát-xít Nhật tại Việt Nam, với chính phủ do Trần Trọng Kim làm thủ tướng, còn Bảo Đại được Đế quốc Nhật Bản công nhận là vua của Đế quốc Việt Nam. Tuy có nội các nhưng Đế quốc Việt Nam thực chất vẫn là quân chủ chuyên chế mà không phải là nền quân chủ lập hiến như ở Anh, Đế quốc Nhật Bản, Đan Mạch, Hà Lan, Na Uy, Thụy Điển... do Đế quốc Việt Nam không có Quốc hội, cũng không có hiến pháp. Mặt khác, Đế quốc Nhật Bản vẫn nắm quyền chi phối hoạt động của Đế quốc Việt Nam, ngay cả các bộ trưởng của Đế quốc Việt Nam không thể làm được việc gì nếu không được cố vấn tối cao Nhật Bản đồng ý.
Theo các tài liệu lịch sử của Việt Nam cũng như của phương Tây, Đế quốc Việt Nam là chính quyền do Đế quốc Nhật Bản dựng nên và không có thực quyền. Giới sử gia phương Tây xếp nó chung với các chính phủ bù nhìn do Nhật thành lập tại các nước bị họ chiếm đóng trong thế chiến thứ 2 như Mãn Châu quốc, Chính phủ Uông Tinh Vệ, Mông Cương, Đệ nhị Cộng hòa Philippines... Cùng với sự bại trận của Nhật Bản trong thế chiến, tất cả các chính phủ này đều tự sụp đổ hoặc bị Đồng Minh (bao gồm cả Việt Minh) giải thể trong năm 1945
Tháng 8/1945, khi Nhật Bản sắp sửa bại trận, Bảo Đại đã gửi thư cho Tổng thống Mỹ, vua nước Anh, Thống chế Trung Hoa và Pháp đề nghị công nhận Đế quốc Việt Nam là chính phủ đại diện của Việt Nam. Tuy nhiên tất cả các bức thư đều không được hồi âm, bởi theo Tuyên bố Cairo, các nước trong khối Đồng Minh sẽ không công nhận bất cứ chính phủ nào do Đế quốc Nhật Bản thành lập tại các lãnh thổ chiếm đóng.
Đến 24 tháng 8 năm 1945, trong cao trào của Cách mạng tháng Tám, hoàng đế Bảo Đại đã quyết định thoái vị. Theo lời thuật của Phan Anh, Bộ trưởng Bộ Thanh niên của Đế quốc Việt Nam, tất cả thành viên nội các Đế quốc Việt Nam đều nhận thấy lòng dân đã hướng về Việt Minh, do vậy họ nhất trí từ chức và ủng hộ Chính phủ mới của Hồ Chí Minh Chính phủ Đế quốc Việt Nam đến đây tan rã.
== Nhật đảo chính Pháp và Đế quốc Việt Nam tuyên bố thành lập ==
Trong Chiến tranh thế giới thứ hai, quân đội Pháp đã mất quyền kiểm soát Đông Dương thuộc Pháp và quyền này rơi vào tay người Nhật vào năm 1941. Tuy nhiên, người Nhật vẫn giữ lại những quan chức Pháp và chỉ điều khiển sau hậu trường.
Ngày 9 tháng 3 năm 1945, khi tình hình chiến tranh Thái Bình Dương thay đổi bất lợi, Nhật đổi chính sách và đảo chính Pháp, bắt giam các tướng lãnh và tước khí giới của quân đội Pháp ở Đông Dương. Đại sứ Nhật ở Đông Dương là Matsumoto Shunichi giao cho đại diện Pháp là Toàn quyền Đông Dương Đô đốc Jean Decoux tối hậu thư đòi người Pháp phải chấp nhận vô điều kiện quyền chỉ huy của Nhật trên mọi phương diện. Ở Huế đại úy Kanebo Noburu vào báo với vua Bảo Đại quyền lực của Pháp đã bị loại.
Sau cuộc tập kích bất ngờ vào quân Pháp đêm 9-3-1945, vấn đề quan trọng nhất đối với quân Nhật là duy trì bằng được "trật tự và ổn định" nhằm tìm nguồn cung ứng vật chất tại chỗ cho gần 100.000 lính Nhật, cũng như để cung cấp cho việc phòng thủ nước Nhật trước đà tấn công của quân Đồng Minh. Tuy nhiên, đúng lúc đó, bộ máy hành chính thực dân mà Nhật kế thừa từ Pháp đã tan rã, vì thế việc thành lập bộ máy cai trị bản xứ đặt ra như một đòi hỏi cấp bách và Đế quốc Việt Nam ra đời trong bối cảnh đó.
Sáng 10-3-1945, trên đường đi săn, Bảo Đại bị một toán quân Nhật giữ lại và hôm sau đưa về kinh thành. Hôm sau, ngày 11 Tháng Ba năm 1945, vua Bảo Đại gặp mặt cố vấn tối cao của Nhật là đại sứ Yokoyama Masayuki tại điện Kiến Trung để ký bản Tuyên cáo Việt Nam độc lập. Cùng đi với Yokoyama là tổng lãnh sự Konagaya Akira và lãnh sự Watanabe Taizo. Bản tuyên ngôn đó có chữ ký của sáu vị thượng thư trong Cơ mật Viện là Phạm Quỳnh, Hồ Đắc Khải, Ưng Úy, Bùi Bằng Đoàn, Trần Thanh Đạt, và Trương Như Đính, nguyên văn chiếu chỉ đề ngày 27 Tháng Giêng ta năm thứ 20 niên hiệu Bảo Đại:
Theo đó triều đình Huế hủy bỏ Hòa ước Patenôtre ký với Pháp năm 1884 vốn áp đặt nền bảo hộ lên toàn cõi nước Việt. Tuy nhiên, do văn bản được Nhật Bản soạn thảo nên đoạn sau của Tuyên cáo được cài thêm khẩu hiệu về Khối thịnh vượng chung Đại Đông Á, cũng như vai trò lãnh đạo và quyền trưng dụng mọi tài sản của Việt Nam sẽ thuộc về Đế quốc Nhật Bản:
Với Dụ số 1 ra ngày 17 tháng 3, vua nêu khẩu hiệu "Dân Vi Quý" (chữ Nho: 民爲貴; lấy dân làm quý) làm phương châm trị quốc. Vua Bảo Đại giải tán nội các cũ, các quan Thượng thư đồng loạt từ chức. Nhà sử học Trần Trọng Kim được Nhật Bản đón về từ Singapore, rồi được đưa ra Huế để Bảo Đại giao nhiệm vụ thành lập nội các mới. Lúc đó vua Bảo Đại nói với Trần Trọng Kim: "Trước kia người mình chưa độc lập. Nay có cơ hội, tuy chưa phải độc lập hẳn, Nhưng mình cũng phải tỏ ra có đủ tư cách để độc lập. Nếu không có chính phủ thì người Nhật bảo mình bất lực, tất họ lập cách cai trị theo thể lệ nhà binh rất hại cho nước ta. Vậy ông nên vì nghĩa vụ lập thành một chính phủ để lo việc nước."" Trần Trọng Kim được lựa chọn thành viên nội các, Nhật Bản không bắt ông phải dùng những người của họ đã định trước.
Tướng Nhật, Tscuchihashi, nghĩ rằng chỉ cần Việt Nam độc lập danh nghĩa hơn là thực chất, và chính phủ mới của Việt Nam phải được Nhật kiểm soát chặt chẽ. Theo tác giả Daniel Grandcléme, thoạt đầu quan đại thần Phạm Quỳnh được chỉ định tạm quyền nhưng ông này quá thân Pháp, ngoài ra ông ta thấy ngay "nền độc lập" của Đế quốc Việt Nam có những giới hạn khắt khe giống như hồi còn chế độ bảo hộ Pháp: Không được tự chủ về ngoại giao, không có quân đội, không có độc lập tài chính... Do vậy, quân Nhật quyết định không bổ nhiệm Phạm Quỳnh và chọn một nhân vật ôn hoà hơn và gần gũi với Nhật Bản. Đó là nhà sử học Trần Trọng Kim, đang ở Singapore. Nhà vua Bảo Đại chẳng có vai trò gì trong việc chỉ định này.
Để chuẩn bị nội các mới, Bảo Đại hai lần gửi điện vào Sài Gòn mời Ngô Đình Diệm ra Huế, nhưng cả hai bức điện đều bị tình báo Nhật ngăn chặn, vì thật ra phương án sắp đặt cho hoàng thân Cường Để (1882-1951) lên ngôi vua và Ngô Đình Diệm giữ chức thủ tướng trước đó không lâu đã bị giới lãnh đạo quân sự Nhật Bản hủy bỏ, do không muốn gây nhiều xáo trộn, để thay vào bằng kế hoạch Bảo Đại - Trần Trọng Kim cũng được chuẩn bị sẵn từ hơn một năm trước.
Ở Việt Nam, đa số quần chúng tỏ ra thờ ơ lạnh nhạt với sự “độc lập” do quân đội Nhật dựng nên. Ngày 17/3/1945, ở các hương thôn, lý trưởng được lệnh tổ chức dân chúng mừng sự ra đời của Đế quốc Việt Nam tại các đình làng, nhưng không khí rất ảm đạm:
“Cửa đình mở rộng, trước sân đình có cờ, chuông, trống, như ngày cúng Thần. Hội đồng xã chỉ lưa thưa có mấy ông. Dân chúng chẳng ai đến cả, trừ một số chức việc có phận sự trong làng. Đến giờ, chuông trống nổi dậy, hương xã làm lễ tế Thần. Lý trưởng đọc lời ‘tuyên cáo độc lập’. Y như một bài văn tế. Xong, chiêng trống tiếp tục và buổi lễ chấm dứt không đầy 30 phút. Không một tiếng vỗ tay. Không một lời hoan hô. Các ông làng xã, khăn đen áo dài khệ nệ như trong các đám cúng Thần theo nghi lễ cổ truyền, lặng lẽ đóng cửa đình sau khi dọn dẹp”
Sau này, trong hồi ký của mình, Trần Trọng Kim nhận xét về ý đồ của Nhật Bản như sau:
== Thành lập nội các Đế quốc Việt Nam ==
Nội các mới được thành lập vào ngày 17 tháng 4 với Trần Trọng Kim là nội các tổng trưởng. Ngay buổi đầu ông Trần Trọng Kim trình danh sách nội các với Bảo Đại đã có sự hiện diện của viên cố vấn tối cao Nhật Bản tại Huế là Masayuki Yokoyama. Sau khi vua Bảo Đại chấp thuận nội các, cố vấn Nhật xem danh sách nội các rồi nói "Tôi chúc mừng cụ đã chọn được người rất đứng đắn". Đây là chính phủ đầu tiên của nước Việt Nam (không kể các triều đại phong kiến và chính phủ bảo hộ của Pháp trước đó) và Trần Trọng Kim trở thành thủ tướng đầu tiên của Việt Nam. Với nội các tập hợp được những trí thức có tiếng lúc bấy giờ, thành phần nội các ra mắt quốc dân ngày 19 tháng 4, trong đó có:
Bác sĩ Trần Đình Nam - Bộ trưởng Bộ Nội vụ
Luật sư Trịnh Đình Thảo - Bộ trưởng Bộ Tư pháp.
Kỹ sư Lưu Văn Lang - Bộ trưởng Công chính
Bác sĩ Hồ Tá Khanh - Bộ trưởng Bộ Kinh tế
Luật sư Phan Anh - Bộ trưởng Bộ Thanh niên
Thạc sĩ Hoàng Xuân Hãn - Bộ trưởng Giáo dục và Mỹ nghệ
Cựu Tổng đốc tỉnh Thái Bình là Phan Kế Toại được bổ làm Khâm sai Bắc Kỳ còn Nguyễn Văn Sâm làm Khâm sai Nam Kỳ đại diện cho triều đình Huế ở trong Nam và ngoài Bắc. Tại Hà Nội Phan Kế Toại tiếp thu phủ thống sứ và Trần Văn Lai nhậm chức ở tòa đô chính trước đám đông dân chúng đến chứng kiến việc thu hồi độc lập trên danh nghĩa.
Đế quốc Việt Nam không thành lập Bộ quốc phòng để tránh bị Nhật Bản lôi kéo tham gia chiến tranh thế giới thứ II với tư cách đồng minh của Nhật Bản.
Mới ra mắt được 4 tháng, ngày 5/8, hàng loạt thành viên nội các Trần Trọng Kim xin từ chức: 3 bộ trưởng xin từ nhiệm, Bộ trưởng Vũ Ngọc Anh qua đời vì trúng bom máy bay Mỹ. Các bộ trưởng khác tuyên bố bất lực, bởi không thể làm được việc gì nếu không được cố vấn tối cao Nhật đồng ý, trong khi vua Bảo Đại chỉ lo ăn chơi, săn bắn mà không quan tâm đến chính trị. Trần Trọng Kim cố gắng liên hệ nhưng các nhân vật cấp tiến đều khước từ cộng tác, đến đầu tháng 8 chính Trần Trọng Kim cũng nói mình bị "tăng huyết áp" và không ra khỏi nhà.
== Thành lập Đế quốc Việt Nam ==
Tháng 6 năm 1945, Chính phủ Trần Trọng Kim đặt quốc hiệu là Đế quốc Việt Nam; đặt quốc ca là bài hát Đăng Đàn Cung; quốc kỳ có "nền vàng hình chữ nhật, giữa có hình quẻ Ly màu đỏ thẫm".
Cho dù không đứng vững được bao lâu, Nội các Trần Trọng Kim đã cố gắng đặt nền móng xây dựng một thể chế độc lập và tự chủ đầu tiên không thuộc Pháp. Tuy không được chuẩn bị kỹ lưỡng cũng như thiếu thốn rất nhiều nhân sự và vật lực để điều hành một chính phủ vừa manh nha, đối ngoại thì phải cố gắng dung hòa các thế lực quốc tế và chủ thuyết Đại Đông Á của Đế quốc Nhật, đối nội thì có nhiều phe phái muốn giành chính quyền, chính phủ mới vẫn đạt được một số điều kiện cơ bản, nhóm lên hy vọng độc lập và tự chủ cho nước Việt Nam.. Nhưng thực tế lại cho thấy ngày càng rõ hơn việc đưa Trần Trọng Kim đứng ra lập nội các cho Bảo Đại trước sau đều do người Nhật đạo diễn một cách khéo léo để dẫn dụ Trần Trọng Kim vào “tròng”. Trong quá trình thành lập nội các, tình báo của hải quân Nhật ở Đông Dương đã can thiệp rất sâu vào quá trình chọn lựa người đứng đầu cũng như nhân sự Chính phủ. Theo nhận định của báo Nhân dân sau này, tuy ít nhiều nắm bắt được nguyện vọng độc lập của quốc dân, và nhận thức được ý nghĩa của khối đoàn kết dân tộc, đề ra được một số chủ trương cải cách tiến bộ, nhưng chính phủ Trần Trọng Kim không thể quy tụ, phát huy được sức mạnh của dân tộc, bởi thực quyền và phương tiện nằm trong tay Nhật. Công việc cấp bách nhất khi đó là vận chuyển gạo từ miền nam ra miền bắc để cứu đói mà chính phủ này cũng không thực hiện nổi.
=== Thả tù chính trị và lập đội trị an ===
Trong những bước đầu tiên là Bộ trưởng Tư pháp Trịnh Đình Thảo ra lệnh thả hàng ngàn tù nhân chính trị bị Pháp giam giữ bao gồm đảng viên Đảng cộng sản Đông Dương và các đảng phái khác.
Tiếp theo đó thì Bộ trưởng Bộ Thanh niên là Phan Anh đứng tổ chức đội Thanh niên Tiền tuyến theo tinh thần quốc gia để huy động quốc dân giữ an ninh vì không có bộ quốc phòng. Đế quốc Việt Nam không thành lập Bộ quốc phòng để tránh phải tham gia chiến tranh thế giới thứ II với tư cách đồng minh của Nhật Bản.
Đế quốc Việt Nam không có quân đội, người Nhật nắm toàn bộ vấn đề quốc phòng mà không giao cho chính phủ Trần Trọng Kim. Để bảo vệ trị an, Đế quốc Việt Nam có một nhóm nhỏ gọi là Thanh niên tiền tuyến, nhưng khi Cách mạng Tháng Tám nổ ra, lực lượng này lại bỏ đi theo Việt Minh. Không có quân đội, lực lượng trị an lại không tuân lệnh là một trong các nguyên nhân khiến Đế quốc Việt Nam dễ dàng bị sụp đổ sau này.
=== Thu hồi Nam Kỳ ===
Trong thời gian ngắn ngủi chấp chính, chính phủ mới đã làm được một việc quan trọng nhất là thống nhất trên danh nghĩa xứ Nam Kỳ vào nước Việt Nam kể từ ngày 8 Tháng Tám, 1945. Trước đó vào ngày 20 Tháng Bảy chính phủ Việt Nam cũng thu hồi ba nhượng địa cũ là Hà Nội, Hải Phòng, và Đà Nẵng vốn bị người Pháp chia cắt và áp dụng quy chế trực trị.
Về việc thu hồi Nam Kỳ thì cuộc thương thuyết với Toàn quyền Tsuchihashi có kết quả mặc dù lúc đầu Tsuchihashi còn do dự vì triều đình Cao Miên cũng đòi đất Nam Kỳ. Thủ tướng Trần Trọng Kim phái Nguyễn Văn Sâm là khâm sai vào Sài Gòn tiếp thu. Đại sứ Yokoyama ở Huế theo đó tuyên bố trao trả Nam Kỳ cho triều đình Huế. Ở ngoài Bắc thì Thống sứ Nishimura bàn giao với khâm sai Phan Kế Toại tại Hà Nội ngày 12 Tháng 8, trong khi đó Thống đốc Minoda ở Sài Gòn đang đợi khâm sai Nguyễn Văn Sâm nhưng vị khâm sai mãi đến ngày 19 mới đến nơi. Ngày 14 Tháng 8, chính phủ Trần Trọng Kim công bố chính thức tiếp thu Nam Kỳ. Chỉ được non mười ngày, Lực lượng Quốc gia Thống nhất cùng Việt Minh vào chiếm các cơ sở công quyền ở Sài Gòn ngày 24 Tháng 8, 1945. Sang ngày 26 thì khâm sai Nguyễn Văn Sâm từ nhiệm sau khi được tin vua Bảo Đại đã thoái vị ở Huế, chấm dứt thể chế Đế quốc Việt Nam.
=== Cải cách hành chính ===
Chính phủ Trần Trọng Kim hợp nhất hai bộ máy hành chính Nam triều và Bảo hộ do thực dân Pháp để lại. Từ đây, chính phủ Trần Trọng Kim đứng đầu hệ thống hành chính thống nhất trên toàn quốc. Chính phủ buộc các quan chức địa phương chỉ được nhận chỉ thị và báo cáo trực tiếp với chính phủ Việt Nam chứ không được liên hệ với Sở Tối cao Cố vấn Nhật Bản. Tuy nhiên các cơ quan công an, tuyên truyền, thông tin liên lạc vẫn do người Nhật kiểm soát.
Chính phủ thành lập Ủy ban Cải tổ và Thống nhất Luật pháp. Hội đồng Cải cách Cai trị, Tư pháp và Tài chính có 16 thành viên như các ông Vũ Văn Hiền, Trần Văn Chương, Trần Văn Ân, Nguyễn Văn Huyên, Trần Đình Nam, Phan Kế Toại được giao nhiệm vụ xúc tiến việc soạn thảo cơ cấu mới cho quốc gia.
Chính phủ này còn dự định lập ra những Tư vấn Hội nghị ở các địa phương để giúp các Cơ quan Hành chính địa phương, tiến tới thành lập Tư vấn Hội nghị Toàn quốc giúp chính phủ cải cách quốc gia và soạn thảo Hiến pháp. Thủ tướng Trần Trọng Kim ra chỉ thị ngày 8 Tháng Năm thành lập Hội nghị Tư vấn Quốc gia gồm 59 thành viên từ nhiều giới để giúp sức. Sau đó sẽ bầu Quốc hội Lập hiến để phê chuẩn và ban hành Hiến pháp. Những dự định này chưa được thực hiện thì chính phủ đã giải tán.
=== Sơ thảo hiến pháp ===
Về mặt hành chánh, chính phủ cũng cho soạn sơ thảo một bản hiến pháp cấp tiến bảo đảm quyền tự do chính trị, tự do nghiệp đoàn và tự do tín ngưỡng. Hội đồng dự thảo Hiến pháp có 14 thành viên gồm có những ông Phan Anh, Nguyễn Tường Long, Vũ Đình Hòe, Huỳnh Thúc Kháng, Đặng Thai Mai, Tôn Quang Phiệt, Hồ Tá Khanh, Nguyễn Văn Sâm, Nguyễn Văn Thinh, Hồ Hữu Tường. Chính phủ cũng ra lệnh bãi bỏ thuế thân cho những ai không tài sản và những người với lương dưới 100 đồng một tháng
=== Thay thế ảnh hưởng của Pháp ===
Đốc lý Hà Nội là Trần Văn Lai và Đô trưởng Sài Gòn Kha Vạng Cân ra sức đưa người Việt vào thay thế các vị trí của người Pháp trong bộ máy chính quyền và phá hủy các bức tượng do người Pháp dựng lên trong các thành phố.
Một bước đột phá không kém là thay chương trình dạy học bằng tiếng Pháp sang chương trình học bằng Tiếng Việt, do học giả Hoàng Xuân Hãn đề ra. Thủ tướng Trần Trọng Kim giao việc này cho Hội đồng cải cách giáo dục với 18 thành viên trong đó có Hoàng Xuân Hãn, Hoàng Thị Nga, Nguyễn Mạnh Tường, Hoàng Minh Giám, Bùi Kỷ, Ngụy Như Kontum, Ưng Quả, Hồ Văn Ngà.. Đây cũng là nền tảng xây dựng cho chương trình giáo dục Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và giáo dục Việt Nam Cộng hòa sau này. Tiếng Việt cũng được dùng làm ngôn ngữ hành chính, dùng ghi chép các giấy tờ, sổ sách.
=== Cứu trợ ===
Năm 1945, đường sắt Xuyên Đông Dương không còn sử dụng được nữa và đường thiên lý Bắc Nam cũng bị Đồng Minh ném bom phá hoại. Đường biển thì quân Đồng minh đã gài thủy lôi ở cửa biển Hải Phòng khiến hải cảng chính ở Bắc Kỳ cũng không thông thương được. Tàu chở hàng cỡ lớn đã bị Nhật trưng dụng, đồng thời quân Đồng minh phong tỏa đường biển nên tàu bè chở gạo ra bắc chỉ ra được đến Đà Nẵng. Khi không quân Đồng minh mở rộng tầm oanh kích thì tàu chở gạo phải cập bến ở Quy Nhơn rồi cuối cùng chỉ ra được đến Nha Trang. Các kho thóc ở miền Bắc thì do Nhật Bản nắm giữ để chuẩn bị chở về chính quốc nên không được phép dùng để phát chẩn cứu đói. Khi đó gạo được chất đống trong kho của Nhật, Bảo Đại đã thử thuyết phục đại sứ quán Nhật Bản mở kho phát gạo nhưng chỉ huy Nhật Bản không cho phép.
Không có phương tiện và tài chính, Nhật Bản thì tăng cường lấy gạo ở Việt Nam để chuyển về nước, chính phủ Trần Trọng Kim phải huy động những phương tiện thô sơ chuyển vận gạo từ Nam ra Bắc như xe bò hay thuyền nhỏ. Do thiếu phương tiện và nhân lực nên dù đã cố gắng Đế quốc Việt Nam vẫn không làm thuyên giảm được hậu quả ghê gớm của nạn đói Kết quả là Nạn đói năm Ất Dậu năm 1945 đã khiến gần 2 triệu người chết đói, hàng triệu người phải bỏ nhà cửa đi lang bạt kiếm ăn, nhiều vùng nông thôn tại miền Bắc Việt Nam trở nên xơ xác, tiêu điều.
== Sụp đổ ==
Vì không phải là một thế lực chính trị được ủng hộ rộng rãi và không có quân đội riêng, cũng không có bộ quốc phòng (hoặc an ninh), chính phủ Trần Trọng Kim thực tế vẫn nằm dưới sự bảo hộ của quân đội Nhật chiếm đóng Đông Dương và chỉ kiểm soát được những thành phố và thị trấn lớn ở miền bắc và miền trung, trong khi không kiểm soát được tình trạng hỗn loạn diễn ra ở nhiều nơi khác. Trong thời kỳ cầm quyền, Đế quốc Việt Nam phải đối mặt với nhiều vấn đề: Sự tận thu tài nguyên của quân đội Nhật Bản để phục vụ chiến tranh, và sự tranh giành chính quyền hoặc ảnh hưởng của nhiều thế lực khác nhau, và nhất là Nạn đói Ất Dậu làm chết gần 2 triệu người.
Tuy Chính phủ mới quyết định không thành lập Bộ Quốc phòng để không bị Nhật lôi kéo tham gia vào thế chiến thứ II, Trần Trọng Kim vẫn giao cho Phan Anh lập đội Thanh niên Tiền tuyến (còn được gọi là phong trào Thanh niên khất thực). Tuy nhiên khi Cách mạng Tháng Tám nổ ra, lực lượng này lại quay sang ủng hộ Việt Minh và không tuân lệnh của Đế quốc Việt Nam nữa.
Khi quân Nhật đầu hàng Đồng Minh, chính phủ Trần Trọng Kim cũng chỉ tồn tại được đến ngày 23 tháng 8 năm 1945. Lực lượng Việt Minh tổ chức quần chúng tiến hành cuộc Cách mạng tháng 8. Chính phủ Trần Trọng Kim không có hành động quân sự chống lại mà tự nguyện chuyển giao chính quyền cho Việt Minh. Hồ Chí Minh đọc bản Tuyên ngôn Độc lập, tuyên bố thành lập nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.
Ở miền Nam Việt Nam, Pháp theo quân Anh trở lại Đông Dương và ngày 23 tháng 9 năm 1945 đã nổ súng gây chiến ở Sài Gòn rồi mở rộng đánh chiếm Nam Bộ. Pháp đã chấp thuận đề xuất của một số chính trị gia thuộc Hội đồng tư vấn Nam Kỳ (Conseil consultatif de Cochinchine) lập ra Cộng hòa tự trị Nam Kỳ. Điều này được nhiều người đánh giá là âm mưu của Pháp muốn tách miền Nam Việt Nam ra khỏi Việt Nam.
Một số nhân sĩ của nội các Đế quốc Việt Nam đã tham gia vào việc xây dựng chính phủ Việt Nam Cộng hòa sau đó tại lãnh thổ miền Nam như Trần Văn Chương, Trần Đình Nam. Một số khác tham gia Chính phủ Liên hiệp Kháng chiến Việt Nam hoặc đi theo Việt Minh như ông Huỳnh Thúc Kháng, Phan Anh, Phan Kế Toại, Trịnh Đình Thảo, Tạ Quang Bửu, Đặng Văn Hướng...
== Nguyên nhân sụp đổ ==
Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và chủ thể kế thừa là Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam đều cho rằng trên thực tế Đế quốc Việt Nam chỉ là một chính phủ bù nhìn và mọi quyền lực đều thuộc về người Nhật Bản. Chính phủ Đế quốc Việt Nam chưa hề thiết lập được bộ máy Nhà nước hoàn chỉnh từ trung ương đến địa phương cũng như việc chính phủ Đế quốc Việt Nam chỉ kiểm soát được một phần rất nhỏ của lãnh thổ Việt Nam, ranh giới không rõ ràng, số lượng dân cư không ổn định (do đang Chiến tranh đang xảy ra và lực lượng chiến đấu chính là Việt Minh và phát xít Nhật). Mọi quyết định về điều hành Việt Nam đều do Đế quốc Nhật Bản thực hiện chứ không phải là Đế quốc Việt Nam.
Do được Đế quốc Nhật Bản (thuộc khối phát xít) thành lập nên tất cả các nước Đồng Minh (Anh, Pháp, Mỹ, Trung Quốc, Liên Xô...) đều không công nhận Đế quốc Việt Nam là chính phủ đại diện của Việt Nam. Theo Tuyên bố Cairo, các nước khối Đồng Minh sẽ không công nhận bất cứ chính phủ nào do Đế quốc Nhật Bản thành lập tại các lãnh thổ chiếm đóng. Với việc bị khối Đồng Minh khước từ và Đế quốc Nhật Bản đầu hàng, dù cho Cách mạng tháng Tám không nổ ra thì Đế quốc Việt Nam cũng sẽ không thể tồn tại được quá 1 tháng, vì họ sẽ bị quân Đồng Minh (Anh và Pháp) loại bỏ khi đổ bộ lên Việt Nam vào tháng 9/1945.
Bên cạnh đó, do Đế quốc Việt Nam chưa hề tổ chức bất kỳ cuộc tổng tuyển cử nào để bầu lên Quốc hội - cơ quan quyền lực cao nhất của một nhà nước theo thể chế Cộng hòa (như cuộc Tổng tuyển cử năm 1946 của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa) nên Đế quốc Việt Nam chưa thể trở thành một nhà nước chính danh, một người đại diện hợp pháp của nhân dân Việt Nam. Việc không tổ chức được Tổng tuyển cử còn cho thấy chính phủ Đế quốc Việt Nam không thể duy trì và thực hiện quyền lực quốc gia trong dài hạn và không đủ khả năng bảo vệ và đại diện cho nhân dân Việt Nam. Chính phủ Trần Trọng Kim - Bảo Đại đã bất lực trước các nhiệm vụ tự nó đặt ra lúc đầu. Ngay một công việc cấp bách khi đó là vận chuyển gạo từ miền nam ra miền bắc để cứu đói mà Chính phủ Trần Trọng Kim - Bảo Đại cũng không thực hiện nổi. Cố gắng dựa vào biểu tượng quân chủ đã lỗi thời và một ông vua không có thực quyền, chính phủ Trần Trọng Kim không thể quy tụ được ý chí độc lập của người dân Việt Nam (thực tế cho thấy tổ chức trị an duy nhất của Đế quốc Việt Nam là "Thanh niên tiền tuyến" cũng không nghe lệnh chính phủ này mà quay sang ủng hộ Việt Minh). Cùng với đó là sự công khai xác nhận mối gắn bó, sự phụ thuộc nặng nề vào Đế quốc Nhật Bản, một thế lực phát xít đã gây chiến tranh xâm lược khắp Đông Á, Đế quốc Việt Nam đã tự đặt mình vào thế đối lập với tất cả các cường quốc Đồng Minh chống phát xít. Với những mâu thuẫn nghiêm trọng cả bên trong lẫn bên ngoài đó, Một khi Đế quốc Nhật Bản bại trận thì Đế quốc Việt Nam cũng không thể tồn tại được.
== Nhận xét ==
Theo nhà sử học Joyce C. Lebra, Đế quốc Việt Nam được thành lập như một bộ phận của chính sách Khối Thịnh vượng chung Đại Đông Á của Nhật. Tuy nhiên, nó cũng chỉ là một trong những khẩu hiệu và khái niệm được dùng để biện hộ cho sự chiếm đóng của Đế quốc Nhật Bản tại Đông Á từ thập niên 1930 cho đến hết Chiến tranh thế giới thứ hai, trong đó các chính quyền bản xứ phải vận động người dân và nền kinh tế trong nước phục vụ cho lợi ích của Đế quốc Nhật Bản. Các chính quyền này trên danh nghĩa là độc lập, song thực tế không có nhiều quyền lực, hầu hết các chính sách quan trọng đều do lực lượng quân quản Nhật quyết định (tiêu biểu như chính phủ bù nhìn Mãn Châu quốc của cựu hoàng đế Phổ Nghi hay chính phủ Đế quốc Đại Hàn).
Tiến sĩ sử học Vũ Ngự Chiêu:
Chính phủ Trần Trọng Kim hoặc đã bị đánh giá thấp hay lãng quên. Khuynh hướng phù thịnh và sự thiếu tài liệu chính xác phần nào gây nên hậu quả này. Ngoài ra, các guồng máy tuyên truyền của các thế lực tảng lờ sự thực lịch sử, bẻ cong dữ kiện theo mục tiêu chính trị giai đoạn. Tuy nhiên, xúc động đã qua và các tài liệu văn khố cùng tư liệu nguyên bản khác đã được mở, chúng ta có thể đánh giá tầm quan trọng lịch sử của chính phủ Kim. Dài theo sự hiện hữu ngắn ngủi, và trong hoàn cảnh cực kỳ khó khăn, chính phủ Kim đã tham gia vào việc phát động một cuộc cách mạng từ trên xuống, khởi phát từ cuộc thanh trừng chính quyền Decoux. Hai trong những khía cạnh quan trọng cần nhấn mạnh: Đó là sự kích thích đám đông tham gia sinh hoạt chính trị, và, hiện tượng Việt-Nam-hoá hầu hết các cơ cấu xã hội [...] Dẫu vậy, những thành quả của Kim chẳng phải “chìm nhanh vào sự lãng quên không để lại một dấu vết” (Ibid.) Ở phân tích cuối cùng, ít nữa cho tới chuyến đi Bắc Kinh và Mat-scơ-va năm 1950 bí mật cầu viện khối tân Quốc tế Cộng sản, Hồ là người thụ hưởng chính, trong số những việc khác, sự thành tựu của Kim trong “giai đoạn cách mạng dân tộc tư sản,” bước đầu tiên của cuộc phiêu lưu vô định từ một hành tinh nửa phong kiến, nửa thực dân đã chết, tới một xã hội công hữu nguyên thủy chưa ai được tri nghiệm, và có thể chẳng bao giờ có khả năng chào đời.
Theo tác giả Lê Xuân Khoa, Đế quốc Việt Nam dù không có thực quyền và chịu sự khống chế của Nhật Bản, song nó cũng "đóng một vai trò nhất định trong lịch sử". Theo mong muốn của Bảo Đại, đây là một bước đệm để cho Việt Nam có cơ hội đòi hỏi nền độc lập hoàn toàn khi thế chiến thứ II kết thúc.
Theo Tiến sĩ Lê Mạnh Hùng:
"Chính phủ Trần Trọng Kim được thành lập sau khi Nhật Bản lật đổ chính quyền thuộc địa Pháp tại Đông Dương vào ngày 9 tháng 3 năm 1945 và tuyên bố trả độc lập cho Việt Nam. Nhưng vì độc lập mà Nhật gọi là trao trả cho Việt Nam rất là giới hạn thành ra việc thành lập chính phủ cũng bị rất nhiều trở ngại. Phải mất trên một tháng từ khi ông Bảo Đại ra tuyên ngôn tuyên bố độc lập vào ngày 11 tháng 3 cho đến ngày 15 tháng tư mới thành lập được chính phủ. Đó là vì Nhật không chịu bất kỳ những nhà chính trị nào dù là thân Nhật mà họ cho rằng có thể có những ước vọng độc lập nhiều hơn là Nhật dành cho.
Với an ninh, quốc phòng và kinh tế tài chánh đều nằm trong tay quân đội Nhật, tất cả những gì mà chính phủ Trần Trọng Kim có thể đạt được trong việc giành lại chủ quyền cho Việt Nam thực tế là chỉ có tính cách biểu tượng. Nhưng trong tình huống Đông Dương vào năm chót của thế chiến thứ hai, biểu tượng này đóng một vai trò rất quan trọng. Biết rằng thất bại của Nhật Bản chỉ là một vấn đề thời gian, Trần Trọng Kim và chính phủ của ông đưa ra một chương trình nhằm thay đổi tâm lý người Việt đến mức mà đất nước sẽ không thể trở lại tình trạng thuộc địa nữa một khi chiến tranh chấm dứt, như lời nói sau đây của ông Hoàng Xuân Hãn khi kể lại mục tiêu của cụ Kim khi thành lập cũng như là của ông khi tham gia chính phủ "Chúng tôi muốn đặt trước Đồng Minh khi chiến tranh chấm dứt với một nước Việt Nam độc lập trên thực tế để chúng ta không thể nào trở lại tình trạng cũ là một thuộc địa của Pháp nữa".
Theo ông Hãn, để đạt được mục tiêu này, họ đề ra ba nhiệm vụ chính. Thứ nhất thương thuyết với Nhật để chuyển nhưọng quyền chính trị và kinh tế về cho Việt Nam cũng như là thống nhất đất nước bị Pháp chia thành ba phần, bằng cách đưa Nam Kỳ và các thành phố Hà Nội, Hải Phòng và Tourane trở lại dưới sự cai trị của triều đình Huế. Thứ hai, Việt Nam hóa cơ cấu hành chánh thuộc địa của Pháp bằng cách thay thế các quan chức và chuyên viên Pháp, Nhật với người Việt. Và thứ ba tạo ra trong quần chúng một tinh thần quốc gia mới, một niềm ái quốc mới qua một hệ thống giáo dục hoàn toàn dùng tiếng Việt làm ngôn ngữ giảng dạy. Theo ông Hoàng Xuân Hãn, họ hy vọng rằng sẽ có được từ một năm đến 18 tháng để thực hiện chương trình này. "
Nhà sử học, giáo sư Đinh Xuân Lâm:
Về phía Nhật Bản, chúng cũng nhanh chóng tìm cách nắm chắc bộ máy cầm quyền "bản xứ" do người Pháp lập ra trước đó, và nay đã hoang mang dao động trước vụ Nhật đảo chính Pháp. Chúng bày trò "trao trả độc lập" để làm áp lực buộc vua Bảo Đại ký đạo Dụ số 1 "cải tổ bộ máy triều đình cho phù hợp với tình hình mới". Ngày 19 - 3, viện Cơ mật mới được thành lập trước đó (6-3) do Phạm Quỳnh đứng đầu xin từ chức, Nhật đưa Trần Trọng Kim từ Băng Cốc (Thái Lan) về Sài Gòn, rồi ra Huế gặp Bảo Đại và nhận đứng ra lập nội các mới. Ngày 17/4, nội các Trần Trọng Kim ra mắt. Ngày 4/5, nội các họp phiên đầu tiên, ngày 8/5 bệ kiến Bảo Đại và ra tuyên cáo chính thức. Nội các Trần Trọng Kim với thành phần là những trí thức có tên tuổi - trong số đó phải kể tới một số nhân vật tiêu biểu của nước ta trước năm 1945, có uy tín đối với nhân dân, như Trần Trọng Kim, Hoàng Xuân Hãn, Trịnh Đình Thảo, Phan Anh,…họ đều là giáo sư, luật gia, nhà báo chưa hề dính líu với bộ máy quan trường, trước đó lại từng có nhiều hoạt động thể hiện có tư tưởng yêu nước, có tinh thần dân tộc nên được nhiều người ngưỡng mộ - cũng đã làm cho một bộ phận nhân dân có phần tin tưởng, đặt hy vọng vào.
Thủ đoạn của bọn cầm quyền Nhật là triệt để lợi dụng bộ máy chính quyền do chúng mới dựng lên để lũng đoạn tình hình có lợi cho chúng, chúng chỉ muốn có một chính phủ bù nhìn hoàn toàn để thi hành mọi ý định của chúng. Mặc dù vậy, nội các Trần Trọng Kim vượt qua bao khó khăn từ nhiều phía, chủ yếu là từ Nhật, với lời hứa hẹn "phấn đấu cho Việt Nam thành một quốc gia độc lập" và với những công tác lớn được đưa vào chương trình hành động như "Giải quyết nạn đói", "Thống nhất chủ quyền lãnh thổ"…là những yêu cầu cấp bách của tình hình lúc đó, cũng đã đáp ứng một phần lòng mong mỏi của quốc gia. Đành rằng trong tình hình chiến tranh, bom đạn lúc bấy giờ, lại phải tiến hành các công việc trên dưới sự kiểm soát chặt chẽ của nhà cầm quyền Nhật nên không có điều kiện thu được kết quả như mong muốn, nhưng dù sao thì những chuyến tàu chở gạo Nam Bộ ra Bắc, cũng như những cuộc vận động để Nhật trao trả dần một số quyền trong việc quản lý đất nước, đòi hỏi cho Việt Nam những phần đất mà chế độ thuộc Pháp đã tách khỏi Việt Nam (Đà Nẵng, Hà Nội, Nam Kỳ), cũng phần nào nói lên sự cố gắng và nhiệt tình của các thành viên nội các Trần Trọng Kim. Rõ ràng là các thành viên nội các Trần Trọng Kim - tất nhiên là không phải hoàn toàn như nhau - đều có tinh thần yêu nước và mong muốn làm được một việc gì đó có lợi cho dân cho nước lúc bấy giờ.
...Cho nên suy nghĩ cho kỹ, xét đoán cho sâu để đánh giá cho đúng, hợp tình, hợp lý, chúng tôi cho rằng chính phủ Trần Trọng Kim lợi dụng thân Nhật là chính xác vì thực tế nó ra đời do bàn tay Nhật tạo dựng theo ý định của Nhật, nhưng bảo rằng nó là bù nhìn e rằng chưa thật sự đúng, vì trong thực tế nó vẫn có những chủ trương và việc làm ngoài ý muốn của Nhật và có lợi cho dân, cho nước...
Theo lời thuật của Phan Anh, Bộ trưởng Bộ Thanh niên của Đế quốc Việt Nam:
Lúc ấy, những công chức người Pháp vẫn tiếp tục làm việc. Nhưng họ có mưu mô. Ngoan ngoãn cúi đầu trước Nhật. Thâm ý là chờ đợi xem thế nào? Chờ đợi một cách tích cực. Cụ thể là: Chịu sự sai bảo của ông chủ mới để được ngồi lỳ trong bộ máy hành chánh. Trong phủ Toàn quyền, trong phủ Thống sứ: toàn là người Pháp. Họ đã mất con bài chính trị, thì phải giữ con bài hành chính... Chắc chắn Nhật chóng hay chầy sẽ đầu hàng. Giữ chặt các chức vụ hành chánh để còn có vai trò trong tương lai. Bên cạnh trận địa hành chánh, lại còn trận địa kín nữa chứ... Tôi với tư cách người yêu nước, tôi đã quan sát tình hình ấy. Chúng tôi không muốn bị cả người Pháp lẫn người Nhật đánh lừa mình. Nhóm trí thức chúng tôi không phải một đảng mà là một nhóm, chúng tôi nghĩ rằng nhiệm vụ cấp bách là phải đuổi bọn Pháp ra khỏi bộ máy hành chính. Chúng tôi huy động sinh viên, thanh niên công chức làm việc đó. "Khẩu hiệu thứ hai của chúng tôi là tạm thời ngồi làm việc với người Nhật, nhưng không là "đồng tác giả" (co-auteurs), không phải là "kẻ hợp tác" với họ; phải giữ thế trung lập...."
Lấy tư cách là thành viên của chính phủ Trần Trọng Kim, tôi nói với ông rằng chúng tôi tuyệt đối không có ảo vọng gì về người Nhật. Tình thế đã dứt khoát rồi. Phải là kẻ điên mới đi hợp tác với Nhật. Có những người điên, nhưng chúng tôi là trí thức, chúng tôi tham gia chính phủ là để phụng sự. Chính với chính sách ấy mà chúng tôi đã thành lập chính phủ với khẩu hiệu như vừa nói là: Đuổi cổ bọn Pháp và nắm lấy độc lập....
Chính phủ Trần Trọng Kim với tất cả bộ trưởng cùng theo đuổi một mục đích như tôi; đã tự vạch ra đường lối chung cho mình mà tôi vừa phác lại để ông thấy rõ. Chính phủ ấy khi ra đời đã tự coi như một mắt xích lâm thời, tôi có thể nói hẳn ra là, theo tôi nhận định, như một công cụ phục vụ cho sự nghiệp giành độc lập. Chúng tôi không coi chính mình là những người' lãnh đạo phong trào, lãnh đạo đất nước, mà là những công cụ, những tay chân của công cuộc đấu tranh dân tộc. Và do đó sự chuyển tiếp từ chính phủ Trần Trọng Kim đến nền cộng hòa trong Cách mạng tháng Tám diễn ra một cách tự nhiên suôn sẻ nữa cơ. Tôi có thể nói với ông rằng với tư cách bộ trưởng, chúng tôi trăm phần trăm ủng hộ Chủ tịch Hồ Chí Minh. Tất cả, kể cả Thủ tướng Trần Trọng Kim. Đã có sự nhất trí toàn vẹn, sâu sắc về sự chuyển tiếp ấy.
Nhà nghiên cứu Phạm Xuân Ba, nhận xét rằng "nền độc lập" của Đế quốc Việt Nam rõ ràng chỉ là giả hiệu bởi những lý do sau:
Một nước độc lập phải có một Chính phủ được toàn dân bầu ra, có bộ máy Nội các đầy đủ, hoàn toàn độc lập. Đế quốc Việt Nam thì hoàn toàn không có quốc hội, không có hiến pháp và cũng không do nhân dân bầu cử ra, sự ra đời của nó là từ toan tính của Đế quốc Nhật Bản. Chính phủ này cũng không có Bộ Quốc phòng, không có quân đội, không có Bộ Công an, việc giữ an ninh quốc gia, tuyên truyền do quân Nhật nắm giữ.
Chính phủ Trần Trọng Kim đã để mặc (hoặc không dám ngăn cản) quân Nhật vơ vét lương thực của người dân, gây ra nạn đói kinh hoàng làm chết hơn 2 triệu người ở nhiều tỉnh miền Bắc.
Câu nói cuối cùng trong bản Tuyên cáo là "Chính phủ Việt Nam một lòng tin cậy lòng thành ở Nhật Bản đế quốc, quyết chí hợp tác với nước Nhật, đem hết tài sản trong nước để cho đạt được mục đích như trên”, tự điều đó cho thấy chính phủ này phải lệ thuộc chặt chẽ vào Đế quốc Nhật Bản
Ngày 25/8/1945, Bảo Đại đã đọc Tuyên ngôn Thoái vị trước hàng ngàn người tại Ngọ Môn, sau đó trao ấn tín cho đại diện Việt Minh là ông Trần Huy Liệu. Bảo Đại nói: “Trẫm muốn làm dân một nước độc lập, hơn làm Vua một nước bị trị”. Câu nói này chứng tỏ Bảo Đại thừa nhận trước đó nước Việt Nam chưa có được độc lập, và chính Bảo Đại đã “khai tử” bản Tuyên ngôn Độc lập giả hiệu mà ông phải đọc từ sức ép của đế quốc Nhật.
Trong thư viết ngày 8/5/1947 tại Sài Gòn gửi học giả Hoàng Xuân Hãn, ông Trần Trọng Kim nói về sự yếu ớt và bất lực của Đế quốc Việt Nam năm 1945, và vai trò tiếp quản của Việt Minh như sau:
"Còn về phương diện người mình (Đế quốc Việt Nam), thì tôi thấy không có gì đáng vui. Phe nọ đảng kia lăng nhăng chẳng đâu vào đâu cả. Ai cũng nói vì lòng ái quốc, nhưng cái lòng ái quốc của họ chỉ ở cửa miệng mà thôi, nhưng kỳ thực là vì địa vị và quyền lợi, thành ra tranh giành nhau, nghi kỵ nhau rồi lăng mạ lẫn nhau... Tôi thấy tình thế có nhiều nỗi khó khăn quá, mà mình thì thân cô thế cô, không làm gì được, cho nên chỉ giữ cái địa vị bàng quan mà thôi... Tôi vẫn biết việc chống Pháp chỉ có Việt Minh mới làm nổi... Nay Việt Minh đứng vào cái địa vị chống Pháp, tất là có cái thanh thế rất mạnh...".
== Xem thêm ==
Nội các Trần Trọng Kim (tháng 4 năm 1945)
Việt Nam trong Chiến tranh thế giới thứ hai
Nạn đói Ất Dậu
Quốc hiệu Việt Nam
Lịch sử Việt Nam
Trần Trọng Kim
Cao trào kháng Nhật cứu nước
== Chú thích ==
== Liên kết ngoài ==
Vũ Ngự Chiêu, Phía bên kia cuộc cách mạng 1945: Đế quốc Việt Nam (3-8/1945), phần 1, phần 2, phần 3, và phần 4, Hợp Lưu, 2011.
Vũ Ngự Chiêu, The Other Side of the 1945 Vietnamese Revolution: The Empire of Viet-Nam (March-August 1945), The Journal of Asian Studies Vol. 45, No. 2 (Feb., 1986), pp. 293–328.
Lê Xuân Khoa, Huế năm 1945 và chính phủ Trần Trọng Kim
Phạm Cao Dương, Về chính phủ của Bảo Đại và Trần Trọng Kim, phần 1; đăng lại tại: Về chính phủ của Bảo Đại và Trần trọng Kim
Lê Công Định, Ngày độc lập nào cho Việt Nam?, BBC, 1 tháng 9 năm 2014 |
đế quốc nga.txt | Nội dung bài này về Nga trước đây. Để biết thêm nội dung khác, xem Nga (định hướng)
Đế quốc Nga (tiếng Nga: Российская империя, Rossiyskaya Imperiya) là một chính thể tồn tại từ năm 1721 cho đến khi tuyên bố thành một nước cộng hòa vào tháng 8 năm 1917.
== Lịch sử ==
Đế quốc Nga thành lập từ Công quốc thời Trung Cổ Moskva, được các hậu duệ của Ivan IV của Nga với danh hiệu là các Sa hoàng (Tsar - bắt nguồn từ Caesar). Mãi đến tận thế kỷ 17, Nga vẫn là một quốc gia bán khai, lạc hậu trong khi các quốc gia châu Âu khác đã bước sang thời đại Phục hưng. Dù đế quốc này chỉ được Sa hoàng Pyotr I Đại đế chính thức công bố vào năm 1721, nhưng đế quốc này thực sự được khai sinh khi ông trở thành Sa hoàng vào năm 1682. Ông cảm thấy phẫn nộ khi nhìn thấy sự lạc hậu của vương quốc của mình và do đó, trước khi đăng quang, ông đã đi khắp châu Âu, làm nhiều công việc khác nhau và đã học được nhiều kinh nghiệm cần thiết để mang nước Nga phát triển thành một đế quốc cường thịnh khi đó. Tiếp theo đó là cuộc Đại chiến Bắc Âu từ năm 1700 đến năm 1721, Pyotr Đại đế đã chiếm được các vùng trọng yếu duyên hải và thành lập một thành phố mà sau đó đã trở thành kinh đô của đế quốc này trong 200 năm, đó là Sankt-Peterburg. Trong trận Poltava năm 1709, quân đội Nga do Pyotr chỉ huy giành một thắng lợi quyết định trước các lực lượng Thụy Điển - quốc gia hùng mạnh nhất của Bắc Âu, buộc phần lớn quân đội Thụy Điển phải đầu hàng. Chiến thắng Poltava đánh dấu sự trỗi dậy của Nga như một cường quốc. Sau trận đánh, các vua chúa nước ngoài trở nên nể sợ Nga và chủ trương mở rộng quan hệ với Nga thông qua các hoạt động ngoại giao và hôn nhân triều đại.
Hòa ước Nystad vào năm 1721 đã chấm dứt cuộc Đại chiến Bắc Âu. Để kỷ niệm hòa ước này, Pyotr I xưng Hoàng đế và từ đây Nga chính thức trở thành một đế quốc. Tiếp theo đó, Pyotr I khai chiến với Ba Tư trong các năm 1722 – 1723, và cuộc chiến đã mang lại cho Nga quyền kiểm soát bờ tây và nam biển Caspi. Tuy nhiên, bệnh dịch gây nhiều thiệt hại cho các lực lượng Nga đóng tại Ba Tư, và họ bị buộc phải rút lui khỏi đây một thập kỷ sau đó.
Vào thập niên 1730, nước Nga tham gia Chiến tranh Kế vị Ba Lan. Cuộc chiến khởi nguồn từ việc Nga và Áo đề cử Tuyển hầu tước August III của Sachsen, con trai của cố vương Ba Lan, làm vua Ba Lan, trong khi Pháp, Tây Ban Nha và Sardigna lại đề cử Stanislas Leszczynaki - cha vợ của vua Pháp Louis XV. Triều đình Anna huy động binh mã tấn công vào lãnh thổ Ba Lan và tiến hành cuộc vây hãm Gdańsk (1734). Sau những nỗ lực đột vây thất bại của quân Pháp và Ba Lan, Leszczynaki bị buộc phải trốn chạy sang Pháp. Kể từ đây, Ba Lan trở thành một quốc gia đệm nơi quân đội Nga được can dự tùy ý. Pháp và Áo tiếp tục đánh nhau tại Đức và Ý, và một đạo quân Nga được đưa sang phía tây để hỗ trợ Áo nhưng không có hoạt động quân sự nào. Đối với Nga, cuộc chiến đã kết thúc mỹ mãn.
Từ năm 1756 cho đến năm 1762, Nga liên kết với Áo, Pháp và Thụy Điển đánh nhau với Phổ trong cuộc Chiến tranh Bảy năm. Các lực lượng Nga tấn công Đông Phổ và đánh bại một đạo quân Phổ trong trận Gross-Jägersdorf vào tháng 8 năm 1757. Đầu năm 1758, Nga chiếm được toàn bộ Đông Phổ, mặc dù một cuộc tấn công của Nga vào Brandenburg bị vua Phổ Friedrich II đẩy lui trong trận Zorndorf đẫm máu. Quân Nga cũng đánh thắng quân Phổ tại Palzig và Kunersdorf vào năm 1759. Tuy nhiên, những thắng lợi quân sự của Nga không đủ để buộc Phổ phải cầu hòa, một phần là do cứ sau mỗi chiến dịch quân đội Nga buộc phải rút về nghỉ đông ở Đông Phổ chứ không thể tiến sâu vào bản thổ Phổ. Cái chết của Nữ hoàng Elizaveta vào năm 1762 đã chấm dứt sự tham chiến trực tiếp của Nga, khi mà người kế vị bà là Pyotr III, một người ngưỡng mộ Friedrich Đại đế, giao trả mọi lãnh thổ bị Nga chiếm cho Phổ. Sau khi tiến hành cuộc đảo chính cung đình tháng 7 năm 1762, Ekaterina II lên ngôi Nữ hoàng Nga. Mỏi mệt với chiến tranh, Ekaterina kết thúc hoàn toàn sự tham gia của Nga trong cuộc chiến. Mặc dù Chiến tranh Bảy năm không mở rộng lãnh thổ cho Nga, Nga đã gạt được ảnh hưởng của Pháp khỏi Ba Lan và Thụy Điển, đồng thời khẳng định vị thế của Nga là một cường quốc hàng đầu của châu Âu.
Đến cuối thế kỷ 19, diện tích của đế quốc này là 22.400.000 km² (khoảng 1/6 diện tích đất của Trái Đất). Đối thủ duy nhất về diện tích rộng lớn này vào thời đó là Đế quốc Anh. Tuy nhiên, vào thời này, đa số dân số sống ở phần nước Nga thuộc châu Âu. Hơn 100 dân tộc khác nhau sống trong Đế quốc Nga, với dân tộc chính là người Nga chiếm 45% dân số. Năm 1914, Đế quốc Nga bao gồm 81 tỉnh (guberniya) và 20 vùng (oblast). Các nước chư hầu và lãnh thổ bảo hộ của Đế quốc Nga bao gồm tiểu Hồi quốc Bukhara, hãn quốc Khiva và sau năm 1914 còn có Tuva (Uriankhai).
Ngoài lãnh thổ của Nga hiện nay, trước năm 1917, Đế quốc Nga bao gồm phần lớn lãnh thổ của các quốc gia sau: Ukraina, (Dnepr Ukraina và Krym), Belarus, Moldova (Bessarabia), Phần Lan (Đại công quốc Phần Lan), Armenia, Azerbaijan, Gruzia, các quốc gia Trung Á: Kazakhstan, Kyrgyzstan, Tajikistan, Turkmenistan và Uzbekistan (Russkii Turkestan), phần lớn lãnh thổ của Litva, Estonia và Latvia (các tỉnh Baltic), cũng như một phần đáng kể của Ba Lan (Vương quốc Ba Lan) và tỉnh Ardahan, Artvin, tỉnh Iğdır, và tỉnh Kars từ Thổ Nhĩ Kỳ. Trong thời kỳ từ năm 1742 tới năm 1867, Đế quốc Nga tuyên bố Alaska là thuộc địa của mình.
Đế quốc Nga theo chế độ quân chủ chuyên chế tuyệt đối và cha truyền con nối do Hoàng đế chuyên chính (Sa hoàng) của họ Romanov đứng đầu. Chính thống giáo Nga là tôn giáo chính thức của đế quốc và Sa hoàng kiểm soát thông qua Hội đồng Thánh giáo. Các thần dân của đế quốc Nga được phân biệt theo sosloviye, hay đẳng cấp xã hội (giai cấp) như "dvoryanstvo" (quý tộc), tăng lữ, thương nhân, cozak và nông dân. Các dân tộc bản địa ở Siberi và Trung Á được đăng ký chính thức như là một hạng gọi là "inorodtsy" (không-Slav, nghĩa văn chương là: "người có nguồn gốc khác").
Sau khi lật đổ chế độ quân chủ trong cuộc Cách mạng tháng Hai năm 1917, Nga được chính phủ lâm thời tuyên bố là một nước cộng hòa, vị Sa hoàng Nga cuối cùng, Nikolai II phải thoái vị.
Thời kỳ này, với sự gối lên các thời kỳ trước và sau nó, được đề cập tới trong các bài sau.
Lịch sử Nga, 1682-1796
Lịch sử Nga, 1796-1855
Lịch sử Nga, 1855-1892
Lịch sử Nga, 1892-1920
== Chú thích ==
Phương tiện liên quan tới Russia tại Wikimedia Commons |
báo cáo sử dụng lao động quốc gia adp.txt | Báo cáo Sử dụng Lao động Quốc gia ADP (tiếng Anh: ADP National Employment Report), thường được giới tài chính - kinh tế biết đến như là Báo cáo Việc làm ADP (tiếng Anh: ADP Jobs Report) hoặc Báo cáo Sử dụng Lao động ADP (tiếng Anh: ADP Employment Report) là báo cáo việc làm/sử dụng lao động tại Hoa Kỳ do công ty ADP, LLC. tài trợ, nguyên được công ty Macroeconomic Advisers, LLC phát triển và duy trì.
Phương pháp luận của báo cáo được Moody's Analytics (công ty con của Tập đoàn Moody’s, chuyên cung cấp phần mềm và dịch vụ phân tích tài chính) sửa đổi tháng 11 năm 2012.
Báo cáo này là thước đo mức độ sử dụng lao động/số lượng công ăn việc làm do khối tư nhân phi nông nghiệp tại Hoa Kỳ tạo ra bằng cách sử dụng một tập hợp con nặc danh của khoảng 400.000 doanh nghiệp Hoa Kỳ là khách hàng của ADP. Trong chu kỳ 12 tháng, tập hợp con này lấy trung bình trên toàn bộ các khách hàng doanh nghiệp Hoa Kỳ của ADP và trên toàn bộ người lao động Hoa Kỳ của khối khách hàng này và làm việc trong mọi lĩnh vực công nghiệp tư nhân.
Báo cáo Doanh nghiệp nhỏ ADP (tiếng Anh: ADP Small Business Report) là ước tính hàng tháng về mức độ sử dụng lao động/số lượng việc làm được các doanh nghiệp tư nhân tạo ra trong lĩnh vực phi nông nghiệp trong số các doanh nghiệp nhỏ ở Hoa Kỳ (các doanh nghiệp có dưới 50 lao động). Báo cáo này là một bộ phận của Báo cáo Sử dụng Lao động Quốc gia ADP.
Các chỉ số tương tự như Chỉ số Việc làm Doanh nghiệp nhỏ IHS (IHS Small Business Jobs Index) hay Các chỉ số Doanh nghiệp nhỏ Intuit (Intuit Small Business Indexes) tương ứng được Paychex và Intuit tạo ra cho khối doanh nghiệp nhỏ.
== Tham khảo ==
== Liên kết ngoài ==
Báo cáo Sử dụng Lao động Quốc gia ADP (ADP National Employment Report)
Macroeconomic Advisers |
19 tháng 3.txt | Ngày 19 tháng 3 là ngày thứ 78 trong mỗi năm thường (ngày thứ 79 trong mỗi năm nhuận). Còn 287 ngày nữa trong năm.
== Sự kiện ==
1279 – Quân Nguyên thắng Nam Tống ở trận Nhai Môn, Thừa tướng Lục Tú Phu ôm Tống đế Bính nhảy xuống biển tự vẫn; triều Nguyên thống nhất Trung Quốc.
1873 – Quân Pháp đánh chiếm Hưng Trung doanh, kết thúc Khởi nghĩa Bảy Thưa diễn ra trên địa bàn An Giang, Nam Kỳ.
1915 – Sao Diêm Vương được chụp ảnh lần thứ nhất, nhưng không được công nhận là hành tinh.
1918 – Quốc hội Mỹ lập giờ tiêu chuẩn và chấp nhận chế độ kéo dài giờ làm việc ban ngày.
1932 – Cầu cảng Sydney, kiến trúc cầu vòm cao nhất thế giới, chính thức thông xe.
1945 – Chiến tranh thế giới thứ hai: Máy bay của Nhật Bản tấn công tàu sân bay USS Franklin (hình) của Hoa Kỳ đang di chuyển gần bờ biển Nhật Bản, khiến 724 người tử vong và 265 người bị thương.
1946 – Guyane thuộc Pháp, Guadeloupe, Martinique và Réunion trở thành các Tỉnh hải ngoại của Pháp.
1972 – Ấn Độ và Bangladesh ký hiệp ước hữu nghị.
2013 – Giáo hoàng Phanxicô đăng quang bằng Lễ khai mạc Sứ vụ.
== Sinh ==
1434 - Ashikaga Yoshikatsu, tướng quân shogun người Nhật Bản (m. 1443)
1684 - Jean Astruc, thầy thuốc, học giả người Pháp (m. 1766)
1721 - Tobias Smollett, tiểu thuyết gia người Scotland (m. 1771)
1778 - Edward Pakenham, tướng người Anh (m. 1815)
1813 - David Livingstone, người truyền giáo, nhà thám hiểm người Scotland (m. 1873)
1821 - Richard Francis Burton, nhà thám hiểm, nhà ngoại giao, tác gia người Anh (m. 1890)
1824 - 1828 - William Allingham, tác gia người Ireland (m. 1889)
1829 - Carl Frederik Tietgen, nhà tài chính, nhà tư bản công nghiệp người Đan Mạch (m. 1901)
1861 - Lomer Gouin, chính khách Quebec (m. 1929)
1864 - Charles Marion Russell, nghệ sĩ người Mỹ (m. 1926)
1871 - SchoHaigh, cầu thủ cricket người Anh (m. 1921)
1873 - Max Reger, nhà soạn nhạc người Đức (m. 1916)
1883 - Walter Haworth, nhà hóa học, giải thưởng Nobel người Anh (m. 1950)
1883 - Joseph Stilwell, tướng Mỹ (m. 1946)
1888 - Josef Albers, nghệ sĩ người Đức (m. 1976)
1888 - Léon Scieur, vận động viên xe đạp người Bỉ (m. 1969)
1892 - James Van Fleet, tướng người Mỹ (m. 1992)
1894 - Moms Mabley, diễn viên hài người Mỹ (m. 1975)
1900 - Frédéric Joliot, nhà vật lý, giải thưởng Nobel người Pháp (m. 1958)
1904 - John Sirica, quan tòa người Mỹ (m. 1992)
1905 - Albert Speer, công chức quốc xã (m. 1981)
1906 - Adolf Eichmann, công chức quốc xã (m. 1962)
1909 - Louis Hayward, diễn viên người Anh (m. 1985)
1909 - Attilio Demaria, cầu thủ bóng đá người Argentina (m. 1990)
1914 - Leonidas Alaoglu, nhà toán học người Hy Lạp (m. 1981)
1914 - Jay Berwanger, cầu thủ bóng đá người Mỹ (m. 2002)
1914 - Fred Clark, diễn viên người Mỹ (m. 1968)
1916 - Eric Christmas, diễn viên người Anh (m. 2000)
1916 - Irving Wallace, tiểu thuyết gia người Mỹ (m. 1990)
1917 - Dinu Lipatti, nghệ sĩ dương cầm người România (m. 1950)
1917 - Laszlo Szabo, đấu thủ cờ vua người Hungary (m. 1998)
1920 - Tige Andrews, diễn viên người Mỹ (m. 2007)
1920 - Kjell Aukrust, tác gia người Na Uy (m. 2002)
1921 - Tommy Cooper, hài kịch Magician Wales (m. 1984)
1923 - Giuse Maria Trịnh Văn Căn - Hồng y Công giáo thứ 2 người Việt Nam (m. 1990)
1923 - Pamela Britton, nữ diễn viên người Mỹ (m. 1974)
1923 - Henry Morgentaler, bác sĩ phụ khoa người Canada
1924 - Mary Wimbush, nữ diễn viên người Anh (m. 2005)
1927 - Richie Ashburn, vận động viên bóng chày người Mỹ (m. 1997)
1928 - Hans Küng, nhà thần học Thụy Sĩ
1928 - Patrick McGoohan, diễn viên người Mỹ
1930 - Ornette Coleman, nhạc công saxophon người Mỹ
1932 - Gay Brewer, vận động viên golf người Mỹ (m. 2007)
1933 - Philip Roth, tác gia người Mỹ
1933 - Renée Taylor, nữ diễn viên người Mỹ
1936 - Ursula Andress, nữ diễn viên Thụy Sĩ
1936 - Birthe Wilke, ca sĩ người Đan Mạch
1937 - Clarence "Frogman" Henry, nhạc sĩ người Mỹ
1939 - Joe Kapp, cầu thủ bóng đá người Mỹ
1942 - Richard Dobson, ca sĩ, người sáng tác bài hát người Mỹ
1943 - Mario J. Molina, nhà hóa học, giải thưởng Nobel người México
1943 - Mario Monti, chính khách người Ý
1943 - Vern Schuppan, người đua xe người Úc
1944 - Said Musa, thủ tướng Belize
1944 - Sirhan Sirhan, kẻ ám sát người Palestine
1945 - Stefanos Kiriakidis, diễn viên người Hy Lạp
1946 - Bigas Luna, đạo diễn phim người Tây Ban Nha
1947 - Glenn Close, nữ diễn viên người Mỹ
1947 - Marinho Peres, cầu thủ bóng đá người Brasil
1952 - Harvey Weinstein, nhà sản xuất phim người Mỹ
1955 - Bruce Willis, diễn viên người Mỹ
1955 - Simon Yam, diễn viên người Hồng Kông
1962 - Ivan Calderón, vận động viên bóng chày người Puerto Rican (m. 2003)
1964 - Yoko Kanno, nhà soạn nhạc người Nhật Bản
1964 - Jake Weber, diễn viên người Anh
1966 - Andy Sinton, cầu thủ bóng đá người Anh
1967 - Vladimir Konstantinov, vận động viên khúc côn cầu trên băng người Nga
1968 - Mots'eoa Senyane, nhà ngoại giao người Lesotho
1969 - Gary Jules, ca sĩ, người sáng tác bài hát người Mỹ
1969 - Connor Trinneer, diễn viên người Mỹ
1971 - Nadja Auermann, siêu người mẫu người Đức
1971 - Sébastien Godefroid, Sailor người Bỉ
1973 - Simmone Jade Mackinnon, nữ diễn viên người Úc
1975 - Vivian Hsu, ca sĩ, nữ diễn viên, người mẫu, người Đài Loan
1975 - Brann Dailor, nhạc công đánh trống người Mỹ
1976 - Andre Miller, cầu thủ bóng rổ người Mỹ
1976 - Rachel Blanchard, nữ diễn viên người Canada
1976 - Alessandro Nesta, cầu thủ bóng đá người Ý
1977 - Jorma Taccone, nhà văn, diễn viên hài người Mỹ
1979 - Hee-Seop Choi, vận động viên bóng chày người Hàn Quốc
1979 - Ivan Ljubičić, vận động viên quần vợt người Croatia
1979 - Christos Patsatzoglou, cầu thủ bóng đá người Hy Lạp
1979 - Hedo Türkoğlu, cầu thủ bóng rổ Thổ Nhĩ Kỳ
1980 - Mikuni Shimokawa, ca sĩ người Nhật Bản
1980 - Don Sparrow, người minh họa người Canada
1981 - Kim Rae Won, diễn viên, người mẫu, người Hàn Quốc
1982 - Brad Jones, cầu thủ bóng đá người Úc
1982 - Matt Littler, diễn viên người Anh
1982 - Jonathan Fanene, cầu thủ bóng đá người Mỹ
1983 - Matt Sydal, đô vật Wrestling chuyên nghiệp người Mỹ
1984 - Tanushree Dutta, nữ diễn viên Ấn Độ
1985 - Ernesto Viso, người đua xe người Venezuela
1987 - Michal Švec, cầu thủ bóng đá người Séc
1999 - Tatum McCann, nữ diễn viên người Mỹ
2007 - Prince Abdullah bin Ali, Jordan hoàng tử
== Mất ==
1721 - Giáo hoàng Clement XI (s. 1649)
1263 - Hugh of St Cher, giáo chủ hồng y người Pháp
1637 - Péter Pázmány, giáo chủ hồng y, chính khách người Hungary (s. 1570)
1649 - Gerhard Johann Vossius, nhà học giả kinh điển, nhà thần học người Đức (s. 1577)
1683 - Thomas Killigrew, nhà viết kịch người Anh (s. 1612)
1687 - Robert Cavelier de La Salle, nhà thám hiểm người Pháp (s. 1643)
1697 - Nicolaus Bruhns, người chơi đàn organ, nhà soạn nhạc người Đức (s. 1665)
1796 - Hugh Palliser, sĩ quan hải quân, người quản lý người Anh (s. 1722)
1816 - Philip Mazzei, thầy thuốc người Ý (s. 1730)
1873 - Trần Văn Thành, thủ lĩnh cuộc khởi nghĩa Bảy Thưa trong lịch sử Việt Nam.
1897 - Antoine Thomson d'Abbadie, nhà địa lý người Pháp (s. 1810)
1900 - John Bingham, chính khách, luật sư người Mỹ (s. 1815)
1900 - Charles-Louis Hanon, nhà soạn nhạc người Pháp (s. 1819)
1916 - Vasily Surikov, họa sĩ người Nga (s. 1848)
1930 - Arthur Balfour, thủ tướng Anh (s. 1848)
1939 - Lloyd L. Gaines, nhà đấu tranh cho nhân quyền người Mỹ
1942 - Clinton Hart Merriam, nhà động vật học người Mỹ (s. 1855)
1943 - Frank Nitti, găngxtơ người Mỹ (s. 1883)
1944 - William Hale Thompson, thị trưởng Chicago người Mỹ (s. 1869)
1945 - Friedrich Fromm, quốc xã công chức người Đức (s. 1888)
1950 - Edgar Rice Burroughs, tác gia người Mỹ (s. 1875)
1950 - Walter Haworth, nhà hóa học, giải thưởng Nobel người Anh (s. 1883)
1974 - Anne Klein, thời trang nhà thiết kế người Mỹ (s. 1923)
1974 - Edward Platt, diễn viên người Mỹ (s. 1916)
1976 - Albert Dieudonné, diễn viên, tiểu thuyết gia người Pháp (s. 1889)
1978 - Gaston Julia, nhà toán học người Pháp (s. 1893)
1979 - Richard Beckinsale, diễn viên người Anh (s. 1947)
1984 - Garry Winogrand, nhà nhiếp ảnh người Mỹ (s. 1928)
1995 - Yasuo Yamada, diễn viên lồng tiếng người Nhật Bản (s. 1932)
1997 - Willem de Kooning, họa sĩ người Đức (s. 1904)
1999 - Jaime Sabines, nhà thơ người México (s. 1926)
2003 - Michael Mathias Prechtl, người minh họa người Đức (s. 1926)
2003 - Émile Genest, diễn viên người Canada (s. 1921)
2004 - Mitchell Sharp, chính khách người Canada (s. 1911)
2005 - John De Lorean, kĩ sư ô tô người Mỹ (s. 1925)
2007 - Calvert DeForest, diễn viên người Mỹ (s. 1921)
2007 - Luther Ingram, ca sĩ nhạc soul, người sáng tác bài hát người Mỹ (s. 1937)
2008 - Hugo Claus, nhà văn người Bỉ (s. 1929)
== Ngày lễ và kỷ niệm ==
Công giáo Rôma và Anh giáo – Lễ kính thánh Giuse cho thánh Giuse từ Na-gia-rét, chồng của Đức Mẹ
Ngày của Cha tại Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha, Bỉ, Ý, và Honduras.
== Tham khảo == |
1850.txt | 1850 (số La Mã: MDCCCL) là một năm thường bắt đầu vào thứ Ba trong lịch Gregory. Bản mẫu:Tháng trong năm 1850
== Sự kiện ==
== Sinh ==
== Mất ==
Lâm Tắc Từ, tướng nhà Thanh, vị quan đã ra lệnh đốt thuốc phiện của người Anh
José de San Martín
== Xem thêm ==
== Tham khảo == |
nhiệt bay hơi.txt | Nhiệt lượng bay hơi hay nhiệt bay hơi của một hợp chất hóa học được định nghĩa là nhiệt lượng cần thiết để cung cấp cho một đơn vị đo về lượng chất đó (như đơn vị đo khối lượng hay số phân tử như mol) để nó chuyển từ trạng thái lỏng sang trạng thái khí, tại nhiệt độ bay hơi.
Nhiệt lượng bay hơi cũng đúng bằng nhiệt lượng tỏa ra bởi một đơn vị đo lượng vật chất khi nó chuyển từ trạng thái khí sang lỏng, tại nhiệt độ ngưng tụ.
Trong hệ thống đo lường quốc tế, đơn vị đo của nhiệt lượng bay hơi là Joule trên kilôgam, J·kg−1 hay J/kg, hoặc Joule trên mol.
== Xem thêm ==
Nhiệt nóng chảy
Nhiệt dung riêng
Nhiệt độ bay hơi
== Tham khảo == |
chiến tranh trăm năm.txt | Chiến tranh Trăm Năm là cuộc chiến tranh giữa Anh và Pháp kéo dài từ năm 1337 đến năm 1453 nhằm giành giật lãnh thổ và ngôi vua Pháp. Hai phe chính tham gia vào cuộc chiến là hoàng tộc Valois (vua Pháp) và hoàng tộc Plantagenet (vua Anh). Hoàng tộc Plantagenet làm vua ở Anh từ thế kỷ 12 và có gốc gác từ các vùng của Pháp như Anjou và Normandy. Chiến tranh nổ ra xoay quanh chuyện nhà Valois tuyên bố mình là vua của nước Pháp, còn nhà Plantagenet lại đòi hỏi ngôi vua của cả nước Pháp và nước Anh.
Cuộc chiến tranh chia làm bốn giai đoạn Chiến tranh thời Edward (1337-1360), Chiến tranh thời Charles (1369-1389), Chiến tranh thời nhà Lancaster (1415-1429), và sau đó là sự suy tàn dần của Anh sau khi xuất hiện của nữ anh hùng Jeanne d'Arc. Thuật ngữ "Chiến tranh Trăm Năm" là thuật ngữ được các nhà sử học đặt ra để mô tả theo chuỗi sự kiện.
Chiến tranh Trăm Năm là sự kiện lịch sử rất quan trọng. Mặc dù là cuộc xung đột giữa các triều đại nhưng cuộc chiến tranh đã thúc đẩy những ý tưởng đầu tiên về ý thức dân tộc của cả hai nước Pháp và Anh. Cuộc chiến cũng đã dẫn tới nhiều sự thay đổi về mặt chính trị và kinh tế của cả hai nước. Về mặt quân sự, nó được xem là cuộc chiến tranh đã đưa vào sử dụng các loại vũ khí và các chiến thuật mới thay thế cho các loại đã lỗi thời của quân đội phong kiến thống trị bởi kỵ binh hạng nặng. Vì tính chất quan trọng cũng như thời gian dài của chiến tranh, Chiến tranh Trăm Năm thường được xem là một trong những cuộc chiến tranh quan trọng nhất trong lịch sử các cuộc chiến tranh thời Trung cổ.
== Nguồn gốc chiến tranh ==
Nguồn gốc mâu thuẫn bắt đầu từ 400 năm trước khi cuộc chiến nổ ra. Năm 911, Charles III của Pháp của nhà Caroling cho phép những người Viking định cư ở một vùng đất thuộc vương quốc của ông (vùng đất sau này được gọi là Normandy). Năm 1066, những người Norman do công tước William xứ Normandy (còn gọi là William the Conqueror - William kẻ chinh phục) chỉ huy đã chinh phục nước Anh, đánh bại những người Anglo-Saxon trong trận Hastings và xây dựng một hệ thống quyền lực Anh-Norman mới tại Anh. William lên ngôi vua, tức William I của Anh. Sự kiện này bắt đầu mối bất hòa giữa hai nước Anh và Pháp, vì William giờ đã là vua Anh nhưng trên danh nghĩa vẫn là công tước Normandy, nghĩa là vẫn phải xưng thần với vua Pháp. Người Anh tất nhiên không hài lòng vì vua của mình phải ở địa vị thấp hơn vua của một nước ngang tầm, còn người Pháp lại e sợ rằng thông qua Normandy, thế lực của người Anh sẽ xâm nhập vào Pháp.
Trong thời kỳ nội chiến và hỗn loạn ở Anh giai đoạn 1135-1154, triều đình của người Anh-Norman đã bị thay thế bởi những vương công xứ Anjou (sau khi họ lên ngôi vua nước Anh thì thường gọi là hoàng tộc Plantagenet). Ở đỉnh cao quyền lực, thế lực của họ bành trướng vào nước Pháp, những người Plantagenet kiểm soát xứ Normandy và nước Anh, cộng thêm các vùng Maine, Anjou, Touraine, Gascogne, Saintonge và Aquitaine. Do kiểm soát một lãnh địa rộng lớn như vậy nên triều đình này đôi khi còn được nhắc tới với tên gọi Đế chế Angevin. Vua nước Anh về danh nghĩa là chư hầu của vua Pháp, nhưng lại kiểm soát nhiều đất đai hơn chính vua Pháp. Tình trạng này dẫn đến mâu thuẫn kéo dài sau đó. Người Pháp đã giải quyết mâu thuẫn này bằng ba cuộc chiến có ý nghĩa quyết định: Cuộc chinh phục Normandy (1214), Chiến tranh Saintonge (1242) và Chiến tranh Saint Sardos (1324). Các cuộc chiến này khiến người Anh mất nhiều lãnh địa ở châu Âu. Họ mất hoàn toàn xứ Normandy và chỉ còn giữ lại một số tỉnh tại vùng Gascogne (tiếng Anh: Gascony). Vào đầu thế kỷ 14, nhiều quý tộc Anh vẫn mơ tưởng về một thời kỳ huy hoàng trong quá khứ, khi cha ông họ nắm giữ nhiều vùng đất trù phú ở Pháp. Họ bắt đầu vận động cho cuộc chiến giành lại những vùng đất giàu có như Normandy và cho rằng chúng xứng đáng thuộc về họ. Trong khi đó trên danh nghĩa nước Anh vẫn là một chư hầu của nước Pháp. Cho đến nửa sau thế kỷ 14, tiếng Pháp vẫn là tiếng nói chính thức trong giới quý tộc ở Anh.
== Những tranh cãi về thừa kế: 1314-1328 ==
Tại Pháp, dòng họ nhà Capet (tiếng Pháp: Les Capétiens) đã cai trị theo hình thức cha truyền con nối từ năm 987 và là dòng họ cai trị lâu đời nhất ở châu Âu trung cổ. Năm 1314, vua Philippe IV của Pháp băng hà, để lại ba người kế vị: Louis X, Philippe V và Charles IV. Con trai lớn nhất của ông, Louis X, qua đời năm 1316, để lại đứa con còn trong bụng mẹ: Jean I. Jean I chết gần như ngay sau khi sinh, còn con gái của Louis X, Jeanne II xứ Navarre, lại bị đặt nghi vấn về huyết thống. Philippe IV còn một người con gái tên là Isabelle. Bà này kết hôn với vua Edward II của Anh.
Để giữ được ngai vàng, Philippe V, con trai thứ hai của Philippe IV và chú của Jeanne, tung tin đồn rằng Jeanne không phải là con của Louis X. Cùng với truyền thống trước kia là phụ nữ không được phép thừa kế ngai vàng, Philippe trở thành vua nước Pháp. Tuy nhiên, khi Philippe V chết vào năm 1322, tới lượt các con gái của ông cũng bị gạt qua một bên. Ngai vàng lọt vào tay con trai thứ ba của Philippe IV là Charles IV.
Năm 1324, Charles IV và Edward II của Anh chạm trán trong một cuộc chiến tranh ngắn ngủi, Chiến tranh Saint Sardos ở Gascogne. Sự kiện quan trọng nhất của cuộc chiến là cuộc vây hãm các pháo đài của Anh ở La Réole, trên bờ sông Garonne. Quân Anh, do Edmund xứ Woodstock, Bá tước xứ Kent, chỉ huy, buộc phải đầu hàng sau một tháng bị quân Pháp vây hãm, còn quân tiếp viện thì không đến được. Cuộc chiến là một thất bại toàn diện với quân Anh, họ chỉ còn giữ lại được Bordeaux và một dãy đất hẹp ở vùng ven biển.
Việc giành lại những vùng đất đã mất đó trở thành mục tiêu số một của chính sách đối ngoại Anh sau này. Thất bại trong cuộc chiến cũng khiến Edward II mất uy tín nghiêm trọng với giới quý tộc và ông bị ám sát năm 1327. Con trai ông, Edward III, kế vị cha. Charles IV của Pháp băng hà năm 1328, để lại một con gái và một đứa con nữa còn trong bụng mẹ (chưa rõ giới tính). Đứa trẻ đó ra đời và cũng là con gái nốt nên tất nhiên không được lên ngôi. Đến đây triều đại nhà Capet kết thúc, đẩy nước Pháp vào một cuộc khủng hoảng thừa kế.
Quan hệ Anh – Pháp phức tạp ở chỗ em gái của Charles IV của Pháp, Isabelle, lại là vợ của Edward II của Anh. Sau khi Edward II chết, Isabelle nắm quyền nhiếp chính ở Anh cho con là Edward III. Edward III là vua của nước Anh và đồng thời, theo luật thừa kế, là người họ hàng gần nhất với vua Charles IV của Pháp vừa băng hà (là cháu trai gọi bằng bác), thế nên cũng được xem là người thừa kế hợp pháp của ngai vàng nước Pháp.
Tất nhiên là giới quý tộc Pháp khó lòng chấp nhận điều đó. Họ viện dẫn luật Salic và khẳng định rằng do ngai vàng không thể do một phụ nữ thừa kế nên con cái của người phụ nữ đó cũng không được thừa kế ngai vàng. Vậy là người Pháp quyết định trao ngai vàng cho người nam giới lớn tuổi nhất thuộc dòng họ nhà Capet lúc bấy giờ, Philippe xứ Valois, người đầu tiên của dòng họ nhà Valois, một chi của dòng họ Capet.
Jeanne II xứ Navarre, con gái của Louis X, cũng có cơ sở để đòi quyền thừa kế, nhưng không có thực lực để làm điều đó. Để đổi lấy việc được thừa kế xứ Navarre, Jeanne và chồng, Philippe xứ Evreux, phải thừa nhận Philippe xứ Valois là vua Philippe VI của Pháp đồng thời nhường cho Philippe VI những lãnh địa Champagne và Brie. Năm 1332, con trai của Jeanne và Philippe Evreux, Charles II xứ Navarre, ra đời và trở thành người thừa kế gần nhất của Philippe IV theo cách tính ưu tiên cho dòng trưởng (cháu trai gọi Philippe IV bằng cụ nội trong khi Edward III của Anh chỉ là cháu gọi Philippe IV bằng ông ngoại). Mặc dù vậy, trong hai thế kỷ sau đó thì nhánh Navarre này không giành được ngôi vua, cho tới khi một hậu duệ của họ là Henry IV của Pháp trở thành vị vua Pháp đầu tiên của dòng Bourbon.
== Căng thẳng gia tăng ==
Sau khi Philippe VI lên ngôi vua nước Pháp, người Anh vẫn kiểm soát xứ Gascogne, một vùng đất giàu có nhờ các sản vật quan trọng như muối ăn và rượu vang. Gascogne trở thành lãnh địa tranh chấp của cả hai phía Anh và Pháp. Tuy nhiên, năm 1331, do phải đối mặt với những vấn đề quốc nội, Edward III từ bỏ quyền thừa kế ngai vàng nước Pháp, thừa nhận Philippe là vua nước Pháp để đổi lấy việc được giữ vùng Gascogne.
Năm 1333, Edward III tấn công David II của Scotland, một đồng minh của Pháp trong liên minh Auld, cuộc Chiến tranh giành độc lập lần thứ hai của Scotland bắt đầu. Philippe VI muốn nhân cơ hội này để đánh chiếm vùng Gascogne. Tuy nhiên, cuộc chiến kết thúc nhanh hơn dự tính của người Pháp khi Edward III và Edward Balliol đánh bại David II trong trận Halidon Hill vào tháng 7 năm 1333. David II phải lưu vong sang Pháp; năm 1336 Philippe VI bắt đầu vạch kế hoạch phục hồi ngôi vị cho David II và đánh chiếm vùng Gascogne.
== Giai đoạn chiến tranh thứ nhất với thắng lợi của quân Anh: 1337-1360 ==
Tình hình bắt đầu trở nên căng thẳng khi các tàu chiến của Pháp tuần tiễu bên ngoài các khu dân cư ven bờ eo biển Anh. Năm 1337, Philippe VI tuyên bố các điền địa ở xứ Gascogne là thuộc sở hữu nước Pháp. Edward III đáp trả bằng tuyên bố rằng ông mới là người thừa kế hợp pháp của ngai vàng nước Pháp. Những đụng độ quân sự lẻ tẻ bắt đầu nổ ra ở vùng duyên hải của Anh và Pháp. Tháng 12 năm 1338, quân Pháp tấn công Gascogne, chiến tranh chính thức bắt đầu.
Khi cuộc chiến bắt đầu, dân số Pháp vào khoảng 17 triệu người, trong khi dân số Anh chỉ vào khoảng 4 triệu. Pháp cũng được coi là có ưu thế hơn về kỹ chiến thuật quân sự. Trong những năm đầu tiên, Edward III liên minh với các nước chư hầu nhỏ thuộc vùng nước Đức ngày nay và xứ Vlaanderen, nhưng sau hai chiến dịch không thu được gì, liên minh tan rã vào năm 1340. Chi phí phải trả cho những vương công các nước chư hầu ở Đức và duy trì lực lượng quân đội đồn trú ở nước ngoài khiến nước Anh bị phá sản, ngân khố trống rỗng và uy tín của Edward III suy giảm nghiêm trọng. Trên biển, quân Pháp chiếm ưu thế nhờ việc sử dụng các chiến thuyền và thủy thủ của xứ Genoa. Nhiều thành thị ven biển ở Anh bị tấn công và tàn phá, gây ra sự hoảng loạn ở vùng duyên hải. Chiến tranh trên biển tác động rất xấu đến nền kinh tế Anh, khiến giao thương giữa Anh với châu Âu lục địa, việc vận chuyển len và lông cừu cho xứ Vlaanderen, cũng như vận chuyển rượu vang từ Gascogne sang Anh bị gián đoạn. Tuy nhiên, năm 1340, trong trận Sluys, gần như toàn bộ hải quân Pháp bị quân Anh tiêu diệt. Trận đánh đó có ý nghĩa bước ngoặt. Kể từ đó, quân Anh kiểm soát vùng eo biển Anh và ngăn không cho quân Pháp đổ bộ xuống đảo Anh.
Năm 1341, những mâu thuẫn trong việc thừa kế lãnh địa Bretagne đã dẫn đến chiến tranh giành quyền thừa kế Breton, trong đó Edward III ủng hộ John Montfort còn Philippe VI đứng sau lưng Charles Blois. Cuộc chiến trong vài năm tiếp sau đó diễn ra giằng co ở Bretagne khi thủ phủ xứ này, thành phố Vannes, đổi chủ vài lần.
Tháng 7 năm 1346, Edward III tổ chức một cuộc tấn công quy mô, vượt qua eo biển Anh và đổ bộ lên Cotentin. Quân Anh đánh chiếm Caen chỉ trong một ngày, gây bất ngờ lớn cho quân Pháp, vốn cho rằng thành phố sẽ giữ được lâu hơn. Philippe VI nhanh chóng tổ chức quân đội tiến hành đánh trả. Edward III quyết định hành quân về phía bắc thay vì đóng quân chiếm đất. Ý thức rằng quân Anh không đông bằng quân Pháp, Edward III chuẩn bị và chờ đợi Philippe VI tấn công trước. Trận Crécy, một trận đánh nổi tiếng, là một thất bại nặng nề với quân Pháp, chủ yếu do sức mạnh của đội quân cung thủ của Anh. Sau trận đánh, Edward III tiến tiếp về phía bắc và bao vây thành phố Calais trên bờ eo biển Anh rồi chiếm được thành phố này năm 1347. Đó là một chiến thắng quan trọng với quân Anh vì kể từ đó, họ có được một chỗ trú quân bền vững và an toàn ở châu Âu lục địa. Cũng trong năm đó, quân Anh giành chiến thắng trước quân Scotland trong trận Neville’s Cross, bắt sống David II và giảm thiểu mối đe dọa từ phía Scotland.
Năm 1348, nạn dịch hạch bùng nổ ở châu Âu. Năm 1350, Philippe VI băng hà, con trai ông, Jean II của Pháp (tiếng Anh là John II), kế vị. Sau đại dịch, nước Anh bắt đầu dần hồi phục về kinh tế cho phép họ tiếp tục cuộc chiến. Năm 1356, con trai của Edward III, trùng tên với ông và là hoàng tử xứ Wales, còn gọi là Black Prince, tấn công vùng Gascogne và giành được một thắng lợi quan trọng trong trận Poitiers với chiến lược sử dụng các cung thủ giống như ở Crécy. Vua nước Pháp Jean II bị bắt sống trong trận này. Jean II ký một hiệp định ngừng chiến với Edward III và năm sau thì Hòa ước London lần thứ hai được ký, cho phép nước Anh chiếm vùng Aquitaine và Jean II được tha về.
Nước Pháp thua trận và rơi vào tình trạng hỗn loạn. Năm 1358, một cuộc nổi dậy lớn của nông dân nổ ra, trong khi binh lính thì đi cướp bóc khắp nơi. Edward III tấn công nước Pháp lần thứ ba, và là lần cuối cùng với hy vọng đoạt luôn ngôi vua nước Pháp. Nhưng dù quân Pháp đã yếu đi nhiều, Edward III vẫn không thể chiếm được những thành phố quan trọng như Paris hay Rheims, do vị thái tử, sau này là vua Charles V của Pháp, chiếm giữ. Kết quả là Hiệp ước Brétigny được ký năm 1360. Quân Anh kết thúc giai đoạn này của cuộc chiến với việc giành được một nửa xứ Bretagne, Aquitaine (vào khoảng một phần tư lãnh thổ nước Pháp), Calais, Ponthieu và khoảng một nửa các thành bang phụ thuộc của Pháp, tạo ra một ưu thế rõ rệt giữa nước Anh thống nhất và nước Pháp chia rẽ.
== Thời kỳ hòa bình thứ nhất: 1360-1369 ==
Con trai của Jean II của Pháp, Louis I xứ Anjou, được gửi đến Anh làm con tin nhưng bỏ trốn vào năm 1362. Giữ đúng tinh thần hiệp sĩ, Jean II tự mình đến Anh để làm con tin và ông qua đời trên đất Anh năm 1364. Charles V của Pháp thay cha mình trở thành vua nước Pháp.
Hiệp ước Brétigny khiến Edward III của Anh không được phép tranh giành quyền thừa kế ngai vàng nước Pháp nữa, nhưng hiệp ước đó cũng mở rộng lãnh địa của ông ra toàn vùng Aquitaine và khẳng định quyền sở hữu của nước Anh với Calais. Ở Pháp, sau khi lên ngôi, Charles V nhanh chóng tìm cách giành lại những vùng đất đó. Năm 1369, chiến tranh lại bùng nổ.
== Giai đoạn chiến tranh thứ hai với nước Pháp chiếm ưu thế: 1369-1389 ==
Trong giai đoạn này Pháp chủ động tấn công quân Anh và thu hồi phần lớn đất đai đã mất. Nước Pháp xuất hiện một danh tướng là Bertrand du Guesclin từ Breton giúp họ có được nhiều thắng lợi. Cùng thời điểm này, người anh hùng của nước Anh trong trận Poitiers là hoàng tử Black đang bận tham chiến ở bán đảo Iberia, còn cha ông, Edward III, người cũng đã từng thắng lớn trong trận Crecy, thì đã quá già để trở lại cầm quân. Điều này làm quân Pháp có nhiều lợi thế. Cuộc chiến sau đó có thêm cả sự tham gia của Castile (một xứ thuộc Tây Ban Nha) theo phe Pháp và Bồ Đào Nha theo phe Anh.
Bertrand du Guesclin chỉ huy một loạt chiến dịch theo kiểu tránh giao tranh trực diện với quân Anh. Pháp chiếm lại Poitiers vào 1372 và Bergerac vào 1377. Anh đáp trả bằng một loạt chiến dịch đột kích cướp phá (Chevauchée) nhưng không cản được Du Guesclin.
Với cái chết của Black Prince năm 1376 và Edward III năm 1377, nước Anh tôn Richard xứ Bordeaux, người con trai đang tuổi thiếu niên của Black Prince, lên làm vua tức Richard II. Nước Anh lúc này cũng bị Scotland đe dọa ở phía Bắc. Trong khi đó ở Pháp, Du Guesclin cũng chết vào năm 1380. Chiến tranh Anh - Pháp một lần nữa được tạm dừng với Hòa ước Leulingham năm 1389.
== Thời kỳ hòa bình thứ hai: 1389-1415 ==
Năm 1380, Charles V của Pháp qua đời. Charles VI của Pháp mới 12 tuổi lên ngôi và chẳng bao lâu thì bị bệnh thần kinh. Các quý tộc trong nước chia thành hai phe tranh giành ngôi nhiếp chính nước Pháp và quyền bảo trợ cho con cái nhà vua: một phe do Công tước Jean sans Peur xứ Burgundy (tiếng Anh: John the Fearless) và là chú của vua cầm đầu, một phe do Công tước Louis xứ Orléans và là em của vua cầm đầu.
Nước Anh lúc này cũng gặp nhiều kẻ thù. Ireland, Wales và Scotland đều chống lại họ. Họ cũng phải đối mặt với các cuộc đấu đá trong nội bộ triều đình và nạn cướp phá từ ngoại bang nên không thể tiếp tục các chiến dịch ở lục địa. Một người cháu nội khác của Edward III là Henry IV ở ngôi vua từ 1399–1413, và rồi con ông ta là Henry V nối ngôi. Henry V chính là người đã tiếp tục cuộc chiến Anh - Pháp vào năm 1415.
== Giai đoạn chiến tranh thứ ba dưới thời Henry V: 1415-1429 ==
Thời kỳ nước Pháp bị nhấn chìm từ năm 1415-1435 là thời kỳ nổi tiếng nhất của cuộc chiến tranh Trăm Năm. Năm 1414, phe Armagnac đưa ra lời đề nghị với Henry V về việc khôi phục lại các biên giới trong hiệp ước Brétigny (năm 1360) để đổi lại sự giúp đỡ của ông. Henry V từ chối và đòi lại các lãnh thổ từ tận thời Henry II hơn 200 năm về trước cộng thêm những món tiền lớn. Không đàm phán được, cuối cùng hai bên đã gây chiến với nhau. Năm 1415, Henry V dẫn đầu một đội quân đổ bộ và đánh chiếm Harfleur, nhưng nơi này chống cự lâu hơn ông nghĩ khiến những kế hoạch ông dự tính trước bị đổ vỡ. Thay vì tiến vào Paris như kế hoạch, ông hướng về Calais (nơi vẫn đang do Anh chiếm giữ) để trú quân. Trên đường hành quân, quân Anh vừa đi vừa đột kích các vùng của Pháp. Quân đội Pháp tập hợp được một lực lượng lớn hơn nhiều so với quân Anh và đuổi theo Henry V.
Quân Pháp cuối cùng bắt kịp quân Anh ở một địa điểm nằm giữa Tramecourt và Agincourt. Với số lượng áp đảo, họ cho rằng sẽ dễ dàng đánh bại người Anh. Thêm nữa, trong hàng ngũ quân Pháp có rất nhiều quý tộc mà cha ông của họ từng đại bại nhục nhã ở Crecy và Poitiers nên họ đang rất khao khát báo thù. Thế nhưng ở thế không còn đường lui, Henry V đã chỉ huy một trận Agincourt vang dội, đánh tan hoàn toàn quân Pháp và giết rất nhiều quý tộc Armagnac. Từ đây, quân Pháp rơi vào khủng hoảng và liên tục mất đi lãnh thổ.
Sau trận chiến, Henry V quay về nước Anh để chuẩn bị lại quân đội. Sau đó ông quay trở lại Pháp và đánh chiếm phần lớn xứ Normandy, bao gồm cả Caen vào năm 1417 và Rouen vào 1419. Lúc này thì phe Burgundy cũng đã đánh bại phe Armagnac để chiếm Paris và Henry V kết liên minh với họ. Tiếp đó, Henry V ký với vị vua bị bệnh thần kinh Charles VI Hiệp ước Troyes. Theo hiệp ước này, Henry sẽ cưới con gái của Charles là Catherine, và rồi đứa con sinh ra từ cuộc hôn nhân này sẽ cai trị cả nước Anh và Pháp. Sau đó, Henry chính thức tiến vào Paris và Hiệp ước này được phê chuẩn bởi Hội nghị ba đẳng cấp của Pháp. Đó là đỉnh cao của người Anh trong chiến tranh.
Thế nhưng, Henry V và Charles VI cùng mất vào năm 1422. Đứa con mới sinh của Henry V là Henry VI được gia miện là vua của cả Anh và Pháp, nhưng phái Armagnac ở Pháp lại tuyên bố không thừa nhận vị vua này mà lại ủng hộ thái tử của Charles VI lên ngôi (sau trở thành Charles VII). Chiến tranh tiếp tục nổ ra ở vùng trung tâm nước Pháp.
Năm 1424, các ông chú của vị vua bé Henry VI bắt đầu tranh chấp nhau về quyền nhiếp chính. Một trong số đó là Humphrey, công tước xứ Gloucester đã cưới nữ bá tước của Hainaut là Jacqueline, và xâm lược Hà Lan để lấy lại lãnh địa cũ cho vợ mình. Điều này khiến ông ta mâu thuẫn trực tiếp với Philip III, công tước xứ Burgundy.
== Giai đoạn chiến tranh thứ tư với chiến thắng của Pháp: 1429–1453 ==
Năm 1428, người Anh vây đánh thành Orleans, một cứ điểm quan trọng của quân Pháp. Mặc dù quân Anh không thật sự đủ mạnh để công thành nhưng tinh thần của người Pháp lại đang xuống rất thấp và nhiều đơn vị quân đội chần chừ trong việc tiếp viện Orleans. Đúng vào thời điểm này thì Jeanne d'Arc (tiếng Anh: Joan of Arc) xuất hiện để làm vị cứu tinh cho người Pháp.
Xuất thân chỉ là một cô gái nông dân 17 tuổi, Jeanne nói rằng chính Chúa sẽ dẫn dắt mình giải phóng quê hương khỏi tay người Anh. Cô gái trẻ thuyết phục được thái tử Pháp đưa mình tới Orleans vào năm 1429. Với niềm tin mạnh mẽ của mình, Jeanne đã nâng cao nhuệ khí binh sĩ Pháp và đánh bật quân Anh khỏi Orleans.
Được truyền cảm hứng từ Jeanne, quân Pháp liên tiếp giành thắng lợi dọc sông Loire. Tiếp đó, một đội quân Pháp đánh bại quân Anh ở Patay do John Fastolf và John Talbot chỉ huy, mở đường cho thái tử Pháp tới Reims và chính thức được gia miện thành Charles VII. Trận Patay có thể coi như đảo ngược của trận Agincourt khi quân Pháp kịp tấn công trước khi quân Anh dàn xếp xong đội hình phòng thủ.
Thế tiến của quân Pháp bị suy giảm sau sự kiện Jeanne bị người Burgundy bắt giữ và đem bán cho người Anh rồi bị hỏa thiêu (năm 1430). Tuy nhiên vào năm 1435, phái Burgundy lại đổi phe và trao trả Paris cho vua Pháp. Họ quá bận rộn với cuộc chiến ở những vùng đất thấp (nay Hà Lan) nên không thể can dự vào nước Pháp.
Sự hòa hoãn kéo dài đã giúp Charles VII có đủ thời gian để tái tổ chức quân đội và chính phủ. Ông thay thế lực lượng dân quân bằng quân đội chính quy và xây dựng chế độ tập quyền. Một loạt những chiến dịch né tránh kiểu Du Guesclin đã giúp người Pháp liên tiếp lấy lại từng thành phố một, tiến dần đến việc giải phóng hoàn toàn nước Pháp khỏi tay người Anh.
Năm 1449, Pháp lấy lại Rouen. Năm 1450, họ tiếp tục thắng trận Formigny, và rồi tái chiếm Caen, Bordeaux và Bayonne. Năm 1453, tướng John Talbot, nhà lãnh đạo quân sự cuối cùng của Anh còn bấu víu ở nước Pháp, cố gắng lấy lại Gascogne nhưng bị Jean Bureau cùng những khẩu thần công nghiền nát trong trận Castillon. Bản thân ông tướng John Talbot này cũng tử trận ở đây. Đó được xem như trận chiến cuối cùng của cuộc chiến Trăm Năm. Người Anh không còn đủ sức đòi ngôi vua Pháp. Lãnh địa cuối cùng mà họ còn giữ được trên đất Pháp là Calais.
Mãi tới năm 1557, một thế kỷ sau đó, Pháp mới chinh phục lại Calais.
== Ý nghĩa lịch sử ==
Chiến tranh Trăm Năm được xem như một thời đại cách mạng về quân sự. Vũ khí, chiến thuật, cơ cấu quân đội và ý nghĩa xã hội của chiến tranh đều thay đổi dựa trên yêu cầu của cuộc chiến, các tiến bộ khoa học kỹ thuật và kinh nghiệm chiến trường. Trước đó, kỵ binh hạng nặng được xem như đơn vị mạnh nhất trên chiến trường. Thế nhưng sau cuộc chiến tranh, quan niệm đó đã thay đổi. Kỵ binh ngày càng bị vô hiệu hóa bới cung tên dài (sau đó là súng) và những chiến thuật phòng ngự hiệu quả của binh sĩ, như cách người Anh đã đập tan quân Pháp ở Crecy, Poitiers và Agincourt. Chiến tranh Trăm Năm kết thúc cũng là lúc nói lời cáo chung cho hình ảnh các kỵ sĩ oai hùng sống theo đúng tinh thần hiệp sĩ, từng một thời thống trị châu Âu. Trận chiến Castillon cũng đánh dấu lần đầu tiên pháo binh giữ vai trò quyết định.
Một điểm đáng lưu ý nữa là việc cả hai nước Anh Pháp đều đã xây dựng lực lượng quân đội thường trực cho mình vào cuối cuộc chiến tranh. Quân đội thường trực giúp nhà vua có nhiều quyền lực hơn để đối chọi với cả ngoại bang lẫn các mối đe dọa trong nước, và đó cũng là một bước chuyển biến đầu tiên khiến châu Âu đi từ trật tự trung cổ với các lãnh chúa phong kiến (có thể tới giúp hoặc không khi vua kêu gọi) tới thể chế tập quyền hơn của các quốc gia.
Mặc dù giành được những lợi thế về chiến thuật, thế nhưng người Anh không thể nào giành được thắng lợi cuối cùng trước người Pháp vì nước Pháp lớn hơn Anh nhiều và đông dân hơn Anh tới bốn lần. Một vấn đề nan giải đối với người Anh là càng chiếm được nhiều đất thì những yêu cầu cho việc chiếm đóng càng tăng và sức mạnh tấn công của họ càng giảm sút. Thứ mà người Pháp cần là một niềm tin, điều mà Jeanne d’Arc đã truyền được cho họ.
Về mặt xã hội, cuộc chiến cũng đã để lại nhiều sự thay đổi cho hai cả hai phía. Thứ nhất, đó là tinh thần dân tộc. Khởi đầu, nó chỉ là cuộc xung đột giữa hai dòng hoàng tộc Anh – Pháp, nhưng sau đó, nó đã biến thành cuộc xung đột giữa người Anh và người Pháp. Tinh thần dân tộc nảy sinh đã giúp nội bộ của từng quốc gia hợp nhất hơn. Thứ hai đó là vấn đề ngôn ngữ, chiến tranh Trăm Năm đã loại bỏ hoàn toàn tiếng Pháp ra khỏi nước Anh.
Về mặt kinh tế, cả hai nước đều mệt mỏi vì chiến tranh, tuy nhiên Pháp thiệt hại nặng nề hơn nhiều vì hầu như chiến tranh chỉ xảy ra trên đất Pháp. Người Anh thu được nhiều nguồn lợi từ những vùng mà họ tạm chiếm được, nhưng lúc kết thúc cuộc chiến, họ đã mất tất cả lãnh thổ ở lục địa (trừ Calais) và dường như bị bỏ rơi ở một góc châu Âu. Tuy vậy, việc khám phá ra châu Mỹ vào năm 1492 đã đem lại cho người Anh cơ hội mới để phát triển.
== Những nhân vật quan trọng ==
== Những trận chiến lớn ==
Tháng 11 năm 1337—Trận Cadsand
Ngày 24 tháng 6 năm 1340—Trận Sluys
Ngày 21 tháng 10 năm 1345—Trận Auberoche
Ngày 26 tháng 8 năm 1346—Trận Crécy
Ngày 4 tháng 9 năm 1346–Ngày 3 tháng 8 năm 1347—Vây hãm Calais
Ngày 29 tháng 8 năm 1350—Hải chiến Les Espagnols sur Mer
Ngày 26 tháng 3 năm 1351—Trận chiến 30 người
Năm 1351—Trận Mauron
Ngày 19 tháng 9 năm 1356—Trận Poitiers
Ngày 29 tháng 9 năm 1364—Trận Auray
Ngày 3 tháng 4 năm 1367—Trận Nájera
Ngày 3 tháng 12 năm 1370—Trận Pontvallain
Ngày 22 tháng 6 năm 1372—Trận La Rochelle
Năm 1374-1380—Hải chiến Thames
Năm 1385—Trận Aljubarrota
Năm 1385—Đổ bộ Scotland
Ngày 25 tháng 10 năm 1415—Trận Agincourt
Năm 1416—Trận Valmont
Năm 1417—Hải chiến Sông Seine
Ngày 31 tháng 7 năm 1418–Ngày 19 tháng 1 năm 1419—Vây hãm Rouen
Năm 1419—Trận La Rochelle
Ngày 22 tháng 3 năm 1421—Trận Bauge
Ngày 31 tháng 7 năm 1423—Trận Cravant
Ngày 17 tháng 8 năm 1424—Trận Vernuil
Ngày 6 tháng 3 năm 1426—Trận St James
Ngày 12 tháng 10 năm 1428–Ngày 8 tháng 5 năm 1429—Vây hãm Orléans
Ngày 12 tháng 2 năm 1429—Trận Herrings
Ngày 17 tháng 7 năm 1429—Trận Patay
Năm 1435—Trận Gerbevoy
Năm 1435—Quân Pháp chiếm Paris
Ngày 15 tháng 4 năm 1450—Trận Formigny
Năm 1451—Pháp xâm lược Gascony
Ngày 17 tháng 7 năm 1453—Trận Castillon
== Xem thêm ==
Lịch sử quân sự Anh
Lịch sử quân sự Pháp
== Tham khảo ==
=== Tư liệu thứ cấp ===
The Anonimalle Chronicle, 1333-1381. Edited by V.H. Galbraith. Manchester: Manchester University Press, 1927.
Avesbury, Robert of. De gestis mirabilibus regis Edwardi Tertii. Edited by Edward Maunde Thompson. London: Rolls Series, 1889.
Chronique de Jean le Bel. Edited by Eugene Deprez and Jules Viard. Paris: Honore Champion, 1977.
Dene, William of. Historia Roffensis. British Library, London.
French Chronicle of London. Edited by G.J. Aungier. Camden Series XXVIII, 1844.
Froissart, Jean. Chronicles. Edited and Translated by Geoffrey Brereton. London: Penguin Books, 1978.
Gesta Henrici Quinti: The Deeds of Henry V. Translated by Frank Taylor and John S. Roshell. Oxford, UK: Clarendon Press, 1975.
Grandes chroniques de France. Edited by Jules Viard. Paris: Société de l'histoire de France, 1920-53.
Gray, Sir Thomas. Scalacronica. Edited and Translated by Sir Herbert Maxwell. Edinburgh: Maclehose, 1907.
Le Baker, Geoffrey. Chronicles in English Historical Documents. Edited by David C Douglas. New York: Oxford University Press, 1969.
Le Bel, Jean. Chronique de Jean le Bel. Edited by Jules Viard and Eugène Déprez. Paris: Société de l'historie de France, 1904.
Register of Edward the Black prince, vol. 1. London: His Majesty’s Stationary Office, 1930.
Rotuli Parliamentorum. Edited by J. Strachey et al., 6 vols. London: 1767-83.
St. Omers Chronicle. Bibliothèque Nationale, Paris, MS 693, fos. 248-279v. (Currenting being edited and translated into English by Clifford J. Rogers)
The Chronicles of Enguerrand de Monstrelet. Translated by Thomas Johnes. London, 1840.
Venette, Jean. The Chronicle of Jean de Venette. Edited and Translated by Jean Birdsall. New York: Columbia University Press, 1953.
=== Hợp tuyển của các tư liệu sơ cấp ===
Life and Campaigns of the Black Prince. Edited and Translated by Richard Barber. Woodbridge: Boydell Press, 1997.
Original Letters Illustrative of English History. Edited by Sir Henry Ellis, Third Series Vol. 1. London: S&J Bentley, 1846.
The Battle of Agincourt: Sources and Interpretations. Edited by Anne Curry. Woodbridge: Boydell Press, 2000.
The Wars of Edward III: Sources and Interpretations. Edited and Translated by Clifford J. Rogers. Woodbridge: Boydell Press, 1999.
=== Tư liệu thứ cấp ===
Allmand, Christopher, The Hundred Years War: England and France at War, c.1300-c.1450, Cambridge University Press, 1988, ISBN 0-521-31923-4
Arms, Armies and Fortifications in the Hundred Years War. Edited by Anne Curry and Michael Hughes. Woodbridge: Boydell Press, 1999.
Barber, Richard. Edward, Prince of Wales and Aquitaine: A Biography of the Black Prince. Woodbridge: Boydell Press, 2003.
Barker, Juliet R. Agincourt: Henry V and the Battle that made England. New York, NY: Little, Brown, and Co, 2006.
Barnies, John. War in Medieval English Society: Social Values in the Hundred Years War 1337-99. Ithaca: Cornell University Press, 1971.
Bell, Adrian R., War and the Soldier in the Fourteenth Century, The Boydell Press, November 2004, ISBN 1-84383-103-1
Braudel, Fernand, The Perspective of the World, Vol III of Civilization and Capitalism 1984 (in French 1979).
Burne, Alfred Higgins. The Agincourt War: A Military History of the Latter Part of the Hundred Years’ War, from 1369 to 1453. Westport, CN: Greenwood Press, 1976.
Contamine, Philippe. La France au XIVe et XVe siècles Hommes, mentalities, guerre et paix. London: Variorum Reprints, 1981.
Coss, Peter. The Knight in Medieval England 1000-1400. Dover, NH: Alan Sutton Publishing Inc., 1993.
Crane, Susan. The Performance of Self: Ritual, Clothing, and Identity During the Hundred Years War (2002) excerpt and text search
Curry, Anne, The Hundred Years War, Macmillan Press, (2nd ed. 2003)
Curry, Anne. Agincourt: A New History. Stroud, Gloucestershire, UK: Tempus, 2005.
Duby, Georges. France in the Middle Ages 987-1460: From Hugh Capet to Joan of Arc. Translated by Juliet Vale. Oxford: Blackwell Publishers Ltd., 1991.
Dunnigan, James F., and Albert A. Nofi. Medieval Life & The Hundred Years War, Online Book.
France in the Later Middle Ages 1200-1500. Edited by David Potter. Oxford: Oxford University Press, 2003.
Green, David. The Battle of Poitiers, 1356 (2002). ISBN 0-7524-1989-7.
Inscribing the Hundred Years’ War in French and English Cultures. Edited by Denise N. Bakes. Albany: State University of New York Press, 2000.
Jones, Michael. Between France and England: Politics, Power and Society in Late Medieval Brittany. Hampshire: Ashgate Publishing Ltd., 2003.
Keegan, John. The Face of Battle (1976), covers the battle of Agincourt, comparing it to modern battles
Keen, M.H. The Laws of War in the Late Middle Ages. London: Routledge & Paul Kegan Ltd., 1965.
Knecht, Robert J. The Valois: Kings of France 1328-1589. London: Hambledon and London, 2004.
Lewis, P.S. Essays in Later Medieval French History. London: The Hambledon Press, 1985.
Lucas, Henry Stephen. The Low Countries and the Hundred Years’ War, 1326-1347. Philadelphia: Porcupine Press, 1976.
Neillands, Robin, The Hundred Years War, Routledge, 2001, ISBN 978-0-415-26131-9
Nicolle, David, and Angus McBride. French Armies of the Hundred Years War: 1328-1429 (2000) Men-At-Arms Series, 337 excerpt and text search
Perroy, Edouard, The Hundred Years War, Capricorn Books, 1965.
Reid, Peter. Medieval Warfare: Triumph and Domination in the Wars of the Middle Ages. New York, NY: Carroll & Graf Publishers, 2007.
Rogers, Clifford J. "The Military Revolutions of the Hundred Years War," The Journal of Military History 57 (1993): 241-78. in Project Muse
Rogers, Clifford J. War Cruel and Sharp: English Strategy under Edward III, 1327-1360. Woodbridge: Boydell Press, 2000.
Ross, Charles, The Wars of the Roses, Thames and Hudson, 1976.
Seward, Desmond, The Hundred Years War. The English in France 1337–1453, Penguin Books, 1999, ISBN 0-14-028361-7 excerpt and text search
Society at War: The Experience of England and France During the Hundred Years War. Edited by C.T. Allmand. Edinburgh: Oliver and Boyd, 1973.
Soldiers, Nobles, and Gentlemen: Essays in Honour of Maurice Keen. Edited by Peter Coss and Christopher Tyerman. Woodbridge: Boydell Press, 2009.
Stone, John. "Technology, Society, and the Infantry Revolution of the Fourteenth Century," The Journal of Military History 68.2 (2004) 361-380 in Project Muse
Sumption, Jonathan, The Hundred Years War I: Trial by Battle, University of Pennsylvania Press, September 1999, ISBN 0-8122-1655-5
Sumption, Jonathan, The Hundred Years War II: Trial by Fire, University of Pennsylvania Press, October 2001, ISBN 0-8122-1801-9
The Age of Edward III. Edited by J.S. Bothwell. York: York Medieval Press, 2001.
The Battle of Crecy 1346. Edited by Andrew Ayton and Sir Philip Preston. Woodbridge: Boydell Press, 2007.
The Hundred Years War. Edited by Kenneth Fowler. London: The Macmillan Press Ltd., 1971.
Vale, Malcolm. The Angevin Legacy and the Hundred Years War, 1250-1340. Oxford: Basil Blackwell Ltd., 1990.
Villalon, L. J. Andrew, and Donald J. Kagay, eds. The Hundred Years War: A Wider Focus (2005) online edition; also excerpt and text search
Wagner, John A., Encyclopedia of the Hundred Years War, Westport, CT: Greenwood Publishing Group, August 2006. ISBN 0-313-32736-X
War, Government and Power in Late Medieval France. Edited by Christopher Allmand. Liverpool: Liverpool University Press, 2000.
Waugh, Scott L. England in the reign of Edward III. Cambridge: Cambridge University Press, 1991.
Wright, Nicholas. Knights and Peasants: The Hundred Years War in the French Countryside. Woodbridge: Boydell Press, 1998.
== Tham khảo ==
== Liên kết ngoài ==
England Hundred Years War Chronology World History Database
France Hundred Years War Chronology World History Database
Timeline of the Hundred Years War
The Hundred Years' War information and game
Jeanne d'Arc. Online University research project.
The Hundred Years War and the History of Navarre
Jean Froissart, "On The Hundred Years War (1337-1453)" from the Internet Medieval Sourcebook
The Hundred Years' War (1336-1565) by Dr. Lynn H. Nelson, University of Kansas Emeritus |
lều hội ngộ.txt | Lều Hội Ngộ (tiếng Do Thái: משכן, mishkan, nghĩa là "cư ngụ" hoặc "nơi ở") được đề cập trong Torah (hoặc Cựu Ước) là tấm lều được dân tộc Israel dựng nên như một chốn linh thiêng tạm thời để Thiên Chúa hiện diện. Lều Hội Ngộ có kích thước 14x4x5m được làm bằng khung gỗ, phủ vải gai. Trong hành trình Xuất Hành từ Ai Cập để đến đất Canaan, Lều Hội Ngộ đã được dựng lên ngay tại những trạm đóng trại nghỉ chân của dân tộc Israel. Kể từ sau khi Moses diện kiến Thiên Chúa (Yahweh) trên Núi Sinai để được ban Mười Điều Răn, Lều Hội Ngộ trở thành nơi cất giữ Hòm Bia Giao Ước Mười Điều Răn và trở thành nơi cực thánh của Do Thái giáo. Trong suốt quãng thời gian du mục (40 năm di cư trên sa mạc, từ Ai Cập tìm về Miền Đất Hứa), người Do Thái hàng ngày tập trung quanh Lều để hiến tế và cầu nguyện. Nhiều năm sau, khi người Do Thái đã định cư yên ổn ở Canaan, vua David cho xây một đền thờ tại Jerusalem (đền thờ Jerusalem) để cất giữ Hòm Bia Giao Ước và thờ phụng Thiên Chúa. Lều Hội Ngộ từ đó không còn nữa. Về sau, hình thức hiện đại của Lều Hội Ngộ là các đền thờ Do Thái giáo.
== Tham khảo == |
tòa án tối cao hoa kỳ.txt | Tối cao Pháp viện Hoa Kỳ (cũng được gọi là Tòa án Tối cao Hoa Kỳ; tiếng Anh: Supreme Court of the United States, đôi khi viết tắt SCOTUS hay USSC) là toà án liên bang cao nhất tại Hoa Kỳ, có thẩm quyền tối hậu trong việc giải thích Hiến pháp Hoa Kỳ, và có tiếng nói quyết định trong các tranh tụng về luật liên bang, cùng với quyền tài phán chung thẩm (có quyền tuyên bố các đạo luật của Quốc hội Hoa Kỳ và của các Viện lập pháp tiểu bang, hoặc các hoạt động của nhánh hành pháp liên bang và tiểu bang là vi hiến).
Là định chế quyền lực cao nhất của nhánh tư pháp trong Chính phủ Hoa Kỳ, Tối cao Pháp viện là tòa án duy nhất được thiết lập bởi Hiến pháp. Tất cả tòa án liên bang khác được thành lập bởi quốc hội. Thẩm phán tòa tối cao (hiện nay có chín người) được bổ nhiệm trọn đời bởi tổng thống và được phê chuẩn bởi Thượng viện. Một trong chín thẩm phán được chọn để trở nên Chủ tịch Pháp viện hay Chánh Án (Chief Justice).
== Cơ cấu và quyền lực ==
Điều III của Hiến pháp Hoa Kỳ quy định những trường hợp được đưa ra xét xử trước toà tối cao cũng như nhiệm kỳ của thẩm phán toà tối cao. Khoản I viết "Quyền tài phán của Hoa Kỳ được dành cho một toà tối cao", và ấn định nhiệm kỳ trọn đời cho các thẩm phán của toà án này, "trong khi họ có tư cách tốt" (nghĩa là các thẩm phán có thể bị luận tội nhưng không thể bị cách chức vì các lý do khác), và lương bổng của họ cũng không bị cắt giảm khi đang nhiệm chức. Những quy định này của Hiến pháp là nhằm bảo vệ tính độc lập của các thẩm phán khi đưa ra các phán quyết.
Điều III dành cho toà tối cao quyền xét xử tất các vụ án liên quan đến luật pháp và luật bất thành văn theo hiến pháp, các luật của Hoa Kỳ và các hiệp ước; tất cả vụ án liên quan đến các đại sứ, bộ trưởng và các lãnh sự; tất cả vụ án về các vùng biển; các vụ tranh chấp mà Hoa Kỳ là một bên; các tranh tụng giữa hai hay nhiều tiểu bang; giữa một tiểu bang và các công dân thuộc các tiểu bang khác...
Như vậy, thẩm quyền tài phán của toà tối cao được giới hạn trong các vụ án hoặc tranh tụng trong phạm vi luật liên bang. Toà án liên bang có thể xét xử các vụ tranh tụng giữa công dân của các bang khác nhau. Trong trường hợp này, tòa liên bang, bao gồm toà tối cao, phán quyết theo luật tiểu bang. Thí dụ, một cư dân Texas có thể kiện một công ty ở California vi phạm luật bang Texas.
Đa số các trường hợp được đem ra trước Tối cao Pháp viện là các vụ kháng án, chuyển đến từ các toà tối cao tiểu bang hay các toà liên bang.
Tuy không được ghi trong hiến pháp, toà tối cao, cũng như tất cả tòa liên bang, được công nhận quyền tài phán chung thẩm. Vào năm 1803 trong vụ án Marbury chống Madison, toà tối cao đã vô hiệu hoá một số đạo luật được thông qua bởi Quốc hội, cho rằng Quốc hội đã vượt quá quyền hiến định của mình. Trong vụ Fletcher chống Peck (1810) lần đầu tiên toà tối cao đã phán quyết một đạo luật được thông qua bởi một viện lập pháp tiểu bang là vi phạm hiến pháp, nhân đó mở rộng quyền tài phán của toà tối cao đến các đạo luật và nghị định của chính quyền tiểu bang. Dù ít được sử dụng trong thời gian đầu, quyền này lại được toà tối cao hành xử thường xuyên trong những thập niên gần đây.
Hiến pháp không quy định số lượng thẩm phán cho Tối cao Pháp viện, Quốc hội thực thi quyền này. Lúc đầu, tổng số thẩm phán được Đạo luật Judiciary năm 1789 ấn định là sáu người. Khi đất nước được mở rộng, con số thẩm phán của tòa tối cao gia tăng dần theo số lượng tòa án khu vực. Năm 1807, số thẩm phán là bảy người, lên đến chín người năm 1837, rồi mười người năm 1863. Đến năm 1866, vì không muốn phê chuẩn các bổ nhiệm của Tổng thống Andrew Johnson, Quốc hội thông qua đạo luật Judicial Circuits, theo đó sẽ không bổ nhiệm người thay thế cho ba thẩm phán sắp về hưu; như thế, số thẩm phán dần dà chỉ còn lại bảy người; một vị trí bị huỷ bỏ năm 1866, vị trí thứ hai năm 1867. Trước khi chiếc ghế thứ ba bị dời đi, Quốc hội đã kịp thông qua luật Circuit Judges năm 1869, ấn định số thẩm phán ở con số chín (một chánh án và tám thẩm phán), con số này được duy trì cho đến ngày nay.
Với dự luật Cải tổ Tư pháp năm 1937, Tổng thống Franklin D. Roosevelt muốn mở rộng tòa tối cao, cho phép tổng thống bổ nhiệm thêm một người cho mỗi thẩm phán đã đến tuổi bảy mươi mà không muốn về hưu, như vậy số thẩm phán có thể lên đến tối đa là mười lăm người. Có vẻ như tổng thống muốn làm giảm bớt gánh nặng trên vai các thẩm phán cao tuổi, nhưng nhiều người tin rằng Roosevelt chỉ muốn đem vào tòa tối cao những người ủng hộ chính sách New Deal của ông. Trước đây, New Deal đã bị Tối cao Pháp viện tuyên bố là vi hiến. Đề án này của Roosevelt không được quốc hội thông qua. Dù vậy, thời kỳ lâu dài của Roosevelt tại Tòa Bạch Ốc cho phép ông bổ nhiệm tám thẩm phán (chỉ sau George Washington), và đưa một thẩm phán lên vị trí Chánh án Tòa án Tối cao.
== Bổ nhiệm ==
=== Đề cử ===
Bổ nhiệm thẩm phán cho toà tối cao là một quy trình mang nhiều yếu tố chính trị và luôn luôn gây tranh cãi. Hiện nay có chín vị trí trong tòa, con số này đã được xác lập từ năm 1869, dù nó có thể bị thay đổi bởi Quốc hội. Tiến trình bổ nhiệm bắt đầu khi một thẩm phán qua đời, từ chức, về hưu hay bị bãi nhiệm vì bị luận tội và bị kết án (điều này chưa bao giờ xảy ra). Tính trung bình cứ hai năm thì có một chỗ khuyết, nhưng không phải luôn luôn như vậy.
Như một quy luật, tổng thống sẽ đề cử vào Tối cao Pháp viện những người đồng quan điểm với mình, với ít nhiều nhượng bộ, để bảo đảm sự đề cử sẽ được thông qua tại Thượng viện, thường thì các ứng viên có quan điểm cực đoan ít có cơ may được phê chuẩn. Các ứng cử viên thường được chọn từ tòa kháng án liên bang, tòa án tiểu bang, nhánh hành pháp, Quốc hội hoặc giới trí thức khoa bảng.
Tuy nhiên, trong thực tế có không ít các quyết định của thẩm phán đi ngược lại những mong đợi của người bổ nhiệm, nổi tiếng nhất là trường hợp Chánh án Earl Warren, Tổng thống Eisenhower mong đợi ông sẽ trung thành với lập trường bảo thủ, nhưng các quyết định của Warren đã chứng tỏ ông là một trong số những thẩm phán có khuynh hướng tự do nhất trong lịch sử Tối cao Pháp viện. Về sau, Eisenhower chua chát thú nhận việc bổ nhiệm Warren là "sai lầm lớn nhất tôi từng mắc phải." Bởi vì Hiến pháp không ấn định bất kỳ tiêu chuẩn nào cho chức vụ thẩm phán tòa tối cao, tổng thống có thể đề cử bất cứ ai. Song, ứng viên cho chức vụ này cần có được sự chuẩn thuận của Thượng viện, nghĩa là cần thuyết phục đa số thượng nghị sĩ tin rằng họ xứng đáng với vị trí phục vụ trọn đời tại thiết chế tư pháp tối cao của quốc gia.
=== Phê chuẩn ===
Trong lịch sử đương đại, quy trình phê chuẩn thẩm phán tòa tối cao luôn thu hút sự quan tâm của các nhóm có quyền lợi đặc biệt, họ thường vận động các thành viên thượng viện phê chuẩn hoặc bác bỏ tùy theo quá trình hoạt động của ứng viên ấy có phù hợp với quan điểm của họ hay không.
Thủ tục phỏng vấn ứng viên chỉ mới có không lâu. Ứng viên đầu tiên làm chứng trước Ủy ban là Harlan Fiske Stone năm 1925. Có một số thượng nghị sĩ đến từ miền Tây tỏ ra quan ngại về những quan hệ của Stone với Phố Wall, cho biết sẽ chống đối việc phê chuẩn ông. Stone đưa ra một đề nghị còn mới lạ vào lúc ấy, là ông sẽ ra trước Ủy ban Tư pháp để trả lời các câu hỏi, việc này đã bảo đảm cho Stone sự chuẩn thuận của Thượng viện với rất ít chống đối. Ứng viên thứ hai giải trình trước Ủy ban là Felix Frankfurter, ông này ra làm chứng theo yêu cầu của Ủy ban để giải thích về điều ông xem là những vu khống chống lại ông. Quy trình thẩm vấn đang được áp dụng yêu cầu ứng viên bày tỏ lập trường của mình bắt đầu từ vụ phê chuẩn John Marshall Harlan II năm 1955; Harlan được đề cử ngay sau khi tòa tối cao đưa ra phán quyết lịch sử trong vụ án Brown v. Board of Education, và một số thượng nghị sĩ miền Nam cố phong tỏa việc phê chuẩn Harlan, do vậy mà tổ chức phiên điều trần.
Một ứng viên được tổng thống đề cử phải được phê chuẩn bởi đa số phiếu tại Thượng viện, dù quy trình này có thể bị ngăn cản. FBI sẽ kiểm tra nhân thân của ứng viên. Cùng với các nhân chứng, ứng cử viên phải ra trước Ủy ban Tư pháp Thượng viện để trả lời những câu hỏi như "Quan điểm của ông (bà) về vụ án Roe chống Wade?" hoặc về hôn nhân đồng tính... Ủy ban sẽ bỏ phiếu để quyết định đề cử người này hay không, sau đó sự việc được chuyển sang Thượng viện. Ban thường trực về tư pháp liên bang của Hội luật sư Hoa Kỳ sẽ thẩm định phẩm chất của ứng viên như tính liêm khiết, năng lực chuyên môn, tính cách của một thẩm phán... Ban này, gồm 15 thẩm phán liên bang (không có thẩm phán toà tối cao), sẽ đưa ra một bản thẩm định – "rất tốt", "tốt" và "không tốt". Đời tư các ứng viên thường bị xét nét đến từng chi tiết.
Toàn thể Thượng viện họp lại để xem xét; chỉ cần một đa số tương đối (quá bán) là đủ để quyết định chuẩn thuận hoặc bác bỏ sự đề cử. Trong suốt lịch sử, Thượng viện chỉ bác bỏ mười hai trường hợp. Gần đây nhất là biểu quyết của Thượng viện năm 1987 bác bỏ việc đề cử Robert Bork.
Không phải tất cả đề cử đều được biểu quyết tại Thượng viện. Một khi Thượng viện bắt đầu thảo luận về sự đề cử, những người chống đối có thể tìm cách kéo dài cuộc tranh luận để ngăn không cho biểu quyết. Cho đến nay vẫn chưa có việc đề cử thẩm phán nào bị ngăn không biểu quyết. Tuy nhiên, năm 1968 Tổng thống Lyndon Johnson đã thất bại trong nỗ lực đề cử thẩm phán Abe Fortas vào vị trí chánh án thay thế Earl Warren.
Tổng thống cũng có thể rút lại danh sách đề cử trước khi Thượng viện bỏ phiếu. Điều này xảy ra khi tổng thống cảm thấy ứng viên của mình không có đủ cơ may để được phê chuẩn. Gần đây nhất, Tổng thống George W. Bush rút tên Harriet Miers trước khi phiên điều trần bắt đầu, do những quan ngại về khả năng Miers sẽ bị thẩm vấn về việc bà từng tiếp cận các tư liệu nội bộ của nhánh hành pháp khi đang là cố vấn pháp luật cho Nhà Trắng. Năm 1987, Tổng thống Ronald Reagan rút lại sự đề cử dành cho Douglas H. Ginsburg vì những cáo buộc về việc sử dụng ma túy.
Cho đến năm 1981, thủ tục phê chuẩn thường diễn ra mau chóng. Từ chính phủ Truman đến Nixon, các ứng viên được phê chuẩn trong vòng một tháng. Tuy nhiên, kể từ chính phủ Reagan cho đến nay, quy trình này kéo dài hơn. Một số suy đoán cho rằng ấy là do vai trò của chính trị của các thẩm phán ngày càng gia tăng.
== Thủ tục ==
Mỗi năm, Tối cao Pháp viện bắt đầu làm việc vào thứ Hai đầu tiên của tháng Mười, kéo dài cho đến tháng Sáu hay tháng 7 năm sau.
Muốn khởi kiện hay biện hộ tại toà tối cao, luật sư (attorney) phải là thành viên của luật sư đoàn toà tối cao. Muốn được thu nhận vào luật sư đoàn toà tối cao, ứng viên phải có thâm niên ít nhất ba năm trong đoàn luật sư của toà tối cao tiểu bang, phải được giới thiệu bởi hai thành viên của đoàn luật sư toà tối cao (hai người này không có liên hệ huyết thống hay hôn nhân với người được giới thiệu), không bị kỷ luật bởi tòa án hay bởi luật sư đoàn.
Khi ra phán quyết, mỗi thẩm phán trình bày ý kiến của mình bằng văn bản; tất cả văn bản này được công bố cho công chúng. Thường thì có một quan điểm cho đa số, được gọi là "Quan điểm của Toà", kèm theo đó là ý kiến "tương đồng" (thuận với phán quyết nhưng vì những lý do khác) và ý kiến bất đồng (không đồng ý với phán quyết).
Tập tục công bố quan điểm của toà bắt đầu từ nhiệm kỳ của chánh án toà tối cao Justin Marshall vào đầu thế kỷ 19. Trước đó, mỗi thẩm phán tự công bố ý kiến của mình.
== Thành viên ==
=== Các Thẩm phán đương nhiệm ===
Tối cao Pháp viện hiện có 8 thẩm phán và một ghế trống sau khi Thẩm phán Antonin Scalia qua đời vào ngày 13 tháng 2 năm 2016.
=== Lợi tức ===
Đến năm 2008, thẩm phán tòa tối cao nhận 208 100 USD mỗi năm, riêng chánh án được trả 217 400 USD.
=== Tuổi tác và Địa vị ===
Trong những phiên họp của tòa tối cao, vị trí của các thẩm phán được ấn định theo tuổi tác: Chánh án ngồi ở vị trí trung tâm, các thẩm phán ở hai bên, tuổi càng cao càng ngồi gần với chánh án. Như vậy, thẩm phán cao tuổi nhất ngồi ngay bên phải chánh án, và người nhỏ tuổi nhất ngồi xa bên trái. Nếu từ góc nhìn của luật sư tranh luận tại tòa, thứ tự vị trí của các quan tòa như sau: Breyer, Thomas, Kennedy, Stevens (thẩm phán niên trưởng), Roberts (Chánh án), Scalia, Souter, Ginsburg and Alito (nhỏ tuổi nhất).
Trong các phiên họp kín, các thẩm phán phát biểu và bỏ phiếu theo thứ tự tuổi tác, người đầu tiên là chánh án người cuối cùng là thẩm phán nhỏ tuổi nhất. Vì là họp kín nên thẩm phán nhỏ tuổi nhất được giao trách nhiệm phục vụ khi cần thiết, thường là công việc mở cửa và dọn cà phê. Ngoài ra, thẩm phán nhỏ tuổi nhất cũng là người có nhiệm vụ chuyển án lệnh của tòa đến tay thư ký tòa. Joseph Story có thành tích phục vụ lâu nhất trong cương vị thẩm phán nhỏ tuổi nhất, từ ngày 3 tháng 2 năm 1812 đến ngày 1 tháng 9 năm 1823, tổng cộng là 4 228 ngày. Thẩm phán Stephen Breyer được xếp kế tiếp, kém kỷ lục của Story chỉ có 29 ngày, khi Thẩm phán Samuel Alito vào Tối cao Pháp viện và thay thế Breyer ở vị trí này vào ngày 31 tháng 1 năm 2006.
