filename stringlengths 4 100 | text stringlengths 0 254k |
|---|---|
sông nhuệ.txt | Sông Nhuệ tức Nhuệ Giang là một con sông nhỏ, phụ lưu của sông Đáy. Sông dài khoảng 76 km, chảy ngoằn ngoèo gần như theo hướng bắc Tây Bắc-Nam Đông Nam qua địa phận thành phố Hà Nội và tỉnh Hà Nam.
== Tuyến sông ==
Điểm bắt đầu của nó là cống Liên Mạc, lấy nước từ sông Hồng trong địa phận quận Bắc Từ Liêm (thành phố Hà Nội) và điểm kết thúc của nó là cống Phủ Lý khi hợp lưu vào sông Đáy gần thành phố Phủ Lý (tỉnh Hà Nam). Sông chảy qua các quận, huyện, thị trấn gồm các quận: Bắc Từ Liêm, Nam Từ Liêm, Hà Đông, các huyện: Thanh Trì, Thường Tín, Thanh Oai, Phú Xuyên của thành phố Hà Nội; huyện Duy Tiên của tỉnh Hà Nam và cuối cùng đổ vào sông Đáy ở khu vực thành phố Phủ Lý. Diện tích lưu vực của nó khoảng 1.075 km² (phần bị các đê bao bọc). Ngoài ra, nối sông Đáy với sông Nhuệ còn có các sông nhỏ như sông La Khê (qua quận Hà Đông), sông Tô Lịch, sông Vân Đình, sông Duy Tiên, sông Ngoại Độ v.v...
== Lịch sử ==
Năm 1831, vua Minh Mạng ra đạo dụ thành lập tỉnh Hà Nội gồm thành Thăng Long, phủ Lý Nhân v.v. Sông Nhuệ và sông Hồng được lấy làm ranh giới của tỉnh Hà Nội. Tên Hà Nội có nghĩa là "bên trong sông" tức là khu vực giữa 2 con sông này.
== Vấn đề môi sinh ==
Hiện nay sông Nhuệ đang bị bồi lắng và ô nhiễm rất nặng do nước thải công nghiệp và sinh hoạt từ các thành phố Hà Nội (một phần là do nối với sông Tô Lịch gần Văn Điển), Hà Đông và ảnh hưởng rất nhiều tới sức khỏe của những người dân sống trong lưu vực của nó.
Lượng nước thải vào sông Nhuệ với hàm lượng DO (viết tắt tiếng Anh: dissolved oxygen) hầu như không còn nữa đã biến con sông này thành con "sông chết" vì tôm cá không thể sinh sống ở mức độ đó. Vào mùa khô dòng sông cạn kiệt, trơ đáy bùn nên nhiều khúc sông không khác gì bãi rác lô thiên.
== Chú thích == |
michael stich.txt | Michael Detlef Stich (sinh ngày 18 tháng 10 năm 1968) là vận động viên quần vợt chuyên nghiệp đã giải nghệ người Đức.Anh đã giành được chức vô địch Wimbledon năm 1991 ở nội dung đơn nam và chức vô địch Wimbledon năm 1992 ở nội dung đôi nam cùng với chiếc huy chương vàng olympic năm 1992 ở nội dung đôi nam.Ngoài ra anh còn giành ngôi vị á quân tại Mỹ Mở rộng năm 1994 và giải Pháp mở rộng năm 1996
== Sự nghiệp ==
Stich bắt đầu sự nghiêp quần vợt chuyên nghiệp vào năm 1988,và anh trở thành một trong những tay vợt top đầu thế giới vào năm 1990.Anh vô địch Wimbledon năm 1991 khi đó anh đã đánh bại tay vợt số 1 thế giới Stefan Edberg tại bán kết và Boris Becker tại chung kết.Năm 1992 cùng đánh cặp với John McEnroe tại Wimbledon năm 1992 và họ đã vô địch ở nội dung đánh đôi,trong trận chung kết diễn ra 5 set đó,tỷ số set 5 là 19-17.Vị trí cao nhất của anh trên bảng xếp hạng ATP là số 2 thế giới
== Danh hiệu ==
=== Chung kết Grand Slam ===
==== Đơn: 3 (1–2) ====
==== Đôi: 1 (1–0) ====
=== Chung kết đôi nam Olympic ===
== Career finals ==
=== Đơn: 31 (18–13) ===
=== Doubles: 16 (10–6) ===
== Chú thích ==
== Tham khảo ==
== Liên kết ngoài ==
Michael Stich trên trang chủ ATP (tiếng Anh)
Michael Stich trên ITF
Michael Stich tại Davis Cup |
sân vận động vinh.txt | Sân vận động Vinh là một sân vận động nằm ở trung tâm thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An, Việt Nam với sức chứa khoảng 18.000 chỗ ngồi, gồm khán đài A và khán đài B. Đây là sân nhà của câu lạc bộ bóng đá Sông Lam Nghệ An, một câu lạc bộ bóng đá nổi tiếng, nhiều lần vô địch bóng đá Việt Nam.
Ngoài ra, câu lạc bộ bóng đá Sara Thành Vinh cũng lấy đây làm sân nhà.
== Quá trình sửa chữa ==
Khi mùa giải V-League đầu tiên 2000-2001 được khởi tranh, Sân vận động thành phố Vinh vừa cải tạo hàng chục tỷ đồng và được coi là công trình thế kỷ làm nể lòng các đội bóng khác.
Nhận thấy sự phát triển của hệ thống cơ sở hạ tầng chưa tương xứng với đẳng cấp của đội tuyển, lãnh đạo Sở Thể dục Thể thao đã tức tốc làm tờ trình gửi Ủy ban nhân dân tỉnh xin nâng cấp, cải tạo và mở rộng sân vận động thành phố Vinh. Dự án này đã được Ủy ban Nhân dân tỉnh phê duyệt theo quyết định số 3109/QĐ.UB-KH vào ngày 23 tháng 9 năm 1999 với tổng mức đầu tư là 20.800 triệu đồng. Đơn vị thiết kế là Công ty cổ phần tư vấn quy hoạch thiết kế Nghệ An. Với mục tiêu nâng cấp Sân Vinh đạt tiêu chuẩn Quốc tế phục vụ thi đấu các môn thể thao như bóng đá, điền kinh và một số hoạt động văn hoá lớn của tỉnh và toàn quốc trong thời gian 50 năm, đợt cải tạo và nâng cấp này đã mở rộng mặt sân bóng đá với diện tích 8.436 m2, mở rộng khán đài B để bố trí thêm 1.000 chỗ ngồi, xây mới khán đài A có sức chứa 7.000 chỗ ngồi, trong đó 5.000 chỗ ngồi ghế tựa, có mái che. Ngoài ra, hệ thống cấp thoát nước cũng được đầu tư, cải tạo theo cấu trúc 2 lớp chạy xung quanh sân (lớp phía trong đường chạy vòng và lớp dọc dải phân cách giữa khu khán giả và đường chạy) với tổng chiều dài 760m. Sau ba năm thi công, đến mùa bóng 2002-2003, việc nâng cấp mặt sân thi đấu hoàn thành và bàn giao, đưa vào sử dụng với quyết toán là 1,685 tỷ đồng. Năm 2003, hạng mục xây dựng khu vực I - II khán đài A (bao gồm cả việc lắp đặt hệ thống ghế ngồi) cũng đã hoàn thành với số vốn đầu tư gần 11 tỷ đồng. Năm 2006, hệ thống mương thoát nước của Sân Vinh do Xí nghiệp xây lắp H36 - Công ty lắp Hoá chất Hà Nội thi công cũng đã được bàn giao, đưa vào sử dụng. Tính đến thời điểm này, nếu không tính đến hệ thống đường pít đang còn gấp rút hoàn thiện thì tất cả các hạng mục nâng cấp đều đã được bàn giao và đưa vào sử dụng.
== Thành công đầu tiên ==
Mùa bóng 2000 và 2001, Sân Vinh cực kì sôi động khi Sông Lam Nghệ An 2 lần liên tiếp giành chức vô địch V-League. Với sức chứa khoảng 18.000 chỗ ngồi, Sân Vinh đã trở thành chảo lửa giữa lòng thành phố Vinh. Để tương xứng với những gì câu lạc bộ có được, năm 2003, ban quản lý đã cho xây dựng và nâng cấp hoàn toàn cơ sở hạ tầng của sân vận động. Sau khi đã hoàn thành việc tu sửa, mặt cỏ sân đã đạt tiêu chuẩn quốc tế, hệ thống tưới ẩm và thoát nước ngầm. Khán đài A thiết kế theo kiểu mái vòm hiện đại với 5.000 chỗ ngồi lắp ghế composing, hệ thống chiếu sáng hiện đại được lắp đặt. Tám năm sau, sân vận động ấy đã xuống cấp nghiêm trọng khi chưa đạt 1/6 giá trị sử dụng. Ngoại trừ hệ thống đèn chiếu sáng (do Công ty Thể dục Thể thao Thành Lâm làm chủ đầu tư với mức kinh phí trên 8 tỷ đồng) là đang hoạt động tương đối ổn định, còn lại ở nhiều công trình hạng mục khác đã bị hư hỏng ngay như khu vực Khán đài A, hệ thống tưới nước ngầm và mương thoát nước.
== Giai đoạn hiện nay ==
Giai đoạn 2009-nay là giai đoạn trở lại đỉnh cao của bóng đá Sông Lam Nghệ An. Với sự trở lại của huấn luyện viên trưởng Nguyễn Hữu Thắng, câu lạc bộ vô địch Cúp bóng đá Việt Nam 2010, Sân Vinh tiếp tục chứng kiến sự sôi động của các cổ động viên nhà.
Đây cũng là nơi diễn ra trận đấu tranh ngôi vô địch V-league 2011. Trước "chung kết" giữa Sông Lam Nghệ An và Hà Nội T&T, Sân Vinh lên đỉnh điểm cơn sốt vé, người hâm mộ xứ Nghệ sắp hàng đến Sân Vinh với mục tiêu mua được chiếc vé với giá rất cao để vào xem đội chủ nhà nâng cup vô địch. Khi trận đấu chưa diễn ra, hàng ngàn người hâm mộ dù mua được vé nhưng vẫn không thể vào sân vì Sân Vinh đã quá tải, nhiều người đã phá cửa để vào sân, nhiều người khác dùng thang, trèo tường để xem, một số ngồi trên cây hay nóc nhà cao tầng. Mùa giải V-League 2011 đầy thành công của Sông Lam Nghệ An đã giúp Sân Vinh trở lại "thời kì hoàng kim" của 10 năm trước. Người dân xứ Nghệ luôn mong chờ đội bóng nâng cao chiếc cúp V-League lần nữa về với quê hương và điều đó đã trở thành hiện thực ngay trên Sân Vinh.
Sân Vinh rộn ràng trong bầu không khí lễ hội sau khi Sông Lam Nghệ An cầm chân Hà Nội T&T với tỷ số 1-1 ở vòng đấu cuối cùng của V-League 2011, qua đó giành chức vô địch V-League sau 10 năm chờ đợi. Không thể tả hết niềm vui sướng của các cổ động viên xứ Nghệ cũng như thầy trò huấn luyện viên Nguyễn Hữu Thắng sau khi trọng tài Vũ Bảo Linh thổi còi kết thúc trận đấu bởi họ đã chờ đợi quá lâu để được nâng cao chiếc Cúp vô địch. Chiến công của Sông Lam Nghệ An càng ngọt ngào hơn nữa khi họ giành vinh quang ngay trên Sân Vinh lại trước đối thủ cạnh tranh trực tiếp và cũng là các nhà đương kim vô địch trước khi vòng 26 diễn ra.
== Các sự kiện ==
Siêu cúp quốc gia: 2002; 2011
Chung kết Cúp bóng đá Việt Nam: 2004
== Chú thích ==
== Liên kết ngoài ==
Stadium information
Hội cổ động viên bóng đá xứ Nghệ
Footballmatch Stadium Guide
"Chảo lửa" Thành Vinh trước trận "chung kết" V-League
Thành Vinh lên cơn sốt
20 tỷ đồng treo thưởng cho "trận chung kết" V-League 2011 |
30 tháng 10.txt | Ngày 30 tháng 10 là ngày thứ 303 (304 trong năm nhuận) trong lịch Gregory. Còn 62 ngày trong năm.
== Sự kiện ==
1644 – Thuận Trị Đế Phúc Lâm đăng quang hoàng đế tại Tử Cấm thành Bắc Kinh, khẳng định địa vị của nhà Thanh trong lịch sử Trung Quốc.
1485 – Henry VII làm lễ đăng quang quốc vương Anh.
1864 – Chiến tranh Schleswig lần thứ hai kết thúc với kết quả là Đan Mạch từ bỏ mọi tuyên bố chủ quyền với Schleswig, Holstein, Lauenburg; các lãnh thổ này chuyển sang nằm dưới quyền cai quản của Phổ và Áo.
1973 – Cầu Bosphorus tại Istanbul hoàn thành, trở thành cây cầu thứ hai kết nối châu Á và châu Âu qua eo biển Bosphore thuộc Thổ Nhĩ Kỳ.
1941 – Chiến tranh thế giới thứ hai: Quân Đức bắt đầu bao vây Sevastopol của Liên Xô, và chiếm được thành phố vào tháng 7 năm sau.
1961 – Liên Xô thử nghiệm bom hydro Tsar Bomba trên quần đảo Novaya Zemlya; bom có đương lượng nổ 50 Mt, là thiết bị nổ lớn nhất từng được phát nổ, hạt nhân hoặc các hình thức nổ khác.
1963 - Thành lập tỉnh Quảng Ninh, Việt Nam trên cơ sở sát nhập khu Hồng Quảng và tỉnh Hải Ninh.
1995 – Trong cuộc trưng cầu dân ý độc lập lần thứ nhì, hơn một nửa cử tri tỉnh Québec chống lại việc ly khai khỏi Canada.
2016 SK telecom T1 vô địch chung kết thế giới Liên Minh Huyền Thoại lần thứ ba.
== Sinh ==
1218 - Hoàng đế Chukyo của Nhật Bản
1513 - Jacques Amyot, Nhà văn Pháp
1624 - Paul Pellisson, Nhà văn Pháp
1735 - John Adams,Nhà lãnh đạo cách mạng và tổng thống của Mỹ.
1751 - Richard Sheridan, Nhà soạn kịch Ai-len
1762 - André Chénier, Nhà văn Pháp
1786 - Philippe-Joseph Aubert de Gaspé, Nhà văn, nhà chính trị Pháp và Canada
1799 - Ignace Bourget, Giám mục Thiên chúa giáo La Mã
1821 - Fyodor Dostoevsky, Nhà văn Nga
1839 - Alfred Sisley, Nghệ sĩ Pháp
1844 - Harvey W. Wiley, Nhà hoá học Mỹ
1847 - Galileo Ferraris, Nhà vật lý Ý
1857 - Georges Gilles de la Tourette, Nhà thần kinh học của Pháp.
1861 - Antoine Bourdelle, Nhà điêu khắc người Pháp
1871 - Paul Valery, Nhà thơ Pháp
1871 - Buck Freeman, Cầu thủ bóng chày
1882 - William Halsey, Jr, Đô đốc Mỹ
1882 - Günther von Kluge, Thống chế Đức
1885 - Ezra Pound, Nhà thơ Mỹ
1886 - Zoe Akins, Nhà soạn kịch Mỹ
1893 - Charles Atlas
1893 - Roland Freisler, Nhà chính trị đảng Đức quốc xã
1894 - Jean Rostand, Nhà sinh vật học, triết học người Pháp
1895 - Gerhard Domagk, Nhà vi khuẩn học người Đức từng nhận giải nobel
1895 - Dickinson W. Richards, Bác sĩ Mỹ người từng nhận giải Nobel
1896 - Ruth Gordon, Nữ diễn viên Mỹ
1897 - Rex Cherryman, Nam diễn viên Mỹ
1898 - Bill Terry, Tuyển thủ bóng chày
1900 - Ragnar Granit Nhà khoa học nghiên cứu về thần kinh từng đạt giải Nobel
1906 - Giuseppe Farina, Tay đua ôtô người Ý
1909 - Homi J. Bhabha, Nhà vật lý Indian
1911 - Ruth Hussey, Nữ diễn viên Mỹ
1914 - Richard E Holz, Nhà soạn nhạc người Mỹ
1915 - Fred Friendly, Nhà báo Mỹ
1916 - Leon Day, Tuyển thủ bóng chày
1917 - Nikolai Vasilievich Ogarkov, Nguyên soái Xô Viết
1917 - Maurice Trintignant, Tay đua xe ôtô người Pháp
1927 - Joe Adcock
1928 - Daniel Nathans, Nhà vi trùng học người Mỹ, từng nhận giải Nobel
1930 - Nestor Almendros, Nhà điện ảnh Tây Ban Nha
1930 - Clifford Brown, Người nổi tiếng và có ảnh hưởng lớn đến nhạc jazz
1932 - Louis Malle, Đạo diễn phim người Pháp
1934 - Frans Brüggen, Nhạc trưởng người Hà Lan
1935 - Agota Kristof, Nhà văn Hung Ga Ri
1935 - Michael Winner, Đạo diễn phim người British
1935 - Jim Perry,Tuyển thủ bóng chày (người ném bóng)
1935 - Robert Caro, Nhà viết tiểu sử Mỹ
1936 - Polina Astakhova, Vận động viên thể dục Ukrainia
1937 - Claude Lelouch, Đạo diễn phim người Pháp
1939 - Leland H. Hartwell, Nhà khoa học Mỹ người từng nhận giải Nobel y học
1939 - Grace Slick, Ca sĩ Mỹ
1939 - Edward Holland, Jr., Ca sĩ Mỹ
1940 - Ed Lauter, Nam diễn viên Mỹ
1941 - Theodor W. Hänsch, Nhà vật lý Đức, người từng nhận giải thưởng Nobel
1941 - Otis Williams, Ca sĩ Mỹ
1943 - Joanna Shimkus, Nữ diễn viên Canada
1945 - Henry Winkler, Nam diễn viên Mỹ
1947 - Timothy B. Schmit, Người chơi ghita bass (Eagles)
1951 - Harry Hamlin, Nam diễn viên Mỹ
1953 - Charles Martin Smith, Nam diễn viên Mỹ
1956 - Juliet Stevenson, Nữ diễn viên Anh
1957 - Kevin Pollak, Nam diễn viên Mỹ
1958 - Joe Delaney, Cầu thủ bóng đá Mỹ
1958 - Stefan Dennis, Nam diễn viên Úc
1960 - Diego Armando Maradona, Cầu thủ bóng đá Argentina
1961 - Scott Garrelts, Cầu thủ bóng chày
1962 - Courtney Walsh, Cầu thủ chơi cricke ở phía Tây Indian
1963 - Kristina Wagner, Nữ diễn viên Mỹ
1965 - Gavin Rossdale, Nhạc sĩ Anh
1966 - Scott Innes, Diễn viên lồng tiếng Mỹ
1970 - Maja Tatic, Ca sĩ Bosnia
1970 - Nia Long, Nữ diễn viên Mỹ
1973 - Adam "Edge" Copeland, Đô vật chuyên nghiệp Canada
1973 - Silvia Corzo
1976 - Stern John, Cầu thủ bóng đá người Trinidadia
1978 - Martin Dossett, Cầu thủ bóng đá Mỹ
1979 - Yukie Nakama, Nữ diễn viên Nhật Bản
1980 - Sarah Carter, Nữ diễn viên Canada
1981 - Ivanka Trump, Nhà thiết kế người Mỹ, con gái của Donald Trump
1983 - Iain Hume, Cầu thủ bóng đá Canada
1984 - Eva Pigford, Nữ diễn viên nhà thiết kế người Mỹ
1989 - Nastia Liukin, Vận động viên thể dục người Mỹ
== Mất ==
== Những ngày lễ và kỷ niệm ==
Ngày tưởng niệm các nạn nhân của đàn áp chính trị tại Nga và các quốc gia hậu Xô viết.
== Tham khảo == |
văn an (nhạc sĩ).txt | Văn An (1929–2011) là một nhạc sĩ Việt Nam. Ông là một trong những người được trao tặng Giải thưởng Nhà nước về văn học nghệ thuật đợt đầu tiên.
== Thân thế và sự nghiệp ==
Ông tên thật là Nguyễn Văn An, sinh ngày 5 tháng 5 năm 1929 tại Nam Định. Lớn lên ở miền quan họ Bắc Ninh, ông thụ hưởng truyền thống âm nhạc từ người cha mê đàn bầu. Năm 17 tuổi, ông tham gia kháng chiến chống Pháp và là thành viên Đoàn Văn công Quân khu Việt Bắc. Ông có niềm say mê âm nhạc, mê chơi đàn guitar - vật bất ly thân của ông trên khắp các nẻo đường chiến dịch lớn trong kháng chiến chống Pháp. Ông là tác giả của nhiều ca khúc Việt Nam nổi tiếng.
Ông qua đời ngày 31 tháng 8 năm 2011 tại nhà riêng ở khu tập thể Nam Đồng (Hà Nội) sau 13 năm chống chọi với bệnh tật hiểm nghèo, thọ 82 tuổi .
== Tác phẩm âm nhạc ==
Một số tác phẩm tiêu biểu của Văn An
Đường lên Tây Bắc
Mùa gặt
Đâu Đảng cần chúng ta có mặt
Cánh diều miền Bắc
Thái Văn A đứng đó
Cồn Cỏ vang bài ca anh hùng
Đôi dép Bác Hồ
Quân đội ta, quân đội anh hùng
Gió sông Hồng gọi nắng sông Hương
Nhịp cầu nối những bờ vui
Lá cờ Đảng
== Giải thưởng ==
Nhạc sĩ Văn An đã được trao tặng Giải thưởng Nhà nước về văn học nghệ thuật đợt đầu tiên với các tác phẩm Đường lên Tây Bắc, Quân đội ta, quân đội anh hùng và Thái Văn A đứng đó .
== Chú thích == |
chi dù dì.txt | Chi Dù dì hay Cú đại bàng, tên khoa học Bubo là một chi chim trong họ Strigidae.
== Các loài ==
Bao gồm các loài chim kiểu cú mèo với kích thước lớn (khoảng 0,5 - 4,5 kg), bao gồm những loài lớn nhất trong Họ Cú mèo cũng như Bộ Cú. Thường được gọi dưới tên cú đại bàng (Eagle owl), cú sừng (Horned owl), cú cá hay cú bắt cá (fish owl và fishing owl), dù dì (tên tiếng Việt).
Chi Bubo có khoảng 25 loài, phân bố hầu khắp trên thế giới, từ vùng cực Bắc cho tới các vùng nhiệt đới, ngoại trừ châu Đại Dương và châu Nam Cực. Hai loài Cú sừng là các loài duy nhất sống ở Nam Mỹ.
Giống như các loài cú khác, hầu hết các loài trong chi Bubo có lối sống về đêm, tuy nhiên do điều kiện sống đặc biệt mà loài Cú tuyết cũng săn mồi vào ban ngày. Chúng săn mồi dựa vào thính giác và thị giác, với cơ bắp khỏe, móng sắc và mỏ nhọn. Chúng bắt mồi bằng chân tương tự các loài chim săn mồi khác.
Hầu hết chúng săn những động vật nhỏ như chim, động vật gặm nhấm, hay bò sát. Một số bắt cá và các động vật thủy sinh như là thức ăn chính. Những loài lớn nhất như Cú đại bàng Á Âu có thể săn được những con mồi lớn hơn như thỏ, gà gô, hay thậm chí cả cáo.
Nhóm cú đại bàng
Nhóm cú cá
== Hình ảnh ==
== Chú thích ==
== Tham khảo == |
omron.txt | Tập đoàn Omron (オムロン株式会社, Omuron Kabushiki-gaisha) là một công ty có trụ sở Kyoto, Nhật Bản. Omron được Kazuma Tateisi (立石一真) thành lập vào năm 1933 và được hợp nhất tư cách pháp nhân từ năm 1948. Trụ sở đầu của công ty được đặt tại "Omuro (御室)", đây cũng chính là nguồn gốc của cái tên "OMRON".
Ngành nghề kinh doanh chính của Omron là sản xuất và kinh doanh cái linh kiện, thiết bị, hệ thống máy tự động. Nhưng công ty nổi tiếng trong lĩnh vực thiết bị y tế. Omron cũng là nơi sản xuất đầu tiên của cửa soát vé tự động Turnstile và là một trong những nhà sản xuất máy ATM đầu tiên có khả năng đọc thẻ từ. Omron ngoài ra còn là nhà cung cấp các loại switch bấm hàng đầu thế giới.
== Tham khảo ==
== Liên kết ngoài ==
Omron Global Website (tiếng Anh)
Omron UK website
Omron Industrial Automation
Omron Electronics (U.S.)
Omron Healthcare (U.S.)
List of Omron offices around the world
Omron ADR American stock trading symbol OMRNY
Omron Healthcare (France)
Omron Automation (India)
Omron Oilfield & Marine |
tranh chấp quần đảo senkaku.txt | Tranh chấp quần đảo Senkaku là vấn đề tranh chấp giữa 3 quốc gia và vùng lãnh thổ trên một nhóm đảo không có người ở, do Nhật Bản quản lý, mà người Nhật gọi là quần đảo Senkaku, trong khi đó CHND Trung Hoa gọi là Diàoyúdǎo (Hán Việt:Điếu Ngư) và Trung Hoa Dân Quốc gọi là Diàoyútái (Hán Việt:Điếu Ngư Đài).
Quần đảo Senkaku bị Mỹ chiếm đóng từ năm 1945 đến 1972, Nhật Bản và Trung Quốc thể hiện quan điểm của mình về chủ quyền của quần đảo lên Hội đồng Bảo an Liên Hiệp Quốc ngày 20 tháng 5 năm 1972 nhằm tìm kiếm sự tiếp quản quần đảo từ Hoa Kỳ. Sở hữu những hòn đảo trên sẽ mang đến cho quốc gia của họ những quyền lợi về khai thác dầu khí, khoáng sản và đánh bắt cá ở các vùng biển xung quanh. Các hòn đảo thuộc quần đảo đều có ý nghĩa trong Hiệp ước An ninh Mỹ - Nhật và quân đội Hoa Kỳ thể theo hiệp ước sẽ bảo vệ những hòn đảo trên nếu có sự xâm lược.
== Quần đảo ==
Quần đảo Senkaku nằm trong biển Hoa Đông giữa Nhật Bản - CHND Trung Hoa và Trung Hoa Dân quốc (Đài Loan). Quần đảo gồm có 5 đảo không có người ở và 3 bãi đá trơ giữa biển, kích thước từ 800 m² đến 4,32 km².
== Lãnh thổ tranh chấp ==
Dưới thời Minh Trị duy tân, chính phủ Nhật Bản chính thức sáp nhập những gì thuộc Vương quốc Lưu Cầu vào tỉnh Okinawa vào năm 1879. Quần đảo Senkaku, nằm giữa Vương quốc Lưu Cầu và đế chế nhà Thanh, đã trở thành ranh giới giữa Trung Quốc và Nhật Bản ở thời điểm đó.
Năm 1885, thống đốc tỉnh Okinawa - Nhật Bản, Nishimura Sutezo đã đưa kiến nghị lên chính phủ Minh Trị, yêu cầu chính thức kiểm soát quần đảo. Tuy nhiên, Bộ trưởng Ngoại giao Nhật Bản lúc bấy giờ là Inoue Kaoru nhận xét rằng những hòn đảo nằm gần khu vực biên giới với đế chế nhà Thanh và cho biết rằng quần đảo đã được đặt tên Trung Quốc. Ông cũng trích dẫn một bài báo trên một tờ báo Trung Quốc trước đó đã tuyên bố rằng Nhật Bản đang chiếm đóng hòn đảo ngoài khơi bờ biển của Trung Quốc. Inoue lo ngại rằng nếu Nhật Bản tiến hành dựng lên cột mốc chủ quyền trên quần đảo nó sẽ làm cho đế chế nhà Thanh nổi giận và chiến tranh có thể xảy ra.
Ngày 14 tháng 1 năm 1895, trong cuộc chiến tranh Thanh-Nhật, Đế quốc Nhật Bản đã tiến hành sáp nhập quần đảo Senkaku vào lãnh thổ tỉnh Okinawa, và tuyên bố rằng họ đã tiến hành điều tra 1884, quần đảo thuộc dạng "đất vô chủ" và không có bằng chứng là quần đảo được kiểm soát bởi nhà Thanh.
Sau khi nhà Thanh thất bại trong cuộc chiến tranh Trung - Nhật lần thứ nhất, triều đình của Từ Hi Thái hậu buộc phải ký kết với Nhật Bản hiệp ước Shimonoseki trong tháng 4 năm 1895. Trong đó có điều ước rằng, nhà Thanh phải nhượng lại cho Nhật Bản đảo Đài Loan và các đảo, quần đảo lân cận và có liên quan.
Tuy nhiên hiệp ước đã bị vô hiệu hóa sau khi Đế quốc Nhật Bản thất bại trong cuộc chiến tranh thế giới II vào 1945, và Nhật buộc phải ký với các nước Đồng minh hiệp ước San Francisco năm 1951. Văn kiện này đã vô hiệu hóa các điều ước quốc tế của Nhật Bản được ký kết trước kia. Từ sau khi Nhật thất bại trong chiến tranh thế giới lần thứ hai việc tranh chấp quần đảo Senkaku bắt đầu được đưa lên bàn hội nghị và những cuộc khẩu chiến qua kênh ngoại giao diễn ra kịch liệt sau khi Hoa Kỳ chấm dứt việc chiếm đóng quần đảo Okinawa và Senkaku ngày 15 Tháng 5 1972.
== Lập luận chủ quyền của CHND Trung Hoa và Trung Hoa Dân quốc ==
Hai chính phủ này cho rằng việc tranh chấp quần đảo Điếu Ngư (cách của Trung Quốc gọi Senkaku) là một hệ quả tiếp sau của việc Nhật Bản xâm lược Trung Quốc trong quá khứ.
Họ cho rằng quần đảo Điếu Ngư/Senkaku là tiền đồn của Trung Quốc từ thời nhà Minh - Thanh (1368-1911) dùng để tiễu trừ cướp biển Nhật Bản. Một tấm bản đồ Trung Quốc ở châu Á và cũng như một bản đồ do người Nhật, biên soạn vào thế kỷ 18, đã xác định quần đảo Lưu Cầu như là một phần của Trung Quốc.
Quần đảo Điếu Ngư được phía Nhật Bản kiểm soát dưới thời kỳ Chiến tranh Trung - Nhật lần thứ nhất (1894-1895) sau khi nhà Thanh nhượng quần đảo Điếu Ngư cho Nhật với Hiệp ước Shimonoseki. Phía Trung Quốc cũng đưa ra dữ liệu từ bức thư của Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Nhật Bản vào năm 1885, từ chối sáp nhập các đảo vào Nhật Bản vì lo ngại việc phản đối từ nhà Thanh cũng như chiến tranh xảy ra, cho thấy Nhật Bản biết rằng những hòn đảo này không phải là đất vô chủ.
Tuyên bố Potsdam nói rằng "chủ quyền của Nhật Bản được giới hạn ở các đảo Honshū, Hokkaidō, Kyūshū, Shikoku và những hòn đảo nhỏ xung quanh được xác định", và "chúng tôi" tuyên bố Potsdam được đưa ra bởi, Mỹ, Anh và Trung Hoa Dân Quốc. Nhật Bản chấp nhận các điều khoản của Tuyên bố đầu hàng.
Cả hai chính phủ Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa và Trung Hoa Dân Quốc không bao giờ thông qua việc chuyển giao quyền kiểm soát các đảo cho Nhật Bản vào những năm 1970.
== Lập luận chủ quyền của Nhật Bản ==
Lập trường của phía Nhật Bản là quần đảo Senkaku là một lãnh thổ của mình và bác bỏ mọi lập luận từ phía Trung Quốc.
Phía Nhật Bản đã rà soát quần đảo và phát hiện rằng trên quần đảo không có người ở và sự hiện diện chủ quyền của nhà Thanh trên Senkaku.
Những hòn đảo này không phải là một phần của đảo Đài Loan cũng như của quần đảo Bành Hồ, mà Nhật được nhượng lại từ nhà Thanh trong hiệp ước Shimonoseki, cho nên Nhật không từ bỏ quần đảo trên do nó không nằm trong điều II của hiệp ước San Francisco.
Mặc dù các đảo đã được kiểm soát bởi Hoa Kỳ như là một sự chiếm đóng từ năm 1945 đến 1972, Nhật Bản đã thực hiện quyền kiểm soát của mình trên các hòn đảo sau 1972.
Nhật Bản cáo buộc rằng Đài Loan và Trung Quốc chỉ bắt đầu tuyên bố quyền sở hữu các đảo vào năm 1971, sau khi một báo cáo của Liên Hiệp Quốc (tháng 5 năm 1969) về việc dưới đáy biến xung quanh quần đảo có thể chứa một lượng dầu mỏ và khí đốt khổng lồ.
== Chú thích ==
== Tham khảo ==
Curtis, Gerald, Ryosei Kokubun and Wang Jisi. (2010). Getting the Triangle Straight: Managing China-Japan-US Relations. Washington, DC: Brookings Institution Press. 10-ISBN 488907080X/13-ISBN 9784889070804; OCLC 491904160
Shaw, Han-yi. (1999). The Diaoyutai/Senkaku Islands Dispute: Its History and Analysis of the Ownership Claims of the P.R.C., R.O.C., and Japan. Baltimore, Maryland: University of Maryland School of Law. OCLC 608151745
Lee, Seokwoo, Shelagh Furness and Clive Schofield. (2002). Territorial disputes among Japan, China and Taiwan concerning the Senkaku Islands. Durham: University of Durham, International Boundaries Research Unit (IBRU). 10-ISBN 1897643500/13-ISBN 9781897643501; OCLC 249501645
Netherlands Institute for the Law of the Sea. (2000). International Organizations and the Law of the Sea. London: Graham & Trotman/Martinus Nijhoff. OCLC 16852368
Pan, Junwu. (2009). Toward a New Framework for Peaceful Settlement of China's Territorial and Boundary Disputes. Leiden: Martinus Nijhoff. 10-ISBN 9004174281/13-ISBN 9789004174283; OCLC 282968950
Suganuma, Unryu. (2000). Sovereign Rights and Territorial Space in Sino-Japanese Relations. Honolulu: University of Hawaii Press. 10-ISBN 0824821599/13-ISBN 9780824821593; 10-ISBN 0824824938/13-ISBN 9780824824938; OCLC 170955369
== Liên kết ngoài ==
Global Security, Senkaku/Diaoyutai Islands
Basic View on Senkaku (by the Japanese Ministry of Foreign Affairs)
Q&A on the Senkaku Islands (by the Japanese Ministry of Foreign Affairs)
Japan’s Territorial Problem: The Northern Territories, Takeshima, and the Senkaku Islands, commentary by Ambassador Kazuhiko Togo (ngày 6 tháng 5 năm 2012)
Article by Kiyoshi Inoue Professor of History department Kyoto University, and original text and maps in Japanese
Senkaku @BBC
“Senkaku/Diaoyutai Islands”. Globalsecurity.org.
Diaoyutai History (in Chinese)
Satellite image of Senkaku Islands
"The Senkaku/Diaoyu Islands Dispute:", Durham University, 2008. Dzurek, Daniel.
"INTERNATIONAL LAW'S UNHELPFUL ROLE IN THE SENKAKU ISLANDS:", University of Pennsylvania, ngày 18 tháng 10 năm 1996. Ramos-Mrosovsky, Carlos.
琉球群岛人民反对美国占领的斗争 "Ryukyu Islands, the struggle of peoples against U.S. occupation," 人民日報 (People's Daily), ngày 8 tháng 1 năm 1953.
"China's Diaoyu Islands Sovereignty is Undeniable" at People's Daily Online, ngày 26 tháng 5 năm 2003.
"Wrong to dispute Japan’s sovereignty of Senkaku" by Hiroshi Suzuki, Director, Japan Information and Cultural Centre Minister, Embassy of Japan, London., Financial Times>Letters, ngày 28 tháng 5 năm 2012. |
iphone.txt | iPhone ( /ˈaɪfoʊn/ EYE-fohn) là mẫu điện thoại di động của hãng điện tử Mỹ Apple Computer. Phiên bản chiếc iPhone đầu tiên ra mắt ngày 29 tháng 6 năm 2007 . Bên cạnh tính năng của một máy điện thoại thông thường (hoạt động trên bốn băng tần GSM và EDGE), iPhone còn được trang bị màn hình cảm ứng, máy chụp hình, khả năng chơi nhạc và chiếu phim (tương tự iPod), trình duyệt web,... Phiên bản thứ hai là iPhone 3G ra mắt tháng 7 năm 2008, được trang bị thêm hệ thống định vị toàn cầu (GPS), mạng 3G tốc độ cao (HSDPA).
iPhone 3G S, phiên bản thứ ba, được công bố vào ngày 8 tháng 6 năm 2009. Ngày 19 tháng 6, phiên bản mới này đã được phân phối tại Mỹ, Việt Nam, Canada và một số nước châu Âu; ngày 26 tháng 6 có mặt tại Úc; sau đó, phiên bản quốc tế của iPhone 3G S cũng được phát hành vào tháng 7 và tháng 8 năm 2009. Thay đổi đáng kể nhất là trong phiên bản điện thoại mới này là Apple đã nâng cao hiệu năng của máy (S trong 3G S là Speed - Tốc độ). iPhone 3G S được trang bị bộ vi xử lý tốc độ 600 MHz (gấp gần 1,5 lần so với iPhone 3G), bộ nhớ trong lên đến 32 GB, máy ảnh số 3.15 Mp, tích hợp la bàn số và hàng loạt tính năng đáng giá được nâng cấp khác như tốc độ Wi-Fi, thời gian dùng pin v.v...
Trước đó, ngày 17 tháng 3 năm 2009, Apple cũng đã thông báo phiên bản 3.0 của hệ điều hành cho iPhone (và iPod Touch) và đã được ra mắt chính thức vào ngày 17 tháng 6 năm 2009.
iPhone 4 được công bố ra đời tháng 6 năm 2010. Trong phiên bản này iPhone đã được thiết kế lại, vuông vắn và có khía cạnh hơn. Về chức năng đáng chú ý, iPhone 4 có chức năng quay phim HD, màn hình Retina trong và nhuyễn hơn gấp 4 so với các màn hình đời trước và chức năng FaceTime (gọi và thấy người gọi qua Wi-Fi).
Kế tiếp truyền thống của Apple, iPhone 4s được ra mắt vào ngày 04 tháng 10 năm 2011 là sản phẩm kế thừa sự thành công của iPhone 4. Chữ S trong iPhone 4s có nghĩa là Siri - trợ lý ảo đầu tiên được áp dụng trên smartphone.
iPhone 5 ra mắt ngày 21 tháng 9 năm 2012 sử dụng hệ điều hành iOS 6 với nhiều cải tiến mạnh mẽ.
iPhone 5s cùng với iPhone 5c (chữ C trong iPhone 5c nghĩa là Color - màu sắc, chứ không phải từ Cheap - giá rẻ như nhiều người thường nghĩ) ra mắt ngày 10 tháng 9 năm 2013 là phiên bản cao cấp nhất hiện nay với hệ điều hành iOS 7 và cảm biến vân tay mới lần đầu xuất hiện.
Apple lần đầu tiên phá vỡ nguyên tắc chung của hãng khi giới thiệu 2 chiếc smartphone màn hình lớn là iPhone 6 và iPhone 6 Plus được giới thiệu vào ngày 09 tháng chín 2014, và phát hành vào ngày 19 tháng 9 năm 2014. Sở hữu màn hình lần lượt là 4,7-inch và 5,5-inch, bộ đôi iPhone 6 và 6 Plus đã trở thành chiếc iPhone màn hình lớn nhất từ trước đến nay mà Apple từng sản xuất.
iPhone 6s và iPhone 6s Plus được ra mắt vào ngày 09 tháng 9 năm 2015 với thiết kế không đổi từ dòng iPhone 6/6 Plus, được bổ sung các tính năng mới và nâng cấp phần cứng. Nổi bật nhất phải kể đến tính năng 3D Touch - cảm ứng theo lực nhấn để mở nhanh các menu ứng dụng và sự xuất hiện của màu sắc mới là màu Rose Gold (vàng hồng) đã và đang trở thành xu hướng mới cho màu sắc điện thoại thông minh ngày nay.
iPhone SE được Apple giới thiệu vào ngày 22 tháng 3 năm 2016 được xem là phiên bản nâng cấp của iPhone 5s bởi thiết kế không đổi. Tuy nhiên, Apple đã nâng cấp phần cứng của máy mạnh mẽ bằng với bộ đôi iPhone 6s và 6s Plus. iPhone SE cũng được trang bị thêm màu Rose Gold (vàng hồng) thời thượng, đây cũng là đặc điểm dễ nhận dạng nhất của iPhone SE khi so sánh với iPhone 5s.
Iphone 7/7 Plus được Apple giới thiệu vào ngày 07 tháng 9 năm 2016 Là sản phẩm xuất hiện gần cuối trong lễ ra mắt, nhưng bộ đôi iPhone thế hệ mới của Apple lại gây được nhiều chú ý nhất.
Hệt như thông tin đồn thổi hàng tháng qua, hai mẫu iPhone thế hệ mới được trình làng với tên gọi iPhone 7 và iPhone 7 Plus. Apple cũng chính thức loại bỏ phiên bản dung lượng 16GB và thay thế bằng model thấp nhất 32GB. Bên cạnh đó, người dùng có hai lựa chọn dung lượng cao 128GB và 256GB, như máy tính bảng iPad Pro Camera là trang bị được Apple dành nhiều thời gian chia sẻ nhất trên iPhone 7. Hãng tự tin cho biết iPhone thế hệ mới có camera hàng đầu. Trong đó, iPhone 7 mang đến cho người dùng iPhone trải nghiệm chụp hình gần với máy ảnh chuyên nghiệp DSLR. Camera kép lần đầu được Apple sử dụng, nhưng chỉ có trên phiên bản Plus, đem lại tính năng Zoom như ống kính quang học trên máy ảnh, cho phép phóng 2x đến 10x. Tính năng làm mờ hậu cảnh tạo ra hiệu ứng bokeh khi chụp ảnh chân dung, cận cảnh... Tất cả có được nhờ vào hệ thống 2 camera cùng độ phân giải 12 megapixel nhưng một có tiêu cự 28 mm và một có tiêu cự 56 mm.
Dù chỉ duy trì camera dạng đơn, khả năng chụp hình trên phiên bản nhỏ iPhone 7 cũng được Apple đề cao với những nâng cấp cả phần cứng lẫn phần mềm. Cảm biến mới lớn hơn 50%, ống kính độ mở lớn hơn khi lên tới f/1.8 và sử dụng đèn flash QuadLED. Phần mềm chụp hình trên iOS 10 cho phép lưu ảnh dưới định dạng RAW, thứ mà nhiều smartphone Android đã hỗ trợ. Và đáp ứng cho trào lưu selfie, camera trước trên bộ đôi iPhone 7 có bước tiến lớn về độ phân giải khi đều được nâng lên 7 megapixel, từ 5 megapixel như ở 6s năm ngoái.
== So sánh các đời IPhone ==
== Tham khảo ==
== Liên kết ngoài ==
Phương tiện liên quan tới IPhone tại Wikimedia Commons
Trang web chính thức cập nhật iPhone đời mới nhất của Apple Inc.
Technical specifications (all models)
Video of Jobs launching the iPhone at Macworld 2007
Digging for rare earths: The mines where iPhones are born | Apple - CNET News, ngày 26 tháng 9 năm 2012 |
grenada.txt | Grenada (tiếng Anh: Grenada, Tiếng Việt: Grê-na-đa) là một quốc đảo thuộc vùng biển Caribê gồm một đảo chính và sáu đảo nhỏ hơn nằm gần Grenadines. Vị trí địa lý Grenada nằm ở phía Tây Bắc Trinidad & Tobago, phía Đông Bắc của Venezuela và phía Tây Nam Saint Vincent và Grenadines.
Diện tích tự nhiên của Grenada hơn 344 km², dân số gần 110.000 người. Thủ đô là St. George's.
== Lịch sử ==
Đảo Grenada do Cristoforo Colombo khám phá ra năm 1498, và đặt tên là Concepción. trở thành thuộc địa của Pháp (1650), được nhượng lại cho Anh (1762-1779); Pháp chiếm lại thuộc địa cũ và giao lại cho Anh từ năm 1783.
Ngay từ thế kỷ 17, người Pháp đã nhìn thấy tiềm năng của St. George's - thủ đô Grenada - khi so sánh không thuộc địa nào của mình lại có cảng biển tự nhiên như nơi đây. Thế nhưng chế độ thuộc địa của Pháp và sau đó là thực dân Anh đã từng bước "gầy dựng" nên một lịch sử Grenada tang thương và biến động. Suốt những thế kỷ sau là những cuộc cách mạng, đấu tranh triền miên để giành lại nền độc lập của Grenada.
Grenada tuyên bố độc lập năm 1974 và là thành viên thuộc Khối Liên hiệp Anh. Từ năm 1979, nhóm quân sự cánh tả thân Cuba lên cầm quyền. Cũng chỉ mới đây, vào những năm đầu thập niên 1980, khi một phần phía tây nam Grenada còn nằm trong hành lang phong tỏa của Mỹ, quốc gia này luôn chìm ngập trong hình ảnh bị bao vây của tầng tầng lớp lớp lực lượng vũ trang cũng như các chuyến xe chở nhiên liệu xuất cảng nối đuôi nhau trong bụi khói mịt mờ. Khi ấy Grenada thoi thóp như cơ thể một chàng thanh niên lực lưỡng bị bòn rút hết sinh khí. Sau đó, với sự giúp đỡ của Chính phủ Cuba và Nga, một số nhóm đảo chính đã bắt giữ Thủ tướng đương nhiệm. Chính quyền Tổng thống Reagan chấp nhận rút lui, từ bỏ sự ảnh hưởng lên Grenada khi thấy lực lượng ở đây đang dần lớn mạnh và bắt đầu được sự ủng hộ của các quốc gia khác trên thế giới. Grenada chuyển mình thức dậy và sinh sôi lớn mạnh từ đây. Hoa Kỳ rút quân năm 1985.
Đảng Quốc gia Mới (NND) dưới sự lãnh đạo của Dr. Keith C. Mitchel giành thắng lợi trong cuộc bầu cử Quốc hội năm 1995. Đảng này chiếm tất cả 15 ghế trong Quốc hội trong cuộc Tổng tuyển cử năm 1999.
== Địa lý ==
Grenada nằm ở quần đảo Tiểu Antilles, Trung Mỹ; gồm đảo Grenada và một phần phía Nam quần đảo Grenadines.
Grenada là một đảo núi lửa cách bờ biển Venezuela 161 km; đỉnh St. Catherine (840 m) thuộc dãy núi băng ngang qua đảo này. Các thung lũng nằm giữa các dãy núi trông rất ấn tượng và đất đai cũng rất màu mỡ với rất nhiều dòng suối nhỏ chảy siết. Trên đảo còn có nhiều dòng suối nước nóng, nhiều hồ nước trên núi và những bãi biển tuyệt vời. Khí hậu trên đảo mang tính nhiệt đới. Lượng mưa trung bình là 1.524 mm ở ven biển.
== Kinh tế ==
Kinh tế quốc gia dựa vào nông nghiệp trồng trọt (ca cao, chuối, nhục đậu khấu), đánh bắt cá và du lịch. Kinh tế đạt được những tiến bộ nhờ chính sách cải cách thuế và quản lý kinh tế vĩ mô một cách cẩn thận. Điều này đã giúp cho sự tăng trường kinh tế năm 1989-1999 đạt 5%-6%. Thương mại, xây dựng và du lịch giúp cho các hoạt động kinh tế đạt hiệu quả hơn. Grenada cùng 7 nước khác trong khu vực thuộc Tổ chức các nước vùng Đông Caribbean (OECS) tham gia vào một Ngân hàng trung ương chung và sử dụng đồng tiền chung là đô la East caribbean (XCD).
Grenada là nhà sản xuất hàng đầu về ngành gia vị. Quế, đinh hương, gừng, nhục đậu khấu, tiêu, trần bì, cà phê hoang dã được sử dụng bởi người dân địa phương, và đặc biệt là hạt nhục đậu khấu, cung cấp 20% nguồn cung của thế giới, tất cả đều là các mặt hàng xuất khẩu quan trọng. Các hạt nhục đậu khấu được in trên lá cờ của quốc gia đại diện cho các cây trồng kinh tế chủ lực của Grenada, nước này cũng là nhà sản xuất lớn thứ hai thế giới về nhục đậu khấu (sau Indonesia).
Du lịch là ngành kinh tế chủ yếu của Grenada. Bãi biển đẹp và thể thao dưới nước chủ yếu tập trung ở khu vực phía tây nam xung quanh St. George's, các vùng duyên hải; tuy nhiên, du lịch sinh thái cũng đang phát triển. Hầu hết các nhà nghỉ bình dân nhỏ nằm ở Saint David và Saint John. Ngành công nghiệp du lịch đang gia tăng đáng kể với việc xây dựng một các bến tàu cũng như được đầu tư các loại tàu du lịch lớn. Tối đa bốn tàu du lịch mỗi ngày đã ghé thăm St/ George's năm 2007-2008 trong mùa du lịch.
Hòn đảo này cũng đã đi tiên phong trong việc trồng ca cao hữu cơ được chế biến thành những thanh hoàn tất bởi Công ty Sô-cô-la Grenada.
Tính đến năm 2016, GDP của Grenada đạt 1.028 USD, đứng thứ 177 thế giới và đứng thứ 8 khu vực Caribe.
== Chính trị ==
Cũng giống như nhiều quốc gia nằm trong Khối Liên hiệp Anh khác, Grenada là quốc gia theo chế độ quân chủ lập hiến với Nữ hoàng Anh Elizabeth II là nguyên thủ quốc gia thông qua một Toàn quyền làm đại diện. Đứng đầu Chính phủ là Thủ tướng. Toàn quyền do Nữ hoàng Anh bổ nhiệm; Toàn quyền bổ nhiệm Thủ tướng. Thủ tướng điều hành các thành viên trong Nội các.
Cơ quan lập pháp của Grenada là Quốc hội lưỡng viện: Thượng nghị viện gồm 13 thành viên được bổ nhiệm. Hạ nghị viện gồm 15 thành viên, được bầu theo phổ thông đầu phiếu, nhiệm kì 5 năm.
Vào ngày 19 tháng 2 năm 2013, Thủ tướng Keith Claudius Mitchell 65 tuổi, lãnh đạo Đảng Quốc gia mới (NNP) đã giành chiến thắng tuyệt đối với 15 ghế Hạ viện. Mitchell đã tuyên thệ nhậm chức vào ngày 21 tháng 2 năm 2013 và là thủ tướng thứ chín của nước này kể từ khi độc lập vào năm 1974.
== Hành chính ==
Grenada được chia thành các khu vực được gọi là giáo xứ. Một giáo xứ được định nghĩa là một đơn vị lãnh thổ hoặc khu vực, trong lịch sử nó thường là một khu vực nằm dưới sự quản lý của một nhà thờ địa phương như một đơn vị hành chính của Giáo hội và sau đó được sử dụng bởi các nhà hoạch định bản đồ để thiết lập ranh giới diện tích đất. Theo truyền thống, một khu định cư hoặc làng nằm xung quanh với trung tâm là một nhà thờ và sau đó phát triển để trở thành một thị trấn và ngay cả một thành phố.
Diện tích khác nhau và hình dạng của mỗi giáo xứ chủ yếu chịu ảnh hưởng của lịch sử và diện tích đất trước đó của hòn đảo này đã được cấp cho những người định cư đầu tiên tuyên bố lãnh thổ trong những năm thực dân của hòn đảo.
Hai thập kỷ sau khi Barbados độc lập thống đốc Pháp Martinique đã mua lại đảo Grenada từ một công ty của Pháp và năm 1650 ông cho thành lập một khu định cư gọi là Pháo đài Hoàng gia trong các giáo xứ. Trong thời gian này ranh giới các giáo xứ được đặt ra.
Hiện nay, đảo quốc này được chia thành 6 giáo xứ:
== Nhân khẩu ==
Phần lớn các công dân Grenada là hậu duệ của những người nô lệ châu Phi được đưa đến đây bởi người Anh và người Pháp; ngoài ra còn có người Carib và Arawak bản địa sống sót sau cuộc diệt chủng của Pháp tại Sauteurs. Một tỷ lệ nhỏ là con cháu của người lao động giao kèo từ Ấn Độ đã được đưa đến Grenada chủ yếu là từ các bang Bihar và Uttar Pradesh từ ngày 1 tháng 5]] năm 1857 đến ngày 10 tháng 1 năm 1885. Hiện nay, người Grenada gốc Ấn Độ là nhóm dân tộc lớn thứ hai (sau người Grenada gốc Phi). Ngoài ra còn có một cộng đồng nhỏ người Pháp và Anh. Phần còn lại của dân số là người lai giữa các dân tộc.
Ngôn ngữ chính thức là tiếng Anh được sử dụng trong chính phủ, nhưng tiếng Creole Grenada được coi là ngôn ngữ chung của hòn đảo. Thổ ngữ Pháp (Antillean Creole) cũng được sử dụng bởi khoảng 10% - 20% dân số. Một số tiếng Hindi vẫn được nói bởi người gốc Ấn Độ.
== Tôn giáo ==
Hầu hết người dân đảo quốc này theo Thiên Chúa giáo. Khoảng một nửa dân số là Công giáo La Mã, trong khi các giáo phái Tin Lành lớn nhất là Anh giáo, Presbyterian và Seventh Day Adventist chiếm phần lớn còn lại. Còn lại là các nhóm tôn giáo khác như Ấn giáo, Phật giáo,Hồi giáo và Bahá'í chiếm khoảng 0.14 % dân số.
== Chú thích ==
== Liên kết ngoài ==
Official Website of the Government of Grenada
Chief of State and Cabinet Members
Mục “Grenada” trên trang của CIA World Factbook.
Grenada at UCB Libraries GovPubs
Grenada tại DMOZ
Wikimedia Atlas của Grenada, có một số bản đồ liên quan đến Grenada.
grenadaisland.com
The Grenada Revolution online
Brief History of Grenada
Presentation Brothers College
Spice vibes
The evolution of class forces in Grenada |
liên đoàn bóng đá bahia.txt | Liên đoàn bóng đá Bahia (tiếng Bồ Đào Nha: Federação Bahiana de Futebol), được thành lập ngày 14 tháng 9 năm 1913, là một liên đoàn bóng đá bang tại Brasil. Tổ chức này quản lý tất cả các giải đấu bóng đá chính thức tại bang Bahia và đâị diện cho các câu lạc bộ bóng đá bang Bahia tại liên đoàn bóng đá Brasil (CBF). Trụ sở chính của liên đoàn được đặt tại Edifício Palácio dos Esportes, Praça Castro Alves, Salvador.
== Các giải đấu ==
Liên đoàn bóng đá Bahia tổ chức các giải đấu sau:
Campeonato Baiano da 1ª Divisão de Profissionais
Campeonato Baiano da 2ª Divisão de Profissionais
Campeonato Baiano da 3ª Divisão de Profissionais (chỉ tổ chức 1 lần duy nhất)
Campeonato Baiano da 1ª Divisão de Juniores
Campeonato Baiano da 2ª Divisão de Juniores
Copa Governador do Estado da Bahia
Campeonato Baiano de Futebol Juvenil
Campeonato Baiano de Futebol Infantil
Campeonato Baiano de Futebol Feminino
Campeonato Baiano Intermunicipal de Futebol
== Chú thích == |
đa dạng hóa sản phẩm.txt | Đa dạng hóa sản phẩm là quá trình phát triển cải biến, sáng tạo ra nhiều loại sản phẩm từ những sản phẩm truyền thống sẵn có, đồng thời cải biến và nhập ngoại nhiều loại sản phẩm cùng loại, phong phú về chủng loại và mẫu mã từ những sản phẩm thô đến sản phẩm qua chế biến.Đây là một trong những phương thức căn bản để nâng cao sức cạnh tranh trên thị trường.
== Khởi nguyên ==
Nhiều nhà sản xuất đã tìm cách đa dạng hóa sản phẩm, song trong đó có công lớn của Ohno Talichi, một kỹ sư của hãng Toyota. Ông nhận ra rằng sản xuất hàng loạt kiểu Hoa Kỳ là sai lầm và tìm cách cải tiến. Các cải tiến của ông bắt đầu tư năm 1950 chỉ từ việc nỗ lực cải tiến một hệ thống ròng rọc và đòn bẩy. Việc cải tiến này đã làm rút ngắn thời giạn để thay đổi khuôn thiết bị từ một ngày xuống còn 3 phút. Cải tiến này cho phép sản xuất nhỏ để đa dạng hóa sản phẩm. Tuy nhiên, việc này đã làm ông mất 21 năm (từ 1950 đến 1971) để thành công.
== Các loại đa dạng hóa sản phẩm ==
Đa dạng hóa được chia làm 3 loại:
Đa dạng hóa hàng dọc.
Đa dạng hóa hàng ngang.
Đa dạng hóa đồng tâm.
== Đa dạng hóa đồng tâm ==
Là bổ sung các sản phẩm dịch vụ mới có liên quan.
Các trường hợp sử dụng
Cạnh tranh trong ngành không phát triển hay phát triển chậm. Chẳng hạn như sản phẩm bánh mặn của AFC của Kinh Đô, đầu tiên chỉ có một loại sản phẩm bánh mặn, sau đó thấy tốc độ tiêu thụ tốt và cạnh tranh không mạnh đã phát triển ra rất nhiều các sản phẩm cùng loại. Đây chính là đa dạng hóa đồng tâm.
Khi bổ sung sản phẩm dịch vụ mới có liên quan đến các sản phẩm đang kinh doanh sẽ nâng cao được doanh số bán của sản phẩm hiện tại.
Khi sản phẩm dịch vụ mới được bán với giá cạnh tranh hơn
Khi sản phẩm mới có thể cân bằng sự lên xuống trong doanh thu của doanh nghiệp
Khi sản phẩmư dịch vụ hiện tại của doanh nghiệp đang trong giai đoạn suy thoái.Ví dụ: các sản phẩm điện thoại di động, liên tục các sản phẩm mới ra đời với nhiều ứng dụng và hợp thời trang hơn sản phẩm cũ.
Khi doanh nghiệp có đội ngũ quản trị mạnh.Ví dụ: Với sản phẩm Surf của Unilever: đây là một phần chiến lược đa dạng hóa của Unilever. Sản phẩm này làm tăng hình ảnh về sản phẩm chất lượng đối với OMO là sản phẩm bột giặt chủ đạo của Unilever. Từ đấy sẽ làm tăng doanh thu cho sản phẩm bột giặt OMO. Mặt khác, nó hướng tới đối tượng khách hàng là những người có thu nhập trung bình và thấp, vừa làm tăng lợi nhuận vừa có thể cân bằng sự lên xuống của doanh thu do ảnh hưởng giá cả của người tiêu dùng.
== Đa dạng hóa hàng ngang ==
Là bổ sung các sản phẩm dịch vụ mới cho đối tượng khách hàng hiện tại của doanh nghiệp
Các trường hợp sử dụng:
Doanh thu từ các sản phẩm dịch vụ hiện tại sẽ bị ảnh hưởng nếu bổ sung các sản phẩm dịch vụ không liên quan
Kinh doanh trong ngành có tính cạnh tranh cao, hoặc không tăng trưởng
Các kênh phân phối hiện tại được sử dụng để tung sản phẩm mới cho các khách hàng hiện tại
Khi sản phẩm dịch vụ mới có mô hình kinh doanh không theo chu kỳ so với sản phẩm hiện tại.
== Đa dạng hóa hàng dọc (kết hợp) ==
Bổ sung thêm hoạt động kinh doanh mới không liên quan đến các hoạt động kinh doanh hiện tại của doanh nghiệp.
Xây dựng lợi thế cạnh tranh
Khác biệt hóa so với ĐTCT
Kiểm soát các công nghệ bổ sung (trong cùng một lĩnh vực sản xuất nhưng liên quan đến các giai đoạn khác nhau của quy trình sản xuất)
Cắt giảm chi phí sản xuất
== Đặc điểm ==
Đa dạng hóa sản phẩm phải gắn liền với chuyên môn hóa.
Đa dạng hóa sản phẩm dựa trên quan điểm hệ thống là phát triển toàn diện các ngành trên cơ sở tập trung hóa và chuyên môn hóa kết hợp với công nghệ hiện đại và công nghệ truyền thống.
== Ý nghĩa trong nông nghiệp ==
Đáp ứng được nhu cầu về số lượng, chủng loại, phẩm chất ngày càng cao của xã hội.
Khai thác đầy đủ và hợp lý các nguồn lực trong nông nghiệp.
Thúc đẩy sản xuất phát triển, tận dụng các sản phẩm phụ của ngành trồng trọt và chăn nuôi.
Bảo vệ môi trường sinh thái.
== Tham khảo ==
Đa dạng hóa sản phẩm để nâng cao sức cạnh tranh
Đa dạng hóa sản phẩm để phát triển thị trường xuất khẩu |
tajikistan.txt | Cộng hòa Tajikistan (phiên âm tiếng Việt: Ta-gi-ki-xtan; tiếng Tajik: Ҷумҳурии Тоҷикистон) là một quốc gia ở vùng Trung Á. Tajikistan giáp với Afghanistan về phía nam, Uzbekistan về phía tây, Kyrgyzstan về phía bắc, và Trung Quốc về phía đông. Trước khi Liên Xô tan rã, Tajikistan là một trong 15 nước cộng hòa của đất nước rộng nhất thế giới này, khi đó Tajikistan được gọi là Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Xô viết Tajikistan.
Thủ đô của Tajikistan là Dushanbe (Душанбе), đây cũng là thành phố lớn nhất với dân số khoảng 562 nghìn (theo thống kê năm 2000).
== Từ nguyên ==
Tajikistan có nghĩa "Vùng đất của người Tajik" trong tiếng Ba Tư. Một số người tin rằng cái tên Tajik là chỉ một khu vực địa lý của vương quốc (Taj) thuộc Pamir Knot, nhưng đây chỉ là một truyền thuyết dân gian. Từ "Tajik" đã được sử dụng để phân biệt người Iran với người Turk tại Trung Á, bắt đầu ngay từ thế kỷ thứ 10. Có lẽ nó bắt nguồn từ "Taji," một trong những họ của những kẻ xâm lược Ả Rập-Hồi giáo trong thời kỳ cải đạo sang Đạo Hồi của Trung Á và sự sáp nhập nó vào vương quốc Hồi giáo. Chữ k thêm vào cuối cùng có thể cho mục đích hài âm trong câu cố định "Turk-o Tajik" ("Người Turk và Người Tajik") mà trong lịch sử ngôn ngữ Ba Tư được coi là có tính thể hiện thành ngữ tương đương "tất cả mọi người".
Theo một số nguồn, cái tên Tajik (cũng được đánh vần là Tadjik, Tajik) chỉ một nhóm người được cho là một trong những hậu duệ trực tiếp và thuần chủng nhất của người Aryan cổ. Đất nước của họ được gọi là Aryana Vajeh và cái tên "Taa-jyaan" nguồn gốc của từ Tajik đã được đề cập trong The Avesta. Gathas của Zoroaster cũng hướng tới khán giả Aryan và có nhiều dẫn chứng đề cập tới cộng đồng này tại "ngôi nhà" của người Aryan.
Tajikistan thường được viết thành Tadjikistan hay Tadzhikistan trong tiếng Anh. Cách dịch thành Tadjikistan hay Tadzhikistan là từ tiếng Nga Таджикистан. (Trong tiếng Nga không có chữ j đơn để thể hiện âm vị /ʤ/ và дж, hay dzh, được dùng thay thế.) Tadzhikistan là kiểu đánh vần thường gặp nhất và được sử dụng rộng rãi trong tiếng Anh cũng xuất phát từ tiếng Nga. Tadjikistan là cách đánh vần trong tiếng Pháp cũng thỉnh thoảng xuất hiện trong các văn bản ngôn ngữ tiếng Anh. Trong ký tự Perso-Arabic, "Tajikistan" được viết là تاجیکستان.
Hiện có sự tranh cãi về thuật ngữ chính xác được sử dụng để xác định người dân Tajikistan. Từ Tajik từng là thuật ngữ được dùng từ lâu để miêu tả người dân Tajikistan và đã xuất hiện rộng rãi trong văn học. Nhưng nền chính trị kiểu sắc tộc tại Trung Á đã khiến Tajik trở thành một từ gây tranh cãi, bởi nó ngụ ý rằng Tajikistan chỉ là quốc gia của người Tajik chứ không phải của các sắc tộc Uzbek, Nga, vân vân. Tương tự, sắc tộc Tajik sống tại các quốc gia khác, như Trung Quốc, cũng khiến thuật ngữ này trở thành mơ hồ. Ngoài ra, người Pamiri tại Gorno-Badakhshan cũng đang tìm cách tạo lập một cộng đồng sắc tộc có đặc điểm khác biệt với người Tajik. Hiện có sự đồng thuận ngày càng tăng rằng người Tajikistan (Tajikistani), không phải là một sắc tộc riêng biệt và gồm cả sắc tộc Tajik cũng như phi Tajik, là thuật ngữ chính xác nhất để gọi người dân nước này. Thuật ngữ tajik đã từng được sử dụng rộng rãi như từ đồng nghĩa của "người Ba Tư" và "người Iran" cho tới tận đầu thế kỷ 21.
== Lịch sử ==
=== Buổi đầu ===
Lãnh thổ hiện là Tajikistan từng có người cư trú liên tục từ 4.000 năm trước Công nguyên. Nó từng nằm dưới sự cai quản của nhiều đế quốc trong suốt lịch sử, giai đoạn dài nhất là thuộc Đế chế Ba Tư. Trước Công nguyên, đây là một phần của Đế chế Bactria. Người Ả Rập đã đưa Đạo Hồi tới đây ở thế kỷ thứ 7 sau Công nguyên. Đế chế Samanid Ba Tư đã thay thế người Ả Rập và xây dựng các thành phố Samarkand và Bukhara, sau này sẽ trở thành các trung tâm văn hoá của người Tajiks (cả hai hiện đều thuộc Uzbekistan). Người Mông Cổ sau này kiểm soát một phần Trung Á, và cuối cùng là vùng đất ngày nay bao gồm cả Tajikistan trở thành một phần của tiểu vương quốc Ả Rập Bukhara. Một cộng đồng người Do Thái, nhỏ bị xua đuổi khỏi Trung Đông sau khi người Babylon chiếm nơi này, đã di cư tới đây và định cư từ khoảng năm 600 trước Công Nguyên, dù đa số người Do Thái ở đây là những người di cư tới Tajikistan trong thế kỷ 20.
=== Sự hiện diện của người Nga ===
Trong thế kỷ 19, Đế chế Nga bắt đầu mở rộng tới Trung Á trong Great Game, và nắm quyền kiểm soát Tajikistan. Sau khi Đế quốc Nga bị lật đổ năm 1917, những đội quân du kích xuất hiện khắp Trung Á, được gọi là basmachi tiến hành cuộc chiến tranh chống lại các đội quân Bolshevik trong một nỗ lực vô vọng nhằm duy trì độc lập. Người Bolsheviks giành chiến thắng sau cuộc chiến kéo dài bốn năm, trong đó các thánh đường Hồi giáo và các làng mạc bị đốt cháy và dân chúng bị đàn áp khốc liệt. Chính quyền Xô viết đã khởi động một chiến dịch thế tục hoá, những hành động thực hành tôn giáo Hồi giáo, Do Thái giáo, và Thiên chúa giáo bị trừng trị, các thánh đường Hồi giáo, nhà thờ, và thánh đường Do Thái bị đóng cửa.
=== Tajikistan thời Xô viết ===
Năm 1924, nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Xô viết Tự trị Tajik được thành lập như một phần của Uzbekistan, nhưng vào năm 1929 nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Xô viết Tajik trở thành một nước cộng hòa lập hiến riêng biệt. Các thành phố với chủ yếu người Tajik như Samarkand và Bukhara vẫn thuộc nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Xô viết Uzbekistan. Về điều kiện sống, giáo dục và công nghiệp Tajikistan đều ở mức thấp hơn các nước Cộng hòa Xô viết. Trong thập niên 1970, những người Hồi giáo bất đồng quan điểm bắt đầu thành lập các đảng bí mật và tới cuối thập niên 1980 những người Tajik theo chủ nghĩa quốc gia đã lên tiếng yêu cầu được gia tăng quyền lực. Nhưng sự bất ổn thật sự chỉ diễn ra tại nước cộng hòa này từ năm 1990. Năm sau đó, Liên bang Xô viết sụp đổ, và Tajikistan tuyên bố độc lập.
=== Độc lập ===
Quốc gia này hầu như ngay lập tức rơi vào một cuộc nội chiến với nhiều phe phái đánh lẫn nhau, các phe này thường thuộc các dòng họ khác nhau. Những người dân không theo Đạo Hồi, đặc biệt là người Nga và người Do Thái, đã bỏ chạy khỏi đất nước trong giai đoạn này, vì sự khủng bố, tình trạng nghèo đói gia tăng và các cơ hội kinh tế ở phương Tây cùng các nước cộng hòa khác thuộc Xô viết cũ. Emomali Rahmonov lên nắm quyền năm 1992, và tiếp tục cầm quyền tới ngày nay. Tuy nhiên, ông đã bị buộc tội thanh lọc sắc tộc chống lại các sắc tộc và nhóm người khác trong Nội chiến Tajikistan. Năm 1997, một thỏa thuận ngừng bắn giữa Rahmonov và các đảng đối lập (Liên minh Đối lập Tajik) được ký kết. Cuộc bầu cử hòa bình được tổ chức năm 1999, nhưng đã có những báo cáo của phe đối lập về tình trạng gian dối, và Rahmonov được tái cử nhờ hầu hết các phiếu vô danh. Quân đội Nga đã đồn trú ở phía nam Tajikistan, nhằm bảo vệ biên giới với Afghanistan, cho tới mùa hè năm 2005. Từ các vụ tấn công khủng bố ngày 11 tháng 9 năm 2001, quân đội Hoa Kỳ và Pháp cũng đã đồn trú tại quốc gia này.
== Chính trị ==
Xem thêm: Nhân quyền Tajikistan
Hầu như ngay sau khi giành lại độc lập, Tajikistan rơi vào một cuộc nội chiến với nhiều phe phái, được cho là được Nga và Iran hậu thuẫn, đánh lẫn nhau. 25.000 trong số 400.000 người Nga, từng hầu hết làm việc trong lĩnh vực công nghiệp, đã bỏ chạy về Nga. Tới năm 1997, cuộc chiến giảm nhiệt, và một chính phủ trung ương bắt đầu hình thành, với những cuộc bầu cử hòa bình năm 1999.
"Những nhà quan sát có thời gian nghiên cứu Tajikistan lâu dài thường cho rằng quốc gia này có tình trạng đối nghịch sâu sắc và khó tiến hành cải cách, một đặc điểm chính trị tiêu cực là dấu vết của cuộc nội chiến phá hủy đất nước," Ilan Greenberg đã viết trong một bài báo trên tờ The New York Times ngay trước cuộc bầu cử tổng thống tháng 11 năm 2006 tại nước này.
Tajikistan chính thức là một nhà nước cộng hoà, và tổ chức các cuộc bầu cử Tổng thống và Nghị viện. Cuộc bầu cử gần đây nhất diễn ra năm 2005, và giống như tất cả các cuộc bầu cử trước đó, những nhà quan sát nước ngoài tin rằng có tình trạng gian dối, khiến các đảng chính trị đối lập lên tiếng phản đổi rằng Tổng thống Emomali Rahmon đã thao túng cuộc bầu cử.
Cuộc bầu cử ngày 6 tháng 11 năm 2006 đã bị các đảng chính trị đối lập "chính" tẩy chay, gồm cả Đảng Phục hưng Hồi giáo với 23.000 thành viên. Bốn đảng phản đối khác "all but endorsed the incumbent", Rakhmon. Sau cuộc bầu cử Tổng thống tháng 11 năm 2006, đa số người dân tinh rằng Rahmon đã tìm cách để ít nhất nắm quyền thêm hai nhiệm kỳ nữa, cho phép ông tại vị đến tận năm 2020.
Tới ngày nay Tajikistan là một trong số ít quốc gia tại Trung Á có phe đối lập hoạt động mạnh trong chính phủ. Tại Nghị viện, các nhóm đối lập thường xung đột với đảng cầm quyền, nhưng điều này không gây ra tình trạng bất ổn lớn.
== Phân chia hành chính ==
Tajikistan gồm 4 đơn vị hành chính: 2 tỉnh (viloyat) (Sughd và Khatlon), 1 tỉnh tự trị (Gorno-Badakhshan), và Vùng Lệ thuộc Cộng hoà (trước kia được gọi là Tỉnh Karotegin).
Mỗi vùng gồm nhiều quận (được gọi là "nohiya").