=== Khuynh hướng ===
Trong khi các thẩm phán không đại diện hoặc chấp nhận lập trường chính thức của các chính đảng, như tại hai nhánh lập pháp và hành pháp, họ thường được xếp vào các nhóm chính trị và pháp lý có quan điểm khác nhau chẳng hạn như nhóm bảo thủ, trung dung, hoặc cấp tiến. Các hình dung từ này chỉ biểu thị khuynh hướng tư pháp, không phải chính trị hoặc lập pháp.
Bảy trong số chín thẩm phán đương nhiệm được bổ nhiệm bởi các tổng thống thuộc Đảng Cộng hòa, hai người còn lại nhận sự bổ nhiệm từ các tổng thống Dân chủ. Nhiều người tin rằng Chánh án Roberts và các thẩm phán Scalia, Thomas, và Alito hình thành nhóm bảo thủ trong tòa. Các thẩm phán Stevens, Souter, Ginsburg, và Breyer được xem là cánh cấp tiến. Trong khi đó, Thẩm phán Kennedy, có khynh hướng bảo thủ trung dung, được xem là nhân tố quyết định kết quả khi xảy ra tình trạng số phiếu biểu quyết ngang nhau.
=== Về hưu ===
Các cuộc nghiên cứu chỉ ra rằng các thẩm phán Tối cao Pháp viện đều có những tính toán chiến lược khi quyết định rời ghế quan tòa. Những cân nhắc này chịu tác động bởi các yếu tố cá nhân, đảng phái và cơ chế. Các quan ngại về sự suy nhược trí tuệ khi cao tuổi cũng thường là động cơ thúc đẩy các thẩm phán muốn về hưu. Áp lực muốn tăng cường sức mạnh và ảnh hưởng của tòa tối cao được kể là một nhân tố khác. Sau cùng, các thẩm phán thường quyết định rút lui vào thời điểm thuận lợi nhất, nghĩa là vào lúc tổng thống và quốc hội có thể bổ nhiệm thẩm phán thay thế là người có cùng quan điểm với người ra đi.
Hiện nay có 3 thẩm phán về hưu là Sandra Day O'Connor (2006), David Souter (2009) và John Paul Stevens (2010).
== Lịch sử ==
Tối cao Pháp viện đã tích luỹ quyền lực hiện có suốt trong nhiệm kỳ của chánh án John Marshall. Ông được đề cử bởi John Adams trong những ngày cuối của nhiệm kỳ tổng thống của Adams. Là đối thủ chính trị của những người Cộng hoà theo Jefferson, Marshall đưa ra một số quan điểm mà những người này cho là không thích hợp, nhằm củng cố quyền lực của ngành tư pháp bằng cách làm suy giảm thanh thế của hành pháp và khẳng định sức mạnh độc quyền của ngành tư pháp trong việc giải thích hiến pháp. Vụ án Marbury chống Madison (1803) là một dấu mốc quan trọng trong lịch sử toà tối cao, bắt đầu áp dụng quyền tài phán chung thẩm, cho phép toà tối cao bác bỏ các đạo luật của Quốc hội, theo quan điểm của toà, là vi hiến.
== Trụ sở ==
Phiên họp đầu tiên của Tối cao Pháp viện được triệu tập vào ngày 1 tháng 2 năm 1790 tại toà nhà Merchants Exchange, Thành phố New York, sau dời về Philadelphia và cuối cùng là Washington, D.C. khi nơi này được chọn làm thủ đô của Hoa Kỳ. Phần lớn trong thời gian hiện hữu của mình, toà tối cao phải làm việc tại nhiều địa điểm khác nhau trong Điện Capitol (Trụ sở Quốc hội), nhiều nhất là ở Thượng viện (và trong một thời gian ngắn, phải dời về một căn nhà tư nhân vì điện Capitol bị hoả hoạn trong cuộc chiến năm 1812).
Rốt cuộc, vào năm 1935 toà tối cao mới được yên vị tại một toà nhà riêng tương xứng với địa vị độc lập trong cấu trúc tam quyền phân lập của Chính phủ Hoa Kỳ, theo yêu cầu cấp bách của William Howard Taft, người từng đảm nhiệm cả hai chức vụ đứng đầu ngành hành pháp và tư pháp: Tổng thống Hoa Kỳ (1909-1913) và Chánh Án Tối cao Pháp viện (1921-1930).
Tòa nhà bốn tầng được thiết kế theo phong cách cổ điển hài hòa với các tòa nhà xung quanh thuộc khu phức hợp Capitol và Thư viện Quốc hội. Bên trong tòa nhà là Phòng Xử án, văn phòng các thẩm phán, một thư viện rộng lớn, nhiều phòng họp, và các dịch vụ phụ trợ như cửa hàng, cafeteria và một phòng tập thể dục. Bên ngoài lát lớp đá hoa cương khai thác từ Vermont. Toà nhà được thiết kế bởi kiến trúc sư Cass Gilbert; công việc xây cất mất ba năm, từ năm 1932 đến 1935. Dù tọa lạc trong khuôn viên của Khu Kiến trúc đồi Capitol, thiết chế tư pháp này có lực lượng cảnh sát riêng, Cảnh sát Tối cao Pháp viện, hoạt động độc lập với Cảnh sát Capitol.
== Chú thích ==
== Tham khảo ==
American Bar Association. (2002). "The ABA Standing Committee on Federal Judiciary: What It Is and How it Works."
Joan Biskupic and Elder Witt. (1997). Congressional Quarterly’s Guide to the U.S. Supreme Court. Washington, D.C.: Congressional Quarterly Press.
The Constitution of the United States.
Kermit L. Hall, et al. (1992). The Oxford Companion to the Supreme Court of the United States. New York: Oxford University Press.
Harvard Law Review Assn., The Bluebook: A Uniform System of Citation (17th Ed. 2000).
Peter Irons. (2000). A People's History of the Supreme Court. New York: Penguin.
Martin v. Texas, 200 U.S. 316, 26 S.Ct. 338, 50 L.Ed. 497 (1906).
William Rehnquist (1987). The Supreme Court. New York: Knopf.
The Rules of the Supreme Court of the United States (2005 ed.) (pdf).
Catherine Hetos Skifos. The Supreme Court Gets a Home
Snowden v. Hughes, 321 U.S. 1, 64 S.Ct. 397, 88 L.Ed. 497 (1944).
Charles Warren. (1924). The Supreme Court in United States History. (3 volumes). Boston: Little, Brown and Co.
Bob Woodward, and Scot Armstrong. (1979). The Brethren: Inside the Supreme Court. New York: Simon & Schuster.
The Supreme Court of the United States
The Court Building
== Đọc thêm ==
Beard, Charles A. The Supreme Court and the Constitution. Dover Publications, 2006. ISBN 0-486-44779-0.
Garner, Bryan A. Black's Law Dictionary. Deluxe 8th ed. West, 2004. ISBN 0-314-15199-0.
Irons, Peter. A People's History of the Supreme Court. New York: Viking, 1999. ISBN 0-670-87006-4.
McCloskey, Robert G. The American Supreme Court. Fourth Edition. Chicago: University of Chicago Press, 2005. ISBN 0-226-55682-4.
Rehnquist, William H. The Supreme Court. New York: Knopf, 2001. ISBN 0-375-40943-2.
Urofsky, Melvin and Paul Finkelman. A March of Liberty: A Constitutional History of the United States. 2 vols. New York: Oxford, 2001. ISBN 0-19-512637-8 & ISBN 0-19-512635-1.
== Liên kết ngoài ==
Tối cao Pháp Viện Hoa Kỳ
The Supreme Court Historical Society. Official Homepage.
Legal Information Institute Supreme Court Collection.
FindLaw Supreme Court Opinions.
Oyez Project Supreme Court Multimedia.
U.S. Supreme Court Decisions (v. 1+) Justia, Oyez and U.S. Court Forms.
Supreme Court Records and Briefs - Cornell Law Library
History of the U.S. Supreme Court, sponsored by New York Life Insurance Company
Milestone Cases in Supreme Court History.
Supreme Court Justices.
Teaching about the United States Supreme Court. ERIC Digest.
Teaching about Landmark Dissents in United States Supreme Court Cases. ERIC Digest.
Teaching the Law Using United States Supreme Court Cases. ERIC Digest.
The Unidimensional Supreme Court
Supreme Court Zeitgeist
A Question of Law: The John Roberts Supreme Court (video)
Supreme Court Series on PBS
Outdoor sculpture of the Supreme Court |
hiệp định paris 1973.txt | Hiệp định Paris về Việt Nam hoặc hiệp định Paris 1973 (ở miền Nam còn gọi là Hiệp định Ba Lê) là hiệp định chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam do 4 bên tham chiến: Hoa Kỳ, Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Cộng hòa miền Nam Việt Nam và Việt Nam Cộng hòa ký kết tại Paris ngày 27 tháng 1 năm 1973. Về mặt công khai thì đàm phán có 4 bên và nội dung chính thức của bản Hiệp định cơ bản dựa trên Tuyên bố 10 điểm ngày 08-05-1969 của phái đoàn Cộng hòa Miền Nam Việt Nam, nhưng việc đàm phán để đạt được nội dung hiệp định lại chủ yếu được quyết định bởi các phiên họp kín giữa 2 đoàn Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Hoa Kỳ.
Trong quá trình đám phán, Hoa Kỳ gần như phớt lờ ý kiến của đoàn Việt Nam Cộng hòa và tự sắp đặt mọi chuyện trong các cuộc họp kín với Việt Nam Dân chủ Cộng hòa trong khi phái đoàn Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Cộng hòa Miền Nam Việt Nam lại luôn có sự phân công, phối hợp nhịp nhàng, ăn ý, liên tục thảo luận với nhau trước khi đưa ra quyết sách. Do vậy, sau khi điều khoản Hiệp định được thống nhất giữa Việt Nam Dân chủ Cộng hòa-Cộng hòa Miền Nam Việt Nam và Hoa Kỳ thì đoàn Việt Nam Cộng hòa lại từ chối ký vì có những điều khoản bất lợi cho họ. Nhưng Việt Nam Cộng hòa chỉ phản đối được vài ngày, bởi sau đó Hoa Kỳ đã đe dọa và buộc đoàn này phải ký Hiệp định.
Lê Đức Thọ và Henry Kissinger, hai nhân vật chủ yếu trong cuộc đàm phán, đã được trao giải Nobel Hòa Bình năm 1973, nhưng Lê Đức Thọ đã từ chối không nhận giải này với lý do hòa bình vẫn chưa lập lại tại Việt Nam. Còn ông Kissinger yêu cầu đại sứ Mỹ tại Na Uy thay mặt mình nhận giải. Ông Lê Đức Thọ cũng cho rằng việc nhận giải sẽ là một sự đánh đồng giữa kẻ xâm lược-kẻ gây chiến (Hoa Kỳ) với người bị xâm lược-bên tự tay giành lại hòa bình cho chính mình (nhân dân Việt Nam) và sẽ chỉ nhận giải khi giải đó chỉ được trao cho mình ông do giải Nobel hòa bình phải được trao cho đại diện của bên kiến tạo hòa bình (nhân dân Việt Nam).
== Quá trình đàm phán ==
Việc đàm phán giữa Hoa Kỳ và Việt Nam Dân chủ Cộng hòa là được Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đề xướng nhằm đạt được một nền hòa bình, thống nhất ở Việt Nam. Sau sự kiện Tết Mậu Thân năm 1968 các bên đã ngồi vào thương lượng cho tương lai chiến tranh Việt Nam. Việc thương lượng đã diễn ra rất phức tạp. Vì một mặt, các bên chưa thật sự thấy cần nhượng bộ và mặt khác, Liên Xô và Trung Quốc muốn tham gia vào đàm phán - đặc biệt là Trung Quốc. Nước này không muốn Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tự đàm phán mà muốn tham gia vào quá trình đó, như Hiệp định Genève năm 1954. Nhưng Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã từ chối dù bị áp lực bởi hai đồng minh, việc đàm phán do họ tự quyết định và tiến hành.
Sau nhiều lần thỏa thuận, địa điểm tổ chức hội đàm được chọn là thành phố Paris, thủ đô nước Cộng hòa Pháp. Thời gian đàm phán kéo dài từ tháng 5 năm 1968 đến tháng 1 năm 1973. Các bên tham gia ban đầu chỉ có Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Hoa Kỳ; sau mở ra thành hội nghị bốn bên, có thêm Việt Nam Cộng hòa và Chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam. Chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam cũng đã đưa ra các giải pháp hòa bình, trong đó đề nghị 10 điểm ngày 8-5-1969 mà sau này đã trở thành xương sống cho bản Hiệp định năm 1973.
Trong quá trình đàm phán, Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam không muốn công nhận Việt Nam cộng hòa, trong khi Việt Nam cộng hòa không muốn công nhận Mặt trận và Cộng hòa Miền Nam Việt Nam khiến hội nghị bế tắc một thời gian dài. Bên cạnh đó, Hội nghị cũng bế tắc do sự thiếu thiện chí trong đàm phán của Hoa Kỳ.
Trong quá trình đàm phán, Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam và bản dự thảo tháng 10/1972 không hề đả động tới tình trạng Quân đội Nhân dân Việt Nam ở miền Nam mà luôn đòi hỏi Hoa Kỳ phải rút quân. Trong khi đó, Hoa Kỳ và Việt Nam Cộng hòa luôn đưa ra yêu sách Quân đội Nhân dân Việt Nam phải rút khỏi miền Nam cùng lúc với Quân đội Hoa Kỳ rút khỏi miền Nam.
=== Giai đoạn 1968-1972 ===
Khi một bên đang thắng thế trên chiến trường thì đàm phán thường bế tắc và điều đó đúng với Hội nghị Paris suốt thời kỳ từ 1968 đến 1972. Các bên dùng hội nghị như diễn đàn đấu tranh chính trị. Trong giai đoạn này, các phiên đàm phán thường rơi vào bế tắc do tình trạng giằng co trên chiến trường và do phía Hoa Kỳ không chịu đi vào đàm phán thực chất đối với việc rút quân Mỹ. Giai đoạn này cũng xảy ra các cuộc tiếp xúc bí mật của 2 cố vấn đặc biệt: Lê Đức Thọ của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Tiến sĩ Henry Kissinger, cố vấn của Tổng thống Hoa Kỳ - Richard Nixon, là đi vào thảo luận thực chất, nhưng cũng không đi được đến thoả hiệp do lập trường các bên quá khác biệt và cục diện chiến trường chưa nghiêng hẳn về bên nào.
Một số mốc thời gian đáng chú ý trong giai đoạn này:
Ngày 31 tháng 3 năm 1968, Tổng thống Mỹ Johnson tuyên bố đơn phương ngừng đánh phá miền Bắc từ vĩ tuyến 20 trở ra; không ra tranh cử Tổng thống Mỹ nhiệm kỳ 2 và cử người đàm phán với đại diện Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hoà tại Paris. Ngày 3 tháng 4 năm 1968, Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hoà tuyên bố: Sẵn sàng cử đại diện của mình tiếp xúc với đại diện của Mỹ.
Ngày 03 tháng 4 năm 1968, Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hoà tuyên bố: Sẵn sàng cử đại diện của mình tiếp xúc với đại diện của Mỹ nhằm xác định với Mỹ việc Mỹ chấm dứt không điều kiện việc ném bom và mọi hành động chiến tranh chống nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà để có thể bắt đầu cuộc nói chuyện.
Ngày 13 tháng 5 năm 1968, Hội nghị Paris giữa 2 bên khai mạc. Do lập trường cương quyết của Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, Mỹ buộc phải ngồi nói chuyện chính thức với Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam và từ tháng 6 năm 1969 là Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hoà miền Nam Việt Nam.
Ngày 18 tháng 1 năm 1969, phiên họp đầu tiên của Hội nghị Paris về Việt Nam khai mạc tại phòng họp của trung tâm Hội nghị quốc tế ở Paris.
Ngày 25 tháng 1 năm 1969, khai mạc phiên họp toàn thể lần thứ nhất của Hội nghị bốn bên về Việt Nam ở Pari.
Ngày 08 tháng 5 năm 1969, phái đoàn Cộng hòa miền Nam Việt Nam tạo ra đột phá khi đưa ra "giải pháp hòa bình 10 điểm" trong đó nêu rõ Mỹ phải rút quân, thành lập chính phủ liên hiệp tại miền Nam
Ngày 04 tháng 8 năm 1969, tiến sĩ Henry Kissinger, cố vấn an ninh quốc gia của Nhà trắng bí mật gặp Bộ trưởng Xuân Thủy lần đầu ở Pari.
Ngày 25 tháng 8 năm 1969, Chủ tịch Hồ Chí Minh trả lời thư của Tổng thống Mỹ Nixon, nêu rõ: Muốn có hoà bình, Mỹ phải chấm dứt chiến tranh xâm lược và rút quân ra khỏi miền Nam Việt Nam, tôn trọng quyền tự quyết của nhân dân miền Nam Việt Nam và của dân tộc Việt Nam. Đó là con đường để Mỹ rút khỏi cuộc chiến tranh trong danh dự.
Ngày 21 tháng 1 năm 1970, Hoa Kỳ tiến hành oanh tạc miền Bắc
Ngày 26 tháng 1 năm 1970, phái đoàn Cộng hòa miền Nam Việt Nam chấp nhận ngừng bắn với điều kiện Mỹ phải rút quân, thành lập chính phủ liên hiệp tại miền Nam để Tổng tuyển cử thống nhất với miền Bắc
Ngày 21 tháng 2 năm 1970, cố vấn đặc biệt Lê Đức Thọ và Bộ trưởng Xuân Thủy gặp Kissinger. Từ đó bắt đầu cuộc gặp riêng giữa cố vấn đặc biệt Lê Đức Thọ và Kissinger.
=== Giai đoạn 1972-1973 ===
Đến giữa năm 1972, khi Việt Nam Dân chủ Cộng hòa có chủ trương chuyển hướng sang chiến lược hòa bình. Áp lực quốc tế và trong nước đối với Hoa Kỳ về việc ký kết thỏa thuận hòa bình ngày càng tăng, đặc biệt áp lực tăng tới đỉnh điểm khi Chiến dịch Lam Sơn 719 của Quân lực Việt Nam Cộng hòa thất bại và được coi là minh chứng cho việc Chiến lược Việt Nam hóa chiến tranh của Hoa Kỳ đã sụp đổ, thì đàm phán mới đi vào thực chất thoả hiệp.
Lập trường ban đầu của Hoa Kỳ: quân đội Hoa Kỳ cùng các đồng minh nước ngoài rút khỏi Việt Nam phải đồng thời với việc Quân đội Nhân dân Việt Nam rút khỏi Nam Việt Nam. Chính quyền Việt Nam Cộng Hòa của Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu có quyền tồn tại trong giải pháp hoà bình. Không có Tổng tuyển cử thống nhất Việt Nam.
Lập trường ban đầu của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa: các lực lượng quân đội Hoa Kỳ phải rút khỏi Việt Nam. Thành lập Chính phủ liên hiệp lâm thời gồm 3 lực lượng chính trị: Chính quyền Sài Gòn, Chỉnh phủ Cách mạng Cộng hòa miền Nam Việt Nam và lực lượng trung lập để tiến hành Tổng tuyển cử thống nhất với miền Bắc. Việc đòi hỏi Quân đội Nhân dân Việt Nam và Quân đội Hoa Kỳ cùng rút khỏi miền Nam Việt Nam là một sự đánh đồng không thể chấp nhận được.
Cuối năm 1972, đã quá mệt mỏi vì chiến tranh kéo dài với những thất bại liên tiếp và số lượng thương vong ngày một tăng trong khi không thể khuất phục Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam trên chiến trường và bị dư luận trong nước và quốc tế đòi hỏi giải quyết vấn đề hoà bình ở Việt Nam trong thời gian nhiệm kỳ tổng thống của mình như đã hứa, chính phủ Hoa Kỳ của Tổng thống Richard Nixon đã nhượng bộ trong vấn đề cốt lõi này. Về phía mình, Việt Nam Dân chủ Cộng hòa cũng nhượng bộ về vấn đề tiếp tục tồn tại của chính quyền của Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu nhằm thành lập chính phủ liên hiệp.
Dự thảo khung của thoả hiệp đạt được là: "Quân đội Mỹ và các đồng minh nước ngoài phải rút khỏi Việt Nam chính quyền của Tổng thống Thiệu được quyền tồn tại trong một giải pháp hoà bình, trao trả tù binh không điều kiện trong vòng 60 ngày."
==== Các mốc thời gian ====
Ngày 25 tháng 1 năm 1972, Tổng thống Mỹ Nixon đơn phương công bố nội dung các cuộc gặp riêng về đề nghị Tám điểm đưa ra ngày 16 tháng 8 năm 1971.
Ngày 31 tháng 1 năm 1972, tại Paris, đoàn Việt Nam Dân chủ Cộng hoà công bố giải pháp Chín điểm, đồng thời vạch rõ việc Nhà trắng đã vi phạm thoả thuận hai bên không công bố nội dung các cuộc gặp riêng theo đề nghị của chính Kissinger. Việt Nam Dân chủ Cộng hoà cũng đã phân phát cho tất cả các tờ báo những công hàm trao đổi giữa hai bên về cuộc họp ngày 20 tháng 10 năm 1971.
Ngày 24 tháng 3 năm 1972, Tổng thống Nixon tuyên bố hoãn vô thời hạn các phiên họp công khai Hội nghị Paris về Việt Nam. Tiếp đó, ngày 8 tháng 5 năm 1972, chưa đầy một tuần sau phiên gặp riêng giữa Lê Đức Thọ, Xuân Thủy và Kissinger, Nixon tuyên bố tiến hành một bước leo thang mới mở rộng quy mô đánh phá miền Bắc kể cả bằng lực lượng không quân chiến lược, thả mìn cảng Hải Phòng cùng các cửa sông, lạch, trên vùng biển phong toả miền Bắc Việt Nam.
Ngày 13 tháng 7 năm 1972, Mỹ chấp nhận họp lại Hội nghị toàn thể bốn bên tại Paris.
Ngày 11 tháng 9 năm 1972, lần đầu tiên kể từ khi Kissinger bắt đầu hội đàm bí mật với Hà Nội vào tháng 8 năm 1969, Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã gợi ý rằng họ có thể sẽ chấp nhận một cuộc ngừng bắn tại Nam Việt Nam mà không cần loại bỏ chính quyền Nguyễn Văn Thiệu. Một sự thỏa hiệp bắt đầu có vẻ khai thông.
Ngày 12 tháng 10, Kissinger và Lê Đức Thọ đi đến một bản nháp hiệp định gồm 9 điểm. Nội dung đó chưa đầy đủ nhưng nó đã tạo được một bước đột phá lớn. Dự thảo đã tách các vấn đề thuần túy quân sự khỏi các vấn đề chính trị. Nó cho phép một cuộc ngừng bắn tại chỗ, sự rút quân đội Mỹ và đồng minh nước ngoài về nước, sự trao trả tù binh Mỹ trong vòng 60 ngày, và thiết lập một quy trình mơ hồ mà qua đó người Việt Nam sau đó sẽ tự quyết định tương lai của mình. Theo nghĩa rộng, sự thỏa hiệp này cho chính quyền Việt Nam Cộng hòa của Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu tồn tại như một chính phủ có liên quan đến giải pháp hoà bình, cho lực lượng cộng sản Việt Nam một vị thế chính thức tại miền Nam Việt Nam, đồng thời khẳng định lập trường nguyên tắc của Hà Nội rằng Việt Nam là một quốc gia chỉ đang tạm thời bị chia cắt. Bản dự thảo này đã đáp ứng được yêu cầu của Hoa Kỳ là ra đi trong danh dự và đáp ứng được các yêu cầu cơ bản của phía Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.
Ngày 13 đến 16 tháng 10, Tổng thống Richard Nixon sau khi nghiên cứu đã chấp thuận nội dung dự thảo, rồi điều Kissinger đến Sài Gòn để thuyết phục Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu.
Ngày 18 đến 23 tháng 10, Kissinger đến Sài Gòn gặp Nguyễn Văn Thiệu. Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu không tỏ thái độ mà chỉ yêu cầu làm rõ và so sánh giữa hai bản tiếng Việt và tiếng Anh. Kissinger tưởng rằng Thiệu sẽ chấp thuận, ông thông báo với Nixon như vậy. Theo tinh thần đó, ngày 21 tháng 10, Nixon gửi thông điệp cho Hà Nội khẳng định rằng dù một số vấn đề cần làm rõ, "nội dung hiệp định đã có thể được coi là hoàn chỉnh" và việc ký kết ngày 31 tháng 10 có thể khả thi. Kissinger sẽ tới Hà Nội ngày 24 để tổng kết phiên đàm phán cuối cùng dài 2 ngày, và một tuần sau sẽ ký kết chính thức tại Paris.
Ngày 23 tháng 10, tại cuộc gặp thứ năm và là cuộc gặp cuối cùng tại Sài Gòn, cuối cùng Tổng thống Thiệu đã tuyên bố chính thức các đánh giá của mình: ông phản đối kịch liệt bản dự thảo 9 điểm coi đây là hiệp định hy sinh quyền lợi của Việt Nam Cộng hoà, đòi các lực lượng Việt Nam Dân chủ Cộng hòa phải rút hoàn toàn ra khỏi miền Nam Việt Nam, thiết lập vùng phi quân sự làm biên giới với miền Bắc. Ông còn coi giải pháp hội đồng hiệp thương là một hình thức chính phủ liên bang trá hình. Tổng thống Thiệu lên đài phát thanh tuyên bố bác bỏ nguyên tắc một nước Việt Nam thống nhất: "Bắc Việt Nam là Bắc Việt Nam và Nam Việt Nam là Nam Việt Nam, mọi người phải chấp nhận thực tế là tồn tại hai nước Việt Nam, không bên nào được xâm lược bên nào". Nixon gửi thông điệp cho Hà Nội nói rằng do các khó khăn ở Sài Gòn, việc ký kết vào ngày 31 là không thể được và đề nghị một vòng đàm phán mới. Chuyến bay của Kissinger tới Hà Nội bị hủy bỏ.
Ngày 25 tháng 10, báo động bởi việc Nixon rút lui khỏi ký kết và bởi phản đối của Thiệu, Hà Nội công bố tóm tắt nội dung bản dự thảo và cảnh báo về các hậu quả nghiêm trọng nếu Mỹ không ký kết vào ngày 31 tháng 10. Mục đích là để ép Mỹ giữ vững giao ước ban đầu bất kể đến Thiệu. Khi tin này đến Washington D.C. vào sáng 26 tháng 10, Kissinger lên truyền hình tuyên bố "hòa bình trong tầm tay", với mục đích đảm bảo với Hà Nội và cảnh báo Sài Gòn về mong muốn nghiêm túc của Washington về một sự dàn xếp. Chỉ 6 tiếng sau, Việt Nam Dân chủ Cộng hòa gửi điện đồng ý với một vòng đàm phán mới tại Paris.
Ngày 2 tháng 11, Nixon tuyên bố trên truyền hình rằng bản dự thảo còn có những phần "mập mờ" "cần làm rõ trước khi ký kết bản hiệp định cuối cùng". Ông quyết định sẽ thỏa mãn mọi ngờ vực của Thiệu về vấn đề chủ quyền, và chỉ thị Kissinger tìm kiếm một nhượng bộ về khía cạnh khu phi quân sự, và nếu đạt được điều đó thì họ sẽ ép Thiệu ký. Nếu Thiệu vẫn tiếp tục từ chối thì Mỹ sẽ ký kết hiệp ước hòa bình riêng với Hà Nội.
Ngày 20 đến 25 tháng 11, Kissinger cuối cùng cũng quay lại Paris. Hai bên đi đến được đồng thuận về ngôn ngữ khẳng định rằng khu vực phi quân sự là đường phân chia chính trị khu vực.
Ngày 29 tháng 11, Nguyễn Phú Đức, đặc phái viên của Thiệu, bay đến Washington D.C. báo với Nixon rằng nhượng bộ của Hà Nội là không đủ. Nixon loại bỏ hầu hết các yêu cầu của Đức trong đó có cả việc rút Quân đội Nhân dân Việt Nam ra khỏi miền Nam. Nhưng Nixon vẫn chưa yên tâm về vấn đề khu phi quân sự và yêu cầu Kissinger đưa vấn đề này ra bàn lại tại Paris.
Ngày 3 tháng 12, dự đoán về một thất bại trong đàm phán và Mỹ ném bom trở lại, Hà Nội bắt đầu sơ tán trẻ em ở thủ đô về nông thôn.
Ngày 4 đến 13 tháng 12, đàm phán tiếp tục tại Paris suôn sẻ cho đến khi phía Mỹ một lần nữa lật lại vấn đề cốt lõi: quy chế của lực lượng Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, và nêu vấn đề khu phi quân sự. Phía Việt Nam Dân chủ Cộng hòa phản ứng bùng nổ bằng cách thu hồi các nhượng bộ từ các buổi họp trước đó và đưa ra đòi hỏi mới, trong đó có việc lật lại vấn đề cơ bản về trao trả tù binh Mỹ. Tháng 10, phía Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã đồng ý trao trả tù binh Mỹ vô điều kiện trong vòng 60 ngày. Nay họ muốn gắn việc trao trả tù binh với việc thả hàng ngàn tù chính trị tại Nam Việt Nam - một vấn đề mà họ đã từng đồng ý dành nó cho các thương thảo cụ thể sau này giữa các bên Việt Nam. Nixon triệu hồi Kissinger về Mỹ và ngừng đàm phán.
Ngày 14 tháng 12, Nixon gửi một tối hậu thư cho Hà Nội: trong 72 giờ đồng hồ để quay lại ký theo phương án Hoa Kỳ đề nghị, nếu không sẽ ném bom lại Bắc Việt Nam.
Ngày 18 tháng 12, Hoa Kỳ bắt đầu cho máy bay B–52 ném bom rải thảm Hà Nội, Hải Phòng và các mục tiêu khác. Đợt ném diễn ra trong 12 ngày (18 tháng 12 đến 30 tháng 12), đó là Chiến dịch Linebacker II. Không khuất phục được Hà Nội, bị thiệt hại nặng nề cho lực lượng không quân với ít nhất 30 chiếc máy bay ném bom chiến lược B-52 và 5 chiếc F-111 bị bắn hạ (Việt Nam cho tới nay vẫn tự hào rằng chỉ có họ mới bắn rơi B-52 Mỹ) và nhất là bị dư luận quốc tế và trong nước phản đối mạnh mẽ, chính phủ Hoa Kỳ buộc phải chấm dứt ném bom quay lại đàm phán và đồng ý ký kết Hiệp định Paris theo phương án đã ký tắt hồi tháng 10 với một vài sửa đổi nhỏ có tính kỹ thuật.
Ngày 22 tháng 12, Hoa Kỳ gửi công hàm yêu cầu họp lại. Ngày 26/12, Việt Nam yêu cầu Mỹ trở lại tình hình trước ngày 18/12 mới họp. Hoa Kỳ chấp nhận.
Ngày 8/1/1973, nối lại đàm phán lúc 11 giờ trưa tại ngôi nhà ở Gif-sur-Yvette. Lê Đức Thọ nổ phát súng đầu: “Chính các ông đã làm cho danh dự nước Mỹ bị hoen ố”. Kissinger không bào chữa hăng hái như những lần trước, chỉ thanh minh. Hai ngày sau, 10/1/1973, Kissinger thử lần chót việc đòi đối phương rút quân khỏi miền Nam nhưng thất bại. Ngày 13/1/1973, hoàn thành hiệp định trong cuộc gặp riêng lần cuối cùng.
Chính phủ Việt Nam Cộng hòa không tán thành hiệp định vì những nhượng bộ của Hoa Kỳ đẩy họ vào thế nguy hiểm. Nixon rất tức giận khi Nguyễn Văn Thiệu cản chân ông. Theo hồ sơ mới giải mật gần đây của phía Mỹ thì Nixon có nói: Nếu Thiệu không ký hiệp định thì sẽ "lấy đầu" ông ta (tức Thiệu). Nixon đã nói với Kissinger như sau: "Ông sẽ hiểu thế nào là sự tàn bạo nếu tên khốn kiếp đó (ce salaud) không chịu chấp nhận, ông hãy tin lời tôi". Ngày 16 tháng 1 năm 1973, Đại tướng Haig trao cho Nguyễn Văn Thiệu bức thư của Nixon, mà Kissinger gọi là "bốc lửa". Trong thư này đoạn quan trọng nhất là: "Vì vậy chúng tôi đã quyết định dứt khoát sẽ ký tắt Hiệp định ngày 23 tháng 1 năm 1973 tại Paris. Nếu cần thiết, chúng tôi sẽ làm như thế một mình. Trong trường hợp đó, tôi phải giải thích công khai rằng Chính phủ của ông cản trở hoà bình. Kết quả là sự chấm dứt không tránh khỏi và lập tức của viện trợ kinh tế và quân sự của Hoa Kỳ - và một sự sắp xếp lại Chính quyền của ông cũng chẳng thay đổi được tình hình". Trước sức ép của Mỹ, Việt Nam Cộng hòa cuối cùng phải chấp nhận ký kết hiệp định.
Hiệp định Paris được ký kết vào ngày 27 tháng 1 năm 1973 như một thắng lợi quan trọng của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Cộng hòa miền Nam Việt Nam. Ngày 29 tháng 3 năm 1973, quân nhân Mỹ cuối cùng rời Việt Nam, chấm dứt mọi can thiệp quân sự trực tiếp của Hoa Kỳ đối với vấn đề Việt Nam, Hoa Kỳ sẽ chỉ còn duy trì viện trợ và cố vấn quân sự. Từ thời điểm này, tuy vẫn nhận viện trợ quân sự và kinh tế từ Hoa Kỳ nhưng Quân lực Việt Nam Cộng hòa phải đơn phương trực tiếp chiến đấu với Quân giải phóng miền Nam Việt Nam. Đầu năm 1974, Quân lực Việt Nam Cộng hòa tiếp tục có những đợt tấn công nhằm vào lực lượng đối phương tại các khu vực trọng điểm như tại Quân khu 5, Kon Tum, Pleiku, xung quanh Sài Gòn,... Tuy nhiên, từ giữa năm 1974, cường độ tấn công của Quân lực Việt Nam Cộng hòa giảm dần và tương quan lực lượng thực sự nghiêng về Quân giải phóng miền Nam Việt Nam từ cuối năm 1974, thậm chí là thay đổi với tốc độ chóng mặt vì tinh thần của Quân lực Việt Nam Cộng hòa xuống chưa từng thấy khi mất nguồn viện trợ từ Hoa Kỳ cũng như các chiến dịch trước đó không đạt được yêu cầu đề ra. Về phía Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Cộng hòa Miền Nam Việt Nam, sau Thông cáo Thượng hải 1972 giữa Hoa Kỳ và Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa, Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa cũng giảm đáng kể lượng viện trợ cho Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Có những lúc Việt Nam Dân chủ Cộng hòa từ chối nhận viện trợ nếu khoản viện trợ đó đi kèm những điều kiện mà họ không chấp nhận. Khi Trung Quốc đề nghị viện trợ 500 chiếc xe vào Trường Sơn với điều kiện lái xe là người Trung Quốc, Tổng Bí thư Lê Duẩn không đồng ý nhận bất cứ một chiếc xe nào vì tin rằng Trung Quốc lồng ghép vào đó những toan tính riêng của họ (Trung Quốc từng mượn đường vào đánh Chiêm Thành thời nhà Trần, rồi từng lấy cớ vào giúp Lê Chiêu Thống để kéo quân vào Hà Nội). Có người trong Bộ Chính trị đề nghị "sao không nhận một vài chiếc cho người ta vui?", nhưng ông trả lời: "Chừng nào tôi còn ngồi đây, thì tôi không cho một kẻ nào nghĩ trong đầu rằng có thể cướp được đất nước Việt Nam này". Bên cạnh đó, Liên Xô cũng chủ trương không viện trợ cho Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Cộng hòa Miền Nam Việt Nam những vũ khí hiện đại hơn như xe tăng T-62, tên lửa phòng không S-125 Neva/Pechora, tiêm kích MiG-23 song song với việc giảm số lượng viện trợ đối với những loại vũ khí Quân giải phóng miền Nam Việt Nam đang sở hữu xuống chỉ còn một nửa, thậm chí một phần ba. Theo thống kê của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, trong 2 năm 1973-1974, tổng cộng Việt Nam Dân chủ Cộng hòa nhận được 114.532 tấn viện trợ quân sự, trị giá 339.355.353 rúp (~330 triệu USD), chỉ bằng 19% so với 2 năm 1971-1972. Trên thực tế, quân số và vũ khí Việt Nam Cộng hòa (920.000 người) vẫn vượt trội hơn hẳn so với Quân đội Nhân dân Việt Nam và Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam (219.000 người). Tổng viện trợ của Mỹ dành cho Việt Nam Cộng hòa trong năm tài khóa 1974 là hơn 657 triệu USD, con số này gần gấp đôi tổng viện trợ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa nhận được từ Liên Xô trong cả 2 năm 1973-1974
== Nội dung chính của hiệp định và lập trường các bên ==
Bản Hiệp định này không hề có định nghĩa về hai bên ở miền nam, hai chính quyền ở miền nam, định nghĩa hai lực lượng quân đội của miền Nam, cũng không định nghĩa về ba lực lượng chính trị ở miền nam, và với thừa nhận miền nam Việt Nam là một miền của một nước Việt Nam thống nhất, cùng với không đưa ra xác định Việt Nam Dân chủ Cộng hòa chỉ có chủ quyền ở miền bắc hay không, không nhắc đến tên lực lượng Quân đội Nhân dân Việt Nam (khác bản thoả thuận trong tháng 10-1972 giữa đoàn đàm phán Việt Nam dân chủ cộng hòa và đoàn đàm phán Hoa Kỳ) được xem là một thoái bộ của Mỹ và có lợi cho phía đối phương.
Nội dung hiệp định được chia thành chín chương, nói về các chủ đề về cơ bản giống như trong bản dự thảo 9 điểm mà Hoa Kỳ và Việt Nam Dân chủ Cộng hoà đã thống nhất với nhau vào tháng 10 năm 1972 với xương sống là tuyên bố 10 điểm của Mặt trận Giải phóng miền Nam Việt Nam trước đó. Đó là :
Hoa Kỳ và các nước khác tôn trọng độc lập chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam như được công nhận bởi hiệp định Geneva.
Điều khoản này có nghĩa Hoa Kỳ công nhận chính thức các điều khoản Hiệp định Geneva về sự toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam, theo đó, Việt Nam là một quốc gia thống nhất, miền Bắc và miền Nam không phải hai quốc gia riêng biệt mà chỉ là hai vùng tập kết quân sự khác nhau. Tuy nhiên, do chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa được bầu lên bởi cuộc Tổng tuyển cử Toàn quốc vào ngày 06/01/1946 bất chấp sự chống phá của Thực dân Pháp, quân đội Tưởng Giới Thạch, đảng Việt Quốc và Việt Cách (tuy nhiên, sau đó Việt Minh vẫn nhượng bộ khi để cho 2 đảng Việt Quốc và Việt Cách tham gia chính phủ liên hiệp mà không qua bầu cử để đảm bảo đoàn kết dân tộc) nên nhiều ý kiến cho chính phủ Việt Nam Dân chủ có tính chính danh và hợp pháp cao hơn chính phủ Quốc gia Việt Nam - thành lập năm 1949 - vốn lên cầm quyền không qua bất kỳ 1 cuộc bầu cử nào trước năm 1946. Việc đồng ý Tổng tuyển cử năm 1956 là 1 bước nhượng bộ rất lớn của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa do với cuộc bầu cử năm 1946, chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa chính thức trở thành người đại diện và bảo vệ hợp pháp duy nhất của nhân dân Việt Nam, có quyền tấn công các lực lượng vũ trang và hành chính được thành lập không tuân theo các quy định trong Hiến pháp năm 1946 trên toàn lãnh thổ 2 miền, bao gồm cả chính phủ Quốc gia Việt Nam và quân đội Việt Nam Cộng hòa - lực lượng vũ trang thực hiện kế thừa đối với lực lượng xâm lược của Thực dân Pháp. Việc đại diện của Pháp ký vào Bản Tuyên bố cuối cùng với Điều 7 quy định việc tiến hành Tổng tuyển cử vào tháng 7/1956 đã khiến cho chính phủ Quốc gia Việt Nam - bên kế thừa các nghĩa vụ của Pháp ở Việt Nam - phải có nghĩa vụ tiến hành Tổng tuyển cử năm 1956 dù muốn hay không.
Ngừng bắn trên toàn Việt Nam sẽ bắt đầu từ 27 tháng 1 năm 1973. Và ở miền Nam tất cả các đơn vị quân sự Mỹ và đồng minh, hai bên miền Nam Việt Nam ở nguyên vị trí (không áp dụng với Quân đội nhân dân của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa). Hoa Kỳ sẽ chấm dứt mọi hoạt động quân sự của Hoa Kỳ chống Việt Nam Dân chủ Cộng hòa bằng mọi lực lượng trên bộ, trên không, trên biển, chấm dứt việc thả mìn tại vùng biển, các cảng và sông ngòi và sẽ tháo gỡ, làm mất hiệu lực vĩnh viễn, phá huỷ tất cả những mìn ở vùng biển, các cảng và sông ngòi miền Bắc Việt Nam. Uỷ ban quân sự liên hợp giữa hai lực lượng quân sự hai bên miền Nam (tức của Việt Nam Cộng hòa và Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng Hòa miền Nam Việt Nam) sẽ quy định vùng của hai lực lượng quân sự do mỗi bên kiểm soát, và những thể thức trú quân. Trong vòng 60 ngày, sẽ có cuộc rút lui hoàn toàn của quân đội Mỹ và đồng minh cùng các nhân viên quân sự Mỹ, kể cả cố vấn quân sự tất cả các tổ chức bán quân sự và lực lượng cảnh sát của các nước nói trên ra khỏi miền nam Việt Nam, huỷ bỏ tất cả các căn cứ quân sự ở miền Nam Việt Nam của Hoa Kỳ và các nước đó ở nam Việt Nam. Các lực lượng chính quy thuộc mọi quân chủng và binh chủng và các lực lượng không chính quy của các bên ở miền Nam Việt Nam (Mỹ và đồng minh, Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Cộng hòa miền Nam Việt Nam, Việt Nam cộng hòa) phải ngừng mọi hành động tấn công nhau. Ngăn cấm mọi hoạt động vũ lực trên bộ, trên không và trên biển, mọi hành động đối địch, khủng bố và trả thù của cả hai bên. Từ khi thực hiện ngừng bắn cho đến ngày thành lập chính phủ thông qua tổng tuyển cử thật sự tự do và dân chủ, có giám sát quốc tế, hai bên miền Nam Việt Nam (Cộng hòa miền Nam Việt Nam, Việt Nam cộng hòa) không được nhận đưa vào miền Nam Việt Nam quân đội, cố vấn quân sự và nhân viên quân sự, kể cả nhân viên quân sự kỹ thuật, vũ khí, đạn dược và dụng cụ chiến tranh (không có tính ràng buộc với Mỹ và Việt Nam Dân chủ Cộng hòa). Trong thời gian này, hai bên miền Nam (Việt Nam cộng hòa, Cộng hòa miền Nam Việt Nam), được phép từng thời gian thay thế vũ khí, đạn dược, dụng cụ chiến tranh đã bị phá huỷ, hư hỏng, hao mòn hoặc dùng hết từ sau khi ngừng bắn, trên cơ sở một đổi một, cùng đặc điểm và tính năng, có sự kiểm soát của Ban liên hợp quân sự hai bên miền Nam Việt Nam và của Ủy ban quốc tế kiểm soát và giám sát. Vấn đề nhận viện trợ quân sự sau này cho miền Nam Việt Nam sẽ thuộc thẩm quyền của chính phủ được thành lập sau tổng tuyển cử ở miền Nam. Hoa Kỳ sẽ không tiếp tục dính líu quân sự hoặc can thiệp vào công việc nội bộ của miền Nam Việt Nam.
Đây là vấn đề quan trọng số một là thực chất của hiệp định. Nó quy định Hoa Kỳ và đồng minh phải rút hết quân khỏi nam Việt Nam chấm dứt mọi can thiệp vào công việc nội bộ của Việt Nam kể cả cung cấp khí tài và cố vấn quân sự, nhưng không được tăng thêm theo ràng buộc với riêng hai bên miền nam và không bị giới hạn di chuyển. Đây là nhượng bộ lớn nhất mà qua 4 năm đấu tranh trên chiến trường và bàn hội nghị cuối cùng Hoa Kỳ đã thoả hiệp. Đây là điều khoản mà Việt Nam Cộng hoà lúc đầu cương quyết bác bỏ vì thấy trước là mối hiểm hoạ nhất định nổ ra sau khi Hoa Kỳ rút hết quân. Trong chương này có điều khoản cho phép về thay thế binh bị khi bị phá huỷ, hư hỏng, theo nguyên tắc một-đổi-một áp dụng với Quân giải phóng của Cộng hòa Miền Nam Việt Nam và quân đội Việt Nam Cộng hòa đến khi có chính phủ mới, nhưng không được phép đưa thêm từ bên ngoài vào. Điều này không cho Quân đội Việt Nam Cộng hòa nhận tiếp tế vũ khí của Mỹ và đồng minh cho nhưng lại cho phép Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam nhận tiếp tế của Quân đội Nhân dân Việt Nam, vì Hiệp định cấm vận chuyển vũ khí từ ngoài vào trong lãnh thổ Việt Nam nhưng lại không cấm vận chuyển vũ khí bên trong lãnh thổ Việt Nam. Theo một số quan điểm đây là nhượng bộ của phía Việt Nam Dân chủ Cộng hoà nhưng thực ra điều khoản này trên thực tế theo một số quan niệm sẽ nhanh chóng bị vô hiệu hoá vì không có một lực lượng nào có thể kiểm chứng trang bị của Quân Giải phóng Miền Nam Việt Nam trên chiến trường và trên đường tiếp tế.
Việc trao trả những nhân viên quân sự của các bên bị bắt và thường dân nước ngoài của các bên (Mỹ và đồng minh, Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Cộng hòa miền Nam Việt Nam, Việt Nam cộng hòa) bị bắt sẽ tiến hành song song và hoàn thành không chậm hơn ngày hoàn thành việc rút quân trong vòng 60 ngày. Vấn đề trao trả các nhân viên dân sự Việt Nam (Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Cộng hòa miền Nam Việt Nam, Việt Nam cộng hòa) bị bắt và giam giữ ở miền Nam Việt Nam sẽ do hai bên miền Nam Việt Nam (Cộng hòa miền Nam Việt Nam, Việt Nam cộng hòa) giải quyết trên cơ sở những nguyên tắc của Điều 21(b) của Hiệp định đình chỉ chiến sự ở Việt Nam ngày 20/7/1954. Hai bên miền Nam Việt Nam sẽ làm điều đó trên tinh thần hòa giải và hòa hợp dân tộc, nhằm chấm dứt thù hằn, giảm bớt đau khổ và đoàn tụ các gia đình. Hai bên miền Nam Việt Nam sẽ gắng hết sức mình để giải quyết vấn đề này trong vòng chín mươi ngày sau khi ngừng bắn có hiệu lực..
Điều khoản trao trả tù binh không điều kiện trong vòng 60 ngày có tầm quan trọng rất lớn và cực kỳ nhạy cảm đối với chính phủ của Tổng thống Nixon. Uy tín chính quyền Nixon trong con mắt người dân Mỹ phụ thuộc lớn vào việc có nhanh chóng đưa được các tù binh Mỹ về nước như đã hứa khi bầu cử tổng thống hay không và điều rất quan trọng nữa là điều này tạo ra được ấn tượng tâm lý "ra đi trong danh dự". Việc giải phóng tù binh không điều kiện, còn tù nhân dân sự sẽ được giải quyết sau, phản ánh nguyên tắc của phía Hoa Kỳ là tách các vấn đề thuần tuý quân sự ra khỏi các vấn đề rất phức tạp về chính trị. Chính vì vấn đề tù binh Mỹ quá quan trọng với chính quyền của Tổng thống Nixon nên đây cũng là một lý do giải thích cho phản ứng rất dữ dội của Nixon bằng Chiến dịch Linebacker II khi phía Bắc Việt Nam đặt lại vấn đề phóng thích tù binh phải gắn liền với vấn đề tù chính trị. Đây cũng là một trong những lý do để sau này nhiều nhà sử học cho rằng cuộc không kích cuối năm 1972 đã đạt được mục đích nhất định.
Chính phủ Hoa Kỳ và Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa cam kết tôn trọng những nguyên tắc thực hiện quyền tự quyết của nhân dân miền Nam Việt Nam. Nhân dân miền Nam Việt Nam sẽ quyết định tương lai chính trị của mình qua "tổng tuyển cử tự do và dân chủ dưới sự giám sát quốc tế" (Ủy ban quốc tế kiểm soát và giám sát sẽ báo cáo với hai bên miền Nam Việt Nam những vấn đề về việc kiểm soát và giám sát cho đến khi Hội nghị quốc tế có những sắp xếp dứt khoát, và chấm dứt hoạt động của mình theo yêu cầu của chính phủ được thành lập sau Tổng tuyển cử ở miền Nam Việt Nam). Các nước ngoài sẽ không được áp đặt bất cứ xu hướng chính trị hoăc cá nhân nào đối với nhân dân miền Nam Việt Nam. Hai bên miền Nam Việt Nam (Việt Nam cộng hòa, Cộng hòa miền Nam Việt Nam) cam kết tôn trọng ngừng bắn và giữ vững hòa bình ở miền Nam Việt Nam, giải quyết các vấn đề tranh chấp bằng thương lượng và tránh mọi xung đột bằng vũ lực. Ngay sau khi ngừng bắn, hai bên miền Nam Việt Nam sẽ thực hiện hòa giải và hòa hợp dân tộc, xóa bỏ thù hằn, cấm mọi hành động trả thù và phân biệt đối xử với những cá nhân hoặc tổ chức đã hợp tác với bên này hoặc bên kia, bảo đảm các quyền tự do dân chủ của nhân dân: tự do cá nhân, tự do ngôn luận, tự do báo chí, tự do hội họp, tự do tổ chức, tự do hoạt động chính trị, tự do tín nguỡng, tự do đi lại, tự do cư trú, tự do làm ăn sinh sống, quyền tư hữu tài sản và quyền tự do kinh doanh. Hai bên miền Nam Việt Nam sẽ hiệp thương trên tinh thần hòa giải và hòa hợp dân tộc, tôn trọng lẫn nhau và không thôn tính nhau để thành lập Hội đồng quốc gia hòa giải và hòa hợp dân tộc gồm ba thành phần ngang nhau (được hiểu gồm chính phủ Việt Nam cộng hòa, lực lượng thứ ba, chính phủ Cộng hòa miền Nam Việt Nam). Hai bên miền Nam Việt Nam sẽ ký một hiệp định về các vấn đề nội bộ của miền Nam Việt Nam trong vòng chín mươi ngày. Hội đồng quốc gia hòa giải và hòa hợp dân tộc có nhiệm vụ đôn đốc hai bên miền Nam Việt Nam thi hành Hiệp định này, thực hiện hòa giải và hòa hợp dân tộc, bảo đảm tự do dân chủ. Hội đồng quốc gia hòa giải và hòa hợp dân tộc sẽ tổ chức tổng tuyển cử tự do và dân chủ. Các cơ quan quyền lực mà cuộc tổng tuyển cử đó sẽ bầu ra sẽ do hai bên miền Nam Việt Nam thông qua hiệp thương mà thỏa thuận. Hội đồng quốc gia hòa giải và hòa hợp dân tộc cũng sẽ quy định thủ tục và thể thức tuyển cử địa phương theo như hai bên miền Nam Việt Nam thỏa thuận. Vấn đề lực lượng vũ trang Việt Nam ở miền Nam Việt Nam (được hiểu là Quân giải phóng Miền Nam, Quân lực Việt Nam cộng hòa) sẽ do hai bên miền Nam Việt Nam (Việt Nam cộng hòa, Cộng hòa miền Nam Việt Nam) giải quyết trên tinh thần hòa giải và hòa hợp dân tộc, bình đẳng và tôn trọng lẫn nhau, không có sự can thiệp của nước ngoài, "phù hợp với tình hình sau chiến tranh". Hai bên miền Nam Việt Nam (Việt Nam cộng hòa, Cộng hòa miền Nam Việt Nam) sẽ thảo luận về việc giảm số quân của họ và phục viên số quân đã giảm càng sớm càng tốt. Miền Nam Việt Nam thực hiện chính sách đối ngoại hòa bình, độc lập. Miền Nam Việt Nam sẵn sàng thiết lập quan hệ với tất cả các nước không phân biệt chế độ chính trị và xã hội trên cơ sở tôn trọng độc lập, chủ quyền của nhau và nhận viện trợ kinh tế, kỹ thuật của bất cứ nước nào không kèm theo điều kiện chính trị..
Điều khoản này phản ánh thực tế ở miền Nam có hai chính quyền có quân đội và vùng kiểm soát khác nhau. Phía Mỹ yêu cầu phải có điều khoản nói về việc thành lập Hội đồng hòa giải hòa hợp dân tộc, bảo đảm nhân dân miền Nam được hưởng các quyền tự do dân sự và chính trị, có quyền quyết định tương lai chính trị của mình thông qua bầu cử tự do dân chủ, tuy nhiên không đặt giới hạn thời gian, là để ngăn ngừa về mặt pháp lý sự tấn công bằng vũ lực của các bên (Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, Cộng hòa miền Nam Việt Nam và Việt Nam Cộng hoà). Điều này có nghĩa phía Việt Nam Dân chủ Cộng hoà công nhận trên nguyên tắc sự tồn tại của chính quyền Việt Nam Cộng Hòa tại miền Nam cùng với chính sách ngoại giao độc lập của nó nhưng bị ràng buộc bởi hiệp định, cho đến khi một chính phủ mới được thành lập trên tinh thần của bản hiệp định, cả cơ chế lẫn đường lối. Cuộc Tổng tuyển này đã diễn ra năm 1976. Do chính quyền Việt Nam Cộng hòa thực hiện Chiến dịch Lý Thường Kiệt 1975 trước khi phía đối phương tiến hành Chiến dịch Mùa Xuân 1975 nên Chiến dịch Mùa Xuân 1975 mang tính phản kích, thực hiện trả đũa theo đúng Hiệp định Paris.
Sự tái thống nhất Việt Nam sẽ được thực hiện từng bước bằng các biện pháp hòa bình trên cơ sở bàn bạc và thỏa thuận giữa miền Bắc và miền Nam Việt Nam, không bên nào cưỡng ép hoặc thôn tính bên nào và không có sự can thiệp của nước ngoài. Thời gian thống nhất sẽ do miền Bắc và miền Nam Việt Nam thỏa thuận. Trong khi chờ đợi thống nhất, ranh giới và khu phi quân sự tại vĩ tuyến 17 chỉ là tạm thời và không được tính là biên giới quốc gia theo như quy định tại Hiệp định Genève. Miền Bắc và miền Nam Việt Nam sẽ sớm bắt đầu thương lượng nhằm lập lại quan hệ bình thường về nhiều mặt bao gồm có vấn đề thể thức đi lại dân sự qua giới tuyến quân sự tạm thời. Miền Bắc và miền Nam Việt Nam sẽ không tham gia bất cứ liên minh quân sự hoặc khối quân sự nào và không cho phép nước ngoài có căn cứ quân sự, quân đội, cố vấn quân sự và nhân viên quân sự trên đất mình
Chương này khẳng định ranh giới và khu phi quân sự tại vĩ tuyến 17 chỉ là tạm thời theo như quy định tại Hiệp định Genève. Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và chính quyền mới ở miền Nam sau này tiến hành đàm phán, thương lượng và thỏa thuận để đi đến thống nhất Việt Nam. Cơ chế, phương thức đi đến thống nhất là do chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Chính quyền mới ở miền Nam Việt Nam quyết định miễn là việc thống nhất được thực hiện thông qua biện pháp chính trị. Sau này Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Cộng hòa miền Nam Việt Nam (kế thừa Việt Nam Cộng hòa và Chính phủ Cách mạng lâm thời miền Nam Việt Nam tiến hành thống nhất qua cuộc Tổng tuyển cử năm 1976.
Để bảo đảm và giám sát việc thực hiện hiệp định, một ủy ban kiểm soát và giám sát quốc tế và Ban liên hợp quân sự bốn bên (gồm Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, Hoa Kỳ, Cộng hòa Miền Nam Việt Nam và Việt Nam Cộng hoà), Ban liên hợp quân sự hai bên (Cộng hòa Miền Nam Việt Nam và Việt Nam Cộng hoà) sẽ được thành lập. Ban liên hợp quân sự bốn bên phối hợp hành động của các bên trong việc thực hiện về việc ngừng bắn, việc rút ra khỏi miền Nam Việt Nam quân đội của Hoa Kỳ và quân đội đồng minh, việc hủy bỏ các căn cứ quân sự của họ...và chấm dứt hoạt động trong thời gian sáu mươi ngày, sau khi Hoa Kỳ và đồng minh rút quân. Ban liên hợp quân sự hai bên có nhiệm vụ bảo đảm sự phối hợp hành động của hai bên miền Nam Việt Nam về việc ngừng bắn giữa tất cả các bên ở miền Nam Việt Nam (Quân giải phóng Miền Nam, quân lực Việt Nam cộng hòa) sau khi Ban liên hợp quân sự bốn bên chấm dứt hoạt động của mình, về việc ngừng bắn giữa hai bên miền Nam Việt Nam, việc không được đưa quân đội vào miền Nam Việt Nam từ khi thực hiện ngừng bắn cho đến ngày thành lập chính phủ mới,...Các bên thỏa thuận về việc triệu tập một Hội nghị quốc tế trong vòng ba mươi ngày kể từ khi ký Hiệp định này để ghi nhận các Hiệp định đã ký kết.
Cơ chế giám sát này không áp dụng cho điều khoản Hoa Kỳ sẽ chấm dứt mọi hoạt động quân sự của Hoa Kỳ chống lãnh thổ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Thực tế là đã có hoạt động của các bên và ủy ban quốc tế nhưng sau hai bên đều tố cáo vi phạm hiệp định.
Các bên tham gia Hội nghị phải triệt để tôn trọng Hiệp định Geneva năm 1954 về Campuchia và Hiệp định Geneva năm 1962 về Lào đã công nhận các quyền dân tộc cơ bản của nhân dân hai nước về độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ các nước đó. Các bên phải tôn trọng nền trung lập của hai nước. Các bên tham gia Hội nghị cam kết không dùng lãnh thổ của hai nước để xâm phạm chủ quyền và an ninh của nhau và của các nước khác. Các nước ngoài sẽ chấm dứt mọi hoạt động quân sự ở hai nước, rút hết và không đưa trở lại vào hai nước đó quân đội, cố vấn quân sự và nhân viên quân sự, vũ khí, đạn dược và dụng cụ chiến tranh.
Đây là trói buộc của Hoa Kỳ và Việt Nam Cộng hòa đối với các căn cứ và tuyến vận chuyển của Việt Nam Dân chủ Cộng hoà trên đường mòn Hồ Chí Minh trên đất Lào và Campuchia, tuy nhiên Mỹ cũng phải rút toàn bộ sự hỗ trợ cho hai chính quyền Mỹ ủng hộ bên Lào và Campuchia. Quy định này không có tính ràng buộc đối với các chính quyền tồn tại ở Lào và Campuchia do họ không tham dự mà chỉ ràng buộc với bốn bên ký kết. Đây là một nhượng bộ của phía Việt Nam Dân chủ Cộng hoà nhưng trên thực tế thì phía Hoa Kỳ và Việt Nam Cộng hòa không có cách gì để bắt buộc đối phương thi hành điều khoản này một phần vì ngay tại Lào và Campuchia cũng đang có chiến tranh và không có một chính quyền thống nhất và lập trường thống nhất. Trên thực tế từ cuối năm 1972 chính quyền Pol Pot đã yêu cầu Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Cộng hòa miền Nam Việt Nam phải rút quân và họ đã rút quân khỏi nước này trong năm 1973, và hướng di chuyển quân trên đường Trường Sơn đông. Bên cạnh đó, việc Vương quốc Lào vi phạm lệnh ngừng bắn trong Hiệp ước Viêng-chăn cũng khiến cho Pathet Lào nhận được sự trợ giúp của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam.
Hoa Kỳ sẽ đóng góp vào việc hàn gắn vết thương chiến tranh và công việc xây dựng sau chiến tranh ở Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và trên toàn Đông Dương, để hàn gắn các thiệt hại do chiến tranh.
Đây không phải là điều khoản bắt buộc mà mang tính chất khuyến nghị. Điều khoản tái thiết sau chiến tranh, với số tiền lên đến 3,25 tỉ USD được Tổng thống Nixon hứa hẹn trong một bức thư riêng. Kissinger còn trao một bản dự thảo công hàm của Mỹ về xây dựng lại miền Bắc Việt Nam và 1 tháng 2 năm 1973 trao bản chính thức: Viện trợ cho không mỗi năm 650 triệu đôla; viện trợ với điều kiện nhân nhượng: 1 đến 1,5 tỷ đôla Mỹ. Viện trợ không hoàn lại sẽ dùng hình thức công hàm; viện trợ khác dùng bản ghi (note). Khoản viện trợ sau này không được thi hành với lý do Hoa Kỳ đưa ra là vì vấn đề xung đột ở Campuchia và tìm kiếm hài cốt binh sĩ Mỹ mất tích. Tới năm 1978, Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam không đòi hỏi điều kiện này nữa để bình thường hoá quan hệ giữa hai nước, nhưng tới thập niên 1990 Hoa kỳ mới đưa ra xem xét.
Tất cả các bên đồng ý thi hành hiệp định. Và hiệp định được sự bảo trợ của quốc tế thông qua việc các quốc gia ký nghị định thư quốc tế về chấm dứt chiến tranh lập lại hoà bình ở Việt Nam.
Điều khoản cuối của hiệp định và cũng không có điều khoản cưỡng chế: hiệp định không đưa ra được biện pháp và lực lượng cưỡng chế nếu một bên vi phạm hiệp định.
Như vậy, về mặt quân sự, buộc Mỹ và đồng minh phải rút khỏi miền nam Việt Nam, ngừng tấn công miền Bắc, không có điều khoản về di chuyển đối với Quân đội Nhân dân Việt Nam, và hai bên miền Nam không thể nhận thêm quân từ nước ngoài (nhưng không ràng buộc với việc Cộng hòa miền Nam Việt Nam nhận hỗ trợ từ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa), còn Quân giải phóng Miền Nam và quân lực Việt Nam cộng hòa phải rút về quân số và giữ nguyên vị trí, phía Mỹ không được phép viện trợ quân sự cho Việt Nam Cộng Hòa cho đến khi tổng tuyển cử được tổ chức. Ban liên hợp quân sự hai bên miền nam có thẩm quyền bảo đảm sự phối hợp hành động của hai bên về việc không được đưa quân đội vào miền Nam Việt Nam, nhưng Ban liên hợp quân sự bốn bên không có thẩm quyền này. Hiệp định cũng quy định bầu cử tự do ở miền nam theo thỏa thuận hai bên miền Nam và sau đó chính quyền mới sẽ hiệp thương với Việt Nam Dân chủ Cộng hòa thống nhất đất nước.
Sau này, có chuyện rằng trong một chuyến đến thăm Bảo tàng Lịch sử Việt Nam tại Hà Nội vào năm 1973, sau khi được nghe người hướng dẫn dịch sang tiếng Anh bài thơ chữ Hán Nam quốc sơn hà của Lý Thường Kiệt với những câu thơ "Nam quốc sơn hà Nam đế cư/Tiệt nhiên định phận tại thiên thư/Như hà nghịch lỗ lai xâm phạm/ Nhữ đẳng hành khan thủ bại hư", Kissinger đã nhận xét: “Đây chính là Điều 1 của Hiệp định Paris”.
== Vi phạm Hiệp định ==
Sau khi lực lượng quân sự Hoa Kỳ rút hết vào cuối tháng 3 năm 1973, phía Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Mặt trận Giải phóng miền Nam và phía Việt Nam Cộng hòa tố cáo nhau vi phạm Hiệp định, tuy nhiên hai bên không có hoạt động quân sự lớn nào trong năm 1973. Việt Nam Cộng hòa đã ráo riết thực hiện Chiến dịch Tràn ngập lãnh thổ từ đêm 24/01/1973 và hàng loạt kế hoạch quân sự trong toàn bộ năm 1973, đầu năm 1974. Đế đáp trả, Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Mặt trận Giải phóng miền Nam chuẩn bị cho việc đánh dứt điểm chính quyền Việt Nam Cộng hòa nhưng quá trình chuẩn bị được bắt đầu từ cuối năm 1973 (sau Chiến dịch Tràn ngập lãnh thổ được thực thi). Bên cạnh đó, Việt Nam Cộng hòa cũng đã thực hiện Chiến dịch Lý Thường Kiệt từ năm 1973 để từng bước một loại bỏ các lực lượng của Quân Giải phóng Miền Nam Việt Nam nhưng bất thành.
Chiến dịch Tràn ngập lãnh thổ thậm chí được Việt Nam cộng hòa lên kế hoạch từ năm 1972 để đề phòng khả năng Hiệp định không có lợi cho Việt Nam Cộng hòa. Các Kế hoạch như Hùng Vương, Lý Thường Kiệt (1973-1974) và kế hoạch toàn diện lâu dài (1973-1978) đã được Mỹ và Việt Nam Cộng hòa đưa ra nhằm nhanh chóng bình định miền Nam Việt Nam, nâng cao khả năng tác chiến của Quân lực Việt Nam Cộng hòa. Tới ngày 18-02-1975, Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu triệu tập phiên họp các tướng lĩnh tại Dinh Độc lập để soát xét việc thực thi Kế hoạch quân sự Lý Thường Kiệt 1975. Theo đó, Quân khu II được nhận định là hướng trọng điểm trong đợt tấn công xuân-hè, trước khi Chiến dịch Tây Nguyên xảy ra.
Về nguyên tắc thì các bên ký kết phải thừa nhận miền Nam Việt Nam tạm thời có hai chính quyền (tuy nhiên không có định nghĩa về hai chính quyền đó), nhưng sẽ nhanh chóng được thay thế bằng một chính quyền mới. Số quân Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam trên chiến trường lúc đó, số quân của họ trên đường mòn Hồ Chí Minh, số vũ khí họ mang vào và mang ra là những dữ liệu không thể kiểm chứng được nhưng theo số liệu cung cấp của Hoa Kỳ là 219.000 người (thấp hơn của Quân lực Việt Nam Cộng hòa với 920.000 người). Lượng viện trợ của Liên Xô, Trung Quốc và các nước Xã hội Chủ nghĩa khác viện trợ cho Việt Nam Dân chủ Cộng hòa vẫn có thể kiểm soát tại các cửa khẩu trên bộ, cảng hàng không và cảng biển (Trong hiệp định không cấm nước ngoài viện trợ cho Việt Nam Dân chủ Cộng hòa mà chỉ cấm cung cấp vũ khí cho các bên ở miền Nam Việt Nam). Tương tự, vũ khí Mỹ vào Việt Nam qua các cảng và cầu hàng không cũng dễ dàng được quản lý. Tuy vậy việc Hoa Kỳ tiếp tục cung cấp vũ khí và 23.000 cố vấn quân sự cho Việt Nam Cộng hòa là một sự vi phạm các điều khoản liên quan tới việc cấm Hoa Kỳ can dự vào miền Nam Việt Nam trong Hiệp định Paris và khiến cho phía Việt Nam Cộng hòa có thêm động lực để tiến hành các hoạt động quân sự chống lại Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam. Bên cạnh đó, điều khoản về ngăn cấm các bên lập căn cứ quân sự trên đất Lào trung lập là nhượng bộ của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa nhưng phía Vương quốc Lào lại vi phạm lệnh ngừng bắn trong Hiệp ước Viêng Chăn, tạo điều kiện để Pathet Lào tương trợ lẫn nhau với Quân đội Nhân dân Việt Nam và Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam. Tại Campuchia, điều tương tự cũng xảy ra khi quân đội của Lon Nol tấn công quân đội của Pol Pot, tuy nhiên, Pol Pot đã không nhận được sự hỗ trợ từ phía Quân đội Nhân dân Việt Nam và Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam.
=== Việt Nam Cộng hòa ===
==== Chính trị ====
Phía Việt Nam Cộng hòa đã sử dụng bộ máy tuyên truyền của mình để bóp méo diễn biến Hội nghị Paris. Trong câu đầu của Hiệp định “Các bên tham gia Hội nghị Paris về Việt Nam” được họ giải thích là “chỉ có hai phe tham dự hòa hội Ba Lê (Paris). Một phe là Việt Nam cộng hòa và đồng minh Hoa Kỳ và phe kia là Cộng sản”. Trên thực tế, đây là Hội nghị 04 bên bao gồm Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Hoa Kỳ, Việt Nam Cộng hòa và Cộng hòa miền Nam Việt Nam. Ở Điều 2, câu “việc chấm dứt hoàn toàn chiến sự nói trong điều này là vững chắc và không thời hạn” bị chỉnh sửa như sau: “Bản tiếng Anh dùng chữ “durable and without limit of the time” trong khi đó bản văn tiếng Việt lại dịch là “vững chắc và không thời hạn”. “Durable” không có nghĩa là vững chắc, mà chỉ có tính chất lâu dài. Lợi dụng điểm c, điều 3 không quy định cụ thể về lực lượng vũ trang của các bên, chính quyền Sài Gòn đặt “cảnh sát quốc gia” và “nhân dân tự vệ” nằm ngoài phạm vi của hiệp định. Tuy nhiên sau đó, hai lực lượng này trở thành nhân tố chủ yếu hỗ trợ của Quân lực Việt Nam Cộng hòa tiến hành cuộc chiến tranh “giành dân, lấn đất” với Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam. Nhằm tránh thực hiện Điều 6 của hiệp định “hủy bỏ tất cả các căn cứ quân sự ở miền Nam Việt Nam của Hoa Kỳ và các nước khác”, quân đội Hoa Kỳ đã tiến hành bàn giao toàn bộ căn cứ, phương tiện chiến tranh cho Quân lực Việt Nam Cộng hòa trước khi hiệp định được ký kết.
Chính quyền Nguyễn Văn Thiệu đã ra "công điện mang tay” mật – thượng khẩn số 5458/TTM/P345 ra lệnh cho các đơn vị cấm “phổ biến các tin tức chiến sự trên báo chí, đài phát thanh hay vô tuyến truyền hình”, trong đó nêu rõ: “Từ nay cấm không được nói rõ số lượng phi xuất, hải xuất, pháo binh yểm trợ… mà phải thay đổi hình thức giải thích đó là các hoạt động có tính cách phản ứng tự vệ". Điều 4 của Nghị định thư về ngừng bắn ở miền Nam Việt Nam và về các ban liên hợp quân sự, mặc dù Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam nhiều lần đề nghị nhưng chính quyền Sài Gòn vẫn cự tuyệt. Ngày 19/02/1973, Trần Thiện Khiêm, Thủ tướng chính quyền Sài Gòn, ban hành Công văn số 437/PThT/BĐPT/KH “Tuyệt đối không có việc tự động bắt tay giữa các chỉ huy trưởng đơn vị các cấp của ta (Quân lực Việt Nam Cộng hòa) với địch (Quân giải phóng) để chia khu vực và để cho địch tự do di chuyển”
Tại Hội nghị giữa hai bên miền Nam Việt Nam ở Sài Gòn, chính quyền Nguyễn Văn Thiệu cũng luôn tìm cách né tránh giải quyết các vấn đề theo đúng tinh thần Hiệp định Paris. Mặc dù thừa nhận Điều 10 của Hiệp định “đặt ra một tiên quyết là phải ngừng bắn trước đã rồi mới thảo luận được vấn đề hòa bình. Chỉ sau ngừng bắn thực sự, hai bên mới có thể thương lượng với nhau về các giải pháp cho các vấn đề tranh chấp” nhưng tại Hội nghị của hai bên miền Nam, khi Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam đưa ra Đề nghị 6 điểm, trong đó đầu tiên là tôn trọng ngừng bắn rồi mới giải quyết các vấn đề khác thì phía chính quyền Nguyễn Văn Thiệu lại đưa ra Đề nghị 5 điểm, trong đó đưa vấn đề tổng tuyển cử lên trước.
Chính Nguyễn Văn Thiệu tuyên bố:
Bên cạnh đó, chính quyền Nguyễn Văn Thiệu một mặt luôn tuyên truyền khẩu hiệu rằng "Cộng sản Bắc Việt xâm lược miền Nam", mặt khác lại luôn tuyên bố họ sẽ chủ động tấn công: "Đánh cái thằng Cộng sản phải đánh với thằng Cộng sản cho hữu hiệu, hữu hiệu hơn thằng Cộng sản vì hỏa lực chúng ta (VNCH) hơn thằng Cộng sản"..."Chúng ta (VNCH) phải có những hành động ngay từ đầu, phải ngăn ngừa cái hành động chuẩn bị tổng phản công của Cộng sản một cách thích đáng".
==== Quân sự ====
Mặc dù trong các ngày 22-1, 17-2, 3-3-1973, chính quyền Việt Nam Cộng hòa có ban hành các công điện, huấn thị về thực thi lệnh ngừng bắn nhưng chỉ trong đêm 27 rạng sáng 28.1, quân đội Sài Gòn đã thực hiện 15 cuộc hành quân từ cấp tiểu đoàn trở lên, 19 cuộc hành quân cấp tiểu khu và chi khu (theo bản tổng hợp tình hình của Bộ tổng tham mưu sáng 28.1). Trong số này có các cuộc hành quân quan trọng: Đại Bàng (tại vùng Quảng Trị - Thừa Thiên), Lam Sơn (Thừa Thiên), Quang Trung (Quảng Nam), Quyết Thắng 27A (Quảng Tín - Quảng Ngãi), Dakto 15 (Kon Tum)... Tổng kết hoạt động tháng 1, quân đội Sài Gòn đã thực hiện 694 cuộc hành quân cấp tiểu đoàn trở lên, tăng 34% so với tháng 12/1972. Hoạt động của Hải quân và Không quân Việt Nam Cộng hòa được tăng cường mạnh mẽ khi số lượng chuyến hải xuất tăng 9% so với tháng 12/1972. Cường độ hoạt động của không quân tăng 100%. Ngay trong tháng 1-1973, Không lực Việt Nam Cộng hòa đã thành lập thêm 1 phi đội mới với việc tuyển dụng 691 sĩ quan, 2426 Hạ sĩ quan, 1960 lính và nhận thêm 31 phi cơ của Hoa Kỳ. Năng lực tác chiến của lực lượng trọng pháo tăng 100%, của lực lượng tăng-thiết giáp tăng 85%
Để thực hiện Chiến dịch Tràn ngập lãnh thổ, chính quyền Nguyễn Văn Thiệu giao Bộ Quốc phòng Việt Nam Cộng hòa gấp rút "gọi nhập ngũ hạng tuổi thuộc thành phần học sinh", Bộ Nội vụ gấp rút nhắc nhở, đôn đốc treo cờ tại những nơi khó gỡ.
Phiếu nghiên cứu của lực lượng an ninh diện địa của Bộ Quốc phòng Việt Nam Cộng hòa ghi rõ:
Chiến dịch Tràn ngập lãnh thổ được lên kế hoạch từ năm 1972, trong đó phải gây tổn thất tối đa cho phía Quân Giải phóng, lực lượng Cảnh sát Quốc gia Việt Nam Cộng hòa đóng vai trò then chốt trong việc tìm kiếm mục tiêu để Quân lực Việt Nam Cộng hòa tấn công. Ngay trong đêm ký Hiệp định, phía Việt Nam Cộng hòa đã tổ chức 74 cuộc hành quân, trong đó 44 ở Quân khu 1, 10 ở Quân khu 2 và 20 ở Quân khu 3
Đặc biệt, lúc 07h58' ngày 28/01/1973, 2 phút trước khi Hiệp định Paris có hiệu lực, Quân lực Việt Nam Cộng hòa sử dụng lực lượng biệt kích và xe tăng tấn công căn cứ Cửa Việt của Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam Đây là cuộc tấn công "Tràn ngập lãnh thổ" lớn nhất của Việt Nam Cộng hòa, diễn ra ở phía bắc tỉnh Quảng Trị, nhằm đánh chiếm một vị trí quan trọng là cảng Cửa Việt. Ngày 21/1/1973, tướng Abrams, tướng Heige và tướng Ngô Quang Trưởng ra lệnh tiến hành Chiến dịch Tangocyti (tên gọi trận tấn công Cửa Việt của QLVNCH do các cố vấn Hoa Kỳ đặt). Đêm 25/1/1973, các tiểu đoàn 9 (lữ đoàn đặc nhiệm), 3 (lữ đoàn 258), lữ 147 và hơn 140 xe tăng nổ súng tấn công. Không lực Hoa Kỳ điều động 80 phi vụ B-52, pháo binh từ hạm đội 7 và 4 tiểu đoàn pháo ở thị xã Quảng Trị bắn hơn 60.000 viên đạn pháo yểm hộ cho quân Việt Nam Cộng hòa. 23 giờ ngày 27/1/1973, lữ đoàn đặc nhiệm đã tiếp cận cảng Cửa Việt. Đến 1 giờ ngày 28/1/1973, Bộ tư lệnh B5 quân Giải phóng biết tin và điều trung đoàn 101 và 5 xe tăng đánh vào sườn Lữ đoàn đặc nhiệm, bắn cháy 8 xe tăng đối phương nhưng không ngăn được đối phương tiến về cảng Cửa Việt. Rạng sáng ngày 28/1/1973, Bộ tư lệnh B5 tiếp tục điều 5 tiểu đoàn chi viện cho các lực lượng giữ Cửa Việt, đến trưa thì điều tiếp Trung đoàn 24 (sư đoàn 304) và 1 đại đội xe tăng (thuộc trung đoàn 203) tấn công phía sau cánh quân của đối phương. Rạng sáng 31/1/1973, quân Giải phóng tổ chức tổng công kích đồng loạt, ba cụm quân Việt Nam Cộng hòa ở cảng bị diệt, hai cụm quân còn lại chạy về Mỹ Thủy. Cuộc hành quân Tangocyti của Mỹ - Việt Nam Cộng hòa đã thất bại.
Ngày 12/10/1973, tướng Cao Văn Viên, Tổng tham mưu trưởng Quân lực Việt Nam Cộng hòa đã đề nghị Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu yêu cầu Hoa Kỳ hỗ trợ về không quân trong các cuộc hành quân thuộc Chiến dịch Tràn ngập lãnh thổ.
Trong năm 1973, chính quyền Việt Nam Cộng hòa cũng đã đưa ra Kế hoạch Quốc phòng 4 năm (1974-1978), trong đó nêu rõ Tiêu diệt hạ tầng cơ sở của địch (Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam) ở nông thôn, lực lượng lục quân có 14.000 người/sư đoàn gồm biệt động quân, nhảy dù, thủy quân lục chiến,
Đầu năm 1974, Quân lực Việt Nam Cộng hòa tiếp tục có những đợt tấn công nhằm vào lực lượng đối phương tại các khu vực trọng điểm như tại Quân khu 5, Kon Tum, Pleiku, xung quanh Sài Gòn,...
=== Hoa Kỳ ===
Để tiếp tục giữ thế cân bằng chiến lược với Liên Xô, Mỹ vẫn tiếp tục can dự vào nội bộ miền Nam Việt Nam dưới nhiều hình thức khác nhau. Mỹ thực hiện 03 giải pháp gồm: 1. tiếp tục viện trợ quân sự, kinh tế và cố vấn cho Việt Nam Cộng hòa thực hiện kế hoạch 05 năm xây dựng và củng cố Quân lực Việt Nam Cộng hòa nhằm thực hiện bình định, phá thế "da báo", mở rộng vùng kiểm soát, trọng điểm là vùng Đồng bằng Sông Cửu Long; 2. Rút quân nhưng để lại vũ khí, khí tài và nhiều nhân viên quân sự trá hình; 3 Lôi kéo các quốc gia tại Châu Á chống Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Cộng hòa miền Nam Việt Nam, gây sức ép buộc Liên Xô, Trung Quốc và các nước Xã hội chủ nghĩa khác giảm viện trợ
Nền tảng để Mỹ tiếp tục can dự vào miền Nam Việt Nam bao gồm 4 trụ cột:
Lực lượng Quân lực Việt Nam Cộng hòa còn mạnh và vẫn được tiếp tục củng cố. Trên thực tế, quân số và vũ khí Việt Nam Cộng hòa (920.000 người) vẫn vượt trội hơn hẳn so với Quân đội Nhân dân Việt Nam và Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam (219.000 người).
Sức mạnh răn đe của Mỹ ở Đông Á và Đông Nam Á vẫn còn khi Hạm đội 7, Hải quân Hoa Kỳ và các căn cứ tại Thái Lan, Hàn Quốc, Philippines vẫn còn 56 tàu chiến và 1.020 máy bay chiến đấu các loại.
Mỹ vẫn tiếp tục rót viện trợ quân sự và kinh tế cho Việt Nam Cộng hòa. Tổng viện trợ của Mỹ dành cho Việt Nam Cộng hòa trong năm tài khóa 1974 là hơn 657 triệu USD, con số này gần gấp đôi tổng viện trợ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa nhận được từ Liên Xô trong cả 2 năm 1973-1974.
Liên Xô, Trung Quốc và các nước Xã hội chủ nghĩa khác bắt đầu giảm, thậm chí ngừng viện trợ cho Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Tiêu biểu, sau Thông cáo Thượng hải 1972 giữa Hoa Kỳ và Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa, Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa cũng giảm đáng kể lượng viện trợ cho Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Liên Xô cũng chủ trương không viện trợ cho Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Cộng hòa Miền Nam Việt Nam những vũ khí hiện đại hơn như xe tăng T-62, tên lửa phòng không S-125 Neva/Pechora, tiêm kích MiG-23 song song với việc giảm số lượng viện trợ đối với những loại vũ khí Quân giải phóng miền Nam Việt Nam đang sở hữu xuống chỉ còn một nửa, thậm chí một phần ba. Theo thống kê của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, trong 2 năm 1973-1974, tổng cộng Việt Nam Dân chủ Cộng hòa nhận được 114.532 tấn viện trợ quân sự, trị giá 339.355.353 rúp (~330 triệu USD), chỉ bằng 19% so với 2 năm 1971-1972.
Mục đích của Mỹ tại Việt Nam là từng bước làm Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam và chính quyền Cộng hòa miền Nam Việt Nam suy yếu từ đó xóa bỏ thực trạng 02 chính quyền, 02 quân đội, 03 lực lượng chính trị tại miền Nam Việt Nam và biến miền Nam Việt Nam thực sự trở thành 01 quốc gia tách biệt hoàn toàn với miền Bắc Việt Nam như thực trạng trên bán đảo Triều Tiên. Mỹ sử dụng lực lượng quân sự tại các căn cứ tại Châu Á để răn đe Quân Giải phóng cũng như lấy việc giảm quân số tại đây để tiến hành mặc cả, ép Liên Xô và Trung Quốc giảm viện trợ cho Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Quân số của Mỹ tại Thái Lan ở mức 35.000 người, có 2 tướng, chủ yếu là không quân sẵn sàng can thiệp vào chiến trường Việt Nam bất cứ lúc nào
Tới đầu năm 1973, số lượng viện trợ của Mỹ cho Việt Nam Cộng hòa vẫn rất cao bao gồm 700 máy bay, 500 đại bác, 400 xe tăng và xe bọc thép, 2 triệu tấn vật chất phục vụ chiến tranh. Trong năm 1974, chính quyền Ford vẫn đề nghị Quốc hội Hoa Kỳ cung cấp 6 tỷ 200 triệu USD để viện trợ cho Việt Nam Cộng hòa. Từ sau khi Hiệp định được ký tới tháng 4/1974, Mỹ đã viện trợ cho Việt Nam Cộng hòa 27 triệu viên đạn cỡ 7,62x51mm, 112.000 tên lửa và rốc-két các loại (chủ yếu là không đối đất và chống tăng) và 80.000 quả bom các loại.
=== Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Cộng hòa miền Nam Việt Nam ===
Do phía Việt Nam Cộng hòa và Hoa Kỳ liên tục có các hành động vũ trang nhằm lấn đất, chiếm dân, đặc biệt là các Chiến dịch Tràn ngập lãnh thổ, từ chối ngừng bắn của chính quyền Nguyễn Văn Thiệu, phía Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam tuyên bố họ buộc phải có những hành động vũ trang mang tính phản kháng nhằm buộc chính quyền Sài Gòn thực thi nghiêm chỉnh Hiệp định Trong tuyên bố ngày 25-02-1973 của Cộng hòa miền Nam Việt Nam, trong giai đoạn 28-01 đến 24-2, phía Việt Nam Cộng hòa đã vi phạm Hiệp định khi tiến hành hơn 12.000 cuộc tấn công quân sự vào vùng giải phóng, gây ra hơn 67.000 vụ nổ súng.
Ngày 16-4-1973, Bộ Ngoại giao nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa gửi Công hàm tới Bộ Ngoại giao các nước ký Định ước Pari về Việt Nam và Tổng Thư ký Liên hợp quốc Cuốc-va-hem nêu ba vấn đề cấp bách là: ngừng bắn, thực hiện các quyền tự do dân chủ và thả tù chính trị ở miền Nam. Đây là những vấn đề Mỹ và Việt Nam Cộng hòa liên tục vi phạm. Tháng 10-1973, Hội nghị 21 Ban chấp hành Trung ương Đảng Lao động Việt nam họp đợt hai, tiếp tục khẳng định con đường bạo lực cách mạng; chủ trương đẩy mạnh cuộc đấu tranh trên ba mặt trận: quân sự, chính trị và ngoại giao; tận dụng các diễn đàn đấu tranh ngoại giao buộc đối phương phải thi hành Hiệp định Pari; đồng thời chủ động chuẩn bị sẵn sàng cho trường hợp phải tiến hành chiến tranh cách mạng trên khắp chiến trường miền Nam để giành thắng lợi hoàn toàn. Ban chấp hành Trung ương Đảng Lao động Việt Nam chủ trương:
Ngày 15-10-1973, Bộ Chỉ huy các lực lượng vũ trang Giải phóng miền Nam ra lệnh:
Tháng 1-1974, Bộ Ngoại giao nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa công bố cuốn Sách Trắng “Một năm thi hành Hiệp định Pari”, tố cáo Hoa Kỳ và chính quyền Việt Nam Cộng hoà phá hoại có hệ thống Hiệp định, nêu cao thiện chí và quyết tâm của nhân dân Việt Nam, làm rõ trước dư luận thế giới tình hình thực tế ở Việt Nam sau Hiệp định Pari do chính sách can thiệp của Hoa Kỳ và âm mưu kéo dài chiến tranh của chính quyền Việt Nam Cộng hoà.
Trưởng phái đoàn Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam, Nguyễn Văn Hiếu, đã gay gắt lên án chính quyền Nguyễn Văn Thiệu:
Ngày 23-04-174, Chính phủ Cộng hòa miền Nam Việt Nam tuyên bố:
== Tác động đối với các bên tham gia và kết quả ==
Theo Đại sứ Dương Văn Quảng, giám đốc Học viện Ngoại giao, việc ký Hiệp định Paris chứng tỏ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Cộng hòa miền Nam Việt Nam đi đến thắng lợi từng bước và theo một cách đầy chiến lược. Đây là tiền đề để đi đến chiến thắng cuối cùng. Bên cạnh đó, đây cũng là một chiến thắng của ngoại giao nhân Việt Nam khi Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Cộng hòa miền Nam Việt Nam đã huy động được sự ủng hộ của dư luận quốc tế. Tuy nhiên, việc Hoa Kỳ-Trung Quốc thông qua Thông cáo Thượng Hải 1972 đã gây ra nhiều cản trở đối với tiến trình hòa bình, thống nhất của Việt Nam.
Đối với Việt Nam Cộng hòa thì hiệp định này là một tai ương lớn đối với họ mặc dù họ tham gia ký kết và đặt sự tồn tại của Việt Nam Cộng hòa trước một nguy hiểm trong một tương lai gần. Hiệp định này đã buộc Hoa Kỳ phải rút toàn bộ lực lượng quân sự của mình khỏi Việt Nam và Đông Dương. Diều này đã khiến Việt Nam Cộng hòa mất đi chỗ dựa chính và lún sâu vào khủng hoảng nhanh hơn. Để trấn an Việt Nam Cộng hòa, Tổng thống Nixon đã hứa với Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu là trong trường hợp Việt Nam Dân chủ Cộng hòa phát động chiến tranh tiêu diệt Việt Nam Cộng hòa thì Hoa Kỳ sẽ phản ứng bằng cách thích hợp để bảo đảm an ninh cho Việt Nam Cộng hòa. Lời hứa này sẽ không có giá trị thực tế vì sau đó Quốc hội Hoa Kỳ đã ra nghị quyết không cho phép đưa lực lượng vũ trang trở lại Đông Dương mà không được phép của Quốc hội và quy định khuôn khổ viện trợ cho Việt Nam Cộng hòa. Với các áp đặt như vậy thì dù không có sự kiện Watergate, dù Tổng thống Nixon có tại vị thì cũng không thể giữ lời hứa một cách hữu hiệu được.
Đối với người Mỹ họ thực sự muốn đóng lại cuộc chiến, quên nó đi và mở sang một trang sử mới. Bên cạnh đó, cam kết bí mật của Tổng thống Richard Nixon rằng sức mạnh không quân Mỹ sẽ trở lại cuộc chiến nếu Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đưa quân trở lại miền Nam, cam kết mà Quốc hội Mỹ không hề hay biết và rất có thể sẽ phản đối nếu xảy ra. Đối với quân đội Hoa Kỳ, đây là cách họ ra khỏi cuộc chiến này một cách chính đáng.
Điều khoản uỷ ban kiểm soát và giám sát quốc tế cũng chỉ là hình thức vì quyền lực của uỷ ban này chỉ có cơ chế giám sát, khuyến nghị, báo cáo kết quả các cuộc điều tra là chủ yếu.
Nói chung hiệp định này chỉ được thi hành nghiêm chỉnh ở những điều khoản rút quân Mỹ (cùng các đồng minh khác) và trao trả tù binh Mỹ, thống nhất Việt Nam thông qua phương thức chính trị. Hoa Kỳ thực sự muốn rút quân đội khỏi cuộc chiến và Việt Nam Dân chủ Cộng hòa sẵn sàng tạo điều kiện cho việc đó.
Để hoàn thành nốt các điều khoản trong Hiệp định Paris liên quan đến Tổng tuyển cử, Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Cộng hòa miền Nam Việt Nam tiến hành cuộc Tổng tuyển cử năm 1976 để thống nhất thành Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam.
== Nhận xét ==
Nhà sử học cánh tả Gabriel Kolko, tác giả cuốn "Anatomy of a War: Vietnam, the US and the Modern Historical Experience" nhận định:
Nguyễn Tiến Hưng, Bộ trưởng Kinh tế Việt Nam Cộng hoà nhận xét về sự cưỡng ép của Mỹ để buộc Việt Nam Cộng hoà phải ký hiệp định:
Tác giả cuốn "A Bitter Peace: Washington, Hanoi, and the Making of the Paris Agreement", Pierre Asselin, phó giáo sư lịch sử ở Đại học Hawaii Pacific cho rằng:
Bà Hélene Luc, Chủ tịch danh dự Hội hữu nghị Pháp - Việt, đánh giá về những giá trị của Hiệp định Paris đối với Việt Nam:
Bà Jeanne Ellen Mirer, Chủ tịch Hội Luật gia Dân chủ Quốc tế, đại diện cho các đại biểu quốc tế tham gia lễ kỷ niệm 40 năm ngày ký Hiệp định Paris. Thông điệp có đoạn:
Trong Lễ kỷ niệm 40 năm ngày ký Hiệp định Paris, Chủ tịch nước Trương Tấn Sang khẳng định:
Phó chủ tịch nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam, Ngoại trưởng Cộng hòa miền Nam Việt Nam Nguyễn Thị Bình nhấn mạnh:
Ông Trịnh Ngọc Thái, thành viên đoàn đại biểu Việt Nam Dân chủ cộng hòa tại Hội nghị Paris, cho biết:
== Các nhân vật đại diện chính thức cho các bên ký kết ==
William P. Rogers Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ
Nguyễn Duy Trinh, Bộ trưởng Ngoại giao Việt Nam Dân chủ Cộng hòa
Nguyễn Thị Bình, Bộ trưởng Ngoại giao Chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam
Trần Văn Lắm, Tổng trưởng Ngoại giao Việt Nam Cộng hòa
== Các nhân vật chủ chốt tham gia đàm phán ==
Lê Đức Thọ: Cố vấn Đặc biệt, Lãnh đạo đoàn Việt Nam Dân chủ Cộng hòa
Xuân Thủy: Bộ trưởng, Trưởng đoàn đàm phán Việt Nam Dân chủ Cộng hòa
Henry Kissinger: Cố vấn đặc biệt của Tổng thống Hoa Kỳ
Henry Cabot Lodge, Jr.: Trưởng đoàn đàm phán Hoa Kỳ
== Nguồn tham khảo ==
Tiếng Anh:
Toàn văn hiệp định Paris 1973 Nguồn: TIAS 7542 (24 UST 4-23)
Chronology: How Peace Went off the Rails 1 tháng 1 năm 1973. TIME.
Nixon's Blitz Leads Back to the Table, 8 tháng 1 năm 1973. TIME.
Paris Peace in Nine Chapters, 5 tháng 2 năm 1973. TIME.
Herrington, Stuart A. "Peace with Honor? An American Reports on Vietnam" Presidio Press (1983). Part II, "Life Under The Paris Agreement" pp. 16–40.
Tiếng Việt:
Toàn văn Hiệp định Paris 1973 [1] Nguồn: Bộ Ngoại giao Việt Nam.
Sách: Hiệp định Paris về Việt Nam năm 1973 qua tài liệu của chính quyền Sài Gòn gồm 2 tập, Tập 1: Đánh và đàm; Tập 2: Ký kết và thực thi, Nhà xuất bản Sự thật
== Chú thích ==
== Liên kết ngoài ==
Hiệp định Pari-Mốc son chói lọi của nền ngoại giao cách mạng Việt Nam Bộ Ngoại giao Việt Nam Truy cập ngày 6-9-2007.
Báo Quân đội nhân dân phỏng vấn ông Võ Văn Sung nhân 32 năm ký Hiệp định Paris
Hiệp định Paris - chặng đường dài 18 năm
Hiệp định Paris – Ý nghĩa lịch sử và bài học kinh nghiệm quý báu
Hiệp định Paris- Một thắng lợi ngoại giao tuyệt vời
Sự thật phũ phàng về Hiệp định Paris 1973
Hiệp Định Paris 1973: Vì sao cần phải nhắc lại?
Hiệp định Paris khiến VNCH sụp đổ? Sử gia cánh tả Gabriel Kolko
Nhìn lại Hiệp định Paris 1973 Sử gia Vũ Minh Giang từ Đại học Quốc gia Hà Nội
Toàn văn Hiệp định Paris 1973 & Định ước của Hội nghị quốc tế về Việt Nam tại Paris 1973 (bản tiếng Việt, Tạp chí Đối diện) -- Trần Xuân An sưu tầm |
áo bà ba.txt | Áo bà ba (miền Bắc gọi Áo cánh) là một loại trang phục phổ biến ở các miền quê Việt Nam đặc biệt là Miền Nam. Đây là một loại áo ngắn, dài tay, cổ giữa, cài bằng một hàng khuy từ cổ thẳng xuống bụng.
== Lịch sử ==
Cho đến nay, chưa có tài liệu nào nói rõ áo bà ba xuất hiện ở thời điểm nào. Có một số giả thiết:
Áo bà ba xuất hiện đầu tiên ở Nam Bộ vào thời Nhà Hậu Lê.
Áo bà ba xuất hiện vào nửa đầu thế kỷ 19, được Trương Vĩnh Ký cách tân từ áo của người dân đảo Pénang, Malaysia (người Malaysia gốc Hoa) cho phù hợp với người Việt.
Áo bà ba có nét giống cái "áo đàn ông cổ tròn và cửa ống tay hẹp" mà Lê Quý Đôn đã quy định cho dân từ Thuận Quảng trở vào ở cuối thế kỷ 18.
Một quan niệm khác lại cho rằng "Có thể áo bà ba ảnh hưởng, cách tân từ áo lá và áo xá xẩu may bằng vải buồm đen của người Hoa lao động, là kiểu áo cứng, xẻ giữa, cài nút thắt... Phải chăng do thời tiết quanh năm nóng bức, họ bỏ luôn chiếc cổ thấp của áo lá và áo xá xẩu, mang thêm áo quanh chân cổ cho chắc. Áo xẻ giữa thay vì cài nút thắt đã được làm khuy, cài nút nhựa do ảnh hưởng phương Tây".
== Áo bà ba cổ điển ==
Người nông dân ở đồng bằng sông Cửu Long ngày xưa thường vận bộ bà ba đen đi đồng, bởi nó vừa sạch, vừa dễ giặt giũ. Vải may là loại vải một, vải ú, vải sơn đầm... rất mau khô sau khi giặt.
Áo bà ba trước thế kỷ 20 không có túi nên bên trong đàn bà mặc thêm áo túi, một loại áo giống như áo bà ba nhưng ngắn tay dùng làm áo lót, thân áo cũng ngắn hơn và không xẻ nách, may hai túi to ở hai bên để cất món đồ vặt. Đôi khi ở nhà đàn bà cũng dùng mỗi áo túi mà không bận áo bà ba bên ngoài. Đàn ông thì mặc áo lá tương đương với áo túi của đàn bà, kích thước càng ngắn nữa, không có tay nên hở nách, hai bên bụng cũng may hai túi. Bên ngoài mặc áo bà ba. Áo túi và áo lá từ thập niên 1950 trở đi lùi dần, không còn dùng làm áo lót nữa.
Sang đầu thế kỷ 20 thì áo bà ba mới may túi ở hai vạt trước tiện lợi cho việc đựng những vật dụng nhỏ như thuốc rê, diêm quẹt, tiền bạc.... Bên cạnh đó, chiếc áo bà ba được xẻ ở hai bên hông làm cho người mặc cảm thấy thoải mái. Chính nhờ tính tiện dụng và sự thoải mái đó, chiếc áo bà ba được cả nam lẫn nữ ở đồng bằng sông Cửu Long mặc cả lúc đi làm, đi chợ, đi chơi. Riêng lúc đi chơi, họ thường chọn màu sắc nhẹ hơn như màu trắng, màu xám tro. Còn các cô, các bà thì chọn màu mạ non, xanh lơ nhạt, hồng... với chất liệu vải đắt tiền hơn như the, lụa, sa tanh (satin)..
Áo bà ba thường được mặc chung với quần bằng lụa hay sa tanh, thường là màu trắng hay đen, với nón lá và khăn rằn đặc trưng của miền Nam.
== Áo bà ba hiện đại ==
Sau này, nhất là ở thời kỳ những năm 1960-1970, áo bà ba truyền thống được phụ nữ thành thị cải tiến, vừa dân tộc, vừa đẹp và hiện đại hơn. Áo dài bà ba hiện nay không thẳng và rộng như xưa, mà được may hẹp, nhấn thêm eo bụng, eo ngực cho ôm sát lấy thân hình. Ngoài ra, người ta còn sáng tạo các kiểu chắp vai, cổ tay, cửa tay, riêng các kiểu bâu (cổ) lá sen, cánh én, đan tôn... là được tiếp thu từ kiểu y phục nước ngoài.
Các kiểu ráp tay cũng được cải tiến. Từ kiểu may áo cánh xưa, liền thân với tay, người ta nghĩ tới cách ráp tay rời ở bờ tay áo. Trong những năm 1970, thành thị miền Nam phổ biến kiểu ráp tay raglan, đã tạo nên vẻ đẹp hiện đại cho chiếc áo dài bà ba truyền thống. Với kiểu vai raglan này, hai thân áo trước và sau tách rời khỏi vai và tay áo, trong khi tay và áo lại liền từ cổ tới nách. Bà ba vai raglan chỉ cần may khít, vừa vặn với eo lưng, không quá thắt như kiểu áo trước đó. Tay áo dài hơn nhưng hơi loe, có khi người ta bỏ cả hai túi ở vạt trước để tạo cho thân áo nhẹ nhõm, mềm mại hơn.
== Trong âm nhạc ==
Bài hát "Chiếc áo bà ba" của nhạc sĩ Trần Thiện Thanh.[1]
Bài hát "Thương áo bà ba" của ca sĩ Đình Văn.[2]
Bài hát "Duyên dáng áo bà ba" của nhạc sĩ Hồ Hoàng.[3]
Bài hát Tân cổ "Duyên dáng áo bà ba" của nhạc sĩ Lê Nghiệp, lời cổ Ngọc Thảo.[4]
== Xem thêm ==
Áo dài
Áo giao lĩnh
Áo tứ thân
== Tham khảo ==
== Liên kết ngoài ==
Video Ca khúc Chiếc áo bà ba và hình ảnh áo bà ba hay là [5] và [6]. |
14 tháng 11.txt | Ngày 14 tháng 11 là ngày thứ 318 (319 trong năm nhuận) trong lịch Gregory. Còn 47 ngày trong năm.
== Sự kiện ==
=== Thế kỷ 19 ===
1851 – Truyện Moby-Dick của Herman Melville được xuất bản ở nước Mỹ do Harper & Brothers (New York) – sau khi nó được xuất bản lần đầu tiên vào ngày 18 tháng 10 năm 1851 do Richard Bentley (Luân Đôn).
1862 – Nội chiến Hoa Kỳ: Tổng thống Abraham Lincoln tán thành đề nghị của Tướng Ambrose Burnside để lấy thủ đô của các Tiểu bang Liên minh Hoa Kỳ ở Richmond, Virginia, dẫn đến Trận Fredericksburg.
1889 – Bà nhà báo Nellie Bly (Elizabeth Cochrane) bắt đầu đi vòng quanh thế giới nội trong 80 ngày.
=== Thế kỷ 20 ===
1911 – Phi công Eugene Ely bay lên từ tàu lần đầu tiên ở Hampton Roads, Virginia. Ông bay lên từ boong tạm trên tàu tuần tiễu nhỏ USS Birmingham trong máy bay cánh quạt đẩy Curtiss.
1918 – Tiệp Khắc trở thành nước cộng hòa.
1921 – Đảng Cộng sản Tây Ban Nha được thành lập.
1922 – Đài BBC bắt đầu phục vụ radio ở Vương quốc Anh.
1940 – Chiến tranh thế giới thứ hai: Thành phố Coventry (Anh) bị tàn phá do máy bay nén bom của Luftwaffe (Đức).
1941 – Chiến tranh thế giới thứ hai: Tàu sân bay HMS Ark Royal chìm sau bị tàu phóng ngư lôi U 81 đánh vào ngày 13 tháng 11.
1964 - Đảng Tân Đại Việt, một nhánh của Đại Việt Quốc dân Đảng bắt đầu hoạt động
1965 – Chiến tranh Việt Nam: Lính thường của Hoa Kỳ và Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đánh nhau lần quan trọng đầu tiên trong Trận Ia Drang.
1969 – Chương trình Apollo: NASA phóng lên tàu Apollo 12, phi thuyền có người đến mặt Mặt Trăng lần thứ hai.
== Sinh ==
1954 - Bộ trưởng Ngoại giao Hoa Kỳ Condoleezza Rice
== Mất ==
1993 - Nhà cách mạng Việt Nam Vũ Hồng Khanh
== Ngày lễ và kỷ niệm ==
- Ngày Đái tháo đường Thế giới
== Tham khảo == |
samsung galaxy s4.txt | Samsung Galaxy S4 là điện thoại thông minh chạy hệ điều hành Android sản xuất bởi Samsung Electronics. Lần đầu tiên ra mắt ngày 13 tháng 3 năm 2013 tại Samsung Mobile Unpacked ở New York, kế thừa sự thành công của Galaxy S III về mặt thiết kế, nhưng được nâng cấp phần cứng và tăng cường tập trung vào phần mềm sao cho tận dụng hết khả năng phần cứng của máy—chẳng hạn như chức năng nhận diện ngón tay lướt trước màn hình, và mở rộng chức năng theo dõi mắt (bao gồm di chuyển). Một biến thể khác của S4 trở thành điện thoại thông minh đầu tiên hỗ trợ mạng chuẩn mới LTE Advanced.
S4 có sẵn vào cuối tháng 4 năm 2013 trên 327 nhà mạng ở 155 quốc gia. Sau khi được phát hành, nó trở thành chiếc điện thoại thông minh bán chạy nhất trong lịch sử của Samsung; công ty bán 20 triệu S4 chiếc trên toàn cầu sau 2 tháng phát hành. Samsung đã bán hơn 40 triệu chiếc.
== Thông số kĩ thuật ==
=== Phần cứng ===
Màn hình rộng 5 inch (130 mm) (đôi khi họ nói là 4.99-inch) sử dụng ma trận PenTile RGBG Full HD Super AMOLED với 441 PPI và kính cường lực Corning Gorilla Glass 3. S4 gồm 2 phiên bản màu trằng và màu đen; tuỳ chọn ở một số vùng, Samsung cũng giới thiệu phiên bản màu nâu với viền vàng, và hồng nhạt viền vàng, Tím Mirage và hồng Twilight ở Đài Loan, Đỏ Aurora cho AT&T, và xanh Artic cho Best Buy.
S4 có bộ nhớ trong gồm 16 GB, 32 GB hoặc 64 GB, có thể mở rộng lên đến 64 GB với khe cắm microSD.
S4 GT-I9505 gồm bộ thu phát LTE nhiều băng tầng và cả hai phiên bản đều có LED hồng ngoại phục vụ cho việc điều khiển từ xa. Vào 24 tháng 6 năm 2013, một phiên bản khác của S4 được phát hành ở Hàn Quốc hỗ trợ mạng LTE Advanced. Nó là điện thoại thông minh đầu tiên hỗ trợ mạng LTE Advanced. Phiên bản này bao gồm vi xử lý lõi tứ 1.9 GHz Krait Snapdragon 800.
S4 hỗ trợ định dạng video High Efficiency Video Coding (HEVC).
Ngoài màn hình cảm ứng, S4 có phím Home vật lý nằm ở phía gần cuối màn hình, ở dưới cùng S4 là microphone và cổng microUSB để kết nối dữ liệu và sạc; nó hỗ trợ USB host và MHL 2.0. Phím âm lượng nằm ở cạnh trái và phím nguồn/khoá nằm ở cạnh phải. Ở đỉnh trên là jack tai nghe 0,137 inch (3,5 mm), microphone thứ hai, và cổng hồng ngoại. Mặt sau của S4 là máy ảnh 13-megapixel và LED flash, và phía ở giữa bên trái là loa.
Phụ kiện chính thức của Samsung cho S4 là S-View Cover, sử dụng cảm biến trên điện thoại sẽ tắt màn hình mỗi khi đóng nắp lại và màn hình hiển thị thời lượng pin, thời gian, và tình trạng mạng trên cửa sổ trong suốt của cover.
Đáng chú ý, S4 không bao gồm thu nhận FM radio,như các thiết bị trước.
S4 gồm biến thể với các phần cứng sau:
==== Biến thể lõi tứ ====
Phiên bản S4 ở Bắc Mỹ, hầu hết châu Âu, một phần châu Á, và một số quốc gia khác sử dụng vi xử lý Snapdragon 600 SoC của Qualcomm gồm lõi tứ 1.9 GHz Krait 300 CPU và Adreno 320 GPU.
==== Biến thể lõi tám ====
Đây là phiên bản S4 sử dụng chip Exynos 5 Octa (8 lõi) (SoC) của Samsung gồm kiến trúc ARM Big.little heterogeneous đầu tiên (CPU). Tám lõi CPU gồm a 1.6 GHz lõi tứ Cortex-A15 và 1.2 GHz lõi tứ Cortex-A7.
=== Phần mềm ===
S4 ra mắt với Android 4.2.2 và giao diện tuỳ biến TouchWiz Nature của Samsung. Chế độ theo dõi mắt được mở rộng trên S4; tính năng "Smart Scroll" cho phép người dùng cuộn trang bằng mắt, và "Smart Pause" cho phép ngừng video khi người dùng không nhìn vào màn hình. "Air View" thực hiện cử chỉ và các chức năng khác (như xem trước ảnh hoặc tin nhắn) bằng các giữ hoặc chạm nhẹ vào màn hình, tương tự như tính năng "S-Pen" trên dòng Galaxy Note của Samsung. "Group Play" cho phép chia sẻ dữ liệu giữa hai điện thoại Galaxy, cùng với chơi game nhiều người và phát nhạc giữa điện thoại S4.
Máy ảnh được bổ sung nhiều tính năng mới (một trong số đó lần đầu tiên được thấy trên Galaxy Camera), bao gồm cập nhật giao diện, và chế độ mới như là "Drama" (lấy nhiều chuyển trong nhiều ảnh vào một ảnh), "Eraser" (cho phép người dùng loại bỏ yếu tố không cần thiết), "Dual Shot" (sử dụng cả máy ảnh trước, hiệu ứng ảnh trong ảnh), "Sound and Shot" (cho phép người dùng ghi lại âm thanh trong bức hình), "Animated Photo", và "Story Album"... Một số ứng dụng mới tái phát hành bao gồm WatchOn, S Translator, theo lõi luyện tập S Health, S Voice Drive, S Memo, TripAdvisor.
==== Cập nhật ====
Giữ tháng 6–7 2013, Samsung bắt đầu tung ra bản cập nhật cho phép các ứng dụng có thể di chuyển vào thẻ SD, giải phóng 80 megabytes trống, ổn định máy ảnh.
Đầu tháng 8 năm 2013, biến thể Google Play Edition của S4 bắt đầu nhận được cập nhật Android 4.3. Tháng 11 2013, Samsung phát hành cập nhật Android 4.3 cho tất cả biến thể của S4.
=== Phiên bản biến thể ===
Một vài phiên bản biến thể đã được bán ra, và hầu hết các biến thể chỉ khác nhau là hỗ trợ mạng khu vực và băng thông khác nhau.
==== Phiên bản Google Play ====
Tại Google I/O 2013, Samsung và Google phát hành phiên bản của Mỹ. S4 được bán ra vào 26 tháng 6 năm 2013 thông qua Google Play, chạy hệ điều hành Android gốc 4.2.2, sau đó được cập nhật lên 4.3, do Samsung cung cấp; nó hỗ trợ LTE trên mạng AT&T và T-Mobile. Mã hiệu của nó là GT-I9505G.
==== LTE Advanced ====
Samsung làm mới S4 ở Hàn Quốc với mã hiệu SHV-E330K/S/L vào tháng 8 năm 2013 giống như sản phẩm trước, ngoại trừ chip Qualcomm Snapdragon 800 và hỗ trợ LTE Advanced cho phép điện thoại có thể tải dữ liệu lên đến 150 Mbit/s. Thiết bị SHV-E330L của LG Uplus là điện thoại thông minh đầu tiên "100% LTE" có thể sử dụng, đàm thoại và tin nhắn chỉ thông qua LTE. Điện thoại không sử dụng mạng LG Uplus 3G CDMA; tuy nhiên, khi sử dụng ngoài Hàn Quốc điện thoại sẽ sử dụng mạng GSM và UMTS giống như LG Uplus chỉ sử dụng nhà mạng có hỗ trợ chế độ LTE-only và điều này gây nhầm lẫn cho người tiêu dùng.
Samsung phát hành bản LTE-A (GT-I9506) ở Đức cho Vodafone và Deutsche Telekom và ở Pháp cho Orange.
==== S4 cho LTE ở ngoại ô Mỹ ====
Samsung phát hành bản SCH-I545L trong hỗ trợ của LTE ở ngoại ô Mỹ.
== Xem thêm ==
Samsung Galaxy S series
Android
== Tham khảo ==
== Liên kết ==
Website chính thức |
7 tháng 12.txt | Ngày 7 tháng 12 là ngày thứ 341 (342 trong năm nhuận) trong lịch Gregory. Còn 24 ngày trong năm.
== Sự kiện ==
43 TCN – Cicero, được coi là một trong những nhà diễn thuyết vĩ đại của Đế quốc La Mã, bị ám sát do chống đối Marcus Antonius.
1776 – Gilbert du Motier de La Fayette gia nhập vào quân đội Hoa Kỳ với quân hàm cấp tướng.
1787 – Delaware nhất trí thông qua Hiến pháp Hoa Kỳ để trở thành tiểu bang đầu tiên hai năm sau.
1815 – Thống chế Pháp Michel Ney bị xử bắn gần Vườn Luxembourg ở Paris vì ủng hộ Napoléon Bonaparte.
1917 – Chiến tranh thế giới thứ nhất: Hoa Kỳ tuyên chiến với Đế quốc Áo-Hung.
1941 – Chiến tranh thế giới thứ hai: Hải quân Đế quốc Nhật Bản tấn công bất ngờ vào Trân Châu Cảng tại Hawaii nhằm mục đích ngăn trở Hạm đội Thái Bình Dương Hoa Kỳ can thiệp đến cuộc chiến mà Nhật Bản đang hoạch định nhằm xâm chiếm ở Đông Nam Á.
1949 – Nội chiến Trung Quốc: Chính phủ Trung Hoa Dân Quốc di dời từ Nam Kinh đến Đài Bắc trên đảo Đài Loan.
1965 – Ly giáo Đông–Tây: Thượng phụ Athenagoras I thành Constantinopolis và Giáo hoàng Phaolô VI phát tuyên ngôn chung và hóa giải các việc rút phép thông công lẫn nhau năm 1054 giữa Công giáo La Mã và Chính Thống giáo Đông phương.
1970 – Tổng tuyển cử đầu tiên diễn ra ở Pakistan từ khi quốc gia này giành độc lập.
1972 – Các phi hành gia trên phi thuyền Apollo 17 chụp "Viên bi xanh", hình rõ đầu tiên chụp mặt sáng của Trái Đất, trên đường tới Mặt Trăng.
1975 – Indonesia đưa quân vào Đông Timor.
1995 – Tàu vũ trụ Galileo đến Sao Mộc, hơn 6 năm sau khi được phóng bởi Tàu con thoi Atlantis trong Sứ mệnh STS-34.
2003 – Đảng Bảo thủ (Canada) được công nhận chính thức.
== Sinh ==
521 – Columba, nhà truyền giáo, mục sư người Ireland, được phong thánh (m. 597)
1258 – Trần Khâm, tức Trần Nhân Tông, hoàng đế triều Trần tại Việt Nam, tức 11 tháng 11 năm Mậu Ngọ (m. 1308)
1598 – Gian Lorenzo Bernini, nhà điêu khắc và họa sĩ người Ý (m. 1680)
1786 – Marie Walewska, tiểu thư người Ba Lan, nhân tình của Napoléon Bonaparte (m. 1817)
1810 – Theodor Schwann, nhà sinh lý học người Đức (m. 1882)
1823 – Leopold Kronecker, nhà toán học người Đức (m. 1891)
1860 – Joseph Cook, Thủ tướng Úc thứ 6 (m. 1947)
1889 – Gabriel Marcel, triết gia người Pháp (m. 1973)
1905 – Gerard Kuiper, nhà thiên văn học người Mỹ gốc Hà Lan (m. 1973)
1908 – Sơn Ngọc Thành, chính trị gia người Khmer sinh tại Việt Nam, Thủ tướng Campuchia (m. 1977)
1928 – Noam Chomsky, nhà ngôn ngữ học, triết gia người Mỹ
1948 – Nguyễn Duy, nhà thơ người Việt Nam
1954 – Mary Fallin, chính trị gia người Mỹ
1960 – Abdellatif Kechiche, diễn viên, đạo diễn và biên kịch người Pháp gốc Tunisi
1979 – Sara Bareilles, ca sĩ-người viết ca khúc, người chơi dương cầm người Mỹ
1980 – Clemens Fritz, cầu thủ bóng đá người Đức
1980 – John Terry, cầu thủ bóng đá người Anh
1985 - Dean Ambrose,vận động viên đô vật chuyên nghiệp
1988 – Hayley Williams, ca sĩ người Mỹ
1994 - Yuzuru Hanyu, vận động viên trượt băng nghệ thuật người Nhật. Huy chương vàng Olympic, đương kim vô địch thế giới.
2003 – Catharina-Amalia, Công chúa xứ Orange, thành viên vương thất Hà Lan.
== Mất ==
43 TCN – Cicero, chính trị gia và triết gia La Mã (s. 106 TCN)
283 – Giáo hoàng Êutykianô
983 – Otto II, hoàng đế Đế quốc La Mã Thần thánh (S. 955)
1254 – Giáo hoàng Innôcentê IV (s. 1195)
1815 – Michel Ney, sĩ quan quân đội người Pháp (s. 1769)
1879 – Jón Sigurðsson, thủ lĩnh phong trào độc lập Iceland (s. 1811)
1889 – Gustav Friedrich von Beyer, tướng lĩnh người Đức (s. 1812)
1894 – Ferdinand de Lesseps, nhà ngoại giao, chủ doanh nghiệp người Pháp, đồng phát triển kênh đào Suez (s. 1805)
1906 – Élie Ducommun, nhà báo, giải thưởng Nobel hòa bình Thụy Sĩ (s. 1833)
1917 – Maximilian Vogel von Falckenstein, tướng lĩnh người Đức (s. 1839)
1948 – William Charles Cadman, nhà truyền giáo người Anh (s. 1883)
1985 – Robert Graves, tác gia người Anh (s. 1895)
1993 – Wolfgang Paul, nhà vật lý học người Đức, đoạt giải thưởng Nobel (s. 1913)
1998 – Martin Rodbell, nhà hóa sinh người Mỹ, đoạt giải thưởng Nobel (s. 1925)
2004 – Jay Van Andel, doanh nhân người Mỹ, đồng sáng lập Amway (b. 1924)
== Những ngày lễ và kỷ niệm ==
Ngày Hàng không Dân dụng Quốc tế
Ngày Sinh viên tại Iran
Ngày Anh hùng quốc gia tại Đông Timor.
== Tham khảo == |
kumamoto.txt | Kumamoto (Nhật: 熊本県 (Hùng Bản Huyện), Kumamoto-ken) là một tỉnh của Nhật Bản nằm trên đảo Kyūshū. Trung tâm hành chính là thành phố Kumamoto.
== Địa lý ==
Tỉnh Kumamoto nằm ở trung tâm đảo Kyūshū, đảo cực nam trong 4 hòn đảo lớn của Nhật Bản. Tỉnh này giáp với biển nội địa Ariake và quần đảo Amakusa ở phía Tây, với tỉnh Fukuoka và tỉnh Ōita ở phía Bắc và giáp với tỉnh Miyazaki ở phía Đông.
Ngọn núi Aso (1592 m) là ngọn núi lửa lớn đang hoạt động, nằm ở phía đông của tỉnh Kumamoto và là miệng núi lửa nổi tiếng nhất Nhật Bản.
== Lịch sử ==
Trong lịch sử thành phố này được gọi là tỉnh Higo và được đổi tên thành tỉnh Kumamoto trong thời kì cách mạng Minh Trị như là một phần của sự xóa bỏ chế độ phong kiến.
== Hành chính ==
=== Thành phố ===
Có 14 thành phố thuộc tỉnh Kumamoto: Amakusa, Arao, Aso, Hitoyoshi, Kami-Amakusa, Kikuchi, Kōshi, Kumamoto (thủ phủ), Minamata, Tamana, Uki, Uto, Yamaga, Yatsushiro.
=== Thị trấn và làng mạc ===
Thi trấn và làng mạc ở mỗi quận
== Kinh tế ==
== Nhân khẩu ==
Dân số là 1.812.255. Mật độ dân số là 244,76 người trên một cây số vuông.
== Văn hóa ==
== Giáo dục ==
Đại học Kumamoto
== Thể thao ==
CLB Roasso Kumamoto FC
== Du lịch ==
Lâu đài Kimamoto
Công viên Suizeji
Vườn Quốc gia Aso Kuju
== Liên kết trong ==
[1]
== Tham khảo ==
== Liên kết ngoài ==
Website chính thức của tỉnh Kumamoto(tiếng Nhật)
Bản đồ Kumamoto(1891) |
tây sahara.txt | Tây Sahara (tiếng Ả Rập: الصحراء الغربية) đọc là as-Ṣaḥrā' al-Gharbīyah là một vùng lãnh thổ tại Bắc Phi, ven Đại Tây Dương và giáp với Maroc, Angeri và Mauritani. Diện tích 226 nghìn km². Dân số 382,617 người (2007). Dân tộc: Arập và Berber. Tôn giáo: đạo Hồi. Đất đai phần lớn là sa mạc (thuộc hoang mạc Sahara), dân cư thưa thớt. Thành phố lớn nhất là El Aaiún, chiếm một nửa dân số trong toàn vùng.
Tây Sahara nằm trong Danh sách những lãnh thổ không tự chủ của Liên Hiệp Quốc từ những năm 1960 khi nó còn là thuộc địa của Tây Ban Nha. Hiện tại đây là vùng đất tranh chấp giữa Vương quốc Maroc, vốn kiểm soát phần lớn Tây Sahara và tuyên bố chủ quyền trên toàn lãnh thổ này; và Mặt trận Politsario, hiện thời kiểm soát 20% lãnh thổ, đòi giành độc lập dưới tên nhà nước Cộng hoà Dân chủ Ả Rập Xarauy. Maroc gọi vùng đất này là Các tỉnh phía Nam hay Sahara thuộc Maroc.
== Lịch sử ==
Lịch sử vùng Tây Sahara ít được biết cho đến khi có những mối quan hệ buôn bán giữa vùng này với châu Âu vào thế kỉ 4 TCN. Trong thời cổ đại, người Berber đến sinh sống sau đó là người Ả Rập. Các nhà hàng hải Bồ Đào Nha đến Cape Bojador (bờ biển phía Bắc Tây Sahara hiện nay) năm 1434.
=== Tỉnh người Tây Ban Nha ===
Vào năm 1884, Tây Ban Nha được thưởng một vùng đất ven biển là vùng đất Tây Sahara ngày nay tại Hội nghị Berlin, và bắt đầu thành lập các địa điểm thương mại và đưa quân đội vào. Biên giới của khu vực không được xác định rõ ràng cho đến khi có bản hiệp ước giữa Tây Ban Nha và Pháp vào đầu thế kỷ 20. Sahara thuộc Tây Ban Nha khi đó tạo thành từ lãnh thổ Río de Oro và Saguia el-Hamra thuộc Tây Ban Nha vào năm 1924. Nó không phải, và cũng có chính quyền riêng biệt, với khu vực được biết đến với tên Maroc thuộc Tây Ban Nha. Do đó, Tây Ban Nha đã cho thấy họ không thể mở rộng quyền điều hành lên những khu vực sâu trong đất liền cho tới năm 1934. Khi tiến gần đến độc lập vào năm 1956, Maroc đã tuyên bố Tây Sahara thuộc Tây Ban Nha là một phần của lãnh thổ trước thuộc địa của họ, và vào năm 1957, Quân đội Giải phóng của Maroc gần như đã đánh đuổi được người Tây Ban Nha ra khỏi đất nước trong Chiến tranh Ifni. Người Tây Ban Nha chỉ có thể tái lập được quyền thống trị với sự hỗ trợ của Pháp vào năm 1958, và bắt tay vào một chiến thuật cứng rắn để trả thù hướng về vùng nông thôn, dùng vũ lực buộc định cư nhiều người du cư trước đây của Sahara thuộc Tây Ban Nha và tăng cường đô thị hóa, trong khi nhiều người khác bị buộc đi đày đến Maroc. Trong cùng năm đó, Tây Ban Nha trả tỉnh Tarfaya và Tantan cho Maroc.
Vào thập niên 1960, Maroc tiếp tục tuyên bố chủ quyền ở Tây Sahara thuộc Tây Ban Nha và thành công trong việc liệt vùng đất này vào danh sách các vùng lãnh thổ cần phải phá bỏ chế độ thuộc địa. Vào năm 1969, Tây Ban Nha trả cho Maroc cùng Ifni, điều này sẽ duy trì sự quản lý của Tây Ban Nha đối với Tây Sahara thuộc Tây Ban Nha.
Vào năm 1967, sự thuộc địa hóa của Tây Ban Nha lại bị thách thức lần nữa bởi một phong trào phản kháng ôn hòa, Harakat Tahrir, yêu cầu kết thúc sự chiếm đóng. Sau sự đàn áp bạo lực vào năm 1970, Zemla Intifada chủ nghĩa quốc gia Sahrawi quay trở về nguồn gốc quân sự của nó, với việc thành lập Mặt trận Polisari vào năm 1970. Các du kích của Mặt trận phát triển nhanh chóng, và Tây Ban Nha đã mất đi sự kiểm soát hiệu quả ở vùng nông thôn vào đầu năm 1975. Một nỗ lực phá hoại sức mạnh của Polisario bằng cách tạo ra đối thủ chính trị hiện đại với nó, Partido de Unión Nacional Saharaui (PUNS), đã có ít thành công.
Tây Ban Nha tiếp tục kết nạp những thủ lĩnh bộ lạc bằng cách lập nên Djema'a, một cơ quan chính trị dựa rất thấp lên sự lãnh đạo của bộ lạc Sahrawi.
=== Yêu cầu độc lập ===
Tuy nhiên, ngay trước cái chết của độc tài người Tây Ban Nha Francisco Franco vào mùa đông năm 1975, Tây Ban Nha phải đương đầu với một chiến dịch đòi lãnh thổ mạnh mẽ của Maroc, và sự mở rộng ít hơn của Mauritanie, nổi lên tột cùng trong Diễu hành Xanh. Tây Ban Nha khi đó đã rút quân đội và người định cư của mình ra khỏi lãnh thổ, sau khi đàm phán vào năm 1975, một thỏa thuận tay ba với Maroc và Mauritania, từ đó cả hai nước sẽ cùng điều hành khu vực này. Mauritania sau đó rút lại lời tuyên bố sau khi đánh nhau thất bại với Polisario. Maroc liên hệ đến cuộc chiến với Mặt trận Polisario do Algérie chống lưng, mặc dù một lệnh ngừng bắn đã được đưa ra vào năm 1991, và lãnh thổ vẫn nằm trong sự tranh chấp.
=== Tây Sahara hôm nay ===
Liên Hiệp Quốc xem Tây Sahara thuộc Tây Ban Nha cũ là một lãnh thổ phi thực dân, với Tây Ban Nha là quyền lực điều hành hình thức. Những nỗ lực hòa bình của Liên Hiệp Quốc đã nhắm tới tổ chức một cuộc trưng cầu ý dân về sự dộc lập trong dân cư Sahrawi, nhưng điều này vẫn chưa diễn ra. Liên minh châu Phi và trong lịch sử đã có ít nhất 41 chính phủ nhìn nhận lãnh thổ có chủ quyền, mặc dù bị chiếm đóng, là quốc gia dưới tên Cộng hòa Dân chủ Ả Rập Sahrawi (SADR), với một chính phủ lưu vong do Mặt trận Polisario hỗ trợ.
== Địa lý ==
Tây Sahara là vùng lãnh thổ phía Tây của Bắc Phi, Bắc giáp Maroc, Đông giáp Algérie, Đông Nam giáp Mauritanie, Tây giáp Đại Tây Dương. Địa hình đồng bằng với sa mạc cát và sa mạc đá, có một số núi thấp ở phía đông bắc và phía nam. Khí hậu nhiệt đới khô hạn. Hải lưu lạnh ngoài khơi gây ra sương mù dày ở ven biển. Sông chính: Xaghia en Hamra (Saguia - el - Hamra). Hầu như không có đất canh tác (trừ vài ốc đảo), không có rừng, đồng cỏ 19%, các đất khác 81%. Khoáng sản chính: photphat và sắt.
== Kinh tế ==
Tây Sahara là vùng đất nghèo tài nguyên và thiếu các nguồn nước. Kinh tế chăn nuôi du mục và đánh cá ven biển. Khoảng 50% lao động làm nông nghiệp. Công nghiệp: khai khoáng (photphat), tiểu công nghiệp và thủ công nghiệp. GDP đầu người khoảng một vài trăm USD. Sản phẩm nông nghiệp chính: chà là và rau tại các ốc đảo. Chăn nuôi lạc đà, dê, cừu. Đánh cá và làm muối ven biển Đại Tây Dương. Năng lượng: điện 79 triệu kW.h. Giao thông: đường bộ 6,1 nghìn km (22% rải nhựa). Xuất nhập khẩu do Marôc kiểm soát. Xuất khẩu photphat (62% tổng giá trị xuất khẩu), gia súc. Nhập khẩu: lương thực, hàng tiêu dùng, xăng dầu. Đơn vị tiền tệ: dùng tiền Marôc (đia ham) trong giao dịch ngoại thương. tỷ giá hối đoái: 1 USD = 8,1 đia ham.
== Dân số ==
Dân số 383 nghìn (2007). Dân tộc: Ả Rập và Becbe (Berber). Ngôn ngữ chính thức: tiếng Ả Rập. Tôn giáo: đạo Hồi.
== Tham khảo ==
Tony Hodges (1983), Western Sahara: The Roots of a Desert War, Lawrence Hill Books (ISBN 0-88208-152-7)
Anthony G. Pazzanita and Tony Hodges (1994), Historical Dictionary of Western Sahara, Scarecrow Press (ISBN 0-8108-2661-5)
Toby Shelley (2004), Endgame in the Western Sahara: What Future for Africa's Last Colony?, Zed Books (ISBN 1-84277-341-0)
Erik Jensen (2005), Western Sahara: Anatomy of a Stalemate, International Peace Studies (ISBN 1-58826-305-3) |
thời kỳ quân phiệt.txt | Thời kỳ quân phiệt (tiếng Trung: 軍閥時代; bính âm: Jūnfá shídài, Quân phiệt thời đại) là giai đoạn trong lịch sử Trung Hoa Dân Quốc từ năm 1916 đến 1928 khi mà quân phiệt Trung Quốc chia nhau cai trị tại các khu vực Tứ Xuyên, Sơn Tây, Thanh Hải, Ninh Hạ, Quảng Đông, Quảng Tây, Vân Nam, Cam Túc và Tân Cương.
Thời kỳ quân phiệt kéo dài từ khi Viên Thế Khải chết năm 1916 cho đến năm 1928, khi cuộc Bắc phạt kết thúc với sự tái thống nhất Trung Quốc và bắt đầu "thập niên Nam Kinh"; tuy nhiên khi các quân phiệt cũ như Ngô Bội Phu và Tôn Truyền Phương bị hạ bệ thì lại nổi lên một số quân phiệt nhỏ trong thập niên 30, 40, giai đoạn mà chính quyền trung ương phải vật lộn để kiểm soát những đồng minh của mình, đây là một vấn đề lớn của Quốc Dân Đảng trong Thế chiến II và sau cuộc nội chiến. Trong số những cuộc chiến quân phiệt nổi tiếng nhất sau năm 1928 phải kể đến Trung Nguyên đại chiến cuốn vào gần một triệu binh lính. Sự chia cắt đất nước vẫn tiếp diễn sau thời kỳ quân phiệt cho đến khi chính quyền dân tộc chủ nghĩa sụp đổ khi cuộc nội chiến Trung Quốc kết thúc.
== Nguồn gốc ==
Nhà Thanh không có một quân đội quốc gia mà tận dụng dân quân và quân đội địa phương thiếu chính quy và thiếu trung thành. Đội quân hùng mạnh nhất là quân Bắc Dương của Viên Thế Khải đóng tại phía bắc được huấn luyện tốt nhất và có trang bị hiện đại. Các sĩ quan trung thành với cấp trên của họ và hình thành những bè phái dựa trên vị trí địa lý. Các đơn vị quân đội tuyển quân ngay tại tỉnh đó. Chính sách này là nhằm giảm sự hiểu nhầm phương ngữ nhưng lại khuyến khích khuynh hướng địa phương hóa.
Cách mạng Tân Hợi năm 1911 đã dẫn đến hàng loạt cuộc nổi dậy trên khắp miền nam Trung Quốc. Những binh sĩ từng trung thành với nhà Thanh bắt đầu đào ngũ sang lực lượng cách mạng. Phiến quân đã thiết lập một chính quyền địa phương tại Nam Kinh năm 1912 do Tôn Dật Tiên đứng đầu. Phe cách mạng không đủ mạng để đánh bại quân Bắc Dương và nếu tiếp tục chiến đấu sẽ gần như chắc chắn dẫn đến thất bại. Thay vào đó, Tôn thỏa thuận với Viên Thế Khải của quân Bắc Dương cùng lật đổ nhà Thanh và tái thống nhất Trung Quốc. Đổi lại, Viên sẽ trở thành tổng thống. Viên từ chối chuyển đến Nam Kinh và đã chọn Bắc Kinh, nơi quyền lực của ông được bảo đảm, làm thủ đô.
Phản đối việc Viên Thế Khải ngày càng độc đoán, các tỉnh miền nam đã dấy loạn năm 1913 nhưng bị quân Bắc Dương đàn áp mạnh tay. Các quan chức dân sự bị thay thế bởi các sĩ quan quân đội. Tháng 12 năm 1915, Viên thực hiện mục đích từ lâu của mình là trở thành Hoàng đế Trung Hoa. Các tỉnh phương nam lại nổi dậy một lần nữa và lần này nghiêm trọng nhất do hầu hết các tướng lĩnh Bắc Dương đã bỏ rơi Viên. Viên đã từ bỏ ngôi vị để thu phục lại tùy tướng của mình nhưng trước khi ông qua đời tháng 6 năm 1916, chính trị Trung Quốc lại lục đục. Chia rẽ Bắc-Nam còn tiếp diễn trong suốt thời kỳ quân phiệt.
== Bắc ==
Cái chết của Viên đã chia rẽ quân đội Bắc Dương thành hai bè phái: quân phiệt An Huy của Đoàn Kỳ Thụy và quân phiệt Trực Lệ của Phùng Quốc Chương. Bè phái Phụng hệ của Trương Tác Lâm đóng tại Đông Bắc Trung Quốc là một sự kết hợp giữa quân Bắc Dương và quân địa phương. Thường thì bất kỳ chính quyền nào nắm được Bắc Kinh sẽ được nước ngoài công nhận cho nên chiếm đóng thành phố này là một ưu tiên hàng đầu của các quân phiệt. Ngoài ra họ còn thu được thuế hải quan và có thể vay tiền ngoại quốc. Tất cả các phe phái miền bắc đều công nhận chính quyền Bắc Kinh là hớp pháp ngay cả khi họ chống lại nó. Họ thường lập luận rằng dù chính quyền Bắc Kinh là hợp pháp nó không có thẩm quyền sai khiến các tỉnh. Chính phủ Bắc Dương tại Bắc Kinh đôi khi biện minh cho hành động quân sự bằng cách ban hành sắc lệnh về lãnh thổ ngoài tầm kiểm soát của mình để gán cho các phe phái đối thủ tội phản quốc nếu các quân phiệt này lờ đi sắc lệnh đó. Hành động này đã chấm dứt vào năm 1923 khi Tào Côn trắng trợn mua chức tổng thống. Các phe phái khác ở miền Bắc không công nhận Tào Côn vì phẫn nộ trước hành động này.