== Địa lý ==
Tajikistan nằm kín trong lục địa, và là nước nhỏ nhất vùng Trung Á tính theo diện tích. Nước này có dãy Pamir, và hơn năm mươi phần trăm diện tích nằm ở độ cao trên 3.000 mét (khoảng 10.000 ft) trên mực nước biển. Các vùng đất thấp chính nằm ở phía bắc là một phần của Thung lũng Fergana, và ở phía nam các thung lũng Kafirnigan và Vakhsh hình thành nên Amu Darya và là nơi có lượng mưa cao hơn. Dushanbe nằm ở sườn phía nam trên thung lũng Kafirnigan.
Sông Amu Darya và Panj là biên giới với Afghanistan, và các dãy núi của Tajikistan là nguồn chính của các dòng sông đổ vào Biển Aral
Khoảng 1% diện tích lãnh thổ là các hồ:
Kuli
Obanbori Norak
Qarokul
Shorkul
Yashilkul
Zorkul
== Kinh tế ==
Tajikistan là nước nghèo nhất vùng Trung Á cũng như trong số các nước cộng hòa thuộc Liên bang Xô viết cũ. Nguồn ngoại tệ của nước này phụ thuộc mong manh vào các khoản xuất khẩu bông và nhôm, kinh tế rất dễ bị ảnh hưởng từ các cú sốc bên ngoài. Trong năm tài chính 2000, trợ giúp quốc tế vẫn là nguồn tài chính chủ yếu cho các chương trình tái thiết để tái hòa nhập những chiến binh thời nội chiến vào nền kinh tế dân sự, giúp duy trì hòa bình. Hỗ trợ quốc tế cũng là khoản tiền cần thiết để giải quyết vấn đề do nạn hạn hán năm thứ hai liên tiếp dẫn tới tình trạng sụt giảm trong sản xuất lương thực. Ngày 21 tháng 8 năm 2001, Chữ thập đỏ Quốc tế thông báo rằng một nạn đói đang hoành hành tại Tajikistan, và kêu gọi sự trợ giúp quốc tế cho Tajikistan và Uzbekistan. Kinh tế Tajikistan đã tăng trưởng ổn định sau chiến tranh. Theo dữ liệu của Ngân hàng Thế giới, GDP của Tajikistan tăng trưởng ở mức trung bình 9.6% trong giai đoạn 2000-2004. Sự tăng trưởng này giúp cải thiện tình trạng của Tajikistan so với các quốc gia Trung Á khác (là Turkmenistan và Uzbekistan), những nước dường như đang trải qua quá trình suy giảm kinh tế. Tajikistan là một thành viên tích cực của Tổ chức Hợp tác Kinh tế (ECO). Tính đến năm 2016, GDP của Tajikistan đạt 6.612 USD, đứng thứ 146 thế giới, đứng thứ 40 châu Á và đứng thứ 4 Trung Á.
Một cây cầu mới giữa Afghanistan và Tajikistan đang được xây dựng sẽ giúp nước này có đường tiếp cận với những con đường thương mại với Nam Á. Tuyến đường này cũng giúp làm giảm giá nhiều loại hàng nhập khẩu, và khiến người dân Tajikistan dễ dàng hơn trong việc di chuyển tới các quốc gia Nam Á lân cận bằng đường bộ. Trước kia, chưa hề có một cây cầu nào giữa hai nước. Cây cầu này do Hoa Kỳ xây dựng.
=== Buôn lậu thuốc phiện ===
Buôn lậu thuốc phiện là một nguồn thu nhập chính tại Tajikistan bởi nước này là điểm dừng chân quan trọng của ma tuý Afghanistan trên con đường tới Nga, và ở mức độ thấp hơn, là các thị trường Tây Âu; một số loài cây anh túc cũng đang được trồng trong phục vụ cho nhu cầu trong nước. Tajikistan đứng thứ ba thế giới về số lượng heroin và thuốc phiện nguyên liệu tịch thu được. Số tiền có được từ buôn lậu thuốc phiện đang làm băng hoại chính phủ quốc gia; theo một số chuyên gia những nhân vật quan trọng ở cả hai bên giới tuyến trong cuộc nội chiến và đang giữ những chức vụ quan trọng trong chính phủ sau thỏa thuận ngừng bắn hiện đều liên quan tới hoạt động buôn bán thuốc phiện.
== Nhân khẩu ==
Tajikistan có dân số 7.320.716 người (ước tính tháng 7 năm 2006). Người Tajiks nói tiếng Tajik là nhóm sắc tộc chính, dù cũng có một cộng đồng thiểu số Uzbeks đáng kể và một nhóm nhỏ người Nga, số lượng hai cộng đồng này đang giảm sút vì tình trạng di cư. Người Pamiri của Badakhshan được coi thuộc nhóm người Tajiks lớn hơn. Tương tự, ngôn ngữ chính thức của Tajikistan là tiếng Tajik, tuy nhiên tiếng Nga được sử dụng rộng rãi trong kinh doanh và trong hoạt động của chính phủ. Dù có tình trạng nghèo đói, Tajikistan có tỷ lệ người biết chữ cao, ước tính lên tới 98% dân số biết đọc viết. Đa số dân theo dòng Hồi giáo Sunni, dù một số lượng đáng kể tín đồ Hồi giáo Shi'a cũng tồn tại. Người Do Thái Bukharian đã sống tại Tajikistan từ thế kỷ thứ 2 trước Công nguyên, nhưng hiện tại chỉ vài người Do Thái còn ở lại nước này. Cũng có một nhóm nhỏ người Yaghnobi, họ từng sống tại các khu vực đồi núi Sughd Viloyat trong nhiều thế kỷ.
Bộ Lao động và An sinh xã hội Tajik thông báo rằng có 104.272 người tàn tật tại Tajikistan (2000). Nhóm người này bị ảnh hưởng nhiều nhất bởi tình trạng nghèo đói tại Tajikistan. Chính phủ Tajik và Ngân hàng Thế giới đang xem xét các chương trình hỗ trợ cho nhóm người này.
== Văn hoá ==
Về mặt lịch sử, người Tajik và người Ba Tư có tổ tiên rất giống nhau với một ngôn ngữ chung và liên quan tới như một phần của nhóm người Iran lớn hơn. Văn hoá Tajik có thể chia làm hai khu vực, Thành thị và Kuhiston (Cao nguyên). Các thị trấn nhỏ như Bukhara, Samarkand, Herat, Balkh và Nishopur Khiva hiện không còn là một phần quốc gia nữa. Các trung tâm gần đây hơn là Dushanbe (thủ đô), Khudjand, Kulob, Panjikent và Istarvshan.
Người Yaghnobi sống tại các khu vực núi non phía bắc Tajikistan. Con số người Yagnobians hiện ước tính khoảng 250.000 người. Những cuộc di cư cưỡng bách đã làm suy giảm số dân Yaghnobi. Họ nói tiếng Yaghnobi, có nguồn gốc từ ngôn ngữ Sogdian.
Âm nhạc Tajikistan
Hồi giáo tại Tajikistan
Ngày nghỉ lễ Tajikistan
Ẩm thực Tajikistan
== Tôn giáo ==
Hồi giáo Sunni đã được công nhận là tôn giáo chính thức bởi chính phủ từ năm 2009. Tajikistan coi mình là một nhà nước thế tục với một Hiến pháp quy định quyền tự do tôn giáo. Chính phủ đã tuyên bố hai ngày lễ Hồi giáo, Eid al-Adha và Idi Qurbon, như ngày lễ nhà nước. Theo một báo cáo được Bộ Ngoại giao Mỹ phát hành năm 2009, 98% dân số theo Hồi giáo, (khoảng 95% người Hồi giáo Sunni và Shia 3%). 2% còn lại của dân số là tín đồ của Chính Thống giáo Nga, Tin Lành, Công giáo, Phật giáo và Hỏa giáo.
== Xem thêm ==
Liên đoàn Trung Á
Viễn thông Tajikistan
Quan hệ nước ngoài Tajikistan
Ittihodi Scouthoi Tojikiston
Quân đội Tajikistan
Vận tải Tajikistan
Danh sách thành phố Tajikistan
Nông nghiệp Tajikistan
Hội đạo Do Thái Dushanbe
== Tham khảo và cước chú ==
== Đọc thêm ==
Historical Dictionary of Tajikistan by Kamoludin Abdullaev and Shahram Akbarzadeh
Land Beyond the River: The Untold Story of Central Asia by Monica Whitlock
Tajikistan: Disintegration or Reconciliation by Shirin Akiner
Tajikistan: The Trials of Independence by Shirin Akiner, Mohammad-Reza Djalili and Frederic Grare
== Liên kết ngoài ==
BBC Country Profiles: Tajikistan
CIA World Factbook - Tajikistan
Open Directory Project - Tajikistan
Khovar Tajikistan news agency.
Tajik Development Gateway
Tajikistan Travel Guide
neweurasia Tajikistan blog
United Friends - Tajikistan Tourist information and photographs
Bản mẫu:Cộng đồng Kinh tế Âu Á |
iker casillas.txt | Iker Casillas Fernández sinh ngày 20 tháng 5 năm 1981 tại Madrid, là thủ môn hiện đang thi đấu cho câu lạc bộ Porto của Primeira Liga và đội tuyển Tây Ban Nha. Anh được biết đến như một trong những thủ môn xuất sắc nhất và vĩ đại nhất lịch sử bóng đá thế giới cũng như bóng đá đương đại. Iker Casillas được người hâm mộ đặt cho biệt danh là "Thánh Iker" vì tài năng của mình.
Trong giai đoạn sự nghiệp đỉnh cao, anh đã cùng câu lạc bộ Real Madrid đoạt nhiều danh hiệu lớn ở cả trong nước và quốc tế.
Bên cạnh đó, anh cũng là nhân tố rất quan trọng giúp Tây Ban Nha mang về 3 chức vô địch Euro 2008, World Cup 2010 và Euro 2012 cho quê hương. Anh đã được đề cử để trở thành cầu thủ xuất sắc nhất châu Âu cũng như thế giới vào năm 2008.
== Sự nghiệp câu lạc bộ ==
Casillas đã bắt đầu trong đội hình trẻ của Real Madrid trong mùa 1990-91. Ngày 27 tháng 11 năm 1997 ở tuổi 16 anh lần đầu tiên được gọi lên đội hình chính trong trận đối mặt với Rosenborg tại Champions League, nhưng đã không được ra sân cho đến mùa giải 1998-1999,mùa giải anh ra mắt ở đội một, và làm thủ môn dự bị cho Bodo Illgner. Đến mùa tiếp theo, anh đẩy Illgner lên băng ghế dự bị và trở thành sự lựa chọn số một. Năm 2000, anh trở thành thủ môn trẻ nhất từng chơi ở Champions League khi Real Madrid đánh bại Valencia ở chung kết 3-0 và lên ngôi vô địch, chỉ bốn ngày sau khi sinh nhật thứ mười chín.
Casillas bị mất vị trí của mình cho César Sánchez sau sự thể hiện kém trong thời gian chuẩn bị mùa giải 2001-02, nhưng tìm lại chính mình khi Sánchez bị một chấn thương ở những phút cuối cùng trong trận chung kết Champions League năm 2002. Casillas vào sân thay người và đã thi đấu xuất sắc khi anh đã giúp Real Madrid giành lại danh hiệu La Liga lần 31 của họ và chỉ bị thủng lưới 32 bàn thắng trong 36 trận đấu để giành giải thưởng cá nhân Zamora Trophy. Ngày 14 Tháng Hai 2008,Casilalas và đội trưởng Raúl González đã được trao hợp đồng mới. Casillas đã ký gia hạn hợp đồng với câu lạc bộ cho đến năm 2017, với một điều khoản mở rộng, nếu anh chơi 30 trận đấu trong mùa giải cuối cùng của hợp đồng và điều khoản mua lại 113 triệu bảng. Phong độ xuất sắc mang về cho anh một vị trí trong đội hình tiêu biểu mùa giải của UEFA của lần thứ hai.
Vào năm 2015, sau 25 năm chinh chiến cùng Real Madrid, anh đã chia tay "Kền kền Trắng" để đầu quân cho FC Porto, một đội bóng của Bồ Đào Nha. Khi Casillas cố nén những giọt nước mắt để nói lời giã biệt đại gia đình Real Madrid, anh đã khép lại một câu chuyện dài và mang đầy cảm xúc. Câu chuyện ấy có một kết thúc rất tồi, một kết thúc mà lẽ ra chính Casillas đã có thể làm cho nó khác đi. Trong những năm cuối cùng tại Bernabeu, Casillas lại là đề tài tranh luận của báo giới. Thậm chí nội bộ CLB, từ phòng thay quần áo cho đến người hâm mộ, cũng chia rẽ vì anh. Nhiều CĐV từng tôn sùng Iker đã quay sang chỉ trích, gọi anh là "topo" (gián điệp). Cách gọi ấy xuất phát từ phát biểu của Jose Mourinho vào cuối năm 2012. Trong trận đấu với Malaga mà Real đã thua 2-3, Mourinho đã ám chỉ Casillas - phải ngồi dự bị trận ấy - là gián điệp khi anh tuồn thông tin về đội hình xuất phát cho báo giới. Cuộc đối đầu Mourinho - Casillas ngày ấy đã biến Madrid thành một bãi chiến trường. Casillas thậm chí còn lên gặp Chủ tịch Florentino Perez để ra tối hậu thư: một là anh, hai là HLV người Bồ Đào Nha. Casillas rất yêu Real, điều ấy không phải bàn cãi. Và trong cuộc chia tay để sang Porto, không một ai đau đớn hơn anh. Nhưng giá như Casillas biết dừng đúng lúc, chia tay sau khi vô địch Champions League hồi năm ngoái, hình ảnh của anh trong mắt các CĐV sẽ lung linh hơn nhiều. Peter Schmeichel rời Man United sau cú ăn ba lịch sử năm 1999, Xavi chia tay Barca sau cú ăn ba thần thánh mùa vừa qua, còn Philipp Lahm giã từ đội tuyển sau chức vô địch World Cup 2014. Casillas đã không chọn cách ấy. Anh chọn cách ở lại, cố bám lấy cái khung thành quen thuộc, để rồi chứng kiến huyền thoại mang tên "Thánh Iker" vỡ vụn từng ngày, trong khi đội bóng mà anh yêu thương rơi vào cảnh nồi da xáo thịt. Bản thân anh phải nghe những tiếng chửi rủa từ khán đài lẫn trong phòng thay quần áo. Chính đồng đội Alvaro Arbeloa đã huỵch toẹt nói rằng Casillas giống như "khối u" của Real.
== Thi đấu quốc tế ==
Casillas ra mắt đội trẻ U-17 quốc gia ở tuổi 16, là cầu thủ trẻ nhất trong đội hình Tây Ban Nha tham dự Giải vô địch bóng đá U-17 thế giới. Hai năm sau, Casillas tiếp tục giành chức vô địch Giải vô địch bóng đá trẻ thế giới và Cúp UEFA Meridian.
Casillas không được sử dụng tại Euro 2000. Anh được chọn vào danh sách Đội tuyển Tây Ban Nha tham dự World Cup 2002. Ban đầu là để dự bị cho Santiago Cañizares.Thật trùng hợp khi Santiago Cañizares dính chấn thương và rút lui khỏi giải đấu, Casillas trở thành thủ môn số một của Tây Ban Nha. Anh đóng một vai trò quan trọng trong quá tình tiến bước của Tây Ban Nha ở Giải bóng đá vô địch thế giới 2002 khi có hai pha cứu thua hai quả penalty ở vòng 1/16 với Cộng hòa Ireland.
Ở vòng sơ loại Euro 2004, Casillas chỉ để thủng lưới 4 bàn. Giữ sạch lưới trong cả chặng thứ hai, và là thủ môn số một của đội tuyển Tây Ban Nha ở Euro 2004.
Ngày 29 tháng 6 năm 2008, Casillas cùng Tây Ban Nha vô địch Euro 2008 sau khi đánh bại Đức 1-0 ở trận chung kết. Anh xếp thứ 4 trong cuộc bầu chọn Quả bóng vàng châu Âu 2008 sau Cristiano Ronaldo, Lionel Messi và người đồng hương Fernando Torres. Cũng trong năm 2008, Casillas được chọn là thủ môn xuất sắc nhất thế giới theo IFFHS.
Ngày 5-12-2009, sau trận thắng 5-0 trước Bỉ ở vòng loại World Cup 2010, Casillas san bằng kỉ lục quốc gia của Andoni Zubizarreta với 56 trận giữ sạch lưới.
Ngày 11-6-2010, đội trưởng Casillas cùng với Tây Ban Nha lần đầu tiên vô địch Giải bóng đá vô địch thế giới 2010 với chiến thắng 1-0 trước Hà Lan. Anh nhận được phần thưởng Găng tay vàng với thành tích giữ đền xuất sắc. Casillas chỉ để lọt lưới có 2 lần trên hành trình tiến vào trận chung kết và đăng quang ngôi vô địch cùng Tây Ban Nha.
Ngày 2-7-2012, anh cùng Tây Ban Nha bảo vệ thành công chức vô địch Giải vô địch bóng đá châu Âu 2012 và đi vào lịch sử với tư cách là đội bóng đầu tiên giành 3 chức vô địch ở 3 giải đấu lớn liên tiếp.
== Thành tích ==
=== Câu lạc bộ ===
Siêu cúp bóng đá Tây Ban Nha (4): 2001, 2003, 2008, 2012.
Cup C1 (3): 1999-2000, 2001-02, 2013-14
Siêu cúp bóng đá châu Âu (2): 2002.2014
Cúp bóng đá liên lục địa (1): 2002
Vô địch Tây Ban Nha (5): 2000/01; 2002/03; 2006/07; 2007/08; 2011/12
Cúp Nhà vua Tây Ban Nha (2): 2010/11; 2013/14
=== Đội tuyển trẻ ===
Cúp UEFA U15: 1995
Cúp UEFA U17: 1997
UEFA-CAF Meridian Cup: 1999
Giải vô địch bóng đá U-20 thế giới: 1999
=== Đội tuyển quốc gia ===
EURO (2): 2008; 2012
World Cup (1): 2010
=== Cá nhân ===
Giải Bravo của tạp chí tuần Ý "Guerin Sportivo": 2000
Giải Don Balón: 2000
Đội tuyển UEFA của năm (3): 2007, 2008 và 2009
Đội tuyển của năm do tờ "European Sports Magazines" bình chọn (1): 2007-08
Giải "Ricardo Zamora Trophy" do tờ MARCA bình chọn (1): 2007-08
Đội hình tiêu biểu của UEFA (1): 2008
Đội hình tiêu biểu của năm do Hiệp hội các cầu thủ chuyên nghiệp quốc tế (FIFPro) bình chọn (2): 2007-08, 2008-09
Thủ môn xuất sắc nhất thế giới do Hiệp hội các cầu thủ chuyên nghiệp quốc tế (FIFPro) bình chọn (2): 2007-08, 2008-09
Đội hình tiêu biểu của năm FIFA bình chọn (1): 2008-09
Găng tay Vàng World Cup: 2010
=== Thống kê ===
=== Câu lạc bộ ===
Số liệu thống kê chính xác tới 28 tháng 5 năm 2016
a Bao gồm Supercopa de España, UEFA Super Cup và FIFA Club World Cup.
b Bao gồm vòng loại UEFA Champions League 2004-05.
==== Đội tuyển quốc gia ====
Số liệu thống kê chính xác tới 1 tháng 6 năm 2016
== Đời sống cá nhân ==
Casillas bắt đầu cặp kè với nữ phóng viên xinh đẹp người Tây Ban Nha Sara Carbonero của kênh truyền hình Telecinco. Họ quen nhau tại một buổi phỏng vấn hồi giữa năm 2009. Tháng 3 năm 2016, Casillas đã kết hôn với cô bạn gái Sara Carbonero sau gần 7 năm gắn bó. Hai người đã có với nhau hai người con trai là Martin Casillas Carbonero (sinh năm 2014) và Lucas Casillas Carbonero (sinh năm 2016)
== Tham khảo ==
== Liên kết ngoài ==
Profile trên Real Madrid |
chữ khmer.txt | Chữ Khmer (tiếng Khmer: អក្សរខ្មែរ; IPA: [ʔaʔsɑː kʰmaːe]) là hệ thống chữ cái dùng để viết tiếng Khmer. Loại chữ này cũng được dùng chép kinh Phật giáo Nam tông tiếng Nam Phạn dùng trong các nghi lễ cúng Phật ở Campuchia.
Chữ Khmer xuất phát từ chữ viết Pallava, một biến thể của chữ Grantha mà nguyên thủy là chữ Brahmi ở Ấn Độ. Chứng tích cổ nhất của chữ Khmer là văn bia ở Angkor Borei thuộc tỉnh Takéo mang niên đại 611. Lối chữ ngày nay đã thay đổi ít nhiều so với dạng chữ cổ điển ở phế tích Đế Thiên Đế Thích.
== Tham khảo == |
cộng hòa dân chủ nhân dân triều tiên.txt | Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Triều Tiên (tiếng Triều Tiên: 조선민주주의인민공화국, 朝鮮民主主義人民共和國, Chosŏn Minjujuŭi Inmin Konghwakuk; Hán-Việt: Triều Tiên Dân chủ chủ nghĩa Nhân dân Cộng hòa quốc; tiếng Anh: "Democratic People's Republic of Korea" hoặc "North Korea") - còn gọi là Triều Tiên, Bắc Triều Tiên, Bắc Hàn - là một quốc gia Đông Á trên phần phía bắc Bán đảo Triều Tiên.
Ở phía nam, nước này giáp biên giới với Hàn Quốc, hai nước từng là một quốc gia duy nhất với quốc hiệu là Triều Tiên cho tới tận năm 1945. Biên giới phía bắc đa phần giáp với Cộng hoà nhân dân Trung Hoa dọc theo sông Áp Lục và Đồ Môn. Bắc Triều Tiên và Liên bang Nga có chung biên giới dài chỉ 18.3 kilômét (11.4 dặm) dọc theo sông Đồ Môn ở góc đông bắc đất nước.
Trên thực tế, Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Triều Tiên chỉ có 1 đảng cầm quyền và hoạt dộng dù trên danh nghĩa là một nhà nước đa đảng với ba đảng tham gia hệ thống chính trị, trong đó Đảng Lao động Triều Tiên giữ vai trò đảng cầm quyền. Đảng Lao động Triều Tiên đề ra thuyết Juche (Chủ thể), một lý tưởng tự chủ phát khởi bởi Kim Nhật Thành, cựu lãnh tụ của quốc gia này. Juche dựa trên các điểm chính là sẵn sàng tự cung tự cấp khi bị bao vây cấm vận, đề cao tinh thần tự lực tự cường, tự cô lập trước cấm vận của kẻ thù và mở rộng khi chủ nghĩa xã hội giành được vị thế, kết hợp với thuyết truyền thống Triều Tiên và chủ nghĩa Marx-Lenin. Mặc dù nhiều người cho rằng Triều Tiên là 1 quốc gia đi theo chủ nghĩa cộng sản, nhưng vào năm 2009, các mối liên hệ với Chủ nghĩa cộng sản (tiếng Triều Tiên: 공산주의) đã bị quốc hội nước này loại bỏ khỏi Hiến pháp Triều Tiên.
Tâm điểm trong học thuyết xây dựng đất nước của Triều Tiên là 'Songun - Tiên quân, nghĩa là "quân sự trên hết", chính sách tăng cường sức mạnh đất nước và quân đội với mục tiêu trên hết là tái thống nhất dân tộc Triều Tiên. Triều Tiên là xã hội quân sự hoá nhất trên thế giới, với tổng số 9.495.000 quân chính quy và dự bị, và nhân viên bán quân sự. Quân đội thường trực là 1,21 triệu, lớn thứ 4 trên thế giới, sau Trung Quốc, Mỹ và Ấn Độ. Triều Tiên cũng được cho là đã chế tạo thành công vũ khí hạt nhân và có một chương trình không gian có trình độ đáng kể, vốn đã thành công trong việc đưa vệ tinh lên vũ trụ. Do sự cô lập của nó, Triều Tiên đôi khi được gọi là "vương quốc ẩn dật".
== Lịch sử ==
Thời Nhật Bản thống trị Triều Tiên (1905 - 1945) chấm dứt cùng với Chiến tranh thế giới thứ hai. Triều Tiên được Liên bang Xô Viết ủng hộ thành lập chính quyền xã hội chủ nghĩa miền bắc từ vĩ tuyến 38 và Hoa Kỳ giúp đỡ thành lập chính quyền dân tộc ở miền nam vĩ tuyến 38, nhưng Hoa Kỳ và Xô-viết không thể đồng thuận về việc áp dụng Đồng ủy trị ở Triều Tiên và chính quyền miền bắc không đồng ý với cuộc tổng tuyển cử thống nhất trong cả nước. Điều này dẫn tới việc thành lập các chính phủ riêng biệt ở miền bắc và miền nam, mỗi bên đều tuyên bố mình là chính phủ hợp pháp của toàn bộ lãnh thổ Triều Tiên
Căng thẳng tăng lên giữa hai chính phủ ở miền bắc và miền nam cuối cùng dẫn tới Chiến tranh Triều Tiên, khi ngày 25 tháng 6 năm 1950 Bắc Triều Tiên cáo buộc Nam Hàn cho các nhóm vũ trang vượt vĩ tuyến 38 phá hoại các đường vận tải và Bắc Triều Tiên đã phát động cuộc chiến. Cuộc chiến kéo dài tới 27 tháng 7 năm 1953, khi lực lượng Liên hiệp quốc và Quân đội Nhân dân Triều Tiên cùng Chí nguyện quân Trung Quốc ký kết Thỏa thuận đình chiến Chiến tranh Triều Tiên. Khu phi quân sự Triều Tiên (K-DMZ) phân chia hai nước.
Bắc Triều Tiên do Kim Nhật Thành (Kim Il-sung) lãnh đạo trong vai trò Bí thư Thứ nhất Đảng Lao động Triều Tiên và Chủ tịch Hội đồng Quốc phòng Triều Tiên từ năm 1948 tới khi ông chết ngày 8 tháng 7 năm 1994. Trên thực tế, Kim được thừa nhận như là người giữ "vị trí cao nhất của quốc gia" (tức Nguyên thủ quốc gia). Kế nhiệm ông là con trai ông Kim Chính Nhật (Kim Jong-il), và sau đó là cháu nội Kim Jong-un (Kim Jong-un). Các quan hệ quốc tế của nước này nói chung đã được cải thiện, và đã có một cuộc gặp thượng đỉnh lịch sử Nam-Bắc vào tháng 6 năm 2000. Tuy nhiên, căng thẳng với Hoa Kỳ gần đây đã tăng lên khi Bắc Triều Tiên tiếp tục Chương trình vũ khí hạt nhân của họ. Bên cạnh đó, Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Triều Tiên cáo buộc Hoa Kỳ và Đại Hàn Dân quốc không thực tâm trong việc tái thống nhất hai miền Triều Tiên. Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Triều Tiên đã đưa ra đề xuất thành lập Liên Bang Koryo (Cao Ly) nhưng phía Đại Hàn Dân quốc luôn bác bỏ đề xuất này. Theo đề xuất của Triều Tiên, 2 miền sẽ thống nhất về chính trị khi thành lập Hội đồng Liên bang trước khi thống nhất về kinh tế nhưng phía Đại Hàn Dân quốc bác bỏ. Trong Đàm phán 6 bên về vấn đề hạt nhân của Triều Tiên, Triều Tiên đưa ra yêu sách sẽ ngừng chương trình hạt nhân khi và chỉ khi Hoa Kỳ, Hàn Quốc và các đồng minh chấm dứt đe dọa an ninh của nước này, đặc biệt là không được tập trận trên bán đảo Triều Tiên (Tập trận được coi hành vi đe dọa sử dụng vũ lực trong luật pháp quốc tế).
Phương tiện sản xuất tại Triều Tiên thuộc sở hữu của nhà nước thông qua các doanh nghiệp nhà nước và các hợp tác xã, và hầu hết các dịch vụ như chăm sóc sức khỏe, giáo dục, nhà ở và sản xuất lương thực được nhà nước tài trợ hoặc trợ cấp. Trong 2 thập niên đầu (1954-1974), kinh tế Triều Tiên tăng trưởng với tốc độ cao, GDP đầu người năm 1976 thậm chí còn cao hơn so với Hàn Quốc. Thống kê cho thấy, trong 10 năm sau khi chiến tranh Triều Tiên kết thúc, tốc độ tăng trưởng trung bình của kinh tế Triều Tiên lên tới 25%/năm, có thể coi là mức tăng trưởng cao nhất trên thế giới thời điểm đó. Cuối thập kỷ 1960, toàn bộ nông thôn Triều Tiên có đường điện. Đầu thập kỷ 1980, 70% diện tích đất canh tác của quốc gia này được tưới tiêu, 95% hoạt động gieo cấy và 70% hoạt động thu hoạch được cơ khí hóa. Năm 1984, lần đầu tiên tổng sản lượng lương thực của Triều Tiên đạt 10 triệu tấn, đáp ứng đủ nhu cầu lương thực trong nước và xuất khẩu một phần. Kinh tế công nghiệp của Triều Tiên thời điểm đó cũng phát triển với tốc độ chóng mặt. Thập kỷ 1960, 1970 Triều Tiên đã từng cùng Nhật Bản được coi là hai nước công nghiệp lớn của châu Á, là một trong những quốc gia có trình độ hiện đại hóa cao nhất ở khu vực Đông Á.
Đến năm 1979, CHDCND Triều Tiên được coi là một quốc gia đã hoàn thành sự nghiệp công nghiệp hóa. Sự phát triển vượt bậc về kinh tế khiến GDP bình quân theo đầu người, tuổi thọ, tỉ lệ người biết chữ của CHDCND Triều Tiên tăng lên nhanh chóng. Chế độ phúc lợi xã hội của CHDCND Triều Tiên thời kỳ đó cũng khá cao, năm 1979 đã thực hiện toàn diện chế độ giáo dục miễn phí và y tế công cộng miễn phí, Nhà nước cung cấp toàn đồ dùng cần thiết gồm áo khoác, áo may ô và giày cho đối tượng từ trẻ em mầm non, học sinh tiểu học đến sinh viên đại học. Và việc phân bố nguồn của cải xã hội ở Triều Tiên khá đồng đều. Khách sạn Ryugyŏng một tòa nhà cao 330m ở Bình Nhưỡng được dự định là khách sạn cao nhất thế giới khi bắt đầu khởi công năm 1987 cũng là trong thời kỳ hoàng kim này. Hệ thống tàu điện ngầm Bình Nhưỡng cũng được khánh thành (vào thời điểm đó, rất ít thành phố trên thế giới có hệ thống này)
Tuy nhiên, nền kinh tế sau đó đã chững lại và đến thập niên 1990 thì lâm vào khủng hoảng. Nguyên nhân chủ yếu là do tình hình quốc tế biến động mạnh, đặc biệt là sự tan rã của Liên Xô và khối Đông Âu khiến ngành thương mại đối ngoại của Triều Tiên bị ảnh hưởng nghiêm trọng. Trong những năm 1990, Triều Tiên bị một nạn đói và tiếp tục đấu tranh với sản xuất lương thực. Do sự phong tỏa và cấm vận về kinh tế của Mỹ và các nước phương Tây, Triều Tiên bị cô lập khỏi cộng đồng quốc tế, không gian hợp tác chính trị quốc tế của Triều Tiên bị thu hẹp khiến cho kinh tế Triều Tiên bị đình trệ.
Trong thập niên 2000, nền kinh tế Triều Tiên khởi sắc hơn. Nạn đói được đẩy lùi, các cơ sở công nghiệp mới được xây dựng. Tới năm 2010, Triều Tiên đã tự sản xuất toàn bộ cả phần cứng lẫn phần mềm của smartphone và máy tính bảng. Năm 2015, Triều Tiên bắt đầu tự sản xuất máy bay hạng nhẹ dựa theo thiết kế của chiếc An-2 của hãng Antonov và loại phi cơ Mỹ Cessna 172 Skyhawk.
Dù gặp khó khăn về kinh tế, Triều Tiên vẫn duy trì được nền khoa học ở trình độ cao, và là quốc gia có học thức cao hàng đầu trên thế giới, với một tỷ lệ dân số biết chữ trung bình là trên 99%. Triều Tiên có rất nhiều thành tựu về khoa học kỹ thuật và công nghệ quân sự tương đương với các nước phát triển, họ có thể tự chế tạo từ điện thoại di động, máy tính bảng cho tới máy bay không người lái, xe tăng, tàu ngầm, tên lửa đạn đạo tầm xa, tự phóng vệ tinh lên vũ trụ... và đã thử thành công bom nguyên tử. Đặc biệt, tháng 12/2012, Triều Tiên đã phóng thành công tên lửa mang vệ tinh lên vũ trụ, trở thành một trong số ít các quốc gia làm chủ được công nghệ vũ trụ.
== Mô tả của truyền thông nước ngoài ==
Do tính chất khép kín của mình, cuộc sống tại Triều Tiên là bí ẩn với đa số người nước ngoài. 80% tin tức về nước này là từ báo chí phương Tây, hay các nước mà Triều Tiên gọi là thù địch - do đó nhiều thông tin là bịa đặt. Bản thân Triều Tiên cũng ít đưa hình ảnh của mình ra ngoài, nên dễ dẫn đến bị nhìn nhận sai lệch
Đời sống tại đây và đặc biệt là các thông tin về nhà lãnh đạo Triều Tiên là chủ đề của nhiều tin đồn được lan truyền trên báo chí phương Tây, chủ yếu là tin tiêu cực (nhất là khi tờ báo đăng tin là của Hàn Quốc). Báo chí trên thế giới đua nhau dựng chuyện "Kim Jong-un bị ám sát", hay việc HLV đội tuyển bóng đá Triều Tiên "đào tẩu tại World Cup 2010"... Những câu chuyện này sau đó được chứng minh là hoang đường, nhưng trước đó chúng đã được báo chí phương Tây đăng tải, sau đó được lan tỏa nhanh chóng khắp thế giới (tờ báo này dịch lại, trích dẫn từ tờ báo kia mà chẳng hề biết kiểm chứng thông tin). Vì mục đích tuyên truyền hoặc câu khách, dường như báo chí nước ngoài đã quên mất những chuẩn mực tối thiểu của nghề làm báo khi đưa tin về Triều Tiên, tất cả chỉ biết vẽ ra những ấn tượng u ám cho người đọc về đất nước Triều Tiên.
Ví dụ, ngày 29-8-2013, tờ báo Chosun Ilbo của Hàn Quốc dẫn "nguồn giấu tên từ Trung Quốc" rằng vào ngày 20 tháng 8 năm 2013, một đội hành quyết Triều Tiên xử tử "người tình cũ của Kim Jong-un" là ca sĩ Hyon Song-wol cùng 11 nghệ sĩ khác với lý do phạm luật cấm hành động khiêu dâm Hoặc Nhật báo The Strait Times ở Singapore lấy tin tức từ Văn Hối Báo, tờ báo Hồng Kông số ra ngày 12 tháng 12 năm 2013, đưa tin rằng Jang Sung-taek bị Kim Jong Un hành quyết bằng cách cho chó xé thịt
Trong khi các câu chuyện kiểu như trên được loan truyền rộng rãi, không có phương tiện truyền thông lớn nào, bao gồm cả báo chí từ Hàn Quốc và Trung Quốc, hoặc các nguồn tin độc lập xác nhận những thông tin này. Sau đó, ngày 16 tháng 5 năm 2014, ca sĩ Hyon Song-wol xuất hiện trên truyền hình Triều Tiên khi cô tham gia các hội nghị quốc gia của các nghệ sĩ, chứng tỏ thông tin về vụ xử tử do báo Chosun Ilbo tung ra chỉ là bịa đặt Sau này, người ta cũng khám phá ra rằng từ một bài viết châm biếm đăng trên một blog cá nhân ở Trung Quốc, báo Văn Hối đã "chế" thành một tin giật gân rằng chú dượng của nhà lãnh đạo Kim Jong-un đã bị hành quyết bằng một đàn chó đói. Báo chí bên ngoài Triều Tiên đa phần cũng chẳng biết gì về đất nước khá biệt lập này, khi đưa tin về Triều Tiên họ thường dựa vào một "nguồn tin giấu tên" vốn chẳng rõ là ai. Một số tờ báo Hàn Quốc như Daily NK và Rimjin-Gang thì tìm cách moi tin từ các nguồn giấu tên và khó có thể kiểm chứng độ xác thực; sau đó họ sẽ xào nấu ra nhiều câu chuyện dù phi lý vì rốt cục chẳng ai có thể kiểm chứng, xác minh câu chuyện mà họ đã đăng. Trong môi trường này, bất cứ điều gì phi lý nào cũng có thể được dựng thành chuyện: từ những câu chuyện giật gân về việc Kim Jong-un "hành quyết bạn gái cũ bằng súng cối" đến phẫu thuật thẩm mỹ để trông giống ông nội Kim Il-sung.
Một số du khách phương Tây sau khi tham quan Triều Tiên cho biết họ rất bất ngờ vì Triều Tiên mà họ thấy rất khác so với những cảnh quan cằn cỗi, người dân đói khổ, và quân đội kiểm soát được mô tả trên các phương tiện truyền thông phương Tây Tại Hàn Quốc, luật an ninh chống Triều Tiên quy định: những ai tỏ thái độ ủng hộ hoặc ca ngợi Triều Tiên có thể bị phạt tới 7 năm tù giam, đo đó bất cứ thông tin nào về thành tựu hoặc mặt tốt của Triều Tiên đều không được biết tới ở đây, tất cả những tin về Triều Tiên chỉ là nạn đói, ám sát, tử hình tập thể, tham nhũng... Isaac Stone Fish từng châm biếm rằng: "Nếu bạn là một nhà báo Mỹ, bạn có thể viết gần như bất cứ điều gì bạn muốn về Triều Tiên, và mọi người sẽ công nhận đó là sự thật"
Năm 2014, một bản tin của Đài Á Châu Tự do loan báo Triều Tiên đang sử dụng một đạo luật bất thành văn, ép buộc sinh viên phải cắt tóc giống nhà lãnh đạo Kim Jong-un. Tuy nhiên, hãng tin uy tín AP khẳng định đây chỉ là "tin đồn giàu tính tưởng tượng". Hãng tin này phỏng vấn hàng loạt du khách từng đặt chân đến Bình Nhưỡng, họ nói không hề có dấu hiệu 'kiểu tóc Kim Jong-un' bị bắt buộc ở đây. Hướng dẫn viên du lịch Simon Cockerell của Koryo Tours, chuyên đưa khách tham quan Triều Tiên nói "chắc chắn không có đạo luật nào như thế, đây là sự bịa đặt" khi trả lời phỏng vấn của AP. AP bình luận rằng câu chuyện kiểu tóc ở Triều Tiên "cũng giống như hàng loạt những chuyện kỳ quái về Triều Tiên được truyền thông phương Tây đồn thổi".
Kể từ khi ông Kim Jong-un lên nắm quyền năm 2013, báo chí Hàn Quốc và thế giới tung ra nhiều tin về các vụ thanh trừng, xử tử và mất tích tại Triều Tiên, về sau được chứng minh là bịa đặt, ví dụ như:
Năm 2015, báo chí Hàn Quốc đưa tin CHDCND Triều Tiên đã xử tử Bộ trưởng Quốc phòng Hyon Yong-Chol gây chấn động dư luận. Tờ Yonhap (Hàn Quốc) đưa tin rằng cuộc xử tử này đã dùng cả pháo phòng không, trước mặt của hàng trăm người đại diện chính quyền. Tuy nhiên, ngay ngày hôm sau, cơ quan tình báo Hàn Quốc đã sửa đổi lại thông điệp trên báo chí nước này, rằng ông Hyon đã bị thanh lọc nhưng có lẽ không bị xử tử Triều Tiên đã lên án truyền thông Hàn Quốc lăng mạ lãnh đạo cấp cao nhất nước này với tin đồn bộ trưởng quốc phòng bị xử tử.
Tháng 3/2015, báo chí Hàn Quốc và phương Tây loan tin rằng Han Kwang-sang, giám đốc tài chính của Đảng Lao động Triều Tiên đã bị xử tử, nhưng đến tháng 10/2015 ông Han Kwang-sang đã xuất hiện trên truyền thông khi thăm một trại thủy sản, cho thấy tin tức về vụ xử tử là bịa đặt
Tháng 2/2016, báo chí Hàn Quốc và phương Tây loan tin rằng Ri Yong-gil, Tổng tham mưu trưởng quân đội Triều Tiên đã bị xử tử vì vì cáo buộc "tham nhũng và kết bè cánh chính trị". Nhưng đến tháng 5/2016, ông Ri Yong-gil lại có tên trong danh sách các thành viên mới được bầu của Ủy ban Trung ương Đảng Lao động Triều Tiên, uỷ viên dự khuyết Bộ Chính trị và uỷ viên Quân uỷ trung ương, cho thấy tin tức về vụ xử tử ông này cũng là bịa đặt
Đại sứ Việt Nam tại Triều Tiên, ông Lê Quảng Ba nói về đời sống xã hội bên trong một đất nước Triều Tiên bị cấm vận, khép kín:
"Đúng là nếu chỉ đọc báo chí bên ngoài thì tưởng như Triều Tiên rất đói khổ, kiệt quệ. Song nhiều đoàn của Việt Nam và các nước khác sau khi thăm Triều Tiên về đều kinh ngạc: Không ngờ Triều Tiên lại phát triển đến như vậy... Về công nghệ cao, Triều Tiên có nhiều thành tựu mà ta phải ngưỡng mộ. Tiềm lực của người Triều Tiên chính là sức mạnh tinh thần và văn hóa, từ đó dẫn đến tiềm lực quốc phòng của họ... Tôi nghĩ ở đây có vấn đề về thông tin. Chẳng hạn như có 100 thông tin, hình ảnh đăng tải trên thế giới về Triều Tiên thì có đến 80% là từ báo chí phương Tây, hay các nước mà Triều Tiên gọi là thù địch, tức chỉ nói xấu, hay không có thì dựng ra là có. Bản thân Triều Tiên cũng ít đưa hình ảnh của mình ra ngoài, nên dễ dẫn đến bị nhìn nhận sai lệch. Riêng tôi thấy rằng cần bình tĩnh xem xét và đặt lại câu hỏi: “Bao giờ ta có thể làm được như họ?” Trước khi đến, nhiều người cứ nghĩ Triều Tiên là quốc gia vô cùng khốn khổ, người dân thì hiếu chiến, nhưng đó là bởi họ chưa trực tiếp tham quan Triều Tiên. "Trăm nghe không bằng một thấy", nếu tiếp nhận thông tin qua nguồn gián tiếp, sự sai lệch sẽ rất nhiều.
== Chính trị ==
=== Chính quyền ===
Tại Triều Tiên đảng cầm quyền là Đảng Lao động Triều Tiên chiếm đa số (75% ghế trong Quốc hội), thứ nhì là đảng Xã Hội Dân Chủ và thứ ba là đảng Thanh Thiên Đạo. Họ còn một đảng cho Kiều Bào tại Nhật Bản có 5 ghế trong Quốc hội. Các đảng này hợp thành MẶT TRẬN THỐNG NHẤT DÂN TỘC TRIỀU TIÊN.
Chính quyền Triều Tiên được điều hành hoạt động bởi Đảng Lao động Triều Tiên (Korean Worker's Party - KWP), chiếm 80% vị trí chính quyền. Ý thức hệ của KWP được gọi là Juche Sasang (주체사상, Chủ thể tư tưởng), và được coi là có liên hệ gần gũi với chủ nghĩa văn minh Stalin. KWP đã gia tăng các phần có liên quan tới Chủ nghĩa Marx-Lenin trong Hiến pháp Triều Tiên bằng Juche Sasang năm 1977. Những lời chỉ trích cộng sản của KWP phủ nhận rằng họ là một quốc gia hoạt động theo kiểu nguyên mẫu Mácxít – Lêninít cũ, không còn hợp sự biến đổi của thời đại. Các đảng chính trị nhỏ có tồn tại nhưng chúng đều mang ý nghĩa hỗ trợ vào KWP và tự nguyện không phản đối lại sự nắm quyền của nó. Cơ cấu quyền lực thực sự của đất nước hiện vẫn còn đang bị tranh cãi giữa những nhà quan sát bên ngoài.
==== Lãnh đạo nhà nước ====
Trước 1998, chức vụ Chủ tịch nước là Nguyên thủ quốc gia và được trao cho Kim Nhật Thành. Hiến pháp 1998 quy định Kim Nhật Thành là "Chủ tịch vĩnh viễn của nước Cộng hòa", và vị trí Chủ tịch nước đã bị bãi bỏ sau khi ông chết, còn con trai ông, Kim Chính Nhật sau khi chết là "Tổng bí thư vĩnh viễn". Cháu trai ông, Kim Jong-un, về nguyên tắc chỉ nắm giữ chức vụ Tổng bí thư Đảng Lao động Triều Tiên, Chủ tịch Hội đồng Quốc phòng Triều Tiên, và Tổng tư lệnh tối cao Quân đội Nhân dân Triều Tiên, nhưng về thực tế nắm toàn bộ thực quyền trong tay.
==== Lập pháp ====
Theo Hiến pháp 1998, tổ chức của chính quyền Triều Tiên theo chính thể cộng hòa, được phân thành 3 nhánh Lập pháp, Hành pháp và Tư pháp. Hội nghị Nhân dân Tối cao (최고인민회의, Choego Inmin Hoeui) là cơ quan Quốc hội, theo Hiến pháp là cơ quan quyền lực cao nhất của nhà nước, nắm quyền Lập pháp. Các đại biểu của Hội nghị (hiện tại gồm 687 thành viên) được bầu cử phổ thông theo thời hạn 5 năm. Hai kỳ mỗi năm, Quốc hội được triệu tập, mỗi kỳ chỉ kéo dài vài ngày; thường thì để phê chuẩn những quyết định do lãnh đạo của KWP đưa ra. Chủ tịch Quốc hội hiện nay là ông Choe Thae Bok.
Trong thời gian giữa các kỳ họp Quốc hội, một Ủy ban thường trực gọi là Thường nhiệm Ủy viên Hội (상임위원회, Sangim Wiwŏnhoe) được Quốc hội bầu ra để thực hiện các chức năng lập pháp khi Quốc hội không họp. Đứng đầu cơ quan này là một Chủ tịch với danh xưng Ủy viên trưởng (위원장, Wiwŏnjang). Theo Hiến pháp 1998, một số chức năng của vị trí Nguyên thủ quốc gia được trao cho Chủ tịch Ủy ban thường trực, người được cho là đứng đầu tổ chức "đại diện cho quốc gia", như các trách nhiệm nhận quốc thư từ đại sứ nước ngoài. Chủ tịch Ủy ban thường trực hiện nay là ông Kim Yong-nam.
==== Hành pháp ====
Theo Hiến pháp Triều Tiên 1998, Nội các (내각, Naekak) là cơ quan hành chính cao nhất, chịu trách nhiệm thiết lập chính sách cao nhất của chính phủ. Về nguyên tắc, Nội các cũng chịu trách nhiệm quản lý các Ủy ban hành chính địa phương (인민위원회, Inmin Wiwŏnhoe, Nhân dân Ủy viên hội).
Đứng đầu Nội các là một Tổng lý (총리, Chongni), hay Thủ tướng, về danh nghĩa do Quốc hội bầu ra. Các thành viên khác của Nội các được Quốc hội phê chuẩn theo đề nghị của Thủ tướng. Các phiên họp của Nội các được phân làm 2 dạng: Hội nghị toàn thể gồm toàn bộ các lãnh đạo của các cơ quan cấp Bộ và Hội nghị thường vụ chỉ gồm Thủ tướng, các Phó thủ tướng, một số thành viên Nội các. Hội nghị toàn thể được triệu tập để quyết định các chính sách kinh tế hành chính quan trọng. Hội nghị thường vụ thường để xử lý các quyết định đã được Hội nghị toàn thể thông qua.
Hiện tại, Nội các Triều Tiên gồm 34 cơ quan cấp Bộ, đứng đầu bởi Thủ tướng Pak Pong Ju.
==== Tư pháp ====
Như các quốc gia Cộng sản khác, ngành Tư pháp Triều Tiên được phân làm 2 nhánh Kiểm sát và Tòa án. Tại trung ương có Trung ương Kiểm sát sở (중앙검찰소, Jungang Keomchalso) và Trung ương Thẩm phán sở (중앙재판소, Jungang Jaepanso), đứng đầu bởi các Sở trưởng (소장, Sojang). Dưới cấp Trung ương có các cơ quan địa phương lầm lượt gồm cấp tỉnh, thành phố, quận và cơ quan đặc biệt, trực thuộc quyền của các Sở trung ương.
Ngành Kiểm sát chịu trách nhiệm giám sát việc thi hành pháp luật của các cơ quan, xí nghiệp và các công dân trên lãnh thổ Triều Tiên; thực thi Hiến pháp và Pháp luật, các Quyết định do các cơ quan Quốc hội, Hội đồng Quốc phòng, Ủy ban thường trực Quốc hội, Nội các ban hành; giữ quyền công tố tại các phiên tòa xét xử.
Ngành Tòa án chịu trách nhiệm giám đốc thi hành pháp luật của các cơ quan, xí nghiệp và các công dân trên lãnh thổ Triều Tiên; thực thi Hiến pháp và Pháp luật, các Quyết định do các cơ quan Quốc hội, Hội đồng Quốc phòng, Ủy ban thường trực Quốc hội, Nội các ban hành; giữ quyền phán quyết tại các phiên tòa xét xử;
=== Quốc phòng và quân đội ===
Với chính sách Sŏn'gun (선군정치, Sŏn'gun chŏngch'i, Tiên quân chính trị), quân đội trở thành một lực lượng chính trị quan trọng tại Triều Tiên. Mục tiêu cao nhất của Triều Tiên là đánh đuổi quân Mỹ và loại bỏ chính phủ Hàn Quốc để thống nhất dân tộc Triều Tiên, do đó quân đội được ưu tiên cao nhất trong việc phân phối nguồn lực của đất nước.
Cơ quan cao nhất, thống lĩnh về mặt quân sự của Triều Tiên là một Hội đồng quốc phòng với danh xưng Quốc phòng Ủy viên hội (국방위원회, Kukpang Wiwŏnhoe), chịu trách nhiệm quản lý một lực lượng quân đội lớn thứ tư trên thế giới về quân số, với khoảng 1,21 triệu người trong lực lượng chính quy, và một lực lượng dự bị khoảng 4.700.000 người. Ngân sách quốc phòng hàng năm của Triều Tiên là 5,217 tỉ USD (2002), ước tính chiếm khoảng 15,8% GDP (2010).
Như nhiều quốc gia khác, ở Triều Tiên, công dân đủ 18 tuổi trở lên phải thực hiện nghĩa vụ quân sự, trừ một số trường hợp đặc biệt. Tuy nhiên, thời hạn nghĩa vụ ở Triều Tiên là từ 3 đến 10 năm kể từ ngày nhập ngũ. Bên cạnh đó, với chính sách quốc phòng thường trực và ưu tiên cho quân đội, Triều Tiên cũng là nước có tỉ lệ nhân dân sẵn sàng nhập ngũ khi có chiến tranh cao nhất thế giới.
Trong Hiến pháp Triều Tiên 1998, Hội đồng quốc phòng là cơ quan thường trực được xếp đứng trên cả Ủy ban thường trực của Quốc hội. Đứng đầu Hội đồng này là Kim Jong-un với chức vụ Ủy viên trưởng, một chức vụ có toàn quyền với quân đội trên thực tế, kể cả quyền thăng phong quân hàm cao cấp. Cộng với quyền lãnh đạo tối cao của Đảng Lao động Triều Tiên, Kim Jong-un mới thực sự là nhà lãnh đạo tối cao của chính quyền Triều Tiên.
Chiến lược quân sự được chính của Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Triều Tiên Triều tiên là cử các đặc nhiệm phá hoại và tấn công kẻ thù từ phía sau chiến tuyến. Vì Hàn Quốc đã lập một phòng tuyến mạnh sau vùng phi quân sự. Quân đội Triều Tiên được trang bị với một lượng vũ khí rất lớn với 4.060 xe tăng, 2.500 xe bọc thép chở quân, 17.900 pháo, 11.000 súng phòng không và 10.000 tên lửa phòng không và tên lửa chống tăng vác vai cho lực lượng bộ binh; khoảng 915 tàu cho lực lượng hải quân, 1.748 máy bay cho lực lượng không quân, được biết có khoảng 480 tiêm kích và 180 máy bay ném bom. Ngoài ra Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Triều Tiên còn có lực lượng đặc nhiệm thuộc hàng đông nhất thế giới cùng hạm đội tàu ngầm nhiều nhất. Các loại vũ khí này sản xuất từ cuộc chiến tranh thế giới thứ hai cho đến chiến tranh lạnh cùng các vũ khí hiện đại sản xuất trong nước theo công nghệ hiện đại của Liên Xô/Nga.
Hỏa lực đáng gờm nhất của Triều Tiên nằm ở các hệ thống pháo phản lực bắn loạt (MLRS). Lực lượng này có khả năng phóng nhiều quả đạn trong thời gian rất ngắn, trong khi khả năng cơ động rất cao (ví dụ như loại BM-21, mỗi hệ thống với 6 xe phóng có thể phóng tới 240 quả đạn trong 20 giây, sau đó nhanh chóng di chuyển sang nơi khác trong chưa đầy 3 phút để tránh bị đối phương bắn trả). Triều Tiên đã tự phát triển nhiều pháo phản lực phóng loạt với cỡ nòng từ 107mm đến 300mm, tầm bắn xa và sức công phá mạnh hơn pháo xe kéo thông thường. Theo ước tính, Triều Tiên có khoảng gần 5.000 bệ phóng pháo phản lực bắn loạt, khoảng 2/3 số đó bố trí sát biên giới, có thể nã khoảng 100.000 quả đạn lên lãnh thổ Hàn Quốc trong chưa đầy 1 phút. Tuy không có độ chính xác cao như pháo thông thường nhưng với tốc độ bắn cực nhanh kiểu "rải trấu", pháo phản lực phóng loạt rất lợi hại khi tấn công mục tiêu trên diện rộng như đô thị hoặc doanh trại, gây sốc và tàn phá diện rộng cho đối phương. Đây được đánh giá là vũ khí được triển khai đầu tiên nếu có chiến tranh nổ ra trên bán đảo Triều Tiên.
Khả năng tác chiến của pháo phản lực bắn loạt Triều Tiên đã được kiểm nghiệm trong trận đấu pháo ở đảo Yeonpyeong năm 2010. Trong một thời gian ngắn chưa đầy 1 phút, pháo phản lực bắn loạt của Triều Tiên đã bắn khoảng 108 quả đạn, đánh trúng chính xác các mục tiêu của Hàn Quốc trên hòn đảo, khiến 2 khẩu pháo tự hành loại hiện đại là K-9 Thunder cỡ 155mm của Hàn Quốc bị hư hại, 2 lính chết và 16 bị thương. Choáng váng vì đòn pháo kích của Triều Tiên, 3 khẩu pháo K-9 khác của Hàn Quốc đã phải mất 13 phút để khởi động radar điều khiển nhằm bắn trả lại, nhưng tất cả đạn pháo đều trượt mục tiêu do pháo binh của Triều Tiên đã nhanh chóng cơ động sang một trận địa khác.
Ngoài ra, để đáp ứng với chiến lược chiến tranh phi đối xứng và chống trả các cuộc tấn công bằng vũ khí công nghệ cao của Mỹ, Triều Tiên đã phát triển các kỹ thuật tinh vi để khắc chế như thiết bị đánh lạc hướng điện tử, máy làm nhiễu GPS, sơn tàng hình, các loại tàu ngầm loại nhỏ, ngư lôi có người lái, một lượng lớn các loại vũ khí sinh học và hóa học cùng hệ thống laser chống người, tên lửa chống hạm kiểu mới, tên lửa đạn đạo phóng từ tàu ngầm và cả các tin tặc của các "đơn vị tự động hóa', nơi có nhiệm vụ thu thập thông tin tình báo về chiến thuật và tấn công hệ thống công nghệ thông tin của các nước đối thủ như Mỹ hay Hàn Quốc khi cần.
Đối thủ tác chiến dự tính của Triều Tiên là Mỹ và Hàn Quốc, vốn có ưu thế gần như tuyệt đối về không quân. Với chiến lược chiến tranh phi đối xứng, để phòng tránh việc bị tên lửa hành trình hoặc máy bay ném bom của Mỹ và Hàn Quốc tấn công, Triều Tiên đã phát triển một mạng lưới hầm ngầm khổng lồ và cực kỳ kiên cố. Tất cả các hệ thống pháo binh, thiết giáp, không quân, các căn cứ, kho đạn của Tiều Tiên đều được ngụy trang và giấu kín trong những hầm ngầm kiên cố, rất khó bị đối phương phát hiện và luôn trong tình trạng sẵn sàng chiến đấu tốt. Kể cả khi bị phát hiện thì với độ sâu vài chục mét, thậm chí hàng trăm mét dưới lòng đất, việc tiêu diệt hầm ngầm của Triều Tiên bằng tên lửa hành trình hoặc máy bay ném bom cũng là điều bất khả thi ngay cả với Mỹ. Ngay cả các công trình dân sự cũng có thể được chuyển đổi thành kho tàng và hệ thống tiếp vận quân sự. Ví dụ như Ga tàu điện ngầm Bình Nhưỡng được xây ở độ sâu lên tới 200 mét dưới lòng đất, ngay cả các loại bom khoan mạnh nhất của Mỹ cũng không thể làm gì được hệ thống hầm ngầm ở độ sâu như vậy.
Trên hết, thứ vũ khí nguy hiểm nhất mà Triều Tiên có thể dùng để chiến đấu chính là vũ khí hạt nhân. Nước này đã thử thành công bom nguyên tử và sắp tới có thể chế tạo thành công đầu đạn hạt nhân gắn lên tên lửa đạn đạo liên lục địa. Nếu Triều Tiên phóng tên lửa mang vũ khí hạt nhân thì Mỹ và Hàn Quốc sẽ chịu tàn phá nặng nề, nhiều thành phố sẽ bị san bằng và hàng triệu người sẽ chết. Do cái giá phải trả quá lớn nên Mỹ dù có thái độ thù địch và lực lượng quân sự áp đảo nhưng cũng sẽ không dám phát động chiến tranh chống lại Triều Tiên. Vì lý do này, Triều Tiên ra sức phát triển tên lửa đạn đạo liên lục địa bất chấp các lệnh trừng phạt do Mỹ và phương Tây đưa ra, bởi vũ khí hạt nhân được coi là "áo giáp" chắc chắn nhất của Triều Tiên để bảo vệ đất nước mình.
Theo phương tiện truyền thông chính thức của Bắc Triều Tiên thì chi phí quân sự năm 2010 là 15,8% ngân sách nhà nước.
=== Nhân quyền ===
Tổ chức Ân xá quốc tế và các tổ chức nhân quyền khác buộc tội Triều Tiên có hồ sơ nhân quyền tồi tệ nhất trong số tất cả các nước, hạn chế nghiêm khắc đa số các quyền tự do, gồm tự do ngôn luận và tự do di chuyển, cả trong và ngoài nước. Những người tị nạn đã loan tin sự hiện diện của những trại giam với ước tính khoảng 150.000 đến 200.000 người, đa phần là thiếu ăn cho dù một phần lương thực xã hội đã được cắt ra, và lao động Công ích. Truyền hình Nhật Bản đã phát sóng cảnh phim mà họ cho là một trại tù. Trong một số trại, những người tù cũ nói tỷ lệ chết hàng năm lên tới 25% . Một cựu cai tù và là sĩ quan tình báo quân đội đào tẩu cho rằng trong một trại, các loại vũ khí hoá học đã được đem ra thử nghiệm trên tù nhân trong một phòng hơi độc .
Ngược lại, Chính phủ Triều Tiên bác bỏ những cáo buộc rằng họ vi phạm nhân quyền và coi đó là "một chiến dịch bôi nhọ" nhằm dùng chiêu bài nhân quyền nhằm lật đổ chế độ chính trị của họ.
== Quan hệ đối ngoại ==
Tại Bình Nhưỡng, có 24 cơ quan sứ quán của các nước gồm: Brazil, Bulgaria, Campuchia, Trung Quốc, Cuba, Czech, Ai Cập, Đức, Ấn Độ, Indonesia, Iran, Lào, Malaysia, Mông Cổ, Nigeria, Pakistan, Palestine, Phần Lan, Romania, Nga, Thụy Điển, Syria, Vương quốc Anh và Việt Nam.
Có hai sứ quán nằm cách biệt, đó là sứ quán Nga, nằm ở quận Chung-guyok, có diện tích lên đến 7ha, rộng nhất trong khối ngoại giao tại đây. Kế đến là sứ quán Trung Quốc, nằm ở quận Moranbong-guyok, rộng khoảng 5ha. Các cơ quan còn lại đều nằm ở quận Taedonggang-guyok. Sứ quán Việt Nam rộng 1,7ha, rộng thứ ba trong khối ngoại giao. Khu vực ngoại giao đoàn có siêu thị, trường học, bệnh viện... gần như dành riêng cho người nước ngoài, kể cả một cây xăng ở gần đó...
Tại Triều Tiên hiện có khoảng 700 người nước ngoài làm việc. Dù ít vậy nhưng Chính phủ Triều Tiên vẫn cấp cho người nước ngoài một mạng di động riêng với đầu số là 191250xxxx, có thể gọi ra nước ngoài nhưng không thể gọi vào số của người Triều Tiên, có thể dùng mạng 3G. Người trong nước cũng được dùng điện thoại di động nhưng không được gọi ra nước ngoài, mà chỉ gọi được trong nước.
=== Quan hệ với Hàn Quốc ===
Sau khi cuộc Chiến tranh Triều Tiên kết thúc năm 1953, Bắc Triều Tiên và Nam Triều Tiên (Hàn Quốc) trên danh nghĩa vẫn chưa có hòa bình, do chỉ mới ký kết hiệp định ngừng bắn.
Triều Tiên nhiều lần gọi chính phủ Hàn Quốc là "bù nhìn", "con rối" của "Đế quốc Mỹ", và đe dọa rằng sẽ biến Seoul "thành tro bụi", nhưng mặt khác họ vẫn nhận viện trợ của nước này, bao gồm thuốc men, chăn mền, mì gói, quần áo. Triều Tiên cũng yêu cầu miền Nam gửi bột mì, gạo và xi măng, nhưng kể từ sau vụ pháo kích ở Yeonpyeong, Hàn Quốc không muốn viện trợ các mặt hàng đó do lo sợ Triều Tiên sẽ dùng để cung cấp cho quân đội thay vì cứu đói cho dân thường. Tuy vậy, vẫn có những sự tốt đẹp nhất định. Khi Hàn Quốc thực hiện Chính sách Ánh dương sau đó, quan hệ đã có chút nồng ấm, và đặc biệt là khu công nghiệp chung Kaesong được thành lập năm 2003 là thành quả của chính sách ánh dương đem lại.
Trong bản đánh giá về các quốc gia hạnh phúc nhất thế giới của mình, Bắc Triều Tiên cho Hàn Quốc đứng thứ 152 với chỉ 18 điểm, và tự xếp mình đứng thứ 2 với 98/100 điểm (chỉ sau nước đứng 1 là Trung Quốc với điểm tuyệt đối).
=== Yếu tố Trung Quốc ===
Trung Quốc từ trước đến nay vẫn là nước có quan hệ thân thiết nhất với CHDCND Triều Tiên. Trong chiến tranh Triều Tiên, Trung Quốc đã gửi gần một triệu chí nguyện quân sang giúp đỡ quân đội miền bắc. Trung Quốc là bạn hàng kinh tế, nhà đầu tư lớn của CHDCND Triều Tiên. Trung Quốc là thành viên của cuộc đàm phán 6 bên về vấn đề hạt nhân trên bán đảo Triều Tiên.
=== Quan hệ với Việt Nam ===
Việt Nam và CHDCND Triều Tiên cùng theo Chủ nghĩa xã hội. Hai nước thiết lập quan hệ ngoại giao vào ngày 31 tháng 1 năm 1950, và được cho là có "mối quan hệ truyền thống tốt đẹp". Tuy nhiên về kinh tế, từ năm 1996 Việt Nam và Bắc Triều Tiên hầu như không có giao dịch thương mại, cũng trong năm đó, Triều Tiên mua 2 vạn tấn gạo của Việt Nam nhưng đến nay vẫn chưa thanh toán, cả gốc và lãi tính đến năm 2007 là 18,046 triệu USD. Trong những năm gần đây, Việt Nam đã nhiều lần hỗ trợ Triều Tiên hàng ngàn tấn gạo. Trong những năm 1960-1970 Triều Tiên đã giúp đào tạo hàng trăm sinh viên Việt Nam. Khu tập thể Kim Liên (khu tập thể xã hội chủ nghĩa đầu tiên) tại Đống Đa, Hà Nội đã được kỹ sư Triều Tiên giúp thiết kế, giám sát xây dựng hoàn thành vào 1963. Hàng năm Bộ Văn hoá của Việt Nam đều cử đoàn nghệ thuật sang Triều Tiên dự Liên hoan nghệ thuật mùa xuân tháng 4 tổ chức tại Bình Nhưỡng. Triều Tiên cũng từng gửi quân sang giúp Miền Bắc Việt Nam trong Chiến tranh Việt Nam, trong đó có khoảng 200 phi công tham gia bảo vệ Hà Nội, ít nhất 14 đã chết vào 1966 - 1967.
Trong khi đó, nhà sử học Dương Trung Quốc nói rằng, "Sau khi Việt Nam thống nhất đất nước, chính Triều Tiên ủng hộ Pol Pot chống lại Việt Nam,". Tướng Nguyễn Trọng Vĩnh cũng nhắc lại việc cố Chủ tịch Kim Nhật Thành đã từng ủng hộ Pol Pot chống Việt Nam và gọi đó là thời kỳ phai nhạt quan hệ giữa hai nước sau khi Việt Nam thống nhất. Trong thập niên 1990, quan hệ 2 nước nồng ấm hơn với nhiều chuyến thăm của lãnh đạo cấp cao từ hai phía, cũng như việc trao đổi buôn bán (Việt Nam đã mua một số loại vũ khí từ Triều Tiên như tên lửa đạn đạo Scud, tàu ngầm lớp Yugo...). Tổng Bí thư Nông Đức Mạnh đã sang thăm hữu nghị Bắc Triều Tiên vào tháng 10 năm 2007, và Đảng Lao động Triều Tiên được chính phủ Việt Nam cho là đã "giành được nhiều thành tựu to lớn".
=== Quan hệ với Nga ===
Khi còn mang tên Liên Xô, cả hai nước đã thiết lập một mối quan hệ thân thiết chưa từng có khi Kim Nhật Thành được Iosif Stalin ủng hộ làm lãnh đạo Bắc Triều Tiên. Nhưng kể từ khi Mikhail Gorbachyov cẩm quyền năm 1985, quan hệ đã trở nên xấu đi trầm trọng, khi Gorbachyov thực hiện những cải cách mà nước này gọi là "ngu dốt và tệ hại". Quan hệ càng trở nên căng thẳng khi Liên Xô sụp đổ và Liên bang Nga được thành lập, đặc biệt hơn là khi Boris Yeltsin lên làm Tổng thống Nga từ năm 1992-1999 đã có những phát ngôn chỉ trích Nhà nước Triều Tiên. Quan hệ chỉ trở lại nồng ấm vào năm 2000, khi Vladimir Putin lên làm Tổng thống Nga, nhưng quan hệ vẫn không tiến được xa vì Putin ít quan tâm tới Bắc Triều Tiên. Khi Kim Jong-un cầm quyền sau cái chết của Kim Chính Nhật vào năm 2011, Nga đã ủng hộ trừng phạt CHDCND Triều Tiên, nên khiến quan hệ giữa hai nước này trở nên xấu đi so với thái độ hòa nhã bên ngoài.
Tuy nhiên, Nga và Bắc Triều Tiên đã mở lại tuyến đường sắt từ Baikal tới Rason, chủ yếu để cung cấp than đá cho quốc gia này. Bắc Triều Tiên đã ca ngợi mối quan hệ với Nga, song phía Nga không có thái độ cụ thể về việc này.
=== Quan hệ với Hoa Kỳ ===
Quan hệ giữa Bắc Triều Tiên và Hoa Kỳ nói chung là rất xấu, và chưa có quan hệ ngoại giao chính thức, ngoại trừ kênh New York. Bắc Triều Tiên luôn coi Hoa Kỳ là cái nôi của "chủ nghĩa tồi tệ nhất thế giới" và gọi Hoa Kỳ là "phi dân chủ" trong khi Hoa Kỳ cáo buộc Bắc Triều Tiên là nơi "đáng sợ nhất thế giới" và coi CHDCND Triều Tiên là "địa ngục trần gian", song có thời gian Bắc Triều Tiên đã nhận viện trợ lương thực từ Hoa Kỳ. Sau vụ phóng tên lửa Unha-3 năm 2012, Hoa Kỳ đã cắt viện trợ lương thực cho Bắc Triều Tiên và cáo buộc nước này "vi phạm luật pháp quốc tế" về thử nghiệm tên lửa đạn đạo. Reuters dẫn tin của Thông tấn xã Trung ương Triều Tiên (KCNA) vào ngày 16/01/2016, Triều Tiên đã kêu gọi ký kết một thỏa thuận hòa bình với Mỹ, cùng với đó là việc Washington ngừng các hoạt động tập trận với Hàn Quốc, coi đây là những điều kiện để Bình Nhưỡng chấm dứt các vụ thử hạt nhân.
Năm 2004, Tổng thống Hoa Kỳ George W. Bush đã xếp Bắc Triều Tiên cùng với Iran vào "trục ma quỷ" do Bắc Triều Tiên đã giấu diếm việc thử nghiệm bom hạt nhân. Nhà lãnh đạo Bắc Triều Tiên khi đó là Kim Chính Nhật lấy lý do là sự hiện diện của quân đội Hoa Kỳ tại Nam Triều Tiên. Sau vụ phóng vệ tinh 2 lần vào năm 2012 mà Hoa Kỳ và phương Tây cáo buộc là thử nghiệm tên lửa đạn đạo, quan hệ giữa hai nước trở nên căng thẳng hơn khi Hoa Kỳ cùng Liên Hiệp Quốc tăng trừng phạt nước này. Lãnh đạo CHDCND Triều Tiên Kim Jong-un cáo buộc LHQ là "con rối" do Hoa Kỳ cầm đầu, và sau đó, khi Hàn Quốc và Hoa Kỳ tiến hành tập trận chung vào năm 2013, Bắc Triều Tiên đã di chuyển các tên lửa tầm trung Musudan tới các căn cứ quân sự ở Đông Nam CHDCND Triều Tiên, gây lo ngại cho quốc tế về nguy cơ chiến tranh Triều Tiên tái diễn.
=== Quan hệ với Nhật Bản ===
Nhật Bản, cùng với Hàn Quốc và Hoa Kỳ là một trong số ít các quốc gia không có quan hệ hoặc hiện đang trong tình trạng chiến tranh với Bắc Triều Tiên, như một di sản của sự thù hận, chống chủ nghĩa cộng sản tồn tại trong mối quan hệ của Nhật Bản với Bắc Triều Tiên. Tất cả xuất phát từ việc cai trị của thực dân Nhật Bản tại Triều Tiên trong giai đoạn 1910-1945, cũng như ký ức về chiến tranh Triều Tiên. Hiện nay, Bắc Triều Tiên không được Nhật Bản công nhận và họ không có quan hệ ngoại giao. thông qua đàm phán song phương và các cuộc đàm phán sáu bên, Bắc Triều Tiên và Nhật Bản tiếp tục thảo luận về các vấn đề xung quanh số phận của các công dân Nhật bị Bắc Triều Tiên bắt cóc trong những năm 1970 và 1980.
== Địa lý ==
Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Triều Tiên nằm ở phần phía bắc Bán đảo Triều Tiên trải dài 1.100 kilômét (685 dặm) từ lục địa Châu Á. Nó có chung biên giới với ba nước và hai vùng biển. Phía tây giáp với Hoàng Hải và Vịnh Triều Tiên, phía đông giáp biển Đông Hàn Quốc (Biển Nhật Bản). Biên giới trên bộ, Triều Tiên giáp với ba nước Hàn Quốc, Trung Quốc, và Nga. Điểm cao nhất ở Triều Tiên là đỉnh Bạch Đầu 2.744 mét (9.003 ft) và các con sông chính là Đồ Môn và Áp Lục.
Khí hậu khá ôn hoà, lượng mưa lớn vào mùa hè với một mùa mưa ngắn gọi là jangma (gió mùa Đông Á), mùa đông thỉnh thoảng khá lạnh. Thủ đô Bắc Triều Tiên và là thành phố lớn nhất nước Bình Nhưỡng (P'yŏngyang); các thành phố chính khác gồm Kaesŏng (Khai Thành) ở phía nam, Sinŭiju (Tân Nghĩa Châu) ở phía tây bắc, Wŏnsan (Nguyên San) và Hamhŭng (Hàm Hưng) ở phía đông và Ch'ŏngjin (Thanh Tân) ở đông bắc.
== Dân cư ==
Dân cư Bắc Triều Tiên là một trong những dân tộc thuộc loại thuần chủng về ngôn ngữ và sắc tộc nhất trên thế giới, với chỉ một nhóm rất nhỏ thiểu số người Trung Quốc và Nhật Bản. Đa số các sắc dân khác chỉ là cư trú tạm thời, chủ yếu là người Nga và dân các nước Đông Âu khác, người Trung Quốc, và người Việt Nam.