== Nam ==
== Các phe phái chính ==
=== Miền bắc ===
==== Các quân phiệt lớn ====
==== Tiểu quân phiệt ====
==== Các quân phiệt mới ====
=== Các quân phiệt phía nam ===
==== Các tiểu quân phiệt phía nam ====
== Tham khảo ==
Chen, Xianqing (陈贤庆 Chén Xiánqìng) (2007), "民国军阀派系谈" (The Republic of China warlord cliques discussed)
McCord, Edward A. (1993), The Power of the Gun: The Emergence of Modern Chinese Warlordism, Berkeley, Calif: Cambridge University Press
Waldron, Arthur (2003), From War to Nationalism: China's Turning Point, 1924-1925, Cambridge University Press, ISBN 0-521-52332-X |
quan trung.txt | Quan Trung (giản thể: 关中; phồn thể: 關中; bính âm: Guānzhōng), bình nguyên Quan Trung (关中平原) hay bình nguyên Vị Hà (渭河平原), là một khu vực lịch sử của Trung Quốc tương ứng với thung lũng hạ du của Vị Hà. Khu vực được gọi là Quan Trung để phân biệt với "Quan Đông", tức bình nguyên Hoa Bắc. Bình nguyên Hoa Bắc có ranh giới phía tây là các dãy núi. Hoàng Hà chảy xuyên qua chúng ở Hàm Cốc quan và chia tách Quan Trung với Quan Đông. Vào thời Chiến Quốc, Quan Trung nằm ở rìa phía tây của nền văn minh Trung Hoa và do Tần kiểm soát. Do Tần tiến hành quân quốc chủ nghĩa ở mức cao hơn cho nên các địch thủ của nước này tuyên bố Tần tiếp nhận phong tục man di và không mang đầy đủ đặc tính Hán. Có câu nói rằng "Quan Trung sản sinh ra các tướng quân và Quan Đông sản sinh ra các thừa tướng". Nước Tần sau đó đã thống nhất Trung Hoa và Quan Trung cũng trở thành trung tâm của nhà Tần và một vài triều đại sau đó.
Bao quanh Quan Trung là:
Tiêu quan (萧关/蕭關) ở phía bắc,
Hàm Cốc quan (函谷关/函谷關) ở phía đông,
Vũ quan (武关/武關) ở phía nam,
Đại tán quan (大散关/大散關) ở phía tây,
Xét về mặt lịch sử, "quan" quan trọng nhất là Hàm Cốc quan, dọc theo Hoàng Hà và phân tách Quan Trung với bình nguyên Hoa Bắc. Quan Trung bao gồm phần trung tâm của tỉnh Thiểm Tây và cực tây của Hà Nam ngày nay.
Độ cao trung bình của bình nguyên Quan Trung là khoảng 500 mét. Tây An, tỉnh lị của Thiểm Tây, là thành phố lớn nhất tại Quan Trung, ngoài ra, còn có các thành phố khác như Đồng Xuyên, Bảo Kê, Hàm Dương và Vị Nam.
Bình nguyên là vùng trung tâm của Tần vào thời Chiến Quốc. Với đất đai màu mỡ và hệ thống tưới tiêu tốt, Tần đã phát triển vượt trội so với các nước khác, và cuối cùng thống nhất Trung Quốc. Từ thời nhà Chu, khu vực này là nơi định đô của 12 triều đại Trung Quốc như nhà Hán, nhà Tùy, và nhà Đường. Đến triều nhà Đường, trung tâm kinh tế của Trung Quốc đã chuyển về phía nam đễn lưu vực Trường Giang và Quan Trung ngày cảng trở nên phu thuộc vào hàng nhập đến thông qua Đại Vận Hà. Sau khi phá hủy Trường An và những năm cuối nhà Đường, Quan Trung đã bị suy giảm tầm quan trọng cả về chính trị cũng như kinh tế đói với các triều đại sau này.
== Xem thêm ==
Phương ngữ Quan Trung
== Tham khảo == |
associação chapecoense de futebol.txt | Associação Chapecoense de Futebol, thường được gọi là Chapecoense và tên viết tắt là ACF, là một câu lạc bộ bóng đá Brazil, có trụ sở tại thành phố Chapecó ở bang Santa Catarina.
Bên cạnh bóng đá, câu lạc bộ có các hoạt động trong futsal mà câu lạc bộ đã được vô địch bang hai lần. Câu lạc bộ được thành lập vào năm 1973 với mục tiêu khôi phục bóng đá tại thành phố Chapeco, và giành được danh hiệu bang đầu tiên của họ vào năm 1977. Trong tất cả, câu lạc bộ đã giành được năm giải vô địch bang cho đến nay, lần cuối cùng trong năm 2016. câu lạc bộ tương đối nhỏ, họ bước vào giải đấu cao nhất của Brazil, Serie A lần đầu tiên vào năm 2014. trận đấu sân nhà của câu lạc bộ đang chơi ở Arena Condá.
Vào ngày 28 tháng 11 năm 2016, chuyến bay thuê bao chở đội bóng đầu tiên bị rơi khi đang bay đến gần sân bay quốc tế José María Córdova gần Medellin, Colombia, nơi đội bóng đang đến để chơi trận chung kết đầu tiên của Copa Sudamericana 2016 với Atletico Nacional, trận đấu lớn nhất từng thấy trong lịch sử của câu lạc bộ. 71/77 người trên máy bay tử nạn; chỉ có ba cầu thủ Chapecoense sống sót và bị chấn thương nghiêm trọng. Sau vụ tai nạn, Athlético Nacional đã yêu cầu các cơ quan chủ quản của cuộc thi trao cho Chapecoense danh hiệu vô địch này.
== Chú thích ==
== Liên kết ngoài ==
Chapecoense - Site Oficial |
suy dinh dưỡng.txt | Suy dinh dưỡng (người gầy hoặc người dưới cân) là thuật ngữ để chỉ những người không đủ cân nặng hay không đủ sức khoẻ, không đủ cân tiêu chuẩn so với chiều cao. Khái niệm này liên quan đến việc sử dụng chỉ số cân nặng của cơ thể (BMI) để xác định một người nào đó bị suy dinh dưỡng. Hầu hết người ta xác định một người bị suy dinh dưỡng khi chỉ số BMI < 18,5. Tuy nhiên cũng có nơi xác định một người bị suy dinh dưỡng khi BMI < 20. Một điều quan trọng là chỉ số BMI chỉ là cách ước lượng thống kê cũng tuỳ thuộc vào vùng, miền và giới tính. Trong một số trường hợp, một người có BMI < 18,5 nhưng có thể có sức khoẻ rất tốt.
== Nguyên nhân ==
Nguyên nhân cơ bản của suy dinh dưỡng là sự thiếu các chất dinh dưỡng cần thiết ban đầu cho cơ thể trong các thức ăn, nguyên nhân này chiếm hơn 50% số trong các vùng ở Châu Phi và phía nam Châu Á. Hệ quả của sự kém dinh dưỡng hay thiếu ăn có thể tiếp tục bị phát triển việc suy dinh dưỡng do bệnh tật, ngay cả những bệnh dễ xử lý như tiêu chảy, và có thể dẫn đến cái chết.
Ngoài nguyên nhân nguồn dinh dưỡng, việc thiếu cân có thể là do kết quả của các bệnh về thể chất cũng như tinh thần. Có rất nhiều nguyên nhân khác dẫn đến việc suy dinh dưỡng. Nhìn chung các nguyên nhân gồm:
Nghèo
Đói ăn
Ăn không đủ chất
Ăn uống thiếu cân bằng
Bẩm sinh sức khoẻ kém
Chán ăn
Ung thư
Bệnh lao
Đái đường
Suy nhược thần kinh
Mất ngủ
Bệnh ở các cơ quan tiêu hoá
HIV/AIDS
Viêm gan
Các nguyên nhân khác
== Biện pháp phòng ngừa và khắc phục ==
=== Suy dinh dưỡng và chế độ ăn uống ===
Sử dụng tháp dinh dưỡng cân đối để đảm bảo dinh dưỡng cần thiết
== Tham khảo ==
== Liên kết ngoài == |
giải vô địch bóng đá nữ u-19 châu âu.txt | Giải vô địch bóng đá nữ U-19 châu Âu (tiếng Anh: UEFA Women's Under-19 Championship) là giải bóng đá nữ được tổ chức thường niên dành cho các đội tuyển quốc gia lứa tuổi dưới 19 thuộc Liên đoàn bóng đá châu Âu (UEFA). Giải cũng đồng thời là vòng loại Giải vô địch bóng đá nữ U-20 thế giới khu vực châu Âu vào các năm lẻ. Giải bắt đầu từ mùa giải 1997–98 với danh nghĩa giải U-18 và chuyển sang U-19 từ mùa 2001–02.
== Thể thức ==
Giải gồm hai giai đoạn chính: vòng loại với sự tham gia của tất cả các đội trừ chủ nhà, và vòng chung kết gồm 8 đội. Tại vòng chung kết các đội được chia thành 2 bảng, mỗi bảng 4 đội, thi đấu theo thể thức vòng tròn tính điểm, chọn hai đội nhất vào bán kết. Các đội thắng bán kết giành quyền vào chơi trận chung kết; trận tranh giải ba không được tổ chức.
== Kết quả ==
== Thành tích ==
== Thống kê ==
=== Các đội tham dự vòng chung kết lần đầu ===
Tính tới nay có 27 đội từng hoặc sắp được dự vòng chung kết
=== Tổng thành tích các đội ===
Dưới đây là tổng thành tích các đội tại các vòng chung kết. 3 điểm cho một trận thắng. Trận đấu nào phải giải quyết bằng loạt luân lưu thì tính là một trận hòa.
== Tham khảo ==
== Liên kết ngoài ==
UEFA – Women's Under-19
Facts and figures trên uefa.com |
hương sơn, mỹ đức.txt | Hương Sơn là một xã thuộc huyện Mỹ Đức, thành phố Hà Nội, Việt Nam.
Xã có diện tích 40,71 km², dân số năm 1999 là 17.598 người, mật độ dân số đạt 432 người/km².
== Chú thích ==
== Tham khảo == |
gió mùa.txt | Gió mùa là một loại gió đổi hướng theo mùa. Thuật ngữ này vốn được sử dụng cho gió mùa tại Biển Ả Rập và Ấn Độ Dương. Có hai loại gió mùa: gió mùa đông và gió mùa hè. Ở khu vực Đông Á và Đông Nam Á, mùa hạ có gió thổi từ Ấn Độ Dương và Thái Bình Dương tới, đem theo không khí mát mẻ và mưa lớn.
Vào mùa đông, gió mùa thổi từ lục địa châu Á ra, đem theo không khí khô và lạnh. Càng gần về xích đạo, gió ấm dần lên. Gió mùa đông thổi thành từng đợt. Mỗi khi gió về, ở vùng gần chí tuyến trời trở lạnh trong vài ba ngày, đôi khi kéo dài tới hàng tuần.
== Xem thêm ==
Gió
Gió mùa Tây Nam
Gió mùa Đông Bắc
== Tham khảo == |
bộ ngoại giao (nhật bản).txt | Bộ Ngoại giao (外務省, Gaimu-shō, Ngoại vụ tỉnh) là một bộ trong Nội các Nhật Bản, có trách nhiệm quản lý quan hệ ngoại giao của Nhật Bản với các quốc gia trên thế giới.
== Lịch sử ==
Bộ Ngoại giao Nhật Bản được thành lập dựa theo khoản 2, Điều 3 của Đạo luật Tổ chức Chính phủ Quốc gia và Đạo luật Thành lập Bộ Ngoại giao. Theo luật, người đứng đầu bộ này là một bộ trưởng và là thành viên Nội các Nhật Bản.
== Lập ra chính sách ==
Theo Hiến pháp Nhật Bản, Nội các chịu trách nhiệm chủ yếu về ngoại giao và chịu giám sát toàn diện của Quốc hội Nhật Bản. Thủ tướng Nhật Bản phải báo cáo định kì về quan hệ ngoại giao lên Quốc hội, trong đó Thượng viện và Chúng Nghị viện đều có ủy ban ngoại giao. Mỗi ủy ban báo cáo trong các phiên họp toàn thể của cơ quan mà ủy ban đó trực thuộc. Thỉnh thoảng các ủy ban ad hoc (tức ủy ban đặc biệt) lại được lập ra để xem xét các câu hỏi đặc biệt. Các Đại biểu Quốc hội có quyền đặt ra các câu hỏi thích đáng về chính sách cho Bộ trưởng Bộ Ngoại giao và Thủ tướng. Các điều ước với ngoại quốc cần phải được Quốc hội phê chuẩn. Với tư cách nguyên thủ quốc gia, Thiên hoàng thực hiện chức năng mang tính nghi thức là tiếp nhận đại diện ngoại giao nước ngoài và chứng thực các điều ước quốc tế đã được Quốc hội phê chuẩn.
Là người đứng đầu nhánh hành pháp và là nhân vật chủ chốt trong hệ thống chính trị, Thủ tướng Nhật Bản là người ra quyết định sau cùng về các chính sách đối ngoại lớn. Bộ trưởng Bộ Ngoại giao đóng vai trò cố vấn chủ chốt cho Thủ tướng trong các vấn đề lập kế hoạch và thi hành. Bộ trưởng có hai Thứ trưởng giúp việc: một Thứ trưởng phụ trách quản trị và một Thứ trưởng phụ trách liên lạc với Quốc hội. Các vị trí quan trọng khác trong Bộ Ngoại giao là quốc vụ khanh và các giám đốc.
Nhân viên Bộ Ngoại giao là những nhân vật ưu tú được tuyển lựa qua kì thi đầy cạnh tranh và sau đó được huấn luyện bởi Viện Đào tạo của Bộ Ngoại giao. Việc xử lý các vấn đề chính sách đối ngoại cụ thể thường được phân chia giữa các vụ căn cứ theo địa lý và chức năng nhằm giảm tối đa sự chồng chéo và cạnh tranh. Nói chung, các vấn đề song phương được giao cho các vụ địa lý còn các vấn đề đa phương thì giao cho các vụ chức năng. Vụ Điều ước có nhiều trách nhiệm và có xu hướng tham gia vào rất nhiều vấn đề.
Vào thời kỳ Minh Trị và Chiến tranh thế giới thứ hai, nghề ngoại giao có uy tín xã hội cao và được xem là thuộc về tầng lớp thượng lưu. Ngoài việc phải có bằng cấp chính thức thì các tiêu chuẩn để vào Bộ Ngoại giao thời kì này là nguồn gốc xuất thân, các mối giao thiệp gia đình và phải là tốt nghiệp từ Đại học Đế quốc Tokyo (nay là Đại học Tokyo). Sau Chiến tranh thế giới thứ hai, các đòi hỏi này cũng thay đổi như một phần của các biện pháp cải cách dân chủ, song nghề ngoại giao vẫn là nghề được trọng vọng. Đa số các viên chức ngoại giao đều đã vượt qua kì thi tuyển viên chức ngoại giao cấp cao sau chiến tranh trước khi bước chân vào ngành. Đa số họ đã tốt nghiệp khoa Luật uy tín của Đại học Tokyo. Hầu như tất cả những người được chọn bổ nhiệm làm đại sứ từ thập niên 1950 đều là những nhà ngoại giao từng trải.
Ngoại giao tại nước Nhật hậu chiến không bị độc quyền bởi Bộ Ngoại giao. Do tầm quan trọng hơn bất cứ thứ nào khác của kinh tế đối với ngoại giao nên Bộ Ngoại giao hợp tác chặt chẽ với Bộ Tài chính trong các vấn đề hải quan, thuế, tài chính quốc tế và viện trợ nước ngoài. Bộ cũng hợp tác với Bộ Thương mại Quốc tế và Công nghiệp về vấn đề xuất nhập khẩu và hợp tác với Bộ Nông Lâm Ngư nghiệp về vấn đề nhập khẩu nông sản và quyền đánh bắt cá.
== Các nhánh chính ==
Văn phòng Bộ trưởng
Trưởng Lễ tân
Thư ký báo chí/Tổng giám đốc Báo chí và Quan hệ công chúng
Ban Ngoại giao Công chúng
Vụ Chính sách Đối ngoại
Ban Giải trừ quân bị và Khoa học
Vụ châu Á và châu Đại Dương
Ban Các vấn đề Đông Nam Á và Tây Nam Á
Vụ Các vấn đề Bắc Mỹ
Vụ Các vấn đề Mỹ Latinh và Caribe
Vụ Các vấn đề châu Âu
Vụ Các vấn đề Trung Đông và châu Phi
Tổng Giám đốc Các vấn đề Hạ Sahara châu Phi
Vụ Các vấn đề Kinh tế
Vụ Hợp tác Quốc tế
Tổng Giám đốc Các vấn đề Toàn cầu
Vụ Các vấn đề Pháp lý Quốc tế
Vụ Các vấn đề Lãnh sự
Ban Tình báo và Phân tích
Viện Đào tạo Ngoại giao
== Tham khảo ==
Bài viết này kết hợp các tài liệu thuộc phạm vi công cộng từ website hay thư mục thuộc Library of Congress Country Studies. - Japan |
saitama (thành phố).txt | Thành phố Saitama (tiếng Nhật: さいたま市 Saitama-shi) là thành phố đông dân nhất (1,18 triệu người) và là trung tâm hành chính của tỉnh Saitama, vùng Kanto trên đảo Honshu của Nhật Bản.
== Địa lý ==
Thành phố nằm ở phía Đông Nam tỉnh Saitama, cách trung tâm Tokyo chừng 20-30 km. Thành phố có diện tích 217,49 km².
== Lịch sử ==
Tháng 5/2001, thành phố Saitama được thành lập trên cơ sở sáp nhập ba thành phố liền kề Urawa, Omiya, và Yono. Cùng thời gian, thành phố được thừa kế vị trí thành phố cấp vùng về nghiệp vụ đô thị của vùng thủ đô Tokyo từ Urawa và Omiya.
Tháng 1/2003, thành phố được công nhận là đô thị quốc gia của Nhật Bản.
Tháng 4/2005, thành phố Saitama và thành phố liền kề Iwatsuki sáp nhập vào thành phố mới vẫn lấy tên Saitama.
== Hành chính ==
Thành phố chia làm 10 khu.
== Kinh tế ==
Nền kinh tế thành phố Saitama lấy khu vực dịch vụ làm trung tâm
== Tham khảo ==
== Liên kết ngoài ==
Website chính thức của thành phố |
thành nhà hồ.txt | Xem các mục từ khác có cùng tên "Tây Đô" tại Tây Đô.
Thành nhà Hồ (hay còn gọi là thành Tây Đô, thành An Tôn, thành Tây Kinh hay thành Tây Giai) là kinh đô nước Đại Ngu (quốc hiệu Việt Nam thời nhà Hồ), nằm trên địa phận nay thuộc tỉnh Thanh Hóa. Đây là tòa thành kiên cố với kiến trúc độc đáo bằng đá có quy mô lớn hiếm hoi ở Việt Nam, có giá trị và độc đáo nhất, duy nhất còn lại ở Đông Nam Á và là một trong rất ít những thành lũy bằng đá còn lại trên thế giới. Thành được xây dựng trong thời gian ngắn, chỉ khoảng 3 tháng (từ tháng Giêng đến tháng 3 năm 1397) và cho đến nay, dù đã tồn tại hơn 6 thế kỷ nhưng một số đoạn của tòa thành này còn lại tương đối nguyên vẹn.
Ngày 27 tháng 6 năm 2011, sau 6 năm đệ trình hồ sơ, Thành nhà Hồ đã được UNESCO công nhận là di sản văn hóa thế giới. Hiện nay, nơi đây đã được thủ tướng chính phủ Việt Nam đưa vào danh sách xếp hạng 62 di tích quốc gia đặc biệt.
== Vị trí ==
Thành xây trên địa phận hai thôn Tây Giai, Xuân Giai nay thuộc xã Vĩnh Tiến và thôn Đông Môn nay thuộc xã Vĩnh Long, huyện Vĩnh Lộc, tỉnh Thanh Hoá. Vị trí thành nhà hồ so với các trung tâm thành phố lân cận như sau:
Cách thủ đô Hà Nội: 140 km (theo quốc lộ 1A, quốc lộ 38B, quốc lộ 12B và quốc lộ 45)
Cách thành phố Thanh Hóa: 45 km (theo quốc lộ 45)
Cách thành phố Tam Điệp: 42 km (theo Đại lộ Đồng Giao và quốc lộ 45)
== Đặc điểm ==
Thành Tây Đô được xây vào năm 1397 dưới triều Trần do quyền thần Hồ Quý Ly chỉ huy, người không lâu sau (1400) lập ra nhà Hồ. Theo sử sách, thành bắt đầu xây dựng vào mùa xuân tháng 1 năm Đinh Sửu niên hiệu Quang Thái thứ 10 đời vua Thuận Tông của vương triều Trần. Người quyết định chủ trương xây dựng là Hồ Quý Ly, lúc bấy giờ giữ chức Nhập nội Phụ chính Thái sư Bình chương quân quốc trọng sự, tước Tuyên Trung Vệ quốc Đại vương, cương vị Tể tướng, nắm giữ mọi quyền lực của triều đình. Người trực tiếp tổ chức và điều hành công việc kiến tạo là Thượng thư bộ Lại Thái sử lệnh Đỗ Tỉnh (có sách chép Mẫn). Hồ Quý Ly xây thành mới ở động An Tôn (nay thuộc địa phận các xã Vĩnh Long, Vĩnh Tiến, huyện Vĩnh Lộc, tỉnh Thanh Hóa), làm kinh đô mới với tên Tây Đô, nhằm buộc triều Trần dời đô vào đấy trong mục tiêu chuẩn bị phế bỏ vương triều Trần. Tháng 3 năm Canh Thân (26-3 đến 24-4-1400), vương triều Hồ thành lập (1400- 1407) và Tây Đô là kinh thành của vương triều mới, thành Thăng Long đổi tên là Đông Đô vẫn giữ vai trò quan trọng của đất nước. Vì vậy thành Tây Đô được dân gian quen gọi là Thành nhà Hồ. Thành đá được xây dựng trong một thời gian kỷ lục, chỉ chừng 3 tháng. Các cấu trúc khác như các cung điện, rồi La Thành phòng vệ bên ngoài, đàn Nam Giao... còn được tiếp tục xây dựng và hoàn thiện cho đến năm 1402. Hổ Quý Ly từ khi nắm quyền lực của triều Trần cho đến khi sáng lập vương triều mới đã ban hành và thực thi một loạt chính sách cải cách về các mặt chính trị, kinh tế, tài chính, văn hóa, giáo dục nhằm khắc phục cuộc khủng hoảng của chế độ quân chủ cuối triều Trần, củng cố chính quyền trung ương và chuẩn bị cho cuộc kháng chiến chống Minh. Trong lịch sử chế độ quân chủ Việt Nam, Hồ Quý Ly là một nhà cải cách lớn với một hệ thống chính sách và biện pháp khá toàn diện, táo bạo. Thành nhà Hồ được xây dựng và tồn tại trong những biến động cuối thế kỷ XIV đầu thê kỷ XV, gắn liền với sự nghiệp của nhà cải cách lớn Hồ Quý Ly và vương triều Hồ.
Theo chính sử, thành được xây dựng rất khẩn trương, chỉ trong 3 tháng. Thành Tây Đô ở vào địa thế khá hiểm trở, có lợi thế về phòng ngự quân sự hơn là trung tâm chính trị, kinh tế và văn hoá. Vị trí xây thành đặc biệt hiểm yếu, có sông nước bao quanh, có núi non hiểm trở, vừa có ý nghĩa chiến lược phòng thủ, vừa phát huy được ưu thế giao thông thủy bộ. Như mọi thành quách bấy giờ, thành bao gồm thành nội và thành ngoại. Thành ngoại được đắp bằng đất với khối lượng gần 100.000 mét khối, trên trồng tre gai dày đặc cùng với một vùng hào sâu có bề mặt rộng gần tới 50m bao quanh.
Bên trong thành ngoại là thành nội có mặt bằng hình chữ nhật chiều Bắc - Nam dài 870,5m, chiều Đông - Tây dài 883,5m. Mặt ngoài của thành nội ghép thẳng đứng bằng đá khối kích thước trung bình 2 m x 1 m x 0,70 m, mặt trong đắp đất. Bốn cổng thành theo chính hướng Nam - Bắc - Tây - Đông gọi là các cổng tiền - hậu - tả - hữu (Cửa Tiền hay còn gọi là Cửa Nam, Cửa Hậu còn gọi là Cửa Bắc, cửa Đông Môn và cửa Tây Giai). Các cổng đều xây kiểu vòm cuốn, đá xếp múi bưởi, trong đó to nhất là cửa chính Nam, gồm 3 cửa cuốn dài 33,8 m, cao 9,5 m, rộng 15,17 m. Các phiến đá xây đặc biệt lớn (dài tới 7 m, cao 1,5 m, nặng chừng 15 tấn).
Các cung điện, dinh thự trong khu vực thành đã bị phá huỷ, di tích còn lại hiện nay là 4 cổng thành bằng đá cuốn vòm, tường thành và đặc biệt là Di tích Đàn tế Nam Giao còn khá nguyên vẹn. Trong các phế tích đáng chú ý có nền chính điện chạm một đôi tượng rồng đá rất đẹp dài 3,62 m.
Thành Tây Đô thể hiện một trình độ rất cao về kĩ thuật xây vòm đá thời bấy giờ. Những phiến đá nặng từ 10 đến 20 tấn được nâng lên cao, ghép với nhau một cách tự nhiên, hoàn toàn không có bất cứ một chất kết dính nào. Trải qua hơn 600 năm, những bức tường thành vẫn đứng vững.
Được xây dựng và gắn chặt với một giai đoạn đầy biến động của xã hội Việt Nam, với những cải cách của vương triều Hồ và tư tưởng chủ động bảo vệ nền độc lập dân tộc, Thành Nhà Hồ còn là dấu ấn văn hóa nổi bật của một nền văn minh tồn tại tuy không dài, nhưng luôn được sử sách đánh giá cao.
== Kích thước ==
Mặc dù thành Tây Đô, với bốn bức tường và cổng thành còn lại tương đối nguyên vẹn, sẽ là rất đơn giản trong việc xác định về cấu trúc toà thành, nhưng các công trình nghiên cứu trước nay đều đưa ra các số liệu khác nhau về kích thước tường thành, cổng thành và do đó, việc nhận định về cấu trúc toà thành vẫn chưa thống nhất.
=== Theo các tài liệu ===
Theo Đại Nam nhất thống chí cho biết: Thành Tây Đô mỗi mặt dài 120 trượng (1 trượng tương đương 4m), cao 1 trượng 2 thước và trong thành nay là ruộng ước chừng hơn 300 mẫu. (Theo số liệu này thì thành Tây Đô có cấu trúc hình vuông, mỗi cạnh khoảng 480 m).
Trong Thanh Hoá Vĩnh Lộc huyện chí của Lưu Công Đạo lại đưa ra số liệu: Thành Tây Đô vuông, mỗi mặt thành dài 424 tầm (một tầm khoảng 2m).
Trong Lịch triều hiến chương loại chí ghi: Thành rộng ước hơn 300 mẫu, đường đi lối ngang lối dọc đều lát đá hoa, móng thành bốn mặt đều xây đá xanh, từ mặt đất trở lên xây gạch, vuông vắn dày dặn rất bền...
Theo học giả L. Bezacier thì thành xây dựng trên một đồ án hình vuông mỗi chiều dài 500m.
Trong các sách: Thành cổ Việt Nam; Hồ Quý Ly; Lịch sử Thanh Hoá; Khảo cổ học Việt Nam đều khẳng định: Thành nhà Hồ có mặt bằng hình chữ nhật, chiều dài 900m, chiều rộng 700m.
Trong Đại cương Lịch sử Việt Nam (tập 1, xuất bản năm 2000), lại ghi thành Tây Đô là một hình vuông, mỗi cạnh dài 500m.
=== Theo số liệu đo đạc ===
Năm 2005, đoàn khảo sát Nhật Bản đã dùng máy móc hiện đại đo đạc rồi công bố số liệu như sau: Cạnh Nam: 877,1m; Cạnh Bắc:877,0m; Cạnh Đông: 879,3m; Cạnh Tây: 880m. Như vậy chúng có độ lớn vào khoảng 877m cạnh Đông Tây và 880m cạnh Nam Bắc. Chúng gần như một hình vuông chỉ có điều chiều Nam Bắc dài hơn chiều Đông Tây khoảng 3m. Tuy nhiên dù đã đưa ra con số chính xác nhưng các chuyên gia Nhật Bản lại không cho biết quy tắc đo.
Theo số liệu của tổ Lịch sử Trường Đại Học Hồng Đức trực tiếp đo bằng phương pháp thủ công thì: Chiều Nam Bắc dài 860m (tính từ mép trong theo trục Nam Bắc). Chiều Đông Tây dài 863m (tính từ mép trong theo trục Đông Tây). Nếu tính theo mép ngoài cổng thành thì: Chiều Đông Tây là 883,5m; chiều Nam Bắc là 870,5m (độ chênh lệch lớn hơn 13m)
== Kết cấu ==
Thành hình gần vuông, mỗi cạnh trên dưới 800m và chu vi trên 3,5 km. Thành phía ngoài xây bằng đá, bên trong xây bằng đất đầm nện chắc, mở bốn cửa theo bôn hướng Nam, Bắc, Đông, Tây. Tường thành đá bên ngoài xây bằng những khối đá nặng trung bình 10-16 tấn, có khối nặng đến trên 26 tấn, được đẽo gọt khá vuông vắn và lắp ghép theo hình chữ công (I) tạo nên sự liên kết kiên cố. Đất đắp bên trong thoai thoải dần. Thành qua thời gian trên 6 thế kỷ đã bị bào mòn và có chỗ bị sạt lở, nhưng di tích tường thành chỗ còn lại vẫn dày khoảng 4-6m, chân thành rộng khoảng trên 20m. Bốn cửa thành xây theo kiểu vòm cuốn, bằng đá, riêng cửa Nam là cửa chính có ba cổng ra vào, dài trên 34m, cao hơn 10m. Hào bao quanh thành cho đến nay vẫn còn có đoạn rộng khoảng 10-20m và La thành bảo vệ vòng ngoài. Theo sử liệu, trên thành còn xây tường bằng gạch mà khảo cổ học đã phát hiện khá nhiều, trên nhiều viên gạch còn khắc tên đơn vị các làng xã được điều động về xây thành. Ngoài ra còn nhiều kiến trúc khác, trong đó đàn Nam Giao xây trên sườn phía Tây Nam núi Đốn Sơn bằng đá quy mô khá lớn. Hiện các kiến trúc cung điện, tường gạch bên trên thành cùng các bộ phận bằng gạch, gỗ bị sụp đổ, hủy hoại và tòa thành cũng không tránh khỏi có phần bị sạt lở, nhưng gần như tổng thể kiến trúc bằng đá vẫn tồn tại.
== Khu di tích thành nhà Hồ ==
Khu di tích thành nhà Hồ với trung tâm là thành nhà Hồ, nằm ở phía tây huyện Vĩnh Lộc, Thanh Hóa, gần quốc lộ 45. Khu di tích này nằm giữa sông Mã và sông Bưởi, thuộc địa giới hành chính các xã Vĩnh Tiến, Vĩnh Thành, Vĩnh Long, Vĩnh Yên, Vĩnh Quang, Vĩnh Ninh, Vĩnh Khang, thị trấn Vĩnh Lộc, một phần xã Vĩnh Phúc (huyện Vĩnh Lộc) và một phần xã Thạch Long (huyện Thạch Thành). Ngoài thành nhà Hồ, được gọi là thành trong, khu di tích này có:
=== Tường thành và Hào thành ===
Từ bên ngoài, có thể thấy toàn bộ các bức tường của tòa thành được xây bằng các khối đá khổng lồ có hình khối chữ nhật hoặc gần vuông, xếp không trùng mạch theo hình chữ Công "I". Trên thực tế, tường thành được cấu tạo bởi ba lớp gắn kết chặt chẽ với nhau bằng một kỹ thuật xây dựng đặc biệt:
Lớp ngoài: tường thành được xây dựng bằng "những khối đá vôi to lớn, được đẽo gọt và ghép một cách tài tình"(13). Tất cả các khối đá xây được đẽo gọt công phu thành các khối vuông thành sắc cạnh, với kích thước trung bình 2,2 x 1,5 x 1,2m, cá biệt có khối có kích thước tới 4,2 x 1,7 x 1,5m và 5,1 x 1 x 1,2m. Những khối đá lớn nhất nặng tới khoảng 26,7 tấn.
Đại Việt sử ký toàn thư cũng cho biết, năm Tân Tỵ (1401) "Hán Thương hạ lệnh cho các lộ nung gạch để dùng vào việc xây thành. Trước đây xây thành Tây Đô, tải nhiều đá tới xây, ít lâu sau lại bị sụp đổ, đến đây mới xây trên bằng gạch, dưới bằng đá"(14). Đến nay, qua nghiên cứu sưu tầm, Trung tâm Bảo tồn Di sản Thành Nhà Hồ đã phát hiện có 294 địa danh hành chính trong cả nước đóng góp xây dựng Thành Nhà Hồ.
Để hoàn chỉnh công trình này, con số ước tính hơn 100,000m3 đất đã được đào đắp, hơn 20,000m3 đá, trong đó có nhiều khối đá nặng trên 20 tấn đã được khai thác, vận chuyển và lắp đặt.
Bao quanh các bức tường thành đồ sộ là hệ thống hào thành, như thường thấy ở các tòa thành Đông Á. Ngày nay, nhiều phần của hào thành đã bị lấp cạn. Tuy nhiên, vẫn có thể nhận thấy rất rõ dấu tích của hào thành ở bốn phía với chiều rộng trung bình 50m.
=== La Thành ===
Bao quanh toàn bộ tòa thành đá và hào thành là La Thành.
Đại Việt sử ký toàn thư cho biết Hồ Quý Ly "sai Trần Ninh đốc suất người phủ Thanh Hóa trồng tre gai ở phía Tây thành, phía Nam từ Đốn Sơn, phía Bắc từ An Tôn đến tận cửa Bào Đàm, phía Tây từ chợ Khả Lãng ở Vực Sơn đến sông Lỗi Giang (sông Mã), vây quanh làm tòa thành lớn bọc phía ngoài. Dân chúng ai lấy trộm măng thì bị xử tử" (Đại Việt sử ký toàn thư 1998a: 198).
Đại Nam nhất thống chí chép: "phía ngoài thành lại đắp đất làm La Thành, phía tả từ tổng Cổ Biện, phía Đông qua các xã Bút Sơn và Cổ Điệp ven theo sông Bảo (nay là sông Bưởi) chạy về núi Đốn Sơn, phía hữu từ tổng Quan Hoàng, huyện Cẩm Thủy theo ven sông Mã chạy về Đông thẳng đến núi Yên Tôn mấy vạn trượng" (Đại Nam nhất thống chí 2006: 313 - 314).
La Thành hiện còn là một tòa thành đất cao khoảng 6m, mặt cắt dạng hình thang với bề mặt rộng 9,20m, chân thành rộng khoảng 37m. Mặt ngoài dốc đứng, phía trong thoai thoải kiểu bậc thang, mỗi bậc cao 1,50m, một số vị trí có trộn thêm sạn sỏi gia cố.
Kết quả thám sát năm 2010 ở khu vực thôn Xuân Áng, xã Vĩnh Long cho thấy, đất đắp La Thành bằng các loại đất sét màu vàng, màu xám hoặc xám xanh có lẫn các đá sạn laterít.
Toàn bộ La Thành được đào đắp dựa theo địa hình tự nhiên, có đoạn thì nối liền với núi đá, lấy núi đá làm bức tường thành thiên nhiên hùng vĩ, có đoạn thì nương theo các dòng sông.
Ngày nay, trên thực địa, La Thành vẫn còn dấu vết từ núi Đốn Sơn (xã Vĩnh Thành) đến núi Hắc Khuyển (xã Vĩnh Long), các núi Xuân Đài, Trác Phong, Tiến Sỹ (xã Vĩnh Ninh), núi Kim Ngọ (xã Vĩnh Tiến), núi Ngưu Ngọa, núi Voi (Xã Vĩnh Quang). Trong đó có những đoạn là đê của sông Bưởi và sông Mã (hình 50-52).
Sự kiên cố, cấu trúc lũy thành với mặt ngoài thẳng đứng trong thoai thoải cho thấy rõ tính chất phòng vệ quân sự của La Thành. Mặt khác La Thành cũng triệt để nối các quả núi tự nhiên như núi Voi, núi Đốn, nhiều đoạn chạy theo thế uốn của [[sông Bưởi]] và sông Mã mang thêm chức năng là đê phòng lũ lụt cho toàn bộ kinh thành. Đây cũng là truyền thống đắp thành của người Việt đã từng hiện diện ở các di tích như [[thành Cổ Loa]] ([[Hà Nội]]) thế kỷ 3 trước CN, [[thành Hoa Lư]] ([[Ninh Bình]]) thế kỷ 10, [[thành Thăng Long (Hà Nội) thể kỷ 11 – 18.
Nhiều đoạn La Thành trải qua 6 thế kỷ vẫn còn khá nguyên vẹn với các lũy tre trải dài bát ngát, tương truyền cũng là dấu tích lâu đời gợi nhớ đến việc nhà Hồ cho trồng tre gai bảo vệ kinh thành cuối thế kỷ 14.
(Trích nguồn: Sách Thành Nhà Hồ Thanh Hóa Nhà xuất bản KHXH năm 2011)
=== Đàn Nam Giao ===
Ở phía Nam kinh thành, trong các năm 2006 – 2010, khảo cổ học đã tập trung nghiên cứu khu di tích đàn tế Nam Giao.
Đại Việt sử ký toàn thư chép năm Nhâm Ngọ (1402):"Tháng 8, Hán Thương sai đắp đàn Giao ở núi Đốn Sơn để làm lễ tế Giao. Đại xá" (Đại Việt sử ký toàn thư 1998a: 203).
Đại Việt sử ký toàn thư ghi chép việc xây dựng đàn tế Nam Giao năm 1402. Khâm định Việt sử thông giám cương mục thời Nguyễn cũng chép: "Đến nay Hán Thương mới đắp đàn Giao ở Đốn Sơn, chọn ngày lành, đi xe Vân Long ra cửa Nam thành, trăm quan và cung tần, mệnh phụ theo thứ tự đi sau v.v..." (Việt sử thông giám cương mục 1960:40).
Trong các nghi lễ của các kinh đô phương Đông cổ truyền, đàn Nam Giao và nghi thức tế lễ Nam Giao hàng năm của các vương triều là một bộ phận văn hóa tinh thần quan trọng vào bậc nhất nhằm cầu mong cho đất nước thịnh trị, vương triều trường tồn.
Bởi vậy, trong việc kiến thiết kinh đô, [[nhà Hồ]] đặc biệt chú trọng tới việc xây dựng đàn tế Nam Giao. Đàn tế được xây dựng ở phía Nam Thành Nhà Hồ, phía trong La Thành, dựa theo sườn Tây Nam núi Đốn Sơn.
Dấu tích kiến trúc đàn tế đã xuất lộ chạy theo hướng Bắc – Nam là 250m, hướng Đông – Tây là 150m với tổng diện tích 35.000m2.
Đàn được chia làm nhiều tầng giật cấp cao dần lên, trong đó tầng đàn trung tâm cao 21,70m so với mực nước biển, chân đàn có độ cao khoảng 10,50m so với mực nước biển. Hiện nay, bước đầu đã khai quật được khoảng 15.000m2 và phát lộ được cấu trúc tổng thể của phần đàn trung tâm bao gồm 3 vòng tường đàn bao bọc lẫn nhau.
+ Vòng đàn ngoài cùng đã xuất lộ một phần dài 145m, rộng 113m có hai đầu lượn tròn.
+ Vòng đàn giữa gần hình vuông 65m x 65m.
+ Vòng đàn trong cùng hình đa giác (60,60m x 52m) có hai cạnh trên vát chéo.
Toàn bộ 3 vòng đàn trên đây ôm trọn toàn bộ nền đàn tế hình chữ nhật 23,60m x 17m. Trong lòng nền đàn có dấu tích đàn tế hình tròn (Viên đàn), đường kính 4,75m.
Nền đàn được đầm nện bằng các loại đá dăm núi, móng tường đàn và tường đàn được xây dựng bằng các loại đá xanh và gạch ở hai bên, ở giữa nhồi đất. Tường đàn cómái lợp các loại ngói mũi sen, ngói mũi lá và ngói âm dương. Mặt nền đàn được lát bằng loại gạch vuông cỡ lớn. Các đường đi trong đàn được lát đá.
Trong khu vực đàn tế còn tìm thấy dấu tích của hàng chục nền móng của các kiến trúc phụ, 5 cửa, dấu tích đường đi và dấu tích của 10 cống nước được xây dựng và bố trí hết sức khoa học nhằm đảm bảo cho việc tiêu thoát nước cho một công trình kiến trúc có diện tích rộng hàng chục nghìn mét vuông.
Góc Đông Nam đã tìm thấy một giếng nước lớn có cấu trúc 2 phần: phần thành giếng được xây bằng các khối đá có mặt bằng hình vuông (13m x 13m) có bậc đi xuống nhỏ giật vào trong lòng theo lối "thượng thách hạ thu", phần lòng giếng hình tròn, mặt cắt hình phễu, phần miệng tròn có đường kính khoảng 6,50m, độ sâu tính từ miệng giếng vuông 4,90m (hình 138-151).
Với tổng diện tích trên 35.000m2, có thể nói Nam Giao là một kiến trúc đàn tế khá hoành tráng trong tổng thể khu di tích Thành Nhà Hồ. Không những thế, qua những di vật còn lại, chúng ta còn thấy Nam Giao cũng được trang trí khá độc đáo ở trên các kiến trúc có mái. Đó là thành bậc đá chạm sấu thần, tượng đầu chim phượng, uyên ương, hệ thống lá đề, hệ thống gạch trang trí chạm rồng, hoa cúc. nhiều mô típ cho thấy có sự ảnh hưởng mạnh mẽ của nghệ thuật Phật giáo trong trang trí Nam Giao. Trong thời đại hạn chế Phật giáo thì đây cũng là điều hết sức đáng lưu ý của di tích đàn tế Nam Giao nói riêng và nghệ thuật thời Hồ nói chung (hình 161-171).
Thêm vào đó, các phần núi non phía sau đàn đều được lưu giữ khá nguyên vẹn kết hợp hài hòa với các thành phần kiến trúc đàn tế, làm tăng thêm vẻ đẹp, tính hấp dẫn riêng có của đàn tế Nam Giao Thành Nhà Hồ.
=== Đền thờ nàng Bình Khương ===
Thuộc địa phận thôn Đông Môn, xã Vĩnh Long, nằm sát tường phía Đông của thành trong Thành Nhà Hồ. Đền là nơi thờ nàng Bình Khương phu nhân của Cống sinh Trần Công Sỹ, một trong những người chỉ huy xây dựng tường thành phía đông của thành Tây Đô.
Đền có diện tích 600m2, kiến trúc gồm tiền đường và hậu cung. Hiện nay trong đền còn lưu giữ nhiều hiện vật có giá trị như: Phiến đá – kiêm thần vị thờ nàng Bình Khương, bia đá dựng năm Thành Thái thứ 15 (1903) do Vương Duy Trinh soạn ghi sự tích Bình Khương và Cống Sinh; bia đá dựng năm Thành Thái thứ 15 (1903) do Phan Hữu Nguyên soạn ghi nội dung ca tụng Bình Khương và bia trùng tu miếu Bình Khương dựng năm Bảo Đại thứ 5 (1930).
Đền được xếp hạng là di tích lịch sử văn hoá cấp tỉnh năm 1995.
=== Đình Đông Môn ===
Nằm cách cổng Đông Thành Nhà Hồ khoảng 150m về phía Đông, thuộc làng Đông Môn, xã Vĩnh Long. Đây là ngôi đình lớn, niên đại thời Nguyễn (thế kỷ 19), và có giá trị nghệ thuật cao. Tại ngôi đình còn lưu giữ một số hiện vật liên quan đến di tích Thành Nhà Hồ và nhiều sinh hoạt truyền thống gắn với ngôi làng cổ của kinh đô xưa. Từ năm 2007 đến năm 2009 đình được trùng tu, tôn tạo.
Đình được xếp hạng di tích lịch sử kiến trúc cấp tỉnh năm 1992.
Nhà cổ:
Nhà cổ gia đình ông Phạm Ngọc Tùng: Thuộc làng Tây Giai, xã Vĩnh Tiến, cách cổng Tây Thành Nhà Hồ 200m về phía Tây. Ngôi nhà này được xây dựng năm 1810, về mặt kiến trúc nhà cổ đã được UNESCO công nhận là một trong 10 nhà cổ dân gian tiêu biểu nhất của Việt Nam. Năm 2002 tổ chức JICA của Nhật Bản đầu tư kinh phí nghiên cứu, bảo tồn, trùng tu di tích này.
Ngoài nhà cổ ông Phạm Ngọc Tùng, trong các làng cổ ở khu vực đệm còn bảo tồn rất nhiều các nhà cổ truyền thống (hiện là nhà ở của nhân dân), có niên đại thế kỷ 19 - đầu thế kỷ 20.
Đền Tam Tổng:
Thuộc địa phận làng Xuân Giai, xã Vĩnh Tiến, cách Thành Nhà Hồ khoảng 400m về phía Nam. Sau Hội thề Đốn Sơn (1399), Trần Khát Chân mất, nhân dân nhiều nơi thương tiếc lập đền thờ ông. Ba tổng: Bỉnh Bút, Cao Mật, Hồ Nam thuộc huyện Vĩnh Lộc xưa tôn ông làm Thành hoàng chung. Hàng năm lễ lội đền Tam Tổng diễn ra vào ngày 24/4 Âm lịch, có nhiều trò diễn mô tả văn hoá truyền thống của vùng đất kinh đô xưa. Khu vực đền có diện tích 1500m2, lần trùng tu, tôn tạo gần đây nhất là năm 2005. Đền được xếp hạng là di tích lịch sử văn hoá cấp tỉnh năm 1992.
Hồ Mỹ Đàm:
Mau An Tôn còn có tên khác là Hồ Mỹ Đàm, Hồ Mỹ Xuyên hay Mau Rẹ hiện thuộc cánh đồng làng Mỹ Xuyên và làng Phú Yên, xã Vĩnh Yên, cách Thành Nhà Hồ khoảng 1,5km về hướng Tây Bắc. Theo truyền thuyết hồ chính là đoạn sông đào của nhà Hồ với mục đích mở đường thuỷ nối liền giữa thành Tây Đô với sông Mã. Ngày nay mau còn bảo tồn chiều dài khoảng 2km, rộng 100m với nhiều loài sinh vật độc đáo nổi tiếng của vùng đất cố đô.
Hang Nàng và núi An Tôn:
Hang Nàng nằm trên núi An Tôn thuộc làng Yên Tôn Thượng, xã Vĩnh Yên, cách Thành Nhà Hồ khoảng 2,5 km về hướng Tây Bắc. Hang còn có tên gọi là động Ngọc Thanh, nằm ở độ cao khoảng 20m so với đồng bằng. Theo truyền thuyết hang là nơi Hồ Quý Ly giam giữ vua Trần Thiếu đế và hai nàng hầu.
Núi An Tôn thuộc địa phận xã Vĩnh Yên (vào thời Trần có tên là động An Tôn), cách Thành Nhà Hồ khoảng 2km về phía Tây. Núi có hai đỉnh cao nhất là 122m và 114m so với mực nước biển. Nhiều giả thuyết và tư liệu cho biết đá xây dựng Thành Nhà Hồ được khai thác tại dãy núi này.
Chùa Giáng:
Có tên chữ là Tường Vân tự, thuộc xã Vĩnh Thành, cách Thành Nhà Hồ khoảng 2,5km về phía Đông Nam. Chùa được xây dựng dưới chân núi Đốn Sơn vào thời vua Trần Duệ Tôn (1372 - 1377). Tổng thể kiến trúc chùa hiện khoảng 2ha, bao gồm các dãy nhà riêng biệt nằm trên 2 tầng thế đất khác nhau, đó là: Nhà Tứ Ân, nhà Phật điện, nhà Mẫu, nhà Điêu túc. Chùa được xếp hạng là di tích lịch sử văn hoá Quốc gia năm 2009.
Đền thờ Trần Khát Chân:
Thuộc địa phận thôn Cao Mật, xã Vĩnh Thành, cách Thành Nhà Hồ khoảng 2,5km về phía Đông Nam. Đền được xây dựng ở sườn Đông Bắc núi Đốn Sơn vào thế kỷ 16, thờ Đức Thánh Lưỡng - Thượng tướng Trần Khát Chân, vị tướng có nhiều công lao đánh giặc dưới thời nhà Trần và có công xây dựng kinh thành Tây Đô (thời Hồ). Ngày nay, di tích vẫn còn giữ được nhiều văn bản Hán Nôm cổ (hơn 20 bản sắc phong, các hoành phi, câu đối) và các đồ thờ bằng gỗ đặc biệt có giá trị. Đền được xếp hạng là di tích lịch sử văn hoá và kiến trúc nghệ thuật cấp Quốc gia năm 2001.
Chùa Du Anh:
Có tên gọi khác là chùa Thông, được xây dựng dưới chân lèn đá phía Tây núi Xuân Đài, cách Thành Nhà Hồ khoảng 4,5km về phía Tây Nam thuộc địa phận xã Vĩnh Ninh. Tương truyền công chúa Du Anh (thời Trần) đi du ngoạn, thấy cảnh núi sông nơi đây hữu tình đã cho xây dựng chùa vào năm 1270 và lấy tên mình để đặt tên chùa. Hiện nay, trong chùa còn lưu giữ nhiều hiện vật có giá trị thời Trần (thế kỷ 14) như: Sư tử đá, nghê đá, voi đá. Đặc biệt là bia đá 4 mặt được tạc từ đá gốc nguyên khối do trạng Bùng Phùng Khắc Khoan soạn văn bia ghi việc trùng tu chùa năm 1606 đời vua Lê Kính Tông. Chùa được xếp hạng là di tích lịch sử văn hoá Quốc gia năm 2009.
Động Hồ Công:
Nằm trên núi Xuân Đài, xã Vĩnh Ninh, cách Thành Nhà Hồ khoảng 4,5km về hướng Tây Nam. Tương truyền động Hồ Công chính là nơi luyện thuốc tu tiên của thầy trò Hồ Công và Đồng Tử. Cảnh sắc núi sông hòa quyện, hang động kỳ ảo nên từ xưa động được mệnh danh là "Nam thiên tam thập lục động, Hồ Công đệ nhất" (Ba mươi sáu động của nước Nam, động Hồ Công là nhất). Động nằm ở độ cao khoảng 50m - 60m so với đồng bằng. Nhiều bậc tao nhân trong lịch sử đã đến tham quan và đề thơ ca ngợi cảnh đẹp nơi đây, trong đó tiêu biểu như vua Lê Thánh Tông, Lê Hiến Tông và Tĩnh Vương Trịnh Sâm…Hiện còn khoảng hai mươi di văn Hán khắc trên vách động. Đây là một di sản văn hoá vô cùng quý giá góp phần tạo nên một "Hồ Công đệ nhất".
== Vấn đề công nhận và bảo tồn ==
Thành nhà Hồ đã được xếp hạng di tích quốc gia từ năm 1962. Mặc dù có nhiều dự án tôn tạo nhưng vẫn chưa được triển khai và thiếu công tác nghiên cứu cơ bản, các cổ vật đang bị phân tán và tòa thành bị tôn tạo "không đúng cách".
Tháng 6 năm 2011, thành Tây Đô đã được Tổ chức Văn hóa, Khoa học và Giáo dục Liên Hiệp Quốc (UNESCO) công nhận là Di sản văn hóa thế giới. Đây là Di sản văn hóa thế giới thứ năm của Việt Nam sau phố cổ Hội An, cố đô Huế, thánh địa Mỹ Sơn, và Hoàng thành Thăng Long.
== Hình ảnh ==
== Chú thích ==
== Liên kết ngoài ==
Giới thiệu trên cổng thông tin điện tử của UBND Thanh Hóa
Trang thông tin điện tử khu di tích Thành Nhà Hồ
Bản đồ khu di tích Thành nhà Hồ
Giới thiệu và đánh giá trên website của UNESCO
Khám phá Thành nhà Hồ - di sản văn hóa thế giới |
kabuki.txt | Kabuki (tiếng Nhật: 歌舞伎, Hán-Việt: ca vũ kỹ) là một loại hình sân khấu truyền thống của Nhật Bản. Nhà hát Kabuki được biết đến với sự cách điệu hóa trong kịch nghệ và sự phức tạp trong việc trang điểm cho người biểu diễn.
Chữ kanji 歌 (ca) nghĩa hát, 舞 (vũ) nghĩa là múa, và 伎 (kỹ) nghĩa là kỹ năng. Do đó, Kabuki đôi khi được dịch là "nghệ thuật hát múa". Tuy nhiên, có những chữ thuộc loại ateji (nghĩa của chữ phụ thuộc vào phát âm, không phụ thuộc vào các ký tự hợp thành) không thể hiện đúng nghĩa của từ nguyên. Từ kabuki được cho là bắt nguồn từ động từ kabuku, nghĩa là "tựa, chống" hay "bất bình thường". Vì vậy, kabuki có thể hiểu theo nghĩa là sân khấu "tiên phong" hay "kì dị". Cách diễn đạt kabukimono (歌舞伎者) (Ca vũ kỹ giả) ban đầu dùng để chỉ nhũng nhóm người lập dị ở chốn thôn quê hoang dã, ăn mạc kỳ cục với mái tóc lạ đời.
== Lịch sử ==
Kabuki đã có nhiều thay đổi kể từ khi ra đời.
=== 1603–1629: kabuki nữ ===
Lịch sử kabuki bắt đầu từ năm 1603 khi Okuni, một miko (cô gái trẻ phục vụ trong đền thờ đạo Shinto) ở Izumo Taisha, bắt đầu biểu diễn một phong cách kịch múa mới ở Kyoto. Các nữ diễn viên đóng cả vai nam và nữ trong các vở hài kịch về cuộc sống hàng ngày. Phong cách này ngay lập tức trở nên nổi tiếng; Okuni thậm chí được yêu cầu biểu diễn tại Triều đình. Theo sau những thành công đó, các đoàn kịch đối thủ nhanh chóng bắt chước, và kabuki chính thức ra đời như một loại hình kịch múa sử dụng nữ diễn viên – một thể loại rất khác với cách thể hiện ngày nay. Sự hấp dẫn của nó trong thời ấy đa phần là do chất khôi hài hơi tục tĩu; sự hấp dẫn này được bổ sung bằng việc các diễn viên thường kiêm thêm nghề gái mại dâm. Vì lý do này, kabuki còn được viết là "歌舞妓" (chữ 妓 kỹ trong tiếng Nhật cũng đọc là ki nhưng lại mang nghĩa "gái lầu xanh") trong suốt thời Edo.
Khi kabuki mới ra đời, chỉ có phụ nữ mới tham gia diễn xuất. Và họ nhanh chóng cuốn hút những loại khán giả hủ bại và lôi cuốn sự chú ý của rất nhiều đàn ông. Loại "chú ý" này khiến nhiều người không vừa lòng và chính quyền bắt đầu cảm thấy bị làm mất phẩm giá vì nghệ thuật kabuki. Năm 1629, phụ nữ bị cấm diễn xuất kabuki và bất kỳ một hình thức sân khấu nào khác.
Vì kabuki đã quá nổi tiếng, nên các nam diễn viên trẻ, gọi là wakashu, tiếp nối vị trí của phụ nữ sau khi họ bị cấm diễn. Những thanh niên này có thể thay thế vai trò của phụ nữ vì họ có ít nam tính hơn và có giọng cao hơn so với đa phần đàn ông trưởng thành. Cùng với sự đổi vai giới tình của diễn viên, tầm quan trọng của buổi diễn cũng thay đổi: nhiều kịch tính được thêm vào vở kịch thay vì các điệu múa. Các buổi biểu diễn của họ nói chung đều tục tĩu. Họ cũng hành nghề bán dâm cho khách đồng tính nam. Khán giả thường làm loạn lên, và những vụ cãi vã đôi khi biến thành ẩu đả, để được qua đêm với các diễn viên trẻ đặc biệt đẹp trai, điều này khiến chính quyền cấm các diễn viên nam trẻ vào 1652.
=== Sau 1653: kabuki nam ===
Từ năm 1653, chỉ có đàn ông trưởng thành mới được diễn kabuki. Kabuki phát triển thành một hình thức phức tạp và cách điệu hóa gọi là yarō kabuki (野郎歌舞伎 (dã lang ca vũ kỹ, đại ý là, kabuki nam). Sự biến đổi về chất trong phong cách này có ảnh hưởng lớn đến các nhà hát hài kịch kyogen, đặt dưới sự quản lý của Mạc phủ. Kyogen, dù thế nào đi chăng nữa, cùng vô cùng nổi tiếng vào thời gian đó.
Chữ yarō (野郎) (dã lang)cuối cùng rơi mất, nhưng tất cả các vai trong vở kịch kabuki tiếp tục do đàn ông diễn. Các diễn viên nam chuyên đóng các vai nữ, được gọi là onnagata hay oyama (đều viết bằng kanji là 女形, nữ hình), bùng nổ. Những gia đình của các onnangata chuyên nghiệp này hình thành rất nhiều và trong những năm sau này, phần lớn onnagata xuất thân từ những gia đình đó.
Diễn viên onnagata có thể khiến khán giả nghĩ họ chính là phụ nữ thật vì họ trang điểm rất đậm. Onnagata cũng diễn rất nhiều cảnh lãng mạn. Các cảnh này đều được diễn xuất cùng với một người nữa. Đàn ông biết cách giấu thể hình và kích cỡ của mình để trông giống nữ giới hơn. Họ nói bằng giọng the thé. Đó là cái cách mà đàn ông vẫn thường nghĩ về phụ nữ.
Sau hơn 250 năm cấm phụ nữ trình diễn kabuki, onnagata đóng vai trò trung tâm trong nhà hát kabuki, cho đến trước khi lệnh cấm bị dỡ bỏ năm 1879, nghệ thuật onnagata vẫn rất hấp dẫn công chúng, và mất nó có nghĩa là cả gánh hát sẽ sụp đổ. Vì vậy, mặc dù lệnh cấm đã bị dỡ bỏ, vai trò của phụ nữ không còn quan trọng nữa vì đàn ông đã có được các kĩ năng diễn những vai loại này.
Hai loại vai quan trọng được phát triển là: aragoto (phong cách thô ráp) do Ichikawa Danjūrō (1660–1704) khám phá ra ở Edo, và wagoto (phong cách êm dịu) bởi diễn viên Kamigata vĩ đại, Sakata Tōjūrō (1647–1709) ở vùng Kyoto-Osaka. Aragoto phong cách vai phô trương, theo đó các diễn viên thường phóng đại từ ngũ, điệu bộ, và thậm chí cả trang phục, chân cẳng, và trang điểm; cái tên bắt nguồn từ từ có nghĩa là "chuyện samurai liều lĩnh", và kịch nghệ thường nhấn mạnh hành động. Nhân vật loại này thường đóng vai anh hùng, và thường phóng đại nam tính. Thể thức "aragoto" được coi là nghệ thuật gia đình. Ngược lại, đặc điểm của "wagoto" là thường có lời nói và điệu bộ bình thường, và kịch nghệ thường về các bị kịch lãng mạn. Tính cách của vai diễn thường là nhạy cảm, dễ xúc động. Hai tính cách này khác nay rất xa, aragoto đóng vai nam tính, và wagoto đóng nhiều vai nữ tính.
=== 1673–1735: Thời Genroku ===
Trong thời Genroku, kabuki rất phát đạt. Cấu trúc của vở kịch kabuki được định hình trong thời kỳ này, cũng như nhiều yếu tố cách điệu hóa. Các loại nhân vật thường định rõ. Nhà hát kabuki và ningyō jōruri, thể loại nhà hát múa rỗi phức tạp sau đó được biết đến với cái tên bunraku, trở thành rất gần nhau trong thời kỳ này, và mỗi cái đều có ảnh hưởng đến sự phát triển của nhau. Nhà soạn kịch nổi tiếng Chikamatsu Monzaemon, một trong những nhà soạn kịch kabuki đầu tiên, có một số tác phẩm có tầm ảnh hưởng lớn, mặc dù vở thường được coi là tác phẩm quan trọng nhất của ông, Sonezaki Shinju (Tự sát vì tình ở Sonezaki), thực chất bắt nguồn từ kịch bản bunraku. Giống như nhiều vở kịch bunraku, tuy vậy, nó được sửa lại cho hợp với kabuki, và nó làm xuất hiện nhiều bản tương tự - thực tế, vở này và những vở tương tự gây ra nhiều vụ tự tử phỏng theo kịch khiến chính phủ ban lệnh cấm shinju mono (kịch vì việc hai người yêu nhau phải tự tử) năm 1723. Người ta cho rằng Ichikawa Danjūrō I đã phát triển cách diễn mie và kiểu hóa trang như mặt nạ kumadori..
Vào giữa thế kỷ 18, kabuki bị bunraku thế chỗ trên sân khấu dành cho những tầng lớp thấp của xã hội. Điều này một phần là do sự xuất hiện của một vài nhà viết kịch bunraku tài năng vào thời điểm đó. Không có gì đáng chú ý trong sự phát triển của kabuki cho đến cuối thế kỷ đó, khi nó nổi tiếng trở lại.
=== Kabuki sau cuộc Minh Trị Duy Tân ===
Sự thay đổi văn hóa to lớn bắt đầu vào năm 1868 khi Mạc phủ Tokugawa sụp đổ, sự mất đi của tầng lớp samurai, và sự mở cửa của Nhật Bản đối với phương Tây đã giúp cho kabuki một lần nữa hồi sinh. Khi nền văn hóa vật lộn để khắp phục sự thiếu nét riêng biệt của mình, các diễn viên cố tăng cường tiếng tăm của kabuki trong giới thượng lưu và cố hòa trộn phong cách truyền thống với khẩu vị đương thời. Cuối cùng họ cũng thành công về mặt này, và vào ngày 21 tháng 4 năm 1887, họ đã được biểu diễn phục vụ Nhật Hoàng Minh Trị.
Rất nhiều nhà hát kabuki đã bị bom đạn trong Chiến tranh thế giới thứ hai phá hủy, và quân đội chiếm đóng cấm trình diễn kabuki trong một thời gian ngắn sau chiến tranh. Tuy nhiên, năm 1947, lệnh cấm bị bãi bỏ, và việc biểu diễn lại được tiếp tục trở lại.
=== Kabuki ngày nay ===
Thời gian ngay sau Chiến tranh thế giới thứ hai là một thời gian khó khăn cho kabuki. Ngoài sự tàn phá đối với phần lớn các thành phố Nhật Bản trong thời chiến còn có xu hướng đương thời từ chối truyền thống và những tư tưởng của quá khứ, kabuki cũng nằm trong số đó. Những vở kịch kabuki truyền thống được cải tiến lại của đạo diễn Tetsuji Takechi rất được công chúng hoan nghênh vào thời điểm đó đã mang lại sự hồi sinh cho tình yêu đối với kabuki ở vùng Kansai. Trong số những ngôi sao trẻ tuổi đã biểu diễn cùng Takechi Kabuki thì Nakamura Ganjiro III (sinh năm 1931) là diễn viên hàng đầu. Ông lần đầu được biết đến với tên Nakamura Senjaku, và thời kỳ đó trong kabuki Osaka được gọi là "Thời kỳ Senjaku" để vinh danh ông.
Ngày nay, kabuki vẫn tương đối được ưa chuộng —nó là loại hình kịch truyền thống Nhật Bản được ưa chuộng nhất- và các ngôi sao thường xuất hiện với các vai trên TV hay màn ảnh rộng. Ví dụ, onnagata nổi tiếng Bandō Tamasaburō V đã xuất hiện trong vài vở kịch không phải kabuki và điện ảnh-thường là vai nữ. Kabuki cũng được một loại hình nghệ thuật nổi tiếng khác của Nhật Bản tham khảo, đó là anime.
Mặc dù có không nhiều các nhà hát lớn ở Tokyo, Kyoto và Osaka, có rất nhiều nhà hát nhỏ ở Osaka, và trên khắp đất nước. Đoàn kịch Ōshika Kabuki, ở Ōshika"大鹿" (Đại Lộc), tỉnh Nagano, là một ví dụ.
Một vài đoàn kịch kabuki dùng phụ nữ cho các vai onnagata, và Ichikawa Kabuki-za (đoàn kịch toàn nữ) được thành lập sau Chiến tranh thế giới thứ hai. Năm 2003, một tượng của Okuni được dựng lên ở gần khu Pontochō, Kyoto.
Sự quan tâm đến kabuki đã lan sang cả phương Tây. Các đoàn kịch kabuki thường lưu diễn ở châu Âu và châu Mỹ, và đã có vài vở kịch của phương Tây được chuyển soạn cho kabuki như các vở kịch của Shakespeare. Các nhà viết kịch và tiểu thuyết gia phương Tây cũng đã thử sức mình với đề tài kabuki, ví dụ như vở Hiroshima Bugi (2004) của Gerald Vizenor. Nhà văn Yukio Mishima là người tiên phong và phổ biến việc diễn kabuki theo lối hiện đại, và làm hồi sinh những loại hình nghệ thuật truyền thống khác, như Noh, cho phù hợp với phong cách hiện đại.
Ở Australia, đoàn kịch Za Kabuki ở Đại học Quốc gia Australia đã biểu diễn kịch kabuki từ năm 1976; đây là việc biểu diễn kabuki lâu nhất ở bên ngoài nước Nhật.
Kabuki đã được UNESCO công nhận là Di sản văn hóa phi vật thể và truyền khẩu của nhân loại vào ngày 24 tháng 11 năm 2005.
== Các yếu tố của kabuki ==
=== Thiết kế sân khấu ===
Sân khấu kabuki có một chỗ nhô ra gọi là "hanamichi" (花道 "hoa đạo"), một đường đi bộ mở rộng về phía khán giả và đó là lối vào và ra của diễn viên. Okuni biểu diễn trên một sân khấu hanamichi cùng với đoàn tùy tùng của mình. Sân khấu này được sử dụng không chỉ làm đường đi hay lối lên xuống sân khấu chính, mà các cảnh quan trọng cũng được biểu diễn ở trên sàn này. Sân khấu và nhà hát Kabuki ngày càng trở nên tinh vi về kỹ thuật hơn, và sự cải tiến bao gồm sân khấu xoay và của sập, lần đầu được ứng dụng trong thế kỷ 18, đã tạo ra sự thay đổi to lớn đối với việc biểu diễn các vở kịch kabuki. Một lực đẩy nữa là mong ước muốn biến những đề tài quen thuộc của nhà hát kabuki, đột nhiên xuất hiện hay biến chuyển đầy kịch tính. Rất nhiều các thủ thuật sân khấu, bao gồm việc đột ngột xuất hiện hay biến mất của diễn viên, được thực hiện là nhờ vào những tiến bộ này. Cụm từ "keren" (外連) (ngoại liên) thường được sử dụng để chỉ tất cả những thủ thuật loại này.
Mawari-butai (sân khấu xoay) được phát triển dưới thời Kyōhō. Ban đầu thực hiện kỹ thuật này bằng cách đẩy sân khấu theo một vòng tròn nhờ một đường bánh xe ở phía dưới giúp di chuyển thuận tiện hơn. Khi đèn sân khấu mờ đi lúc dịch chuyển, người ta gọi đó kuraten ("chuyển tối"). Thông thường đèn vẫn được bật sáng gọi là "akaten" ("chuyển sáng"), đôi khi việc chuyển cảnh được thực hiện đồng thời với các hiệu ứng sân khấu. Khoảng 300 năm trước, sân khâu này lần đầu được xây dựng ở Nhật Bản, và được thiết kế cho những pha chuyển cảnh nhanh chóng. Sân khấu này rất hữu dụng vì nó giúp chuyển cảnh mà không làm đứt quãng vở diễn.
Seri dùng để chỉ các cửa sập trên sân khấu được dùng cho kabuki từ giữa thế kỷ 18. Các cửa sập này có thể mở lên và kéo hạ diễn viên xuống hay sắp đặt sân khấu. Seridashi hay seriage dùng để chỉ cửa sập mở lên trên và serisage hay serioroshi khi nó được hạ xuống. Kỹ thuật này thường được sử dụng cho hiệu ứng sân khấu làm cả một bối cảnh hiện ra trên sân khấu.
Chūnori (bay giữa không trung) là một kỹ thuật, xuất hiện vào khoảng giữa thế kỷ 19, theo đó trang phục của diễn viên được gắn vào một dây thép và anh/cô ta có thể "bay lượn" trên dân khấu và/hay một số phần của khu khán giả. Vì "thủ thuật" (keren) này không còn hấp dẫn công chúng nữa nên nhiều sân khấu đã bỏ các thiết bị liên quan đến nó đi.
Trong kabuki, cũng như một số loại hình nghệ thuật truyền thống Nhật Bản khác, thay đổi khung cảnh đôi khi được thực hiện ở giữa một cảnh, trong khi diễn viên vẫn còn ở trên sân khấu và màn sân khấu vẫn mở. Điều này được thực hiện nhờ việc sử dụng Hiki Dōgu (tạm dịch: xe đẩy sân khấu). Kỹ thuật này khởi phát từ đầu thế kỷ 18, khi phông nền và diễn viên ra hay vào sân khấu qua một bục có bánh xe ở dưới. Thông thường là những các nhân viên sân khấu chạy vào thay đổi đạo cụ và phông nền và các bối cảnh khác; nhưng nhân viên này, được gọi kuroko (黒子), luôn luôn mặc toàn đồ đen và theo truyền thống được coi như là vô hình. Những nhân viên này cũng giúp đỡ cho nhiều pha thay trang phục nhanh gọi là hayagawari (thay nhanh). Trong các vở kịch, khi bản chất của một diễn viên đột ngột được phát lộ, các kỹ thuật như hikinuki hay bukkaeri thường được sử dụng. Hikinuki hay bukkaeri được thực hiện bằng cách mặc chồng một phục trang này lên một phục trang khác và nhờ nhân viên sân khấu cởi áo ngoài ra trước mặt khán giả.
=== Biểu diễn ===
Có ba thể loại kịch kabuki chính: jidai-mono (時代物, chi đại giả, hay truyện trước thời đại Sengoku), sewa-mono (世話物, thế thoại giả, hay sau thời đại Sengoku), và shosagoto (所作事, sở tác sự).
Jidaimono, hay kịch lịch sử, thường được lấy bối cảnh từ rất nhiều sự kiện trong lịch sử Nhật Bản. Luật kiểm duyệt khắt khe có hiệu lực trong toàn bộ thời đại Edo, cấm nói đến các sự kiện đương thời và đặc biệt cấm phê phán Mạc phủ hay thể hiện Mạc phủ trong các vai phản diện. Tuy nhiên, cùng với thời gian, việc cấm đoán nghiêm ngặt này có nhiều thay đổi. Phần lớn các jidaimono, lấy bối cảnh là Chiến tranh Gempei vào những năm 1180, những cuộc chiến Nanboku-chō vào những năm 1330, hay các sự kiện lịch sử khác. Thực ra, việc sử dụng những bối cảnh lịch sử, sự kiện lịch sử hay nhân vật lịch sử trong đó là để kín đáo ám chỉ các sự kiện đương thời. Kanadehon Chūshingura, một trong những vở kịch kabuki nổi tiếng nhất, là một ví dụ điển hình, nó bề ngoài lấy bối cảnh những năm 1330, nhưng thực ra lại miêu tả về một vụ việc vào thời điểm đó, đó là vụ báo thù của 47 Ronin.
Không giống như jidaimono nói chung là đề cập đến tầng lớp võ sĩ,, sewamono chủ yếu lấy đối tượng phản ánh là thường dân, cụ thể là thị dân và nông dân. Sewamono nói chung lấy chủ đề gia đình hay lãng mạn. Một số trong các vở sewamono nổi tiếng nhất là các vở diễn về tự sát vì tình, để thích ứng với các tác phẩm của nhà viết kịch bunraku Chikamatsu; việc tập trung vào các bộ đôi lãng mạn không thể chung sống với nhau vì nhiều lý dó và sau đó họ quyết định thay vào đó là cùng chết bên nhau. Các vở kịch sewamono loại này bị hạn chế và chịu nhiều sức ép của xã hội.
Nét đặc trưng của nhà hát kabuki là mie (見得) (kiến đắc), theo đó diễn viên thể hiện một điệu bộ gây ấn tượng mạnh và biểu lộ được tính cách của nhân vật. Vào những lúc đó, tên ở nhà của diễn viên (yagō, 屋号, ốc hào) đôi khi được các khán giả hiểu biết gọi to lên, để thể hiện sự hoan nghênh của khán giả với tài năng của diễn viên. Thậm chí việc cổ vũ nhiệt liệt hơn là hét to tên cha của diễn viên. Keshō, cách hóa trang của kabuki, là một yếu tố dễ thấy ngay cả với những người không quen thuộc lắm với loại hình nghệ thuật này. Bột gạo được dùng để tạo ra phấn nền trắng oshiroi, và kumadori hay các đường nét phóng đại của khuôn mặt để tạo ra hình ảnh của thú vật hay các mặt nạ siêu nhiên. Màu của "kumadori" là cách thể hiện bản chất của nhân vật: màu đỏ dùng để thể hiện sự giận dữ, lòng đam mê, anh hùng chủ nghĩa, sự chính trực, và các tính cách chính diện khác; màu xanh hoặc đen dùng để chỉ kẻ ác, ghen ghét, và các tính cách phản diện; màu xanh da trời, cho các thế lực siêu nhiên; và màu tím, cho sự cao quý.
== Cấu trúc vở kịch ==
Kabuki, giống như các loại hình kịch truyền thống khác của Nhật Bản cũng như trong các nền văn hóa khác trên thế giới, được biểu diễn cả ngày (bây giờ đôi khi vẫn vậy). Thay vì biểu diễn một vở kịch trong 2-5 tiếng như các nhà hát kiểu phương Tây hiện nay, một người sẽ "thoát khỏi" thế giới thường ngày, và giành cả ngày để giải trí ở khu kịch nghệ. Mặc dù vài vở kịch, đặc biệt là kịch lịch sử jidaimono, có thể được diễn trong cả ngày, phần lớn các vở diễn thường ngắn hơn, và được nói trước là diễn cả vở hay chỉ một phần, cùng với các vở kịch khác để tạo ra một chương trình kéo dài cả ngày.
Cấu trúc của một chương trình suốt ngày, giống như cấu trúc của chính những vở kịch, bắt nguồn từ quy tắc của bunraku và Nō, các quy tắc cũng xuất hiện trong vô số các loại hình nghệ thuật truyền thống Nhật Bản khác. Điều chính yếu là định nghĩa về jo-ha-kyū (序破急) (Tự phá cấp), tuyên bố rằng tất cả mọi việc được thực hiện một nhịp độ chắc chắn, một vở kịch sẽ bắt đầu chậm, tăng tốc, và kết thúc nhanh. Cơ sở này, được bậc thầy viết kịch Nō Zeami soạn thảo, không chỉ chi phối diễn xuất của diễn viên, mà cả cấu trúc của vở kịch cũng như cấu trúc của các cảnh và các vở kịch trong một chương trình kịch suốt ngày.
Gần như mọi vở kịch dài đều được chia làm 5 màn, màn đầu gọi là jo, mào đầu chậm và mang tính chất giới thiệu với khán giả về nhân vật và kịch bản. Ba màn sau gọi là ha, tiết tấu được đẩy nhanh, tình huống chuyện được đẩy lên cao độ đầy kịch tính và chất bi kịch trong màn ba hay bốn và có thể có một trận đánh ở màn hai hoặc bốn. Màn cuối, gọi là kyu, thường rất ngắn, với một kết thúc nhanh và có hậu.
Trong khi nhiều vở kịch được viết cho kabuki, cũng có nhiều vở được chuyển thể từ các vở kịch jōruri, kịch Nō, truyện dân gian, hay các loại hình biểu diễn truyền thống khác như truyền miệng với Truyện Heike. Trong khi các vở kịch bắt nguồn từ jōruri thường nghiêm túc, kịch tính đầy xúc cảm, và có cốt truyện chặt chẽ, những vở kịch được viết riêng cho kabuki nói chung có cốt truyện lỏng lẻo hơn nhiều. Một trong những điểm khác nhau chủ yếu trong triết lý của hai loại hình này là jōruri trước hết tập trung vào câu chuyện và người kể lại nó, trong khi kabuki lại tập trung vào diễn viên. Do đo, ít người biết rằng kịch jōruri sử dụng các chi tiết, con rối hay diễn xuất để hướng sự chú ý đến người viết, ngược lại kabuki lại hướng vở kịch của mình đến việc thể hiện tài năng của kịch sĩ. Không phải chuyện lạ trong thế giới kabuki khi thêm vào hay bỏ bớt đi một vài cảnh trong chương trình cả ngày để phục vụ cho tài năng hay ý thích của một diễn viên- các cảnh mà anh ta nổi tiếng vì nó, hay phô diễn tốt hơn, sẽ được thêm vào chương trình ngày khi nó không làm không làm gián đoạn cốt truyện.
Một nhân tố rất riêng nữa của kabuki là sự khác biệt giữa những truyền thống ở Edo và Kamigata (vùng Kyoto-Osaka). Trong suốt thời Edo, kabuki ở Edo có nhiều tình tiết khoa trương và phóng đại, ví dụ như hoa văn trang điểm cứng nhắc, phục trang lòe loẹt, keren (xảo thuật sân khấu) lạ lùng, và mie (bộ tịch) trơ trẽn. Kamigata kabuki, trong khi đó, với giọng bình tĩnh hơn và tập trung vào sự tự nhiên và thực tế trong diễn xuất. Chỉ cho đến cuối thời Edo vào thế kỷ 19, hai vùng mới bắt đầu học tập phong cách lẫn nhau và phát triển lên đến mức cao hơn. Trong suốt một thời gian dài, diễn viên từ vùng này không thể thích hợp với phong cách của vùng khác và không thành công khi lưu diễn tại vùng đó.
== Các vở kịch nổi tiếng ==
Mặc dù ngày nay có rất nhiều vở kịch nổi tiếng, có ba vở nổi tiếng nhất được viết trong ba năm liên tiếp vào giữa thế kỷ 18. Giống như những vở kịch kabuki dài hơn, nghiêm túc hơn, kịch tính hơn, ban đầu chúng được viết cho jōruri (bunraku) và được chuyển soạn cho kabuki ít lâu sau đó. Ba vở kịch do Takeda Izumo II, Miyoshi Shōraku, và Namiki Senryū I, trong các năm từ 1746 đến 1748.
Kanadehon Chūshingura (仮名手本忠臣蔵, Kho báu của trung thần) là câu chuyện nổi tiếng nhất về 47 Ronin truy tìm kẻ sát hại chủ nhân mình, báo thù cho ông, rồi mổ bụng tự sát (seppuku) chết theo chủ nhân mình.
Yoshitsune Senbon Zakura (義経千本桜, Yoshitsune và ngàn cây hoa anh đào) về Minamoto no Yoshitsune khi ông chạy trốn khỏi các đặc vụ của anh trai mình Yoritomo. Ba vị tướng của gia tộc Taira được cho là đã chết trong Chiến tranh Genpei được nhắc đến nổi bật, vì cái chết của họ đánh dấu chấm hết cho chiến tranh và chính thức mang lại hòa bình, giống nội dung của câu chuyện dân gian Genkurō.
Sugawara Denju Tenarai Kagami (菅原伝授手習鑑, Sugawara và những bút tích truyền lại) dựa trên cuộc đời của học giả nổi tiếng Sugawara no Michizane (845–903), người bị lưu đày khỏi Kyoto, và cái chết của ông mang đến nhiều tai ương cho thủ đô. Ông sau đó được phong làm thần Tenjin, kami (thần) của học vấn, và thờ phụng để làm nguôi linh hồn giận dữ của ông.
== Các nhà hát lớn còn hoạt động ==
Fukuoka
Hakata-za
Kotohiru, Kagawa
Kanamaru-za
Kyoto
Minami-za
Nagoya
Misono-za
Osaka
Shochiku-za
Tokyo
Kabuki-za
National Theater
== Xem thêm ==
Kanteiryū, hình thức viết chữ được phát minh ra để quảng cáo cho "kabuki" và các loại hình sân khấu khác
Rakugo, một hình thức giải trí của Nhật dựa trên hài kịch độc thoại
Kyogen, một thể loại hài kịch truyền thống của Nhật, đã ảnh hưởng đến sự phát triển của ‘'kabuki
Noh, một loại hình sân khấu Nhật Bản
Bunraku, một loại hình rối truyền thống của Nhật, có rất nhiều kịch bản mượn từ các vở kịch kabuki.
Butoh, một thể loại múa tiên phong
Takarazuka Revue, một đoàn kịch toàn nữ dựa trên nguyên bản của kabuki
Benshi, phim câm kể chuyện truyền thống, dựa trên phong cách kể chuyện của kabuki
== Tham khảo ==
== Đọc thêm ==
Ronald Cavaye (1993) Kabuki - A Pocket Guide. USA and Japan: Charles E. Tuttle,
Ronald Cavaye, Paul Griffith and Akihiko Senda (2004). A Guide to the Japanese Stage. Japan: Kodansha International.
Scott, A. C. (1955). The Kabuki Theatre of Japan. London: George Allen & Unwin Ltd.
Ernst, E. (1956). The Kabuki Theatre. New York: Oxford University Press.
Senelick, L. (2000). The Changing Room: Sex, Drag, and Theatre. London: Routledge.
Facts JPN-kabuki. 25 tháng 11 năm 2007 [1].
Japanese Culture. 25 tháng 11 năm 2007 [2].
Kabuki. 25 tháng 11 năm 2007 [3].
KABUKI. Ed. Shoriya Aragoro. 9. Sep. 1999. 25 tháng 11 năm 2007 [4].
== Liên kết ngoài ==
Kabuki 21
Thư viên quốc hội quốc gia:
Photograph of Kabuki-za in Kyobashi-ku, Kobiki-cho, Tokyo (1900)
Kakuki-za (1901)
Kakuki-za (1909)
Kakuki-za (1911)
Kakuki-za (1912)
Kakuki-za (1915)
Tiền Nhật Bản: Kabuki Coin Set
Listen to music sample of KOKAJI and MUSUME DOJOJI (After clicking on this link, scroll down page) |
durga.txt | Durga (tiếng Phạn: दुर्गा Durgā 'bất khả chiến bại', phát âm tiếng Hindi-Urdu: [ˈd̪ʊrɡaː]) là hình dạng chủ yếu của nữ thần Mẹ trong đạo Hindu. Có rất nhiều hóa thân của nữ thần Durga: Kali, Bhagvati, Bhavani, Ambika, Lalita, Gauri, Kandalini, Java, Rajeswari và có chín danh xưng: Skandamata, Kushmanda, Shailaputri, Kaalratri, Brahmacharini, Maha Gauri, Katyayani, Chandraghanta và Siddhidatri. Một danh sách 108 tên được sử dụng để mô tả bà được người Hindu sử dụng rất phổ biến và được gọi là Ashtottara Shatanamavali của nữ thần Durga. Bà được biết đến với một loạt tên gọi đa dạng: bao gồm Amba, Ambika, Jagadamba, Parvathi, Shakti, Adishakti, Adi Parashakti và Devi. Theo Shaktism, Adi Para Shakti - nữ thần, Devi-là đấng tối cao và các tín hữu xem Durga là nguyên nhân gốc rễ của sự sáng tạo, nuôi dưỡng và hủy diệt. Bà là năng lượng tinh khiết (gọi tắt là "Shakti" trong tiếng Phạn và bối cảnh tôn giáo Hindu). Là bẩm sinh vô sắc (được gọi là Adi Parashakti), bà hóa thân trong phạm vi những vị thần và á thần để có thể hoàn thành nhiệm vụ của vũ trụ thông qua họ. Vào những lúc đau khổ, chẳng hạn như khi Mahishasura khủng bố vũ trụ, bà hoá thân trong hình dạng thiêng liêng để bảo vệ thế giới. Do đó, Durga cũng được biết đến như Mahishasura Mardini (tiếng Bengal: মহিষাসুরমর্দ্দিনী, người tiêu diệt Mahishasur).
Hàng năm, Durga Puja là một lễ hội Hindu ở Nam Á được cử hành để thờ phụng nữ thần Durga trong đạo Hindu. Nó liên quan đến cả sáu ngày lễ kỷ niệm khác như Mahalaya, Shashthi, Maha Saptami, Maha Ashtami, Maha Navami và Vijayadashami.
== Tham khảo == |
jared diamond.txt | Jared Mason Diamond (sinh ngày 10 tháng 9 năm 1937) là nhà khoa học Mỹ và là tác giả nổi tiếng với các tác phẩm khoa học phổ thông gồm Loài tinh tinh thứ ba (1991); Súng, vi trùng và thép (1997), được trao giải Pulitzer); Sụp đổ (2005); và Thế giới cho đến ngày hôm qua (2012). Sinh trưởng trong một gia đình trí thức có bố là bác sĩ và mẹ là giáo viên, nhạc sĩ kiêm nhà ngôn ngữ học. Sau khi tốt nghiệp khoa học sinh vật học thí nghiệm, ông trở thành Giáo sư Sinh lý học của Trường Y thuộc Đại học California, Los Angeles (UCLA). Tuy nhiên, ở tuổi 20, ông còn nghiên cứu sinh học và sự tiến hóa của các loài chim New Guinea. Công việc này đã đưa ông thám hiểm một số vùng xa xôi nhất của hòn đảo nhiệt đới vĩ đại này, và phát hiện lại giống chim bower có vạt lông phía trước màu vàng bị cho là tuyệt chủng từ lâu ở New Guinea. Năm 50 tuổi, ông dần chuyển sang nghiên cứu lịch sử môi trường, và là Giáo sư Địa lý và Khoa học Sức khỏe Môi trường tại UCLA. Tuy theo học và có bằng tiến sĩ về sinh lý học, nhưng kiến thức của ông bao trùm hầu như mọi ngành: từ nhân loại học, sinh thái học, địa lý học đến sinh học tiến hóa. Ông cũng không phải là một học giả chỉ biết ngồi một chỗ nghiên cứu khi từng chu du nhiều châu lục, thậm chí sống nhiều năm ở những nơi tận cùng thế giới (như đảo New Guinea, đảo Phục Sinh). Ông cũng được xếp vào hàng ngũ những nhà tư tưởng hiện đại có nhiều ảnh hưởng nhất ở Mỹ.
Từ năm 1976, ông dấn thân vào một lĩnh vực hoàn toàn mới là viết các bài báo phổ biến khoa học để từ đó hình thành nên một Jared Diamond tiêu biểu cho nền văn hóa thứ ba - văn hóa phổ biến tri thức khoa học chuyên sâu cho cộng đồng - bằng cách thu thập, hệ thống và giải thích những thông tin và tri thức chọn lọc trong lĩnh vực sinh học, địa lý, sử học, môi trường, v.v… Năm 2005, Diamond được xếp hạng thứ chín trong một cuộc thăm dò top 100 nhà trí thức công chúng trên thế giới của hai tạp chí Prospect và Foreign Policy.
== Thiếu thời và giáo dục ==
Diamond chào đời tại Boston, Massachusetts. Cha mẹ ông đều xuất thân từ những gia đình Đông Âu gốc Do Thái đã di cư sang Mỹ. Cha của ông, Louis Diamond, là một bác sĩ chuyên về bệnh di truyền ở trẻ em, và mẹ, Flora Kaplan, là một giáo viên, nhà ngôn ngữ học kiêm nghệ sĩ piano. Từ nhỏ, ông đã ưa được đắm mình trong thiên nhiên và say mê quan sát. Khuynh hướng nghiên cứu sinh học - địa lý - môi trường của ông đã được hình thành từ rất sớm cùng với năng khiếu bẩm sinh về ngoại ngữ. Khi tốt nghiệp đại học, ông đã có thể sử dụng thông thạo 7 thứ tiếng và vào năm 2005, ông đang học ngoại ngữ thứ 12. Diamond bắt đầu tự học piano ở tuổi lên sáu; những năm sau này ông đưa ra lời cầu hôn với vợ mình sau khi chơi bản Brahms Intermezzo bậc A cho bà nghe. Ông theo học trường Roxbury Latin School và lấy được bằng Cử nhân nghệ thuật ngành nhân chủng học và lịch sử từ Đại học Harvard vào năm 1958 và bằng Tiến sĩ về sinh lý học và lý sinh của màng trong túi mật từ trường Trinity College, Đại học Cambridge năm 1961.
== Sự nghiệp ==
Sau khi tốt nghiệp Cambridge, Diamond quay trở về Harvard làm Hội viên bậc dưới cho đến năm 1965. Ông bảo vệ luận án Tiến sỹ Sinh lý học thực nghiệm vào năm 1962 và vào năm 1968, trở thành Giáo sư Sinh lý học tại trường Y khoa UCLA. Đương khi ở độ tuổi 20 ông đã phát triển một sự nghiệp song song thứ hai về điểu cầm học và sinh thái học, chuyên về New Guinea và các đảo lân cận. Về sau, ở tuổi trung niên, Diamond phát triển một sự nghiệp thứ ba về lịch sử môi trường và trở thành giáo sư địa lý học ở UCLA, chức vụ hiện tại của ông. Ông cũng giảng dạy tại trường LUISS Guido Carliở Roma. Diamond đoạt Huy chương Khoa học Quốc gia năm 1999 và trường Đại học Tiểu bang Westfield đã phong tặng học vị Tiến sĩ danh dự cho ông vào năm 2009.
Diamond lúc đầu chuyên về hấp thụ muối trong túi mật. Ông còn xuất bản những công trình học thuật trong các lĩnh vực sinh thái học và điểu cầm học, nhưng lại nổi tiếng nhất vì là tác giả của một số đầu sách khoa học phổ thông kết hợp các chủ đề từ nhiều lĩnh vực khác hơn so với những chủ đề mà ông chính thức nghiên cứu. Do sự đa dạng học thuật này, Diamond từng được mô tả là một nhà bác học.
== Tác phẩm ==
Cuốn sách đầu tiên của Diamond có tựa đề Loài tinh tinh thứ ba: Sự tiến hoá và tương lai của loài người xuất bản vào năm 1991, khảo sát quá trình tiến hóa của nhân loại và sự liên quan của nó với thế giới hiện đại, kết hợp bằng chứng từ ngành nhân chủng học, sinh học tiến hóa, di truyền học, sinh thái học, và ngôn ngữ học. Lần theo dấu vết con người đã tiến hóa như thế nào trông khác hẳn so với các loài động vật khác, mặc dù chia sẻ hơn 98% DNA với loài tinh tinh có họ hàng gần gũi nhất. Tác phẩm còn xem xét nguồn gốc ngôn ngữ, nghệ thuật, nông nghiệp, hút thuốc lá và sử dụng ma túy, và các đặc tính khác có vẻ như là duy nhất của loài người. Tác phẩm này đã được sự đón nhận của giới phê bình và đoạt giải thưởng Sách Khoa học Rhône-Poulenc năm 1992 và giải thưởng Sách Los Angeles Times.
Cuốn sách khoa học phổ thông thứ hai và nổi tiếng nhất của ông là Súng, vi trùng và thép: Định mệnh của các xã hội loài người được xuất bản vào năm 1997. Tác phẩm nêu lên câu hỏi tại sao người Á-Âu đã chinh phục và thay thế người Mỹ bản địa, người Úc và người châu Phi, thay vì ngược lại. Nó lập luận rằng kết quả này không phải do lợi thế sinh học của bản thân các dân tộc Á-Âu mà thay vào đó là các đặc trưng của lục địa Á-Âu, nhất là sự đa dạng cao độ của các loài thực vật và động vật hoang dã phù hợp với việc thuần hóa và trục chính Đông/Tây của nó đã giúp cho sự lây lan những loài động vật thuần hóa, con người và công nghệ cho khoảng cách dài với rất ít thay đổi theo vĩ tuyến. Phần đầu tiên của cuốn sách tập trung vào lý do tại sao chỉ có một số ít các loài thực vật và động vật hoang dã đã chứng minh phù hợp với sự thuần hóa. Phần thứ hai thảo luận về cách địa phương sản xuất thực phẩm dựa trên những loài động vật thuần hóa dẫn đến sự phát triển quần thể dày đặc và phân tầng dân số loài người, văn tự, tổ chức chính trị tập trung, và các bệnh dịch truyền nhiễm. Phần thứ ba so sánh sự phát triển của sản xuất lương thực và của xã hội loài người trong các châu lục và khu vực khác nhau trên thế giới. Súng, vi trùng và thép đa trở thành cuốn sách bán chạy nhất trên thế giới, được dịch ra 33 thứ tiếng và nhận được nhiều giải thưởng, trong đó có một giải Pulitzer, một giải thưởng Sách Khoa học Aventis và giải thưởng Khoa học Phi Beta Kappa năm 1997. Một bộ phim tài liệu truyền hình nhiều tập dựa trên cuốn sách đã được Hiệp hội Địa lý Quốc gia sản xuất vào năm 2005.
Trong cuốn sách thứ ba của ông nhan đề Tại sao tình dục lại thú vị? cũng được xuất bản vào năm 1997, Diamond thảo luận về các yếu tố tiến hóa cơ bản các đặc tính về tình dục của con người mà nhìn chung được coi là đương nhiên nhưng lại rất bất thường giữa những loài động vật họ hàng. Những đặc tính này bao gồm mối quan hệ cặp đôi dài lâu (hôn nhân), cùng tồn tại các cặp đôi hợp tác về mặt kinh tế trong một nơi được chia sẻ chung, cung cấp các dịch vụ chăm sóc cha mẹ bởi những ông bố cũng như các bà mẹ, quan hệ tình dục ở chốn riêng tư chứ không phải là ở nơi công cộng, giai đoạn rụng trứng trong, tính cảm thụ tình dục của phụ nữ bao gồm hầu hết chu kỳ kinh nguyệt (cả những ngày vô sinh), sự mãn kinh ở phụ nữ chứ không phải nam giới và đặc điểm sinh dục thứ cấp đặc biệt. Ngoài ra, những đặc điểm quan trọng làm nên sự khác thường nơi đời sống tình dục của con người theo tác giả, chung quy là: vai trò của đàn ông trong xã hội loài người khác con đực của những loài khác; chu kỳ kinh và sự mãn kinh ở phụ nữ khác với con cái những loài khác; sự phát triển của bộ ngực phụ nữ và đời sống quan hệ tình dục riêng tư ở loài người có lý lẽ của nó và con người khác đa số động vật ở chỗ: coi tình dục tạo ra lạc thú chứ không dừng lại ở sự truyền giống.
Cuốn sách tiếp theo của Diamond mang tên Sụp đổ: Các xã hội đã thất bại hay thành công như thế nào được xuất bản vào năm 2005, khảo sát hàng loạt các xã hội vừa qua trong một nỗ lực nhằm xác định tại sao họ lại sụp đổ hoặc tiếp tục phát triển và xem xét xã hội đương thời có thể học hỏi được điều gì từ những ví dụ lịch sử. Như trong Súng, vi trùng và thép, ông lập luận chống lại những lời giải thích cho sự thất bại của các xã hội vừa qua chủ yếu dựa vào các yếu tố văn hóa, thay vì tập trung vào hệ sinh thái. Những xã hội được đề cập trong cuốn sách gồm người Bắc Âu và dân Inuit ở Greenland, Maya, Anasazi, thổ dân đảo Rapa Nui (Đảo Phục Sinh), Nhật Bản, Haiti, Cộng hòa Dominican, và Montana ngày nay. Cuốn sách này kết luận bằng cách hỏi lý do tại sao một số xã hội lại đưa ra những quyết định đầy tai hại, làm thế nào các doanh nghiệp lớn gây ảnh hưởng đến môi trường, những vấn đề môi trường chính của chúng ta là ngày hôm nay, và cá nhân có thể làm gì về những vấn đề như thế này. Giống như quyển Súng, vi trùng và thép, Sụp đổ đã được dịch ra hàng chục thứ tiếng, trở thành sách bán chạy nhất trên thế giới, và là cơ sở của một bộ phim tài liệu truyền hình được sản xuất bởi Hiệp hội Địa lý Quốc gia. Tác phẩm này còn được đề cử Giải thưởng Sách Khoa học Hội Hoàng gia.
Năm 2008, Diamond cho đăng một bài báo trên tờ The New Yorker nhan đề "Báo thù là của chúng ta", mô tả vai trò của sự trả thù trong chiến tranh bộ lạc ở Papua New Guinea. Một năm sau đó, hai người dân bản địa được đề cập trong bài viết đã đệ đơn kiện chống lại Diamond và tờ The New Yorker tuyên bố rằng bài báo này đã phỉ báng họ. Năm 2013, tờ The Observer tường thuật rằng vụ kiện "đã được rút lại bởi sự đồng ý lẫn nhau sau cái chết đột ngột của vị luật sư của họ."
Năm 2010, Diamond đồng chủ biên (với James Robinson) tác phẩm Những thí nghiệm tự nhiên trong lịch sử, kể về bảy trường hợp nghiên cứu minh họa cách tiếp cận đa ngành và so sánh với các nghiên cứu về lịch sử mà ông ủng hộ. Tiêu đề của cuốn sách bắt nguồn từ thực tế là không thể nghiên cứu lịch sử bằng các phương pháp ưa thích của những ngành khoa học trong phòng thí nghiệm, tức là, bởi các thí nghiệm đối chứng so sánh xã hội con người được nhân rộng như thể chúng là những ống nghiệm chứa vi khuẩn. Thay vào đó, người ta phải nhìn vào các thí nghiệm tự nhiên mà xã hội loài người tương tự ở nhiều khía cạnh đã bị xáo trộn về mặt lịch sử, hoặc bởi các điều kiện khởi đầu khác nhau hoặc bằng cách tác động khác nhau. Lời bạt của cuốn sách phân loại các thí nghiệm tự nhiên, thảo luận về những khó khăn thực tế trong việc nghiên cứu về chúng, và đưa ra các gợi ý cách giải quyết những khó khăn này.
Tác phẩm gần đây nhất của Diamond là Thế giới cho đến ngày hôm qua, được xuất bản vào năm 2012, yêu cầu thế giới phương Tây có thể học hỏi nhiều điều từ các xã hội truyền thống. Cuốn sách khảo sát 39 xã hội truyền thống có quy mô nhỏ gồm những người nông dân và thợ săn bắt-hái lượm với sự lưu ý về việc họ giải quyết các vấn đề chung của nhân loại như thế nào. Các vấn đề thảo luận bao gồm chia tách không gian, giải quyết tranh chấp, nuôi dưỡng trẻ em, phép trị bệnh của già làng, đối phó với những nguy hiểm, xây dựng các tôn giáo, học hỏi nhiều thứ tiếng, và giữ cho cơ thể được khỏe mạnh. Cuốn sách này gợi lên một số tập quán của những xã hội truyền thống có thể được các cá nhân hoặc toàn xã hội tiếp nhận một cách hữu ích vào trong thế giới công nghiệp hiện đại ngày nay.
== Quan điểm ==
Từ khoảng đầu thập niên 90 đến nay, Jared Diamond bị nung nấu bởi một câu hỏi: Sau hơn 13.000 năm lịch sử, tại sao sự phát triển của các giống dân trên thế giới đã trở thành quá khác nhau như ngày nay? Theo Diamond, các nhà viết sử (ít ra ở phương Tây) đã phạm một lỗi lầm vì họ đã nhìn không đúng khuôn mặt lịch sử của loài người. Cụ thể, họ chỉ chú trọng vào các xã hội tương đối văn minh (ít nhất là có chữ viết) ở Âu-Á và Bắc Phi, và ngay trong dòng sử của lục địa Âu-Á, họ lại chỉ tập trung vào phía Tây, ít chú ý đến các quốc gia phía Đông (nổi bật là Trung Quốc, nhưng kể cả Nhật Bản và Đông Nam Á). Hơn nữa, phần lớn sử ký hiện nay là chỉ nhìn vào khoảng 3.000 năm sau này, dù rằng khoảng thời gian đó chỉ là 0,1% trong chiều dài 5 triệu năm loài người có mặt trên trái đất. Theo Diamond, nhờ những tiến bộ như sinh vật học phân tử, di truyển học, sinh địa lý, khảo cổ học, và ngôn ngữ học, đã đến lúc có thể giải thích sự khác biệt về trình độ phát triển giữa các nước. Một khía cạnh khác cũng lý thú không kém khi những giải thích của Jared Diamond dẫn đến một gợi ý về tương lai của khoa lịch sử loài người cần được xem một ngành khoa học. Lịch sử thường được coi là một ngành nhân văn hay giỏi lắm chỉ là một ngành khoa học xã hội hơn là một ngành khoa học thực thụ. Có lẽ đã đến lúc cần một cái nhìn khác cho khoa học lịch sử. Bản thân từ "khoa học" vốn có nghĩa là tri thức, cái tri thức mà người ta đạt được bằng bất cứ phương pháp nào phù hợp nhất với từng lĩnh vực. Ngay gần cuối cuốn Sụp đổ: Các xã hội đã thất bại hay thành công như thế nào, Jared Diamond đã viết:
Những người thất vọng bởi ý nghĩ như vậy [vấn đề môi trường toàn cầu lớn] thường hỏi tôi, "Jared, ông là người lạc quan hay bi quan trước tương lai của thế giới?" Tôi trả lời, "Tôi là người lạc quan thận trọng." Đó là bởi tôi muốn nói rằng, một mặt tôi thừa nhận sự nghiêm trọng của những vấn đề mà chúng ta đang phải đối mặt. Nếu chúng ta không nỗ lực giải quyết chúng, và nếu nỗ lực của chúng ta không thành công, thì chỉ vài thập kỷ tới, cả thế giới sẽ phải đối mặt với tình trạng điều kiện sống suy thoái, hay có thể còn tồi tệ hơn. Đó là lý do vì sao tôi quyết định dành phần đời còn lại của mình để thuyết phục mọi người rằng cần xem xét nghiêm túc những vấn đề của chúng ta và đừng vì lý do gì mà bỏ qua chúng. Mặt khác, tôi tin chúng ta có thể giải quyết được các vấn đề của mình nếu chúng ta quyết định như vậy.
== Đời tư ==
Diamond kết hôn với Marie Cohen, cháu gái của chính trị gia Ba Lan Edward Werner. Họ có hai đứa con trai sinh đôi, chào đời năm 1987.
== Hội đoàn ==
Ban biên tập của Tạp chí Hoài nghi, một ấn phẩm của Hội Những người hoài nghi.
Thành viên của Hội Triết học Mỹ.
Thành viên của Viện Khoa học và Nghệ thuật Mỹ.
Thành viên của Viện hàn lâm Khoa học Quốc gia.
Giám đốc khu vực nước Mỹ của Quỹ Quốc tế Bảo vệ Thiên nhiên.
== Phần thưởng và danh hiệu ==
== Tác phẩm chọn lọc ==
1992: Loài tinh tinh thứ ba: Sự tiến hoá và tương lai của loài người (ISBN 0-06-098403-1-).
1997: Tại sao tình dục lại thú vị? (ISBN 0-465-03127-7-).
1997: Súng, vi trùng và thép: Định mệnh của các xã hội loài người (ISBN 978-0-099-30278-0). Còn được xuất bản với tựa đề Súng, vi trùng và thép: Lược sử 13.000 năm trước dành cho tất cả mọi người (ISBN 978-0099302780).
2005: Sụp đổ: Các xã hội đã thất bại hay thành công như thế nào? (ISBN 978-0241958681).
2010: Những thí nghiệm tự nhiên trong lịch sử, với James A. Robinson (ISBN 0-674-03557-7).
2012: Thế giới cho đến ngày hôm qua: Chúng ta có thể học hỏi được gì từ những xã hội truyền thống? (ISBN 978-0141024486).
2015: Loài tinh tinh thứ ba dành cho giới trẻ: Sự tiến hoá và tương lai của loài người (ISBN 9781609806118).
=== Bản dịch tiếng Việt ===
Loài tinh tinh thứ ba: Sự tiến hoá và tương lai của loài người, Nguyễn Thủy Chung - Nguyễn Kim Nữ Thảo dịch, Nhà xuất bản Tri Thức, 2007.
Súng, vi trùng và thép: Định mệnh của các xã hội loài người, Trần Tiễn Cao Đăng dịch, Nhà xuất bản Tri Thức, 2007, tái bản 2010, tái bản 2012, tái bản 2015.
Sụp đổ: Các xã hội đã thất bại hay thành công như thế nào?, Hà Trần dịch, Nhà xuất bản Tri Thức, 2007, tái bản 2010, tái bản 2012, tái bản 2015.
Tại sao tình dục lại thú vị?, Nguyễn Thủy Chung dịch, Nhà xuất bản Tri Thức, 2010.
Thế giới cho đến ngày hôm qua: Chúng ta có thể học hỏi được gì từ những xã hội truyền thống?, Hồ Trung dịch, Nhà xuất bản Thế giới, 2015.
== Xem thêm ==
Quy tắc hội nghị lập pháp
Thuyết định mệnh môi trường
Danh sách ấn phẩm quan trọng trong ngành nhân học
== Tham khảo ==
== Liên kết ngoài ==
Website cá nhân
Trang web của Diamond tại Khoa Địa lý UCLA
UCLA Spotlight – Jared Diamond
Jared Diamond với tiểu sử, hội thoại, podcast tại The Third Culture, (Edge Foundation)
Jared Diamond: Tại sao các xã hội sụp đổ? (TED2003)
Jared Diamond: Làm thế nào các xã hội có thể phát triển tốt hơn cái cũ (TED2013)
Sụp đổ: Các xã hội đã thất bại hay thành công như thế nào? tại Viện Trái Đất trường Đại học Columbia, tháng 4 năm 2007
Sự phát triển của các tôn giáo trên YouTube tại Trung tâm Tôn giáo và Văn hoá Công dân, Đại học Nam California
PBS – Súng, vi trùng và thép trên PBS (với bảng sao đầy đủ)
chúng ta có thể học hỏi được những gì từ các xã hội truyền thống? tại Viện Hoàng gia Luân Đôn, tháng 10 năm 2013
Hammer đối thoại với Jared Diamond và John Long, Bảo tàng Hammer, ngày 16 tháng 3 năm 2010
Phỏng vấn với Charlie Rose
Phỏng vấn với Jared Diamond và James A. Robinson về Những thí nghiệm tự nhiên trong lịch sử tại New Books in History
Jared Diamond tại Internet Movie Database |
đồng thau.txt | Đồng thau là hợp kim của đồng và kẽm. Tỷ lệ pha chế giữa đồng và kẽm cho ta một loạt các đồng thau đa dạng khác nhau.
Đồng thau có một màu vàng, đôi khi khá giống màu của vàng, nó có thể duy trì được độ sáng bóng trong điều kiện môi trường bình thường, nên chúng được làm ra các đồ trang trí, hay làm tiền xu.
Đồng thau được người tiền sử biết đến khá sớm, trước rất lâu khi con người tìm ra kẽm. Đồng thau là sản phẩm đồng hành trong quặng calamin, là một khoáng vật chứa kẽm và đồng. Trong quá trình nấu chảy quặng calamin, kẽm được tách ra và hòa lẫn vào đồng tạo thành đồng thau tự nhiên. Kẽm trong đồng thau đã giúp cho điểm nóng chảy của đồng thau thấp xuống đáng kể, tăng tính đúc vì vậy đã cho ra những sản phẩm có vẻ đẹp sắc sảo, cũng như giữ được màu sắc trường tồn.
== Công dụng ==
Đồng thau là một hợp kim thay thế, được ứng dụng nhiều vào các lĩnh vực như đồ trang trí, vật liệu hàn, thiết bị điện, các loại đầu đạn súng cá nhân, và rất nhiều các nhạc cụ hơi...
== Ca dao Việt Nam ==
Trong ca dao Việt Nam có câu:
Thật vàng chẳng phải thau đâu
Xin đừng thử lửa thêm đau lòng người.
Ý rằng, đồng thau có màu vàng giống như chất vàng nên kẻ gian trá có thể đánh tráo thau làm vàng. Muốn biết thau hay vàng thì đem hơ lửa. Thau sẽ bị biến màu do oxi hóa, còn vàng thì không.
== Chú thích ==
== Xem thêm ==
Đồng đỏ
Đồng điếu
Đồng đen |
tây bengal.txt | Tây Bengal (tiếng Bengal: পশ্চিমবঙ্গ, phát âm tiếng Bengal: [pɔʃtʃimbɔŋɡɔ], nghĩa là "tây bộ Bengal") là một bang tại khu vực đông bộ của Ấn Độ. Đây là bang đông dân thứ tư toàn quốc, với trên 91 triệu dân theo số liệu năm 2011. Tây Bengal có diện tích 34.267 sq mi (88.750 km2), có biên giới quốc tế với Bangladesh, Nepal và Bhutan, và có biên giới quốc nội với các bang Odisha, Jharkhand, Bihar, Sikkim, và Assam. Thủ phủ của bang là Kolkata. Tây Bengal cùng với quốc gia Bangladesh láng giềng và nhiều khu vực của bang Tripura hình thành khu vực dân tộc-ngôn ngữ Bengal.
Bengal cổ đại là nơi có một số vương quốc Vệ Đà lớn. Sau đó, khu vực trở thành bộ phận của các đế quốc lớn như Maurya và Gupta; rồi thuộc về các quốc gia Pala và Sena. Từ thế kỷ 13 trở đi, khu vực nằm dưới quyền cai trị của một vài sultan, quốc vương Ấn Độ giáo và địa chủ Baro-Bhuyan, kéo dài đến khi người Anh bắt đầu cai trị vào thế kỷ 18. Công ty Đông Ấn Anh củng cố sự chiếm giữ trong khu vực sau trận Plassey vào năm 1757, và Calcutta đóng vai trò là thủ đô của Ấn Độ thuộc Anh trong nhiều năm. Việc khu vực tiếp xúc sớm và kéo dài với sự cai trị của người Anh khiến cho giáo dục phương Tây được khoách trương, nhất là trong phát triển khoa học, cơ cấu giáo dục, và các cải cách xã hội. Bengal là một điểm nóng của phong trào độc lập Ấn Độ vào đầu thế kỷ 20, và bị phân chia khi Ấn Độ độc lập vào năm 1947 theo ranh giới tôn giáo thành hai thực thể riêng biệt: Tây Bengal là một bang của Ấn Độ, và Đông Bengal là bộ phận của Quốc gia tự trị Pakistan mới hình thành và đến năm 1971 thì trở thành quốc gia Bangladesh độc lập.
Tây Bengal là một khu vực lớn về sản xuất nông nghiệp, đóng góp nhiều thứ sáu vào tổng sản phẩm quốc nội ròng của Ấn Độ. Hoạt động chính trị tại Tây Bengal được chú ý, trong giai đoạn 1977-2011 bang nằm dưới quyền cai trị của chính phủ cộng sản được bầu cử theo hình thức dân chủ. Bang cũng được chú ý bởi các hoạt động văn hóa và sự hiện diện của các cơ cấu văn hóa và giáo dục; thành phố Kolkata được xem là "thủ đô văn hóa của Ấn Độ". Ngoài các truyền thống dân gian đa dạng, di sản văn hóa của bang còn bao gồm các nhân vật cừ khôi trong văn chương như Rabindranath Tagore cùng các nhạc sĩ, nhà làm phim và họa sĩ. Khác biệt với hầu hết các bang khác tại Ấn Độ, người dân Tây Bengal thưởng thức và luyện tập chơi bóng đá bên cạnh môn thể thao được ưa thích nhất toàn quốc là cricket.
== Từ nguyên ==
Nguồn gốc tên gọi Bengal (gọi là Bangla hay Bongo trong tiếng Bengal) chưa rõ. Một thuyết cho rằng từ này bắt nguồn từ "Bang", một bộ lạc Dravida định cư trong khu vực vào khoảng 1000 TCN.
== Lịch sử ==
Tại Tây Bengal, người ta khai quật được các công cụ thời kỳ đồ đá có niên đại từ 20.000 năm trước. Khu vực là một bộ phận của Vương quốc Vanga, một vương quốc cổ đại của Ấn Độ thời sử thi. Vương quốc Magadha được hình thành vào thế kỷ 7 TCN, lãnh thổ gồm có các khu vực Bihar và Bengal. Đây là một trong bốn vương quốc chủ yếu của Ấn Độ trong thời kỳ của Mahavira và Thích Ca Mâu Ni, và gồm có vài Janapada, hay lãnh địa/vương quốc Vệ Đà.
Một trong số những tham khảo ngoại quốc sớm nhất về Bengal là trong một đề cập đến một vùng đất tên là Gangaridai bởi người Hy Lạp cổ đại vào khoảng năm 100 TCN. Từ này được suy đoán là bắt nguồn từ Gangahrd (vùng đất có sông Hằng nằm ở giữa) khi chỉ dẫn đến một khu vực tại Bengal. Bengal có các quan hệ mậu dịch hải ngoại với Suvarnabhumi (nay thuộc Myanmar, Thái Lan, Malaysia, và Sumatra). Theo sách Mahavamsa, một vương tử của Vanga là Vijaya Singha chinh phục Lanka (Sri Lanka hiện đại) và đặt tên "Sinhala" cho quốc gia.
Sau một giai đoạn hỗn loạn, triều đại Pala Phật giáo cai trị khu vực trong bốn trăm năm, tiếp đến là giai đoạn cai trị ngắn ngủi của triều đại Sena Ấn Độ giáo. Rajendra Chola I của triều đại tại Nam Ấn từng xâm chiếm một số khu vực tại Bengal từ năm 1021 đến năm 1023. Hồi giáo xuất hiện lần đầu tiên tại Bengal trong thế kỷ 12 khi các nhà truyền giáo phái Sufi đến. Từ năm 1202 đến năm 1206, một sĩ quan của Vương quốc Hồi giáo Delhi là Bakhtiar Khilji tràn qua Bihar và Bengal xa về phía đông đến Rangpur, Bogra và sông Brahmaputra. Mặc dù không đưa được Bengal nằm dưới quyền kiểm soát của mình, song cuộc viễn chinh của Bakhtiar Khilji khiến cho Quốc vương của Sena và hai người con trai của ông ta phải chuyển đến một cung điện nay thuộc huyện Munshiganj của Bangladesh, quyền lực của họ suy giảm cho đến cuối thế kỷ 13.
Trong thế kỷ 14, vương quốc cũ được biết đến với tên gọi Vương quốc Hồi giáo Bengal, cai trị không liên tục cùng với Vương quốc Hồi giáo Delhi cũng như các quốc gia Ấn Độ giáo và địa chủ Baro-Bhuyan hùng mạnh. Vương quốc Deva cai trị đông bộ Bengal sau khi Sena sụp đổ. Vương quốc Hồi giáo Bengal gián đoạn do một cuộc nổi dậy của những người Ấn Độ giáo dưới quyền Raja Ganesha. Triều đại Ganesha bắt đầu vào năm 1414, song những người kế vị của ông sau đó cải sang Hồi giáo. Bengal một lần nữa nằm dưới quyền kiểm soát của triều đình Delhi khi Đế quốc Mogul chinh phục khu vực vào năm 1576. Có vài quốc gia Ấn Độ giáo độc lập được thành lập tại Bengal trong thời kỳ Mogul như Maharaja Pratap Aditya của Jessore và Raja Sitaram Ray của Burdwan. Các vương quốc này có đóng to lớn vào cảnh sắc kinh tế và văn hóa của Bengal, là những bức tường thành chống lại các cuộc tiến công của Bồ Đào Nha và Miến Điện. Vương quốc Koch Bihar tại bắc bộ Bengal trở nên thịnh vượng trong thế kỷ 16 và 17, chiến thắng trước người Mogul và tồn tại cho đến thời người Anh cai trị.
Các thương nhân châu Âu đến Bengal vào cuối thế kỷ 15, ảnh hưởng của họ tăng lên cho đến khi Công ty Đông Ấn Anh giành được quyền đánh thuế tại tỉnh (subah) Bengal sau trận Plassey vào năm 1757, khi Nawab Siraj ud-Daulah chiến bại trước người Anh. Khu quản hạt Bengal được thành lập vào năm 1765, cuối cùng bao gồm toàn bộ các lãnh thổ của Anh tại phía bắc của tỉnh Trung Bộ (nay là Madhya Pradesh), từ các cửa của sông Hằng và sông Brahmaputra đến dãy Himalaya và Punjab. Nạn đói Bengal năm 1770 được cho là khiến hàng triệu người thiệt mạng. Năm 1772, Calcutta được xác định là thủ đô của Ấn Độ thuộc Anh. Các phong trào cải cách xã hội-văn hóa Phục hưng Bengal và Brahmo Samaj có tác động lớn đến sinh hoạt văn hóa và kinh tế của Bengal. Cuộc nổi dậy Ấn Độ năm 1857 bắt đầu gần Calcutta và kết quả là chuyển giao quyền lực cho Vương thất Anh, do Phó vương Ấn Độ cai quản. Từ năm 1905 đến năm 1911, diễn ra một nỗ lực nhằm phân tỉnh Bengal thành hai khu, song thất bại. Ước tính có ba triệu người thiệt mạng trong nạn đói Bengal năm 1943.
Bengal đóng một vai trò trọng đại trong phong trào độc lập Ấn Độ, trong đó các nhóm cách mạng như Anushilan Samiti và Jugantar chiếm ưu thế. Các nỗ lực vũ trang chống lại chính phủ Ấn Độ thuộc Anh từ Bengal lên đến một đỉnh cao khi Subhas Chandra Bose lãnh đạo Quân đội Quốc dân Ấn Độ chống lại người Anh từ Đông Nam Á. Khi Ấn Độ giành được độc lập vào năm 1947, Bengal bị phân chia theo ranh giới tôn giáo, phần phía tây thuộc Ấn Độ (va được đổi tên thành Tây Bengal) trong khi phần phía đông gia nhập Pakistan với địa vị một tỉnh và được gọi là Đông Bengal (sau đổi tên thành Đông Pakistan). Năm 1950, Phiên vương quốc Koch Bihar hợp nhất với West Bengal. Năm 1955, cựu thuộc địa Chandannagar của Pháp (Ấn Độ kiểm soát sau năm 1950) được tích hợp với Tây Bengal; một số phần của Bihar sau đó được hợp nhất với Ttây Bengal. Cả Tây và Đông Bengal chứng kiến qua dòng người tị nạn lớn trong và sau khi phân chia vào năm 1947. Định cư những người tị nạn và các vấn đề liên quan tiếp tục đóng vai trò quan trọng trong điều kiện chính trị và xã hội-kinh tế của bang.
Trong các thập niên 1970 và 1980, tình trạng thiếu điện nghiêm trọng, các vụ đình công và một phong trào Marxist-Naxalite bạo lực gây nhiều thiệt hại cho cơ sở hạ tầng của bang, kéo theo một giai đoạn kinh tế đình trệ. Chiến tranh giải phóng Bangladesh năm 1971 khiến cho hàng triệu người tị nạn đến Tây Bengal, khiến cơ sở hạ tầng của bang bị quá tải nghiêm trọng. Chính trị Tây Bengal trải qua một sự thay đổi lớn khi Mặt trận Cánh Tả giành chiến thắng trong cuộc bầu cử nghị viện bang vào năm 1977, đánh bại Đảng Quốc Đại đang cầm quyền. Mặt trận Cánh Tả do Đảng Cộng sản Ấn Độ (Marxist) dẫn đầu đã cầm quyền tại Tây Bengal trong ba thập niên sau đó.
== Địa lý và khí hậu ==
Tây Bengal nằm ở cổ chai phía đông của Ấn Độ, trải dài từ dãy Himalaya ở phía bắc đến vịnh Bengal ở phía nam. Bang có tổng diện tích là 88.752 kilômét vuông (34.267 sq mi). Khu vực đồi Himalaya Darjeeling ở cực bắc của bang thuộc phần phía đông của dãy Himalaya. Khu vực này có đỉnh Sandakfu (3.636 m hoặc 11.929 ft), là đỉnh cao nhất của bang. Vành đai Terai chia tách khu vực đồi này với các khu vực đồng bằng, dần chuyển tiếp sang đồng bằng châu thổ sông Hằng ở phía nam. Khu vực Rarh xen giữa đồng bằng châu thổ sông Hằng ở phía đông và các cao nguyên và cao địa phía tây. Một khu vực ven biển nhỏ nằm ở cực nam, trong khi rừng ngập mặn Sundarban tạo thành một dấu mốc địa lý đáng chú ý tại đồng bằng châu thổ sông Hằng.
Sông Hằng là sông chính tại tây Bengal, sông phân lưu tại bang. Một nhánh chảy vào Bangladesh với tên gọi Padma hay Pôdda, nhánh khác chảy qua Tây Bengal được gọi là sông Bhagirathi hay sông Hooghly. Đập nước Farakka trên sông Hằng cung cấp nước cho nhánh Hooghly qua một kênh nhánh, và quản lý lưu lượng nước là một nguồn gây tranh chấp kéo dài giữa Ấn Độ và Bangladesh. Các sông Teesta, Torsa, Jaldhaka và Mahananda nằm tại khu vực gò đồi phía bắc. Khu vực cao nguyên phía tây có các sông như Damodar, Ajay và Kangsabati. Đồng bằng châu thổ sông Hằng và khu vực rừng Sundarban có nhiều sông lạch. Ô nhiễm trên sông Hằng là một vấn đề lớn, bắt nguồn từ hành động đổ chất thải bừa bãi xuống sông. Sông Damodar là một chi lưu của sông Hằng và từng được gọi là "nỗi đau của Bengal" (do thường xuyên gây lụt), song một số đập được xây trên sông trong khuôn khổ Dự án Thung lũng Damodar. Có ít nhất chín huyện trong bang bị ô nhiễm asen nước ngầm, và một ước tính cho rằng 8,7 triệu người uống nước có chứa hàm lượng asen trên giới hạn khuyến cáo của Tổ chức Y tế Thế giới là 10 µg/L.
Khí hậu Tây Bengal thay đổi từ xa van nhiệt đới ở các phần thuộc nam bộ đến cận nhiệt đới ẩm ở phía bắc. Các mùa chính là mùa hạ, mùa mưa, một mùa thu ngắn, và mùa đông. Trong mùa hạ, vùng đồng bằng châu thổ có độ ẩm quá mức, các vùng cao nguyên phía tây trải qua một mùa hạ khô giống như bắc bộ Ấn Độ, với nhiệt độ cao nhất trong ngày dao động từ 38 °C (100 °F) đến 45 °C (113 °F). Vào ban đêm, có gió nhẹ mát thổi từ phía nam mang theo hơi ẩm từ vịnh Bengal. Vào đầu mùa hạ, các cơn gió mạnh và dông tố ngắn ngủi thường diễn ra, chúng được gọi là Kalbaisakhi, hay Nor'westers. Tây Bengal nhận được nhánh vịnh Bengal của gió mùa Ấn Độ Dương vốn di chuyển thẳng theo hướng tây bắc. Từ tháng 6 đến tháng 9, gió mùa mang mưa đến toàn bang. Trong thời gian có gió mùa, áp suất thấp tại khu vực vịnh Bengal thường gây ra dông tố tại các khu vực ven biển. Trong mùa đông, từ tháng 12 đến tháng 1, khí hậu ôn hòa tại vùng đồng bằng với nhiệt độ thấp nhất trong ngày trung bình là 15 °C (59 °F). Các cơn gió lạnh và khô từ phía bắc thổi đến trong mùa đông, khiến độ ẩm giảm đáng kể. Khu vực đồi Himalaya Darjeeling phải trải qua một mùa đông khắc nghiệt, thỉnh thoảng có tuyết rơi tại các địa điểm.
== Động thực vật ==
Năm 2009, diện tích rừng trong bang là 11.879 km2 (4.587 sq mi), tức chiếm 13,38% diện tích địa lý toàn bang, trong khi mức trung bình toàn quốc là 21,02%. Trong đó, rừng dự trữ, bảo hộ và không phân loại lần lượt chiếm 59,4%, 31,8% và 8,9%. Một bộ phận của rừng ngập mặn lớn nhất thế giới là Sundarban nằm tại nam bộ của Tây Bengal.
Xét theo quan điểm thực vật địa lý học, phần nam bộ của Tây Bengal có thể được phân thành hai khu vực: đồng bằng sông Hằng và rừng ngập mặn ven biển Sundarban. Đất phù sa của đồng bằng sông Hằng cộng với lượng mưa thuận lợi khiến cho khu vực này đặc biệt phì nhiêu. Phần lớn thực vật ở phần tây bộ của bang có hệ thực vật tương tự các thực vật của cao nguyên Chota Nagpur thuộc bang Jharkhand láng giềng. Loài cây trồng thương mại chiếm ưu thế là Shorea robusta, thường được gọi là sala. Khu vực ven biển Purba Medinipur có hệ thực vật ven biển; cây chiếm ưu thế là Casuarina. Loài cây đáng chú ý từ Sundarban là sundari (Heritiera fomes), tên của rừng bắt nguồn từ tên của loài cây này.
Phân bố thực vật tại bắc bộ Tây Bengal chịu ảnh hưởng của độ cao và lượng mưa. Ví dụ như các chân đồi của dãy Himalaya có cây cối rậm rạp với Sala và các cây thường xanh nhiệt đới khác. Tuy nhiên, ở độ cao trên 1.000 mét (3.300 ft) thì chủ yếu là rừng cận nhiệt đới. Huyện Darjeeling có độ cao trên 1.500 mét (4.900 ft), các loài cây rừng ôn đới như sồi, Thông, và đỗ quyên chiếm ưu thế.
Các khu vực bảo tồn chiếm 3,26% diện tích địa lý của Tây Bengal, gồm 15 khu bảo tồn loài hoang dã và 5 vườn quốc gia là vườn quốc gia Sundarban, khu bảo tồn hổ Buxa, vườn quốc gia Gorumara, vườn quốc gia Thung lũng Neora và vườn quốc gia Singalila. Những loài hoang dã vẫn tồn tại trong Tây Bengal gồm có tê giác Ấn Độ, voi Ấn Độ, hươu, báo hoa mai, bò tót, hổ, và cá sấu, cũng như nhiều loài chim. Nhiều loài chim di cư đến bang vào mùa đông. Những khu rừng nằm trên độ cao lớn của vườn quốc gia Singalila là nơi trú ẩn của mang, gấu trúc đỏ, Gazella bennettii, trâu rừng Tây Tạng, sơn dương, tê tê, Pericrocotus và Lophura leucomelanos. Vườn quốc gia Sundarban có một dự án bảo tồn loài hổ Bengal đang gặp nguy hiểm, song trong các khu rừng còn có nhiều loài bị đe dọa khác, như cá heo sông Hằng, rùa nước ngọt và cá sấu cửa sông. Rừng ngập mặn cũng đóng vai trò là một nơi nuôi cá tự nhiên, cấp dưỡng cho các loài cá ven biển dọc theo vịnh Bengal. Khu vực Sundarban được tuyên bố là một khu dự trữ sinh quyển do có giá trị bảo tồn đặc biệt.
== Chính phủ và chính trị ==
Tương tự như các bang khác tại Ấn Độ, Tây Bengal được quản lý theo một thể chế nghị hội dân chủ đại nghị. Các cư dân trong bang được trao quyền tuyển cử phổ thông. Nghị viện Tây Bengal gồm có các thành viên được bầu và các quan chức đặc biệt như Chủ tịch nghị viện và Phó Chủ tịch nghị viện do các thành viên bầu ra. Bộ máy tư pháp gồm có Tòa án Tối cao Calcutta và một hệ thống tòa án cấp dưới. Quyền hành pháp được trao cho Hội đồng bộ trưởng, đứng đầu hội đồng này là Thủ tịch bộ trưởng (Chief Minister), song người đứng đầu chính phủ trên danh nghĩa là Thống đốc (Governor). Thống đốc là nguyên thủ của bang, và do Tổng thống Ấn Độ bổ nhiệm. Lãnh đạo của đảng hay liên minh chiếm đa số trong nghị viện sẽ được Thống đốc bổ nhiệm làm Thủ tịch bộ trưởng, Thống đốc bổ nhiệm các thành viên của Hội đồng bộ trưởng theo cố vấn của Thủ tịch bộ trưởng. Hội đồng bộ trưởng phải tường trình trước Nghị viện. Nghị viện Tây Bengal theo thể chế đơn viện, với 295 nghị viên, trong đó có một nghị viên được chỉ định từ cộng đồng Anh-Ấn. Các nghị viên có nhiệm kỳ 5 năm, trừ khi nghị viện bị giải tán trước khi hoàn tất nhiệm kỳ. Các cơ quan phụ trợ được gọi là panchayat, hình thành sau các cuộc tuyển cử cơ cấu địa phương được tổ chức thường xuyên, quản lý sự vụ địa phương. Tây Bengal được phân 42 ghế trong Lok Sabha và 16 ghế trong Rajya Sabha của Quốc hội Ấn Độ.
Các đấu thủ chính trong chính trị địa phương là Đại hội Đại biểu cơ sở Toàn Ấn (AITMC), Đảng Quốc Đại Ấn Độ, liên minh Mặt trận Cánh Tả (dẫn đầu là Đảng Cộng sản Ấn Độ (Marxist)). Sau tuyển cử nghị viện bang Tây Bengal năm 2011, liên minh của Đại hội Đại biểu cơ sở Toàn Ấn và Đảng Quốc Đại dưới quyền Mamata Banerjee của AITMC giành được đa số tại nghị viện và nắm quyền. Tây Bengal nằm dưới quyền cai trị của Mặt trận Cánh Tả trong 34 năm (1977–2011), khiến nó trở thành chính phủ cộng sản được bầu cử dân chủ nắm quyền liên tục lâu nhất thế giới.
== Phân chia ==
Dưới đây là danh sách các huyện tại Tây Bengal, xếp theo thứ hạng dân số tại Ấn Độ.
Huyện trưởng là người cai quản mỗi huyện, người này do Cục hành chính Ấn Độ hoặc Cục Dân sự Tây Bengal bổ nhiệm. Mỗi huyện được phân thành các phân khu, do phân khu trưởng cai quản, và được phân tiếp thành các xã. Các xã gồm có các panchayat (hội đồng thôn) và khu tự quản đô thị.
Thủ phủ Kolkata là thành phố lớn nhất tại Tây Bengal, là trung tâm của đại đô thị lớn thứ ba và là thành phố lớn thứ bảy toàn quốc. Asansol là thành phố và đại đô thị lớn thứ nhì tại Tây Bengal. Siliguri là một thành phố quan trọng về mặt kinh tế, có vị trí chiến lược tại hành lang Siliguri (cổ gà) của Ấn Độ. Các thành thị lớn khác tại Tây Bengal là Howrah, Durgapur, Raniganj, Haldia, Jalpaiguri, Kharagpur, Burdwan, Darjeeling, Midnapore, và Malda.
== Kinh tế ==
Năm 2009–10, khu vực thứ ba của nền kinh tế (dịch vụ) có đóng góp lớn nhất vào tổng sản phẩm nội địa của bang, ở mức 57,8% so với 24% của khu vực thứ nhất và 18,2% từ khu vực thứ hai. Nông nghiệp là nghề chủ đạo tại Tây Bengal, trong đó lúa là cây lương thực chính. Lúa, khoai tây, đay, mía và lúa mì là năm cây trồng hàng đầu trong bang. Trà được sản xuất thương mại tại các huyện phía bắc; khu vực này được biết đến với trà Darjeeling và các loại trà chất lượng cao khác. Các ngành công nghiệp trong bang tập trung tại khu vực Kolkata, các cao địa tây bộ giàu khoáng sản, và khu vực cảng Haldia. Vành đai mỏ than Durgapur–Asansol có một số nhà máy thép quy mô lớn. Các ngành công nghiệp chế tạo đóng một vai trò kinh tế quan trọng là các sản phẩm công nghệ, điện tử, thiết bị điện tử, dây cáp, thép, đồ da, dệt, kim hoàn, chiến hạm, ô tô, toa xe lửa.
Nhiều năm sau khi độc lập, Tây Bengal vẫn dựa vào chính phủ trung ương trong việc đáp ứng nhu cầu lương thực; sản xuất lương thực vẫn đình trệ và Cách mạng xanh không lan đến bang. Tuy nhiên, Tây Bengal có bứt phá đáng kể trong sản xuất lương thực kể từ thập niên 1980, và bang hiện thặng dư lương thực có hạt. Bang đóng góp 9,8% vào tổng sản phẩm công nghiệp của Ấn Độ vào năm 1980–81, song giảm còn 5% trong năm 1997–98. Tuy nhiên, lĩnh vực dịch vụ lại có mức tăng trưởng cao hơn mức của toàn quốc.
Về sản phẩm nội địa ròng cấp bang (NSDP), Tây Bengal là nền kinh tế lớn thứ sáu (2009–2010) tại Ấn Độ, sau Maharashtra, Uttar Pradesh, Andhra Pradesh, Tamil Nadu, và Gujarat. Trong giai đoạn từ 2004–2005 đến 2009–2010, tổng sản phẩm nội địa cấp bang (GSDP) tăng trưởng ở mức 13,9% (tính theo rupee Ấn Độ), thấp hơn mức trung bình 15,5% của toàn bộ các bang trong toàn quốc. GSDP đầu người của bang theo giá hiện tại vào năm là 956,4 đô la Mỹ, tăng so với 553,7 đô la Mỹ vào năm 2004–05, song thấp hơn GSDP đầu người trung bình toàn quốc là 1.302 đô la Mỹ. Năm 2011, tổng nợ tài chính của bang là 1.918.350 triệu rupee (32 tỷ đô la Mỹ).
Tây Bengal xúc tiến đầu tư trực tiếp nước ngoài, nguồn vốn này chủ yếu đổ vào các lĩnh vực phần mềm và điện tử; Kolkata đang trở thành một trung tâm lớn của công nghiệp công nghệ thông tin. Quá trình công nghiệp hóa nhanh chóng gây nên tranh luận về việc thu hồi đất trong bang. NASSCOM–Gartner xếp Tây Bengal ở hạng tốt nhất về cơ sở hạ tầng điện tại Ấn Độ. Các sự kiện như chính phủ Ấn Độ thông qua chính sách "Hướng Đông", mở cửa đèo Nathu La tại Sikkim để thông thương mậu dịch với Trung Quốc, các quốc gia Đông Nam Á có quan tâm lớn đối với việc đi vào thị trường Ấn Độ, cùng đầu tư tạo cho Kolkata có một vị thế thuận lợi để phát triển trong tương lai, đặc biệt là với các quốc gia như Myanmar, là nơi mà Ấn Độ có nhu cầu về nhập khẩu dầu.
== Giao thông ==
Năm 2011, tổng chiều dài mặt đường bộ của Tây Bengal là trên 92.023 km (57.180 mi); trong đó các quốc lộ dài tổng cộng 2.578 km (1.602 mi) và bang lộ dài tổng cộng 2.393 km (1.487 mi). Năm 2006, mật độ đường bộ trong bang là 103,69 km/100 km², cao hơn trung bình toàn quốc là 74,7 km/100 km².