=== Tôn giáo ===
Kim Nhật Thành và Kim Chính Nhật được sùng kính trong nhiều mặt đời sống công cộng ở Bắc Triều Tiên, thường với những tuyên bố ngụ ý kiểu sùng kính tôn giáo. Các hoạt động tôn giáo mọi kiểu bị hạn chế khắt khe bởi quan điểm vô thần của nhà nước, đặc biệt là Tin Lành, bị coi là có liên quan tới Hoa Kỳ.
Triều Tiên có chung di sản Phật giáo và Khổng giáo với Nam Triều Tiên trong lịch sử xa xưa và Thiên Chúa giáo cùng các phong trào Thiên Đạo giáo (천도교, Ch'ŏndogyo) gần đây. Theo báo Le Monde, đầu thế kỷ XX, Bắc Triều Tiên từng là nơi phúc âm được truyền bá mạnh nhất châu Á, chỉ sau Philippines, đến nỗi Bình Nhưỡng được mệnh danh là "Jerusalem Á châu". Sau khi Bắc Triều Tiên thuộc quyền kiểm soát của những người Cộng sản Triều Tiên vào năm 1945, một bộ phận trong tổng số 200.000 người Thiên chúa giáo (57.000 người Công giáo) di tản sang Nam Triều Tiên. Những tín đồ còn trụ lại bị tập trung vào một Liên đoàn Thiên chúa giáo, do một mục sư điều hành. Nhân vật này là anh em họ với mẹ của cố lãnh đạo Kim Il-sung, người sáng lập ra Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Triều Tiên. Hiện nay tại thủ đô Bắc Triều Tiên chỉ còn bốn nhà thờ, nhà thờ chính tòa Jangchoong của người Công giáo, hai nhà thờ Tin lành và một nhà thờ Chính thống giáo, được nhà nước phê chuẩn cho tồn tại, mà những người ủng hộ tự do tôn giáo cho là có để trưng ra cho những vị khách nước ngoài. Người phụ trách việc thờ phượng do chính quyền Bình Nhưỡng bổ nhiệm. Theo số liệu chính thức, có 4.000 tín đồ Công giáo và 11.000 người Tin lành, trong tổng dân số 20 triệu người. Các hoạt động Thiên chúa giáo và Tin Lành, do trái ngược với quan điểm chính trị của Đảng Lao động, bị hạn chế nghiêm ngặt.
Theo một danh sách xếp hạng do tổ chức Open Doors ("Những Cánh Cửa Mở") đưa ra, Bắc Triều Tiên bị cho là nước ngược đãi ghê gớm nhất đối với những người Thiên chúa giáo trên thế giới.
Theo thống kê số tín đồ các tôn giáo ở Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Triều Tiên phân ra như sau:
Vô thần: 15.460.000 (64,3% dân số, phần lớn trong số đó là tín đồ của triết lý Juche)
Shaman giáo truyền thống: 3.846.000 tín đồ (16% dân số)
Thanh Đạo giáo: 3.245.000 tín đồ (13,5% dân số)
Phật giáo: 1.082.000 Phật tử (4,5% dân số)
Công giáo: 406.000 tín hữu (1,7% dân số)
=== Ngôn ngữ ===
Bắc Triều Tiên có chung tiếng Triều Tiên với Nam Triều Tiên (Hàn Quốc) nhưng đang có sự thay đổi mạnh về ngữ pháp sau cuộc cải cách chữ viết. Có một số khác biệt về thổ ngữ bên trong cả hai miền Triều Tiên, nhưng biên giới giữa Bắc và Nam không thể hiện là một biên giới chính về ngôn ngữ. Đã xuất hiện một số khác biệt nhỏ, ban đầu là những từ được sử dụng trong những cải cách gần đây.
Sự khác biệt ngôn ngữ đáng chú ý nhất giữa hai nước Triều Tiên là ngôn ngữ viết, với việc hạn chế những từ gốc Hán trong sử dụng thông thường ở Bắc Triều Tiên. Trái lại ở Nam Triều Tiên các từ gốc Hán vẫn được sử dụng nhiều, dù trong nhiều trường hợp, như báo chí thì lại hiếm.
Việc La tinh hoá chữ viết cũng có khác biệt. Bắc Triều Tiên tiếp tục sử dụng hệ Latin hoá tiếng Triều Tiên của McCune-Reischauer trong khi đó miền Nam dùng phiên bản đã sửa đổi.
=== Giáo dục ===
Giáo dục tại CHDCND Triều Tiên là miễn phí bắt buộc cho đến trung học, các trường trước đầu những năm 1990 có phát đồng phục miễn phí cho học sinh. Cách giáo dục áp dụng khả năng nghiệm suy để học sinh tích cực trong việc phát triển tính độc lập và sáng tạo của mình. Giáo dục bắt buộc kéo dài mười một năm, bao gồm một năm mẫu giáo, bốn năm giáo dục tiểu học và sáu năm giáo dục trung học. Khoảng năm 2012, Triều Tiên cải cách giáo dục sang chế độ 12 năm, bao gồm: một năm mẫu giáo, 5 năm tiểu học, năm năm giáo dục tiểu học và ba năm giáo dục trung học cơ sở và ba năm giáo dục trung học phổ thông. Khai giảng năm học mới vào ngày 1 tháng 4 hàng năm, do đó các năm học cũ phải kết thúc trước tháng 3.
Hơn 8 phần trăm của chương trình học là về "Chủ tịch Vĩ đại Kim Nhật Thành" và "Đạo đức Cộng sản". Ở trung học, các môn học "Chủ tịch Vĩ đại Kim Nhật Thành", "Đạo đức Cộng sản", và "Cương lĩnh Đảng Cộng sản" chỉ chiếm 5,8 phần trăm. Những bài học môn Tiếng Triều Tiên có những đầu đề như "Kim Chính Nhật đang xem ảnh", học sinh mẫu giáo được học các bài "Tuổi thơ của nguyên soái Kim". Khi đọc những gì Kim Nhật Thành viết, học sinh phải đọc thật to, chậm rãi để thể hiện sự tôn kính.
Cao học không bắt buộc tại CHDCND Triều Tiên. Nó chia thành hai hệ thống: học tập giáo dục đại học và học giáo dục đại học để tiếp tục học cao hơn. Học tập giáo dục đại học bao gồm ba loại trường đại học, trung học chuyên nghiệp, và trường kỹ thuật. Tốt nghiệp thạc sĩ và nghiên cứu cấp tiến sĩ thuộc về trường đại học, hai trường đại học đáng chú ý Triều Tiên là Đại học Kim Il-sung và Đại học Khoa học và Công nghệ Bình Nhưỡng cả hai đều ở Bình Nhưỡng.
Trường Đại học Kim Nhật Thành gồm vô số khoa như: kinh tế, lịch sử, triết học, luật, tiếng nước ngoài, văn học, địa lý, vật lý, toán, hóa, năng lượng hạt nhân, sinh học, và khoa học máy tính. Để bắt kịp thời đại thông tin, sinh viên đại học nào có tài về máy tính sẽ được miễn nhiều môn như lý, hóa, sinh, trừ môn học chính và môn "Lịch sử cách mạng của Kim Nhật Thành và Kim Chính Nhật".
Bởi vì sự nhấn mạnh vào việc giáo dục liên tục cho tất cả các thành viên của xã hội nên việc giáo dục học tập khi trưởng thành hoặc làm việc nghiên cứu luôn được hỗ trợ tích cực. Trên thực tế, tất cả mọi người trong nước tham gia trong một số hoạt động giáo dục, thường là dưới hình thức "nhóm nghiên cứu nhỏ". Đầu những năm 1990, người dân ở các vùng nông thôn đã được tổ chức vào "gia đình năm người", những nhóm này có chức năng giáo dục và giám sát. Nhân viên văn phòng và nhà máy có hai giờ để "học thêm" sau khi làm việc mỗi ngày về các chủ đề chính trị và kỹ thuật. Các "nhà máy của kiến thức" được mở cho các công nhân học thêm các kỹ năng mới mà không cần phải nghỉ việc. Học sinh làm việc bán thời gian, nghiên cứu vào buổi tối, hoặc có những khóa học ngắn hạn chuyên sâu, có thể nghỉ làm việc trong một tháng hoặc lâu hơn. Các "nông trang của kiến thức" cũng được mở nơi lao động nông thôn có thể học để trở thành kỹ sư và trợ lý kỹ sư. Đối với công nhân và nông dân không nhận được giáo dục phổ thông thì có "trường học cho người lao động" và "trường dạy nghề cấp cao người lao động", mặc dù đến cuối những năm 1990 những nhóm này không còn quan trọng nhưng vẫn tồn tại.
Xã hội Triều Tiên nhìn chung là xã hội học tập và thăng tiến chủ yếu dựa trên tài năng và mức độ cống hiến. Khu chung cư cao cấp ở trung tâm Bình Nhưỡng được phân miễn phí cho các giáo sư Đại học Kim Nhật Thành, các vận động viên đạt thành tích cao, nhà khoa học, các văn nghệ sĩ, người lao động đạt thành tích xuất sắc… Tại Thư viện Kim Nhật Thành trong tòa nhà 11 tầng (thư viện lớn nhất châu Á) vào 1 ngày có khoảng 5-7000 sinh viên, cán bộ đến học tập, nghiên cứu. Tại trường chuyên phổ thông có đầy đủ tiện nghi của một trường tiên tiến với các giảng đường hiện đại và khu thể thao phức hợp dành cho học sinh xuất sắc để đào tạo các em trở thành những kỹ sư, nhà nghiên cứu chất lượng.
Triều Tiên là một trong những quốc gia có học thức cao nhất trên thế giới, với một tỷ lệ dân số biết chữ trung bình là trên 99%. Dù kinh tế còn khó khăn nhưng Triều Tiên có rất nhiều thành tựu về khoa học kỹ thuật và công nghệ quân sự tương đương với các nước phát triển, họ có thể tự chế tạo từ điện thoại di động, máy tính bảng cho tới máy bay không người lái, xe tăng, tàu ngầm, tên lửa đạn đạo tầm xa, tự phóng vệ tinh lên vũ trụ... và thử thành công bom nguyên tử.
=== Y tế ===
Mặc dù bị cấm vận, Bắc Triều Tiên có một dịch vụ y tế quốc gia và hệ thống bảo hiểm y tế khá tốt bên cạnh những mặt hạn chế như thiếu thuốc men (bệnh viện có rất ít thuốc tây mà chủ yếu là đông dược), thiết bị y tế cũ kỹ, không có máy móc hiện đại và trình độ tay nghề bác sĩ không cao, không được tiếp cận với kỹ thuật y học hiện đại của thế giới.
Bắc Triều Tiên dành 3% tổng sản phẩm quốc nội về chăm sóc sức khỏe. Bắt đầu từ những năm 1950, CHDCND Triều Tiên nhấn mạnh về chăm sóc y tế, và giữa năm 1955 và 1986, số lượng bệnh viện đã tăng từ 285 đến 2.401 và số lượng phòng khám từ 1.020 lên 5.644. Có các bệnh viện riêng cho các nhà máy và các mỏ. Từ năm 1953, Triều Tiên đã bắt đầu thi hành chính sách y tế miễn phí cho cán bộ công nhân viên và đến khoảng năm 1960, hệ thống y tế hoàn toàn miễn phí đối với mọi người dân. Kể từ năm 1979, y học truyền thống được nhấn mạnh nhấn mạnh và đưa vào việc chữa trị nhiều hơn.
Tuy nhiên hệ thống y tế của Bắc Triều Tiên đã bị suy giảm mạnh kể từ những năm 1990 do thiên tai, các vấn đề kinh tế, tình trạng thiếu lương thực và năng lượng. Nhiều bệnh viện và phòng khám ở Bắc Triều Tiên hiện nay không có thuốc thiết yếu, thiết bị, nước sinh hoạt và điện.
Hầu như 100% dân số đã tiếp cận với nước sạch và vệ sinh môi trường. Các bệnh truyền nhiễm như bệnh lao, sốt rét và viêm gan B được coi là bệnh đặc hữu. Tuổi thọ trung bình của người dân là 69,2 tuổi đứng hạng 151/221 trên thế giới năm 2009.
Theo hội Chữ thập đỏ thì họ đang cố gắng viện trợ các thiết bị y tế cho 1.700 bệnh viện và phòng khám của CHDCND Triều Tiên với 300.000 nhân viên tình nguyện và 510 trạm khám bệnh lưu động, than đá cũng được đưa đến để giúp cho các cơ sở y tế hoạt động hiệu quả trong những tháng mùa đông lạnh nhất.
Tại Bình Nhưỡng, có hẳn một bệnh viện dành cho người nước ngoài nằm ở quận Taedonggang-guyok (Đại Đồng Giang), nơi tập trung hầu hết đại sứ quán các nước. Bệnh viện không lớn, khá cũ kỹ nhưng sạch sẽ, đầy đủ thiết bị với dãy nhà hai tầng làm nơi khám bệnh và dãy ba tầng nội trú kế bên. Tất cả người nước ngoài đều buộc phải khám chữa bệnh ở bệnh viện này chứ không được phép vào bất cứ bệnh viện nào khác tại Bình Nhưỡng. Trước đây, bệnh viện này cũng miễn phí cho người nước ngoài. Những năm gần đây, chỉ tiền khám được miễn phí, còn tiền thuốc bệnh nhân phải chịu.
Có nhiều thông tin trái ngược về tính hiệu quả của hệ thống y tế Triều Tiên. Tổ chức Ân xá Quốc tế cáo buộc Bắc Triều Tiên hiện nay đã thất bại trong việc đem đến cho người dân những nhu cầu chăm sóc sức khỏe cơ bản nhất, mỗi người dân chỉ được chi dưới 1 USD mỗi năm cho việc chăm sóc sức khỏe. Cũng theo tổ chức này, các cuộc giải phẫu lớn tại Triều Tiên được diễn ra mà không có thuốc gây mê. Chăn mền trong các bệnh viện không được giặt giũ thường xuyên, kim tiêm không được tiệt trùng, và người dân Bắc Hàn sử dụng thuốc giảm đau như là thuốc chữa bách bệnh. Đa số người Triều Tiên bị suy dinh dưỡng. Nhưng ngược lại, Tổ chức Y tế Thế giới sau khi đến khảo sát đã mô tả hệ thống y tế Triều Tiên có những thành công "đáng ghen tị đối với các nước đang phát triển", dù vẫn còn những thách thức bao gồm cơ sở hạ tầng bị xuống cấp, thiếu trang thiết bị và thiếu thuốc men.
== Đơn vị hành chính ==
Tới năm 2005, Triều Tiên gồm 2 thành phố trực thuộc trung ương (직할시, Chikhalsi, Trực hạt thị), 3 đặc khu (구, Gu, Khu) với các chức năng khác nhau, và 9 tỉnh (도, Do, Đạo).
=== Các thành phố lớn ===
Bình Nhưỡng (Pyongyang)
Hamhung (Hàm Hưng)
Chongjin
Nampho
Wonsan
Sinuiju
Tanchon
Kaechon
Kaesong
Sariwon
== Kinh tế ==
Trước những năm 1990, Bắc Triều Tiên được xem là có nền kinh tế phát triển và nổi bật hơn Nam Triều Tiên, với bạn hàng chính là Liên Xô và khối Xã hội chủ nghĩa. Sau khi Liên Xô tan rã, kinh tế Triều Tiên bắt đầu rơi vào khó khăn, tăng trưởng chững lại cho đến nay.
Kinh tế Bắc Triều Tiên là kinh tế công nghiệp gần như tự cung tự cấp do bị cấm vận với một nền kinh tế gần như hoàn toàn thuộc về chính phủ và phát triển theo kế hoạch nhà nước. Uỷ ban Kế hoạch Trung ương chuẩn bị, giám sát và thực hiện các kế hoạch kinh tế, trong khi một Văn phòng Tổng Công nghiệp tỉnh trong các khu vực chịu trách nhiệm về việc quản lý các cơ sở sản xuất địa phương, sản xuất, phân bổ nguồn lực và bán hàng.
Triều Tiên thi hành chính sách kinh tế "Songun", nghĩa đen là "quân sự trước tiên". Để tăng cường khả năng quốc phòng, ban lãnh đạo Triều Tiên tập trung nguồn lực quan trọng cho các mục đích quân sự. Theo đó, hơn 1/4 ngân sách nhà nước được chi cho quân đội. Điều này được thực hiện bất chấp thực tế phức tạp của thập niên 1990, khi nạn đói đã giết chết hàng chục, có thể, hàng trăm ngàn người dân thường.
Với việc CHDCND Triều Tiên bị cấm vận và ra chính sách cô lập có nghĩa là việc giao dịch thương mại quốc tế cực kỳ hạn chế. Bắc Triều Tiên từng thông qua một đạo luật vào năm 1984 cho phép đầu tư nước ngoài thông qua các liên doanh nhưng không thu hút được đầu tư đáng kể. Năm 1991 Khu kinh tế đặc biệt Rajin-Sonbong được thành lập để thu hút đầu tư nước ngoài từ Nga và Trung Quốc. Các nhà đầu tư Trung Quốc đã xây dựng con một con đường từ Rason đến Trung Quốc và Nga đã xây dựng các tuyến đường sắt nối vào tuyến đường sắt xuyên Siberi.
Đến năm 1998 Liên Hợp Quốc đã ra báo cáo về HDI và GDP bình quân đầu người của Bắc Triều Tiên, các số liệu cho thấy Bắc Triều Tiên đứng ở mức trung bình của chỉ số phát triển con người với 0,766 (xếp hạng 75/180 nước) và GDP bình quân đầu người là $4.058. Lương trung bình cho một người là $47 một tháng. Mặc dù gặp các vấn đề lớn về kinh tế, chất lượng cuộc sống đang được cải thiện và mức lương tăng lên đều đặn. Từ năm 2002, chính phủ Triều Tiên đã bắt đầu cho phép một số chợ được hoạt động, nhưng có thông tin cho rằng có nhiều ràng buộc như phụ nữ dưới 49 tuổi không được phép buôn bán. Một số hàng hóa cũng được liệt vào quốc cấm (như phim Hàn Quốc).. Thị trường tư nhân quy mô nhỏ, được gọi là "janmadang" bắt đầu hình thành trên cả nước để nhập khẩu thực phẩm và các hàng hóa khác nhau, từ mỹ phẩm đến xe máy cung cấp cho dân với để đổi lấy tiền. Trong năm 2009, chính phủ thực hiện một cuộc đổi tiền lớn để hạn chế hoạt động của chợ đen trên khắp đất nước, nhưng thất bại, gây ra lạm phát tỷ lệ tăng vọt và cuối cùng dẫn đến việc dỡ bỏ lệnh cấm về thương mại trong thị trường tự do. Bắc triều Tiên thay đổi tiền mới bằng cách gạch bỏ 2 số "0" ở tờ tiền cũ (1000 won trở thành 10 won). Người ta cho rằng việc đổi tiền này nhằm làm lộ ra lượng tài sản mà mỗi công dân có.
Khẩu phần thực phẩm, nhà ở, y tế và giáo dục được cung cấp miễn phí từ nhà nước và việc nộp thuế đã bị bãi bỏ từ ngày 01 tháng 4 năm 1974. Để tăng năng suất nông nghiệp và công nghiệp, kể từ những năm 1960 chính phủ Bắc Triều Tiên đã thử áp dụng một số hệ thống quản lý như hệ thống làm việc Taean. Hiện tại tăng trưởng GDP của CHDCNH Triền Tiên chậm nhưng ổn định. Mặc dù trong những năm gần đây tốc độ tăng trưởng đã dần dần tăng tốc lên với 3,7% trong năm 2008 tốc độ nhanh nhất trong gần một thập kỷ, phần lớn là do một sự tăng trưởng mạnh 8,2% trong lĩnh vực nông nghiệp.
Dựa trên các ước tính vào năm 2002 ngành chiếm ưu thế trong nền kinh tế Bắc Triều Tiên là ngành công nghiệp (43,1%) theo sau bởi các ngành dịch vụ (33,6%) và nông nghiệp (23,3%). Năm 2004 người ta ước tính rằng nông nghiệp sử dụng 37% lực lượng lao động trong khi ngành công nghiệp và dịch vụ sử dụng 63% còn lại.
Ngành công nghiệp chính bao gồm các sản phẩm quân sự, chế tạo máy, điện, hóa chất, khai thác mỏ, luyện kim, dệt may, chế biến thực phẩm và du lịch. Khai thác và chế biến quặng sắt cùng than là lĩnh vực mà Bắc Triều Tiên thực hiện tốt hơn nhiều so với người láng giềng Hàn Quốc phía nam - CHDCND Triều Tiên khai thác và sản xuất với sản lượng lớn hơn 10 lần cho mỗi loại hàng hóa. Từ năm 1999, Triều Tiên đã xác định những ngành kinh tế mũi nhọn cần phải tập trung thúc đẩy xây dựng là điện lực, khai thác than, công nghiệp luyện kim, vận tải đường sắt và chế tạo cơ khí, cố gắng giải quyết ba vấn đề lớn là tăng cường sản xuất điện, sản xuất công nghiệp ở trình độ cao và nâng cao mức sống của nhân dân. Triều Tiên xác định phải nhanh chóng nâng cao trình độ hiện đại hóa khoa học công nghệ, đổi mới công tác quản lý trong lĩnh vực này, tăng cường đầu tư cho khoa học công nghệ, tạo điều kiện sống và làm việc tốt nhất cho đội ngũ cán bộ khoa học kỹ thuật, có chiến lược đào tạo phát triển lực lượng này. Trước mắt là phát triển ngành sản xuất điện tử, sinh học, xây dựng các nhà máy tự động hóa và công nghiệp chế tạo máy vi tính. Lãnh đạo Triều Tiên kêu gọi các ngành tích cực áp dụng những thành tựu khoa học công nghệ tiên tiến nhất, đặc biệt công nghệ thông tin hiện đại trong các dây chuyền sản xuất khắp cả nước, được gọi là “Công nghệ cao hóa”.
Về nông nghiệp, năm 2005 FAO đã xếp Bắc Triều Tiên đứng hạng 10 trong sản lượng thu hoạch trái cây tươi và đứng thứ 19 về sản lượng táo. CHDCND Triều Tiên đứng thứ 18 trong các nước sản xuất sắt và kẽm nhiều nhất sau, hạng 22 về than. Ngoài ra Bắc Triều Tiên còn đứng hạng 15 về sản xuất fluorit, 12 về đồng và muối tại châu Á. Các nguồn tài nguyên thiên nhiên lớn khác trong sản xuất bao gồm chì, vonfram, than chì, magiê, vàng, pyrit, fluorit và thủy điện.
=== Nạn đói ===
Điều kiện tự nhiên của bán đảo Triều Tiên không thích hợp cho nông nghiệp: lượng mưa hàng năm thấp, mùa đông kéo dài trong khi đất canh tác ít, phần lớn diện tích là đồi núi. Không những Triều Tiên mà cả Hàn Quốc cũng luôn phải nhập khẩu lương thực để bù đắp thiếu hụt.
Thập niên 1990, Triều Tiên lâm vào nạn đói do thiên tai (một loạt lũ lụt và hạn hán) làm mất mùa. Thêm vào đó là việc quản trị kinh tế kém cỏi và mất được sự giúp đỡ của Liên Xô làm cho việc sản xuất thực phẩm và nhập cảng giảm rất nhanh chóng. Chính quyền Bắc Triều Tiên cho thấy quá cứng ngắt để có thể giảm bớt thảm họa Khi đó, Lý Quang Diệu đã từng nhận định: "Bắc Triều Tiên là một trong những quốc gia được cai trị tệ nhất thế giới, thất bại với cả những nghĩa vụ cơ bản nhất, ví dụ như đảm bảo cho người dân được đủ ăn." Ước tính nạn đói ở Bắc Triều Tiên đã làm chết khoảng 240.000 tới 3.500.000 người (dân số Bắc Triều Tiên khoảng 22 triệu người) trong thập niên 1990 với đỉnh cao là năm 1997 . Tới năm 1999, lương thực và cứu trợ nhân đạo đã làm ngưng số người chết vì nạn đói, nhưng việc Bắc Triều Tiên tiếp tục chương trình vũ khí hạt nhân dẫn tới giảm sút viện trợ quốc tế.
Mùa xuân năm 2005, Chương trình lương thực thế giới báo cáo rằng các điều kiện gây ra nạn đói là một mối nguy hiểm và đang quay trở lại Triều Tiên, và chính phủ đã thông báo tập hợp hàng triệu cư dân thành phố tới giúp đỡ những người nông dân. Tuy nhiên sau đó, chính phủ Triều Tiên báo rằng sản lượng lương thực 2005 đạt tới 1,6 triệu tấn (tăng 0,1% so với năm 2001), bội thu nhất trong 9 năm. Vào khoảng tháng 9 năm 2005, Triều Tiên từ chối nhận những viện trợ lương thực từ bên ngoài vì tuyên bố đã có thể tự lập và phát hiện nhiều nhóm cứu trợ là điệp viên phá hoại nền nông nghiệp của Triều Tiên.
Theo Tổ chức Ân xá quốc tế cáo buộc thì người dân Triều Tiên phải ăn cả cỏ dại, vỏ và rễ cây để sống qua ngày. Theo tổ chức này, trong khi chính phủ Bắc Triều Tiên không đủ khả năng nuôi sống dân chúng nhưng họ vẫn đang từ chối hợp tác toàn diện với cộng đồng quốc tế để nhận viện trợ lương thực. Hãng tin ABC News của Úc chiếu 1 đoạn video mà họ cho là từ "một nhà báo giấu tên" ở Bắc Triều Tiên, trong video có những trẻ em Bắc Triều Tiên mà họ cho là mồ côi vì cha mẹ chết đói hoặc bị bắt vào trại cải tạo. Đài này còn cho rằng hiện nay nạn đói đã lan đến quân đội của Bắc Triều Tiên, lực lượng thường được ưu tiên về lương thực. Đoạn video có một binh sĩ Bắc Triều Tiên cho biết trong 100 đồng chí của anh ta thì một nửa bị suy dinh dưỡng."Theo ABC News, những người dân thiếu đói đang phải lao động để hoàn tất một đường ray xe lửa dành riêng cho Kim Jong-un, người sắp kế vị cha mình. Cũng như những thông tin khác của phương Tây về Bắc Triều Tiên, tính xác thực của đoạn video không được kiểm chứng vì tính khép kín của đất nước này.
Tuy nhiên, Chương trình Lương thực Thế giới của Liên Hiệp Quốc (FAO) đã báo cáo rằng: dù suy dinh dưỡng và thực phẩm thiếu thốn là khá phổ biến tại Triều Tiên, nhưng người dân ở đây không hề bị nạn đói đe dọa. Theo con số của Chương trình Lương thực Thế giới, năm 2013 Triều Tiên đã nhập kho khoảng 5,93 triệu tấn lương thực và năm 2014 là 5,94 triệu tấn, đủ để cung ứng nhu cầu cơ bản của người dân. Nguyên nhân vụ thu hoạch kỷ lục xuất phát từ đường lối đúng đắn của ban lãnh đạo mới khi đề ra chủ trương thay đổi trong quản lý nông nghiệp từ năm 2012. Theo số liệu của FAO, năm 2012 Triều Tiên sản xuất được 2,7 triệu tấn gạo, 2 triệu tấn rau, 2 triệu tấn ngô và 1,8 triệu tấn khoai tây, đủ cho nhu cầu của 25 triệu dân nước này.
Bilai Dersa Gaga, Phó văn phòng đại diện Tổ chức Nông Lương Liên Hiệp Quốc (FAO) tại Bình Nhưỡng đã khẳng định Triều Tiên không có nạn đói trong bài phỏng vấn với hãng thông tấn Itar-Tass. Ông nhấn mạnh: "Ở Triều Tiên có nơi gặp tình trạng thiếu hụt lương thực nhưng tuyệt đối không có dấu hiệu của nạn đói". Ông Bilai cho biết, truyền thông phương Tây thường sử dụng các "nguồn tin giấu tên" khi đề cập đến nạn đói ở Triều Tiên, những dữ liệu vốn không đáng tin cậy và nhiều khi là bịa đặt, đồng thời khẳng định nhân viên FAO khi khảo sát tình trạng nông thôn Triều Tiên đã không phát hiện ra dấu hiệu của nạn đói.
Trên báo chí thế giới vẫn xuất hiện những tin tức kiểu như "Bắc Triều Tiên đối mặt với hạn hán" hay "mỗi người dân đất nước chỉ được một chén cơm hàng ngày". Các chuyên gia lưu ý rằng: việc thiếu thông tin về đời sống tại Triều Tiên đã àm lan truyền những tin tức dựa trên dữ liệu đã cũ. Năm 2014, nhà Triều Tiên học, Tiến sĩ Konstantin Asmolov nhấn mạnh:
Ở Triều Tiên, cảnh thiếu đói những năm 1990 đã không còn từ lâu. Quả là có một số vấn đề như thực phẩm tương đối đơn điệu, số lượng hạn chế, không phải lúc nào cũng đủ, nhưng đó không phải nạn đói. Hơn thế, nhờ loạt tổ hợp biện pháp mà năm ngoái Bắc Triều Tiên đã tự túc được thực phẩm. Họ ngày càng ít lệ thuộc vào viện trợ nhân đạo. Nhưng sự la lối rằng, người Bắc Triều Tiên đang chết vì đói, có động thái khiêu khích quân sự nhằm đòi viện trợ nhân đạo — là yếu tố không thể thiếu trong hoạt động tuyên truyền chống Bình Nhưỡng
== Văn hoá ==
Có một sự sùng bái cá nhân rộng rãi đối với Kim Nhật Thành và Kim Chính Nhật, và đa số văn học, âm nhạc đại chúng, nhà hát, phim ảnh ở Bắc Triều Tiên đều là để ca ngợi hai lãnh đạo, mặt khác nhiều tác phẩm cũng ca ngợi sự đi lên của xã hội mới, tình yêu thương giữa nhân dân và lãnh đạo.... ở Bắc Triều Tiên mọi người đều xem hai vị lãnh tụ Kim Nhật Thành và Kim Chính Nhật còn sống nên chỉ được phép viếng lãnh tụ bằng bó hoa và lẵng hoa. Tuyệt đối cấm viếng bằng vòng hoa vì họ quan niệm vật này chỉ có thể dành cho người đã chết. An ninh trong chuyện này cũng rất gắt gao, các cơ quan ngoại giao cũng không được phép mua và trực tiếp mang hoa đến viếng, mà chỉ có thể đặt tiền trước cho một cơ quan phục vụ chuyên trách. Hình ảnh và dấu ấn hai vị lãnh tụ Kim Nhật Thành và Kim Chính Nhật hiện diện khắp nơi trên đất nước. Ở nhiều địa danh hay những thiết chế lớn đều có bia biển rất lớn bằng bêtông ghi lại ngày tháng lãnh tụ từng ghé thăm. Đặc biệt là ở các quảng trường, ảnh lãnh tụ được treo ở vị trí trang trọng nhất giữa các kiến trúc chính. Để tạo nhiều điểm nhấn cho cả khu vực đô thị, người ta đắp cả ngọn đồi, xây bức tường lớn làm tranh hoành tráng về lãnh tụ.
Tháng 7 năm 2004, Quần thể kinh thành và lăng mộ Cao Câu Ly là địa điểm đầu tiên ở Bắc Triều Tiên được đưa vào danh sách Các di sản văn hoá thế giới của UNESCO.
Một sự kiện đại chúng ở Bắc Triều Tiên là thể dục đồng diễn. Màn đồng diễn lớn nhất gần đây được gọi là "Arirang". Nó được trình diễn sáu tối một tuần trong hai tháng và có hơn 100.000 người tham gia. Màn đồng diễn gồm nhảy múa, thể dục và múa kiểu ba lê để kỷ niệm lịch sử Bắc Triều Tiên và Đảng Lao động. Màn đồng diễn được tổ chức ở Bình Nhưỡng tại nhiều địa điểm (tuỳ theo tầm vóc của lễ hội theo từng năm) kể cả ở Nhà hát Lớn Mùng 1 Tháng 5. Lễ hội Arirang được tổ chức như để biểu dương sức mạnh của sự đồng lòng chung sức của người dân Triều Tiên. Đó cũng là lời nhắn nhủ rằng “đừng đi” trước tình trạng người dân rời miền Bắc chạy vào miền Nam kể từ ngày đất nước chia cắt.
Năm 2015, Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa Liên Hiệp Quốc quyết định đưa món kim chi đỏ (khác với món kim chi ở Hàn Quốc đã được công nhận vào năm 2013) vào danh sách danh sách đề cử chính thức di sản văn hóa phi vật thể thế giới.
=== Du lịch ===
Theo nguyên tắc, bất kỳ ai cũng được phép du lịch tới Bắc Triều Tiên, và những ai có thể hoàn thành quá trình làm thủ tục thì đều không bị Bắc Triều Tiên từ chối cho nhập cảnh. Khách du lịch không được đi thăm thú bên ngoài vùng đã được cho phép trước mà không được hướng dẫn viên người Triều Tiên cho phép nhằm tránh các điệp viên nằm vùng.
Những khách du lịch có hộ chiếu Hoa Kỳ nói chung đều không được cấp visa, dù vẫn có một số ngoại lệ từng xảy ra vào năm 1995, 2002, và 2005. Bắc Triều Tiên đã thông báo cho những nhà tổ chức du lịch rằng họ sẽ cấp visa cho những người mang hộ chiếu Hoa Kỳ vào năm 2006. Các công dân Hàn Quốc cần có giấy phép đặc biệt của cả hai chính phủ mới được vào Bắc Triều Tiên. Năm 2002, vùng xung quanh Kŭmgangsan (núi Kim Cương), một ngọn núi đẹp gần biên giới Hàn Quốc, đã được chỉ định làm một địa điểm du lịch đặc biệt Khu du lịch Kŭmgangsan, nơi các công dân Nam Triều Tiên không cần giấy phép đặc biệt. Các tour du lịch do các công ty tư nhân điều hành đã đưa hàng nghìn người dân ở miền nam bán đảo Triều Tiên tới núi Kim Cương hàng năm.
Tháng 7 năm 2005 công ty Hyundai của Hàn Quốc đã đạt được một thoả thuận với chính phủ Triều Tiên về việc mở cửa thêm nhiều khu du lịch, gồm cả núi núi Paektu (Bạch Đầu) và Kaesŏng (Khai Thành).
Ngày 11 tháng 7 năm 2008, một nữ du khách Hàn Quốc bị 1 lính Bắc Triều Tiên bắn chết tại khu nghỉ mát núi Kŭmgang của Bắc Triều Tiên. Chính quyền Seoul đã ngưng lại chương trình du lịch núi Kŭmgang và đưa ra yêu cầu điều tra vụ việc trước khi cho phép dự án được khởi động trở lại, nhưng Bắc Triều Tiên cho đến nay vẫn từ chối đáp ứng.
=== Điện ảnh ===
Hãng phim lớn nhất của Triều Tiên là Xưởng phim truyện Triều Tiên với một trường quay rộng khoảng 930.000 m² ở ngoại ô Bình Nhưỡng. Các hãng phim lớn khác ở Triều Tiên có thể kể tới Xưởng phim tài liệu Triều Tiên, Xưởng phim mùng 8 tháng 2 và Xưởng phim Khoa học và Giáo dục Triều Tiên (SEK Studio). Hãng SEK đã thực hiện các công đoạn sản xuất cho sê-ri phim hoạt hình của Mondo TV như King Lion Simba và Pocahontas. Năm 2005, SEK cũng là hãng phim Triều Tiên thực hiện dự án điện ảnh hợp tác đầu tiên của hai miền, đó là bộ phim hoạt hình Thẩm Thanh Vương hậu (왕후 심청, Wanghu Simcheong).
Do tính chất cô lập cao độ của chính quyền Triều Tiên nên thông tin về sự phát triển và các tác phẩm của nền điện ảnh nước này rất ít được thế giới biết tới. Trái lại, phim truyền hình của Hàn Quốc, đối thủ của Bắc Triều Tiên, được biết đến ở nhiều nước, đặc biệt ở các nước châu Á, và các diễn viên Hàn Quốc rất được yêu thích.
Ở Bắc Triều Tiên, xem phim Hàn Quốc là một tội nghiêm trọng. Tờ JoongAng Ilbo của Hàn Quốc còn loan tin rằng 10.000 người đã được triệu tập tới một sân vận động ở Wonsan để chứng kiến việc xử tử 8 phạm nhân bị kết tội xem các bộ phim truyền hình Hàn Quốc trái phép. Tuy nhiên, trang web tin tức Daily NK, trang chuyên về tin tức Triều Tiên lại cho biết họ không nhận được thông tin nào về vụ tử hình này. Rất có thể đây là một tin đồn vô căn cứ như nhiều tin khác do báo chí Hàn Quốc thêu dệt về quốc gia đối địch Triều Tiên.
== Giờ Bình Nhưỡng ==
Để đánh dấu 70 năm bán đảo Triều Tiên thoát khỏi ách thống trị của Đế quốc Nhật Bản (1910 – 1945). Quốc hội Triều Tiên thông qua việc đổi múi giờ UTC: + 9 lùi lại 30 phút thành múi giờ UTC + 8:30. Ngày 15-8-2015 Triều Tiên đã đánh dấu sự kiện này bằng cách đánh chuông tại Đài Thiên văn Bình Nhưỡng vào lúc nửa đêm. “Cùng lúc, tất cả cơ sở công nghiệp, xe lửa và tàu thuyền trên cả nước cũng hú còi, quân nhân phục vụ trong Quân đội Nhân dân Triều Tiên, các nhà khoa học và tất cả mọi người dân đều chỉnh lại đồng hồ theo giờ Bình Nhưỡng"
Trước khi bị Đế quốc Nhật Bản chiếm, Triều Tiên đã áp dụng múi giờ GMT+8:30 nhưng vào năm 1912. Đế quốc Nhật Bản đã cho thay đổi theo giờ chuẩn của nước này (UTC: + 9)
== Chương trình hạt nhân ==
Chính phủ Triều Tiên đã có một chương trình hạt nhân mà theo họ là đủ khả năng tạo ra bom hạt nhân, và họ đã 2 lần thử bom hạt nhân dưới lòng đất. Chương trình hạt nhân này thường gây ra tranh cãi trên bình diện quốc tế.
== Thống nhất và đối đầu ==
Bắc Triều Tiên có chủ trương thống nhất bán đảo Triều Tiên thông qua đàm phán hòa bình. Phía Triều Tiên đã đề xuất phương án Liên bang Koryo (Cao Ly) nhưng phía Hàn Quốc không chấp nhận. Tuy nhiên, với sự nghị kỵ sâu sắc của các bên, biện pháp đe dọa vũ lực bằng các cuộc tập trận của liên quân Mỹ - Hàn và thử vũ khí hạt nhân của Triều Tiên vẫn được coi là biện pháp hiệu quả nhất để giữ vững lệnh ngừng bắn từ Chiến tranh Triều Tiên.
Chương trình chế tạo vũ khí hạt nhân của Bắc Triều Tiên luôn gây lo ngại cho Hàn Quốc và nhiều nước láng giềng. Khi Nam Triều Tiên tuyên bố sẽ tấn công phủ đầu nhằm phá huỷ các cơ sở vũ khí hạt nhân nếu Bắc Triều Tiên tìm cách phát động một cuộc chiến tranh hạt nhân thì chính phủ Bắc Triều Tiên cũng đe doạ sẽ huỷ diệt Nam Triều Tiên.
"Mọi thứ sẽ tan thành tro bụi chứ không chỉ là một biển lửa một khi chúng ta ra đòn phủ đầu."
Hoặc gần đây họ tiếp tục đe dọa vì các nhà hoạt động xã hội Nam Triều Tiên thả truyền đơn chống đối qua biên giới, cũng như việc báo giới Nam Triều Tiên đăng tin sức khỏe nhà lãnh đạo Kim Jong-Il đang xấu đi.
"Những con rối Seoul cần nhớ rằng Triều Tiên có khả năng tấn công phủ đầu và hủy diệt mọi thứ, biến chúng thành tro bụi chứ không chỉ đẩy chúng vào biển lửa"
Lời đe dọa của Triều Tiên là có cơ sở khi phía Hàn Quốc từng tính toán rằng với số lượng Koksan (pháo) (tầm bắn 60 km với đạn tăng tầm) và pháo phản lực 240 mm mà Triều Tiên có, trong một phút nước này có thể bắn 10.000 quả đạn xuống Seoul và vùng phụ cận.
Vì theo Bình Nhưỡng khả năng tấn công phủ đầu của họ là "ngoài sức tưởng tượng và sức tàn phá còn mạnh hơn vũ khí nguyên tử".
Ngày 23 tháng 11 năm 2010, Quân đội Triều Tiên nã pháo vào Yeonpyeong của Hàn Quốc làm chết hai lính thủy, 16 lính khác và hơn mười người thường dân Hàn Quốc bị thương. Tuy nhiên, 2 bên đổ lỗi cho nhau là kẻ khiêu khích trước
== Xem thêm ==
Tổng hội người Triều Tiên tại Nhật Bản (Chongryon)
Danh sách quốc gia không được công nhận
== Chú thích ==
== Đọc thêm ==
Gordon Cucullu, Separated At Birth: How North Korea Became The Evil Twin, Globe Pequot Press (2004), hardcover, 307 pages, ISBN 1-59228-591-0 *Bruce Cumings, Korea's Place in the Sun: A Modern History, W.W. Norton & Company, 1998, paperback, 527 pages, ISBN 0-393-31681-5 *Bruce Cumings, Origins of the Korean War: Liberation and the Emergence of Separate Regimes, Princeton University Press, 1981, paperback, ISBN 0-691-10113-2
Nick Eberstadt, còn gọi là Nicholas Eberstadt, The End of North Korea, American Enterprise Institute Press (1999), hardcover, 191 pages, ISBN 0-8447-4087-X
John Feffer, North Korea South Korea: U.S. Policy at a Time of Crisis, Seven Stories Press, 2003, paperback, 197 pages, ISBN 1-58322-603-6
Kang, Chol-Hwan (2001). The Aquariums of Pyongyang. Basic Books, 2001. ISBN 0-465-01102-0.
Mitchell B. Lerner, The Pueblo Incident: A Spy Ship and the Failure of American Foreign Policy, University Press of Kansas, 2002, hardcover, 408 pages, ISBN 0-7006-1171-1
Bradley Martin, Under The Loving Care Of The Fatherly Leader: North Korea And The Kim Dynasty, St. Martins (October, 2004), hardcover, 868 pages, ISBN 0-312-32221-6
Oberdorfer, Don.The two Koreas: a contemporary history. Addison-Wesley, 1997, 472 pages, ISBN 0-201-40927-5
Kong Dan Oh, and Ralph C. Hassig, North Korea Through the Looking Glass, The Brookings Institution, 2000, paperback, 216 pages, ISBN 0-8157-6435-9
Quinones, Dr. C. Kenneth, and Joseph Tragert, The Complete Idiot's Guide to Understanding North Korea, Alpha Books, 2004, paperback, 448 pages, ISBN 1-59257-169-7
Sigal, Leon V., Disarming Strangers: Nuclear Diplomacy with North Korea, Princeton University Press, 199, 336 pages, ISBN 0-691-05797-4
Vladimir, Cyber North Korea, Byakuya Shobo, 2003, paperback, 223 pages, ISBN 4-89367-881-7
Norbert Vollertsen, Inside North Korea: Diary of a Mad Place, Encounter Books, 2003, hardcover, 280 pages, ISBN 1-893554-87-2
Michael Harrold, Comrades and Strangers: Behind the Closed Doors of North Korea, Wiley Publishing, 2004, paperback, 432 pages, ISBN 0-470-86976-3
== Liên kết ngoài ==
Những công trình đồ sộ ở CHDCND Triều Tiên
Danh sách các lãnh đạo Triều Tiên trên website của CIA
"Think Again: The Korea Crisis" from Foreign Policy Magazine
A gulag with nukes: inside North Korea by Jasper Becker
Bộ ảnh về nước CHDCND Triều Tiên
Bizarre Trip of a Lifetime from the Los Angeles Times, about a group of American "extreme travelers" who visited North Korea in the fall of 2005
Pyongyang Watch, an archive of Aidan Foster-Carter's coverage of North Korea for the Asia Times.
Peter Hayes, David von Hippel, Jungmin Kang, Tatsujiro Suzuki, Richard Tanter, and Scott Bruce, "Grid-locked," Bulletin of the Atomic Scientists, January/tháng 2 năm 2006. On North Korea's energy crisis.
"A Year in Pyongyang", by Andrew Holloway, 1988.
201 photos DPRK-2005
Triều Tiên tố Hàn Quốc nã đạn trước
=== Những liên kết tới Chính phủ CHDCND Triều Tiên ===
Kim Nhật Thành: 10 Point programme for reunification of the country
korea-dpr.com - Website officially associated with North Korea. (Maintained from a European server by the Korean Friendship Association.)
Naenara ("My country," in Korean) DPRK's Official Web Portal run by Korea Computer Company
The Korean Central News Agency, The DPRK's news service. - Hosted on a Nhật Bảnese webserver.
www.uriminzokkiri.com
=== Các website về CHDCND Triều Tiên ===
Ministry of unification (South Korea)
BBC News - Country Profile: North Korea
CIA World Factbook - North Korea
BBC News - In pictures: Unseen North Korea
Guardian Unlimited - Special Report: North and South Korea
Happy Birthday, North Korea - detailed account of travel to 3 sanctioned areas
Korean Tourist Map
NKzone blog about North Korea news
North Korea Resources - background news and analysis of North Korea
Open Directory Project - North Korea directory category
Pyongyang Metro System Unofficial Web Site - 1
Tours / Du lịch page of North Korea, with links to other North Korea related sites
Trading Ideals for Sustenance Second part of Los Angeles Times expose on changing North Korean life (4 tháng 7 năm 2005)
US Library of Congress - Country Studies: North Korea - data vào tháng 6 năm 1993
Congressional Research Service (CRS) Reports regarding North Korea
Children of a Secret State: Nhân quyền of children in North Korea (Discovery Channel)
North Korea: A Reporter's Notebook — Luis Ramirez (Voice of America)
Seoul Train PBS documentary on North Korean refugees, filmed in 2003 (Incite Productions)
Pyongyang Square
=== Các trang web chỉ trích CHDCND Triều Tiên ===
The Korea Liberator - Blog tập trung vào các điều kiện nhân quyền tại Bắc Triều Tiên
Another Korea - Những câu chuyện về Bắc Triều Tiên
Soon Ok Lee project - website kêu gọi sự đoàn kết của Thiên chúa giáo với những người tị nạn Bắc Triều Tiên.
Daily NK - Báo điện tử về các vấn đề thường nhật tại Bắc Triều Tiên
ChosunJournal - website tập trung vào nhân quyền tại Bắc Triều Tiên
Liên minh của công dân cho Nhân quyền tại Bắc Triều Tiên - Những lời chứng của người tị nạn
=== Các tài liệu về CHDCND Triều Tiên ===
Seoul Train Phim tài liệu về những người Bắc Triều Tiên tìm cách trốn chạy qua Trung Quốc 2004
The Hermit Kingdom Dan Rather 60 Minutes 02/06
"Trẻ em của Đất nước bí mật"
"a state of mind" Một phim tài liệu của BBC về hai vận động viên thể dục trẻ Bắc Triều Tiên tập luyện cho mass games. |
st helens, merseyside.txt | St Helens. Merseyside là một thành phố Anh. Dân số năm 2001 là 102.629 người (so với dân số năm 1991 là 106.293 người). Đây là một thành phố trong vùng đô thị Liverpool. Đây là khu định cư lớn nhất của quận trung tâm của St Helens với dân số hơn 100.000 người, một phần của một khu vực đô thị với tổng dân số 176.843 tại thời điểm điều tra dân số năm 2001. Thị trấn đã chính thức được thành lập như là một thành phố vào năm 1868 chịu trách nhiệm cho chính quyền của 4 thị trấn Ecclestone, Parr, Sutton và Windle, với trách nhiệm lớn hơn như một hạt thành lập vào năm 1887.
St Helens nằm ở phía viễn tây nam nam của quận lịch sử Lancashire, ở Tây Bắc nước Anh, 6 dặm (9,7 km) về phía bắc của sông Mersey. |
danh sách tập phim phineas và ferb.txt | Dưới đây là danh sách các tập phim của Phineas and Ferb:
== Tổng quát ==
== Danh sách tập phim ==
=== Mùa 1 (2007–09) ===
=== Mùa 2 (2009–11) ===
=== Mùa 3 (2011–12) ===
=== Mùa 4 (2012–15) ===
== O.W.C.A. Files ==
== Phim ==
== Tham khảo ==
== Liên kết ngoài ==
Bản mẫu:Bcdb
Danh sách các tập phim Phineas and Ferb tại TV.com |
đậu phụ mơ.txt | Đậu phụ là một món ăn bình dân, được làm từ đậu tương. Một miếng đậu truyền thống thường có màu trắng, sờ tay thấy mềm, trọng lượng xấp xỉ nửa lạng (~0,05 kg) dạng khối chữ nhật kích thước vào khoảng rộng 4 cm, dài 7 cm và dày hơn 2 cm. Mỗi địa phương tại Việt Nam lại có cách làm đậu phụ riêng, tuy nhiên đậu Mơ được làm tại làng Mai Động, nay thuộc quận Hoàng Mai, Hà Nội được cho là ngon hơn cả.
Tuy đậu được làm tại làng Mai Động nhưng vốn làng này thuộc Kẻ Mơ (gồm: Hoàng Mai, Thanh Mai, Bạch Mai, Mai Động, Mơ Táo...) nên đậu được gọi là đậu Mơ. Xuất xứ tên gọi này cũng giống với món cà Mơ nổi tiếng trong ẩm thực Hà thành (nay đã thất truyền) vốn là giống cà được trồng ở làng Hoàng Mai cũng thuộc Kẻ Mơ và nằm ngay sát làng Mai Động. Dấu vết của đơn vị hành chính Kẻ Mơ cũng lưu lại với tên gọi Chợ Mơ là một chợ nhỏ nằm trên ngã tư giao 2 phố Bạch Mai và Minh Khai tại Hà Nội cho đến ngày nay.
Quy trình làm đậu Mơ tại làng Mai Động được truyền từ đời này qua đời khác và phổ biến với tất cả các gia đình trong làng. Nhà ai cũng biết quy trình làm đậu phụ và trước đây có rất nhiều gia đình sống bằng nghề này. Người làm đậu thường dậy từ rất sớm, khoảng 3h sáng để bắt đầu công việc của mình theo trình tự:
== Xay và nấu đậu ==
Đậu tương vàng ngâm từ hôm trước được vo tróc lớp vỏ bên ngoài
Đậu vo xong được đưa vào xay trong cối đá để lấy nước cốt đậu. Quá trình xay đậu tương luôn được bổ sung thêm nước nên sau khi xay xong người ta thường thu được một lượng nước cốt đậu lớn.
Nước cốt đậu được cho vào một túi vải thô, thưa sợi dài khoảng 1 m có miệng rộng với đường kính khoảng 30 cm và vắt để lọc bớt chất xơ.
Sau quá trình vắt lọc bằng túi vải ta thu được bã đậu và nước đậu sống. Bã đậu là chất xơ thừa còn trong túi được vo thành khối tròn lớn, to bằng quả bưởi, dùng làm thức ăn cho lợn.
Nước đậu sống sau đó được đưa vào nấu chín bằng một chiếc chảo lớn, đường kính khoảng 1.2 m, đun bằng bếp than đá. Quá trình nấu đậu này là một trong những khâu then chốt quyết định chất lượng đậu phụ có ngon hay không. Nếu đậu chín non ăn sẽ không ngọt, nếu quá lửa đậu ăn sẽ có mùi khê, khét cũng không ngon.
Sau khi nước đậu được nấu chín tới, người ta đổ ra một cái chum đất lớn và để nguội bớt đến nhiệt độ khoảng 80 °C.
Nước đậu nóng được cho thêm nước chua làm kết tủa đậu tương thành dạng bánh mà dân làng làm đậu vẫn thường gọi là "óc đậu". Dạng kết tủa này trông khá giống với món óc lợn. Nước đậu từ màu trắng sữa sau quá trình kết tủa chuyển trong và có ánh vàng nhạt với từng đám óc đậu lơ lửng.
== Gói, nén, bóc đậu ==
Người ta vớt óc đậu nhẹ nhàng theo kiểu hớt từng lớp mỏng 1 cm bằng một chiếc thìa kim loại có dạng hình tròn, đáy lõm (giống phần cắt ra từ đáy mặt cầu) cho vào một chiếc khăn xô nhỏ để gói với khuôn gỗ. Khăn gói đậu là loại vải xô mềm, có nhiều lỗ cho phép nước thấm qua, khăn được đặt trên khuôn gói bằng gỗ dạng hộp đứng dài khoảng 45 cm, rộng 4 cm, cao 40 cm.
Khăn gói đậu thường được thấm ướt để dễ gói, người ta để khăn chéo, cho óc đậu vào, nâng lên đặt xuống cho óc đậu cân đều giữa khăn và vắt đầu khăn qua lại khuôn gỗ để gói đậu. Loại khuôn này vừa dùng để gói vừa dùng để ép (nén) đậu, nhìn bề ngoài giống 2 miếng gỗ hình chữ nhật được gắn vào nhau và để hở một khoảng đúng bằng chiều rộng của miếng đậu, khuôn có thể tháo lắp từng phần để thuận lợi cho quá trình nén và dỡ đậu ra.
Sau khi gói xong đậu được cho vào lòng khuôn. Một khuôn thường đặt được vào trong lòng khuôn 20 chiếc đậu một mẻ. Cách xếp đậu là theo 5 hàng, 4 chiếc một hàng từ cao xuống thấp, giữa các hàng là các thanh gỗ chèn nhỏ có dạng hình khối chữ nhật rộng 4 cm, dài 15 cm, dày 4 cm.
Đậu vào khuôn xong sẽ chuyển sang ép đậu. Cả khuôn được đặt lên một chiếc bàn gỗ nhỏ dài giống bàn là quần áo nhưng có xẻ 2 rãnh thoát nước nhỏ dọc 2 mép bàn và chụm vào giữa ở đầu bàn. Người ta bổ sung thêm một số thanh gỗ vào lòng khuôn và đè nặng lên những thanh gỗ để ép những chiếc đậu cho chảy hết nước chua ra. Lúc này từng chiếc đậu vẫn còn rất nóng. Thời gian ép đậu vào khoảng 30 phút để có được miếng đậu chắc bánh, thơm ngon.
Đậu ép xong được dỡ ra để nguội và bóc lớp "áo" vải xô. Quá trình này được gọi là lột đậu. Chiếc đậu thành phẩm vừa lột ra vẫn còn nóng hổi, được xếp lên sàng. Nếu bán ngay người ta sẽ mang thẳng ra chợ, còn để đến chiều bán thì đậu sẽ được thả vào nước lạnh để bảo quản. Người bán đậu thời kỳ những năm 80, 90 của thế kỷ 20 ở Hà nội thường gánh những thùng giống như thùng nước ra chợ là vậy.
Chế biến công phu, nhưng món đậu phụ xưa nay vẫn là một trong những món ăn bình dân nhất, cho dù trong thời kỳ nào thì người ta cũng chỉ cần dùng những đơn vị tiền nhỏ như "trăm đồng" ngày nay (2006) để mua một bìa đậu (cách gọi dân gian của miếng đậu).
Đậu phụ nóng, mới có thể ăn luôn không cần chế biến, thường được chấm với mắm tôm, mắm tép hoặc nước mắm tỏi. Tuy nhiên, cách ăn phổ biến nhất vẫn là đậu rán, người ta rán đậu trong mỡ sôi già để có miếng đậu với lớp vỏ vàng, ròn và ngậy. Đậu rán có thể ăn với cơm hoặc bún. Món bún đậu mắm tôm với rau kinh giới là món ăn rẻ, ngon và hấp dẫn rất nhiều người.
== Xem thêm ==
== Tham khảo ==
== Liên kết ngoài == |
thuộc địa.txt | Trong chính trị và lịch sử, thuộc địa là một vùng lãnh thổ chịu sự cai trị trực tiếp về chính trị của một quốc gia khác. Trong thời kỳ cổ đại, các thành bang thường có xu hướng tìm cho mình các thuộc địa riêng. Một số thuộc địa trong lịch sử từng là một hay nhiều quốc gia, trong khi một số khác là những vùng địa hạt không xác định được thời điểm hình thành quốc gia hay không phải là một quốc gia. Quốc gia hay đế chế sở hữu thuộc địa được gọi là mẫu quốc, đây cũng là tên thường được người dân của thuộc địa hay gọi. Trong thời Hy Lạp cổ đại, thành phố sở hữu một thuộc địa được gọi là thủ phủ của đế chế chịu sự ảnh hưởng chính trị của chính nó. Ngày nay, những thuật ngữ tương đương như lãnh thổ phụ thuộc hay vùng phụ thuộc thường hay được dùng để chỉ những lãnh thổ chịu sự ảnh hưởng chính trị của nước khác.
Những người có nguồn gốc từ một mẫu quốc cư trú và làm việc tại thuộc địa của nước đó được gọi là thực dân.
Thuộc địa khác với quốc gia bù nhìn hay nước chư hầu vì thuộc địa không độc lập nên không có đại diện quốc tế, và những chức trách cao nhất đều chịu sự chỉ đạo trực tiếp từ mẫu quốc.
Thuật ngữ "thuộc địa không chính thức" được dùng bởi một số nhà sử học để gọi một quốc gia chịu sự cai trị theo kiểu de facto của một quốc gia khác, mặc dù cách gọi này thường dễ gây tranh cãi
== Tham khảo ==
== Liên kết ngoài ==
Non-self governing territories as listed by the United Nations General Assembly in 2002 |
cúp bóng đá liên lục địa.txt | Cúp bóng đá liên lục địa (Tên tiếng Anh: Intercontinental Cup), trước đây gọi là Cúp châu Âu/Nam Mỹ và Toyota Cup 1980-2004 vì lý do được tài trợ bởi hãng xe hơi Toyota. Giải đấu này được khai sinh vào năm 1960, lúc đầu chỉ là trận đấu giữa đương kim vô địch châu Âu (Champions League) và đương kim vô địch Nam Mỹ (Copa Libertadores). Từ năm 1980 giải đấu do Nhật Bản tổ chức (còn gọi là Toyota cup). Từ năm 2005 FIFA khai sinh ra giải đấu vô địch thế giới các câu lạc bộ FIFA Club World Cup để thay thế cho cúp liên lục địa.
Bàn thắng đầu tiên trong lịch sử các trận chung kết Cup Liên lục địa thuộc về huyền thoại người Hungary, Ferenc Puskas của Real Madrid. Chân sút hay nhất trong lịch sử các trận Chung kết Cúp Liên lục địa là Vua bóng đá Pelé. Pelé đã ghi 7 bàn vào lưới Benfica và Milan khi ông thi đấu cho Santos FC vào các năm 1962 và 1963. and some European Champions Club' winner teams withdrew.
Tất cả các đội giành chiến thắng được gọi là: "Câu lạc bộ vô địch thế giới". Nhà vô địch đầu tiên đó là Real Madrid của Tây Ban Nha khi đánh bại đội bóng Peñarol của Uruguay năm 1960. Đội bóng vô địch giải đấu cuối cùng đó là Porto của Bồ Đào Nha khi đánh bại đội bóng Once Caldas của Colombia sau loạt sút luân lưu năm 2004.
== Những kết quả ==
=== Chú thích ===
a Juventus thắng 4-2 trên chấm phạt đền
b Nacional thắng 7-6 trên chấm phạt đền
c Nhà vô địch châu Âu Marseille đã bị đình chỉ do một trận đấu scandal hối lộ
d Ajax thắng 4-3 trên chấm phạt đền
e Boca Juniors giành chiến thắng 3-1 trên chấm phạt đền
f Porto thắng 8-7 trên chấm phạt đền
== Thống kê ==
=== Đối với câu lạc bộ ===
Năm đội đã giành được danh hiệu ba lần: Boca Juniors (1977, 2000, 2003), Milan (1969, 1989, 1990), Nacional (1971, 1980, 1988), Peñarol (1961, 1966, 1982), và Real Madrid (1960, 1998, 2002).
=== Đối với Quốc gia ===
=== Bởi Liên đoàn ===
=== Đối với Huấn luyện viên ===
Carlos Bianchi giành được ba chức vô địch với tư cách là huấn luyện viên: 1 với Vélez Sársfield năm 1994 và 2 với Boca Juniors năm 2000 và năm 2003.
Luis Cubilla và Juan Mujica cả hai ông đều là người Uruguay giành chức vô địch với tư cách cầu thủ và huấn luyện viên:
Luis Cubilla (Cầu thủ của Peñarol năm 1961 và Nacional năm 1971; làm huấn luyện viên Olimpia năm 1979)
Juan Mujica (Cầu thủ của Nacional năm 1971 và làm huấn luyện viên năm 1980)
=== Đối với cầu thủ ===
Alessandro Costacurta và Paolo Maldini tham dự 5 lần giải đấu, tất cả với Milan (1989, 1990, 1993, 1994, 2003).
Estudiantes (1968, 1969 và 1970) và Independiente (1972, 1973 và 1974) tham dự 3 năm liên tiếp. Trong số các đội này một vài cầu thủ đã chơi ba năm, bao gồm: Carlos Salvador Bilardo và Juan Ramón Verón.
=== Cầu thủ xuất sắc nhất trận chung kết ===
Kể từ năm 1980
== Xem thêm ==
Copa Libertadores
UEFA Champions League
== Tham khảo ==
== Liên kết ngoài ==
UEFA website
International Clubs Cup – The Rec.Sport.Soccer Statistics Foundation |
phước trung, bà rịa.txt | Phước Trung là một phường thuộc thành phố Bà Rịa, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, Việt Nam.
Phường Phước Trung có diện tích 6,08 km², dân số năm 2005 là 6322 người, mật độ dân số đạt 1040 người/km².
== Chú thích ==
== Tham khảo == |
thể thao đồng đội.txt | Thể thao đồng đội bao gồm bất kì một môn thể thao có sự tham gia của nhiều người làm việc cùng nhau hướng tới một mục tiêu chung. Một môn thể thao đồng đội là một hoạt động mà trong đó các cá nhân được phân vào các đội là đối thủ của nhau để cuối cùng tìm ra đội chiến thắng. Các ví dụ tiêu biểu là bóng rổ, bóng chuyền, bóng nước, bóng ném, bóng vợt, cricket, bóng chày, và các loại hình khác nhau của bóng đá (football) và khúc côn cầu.
== Tổng quan ==
Trong các môn thể thao đồng đội cấc đội sẽ thi đấu với nhau. Tại đây những người tham gia thi đấu sẽ tác động qua lại một cách trực tiếp và đồng thời lên nhau để đạt được mục đích nào đó. Một trong những mục đích là những người trong cùng đội sẽ cố gắng điều chỉnh đường di chuyển của một quả bóng hay vật tương tự sao cho phù hợp với luật lệ để ghi điểm.
Một số môn có cách thức thực hiện mục đích khác như bơi lội, rowing, đua thuyền buồm, đua thuyền truyền thống và điền kinh (hay track and field). Một số loại hình thể thao đồng đội không cần đối thủ hay tính điểm, ví dụ như leo núi. Thay vào đó độ khó tương đối của việc leo trèo hay đường đi mới là thước đo thành tích.
Ở một số môn mà các bên tham gia là một đội, các thành viên trong đội không chỉ thi đấu với các thành viên đối thủ khác mà còn thi đấu với nhau vì mục đích xếp hạng. Ví dụ tiêu biểu là các môn motorsport, đặc biệt là Formula One. Tuy nhiên trong đua xe đạp các thành viên ngoài cạnh tranh với nhau còn cần phải hỗ trợ một người khác, thường là một thành viên có khả năng về đích tốt nhất. Qua trình này được gọi là mệnh lệnh đội đua (team order) và đã bị cấm trong đua công thức 1 từ năm 2002 tới 2010. Sau tranh cãi liên quan tới mệnh lệnh đội đua tại Giải đua ô tô Công thức 1 Đức 2010, luật bị dỡ bỏ cho tới mùa giải 2011.
== Các môn thể thao đồng đội Thế vận hội ==
Hiện tại có bảy môn thể thao đồng đội tại Thế vận hội Mùa hè. Việc cricket có được xuất hiện tại Thế vận hội Mùa hè 2024 hay không phụ thuộc vào quyết định của Hội đồng cricket quốc tế và các thành viên. Một giải cricket được tổ chức tại Thế vận hội 1900, mặc dù chỉ có một trận đấu được diễn ra giữa Vương quốc Anh và Pháp. Tuy nhiên đội Anh thực tế là một câu lạc bộ còn các cầu thủ Pháp gồm nhiều cầu thủ người nước ngoài đang sống tại Paris.
Khúc côn cầu trên băng, xe trượt lòng máng và bi đá trên băng là các môn thể thao tại Thế vận hội Mùa đông, trong đo nội dung nam của trượt lòng máng có hai nội dung nhỏ dành cho xe bốn và hai người, nhưng nội dung nữ chỉ giới hạn cho xe hai người.
Tất cả các môn Thế vận hội đều có nội dung của nam và nữ.
== Xem thêm ==
Thể thao cá nhân
== Tham khảo ==
Chú thích
Sách
Baofu, Peter (ngày 17 tháng 10 năm 2014). The Future of Post-Human Sports: Towards a New Theory of Training and Winning. Cambridge Scholars Publishing. ISBN 978-1-4438-6993-5.
Barber, Gary (ngày 1 tháng 12 năm 2006). Getting Started in Track and Field Athletics: Advice & Ideas for Children, Parents, and Teachers. Trafford Publishing. ISBN 978-1-4122-3847-2.
Filppu, Lucy, The Benefits of Team Sports, truy cập ngày 13 tháng 11 năm 2010
Dyer, William; Dyer Jr., William; Dyer, Jeffrey (2007). Team Building: Proven Strategies for Improving Team Performance. San Francisco, Ca.: Jossey-Bass. ISBN 978-0-7879-8893-7.
Hanlon, Thomas (2009). The Sports Rules Book: Essential Rules, Terms, and Procedures for 54 Sports. Champaign, Il: Human Kinetics. ISBN 0-88011-807-5.
Hiltscher, Julia; Scholz, Tobias M. (ngày 6 tháng 10 năm 2015). eSports Yearbook 2013/14. BoD – Books on Demand. ISBN 978-3-7386-4981-9.
Metzl, Jordan; Shookhoff, Carol, Personal Benefits, Bản gốc lưu trữ ngày 27 tháng 9 năm 2010, truy cập ngày 13 tháng 11 năm 2010
Oak, Manali, List of Olympic Sports, truy cập ngày 14 tháng 11 năm 2010 |
vườn quốc gia cúc phương.txt | Vườn Quốc gia Cúc Phương (hay rừng Cúc Phương) là một khu bảo tồn thiên nhiên, khu rừng đặc dụng nằm trên địa phận ranh giới 3 khu vực Tây Bắc, châu thổ sông Hồng và Bắc Trung Bộ thuộc ba tỉnh: Ninh Bình, Hòa Bình, Thanh Hóa. Vườn quốc gia này có hệ động thực vật phong phú đa dạng mang đặc trưng rừng mưa nhiệt đới. Nhiều loài động thực vật có nguy cơ tuyệt chủng cao được phát hiện và bảo tồn tại đây. Đây cũng là vườn quốc gia đầu tiên tại Việt Nam.
== Lịch sử - Địa lý ==
Vườn quốc gia Cúc Phương là một địa điểm khảo cổ. Các di vật của người tiền sử có niên đại khoảng 12.000 năm đã được phát hiện như mồ mả, rìu đá, mũi tên đá, dao bằng vỏ sò, dụng cụ xay nghiền... trong một số hang động ở đây chứng tỏ con người đã từng sinh sống tại khu vực này từ 7.000 đến 12.000 năm trước. Năm 1960, rừng Cúc Phương được công nhận là khu bảo tồn rừng và được thành lập theo Quyết định 72/TTg ngày 7 tháng 7 năm 1962 với diện tích 20.000 ha đánh dấu sự ra đời khu bảo vệ đầu tiên của Việt Nam. Quyết định số 18/QĐ-LN ngày 8 tháng 1 năm 1966 chuyển hạng lâm trường Cúc Phương thành VQG Cúc Phương. Quyết định số 333/QĐ-LN ngày 23 tháng 5 năm 1966 quy định chức năng và trách nhiệm của Ban quản lý rừng. Ngày 9 tháng 8 năm 1986, Cúc Phương được nêu trong danh sách các khu rừng đặc dụng theo Quyết định số 194/CT của Chính phủ Việt Nam với phân hạng quản lý là Vườn quốc gia diện tích 25.000 ha. Luận chứng kinh tế-kỹ thuật của vườn quốc gia được phê duyệt ngày 9 tháng 5 năm 1988 theo Quyết định số 139/CT. Trong đó, ranh giới của vườn được xác định lại với tổng diện tích là 22.200 ha, bao gồm 11.350 ha thuộc địa giới tỉnh Ninh Bình, 5.850 ha thuộc địa giới tỉnh Thanh Hóa và 5.000 ha thuộc địa giới tỉnh Hòa Bình. Toạ độ rừng: Từ 20°14' tới 20°24' vĩ bắc, 105°29' tới 105°44' kinh đông.
Vườn quốc gia Cúc Phương được thành lập theo Quyết định số 72/TTg ngày 07/7/1962 của Thủ tướng Chính phủ và Quyết định số 139/CT ngày 09/5/1998 của Chính phủ. Vườn thuộc địa giới hành chính của ba tỉnh: Ninh Bình (hầu hết xã Cúc Phương, một phần xã Kỳ Phú, Văn Phương, Yên Quang của huyện Nho Quan), Thanh Hóa (phần lớn núi đá vôi, núi đất, thung lũng các xã Thạch Lâm, Thạch Yên, Thành Mỹ, Thành Yên của huyện Thạch Thành), Hoà Bình (toàn bộ rừng núi đá vôi các xã Lạc Thịnh, Yên Lạc, Phú Lai, Yên Trị, Ngọc Lương của huyện Yên Thủy, xã Yên Nghiệp, Ân Nghĩa thuộc huyện Lạc Sơn).
== Địa hình - Thủy văn ==
Cúc Phương nằm ở phía đông nam của dãy núi Tam Điệp, một dãy núi đá vôi chạy từ tỉnh Sơn La ở hướng tây bắc. Dải núi đá vôi này với ưu thế là kiểu karst tự nhiên, hình thành trong lòng đại dương cách đây khoảng 200 triệu năm. Dãy núi này nhô lên đến độ cao 636 m tạo thành một nét địa hình nổi bật giữa một vùng đồng bằng. Phần dãy núi đá vôi bao quanh vườn quốc gia có chiều dài khoảng 25 km và rộng đến 10 km, ở giữa có một thung lũng chạy dọc gần hết chiều dài của dãy núi. Địa hình karst ảnh hưởng rõ nét đến hệ thống thủy văn của Cúc Phương. Phần lớn nước trong vườn quốc gia bị hệ thống các mạch nước ngầm hút rất nhanh, nước sau đó thường chảy ra ở những khe nhỏ ở bên hai sườn của vườn quốc gia. Do vậy, không có các ao hồ tự nhiên hay các thủy vực tĩnh nằm trong vườn, mà chỉ có một dòng chảy thường xuyên là sông Bưởi. Con sông này nằm ở phía tây của vườn, chảy đổ vào sông Mã. Rừng Cúc Phương còn đóng vai trò bảo vệ đầu nguồn hồ chứa nước Yên Quang. Hồ cung cấp nước cho sinh hoạt và sản xuất nông nghiệp các vùng lân cận.
== Đa dạng sinh học ==
=== Thực vật ===
Trong đó ngành quyết thực vật có 31 họ, 57 chi, 149 loài; ngành hạt trần có 3 họ, 3 chi và 3 loài; ngành hạt kín có 154 họ, 747 chi và 1588 loài. Với diện tích chỉ bằng 1/700 diện tích miền Bắc và gần 1/1500 diện tích của cả nước nhưng hệ thực vật Vườn quốc gia Cúc Phương chiếm tỷ lệ 76% số họ, 48,6% số chi và 30% số loài của miền Bắc và chiếm 68,9% số họ, 43,6% số chi và 24,6% số loài hiện có ở Việt Nam. Thảm thực vật Cúc Phương với ưu thế là rừng trên núi đá vôi. Rừng có thể hình thành nên nhiều tầng tán đến 5 tầng rõ rệt, trong đó tầng vượt tán đạt đến độ cao trên 40 m. Do địa hình dốc, tầng tán thường không liên tục và đôi khi sự phân tầng không rõ ràng. Nhiều cây rất phát triển hệ rễ bạnh vè để đáp ứng với tầng đất mặt thường mỏng. Vườn quốc gia hiện là nơi có nhiều loài cây gỗ lớn như chò xanh, chò chỉ hay đăng , hiện đang được bảo vệ để thu hút du khách tham quan. Đây cũng là nơi phong phú về các cây gỗ và cây thuốc.