Năm 2011, tổng chiều dài đường sắt của Tây Bengal là khoảng 4.481 km (2.784 mi). Kolkata là trung tâm của ba khu vực của Indian Railways là Đường sắt Đông bộ, Đường sắt Đông Nam bộ và tàu điện ngầm Kolkata. Đường sắt Biên giới Đông Bắc chạy qua các khu vực bắc bộ của bang. Tàu điện ngầm Kolkata là đường sắt ngầm đầu tiên tại Ấn Độ. Đường sắt Himalaya Darjeeling là một di sản thế giới của UNESCO, và thuộc Đường sắt biên giới Đông Bắc (NFR).
Cảng hàng không quốc tê lớn nhất tại Tây Bengal là cảng hàng không quốc tế Netaji Subhas Chandra Bose tại Dum Dum, Kolkata. Kolkata cũng là một cảng sông chính tại đông bộ Ấn Độ. Kolkata Port Trust quản lý cả bến tàu Kolkata và bến tàu Haldia. Tây Bengal có dịch vụ vận chuyển hành khách đến Port Blair thuộc Quần đảo Andaman và Nicobar và dịch vụ tàu chở hàng đến các cảng tại Ấn Độ và hải ngoại, nằm dưới sự điều hành của Shipping Corporation of India. Phà là phương thức giao thông chính ở phần nam bộ của Tây Bengal, đặc biệt là tại khu vực Sundarban. Kolkata là thành phố duy nhất tại Ấn Độ có loại hình giao thông xe điện và do Calcutta Tramways Company điều hành. Tai nạn giao thông quy mô lớn là điều thường xảy ra tại Tây Bengal, đặc biệt là chìm tàu vận tải và tai nạn xe lửa.
== Nhân khẩu ==
Theo kết quả tạm thời của tổng điều tra nhân khẩu toàn quốc năm 2011, Tây Bengal là bang đông dân thứ tư tại Ấn Độ với dân số là 91.347.736. Người Bengal chiếm đa số trong dân số. Các cộng đồng thiểu số Marwar, Bihar và Oriya phân bố rải rác khắp bang; các cộng đồng Sherpas và Tạng hiện diện tại khu vực đồi Himalaya Darjeeling. Huyện Darjeeling có một số lượng lớn người Nepal nhập cư. Tây Bengal là nơi cư trú của các bộ lạc bản địa (Adivasi) như Santhal, Kol, và Toto. Có một số lượng nhỏ người dân tộc thiểu số tập trung tại Kolkata, trong đó có người Hoa, Tamil, Gujarat, Anh-Ấn, Armenia, Punjab, Bái Hỏa giáo. Phố Tàu duy nhất tại Ấn Độ nằm tại đông Kolkata.
Ngôn ngữ chính thức của Tây Bengal là tiếng Bengal và tiếng Anh. Tiếng Nepal là ngôn ngữ chính thức tại ba phân khu thuộc huyện Darjeeling. Tính đến năm 2001, các ngôn ngữ có nhiều người nói nhất trong bang lần lượt là: Bengal, Hindi, Santal, Urdu, Nepal, và Oriya.
Năm 2001, Ấn Độ giáo là tôn giáo chính và tín đồ chiếm 72,5% tổng dân số, còn người Hồi giáo chiếm 25,2% tổng dân số; còn lại là các tín đồ Sikh giáo, Cơ Đốc giáo và các tôn giáo khác. Tốc độ tăng trưởng dân số trong giai đoạn 2001–2011 tại Tây Bengal là 13,93%, thấp hơn mức 17,8% trong giai đoạn 1991-2001, và cũng thấp hơn mức toàn quốc là 17,64%. Tỷ số giới tính tại Tây Bengal là 947 nữ trên 1000 nam. Năm 2011, Tây Bengal có mật độ dân số là 1.029 người trên kilômét vuông (2.670 /sq mi), là bang có mật độ dân số cao thứ nhì tại Ấn Độ, sau Bihar.
Tỷ lệ biết chữ tại Tây Bengal vào năm 2011 là 77,08%, cao hơn mức toàn quốc là 74,04%. Dữ liệu giai đoạn 1995–1999 cho thấy tuổi thọ trong bang là 63,4 năm, cao hơn mức 61,7 năm của toàn quốc. Khoảng 72% dân số Tây Bengal sống tại các khu vực nông thôn. Tỷ lệ người dân sống dưới mức nghèo khổ trong giai đoạn 1999–2000 là 31,9%.
Một nghiên cứu được tiến hành tại ba huyện của Tây Bengal cho thấy rằng tiếp cận dịch vụ y tế tư nhân để điều trị bệnh là một tác động có tính thảm họa với các hộ. Điều này cho thấy giá trị của việc cung cấp dịch vụ y tế công cộng để làm giảm bớt nghèo khổ và tác động của bệnh tật đối với các hộ nghèo.
Năm 2011, cảnh sát Tây Bengal ghi nhận 143.197 vụ phạm tội hình sự theo luật hình sự Ấn Độ, số liệu trên toàn Ấn Độ vào năm này là 2.325.575. Tỷ lệ phạm tội trong bang là 158,1/100.000 dân, thấp hơn mức trung bình toàn quốc là 192,2. Tây Bengal có tỷ lệ phạm tội thấp thứ 12 trong số các bang và lãnh thổ liên bang tại Ấn Độ. Năm 2011, theo tường thuật thì số vụ phạm tội chống lại nữ giới tại Tây Bengal có tỷ lệ 29, so với mức trung bình toàn quốc là 18. Tây Bengal chiếm khoảng 12,2% tổng số vụ phạm tội chống lại nữ giới tại Ấn Độ vào năm 2010.
== Văn hóa ==
Ngôn ngữ Bengal có một di sản văn học phong phú, Tây Bengal cùng với Bangladesh có truyền thống lâu đời về văn học dân gian, được minh chứng qua các tác phẩm Charyapada, Mangalkavya, Shreekrishna Kirtana, Thakurmar Jhuli, và các chuyện liên quan đến Gopal Bhar. Trong thế kỷ 19 và 20, văn học Bengal được hiện đại hóa với các tác phẩm của các tác gia như Bankim Chandra Chattopadhyay, Michael Madhusudan Dutt, Rabindranath Tagore, Kazi Nazrul Islam, Sharat Chandra Chattopadhyay, Jibananda Das và Manik Bandyopadhyay. Trong thời hiện đại, Jibanananda Das, Bibhutibhushan Bandopadhyay, Tarashankar Bandopadhyay, và những người khác là các tác gia nổi tiếng.
Truyền thống Baul là một di sản độc đáo trong âm nhạc dân gian Bengal, vốn cũng chịu ảnh hưởng từ các truyền thống âm nhạc khu vực. Các hình thức âm nhạc dân gian khác gồm có Gombhira và Bhawaiya. Âm nhạc dân gian tại Tây Bengal thường được thể hiện cùng với một nhạc cụ một dây gọi là ektara. "Rabindrasangeet" là các bài hát do Rabindranath Tagore sáng tác và đặt giai điệu, nó phổ biến vùng với "Nazrul geeti" của Kazi Nazrul Islam. Các hình thức âm nhạc nổi bật khác có các bài hát Dwijendralal, Atulprasad và Rajanikanta, và "adhunik" hay âm nhạc hiện đại từ các phim và các nhà soạn nhạc khác.
Dòng chủ đạo của điện ảnh Ấn Độ là phim tiếng Hindi phổ biến tại Tây Bengal, và bang có một ngành công nghiệp điện ảnh phát triển mạnh, được gọi là "Tollywood". Tollygunj tại Kolkata là địa điểm có nhiều xưởng phim tiếng Bengal, và tên gọi Tollywood bắt nguồn từ đó. Công nghiệp điện ảnh tiếng Bengal nổi tiếng với các bộ phim nghệ thuật, sản sinh ra các đạo diễn nổi tiếng như Satyajit Ray hay Mrinal Sen.
Gạo và cá là các thực phẩm được ưa chuộng theo truyền thống. Có nhiều cách chế biến cá tùy theo kết cấu, kích cỡ, lượng chất béo và xương. Đồ ăn ngọt có vai trò quan trọng trong món ăn và nghi lễ xã hội của người Bengal. Việc chia đồ ngọt trong các lễ hội là truyền thống cổ xưa của cả người Bengal Ấn Độ giáo và Hồi giáo. Công nghiệp mứt kẹo phát triển mạnh mẽ do liên quan đến các nghi lễ xã hội và tôn giáo. Khu vực Bengal hết sức đa dạng về rau quả. Các món chay hầu như không có hành tỏi.
Phụ nữ Bengal thường mặc shaŗi, chúng thường được thiết kế riêng biệt theo phong tục văn hóa địa phương. Tại các khu vực đô thị, nhiều nữ giới và nam giới mặc Âu phục. Nam giới chấp nhận Âu phục rộng rãi hơn, họ cũng thường mặc các trang phục truyền thống như panjabi cùng với dhuti vào những dịp văn hóa.
Durga Puja trong tháng 10 là lễ hội phổ biến nhất tại Tây Bengal. Poila Baishakh (năm mới Bengal), Rathayatra, Dolyatra hay Basanta-Utsab, Nobanno, Poush Parbon (lễ hội Poush), Kali Puja, SaraswatiPuja, LaxmiPuja, Giáng sinh, Eid ul-Fitr, Eid ul-Adha và Muharram là các lễ hội lớn khác. Phật Đản là một trong những lễ hội quan trọng nhất của Ấn Độ giáo/Phật giáo.
== Giáo dục ==
Các trường học tại Tây Bengal nằm dưới sự điều hành của chính phủ bang hoặc các tổ chức tư nhân, trong đó có các thể chế tôn giáo. Ngôn ngữ giảng dạy chủ yếu là tiếng Anh hoặc tiếng Bengal, song tiếng Urdu cũng được sử dụng, đặc biệt là tại Trung Kolkata. Các trường trung học là thành viên của Hội đồng Khảo thí chứng chỉ trường học Ấn Độ (CISCE), Ủy ban Trung ương về Giáo dục trung học (CBSE), Viện quốc gia về Giáo dục mở (NIOS) hoặc Ủy ban Tây Bengal về Giáo dục trung học. Theo kế hoạch 10+2+3, sau khi hoàn thành cấp trung học, học sinh thường theo học 2 năm tại một trường cao đẳng, cũng gọi là dự bị đại học, hoặc tại các trường trung học cao cấp là hội viên của Hội đồng Tây Bengal về Giáo dục trung học cao cấp hoặc các ủy ban trung ương khác. Học sinh lựa chọn một trong ba ban là khai phóng, thương nghiệp hoặc khoa học. Sau khi hoàn thành khóa trình theo yêu cầu, học sinh có thể ghi danh vào các chương trình cấp độ tổng quát hoặc chuyên nghiệp.
Tây Bengal có 18 đại học. Đại học Calcutta là một trong các đại học công lâu năm nhất và lớn nhất tại Ấn Độ, với rất nhiều trường đại học thành viên. Kolkata đóng một vai trò tiên phong trong việc phát triển hệ thống giáo dục hiện đại tại Ấn Độ. Trường đại học Fort William được thành lập vào năm 1810. Trường đại học Hindu được thành lập vào năm 1817, và đến năm 1855 thì đổi tên thành trường đại học Presidency. Đại học Kỹ thuật & Khoa học Bengal và Đại học Jadavpur là những đại học kỹ thuật có uy tín. Đại học Visva-Bharati tại Santiniketan là một đại học trung ương và một học viện có tầm quan trọng quốc gia.
== Truyền thông ==
Năm 2005, Tây Bengal có 505 báo phát hành, trong đó có 389 báo tiếng bengal. Ananda Bazar Patrika là tờ báo phát hành Kolkata với trên 1 triệu bản mỗi ngày, là báo một phiên bản và ngôn ngữ khu vực có lượng phát hành lớn nhất tại Ấn Độ. Các báo tiếng Bengal lớn khác gồm có Bartaman, Sangbad Pratidin, Aajkaal, Jago Bangla, Uttarbanga Sambad và Ganashakti. Các báo tiếng Anh lớn được phát hành và bán với số lượng lớn là The Telegraph, The Times of India, Hindustan Times, The Hindu, The Statesman, The Indian Express và Asian Age. Một số nhật báo tài chính nổi bật như The Economic Times, Financial Express, Business Line và Business Standard được lưu hành rộng rãi. Ngoài ra, Tây Bengal còn có báo viết bằng các ngôn ngữ thiểu số như Hindi, Nepal, Gujarat, Oriya, Urdu và Punjab, phục vụ các độc giả nhất định.
Doordarshan là đài truyền hình quốc doanh. Các nhà khai thác đa hệ thống cung cấp các kênh tiếng Bengal, Nepal, Hindi, Anh và các kênh quốc tế thông qua cáp. Các kênh tin tức 24 giờ bằng tiếng Bengal gồm có ABP Ananda, Tara Newz, Kolkata TV, News Time, 24 Ghanta, Mahuaa Khobor, Ne Bangla, CTVN Plus, Channel 10và R Plus. Đài Phát thanh Toàn Ấn là đài công cộng. Các đài FM chỉ khả dụng tại các thành phố như Kolkata, Siliguri và Asansol. Vodafone, Airtel, BSNL, Reliance Communications, Uninor, Aircel, MTS India, Tata Indicom, Idea Cellularvà Tata DoCoMo là các nhà cung cấp điện thoại. Internet băng thông rộng khả dụng tại một số đô thị, được cung cấp bởi công ty quốc doanh BSNL và bởi các công ty tư nhân khác.
== Thể thao ==
Cricket và bóng đá là những môn thể thao phổ biến trong bang. Không giống như hầu hết những bang khác tại Ấn Độ, Tây Bengal nổi tiếng về sự đam mê và bảo trợ dành cho bóng đá. Kolkata là nằm trong số các trung tâm bóng đá lớn tại Ấn Độ và có các câu lạc bộ hàng đầu toàn quốc như East Bengal, Mohun Bagan và Mohammedan Sporting. Các môn thể thao Ấn Độ như Kho Kho và Kabaddi cũng được chơi tại Tây Bengal. Câu lạc bộ Polo Calcutta được cho là câu lạc bộ polo lâu năm nhất trên thế giới, và Câu lạc bộ Golf Royal Calcutta là câu lạc bộ golf lâu năm nhất bên ngoài Anh Quốc.
Tây Bengal có một số sân vận động lớn: Eden Gardens là một trong hai đấu trường cricket duy nhất có 100.000-chỗ trên thế giới, song các cải tiến sẽ làm giảm con số này. Kolkata Knight Riders, East Zone và Bengal thi đấu tại sân này, và chung kết cup Cricket thế giới 1987 diễn ra tại đây. Sân vận động Salt Lake là sân đa chức năng, và là sân bóng đá có sức chứa cao thứ nhì trên thế giới. Câu lạc bộ cricket và bóng đá Calcutta là câu lạc bộ cricket lâu năm thứ nhì trên thế giới. Các sự kiện thể thao quốc gia và quốc tế từng được tổ chức tại Durgapur, Siliguri và Kharagpur.
== Tham khảo ==
== Thư mục ==
== Liên kết ngoài ==
Official Cổng thông tin Chính phủ Tây Bengal
Bộ Du lịch Tây Bengal
Tổng cục thuế thương nghiệp Tây Bengal
Ủy ban Thông tin Tây Bengal
West Bengal tại DMOZ |
đà lạt.txt | Thành phố Đà Lạt là tỉnh lỵ của tỉnh Lâm Đồng, nằm trên cao nguyên Lâm Viên, thuộc vùng Tây Nguyên, Việt Nam. Từ xa xưa, vùng đất này vốn là địa bàn cư trú của những cư dân người Lạch, người Chil và người Srê thuộc dân tộc Cơ Ho. Cuối thế kỷ 19, khi tìm kiếm một địa điểm để xây dựng trạm nghỉ dưỡng dành cho người Pháp ở Đông Dương, Toàn quyền Paul Doumer đã quyết định chọn cao nguyên Lâm Viên theo đề nghị của bác sĩ Alexandre Yersin, người từng thám hiểm tới nơi đây vào năm 1893. Trong nửa đầu thế kỷ 20, từ một địa điểm hoang vu, những người Pháp đã quy hoạch và xây dựng lên một thành phố xinh đẹp với những biệt thự, công sở, khách sạn và trường học, một trung tâm du lịch và giáo dục của Đông Dương khi đó. Trải qua những khoảng thời gian thăng trầm của hai cuộc chiến tranh cùng giai đoạn khó khăn những thập niên 1970–1980, Đà Lạt ngày nay là một thành phố 211 ngàn dân, đô thị loại I trực thuộc tỉnh, giữ vai trò trung tâm chính trị, kinh tế và văn hóa của tỉnh Lâm Đồng.
Với độ cao 1.500 mét so với mực nước biển và được các dãy núi cùng quần hệ thực vật rừng bao quanh, Đà Lạt thừa hưởng một khí hậu miền núi ôn hòa và dịu mát quanh năm. Lịch sử hơn một thế kỷ cũng để lại cho thành phố một di sản kiến trúc giá trị, được ví như một bảo tàng kiến trúc châu Âu thế kỷ 20. Những tài nguyên thiên nhiên và nhân văn phong phú giúp Đà Lạt trở thành một trong những điểm du lịch nổi tiếng của Việt Nam, mỗi năm thu hút hàng triệu du khách tới thăm viếng và nghỉ dưỡng. Đà Lạt còn là một trung tâm giáo dục và nghiên cứu khoa học, một thành phố đa dạng về tôn giáo với sự hiện diện của hàng trăm ngôi chùa, nhà thờ, tu viện... một vùng nông nghiệp trù phú đặc biệt với những sản phẩm rau và hoa. Nhờ khí hậu ôn hòa, cảnh quan thiên nhiên tươi đẹp và di sản kiến trúc phong phú, Đà Lạt còn được biết đến với nhiều tên gọi khác như "Thành phố mù sương", "Thành phố ngàn thông", "Thành phố ngàn hoa", "Xứ hoa Anh Đào" hay "Tiểu Paris".
Mặc dù là một đô thị du lịch nổi tiếng, nhưng Đà Lạt lại là một thành phố thiếu vắng các địa điểm văn hóa, giải trí đa dạng. Quá trình đô thị hóa ồ ạt khiến thành phố ngày nay phải chịu nhiều hệ lụy. Nhiều cánh rừng thông dần biến mất, thay thế bởi các công trình xây dựng hoặc những vùng canh tác nông nghiệp. Do không được bảo vệ tốt, không ít danh thắng và di tích của thành phố rơi vào tình trạng hoang tàn, đổ nát. Sự phát triển thiếu quy hoạch trong những thập niên gần đây khiến kiến trúc đô thị Đà Lạt chịu nhiều biến dạng và trở nên nhem nhuốc. Trong khắp thành phố, nhiều ngôi biệt thự cùng không ít những công trình kiến trúc chịu sự tàn phá của thời gian mà không được bảo tồn, gìn giữ.
== Tên gọi ==
Địa danh Đà Lạt được bắt nguồn từ chữ Đạ Lạch, tên gọi của con suối Cam Ly. Khởi nguồn từ huyện Lạc Dương, dòng suối Cam Ly chảy qua khu vực Đà Lạt theo hướng Bắc – Nam, trong đó đoạn từ khoảng Hồ Than Thở tới thác Cam Ly ngày nay được gọi là Đạ Lạch. Theo ngôn ngữ của người Thượng, Da hay Dak có nghĩa là nước, tên gọi Đà Lạt có nghĩa nước của người Lát, hay suối của người Lát (người Cơ Ho). Trong một bài phỏng vấn đăng trên tạp chí Revue Indochine tháng 4 năm 1944, công sứ Cunhac, một trong những người tham gia xây dựng thành phố từ ngày đầu, đã nói: "Cho mãi tới những năm sau này, khung cảnh ban sơ vẫn không có gì thay đổi. Ở tại chỗ của cái hồ nước trước đó, con suối nhỏ của bộ lạc người Lát đã chảy qua và người ta đã gọi suối này là Đà Lạt". Vào thời kỳ đầu, các bản đồ cũng như sách báo thường chỉ nhắc đến địa danh Dankia hay Lang Biang. Nhưng sau khi Đà Lạt được chọn làm nơi nghỉ dưỡng thay vì Dankia, và đặc biệt từ khi nơi đây trở thành một thành phố, địa danh Đà Lạt mới xuất hiện thường xuyên.
Những người có công kiến thiết thành phố còn sáng tạo một câu cách ngôn khéo léo bằng tiếng La Tinh: Dat Aliis Laetitiam Aliis Temperiem, có nghĩa Cho người này nguồn vui, cho kẻ khác sức khỏe. Tác giả André Morval đã viết câu cách ngôn chiết tự này ở đầu một bài báo nhan đề Dalat: Cité de la Jeunesse với nội dung: "Những người khai sinh ra nơi nghỉ mát trên miền núi danh tiếng của chúng ta đã xác định một cách rất hợp lý những nét hấp dẫn và những đặc tính tốt bằng một câu cách ngôn ghép chữ đầu rất khéo léo để liền theo huy hiệu thành phố". Năm 1937, khi xây dựng chợ Đà Lạt mới thay cho ngôi chợ cũ bằng gỗ bị cháy, người ta đã đề dòng chữ Dat Aliis Laetitiam Aliis Temperiem trên tường đầu hồi của công trình, phía trên là huy hiệu thành phố hình tròn, tạc hình một đôi thanh niên nam nữ người dân tộc. Với khí hậu ôn hòa, cảnh quan thiên nhiên tươi đẹp và những di sản kiến trúc Pháp phong phú, Đà Lạt còn được gọi bằng nhiều cái tên khác như "Thành phố mù sương", "Thành phố ngàn thông", "Thành phố ngàn hoa", "Xứ hoa Anh Đào" hay "Tiểu Paris".
== Lịch sử ==
Vùng cao nguyên Lâm Viên từ xa xưa là địa bàn cư trú của người Lạch, người Chil và người Srê thuộc dân tộc Cơ Ho. Cuối thế kỷ 19, nhiều nhà thám hiểm người Pháp đã thực hiện những chuyến đi xuyên sâu vào vùng đất này. Tiên phong trong số họ là bác sĩ Paul Néis và trung úy Albert Septans với chuyến thám hiểm thực hiện đầu năm 1881. Năm 1893, nhận nhiệm vụ từ Toàn quyền Jean-Marie de Lanessan, bác sĩ Alexandre Yersin đã tiến hành khảo sát một tuyến đường bộ từ Sài Gòn xuyên qua vùng đất của người Thượng và kết thúc ở một địa điểm trên bờ biển Trung Kỳ. Ngày 21 tháng 6 năm 1893, trên hành trình thám hiểm, Alexandre Yersin đã tới cao nguyên Lâm Viên. Năm 1897, trong khi tìm kiếm một địa điểm để xây dựng trạm nghỉ dưỡng (station balnéaire d'altitude) cho người Pháp ở Đông Dương, Toàn quyền Paul Doumer gửi thư hỏi ý kiến Alexandre Yersin. Khi nhận được thư của Paul Doumer, Alexandre Yersin gợi ý chọn cao nguyên Lâm Viên, một vùng đất lý tưởng thỏa mãn đầy đủ các điều kiện: độ cao thích hợp, diện tích đủ rộng, nguồn nước bảo đảm, khí hậu ôn hòa và có thể thiết lập đường giao thông. Cuối tháng 3 năm 1899, Paul Doumer cùng với Alexandre Yersin đích thân đến khảo sát thực tế tại cao nguyên Lâm Viên.
Dự án xây dựng Đà Lạt bị gián đoạn khi Toàn quyền Paul Doumer trở về Pháp vào năm 1902 và Toàn quyền Paul Beau, người kế vị, thì không sốt sắng gì về việc xây dựng thị trấn miền núi. Mặc dù vậy, trong khoảng thời gian tiếp theo, nhiều đoàn khảo sát vẫn được gửi đến cao nguyên Lâm Viên để nghiên cứu và các tuyến đường giao thông tới Đà Lạt cũng dần hình thành. Giữa thập niên 1910, Chiến tranh thế giới thứ nhất bùng nổ khiến nhiều người Pháp không thể về quê hương trong những kỳ nghỉ, Đà Lạt dần trở thành nơi họ tìm đến để tìm chút gì của nước Pháp miền ôn đới. Ngày 20 tháng 4 năm 1916, Hội đồng Phụ chính của vua Duy Tân thông báo Dụ thành lập thị tứ Đà Lạt. Toàn quyền Maurice Long đi thêm bước nữa khi bổ nhiệm Ernest Hébrard làm chủ sự quy hoạch thị trấn Đà Lạt. Hébrard là người chủ trương dùng mẫu kiến trúc cổ điển Âu châu nhưng thêm vào đó một số trang trí thuộc mỹ thuật Việt Nam để tạo ra phong cách riêng mà ông gọi là une architecture indochinoise. Hébrard đã thực hiện lối kiến trúc này trong những công trình khác như tòa nhà của Viện Viễn Đông Bác cổ, Hà Nội. Nay lối kiến trúc này được áp dụng quy mô hơn ở Đà Lạt. Đặc biệt là Hébrard vẽ đồ án có vườn hoa, trường sở, sân vận động, biệt thự nhưng hoàn toàn không có công xưởng sản xuất để giữ y nguyên không gian trong lành và yên tĩnh của thị trấn này. Trong vòng ba mươi năm, từ một địa điểm hoang vu, một thành phố đã hình thành với đầy đủ hệ thống cơ sở hạ tầng, các trường học, bệnh viện, khách sạn, công sở và dinh thự. Trên diện tích tổng cộng là 1760 ha, thì 500 ha được chính quyền quy hoạch cho các cơ sở công chánh, 185 ha thuộc nhà binh, 173 ha cho công chức và 206 cho dân bản xứ. Phần còn lại còn lại (non 700 ha) thì bán cho người Pháp.
Tới thập niên 1940, Đà Lạt bước vào giai đoạn cực thịnh của thời kỳ Pháp thuộc, "thủ đô mùa hè" của toàn Liên bang Đông Dương. Trong những năm chiến tranh, thành phố vẫn giữ vai trò một trung tâm du lịch nghỉ dưỡng và khoa học giáo dục của Việt Nam Cộng hòa. Dưới thời Tổng thống Ngô Đình Diệm, nhiều trường học, trung tâm văn hóa và các công trình kiến trúc tiếp tục ra đời. Đà Lạt cũng là nơi định cư của nhiều người di cư từ miền Bắc. Nhưng kể từ năm 1964, khi cuộc chiến tranh Việt Nam bước vào giai đoạn khốc liệt, việc phát triển đô thị ít được coi trọng, thay vào đó là sự xuất hiện của những công trình phục vụ cho mục đích quân sự.
Sau chiến tranh, Đà Lạt tiếp tục bước vào một thời kỳ khó khăn khi phải đối mặt với vấn đề lương thực và thực phẩm, việc xây dựng phát triển thành phố vì thế không còn được chú trọng. Diện tích canh tác nông nghiệp mở rộng đã ảnh hưởng nhiều tới cảnh quan thiên nhiên và môi sinh của thành phố. Du lịch Đà Lạt giai đoạn này cũng trầm lắng bởi sự khó khăn chung của nền kinh tế Việt Nam. Từ cuối thập niên 1980, đầu thập niên 1990, thành phố dần phát triển trở lại với làn sóng khách du lịch tìm tới ngày một đông và hệ thống cơ sở hạ tầng tiếp tục được xây dựng. Sau năm 1975, thành phố Đà Lạt có 6 phường (đánh số thứ tự từ 1 đến 6) và 3 xã: Tà Nung, Xuân Thọ, Xuân Trường. Ngày 6 tháng 6 năm 1986, giải thể 6 phường hiện hữu, thay thế bằng 12 phường mới (đánh số thứ tự từ 1 đến 12). Ngày 6 tháng 3 năm 2009, chia xã Xuân Trường thành 2 xã: Xuân Trường và Trạm Hành. Ngày 24 tháng 7 năm 1999, Đà Lạt được Thủ tướng Chính phủ quyết định công nhận là đô thị loại II và ngày 23 tháng 3 năm 2009, Đà Lạt chính thức trở thành thành phố đô thị loại I trực thuộc tỉnh Lâm Đồng.
== Địa lý ==
=== Địa hình ===
Thành phố Đà Lạt rộng 394,64 km², nằm trên cao nguyên Lâm Viên, nơi có độ cao khoảng 1.500 mét so với mực nước biển. Với tọa độ địa lý 11°48′36″ đến 12°01′07″ vĩ độ bắc và 108°19′23″ đến 108°36′27″ kinh độ đông, Đà Lạt nằm trọn trong tỉnh Lâm Đồng, phía bắc giáp huyện Lạc Dương, phía đông và đông nam giáp huyện Đơn Dương, phía tây giáp huyện Lâm Hà, phía tây nam giáp huyện Đức Trọng. Sau đợt điều chỉnh địa giới hành chính gần đây nhất vào năm 2009, Đà Lạt bao gồm 12 phường, được định danh bằng số thứ tự từ 1 đến 12, và bốn xã Xuân Thọ, Xuân Trường, Tà Nung và Trạm Hành.
Địa hình Đà Lạt được phân thành hai dạng rõ rệt: địa hình núi và địa hình bình nguyên trên núi. Địa hình núi phân bố xung quanh vùng cao nguyên trung tâm thành phố. Các dãy núi cao khoảng 1.700 mét tạo thành một vành đai chắn gió che cho khu vực lòng chảo trung tâm. Từ thành phố nhìn về hướng bắc, dãy Lang Biang như một tường thành theo hướng đông bắc – tây nam, kéo dài từ suối Đạ Sar đến hồ Dankia. Hai đỉnh cao nhất của dãy núi này có độ cao 2.167 mét và 2.064 mét. Án ngữ phía đông và đông nam Đà Lạt là hai dãy Bi Doup và Cho Proline. Về phía nam, địa hình núi chuyển tiếp sang bậc địa hình thấp hơn, đặc trưng là khu vực đèo Prenn với các dãy núi cao xen kẽ những thung lũng sâu. Trung tâm Đà Lạt như một lòng chảo hình bầu dục dọc theo hướng bắc – nam với chiều dài khoảng 18 km, chiều rộng khoảng 12 km. Những dãy đồi đỉnh tròn ở đây có độ cao tương đối đồng đều nhau, sườn thoải về hướng hồ Xuân Hương và dần cao về phía các vùng núi bao quanh. Nơi cao nhất trong trung tâm thành phố là dinh Nguyễn Hữu Hào trong Bảo tàng Lâm Đồng với độ cao 1.532 mét, còn điểm thấp nhất là thung lũng Nguyễn Tri Phương, độ cao 1.398 mét.
Trên địa phận thành phố Đà Lạt, xen giữa vùng đồi thấp trung tâm thành phố và các dãy núi bao quanh, có thể thấy hơn 20 dòng suối có chiều dài trên 4 km, thuộc các hệ thống suối Cam Ly, Đa Tam và hệ thống sông Đa Nhim. Đây đều là những con suối đầu nguồn thuộc lưu vực sông Đồng Nai, trong đó hơn một nửa là các con suối cạn, chỉ chảy vào mùa mưa và cạn kiệt vào mùa khô. Suối Cam Ly dài 64,1 km, bắt nguồn từ huyện Lạc Dương, chảy theo hướng bắc – nam và đổ vào hồ Xuân Hương. Đây chính là hệ thống suối lớn nhất Đà Lạt, có vai trò quan trọng trong việc tạo cảnh quan cho khu vực đô thị trung tâm. Đà Lạt còn nổi tiếng là thành phố của hồ và thác với khoảng 16 hồ lớn nhỏ phân bố rải rác, phần nhiều là các hồ nhân tạo. Hồ Xuân Hương nằm ở trung tâm thành phố, rộng khoảng 38 ha, được tạo lập năm 1919 trong quá trình xây dựng Đà Lạt. Trước năm 1986, hồ Xuân Hương cùng hồ Chiến Thắng và hồ Than Thở là nguồn cung cấp nước chủ yếu cho thành phố. Ngày nay, nguồn nước sinh hoạt được dẫn về từ hồ Dankia thuộc huyện Lạc Dương, cách Đà Lạt khoảng 17 km.
=== Khí hậu ===
Do nằm ở độ cao 1.500 mét và được các dãy núi cùng quần hệ thực vật rừng, đặc biệt là rừng thông bao quanh, nên đối lập với khí hậu nhiệt đới gió mùa của miền trung và khí hậu nhiệt đới xavan ở miền nam, thành phố Đà Lạt có một khí hậu miền núi ôn hòa dịu mát quanh năm.
Nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới xavan, Đà Lạt có hai mùa rõ rệt: mùa mưa và mùa khô. Mùa mưa bắt đầu từ tháng 4 và kết thúc vào tháng 10. Còn mùa khô kéo dài từ tháng 11 năm trước đến tháng 3 năm sau. Vào mùa khô, Đà Lạt chịu ảnh hưởng của khối không khí biển Đông, mang lại thời tiết nắng ấm, ít mây, không mưa, nhiệt độ hạ thấp về ban đêm và biên độ nhiệt lớn. Trong những tháng mùa mưa, gió mùa đông bắc hầu như không còn ảnh hưởng đến Đà Lạt, thay thế bởi khối không khí xích đạo từ phía nam tràn lên phía bắc. Gió mùa tây nam mang lại nguồn ẩm chủ yếu cho những trận mưa lớn và những đợt mưa kéo dài nhiều ngày. Mặc dù vậy, do ảnh hưởng của khối không khí nhiệt đới Thái Bình Dương, trong mùa mưa vẫn có những thời kỳ thời tiết tạnh ráo.
Nhiệt độ trung bình tháng ở Đà Lạt không bao giờ vượt quá 20°C, ngay cả trong những tháng nóng nhất. Tuy vậy, Đà Lạt cũng không phải là nơi có nhiệt độ trung bình tháng thấp nếu so với các tỉnh thành phố miền bắc có khí hậu cận nhiệt đới. Trong những tháng mùa đông, nhiệt độ trung bình tháng vẫn trên 14°C. Theo số liệu thống kê từ năm 1964 tới năm 1998, nhiệt độ trung bình năm ở Đà Lạt là 17,9°C, trong đó năm 1973 có nhiệt độ trung bình cao nhất lên đến 18,5°C, còn năm 1967 nhiệt độ trung bình xuống thấp nhất, 17,4°C. Nếu so sánh với Sa Pa, thị trấn nghỉ dưỡng ở miền Bắc ở độ cao 1.581 mét so với mặt biển và nằm trong vùng cận nhiệt đới, thì nhiệt độ trung bình ở Đà Lạt cao hơn 2,6°C, và nếu xét riêng các tháng mùa đông thì nhiệt độ trung bình của Đà Lạt cao hơn Sapa đến 10°C (tuy nhiên về mùa hè Sapa chỉ lạnh hơn Đà Lạt không đáng kể).
Biên độ nhiệt độ ngày đêm ở Đà Lạt rất lớn, trung bình năm đạt 11°C, cao nhất trong những tháng mùa khô, lên tới 13 – 14°C, và thấp nhất trong những tháng mùa mưa, chỉ khoảng 6 – 7°C. Ngược lại, biên độ nhiệt trung bình giữa các tháng trong năm lại nhỏ, tháng ấm nhất và tháng lạnh nhất cũng chỉ chênh lệnh 3,5°C. Độ dài ngày trong các mùa ở Đà Lạt không có sự chênh lệch lớn, trung bình khoảng từ 11 đến ít hơn 12 giờ vào mùa đông và trên 12 giờ vào mùa hè. Tổng số giờ nắng trong năm ở đây tương đối cao, khoảng 2.258 giờ một năm, tập trung chủ yếu vào các tháng 12, 1, 2 và 3 của mùa khô. Tổng lượng bức xạ thu nhập ở Đà Lạt khoảng 140 kCalo/cm²/năm, nhiều nhất vào tháng 4 và ít nhất vào tháng 8. Nếu so với các vùng lân cận, lượng bức xạ Mặt Trời của Đà Lạt không cao, nhưng đây là nguồn năng lượng chủ yếu cho các quá trình trao đổi nhiệt, mang lại nền nhiệt độ thấp và tương đối ôn hòa.
Mùa mưa ở Đà Lạt thường bắt đầu vào cuối tháng 4, đầu tháng 5 và kết thúc vào khoảng cuối tháng 10, đầu tháng 11. Tuy hàng năm, thời điểm bắt đầu và kết thúc của mùa mưa có thể thay đổi, nhưng mùa mưa ở đây thường kéo dài khoảng hơn 6 tháng. Trung bình, một năm Đà Lạt có 161 ngày mưa với lượng mưa 1.739 mm, tập trung nhiều nhất vào ba tháng 7, 9 và 10, ba tháng có sự hoạt động mạnh của trường gió mùa tây nam. Nếu lấy trung bình từ tháng 5 tới tháng 10, tổng lượng mưa trong mùa mưa ở Đà Lạt chiếm đến gần 80% lượng mưa của cả năm. So với vùng đồng bằng, Đà Lạt có số ngày mưa trong năm nhiều hơn, nhưng lượng mưa lại thấp hơn. Ở Đà Lạt còn có một hiện tượng thời tiết đáng chú ý khác là sương mù, trung hình 80 đến 85 ngày trong một năm, nhưng xuất hiện nhiều nhất vào khoảng thời gian từ tháng 2 tới tháng 5 và từ tháng 9 đến tháng 10. Phổ biến hơn cả là loại sương mù bức xạ được hình thành khi mặt đất bị lạnh đi nhiều do bức xạ vào lúc trời quang, lặng gió. Sương mù dày ít xảy ra hơn, thường gặp vào tháng 9 và tháng 10, trung bình mỗi tháng có tới 4 đến 5 ngày sương mù dày.
=== Dân cư ===
Trải qua hơn một trăm năm lịch sử, từ một trung tâm nghỉ dưỡng trở thành một đô thị lớn, cộng đồng dân cư Đà Lạt thay đổi theo quá trình hình thành và phát triển của thành phố. Vào năm 1893, khi bác sĩ Alexandre Yersin đến cao nguyên Lâm Viên, nơi đây chỉ là một vùng dân cư thưa thớt, một vài ngôi làng của người Lạch tập trung ở chân núi. Đến tận năm 1902, khi dự án xây dựng một thành phố của Toàn quyền Paul Doumer dừng lại, cư dân Đà Lạt vẫn chỉ là những nhóm dân tộc thiểu số người Lạch, người Chil cùng một nhóm nhỏ người Việt di cư lên đây từ trước đó. Năm 1906, một lần nữa, nơi đây được chọn làm nơi nghỉ dưỡng dành cho công chức và binh sĩ Pháp, ngoài các cư dân bản địa, ở Đà Lạt bắt đầu có các công chức người Pháp, những du khách châu Âu, và người Việt cũng bắt đầu tới đây nhiều hơn trước. Giai đoạn sau Chiến tranh thế giới thứ nhất là thời kỳ thành phố phát triển mạnh mẽ. Cơ sở hạ tầng cùng đường sá được xây dựng khiến dân cư từ nhiều nơi tới Đà Lạt định cư, du lịch và nghỉ dưỡng. Dân số Đà Lạt đã tăng lên đáng kể từ 1.500 người vào năm 1923 lên 11.500 người năm 1939. Những năm Chiến tranh thế giới thứ hai, nhiều người Pháp không thể trở về nghỉ ở quê hương và Đà Lạt trở thành điểm đến của họ. Thành phố tiếp tục được mở rộng và dân số tăng lên nhanh chóng, từ 13.000 người năm 1940 lên 25.500 người vào năm 1944.
Những biến cố của cuộc chiến tranh Đông Dương ảnh hưởng mạnh mẽ tới dân số Đà Lạt. Thời kỳ này rất nhiều cư dân của thành phố lánh về Cầu Đất, Đơn Dương, Ninh Thuận, Bình Thuận hoặc trở về quê hương cũ. Vào năm 1946, dân số Đà Lạt chỉ còn khoảng 5.200 người, khiến người Pháp gọi nơi đây là "thành phố quạnh hiu". Nhưng khoảng thời gian tiếp theo, khi Đà Lạt một lần nữa thuộc về người Pháp, các hoạt động kinh tế, xã hội dần ổn định trở lại. Vào cuối năm 1952, dân số thành phố đạt 25.041 người, trong đó có 1.217 người châu Âu, 752 người Hoa, 22.232 người Kinh và 840 người dân tộc bản địa. Cuối năm 1953, đầu năm 1954, cuộc chiến tranh Đông Dương bước vào giai đoạn khốc liệt nhất, Đà Lạt trở thành nơi dân cư các tỉnh lân cận tìm đến để tỵ nạn chiến tranh. Năm 1954, sau hiệp định Genève, thành phố đón nhận một lượng lớn những di dân từ miền Bắc cùng làn sóng người miền Trung đến lập nghiệp, khiến dân số Đà Lạt tăng vọt từ 25.000 người năm 1954 lên 58.958 người vào năm 1956. Dân số thành phố gia tăng điều hòa trong thập niên 1960, nhưng giảm sút trong thập niên 1970, khi chiến tranh Việt Nam bước vào giai đoạn căng thẳng. Khoảng thời gian đầu sau sự kiện 30 tháng 4 năm 1975, nhiều người phục vụ trong quân đội, chính quyền Việt Nam Cộng hòa trở về quê quán khiến dân số Đà Lạt giảm xuống, nhưng sau đó được bổ sung bởi các di dân mới từ miền Bắc và miền Trung. Cuối thế kỷ 20, địa giới hành chính Đà Lạt được mở rộng, dân số thành phố tăng lên mạnh mẽ và có sự gia tăng dân số cơ học đáng kể. Năm 2011, Đà Lạt có dân số 211.696 người, chiếm 17,4% dân số của tỉnh Lâm Đồng, mật độ 536 người/km².
Trong lịch sử, Đà Lạt từng là nơi sinh sống của nhiều nhóm dân cư có nguồn gốc đa dạng, từ người Kinh, người Cơ Ho đến những người Hoa, người Pháp. Ngày nay, phần lớn cư dân của thành phố là người Kinh, phần nhỏ còn lại gồm những người Hoa, người Cơ Ho và các dân tộc thiểu số khác như Tày, Nùng, Chăm... Theo số liệu năm 2011, Đà Lạt có 191.803 cư dân thành thị, tương đương 90%. Cấu trúc theo giới tính, thành phố có 100.520 cư dân nam và 111.176 cư dân nữ. Cũng như các đô thị khác, mật độ dân số của Đà Lạt không đồng đều, dân cư tập trung nhiều nhất ở các phường trung tâm như Phường 1, Phường 2, Phường 6. Ở ngoại thành, cư dân sống chủ yếu bằng nông nghiệp, lâm nghiệp và tiểu thủ công nghiệp, trong đó nông nghiệp chiếm một phần quan trọng. Khu vực ngoại thành của Đà Lạt rõ nét nhất là các xã Xuân Trường, Xuân Thọ và Tà Nung.
== Thành phố kết nghĩa ==
Mississauga, Canada
Chiang Mai, Thái Lan
Bourdeaux, Pháp
Los Angeles, Hoa Kỳ
Manchester, Anh
Sapporo, Nhật Bản
== Hành chính ==
Về hành chính, thành phố Đà Lạt được chia thành 12 phường và 4 xã. Ủy ban nhân dân thành phố nằm tại số 3 đường Trần Hưng Đạo, đối diện Ủy ban nhân dân tỉnh Lâm Đồng và không xa trụ sở Hội đồng nhân dân thành phố. Nhiệm kỳ 2011–2016, người giữ chức vụ Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố Đà Lạt là ông Võ Ngọc Hiệp. Thành ủy Đà Lạt có trụ sở tại 31 đường Đinh Tiên Hoàng, Phường 2. Bí thư Thành ủy nhiệm kỳ 2010–2015 là ông Đoàn Văn Việt, cũng là người giữ cương vị Chủ tịch Hội đồng nhân dân Đà Lạt nhiệm kỳ 2011–2016.
== Giao thông ==
Do đặc điểm địa hình, giao thông Đà Lạt chỉ gồm đường bộ, đường sắt và đường không, nhưng hiện nay chỉ giao thông đường bộ và đường không thực sự hoạt động. Tuyến đường quan trọng nhất nối Đà Lạt với các thành phố khác là quốc lộ 20. Con đường này giao với quốc lộ 1 tại ngã ba Dầu Giây, tỉnh Đồng Nai, từ đó hướng về Thành phố Hồ Chí Minh và nối với quốc lộ 27 tại D'Ran để về Phan Rang và các tỉnh Nam Trung Bộ. Quốc lộ 20 còn cắt qua Di Linh, từ đây theo quốc lộ 28 về hướng nam sẽ dẫn đến thành phố Phan Thiết. Xuất phát từ Đà Lạt, tuyến đường 723 đi xuyên qua các huyện Lạc Dương của Lâm Đồng và Khánh Vĩnh, Diên Khánh của Khánh Hòa, tới thành phố Nha Trang. Con đường này được hoàn thành vào năm 2007, giúp hành trình giữa hai thành phố du lịch nổi tiếng chỉ còn khoảng 130 km, so với lộ trình cũ Đà Lạt – Phan Rang – Nha Trang dài 228 km. Đà Lạt còn một tuyến tỉnh lộ khác là đường 722 đi Đam Rông, nối thành phố với các vùng tây bắc của tỉnh Lâm Đồng. Giao thông nội thị, các tuyến xe buýt của thành phố hình thành vào năm 2006, với tuyến đầu tiên nối Đà Lạt với Đức Trọng. Thời điểm 2007, Đà Lạt có ba công ty kinh doanh vận tải xe buýt, gồm Công ty Cổ phần Vận tải Ô tô Lâm Đồng, Công ty Trách nhiệm Hữu hạn Thái Hòa và Công ty Cổ phần Phương Trang, tổng cộng 79 đầu xe, khai thác các tuyến nội thị và từ Đà Lạt đến các huyện lân cận. Thành phố cũng có khoảng mười công ty tham gia kinh doanh vận tải taxi, trong đó có các hãng lớn như Mai Linh, Phương Trang và Thắng Lợi.
Giao thông hàng không của Đà Lạt được thực hiện qua sân bay quốc tế Liên Khương và sân bay Cam Ly. Sân bay Liên Khương cách trung tâm thành phố Đà Lạt 28 km về phía nam, nằm cạnh quốc lộ 20, thuộc thị trấn Liên Nghĩa, huyện Đức Trọng. Phi trường này được người Pháp cho xây dựng và đưa vào hoạt động vào năm 1933, khi đó chỉ có một đường băng bằng đất nện cứng dài 700 mét. Trong Chiến tranh thế giới thứ hai, Quân đội Nhật Bản đã nâng cấp sân bay Liên Khương, đường hạ cất cánh được rải cán đá và dùng cho mục đích quân sự. Phi trường còn tiếp tục được xây dựng dưới thời Việt Nam Cộng hòa với nhà ga dân dụng mới và mặt đường băng phủ bê tông nhựa có thể sử dụng cho máy bay dưới 35 tấn. Sau năm 1975, phi trường được Quân đội nhân dân Việt Nam tiếp quản và điều hành, tới năm 1980 chuyển về Tổng công ty Cảng hàng không Miền Nam quản lý. Năm 2003, Tổng công ty Cảng hàng không Miền Nam đã nâng cấp sân bay Liên Khương đạt tiêu chuẩn 4C theo phân cấp của Tổ chức Hàng không Dân dụng Quốc tế. Cuối tháng 12 năm 2009, nhà ga mới của sân bay với diện tích sàn 12.000 mét vuông được khánh thành, bắt đầu khai thác các đường bay quốc tế. Thời điểm 2012, Hãng hàng không Vietnam Airlines khai thác mỗi ngày một chuyến bay khứ hồi Đà Lạt – Hà Nội, bốn chuyến bay khứ hồi Đà Lạt – Thành phố Hồ Chí Minh và một chuyến bay khứ hồi Đà Lạt – Đà Nẵng. Hãng hàng không Air Mekong cũng khai thác mỗi ngày một chuyến bay khứ hồi Đà Lạt – Hà Nội và một chuyến bay khứ hồi Đà Lạt – Thành phố Hồ Chí Minh. Phi trường thứ hai của Đà Lạt là sân bay Cam Ly, thuộc Phường 5, cách trung tâm thành phố 3 km về phía tây. Trước kia, đây là sân bay quân sự của Quân đội Hoa Kỳ và Quân lực Việt Nam Cộng hòa. Sau năm 1975, sân bay Cam Ly thuộc Học viện Lục quân, rồi chuyển giao cho Tổng công ty Cảng hàng không Miền Nam. Do hoạt động không hiệu quả, sân bay này bị bỏ hoang nhiều năm và tới cuối 2010, được giao lại cho Bộ Quốc phòng quản lý.
Tuyến đường sắt Tháp Chàm – Đà Lạt được xây dựng từ năm 1903 đến năm 1928, tới năm 1932 bắt đầu khai thác vận tải toàn tuyến. So với các tuyến đường sắt khác ở Việt Nam, tuyến Tháp Chàm – Đà Lạt độc đáo nhờ sử dụng hệ thống đường sắt răng cưa, gồm ba đoạn từ Sông Pha lên tới Đà Lạt, tổng cộng gần 16 km. Điểm cuối của tuyến đường sắt này là nhà ga Đà Lạt, xây dựng từ năm 1932 đến năm 1938, một công trình kiến trúc độc đáo do hai kiến trúc sư người Pháp Révéron và Moncet thiết kế. Đường sắt Tháp Chàm – Đà Lạt được sử dụng tới năm 1972, khi chiến tranh Việt Nam trở nên khốc liệt, tuyến đường buộc phải ngừng hoạt động. Từ năm 1991, thành phố Đà Lạt cho khôi phục 7 km đường sắt từ Đà Lạt tới Trại Mát, kết hợp cùng nhà ga Đà Lạt để phục vụ du lịch. Nơi đây ngày nay trở thành một trong những điểm hấp dẫn du khách của thành phố. Mặc dù không còn kết nối trực tiếp với hệ thống đường sắt Việt Nam, nhà ga vẫn bán vé tàu cho hành khách và có xe trung chuyển từ ga Đà Lạt đến ga Nha Trang và ga Tháp Tràm.
== Kinh tế ==
Đà Lạt có một nền kinh tế thiên về các lĩnh vực du lịch, dịch vụ và nông nghiệp. Vào năm 2007, các ngành du lịch và dịch vụ chiếm đến 70% tổng sản phẩm nội địa của thành phố. Giá trị sản xuất công nghiệp theo giá thực tế của Đà Lạt năm 2011 đạt 2.047,400 tỷ đồng, tương đương với Bảo Lộc, thành phố thứ hai của Lâm Đồng. Trong lĩnh vực công nghiệp, thu hút nhiều lao động nhất là các ngành công nghiệp chế biến. Một số sản phẩm của Đà Lạt như rượu vang, trà Atisô hay mứt trái cây từ lâu đã được biết đến rộng rãi. Nhờ điều kiện khí hậu và thổ nhưỡng thích hợp, Đà Lạt còn là vùng đất trồng nhiều chè và cà phê, cũng là hai sản phẩm quan trọng trong lĩnh vực công nghiệp chế biến của thành phố. Một nghề mới phát triển trong những năm cuối thế kỷ 20 tại Đà Lạt là nghề thêu, nổi bật hơn cả là những sản phẩm tranh thêu của Công ty XQ Đà Lạt. Trong thành phố, còn có thể thấy sự hiện diện của các công ty in ấn, may mặc, dệt, chế biến tinh dầu, sản xuất lâm sản... Năm 2011, thành phố Đà Lạt có tốc độ tăng trưởng kinh tế đạt 17%, tổng giá trị kim ngạch xuất khẩu đạt 42,7 triệu đô la Mỹ và thu nhập bình quân đầu người khoảng 26,6 triệu đồng.
=== Du lịch ===
Ở Việt Nam, Đà Lạt từ lâu đã là một thành phố du lịch nổi tiếng. Khí hậu mát mẻ, tài nguyên thiên nhiên và nhân văn phong phú giúp thành phố mỗi năm thu hút hàng triệu du khách tới thăm viếng và nghỉ dưỡng. Sau một thời gian trầm lắng của thập niên 1980, du lịch Đà Lạt thay đổi mạnh mẽ trong những năm gần đây. Vào thời điểm năm 2001, thành phố có 369 khách sạn gồm 4.334 phòng với sức chứa 15.821 khách, đến năm 2009 số cơ sở lưu trú tại Đà Lạt đã lên đến 673 cơ sở với hơn 11 ngàn phòng và sức chứa trên 38 ngàn khách. Tuy vậy, phần lớn các cơ sở lưu trú của thành phố có quy mô trung bình hoặc nhỏ, mang tính cá nhân, gia đình và thiếu chuyên nghiệp. Trong 673 cơ sở, chỉ 85 khách sạn đạt tiêu chuẩn 1 đến 5 sao và 11 khách sạn từ 3 đến 5 sao. Các khách sạn lớn tập trung chủ yếu ở khu vực Phường 1 và Phường 2, một số ít nằm rải rác ở các phường lân cận. Hiệu suất thuê phòng của các khách sạn tại Đà Lạt khoảng 30 đến 35% và phân bố không đều trong năm, tập trung vào các ngày lễ và kỳ nghỉ hè.
So với các đô thị khác của Việt Nam, Đà Lạt là thành phố được thiên nhiên dành cho nhiều ưu ái. Những thắng cảnh của thành phố, nằm rải rác ở cả khu vực trung tâm lẫn vùng ngoại ô, như hồ Xuân Hương, đồi Cù, thung lũng Tình Yêu, hồ Than Thở, thác Prenn... từ lâu đã trở nên nổi tiếng. Tuy vậy, không ít danh thắng và di tích của Đà Lạt hiện nay rơi vào tình trạng hoang tàn và đổ nát. Thác Cam Ly, dòng thác từng đi vào thi ca lãng mạn, không còn vẻ đẹp vốn có mà tràn ngập rác thải và bốc mùi hôi thối nồng nặc do nguồn nước bị ô nhiễm. Các địa điểm như thung lũng Tình Yêu, hồ Than Thở hay thác Prenn đã mất đi nét hoang sơ bởi sự xuất hiện của quá nhiều hàng quán, khu trò chơi và cây cảnh. Thác Voi, một thắng cảnh khác không xa Đà Lạt, cũng bị ô nhiễm nặng do những người dân sinh sống ở vùng thượng nguồn thường xả rác và chất bẩn xuống dòng suối. Vào năm 2008, Sở Văn hóa Thông tin tỉnh Lâm Đồng đã có văn bản đề nghị Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch rút tên hai thác Liên Khương và Gougah khỏi danh sách di tích quốc gia bởi cảnh quan hai danh thắng này đã bị thay đổi.
Lịch sử đã để lại cho Đà Lạt không ít những công trình kiến trúc giá trị, như những công sở, trường học, nhà thờ, tu viện, chùa chiền, công trình công cộng... cùng hàng ngàn biệt thự xinh đẹp hiện diện khắp thành phố. Qua thời gian, những dinh thự, biệt điện xưa kia từng thuộc về các nhân vật quyền lực, ngày nay được mở cửa đón khách viếng thăm. Ba dinh thự nổi tiếng của Đà Lạt trước đây đều là địa điểm du lịch, nhưng hiện nay chỉ Dinh III còn giữ chức năng này và tiếp tục thu hút du khách. Dinh II, hay còn gọi Dinh Toàn quyền, được dùng làm khách sạn, nơi hội thảo của chính quyền địa phương, còn Dinh I đã đóng cửa vài năm gần đây để sửa chữa. Một dinh thự khác của Đà Lạt, biệt điện Trần Lệ Xuân cũng trở thành điểm du lịch ngay từ năm 1964, ngày nay là Trung tâm Lưu trữ quốc gia IV, nơi lưu giữ Mộc bản triều Nguyễn. Bên cạnh những di sản kiến trúc Pháp, một vài công trình xây dựng những thập niên gần đây như thiền viện Trúc Lâm, biệt thự Hằng Nga hay XQ Sử quán cũng đã trở thành địa điểm du lịch hấp dẫn. Nhưng giống như các thắng cảnh, một vài công trình kiến trúc của Đà Lạt cũng đang bị bỏ quên hoặc xâm hại. Khuôn viên nhà ga Đà Lạt, một trong những biểu tượng nổi tiếng của thành phố, trở thành bãi tập kết gốm sứ, cây cảnh và vườn rau bắp cải của người dân. Quần thể di tích kiến trúc Trường Cao đẳng Sư phạm không chỉ xuống cấp mà còn bị "chung cư hóa" bởi sự sinh hoạt của hơn 30 gia đình dân cư. Khu lăng mộ Nguyễn Hữu Hào từng bị bỏ hoang nhiều năm và trở thành địa điểm của những người nghiện ma túy và hoạt động mại dâm.
Với tuổi đời chỉ hơn một thế kỷ, Đà Lạt không có những lễ hội truyền thống lâu đời. Tuy vậy, từ năm 2005, thành phố bắt đầu tổ chức Festival Hoa Đà Lạt, một lễ hội với nhiều sự kiện cùng các hoạt động nghệ thuật nhằm giới thiệu các loài hoa địa phương cũng như từ những vùng miền khác. Năm 2007, dù chưa thực sự được tổ chức tốt, Festival Hoa Đà Lạt lần thứ hai đã thu hút khoảng 120 ngàn du khách tới thăm. Festival Hoa Đà Lạt 2010 là sự kiện đầu tiên trong chuỗi bảy sự kiện quốc gia mừng đại lễ 1000 năm Thăng Long – Hà Nội. Trong dịp này, đã có gần 300 ngàn du khách đến với Đà Lạt trong suốt 4 ngày của lễ hội. Năm 2012, Festival Hoa được tổ chức vào dịp nghỉ lễ Tết Dương lịch và đã thu hút hơn 300 ngàn du khách tới tham dự. Trong những năm gần đây, số lượng khách du lịch tới Đà Lạt vẫn tiếp tục tăng. Vào năm 2000, thành phố đón 710 ngàn lượt khách tới thăm, đến năm 2009, con số đã tăng gấp ba với trên 2,1 triệu lượt khách, trong đó khoảng 10% là du khách quốc tế. Mặc dù vậy, thời gian trung bình khách lưu lại Đà Lạt chỉ 2 ngày, trong khi tỷ lệ của Bình Thuận là 3,8 đến 4 ngày. Du lịch Đà Lạt phải đối mặt với sự cạnh tranh mạnh mẽ của Nha Trang và Phan Thiết, hai thành phố du lịch duyên hải không xa Đà Lạt.
=== Nông nghiệp ===
Nhờ thổ nhưỡng và khí hậu thuận lợi, Đà Lạt có điều kiện để phát triển nhiều loại cây ôn đới. Trừ một vài giống rau từ miền Bắc, hầu hết các giống rau của thành phố đều được nhập về từ Pháp, Đức, Hà Lan, Nhật Bản, Hoa Kỳ... Cây rau chiếm diện tích canh tác chủ yếu tại Đà Lạt cả trước đây và hiện nay là cải bắp, nhiều nhất là giống cải bắp của Nhật Bản, được trồng quanh năm. Các cây cải thảo và cải bông cũng có mặt ở khắp các địa phương, tập trung vào vụ đông xuân hàng năm. Một loại cây rau ngắn ngày nổi tiếng của Đà Lạt là xà lách, có thời gian sinh trưởng ngắn nên được trồng xen với những chủng loại cây rau khác. Trên các vùng trồng rau của Đà Lạt còn có thể thấy các giống cây nông nghiệp như khoai tây, cà rốt, hành tây, đậu Hà Lan, rau chân vịt... Đà Lạt được biết đến như vùng đất của những loài hoa, với các giống Mai anh đào Đà Lạt, hoa lan, hoa hồng, hoa lys, hoa lay ơn, hoa cẩm tú cầu, hoa bất tử, hoa cẩm chướng... Các giống lan nhập nội vào Đà Lạt thuộc các chi Lan kiếm, Lan hoàng thảo, Lan hài, Lan hoàng hậu... với trên 300 giống. Từ năm 2000, một số giống lan vùng nhiệt đới và á nhiệt đới cũng được trồng thành công như giống lai trong chi Hồ điệp, Hoàng y Mỵ Nương, Lan nhện. Các loài lay ơn, hoa hồng, hoa lys đều được trồng ở Đà Lạt từ khoảng giữa thế kỷ 20. Trên các vùng đất ngoại ô thành phố, còn có thể thấy những vườn cây ăn trái như đào, mận, hồng, dâu tây... các vùng trồng cây công nghiệp như chè, cà phê, hay atisô, loài cây dược liệu nổi tiếng của Đà Lạt. Vào năm 2011, thành phố có 7.123 hecta gieo trồng rau, 441 hecta trồng cây ăn quả, 25 hecta trồng lúa, và gần 3.500 hecta diện tích trồng hoa, trong đó khoảng 1.500 hecta nhà kính.
Trước đây, tham gia sản xuất nông nghiệp ở Đà Lạt là các gia đình nông dân và một số điền trang tư nhân quy mô nhỏ. Thời kỳ sau năm 1975, với chính sách kinh tế kế hoạch tập trung, ở Đà Lạt xuất hiện các hợp tác xã nông nghiệp và các tập đoàn sản xuất. Sản xuất nông nghiệp khi đó được thực hiện theo kế hoạch đến từng khóm dân cư, việc thu mua rau do Công ty Nông sản Thực phẩm và Công ty Ngoại thương đảm nhận. Nhưng đến cuối thập kỷ 1980, hầu hết các tập đoàn sản xuất và hợp tác xã đều ngừng hoạt động và tự tan rã, phần lớn đất sản xuất được giao khoán đến từng gia đình nông dân. Những năm gần đây, Đà Lạt xuất hiện nhiều công ty nông nghiệp tư nhân và nước ngoài, như Dalat Hasfarm Agrivina, Bonnie Farm, Rừng Hoa Đà Lạt, Langbiang Farm... trong lĩnh vực trồng hoa hay Golden Garden, Rau Nhà Xanh, Kim Bằng, Bio-Organics... tham gia sản xuất rau quả. Với mục đích ổn định, phát triển ngành sản xuất và tiêu thụ sản phẩm, vào năm 2002 và 2006, Hiệp hội rau quả Đà Lạt và Hiệp hội hoa Đà Lạt lần lượt được thành lập. Nhờ mở rộng diện tích canh tác và áp dụng những tiến bộ kỹ thuật, sản lượng nông nghiệp của thành phố tăng mạnh mẽ trong những năm gần đây. Vào năm 1996, Đà Lạt thu hoạch 82.448 tấn rau, đến năm 2002 con số này lên tới 183.300 tấn, và năm 2011, sản lượng rau của thành phố đạt 212.870 tấn.
Tương tự, ngành sản xuất hoa Đà Lạt cũng tăng trưởng trung bình 20% một năm, sản lượng hoa cắt cành ở mức 150 triệu cành năm 2001 đã tăng lên trên 900 triệu cành vào năm 2009 và 1,5 tỷ cành vào năm 2011. Sản phẩm hoa của thành phố được tiêu thụ chủ yếu ở thị trường Việt Nam, trong hơn 10 năm gần đây, chỉ khoảng 5% hoa Đà Lạt xuất khẩu ra nước ngoài.
== Xã hội ==
=== Y tế ===
Vào thời kỳ mới thành lập, ở Đà Lạt chỉ có một trạm cứu thương lưu động, đến năm 1921 thành phố mới có được trạm xá đầu tiên. Năm 1922, Bệnh viện Đà Lạt được người Pháp khởi công xây dựng và hoàn thành vào năm 1938. Cũng trong thời kỳ này, Viện Pasteur Đà Lạt được khánh thành vào ngày 1 tháng 1 năm 1936, là đơn vị cuối cùng trong hệ thống các viện Pasteur ở Đông Dương. Thời Việt Nam Cộng hòa, Bệnh viện Đà Lạt được phát triển thành Trung tâm Y tế toàn khoa thuộc Bộ Y tế. Sau năm 1975, trung tâm này được đổi lại thành Bệnh viện Đà Lạt, tiếp đó trở thành Bệnh viện Đa khoa tỉnh Lâm Đồng khi tỉnh Lâm Đồng được thành lập. Bệnh viện Y học cổ truyền được thành lập trên đường Cô Bắc năm 1986, tới năm 1993 đổi tên thành Bệnh viện Y học cổ truyền Phạm Ngọc Thạch. Năm 1990, với sự giúp đỡ của Làng Hòa Bình Quốc tế Cộng hòa Liên bang Đức, thành phố có được một Trung tâm phục hồi chức năng trẻ em dị tật. Cơ sở y tế này sau đó được sát nhập với Viện Điều dưỡng, vốn được thành lập năm 1988, trở thành Bệnh viện Điều dưỡng và Phục hồi chức năng.
Ngày nay, Bệnh viện Đa khoa Lâm Đồng, Bệnh viện Y học cổ truyền Phạm Ngọc Thạch và Bệnh viện Điều dưỡng và Phục hồi chức năng là ba bệnh viện tuyến tỉnh tại Đà Lạt, với tổng cộng 630 giường bệnh. Cuối năm 2008, Bệnh viện đa khoa Hoàn Mỹ Đà Lạt tọa lạc trên đồi Long Thọ, thuộc Phường 10, bắt đầu hoạt động. Đây là bệnh viện tư đầu tiên của Đà Lạt và vùng nam Tây Nguyên với diện tích sàn sử dụng 30.000 mét vuông và 200 giường bệnh. Năm 2010, Bệnh viện Nhi Đà Lạt bắt đầu được xây dựng trên đồi thông thuộc khu Thánh Mẫu - Tô Hiệu thuộc Phường 8. Dự kiến hoàn thành vào cuối năm 2013, Bệnh viện Nhi Đà Lạt có quy mô 150 giường bệnh, sẽ là bệnh viện nhi đầu tiên ở khu vực Tây Nguyên và Nam Trung Bộ. Bên cạnh các cơ sở y tế tuyến tỉnh, thành phố cũng có một mạng lưới y tế riêng bao gồm các cơ sở như Nhà hộ sinh Thành phố, Văn phòng Trung tâm Y tế, các phòng khám đa khoa khu vực... cùng các trạm y tế thuộc phường, xã. Những tổ chức hội y tế, gồm Hội Y Dược học, Hội Y học cổ truyền và Hội Chữ thập đỏ, cũng tham gia vào các hoạt động y tế ở thành phố. Theo số liệu thống kê năm 2011, thành phố Đà Lạt có 195 bác sĩ, 146 y sĩ và kỹ thuật viên, 285 y tá và 1.085 giường bệnh.
=== Giáo dục ===
Sau khi triều đình Huế thông báo dụ thành lập thị tứ Đà Lạt vào năm 1916, dân cư Đà Lạt và vùng lân cận dần tăng lên, hệ thống giáo dục ở đây bắt đầu hình thành và phát triển cùng với sự phát triển của thành phố. Trường học đầu tiên ở Đà Lạt là trường École française, khai giảng vào ngày 20 tháng 12 năm 1919, chỉ dành riêng cho các học sinh người Pháp. Cuối thập niên 1920, những công chức người Pháp tới Đà Lạt ngày một đông, thành phố có thêm hai ngôi trường Pháp mới, Petit Lycée và Grand Lycée. Trường Grand Lycée được khởi công xây dựng vào năm 1929 và khai giảng năm 1933, dành cho con em người Pháp và các quan lại người Việt. Đến năm 1935, trường khánh thành và mang tên Trung học Yersin, tiền thân của Trường Cao đẳng Sư phạm Đà Lạt ngày nay. Ngôi trường dành cho học sinh Việt Nam đầu tiên là một trường tư được thành lập năm 1927. Năm 1928, ngôi trường công dành cho học sinh Việt mang tên École communale de Dalat, ngày nay là trường tiểu học Đoàn Thị Điểm, khai giảng khóa đầu tiên. Năm 1934, Trường Couvent des Oiseaux và năm 1939, Trường Thiếu sinh quân Đà Lạt lần lượt được ra đời. Ở bậc giáo dục đại học, niên học 1944-1945, Chính phủ Pháp cho mở một lớp chuyên khoa toán đặt tại Trung học Yersin. Lớp học này có khoảng 40 sinh viên, chỉ tồn tại đến tháng 3 năm 1945, thời điểm Nhật đảo chính Pháp. Thời kỳ 1945 đến 1954, ở Đà Lạt còn xuất hiện thêm hai ngôi trường mới, Trường Hành chính Quốc gia và Trường Võ bị Liên quân Đà Lạt. Sau năm 1954, dân số Đà Lạt tăng đột biến nhờ một lượng lớn di dân từ miền Bắc và miền Trung, nhiều ngôi trường mới tiếp tục ra đời. Năm 1957, Viện Đại học Đà Lạt được thành lập, xuất phát từ một tổ chức tư thục do giáo hội Thiên Chúa giáo quản lý. Từ 49 sinh viên trong niên học đầu tiên 1958-1959, đến niên học 1974-1975, Viện Đại học Đà Lạt có khoảng 5.000 sinh viên theo học, bao gồm các trường Đại học Sư phạm, Đại học Văn khoa, Đại học Khoa học và Đại học Chính trị - Kinh doanh. Thời điểm trước tháng 4 năm 1975, tại Đà Lạt có đến 61 ngôi trường, cả công lập và tư thục. Bên cạnh các trường phổ thông, đại học, ở đây còn có nhiều trường đào tạo quân sự và tôn giáo như Trường Võ bị Quốc gia, Trường Chiến tranh chính trị, Trường Chỉ huy và Tham mưu, Giáo hoàng học viện.
Ngày nay, Đà Lạt vẫn là một trung tâm giáo dục của miền Nam Việt Nam. Năm 2011, ở bậc giáo dục tiểu học và phổ thông, toàn thành phố Đà Lạt có 44 trường, 1.763 giáo viên và 37.711 học sinh, trong đó 16.712 học sinh tiểu học, 12.311 học sinh trung học cơ sở và 8.688 học sinh trung học phổ thông. Thành phố cũng có 25 trường, 417 giáo viên và 8.972 học sinh bậc mẫu giáo. Tại Đà Lạt còn có thể thấy sự hiện diện của ba trường đại học, bốn trường cao đẳng cùng các trung tâm giáo dục thường xuyên, các trường giáo dục chuyên nghiệp, các cơ sở giáo dục đặc biệt dành cho trẻ em khuyết tật... Trường Cao đẳng Sư phạm Đà Lạt được thành lập năm 1976, đến năm 1992, trường hợp nhất với Trung học Sư phạm và Sư phạm Mầm non trở thành một trường sư phạm đa hệ. Do nhu cầu giáo viên các bậc học mầm non, tiểu học và trung học cơ sở giảm bớt nên quy mô đào tạo trường cũng thu hẹp lại, chỉ còn hơn 1.000 sinh viên chính quy. Năm 1976, Trường Đại học Đà Lạt được thành lập trên cơ sở của Viện Đại học Đà Lạt trước đó. Thời gian đầu, trường chỉ đào tạo cử nhân cho các ngành khoa học cơ bản với quy mô nhỏ, 250 sinh viên trong niên học 1977-1979. Ngày nay, Đại học Đà Lạt trở thành một trường đại học đa ngành với 52 ngành nghề của các bậc đào tạo từ trung cấp chuyên nghiệp, cao đẳng, đại học, sau đại học đến nghiên cứu sinh. Năm 2011, Trường Đại học Đà Lạt có 22.665 sinh viên đang theo học ở tất cả các bậc đào tạo. Từ năm 2004, thành phố Đà Lạt có thêm một trường đại học mới mang tên Alexandre Yersin. Hiện nay, Trường Đại học Dân lập Yersin Đà Lạt gồm 8 khoa, đào tạo 2.329 sinh viên trong năm 2011. Đà Lạt vẫn tiếp tục là địa điểm của một đại học quân sự quan trọng. Sau tháng 4 năm 1975, các trường quân sự của Việt Nam Cộng hòa bị giải thể. Bộ Quốc phòng quyết định chuyển địa điểm của Học viện Quân sự từ Hà Nội vào Đà Lạt, tiếp nhận cơ sở từ các trường quân sự cũ. Học viện Lục quân ngày nay nằm ở phía đông bắc thành phố, là nơi đào tạo sĩ quan trung cao cấp cho Quân đội Việt Nam, cũng là một cơ quan nghiên cứu khoa học quân sự. Bên cạnh các cơ sở giáo dục, ở Đà Lạt còn có sự hiện diện của nhiều trung tâm nghiên cứu khoa học quan trọng, như Viện Sinh học Tây Nguyên, Viện Nghiên cứu hạt nhân Đà Lạt hay Viện Pasteur Đà Lạt.
=== Tôn giáo và tín ngưỡng ===
Do những đặc điểm trong quá trình hình thành cộng đồng dân cư, đời sống tín ngưỡng và tôn giáo ở Đà Lạt rất đa dạng. Trên thành phố ngày nay có thể thấy sự hiện diện của 43 nhà thờ, tu viện Công giáo hay Tin Lành, 55 ngôi chùa và tịnh xá Phật giáo, 3 thánh thất Cao Đài cùng rất nhiều những ngôi đình làng nằm rải rác. Phần lớn cư dân Đà Lạt hiện nay là những người Việt đến từ nhiều vùng miền, vì thế có thể bắt gặp ở đây tất cả những hình thái tín ngưỡng phổ biến của người Việt như tục thờ cúng tổ tiên, tín ngưỡng Thành hoàng, tục thờ Mẫu, tục thờ gia thần... Nhưng điểm làm nên sự khác biệt giữa đời sống tín ngưỡng ở Đà Lạt với các vùng khác như miền Bắc và miền Trung chính là tuổi đời mới chỉ một thế kỷ của thành phố. Đà Lạt không có những ngôi từ đường cổ kính, các thôn làng ở đây không có những gốc tích xa xưa, những ngôi đình làng tuy xuất hiện dày đặc nhưng phần lớn đều mới được dựng lên cách đây chỉ 3, 4 thập kỷ và mang quy mô nhỏ. Ở nhiều ngôi đình, trên bàn thờ chính chỉ có một chữ "Thần" bằng chữ Hán và những người tham gia tế lễ cũng không biết danh tính, công đức của vị thánh mà mình thờ phụng. Đặc biệt, trong tín ngưỡng thờ Thành hoàng, những người có công mở làng lập ấp lại không được coi là Thành hoàng làng. Bên cạnh đó, đời sống tâm linh tại Đà Lạt còn có sự góp mặt của những hình thái tín ngưỡng dân gian thuộc các dân tộc thiểu số và cộng đồng người Hoa.
Hầu hết các tôn giáo lớn ở Việt Nam đều có mặt tại Đà Lạt, trong đó đạo Phật là tôn giáo có lượng tín đồ đông đảo nhất, tiếp đến là Công giáo, đạo Cao Đài và đạo Tin Lành. Các tôn giáo du nhập vào vùng cao nguyên Lâm Viên từ khá sớm và sự tăng trưởng về số lượng tín đồ, cơ sở thờ tự đều gắn liền với quá trình hình thành và phát triển của thành phố. Hầu như mỗi cuộc di dân đến đây đều đem lại cho Đà Lạt thêm một số lượng tín đồ cùng sự hình thành các cơ sở thờ tự mới. Có mặt sớm nhất ở Đà Lạt là Công giáo, xuất hiện ngay từ những ngày đầu xây dựng thành phố. Muộn hơn một chút là sự hoằng dương của Phật giáo rồi đến sự du nhập của đạo Tin Lành và đạo Cao Đài. Tuy hội đủ các loại hình tôn giáo khác nhau, nhưng các tôn giáo ở Đà Lạt chung sống hòa bình, trong gần 100 năm qua không hề có những xung đột tôn giáo. Nhiều thánh đường Công giáo nằm bên các chùa chiền và không xa có thể là một thánh thất Cao Đài. Bên cạnh xứ mệnh mở mang tôn giáo, những người tu hành của Thiên Chúa giáo, Tin Lành và Phật giáo ở Đà Lạt còn tham gia vào các hoạt động xã hội, đặc biệt trong lĩnh vực từ thiện nhân đạo. Rất nhiều những ngôi trường, cô nhi viện của thành phố xuất phát từ các cơ sở do những tổ chức tôn giáo thành lập. Theo số liệu của Ủy ban nhân dân thành phố Đà Lạt vào năm 2002, có khoảng 63% số hộ và 67% số nhân khẩu ở thành phố là tín đồ của Phật giáo, Cao Đài, Công giáo, hoặc Tin Lành.
== Kiến trúc ==
Đà Lạt là đô thị duy nhất ở Việt Nam được quy hoạch bài bản ngay từ khi hình thành. Vào năm 1906, khi nơi đây vẫn còn là một địa điểm hoang vắng, thị trưởng đầu tiên của Đà Lạt Paul Champoudry đã thiết lập một đồ án tổng quát kèm theo Dự án chỉnh trang và phân lô cho thành phố tương lai, áp dụng phương pháp quy hoạch phân khu chức năng rất hiện đại thời kỳ đó. Năm 1921, thời điểm công cuộc kiến thiết thành phố bước vào giai đoạn mạnh mẽ nhất, kiến trúc sư nổi tiếng Ernest Hébrard nhận nhiệm vụ xây dựng đồ án quy hoạch với định hướng Đà Lạt có thể trở thành thủ đô của Liên bang Đông Dương trong tương lai. Đặc biệt quan tâm tới vấn đề bảo vệ cảnh quan và bố cục không gian thẩm mỹ của thành phố, Ernest Hébrard đã sử dụng dòng suối Cam Ly như trục cảnh quan trung tâm, kết hợp cùng hệ thống các hồ nước nhân tạo. Bố cục chính của thành phố được tổ chức dựa trên trục cảnh quan này và mỗi hồ nước là một trung tâm cảnh quan của các công trình trong một phân khu chức năng. Sau hơn 10 năm áp dụng đồ án Hébrard, đến năm 1933, kiến trúc sư Louis Georges Pineau đưa ra nghiên cứu "Chỉnh trang thành phố Đà Lạt" với những quan niệm thực tế hơn. Louis Georges Pineau kế thừa ý tưởng của Ernest Hébrard, đề nghị mở rộng hơn nữa các hồ nước và công viên, bố trí các khu vực xây dựng phù hợp với cảnh trí, khí hậu địa phương, và thiết lập một vùng bất kiến tạo rộng lớn để bảo vệ tầm nhìn về hướng núi Lang Biang. Năm 1940, trong "Tiền dự án chỉnh trang và phát triển Đà Lạt", kiến trúc sư Mondet đề ra phương án không kéo dài thành phố, mà tổ chức hợp nhóm lại và mở rộng bằng cách ưu tiên sử dụng những lô đất gần trung tâm. Đồ án của Mondet tuy không được áp dụng nhưng đã được kiến trúc sư Jacques Lagisquet kế thừa trong "Chương trình chỉnh trang và phát triển Đà Lạt" năm 1943. Vẫn giữ ý tưởng của Ernest Hébrard về một "thành phố phong cảnh", nhưng Jacques Lagisquet quy hoạch xây dựng những khu trung tâm hành chính, thương mại, khu vực khách sạn, bệnh viện, trường học... để tạo nên một Đà Lạt nhiều sức sống và những trung tâm hoạt động hấp dẫn thu hút dân chúng. Tuy có những quan điểm khác biệt, nhưng các đồ án quy hoạch của Hébrard, Pineau, Mondet và Lagisquet mang tính kế thừa lẫn nhau và chung một ý tưởng xuyên suốt: Đà Lạt là một thành phố du dịch với cảnh quan thiên nhiên tươi đẹp.
Thành phố Đà Lạt được ví như một bảo tàng kiến trúc phương Tây đầu thế kỷ 20 với nhiều công trình nổi tiếng và những biệt thự xinh đẹp. Các công trình kiến trúc tiêu biểu nơi đây đều chọn lựa bố cục tổng thể theo hình khối nằm ngang ổn định, gắn kết chặt chẽ với địa hình và hòa hợp với thiên nhiên. Những công trình xây dựng dưới thời thuộc địa đều có cơ sở thiết kế phù hợp với điều kiện tự nhiên của địa phương và điều kiện sinh hoạt của cư dân. Trải qua một thời gian dài xây dựng thành phố, phong cách kiến trúc đã có nhiều thay đổi, từ phong cách kiến trúc thuộc địa tiền kỳ đơn giản với những cửa cuốn vòm và hành lang bao quanh, tới phong cách Tân cổ điển với những trang trí phong phú, đến phong cách kiến trúc địa phương Pháp của những ngôi biệt thự, và phong cách kiến trúc Hiện đại với nhiều hình khối, bố cục phi đối xứng ở các dinh thự. Tuy Đà Lạt mang đậm dấu ấn của những kiến trúc sư người Pháp, nhưng các nhà kiến trúc này khi thiết kế những công trình cho Đà Lạt cũng đã chịu ảnh hưởng của đặc điểm thiên nhiên, đặc biệt là các điều kiện về khí hậu thời tiết, cảnh quan môi trường nơi đây. Hiện tượng giao thao này đã đem lại cho Đà Lạt một phong cách kiến trúc riêng độc đáo và nhiều bản sắc. Tuy vậy, sau nhiều thập niên phát triển thiếu quy hoạch và buông lỏng quản lý, kiến trúc đặc sắc của Đà Lạt đã chịu nhiều biến dạng. Tình trạng xây cất trái phép, không phù hợp với quy hoạch, lấn chiếm những khu vực trống, tàn phá rừng nội ô... khiến bộ mặt kiến trúc đô thị của Ðà Lạt ngày nay trở nên nhem nhuốc. Không ít công trình kiến trúc giá trị không được bảo tồn tốt phải hứng chịu sự tàn phá của thời gian. Trong khắp thành phố, nhiều ngôi biệt thự cổ bị bỏ hoang hoặc biến thành chung cư, nhà trọ. Năm 2010, chính quyền tỉnh Lâm Ðồng thông báo quyết định mời một nhóm kiến trúc sư thuộc Viện Thiết kế quy hoạch đô thị Paris và một công ty thiết kế quy hoạch khác của Pháp thực hiện quy hoạch lại Ðà Lạt.
Công trình kiến trúc Đà Lạt
== Văn hóa và truyền thông ==
=== Địa điểm văn hóa ===
Mặc dù là một thành phố du lịch nổi tiếng, đô thị trung tâm của vùng Tây Nguyên, Đà Lạt lại rất thiếu vắng các địa điểm văn hóa và giải trí. Thành phố chỉ có một bảo tàng, một rạp chiếu phim và không có một nhà hát hay sân khấu nào. Trước đây, dù dân số Đà Lạt chỉ khoảng 70 ngàn người, thành phố có đến 4 rạp chiếu phim, gồm rạp Hòa Bình hay rạp 3-4, rạp Ngọc Lan, rạp Ngọc Hiệp, và một rạp mini trên đường Trương Công Định. Sau năm 1975, Đà Lạt còn có thêm rạp hát của Nhà Thiếu nhi. Nhưng cùng với thời gian, bốn rạp chiếu phim đã bị phá bỏ, thay thế bởi các khách sạn hoặc công trình khác. Thành phố hiện nay chỉ còn lại rạp 3-4, xây dựng cách đây hơn nửa thế kỷ. Mặc dù vậy, rạp chiếu này cùng khu Hòa Bình cũng bị dự định dỡ bỏ để quy hoạch lại. Các thiết chế văn hóa chủ yếu ở Đà Lạt ngày nay còn có Thư viện tỉnh Lâm Đồng, Bảo tàng Lâm Đồng và Nhà Thiếu nhi Lâm Đồng.
Thư viện tỉnh Lâm Đồng nằm ở số 22 đường Trần Phú, vốn là Thư viện Đà Lạt thành lập từ năm 1958 trên cơ sở tiếp quản toàn bộ khuôn viên tòa thị chính thị xã Đà Lạt. Sau năm 1975, cơ sở này được giao cho cơ quan văn hóa quản lý. Năm 1976, Thư viện tỉnh Lâm Đồng được thành lập dựa trên nền tảng Thư viện Đà Lạt và hàng ngàn bản sách do Thư viện Hà Giang gửi tặng. Hiện nay, thư viện lưu giữ trên 200.000 bản sách và hàng chục ngàn bản báo và tạp chí, phục vụ 35.397 lượt độc giả trong năm 2011. Năm 1978, Bảo tàng tỉnh Lâm Đồng được thành lập với các hiện vật về dân tộc học từ một số bộ sưu tập cá nhân và của chính quyền Việt Nam Cộng hòa để lại. Vào thời điểm ra đời, bảo tàng nằm ở số 31 đường Trần Bình Trọng. Sau nhiều lần thay đổi địa điểm, năm 1999, Bảo tàng Lâm Đồng chuyển về số 4 đường Hùng Vương, vốn là biệt thự của điền chủ Nguyễn Hữu Hào, cha của Hoàng hậu Nam Phương. Ngày nay, Bảo tàng Lâm Đồng được xem như bảo tàng tổng hợp về khảo cứu địa phương, lưu giữ khoảng hơn 15.000 hiện vật về các nghiên cứu, phát hiện khảo cổ học, dân tộc học, lịch sử và hai cuộc chiến tranh. Năm 2011, nơi đây đã đón 16.949 lượt khách tới tham quan.
=== Cơ quan truyền thông ===
Từ năm 1949, thành phố Đà Lạt đã có đài phát thanh, Radio Dalat là một trong bốn đài phát thanh thành lập đầu tiên ở Việt Nam. Trước đó, vào tháng 8 năm 1945, Ủy ban khởi nghĩa Đà Lạt - Lâm Viên từng thiết lập một trạm truyền thanh trong một căn phòng nhỏ ở trước chợ trung tâm Đà Lạt, ngày nay là rạp 3-4, dùng cho mục đích tuyên truyền. Radio Dalat thời gian đầu được đặt trên tầng ba của khách sạn Hôtel du Parc, phát thanh hàng ngày bằng ba thứ tiếng Việt, Pháp và Cơ Ho. Tháng 4 năm 1975, quân đội miền Bắc tiến vào Đà Lạt, tiếp quản cơ sở của Đài Phát thanh Đà Lạt, thiết lập nên Đài Phát thanh Đà Lạt giải phóng. Nhờ sự trợ giúp kỹ thuật của Truyền hình Việt Nam, tháng 9 năm 1977, một trạm tiếp sóng truyền hình được xây dựng tại nhà thờ Dòng Chúa Cứu Thế thuộc Phường 7, tiếp sóng kênh 9 Đài Truyền hình Thành phố Hồ Chí Minh. Năm 1984, Ủy ban Nhân dân tỉnh quyết định đổi tên Đài Phát thanh Lâm Đồng thành Đài Phát thanh – Truyền hình Lâm Đồng. Hiện nay, cùng với việc tiếp phát sóng của hai đài quốc gia, chương trình truyền hình của Đài Phát thanh – Truyền hình Lâm Đồng phát sóng 11 giờ mỗi ngày, chương trình phát thanh phát sóng 7 giờ mỗi ngày. Bên cạnh Đài Phát thanh – Truyền hình Lâm Đồng, thành phố Đà Lạt còn có Đài Truyền thanh – Truyền hình Đà Lạt, nằm ở số 4 đường Thủ Khoa Huân. Là trung tâm hành chính của Lâm Đồng, ở Đà Lạt có sự hiện diện của nhiều tờ báo, tạp chí của tỉnh, trong đó quan trọng nhất là Báo Lâm Đồng. Tờ báo này ra số đầu tiên vào ngày 19 tháng 8 năm năm 1977, hiện nay phát hành 3 số mỗi tuần vào thứ ba, thứ năm và thứ bảy. Báo Lâm Đồng cũng có một ấn bản điện tử cập nhật hàng tuần vào ngày thứ sáu với nội dung tổng hợp từ tin bài của các số báo in. Ngoài ra, báo chí Đà Lạt có thể kể đến các tờ tạp chí Thông tin Khoa học và Công nghệ của Sở Khoa học và Công nghệ, tạp chí Lang Bian của Hội Văn học Nghệ thuật Lâm Đồng, tạp chí Du lịch Đà Lạt của Sở Du lịch và Thương mại.
== Đà Lạt với nghệ thuật ==
Thành phố Đà Lạt thơ mộng là nguồn cảm hứng cho rất nhiều tác phẩm nghệ thuật, đặc biệt trong các lĩnh vực âm nhạc, nhiếp ảnh và văn chương. Những tác phẩm đầu tiên viết về Đà Lạt chủ yếu là nhật ký và ghi chép của các nhà thám hiểm như bác sĩ Paul Néis, trung úy Albert Septans, bác sĩ Alexandre Yersin... tất cả đều được viết bằng tiếng Pháp. Tác phẩm về Đà Lạt đầu tiên của người Việt có lẽ là Lâm Viên hành trình nhật ký của Đoàn Đình Duyệt, Thượng thư Bộ công của triều đình Huế, người lên Đà Lạt năm 1917 để nghiên cứu việc xây dựng hành cung. Khi nơi đây dần trở thành một thành phố, trên báo chí bắt đầu xuất hiện những bài viết, phóng sự về Đà Lạt. Trong lĩnh vực thi ca, ghi lại dấu ấn trong giai đoạn đầu này là hai bài thơ Đà Lạt trăng mờ của Hàn Mặc Tử và Đà Lạt đêm sương của Quách Tấn. Khoảng thời gian 1954 đến 1975, khi Đà Lạt là một trong những trung tâm tri thức của miền Nam Việt Nam, các tác phẩm với bối cảnh thành phố cũng ra đời nhiều hơn, như truyện dài Hoa bươm bướm của Võ Hồng, Vòng tay học trò của Nguyễn Thị Hoàng, Con đường của Nguyễn Đình Toàn, các tiểu thuyết Tóc Mây và Thung lũng tình yêu của Lệ Hằng hay tập truyện ngắn Bay đi những cơn mưa phùn của Phạm Công Thiện. Đà Lạt cũng là nơi các nhà văn, nhà thơ nổi tiếng đương thời như Nhất Linh, Vũ Hoàng Chương, Bùi Giáng... thường ghé qua.
Với âm nhạc, trong rất nhiều các tác phẩm viết về Đà Lạt, có thể kể đến những ca khúc nổi tiếng như "Thành phố buồn" của Lam Phương, "Thương về miền đất lạnh" và "Đà Lạt hoàng hôn" của Minh Kỳ, "Còn nắng trên đồi" của Lê Uyên Phương, hay "Ai lên xứ hoa đào" và "Bài thơ hoa đào" của Hoàng Nguyên. Đà Lạt cũng là thành phố gắn bó với nhiều nhạc sĩ, nghệ sĩ tên tuổi của tân nhạc Việt Nam. Trong những năm đầu sự nghiệp, nữ danh ca Khánh Ly sống tại Đà Lạt và hát cho các phòng trà nơi đây. Năm 1964, Khánh Ly gặp nhạc sĩ Trịnh Công Sơn trong quán Café Tùng và cuộc hội ngộ này đã tạo nên một cặp đôi nổi tiếng của âm nhạc Việt Nam. Trước khi chuyển về Sài Gòn, quán Café Tùng – ngày nay vẫn nằm trong trung tâm thành phố – thường là nơi lui tới của nhạc sĩ Trịnh Công Sơn và ca sĩ Khánh Ly. Một cặp đôi nổi tiếng khác cũng gặp gỡ tại Đà Lạt và từng gắn bó với thành phố này là nhạc sĩ Lê Uyên Phương và ca sĩ Lê Uyên.
Phong cảnh và con người Đà Lạt, Lâm Đồng đã trở thành đề tài khai thác của rất nhiều nhiếp ảnh gia Việt Nam. Những năm gần đây, không ít những triển lãm với đề tài Đà Lạt đã được tổ chức tại chính thành phố hoặc ở những đô thị khác. Triển lãm ảnh "Đà Lạt xưa" với sự tham gia của các nhiếp ảnh gia danh tiếng của Việt Nam và nước ngoài được tạp chí Xưa & Nay tổ chức tại khách sạn Sammy Đà Lạt năm 2008. Năm 2010, triển lãm ảnh "Đà Lạt - Cadasa" tại Công trường Lam Sơn, Thành phố Hồ Chí Minh, đã trưng bày tác phẩm của những nữ nghệ sĩ nhiếp ảnh về các biệt thự cổ vừa được trùng tu trên đường Trần Hưng Đạo, phản ảnh sự hồi sinh của quần thể biệt thự cổ và ý thức về trách nhiệm giữ gìn di sản kiến trúc, văn hóa và lịch sử. Năm 2010, những bức ảnh về Đà Lạt được đưa đến tham dự triển lãm tại thành phố Nam Ninh, Trung Quốc nhằm mang hình ảnh của "Đà Lạt - thành phố hoa" đến với ASEAN. Đây là hội chợ triển lãm những thành phố đẹp thuộc các nước ASEAN diễn ra hàng năm tại Trung Quốc và Đà Lạt là thành phố Việt Nam được chọn triển lãm nhằm giới thiệu, trưng bày, quảng bá những hình ảnh địa phương tới du khách. Vào năm 2000, tại Liên hoan ảnh nghệ thuật quốc tế Hasselblad Austrian Super Circuit ở Áo, câu lạc bộ Nhiếp ảnh Đà Lạt đã được ban tổ chức tặng Cúp vàng và bình chọn là câu lạc bộ có bộ ảnh dự thi đẹp nhất trong số 41 ngàn bức ảnh từ hơn 120 nước trên thế giới.
Trong lĩnh vực nghệ thuật thứ bảy, Đà Lạt là nơi lý tưởng mà nhiều đạo diễn truyền hình và điện ảnh trong nước chọn làm địa điểm quay phim. Thành phố thu hút các nhà làm phim nhờ giá sinh hoạt tương đối thấp và dễ dàng tìm được bối cảnh cho những cảnh quay đẹp. Một lý do khác, khí hậu mát mẻ, dễ chịu của Đà Lạt cũng tạo nhiều thuận lợi trong việc làm phim. Với những lợi thế để trở thành một phim trường thực sự, bao gồm phong cảnh thiên nhiên ưu đãi và những thắng cảnh, không gian những tòa kiến trúc, biệt thự, Đà Lạt từng có dự án đầu tư một phim trường và khu công viên nghệ sĩ tại Khu du lịch hồ Tuyền Lâm, tuy vậy đến thời điểm 2011, dự án này vẫn chưa được triển khai. Trong lịch sử điện ảnh Việt Nam, có thể thấy không ít những bộ phim lấy bối cảnh Đà Lạt, trong số đó có thể kể đến như Con ma nhà họ Hứa (1973), Giỡn mặt tử thần (1975), Tình nhỏ làm sao quên (1993), Khi yêu đừng quay đầu lại (2010)...
== Tham khảo ==
=== Chú thích ===
=== Thư mục ===
== Liên kết ngoài ==
Trang chính thức của thành phố Đà Lạt |
tự vệ đỏ.txt | Tự vệ Đỏ, đôi khi còn được gọi là Xích vệ, là lực lượng tự vệ được thành lập trong phong trào Xô Viết Nghệ Tĩnh (1930-1931) tại hai tỉnh Nghệ An và Hà Tĩnh ở miền Trung Việt Nam. Đội Tự vệ này sau đó được phát triển rộng khắp Việt Nam và là một công cụ để bảo vệ các Xứ ủy, các cơ sở của Đảng Cộng sản Đông Dương, chống thực dân Pháp...
== Sơ lược ==
Tự vệ Đỏ được tuyển chọn từ những thanh niên ưu tú, trung thành, dũng cảm, giỏi võ, có tinh thần hăng hái, tháo vát, có sức khỏe tốt trong các tổ chức Công hội Đỏ, Nông hội Đỏ, Đoàn thanh niên Cộng sản, v.v. Họ được trang bị gậy gộc, tầm vông, giáo, mác, dao, búa, liềm... và được tổ chức thành các đội vũ trang để bảo vệ người dân đấu tranh đòi các quyền dân sinh, dân chủ và trong các cuộc biểu tình chống Pháp. Trong thời gian đầu họ chưa được trang bị súng đạn. Tự vệ Đỏ là tổ chức tiền thân của các đội vũ trang cộng sản Đông Dương trước Cách mạng tháng Tám 1945 như Đội Tự vệ Công nông, Đội Tự vệ Cứu quốc, Đội Danh dự Trừ gian, Đội Danh dự Việt Minh, Đội Tiễu trừ Việt gian, Đội Hộ lương Diệt ác v.v.
Để có lực lượng hỗ trợ cho đồng bào đấu tranh bảo vệ trật tự an ninh, các chi bộ Đảng Cộng sản Đông Dương đã bắt tay ngay việc xây dựng phát triển lực lượng tự vệ. Trên cơ sở những đội Tự vệ đã được thành lập trước đây.
Đến khi các Thôn bộ nông (chỉ chính quyền Xô viết) đảm nhận chức năng quản lý xã hội thì cần có lực lượng mạnh để làm công cụ kháng Pháp và trấn áp những người theo Pháp, thị uy, cảnh cáo những hào lý dựa hơi người Pháp, vì thế các địa phương đã phát triển mạnh đội Tự vệ. Trên cơ sở nhiệm vụ được trên giao, qua thử thách đấu tranh, những người tích cực, hăng hái trong thanh niên dưới 40 tuổi được lựa chọn vào đội Tự vệ. Các đội Tự vệ Đỏ đã được tổ chức rộng rãi, nội trong huyện Anh Sơn (tỉnh Nghệ An) đã có 27 đội với 664 đội viên.
Cấp ủy Đảng, Nông hội không những chăm lo phát triển đội viên mà còn chú trọng bồi dưỡng người chỉ huy, phụ trách tự vệ. Người đội trưởng là người giỏi võ nghệ, am hiểu cơ bản về quân sự, thường là những cựu binh Văn Thân, Cần Vương. Chương trình huấn luyện của đội Tự vệ Đỏ bao gồm các bài tập lăn, lê, bò, toài, võ cận chiến, nằm nấp tránh máy bay, luyện tập cách thức bảo vệ đoàn biểu tình v.v.
Địa điểm huấn luyện là các khe núi, lòi cháng bí mật. Cứ tối đến là Tự vệ Đỏ tập trung để luyện tập. Các làng Đa Thọ, Yên Phúc, Cẩm Vọng, Yên Lương (Nghệ An) đã có lò rèn để sắm giáo mác cho Tự vệ. Tự vệ làng Yên Phúc do ông Nguyễn Văn Uy làm đội trưởng, là đơn vị ra đời sớm hoạt động có nề nếp, là chỗ dựa quan trọng của quần chúng. Yên Phúc là một làng lớn, tại đây còn có đội nữ xích vệ do nữ tướng Nguyễn Thị Nhuyễn (còn gọi là chị Lài) chỉ huy.
== Vai trò và trách nhiệm ==
Khi các Xô viết được lập ở nhiều làng xã, Tự vệ Đỏ trở thành công cụ trấn áp những người phản cách mạng, bảo vệ các Xô viết, bảo vệ các xứ ủy, đảng bộ địa phương, cơ sở địa phương của Đảng Cộng sản Đông Dương vừa thành lập, và chống trộm cướp, duy trì an ninh trật tự xã hội.
Các địa điểm, các cơ sở của cơ quan Đảng, ban chấp hành các xã Bộ Nông, các tổ chức quần chúng, các cuộc họp và các tổ chức khác của Đảng đều có Tự vệ Đỏ tuần tra, canh phòng, bảo vệ nghiêm mật. Trong các cuộc mít tinh, biểu tình khi có cán bộ diễn thuyết, tuyên truyền, các đội viên Tự vệ Đỏ vừa kêu gọi, cổ vũ quần chúng vừa làm công tác bảo vệ an toàn, bố trí nhiều vành đai bảo vệ.
Tại các làng xã có chính quyền Xô viết, Tự vệ Đỏ được giao nhiệm vụ giữ gìn an ninh trật tự, giữ nghiêm luật lệ, kỷ cương, chỉ thị của chi bộ Đảng, Xã Bộ Nông (tổ chức chính quyền sơ khai), các tổ chức quần chúng. Đồng thời Tự vệ Đỏ còn làm nhiệm vụ phát hiện và ngăn chặn mật thám, cộng sự người Việt của Pháp, cảnh giác đề phòng lính đồn Tây tấn công; các điểm canh, vọng gác đầu làng luôn có Tự vệ Đỏ túc trực ngày đêm làm tai mắt cho cấp ủy, chính quyền và dân làng. Hiệu lệnh phát ra là tiếng kẻng liên hồi hoặc tiếng trống ngũ liên dồn dập để mọi người trong làng tổ chức đối phó kịp thời.
Để bảo vệ cho các cuộc biểu tình, Tự vệ Đỏ được giao nhiệm vụ: Bắt giữ những người Việt gian và phản động, canh gác, chốt chặn các ngã đường Pháp và cộng sự có thể đi qua, theo dõi nắm tình hình mọi biến động của quan lại các phủ, huyện, đồn lính. Trong lúc biểu tình Tự vệ Đỏ với các vũ khí thô sơ tự tạo (giáo mác, búa, liềm, gậy, dao găm, mã tấu, tre vạt nhọn, lưỡi lê, cung, ná, nỏ...), chiếm giữ các huyện lỵ, công sở, đồn trại lính, chống trả lính Pháp đến đàn áp, bảo vệ đồng bào đấu tranh, trừng trị những lãnh đạo thực dân hay cộng sự người Việt đã từng gây nhiều tội ác với nhân dân, vừa để ngăn chặn kẻ thủ ác, vừa răn đe cảnh cáo những thành phần khác, thực thi quyền lực của các Xô viết.
Ngày 13-9-1930, tại chợ Cồn - Thanh Chương, Tỉnh ủy Nghệ An tổ chức lễ truy điệu các liệt sĩ hy sinh trong cuộc thảm sát của thực dân Pháp ở Thái Lão - Hưng Nguyên vào ngày hôm trước, hơn 20.000 người đã tham dự. Ban tổ chức huy động gần 1.000 đội viên Tự vệ Đỏ làm hàng rào danh dự, canh gác, bảo vệ. Các đội viên Tự vệ Đỏ hàng ngũ chỉnh tề đứng trang nghiêm trước lễ đài mang dòng chữ "Truy điệu những chiến sĩ hy sinh vì nhiệm vụ để bảo vệ, bênh vực lợi quyền cho quần chúng lao khổ An Nam".
Tại nhiều cuộc mít tinh khác Tự vệ Đỏ được huy động và sử dụng làm lực lượng tiêu binh danh dự, biểu tượng cho việc thực thi quyền lực của chính quyền Xô viết. Có mặt Tự vệ đỏ trong mọi hoạt động của chính quyền cách mạng thời kỳ này như là sự khích lệ tinh thần tự tin, ý chí đấu tranh quyết chiến, và là một chỗ dựa đáng tin cậy cho đồng bào công nông trong cuộc đấu tranh không cân sức với đế quốc thực dân Pháp.
Nhiệm vụ của Tự vệ Đỏ còn là tổ chức treo cờ búa liềm, rải truyền đơn để gây tiếng vang trong quần chúng. Khi biểu tình nổ ra thì họ đi hai bên hỗ trợ bảo vệ không cho đế quốc Pháp tấn công, đàn áp, hay cho cộng sự người Việt trà trộn vào đoàn người. Đối với những lý trưởng phản động, trung thành với thực dân, đàn áp đồng bào thì Tự vệ cảnh cáo, trừng trị, trấn áp. Khi xã bộ nông, thôn bộ nông ra đời thì họ lo bảo vệ các Xô viết, giữ gìn an ninh trật tự thôn xóm, đánh trộm bắt cướp, chống phỉ, chống khủng bố, chống càn quét.
Qua các cuộc đấu tranh của hàng ngàn người dân Đặng Lâm ngày 08/9/1930, lễ truy điệu liệt sĩ Nguyễn Hữu Hiền 10/9/1930, cuộc biểu tình ở Yên Phúc (Nghệ An) ngày 10/11/1930, các đội Tự vệ Đỏ có nhiều trai làng, võ sinh, võ sĩ đều võ trang giáo mác, gậy gộc bảo vệ.
Tự vệ Đỏ đã trừng phạt hàng loạt những viên công sự người Việt trong bộ máy cai trị của thực dân Pháp, từ tổng đến làng xã như lý trưởng Trần Ủ, hương hào Trần Đàng, hương kiểm Trần Tiêu, Lê Toàn trong tháng 3/1931; phó tổng Lê Văn Trì, lý trưởng Hà Văn Bân, Nguyễn Văn Liêm cùng hàng loạt bang tá, hương kiểm v.v. bị cảnh cáo.
Ngày 27/5/1931, Tự vệ Đỏ của làng Yên Phúc bắt 11 người tổng lý hỏi tội, trừng phạt người đồn trưởng đồn Dừa Pêriê, một người Pháp chuyên đi xe đạp về làng nhũng nhiễu nhân dân Việt Nam.
Với sự góp sức bảo vệ của Tự vệ Đỏ, các làng Xô viết đã tịch thu ruộng đất của địa chủ, tiền lúa công chia cho người nghèo, đặc biệt là các nông dân, bắt hào lý ở Yên Phúc phải trả 100 mẫu ruộng đất ngoài bãi chia cho nông dân. Tệ đồng bóng, mê tín dị đoan, rượu chè, cờ bạc bị cấm. Tại làng Lương Điền (Nghệ An), Nông hội Đỏ huy động lực lượng đắp đập Khe Mương, chợ Xá. Không những thế Tự vệ Đỏ và Nông hội Đỏ còn đi tuần tra, canh gác ban đêm cho người dân.
Cuối năm 1930, đầu năm 1931, đế quốc Pháp đàn áp phong trào Xô Viết rất dữ dội. Họ bắt bớ cán bộ, đảng viên Anh Sơn 617 người giam ở nhà lao Vinh, Lao Bảo, Ban Mê Thuột, Kon Tum. Để chống lại, giữa năm 1931 quân dân tổng Lương Điền với các đội Tự vệ Đỏ đã cầm giáo mác, gươm đao và tầm vông vạt nhọn hộ tống bà con bao vây đồn Dừa, bà con Tri Lễ (Nghệ An) vây đồn Yên Phúc, dân làng Lãng Điền (Nghệ An) bao vây đồn Pháp đóng ở nhà thờ Quan Án...
== Nhận định ==
Theo ông Nguyễn Hữu Bình, Bảo tàng Xô Viết Nghệ Tĩnh, sự ra đời của lực lượng Tự vệ Đỏ đã chứng minh rằng con đường cách mạng vũ lực là con đường duy nhất đúng. Bạo lực cách mạng của quần chúng bao gồm lực lượng chính trị và lực lượng vũ trang, muốn giải phóng giai cấp, giải phóng dân tộc chỉ có con đường cách mạng tiến công, cách mạng triệt để và kiên trì tiến hành sự nghiệp đấu tranh bằng phương pháp cách mạng vũ trang. Tự vệ Đỏ trong cao trào Xô Viết Nghệ Tĩnh là tiền thân của các lực lượng vũ trang cách mạng Việt Nam sau này.
Theo báo Công an Nghệ An, Tự vệ Đỏ ra đời trong bão táp cách mạng Xô Viết Nghệ Tĩnh, đảm nhận vai trò nòng cốt, tiên phong, gan dạ, mưu trí làm cho thực dân Pháp "run sợ". Họ xứng đáng một bộ phận tiền thân của lực lượng vũ trang nhân dân Việt Nam ngày nay.
== Xem thêm ==
Phong trào Xô Viết Nghệ Tĩnh
Đảng Cộng sản Đông Dương
Lịch sử Việt Nam thời Pháp thuộc
Đế quốc thực dân Pháp
Toàn quyền Đông Dương
Nô lệ
Thuộc địa
Chủ nghĩa đế quốc
Chủ nghĩa thực dân
Phong trào giải phóng dân tộc Việt Nam (1885-1945)
== Tham khảo ==
== Liên kết ngoài ==
Tự vệ đỏ trong phong trào Xô viết Nghệ Tĩnh |
yukon.txt | Yukon ( /ˈjuːkɒn/; phát âm tiếng Pháp: [jykɔ̃]) là lãnh thổ liên bang nhỏ nhất và xa nhất của Canada (hai lãnh thổ khác là Các Lãnh thổ Tây Bắc và Nunavut). Yukon có mật độ dân số rất thưa thới với chỉ 35.000 trên diện tích gần nửa triệu km2. Whitehorse là thủ phủ và thành phố duy nhất của Yukon.
Lãnh thổ này được tách ra từ Các Lãnh thổ Tây Bắc năm 1898 và được đặt tên là "Lãnh thổ Yukon". Đạo luật Yukon của chính phủ liên bang nhận, được hoàng gia phê chuẩn ngày 27 tháng 3 năm 2002, xác định "Yukon" là tên chính thức của lãnh thổ này, tuy vậy, "Lãnh thổ Yukon" vẫn được dùng phổ biến và Bưu chính Canada vẫn cho phép sử dụng tên viết tắt YT. Dù có hai ngôn ngữ chính thức (tiếng Anh và tiếng Pháp), Chính phủ Yukon cũng công nhận những ngôn ngữ First Nations (những ngôn ngữ thổ dân).
Núi Logan cao 5.959 m (19.551 ft) tại Vườn quốc gia và Khu bảo tồn Kluane, là núi cao nhất Canada và cao thứ nhì tại Bắc Mỹ (sau Denali tại bang Alaska, Hoa Kỳ). Đa phần Yukon có khí hậu khi hậu cận Bắc cực, với những đặt điểm như mùa đông dài, lạnh và mùa hè ngắn nhưng ấm. Phần bờ biển Bắc Băng Dương có môi trường đài nguyên.
Những con sông đáng chú gồm sông Yukon, Pelly, Stewart, Peel, White và Tatshenshini.
== Tham khảo ==
Phương tiện liên quan tới Yukon tại Wikimedia Commons |
đại học quốc gia hà nội.txt | Đại học Quốc gia Hà Nội (tên giao dịch tiếng Anh: Vietnam National University, Hanoi, viết tắt: VNU) là một trong hai đại học quốc gia của Việt Nam, đặt tại Hà Nội. Đây là đại học uy tín nhất Việt Nam hiện nay, xếp hạng thứ 139 châu Á (2016) theo QS World University Rankings. Đại học Quốc gia Hà Nội tổ chức đào tạo đại học, sau đại học, nghiên cứu và ứng dụng khoa học-công nghệ, đa ngành, đa lĩnh vực, chất lượng cao, giữ vai trò nòng cốt, quan trọng trong hệ thống giáo dục đại học ở Việt Nam.
== Lịch sử ==
Tiền thân của Đại học Quốc gia Hà Nội là Viện Đại học Đông Dương (tiếng Pháp: Université Indochinoise) do chính quyền thuộc địa Pháp thành lập vào năm 1906. Viện Đại học Đông Dương có địa điểm ở số 19 phố Lê Thánh Tông, Hà Nội. Vào năm 2006, Đại học Quốc gia Hà Nội đã tổ chức lễ kỷ niệm 100 năm ngày thành lập Viện Đại học Đông Dương.
Sau Cách mạng tháng 8 năm 1945, chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa thành lập Trường Đại học Quốc gia Việt Nam trên cơ sở kế thừa Viện Đại học Đông Dương. Khi Pháp trở lại Đông Dương sau Chiến tranh thế giới thứ hai, Viện Đại học Đông Dương được đổi tên thành Viện Đại học Hà Nội (tiếng Pháp: Université de Hà Nội), đứng đầu là một viện trưởng người Pháp.
Năm 1956, Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội (trường đại học lớn nhất miền Bắc) được thành lập và đặt cơ sở ở địa điểm của Viện Đại học Đông Dương.
Năm 1993 chính phủ Việt Nam trên cơ sở tổ chức, sắp xếp lại ba trường đại học lớn hiện có ở Hà Nội: Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội I (cũ) và Trường Đại học Sư phạm Ngoại ngữ Hà Nội thành một cơ sở giáo dục lấy tên Đại học Quốc gia Hà Nội. Đến năm 1999, Trường Đại học Sư phạm lại tách khỏi Đại học Quốc gia Hà Nội thành Trường Đại học Sư phạm Hà Nội.
== Cơ cấu tổ chức ==
Đại học Quốc gia Hà Nội có cơ cấu tổ chức đặc biệt (so với các trường đại học khác ở Việt Nam) gồm 3 cấp quản lý hành chính:
Đại học Quốc gia Hà Nội là đầu mối được giao các chỉ tiêu kế hoạch Nhà nước hàng năm, có tư cách pháp nhân, có con dấu mang hình quốc huy.
Các trường đại học, viện nghiên cứu khoa học thành viên là các cơ sở đào tạo - nghiên cứu do Thủ tướng Chính phủ ra quyết định thành lập, trong đó Trường Đại học Khoa học Tự nhiên và Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn là hai trường đại học trọng điểm trong hệ thống giáo dục đại học Việt Nam. Các khoa, trung tâm nghiên cứu, đơn vị trực thuộc Đại học Quốc gia Hà Nội là các đơn vị có tư cách pháp nhân độc lập, có con dấu và tài khoản riêng.
Các khoa, phòng nghiên cứu thuộc trường đại học, viện nghiên cứu trực thuộc trường.
Đại học Quốc gia Hà Nội hoạt động theo cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm cao, chịu sự lãnh đạo trực tiếp của Thủ tướng Chính phủ. Các trường đại học và các viện nghiên cứu thuộc Đại học Quốc gia Hà Nội là các cơ sở đào tạo, nghiên cứu khoa học có tư cách pháp nhân và quyền tự chủ như các trường đại học, viện nghiên cứu khác được quy định trong Luật Giáo dục, Luật Giáo dục đại học và Luật Khoa học-Công nghệ. Giám đốc, các Phó Giám đốc và Chủ tịch Hội đồng Đại học Quốc gia Hà Nội do Thủ tướng Chính phủ bổ nhiệm. Hiệu trưởng các trường đại học thành viên, thủ trưởng các đơn vị trực thuộc do Giám đốc ĐHQGHN bổ nhiệm. Là Đại học có số lượng GS, PGS, TSKH, TS số 1 tại Việt Nam với 51 GS, 336 PGS, 881 TSKH, TS. Tỉ lệ giảng viên có học vị tiến sĩ trở lên là 60%. Là nơi tập trung đông đảo các giáo sư đầu ngành, với 110 ngành, chuyên ngành đào tạo đại học, 168 chuyên ngành đào tạo thạc sĩ và 137 chuyên ngành đào tạo tiến sĩ.
== Các đơn vị trực thuộc ==
=== Các trường đại học thành viên ===
Trường Đại học Khoa học Tự nhiên
Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn
Trường Đại học Ngoại ngữ
Trường Đại học Công nghệ
Trường Đại học Kinh tế
Trường Đại học Giáo dục
Trường Đại học Việt - Nhật
=== Các khoa trực thuộc ===
Khoa Luật
Khoa Quản trị Kinh doanh
Khoa Quốc tế
Khoa Sau đại học
Khoa Y - Dược
=== Các trung tâm nghiên cứu, đào tạo trực thuộc ===
Trung tâm Nghiên cứu Đô thị
Trung tâm Giáo dục Quốc phòng và An ninh
Trung tâm Nghiên cứu Tài nguyên và Môi trường
Trung tâm Giáo dục Thể chất và Thể thao (thành lập ngày 04/5/2009 trên cơ sở sáp nhập và tổ chức lại các Bộ môn Giáo dục Thể chất trực thuộc Trường Đại học Khoa học Tự nhiên, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn và Trường Đại học Ngoại ngữ.
=== Các viện nghiên cứu khoa học thành viên ===
Viện Công nghệ thông tin
Viện Việt Nam học và Khoa học phát triển
Viện Vi sinh vật và Công nghệ sinh học
Viện Đảm bảo chất lượng giáo dục
Viện Tin học Pháp ngữ
Viện Trần Nhân Tông
=== Một số đơn vị phục vụ ===
Nhà Xuất bản Đại học Quốc gia Hà Nội
Tạp chí Khoa học
Trung tâm Hỗ trợ sinh viên
Trung tâm Thông tin - Thư viện
Trung tâm Hỗ trợ Nghiên cứu châu Á
Ban Quản lý các dự án
Văn phòng hợp tác Đại học Quốc gia Hà Nội và Đại học Kyoto (VKCO)
Quỹ Phát triển Khoa học và Công nghệ
Bệnh viện ĐHQGHN
Trung tâm Dự báo và phát triển nguồn nhân lực
Trung tâm Hợp tác và chuyển giao tri thức
Quỹ Phát triển Đại học Quốc gia Hà Nội
Trung tâm Phát triển Đại học Quốc gia Hà Nội
Trung tâm Kiểm định chất lượng giáo dục
Trung tâm Khảo thí ĐHQGHN
Trung tâm Ứng dụng công nghệ thông tin
== Cơ sở vật chất ==
=== Trụ sở chính ===
Hiện tại trụ sở chính của Đại học Quốc gia Hà Nội tọa lạc tại địa chỉ: Số 144, đường Xuân Thuỷ, quận Cầu Giấy, Hà Nội.
=== Cơ sở Hòa Lạc ===
Ngày 27 tháng 1 năm 1995, Thủ tướng chính phủ có quyết định số 72/TTg về địa điểm Đại học Quốc gia Hà Nội và Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh. Theo quyết định này, diện tích đất để quy hoạch xây dựng Đại học Quốc gia Hà Nội là 1000 ha, nằm trong phạm vi đất Nông trường 1A thuộc Huyện Thạch Thất, tỉnh Hà Tây (nay là Hà Nội).
Ngày 23 tháng 8 năm 2002, Thủ tướng chính phủ có quyết định số 702/QĐ-TTg phê duyệt điều chỉnh quy hoạch chung Đại học Quốc gia Hà Nội tại Hòa Lạc. Số vốn dành cho dự án này tại thời điểm đó là 7320 tỷ đồng. Sau khi hoàn thành, Đại học Quốc gia Hà Nội sẽ trở thành một khu đô thị đại học lớn nhất Việt Nam, với đầy đủ các công trình công cộng bên trong như trường học, bưu điện, bệnh viện, trạm xe buýt, công viên và các khu vui chơi giải trí khác.
Mục tiêu là đến năm 2015 sẽ đưa một số đơn vị trực thuộc lên cơ sở Hòa Lạc, và vào năm 2025 sẽ chuyển toàn bộ Đại học Quốc gia Hà Nội cùng các cơ sở trực thuộc lên cơ sở mới tại Hòa Lạc. Ngày 30 tháng 9 năm 2008, Thủ tướng chính phủ có quyết định số 1404/QĐ-TTg về việc chuyển chủ đầu tư dự án xây dựng Đại học Quốc gia Hà Nội tại Hoà Lạc từ Đại học Quốc gia Hà Nội sang Bộ Xây dựng Số vốn dành cho dự án được ước tính sẽ vào khoảng 2.5 tỉ USD.
Ngày 20/12/2004, Thủ tướng Chính phủ Phan Văn Khải đã dự và phát lệnh khởi công Đại học Quốc gia Hà Nội tại Hoà Lạc.
Tháng 12/2014, Đại học Quốc gia Hà Nội đã tiếp nhận các cơ sở đầu tiên tại Hoà Lạc để đưa vào khai thác, sử dụng. Các cơ sở: Khu Nhà công vụ, Khu Ký túc xã số 4.
Ngày 20/12/2014, Chủ tịch nước Trương Tấn Sang đã tham dự lễ động thổ Trường Đại học Việt - Nhật thuộc Đại học Quốc gia Hà Nội.
== Các giám đốc ==
== Xem thêm ==
Danh sách trường đại học và cao đẳng tại Hà Nội
=== Chú thích ===
== Liên kết ngoài ==
Trang chủ Đại học Quốc gia Hà Nội |
kinh tế slovenia.txt | Kinh tế Slovenia hiện nay là nền kinh tế phát triển, đất nước có sự ổn định và thịnh vượng, GDP bình quân đầu người đạt 21.500 USD, cao hơn các nền kinh tế chuyển đổi khác ở Trung Âu.
== Lịch sử ==
Mặc dù Slovenia chỉ có chiếm khoảng 1/13 dân số tổng cộng của Nam Tư trước đây, nhưng nó là nơi sản xuất phần lớn hàng hóa cho Nam Tư, chiếm khoảng 1/5 GDP và 1/3 lượng hàng hóa xuất khẩu. Do vậy khi giành được độc lập vào năm 1991 nước này đã có một nền kinh tế thịnh vượng và mối quan hệ vững chắc với thị trường phương Tây.
Từ khi giành được độc lập, Slovenia luôn theo đuổi chính sách đa dạng hóa các quan hệ thương mại với các nước phương Tây, hội nhập vào châu Âu và chuyển đổi nhanh chóng về thể chế. Slovenia là một cựu thành viên sáng lập WTO, đã gia nhập CEFTA năm 1996, gia nhập Liên minh châu Âu vào 1 tháng 5 năm 2004. Slovenia cũng tham gia vào SECI (Southeast European Cooperation Initiative), và nhiều tổ chức khác như CEI, Royaumont Process, và BSEC (Black Sea Economic Council).
== Chú thích == |
mcdonnell xf-85 goblin.txt | McDonnell XF-85 Goblin là một mẫu thử máy bay tiêm kích do hãng McDonnell Aircraft thai nghén từ Chiến tranh Thế giới II. XF-85 sẽ được phóng đi từ khoang quân giới trên một chiếc máy bay ném bom Convair B-36 cỡ lớn. Nhiệm vụ của XF-85 sẽ là bảo vệ các máy bay ném bom khỏi các máy bay tiêm kích đánh chặn của đối phương, một điều đã được minh chứng trong Chiến tranh Thế giới II. 2 mẫu thử đã được chế tạo trước khi chương trình bị hủy bỏ.
XF-85 bắt nguồn từ yêu cầu của Không quân Lục quân Hoa Kỳ (USAAF) về một loại tiêm kích có thể mang theo máy bay ném bom Northrop XB-35 và B-36. Nó là một máy bay phản lực nhỏ có khung thân hình quả trứng và thiết kế đuôi sau kiểu cái dĩa. Các mẫu thử được chế tạo và trải qua các cuộc thử nghiệm vào năm 1948. Thử nghiệm bay cho thây hứa hẹn từ mẫu thiết kế này, nhưng hiệu năng của nó lại kém hơn khi tham gia thử nghiệm chiến đấu, ngoài ra còn khó khăn trong việc gắn nó vào máy bay ném bom. XF-85 nhanh chóng bị hủy bỏ, các mẫu thử được đưa tới các bảo tàng. Sau khi USAAF tách ra thành quân chủng Không quân Hoa Kỳ (USAF) năm 1947, USAF tiếp tục theo đuổi các mẫu máy bay tương tự như XF-85 thuộc các đề án MX-106 "Tip Tow", FICON và "Tom-tom", nhưng tất cả đều bị hủy bỏ.
== Thiết kế và phát triển ==
Trong chiến tranh thế giới thứ II, các máy bay ném bom của Mỹ như Boeing B-17 Flying Fortress, Consolidated B-24 Liberator và Boeing B-29 Superfortress được bảo vệ bởi các máy bay tiêm kích hộ tống tầm xa như Republic P-47 Thunderbolt và North American P-51 Mustang. Những máy bay tiêm kích không phù hợp với tầm hoạt động của Northrop B-35 hay Convair B-36, đây là 2 loại máy bay ném bom thuộc thế hệ tiếp theo do USAAF phát triển. Chi phí phát triển máy bay tiêm kích tầm xa quá cao, trong khi giải pháp tiếp nhiên liệu trên không vẫn còn gặp nhiều khó khăn về công nghệ và có độ nguy hiểm cao. Bản thân phi công tiêm kích cũng gặp phải mệt mỏi trong các chuyến bay hộ tống tầm xa ở Châu Âu và Thái Bình Dương, từ đó đã tiếp thêm động lực để các kỹ sư tiếp cận những sáng tạo mới.
USAAF đã xem xét một số lựa chọn khác nhau bao gồm sử dụng máy bay điều khiển từ xa trước khi chọn mẫu máy bay tiêm kích con mang cùng máy bay ném bom mẹ là B-36. Ý tưởng về máy bay tiêm kích con khởi đầu từ năm 1918, lúc đó Không quân Hoàng gia đã thử nghiệm tính khả thi của loại tiêm kích con Sopwith Camel mang theo khí cầu 'R23. Trong những năm 1930, Hải quân Hoa Kỳ cũng từng có những mẫu tiêm kích con hoạt động trong một thời gian ngắn như Curtiss F9C Sparrowhawk, trang bị khí cầu Akron và Macon. Bắt đầu từ năm 1931, kỹ sư thiết kế máy bay Vladimir Vakhmistrov đã tiến hành các thử nghiệm ở Liên Xô thuộc Đề án Zveno với 5 mẫu tiêm kích thuộc các kiểu khác nhau được máy bay ném bom Polikarpov TB-2 và Tupolev TB-3 mang theo. Tháng 8/1941, một phi đội máy bay ném bom TB-3 mang theo những chiếc máy bay ném bom bổ nhào Polikarpov I-16SPB đã tấn công cầu Cernavodă và cầu cảng Constantsa ở România. Sau cuộc tấn công này, phi đội đóng căn cứ ở Crimea, còn thực hiện một cuộc tấn công chiến thuật khác vào một cây cầu trên sông Dnieper ở Zaporozhe do quân Đức chiếm giữ. Sau đó trong Thế chiến II, Luftwaffe cũng thử nghiệm Messerschmitt Me 328 với vai trò tiêm kích con, nhưng các vấn đề về động cơ xung lực đã khiến việc thử nghiệm thất bại. Vào cuối chiến tranh, các đề án tiêm kích con trang bị động cơ tên lửa như Arado E.381 và Sombold So 344 cũng mới chỉ dừng lại trên bản vẽ.
Ngày 3/12/1942, USAAF đưa ra một Hồ sơ mời thầu (RfP - Request for Proposals) cho một mẫu máy bay tiêm kích trang bị động cơ piston cỡ nhỏ. Tháng 1 năm 1944, Bộ chỉ huy hậu cần kỹ thuật không quân đã tuyển chọn RfP và vào tháng 1 năm 1945, các chi tiết kỹ thuật được sửa đổi thành MX-472, một mẫu máy bay trang bị động cơ phản lực. Dù một số công ty hàng không vũ trụ đã nghiên cứu tính khả thi của loại máy bay này, McDonnell là công ty duy nhất gửi một hồ sơ đáp ứng yêu cầu năm 1942 và các yêu cầu sửa đổi sau đó. Kiểu mẫu 27 đề xuất của công ty đã được làm lại hoàn toàn để đáp ứng các chỉ tiêu kỹ thuật mới.
Khái niệm ban đầu cho Kiểu mẫu 27 là loại tiêm kích được mang dưới bụng của B-29, B-35 hoặc B-36. USAAF từ chối đề nghị này, với lý do lực kéo tăng nên là giảm tầm hoạt động của cấu hình máy bay tiêm kích-ném bom hỗn hợp. Ngày 19/3/1945, đội thiết kế của McDonnell do Herman D. Barkey đứng đầu, đưa ra một đề nghị sửa đổi, thiết kế lại có tên gọi Kiểu mẫu 27D. Chiếc máy bay nhỏ hơn có khung thân dạng quả trứng, đuôi có dạng dĩa, cánh chính xuôi sau 37° và gập lại được để máy bay có thể lắp vừa vào khoang quân giới của máy bay ném bom. Máy bay thiết kế lại có chiều dài 14 ft 10 in (4,52 m), sải cánh khi mở là 21 ft (6,4 m). Nhiên liệu máy bay mang được chỉ có 112 gallon (93 imp gal; 420 l) cho phép máy bay có thể chiến đấu liên tục trong 30 phút. Một chiếc móc được lắp dọc theo trọng tâm của máy bay; khi bay, nó thụt vào nằm trong ngăn ở phần trên của mũi. Máy bay có trọng lượng rỗng là 4.000 bảng Anh (1,8 tấn). Để giảm trọng lượng, nó không có hệ thống bánh đáp. Trong chương trình thử nghiệm, một tấm trượt bằng thép cố định được lắp dưới thân và lò xo hành trình ở mặt dưới của đầu cánh được lắp đặt cho trường hợp máy bay hạ cánh khẩn cấp. Dù khoang lái khá chật hẹp, nhưng phi công vấn có một ghế phóng, bình dưỡng khí và dù bật tốc độ cao. Máy bay được vũ trang bằng 4 súng máy 0,50 in (12,7 mm) ở mũi.
Khi hoạt động, máy bay tiêm kích con sẽ được phóng và thu hồi bằng một xà treo. Khi chiếc xà treo được kéo dài hết cỡ, động cơ sẽ được khởi động bằng không khí và máy bay con sẽ phóng đi từ máy bay mẹ khi phi công kéo mũi trở lại để gỡ máy bay ra khỏi móc. Khi thu hồi, máy bay sẽ tiếp cận máy bay mẹ từ phía dưới và kết nối với xà treo bằng cách sử dung móc ở mũi của máy bay. Thay đổi trong việc sản xuất dự kiến sẽ biến phi đội B-36 thành cả máy bay ném bom và máy bay mang tiêm kích khi thực hiện nhiệm vụ. Theo kế hoạch, từ chiếc B-36 thứ 24 trở đi, mỗi chiếc B-36 sẽ được trang bị với một chiếc XF-85, tối đa một chiếc máy bay mẹ có thể mang được 4 máy bay con. Có tới 10% trong tổng số B-36 được lệnh chuyển đổi để mang theo máy bay tiêm kích con, mỗi chiếc mang 3 hoặc 4 chiếc XF-85 thay vì mang bom.
Ngày 09 tháng 10 năm 1945, USAAF đưa ra một lá thư trong đó gồm việc phát triển kỹ thuật cho 2 mẫu thử nghiệm (số seri là 46-523 và 46-524), mặc dù hợp đồng chưa được hoàn thành cho đến tháng 2/1947. Sau khi kết thúc thành công đánh giá 2 mô hình gỗ có kích thước như thật vào năm 1946 và 1947 bởi các nhân viên kỹ thuật USAAF,, McDonnell đã chế tạo 2 mẫu thử vào cuối năm 1947. Kiểu mẫu 27D được đổi tên thành XP-85, nhưng vào tháng 6/1948, nó lại đổi tên thành XF-85 và có tên lóng là "Goblin". USAAF đã lên kế hoạch mua 30 chiếc P-85, dù vậy USAAF vẫn tiếp cận một cách thận trọng – nếu kết quả thử nghiệm từ 2 mẫu thử tốt, các đơn đặt hàng cho hơn 100 chiếc Goblin sẽ được ký kết sau.
== Lịch sử hoạt động ==
Trong quá trình thử nghiệm trong đường hầm gió tại Moffett Field, California, mẫu thử XF-85 đầu tiên đã vô tình rơi từ cần cẩu xuống đất ở độ cao 40 ft (12 m), gây thiệt hại đáng kể cho phần khung thân phía trước, lối dẫn khí và phần bụng. Mẫu thử thứ hai được sử dụng để hoàn tất nốt các thử nghiệm trong hầm gió và các thử nghiệm bay đầu tiên.
Do việc sản xuất B-36 vẫn gặp vấn đề, nên tất cả các chuyến bay thử nghiệm của XF-85 đều được thực hiện trên một chiếc EB-29B Superfortress được cải tiến, khoang quân giới mang bom được gắn thêm các xà treo, các thiết bị camera và đo đạc. Chiếc EB-29B có tên gọi là Monstro, nhỏ hơn so với chiếc B-36 đã mang XF-85 để thử nghiệm bay. Các chuyến bay thử nghiệm được diễn ra ở South Base, Muroc Field. Ngày 23 tháng 7 năm 1948, XF-85 bay lần đầu tiên, nó được thử nghiệm để xem liệu EB-29B và XF-85 có thể hoạt động ăn khớp nhau không. XF-85 khi gắn vào máy bay mẹ sẽ thu cánh lại, nhưng đôi khi nó buộc phải mở cánh ra nhưng tắt động cơ, để phi công có thể cảm nhận máy bay đang bay.
Phi công thử nghiệm của McDonnell là Edwin Schoch được chỉ định thực hiện các chuyến bay trong đề án, Schoch đã ngồi trong XF-85 khi nó vẫn móc vào EB-29B trước khi nó tách ra bay độc lập ngày 23/8/1948. Sau khi Schoch tách ra khỏi máy bay ném bom ở độ cao 20.000 ft (6.096 m), Schoch đã hoàn thành một chuyến bay kéo dài 10 phút với vận tốc đạt khoảng 180 đến 250 mph (200–300 km/h) để thử nghiệm khả năng điều khiển và khả năng cơ động của máy bay. Khi kết thúc chuyến bay thử nghiệm và cố gắng trở về máy bay mẹ, XF-85 trở nên cực kỳ nhạy cảm với những nhiễu động từ máy bay mẹ, cũng như bị ảnh hưởng bởi đệm khí do 2 máy bay khi bay gần nhau tạo ra. Khi gặp hiện tượng này phi công cần kiên trì và điều chỉnh nhẹ van tiết lưu và lựa theo chiều chuyển động của không khí. Sau 3 lần thử móc và xà treo, Schoch tính sai hướng tiếp cận và xà treo đã đập mạnh vào vòm kính buồng lái khiến nó vỡ ra làm mũ bảo hiểm và kính chắn của Schoch bị rách, vỡ. Schoch cố gắng cứu mẫu thử bằng cách hạ cánh trượt bụng tại khu vực hạ cánh khẩn cắp ở Muroc. Tất cả các chuyến bay thử nghiệm bị đình chỉ trong 7 tuần, trong lúc đó XF-85 được sửa chữa và cải tiến. Schoch sử dụng thời gian này tham gia chương trình thử nghiệm với loại tiêm kích Lockheed P-80 Shooting Star.
Sau khi hoàn thiện thêm nhiều bộ phận, điều chỉnh kiểu dáng khí động, 2 chuyến bay thử nghiệm nữa được thực hiện trước khi Schoch thực hiện thành công việc tách ra và trở lại máy bay mẹ vào 14/10/1948. Trong chuyến bay thử nghiệm thứ 5 vào ngày 22/10/1948, Schoch một lần nữa lại thấy khó khăn khi cố móc chiếc XF-85 vào xà treo trên máy bay mẹ, Schoch đã cố gắng thử móc vào xà 4 lần nhưng đều thất bại, làm cho chiếc móc ở mũi của XF-85 bị gãy. Do đó máy bay lại phải hạ cánh khẩn cấp tại Muroc.
Sau khi mẫu thử thứ nhất được sửa chữa xong, nó cũng tham gia chương trình thử nghiệm, hoàn thành các chuyến bay ghép cùng máy bay mẹ. Trong khi bay, XF-85 Goblin được giữ ổn định, dễ dàng bay, và phục hồi thất tốc, dù các ước lượng vận tốc lớn nhất ban đầu là 648 mph (1.043 km/h) có vẻ hơi lạc quan. Các chuyến bay thử nghiệm đầu tiên cho thấy sự nhiễu loạn đáng kể khi XF-85 tiếp cận với B-29, dẫn đến vệc bổ sung các cánh thăng bằng trên và dưới ở phía sau thân máy bay, cũng như 2 cánh vây ở đầu cánh đề bù đắp cho độ bất ổn định hướng tăng khi XF-85 tiếp cận máy bay mẹ. Tất cả các chuyến bay ban đầu có móc nối gia cố ở vị trí cố định, nhưng khi móc được xếp gọn và rút vào trong thân máy bay mẹ thì sự rung lắc làm tăng thêm khó khăn khi máy bay con cố gắng kết nối với máy bay mẹ. Để giải quyết vấn đề, một lớp bọc khí động nhỏ được thêm vào móc để làm giảm rung lắc khi móc được triển khai và thu hồi. Khi thử nghiệm tiếp tục, trong chuyến bay thử ngày 18/3/1948, Schoch tiếp tục gặp phải khó khăn khi cố gắng kết nối với máy bay ném bom, máy bay bị va đạp và hư hỏng phần ổn định mũi của xà treo, sau đó nó phải hạ cánh khẩn cấp bằng bụng. Sau khi sửa chữa xà treo, Schoch điều khiển mẫu thử đầu tiên bay ngày 8/4/1949, hoàn thành thử nghiệm bay tự do kéo dài 30 phút, nhưng sau 3 lần cố gắng kết nối với máy bay mẹ, Schoch đành phải từ bỏ và lại phải hạ cánh khẩn cấp bằng bụng ở Muroc.