Cúc Phương có hệ thực vật phong phú. Hiện nay, các nhà khoa học đã thống kê được gần 2.000 loài thực vật có mạch thuộc 887 chi trong 221 họ thực vật. Các họ giàu loài nhất trong hệ thực vật Cúc Phương là các họ Đại kích, Hòa thảo, Đậu, Thiến thảo, Cúc, Dâu tằm, Nguyệt quế, Cói, Lan và Ô rô . Khu hệ thực vật ở Cúc Phương là tập hợp yếu tố địa lý thực vật bao gồm Trung Quốc-Himalaya, Ấn Độ-Myanma và Malesia. Đến nay, đã có 3 loài thực vật có mạch đặc hữu được xác định cho hệ thực vật Cúc Phương là hồ trăn Cúc Phương, mua Cúc Phương và cui Cúc Phương . Vườn quốc gia Cúc Phương cũng được xác định là một trong 7 trung tâm đa dạng thực vật của Việt Nam. Vườn có diện tích 22.000ha, trong đó 3/4 là núi đá vôi cao từ 300 đến 600m so với mặt biển. Tại đây có đỉnh Mây Bạc cao 648,2m.
Khí hậu ở Cúc Phương thuộc loại khí hậu nhiệt đới gió mùa, nhiệt độ trung bình năm khoảng 24,7 °C. Địa hình phức tạp, rừng ở dạng nguyên sinh chứa nhiều bí ẩn, và cảnh quan độc đáo. Tại đây có rất nhiều hang động với cảnh quan kỳ thú và ẩn chứa những chứng tích văn hoá lịch sử lâu đời như động Trăng Khuyết, động Chúa, động Thuỷ Tiên, động Người Xưa, hang Con Moong, động San Hô...
Trong vườn còn có suối nước nóng 38 °C]. Hệ thực vật rất phong phú với 1.944 loài thuộc 908 chi và 229 họ. Đặc biệt có cây chò xanh, cây sấu cổ thụ đều trên dưới 1.000 năm tuổi, cao từ 50-70m. Riêng hoa phong lan có tới 50 loài, có loài cho hoa và hương thơm quanh năm. Hiện nay,vườn quốc gia Cúc Phương đã trở thành một trung tâm cung cấp các loài thực vật quý hiếm, có giá trị kinh tế cao phục vụ cho các chương trình trồng rừng trong khu vực và trên cả nước. Nơi đây đã có những khu gây giống tự nhiên đạt kết quả cho các loài chò chỉ, chò xanh, kim giao... Trong tương lai vườn còn xây dựng và mở rộng thêm cơ sở thực nghiệm để cung cấp giống nhiều loài cây thuốc, cây cảnh quý hiếm cho những nơi có nhu cầu.
=== Động vật ===
Rừng Cúc Phương có hệ sinh thái khá phong phú và đa dạng, gồm 97 loài thú (trong đó nổi bật nhất là các loài khỉ châu Á), 137 loài chim, 76 loài bò sát, 46 loài lưỡng cư, 11 loài cá và hàng ngàn loài côn trùng. Nhiều loài nằm trong Sách đỏ Việt Nam.
Cúc Phương là nơi sinh sống của một số quần thể thú quan trọng về mặt bảo tồn, trong đó có loài linh trưởng đang bị đe dọa tuyệt chủng trên toàn cầu ở mức đe dọa cực kỳ nguy cấp là voọc quần đùi trắng và loài sẽ bị nguy cấp trên toàn cầu là Cầy vằn , loài báo hoa mai là loài bị đe dọa ở mức quốc gia. Cúc Phương cũng có hơn 40 loài dơi đã được ghi nhận tại đây.
Đến nay, đã có 313 loài chim được xác định ở Cúc Phương. Cúc Phương nằm tại vị trí tận cùng phía bắc của vùng chim đặc hữu vùng đất thấp Trung Bộ, tuy nhiên, chỉ có một loài có vùng phân bố giới hạn được ghi nhận tại đây là khướu mỏ dài . Cúc Phương được công nhận là một vùng chim quan trọng tại Việt Nam.
Nhiều nhóm sinh vật khác cũng đã được điều tra, nghiên cứu ở Cúc Phương trong đó có ốc. Khoảng 111 loài ốc đã được ghi nhận trong một chuyến điều tra gần đây trong đó có 27 loài đặc hữu. Khu hệ cá trong các hang động ngầm cũng đã được nghiên cứu, ít nhất đã có một loài cá được ghi nhận tại đây là loài đặc hữu đối với vùng núi đá vôi, đó là Cá niết hang Cúc Phương. Cúc Phương đã xác định được 280 loài bướm, 7 loài trong số đó lần đầu tiên được ghi nhận ở Việt Nam tại Cúc Phương vào năm 1998.
== Các điểm du lịch ==
VQG Cúc Phương là một địa điểm du lịch nổi tiếng về sinh thái, môi trường. Cúc Phương thu hút khoảng vài trăm nghìn lượt khách hàng năm. Du khách đến đây để khám phá hệ động thực vật phong phú, chiêm ngưỡng cảnh quan thiên nhiên đẹp, tham gia các chương trình du lịch sinh thái, nghỉ dưỡng, lửa trại, mạo hiểm, nghiên cứu và văn hóa lịch sử. Trung tâm vườn đặt tại xã Cúc Phương, Nho Quan, Ninh Bình. Trong khuôn viên rừng có một số tuyến điểm du lịch sau:
=== Các trung tâm bảo tồn ===
Vườn thực vật Cúc Phương: là khu vực được xây dựng nhằm sưu tập gây trồng các loài cây quý hiếm của Cúc Phương, Việt Nam và Thế giới. Đây là một trong ba vườn thực vật tầm cỡ của thế giới theo danh sách được công bố năm 1997. Tuyến đường thăm vườn dễ dàng, với quãng đường đi bộ là 3 km.
Trung tâm du khách Cúc Phương: được xây dựng do tổ chức AusAid và FFI tài trợ và đây cũng là Trung tâm giáo dục du khách đầu tiên được thành lập ở Đông Dương. Đây là điểm tham quan và cũng là nơi làm thủ tục cần thiết trước khi vào thăm rừng.
Trung tâm cứu hộ, bảo tồn và phát triển sinh vật: Cứu hộ, bảo tồn và phát triển các loài động thực vật hoang dã quý hiếm đang bị đe dọa nguy cấp ở Việt Nam; nghiên cứu tập tính, sinh lý, sinh sản trong nuôi nhốt các loài động vật hoang dã quý hiếm phục vụ công tác bảo tồn và phát triển; sưu tập, gây trồng bảo tồn nguồn gen và tạo giống các loài thực vật quý hiếm của Việt Nam.
Trung tâm cứu hộ thú Linh Trưởng Cúc Phương: có nhiệm vụ cứu hộ từng cá thể các loài thú Linh Trưởng quý hiếm (Voọc mông trắng, Voọc Hà Tình, Voọc đen tuyền, Voọc Lào, Voọc Cát Bà, Voọc Chà vá chân xám…) từ tịch thu bắt giữ; thả động vật về với tự nhiên; nghiên cứu về thú Linh Trưởng như việc tìm kiếm thức ăn, tập tính sinh hoạt, môi trường, không gian sống.
Chương trình Bảo tồn Thú ăn thịt và Tê tê hoạt động nhằm góp phần bảo tồn quần thể thú ăn thịt và tê tê hoang dã bị đe dọa ở Việt Nam. Chương trình tập trung Cứu hộ những cá thể thú ăn thịt nhỏ và Tê tê từ việc buôn bán động vật hoang dã trái phép; Cải thiện kỹ năng bảo tồn cho kiểm lâm và sinh viên và Điều tra thực địa nhằm tìm hiểu về sự phân bố và sinh thái đối với hai nhóm loài này tại những khu bảo tồn trọng điểm của Việt Nam.
Chương trình bảo tồn rùa chăm sóc hơn 600 cá thể của 19 loài trên tổng số 25 loài rùa cạn và rùa nước ngọt của Việt Nam. Đã cho sinh sản thành công 15 loài trong điều kiện nuôi nhốt, đã tiến hành thả hàng trăm cá thể rùa sau khi được cứu hộ và chăm sóc sức khỏe trở lại vùng phân bố của chúng trong tự nhiên. Kết hợp với Chương trình bảo tồn rùa châu Á (ATP), Trung tâm giáo dục thiên nhiên Việt Nam (ENV), hàng năm Chương trình tiến hành tổ chức những khóa tập huấn về lĩnh vực bảo tồn rùa cho các Chi cục kiểm lâm và kỹ năng nghiên cứu thực địa cho sinh viên các trường đại học.
Bảo tàng Cúc Phương là địa điểm nghiên cứu, tham khảo mẫu vật quan trọng cho học sinh, sinh viên, các chuyên gia về bảo tồn, thực vật, động vật tham quan và học tập. Bảo tàng Cúc Phương có vị trí trong khuôn viên của Vườn Quốc gia Cúc Phương. Bảo tàng đã được xây dựng mới phục vụ công tác lưu trữ và bảo quản mẫu như: côn trùng, bướm, xén tóc, chuồn chuồn, ve sầu, bọ que, chim, các loài thú khác như gấu, báo, khỉ, voọc,... Bảo tàng Cúc Phương đang lưu giữ hơn 50 mẫu khảo cổ học trong đó có mẫu dương bản Bò sát răng phiến có niên đại 230 - 250 triệu năm trước. Bảo tàng Cúc Phương hiện đang lưu giữ 122 mẫu ngâm, 82 mẫu động vật, 2900 mẫu côn trùng các loại, hơn 12.000 mẫu tiêu bản thực vật.
=== Các hang động tiền sử ===
Động Người Xưa: là một di tích cư trú và mộ táng của người tiền sử, là trang văn hoá độc đáo trong lịch sử phát triển của nhân loại và là một di sản quý giá nằm trong đối tượng bảo vệ của rừng Cúc Phương.
Hang Con Moong: nằm gần sông suối, khu vực có hệ động vật, thực vật phong phú, đa dạng vì vậy đã được người cổ chọn làm nơi cư trú lâu dài. Hang rộng và dài, có 2 cửa thông nhau. Hang Con Moong có địa tầng văn hoá khá dày, có cấu tạo rất phức tạp, có sự đan xen kế tiếp nhau của đất sét, vỏ nhuyễn thể và các vệt tro than.
Hang Mang Chiêng: là di tích mộ táng của cư dân thời đại Đá mới có tổ hợp công cụ đá gần với văn hóa Hòa Bình, chứa nhiều hiện vật, di cốt động vật, di cốt người.
Động Trăng Khuyết nằm sâu trong rừng, từ trong cửa động nhìn ra ngoài là hình trăng khuyết.
Động Sơn Cung: là hang động nằm trên tuyến tham quan cây chò ngàn năm.
Động Phò Mã: là hang động đẹp với nhiều nhũ đá tự nhiên. Để vào động phải đi qua hồ Yên Quang 3, vượt qua thung lũng và núi đá.
Động Thủy Tiên được tạo nên do hoạt động núi đá vôi, có nét đẹp được cho là giống cung vua Thủy Tề với những tiên nữ dưới nước.
=== Các cây cổ thụ đặc trưng ===
Cây đăng cổ thụ: là một cây đại thụ cao 45m, đường kính tới 5m và có bộ rễ nổi trên mặt đất chạy dài chừng 20m. Từ cổng theo đường ô tô, qua động Người Xưa chừng 2 km, phía bên trái là đường dẫn đến cây đăng cổ thụ dài 3 km. Vượt qua 5 dốc đá, với nhiều quần xã thực vật. Đó là cây bảy lá một hoa (thất diệp nhất chi hoa); là những dây leo thân gỗ đường kính 20–30 cm dài khoảng 100m, chỉ có ở Cúc Phương. Trên đường tới cây đăng có thể quan sát những loài chim quý như nuốc bụng đỏ, gõ kiến đầu đỏ, gà lôi trắng hoặc thú như đon, sóc đen, sóc bụng đỏ, voọc mông trắng...
Cây chò ngàn năm: là cây đại thụ cao 45m, đường kính 5m và có chu vi hơn 20 người ôm mới hết. Từ trung tâm theo một con đường mòn trong rừng già để đến cây chò. Du khách sẽ gặp trên đường dây leo bàm bàm khổng lồ với đường kính gốc 0,5m, chạy dài 1 km vắt ngang rừng và loài Đa bóp cổ. Hạt đa nảy mầm trên các hốc cây khác. Khi rễ của chúng đã bám đất phát triển rất nhanh, dần bóp chết cây chủ. Du khách còn được chiêm ngưỡng những cây Chò chỉ cao tới 70m, thân thẳng, tròn đều. Thời gian cả đi và về cho tuyến này hết gần 3 tiếng.
Cây sấu cổ thụ là cây đại thụ cao 45m, hệ thống rễ bạnh vè được phân ra từ thân cây ở độ cao khoảng 10m rồi phát triển chạy dài tới 20m. Trên đường đến Cây sấu, du khách cũng được chiêm ngưỡng những dây leo thân gỗ; những loài Đa góp cổ; những loài thực vật phụ sinh như tầm gửi, tổ diều, phong lan; các loài chim như gõ kiến đầu đỏ, đuôi cụt bụng vằn...
=== Bản người Mường ===
Bản người Mường: Từ Trung tâm xuyên qua khu rừng già, thung lũng, vượt đèo dốc với chiều dài chừng 16 km, du khách sẽ tới bản Mường (bản Khanh thuộc xã Ân Nghĩa, huyện Lạc Sơn, tỉnh Hoà Bình). Bản Khanh nằm bên tả ngạn sông Bưởi với những nếp nhà sàn, ruộng bậc thang… Đường đến bản Mường dài và phải qua nhiều dốc cao với thời gian từ 6-8 tiếng, tuyến đi này phải có hướng dẫn viên của Vườn.
=== Thiên nhiên Cúc Phương ===
Đỉnh mây bạc: là đỉnh núi cao nhất trong rừng Cúc Phương với độ cao 648m. Từ Trung tâm đi khoảng 3 km qua nhiều khu rừng già với nhiều dốc đá. Lên đến đỉnh núi, giữa mây trời du khách có thể ngắm nhìn toàn cảnh rừng và đồng bằng của 4 huyện thuộc 3 tỉnh Ninh Bình, Hoà Bình và Thanh Hoá. Tuyến đường đến Đỉnh mây bạc dài và nhiều dôc đá. Tuyến đi này phải có hướng dẫn viên của Vườn đi cùng. Thời gian đi về khoảng 4 tiếng.
Hồ Yên Quang: hồ có một đảo nhỏ, trên đó có một ngôi đền cổ. Mặt nước hồ là nơi hội tụ của nhiều loài chim nước. Mặt hồ nước in bóng những vách núi, rừng cây.
Động Phò Mã: Chặng đường đi bộ vào thăm động Phò Mã từ hồ Yên Quang số 3 dài khoảng 2 km, Du khách phải chuẩn bị giày đi rừng, nước uống và bắt buộc phải có hướng dẫn viên của Vườn.
== Ứng cử di sản thế giới ==
Vườn quốc gia Cúc Phương là một trong 4 đại diện đầu tiên của Việt Nam ứng cử di sản thế giới năm 1991 (cùng với vịnh Hạ Long, chùa Hương và Cố đô Hoa Lư). Hiện tại tỉnh Ninh Bình vẫn tiếp tục hoàn thiện hồ sơ để đề nghị UNESCO công nhận rừng Cúc Phương là di sản thiên nhiên thế giới. Trong hồ sơ đề cử hang Con Moong thuộc rừng Cúc Phương là di sản văn hóa thế giới do tỉnh Thanh Hóa chủ trì, các nhà khoa học cũng đề nghị xét mở rộng phạm vi đối tượng đề cử khác trong bối cảnh tổng thể vườn Cúc Phương.
== Các vấn đề về bảo tồn ==
Khi thành lập, khu vực Cúc Phương có khoảng 5.000 người sống trong vùng lõi, hiện vẫn còn khoảng 2.000 người sống dọc theo bờ sông Bưởi bên trong vườn. Khoảng trên 50.000 dân sống ở vùng đệm của vườn, phần lớn sống phụ thuộc vào các nguồn tài nguyên bên trong vườn. Lâm sản bị khai thác mạnh nhất là gỗ và củi. Việc thu hoạch ốc, nấm, măng làm thức ăn cũng như việc đi lấy thân chuối làm thức ăn gia súc diễn ra thường xuyên. Hoạt động săn bắn và bán động vật hoang đã làm suy giảm nghiêm trọng số lượng các loài thú, chim và bò sát trong vườn. Một số loài thú lớn như hổ, vượn đen má trắng đã tuyệt chủng ở Cúc Phương do sức ép từ các hoạt động săn bắn và diện tích của vườn là quá nhỏ không đáp ứng được yêu cầu bảo tồn các loài này.
Về khai thác du lịch, một lượng lớn du khách đến Cúc Phương cũng tạo khó khăn với việc quản lý. Hoạt động của vườn lại quá tập trung vào việc phát triển du lịch cũng làm giảm hiệu quả của công tác bảo tồn đa dạng sinh học. Việc xây dựng các hồ nhân tạo trong vườn cũng dẫn đến một số khoảnh rừng bị phát quang và làm thay đổi chế độ thủy văn của vùng.Hiệp hội động vật học Frankfurt cùng Bộ Lâm nghiệp Việt Nam đã thành lập Trung tâm Cứu hộ Linh trưởng nguy cấp (EPRC) ở Cúc Phương năm 1993 nhằm nuôi nhốt, gây giống và nghiên cứu đối với các loài vượn, cu li và voọc của Việt Nam. EPRC nhận linh trưởng từ các cơ quan nhà nước tịch thu từ những đối tượng buôn bán trái phép động vật hoang dã để chữa trị và chăm sóc tại Trung tâm. Cúc Phương cũng là nơi triển khai Chương trình Bảo tồn thú ăn thịt và Tê tê (CPCP) và Chương trình bảo tồn rùa. Tính đến năm 2004 trại nuôi cầy vằn đã có 28 cá thể, trong số đó 20 con đã ra đời trong trại. Sáu cặp cầy vằn đã được gửi đi Anh để tạo quần thể gây giống và sáu cặp nữa sẽ được gửi sang Mỹ với cùng một dụng ý.
Dự án bảo tồn Cúc Phương (CPCP) đã được Tổ chức Bảo tồn Động Thực vật hoang dã Quốc tế thực hiện từ năm 1996 đến năm 2002. Phối hợp với các tổ chức hữu quan tại Việt Nam, FFI chương trình Việt Nam đã thực hiện dự án do World Bank và GEF tài trợ có tên gọi là "Dự án bảo tồn cảnh quan núi đá vôi Pù Luông-Cúc Phương" đã thực hiện trong giai đoạn 2002-2005 nhằm bảo vệ vùng núi đá vôi cũng như các loài hoang dã sống thông qua việc thành lập một khu bảo vệ mới, tăng cường năng lực cho các đơn vị liên quan. Dự án còn tăng cường hiện trạng bảo tồn các loài voọc mông trắng và kêu gọi, xây dựng sự ủng hộ từ cộng đồng trong công tác bảo tồn vùng núi đá vôi.
== Chú thích ==
== Liên kết ngoài == |
3 tháng 5.txt | Ngày 3 tháng 5 là ngày thứ 123 (124 trong năm nhuận) trong lịch Gregory. Còn 242 ngày trong năm.
== Sự kiện ==
1481 – Sultan Mehmed II của Ottoman từ trần với nguyên nhân được cho là do trúng độc, tin tức này khiến các quốc gia châu Âu ăn mừng.
1494 - Christopher Columbus lần đầu tiên xác định Jamaica.
1868 – Tướng Quân Tokugawa Keiki đầu hàng giao thành Edo cho quân đội của Thiên Hoàng, Mạc phủ Tokugawa kết thúc.
1875 – Đạo Quang Đế bổ nhiệm Tả Tông Đường là khâm sai đại thần, đốc biện Tân Cương quân vụ.
1937 – Tiểu thuyết Cuốn theo chiều gió của Margaret Mitchell giành giải Pulitzer cho tác phẩm hư cấu.
1931 - Nguyễn Phong Sắc, nhà cách mạng Việt Nam đã bị mật thám của Pháp bắt ở ga Hàng Cỏ. Ít lâu sau, ông bị họ thủ tiêu bí mật.
1960 – Hiệp hội Mậu dịch tự do châu Âu được thành lập với bảy thành viên.
1978 – Thư điện tử thương mại không yêu cầu (về sau gọi là “Thư rác”) được gửi đến mọi địa chỉ ARPANET tại Tây Duyên hải Hoa Kỳ.
1996 - Đoàn đại biểu từ 55 nước họp tại Genève đã đồng ý chấp nhận một số nguyên tắc mới trong việc sử dụng mìn nhưng không chấp nhận lệnh cấm sử dụng mìn hoàn toàn.
== Sinh ==
1469 - Niccolò Machiavelli, nhà ngoại giao, nhà triết học chính trị, nhạc gia, nhà thơ, nhà soạn kịch người Ý (m. 1527).
1849 - Bertha Benz, doanh nhân người Đức trong lĩnh vực xe hơi (m. 1944).
1878 - Ngô Đức Kế, nhà thơ, nhà báo, là chủ bút báo Hữu Thanh (m. 1929).
1883 - Trần Nghi, tướng lĩnh người Trung Quốc (m. 1950).
1921 - Tạ Tỵ, hoạ sĩ Việt Nam (m. 2004).
== Người chết ==
1152 - Matilda xứ Boulogne, nữ hoàng Anh.
1270 - Béla IV, vua Hungary.
== Những ngày lễ và kỷ niệm ==
Ngày Tự do Báo chí thế giới (World Press Freedom Day) theo LHQ
== Tham khảo == |
khí thiên nhiên.txt | Khí thiên nhiên (còn gọi là khí gas, khí ga -từ chữ gaz trong tiếng Pháp), hỗn hợp chất khí cháy được, bao gồm phần lớn là các hydrocarbon (hợp chất hóa học chứa cacbon và hyđrô). Cùng với than đá, dầu mỏ và các khí khác, khí thiên nhiên là nhiên liệu hóa thạch. Khí thiên nhiên có thể chứa đến 85% mêtan (CH4) và khoảng 10% êtan (C2H6), và cũng có chứa số lượng nhỏ hơn propan (C3H8), butan (C4H10), pentan (C5H12), và các alkan khác. Khí thiên nhiên, thường tìm thấy cùng với các mỏ dầu ở trong vỏ Trái Đất, được khai thác và tinh lọc thành nhiên liệu cung cấp cho khoảng 25% nguồn cung năng lượng thế giới.
Khí thiên nhiên chứa lượng nhỏ các tạp chất, bao gồm điôxít cacbon (CO2), hyđrô sulfit (H2S), và nitơ (N2). Do các tạp chất này có thể làm giảm nhiệt trị và đặc tính của khí thiên nhiên, chúng thường được tách ra khỏi khí thiên nhiên trong quá trình tinh lọc khí và được sử dụng làm sản phẩm phụ.
== Sử dụng ==
Khí thiên nhiên được sử dụng làm nhiên liệu và nguyên liệu đầu vào cho ngành chế biến hóa chất. Là một nhiên liệu gia dụng, nó được đốt trong các bếp ga, lò ga để nấu nướng, sấy khô. Là một nhiên liệu công nghiệp, khí thiên nhiên được đốt trong các lò gạch, gốm và lò cao sản xuất xi măng. Khí thiên nhiên còn được sử dụng để đốt các lò đốt các tua-bin nhiệt điện để phát điện cũng như các lò nấu thủy tinh, lò luyện kim loại và chế biến thực phẩm.
Khí thiên nhiên được sử dụng làm nguyên liệu đầu vào cho ngành hóa dầu để tạo ra các chất hóa dầu. Các chất hóa dầu này được sử dụng làm sản phẩm cơ sở cho việc sản xuất phân đạm, bột giặt, dược phẩm, chất dẻo và nhiều loại hàng hóa khác.
== Lịch sử ==
Người Trung Hoa đã sử dụng khí thiên nhiên khoảng năm 500 trước Công nguyên. Họ phát hiện ra một cách để vận chuyển khí thoát ra từ mặt đất bằng các đường ống dẫn bằng tre đến nơi sử dụng để đun sôi nước muối để trích xuất các muối, ở huyện Tự Lưu Tỉnh của Tứ Xuyên. Vào thế kỷ 17, khí thiên nhiên đã được sử dụng để sưởi ấm và chiếu sáng ở miền Bắc Ý. Ở Hoa Kỳ, khí thiên nhiên lần đầu đã được phát hiện ở Fredonia, New York, năm 1825.
Do khí thiên nhiên ở dạng khí khó vận chuyển bằng các phương tiện thông thường, trong lịch sử khí thiên nhiên đã được sử dụng ở các khu vực gần mỏ khí. Khi ngành công nghiệp dầu khí phát triển vào thế kỷ 19 và thế kỷ 20, khí thiên nhiên được phát hiện cùng dầu mỏ (khí đồng hành) từ các mỏ ngầm thường được xử lý như chất phụ phẩm phế thải và thường được đốt bỏ ngay trên giàn khoan. Ngày nay, khí thiên nhiên được vận chuyển thông qua các mạng lưới đường ống dẫn khí rộng lớn hoặc được hóa lỏng và chở bằng tàu bồn.
Đến năm 2009, 66 ngàn tỷ mét khối (hoặc 8%) đã được sử dụng trong tổng số ước tính 850 ngàn tỷ mét khối trữ lượng khí thiên nhiên có thể thu được còn lại. Dựa trên mức tiêu thụ của thế giới năm 2015 ước tính khoảng 3,4 nghìn tỷ mét khối khí đốt mỗi năm, tổng số trữ lượng khí có thể khai thác kinh tế ước tính còn lại sẽ kéo dài 250 năm với mức tiêu thụ hiện nay. Sự gia tăng hàng năm trong cách sử dụng từ 2-3% có thể dẫn đến dự trữ hiện thu hồi kéo dài ít hơn đáng kể, chỉ còn khoảng 80 đến 100 năm.
== Sự hình thành khí thiên nhiên ==
Khí thiên nhiên được tạo ra từ sinh vật phù du, các vi sinh vật sống dưới nước bao gồm tảo và động vật nguyên sinh. Khi các vi sinh vật này chết đi và tích tụ trên đáy đại dương, chúng dần bị chôn đi và xác của chúng được nén dưới các lớp trầm tích. Trải qua hàng triệu năm, áp suất và nhiệt do các lớp trầm tích chồng lên nhau tạo nên trên xác các loại sinh vật này đã chuyển hóa hóa học các chất hữu cơ này thành khí thiên nhiên.
Do dầu mỏ và khí thiên nhiên thường được tạo ra bằng các quá trình tự nhiên tương tự nhau, hai loại hydrocarbon này thường được tìm thấy cùng nhau ở trong các bể chứa ngầm tự nhiên. Sau khi dần được tạo nên trong lòng vỏ Trái Đất, dầu mỏ và khí thiên nhiên đã dần chui vào các lỗ nhỏ của các tầng đá xốp xung quanh, những tầng đá xốp này có vai trò như các bể chứa tự nhiên. Do các lớp đá xốp này thường có nước chui vào, cả dầu mỏ và khí tự nhiên, vốn nhẹ hơn nước và kém dày đặc hơn các tầng đá xung quanh nên chúng chuyển lên trên qua lớp vỏ, đôi khi cách xa nơi chúng được tạo ra. Cuối cùng, một số hydrocacbon này bị bẫy lại bởi các lớp đá không thấm (đá không xốp), các lớp đã này được gọi là đá "mũ chụp". Khí thiên nhiên nhẹ hơn dầu mỏ, do đó nó tạo ra một lớn nằm trên dầu mỏ. Lớp khí này được gọi là "mũ chụp khí".
Các lớp than đá có chứa lượng mêtan đáng kể, mêtan là thành phần chính của khí thiên nhiên. Trong các trữ lượng than đá, mêtan thường thường bị phân tán vào các lỗ các vết nứt của tầng than. Khí thiên nhiên này thường được gọi là khí mêtan trong tầng than đá (coal-bed methane).
== Hiện diện ==
Khí thiên nhiên đã được phát hiện trên khắp các châu lục, ngoại trừ châu Nam Cực. Trữ lượng khí thiên nhiên thế giới tổng cộng vào khoảng 150 tỷ tỷ m³ (150 × 1018). Trữ lượng khí thiên nhiên lớn nhất, tổng cộng 48 tỷ tỷ m³ đang nằm ở Nga. Trữ lượng lớn thứ nhì thế giới, 50 tỷ tỷ m³, nằm ở Trung Đông. Các mỏ có trữ lượng khác nằm ở các nơi khác ở châu Á, châu Phi và Úc.
Trữ lượng khí thiên nhiên ở Hoa Kỳ tổng cộng 5 tỷ tỷ m³. Theo xếp hạng trữ lượng khí thiên nhiên theo từng bang từ cao xuống thấp, các mỏ khí thiên nhiên lớn đã được phát hiện ở: Texas, Vịnh Mexico ngoài khơi Louisiana, ở Oklahoma, ở New Mexico, ở Wyoming và ở Vịnh Prudhoe của Bắc Slope ở bang Alaska. Ở Canada, tổng trữ lượng khí tự nhiên là 1,7 tỷ tỷ m³. Phần lớn trữ lượng khí tự nhiên ở Canada nằm ở Alberta.
== Phân loại ==
Khí thiên nhiên là một loại khí không màu sắc và được phân loại tùy theo thành phần của nó. Khí khô có chứa tỷ lệ mêtan cao còn khí ướt có chứa đáng kể khối lượng hydrocacbon có phân tử lượng cao hơn thuộc nhóm ankan, bao gồm êtan, propan, và butan. Phần cặn lắng của khí là phần còn lại sau khi các ankan đã được rút khỏi khí ướt. Khí chua là khí chứa nồng độ hyđrô sulfít cao (đây là một chất khí không màu, độc có mùi trứng thối). Khí ngọt là khí có chứa ít chất hyđrô sulfít.
Các chất không phải là hyđrô cacbon trong khí thiên nhiên được là các chất làm loãng và chất gây ô nhiễm. Các chất làm loãng bao gồm các loại khí và hơi như: nitơ, điôxít cacbon và hơi nước. Các chất gây ô nhiễm bao gồm các hyđrô sulfít và các hợp chất lưu huỳnh khác. Các chất gây ô nhiễm có thể phá hoại các thiết bị sản xuất và vận chuyển. Nếu được đốt, các chất gây ô nhiễm có thể gây ra các vấn đề như ô nhiễm không khí và mưa axít. Mưa axít được tạo thành khi các hợp chất lưu huỳnh trong khí thiên nhiên và các loại nhiên liệu hóa thạch khác như than đá bị đốt và phản ứng với hơi ẩm trong không khí để tạo nên axít sulphuric (H2SO4). Hỗn hợp hơi ẩm axít này rơi xuống đất khi trời mưa gây hư hại cho mùa màng và rừng, hồ, suối, sông.
== Khai thác ==
Để định vị được các mỏ khí, các nhà địa chất học thăm dò những khu vực có chứa những thành phần cần thiết cho việc tạo ra khí thiên nhiên: đá nguồn giàu hữu cơ, các điều kiện chôn vùi đủ cao để tạo ra khí tự nhiên từ các chất hữu cơ, các kiến tạo đá có thể "bẫy" các hyđrôcacbon.
Khi các kiến tạo địa chất có thể chứa khí tự nhiên được xác định, thông thường chứ không phải luôn ở bể trầm tích, người ta tiến hành khoan các giếng các kiến tạo đá. Nếu giếng khoan đi vào lớp đá xốp có chứa trữ lượng đáng kể khí thiên nhiên, áp lực bên trong lớp đá xốp có thể ép khí thiên nhiên lên bề mặt. Nhìn chung, áp lực khí thường giảm sút dần sau một thời gian khai thác và người ta phải dùng bơm hút khi lên bề mặt.
== Chế biến khí thiên nhiên ==
Khi khí thiên nhiên được khai thác khỏi mặt đất, nó được vận chuyển bằng đường ống dẫn khí đến một nhà máy tinh lọc và xử lý, nơi nó được chế biến.
Khí thiên nhiên được chế biến bằng các thiết bị tách lọc khí để loại bỏ các hợp chất không phải là hyđrôcacbon, đặc biệt là hyđrô sulfít và điôxít cacbon. Hai quá trình sử dụng cho mục đích này là hấp thụ và hút bám (absorption and adsorption).
Quá trình hấp thụ sử dụng một chất lỏng hấp thụ khí tự nhiên và các tạp chất và phân tán chúng trong chất lỏng này. Trong một quá trình được gọi là hấp thụ hóa học, các tạp chất phản ứng với chất lỏng hấp thụ. Khí thiên nhiên sau đó thoát ra khỏi chất hấp thụ còn chất hấp thụ còn tạp chất ở lại trong chất lỏng. Các chất lỏng hấp thụ thường được sử dụng là nước, các dung dịch amin nước (aqueous amine) và cacbonat natri.
Quá trình hút bám là một quá trình cô đặc khí tự nhiên trên bề mặt một chất rắn hoặc một chất lỏng để loại bỏ tạp chất. Một chất thường được sử dụng cho mục đích này là cacbon (than), là chất có diện tích bề mặt trên đơn vị trọng lượng rộng. Ví dụ, các hợp chất lưu huỳnh trong phí tự nhiên được bề mặt hấp thụ của cacbon giữ lấy. Các hợp chất lưu huỳnh được kết hợp với hyđrô và ôxi để tạo thành axít sulphuric và có thể loại bỏ.
Sau khi các tạp chất đã được loại bỏ trong các thiết bị tách lọc, khí thiên nhiên được vận chuyển đến các nhà máy chế biến nơi các hợp chất như êtan, butan và các chất khác được tách ra để sử dụng cho nhiều mục đích khác nhau. Các chất êtan, propan, và butan được sử dụng rộng rãi trong ngành hóa dầu.
== Vận chuyển và lưu trữ ==
Sau khi được chế biến, khí thiên nhiên được vận chuyển bằng các đường ống dẫn khí đến các hộ tiêu thụ là các khu dân cư hay các khu công nghiệp. Khi khí di chuyển trong lòng ống, sự ma sát của khí lên thành ống làm giảm lưu lượng khí. Do đó, các trạm nén được lắp đặt dọc theo tuyến ống để bổ sung áp lực cần thiết đủ giữ cho khí di chuyển đến nơi yêu cầu.
Một khi khí đã đến nơi tiêu thụ, các công ty khí đốt thường chứa vào các bồn bể để cung cấp cho thị trường vào giờ cao điểm. Ví dụ khi thời tiết lạnh thì nhu cầu tiêu thụ khí tự nhiên thường vượt quá số lượng đường ống có thể vận chuyển từ các nhà máy chế biến khí thiên nhiên. Do đó, các công ty kinh doanh khí đốt thường chứa khí thiên nhiên vào các bể chứa lớn chịu áp lực cao hoặc chứa vào các tầng đá xốp. Trong nhiều trường hợp, các khu vực tàng trữ khí thiên nhiên được sử dụng là các mỏ than hoặc các giếng dầu đã bị bỏ hoang. Khi cần, người ta lại bơm lên mặt đất.
Khí thiên nhiên có thể được chở bằng tàu và tàng trữ dưới dạng khí hóa lỏng (LPG). Khí thiên nhiên được hóa lỏng ở nhiệt độ -160 °C (-256 °F). Khí thiên nhiên chiếm thể tích lớn hơn 600 lần lớn hơn so với dạng lỏng của nó. Khí hóa lỏng được vận chuyển bằng tàu bồn và xe bồn.
== Các dự án khai thác khí lớn ở Việt Nam ==
Đường ống dẫn khí Nam Côn Sơn
Dự án Khí - Điện - Đạm Cà Mau
Dự án đường ống dẫn khí Bạch Hổ
Dự án đường ống dẫn khí Lô B - Ô Môn
== Tham khảo == |
richard dawkins.txt | Clinton Richard Dawkins (sinh 26 tháng 3 năm 1941) là một nhà tập tính học và sinh học tiến hóa người Anh. Ông là nghiên cứu sinh danh dự của trường New College, Oxford, và là giáo sư ngành Nhận thức chung về khoa học tại đại học Oxford từ năm 1995 sẽ đến năm 2008.
Ông trở nên nổi tiếng với cuốn sách năm 1976 The Selfish Gene (Gen ích kỷ), trong đó phổ biến quan điểm tiến hóa với gen là trung tâm tiến hóa và giới thiệu thuật ngữ meme. Năm 1982, ông đã đưa vào ngành sinh học tiến hóa một khái niệm mang tầm ảnh hưởng được giới thiệu trong cuốn sách The Extended Phenotype (Kiểu hình gen mở rộng), với nội dung rằng hiệu ứng kiểu hình gen không nhất thiết giới hạn trên một vật thể sống, mà có thể mở rộng sang môi trường, bao gồm những vật thể sống khác nhau.
Dawkins là người vô thần và là người theo chủ nghĩa nhân văn, là phó chủ tịch của Hiệp hội Nhân văn Anh và là người ủng hộ phong trào Brights. Ông còn được biết đến với những tranh cãi về sáng tạo luận và thiết kế thông minh. Trong cuốn sách năm 1986 The Blind Watchmaker (Người chế tạo đồng hồ mù), ông lý luận chống lại những tranh cãi về sự tồn tại của Chúa dựa trên sự phức tạp của những cơ thể sống. Ông đã khám phá ra phương cách thiên nhiên tạo ra dáng vẻ của sự thiết kế - ngay cả những thiết kế chi li và phức tạp — mà không cần đến sự can thiệp của đấng tạo hóa. Ông mô tả quá trình tiến hóa tương tự như một người chế tạo đồng hồ mù. Từ đó ông viết một số sách khoa học phổ biến, thường xuyên xuất hiện trên chương trình truyền hình và đài phát thanh, chủ yếu là thảo luận về các chủ đề này. Ông đã được đề cập trong các phương tiện truyền thông với biệt hiệu "Con chó Rottweiler của Darwin", tên gọi này có liên quan đến nhà sinh vật học người Anh Thomas Henry Huxley, người được biết đến với biệt hiệu "Con chó Bull của Darwin" vì sự ủng hộ tích cực các thuyết tiến hóa của Charles Darwin. Trong cuốn sách The God Delusion (Ảo tưởng về Thượng đế) phát hành năm 2006, Dawkins tranh luận rằng một nhà sáng tạo siêu nhiên gần như chắc chắn không tồn tại và niềm tin tôn giáo là một ảo tưởng—một niềm tin sai lầm được chỉnh sửa. Vào tháng 1 năm 2010, phiên bản tiếng Anh đã được bán trên hai triệu bản và được dịch sang 31 ngôn ngữ, trở thành cuốn sách phổ biến nhất của ông đến nay.
== Tiểu sử ==
Dawkins sinh ở Nairobi, Kenya. Cha của ông, Clinton John Dawkins (1915–2010), là một công chức nông nghiệp phục vụ trong cơ quan chính quyền thuộc địa Anh, ở Nyasaland (nay là Malawi). Dawkins có một cô em gái. Cha của ông được huy động vào King's African Rifles trong thế chiến II trở về Anh năm 1949, lúc Dawkins 8 tuổi. Cha ông thừa kế Over Norton Park, và ông chuyển nó từ một bất động sản thôn quê thành một nông trang thương mại. Cả cha và mẹ ông đều ưa thích khoa học tự nhiên; họ trả lời các câu hỏi của Dawkin về các vấn đề khoa học.
Ông là người tích cực tham gia phản đối Chiến tranh Việt Nam.
== Tác phẩm ==
=== Tác phẩm tiêu biểu ===
The Selfish Gene. Oxford: Oxford University Press. 1976. ISBN 0-19-286092-5.
The Extended Phenotype. Oxford: Oxford University Press. 1982. ISBN 0-19-288051-9.
The Blind Watchmaker. New York: W. W. Norton & Company. 1986. ISBN 0-393-31570-3.
River Out of Eden. New York: Basic Books. 1995. ISBN 0-465-06990-8.
Climbing Mount Improbable. New York: W. W. Norton & Company. 1996. ISBN 0-393-31682-3.
Unweaving the Rainbow. Boston: Houghton Mifflin. 1998. ISBN 0-618-05673-4.
A Devil's Chaplain. Boston: Houghton Mifflin. 2003. ISBN 0-618-33540-4.
The Ancestor's Tale. Boston: Houghton Mifflin. 2004. ISBN 0-618-00583-8.
The God Delusion. Boston: Houghton Mifflin. 2006. ISBN 0-618-68000-4.
The Greatest Show on Earth: The Evidence for Evolution. Free Press (United States), Transworld (company) (United Kingdom and Commonwealth of Nations. 2009. ISBN 0-593-06173-X.
=== Phim tài liệu ===
Nice Guys Finish First (1987)
The Blind Watchmaker (1987)
Growing Up in the Universe (1991)
Break the Science Barrier (1996)
The Root of All Evil? (2006)
The Enemies of Reason (2007)
The Genius of Charles Darwin (2008)
Faith School Menace (2010)
== Chú thích ==
== Liên kết ngoài ==
Tổng quan
Trang chủ
Richard Dawkins' page on Academia.edu
The Richard Dawkins Foundation for Reason and Science
Richard Dawkins tại Internet Movie Database
Các công trình liên quan hoặc của Richard Dawkins trên các thư viện của thư mục (WorldCat)
Video
National Geographic Interviews – A series of video interviews with National Geographic Channel with Richard Dawkins on Darwin, Evolution and God.
TED Talks: Richard Dawkins on militant atheism at TED (conference) in 2002
TED Talks: Richard Dawkins on our "queer" universe at TED (conference) in 2005
Video interview with Riz Khan for Al Jazeera English
Video interview at Big Think
Bài viết tiêu biểu
Viruses of the Mind (1993) – Religion as a mental virus.
The Real Romance in the Stars (1995) – A critical view of astrology.
The Emptiness of Theology (1998) – A critical view of theology. (Alternative link at RDFRS.)
Snake Oil and Holy Water (1999) – Suggests that there is no convergence occurring between science and theism.
What Use is Religion? (2004) – Suggests that religion may have no survival value other than to itself.
Race and Creation (2004) – On race (classification of human beings), its usage and a theory of how it evolved.
The giant tortoise's tale, The turtle's tale and The lava lizard's tale (2005) – A series of three articles written after a visit to the Galápagos Islands.
Dawkins' Huffington Post articles
Âm thanh
Richard Dawkins on RadioLIVE's Weekend Variety Wireless – Richard Dawkins appears live on New Zealand's RadioLIVE, taking calls from the audience. |
g7.txt | Nhóm G7 hay G-7 (viết tắt tiếng Anh Group of Seven) là tập hợp bảy vị bộ trưởng tài chính của bảy nước kỹ nghệ tiên tiến trên thế giới. Nhóm này thành hình vào năm 1976 khi Canada gia nhập nhóm G6 trước kia gồm: Pháp, Đức, Ý, Nhật, Anh và Hoa Kỳ. Bảy vị bộ trưởng này nhóm họp vài lần mỗi năm để bàn luận và trao đổi về chính sách kinh tế. Công việc cũng được hỗ trợ bởi những kỳ họp thường xuyên của các viên chức khác như thứ trưởng tài chính.
Cần lưu ý là nhóm G7 khác nhóm G8. G8 là tập hợp cấp thượng đỉnh của bảy nước kể trên với Nga thêm vào. Cuộc họp G8 là do nguyên thủ quốc gia tham dự thường cân nhắc những vấn đề chính trị trong khi G7 là do bộ trưởng tài chính đảm nhiệm và chủ đề thì hạn chế trong phạm vi kinh tế.
Trong năm 2008 G7 nhóm họp lần đầu vào ngày 11 tháng 4 ở Washington D.C. và lần thứ nhì vào ngày 10 tháng 10 cũng ở Washington D.C. để bàn về cuộc khủng hoảng kinh tế 2007-2008. Nhóm này đã tuyên bố sẽ dùng "mọi biện pháp" để ngăn chặn cơn khủng hoảng.
== Xem thêm ==
G8
G20
== Chú thích == |
kyushu.txt | Kyushu (tiếng Nhật: 九州; Hán-Việt: Cửu Châu) là một trong chín vùng địa lý và cũng là một trong bốn đảo chính của nước Nhật Bản. Kyushu nằm ở phía Tây Nam Nhật Bản. Đây là nơi sinh thành của nền văn minh Nhật Bản. Gọi là Kyushu (Cửu Châu) vì vào thời kỳ Asuka ở đây có chín tỉnh. Trước đây nó còn được gọi là Kyukoku hoặc Kukoku (九国; Hán-Việt: Cửu Quốc), Chinzei (鎮西; Hán-Việt: Trấn Tây), Saikai (西海; Hán-Việt: Tây Hải).
== Hành chính ==
Vùng Kyushu bao gồm bảy tỉnh: Fukuoka, Kagoshima, Kumamoto, Miyazaki, Nagasaki, Oita và Saga. Theo cách phân nước Nhật thành tám vùng địa lý, thì vùng này còn bao gồm cả tỉnh Okinawa.
== Địa lý ==
Kinh tế
Phát triển công nghiệp nặng, đặc biệt khai thác than và luyện thép.
các trung tâm công nghiệp lớn: Phu-cu-ô-ca và Na-ga-sa-ki
* Nguyên nhân: vị trí địa lí thuận lợi, lao động có trình độ.
miền đông nam trồng nhiều cây công nghiệp và rau quả |
chiết suất.txt | Bài này nói về một tính chất vật lý của vật liệu. Các nghĩa khác xem bài Chiết suất (định hướng).
Chiết suất của một vật liệu là tỷ số giữa tốc độ ánh sáng trong chân không và tốc độ pha của bức xạ điện từ trong vật liệu. Nó thường được ký hiệu là n.
Tốc độ pha của một đoàn sóng là tốc độ di chuyển của đỉnh sóng; cũng là tốc độ di chuyển của pha của đoàn sóng. Tốc độ này đối nghịch với tốc độ nhóm là tốc độ di chuyển của biên độ đoàn sóng. Tốc độ nhóm thể hiện tốc độ di chuyển của thông tin (hay năng lượng) mang theo bởi đoàn sóng vật lý. Tốc độ nhóm luôn nhỏ hơn tốc độ ánh sáng trong chân không, như các thí nghiệm đã cho thấy; còn tốc độ pha có thể lớn hơn tốc độ ánh sáng trong chân không.
== Trong định luật Snell ==
Theo định luật Snell, chiết suất có thể được tính bằng tỉ số giữa sin của góc tới và sin của góc khúc xạ, biểu hiện mức độ gãy khúc của tia sáng (hay bức xạ điện từ nói chung) khi chuyển từ một môi trường vật chất này sang một môi trường vật chất khác [1].
Công thức trên có thể được suy ra từ phát biểu Fermat của Pierre de Fermat: ánh sáng luôn đi theo đường đi tốn ít thời gian nhất trong các môi trường.
== Liên hệ với tính chất điện từ ==
Chiết suất của vật liệu được liên hệ với các tính chất điện từ của vật liệu qua:
n
=
ϵ
r
μ
r
{\displaystyle n={\sqrt {\epsilon _{r}\mu _{r}}}}
với εr là hằng số điện môi (hay độ điện thẩm tương đối) của vật liệu, và μr là hằng số từ môi (hay độ từ thẩm tương đối) của vật liệu.
Đối với các vật liệu không có từ tính, μr rất gần 1, nên n xấp xỉ bằng
ϵ
r
{\displaystyle {\sqrt {\epsilon _{r}}}}
.
== Tốc độ ánh sáng ==
Theo định nghĩa, chiết suất của môi trường là:
n
=
c
v
{\displaystyle n={\frac {c}{v}}}
với v là tốc độ pha của bức xạ điện từ trong môi trường tại một tần số nhất định (đơn sắc).
Thông thường, bức xạ điện từ đi trong môi trường chậm hơn trong chân không và n>1. Tuy vậy, tại một số điều kiện nhất định, (như gấn hấp thụ cộng hưởng hay đối với tia X), n có thể nhỏ hơn 1. Điều này không mâu thuẫn với thuyết tương đối, một lý thuyết khẳng định rằng thông tin không đi nhanh hơn c, vì tốc độ pha không thể hiện tốc độ truyền thông tin.
Đôi khi có thể định nghĩa, chiết suất nhóm dựa vào tốc độ nhóm (tốc độ lan truyền thông tin):
n
g
=
c
v
g
{\displaystyle n_{g}={\frac {c}{v_{g}}}}
,
với vg là tốc độ nhóm.
Tốc độ pha của bức xạ điện từ bị chậm lại trong vật chất thông thường vì tương tác giữa bức xạ điện từ và các điện tích (chủ yếu là điện tử) trong nguyên tử hay phân tử của vật chất. Điện trường dao động của sóng điện từ gây nên sự dao động tương ứng của các điện tích. Các dao động của các điện tích bị chậm pha hơn so với dao động của điện trường, do quán tính của các điện tích. Sự dao động của các điện tích lại gây ra bức xạ điện từ, ở cùng pha với dao động này, và trễ pha so với dao động điện trường ban đầu.
Tổng hợp các bức xạ của các điện tích tạo nên một sóng điện từ lan truyền cùng tần số nhưng với bước sóng ngắn hơn bức xạ ban đầu, do đó tốc độ pha chậm hơn. Hướng lan truyền của các bức xạ do dao động điện tích tập trung theo hướng lan truyền ban đầu. Tuy vậy, các điện tích dao động cũng gây ra bức xạ theo các hướng khác, nguyên chính gây nên hiện tượng tán xạ.
Các nghiên cứu mới cho thấy chiết suất âm có thể tồn tại. Hiện tượng này hiếm gặp, mới thấy ở các vật liệu meta, cho thấy khả năng chế tạo các thấu kính hoàn hảo hoặc các hiện tượng hiếm như nghịch đảo định luật Snell.
== Tán sắc ==
Chiết suất được định nghĩa với tốc độ pha bức xạ điện từ trong vật liệu tại một tần số nhất định. Chiết suất của cùng một vật liệu có thể thay đổi tùy theo tần số bức xạ điện từ. Hiện tượng này được biết đến, trong quang học, là tán sắc. Đây là nguyên nhân khiến lăng kính tách ánh sáng trắng thành phổ màu sắc, các giọt nước tạo nên cầu vồng. Nó cũng gây ra hiện tượng sắc sai trong thấu kính.
Thông thường, trong vùng phổ bức xạ điện từ mà ở đó vật liệu tương đối trong suốt, chiết suất tăng nhẹ theo tần số bức xạ. Gần nơi vật liệu hấp thụ mạnh, liên hệ giữa chiết suất với tần số khá phức tạp, theo liên hệ Kramers-Kronig, và có thể giảm theo tần số.
Phương trình Sellmeier là một công thức suy ra từ thực nghiệm, mô tả tương đối tốt sự tán sắc của vật liệu. Các hệ số Sellmeier thường được cho kèm theo chiết suất khi mô tả vật liệu quang học.
== Hấp thụ ==
Các vật liệu trong thực tế có thể hấp thụ năng lượng của bức xạ điện từ và chuyển hóa thành dạng năng lượng khác (như nhiệt năng). Hai nguyên nhân chính cho sự chuyển hóa năng lượng là hấp thụ lưỡng cực điện (nguyên nhân làm thức ăn nóng trong lò vi sóng) độ dẫn điện một chiều khác không của vật liệu thực tế (không có vật liệu nào là chất cách điện hoàn hảo). Để thể hiện sự hấp thụ của lan truyền bức xạ trong vật liệu, chiết suất có thể được viết dưới dạng số phức:
n
~
=
n
−
i
κ
{\displaystyle {\tilde {n}}=n-i\kappa }
Với, n theo định nghĩa bên trên, và κ là hệ số thất thoát, thể hiện phần năng lượng bức xạ bị chuyển hóa thành dạng khác, hoặc theo bị tán xạ chệch hướng, i là căn bậc hai của -1. Cả n và κ đều phụ thuộc tần số (tán sắc).
Phần thực và phần ảo của chiết suất phức liên hệ với nhau qua liên hệ Kramers-Kronig. Có thể tính được chiết suất phức, theo liên hệ vơi tần số, qua phổ hấp thụ của vật liệu.
Các vật liệu ít hấp thụ (có độ trong suốt cao) như thủy tinh thường là chất cách điện tốt đồng thời có mức độ hấp thụ lưỡng cực điện thấp ở tần số thấp. Tuy nhiên khi tần số tăng, như tới tần số của ánh sáng, hập thụ lưỡng cực điện tăng khiến vật liệu này giảm độ trong suốt.
== Môi trường không đẳng hướng ==
Chiết suất trong một số môi trường có thể phụ thuộc vào hướng phân cực và phương chiếu của ánh sáng hay bức xạ điện từ nói chung. Môn quang học tinh thể nghiên cứu các hiện tượng này. Để mô tả sự phụ thuộc theo hướng một cách tổng quát, khái niệm chiết suất được thay bằng hằng số lưỡng cực điện, một tensơ hạng 2 (ma trận có kích thước 3 nhân 3), có giá trị trùng với chiết suất theo các phương chính trong tinh thể.
Trong các vật liệu quang từ hay vật liệu quang hoạt, các phương chính trong tinh thể được biểu diễn bằng số phức (tương ứng với phân cực elíp), và hằng số lưỡng cực điện là Hermitian phức nếu bỏ qua hấp thụ. Các vật liệu này không tuân theo đối xứng nghịch đảo thời gian và có thể dùng để xây dựng chất cách điện Faraday.
== Môi trường không đồng nhất ==
Trong một số môi trường không đồng nhất, chiết suất thay đổi chậm tù điểm này đến điểm khác. Môn học nghiên cứu các môi trường này là quang học chiết suất biến đổi. Ánh sáng hay bức xạ điện từ di chuyển trong môi trường như vậy sẽ đi theo đường cong, hoặc bị hội tụ hay phân kỳ. Ví dụ như không khí bị hun nóng tại gần mặt đất ở sa mạc có thể tạo ảo ảnh quang học nhờ bẻ cong tia sáng đến từ mây trời. Hiệu ứng này có thể được dùng để làm thấu kính, một số sợi quang học hoặc các thiết bị quang học khác.
== Môi trường phi tuyến ==
Một số vật liệu khi được đặt trong các môi trường đặc biệt (như trong điện trường mạnh) hoặc được chiếu bởi ánh sáng hay bức xạ điện từ cường độ cao (như từ nguồn laser hay maser) có thể bị thay đổi chiết suất tùy thuộc vào tác động của môi trường hay cường độ sáng. Môn học nghiên cứu các hiện tượng này là quang học phi tuyến. Nếu chiết suất biến đổi theo hàm bậc hai với biên độ ánh sáng (tuyến tính với cường độ ánh sáng), hiện tượng này được gọi là hiệu ứng Kerr và gây ra các hiện tượng như chùm sáng tự hội tụ hay tự biến pha. Nếu chiết suất biến đổi tuyến tính với biên độ ánh sáng (chỉ xảy ra với vật liệu không có đối xứng nghịch), hiện tượng được biết đến với tên gọi hiệu ứng Pockels.
== Ứng dụng ==
Chiết suất của vật liệu là một trong những tính chất quan trọng nhất khi thiết kế các hệ thống quang học sử dụng hiện tượng khúc xạ. Nó được dùng để tính tiêu cự cho thấu kính hay độ phân giải của lăng kính.
Đo đạc chiết suất có thể giúp suy ra nồng độ các dung dịch, như nồng độ đường (xem Brix), hay độ tinh khiết của hỗn hợp trong hóa học. Số lượng hồng cầu trong máu cũng có thể được ước lượng khi quan sát ánh sáng đỏ xuyên qua mạch máu và đo chiết suất phức của máu.
== Xem thêm ==
Khúc xạ
Phương trình Sellmeier
== Tham khảo == |
vi tích phân.txt | Vi tích phân (calculus theo tiếng Latinh, nghĩa là một hòn đá nhỏ được sử dụng để đếm) là một nhánh của toán học tập trung vào giới hạn, hàm số, đạo hàm và tích phân của hàm số, tích phân, và chuỗi vô hạn. Môn này là một bộ phận chủ yếu của giáo dục toán học hiện đại. Nó có hai ngành chính, vi phân và tích phân, trong đó có liên quan của các định lý cơ bản của vi tích phân. Vi tích phân là nghiên cứu về thay đổi, trong cùng một cách mà hình học là nghiên cứu về hình dạng còn đại số là nghiên cứu về hoạt động và ứng dụng của mình để giải phương trình. Một các giải quyết trong vi tích phân là một cửa ngõ đến một cách giải quyết khác, cao cấp hơn trong toán học dành cho việc nghiên cứu các hàm và cực hạn, được gọi rộng rãi là toán học phân tích. Vi tích phân có ứng dụng rộng rãi trong khoa học, kinh tế, và kỹ thuật và có thể giải quyết nhiều vấn đề mà đại số thôi là không đủ.
Trong lịch sử, vi tích phân được gọi là "vi tích phân". Nói chung hơn, vi tích phân đề cập đến bất kỳ phương pháp hoặc hệ thống tính toán được hướng dẫn bởi các thao tác biểu tượng của biểu thức. Một số ví dụ về các thì sỏi nổi tiếng khác là vi tích phân mệnh đề, vi tích phân biến, giải tích lambda, vi tích phân pi, và join calculus..
Phép tính vi tích phân là một trong những lĩnh vực nghiên cứu quan trọng của toán học, là thành tựu nổi bật nhất của giai đoạn cuối thế kỷ 17 của Isaac Newton và Gottfried Wilhelm Leibniz.
== Tham khảo ==
== Liên kết ngoài ==
Vi phân tại Từ điển bách khoa Việt Nam
Tích phân tại Từ điển bách khoa Việt Nam |
kinh tế đan mạch.txt | Đan Mạch có một nền kinh tế mở và năng động. Do chi phí trả lương cho người lao động cao, 39,29 USD/một giờ cho một công nhân - một con số cao nhất thế giới, nên lĩnh vực chế tạo tương đối chuyên sâu và cần ít lao động. Lĩnh vực dịch vụ tạo ra một số lượng lớn công việc trong nền kinh tế. Nền kinh tế thị trường công nghiệp hóa của đất nước phụ thuộc vào nhập khẩu nguyên liệu thô và thương mại quốc tế. Trong Liên minh châu Âu, Đan Mạch ủng hộ chính sách tự do thương mại. Đời sống của người dân ở Đan Mạch thuộc vào loại cao nhất thế giới - và được phân bố đồng đều, sự chênh lệch giàu nghèo là không đáng kể biểu hiện qua hệ số Gini, người Đan Mạch dành 0,8% Tổng thu nhập quốc gia (GNI) cho viện trợ nước ngoài.
Đan Mạch là nước tự cung tự cấp về năng lượng - sản phẩm dầu, khí tự nhiên, gió và năng lượng sinh học. Các lĩnh vực xuất khẩu chính là máy móc, dụng cụ và thực phẩm. Hoa Kỳ là đối tác thương mại ngoài châu Âu lớn nhất của Đan Mạch, với khoảng 5% tổng số trao đổi hàng hóa. Máy bay, máy tính, máy móc, và dụng cụ chủ yếu do Hoa Kỳ xuất khẩu tới Đan Mạch. Có tới hàng trăm công ty sở hữu của Hoa Kỳ ở Đan Mạch, một số công ty này chỉ đăng ký cho mục đích về thuế, những thứ có ích cho công ty mẹ. Các sản phẩm chính Đan Mạch xuất khẩu sang Hoa Kỳ là máy móc, sản phẩm hóa chất, đồ đạc, dược phẩm, thịt lợn và thịt đóng hộp.
== GDP ==
Bảng thống kê GDP theo sức mua tương đương và tốc độ tăng trưởng kinh tế một số năm từ 2002 đến 2006:
== Chú thích == |
bóng chuyền.txt | Bóng chuyền là 1 môn thể thao Olympic, trong đó 2 đội được tách ra bởi 1 tấm lưới. Mỗi đội cố gắng ghi điểm bằng cách đưa được trái bóng chạm phần sân đối phương theo đúng luật quy định.
Bộ luật hoàn chỉnh khá rộng. Nhưng sơ lược, cách chơi như sau: vận động viên ở 1 đội bắt đầu lượt đánh bằng cách phát banh (thảy hoặc thả trái banh và đánh bằng bàn tay hoặc cánh tay), từ ngoài đường biên cuối sân, qua lưới, và sang phần sân của đội nhận banh. Đội nhận banh không được để banh chạm mặt đất bên phần sân đội mình. Họ được phép chạm banh tối đa 3 lần. Thông thường, 2 lần chạm đầu tiên được dùng để chuẩn bị cho đội tấn công, đội cố gắng trả trái banh qua lưới sao cho đội bên kia không thể chặn trái để không chạm mặt đất phần sân đội mình.
Lượt banh tiếp tục, với mỗi đội được phép chạm banh nhiều nhất 3 lần liên tục, đến khi một trong 2 điều xảy ra (1): đội thắng lượt banh, làm cho trái banh chạm được mặt đất phần sân đối phương; hay (2): đội phạm lỗi và thua lượt banh. Đội thắng lượt banh ghi được 1 điểm, và được phép giao banh ở lượt tiếp theo. Một vài lỗi phổ thông thường phạm phải là:
Khiến banh chạm đất ngoài phần sân đối phương hoặc không đưa được bóng qua lưới;
"Cầm hoặc ném" bóng;
"2 chạm": 2 lần chạm banh bởi cùng một vận động viên;
4 lần chạm banh liên tục bởi cùng một đội;
Lỗi chạm lưới: chạm vào lưới trong khi lượt banh chưa kết thúc;
Trái banh thường được chơi bằng bàn tay hoặc cánh tay, nhưng người chơi được phép đập hoặc đẩy (chạm banh trong thời gian ngắn) bằng bất kì bộ phận nào trên cơ thể.
Có khá nhiều kĩ thuật chơi trong bóng chuyền, bao gồm "spiking" (đập banh) và "blocking" (chắn banh) (bởi vì những ký thuật chơi đó được thực hiện bên trên lưới nhảy thẳng đứng là một trong những kĩ năng được chú trọng trong thể thao) cũng như "passing" (bắt bước 1), "setting" (chuyền 2), và các vị trí chơi đặc thù và cấu trúc chơi phòng thủ và tấn công.
== Lịch sử ==
=== Nguồn gốc của bóng chuyền ===
Vào ngày 9 tháng 2 năm 1895 ở Holyoke, Massachusetts, Hoa Kỳ, William G.Morgan, một hướng dẫn viên môn giáo dục thể chất YMCA, đã tạo nên một môn thể thao mới gọi là "Mintonette". Môn này được xem là một trò giải trí được khuyên chơi trong nhà và với số lượng người chơi không bị hạn chế. Mintonette đã lấy một số đặc trưng của nó từ môn tennis và bóng ném. Một môn thể thao trong nhà khác, bóng rổ, cũng được tạo ra và chỉ cách nơi đây 10 dặm (16 kilomet), ở thành phố Springfield, Massachusetts chỉ 4 năm về trước. Mintonette đã được thiết kế để trở thành một môn thể thao trong nhà ít thô bạo hơn so với bóng rổ và dành cho các thành viên cũ của YMCA, trong khi vẫn cần một chút nỗ lực thể thao. Những luật đầu tiên, được viết bởi William G Morgan, đòi hỏi một cái lưới cao 6 ft 6 in (1.98 m), một sân 25×50 ft (7.62×15.24 m), và không giới hạn người chơi. Trận đấu bao gồm 9 lượt với 3 lượt giao banh cho mỗi đội ở mỗi lượt, và không giới hạn số lần chạm banh cho mỗi đội trước khi đưa banh qua phần sân đối phương. Khi phát banh lỗi, đội sẽ còn thêm một lần phát banh. Đánh banh không qua lưới được xem là phạm lỗi (tương tự với phát ra ngoài)—trừ phi đó là lần phát bóng đầu tiên.
Sau một lần quan sát, Alfred Halstead, chú ý tính "volleying nature" của trò chơi trong trận thể thao biểu diễn đầu tiên vào năm 1896, tại trường quốc tế đào tạo YMCA (hiện giờ gọi là Springfield College), trò chơi nhanh chóng được biết đến với tên "volleyball" (bóng chuyền) (ban đầu được phát âm thành hai tiếng: "volley ball"). Luật của bóng chuyền được xây dựng sơ lược bởi trường quốc tế đào tạo YMCA và trò chơi phát triển rộng ra ở nhiều YMCA khác.
=== Những cải tiến và phát triển sau này ===
Quả bóng đầu tiên được sử dụng hiện vẫn còn đang tranh cãi; một vài nguồn dẫn nói rằng Spalding đã tạo ra quả bóng đầu tiên vào năm 1896, trong khi các nguồn khác nói rằng nó được tạo ra vào năm 1900. Các luật chơi phát triển dần theo thời gian: ở Philippines vào năm 1916, kĩ năng và sức mạnh của chuyền 2 và đập banh đã được xây dựng, và 4 năm sau luật "3 chạm" và luật cấm phát banh từ hàng phía sau được phát triển. Vào năm 1917, trò chơi chuyển từ 21 sang 15 điểm. Vào năm 1919, khoảng 16 000 quả bóng chuyền được sản xuất bởi American Expeditionary Force cho quân đội của họ và Những quốc gia thuộc khối Đồng Minh, điều đa góp phần phát triển bóng chuyền ở các nước mới.
Quốc gia đầu tiên ngoài Mỹ công nhận bóng chuyền là 1 môn thể thao là Canada vào năm 1900. Hiệp hội quốc tế, Fédération Internationale de Volleyball (FIVB), được thành lập vào năm 1947, và Giải vô địch Quốc tế đầu tiên được tổ chức vào năm 1949 dành cho nam và năm 1952 dành cho nữ. Môn thể thao này giờ trở nên phổ biến tại Brasil, châu Âu (nơi mà đặc biệt là Ý, Hà Lan, và các nước Đông Âu hiện là cường quốc trong môn thể thao này từ thập niên 1980), ở Nga, và một vài nước khác gồm Trung Quốc và phần lớn các quốc gia ở châu Á, cũng như ở Mỹ.
Bóng chuyền bãi biển, phiên bản khác chơi trên cát của bóng chuyền với chỉ 2 người mỗi bên, được chấp nhận bởi FIVB để trở thành 1 môn thể thao vào năm 1987 và thêm vào các môn thể thao trong chương trình Olympic vào Thế vận hội Mùa hè 1996. Bóng chuyền còn là một môn thể thao trong Paralympics tổ chức bởi World Organization Volleyball for Disabled (Hiệp hội bóng chuyền cho người tàn tật).
=== Bóng chuyền trong Thế vận hội ===
Lịch sử của bóng chuyền Olympic đánh dấu từ Thế vận hội Mùa hè 1924 tại Paris, nơi mà bóng chuyền được như một phần mô tả sự kiện thể thao của châu Mỹ. Sau khi sự thành lập của FIVB và một số hiệp hội châu lục, bóng chuyền bắt đầu được đề nghị để trở một môn thể thao chính thức. Vào năm 1957, một giải đấu đặc biệt được tổ chức tại kì họp IOC lần thứ 53 ở Sofia, Bulgaria để ủng hộ cho đề nghị này. Cuối cùng yêu cầu này cũng được chấp thuận, và bóng chuyền chính thức trở thành môn thể thao nằm trong chương trình thi đấu tại Thế vận hội Mùa hè 1964.
Giải đấu bóng chuyền Olympic ban đầu chỉ là một giải đấu bình thường: tất cả các đội thi đấu với các đội còn lại và được xếp hạng theo tỉ lệ chiến thắng, trung bình set, và trung bình điểm. Một điểm bất cập của hệ thống giải đấu vòng tròn tính điểm là những đội chiến thắng có thể được dự đoán từ trước khi giải đấu kết thúc, điều này lằm cho khán giả mất đi sự hứng thú đối với kết quả của các trận đấu còn lại. Để đối phó với trình huống này, giải đấu được chia ra làm 2 nhóm cùng với một vòng đấu cuối cùng loại bỏ các giải đấu bao gồm cá trận tứ kết, bán kết và chung kết vào năm 1972. Con số các đội tham gia giải đấu Olympic tăng dần qua các năm từ 1964. Từ 1996, các sự kiện cho cả nam lẫn nữ có đến 12 quốc gia thi đấu. Mỗi liên đoàn bóng chuyền châu lục đều có ít nhất một hiệp hội của một quốc gia nằm trong Olympic.
Liên Xô từng giành được huy chương vàng nam bóng chuyền vào năm 1964 và 1968. Sau khi giành huy chương đồng vào năm 1964 và bạc vào năm 1968, Nhật cuối cùng cũng có được tấm huy chương vàng bóng chuyền nam vào năm 1972. Huy chương vàng nữ thuộc về Nhật vào năm 1964 và 1976. Năm đó, sự ra đời của kĩ năng phòng thủ mới, tấn công sau hàng chắn, đã giúp Ba Lan vượt qua Liên Xô sau 5 set đấu sít sao. Từ lúc đội bóng chuyền nam mạnh nhất lúc bấy giờ thuộc về khối Đông Âu, việc tẩy chay sự dẫn đầu của Mĩ tại Thế vận hội Mùa hè 1980 đã không có nhiều ảnh hưởng đến môn bóng chuyền nam như ở bóng chuyền nữ. Liên Xô sưu tầm huy chương vàng ở môn bóng chuyền nam thứ ba của họ với chiến thắng 3-1 trước Bun-ga-ri (đội bóng chuyền nữ của họ cũng có được tấm huy chương vàng thứ 3). Với việc tẩy chay Liên Xô ở Thế vận hội Mùa hè 1984 tại Los Angeles, đội Mĩ đã vượt qua Brazil trong trận chung kết để dành tấm huy chương vàng. Ý giành được chiếc huy chương đầu tiên (huy chương đồng nam) vào năm 1984, báo hiệu cho sự phát triển vượt bậc trong bóng chuyền Ý.
Tại Thế vận hội Mùa hè 1988, Karch Kiraly và Steve Timmons đưa đội tuyển Mĩ đến với tấm huy chương vàng thứ 2 liên tiếp của họ. Vào năm 1992, việc đánh giá thấp Brazil đã khiến các đội được yêu thích như C.I.S., Hà Lan và Ý gây thất vọng trước cơ hội giành được tấm huy chương vàng Thế vận hội đầu tiên của họ. Đội á quân Hà Lan, huy chương bạc năm 1992, trở lại dưới sự dẫn dắt của Ron Zwerver và Olof van der Meulen để giành chức vô địch vào năm 1996 sau chiến thắng 5 set trước Ý. Huy chương đồng nam năm 1996, Serbia và Montenegro (tham gia khi còn là Liên bang Nam Tư vào năm 1996 và 2000) đánh bại Nga trong trận chung kết vào năm 2000, giành tấm huy chương vàng đầu tiên của họ. Vào năm 2004, Brazil chiến thắng đội á quân Ý trong trận chung kết. Vào Thế vận hội Mùa hè 2008, đội tuyển Mĩ đã đánh bại Brazil trong trận chung kết môn bóng chuyền nam.
== Luật chơi ==
=== Sân thi đấu ===
Bóng chuyền được chơi trên sân:
- Chiều dài: 17m (59 feet)
- Chiều rộng: 9m (29.5 feet)
Sân được chia thành hai nửa 9m × 9m bởi một lưới đặt giữa sân.
Kích thước lưới:
- Rộng: 1m (40-inch)
- Mép trên cao: 2,43m (7 feet 11 5/8 inches) đối với nam và 2,24m (7 feet 4 1/8 inches) đối với nữ
Lưu ý: chiều cao này có thể thay đổi đối với từng giải đấu chuyên nghiệp và nghiệp dư.
Có một vạch song song và cách lưới 3m trên phần sân của mỗi đội, được xem là "vạch tấn công". Vạch "3m" (hoặc 10 foot) này chia phần sân mỗi đội thành "hàng trước" và "hàng sau" (cũng có thể gọi là sân trước và sân sau). Lần lượt ta có 3 khu vực: được đánh số như dưới đây, bắt đầu từ khu "1", là vị trí của người giao bóng.
Sau khi giành được quyền giao bóng (còn được gọi là siding out), các thành viên của đội phải di chuyển theo chiều kim đồng hồ, với người chơi lúc trước ở vị trí "2" di chuyển tới vị trí "1" và lần lượt như vậy, người chơi ở vị trí "1" di chuyển tới vị trí "6".
Sân được bao quanh bởi một diện tích gọi là vùng tự do, rộng ít nhất là 3m và là nơi người chơi có thể vào và đánh bóng sau khi phát bóng. Mọi vạch thể hiện đường biên của sân và vùng tấn công được vẽ hoặc sơn trong phạm vi kích thước của sân. Nếu bóng chạm vào vạch thì được xem như là ở trong. Có một cọc nhỏ đặt tại nơi trực giao của lưới và đường biên và được xem là đường biên đứng. Bóng chỉ thực sự qua lưới nếu vượt được qua giữa hai cọc này (hay đường kéo dài vuông góc của nó tới trần nhà) mà không chạm vào chúng.
=== Bóng ===
Quy định của FIVB (liên đoàn bóng chuyền thế giới) về bóng thi đấu:
Chất liệu: da hoặc da nhân tạo với khí nén bên trong
Chu vi: 65–67 cm
Trọng lượng: 260–280 g
Áp lực bên trong bóng: 0.30–0.325 kg/cm2.
Một vài nơi khác cũng có quy định tương tự.