Nhận thấy các vấn đề nảy sinh trong các chuyến bay thử nghiệm, McDonnell xem xét lại chương trình và đề xuất một phát triển mới dựa trên thiết kế thông thường có thể đạt vận tốc Mach 0,9, sử dụng thiết kế cánh xuôi sau 35° và cánh tam giác. McDonnell cũng xem xét tăng chiều dài của móc trên máy bay ném bom. Trước khi bất kỳ cải tiến nào được thực hiện trên XF-85, hay các nghiên cứu thiết kế tiếp tục được làm thì Không quân Hoa Kỳ (USAF) đã hủy bỏ chương trình XF-85 vào ngày 24/10/1949.
Có 2 lý do chính dẫn tới việc hủy bỏ chương trình XF-85. Hiệu năng kém của XF-85 trong thử nghiệm bay như các tính năng kỹ chiến thuật kém máy bay tiêm kích phản lực cùng thời, yêu cầu phi công có kinh nghiệm trong khi ghép nối với máy bay mẹ, đây là một thiếu sót không thể sửa chữa được. Việc phát triển khả năng tiếp nhiên liệu trên không cho các máy bay tiêm kích thông thường, giúp máy bay tiêm kích có thể hộ tống máy bay ném bom cũng là một yếu tố làm chương trình bị hủy bỏ. 2 chiếc Goblin tổng cộng bay 7 lần, thời gian bay là 2 giờ 19 phút, chỉ có 3 lần bay tự do máy bay ghép nối thành công với máy bay mẹ. Schoch là phi công duy nhất từng loại máy bay này.
== Phát triển xa hơn ==
Dù đề án XF-85 bị hủy bỏ, nhưng USAF vẫn tiếp tục theo đổi khái niệm về máy bay con với vai trò máy bay phòng thủ thông qua một loạt các đề án như Đề án MX-106 "Tip Tow", Đề án FICON và Đề án "Tom-Tom", đây là những mẫu máy bay tiêm kích thử nghiệm được gắn vào đầu cánh của máy bay ném bom. Đề án FICON ("fighter conveyor" – người vận chuyển tiêm kích) nổi lên như một đề án hiệu quả giữa sự kết hợp máy bay ném bom Convair GRB-36D và máy bay tiêm kích trinh sát Republic RF-84K Thunderflash, mặc dù vai trò RF-84K đã được thay đổi thành trinh sát chiến lược. Đề án FICON lấy rất nhiều dữ liệu từ đề án chết yểu XF-85 và tham vấn một số đề nghị từ McDonnell. Tổng cộng có 10 chiếc B-36 được chuyển đổi và 25 chiếc tiêm kích trinh sát phục vụ trong Bộ chỉ huy Không quân chiến lược trong giai đoạn 1955-1956, trước khi chúng bị thay thế bởi các máy bay hiệu quả hơn và hệ thống vệ tinh.
== Trưng bày ==
Sau khi chương trình bị chấm dứt, 2 mẫu thử XF-85 được bảo quản trong kho, sau đó được đem tới bảo tàng trưng bày vào năm 1950.
XF-85 Goblin số seri 46-523, được trưng bày tại Bảo tàng Quốc gia Không quân Hoa Kỳ tại Căn cứ Không quân Wright-Patterson gần Dayton, Ohio. Máy bay được chuyển tới bảo tàng ngày 23/8/1950 là một trong những máy bay thử nghiệm đầu tiên được trưng bày tại Bảo tàng Không quân mới.
XF-85 Goblin số seri 46-524, được chuyển tới Căn cứ Không quân Norton (gần San Bernardino, California) năm 1950, hiện vẫn đang trong tình trạng hư hỏng sau lần hạ cánh khẩn cấp cuối cùng của nó. Khi bảo tàng đóng cửa và bộ sưu tập bị phân tán, mẫu thử XF-85 thứ hai ở trong tình trạng bị hư hại do không được phục hồi, hiện nó thuộc bộ sưu tập tư nhân Tallmantz ở California. Sau đó Căn cứ Không quân Offutt đã mua lại nó. Hiện giờ nó đã được tân trang lại và được trưng bày ngay gần dưới cánh của một chiếc máy bay ném bom B-36J (số seri 52-2217), tại Bảo tàng Hàng không và Không gian Chiến lược ở Ashland, Nebraska.
== Tính năng kỹ chiến thuật ==
Dữ liệu lấy từ Experimental & Prototype U.S. Air Force Jet Fighters, Boeing, National Museum of the United States Air Force.
=== Đặc điểm riêng ===
Tổ lái: 1
Chiều dài: 14 ft 10 in (4,5 m)
Sải cánh: 21 ft 1 in (6,4 m)
Chiều cao: 8 ft 3 in (2,5 m)
Diện tích cánh: 90 ft² (8,3 m²)
Trọng lượng rỗng: 3.740 lb (1.700 kg)
Trọng lượng có tải: 4.550 lb (2.050 kg)
Trọng lượng cất cánh tối đa: 5.600 lb (2.500 kg)
Động cơ: 1 động cơ phản lực Westinghouse XJ34-WE-22, lực đẩy 3.000 lbf (13,3 kN)
=== Hiệu suất bay ===
Vận tốc cực đại: 650 mph (1.069 km/h – ước lượng)
Trần bay: 48.000 ft (14.600 m)
Vận tốc lên cao: 12.500 ft/phút (3.800 m/ phút)
Lực nâng của cánh: 51 lb/ft² (247 kg/m²)
Lực đẩy/trọng lượng: 0,66
=== Vũ khí ===
4 khẩu súng máy M2 Browning 0.50 in (12,7 mm)
== Xem thêm ==
=== Máy bay có tính năng tương đương ===
Republic RF-84K Thunderflash
== Tham khảo ==
Ghi chú
Chú thích
Tài liệu
== Liên kết ngoài ==
SR-71 Online – XF-85 Goblin on Display
Goleta Air and Space Museum: Flying Aircraft Carriers of the USAF: McDonnell XF-85 Goblin |
lars eilstrup rasmussen.txt | Lars Eilstrup Rasmussen là nhà khoa học máy tính, nhà phát triển phần mềm và nhà đồng sáng lập Google Maps người Đan Mạch.
== Học vấn ==
Rasmussen tốt nghiệp bằng "kandidat" (tương đương thạc sĩ) Khoa học máy tính và Toán học ở Đại học Aarhus năm 1990. Năm 1992 ông đậu bằng thạc sĩ về Khoa học kỹ thuật computer ở Đại học Edinburgh (Scotland).
Rasmussen bắt đầu nghiên cứu để lấy bằng tiến sĩ cùng với Mark Jerrum và Alistair Sinclair ở "Trường tin học" Đại học Edinburgh, sau đó - cùng với Sinclair - chuyển sang Berkeley, California, (Hoa Kỳ). Năm 1998, ông đậu bằng tiến sĩ ở Đại học California tại Berkeley với bản lluận án "On Approximating the Permanent and Other #P-Complete Problems".
== Where 2 Technologies và Google Maps ==
Năm 2003, Lars và người anh/em Jens Rasmussen, cùng 2 người Úc - Noel Gordon và Stephen Ma - đồng sáng lập Where 2 Technologies, một công ty ở Sydney, Úc liên quan tới việc tìm kiếm trực tuyến trên bản đồ. Công ty này được Google mua lại trong tháng 10 năm 2004, để lập ra Google Maps. Cả 4 người trong nhóm của Rasmussen sau đó làm việc trong đội khoa học kỹ thuật của Google tại cơ sở của Google ở Sydney.
Lars và Jens cũng là những người khởi đầu dự án Google Wave.
== Facebook ==
Ngày 29.10.2010, Rasmussen loan báo là ông đã rời khỏi Google, di chuyển tới San Francisco để làm việc cho công ty Facebook. Tại công ty Facebook, ông làm giám đốc khoa học kỹ thuật cho dự án Facebook Graph Search là một máy semantic search (tìm ngữ nghĩa) cho mạng lưới xã hội.
== Đầu tư ==
Rasmussen đã đầu tư vào một số công nghệ khởi đầu, trong đó có Canva ở Sidney, một công cụ thiết kế online dễ sử dụng; và Posse, một phương tiện tìm các giới thiệu về các quán cà phê, tiệm ăn, quán bar và tiệm kinh doanh bằng trực tuyến.
== Giải thưởng ==
Ngày 19.10.2010, Lars và Jens Rasmussen đã được trao Giải Pearcey bang New South Wales của Úc.
== Xuất bản phẩm ==
Ngoài bản luận án tiến sĩ "On Approximating the Permanent and Other #P-Complete Problems" nêu trên, L.E.Rasmussen còn xuất bản nhiều bài viết khoa học khác, xin xem
== Tham khảo ==
== Liên kết ngoài ==
http://www.reddit.com/r/IAmA/comments/18jb6d/i_am_the_pointyhaired_engineering_director_for/
https://sites.google.com/a/pressatgoogle.com/googlewave/home/meet-the-google-wave-team
http://mag.newsweek.com/2013/01/28/newsweek-interview-with-facebook-s-lars-rasmussen.html |
nghệ thuật.txt | Nghệ thuật (tiếng Anh: art) là một loạt những hoạt động khác nhau của con người và những sản phẩm do những hoạt động đó tạo ra. Bài viết này chủ yếu tập trung vào các môn nghệ thuật thị giác, bao gồm việc tạo ra những hình ảnh hay vật thể trong những lĩnh vực như hội họa, điêu khắc, đồ họa in ấn, nhiếp ảnh, và những phương tiện truyền thông hình ảnh khác.
Kiến trúc thường được xem là một trong các nghệ thuật thị giác; tuy nhiên, giống như các loại hình nghệ thuật trang trí, nó liên quan đến sự sáng tạo ra các vật thể cho những công dụng cụ thể, một điều hoàn toàn khác với, chẳng hạn, hội họa. Âm nhạc, kịch, điện ảnh, múa, và những môn nghệ thuật trình diễn khác, cũng như văn chương, và những phương tiện truyền thông tương tác, được bao gồm trong một định nghĩa rộng hơn về nghệ thuật, gọi chung là các môn nghệ thuật.
Cho đến thế kỷ 17, nghệ thuật được dùng để chỉ bất kỳ kỹ năng hay sự thông thạo nào, và không phân biệt khỏi các môn thủ công mỹ nghệ hay các ngành khoa học, như y học cũng được coi là một nghệ thuật. Trong thời hiện đại, ở các loại hình mỹ thuật, nơi cực kỳ chú trọng đến khía cạnh thẩm mỹ, được phân biệt hẳn khỏi những kỹ năng có được nói chung, chẳng hạn như với các loại hình nghệ thuật trang trí hay nghệ thuật ứng dụng.
Những đặc trưng của nghệ thuật có thể được mô tả bởi sự bắt chước (phản ánh cuộc sống), sự thể hiện, trao truyền cảm xúc, và những phẩm chất khác. Trong suốt thời kỳ chủ nghĩa lãng mạn, nghệ thuật được xem là "một lĩnh vực đặc biệt của tâm thức con người, giống như tôn giáo và khoa học". Mặc dù không có một định nghĩa thống nhất về nghệ thuật, và cách nhìn về nó cũng thay đổi theo thời gian, những mô tả chung về nghệ thuật đề cập đến ý tưởng về một kỹ năng kỹ thuật hay trí tưởng tượng bắt nguồn từ khả năng tác động của con người và sự sáng tạo.
Bản chất của nghệ thuật, và những khái niệm có liên quan như sáng tạo và sự diễn dịch, được khảo sát trong mỹ học - một nhánh của triết học.
== Nghệ thuật sáng tạo và mỹ thuật ==
Nếu lấy một nghĩa rộng về nghệ thuật, thì những tác phẩm nghệ thuật đã tồn tại từ thuở khai sinh loài người: từ nghệ thuật thời tiền sử cho đến nghệ thuật đương đại; tuy nhiên, một số lý thuyết giới hạn khái niệm nghệ thuật vào những xã hội hiện đại ở phương Tây. Nghĩa đầu tiên và rộng nhất về nghệ thuật là nghĩa gần nhất với nghĩa La-tinh cũ mà có thể dịch nôm na là "kỹ năng" hay "sự khéo léo". Những từ tiếng Anh bắt nguồn từ nghĩa này của từ art bao gồm artifact (đồ tạo tác), artificial (nhân tạo), artifice (tài khéo léo), medical arts (kỹ thuật y khoa), và military arts (nghệ thuật quân sự). Tuy nhiên, trong cách dùng hàng ngày, từ art có nhiều nghĩa khác, và chỉ một số là liên quan đến nghĩa từ nguyên của nó.
Nghĩa thứ hai và gần đây hơn của từ art (nghệ thuật) như một cách viết tắt của creative art (nghệ thuật sáng tạo) hay fine art (mỹ thuật) ra đời từ đầu thế kỷ 17. Fine art chỉ một kỹ năng được sử dụng để diễn tả sự sáng tạo của người nghệ sĩ, hay để khơi gợi cảm quan thẩm mỹ ở khán giả, hay để khiến khán giả để tâm đến những thứ hay, đẹp hơn.
Với nghĩa thứ hai này, "nghệ thuật" có thể có những nghĩa sau: một nghiên cứu về một kỹ năng sáng tạo, một quá trình sử dụng kỹ năng sáng tạo đó, một sản phẩm của kỹ năng sáng tạo đó, hay trải nghiệm của người thưởng lãm về kỹ năng sáng tạo đó. Những môn nghệ thuật sáng tạo (nghệ thuật với tư cách là một lĩnh vực) là một tập hợp những môn tạo ra những tác phẩm nghệ thuật (nghệ thuật với tư cách là những vật thể) được tạo ra do động cơ cá nhân (nghệ thuật với tư cách là sự sáng tạo) và mang một thông điệp, tâm trạng, hay biểu tượng để người thưởng ngoạn diễn giải (nghệ thuật với tư cách là một sự trải nghiệm). Nghệ thuật là một cái gì đó kích thích tư duy, cảm xúc, niềm tin, hay ý tưởng của một người thông qua giác quan. Những công trình nghệ thuật có thể được tạo ra cho mục đích này hay được diễn dịch dựa trên những hình ảnh hay vật thể.
Bản chất của nghệ thuật được triết gia Richard Wollheim mô tả như là "một trong những vấn đề xưa nay khó nắm bắt nhất của văn hóa con người". Nghệ thuật được định nghĩa như là phương tiện để diễn đạt hay trao truyền cảm xúc và ý tưởng, một phương tiện để khám phá và thưởng lãm những yếu tố hình thức, hay như sự bắt chước (mimesis) hay thể hiện. Nghệ thuật như là sự bắt chước có nguồn gốc sâu xa trong triết học Aristotle. Goethe định nghĩa nghệ thuật nghệ thuật như là một "cái khác", theo nghĩa là một "tự nhiên thứ hai". Leo Tolstoy xem nghệ thuật là một cách sử dụng những nghĩa phi trực tiếp để truyền đạt từ người này sang người khác. Benedetto Croce và R.G. Collingwood cho rằng nghệ thuật diễn tả cảm xúc, và tác phẩm nghệ thuật do đó tồn tại chủ yếu trong trí tưởng của người sáng tạo. Lý thuyết nghệ thuật dưới dạng là một hình thức luận có nguồn gốc trong triết học của Immanuel Kant, và được Roger Fry và Clive Bell phát triển trong đầu thế kỷ 20. Gần đây hơn, các nhà tư tưởng chịu ảnh hưởng của Martin Heidegger đã diễn giải nghệ thuật như là phương tiện mà một cộng đồng phát triển cho chính mình để tạo môi trường cho sự tự thể hiện và sự diễn dịch.
== Lịch sử ==
Những bức tượng, hình vẽ trên hang động, hình vẽ trên đá, và ký hiệu khắc trên đá của Hậu kỳ Thời đại đá cũ có niên đại khoảng 40.000 năm trước đã được tìm thấy, nhưng ý nghĩa chính xác của chúng vẫn thường không được xác định thống nhất vì có quá ít thông tin về những nền văn hóa đã tạo ra chúng. Những hiện vật nghệ thuật lâu đời nhất thế giới - một loạt các vỏ ốc sên nhỏ, được đục lỗ có chừng 75.000 năm tuổi - được tìn thấy ở một hang động ở Nam Phi. Những vật có thể đã được dùng để đựng mực có niên đại chừng 100.000 năm cũng đã được tìm thấy.
Nhiều truyền thống nghệ thuật lớn bắt nguồn từ nghệ thuật của một trong những nền văn minh lớn của thế giới: Ai Cập cổ đại, Lưỡng Hà, Ba Tư, Ấn Độ, Trung Quốc, Hy Lạp cổ đại, La Mã, cũng như Inca, Maya, và Olmec. Mỗi một trung tâm văn minh cổ xưa này đã phát triển một phong cách nghệ thuật đặc thù. Những nền văn minh này xuất hiện trên một phạm vi rộng và có thời gian tồn tại dài nên nhiều trong số những tác phẩm nghệ thuật của họ vẫn tồn tại, và ảnh hưởng củ họ đã lan truyền đến những nền văn hóa khác và đến những thời đại sau.
Trong nghệ thuật Byzantine và nghệ thuật Trung cổ ở phương Tây thời Trung cổ, hầu hết các tác phẩm nghệ thuật tập trung vào đề tài tôn giáo, sử dụng những phong cách để cho thấy vẻ huy hoàng của một thế giới thiên đường, chẳng hạn sử dụng vàng trong nền của các bức tranh, hay thủy tinh trong các bức khảm hay cửa sổ; những phong cách này cũng thể hiện những hình dáng ở dạng phẳng, theo mô thức, và lý tưởng hóa. Truyền thống hiện thực cổ điển cũng có ở một số nhỏ các tác phẩm nghệ thuật Byzantine, và chủ nghĩa hiện thực đã phát triển dần lên trong nghệ thuật châu Âu Công giáo.
Nghệ thuật thời kỳ Phục Hưng nhấn mạnh nhiều vào việc mô tả theo lối hiện thực thế giới vật chất, và vị thế của con người trong thế giới đó, phản ánh trong tính chất cụ thể của cơ thể con người, và việc phát triển một phương pháp có hệ thống để thể hiện những sự lồi lõm của vật thể trong ba chiều không gian.
Ở phương Đông, sự từ bỏ việc sử dụng hình tượng của nghệ thuật Hồi giáo đã dẫn đến sự nhấn mạnh vào các mô thức hình học, thư pháp, và kiến trúc. Xa hơn về phía Đông, tôn giáo cũng đóng một vai trò chủ đạo trong các hình thức và phong cách nghệ thuật. Ở Ấn Độ và Tây Tạng, người ta thấy có sự nhấn mạnh đến những bức tượng được sơn phết và những điệu múa, trong khi hội họa tôn giáo vay mượn nhiều ước lệ từ điêu khắc và có xu hướng sử dụng những màu sắc tương phản để nhấn mạnh đến các đường nét. Phong cách nghệ thuật Trung Quốc thay đổi đáng kể từ thời đại này sang thời đại khác, và mỗi phong cách thường được đặt tên theo triều đại trị vì. Chẳng hạn, những bức tranh thời nhà Đường đơn sắc và có tính chất điểm xuyết, nhấn mạnh những cảnh vật lý tưởng hóa, còn những bức tranh thời nhà Minh thì dày đặc chi tiết và nhiều màu sắc, và tập trung kể những câu chuyện thông qua khung cảnh và bố cục. Nhật Bản cũng đặt tên các phong cách nghệ thuật theo tên của triều đại trị vì, và cũng có thấy có sự tương tác qua lại giữa những phong cách thư pháp và hội họa. Sau thế kỷ 17 thì tranh khắc gỗ trở thành một loại hình nghệ thuật quan trọng ở Nhật.
Thời kỳ Khai minh ở phương Tây thế kỷ 18 cho thấy những thể hiện mang tính nghệ thuật về những niềm tin duy lý về vũ trụ, cũng như những mơ tưởng về một thế giới hậu quân chủ, như trong cách mô tả của William Blake về Newton, hay trong những bức tranh tuyên truyền của Jacques-Louis David. Những cách thể hiện này bị chủ nghĩa lãng mạn từ bỏ sau đó; trào lưu nghệ thuật mới này chú ý đến những hình ảnh về khía cạnh cảm xúc và tính cá thể của con người, như có thể thấy trong những tiểu thuyết của Goethe. Cuối thế kỷ 19, người ta chứng kiến sự ra đời của một loạt những trào lưu nghệ thuật như nghệ thuật kinh viện, trường phái tượng trưng, trường phái ấn tượng, và trường phái dã thú, cũng những trường phái khác.
Lịch sử nghệ thuật thế kỷ 20 là câu chuyện về những khả thể vô hạn và về cuộc tìm kiếm những tiêu chuẩn mới, tiêu chuẩn này mới ra đời thì bị tiêu chuẩn khác hơn vượt qua. Vì thế mà những quan niệm của trường phái ấn tượng, trường phái biểu hiện, trường phái dã thú, trường phái lập thể, trường phái dada, trường phái siêu thực, v.v..., thường không tồn tại lâu sau khi ra đời. Những tương tác trên phạm vi toàn cầu ngày càng gia tăng trong thời kỳ này khiến những nền văn hóa khác ảnh hưởng lên nghệ thuật châu Âu. Những tác phẩm tranh khắc gỗ Nhật Bản (vốn chịu ảnh hưởng bởi kỹ thuật châu Âu thời Phục hưng) đã có ảnh hưởng đáng kể lên trường phái biểu hiện và những phát triển sau đó. Về sau, điêu khắc châu Phi ảnh hưởng lên sáng tác của Picasso và, ở một mức độ nào đó, những sáng tác của Henri Matisse. Tương tự, phương Tây có ảnh hưởng rất lớn lên nghệ thuật phương Đông thế kỷ 19 và 20; những tư tưởng có nguồn gốc phương Tây như chủ nghĩa cộng sản và chủ nghĩa hậu hiện đại tác động rất mạnh lên phong cách nghệ thuật.
Trong nửa cuối thế kỷ 20, chủ nghĩa hiện đại, cuộc tìm kiếm chân lý có tính chất lý tưởng, nhường chỗ cho nhận thức về tính bất khả của nó. Chủ nghĩa tương đối (relativism) đã được chấp nhận như một chân lý không thể chối bỏ được; điều này dẫn đến thời kỳ nghệ thuật đương đại (contemporary art) và phê bình hậu hiện đại (postmodern criticism), ở đó văn hóa thế giới và lịch sử được xem là những dạng thức không ngừng biến đổi. Hơn nữa, những khác biệt giữa các nền văn hóa ngày càng bị xóa mờ; một số người cho rằng ngày nay có lẽ thích hợp hơn khi nói về một nền văn hóa toàn cầu, thay vì là những nền văn hóa khu vực.
== Xem thêm ==
Các trào lưu nghệ thuật
Công nghiệp văn hoá
Công nghiệp sáng tạo
== Chú thích ==
== Tham khảo ==
== Nghiên cứu thêm ==
Shiner, Larry. The Invention of Art: A Cultural History. Chicago: University of Chicago Press, 2003. ISBN 978-0-226-75342-3
Augros, Robert M., Stanciu, George N. The New Story of Science: mind and the universe, Lake Bluff, Ill.: Regnery Gateway, 1984. ISBN 0-89526-833-7 (this book has significant material on art and science)
Richard Wollheim, Art and its Objects: An introduction to aesthetics. New York: Harper & Row, 1968. OCLC 1077405
Carl Jung, Man and His Symbols. London: Pan Books, 1978. ISBN 0330253212
Benedetto Croce. Aesthetic as Science of Expression and General Linguistic, 2002
Władysław Tatarkiewicz, A History of Six Ideas: an Essay in Aesthetics, translated from the Polish by Christopher Kasparek, The Hague, Martinus Nijhoff, 1980
Leo Tolstoy, "What Is Art?", 1897
Kleiner, Gardner, Mamiya and Tansey. Art Through the Ages, Twelfth Edition (2 volumes) Wadsworth, 2004. ISBN 0-534-64095-8 (vol 1) and ISBN 0-534-64091-5 (vol 2)
Kristine Stiles và Peter Selz, eds. Theories and Documents of Contemporary Art. Berkeley: University of California Press, 1986
Florian Dombois, Ute Meta Bauer, Claudia Mareis and Michael Schwab, eds. Intellectual Birdhouse. Artistic Practice as Research. London: Koening Books, 2012. ISBN 9783863351182
Dana Arnold and Margaret Iverson, eds. Art and Thought. London: Blackwell, 2003. ISBN 0631227156
Antony Briant and Griselda Pollock, eds. Digital and Other Virtualities: Renegotiating the image. London and NY: I.B.Tauris, 2010. ISBN 9781441676313
Carol Armstrong and Catherine de Zegher, eds. Women Artists at the Millennium. Massachusetts: October Books/The MIT Press, 2006. ISBN 026201226X
== Liên kết ngoài ==
Art and Play from the Dictionary of the History of ideas
In-depth directory of art
Art and Artist Files in the Smithsonian Libraries Collection (2005) Smithsonian Digital Libraries
Visual Arts Data Service (VADS) – online collections from UK museums, galleries, universities
RevolutionArt – Art magazines with worldwide exhibitions, callings and competitions
The Definition of Art - mục từ tại Stanford Encyclopedia of Philosophy ngày Thomas Adajian |
samurai.txt | Samurai (tiếng Nhật: 侍; rōmaji: Samurai; phiên âm Hán-Việt: thị ) có hai nghĩa. Theo nghĩa thứ nhất, samurai là một bộ phận của tầng lớp võ sĩ Nhật Bản, là thuộc hạ của các shogun, daimyo, và đứng trên một số bộ phận võ sĩ khác. Samurai theo nghĩa này là cách hiểu ở Nhật Bản. Theo nghĩa thứ hai và được sử dụng phổ biến trên thế giới ngoài Nhật Bản, samurai chính là tầng lớp võ sĩ (tiếng Nhật: 武士; rōmaji: bushi; phiên âm Hán-Việt: võ sĩ ) của Nhật Bản, tức là bao gồm cả cả shogun và daimyo.
Bài này nói về samurai theo nghĩa thứ hai.
== Từ nguyên ==
Từ samurai có gốc từ chữ saburau (さ守らう) - nghĩa là người coi sóc, bảo vệ, phục vụ - nhưng mang tính chất quyền quý.
== Lịch sử ==
=== Nguyên thủy ===
Các nhà sử học tin rằng hình ảnh samurai nguyên bản bắt nguồn từ các kỵ binh, bộ binh và cung binh ở Nhật vào thế kỷ thứ 6. Sau những thất bại quân sự trước liên minh Đại Đường và Tân La, Nhật Bản phải thực thi hàng loạt các cuộc cải cách có tính chất và quy mô rộng rãi. Một trong các cuộc cải cách quan trọng là cuộc cải cách Taika (大化の改革, Đại Hóa cải cách) của Thiên hoàng Thiên Trí vào năm 646. Cuộc cải cách này đã đưa văn hóa tập tục của người Trung Quốc vào tầng lớp quý tộc Nhật và áp dụng chế độ chính quyền của Trung Quốc vào bộ máy quan liêu của Nhật. Một điều khoản trong bộ luật Yōrō và sau đó là bộ luật Taihō vào năm 702 yêu cầu dân chúng phải đều đặn đi tường trình nhằm phục vụ cho việc điều tra dân số. Đây là điềm báo trước sẽ diễn ra một cuộc cưỡng bách tòng quân trên khắp đất nước. Thiên hoàng Monmu (文武, Văn Vũ) đã ban hành một điều luật mà theo đó, cứ 3-4 đàn ông trưởng thành thì có 1 người bị sung vào quân đội quốc gia. Quân đội yêu cầu mỗi người lính tự chế tạo hay mua lấy vũ khí cho riêng họ, nhưng bù lại họ sẽ được miễn thuế và trách nhiệm công dân.
Đầu thời Heian (平安時代 | Bình An thời đại) (cuối thế kỷ thứ 8 và đầu thế kỷ thứ 9), với tham vọng bành trướng lãnh thổ về phía Bắc Honshū để củng cố quyền lực, Thiên hoàng Kammu (桓武天皇, Hoàn Vũ Thiên hoàng) đã cho quân đến đàn áp phiến quân Emishi nhưng đội quân của ông thất thủ do thiếu kỷ luật và ý chí chiến đấu. Vì vậy, Thiên hoàng Kammu bắt đầu dựa dẫm vào các thế lực địa phương và chiêu dụ họ, phong cho chức Seiitaishogun (征夷大将軍, Chinh di Đại tướng quân) hay gọi tắt là shogun (tướng quân). Với đội quân tinh thông về cưỡi ngựa và bắn cung (kyudo-弓道, Cung đạo), các thế lực này trở thành công cụ đắc lực để đàn áp quân nổi loạn cho Thiên hoàng. Dù các võ sĩ này ít nhiều đều được học hành nhưng lúc bấy giờ (thế kỷ thứ 7 đến thế kỷ thứ 9) trong mắt triều đình Thiên hoàng họ chỉ là những võ phu thô lỗ thất học không hơn không kém.
Cứ như vậy, cuối cùng, Thiên hoàng Kammu đã giải tán quân đội triều đình, từ đó thế lực của Thiên hoàng từng bước một suy sụp. Trong khi Thiên hoàng vẫn còn cai trị, các thị tộc ở Kyoto (京都, Kinh Đô) đã nắm trong tay một số chức vụ quan trọng như bộ trưởng, còn những người thân của họ dùng tiền mua lấy các chức quan trong tòa án. Để vơ vét của cải làm giàu và trả nợ cho mình, các quan tòa này thường xuyên đánh thuế nặng nề, khiến cho nhiều nhà nông mất hết ruộng đất. Trước sự đe dọa của nạn trộm cướp ngày càng tăng, các thị tộc bắt đầu tuyển mộ những người tha hương trên vùng đồng bằng Kanto, huấn luyện họ kỹ càng về võ thuật và đào tạo họ trở thành đội ngũ lính canh rất thiện chiến. Một số người có nhiệm vụ hộ tống các quan thu thuế, và chỉ sự hiện diện của họ thôi cũng đủ cho vị quan thu thuế này an toàn trước bọn trộm cướp. Họ được gọi là những "samurai", hay những thị vệ có vũ trang, nhưng lực lượng đầy tớ này nhanh chóng trở thành một thế lực vũ trang độc quyền. Thông qua những hợp đồng bảo vệ và các cuộc hôn nhân vì mục đích chính trị, họ dần dần giành được thế lực trong giới chính trị, và cuối cùng còn qua mặt cả giai cấp quý tộc truyền thống.
Một số thị tộc ban đầu chỉ là những nông dân. Họ đã cầm vũ khí vùng lên để bảo vệ chính mình và chống lại các quan do chính quyền phong kiến cử đến cai quản nơi họ sống và thực hiện chế độ thu thuế nặng nề. Những thị tộc này đã liên minh để có thể bảo vệ nhau trước các thị tộc khác có thế lực hơn. Giữa thời Heian, họ răm rắp tổ chức và vũ trang giống như quân đội Nhật Bản và ban hành luật lệ riêng cho họ, gọi là Bushido(武士道, vũ sĩ đạo).
Sau thế kỷ 11, người ta kính trọng các samurai là người có học thức, giáo dục và "văn võ song toàn" (bun bu ryo do), hay "bút và kiếm là một". Tên gọi ban đầu của các chiến binh, "Uruwashii", là một chữ kanji bao gồm ý nghĩa "văn chương" (文 bun) và "nghệ thuật quân sự" (武 bu), được nhắc đến trong Heike Monogatari (cuối thế kỷ 12). Heike Monogatari kể về cái chết của Taira no Tadanori, vị kiếm khách và nhà thơ kiệt xuất trong truyền thuyết như thế này: "Dù là bạn hay kẻ thù, ai cũng phải nhỏ lệ nơi tay áo tiếc thương cho ông mà thốt lên rằng, 'Tiếc thay! Tadanori là một vị tướng vĩ đại, tinh thông cả kiếm thuật và văn thơ, có thể nói là văn võ song toàn'."
Theo William Scott Wilson trong quyển Lý tưởng của Samurai: "Mỗi người lính trong tác phẩm Heike Monogatari đều là chân dung tiêu biểu của các chiến binh có học thức của thế hệ sau nay, và hình tượng lý tưởng của họ không phải là quá xa để vươn tới. Vì vậy, đây là cái đích mà các chiến binh cấp cao trong xã hội luôn đeo đuổi và được xem là hình ảnh đặc trưng của tầng lớp quân nhân Nhật Bản. Với Heike Monogatari, hình ảnh người chiến binh Nhật Bản trong văn học đã được phát triển đến mức hoàn thiện.
Sau này Wilson đã sưu tầm được các tài liệu của nhiều chiến binh, trong đó nhắc đến Heike Monogatari như là một tấm gương cho đời sau noi theo.
=== Mạc phủ Kamakura và khởi đầu của giới samurai ===
Ban đầu các chiến binh này chỉ là tay sai của các lãnh chúa và các dòng họ quý tộc (公家 kuge), nhưng dần dần, họ từng bước giành lấy quyền lực để lật đổ tầng lớp thống trị và lập ra chính quyền thống trị samurai đầu tiên trong lịch sử.
Khi các quý tộc địa phương đã chuẩn bị đầy đủ về lực lượng, lương thực, khí giới, họ liên minh với nhau với một tổ chức có phân cấp bậc, địa vị rõ ràng, đứng đầu là toryo, hay thủ lĩnh. Người thủ lĩnh này đặc biệt phải là họ hàng xa của Thiên hoàng, hay ít nhất cũng thuộc một trong ba dòng họ quý tộc (Fujiwara, Minamoto và Taira). Ban đầu các toryo được triều đình phong làm quan phủ ở các tỉnh lỵ trong thời hạn 4 năm, nhưng sau khi mãn nhiệm kỳ các toryo chẳng những không quay về kinh đô mà còn đem chức quan đó ra làm một thứ tài sản thừa kế cho thế hệ sau (theo kiểu cha truyền con nối) để tiếp tục lãnh đạo quý tộc địa phương đàn áp các cuộc nổi loạn trên khắp nước Nhật vào khoảng giữa và cuối thời Heian.
Nhờ binh lực hùng mạnh và tài lực vững chắc, đội quân của các quý tộc sau cùng đã trở thành một thế lực quân đội mới của triều đình. Quyền lực của họ đã được củng cố vững chắc sau cuộc nổi loạn Hōgen vào cuối thời Heian; và cũng từ đó mà dẫn đến hậu quả là sự đối đầu của hai gia tộc thù địch nhau Minamoto và Taira, trong cuộc nổi dậy Heiji vào năm 1160.
Sau nhiều chiến thắng vang dội, tướng Taira no Kiyomori trở thành chiến binh đầu tiên vươn tới chức Thiên hoàng quân sư, thậm chí nắm trong tay chính quyền trung ương, lập ra chính quyền thống trị samurai đầu tiên và biến Thiên hoàng thành một đấng quân vương bù nhìn. Dù vậy, dòng họ Taira vẫn tỏ ra khoan hòa, thận trọng trong quan hệ với dòng họ Minamoto; thay vì mở rộng và củng cố quân đội của mình, dòng họ Taira đã áp dụng chiêu "mỹ nhân kế", đưa những phụ nữ trong gia tộc tiến cung và lợi dụng họ giành lấy quyền hành từ tay Thiên hoàng.
Hai dòng họ Taira-Minamoto lại tiếp tục đối đầu nhau vào năm 1180 với chiến tranh Genpei và kéo dài đến năm 1185. Chiến thắng của Minamoto no Yoritomo đã cho thấy sự thất bại của quý tộc trước các chiến binh samurai. Năm 1190 Yoritomo đến Kyoto; năm 1192 trở thành Seii Taishogun (chính dị đại tướng quân), thành lập chế độ Mạc phủ Kamakura Mạc phủ Kamakura hay Kamakura Bokufu, dời đô từ Kyoto về Kamakura, gần căn cứ quân đội của ông. Bakufu có nghĩa là "chính quyền lều trại", bởi hiện thời chính quyền mang tính chất là chính quyền quân sự và quân đội đều sống trong các khu lều trại.
Thời gian qua đi, dòng dõi samurai trở thành các chiến binh quý tộc (buke), trên danh nghĩa chỉ thuộc quyền cai quản của quý tộc triều đình. Khi các samurai bắt đầu học các thú tiêu khiển theo kiểu quý tộc như thư đạo, thi ca... thì các nhà quý tộc, ngược lại, bắt đầu sống theo kiểu samurai. Trải qua hàng loạt mưu đồ và những thời đại trị vì ngắn ngủi của các vị hoàng đế khác nhau, quyền lực thật sự giờ đây nằm trong tay các shogun và các samurai.
=== Mạc phủ Ashikaga và thời phong kiến ===
Các dòng tộc samurai lao vào các cuộc tranh giành quyền lực diễn ra suốt thời Mạc phủ Kamakura và Mạc phủ Ashikaga.
Phật giáo Thiền tông được truyền bá rộng rãi trong giới samurai vào thế kỷ 13, giúp các võ sĩ gò mình vào khuôn mẫu đạo đức và vượt qua nỗi sợ hãi về giết chóc, nhưng tôn giáo phổ biến trong quần chúng nhân dân lại là Tịnh Độ Tông.
Năm 1274, nhà Nguyên đưa quân xâm lược Nhật Bản với 40.000 quân và 900 thuyền chiến tấn công từ phía bắc Kyushu. Nước Nhật chỉ đưa vỏn vẹn 10.000 võ sĩ samurai để đối phó. Mặt khác, quân xâm lược cũng bị choáng váng ít nhiều sau những trận dông bão trước khi bị các samurai giáng cho một đòn nặng nề. Quân Nguyên rút lui; cuộc xâm lược chấm dứt. Chiến thắng này được ghi nhớ bởi quân xâm lược Mông Cổ cũng sử dụng loại bom nhỏ mà sau này được cải tiến thành bom và thuốc súng của quân Nhật.
Quân Nhật nhận thấy sẽ lại có một cuộc xâm lăng mới, và bắt đầu xây dựng một phòng tuyến bằng đá sừng sững quanh vịnh Hakata vào năm 1276. Hoàn thành năm 1277, phòng tuyến này trải dài 20 km dọc theo bờ biển, sau này trở thành căn cứ phòng vệ trọng yếu trước sự xâm lược của quân Mông. Người Mông Cổ cố gắng dàn xếp vấn đề bằng đường lối ngoại giao suốt những năm 1275-1279, nhưng mỗi vị sứ giả được cử đưa đến Nhật đều bị xử tử.
Năm 1281, nhà Nguyên tiếp tục xâm lược Nhật Bản với đội quân 140.000 người và 4.400 thuyền chiến. Miền Bắc Kyushu được canh phòng với đội quân phòng vệ 40.000 người. Quân Mông chưa kịp hành quân vào đất liền thì gặp ngay một cơn bão to khi đổ bộ vào một hòn đảo ở Kyushy, tổn hất nặng nề. Một lần nữa quân Mông phải rút chạy sau những đợt phản kháng của quân Nhật ở phòng tuyến vịnh Hakara.
Những cơn dông năm 1274 và trận bão to năm 1281 đã giúp cho các samurai đẩy lùi quân xâm lược Mông Cổ dù chênh lệch về lực lượng rất lớn. Những trận gió này được biết đến với cái tên kami-no-kaze, tức "thần phong", và càng khắc sâu niềm tin của người Nhật rằng đất nước của họ thuộc về thần thánh và được bảo vệ bởi các thế lực siêu nhiên.
Thế kỷ 14, một thợ rèn tên là Masamune đã cải tiến kết cấu hai lớp của thép mềm và thép cứng dùng trong việc rèn kiếm, giúp nâng cao lực cắt và tính bền. Kỹ thuật mới này đã giúp cho thanh kiếm Nhật Katana trở thành một trong những khí giới lợi hại nhất của thời kì tiền công nghiệp ở Đông Á. Nhiều thanh kiếm được xuất khẩu xuyên Đông Hải, một số được đưa đến tận Ấn Độ xa xôi.
Việc anh em trong nhà hãm hại lẫn nhau, giành địa vị con trưởng để thừa kế tài sản thường xuyên xảy ra ở thời kì này, trái hẳn với các điều luật trước thế kỷ 14, quy định tài sản thừa kế được chia theo công trạng của mỗi người. Các cuộc xâm lấn địa phận và xung đột, tranh cãi giữa các samurai xảy ra liên miên, trở thành một vấn đề đáng lo ngại suốt thời Mạc phủ Kamakura và Mạc phủ Ashikaga.
Thời kì Chiến quốc (Sengoku jidai) đánh dấu sự nới lỏng về đạo đức trong văn hóa samurai. Các tầng lớp xã hội khác thi nhau gắn lên mình cái mác võ sĩ và ung dung được mọi người kính trọng dưới tư cách một samurai. Vì vậy, tinh thần Võ sĩ đạo (bushido)trở thành một nhân tố quan trọng trong việc cải quản và ổn định xã hội trong thời kì hỗn loạn này.
Các chiến lược và trình độ kỹ thuật của Nhật phát triển rất nhanh vào thế kỉ 15 và thế kỉ 16. Quân đội chủ yếu là bộ binh có tên gọi là ashigaru ("túc khinh", do chiến bào của họ rất nhẹ), gồm những võ sĩ có địa vị thấp kém và dân thường, được trang bị bằng giáo dài (nagayari) hay Naginata, phối hợp với kỵ binh tinh nhuệ. Số quân được huy động cho chiến sự dao động từ hàng ngàn đến hàng chục vạn người.
Súng hỏa mai, một dạng của súng trường, ban đầu được người Tây Ban Nha mang đến trên một chiếc thuyền hải tặc của Trung Quốc vào năm 1543, và người Nhật Bản đã chế tạo được nó thành công trong vòng chưa đến 1 thập kỉ. Kể từ đó, các nhóm sản xuất súng hỏa mai đóng một vai trò cực kỳ quan trọng trong quân đội.
Cuối thời phong kiến, nước Nhật sở hữu hàng trăm ngàn khẩu súng ngắn và quân số khổng lồ lên đến hơn 100.000 người. Thậm chí quân đội Tây Ban Nha hùng mạnh nhất châu Âu thời bấy giờ cũng chỉ sở hữu vài ngàn khẩu súng ngắn và khoảng 30.000 quân. Các ninja cũng đóng một vai trò tích cực trong lĩnh vực tình báo.
Năm 1592, rồi lại năm 1598, Toyotomi Hideyoshi xua quân xâm lược Trung Quốc (唐入り) và đưa đoàn quân 160.000 samurai tiến đánh Triều Tiên (朝鮮征伐), nhanh chóng chiếm ưu thế nhờ vũ khí lợi hại và quân đội tổ chức cao. Các tướng samurai nổi tiếng nhất trong cuộc chiến này là Kato Kiyomasa và Shimazu Yoshihiro.
Khi chế độ cũ bị lật đổ, cái tài xoay xở tháo vát của các samurai càng được thể hiện nổi trội trong mọi nỗ lực để duy trì thế lực quân sự và các tổ chức nhà nước trong phạm vi cai quản của mình. Đến thế kỉ 19, hầu hết các gia tộc samurai có nguồn gốc tổ tiên từ thời kì này đều tự nhận là dòng dõi của 4 dòng họ quý tộc thời xưa, Minamoto, Taira, Fujiwara và Tachibana. Và tất nhiên, thật khó để chứng minh điều đó.
Xem thêm: Thời kì mậu dịch Nanban
=== Oda, Toyotomi và Tokugawa ===
Oda Nobunaga là lãnh chúa vùng Nagoya (trước đây là Tỉnh Owari) và là một samurai kiệt xuất của Thời kỳ Chiến quốc. Ông đã thống nhất các lãnh chúa trên toàn lãnh thổ Nhật Bản và lập nên một nước Nhật Bản thống nhất.
Oda Nobunaga đã làm một cuộc cải cách trong chiến lược và tổ chức quân đội, cho sản xuất súng trường hạng nặng, chú trọng đổi mới thương và công nghiệp. Những chiến thắng nối tiếp nhau trở thành bàn đạp cho quân đội của ông đạt đến mục tiêu lật đổ Mạc phủ Ashikaga và tước bỏ quyền lực quân sự của các sư nhà chùa, châm ngòi cho các cuộc xung đột phù phiếm trong dân chúng suốt hàng thế kỉ. Tấn công vào cả nơi tôn nghiêm của các chùa miếu, họ trở thành vấn đề đau đầu của Thiên hoàng và bất cứ vị lãnh chứa nào muốn kiểm soát tầm ảnh hưởng của họ. Oda Nobunaga mất năm 1582 khi tướng dưới quyền Akechi Mitsuhide cùng các thế lực phản nghịch nổi dậy chống lại ông.
Quan trọng hơn, Toyotomi Hideyosi và Tokugawa Ieyasu, các thủ hạ trung thành của Nobunaga, lại chính là người lập ra triều đại Mạc phủ Tokugawa. Hideyoshi là tướng giỏi được Nobunaga trọng dụng; còn Ieyasu là bạn cùng lớn lên với Nobunaga từ thời thơ ấu. Hideyoshi đã đánh bại kẻ phản bội Mitsuhide chỉ trong vòng một tháng và trở thành người kế tục sự nghiệp của chủ soái Nobunaga.
Cả hai người đều có phần trong các chiến công của Nobunaga trước đó và đã tiếp nối sự nghiệp thống nhất Nhật Bản của Nobunaga. Người xưa có câu: "Thống nhất Nhật Bản là một cái bánh gạo. Oda làm bánh, Hashiba nặn bánh. Cuối cùng chỉ Ieyashu được ăn bánh" (Toyotomi Hideyoshi theo họ Hashiba khi còn là thuộc hạ của Nobunaga).
Mãi cho đến thời kỳ Minh Trị, các thành viên trong Chính phủ Minh Trị đã xác định hướng canh tân đất nước bằng cách học hỏi theo sự phát triển của các Đế quốc Anh và Đức, đặt cơ sở quốc gia trên nền tảng kết hợp giữa hệ thống tầng lớp quý tộc phương Tây và tầng lớp võ sĩ Samurai truyền thống. Và như thế, với cuộc Minh Trị Duy tân nửa sau thế kỷ 19, tầng lớp samurai được bãi bỏ và một tổ chức quân đội quốc gia theo kiểu phương Tây được hình thành. Về cơ bản, Đế quốc Nhật Bản có quân đội với những binh sĩ được trưng binh, tuy nhiên, rất nhiều cựu samurai tình nguyện tham gia và họ được huấn luyện để trở thành các sĩ quan. Với truyền thống samurai cũ, tính kỷ luật cao, khả năng huấn luyện tốt và lòng trung thành tuyệt đối, họ nhanh chóng trở thành tầng lớp sĩ quan nòng cốt của Đế quốc Nhật.
Bên cạnh đó, tầng lớp samurai cũng hóa thân vào tầng lớp trí thức bởi rất nhiều trong số họ có học thức và đào tạo kỹ. Họ cũng nhanh chóng trở thành nòng cốt của hệ thống giáo dục, báo chí và cả hệ thống hành chính.
== Huyền thoại và sự thật ==
Phần lớn samurai (trong thời kỳ Edo) gắn liền với quy tắc danh dự gọi là võ sĩ đạo (武士道), và luôn là những người làm gương cho cấp dưới. Một phần đáng chú ý của quy tắc võ sĩ đạo là luật tự mổ bụng (切腹) hay còn gọi là harakiri, cho phép một samurai bị hạ nhục phục hồi danh dự cho mình bằng cái chết, nơi samurai vẫn còn chịu ơn nguyên tắc Võ sĩ đạo. Tuy nhiên, quy tắc Võ sĩ đạo được viết ra trong thời bình và đã không phản ánh trung thực tính chất chiến binh của một samurai. Trong khi vẫn tồn tại những cách hành xử của samurai mang tính chất huyền thoại, những nghiên cứu về Võ gậy Nhật Bản và Võ đạo Nhật Bản đã cho thấy trên chiến trường, samurai cũng là những chiến binh như bao chiến binh khác.
Mặc dù được gắn với quy tắc Võ sĩ đạo, trên thực tế, samurai vẫn có những người không trung thành và phản bội (như Akechi Mitsuhide), hèn nhát, dũng cảm, hoặc quá trung thành (như Kusunoki Masashige). Samurai thường trung thành đối với cấp trên trực tiếp của họ, những người sẽ gắn liền lòng trung thành với những lãnh chúa cao hơn. Sự trung thành với lãnh chúa cao hơn thường thay đổi; ví dụ như, những lãnh chúa cấp cao dưới quyền Toyotomi Hideyoshi được phục vụ bởi những samurai trung thành, nhưng một số lãnh chúa phong kiến có thể chuyển sự ủng hộ qua Tokugawa, mang theo những samurai trung thành với họ. Tuy nhiên, cũng có những trường hợp samurai sẽ bất trung với lãnh chúa hoặc đại lãnh chúa, khi lòng trung thành đối với Thiên Hoàng cao cả hơn.
Một khả năng huyền thoại của samurai là Song đấu Tâm lý (Duel of Wills), một kỹ thuật tâm lý để kiểm tra sức mạnh tinh thần của kẻ địch mà không phải đánh nhau. Hai người tham chiến (phải cùng là samurai, hoặc ở đẳng cấp ngang nhau) nhìn chằm vào nhau, không chớp mắt trong yên lặng, không cử động cơ thể, cho đến khi một trong hai phải thất bại (mặc dù cũng có những câu chuyện - tuy hiếm - khi cả hai cùng thất bại một lúc).
== Samurai lừng danh ==
Yukimura Sanada
Date Masamune
Akechi Mitsuhide
Miyamoto Musashi
Uesugi Kenshin
Takeda Shingen
Minamoto Yoshiie
Saigo Takamori
Shiba Takeru
== Xem thêm ==
Hiệp sĩ
Iki
Kendo
Kiri sute gomen
Le Samouraï
Onna bugei-sha
Danh sách samurai
Gia tộc Minamoto
Shinsengumi
Miyamoto Musashi
Seiwa Genji
Gia tộc Taira
Takeda Shingen
Tanka o kiru
Blade of the Immortal
== Chú thích ==
== Phim về Samurai ==
The Hidden Fortress
The Seven Samurai
Sanjuro
Ran
Twilight Samurai
Yojimbo
The Last Samurai
Samurai Trilogy
When the Last Sword Is Drawn
Kagemusha
Sword of Doom
Aragami
Samurai Fiction
Yojimbo
Samurai Sentai Shinkenger
== Liên kết ngoài ==
SengokuDaimyo.com The website of Samurai Author and Historian
Hagakure: The Book of the Samurai online
The Samurai Archives Japanese History page
The God of Samurai |
kinh tế vương quốc liên hiệp anh.txt | Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland có nền kinh tế đứng thứ 5 trên thế giới theo tỷ giá trao đổi trên thị trường và đứng thứ 6 trên thế giới theo sức mua tương đương. Nó là nền kinh tế lớn thứ hai trong châu Âu sau Đức. Vương quốc Anh là một trong những nước trên thế giới có chỉ số toàn cầu hóa cao, xếp thứ 4 trong một cuộc khảo sát gần đây. Thủ đô London là một trong ba trung tâm tài chính quan trọng nhất trên thế giới, cùng với Thành phố New York và Tokyo.
Kinh tế của Anh thường được mô tả là nền "kinh tế Anglo-Saxon". Nó được cấu thành từ các nền kinh tế của các xứ thành viên: Anh (England), Scotland, Wales và Bắc Ireland. Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland là một quốc gia thành viên của Liên minh châu Âu (EU) từ năm 1973.
Trong những năm 1980, dưới thời chính phủ của Margaret Thatcher, hầu hết các doanh nghiệp nhà nước trong lĩnh vực công nghiệp và dịch vụ đã được tư nhân hóa. Hiện nay chỉ còn rất ít doanh nghiệp nhà nước mà Royal Mail là một ví dụ.
Kinh tế Anh trong những năm gần đây được xem là nền kinh tế có sự tăng trưởng vững chắc và liên tục nhất, khoảng trên 150 năm. Đây là một trong những nền kinh tế mạnh nhất trong EU theo nghĩa lạm phát, thất nghiệp và lãi suất đều tương đối thấp. Do vậy, theo Quỹ tiền tệ quốc tế, Anh có GDP bình quân đầu người xếp thứ 7 trong Liên minh châu Âu theo sức mua tương đương, sau Luxembourg, Ireland, Hà Lan, Đan Mạch, Áo và Phần Lan. Tuy nhiên, cũng như nhiều nền kinh tế của các nước nói tiếng Anh, nó có mức bất bình đẳng về thu nhập cao hơn so với nhiều nước châu Âu. Anh cũng là nước có thâm hụt tài khoản vãng lai lớn, mặc dù có nguồn thu đáng kể từ dầu mỏ.
Mặc dù năng suất lao động trên đầu người của Anh đã tăng nhanh trong suốt hai thập kỉ gần đây và đã bắt kịp với năng suất lao động của Đức, nó vẫn ít hơn khoảng 20% so với Pháp, nơi mà các công nhân chỉ làm việc 35 giờ một tuần.
Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland hiện xếp thứ 16 về Chỉ số phát triển con người.
== Tăng trưởng kinh tế hiện nay ==
Các số liệu thống kê chính thức gần đây nhất từ cơ quan thống kê quốc gia (ONS), cho biết tăng trưởng kinh tế hàng năm là 3,3% (từ quý 4 năm 2006 - quý 3 năm 2007) [2].
Theo ước tính của các cơ quan tài chính, mức tăng GDP của Anh là 2¾% trong năm 2006 và sẽ đạt 3% trong năm 2007. Tốc độ tăng trưởng sẽ chậm lại một chút trong năm 2008, đạt khoảng 2% đến 2,5%. Các dự báo từ năm 2009 đến 2010, xu thế tăng kinh tế sẽ trở lại 2,5% và 3%.
Tháng 10 năm 2007, IMF dự báo GDP của Anh tăng khoảng 3,1% trong năm 2007 và 2,3% trong năm 2008 [3].
== Xu hướng kinh tế vĩ mô ==
Dưới đây là bảng thống kê của IMF về xu hướng tăng GDP của Anh theo giá thị trường estimated, các số liệu tính theo đơn vị triệu bảng Anh.
Để so sánh sức mua tương đương, xem tỷ giá giữa USD và bảng Anh hiện nay là 1 USD = 0,66 bảng Anh để quy ra USD.
== Tham khảo ==
== Xem thêm ==
Lịch sử kinh tế Anh
== Liên kết ngoài ==
CIA World Factbook
OECD's United Kingdom country Web site and OECD Economic Survey of the United Kingdom
Is the US a Good Model for Reducing Social Exclusion in Europe? August 2006
UK Bank Rate since 1970 |
carex hirta.txt | Carex hirta là một loài thực vật có hoa trong họ Cói. Loài này được L. mô tả khoa học đầu tiên năm 1753.
== Hình ảnh ==
== Chú thích ==
== Liên kết ngoài ==
Phương tiện liên quan tới Carex hirta tại Wikimedia Commons
Dữ liệu liên quan tới Carex hirta tại Wikispecies
Vườn thực vật hoàng gia Kew; Đại học Harvard; Australian Plant Name Index (biên tập). “Carex hirta”. International Plant Names Index. Truy cập ngày 11 tháng 6 năm 2013. |
microsoft exchange server.txt | Microsoft Exchange Server là phần mềm máy chủ thư điện tử được phát triển bởi Microsoft. Đây là chương trình máy chủ chạy trên Windows Server và là thành viên của dòng máy chủ Microsoft. Exchange Server bắt đầu phát triển từ tháng 4 năm 1993, và được hoàn thành vào cuối năm 1996.
== Chú thích ==
== Liên kết ngoài ==
"Microsoft Exchange"
"EHLO - The Exchange Team Blog"
"A brief history of time - Exchange Server way" Written by the Exchange Team
"Microsoft TechNet - Exchange Server Home"
"Exchange Server Supportability Matrix"
"OpenChange: a portable Open Source implementation of Microsoft Exchange Server and Exchange protocols."
"Evaluation of Microsoft Exchange 2010 Beta at IT Reviews ngày 27 tháng 7 năm 2009"
"Windows Phone 7 - Exchange Setup Guide"
"Evolution Windows NSIS Installer"
"Licensing of Microsoft Server Products"
Exchange Web Forms
Exchange Server Tutorials |
samsung sgh-f210.txt | Samsung SGH-F210 là điện thoại di động sản xuất bởi Samsung Electronics.
== Phản hồi ==
Trusted Reviews đánh giá nó 7/10, phê bình kích thước màn hình nhỏ., The Register cho nó 73%, bày tỏ sự nhầm lẫn về việc liệu nó là một điện thoại hoặc máy nghe nhạc MP3, và Pocket Lint đánh giá 3.5/5.
== Tham khảo ==
== Liên kết ==
Samsung SGH-F210 thông số và tính năng tại Samsung Mobile |
alvin and the chipmunks 3.txt | Alvin and the Chipmunks 3 là một bộ Phim hài phiêu lưu Mỹ 2011 của đạo diễn Mike Mitchell. Những ngôi sao tham gia trong phim là Jason Lee, David Cross và Jenny Slate lồng tiếng cho Justin Long, Matthew Gray Gubler, Jesse McCartney, Amy Poehler, Anna Faris và Christina Applegate.
Phim được phát hành bởi Twentieth Century Fox, sản xuất bởi Fox 2000 Pictures, Regency Enterprises và Bagdasarian Company.Phim là phần tiếp theo của Ban nhạc sóc chuột 2007 và Ban nhạc sóc chuột 2 2009. Phim khởi chiếu ngày 16 tháng 12,2011.
== Nội dung ==
== Phân vai ==
Jason Lee vai David Seville
David Cross vai Ian Hawke
Jenny Slate vai Zoe
Andy Buckley vai Captain Correlli
Justin Long vai Alvin Seville
Matthew Gray Gubler vai Simon Seville
Jesse McCartney vai Theodore Seville
Christina Applegate vai Brittany
Anna Faris vai Jeanette
Amy Poehler vai Eleanor
== Chú thích ==
== Liên kết ngoài ==
Website chính thức
Alvin and the Chipmunks 3 tại Internet Movie Database
Alvin and the Chipmunks: Chipwrecked tại TCM Movie Database
Alvin and the Chipmunks 3 tại Box Office Mojo
Alvin and the Chipmunks 3 tại Rotten Tomatoes
Alvin and the Chipmunks 3 tại Metacritic
Official Soundtrack Website
Bản mẫu:Ban nhạc sóc chuột |
nova scotia.txt | Nova Scotia là một tỉnh bang thuộc vùng miền đông của Canada. Đây là một bán đảo nằm nhô ra ngoài Đại Tây Dương với một diện tích khoảng 55.000 km².
== Tham khảo == |
thế kỷ 9.txt | Thế kỷ 9 là khoảng thời gian tính từ thời điểm năm 801 đến hết năm 900, nghĩa là bằng 100 năm, trong lịch Gregory.
== Tham khảo == |
giesecke & devrient.txt | Giesecke & Devrient (G&D) là một tập đoàn quốc tế có trụ sở chính ở München, chuyên về in tiền, in giấy hộ chiếu, Chứng khoán, mà cũng chuyên môn về Thẻ thông minh và những giải pháp an toàn. Tập đoàn với truyền thống lâu đời được thành lập vào ngày 1 tháng 6 năm 1852 bởi Hermann Giesecke (1831–1900) và Alphonse Devrient (1821–1878) tại Leipzig như là một viện chuyên in hình nghệ thuật „Giesecke & Devrient“ và ngày nay có trên toàn thế giới trên 50 hãng con cùng các Liên doanh. G&D tính vào năm 2013 có 11.660 nhân viên, trong đó 7.517 ở nước ngoài. Doanh thu cùng năm là 1,75 tỷ Euro. Tập đoàn này dẫn đầu trên thị trường và về kỹ thuật trong các sản phẩm của mình.
G&D ban đầu chuyên về in tiền, in giấy hộ chiếu, Chứng khoán. Từ thập niên 1960 cũng chế tạo giấy để in tiền, và từ thập niên 1970 máy móc để in tiền, Thẻ thông minh cho các ứng dụng ở nhà băng. Ngoài ra họ cũng tham dự phát triển SIM (điện thoại). Sau này họ còn in cả thẻ căn cước.
== Trụ sở München ==
Sau thế chiến thứ Hai, Giesecke & Devrient dọn hãng từ Leipzig về München, đến năm 1959 thì chuyển về trụ sở hiện thời ở Vogelweideplatz, nằm trên đường Prinzregentenstraße, với số nhân viên hiện tại là 2.500 người.
=== Tái cơ cấu ===
Hiện thời đây là nơi in tiền giấy, không chỉ tiền Euro mà còn cho cả tiền tệ của các nước khác. Nhưng cuối năm 2014, ban lãnh đạo hãng tuyên bố là phải thực hiện chương trình tái cơ cấu doanh nghiệp. Qua chương trình này thì 950 người sẽ mất việc, 2/3 là ở München, từ 2500 sẽ giảm xuống còn 1700. Dự định là sẽ bán cả trụ sở, và đất đai mà đã mua lại 2 năm trước của công ty mẹ của bà Verena Mitschke-Collande. Nhiều công việc sẽ chuyển đi nơi khác ít tốn kém hơn như trung tâm dịch vụ thẻ thông minh. Dịch vụ in tiền giấy cũng sẽ chỉ còn in ở Leipzig, nơi mà công ty 1991 đã mua lại xưởng mà đã bị quốc hữu hóa dưới thời DDR (Đông Đức).. Việc sản xuất hệ thống an toàn cho tiền giấy sẽ chuyển về Louisenthal ở Tegernsee, bộ phận mà G & D hiện đã sản xuất giấy an toàn chống giả mạo để làm tiền giấy.
== Chú thích == |
kinh tế na uy.txt | Mặc dù dễ bị tổn thương bởi các chu kỳ kinh tế toàn cầu, nền Kinh tế Na Uy đã có một sự tăng trưởng mạnh kể từ khi bắt đầu thời kỳ công nghiệp. Đóng tàu là trụ cột cho lĩnh vực xuất khẩu của Na Uy, nhưng đóng góp nhiều hơn cả vào sự tăng trưởng kinh tế của Na Uy là sự giàu có, phong phú của các nguồn tài nguyên thiên nhiên, bao gồm sự thăm dò và khai thác, chế biến dầu mỏ, thủy điện, và nghề cá. Nông nghiệp và công nghiệp nặng truyền thống đã trải qua một thời kỳ suy sụp so với dịch vụ và ngành công nghiệp dầu mỏ. Lĩnh vực công cộng cũng là một trong những nhân tố quan trọng góp phần làm tăng tổng sản phẩm nội địa.
== Tham khảo == |
đảng sức mạnh nhân dân (thái lan).txt | Đảng Sức mạnh Nhân dân (Palang Prachachon; PPP) là một chính đảng Thái Lan. Lãnh đạo đảng này là Somchai Wongsawat (tạm quyền); Tổng bí thư đảng này là Surapong Suebwonglee và người phát ngôn của đảng là Kuthep Saikrajarng.
Ngày 29 tháng 7 năm 2007, một số cựu đảng viên của Đảng Thai Rak Thai đã đồng ý đã tranh đua trong cuộc tổng tuyển cử năm 2007 với tư cách là ứng cử viên của Đảng Sức mạnh Nhân dân. Điều này là do Đảng Thai Rak Thai đã bị giải tán bởi Tòa án Hiến pháp Thái Lan vào ngày 30 tháng 5 năm 2007 và tiếp sau đó là việc cấm tham gia chính trị đối với các nhà chính trị cựu đảng viên đảng này như Newin Chidchob, Buriram và cựu lãnh đạo TRT Thaksin Shinawatra. Nhiều cựu thành viên khác của TRT cũng đã thành lập đảng phái riêng của họ, trong đó có Đảng Ruam Jai Thai và Đảng Puea Pandin.
Cựu Thị trưởng Bangkok Samak Sundaravej và cựu Bộ trưởng Nội các của TRT Surapong Suebwonglee đã được bầu làm lãnh đạo đảng và tổng bí thư đảng vào ngày 24 tháng 8, 2007.
Tháng 9 năm 2008, ông Somchai Wongsawat - người của Đảng Sức mạnh Nhân dân - đã được quốc hội bầu làm thủ tướng Thái Lan. Nhưng ông này chỉ giữ chức được chưa đầy 3 tháng vì ngày 2 tháng 12 năm 2008, Tòa án Hiến pháp Thái Lan phán quyết rằng Đảng Sức mạnh Nhân dân đã có hành vi gian lận trong bầu cử và phán quyết giải thể đảng này.
Cụ thể, vụ việc bắt đầu từ đầu năm 2008 khi cựu chủ tịch quốc hội Yongyuth Tiyapairat bị cáo buộc mua phiếu bầu trong cuộc bầu cử tháng 12 năm 2007. Ông Yongyuth bị kết tội sau đó và bị cấm hoạt động chính trị trong 5 năm. Vì ông Yongyuth là thành viên ban lãnh đạo của đảng Sức mạnh Nhân dân nên vai trò của đảng này trong vụ mua phiếu bầu tiếp tục bị điều tra. Kết cục là đảng Sức mạnh Nhân dân bị phán quyết giải thể, điều mà những người ủng hộ chính đảng này nói là một cuộc "đảo chính thầm lặng".
Một số đảng viên của Đảng Sức mạnh Nhân dân đã lập đảng mới là Puea Thai sau khi đảng của mình bị giải thể. Một số đảng viên khác trong phái "Những người bạn của Newin" thì chạy sang ủng hộ đảng Dân chủ, đảng đối lập với đảng Sức mạnh Nhân dân lúc trước. Cùng lúc đó, nhiều đảng nhỏ có trong liên minh cầm quyền với đảng Sức mạnh Nhân dân xưa kia cũng rời bỏ phe thân cựu thủ tướng Thaksin Shinawatra này để chạy sang ủng hộ đảng Dân chủ, hậu thuẫn chủ tịch đảng này là ông Abhisit Vejjajiva lên làm thủ tướng mới của Thái Lan.
== Tham khảo == |
caribe thuộc hà lan.txt | Caribe thuộc Hà Lan (tiếng Hà Lan: Caribisch Nederland, tiếng Papiamento: Hulanda Karibe) là tên gọi chung cho ba hòn đảo tự trị thuộc Hà Lan tại khu vực biển Caribe ở châu Mỹ là Bonaire, Sint Eustatius và Saba. Những đảo này còn được gọi là quần đảo BES. BES là từ viết tắt dùng để chỉ các chữ cái đầu tên trong tên của các hòn đảo. Từ 10 tháng 10 năm 2010, các hòn đảo này trở thành một bộ phận thuộc Hà Lan. Trước đó, các đảo là một bộ phận của Antille thuộc Hà Lan, nguyên là một quốc gia cấu thành của Vương quốc Hà Lan.
Bonaire (bao gồm cả đảo nhỏ Klein Bonaire) nằm về phía đông của Aruba và Curaçao, gần bờ biển Venezuela. Sint Eustatius và Saba nằm phía nam của Sint Maarten và phía tây bắc của Saint Kitts và Nevis. Ba hòn đảo có tình trạng chính trị như hiện tại sau khi Antille thuộc Hà Lan giải thể vào ngày 10 tháng 10 năm 2010. Tổng dân sốlà 18.000 người dân và diện tích là 328 km ² (127 sq mi) tương ứng với khoảng 1/1000 dân số và 1/100 diện tích của phần đất Hà Lan ở Châu Âu. Múi giờ là UTC -4; mã quốc gia là 599, dùng chung với Curaçao và Sint Maarten. Điểm cao nhất là Núi Scenery cao 877 mét (2.877 ft) tại Saba, đây cũng là điểm cao nhất Vương quốc Hà Lan. Các đảo có khí hậu nhiệt đới quanh năm.
Cho đến 1/11/2011, 3 hòn đảo sử dụng đồng guilder Antille thuộc Hà Lan và sau đó cả ba chuyển sang dùng đô la Mỹ, trong khi phần Hà Lan ở châu Âu sử dụng đồng Euro còn hai hòn đảo khác vốn cũng thuộc Antille thuộc Hà Lan là Curaçao và Sint Maarten sử dụng đồng guilder Caribe. |
cam túc.txt | (giản thể: 甘肃; phồn thể: 甘肅; bính âm: Gānsù; Wade-Giles: Kan-su, Kansu, hoặc Kan-suh) là một tỉnh ở phía tây bắc của Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa. Cam Túc nằm giữa tỉnh Thanh Hải, Nội Mông và Cao nguyên Hoàng Thổ, giáp với Mông Cổ về phía bắc. Hoàng Hà chảy qua phía nam tỉnh này. Dân số Cam Túc là 25 triệu người (1997) và tập trung nhiều người Hồi. Tỉnh lỵ là Lan Châu nằm ở đông nam tỉnh.
Cam Túc có tên gọi tắt là Cam hay Lũng (陇/隴), cũng còn gọi theo tên cũ là Lũng Tây hay Lũng Hữu vì có núi Lũng ở phía đông Cam Túc.
== Lịch sử ==
Cam Túc là từ hợp thành được sử dụng lần đầu tiên vào thời nhà Tống, bao gồm hai châu (州) của thời nhà Tùy và nhà Đường là: Cam Châu (khu vực xung quanh Trương Dịch) và Túc Châu (khu vực xung quanh Tửu Tuyền).
Trong thời tiền sử, Cam Túc là khu vực của một số nền văn hóa thuộc thời kỳ đồ đá mới. Nền văn hóa Đại Địa Loan (大地灣文化), với hàng loạt các cổ vật có giá trị đáng kể đã được khai quật, đã thịnh vượng ở khu vực phía đông Cam Túc vào khoảng từ năm 6000 TCN tới khoảng năm 3000 TCN [1]. Nền văn hóa Mã Gia Diêu (馬家窯文化) và một phần của nền văn hóa Tề Gia (齊家文化) cũng có gốc rễ từ Cam Túc tương ứng là vào khoảng 3100 TCN tới 2700 TCN và 2400 TCN tới 1900 TCN.
Nước Tần (秦), sau này trở thành nhà nước sáng lập của đế quốc Trung Hoa, đã bắt đầu từ khu vực đông nam của Cam Túc, đặc biệt là khu vực Thiên Thủy (天水). Họ Tần được cho là có nguồn gốc từ khu vực này [2]. Các lăng mộ thời Tần và các cổ vật đã được khai quật tại Phóng Mã Than (放馬灘) tháng 6 năm 1986 gần Thiên Thủy, bao gồm một bản đồ khoảng 2.200 năm tuổi về huyện Khuê Phụ (圭阝) thời Tần Thủy Hoàng năm thứ 8 (khoảng năm 239 TCN) [3].
Trong thời kỳ phong kiến, Cam Túc là một tiền đồn chiến lược quan trọng và là mắt xích thông tin liên lạc cho đế quốc Trung Hoa, do hành lang Hà Tây (河西走廊) chạy dọc theo "cổ" của tỉnh này. Nhà Hán đã mở rộng Vạn Lý Trường Thành dọc theo hành lang này, cũng như xây dựng các thị trấn-pháo đài chiến lược Ngọc Môn Quan (gần Đôn Hoàng) và Dương Quan dọc theo nó. Các dấu tích của tường thành và các thị trấn này cho đến nay vẫn có thể còn được tìm thấy. Nhà Minh cũng đã xây dựng tiền đồn Gia Dục Quan (嘉峪关) tại Cam Túc. Về phía tây Ngọc Môn Quan và dãy núi Kỳ Liên, ở phía tây bắc tỉnh này, người Nguyệt Chi, Ô Tôn và các bộ lạc du cư khác đã từng cư trú tại đó (Sử ký, 123), đôi khi được nhắc đến trong địa chính trị khu vực của đế quốc Trung Hoa. Bản mẫu:Deadliest earthquakes Nằm dọc theo con đường tơ lụa, Cam Túc đã từng là một tỉnh quan trọng về mặt kinh tế, cũng như là con đường truyền tải văn minh đông-tây. Các chùa, chiền và hang động Phật giáo [4], chẳng hạn tại hang Mạc Cao (hang ngàn Phật) và hang Mạch Tích Sơn chứa các bích họa có giá trị nghệ thuật và lịch sử. Dạng nguyên thủy của giấy được viết bằng các ký tự của tiếng Trung có niên đại vào khoảng năm 8 TCN đã được phát hiện tại khu vực của một pháo đài nhà Tây Hán gần Ngọc Môn Quan vào tháng 8 năm 2006 [5].
Các trận động đất, khô hạn và đói kém xảy ra thường xuyên có xu hướng làm chậm sự phát triển kinh tế của tỉnh cho tới gần đây, khi người ta dựa trên sự giàu có các nguồn khoáng sản của tỉnh để bắt đầu phát triển để trở thành một trung tâm công nghiệp quan trọng. Trận động đất tại Cam Túc mạnh 8,6 độ Richter đã làm khoảng 180.000 người chết vào năm 1920, và một trận động đất khác với cường độ 7,6 đã giết chết khoảng 70.000 người vào năm 1932.
== Địa lý ==
Tỉnh Cam Túc có diện tích 454.000 km², và phần lớn đất đai của tỉnh này nằm ở độ cao trên 1 km so với mực nước biển. Nó nằm giữa cao nguyên Tây Tạng, Nội Mông Cổ, cao nguyên Hoàng Thổ và có biên giới với Mông Cổ ở phía tây bắc. Sông Hoàng Hà chảy qua phần phía nam của tỉnh. Tỉnh này cũng chứa điểm trung tâm địa lý của Trung Quốc, được đánh dấu bằng đài kỷ niệm tại vĩ độ 35,33° bắc và kinh độ 103,23°đông. [6]
Một phần của sa mạc Gobi cũng nằm tại Cam Túc.
Sông Hoàng Hà có nguồn nước chủ yếu tại tỉnh Cam Túc và chảy qua Lan Châu.
Về địa hình thì Cam Túc bằng phẳng ở phía bắc và nhấp nhô ở phía nam. Các rặng núi phía nam là một phần của dãy núi Kỳ Liên. Với độ cao 5.547 m, Kỳ Liên Sơn là đỉnh cao nhất tại Cam Túc. Nó nằm tại tọa độ 39° vĩ bắc và 99° kinh đông.
Các tỉnh/khu tự trị cận kề có: Nội Mông Cổ, Tân Cương, Thanh Hải, Tứ Xuyên, Thiểm Tây và Ninh Hạ.
Các thành phố khác còn có:
Ngọc Môn
Hạ Hà
== Các đơn vị hành chính ==
Xem chi tiết tại Danh sách các đơn vị hành chính Cam Túc.
Có 14 đơn vị hành chính trực thuộc tỉnh Cam Túc, trong đó có 12 thành phố thuộc tỉnh (địa cấp thị) và 2 châu tự trị:
== Kinh tế ==
Sản xuất nông nghiệp có trồng bông, lanh dầu, ngô, dưa (dưa Bạch Lan nổi tiếng ở Trung Quốc), kê và lúa mì. Cam Túc cũng là nguồn cung cấp cây thuốc cho y học cổ truyền Trung Hoa.
Tuy nhiên, phần lớn kinh tế của tỉnh dựa trên khai thác mỏ và tuyển quặng, đặc biệt là các kim loại đất hiếm. Tỉnh này có một trữ lượng đáng kể antimon, crom, than đá, coban, đồng, fluorit, thạch cao, iridi, sắt, chì, đá vôi, thủy ngân, mirabilit, niken, dầu mỏ, platin, troilit, vonfram và kẽm. Các giếng dầu tại Ngọc Môn và Trường Khánh có giá trị đáng kể.
Công nghiệp ngoài khai khoáng còn có phát điện, hóa dầu, máy móc khai thác dầu và vật liệu xây dựng.
Theo một số nguồn thì tỉnh này còn là trung tâm công nghiệp hạt nhân của Trung Quốc.
GDP danh định của tỉnh năm 2004 là khoảng 155,9 tỷ nhân dân tệ (19,34 tỷ USD) và trên đầu người là 5.010 nhân dân tệ (605 USD).
== Dân cư ==
Tỉnh Cam Túc có 26.033.400 dân. Phần lớn dân số (73%) vẫn là nông dân. Cam Túc có 92% dân số là người Hán. Ngoài ra còn có các dân tộc khác như Hồi, Tạng, Thổ, Mãn, Duy Ngô Nhĩ, Dụ Cố, Bảo An, Mông Cổ, Tát Lạp và Kazakh.
== Ngôn ngữ ==
Phần lớn cư dân tại Cam Túc sử dụng phương ngữ tiếng Trung quan thoại phương bắc. Ở khu vực biên giới của Cam Túc người ta còn sử dụng các thứ tiếng khác như Amdo Tạng, Mông Cổ và Kazakh. Phần lớn các dân tộc thiểu số cũng nói tiếng Trung, ngoại trừ bộ lạc người Thổ nói tiếng Mông Cổ rất ít khi sử dụng ngôn ngữ thứ hai.
== Văn hóa ==
Ẩm thực tại Cam Túc dựa trên các loại sản phẩm chính được nuôi trồng tại đây: lúa mì, lúa mạch, kê, đậu và khoai lang. Trong phạm vi Trung Quốc, Cam Túc được biết đến vì các món mì và các nhà hàng Hồi giáo với đặc trưng của ẩm thực Cam Túc là phổ biến tại phần lớn các thành phố lớn của Trung Quốc.
== Du lịch ==
Các điểm du lịch quan trọng bao gồm:
=== Gia Dục Quan ===
Gia Dục Quan tại thành phố cùng tên là cửa ải lớn nhất và còn nguyên vẹn nhất của Vạn Lý Trường Thành. Gia Dục Quan được xây dựng vào đầu thời kỳ nhà Minh, khoảng năm 1372. Nó được xây dựng gần một ốc đảo khi đó là điểm cực tây của Trung Quốc. Gia Dục Quan là cửa ải đầu tiên ở phía tây của Vạn Lý Trường Thành vì thế tên gọi của nó có nghĩa là "Cửa ải đầu tiên và lớn nhất dưới bầu trời". Một viên gạch thừa nằm trên gờ của một cổng. Một truyền thuyết nói rằng viên quan chịu trách nhiệm đã yêu cầu người thiết kế tính toán số gạch cần dùng. Người thiết kế đã đưa ra một con số và khi xây dựng xong thì chỉ còn thừa đúng một viên gạch. Nó đã được đặt trên đỉnh của cửa ải như là biểu tượng để kỷ niệm. Một diễn giải khác cho rằng công trình xây dựng được giao cho một viên tướng quân đội và một nhà kiến trúc. Nhà kiến trúc đã đưa cho viên tướng bản dự toán số gạch mà ông ta cần. Khi viên tướng quản lý nhận thấy viên kiến trúc sư kia đã không đề nghị thêm một viên gạch dư thừa nào cả, ông ta đã yêu cầu nhà kiến trúc sửa lại bản dự toán để tính tới các tình huống không dự liệu trước được. Nhà kiến trúc, nhìn nhận việc này như là sự xỉ nhục đối với khả năng lập kế hoạch của ông ta, đã bổ sung thêm đúng 1 viên gạch vào yêu cầu. Khi cửa ải xây dựng xong thì viên gạch dư thừa trên thực tế vẫn còn và người ta đã để nó trên gờ cổng.
=== Hang Mạc Cao ===
Hang Mạc Cao gần Đôn Hoàng là một bộ sưu tập đáng ngạc nhiên về nghệ thuật và tôn giáo của Phật giáo. Nó được công nhận là di sản thế giới kể từ năm 1987. Ban đầu ở đây có 1.000 hang động, nhưng hiện nay chỉ còn 735 hang động là còn giữ được, chia thành hai khu bắc (248 hang với 5 còn bích họa hay tượng) và nam (487 hang, đều có bích họa hay tượng). Mỗi chùa, miếu trong các hang đều có một bức tượng Phật hay Bồ Tát lớn và được tô vẽ thêm các cảnh tôn giáo. Năm 336, một nhà sư tên là Lạc Tôn (樂尊) đã nhìn thấy kim quang chiếu xuống như thể có hàng vạn Phật. Lạc Tôn đã bắt đầu cho khai tạc hang động đầu tiên để ghi nhớ sự kiện đó. Trong thời kỳ Ngũ đại Thập quốc đã không còn chỗ trên vách núi và không thể xây dựng thêm được hang động nào.
=== Con đường tơ lụa và Đôn Hoàng ===
Con đường tơ lụa lịch sử bắt đầu từ Trường An và kéo dài tới Constantinopolis. Trên con đường này, các thương nhân có thể đi tới Đôn Hoàng tại Cam Túc. Tại Đôn Hoàng họ có thể đổi lấy lạc đà còn khỏe mạnh, thực phẩm và người bảo vệ cho cuộc hành trình đầy nguy hiểm qua sa mạc Taklamakan. Trước khi rời Đôn Hoàng họ có thể cầu nguyện tại hang Mạc Cao để xin một chuyến đi an toàn, nếu họ có thể trở lại đây thì họ sẽ lại tạ ơn trời đất tại hang này. Dọc theo sa mạc, họ cần phải lập thành những đoàn người đi trên lạc đà nhằm tự bảo vệ trước các nhóm cướp. Điểm dừng tiếp theo là Khách Thập (Kashi, Kashgar). Tại Khách Thập, phần lớn hàng hóa có thể trao đổi và người ta có thể quay trở lại, còn những người ở lại có thể ăn hoa quả và đổi lạc đà hai bướu của mình lấy những con lạc đà một bướu. Sau Khách Thập, họ có thể đi tiếp cho đến khi tới điểm tới tiếp theo.
=== Chùa Bỉnh Linh ===
Chùa Bỉnh Linh hay động Bỉnh Linh, là một quần thể hang động Phật giáo trong hẻm núi dọc theo sông Hoàng Hà. Bắt đầu xây dựng năm 420 trong thời nhà Tây Tấn, khu vực này bao gồm hàng chục hang động với các mẫu chạm khắc, điêu khắc và bích họa. Bức tượng Phật Di Lặc lớn cao trên 27 m và là tương tự như bức tượng Phật đã từng tồn tại trên vách đá tại Bamiyan, Afghanistan. Khu vực này chỉ có thể tiếp cận được bằng cách đi thuyền từ Vĩnh Tĩnh (永靖) vào mùa hè hay mùa thu.
=== Chùa Lạp Bặc Lăng ===
Đại tự viện Lạp Bặc Lăng nằm tại huyện Hạ Hà, châu tự trị dân tộc Tạng Cam Nam, ở phía nam Cam Túc và một phần của tỉnh cũ của Tây Tạng là An Đa (Amdo). Nó là một trong sáu đại tự viện chính của truyền thống Cách-lỗ phái trong Phật giáo Tây Tạng tại Tây Tạng và là quan trọng nhất tại Amdo. Được xây dựng năm 1710, nó có 6 đại học viện và chứa trên 60.000 kinh văn cũng như các tác phẩm văn chương khác cùng các tạo tác văn hóa khác.
== Khác ==
Trung tâm phóng vệ tinh Tửu Tuyền nằm tại sa mạc Gobi phần thuộc tỉnh Cam Túc.
== Giáo dục ==
=== Cao đẳng và đại học ===
Đại học Lan Châu (Lan Châu)
Đại học Nông nghiệp Cam Túc
== Các nguồn lực tự nhiên ==
=== Đất đai ===
166.400 km² đồng cỏ
46.700 km² sườn núi thích hợp cho chăn thả gia súc
46.200 km² rừng (trữ lượng gỗ còn lại khoảng 0,2 km³)
35.300 km² đất trồng trọt (1.400 m² trên đầu người)
66.600 km² đất hoang thích hợp cho trồng rừng
10.000 km² đất hoang thích hợp cho việc lập trang trại
454.000 km² tổng cộng
=== Khoáng sản ===
3.000 khu vực trầm tích của 145 loại khoáng chất khác nhau. 94 khoáng chất dã được tìm thấy và xác định chắc chắn, bao gồm niken, coban, platin, selen, đất sét, serpentin và 5 khoáng chất khác với trữ lượng lớn nhất tại Trung Quốc. Cam Túc có ưu thế trong việc khai thác niken, kẽm, coban, platin, iridi, đồng, barit và baudisserit.
=== Năng lượng ===
Trong số các nguồn năng lượng quan trọng nhất của Cam Túc là nguồn nước: sông Hoàng Hà và các lưu vực sông nội địa khác. Cam Túc đứng thứ 9 trong số các tỉnh Trung Quốc về tiềm năng thủy điện hàng năm cũng như về lưu lượng nước. Cam Túc sản xuất 17,24 gigawatt thủy điện trong một năm. 29 nhà máy thủy điện đã được xây dựng tại tỉnh này. Mỗi nhà máy có thể tạo ra 30 gigawatt. Về trữ lượng than, Cam Túc có khoảng 8,92 tỷ tấn. Tỉnh này cũng có khoảng 700 triệu tấn dầu mỏ. Ngoài rá, Cam Túc cũng có tiềm năng tốt trong việc phát triển phong điện và điện mặt trời.
=== Thực-động vật ===
Cam Túc có 659 loài động vật hoang dã. Một số loài đáng chú ý là gấu trúc lớn, khỉ mũi hếch, linh dương, báo tuyết, hươu, nai, hươu xạ và lạc đà hai bướu. Tại đây cũng có 24 loài động vật hiếm khác đang nằm dưới sự bảo vệ của nhà nước. Cam Túc cũng có 441 loài chim.
Tỉnh Cam Túc đứng thứ hai Trung Quốc về các loại cây thuốc, bao gồm đảng sâm (Codonopsis pilosula), bối mẫu (Fritillaria spp.) và đông trùng hạ thảo (Cordyceps sinensis).
== Chú thích ==
== Tham khảo ==
Tranh Web chính thức của tỉnh Cam Túc (tiếng Trung giản thể)
Khám phá Cam Túc (Tiếng Việt)
Bản đồ Cam Túc
Gansu, the Mainland's "Little Lhasa" của Tom Carter Bài viết về tỉnh Cam Túc |
6 tháng 6.txt | Ngày 6 tháng 6 là ngày thứ 157 (158 trong năm nhuận) trong lịch Gregory. Còn 208 ngày trong năm.
== Sự kiện ==
1285 - Thượng tướng Trần Quang Khải sáng tác bài thơ "Tụng giá hoàn kinh sư".
1674 – Shivaji cử hành nghi lễ đăng quang làm hoàng đế, khởi đầu Đế quốc Maratha.
1808 – Anh trai của Napoléon Bonaparte là Joseph Bonaparte đăng quang quốc vương của Tây Ban Nha.
1844 – Hiệp hội Thanh niên Cơ Đốc được thành lập tại Luân Đôn, Anh.
1859 – Nữ vương Victoria ký văn kiện tách Queensland thành một thuộc địa riêng của Anh từ New South Wales.
1884 - Ký kết Hòa ước Patenôtre giữa Pháp và triều đình nhà Nguyễn
1944 - Quân đội Đồng Minh mở mặt trận thứ 2 tại Châu Âu chống phát xít Đức, còn gọi là chiến dịch Overlord mở đầu là cuộc đổ bộ lớn nhất trong lịch sử quân sự lên bãi biển Normandie (Pháp).
1969 - Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam được thành lập.
1969 - Ca ghép thận đầu tiên thực hiện tại Việt Nam do đoàn giải phẫu Việt Nam Cộng hòa và Hoa Kỳ xúc tiến ở Bệnh viện Đô thành, một điểm son trong ngành y tế Việt Nam Cộng hòa.
1971 - Phim Người tình không chân dung đạt giải Chủ đề phim xuất sắc nhất và Kiều Chinh là nữ tài tử chính khả ái nhất tại Đại hội điện ảnh Á Châu lần thứ 17 ở Đài Bắc.
1971 – Chiến tranh Việt Nam: Quân đội Úc tăng cường tấn công căn cứ lực lượng cộng sản Việt Nam trong trận Long Khánh.
1984 – Trò chơi điện tử Tetris được phát hành, tác giả của trò chơi là kỹ sư người Liên Xô Alexey Pajitnov.
2012 – Sao Kim đi qua qua Mặt Trời lần cuối cùng trong thế kỷ 21, lần trước đó là năm 2004.
== Sinh ==
1799 - Aleksandr Sergeyevich Pushkin, nhà thơ, nhà văn và là nhà viết kịch người Nga(m. 1837)
1811 – Leopold Hermann von Boyen, Thượng tướng Bộ binh Phổ (m. 1886)
1984 - Noor Sabri, cầu thủ bóng đá Iraq
1984 - Shannon Stewart, người mẫu Mỹ
1986 - Kim Hyun Joong, nghệ sĩ Hàn Quốc
1991 - Son Dong Woon, makenae của nhóm Beast
1992 - HyunA, rapper nhóm 4minute
== Mất ==
1916 - Viên Thế Khải, chính khách Trung Quốc (s. 1859)
1922 - Lillian Russell, nữ diễn viên Mỹ (s. 1860)
2010 - Đặng Xuân Kỳ, Giáo sư Triết học Việt Nam (s. 1931)
== Ngày lễ và kỷ niệm ==
06/06 - Ngày tưởng niệm của nhân dân Hàn Quốc
== Tham khảo == |
frank gehry.txt | Frank Owen Gehry (tên khai sinh là Frank Owen Goldenberg; sinh 28 tháng 2 năm 1929) là một kiến trúc sư nổi tiếng, thuộc kiến trúc Giải toả kết cấu hay còn gọi trường phái phá cân đối (deconstructivism) của kiến trúc Hiện đại, hành nghề tại California, Mỹ. Các công trình của ông nổi tiếng bằng các đường cong tròn trịa, thường bọc bằng những vật liệu kim loại phản xạ.
== Tiểu sử ==
Frank Owen Gehry sinh ra tại Toronto, Canada, hiện đang sinh sống và hành nghề tại Mỹ. Gehry sinh ra trong một gia đình người Do Thái gốc Ba Lan. Bố ông làm nghề buôn bán vật liệu, mẹ là một người yêu âm nhạc. Những đặc điểm gia đình đó sẽ góp phần tạo dựng nên sự nghiệp của ông sau này. Thời trẻ, Gehry được các bạn cùng trường gọi là "Cá", sau đó Frank Owen Goldenberg đổi tên thành Frank Owen Gehry vào năm 1954. Hiện nay, ông mang quốc tịch Mỹ.
Từ 1949 đến 1951, ông theo học tại trường Đại học Nam California (University of Southern California) và trường Đại học Los Angeles (1949-1951) và học thiết kế đô thị tại trường Đại học Harvard từ 1956 đến 1957.
Ông nhận giải thưởng Pritzker năm 1989.
== Các công trình kiến trúc ==
Bảo tàng Guggenheim Bilbao, Bilbao, Tây Ban Nha (1997)
Tháp Gehry, Hanover, CHLB Đức (2001)
Trung tâm hoà nhạc Walt Disney Los Angeles, Bang California, Hoa Kỳ (2003)
Rạp Pritzker, Công viên Thiên niên kỷ, Chicago, tiểu bang Illinois, Hoa Kỳ (2004)
...
== Các giải thưởng ==
Giải thưởng Arnold W. Brunner về Kiến trúc, Viện Hàn lâm Nghệ thuật và Văn chương Mỹ, 1977
Giải thưởng Pritzker, 1989
Giải thưởng Wolf về Kiến trúc của Quỹ Wolf, 1992
Giải thưởng Hoàng gia về kiến trúc, Hiệp hội Nghệ thuật Nhật Bản, 1992
Giải thưởng Dorothy và Lillian Gish, 1994
Huy chương Quốc gia về Nghệ thuật, (1998)
Giải thưởng Friedrich Kiesler, 1998
Huy chương vàng AIA, Hiệp hội Kiến trúc sư Mỹ (AIA), 1999
Huy chương vàng, Hiệp hội Kiến trúc sư Hoàng gia Anh (RIBA), 2000
Huy chương vàng Kiến trúc, Viện Hàn lâm Nghệ thuật và Văn chương Mỹ, 2002
Huân chương Canada (Order of Canada), 2002
== Tiến sĩ danh dự tại các Đại học ==
Nghệ thuật Thị giác: Học viện Nghệ thuật California, 1987
Mỹ thuật: Trường Thiết kế Rhode Island, 1987; Học viện Nghệ thuật Otis, 1989
Kỹ thuật: Đại học Kỹ thuật Nova Scotia 1989
Nhân chủng học: Học viện phương Tây (Occidental College), 1993
Học viện Whittier, 1995
Kiến trúc: Học viện Kiến trúc Nam California, 1997
Luật: Đại học Toronto, 1998
Đại học Edinburgh, 2000
Đại học Nam California, 2000
Đại học Yale, 2000
Đại học Harvard, 2000
== Tham khảo ==
== Liên kết ngoài ==
Gehry Partners, LLP, hãng kiến trúc của Gehry và các cộng sự
Hãng kỹ thuật của Gehry
Hình ảnh về Gehry và các công trình kiến trúc
Giải thưởng Pritzker |
16 tháng 10.txt | Ngày 16 tháng 10 là ngày thứ 289 (290 trong năm nhuận) trong lịch Gregory. Còn 76 ngày trong năm.
== Sự kiện ==
385 - Sau khi bị bộ tướng cũ là Diêu Trường bắt giữ, Hoàng đế Tiền Yên Phù Kiên bị sát hại.
456 – Tư lệnh Ricimer đánh bại Hoàng đế Avitus tại Piacenza để trở thành chấp chính quan Đế quốc Tây La Mã.
690 – Sau khi phế con là Đường Duệ Tông thành "hoàng tự", Võ Tắc Thiên lên ngôi hoàng đế, đổi quốc hiệu từ "Đường" thành "Chu".
1793 – Marie Antoinette, góa phụ của Louis XVI của Pháp, bị hành hình bằng máy chém vào đỉnh cao của Cách mạng Pháp.
1813 – Liên minh thứ sáu tấn công Napoléon và Đế chế thứ nhất Pháp tại Trận Leipzig, xung đột lớn nhất trong các cuộc chiến tranh của Napoléon có hơn nửa triệu lính hai bên.
1945 – Tổ chức Lương thực và Nông nghiệp Liên Hiệp Quốc được thành lập tại thành phố Québec, Canada.
1972 – Các điệp viên Mossad Israel tiến hành ám sát Wael Zwaiter tại Roma, là cá nhân đầu tiên bị trả thù do có liên quan tới Thảm sát München.
1973 – Henry Kissinger và Lê Đức Thọ được trao giải Nobel Hòa bình.
1978 – Hồng y Karol Józef Wojtyła được bầu làm giáo hoàng, lấy tên Gioan Phaolô II, là người Slav đầu tiên và là giáo hoàng đầu tiên không phải người Ý từ thế kỷ 16.
1996 – Ít nhất 83 người thiệt mạng trong một vụ dẫm đạp tại sân vận động Doroteo Guamuch Flores tại Guatemala trước trận đấu bóng đá giữa Guatemala và Costa Rica.
2013 – Chuyến bay 301 của Lao Airlines gặp nạn gần Sân bay quốc tế Pakse tại Lào, khiến 49 người thiệt mạng.
== Sinh ==
1991 - Vận động viên Thể dục dụng cụ Phan Thị Hà Thanh
1987: Triệu Lệ Dĩnh, diễn viên Trung Quốc
== Mất ==
2007: Giáo sư Cao Xuân Hạo
2011: Dan Wheldon (vận động viên đua xe)
== Ngày lễ và kỷ niệm ==
Ngày Lương thực thế giới (World Food Day)
== Tham khảo == |
bệnh viện việt pháp (hà nội).txt | 21°0′12,83″B 105°50′26,88″Đ
Bệnh viện Việt Pháp Hà Nội (L’Hôpital Français de Hanoi) là một bệnh viện quốc tế đa khoa ở Hà Nội.
== Lịch sử ==
Bệnh viện Việt Pháp Hà Nội vốn được chuyển nhượng từ Bệnh viện Quốc tế Hà Nội cho một công ty Pháp năm 2000. Bệnh viện Quốc tế Hà Nội là một liên doanh giữa bệnh viện Bạch Mai với một công ty của Úc.
Năm 2003, bệnh viện Việt Pháp là một trong những nơi tiếp nhận bệnh nhân cúm gia cầm cũng như SARS đầu tiên ở Việt Nam.
Năm 2005, bệnh viện được nhận Bằng khen cho các thành quả về dịch vụ chăm sóc y tế do Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam trao tặng.
Năm 2007, bệnh viện được Bằng khen của Bộ trưởng Bộ Y tế vì đạt tiêu chuẩn Bệnh viện xuất sắc toàn diện, được cấp Chứng chỉ ISO 9001:2000
Năm 2008, bệnh viện được bằng khen Bệnh viện xuất sắc toàn diện 2008
Năm 2009, bệnh viện được Giấy khen vì đã có thành tích trong hoạt động Khoa học Công nghệ năm 2008 (4/2009), bằng khen Bệnh viện xuất sắc toàn diện 2009
Tháng 7 năm 2010, bệnh viện được Chứng chỉ Hệ thống Quản lý Chất lượng ISO 9001:2008 do QUACERT cấp cho thời gian 3 năm.
Năm 2004, 2005, 2009 và 2009 là bốn lần viện nhận giải thưởng Rồng vàng do Thời báo Kinh tế Việt Nam phối hợp cùng với Phòng Đầu tư nước ngoài thuộc Bộ Kế hoạch và Đầu tư tổ chức nhằm quảng bá hình ảnh và kinh nghiệm trong lĩnh vực đầu tư nước ngoài tại Việt Nam.
== Các khoa ==
Lâm sàng
Cận lâm sàng
Dược
Chẩn đoán hình ảnh
Xét nghiệm
Vật lý trị liệu
Gây mê, hồi sức
Tim mạch
Nha khoa, chỉnh nha
Da liễu, hoa liễu
Tai-Mũi-Họng
Tiêu hoá
Nội đa khoa
Phẫu thuật thần kinh
Nội thần kinh
Mắt
Chấn thương & chỉnh hình
Nhi khoa
Hô hấp & dị ứng
Sản khoa & phụ khoa
Tư vấn tâm lý & tâm thần
Tiết niệu
Phẫu thuật ổ bụng
Chẩn đoán hình ảnh
== Bảo hiểm y tế ==
Bệnh viện Việt Pháp Hà Nội có hợp tác bảo hiểm với nhiều công ty bảo hiểm lớn trong Việt Nam và quốc tế, trong đó có thỏa thuận thanh toán trực tiếp với 41 công ty bảo hiểm y tế và 7 công ty hỗ trợ.
== Các giám đốc bệnh viện ==
?-15/1/2010: Philippe Biberson
15/1/2010-nay: Paul Teniere
== Đánh giá ==
Lưu ý: phân biệt bệnh viện Việt Pháp Hà Nội (L’Hôpital Français de Hanoi - HFH) với bệnh viện Pháp Việt (Franco-Vietnamese Hospital) thường được gọi tắt là bệnh viện FV ở 6 Nguyễn Lương Bằng, Nam Sài Gòn (Phú Mỹ Hưng), Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh
=== Của báo chí ===
=== Của khách hàng ===
== Xem thêm ==
Danh sách bệnh viện ở Việt Nam
== Tham khảo ==
== Liên kết ngoài ==
Website chính thức (tiếng Anh), (tiếng Pháp) và (tiếng Việt) |
philippines.txt | Philippines (tiếng Tagalog: Pilipinas; phiên âm tiếng Việt: Phi-líp-pin), tên chính thức là Cộng hòa Philippines (tiếng Tagalog: Republika ng Pilipinas; tiếng Anh: Republic of the Philippines), là một đảo quốc có chủ quyền tại Đông Nam Á. Philippines cách Đài Loan qua eo biển Luzon ở phía bắc; cách Việt Nam qua biển Đông ở phía tây, cách đảo Borneo qua biển Sulu ở phía tây nam, và các đảo khác của Indonesia qua biển Celebes ở phía nam; phía đông quốc gia là biển Philippines và đảo quốc Palau. Philippines nằm trên Vành đai lửa Thái Bình Dương và nằm gần xích đạo, do vậy quốc gia hay chịu ảnh hưởng từ các trận động đất và bão nhiệt đới, song lại có nguồn tài nguyên thiên nhiên phong phú và đa dạng sinh học ở mức độ cao. Philippines có diện tích 300.000 kilômét vuông (115.831 sq mi), là quốc gia rộng lớn thứ 71 trên thế giới, bao gồm 7.107 hòn đảo được phân loại phổ biến thành ba vùng địa lý lớn: Luzon, Visayas, và Mindanao. Thủ đô của Philippines là Manila, còn thành phố đông dân nhất là Quezon; cả hai thành phố đều thuộc Vùng đô thị Manila.
Với dân số ít nhất là 99 triệu, Philippines là quốc gia đông dân thứ bảy tại châu Á và đứng thứ 12 trên thế giới. Ngoài ra, có 12 triệu người Philippines sống tại hải ngoại, họ tạo thành một trong những cộng đồng tha hương lớn nhất và có ảnh hưởng nhất thế giới. Philippines có sự đa dạng về dân tộc và văn hóa. Vào thời tiền sử, người Negrito nằm trong số các cư dân đầu tiên của quần đảo, tiếp theo là các làn sóng nhập cư của người Nam Đảo. Sau đó, nhiều quốc gia khác nhau được thành lập trên quần đảo, nằm dưới quyền cai trị của những quân chủ mang tước vị Datu, Rajah, Sultan hay Lakan. Thương mại với Trung Quốc cũng khiến cho văn minh Trung Quốc truyền đến Philippines, cũng như xuất hiện các khu định cư của người Hán.
Ferdinand Magellan đến Philippines vào năm 1521, sự kiện này đánh dấu kỉ nguyên người Tây Ban Nha quan tâm và cuối cùng là thuộc địa hóa quần đảo. Năm 1543, nhà thám hiểm người Tây Ban Nha Ruy López de Villalobos đặt tên cho quần đảo là Las Islas Filipinas để vinh danh Quốc vương Felipe II của Tây Ban Nha. Miguel López de Legazpi đến quần đảo từ Tân Tây Ban Nha (Mexico ngày nay) vào năm 1565, ông thành lập nên khu định cư đầu tiên của người Tây Ban Nha tại quần đảo, và quần đảo trở thành thuộc địa của Tây Ban Nha trong hơn 300 năm sau đó. Thời kỳ thuộc địa khiến cho Công giáo Rôma chiếm ưu thế tại Philippines; Philippines và Đông Timor là hai quốc gia châu Á duy nhất mà tôn giáo này chiếm ưu thế. Trong thời gian này, Manila trở thành đầu mối châu Á của tuyến đường thương mại thuyền buồm Manila–Acapulco.
Vào thời gian chuyển giao giữa thế kỷ 19 và thế kỷ 20, liên tiếp diễn ra cách mạng Philippines; chiến tranh Tây Ban Nha-Mỹ; và Chiến tranh Philippines–Mỹ. Kết quả là Hoa Kỳ trở thành thế lực thống trị quần đảo, song bị gián đoạn khi Nhật Bản chiếm đóng. Sau Chiến tranh thế giới thứ hai, Hiệp ước Manila công nhận Cộng hòa Philippines là một quốc gia độc lập. Kể từ đó, Philippines trải qua các biến động với nền dân chủ, nổi bật là phong trào "quyền lực nhân dân" lật đổ chế độ độc tài của Ferdinand Marcos. Philippines hiện là một trong những nền kinh tế tăng trưởng nhanh nhất tại châu Á, việc có quy mô dân số lớn và tiềm năng về kinh tế khiến Philippines được phân loại là một cường quốc bậc trung.
== Lịch sử ==
=== Tiền sử ===
Khối xương bàn chân của người ở di cốt Callao (Callao Man) được cho là có niên đại từ 67.000 năm trước theo phương pháp định tuổi bằng urani-thori. do vậy thay thế di cốt Tabon (Tabon Man) được tìm thấy tại Palawan có niên đại khoảng 24.000 năm trước theo phương pháp cácbon C14, là hóa thạch loài người cổ xưa nhất được phát hiện trên quần đảo. Người Negrito nằm trong số các cư dân đầu tiên của quần đảo, song không xác định được niên đại đáng tin cậy. Có một vài thuyết đối lập liên quan đến nguồn gốc của người Philippines cổ đại. Thuyết được chấp thuận rộng rãi nhất dựa trên bằng chứng ngôn ngữ học và khảo cổ học, đó là mô hình "ra khỏi Đài Loan", với giả thuyết được đưa ra là người Nam Đảo từ Đài Loan bắt đầu nhập cư đến Philippines từ khoảng năm 4000 TCN, thay thế các cư dân đến từ trước đó.
=== Các quốc gia cổ ===
Mặc dù một số xã hội trên các hòn đảo rải rác vẫn biệt lập, song nhiều xã hội khác phát triển thành các quốc gia và phát triển hoạt động mậu dịch đáng kể với các dân tộc khác ở Đông và Đông Nam Á. Thiên niên kỉ thứ nhất Công nguyên chứng kiến sự nổi lên của các tiểu quốc hải cảng và phát triển thành các quốc gia hàng hải, bao gồm các barangay tự trị, hoặc liên minh với nhau, các quốc gia lớn nằm dưới hải quyền của người Mã Lai do các Datu trị vì, các quốc gia triều cống cho Trung Quốc do Vương cai trị, các vương quốc Ấn hóa do các Rajah cai trị. Có thể kể đến Datu Puti cai trị Liên bang Madja-as sau khi ông mua lãnh địa từ tù trưởng người Negrito tên là Marikudo. Sau đó là Vương quốc Butuan, quốc gia này nổi lên trong triều đại của Rajah Sri Bata Shaja, Vương quốc Tondo do triều đại Lakandula cai trị và Vương quốc Cebu dưới sự lãnh đạo của Rajamuda Sri Lumay. Các quốc gia khác trong thời đại này bao gồm vương quốc Hán hóa Ma Dật với người đứng đầu là một vương, và Sulu trước khi bị Hồi giáo hóa từng là một vương quốc Ấn Độ hóa, với người cai trị đầu tiên là Rajah Sipad Cựu. Các sử thi lớn như Hinilawod, Darangan và Biag Ni Lam-Ang có nguồn gốc từ thời đại này.
Những năm 1300 báo trước sự xuất hiện và cuối cùng là truyền bá Hồi giáo tại quần đảo Philippines. Năm 1380, Karim ul' Makdum và Shari'ful Hashem Syed Abu Bakr đi từ Malacca đến Sulu là lập nên Vương quốc Hồi giáo Sulu bắt cách cải đạo rajah của Sulu và kết hôn với con gái của rajah. Đến cuối thế kỷ 15, Shariff Mohammed Kabungsuwan của Johor đưa Hồi giáo đến đảo Mindanao. Sau đó, ông ta kết hôn với Paramisuli, một công chúa người Iranun, và lập nên Vương quốc Hồi giáo Maguindanao. Các vương quốc Hồi giáo mở rộng đến Lanao. Cuối cùng, Hồi giáo vượt khỏi phạm vi của đảo Mindanao và lan đến phía nam đảo Luzon. Thậm chí Manila cũng bị Hồi giáo hóa trong thời gian trị vì của Sultan Bolkiah từ năm 1485 đến năm 1521, khi đó Vương quốc Hồi giáo Brunei chinh phục Vương quốc Tondo bằng cách cải đạo Rajah Salalila sang Hồi giáo. Tuy nhiên, các quốc gia như Igorot theo thuyết vật linh, Madja-as Mã Lai, Ma Dật Hán hóa, Lequios và Butuan Ấn Độ hóa vẫn duy trì văn hóa của mình. Trong một số vương quốc xuất hiện việc chống Hồi giáo gay gắt. Sự kình địch giữa các datu, raja, vương, sultan, và lakan và giữa các quốc gia của họ khiến cho người Tây Ban Nha dễ dàng thuộc địa hóa quần đảo. Các quốc gia này được hợp nhất vào Đế quốc Tây Ban Nha, và bị Tây Ban Nha hóa và Thiên Chúa giáo hóa.
=== Thuộc địa của Tây Ban Nha ===
Năm 1521, nhà thám hiểm người Bồ Đào Nha Ferdinand Magellan đến Philippines và tuyên bố chủ quyền của Tây Ban Nha đối với quần đảo. Quá trình thuộc địa hóa bắt đầu khi nhà thám hiểm người Tây Ban Nha Miguel López de Legazpi đến từ Mexico vào năm 1565 và thành lập các khu định cư đầu tiên của người Âu tại Cebu. Người Tây Ban Nha thiết lập Manila làm thủ đô của Đông Ấn Tây Ban Nha vào năm 1571 sau khi đàn áp sự kháng cự của người bản địa và đánh bại hải tặc người Trung Quốc Lâm A Phượng (Limahong).
Sự thống trị của người Tây Ban Nha đóng góp đáng kể vào việc thống nhất chính trị tại quần đảo. Từ năm 1565 đến năm 1821, Philippines được quản lý với địa vị là một lãnh thổ của Phó vương quốc Tân Tây Ban Nha và sau Chiến tranh độc lập Mexico thì được quản lý trực tiếp từ Madrid. Thuyền buồm Manila cùng hạm đội hải quân lớn của nó kết nối Manila với Acapulco, qua lại một hoặc hai lần mỗi năm từ thế kỷ 16 đến thế kỷ 19. Hoạt động mậu dịch đưa đến Philippines các loại lương thực có xuất xứ từ châu Mỹ như ngô, cà chua, khoai tây, ớt. Các nhà truyền giáo của Công giáo Rôma cải đạo hết hết các cư dân vùng thấp sang đạo này và lập nên các trường học, một đại học, và các bệnh viện. Một sắc lệnh của Tây Ban Nha quyết định tiến hành giáo dục công miễn phí vào năm 1863, song các nỗ lực nhằm thực hiện giáo dục đại chúng chủ yếu được thực hiện dưới thời Mỹ thuộc.
Trong thời kỳ cai trị Philippines, người Tây Ban Nha phải chiến đấu chống lại các cuộc nổi dậy của người bản địa và một vài thách thức đến từ hải tặc Trung Quốc, người Hà Lan, và người Bồ Đào Nha. Trong khuôn khổ Chiến tranh Bảy năm, quân đội Anh chiếm Manila từ năm 1762 đến năm 1764. Quyền cai trị của người Tây Ban Nha được khôi phục sau Hiệp định Paris 1763. Đến thế kỷ 19, các cảng của Philippines mở cửa cho mậu dịch toàn cầu và xã hội thuộc địa bắt đầu xuất hiện các thay đổi. Nhiều người Tây Ban Nha sinh ra tại Philippines (criollos) và những người hỗn chủng (mestizos) trở nên thịnh vượng, nhiều người nắm giữ các chức vụ trong chính quyền vốn có truyền thống do những người Tây Ban Nha sinh tại bán đảo Iberia nắm giữ. Những tư tưởng cách mạng cũng bắt đầu được truyền bá trên khắp quần đảo. Việc người Criollo bất mãn dẫn đến Binh biến Cavite vào năm 1872, được xem là điềm báo trước cho Cách mạng Philippines.
Tình cảm cách mạng bùng lên vào năm 1872 sau khi ba linh mục là Mariano Gómez, José Burgos, và Jacinto Zamora (gọi chung là Gomburza) bị nhà cầm quyền thuộc địa buộc tội xúi giục nổi loạn và hành quyết. Sự việc này truyền cảm hứng cho một phong trào tuyên truyền tại Tây Ban Nha do Marcelo H. del Pilar, José Rizal, và Mariano Ponce tổ chức, nhằm vận động hành lang cho các cải cách chính trị tại Philippines. Rizal cuối cùng bị hành quyết vào ngày 30 tháng 12 năm 1896 với tội danh nổi loạn. Do các nỗ lực nhằm cải cách gặp phải cản trở, Andrés Bonifacio vào năm 1892 thành lập một đoàn thể bí mật gọi là Katipunan nhằm giành độc lập từ Tây Ban Nha thông qua hoạt động vũ trang. Bonifacio cùng Katipunan bắt đầu cuộc Cách mạng Philippines vào năm 1896. Magdalo là một phái của Katipunan tại tỉnh Cavite, cuối cùng họ thách thức vị trí lãnh đạo của Bonifacio và người này bị Emilio Aguinaldo thay thế. Năm 1898, Chiến tranh Tây Ban Nha-Mỹ bắt đầu từ Cuba và lan đến Philippines. Aguinaldo tuyên bố Philippines độc lập từ Tây Ban Nha tại Kawit, Cavite vào ngày 12 tháng 6 năm 1898, và Đệ nhất Cộng hòa Philippines được thành lập tại Nhà thờ Barasoain vào năm sau.
=== Thời Mỹ thuộc ===
Tây Ban Nha nhượng quần đảo cho Hoa Kỳ để đổi lấy 20 triệu đô la theo Hiệp định Paris 1898. Đến khi tình hình ngày càng trở nên rõ ràng rằng Hoa Kỳ sẽ không công nhận Cộng hòa Philippines mới ra đời, Chiến tranh Philippines–Mỹ bùng nổ, kết quả Đệ nhất Cộng hòa chiến bại. Tuy nhiên, thay thế nó là ba nước cộng hòa: Cộng hòa Zamboanga, Cộng hòa Negros và Cộng hòa Tagalog. Các chính thể này cũng bị đánh bại, và quần đảo nằm dưới quyền quản lý của Chính phủ Đảo (Insular Government). Nổi dậy Moro ngay lập tức diễn ra sau đó, chủ yếu là nhằm chống lại Vương quốc Hồi giáo Sulu đang suy yếu. Trong thời kỳ này, văn hóa Philippines được phục hưng với sự phát triển của điện ảnh và văn học. Daniel Burnham lập nên một kế hoạch kiến trúc cho Manila, biến nơi này thành một thành phố hiện đại.
Năm 1935, Philippines có được địa vị thịnh vượng chung với tổng thống là Manuel Quezon. Ông chỉ định một ngôn ngữ quốc gia và cho phép phụ nữ bầu cử, tiến hành cải cách đất đai. Các kế hoạch để tiến đến độc lập trong thập niên sau đó bị gián đoạn trong Chiến tranh thế giới thứ hai. Trong cuộc chiến này, Đế quốc Nhật Bản xâm chiếm quần đảo, Đệ nhị Cộng hòa Philippines được thành lập với José P. Laurel là tổng thống, đây là một chính thể cộng tác với Nhật Bản. Nhiều hành động tàn bạo và tội ác chiến tranh diễn ra trong cuộc chiến, chẳng hạn như Cuộc hành quân chết chóc Bataan và Thảm sát Manila. Năm 1944, Quezon qua đời trong khi lưu vong tại Hoa Kỳ, Sergio Osmeña kế nhiệm. Lực lượng Đồng Minh đánh bại Nhật Bản vào năm 1945. Đến khi kết thúc chiến tranh, người ta ước tính có hơn một triệu người Philippines thiệt mạng.
=== Thời đại Chiến tranh Lạnh ===
Ngày 24 tháng 10 năm 1945, Philippines trở thành một thành viên sáng lập của Liên Hiệp Quốc và đến ngày 4 tháng 7 năm 1946, Hoa Kỳ công nhận Philippines độc lập, khi đó quốc gia nằm dưới quyền cai trị của Tổng thống Manuel Roxas. Những thành phần tàn dư bất mãn gồm những thành viên Hukbalahap cộng sản tiếp tục hoạt động ở vùng nông thôn song bị đàn áp dưới thời Tổng thống Ramon Magsaysay. Người kế nhiệm của Magsaysay là Carlos P. Garcia đề xướng Chính sách người Philipines trước tiên, và được Diosdado Macapagal tiếp nối, cùng với đó là việc chuyển ngày Độc lập từ 4 tháng 7 sang 12 tháng 6, tức ngày Emilio Aguinaldo tuyên bố độc lập, trong khi tiếp tục thúc đẩy hơn nữa tuyên bố chủ quyền đối với Bắc Borneo.
Năm 1965, quyền lực vào tay tổng thống dân cử Ferdinand Marcos. Vào đầu nhiệm kỳ tổng thống của mình, Marcos khởi xướng nhiều dự án công cộng song bị cáo buộc tham nhũng nghiêm trọng, chẳng hạn như biển thủ hàng tỷ đô la tiền công quỹ. Xã hội Philippines rất hỗn loạn vào giữa nhiệm kỳ của ông, và đến gần cuối nhiệm kỳ, Marcos tuyên bố thiết quân luật vào ngày 21 tháng 9 năm 1972. Giai đoạn Marcos cầm quyền có đặc điểm là đàn áp chính trị, độc tài, và vi phạm nhân quyền. Ngày 21 tháng 8 năm 1983, kình địch chính của Marcos là lãnh tụ đối lập Benigno Aquino, Jr. bị ám sát tại Sân bay quốc tế Manila. Marcos cuối cùng kêu gọi bầu cử tổng thống sớm, tranh cử cùng góa phụ của Benigno Aquino là Corazon Aquino. Marcos được tuyên bố thắng cử, song kết quả bị cho là gian lận, dẫn đến Cách mạng Quyền lực Nhân dân. Marcos và các đồng minh của ông chạy sang Hawaii và Aquino được công nhận là tổng thống.
=== Lịch sử hiện đại ===
Nền dân chủ quay trở lại và các cải cách của chính phủ bắt đầu vào năm 1986 bị cản trở do nợ quốc gia, tham nhũng trong chính phủ, các nỗ lực đảo chính, thiên tai, cuộc nổi dậy dai dẳng của cộng sản, và một cuộc xung đột quân sự với các phần tử ly khai Moro. Quân đội Hoa Kỳ rút khỏi vịnh Subic và căn cứ không quân Clark. Fidel V. Ramos đắc cử tổng thống vào năm 1992, nền kinh tế quốc gia được cải thiện dưới thời chính phủ của ông. Tuy nhiên, các tiến bộ về chính trị và kinh tế, chẳng hạn như một thỏa thuận hòa bình với Mặt trận giải phóng dân tộc Moro, bị phủ định cùng với sự khởi đầu của Khủng hoảng tài chính châu Á 1997 vào năm 1997.
Năm 2001, bị buộc tội tham nhũng, trong khi một quá trình luận tội bị đình trệ, Tổng thống Joseph Estrada bị phế truất trong Cách mạng EDSA 2001, người thay thế là Gloria Macapagal-Arroyo. Chín năm cầm quyền của bà gắn liền với các vụ bê bối tham nhũng và chính trị, mặc dù nền kinh tế vẫn tăng trưởng ổn định và tránh được Đại suy thoái. Năm 2010, Benigno Aquino III đắc cử tổng thống. Trong nhiệm kỳ của ông, thỏa thuận hòa bình với phe Moro được ký kết, song các tranh chấp lãnh thổ tại Bắc Borneo và biển Đông thì leo thang. Rodrigo Duterte của PDP–Laban thắng cử tổng thống năm 2016, trở thành tổng thống đầu tiên xuất thân từ Mindanao.
== Chính trị và chính quyền ==
Philippines có một chính phủ dân chủ theo mô hình cộng hòa lập hiến với một tổng thống chế. Philippines là một quốc gia đơn nhất, ngoại trừ Khu tự trị Hồi giáo Mindanao được tự do ở mức độ lớn với chính phủ quốc gia. Có một số nỗ lực nhằm biến chính quyền thành một chính quyền liên bang, đơn viện hay nghị viện kể từ thời Ramos.
Tổng thống đóng vai trò là nguyên thủ quốc gia và nguyên thủ chính phủ, cũng như là tổng thư lệnh các lực lượng vũ trang. Tổng thống được bầu theo hình thức phổ thông đầu phiếu với nhiệm kỳ sáu năm, trong thời gian đó tổng thống sẽ bổ nhiệm và điều khiển nội các. Lưỡng viện quốc hội Philippines gồm có Thượng viện và Hạ viện, các thượng nghị sĩ được dân bầu và có nhiệm kỳ sáu năm. Quyền tư pháp được trao cho Tối cao pháp viện, bao gồm một Chánh án tối cao và 14 thẩm phán, họ đều do Tổng thống bổ nhiệm từ danh sách do Hội đồng Tư pháp và Luật sư đệ trình.
=== An ninh và quốc phòng ===
Quân đội Philippines gồm ba nhánh là Không quân, Lục quân và Hải quân (bao gồm thủy quân lục chiến). An ninh dân sự thuộc thẩm quyền của Cảnh sát Quốc gia Philippine dưới sự điều hành của Bộ Nội vụ và chính phủ địa phương.
Tại Khu tự trị Hồi giáo Mindanao, tổ chức ly khai lớn nhất là Mặt trận Giải phóng Dân tộc Moro nay cũng tham gia vào chính phủ về mặt chính trị. Các nhóm quân sự khác như Mặt trận Giải phóng Hồi giáo Moro, Quân đội Nhân dân mới theo cộng sản chủ nghĩa, và Abu Sayyaf vẫn hoạt động tại các tỉnh, song sự hiện diện của họ suy giảm trong những năm gần đây do thành công của chính phủ trung ương về mặt an ninh.
Philippines là đồng minh của Hoa Kỳ kể từ Chiến tranh thế giới thứ hai. Hiệp định phòng thủ chung giữa hai quốc gia được ký kết vào năm 1951. Philippines ủng hộ các chính sách của Hoa Kỳ trong Chiến tranh Lạnh và tham gia vào Chiến tranh Triều Tiên và Chiến tranh Việt Nam. Philippines là thành viên của Tổ chức Hiệp ước Đông Nam Á (SEATO) tồn tại cho đến năm 1977. Sau khi Chiến tranh chống khủng bố bắt đầu, Philippines là một phần trong liên minh hỗ trợ Hoa Kỳ tại Iraq. Hoa Kỳ xác định Philippines là một đồng minh lớn phi NATO. Philippines đang tiến hành các nỗ lực để chấm dứt nội loạn với sợ giúp đỡ của Hoa Kỳ.
== Miền, vùng và các đơn vị hành chính ==
Philippines được chia thành ba miền là Luzon ở phía Bắc đất nước, Visayas ở giữa đất nước, và Mindanao ở phía Nam đất nước. Tên ba miền đặt theo tên ba đảo chính của Philippines.
Ba miền lại được chia thành 17 vùng. Việc phân chia thành các vùng nhằm mục đích tạo thuận lợi cho công tác quy hoạch lãnh thổ của chính quyền trung ương. Tuy nhiên, vùng không phải là một cấp hành chính mặc dù mỗi vùng đều có các văn phòng của các bộ ngành của trung ương. Các vùng không có chính quyền địa phương, trừ vùng thủ đô Manila vì tự Manila là một vùng và Khu tự trị Hồi giáo Mindanao.
Cấp hành chính địa phương chính thức của Philippines là tỉnh gồm 81 đơn vị. Vùng thủ đô Manila là một đơn vị hành chính đặc biệt và là một trong 17 vùng của Philippines.
Các tỉnh lại bị chia tách tiếp thành các thành phố và các khu tự quản. Tuy cùng là cấp hành chính địa phương thứ hai, nhưng thành phố có nhiều chức năng hành chính hơn so với khu tự quản, và cũng được cấp ngân sách nhiều hơn.
Thành phố và khu tự quản được chia thành các barangay. Đây là cấp hành chính địa phương thấp nhất ở Philiipines.
== Các tỉnh ==
== Địa lý ==
Philippines là một quần đảo gồm 7.107 đảo và tổng diện tích, bao gồm cả vùng nước nội lục, là xấp xỉ 300.000 kilômét vuông (115.831 sq mi). Quốc gia có 36.289 kilômét (22.549 mi) bờ biển, chiều dài bờ biển đứng thứ năm trên thế giới. Quốc gia nằm giữa 116° 40', và 126° 34' kinh Đông, 4° 40' và 21° 10' vĩ Bắc. Quốc gia bị giới hạn bởi biển Philippines ở phía đông, biển Đông ở phía tây, và biển Celebes ở phía nam. Đảo Borneo nằm ở phía tây nam và đảo Đài Loan nằm ở phía bắc. Quần đảo Maluku và đảo Sulawesi nằm ở phía nam-tây nam và đảo quốc Palau nằm ở phía đông.
Rừng mưa nhiệt đới bao phủ hầu hết các hòn đảo vốn có địa hình núi non, các hòn đảo này có nguồn gốc núi lửa. Núi cao nhất quần đảo là núi Apo ở Mindanao với cao độ 2.954 mét (9.692 ft) trên mực nước biển. Sông dài nhất quốc gia là sông Cagayan tại bắc bộ Luzon. Thủ đô Manila nằm bên bờ vịnh Vịnh Manila, vịnh này nối với hồ lớn nhất Philippines là Laguna de Bay qua sông Pasig. Các vịnh quan trọng khác là vịnh Subic, vịnh Davao, và vịnh Moro. Eo biển San Juanico chia tách hai đảo Samar và Leyte song chính phủ đã cho xây cầu San Juanico. qua eo biển này
Philippines nằm trên rìa tây của Vành đai lửa Thái Bình Dương, do vậy quốc gia thường xuyên chịu ảnh hưởng từ hoạt động địa chấn và núi lửa. Cao nguyên Benham dưới đáy biển Philippine hoạt động trong hút chìm kiến tạo. Khoảng 20 được ghi nhận mỗi ngày, song hầu hết chúng quá yếu để con người cảm nhận được. Trận động đất lớn nhất gần đây là động đất Luzon 1990. Có nhiều núi lửa hoạt động tại quần đảo, chẳng hạn như núi lửa Mayon, núi Pinatubo, hay núi lửa Taal. Vụ phun trào của núi Pinatubo vào tháng 6 năm 1991 là vụ phun trào trên mặt đất lớn thứ nhì trong thế kỷ 20. Nhiễu loạn về địa chất hình thành nên sông ngầm Puerto Princesa trên đảo Pallawan, nơi đây tiêu biểu cho môi trường sống đa dạng sinh học, với các hệ sinh tháo từ núi xuống biển và có một trong số những khu rừng quan trọng nhất tại châu Á.
Các hòn đảo của quần đảo có sự phong phú về khoáng sản do chúng có nguồn gốc núi lửa. Quốc gia được ước tính có tài nguyên vàng lớn thứ nhì trên thế giới sau Nam Phi và là một trong những nơi có tài nguyên đồng lớn nhất thế giới. Quốc gia cũng giàu có về các tài nguyên như niken, crôm, và thiếc. Tuy vậy, do quản lý yếu kém và mật độ dân số cao, cùng với ý thức về môi trường nên các tài nguyên này phần lớn vẫn chưa được khai thác. Một sản phẩm khác của hoạt động núi lửa là địa nhiệt năng lại được khai thác thành công hơn, Philippines là nhà sản xuất địa nhiệt năng lớn thứ hai thế giới sau Hoa Kỳ, đáp ứng 18% nhu cầu điện năng trong nước.
=== Hệ động thực vật ===
Với các rừng mưa và bờ biển trải dài, Philippines là nơi có sự đa dạng về các loại sinh vật. Đây là một trong mười quốc gia đa dạng sinh vật nhất thế giới và nằm trong số những nước dẫn đầu về đa dạng trên đơn vị diện tích. Khoảng 1.100 loài có xương sống trên cạn được tìm thấy tại Philippines, bao gồm trên 100 loài thú và 170 loài chim không xuất hiện ở các khu vực khác. Các loài đặc hữu của Philippines bao gồm trâu lùn Tamaraw trên đảo Mindoro, hươu đốm đảo Visayas, hươu chuột Philippines, lợn hoang đảo Visayas, chồn bay Philippines, hay một số loài dơi.
Philippines thiếu các loài săn mồi lớn, ngoại lệ là các loài rắn như trăn và rắn hổ mang Philippines, cá sấu nước mặn và chim săn mồi, chẳng hạn như quốc điểu là đại bàng Philippines, loài này được các nhà khoa học cho là loài đại bàng lớn nhất thế giới. Lãnh hải của Philippines được cho là rộng 2.200.000 kilômét vuông (849.425 sq mi) có đời sống sinh vật biển độc đáo và đa dạng và là một phần quan trọng của Tam giác San hô. Tổng số san hô và cá biển được ước tính tương ứng là 500 và 2.400.
Nạn phá rừng tại Philippines là một vấn đề nghiêm trọng, thường có nguyên nhân từ khai thác gỗ phi pháp. Độ che phủ rừng giảm từ 70% vào năm 1900 xuống khoảng 18,3% vào năm 1999. Nhiều loài gặp nguy hiểm và các nhà khoa học nói rằng Đông Nam Á, bao gồm Philippines, phải đối mặt với tỷ lệ tuyệt chủng thê thảm là 20% vào cuối thế kỷ 21.
=== Khí hậu ===
Philippines có khí hậu nhiệt đới hải dương, thời tiết thường nóng và ẩm. Quốc gia có ba mùa: tag-init hay tag-araw, mùa nóng khô kéo dài từ tháng 3 đến tháng 5; tag-ulan, mùa mưa kéo dài từ tháng 6 đến tháng 11; và tag-lamig, mùa mát khô kéo dài từ tháng 12 đến tháng 2. Gió mùa tây nam từ tháng 5 đến tháng 10 còn được gọi là Habagat, gió mùa đông bắc khô từ tháng 11 đến tháng 4 còn được gọi là Amihan. Nhiệt độ thường dao động từ 21 °C (70 °F) đến 32 °C (90 °F), tháng mát nhất là tháng 1 và tháng ấm nhất là tháng 5.
Nhiệt độ trung bình năm của Philippines là khoảng 26,6 °C (79,9 °F). Khi xét về khía cạnh nhiệt độ tại các khu vực Philippines, kinh độ và vĩ độ không phải là một yếu tố quan trọng, nhiệt độ nước biển tại các khu vực trên toàn quốc thường có xu hướng ở cùng mức. Trong khi đó, cao độ thường có tác động lớn hơn. Nhiệt độ trung bình năm tại Baguio trên cao độ tuyệt đối 1.500 mét (4.900 ft) là 18,3 °C (64,9 °F), do vậy nơi đây là một điểm đến phổ biến vào mùa nóng khô.
Quần đảo nằm chắn ngang vành đai bão nhiệt đới, do vậy hầu hết quần đảo có các cơn mưa xối xả và bão tố từ tháng 7 đến tháng 10, với khoảng 19 bão nhiệt đới vào khu vực Philippines và 8-9 cơn bão đổ bộ mỗi năm. Lượng mưa hàng năm có thể lên đến 5.000 milimét (200 in) ở vùng bờ biển núi non phía đông, song chỉ thấp dưới 1.000 milimét (39 in) tại một số thung lũng được che khuất.
== Kinh tế ==
Nền kinh tế quốc gia của Philippines lớn thứ 36 thế giới, đứng thứ 13 châu Á và đứng thứ ba của khu vực Đông Nam Á (sau Indonesia và Thái Lan), theo ước tính, GDP (danh nghĩa) vào năm 2016 là 311.687 triệu USD (2012 đạt 250.182 triệu USD và 2009 đạt 161.196 triệu USD). Các mặt hàng xuất khẩu chính của Philippines bao gồm các sản phẩm bán dẫn và điện tử, thiết bị vận tải, hàng may mặc, các sản phẩm đồng, các sản phẩm dầu mỏ, dầu dừa, và quả. Các đối tác thương mại lớn của Philippines bao gồm Hoa Kỳ, Nhật Bản, Trung Quốc, Singapore, Hàn Quốc, Hà Lan, Hong Kong, Đức, Đài Loan và Thái Lan. Đơn vị tiền tệ quốc gia là peso Philippines (₱ hay PHP).
Philippines là một quốc gia công nghiệp mới, nền kinh tế đang trong quá trình chuyển đổi từ dựa vào nông nghiệp sang dựa vào các ngành dịch vụ và chế tạo. Tổng lực lượng lao động trên toàn quốc là khoảng 38,1 triệu, lĩnh vực nông nghiệp sử dụng gần 32% lực lượng lao động song chỉ đóng góp 14% GDP. Lĩnh vực công nghiệp thu hút gần 14% lực lượng lao động và đóng góp 30% GDP. 47% lực lượng lao động tham gia vào lĩnh vực dịch vụ và đóng góp 56% GDP.
Sau Chiến tranh thế giới thứ hai, Philippines một thời được xem là quốc gia thịnh vượng thứ nhì tại Đông Á, chỉ đứng sau Nhật Bản. Tuy nhiên, đến thập niên 1960 thì thành tích kinh tế của Philippines bị một số quốc gia khác bắt kịp. Kinh tế trì trệ trong thời gian cai trị của nhà độc tài Ferdinand Marcos do quản lý yếu kém và bất ổn chính trị. Quốc gia có mức tăng trưởng kinh tế thấp và phải trải qua những đợt suy thoái kinh tế. Chỉ đến thập niên 1990 thì mới bắt đầu khôi phục theo một chương trình tự do hóa kinh tế.
Cuộc khủng hoảng tài chính châu Á năm 1997 tác động đến nền kinh tế Philippines, kết quả là đồng peso suy giảm giá trị kéo dài và thị trường chứng khoán sụp đổ. Tuy nhiên, quy mô tác động ban đầu không trầm trọng như một số quốc gia láng giềng châu Á khác. Việc này phần lớn là do sự bảo thủ về tài chính của chính phủ, một phần là do kết quả của hàng thập niên kiểm tra và giám sát tài chính của Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF). Năm 2004, GDP tăng trưởng 6,4% và đến năm 2007 là 7,1%, mức cao nhất trong ba thập niên. Tuy nhiên, tăng trưởng GDP bình quân đầu người hàng năm trong giai đoạn 1966–2007 chỉ đạt 1,45%, trong khi mức trung bình của khu vực Đông Á và Thái Bình Dương là 5,96%, thu nhập hàng ngày của 45% dân số Philippines vẫn dưới 2 đô la Mỹ.
Kinh tế Philippines dựa nhiều vào kiều hối, nguồn ngoại tệ từ kiều hối vượt qua cả đầu tư trực tiếp nước ngoài. Các khu vực phát triển không đồng đều, đảo Luzon mà đặc biệt là Vùng đô thị Manila giành được hầu hết tăng trưởng kinh tế so với các khu vực khác, song chính phủ có những bước đi để phân phối tăng trưởng kinh tế bằng cách tăng đầu tư vào các khu vực khác của quốc gia. Bất chấp các hạn chế, các ngành dịch vụ như du lịch và gia công quy trình nghiệp vụ, được xác định là các khu vực có một số cơ hội tăng trưởng tốt nhất. Goldman Sachs xếp Philippines vào danh sách các nền kinh tế "Next Eleven".
Goldman Sachs ước tính rằng vào năm 2050, Philippines sẽ là nền kinh tế lớn thứ 14 thế giới. HSBC cũng phác thảo rằng nền kinh tế của Philippines sẽ trở thành nền kinh tế lớn thứ 16 thế giới, lớn thứ 5 châu Á và lớn nhất Đông Nam Á vào năm 2050. Philippines là thành viên của Ngân hàng Thế giới, Quỹ Tiền tệ Quốc tế, Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO), Ngân hàng Phát triển châu Á với trụ sở tại Mandaluyong, Kế hoạch Colombo, G-77, và G-24.
=== Giao thông ===
Hạ tầng giao thông tại Philippines tương đối kém phát triển, điều này một phần là do địa hình núi non và các đảo nằm rải rác, song cũng một phần do chính phủ thiếu đầu tư liên tục. Năm 2003, chỉ có 3,6% GDP đến với phát triển cơ sở hạ tầng, thấp hơn đáng kể so với một số quốc gia láng giềng. Trong tổng số 203.025 kilômét (126.154 mi) đường bộ trên toàn quốc, thì chỉ có khoảng 20% trong số đó được lát. Chính quyên của Tổng thống Benigno Aquino III đẩy mạnh việc cải thiện cơ sở hạ tầng và hệ thống giao thông thông qua các dự án khác nhau.
Do là một quần đảo, việc qua lại giữa các đảo bằng tàu thủy là rất cần thiết. Các hải cảng bận rộn nhất nước là Manila, Cebu, Iloilo, Davao, Cagayan de Oro, và Zamboanga. Năm 2003, Strong Republic Nautical Highway với chiều dài 919 kilômét (571 mi) được hình thành, tập hợp các đoạn xa lộ và các tuyến phà qua 17 thành phố.
Một số sông chảy qua khu vực đô thị như sông Pasig và sông Marikina có các tuyến phà định kỳ. Dịch vụ phà sông Pasig có một số điểm dừng tại Manila, Makati, Mandaluyong, Pasig và Marikina. Philippines có 3,219 kilômét (2,000 mi) đường thủy nội địa có thể thông hành.
Philippines có 85 sân bay công, khoảng hơn 111 sân bay tư. Sân bay quốc tế Ninoy Aquino (NAIA) là sân bay quốc tế chính. Các sân bay quan trọng khác là sân bay quốc tế Clark, sân bay quốc tế Mactan-Cebu, sân bay quốc tế Francisco Bangoy và sân bay quốc tế Zamboanga. Philippine Airlines là hãng hàng không thương mại có thâm niên nhất tại châu Á vẫn hoạt động với tên gọi ban đầu, còn Cebu Pacific là hãng hàng không giá rẻ đứng đầu, đây cũng là hai hàng phục vụ hầu hết các đường bay quốc nội và quốc tế.
== Nhân khẩu ==
Từ năm 1990 đến năm 2008, dân số Philippines tăng xấp xỉ 28 triệu, tức tăng trưởng 45% trong giai đoạn này. Cuộc điều tra dân số chính thức đầu tiên tại Philippines được tiến hành vào năm 1877 và ghi nhận dân số là 5.567.685. Năm 2013, Philippines trở thành quốc gia đông dân thứ 12 trên thế giới, với dân số trên 99 triệu. Theo ước tính, một nửa cư dân sống trên đảo Luzon. Tỷ lệ tăng trưởng dân số từ năm 1995 đến năm 2000 là 3,21% mỗi năm, song giảm xuống còn xấp xỉ 1,95% mỗi năm trong giai đoạn 2005 đến 2010, song đây vẫn còn là một vấn đề gây tranh luận. Tuổi trung bình của cư dân Philippines là 22,7 tuổi với 60,9% có tuổi từ 15 đến 64. Tuổi thọ trung bình là 71,94 tuổi, 75,03 tuổi đối với nữ và 68,99 tuổi đối với nam. Có khoảng 12 triệu người Philippines sống bên ngoài Philippines. Từ khi Hoa Kỳ tự do hóa các đạo luật nhập cư vào năm 1965, số người tại Hoa Kỳ có nguồn gốc Philippines tăng lên đáng kể. Năm 2007, ước tính có 3,1 triệu người Mỹ gốc Philippines. Có 12 triệu người Philippines sống tại hải ngoại.
=== Thành thị ===
Vùng đô thị Manila đông dân nhất trong số 12 vùng đô thị được xác định tại Philippines và là vùng đô thị đông dân thứ 11 trên thế giới. Theo điều tra dân số năm 2007, vùng đô thị Manila có dân số là 11.553.427, chiếm 13% tổng dân số toàn quốc. Đại đô thị Manila bao gồm cả các tỉnh lân cận (Bulacan, Cavite, Laguna, và Rizal) có dân số khoảng 21 triệu.
Tổng sản phẩm khu vực của Vùng đô thị Manila theo ước tính vào tháng 7 năm 2009 là 468,4 tỷ peso (theo giá so sánh 1985) và chiếm 33% GDP của quốc gia. Năm 2011, nó được xếp hạng là quần thể đô thị thịnh vượng thứ 28 trên thế giới và đứng thứ hai tại Đông Nam Á, theo PricewaterhouseCoopers.
=== Dân tộc ===
Theo điều tra dân số năm 2000, 28,1% người Philippines thuộc dân tộc Tagalog, 13,1% thuộc dân tộc Cebuano, 9% thuộc dân tộc Ilocano, 7,6% thuộc dân tộc Bisaya/Binisaya, 7,5% thuộc dân tộc Hiligaynon, 6% thuộc dân tộc Bikol, 3,4% thuộc dân tộc Waray, và 25,3% thuộc các "dân tộc khác", vốn có thể chia nhỏ tiếp thành các nhóm phi bộ lạc như Moro, Kapampangan, Pangasinan, Ibanag, và Ivatan. Cũng có một số dân tộc thổ dân như Igorot, Lumad, Mangyan, Bajau, và các bộ lạc tại Palawan. Người Negrito, chẳng hạn như Aeta và Ati, được cho là các cư dân đầu tiên của quần đảo.
Người Philippines nói chung thuộc một số dân tộc châu Á được phân loại theo ngôn ngữ là một phần của nhóm người nói tiếng Nam Đảo hoặc Mã Lai-Đa Đảo. Người ta cho rằng từ hàng nghìn năm trước, thổ dân Đài Loan nói tiếng Nam Đảo đã nhập cư đến Philippines từ Đài Loan, đem theo các kiến thức của họ về nông nghiệp và đi thuyền viễn dương, cuối cùng thay thế các nhóm người Negrito sống tại quần đảo từ trước đó. Hai dân tộc thiểu số phi bản địa quan trọng nhất là người Hoa và người Tây Ban Nha. Người Philippines gốc Hoa hầu hết là hậu duệ của những người nhập cư từ Phúc Kiến sau năm 1898 và có dân số là 2 triệu, song có ước tính cho rằng 18 triệu người Philippines có một phần gốc Hoa.
=== Ngôn ngữ ===
Ethnologue liệt kê 175 ngôn ngữ riêng lẻ tại Philippines, 171 trong số đó là ngôn ngữ đang tồn tại và bốn ngôn ngữ còn lại không còn người nào nói. Các ngôn ngữ bản địa thuộc nhóm Borneo–Philippines của ngữ tộc Mã Lai-Đa Đảo- một nhánh của ngữ hệ Nam Đảo. Theo Hiến pháp Philippines 1987, tiếng Filipino và tiếng Anh là những ngôn ngữ chính thức. Tiếng Filipino là phiên bản tiêu chuẩn hóa của tiếng Tagalog. Cả tiếng Filipino và tiếng Anh đều được sử dụng trong chính quyền, giáo dục, xuất bản, truyền thông, và kinh doanh. Hiến pháp yêu cầu rằng tiếng Tây Ban Nha và tiếng Ả Rập được xúc tiến trên cơ sở tự nguyện và tùy ý.
Mười chín ngôn ngữ cấp vùng đóng vai trò là những ngôn ngữ chính thức phụ trợ được dùng làm phương tiện giảng dạy: Aklanon, Bikol, Cebuano, Chavacano, Hiligaynon, Ibanag, Ilocano, Ivatan, Kapampangan, Kinaray-a, Maguindanao, Maranao, Pangasinan, Sambal, Surigaonon, Tagalog, Tausug, Waray-Waray, và Yakan. Các ngôn ngữ bản địa khác như Cuyonon, Ifugao, Itbayat, Kalinga, Kamayo, Kankanaey, Masbateño, Romblomanon, và một số ngôn ngữ Visayas là điều phổ biến tại các tỉnh tương ứng. Tiếng Chavacano là một ngôn ngữ bồi bắt nguồn từ tiếng Tây Ban Nha, được nói tại Cavite và Zamboanga. Các ngôn ngữ phi bản địa cũng được giảng dạy trong các trường học được chọn lọc, Quan thoại được dùng trong các trường tiếng Hoa để phục vụ cho cộng đồng người Philippines gốc Hoa. Các trường Hồi giáo tại Mindanao dạy tiếng Ả Rập tiêu chuẩn hiện đại trong chương trình giảng dạy của họ. Tiếng Pháp, tiếng Đức, tiếng Nhật, tiếng Hàn, tiếng Tây Ban Nha được giảng dạy với trợ giúp của các tổ chức ngôn ngữ nước ngoài. Bộ Giáo dục bắt đầu cho tiến hành giảng dạy các ngôn ngữ Mã Lai là tiếng Indonesia và tiếng Malaysia vào năm 2013.
=== Tôn giáo ===
Philippines là một quốc gia thế tục, hiến pháp tách biệt nhà thờ và nhà nước. Do ảnh hưởng của văn hóa Tây Ban Nha, Philippines là một trong hai quốc gia mà Công giáo Rôma chi phối tại châu Á, quốc gia còn lại là Đông Timor. Trên 90% dân số là tín hữu Ki-tô giáo: khoảng 80% thuộc Giáo hội Công giáo Rôma và 10% thuộc các giáo phái Tin Lành, như Iglesia ni Cristo, Giáo hội độc lập Philippines, Giáo hội thống nhất Ki-tô Philippines, và Nhân Chứng Giê-hô-va.
Từ 5% đến 10% dân số Philippines là tín đồ Hồi giáo, hầu hết họ sinh sống tại các khu vực trên đảo Mindanao, Palawan, và quần đảo Sulu – một khu vực được gọi là Bangsamoro hay Moro. Một số người Hồi giáo nhập cư đến khác khu vực đô thị và nông thôn tại những phần khác của quốc gia. Hầu hết người Hồi giáo Philippines thực hành Hồi giáo Sunni theo giáo phái Shafi'i. Xấp xỉ 2% dân số Philippines vẫn thực hành các tôn giáo truyền thống, họ gồm nhiều nhóm thổ dân và bộ lạc. Các tôn giáo này thường dung hợp với Ki-tô giáo và Hồi giáo. Thuyết vật linh, tôn giáo dân gian, và shaman giáo vẫn hiện diện như những trào lưu ngầm dưới tôn giáo dòng chính. 1% dân số Philippines thực hành Phật giáo, và tôn giáo này cùng với Đạo giáo và tôn giáo dân gian Trung Hoa chiếm ưu thế trong các cộng đồng người Hoa. Có một số lượng nhỏ hơn những người theo Ấn Độ giáo, Sikh giáo, Do Thái giáo và Baha'i. 1% dân số Philippines là người không tôn giáo.
== Giáo dục ==
Văn phòng thống kê quốc gia báo cáo rằng tỷ lệ biết chữ giản đơn là 93,4% và tỷ lệ biết chữ chức năng là 84,1% vào năm 2003. Tỷ lệ biết chữ đối với nam và nữ là ngang bằng. Chi tiêu cho giáo dục là khoảng 2,5% GDP. Ủy ban Giáo dục Đại học (CHED) liệt kê 2.180 cơ sở giáo dục bậc đại học, 607 trong đó là trường công và 1.573 là trường tư. Trường học khai giảng vào tháng 6 và bế giảng vào tháng 3. Đa số các trường bậc đại học theo lịch học kỳ từ tháng 6 đến tháng 10 và từ tháng 11 đến tháng 3. Có một số trường nước ngoài với các chương trình học tập. Đạo luật Cộng hòa số 9155 cung cấp khuôn khổ giáo dục cơ bản tại Philippines và quy định giáo dục tiểu học bắt buộc và giáo dục trung học miễn phí.
Một số cơ quan của chính phủ có liên hệ với giáo dục. Bộ Giáo dục quản lý giáo dục tiểu học, trung học, và phi chính thức; Cơ quan phát triển chuyên môn giáo dục và kỹ năng (TESDA) quản lý đào tạo và phát triển giáo dục trung cấp sau trung học; và Ủy ban giáo dục đại học (CHED) giám sát các trường bậc đại học và chương trình. Năm 2004, giáo dục Hồi giáo madaris được lồng ghép trong 16 vùng trên toàn quốc, chủ yếu là tại các khu vực Hồi giáo tại Muslim dưới sự bảo trợ và chương trình của Bộ Giáo dục. Các trường đại học bậc đại học đều là những thực thể phi tông phái, và được phân loại tiếp thành các cơ sở bậc đại học nhà nước (SUC) hay các cơ sở đại học địa phương (LCU). Đại học Philippines là đại học quốc gia của Philippines.
== Sức khỏe ==
Hầu hết gánh nặng chăm sóc sức khỏe của quốc gia do các cơ sở sức khỏe tư nhân gánh vác. Năm 2006, tổng chi tiêu y tế chiếm 3,8% GDP. 67,1% trong đó đến từ phí tổn cá nhân trong khi 32,9% đến từ chính phủ. Chi tiêu y tế chiếm khoảng 6,1% tổng chi tiêu của chính phủ. Chi tiêu theo bình quân đầu người theo tỷ giá trung bình là 52 USD. Ngân sách y tế quốc gia được đề xuất cho năm 2010 là 28 tỷ peso hay 310 peso/người.
Ước tính Philippines có 90.370 bác sĩ, tức 1 bác sĩ/833 dân; có 480.910 y tá, 43.220 nha sĩ, và 1 giường bệnh/769 dân. Giữ chân các y sĩ lành nghề là một vấn đề. 70% số y tá tốt nghiệp làm việc tại hải ngoại, Philippines do vậy là nguồn cung cấp y tá lớn nhất thế giới. Năm 2001, Philippines có khoảng 1.700 bệnh viện, trong đó khoảng 40% do chính phủ điều hành và 60% là của tư nhân. Các bệnh tim mạch chiếm trên 25% tổng số trường hợp tử vong. Theo ước tính chính thức, 1.965 trường hợp nhiễm HIV được ghi nhận vào năm 2003, trong đó 636 đã phát triển sang giai đoạn AIDS. Các ước tính khác cho rằng Philippines có 12.000 người mắc HIV/AIDS vào năm 2005.
== Văn hóa ==
Văn hóa Philippines là một sự kết hợp của văn hóa phương Đông và văn hóa phương Tây. Với một di sản Mã Lai, Philippines có những diện mạo tương đồng với các quốc gia châu Á khác, tuy thế nền văn hóa này cũng thể hiện một lượng lớn những ảnh hưởng của Tây Ban Nha và Hoa Kỳ. Các lễ hội truyền thống được gọi là barrio fiestas (lễ hội khu vực) phổ biến, kỷ niệm các ngày lễ của những vị thành bảo trợ. Lễ hội Moriones và lễ hội Sinulog là cặp lễ hội được biết đến nhiều nhất. Các lễ kỷ niệm cộng đồng này là thời gian để bữa tiệc, âm nhạc, và vũ đạo. Tuy nhiên, một số truyền thống đang biến đổi hoặc dần bị lãng quên trong quá trình hiện đại hóa. Đoàn vũ đạo dân gian quốc gia Bayanihan Philippines bảo tồn nhiều trong số các vũ điệu dân gian truyền thống trên khắp Philippines. Họ nổi tiếng với việc biểu diễn các vũ điệu mang tính biểu tượng của Philippines như tinikling và singkil, cả hai đều có đặc trưng là dùng các sào tre đập sạp.
Một trong những di sản dễ nhận thấy nhất của văn hóa Tây Ban Nha là tính phổ biến của tên họ Tây Ban Nha trong cộng đồng người Philippines. Tuy nhiên, một tên và họ Tây Ban Nha không nhất thiết thể hiện tổ tiên Tây Ban Nha. Đây là một điều đặc biệt, là kết quả của một sắc lệnh thực dân là sắc lệnh Clavería, theo đó phân phối có hệ thống họ và thi hành hệ thống tên gọi Tây Ban Nha trong dân cư. Tên của nhiều đường phố, đô thị, và tỉnh cũng bằng tiếng Tây Ban Nha. Kiến trúc Tây Ban Nha để lại dấu ấn tại Philippines trong việc thiết kế nhiều đô thị, nhiều con phố được sắp xếp quanh một quảng trường trung tâm hay plaza mayor, song nhiều tòa nhà mang ảnh hưởng kiến trúc Tây Ban Nha bị phá hủy trong Chiến tranh thế giới thứ hai. Một số ví dụ vẫn còn cho đến nay, chủ yếu là tại các nhà thờ, tòa nhà chính quyền, và các đại học. Bốn nhà thờ mang kiến trúc baroque tại Philippines được xếp vào danh sách Di sản thế giới: nhà thờ San Agustín tại Manila, nhà thờ Paoay tại Ilocos Norte, Nhà thờ Đức Mẹ lên trời tại Ilocos Sur, và nhà thờ Santo Tomás de Villanueva Church tại Iloilo. Vigan tại Ilocos Sur được biết đến với nhiều phòng ốc và kiến trúc gìn giữ được phong cách Tây Ban Nha.
Việc sử dụng tiếng Anh một cách phổ biến là ví dụ về ảnh hưởng của Hoa Kỳ đối với xã hội Philippines. Nó góp phần vào việc sẵn sàng chấp nhận và ảnh hưởng của khuynh hướng văn hóa đại chúng Mỹ. Điều này được thể hiện thông qua sự ưa chuộng của người Philippines đối với đồ ăn nhanh cùng phim ảnh và âm nhạc phương Tây. Các chuỗi thức ăn nhanh địa phương như Goldilocks và Jollibee nổi lên và cạnh tranh thành công với các đối thủ ngoại quốc.
=== Ẩm thực ===
Ẩm thực Philippines tiến triển qua nhiều thế kỷ, từ nguồn gốc Mã Lai-Đa Đảo trở thành một nền ẩm thực dung hợp của những ảnh hưởng từ Tây Ban Nha, Trung Hoa, Mỹ, và các nơi khác của châu Á, chúng thích nghi với nguyên liệu và khẩu vị bản địa, tạo nên các món ăn Philippines đặc trưng. Các món ăn biến đổi từ hết sức đơn giản, như bữa ăn với cá mắm rán cùng với cơm, đến phức tạp như paella và cocidos được làm trong những ngày lễ. Các món ăn phổ biến như lechón, [adobo, sinigang, kare-kare, tapa, pata giòn, pancit, lumpia, và halo-halo. Một số nguyên liệu bản địa thông dụng được sử dụng trong nấu ăn là quất, dừa, chuối Saba (một loại chuối lá), xoài, cá măng sữa, và nước mắm. Khẩu vị của người Philippines có xu hướng ưa chuộng các mùi vị mạnh song không cay như món ăn của các quốc gia láng giềng.
Người Philippines không sử dụng đũa để gắp thức ăn mà sử dụng dụng cụ theo kiểu phương Tây. Tuy nhiên, có thể do gạo là thực phẩm chính và có nhiều món ăn hầm và món ăn có nước dùng, trên bàn ăn của người Philippines thường có đôi thìa và dĩa, thay vì dao và dĩa. Cách ăn bằng tay theo truyền thống được gọi là kamayan, xuất hiện thường xuyên hơn tại các khu vực có mức đô thị hóa thấp.
=== Văn chương ===
Thần thoại Philippines lưu truyền chủ yếu thông qua văn học truyền khẩu dân gian truyền thống trong cộng đồng người Philippines. Mỗi dân tộc có các câu chuyện và thần thoại riêng, ảnh hưởng của Ấn Độ giáo và Tây Ban Nha tuy vậy vẫn có thể nhận thấy trong một số trường hợp. Thần thoại Philippines chủ yếu gồm các chuyện sáng tác hoặc các chuyện về những sinh vật siêu tự nhiên, như aswang, manananggal, diwata/engkanto, và thiên nhiên. Một số nhân vật nổi tiếng trong thần thoại Philippines là Maria Makiling, Lam-Ang, và Sarimanok.
Văn chương Philippines gồm có các tác phẩm thường được viết bằng tiếng Filipino, tiếng Tây Ban Nha, hoặc tiếng Anh. Một số trong những tác phẩm nổi tiếng nhất được sáng tác trong thế kỷ 19. Francisco Balagtas là một nhà thơ và nhà biên kịch, ông sáng tác Florante at Laura và được công nhận là một tác gia tiếng Filipino xuất chúng. José Rizal viết tiểu thuyết Noli Me Tángere (Đừng chạm vào tôi) và El Filibusterismo (Giặc cướp) và được xem là anh hùng dân tộc. Mô tả của ông về những bất công dưới sự cai trị của người Tây Ban Nha, và việc ông bị tử hình bằng một đội xử bắn, đã truyền cảm hứng cho những người cách mạng Philippines mưu cầu độc lập.
=== Truyền thông ===
Truyền thông Philippines chủ yếu sử dụng tiếng Filipino và tiếng Anh. Các ngôn ngữ Philippines khác, bao gồm các ngôn ngữ Visayas khác nhau cũng được sử dụng, đặc biệt là trong phát thanh do có khả năng tiếp cận các vùng nông thôn xa xôi. Các mạng lưới truyền hình chi phối tại Philippines là ABS-CBN, GMA và TV5 cũng hiện diện rộng rãi trong lĩnh vực phát thanh.
Các chương trình kịch và tưởng tượng được mong đợi là telenovelas, Asianovela, và anime. Truyền hình ban ngày chủ yếu phát các các chương trình trò chơi, chương trình tạp kỹ, và chương trình trò chuyện. Điện ảnh Philippines có lịch sử lâu dài và phổ biến trong nước, song phải đối mặt với cạnh tranh ngày càng tăng từ các phim Hoa Kỳ, châu Á và châu Âu.
=== Thể thao ===
Các môn thể thao và trò tiêu khiển phổ biến tại Philippines gồm có bóng rổ, quyền Anh, bóng chuyền, bóng đá, cầu lông, karate, taekwondo, bi a, bowling, cờ vua, và sipa. Đua xe gắn máy, đua xe đạp, và leo núi cũng đang trở nên phổ biến. Bóng rổ được chơi ở cả trình độ nghiệp dư và chuyên nghiệp và được cho là môn thể thao phổ biến nhất tại Philippines. Nổi tiếng nhất là võ sỹ quyền anh Manny Pacquiao. Philippines tham gia Thế vận hội Mùa hè từ năm 1924, là quốc gia đầu tiên tại Đông Nam Á tham gia và giành huy chương Thế vận hội. Kể từ đó, ngoại trừ việc cùng Hoa Kỳ tẩy chay Thế vận hội Moskva năm 1980, Philippines tham gia toàn bộ các kỳ Thế vận hội còn lại. Philippines cũng là quốc gia nhiệt đới đầu tiên tham gia Thế vận hội Mùa đông.
== Tham khảo ==
== Liên kết ngoài ==
Chính thức
Official website of the Philippine Government - Gateway to governmental sites
Supreme Court
Department of Foreign Affairs
Wow Philippines + Travel and Tourism
Visit the Philippines!: Full length travel video
Department of Trade and Industry
Commission on Information and Communications Technology
Khác
Bản mẫu:Wikicities
BBC Country Profile on the Philippines
U.S. Country Studies: Philippines
Philippine Directory
Uncommon Travel Photography - Various pictures by Peace Corps volunteers in the Philippines
Wikimedia Atlas của Philippines, có một số bản đồ liên quan đến Philippines. |
thế kỷ 21.txt | Thế kỷ 21 là khoảng thời gian tính từ thời điểm năm 2001 đến hết năm 2100, nghĩa là bằng 100 năm, trong lịch Gregory (Lịch cổ). Theo Lịch thiên văn thì nó được bắt đầu từ 1/1/2000 và kết thúc vào ngày 31/12/2100.
== Những sự kiện, thành tích và mốc phát triển ==
=== Chính trị ===
=== Khoa học và công nghệ ===
Thiết lập thành công bản đồ cấu trúc E8 của nhóm Lie, thể hiện mối liên hệ giữa lý thuyết dây với hình học.
=== Xung đột và khủng bố ===
Ngày 11 tháng 9, một nhóm khủng bố dùng máy bay tấn công vào Trung tâm thương mại thế giới và Lầu Năm Góc (Ngũ Giác Đài), làm thiệt mạng gần 3000 người. Đó là sự kiện 11 tháng 9. Vụ khủng bố ngày 11 tháng 9 là một trong những sự kiện quan trọng đáng chú ý nhất trong thế kỷ 21, và là một trong những vụ khủng bố gây thiệt hại nhiều nhất về tất cả các mặt kinh tế, xã hội, chính trị, văn hóa, và quân sự của lịch sử Hoa Kỳ cũng như những nơi khác trên thế giới.
=== Thể thao ===
== Mất ==
2001 – Trịnh Công Sơn, nhạc sĩ Việt Nam
2013 – Hugo Chavez, Tổng thống Venezuela
2013 - Võ Nguyên Giáp, đại tướng quân đội nhân dân Việt Nam
2013 – Nelson Mandela, cựu Tổng thống Nam Phi
2015 – Lý Quang Diệu, cựu Thủ tướng Singapore
== Tham khảo == |
yo-yo.txt | Yo-yo là một đồ chơi phổ biến được cấu tạo bao gồm một sợi dây buộc một đầu vào một cuộn chỉ dẹt, đầu còn lại là một nút thòng lọng không siết hoàn toàn. Yo yo được chơi bằng cách giữ đầu tự do của dây (thường là dùng một ngón tay xỏ vào nút thắt) và kéo sao cho cuộn chỉ đong đưa trong không trung và cuốn vào hay nhả sợi dây ra. Trò chơi này trở nên phổ biến lần đầu tiên vào thập niên 1920, và cho đến nay nó vẫn là thú tiêu khiển ưa thích không chỉ của trẻ em mà có cả người lớn, mặc dù ban đầu đây là một trò chơi của trẻ em. Trong cách chơi đơn giản nhất, con yo-yo được buộc vào trục bằng tay. Khi chơi, yo-yo được thả xuống dọc theo sợi dây và theo quán tính lại cuốn sợi dây lên.
== Tham khảo == |
we are the champions.txt | "We Are the Champions" là bài hát do Freddie Mercury sáng tác, được ban nhạc Queen thu âm và biểu diễn. Bài hát cũng là một trong những bài hay nhất và phổ biến nhất của ban nhạc và đã trở thành ca khúc cho sự chiến thắng trong thể thao.
Bài hát chủ yếu dựa trên tiếng đàn piano của Mercury còn Taylor và Deacon thì đệm thêm trống và ghi ta bass. May bổ sung thêm vài đoạn ghi ta, một ít vào lúc mở đầu và sau đó thì đã chơi sô lô trong hợp âm ở cuối bài. Mercury đã sử dụng nhiều hợp âm của 'jazz' (các hòa âm chính và phụ thứ 6, 7, 9, 11 và 13), và đoạn điệp khúc đã có những âm điệu như 4 và 5 hòa âm hợp lại. Giọng ca chính đòi hỏi phải có yêu cầu cao và trong các buổi diễn trực tiếp, Mercury thường để Taylor đảm nhiệm phần cao nhất của giai điệu.
Bài hát có trong album News of the World làm năm 1977 và đứng sau bài "We Will Rock You. Hai bài hát này hay được dùng kể kết thúc trong các buổi công diễn của Queen. Như truyền thống, bài này cũng đã là bài cuối cùng trong buổi diễn kỷ niệm Freddie Mercury vào năm 1992.
Bài hát cũng là ví dụ cho Kanye West, Dame Dash, Beanie Sigel, Cam'ron, Young Chris & Twista trong bài hát "Champions" của họ.
== Những nhận xét về "We Are the Champions" ==
=== Queen nói về bài hát ===
Freddie (1985): "Tôi phải chiến thắng tất cả, nếu không thì không thành công. Công việc của tôi đảm bảo mọi người có thời gian tốt. Đó là một phần bổn phận của tôi. Đó là mọi việc phải làm để điều khiển cảm xúc. Bài hát We Are the Champions được những người hâm mộ đá bóng hát vì đó là bài hát của người chiến thắng. Tôi không thể tin rằng ai đó sẽ không viết bài hát mới để vượt qua nó".
Freddie: "Chắc chắn đó có thể là mối liên quan, nhưng tôi đã nghĩ đến bóng đá khi tôi sáng tác bài hát. Tôi muốn đóng góp một bài hát, một điều gì đó mà những người hâm mộ có thể hiểu được. Đó là mục đích lớn nhất; Tôi nghĩ là chúng tôi đã biết được người nghe hiểu như thế nào. Nó như là một buổi chiêu đãi. Khi chúng tôi trình diễn nó tại một buổi nhạc riêng ở Luân Đôn, những người hâm mộ thực sự đã hát cùng như một khẩu hiệu bóng đá. Dĩ nhiên là tôi đã sáng tác bài hát có một chút nhạc kịch chứ không chỉ là khẩu hiệu bóng đá. Tôi chắc chắn là không nghĩ đến đám đông khi tôi viết bài hát. Tôi không hề nghĩ đến âm nhạc Anh những ngày này. Nó thật sự có nghĩa là coi những nhạc sĩ như những người hâm mộ. Tôi cho rằng nó có thể được hiểu như phiên bản bài "I Did It My Way" của tôi. Chúng tôi đã làm điều này và chắc chắn là không dễ dàng. Không có giường cho những bông hồng như bài hát đã nói đến. Và nó vẫn không dễ dàng gì."
Brian May (1991): "Tôi có thể hiểu một vài người đã nói We Are the Champions như một sự khoa trương. Nhưng bài hát không nói lên ban nhạc Queen là nhà vô địch mà nó nói tất cả chúng ta là vô địch. Bài hát đã làm cho buổi diễn như một trận bóng đá thực sự nhưng tất cả mọi người đều ở cùng một bên."
Brian: "Bạn biết không, các bài hát không hẳn là như những gì trong lời bài hát. Nhiều đoạn trong bài hát có thể xuất hiện khác nhau. Tôi thường nhận thấy sự khác nhau giữa văn xuôi và thơ. Văn xuôi thì có nghĩ chính xác như lời văn viết trong khi thơ thì có thể có nghĩa ngược lại. Bài hát này cũng như vậy. Tuy nhiên thì cách viết của Freddie thì thường xuyên hay đùa cợt như bạn đã biết đấy. Bài hát này mang tính kịch trường. Freddie rất thuần thục với nghệ thuật của anh. Bạn có thể nói, anh ấy cưới âm nhạc của anh ấy, như trong bài 'I Did It My Way' hay bài 'There's No Business Like Show Business' của anh ấy. Tôi phải nói rằng khi anh ấy mới chơi lần đâu cho chúng tôi nghe trong phòng thu tất cả chúng tôi đều bò lăn ra mà cười. Rất nhiều người ghét chúng tôi bởi vì chúng tôi để họ ra bên ngoài và có mọi thứ mà không có mặt họ. Nhưng bài hát không hề nói bất cứ điều gì chống lại khán giả của chúng tôi. Khi trong bài hát nói 'chúng tôi' ('we') nó có nghĩa là 'chúng tôi là các fan'. Khi chúng tôi thực hiện buổi biểu diễn đặc biệt đó, những người hâm mộ thật là tuyệt vời. Họ quá hiểu bài hát".
Brian (1998): "Bài hát của anh ấy(Freddiey) đã nói tất cả: Lily of the Valley, Killer Queen, Bohemian Rhapsody, The March of the Black Queen, We Are the Champions, The Miracle, Play the Game và rất nhiều bài hát đều có cảm xúc của việc ghi điểm. Freddie không bao giờ muốn nói về lời hát của anh ấy: 'Họ nên tự nói về bản thân họ' - anh ấy nói cụt lủn như vậy. Nhưng sự tưởng tượng những lời bài hát đã được biên soạn với sự kỳ diệu của giai điệu đã làm cho anh ấy trở thành một trong những nhạc sĩ thực sự độc đáo trong thời đại của chúng ta."
Roger Taylor (1998): "Bài hát gây sự ngạc nhiên cho người nghe. Tôi đã nghe bài này vào lúc cuối của World Cup, kết quả thật sự tuyệt vời."
Brian (1999): "Bạn có thể nhận thấy sự kiêu ngạo trong bài hát. Nhưng trong buổi diễn thì không có ai là người thua cả và những giây phút thua của mỗi chúng ta đã bị quên đi, do vậy, bài hát như là một sự tự khẳng định mình. Tôi nhớ là đã nói, anh không thể làm điều này, Fred. Anh sẽ bị giết. Và anh đã trả lời, 'Vâng, chúng ta có thể sẽ như vậy.'"
Roger (1999): "'Không có thời gian cho người thua cuộc' là một lời khá ngớ ngẩn nhưng đó chỉ là câu nói đùa."
John Deacon (2001): "Một trong những bài hát hay nhất của chúng tôi."
Brian (2003): "Tôi nhớ là đã cảm thấy bài hát có sắc thái ngạo mạn khi lần đầu tiên Freddie hát cho chúng tôi nghe và tôi chắc chắn là tôi cũng đã nói điều đó. Nhưng đã có một sự ngạo mạn mà không nhân nhượng trong Freddie; đó chính là niềm tin của anh ấy và anh đã nói lên niềm tin đó."
== Các phiên bản cover ==
Gavin DeGraw đã hát bài này trong album Killer Queen: A Tribute to Queen.
Trong buổi diễn từ thiện Live 8, ban nhạc rock Green Day đã hát lại bài này.
Robbie Williams đã hát bài này trong phim A Knight's Tale.
William Hung đã hát lại bài này trong album thứ hai của anh Hung for the Holidays.
Trong tập cuối của O16, ban nhạc Oplus đã hát lại bài này.
== Tham khảo ==
== Liên kết ngoài ==
Video âm nhạc |
chỉ (đơn vị đo).txt | Bài này viết về một đơn vị đo trọng lượng. Các nghĩa khác xin xem thêm Chỉ (định hướng)
Chỉ là đơn vị đo khối lượng trong ngành kim hoàn Việt Nam, đặc biệt dành cho vàng, bạc, bạch kim (tên khác: platin), vàng trắng...
Năm 2007, nghị định của Chính phủ Việt Nam thống nhất quy định về đơn vị đo lường chính thức, đã quy định một chỉ bằng 3,75 gam theo hệ đo lường quốc tế hoặc bằng 1/10 lượng (lượng vàng hay lạng vàng, cây vàng).
Cách đơn vị tính này dựa trên hệ thống đo lường cổ của Việt Nam cũng như của Trung Hoa, trong đó 1 cân bằng 16 lạng (hay lượng), 1 lạng bằng 10 chỉ, 1 chỉ bằng 10 phân. Chỉ còn được gọi là tiền hoặc đồng (hay đồng cân).
== Từ nguyên ==
Ngày xưa, ngón tay đeo nhẫn ở Trung Quốc được gọi là vô danh chỉ. Từ chỉ hoàn cũng có nghĩa là nhẫn. Đây có thể là một trong những nguyên nhân dẫn đến cách dùng chỉ để làm đơn vị cho vàng như ngày nay, do vàng được dùng làm nhẫn và đồ trang sức.
== Các khác biệt ==
Một số tài liệu cho biết 1 chỉ trong truyền thống được ước chừng bằng 3,78 gam. Nhưng ngày nay, theo quy định chính thức thì 1 chỉ bằng 3,75 gam..
Đơn vị đo khối lượng chỉ ở Việt Nam hiện nay không hoàn toàn giống với đơn vị tiền (錢: mace, tsin hay chee) ở Hồng Kông nơi mà 1 tiền bằng 3,779936375 gam.
== Tham khảo ==
== Xem thêm ==
Lượng vàng |
điện biên phủ.txt | Điện Biên Phủ là thành phố tỉnh lỵ và là một đô thị loại III của tỉnh Điện Biên ở tây bắc Việt Nam. Thành phố Điện Biên Phủ phía đông nam giáp huyện Điện Biên Đông, các phía còn lại giáp huyện Điện Biên.
== Địa lý ==
Cánh đồng Mường Thanh trước đây thuộc huyện Điện Biên, tỉnh Lai Châu, chiều dài khoảng 23 km, chiều rộng trung bình 6 km đến 8 km. Tổng diện tích của cánh đồng Mường Thanh khoảng 120km2, có 12 xã thuộc vùng lòng chảo gồm: Thanh Minh, thị trấn Điện Biên, Thanh Xương, Thanh An, Noong Hẹt, Sam Mứn, Noong Luống, Thanh Yên, Thanh Chăn, Thanh Hưng, Thanh Luông, Thanh Nưa.
Năm 1991 thành lập thị xã Điện Biên Phủ trên cơ sở sáp nhập diện tích của xã Thanh Minh, 1/2 thị trấn Điện Biên và một phần nhỏ diện tích của xã Thanh Luông để thành lập thị xã Điện Biên Phủ. Năm 2004 sáp nhập thêm 1/2 diện tích còn lại của thị trấn Điện Biên trước đây và sáp nhập thêm khoảng 1/4 diện tích xã Thanh Nưa, khoảng 1/6 diện tích xã Thanh Luông vào thành phố Điện Biên Phủ để thành lập các phường, xã mới. Hiện nay thành phố Điện Biên Phủ gồm 7 phường: Mường Thanh, Tân Thanh, Thanh Bình, Noong Bua, Him Lam, Nam Thanh, Thanh Trường và 2 xã là: Thanh Minh, Tà Lèng.
Tổng diện tích của thành phố Điện Biên Phủ hiện nay chiếm khoảng 3 xã của vùng lòng chảo trước đây, hiện nay cánh đồng Mường Thanh còn lại 10 xã vùng lòng chảo thuộc huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên.
== Lịch sử ==
Điện Biên Phủ vốn được gọi là Mường Thanh, từ chữ Mường Then theo tiếng dân tộc Thái nghĩa là "Xứ Trời", gắn với truyền thuyết về sự phát sinh ra dân tộc Thái. Đây là "đất tổ" của nhiều ngành Thái ở Đông Nam Á.
Khi Lạng Chạng đưa một bộ phận người Thái Đen từ Mường Lò (Nghĩa Lộ ngày nay) đến Mường Thanh thì vùng đất này còn gọi là Song Thanh vì có hai mường: Thanh Nưa (Thanh trên) từ bản Noong Hét ngược về đầu nguồn sông Nậm Rốm và Thanh Tẩu (Thanh dưới) từ bản Noong Hét đến cuối sông Nậm Rốm. Tại đây có Viềng Xam Mứn (thành Tam Vạn) cổ kính của người Thái. Các mường thuộc Mường Thanh xưa gồm: Mường Phăng, Mường Nha, Mường Luân, Mường Lèo, Mường Lói nay thuộc huyện Điện Biên; Mường U nay thuộc tỉnh Phong Xa Lỳ của Lào; Mường Và, Sốp Cộp nay thuộc tỉnh Sơn La.
Tên gọi Mường Thanh xuất hiện lần đầu trong sách Hưng Hóa xứ Phong Thổ lục của Hoàng Bình Chính. Hoàng Công Chất nổi dậy chống lại vua Lê chúa Trịnh, chiếm đất Mường Thanh, xây đắp thành lũy gọi là Phủ Chiềng Lễ, phiên âm Hán -Việt là Trình Lệ. Ông đã ở đây từ năm 1754 đến năm 1769. Năm 1778 nhà Lê bình được Hoàng Công Toản (con trai Hoàng Công Chất) và đặt ra châu Ninh Biên thay cho tên gọi Mường Thanh, thuộc phủ An Tây. Ninh Biên có 12 mường nhỏ gộp lại.
Tên gọi Điện Biên do vua Thiệu Trị đặt năm 1841 từ châu Ninh Biên; Điện (奠) nghĩa là "kiến lập", Biên (邊) nghĩa là vùng biên giới, biên ải. Phủ Điện Biên (tức Điện Biên phủ) thời Thiệu Trị gồm 3 châu: Ninh Biên (do phủ kiêm lý, tức là tri phủ kiêm quản lý châu), Tuần Giáo và Lai Châu.
Thành phố Điện Biên được biết đến với trận Điện Biên Phủ năm 1954, giữa quân đội Việt Minh (do tướng Võ Nguyên Giáp chỉ huy) và quân đội Pháp (do tướng Christian de Castries chỉ huy). Cuộc chiến mang ý nghĩa rất lớn trong việc kết thúc vai trò của người Pháp ở bán đảo Đông Dương, và đưa tới việc ký kết hiệp định chia Việt Nam ra thành 2 miền: Bắc và Nam. Trận Điện Biên Phủ được nhắc đến như một chiến thắng vĩ đại nhất của các nước Đông Nam Á chống lại một cường quốc phương Tây. Trong trận này, lực lượng Việt Minh đã di chuyển pháo binh của họ lên những quả đồi xung quanh tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ và tiến công vào sườn của quân đội Pháp. Bằng cách huy động sức người một cách tối đa và với lực lượng hậu cần đông đảo của mình, Việt Minh đã làm nên một trong những chiến thắng quan trọng nhất trong lịch sử chiến tranh của Việt Nam.
Quần thể di tích lịch sử Điện Biên Phủ được chính thức xếp hạng di tích lịch sử quốc gia ngày 28 tháng 4 năm 1962. Tượng đài chiến thắng Điện Biên Phủ được xây dựng nhân dịp kỷ niệm 50 năm chiến thắng Điện Biên Phủ (2004). Hiện nay chạy dọc thung lũng Mường Thanh, nơi diễn ra cuộc đọ sức lịch sử năm xưa là đại lộ 279 (nay là Đại lộ Võ Nguyên Giáp), con phố chính và lớn nhất thành phố Điện Biên Phủ.
Bắt đầu từ năm 1958, một nông trường quân đội được xây dựng ở đây, kéo theo di dân từ đồng bằng Bắc bộ, biến Điện Biên là một thị trấn nông trường, sau được nâng cấp thành thị trấn huyện lỵ của huyện cùng tên thuộc tỉnh Lai Châu. Từ ngày 18 tháng 4 năm 1992 trở thành thị xã tỉnh lỵ tỉnh Lai Châu. Thị trấn Mường Thanh ở phía tây được tách ra làm huyện lỵ huyện Điện Biên. Ban đầu có 2 phường: Mường Thanh, Him Lam và 2 xã: Thanh Minh, Noong Bua. Ngày 26 tháng 5 năm 1997, thành lập phường Thanh Bình trên cơ sở điều chỉnh 64,5 ha diện tích tự nhiên và 1.622 nhân khẩu của xã Thanh Luông thuộc huyện Điện Biên. Ngày 18 tháng 8 năm 2000, chia phường Mường Thanh thành 2 phường: Mường Thanh và Tân Thanh.
Theo Nghị định số 110/2003/NĐ-CP của Chính phủ ngày 26 tháng 9 năm 2003, Điện Biên Phủ trở thành thành phố từ tháng 10 năm 2003 và là đô thị loại 3, cùng lúc đó thành phố được mở rộng trên cơ sở sáp nhập thị trấn Mường Thanh thuộc huyện Điện Biên và đổi thành phường Nam Thanh, thành lập phường Thanh Trường trên cơ sở 281 ha diện tích tự nhiên và 3.147 nhân khẩu của xã Thanh Luông; 251 ha diện tích tự nhiên và 2.627 nhân khẩu của xã Thanh Nưa (phần điều chỉnh của 2 xã về thành phố Điện Biên Phủ quản lý), chuyển xã Noong Bua thành phường Noong Bua. Sau khi tách tỉnh, Điện Biên Phủ trở thành tỉnh lỵ tỉnh Điện Biên. Ngày 16 tháng 9 năm 2009, thành lập xã Tà Lèng trên cơ sở điều chỉnh 1.536,29 ha diện tích tự nhiên và 2.500 nhân khẩu của phường Noong Bua.
== Phân chia hành chính ==
Điện Biên Phủ có diện tích 60,0905 km², gồm 7 phường: Him Lam, Mường Thanh, Nam Thanh, Noong Bua, Tân Thanh, Thanh Bình, Thanh Trường và 2 xã: Tà Lèng, Thanh Minh.
== Dân số ==
Điện Biên Phủ có số dân khoảng 70.639 người (năm 2004). Cư dân sống ở đây không chỉ có người Kinh (người Việt) mà còn có một số đông là người Thái, người H'Mông, người Si La. Các dân tộc thiểu số chiếm 1/3 dân số của thành phố. Điện Biên Phủ là thành phố có dân số thấp thứ 4 cả nước (xếp trên các thành phố: Lai Châu, Cao Bằng và Bắc Kạn).
Dân số Điện Biên Phủ qua một số năm:
1992: 25.000 người2003: 70.639 người2009: 48.020 người2014: 56.000 người
2017: 73.000 người
Theo thống kê của chính quyền thành phố, dân số TP. Điện Biên Phủ năm 2014 là trên 56.000 nhân khẩu. Đến năm 2017 là 73.000 người (kể cả dân số quy đổi bao gồm chiến sĩ trong lực lượng vũ trang, học sinh, sinh viên, công nhân viên chức và người lao động trên địa bàn).
== Giao thông ==
Về đường bộ, Điện Biên Phủ nối với thị xã Mường Lay bằng đường 12, cách nhau 90 km. Điện Biên Phủ cách Hà Nội 474 theo đường 279 đến Tuần Giáo chuyển sang đường 6.
Về đường hàng không, Điện Biên Phủ có sân bay Điện Biên Phủ nối với Hà Nội.
=== Các tuyến đường ===
Võ Nguyên Giáp (trước đây là đường 7/5)
Nguyễn Chí Thanh
Hoàng Văn Thái
Hoàng Công Chất
Nguyễn Hữu Thọ
Sùng Phái Sinh
Đường số 1, 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8, 9 (Phường Noong Bua)
Phan Đình Giót
Trần Can
Trần Văn Thọ
13 tháng 3
Tôn Thất Tùng
Lò Văn Hặc
Lê Trọng Tấn
Trường Chinh
Trần Đăng Ninh
Bế Văn Đàn,...
== Định hướng phát triển ==
Thành phố phấn đấu trở thành đô thị loại II trong năm 2020, quy mô dân số dự báo đạt 150.000 người trong đó có 120.000 người ở khu vực nội thị.
Để hoàn thành mục tiêu xây dựng TP. Điên Biên Phủ đạt đô thị loại II vào năm 2020, Đảng bộ TP. Điện Biên Phủ đã xây dựng chương trình hành động cụ thể, đưa ra các nhóm giải pháp trọng tâm phát triển thành phố. Theo đó, thành phố sẽ đẩy mạnh thực hiện các giải pháp nâng cao chức năng đô thị: Các cơ quan chức năng cùng nhân dân khai thác tốt tiềm năng, thế mạnh trong phát triển kinh tế thương mại, du lịch, dịch vụ. UBND thành phố tiếp tục đẩy mạnh cải cách hành chính; ban hành cơ chế ưu đãi đầu tư, đặc biệt là hỗ trợ sau đầu tư để thu hút doanh nghiệp đầu tư vào những lĩnh vực thế mạnh của thành phố. Duy trì mức tăng trưởng kinh tế từ 15 - 16%/năm, thu nhập bình quân đầu người đạt 2,3 lần so với thu nhập bình quân chung của cả nước; tổng thu ngân sách trên địa bàn đạt 420 tỷ đồng; phát triển các bản văn hóa phục vụ khách tham quan du lịch. Để đảm bảo tiêu chí về mật độ dân số, thành phố sẽ đề nghị Chính phủ điều chỉnh địa giới hành chính; đầu tư xây dựng một số khu đô thị mới: Khu đô thị Nam Thanh Trường; khu nhà ở Tân Thanh; khu nhà ở Thanh Bình... nhằm thu hút, gia tăng dân số; duy trì tốc độ gia tăng dân số tự nhiên 11%o/năm. Phấn đấu quy mô dân số toàn đô thị đến năm 2018 đạt 150.000 dân. Phát triển kết cấu hạ tầng đáp ứng tiêu chí đô thị loại II, thành phố sẽ tập trung triển khai các dự án trọng điểm về phát triển giao thông như: Đường tránh quốc lộ 279; đường vành đai II kéo dài Noong Bua - Pú Tửu; đại lộ 60m; nâng cấp, mở rộng và bê tông nhựa các tuyến đường nội thị; lát gạch 100% vỉa hè đảm bảo mĩ quan; tiếp tục lắp đặt hệ thống đèn trang trí, đèn tín hiệu giao thông, biển báo hiệu đường bộ, điểm di tích lịch sử... Thành phố cũng đã đề xuất với tỉnh báo cáo Trung ương mở rộng địa giới hành chính thành phố theo hướng sáp nhập 6 xã: Mường Phăng, Pá Khoang, Thanh Nưa, Thanh Xương, Thanh Luông và Thanh An thuộc huyện Điện Biên về thành phố Điện Biên Phủ.
== Kinh tế ==
Ngày nay Điện Biên Phủ là một điểm du lịch. Cùng với việc tham quan trận địa, du khách còn có thể thưởng ngoạn thung lũng Mường Thanh, tham quan các ngôi làng lân cận.
Vì chỉ cách biên giới Lào 30 km, nên Điện Biên Phủ là một trung tâm thương mại quan trọng. Thực phẩm từ đây chuyển sang Lào và Thái Lan và hàng hóa chuyển đến các tỉnh phía bắc của Việt Nam.
Hiện nay, thành phố đã và đang có nhiều dự án phục vụ phát triển Kinh tế - xã hội: Khu đô thị mới Nậm Rốm, Nhà khách Quân khu 2 (phường Thanh Bình), Dự án trụ sở Vietinbank, Cục Hải quan tỉnh (phường Mường Thanh)..., cùng nhiều Trung tâm mua sắm, thương mại. Ngoài ra, TP. Điện Biên Phủ có khu du lịch sinh thái Him Lam (phường Him Lam) với nhà sàn gỗ lim lớn nhất Việt Nam và các dịch vụ du lịch phong phú.
== Chú thích ==
== Liên kết ngoài == |
bà huyện thanh quan.txt | Bà Huyện Thanh Quan (chữ Hán: 婆縣青關, 1805-1848), tên thật là Nguyễn Thị Hinh; là một nhà thơ nữ trong thời cận đại của lịch sử văn học Việt Nam.
== Tiểu sử ==
Nguyễn Thị Hinh là người phường Nghi Tàm, huyện Vĩnh Thuận, gần Hồ Tây (nay là phường Quảng An, quận Tây Hồ), Hà Nội. Cha bà là Nguyễn Lý (1755-1837), đỗ thủ khoa năm 1783, đời vua Lê Hiển Tông.
Bà là học trò của danh sĩ Phạm Quý Thích (1760-1825), và là vợ Lưu Nghị(1804-1847), người làng Nguyệt Áng, huyện Thanh Trì, tỉnh Hà Đông (nay thuộc Hà Nội). Ông đỗ cử nhân năm 1821 (Minh Mạng thứ 2), từng làm tri huyện Thanh Quan (nay là huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình), nên người ta thường gọi bà là Bà Huyện Thanh Quan. Chồng bà làm quan trải đến chức Bát phẩm Thư lại bộ Hình, nhưng mất sớm (43 tuổi).
Dưới thời vua Minh Mạng, bà được mời vào kinh giữ chức Cung Trung Giáo Tập để dạy học cho các công chúa và cung phi.
Khoảng một tháng sau khi chồng mất, bà lấy cớ sức yếu xin thôi việc, rồi dẫn bốn con về lại Nghi Tàm và ở vậy cho đến hết đời.
Không biết rõ chính xác về thời gian sống của bà nhưng theo nhiều tư liệu ghi chú là bà sinh năm 1805 và mất năm 1848 ở tuổi 43. Mộ bà được đặt bên bờ Hồ Tây (Hà Nội), nhưng sau này sóng gió đã làm sạt lở không còn tăm tích .
== Tác phẩm ==
Bà Huyện Thanh Quan sáng tác không nhiều, hầu hết viết bằng chữ Nôm, theo thể Đường luật. Hiện gồm những bài sau:
Thăng Long thành hoài cổ
Qua chùa Trấn Bắc
Qua Đèo Ngang
Chiều hôm nhớ nhà
Tức cảnh chiều thu
Cảnh đền Trấn Võ
Cảnh Hương sơn
Tuy nhiên, theo nhà nghiên cứu Đỗ Lai Thúy thì 4 bài đầu là hoàn toàn chính xác của bà bởi có sự thống nhất từ tư tưởng đến phong cách nghệ thuật .
== Nhận xét ==
Trích ý kiến của:
GS. Dương Quảng Hàm:
Những bài thơ Nôm của bà phần nhiều là tả cảnh, tỏ tình, nhưng bài nào cũng hay và tỏ ra bà là một người có tính tình đoan chính, thanh tao, một người có học thức thường nghĩ ngợi đến nhà, đến nước. Lời văn rất trang nhã, điêu luyện.
GS. Thanh Lãng:
Thơ Bà Huyện Thanh Quan đầy chất thơ. Lời thơ của bà điêu luyện, gọt giũa, đẹp như một bức tranh cổ.
GS. Phạm Thế Ngũ:
Nhiều nhà phê bình đã đưa ra thuyết Bà Huyện Thanh Quan mang nặng tấm lòng thương tiếc nhà Lê, thuyết ấy không phải là vô căn cứ. Cái tâm trạng hoài Lê ấy, cũng là tâm trạng chung của nhiều nho sĩ Bắc Hà sau ngày thống nhất...Nhưng nói là nhớ tiếc cái chính trị của mấy ông vua thời Lê mạt thì không đúng. Bà hướng về một quá khứ mà có lẽ bà cũng không tường tận lắm, và bà cũng chưa thọ hưởng được ân huệ gì; nhưng đó là quá khứ của tiền bối, của gia đình...Vì thế thái độ hoài Lê của bà cũng như nhiều nho sĩ đồng thời không có tính cách chính trị, mà chỉ có tính cách tâm tình...
Về mặt nghệ thuật: chữ dùng khéo, chọn lọc, thích đáng, đối rất chỉnh, rất thần tình, ý hàm súc, lời trau chuốt, gọn, đẹp...Cho nên thơ bà rất được các nho gia xưa yêu chuộng, ngâm nga...
Thơ luật đời Nguyễn Sơ, ở tác phẩm của hai nữ sĩ là Hồ Xuân Hương và Bà Huyện Thanh Quan, như vậy quả đã tiến đến cao độ mỹ diệu. Thơ Hồ Xuân Hương thiên về Nôm mà bóng bẩy, duyên dáng. Thơ Bà Huyện Thanh Quan thiên về Hán mà thanh thoát, nhẹ nhàng. Hồ Xuân Hương đại biểu cho cái tinh thần trào phúng bình dân vươn lên thể hiện một hình thức bác học. Bà Huyện Thanh Quan đại biểu cho cái tinh thần tao nhã nho sĩ kết tinh lại, cùng với tinh túy của Đường thi...
GS. Nguyễn Lộc:
Thơ bà thường viết về thiên nhiên, phần lớn là vào lúc trời chiều, gợi lên cái cảm giác vắng lặng và buồn bã. Cảnh bà miêu tả trong những bài thơ giống như những bức tranh thủy mặc, chấm phá...Hơn nữa, nói cho đúng thì cảnh trong thơ bà thực tế cũng không phải là cảnh, mà là tình. Tình cảm của bà thường là sự nhớ thương da diết đối với quá khứ vàng son đã một đi không trở lại. Do vậy, người ta gọi bà là nhà thơ hoài cổ. Thơ bà còn được chú ý vì một lẽ nữa, đó là nghệ thuật hết sức điêu luyện. Ở đó, niêm luật đều luật đều chặt chẽ mà không gây cảm giác gò bó, xếp đặt. Câu thơ của bà trang nhã, từ ngữ chải chuốt và chọn lọc công phu...
== Giai thoại ==
Có nhiều giai thoại được kể về bà.
=== Sâm cầm Hồ Tây ===
Giữa thế kỷ 19, ở Nghi Tàm nổ ra cuộc đấu tranh chống lệ nộp chim sâm cầm, một đặc sản của vùng này, và người dân làm đơn thưa việc xách nhiễu của quan trên, sau đó vua Tự Đức xét đơn đã tha lệnh cống cho vùng. Theo Ngọc phả (ghi nhận công đức của những người có công với dân làng), thì chính Bà Huyện Thanh Quan đã thảo đơn cho dân gửi lên vua, nhưng vì phục tài đức của bà nên quan huyện Hoàn Long đã ỉm đi, dù có lệnh của quan trên, mà không bắt tội và truy xét .
Thời điểm xảy ra việc này, có nơi ghi là năm 1870, có nơi ghi chép là lệ cống chim sâm cầm có từ năm Tự Đức thứ 17 (1857), và đến năm Tự Đức thứ 24 mới được bãi bỏ. Tuy nhiên, nếu theo các thời điểm đó thì giai thoại này không hợp lý, vì bà Huyện đã mất năm 1848, trước đó rất lâu.
=== Kẻo mai nữa già ===
Lúc ông huyện Thanh Quan (Lưu Nghi) đi vắng, có một cô gái tên là Nguyễn Thị Đào đã đệ đơn lên trình bày rằng chồng cô đã ruồng bỏ cô để xin được ly dị, lấy chồng khác. Vì thương cảm, Bà Huyện Thanh Quan đã thay chồng phê đơn cho phép ly hôn bằng mấy câu thơ:
Phó cho con Nguyễn Thị Đào
Nước trong leo lẻo cắm sào đợi ai?
Chữ rằng: Xuân bất tái lai
Cho về kiếm chút kẻo mai nữa già!
Hay chuyện, chồng cô Đào kiện quan trên. Quan trên ăn của đút, giáng chức ông huyện Thanh Quan.
=== Làm trâu ===
Có một ông đỗ hương cống tới xin mổ trâu để giỗ cha. Lúc bấy giờ, triều đình đã ban lệnh hạn chế mổ trâu, để phát triển việc canh nông. Cảm động trước hiếu hạnh của ông này mà chồng thì đi vắng, Bà Huyện Thanh Quan đã cầm bút phê vào đơn câu thơ:
Người ta thì chẳng được đâu
"Ừ" thì ông Cống làm trâu thì làm.
Biết bà huyện dùng chữ nghĩa để lỡm mình, nhưng vì được việc nên ông cũng vui vẻ ra về.
Ngoài ra, trong sách Mười phụ nữ huyền thoại Việt Nam của Thu Hằng còn có thêm vài cuộc đối đáp, đàm luận thi phú giữa bà với vua Minh Mạng.
== Chú thích ==
== Tham khảo ==
Dương Quảng Hàm, Việt Nam văn học sử yếu. Trung tâm học liệu Sài Gòn xuất bản năm 1968.
Thanh Lãng, Bản lược đồ Văn học Việt Nam (Quyển Thượng). Nhà xuất bản Trình bày, không ghi năm xuất bản.
Phạm Thế Ngũ, Việt Nam văn học sử giản ước tân biên (Quyển Hai). Quốc học tùng thư xuất bản, không ghi năm xuất bản.
Nguyễn Q. Thắng & Nguyễn Bá Thế, Từ điển nhân vật lịch sử Việt Nam. Nhà xuất bản Khoa học xã hội 1992.
Nhiều tác giả, Từ điển Văn học (bộ mới). Nhà xuất bản Thế giới, 2004.
Thu Hằng, Mười phụ nữ huyền thoại Việt Nam. Nhà xuất bản Lao động, 2008.
== Liên kết ngoài ==
Bà Huyện Thanh Quan, người đi dọc những Đèo Ngang |
mèo.txt | Mèo, chính xác hơn là mèo nhà để phân biệt với các loài trong họ Mèo khác, là động vật có vú nhỏ và ăn thịt, sống chung với loài người, được nuôi để săn vật gây hại hoặc làm thú nuôi. Người ta tin rằng tổ tiên trung gian gần nhất trước khi được thuần hóa của chúng là mèo rừng châu Phi (Felis silvestris lybica). Mèo nhà đã sống gần gũi với loài người ít nhất 9.500 năm, và hiện nay chúng là con vật cưng phổ biến nhất trên thế giới.
Có rất nhiều các giống mèo khác nhau, một số không có lông hoặc không có đuôi, và chúng tồn tại với rất nhiều màu lông. Mèo là những con vật có kỹ năng của thú săn mồi và được biết đến với khả năng săn bắt hàng nghìn loại sinh vật để làm thức ăn. Chúng đồng thời là những sinh vật thông minh, và có thể được dạy hay tự học cách sử dụng các công cụ đơn giản như mở tay nắm cửa hay giật nước trong nhà vệ sinh.
Mèo giao tiếp bằng cách kêu ("meo"/"mi-ao"), gừ-gừ, rít, gầm gừ và ngôn ngữ cơ thể. Mèo trong các bầy đàn sử dụng cả âm thanh lẫn ngôn ngữ cơ thể để giao tiếp với nhau.
Giống như một số động vật đã thuần hóa khác (như ngựa), mèo vẫn có thể sống tốt trong môi trường hoang dã như mèo hoang. Trái với quan niệm thông thường của mọi người rằng mèo là loài động vật cô độc, chúng thường tạo nên các đàn nhỏ trong môi trường hoang dã.
Sự kết hợp giữa con người và loài mèo dẫn tới việc nó thường được khắc họa trong các truyền thuyết và thần thoại tại nhiều nền văn hoá, gồm truyền thuyết và thần thoại Ai Cập cổ, Trung Quốc cổ, Na Uy, và vị Vua xứ Wales thời Trung Cổ, Hywel Dda (người Tử tế) đã thông qua bộ luật bảo vệ động vật đầu tiên trên thế giới bằng cách đặt ra ngoài vòng pháp luật hành động giết hại hay làm tổn hại tới mèo, với những hình phạt nặng nề cho những kẻ vi phạm. Tuy nhiên, mèo thỉnh thoảng bị coi là ma quỷ, ví dụ như nó không mang lại may mắn hay thường đi liền với những mụ phù thuỷ trong nhiều nền văn hoá Trung cổ.
Cho đến gần đây, mèo được cho rằng đã được thuần hóa trong thời kỳ Ai Cập cổ đại, nơi chúng được thờ cúng. Một nghiên cứu năm 2007 chỉ ra rằng tất cả mèo nhà có thể xuất phát từ Mèo hoang châu Phi tự thuần hóa (Felis silvestris lybica) vào khoảng 8000 TCN, tại Cận Đông. Bằng chứng gần đây chỉ ra sự thuần hóa mèo là thi thể một con mèo con được chôn với chủ của nó cách đây 9.500 năm tại Síp.
Mèo là một trong mười hai con giáp tại Việt Nam, thường gọi là "Mão" hay "Mẹo"
== Phân loại khoa học ==
Mèo nhà được Carolus Linnaeus đặt tên là Felis catus trong cuốn Systema Naturae xuất bản năm 1758 của ông. Johann Christian Daniel von Schreber đặt tên mèo rừng là Felis silvestris năm 1775. Hiện nay mèo nhà được coi là một phụ loài của mèo rừng: vì thế theo quy định ưu tiên chặt chẽ của Quy tắc đặt tên động vật quốc tế tên của loài này phải là F. catus bởi vì sách của Linnaeus được xuất bản trước. Tuy nhiên, trên thực tế hầu như mọi nhà nghiên cứu sinh vật học sử dụng F. silvestris cho các loài hoang dã, dùng F. catus cho riêng các loài đã thuần hoá.
Tại quan điểm 2027 (xuất bản trong Tập 60, Phần 1 của Tập san đặt tên động vật, ngày 31 tháng 3 năm 2003 ) Cao ủy quốc tế về đặt tên động vật "đã duy trì việc sử dụng 17 tên riêng dựa trên các loài hoang dã, vốn đã xuất hiện trước hay đồng thời với những tên dựa trên các loài đã thuần hoá", vì thế xác nhận F. silvestris sử dụng cho mèo rừng và F. silvestris catus cho các phân loài đã thuần hóa của nó. (F. catus vẫn sử dụng được nếu mèo nhà được coi là một loài riêng.)
Johann Christian Polycarp Erxleben đã đặt tên mèo nhà là Felis domesticus trong cuốn Anfangsgründe der Naturlehre and Systema regni animalis năm 1777. Cái tên này, và các biến thể của nó như Felis catus domesticus và Felis silvestris domesticus, cũng thường xuất hiện, nhưng chúng không phải là các tên khoa học được chấp nhận theo Quy tắc đặt tên động vật quốc tế.
== Đặc điểm ==
=== Đặc điểm thể chất ===
Thông thường mèo nặng từ 2,5 đến 7 kg (5,5–16 pao); tuy nhiên, một số giống như Maine Coon có thể vượt quá 11,3 kg (25 pao). Một số chú mèo từng đạt tới trọng lượng 23 kg (50 pao) vì được cho ăn quá nhiều. Điều này rất có hại cho sức khỏe mèo - khiến chúng có thể bị đái đường, đặc biệt đối với mèo đực đã thiến - có thể ngăn chặn tình trạng này thông qua biện pháp ăn kiêng và tập luyện (chạy nhảy), đặc biệt đối với những chú mèo luôn ở trong nhà. Trái lại, cũng có những chú mèo rất nhỏ (chưa tới 1,8 kg - 4,0 pao).
Ở tình trạng nuôi trong nhà, mèo thường sống 14 tới 20 năm, dù chú mèo già nhất từng biết đã sống 35 năm. Mèo nhà thường sống lâu hơn nếu ta không cho chúng ra ngoài (giảm nguy cơ bị thương tích khi đánh nhau và tai nạn cũng như dễ mắc bệnh) và nếu chúng được triệt sản. Những chú mèo đực được triệt sản tránh được ung thư tinh hoàn, mèo cái được triệt sản không bị ung thư buồng trứng nhờ vậy giảm thiểu nguy cơ mắc các bệnh ung thư. Mèo hoang trong môi trường đô thị hiện đại thường chỉ sống hai tới ba năm hoặc ít hơn. Mèo hoang trong các nhóm có thể sống lâu hơn; tổ chức British Cat Action Trust đã thông báo về trường hợp một con mèo hoang cái 19 tuổi. Chú mèo hoang sống lâu nhất là "Mark", do Hội từ thiện Bảo vệ Mèo Anh nuôi, sống tới 26 tuổi.
Mèo là những vận động viên điền kinh. Những kẻ chạy nước rút tài giỏi, chúng có thể đạt tới tốc độ 30 dặm một giờ trên những khoảng cách ngắn. Mèo có thể nhảy cao tới đỉnh rào hay một bức tường cao 7 ft từ tư thế đứng yên. Mèo nhà là một trong số ít loài vật bốn chân không có các xương đòn cứng. Điều này cho phép mèo chui qua lỗ hổng có kích thước bằng đầu chúng.
==== Tai ====
Với 32 cơ riêng biệt điều khiển hướng nghe của tai; mèo có thể vểnh mỗi tai theo một hướng khác nhau. Nhờ tính năng động cao như vậy, mèo có thể quay người về một hướng và vểnh tai theo hướng khác. Đa số mèo có tai thẳng vểnh cao. Không giống như chó, các giống mèo có tai cụp rất hiếm. (Mèo giống Scottish Fold là một loài đã biến đổi như vậy.) Khi giận dữ hay sợ hãi, mèo thường chĩa tai về phía sau, đồng thời phát ra các âm thanh gầm gừ hay tiếng rít. Mèo cũng chĩa tai về phía sau khi chúng chơi đùa, hay thỉnh thoảng khi chú ý tới một tiếng động phát ra từ phía sau nó.
==== Sự thuần hoá ====
Mèo giữ năng lượng bằng cách ngủ nhiều hơn đa số các loài động vật khác, đặc biệt khi chúng già đi. Thời gian ngủ hàng ngày có khác nhau, thường là 12–16 giờ, mức trung bình 13–14 giờ. Một số chú mèo có thể ngủ 20 giờ trong ngày.
Vì thường chỉ hoạt động nhiều lúc mặt trời lặn, mèo rất hiếu động và hay đùa nghịch vào buổi tối và chủ yếu ngủ vào sáng sớm, trưa và chiều.
Tính khí mèo thay đổi tùy theo giống, hoàn cảnh sống và giới tính, mèo cái thường quấn chủ hơn mèo đực. Mèo lông ngắn thường gầy và ưa hoạt động, mèo lông dài thường to và lười nhác.
Nhiệt độ cơ thể mèo trong khoảng 38 tới 39 °C (101,4 tới 102,2 °F). Một con mèo bị coi là sốt (cao) nếu có thân nhiệt ở mức 39,5 °C (103,1 °F) hay cao hơn, hay giảm nhiệt nếu thấp hơn 37,5 °C (99,5 °F). Để so sánh, thân nhiệt thông thường của cơ thể người xấp xỉ 37 °C (98,6 °F). Một chú mèo nhà bình thường có nhịp tim khoảng 140 đến 220 nhịp một phút, và nó phụ thuộc rất nhiều vào tình trạng kích động hay không của mèo. Khi mèo đang nghỉ ngơi, nhịp tim bình thường trong khoảng 150 - 180 nhịp một phút, khoảng gấp đôi con người.
==== Chân ====
Giống như chó, mèo là loài vật đi trên đầu ngón chân: chúng bước trực tiếp trên các ngón, các xương bàn chân của chúng tạo thành phần thấp nhìn thấy được của cẳng chân. Mèo có thể bước rất chính xác, bởi vì giống như mọi giống thuộc loài mèo khác, chúng ghi nhận trực tiếp; có nghĩa là chúng đặt bàn chân sau (hầu như) trực tiếp lên dấu của bàn chân trước, giảm thiểu tiếng ồn và dấu vết để lại. Điều này cũng giúp chúng có vị trí đặt chân sau tốt khi bước đi trên bề mặt ghồ ghề.
Giống như mọi thành viên khác của họ mèo, loại trừ loài báo gêpa, mèo có vuốt thu lại được. Bình thường, ở vị trí nghỉ các vuốt được thu lại trong da và lông quanh đệm ngón. Điều này giữ vuốt luôn sắc bởi chúng không tiếp xúc với mặt đất cũng như cho phép mèo đi nhẹ nhàng rình mồi. Các vuốt chân trước thường sắc hơn so với phía sau. Mèo có thể giương một hay nhiều vuốt ra tùy theo nhu cầu. Chúng thường giương vuốt khi săn mồi, tự vệ, hay leo trèo, "nhào lộn", hay để tăng ma sát khi bước đi trên các bề mặt trơn (khăn trải giường, thảm dày, vân vân). Các vuốt cong có thể bị mắc vào thảm hay các tấm vải dày, khiến mèo bị thương nếu chúng không thể tự gỡ.
=== Trèo cao và ngã ===
Đa số các giống mèo đều thích trèo cao hay ngồi ở các vị trí cao. Các nhà nghiên cứu hành vi động vật đã đưa ra một số giải thích điều này, thông thường nhất là, "độ cao khiến mèo có điểm quan sát tốt hơn. Từ vị trí đó, chúng có thể giám sát vương quốc của mình và biết mọi hoạt động của con người cũng như các con vật khác. Trong môi trường hoang dã, một vị trí trên cao cũng được dùng làm nơi ẩn mình để săn mồi." Vì thế độ cao cũng có thể mang lại cho mèo cảm giác an toàn và uy thế.
Tuy nhiên, sự ưa chuộng độ cao này có thể là một cách thử nguy hiểm đối với quan niệm thông thường rằng một chú mèo "luôn rơi chân xuống trước". Cơ quan bảo vệ động vật Hoa Kỳ đã cảnh báo những người chủ nên canh chừng những vị trí nguy hiểm trong nhà họ để tránh "hội chứng trèo cao", có thể khiến một chú mèo quá tự tin bị ngã từ độ cao quá lớn.
Khi rơi, mèo có thể sử dụng cảm giác thăng bằng sắc bén và khả năng phản xạ của nó tự xoay thân tới vị trí thích hợp. Khả năng này được gọi là "phản xạ thăng bằng." Nó luôn chỉnh lại thăng bằng cơ thể theo một cách, khiến chúng luôn có đủ thời gian thực hiện phản xạ này khi rơi. Vì thế, những cú ngã từ trên cao (nhiều tầng) ít gây nguy hiểm hơn những cú ngã từ độ cao chỉ vài mét. Nhiều trường hợp đã được ghi nhận cho thấy những chú mèo ngã từ độ cao lớn (5 đến 10 tầng) vẫn sống sót, bình yên vô sự. Một số giống không có đuôi nên không có khả năng lấy lại thăng bằng này, bởi vì mèo quật đuôi và dựa trên mômen động lượng để lấy thăng bằng chuẩn bị tiếp đất.
=== Giác quan ===
Việc đánh giá các giác quan của bất kỳ một loài vật nào cũng là điều khó khăn bởi vì không bao giờ có sự giao tiếp trực tiếp (ví dụ, đọc to các chữ trên Bảng Snellen) giữa đối tượng và người nghiên cứu.
Trong khi các giác quan như khứu giác và thính giác của mèo không nhạy bén như của chuột, thì chúng lại vượt trên con người ở nhiều điểm. Các đặc điểm đó cộng với những khả năng thị giác, vị giác, và xúc giác khiến chúng trở thành một loại đặc biệt nhạy cảm trong giới động vật có vú.
==== Thị giác ====
Nghiên cứu cho thấy tầm nhìn của mèo tốt nhất vào ban đêm so với người, và kém nhất vào ban ngày. Mèo, cũng như chó, có màng trạch để phản chiếu lại ánh sáng tới võng mạc. Khi đó, khả năng nhìn của mèo được tăng lên khi ở trong bóng tối, tạo ra một màng lưới thị giác sắc sảo. Nhưng vào ban ngày hoặc chỗ có nhiều ánh sáng, tròng đen của mèo khép lại hẹp, làm số lượng ánh sáng chiếu vào ít đi, tránh bị lóa và cải thiện khả năng quan sát. Màng trạc và một số bộ phận khác giúp mèo có 1 sự dò tìm tốt hơn so với con người. Sự biến đổi màu sắc của mắt mèo trong các tấm ảnh gần giống với sự tương tác giữa ánh sáng và màng trạch.
Thông thường mèo có thị trường khoảng 200°, so với 180° ở con người, với trường trùng lặp (ảnh trùng lặp của hình ảnh thu được từ hai mắt) nhỏ hơn con người. Giống như đa số các loài vật ăn thịt khác, mắt của chúng hướng về phía trước để có được hình ảnh có chiều sâu tuy phải hy sinh độ rộng thị trường. Thị trường phụ thuộc rất nhiều vào vị trí mắt, nhưng cũng có thể phụ thuộc ở cấu tạo mắt. Thay vì kiểu con ngươi tròn (optic fovea) vốn giúp con người có được tầm nhìn tập trung tốt hơn, mắt mèo có một dải thị giác. Mèo rõ ràng có thể phân biệt các màu sắc, đặc biệt ở cự ly gần, nhưng không hoàn toàn rõ rệt.
Mèo có mi mắt thứ ba, đó là 1 màng mỏng xuất hiện khi mắt mèo mở. Màng này thường đóng lại từ từ khi mèo bị bệnh, nhưng chúng lại rất rõ ràng khi mèo buồn ngủ. Nếu 1 con mèo từ lúc mới sinh đã có mí thứ 3 rõ ràng thì có nghĩa là nó phải đến gặp bác sĩ thú y.
Mắt mèo có rất nhiều màu nhưng phổ biến là vàng, xanh lá và cam. Mắt xanh dương cũng xuất hiện ở giống mèo Siamese, tuy nhiên cũng có ở những con mèo bị bạch tạng. Nếu một con mèo bạch tạng có đôi mắt xanh dương thì thường sẽ bị điếc; tuy nhiên, mắt màu cam cũng báo hiệu tai của nó có vấn đề. Mèo bạch tạng có 1 mắt xanh dương 1 mắt cam cũng thường điếc như mèo có đôi mắt xanh.
==== Thính giác ====
Con người và mèo có tầm thính giác ở mức thấp tương tự như nhau, nhưng mèo có thể nghe được những âm thanh ở độ cao lớn hơn, thậm chí tốt hơn cả chó. Mèo có thể nghe ở mức cao hơn 2 quãng so với con người, và một nửa quãng so với chó. Khi nghe âm thanh nào đó, tai mèo sẽ xoay về hướng đó; mỗi vành tai mèo có thể quay độc lập về hướng nguồn âm thanh. Mèo có thể xác định vị trí một vật chính xác trong vòng 7.5 cm (3 inches) khi nguồn phát âm ở khoảng cách khoảng 1 mét (điều này giúp chúng định vị con mồi, v.v...).
==== Khứu giác ====
Khứu giác của một con mèo nhà mạnh gấp 14 lần so với của con người Số lượng tế bào khứu giác ở mũi của chúng cũng nhiều gấp đôi, do dó mèo có thể ngửi thấy những mùi mà chúng ta không nhận thấy được. Mèo còn có một cơ quan đánh hơi ở vòm miệng gọi là vomeronasal, hay cơ quan Jacobson. Khi một con mèo chun mõm, hạ thấp cằm, và nâng lưỡi lên một chút, dó là lúc nó đang sử dụng cơ quan vomeronasal. Hành động này gọi là "gaping", "sneezing", hay "flehming". Gaping tương đương với phản ứng Flehmen ở các động vật khác như chó, ngựa và mèo lớn.
==== Xúc giác ====
Do mèo thích leo trèo nên nó có khả năng bám rất tốt do chúng dùng móng để giữ. Mèo ít khi bị té (Do mất thăng bằng) nhưng chúng biết kiểm soát độ thăng bằng và tiếp đất bằng 2 chân trước. Mèo đi hoàn toàn không có tiếng động do phần lớp thịt dày dưới chân nên mèo được mệnh danh là "Kẻ sát thủ trầm lặng" khi đi săn mồi.
==== Vị giác ====
Chỉ có mèo và thỏ là không thể cảm nhận được vị ngọt do thiếu gen cần thiết cho việc này. Đặc biệt không được cho mèo ăn sô cô la.[3]
==== Trí nhớ ====
Một nghiên cứu mới tìm thấy mèo chỉ có thể nhớ được những thông tin nhất định trong vòng 10 phút. Nghiên cứu ban đầu nhằm so sánh trí nhớ hành động của mèo với trí nhớ hình ảnh và tìm thấy mèo nhớ bằng cơ thể tốt hơn là bằng mắt, khi chúng gặp một vật thể trên đường. Khi một con mèo bước qua một đồ chơi hoặc chiếc giày đặt ở cửa trên đường tới đĩa thức ăn, nó phải phối hợp bước đi của cả chân sau và chân trước. "Động vật, cũng như con người, ghi nhớ một cách vô thức vị trí đồ vật theo sự tương xứng với cơ thể khi họ bước đi, sự ghi nhớ này phụ thuộc phần lớn vào các tín hiệu liên quan tới sự chuyển động cơ thể", nhà nghiên cứu Keir Pearson tại Đại học Alberta, Canada, nói. Mặc dù các nhà nghiên cứu đã biết được điều này, họ vẫn băn khoăn làm thế nào mà mèo nhớ chính xác phải nhấc chân sau lên sau khi chân trước đã tránh một vật cản. Để tìm hiểu sự phối hợp của mèo, các nhà nghiên cứu tìm hiểu chúng có thể nhớ việc mình vừa bước qua một cản trở trong bao lâu. Họ khiến con mèo dừng lại khi chân trước đã bước qua vật cản, nhưng chân sau chưa bước tới. Tiếp đến họ đánh lạc hướng con mèo bằng đồ ăn và dịch chuyển chướng ngại vật để xem con vật phản ứng thế nào. Mèo nhớ được mình vừa bước qua vật cản trở trong ít nhất 10 phút, nên nhấc chân sau lên để tránh đồ vật, kể cả khi nó không còn ở đó. Để so sánh trí nhớ hoạt động của mèo với trí nhớ hình ảnh, họ lặp lại thí nghiệm nhưng lần này dừng con mèo ngay khi chúng chuẩn bị nhấc chân trước qua vật cản. Kết quả cho thấy chỉ sau vài giây, con mèo không thể nhớ những gì chúng đã nhìn thấy nhưng chưa kịp làm: khi vật thể bị bỏ đi, con mèo quên mất là nó đã ở đó và tiếp tục đi. Nghiên cứu trên ngựa và chó cũng cho kết quả tương tự. Trí nhớ này đóng vai trò trong khả năng con người định vị vật thể trong bóng tối hoặc nhớ lại họ đã để xe ở chỗ nào trong bãi đỗ xe vào buổi sáng. Bằng việc đi bộ từ chỗ để xe vào văn phòng, bạn đã củng cố ký ức về vị trí của chiếc xe trong trí não và không phải mất nửa tiếng để tìm nó.
=== Bộ xương ===
Bô xương của mèo hơi nhỏ và đầu xương không giống với xương người. Xương sống của mèo có nhiều đốt hơn chúng ta để di chuyển dễ dàng và tránh được thương tổn. Xương đuôi rất dài để giữ thăng bằng cho việc di chuyển. Toàn bộ (Tổng cộng 500 cơ xương) gồm 7 đốt sống cổ, 13 đốt sống ngực, 7 lưng 3 hông và 14-28 đốt sống đuôi, mèo có thể cuộn tròn cơ thể hoặc "giảm sóc, giảm nhẹ sang chấn" khi rơi từ độ cao nguy hiểm. Bộ răng và hàm của mèo đầy mãnh lực cắn xé mồi. Khi bắt mồi, các móng vuốt giương ra khỏi đệm thịt để cào xé mồi.
=== Thông tin ===
=== Săn mồi và chế độ ăn uống ===
Mèo là động vật ăn thịt thế nên đối tượng để nó săn mồi cho nhu cầu sinh tồn là những loài vật nhỏ như: chuột, rắn,cóc nhái, cá... vũ khí săn mồi của mèo là móng vuốt ở đầu ngón chân có chiều dài hơn 1 phân, hình cong bán nguyệt, đầu móng vuốt nhỏ và nhọn sắc bén. Móng vuốt của loài mèo là vũ khí khá lợi hại đối với đối tượng của nó đang săn mồi. Để săn mồi, khi gặp đối tương hay con vật nó cần bắt làm mồi, loài mèo thường đứng từ xa cách con mồi khoảng chừng 5 đến 6 mét. Sau đó nó nằm bẹp hạ cơ thể xuống sát đất, mắt chăm chăm nhìn không nháy mắt đến đối tượng đồng thời bước tới con mồi cần săn rất nhẹ nhàng. Khi đến gần khoảng cách mà nó cảm thấy ăn chắc, loài mèo tung ra sức mạnh cuối cùng bằng cách đẩy mạnh 2 chân sau và đồng thời phóng mạnh toàn cơ thể tới phía trước và dùng móng sắc nhọn duỗi thẳng ra và cào lấy con mồi. Loài mèo thường bắt lấy mồi khá hiểm và độc đáo bằng cách duỗi móng ở hai bàn chân trước ra và túm lấy vào gáy đối tượng. Đây là cách săn mồi khá ấn tượng và hiệu quả của loài mèo và sau đó dùng miệng cắn lên đầu con mồi cho đến chết mới thả ra.
Ngày nay, loài mèo luôn sống với người qua nhiều thế hệ con cháu. Cho nên, thức ăn của loài mèo là cơm. Thế nhưng dù là loài ăn thịt thú rừng cá là loại thức ăn khoái khẩu nhất của họ hàng nhà mèo. Con người thường cho mèo ăn cá trộn với cơm. Đây là thứ thức ăn mà mèo thích vì nó có mùi tanh của cá. Loài mèo nhà cũng ăn thịt thú rừng nhưng thực tế cho thấy rằng nó thích ăn cá hơn nhiều. Mèo thường đến bên bờ ao uống nước và bắt cá. Cá và chuột luôn là thức ăn được ưa chuộng nhất của Mèo.
=== Vệ sinh ===
Mèo được biết đến nhờ sự sạch sẽ của nó. Loài mèo luôn biết tự bảo vệ cơ thể của nó tránh những nơi ẩm ướt, nó là động vật không lấy mặn mà gì với tắm, thường nó không thích lông trên cơ thể của nó bị ướt hay có những tác động của các vật khác dính lên cơ thể của nó khi nó vô tình đi vào một lùm bụi cây qua một bờ ao hay rúc vào nơi kín đáo. Tất cả những nơi đó có khả năng gây vết tích lên lông của nó. Ngay cả con người vuốt tay lên người nó cũng có thể động lại mùi khác lạ. Chính vì vậy, nó được mệnh danh là một trong các loài thú sạch sẽ nhất.
Để làm vệ sinh cho cơ thể, nó thường thè lưỡi ra và tiết nước bọt vào chân của nó và bôi lên mặt và toàn thân thể. Hành động này cho thấy mục đích nó muốn xóa sạch các vết bẩn, ngay cả hơi tay của con người vừa mới bồng hay vuốt ve nó. Loài mèo luôn tự làm lấy vệ sinh cho cơ thể nhiều lần trong ngày, thường là lúc nó mới ngủ dậy hay đi đâu đó về. Hành động đó đã trở thành thói quen thường thấy ở loài mèo ngay cả khi cơ thể của nó không có vết bẩn nào cả. Loài mèo là thú vật luôn coi trọng vệ sinh cơ thể.
=== Môi trường ===
- Mèo rừng (hoang dã): Môi trường sống của mèo hoang là ở những nơi rừng rậm, dễ dàng leo trèo trên các thân cây, bắt mồi kiếm ăn, đặc biệt là kiếm ăn vào buổi tối, đó cũng là lý do mèo hoang dã không sống ở những nơi có nhiều động vật quá nguy hiểm.
- Mèo nhà: trước đây mèo được nuôi để bắt chuột, xua đuổi những con côn trùng,... nhưng dường như chúng ngày càng giảm khả năng đó, vì môi trường không còn quá nhiều khắc nghiệt như trước, chúng giờ đây được nuôi với xu hướng làm cảnh nhiều hơn.
== Sinh sản và di truyền ==
Mèo con từ 1 tháng tuổi trở lên đã được mèo mẹ dạy các động tác săn bắt mồi như chạy, nhảy, leo trèo, rình và vồ mồi. Mèo 4 tháng tuổi có thể bắt được chuột, gián, thạch sùng... mèo thường sống đơn độc. Đến thời kỳ sinh sản mèo cái thường đi tìm mèo đực. Trong thời gian này mèo cái có bộ lông mới bóng mượt, có mùi và tiếng kêu đặc biệt để hấp dẫn mèo đực.
== Số lượng quá đông ==
Theo Hiệp hội bảo vệ động vật Mĩ, mỗi năm có 3 đến 4 triệu chó mèo ở Mỹ được giúp đỡ để ra đi một cách nhẹ nhàng và số lượng còn nhiều hơn thế đang được nuôi nhốt trong lồng ở các trung tâm cứu hộ bởi vì số thú vật được sinh ra tăng quá nhanh so với số hộ gia đình. Việc triệt sản hay thiến vật nuôi có thể giúp làm giảm tình trạng số lượng quá đông. [4] Hiệp hội bảo vệ động vật địa phương, SPCA's và những tổ chức bảo vệ động vật khác khuyến cáo cư dân nên triệt sản thú cưng của họ và nên nhận nuôi thú từ các trung tâm cứu hộ thay vì mua thú cưng.
== Các loại mèo nhà ==
Mèo British Shorthair
Mèo Burmese
Mèo California Spangled
Mèo Chartreux
Mèo Chausie
Mèo Cornish Rex
Mèo Cymric
Mèo Dwarf
Mèo Don Sphynx
Mèo Devon Rex
Mèo Egyptian Mau
Mèo Elf
Mèo Exotic Shorthair
Mèo Havana Brown
Mèo Himalayan
Mèo Japanese Bobtail
Mèo Javanese
Mèo Maine Coon
Mèo LaPerm
Mèo Lambkin
Mèo Kurilian Bobtail
Mèo Korat
Mèo Kinkalow
Mèo Moggie (hay còn được gọi là mèo Household – tức mèo không thuần chủng)
Mèo Manx
Mèo Miniature
Mèo Mimskin
Mèo Munchkin
Mèo Napoleon
Mèo Nebelung
Mèo Norwegian Forest
Mèo Ocicat
Mèo Ojos Azules
Mèo Oriental Shorthair
Mèo Perian (hiện đại)
Mèo Persian Doll Face (hay còn được gọi là Doll Face Perian – một dạng mèo Persian truyền thống)
Mèo RagaMuffin
Mèo Pixie-bob
Mèo Peterbald
Mèo Ragdoll
Mèo Russian Blue
Mèo Safari
Mèo Selkirk Rex
Mèo Scottish Fold
Mèo Savannah
Mèo Serengeti
Mèo Serval
Mèo Seychellois
Mèo Siamese (hiện đại)
Mèo Siberian
Mèo Singapura
Mèo Skookum
Mèo Snowshoe
Mèo Sokoke
Mèo Siamese (truyền thống)
Mèo Somali
Mèo Sphynx
Mèo Stray (đây cũng là một dạng mèo không thuần chủng như mèo Moggie)
Mèo Teacup
Mèo Thai (hay còn được gọi là mèo Thailand)
Mèo Tiffany
Mèo Tonkinese
Mèo Toyger
Mèo Turkish Angora
Mèo Turkish Van
Mèo Ural Rex
Mèo York Chocolate
== Mèo hoang ==
Mèo hoang là những mèo đã thuần hóa nhưng trở về đời sống hoang dã, không quen thuộc với con người và tự do đi lang thang ở các khu vực đô thị hay nông thôn, cần phân biệt với mèo rừng là loài mèo chưa được thuần hóa. Mèo hoang có thể sống một mình, nhưng hầu hết được tìm thấy trong các nhóm lớn, trong đó chiếm một lãnh thổ cụ thể và thường được kết hợp với một nguồn thực phẩm.
== Lịch sử và Thần thoại ==
Các nhà khoa học thường cho rằng Ai Cập cổ đại là nguồn gốc của việc thuần hóa mèo, dựa vào những bức họa vẽ mèo nhà ở Ai Cập có niên đại khoảng 3600 năm. Tuy nhiên, năm 2004, một ngôi mộ thuộc thời kỳ đồ đá mới được khai quật ở Shillourokambos, tại Síp, có chứa bộ xương của một con người và một con mèo nằm ngay ngắn cạnh nhau. Người ta ước chừng ngôi mộ này đã được 9500 tuổi, trở thành minh chứng có từ sớm nhất cho việc quan hệ giữa người và mèo. Con mèo trong mộ có kích thước lớn và gần giống loại mèo rừng châu Phi (Felis silvestris lybica), hơn là mèo nhà hiện nay. Sự khám phá này cùng với những nghiên cứu về di truyền cho thấy có thể mèo được thuần hóa ở Trung Đông, vùng Trăng lưỡi liềm màu mỡ vào giai đoạn phát triển nông nghiệp rồi sau đó những người này đã đem mèo đến Síp và Ai Cập.
Ở Ai Cập cổ đại, mèo là loài vật thần thánh, với truyền thuyết về vị nữ thần Bast thường được miêu tả trong hình dạng một con mèo, khi chiến tranh thì hóa thành một con sư tử cái. Người La Mã cổ đại thường được cho là những người đã đưa loài mèo nhà từ Ai Cập đến châu Âu; ở Roman Aquitaine, một văn bia thuộc khoảng thế kỷ thứ 1 hoặc 2 mô tả lại hình ảnh một bé gái ôm mèo là một trong hai minh chứng sớm nhất về việc mèo xuất hiện ở La Mã. Tuy nhiên, vì mèo đã hiện diện ở nước Anh vào cuối thời kỳ đồ sắt, nên có thể mèo đã được nuôi ở châu Âu trước thời Đế chế La Mã. Mèo nhà đã trở nên phổ biến khắp thế giới trong suốt Thời đại khám phá, vì chúng được đưa lên những chiếc thuyền buồm để diệt chuột trong khoang thuyền và được xem là loài mang lại may mắn.
Một số tôn giáo cổ tin rằng mèo là những linh hồn cao quý, người bạn đồng hành, hay người hướng dẫn cho con người, và rằng mèo rất thông thái nhưng do không biết nói nên không thể gây ảnh hưởng đến những quyết định của con người. Tại Nhật Bản, tượng mèo Maneki Neko là biểu tượng của sự phú quý, giàu có. Còn ở đạo Hồi tuy không có động vật thần thánh nào, nhưng một vài quyển sách đã ghi lại rằng thánh Muhammad có nuôi một con mèo cưng tên là Muezza. Thánh yêu mèo đến mức "Người thà không mặc áo khoác còn hơn là làm phiền một con mèo đang ngủ trên chiếc áo".
Freyja — nữ thần của tình yêu, sắc đẹp và sự sinh sôi trong thần thoại Bắc Âu — được miêu tả là thường cưỡi trên một chiếc xe kéo bởi mèo.
Bên cạnh đó, nhiều nền văn hóa lại có cái nhìn tiêu cực về loài mèo. Điển hình là niềm tin về việc một con mèo đen băng ngang đường người nào đang đi thì người đó sẽ gặp xui xẻo, hoặc chuyện mèo là những phụ tá cho các mụ phù thủy, giúp các mụ gia tăng công lực. Điều này dẫn đến việc lùng diệt mèo rộng khắp châu Âu trong thời trung cổ. Chính việc tiêu diệt mèo đã làm tăng số lượng chuột, góp phần gây ra Cái chết Đen lây lan bởi bọ chét trên người những con chuột bệnh. Việc tàn sát mèo ở Ypres trong thời Trung Cổ nay được tưởng nhớ bằng lễ hội mèo Kattenstoet tổ chức 3 năm một lần.
Ở Việt Nam cũng có nhiều người mê tín rằng nếu mèo đen nhảy qua xác một người mới chết, người đó sẽ hóa thành quỷ nhập tràng.
Dựa theo một bí ẩn trong nhiều nền văn hóa, mèo là loài có nhiều mạng sống. Ở nhiều quốc gia, người ta thường cho rằng mèo có chín mạng, còn tại một số khu vực nói tiếng Tây Ban Nha thì cho rằng mèo có bảy mạng, riêng trong văn hóa Ả rập và Thổ Nhĩ Kỳ, mèo có sáu mạng. Bí ẩn này xuất phát từ sự mềm dẻo và nhanh nhẹn của mèo khi thoát khỏi những tình huống nguy hiểm đe dọa đến tính mạng. Đồng thời còn do mèo thường rơi xuống chạm đất bằng chân, sử dụng phản xạ theo bản năng để điều chỉnh cơ thể nhằm hạn chế chấn thương. Tuy vậy, mèo vẫn có thể bị thương hoặc chết khi rơi xuống từ một độ cao nhất định.
== Miêu tả trong nghệ thuật ==
== Hình ảnh ==
== Chú thích ==
== Đọc thêm ==
Case, Linda P. (2003). The cat: its behavior, nutrition, & health. Ames, Iowa: Iowa State Press. ISBN 0-8138-0331-4.
Committee on Animal Nutrition (1986). Nutrient Requirements of Cats (ấn bản 2). National Academy Press. ISBN 0309074835.
Bruce Fogle; foreword by Andrew Edney. (1981). Interrelations Between People and Pets. Charles C Thomas Pub Ltd. ISBN 0398041695.
Jensen, Per (2009). The Ethology of Domestic Animals (Modular Text). Wallingford: CABI. ISBN 1-84593-536-5.
Kahn, Cynthia M.; Line, Scott (2007). The Merck/Merial Manual for Pet Health (ấn bản 1). Merck. ISBN 0911910999.
Mason, I.L. (1984). Evolution of Domesticated Animals. Prentice Hall Press. ISBN 0582460468.
Rochlitz, Irene (2007). The Welfare of Cats (ấn bản 1). Springer. ISBN 1402061439.
Sunquist, Melvin E; Sunquist, Fiona (2002). Wild cats of the world. University of Chicago Press. ISBN 0226779998.
Turner, D.C.; Bateson, P. (2000). The Domestic Cat: The Biology of its Behaviour (ấn bản 2). Cambridge University Press. ISBN 0521636485.
Walker, Warren F. (1982). Study of the Cat with Reference to Human Beings (ấn bản 4). Thomson Learning. ISBN 0030579147. Bảo trì CS1: Văn bản dư (link)
== Liên kết ngoài ==
Các vấn đề y học
Feline Medical & Behaviour Database (large number of short articles)
“DNA Offers New Insight Concerning Cat Evolution”. The New York Times. 6 tháng 1 năm 2006.
High-Resolution Images of the Cat Brain
Onions are Toxic to Cats
Mèo hoang
Australian Threat Abatement Plan for Predation by Feral Cats
Feral cats (University of Florida)
Feral cats (BBC)
Animals Australia: Feral Cat bibliography
American Veterinary Medical Association (large article on cat colonies)
Feral cats (The Wildlife Society)
Mèo ăn chay
Vegpets.com Information site for vegetarian cats and other pets
Harbingers of a New Age Makers of the Vegecat supplement
AMÌ Makers of vegetarian kibble for cats (for Europe)
Linh tinh
American Bird Conservancy (domestic cat predation)
New Potential Smallest Cat
BBC.CO.UK Description of the Cat
Cationary: Meaningful Portraits of Cats by Sharon Montrose, ISBN 0-670-03059-7 |
sắt.txt | Sắt là tên một nguyên tố hóa học trong bảng tuần hoàn nguyên tố có ký hiệu Fe và số hiệu nguyên tử bằng 26. Nằm ở phân nhóm VIIIB chu kỳ 4. Sắt là nguyên tố có nhiều trên Trái Đất, cấu thành lớp vỏ ngoài và trong của lõi Trái Đất. Sắt, Côban (Co) và Niken (Ni) được biết là 2 nguyên tố cuối cùng có thể tạo thành qua tổng hợp ở nhân sao (hình thành qua phản ứng hạt nhân ở tâm các vì sao) mà không cần phải qua một vụ nổ siêu tân tinh hay các biến động lớn khác. Do đó sắt và Niken khá dồi dào trong các thiên thạch kim loại và các hành tinh lõi đá (như Trái Đất, Sao Hỏa).
== Thuộc tính ==
M,6%) tạo ra Trái Đất; sự tập trung của sắt trong các lột nguyên tử sắt điển hình có khối lượng gấp 56 lần khối lượng một nguyên tử hiđrô điển hình. Sắt là kim loại phổ biến nhất, và người ta cho rằng nó là nguyên tố phổ biến thứ 10 trong vũ trụ. Sắt cũng là nguyên tố phổ biến nhất (theo khối lượng, 34 lớp khác nhau của Trái Đất dao động từ rất cao ở lõi bên trong tới khoảng 5% ở lớp vỏ bên ngoài; có thể phần lõi của Trái Đất chứa các tinh thể sắt mặc dù nhiều khả năng là hỗn hợp của sắt và niken; một khối lượng lớn của sắt trong Trái Đất được coi là tạo ra từ trường của nó. Ký hiệu của sắt Fe là từ viết tắt của ferrum, từ Latinh để chỉ sắt.
Sắt là kim loại được tách ra từ các mỏ quặng sắt, và rất khó tìm thấy nó ở dạng tự do. Để thu được sắt tự do, các tạp chất phải được loại bỏ bằng phương pháp khử hóa học. Sắt được sử dụng trong sản xuất gang và thép, đây là các hợp kim, là sự hòa tan của các kim loại khác (và một số á kim hay phi kim, đặc biệt là cacbon).
Hạt nhân của sắt có năng lượng liên kết cao nhất, vì thế nó là nguyên tố nặng nhất được sản xuất trong các phản ứng nhiệt hạch và là nhẹ nhất trong phản ứng phân rã hạt nhân. Các ngôi sao có khối lượng lớn khi gần cháy hết nhiên liệu hiđrô, sẽ bắt đầu các chuỗi phản ứng hạt nhân tạo ra các chất có khối lượng nguyên tử tăng dần, bao gồm cả sắt, trước khi bùng nổ thành các siêu tân tinh.
Các mô hình vũ trụ trong vũ trụ mở dự đoán rằng có một giai đoạn ở đó do kết quả của các phản ứng nhiệt hạch và phân hạch chậm lại, mọi thứ sẽ trở thành sắt.
=== Đặc điểm cơ học ===
Các đặc điểm cơ học của sắt và các hợp kim của nó có thể được xác định bằng nhiều thí nghiệm khác nhau, như thử nghiệm Brinell, thử nghiệm Rockwell và thử nghiệm độ cứng Vickers. Các dữ liệu đối với sắt rất phù hợp trong việc sử dụng nó để so hiệu chỉnh các đo đạc hoặc so sánh các thử nghiệm. Tuy nhiên, các đặc điểm cơ học của sắt cũng bị ảnh hưởng đáng kể bởi độ tinh khiết của mẫu: các tinh thể sắt riêng lẻ nguyên chất dùng cho mục đích nghiên cứu thực sự là mềm hơn nhôm, và sắt sản xuất trong công nghiệp tinh khiết nhất (99,99%) có độ cứng 20–30 Brinell. Việc tăng hàm lượng cacbon trong sắt sẽ làm tăng đáng kể độ cứng và độ bền kéo của sắt. Độ cứng lớn nhất của 65 Rc đạt được khi hàm lượng cacbon là 0,6%, mặc dù loại này làm cho kim loại có độ bền kéo thấp.
=== Sơ đồ pha và thù hình ===
Sắt là một đại diện ví dụ cho tính chất thù hình của kim loại. Có ít nhất 4 dạng thù hình của sắt gồm α, γ, δ, và ε; ở áp suất rất cao, một vài bằng chứng thực nghiệm còn tranh cãi cho thấy sự tồn tại của pha ổn định β ở áp suất và nhiệt độ rất cao.
Khi sắt nóng chảy nguội đi, nó kết tinh ở 1538 °C ở dạng thù hình δ, dạng này có cấu trúc tinh thể lập phương tâm khối (bcc). Khi nó nguội nhiều hơn cấu trúc tinh thể của nó chuyển sang dạng lập phương tâm mặt (fcc) ở 1394 °C, khi đó nó có ở dạng sắt γ, hay austenit. Ở 912 °C cấu trúc tinh thể lại chuyển sang dạng bcc là sắt α, hay ferrit, và ở 770 °C (điểm Curie, Tc) sắt trở thành sắt từ. Khi sắt đi qua điểm Curie sẽ không có sự thay đổi cấu trúc tinh thể, nhưng có sự thay đổi về "cấu trúc domain", ở đây mỗi domain chứa các nguyên tử sắt với các spin electron cụ thể. Ở sắt chưa bị từ hòa, tất cả các spin electron của các nguyên tử bên trong một domain có cùng hướng; các domain kề bên chỉ các hướng khác nhau và do đó triệt tiêu nhau. Đối với sắt bị từ hóa, các spin electron của tất cả các domain đều được xếp cùng hướng, vì vậy các hiệu ứng từ của các domain lân cận tăng cường lẫn nhau. Mặc dù mỗi domain chứa hàng tỉ nguyên tử, chúng rất nhỏ với bề rộng chỉ khoảng 10 micromet. Ở áp suất trên 10 GPa và nhiệt độ hàng trăm K hoặc thấp hơn, sắt α chuyển thành cấu trúc sáu phương kết chặt (hcp), hay còn gọi là sắt ε; pha γ có nhiệt độ cao hơn cũng biến đổi thành sắt ε, nhưng ở áp suất cao hơn. Pha β, nếu tồn tại, có thể ở áp suất ít nhất 50 GPa và nhiệt độ ít nhất 1500 K; nó được cho là có cấu trúc trực thoi hoặc hcp kép.
== Lịch sử ==
Các vật dụng bằng sắt có niên đại lớn hiếm hơn các vật dụng làm bằng vàng hay bạc do tính dễ ăn mòn của sắt. Những hạt là từ sắt thiên thạch năm 3500 TCN hoặc sớm hơn được G. A. Wainwright tìm thấy ở Gerzah, Ai Cập. Các hạt chứa 7,5% niken, là một dấu hiệu về nguồn gốc thiên thạch vì sắt được phát hiện trong vỏ Trái Đất có rất ít hoặc không có thành phần niken. Sắt thiên thạch có chất lượng cao do nguồn gốc của nó từ vũ trụ và thường được dùng làm vũ khí và các dụng cụ hoặc các mẫu vật được đặt trong các nhà thờ. Các vật dùng có thể làm từ sắt bởi những người Ai Cập có tuổi khoảng 3000 đến 2500 TCN. Sắt có lợi thế hơn đồng trong việc làm dụng cụ chiến tranh. Nó cứng hơn và bền hơn đồng, mặc dù dễ bị rỉ sét. Trevor Bryce cho rằng trước khi công nghệ rèn sắt tiến bộ được phát triển ở Ấn Độ, các vũ khí làm từ sắt thiên thạch đã được sử dụng bởi quân đội Mesopotamia trước đó đã chiếm ưu thế trong chiến đấu do dùng hàm lượng cacbon cao.
Những dấu hiệu đầu tiên về việc sử dụng sắt là ở những người Sumeria và người Ai Cập vào khoảng 4000 năm TCN, các đồ vật nhỏ như mũi giáo và đồ trang trí, đã được làm từ sắt lấy từ các thiên thạch. Vì các thiên thạch rơi từ trên trời xuống nên một số nhà ngôn ngữ học phỏng đoán rằng từ tiếng Anh iron, là từ có cùng nguồn gốc với nhiều ngôn ngữ ở phía bắc và tây châu Âu, có xuất xứ từ tiếng Etruria aisar có nghĩa là "trời".
Vào khoảng những năm 3000 đến 2000 Trước Công Nguyên (TCN), đã xuất hiện hàng loạt các đồ vật làm từ sắt nóng chảy (phân biệt rõ với sắt từ thiên thạch do thiếu niken trong sản phẩm) ở Lưỡng Hà, Anatolia và Ai Cập. Tuy nhiên, việc sử dụng chúng có lẽ là thuộc về hình thức trong tế lễ, và sắt đã từng là kim loại rất đắt, hơn cả vàng. Trong Illiad, các vũ khí chủ yếu làm từ đồng thau, nhưng các thỏi sắt đã được sử dụng trong buôn bán. Một số nguồn (xem phần tham khảo Cái gì tạo ra thời đại đồ sắt? dưới đây) cho rằng sắt được tạo ra khi đó như sản phẩm đi kèm của việc tinh chế đồng, như là những bọt sắt, và không được tái sản xuất bởi ngành luyện kim khi đó. Vào khoảng năm 1600 đến 1200 TCN, sắt đã được sử dụng nhiều hơn ở Trung Cận Đông, nhưng vẫn chưa thay thế được sự thống trị của đồng thau.
Trong thời kỳ từ thế kỷ 12 đến thế kỷ 10 TCN, đã có sự chuyển đổi nhanh chóng từ công cụ, vũ khí đồng thau sang sắt ở Trung Cận Đông. Yếu tố quyết định của chuyển đổi này không phải là sự xuất hiện của các công nghệ luyện sắt cao cấp hơn mà là sự cạn kiệt của các nguồn cung cấp thiếc. Thời kỳ chuyển đổi này diễn ra không đồng thời trên thế giới, là dấu hiệu cho thời kỳ văn minh mới được gọi là Thời đại đồ sắt.
Cùng với việc chuyển đổi từ đồng thau sang sắt là việc phát hiện ra quy trình cacbua hóa, là quy trình bổ sung thêm cacbon vào sắt. Sắt được thu lại như bọt sắt, là hỗn hợp của sắt với xỉ với một ít cacbon và/hoặc cacbua, sau đó nó được rèn và tán phẳng để giải phóng sắt khỏi xỉ cũng như ôxi hóa bớt cacbon, để tạo ra sắt non. Sắt non chứa rất ít cacbon và không dễ làm cứng bằng cách làm nguội nhanh. Người Trung Đông đã phát hiện ra là một số sản phẩm cứng hơn có thể được tạo ra bằng cách đốt nóng lâu sắt non với than củi trong lò, sau đó làm nguội nhanh bằng cách nhúng vào nước hay dầu. Sản phẩm tạo thành có bề mặt của thép, cứng hơn và ít gãy hơn đồng thau, là thứ đang bị thay thế dần.
Ở Trung Quốc, những đồ vật bằng sắt đầu tiên được sử dụng cũng là sắt lấy từ thiên thạch, các chứng cứ khảo cổ học về các đồ vật làm từ sắt non xuất hiện ở miền tây bắc, gần Tân Cương trong thế kỷ 8 TCN. Các đồ vật làm từ sắt non có cùng quy trình như sắt được làm ở Trung Đông và châu Âu, và vì thế người ta cho rằng chúg được nhập khẩu bởi những người không phải là người Trung Quốc.
Trong những năm muộn hơn của nhà Chu (khoảng năm 550 TCN), khả năng sản xuất sắt mới đã bắt đầu vì phát triển cao của công nghệ lò nung. Sản xuất theo phương pháp lò nung không khí nóng có thể tạo ra nhiệt độ trên 1300 K, người Trung Quốc bắt đầu sản xuất gang thô và gang đúc.
Nếu quặng sắt được nung với cacbon tới 1420–1470 K, một chất lỏng nóng chảy được tạo ra, là hợp kim của khoảng 96,5% sắt và 3,5% cacbon. Sản phẩm này cứng, có thể đúc thành các đồ phức tạp, nhưng dễ gãy, trừ khi nó được phi-cacbua hóa để loại bớt cacbon. Phần chủ yếu của sản xuất sắt từ thời nhà Chu trở đi là gang đúc. Sắt, tuy vậy vẫn là sản phẩm thông thường, được sử dụng bởi những người nông dân trong hàng trăm năm, và không có ảnh hưởng đáng kể đến diện mạo của Trung Quốc cho đến tận thời kỳ nhà Tần (khoảng năm 221 TCN).
Việc sản xuất gang đúc ở châu Âu bị chậm trễ do các lò nung chỉ có thể tạo ra nhiệt độ khoảng 1000 K. Trong thời Trung cổ, ở Tây Âu sắt bắt đầu được làm từ bọt sắt để trở thành sắt non. Gang đúc sớm nhất ở châu Âu tìm thấy ở Thụy Điển, trong hai khu vực là Lapphyttan và Vinarhyttan, khoảng từ năm 1150 đến 1350. Có giả thuyết cho rằng việc sản xuất gang đúc là do người Mông Cổ thông qua nước Nga truyền đến các khu vực này, nhưng không có chứng cứ vững chắc cho giả thuyết này. Trong bất kỳ trường hợp nào, vào cuối thế kỷ14 thì thị trường cho gang đúc bắt đầu được hình thành do nhu cầu cao về gang đúc cho các súng thần công.
Việc nung chảy sắt thời kỳ đầu tiên bằng than củi như là nguồn nhiệt và chất khử. Trong thế kỷ 18, ở Anh việc cung cấp gỗ bị giảm xuống và than cốc, một nhiên liệu hóa thạch, đã được sử dụng để thay thế. Cải tiến của Abraham Darby đã cung cấp năng lượng cho cuộc cách mạng công nghiệp.
== Ứng dụng ==
Sắt là kim loại được sử dụng nhiều nhất, chiếm khoảng 95% tổng khối lượng kim loại sản xuất trên toàn thế giới. Sự kết hợp của giá thành thấp và các đặc tính tốt về chịu lực, độ dẻo, độ cứng làm cho nó trở thành không thể thay thế được, đặc biệt trong các ứng dụng như sản xuất ô tô, thân tàu thủy lớn, các bộ khung cho các công trình xây dựng. Thép là hợp kim nổi tiếng nhất của sắt, ngoài ra còn có một số hình thức tồn tại khác của sắt như:
Gang thô (gang lợn) chứa 4% – 5% cacbon và chứa một loạt các chất khác như lưu huỳnh, silic, phốt pho. Đặc trưng duy nhất của nó: nó là bước trung gian từ quặng sắt sang thép cũng như các loại gang đúc (gang trắng và gang xám).
Gang đúc chứa 2% – 3.5% cacbon và một lượng nhỏ mangan. Các chất có trong gang thô có ảnh hưởng xấu đến các thuộc tính của vật liệu, như lưu huỳnh và phốt pho chẳng hạn sẽ bị khử đến mức chấp nhận được. Nó có điểm nóng chảy trong khoảng 1420–1470 K, thấp hơn so với cả hai thành phần chính của nó, làm cho nó là sản phẩm đầu tiên bị nóng chảy khi cacbon và sắt được nung nóng cùng nhau. Nó rất rắn, cứng và dễ vỡ. Làm việc với đồ vật bằng gang, thậm chí khi nóng trắng, nó có xu hướng phá vỡ hình dạng của vật.
Thép carbon chứa từ 0,5% đến 1,5% cacbon, với một lượng nhỏ mangan, lưu huỳnh, phốt pho và silic.
Sắt non chứa ít hơn 0,5% cacbon. Nó là sản phẩm dai, dễ uốn, không dễ nóng chảy như gang thô. Nó có rất ít cacbon. Nếu mài nó thành lưỡi sắc, nó đánh mất tính chất này rất nhanh.
Các loại thép hợp kim chứa các lượng khác nhau của cacbon cũng như các kim loại khác, như crôm, vanađi, môlipđen, niken, vonfram, v.v.
Ôxít sắt (III) được sử dụng để sản xuất các bộ lưu từ tính trong máy tính. Chúng thường được trộn lẫn với các hợp chất khác, và bảo tồn thuộc tính từ trong hỗn hợp này.
Trong sản xuất xi măng người ta trộn thêm Sunfat Sắt vào để hạn chế tác hại của Crom hóa trị 6-nguyên nhân chính gây nen bệnh dị ứng xi măngvới những người thường xuyên tiếp xúc với nó
== Sản xuất ==
Sắt là một trong những nguyên tố phổ biến nhất trên Trái Đất, chiếm khoảng 5% khối lượng vỏ Trái Đất. Phần lớn sắt được tìm thấy trong các dạng ôxít sắt khác nhau, chẳng hạn như khoáng chất hematit, magnetit, taconit. Khoảng 5% các thiên thạch chứa hỗn hợp sắt-niken. Mặc dù hiếm, chúng là các dạng chính của sắt kim loại tự nhiên trên bề mặt Trái Đất.
Trong công nghiệp, sắt được trích xuất ra từ các quặng của nó, chủ yếu là từ hêmatit (Fe2O3) và magnêtit (Fe3O4) bằng cách khử với cacbon trong lò luyện kim sử dụng luồng không khí nóng ở nhiệt độ khoảng 2000 °C. Trong lò luyện, quặng sắt, cacbon trong dạng than cốc, và các chất tẩy tạp chất như đá vôi được xếp ở phía trên của lò, luồng không khí nóng được đưa vào lò từ phía dưới.
Than cốc phản ứng với ôxy trong luồng không khí tạo ra mônôxít cacbon:
2 C + O2 → 2 CO
Cacbon mônôxít khử quặng sắt (trong phương trình dưới đây là hêmatit) thành sắt nóng chảy, và nó trở thành điôxít cacbon:
3 CO + Fe2O3 → 2 Fe + 3 CO2
Chất khử tạp chất được thêm vào để khử các tạp chất có trong quặng (chủ yếu là điôxít silic cát và các silicat khác). Các chất khử tạp chất chính là đá vôi (cacbonat canxi) và đôlômit (cacbonat magiê). Các chất khử tạp chất khác có thể cho vào tùy theo các tạp chất có trong quặng. Trong sức nóng của lò luyện đá vôi bị chuyển thành vôi sống (CaO):
CaCO3 → CaO + CO2
Sau đó ôxít canxi kết hợp với điôxít silic tạo ra xỉ.
CaO + SiO2 → CaSiO3
Xỉ nóng chảy trong lò luyện (điôxít silic thì không). Ở phần dưới của lò luyện, xỉ nóng chảy do nhẹ hơn nên nổi lên phía trên sắt nóng chảy. Các cửa lò có thể được mở để tháo xỉ hay sắt nóng chảy. Sắt khi nguội đi, tạo ra gang thô, còn xỉ có thể được sử dụng để làm đường hay để cải thiện các loại đất nông nghiệp nghèo khoáng chất.
Khoảng 1,1 tỷ tấn quặng sắt được sản xuất trên thế giới vào năm 2000, với tổng trị giá trên thị trường vào khoảng 25 tỷ đôla Mỹ. Việc khai thác quặng sắt diễn ra trên 48 quốc gia, nhưng 5 nhà sản xuất lớn nhất là Trung Quốc, Brasil, Úc, Nga và Ấn Độ, chiếm tới 70% lượng quặng khai thác trên thế giới. 1,1 tỷ tấn quặng sắt này được sử dụng để sản xuất ra khoảng 572 triệu tấn sắt thô.
== Vai trò sinh học ==
Sắt có vai trò rất cần thiết đối với mọi cơ thể sống, ngoại trừ một số vi khuẩn. Nó chủ yếu liên kết ổn định bên trong các protein kim loại, vì trong dạng tự do nó sinh ra các gốc tự do nói chung là độc với các tế bào. Nói rằng sắt tự do không có nghĩa là nó tự do di chuyển trong các chất lỏng trong cơ thể. Sắt liên kết chặt chẽ với mọi phân tử sinh học vì thế nó sẽ gắn với các màng tế bào, axít nucleic, prôtêin v.v.
Tuy nhiên, hàm lượng Fe trong cơ thể là rất ít, chiếm khoảng 0,004% được phân bố ở nhiều loại tế bào của cơ thể. Sắt là nguyên tố vi lượng tham gia vào cấu tạo thành phần Hemoglobin của hồng cầu, myoglobin của cơ vân và các sắc tố hô hấp ở mô bào và trong các enzim như: catalaz, peroxidaza… Fe là thành phần quan trọng của nhân tế bào. Cơ thể thiếu Fe sẽ bị thiếu máu nhất là phụ nữ có thai và trẻ em.
Trong cơ thể động vật sắt liên kết trong các tổ hợp heme (là thành phần thiết yếu của cytochromes), là những prôtêin tham gia vào các phản ứng ôxi hóa-khử (bao gồm nhưng không giới hạn chỉ là quá trình hô hấp) và của các prôtêin chuyên chở ôxy như hêmôglôbin và myoglobin.
Sắt vô cơ tham gia trong các phản ứng ôxi hóa-khử cũng được tìm thấy trong các cụm sắt-lưu huỳnh của nhiều enzym, chẳng hạn như các enzym nitrogenase (tham gia vào quá trình tổng hợp amôniắc từ nitơ và hiđrô) và hydrogenase. Tập hợp các prôtêin sắt phi-heme có trách nhiệm cho một dãy các chức năng trong một số loại hình cơ thể sống, chẳng hạn như các enzym metan monooxygenase (ôxi hóa mêtan thành mêtanol), ribonucleotide reductase (khử ribose thành deoxyribose; tổng hợp sinh học DNA), hemerythrins (vận chuyển ôxy và ngưng kết trong các động vật không xương sống ở biển) và axít phosphatase tía (thủy phân các este phốt phát). Khi cơ thể chống lại sự nhiễm khuẩn, nó để riêng sắt trong prôtêin vận chuyển transferrin vì thế vi khuẩn không thể sử dụng được sắt.
Sự phân phối sắt trong cơ thể được điều chỉnh trong cơ thể động vật có vú. Sắt được hấp thụ từ duodenum liên kết với transferrin, và vận chuyển bởi máu đến các tế bào khác nhau. Vẫn chưa rõ cơ chế liên kết của sắt với các prôtêin.
Các nguồn thức ăn giàu sắt bao gồm: thịt, cá, thịt gia cầm, đậu lăng, các loại đậu, rau chân vịt, tào phớ, đậu Thổ Nhĩ Kỳ, dâu tây và mầm ngũ cốc.
Sắt được bổ sung cho những người cần tăng cường chất này trong dạng fumarat sắt (II). Tiêu chuẩn của RDA về sắt dao động dựa trên tuổi tác, giới tính, và nguồn sắt ăn kiêng (sắt trên cơ sở heme có khả năng sinh học cao hơn)
Cần lưu ý tới phần cảnh báo dưới đây.
== Tính chất hóa học ==
1. Tác dụng với phi kim:
Sắt tác dụng với hầu hết tất cả các phi kim khi đun nóng. Với các phi kim có tính oxi hóa mạnh như Clo thì sẽ tạo thành những hợp chất trong đó sắt có số oxi hóa là +3.Còn khi tác dụng với ôxy sẽ tạo ra sắt(II;III)oxit-Sắt từ oxit
Ví dụ:
2Fe + 3Cl2 → 2FeCl3
FeO + Fe2O3 → Fe3O4
3Fe + 2O2 → Fe3O4 (Vì khi Fe phản ứng với O2 ở nhiệt độ cao, 2 chất đã sinh ra cùng 1 lúc (FeO và Fe2O3) và lại tự xúc tác với nhau)
Fe3O4 là một hợp chất ion, tinh thể được tạo nên bởi các ion O2-, ion Fe3+ và ion Fe2+. Trong quá trình phản ứng, một phần sắt bị oxi hóa thành Fe2+, một phần bị oxi hóa thành Fe3+.Trong chất rắn trung bình cứ có 1 ion Fe2+ thì có 2 ion Fe3+ và 4 ion O2-.
Trong không khí ẩm sắt dễ bị rỉ theo phản ứng:
4Fe + O2 + nH2O → 2Fe2O3.nH2O
Đối với các phi kim yếu hơn như lưu hùynh,..tạo thành hợp chất trong đó sắt có số oxi hóa +2 Fe + S → FeS
2.Tác dụng với các hợp chất:
Thế điện cực chuẩn của sắt là: Fe2+(dd) + 2e → Fe Eo= -0.44V
Qua đó ta thấy sắt có tính khử trung bình.
Sắt dễ tan trong dung dịch axit HCl và H2SO4 loãng
Fe + 2HCl → FeCl2 + H2
Fe + H2SO4 → FeSO4 + H2
Hay FeO + 2H+(dd) → Fe+(dd) + H2
Đối với các axít có tính oxi hóa mạnh như HNO3 hay H2SO4 đặc nóng thì sản phẩm phản ứng sẽ là muối sắt với sắt có số oxi hóa +3 và các sản phẩm khử của N:N2O, NO, NO2 hoặc của S: SO2. Ở nhiệt độ thường, trong axit nitric đặc và axit sulfuric đặc, sắt tạo ra lớp oxit bảo vệ kim loại trở nên "thụ động", không bị hòa tan. Sắt đẩy các kim loại yếu hơn ra khỏi dung dịch muối của chúng.
Fe + Cu(NO3)2 → Fe(NO3)2 + Cu
== Hợp chất ==
Các trạng thái ôxi hóa chung của sắt bao gồm:
Trạng thái sắt(II), Fe2+, ferrous rất phổ biến.
Trạng thái sắt(III), Fe3+, ferric, cũng rất phổ biến, ví dụ trong gỉ sắt.
Trạng thái sắt(IV), Fe4+, ferryl, ổn định trong các enzym (ví dụ perôxidas).
Sắt(VI) cũng được biết tới, nó hiếm hơn, có trong ferrat kali.
Cacbua sắt Fe3C được biết đến như là cementit.
Sắt cũng tồn tại dưới dạng sắt (VIII) nhưng rất hiếm.
Xem thêm: Ôxít sắt
== Đồng vị ==
Sắt có bốn đồng vị tự nhiên ổn định là Fe54, Fe56, Fe57 và Fe58. Sự phổ biến tương đối của các đồng vị sắt trong tự nhiên là: Fe54 (5,8%), Fe56 (91,7%), Fe57 (2,2%) và Fe58 (0,3%).
Fe60 là đồng vị phóng xạ đã biến mất, nó có chu kỳ bán rã dài (2,6 triệu năm). Đồng vị này không được tìm thấy trên Trái Đất mà nó là sản phẩm phân rã từ đồng vị nicken-60. Phần lớn các công việc trong quá khứ để đo thành phần đồng vị của sắt tập trung vào việc xác định các biến thể của Fe60 vì các quá trình kèm theo sự tổng hợp hạt nhân (ví dụ nghiên cứu thiên thạch) và sự hình thành khoáng sản. Đồng vị Fe56 cũng gây ra sự đặc biệt chú ý của các nhà khoa học vì nó có thể là hạt nhân ổn định nhất. Không thể thực hiện các phản ứng phân hạch hay nhiệt hạch trên Fe56 mà có thể giải phóng năng lượng. Điều này thì lại không đúng với các nguyên tố khác.
Trong số các đồng vị ổn định, chỉ có Fe57 có spin −1/2. Vì lý do này, Fe57 có ứng dụng như là đồng vị spin trong hóa học và hóa sinh học.
Trong các pha của các thiên thạch Semarkona và Chervony Kut mối tương quan giữa mật độ của Ni60 (sản phẩm sinh ra của Fe60) và sự phổ biến của các đồng vị ổn định của sắt có thể được tìm thấy, nó chứng tỏ sự tồn tại của Fe60 trong thời gian hình thành của hệ Mặt Trời. Có khả năng là năng lượng giải phóng bởi sự phân rã của Fe60 góp phần cùng với năng lượng giải phóng bởi sự phân rã của hạt nhân phóng xạ Al26, để nung chảy lại và làm phân biệt các tiểu hành tinh sau sự hình thành của chúng trước đây 4,6 tỷ năm. Sự phổ biến của Ni60 hiện diện trong các vật chất ngoài Trái Đất có thể cung cấp thông tin để nhìn sâu hơn nữa vào nguồn gốc của hệ Mặt Trời cũng như lịch sử sơ kỳ của nó.
== Cảnh báo ==
Việc hấp thụ quá nhiều sắt gây ngộ độc, vì các sắt II dư thừa sẽ phản ứng với các perôxít trong cơ thể để sản xuất ra các gốc tự do. Khi sắt trong số lượng bình thường thì cơ thể có một cơ chế chống ôxi hóa để có thể kiểm soát quá trình này. Khi dư thừa sắt thì những lượng dư thừa không thể kiểm soát của các gốc tự do được sinh ra.
Một lượng gây chết người của sắt đối với trẻ 2 tuổi là ba gam sắt. Một gam có thể sinh ra sự ngộ độc nguy hiểm. Danh mục của DRI về mức chấp nhận cao nhất về sắt đối với người lớn là 45 mg/ngày. Đối với trẻ em dưới 14 tuổi mức cao nhất là 40 mg/ngày.
Nếu sắt quá nhiều trong cơ thể (chưa đến mức gây chết người) thì một loạt các hội chứng rối loạn quá tải sắt có thể phát sinh, chẳng hạn như hemochromatosis. Vì lý do này, mọi người không nên sử dụng các loại hình sắt bổ sung trừ trường hợp thiếu sắt và phải có chỉ định của bác sĩ chuyên khoa.
== Tham khảo ==
== Đọc thêm ==
Doulias PT, Christoforidis S, Brunk UT, Galaris D. Endosomal and lysosomal effects of desferrioxamine: protection of HeLa cells from hydrogen peroxide-induced DNA damage and induction of cell-cycle arrest. Free Radic Biol Med. 2003;35:719-28.
H. R. Schubert, History of the British Iron and Steel Industry... to 1775 AD (Routledge, London, 1957)
R. F. Tylecote, History of Metallurgy (Institute of Materials, London 1992).
R. F. Tylecote, 'Iron in the Industrial Revolution' in J. Day and R. F. Tylecote, The Industrial Revolution in Metals (Institute of Materials 1991), 200-60.
Vai trò của sắt trong phát triển nền văn minh nhân loại
== Liên kết ngoài ==
Los Alamos National Laboratory – Iron
WebElements.com – Iron
It's Elemental – Iron |
madeira.txt | Madeira (phiên âm [mɐdeiɾɐ] hoặc [mɐˈdɐiʀɐ]) là một quần đảo của Bồ Đào Nha nằm ở phía bắc Đại Tây Dương thuộc vĩ độ 32°22.3′B 16°16.5′T và 33°7.8′B 17°16.65′T.
== Hành chính ==
Madeira là một trong những vùng hành chính cấp hai của Bồ Đào Nha.
== Địa lý ==
Quần đảo Madeira nằm cách bờ biển Phi châu 520 km và cách lục địa Âu châu 1000 km (khoảng 1,5 giờ bay từ Lisbon, Bồ Đào Nha ra). Quần đảo này có hai đảo có thể sinh sống là đảo Madeira và đảo Porto Santo.
== Lịch sử ==
Madeira được những người La Mã cổ biết đến với cái tên là Quần đảo Đỏ tía, được các thủy thủ người Bồ Đào Nha tái phát hiện và được người Bồ Đào Nha tới khai phá và định cư vào khoảng giai đoạn đầu 1418 và cuối 1420. Quần đảo này được coi là sự phát hiện đầu tiên của giai đoạn thám hiểm ở châu Âu, mở đầu bởi nhà hàng hải người Bồ Đào Nha Henri Người đi biển (Henry Người đi biển). Nơi đây cũng là một địa điểm du lịch nghỉ dưỡng nổi tiếng, nổi tiếng với Rượu vang Madeira, những bông hoa và những người thợ dệt cũng như ngày tết đầu năm với một màn bắn pháo hoa đặc biệt, theo Sách kỷ lục Guinness thì đây chính là màn bắn pháo hoa lớn nhất trên thế giới.
== Văn hóa ==
== Du lịch ==
== Tham khảo ==
== Xem thêm ==
Sân bay Madeira
Lướt sóng ở Madeira
== Liên kết ngoài == |
yên nhật.txt | Yên là đơn vị tiền tệ của Nhật Bản (tiếng Nhật: viết là 円-"viên" (えん, Rōmaji:en); tiếng Anh viết là Yen), có ký hiệu là ¥, và có mã là JPY trong bảng tiêu chuẩn ISO 4217. Yên trở thành đơn vị tiền tệ của Nhật Bản từ ngày 27/6/1871. Hiện tại yên gồm cả hình thức tiền kim loại (6 loại) lẫn tiền giấy (4 loại). Các loại tiền kim loại gồm đồng 1 yên, đồng 5 yên, đồng 10 yên, đồng 50 yên, đồng 100 yên và đồng 500 yên. Các loại tiền giấy gồm tờ 1000 yên, tờ 2000 yên, tờ 5000 yên và tờ 10.000 yên. Yên do Ngân hàng Nhật Bản phát hành. 1 yên ≈ 207 VND (06-08-2014).
== Tiền xu ==
Tiền xu được đưa vào sử dụng năm 1870. Có các đồng bằng bạc 5, 10, 20 và 50 sen và 1 yen, và đồng bằng vàng 2, 5, 10 và 20 yên. Đồng vàng 1 yên được đưa vào sử dụng năm 1871, theo sau là đồng bằng dồng 1 rin, ½, 1 và 2 sen năm 1873.
Đồng Cupronickel 5 sen được đưa vào sử dụng năm 1889. Năm 1897, đồng bằng bạc 1 yên bị hủy bỏ và các kích thước của đồng bằng vàng giảm xuống 50%, với các xu 5, 10 và 20 yên được ban hành. Năm 1920, xu cupro-nickel 10 sen được đưa vào sử dụng.
Việc sản xuất tiền xu bằng bạc bị dừng năm 1938, sau đó nhiều loại kim loại phổ biến được dùng để sản xuất các xu 1, 5 và 10 sen trong thế chiến thứ 2. Các đồng sét 5 và 10 được sản xuất năm 1945 nhưng không được đưa vào lưu hành.
Sau chiến tranh, đồng thau 50 sen, 1 và 5 yên được đưa vào sử dụng trong các năm 1946-1948. Năm 1949, đồng 5 yên như hiện nay được đưa vào sử dụng theo sau là đồng bằng đồng 10 yên (loại vẫn còn đang lưu hành) năm 1951.
Các tiền xu có mệnh giá nhỏ hơn 1 yên không còn giá trị từ 31 tháng 12 năm 1953, kể từ khi Small Currency Disposition and Fractional Rounding in Payments Act (小額通貨の整理及び支払金の端数計算に関する法律, Shōgaku tsūka no seiri oyobi shiharaikin no hasūkeisan ni kan suru hōritsu) có hiệu lực.
Năm 1955 loại tiền nhôm 1 yên như hiện nay được đưa vào sử dụng cùng với đồng nickel 50 yên không lỗ. Năm 1957, đồng bạc 100 yên được đưa vào sử dụng. Các loại đồng xu này được thay thế bằng tiền hiện tại năm 1967, loại cupro-nickel, cùng với đồng 50 yên có lỗ. Năm 1982, đồng 500 yên đầu tiên được đưa vào sử dụng.
== Hình ảnh ==
== Lịch sử tỷ giá ==
Bảng bên dưới thể hiện giá trị trung bình hàng tháng của Đô la Mỹ/Yen (Yen/USD) lúc 17:00 JST.
== Chú thích == |
origami.txt | Origami (折り紙, おりがみ) là nghệ thuật gấp giấy (hay nghệ thuật xếp giấy) có xuất xứ từ Nhật Bản.
Chữ origami trong tiếng Nhật bắt nguồn từ hai chữ: ori là gấp hay xếp và kami là giấy. Origami chỉ được dùng từ 1880; trước đó, người Nhật dùng chữ orikata.
Origami kết hợp những cách gấp đơn giản để biến miếng giấy hình chữ nhật (2 chiều), mà thường là hình vuông, thành những hình phức tạp (3 chiều), không cắt dán trong quá trình gập, đây cũng là xu hướng của origami hiện đại. Không giống như người ta thường nghĩ, các quy tắc origami truyền thống của Nhật Bản (bắt đầu từ khoảng triều Edo 1603-1867), lại ít nghiêm ngặt hơn origami hiện đại: giấy gấp có thể là hình tròn, tam giác, và có thể cắt dán trong quá trình gấp.
== Lịch sử ==
Thuật xếp giấy đã có từ khoảng thế kỷ thứ 1 hay thứ 2 ở Trung Hoa. Sau đó, thuật xếp giấy này đã lan sang Nhật vào thế kỷ thứ 6 và dần dà trở thành một nghệ thuật độc đáo của xứ Hoa Anh Đào. Origami truyền thống Nhật Bản có thể là để phục vụ lễ nghi, như noshi (triều Muromachi 1392–1573).
== Các mẫu origami ==
Mẫu origami có thể đơn giản như chiếc thuyền hay máy bay giấy chúng ta thường gặp, nhưng cũng có thể hết sức phức tạp như hình rồng, phượng, tháp Eiffel. Những mẫu origami phức tạp có thể dùng lá kim loại mỏng thay vì giấy thường để có thể giảm độ dày của mẫu gập. Origami hiện đại thay đổi rất nhiều, các mẫu thường được gấp khi ướt (gấp ướt) hoặc sử dụng vật liệu ngoài giấy và lá kim loại. Người Nhật xem origami như một phần văn hoá và truyền thống đất nước hơn là một hình thức nghệ thuật.
Một trong số những mẫu origami được biết tới nhiều nhất là hình con hạc. Con hạc là điềm tốt lành trong quan niệm của người Nhật. Truyền thuyết kể rằng ai gấp được 1000 con hạc giấy có thể biến điều ước thành thật. Sau câu chuyện về bé gái Nhật Sadako Sasaki năm 1955, hình ảnh hạc giấy cũng trở thành một biểu tượng của hoà bình.
== Hướng dẫn căn bản ==
Hầu như mọi mẫu gập phức tạp nhất đều có thể quy về các bước đơn giản theo lý thuyết hình cây. Ví dụ bạn muốn gập một con mèo thì đầu, thân và đuôi là một đường thẳng tựa như thân cây, 4 chân tạo thành bốn nhánh như các cành. Ứng dụng các nguyên tắc trong hình học topo để tạo hình chiếu, tìm ra các góc giấy là chân, đầu...vv... Ngày nay có rất nhiều tài liệu hướng dẫn origami. Máy tính cũng góp phần không nhỏ trong việc sáng tác ra các mẫu mới.