=== Cách chơi ===
Có 2 đội chơi, mỗi đội gồm 6 người. Để bắt đầu trận đấu, đội giành quyền giao bóng được quyết định bằng cách tung đồng xu. Người chơi ở đội giao bóng (người giao bóng) tung quả bóng lên và cố gắng đánh bóng sao cho nó vượt qua lưới và chạm đất trong phần sân của đối phương. Đội bên kia phải phối hợp với nhau sao cho đưa bóng ngược trở lại qua lưới với nhiều nhất là 3 lần chạm bóng (không kể một lần chắn bóng). Những lần chạm bóng đó thường là "bump" (tâng bóng) hay "pass" (bắt bước 1) để khống chế những đường bay của bóng và chuyền cho người kiến tạo đợt tấn công "setter" (chuyền 2); bước tiếp theo (thường là những quả chuyền bóng bằng cổ tay đẩy bóng bằng ngón tay) người kiến tạo đợt tấn công chuyền bóng cho người thực hiện đợt tấn công "attacker" để người này đập bóng; và cuối cùng là người thực hiện đợt tấn công, người mà "spike" (đập bóng) (nhảy cao lên không trung, giơ một tay cao trên đầu và đập bóng để bóng bay nhanh và mạnh xuống mặt đất phần sân đối phương) đánh trả bóng qua lưới. Đội khống chế bóng mà đang thực hiện đợt tấn công như đã miêu tả ở trên được gọi là ở trạng thái "offense" (tấn công).
Đội đang ở trạng thái "defense" (phòng thủ) cố gắng ngăn chặn đối phương đánh bóng trực diện xuống phần sân của mình: người chơi đứng trên lưới nhảy lên và đưa tay lên cao hết mức có thể (nếu được, có thể đưa tay qua phần sân bên kia) để "block" (chắn banh) quả banh đối phương. Nếu banh xuống gần đến mặt đất, vượt qua hàng chắn, những người còn lại của đội phòng thủ có thể cố gắng chặn bóng không cho chạm mặt đất bằng cách "dig" (đào) (thường là dùng tay thuận để chuyền hoặc lái một cách khó khăn trái banh). Sau khi đào thành công, đội chuyển sang thế tấn công.
Trò chơi tiếp tục như trên, đỡ và đánh bóng trở lại bên kia, đến khi bóng chạm đất hoặc người chơi phạm lỗi. Lỗi thường gặp nhất là không thể đưa được bóng qua phần sân đối phương sau 3 lần chạm bóng, hay làm bóng chạm mặt đất bên ngoài phần sân thi đấu. Quả bóng được tính "in" (trong sân) nếu bất kì phần nào của trái bóng chạm đất từ vạch biên và vạch cuối sân trở vào, và một cú đập mạnh có thể làm biến dạng quả bóng đến nỗi khi chạm đất tưởng như nó ra ngoài nhưng thực sự nó lại trong sân. Người chơi có thể khống chế bóng từ ngoài sân nếu bóng bay ra ngoài phần sân thi đấu.
Các lỗi thường gặp khác là người chơi chạm bóng liên tục 2 lần (trừ 1 lần chắn bóng), người chơi "catching" (cầm bóng), chạm lưới trước khi lượt banh kết thúc, hay đưa bất kì bộ phận cơ thể nào qua dưới lưới sang phần sân đối phương. Có rất nhiều lỗi được định nghĩa trong luật chơi, hầu hết là các lỗi hiếm gặp. Những lỗi này thường là hàng sau hay libero đập banh hay chắn banh (người chơi ở hàng sau có thể tham gia tấn công nếu họ nhảy đập banh từ sau vạch 3 mét), người chơi không ở đúng vị trí khi trái bóng được giao, tấn công cú giao bóng trực diện hoặc trên lưới, sử dụng người chơi khác để chơi bóng, đạp vạch biên cuối sân khi giao bóng, thời gian giao bóng quá 8 giây hay giao bóng trước khi trọng tài cho phép, hay chơi bóng khi bóng còn đang ở phần sân đối phương.
=== Tính điểm ===
Khi bóng chạm đất bên trong phần sân quy định hay có người phạm lỗi, đội không phạm lỗi được tính 1 điểm, dù họ giao banh hay không. Nếu bóng chạm vạch, trái bóng đó được tính trong sân. Đội giành được điểm sẽ giao banh ở lượt tiếp theo. Nếu đội ghi điểm không giao trái banh trước đó, thì các thành viên trong đội phải quay vòng vị trí theo chiều kim đồng hồ. Trò chơi tiếp tục, với đội nào đạt 25 điểm trước (và hơn đối phương tối thiểu 2 điểm) thắng set đấu đó. Trận đấu theo thể thức đánh 5 ăn 3 và nếu phải đánh đến set thứ 5 thì đội chiến thắng set chỉ cần đạt 15 điểm trước (vẫn phải cách đối phương 2 điểm) sẽ là đội thắng trận. (Cách tính điểm khác với từng giải đấu và cấp độ; giải ở các trường cấp 3 thường chỉ đánh 3 set ăn 2; giải NCAA) vẫn đánh đến 25 điểm trong cả 5 set ở mùa giải 2008.)
Trước 1999, điểm số có thể được ghi chỉ khi đội ghi điểm là đội giao bóng và mỗi set chỉ đánh đến 15 điểm. FIVB thay đổi bộ luật vào năm 1999 (với việc thay đổi bắt buộc vào năm 2000) sang sử dụng bộ luật hiện tại (thường được biết dưới tên "rally point system" (hệ thống tính điểm theo lượt đánh), chính thức làm cho mỗi trận đấu có thể tính toán được thời gian cùng với dễ dự đoán và thân thiện với việc phát sóng trên truyền hình.
=== Libero ===
Năm 1998, vị trí libero được giới thiệu rộng rãi trên toàn thế giới. Libero là vị trí có kĩ năng phòng thủ đặc biệt: libero phải mặc đồ tương phản khác hẳn với các vị trí còn lại trên sân và không được phép chắn bóng hay tấn công khi bóng nằm hoàn toàn trên mép lưới. Khi lượt đấu chưa bắt đầu, libero được quyền thay người cho bất kì vị trí nào ở hàng sau của đội, mà không cần thông báo với trọng tài, Việc thay người này không được tính vào giới hạn số lần thay người trong một set của mỗi đội, mặc dù libero có thể chỉ thay thế cho 1 người duy nhất của đội.
Libero có thể được chơi như ở vị trí chuyền 2 với một giới hạn nhất định. Nếu libero chuyền bóng cao hơn tay thì phải đứng sau vạch 3 mét (không được phép đạp lên vạch); nếu không, trái bóng không được phép dùng để tấn công trước vạch 3 mét. Chuyền bóng dưới tay có thể được thực hiện ở bất kì vị trí nào trên sân. Libero thông thường là người giỏi kĩ năng phòng thủ nhất trong đội. Ngoài ra, còn có một bảng theo dõi các libero của trọng tài để kiểm soát libero nào thực hiện thay người. Có thể chỉ có duy nhất 1 libero trong 1 set (game), nhưng cũng có thể có nhiều libero khác nhau trong mỗi set đấu mới (game mới).
Thêm nữa, libero thường không được phép giao banh, theo bộ luật quốc tế, trừ giải NCAA của nữ, đến khi bộ luật sửa đổi năm 2004 cho phép libero được phát bóng, nhưng chỉ trong trường hợp quay vòng đặc biệt. Điều này chỉ chấp thuận đối với 1 người duy nhất mà libero thế chỗ, không phải tất cả những ai mà libero có thể thế chỗ). Bộ luật thay đổi đã cho phép các trường cấp 3 và cấp 2 chơi ngay sau đó.
Kỹ thuật tấn công duy nhất của Libero khi thi đấu trong nhà có lẽ là tâng bóng dội trần, lợi dụng trọng trường làm một quả bóng vài trăm gam tăng thành vài kg khi dội từ trần nhà thẳng xuống phần sân đối phương, gây khó khăn trong việc đỡ bóng. Tuy nhiên đây là một kỹ năng không dễ. Libero được quyền ra vào sân tự do mà không cần thông báo với trọng tài với mục đích là để cho các chủ công vào nghỉ.
=== Những thay đổi trong bộ luật hiện tại ===
Những sửa đổi khác được ban hành năm 2000 bao gồm cho phép phát bóng được chạm lưới, miễn là bóng leo lưới và qua được phần sân bên kia. Cũng như mở rộng phạm vi được phát bóng ra mọi nơi trong phạm vi sân trên lý thuyết. Những sửa đổi khác được thực hiện để giảm nhẹ các lỗi ôm bóng hay chạm bóng 2 lần liên tiếp, như cho phép chạm banh nhiều lần đối với 1 người chơi ("double-hits").
Vào năm 2008, NCAA đã thay đổi một chút trong việc tính điểm chiến thắng ở 4 set đầu tiên từ 30 xuống 25 đối với nữ (đối với nam vẫn là 30). Nếu như phải đánh set quyết định (set thứ 5), điểm số tối thiểu yêu cầu là 15. Thêm vào đó, thuật ngữ "game" được dùng để thay thế cho "set".
Những thay đổi trong luật đã được công bố bởi FIVB trong những năm gần đây, và họ phát hành bộ luật cập nhật và năm 2009.
== Kĩ thuật đánh bóng chuyền ==
Các đội tham gia phải nắm vững các kĩ thuật sau: giao bóng, bắt bước 1, chuyền 2, tấn công/đập bóng, chắn bóng và cứu bóng. Các kĩ thuật này còn chứa đựng nhiều kĩ năng cao cấp, chuyên biệt hơn sau nhiều năm phát triển, hoàn thiện và giờ đây đã trở thành tiêu chuẩn cơ bản của bóng chuyền chuyên nghiệp.
=== Giao bóng ===
Người phát bóng đứng từ ngoài vạch cuối sân để giao bóng, cố gắng đưa bóng sang phần sân đối phương. Người phát bóng phải làm cho bóng có đường bay thật khó và nhanh xuống mặt đất phần sân đối phương để đối phương không thể đỡ hay kiểm soát được bóng. Quả giao banh được gọi là "ace" (giao bóng ăn điểm trực tiếp) khi đối phương không thể đón được cú giao banh (để banh chạm đất) hay không kiểm soát được và để banh đi ra ngoài sân.
Trong bóng chuyền hiện đại, có rất nhiều cách giao banh được chấp nhận:
Underhand (giao banh thấp): là cú giao banh mà người giao banh đánh banh bằng cánh tay từ dưới lên thay vì ném lên và đập banh. Giao banh thấp rất ít thấy ở các giải bóng chuyền chuyên nghiệp vì trái bóng được giao rất dễ dàng kiểm soát được.
Sky Ball Serve: một dạng của giao banh thấp nhưng ở đây trái banh được đánh sao cho bay cao hết mức có thể lên trên không trung để nó rớt xuống thành một đường thẳng. Cách giao banh này được tạo và sử dụng bởi rất nhiều đội bóng chuyền ở Brazil nhưng bây giờ đã lỗi thời. Ở Brazil, cú giao banh này còn được gọi là Jornada nas Estrelas (Du hành giữa các vì sao).
Topspin: là cú giao banh mà người giao banh ném bóng cao lên không trung và đánh bóng bằng cổ tay, tạo cho nó độ xoáy lớn đủ để làm trái banh lao cắm xuống mặt đất ngay khi bay qua lưới. Kĩ thuật này cần phải đánh thật mạnh vào bóng và nhằm thẳng vào một vị trí xác định bên phía đối phương (có thể là sân hoặc người). Đây cũng là kĩ thuật ít được sử dụng trong bóng chuyền chuyên nghiệp.
Float: là kĩ thuật giao banh cao nhưng không cung cấp cho nó độ xoáy nên rất khó xác định hướng bay cho bóng, giống như knuckleball trong bóng chày.
Jump Serve: là kĩ thuật giao banh cao mà ném bóng thật xoáy lên không trung, sau đó người giao banh lấy đà dậm nhảy để đánh thật mạnh và xoáy vào trái banh. Đây là cách giao phổ biến trong bóng chuyền ở các trường trung học và các giải chuyên nghiệp.
Jump Float: kĩ thuật giao banh cao mà trái banh được ném cao vừa đủ để người giao banh có thể nhảy lên trước khi đánh được trái banh gần giống như float serve. Trái bóng được ném thấp hơn topspin jump serve, nhưng vị trí chạm banh vẫn là ở trên không trung. Cú giao banh này trở nên phổ biến trong các trường trung học và người chơi chuyên nghiệp vì nó rất khó để có thể đoán được hướng đi của bóng.
=== Bắt bước 1 ===
Còn được gọi nhận bóng, bắt bước 1 là kĩ thuật để khống chế bóng của đối phương đánh sang. Việc khống chế bóng không những ngăn không cho bóng chạm phần sân đội mình mà còn để thực hiện việc chuyền bóng cho chuyền 2 kiến tạo đợt tấn công.
Kĩ thuật bắt bước 1 gồm 2 kĩ thuật cơ bản: đỡ bước 1 bằng cánh tay, hoặc búng bóng, vị trí chạm bóng là ở trên 2 cánh tay, gần với mặt phẳng thắt lưng; đối với búng bóng thì kĩ thuật đó, giống như chuyền 2, dùng để khống chế bóng trên đầu bằng ngón tay. Cả hai phương pháp đều được chấp nhận trong bóng chuyền chuyên nghiệp, tuy nhiên đối với bóng chuyền bãi biển lại có một chút thay đổi.
=== Chuyền 2 ===
Chuyền 2 thường là lần chạm bóng thứ hai của đội nhận bóng. Mục đích chính là điều chỉnh bóng sao cho đồng đội có thể dễ dàng tấn công đối phương. Vị trí chuyền 2 đứng ngang hàng với hàng chắn của đội, và đây cũng vị trí tối quan trọng quyết định ai sẽ là người tấn công trong đội.
Cũng như bắt bước 1, chuyền 2 có thể sử dụng kĩ thuật bắt bước 1 (đỡ bóng hoặc búng bóng). Nhưng vị trí này cho phép người chơi có nhiều khả năng điều khiển bóng hơn; đỡ bóng được sử dụng khi bóng quá thấp, không thể búng bóng được hay như trong bóng chuyền bãi biển, việc búng bóng bị luật chơi hạn chế rất nhiều. Ở vị trí chuyền 2, người chơi có thể chuyền bóng ra trước mặt hoặc sau đầu. Người thực hiện chuyền 2 cũng được phép thực hiện việc khống chế bóng trên không trung nếu bóng rơi vào vị trí quá gần lưới (không thể khống chế bóng khi đứng dưới đất). Chuyền 2 thường đứng ở vị trí cách mép trái sân khoảng ⅔, và hướng mặt về bên trái (vùng rộng của lưới mà người chơi có thể thấy được).
Đôi lúc chuyền 2 có thể thực hiện việc đánh bóng trực tiếp sang sân đối phương mà không cần phải chuyền bóng cho đồng đội. Kĩ thuật này được gọi "dump". Dump phổ biến nhất là đẩy bóng ra sau hoặc phía trước của chuyền 2 của đối phương đến vị trí số 2 và 4. Chuyền 2 nhiều kinh nghiệm có thể búng bóng cao và sâu về cạch cuối sân của đối phương hoặc thực hiện việc đập banh ngay từ lần chạm banh thứ 2.
=== Tấn công / đập bóng ===
Tấn công, còn gọi là "spike" (đập bóng), thường là lần chạm bóng thứ ba của đội. Mục tiêu của việc này là làm cho trái banh lao xuống mặt đất đối phương mà không thể bị ngăn chặn. Chủ công thực hiện các bước chạy nhằm tạo đà tiếp cận bóng ("approach"), nhảy và đập bóng.
Lý tưởng nhất là vị trí chạm bóng đạt được khi cú nhảy đạt độ cao cực đại. Tại thời điểm tiếp xúc bóng, cánh tay đập bóng giơ cao hết mức trên đầu, dồn hết sức đập thẳng vào trái banh, tạo vị trí tiếp xúc banh cao nhất có thể để tạo được lực đánh mạnh nhất. Người đập bóng quạt mạnh cánh tay xuống, gập cổ tay, và đồng thời gập toàn bộ cơ thể một cách nhanh chóng để "lái" banh. "Bounce" (nhồi bóng) là từ thông tục để chỉ cú đập mạnh (gây tiếng động lớn) làm trái bóng đập vuông góc mặt đất và nảy cao lên không trung. "Kill" (giết chết) là từ thông tục để chỉ đợt tấn công mà đối phương không thể trả được bóng đồng nghĩa với việc ghi được điểm.
Bóng chuyền hiện đại có nhiều kĩ thuật tấn công khác nhau:
Backcourt (hay backrow)/pipe attack: là đợt tấn công do hàng sau thực hiện. Người thực hiện bắt buộc phải nhảy từ sau vạch 3 mét trước khi chạm bóng, nhưng được quyền đáp xuống phần sân trước vạch 3 mét sau khi đập bóng.
Line and Cross-court Shot (đập dãn biên): khi bóng bay thẳng theo một đường cong song song với vạch biên, hoặc chéo sân tạo thành một góc. Cú đập dãn biên (đập chéo sân) với một góc rõ rệt thường cho kết quả là một đường banh sắc và chạm xuống phần sân trước vạch 3 mét, còn được gọi là cut shot.
Dip/Dink/Tip/Cheat/Dump: người chơi không cố gắng đập banh, chỉ chạm nhẹ vào banh để banh rơi vào phần sân nằm ngoài tầm với của hàng thủ.
Tool/Wipe/Block-abuse: người chơi không cố tạo ra đợt tấn công gây khó khăn cho đối thủ, mà chỉ đập bóng chạm hàng chắn đối phương bay ra ngoài.
Quick hit/"One" (đập nhú): cú tấn công (thường do vị trí số 3 thực hiện) mà việc tiếp cận và nhảy đập thực hiện trước khi chuyền 2 đưa bóng. Cú chuyền 2 đó (còn gọi là "quick set" (chuyền nhanh)) chỉ đưa bóng đến vừa đủ trên mép lưới chỗ vị trí số 3 đứng và việc đập bóng gần như xảy ra ngay tức khắc. Đập nhú tỏ ra rất hiệu quả bởi việc gây rối loạn hàng chắn đối phương.
Slide: là một biến đổi của đập nhú, vị trí số 3 đứng và đập banh từ phía sau chuyền 2.
Double quick hit/"Stack"/"Tandem": cũng là một biến đổi khác của đập nhú mà ở đó, có đến hai người tham gia nhảy lên đập bóng, một ở phía trước và một từ phía sau hoặc cả hai cùng ở phía trước chuyền 2; cả hai thực hiện đập nhú cùng lúc. Điều này cũng có dùng để vô hiệu hóa hàng chắn của đối phương để cho người thứ 4 tham gia tấn công đập bóng mà có thể không gặp hàng chắn nào.
=== Chắn bóng ===
Chắn banh là kĩ thuật dành cho các vị trí đứng ngay dưới lưới để ngăn các đợt tấn công của đối phương sang phần sân đội mình.
Chắn banh mà chỉ chặn đợt tấn công của bên kia và giữ không cho bóng sang phần sân của đội mình, còn gọi là tấn công. Một vận động viên có kĩ thuật tốt có thể nhảy lên, đưa gần như toàn bộ cánh tay sang phần sân bên kia và chắn banh của đối phương. Điều này đòi hỏi phải đề phòng hướng bay của banh ngay khi đợt tấn công diễn ra. Nó còn đòi hỏi phải sự phối hợp thật tốt của chân để tạo ra một hàng chắn hiệu quả.
Cú nhảy cũng cần phải tính toán chính xác về thời điểm nhảy ngay khi bóng bay qua lưới. Lòng bàn tay được điều chỉnh nghiêng xuống tạo góc khoảng 45-60 độ về phía sân đối phương. Từ "roof" (trong tiếng Anh có nghĩa là "nóc nhà") được dùng để chỉ những cú chắn banh mà hướng toàn bộ lực và đường bay của banh thẳng xuống mặt đất của sân đối phương, ngay khi đối phương đập banh vào mặt hướng xuống của cánh tay.
Ngược lại, cú chắn banh được gọi là phòng thủ, hoặc "soft block" (chắn nhẹ) khi mục tiêu chính chỉ là khống chế để giảm lực tấn công và điều chỉnh hướng bay của bóng sao cho đội mình có thể dễ dàng tiếp cận. Một cú "soft block" hoàn hảo thường là hai cánh tay đưa thẳng lên và lòng bàn tay hơi ngửa lên, ngón tay nghiêng về phía sau.
Chắn banh còn được xếp loại dựa vào số lượng thành viên tham gia chắn banh. Có thể có 1, 2 hay 3 người cùng tham gia chắn bóng. Một cú chắn thành công là cú chắn bóng sao cho đối phương bị "roof", cú chắn khiến cho lực tấn công của đối phương bị triệt tiêu hoặc làm cho bóng bay đơn giản để cho đội mình dễ dàng khống chế bóng được coi cú chắn thành công.
Cùng một lúc, vị trí chắn bóng cũng ảnh hưởng đến vị trí của hàng chắn đối phương khi mà chủ công đối phương thực hiện đợt tấn công.
=== Cứu bóng ===
Cứu bóng là kĩ thuật ngăn không cho bóng chạm đất sau đợt tấn công của đối thủ, chủ yếu được sử dụng khi bóng gần như chạm đất. Bề ngoài, kĩ thuật này trông giống với đỡ bước 1 hoặc búng bóng: đưa toàn bộ cánh tay ra đỡ bóng nhưng vẫn khác với kĩ thuật ở chỗ dùng ngón tay hoặc 2 cánh tay khép lại để chạm bóng.
Một số kĩ thuật đặc biệt còn phổ biến hơn cứu bóng hoặc đỡ bước 1. Người chơi có thể lao mình về phía bóng và tiếp đất bằng ngực để vươn tay đến vị trí bóng sắp chạm đất để ngăn điều đó xảy ra, kĩ thuật đo còn gọi là "pancake". Kĩ thuật này rất thường được sử dụng trong bóng chuyền trong nhà.
Đôi lúc người chơi có thể ngả hẳn người về phía trước thật nhanh để cứu bóng. Kĩ thuật này đòi hỏi phải có thêm kĩ thuật để lăn mình nhằm tránh chấn thương.
== Huấn luyện viên ==
=== Cơ bản ===
Huấn luyện viên trong bóng chuyền có thể được chia làm 2 loại: huấn luyện viên chiến thuật và huấn luyện viên thể lực. 2 mục tiêu chính của huấn luyện viên chiến thuật là chiến thắng trận đấu và sắp xếp chiến thuật thi đấu cho đội. Huấn luyện viên thể lực có nhiệm vụ là chú trọng vào sự phát triển, tiến bộ của vận động viên thông qua việc bổ sung các bài tập kĩ năng cơ bản được gọi là "drills" (rèn luyện). Rèn luyện tập trung vào việc lặp đi lặp lại nhiều lần và tập luyện các kĩ thuật di chuyển, đặc biệt là chạy sân, vị trí đứng có liên quan đến những người khác trong đội, và tiếp xúc bóng. Huấn luyện viên sẽ xây dựng các bài tập mô phỏng lại các tính huống trong trận đấu tắng tốc độ di chuyển, khả năng phòng thủ, tính toán thời điểm, giao tiếp với các thành viên khác trong đội, và làm việc theo nhóm. Tùy vào từng mục tiêu cụ thể mà huấn luyện viên sẽ thay đổi các bài tập để đạt được yêu cầu chiến thuật của toàn đội. American Volleyball Coaches Association là tổ chức lớn nhất tập trung dành riêng cho việc cung cấp các trọng tài cho bóng chuyền.
== Chiến thuật ==
=== Các vị trí trên sân ===
Có 5 vị trí trên sân đối với các đội ở cấp độ ưu tú. Chuyền 2, Outside Hitter/Left Side Hitter, Middle Hitter, Opposite Hitter/Right Side Hitter (Tay đập ngoài/Tay đập bên trái, Tay đập giữa, Tay đập đối diện/Tay đập phải và Libero/Chuyên gia phòng thủ). Mỗi vị trí đều có một vai trò riêng đặc biệt trong việc chiến thắng trận đấu.
Chuyền 2 có nhiệm vụ điều phối cho đợt tấn công của toàn đội. Họ phải là người chạm bóng lần thứ 2 và trách nhiệm chính trong việc đưa bóng đến đúng vị trí của các tay đập để ghi điểm. Họ phải có khả năng làm việc với các tay đập, sắp xếp để giữ nhịp cho toàn đội và chọn tây đập phù hợp cho đợt tấn công để chuyền banh. Chuyền 2 phải người nhanh nhẹn, có kinh nghiệm, chiến thuật đúng đắn và có tốc độ trong việc di chuyển khắp mặt sân.
Libero là chuyên gia phòng thủ, người có trách nhiệm đỡ bước 1/ cứu bóng cho toàn đội. Họ thường là người có phản ứng nhanh nhất trên sân và khả năng bắt bước 1 cực tốt. Libero có nghĩa là "tự do" đồng nghĩa với việc họ có thể thay thế cho bất kì ai trên sân trong trận đấu. Họ không cần phải cao, vì họ không cần chơi bóng trên lưới, điều này cho phép những vận động viên thấp với khả năng bắt bước 1 tốt và kĩ năng phòng thủ siêu hạng có được một vị trí quan trọng trong thành công của toàn đội. Người được chọn là libero trong đội có thể chỉ được quyền thay thế cho một vị trí duy nhất trong đội. Libero phải trang phục khác màu so với các thành viên còn lại trong đội.
Middle blockers (tay chắn giữa) hay Middle hitters (tay đập giữa) là những vị trí có thể triển khai các đợt tấn công chớp nhoáng thường ở gần vị trí của chuyền 2. Họ còn là những chuyên gia phòng thủ, bởi họ vừa phải cố gắng chặn đợt tấn công nhanh của đối vừa phải ngay lập tức lập một hàng chắn kép tại biên. Ở các đội không phải mới tập chơi, mỗi đội đều có 2 middle hitter.
Outside hitters (tay đập ngoài/tay đập biên) hay Left side hitters (tay đập biên bên trái) tấn công từ phía biên trái cọc biên (antenna). Outside hitter thường là tay đập chủ yếu trong đội và nhận hầu hết các đường chuyền từ chuyền 2. Những trái bắt bước 1 không tốt thường được chuyền cho outside hitter hơn là middle hay opposite hitter. Bởi hầu hết các đường bóng chuyền cho outside hitter đều cao, outside hitter có thể mất một khoảng thời gian để tiếp cận bóng, thường là bắt đầu lấy đà từ ngoài vạch biên sân. Trong các trận đấu từ nghiệp dư trở lên, thường có 2 outside hitter ở mỗi đội trong trận đấu.
Opposite hitters hay Right side hitters (tay đập biên bên phải) đảm nhận việc phòng thủ ở khu vực dưới lưới. Nhiệm vụ chính của họ là tạo ra một hàng chắn tốt để chặn cú đập từ outside hitter của đối phương và đóng vài trò là một chuyền 2 phụ. Chuyền 2 của đối phương thường đưa về phía bên phải của antenna.
=== Đội hình ===
Có 3 đội hình thi đấu tiêu chuẩn trong bóng chuyền được biết đến dưới tên "4-2", "6-2" và "5-1", điều này phụ thuộc số lượng các tay đập và chuyền 2 ở trên sân. 4-2 là đội hình cơ bản được sử dụng bởi những người mới chơi, trong khi đội đội hình 5-1 lại là đội hình phổ biến ở bóng chuyền đẳng cấp cao.
==== 4-2 ====
Đội hình 4-2 có đến 4 tay đập và 2 chuyền 2. Chuyền 2 thường chuyền banh từ giữa hoặc bên phải của hàng trên. Đội sẽ có 2 tay đập ở vị trí tương ứng. Trong đội hình quốc tế 4-2, chuyền 2 thường chuyền banh từ vị trí bên phải. Đội hình 4-2 quốc tế có thể dễ dàng chuyển thành các đội hình tấn công khác. Các chuyền 2 sẽ xếp hàng đối diện nhau trong các lần quay vòng đội hình. Hàng tiêu biểu thường có 2 outside hitter. Bằng cách xếp như vậy, các thành viên đều sẽ đứng đúng vị trí ở hàng trước hoặc sau. Sau khi giao banh, người đứng ở trí hàng trước đều thay đổi vị trí của mình để chuyền 2 luôn được đứng ở giữa lưới. Mặt khác, một chuyền 2 sẽ di chuyển vào vị trí bên phải lưới và có cả tay đập giữa và tay đập biên; điểm bất tiện ở đây là thiếu offside hitter, điều này cho phép một trong các tay chắn của đối phương "chơi ăn gian" ở hàng chắn giữa.
Điểm bất tiện của đội hình tấn công này là chỉ có 2 tay đập, đẩy đội vào tình thế có ít các vũ khí tấn công.
Một điểm rõ ràng nữa là có thể thấy chuyền 2 chính là động lực cho đợt tấn công, mặc dù điều đó làm suy yếu đợt tấn công, bởi khi chuyền 2 đứng ở giữa sân, họ có thể 'tip' hay 'dump'. Điều đó đồng nghĩa với việc hàng chắn của đối phương phải đề phòng với cả chuyền 2 nên trong một vài trường hợp sẽ để lộ sơ hở và giúp cho tay đập của đội mình có thể tấn công dễ dàng hơn.
==== 6-2 ====
Đội hình 6-2, người chơi thường từ hàng sau lao về phía trước để chuyền 2. 3 người chơi đứng ở hàng trước đều ở vị trí sẵn sàng tấn công. Cùng lúc, toàn bộ 6 người trên sân đều có thể là tay đập, trong khi có hai người hoạt động như là một chuyền 2. Vậy nên đội hình 6-2 thực ra là đội hình 4-2, nhưng chuyền 2 ở hàng sau là người thực hiện chạm bóng lần 2. Độ hình 6-2 mở rộng đòi hỏi có tới 2 chuyền 2, người mà sẽ chuyển lên hàng trên lẫn nhau sau mỗi lần quay vòng đội hình. Như là một sự hỗ trợ cho chuyền 2, việc nâng hàng sẽ có 2 tay đập giữa và 2 tay đập biên, luôn luôn sẽ có một trong các vị trí này nằm ở hàng trước hoặc hàng sau. Sau khi gia banh, người chơi ở hàng trước sẽ di chuyển đến vị trí đúng của mình.
Lợi điểm của đội hình này là luôn có 3 tay đập ở tư thế sẵn sàng, nhiều nhất trong các khả năng tấn công. Tuy nhiên, không chỉ đội hình 6-2 đòi hỏi đội phải có 2 chuyền 2 tốt, mà còn phải là những người chắn bóng hiệu quả không chỉ ở vị trí chuyền 2. Ở đẳng cấp quốc tế, chỉ có đội tuyển nữ quốc gia Cuba mới sử dụng đội hình này. Nó cũng được dùng trong đội nữ NCAA, một phần của các bộ luật khác nhau cho phép tới 12 lần thay người trong 1 set (khác với việc cho phép thay người 6 lần trong bộ luật chuẩn).
==== 5-1 ====
Đội hình 5-1 chỉ có một vị trí làm nhiệm vụ chuyền 2 duy nhất ngay cả khi đội quay vòng đội hình. Vì vậy đội sẽ có 3 tay đập ở hàng trên chỉ khi chuyền 2 ở hàng dưới, và chỉ có 2 khi chuyền 2 ở hàng trên, vậy nên ta có thể có tới 5 tay đập. Người đứng đối diện với chuyền 2 trong vòng quay 5-1 được gọi là opposite hitter. Nhìn chung, opposite hitter không đỡ bước 1; họ đứng sau đồng đội khi đối phương phát bóng. Opposite hitter có thể được sử dụng như là phương án tấn công thứ 3 (back-row attack) khi chuyền 2 đang ở hàng trên: đây là phương án thường được sử dụng để tăng sức tấn công trong các đội hình hiện đại. Bình thường opposite hitter là người có nhiều kĩ năng tấn công nhất trong đội. Back-row attack thường đến từ vị trí bên phải của hàng dưới, vị trí số 1, nhưng lại gia tăng khả năng của vị trí số 6 trong bóng chuyền đỉnh cao.
Lợi điểm lớn nhất của đội hình này là chuyền 2 luôn có 3 tay đập để chuyền bóng. Nếu chuyền 2 làm tốt nhiệm vụ của mình thì hàng chắn giữa của đối phương sẽ không có đủ thời gian để chắn bóng cùng với tay chắn biên, tăng khả năng thành công khi tấn công.
Còn có một vài lợi điểm khác như, giống như đội hình 4-2: khi chuyền 2 ở hàng trên, người đó có quyền nhảy lên và thực hiện "dump" bóng sang bên kia. Điều này cũng góp phần làm rối loạn hàng thủ của đối phương: chuyền 2 cũng có thể nhảy và dump hoặc chuyền bóng cho tay đập đang chờ sẵn. Một chuyền 2 tốt sẽ nhận biết được này để chọn thời điểm thích hợp và phương án tấn công thích hợp để dump hay chỉ cần chuyền là đủ để làm rối loạn hàng thủ đối phương.
Đội hình tấn công 5-1 thực chất là sự kết hợp của 6-2 và 4-2: khi chuyền 2 ở giữa hàng trên, đợt tấn công trông như của 4-2; khi chuyền 2 ở hàng dưới, đợt tấn công trong như của 6-2.
== Các biến thể của bóng chuyền và trò chơi liên quan ==
Có rất nhiều biến thể dựa trên các quy tắc cơ bản của bóng chuyền. Phổ biến nhất trong đó là Bóng chuyền bãi biển, là môn bóng chuyền chơi trên cát với chỉ hai người ở mỗi bên, và là biến thể đang cạnh tranh với bóng chuyền trong việc phổ biến rộng rãi. Một vài trò chơi có liên quan đến bóng chuyền bao gồm:
Footvolley: Môn thể thao xuất phát từ Brazil, không dùng bàn tay và cánh tay nhưng hầu như lại giống bóng chuyền bãi biển.
Hooverball: phổ biến bởi tổng thống Herbert Hoover, chơi với lưới bóng chuyền và bóng thể dục; tính điểm như tennis, nhưng trái banh được bắt lại và ném qua bên kia. Trọng lượng của trái bóng có thể khiến người chơi vận động khá mệt; hằng năm cũng có giải thường niên được tổ chức ở West Branch, Iowa.
Newcomb ball (đôi lúc đọc là "Nuke 'Em"): trong game này, bóng được bắt và ném thay vì đánh; nó từng cạnh tranh tính phổ biến với bóng chuyền đến thập niên 1920.
Prisoner Ball:cũng được chơi trên sân bóng chuyền và bóng chuyền, mục tiêu là làm cho đối thủ ra khỏi sân.
Throwball trỏ nên phổ biến với nữ sinh ở YMCA College of Physical Education ở Chennai (Ấn Độ) trong thập niên 1940.
== Xem thêm ==
Giải vô địch bóng chuyền Việt Nam
== Tham khảo ==
== Liên kết ngoài ==
FIVB
USA Volleyball
AVP
American Volleyball Coaches Association |
giải bóng đá vô địch quốc gia 2010.txt | Giải bóng đá vô địch quốc gia 2010, có tên chính thức của nhà tài trợ là Giải bóng đá vô địch quốc gia Petrovietnam Gas 2010 hay Petro Vietnam Gas V-League 2010, là Giải bóng đá vô địch quốc gia lần thứ 18, diễn ra từ ngày 30 tháng 1 đến 22 tháng 8 năm 2010. Giải bao gồm 14 câu lạc bộ tham dự.
== Thay đổi trước mùa giải ==
Danh sách các đội bóng có sự thay đổi so với mùa giải 2009:
^[a] Lam Sơn Thanh Hóa (do tỉnh Thanh Hoá quản lý) mua lại Thể Công sau khi Bộ Quốc phòng quyết định giải thể và Viettel (một đơn vị cũng của Quân đội) từ chối tiếp nhận.
^[b] Quân khu 4 chuyển giao chủ sở hữu cho Navibank, chuyển địa bàn vào Tp Hồ Chí Minh và đổi tên thành Navibank Sài Gòn.
^[c] Sau đó bị UBND tỉnh Thanh Hoá giải thể và sáp nhập vào Lam Sơn Thanh Hóa.
T&T Hà Nội được đổi tên thành Câu lạc bộ bóng đá Hà Nội T&T.
Mùa giải này các câu lạc bộ được sử dụng không hạn chế cầu thủ nhập quốc tịch, được đăng ký 5 cầu thủ ngoại binh nhưng chỉ được sử dụng tối đa 3 cầu thủ trên sân.
Mùa giải 2010 cũng là mùa giải cuối cùng trước khi tất cả các đội muốn tham dự V-League 2011 đều phải chuyển đổi sang cơ chế doanh nghiệp theo quy định của AFC. Đến lúc kết thúc giải đấu, có đến 3 câu lạc bộ chưa chuyển đổi gồm có Lam Sơn Thanh Hóa, Megastar Nam Định, Tập đoàn Cao su Đồng Tháp. Đến hạn chót, chỉ có Megastar Nam Định không chuyển đổi kịp. Do đó, với số đội chuyên nghiệp là 13 đội ở V-League và 8 đội ở Giải hạng nhất, V-League 2010 chỉ có một đội chính thức rớt hạng là Megastar Nam Định, còn đội đứng áp chót Navibank Sài Gòn sẽ đấu play-off với đội đứng nhì Giải hạng nhất là Than Quảng Ninh.
== Tóm tắt giải đấu ==
Ngày 31 tháng 1 năm 2010, giải Vô địch quốc gia Petrovietnam Gas 2010 chính thức khởi tranh trên sân cỏ cả nước. Trong trận đấu sớm nhất diễn ra giữa 2 đội bóng thủ đô Hà Nội T&T có chiến thắng 2-1 trước Hòa Phát Hà Nội.
Hai vòng đầu đã xảy ra một số bất ngờ khi Hoàng Anh Gia Lai chưa có chiến thắng, và sự ra đi của tiền vệ ngôi sao Lee Nguyễn.
Ngày 26 tháng 2, tiền vệ đang thi đấu cho Bình Dương, Molina Gaston Eduardo, được phát hiện đã chết trong một phong khách sạn tại Thành phố Hồ Chí Minh do dùng ma túy quá liều.
Vòng 4 là vòng đấu có nhiều sự kiện nhất kể từ đầu giải. Đầu tiên là vụ đánh nhau của 2 cầu thủ Xi măng Hải Phòng là thủ môn Quang Huy và tiền vệ Aniekan sau trận đấu trên sân Ninh Bình. Sau vòng 4 cũng đã có 2 huấn luyện viên ra đi đó là Robert Lim của Ninh Bình và Jose Luis của Đồng Tâm Long An và thay thế 2 ông lần lượt là huấn luyện viên Trần Tiến Đại và Trần Công Minh. Sau 4 vòng đấu thì 2 đội vẫn chưa có chiến thắng là Megastar Nam Định và Lam Sơn Thanh Hóa. Sau 3 vòng liên tiếp để Becamex Bình Dương đẫn đầu đến vòng thứ 4 SHB Đà Nẵng đã vươn lên ngôi đầu bảng.
Trong trận đấu sớm của vòng 5 Hà Nội T&T có chiến thắng trước SHB Đà Nẵng để qua đó tạm vươn lên ngôi đầu bảng.. Vòng đấu này Lam Sơn Thanh Hóa có chiến thắng đầu tiên trong mùa giải trước Hoàng Anh Gia Lai trên sân nhà với tỉ số 2-0.
Trước vòng thứ 6, câu lạc bộ Ninh Bình lại có sự thay đổi huấn luyện viên khi ông Lê Thụy Hải lên thay ông Trần Tiến Đại.
Sau 2 trận thua liên tiếp, Trần Công Minh đã bị Đồng Tâm Long An thay thế bằng huấn luyện viên đến từ Bồ Đào Nha, Ricardo Formosinho. Cũng sau vòng đấu cầu thủ Lê Công Vinh của Hà Nội T&T đã bị ban kỉ luật của Liên đoàn bóng đá Việt Nam ban đầu phạt treo giò 6 trận và 10 triệu đồng vì có hành vi "lạy" trọng tài Vũ Bảo Linh trong trận Hà Nội T&T thua TĐCS Đồng Tháp. Tuy nhiên sau khi xem xét lại ban kỉ luật của VFF giảm xuống còn 3 trận do Công Vinh "không xâm hại" trọng tài chính
Tại loạt trận sớm vòng 7, các bất ngờ đã xảy ra khi B.Bình Dương đã có chiến thắng 4-0 trước V.Ninh Bình và Sông Lam Nghệ An thắng 5-0 trước SHB.Đà Nẵng. Nam Định tiếp tục chuỗi trận thất vọng với trận thua 5-0 trước Hoàng Anh Gia Lai. Ở thế ngược lại Hà Nội T&T, dù thiếu đội trưởng Lê Công Vinh vẫn có chiến thắng trên sân khách trước Xi măng Hải Phòng để tiếp tục ngự trị ở vị trí đầu bảng.
Tại vòng 8, Hà Nội T&T có chiến thắng 2-1 trước đối thủ trực tiếp B. Bình Dương qua đó tiếp tục ở ngôi nhất bảng. Tại vòng này M.Nam Định có chiến thắng 3-1 trước Đồng Tâm Long An, đây là chiến thắng đầu tiên của đội tại mùa giải năm nay
Vòng 9, Nam Định tiếp tục thi đấu khởi sắc khi có chiến thắng 1-0 trước Hòa Phát Hà Nội, trong khi đó Ninh Bình cũng có chiến thắng đầu tiên kể từ khi ông Lê Thụy Hải về dẫn dắt trước Lam Sơn Thanh Hóa.
Vòng 14 là vòng diễn ra loạt trận đầu tiên của lượt về, vòng đấu mà cả SHB Đà Nẵng và Hà Nội T&T đều thua qua đó Bình Dương tận dụng thời cơ vươn lên ngôi đầu bảng.
Vòng 15 là vòng đấu diễn ra trước World Cup 2010, sau loạt trận này các giải đấu sẽ tạm nghỉ và trở lại sau kì World Cup kết thúc. Loạt trận này Becamex Bình Dương tiếp tục có chiến thắng qua đó thể hiện bước tiến mạnh mẽ trong cuộc đua ở tốp đầu, ở chiều ngược lại cả Navibank Sài Gòn và Nam Định tiếp tục mất điểm và bị bỏ lại khá xa về mặt điểm số trên bảng xếp hạng.
Với số điểm 46 có được khi kết thúc mùa giải này, Hà Nội T&T đã lên ngôi vô địch V-league.
== Các đội bóng ==
=== Thành tích ===
=== Thay đổi huấn luyện viên trong giải ===
== Bảng xếp hạng ==
=== Vị trí các đội sau mỗi vòng đấu ===
Cập nhật lần cuối: 23 tháng 8 năm 2010 (UTC)
Nguồn: VFF
== Lịch thi đấu và kết quả ==
Nguồn: Eximbank V-League
1 ^ Đội chủ nhà được liệt kê ở cột bên tay trái.Màu sắc: Xanh = Chủ nhà thắng; Vàng = Hòa; Đỏ = Đội khách thắng.
=== Thi đấu Play-off ===
== Các giải thưởng ==
=== Giải thưởng tháng ===
== Thống kê ==
=== Kỉ lục ===
Megastar Nam Định và Sông Lam Nghệ An tham dự đủ cả 10 Giải bóng đá vô địch quốc gia (từ thời kì chuyên nghiệp)
Trận thắng đậm nhất: cách biệt 6 bàn
Đồng Tâm Long An thắng Tập đoàn Cao su Đồng Tháp 6–0, vòng 23, ngày 4 tháng 8 năm 2010
Trận đấu nhiều bàn thắng nhất: 8 bàn
Becamex Bình Dương thắng Lam Sơn Thanh Hóa 6–2, vòng 1, ngày 31 tháng 1 năm 2010
Số bàn thắng nhiều nhất được một cầu thủ ghi trong một trận: 4
Samson Kayode (Tập đoàn Cao su Đồng Tháp) trận thắng Navibank Sài Gòn 4–1, vòng 5, ngày 14 tháng 3 năm 2010
Evaldo R.Goncaves (Hoàng Anh Gia Lai) trận thắng Megastar Nam Định 5–0, vòng 7, ngày 4 tháng 4 năm 2010
Evaldo R.Goncaves (Hoàng Anh Gia Lai) trận thắng Hà Nội T&T 4–1, vòng 26, ngày 22 tháng 8 năm 2010
Trận đấu thu hút nhiều khán giả nhất: SHB Đà Nẵng thắng Hoàng Anh Gia Lai 3–0 (vòng 4) và Xi măng Hải Phòng thắng Đồng Tâm Long An 2–0 (vòng 5): 30 000 người.
Hội Cổ động viên Hà Nội T&T là Hội Cổ động viên tốt nhất mùa giải 2010.
Đội bóng ghi nhiều bàn thắng nhất: Becamex Bình Dương (48 bàn)
Đội bóng ghi được ít bàn thắng nhất: Megastar Nam Định
Đội bóng bị thủng lưới nhiều nhất: Megastar Nam Định (47 bàn)
Đội bóng bị thủng lưới ít nhất: Hà Nội T&T (25 bàn)
Đội bóng ghi được nhiều bàn thắng nhất trên sân khách: Becamex Bình Dương (24 bàn)
Đội bóng ghi được nhiều bàn thắng nhất trên sân nhà: K.Khánh Hòa (28 bàn)
Đội bóng để thủng lưới nhiều nhất ở sân nhà: Hòa Phát HN (23 bàn)
Đội bóng có số trận thắng nhiều nhất: Hà Nội T&T, XM Hải Phòng (cùng 14 trận)
Đội bóng có số trận thua nhiều nhất: Megastar Nam Định (20 trận)
Đội bóng có số trận hòa nhiều nhất: SLNA, XM The Vissai NB (cùng 10 trận)
Đội bóng có thành tích sân nhà tốt nhất: TĐCS Đồng Tháp (chỉ để thua 1 trận duy nhất)
Đội bóng có thành tích sân nhà kém nhất: Megastar Nam Định (thua 9 trận ở sân nhà)
Đội bóng có thành tích sân khách tốt nhất: SLNA (7 trận bất bại liên tiếp trên sân đối phương)
Đội bóng có thành tích sân khách kém nhất: Megastar Nam Định (11 trận thua trên sân đối phương)
Đội bóng có chuỗi bất bại dài nhất: Hà Nội T&T (8 trận, trong đó 7 thắng, 1 hòa)
Đội bóng có hiệu số bàn thắng bại tốt nhất: Đồng Tâm.LA (+12)
Đội bóng có hiệu số bàn thắng bại kém nhất: Megastar Nam Định (-28)
Đội bóng nhận nhiều thẻ vàng nhất: XM Hải Phòng (82 thẻ)
Đội bóng nhận ít thẻ vàng nhất: Lam Sơn Thanh Hóa (45 thẻ)
Đội bóng nhận nhiều thẻ đỏ nhất: Megastar Nam Định (7 thẻ)
Đội bóng nhận ít thẻ đỏ nhất: Hà Nội T&T (1 thẻ)
Đội bóng thay nhiều HLV nhất: B.Bình Dương, XM The Vissai NB (cùng 4 lần)
Cầu thủ ghi nhiều bàn thắng nhất: Merlo S.Gaston (SHB Đà Nẵng, 19 bàn)
Cầu thủ nội ghi nhiều bàn thắng nhất: Huỳnh Kesley Alves (B.Bình Dương, 14 bàn)
Cầu thủ có thành tích ghi nhiều bàn thắng nhất trong 1 trận đấu: Evaldo (HAGL, 2 lần ghi được 4 bàn trong 1 trận đấu)
Trận đấu có nhiều bàn thắng nhất: B.Bình Dương – LS.Thanh Hóa (vòng 1, tỷ số 6-2)
Trận đấu ít khán giả nhất: Navibank SG – K.Khánh Hòa (vòng 24, 300 người)
Trận đấu nhiều khán giả nhất: XM Hải Phòng – SHB Đà Nẵng (vòng 14, 29.000 người)
Vòng đấu nhiều khán giả tới sân nhất: Vòng 14 (97.000 người).
=== Cầu thủ ghi nhiều bàn thắng ===
Dưới đây là danh sách các cầu thủ ghi bàn hàng đầu của giải đấu.
=== Cầu thủ đá phản lưới nhà ===
Navibank Sài Gòn: Phan Thanh Vân (3-đá phản lưới nhà phút 82 trong trận gặp Sông lam Nghệ An tại vòng 1)
SHB Đà Nẵng: Cao Cường (2-đá phản lưới nhà phút 31 trong trận gặp TĐCS Đồng Tháp tại vòng 2)
Hoà Phát Hà Nội: Cassiano P.Henrique (44 - đá phản lưới nhà phút 10 trong trận gặp Hà Nội T&T tại vòng 14).
== Tham khảo ==
== Xem thêm ==
Cúp bóng đá Việt Nam 2010
Giải hạng nhất 2010
Siêu cúp bóng đá Việt Nam 2009
== Liên kết ngoài ==
Trang chủ Công ty Cổ phần Bóng đá Chuyên nghiệp Việt Nam (VPF) (tiếng Việt)
Trang chủ Liên đoàn bóng đá Việt Nam (VFF) (tiếng Việt)
Trang chủ flashscore.pl (tiếng Ba Lan) |
hypena humuli.txt | Hypena humuli là một loài bướm đêm thuộc họ Erebidae. Nó có ở bờ biển này đến bờ kia ở Canada phía nam ở phía đông đến Florida và Arkansas ở phía tây đến California. Tại Canada nó chỉ không hiện diện ở Newfoundland và Labrador, đảo Prince Edward và viễn bắc.
Sải cánh dài 25–32 mm. Con trưởng thành bay all quanh năm ở phía nam và phía tây và từ tháng 4 đến tháng 11 đông bắc. Có hai lứa trưởng thành một năm northward over hầu hết East.
== Tham khảo ==
== Liên kết ngoài ==
Owlet Caterpillars of Eastern North America (Lepidoptera: Noctuidae)
Bug Guide
Images
“Hop worm”. Collier's New Encyclopedia. 1921.
== Chú thích == |
shiga.txt | Shiga (Nhật: 滋賀県 (Tư Hạ Huyện), Shiga-ken) là một tỉnh của Nhật Bản thuộc vùng Kinki, trên đảo Honshū. Thủ phủ là thành phố Ōtsu.
== Địa lý ==
Shiga giáp với tỉnh Fukui ở phía Bắc, tỉnh Gifu ở phía Đông, tỉnh Mie ở phía Đông Nam và tỉnh Kyoto ở phía Tây.
Những phần khác của tỉnh bao gồm Kohoku (phía Bắc hồ Biwa), Kosei (phía Tây hồ), Koto (phía Đông hồ) và Konan (phía Nam hồ).
Hồ Biwa, hồ lớn nhất Nhật Bản, nằm ở trung tâm tỉnh này. Nó bao phủ một phần sáu tổng diện tích tỉnh và được bao quanh bởi các dãy núi, vùng núi Hira ở phía Tây, dãy núi Ibuki ở phía Đông và vùng núi Suzuka ở phía Đông Nam. Vùng phía bắc tỉnh Shiga về căn bản lạnh (do tuyết) hơn vùng phía Nam (vùng ấm hơn).
Sông Seta chảy từ hồ Biwa đến vịnh Osaka qua Kyoto. Đây là con sông tự nhiên duy nhất chảy ra khỏi hồ. Còn mọi con sông tự nhiên khác đều chảy đổ vào hồ.
== Lịch sử ==
Shinga từng có tên là tỉnh Omi trước khi hệ thống tỉnh lị được xác lập
== Hành chính ==
13 thành phố ở tỉnh Shiga:
== Kinh tế ==
== Văn hóa ==
== Giáo dục ==
Đại học Shiga
== Thể thao ==
== Du lịch ==
== Các địa phương kết nghĩa ==
Michigan, Mỹ
Rio Grande do Sul, Brasil
Hồ Nam, Trung Quốc
== Tham khảo ==
== Liên kết ngoài ==
Website chính thức của tỉnh. (tiếng Nhật)
Chùm ảnh về Shiga tại PHOTOGUIDE.JP
Các video về Shiga của PHOTOGUIDE.JP trên YouTube. |
nhà thờ chính tòa salisbury.txt | Nhà thờ Salisbury, được chính thức gọi là Nhà thờ chính tòa của Đức Trinh Nữ Maria, là một nhà thờ Anh giáo ở Salisbury, Anh, và là một trong những ví dụ hàng đầu về kiến trúc ở Anh. Phần thân chính của nhà thờ được hoàn thành chỉ trong 38 năm, từ 1220 đến 1258.
Nhà thờ có toà nhà cao nhất ở Vương quốc Anh (123m / 404 ft). Du khách có thể "tham quan tòa tháp", nơi có thể nhìn thấy nội thất của tháp chuông rỗng, với khung gỗ cũ của nó, có thể được xem. Nhà thờ cũng có nhà thờ lớn nhất và sân trong nhà thờ lớn nhất ở Anh (80 mẫu Anh (32 ha)). Nó chứa đồng hồ làm việc lâu đời nhất trên thế giới (từ năm 1386) và có thể sống sót tốt nhất trong bốn bản gốc Magna Carta (tất cả bốn bản gốc đều ở Anh). Trong năm 2008, nhà thờ đã tổ chức kỷ niệm 750 năm ngày truyền phép.
Nhà thờ chính tòa là nhà thờ mẹ của Giáo phận Salisbury và là địa điểm của Giám mục Salisbury, hiện là Mục sư thần thánh Nick Holtam.
== Lịch sử ==
Để phản ứng lại mối quan hệ xấu đi giữa các hàng giáo sĩ và quân đội tại Nhà thờ Sarum Cổ, quyết định được đưa ra là di chuyển vị trí nhà thờ và giám trợ đã được chuyển đến Salisbury. Công việc di chuyển diễn ra trong nhiệm kỳ của Đức cha Richard Poore, một người giàu có đã hiến tặng mảnh đất mà nó được xây dựng. Nhà thờ mới được trả bằng tiền quyên góp, chủ yếu từ các giáo phận và phó xứ của đông nam nước Anh được yêu cầu đóng góp một khoản tiền cố định hàng năm cho đến khi hoàn thành. Một truyền thuyết nói rằng Giám mục của Sarum Cổ bắn một mũi tên theo hướng ông sẽ xây dựng nhà thờ;
Một truyền thuyết nói rằng Giám mục của Sarum Cổ bắn một mũi tên theo hướng ông sẽ xây dựng nhà thờ; Nhưng mũi tên trúng một con hươu mà chết ở nơi mà nhà thờ Salisbury hiện nay. Vượt qua nhà thờ, Sarum Cổ và Stonehenge được cho là được sắp xếp theo một đường dây leo, mặc dù Clive L.N. Ruggles khẳng định rằng địa điểm, trên vùng đầm lầy, đã được lựa chọn bởi vì một địa điểm được ưa thích vài dặm về phía tây không có thể thu được.
Đá móng được đặt vào ngày 28 tháng 4 năm 1220. Phần lớn đá đẽo của nhà thờ chính là từ mỏ đá Teffont Evias. Do mực nước cao ở vị trí mới, nhà thờ được xây dựng chỉ trên bốn chân nền, và năm 1258 các nhà thờ, nhà transepts và dàn hợp xướng đã được hoàn thành. Các phần lớn được xây dựng sau đó là các triều đình vào năm 1240, ngôi nhà của chương năm 1263, tháp và ngọn tháp, ở độ cao 404 feet (123 m) đã thống trị đường chân trời từ năm 1320. Bởi vì hầu hết nhà thờ được xây dựng chỉ trong 38 năm, Có một phong cách kiến trúc duy nhất nhất quán, Gothic Anh buổi đầu.
Mặc dù đỉnh là tính năng ấn tượng nhất của nhà thờ, nó đã chứng tỏ là rắc rối. Cùng với tháp, nó đã thêm 6.397 tấn (6.500 tấn) vào trọng lượng của tòa nhà. Nếu không có thêm các trụ, các vòm gập và neo sắt trong suốt các thế kỷ kế tiếp, nó sẽ phải chịu đựng số phận của những ngọn tháp sau những tòa nhà giáo đường tuyệt vời sau đó (như Tu viện Malmesbury) và rơi xuống; Thay vào đó, Salisbury vẫn là toà nhà cao nhất ở Anh. Các trụ cột lớn hỗ trợ ở các góc của đỉnh được nhìn thấy uốn cong vào bên trong dưới áp lực. Việc bổ sung các dầm buộc tăng trên đường giao cắt, được thiết kế bởi Christopher Wren năm 1668, đã bị bắt giữ biến dạng khác. Dầm được giấu bởi một trần giả, được cài đặt dưới tầng đèn lồng của tháp.
Những thay đổi quan trọng đối với nhà thờ được kiến trúc sư James Wyatt thực hiện vào năm 1790, bao gồm thay thế màn che nô ban đầu và phá hủy tháp chuông cách kiến trúc chính khoảng 320 feet (100 m). Salisbury là một trong ba nhà thờ tiếng Anh thiếu một chiếc nhẫn, những người khác là Norwich Cathedral và Ely Cathedral. Tuy nhiên nó chỉ tấn công 15 phút một lần với chuông. Tổng cộng có 70.000 tấn đá, 3.000 tấn gỗ và 450 tấn chì được sử dụng để xây dựng nhà thờ.
== Tham khảo == |
kinh tế hà lan.txt | Kinh tế Hà Lan là một nền kinh tế thịnh vượng, mở và phụ thuộc mạnh mẽ vào ngoại thương. Đây là một trong những trung tâm kinh tế của Liên minh châu Âu. Nền kinh tế Hà Lan có các quan hệ ngành ổn định, thất nghiệp và lạm phát thấp, một lượng thặng dư tài khoản vãng lai lớn, và đóng vai trò là một trung tâm vận tải của châu Âu. Hoạt động công nghiệp chủ yếu là các ngành chế biến thực phẩm, hóa chất, lọc hóa dầu, máy móc điện. Một ngành nông nghiệp cơ giới hóa cao chỉ sử dụng gần 2% lực lượng lao động nhưng tạo ra lượng nông sản thặng dư cho ngành chế biến thực phẩm cho xuất khẩu. Hà Lan cùng với 11 nước EU bắt đầu lưu hành đồng Euro ngày 1 tháng 1 năm 2002. Quốc gia này là một trong những nước châu Âu xếp hàng đầu về thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài.
Hiện tại, Hà Lan là nền kinh tế lớn thứ 16 thế giới. Giữa giai đoạn 1998 và 2000, kinh tế tăng trưởng trung bình 4%, cao hơn nhiều mức trung bình châu Âu. Tăng trưởng đã chậm đáng kể giai đoạn 2001-05 do sự suy giảm toàn cầu. Tuy nhiên, năm 2006 lai tăng 2,9%. Tăng trưởng đạt 4,2% trong quý 3 năm 2007. Lạm phát là 1,3% và có thể xuống còn 1,5% trong năm 2008. Theo số liệu thống kê của Cục Thống kê Hà Lan, thất nghiệp hiện là 4,0% trên tổng số lực lượng lao động. Theo tiêu chuẩn Eurostat thì tỷ lệ thất nghiệp của Hà Lan chỉ 2,9% - tỷ lệ thấp nhất trong các quốc gia EU.
The stern financial policies of the Balkenende cabinets, which are often identified with finance minister Gerrit Zalm, have led to a deficit of only 0.3% of GDP in 2005, coming from 2.1% in 2004. Thâm thủng được ước tính là giảm nhỏ xuống mức 0,5% năm 2005, và một mức hơi thặng dư năm 2007. In 2006 public debt stood at 51% of GDP and is expected to fall below 50% in 2007 for the first time in 25 years, down from over 80% in the early nineties.
Hà Lan hiện là một thành viên của Liên minh châu Âu, OECD và WTO.
== Chú thích == |
phong trào cần vương.txt | Phong trào Cần Vương nổ ra vào cuối thế kỷ 19 do đại thần nhà Nguyễn là Tôn Thất Thuyết nhân danh vị hoàng đế trẻ Hàm Nghi đề xướng trước nạn xâm lược của thực dân Pháp.
== Ý nghĩa và khái quát phong trào ==
Cần vương mang nghĩa "giúp vua". Trong lịch sử Việt Nam, trước thời nhà Nguyễn từng có những lực lượng nhân danh giúp nhà vua phát sinh như thời Lê sơ, các cánh quân hưởng ứng lời kêu gọi của vua Lê Chiêu Tông chống lại quyền thần Mạc Đăng Dung. Tuy nhiên phong trào này không để lại nhiều dấu ấn và khi nhắc tới Cần Vương thường được hiểu là phong trào chống Pháp xâm lược.
Phong trào thu hút được một số các quan lại trong triều đình và văn thân. Ngoài ra, phong trào còn thu hút đông đảo các tầng lớp sĩ phu yêu nước thời bấy giờ. Phong trào Cần vương thực chất đã trở thành một hệ thống các cuộc khởi nghĩa vũ trang trên khắp cả nước, hưởng ứng chiếu Cần Vương của vua Hàm Nghi, kéo dài từ 1885 cho đến 1896.
== Các cuộc khởi nghĩa trong phong trào Cần Vương ==
Sau khi cuộc tấn công tại kinh thành Huế thất bại, Tôn Thất Thuyết - một đại thần thuộc phe chủ chiến - đưa vua Hàm Nghi ra ngoài, phát chiếu Cần Vương chống Pháp. Người Pháp dựng vua Đồng Khánh lên ngôi tại Huế. Ngoài Khởi nghĩa Cần Vương của vua Hàm Nghi, Tôn Thất Thuyết và Trần Xuân Soạn, các cuộc khởi nghĩa hưởng ứng lời kêu gọi của vua Hàm Nghi gồm có:
Nghĩa hội Quảng Nam của Nguyễn Duy Hiệu
Khởi nghĩa Hương Khê (1885-1896) của Phan Đình Phùng, Cao Thắng ở Hương Khê, Hà Tĩnh.
Khởi nghĩa của Nguyễn Xuân Ôn ở Nghệ An
Khởi nghĩa Ba Đình (1886-1887) của Đinh Công Tráng, Phạm Bành ở Nga Sơn, Thanh Hóa.
Khởi nghĩa của Mai Xuân Thưởng ở Bình Định.
Khởi nghĩa của Lê Thành Phương ở Phú Yên (1885-1887).
Khởi nghĩa Hùng Lĩnh (1886-1892) của Tống Duy Tân ở Bá Thước và Quảng Xương, Thanh Hóa.
Khởi nghĩa Bãi Sậy (1885-1889) của Nguyễn Thiện Thuật ở Hưng Yên
Phong trào kháng chiến ở Thái Bình-Nam Định của Tạ Quang Hiện và Phạm Huy Quang,
Khởi nghĩa Hưng Hóa của Nguyễn Quang Bích ở Phú Thọ và Yên Bái.
Khởi nghĩa Sông Đà (1885-1892) của Đốc Ngữ (Nguyễn Đức Ngữ) ở Hòa Bình.
Đêm 30/10/1888, vua Hàm Nghi bị người Pháp bắt trong lúc mọi người đang ngủ say. Bắt được vua Hàm Nghi thực dân Pháp ra sức dụ dỗ thuyết phục, mua chuộc nhà vua trẻ cộng tác với chúng nhưng vua Hàm Nghi đã từ chối quyết liệt. Không mua chuộc được vua Hàm nghi thực dân Pháp quyết định đưa vua Hàm Nghi đi đày tại Algeria, một thuộc địa của Pháp ở Bắc Phi (châu Phi), các cuộc khởi nghĩa chống Pháp vẫn tiếp tục. Tuy nhiên, phong trào Cần Vương suy yếu dần; từng cuộc khởi nghĩa lần lượt bị tiêu diệt. Từ cuối năm 1895 đầu 1896, khi tiếng súng cuộc khởi nghĩa Hương Khê của Phan Đình Phùng thất bại, phong trào Cần Vương coi như chấm dứt.
== Nguyên nhân thất bại ==
Tác giả Nguyễn Thế Anh trong sách Kinh tế & xã hội Việt Nam dưới các triều vua nhà Nguyễn nêu các nguyên nhân thất bại của phong trào Cần Vương:
Tính chất địa phương: sự thất bại của phong trào Cần Vương có nguyên nhân từ sự kháng cự chỉ có tính chất địa phương. Các phong trào chưa quy tụ, tập hợp thành một khối thống nhất đủ mạnh để chống Pháp. Các lãnh tụ Cần Vương chỉ có uy tín tại nơi họ xuất thân, tinh thần địa phương mạnh mẽ làm họ chống lại mọi sự thống nhất phong trào trên quy mô lớn hơn. Khi các lãnh tụ bị bắt hay chết thì quân của họ hoặc giải tán hay đầu hàng.
Quan hệ với dân chúng: các đạo quân này không được lòng dân quê nhiều lắm bởi để có phương tiện sống và duy trì chiến đấu, họ phải đi cướp phá dân chúng.
Mâu thuẫn với tôn giáo: sự tàn sát vô cớ những người Công giáo của quân Cần Vương khiến giáo dân phải tự vệ bằng cách thông báo tin tức cho phía Pháp. Những thống kê của người Pháp cho biết có hơn 20.000 giáo dân đã bị quân Cần Vương giết hại.
Mâu thuẫn sắc tộc: Chính sách sa thải các quan chức Việt và cho các dân tộc thiểu số được quyền tự trị rộng rãi cũng làm cho các sắc dân này đứng về phía Pháp. Chính người Thượng đã bắt Hàm Nghi, các bộ lạc Thái, Mán, Mèo, Nùng, Thổ đều đã cắt đường liên lạc của quân Cần Vương với Trung Hoa làm cạn nguồn khí giới của họ. Quen thuộc rừng núi, họ cũng giúp quân Pháp chiến tranh phản du kích đầy hiệu quả.
Theo Đào Duy Anh, ngoài việc thiếu liên kết và thống nhất về tổ chức (tương tự như "tính chất địa phương" mà Nguyễn Thế Anh phản ánh), phong trào Cần Vương còn có những nguyên nhân thất bại khác:
Nền sản xuất lạc hậu, kém phát triển làm nền tảng, vì vậy vũ khí thô sơ không thể chống lại vũ khí hiện đại của Pháp.
Lực lượng và chiến thuật: các cuộc khởi nghĩa không đủ mạnh, chỉ có thể tấn công vào những chỗ yếu, sơ hở của địch; không đủ khả năng thực hiện chiến tranh trực diện với lực lượng chính quy của địch.
Tinh thần chiến đấu: Ngoại trừ một số thủ lĩnh có tinh thần chiến đấu đến cùng và chết vì nước, không ít thủ lĩnh quân khởi nghĩa nhanh chóng buông vũ khí đầu hàng khi tương quan lực lượng bắt đầu bất lợi cho quân khởi nghĩa, khiến phong trào nhanh chóng suy yếu và tan rã.
== Xem thêm ==
Nhà Nguyễn
Pháp thuộc
Hàm Nghi
Tôn Thất Thuyết
== Tham khảo ==
Nguyễn Thế Anh (2008), Kinh tế & xã hội Việt Nam dưới các triều vua nhà Nguyễn, Nhà xuất bản Văn Học.
Đào Duy Anh (2007), Lịch sử Việt Nam từ thời cổ đại đến thế kỷ XIX, Nhà xuất bản Văn hóa thông tin
== Chú thích == |
cô dâu đại chiến.txt | Cô dâu đại chiến (tựa tiếng Anh: Battle of the Brides) là một bộ phim tình cảm - tâm lý - hài hước Việt Nam do Victor Vũ làm đạo diễn và viết kịch bản, công chiếu vào Tết năm 2011. Cô dâu đại chiến có sự tham gia của Huy Khánh với dàn mỹ nhân Ngọc Diệp, Ngân Khánh, Vân Trang, Lê Khánh và Phi Thanh Vân.
== Nội dung ==
Nhân vật nam chính trong phim là một anh chàng giám đốc giàu có tên Thái, là người rất bảnh trai và đào hoa, Thái luôn muốn chinh phục tất cả con gái đẹp xuất hiện trước mặt mình. Người yêu đầu tiên của Thái là cô nàng bác sĩ Mai Châu, tuy nhiên Thái vẫn có ý định tìm thêm bạn gái nữa. Hôm nọ, Thái lái xe ngang qua sân bay Tân Sơn Nhất, anh nhìn thấy một cô tiếp viên hàng không rất xinh, Thái liền tán tỉnh cô ta. Cô này tên Trang và mới bị bạn trai bỏ nên cần bạn trai mới để xóa nỗi u buồn, kết quả là Trang đồng ý làm người yêu Thái.
Lúc đi ra nhà hàng ăn sáng, Thái chạm mặt với bếp trưởng Quyên của nhà hàng, thấy Quyên cũng có tính cách lạ nên Thái thường gọi điện xin làm quen. Và rồi Quyên cũng trở thành người yêu Thái sau vài lần tiếp xúc với anh ta. Thái không những là giám đốc mà còn là nhà tài trợ cho bộ phim "Ninja đại chiến" của đạo diễn Khải (một người bạn thân của Thái). Khi đi uống cà phê với Thái, Khải đã dẫn theo nữ diễn viên Huỳnh Phương trong bộ phim mà Khải đang đạo diễn. Thái chinh phục Phương vì thấy Phương quá nóng bỏng, Phương cũng đồng ý làm người yêu Thái. Ngày hôm sau, Thái và Phương đang đi ngoài đường, trời mưa bỗng dưng tạnh nhanh chóng, một cô gái đẹp xuất hiện làm cho Thái cũng như tất cả đàn ông trên đường mê mệt, cô gái đó đi vào phòng triển lãm tranh.
Thái chở Phương về nhà rồi quay lại phòng triển lãm tranh để tán tỉnh cô gái đẹp. Cô gái cho Thái biết cô ta tên Linh và cô ta rất đam mê vẽ tranh. Để lấy lòng Linh, Thái dẫn Linh đến chỗ ông họa sĩ K'Linh, Thái nhờ ông ta chỉ dẫn Linh kỹ càng về hội họa. Chưa đầy một tuần mà Linh đã trở thành người yêu Thái. Vậy là giờ đây Thái đã có trong tay năm người bạn gái: Mai Châu, Trang, Quyên, Huỳnh Phương và Linh. Mỗi khi nói chuyện điện thoại với một cô thì Thái phải chạy đi nơi khác hoặc nói thật khẽ vì sợ cô kia nghe thấy. Ông Sang - ba của Thái khuyên Thái đã đến lúc lấy vợ, Thái suy nghĩ xem ai xứng đáng làm vợ mình trong năm người bạn gái, Thái quyết định chọn Linh.
Thái đi mua nhẫn để cầu hôn Linh, trớ trêu thay, bốn cô nàng kia tình cờ biết chuyện Thái đi mua nhẫn, họ đều nghĩ rằng Thái muốn cầu hôn họ. Kết quả là Thái phải mua năm chiếc nhẫn tặng năm người. Vào ngày đám cưới của Thái và Linh, bốn cô nàng kia cầm vũ khí đến truy sát Thái. Thái và Linh bỏ chạy, Linh kể rằng trước đây có một cô gái mập rất yêu Thái nhưng lại bị Thái chơi khăm, cô ta trở nên căm ghét Thái rồi lên kế hoạch trả thù Thái. Cô gái mập đó tập thể dục nhiều tháng để có thân hình thon thả, Linh cho Thái biết mình chính là cô gái mập năm xưa, Linh cũng chính là người gọi bốn cô nàng kia đến trừng trị Thái. Thái rất ngạc nhiên khi nghe chuyện Linh kể, anh ta không ngờ cuộc sống của mình đã bị Linh điều tra từ trước. Nói chuyện xong thì Linh lên xe chạy đi, còn Thái bị bốn cô nàng kia cũng như nhiều cô gái khác đuổi đánh, anh ta phải trả giá cho sự đểu cáng của mình.
== Diễn viên ==
Huy Khánh vai Thái
Ngọc Diệp vai Linh
Ngân Khánh vai Trang
Vân Trang vai Mai Châu
Lê Khánh vai Quyên
Phi Thanh Vân vai Huỳnh Phương
Việt Anh vai Ông Sang, ba của Thái
Đại Nghĩa vai Khải
Công Ninh vai Họa sĩ K'Linh
Võ Thanh Hòa vai Thái lúc nhỏ
Thu Giang vai Linh lúc nhỏ
Đinh Tiến Đạt vai Đầu bếp
Trung Dân vai Cha xứ
Minh Thuận vai Người hàng xóm
Hữu Bình vai Phục vụ nhà hàng
Mai Phượng vai Thư ký của Thái
Mai Thành vai Bệnh nhân
Tuyền Mập vai Bệnh nhân
Nguyễn Anh Tuấn vai Người đi đường
== Ca khúc trong phim ==
Cô gái tự tin
Những điều nhỏ nhoi
Mùi hương
Hạnh phúc mỉm cười
Cô nàng tự tin
== Phần tiếp theo ==
Khi thấy khán giả có vẻ thích Cô dâu đại chiến, đạo diễn Victor Vũ quyết định làm phần tiếp theo cho bộ phim. Phần tiếp theo có tựa đề là Cô dâu đại chiến 2, được công chiếu vào Tết 2014.