Ngày nay vẫn còn một số lượng lớn người yêu thích origami, tuy nhiên để theo đuổi và học cách gấp, cách sáng tác những mẫu mới thì không phải ai cũng làm được, vì nó đòi hỏi người ta có lòng kiên nhẫn và sự cẩn thận trong từng bước gập. Hơn nữa số lần gấp lại tỉ lệ thuận với sự phức tạp của mẫu, một mẫu gấp đơn giản như hình con bướm cũng trải qua trên dưới 100 bước. Tại Việt Nam, cũng có các nhóm bạn yêu thích origami hoạt động online, offline, trao đổi thông tin và gửi các sáng tác mới.
== Tác dụng của Origami đối với tâm lý ==
Origami là một nghệ thuật nhẹ nhàng tỉ mỉ. Nó đã chứng minh trong rất nhiều trường hợp có tác dụng làm êm dịu thần kinh, chữa bệnh mất ngủ và chống stress. Nhiều bác sĩ và chuyên gia vật lý trị liệu đã dùng origami như một liệu pháp bổ ích vật lý và tinh thần. Bác sĩ Ronald S. Levy, tại Hội Thảo Quốc tế lần thứ nhì về origami đối với giáo dục và trị liệu, đã kêu gọi dùng origami để phục hồi chức năng và trị liệu về tay. Với nhiều người, Origami là thứ giải trí rất hữu hiệu, đặc biệt khi sáng tác một mẫu mới: tự do bay bổng, tự do tìm kiếm một thứ gì đó, mang màu sắc của riêng mình. Khi tự tay hoàn thành một mẫu khó, hay tự tay sáng tác một mẫu hay, thì cảm giác thật vui thích.
== Origami với toán học ==
Việc tạo được mẫu origami mới liên quan đến rất nhiều quy tắc hình học. Không phải ngẫu nhiên mà các cao thủ origami sáng tác được những mẫu phức tạp. Các cao thủ origami có phương châm "bạn nhìn thấy gì, tôi tưởng tượng được; bạn tưởng tượng gì, tôi gấp được."
Một số nơi trên thế giới đã có nơi đưa origami vào thành một môn học, khởi điểm là ở mẫu giáo. Việc gấp giấy đem lại cho trẻ nhiều nhận thức hình học, và cả hình học trừu tượng: nhận biết hình tam giác, hình vuông, hình lục giác, tia phân giác một góc, đoạn thẳng, các đường nét, hình không gian, các khối 3 chiều...
== Xem thêm ==
Aerogami - Máy bay giấy
Nghệ thuật gấp giấy Trung Quốc
Pepakura
Nghệ thuật cắt hình giấy
Nghệ thuật cuốn giấy trang trí
Diều
== Các tác giả ==
Kamiya Satoshi - người có thể nói là đứng đầu thế giới Origami. Còn rất trẻ, 26 tuổi, sống tại Kobe, Nhật
David Brill
Peter Engel - Nghệ sĩ origami và nhà lý luận mỹ thuật có ảnh hưởng lớn.
Tomoko Fusé - Tác giả origami nổi tiếng.
Robert Harbin - Người đưa origami vào Anh quốc, cũng là người dẫn một chương trình ngắn mang tên Origami của Thames Television, cho ITV.
Kunihiko Kasahara (笠原邦彦) - Người đưa ra một phương pháp chuẩn để tạo bất kỳ khối đa giác nào.
Robert J. Lang - Tác giả của rất nhiều cuốn origami.
Toshikazu Kawasaki
Makoto Yamaguchi
Akira Yoshizawa
== Hình ảnh ==
== Tham khảo ==
== Liên kết ngoài ==
Trang web của nhóm bạn yêu thích origami, VietNam Origami Group (VOG)
BestPaperAirplanes.com Trang về những mẫu gập máy bay giấy hay nhất.
The FOLDS.NET Guide to Paperfolding Instructions on the Web Dạy cách gấp origami theo phương pháp
ORILAND by origami-artists Yuri & Katrin Shumakov
Origami.com Origami Model Site trang có nhiều tư liệu hướng dẫn gấp
Robert J. Lang Origami
Gilad's Origami Page Điểm sách: Hàng trăm cuốn sách dạy origami (kèm ảnh) và một số lượng lớn các mẫu gấp
Ąžuolas' Origami page Hình các mẫu gấp
Trang web nghệ thuật gấp giấy Origami kèm video
Nhóm Origami của Anh
Trang chủ của Vietnam Origami Group
Dành cho người mới tập gấp origami
trang tiếng Do Thái và tiếng Anh cho người mới tập gấp origami
A Brief History of Origami
ROSE VIDEO. |
danh sách đại biểu quốc hội việt nam khóa xiii.txt | Ngày 22 tháng 5 năm 2011, các cử tri Việt Nam đã tham gia cuộc Bầu cử Đại biểu Quốc hội để chọn 500 đại biểu Quốc hội Việt Nam khóa XIII từ 827 ứng cử viên (bao gồm cả đề cử và tự ứng cử) đại biểu Quốc hội khóa XIII tại 183 đơn vị bầu cử trong cả nước. Tổng số khu vực bỏ phiếu: 89.960. Tổng số đại biểu Quốc hội được bầu: 500. Tổng số cử tri: 62.313.605. Tổng số cử tri tham gia bỏ phiếu: 62.010.266. Tỷ lệ cử tri đã tham gia bỏ phiếu so với tổng số cử tri: 99,51%. Số phiếu hợp lệ và tỷ lệ % so với tổng số phiếu bầu: 61.344.509 (98,98%). Số phiếu không hợp lệ và tỷ lệ % so với tổng số phiếu bầu: 634.364 (1,02%). Số người trúng cử đại biểu Quốc hội: 500.
== Thành phố Hà Nội ==
Số Ðơn vị bầu cử: 10. Số đại biểu Quốc hội được bầu: 30; Số người ứng cử: 50; Số người trúng cử đại biểu Quốc hội: 30.
Danh sách trúng cử
== Thành phố Hồ Chí Minh ==
Số đơn vị bầu cử: 10. Số đại biểu Quốc hội được bầu: 30; Số người ứng cử: ?; Số người trúng cử đại biểu Quốc hội: 30.
Danh sách trúng cử
== Thành phố Hải Phòng ==
Số đơn vị bầu cử: 3. Số đại biểu Quốc hội được bầu: 9. Số người ứng cử: 15. Số người trúng cử đại biểu Quốc hội: 9.
Danh sách trúng cử
== Thành phố Đà Nẵng ==
Số Ðơn vị bầu cử: 2. Số đại biểu Quốc hội được bầu: 6. Số người ứng cử: 10. Số người trúng cử đại biểu Quốc hội: 6.
Ðơn vị bầu cử Số 1, gồm Huyện Hòa Vang, huyện Hoàng Sa, quận Hải Châu và quận Sơn Trà
Ông Nguyễn Bá Thanh đạt tỷ lệ 87,76% số phiếu hợp lệ
Ông Lê Văn Hoàng đạt tỷ lệ 62,98% số phiếu hợp lệ
Bà Nguyễn Thị Kim Thúy đạt tỷ lệ 56,63% số phiếu hợp lệ
Ðơn vị bầu cử Số 2, gồm Quận Thanh Khê, quận Liên Chiểu, quận Ngũ Hành Sơn và quận Cẩm Lệ
Ông Huỳnh Ngọc Sơn đạt tỷ lệ 77,03% số phiếu hợp lệ
Ông Thân Ðức Nam đạt tỷ lệ 74,29% số phiếu hợp lệ
Ông Huỳnh Nghĩa đạt tỷ lệ 70,76% số phiếu hợp lệ
== Thành phố Cần Thơ ==
Số Ðơn vị bầu cử: 3. Số đại biểu Quốc hội được bầu: 7. Số người ứng cử: 11. Số người trúng cử đại biểu Quốc hội: 7.
Ðơn vị bầu cử Số 1, gồm Quận Ninh Kiều, Bình Thủy, Cái Răng và huyện Phong Ðiền
Ông Trần Thanh Mẫn đạt tỷ lệ 72,24% số phiếu hợp lệ
Ông Nguyễn Thanh Phương đạt tỷ lệ 62,00% số phiếu hợp lệ
Ông Nguyễn Minh Kha đạt tỷ lệ 61,07% số phiếu hợp lệ
Ðơn vị bầu cử Số 2, gồm Quận Ô Môn và huyện Cờ Ðỏ, huyện Thới Lai
Ông Huỳnh Văn Tiếp đạt tỷ lệ 73,02% số phiếu hợp lệ
Bà Nguyễn Minh Phương đạt tỷ lệ 67,88% số phiếu hợp lệ
Ðơn vị bầu cử Số 3, gồm Quận Thốt Nốt và huyện Vĩnh Thạnh
Ông Lê Hồng Anh đạt tỷ lệ 88,10% số phiếu hợp lệ
Bà Trần Hồng Thắm đạt tỷ lệ 71,18% số phiếu hợp lệ
Danh sách Trung ương giới thiệu không trúng cử
Đỗ Hồng Quân - Nhạc sĩ, Chủ tịch Hội Nhạc sĩ Việt Nam, Đại biểu Quốc hội khóa XI
Lê Văn Minh - Thẩm phán, Vụ trưởng Vụ Thống kê - Tổng hợp Tòa án Nhân dân tối cao
== Tỉnh An Giang ==
Số Ðơn vị bầu cử: 4. Số đại biểu Quốc hội được bầu: 10. Số người ứng cử: 17. Số người trúng cử đại biểu Quốc hội: 10.
Ðơn vị bầu cử Số 1, gồm Huyện Thoại Sơn và thành phố Long Xuyên
Ông Phạm Biên Cương đạt tỷ lệ 78,27% số phiếu hợp lệ
Ông Trần Văn Ðộ đạt tỷ lệ 71,93% số phiếu hợp lệ
Ðơn vị bầu cử Số 2, gồm Huyện Châu Phú và huyện Châu Thành
Ông Lê Bộ Lĩnh đạt tỷ lệ 60,12% số phiếu hợp lệ
Bà Mai Thị Ánh Tuyết đạt tỷ lệ 58,60% số phiếu hợp lệ
Ðơn vị bầu cử Số 3, gồm Huyện Chợ Mới và huyện Phú Tân
Ông Nguyễn Văn Giàu đạt tỷ lệ 74,70% số phiếu hợp lệ
Ông Nguyễn Tấn Ðạt đạt tỷ lệ 64,70% số phiếu hợp lệ
Ông Bùi Trí Dũng đạt tỷ lệ 61,39% số phiếu hợp lệ
Ðơn vị bầu cử Số 4, gồm Huyện An Phú, huyện Tịnh Biên, huyện Tri Tôn, thị xã Châu Ðốc và thị xã Tân Châu
Ông Lê Việt Trường đạt tỷ lệ 75,98% số phiếu hợp lệ
Bà Lê Dân Khiết đạt tỷ lệ 65,01% số phiếu hợp lệ
Ông Phan Vân Ðiền Phương đạt tỷ lệ 62,68% số phiếu hợp lệ
== Tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu ==
Số Ðơn vị bầu cử: 2. Số đại biểu Quốc hội được bầu: 6. Số người ứng cử: 10. Số người trúng cử đại biểu Quốc hội: 6.
Ðơn vị bầu cử Số 1, gồm Huyện Tân Thành, thị xã Bà Rịa và thành phố Vũng Tàu
Ông Nguyễn Văn Hiến đạt tỷ lệ 70,23% số phiếu hợp lệ
Ông Nguyễn Hữu Thuận (Thuận Hữu) đạt tỷ lệ 61,40% số phiếu hợp lệ
Bà Nguyễn Thị Bạch Ngân đạt tỷ lệ 59,24% số phiếu hợp lệ
Ðơn vị bầu cử Số 2, gồm Huyện Châu Ðức, huyện Long Ðiền, huyện Ðất Ðỏ, huyện Xuyên Mộc và huyện Côn Ðảo
Ông Phạm Quang Khải đạt tỷ lệ 78,84% số phiếu hợp lệ
Ông Nguyễn Văn Tuyết đạt tỷ lệ 64,40% số phiếu hợp lệ
Bà Lê Thị Công đạt tỷ lệ 55,70% số phiếu hợp lệ
== Tỉnh Bắc Giang ==
Số Ðơn vị bầu cử: 3. Số đại biểu Quốc hội được bầu: 8. Số người ứng cử: 13. Số người trúng cử đại biểu Quốc hội: 8.
Ðơn vị bầu cử Số 1, gồm Huyện Yên Thế, huyện Lạng Giang, huyện Yên Dũng và thành phố Bắc Giang
Ông Thân Văn Khoa đạt tỷ lệ 75,66% số phiếu hợp lệ
Ông Nguyễn Anh Dũng đạt tỷ lệ 74,37% số phiếu hợp lệ
Ông Nguyễn Ðăng Tiến đạt tỷ lệ 56,01% số phiếu hợp lệ
Ðơn vị bầu cử Số 2, gồm Huyện Tân Yên, huyện Hiệp Hòa và huyện Việt Yên
Ông Nguyễn Thiện Nhân đạt tỷ lệ 84,90% số phiếu hợp lệ
Bà Hoàng Thị Hoa đạt tỷ lệ 64,02% số phiếu hợp lệ
Ông Ngô Minh Tiến đạt tỷ lệ 57,95% số phiếu hợp lệ
Ðơn vị bầu cử Số 3, gồm Huyện Sơn Ðộng, huyện Lục Ngạn và huyện Lục Nam
Ông Nguyễn Quốc Cường đạt tỷ lệ 84,54% số phiếu hợp lệ
Bà Hà Thị Lan đạt tỷ lệ 55,82% số phiếu hợp lệ
== Tỉnh Bắc Kạn ==
Số Ðơn vị bầu cử: 2. Số đại biểu Quốc hội được bầu: 6. Số người ứng cử: 10. Số người trúng cử đại biểu Quốc hội: 6.
Ðơn vị bầu cử Số 1, gồm Huyện Ba Bể, huyện Ngân Sơn, huyện Na Rì và huyện Pác Nặm
Ông Nguyễn Văn Minh đạt tỷ lệ 69,25% số phiếu hợp lệ
Ông Dương Quang Sơn đạt tỷ lệ 65,72% số phiếu hợp lệ
Bà Phương Thị Thanh đạt tỷ lệ 65,11% số phiếu hợp lệ
Ðơn vị bầu cử Số 2, gồm Huyện Bạch Thông, huyện Chợ Ðồn, huyện Chợ Mới và thị xã Bắc Kạn
Ông Hà Văn Khoát đạt tỷ lệ 72,55% số phiếu hợp lệ
Ông Bế Xuân Trường đạt tỷ lệ 60,56% số phiếu hợp lệ
Bà Triệu Thị Thu Phương đạt tỷ lệ 60,39% số phiếu hợp lệ
Danh sách Trung ương giới thiệu không trúng cử
Trịnh Huy Quách - Tiến sĩ khoa học quản lý kinh tế, Phó Chủ nhiệm Ủy ban Tài chính - Ngân sách Quốc hội Khóa XII; đại biểu Quốc hội khóa XI, XII
== Tỉnh Bạc Liêu ==
Số Ðơn vị bầu cử: 2. Số đại biểu Quốc hội: 6. Số người ứng cử: 10. Số người trúng cử đại biểu Quốc hội: 6.
Ðơn vị bầu cử Số 1, gồm Huyện Vĩnh Lợi, huyện Hòa Bình và thành phố Bạc Liêu
Ông Trương Minh Chiến đạt tỷ lệ 78,31% số phiếu hợp lệ
Ông Huỳnh Minh Hoàng đạt tỷ lệ 74,97% số phiếu hợp lệ
Ông Lê Quang Huy đạt tỷ lệ 74,15% số phiếu hợp lệ
Ðơn vị bầu cử Số 2, gồm Huyện Phước Long, huyện Hồng Dân, huyện Giá Rai và huyện Ðông Hải
Bà Võ Thị Hồng Thoại đạt tỷ lệ 74,73% số phiếu hợp lệ
Ông Trần Bình Minh đạt tỷ lệ 74,38% số phiếu hợp lệ
Ông Nguyễn Tấn Vạn đạt tỷ lệ 68,85% số phiếu hợp lệ
== Tỉnh Bắc Ninh ==
Số Ðơn vị bầu cử: 2. Số đại biểu Quốc hội được bầu: 6. Số người ứng cử: 10. Số người trúng cử đại biểu Quốc hội: 6.
Ðơn vị bầu cử Số 1, gồm Huyện Yên Phong, huyện Tiên Du, thị xã Từ Sơn và thành phố Bắc Ninh
Bà Nguyễn Thị Thanh Hòa đạt tỷ lệ 76,71% số phiếu hợp lệ
Ông Nguyễn Văn Chiến đạt tỷ lệ 70,73% số phiếu hợp lệ
Ông Nguyễn Trọng Trường đạt tỷ lệ 61,20% số phiếu hợp lệ
Ðơn vị bầu cử Số 2, gồm Huyện Quế Võ, huyện Thuận Thành, huyện Gia Bình và huyện Lương Tài
Ông Tô Huy Rứa đạt tỷ lệ 93,75% số phiếu hợp lệ
Ông Trần Văn Túy đạt tỷ lệ 91,49% số phiếu hợp lệ
Bà Ðỗ Thị Huyền Tâm đạt tỷ lệ 71,95% số phiếu hợp lệ
== Tỉnh Bến Tre ==
Số Ðơn vị bầu cử: 3. Số đại biểu Quốc hội được bầu: 7. Số người ứng cử: 11. Số người trúng cử đại biểu Quốc hội: 7.
Ðơn vị bầu cử Số 1, gồm Huyện Châu Thành, huyện Bình Ðại và thành phố Bến Tre
Ông Ðặng Thuần Phong đạt tỷ lệ 74,52% số phiếu hợp lệ
Ông Nguyễn Văn Hiếu đạt tỷ lệ 71,67% số phiếu hợp lệ
Ðơn vị bầu cử Số 2, gồm Huyện Giồng Trôm, huyện Ba Tri
Bà Nguyễn Thị Kim Ngân đạt tỷ lệ 83,26% số phiếu hợp lệ
Ông Trần Dương Tuấn đạt tỷ lệ 67,82% số phiếu hợp lệ
Ðơn vị bầu cử Số 3, gồm Huyện Thạnh Phú, huyện Chợ Lách, huyện Mỏ Cày Nam và huyện Mỏ Cày Bắc
Bà Nguyễn Thị Phương Ðào đạt tỷ lệ 74,70% số phiếu hợp lệ
Ông Nguyễn Xuân Tỷ đạt tỷ lệ 70,94% số phiếu hợp lệ
Bà Trịnh Thị Thanh Bình đạt tỷ lệ 68,60% số phiếu hợp lệ
== Tỉnh Bình Dương ==
Số Ðơn vị bầu cử: 3. Số đại biểu Quốc hội được bầu: 8. Số người ứng cử: 13. Số người trúng cử đại biểu Quốc hội: 8.
Ðơn vị bầu cử Số 1, gồm Huyện Bến Cát, huyện Dầu Tiếng và thị xã Thủ Dầu Một
Ông Mai Thế Trung đạt tỷ lệ 73,77% số phiếu hợp lệ
Ông Phương Hữu Việt đạt tỷ lệ 62,60% số phiếu hợp lệ
Ông Lê Thành Nhơn đạt tỷ lệ 62,57% số phiếu hợp lệ
Ðơn vị bầu cử Số 2, gồm Huyện Tân Uyên, huyện Phú Giáo và thị xã Dĩ An
Ông Nguyễn Thanh Hồng đạt tỷ lệ 67,48% số phiếu hợp lệ
Ông Huỳnh Ngọc Ðáng đạt tỷ lệ 60,37% số phiếu hợp lệ
Ông Lê Hữu Phước đạt tỷ lệ 58,34% số phiếu hợp lệ
Ðơn vị bầu cử Số 3, gồm Thị xã Thuận An
Ông Mai Hữu Tín đạt tỷ lệ 69,95% số phiếu hợp lệ
Ông Phạm Trọng Nhân đạt tỷ lệ 65,09% số phiếu hợp lệ
Danh sách Trung ương giới thiệu không trúng cử
Lê Thị Thu Ba - Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Ủy viên Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Chủ nhiệm Ủy ban Tư pháp của Quốc hội
== Tỉnh Bình Ðịnh ==
Số Ðơn vị bầu cử: 3. Số đại biểu Quốc hội được bầu: 8. Số người ứng cử: 14. Số người trúng cử đại biểu Quốc hội: 8.
Ðơn vị bầu cử Số 1, gồm Huyện Tuy Phước, huyện Vân Canh, huyện Tây Sơn, huyện Vĩnh Thạnh và thành phố Quy Nhơn
Ông Nguyễn Thanh Tùng đạt tỷ lệ 74,61% số phiếu hợp lệ
Ông Ðặng Công Lý đạt tỷ lệ 70,60% số phiếu hợp lệ
Ông Vương Đình Huệ đạt tỷ lệ 69,98% số phiếu hợp lệ
Ðơn vị bầu cử Số 2, gồm Huyện An Nhơn, huyện Phù Cát và huyện Phù Mỹ
Bà Phạm Thị Thu Hồng đạt tỷ lệ 79,73% số phiếu hợp lệ
Ông Nguyễn Hữu Ðức đạt tỷ lệ 78,11% số phiếu hợp lệ
Ông Nguyễn Văn Cảnh đạt tỷ lệ 74,05% số phiếu hợp lệ
Ðơn vị bầu cử Số 3, gồm Huyện Hoài Nhơn, huyện Hoài Ân và huyện An Lão
Bà Nguyễn Thanh Thụy đạt tỷ lệ 64,30% số phiếu hợp lệ
Ông Trần Văn Bản đạt tỷ lệ 51,43% số phiếu hợp lệ
== Tỉnh Bình Phước ==
Số Ðơn vị bầu cử: 2. Số đại biểu Quốc hội được bầu: 6. Số người ứng cử: 10. Số người trúng cử đại biểu Quốc hội: 6.
Ðơn vị bầu cử Số 1, gồm Huyện Ðồng Phú, huyện Chơn Thành, huyện Hớn Quản, huyện Lộc Ninh và thị xã Bình Long
Ông Nguyễn Văn Lợi đạt tỷ lệ 74,41% số phiếu hợp lệ
Ông Trần Ngọc Thuận đạt tỷ lệ 69,23% số phiếu hợp lệ
Bà Ðiểu Huỳnh Sang đạt tỷ lệ 59,63% số phiếu hợp lệ
Ðơn vị bầu cử Số 2, gồm Thị xã Ðồng Xoài, thị xã Phước Long, huyện Bù Gia Mập, huyện Bù Ðốp và huyện Bù Ðăng
Ông Ngô Xuân Lịch đạt tỷ lệ 79,21% số phiếu hợp lệ
Ông Bùi Mạnh Hùng đạt tỷ lệ 77,58% số phiếu hợp lệ
Bà Phạm Thị Mỹ Lệ đạt tỷ lệ 65,82% số phiếu hợp lệ
== Tỉnh Bình Thuận ==
Số Ðơn vị bầu cử: 3. Số đại biểu Quốc hội được bầu: 7. Số người ứng cử: 11. Số người trúng cử đại biểu Quốc hội: 7.
Ðơn vị bầu cử Số 1, gồm Huyện Tuy Phong, huyện Bắc Bình và huyện Phú Quý
Ông Ngô Ðức Mạnh đạt tỷ lệ 80,29% số phiếu hợp lệ
Ông Ðỗ Ngọc Niễn đạt tỷ lệ 79,04% số phiếu hợp lệ
Ðơn vị bầu cử Số 2, gồm Huyện Hàm Thuận Bắc, huyện Hàm Thuận Nam, huyện Hàm Tân và thành phố Phan Thiết
Ông Huỳnh Văn Tí đạt tỷ lệ 82,19% số phiếu hợp lệ
Ông Hà Minh Huệ đạt tỷ lệ 56,51% số phiếu hợp lệ
Bà Nguyễn Thị Phúc đạt tỷ lệ 56,44% số phiếu hợp lệ
Ðơn vị bầu cử Số 3, gồm Huyện Ðức Linh, huyện Tánh Linh và thị xã La Gi
Ông Lê Ðắc Lâm đạt tỷ lệ 77,06% số phiếu hợp lệ
Ông Vũ Hải đạt tỷ lệ 69,91% số phiếu hợp lệ
== Tỉnh Cà Mau ==
Số Ðơn vị bầu cử: 3. Số đại biểu Quốc hội được bầu: 7. Số người ứng cử: 11. Số người trúng cử đại biểu Quốc hội: 7.
Ðơn vị bầu cử Số 1, gồm Huyện Thới Bình, huyện U Minh và thành phố Cà Mau
Ông Dương Thanh Bình đạt tỷ lệ 77,93% số phiếu hợp lệ
Ông Trần Văn đạt tỷ lệ 61,40% số phiếu hợp lệ
Bà Trương Thị Yến Linh đạt tỷ lệ 57,91% số phiếu hợp lệ
Ðơn vị bầu cử Số 2, gồm Huyện Cái Nước, huyện Phú Tân và huyện Trần Văn Thời
Ông Nguyễn Tuấn Khanh đạt tỷ lệ 88,87% số phiếu hợp lệ
Ông Nguyễn Thanh Nam đạt tỷ lệ 74,00% số phiếu hợp lệ
Ðơn vị bầu cử Số 3, gồm Huyện Ðầm Dơi, huyện Năm Căn và huyện Ngọc Hiển
Ông Trương Minh Hoàng đạt tỷ lệ 87,79% số phiếu hợp lệ
Ông Bùi Ngọc Chương đạt tỷ lệ 83,12% số phiếu hợp lệ
== Tỉnh Cao Bằng ==
Số Ðơn vị bầu cử: 2. Số đại biểu Quốc hội được bầu: 6. Số người ứng cử: 10. Số người trúng cử đại biểu Quốc hội: 6.
Ðơn vị bầu cử Số 1, gồm Huyện Bảo Lạc, huyện Bảo Lâm, huyện Nguyên Bình, huyện Hà Quảng, huyện Thông Nông và huyện Hòa An
Bà Nguyễn Thị Nương đạt tỷ lệ 71,23% số phiếu hợp lệ
Ông La Ngọc Thoáng đạt tỷ lệ 62,05% số phiếu hợp lệ
Ông Hoàng Văn Thượng đạt tỷ lệ 61,80% số phiếu hợp lệ
Ðơn vị bầu cử Số 2, gồm Huyện Trà Lĩnh, huyện Quảng Uyên, huyện Phục Hòa, huyện Trùng Khánh, huyện Hạ Lang, huyện Thạch An và TX. Cao Bằng
Ông Hà Ngọc Chiến đạt tỷ lệ 81,86% số phiếu hợp lệ
Ông Phùng Văn Hùng đạt tỷ lệ 69,40% số phiếu hợp lệ
Bà Ðinh Thị Mai Lan đạt tỷ lệ 58,99% số phiếu hợp lệ
== Tỉnh Ðắc Lắc ==
Số Ðơn vị bầu cử: 3. Số đại biểu Quốc hội được bầu: 9. Số người ứng cử: 15. Số người trúng cử đại biểu Quốc hội: 9.
Ðơn vị bầu cử Số 1, gồm Huyện Buôn Ðôn, huyện Ea Súp, huyện Cư M'Gar và thành phố Buôn Ma Thuột
Bà Tòng Thị Phóng đạt tỷ lệ 86,32% số phiếu hợp lệ
Ông Phạm Minh Tấn đạt tỷ lệ 65,69% số phiếu hợp lệ
Ông Y Khút Niê đạt tỷ lệ 57,28% số phiếu hợp lệ
Ðơn vị bầu cử Số 2, gồm Huyện Krông Bông, huyện Krông Pắc, huyện Lắk, huyện M'Ðác, huyện Cư Kuin và huyện Krông Ana
Ông Trần Ðình Sơn đạt tỷ lệ 80,37% số phiếu hợp lệ
Ông Niê Thuật đạt tỷ lệ 79,29% số phiếu hợp lệ
Bà Nguyễn Thị Huệ đạt tỷ lệ 71,14% số phiếu hợp lệ
Ðơn vị bầu cử Số 3, gồm Huyện Ea H'Leo, huyện Krông Búk, huyện Krông Năng, huyện Ea Kar và thị xã Buôn Hồ
Ông Cao Đức Phát đạt tỷ lệ 79,47% số phiếu hợp lệ
Ông Trần Mạnh Cường đạt tỷ lệ 74,39% số phiếu hợp lệ
Bà H'Yim Kđoh đạt tỷ lệ 60,33% số phiếu hợp lệ
== Tỉnh Ðắc Nông ==
Số Ðơn vị bầu cử: 2. Số đại biểu Quốc hội được bầu: 6. Số người ứng cử: 11. Số người trúng cử đại biểu Quốc hội: 6.
Ðơn vị bầu cử Số 1, gồm Huyện Ðác Glong, huyện Ðác R'Lấp, huyện Tuy Ðức, huyện Ðác Song và thị xã Gia Nghĩa
Ông Lê Diễn đạt tỷ lệ 81,97% số phiếu hợp lệ
Bà Tôn Thị Ngọc Hạnh đạt tỷ lệ 72,83% số phiếu hợp lệ
Ông Nguyễn Ðắc Vinh đạt tỷ lệ 72,17% số phiếu hợp lệ
Ðơn vị bầu cử Số 2, gồm Huyện Ðác Mil, huyện Cư Jút và huyện Krông Nô
Ông Trần Ðình Long đạt tỷ lệ 74,22% số phiếu hợp lệ
Ông Ðiểu K' Rứ đạt tỷ lệ 61,88% số phiếu hợp lệ
Ông K' KRáh đạt tỷ lệ 51,02% số phiếu hợp lệ
== Tỉnh Ðiện Biên ==
Số Ðơn vị bầu cử: 2. Số đại biểu Quốc hội được bầu: 6. Số người ứng cử: 10. Số người trúng cử đại biểu Quốc hội: 6.
Ðơn vị bầu cử Số 1, gồm Huyện Ðiện Biên Ðông, huyện Mường Ảng, huyện Ðiện Biên và thành phố Ðiện Biên Phủ
Ông Đỗ Bá Tỵ đạt tỷ lệ 76,46% số phiếu hợp lệ
Ông Lò Văn Muôn đạt tỷ lệ 72,71% số phiếu hợp lệ
Bà Vi Thị Hương đạt tỷ lệ 70,48% số phiếu hợp lệ
Ðơn vị bầu cử Số 2, gồm Huyện Mường Chà, huyện Mường Nhé, huyện Tuần Giáo, huyện Tủa Chùa và thị xã Mường Lay
Ông Dương Ngọc Ngưu đạt tỷ lệ 83,50% số phiếu hợp lệ
Bà Trần Thị Dung đạt tỷ lệ 82,60% số phiếu hợp lệ
Ông Sùng A Hồng đạt tỷ lệ 81,59% số phiếu hợp lệ
== Tỉnh Ðồng Nai ==
Số Ðơn vị bầu cử: 4. Số đại biểu Quốc hội được bầu: 11. Số người ứng cử: 19. Số người trúng cử đại biểu Quốc hội: 11.
Ðơn vị bầu cử Số 1, gồm Huyện Long Thành, huyện Nhơn Trạch và thành phố Biên Hòa
Ông Nguyễn Văn Khánh đạt tỷ lệ 69,85% số phiếu hợp lệ
Ông Đặng Ngọc Tùng đạt tỷ lệ 65,49% số phiếu hợp lệ
Ông Trần Văn Tư đạt tỷ lệ 60,37% số phiếu hợp lệ
Ðơn vị bầu cử Số 2, gồm Huyện Vĩnh Cửu, huyện Trảng Bom và huyện Thống Nhất
Bà Ðỗ Thị Thu Hằng đạt tỷ lệ 68,60% số phiếu hợp lệ
Ông Vũ Hải Hà đạt tỷ lệ 64,41% số phiếu hợp lệ
Ông Hồ Văn Năm đạt tỷ lệ 60,65% số phiếu hợp lệ
Ðơn vị bầu cử Số 3, gồm Huyện Xuân Lộc, huyện Cẩm Mỹ và thị xã Long Khánh
Ông Nguyễn Công Hồng đạt tỷ lệ 76,14% số phiếu hợp lệ
Bà Phạm Thị Hải đạt tỷ lệ 69,09% số phiếu hợp lệ
Ông Trương Văn Vở đạt tỷ lệ 65,16% số phiếu hợp lệ
Ðơn vị bầu cử Số 4, gồm Huyện Ðịnh Quán và huyện Tân Phú
Ông Dương Trung Quốc đạt tỷ lệ 74,88% số phiếu hợp lệ
Ông Bùi Xuân Thống đạt tỷ lệ 55,50% số phiếu hợp lệ
== Tỉnh Ðồng Tháp ==
Số Ðơn vị bầu cử: 3. Số đại biểu Quốc hội được bầu: 8. Số người ứng cử: 13. Số người trúng cử đại biểu Quốc hội: 8.
Đơn vị bầu cử Số 1, gồm Huyện Tân Hồng, huyện Hồng Ngự, huyện Tam Nông và thị xã Hồng Ngự
Ông Nguyễn Kim Hồng đạt tỷ lệ 76,68% số phiếu hợp lệ
Ông Ðặng Xuân Huy đạt tỷ lệ 61,19% số phiếu hợp lệ
Ðơn vị bầu cử Số 2, gồm Huyện Thanh Bình, huyện Cao Lãnh, huyện Tháp Mười và thành phố Cao Lãnh
Ông Nguyễn Thanh Hùng đạt tỷ lệ 67,22% số phiếu hợp lệ
Ông Nguyễn Hoàng Việt đạt tỷ lệ 65,30% số phiếu hợp lệ
Ông Đào Việt Trung đạt tỷ lệ 58,16% số phiếu hợp lệ
Ðơn vị bầu cử Số 3, gồm Huyện Lấp Vò, huyện Lai Vung, huyện Châu Thành và thị xã Sa Ðéc
Ông Lê Minh Hoan đạt tỷ lệ 71,92% số phiếu hợp lệ
Bà Nguyễn Thanh Thảo đạt tỷ lệ 61,29% số phiếu hợp lệ
Ông Nguyễn Hữu Ðức đạt tỷ lệ 60,30% số phiếu hợp lệ
Danh sách Trung ương giới thiệu không trúng cử
Ngô Tự Nam - Đại biểu Quốc hội khóa XII, Phó Chủ nhiệm Ủy ban Pháp luật của Quốc hội, Ủy viên Ban Chỉ đạo về nhân quyền của Chính phủ
== Tỉnh Gia Lai ==
Số Ðơn vị bầu cử: 3. Số đại biểu Quốc hội được bầu: 7. Số người ứng cử: 13. Số người trúng cử đại biểu Quốc hội: 7.
Ðơn vị bầu cử Số 1, gồm Huyện K'Bang, huyện Kông Chro, huyện Ðăk Pơ, huyện Mang Yang, huyện Ðăk Ðoa và thị xã An Khê
Ông A Nhin (Hà Sơn Nhin) đạt tỷ lệ 81,97% số phiếu hợp lệ
Ông Trần Ðình Thu đạt tỷ lệ 77,08% số phiếu hợp lệ
Ðơn vị bầu cử Số 2, gồm Huyện Chư Păh, huyện Ia Grai, huyện Ðức Cơ, huyện Chư Prông và thành phố Plây Cu
Ông Bùi Văn Cường đạt tỷ lệ 79,52% số phiếu hợp lệ
Ông Hà Công Long đạt tỷ lệ 76,23% số phiếu hợp lệ
Bà Siu Hương đạt tỷ lệ 63,64% số phiếu hợp lệ
Ðơn vị bầu cử Số 3, gồm Huyện Krông Pa, huyện Ia Pa, huyện Phú Thiện, huyện Chư Sê, huyện Chư Pưh và thị xã Ayun Pa
Ông Ksor Phước đạt tỷ lệ 78,98% số phiếu hợp lệ
Ông Huỳnh Thành đạt tỷ lệ 68,34% số phiếu hợp lệ
== Tỉnh Hà Giang ==
Số Ðơn vị bầu cử: 2. Số đại biểu Quốc hội được bầu: 6. Số người ứng cử: 10. Số người trúng cử đại biểu Quốc hội: 6.
Ðơn vị bầu cử Số 1, gồm Huyện Ðồng Văn, huyện Mèo Vạc, huyện Yên Minh, huyện Quản Bạ, huyện Bắc Mê và thành phố Hà Giang
Bà Triệu Thị Nái (Triệu Mùi Nái) đạt tỷ lệ 93,22% số phiếu hợp lệ
Ông Triệu Là Pham đạt tỷ lệ 84,83% số phiếu hợp lệ
Ông Thào Hồng Sơn đạt tỷ lệ 84,31% số phiếu hợp lệ
Ðơn vị bầu cử Số 2, gồm Huyện Vị Xuyên, huyện Bắc Quang, huyện Quang Bình, huyện Hoàng Su Phì và huyện Xín Mần
Bà Hà Thị Khiết (Hà Thị Khích) đạt tỷ lệ 87,59% số phiếu hợp lệ
Ông Nguyễn Ngọc Hải đạt tỷ lệ 82,40% số phiếu hợp lệ
Bà Nông Thị Bích Liên đạt tỷ lệ 64,74% số phiếu hợp lệ
== Tỉnh Hà Nam ==
Số Ðơn vị bầu cử: 2. Số đại biểu Quốc hội được bầu: 6. Số người ứng cử: 10. Số người trúng cử đại biểu Quốc hội: 6.
Ðơn vị bầu cử Số 1, gồm Huyện Lý Nhân, huyện Bình Lục và thành phố Phủ Lý
Ông Trần Xuân Hùng đạt tỷ lệ 81,25% số phiếu hợp lệ
Ông Phùng Ðức Tiến đạt tỷ lệ 69,06% số phiếu hợp lệ
Bà Trần Thị Hiền đạt tỷ lệ 67,92% số phiếu hợp lệ
Ðơn vị bầu cử Số 2, gồm Huyện Kim Bảng, huyện Duy Tiên và huyện Thanh Liêm
Bà Nguyễn Thị Doan đạt tỷ lệ 94,37% số phiếu hợp lệ
Ông Phạm Văn Tam đạt tỷ lệ 84,48% số phiếu hợp lệ
Ông Lê Văn Tân đạt tỷ lệ 78,94% số phiếu hợp lệ
== Tỉnh Hà Tĩnh ==
Số Ðơn vị bầu cử: 3. Số đại biểu Quốc hội được bầu: 7. Số người ứng cử: 13. Số người trúng cử đại biểu Quốc hội: 7.
Ðơn vị bầu cử Số 1, gồm Huyện Kỳ Anh, huyện Cẩm Xuyên, huyện Hương Khê và thành phố Hà Tĩnh
Ông Nguyễn Sinh Hùng đạt tỷ lệ 95,51% số phiếu hợp lệ
Ông Trần Tiến Dũng đạt tỷ lệ 86,33% số phiếu hợp lệ
Bà Phạm Thị Phương đạt tỷ lệ 72,67% số phiếu hợp lệ
Ðơn vị bầu cử Số 2, gồm Huyện Thạch Hà, huyện Can Lộc, huyện Nghi Xuân và huyện Lộc Hà
Ông Nguyễn Văn Phúc đạt tỷ lệ 83,09% số phiếu hợp lệ
Ông Nguyễn Văn Sơn đạt tỷ lệ 82,84% số phiếu hợp lệ
Ðơn vị bầu cử Số 3, gồm Huyện Ðức Thọ, huyện Hương Sơn, huyện Vũ Quang và thị xã Hồng Lĩnh
Ông Võ Kim Cự đạt tỷ lệ 91,56% số phiếu hợp lệ
Ông Trần Ngọc Tăng đạt tỷ lệ 82,85% số phiếu hợp lệ
== Tỉnh Hải Dương ==
Số Ðơn vị bầu cử: 3. Số đại biểu Quốc hội được bầu: 9. Số người ứng cử: 13. Số người trúng cử đại biểu Quốc hội: 9.
Ðơn vị bầu cử Số 1, gồm Huyện Nam Sách, huyện Kim Thành, huyện Kinh Môn và thị xã Chí Linh
Ông Bùi Mậu Quân đạt tỷ lệ 80,48% số phiếu hợp lệ
Ông Lê Ðình Khanh đạt tỷ lệ 72,71% số phiếu hợp lệ
Ông Nguyễn Văn Rinh đạt tỷ lệ 66,04% số phiếu hợp lệ
Ðơn vị bầu cử Số 2, gồm Huyện Thanh Hà, huyện Bình Giang, huyện Cẩm Giàng và thành phố Hải Dương
Ông Phạm Hồng Hương đạt tỷ lệ 87,67% số phiếu hợp lệ
Ông Bùi Thanh Quyến đạt tỷ lệ 82,90% số phiếu hợp lệ
Bà Vũ Thị Hương Sen đạt tỷ lệ 73,85% số phiếu hợp lệ
Ðơn vị bầu cử Số 3, gồm Huyện Gia Lộc, huyện Thanh Miện, huyện Tứ Kỳ và huyện Ninh Giang
Ông Phạm Xuân Thăng đạt tỷ lệ 86,30% số phiếu hợp lệ
Bà Nguyễn Thị Hương Thảo đạt tỷ lệ 73,25% số phiếu hợp lệ
Ông Huỳnh Tuấn Dương đạt tỷ lệ 67,52% số phiếu hợp lệ
Danh sách Trung ương giới thiệu không trúng cử
Đỗ Hoàng Yến - Vụ trưởng Vụ Bổ trợ tư pháp, Bộ Tư pháp; Ủy viên Ban Chấp hành trung ương Hội Luật gia Việt Nam
== Tỉnh Hậu Giang ==
Số Ðơn vị bầu cử: 2. Số đại biểu Quốc hội được bầu: 6. Số người ứng cử: 10. Số người trúng cử đại biểu Quốc hội: 6.
Ðơn vị bầu cử Số 1, gồm Huyện Vị Thủy, huyện Châu Thành, huyện Châu Thành A và thành phố Vị Thanh
Ông Nguyễn Văn Tính đạt tỷ lệ 74,62% số phiếu hợp lệ
Bà Nguyễn Thanh Thủy đạt tỷ lệ 72,25% số phiếu hợp lệ
Ông Lê Hồng Tịnh đạt tỷ lệ 67,45% số phiếu hợp lệ
Ðơn vị bầu cử Số 2, gồm Huyện Phụng Hiệp, huyện Long Mỹ và thị xã Ngã Bảy
Ông Huỳnh Minh Chắc đạt tỷ lệ 80,18% số phiếu hợp lệ
Ông Mai Xuân Hùng đạt tỷ lệ 74,83% số phiếu hợp lệ
Ông Phạm Hồng Phong đạt tỷ lệ 67,44% số phiếu hợp lệ
== Tỉnh Hòa Bình ==
Số Ðơn vị bầu cử: 2. Số đại biểu Quốc hội được bầu: 6. Số người ứng cử: 10. Số người trúng cử đại biểu Quốc hội: 6.
Ðơn vị bầu cử Số 1, gồm Huyện Ðà Bắc, huyện Lương Sơn, huyện Kim Bôi, huyện Kỳ Sơn và thành phố Hòa Bình
Ông Đinh Thế Huynh đạt tỷ lệ 76,37% số phiếu hợp lệ
Ông Nguyễn Cao Sơn đạt tỷ lệ 66,77% số phiếu hợp lệ
Bà Bạch Thị Hương Thủy đạt tỷ lệ 61,18% số phiếu hợp lệ
Ðơn vị bầu cử Số 2, gồm Huyện Cao Phong, huyện Lạc Sơn, huyện Lạc Thủy, huyện Mai Châu, huyện Tân Lạc và huyện Yên Thủy
Ông Bùi Văn Tỉnh đạt tỷ lệ 78,47% số phiếu hợp lệ
Bà Nguyễn Thanh Hải đạt tỷ lệ 75,75% số phiếu hợp lệ
Ông Nguyễn Tiến Sinh đạt tỷ lệ 64,45% số phiếu hợp lệ
== Tỉnh Hưng Yên ==
Số Ðơn vị bầu cử: 3. Số đại biểu Quốc hội được bầu: 7. Số người ứng cử: 11. Số người trúng cử đại biểu Quốc hội: 7.
Ðơn vị bầu cử Số 1, gồm Huyện Kim Ðộng, huyện Khoái Châu, huyện Yên Mỹ và thành phố Hưng Yên
Ông Phùng Quang Thanh đạt tỷ lệ 89,84% số phiếu hợp lệ
Ông Ðặng Ngọc Quỳnh đạt tỷ lệ 84,73% số phiếu hợp lệ
Bà Vũ Thị Nguyệt đạt tỷ lệ 67,10% số phiếu hợp lệ
Ðơn vị bầu cử Số 2, gồm Huyện Tiên Lữ, huyện Phù Cừ và huyện Ân Thi
Ông Doãn Thế Cường đạt tỷ lệ 92,49% số phiếu hợp lệ
Bà Ðào Thị Xuân Lan đạt tỷ lệ 88,19% số phiếu hợp lệ
Ðơn vị bầu cử Số 3, gồm Huyện Văn Giang, huyện Văn Lâm và huyện Mỹ Hào
Ông Nguyễn Văn Thịnh đạt tỷ lệ 74,99% số phiếu hợp lệ
Bà Cù Thị Hậu đạt tỷ lệ 71,64% số phiếu hợp lệ
== Tỉnh Khánh Hòa ==
Số Ðơn vị bầu cử: 3. Số đại biểu Quốc hội được bầu: 7. Số người ứng cử: 11. Số người trúng cử đại biểu Quốc hội: 7.
Ðơn vị bầu cử Số 1, gồm Huyện Vạn Ninh và thị xã Ninh Hòa
Bà Lê Minh Hiền đạt tỷ lệ 76,48% số phiếu hợp lệ
Ông Vũ Viết Ngoạn đạt tỷ lệ 74,43% số phiếu hợp lệ
Ðơn vị bầu cử Số 2, gồm Thành phố Nha Trang
Ông Ðặng Ðình Luyến đạt tỷ lệ 67,56% số phiếu hợp lệ
Bà Nguyễn Thị Nhung đạt tỷ lệ 66,17% số phiếu hợp lệ
Ðơn vị bầu cử Số 3, gồm Huyện Khánh Vĩnh, huyện Diên Khánh, huyện Cam Lâm, huyện Khánh Sơn, huyện Trường Sa và thành phố Cam Ranh
Ông Nguyễn Tấn Tuân đạt tỷ lệ 81,62% số phiếu hợp lệ
Ông Lê Hữu Đức đạt tỷ lệ 70,36% số phiếu hợp lệ
Ông Lê Tuấn Tứ đạt tỷ lệ 61,22% số phiếu hợp lệ
== Tỉnh Kiên Giang ==
Số Ðơn vị bầu cử: 3. Số đại biểu Quốc hội được bầu: 9. Số người ứng cử: 15. Số người trúng cử đại biểu Quốc hội: 9.
Ðơn vị bầu cử Số 1, gồm Huyện Tân Hiệp, huyện Kiên Hải, huyện Giồng Riềng và huyện Gò Quao
Ông Bùi Ðặng Dũng đạt tỷ lệ 75,58% số phiếu hợp lệ
Bà Nguyễn Thị Kim Bé đạt tỷ lệ 67,14% số phiếu hợp lệ
Bà Võ Ngọc Thứ đạt tỷ lệ 66,43% số phiếu hợp lệ
Ðơn vị bầu cử Số 2, gồm Huyện An Biên, huyện An Minh, huyện Vĩnh Thuận, huyện U Minh Thượng và huyện Châu Thành
Ông Trần Minh Thống đạt tỷ lệ 78,69% số phiếu hợp lệ
Ông Nguyễn Văn Luật đạt tỷ lệ 69,98% số phiếu hợp lệ
Ông Trần Văn Huynh đạt tỷ lệ 53,63% số phiếu hợp lệ
Ðơn vị bầu cử Số 3, gồm Huyện Kiên Lương, huyện Hòn Ðất, huyện Phú Quốc, huyện Giang Thành, thị xã Hà Tiên và thành phố Rạch Giá
Ông Danh Út đạt tỷ lệ 77,10% số phiếu hợp lệ
Ông Trương Thái Hiền đạt tỷ lệ 70,04% số phiếu hợp lệ
Bà Lâm Lệ Hà đạt tỷ lệ 54,57% số phiếu hợp lệ
== Tỉnh Kon Tum ==
Số Ðơn vị bầu cử: 2. Số đại biểu Quốc hội được bầu: 6. Số người ứng cử: 10. Số người trúng cử đại biểu Quốc hội: 6.
Ðơn vị bầu cử Số 1, gồm Huyện Kon Plông, huyện Kon Rẫy, huyện Sa Thầy và thành phố Kon Tum
Ông Nguyễn Vinh Hà đạt tỷ lệ 83,94% số phiếu hợp lệ
Ông Tô Văn Tám đạt tỷ lệ 78,51% số phiếu hợp lệ
Bà Y Mửi đạt tỷ lệ 75,38% số phiếu hợp lệ
Ðơn vị bầu cử Số 2, gồm Huyện Ðắc Hà, huyện Ðắc Tô, huyện Tu Mơ Rông, huyện Ngọc Hồi và huyện Ðắc Glei
Bà Phạm Thị Trung đạt tỷ lệ 90,09% số phiếu hợp lệ
Ông Võ Trọng Việt đạt tỷ lệ 88,84% số phiếu hợp lệ
Ông A Ðe (Ðinh Hồng Ðe) đạt tỷ lệ 85,90% số phiếu hợp lệ
Một số ứng viên thất cử
Y Ngọc - Đại biểu Quốc hội khóa XII, Ủy viên Ban Thường vụ Huyện ủy, Trưởng ban Tuyên giáo Huyện ủy Đắk Glei
Quách Cao Yềm - Đại biểu Quốc hội khóa XII, Tỉnh ủy viên, Phó Trưởng đoàn chuyên trách Đoàn Đại biểu Quốc hội tỉnh Kon Tum khóa XII
== Tỉnh Lai Châu ==
Số Ðơn vị bầu cử: 2. Số đại biểu Quốc hội được bầu: 6. Số người ứng cử: 10. Số người trúng cử đại biểu Quốc hội: 6.
Ðơn vị bầu cử Số 1, gồm Huyện Than Uyên, huyện Tân Uyên, huyện Tam Ðường và thị xã Lai Châu
Ông Bùi Quang Vinh đạt tỷ lệ 93,21% số phiếu hợp lệ
Bà Giàng Páo Mỷ đạt tỷ lệ 92,05% số phiếu hợp lệ
Ông Lò Hải Ươi đạt tỷ lệ 74,81% số phiếu hợp lệ
Ðơn vị bầu cử Số 2, gồm Huyện Phong Thổ, huyện Mường Tè và huyện Sìn Hồ
Ông Chu Lé Chừ (Chu Lê Chinh) đạt tỷ lệ 83,67% số phiếu hợp lệ
Ông Bùi Ðức Thụ đạt tỷ lệ 82,33% số phiếu hợp lệ
Bà Pờ Hồng Vân đạt tỷ lệ 70,96% số phiếu hợp lệ
== Tỉnh Lạng Sơn ==
Số Ðơn vị bầu cử: 2. Số đại biểu Quốc hội được bầu: 6. Số người ứng cử: 10. Số người trúng cử đại biểu Quốc hội: 6.
Ðơn vị bầu cử Số 1, gồm Huyện Bắc Sơn, huyện Bình Gia, huyện Văn Quan, huyện Chi Lăng và huyện Hữu Lũng
Bà Nông Thị Lâm đạt tỷ lệ 72,09% số phiếu hợp lệ
Ông Nguyễn Lâm Thành đạt tỷ lệ 66,87% số phiếu hợp lệ
Ông Nguyễn Thế Tuy đạt tỷ lệ 58,48% số phiếu hợp lệ
Ðơn vị bầu cử Số 2, gồm Huyện Tràng Ðịnh, huyện Văn Lãng, huyện Cao Lộc, huyện Lộc Bình, huyện Ðình Lập và thành phố Lạng Sơn
Ông Vũ Huy Hoàng đạt tỷ lệ 69,65% số phiếu hợp lệ
Ông Chu Ðức Quang đạt tỷ lệ 62,74% số phiếu hợp lệ
Bà Trần Thị Hoa Sinh đạt tỷ lệ 62,38% số phiếu hợp lệ
== Tỉnh Lào Cai ==
Số Ðơn vị bầu cử: 2. Số đại biểu Quốc hội được bầu: 6. Số người ứng cử: 9. Số người trúng cử đại biểu Quốc hội: 6
Ðơn vị bầu cử Số 1, gồm Huyện Bát Xát, huyện Sa Pa, huyện Văn Bàn và thành phố Lào Cai
Ông Ngô Văn Hùng đạt tỷ lệ 90,51% số phiếu hợp lệ
Ông Phạm Văn Cường đạt tỷ lệ 88,77% số phiếu hợp lệ
Bà Lù Thị Lừu đạt tỷ lệ 78,82% số phiếu hợp lệ
Ðơn vị bầu cử Số 2, gồm Huyện Bảo Thắng, huyện Bảo Yên, huyện Bắc Hà, huyện Mường Khương và huyện Si Ma Cai
Ông Giàng Seo Phử đạt tỷ lệ 89,08% số phiếu hợp lệ
Bà Giàng Thị Bình đạt tỷ lệ 81,43% số phiếu hợp lệ
Ông Bùi Ðức Hạnh đạt tỷ lệ 79,32% số phiếu hợp lệ
== Tỉnh Lâm Ðồng ==
Số Ðơn vị bầu cử: 3. Số đại biểu Quốc hội được bầu: 7. Số người ứng cử: 11. Số người trúng cử đại biểu Quốc hội: 7.
Đơn vị bầu cử Số 1, gồm Huyện Lạc Dương, huyện Ðơn Dương, huyện Ðức Trọng và thành phố Ðà Lạt
Ông Lê Văn Học đạt tỷ lệ 78,80% số phiếu hợp lệ
Ông Vũ Công Tiến đạt tỷ lệ 77,71% số phiếu hợp lệ
Bà Touneh Drong Minh Thắm đạt tỷ lệ 53,66% số phiếu hợp lệ
Ðơn vị bầu cử Số 2, gồm Huyện Lâm Hà, huyện Ðam Rông và huyện Di Linh
Bà Trương Thị Mai đạt tỷ lệ 84,38% số phiếu hợp lệ
Ông Ya Duck đạt tỷ lệ 69,27% số phiếu hợp lệ
Ðơn vị bầu cử Số 3, gồm Huyện Bảo Lâm, huyện Ðạ Huoai, huyện Ðạ Tẻh, huyện Cát Tiên và thành phố Bảo Lộc
Ông Nguyễn Bá Thuyền đạt tỷ lệ 77,22% số phiếu hợp lệ
Bà Nguyễn Thu Anh đạt tỷ lệ 69,79% số phiếu hợp lệ
== Tỉnh Long An ==
Số Ðơn vị bầu cử: 3. Số đại biểu Quốc hội được bầu: 8. Số người ứng cử: 13. Số người trúng cử đại biểu Quốc hội: 8.
Ðơn vị bầu cử Số 1, gồm Huyện Ðức Huệ, huyện Ðức Hòa, huyện Bến Lức và huyện Thủ Thừa
Ông Nguyễn Minh Lâm đạt tỷ lệ 67,75% số phiếu hợp lệ
Ông Trương Hòa Bình đạt tỷ lệ 65,21% số phiếu hợp lệ
Bà Ðặng Thị Hoàng Yến đạt tỷ lệ 62,36% số phiếu hợp lệ
Ðơn vị bầu cử Số 2, gồm Huyện Châu Thành, huyện Tân Trụ, huyện Cần Ðước, huyện Cần Giuộc và thành phố Tân An
Ông Ðỗ Hữu Lâm đạt tỷ lệ 68,35% số phiếu hợp lệ
Ông Nguyễn Trung Thu đạt tỷ lệ 63,38% số phiếu hợp lệ
Bà Ðinh Thị Phương Khanh đạt tỷ lệ 58,55% số phiếu hợp lệ
Ðơn vị bầu cử Số 3, gồm Huyện Thạnh Hóa, huyện Tân Thạnh, huyện Mộc Hóa, huyện Vĩnh Hưng và huyện Tân Hưng
Ông Lê Công Ðỉnh đạt tỷ lệ 69,66% số phiếu hợp lệ
Ông Ðặng Thế Vinh đạt tỷ lệ 66,89% số phiếu hợp lệ
Một số ứng viên thất cử
Trương Văn Nọ - Đại biểu Quốc hội khóa XII, Phó Chủ tịch Liên đoàn Lao động tỉnh Long An
Đào Xuân Cần (do Trung ương giới thiệu) - Tiến sĩ Kinh tế, Ủy viên Đoàn Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Chủ tịch Liên minh Hợp tác xã Việt Nam
== Tỉnh Nam Ðịnh ==
Số Ðơn vị bầu cử: 3. Số đại biểu Quốc hội được bầu: 9. Số người ứng cử: 15. Số người trúng cử đại biểu Quốc hội: 9.
Ðơn vị bầu cử Số 1, gồm Huyện Mỹ Lộc, huyện Vụ Bản, huyện Ý Yên và thành phố Nam Ðịnh
Ông Vũ Tiến Lâm đạt tỷ lệ 92,07% số phiếu hợp lệ
Ông Phạm Hồng Hà đạt tỷ lệ 82,49% số phiếu hợp lệ
Ông Nguyễn Văn Pha đạt tỷ lệ 65,28% số phiếu hợp lệ
Ðơn vị bầu cử Số 2, gồm Huyện Nam Trực, huyện Nghĩa Hưng và huyện Trực Ninh
Ông Vũ Văn Ninh đạt tỷ lệ 84,74% số phiếu hợp lệ
Ông Nguyễn Anh Sơn đạt tỷ lệ 72,81% số phiếu hợp lệ
Bà Hoàng Thị Tố Nga đạt tỷ lệ 68,45% số phiếu hợp lệ
Ðơn vị bầu cử Số 3, gồm Huyện Xuân Trường, huyện Giao Thủy và huyện Hải Hậu
Ông Trần Quang Chiểu đạt tỷ lệ 80,32% số phiếu hợp lệ
Ông Linh mục Lê Ngọc Hoàn đạt tỷ lệ 73,92% số phiếu hợp lệ
Bà Nguyễn Thị Thu Hằng đạt tỷ lệ 50,50% số phiếu hợp lệ
== Tỉnh Nghệ An ==
Số Ðơn vị bầu cử: 5. Số đại biểu Quốc hội được bầu: 13. Số người ứng cử: 21. Số người trúng cử đại biểu Quốc hội: 13.
Ðơn vị bầu cử Số 1, gồm Huyện Kỳ Sơn, huyện Tương Dương, huyện Con Cuông, huyện Anh Sơn và huyện Ðô Lương
Ông Nguyễn Ðức Hiền đạt tỷ lệ 92,61% số phiếu hợp lệ
Bà Vi Thị Hương đạt tỷ lệ 86,38% số phiếu hợp lệ
Ðơn vị bầu cử Số 2, gồm Huyện Quế Phong, huyện Quỳ Châu, huyện Quỳ Hợp, huyện Nghĩa Ðàn, huyện Tân Kỳ và thị xã Thái Hòa
Ông Trần Văn Hằng đạt tỷ lệ 81,86% số phiếu hợp lệ
Ông Nguyễn Sỹ Hội đạt tỷ lệ 75,30% số phiếu hợp lệ
Bà Nguyễn Thị Hải đạt tỷ lệ 73,35% số phiếu hợp lệ
Ðơn vị bầu cử Số 3, gồm Huyện Yên Thành và huyện Quỳnh Lưu
Ông Phan Trung Lý đạt tỷ lệ 74,26% số phiếu hợp lệ
Ông Phạm Văn Hà đạt tỷ lệ 73,84% số phiếu hợp lệ
Ông Phan Văn Quý đạt tỷ lệ 63,06% số phiếu hợp lệ
Ðơn vị bầu cử Số 4, gồm Huyện Thanh Chương, huyện Nam Ðàn, huyện Hưng Nguyên và thành phố Vinh
Ông Nguyễn Minh Hồng đạt tỷ lệ 80,44% số phiếu hợp lệ
Ông Trần Hữu Tuất đạt tỷ lệ 68,71% số phiếu hợp lệ
Bà Lê Thị Tám đạt tỷ lệ 60,66% số phiếu hợp lệ
Ðơn vị bầu cử Số 5, gồm Huyện Diễn Châu, huyện Nghi Lộc và thị xã Cửa Lò
Ông Phan Ðình Trạc đạt tỷ lệ 89,71% số phiếu hợp lệ
Ông Phạm Văn Tấn đạt tỷ lệ 78,72% số phiếu hợp lệ
== Tỉnh Ninh Bình ==
Số Ðơn vị bầu cử: 2. Số đại biểu Quốc hội được bầu: 6. Số người ứng cử: 10. Số người trúng cử đại biểu Quốc hội: 6.
Ðơn vị bầu cử Số 1, gồm Huyện Nho Quan, huyện Gia Viễn, huyện Hoa Lư và thành phố Ninh Bình
Ông Trần Đại Quang đạt tỷ lệ 92,08% số phiếu hợp lệ
Bà Nguyễn Thị Thanh đạt tỷ lệ 81,36% số phiếu hợp lệ
Bà Lưu Thị Huyền đạt tỷ lệ 60,09% số phiếu hợp lệ
Ðơn vị bầu cử Số 2, gồm Huyện Kim Sơn, huyện Yên Khánh, huyện Yên Mô và thị xã Tam Ðiệp
Ông Ðinh Trịnh Hải đạt tỷ lệ 85,14% số phiếu hợp lệ
Ông Bùi Văn Phương đạt tỷ lệ 84,34% số phiếu hợp lệ
Bà Phạm Thị Mỹ Ngọc đạt tỷ lệ 81,29% số phiếu hợp lệ
== Tỉnh Ninh Thuận ==
Số Ðơn vị bầu cử: 2. Số đại biểu Quốc hội được bầu 6. Số người ứng cử: 10. Số người trúng cử đại biểu Quốc hội: 6.
Ðơn vị bầu cử Số 1, gồm Huyện Bác Ái, huyện Ninh Sơn, huyện Thuận Bắc và thành phố Phan Rang - Tháp Chàm
Ông Huỳnh Thế Kỳ đạt tỷ lệ 77,19% số phiếu hợp lệ
Ông Nguyễn Ðức Thanh đạt tỷ lệ 76,48% số phiếu hợp lệ
Ông Nguyễn Sỹ Cương đạt tỷ lệ 61,08% số phiếu hợp lệ
Ðơn vị bầu cử Số 2, gồm Huyện Ninh Hải, huyện Thuận Nam và huyện Ninh Phước
Ông Phan Xuân Dũng đạt tỷ lệ 67,56% số phiếu hợp lệ
Bà Ðàng Thị Mỹ Hương đạt tỷ lệ 64,76% số phiếu hợp lệ
Ông Nguyễn Bắc Việt đạt tỷ lệ 59,71% số phiếu hợp lệ
== Tỉnh Phú Thọ ==
Số Ðơn vị bầu cử: 3. Số đại biểu Quốc hội được bầu: 7. Số người ứng cử: 11. Số người trúng cử đại biểu Quốc hội: 7.
Ðơn vị bầu cử Số 1, gồm Huyện Tam Nông, huyện Tân Sơn, huyện Thanh Sơn, huyện Thanh Thủy, huyện Yên Lập và thành phố Việt Trì
Ông Nguyễn Doãn Khánh đạt tỷ lệ 86,36% số phiếu hợp lệ
Ông Vũ Xuân Hồng đạt tỷ lệ 75,42% số phiếu hợp lệ
Bà Lê Thị Yến đạt tỷ lệ 60,79% số phiếu hợp lệ
Ðơn vị bầu cử Số 2, gồm Huyện Phù Ninh, huyện Lâm Thao, huyện Ðoan Hùng và thị xã Phú Thọ
Ông Dương Hoàng Hương đạt tỷ lệ 83,27% số phiếu hợp lệ
Bà Nguyễn Thúy Anh đạt tỷ lệ 82,83% số phiếu hợp lệ
Ðơn vị bầu cử Số 3, gồm Huyện Thanh Ba, huyện Hạ Hòa và huyện Cẩm Khê
Ông Nguyễn Kim Khoa đạt tỷ lệ 81,39% số phiếu hợp lệ
Ông Nguyễn Xuân Thủy đạt tỷ lệ 71,49% số phiếu hợp lệ
== Tỉnh Phú Yên ==
Số Ðơn vị bầu cử: 2. Số đại biểu Quốc hội được bầu: 6. Số người ứng cử: 10. Số người trúng cử đại biểu Quốc hội: 6.
Ðơn vị bầu cử Số 1, gồm Huyện Phú Hòa, huyện Ðông Hòa, huyện Tây Hòa, huyện Sơn Hòa và huyện Sông Hinh
Ông Nguyễn Thái Học đạt tỷ lệ 77,99% số phiếu hợp lệ
Ông Phạm Văn Hổ đạt tỷ lệ 70,39% số phiếu hợp lệ
Ông Y Thông đạt tỷ lệ 54,08% số phiếu hợp lệ
Ðơn vị bầu cử Số 2, gồm Huyện Ðồng Xuân, huyện Tuy An, thị xã Sông Cầu và thành phố Tuy Hòa
Ông Đào Tấn Lộc đạt tỷ lệ 80,46% số phiếu hợp lệ
Bà Ðặng Thị Kim Chi đạt tỷ lệ 73,14% số phiếu hợp lệ
Ông Đinh Văn Nhã đạt tỷ lệ 72,63% số phiếu hợp lệ
== Tỉnh Quảng Bình ==
Số Ðơn vị bầu cử: 2. Số đại biểu Quốc hội được bầu: 6. Số người ứng cử: 10. Số người trúng cử đại biểu Quốc hội: 6.
Ðơn vị bầu cử Số 1, gồm Huyện Minh Hóa, huyện Tuyên Hóa, huyện Quảng Trạch và huyện Bố Trạch
Ông Hoàng Ðăng Quang đạt tỷ lệ 86,64% số phiếu hợp lệ
Ông Nguyễn Mạnh Cường đạt tỷ lệ 86,06% số phiếu hợp lệ
Ông Trần Minh Diệu đạt tỷ lệ 80,56% số phiếu hợp lệ
Ðơn vị bầu cử Số 2, gồm Huyện Lệ Thủy, huyện Quảng Ninh và thành phố Ðồng Hới
Ông Hà Hùng Cường đạt tỷ lệ 89,41% số phiếu hợp lệ
Ông Nguyễn Ngọc Phương đạt tỷ lệ 75,56% số phiếu hợp lệ
Bà Lê Khánh Nhung đạt tỷ lệ 61,96% số phiếu hợp lệ
== Tỉnh Quảng Nam ==
Số Ðơn vị bầu cử: 3. Số đại biểu Quốc hội được bầu: 8. Số người ứng cử: 13. Số người trúng cử đại biểu Quốc hội: 8.
Ðơn vị bầu cử Số 1, gồm Huyện Ðại Lộc, huyện Ðiện Bàn, huyện Ðông Giang, huyện Tây Giang, huyện Nam Giang và huyện Phước Sơn
Ông Ngô Văn Minh đạt tỷ lệ 81,98% số phiếu hợp lệ
Ông Trần Xuân Vinh đạt tỷ lệ 77,80% số phiếu hợp lệ
Ðơn vị bầu cử Số 2, gồm Huyện Duy Xuyên, huyện Quế Sơn, huyện Nông Sơn, huyện Thăng Bình, huyện Hiệp Ðức và thành phố Hội An
Ông Nguyễn Xuân Phúc đạt tỷ lệ 94,59% số phiếu hợp lệ
Ông Lê Phước Thanh đạt tỷ lệ 75,75% số phiếu hợp lệ
Ông Phạm Trường Dân đạt tỷ lệ 71,27% số phiếu hợp lệ
Ðơn vị bầu cử Số 3, gồm Huyện Núi Thành, huyện Tiên Phước, huyện Nam Trà My, huyện Bắc Trà My, huyện Phú Ninh và thành phố Tam Kỳ
Ông Nguyễn Đức Hải đạt tỷ lệ 85,31% số phiếu hợp lệ
Ông Lê Văn Lai đạt tỷ lệ 67,02% số phiếu hợp lệ
Bà Nguyễn Thị Tuyết Thanh đạt tỷ lệ 62,75% số phiếu hợp lệ
== Tỉnh Quảng Ngãi ==
Số Ðơn vị bầu cử: 3. Số đại biểu Quốc hội được bầu: 7. Số người ứng cử: 11. Số người trúng cử đại biểu Quốc hội: 7.
Ðơn vị bầu cử Số 1, gồm Huyện Bình Sơn, huyện Sơn Tịnh, huyện Trà Bồng, huyện Tây Trà, huyện Sơn Tây và huyện Sơn Hà
Ông Nguyễn Hòa Bình đạt tỷ lệ 90,37% số phiếu hợp lệ
Ông Mã Điền Cư đạt tỷ lệ 68,37% số phiếu hợp lệ
Bà Ðinh Thị Phương Lan đạt tỷ lệ 64,81% số phiếu hợp lệ
Ðơn vị bầu cử Số 2, gồm Huyện Tư Nghĩa, huyện Nghĩa Hành, huyện Lý Sơn và thành phố Quảng Ngãi
Ông Võ Tuấn Nhân đạt tỷ lệ 83,75% số phiếu hợp lệ
Ông Trịnh Ðình Thạch đạt tỷ lệ 75,54% số phiếu hợp lệ
Ðơn vị bầu cử Số 3, gồm Huyện Mộ Ðức, huyện Ðức Phổ, huyện Ba Tơ và huyện Minh Long
Ông Nguyễn Cao Phúc đạt tỷ lệ 84,71% số phiếu hợp lệ
Ông Võ Văn Kim (Vũ Trọng Kim) đạt tỷ lệ 78,78% số phiếu hợp lệ
== Tỉnh Quảng Ninh ==
Trần Xuân Hòa
Đỗ Thị Hoàng
Ngô Thị Minh
Phạm Bình Minh
Trần Văn Minh
Thượng tọa Thích Thanh Quyết
Vũ Chí Thực
== Tỉnh Quảng Trị ==
Phạm Đức Châu
Hà Sỹ Đồng
Phạm Vũ Luận
Hoàng Đức Thắm
Lê Như Tiến
Ly Kiều Vân
== Tỉnh Sóc Trăng ==
Võ Minh Chiến
Hồ Thị Cẩm Đào
Nguyễn Đức Kiên
Nguyễn Tuyết Liên
Trần Khắc Tâm
Hòa thượng Thạch Huôn
Hoàng Thanh Tùng
== Tỉnh Sơn La ==
Phùng Khắc Đăng
Hoàng Ngọc Dũng
Nguyễn Văn Hiện
Quàng Thị Nguyên
Thào Xuân Sùng
Bùi Nguyên Súy
Đinh Công Sỹ
== Tỉnh Tây Ninh ==
Hoàng Tuấn Anh
Nguyễn Hoài Phương
Trịnh Ngọc Phương
Nguyễn Thành Tâm
Nguyễn Mạnh Tiến
Lê Minh Trọng
== Tỉnh Thái Bình ==
Khúc Thị Duyền
Hoàng Trung Hải
Nguyễn Thúy Hoàn
Cao Sĩ Kiêm
Vũ Tiến Lộc
Nguyễn Hạnh Phúc
Phạm Xuân Thường
Đỗ Văn Vẻ
Bùi Văn Xuyền
== Tỉnh Thái Nguyên ==
7 người trúng cử từ 11 người ứng cử:
Đinh Huy Chiến (sinh 8/4/1966)
Phạm Xuân Đương
Trương Thị Huệ
Đỗ Mạnh Hùng
Lê Thị Nga
Nguyễn Thanh Tùng
Phan Văn Tường
== Tỉnh Thừa Thiên - Huế ==
Có 7 ngươid trúng cử trong số 13 người ứng cử
Đồng Hữu Mạo
Đặng Ngọc Nghĩa
Trần Đình Nhã
Bùi Đức Phú
Hòa thượng Thích Chơn Thiện
Nguyễn Ngọc Thiện
Hà Huy Thông
== Tỉnh Thanh Hóa ==
16 người trúng cử
Nguyễn Thành Bộ
Đặng Văn Hiếu
Lê Quang Hiệp
Lê Thị Hương
Bùi Sỹ Lợi
Uông Chu Lưu
Lê Nam (sinh 1956)
Đinh Tiên Phong
Nguyễn Hữu Quang
Đinh La Thăng
Lê Minh Thông
Phạm Trí Thức
Hà Thị Vân
Cao Thị Xuân
Trịnh Xuyên
Đào Xuân Yên
== Tỉnh Tiền Giang ==
Nguyễn Văn Danh
Nguyễn Hữu Hùng
Trần Văn Lan
Trần Văn Tấn
Nguyễn Văn Tiên
Huỳnh Văn Tính
Trương Thị Thu Trang
Trần Quốc Vượng
== Tỉnh Trà Vinh ==
Nguyễn Thái Bình
Thạch Thị Dân
Thạch Dư
Trần Trí Dũng
Nguyễn Thị Khá
Trần Quốc Tuấn
== Tỉnh Tuyên Quang ==
Âu Thị Mai
Hoàng Việt Phương
Hoàng Bình Quân
Ma Thị Thúy
Nguyễn Sáng Vang
== Tỉnh Vĩnh Long ==
Nguyễn Thanh Bình
Lưu Thành Công
Hồ Trọng Ngũ
Phạm Tất Thắng
Nguyễn Văn Thanh
Đặng Thị Ngọc Thịnh
== Tỉnh Vĩnh Phúc ==
Nguyễn Ngọc Bảo
Ngô Văn Dụ
Trần Hồng Hà
Lê Thị Nguyệt
Hồ Thị Thủy
Nguyễn Thế Trường
== Tỉnh Yên Bái ==
Nguyễn Công Bình
Đỗ Văn Chiến
Giàng A Chu
Phùng Quốc Hiển
Đặng Thị Kim Liên
Nguyễn Thị Bích Nhiệm
Dương Văn Thống
== Thống kê ==
Người đạt số phiếu bầu cao nhất là ông Nguyễn Sinh Hùng ở đơn vị bầu cử số 1: 95,38%
Người đạt số phiếu bầu thấp nhất là bà Nguyễn Thị Thu Hằng ở đơn vị bầu cử số 3: 50,50% (vượt quy định tối thiểu 50%)
== Chú thích ==
== Liên kết ngoài ==
Trang web chính thức Hội đồng bầu cử đại biểu quốc hội khóa XIII và đại biểu hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2011-2016
Đại biểu Quốc hội các khóa
Đại biểu Quốc hội khóa 13
Báo Nhân dân, ngày 4/6/2011, Danh sách trúng cử đại biểu Quốc hội khóa XIII, truy cập ngày 4/6/2011.
Báo Điện tử của Chính phủ CHXHCN Việt Nam ngày 26/4/2011, Công bố danh sách người ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XIII, truy cập ngày 5/6/2011. |
1760.txt | Năm 1760 (số La Mã: MDCCLX) là một năm nhuận bắt đầu từ ngày thứ Ba trong lịch Gregory (hoặc một năm nhuận bắt đầu vào thứ Bảy của lịch Julius chậm hơn 11 ngày).
== Sự kiện ==
15 tháng 8: Nhà vua nước Phổ Friedrich II Đại Đế đánh tan tác quân Áo trong trận đánh tại Liegnitz (Silesia).
== Sinh ==
== Mất ==
== Tham khảo == |
năm tài chính.txt | Năm tài chính là khoảng thời gian có độ dài tương đương một năm (tức là 12 tháng hoặc 52 đến 53 tuần) dùng cho công tác kế hoạch ngân sách của tổ chức hoặc quốc gia. Năm tài chính còn được gọi là Tài khóa. Ở Việt Nam, năm tài chính được gọi là Năm ngân sách. Ở Mỹ, năm tài chính còn được gọi là Năm thuế. FY là các chữ viết tắt của cụm từ Fiscal Year hoặc Financial Year trong tiếng Anh, nghĩa là năm tài chính.
== Năm tài chính và năm lịch ==
Năm tài chính có độ dài tương đương với năm lịch, vì theo truyền thống, cứ ít nhất khoảng một năm các tổ chức phải lập báo cáo tài chính hoặc khai báo thuế một lần. Năm tài chính có thể trùng hoặc lệch với năm dương lịch, tùy theo từng quốc gia. Sở dĩ có thể lệch là vì để tránh cho công việc tổng kết tài chính đầy phức tạp và bận rộn trùng với thời điểm kinh doanh bận rộn dịp cuối năm dương lịch cũng như thời điểm kỳ nghỉ cuối năm của nhân viên. Thậm chí, khoảng thời gian của năm tài chính đối với các công ty có thể không thống nhất. Có công ty chọn năm tài chính kéo dài 52 tuần. Lại có công ty chọn năm tài chính kéo dài 53 tuần. Tuy nhiên, hầu hết các tổ chức đều chia năm tài chính thành từng quý giống như năm lịch.
== Năm tài chính ở các quốc gia ==
Anh, Ấn Độ, Canada, Hong Kong, Nhật Bản: Năm tài chính bắt đầu từ ngày 1 tháng 4 của một năm và kết thúc vào cuối ngày 31 tháng 3 năm kế tiếp.
Bỉ, Đức, Hà Lan, Hàn Quốc, Nga, Pháp, Thái Lan, Thụy Sĩ, Trung Quốc, Việt Nam: năm tài chính trùng với năm dương lịch.
Mỹ: Năm tài chính bắt đầu từ ngày 1 tháng 10 của một năm và kết thúc vào cuối ngày 30 tháng 9 năm kế tiếp.
Úc: Năm tài chính bắt đầu từ ngày 1 tháng 7 của một năm và kết thúc vào cuối ngày 30 tháng 6 năm kế tiếp.
Ở Việt nam Chính phủ quy định năm tài chính là năm dương lịch bắt đầu từ ngày 01/01 và kết thúc ngày 31/12 hàng năm hoặc năm 12 tháng khác với năm dương lịch mà Bộ tài chính cho phép doanh nghiệp được áp dụng.
== Tham khảo == |
mestizo.txt | Mestizo (/ mɛstizoʊ /; tiếng Tây Ban Nha bán đảo: [mestiθo], tiếng Tây Ban Nha Mỹ Latin: [mestiso]) là một thuật ngữ thường được sử dụng trong tiếng Tây Ban Nha ở Tây Ban Nha và tiếng khu vực nói tiếng Tây Ban Nha ở châu Mỹ có nghĩa là một người có kết hợp gốc châu Âu và người Mỹ bản địa, hay một ai đó được coi là một Castizo (cha hoặc mẹ người châu Âu và mẹ hoặc cha người Mestizo) không phân biệt nếu người đó được sinh ra tại Mexico hoặc bên ngoài của Mỹ Latin. Thuật ngữ này được sử dụng như là một thể loại chủng tộc / chủng tộc trong hệ thống casta đó đã được sử dụng trong quá trình kiểm soát các thuộc địa Tân thế giới của đế chế Tây Ban Nha.
Thuật ngữ mestizaje, dùng từ này có gốc mestizo hoặc "pha trộn", là từ tiếng Tây Ban Nha cho quá trình chung các chủng tộc pha trộn.
== Chú thích ==
== Đọc thêm ==
Batalla, Guillermo; Dennis, Philip (1996). Mexico Profundo: Reclaiming A Civilization. Univ of Texas Pr. ISBN 0-292-70843-2.
Wang, S.; Ray, N.; Rojas, W.; Parra, M. V.; Bedoya, G. và đồng nghiệp (2008). “Geographic Patterns of Genome Admixture in Latin American Mestizos”. PLoS Genet 4 (3): e1000037. doi:10.1371/journal.pgen.1000037. PMC 2265669. PMID 18369456.
“Genetic Study Of Latin Americans Sheds Light On A Troubled History”. Science Daily.
Duno Gottberg, Luis (2003). Solventando las diferencias: la ideología del mestizaje en Cuba. Madrid: Iberoamericana. ISBN 84-8489-091-0.
== Liên kết ngoài ==
The 1921 Mexican Census
The Construction and Function of Race: Creating The Mestizo
“Mestizo”. The American Cyclopædia. 1879.
Copy of the Mestizo Day law - City of Manaus
Copy of the Mestizo Day law - State of Amazon
Copy of the Mestizo Day law - State of Roraima
Copy of the Mestizo Day law - State of Paraíba
Mestizo Nation Movement
Legislative Assembly pays tribute to the caboclos and all Mestizos |
köln.txt | Köln hay Koeln , còn được viết là Cologne, cho đến năm 1919 là Cöln, dưới thời của người La Mã đầu tiên là oppidum ubiorum, rồi Colonia Claudia Ara Agrippinensium, là thành phố lớn thứ tư của Đức theo dân số và diện tích. Thành phố có lịch sử 2.000 năm, có nhiều di sản kiến trúc và văn hóa, nơi diễn ra nhiều sự kiện quốc tế quan trọng.
Năm 1850, dân số thành phố vượt quá con số 100.000, từ đó Köln trở thành một thành phố lớn theo lối hiểu ngày nay. Giữa năm 2005, dân số chính thức (có đăng ký cư trú) của Köln là 975.907. Thế nhưng, nếu tính cả những người đăng ký Köln là nơi cư trú thứ hai, thành phố có tổng cộng 1.022.627 dân cư. Vì thế mà Köln được gọi là thành phố triệu dân, mặc dù về mặt chính thức, Köln chỉ là thành phố triệu dân trong những năm 1975 và 1976 do sáp nhập hành chính mà sau này lại bị hủy bỏ. Ngày nay Köln là thành phố lớn nhất bang Nordrhein-Westfalen với 1.010.269 dân [2011].
Köln trở nên quan trọng vì thành phố từ ngày thành lập bởi người La Mã luôn luôn đóng vai trò nổi bật trong lịch sử như là một trung tâm đô thị và trung tâm của quyền lực nhà thờ. Điều này còn được hỗ trợ bởi vị trí của thành phố nằm trên điểm giao nhau của những con đường thương mại quan trọng Đông-Tây cùng với việc chuyển tải hàng hóa trên sông Rhein. Vì thế mà Köln trở thành một địa điểm thương mại quan trọng và ngày nay là một trọng điểm giao thông với lưu lượng giao thông đường sắt cao nhất nước Đức. Cảng sông Rhein là một trong những cảng lục địa quan trọng nhất châu Âu. Thành phố trước đây mang nặng dấu ấn của công nghiệp đã trải qua một biến đổi cấu trúc hướng về khu vực dịch vụ trong những thập niên cuối thế kỷ 20: Ngày nay Köln là một trung tâm của truyền thông đại chúng, công nghệ và khoa học. Köln là một trong những thành phố đại học lớn, con số 85.183 sinh viên ghi danh chiếm khoảng 8,5% tỷ lệ dân số. Với tỷ lệ người nước ngoài là 17,2% (175.515 người, thời điểm cuối 2004) Köln là một trong những thành trì đa văn hóa, chứa đựng một trong những cộng đồng người Thổ Nhĩ Kỳ lớn nhất Đức. Đi kèm theo sự đa dạng về chủng tộc, tôn giáo và văn hóa, cũng như ở nhiều thành phố lớn tương tự, là tính khoan nhượng và tự do ở mức độ cao trong phần lớn người dân. Vì thế, thành phố cũng được xem là một trung tâm của những người đồng tính luyến ái, nam cũng như nữ.
== Địa lý ==
=== Vị trí địa lý và khí hậu ===
Khu vực thành phố trải dài trên 405,15 km² (tả ngạn sông Rhein 230,25 km², hữu ngạn sông Rhein 174,87 km²). Köln nằm trên 50°5633" vĩ độ bắc và 6°5732" kinh độ đông. Điểm cao nhất (trong Königsforst) nằm trên mực nước biển 118,04 m, điểm thấp nhất 37,5 m (trong Worringer Bruch).
Köln nằm trong Vịnh Köln, một quang cảnh thung lũng giữa vùng Bergisches Land và vùng Eifel, ngay sau khi sông Rhein chảy ra khỏi vùng Rheinisches Schiefergebirge. Vị trí thuận lợi này mang lại cho Köln một khí hậu có nhiều đặc điểm:
Nhờ vào vùng chắn Eifel, thành phố mà đặc biệt là phần tả ngạn sông Rhein nằm về phía được chắn gió và không có mưa của gió tây.
Đồng thời, do trao đổi không khí với vùng phụ cận ít nên tạo điều kiện thuận lợi cho bầu không khí ấm áp. Nội thành của Köln là nơi ấm nhất của bang Nordrhein-Westfalen.
Đi cùng với điều này là độ ẩm cao vì nước sông Rhein bốc hơi nhưng trao đổi không khí lại ít, đặc biệt là trong mùa hè thường mang lại tiết trời nồm ẩm và nhiều cơn mưa giông.
Köln nằm trong vùng chuyển tiếp giữa khí hậu biển và khí hậu lục địa với mùa đông ấm áp (nhiệt độ trung bình tháng 1 là 2,4 °C) và mùa hè mát (nhiệt độ trung bình tháng 7 là 18,3 °C). Lượng mưa trung bình trong năm là 798 mm, nằm trong trung bình của nước Đức.
=== Địa chất ===
Köln nằm trong một khu vực có địa hình bậc thang tăng cao dần từ sông Rhein. Nền đất thuộc về Phân đại Đệ tam, một phần chỉ thành hình từ Phân đại Đệ tứ và bao gồm nhiều tầng trầm tích. Một ngoại lệ là phần cực đông của thành phố, thuộc về nền của vùng Rheinisches Schiefergebirge.
Đất trồng chịu nhiều ảnh hưởng của đất màu mỡ từ đồng bằng đất phù sa cạnh sông Rhein và vùng Löß về phía tây cũng như đất không được tốt lắm về phía đông của thành phố (đồng cỏ, rừng), chuyển tiếp sang vùng Bergisches Land.
=== Köln và sông Rhein ===
Sông Rhein, sau khi chảy ra khỏi vùng núi Schiefergebirge ở phía nam của Köln được gọi là Hạ Rhein, chảy vào thành phố tại Godorf và ra khỏi thành phố tại Worringen. Sông Rhein đã mang lại cho thành phố thịnh vượng và chất lượng cao cho cuộc sống nhiều như thế nào thì người ta cũng sợ lụt của nó nhiều như thế.
Cơn lụt tồi tệ nhất từng được ghi chép lại xảy ra vào tháng 2 năm 1784, khi nhiệt độ tăng đột ngột sau một mùa đông cực dài và lạnh. Sông Rhein trong thời điểm này đã đóng băng, tuyết tan cũng như băng vỡ ra đã tạo nên mực nước kỷ lục 13,55 m (mực nước thường là 3,48 m). Nước lũ cùng với những tảng băng đá nặng trên đấy đã tàn phá phần lớn các công trình xây dựng bên bờ sông cũng như tất cả tàu thuyền. Đã có 65 người chết. Mülheim nằm hữu ngạn sông Rhein đã bị phá hủy hoàn toàn.
Trong thế kỷ 20, ba đợt "lụt của thế kỷ" vào những năm 1926, 1993 và 1995 đã đạt mực nước cho đến 10,69 m. Bắt đầu từ 2005 một phương án bảo vệ chống lụt bắt đầu được tiến hành, dùng tường di động hay cố định để bảo vệ thành phố cho đến mực nước 11,30 m. Công trình dự định đến cuối năm 2007 sẽ hoàn thành.
Thế nhưng nhiều lần sông Rhein cũng đã chỉ mặt ngược lại của nó: nước cạn. Vào ngày 2 tháng 9 năm 2003 vào lúc 8:00 giờ mực nước sông Rhein xuống đến mức thấp kỷ lục 0,80 m. Thế nhưng mực nước 0,00 m có nghĩa là luồng nước cho tàu chạy rộng 150 m ở giữa sông vẫn còn độ sâu 1 m. Giao thông tàu thủy trên sông đã có nhiều hạn chế lớn nhưng không bị đình chỉ như ở sông Elbe.
=== Hệ thực vật và động vật ===
Köln có diện tích xanh lớn mà trong khu vực đông dân cư thường được tạo thành công viên, trong các quận ngoại thành thường là rừng canh tác. Bên cạnh đó còn có nhiều khu bảo tồn tự nhiên thí dụ như Worringer Bruch nằm về phía cực đông tả ngạn sông Rhein, nguyên là một nhánh sông Rhein đã được lấp đất. Đấy là quê hương của nhiều loại thực vật và động vật hiếm cũng như một quang cảnh rừng và đồng ngập nước. Ở hữu ngạn sông Rhein chủ yếu là rừng và đồng cỏ.
Bên cạnh chim bồ câu và chuột, những loài động vật có mặt tại khắp mọi nơi và ở nhiều chỗ đã được cảm nhận như là một tai họa, là cáo đỏ (Vulpes vulpes) vào thành phố với số lượng đáng kể. Ngày nay chúng ở ngay trong nội thành và sử dụng vườn nhỏ cũng như công viên làm khu vực săn bắt.
Ban đầu được mang vào Đức để nuôi trong lồng và sau đó được tự do, nhiều chim két xanh (Psittacula krameri) đã chọn Köln làm quê hương mới và hiện nay đã có nhiều bầy chim két này sinh sống trong thành phố.
== Lịch sử ==
Köln là thành phố lâu đời nhất trong số các thành phố lớn của Đức: Tên Köln, vào thời người La Mã là Colonia Claudia Ara Agrippinensium xuất phát từ hoàng hậu La Mã Agrippina. Người vợ của Claudius sanh ra tại Köln và đã nâng nơi này lên trở thành thành phố vào năm 50 sau Công Nguyên. Trong thời kỳ của người La Mã, Köln là nơi ngự trị của thống đốc tỉnh Germania Inferior. Vào khoảng năm 80 Công Nguyên, với kênh đào dẫn nước từ Eifel, Köln đã nhận được một trong những ống dẫn nước La Mã (aqueduct) dài nhất.
Trong thời gian đầu của thời Trung cổ, Köln cũng đã là một thành phố quan trọng. Vào khoảng năm 455 người Frank chiếm lĩnh thành phố La Mã này. Cho đến đầu thế kỷ thứ 6 là nơi chính của một vương quốc Frank tự chủ, Köln được sáp nhập vào vương quốc của Chlodwig tiếp theo sau đó nhưng vẫn giữ được tính tự chủ cao. Dân cư người La Mã sống bên cạnh những người Frank đã chiếm lĩnh thành phố một thời gian dài. Trong thời gian từ thế kỷ thứ 6 đến thế kỷ thứ 8 đã có sự tiếp biến văn hóa giữa hai phần dân cư thành phố. Người Frank tiếp nhận nhanh chóng những thành tựu văn hóa của dân cư thành phố người La Mã, thí dụ như trong lĩnh vực kỹ thuật xây dựng hay sản xuất thủy tinh. Vào cuối thời kỳ của dòng họ Merowinger, Köln là nơi thành phố ngự trị của hoàng đế. Chậm nhất là từ thời dòng họ Karolinger, Giám mục hay tổng Giám mục của Köln là một trong những nhân vật quan trọng nhất trong vương quốc. Dưới triều đại Otto, Köln đã đóng một vai trò quan trọng trong việc tiếp cận giữa Thánh chế La Mã dân tộc Đức và Đế quốc Byzantine. Từ thế kỷ 10, dưới sự lãnh đạo của các vị tổng Giám mục có tầm quan trọng và thông thạo về chính trị, Köln đã trở thành trung tâm tôn giáo không còn bàn cãi. Qua việc mang di cốt của ba vị vua thánh về thành phố bởi tổng Giám mục Rainald của Dassel trong năm 1164, Köln đã trở thành một địa danh hành hương hàng đầu. Giữa thời Trung cổ, Köln trở thành thành phố lớn nhất Đức, vì thế mà thành trì cũng phải được mở rộng nhiều lần: Từ năm 1180 (theo các văn kiện của ngày 27 tháng 7 và 18 tháng 8) thành trì rộng nhất Đức thời đấy bắt đầu được xây dựng và hoàn thành vào năm 1225. 12 cổng thành kết hợp vào thành trì bán nguyệt của thành phố muốn nhắc đến Jerusalem. Từ thế kỷ 12, bên cạnh Jerusalem, Constantinopel và Roma, Köln mang thêm từ "Sancta" trong tên của thành phố: Sancta Colonia Dei Gratia Romanae Ecclesiae Fidelis Filia – Köln thần thánh của ơn trời và người con gái trung thành của nhà thờ La Mã. Một nhà thờ gây ấn tượng và lớn đến mức không nơi nào có thể sánh bằng được quyết định xây dựng. Lễ đặt viên đá đầu tiên của Nhà thờ lớn Köln được tiến hành vào năm 1248.
Trong năm 1259 người dân thành phố Köln nhận được quyền ưu tiên được phép mua trước tất cả các hàng hóa được chuyên chở trên sông Rhein (Stapelrecht), góp phần vào cuộc sống sung túc của dân cư thành phố. Cuộc chiến nhiều năm giữa các tổng Giám mục Köln và các dòng dõi quý tộc tạm thời chấm dứt vào năm 1288 qua trận Worringen, nơi đạo quân của tổng Giám mục đã thất bại trước đạo quân của bá tước von Berg và của dân cư thành phố Köln. Từ đấy thành phố không còn là đất riêng của tổng Giám mục nữa và vị tổng Giám mục chỉ được phép vào thành phố khi tiến hành nghi lễ tôn giáo.
Năm 1582 tổng Giám mục Köln Gebhard Truchsess von Waldburg ly khai nhà thờ Công giáo và cưới bà Agnes von Mansfeld-Eisleben là người của đạo Tin Lành. Ông đã bị Giáo hoàng Gregor XIII khai trừ ra khỏi đạo và Ernst của Bayern, một người được tin cậy theo đạo Công giáo được cử làm người kế tục, ngoài những việc khác cũng là vì nếu không thì vị tổng Giám mục Köln đã có thể lật bỏ đa số Công giáo trong hội nghị tuyển hầu bầu hoàng đế của Thánh Chế La Mã (Kurfürstenkollegium). Chiến tranh Köln vì thế đã diễn ra từ 1583 đến 1588, trong đó các thành phố Deutz, Bonn và Neuss đã bị tàn phá. Cuộc chiến với sức hủy hoại của nó chỉ là một mường tường trước cho xung đột về tôn giáo kế tiếp theo đó trong nước Đức.
Thành phố Köln không bị tàn phá trong cuộc Chiến tranh 30 năm, một phần cũng vì thành phố đã trả tiền chuộc cho các đạo quân vây hãm và xâm chiếm. Köln thu được lợi nhuận cao trong cuộc chiến tranh này qua sản xuất và buôn bán vũ khí.
Lịch sử của thành phố "Köln thần thánh" chấm dứt khi quân đội Pháp kéo vào thành phố năm 1794 trong thời gian của cuộc Cách mạng Pháp. Cũng như toàn bộ vùng đất tả ngạn sông Rhein, thành phố Köln thuộc về nước Cộng hòa Pháp và được sáp nhập vào Roerdepartement có thủ phủ là thành phố Aachen. Nhiều người dân Köln đã đón mừng quân đội cách mạng Pháp như là những người giải phóng. Người Do Thái và người theo đạo Tin Lành bị phân biệt đối xử trước đó nay được đặt ngang hàng. Mặc dù thường phải đóng tiền đảm phụ quốc phòng cao người dân Köln vẫn trung thành với đế quốc của Napoléon, người đã đến thăm thành phố vào năm 1804. Trong năm 1815 thành phố Köln và vùng đất Rheinland bị Vương quốc Phổ thôn tính. Köln trở thành thành phố quan trọng nhất trong nước Phổ sau Berlin không chỉ vì hoạt động của các ngân hàng tại Köln. Trong năm 1880 việc xây dựng Nhà thờ lớn Köln được hoàn thành sau 632 năm dưới sự đốc thúc của hoàng đế Phổ - ít nhất là cũng tạm thời hoàn thành vì mãi cho đến ngày hôm nay công việc sửa chữa vẫn cần thiết sau Chiến tranh thế giới thứ hai và vì hư hỏng gạch xây dựng do môi trường. Do việc sửa chữa có lẽ không bao giờ chấm dứt nên nhà thờ lớn còn được gọi là "công trường xây dựng vĩnh cửu".
Cuối thế kỷ 19 thành phố được mở rộng sau khi xây dựng vòng thành phòng thủ ngoài. Công việc định cư "phố mới" đã nối kết thành phố với làng mạc vùng phụ cận đang tăng trưởng nhanh chóng và tạo điều kiện sáp nhập chúng vào thành phố. Sau thành trì cũ đượcc đập bỏ chỉ còn lại một vài công trình xây dựng tiêu biểu nhờ vào can thiệp của Bộ Văn hóa Phổ.
Trong Chiến tranh thế giới lần thứ hai thành phố đã bị tàn phá đến 90% qua các cuộc bỏ bom diện rộng của không quân Anh (vào ban đêm) và Mỹ (vào ban ngày). Từ tháng 1 đến tháng 3 năm 1945 1.800 thành viên của phong trào kháng chiến người Đức và người nước ngoài đã bị Đức Quốc xã giết chết trong Đợt tội phạm thời cuối chiến tranh.
Mãi đến năm 1959 Köln mới đạt lại được dân số của thời gian trước chiến tranh. Trong năm 1975 nhờ vào cải tổ hành chính Köln có dân số hơn 1 triệu người và bên cạnh Berlin, Hamburg và München. Thế nhưng với việc tách Wesseling vào năm 1976 dân số lại giảm dưới ranh giới 1 triệu.
== Tôn giáo ==
=== Kitô giáo ===
Trong lịch sử, Köln cũng như vùng sông Rhein chịu nhiều ảnh hưởng của Công giáo, khoảng 14% dân cư theo đạo Công giáo, 20% theo đạo Tin Lành, 10% (đa số là người di dân vào) theo đạo Hồi, 30% còn lại theo các đạo khác hay không có tôn giáo.
Chậm nhất là từ năm 313 Köln là nơi ngự trị của tổng Giám mục. Nhà thờ của tổng Giám mục trong thời gian này không được rõ. Từ thời Gothic Nhà thờ chính tòa Köln đã là biểu tượng của thành phố.
Sau việc chuyển những cái được cho là hài cốt của ba vua thánh về thành phố vào ngày 23 tháng 7 năm 1164, Köln đã nhanh chóng trở thành một trong những nơi hành hương quan trọng nhất trong Thánh Chế La Mã. Chuyến đi du lịch đầu tiên của hoàng đế và hoàng hậu vừa được lên ngôi bao giờ cũng dẫn từ Aachen đến thánh cốt của ba vị vua này. Đoàn người hành hương đã mang nhiều tiền đến thành phố, dẫn đến việc định cư ngày càng nhiều và dân số thành phố đã tăng nhảy vọt. (Trong thời Trung cổ, Köln là thành phố lớn nhất châu Âu). Tổng Giám mục Philipp I von Heinsberg đã đặt làm một hòm chứa thánh cốt mạ vàng và người kế thừa ông đã cho xây một nhà thờ chính tòa mới vào năm 1248. Tranh cãi với hội đồng thành phố và việc trục xuất tổng Giám mục sau đó đã làm cho việc xây dựng ngày càng chậm đi và cuối cùng là ngừng hẳn. Không ngại ngùng trong việc buôn bán, Köln đã phát triển thành trung tâm buôn bán di vật vì người thời Trung cổ tin rằng sở hữu một vật thánh hay xương cốt của một vị thánh sẽ mau chóng được giải thoát. Điều này đã mang lại cho thành phố cái tên "Köln thần thánh".
Tầm quan trọng của tôn giáo cũng được nhận thấy trên biểu trưng của thành phố, miêu tả 3 vương miện của ba vị vua thánh và 11 giọt nước mắt của thánh Ursula và các vị đồng hành đã chết vì đạo tại Köln. Cũng cần phải nhắc đến một trong nhiều đỉnh cao của "Köln thần thánh" trong lịch sử Kitô giáo hằng nghìn năm là Ngày Giới trẻ Thế giới lần thứ 20 từ 15 tháng 8 đến 21 tháng 8 năm 2005. Tròn 26.000 người tình nguyện từ 160 quốc gia đã chào mừng khách đến từ 196 quốc gia tại các thành phố Köln, Bonn và Düsseldorf. Giáo hoàng Benedict XVI cũng đến thăm Köln trong dịp này và một lần nữa đã công nhận danh hiệu "Köln thần thánh".
=== Đạo Do Thái ===
Cộng đồng người Do Thái tại Köln là cộng đồng lâu đời nhất ở phía bắc dãy núi Alpen, đã tồn tại từ năm 321 dưới thời hoàng đế Constantine I.
Năm 1183 tổng Giám mục chỉ định cho người Do Thái một vùng đất riêng để có thể sống một cách tương đối yên ổn. Khu vực trong phố cổ này có cổng riêng có thể đóng lại và chỉ dành riêng cho người Do Thái. Thế nhưng người Do Thái lại bị đuổi ra khỏi thành phố dần dần và trong thời gian từ 1424 cho đến cuối thế kỷ 18 không một người Do Thái nào được phép ở trong thành phố mà không có sự đồng ý của hội đồng thành phố. Sau khi quân đội cách mạng Pháp vào, dân cư người Do Thái – cũng như người theo đạo Tin Lành – được đặt ngang hàng với người dân theo đạo Công giáo. Trong thời gian của Chủ nghĩa Xã hội Quốc gia, người Do Thái đã được phép định cư dưới thời thống trị của Phổ lại bị đuổi đi với việc thúc ép di dân ra nước ngoài. Nhiều nhà thờ Do Thái đã bị đốt cháy trong đợt bài trừ người Do Thái tháng 11 năm 1938. Những người Do Thái còn lại sau 1941 bị bắt giam trong Fort IX (một pháo đài của quân đội Phổ ở ngoại vi thành phố) và trong khu đất hội chợ Köln, sau đó họ bị chở đi đến các trại tập trung. 8.000 người Do Thái ở Köln đã bị những người Quốc xã giết chết.
Cộng đồng người Do Thái tại Köln ngày nay có trên 4.857 thành viên. Họ có một nghĩa trang riêng, một trường học, nhà trẻ, thư viện, câu lạc bộ thể thao, một quán ăn, trung tâm thanh thiếu niên và một nhà dưỡng lão.
=== Đạo Hồi ===
Vì người di dân từ Thổ Nhĩ Kỳ và con cháu của họ có một tỷ lệ cao và cũng vì vị trí trung tâm trong nước Cộng hòa Liên bang Đức cũ, các tổ chức Hồi giáo-Thổ Nhĩ Kỳ quan trọng nhất đều đặt trụ sở tại Köln và vùng lân cận.
=== Địa điểm hành hương ===
Thành phố Köln là một địa điểm hành hương không phải chỉ vì Ba Vua Thánh mà còn vì Thánh Albertus Magnus tại St.Andreas. Thêm vào đó là Adolph Kolping của Nhà thờ Minoriten, Johannes Duns Scotus, một nhà triết học quan trọng cũng của Nhà thờ Minoriten, Edith Stein (Theresia Benedicta a Cruce) một nữ triết gia và nữ tu sĩ trong thời Đức Quốc xã.
== Phát triển dân số ==
Trong một thời gian ngắn của thập niên 1970, Köln đã là thành phố triệu dân: cùng với lần sát nhập hành chính cuối cùng, vào ngày 1 tháng 1 năm 1975 dân số đạt đến con số 1 triệu. Thế nhưng sau khi thành phố Wesseling lại được tách ra từ ngày 1 tháng 7 năm 1976, dân số thành phố lại tụt xuống dưới ranh giới 1 triệu. Vào ngày 10 tháng 6 năm 2005 dân số chính thức của Köln theo Cơ quan Xử lý dữ liệu và Thống kê của bang Nordrhein-Westfalen là 975.907 người.
== Chính trị ==
Trong thời kỳ của người La Mã, đô đốc chỉ huy hạm đội sông Rhein đồng thời cũng là người điều hành hành chính của thành phố. Thời gian sau đấy, vì là trụ sở của địa hạt tổng Giám mục nên vị tổng Giám mục có toàn quyền tại Köln. Trong một thời gian dài Köln đã cố gắng tách rời thành phố ra khỏi quyền hạn của tổng Giám mục, việc mà cuối cùng cũng đã thành công trong thế kỷ 13. Ngay từ năm 1180 Köln đã có một hội đồng thành phố, 2 thị trưởng được hội đồng lựa chọn hằng năm. Sau khi thuộc về Vương quốc Phổ năm 1815, Köln là một thành phố độc lập và đồng thời cũng là nơi đặt trụ sở của một hội đồng quận chỉ được giải thể trong cuộc cải tổ hành chánh năm 1975. Từ năm 1815 đứng đầu thành phố là một thị trưởng, bên cạnh ông là một hội đồng thành phố
Trong thời gian Đức Quốc xã, thị trưởng thành phố là người do đảng NSDAP chỉ định. Sau Chiến tranh thế giới thứ hai, ủy ban quân quản của vùng do quân đội Anh chiếm đóng chỉ định một thị trưởng mới và áp dụng các luật lệ về hành chánh theo gương Anh. Theo đấy, thành phố có một hội đồng thành phố do người dân bầu, thành viên của hội đồng được gọi là "nghị sĩ thành phố". Ban đầu, hội đồng chọn thị trưởng là người đứng đầu và đại diện thành phố, giữ chức vụ với tính cách danh dự (không có lương). Thêm vào đấy từ năm 1946 hội đồng cũng lựa chọn một người chuyên nghiệp điều hành hành chính thành phố (Oberstadtdirektor). Năm 1999 hai vị trí song đôi này được bãi bỏ. Từ đấy chỉ còn người thị trưởng chuyên điều hành công việc hành chánh. Thị trưởng là người đứng đầu hội đồng, lãnh đạo hành chánh thành phố và cũng là người đại diện cho thành phố. Từ đấy thị trưởng được bầu trực tiếp từ người dân.
=== Truyền thống chính trị và phát triển ===
Truyền thống lâu đời của một thành phố đế chế tự do, dân cư gần như chỉ chịu ảnh hưởng Công giáo trong một thời gian dài và đối lập kéo dài nhiều thế kỷ giữa nhà thờ và giới trung lưu đã tạo cho Köln một bầu không khí chính trị riêng biệt. Tại Köln đã thành hình nhiều nhóm có lợi ích chung vượt qua ranh giới đảng phái. Các quan hệ đan kết thành hình từ đấy, cái được gọi là Bè lũ Köln (Kölner Klüngel), đã liên kết chính trị, kinh tế và văn hóa với nhau trong một hệ thống chiếu cố, cam kết và phụ thuộc lẫn nhau. Việc này thường hay dẫn đến một tỷ lệ phân chia lạ thường trong cơ quan hành chánh thành phố và đôi lúc đã biến chất đến tham nhũng: Qua vụ "scandal rác" về tiền hối lộ và tiền ủng hộ đảng phái trái phép được lật tẩy năm 1999, không những nhà doanh nghiệp Helmut Trienekens phải vào tù mà toàn bộ giới lãnh đạo các đảng lớn cũng bị lật đổ.
=== Huy hiệu thành phố Köln ===
Tấm khiên có hai màu đỏ và trắng là màu của Hiệp hội Thương gia Đức (Hanse) thời Trung cổ. Là trung tâm thương mại quan trọng, Köln không những nằm trong hiệp hội của các thương gia và thành phố thương mại này mà còn cùng với Lübeck là thành phố sáng lập ra hiệp hội và vì thế là một trong những thành phố thuộc hiệp hội lâu đời nhất trong nước Đức.
Ba chiếc vương miện có trên huy hiệu từ thế kỷ thứ 12 muốn nhắc đến Ba Vua Thánh mà hài cốt đã được tổng Giám mục Köln Reinald của Dassel mang từ Milano về, được gìn giữ trong một hòm mạ vàng phía sau bàn thờ của Nhà thờ Lớn.
Có trên huy hiệu của thành phố từ thế kỷ 16 là 11 giọt nước mắt hay ngọn lửa nhắc đến Thánh Ursula. Theo truyền thuyết, Ursula là một công chúa vùng Bretagne (Pháp) đã bị người Hun đang vây hãm thành phố Köln giết chết khi đang trên đường về từ một cuộc hành hương đến Roma.
Bao bọc lấy huy hiệu của thành phố Köln là con chim đại bàng hai đầu của đế chế, mang thanh kiếm và cây quyền trượng, nhắc đến việc thành phố từ năm 1475 trong thời Trung cổ là một thành phố độc lập thuộc trong Thánh Chế La Mã dân tộc Đức. Chim đại bàng có 2 đầu vì hoàng đế La Mã cũng đồng thời là vua Đức.
=== Các thành phố kết nghĩa ===
== Văn hóa và thắng cảnh ==
Trong thời Trung cổ, Köln đã trở thành một trung tâm giáo dục, nghệ thuật quan trọng và đồng thời cũng là trung tâm của nhà thờ. Nhà thờ lớn Köln là nhà thờ Gothic lớn nhất trong Bắc Âu, lưu giữ hòm đựng hài cốt của Ba Vua Thánh. Nhà thờ lớn Köln – là di sản văn hóa thế giới từ năm 1996 – là biểu tượng chính của thành phố. Köln bị tàn phá nặng nề trong Chiến tranh thế giới thứ hai. Ngày nay Köln là một trung tâm văn hóa với nhiều hội chợ về nghệ thuật, phòng triển lãm tranh và viện bảo tàng quan trọng, thành phố cũng có một cuộc sống âm nhạc và nghệ thuật sống động. Ngoài ra, cùng với Hamburg và Berlin, Köln được xem là thành trì của giới đồng tính luyến ái.
=== Nhà hát ===
Köln có rất nhiều nhà hát. Thuộc thành phố là "Sân khấu Thành phố Köln" (Bühnen der Stadt Köln) với sân khấu kịch và nhà hát opera (thành lập năm 1822). Các sân khấu nổi tiếng khác là Nhà hát Arkadas, Nhà hát Nghệ thuật (Arttheater), Nhà hát Atelier, Nhà hát Solana, Nhà hát Casamax, Nhà hát Cassiopeia, Comedia, Nhà hát Freises Werkstatt (Freies Werkstatt-Theater), Nhà hát Gloria, Hänneschen-Theater (Nhà hát múa rối của thành phố), Nhà hát Horizont, Nhà hát Nghệ nhân Köln (Kölner Künstler-Theater), Musical Dome, Nhà hát Piccolo, Nhà hát Múa rối Lapislazuli, Nhà hát Senftöpfchen, Studiobühne Köln, Theater am Dom, Theater am Sachsenring, Nhà hát Der Keller, Theater im Bauturm, Theater im Hof, Theater Tiefrot, Theaterhaus Köln và Nhà hát Nhân dân Millowitsch (Volkstheater Millowitsch).
=== Âm nhạc ===
Köln là quê hương của nhiều dàn nhạc giao hưởng nổi tiếng. Năm 1857 dàn nhạc Gürzenich được thành lập nhân dịp khai trương hội trường hòa nhạc cùng tên. Từ năm 1888 thành phố là người tài trợ của dành nhạc.
Dàn nhạc giao hưởng nổi tiếng thứ hai là WDR-Sinfonie-Orchester được thành lập năm 1945.
Trường Đại học Âm nhạc Köln là trường đại học âm nhạc lớn nhất châu Âu và đã góp phần quan trọng vào đời sống âm nhạc của thành phố. Trường Âm nhạc Rhein với nhiều cơ sở tại Köln tổ chức giảng dạy âm nhạc cho thiếu niên và nhi đồng trong khắp thành phố.
=== Văn học ===
Từ Goethe qua Heine cho đến Celan, nhiều nhà văn tiếng Đức đã viết về Köln. Thành phố cũng là quê hương của người đoạt Giải thưởng Nobel về văn học Heinrich Böll. Trong nhà Văn hóa Köln hay nhân dịp lễ hội lit.cologne nhiều nhà văn trong và ngoài nước được mời tham dự trong khi các nhà văn tại Köln xuất hiện trên các khán đài đọc sách tại Quảng trường Brüssel hay trong các buổi gặp gỡ được tổ chức trong các hiệu bán sách, quán cà phê và quán rượu.
=== Viện bảo tàng ===
Trong số lớn các viện bảo tàng ở Köln với nhiều bộ sưu tập có giá trị cao phải kể đến Viện bảo tàng Ludwig (Nghệ thuật Đương đại và Hiện đại), Viện Bảo tàng Wallraf-Richartz (nghệ thuật từ Trung cổ đến thế kỷ 19) cũng như là Viện Bảo tàng La Mã-German (nghệ thuật, nữ trang và vật dùng hằng ngày từ thời đại La Mã và triều đại Merowing của người Frank).
Các viện bảo tàng khác của Köln là:
Agfa-Photo-Historama (Lịch sử nhiếp ảnh)
Viện bảo tàng Thể thao & Opympia Đức
Domschatzkammer Köln
Viện bảo tàng giáo khu tổng Giám mục (Köln) (Erzbischöfliches Diözesanmuseum)
Viện bảo tàng lịch sử tiền
Imhoff-Schokoladenmuseum (Viện bảo tàng sôcôla)
Viện bảo tàng Käthe Kollwitz
Viện bảo tàng lễ hội hóa trang
Hiệp hội nghệ thuật Köln (Nghệ thuật đương đại)
Viện bảo tàng thành phố Köln
Viện Bảo tàng Nghệ thuật ứng dụng (Köln)
Viện bảo tàng Nghệ thuật Đông Á (Köln)
Viện bảo tàng Schnütgen (Nghệ thuật thờ cúng thời Trung cổ)
Viện bảo tàng Rautenstrauch-Joest (Dân tộc học)
=== Kiến trúc ===
Khu phố cổ Köln và khu vực phụ cận đã bị tàn phá phần lớn bởi các cuộc không kích trong Chiến tranh thế giới thứ hai. Trong cuộc tái kiến thiết đường đi tuy được xây dựng lại như cũ như việc xây dựng được thực hiện theo phong cách của những năm 1950. Vì thế mà nhiều phần của thành phố chịu ảnh hưởng của kiến trúc sau chiến tranh, bên cạnh đó là vài công trình xây dựng còn tồn tại hay được tái kiến tạo vì có tầm quan trọng.
==== Köln thời La Mã ====
Nhiều phần còn sót lại của các công trình xây dựng La Mã được tìm thấy khắp trong nội thành, một phần là dưới mặt đất thí dụ như dưới tòa thị chính. Trên mặt đất là những phần còn lại của tường thành La Mã, thí dụ như Tháp La Mã Köln.
==== Köln thời Trung cổ ====
Nhiều công trình xây dựng quan trọng thời Trung cổ vẫn còn tồn tại hay được tái kiến thiết thí dụ như tòa thị chính, tòa nhà lễ hội Gürzenich hay Overstolzenhaus là căn nhà ở lâu đời nhất thành phố. Nhiều phần của tường thành thời Trung cổ vẫn còn tồn tại, trong đó là nhiều cổng thành như Eigelsteintor và Gereonsmühle.
==== Köln thời Vương quốc Phổ ====
Vòng đai đồn lũy Köln nằm trong các quận phía bên ngoài của thành phố và đã là thành trì bảo vệ thành phố trong thời kỳ thuộc Vương quốc Phổ. Ngày nay có thể thăm viếng một vài pháo đài nằm trong vòng đai xanh bên ngoài. "Khu phố mới" được xây dựng như một vòng đai bao bọc khu phố cổ lịch sử, trải dài từ thành trì thời Trung cổ đến vòng đai đồn lũy bên trong. Khu phố được xây dựng từ 1880 cho đến khoảng 1920 và đã là khu phố mới lớn nhất trong thời gian đó trong nước Đức. Thời trước trong khu phố này có đủ các phong cách kiến trúc từ Trường phái Lịch sử qua phong cách Nghệ thuật Mới đến Trường phái Biểu hiện, thế nhưng sau Chiến tranh thế giới thứ hai chỉ còn giữ lại được một phần của vẻ đẹp ngày xưa. Ngày nay khu phố này không còn thuần túy là một khu dân cư nữa mà là trung tâm của nhiều hoạt động doang thương và văn hóa khác nhau. Hình dáng cũ có thể được hồi tưởng lại trên một vài đường phố như Khu phố đại học, một vài căn nhà của giới quý tộc trong Khu phố Bỉ. Ở về phía bắc, nhà thờ St. Agnes (Köln) là một thí dụ điển hình cho trời kỳ Tân Gothic vùng Rhein.
==== Giữa hai cuộc thế chiến ====
Dưới thời của nguyên là thị trưởng Konrad Adenauer, một vài công trình xây dựng quan trọng được tiến hành tại Köln trong những năm 1920. Khu hội chợ với Tháp Hội chợ Köln nổi bật được kiến tạo theo phong cách của Trường phái Biểu hiện Gạch nung (tiếng Đức: Backsteinexpressionismus). Cũng có cùng phong cách này là Hansahochhaus, một trong những căn nhà cao tầng đầu tiên của Đức. Vào thời điểm xây dựng năm 1924 căn nhà này là căn nhà cao nhất châu Âu. Trường Đại hox được xây dựng theo phong cách của Hiệp hội Công trình Đức
==== Thời gian sau chiến tranh và phát triển mới ====
Năm 1945, sau khi Köln chỉ còn là một đống đổ nát, ban quân quản Mỹ và sau đó là Anh tiến hành những bước đầu tiên tái kiến thiết thành phố. Việc tạo nên chỗ ở có giá rẻ đứng hàng đầu nên quang cảnh thành phố Köln sau chiến tranh chịu nhiều ảnh hưởng của những căn hộ chung cư được xây dựng vội vã và thường là đồng dạng. Mặc dù vậy, nổi bật trong thời gian này là một vài dự án tạo phong cách và định hướng, biến Köln thành Mecca của phong cách xây dựng thành phố hiện đại. Trong đó phải kể đến việc kiến tạo quảng trường Nhà thờ lớn, khu liên hợp nhà hát opera và nhà hát sân khấu do kiến trúc sư Wilhelm Riphahn thiết kế. Năm 1967 Hohe Straße (Đường Cao), con đường mua sắm nổi tiếng của Köln, là đường đầu tiên được chuyển thành khu vực dành riêng cho người đi bộ.
Thập niên 1960 và 1970 đã mang lại cho Köln đặc biệt là kiến trúc chỉ từ bê tông, gây thiệt hại không thể sửa đổi lại được cho cảnh quang thành phố. Mãi đến thập niên 1980 người dân thành phố Köln mới nghĩ đến chất lượng. Sau khi xây dựng tháp viễn thông Colonius, nội thành Köln bắt đầu được nâng cao về giá trị. Viện bảo tàng Ludwig, tòa nhà hòa tấu nhạc và đường hầm qua sông Rhein đã kết nối thành phố với sông Rhein từ năm 1986 thông qua một đường đi dạo dọc bờ sông rất đẹp; song song với đó, vòng đai giao thông nội thành được giảm áp lực qua việc xây dựng tàu điện ngầm và được tái khánh thành vào năm 1987 dưới hình dạng mới. Tiếp nối theo đấy trong thập niên 1990 là căn nhà cao tầng MediaPark cũng như là Sân vận động Köln (Kölnarena). Viện bảo tàng Wallraf Richartz và tòa nhà mua sắm Weltstadthaus (Köln) là những thí dụ hiện nay cho việc cải tạo một cách thận trọng bộ mặt của khu vực trung tâm của thành phố Köln.
==== Nhà thờ ====
Biểu tượng nổi bật hơn hẳn của Köln là Nhà thờ chính tòa Köln kiểu Gothic, nhà thờ Gothic lớn nhất thế giới.
Cũng quan trọng không kém về lịch sử văn hóa là 12 nhà thờ trong nội thành theo phong cách Kiến trúc Rôman (tiếng Anh: Romanesque): St. Severin, St. Maria Lyskirchen, Basilika St. Andreas, St. Aposteln, St. Gereon, St. Ursula, St. Pantaleon, St. Maria im Kapitol, Groß St. Martin, St. Georg, St. Kunibert va2 St. Cäcilien. Phần lớn các nhà thờ này đã hư hại nặng trong chiến tranh, mãi đến năm 1985 việc tái kiến thiết mới hoàn thành.
Trong nội thành còn có các nhà thờ Gothic Minoritenkirche và St. Peter cũng như các nhà thời kiểu Baroque St. Mariä Himmelfahrt, St. Maria trên đường Kupfergasse, St. Maria vom Frieden và Ursulinenkirche St. Corpus Christi. Người theo đạo Tin Lành chỉ được phép hành lễ công khai từ năm 1802. Họ được người Pháp chuyển giao nhà thờ Gothic Antoniterkirche để dùng cho mục đích này. Tương tự như thế là nhà thờ Kartäuserkirche, thuộc về sở hữu đạo Tin Lành từ năm 1923. Nhà thờ Trinitatiskirche là nhà thờ Tin Lành được xây dựng đầu tiên trong vùng tả ngạn sông Rhein của Köln. Trong khu phố Mülheim, thời đấy thuộc về Công quốc Berg, đã có Nhà thờ Hòa Bình đã được xây dựng ngay từ năm 1786. Nhà thờ St. Engelbert trong khu Köln-Riehl là nhà thờ hiện đại đầu tiên của Köln.
==== Cầu sông Rhein ====
Köln có tổng cộng 8 chiếc cầu bắc qua sông Rhein, trong đó là 2 cầu cho xe hỏa. Cầu Hohenzollern (Hohenzollernbrücke) với cấu tạo vòng cung thép là đặc điểm của toàn cảnh nội thành, đây là chiếc cầu dành cho tàu hỏa có lưu lượng giao thông lớn nhất châu Âu. Cầu Nam (Südbrücke) là chiếc cầu giảm áp lực giao thông hàng hóa trên Cầu Hohenzollern.
Cầu xa lộ Rodenkirchen (Rodenkirchener Autobahnbrücke) về phía nam và Cầu xa lộ Köln-Merkenich - Leverkusen là cầu qua sông Rhein của xa lộ vòng đai Köln.
Tổng cộng có 4 chiếc cầu được xây dựng khác nhau dẫn dòng giao thông trog khu vực nội thành qua sông Rhein:
Cầu Severin (Severinsbrücke) đã có thời gian được lắp đặt công trình nghệ thuật từ đèn ống huỳnh quang của nghệ nhân HA Schult. Đấy là một quả địa cầu có kết cấu dạng lưới theo kinh độ và vĩ độ, trên đó có gắn đèn ống huỳnh quang nhiều màu khác nhau tạo thành hình dáng của các châu lục. Nhô lên từ điểm là thành phố Köln trên quả địa cầu là một hình dáng màu đỏ trong tư thế hân hoan, là chỗ nhô lên duy nhất trên quả địa cầu này. Cầu Bách thú (Zoobrücke) cũng được dùng trong một sự kiện nghệ thuật năm 2000. Cầu Mülheim (Mülheimer Brücke) là một cầu treo trong khi Cầu Deutz (Deutzer Brücke) là một cầu dầm, đã được tái khánh thành ngay từ năm 1947 sau khi tất cả các chiếc cầu của Köln bị phá hủy trong chiến tranh.
=== Công viên và diện tích xanh ===
Về phía tả ngạn sông Rhein, Köln có 2 vòng đai xanh, một vòng trong và một vòng ngoài. Vòng đai xanh bên trong dài 7 km, rộng hằng trăm mét và có diện tích là 120 ha. Vòng đai thành quách bên trong của Köln bị phá hủy sau Chiến tranh thế giới thứ nhất trong khuôn khổ của Hiệp định Versailles, vì thế nên tại đây đã có thể hình thành công viên xanh lớn của thành phố.
Vòng đai xanh bên ngoài cũng thành hình sau khi phá hủy vòng đai thành quách bên ngoài. Trong dự án ban đầu, diện tích xanh lớn nhất của Köln này được quy hoạch bao trùm cả thành phố nhưng không được hiện thực hoàn toàn vì lý do kinh tế. Mặc dầu vậy, 800 ha diện tích xanh cũng đã thành hình trong những năm 1920.
Vườn hoa Thành phố với 5 ha (lúc ban đầu là 11 ha) là công viên lâu đời nhất và chắc chắn cũng là một trong những công viên đẹp nhất của Köln. Công viên lâu đời 175 năm này được xây dựng theo kiểu công viên vườn hoa và từ hơn 100 năm nay cũng có một nhà hàng với vườn bia. Tại đấy cũng có một câu lạc bộ nhạc Jazz.
Trong Công viên Nhân dân đã hơn 100 tuổi là những nơi nướng thịt suốt đêm vào lúc thời tiết ấm áp, thường cũng có nhiều người chơi nhạc đến tham dự. Ngoài ra công viên này cũng là nơi tổ chức nhiều sự kiện văn hóa, thí dụ như ca kịch thường được trình diễn trong vườn cam (tiếng Anh: Orangery).
Khu diện tích xanh nằm trên một vùng đất cao gần cạnh hồ Aachener Weiher là một địa điểm gặp gỡ được ưa thích, đặc biệt là trong giới sinh viên. Ngọn đồi thoai thoải này hình thành từ những đống đổ nát trong chiến tranh được đổ đống lên tại đây. Từ ngày 7 tháng 8 năm 2004, tên mới của công viên tưởng nhớ đến những nạn nhân trong Chiến tranh thế giới thứ hai: Công viên Hiroshima-Nagasaki. Từ năm 1985, Köln là thành viên của liên minh các thành phố quốc tế chống vũ khí nguyên tử, các gọi là "Liên Minh Hiroshima-Nagasaki".
Thuộc vào trong những công viên đẹp của Köln là Blücherpark trong khu phố Bilderstöckchen và Vorgebirgspark trong Raderthal, mặc dù là được tạo dáng rất khác nhau nhưng cùng được kiến tạo vào đầu thế kỷ 20 theo thiết kế của kiến trúc sư Fritz Encke. Công viên Klettenberg (Klettenbergpark) trong khu phố cùng tên được kiến tạo giữa 1905 và 1908 từ hào rãnh quân sự.
Cũng đáng được tham quan là Vườn bách thú Köln, Vườn thực vật Flora, Công viên Rhein (Rheinpark), khu vực triển lãm vườn liên bang năm 1959 tại Deutz.
Về phía Bắc của Köln là khu vực nghỉ ngơi và chơi thể thao Hồ Fühling (Fühlinger See), bao gồm 7 hồ được kết nối với nhau và một đường đua thuyền. Tại đây có thể tắm, bơi, lặn, câu cá, lướt gió, chèo xuồng canoe và các loại thuyền khác.
=== Thể thao ===
Bóng đá: 1. FC Köln, Fortuna Köln, Viktoria Köln...
Khúc côn cầu trên băng: Kölner Haie
Bóng rổ: RheinEnergie Köln
Đua xe đạp: Adler Köln, PSV Köln
Bóng ném: VFL Gummersbach
Bóng chày: Cologne Cardinals, Cologne Dodgers
American Football: Cologne Centurions, Cologne Chargers, Cologne Falcons
Cầu lông: BC Schwarz-Weiß Köln
Khúc côn cầu: Blau-Weiß Köln, Rot-Weiß Köln, Schwarz-Weiß Köln und Marienburger Sport Club (MSC)
Quần vợt: Blau-Weiß Köln
Điền kinh: ASV Köln
=== Cuộc sống về đêm ===
Các điểm đến vào cuối tuần được nhiều người ưa thích là khu phố cổ, khu phố sinh viên Kwartier Latäng, khu phố Friesen cũng như là khu vực phía nam của thành phố chung quanh quảng trường Chlodwid (Chlodwigplatz) và đường Altenburger (Altenburger Strasse). Ngoài ra Köln còn có Pascha trong Ehrenfeld là nhà chứa lớn nhất châu Âu.
=== Lễ hội hóa trang ===
Lễ hội hóa trang Köln – "mùa thứ năm" trong năm – bắt đầu vào ngày 11 tháng 11 trên Quảng trường Chợ cũ (Köln) (Alter Markt (Köln)). Sau đó lễ hội hóa trang tạm thời ngưng đến khi sang năm mới. Vào năm mới, lễ hội sẽ kéo dài cho đến ngày thứ Tư của Tuần Chay (tiếng Anh: Ash Wednesday).
Đỉnh cao của lễ hội hóa trang tại Köln là các buổi lễ hội hóa trang trên đường phố và trong quán rượu, bắt đầu vào ngày Weiberfastnacht, tức là ngày thứ Năm trước ngày thứ Hai của tuần Chay (tiếng Đức: Rosenmontag), hầu như đặt thành phố Köln vào một "tình trạng khẩn cấp" trong vòng 6 ngày sau đó, vì công sở, trường học và cửa hàng gần như bị tê liệt hoàn toàn. Trong thời gian này có nhiều cuộc diễu hành hóa trang trên đường phố mà lớn nhất là vào ngày thứ Hai của tuần Chay.
=== Ẩm thực ===
Köln có một truyền thống ẩm thực lâu đời đã phong phú hóa các nguyên liệu tại chỗ với nhiều nguyên tố được nhập khẩu. Là thành phố có một vị trí nổi bật trong thương mại quốc tế nên ngay từ thời xưa cá trích, sò và đặc biệt là rất nhiều gia vị đã được sử dụng trong lúc nấu ăn. Trong thời Trung cổ, khi vẫn còn có nhiều trong sông Rhein, cá hồi được xem là thức ăn của người nghèo trong khi cá trích lại là niềm hãnh diện cho bếp nấu ăn của người có tiền. Món ăn Heringstip với táo, hành tây và kem sữa vẫn còn là một chứng minh cho đến hôm nay.
Đất màu mỡ và khí hậu đã mang lại một vai trò nổi bật cho rau cải trong ẩm thực Köln. Món ăn chua ngọt cổ điển của ẩm thực Köln là thịt rán chua ngọt Rhein (Rheinischer Sauerbraten), lúc ban đầu được chế biến từ thịt ngựa, được cho thêm rất nhiều nho khô. Rau cải theo mùa được ưa thích nhiều nhất là cải bắp cuốn (Brassica oleracea)và măng tây (Asparagus).
Quán bia đóng vai trò quan trọng ở Köln: đầu tiên chỉ là nơi bán bia của các hãng nấu bia tại Köln, các quán bia dần dần phát triển trở thành nơi chính bán các thức ăn bình dân của Köln. Bên cạnh các món ăn đã được nhắc đến tại đây còn có các món "nặng" như Krüstchen (thịt rán, trứng và bánh mì), giò heo và Rievkooche (bột khoai tây chiên).
== Kinh tế và hạ tầng cơ sở ==
Kinh tế Köln mang dấu ấn của công nghiệp thực phẩm, công nghiệp chế tạo ô tô, công nghiệp hóa và truyền thông. Khu vực thứ ba của kinh tế với nghiên cứu, hành chánh, hội chợ, bảo hiểm, ngân hàng và trụ sở chính của những nhà máy lớn cũng đóng vai trò quan trọng. Thêm vào đó là ngành du lịch. Tuy nhiên phải nhắc đến ngành công nghiệp tuy nhỏ, nhưng đã làm cho Köln nổi tiếng khắp thế giới: Nước Hoa Cologne ([Eau de Cologne hay Kölnisch Wasser). Hãng nước hoa 4711 được gia đình Muehlens thành lập từ năm 1792, đã biến tên thành phố Cologne thành khái niệm nước hoa vì nhiều người vẫn quen gọi nước hoa là Eau de Cologne
=== Hội chợ ===
Các hội chợ được biết đến nhiều nhất trong khuôn khổ của Hội chợ Köln là:
Anuga: Hội chợ chuyên ngành về thực phẩm và công nghiệp thực phẩm
Photokina Hội chợ chuyên ngành quan trọng nhất của công nghiệp ảnh.
ART Cologne Hội chợ chuyên ngành về Nghệ thuật Hiện đại
Triển lãm Mô tô và Xe đạp thế giới (IFMA)
=== Giao thông ===
Về phía đông nam của thành phố, trong quận Porz, là Cảng hàng không Köln/Bonn, một trong những cảng hàng không Đức có khối lượng chuyển tải hàng hóa lớn nhất (hơn 650.000 tấn trong năm 2005). Từ năm 1994 cảng có tên là Cảng hàng không Konrad Adenauer. Bên cạnh Cảng hàng không Leipzig-Halle, cảng hàng không Köln/Bonn là cảng hàng không Đức duy nhất không có hạn chế bay đêm. Cảng có 139 đường bay đến 38 nước.
Nhà ga chính Köln là trung tâm phía tây của giao thông đường sắt quốc tế của nước Đức. Từ đây có đường tàu hỏa đi khắp nơi.
Giao thông công cộng bao gồm nhiều đường tàu nhanh (S-Bahn), tàu điện và xe buýt. Köln có tròn 1.200 taxi phục vụ suốt ngày đêm.
Một đặc biệt là Tuyến cáp treo Rhein (Rheinseilbahn), tuyến cáp treo vượt sông duy nhất trong nước Đức.
=== Đại học ===
Hiện nay Köln có 11 trường đại học công và tư với nhiều ngành học khác nhau, tạo dấu ấn trên hình ảnh thành phố Köln là một trong ba thành phố đại học lớn nhất Đức. Köln có tiếng là thành phố đa văn hóa cũng nhờ vào 1/10 dân số là sinh viên đến từ khắp nước Đức và khắp nơi trên thế giới.
== Truyền thông ==
Với khoảng 30.000 đến 40.000 người làm việc trong lãnh vực truyền thông, Köln là một trong những địa điểm quan trọng của giới truyền thông bên cạnh Berlin, Hamburg và München. Chỉ riêng đài phát thành và truyền hình của tiểu bang, Westdeutscher Rundfunk (WDR), đã có 3.500 nhân viên tại Köln. Trụ sở chính của WDR đặt tại Köln, cũng như trụ sở của đài truyền hình tư nhân RTL và nhiều đài phát thanh.
Một số trường học về truyền thông quan trọng tại Köln là Đại học Nghệ thuật cho Truyền thông (Kunsthochschule für Medien) và Trường Phim ảnh Quốc tế Köln (Internationale Filmschule Köln). Đặc biệt là trong khu phố được gọi là "Khu phố Bỉ" có rất nhiều hãng sản xuất phim nhỏ, nhưng thường không tự quay phim mà hỗ trợ dịch vụ và trang bị kỹ thuật cho các hãng sản xuất phim lớn.
Khu vực truyền thông lớn của Köln là MediaPark, được xây dựng trên một khu nối toa tàu hỏa cũ vào năm 1999. Trong các tòa nhà hiện đại của MediaPark, trong đó có Tháp Köln cao 148 mét, là trụ sở của khoảng 250 công ty với khoảng 5.000 nhân viên, trong số đó hơn 60% hoạt động trong lĩnh vực truyền thông và thông tin.
Một khu vực truyền thông quan trọng khác là trung tâm truyền thông Mülheim. Trên khu đất của một nhà máy cũ, chung quanh hội trường tổ chức sự kiện E-Werk là trụ sở của nhiều nhà nghệ thuật và văn phòng đại diện. Tại đấy cũng có một vài xưởng phim truyền hình, sản xuất phim cho đài truyền hình tư nhân Sat.1 và các đài khác.
Ngoài ra, nằm về phí tây bắc của thành phố, trên khu đất của một phi trường quân sự cũ là Coloneum, là khu liên hợp xưởng phim lớn nhất châu Âu với diện tích 35 ha và 20 xưởng phim (25.000 m²). Tề phía tây nam thành phố, giữa Köln và Hürth cũng là một khu lien hợp xưởng phim của endemol, sản xuất nhiều show cho các đài truyền hình RTL và Sat.1.
== Nhân vật nổi tiếng ==
Hiện nay Köln có 23 công dân danh dự (xem danh sách công dân danh dự Köln). Các người con nổi tiếng của Köln được liệt kê trong danh sách các người con của thành phố Köln và danh sách các tổng Giám mục của Köln.
== Tham khảo ==
=== Sách về thành phố và bản đồ ===
Deutscher Städteatlas; Band II, 2. Im Auftrag des Kuratoriums für vergleichende Städtegeschichte e. V. und mit Unterstützung der Deutschen Forschungsgemeinschaft, hrsg. von Heinz Stoob †, Wilfried Ehbrecht, Jürgen Lafrenz und Peter Johannek. Stadtmappe Köln, Autoren: Hansgerd Hellenkemper, Emil Meynen. Dortmund-Altenbeken, 1979. ISBN 3-89115-317-1
Köln, der historisch- topographische Atlas, hrsg. von Dorothea Wiktorin u.a.. Emons, Köln 2001, ISBN 3-89705-229-6
Preußens Städte - Denkschrift zum 100-jährigen Jubiläum der Städteordnung vom 19. tháng 11 năm 1808; hrsg. im Auftrag des Vorstandes des Preußischen Städtetages von Prof. Dr. Heinrich Silbergleit, Berlin, 1908
Rheinisches Städtebuch; Band III 3. Teilband aus "Deutsches Städtebuch. Handbuch städtischer Geschichte - Im Auftrage der Arbeitsgemeinschaft der historischen Kommissionen und mit Unterstützung des Deutschen Städtetages, des Deutschen Städtebundes und des Deutschen Gemeindetages, hrsg. von Erich Keyser. Stuttgart 1956.
=== Chuyên khảo ===
Curdes, Gerhard; Ulrich, Markus: Die Entwicklung des Kölner Stadtraumes - Der Einfluss von Leitbildern und Innovationen auf die Form der Stadt. Dortmunder Vertrieb für Bau- und Planungsliteratur, Dortmund 1997, ISBN 3-929797-36-4
Dehio, Georg: Handbuch der Deutschen Kunstdenkmäler: Nordrhein-Westfalen I. Bearb. von Claudia Euskirchen, Olaf Gisbertz, Ulrich Schäfer u.a. Einl. von Udo Mainzer. München 2005. XXX, 1312 S. mit 150 Grundrissen & Plänen, Glossar, Index, Ln. ISBN 3-422-03093-X
Kier, Hiltrud: Kleine Kunstgeschichte Kölns. Beck, München 2001, ISBN 3-406-47170-6
Martin Rüther: Köln im Zweiten Weltkrieg: Alltag und Erfahrungen zwischen 1939 und 1945, Darstellungen - Bilder - Quellen. Mit Beitr. von Gebhard Aders. - Köln: Emons 2005, 960 S. (=Schriften des NS-Dokumentationszentrums der Stadt Köln, Bd. 12), ISBN 3-89705-407-8
Schuh, Christian: Köln 85 Stadtteile. Geschichte, Daten, Fakten, Namen. Von A wie Altstadt bis Z wie Zündorf, Köln Bibliothek 10. Emons Verlag 2003, ISBN 3-89705-278-4
Stelzmann, Arnold; Frohn, Robert: Illustrierte Geschichte der Stadt Köln, 11. verbesserte Auflage. Bachem, Köln 1990 (1. Auflage 1958), ISBN 3-7616-0973-6
Treeck, Bernhard van: Street Art Köln. Edition Aragon (Deutschland), Moers 1996, ISBN 3-89535-434-1
Wolff, Gerta: Das Römisch-Germanische Köln - Führer zu Museum und Stadt. Bachem, Köln 2000, ISBN 3-7616-1370-9
=== Sách du lịch ===
Köln, Merian Hefte Dezember 1979 und Juli 1988.
Baedeker Allianz Reiseführer Köln 9. Aufl. 1994
=== Những điều thú vị về Köln ===
Jürgen Becker: Biotop für Bekloppte - Ein Lesebuch für Immis und Heimathirsche. Kiepenheuer & Witsch, Köln 1995, ISBN 3-462-02423-X.
Friedhelm Biermann: Drei Könige, elftausend Jungfrauen und noch etwas mehr - Ein unterhaltsamer Streifzug durch die Kölner Jahrhunderte. Emons, Köln 2001, ISBN 3-89705-228-8.
Hanns Dieter Hüsch: Köln. Eulen, Freiburg 1993, ISBN 3-89102-235-2.
Falko Rademacher: Köln für Imis - Ein Leitfaden durch die seltsamste Stadt der Welt. Emons, Köln 2006, ISBN 3-89705-249-0.
Thomas R. P. Mielke: Colonia, Roman einer Stadt - Zweitausend Jahre Kölner Geschichte unterhaltsam erzählt. Lübbe, Berg. Gladbach 2003, ISBN 3-404-14855-X
== Chú thích ==
== Liên kết ngoài ==
Trang Web chính thức của thành phố Köln
Du lịch Köln |
msn.txt | MSN (viết tắt từ tên tiếng Anh The Microsoft Network) là một tập hợp các dịch vụ Internet cung cấp bởi Microsoft vào ngày 24 tháng 8 năm 1995, ra đời cùng lúc với phiên bản Windows 95. Số lượng dịch vụ được cung cấp thay đổi rất nhiều so với khi mới được phát hành. Dịch vụ email trên nền web Hotmail là một trong những sản phẩm đầu tiên (vào ngày 7 tháng 5 năm 2007 nó được thay thế bởi Windows Live Hotmail), tiếp theo là dịch vụ nhắn tin nhanh MSN Messenger, mới đây được thay thế bởi Windows Live Messenger. Theo trang Alexa.com, MSN.com hiện xếp thứ mười tám về các trang web được truy cập nhiều nhất.
Một phần lớn các dịch vụ của MSN đã được đổi thương hiệu thành Windows Live vào năm 2005, với sự phát hành của Windows Live Hotmail (trước đó là Windows Live Mail) và Windows Live Messenger. Microsoft đại tu tất cả các dịch vụ và phần mềm trực tuyến của họ để đối phó với sự cạnh tranh ngày càng mạnh mẽ từ các đối thủ như Google, và Yahoo!. Nhãn hiệu Windows Live hiện đang được phát hành từng phần, với những dịch vụ được đổi thương hiệu ở dạng beta. Có thể thấy rằng dịch vụ MSN sẽ nhắm đến người dùng cá nhân và gia đình, trong khi Windows Love sẽ dành cho cơ sở tìm kiếm với những loại hình truyền thông khác nhau.
Ở Hoa Kỳ và Canada, MSN không chỉ là nhà cung cấp nội dung và bộ máy tìm kiếm, nó còn là nhà cung cấp dịch vụ Internet. Với khoảng 9 triệu thuê bao, MSN là Nhà cung cấp dịch vụ Internet lớn thứ hai ở Hoa Kỳ sau AOL với khoảng 26,5 triệu. Ở các nước khác, MSN dùng người bảo hiểm cho dịch vụ của họ; ở Anh, Microsoft dùng BT group.
Từ "MSN" cũng đồng nghĩa với "MSN Messenger" theo cách nói lóng trên Internet. Để sử dụng MSN Messenger, người dùng phải có một tài khoản Windows Live ID, một hệ thống tài khoản cho phép truy cập vào tất cả các dịch vụ của MSN. Người dùng có thể đăng ký bằng địa chỉ email, và sau đó có thể sử dụng tính năng cá nhân hóa MSN và Windows Live. Những tính năng cá nhân hóa này bao gồm My MSN, MSN Hotmail (giờ là Windows Live Hotmail) và khả năng đăng nhập vào Windows Live Messenger, và cả Windows Messenger (đã vắng bóng trên Windows Vista. Vào năm 2007, MSN có hơn 225 triệu người dùng.
== Lịch sử ==
MSN nguyên thủy là một ý tưởng về nhà cung cấp dịch vụ trực tuyến được thai nghén của America Online, cung cấp nội dung có bản quyền và cục bộ trùng hợp với Windows Explorer của Windows 95.
Nhóm MSN bắt đầu hoạt động trong Nhóm Công nghệ Tiên tiến, đứng đầu bởi Nathan Myhrvold và nhóm có tên là AT-OLS (tiếng Anh: Advanced Technologies Online Systems group).
Sau sự phổ biến nhanh chóng của Internet, một phần nhờ sự tương thích với giao thức IP có sẵn trong Windows 95, dịch vụ đã được đổi thương hiệu thành "MSN 2.0" mới, kết hợp truy cập internet với nội dung có bản quyền chuyển tải qua web.
Nội dung mới sử dụng rất nhiều tính năng giao tiếp và truyền thông đa phương tiện, bao gồm VBScript và sự hiện thực đầu tiên của Macromedia Flash cho ảnh động. Trong khi cách tiếp cận khá độc đáo, nội dung thì lại không dễ truy cập cho người dùng máy tính dòng thấp và kết nối quay số (truy cập Internet băng thông rộng thời đó chưa phổ biến). Kết quả là dịch vụ đã được đổi thương hiệu lần nữa để gần hơn đến xu hướng là nhà cung cấp dịch vụ Internet. Vào ngày 14 tháng 2 năm 2000, MSN đã đưa vào sử dụng biểu trưng "con bướm" nhiều màu.
== Các nhánh ==
Microsoft đã hợp tác với nhiều công ty lớn khác nhau để tạo ra nhiều dịch vụ bổ sung trên MSN.
Microsoft adCenter
MSN Shopping — hợp tác với eBay, PriceGrabber và Shopping.com
MSN Encarta bách khoa toàn thư với các mức tiếp cận thông tin và giá cả khác nhau
Ngoài ra, thuê bao MSN Premium còn nhận được:
MSN Firewall và MSN Virus Guard, cung cấp bởi McAfee
Webroot Spy Sweeper cho MSN
Microsoft đã nhận thấy sự cạnh tranh ngày càng gay gắt từ những nhà cung cấp dịch vụ khác, như Google và Yahoo!. Bản phát hành Google Earth ngay lập tức theo sau bởi dịch vụ tương tự từ MSN. Có thể nói rằng, MSN, Yahoo! và Google đang nhanh chóng mở rộng các dịch vụ mà họ cung cấp, với sự khác biệt về chức năng rất nhỏ, ngoại trừ sự ưa dùng cá nhân. Cũng tương tự như vậy, trong khi MSN Premium đưa ra chương trình Firewall, Virus và Spyware miễn phí, những nhà cung cấp băng thông rộng khác cũng cung cấp những dịch vụ tương tự (hoặc y chang) cho thuê bao của họ.
== Windows Live ==
Vào năm 2006, đa số các dịch vụ và phần mềm của MSN đã được nâng cấp và đổi thương hiệu với tên mới Windows Live. Nó là một phần chiến dịch của Microsoft để tăng cường các dịch vụ trực tuyến của mình thông qua các phần mềm và dịch vụ tốt hơn sử dụng thương hiệu Windows. MSN sẽ chỉ là nhà cung cấp nội dung trực tuyến thông qua cổng điện tử internet như msn.com.
Windows Live sẽ sử dụng công nghệ web mới để cho ra các tính năng và chất lượng dịch vụ "như phần mềm" thông qua trình duyệt web của người dùng. Điều này rõ ràng với Windows Live Hotmail ở đó người dùng có thể dùng menu bằng cách nhấp phải chuột và giao diện giống như Microsoft Outlook. Windows Live cũng đi kèm với Office Live, cung cấp dịch vụ ứng dụng hướng về doanh nghiệp thông qua trình duyệt Internet.
Các sự thay đổi về tên đã hoàn thành và dự tính:
MSN Hotmail giờ gọi là Windows Live Hotmail,
MSN Messenger giờ gọi là Windows Live Messenger,
MSN Search giờ gọi là Windows Live Search,
MSN Virtual Earth giờ gọi là Microsoft Virtual Earth,
MSN Mobile giờ gọi là Windows Live Mobile,
MSN Spaces giờ gọi là Windows Live Spaces, and
MSN Alerts giờ gọi là Windows Live Alerts,
MSN Winks giờ gọi là Windows Live Winks.
Tình trạng của hai dịch vụ hiện nay, MSN Explorer và MSN Groups, chưa được công khai.
Những dịch vụ mới đã được công bố, như Windows Live OneCare Safety Scanner và Windows Live Favorites.
== MSN tiếng Việt ==
Ngày 4 tháng 7 năm 2007, đại diện tập đoàn Microsoft và một số công ty truyền thông hợp tác đã công bố sự hợp tác để xây dựng cổng thông tin MSN tại Việt Nam. Sau khi hoàn thành, MSN Việt Nam giúp người dùng Internet trong nước có thể truy cập nhanh chóng các kênh tin tức trong và ngoài nước, các kênh thể thao, mua sắm trực tuyến, tài chính, du lịch... Đồng thời, Microsoft cũng mở rộng cung cấp các dịch vụ và sản phẩm của Windows Live tại đây.
Các công ty hợp tác chung gồm có:
VIP Wireless chịu trách nhiệm tập hợp nội dung và làm trung gian giữa các đối tác trong và ngoài nước.
VTV và Báo Lao động cung cấp nội dung thời sự, tin tứcm thời tiết vầ các thông tin về kinh tế.
VDC cung cấp hệ thống mạng, cơ sở hạ tầng Internet và hỗ trợ kỹ thuật.
== Xem thêm ==
Danh sách dịch vụ MSN
Danh sách các bộ máy tìm kiếm
MSN Maps
MSN Chat
MSN Groups
MSN Video
NineMSN
MSNBC
Microsoft
Soapbox trên MSN Video
== Tham khảo ==
== Liên kết ngoài ==
MSN.com PC/Mac Site
MSN.mobi Mobile Site |
pháp thuộc.txt | Pháp thuộc là một giai đoạn trong lịch sử Việt Nam kéo dài 61 năm, bắt đầu từ 1884 khi Pháp ép triều đình Huế chấp nhận sự bảo hộ của Pháp cho đến 1945 khi Pháp mất quyền cai trị ở Đông Dương. Tuy nhiên, nhiều tài liệu khác cho rằng thời kỳ Pháp thuộc cần được tính từ năm 1867 (tức là kéo dài gần 80 năm), khi Nam Kỳ Lục tỉnh bị nhà Nguyễn cắt nhượng cho Pháp, trở thành lãnh thổ đầu tiên Pháp chiếm được trong quá trình Pháp xâm lược Đại Nam.
Trong thời kỳ này Pháp thôn tính Việt Nam, Campuchia và Lào. Mất chủ quyền, Việt Nam bị chia cắt thành 3 xứ riêng biệt với ba cơ cấu hành chính riêng: xứ thuộc địa Nam Kỳ và hai xứ bảo hộ Bắc và Trung Kỳ. Cao Miên (Campuchia), Ai Lao cũng chịu sự cai trị của Pháp, và nhượng địa Quảng Châu Loan tiếp theo bị gom vào Liên bang Đông Dương.
Tháng 9 năm 1945, Pháp đem quân trở lại tấn công Việt Nam để tái lập chế độ thuộc địa ở đây, nhưng người Việt Nam phản kháng quyết liệt và Pháp đã bị thất bại sau 9 năm chiến tranh. Pháp buộc phải công nhận nền độc lập của Việt Nam (cũng như Lào và Campuchia), chính thức chấm dứt thời kỳ Pháp thuộc, đồng thời kéo theo sự sụp đổ hệ thống thuộc địa của Pháp và các nước thực dân khác trên khắp thế giới vào thập niên 1950 - 1960.
== Kinh tế - văn hóa - xã hội ==
=== Kinh tế ===
==== Tổng quan ====
Theo sắc lệnh ngày 17-10-1887, thực dân Pháp thành lập Liên bang Đông Dương, năm đó mới bao gồm có Bắc Kì, Trung Kì, Nam Kì và Campuchia, trực thuộc Bộ Hải quân và Thuộc địa. Ngày 19- 4-1899, Tổng thống Pháp ra sắc lệnh sáp nhập thêm Lào vào Liên bang Đông Dương. Việt Nam bị chia cắt làm 3 kì: Bắc Kì, Trung Kì và Nam Kì với ba chế độ cai trị khác nhau. Bắc Kì và Trung Kì là hai xứ bảo hộ vẫn còn giữ lại chính quyền phong kiến về hình thức; Nam Kì là đất thuộc địa hoàn toàn do Pháp nắm cùng với Lào và Campuchia cũng là đất bảo hộ của Pháp, hợp thành Liên bang Đông Dương. Việt Nam, Lào, Campuchia bị xóa tên trên bản đồ thế giới.
Vào giai đoạn đầu, thực dân Pháp chỉ mới chú trong vào hai lĩnh vực chủ yếu là nông nghiệp và khai mỏ.
Nông nghiệp: Năm 1897, Pháp ép triều Nguyễn ký điều ước “nhượng” quyền “khai khẩn đất hoang” cho họ. Ngay sau đó, Pháp tăng cường cướp đoạt đất đai, lập các khu đồn điền lớn để trồng cao su, thứ cây công nghiệp mà Pháp coi trọng khi đó.
Công nghiệp: chú trọng khai thác mỏ than và kim loại. Tuy nhiên Pháp không xây nhà máy luyện kim tại Việt Nam, tất cả khoáng sản được chở về Pháp. Phần lớn các xí nghiệp khai mỏ nằm trong tay những tập đoàn tư bản Pháp. Phương thức hoạt động là tận dụng nhân công lao động rẻ mạt, sao cho chi phí sản xuất giảm xuống mức thấp nhất để thu lợi nhuận cao.
Giao thông vận tải: xây dựng hệ thống đường giao thông hiện đại, vừa phục vụ làm ăn lâu dài, vừa nhằm mục đích quân sự.
Thương nghiệp: Việt Nam trở thành thị trường độc quyền của tư bản Pháp, Pháp độc quyền thu thuế xuất nhập khẩu. Tất cả hàng hóa Việt Nam mà Pháp cần đều phải ưu tiên xuất sang Pháp, không được xuất khẩu sang nước khác, những hàng hóa mà Pháp thừa ế hoặc kém phẩm chất so với hàng hóa của các nước khác thì Pháp xuất sang Việt Nam.
Ở Bắc Kỳ tính đến năm 1902, người Pháp đã chiếm hữu 182.000 héc ta đất trong đó có 50.000 héc ta ở các vùng trù phú nhất. Sau khi chiếm đất, thực dân Pháp chủ yếu vẫn áp dụng phương pháp phát canh thu tô. Một số tư bản thực dân có kinh doanh trong những sở đồn điền mới theo lối tư bản chủ nghĩa, nhưng số này ít, chủ yếu là nhằm tận dụng nhân công rẻ mạt. Ngoài địa chủ Pháp, giáo hội Thiên Chúa chỉ riêng ở Nam Kỳ đã sở hữu 1/4 diện tích đất canh tác.
Pháp giành độc quyền buôn bán 3 mặt hàng quan trọng nhất là gạo, muối và rượu. Hồ Chí Minh đã nhận xét: "Nói đến các món độc quyền, người ta có thể hình dung Đông Dương như một con nai béo mập bị trói chặt và đương hấp hối dưới những cái mỏ quặp của một bầy diều hâu rỉa rói mãi không thấy no".
==== Các loại thuế ====
Chính quyền thực dân Pháp thu lợi tức thuộc địa thông qua hệ thống các sắc thuế, nhiều loại thuế được đặt ra một cách vô lý. Các loại thuế được thu và phân chia theo 2 loại ngân sách: thu cho Ngân sách Đông dương (chủ yếu là thuế quan, thuế rượu, thuốc phiện, muối...) và thu cho Ngân sách địa phương gồm các xứ (Bắc kỳ, Trung kỳ, Nam kỳ) và các tỉnh (chủ yếu là thuế thân, thuế ruộng đất, thuế lao dịch...):
Thuế chủ yếu thu cho ngân sách Đông Dương:
Thuế quan (còn gọi là thuế đoan, thuế thương chính): Thi hành cho đến năm 1940, theo đó Việt Nam phải dùng chung một chế độ thuế quan do nước Pháp đặt ra. Pháp bảo hộ sản phẩm nào thì Việt Nam cũng phải bảo hộ sản phẩm đó. Nhờ hàng rào thuế quan bảo hộ, Pháp tự do đưa hàng với chất lượng thấp, giá đắt vào thị trường Việt Nam. Trong cuốn sách "Vấn đề dân cày", Trường Chinh và Võ Nguyên Giáp đã viết: "họ vớ được một số lời cao hơn với số lời của họ thường có trên thị trường thế giới". Số lời cao đó, trong kinh tế chính trị học gọi là "thặng dư lợi nhuận thuộc địa".
Thuế gián thu (Công quản): Thường bảo đảm khoảng 70% tổng số thu của ngân sách Đông dương, chủ yếu là thuế muối, thuế rượu, thuế thuốc phiện, thông qua chế độ độc quyền mua bán của Pháp:
Thuế muối: Pháp quy định toàn bộ số muối mà dân sản xuất phải bán hết cho nhà nước Pháp với giá rẻ, rồi Nhà nước bán lại cho dân (kể cả người trực tiếp sản xuất muối) với giá cao hơn, để hưởng lợi nhuận. Không chỉ phục vụ mục tiêu tận thu của chính quyền Pháp mà còn mang ý nghĩa chính trị: Pháp có thể dùng muối làm áp lực với nhân dân khi cần, vì muối là mặt hàng thiết yếu của người dân.
Thuế rượu: Pháp cấm mọi việc nấu rượu của tư nhân Việt nam (kể cả việc tự nấu rượu để uống), đồng thời giao chỉ tiêu bán "rượu ty" cho chính quyền tổng, xã để thu lợi nhuận.
Thuế thuốc phiện: Pháp mua và chế biến thuốc phiện, khuyến khích dân Việt tiêu thụ, mở tiệm hút thuốc phiện để tạo được nguồn thu lớn cho chính quyền Pháp.
Thuế chủ yếu thu cho ngân sách các xứ (kỳ):Chủ yếu gồm các thứ thuế cũ dưới thời phong kiến như thuế thân, thuế ruộng đất, thuế lao dịch và được sửa đổi theo hướng tăng mức thu ngày càng cao hơn:
Thuế thân (thuế đinh): Mọi dân đinh từ 18 đến 60 tuổi đều phải đóng thuế này. Trước kia, thuế thân chỉ thu của người có ít nhiều tài sản, có khả năng đóng thuế, được chia ruộng đất công, nhưng nay thì Pháp thu toàn bộ. Thuế thân đã tạo thêm cho Pháp số thu rất lớn, nhưng đối với dân nghèo, mỗi khi đến vụ thuế (tháng 5 âm lịch) thì người nghèo lại xôn xao, nhiều người bị bắt hoặc phải bỏ quê hương để trốn thuế. Cảnh tượng đau lòng của việc đóng thuế thân đã được nhà văn đương thời Ngô Tất Tố mô tả chi tiết trong tác phẩm Tắt đèn.
Thuế ruộng đất (thuế điền thổ): Từ năm 1897, toàn quyền Đông Dương đã nhiều lần cho điều chỉnh lại theo 4 hạng điền, 6 hạng thổ (đất). Mức thuế chủ yếu là tăng lên, kèm với những khoản phụ thu, nhưng diện tích làm căn cứ tính mẫu, sào lại điều chỉnh giảm xuống. Ví dụ: Theo quy định từ thời Tự Đức (1847-1883), mỗi mẫu Việt nam là 4.970 m2. Năm 1897, ở Bắc kỳ, Pháp quy định mỗi mẫu chỉ có 3.600 m2. Vì vậy thuế phải nộp thực tế tăng lên, có khi đến 2-3 lần.
Thuế lao dịch: Về nguyên tắc, thuế lao dịch đã chuyển thành tiền (gắn với thuế thân hoặc nộp ngân sách tỉnh, xã) để sử dụng vào việc xây dựng, tu bổ đường sá, đê điều... Nhưng trên thực tế, khi cần làm đường hoặc đắp đê, Chính phủ vẫn huy động nhân lực đi làm, kể cả trong những ngày mùa cày cấy, thu hoạch nông nghiệp.
==== Buôn bán rượu và thuốc phiện ====
Thuốc phiện là mặt hàng được Pháp công khai buôn bán, khuyến khích người Việt sử dụng chứ không bị cấm như ở chính quốc. Lợi nhuận từ thuốc phiện đã đóng góp tới 25% vào ngân sách của Pháp Đông Dương. Tổng ngân sách năm 1905 là 32 triệu đồng Đông Dương, trong số này nguồn thu từ độc quyền bán thuốc phiện là 8,1 triệu. Tính đến năm 1900 thì lợi nhuận Pháp thu được từ thuốc phiện đạt hơn phân nửa số tiền thu nhập của toàn Liên bang Đông Dương. Riêng việc phân phối bán lẻ là để cho tư nhân, đa số là người Hoa. Thuốc phiện đã trở thành một công cụ hữu hiệu vừa để thu lợi nhuận, vừa để làm suy sụp ý chí phản kháng của người Việt. Toàn quyền Đông Dương Xarô từng có thư gửi viên Công sứ dưới quyền:
Tôi trân trọng yêu cầu ông vui lòng giúp đỡ những cố gắng của Nha Thương chính trong việc đặt thêm đại lý bán lẻ thuốc phiện và rượu, theo chỉ thị của ông Tổng giám đốc Nha Thương chính Đông Dương.
Để tiến hành việc đó, tôi xin gửi ông một bản danh sách những đại lý cần đặt trong các xã đã kê tên; phần lớn các xã này, tới nay, vẫn hoàn toàn chưa có rượu và thuốc phiện. Qua các Tỉnh trưởng và các Xã trưởng Cao Miên, ông có thể dùng ảnh hưởng to tát của ông để làm cho một số tiểu thương người bản xứ thấy rằng buôn thêm rượu và thuốc phiện là rất có lợi.
Chúng ta chỉ có thể đạt kết quả mỹ mãn, nếu chúng ta hợp đồng với nhau chặt chẽ và liên tục, vì lợi ích tối cao của ngân khố."
Thập niên 1930, cứ một nghìn làng thì có đến 1.500 đại lý bán lẻ rượu và thuốc phiện. Nhưng cũng trong số một nghìn làng đó lại chỉ có 10 trường học. Nạn nghiên thuốc phiện trở thành một vấn nạn nghiêm trọng trong xã hội Việt Nam
Về việc buôn rượu, vì bắt buộc phải trả những khoản chi tiêu thường xuyên, những món kinh phí ngày càng tăng của Phủ toàn quyền, của những công trình kiến thiết quân sự và những khoản lương cho một đám đông công chức từ Paris, cho nên Chính phủ thuộc địa đã tìm mọi cách thúc đẩy việc tăng mức tiêu thụ rượu lên. Vì vậy, Pháp đề ra quy định các làng phải mua số rượu tối thiểu tính theo dân số. Pháp ấn định trên thực tế mức rượu mà mỗi người bản xứ buộc phải uống hàng năm, kể cả người già, phụ nữ, trẻ em, cả đến trẻ em còn bú mẹ. Dân một làng Bắc Kỳ buộc phải mua quá nhiều rượu, thấy trước nguy cơ đe doạ ấy, đã kêu với viên quan người Pháp tại địa phương rằng: "Ngay đến cái ăn, chúng tôi cũng không có gì cả". Quan Pháp đáp: "Chúng mày quen ngày ba bữa, bây giờ bớt đi một bữa, hay nếu cần thì bớt đi một bữa rưỡi là có thể mua rượu của nhà nước".
Người An Nam quen dùng rượu từ 20 đến 22 độ; trong khi người Pháp bắt họ dùng rượu từ 40 đến 45 độ. Thứ rượu mà Pháp độc quyền buôn bán và buộc dân Việt Nam phải uống được cất bằng thứ gạo rẻ tiền, pha thêm chất hoá học (để giảm chi phí sản xuất), nên có mùi vị nồng nặc khó chịu và gây hại rất lớn cho sức khỏe.
=== Văn hóa và giáo dục ===
Về giáo dục, chính quyền thực dân ở Việt Nam cho mở hai hệ thống trường học: trường Hán học có cải tổ đôi chút và hệ thống trường Pháp - Việt. Trường Hán học chỉ duy trì tạm thời, đã được thay thế bằng trường Pháp - Việt trên cả nước kể từ thập niên 1910. Tuy vậy, trên toàn Việt Nam, tính đến năm 1906 mới chỉ có 25 trường học tiểu học Pháp - Việt và tính đến hết năm 1913 mới chỉ có 10 vạn học sinh các cấp (trong tổng số 20 triệu dân lúc bấy giờ). Sự phát triển giáo dục cũng không đều khắp: Tất cả các vùng miền núi đều không có trường học, riêng tỉnh Sơn La mãi đến 1917 mới có 1 trường sơ học.
Đến năm 1945, toàn Đông Dương chỉ có Viện Đại học Đông Dương bao gồm 10 trường thành viên: Cao đẳng Y khoa, Cao đẳng Nông nghiệp, Cao đẳng Thú y, Cao đẳng Công chính, Cao đẳng Địa chính, Cao đẳng Luật khoa, Cao đẳng Khoa học, Cao đẳng Mỹ thuật.... Năm học 1944-1945, cả Viện này có 1.575 sinh viên (so với tổng dân số Việt Nam khi đó là 23 triệu). Phần lớn học sinh và sinh viên đại học, cao đẳng đều là con em các gia đình giàu có hoặc có địa vị nhất định trong xã hội lúc bấy giờ. Các gia đình nông dân, nhân dân lao động nghèo rất ít có khả năng cho con em theo học.
Về giáo dục tiểu học, trung bình một tỉnh chỉ có khoảng từ 2 đến 4 trường Tiểu học, mỗi trường có từ trên 100 đến vài trăm học sinh. Các thành phố lớn mới có trường Cao đẳng Tiểu học như Hà Nội, Hải Phòng, Nam Định, Lạng Sơn (Bắc Kỳ), Thanh Hóa, Nghệ An (Vinh), Huế, Quy Nhơn (Trung Kỳ), Sài Gòn, Cần Thơ, Mỹ Tho (Nam Kỳ). Bậc Trung học (bậc Tú Tài) chỉ có ở Hà Nội (trường Bưởi, trường Albert Sarraut), Huế (trường Khải Định), Sài Gòn (trường Pétrus Ký, trường Chasseloup Laubat), mỗi trường có khoảng từ 100 đến 200 học sinh.
Cho đến năm 1930, tổng số học sinh, sinh viên tất cả các trường từ tiểu học đến đại học chỉ chiếm 1,8% dân số Việt Nam. Do số người được đi học thấp, kết quả là tới năm 1945, trên 95% dân số Việt Nam bị mù chữ.
Chính sách giáo dục của chính quyền Pháp nhằm dụng ý là để chuyển hướng tư duy của đại chúng, xóa bỏ những ảnh hưởng của văn minh Trung Hoa, truyền bá văn minh Pháp nhằm đồng hóa người Việt; đồng thời đào tạo ra một tầng lớp công chức và chuyên viên phục vụ cho nền cai trị và công cuộc khai thác thuộc địa của Pháp. Mối đe dọa đáng sợ cho chính quyền thực dân Pháp là Nho giáo qua các sách vở Hán văn, bởi Nho giáo cổ vũ lòng yêu nước chống ngoại xâm và khuyến khích giới trí thức quan tâm đến các vấn đề chính trị. Hơn nữa người Pháp rất khó chịu trước giới sĩ phu Nho học không ngừng đả kích chế độ thực dân, kích động sự bất mãn của dân chúng thậm chí lãnh đạo các cuộc khởi nghĩa chống Pháp. Vì vậy người Pháp đã dồn nhiều nỗ lực vào việc cải biến nền giáo dục bản xứ: loại bỏ Nho học và cấm giảng dạy lịch sử Việt Nam, thay vào đó là các kiến thức khoa học phương Tây, văn chương và lịch sử Pháp. Một chứng cứ là sách giáo khoa thời Pháp thuộc không dùng danh từ "Việt Nam" mà chỉ nhắc đến "Đông Pháp" và các xứ lệ thuộc. Các kỳ thi Khoa bảng Việt Nam cũng bị loại bỏ, thay vào đó là các kì thi bằng chữ quốc ngữ phỏng theo các kỳ thi của Pháp.
Đi cùng với chính sách hạn chế giáo dục, thực dân Pháp dung dưỡng nạn cờ bạc bằng cách cho phép mở các sòng bạc để thu thuế. Ngoài những sòng bạc công khai có tính chất thường xuyên, tổ chức quy mô ở Chợ Lớn, Lạng Sơn, Móng Cái, Hà Giang, Lào Cai còn có nhiều sòng bạc kín được tổ chức ở các dịp chợ phiên, ở những vòng đua ngựa ở Hà Nội, Hải Phòng, Sài Gòn...
Nạn mại dâm cũng được thực dân Pháp hợp thức công khai và trở nên phổ biến ở các thành phố lớn. Vào những năm 1930, vấn đề mại dâm ở Việt Nam đã trở thành một vấn đề nhức nhối trong xã hội. Các báo đã mô tả tình trạng "lúc nhúc xóm bình khang, đầy rẫy phường bán phấn" trong các đô thị Việt Nam dưới thời Pháp thuộc. Một biến tướng khác của mại dâm là "hát cô đầu" đã trở thành "một cái ung nhọt" của xã hội. Báo Công luận viết "Nếu đi qua các ngõ Sầm Công ở Hà Nội, phố Hạ lý Hải Phòng, phố Bến Củi Nam Định... ta sẽ thấy một cảnh tượng đau lòng, một sự dâm ô đê tiện hơn hết trong sự mãi dâm, chắc không có nước nào mà mãi dâm lại đê tiện hơn mãi dâm ở nước ta: Họ ra tận đường phố lôi kéo khách hàng, họ nói những câu, hát những giọng khiêu dâm tục tằn..." Nguyễn Doãn Vượng đã nhận xét "hầu hết những kẻ đi hát đều là thanh niên... do đó sự kém sút về sức khoẻ, sự truỵ lạc về tinh thần, những bệnh hoa liễu cũng từ đó mà về thăm gia đình và vợ con những thanh niên đó; lại còn bao nhiêu kẻ trong cơn mê muội đớn hèn lỗi đạo vì đi hát, ăn trộm, ăn cắp vì mê hát và khuynh gia bại sản vì những cô đầu hát"
Pháp tuyên bố "bảo hộ An Nam" để giúp nước này "khai hóa văn minh". Nhưng thực tế, các đề nghị nâng cao dân trí, cải tổ toàn diện chính trị - xã hội, cải cách và phát triển giáo dục, cũng như hướng đến nền chính trị dân chủ của các trí thức đương thời đều bị Pháp thờ ơ. Tiêu biểu là Phong trào Duy Tân do Phan Châu Trinh (1872 - 1926) phát động năm 1906 cho đến năm 1908 thì kết thúc sau khi bị thực dân Pháp đàn áp. Một số lãnh đạo phong trào bị kết án tử hình do có liên quan đến Phong trào chống sưu thuế Trung Kỳ (1908), những người khác bị đày đi Côn Đảo trong số đó có Phan Châu Trinh.
=== Y tế ===
== Chính trị ==
=== Các khuynh hướng chính trị ===
Tại Việt Nam, một thời, từ thập niên 1930 cụm từ "chủ nghĩa quốc gia" hay được dùng. Trong thời Pháp thuộc, một số nhóm theo chủ nghĩa này ủng hộ chế độ bảo hộ của Pháp tại Đông Dương, ủng hộ chủ nghĩa quốc gia ở Pháp (chỉ các nhóm chính trị cánh hữu hay cực hữu ở Pháp). Có nhóm năm 1939 khi cánh hữu thắng cử ở Pháp, đã kêu gọi "từ giã hết chủ nghĩa xã hội, quốc tế, cộng sản xét ra không có lợi gì cho tiền đồ Tổ quốc đi, để quay đầu về phụng sự chủ nghĩa quốc gia", họ cho là các lý tưởng kia "không lấy thực nghiệm ra mà suy xét, chỉ chạy theo lý tưởng xuông" và xem một số nước "đem ra thực hành đều thất bại cả", họ kêu gọi "trông cậy vào sự chỉ đạo của nước Pháp bảo hộ,... yêu cầu nước Pháp gây dựng cho nước ta một quốc gia, có chính phủ chịu trách nhiệm các việc nội trị trước một dân Viện có quyền lập pháp". Tức đòi quyền tự trị chứ không phải độc lập.
Họ bác bỏ quan điểm của "bọn thanh niên... cứ nhứt định theo đòi văn minh Âu -Mỹ mà thôi", và kêu gọi "khôi phục quốc quyền, chấn hưng quốc thể", bác bỏ "tư tưởng và óc đảng phái đã làm cho quốc dân Việt Nam tam phân ngũ liệt", và "đòi tự trị", "quân chủ lập hiến". Họ bác bỏ "thuyết xã hội, thuyết quốc tế cùng đảng viên tả phái đi cổ động tự do", cho đó là "trái với tinh thần "trung quân ái quốc" của dân chúng, trái với luân lý Phật đà, Khổng Tử, khác với chủ nghĩa quốc gia cái rễ từ đời Trưng Nữ vương đuổi Tô Định, Triệu Ấu đuổi quân Ngô", kêu gọi "chỉ có ai là thức thời, có lòng yêu nước trung vua vốn sẵn, chỉ dựa vào cái chủ nghĩa "Pháp Nam hợp tác", "Pháp Việt đề huề", học đòi người quý quốc, làm cho nước được mạnh, dân được giàu lên đã".
Theo báo Tràng An những người này chủ trương "Nếu chúng ta mong có ngày kia, nước Pháp sẽ theo hòa ước 6 juin 1884, thi hành triệt để giao giả về quốc quyền cho chúng ta tự trị lấy việc nước nhà ta, thì trước hết chúng ta cũng phải bắt chước người Pháp đồng tâm hiệp lực lại, trên dưới một lòng, quân dân một dạ, cử quốc hiệp nhất, khiến cho nước Pháp kính nể, nước Pháp tin cẩn mới được". Một số chính trị gia theo chiều hướng này tiêu biểu như Bùi Quang Chiêu, Phạm Quỳnh...nhưng đường lối cụ thể không giống nhau. Họ chống lại Mặt trận Bình dân (cánh tả) ở Pháp. Phạm Quỳnh, Ngô Đình Khôi... tiêu biểu cho khuynh hướng bảo hộ Pháp, quân chủ kèm dân quyền, sau có hướng thân Nhật, là nhóm "quốc gia" nhất, Bùi Quang Chiêu có hướng tự do, và lập hiến kiểu dân chủ tư sản, sau ngả xu hướng xã hội cấp tiến, pha trộn chủ nghĩa tự do và xã hội, gần đường lối Gandhi nhưng ủng hộ bảo hộ Pháp, một thời gian ngắn liên kết với nhóm ủng hộ thợ thuyền cộng sản và xã hội. Hồ Văn Ngà thì dựa vào Nhật ủng hộ độc lập. Ngoài ra còn có "Quốc gia Xã hội" (gọi tắt là Quốc xã) như nhóm Đại Việt của Trần Trọng Kim,... Pháp thời gian đó cũng có Đảng Quốc gia Xã hội Pháp, có chi nhánh tại Đông Dương.
Báo Phụ nữ tân văn đã bình phẩm "quốc gia xã hội" chỉ là một thứ "cãi xà lách" vì "quốc gia" và "xã hội" là hai chữ nghĩa khác nhau, chủ nghĩa quốc gia là chủ nghĩa của những người chỉ lấy tiếng nước mà hiệu triệu người, bảo người phải vì nước và vì kẻ thống trị của nước, mà chống nhau với nước khác. Còn chủ nghĩa xã hội là chủ nghĩa của những người bảo rằng: nước chỉ là nước của những người có tài sản, rút cục có hai nước trong mỗi nước: nước của người có tài sản và nước của người vô sản. Quyền lợi tương phản cùng nhau...Và cho rằng thuyết quốc xã nó "có thể hợp với những bọn gọi là yêu nước để giữ quyền lợi quốc gia, tức là quyền lợi của hạng tư bản và binh lợi quyền của vô sản", một cái thuyết lộn xộn!
Ngay thời gian này, trên báo Ngày nay, Hoàng Đạo tức Nguyễn Tường Long cho "chủ nghĩa quốc gia, vì làm thiên lệch lòng ái quốc, vì quá tôn nước mình, hóa ra khinh rẻ nước người, và là cái mầm của sự chiến tranh giữa nước này với nước kia, cái mầm của sự lấn áp nước yếu của nước khỏe, cái mầm của chủ nghĩa đế quốc". Nhóm này ảnh hưởng của chủ nghĩa tam dân, chủ nghĩa tự do pha trộn xã hội, một thời ủng hộ Mặt trận Dân chủ chịu chi phối của giới bình dân công nông thợ thuyền, chống bảo hoàng.
=== Các phong trào chống Pháp ===
Trong khi cố gắng khai thác tài nguyên thiên nhiên của Đông Dương và nhân lực để đánh Chiến tranh thế giới thứ nhất, Pháp trấn áp tất cả hoạt động tụ tập yêu nước ở Việt Nam. Nhiều cuộc nổi loạn chống thực dân bộc phát tại Việt Nam nhưng đã bị Pháp đàn áp dễ dàng.
Cuộc phản kháng đầu tiên là do Tôn Thất Thuyết với trận phản công ở Kinh thành Huế, nhưng sau đó bị quân Pháp đẩy lùi, triều đình Hàm Nghi lui về Quảng Trị, rồi Hà Tĩnh. Ngày 13 tháng 7, Chiếu Cần Vương được ban ra, phái chủ chiến và các thổ hào ở các địa phương khởi nghĩa hưởng ứng, tạo nên phong trào Cần Vương. Phong trào thu hút được một số các quan lại trong triều đình và văn thân. Ngoài ra, phong trào còn thu hút đông đảo các tầng lớp người Việt yêu nước thời bấy giờ.
Phong trào Cần vương thực chất đã trở thành một hệ thống các cuộc khởi nghĩa vũ trang trên khắp cả nước, hưởng ứng chiếu Cần Vương của vua Hàm Nghi, kéo dài từ 1885 cho đến 1896. Các cuộc khởi nghĩa nổ ra rộng khắp và tập trung nhất ở các tỉnh đồng bằng, nhưng quân đội Pháp dùng những ưu thế về hỏa lực để nhanh chóng đàn áp các nghĩa quân. Các cuộc khởi nghĩa tiêu biểu thời kỳ này gồm có: khởi nghĩa Ba Đình, khởi nghĩa Nghệ An, khởi nghĩa Bình Định, khởi nghĩa Thái Bình, Nam Định, hoạt động của Nghĩa hội Quảng Nam...
Năm 1888, vua Hàm Nghi bị Pháp bắt, ông cự tuyệt hợp tác với Pháp.Thực dân Pháp quyết định đưa vua Hàm Nghi đi đày tại Algérie, một thuộc địa của Pháp ở Bắc Phi (châu Phi). các cuộc khởi nghĩa chống Pháp vẫn tiếp tục nhưng suy yếu dần. Các lực lượng nghĩa quân bị đẩy lùi về các khu vực thượng du, trung du hay vùng lau sậy rậm rạp như Hùng Lĩnh của Tống Duy Tân, Thanh Sơn của Đốc Ngữ, Rừng Già của Đề Kiều, Bãi Sậy, Hai Sông của Nguyễn Thiện Thuật, Hương Khê của Phan Đình Phùng và Cao Thắng... Đến năm 1896, phong trào Cần Vương tan rã.
Ngoài ra, thời kỳ này còn có khởi nghĩa Yên Thế, thủ lĩnh của cuộc khởi nghĩa này là Hoàng Hoa Thám có liên quan tới phong trào Cần Vương. Cuộc khởi nghĩa này kéo dài tới năm 1913 thì bị dập tắt.
Ngày 27/7/1908, xảy ra vụ Hà thành đầu độc nhằm vào binh lính Pháp ở Hà Nội có sự tham gia của Hoàng Hoa Thám. Cuộc binh biến này được chuẩn bị rất chu đáo, theo đó nghĩa quân sẽ bắn phá đồn binh Pháp tại Đồn Thủy (nay là Bệnh viện Quân đội 108, Hà Nội) bằng đại bác nhằm vô hiệu hóa đồn này. Các đồn binh tại Sơn Tây và Bắc Ninh sẽ bị chặn đánh, không cho quân Pháp tiếp cứu Hà Nội. Quân Đề Thám chờ ngoài thành Hà Nội, chờ tín hiệu từ trong thành, sẽ đánh Gia Lâm và cắt đường xe lửa và điện thoại. Tuy nhiên cuộc binh biến thất bại, quân Đề Thám phải rút về, 24 người tham gia cuộc binh biến bị Pháp xử tử bằng cách chém đầu, 70 người bị xử tù chung thân.
Năm 1916, vua Duy Tân xuất cung tham gia cuộc nổi dậy do Thái Phiên và Trần Cao Vân tổ chức. Người Pháp được mật báo kế hoạch nổi dậy. Pháp bắt Triều đình Huế phải xét xử những lãnh đạo của cuộc khởi nghĩa. Bốn đại thần gồm Thái Phiên, Trần Cao Vân, Tôn Thất Đề và Nguyễn Quang Siêu bị chém đầu ở An Hòa. Vua Duy Tân bị truất ngôi và đày đi đảo La Réunion ở Ấn Độ Dương cùng với vua cha là Thành Thái vào năm 1916.
Một trong những cuộc nổi dậy lớn nhất năm 1916 là cuộc khởi nghĩa Thái Nguyên ở miền Bắc. Khoảng 300 binh lính người Việt đã nổi dậy, phóng thích và cấp súng ống cho 200 tù binh chính trị cùng vài trăm dân địa phương. Nghĩa quân đánh chiếm và làm chủ Thái Nguyên trong nhiều ngày liền, với hy vọng được tiếp viện bởi Trung Quốc Quốc Dân Đảng. Khi không ai đến giúp họ, Pháp đã đánh chiếm lại Thái Nguyên và truy sát hầu hết các nghĩa quân.
Một lính Pháp đã viết trong hồi ký:
Trong thời kỳ tôi ở đây (ở Bắc Kỳ), không có tuần nào là tôi không thấy vài cái đầu rụng. Trong những cảnh ấy, tôi chỉ còn ghi nhớ được một điều là chúng ta (người Pháp) còn độc ác, còn dã man hơn cả bọn kẻ cướp nhà nghề. Tại sao lại có những hành vi quái ác đến thế đối với một con người tù sắp phải chết? Tại sao lại dùng nhục hình, tại sao phải giải từng đoàn tù đi bêu khắp xóm làng?
== Đưa người Việt tham gia chiến tranh ==
=== Chiến tranh thế giới thứ nhất ===
Khi bước vào Chiến tranh thế giới thứ nhất, Pháp động viên hàng vạn thanh niên người Việt gia nhập quân đội rồi đưa họ sang tham chiến ở châu Âu, dẫn đến nhiều cuộc nổi loạn khắp Nam Kỳ. Có đến 50.000 binh lính và 50.000 lao công người Việt, bị cưỡng chế kéo khỏi những làng mạc, được đưa sang châu Âu chiến đấu cho Pháp trong chiến tranh. Họ phải chiến đấu tại những nơi xa xôi lạ lẫm, hàng ngàn lính người Việt đã chết trên biển vì tàu bị bắn chìm, hàng ngàn lính khác đã tử trận ở Somme và Picardy, gần bờ biển Bỉ và rất nhiều nữa hy sinh ở chiến trường Trung Đông đẫm máu. Hơn 30.000 người Việt Nam đã chết trong cuộc xung đột và 60.000 bị thương.
Nguyễn Ái Quốc đã châm biếm việc này như sau:
Nhiều binh sĩ người Việt tìm cách chống lại việc bắt lính của Pháp bằng việc bỏ trốn hoặc chống lệnh. Tiêu biểu là Trịnh Văn Cấn, viên cai đội (caporal) lính khố xanh ở Thái Nguyên đã cầm đầu lính Việt thực hiện cuộc khởi nghĩa Thái Nguyên vào đêm 30 Tháng Tám năm 1917. Quân Pháp trấn áp cuộc khởi nghĩa tới tháng 3 thì xong, với một chiến thuật mà họ sử dụng rất hiệu quả là bắt giữ thân nhân của quân khởi nghĩa để buộc họ phải ra hàng. Một số người bị bắt bị kết án tử hình, những người khác bị kết án và đày ra Côn Đảo.
Người dân Việt Nam còn bị buộc phải chịu thêm nhiều sưu thuế nặng nề để tài trợ nỗ lực chiến tranh của Pháp. Việt Nam đã phải đóng góp 184 triệu đồng bạc dưới hình thức vay nợ và 336.000 tấn lương thực. Những gánh nặng này cùng những khó khăn gây ra bởi tai họa thiên nhiên đã tạo nên nạn đói từ năm 1914 đến 1917.
=== Chiến tranh thế giới thứ hai ===
Năm 1939, khi Chiến tranh thế giới thứ hai nổ ra, Pháp cũng có kế hoạch huy động thanh niên người Việt đưa sang Pháp tham chiến. Pháp đã cưỡng bức khoảng 20.000 thanh niên Việt Nam sang Pháp nhằm thay thế công nhân trong các xưởng sản xuất vũ khí phải ra trận chống phát xít Đức.
Sau khi Pháp thất bại quá nhanh trong Trận chiến nước Pháp, những người Việt này bị hiểu lầm là lính đánh thuê nên họ đã bị quân đội Đức Quốc xã hành hạ và bị các ông chủ Pháp bóc lột thậm tệ. Những lính thợ Việt đã phải sống một cuộc sống đày ải, bi thảm trên đất Pháp dưới sự thống trị của quân phát xít Đức. Những công binh Việt Nam không được trả lương bổng, mà còn bị kẹt tại Pháp trong 12 năm trời, không được về nước
== Đế quốc Nhật tiến vào Đông Dương ==
Ngày 30 Tháng Tám, 1940 đại sứ Pháp tại Tokyo là Arsène Henry trước áp lực của Nhật Bản trong Chiến tranh thế giới thứ hai thỏa thuận cho lực lượng 6.000 quân đội của Đế quốc Nhật Bản tiến vào Đông Dương với điều kiện Nhật Bản phải tôn trọng chủ quyền của Pháp. Cuộc điều đình chưa kết thúc vì Nhật đòi tăng quân số lên 25.000 lính nhưng vì thấy Pháp cố trì hoãn, Nhật Bản đơn phương dưới sự chỉ huy của tướng Nakamura Akihito tiến quân từ Trung Hoa qua biên giới Bắc Kỳ ngày 22 Tháng Chín và chiếm lấy Lạng Sơn ngày 24 Tháng Chín. Hai bên giao tranh đến ngày hôm sau, 25 Tháng Chín, chính phủ Pháp chính thức chấp nhận mọi yêu sách, chấp nhận việc chiếm đóng cùng giao quyền điều hành những căn cứ quân sự cho quân đội Nhật và ngược lại, hai bên sẽ hưu chiến.
Năm 1941 khi chiến cuộc càng khốc liệt giữa phe Đồng minh và phe Trục, chính phủ Vichy mở thêm hải cảng Cam Ranh và Sài Gòn cho quân đội Nhật Bản sử dụng.
== Việt Nam thời thế chiến 2 ==
== Hậu quả thời Pháp thuộc ==
=== Chính trị ===
Việt Nam không còn là một quốc gia độc lập, trở thành chế độ quân chủ nửa thuộc địa, phải phụ thuộc vào Pháp. Bằng các hiệp ước ký với triều Nguyễn, Việt Nam bị người Pháp chia thành 3 Kỳ (Nam Kỳ, Trung Kỳ, Bắc Kỳ) với các chế độ chính trị, bộ máy hành chính và hệ thống luật pháp khác nhau. Nhà Nguyễn mất uy tín chính trị, vương quyền không còn là yếu tố đoàn kết quốc gia như các nước quân chủ khác trên thế giới. Chế độ bảo hộ của Pháp đã biến người Việt thành những nhân viên hành chính chỉ biết thừa hành một cách thụ động, thiếu sáng tạo còn quyền lãnh đạo nằm trong tay người Pháp. Trong chính quyền thuộc địa, tri thức, tài năng, đạo đức không được xem trọng bằng sự trung thành và phục tùng đối với người Pháp. Thuật lãnh đạo không được truyền lại, khả năng lãnh đạo quốc gia của người Việt thui chột đi, đạo đức và năng lực của giới công chức nhà nước người Việt suy đồi. Người Pháp không có ý định trao trả độc lập cho người Việt nên họ không đào tạo một tầng lớp tinh hoa người Việt đủ sức lãnh đạo, quản trị quốc gia. Đa số người Việt bị loại ra khỏi đời sống chính trị quốc gia nên thiếu trưởng thành về mặt chính trị. Nhà vua mất vai trò là người quyết định và giám sát tối cao mọi hoạt động nhà nước còn người Pháp không có những biện pháp hữu hiệu chống tệ quan liêu, tham nhũng. Người dân thuộc địa mất liên kết với nhà nước, bất mãn với cách cai trị của người Pháp và triều đình nhà Nguyễn. Chủ nghĩa dân tộc cực đoan cùng tâm lý bài ngoại nảy sinh và phát triển mạnh mẽ. Trong bối cảnh đó những tư tưởng nổi loạn, vô chính phủ du nhập từ phương Tây, được truyền bá rộng rãi. Các đảng phái chủ trương dùng bạo lực giành chính quyền hoạt động bí mật tại Việt Nam hoặc lưu vong ở nước ngoài.
Năm 1945, Nhật đầu hàng Đồng Minh tạo điều kiện cho các đảng phái bí mật công khai hoạt động, tuyển mộ đảng viên và thu hút quần chúng. Triều đình nhà Nguyễn cải tổ thành Đế quốc Việt Nam nhưng không đủ uy tín chính trị để thu hút quần chúng, không có lực lượng để duy trì an ninh. Sau Cách mạng tháng Tám các đảng phái non trẻ, thiếu kinh nghiệm hoạt động trong một nền dân chủ, thiếu kinh nghiệm trị quốc, bị chia rẽ vì những khác biệt ý thức hệ và bất đồng trong đường lối chính trị, cạnh tranh nhau giành quyền lãnh đạo quốc gia.
Với sự quay lại của Pháp năm 1945, xung đột bùng phát ngay khi Việt Nam vừa giành độc lập kéo dài cho đến tận năm 1975. Sự chia rẽ của người Việt; tình trạng đạo đức xã hội và truyền thống văn hóa bị tan rã; tâm lý sính ngoại, vọng ngoại, ỷ ngoại và bài ngoại phổ biến; bộ máy nhà nước có năng lực hạn chế, quốc gia thiếu những người lãnh đạo tài năng và những chính trị gia có tầm nhìn; dân chúng thiếu trưởng thành về mặt chính trị; cùng nỗi ám ảnh quá khứ thuộc địa còn kéo dài đến tận ngày nay.
=== Văn hóa và giáo dục ===
Ngôn ngữ người Việt cũng bị tác động, quan trọng nhất là việc tiếp nhận chữ Quốc ngữ làm văn tự chính thức của người Việt. Nghị định hủy bỏ toàn phần phép khoa cử có từ thời nhà Lý khiến chữ Nho không còn là ngôn ngữ học thuật chính thống. Việc sử dụng chữ Quốc ngữ làm văn tự chính thức bên cạnh chữ Hán tạo điều kiện cho văn học, báo chí viết bằng chữ Quốc ngữ phát triển, việc truyền bá tri thức, văn hóa trở nên dễ dàng hơn. Chữ Quốc ngữ dễ học hơn chữ Hán nên có thể dùng chữ Quốc ngữ xóa mù chữ nhanh chóng. Tuy nhiên việc chữ Hán từ địa vị là ngôn ngữ học thuật chính thống trở thành một ngoại ngữ không quan trọng khiến đa số người Việt không còn khả năng đọc hiểu các tài liệu chữ Hán của tiền nhân. Hậu quả là người Việt bị tách ra khỏi di sản văn học, sử học, khoa học, tư tưởng của dân tộc viết bằng chữ Hán tích lũy được trong 10 thế kỷ. Việc thay đổi nội dung giáo dục, bãi bỏ phép khoa cử truyền thống lấy Nho giáo làm trọng tâm khiến Nho giáo mất dần ảnh hưởng lên đời sống xã hội và chìm vào quên lãng. Điều này khiến xã hội tan rã do không được định hướng bởi một hệ thống giá trị chung, không còn tín hiệu tập hợp; đạo đức xã hội suy đồi và các giá trị văn hóa truyền thống bị thui chột.
Hệ thống giáo dục phát triển không tương xứng với những hứa hẹn của người Pháp "khai hóa văn minh" dân thuộc địa. Chính vì thế, cái mà người Việt thừa hưởng từ người Pháp sau khi Việt Nam giành được độc lập chỉ là những mảnh vụn văn hóa và lịch sử; tỷ lệ mù chữ lên đến 95% dân số, hệ thống kiến thức Tây học kém cỏi, thiếu chiều sâu theo như Ngô Đức Kế đã nói "Âu học vẫn chưa vin được ngọn ngành mà Hán học đã đứt cả cội rễ" cùng với nền tảng đạo đức xã hội suy đồi. Thậm chí đến tận ngày nay Việt Nam vẫn chưa có một nền học thuật có thể so sánh với các nước trong khu vực còn truyền thông đại chúng thì luôn than phiền về tình trạng đạo đức xã hội xuống cấp.
Ngày 3 tháng 9 năm 1945, trong phiên họp đầu tiên của Chính phủ, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nêu ra nhiệm vụ cấp bách nhất, thiết thực nhất phải giải quyết là “nạn dốt” và chỉ rõ:
“Nạn dốt là một trong những phương pháp độc ác mà bọn thực dân dùng để cai trị chúng ta… Một dân tộc dốt là một dân tộc yếu. Vì vậy tôi đề nghị mở một chiến dịch để chống nạn mù chữ”
=== Kinh tế ===
Trong những biến đổi xã hội vì sự xâm nhập của người Pháp là nhiều mặt hàng mới, trong đó có nhiều thực vật được đưa vào Việt Nam từ Âu châu, Mỹ châu, Phi châu và cả những nước Á châu lân cận cũng góp nguồn. Đồn điền cây cà phê (xuất phát từ Phi châu), cây cao su (từ Nam Mỹ) được quy hoạch và phát triển, biến đổi hẳn bộ mặt đất nước, đưa dân lên miền núi khai thác và định cư. Ở miền xuôi thì trái cây nhiệt đới như chôm chôm, măng cụt cũng được trồng, lấy giống từ Mã Lai, Nam Dương. Ngoài ra nhiều loại rau như khoai tây, súp lơ, xu hào, cà rốt, tỏi tây nhập cảng từ Pháp được trồng quy mô kể từ năm 1900. Nhiều món ăn mới cũng theo chân người Pháp ra mắt ở Việt Nam như bánh mì, bơ, phó mát, cà phê rồi trở thành quen thuộc.
Do sự du nhập của phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa, tình hình kinh tế Việt Nam có sự biến đổi: quan hệ kinh tế nông thôn bị phá vỡ, hình thành nên những đô thị mới, những trung tâm kinh tế và tụ điểm cư dân mới. Do các ràng buộc trong những Hiệp ước đã ký với nhà Nguyễn, Pháp không xây dựng một hình thức nhà nước dân chủ tại Việt Nam mà nhà Nguyễn vẫn tồn tại với các thành viên hoàng gia, quý tộc, quan lại... Chính vì thế, Việt Nam có nền kinh tế chưa hoàn thiện, lạc hậu, phát triển không đồng đều, phụ thuộc chặt chẽ vào kinh tế Pháp và nền chính trị nửa quân chủ nửa thuộc địa. Do đó, sau khi độc lập, Việt Nam thiếu nền tảng kinh tế - kỹ thuật, thiếu lực lượng lao động có kỹ năng, thiếu chuyên gia, thiếu nhà quản lý, thiếu doanh nhân, thiếu truyền thống và văn hóa kinh doanh để có thể phát triển kinh tế. Những thiếu sót này kéo dài đến tận ngày nay, ảnh hưởng xấu đến sự phát triển của nền kinh tế Việt Nam.
== Đánh giá ==
Hồ Chí Minh đánh giá về thời kỳ Pháp thuộc "Sau 80 năm bị thực dân Pháp giày vò, nước Việt Nam ta cái gì cũng kém cỏi, chỉ có lòng sốt sắng của dân là rất cao.". Trong Tuyên ngôn độc lập nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, ông nói rõ:
Trong tác phẩm Chính đề Việt Nam, Ngô Đình Nhu nhận xét về thời kỳ Pháp thuộc:
Một nhà du lịch Pháp viết: "Đời sống ở thuộc địa chỉ làm cho tật xấu của cá nhân phát triển: Những kẻ đã nếm mùi chiến tranh thì càng mất hết ý thức đạo đức, càng trụy lạc, bất lương và độc ác; những bọn con buôn và bọn phiêu lưu khác thì càng quen mùi trộm cắp, cướp giật. Ở bên Pháp ít có dịp để làm những việc đó, vì người ta sợ cảnh sát hơn! Ở đây, bọn nói trên, đôi khi chỉ có một mình với vài người bản xứ, trên một con thuyền hoặc trong một thôn xóm; vì vậy chúng cướp bóc trắng trợn hơn là người Âu trên thị trường, và đối xử tàn nhẫn hơn với những nông dân nào phản đối chúng". Một nhà du lịch khác viết:
== Xem thêm ==
Nhà Nguyễn
Liên bang Đông Dương
Chiến tranh Pháp-Đại Nam (1858-1884)
Chiến tranh Pháp-Thanh
Giải phóng dân tộc Việt Nam (1885-1945)
Cách mạng tháng Tám
Chiến tranh Đông Dương
== Tham khảo ==
Ngô Văn. Việt Nam 1920-1945. Montreuil: L'Insomniaque/Chuông rè, 2000.
== Chú thích ==
== Liên kết ngoài ==
Kháng chiến chống Pháp
Thi cử và nền giáo dục Việt Nam dưới thời Pháp thuộc
Hà Nội trong Chiến tranh thế giới 1939 - 1945 |
23 tháng 7.txt | Ngày 23 tháng 7 là ngày thứ 204 (205 trong năm nhuận) trong lịch Gregory. Còn 161 ngày trong năm.
== Sự kiện ==
1759 – Chiến tranh Bảy Năm: Quân Nga giành thắng lợi trước quân Phổ trong trận Züllichau, có điều kiện tiến sâu vào lãnh thổ của Phổ-Brandenburg.
1785 – Ba phiên quốc Tin Lành của La Mã Thần thánh là Phổ, Hannover và Sachsen thiết lập Liên minh các Vương hầu nhằm chống lại họ Habsburg trong đế quốc.
1862 – Henry Halleck nắm quyền chỉ huy quân miền Bắc trong Nội chiến Hoa Kỳ.
1921 – Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ nhất của Đảng Cộng sản Trung Quốc khai mạc trong địa phận tô giới Pháp tại Thượng Hải.
1942 – Holocaust: Các phòng hơi ngạt tại Trại hủy diệt Treblinka bắt đầu hoạt động để tàn sát người Do Thái.
1952 – Hiệp định Paris năm 1951 có hiệu lực, Cộng đồng Than Thép châu Âu được hình thành với các thành viên là Pháp, Tây Đức, Ý và ba quốc gia Benelux.
1980 – Phạm Tuân được tàu Soyuz 37 phóng lên không gian, trở thành người Việt Nam và Châu Á đầu tiên bay vào không gian.
1988 – Nhà lãnh đạo trên thực tế của Miến Điện từ năm 1962, tướng Ne Win, từ chức sau các cuộc biểu tình ủng hộ dân chủ.
1992 – Abkhazia đơn phương tuyên bố độc lập khỏi Gruzia.
2001 – Megawati Sukarnoputri trở thành nữ tổng thống đầu tiên của Indonesia.
== Sinh ==
1996 – Danielle Bradbery, ca sĩ người Mỹ
1989 – Daniel Radcliffe, diễn viên người Anh, người thủ vai Harry Potter trong loạt phim cùng tên.
== Mất ==
1951 - Hồ Tùng Mậu, nhà hoạt động chính trị Việt Nam (s. 1896)
2011 - Nguyễn Cao Kỳ, thủ tướng Việt Nam Cộng hòa (s. 1930)
2011 - Amy Winehouse, ca sĩ người Anh (s. 1983)
== Những ngày lễ và kỷ niệm ==
Ai Cập: Quốc khánh
== Tham khảo == |
radio.txt | Radio, ra-đi-ô, ra-dô hay vô tuyến truyền thanh là thiết bị kỹ thuật ứng dụng sự chuyển giao thông tin không dây dùng cách biến điệu sóng điện từ có tần số thấp hơn tần số của ánh sáng, đó là sóng radio.
Sóng dùng trong radio có tần số trong khoảng từ 3Hz (dải tần ELF) đến 300 GHz (dải tần EHF). Tuy nhiên, từ dải tần SHF đến EHF, tức là từ tần số 3GHZ đến 300 GHz, bức xạ điện từ này thường gọi là sóng vi ba.
Từ radio còn được dùng để chỉ máy thu thanh - một thiết bị điện tử dùng để nhận về các sóng âm đã được biến điệu qua ăng ten để khuếch đại, phục hồi lại dạng âm thanh ban đầu, và cho phát ra ở loa.
== Lịch sử và phát minh ==
Xác định nguồn gốc của radio, trong thời kì được gọi là liên lạc không dây, vẫn còn đang tranh cãi. Cuộc tranh luận về người phát minh ra radio có thể được chia ra theo các giải thích sau:
Ai là người phát minh ra "sự truyền dữ liệu không dây dựa trên tần phổ" (spark-gap radio)?
Nikola Tesla, Guglielmo Marconi và Alexander Popov.
Ai là người phát minh radio dựa trên sự thay đổi biên độ (AM), vì thế có trên 1 đài có thể truyền sóng (khác với spark-gap radio, chỉ có một máy truyền phủ toàn bộ tần sóng)?
Reginald Fessenden [1] và Lee de Forest.
Ai là người phát minh radio dựa trên sự biến thiên tần số (FM), sóng radio có thể tránh sự tĩnh điện, bị nhiễu từ các thiết bị điện và môi trường?
Edwin H. Armstrong và Lee de Forest.
Các radio ban đầu sử dụng toàn bộ năng lượng của máy truyền thông qua các microphone bằng carbon. Trong khi một số radio ban đầu sử dụng một số sự phóng đại bằng dòng điện hay pin, suốt từ giữa thập niên 1920 loại đầu thu phổ biến nhất là các máy thu radio tinh thể. Trong thập niên 1920, ống phóng đại chân không làm một bước tiến mới trong cả đầu thu và đầu phát.
== Khám phá và phát triển ==
Lý thuyết cơ bản sự truyền sóng điện từ được trình bày đầu tiên năm 1873 bởi James Clerk Maxwell trong giấy chứng nhận của ông cho Hội Khoa học Hoàng Gia Anh thuyết động học về điện từ trường, là thành quả từ năm 1861 đến 1865. Năm 1878 David E. Hughes là người đầu tiên truyền và nhận sóng radio khi ông nhận thấy cân cảm ứng tạo ra âm thanh trong đầu thu của diện thoại tự chế của ông. Ông trình bày khám phá của mình trước Hội Khoa học Hoàng gia năm 1880 nhưng chỉ được xem là sự cảm ứng đơn thuần. Chính Heinrich Rudolf Hertz, giữa năm 1886 và 1888, là người đưa ra thuyết Maxwell thông qua thực nghiệm, chứng minh rằng bức xạ radio có tất cả tính chất của sóng (giờ đây được gọi là sóng Hert), và khám phá rằng công thức điện từ có thể định nghĩa lại là công thức chênh lệch bán phần gọi là công thức sóng.
William Henry Ward đưa ra bằng sáng chế Mỹ 126356 vào ngày 30 tháng 8 năm 1872. Mahlon Loomis đưa ra bằng sáng chế Mỹ 129971 vào ngày 30 tháng 7 năm 1872. Landell de Moura, một nhà truyền giáo và khoa học Brasil, tiến hành thí nghiệm sau năm 1893 (nhưng trước 1894). Ông đã không công bố thành tựu mãi cho đến khi 1900. Tuyên bố cho rằng Nathan Stubblefield phát minh ra radio trước cả Tesla lẫn Marconi, nhưng các dụng cụ của ông cho thấy chỉ làm việc với sự truyền cảm ứng hơn là truyền sóng radio.
== Các công ty "không dây" và ống chân không ==
Marconi mở nhà máy không dây đầu tiên trên thế giới ở phố Hall, Chelmsford, Anh năm 1898, gồm khoảng 50 nhân viên. Vào năm 1900, Tesla mở tháp dịch vụ quảng cáo và tiện nghi Wardenclyffe. Vào năm 1903, tháp gần như hoàn thành. Nhiều thuyết tồn tại bằng cách nào mà Tesla ý định hoàn thành mục đích của hệ thống không dây (cho là hê thống 200 kW). Telsa tuyên bố rằng Wardenclyffe, là một phần của hệ thống truyền tin thế giới, sẽ cho phép sự thu phát thông tin đa hệ an toàn, định vị toàn vũ trụ, sự đồng bộ hóa thời gian, và hệ thống định vị toàn cầu.
Phát minh lớn tiếp theo là ống dò chân không, phát minh bởi một đội kĩ sư Westinghouse. Vào đêm Giáng sinh, năm 1906, Reginald Fessenden (sử dụng thuyết heterodin) truyền sóng radio âm thanh đầu tiên trong lịch sử từ Brant Rock, Massachusetts Hoa Kỳ. Thuyền trên biển nhận được sóng phát, trong đó cả Fessenfen chơi bản "O Holy Night" trên đàn violin và đọc một đoạn trong Kinh thánh. Tin tức radio đầu tiên trên thế giới được phát vào ngày 31 tháng 8 năm 1920 bởi đài 8MK ở Detroit, Michigan, Hoa Kỳ và đài phát sóng giải trí đầu tiên bắt đầu năm 1922 từ trung tâm nghiên cứu Marconi ở Writtle gần Chelmsford, Anh.
== Radar ==
Radar phát hiện vật ở một khoảng cách bằng sự phản hồi các sóng radio. Khoảng thời gian của sự phản hồi để xác định khoảng cách. Phương hướng của tia xác định hướng của sự phản hồi. Sự phân cực và tần số của sóng phản hồi có thể cho biết bề mặt của vật.
Radar định vị quét một vùng không gian rộng từ 2 đến 4 lần trong 1 phút. Dùng sóng ngắn phản hồi từ đất hay đá. Radar sử dụng phổ biến trên tàu thương mại hay máy bay thương mại đường dài.
Radar dùng cho mục đích thông thường dùng tần số radar định vị, nhưng không phải các tia điều biến và phân cực để các máy thu để xác định bề mặt của vật phản hồi. Radar thông thường tốt nhất có thể định dạng mưa trong cơn bão, cũng như mặt đất hay các phương tiện di chuyển. Một số có thể để lên cùng dữ liệu âm thanh và dữ liệu bản đồ từ định vị GPS.
Radar tìm kiếm quét một vùng rộng lớn với xung tia radio ngắn. Chúng thường quét một vùng không gian từ 2 đến 4 lần 1 phút. Thỉnh thoảng radar dùng hiệu ứng Doppler để tách phương tiện vận chuyển với môi trường.
Radar dò tìm mục tiêu sử dụng cùng nguyên lý như radar tìm kiếm nhưng quét vùng không gian nhỏ hơn nhiều, thường là vài lần 1 giây hay hơn nữa.
Radar thời tiết tương tự radar dò tìm, nhưng sử dụng tia radio với sự phân cực tròn và có bước sóng phản hồi từ các giọt nước. Vài radar sử dụng Doppler để đo tốc độ gió.
== Xem thêm ==
Đài radio
== Liên kết ngoài ==
"It's Radi-O! |
dân chủ tự do.txt | Dân chủ tự do là một thể chế nhà nước. Đây là một hình thức dân chủ đại nghị nơi mà thẩm quyền của các đại diện dân chủ được bầu ra thực thi quyền ra quyết định phụ thuộc vào nền pháp trị và thường được hiến pháp tiết chế. Hiến pháp nhấn mạnh sự bảo vệ quyền và tự do của các cá nhân và ràng buộc các nhà lãnh đạo.
Các quyền và quyền tự do được hiến pháp của nền dân chủ tự do bảo vệ rất đa dạng, nhưng thường gồm những dạng chính sau đây: quyền xử lý theo trình tự luật (due proces of law), quyền riêng tư, quyền sở hữu tài sản và quyền bình đẳng trước pháp luật, và quyền tự do ngôn luận, tự do lập hội và tự do tôn giáo. Ở các nền dân chủ tự do, các quyền (tự do) này thường được đảm bảo theo hiến pháp, hoặc được tạo nên bởi luật pháp hay luật tố tụng mà có thể các luật đó có thể làm cho các cơ quan dân sự khác nhau có quyền để quản lý hay thực thi các quyền này.
Các nền dân chủ tự do cũng có đặc trưng là sự khoan dung và đa nguyên; các quan điểm chính trị và xã hội khác, ngay cả đối với những quan điểm cực đoan được cho phép cùng tồn tại và cạnh tranh cho quyền lực chính trị trên nền tảng dân chủ. Các nền dân chủ tự do nắm giữ các cuộc bầu cử theo nhiệm kỳ và ở đó, các nhóm có quan điểm chính trị khác có cơ hội đạt được quyền lực chính trị. Trong thực tế, những cuộc bầu cử này hầu như những nhóm ủng hộ dân chủ tự do thắng; vì vậy, hệ thống này tự nó trường tồn.
Thuật ngữ "tự do" trong "dân chủ tự do" không ngụ ý rằng chính phủ của nền dân chủ đó phải theo ý thức hệ chính trị của chủ nghĩa tự do. Nó chỉ đơn giản nhắc đến một sự thật là các nền dân chủ tự do đề cao việc bảo vệ các quy định của hiến pháp về các quyền của từng cá nhân đã được các nhà triết học tán thành nền tự do đề xuất đầu tiên trong suốt Thời đại Ánh sáng. Một nền dân chủ tự do có thể theo mô hình của cộng hòa lập hiến hay nền quân chủ lập hiến.
Hiện nay, có nhiều ý thức hệ chính trị khác nhau ủng hộ dân chủ tự do. Điển hình như có cả chủ nghĩa bảo thủ, dân chủ Thiên Chúa giáo, dân chủ xã hội và một số hình thức chủ nghĩa xã hội.
== Cấu trúc ==
Xem thêm Quyền bầu cử
Các nền dân chủ tự do hiện nay thường có phổ thông đầu phiếu, thừa nhận tất cả các công dân trưởng thành có quyền bầu cử bất kể chủng tộc, giới tính hay của cải. Tuy nhiên, đặc biệt là về mặt lịch sử, một số quốc gia được cho là có nền dân chủ tự do nhưng lại có quyền bầu cử bị giới hạn hơn. Có thể cũng có những tiêu chuẩn như một thủ tục đăng ký để được phép bầu. Các quyết định được đưa ra trong các cuộc bầu cử không phải do tất cả các công dân mà là cho những ai muốn tham gia bằng cách bỏ phiếu.
Các cuộc bầu cử phải được tự do và công bằng. Phương pháp chính trị phải có tính cạnh tranh. Đa nguyên chính trị thường được định rõ như là sự hiện diện của đa đảng chính trị và có đặc trưng riêng.
Hiến pháp dân chủ tự do xác định đặc tính dân chủ của một quốc gia. Mục đích của hiến pháp thường được nhận thấy như là giới hạn quyền lực của chính phủ. Truyền thống chính trị Hoa Kỳ nhấn mạnh sự phân chia quyền lực, một tòa án độc lập, và một hệ thống kiểm tra và cân bằng giữa các phân nhánh của chính phủ. Nhiều nền dân chủ Châu Âu dường như nhấn mạnh đến sự quan trọng của nhà nước Rechtsstaat, một nhà nước theo nguyên tắc pháp trị (rule of law). Nhà cầm quyền được thi hành một cách hợp pháp theo những luật được soạn ra và công bố rộng rãi, chấp hành và tuân theo các thủ tục được định sẵn. Nhiều nền dân chủ cũng dùng chế độ liên bang - (có khi được biết với Sự phân chia quyền lực theo chiều dọc) - với mục đích ngăn chặn sự lạm dụng bằng cách phân chia quyền lãnh đạo giữa chính quyền thành phố, tỉnh bang và liên bang.
=== Các quyền và tự do ===
Các tiêu chí phổ biến nhất thường được trích dẫn khi nói tới dân chủ tự do là dưới hình thức của các quyền và tự do cụ thể. Trước kia chúng được xem như là một yếu tố cần thiết cho việc vận động một nền dân chủ, nhưng chúng đã và đang giành được nhiều điều đáng chú ý trong định nghĩa của chúng đến mức nhiều người hiện nay cho rằng họ có nền dân chủ. Từ đó, không quốc gia nào muốn công nhận mình là "không tự do" và cũng từ đó người đối lập của nó bị những người tuyên truyền dân chủ đó miêu tả là những "chính thể chuyên chế".
Quyền sống và an ninh của cá nhân
Tự do không bị đối xử như nô lệ
Tự do di chuyển
Bình đẳng trước pháp luật và được xét xử theo đúng trình tự của luật pháp dưới một chế độ pháp trị
Tự do ngôn luận
Tự do thông tin
Tự do báo chí và tiếp cận đến các nguồn thông tin khác
Tự do lập hội và liên kết
Tự do giáo dục
Tự do tôn giáo
Cơ quan tư pháp độc lập
Quyền sở hữu tài sản riêng, và mua bán tài sản, thường được xem như mộ hình thức tự do có liên quan mật thiết với những loại tự do ở trên mặc dầu sự xác nhận quyền này đang bị tranh cãi
Trên thực tế, các nền dân chủ đều có giới hạn tự do nhất định nào đó. Có nhiều giới hạn pháp lý như bản quyền và các luật chống phỉ báng. Cũng có thể có giới hạn trong việc phát biểu chống dân chủ để cố gắng làm xói mòn nhân quyền, và để đề cao hay bào chữa cho chủ nghĩa khủng bố. Trong thời Chiến tranh Lạnh, ở Mỹ nhiều hơn là Châu Âu, những hạn chế đó được áp dụng cho những người cộng sản. Hiện nay, chúng được áp dụng cho những tổ chức bị cho là ủng hộ chủ nghĩa khủng bố hay kích động hận thù nhóm. Các thí dụ điển hình gồm pháp chế chống khủng bố, đóng cửa đài phát thanh vệ tinh của Hezbollah và luật chống phát biểu hận thù. Các nhà chỉ trích cho rằng những giới hạn này đi quá xa và có thể không có những thủ tục xét xử thỏa đáng và công bằng.
Những biện hộ phổ biến cho những giới hạn này là chúng cần thiết để bảo đảm sự tồn tại của nền dân chủ, hoặc sự tồn tại của chính những quyền tự do đó. Ví dụ như, việc cho phép tự do ngôn luận cho những người ủng hộ việc sát hại nhiều người làm xói mòn quyền sống và an toàn. Quan điểm về việc nền dân chủ mở rộng đến đâu bị chia rẽ, bao gồm cả kẻ thù của dân chủ trong quá trình dân chủ. Nếu có một số lượng tương đối nhỏ những người bị ngăn cản những quyền tự do này vì những lý do như trên thì quốc gia đó vẫn có thể được cho là có nền dân chủ tự do. Có những tranh cãi rằng điều này không chỉ khác về định tính các chế độ chuyên quyền ngược đãi những đối thủ của mình mà còn khác về định lượng khi mà chỉ có một số nhỏ những người bị ảnh hưởng và những giới hạn đó ít khắt khe hơn. Những người khác thì nhấn mạnh nền dân chủ thì khác như vậy. Ít nhất trên lý thuyết, những người chống đối dân chủ cũng được xét xử đúng pháp luật.
=== Tiền đề ===
Mặc dù không phải là một phần trong hệ thống chính quyền nhưng sự có mặt một tầng lớp trung lưu, và sự phát triển rộng rãi và nở rộ của xã hội dân sự thường được xem là các điều kiện tiên quyết của một nền dân chủ tự do.
Đối với những quốc gia không có truyền thống nuyên tắc dân chủ đa số mạnh thì chỉ việc đưa vào hệ thống bầu cử tự do hiếm khi đạt được hiệu quả trong việc chuyển tiếp từ chế độ độc tài sang chế độ dân chủ. Sự dịch chuyển rộng hơn trong văn hóa chính trị và thông tin dần dần của thể chế chính phủ dân chủ là cần thiết. Có nhiều ví dụ điển hình như ở các nước Mỹ Latinh, đã duy trì chế độ dân chủ chỉ tạm thời hoặc ở dạng giới hạn cho đến khi các thay đổi về văn hóa rộng hơn xảy ra cho phép có nguyên tắc đa số thực chất.
Một trong những khía cạnh chính của văn hóa dân chủ là khái niệm "đối lập nhưng vẫn trung thành". Đây là sự dịch chuyển văn hóa đặc biệt khó để đạt được trong những quốc gia mà sự chuyển tiếp quyền lực đã diễn ra bằng bạo lực trong lịch sử. Về cơ bản, thuật ngữ này có nghĩa là tất cả các phương diện trong một nền dân chủ cùng chia sẻ một cam kết chung về những giá trị căn bản của nền dân chủ đó. Những đối thủ chính trị có thể không đồng ý nhưng họ phải chịu đựng người khác và thừa nhận vai trò quan trọng và hợp pháp mà mỗi người góp phần. Những nguyên tắc chính của xã hội phải khuyến khích sự tha thứ và lễ độ trong các cuộc tranh luận công khai. Ở những xã hội như vậy, người thua cuộc phải chấp nhận sự phán quyết của cử tri khi cuộc bầu cử kết thúc và cho phép sự chuyển giao quyền lực diễn ra êm thấm. Người thua cuộc an toàn trong nhận thức rằng họ sẽ không bị mất tính mạng cũng như tự do của họ, và tiếp tục tham gia trong cuộc sống công. Họ không trung thành với những chính sách cụ thể của chính quyền mà với tính hợp pháp căn bản của quốc gia và quá trình dân chủ của nó.
== Nguồn gốc ==
Dân chủ tự do bắt nguồn và có tên gọi như trên từ phong trào Khai sáng thế kỷ 18 ở châu Âu. Lúc đó, đại đa số các quốc gia châu Âu theo chế độ quân chủ với quyền lực chính trị do nhà vua hay tầng lớp quý tộc nắm giữ. Triển vọng của nền dân chủ đã không được xem xét nghiêm túc bằng lý thuyết chính trị từ thời classical antiquity, và giữ niềm tin rằng các nền dân chủ vốn đã không bền vững và hỗn độn trong đường lối của chúng bởi vì ý chợt nghĩ ra của người dân. Xa hơn nữa, dân chủ còn bị cho là trái với tính tự nhiên của con người bởi vì loài người bị xem là tội lỗi, hung bạo và cần phải có một thủ lĩnh mạnh mẽ để kiềm chế những lúc bốc đồng phá hoại. Có nhiều quốc vương châu Âu nắm giữ quyền lực mà Thượng đế ban cho và việc thắc mắc quyền cai trị của họ tương đương với việc báng bổ.
Những quan điểm quy ước này đầu tiên bị những nhóm tương đối nhỏ các học giả của Phong trào Khai sáng thách thức. Họ cho rằng công việc của con người phải do lẽ phải và các nguyên tắc của sự tự do và bình đẳng chỉ đạo. Họ tranh luận rằng mọi người sinh ra là bình đẳng, và vì vậy nhà cầm quyền chính trị không thể được biện minh trên cơ sở "dòng máu quý tộc", một sự kết nối được cho là đặc quyền với Thượng đế hay bất kỳ đặc điểm khác bị cho là làm người này cao thượng hơn người kia. Ngoài ra họ còn cho rằng chính quyền tồn tại để phục vụ nhân dân mà không phải ngược lại, và luật nên được áp dụng cho những ai cầm quyền cũng như bị cai trị (khái niệm pháp trị).
Gần cuối thế kỷ 18 chính những ý tưởng trên là làm bùng phát cuộc Cách mạng Mỹ và Cách mạng Pháp, và nảy nở hệ tư tưởng của chủ nghĩa tự do và thể chế nên các hình thức chính quyền áp dụng các nguyên tắc của các nhà triết học Ánh sáng vào thực tiễn. Không hình thức chính quyền nào nêu trên giống hệt như những nền dân chủ tự do chúng ta biết hôm nay (khác biệt lớn nhất là quyền bầu cử vẫn bị hạn chế với đa số dân chúng), và các nỗ lực của người Pháp dường như ngắn ngủi nhưng chúng là hình mẫu đầu tiên cho các nền dân chủ tự do sau này phát triển. Từ khi những người ủng hộ những hình thức chính quyền này được biết đến như những người theo chủ nghĩa tự do thì chính quyền tự nó được biết đến như là chính quyền dân chủ tự do.
Khi các nền dân chủ tự do nguyên mẫu đầu tiên được dựng nên, những người theo chủ nghĩa tự do tự xem mình như những nhóm người cực đoan và khá nguy hiểm trong việc đe dọa sự ổn định và hòa bình quốc tế. Các nhà theo chủ nghĩa quân chủ bảo thủ đã phản đối chủ nghĩa tự do và dân chủ, và tự xem mình là những người bảo vệ cho những giá trị truyền thống và trật tự tự nhiên của sự vật và sự phê phán của họ về dân chủ dường như được xác minh khi Napoléon Bonaparte nắm quyền kiểm soát nền Đệ nhất Cộng hòa Pháp non trẻ, tổ chức lại thành Đệ nhất Đế chế Pháp và tiến hành chinh phục hầu hết châu Âu. Napoléon cuối cùng bị đánh bại và Liên minh Thánh (Holy Alliance) được thành lập ở châu Âu để ngăn ngừa sự lan rộng của chủ nghĩa tự do và dân chủ. Tuy nhiên, những ý tưởng dân chủ tự do nhanh chóng lan rộng trong quần chúng và qua thế kỷ 19, nền quân chủ truyền thống bị bắt buộc trong thế phòng ngự và rút lui liên tục. Các cuộc cải cách và cách mạng đã giúp cho hầu hết các nước châu Âu tiến đến dân chủ tự do. Chủ nghĩa tự do không còn là những ý kiến cực đoan nữa và bắt đầu gia nhập xu thế chính trị. Vào lúc đó, nhiều ý thức hệ bất tự do đã phát triển và lấy những khái niệm về dân chủ tự do làm của riêng mình. Hình ảnh chính trị đã đổi thay; nền quân chủ truyền thống trở nên ngày càng là quan điểm cực đoan và dân chủ tự do lại càng ngày thành một xu thế tất yếu. Vào cuối thế kỷ 19, dân chủ tự do không còn chỉ là ý tưởng "tự do" nữa, mà là một khái niệm được nhiều hệ tư tưởng ủng hộ. Sau Chiến tranh thế giới thứ nhất, đặt biệc là Chiến tranh thế giới thứ hai, dân chủ tự do đã đạt được một vị trí thống trị trong các lý thuyết về chính quyền và được đại đa số hình thức chính trị tán thành.
Mặc dầu dân chủ tự do được những người theo chủ nghĩa tự do Phong trào Khai sáng phát triển nhưng mối quan hệ giữa dân chủ và chủ nghĩa tự do đã và đang bị tranh cãi từ buổi ban đầu. Ý thức hệ tự do chủ nghĩa — đặc biệt trong hình thức chủ nghĩa tự do cổ điển của mình — rất có tính cá nhân chủ nghĩa và tự quan tâm tới giới hạn quyền lực của nhà nước so với cá nhân. Trái lại, dân chủ được xem như là ý tưởng tập thể, quan tâm đến tăng quyền lực của quần chúng. Vì vậy, dân chủ có thể được xem là sự thỏa hiệp giữa chủ nghĩa tự do cá nhân và chủ nghĩa tập thể dân chủ. Những người có quan điểm này có khi chỉ ra sự tồn tại của nền dân chủ không tự do và chế độ chuyên quyền tự do như là bằng chứng chủ nghĩa tự do hợp hiến và chính phủ dân chủ không nhất thiết có liên hệ với nhau. Mặt khác, cũng có quan điểm rằng chủ nghĩa tự do hợp hiến và chính phủ dân chủ không những tương thích nhau mà còn cần thiết cho sự tồn tại của nhau, cả hai đều phát triển từ khái niệm cơ bản của sự bình đẳng chính trị. Tổ chức Freedom House hiện nay chỉ đơn giản định nghĩa nền dân chủ như là nền dân chủ trong bầu cử cũng như bảo vệ quyền tự do công dân.
== Các nền dân chủ tự do ==
Một số tổ chức và các nhà khoa học chính trị vẫn duy trì danh sách các nước tự do và không tự do trong cả hiện tại và trong một vài thế kỉ quả. Một trong những danh sách được biết đến nhiều nhất có lẽ là Bộ dữ liệu chính thể (Polity Data Set) và các danh sách của Freedom House.
Có sự đồng ý chung rằng những quốc gia thuộc Liên minh châu Âu, Nhật Bản, Hoa Kỳ, Canada, Ấn Độ, Nam Phi, Úc và New Zealand là những nước có nền dân chủ tự do.
Freedom House xem nhiều chính phủ dân dủ chính thức ở Châu Phi và Liên Xô cũ không có nền dân chủ trong thực tế bởi vì chính phủ có ảnh hưởng nhiều đến kết quả bầu cử. Nhiều nước trong số này đang trong trạng thái thay đổi đáng kể.
Các hình thức chính phủ không dân chủ chính thức, như các quốc gia độc đảng và chế độ độc tài thường thấy ở Đông Á, Trung Đông và Bắc Phi.
== Các loại hình dân chủ tự do ==
=== Các nền dân chủ tự do trên thực tế ===
Dân chủ tự do thỉnh thoảng là hình thức chính quyền trên thực tế, số còn lại là dân chủ một cách nghiêm túc; ví dụ như nền quân chủ Canada, thực sự được cầm quyền bởi Nghị viện Canada được bầu ra một cách dân chủ. Ở Anh, quốc trưởng là nhà vua cha truyền con nối, nhưng quốc chủ thực tế là nhân dân, thông qua các đại diện được bầu ra trong nghị viện, vì thế nó là một nền dân chủ.
Nhiều người không đồng ý với bất cứ hình thức đặc quyền cha truyền con nối nào. Các nhà theo đường lối quân chủ trả lời rằng nền quân chủ ở các quốc gia này hầu như chỉ là có vai trò nghi thức hơn là chính trị.
=== Đại diện đa số và đại diện tỷ lệ ===
Hệ thống bầu cử đa nguyên cử các đại diện theo đa số tại khu vực. Đảng phái chính trị hoặc cá nhân nhận được nhiều phiếu nhất sẽ chiếm ghế đại diện cho địa phương. Cũng có các hệ thống bầu cử dân chủ khác, như các dạng đại diện tỷ lệ, cử đại diện theo tỷ lệ số phiếu bầu mà đảng đó nhận được trên toàn quốc hay tại một khu vực cụ thể.
Một trong những điểm tranh cãi chính giữa hai hệ thống này là có hay không những đại diện có thể đại diện có ích ở những vùng nhất định trong một quốc gia, hay chỉ dựa trên tổng số phiếu bầu của cử tri bất kể họ sống ở đâu trong quốc gia đó.
Một số quốc gia như Đức và New Zealand, giải quyết mâu thuẫn giữa hai hình thức đại diện này bằng cách có hai loại ghế ở hạ nghị viện trong bộ luật liên ban của họ. Loại ghế đầu tiên được chỉ định theo tính phổ biến vùng, và loại kia được trao cho các đảng theo tỉ lệ số ghế bằng hay gần bằng với tỉ lệ số phiếu trên toàn quốc của họ. Hệ thống này thường được gọi là đại diện tỉ lệ thành viên hỗn hợp (mixed member proportional representation).
Úc kết hợp cả hai hệ thống để có hệ thống đầu phiếu phổ thông cho Hạ viện Úc và đại diện tỉ lệ ở Thượng viện Úc. Hệ thống này bị tranh cãi trong việc dẫn đến kết quả một chính phủ ổn định hơn, nhưng lại có tính đa dạng tốt hơn của các đảng phái để cân nhắc hành động của mình.
=== Hệ thống nghị viện và hệ thống tổng thống ===
Hệ thống tổng thống là một hệ thống chính quyền của nền cộng hòa mà bộ phận hành pháp được bầu ra độc lập với bộ phận lập pháp. Còn hệ thống nghị viện được phân biệt bởi bộ phận hành pháp của chính quyền phụ thuộc vào sự hỗ trợ trực tiếp hay gián tiếp của nghị viện, và thường được thấy thông qua cuộc bỏ phiếu tín nhiệm.
Hệ thống tổng thống của chính quyền dân chủ phổ biến ở Mỹ Latinh, châu Phi và một số phần của Liên Xô cũ, mà điển hình là Hoa Kỳ. Các nền quân chủ lập hiến (do nghị viện được bầu ra nắm giữ) lại phổ biến ở Bắc Âu và một số thuộc địa được độc lập trong hòa bình như Canada và Úc. Các hình thức khác cũng xuất hiện ở Tây Ban Nha, Đông Á và nhiều nước nhỏ trên thế giới. Các vũng lãnh thổ trước đây như Nam Phi, Ấn Độ, Ireland và Hoa Kỳ đã chọn các hình thức khác vào thời điểm độc lập. Hệ thống nghị viện phổ biến ở Liên minh châu Âu và những nước lân cận.
== Ưu nhược điểm của nền dân chủ tự do ==
=== Thiếu dân chủ trực tiếp ===
Một số tranh luận rằng "dân chủ tự do" không tôn trọng một cách tuyệt đối sự cầm quyền của đa số (ngoại trừ trong bầu cử). "Tính tự do" của việc cầm quyền theo đa số bị hạn chế bởi hiến pháp hoặc tiền lệ do các thế hệ trước quyết định. Đồng thời, quyền lực thật lại chỉ nằm trong tay một cơ quan đại diện tương đối nhỏ bé. Do vậy, theo lập luận này, "dân chủ tự do" chỉ là một hình thức trang trí cho một thực chất là chính thể đầu sỏ.
==== Chế độ tài phiệt ====
Các nhà Mác-xít, xã hội và vô chính phủ cánh tả biện luận rằng dân chủ tự do là một phần của hệ thống tư bản và dựa trên cơ sở giai cấp nên không thực sự dân chủ hay có sự tham gia của người dân. Đây chỉ là nền dân chủ tư sản trong đó chỉ những người giàu là cai trị. Chính do điều này, về cơ bản, nó được xem là một chủ nghĩa bất quân bình, tồn tài hay điều hành theo cách tạo điều kiện để bóc lột kinh tế. Theo Karl Marx, các cuộc bầu cử nghị viện là một cơ hội cho công dân của một nước cứ vài năm một lần quyết định ai trong số các giai cấp cầm quyền sẽ không đại diện cho họ trong nghị viện.
Chi phí của cuộc vận động chính trị trong những nền dân chủ đại nghị có thể ngụ ý rằng hệ thống đó thiên vị người giàu, những người tài phiệt chiếm số lượng rất nhỏ trong số cử tri. Trong nền dân chủ Athena, một số chức vụ công được đặt ngẫu nhiên cho công dân của mình nhằm ngăn chặn ảnh hưởng của bọn tài phiệt. Aristotle mô tả các tòa án ở Athena được chọn bằng cách bắt thăm một cách dân chủ và described elections as oligarchic..
Nền dân chủ đương đại cũng có thể bị xem là một trò khôi hài bất lương được dùng để giữ quần chúng yên lặng, hoặc âm mưu làm cho họ không ngừng nghỉ cho những mục tiêu chính trị. Điều này có thể khuyến khích các ứng viên thỏa hiệp với những người ủng hộ giàu có, đề nghị những luật có lợi cho họ nếu ứng viên đó được bầu - duy trì âm mưu chính trị để độc quyền trong những vùng chính. Chiến dịch cải cách tài chính là một nỗ lực để sửa chữa những rắc rối dễ nhận thấy này.
Ngoài ra, các nền dân chủ hiện đại cũng có việc đánh thuế lũy tiến, thuế tài sản và thuế di sản. Vì vậy, nếu sự bất bình đẳng hiện tại bị đa số dân cho là không thỏa đáng thì, trên nguyên tắc, điều này có thể giảm thiểu trong hệ thống hiện tại bằng cách đơn giản là điều chỉnh những loại thuế này. (Xem tổng quát những tranh luận chống lại chủ nghĩa xã hội ở mục Chỉ trích chủ nghĩa xã hội.)
=== Tỷ lệ đi bầu thấp ===
Tổng số phiếu bầu thấp, nguyên nhân có thể hoặc là sự tỉnh ngộ, sự lãnh đạm hay sự mãn nguyện với tình hình đất nước, vẫn bị xem là một trục trặc, đặc biệt nếu sự thiếu cân đối trong một bộ phận dân chúng đặc biệt nào đó. Mặc dù mức tổng số đó thay đổi nhiều ở nhiều nước dân chủ hiện đại, và các loại và cấp bầu cử khác nhau trong một quốc gia. Nếu ở mức thấp, thì nghi vấn có thể được nêu ra là kết quả bầu cử có phản ánh ý chí của nhân dân hay không.
Chiến dịch hãy đi bầu (Get out the vote) được phát động bởi chính quyền hay các nhóm tư nhân có thể làm tăng số người đi bầu nhưng sự khác biệt phải được nêu rõ giữa các chiến dịch chung để tăng số cử tri và nỗ lực của những người ủng hộ để trợ giúp những ứng viên, đảng phái hay động cơ cụ thể nào đó.
Một số quốc gia có hình thức bỏ phiếu bắt buộc với nhiều mức độ cưỡng bức khác nhau. Những người đề xuất bảo vệ rằng điều này tăng tính hợp pháp và vì vậy cũng tăng sự chấp nhận của công chúng, nhưng có những người phản đối vì cho rằng điều này hạn chế quyền tự do, tốn kém của việc cưỡng bức, tăng số phiếu trắng và phiếu bất hợp lệ cũng như việc bỏ phiếu ngẫu nhiên [4].
Các biện pháp thay thế khác gồm có tăng việc bỏ phiếu vắng mặt, hay các hình thức khác để giảm nhẹ hay cải tiến thẩm quyền bầu như bỏ phiếu điện tử.
=== Xung đột tôn giáo và sắc tộc ===
Vì những nguyên nhân mang tính lịch sử, nhiều quốc gia không đồng nhất về thành phần dân tộc và về văn hóa. Do đó có sự chia rẽ lớn về dân tộc, ngôn ngữ, tôn giáo và văn hóa. Thật ra, có những nhóm có thái độ thù địch với các nhóm khác. Ở nền dân chủ, theo định nghĩa cho phép sự tham gia rộng lớn trong việc ra quyết định, cũng cho phép sử dụng cách thức chính trị chống lại các nhóm 'kẻ thù'. Điều này thấy nhiều trong quá trình dân chủ hóa, nếu chính phủ thiếu dân chủ trước đó đàn áp các nhóm nào đó. Nó cũng được thấy ở những nền dân chủ đã được thiết lập, ở những dạng chủ nghĩa dân túy chống di dân. Tuy nhiên, người ta cho rằng những vụ đàn áp tồi tệ nhất đã diễn ra ở những nước không có phổ thông đầu phiếu như chủ nghĩa apartheid tại Nam Phi và Đức quốc Xã trước đây.
Sự sụp đổ của Liên Xô và việc dân chủ hóa một phần của các nước khối Xô Viết đã có chiến tranh và nội chiến ở Nam Tư cũ, Kavkaz và Moldova. Tuy nhiên những thống kê cho thấy rằng sự sụp đổ của chủ nghĩa cộng sản và phát triển của nhiều quốc gia dân chủ dẫn đến sự giảm sút mạnh mẽ và nhanh chóng của phúc lợi xã hội, chiến tranh giữa các quốc gia, chiến tranh sắc tộc, chiến tranh cách mạng, nhiều người tị nạn và nhiều người phải chuyển chỗ ở. Xem thêm phần dưới đây về Chủ trương Đa số Quyết định và Thuyết Hòa bình Dân chủ.
Trong cuốn sách World on Fire của mình, nữ giáo sư Trường Luật Yale Amy Chua nhận định rằng "khi nền dân chủ thị trường tự do có sự hiện diện của thiểu số thống trị thị trường thì hầu như kết quả tất yếu là có sự phản ứng dữ dội. Phản ứng này ở một trong ba dạng chính. Dạng thứ nhất là chống lại thị trường, nhắm đến sự giàu có của thiểu số thống trị thị trường. Dạng thứ hai là phản ứng chống lại nền dân chủ có lợi cho thiểu số thống trị thị trường bằng vũ lực. Dạng thứ ba là bạo lực, thỉnh thoảng có giết chóc, chống đối trực tiếp lại chính thiểu số thống trị thị trường đó".
=== Tệ quan liêu ===
Phê bình nền dân chủ của những người theo chủ nghĩa quân chủ và chủ nghĩa tự do cố chấp cho rằng nền dân chủ khuyến khích những đại diện được bầu ra thay đổi luật một cách không cần thiết và đặc biệt là ra quá nhiều luật mới. Trong một số trường hợp, điều này bị cho là độc hại. Các luật mới siết chặt những phạm vi mà trước đây được cho là quyền tự do cá nhân. Sự thay đổi luật nhanh chóng làm cho những người nghiệp dư tự nguyện khó tuân thủ pháp luật. Đây có thể là cám dỗ cho những cơ quan thi hành luật lạm quyền.
Những người ủng hộ dân chủ cho thấy các quy định và thói quan liêu phức tạp đã và đang xảy ra ở chế độ độc tài như những nước cộng sản trước đây.
Nền dân chủ tự do cũng bị chỉ trích là chậm chạp và phức tạp trong việc ra quyết định.
=== Tập trung ngắn hạn ===
Theo định nghĩa, các nền dân chủ tự do hiện đại cho phép các thay đổi chính phủ thường xuyên. Điều này dẫn đến các chỉ trích về tập trung ngắn hạn của họ. Trong vòng bốn hoặc năm năm chính phủ phải đối diện với một cuộc bầu cử mới, và phải nghĩ làm thế nào để thắng cử. Điều đó khuyến khích các chính sách mang lợi ích ngắn hạn cho cử tri (hay cho những chính trị gia ích kỷ) hơn là các chính sách không có tính đại chúng nhưng có lợi về lâu về dài trước cuộc bầu cử sắp tới.
=== Thuyết sự lựa chọn của quần chúng ===
Thuyết sự lựa chọn của quần chúng (public choice theory)' là một phân nhánh của kinh tế học nghiên cứu thái độ ra quyết định của cử tri, chính trị gia và các quan chức chính phủ từ viễ cảnh của học thuyết kinh tế. Một rắc rối được nghiên cứu là mỗi cử tri có ít ảnh hưởng và như vậy cũng có "sự tảng lờ một cách có ý thức" (rational ignorance) đối với các vấn đề chính trị. Điều này có thể cho phép các nhóm quan tâm đặc biệt (special interest) giành được tiền trợ cấp và các quy định có lợi cho họ nhưng lại có hại cho xã hội. Tuy nhiên, các nhóm quan tâm đặc biệt có thể được công bằng và có ảnh hưởng hơn trong các chế độ không dân chủ.
=== Chủ trương đa số ===
Phản ánh quan điểm của đa số, "sự chuyên chế của đa số" (tyranny of the majority) sợ rằng chính phủ dân chủ có thể có những hành động đàn áp một nhóm thiểu số cá biệt nào đó. Trên lý thuyết, đa số chỉ có thể là đa số của những ai bầu cho và không phải đa số của những công dân một nước. Trong những trường hợp này, phe đa số áp chế một nhóm thiểu số khác trên danh nghĩa của đa số. Nó có thể có ở cả nền dân chủ trực tiếp lẫn dân chủ đại diện. Một số chế độ độc tài trên thực tế cũng có bầu cử bắt buộc, nhưng không tự do và công bằng, để cố gắng tăng tính hợp pháp của chế độ.
Những ví dụ điển hình gồm có:
những người bị bắt tòng quân thuộc nhóm thiểu số
một vài nước châu Âu đã và đang có những lệnh cấm những biểu tượng tôn giáo mang tính cá nhân trong các trường công. Những người phản đối xem điều này là vi phạm quyền tự do tôn giáo. Còn những người ủng hộ thì cho rằng việc này để chống sự chia rẽ các hoạt động tôn giáo và nhà nước.
việc ngăn cấm hành động khiêu dâm là những điều mà nhóm đa số phải chấp nhận
việc sử dụng ma túy mang tính tiêu khiển cũng được hợp pháp hóa (hay ít nhất cũng phải chịu đựng) ở mức mà đa số có thể chấp nhận được
sự đối xử của xã hội với tình dục đồng giới cũng được trích dẫn trong ngữ cảnh này. Các hoạt động tình dục đồng giới đã bị cho là phạm tội cho đến cách đây vài thập kỷ; ở một số nền dân chủ vẫn còn cấm, phản ánh các tập tục về giới tính hay tôn giáo của đa số.
Dân chủ Athena và Mỹ trước đây đều có nô lệ
Nhóm đa số thường đánh thuế lũy tiến nhóm thiểu số là những người giàu có với mục đích là những người giàu có phải gánh chịu thuế vì mục đích xã hội. Tuy nhiên, điều này thường được đền bù ở mức độ nào đó như tiếp cận các lời khuyên của các chuyên gia có liên quan (luật sư và tư vấn viên về thuế).
ở những nền dân chủ thịnh vượng phương Tây, những người nghèo là nhóm thiểu số của dân số, và có thể gặp những thiệt thòi bởi nhóm đa số những người không bằng lòng với sự đánh thế chuyển nhượng.
Một ví dụ về "sự chuyên chế của đa số" thường được trích dẫn là việc Adolf Hitler nắm quyền thông qua các thủ tục dân chủ hợp pháp. Đảng Nazi giành đa số phiếu trong nền Cộng hòa Weimar dân chủ năm 1933. Một số người lại cho rằng đây là một điển hình của "chuyên chế của thiểu số" từ khi ông ta chưa thắng đa số phiếu, nhưng lại phổ biến ở đầu phiếu phổ thông để thực thi quyền hành ở những chế độ dân chủ, vì vậy sự thăng tiến của Hitler không thể xem là không có liên quan.
=== Ổn định chính trị ===
Có tranh luận về chế độ dân chủ rằng bằng việc tạo ra một hệ thống mà nhân dân có thể phế bỏ chính quyền, mà không thay đổi nền tảng pháp lý cho chính quyền, nền dân chủ hướng đến việc giảm bất ổn chính trị và bảo đảm với công dân rằng nếu họ không thích các chính sách hiện tại thì họ sẽ có cơ hội khác để thay đổi những người cầm quyền, hay thay đổi các chính sách mà họ không thích. Điều này được ưa thích hơn là thay đổi chính trị diễn ra sau các cuộc bạo động.
Một số người cho rằng ổn định chính trị có thể được xem là thừa khi nhóm người cầm quyền vẫn muốn ở lại thêm một khoảng thời gian nữa. Hình thức này phổ biến hơn ở những chế độ thiếu dân chủ.
Một đặc điểm đáng chú ý của các nền dân chủ tự do là các thành phần chống đối (những nhóm muốn phế truất nền dân chủ tự do) hiếm khi thắng cử. Những người ủng hộ dùng điều này như một lý lẽ để ủng hộ quan điểm của họ rằng dân chủ tự do vốn đã ổn định và thường chỉ có thể bị phế truất bởi ngoại lực, trong khi đó những người chống đối thì cho rằng hệ thống này vốn chống lại họ mặc dầu tuyên bố của nó là công bằng, không thiên vị. Trong quá khứ, người ta sợ rằng nền dân chủ có thể dễ dàng bị những người lãnh đạo độc tài lợi dụng. Tuy nhiên, số nền dân chủ đưa các lãnh đạo độc tài lên nắm quyền là thấp. Điều này chỉ xảy ra sau khi có một cuộc khủng hoảng nghiêm trọng làm nhiều người nghi ngờ về hệ thống dân chủ hoạt động kém hay non trẻ. Các ví dụ điển hình như Adolf Hitler trong cuộc Đại khủng hoảng và Napoléon III trở thành tổng thống của nền Đệ nhị Cộng hòa Pháp non trẻ và hoàng đế sau này.
=== Phản ứng hiệu quả trong thời chiến ===
Theo định nghĩa, dân chủ tự do ngụ ý rằng quyền lực là không tập trung. Có chỉ trích rằng điều này có thể là một bất lợi cho quốc gia trong thời chiến khi mà phản ứng nhanh và thống nhất là cần thiết. Cơ quan lập pháp thường phải có một sự đồng thuận trước khi bắt đầu một hoạt động quân sự tấn công nào đó. Nếu một nước dân chủ bị tấn công thường thì không cần có sự đồng thuận nào để có các hành động bảo vệ. Người dân có thể bỏ phiếu chống lại chế độ cưỡng bách tòng quân. Theo lý thuyết thì các nền quân chủ, các chế độ độc tài có thể hành động tức thời và mạnh mẽ.
Tuy nhiên, những nghiên cứu thực sự cho thấy rằng các nước dân chủ thường thắng trong các cuộc chiến hơn so với các nước không dân chủ. Có giải thích cho điều này chính là "sự minh bạch chính thể, và sự ổn định sự ưu tiên của họ, một khi đã quyết định, các nước dân chủ có thể hợp tác tốt hơn với bạn bè của mình trong việc chỉ đạo cuộc chiến". Một nghiên cứu khác cho rằng điều này là do sự huy động phương kế hay sự tuyển chọn tốt hơn cho các cuộc chiến.
Stam và Reiter (2002, trang 64–70) cũng cho rằng việc nhấn mạnh tính cá nhân trong xã hội dân chủ có nghĩa là các binh sĩ của nó chiến đấu với sự lãnh đạo tốt và sáng suốt hơn. Các sĩ quan trong các chế độ độc tài thường được chọn vì sự trung thành chính trị hơn là khả năng của họ. Họ cũng có thể không được chọn vì xuất phát từ giai cấp thấp hay các nhóm dân tộc/tôn giáo thiểu số ủng hộ chế độ. Các người lãnh đạo ở các nước không dân chủ có thể phản ứng bạo lực với những chỉ trích hay hành động bất tuân. Điều này làm cho các binh sĩ và sĩ quan ngại phản đối hay làm bất kỳ điều gì mà không được chỉ định rõ ràng. Sự thiếu óc sáng kiến có thể đặc biệt phương hại đến các cuộc chiến hiện đại. Binh lính địch có thể thúc thủ các nền dân chủ vì họ có thể được đối xử tương đối tốt. Đức quốc xã giết khoảng 2/3 lính Xô Viết bị bắt. Khoảng 38% lính Mỹ bị Bắc Hàn bắt trong Chiến tranh Triều Tiên bị giết.
=== Thông tin tốt hơn về việc sửa sai ===
Một hệ thống dân chủ có thể cung cấp thông tin tốt hơn về việc quyết định chính sách. Các thông tin có thể gây rắc rối dễ dàng bị chế độ độc tài bỏ qua ngay cả khi những thông tin gây rắc rối hay chống đối này đưa ra cảnh báo trước về các vấn đề nguy hại. Hệ thống dân chủ cũng cung cấp cách thức thay các chính sách hay các lãnh đạo không hiệu quả. Vì vậy, các vấn đề nguy hại có thể kéo dài và tất cả các loại khủng hoảng phổ biến hơn trong các chế độ chuyên quyền.
=== Tham nhũng ===
Nghiên cứu của Ngân hàng Thế giới cho thấy rằng các thể chế chính trị cực kỳ quan trong việc quyết định sự lan tràn của tham nhũng: dân chủ, chế độ nghị viện, sự ổn định chính trị, và tự do báo chí có liên hệ mật thiết với việc giảm tham nhũng. Pháp luật về tự do thông tin là quan trọng cho trách nhiệm giải trình và sự minh bạch. Luật Quyền Thông tin của Ấn Độ "đã và đang đem lại các phong trào rộng lớn ở quốc gia này là làm giảm các quan chức thờ ơ và hối lộ và thay đổi cán cân quyền lực một cách triệt để".
=== Khủng bố ===
Một vài nghiên cứu cho kết luận rằng chủ nghĩa khủng bố phổ biến nhất ở những quốc gia có tự do chính trị vừa phải. Các quốc gia dân chủ nhất thì có ít nạn khủng bố nhất [5]. Tuy nhiên, các nhà chỉ trích dân chủ phương Tây như Noam Chomsky cho rằng, tùy thuộc vào định nghĩa chính thức về khủng bố, những nước dân chủ tự do đã ra nhiều luật chống khủng bố chống lại các nước khác [6].
=== Khủng hoảng tài chính và phát triển kinh tế ===
Theo thống kê, càng dân chủ thì tổng thu nhập quốc nội (GDP) tính theo đầu người cũng cao hơn.
Tuy nhiên, có bất đồng về mức độ ảnh hưởng của chính phủ dân chủ đối với vấn đề này. Một quan sát cho thấy rằng nền dân chủ chỉ lan truyền sau cuộc Cách mạng công nghiệp và sự xuất hiện của chủ nghĩa tư bản. Mặt khác, cách mạng công nghiệp bắt đầu ở Anh, một trong những nước dân chủ nhất trong nước trong thời gian đó. (Nhưng nền dân chủ này rất giới hạn và không được áp dụng cho những thuộc địa, những vùng đã làm cho sự thịnh vượng của chính quốc.)
Một số nghiên cứu về thống kê ủng hộ thuyết cho rằng chủ nghĩa tư bản càng phát triển sẽ tăng tăng trưởng kinh tế và điều này sẽ đến tăng sự thịnh vượng chung, giảm nghèo đói, và tạo sự dân chủ hóa. Đây là một xu hướng thống kê, và có nhiều ngoại lệ riêng như Ấn Độ, là nước nhưng người ta có thể cho rằng không thịnh vượng, hoặc như Brunei có GDP cao nhưng không dân chủ. Cũng có những nghiên cứu khác cho là càng dân chủ sẽ tăng tự do kinh tế mặc dầu một số ít nhận thấy không có hoặc ít ảnh hưởng tiêu cực. Có những chống đối như là Thụy Điển và Canada có hơi ít tự do về kinh tế hơn những nước như Chile và Estonia nhưng lại có GDP trên đầu người cao hơn. Tuy nhiên, đây là sự hiểu nhầm, nghiên cứu cho thấy ảnh hưởng trong tăng trưởng kinh tế và vì vậy GDP tính trên đầu người trong tương lai sẽ cao hơn và tự do kinh tế nhiều hơn. Cũng nên chú ý rằng, theo Chỉ số Tự do Kinh tế, Thụy Điển và Canada là những nước tư bản nhất trên thế giới vì những yếu tố như pháp trị, quyền sở hữu tài sản mạnh và ít hạn chế về thương mại tự do. Các nhà chỉ trích có thể tranh luận rằng chỉ số đó và những phương pháp khác được dùng đến không đo lường mức độ chủ nghĩa tư bản.
Một số người lại cho rằng sự phát triển kinh tế vì sự trao quyền cho công dân sẽ bảo đảm một cuộc quá độ đến dân chủ ở những nước như Trung Quốc. Tuy nhiên, một số khác lại bác bỏ điều này. Ngay cả khi sự phát triển kinh tế đã gây ra sự dân chủ hóa trong quá khứ nhưng chưa chắc sẽ diễn ra trong tương lai. Những kẻ độc tài bây giờ có thể đã học được cách phát triển kinh tế mà không dẫn đến tự do chính trị hơn empower.
Mức xuất khẩu dầu hay khoáng vật ở mức cao có liên hệ chặt chẽ với luật không dân chủ. Ảnh hưởng này diễn ra trên toàn thế giới và không chỉ ở Trung Đông. Các nhà độc tài ở dạng giàu có này có thể tiêu tốn nhiều hơn cho các thiết bị an ninh và cung cấp phúc lợi để giảm bất ổn xã hội. Ngoài ra, sự giàu có đó cũng không dẫn theo những thay đổi về xã hội và văn hóa, những thứ có thể thay đổi xã hội với sự phát triển kinh tế thông thường.
Những phân tích lớn gần đây cho thấy rằng dân chủ không có ảnh hưởng phát triển kinh tế trực tiếp. Tuy nhiên nó lại có ảnh hưởng gián tiếp rất lớn vào việc góp phần phát triển kinh tế. Dân chủ cũng có liên quan với việc tích lũy tiền cao hơn, lạm phát thấp hơn, giảm bất ổn chính trị và tăng tự do kinh tế. Cũng có một vài bằng chứng cho thấy rằng dân chủ cũng có liên quan đến chính phủ lớn hơn và nhiều giới hạn trong thương mại quốc tế.
Nếu không kể Đông Á, thì trong suốt bốn mươi lăm năm gần đây các nước dân chủ kém (như các nước vùng Baltic, Botswana, Costa Rica, Ghana và Sénégal) đã phát triển kinh tế của họ nhanh hơn các nước không dân chủ (Angola, Syria, Uzbekistan và Zimbawe) 50%.
Với tám cuộc khủng hoảng tài chính tồi tệ nhất trong suốt bốn thập kỷ qua, chỉ có năm nước có dân chủ. Tương tự như vậy, khoảng một nửa các nước dân chủ kém cùng với các nước không dân chủ đã trải qua sự sụt giảm 10% GDP tính trên đầu người trong một năm.
=== Nạn đói và tỵ nạn ===
Nhà kinh tế học nổi tiếng, Amartya Sen, đã lưu ý rằng không có nền dân chủ đang có nào đã từng bị nạn đói lớn nào hoành hành. Điều này gồm cả những nền dân chủ đã không giàu có trong lịch sử, như Ấn Độ, nước đã có một nạn đói kinh khủng năm 1943 và nhiều nạn đói trên quy mô lớn trước đó vào cuối thế kỷ 19, dưới thời cai trị của Anh. Tuy nhiên, một số người đổ tội cho Nạn đói Bengal năm 1943 là hệ quả của Chiến tranh thế giới thứ hai. Chính phủ Ấn Độ đã tiến bộ hơn về dân chủ trong nhiều năm. Chính quyền của các bang đã hoàn toàn được như vậy từ Đạo luật Chính chủ Ấn năm 1935.
Các cuộc khủng hoảng người tị nạn hầu như diễn ra nhiều ở các nước không dân chủ. Nhìn vào số dòng người tị nạn trong hai mươi năm qua, trong số tám mươi bảy trường hợp đầu đã diễn ra ở các nước có chế độ chuyên quyền.
=== Sự phát triển con người ===
Nền dân chủ có tương liên với điểm số cao trong chỉ số phát triển con người và điểm số thấp hơn trong chỉ số nghèo đói của con người.
Các nền dân chủ tồi có nền giáo dục tốt hơn, tuổi thọ cao hơn, tỷ lệ tử vong sơ sinh thấp hơn, việc tiếp cận nước uống và chính sách chăm sóc sức khỏe tốt hơn các chế độ độc tài tồi. Điều này không phải vì sự trợ giúp của ngoại quốc cao hơn hay tiêu tốn nhiều phần trăm GDP hơn cho sức khỏe và giáo dục mà là các nguồn tài nguyên sẵn có được quản lý tốt hơn.
Một số chỉ số sức khỏe (như tuổi thọ, tỉ lệ tử vong sơ sinh và tử vong người mẹ khi sinh) có quan hệ mật thiết với dân chủ hơn quan hệ với GDP tính trên đầu người, độ lớn của lĩnh vực công, hay chênh lệch thu nhập.
Ở các quốc gia trong thời hậu cộng sản, sau sự tàn lụi ban đầu, hầu hết các quốc gia đó có dân chủ trong nước và đã đạt được nhiều thành tựu lớn trong việc tăng tuổi thọ.
=== Thuyết hòa bình dân chủ ===
Rất nhiều nghiên cứu sử dụng các loại dữ liệu, định nghĩa và phân tích thống kê để hỗ trợ cho thuyết hòa bình dân chủ. Việc khám phá đầu tiên là các nền dân chủ tự do chưa gây chiến với các nước khác. Các nghiên cứu gần đây đã mở rộng thuyết này và nhận thấy rằng các nền dân chủ có ít xung đột quốc tế được quân sự hóa (militarized interstate disputes - MID) gây ra ít hơn 1000 lính chiến trường tử vong với nước khác. Đối với các MID đã và đang diễn ra giữa các quốc gia dân chủ chỉ gây ra một ít thương vong, và cũng có ít nội chiến hơn. Cũng có nhiều phê phán thuyết này, gồm các cuộc chiến cụ thể trong lịch sử và sự tương quan đó không phải là nguyên nhân.
=== Chính phủ thảm sát quần chúng ===
Các nghiên cứu cho thấy rằng nhiều nước dân chủ có ít nạn diệt chủng hay giết người do chính phủ tiến hành hơn. Tương tự như vậy, những nước đó cũng có ít nạn ám sát chính trị hơn.
=== Tự do và quyền ===
Tự do và quyền của người dân của xã hội dân chủ tự do được xem là có ích.
=== Hạnh phúc ===
Các nền dân chủ thường có liên hệ với việc tự thấy hạnh phúc ở mức cao trong một quốc gia.
== Nguồn ==
Dan, Reiter; Stam, Allan C. (2002). Dân chủ trong thời chiến (Democracies at War). Trường Đại học Princeton xuất bản. 0-691-08948-5.
== Ghi chú ==
== Xem thêm ==
Danh sách các chủ đề có liên quan đến chính trị
Lịch sử dân chủ
Dân chủ phi tự do
Dân chủ trong chủ nghĩa toàn trị
Cộng hòa chủ nghĩa |
bùa hộ mệnh.txt | Bùa hộ mệnh (Bùa hộ mạng) hay gọi tắt là Bùa là vật bảo vệ cho một người khỏi những điều rắc rối, khó khăn hay tà ma. Bùa hộ mệnh đem lại may mắn cho người chủ sở hữu. Bùa hộ mệnh thường từ: ngọc, đá, tượng, đồng xu, dây chuyền, nhẫn,...
== Bùa trong dân gian ==
Trong nhiều cộng đồng, những vật thể tôn giáo được sử dụng như những bùa hộ mệnh. Một lá bùa tâm linh có thể mang hình dáng một vị thần nào đó hay là những biểu tượng đơn giản biểu trưng cho tính cách thần thánh: như Thánh giá của người Công giáo hay Con mắt của thần Horus của người Ai Cập cổ đại.
Ở Thái Lan, người dân thường đeo vòng cổ hình Phật Thích ca mâu ni. Ở Bolivia và một số vùng ở Argentina, vị thần Ekeko trở thành biểu tượng hộ mệnh tiêu biểu, một vị thần tài...
Mỗi một cung Hoàng đạo tương ứng với một loại đá quý đóng vai trò như một tấm bùa hộ mệnh. Tuy nhiên, ở những nền văn minh với tập quán khác nhau lại có những loại đá khác nhau.
Tập tục của người Trung Hoa cổ là mang theo một con dế còn sống đặt trong chiếc hộp làm bằng cây liễu gai sẽ đem lại may mắn. Phong tục này còn mở rộng đến tận Philippines. Người Trung Hoa còn rải những đồng xu lên trên sàn nhà để cầu tài và lúa gạo thì trở thành biểu tượng của may mắn.
Rùa và cây xương rồng được cho là vật cản trở, gây tranh luận, cãi vã.
Nước hoa, hương trầm, nhựa thơm,...thì tạo sự lôi cuốn hay kinh tởm.
Những truyền thuyết cho rằng sức mạnh ma thuật có liên quan tới những vật bất thường như: màng thóp của trẻ mới sinh, chân thỏ,... Người sở hữu những vật này sẽ có sức mạnh.
Ở Châu Âu, người ta tin rằng tỏi và cây Thánh giá sẽ giúp tránh xa Ma cà rồng.
Người Ai Cập cổ đại có rất nhiều loại bùa hộ mệnh, thường là biểu tượng Ankh - chìa khoá của cuộc sống vĩnh cửu. Hình của thần Bọ hung Khepri cũng trở thành bùa hộ mệnh phổ biến và trở nên nổi tiếng trong thế giới Phương Tây.
Người Bắc Âu, người Anglo Saxon, người German cổ, những người Ngoại giáo tin rằng cổ ngữ Rune có thể ngăn chặn tà mà và quỷ thuật. Chữ Rune biểu tượng cho cái búa của thần Thor vẫn được dùng để ngăn chặn trộm cướp ở một số nơi.
Bắt nguồn từ vùng người Celt cổ, cỏ ba lá, nếu có thêm chiếc là thứ tư, sẽ trở thành biểu tượng cho sự may mắn (không phải loại cỏ ba lá Ireland, biểu tượng của Ba Ngôi trong Công giáo). Trong phong tục của người Celt, chiếc túi làm từ da sếu tượng trưng của kho báu, bánh xe là biểu tượng của mặt trời, thuyền cũng là biểu tượng của mặt trời, tuy nhiên thường được sử dụng như biểu tượng của vùng đất chết, con quạ cũng tượng trưng cho sự chết chóc, cái đầu, hạt cây sồi và cái giếng lạ tượng trưng của sự thông thái.
San hô, móng ngựa và tre thường được dùng để làm những chiếc bùa tốt.
Hình con voi được cho là đem lại may mắn và tiền bạc.
Ở Ả Rập, biểu tượng Hamsa với hình bàn tay với con mắt ở giữa sẽ chống lại ma quỷ.
Ở vùng Tyrol, người ta tin rằng những chiếc chuông nhỏ sẽ làm cho quỷ dữ phải bỏ chạy mỗi khi chúng rung khi gió thổi hay khi cửa mở. Bùa hộ mệnh thường được mang ở phía trên cánh tay phải của chủ nhân.
Phật giáo có rất nhiều loại bùa. Từ những buổi sơ khai, sau cái chết của Đức Phật khoảng năm 485 trước Công nguyên, bùa mang biểu tượng của Phật giáo trở nên phổ biến như hình nửa vỏ sò, bàn chân của Đức Phật...
Những nhà khoa học nghiên cứu ma quỷ cho rằng, những biểu tượng lưu ý đến chữ thập đảo ngược hay ngôi sao năm cánh ngược thể hiện sự kết giao với ma quỷ.
Vào giữa thế kỷ 19, những người da đỏ bộ lạc Lakota ở vùng Đại Bình nguyên Châu Mỹ đã làm những nghi lễ Nhảy múa ma quỷ theo Black Elk, một thầy phù thủy ở vùng Tây Bắc Oregon, và làm những chiếc áo bùa chống lại đạn của Người Da Trắng. Tất nhiên, chiếc áo này không có tác dụng gì.
Ngoài việc chống lại những thế lực của thiên nhiên, bùa còn được dùng để chống lại những người khác. Những người lính hay những người tham gia vào những công việc nguy hiểm thường mang theo bùa hộ mệnh để tăng sự may mắn cho họ. Những người lính Carlist đeo mề đay hình Trái tim Thần thánh của Chúa Jesus cùng câu Detente bala.
Nhiều người ở các quốc gia khác nhau, địa vị khác nhau đều có thể mang bùa. Chúng xuất hiện trong các gia đình, các cửa hàng trang sức, hội chợ thủ công, bảo tàng,...
== Bùa trong các tôn giáo khởi nguồn từ Abraham ==
Từ thời kỳ Trung Cổ, trong văn hóa Phương Tây, hình Ngôi sao năm cánh đã là tấm bùa mang lại tiền bạc, tình yêu,... và chống lại sự ghen ghét, bất hạnh,...
Bùa xuất hiện nhiều trong tập quán người Do Thái. Vào thời Salomon, bùa hộ mệnh có trong các viện bảo tàng.
Hiện nay, trong mỗi gia đình, nhà thờ Công giáo, cây Thánh giá trở thành biểu tượng chống lại ma quỷ và tránh khỏi điều không may mắn. Mề đay hình Thánh Christopher được treo ở gương hậu của xe cộ để cầu khẩn sự bảo trợ của Thánh suốt chặng đường đi.
== Chú thích ==
== Tham khảo == |
thế kỷ 5.txt | Thế kỷ 5 là khoảng thời gian tính từ thời điểm năm 401 đến hết năm 500, nghĩa là bằng 100 năm, trong lịch Gregory.
== Tham khảo == |
tảo hôn.txt | Tảo hôn là trường hợp kết hôn trong đó cô dâu và chú rể hoặc một trong hai người là trẻ em hoặc là người chưa đến tuổi kết hôn (thông thường là chưa đến tuổi dậy thì). Tập tục tảo hôn trước đây có mặt ở nhiều nơi trên thế giới, kể cả châu Âu, nay còn tồn tại ở một số vùng thuộc châu Phi, châu Á, châu Đại Dương và Nam Mỹ. Nó thường đi kèm với một hủ tục khác là hôn nhân được sắp đặt. Trong nhiều trường hợp, chỉ một trong hai bên là trẻ em, thường là phụ nữ, vì lý do trinh tiết hoặc vì lý do người phụ nữ ở một cộng đồng xã hội nhất định không được coi có khả năng kiếm tiền và vì khả năng sinh sản của phụ nữ mau kết thúc hơn so với nam giới. Trước tình hình nữ quyền và quyền trẻ em ngày càng được coi trọng, tập tục tảo hôn đang dần dần biến mất ở nhiều khu vực trên thế giới.
== Tảo hôn tại các nước ==
=== Tây Á ===
==== Yemen ====
Trên phân nửa các thiếu nữ tại Yemen làm hôn thú trước 18 tuổi, một số từ lúc 8 tuổi. Ủy ban lập pháp Sharia của chính quyền Jemen đã ngăn cản dự định tăng tuổi cưới lên 15 hay cả 18, với nguyên nhân là bất cứ luật nào định tuổi tối thiểu để làm hôn thú đều trái với đạo Hồi. Một số người đạo Hồi tích cực ở Jemen lý luận là một số thiếu nữ đã đủ phát triển để cưới khi 9 tuổi. Theo tổ chức HRW, vào năm 1999 tuổi được làm hôn thú tối thiểu từ 15 cho thiếu nữ bị hủy bỏ; tuổi dậy thì được giải thích theo một số người bảo thủ đã bắt đầu từ 9 tuổi, và như vậy 9 tuổi được cho là đủ điều kiện để được cưới hỏi. Trên thực tế, " Luật tại Yemen cho phép các thiếu nữ, con gái làm hôn thú bất cứ vào tuổi nào, nhưng cấm việc giao du tình dục với họ cho tới khi họ đủ phát triển ".
Vào tháng 4 năm 2008 Nujood Ali, một cháu bé 10 tuổi, đã thành công trong việc đòi ly dị người chồng 30 tuổi vì bị hãm hiếp. Trường hợp của cháu này đưa tới việc kêu gọi tăng tuổi cưới hợp pháp lên 18. Cuối năm 2008, ủy ban tối cao về người mẹ và trẻ em đề nghị định tuổi cưới tối thiểu là 18. Luật này đã được thông qua vào tháng 4 năm 2009. Nhưng luật này đã bị hủy bỏ ngay sau đó bởi những đại biểu quốc hôi chống đối.
== Chú thích == |
.bd.txt | .Bd là tên miền Internet quốc gia (ccTLD) dành cho Bangladesh. Nó được quản lý bởi Bộ Bưu điện & Viễn thông Bangladesh. Phải đăng ký ở cấp 3 dưới vài tên miền cấp 2 (.com.bd, .edu.bd, .net.bd, .gov.bd, .org.bd, và .mil.bd), theo các gTLD đầu tiên; có thể đăng ký dưới bất kỳ tên miền nào trừ.gov.bd và.mil.bd, hai tên miền đó dành cho các tổ chức trong chính phủ và quân đội Bangladesh.
== Tham khảo ==
== Liên kết ngoài ==
Thông tin whois của.bd từ IANA (tiếng Anh) |
thi đình.txt | Thi Đình là một khóa thi cử về nho học cao cấp nhất do triều đình phong kiến tổ chức để tuyển chọn người có tài, học rộng. Người thi đỗ được cấp bằng và có thể nhờ đó mà được vào làm quan chức trong triều chính. Sau khi thí sinh đỗ kỳ thi Hội thì mới được dự thi kỳ thi Đình. Đỗ đầu thi Đình gọi là đình nguyên hay điện nguyên. Tổ chức việc thi hương tại Việt Nam được bắt đầu từ thời nhà Lê sơ và tiếp nối qua các thời nhà Mạc, Lê Trung Hưng và nhà Nguyễn
Gọi là thi Đình vì thi trong điện của vua. Vua ra đề và chấm khảo thi.
== Thể thức thi Đình ==
Gồm 3 bậc (tam giáp)
Bậc 1: Đỗ tiến sĩ đệ nhất giáp (tiến sĩ cập đệ). Gồm ba thí sinh đỗ cao nhất (gọi là tam khôi): Đỗ hạng ba là thám hoa (ông thám), hạng nhì là bảng nhãn (ông bảng), đỗ đầu là trạng nguyên (ông trạng)
Bậc 2: Đỗ tiến sĩ đệ nhị giáp (tiến sĩ xuất thân hay hoàng giáp) - ông hoàng
Bậc 3: Đỗ tiến sĩ đệ tam giáp (đồng tiến sĩ xuất thân) - dân gian gọi là ông tiến sĩ.
Từ 1829, thang điểm thi Đình là:
Đạt 10 điểm, đỗ đệ nhất giáp tiến sĩ cập đệ nhất danh (Đình nguyên, đỗ đầu thi Đình, tương đương với Trạng nguyên trước kia, vì nhà Nguyễn chủ trương không lấy Trạng nguyên).
Đạt 9 điểm, đỗ đệ nhất giáp tiến sĩ cập đệ nhị danh (Bảng nhãn).
Đạt 8 điểm, đỗ đệ nhất giáp tiến sĩ cập đệ tam danh (Thám hoa).
Đạt 7 và 6 điểm, đỗ đệ nhị giáp tiến sĩ xuất thân (Hoàng giáp).
Đạt 5 điểm trở đỗ đệ tam giáp đồng tiến sĩ xuất thân (đồng tiến sĩ).
Đạt 5 điểm trở xuống đỗ phó bảng.
Từ năm 1851 vua Tự Đức có cho thêm một số Phó bảng có điểm số thi Hội gần với điểm chuẩn đỗ chánh bảng được tham dự thi Đình để có thêm cơ hội phấn đấu. Nếu đạt điểm chuẩn đỗ tiến sĩ thì được công nhận là tiến sĩ, nếu không đạt vẫn được công nhận là Phó bảng. Vua Tự Đức giữ nguyên tiêu chuẩn đỗ tiến sĩ cập đệ và tiến sĩ xuất thân, sửa lại tiêu chuẩn đỗ đồng tiến sĩ xuất thân như sau:
Đạt 4 điểm đến 5 điểm đỗ đệ tam giáp đồng tiến sĩ xuất thân (đồng tiến sĩ).
Đạt 3 điểm trở xuống đỗ phó bảng.
== Xem thêm ==
Khoa bảng
Quốc triều khoa bảng lục
== Chú thích == |
Subsets and Splits
No community queries yet
The top public SQL queries from the community will appear here once available.