== Phê bình ==
VnExpress: Câu chuyện của Cô dâu đại chiến không mới, vẫn là một chàng Sở Khanh trải qua bao cuộc tình cuối cùng mới tìm thấy tình yêu đích thực. Tuy nhiên, phim lôi kéo và gây bất ngờ cho khán giả ở những chi tiết rất nhỏ, theo đúng phong cách xây dựng của phim hài tình cảm Mỹ..... Phần thoại của Cô dâu đại chiến rất "tây" nhưng vẫn gần gũi với khán giả. Những câu thoại hóm hỉnh, táo bạo của các nhân vật tạo sự ngạc nhiên và để lại nhiều ấn tượng. Đôi lúc chỉ có vài ba từ đơn giản nhưng thông qua cách thể hiện và giọng điệu của dàn diễn viên thì bỗng dưng trở nên nổi bật và hài hước hơn bao giờ hết. Phim cũng đưa vào một số chi tiết và sự kiện văn hóa có thực ở ngoài đời lên màn ảnh rộng và tạo nên tiếng cười châm biếm khá tinh tế..... Các nhân vật trong phim cũng được xây dựng rất rõ rệt và ấn tượng cả về ngoại hình lẫn tính cách..... Góc máy Cô dâu đại chiến rất đa dạng và tạo nhiều cảm xúc cho người xem ở mỗi phân đoạn..... Kỹ xảo là một điểm nhấn đột phá trong bộ phim lần này của đạo diễn Victor Vũ.....
== Chú thích ==
Cười "tẹt ga" với Cô dâu đại chiến.
Thông tin "Cô dâu đại chiến" trên Zing News.
== Liên kết ngoài ==
Cô dâu đại chiến tại Internet Movie Database
Cô dâu đại chiến tại Facebook
Trailer phim. |
chiến dịch điện biên phủ trên không.txt | Chiến dịch Điện Biên Phủ trên không hay Chiến dịch Linebacker II là chiến dịch quân sự cuối cùng của Hoa Kỳ chống lại Việt Nam Dân chủ Cộng hoà trong Chiến tranh Việt Nam, từ 18 tháng 12 đến 30 tháng 12 năm 1972 sau khi Hội nghị Paris bế tắc và đổ vỡ do hai phía Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Mỹ bất đồng về các điều khoản trong hiệp định.
Chiến dịch này là sự nối tiếp của chiến dịch ném bom Linebacker diễn ra từ tháng 5 đến tháng 10 năm 1972, ngoại trừ điểm khác biệt lớn là lần này Hoa Kỳ sẽ tấn công dồn dập bằng máy bay ném bom chiến lược B-52 thay vì các máy bay ném bom chiến thuật, mục đích là dùng sức mạnh và biện pháp không hạn chế đánh thẳng vào các trung tâm đầu não của Việt Nam Dân chủ Cộng hoà. Tại chiến dịch này, Hoa Kỳ đã huy động loại máy bay ném bom chiến lược mạnh nhất của họ là pháo đài bay B-52 làm nòng cốt để ném bom rải thảm huỷ diệt xuống Hà Nội, Hải Phòng, Thái Nguyên, Lạng Sơn và các mục tiêu khác liên tục trong 12 ngày đêm. Đây là những cuộc ném bom dữ dội nhất trong Chiến tranh Việt Nam và là một trong những cuộc tập kích có cường độ cao nhất trong lịch sử các cuộc chiến tranh. Trong 12 ngày, Mỹ đã thả hơn 36.000 tấn bom, vượt quá khối lượng bom đã ném xuống miền Bắc Việt Nam trong toàn bộ thời kì từ 1969 đến 1971.
Cuộc ném bom tuy có gây những tổn thất nặng về cơ sở vật chất cho phía Việt Nam Dân chủ Cộng hoà nhưng đã không làm thay đổi được lập trường của lãnh đạo nước này về nội dung cơ bản của hiệp định hoà bình, đồng thời nó gây một làn sóng bất bình lớn của người Mỹ, dư luận và chính giới của các nước trên thế giới trong đó có cả các đồng minh lâu dài của Hoa Kỳ, uy tín của Chính phủ Hoa kỳ bị xuống thấp nghiêm trọng. Bị phản đối trong nước, bị cô lập trên trường quốc tế, gặp phải sự chống trả hiệu quả gây thiệt hại lớn cho lực lượng không quân chiến lược, lại không thể buộc đối phương thay đổi lập trường, Tổng thống Richard Nixon đã phải ra lệnh chấm dứt chiến dịch vào ngày 30 tháng 12, đề nghị nối lại đàm phán tại Paris. Tại đây, Hoa Kỳ chấp nhận ký kết Hiệp định Paris trên cơ sở dự thảo mà trước đó họ đã từ chối ký kết (vì đây là dự thảo có những điều khoản có lợi cho Việt Nam Dân chủ Cộng hoà). Sau chiến dịch ném bom khí thế, lòng tự hào trong Quân đội nhân dân Việt Nam và người dân tại miền Bắc Việt Nam lên rất cao: họ không chỉ đánh thắng được "thần tượng B-52" mà còn buộc Hoa Kỳ phải ký Hiệp định Paris với những nội dung có lợi cho họ, đó là những cơ sở để phía Việt Nam Dân chủ Cộng hoà coi chiến dịch này là một thắng lợi chiến lược to lớn.
Chiến dịch này còn có một ý nghĩa tâm lý nặng nề cho giới quân sự Hoa Kỳ: đây là chiến dịch mà phía Mỹ đã chủ động lựa chọn mục tiêu, thời điểm, phương thức chiến đấu và đặc biệt là sử dụng sở trường của mình để chống lại sở đoản của đối phương (trình độ khoa học công nghệ), một cuộc đấu mà đối phương sẽ không thể sử dụng yếu tố "du kích" – một cách hình tượng: phía Mỹ thách đấu và được quyền lựa chọn vũ khí và đã thất bại.
Chiến dịch này cũng cho thấy điểm yếu của vũ khí máy bay ném bom chiến lược của Hoa Kỳ: B-52 vũ khí chiến lược dùng để chống chọi đối thủ tiềm tàng xứng tầm là Liên Xô cho một cuộc chiến tranh công nghệ cao đã thể hiện điểm yếu ngay khi đối phương có trình độ kinh tế, quân sự, khoa học – công nghệ kém hơn nhiều, và vũ khí chống trả cũng không phải là loại cao cấp của đối phương (vào thời điểm 1972, tên lửa SAM-2 mà Việt Nam sử dụng đã bị Liên Xô thay thế bằng SAM-4 và SAM-5 mạnh hơn nhiều). Ngay sau Chiến tranh Việt Nam, vì lý do này Hoa Kỳ đã phải nỗ lực rất cao trong chạy đua vũ trang trong lĩnh vực máy bay ném bom và đã cho ra kết quả là các máy bay ném bom B-1 Lancer và B-2 Spirit tàng hình.
Ở Việt Nam sự kiện này thường được gọi là "12 ngày đêm" và báo chí, truyền thông hay dùng hình tượng "Điện Biên Phủ trên không" để nhấn mạnh ý nghĩa thắng lợi cuối cùng và to lớn của sự kiện.
== Mục tiêu của các bên ==
=== Hoa Kỳ ===
Sau thất bại của Quân lực Việt Nam Cộng Hòa trong chiến dịch Lam Sơn 719, quân đội Nhân dân Việt Nam tại miền Nam liên tục mở các cuộc tấn công vào các căn cứ và vị trí chiến lược của Việt Nam Cộng Hòa qua chiến dịch Xuân Hè 1972, làm thất bại kế hoạch Việt Nam hóa chiến tranh của Mỹ. Nhằm giữ thể diện của một siêu cường quân sự và để rút quân trong danh dự, Hoa Kỳ đã tiến hành chiến dịch đánh bom lần cuối này với ý định "đưa miền Bắc về thời kỳ đồ đá", giảm bớt sự hỗ trợ quân sự của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa cho chiến trường miền Nam.
Tại Paris đầu tháng 12, cuộc đàm phán Việt Nam - Hoa Kỳ một lần nữa lâm vào bế tắc. Việt Nam Cộng hòa (vốn không được tham gia họp kín để đàm phán về điều khoản hiệp định) ra sức phản đối bản dự thảo hiệp định, theo đó Quân đội Nhân dân Việt Nam được giữ những vị trí của họ tại miền Nam. Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu cho rằng Hoa Kỳ làm vậy là để rũ bỏ trách nhiệm với họ. Nixon không muốn mang tiếng là đã bỏ mặc Việt Nam Cộng hòa, nên phía Hoa Kỳ đòi thay đổi lại nội dung cốt lõi nhất của dự thảo hiệp định, đó là về quy chế của Quân đội Nhân dân Việt Nam tại chiến trường miền Nam Việt Nam. Theo đó, Hoa Kỳ muốn "có đi có lại", khi quân Mỹ rút khỏi Việt Nam thì Quân đội Nhân dân Việt Nam cũng phải rút khỏi miền Nam Việt Nam. Việt Nam Dân chủ Cộng hòa không chấp nhận, vì đề nghị như vậy đặt họ ngang hàng với kẻ xâm lược là Mỹ, đồng thời sẽ khiến quân Giải phóng gặp rất nhiều khó khăn sau này.
Ngày 4 đến 13 tháng 12, đàm phán tiếp tục tại Paris suôn sẻ cho đến khi phía Mỹ một lần nữa lật lại vấn đề cốt lõi: quy chế của lực lượng Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, và nêu vấn đề khu phi quân sự. Phía Việt Nam Dân chủ Cộng hòa phản ứng bùng nổ bằng cách thu hồi các nhượng bộ từ các buổi họp trước đó và đưa ra đòi hỏi mới, trong đó có việc lật lại vấn đề cơ bản về trao trả tù binh Mỹ. Tháng 10, phía Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã đồng ý trao trả tù binh Mỹ vô điều kiện trong vòng 60 ngày. Nay họ muốn gắn việc trao trả tù binh với việc thả hàng ngàn tù chính trị tại Nam Việt Nam - một vấn đề mà họ đã từng đồng ý dành nó cho các thương thảo cụ thể sau này giữa các bên Việt Nam. Nixon triệu hồi Kissinger về Mỹ và ngừng đàm phán.
Ngày 5 tháng 12, Nixon điện cho Kissinger: "Hãy để một chỗ hở ở cửa cho cuộc họp tiếp. Tôi có thể sẵn sàng cho phép ném bom ồ ạt miền Bắc Việt Nam trong thời gian nghỉ ngơi đó" (ám chỉ kỳ nghỉ lễ Giáng Sinh). Đêm 12 tháng 12, Chánh văn phòng Nhà trắng Heizman thừa uỷ quyền của Richard Nixon gửi một bức điện cho Kissinger có đoạn viết: "Chúng ta cần tránh làm bất cứ điều gì có vẻ như là chúng ta phá vỡ thương lượng một cách đột ngột. Nếu xảy ra tan vỡ thì phải làm như là do họ chứ không phải do chúng ta. Trong bất cứ trường hợp nào, Hoa Kỳ không được chủ động cắt đứt cuộc nói chuyện. Chúng ta cần yêu cầu hoãn cuộc họp để tham khảo thêm". Tuy cố tình trì hoãn ở hậu trường, nhưng khi tuyên bố chính thức, Hoa Kỳ đổ lỗi cho Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã không chịu "đàm phán nghiêm chỉnh". Do vậy, nhiều tài liệu phương Tây vẫn cho rằng Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã bỏ họp trước, và chiến dịch ném bom của Mỹ là để khiến Việt Nam "biết điều" mà chấp nhận họp lại.
Ngày 14 tháng 12, Tổng thống Nixon họp với cố vấn an ninh Kissinger, tướng Alexander Haig và chủ tịch Hội đồng tham mưu truởng liên quân - đô đốc Thomas Moorer thông qua lần cuối cùng kề hoạch Chiến dịch Linerbacker II. Nixon nói với đô đốc Thomas H. Moorer, Chủ tịch Hội đồng tham mưu trưởng liên quân Hoa Kỳ: "Điều may mắn của ông là được sử dụng một các cách hiệu quả sức mạnh quân sự của chúng ta để thắng cuộc chiến tranh này. Nếu ông không làm được việc đó, tôi sẽ coi ông là người chịu trách nhiệm".
Mục tiêu mà Hoa Kỳ đặt ra trong chiến dịch Linebacker II là duy trì nỗ lực tối đa để phá hủy tất cả các tổ hợp mục tiêu chính ở khu vực Hà Nội và Hải Phòng, trong đó phá hủy đến mức tối đa những mục tiêu quân sự chọn lọc tại vùng lân cận của Hà Nội/Hải Phòng. Linebacker II cũng loại bỏ các rất nhiều các hạn chế trong các chiến dịch trước đó ở Bắc Việt Nam, ngoại trừ cố gắng để "giảm thiểu nguy hiểm cho dân thường tới mức có thể cho phép mà không ảnh hưởng hiệu quả" và "tránh các khu giam giữ tù binh, bệnh viện và khu vực tôn giáo". Mục tiêu của Linebacker II cũng vẫn là mục tiêu của Linebacker nhưng với cường độ, sức công phá và mật độ lớn đến mức khủng khiếp để buộc Việt Nam Dân chủ Cộng hòa phải chấp nhận điều khoản của Mỹ, đồng thời tỏ rõ cho Nguyễn Văn Thiệu thấy rằng Hoa Kỳ đã cố làm hết trách nhiệm bảo vệ Việt Nam Cộng Hòa, thay vì rút lui mà không chiến đấu. Cũng trong ngày 14 tháng 12, Nixon gửi một tối hậu thư cho Hà Nội: trong 72 giờ đồng hồ để quay lại ký theo phương án Hoa Kỳ đề nghị, nếu không sẽ ném bom lại Bắc Việt Nam.
Về lý do quân sự, chính trị thì cuộc ném bom này không cần thiết vì khi đó Hoa Kỳ đã quyết tâm rút quân khỏi cuộc chiến. Hoa Kỳ biết rõ rằng không thể nào bắt Việt Nam Dân chủ Cộng hòa nhượng bộ một vấn đề cốt lõi mà họ đã chiến đấu gần 20 năm, với chỉ bằng một cuộc ném bom dù ác liệt đến đâu. Nó chỉ làm dư luận Mỹ và thế giới bất bình với chính phủ Hoa Kỳ. Đây thực chất chỉ là cách để thể hiện trách nhiệm nghĩa vụ cuối cùng đối với đồng minh Việt Nam Cộng hoà: khi dự thảo hiệp định đã được ký tắt với Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, chính phủ Việt Nam Cộng hoà đã phản đối kịch liệt và không chấp nhận, Hoa Kỳ quyết định dùng nấc thang quân sự mạnh tay nhất này để chứng tỏ họ đã cố gắng hết mức cho quyền lợi của đồng minh.
Ngày 15 tháng 12, Lê Đức Thọ và Kissinger chia tay nhau tại sân bay Le Bourger (Paris). Ngày 16 tháng 12, Kissinger họp báo tại Washington DC đổ lỗi cho Việt Nam Dân chủ Cộng hòa kéo dài đàm phán. Tối 18 tháng 12, khi Lê Đức Thọ vừa về đến nhà (sau khi ghé qua Moskva và Bắc Kinh) thì những trái bom đầu tiên từ B-52 trong Chiến dịch Linebacker II rơi xuống Hà Nội.
=== Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ===
Với kinh nghiệm chính trị dày dặn, ngay từ mùa xuân năm 1968, chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói với tướng Phùng Thế Tài, lúc này là Phó Tổng tham mưu trưởng lời dự báo:
Từ tháng 5/1972, Đại tướng Võ Nguyên Giáp và các cán bộ tham mưu tác chiến của Quân chủng Phòng không đặt vấn đề: "Tỷ lệ B-52 bị bắn rơi mức độ nào thì Nhà Trắng rung chuyển, mức độ nào thì Mỹ không chịu nổi, phải thua?". Sau mấy tuần, câu trả lời đã được đưa ra:
N1 - tỷ lệ Mỹ chịu đựng được là 1-2% (trên tổng số B-52 tham chiến của Mỹ);
N2 - tỷ lệ làm Nhà Trắng rung chuyển là 6 - 7%;
N3 - tỷ lệ buộc Mỹ thua cuộc là trên 10%.
Quân chủng Phòng không-Không quân loại trừ N1, quyết tâm đạt N2 và vươn tới N3. Quân chủng Phòng không Không quân đã thực hiện vượt mức chỉ tiêu N3. Trong 12 ngày đêm mùa đông năm 1972, tỷ lệ B-52 bị bắn hạ là 17,6% (34/197 chiếc, Hà Nội góp công trong đó 23 chiếc).
== Lực lượng ==
=== Không lực Hoa Kỳ ===
Theo Karl J. Eschmann Mỹ đã huy động:
Gần 50% B-52 của toàn nước Mỹ (197 trên tổng số 400 chiếc). Thực tế xuất kích 741 lần.
Gần 1/3 số máy bay chiến thuật của toàn nước Mỹ (1.077 trên tổng số 3.041 chiếc). Thực tế xuất kích 3.920 lần.
1/4 số tàu sân bay (6 trên tổng số 24 chiếc),cùng nhiều tàu chỉ huy - dẫn đường, tàu khu trục, tàu tên lửa, tàu radar, tàu bảo vệ, tàu cấp cứu,...
Tập đoàn không quân 7 và 8 (Seventh air force và Eighth air force): trong đó có các liên đội không quân chiến lược B-52 (Strategic Wing) số 43 và 72 đóng tại căn cứ không quân Andersen trên đảo Guam gồm 143 chiếc B-52G, B-52D và liên đội không quân chiến lược số 307 gồm 54 máy bay B-52D đóng tại căn cứ Utapao (Thái Lan); 6 liên đội không quân chiến thuật (Tactical Fighter Wing) gồm 455 máy bay đóng căn cứ tại các căn cứ không quân Ubon Korat và Takhli trên đất Thái Lan, 2 liên đội 124 máy bay đóng tại miền Nam Việt Nam (Đà Nẵng).
Không đoàn đặc nhiệm 77 (Task force 77) là các máy bay trên các tàu sân bay của hải quân gồm 6 liên đội với 420 máy bay trên các tàu sân bay:
USS America: liên đội số 8 (Carrier Air Wing 8) là các máy bay F-4, A-6, A-7.
USS Enterprise: liên đội 14 (F-4, A-6, A-7)
USS Midway: liên đội 5 (F-4, A-7)
USS Oriskany: liên đội 19 (F-8, A-7)
USS Ranger: liên đội 2 (F-4, A-6, A-7)
USS Saratoga: liên đội 3 (F-4, -6, A-7)
=== Quân đội nhân dân Việt Nam ===
==== Phòng không ====
Sư đoàn 361 bảo vệ Hà Nội do đại tá Trần Quang Hùng làm tư lệnh, đại tá Trần Văn Giang làm chính ủy. Các đơn vị trực thuộc gồm 3 trung đoàn tên lửa SA-2 (có 1 trung đoàn thiếu) và 5 trung đoàn cao xạ:Trung đoàn tên lửa "Thành Loa" do trung tá Trần Hữu Tạo chỉ huy, gồm 4 tiểu đoàn hỏa lực và 1 tiểu đoàn kỹ thuật, mỗi tiểu đoàn hỏa lực có 6 bệ phóng và cơ số đạn sẵn sàng chiến đấu 12 quả:
Tiểu đoàn hỏa lực 57 do thượng úy Nguyễn Văn Phiệt chỉ huy.
Tiểu đoàn hỏa lực 59 do đại úy Nguyễn Thăng chỉ huy.
Tiểu đoàn hỏa lực 93 do đại úy Nguyễn Mạnh Hùng chỉ huy.
Tiểu đoàn hỏa lực 94 do thượng úy Trần Minh Thắng chỉ huy.
Tiểu đoàn kỹ thuật 95 do đại úy Đỗ Bỉnh Khiêm chỉ huy.
Trung đoàn tên lửa "Cờ Đỏ" do trung tá Nguyễn Ngọc Điển chỉ huy, biên chế hỏa lực và kỹ thuật như Trung đoàn 261:
Tiểu đoàn hỏa lực 76 do đại úy Lê Văn Hệ chỉ huy.
Tiểu đoàn hỏa lực 77 do thượng úy Đinh Thế Văn chỉ huy.
Tiểu đoàn hỏa lực 78 do thượng úy Nguyễn Chấn chỉ huy.
Tiểu đoàn hỏa lực 79 do thượng úy Nguyễn Văn Chiến chỉ huy.
Tiểu đoàn kỹ thuật 80 do thượng úy Vương Toàn Tước chỉ huy.
Trung đoàn tên lửa "Hùng Vương" vùa hành quân từ Vĩnh Linh ra, lúc bắt đầu chiến dịch chỉ còn một tiểu đoàn có khí tài sẵn sàng chiến đấu.
Tiểu đoàn hỏa lực 86 do đại úy Phạm Đình Phùng chỉ huy: sẵn sàng chiến đấu từ đầu chiến dịch.
Tiểu đoàn hỏa lực 87 do đại úy Đỗ Ngọc Mỹ chỉ huy: không có khí tài
Tiểu đoàn hỏa lực 88 do thượng úy Lê Ký chỉ huy: sẵn sàng chiến đấu từ 26 tháng 12.
Tiểu đoàn hỏa lực 89 do đại úy Nguyễn Thế Thức chỉ huy: sẵn sàng chiến đấu từ 26 tháng 12.
Tiểu đoàn kỹ thuật 90 do đại úy Nguyễn Trắc chỉ huy.
Các trung đoàn cao xạ "Sông Đuống", "Tam Đảo", "Đống Đa", "Tháng Tám".
Trung đoàn cao xạ "Sông Thương", "Ba Vì": tăng cường cho Sư đoàn 361 từ 25 tháng 12
Dân quân tự vệ Hà Nội (phối thuộc 361): gồm 226 trung đội, được trang bị 741 súng pháo các loại, trong đó có 18 pháo cao xạ 100 mm.
Sư đoàn 363 bảo vệ Hải Phòng do đại tá Bùi Đăng Tự làm tư lệnh, thượng tá Vũ Trọng Cảng làm chính ủy, biên chế gồm 2 trung đoàn Tên lửa SA-2, mỗi trung đoàn có 3 tiểu đoàn hỏa lực, 1 tiểu đoàn kỹ thuật trong tư thế sẵn sàng chiến đấu; 1 trung đoàn cao xạ và 1 cụm tiểu cao.Trung đoàn tên lửa "Hạ Long" do trung tá Đào Công Thận chỉ huy, 3/4 tiểu đoàn hỏa lực trong tình trạng đủ khí tài và cơ số đạn tiêu chuẩn.
Tiểu đoàn hỏa lực 81: sẵn sàng chiến đấu từ đầu chiến dịch.
Tiểu đoàn hỏa lực 82: sẵn sàng chiến đấu từ đầu chiến dịch.
Tiểu đoàn hỏa lực 83: sẵn sàng chiến đấu từ đầu chiến dịch.
Tiểu đoàn hỏa lực 84: không đủ khí tài.
Tiểu đoàn kỹ thuật 85: sẵn sàng chiến đấu từ đầu chiến dịch.
Trung đoàn tên lửa "Nam Triệu" do trung tá Nguyễn Đình Lâm chỉ huy, 3/4 tiểu đoàn hỏa lực trong tình trạng đủ khí tài và cơ số đạn tiêu chuẩn.
Tiểu đoàn hỏa lực 71: sẵn sàng chiến đấu từ đầu chiến dịch, từ 21-12 được điều động phối thuộc Sư đoàn 361
Tiểu đoàn hỏa lực 72: do thượng úy Phạm Văn Chắt chỉ huy, sẵn sàng chiến đấu từ đầu chiến dịch, từ 21-12 được điều động phối thuộc Sư đoàn 361
Tiểu đoàn hỏa lực 73: do thượng úy Kiều Thanh Tịnh chỉ huy, sẵn sàng chiến đấu từ đầu chiến dịch
Tiểu đoàn hỏa lực 74: không đủ khí tài.
Tiểu đoàn kỹ thuật 75: sẵn sàng chiến đấu từ đầu chiến dịch.
Trung đoàn cao xạ "Sông Cấm" gồm 3 đại đội pháo 37 mm, 1 đại đội pháo 57 mm, 2 đại đội pháo 100 mm và 1 cụm súng máy phòng không 14,5 mm và 12 mm.
Dân quân tự vệ Hải Phòng (phối thuộc Sư đoàn 363) gồm 92 trung đội, được trang bị hơn 200 súng bộ binh (RPD, AK-47 và K-44).
Sư đoàn phòng không 365 bảo vệ khu vực từ Nam đồng bằng Bắc bộ đến Quảng Bình, biên chế gồm 3 trung đoàn tên lửa và 3 trung đoàn cao xạ. Trong đó, chỉ có 6/12 tiểu đoàn hỏa lực tên lửa trong tình trạng đủ khí tài sẵn sàng chiến đấu.Trung đoàn tên lửa "Quang Trung" có các tiểu đoàn hỏa lực 41 và 42 trong tình trạng sẵn sàng chiến đấu.
Trung đoàn tên lửa "Điện Biên" có các tiểu đoàn hỏa lực 52 và 53 trong tình trạng sẵn sàng chiến đấu.
Trung đoàn tên lửa "Sóc Sơn" có các tiểu đoàn hoa lực 66 và 67 trong tình trạng sẵn sàng chiến đấu.
Các trung đoàn cao xạ "Sông Lam", "Hoa Lư", "Sông Gianh".
Sư đoàn phòng không 375 bảo vệ đường 1 Bắc từ Bắc Giang đến Đồng Mỏ, khu công nghiệp Thái Nguyên và tuyến đường sắt Vĩnh Yên - Lào Cai, biên chế gồm 1 trung đoàn tên lửa và 5 trung đoàn cao xạ:Trung đoàn tên lửa "Hồng Kỳ" trang bị tên lửa Hunqi 1 (Trung Quốc) đã bị hỏng khí tài, không khôi phục được.
Các trung đoàn cao xạ "Sông Cầu", "Chi Lăng", "Vạn Kiếp"
Trung đoàn cao xạ 256 thuộc Quân khu Việt Bắc (phối thuộc Sư đoàn 375) bảo vệ Thái Nguyên.
Trung đoàn cao xạ 254 thuộc Quân khu Tây Bắc (phối thuộc Sư đoàn 375) bảo vệ Yên Bái.
==== Không quân ====
Các trung đoàn "Sao Đỏ", "Yên Thế", "Lam Sơn", được trang bị các máy bay MiG-21, MiG-19 và MiG-17
==== Radar cảnh giới quốc gia ====
Các trung đoàn "Phù Đổng", "Sông Mã", "Ba Bể", "Tô Hiệu" và Tiểu đoàn 8
==== Dân quân tự vệ phòng không ====
Gồm 364 đội với 1428 khẩu súng hoặc pháo các loại. Trong đó có 769 khẩu trung-đại liên (RPD, RPK, PK...); 284 khẩu trọng liên 12,7mm; 263 khẩu trọng liên 14,5mm; 61 khẩu pháo cao xạ 37mm; 19 khẩu pháo cao xạ 57mm, 32 khẩu pháo cao xạ KS-19 100mm.
== Chiến thuật của các bên ==
=== Không quân Mỹ ===
Trước khi diễn ra chiến dịch, B-52 đã nhiều lần bay vào oanh tạc không phận miền Bắc Việt Nam. Lần đầu tiên máy bay B-52 tham chiến chính là tại Việt Nam, và tại đây nó đã thể hiện sức tàn phá rất ghê gớm. Bởi kích thước khổng lồ và lượng bom mang theo rất lớn (hơn 30 tấn bom mỗi chiếc), B-52 còn được mệnh danh là "Pháo đài chiến lược (Stratofortress)", hoặc đơn giản hơn là "Pháo đài bay".
Trong một phi vụ oanh tạc, máy bay B-52 thường đi thành nhóm ba chiếc theo đội hình mũi tên, trên độ cao 9–10 km và ném khoảng gần 100 tấn bom (mỗi chiếc ném hơn 30 tấn) với mật độ dày đặc xuống một khu vực khoảng 2,5 km². Nếu một quả bom tiêu chuẩn là 500 lb (gần 250 kg) thì mật độ bom rơi là khoảng 130 quả trên 1 km², tức là khoảng cách trung bình giữa hai hố bom cạnh nhau là khoảng 80 mét. Với mật độ ném bom cao như vậy, xác suất hủy diệt sinh mạng và phá hủy công trình trong bãi bom B-52 sẽ là cực cao.
Không quân Mỹ có một thuận lợi đến từ đồng minh của mình. Trong Chiến tranh Sáu ngày năm 1967, Israel đã tịch thu được hơn 20 hệ thống SAM-2 nguyên vẹn bị quân Ả Rập bỏ lại khi rút chạy, nhờ vậy Mỹ đã nắm được tường tận chi tiết của hệ thống này. Năm 1969, đến lượt 1 hệ thống radar cảnh giới P-12 của Ai Cập bị Israel bắt giữ nguyên vẹn, toàn bộ kết quả phân tích được chuyển giao cho Mỹ.
Như vậy đến năm 1970, các loại radar phòng không chủ yếu của Quân đội nhân dân Việt Nam đều đã bị Mỹ nắm bắt, và Mỹ đã chế tạo ra các thiết bị gây nhiễu rất hiệu quả. Như phiên bản B-52D, lúc đầu mang 8 máy gây nhiễu, thì tới tháng 12/1972 đã có tới 15 máy gây nhiễu, 2 máy phóng nhiễu giấy bạc. Một tốp 3 chiếc B-52 có 45 máy, như vậy tất cả nhiễu đó tạo thành giải nhiễu chồng chéo, dày đặc, đan xen, công suất rất lớn và rộng. Phiên bản B-52G có khoang lắp đặt thiết bị điện tử được mở rộng để lắp hệ thống gây nhiễu mới. B-52G được trang bị 16 máy gây nhiễu điện tử tích cực, 2 máy gây nhiễu tiêu cực và 2 máy thu tần số ra-đa để tạo màn nhiễu dày đặc che toàn bộ máy bay trước hệ thống ra-đa, tên lửa phòng không của đối phương. Các thiết bị này sẽ tự động thu, phân tích tần số sóng ra-đa của đối phương và cung cấp cho sĩ quan điều khiển để lựa chọn phát tần số sóng để chế áp. Theo một số phi công Mỹ, chỉ riêng hệ thống gây nhiễu trên B-52G đã có giá tương đương một chiến đấu cơ F-4D. Ngoài ra, B-52G còn được lắp 4 đạn tên lửa "chim mồi" ADM-20 Quail (chim cút). Khi được phóng, ADM-20 sẽ giả lập tín hiệu giống máy bay B-52 để tạo mục tiêu giả thay cho B-52 nhằm đánh lừa tên lửa của đối phương.
Với vai trò là máy bay ném bom chiến lược, các phi đội B-52 không hoạt động độc lập mà được hộ tống bởi các máy bay trinh sát điện tử EA-6A, EB-66, EC-121 và các chiến đấu cơ F-4, F-105, A-6, A-7 với các thiết bị gây nhiễu chủ động và thụ động đi kèm. Rất nhiều phi đội F-4 đã giả lập tín hiệu nhiễu của B-52 hòng lừa lưới lửa phòng không đối phương. Các máy bay F-4 còn thả các "bom" gây nhiễu gồm hàng triệu sợi kim loại màu bạc, rất mỏng nhẹ (mỗi quả bom chứa 450 bó nhiễu), các sợi kim loại gây nhiễu này có thể làm ra-đa không thể nhận diện được các mục tiêu, nặng thì làm trắng xóa màn hình ra-đa (mất hoàn toàn khả năng theo dõi và bám mục tiêu). Các biện pháp gây nhiễu tổng hợp của Mỹ khiến rada của hệ thống phòng không gặp nhiễu, không thể phát hiện và khóa bắn được B-52. Các đài radar nhìn vòng P-12 của các tiểu đoàn tên lửa SAM-2 chỉ thu được các giải nhiễu đậm đặc, có lúc làm trắng xóa cả màn hình.
Để kiểm chứng khả năng của hệ thống gây nhiễu, rạng sáng ngày 16/4/1972, bắt đầu từ 2 giờ 15 phút, Mỹ huy động 20 máy bay B-52 và 170 lần/chiếc máy bay cường kích, ném bom ba trận lớn vào Hải Phòng. 103 nơi trong thành phố bị bom Mỹ tàn phá như các khu phố Thượng Lý, Hạ Lý, Cầu Tre, bến cảng và thôn Phúc Lộc (Kiến Thụy)… Bom Mỹ đã giết và làm bị thương 757 người dân Hải Phòng mà phần lớn là phụ nữ, trẻ em và cụ già. Hai trung đoàn tên lửa số 238 và 285 đã phóng lên đến 93 quả tên lửa SAM-2 nhưng không diệt được chiếc B-52 nào vì bị gây nhiễu quá nặng.
Với một loạt các biện pháp kỹ thuật và chiến thuật, không quân Mỹ tự tin rằng hệ thống phòng không của Quân đội nhân dân Việt Nam sẽ không thể chống trả được. Mỹ tin rằng B-52 chỉ có thể bị rơi do thời tiết, hoặc do trục trặc kỹ thuật chứ quyết không thể bị bắn rơi vì hỏa lực của phòng không – không quân Việt Nam, cuộc tập kích của B-52 vào miền Bắc Việt Nam sẽ chỉ như “một cuộc dạo chơi” với tổn thất ở mức tối thiểu.
=== Quân đội nhân dân Việt Nam ===
==== Đánh trực tiếp trên trận địa ====
Ở thời điểm năm 1972, SAM-2 là loại tên lửa phòng không duy nhất có trong trang bị của Quân đội nhân dân Việt Nam. Được sản xuất vào giữa thập niên 1950, đến thời điểm năm 1972, SAM-2 đã tỏ ra khá lạc hậu. Khi đó, Liên Xô đã thay thế loại tên lửa này bằng những hệ thống SAM-4, SAM-5, SAM-6 có tính năng cao hơn nhiều. Tuy nhiên, do chính sách hòa giải với Mỹ, Liên Xô đã không viện trợ những loại tên lửa mới này cho Việt Nam. Vì vậy, Quân đội Nhân dân Việt Nam không thể trông chờ vào vũ khí hiện đại để chống lại Mỹ. Để tìm cách chống trả bằng những gì hiện có trong tay, Quân đội Nhân dân Việt Nam phải tìm ra những chiến thuật mới để khắc chế ưu thế công nghệ của Mỹ.
Quân ủy Trung ương chỉ thị cho Quân chủng Phòng không - Không quân nghiên cứu các biện pháp chống nhiễu, nghiên cứu cách đánh, kiên quyết bắn rơi máy bay chiến lược B-52. Sau 19 ngày Mỹ đem thả bom ở đèo Mục Giạ, tây bắc Quảng Bình, Hồ Chủ tịch nói ngày 19/7/1965: "Dù Mỹ có B-57, B-52 hay B gì đi nữa, ta cũng đánh mà đánh là nhất định thắng. Các chú muốn bắt cọp phải vào hang."
Từ cuối năm 1968, Bộ tư lệnh Quân chủng Phòng không-Không quân đã cử nhiều đoàn cán bộ kỹ thuật, trong đó có một bộ phận của tiểu đoàn trinh sát đi cùng các tiểu đoàn tên lửa vào nam Quân khu 4 và tuyến vận tải chiến lược đường Trường Sơn theo dõi, nghiên cứu nhận dạng và tìm cách đánh máy bay B-52.
Qua theo dõi trong hai mùa khô năm 1968-1969 và 1969-1970, nhóm cán bộ phát hiện có một loại radar máy bay B-52 không gây nhiễu được. Trên cơ sở đó, cuối năm 1971, một tổ cán bộ nghiên cứu đề xuất một công trình nghiên cứu cải tiến kỹ thuật: Dùng loại radar không bị máy bay B-52 gây nhiễu ghép nối với đài điều khiển phục vụ tên lửa đánh B-52.
Tháng 1/1972, tổ nghiên cứu hoàn thành bản vẽ thiết kế, sau đó chuyển đến Tiểu đoàn 76, Trung đoàn tên lửa 257 lắp ráp thành bộ khí tài mới. Tháng 6/1972, Cục Kỹ thuật cung cấp bản vẽ và một số mẫu cho nhà máy Z119 thuộc Cục Quân giới để lắp ráp 6 bộ khí tài mới. Các bộ khí tài mới mang ký hiệu KX.
Cùng với bộ khí tài KX, các tổ rada cũng nghiên cứu khả năng "vạch nhiễu" ở các loại rada khác, nhằm phát hiện được mục tiêu B-52 vốn rất mờ nhạt trong dải nhiễu. Các dạng nhiễu có đủ kiểu, đủ loại với những tên gọi khác nhau được đặt theo hình dáng như: nhiễu quét, nhiễu giọt mưa, nhiễu xoắn thừng, nhiễu râu… Tháng 10-1972, tập tài liệu mang tên "Cách đánh B-52 của bộ đội tên lửa" được in, gọi tắt là cuốn "Cẩm nang bìa đỏ", dày 30 trang đánh máy và được bọc ngoài một tờ bìa màu đỏ. Trong cuốn sách là kinh nghiệm phân biệt mục tiêu thật-giả trước màn hiện sóng để bộ đội tên lửa có thể ngắm trúng mục tiêu.
Cuốn "Cẩm nang bìa đỏ" cho biết:
Tuy không quân Mỹ gây nhiễu dày đặc nhưng trong mớ hỗn loạn các loại tín hiệu nhiễu trên màn hiện sóng, B-52 không phải là hoàn toàn vô hình, nếu tinh mắt vẫn có thể phát hiện được mục tiêu B-52 một cách gián tiếp: đó là các đám nhiễu tín hiệu mịn trôi dần theo tốc độ di chuyển của B-52. Tuy mục tiêu không hiển thị rõ rệt để có thể xác định mục tiêu và điều khiển tên lửa chính xác nhưng cẩm nang đã đề ra biện pháp bắn theo xác suất: bắn một loạt đạn tên lửa vào đám nhiễu theo cự ly giãn cách nhất định sẽ có xác suất tiêu diệt mục tiêu khá cao, phương án bắn xác suất này được "cẩm nang" gọi là "phương án P".
Khi mục tiêu B-52 đi thẳng vào đài phát cường độ nhiễu sẽ tăng lên nhưng tín hiệu mục tiêu sẽ tăng mạnh hơn, mục tiêu sẽ hiển thị rõ nét hơn, đây là thời cơ có thể bắn điều khiển tên lửa chính xác theo "phương án T", khi đó chỉ cần 1 đến 2 quả tên lửa B-52 sẽ phải rơi tại chỗ.
Trong "cẩm nang" đồng thời cũng đề ra các hướng dẫn cụ thể cho các cấp chỉ huy các tiểu đoàn tên lửa về công tác chỉ huy, cách chọn giải nhiễu, chọn thời cơ phát sóng, cự ly phóng đạn, phương pháp bắn, phương pháp bám sát mục tiêu trong nhiễu...
Một chiến thuật khác là "phương pháp bắn 3 điểm" dựa trên bộ khí tài hiện có. Khi B-52 vào Hà Nội, cường độ gây nhiễu cũng đã bị phân tán. Hướng này bị nhiễu nặng, song ở hướng khác, hai bên sườn, phía trước, phía sau… các đơn vị tên lửa lại có thể phát hiện được B-52 trên nền nhiễu. Quân đội Nhân dân Việt Nam đã bố trí đội hình tên lửa đánh bọc lót cho nhau, sao cho mỗi tốp máy bay Mỹ có thể bị công kích từ nhiều hệ thống tên lửa ở nhiều hướng, sử dụng phương pháp bắn 3 điểm và linh hoạt sử dụng phương pháp bắn đón nửa góc khi thấy mục tiêu.
Ngoài ra còn có kỹ thuật điều khiển bắn bằng quang học thay cho radar. Các kíp chiến đấu nhận thấy việc bám sát chia đôi dải nhiễu như trước đây không còn phù hợp và sẽ khó tiêu diệt được máy bay, trắc thủ hai góc phải bám sát dải nhiễu như thế nào để đưa máy bay địch vào đúng tâm cánh sóng thì mới có thể bám bắt và khai hỏa. Phương án sử dụng trắc thủ quang học để chỉ chuẩn cho các trắc thủ tay quay xe điều khiển bám sát. Từ năm 1968, các chuyên gia Liên Xô đã tiến hành lắp thêm kính quang học PA-00 trên nóc anten phương vị của xe thu phát. Thiết bị này được thiết kế để khi hai trắc thủ quang học bám sát chính xác vào một máy bay thì hai trắc thủ góc tà và phương vị của xe điều khiển cũng bám sát đúng vào chiếc máy bay đó, mặc dù trên màn hiện sóng là dải nhiễu tạp. Ngoài ra, đài radar P-12 của tiểu đoàn xác định chính xác cự li mục tiêu để chọn cự ly phóng đạn phù hợp.
Về phía Hoa Kỳ, vũ khí lợi hại là tên lửa chống radar (như loại AGM-45 Shrike, AGM-78 Standard ARM). Tên lửa Shrike sau khi phóng sẽ tìm và "bắt" mục tiêu theo sóng ra-đa, rồi lao thẳng vào gây nổ, là vũ khí chuyên dụng để phá hủy các hệ thống phòng không đối phương. Khi cách rađa vài chục mét thì tên lửa phát nổ lần thứ nhất, văng ra hàng vạn viên bi vuông để phả hủy rađa, tiếp đó phần còn lại lao xuống đất nổ lần thứ 2 để phá hủy nốt. Tại Trung Đông, hàng chục hệ thống tên lửa phòng không của Khối Ả Rập từng bị loại tên lửa này phá hủy, khiến lực lượng này mất khả năng chiến đấu. Quân đội Việt Nam đã nghiên cứu, vô hiệu hóa bằng cách phát sóng tức thì, tắt máy đột ngột và quay đài ăng-ten đi hướng khác, tên lửa Shrike cứ thế lao theo quán tính và rơi chệch trận địa. Cùng với trận địa chính, bộ đội Việt Nam làm nhiều trận địa giả, sau mỗi lần phóng tên lửa lại nhanh chóng kéo bệ sang trận địa khác. Những quả tên lửa giả được làm bằng cót, phủ sơn trông như thật. Khi tên lửa thật phóng đạn, thì các bệ tên lửa giả cũng đốt rơm, tạo khói mù mịt, đánh lừa máy bay Mỹ. Nhờ vậy trong suốt 12 ngày đêm của chiến dịch, chỉ có một số ít trận địa phòng không bị đánh trúng, lực lượng phòng không Việt Nam vẫn bảo toàn được lực lượng để tiếp tục chiến đấu.
Đại tá Nguyễn Văn, chỉ huy 1 trung đoàn tên lửa phòng không, sau chiến tranh đã trả lời một quân nhân Mỹ: "Việc phát triển chiến thuật để đối phó với đối phương vượt trội về công nghệ là nhiệm vụ thường trực. Rốt cuộc, chính Liên Xô cũng phải học tập những chiến thuật của chúng tôi. Về mặt kỹ thuật, người Liên Xô là thầy của chúng tôi, nhưng về mặt thủ thuật, chúng tôi là thầy của họ".
Đối với không quân, ngay từ giữa 1972, 12 phi công đã được chọn để lái tiêm kích bay đêm (vốn đòi hỏi kỹ thuật cao hơn so với tiêm kích ban ngày) để sẵn sàng đón đánh B-52. Phi công Phạm Tuân cho biết: "Với không quân thì khó khăn hơn, máy bay B-52 được yểm trợ rất mạnh, lại bay ban đêm, gây nhiễu rađa, gây nhiễu mục tiêu… ngoài ra, bản thân B-52 được trang bị tên lửa mồi, nếu MiG-21 bắn tên lửa thì B-52 thả tên lửa mồi, chưa kể B-52 cũng được trang bị súng phía đuôi có khả năng tiêu diệt máy bay tiêm kích. B-52 còn được bảo vệ bằng các máy bay chiến đấu, tiêm kích đánh chặn, đánh ngay vào mục tiêu như sân bay, trận địa tên lửa. Không quân phải có sân bay, tránh được máy bay F-4 bảo vệ B-52, để có thể nhanh chóng tiếp cận. Vì vậy, không quân phải tập bay ở những sân bay ngắn, mới làm ở các nông, lâm trường, tập bay thấp, bay cao để có thể tiếp cận nhanh được B-52. Những thời điểm như vậy thể hiện trí tuệ, sáng tạo của dân tộc, của Không quân Nhân dân Việt Nam. Chúng ta phải cất cánh trong những điều kiện khó khăn, phải cất cánh lên được để đánh. Điều này đòi hỏi ý chí, nhưng ý chí không đủ, phải sáng tạo. Ví dụ ta làm rất nhiều sân bay dự bị, hoặc cất cánh trên đường băng phụ. Thậm chí, có khi chúng tôi đeo thêm 2 quả tên lửa bổ trợ, khi đó máy bay có thể cất cánh trên đường băng chỉ 200-300m so với đường băng 1,5 km thông thường... Nga sản xuất máy bay và dạy chúng ta cách bay, nhưng đối diện với thực tế bị nhiễu, rất khó biết B52 nằm ở chỗ nào, rất khó biết được chính xác. Thế cho nên, phi công phải chủ động. Ở đây là bản lĩnh của phi công, phải phán đoán được tình huống như thế nào."
Một điểm đáng lưu ý, một số nguồn tin cho rằng tên lửa SA-2 đã được cải tiến nối tầng nâng tầm bắn. Nhưng thực tế là không phải, bởi tên lửa SA-2 có thể hạ mục tiêu ở độ cao trên 24.000m trong khi trần bay tối đa của B-52 chỉ là 17.000m (khi bay ném bom thì độ cao bay 10.000m), nên việc nâng tầm bắn là không cần thiết. Trên thực tế, yếu tố giúp bắn hạ B-52 nằm ở việc cải tiến các thiết bị radar để "vạch nhiễu tìm thù".
Một vấn đề khác liên quan là việc 2 hệ thống SAM-3 của Việt Nam không kịp tham chiến. Được Liên Xô viện trợ cho khối Ả Rập từ năm 1969 nhưng mãi tới năm 1972, Liên Xô mới đồng ý viện trợ SAM-3 cho Việt Nam (chính sách của Liên Xô là ưu tiên khối Ả Rập hơn và không viện trợ vũ khí mới cho Việt Nam để tránh gây căng thẳng với Mỹ, cũng như tránh bị Trung Quốc sao chép công nghệ). Theo kế hoạch, 2 trung đoàn SAM-3 cùng 200 quả tên lửa sẽ được đưa sang Việt Nam vào cuối tháng 12/1972. Theo Trung tướng Nguyễn Văn Phiệt, thì SAM-3 có tốc độ bắn nhanh hơn (có 2 tên lửa trên 1 bệ phóng thay vì 1 tên lửa như SA-2), khả năng chống nhiễu cao hơn do dùng tần số quét khác SAM-2, do đó có xác suất trúng mục tiêu cao hơn SAM-2. Tới đêm 18/12, Trung đoàn 276 – trung đoàn SAM-3 thứ hai về đến ga Kép (Bắc Giang). Trung đoàn 276 tập trung mọi khả năng cho tiểu đoàn hỏa lực 169 hoàn chỉnh đồng bộ bước vào chiến dịch trước. Ngày 30/12/1972, Tiểu đoàn 169 đã chiếm lĩnh và triển khai trận địa ở Bắc Hồng (Đông Anh, Hà Nội), nhân viên kỹ thuật triển khai nhanh dây chuyền lắp ráp được 4 quả đạn SAM-3. Tuy nhiên, khi công tác chuẩn bị chiến đấu hoàn tất thì chiến dịch phòng không đã kết thúc vào đêm hôm trước.
==== Đánh tại sân bay ====
Với chủ trương: địch xuất phát từ đâu, ta sẽ đánh trả ngay tại nơi sào huyệt của chúng, và trên cơ sở phân tích tin tình báo chiến lược, phán đoán ý đồ của Mỹ. Bộ Tư lệnh Binh chủng Đặc công đã giao nhiệm vụ cho Thượng tá Nguyễn Đức Trúng, Tham mưu trưởng Binh chủng, nghiên cứu và chuẩn bị phương án đánh thẳng vào những căn cứ máy bay B-52 của Mỹ tại Thái Lan.
===== Đánh Sân bay Hải quân Hoàng gia Thái Lan Utapao =====
Tháng 05/1971, đồng chí Lê Toàn - Chính trị viên Tiểu đoàn Đặc công biệt động 1A đã cùng một tổ công tác vượt biên giới sang Campuchia rồi từ đó lên sát biên giới Thái Lan, trực tiếp bắt liên lạc và thành lập một tổ đặc công gồm các anh Trần Thế Lại, Bùi Văn Phương, Vũ Công Đài đang hoạt động ở Thái Lan.
Nhận nhiệm vụ tổ chức trận đánh, đồng chí Trần Thế Lại đã liên lạc và giao nhiệm vụ cho đồng chí Bùi Văn Phương chuẩn bị vị trí cất giấu vũ khí, giả trang là dân thường đến khu vực sân bay Utapao để điều tra, nghiên cứu mục tiêu, nắm tình hình sơ bộ và kiểm tra nơi cất giấu vũ khí.
Từ ngày 5 đến 09/11/1971, Vũ Công Đài và Bùi Văn Phương (là hai người sẽ trực tiếp thực hiện trận đánh) đã gặp nhau bàn bạc thống nhất kế hoạch, nội dung và phương pháp. Các anh đã dự kiến một phương án tấn công sân bay là phá hủy bí mật bằng thủ pháo nổ chậm, nếu bị lộ thì chuyển sang đánh nổ ngay. Vũ khí sẽ sử dụng là 10 quả thủ pháo loại 0,4 kg bằng chất nổ mạnh C4 và 2 quả lựu đạn.
Ngày 09/01/1972, hai anh đi xe đến gần khu vực sân bay. Quá trình tiềm nhập vào mục tiêu, các chiến sĩ đặc công đã ba lần gặp địch. Hai lần khéo léo ngụy trang qua khỏi tầm mắt của chúng, đến lần thứ ba trong một tình thế đặc biệt buộc tổ chiến đấu phải nổ súng tiêu diệt nhóm tuần tra gồm hai lính Mỹ và một chó béc giê. Khi vào cách nơi máy bay B-52 đỗ khoảng 300m, bất ngờ gặp 3 xe ôtô và 2 lính Mỹ, hai anh phải vòng tránh theo hướng khác. Khi khoảng cách còn 50m, một tổ tuần tra khác của địch phát hiện nổ súng bắn chặn, Bùi Văn Phương tung lựu đạn về phía địch. Hai anh dùng thủ pháo đánh vào từng chiếc máy bay. Số thủ pháo vừa hết, Bùi Văn Phương ra lệnh rút lui.
Trong trận đánh này, 8 chiếc máy bay B-52 bị phá hủy nhưng điều đáng tiếc nhất là Vũ Công Đài đã anh dũng hy sinh.
===== Đánh sân bay Udon =====
Tháng 07/1972, Đoàn A54 cử 23 cán bộ, chiến sĩ thành một tổ soi đường và một tổ bảo đảm hậu cần, vượt Trường Sơn hành quân đến khu rừng nguyên sinh Đôn Ka Thom nằm ở ngã ba biên giới 3 nước Thái Lan - Lào - Campuchia, lập một trạm chỉ huy nghiên cứu tình hình, mở hành lang vào khu vực sân bay Udon.
Tháng 08/1972, tổ soi đường đã liên lạc được với một cơ sở lực lượng cách mạng của ta trên đất Thái Lan. Hàng ngày, các anh thường đóng giả người dân Thái Lan nhằm thực hiện nhiệm vụ trinh sát khu vực sân bay.
Cuối tháng 08/1972, một đội hình chiến đấu gồm 10 người được thành lập do đồng chí Đào Đức Hạnh - Đoàn trưởng Đoàn A54 chỉ huy tới cơ sở cách mạng của ta ở Thái Lan (Căn cứ 07). Phương án đánh B52 lần này là dùng mìn nổ chậm, nếu bị lộ thì chuyển sang đánh nổ ngay. Tám đồng chí trong đội hình chiến đấu chia làm ba tổ, trong đó hai người có nhiệm vụ mở cửa và bảo vệ cửa mở; bốn người đánh phá máy bay, hai người đánh phá kho xăng.
Tháng 09/1972, đội thực hiện nhiệm vụ trinh sát tạo hành lang từ Căn cứ 07 đến sân bay Udon, nhằm xác định vị trí tập kết, xác định đường đột nhập vào sân bay.
Ngày 01/10/1972, đội hình chiến đấu bắt đầu cơ động vào sát khu vực sân bay Udon đến gần sáng ngày 02/10, đội mới tới được gần sân bay.
Tối ngày 02/10/1972, hai tổ chiến đấu tiềm nhập vào sân bay, tổ mở cửa triển khai bảo vệ đầu cầu. Theo hiệp đồng chiến đấu, sau khi cài đặt lượng nổ, mìn hẹn giờ vào mục tiêu, cả hai tổ phải rút ngay để kịp rời sân bay trước khi trời sáng. Cho tới 10 giờ sáng ngày 03/10/1972, tổ đánh kho xăng và tổ mở cửa mới gặp được nhau, bốn người còn lại của tổ đánh B-52 vẫn chưa thể thoát ra được.
Trong trận đánh này, 23 máy bay B-52, 1 trạm điện, 1 kho xăng đã bị phá hủy. Tuy nhiên, ba người lính đặc công là Phan Xuân Kính, Phạm Văn Lãm, Vũ Công Xướng đã hy sinh ngay tại sân bay, Nguyễn Khắc Nga bị thương nặng và bị địch bắt.
===== Đánh Sân bay Ubon Ratchathani =====
Trước năm 1972, Sân bay Ubon Ratchathani đã 6 lần bị đặc công Việt Nam gài mìn phá hủy nên địch tăng cường bảo vệ an ninh.
Đồng chí Lê Toàn, Chính trị viên Tiểu đoàn Đặc công biệt động 1A đã cùng Nguyễn Bá Do bí mật sang Campuchia gặp Bộ Tư lệnh Quân tình nguyện Việt Nam đề nghị chi viện vũ khí. Đồng chí Đồng Văn Cống đã quyết định cấp ngay vũ khí theo đề nghị của Tiểu đoàn gồm 2 súng cối 82mm, 2 cơ số đạn, 200 thủ pháo tay cùng một số vật chất chiến đấu.
Ngày 02/10/1972, một đội hình chiến đấu gồm 27 người của Tiểu đoàn Đặc công biệt động 1A được thành lập. Đội được tổ chức thành hai bộ phận, trong đó bộ phận trực tiếp chiến đấu gồm 13 người trang bị 1 súng cối 82mm, 40 quả đạn, do đồng chí Nguyễn Công Mùi chỉ huy.
Khi đến vị trí, bí mật triển khai trận địa, đội hình chiến đấu nổ súng theo đúng kế hoạch đã định. 40 quả đạn mang theo, 5 quả không nổ do ảnh hưởng thời tiết mưa gió ẩm ướt, 35 quả đạn còn lại đã nổ trúng mục tiêu phá hủy đài chỉ huy sân bay, xưởng sửa chữa và một số thiết bị sân bay và rút lui an toàn. Nhưng khi về tới gần biên giới, đội đã bị lọt vào ổ phục kích của địch, 6 người lính đặc công đã anh dũng hy sinh.
== Diễn biến ==
Trong chiến dịch có tổng cộng 741 lượt B-52 vào ném bom Bắc Việt Nam trong đó có 12 lượt bị hủy, trong thời gian đó vẫn có 212 lượt B-52 đi ném bom ở miền Nam Việt Nam. Hỗ trợ cho các máy bay ném bom là 3.920 lượt máy bay ném bom chiến thuật của không quân và hải quân. Tổng cộng đã có hơn 36.000 tấn bom đã được thả xuống những nơi được Mỹ coi là 18 mục tiêu công nghiệp và 14 mục tiêu quân sự (trong đó có 8 địa điểm có tên lửa SAM).
Cuộc tập kích của không quân Mỹ diễn ra liên tục trong ngày với trọng tâm là các cuộc ném bom của B-52 vào ban đêm. Một lực lượng lớn máy bay B-52, mỗi chiếc mang tối đa 66 quả bom 750-pound (340 kg) hoặc 108 quả bom 500-pound (227 kg) thực hiện các cuộc tấn công hủy diệt hàng đêm tại Hà Nội và Hải Phòng. Còn ban ngày các bay chiến thuật thay nhau liên tục đánh phá ác liệt các sân bay của không quân tiêm kích Bắc Việt Nam, các trận địa tên lửa và các trạm radar phòng không.
Trong 12 ngày đêm cuối năm 1972, hơn nửa triệu dân nội đô (xấp xỉ 50% dân số Hà Nội lúc đó) đã được tổ chức sơ tán về các huyện ngoại thành và các tỉnh lân cận để tránh thương vong. Thiếu tướng Nguyễn Văn Ninh, nguyên phó cục trưởng Cục Tác chiến Bộ Tổng tham mưu, kể rằng việc ông quan tâm và dành thời gian tìm hiểu là cuộc sơ tán thần tốc của người dân Hà Nội trong những ngày chiến tranh ác liệt nhất. Nhờ làm tốt chủ trương này mà Hà Nội đã giảm thiểu được thương vong về người trước sức công phá ác liệt của các loại vũ khí hiện đại.
Để tránh né hệ thống phòng không miền Bắc, Hoa Kỳ đã dùng máy bay B-52 bay ở độ cao lớn rải thảm bom vào các mục tiêu như sân bay Kép, Phúc Yên, Hòa Lạc, hệ thống đường sắt, nhà kho, nhà máy điện Thái Nguyên, trạm trung chuyển đường sắt Bắc Giang, kho xăng dầu tại Hà Nội... Thiệt hại về cơ sở hạ tầng tại miền Bắc Việt Nam là rất nặng nề. Hà Nội, Hải Phòng bị tàn phá, các nhà máy, xí nghiệp, các khu dân cư xung quanh mục tiêu quân sự và dân sự trở thành đống gạch vụn. Ở Hà Nội, ngày 26/12, riêng tại phố Khâm Thiên, bom trải thảm đã phá sập cả dãy phố, sát hại 287 dân thường, làm bị thương 290 người, 178 đứa trẻ trở thành mồ côi, trong đó có 66 trẻ em mồ côi cả cha lẫn mẹ. Bệnh viện Bạch Mai, cơ sở y tế lớn nhất miền Bắc Việt Nam đã bị phá huỷ hoàn toàn khiến 30 bác sĩ, y tá và 1 bệnh nhân bên trong thiệt mạng. Số dân thường bị thiệt mạng trong chiến dịch là 2.200 người, trong đó con số tại Hà Nội được thống kê là 1.318 người. Chiến dịch này đã phá hoại nặng nề nhiều cơ sở vật chất, kinh tế, giao thông, công nghiệp và quân sự ở miền Bắc Việt Nam nhưng mục tiêu cốt lõi là làm thay đổi được lập trường của lãnh đạo Việt Nam Dân chủ Cộng hòa thì đã không đạt được.
Trước khi chiến dịch diễn ra ít ngày, ngày 22/11/1972, bộ đội tên lửa Quân đội Nhân dân Việt Nam đã thành công trong việc bắn trúng 1 chiếc B-52 tại Thanh Hóa. Chiếc máy bay B-52 bị hư hại nặng, nhưng tổ lái đã cố gắng xoay xở để lái chiếc máy bay "rách nát" về tới sân bay ở Thái Lan rồi hạ cánh, thoát ra ngoài trước khi chiếc B-52 bị bốc cháy hoàn toàn trên đường băng.
=== Ngày 18/12/1972 ===
Ngày 18/12/1972, những tốp B-52 đầu tiên xuất kích. Trên bảng tiêu đồ tại Sở chỉ huy, một trong số ba nữ tiêu đồ viên có tên Nguyễn Thị Vân lo lắng khi thấy tín hiệu báo những chiếc B-52 bay tới. Cô nhớ lại: "Thoạt tiên là một tốp, rồi tiếp tới 2 tốp, sau đó là hàng loạt tốp xuất hiện như một bầy ruồi. Nhưng tinh thần hoàn thành nhiệm vụ của một người lính đã giúp tôi lấy lại bình tĩnh và tiếp tục đánh dấu đường bay". Sở chỉ huy Sư đoàn 361 theo dõi hướng tấn công của các tốp mục tiêu trước khi phân công số tốp và nhiệm vụ tiêu diệt mục tiêu cho các phân đội hỏa lực.
Tiểu đoàn 57 Trung đoàn tên lửa 261 có trận địa ngay bờ bắc sông Hồng là phân đội tên lửa đầu tiên chặn đánh đội hình tập kích. Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 57 Nguyễn Văn Phiệt là một chỉ huy dày dạn, từng lăn lộn chiến đấu chống các trận không kích của Mĩ trong suốt 5 năm nhưng cũng chưa bao giờ gặp trường hợp nhiễu nặng như vậy. Ông nhớ lại: "Tất cả các tín hiệu mục tiêu đều biến mất trong đám nhiễu trắng lóa khắp màn hiện sóng. Màn hiện sóng trước mặt sĩ quan điều khiển và các trắc thủ hiện lên các vạch xanh đậm đan chéo chằng chịt với nhau và biến đổi không ngừng, các dải nhiễu nhằng nhịt nối tiếp nhau xuất hiện, tụ vào rồi lại tan ra trước khi xuất hiện hàng trăm, hàng nghìn đốm sáng trùm lên màn hiện sóng giống cả đám tín hiệu mục tiêu đang di chuyển hỗn loạn. Với cả mớ tín hiệu hỗn loạn đi kèm với màn hiện sóng radar chập chờn trôi xuống liên tục giống như trận mưa trút nước...". Trên các xe điều khiển, các kíp trắc thủ điều khiển tên lửa cố gắng bám theo dải nhiễu B-52 nhờ đài radar cảnh giới P-12 thay vì bật radar điều khiển Fan Song để tránh làm lộ vị trí đài phát trước đám máy bay tiêm kích chế áp phòng không Wild Weasel mang tên lửa chống radar. Nhưng việc bám mục tiêu thụ động cũng không mấy hiệu quả do bị nhiễu quá nặng.
Về mặt quân sự, Hoa Kỳ đã đánh giá thấp lực lượng phòng không của đối phương. Không lực Hoa Kỳ quá tin tưởng vào các biện pháp kỹ thuật gây nhiễu điện tử để bịt mắt radar và tên lửa phòng không của đối phương. Để đáp lại, các lực lượng tên lửa phòng không Quân đội nhân dân đã giải quyết vấn đề bằng những biện pháp chiến thuật sáng tạo và hợp lý. Dù Hoa Kỳ sử dụng các thiết bị gây nhiễu rada mạnh, phòng không Việt Nam đã tìm ra cách dò dấu vết B-52 trong dải nhiễu, bắn các máy bay B-52 theo xác suất và đã thành công vượt xa mức trông đợi.
Trong ngày chiến đấu đầu tiên, khi đội hình máy bay tập kích tiến tới, tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 78 Nguyễn Chấn nhìn thấy "tầng tầng lớp lớp các loại nhiễu nhìn giống những chiếc nan quạt lớn chồng chéo lên nhau cùng xổ xuống, xóa nhòa tất cả các dải tần, làm lóa mắt kíp trắc thủ. Tín hiệu mục tiêu xoắn quện, vón cục rối bời với nhau trông như một cuộn len." Khi đội hình B-52 tới gần mà radar cảnh giới của đơn vị vẫn không phát hiện được mục tiêu, Chấn đã quyết định mở máy phát sóng sục sạo mục tiêu. Ngay sau đó sĩ quan điều khiển Nguyễn Văn Luyện đã bám được vào dải nhiễu của một chiếc B-52 và nhấn nút chuyển tín hiệu bám mục tiêu sang màn hiện sóng của 3 trắc thủ. Trắc thủ cự li Đinh Trọng Duệ hô to "B-52" rồi cùng các trắc thủ khác thao tác tinh chỉnh cự li, phương vị và góc tà bám sát dải nhiễu.
Cách Hà Nội vài cây số về hướng bắc, Tiểu đoàn tên lửa 59 phóng cả 4 đạn đều trượt, mà lại còn bị đối phương quăng bom trùm lên trận địa. Lúc này, trong khi đang quan sát đội hình ném bom của đối phương bay vào trên màn hiện sóng radar P-12 và bảng tiêu đồ kế bên, tiểu đoàn trưởng Nguyễn Thăng nhận được lệnh từ sở chỉ huy Trung đoàn 261 giao nhiệm vụ diệt tốp mục tiêu 671 có độ cao 10.000 mét. Tiểu đoàn trưởng Thăng lệnh ngay cho sĩ quan điều khiển Dương Văn Thuận: "Mục tiêu, phương vị 350, cự li 30 km, độ cao 10.000 mét, phát sóng". Thuận đánh tay quay chỉnh an-ten về góc phương vị 350 rồi bật công tắc phát sóng bắt mục tiêu. Sau 4 giây lên sóng, khi thấy trên màn hiện sóng hiện lên các dải nhiễu cho thấy đội hình một biên đội 3 chiếc B-52, Thuận báo cáo tiểu đoàn trưởng Thăng: "Phát hiện mục tiêu, phương vị 352, không rõ cự li, độ cao 10.000 mét, theo tốp, bay vào". Thăng chuyển qua ngó màn hiện sóng trước mặt sĩ quan điều khiển rồi quay lại vị trí để kiểm tra tín hiệu tốp mục tiêu trên màn hiện sóng chỉ huy và đường bay trên bảng tiêu đồ, sau đó ra lệnh cho Thuận chuẩn bị phóng 2 đạn.
Ngay cả trong điều kiện chiến đấu bình thường thì điều khiển tên lửa bằng tay bám theo tín hiệu mục tiêu hiện rõ trên màn hiện sóng đã là một việc khó, huống hồ là lái tên lửa vào dải nhiễu của B-52. Chỉ cần vê tay quay điều khiển giật cục hay lỡ trớn thì tên lửa đã bay trệch mục tiêu tới hàng cây số hay phát nổ ngay trên không. Khi chiếc B-52 tiến vào, Thuận đã nhấn nút phóng liền 2 đạn rồi cùng các trắc thủ tập trung vào màn hiện sóng và tay quay, vừa bám sát mục tiêu vừa lái đạn. 24 giây sau khi các quả đạn được phóng đi, đèn báo hiệu ngòi nổ cận đích của quả đạn đầu tiên rồi quả thứ hai nháy sáng trên bảng điều khiển báo hiệu đạn nổ tốt. Trắc thủ phương vị Nguyễn Văn Độ và trắc thủ góc tà Lê Xuân Linh lần lượt báo cáo tín hiệu dải nhiễu của mục tiêu biến mất trên màn hiện sóng phương vị và nhanh chóng tụt độ cao trên màn hiện sóng góc tà. Chiếc B-52 có mật danh liên lạc Charcoal 1 của Bob Certain bị bắn hạ khi đã tới sát mục tiêu rải bom, 3 trong số 6 phi công tử trận. Đó là chiếc B-52 đầu tiên bị hạ trong chiến dịch.
=== Ngày 21/12/1972 ===
Đêm 20 rạng ngày 21 tháng 12 chứng kiến nỗ lực phòng thủ mãnh liệt nhất của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa chống lại các máy bay B-52, đó là ngày B-52 phải chịu tổn thất cao nhất trong toàn chiến dịch. Trong đêm đó, lực lượng phòng không Việt Nam đã phóng 36 tên lửa SAM trong suốt 3 đợt tấn công. Lưới lửa được tổ chức và điều khiển rất khôn ngoan. Đôi khi Quân đội Nhân dân Việt Nam không tấn công biên đội đầu tiên trên vùng trời mục tiêu mà dùng nó để xác định đường bay và các điểm lượn vòng, tiếp đó các biên đội sau phải chịu hỏa lực mạnh ở gần các điểm thả bom, nơi mà họ phải bay ổn định, và trên đường rút khỏi mục tiêu.
Trong một tình huống có tới cả 3 tiểu đoàn tên lửa cùng phóng đạn vào một chiếc B-52 vừa mở khoang bom khiến nó nổ tung. Chớp lửa từ vụ nổ của 30 tấn bom mạnh đến nỗi một máy bay trinh sát của Mĩ hoạt động trên Vịnh Bắc bộ cách đó tới 80 dặm vẫn còn nhìn thấy. Chỉ 2 trong số 6 thành viên kíp lái trên chiếc máy bay này sống sót. Tại hầm Sở chỉ huy Sư đoàn 361 nữ phát thanh viên liên tục thông báo tình hình chiến sự cho biết hết chiếc này tới chiếc khác B-52 bị bắn rơi. Tư lệnh Quân chủng phòng không Lê Văn Tri điện xuống Sư đoàn 361 thông báo: "Đội hình tấn công của đối phương đã rối loạn. Chúng đang réo gọi nhau một cách hoảng loạn và kêu gào lực lượng tìm cứu phi công…".
Vào nửa đêm hôm đó, Bộ tư lệnh Không quân chiến lược Hoa Kỳ đã hủy lệnh cho B-52 ném bom đợt 2 xuống các mục tiêu ở Hà Nội mà chuyển sang mục tiêu khác ở tít trên phía bắc. Các kíp tên lửa phòng không Việt Nam đã làm được cái điều mà người Nhật, Đức, Bắc Triều Tiên, Trung Quốc chịu không làm được trong các cuộc chiến trước, đó là lần đầu tiên và duy nhất trong lịch sử các chiến dịch tập kích đường không của Mĩ, đội hình máy bay ném bom đang trên đường tới tấn công mục tiêu đã phải thúc thủ quay về vì vấp phải hệ thống phòng không của đối phương. Dù đã cho hủy lệnh tấn công đợt hai nhưng SAC vẫn cố tung đợt tấn công thứ 3 tới đánh phá Hà Nội vào 4 giờ sáng ngày hôm sau, lúc mà lực lượng tên lửa phòng không Việt Nam đã được tiếp đạn đầy đủ, thêm 3 chiếc B-52 bị hạ. Tổng cộng trong đêm đó, 4 máy bay B-52G và 2 máy bay B-52B bị bắn rơi, một máy bay B-52D bị bắn hỏng.
=== Ngày 27/12/1972 ===
Cũng trong chiến dịch này, vào đêm ngày 27-12, lần đầu pháo đài bay B-52 bị hạ bởi một máy bay tiêm kích MiG-21, do Phạm Tuân điều khiển. B-52 tuy chỉ có khả năng không chiến yếu, nhưng nó luôn có đội hình gồm hàng chục chiếc tiêm kích F-4 bay theo để bảo vệ, nên việc công kích là rất khó. Phạm Tuân kể lại: Do B-52 trang bị nhiều mồi nhiệt làm nhiễu đầu dò tên lửa nên ông đã cố gắng áp sát B-52 ở cự ly 2–3 km rồi mới phóng tên lửa (dù tầm bắn của tên lửa là 8 km), ở cự ly này tên lửa chỉ mất 2-3 giây để tới mục tiêu nên chiếc B-52 sẽ không kịp thả mồi nhiễu. Rút kinh nghiệm từ vụ của Vũ Đình Rạng (chỉ phóng 1 quả tên lửa thì không đủ để hạ tại chỗ B-52) nên ông đã phóng liền cả 2 tên lửa vào mục tiêu, không giữ lại tên lửa dự phòng. Sau khi bắn, Phạm Tuân giảm tốc, kéo máy bay lên cao và lật ngửa để thoát ly thì nhìn thấy chiếc B-52 nổ, sau đó máy bay lao vượt qua phía trên điểm nổ. Tuy nhiên do động tác cơ động thoát ly cấp tốc này nên máy ảnh phía mũi chiếc MiG-21 đã không thể chụp lại khoảnh khắc đó làm tư liệu.
Phạm Tuân kể tiếp: "Khi lên trời rồi, phi công phải nhanh chóng đi vào điều kiện thuận lợi, vậy chúng ta phải phán đoán F-4 thường chặn chúng ta ở đâu, tầm cao nào để chúng ta tránh. Nếu F-4 bay ở độ cao 3 km thì chúng ta phải bay cao hơn, tốc độ hơn. Tất cả những kinh nghiệm đó để xây dựng thành phương án bay để tránh F-4. Lên thấy F-4 nhiều lắm, bên phải có, bên trái có. Bên dưới chỉ huy là vượt qua mà đi. Vậy vượt qua bằng cách nào? Ở đây là bản lĩnh của phi công, phải phán đoán được tình huống như thế nào. Trận đánh B-52 của tôi rất nhanh, tiếp cận B-52 chưa đầy một phút. Khi tiếp cận đằng sau B-52 với tốc độ rất cao, 1.500 km/h so với tốc độ của B52 là 900 km/h nên đã vượt qua tất cả. Vượt qua phải bao gồm tất cả nỗ lực, từ tổ chức chỉ huy, sân bay cất cánh, dẫn đường, để có được điều kiện tốt nhất. Hiệp đồng với binh chủng tên lửa phải chặt, khi tên lửa bắn lên F-4 phải dạt ra tránh, chúng tôi tranh thủ để vượt qua. Rồi lựa chọn hướng vào tiếp cận B-52 như thế nào. Tất cả tạo nên điều kiện thuận lợi nhất đánh B-52. Tôi bắn B-52 xong rồi mà F-4 vẫn ở đằng sau nhưng không làm gì được."
Một số nguồn tài liệu Hoa Kỳ cho rằng tên lửa của ông đã bắn trượt, chiếc B-52 đã trúng tên lửa SA-2 rồi nổ trên không trung, khiến Phạm Tuân nghĩ rằng tên lửa của ông đã phá hủy mục tiêu. Nhưng nếu phân tích, điều này là rất khó xảy ra. Thời gian từ khi phóng tên lửa tới khi thoát ly của Phạm Tuân chỉ kéo dài 4-5 giây. Trong số các phi công Mỹ bị bắt, trung úy Paul Louis Granger, phi công phụ lái B-52 khai máy bay của anh ta bị MiG bắn trước, sau đó lại bị tên lửa SA-2 bồi thêm. Tuy nhiên đó là trường hợp của chiếc B-52D số hiệu 56-0622, mật danh "Orange 03" bị bắn rơi tại Yên Viên lúc 20 giờ 32 phút (tức 13 giờ 32 phút giờ GMT) ngày 20 tháng 12 năm 1972.
=== Ngày 28/12/1972 ===
Ngày hôm sau tức đêm 28-12, phi công Vũ Xuân Thiều cũng được ghi nhận đã hạ được B-52 trên bầu trời Sơn La, nhưng Thiều và máy bay bị mất cùng với máy bay địch.
== Kết quả ==
=== Số lượng máy bay Mỹ bị bắn hạ ===
Thiệt hại của Không quân Mỹ theo phía Mỹ công bố là 11 chiếc B-52 đã bị bắn rơi trên lãnh thổ Bắc Việt Nam, 5 chiếc khác rơi tại Lào hoặc Thái Lan. 26 phi công B-52 được cứu thoát, 33 người khác bị chết hoặc mất tích, 33 bị bắt làm tù binh chiến tranh. Đồng thời không quân chiến thuật Mỹ mất 12 máy bay (2 F-111, 3 F-4, 2 A-7, 2 A-6, 1 EB-66, 1 trực thăng cứu hộ HH-53 và 1 máy bay RA-5C), 10 phi công chiến thuật bị chết, 8 bị bắt, và 11 được cứu thoát. Trong số 28 máy bay cả B-52 và chiến thuật bị bắn rơi, 17 trường hợp do trúng tên lửa SA-2, 3 trường hợp do bị máy bay MiG tấn công vào ban ngày, 3 do pháo phòng không, và 3 trường hợp không rõ nguyên nhân. 4 chiếc B-52 khác bị trúng đạn hư hại nặng nhưng vẫn bay về được sân bay và 5 chiếc khác bị hỏng mức trung bình.
Theo số liệu của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, tổng cộng trong 12 ngày đêm có 81 máy bay bị bắn rơi, trong đó có 34 chiếc B-52 (có 16 chiếc rơi tại chỗ), 5 chiếc F-111 (có 2 chiếc rơi tại chỗ).
Theo ước tính của Hoa Kỳ, Việt Nam đã phóng hơn 1.000 tên lửa sau 12 ngày đêm, nghĩa là theo Mỹ thì lượng đạn tên lửa của Quân đội Nhân dân Việt Nam đã sắp cạn kiệt, có những ý kiến cho rằng nếu Hoa Kỳ kiên trì đánh phá thêm vài ngày thì có thể đã giành được chiến thắng. Tuy nhiên theo thống kê của Quân đội Nhân dân Việt Nam, thực ra trong toàn chiến dịch họ chỉ phóng 334 đạn tên lửa SA-2 (bao gồm 241 tên lửa phóng ở Hà Nội), bằng 60% dự trữ số đạn tốt của Hà Nội, Hải Phòng. Việc Hoa Kỳ ước tính số tên lửa đã phóng cao gấp 3 lần thực tế là do chiến thuật bắn "tên lửa giả" của Việt Nam (tên lửa vẫn nằm dưới đất nhưng lại phát sóng tên lửa ra ngoài để làm đội hình F-4 bảo vệ B-52 của Mỹ tưởng bị nhắm bắn, phải tìm cách né tránh làm rối loạn đội hình) Mặt khác, trong 12 ngày đêm, quân đội Việt Nam cũng phục hồi được hơn 300 tên lửa cũ để tái sử dụng, như vậy thực ra kho tên lửa dự trữ của Việt Nam chỉ sụt đi khoảng 6% (khoảng 30 quả).
Cùng với đạn tên lửa là 2.036 viên đạn pháo 100mm, 15.669 viên đạn 57mm, 19.454 viên đạn 37mm, 1.147 viên đạn 14.5mm đã được bắn, chiếm 66% lượng dự trữ của Hà Nội và Hải Phòng. Như vậy nếu tiếp tục duy trì cường độ này, Quân đội Nhân dân Việt Nam vẫn có đủ đạn dược để chiến đấu thêm 20 ngày nữa. Ngoài ra, trong trường hợp kho đạn tại Hà Nội-Hải Phòng cạn kiệt thì có thể huy động hàng trăm đạn tên lửa từ các kho ở Khu IV (Thanh Hóa, Nghệ An) để tiếp tục chiến đấu thêm khoảng 10 ngày (tổng cộng có thể kéo dài chiến đấu thêm 30 ngày). Chưa kể 2 trung đoàn tên lửa SA-3 mới có năng lực cao hơn SA-2 cùng 200 tên lửa được dự kiến sẽ đưa vào chiến đấu vào ngày 31 tháng 12 năm 1972. Trên thực tế, khi các cuộc không kích của Hoa Kỳ tiếp diễn tại Khu IV trong tháng 1 năm 1973, các đơn vị tên lửa SA-2 của Việt Nam đóng ở Thanh Hóa vẫn đủ sức tiếp tục chiến đấu, bắn rơi và bắn hỏng thêm 4 chiếc B-52
Một số thống kê khác của Việt Nam:
Trong 34 B-52 bị bắn rơi, 29 chiếc là do tên lửa phòng không, 3 chiếc là do pháo cao xạ 100mm, 2 chiếc là do tiêm kích MiG-21.
Tên lửa phòng không bắn rơi 36 máy bay các loại, không quân tiêm kích bắn rơi 12 máy bay, còn lại là pháo hoặc súng máy cao xạ bắn rơi.
Đơn vị phát hiện B-52 đầu tiên: Đại đội radar 16 trung đoàn 291 - 19h10 ngày 18 tháng 12.
Đơn vị đầu tiên đánh B-52: Tiểu đoàn 78 trung đoàn 257 - 19h44 ngày 18 tháng 12.
Đơn vị bắn rơi B-52 đầu tiên: Tiểu đoàn 59 trung đoàn 261 - 20h13 ngày 18 tháng 12.
Trung đoàn 261 bắn rơi nhiều B-52 nhất: 12 chiếc.
Trung đoàn 257 bắn rơi tại chỗ nhiều B-52 nhất: 8 chiếc.
Tiểu đoàn 57 (trung đoàn 261) bắn rơi nhiều B-52 nhất: 4 chiếc.
Tiểu đoàn bắn rơi tại chỗ nhiều B-52 nhất: Tiểu đoàn 77 (trung đoàn 257) và Tiểu đoàn 93 (trung đoàn 261): mỗi tiểu đoàn bắn rơi 3 chiếc B-52.
Tiểu đoàn 79 (trung đoàn 257) bắn rơi chiếc B-52 cuối cùng: 23h16 ngày 29 tháng 12
Tiểu đoàn 72 (trung đoàn 285) bắn quả tên lửa cuối cùng trong chiến dịch: 23h29 ngày 29 tháng 12
=== Kết quả sau chiến dịch ===
Các tác giả Dana Drenkowsky và Lester Grau cho rằng, Bộ chỉ huy Không quân chiến lược Mỹ (SAC) “mắc những sai lầm nghiêm trọng, chịu những tổn thất nặng nề trong một chiến dịch được xem là thất bại”:
Đòn phủ đầu với ba B-52 bị SAM bắn rơi tại chỗ, hai chiếc nữa bị bắn hỏng nặng ngay đêm đầu (số liệu của Mỹ) đã làm các nguyên soái Không quân Mỹ bị choáng váng. Tin này có vẻ đã bị giấu nhẹm, vì đến ngày 20-12 (6 chiếc B-52 bị bắn rụng, một chiếc khác bị hỏng nặng, vẫn theo số liệu của Lầu Năm Góc mà nhiều học giả Mỹ cho là không đáng tin) mới xuất hiện các ghi chép của Chánh văn phòng Nhà Trắng về sự “đau lòng nhức óc” của Tổng thống Richard Nixon trong một Nhà Trắng như tối sầm dưới sức đè những tổn thất quá lớn về B-52. Đâm lao phải theo lao, Nixon ra lệnh tiếp tục ném bom, nhưng ở quy mô nhỏ hơn và chuyển hướng không kích ra ngoài Hà Nội để tránh SAM-2. Đến đây đã có thể xem Linebacker II đã thất bại về chiến lược, tan ảo mộng chiến thắng, giúp làm nguội cái đầu nóng của ông chủ Nhà Trắng. Tác giả Drenkowsky viết: “Đêm 22 rạng ngày 23-12, trên đà thắng của bộ đội phòng không Hà Nội, không một cuộc không kích nào nhằm vào mục tiêu chính là Thủ đô của Việt Nam. Thay vào đó, 30 chiếc B-52 tiến công Cảng Hải Phòng, nơi được bảo vệ về phòng không kém hơn”.
Không quân Mỹ sau ngày Noel tỏ ra biết thay đổi chiến thuật và kế hoạch không kích, thực ra là rút ngắn thời gian không kích và đánh phá các địa bàn ở xa Hà Nội, nhưng máy bay Mỹ vẫn tiếp tục bị bắn rụng như sung. Thậm chí, B-52 rơi không phải do một salvos (loạt đạn tên lửa) mà chỉ do một quả SAM-2 “đồ cổ” trên bầu trời Sơn La.
Sách báo thời chiến của Mỹ ghi nhận một sự suy sụp về tinh thần chưa từng có trong các đơn vị Không quân Mỹ. Một đỉnh điểm của nó là có tới 9 chuyến bay B-52 bị đình chỉ đêm 26 rạng ngày 27-12, do trục trặc “cơ khí”. Đây là những “vết thương” từ các cuộc “dạo chơi” những đêm trước trên bầu trời Hà Nội, hay còn cả những cảm nhận “mở nắp buồng lái như mở cửa nhà mồ” của các tay lái “Pháo đài bay”?
Ngày 30 tháng 12 năm 1972, Tổng thống Nixon ra lệnh chấm dứt ném bom (với lý do duy nhất được phát ngôn viên của ông đưa ra là "có dấu hiệu rõ ràng rằng đàm phán nghiêm túc có thể được nối lại") và hội đàm lại để ký kết hiệp định. Có hai xu hướng bình luận về sự kiện này. Một xu hướng cho rằng đó là do áp lực của dư luận thế giới và nhân dân Mỹ, và thất bại trong việc buộc Hà Nội nhượng bộ. Xu hướng khác lại cho rằng đó là do chiến dịch đã đạt được mục tiêu là chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã tỏ ý muốn quay lại đàm phán. Nhưng đại tướng Võ Nguyên Giáp thì khẳng định phía Mỹ bỏ họp trước và chính phía Mỹ đề nghị nhóm họp lại bằng một công điện gửi vào ngày 22/12 (1 ngày sau khi 7 chiếc B-52 bị bắn hạ chỉ trong 1 đêm)
Theo hồi ký Henry Kissinger, ngày 6/1/1973, Nixon đã chỉ thị cho Kissinger trở lại Paris, phải đạt cho được một giải pháp dù đối phương đưa ra những điều kiện nào, với "bộ dạng hoàn toàn khác ngày thường" (ý nói không còn tỏ ra ở thế thượng phong được nữa). Tổng thống Mỹ nhấn mạnh sẵn sàng chấp nhận trở lại văn bản đã thỏa thuận vào tháng 10/1972. Vậy là Hiệp định Paris đã được ký với nội dung về cơ bản không khác mấy so với phương án đã được ký tắt trước khi đàm phán bị đình trệ do Hoa Kỳ từ chối ký kết. Hoa Kỳ đã mất hàng chục máy bay để rồi vẫn phải ký vào văn bản mà họ không muốn ký, điều này có nghĩa rằng mục tiêu chủ chốt của Mỹ khi tiến hành Chiến dịch Linebacker II đã thất bại.
== Sự phản đối của quốc tế ==
Chiến dịch ném bom bị phản đối rất mạnh mẽ trên khắp thế giới, công dân ở các nước Xã hội Chủ nghĩa gây áp lực để yêu cầu chính phủ của mình chính thức lên án các cuộc ném bom. Trung Quốc và Liên Xô đều đặn thể hiện sự bất bình trước việc tái ném bom, nhưng họ đã không có một động thái nào khác. Thực tế, các chỉ trích mạnh mẽ hơn lại là ở các nước phương Tây. Tại Paris, báo Le Monde so sánh với cuộc ném bom hủy diệt Guernica do Phát-xít Đức thực hiện trong cuộc nội chiến Tây Ban Nha. Tờ báo lớn nhất của Anh, the Daily Mirror, bình luận: "Việc Mỹ quay lại ném bom Bắc Việt Nam đã làm cho cả thế giới lùi lại vì ghê sợ". Các chính phủ Anh, Ý và Thụy Điển đã lên tiếng. Một trong những phản ứng dữ dội nhất là của Thủ tướng Thụy Điển, ông đã lên án cuộc ném bom là một tội ác chống lại loài người trên quy mô đạo đức của sự tàn bạo của phát xít tại trại tập trung Treblinka. Palme còn đích thân đến một cửa hàng tổng hợp để thu thập chữ ký cho một kiến nghị toàn quốc đòi chấm dứt ném bom - để gửi tới Nixon.
Tại Mỹ, Nixon bị chỉ trích là điên rồ (madman). Nhiều người trong số những người đã từng ủng hộ cuộc ném bom hồi tháng 5 nay chất vấn cả sự cần thiết và tính tàn bạo bất thường của Linebacker II. Quyển Võ Nguyên Giáp - Tổng tập hồi ký dẫn bài báo của hãng AP có đăng lời của Nguyễn Văn Thiệu vào tháng 8/1972 kêu gọi Mỹ "hãy ném bom tan nát miền Bắc Việt Nam". Quyển hồi ký của Võ Nguyên Giáp cũng dẫn bài trên báo Nhân đạo (L'humanité) của Pháp bình luận rằng: "Ngay cả trong Chiến tranh thế giới thứ hai, những viên tướng Pháp phản bội cũng không dám đề nghị đồng minh của chúng (Đức Quốc xã) tàn phá Paris (để ngăn quân Anh-Mỹ). Thế mà nay Thiệu lại muốn Mỹ ném bom tàn phá đất nước mình. Thiệu thật đáng xấu hổ hơn cả sự xấu hổ"
== Đánh giá ==
Sách báo Việt Nam gọi chiến dịch Linebacker II này là trận Điện Biên Phủ trên không, như một cách nêu bật thắng lợi của lực lượng phòng không Việt Nam Dân chủ Cộng hòa trong chiến dịch.
Charles Barrows, đại úy hoa tiêu B-52 bị bắt làm tù binh đặt vấn đề ngay khi còn ngồi ở Hỏa Lò: "Hệ thống điện tử trên máy bay B-52 rất tinh vi và đắt tiền nhưng vẫn không gây nhiễu nổi rađa Bắc Việt Nam. Siêu pháo đài bay B-52 đã cải tiến nhiều lần, máy móc rất tốt... Các phi công B-52 được huấn luyện công phu, thành thạo các chiến thuật hiện đại và B-52 được bảo vệ dày đặc, nhưng vẫn bị bắn rơi vì đạn phòng không... Không quân chiến lược của Mỹ không thể chịu đựng nổi tỷ lệ tổn thất về B.52 trên bầu trời Hà Nội".
Trên tạp chí Không quân Mỹ, John L. Frisbee viết: "Trong thời kỳ Thế chiến thứ 2, tổn thất máy bay ném bom bị phòng không hay máy bay chiến đấu đối phương bắn hạ tại hai chiến trường chính yếu được ước tính trung bình: cứ 64 phi xuất thì có 1 chiếc bị bắn hạ. Trái lại, trên không phận Hà Nội và Hải Phòng thì cứ 49 phi xuất lại có một B-52 bị bắn rơi".
Cựu Phó Tham mưu trưởng không quân Mỹ khi trả lời tạp chí AirForce vào tháng 6/1973 cũng thừa nhận: "Bắc Việt Nam rõ ràng là có nhiều kinh nghiệm bắn tên lửa SAM cũng như các loại súng phòng không khác. Họ cũng có nhiều kinh nghiệm trong việc phát hiện máy bay từ các đài điều khiển mặt đất... Không quân Mỹ đã tiến hành chiến tranh điện tử trên quy mô lớn, nhưng các máy bay vẫn dễ bị tổn thương. Chúng tôi cho rằng Bắc Việt Nam đã phát triển được các lực lượng phòng không dày dạn kinh nghiệm nhất thế giới. Rõ ràng họ có kinh nghiệm hơn bất cứ nước nào trong việc phóng tên lửa để hạ máy bay".
Ngay khi mặt trời mọc vào sáng hôm 19-12, 2 chiếc B-52 đã bị hạ ngay trong đêm đầu tiên. Điện mừng từ khắp nơi tới tấp gửi về Bộ tư lệnh phòng không Thủ đô. Tướng Nhẫn nhớ lại: "Một bầu không khí đặc biệt tràn ngập sở chỉ huy các cấp từ các tiểu đoàn tới Bộ tổng tham mưu, từ hậu phương miền Bắc tới tiền tuyến miền Nam. Việc lực lượng phòng không Thủ đô đã đương đầu và giáng trả được loại vũ khí mạnh nhất của Mĩ, điều đó đã làm nức lòng quân dân cả nước".
Đại tá Markov Lev Nicolayevich, từ tháng 10-1971 đến tháng 8-1972 từng giảng dạy tại Trường Sĩ quan Phòng không và huấn luyện các kíp trắc thủ tên lửa cho Việt Nam. Ông cho rằng: "Tôi đã nghiên cứu kỹ chiến lược chiến tranh của nhiều nước và thấy rằng, trên thế giới ít có cuộc chiến nào mà bên phòng vệ thắng bên tấn công, nhất là khi có sự chênh lệch quá lớn về tiềm lực quân sự, vũ khí trang bị như giữa quân đội Việt Nam và quân đội Mỹ, đặc biệt là "siêu pháo đài bay B-52", mà người Mỹ khoe là không thể bị bắn hạ! Vậy mà Việt Nam đã đánh thắng rất giòn giã. Đó thực sự là cuộc chiến tranh của trí tuệ với trí tuệ, thông minh "chọi" thông minh, chứ không phải là cuộc chiến tranh thông thường!".
Tác giả Marshall Michael viết: "Sau này hai phía mới chỉ dừng ở việc cùng công nhận rằng Linebacker II là trận đấu quan trọng quyết định cục diện chiến tranh. Đối với người Mỹ, Hiệp định hòa bình Paris đã giúp tổng thống Nixon hoàn thành mục tiêu đưa tù binh về nước và chấm dứt sự can dự của Mỹ vào cuộc chiến Việt Nam mà vẫn thực hiện cam kết làm chỗ dựa cho chính quyền Nam Việt Nam. Người Việt Nam lại cho rằng chiến dịch ném bom của Mỹ là nhằm mục đích buộc họ khuất phục và rút quân khỏi Miền Nam. Vậy nên khi bản Hiệp định cho phép họ vẫn được giữ quân ở Miền Nam, người Việt Nam cho rằng chiến dịch Linebacker II đã thất bại và niềm tin này càng được củng cố khi quân đội của họ trú quân ở phía nam tiến hành chiến dịch tổng tiến công thống nhất đất nước vào năm 1975. Nhưng để hiểu một cách tường tận sự khác biệt quan điểm này, tôi đã phải ghi nhận cách hiểu của người Việt rằng Linebacker II đơn giản chỉ là một thắng lợi trong chuỗi thắng lợi trong suốt 30 năm kháng chiến giành độc lập. Bằng chứng cho thắng lợi đó là việc họ đã hoàn thành sự nghiệp thống nhất đất nước."
== Tưởng nhớ ==
Trong trận bom rải thảm phố Khâm Thiên, Hà Nội đêm 26 tháng 12 năm 1972 đã làm chết 278 người, trong đó có 91 phụ nữ, 40 cụ già, 55 trẻ em; làm cho 178 cháu mồ côi trong đó có 66 cháu mồ côi cả cha lẫn mẹ; 290 người bị thương, 2.000 ngôi nhà, trường học, đền chùa, rạp hát, trạm xá bị sập, trong đó có 534 ngôi nhà bị phá hủy hoàn toàn.
Ngôi nhà số 51 phố Khâm Thiên chỉ còn là một hố bom, bảy người sống trong ngôi nhà này không còn ai sống sót. Mảnh đất này trở thành một đài tưởng niệm với một tấm bia mang dòng chữ "Khâm Thiên khắc sâu căm thù giặc Mỹ" và một bức tượng bằng đồng tạc hình một phụ nữ bế trên tay một đứa trẻ đã chết vì bom Mỹ, tượng được lấy nguyên mẫu từ chính chủ nhân của ngôi nhà bị hủy diệt này. Kể từ sau trận bom ấy, hàng năm, đến những ngày kỉ niệm trận bom, người dân trên phố, và nhiều nơi khác tới đây thắp hương tưởng niệm những người đã chết vì bom Mỹ.
Trong sân bệnh viện Bạch Mai có tấm bia mang chữ "Căm thù" để ghi nhớ về vụ B-52 ném bom trúng bệnh viện này vào ngày 22 tháng 12. khiến 1 bệnh nhân và 30 y tá, bác sĩ thiệt mạng, có 1 y tá đang mang thai 3 tháng. (khi đó hầu hết bác sĩ, bệnh nhân đã được sơ tán. Mỗi khoa chỉ giữ lại vài ba người để trực cấp cứu. Có khoảng 300 bệnh nhân ở dưới hầm).
== Chú thích ==
== Liên kết ngoài ==
Walter J. Boyne, Linebacker II, November 1997, Vol. 80, No. 11, Air Force Magazine Online.
Điện Biên Phủ trên không Thượng tá Trần Việt Anh (Viện Lịch sử quân sự Việt Nam), báo Nhân dân điện tử ngày 11-12-2004.
Qua những trang sách "Linebecker II"-Phi công Mỹ nhớ lại
Một số bài báo đăng trên tạp chí TIME vào các thời điểm quanh chiến dịch Linebacker II:
Chronology: How Peace Went off the Rails bài đăng ngày 01-01-1973, trình tự các sự kiện xung quanh đàm phán tại Paris cho đến khi đợt ném bom được bắt đầu.
More Bombs Than Ever bài đăng ngày 01-01-1973 về diễn biến đợt ném bom.
Outrage and Relief bài đăng ngày 8-01-1973, liệt kê bình luận của báo chí và các chính khách trước và sau khi đợt ném bom chấm dứt.
Paris Peace in Nine Chapters bài đăng ngày 05-02-1973. Nội dung hiệp định Paris và so sánh với phiên bản trước cuộc ném bom.
Bí mật chiến dịch Linebacker II (trên báo Thanh Niên): kỳ I, kỳ II, kỳ III, kỳ IV, kỳ cuối
Phạm Duy Trưởng - Điện Biên Phủ trên không: Ta thắng Mỹ bởi bản lĩnh, trí tuệ Việt Nam Kỳ 2 (Vỏ quýt dày có móng tay nhọn)
== Xem thêm ==
Mặt trận đất đối không miền Bắc Việt Nam 1972
B-52 trong Chiến tranh Việt Nam
Em bé Hà Nội (1974, phim)
Hà Nội 12 ngày đêm (2002, phim) |
hijab.txt | Hijab, cũng viết Hijab (tiếng Ả Rập: حجاب, phát âm là [ħidʒæːb] hoặc [ħiɡæːb]), là một tấm khăn trùm đầu và ngực, mà đôi khi được người phụ nữ Hồi giáo qua tuổi dậy thì mặc khi có mặt người đàn ông trưởng thành không phải là thành viên trong gia đình của họ dưới hình thức trang phục khiêm tốn. Theo một số diễn giải, nó cũng có thể được mặc khi có sự hiện diện của những người nữ trưởng thành không theo Hồi giáo bên ngoài của gia đình trực tiếp của họ. Khăn trùm đầu có thể chỉ hình thức trùm đầu, mặt hoặc cơ thể của người phụ nữ Hồi giáo mà tuân thủ một cách tương tự theo một tiêu chuẩn khiêm tốn nhất định. Nó cũng có thể được sử dụng để chỉ sự tách biệt của phụ nữ từ những người đàn ông những nơi công cộng, hoặc nó có thể thể hiện một phạm vi siêu hình - Al-hijab đề cập đến "bức màn ngăn cách con người hay thế giới khỏi Thượng đế". Trong thực tế. từ "bức màn" bắt nguồn từ một từ tiếng Latin có nghĩa phần lớn giống như hijab.
== Chú thích == |
hàng không.txt | Hàng không là thuật ngữ nói đến việc sử dụng máy bay, máy móc, khí cụ do con người chế tạo ra có thể bay được trong khí quyển. Nói chung hơn, thuật ngữ này cũng mô tả những hoạt động, những ngành công nghiệp, và những nhân vật nổi tiếng liên quan đến máy bay, máy móc và khí cụ bay.
== Lịch sử ==
Xem bài chính: Lịch sử hàng không
Nhiều nền văn hóa đã tạo ra được những dụng cụ có thể bay trong không khí, từ những vật đầu tiên được ném đi bằng sức lực như hòn đá, cái mác, tới những dụng cụ tinh vi phức tạp về hình dáng khí động học như boomerang của thổ dân Australia, đèn trời Khổng Minh bay bằng khí nóng, hoặc diều. Có những truyền thuyết cổ xưa nói về các chuyến bay của con người như câu chuyện về Icarus, và sau đó, là các câu chuyện đáng tin hơn về chuyến bay ở một khoảng cách ngắn trên một chiếc diều của Yuan Huangtou ở Trung Quốc, Armen Firman với một cuộc nhảy dù, và chuyến bay bằng tàu lượn của Abbas Ibn Firnas.
Kỷ nguyên hàng không hiện đại bắt đầu khi người đầu tiên đã bay lên không trung bằng một khí cầu khí nóng vào ngày 21 tháng 11 1783, do anh em nhà Montgolfier thiết kế, kể từ đó các chuyến bay bằng khí cầu ngày càng tăng kể cả về số lượng chuyến bay và khoảng cách bay trong suốt thế kỷ 19, và vẫn tiếp tục cho đến hiện tại.
Thực tế những khí cầu bị hạn chế bởi thực tế chúng chỉ có thể di chuyển theo hướng gió thổi. Điều đó đã thúc đẩy con người chế tạo ra khí cầu có thể điều khiển hoặc lái được, khí cầu đã được cải tiến. Dù với vài khí cầu điều khiển, hoặc còn có thể gọi là khí cầu có thể lái được, đã được chế tạo trong những năm 1880, nhưng người ta đã thành lập những tuyến đường bay vận chuyển hành khách đến các địa điểm định sẵn bằng các khí cầu điều khiển, mà người đi tiên phong đầu tiên trong lĩnh vực khí cầu điều khiển là một người Brazil, ông Alberto Santos-Dumont. Santos-Dumont đã tạo niên hiệu quả khi két hợp một khí cầu hình thoi dài với một động cơ đốt trong. Vào ngày 19 tháng 10 1901 ông trở nên nổi tiếng trên thế giới khi bay trên chiếc khí cầu của ông có tên là "Number 6" đến Paris để giành chiến thắng trong cuộc đua Deutsch de la Meurthe. Santos-Dumont đã thành công với những khí cầu, điều đó đã chứng minh rằng chuyến bay có kiểm soát và ổn định là có thể thực hiện được.
Vào ngày 17 tháng 12, 1903, Anh em nhà Wright đã bay thành công trên một chiếc máy bay tự thiết kế chế tạo có gắn động cơ, dù chiếc máy bay chỉ bay được quãng đường ngắn do gặp vấn đề về điều khiển. Sự chấp nhận phổ biến của cánh phụ máy bay làm cho máy bay dễ dàng điều khiển, và chỉ một thập niên sau đó, vào đầu Chiến tranh thế giới thứ nhất, máy bay trang bị động cơ đã trở nên thiết thực trong vài trò máy bay trinh sát, chỉ điểm pháo binh, và đôi khi là tấn công vào các cứ điểm tại mặt đất. Trong giai đoàn, những khí cầu điều khiển được sử dụng nhiều nhất với nhiều mục đích.
Khí cầu bắt đầu chuyên chở người và hàng hóa khi các thiết kế lớn phát triển và đáng tin cậy hơn. Trái ngược với những khí cầu điều khiển mềm, những khí cầu điều khiển cứng khổng lồ trở thành những khí cầu bay đầu tiên vận chuyển hành khách và hàng hóa trên những quãng đường dài. Khí cầu bay tốt nhất vào thời kỳ này được chế tạo bởi công ty của Đức, hãng Zeppelin.
Khí cầu Zeppelin thành công nhất là chiếc Graf Zeppelin. Nó bay qua quãng đường dài hơn 1 triệu dặm, bao gồm một lần bay vòng quanh thế giới vào năm 1929. Tuy nhiên, thời kỳ thống trị của khí cầu Zeppelin đã chấm dứt khi những chiếc máy bay được sử dụng rộng rãi hơn. "Thời đại hoàng kim" của những khí cầu kết thúc vào ngày 6 tháng 6 1937 khi chiếc khí cầu Hindenburg cháy giết chết 36 người. Mặc dù liên tục có những sáng kiến để làm sống lại việc sử dụng khinh khí cầu rỗng rãi, những nó không được chấp thuận và kể từ đó khí cầu chỉ được ứng dụng trong những lĩnh vực nhỏ lẻ.
Sự tiến bộ lớn của khoa học công nghệ đã mở rộng sự phát triển của lĩnh vực hàng không trong suốt những năm 1920-1930, như chuyến bay xuyên Đại Tây Dương của Charles Lindbergh vào năm 1927. Một trong số những thiết kế máy bay thành công nhất của thời kỳ giữa 2 cuộc đại chiến là Douglas DC-3, nó đã trở thành máy bay dân dụng loại lớn đầu tiên mang lại lợi nhuận chỉ bằng hình thức vận chuyển hành khách. Do sự bùng nổ của Chiến tranh thế giới II, nhiều thành phố và đô thị lớn đã xây dựng các sân bay, và có nhiều phi công đủ trình độ đã gia nhập quân đội để lái máy bay chiến đấu. Chiến tranh đã mang đến nhiều sự cách tân cho hàng không, bao gồm những máy bay phản lực đầu tiên và tên lửa nhiên liệu lỏng.
Sau chiến tranh thế giới II, đặc biệt ở Bắc Mỹ, có một sự bùng nổ trong hàng không thông thường, cả tư nhân lẫn thương mại, khi hàng nghìn phi công được giải ngũ và nhiều máy bay vận tải, huấn luyện của quân đội dư thừa không được sử dụng đến nên chúng đã được bán đi và không đắt lắm. Các hãng chế tạo máy bay như Cessna, Piper, và Beechcraft mở rộng sản xuất để cung cấp máy bay hạng nhẹ cho thị trường giai cấp tiểu tư sản mới.
Vào thập niên 1950, việc phát triển máy bay phản lực dân dụng dần dần trở nên lớn mạnh, bắt đầu với de Havilland Comet, dù máy bay phản lực đầu tiên được sử dụng rộng rãi là Boeing 707. Cùng lúc này, người ta đẩy mạnh việc nghiên cứu phát triển động cơ tuốc bin khí, bắt đầu xuất hiện máy bay giá rẻ, làm cho khả năng phục vụ trong những quãng đường nhỏ tốt hơn, và chúng có thể bay trong mọi điều kiện thời tiết.
Yuri Gagarin là người đầu tiên bay vào vũ trụ ngày 12 tháng 4 1961, trong khi Neil Armstrong là người đầu tiên đặt chân lên mặt trăng ngày 21 tháng 6 1969.
Từ thập niên 1960, vật liệu composite đã được ứng dụng để làm thân máy bay giúp chúng hoạt động hiệu quả hơn, những động cơ hiệu suất cao trở nên thông dụng và sẵn có, nhưng những sáng kiến quan trong nhất đã diễn ra trong lĩnh vực trang bị máy móc và điều khiển máy bay. Như tụ điện thể rắn, hệ thống định vị toàn cầu, vệ tinh viễn thông, một thiết bị rất nhỏ nhưng có sức mạnh rất lớn là máy tính và màn hình Luxeon; chúng đã thay đổi đáng kể buồng lái trên máy bay dân dụng và máy bay quân sự. Phi công có thể định hướng chính xác hơn và có tầm nhìn địa hình, vật cản và mọi thứ khác gần máy bay trên một bản đồ số hóa hoặc tầm nhìn ảo, dù trong ban đêm hay tầm nhìn thấp.
Vào ngày 21 tháng 6 2004, SpaceShipOne trở thành máy bay tư nhân đầu tiên thực hiện chuyến bay ra ngoài không gian, mở ra triển vọng về thị trường hàng không ngoài không gian.
== Hàng không dân dụng ==
Hàng không dân dụng bao gồm mọi hoạt động bay không liên quan đến lĩnh vực quân sự, gồm 2 mảng là hàng không thông thường và phương tiện vận tải hàng không
=== Phục vụ bay theo lịch trình ===
Trong quá khứ có rất nhiều hãng chế tạo máy bay dân dụng, nhưng hiện nay chỉ có 5 hãng chế tạo chính chia nhau thị phần máy bay vận chuyển dân dụng:
Airbus, trụ sở ở Châu Âu
Boeing, trụ sở ở Hoa Kỳ
Bombardier, trụ sở ở Canada
Embraer, trụ sở ở Brasil
Tupolev, trụ sở ở Nga (đã hợp nhất với United Aircraft Building Corporation)
Boeing, Airbus, và Tupolev tập trung vào những máy bay phản lực dân dụng thân rộng và thân hẹp, trong khi Bombardier và Embraer tập trung vào máy bay dân dụng khu vực.
Cho đến thập niên 1970, đa số những hãng hàng không lớn là do các quốc gia thành lập, được hỗ trợ từ phía chính phủ và được bảo vệ khỏi các cuộc cạnh tranh. Từ đó, những thỏa thuận về hiệp định "Bầu trời mở" đã tạo ra nhiều lựa chọn cho hành khách và tạo ra những cuộc tranh giành thị phần mới, cùng với sự cạnh tranh là giá vé hàng không cũng giảm xuống. Do giá nhiên liệu tăng, giá vé thấp, tiền lương cho nhân viên tăng cao, cuộc khủng hoảng trong ngành hàng không sau Sự kiện 11 tháng 9 2001 và dịch bệnh SARS đã khiến cho các hãng hàng không lớn phải nhờ đến chính phủ bù lỗ, hoặc sát nhập hoặc phá sản. Cùng lúc này thì những hãng hàng không giá rẻ như Ryanair và Southwest lại đang làm ăn phát đạt và mở rộng hoạt động của mình.
=== Hàng không Thông thường ===
Hàng không thông thương bao gồm mọi chuyến bay dân dụng không lịch trình đặt trước, cả tư nhân và thương mại. Vì phạm vi lớn của những hoạt động bay, nên rất khó có thể bao trùm hàng không thông thường với một sự miêu tả đơn giản — hàng không thông thường có thể bao gồm các chuyến bay về thương mại, tư nhân, huấn luyện, khí cầu, nhảy dù, tàu lượn, diều điều khiển, chụp ảnh trên không, cấp cứu trên không, phun thuốc trừ sâu, bay hợp đồng, giám sát giao thông, cảnh sát tuần tra trên không, chữa cháy rừng, và nhiều khía cạnh khác của các chuyến bay thuộc hàng không thông thường.
Mỗi quốc gia đều có những quy định khác nhau về hàng không, nhưng chúng đều có cùng một đặc trưng, hàng không thông thường rơi vào vài kiểu điều chỉnh khác nhau phụ thuộc vào liệu nó thuộc vào lĩnh vực tư nhân hay thương mại và các kiểu thiết bị liên quan.
Có nhiều hãng chế tạo máy bay loại nhỏ, bao gồm Cessna, Piper, Diamond, Mooney, Cirrus Design, Raytheon, và các hãng chế tạo khác. Các hãng này chế tạo máy bay phục vụ thị trường hàng không chung, với trọng tâm là hàng không tư nhân và bay huấn luyện.
Những sự phát triển quan trọng gần đây cho máy bay loại nhỏ như đưa vào hoạt động hệ thống điện tử tiên tiến, bao gồm hệ thống GPS, trước đây chỉ được lắp đặt trên máy bay dân dụng loại lớn; và đưa loại vật liệu composite vào để chế tạo máy bay giúp máy bay nhẹ hơn và nhanh hơn. Máy bay siêu nhẹ và máy bay tự chế tạo cũng bắt đầu được chú ý chế tạo nhằm sử dụng cho mục đích giải trí, từ đó đa số quốc gia đều cho phép hàng không tư nhân hoạt động, những máy bay kiểu này tốn ít tiền, nhẹ hơn so với những máy bay được cấp chứng nhận của nhà sản xuất chuyên nghiệp.
== Hàng không quân sự ==
Bắt đầu từ những khí cầu đơn giản được sử dụng như những máy bay giám sát rất sớm vào thế kỷ 18. Trong những năm sau đó, máy bay chiến đấu đã được chế tạo để đáp ứng những yêu cầu ngày càng tăng của quân đội. Những hãng sản xuất máy bay quân sự đã tranh giành nhau những hợp đồng để cung cấp máy bay cho chính phủ. Máy bay được lựa chọn dựa trên những nhân tố như giá thành, hiệu suất, và tốc độ sản xuất của dây chuyền chế tạo.
=== Các loại máy bay quân sự ===
Máy bay tiêm kích, có chức năng chính là tiêu diệt các máy bay khác. (ví dụ Sopwith Camel, A6M Zero, MiG-29).
Máy bay cường kích, được sử dụng để chống lại các mục tiêu chiến thuật. (ví dụ Junkers Stuka, Ilyushin Il-2, và A-10).
Máy bay ném bom, nói chung để tấn công các mục tiêu chiến lược hơn. (ví dụ Zeppelin, B-29 Superfortress, Tu-22, và B-52)
Máy bay giám sát, được dùng với nhiệm vụ đặc biệt là trinh sát. (ví dụ Rumpler Taube, de Havilland Mosquito, U-2, và MiG-25R).
== Điều khiển không lưu - Air Traffic Control (ATC) ==
Điều khiển không lưu (ATC) bao gồm những hoạt động của con người (chủ yếu dưới mặt đất), những người này sẽ truyền đạt các thông tin cần thiết cho máy bay để duy trì sự liên lạc giữa máy bay và mặt đất — nghĩa là, họ bảo đảm máy bay bay đủ xa theo phương ngang và phương dọc để tránh cho máy bay va chạm trên không với các máy bay khác. Người kiểm soát không lưu có thể định vị tọa độ của máy bay dựa vào báo cáo của các phi công, hoặc trong những vùng mà mật độ lưu thông cao (như nước Mỹ]]), họ có thể sử dụng radar để xác định vị trí của máy bay trên màn hình hiển thị.
Các thuật ngữ chính xác của hoạt động điều khiển có sự thay đổi đối với từng quốc gia, nhưng nói chung có ba kiểu ATC khác nhau, bao gồm:
Tháp điều khiển (gồm tháp, hệ thống điều khiển từ mặt đất, cho phép máy bay cất cánh hạ cánh, và các công tác điều khiển khác), tháp điều khiển sẽ truyền đạt thông tin hướng dẫn đến máy bay khi nó bay vào vùng không phận của sân bay, một vùng nhỏ (khoảng 10–15 km nằm ngang, 1 km theo chiều thẳng đứng).
Người kiểm soát giai đoạn cuối, họ sẽ chỉ dẫn máy bay trong một vùng rộng hơn (50–80 km) xung quanh sân bay.
Người kiểm soát trung tâm, họ sẽ chỉ dẫn máy bay hạ cánh, cất cánh xuống sân bay.
ATC rất quan trọng đối với máy bay áp dụng Quy tắc bay bằng thiết bị (Instrument flight rules - IFR), chúng có thể bay trong mọi điều kiện thời tiết mà phi công không cần phải nhìn thấy các máy bay khác. Tuy nhiên, trong những vùng mật độ lưu thông lớn, đặc biệt là gần những sân bay chính, máy bay sẽ áp dụng Quy tắc bay bằng mắt (Visual flight rules - VFR) do đòi hỏi của ATC theo sau những chỉ dẫn.
Ngoài những chỉ dẫn để máy bay đạt khoảng cách an toàn với máy bay khác, ATC còn cung cấp thông tin thời tiết, địa hình, hỗ trợ dẫn đường, và những hỗ trợ khác cho phi công, phụ thuộc vào khối lượng công việc của họ.
Chú ý quan trọng rằng ATC không kiểm soát mọi chuyến bay. Phần lớn các chuyến bay VFR ở Bắc Mỹ không phải thông báo với ATC (trừ khi những máy bay này bay qua một khu vực sân bay lớn hoặc sử dụng sân bay lớn), và trong mọi khu vực, thậm chí như ở bắc Canada, ATC không kiểm soát những chuyến bay IFR ở độ cao thấp.
== Tác động đến môi trường ==
Cũng như mọi hoạt động của con người liên quan đến việc tiêu thụ nhiên liệu, việc vận hành động cơ máy bay (từ máy bay dân dụng loại lớn đến khí cầu khí nóng) đều giải phóng những khí gây ra hiệu ứng nhà kính, muội than, và những chất gây ô nhiễm khác vào không khí. Ngoai ra, còn có vài kiểu tác động của ngành hàng không đến môi trường:
Đa số máy bay động cơ van đẩy đốt xăng, sản phẩm sau phản ứng đốt cháy có chứa chì tetra-ethyl (TEL) và có thể gây ra sự ô nhiễm đất ở sân bay. Một số động cơ pít-tông nén có thể sử dụng xăng không chì (nhưng chỉ khi nó không trộn với ethanol), động cơ turbine và động cơ diesel — không cần sử dụng nhiên liệu chứa chì — hiện nay đã xuất hiện với những mẫu máy bay hạng nhẹ.
Máy bay loại lớn có thể giải phóng những hóa chất với một số lượng lớn, mà những chất này có thể tác dụng với những khí nhà kính ở những độ cao đặc trưng, đặc biệt là hợp chất nitơ oxít, nó có thể tác dụng với Ôzôn, làm tăng sự tập trung Ôzôn vào một số nơi nhất định.
Máy bay vận hành trên cao phát ra những bình xịt và đôi khi thải ra vệt hơi nước, cả hai đều có thể làm tăng sự hình thành mây tinh thể đá — lượng mây đã tăng 0.2% kể từ khi hàng không ra đời.
Trong rất nhiều quốc gia, hàng không là nguồn tăng nhanh nhất sự phát xạ các bon. Ủy ban Liên Chính phủ về Biến đổi Khí hậu (IPCC) đánh giá vào năm 2050, ngành hàng không sẽ thải ra 4% tổng lượng khí thải CO2 mà con người thải ra và làm tăng 13% lượng ozone tập trung trên những độ cao lớn bởi những máy bay phản lực lớn. Theo IPCC, các kiểu phát xạ sẽ làm bề mặt trái đất ấm dần lên.
Tuy nhiên, trong một báo cáo đặc biệt được đưa ra vào tháng 6 2007 bởi Hiệp hội phi công hàng không Anh (BALPA), đáng chú ý là vận chuyển hàng không chiếm 2-3% lượng khí thải CO2 của thế giới và có những cuộc tranh luận đã nổ ra để bào chữa cho ngành hàng không, tránh cho nganh hàng không trở thành một trong những nguyên nhân gây ra hiện tượng ấm dần lên của trái đất. Một hãng hàng không, EasyJet đã khai trương hoạt động "ecoJet" nhằm mục đích giảm lượng "Điôxít cacbon xuống còn một nửa", đây là một sự hưởng ứng đáp lại sự liên quan đang lớn dần lên của công đồng thế giới đến sự ô nhiễm.
== Xem thêm ==
Thời gian biểu hàng không
Danh sách các chủ đề hàng không
== Chú thích == |
saint helena, ascension và tristan da cunha.txt | Saint Helena, Ascension và Tristan da Cunha là một lãnh thổ hải ngoại thuộc Anh bao gồm các hòn đảo Saint Helena, Đảo Ascension và nhóm đảo nhỏ Tristan da Cunha. Khu vực này trước đây được gọi là Saint Helena và những lãnh thổ phụ thuộc cho đến ngày 1 tháng 9 năm 2009, khi một hiến pháp mới cho phép 3 đảo có quyền tương đương nhau.
== Hành chính ==
Về mặt hành chính cũng như địa lý, lãnh thổ chia thành 3 đảo, mỗi đảo được quản lý bới một hội đồng. Thống đốc của lãnh thổ là chủ tịch của Hội đồng Lập pháp Saint Helena.
Hòn đảo St Helena tiếp túc được chia thành 8 quận.
== Maps ==
== Xem thêm ==
List of towns in Saint Helena, Ascension and Tristan da Cunha
Bibliography of Saint Helena, Ascension and Tristan da Cunha
Public holidays in Saint Helena, Ascension and Tristan da Cunha
== Chú thích ==
== Liên kết ngoài ==
The Official Government Website of Saint Helena
The Official Government Website of Ascension Island
The Official Tristan da Cunha Website
Mục “Saint Helena, Ascension and Tristan da Cunha” trên trang của CIA World Factbook. |
mùa khô.txt | Mùa khô là thuật ngữ nói chung được sử dụng để miêu tả thời tiết tại các vùng nhiệt đới. Thời tiết tại các vùng nhiệt đới bị chi phối lớn bởi vành đai mưa nhiệt đới, nó dao động từ vùng nhiệt đới phía bắc tới vùng nhiệt đới phía nam theo chu trình của năm. Vành đai mưa nhiệt đới nằm ở Nam bán cầu khoảng từ tháng 10 tới tháng 3 năm sau, trong thời gian này Bắc bán cầu trải qua mùa khô với lượng mưa là rất nhỏ. Từ tháng 4 đến tháng 9, vành đai mưa nhiệt đới nằm ở Bắc bán cầu và vùng nhiệt đới phía nam trải qua mùa khô của nó.
Vành đai mưa nhiệt đới này kéo dài xa nhất về phía bắc tới khoảng đường hạ chí tuyến cũng như xa nhất về phía nam tới khoảng đường đông chí tuyến. Gần các vĩ độ này thì chỉ có một mùa khô và một mùa mưa mỗi năm. Ở khu vực gần xích đạo thì có hai mùa mưa và hai mùa khô do vành đai mưa đi ngang qua đây hai lần mỗi năm, một lần do vành đai mưa di chuyển về phía bắc và một lần do vành đai này di chuyển về phía nam. Giữa các vùng nhiệt đới và xích đạo, các khu vực có thể trải qua các mùa mưa dài hay ngắn. Tuy nhiên, địa hình khu vực có thể biến đổi đáng kể các mẫu hình khí hậu này.
== Xem thêm ==
Mùa mưa
Gió mùa
== Tham khảo == |
hironaka heisuke.txt | Hironaka Heisuke (広中 平祐 (Quảng Trung Bình Hữu), Hironaka Heisuke sinh 9 tháng 4 năm 1931) là nhà toán học Nhật Bản.Ông từng thất bại trong kỳ thi tuyển sinh vào Đại học Hiroshima, nhưng một năm sau ông đã trúng tuyển vào trường Đại học Kyoto. Sau khi tốt nghiệp Đại học Kyoto, ông làm luận án tiến sĩ ở Đại học Harvard dưới sự hướng dẫn của giáo sư Oscar Zariski.
Ông được trao Huy chương Fields năm 1970. Ông được trao giải này vì năm 1964 ông đã chứng minh được các điểm kì dị của một đa tạp đại số trên trường đặc số 0 đều giải được. Có nghĩa là bất kì đa tạp đại số nào cũng có thể thay thế bởi một đa tạp tương đương không chứa điểm kì dị.
Hironaka là giáo sư nhiều năm tại Đại học Harvard và tại các trường đại học Nhật Bản. Ông cũng là giáo sư trường Đại học quốc gia Seoul ở Hàn Quốc. Ông đã từng gây quỹ cho việc giáo dục toán học.
Hironaka lập gia đình với bà Hironaka Wakako, một chính trị gia và họ có hai người con.
== Các sách được dịch ra tiếng Anh ==
Formal functions and formal imbeddings / by Heisuke Hironaka and Hideyuki Matsumura (1967)
On the characters
ν
{\displaystyle \nu }
and
τ
{\displaystyle \tau }
of singularities / by Heisuke Hironaka
Introduction to the theory of infinitely near singular points / Heisuke Hironaka (1974)
The theory of the maximal contact / José M. Aroca, Heisuke Hironaka and José L. Vicente (1975)
Desingularization theorems / Jose M. Aroca, Heisuke Hironaka and Jose L. Vicente (1977)
Geometric singularity theory / editors of the volume, Heisuke Hironaka, Stanisław Janeczko (2004)
== Tham khảo ==
== Liên kết ngoài ==
Hironaka Heisuke tại Mathematics Genealogy Project
O'Connor, John J.; Robertson, Edmund F., “Hironaka Heisuke”, Bộ lưu trữ lịch sử toán học MacTutor
Jackson, Allyn; Phỏng vấn với Hironaka Wakako; Notices of the American Mathematical Society; vol. 52, no. 9 (tháng 10 năm 2005). |
charles de valois.txt | Charles de Valois (12 tháng 3, 1270 – 16 tháng 12, 1325) là con thứ ba của vua Philippe III của Pháp và hoàng hậu Isabelle của Aragon. Ông là một thành viên của nhà Capet và được xem là người sáng lập nhà Valois. Năm 1284, ông được phụ hoàng phong làm Bá tước Valois (như Charles I) và, năm 1297 được hoàng huynh Philippe IV phong làm Bá tước Anjou (như Charles III). Charles là cha của Philippe VI và là hoàng thúc của ba vị vua:Louis X, Philippe V và Charles IV.
== Tham khảo == |
7 tháng 3.txt | Ngày 7 tháng 3 là ngày thứ 66 (67 trong năm nhuận) trong lịch Gregory. Còn 299 ngày trong năm.
== Sự kiện ==
238 – Các thần dân La Mã tại tỉnh Africa nổi dậy chống lại Maximinus Thrax và bầu chọn Gordianus I làm hoàng đế.
321 – Constantinus Đại đế ban chiếu chỉ viết rằng các ngày Sol Invictus (Chủ nhật) là ngày nghỉ tại Đế quốc La Mã.
1842 – Friedrich Franz II trở thành Đại công tước của Đại công quốc Mecklenburg-Schwerin.
1876 – Alexander Graham Bell được Hoa Kỳ cấp một bằng sáng chế cho một phát minh mà ông gọi là điện thoại.
1985 – Nhạc phẩm "We Are the World" được phát hành trên quy mô quốc tế.
2009 – Tàu vũ trụ Kepler được phóng, nó được thiết kế để phát hiện các hành tinh kiểu Trái Đất đi theo quỹ đạo của các sao khác.
== Sinh ==
189 - Publius Septimius Geta, hoàng đế La Mã
1481 - Baldassare Peruzzi, kiến trúc sư, họa sĩ người Ý (m. 1537)
1556 - Guillaume du Vair, nhà văn người Pháp (m. 1621)
1671 - Robert Roy MacGregor, nhạc dân gian người anh hùng người Scotland (m. 1734)
1678 - Filippo Juvara, kiến trúc sư người Ý (m. 1736)
1687 - Jean Lebeuf, sử gia người Pháp (m. 1760)
1715 - Ewald Christian von Kleist, nhà thơ người Đức (m. 1759)
1715 - Ephraim Williams, người làm việc thiện người Mỹ (m. 1755)
1730 - Baron de Breteuil, chính khách người Pháp (m. 1807)
1785 - Alessandro Manzoni, nhà văn người Ý (m. 1873)
1788 - Antoine César Becquerel, nhà vật lý người Pháp (m. 1878)
1792 - John Herschel, nhà toán học, nhà thiên văn người Anh (m. 1871)
1837 - Henry Draper, thầy thuốc, nhà thiên văn người Mỹ (m. 1882)
1849 - Luther Burbank, nhà thực vật học người Mỹ (m. 1926)
1850 - Champ Clark, chính khách người Mỹ (m. 1921)
1857 - Julius Wagner-Jauregg, nhà nghiên cứu thần kinh học, giải Nobel Sinh lý và Y khoa người Áo (m. 1940)
1872 - Piet Mondrian, họa sĩ người Đức (m. 1944)
1873 - Madame Sul-Te-Wan, nữ diễn viên người Mỹ (m. 1959)
1875 - Maurice Ravel, nhà soạn nhạc người Pháp (m. 1937)
1878 - Boris Kustodiev, họa sĩ người Nga (m. 1927)
1887 - Heino Eller, nhà soạn nhạc người Estonia (m. 1970)
1888 - Alidius Warmoldus Lambertus Tjarda van Starkenborgh Stachouwer, luật sư, chính khách người Đức (m. 1978)
1893 - Milton Avery, nghệ sĩ người Mỹ (m. 1965)
1902 - Heinz Rühmann, diễn viên người Đức (m. 1994)
1904 - Ivar Ballangrud, vận động viên trượt băng tốc độ người Na Uy (m. 1969)
1908 - Anna Magnani, nữ diễn viên người Ý (m. 1973)
1915 - Jacques Chaban-Delmas, chính khách người Pháp (m. 2000)
1917 - Lee Young, nhạc Jazz nhạc công đánh trống, ca sĩ người Mỹ
1922 - Olga Aleksandrovna Ladyzhenskaya, nhà toán học người Nga (m. 2004)
1927 - James Broderick, diễn viên người Mỹ (m. 1982)
1927 - Jean-Paul Desbiens, nhà văn, giáo viên Quebec (m. 2006)
1932 - Gene Shalit, nhà phê bình phim người Mỹ
1933 - Jackie Blanchflower, cầu thủ bóng đá người Bắc Ireland (m. 1998)
1934 - Giorgos Katsaros, nhạc sĩ, nhà soạn nhạc người Hy Lạp
1938 - David Baltimore, nhà sinh vật học, giải thưởng Nobel người Mỹ
1938 - Janet Guthrie, người lái xe đua người Mỹ
1940 - Rudi Dutschke, sinh viên lãnh tụ người Đức (m. 1979)
1940 - Daniel J. Travanti, diễn viên người Mỹ
1942 - Tammy Faye Bakker, televangelist người Mỹ (m. 2007)
1942 - Charles R. Boutin, chính khách người Mỹ
1944 - Stanley Schmidt, chủ bút người Mỹ
1944 - Townes Van Zandt, nhạc sĩ, người sáng tác bài hát người Mỹ (m. 1997)
1945 - John Heard, diễn viên người Mỹ
1947 - Richard Lawson, diễn viên người Mỹ
1947 - Helen Eadie, chính khách người Scotland
1949 - Ghulam Nabi Azad, chính khách Ấn Độ
1950 - Iris Chacon, ca sĩ, diễn viên múa người Puerto Rican
1950 - Billy Joe Dupree, cầu thủ bóng đá người Mỹ
1950 - Franco Harris, cầu thủ bóng đá người Mỹ
1952 - Lynn Swann, cầu thủ bóng đá người Mỹ
1955 - Tommy Kramer, cầu thủ bóng đá người Mỹ
1956 - Bryan Cranston, diễn viên người Mỹ
1958 - Alan Hale, nhà thiên văn người Mỹ
1958 - Rik Mayall, diễn viên người Anh
1959 - Donna Murphy, nữ diễn viên người Mỹ
1960 - Joe Carter, vận động viên bóng chày người Mỹ
1960 - Ivan Lendl, vận động viên quần vợt người Séc
1962 - Taylor Dayne, ca sĩ người Mỹ
1963 - Bill Brochtrup, diễn viên người Mỹ
1963 - Denyce Graves, ca sĩ người Mỹ
1964 - Bret Easton Ellis, nhà văn người Mỹ
1965 - Jack Armstrong, vận động viên bóng chày người Mỹ
1965 - Steve Beuerlein, cầu thủ bóng đá người Mỹ
1965 - Jesper Parnevik, vận động viên golf người Thụy Điển
1968 - Denis Boucher, vận động viên bóng chày người Canada
1968 - Jeff Kent, vận động viên bóng chày người Mỹ
1969 - Hideki Noda, người đua xe người Nhật Bản
1971 - Rachel Weisz, nữ diễn viên người Anh
1971 - Peter Sarsgaard, diễn viên người Mỹ
1972 - Jang Dong-gun, diễn viên, nhạc sĩ người Hàn Quốc
1972 - Maxim Roy, nữ diễn viên Quebec
1973 - Ray Parlour, cầu thủ bóng đá người Anh
1973 - Jason Bright, người đua xe người Úc
1974 - Larry Bagby, diễn viên, nhạc sĩ người Mỹ
1974 - Jenna Fischer, nữ diễn viên người Mỹ
1974 - Facundo Sava, cầu thủ bóng đá người Argentina
1976 - Chelsea Charms, nữ diễn viên phim khiêu dâm người Mỹ
1977 - Gianluca Grava, cầu thủ bóng đá người Ý
1977 - Ronan O'Gara, cầu thủ Liên đoàn Bóng bầu dục người Ireland
1977 - Mitja Zastrow, vận động viên bơi lội người Đức
1980 - Laura Prepon, nữ diễn viên người Mỹ
1983 - Manucho, cầu thủ bóng đá người Angola
1984 - Mathieu Flamini, cầu thủ bóng đá người Pháp
1985 - Thomas Erak, nghệ sĩ đàn ghita người Mỹ
1986 - Ben Griffin, cầu thủ bóng đá người Úc
1992 - Bel Powley, nữ diễn viên người Anh
== Mất ==
161 - Antoninus Pius, hoàng đế La Mã
851 - Nominoe, công tước Brittany
1274 - Thomas Aquinas, nhà triết học (s. 1225)
1625 - Johann Bayer, nhà thiên văn người Đức (s. 1572)
1778 - Charles De Geer, nhà tư bản công nghiệp người Thụy Điển (s. 1720)
1904 - Ferdinand André Fouqué, nhà địa chất người Pháp (s. 1828)
1928 - Robert Abbe, bác sĩ giải phẫu người Mỹ (s. 1851)
1938 - Andreas Michalakopoulos, chính khách, thủ tướng Hy Lạp người Hy Lạp (s. 1876)
1944 - Tô Hiệu, nhà hoạt động cách mạng của Đảng Cộng sản Việt Nam (s.1912)
1949 - Francis Dodd, nghệ sĩ người Anh (s. 1874)
1952 - Paramahansa Yogananda, Guru Ấn Độ (s. 1893)
1954 - Otto Diels, giải thưởng Nobel (s. 1876)
1957 - Wyndham Lewis, tác gia người Anh (s. 1882)
1974 - Alberto Rabagliati, ca sĩ, diễn viên người Ý (s. 1906)
1975 - Mikhail Bakhtin, nhà triết học người Nga (s. 1895)
1975 - Ben Blue, diễn viên người Canada (s. 1901)
1976 - Wright Patman, chính khách người Mỹ (s. 1893)
1978 - Steve Bilko, vận động viên bóng chày người Mỹ (s. 1928)
1981 - Kiril Kondrashin, người chỉ huy dàn nhạc người Nga (s. 1914)
1983 - Á Nam Trần Tuấn Khải, nhà thơ Việt Nam (s. 1895)
1983 - Igor Markevitch, người chỉ huy dàn nhạc, nhà soạn nhạc người Ukraina (s. 1912)
1984 - Paul Rotha, người đạo diễn người Anh (s. 1907)
1986 - Jacob Javits, chính khách người Mỹ (s. 1904)
1988 - Divine, diễn viên người Mỹ (s. 1945)
1988 - Robert Livingston, diễn viên người Mỹ (s. 1904)
1991 - Cool Papa Bell, vận động viên bóng chày người Mỹ (s. 1903)
1995 - Paul-Émile Victor, nhà thám hiểm người Pháp (s. 1907)
1997 - Edward Mills Purcell, giải thưởng Nobel (s. 1912)
1999 - Stanley Kubrick, đạo diễn phim người Mỹ (s. 1928)
2000 - Charles Gray, diễn viên người Anh (s. 1928)
2001 - Frankie Carle, nghệ sĩ dương cầm, người chỉ huy dàn nhạc nhỏ người Mỹ (s. 1903)
2004 - Paul Winfield, diễn viên người Mỹ (s. 1941)
2005 - John Box, thiết kế sản xuất phim, giám đốc mĩ thuật người Anh (s. 1920)
2005 - Debra Hill, người viết kịch bản phim, nhà sản xuất phim người Mỹ (s. 1950)
2006 - Gordon Parks, nhà nhiếp ảnh (s. 1912)
2006 - John Junkin, người biểu diễn người Anh (s. 1930)
2009 -Jang Ja Yeon-Diễn viên Hàn Quốc
== Ngày lễ và kỷ niệm ==
== Tham khảo == |
mưa.txt | Mưa là một dạng ngưng tụ của hơi nước khi gặp điều kiện lạnh, mưa có các dạng như: mưa phùn, mưa rào, mưa đá, các dạng khác như tuyết, mưa tuyết, sương. Khi có quá nhiều giọt nước hình thành ở mây, lâu ngày các đám mây càng nặng (do những giọt nước quá nhiều) sẽ rơi xuống tạo thành mưa.
Mưa được tạo ra khi các giọt nước khác nhau rơi xuống bề mặt Trái Đất từ các đám mây. Không phải toàn bộ các cơn mưa đều có thể rơi xuống đến bề mặt, một số bị bốc hơi trên đường rơi xuống do đi qua không khí khô, tạo ra một dạng khác của sự ngưng đọng.
== Hình thành ==
=== Không khí bão hòa nước ===
Không khí chứa hơi nước và một lượng nước nhất định trong một khối không khí khô được tính bằng đơn vị gram nước/kg khí khô. Lượng ẩm trong không khí cũng được xem là độ ẩm tương đối; là tỉ lệ % của hơi nước mà không khí giữ được ở một nhiệt độ nhất định. Lượng nước một khối không khí có thể chứa trước khi nó đạt đến trạng thái bảo hòa (độ ẩm tương đối 100%) và hình thành mây (tập hợp các hạt nước và băng nhỉ trên bề mặt trái đất) phụ thuộc vào nhiệt độ của nó. Khối không khí ấm hơn có thể chứa nhiều hơi nước hơn khối không khí lạnh trước khi đạt đến trạng thái bảo hòa. Vì thế, một phương thức làm bảo hòa khối không khí là làm lạnh nó. Điểm đọng sương là nhiệt độ mà tại đó khối không khí phải được làm lạnh để đạt đến trạng thái bảo hòa.
Có 4 cơ chế chính để làm lạnh không khí đến điểm đọng sương: làm lạnh đoạn nhiệt; làm lạnh dẫn nhiệt; radiational cooling, và làm lạnh bay hơi. Làm lạnh đoạn nhiệt xuất hiện khi không khí bốc lên và giãn nở. Không khí có thể bay lên do sự đối lưu, là sự chuyển độngquy mô lớn của khí quyển, hoặc một rào cản vật lý như núi. Làm lạnh dẫn nhiệt xuất hiện khi khối không khí tiếp xúc với một bề mặt lạnh hơn, thường là nó được thổi từ bề mặt này sang bề mặt khác, như từ mặt nước lỏng đến vùng đất lạnh hơn. Radiational cooling xuất hiện do sự phát xạ các bức xạ hồng ngoại, hoặc từ không khí hoặc từ bề mặt bên dưới. Làm lạnh bốc hơi xuất hiện khi độ ẩm được thêm vào không khí qua sự bay hơi nước, nó làm nhiệt độ không khí lạnh đến nhiệt độ wet-bulb temperature của nó, hoặc cho đến khi nó đạt đến trạng thái bảo hòa.
Những cách chính hơi nước được thêm vào không khí gồm: hội tụ gió vào trong các khu vực có chuyển động đi lên, ngưng tụ hoặc rơi từ trên cao, nước bốc hơi vào ban ngày từ mặt biển, các vực nước hoặc đất ngập nước, hơi nước thoát qua thực vật, không khí khô hoặc lạnh chuyển động qua các vực nước ấm hơn, và sự dâng lên của không khí khi gặp các dãy núi. Hơi nước thường bắt đầu cô đọng lại thành các condensation nuclei như bụi, băng, và muối để tạo thành mây. Phần cao của frông thời tiết buộc các khu vực rộng lớn của chuyển động đi lên trong bầu khí quyển của Trái đất tạo thành những đám mây sàn như mây trung tầng hoặc mây ti tầng. Mây tầng là một loại mây ổn định có xu hướng hình thành khi lạnh, khối không khí ổn định được giữa bên dưới khối không khí ấm. Nó cũng có thể hình thành do sự nâng lên. Nó cũng có thể hình thành do việc di chuyển sương mù bình lưu trong điều kiện mát mẻ.
== Đặc trưng ==
Mưa đóng một vai trò quan trọng trong chu trình thủy học trong đó nước từ các đại dương (và các khu vực khác có chứa nước) bay hơi, ngưng tụ lại thành các đám mây trong tầng đối lưu của khí quyển do gặp lạnh, khi các đám mây đủ nặng, nước sẽ bị rơi trở lại Trái Đất, tạo thành mưa, sau đó nước có thể ngấm xuống đất hay theo các con sông chảy ra biển để lại tiếp tục lặp lại chu trình vận chuyển.
Các giọt mưa rơi thông thường được vẽ trong các tranh hoạt họa như là "giọt nước mắt", tròn ở phần đáy và nhỏ, nhọn ở phần đỉnh, nhưng điều này không đúng (chỉ có các giọt nước nhỏ ra từ một nguồn nào đó mới có dạng như vậy ở thời điểm hình thành ra giọt nước). Các giọt mưa nhỏ là có dạng gần như hình cầu. Các giọt lớn hơn thì bị bẹt dần đi, giống như bánh hamburger (một loại bánh mì dẹp như bánh bao); còn các giọt rất lớn thì có hình dạng giống như cái dù. Trung bình thì giọt mưa có kích thước từ 1 mm đến 2 mm theo đường kính. Những giọt mưa lớn nhất trên Trái Đất đã được ghi lại ở Brasil và quần đảo Marshall năm 2004 - một số giọt có kích thước tới 10 mm. Kích thước lớn được giải thích là sự ngưng tụ trong các hạt khói lớn hay bởi sự va chạm giữa các giọt mưa trong một khu vực nhỏ với lượng rất lớn nước lỏng.
Nói chung, nước mưa có độ pH nhỏ hơn 6 một chút, đơn giản là do nó hấp thụ điôxít cacbon trong khí quyển, nó bị điện ly một phần trong nước, tạo ra axít cacbonic. Ở một số sa mạc, các luồng không khí vận chuyển cả cacbonat canxi lên không trung, do đó nước mưa ở đây có thể là có pH bằng hoặc cao hơn 7. Các trận mưa có pH thấp hơn 5,6 thì được coi là mưa axít.
Lượng mưa tại một khu vực nào đó được đo bằng các máy đo lượng mưa đặt tại một số điểm ngẫu nhiên, xa khu vực có thể ảnh hưởng đến độ chính xác của phép đo. Nó là độ cao lượng nước thu được sau cơn mưa trên một bề mặt phẳng, không bị nhà cửa hay cây cối bao phủ hay che lấp và có thể được tính bằng mm (milimét) hay L/m². Độ chính xác của các máy đo có thể đạt tới 0,25 mm hay 0,01 in.
== Tín ngưỡng, văn hóa ==
Các quan điểm trên thế giới về mưa rất khác nhau trong các nền văn hóa. Trong thế giới phương Tây, ngày mưa thông thường có ý nghĩa buồn và tiêu cực, ngược lại với ngày nắng đẹp và hạnh phúc. Trong các khu vực khô cằn, chẳng hạn như Ấn Độ, mưa được chào đón với một sự vui mừng.
Nhiều người cảm nhận thấy hương vị của mưa là dễ chịu. Nguồn gốc của hương vị này là do một loại tinh dầu được cây cối sản xuất, được hấp thụ bởi đất đá, sau đó được giải phóng trong không khí trong thời gian mưa.
== Công dụng ==
Nước mưa có thể được sử dụng như nước uống. Nước mưa cũng là nguồn cung cấp nước cho các loại cây trồng. Sau khi mưa, đa số người đều cảm thấy dễ chịu, hiện tượng này được giải thích là do lượng ion mang điện tích âm tăng lên, tuy vậy nếu mưa kéo dài nhiều ngày thì do độ ẩm tăng cao thì lại gây cảm giác khó chịu.
Mưa mang lại nước, nguồn sống cho tất cã các sinh vật trên Trái Đất. Ở những vùng có nhiệt độ cao mưa làm giảm nhiệt. Mưa là một mắt xích quan trọng trong chu kỳ tuần hoàn của nước. Con người lợi dụng điều này để khai thác năng lượng gián tiếp từ nước bằng các nhà máy thủy điện.
== Phân loại ==
Trong dân gian, mưa được phân thành mưa rào, mưa phùn, mưa ngâu...
Trung tâm khí tượng thủy văn VN phân mưa theo mức độ lượng mưa:
Mưa vừa: Lượng mưa đo được từ 16 – 50 mm/24h
Mưa to: Lượng mưa đo được từ 51 – 100 mm/24h
Mưa rất to: Lượng mưa đo được > 100 mm/24h
Mưa axít
Mưa bụi
Mưa đá
Mưa địa hình
Mưa đối lưu
Mưa frông
Mưa mòi
Mưa ngâu
Mưa nhân tạo
Mưa phùn
Mưa rào
Mưa rươi
Mưa xoáy thuận
Mưa xuân
== Phòng tránh ==
Ở những vùng nhiệt đới, trong mùa mưa hay xảy ra các cơn dông. Trong những trường hợp như vậy, để phòng tránh nguy hiểm do sét đánh, không nên trú ẩn dưới các gốc cây to cô độc ngoài khoảng trống.
Người ta đã chế tạo ra một số đồ và thiết bị, công cụ để có thể đi lại và làm việc dưới trời mưa như ô hay áo mưa, cũng như để thoát nước mưa như: máng nước, ống hay hệ thống cống rãnh thoát nước.
Khi mưa quá nhiều trong một khoảng thời gian ngắn sẽ sinh ra hiện tượng ứ đọng cục bộ do nước không kịp thoát hay ngấm xuống đất. Nếu tình trạng này kéo dài nhiều ngày có thể sinh ra ngập lụt, gây ra nhiều tổn thất. Ngược lại của tình trạng ứ đọng cục bộ là sự nước thoát nhanh theo các con sông, suối nhỏ ở những nới có độ chênh lệnh về độ cao mà không có những thứ giữ nước lại như rừng, hồ... hay đập ngăn nước thường được biết là tình trạng lũ cuốn, lũ ống. Tình trạng này mang lại nhiều thiệt hại cho môi trường.
== Xem thêm ==
Chu trình vận chuyển nước
Tài nguyên nước
Thời tiết
Khí hậu
== Tham khảo ==
== Liên kết ngoài ==
Mưa đá là gì |
powervr.txt | PowerVR là một bộ phận của hãng Imagination Technologies (trước đây là VideoLogic) chuyên phát triển các giải pháp phần mềm và phần cứng cho kết xuất 2D, 3D, giải mã video, xử lý ảnh và tăng tốc đồ họa cho các thư viện DirectX, OpenGL ES, OpenVG, và OpenCL.
Sản phẩm của PowerRV ban đầu được dùng cho thị phần máy tính cá nhân (PC), được đánh giá là tốt về hiệu suất (hiệu năng/giá thành). Với sự thay đổi nhanh chóng của thị trường, PowerVR đã chuyển hướng sang các sản phẩm phục vụ máy tính xách tay và thiết bị cầm tay.
PowerVR không trực tiếp sản xuất mà bán thiết kế và bản quyền các sản phẩm của mình cho các hãng khác để các hãng này tích hợp lên sản phẩm của riêng mình, như Texas Instruments, Intel, NEC, BlackBerry, Renesas, Samsung, STMicroelectronics, Freescale, Apple, NXP Semiconductors (formerly Philips Semiconductors), vân vân.
== Các dòng vi xử lý Power VR ==
=== MBX ===
PowerVR gặt hái nhiều thành công với mảng di động với dòng PowerVR MBX. MBX, và thế hệ sau là SGX và GGX, được bán bản quyền lại cho 7 trong 10 tập đoàn bán dẫn hàng đầu là Intel, Texas Instruments, Samsung, NEC, NXP Semiconductors, Freescale, Renesas và Sunplus. Những thết bị cao cấp dùng dòng vi xử lý này là iPhone, Nokia N95, Sony Ericsson P1 và Motorola RIZR Z8, cũng như vài mẫu iPod.
=== Dòng 1 ===
Tất cả hỗ trợ DirectX 3.0
1 Pixel shaders: Vertex shaders: Texture mapping units: Render output units
=== Dòng 2 ===
Tất cả sản xuất với công nghệ 250 nm
Hỗ trợ DirectX 6.0 và PMX1 MiniGL
1 Đổ bóng điểm: Đổ bóng đỉnh: Đơn vị xử lý bề mặt: Đơn vị kết xuất
=== Dòng 3 ===
Hỗ trợ DirectX 6.0
1 Pixel shaders: Vertex shaders: Texture mapping units: Render output units
=== Dòng 4 ===
=== Dòng 5 ===
=== Dòng 5XT ===
GPU có thể có 1 hay nhiều nhân
=== Dòng 6 (Rogue) ===
Power VR Series 6 GPUs có 2 TMUs/cluster với GFLOPS đạt tối đa giá trị FP32.
== Xem thêm ==
List of PowerVR products
Free and open-source device drivers: graphics#Imagination Technologies
== Tham khảo ==
== Liên kết ngoài ==
Website chính thức
PowerVR Technology Overview |
onsen tamago.txt | Onsen tamago (温泉卵 hay 温泉玉子, Onsen tamago) (温泉卵 hay 温泉玉子) là một món trứng ăn nguội truyền thống của Nhật Bản. Ban đầu, trứng được luộc chậm trong nước của suối nước nóng onsen tại Nhật. Quả trứng có cấu trúc đặc biệt với lòng trắng có vị như bánh custard mềm và béo vị sữa còn lòng đỏ đông cứng nhưng màu và vị như lòng đỏ sống. Hương vị đặc trưng này là kết quả của việc dựa vào nhiệt độ đông đặc khác nhau của lòng trắng và lòng đỏ trứng khi luộc. Món trứng luộc nguyên vỏ và dọn ra trong một chén nhỏ với xốt từ nước luộc và nước tương.
== Chuẩn bị ==
Cách nấu onsen tamago truyền thống là đặt trứng vào lứơi có buộc dây và bỏ vào một suối nước nóng, với nhiệt độ nước khoảng 70 °C (158 °F) trong 30 tới 40 phút. Đập trứng và cho vào bonito dashi đã được nêm gia vị để ăn sáng, hoặc sốt nhạt làm từ mirin, dashi và nước tương và rắc chút hành lá nhuyễn.
== Chú thích == |
quần đảo faroe.txt | Quần đảo Faroe hay Quần đảo Faeroe (phiên âm: "Phê-rô" /ˈfɛəroʊ/; tiếng Faroe: Føroyar pronounced [ˈfœɹjaɹ]; tiếng Đan Mạch: Færøerne, phát âm [ˈfæɐ̯øːˀɐnə]; tiếng Ireland: Na Scigirí) là một nhóm đảo nằm trong vùng biển Na Uy, phía Bắc Đại Tây Dương, ở giữa Iceland, Na Uy và Scotland.
Quần đảo Faroe là lãnh thổ được chính thức tách ra từ Na Uy từ 1814, sau Hòa ước Kiel ký ngày 14 tháng 1 năm 1814 và trực thuộc Đan Mạch. Quần đảo Faroe có 2 đại biểu trong đoàn đại biểu Đan Mạch tại Hội đồng Bắc Âu (Nordisk Råd).
Theo Luật về chế độ tự trị của quần đảo Faroe của Đan Mạch ngày 31 tháng 3 năm 1948 thì quần đảo này là một lãnh thổ tự trị của Vương quốc Đan Mạch từ năm 1948 và là một thành viên của Cộng đồng vương quốc Đan Mạch (Rigsfællesskab). Theo luật kể trên thì Quần đảo Faroe được tự chủ về mọi lãnh vực, ngoại trừ hai lãnh vực quốc phòng và đối ngoại.
Về văn hóa, người Faroe có mối quan hệ thân thiết với Iceland, Shetland, Orkney, vùng đất Hebrides xa xôi và Greenland.
== Lịch sử ==
Từ khoảng năm 625, các tu sĩ Công giáo người Ireland đã tới quần đảo này. Họ mang theo cừu đến nuôi trên các cánh đồng cỏ và họ sống như các người ẩn cư. Có lẽ cũng chính họ đã đặt tên cho quần đảo.
Dường như các tu sĩ này đã dời tới Iceland trước khi các người Viking Na Uy từ quần đảo Orkney, Quần đảo Shetland và Scotland tới định cư vào khoảng cuối thế kỷ thứ 9. Từ năm 1035 tới 1814, trên danh nghĩa Quần đảo Faroe là thuộc địa của Vương quốc Na Uy. Trên thực tế thì từ sau khi ký kết Liên minh Kalmar (năm 1397) thì Đan Mạch đã dần dần thay thế Na Uy, nắm quyền kiểm soát quần đảo này.
Theo Hòa ước Kiel ký ngày 14 tháng 1 năm 1814, Đan Mạch phải nhường quyền cai trị Na Uy cho Vương quốc Thụy Điển, nhưng vẫn giữ các thuộc địa Iceland, đảo Greenland và Quần đảo Faroe, mặc dù vua Carl XVI Gustaf của Thụy Điển phản đối.
Năm 1816, chính phủ Đan Mạch bãi bỏ nghị viện (Løgting) và chức Lagmand (thủ tướng) của quần đảo này, đồng thời sát nhập Faroe thành một amt (tương đương tỉnh hạt) của Đan Mạch.
Sau cuộc họp toàn dân nhằm thức tỉnh tình tự dân tộc vào chiều ngày lễ Giáng sinh năm 1888, người Faroe đã muốn đòi độc lập. Tới năm 1906, họ thành lập đảng Sjálvstýrisflokkurin (Đảng Độc lập) để làm đối trọng với đảng thân Đan Mạch Sambandsflokkurin (Đảng Hợp tác) là đảng muốn duy trì tình trạng đất nước hiện hành. Điểm xung khắc giữa hai đảng là việc dùng tiếng Faroe để dạy học trong các trường. Theo yêu cầu của đảng Sambandsflokkurin, chính phủ Đan Mạch đưa ra điều luật số 7 năm 1912, quyết định tiếng Đan Mạch được dùng để dạy học. Điều luật này mãi tới năm 1938 mới bị bãi bỏ.
Trong thời Chiến tranh thế giới thứ hai, Faroe bị nước Anh chiếm đóng, trong khi Đan Mạch bị nước Đức quốc xã chiếm.
Sau chiến tranh, người Faroe không muốn tiếp tục là một amt của Đan Mạch và đã cử một phái đoàn tới Đan Mạch đàm phán. Hai bên không nhất trí được với nhau nên đồng ý tổ chức một cuộc trưng cầu ý dân vào năm 1946. Kết quả là đa số đồng ý độc lập, nhưng vua Đan Mạch đã dùng quyền phủ quyết để bác bỏ.
Sau nhiều cuộc thương lượng mới, tới năm 1948 Quốc hội Đan Mạch đã biểu quyết Luật tự trị cho Quần đảo Faroe. Từ năm này, Faroe từng bước được tự trị, ngoại trừ 2 lãnh vực quốc phòng và đối ngoại. Tới ngày 29 tháng 3 năm 2005, với tuyên bố chung tại Fámjin (Faroe) thì Faroe sẽ được tăng quyền về quốc phòng và đối ngoại.
== Địa lý ==
Quần đảo Faroe nằm ở phía bắc Đại Tây Dương, tại vị trí 62 độ vĩ bắc và 7 độ kinh tây, gồm có 18 đảo và 11 đảo hoang nhỏ, nguyên là các đảo núi lửa đã ngưng hoạt động từ khoảng 60 triệu năm trước. Từ mũi Enniberg cực bắc tới Sumbiarsteinur cực nam, dài 118 km. Tổng chiều dài bờ biển của quần đảo là 1.117 km. Đặc biệt bờ biển phía tây có các núi đá cao, vách thẳng đứng về phía biển. Độ cao trung bình của các núi đá là 300 m so với mặt nước biển, núi cao nhất là Slættaratindur, cao 882 m.
Hiện nay - ngoại trừ đảo Lítla Dímun - 17 đảo còn lại đều có người cư ngụ.
Khoảng cách từ quần đảo Faroe tới đảo hoang Sula Sgeir của Scotland là 240 km, tới quần đảo Shetland là 280 km, tới Scotland là 310 km, tới Iceland là 450 km, tới Na Uy là 675 km và tới Ireland là 678 km.
== Chính trị ==
Trước kia, Quần đảo Faroe là thuộc địa của Vương quốc Na Uy rồi Vương quốc Đan Mạch. Từ năm 1948, Faroe được tự trị (ngoại trừ lãnh vực quốc phòng và đối ngoại). Hiện nay, Faroe có một nghị viện (Løgting) và một chính phủ tự trị. Đan Mạch chỉ cử một viên chức đại diện tại quần đảo (gọi là rigsombudsmand) (từ năm 2007 là Søren Christensen), viên chức này tham dự các cuộc họp quan trọng của nghị viện, nhưng không có quyền biểu quyết.
Cùng với nghị viện của Đảo Man (gọi là Tynwald) và nghị viện của Iceland (gọi là Alting), nghị viện của quần đảo Faroe là một trong ba nghị viện lâu đời nhất thế giới, chúng đã tồn tại từ một thiên niên kỷ.
Nghị viện của Faroe gồm tối thiểu là 27 và tối đa là 32 nghị viên, được bầu với nhiệm kỳ 4 năm theo thể thức phổ thông đầu phiếu.
Ngoài ra, Faroe cũng được bầu 2 đại biểu vào Quốc hội Đan Mạch (Folketinget) và 2 đại biểu trong đoàn đại biểu Đan Mạch tại Hội đồng Bắc Âu (Nordisk Råd).
Về quản lý hành chính, Faroe được chia thành 6 sýsla (tương đương quận hạt hoặc tổng) và 36 kommune (tương đương thị xã hoặc xã nông thôn).
== Dân số ==
Theo một số sử gia, thì dường như các cư dân đầu tiên trên quần đảo này là các tu sĩ Công giáo người Ireland. Sau đó - từ khoảng cuối thế kỷ thứ 9 - các người Viking Na Uy từ các thuộc địa của họ đã tới định cư dần dần hầu khắp các đảo, lên tới khoảng 4.000 người.
Khoảng năm 1349-1350, dân số sụt giảm một nửa, do bệnh dịch Đen (dịch hạch xoài, lan tràn khắp châu Âu từ 1347-1350, giết hại nhiều triệu người). Sau đó các di dân từ Quần đảo Shetland, Quần đảo Orkney và Na Uy tới tiếp, làm dân số tăng lên ổn định ở mức 5.000 người.
Sau khi áp dụng việc đánh bắt cá ngoài khơi thì cư dân không còn phụ thuộc vào nghề nông và nghề đánh cá cận duyên, hơn nữa tình trạng sức khỏe cũng được cải thiện nhiều, nên từ cuối thế kỷ 18 tới nay, dân số đã tăng lên gấp 10 lần, xấp xỉ 50.000 người.
Cuối thập niên 1980, Faroe bị một cuộc khủng hoảng kinh tế trầm trọng, gây ra nạn thất nghiệp, do đó có khoảng 10% dân số đã di cư ra các nước khác, phần lớn tới Đan Mạch. Tới năm 1995, Faroe đã vượt qua cơn khủng hoảng này và nhiều người di cư đã quay về.
Tính tới ngày 1 tháng 1 năm 2006, Faroe có 48.219 cư dân, trong đó khoảng 17.000 người cư ngụ tại thủ phủ Tórshavn.
Phần lớn cư dân là người có nguồn gốc Bắc Âu và Celt. Việc nghiên cứu DNA mới nhất cho thấy là các gien nam giới 87% gốc Scandinavia, gien nữ giới 84% là Celt (Ireland và Scotland). Cũng có một số ngoại kiều thuộc 77 quốc tịch khác nhau sinh sống tại đây, trong đó nhóm người Iceland là đông nhất, sau đó là các người Na Uy và Ba Lan, mỗi nước khoảng 0,2%.
Đa số dân cư sống ở vùng bờ biển phía đông, bên các vịnh và các vịnh hẹp, ngoại trừ tại Fámjin và Sumba ở phía tây, do được các đảo nhỏ che chở.
Theo số liệu không chính thức thì có khoảng 15.000 - 20.000 người Faroe cư ngụ tại Đan Mạch và khoảng 5.000 người sống tại Iceland.
== Kinh tế ==
Nghề đánh bắt cá là nghề chính của cư dân trên quần đảo từ giữa thế kỷ 19. Trước đó 68% dân số làm nghề nông. Ngoài việc đánh bắt cá, người Faroe cũng săn giết các cá voi đầu tròn có răng, hải cẩu và chim.
Ngày nay Faroe có nghề đánh cá hiện đại với một đội tàu lớn đánh bắt cá bằng lưới rê, các tàu đánh cá cận duyên, các xưởng chế biến cá. Một số dân làm dịch vụ, chế biến hàng thực phẩm v.v.
Faroe cũng có một nhà máy lớn chế biến sữa và các sản phẩm từ sữa, 2 nhà máy sản xuất rượu bia, một nhà máy sản xuất nước đá.
Năm 2006, tỷ lệ người thất nghiệp là 3%, một trong các tỷ lệ thấp nhất châu Âu.
== Văn hóa ==
Quốc khánh của Faroe gọi là ngày Ólavsøka gồm 2 ngày 28 và 29 tháng 7 (ngày Thánh Olav, vua Na Uy, chết 29 tháng 7 năm 1030). (Ólavsøka là tiếng Faroe thay cho tiếng Latin Vigilia sancti Olavi và có nghĩa "Đêm canh thức trước lễ thánh Olav"). Trong ngày này, nghị viện đã tồn tại hàng ngàn năm bắt đầu khai mạc khóa họp hàng năm theo đúng truyền thống. Toàn thể nghị viên, thành viên trong nội các tự trị, giám mục và mọi mục sư cùng các viên chức cấp cao tham dự một cuộc rước long trọng từ trụ sở nghị viện tới nhà thờ chính tòa Tórshavn để dự lễ Thánh Olav, sau đó trở lại nghị viện và chủ tịch nghị viện đọc diễn văn khai mạc khóa họp. Dân chúng từ khắp các đảo đều kéo về thủ đô Tórshavn tham dự lễ hội này. Sự kiện này cũng phản ánh quan hệ từ xưa giữa nghị viện và giáo hội.
Trong ngày 28 tháng 7 có cuộc đua thuyền của người Faroe tại thủ phủ Tórshavn. Đây là cuộc đua thuyền cuối cùng và lớn nhất trong năm để tranh chức vô địch. Trong dịp này cũng có một cuộc triển lãm lớn tại Nhà văn hóa Bắc Âu của Faroe và một cuộc hòa nhạc lớn.
Người Faroe có điệu múa dân tộc theo dây chuyền và các bài dân ca lâu đời.
Ngôi làng kỳ cựu Kirkjubøur ở cực nam của đảo Streymoy đã được cơ quan UNESCO liệt vào danh sách di sản văn hóa thế giới. Trong suốt thời trung cổ, làng này là nơi có trụ sở của giáo phận công giáo từ thế kỷ 11, do đó là trung tâm tinh thần và văn hóa của quần đảo. Hiện nay còn ngôi nhà thờ cổ mang tên Thánh Olav (từ thế kỷ 12) và di tích nhà thờ chính tòa Thánh Magnus (từ thế kỷ 14). Từ năm 1557, sau khi cải sang đạo Tin Lành thì khu trụ sở giáo phận Công giáo cũ biến thành khu nông trại nhà vua (roystovan), nơi gia tộc nông dân Patursson vẫn còn sinh sống tới ngày nay trải qua 17 thế hệ. Nông trại này lớn nhất và gia tộc Patursson cũng nổi tiếng nhất Faroe. Nhiều nhân vật chính trị, văn hóa của Faroe đã xuất thân từ gia tộc này.
== Ngôn ngữ ==
Ngôn ngữ chính thức là tiếng Faroe, có nguốn gốc từ nhóm ngôn ngữ Bắc German cổ, cùng nhóm ngôn ngữ với tiếng Na Uy và tiếng Iceland. Tiếng Đan Mạch là ngôn ngữ chính thức thứ hai, được dạy trong các trường từ lớp 3 trở lên. Tuy nhiên tiếng Đan Mạch được người Faroe nói với giọng địa phương gọi là Gøtudanskt, na ná như tiếng Na Uy. Từ lớp 5 trở lên thì học sinh được học tiếng Anh như một ngoại ngữ.
== Tôn giáo ==
Từ khoảng năm 625, dường như các tu sĩ Công giáo người Ireland là những cư dân đầu tiên trên quần đảo. Các huyền thoại nói rằng họ bị các cư dân phương bắc theo tà giáo đuổi đi. Tới năm 999, các cư dân này lại ít nhiều tự nguyện theo đạo Công giáo do tù trưởng Viking Na Uy Sigmundur Brestisson truyền giáo. Cho tới thời Cải cách theo đạo Tin Lành (1540), Faroe trực thuộc tổng giáo phận Trondheim (Na Uy).
Ngày nay hầu như mọi cư dân Faroe đều theo Kitô giáo. 84% theo giáo hội Tin Lành Luther (quốc giáo), khoảng 7% thuộc giáo phái Moravia, 5% thuộc các giáo phái Kitô khác như hội truyền giáo Thánh Linh và Cơ đốc Phục lâm (Adventist), giáo phái này cũng mở một trường tu thục lớn ở Tórshavn. Giáo họ Công giáo tại Tórshavn có 70 người, họ cũng mở một nhà trẻ mẫu giáo lớn, do các nữ tu dòng thánh Phanxicô điều hành. Cũng có một nhóm nhỏ theo đạo Bahai.
Kinh thánh Kitô giáo được Victor Danielsen thuộc giáo phái Moravia dịch sang tiếng Faroe vào năm 1948, đến năm 1961 thì Jákup Dahl và Kristian Osvald Viderø thuộc giáo hội Tin Lành (quốc giáo) cũng dịch lại.
Vào ngày quốc khánh Olavsøka 29 tháng 7 năm 2007, chính phủ tự trị đã lãnh trách nhiệm quản lý giáo hội quốc giáo, được tách ra từ giáo hội quốc giáo Đan Mạch.
Thái độ của các Kitô hữu bảo thủ đóng vai trò quan trọng trong đời sống chính trị. Faroe không cho phụ nữ quyền tự do phá thai và các người đồng tính luyến ái cũng không được tự do kết hôn. Do hậu quả của một vụ tội phạm đối với người thiểu số đối với một nhạc sĩ người Faroe đồng tính luyến ái, thì vào mùa thu năm 2006 nghị viện đã biểu quyết chấp thuận một dự luật cấm nhục mạ công khai người đồng tính luyến ái.
== Hệ động vật ==
Do vị trí cô lập, Quần đảo Faroe không có nhiều loại động vật thông thường, vd. cóc nhái, cá nước ngọt, nhiều loại côn trùng như muỗi, ong v.v. Loài côn trùng thông thường là bướm đêm Hepialus humuli. Loài nhiều nhất là hải cẩu xám (tên khoa học: Halicboerus grypus), chúng đẻ con khắp các hang động. Loài chim gồm chủ yếu là các chim ấp trứng và các chim biển. Chim biểu tượng của Faroe là chim Tjaldur (chim ác là bãi biển, tên khoa học: Haematopus ostralegus). Động vật biểu tượng là cừu.
Các cá voi đầu tròn (Globicephala melas) xuất hiện từng đàn gần bờ và bơi vào các vịnh. Các cư dân thường giết chúng dùng làm thực phẩm.
Loại ốc Polycera faeroensis là một trong số rất ít động vật mang tên của quần đảo.
Các động vật thông thường hiện nay là do các cư dân mang tới từ thế kỷ thứ 7. Các chuột nhắt, chuột cống theo các tàu biển tới từ thế kỷ 16. Thỏ trắng miền núi (Lepus timidus) được đưa từ Na Uy tới trong thế kỷ 19. Ong vò vẽ là loài mới nhất, dường như theo các tàu tới khoảng năm 1998. Động vật khách thông thường vào mùa thu là bọ cánh da (Dermaptera).
== Hệ thực vật ==
Vào thời quần đảo mới hình thành, khi các núi lửa ngưng hoạt động cách nay khoảng 60 triệu năm thì khí hậu thời đó có thể so sánh với khí hậu cận nhiệt đới. Người ta đã tìm thấy vết tích các cây bạch quả (Ginkgo biloba) và Metasequoia occidentalis (một loại cây tùng) đã hóa thạch. Thời băng hà muộn kết thúc tại đây khoảng 12.000 năm trước, khí hậu thời này là khí hậu Bắc cực, do đó thực vật ở đây cũng giống như ở đảo Greenland bây giờ. Thời đó có cây bu-lô lùn (Betula nana). Dần dần khí hậu thay đổi, cây bu-lô lùn biến mất, trong khi cây bách xù (Juniperus communis) mọc tràn lan. Ngay trước khi di dân Viking tới thì khí hậu ẩm ướt hơn và xuất hiện các rừng cây thấp với các cây họ thảo lớn, như cây cói, cây cỏ chét (Potentilla), cỏ ban (Hypericum), cây tai hùm (Saxifraga), mã đề bãi biển (Plantago maritima), mao lương (Ranunculus), cây mỏ hạc (Geranium). Sau thời định cư là các loại cỏ, cây chút chít (Rumex), cây hoa vị kim (Caltha), cây họ cẩm chướng (Caryophyllaceae), các cây họ cải (Brassicaceae), các cây họ hoa môi (Lamiaceae), cây tầm ma (Urtica), cây bạch chỉ (Angelica archangelica), các loại ngũ cốc, các cây dại, cây cỏ non bộ (Sagina procumbens), cây hoa vị kim đất thấp (Caltha palustris), cây tràng sao (Stella media), cây rau muối (Chenopodium album), cây hoa tím (Viola riviniana), cây khuy vàng (Ranunculus repens), cây cải xoong rừng (Cardamine flexuosa), cây mã đề (Plantago), cây lanh dại (Linumcatharticum), cây Montia fontana, cây Lychnis flos-cuculi, cây Galeopsis speciosa v.v.
Ngày nay người ta đã đưa vào trồng khoảng 400 loại cây có mạch (Tracheobionta), khoảng 400 loại rêu (Bryophyta), khoảng 250 loại địa y (Lichen) và các loại cây lá kim.
Các cây lớn chủ yếu là cây thích trắng (Acer pseudoplatanus), cây tần bì (Fraxinus), cây họ thông (Pinus), cây họ liễu (Salix).
Hoa biểu tượng của Faroe là hoa vị kim đất ẩm (Caltha palustris), tiếng Faroe là Sólja.
== Tham khảo ==
Irvine, D.E.G. 1982. Seaweeds of the Faroes 1: The flora. Bull. Br. Mus. nat. Hist. (Bot.) 10: 109 - 131.
Tittley, I., Farnham, W.F. and Gray, P.W.G. 1982. Seaweeds of the Faroes 2: Sheltered fjords and sounds. Bull. Br. Mus. nat. Hist. (Bot.) 10: 133 - 151.
Irvine, David Edward Guthrie. 1982. Seaweed of the Faroes 1: The flora. Bull. Br. Mus. nat. Hist. (Bot.) 10(3): 109 - 131.
== Liên kết ngoài ==
Prime Minister's Office Official site
Official tourist site
Flick photo set
National Library of the Faroe Islands
Gallery of stunning photos of the Faroe Islands
Data about the Faroese community
Information about Faroese banknotes
Introduction to the Faroe Islands
Photo-gallery of Faroe Islands
Faroeislands.dk Private page covering all villages on the Faroe Islands
Official site of the Nordic House in the Faroe Islands
Faroephotos - Site with pictures of the Faroe Islands
FaroeNature Discussions and gallery relating to the Faroese nature
New York Times Travel section feature
Homepage with pictures of the Faroe Islands
Pictures from the Faroe Islands |
ralph vaughan williams.txt | Ralph Vaughan Williams ( /ˌreɪf ˌvɔːn ˈwɪljəmz/, 12 tháng 10 năm 1872-26 tháng 8 năm 1958) là nhà soạn nhạc người Anh. Ông cùng với Gustav Holst là hai học trò xuất sắc nhất của nhà soạn nhạc Charles Villiers Stanford, đồng thời cả hai đều có ảnh hưởng lớn trong việc phát triển âm nhạc Anh cuối thế kỷ XIX. Williams là người lấy cảm hứng từ âm nhạc dân gian để viết nên những tác phẩm của mình. Ông đã trộn lẫn những âm thanh của những bài hát truyền thống với âm nhạc nhà thờ và những gì còn sót lại của âm nhạc Lãng mạn vốn đang trên đường tàn lụi vào cuối thế kỷ XIX-đầu thế kỷ XX, tức là thời đại ông đang sống. Rõ ràng ông là một trong số ít những nhà soạn nhạc trong thời đại của mình cố kéo dài sự sống cho âm nhạc Lãng mạn, một trong những thời kỳ huy hoàng nhất của nhạc cổ điển (ngoài ra còn có Richard Strauss, Sergei Rachmaninoff). Ông còn là người tập hợp các bài hát dân ca, viết chúng ra hoặc ghi âm lại.
== Chú thích ==
== Tham khảo ==
Vaughan Williams, Ralph; Manning, David. (2008) Vaughan Williams on Music New York: Oxford University Press. ISBN 978-0-19-518239-2.
Vaughan Williams, Ralph; Holst, Gustav; Vaughan Williams, Ursula (ed.); Holst, Imogen (ed.) (1959) Heirs & Rebels, Ralph Vaughan Williams & Gustav Holst; ed. Ursula Vaughan Williams & Imogen Holst. London: Oxford University Press.
Heffer, Simon (2000). Vaughan Williams London: Weidenfeld & Nicolson. ISBN 0-297-64398-3.
== Liên kết ngoài ==
Free scores by Ralph Vaughan Williams trong Choral Public Domain Library (ChoralWiki)
Nhạc score miễn phí của Ralph Vaughan Williams tại International Music Score Library Project
1956 audio interview with Vaughan Williams on his editing of the English Hymnal (from the BBC)
The Ralph Vaughan Williams Society
Vaughan Williams Phantasy Quintet Soundbites and discussion of work
Ralph Vaughan Williams tại Internet Movie Database
Ralph Vaughan Williams trên Screenonline của Viện phim Anh
Heffer, Simon (ngày 5 tháng 12 năm 2007). “Ralph Vaughan Williams: Uneasy listening”. The Daily Telegraph. UK. A stunning new film about composer Ralph Vaughan Williams challenges the myths that obscure his legacy – and exposes the darkness that permeates his work. (on the occasion of the 50th anniversary of the composer's death)
Các công trình liên quan hoặc của Ralph Vaughan Williams trên các thư viện của thư mục (WorldCat)
"Famous names in the First World War—Ralph Vaughan Williams" from The National Archives, includes extracts from his army service record, and his 1901 Census return.
″The Call″ by George Herbert in Ralph Vaughan Williams' arrangement from Five Mystical Songs. YouTube Video (2:24 min.)
Tài liệu lưu trữ liên quan đến Ralph Vaughan Williams liệt kê tại Cơ quan lưu trữ quốc gia Vương quốc Anh |
apple inc..txt | Apple Inc. là tập đoàn công nghệ máy tính của Mỹ có trụ sở chính đặt tại Silicon Valley (Thung Lũng Si-li-côn) ở San Francisco, tiểu bang California. Apple được thành lập ngày 1 tháng 4 năm 1976 dưới tên Apple Computer, Inc., và đổi tên thành Apple Inc. vào đầu năm 2007. Với lượng sản phẩm bán ra toàn cầu hàng năm là 13,9 tỷ đô la Mỹ (2005), 74 triệu thiết bị iPhone được bán ra chỉ trong một quý 4 năm 2014 và có hơn 98.000 nhân viên ở nhiều quốc gia, sản phẩm là máy tính I phonecá nhân, phần mềm, phần cứng, thiết bị nghe nhạc và nhiều thiết bị đa phương tiện khác. Sản phẩm nổi tiếng nhất là máy tính Apple Macintosh, máy nghe nhạc iPod (2001), chương trình nghe nhạc iTunes, điện thoại iPhone (2007), máy tính bảng iPad (2010) và đồng hồ thông minh Apple Watch (2014-2015) hoạt động trên nhiều quốc gia trên thế giới.
Theo bảng xếp hạng do hãng nghiên cứu thị trường toàn cầu Millward Brown thực hiện vào năm 2014, Apple đã bị Google soán ngôi thương hiệu đắt giá nhất thế giới sau 3 năm liên tiếp giữ ngôi quán quân. Theo bảng xếp hạng này Google xếp vị trí đầu bảng, Apple đứng vị trí thứ hai, tiếp theo lần lượt là IBM, Microsoft, McDonald's, Coca Cola, Visa…
== Sáng lập ==
Ba nhà sáng lập ra Apple là Stephen Wozniak, Steve Jobs và Ronald Wayne. Trước khi trở thành đồng sáng lập công ty Apple Computer Inc., Steve Wozniak đã từng là một kỹ sư điện tử và năm 1975 ông bắt đầu tham dự vào Homebrew Computer Club.
Vào thời điểm đó tổng quát chỉ có hai hãng xản xuất mikrocomputer-CPU là Intels 8080 giá 179$ và Motorola 6800 giá 170$. Wozniak ưa chuộng phiên bản 6800, nhưng mà không có ý tưởng cho những sản phẩm của họ. Vì vậy ông tự thỏa mãn bằng cách xem xét, học hỏi và thiết kế máy vi tính trên giấy, đến khi ông được lời khuyên cho một cái CPU. Đó là một ý tưởng xuất sắc nhất xảy ra cho thị trường máy tính.
Khi MOS Technologies cho ra sản phẩm nổi tiếng 6502 giá 25$ năm 1976, Wozniak đồng thời bắt đầu phát triển một ấn hành BASIC cho con chip này. Khi ông hoàn thành xong, ông bắt đầu thiết kế một chiếc máy vi tính, cho BASIC có thể chạy được. Phiên bản 6502 đã được thiết kế bởi nhiều người, họ cũng là người thiết kế phiên bản 6800, khi rất nhiều người ở Silicon Valley rời khỏi chỗ làm việc để được độc lập. Wozniaks trước bản vẽ máy vi tính yêu cầu chỉ một chút thay đổi mới có thể chạy được con chip mới này.
Ông hoàn thành xong bộ máy và đem nó theo hội nghị Homebrew Computer Club để trình bày hệ thống của mình. Ở đó ông gặp người bạn cũ là Steve Jobs, người rất thích thú về cơ hội buôn bán trong tương lai của những chiếc máy nhỏ này.
=== Thời kỳ đầu: 1976–1980 ===
Apple đã được thành lập vào ngày 1 tháng 4 năm 1976 bởi Steve Jobs, Steve Wozniak, và Ronald Wayne, để bán bộ sản phẩm máy vi tính cá nhân Apple I. Sản phẩm này được xây dựng bởi Wozniak và lần đầu tiên được công bố tại Homebrew Computer Club. Apple I được bán bao gồm bo mạch chủ (với CPU, RAM, và chip xử lý đồ họa cơ bản) ít hơn những gì mà chúng ta xem là một sản phẩm máy tính cá nhân hoàn thiện ngày nay. Apple I bắt đầu bán vào tháng 7 năm 1976 với giá thị trường là $666,66 (thời giá 1976, đã điều chỉnh lạm phát).
Apple đã hợp nhất vào ngày 3 tháng 1 năm 1977 mà không có Wayne, ông ta đã bán lại toàn bộ số cổ phần của mình cho Jobs và Wozniak với số tiền là $800. Một nhà triệu phú Mike Markkula đã giúp đỡ bằng những kinh nghiệm kinh doanh thiết yếu và một khoản đầu tư trị giá $250.000 trong suốt giai đoạn non trẻ của Apple.
=== Những năm tiếp theo ===
Sau khi trải qua cuộc tranh đấu chức vị giám đốc điều hành với John Sculley giữa năm 1980, Jobs rời khỏi Apple và sáng lập NeXT Computer. Tiếp theo, trong cuộc thử nghiệm để cứu vãn hoạt động của hãng, Apple mua lại NeXT, và lúc này Jobs trở lại vị trí lãnh đạo Apple. Công việc đầu tiên của ông là phát triển iMac, đã cứu sống Apple khỏi cảnh phá sản.
Một dòng máy tính xách tay Macintosh, PowerBook được sản xuất bắt đầu vào năm 1990. Những sản phẩm khác của Apple là ProDOS, Mac OS og A/UX, kết nối sản phẩm AppleTalk và chương trình nghe nhạc QuickTime. Những sản phẩm không được trình bày nữa chẳng hạn như Apple Power Mac G4 Cube và Apple Newton.
Những sản phẩm mới kết hợp những cái khác Apple AirPort, sử dụng kết nối các loại máy tình khác nhau mà không sử dụng cổng cable. Ngoài ra iBook và G5. Năm 1998 Apple thay đổi thiết kế iMac và phát triển đồng thời sản phẩm Mac OS X.
Apple Computer và sản phẩm PowerBook và sau này là iBook và iMac có thể xem phim và TV. Vào thời điểm đó Apple giới thiệu đoạn phim quảng cáo PowerBook, đoạn phim được lấy từ Mission Impossible. Các sản phẩm của Apple còn có các chương trình TV 24 Timer.
Tháng 10 năm 2001, Apple giới thiệu sản phẩm máy nghe nhạc iPod cầm tay. Phiên bản đầu tiên có ổ đĩa 5 GB, và chứa khoảng 1000 bài hát nhưng khá cồng kềnh và không được mọi người chú ý. Jonathan Ive là người thiết kế, và ông đã nâng cấp các thế hệ iPod nhiều lần. Năm 2002 Apple thỏa thuận với các hãng ghi âm về việc bán nhạc trên iTunes Music Store. Với gian hàng này mọi người có thể sử dụng để mà ghi đĩa CD, phân chia và chơi nhạc trên ba máy vi tính và tất nhiên chuyển bài hát lên máy nghe nhạc iPod.
Hơn hai triệu bài hát đầu tiên đã được bán trên iTunes Music Store trong vòng 16 ngày; mọi người mua qua máy Macintosh. Chương trình iTunes cũng hoạt động trên Windows.
Vào ngày 9 tháng 1 năm 2007, Apple chính thức giới thiệu chiếc iPhone đầu tiên của hãng với thiết kế đột phá bằng nhôm và có màn hình cảm ứng điện dung 3.5 inch và hệ điều hành (được gọi là iPhone chạy OS X) mượt mà dễ dùng cùng con chip lõi đơn nhưng chưa chạy được trên băng tần mạng 3G.
Ngày 9 tháng 6 năm 2008, Apple trình làng iPhone 3G, và đúng như cái tên, smartphone này chạy trên băng tần 3G.
Năm 2009, Apple ra mắt iPhone 3GS, chiếc smartphone được nâng cấp đáng kể về phần cứng lẫn phần mềm, nâng cấp camera lên đến 3MP, quay phim 480p và cùng với phần mềm iPhone OS 3 tích hợp chức năng Copy, Paste, chỉnh sửa văn bản dạng kính lúp thông minh, tích hợp La bàn số, Voice Control.
Tháng 1 năm 2010, Apple đã cho ra mắt dòng sản phẩm đột phá mới với những tính năng phục vụ như cầu giải trí: iPad. iPad có thể nói là "mô hình phóng lớn" của iPhone với những tính năng xem phim, nghe nhạc, đọc e-book, sao lưu hình ảnh được sử dụng với công nghệ cảm ứng siêu đặc biệt. iPad được cải tiến với hơn 150.000 ứng dụng cùng với các tính năng lướt web, dò đường, quản lý tài liệu cá nhân,...
Tháng 6 năm 2010, Apple cho ra mắt chiếc iPhone 4, chiếc smartphone thiết kế cao cấp với hai mặt kính và khung kim loại, màn hình độ phân giải cao nhất với độ phân giải 960x640 pixel được gọi là màn hình Retina, cùng với vi xử lý Apple A4 (ARM Cortex A8) mạnh mẽ và bộ nhớ Ram 512 MB và camera nâng cấp lớn lên đến 5 MP quay phim 720p với 30 khung hình 1 giây và có đèn Led ở đằng sau, đây cũng là chiếc smartphone được trang bị camera trước với độ phân giải VGA và tính năng gọi video call lần đầu tiên có tên là Facetime độc quyền của Apple.
Ngày 4 tháng 10 năm 2011, Apple đã làm một sự kiện để cho ra mắt dòng iPhone 4S với chip lõi kép A5 và camera 8MP và tính năng trợ lý ảo Siri thông minh.
Năm 2012, chiếc iPhone 5 được ra đời, là chiếc iPhone có màn hình 4 inch đầu tiên chạy vi xử lý A6 và có 1GB RAM. iPad sản xuất series iPad Mini, màn hình XGA và vi xử lý Apple A5.
Năm 2013, iPhone 5S ra đời, là chiếc iPhone đầu tiên có vi xử lý Apple A7 cấu trúc 64-bit và công nghệ bảo mật cảm biến vân tay có tên là Touch ID cùng khả năng quay video 120 khung hình 1 giây. Đồng thời iPhone 5C đa màu sắc ra đời thay thế cho thế hệ iPhone 5 với chip A6, nhưng vỏ nhựa. Nên trên phương diện nào đó thì iPhone 5C chưa thành công.
Tháng 9 năm 2014, bộ đôi iPhone 6/6 Plus ra đời với màn hình 4,7 và 5,5 inch với tên gọi màn hình là Retina HD, chip A8 và Camera có khả năng quay video Slowmotion 240 khung hình 1 giây, quay Video 1080p với 60 khung hình 1 giây và dịch vụ thanh toán Apple Pay kèm theo đó Apple ra mắt Apple Watch, một trong những chiếc đồng hồ chạy Watch OS thông minh của Apple, tháng 10 iPad Air 2 cũng được ra mắt. iPad Air 2 cũng là sản phẩm sử dụng vi xử lý A8X 64-bit đầu tiên có lõi ba, RAM 2GB.
Năm 2015, bộ đôi iPhone 6S/6S Plus ra đời với kích thước màn hình giống với iPhone 6/6 Plus, cùng với chip A9 đang là con chip trên smartphone mạnh nhất hiện nay cùng với tốc độ đọc ghi dữ liệu nhanh hơn cả bộ nhớ UFs 2.0, camera được nâng lên 12MP với khả năng quay video 4K và chế độ Live Photos kèm tính năng Retina Flash khi chụp hình bằng camera Facetime 5MP về đêm, lần đầu tiên iPhone 6S/6S Plus được trang bị cảm ứng lực mang tên 3D Touch và có thêm màu Vàng Hồng cùng với các màu còn lại như màu Vàng, màu Bạc và màu Xám Không Gian, và iPad Pro 12.9 inch cũng là sản phẩm vô cùng mạnh mẽ với vi xử lý A9X 64-bit cùng bộ nhớ RAM 4 GB với kỳ vọng thay thế laptop = tablet.
Tháng 3 Năm 2016, Apple ra mắt chiếc iPhone SE có màn hình 4 inch với thiết kế như iPhone 5S nhưng cấu hình lại giống hệt như iPhone 6S nhưng không được trang bị màn hình cảm ứng lực 3D Touch, iPhone SE được thêm màu Vàng Hồng, iPad Pro 9.7 inch được ra mắt và nâng cấp về Camera lên 12MP có tính năng Live Photos như trên iPhone 6S và khả năng quay video 4K và có đèn Flash ở đằng sau, cùng với camera Facetime 5MP với tính năng Retina Flash, iPad Pro 9.7 inch ra mắt nhằm vào những người không thích Tablet màn hình to như iPad Pro 12.9 inch và được thêm màu Vàng Hồng.
Ngày 7 tháng 9 năm 2016, Apple trình làng iPhone 7 và iPhone 7 Plus cùng thay đổi cải tiến như bổ sung màu Jet Black và loại bỏ màu Space Gray và thay thế bằng màu Black, chống nước chống bụi IP 67, vi xử lí A10 Fusion mạnh mẽ hơn, iPhone 7 vẫn là camera đơn nhưng Mô đun camera to hơn và có ổn định hình ảnh quang học OIS, còn iPhone 7 Plus được tích hợp hai camera, chức năng của hai camera của iPhone 7 Plus là zoom quang học 2x và chụp xoá phông ở chế độ Chân dung trong máy ảnh, cả 2 đều có khẩu độ f 1.8 để chụp thiếu sáng tốt hơn và trang bị 4 đèn flash led True Tone, phím Home vật lí bị loại bỏ và thay thế bằng nút Home cảm ứng lực được giả lập tác lực các nấc ấn của người dùng bằng Tapic Engine, đồng thời máy bị loại bỏ cổng tai nghe 3.5mm, iPhone 7 và 7 Plus lần lượt các màu sắc như Jet Black, Black, Sliver, Gold, Rose Gold và kèm theo Apple Watch Series 2 ra mắt với vi xử lí S2 mạnh hơn, chống nước tận 50 mét và có GPS
Gần cuối tháng 3 năm 2017, Apple cho ra mắt iPhone 7 và 7 Plus màu đỏ để gây quỹ ủng hộ cho người nhiễm HIV AIDS, máy bán ra bắt đầu phiên bản 128 GB trở lên, cùng với đó Apple ra mắt iPad 2017 nhằm thay thế iPad Air 2 với cấu hình vi xử lí A9, iPad 2017 dày lên 7.5 mm.
== Sản phẩm được Apple sản xuất ==
== Chú thích ==
== Liên kết ngoài ==
Apple Inc. – website chính thức
Thông tin tài chính của Apple tại Google Finance |
phạm văn quyến.txt | Phạm Văn Quyến (sinh 29 tháng 4 năm 1984) là cựu tiền đạo The Vissai Ninh Bình và đội tuyển bóng đá quốc gia Việt Nam.
== Tiểu sử ==
Phạm Văn Quyến sinh ngày 29 tháng 4 năm 1984 tại Hưng Tiến, Hưng Nguyên, Nghệ An. Thời nhỏ, Phạm Văn Quyến chỉ sống với mẹ từ khi mới lọt lòng vì người cha bỏ mẹ Quyến lấy vợ khác khi mẹ Quyến còn đang mang thai.
== Sự nghiệp ==
Năm 1996, đoàn bóng đá Sông Lam tuyển lớp bóng đá nghiệp dư, anh được nhận vào luyện tập. Năm 1998, vô địch giải bóng đá thiếu niên Việt Nam sau khi Quyến ghi 2 bàn góp phần vào chiến thắng giòn giã 4 - 0 trước đội bóng đến từ tỉnh Khánh Hòa (Năm đó Phan Như Thuật giành danh hiệu đồng vua phá lưới với 8 bàn, Phạm Văn Quyến ghi được 7 bàn). Năm 1999, khi đội Sông Lam Nghệ An tham gia giải bóng đá U16 toàn quốc và giành huy chương bạc, Phạm Văn Quyến trở thành cầu thủ xuất sắc nhất giải. Năm 2000, anh được gọi vào đội tuyển U16 quốc gia. Tại vòng chung kết U16 châu Á, đội Việt Nam đứng thứ 4 và Phạm Văn Quyến được bình chọn là cầu thủ xuất sắc nhất giải. Năm 2002, anh được gọi vào đội tuyển U20 quốc gia dự vòng loại U20 châu Á. Năm 2003, ba tháng liên tục anh được bình chọn cầu thủ xuất sắc nhất trong giải bóng vô địch quốc gia Việt Nam. Và đặc biệt giây phút chói sáng lịch sử của cầu thủ này là bàn thắng để đời ghi được trong trận thắng lịch sử của đội tuyển U23 Việt Nam trước đội tuyển quốc gia Hàn Quốc trong trận đấu tại Oman ngày 19/10/2003, vòng loại Giải vô địch bóng đá 2004. Sau đó, anh được gọi vào đội tuyển bóng đá U23 Việt Nam tham dự SEA Games 22. Ở giải đấu này, anh đã ghi được nhiều bàn thắng quan trọng và trở thành cầu thủ được nhắc đến nhiều nhất.
Năm 2005, Phạm Văn Quyến tiếp tục tham gia đội tuyển bóng đá U23 Việt Nam dự SEA Games 23 tại Philippines. Phong độ thi đấu của anh trong giải đấu này là mục tiêu chỉ trích của báo chí. Tháng 12 năm 2005, với những bê bối liên quan đến việc nhận tiền để làm thay đổi kết quả trận đấu gặp Myanma của đội tuyển bóng đá U23 Việt Nam tại vòng bảng SEA Games 23, Phạm Văn Quyến bị bắt và bị khởi tố.
Ngày 26 tháng 1 năm 2007 Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tuyên phạt Phạm Văn Quyến hai năm tù, nhưng cho hưởng án treo. Riêng Liên đoàn bóng đá Việt Nam đã ra quyết định treo giò cầu thủ này trong tất cả các giải do Liên đoàn tổ chức trong 4 năm (tính từ ngày 20 tháng 3 năm 2007).
Sau khi quyết định tiếp tục thi đấu trong màu áo Sông Lam Nghệ An với bản hợp đồng hai năm và được câu lạc bộ này đề nghị giảm án, ngày 23 tháng 1 năm 2009, Liên đoàn đã ra quyết định cho phép Văn Quyến thi đấu tại các giải do Liên đoàn tổ chức (trừ các giải quốc tế) và chịu một khoảng thời gian thử thách cho đến hết năm 2009. Như vậy, Văn Quyến đã có thể bắt đầu trở lại sân cỏ từ giải V-League 2009.
Mùa giải 2013, Văn Quyến về thi đấu cho đội bóng đá Ninh Bình sau khi quyết định rời đội Sông Lam Nghệ An. Ngày 10 tháng 7 năm 2013 ghi nhận sự trở lại của Văn Quyến với hai bàn thắng vào lưới Câu lạc bộ bóng đá Hoàng Anh Gia Lai giúp Ninh Bình vào bán kết cúp Quốc gia.
Ngày 16/4/2014, Phạm Văn Quyến bị triệu tập lên cơ quan điều tra để làm rõ thêm một số vấn đề liên quan đến nghi án bán độ của các cầu thủ Víssai Ninh Bình ở AFC cup 2014 và V-League 2014.
Ngày 19/4/2014, Phạm Văn Quyến tuyên bố giải nghệ và chuyển sang làm kinh doanh nhưng sau đó anh quyết định rút lại quyết định để tiếp tục thi đấu cho Ninh Bình tại AFC Cup 2014. Trong trận đấu knock-out giữa Vissai Ninh Bình và Churchill Brothers tại AFC Cup 2014, Văn Quyến đã lập được cú đúp giúp đội nhà thắng 4-2 để tiến vào tứ kết.
Cuối năm 2014 Văn Quyến được ghi tên vào danh sách thi đấu V-League 2015 cho CLB Cần Thơ nhưng vào phút chót anh từ chối gia nhập CLB và chính thức giải nghệ.
== Danh hiệu ==
Sông Lam Nghệ An
V-League (3): 1999-00, 2000-2001 và 2011
Cúp Quốc gia (2): 2001-02; 2010
Siêu cúp Quốc gia (4): 2000, 2001, 2002, 2011.
Sài Gòn Xuân Thành
Cúp Quốc gia (1): 2012
The Vissai Ninh Bình
Cúp Quốc gia (1): 2013
==== U16 Việt Nam ====
• Hạng 4 Giải vô địch bóng đá U-16 châu Á năm 2000
==== U23 Việt Nam ====
• Huy chương bạc SEA Games: 2003, 2005
==== Đội tuyển Việt Nam ====
• Tiger cup: hạng 3 năm 2002 cùng Đội tuyển Việt Nam.
=== Cá nhân ===
• Cầu thủ xuất sắc nhất Giải vô địch bóng đá U-16 châu Á: 2000
• Quả bóng vàng Việt Nam: 2003.
• Cầu thủ trẻ xuất sắc nhất: 2000, 2002.
== Tham khảo == |
trà cọc rào.txt | Trà cọc rào hay chè tàu (danh pháp hai phần: Acalypha siamensis Oliv. ex Gage, 1922 hay Acalypha evrardii Gagnep., 1924) là một loại cây thuộc họ Đại kích (Euphorbiaceae). Loài này được Oliv. ex Gage miêu tả khoa học đầu tiên năm 1922.
Phân bố chủ yếu tại Lào và Việt Nam (từ miền trung trở vào).
Là loài cây có xuất xứ hoang dại, dễ trồng, có thể trồng bằng cách giâm cành bánh tẻ rất nhanh bén rễ, đâm cành. Cành dài dễ uốn và lá rậm rạp, thường cao từ 1,5 m đến 2,3 m tạo thành các bụi rậm độc lập. Chịu hạn tốt.
Cây trà này không uống được. Nguồn gốc được du nhập từ Trung Hoa.
Người dân ở 3 miền Việt Nam thường trồng nó làm hàng rào xung quanh vườn nhà. Khi thường xuyên cắt xén, tỉa bớt những cành nhánh tua ra ngoài, hàng chè tàu quanh nhà sẽ tạo thành một bức tường xanh đẹp mắt. Có thể ngăn gia súc vào phá vườn và nhà.
Cành dài uốn cành dễ dàng theo một dáng hình trong Nghệ thuật tạo hình, nếu cắt tỉa khéo một hình dạng theo thời gian có thể tạo thành hình dáng con vật, chùa, tháp...
Cùng với hàng rào dâm bụt, hàng rào chè tàu là một trong những nét rất gần gũi của thôn quê Việt Nam.
== Một vài hình ảnh về cây chè tàu ==
== Chú thích == |
sega.txt | Sega Corporation (tiếng Nhật: 株式会社セガ, Kabushiki-kaisha Sega) là một công ty đa quốc gia Nhật Bản chuyên trong lĩnh vực phát triển phần mềm và phần cứng trò chơi điện tử, và từng là một công ty sản xuất máy tính gia đình và máy chơi điện tử. Công ty từng có những thành công với các sản phẩm máy chơi game tiền xu cũng như máy chơi game gia đình. Tuy vậy thì đến ngày 24 tháng 1 năm 2001, Sega đã từ bỏ việc kinh doanh máy chơi game và tập trung vào phát triển phần mềm.
Trụ sở chính của Sega nằm ở Tokyo, Nhật Bản. Nhánh trụ sở của công ty tại châu Âu, Sega Europe Ltd., nằm ở vùng Chiswick thuộc London. Nhánh trụ sở tại Bắc Mỹ, Sega of America Inc., nằm ở San Francisco, California (trụ sở cũ ở Thành phố Redwood, California). Cho tới tận năm 2000, thì tên của hãng vẫn là Sega Enterprises Ltd.
Nhân vật biểu tượng cho Sega đó là nhân vật Sonic the Hedgehog.
= Cạnh tranh =
Trong lịch sử game, thời kỳ này là cột mốc thứ tư của máy chơi game video chuyên dụng. Thị trường bị chi phối bởi sự cạnh tranh của hai đối thủ là SNES của Nintendo và Genesis của Sega và điều này đã khiến thời kỳ 16 bit trở thành một trong những cuộc chiến nóng bỏng nhất trên đất Mỹ.
Cuộc đối đầu không phân thắng bại
Vào năm 1989, hai công ty của Nhật là Sega và NEC đồng loạt phát hành sản phẩm của mình là Mega Drive/Genesis (ở Nhật và châu Âu sản phẩm được gọi là Mega Drive, còn tại Mỹ được gọi là Genesis) và TurboGrafx 16 ngay trước ngày lễ Giáng sinh. Hai hệ máy này được đánh giá là có lịch sử sáng sủa. Nhưng dòng máy Genesis mạnh mẽ hơn đã chiếm được phần lớn các đơn đặt hàng vào đầu những năm 1990. Một năm sau đó, Sega phát hành trò chơi Sonic the Hedgehog và không phụ lòng của các nhà phát triển, game này đã chứng tỏ mình là con át chủ bài trong việc đẩy nhanh tốc độ tiêu thụ máy Genesis.
Chiến dịch quảng cáo của Sega trong mùa Giáng sinh 1991 đã đẩy nhanh tốc độ bán trò chơi "hộ mệnh" của hãng. Cũng vào cuối năm này, Nintendo phát hành Super NES (còn gọi tắt là SNES, còn sản phẩm tương tự ở Nhật gọi là Super Famicom) theo công nghệ 16 bit để cạnh tranh với Genesis. Sản phẩm này đi liền với trò chơi Super Mario World, phiên bản mới của Mario nổi tiếng một thời. Cuộc chiến 16 bit bắt đầu.
Sega và Nintendo đã nỗ lực hết mình để giành giật lợi thế trên thị trường. Genesis với game Sonic the Hedgehog nhanh chóng "qua mặt" sản phẩm của hãng Nintendo. Sega tự mình tạo ra một thuật ngữ tiếp thị gọi là "Càn quét" để ám chỉ lợi thế công nghệ của Genesis đối với SNES. Có thể nói, hoạt động tiếp thị sản phẩm của Sega trong thời kỳ này hết sức quyết liệt và "hiếu chiến" với những khẩu hiệu như "Sega làm được điều Nintendo không thể" hay "Tiếng hét Sega"...
Tất nhiên, Nintendo không phải tay vừa. Họ đã đáp trả bằng những trò chơi mang phong cách Mario như The Legend of Zelda, Star Fox, Super Metroid, Donkey Kong Country và nhiều game khác nữa cho SNES, Game Boy. Nhưng rồi Sonic the Hedgehog 2 xuất hiện vào năm 1992 và còn tỏ ra ăn khách hơn phiên bản đầu tiên. Không đầy một năm sau, Nintendo lại tiếp tục phát hành bản cải tiến của Super Mario trên SNES với tiêu đề Super Mario All-Stars.
Khi trò chơi Mortal Kombat xuất hiện trên thị trường, nó đã bị chỉ trích là chứa những cảnh bạo lực đẫm máu và mục đích của những lời bình luận là nhằm vào các loại máy chơi game. Nintendo đã quyết định kiểm duyệt cảnh đánh đấm ác liệt trong các phần mềm, trong khi Sega thì lại không đoái hoài gì đến. Cha đẻ của NES đã lập nên chính sách quản lý dài hạn, còn Sega thì bắt đầu đặt mình ở vị trí "người lớn" hơn và sẵn sàng đưa đến tay game thủ những nội dung mà Nintendo chỉ trích là "không thân thiện với gia đình".
Nhiều người chơi (nhất là giới trẻ) đã "dán mác" cho mình là fan của Nintendo hay Sega và tất nhiên, hai lực lượng này chống đối và bài trừ lẫn nhau. Ngay cả các tạp chí game ủng hộ cho một dòng máy cũng lao vào cuộc và tiếp tục đổ thêm dầu vào lửa.
Nintendo và Sega vẫn còn ganh nhau trên chiến trường thiết bị ngoại vi dành cho máy chơi game. Sega đã thử sức với Sega Mega CD (ở Mỹ là Sega CD) và Sega 32X – tuy nhiên cả hai đều không thành công lắm. Còn Nintendo thì thử sức với Satellaview và Super Game Boy và không ngờ họ gặt hái được vụ mùa không tồi chút nào.
Tuy nhiên, trong cuộc đấu giữa hai đối thủ này không xác định được người thắng kẻ bại. Mega Drive ra đời trước SNES những 3 năm. Nhưng trong thời gian đầu tiên, sản phẩm của Sega không nổi bật lắm; cho đến khi họ tung ra trò chơi Sonic the Hedgehog thì mới tạo ra cú bứt phá ngoạn mục. Ở châu Âu, Mega Drive bán được nhiều hơn SNES, còn ở Nhật thì Super Famicom qua mặt được Mega Drive. Trên thị trường Mỹ, Genesis hơn được SNES 5% doanh thu. Nhưng nhìn chung, họ là những đối thủ cân sức cân tài.
Cho đến năm 1995, cơn sốt 16 bit lắng xuống khi Nintendo và Sega tiếp tục cho ra đời dòng máy mới, khi những kẻ bị coi là "ngoài cuộc" như Sony, Commodore và Phillips cũng tham gia vào trận chiến. Thế hệ mới này báo hiệu một kỷ nguyên mới là thời kỳ 32 bit với đồ họa 3D.
Xâm nhập thị trường châu Âu
Kỷ nguyên 16 bit cũng là thời kỳ mà việc mua game nhập khẩu từ Mỹ vào châu Âu đã phát triển hơn, các cửa hàng bình thường cũng bắt đầu bán các loại máy này. SNES đặc biệt phổ biến vì những lý do sau:
- Các game phát hành ở châu Âu thường có tốc độ chậm hơn so với ở Mỹ. Hơn nữa, do ti vi ở hai khu vực này khác nhau về tốc độ refresh nên các nhà phát triển rất khó khăn trong việc chuyển đổi những trò chơi được thiết kế theo tiêu chuẩn của Mỹ và Nhật sang chuẩn của châu Âu.
- Chỉ một số ít game nhập vai được phát hành ở châu Âu do chúng cần phải được dịch ra nhiều ngôn ngữ khác nhau. Trò chơi nhập vai thường có nhiều "chữ nghĩa" hơn các thể loại khác và nhà sản xuất không thể chứa các bản game dịch trong một băng duy nhất được. Chi phí dịch thuật ra toàn bộ các thứ tiếng ở châu Âu cũng là một rào cản đối với họ.
Vào thời kỳ này chip chỉnh sửa (modchip hay còn gọi chip đa năng) được cài đặt rất phổ biến trong các máy chơi game hoặc bộ điều chỉnh điện. Những chip này là thiết bị có thể qua mặt cơ chế bảo mật đi kèm với máy. Tuy nhiên, do các kỹ thuật bảo vệ khác nhau và với chip Super FX, người tiêu dùng ở châu Âu buộc phải mua các máy đổi điện mới để giúp cho máy hoạt động bình thường đối với các trò chơi nhập khẩu.
Công nghệ của Sega Mega Drive/ Genesis
Sega Mega Drive là dòng máy chơi game chuyên dụng mà hãng Sega phát hành năm 1988 ở Nhật và châu Âu, còn phiên bản tại Mỹ có tên là Sega Genesis. Sản phẩm đã trở thành nhân vật chính trong "cuộc chiến máy chơi game" vào đầu những năm 1990.
Các loại máy chơi game cá nhân 16 bit như Amiga và Atari ST, cũng như nhiều máy thùng theo công nghệ này, đã bỏ lại thế hệ 8 bit lỗi thời. Do lúc bấy giờ Nintendo đã chiếm lĩnh đến 95% thị trường game video ở Bắc Mỹ và 92% thị phần Nhật nên hãng Sega biết rằng máy SMS của họ sẽ không làm ăn gì được ở hai vùng đất màu mỡ nhưng có chủ này mà tập trung thiết kế dòng sản phẩm mới.
Do các trò chơi máy thùng System 16 mà Sega đang sản xuất vào lúc bấy giờ rất thịnh hành nên Hayou Nakayama, Tổng giám đốc điều hành của Sega, đã quyết định sáng tạo nên sản phẩm máy chuyên dụng theo công nghệ 16 bit. Thiết kế cuối cùng hoạt động rất tốt và do đó họ đã sử dụng 3 phiên bản máy thùng mới là Megatech, Megaplay và System C. Bất kỳ trò chơi nào được phát triển cho 3 loại máy mới này cũng có thể hoạt động được trên Mega Drive.
Thiết bị ngoại vi cho Sega Mega Drive/ Genesis:
Ba thiết bị bổ trợ đã được sản xuất cho Mega Drive ở Nhật và hai sản phẩm được gắn thêm vào dòng máy này ở châu Âu và Australia. Ví dụ như modem mang nhãn hiệu Sega Meganet chỉ được phát hành ở Nhật; ổ đĩa Sega Mega CD được sản xuất cho tất cả các máy Mega Drive trên thế giới.
Sega Meganet là dịch vụ mạng cho phép người chơi ở Nhật có thể tích hợp một modem vào máy Mega Drive để đấu game trực tuyến với nhau. Những trò chơi hỗ trợ mạng cho dòng máy này là Phantasy Star II (thể loại phiêu lưu "bằng chữ"), Sonic Eraser (game giải đố dạng Sonic the Hedgehog) và Mahjong. Tuy nhiên, Meganet đã không được đón nhận rộng rãi và không có nhiều game được phát triển cho hình thức chơi trực tuyến này.
Ba loại ổ CD của Sega.
Ổ CD dành cho Mega Drive có 3 loại là Mega-CD 1, 2 và CDX (hay còn gọi là Multimega).
Thiết bị này cho phép người sử dụng các đĩa tiếng CD và đĩa game chuyên dụng, đồng thời chạy được cả đĩa CD+G (đĩa CD kèm hình, viết tắt từ CD+Graphics, thường được dùng trong các đĩa hát karaoke, trong đó lời bài hát được lưu dưới dạng hình ảnh).
Việc phát triển Sega CD hồi đó là một kế hoạch tuyệt mật. Các nhà lập trình game không hề hay biết là họ đang thiết kế cái gì cho đến khi Mega-CD cuối cùng được tiết lộ tại Triển lãm đồ chơi Tokyo (Nhật Bản). Dòng sản phẩm này được tung ra để cạnh tranh với PC Engine lúc đó đã có ổ CD-ROM rời. Mới đầu Sega CD là một khay chứa đĩa nằm dưới thân máy nhưng sau đó, phiên bản 2 trở nên nhỏ gọn hơn và được lắp đặt vào cạnh máy.
Sega Mega Drive 2 được giới thiệu vào năm 1993. Thiết kế mới có chi phí thấp hơn và kích cỡ nhỏ hơn do cải tiến chip và bỏ khe cắm tai nghe. Cũng giống như các phiên bản của Mega Drive 1, dòng máy mới có tính năng "kiểm tra bản quyền" trong phần cứng và do đó phá bỏ khả năng tương thích đối với những trò chơi cũ không được cấp phép. Ổ đĩa Mega-CD 2 mới cũng được tích hợp vào phiên bản thứ 2 này.
Mega Drive được thiết kế để tương thích "ngược" với hệ SMS hay còn gọi là Mark III đời 8 bit bằng cách sử dụng một máy chuyển đổi điện năng giống như nắn dòng Mega ở Nhật, Mỹ hay châu Âu. Thiết bị này được đặt ở phía trên thân máy và lọt vừa khe cắm băng game, cùng với một nút "dừng’ ở mặt trước. Hầu như máy có thể chơi tất cả các trò dành cho SMS nhưng một số thì không thể do khác biệt về phần cứng.
Công nghệ Super Famicom/ Super NES
Masayuki Uemura, người lãnh trách nhiệm thiết kế Famicom vài năm trước đó, được giao nhiệm vụ thiết kế phiên bản tiếp theo là Super Famicom. Vào ngày 21/11/1990, sản phẩm ra lò với giá 25,000 yên (khoảng 200 USD). Thành công mau chóng đã khiến hãng xuất xưởng đến 300.000 máy. Famicom được ưa chuộng đến nỗi người ta nói rằng chúng đã bị tổ chức tội phạm khét tiếng Yakuza để mắt tới, buộc lòng Nintendo phải vận chuyển hàng trong đêm tối để tránh bị cướp. Tại Nhật, Super Famicom dễ dàng qua mặt đối thủ chính là Mega Drive và Nintendo đã chiếm được 80% thị phần máy chơi game, phần lớn là do họ duy trì được các bên phát triển thứ ba cho dòng máy này, đó là Capcom, Konami, Tecmo, Square, Koei và Enix.
Mười tháng sau đó, tháng 8/1991, Nintendo phát hành bản Super Famicom với vỏ ngoài mới cho thị trường Bắc Mỹ, có tên gọi Super Nintendo Entertainment System. Mới đầu sản phẩm có giá 200 USD và bao gồm trò chơi Super Mario World. SNES còn được đưa vào thị trường Anh và Ireland tháng 4/1992 với giá "hữu nghị" 150 USD.
Tuy nhiên, có rất nhiều nhân tố ảnh hưởng đến việc phát hành sản phẩm tại Mỹ và Anh. Trước hết, nhiều game thủ Mỹ do rất mong chờ tính năng tương thích ngược (đặc điểm có ở Atari 2600 và 7800), nhưng SNES không được thiết kế để chơi các băng game cho NES. Thứ hai là đến cuối năm 1991, Sega Mega Drive/Genesis đã có chỗ đứng vững chắc ở thị trường Mỹ và châu Âu.
Mặc dù SNES vượt qua Genesis một cách chậm chạp, khả năng kỹ thuật cùng hình ảnh "thân thiện với gia đình" của Nintendo, các nhân vật game đã trở thành biểu tượng như Mario và đội ngũ nhà phát triển thứ 3 đông đảo hơn đã giúp họ cuối cùng cũng vươn lên giành thế áp đảo. Vào cuối thời kỳ 16 bit, SNES đã bán được gấp đôi sản phẩm so với Genesis.
Cho đến năm 1996, thời kỳ 16 bit kết thúc và một thế hệ console mới ra đời, trong đó có Nintendo 64 và khiến cho SNES chìm dần vào quên lãng. Vào tháng 10/1997, Nintendo đã phát hành bản SNES thiết kế lại ở Mỹ với giá 99 USD (kèm trò chơi Super Mario World 2: Yoshi's Island). Giống như NES 2, bản mới này được thiết kế mỏng hơn và nhẹ hơn. Cùng thời gian đó, tại Nhật cũng xuất hiện Super Famicom Jr dược thiết kế lại từ Super Famicom..
Chi nhánh Nintendo ở Bắc Mỹ ngừng sản xuất SNES vào năm 1999 còn tại Nhật, Super Famicom tiếp tục được sản xuất cho đến tháng 9/2003. Trong những năm gần đây, nhiều đầu mục trò chơi SNES đã được đưa vào máy cầm tay Game Boy Advance với những tính năng tương tự. Một số chuyên gia về trò chơi điện tử cho rằng kỷ nguyên SNES là "thời kỳ vàng son của game video" do những tiến bộ vượt bậc trong ngành sản xuất các phần mềm kinh điển cho những đầu máy chơi game.
Các băng game hồi đó có kiểu dáng khác nhau, tuỳ vào nơi phát hành vì nhà sản xuất muốn kiểm soát từng thị trường riêng lẻ. Mẫu băng game tại Bắc Mỹ có đáy hình chữ nhật và rãnh, trong khi đó sản phẩm tại Mỹ có đường cong nhẵn ở phía trước và không có rãnh. Do máy ở Mỹ có đường gờ lồi nên các băng game sản xuất cho thị trường Nhật Bản hay châu Âu không thể nhét vừa.
Ngoài ra, chip "khoanh vùng" trong máy và trong từng băng game đã hạn chế việc sử dụng hoán đổi lẫn nhau giữa các dòng sản phẩm. Tuy nhiên, việc chỉnh sửa máy cùng các thiết bị nắn dòng đều có thể giúp người sử dụng vượt qua được những rào cản đó.
Thiết bị ngoại vi cho Super Famicom/ Super NES
Trong quá trình phát triển SNES, có vô số thiết bị ngoại vi được sản xuất cho phần cứng này để tăng cường chức năng của SNES. Nhiều thiết bị loại này được thiết kế theo các dòng sản phẩm dành cho máy NES. Ví dụ như Super Scope là loại súng ánh sáng tương tự như súng Zapper của NES (nhưng Scope có tính năng kết nối không dây) và Super Advantage là cần điều khiển giống như trên máy thùng. Ngoài ra, họ còn tung ra sản phẩm chuột SNES để chơi được với game Mario Paint và sau đó hãng Hudson Soft, được phép của Nintendo, đã phát hành Super Multitap, một loại điều biến (adaptor) hỗ trợ chế độ chơi nhiều người (lên đến 8 người cùng tham gia).
Một trong những thiết bị ngoại vi thú vị nhất dành cho SNES là Super Game Boy. Đây là loại băng game điều biến (adaptor cartridge) cho phép các trò chơi được thiết kế cho máy cầm tay Game Boy có thể hoạt động được trên SNES. Super Game Boy tạo ra được nhiều cải tiến lớn như hỗ trợ thêm về màu sắc và giới hạn màn hình tùy ý.
Cũng giống như NES, SNES còn có thị phần tương đối khá đối với các thiết bị ngoại vi không giấy phép do các bên thứ ba sản xuất, trong đó có loạt thiết bị "lừa đảo" có tên Game Genie do hãng Galoob phát hành để sử dụng với các trò chơi SNES, cũng như vô số thiết bị sao chép game. Nói chung, vào thời điểm này, Nintendo tỏ ra khá "rộng lượng" hơn với các thiết bị ngoại vi không giấy phép cho SNES so với máy NES trước đây.
Nhật Bản còn chứng kiến sự xuất hiện của modem mang tên gọi Satellaview được nối với cổng mở rộng của Super Famicom và cả trạm thu phát radio vệ tinh St. GIGA. Người sử dụng có thể tải các tin tức về game được phát hành hàng tháng.
Đến gần thời kỳ cuối của SNES, Nintendo đã đàm phán với Sony và Philips để phát triển ổ CD-ROM cho máy nhưng không thành công.
== Tham khảo == |
samsung gear.txt | Samsung Gear là dòng thiết bị đeo tay sản xuất vởi Samsung Electronics. Dòng này được giới thiệu lần đầu tiên với đồng hồ thông minh chạy Android vào tháng 9 năm 2013 như một phụ kiện của mảng điện thoại thông minh Galaxy và máy tính bảng, và tại sự kiện Mobile World Congress 2014, Samsung đã ra mắt 2 sản phẩm, Gear 2 dựa trên Tizen, và thiết bị theo dõi hoạt động Gear Fit.
== Danh sách đeo tay ==
Samsung Galaxy Gear - dựa trên Android, nâng cấp thành Tizen
Samsung Gear 2 - dựa trên Tizen
Samsung Gear 2 Neo - dựa trên Tizen
Samsung Gear Fit - chạy RTOS, không phải Tizen và Android
Samsung Gear Live - chạy Android Wear
Samsung Gear S − chạy Tizen
Samsung Gear S2 − chạy Tizen
Samsung Gear Fit 2 − chạy trên RTOS
== Thiết bị khác ==
Samsung Gear 360 – máy ảnh 360°
Samsung Gear Circle – vòng đeo cổ thông minh
Samsung Gear VR – thiết bị thực tế ảo
Samsung Gear IconX – tai nghe Bluetooth
== Xem thêm ==
Samsung Galaxy
== Tham khảo == |
quảng nam.txt | Quảng Nam, hay gọi âm địa phương là "Quảng Nôm", là một tỉnh thuộc vùng Duyên hải Nam Trung Bộ, Việt Nam. Tên gọi Quảng Nam có nghĩa là mở rộng về phương Nam. Quảng Nam là vùng đất giàu truyền thống văn hóa với hai di sản văn hóa thế giới là phố cổ Hội An và thánh địa Mỹ Sơn. Quảng Nam còn là vùng đất địa linh nhân kiệt, nơi sản sinh ra nhiều người con ưu tú cho đất nước. Với diện tích 10,438 km2 và dân số trung bình hơn 1.480 triệu người (2015), Quảng Nam đứng thứ 6 về diện tích, thứ 19 về dân số trong số 63 tỉnh, thành phố của Việt Nam. Mật độ dân số là 142 người/km2 (đứng thứ 45/63) so với 277 người/km2 của cả nước. Năm 2008, Quảng Nam là tỉnh đầu tiên của duyên hải Nam Trung Bộ có 2 thành phố trực thuộc tỉnh (Tam Kỳ, Hội An).
== Địa lý ==
=== Vị trí ===
Quảng Nam nằm ở khu vực miền Trung Việt Nam, cách thủ đô Hà Nội 883 km về phía Nam, cách thành phố Đà Nẵng 68 km về phía Nam và cách Thành phố Hồ Chí Minh 887 km về phía Bắc theo đường Quốc lộ 1A. Phía Bắc giáp tỉnh Thừa Thiên - Huế và thành phố Đà Nẵng, phía Nam giáp tỉnh Quảng Ngãi và tỉnh Kon Tum, phía Tây giáp tỉnh Sekong (Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào), phía Đông giáp Biển Đông. Quảng Nam có 18 đơn vị hành chính cấp huyện, gồm 2 thành phố, 1 thị xã và 15 huyện với 247 xã/phường/thị trấn. Tỉnh lỵ của Quảng Nam đặt tại thành phố Tam Kỳ.
Tổng diện tích đất tự nhiên của tỉnh là 10.438 km2. Địa hình thấp dần từ Tây sang Đông và chia làm 3 vùng: vùng núi phía Tây, trung du ở giữa và đồng bằng ven biển phía Đông. Quảng Nam nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, nhiệt độ trung bình năm trên 25oC, lượng mưa trung bình hàng năm đạt 2.000-2.500mm với hơn 70% tập trung vào 3 tháng mùa mưa (tháng 10, 11 và 12). Vu Gia Thu Bồn và Tam Kỳ là hai lưu vực sông chính.
Rừng nhiệt đới lá rộng thường xanh là kiểu sinh thái chủ đạo của Quảng Nam. Quảng Nam là tỉnh giàu tiềm năng rừng nhưng do bị khai thác quá mức trong một thời gian dài nên diện tích rừng nguyên sinh còn ít. Việc đẩy mạnh trồng rừng trong những năm gần đây đã tăng diện tích đất có rừng của Quảng Nam lên hơn 55% vào năm 2014. Đây là một trong những địa phương có diện tích đất có rừng cao nhất cả nước. Rừng đặc dụng Sông Thanh là khu bảo tồn lớn nhất tỉnh, nơi mà các động vật hoang dã khu vực Trung Trường Sơn đang được bảo tồn. Nhân sâm Ngọc Linh là cây dược liệu quý phân bố chủ yếu ở độ cao trên 1,000 m của núi Ngọc Linh.
Quảng Nam có đường bờ biển dài 125 km, ven biển có nhiều bãi tắm đẹp, nổi tiếng, như: Hà My (Điện Bàn), Cửa Đại (Hội An), Bình Minh (Thăng Bình), Tam Thanh (Tam Kỳ), Bãi Rạng (Núi Thành)... Cù Lao Chàm là cụm đảo ven bờ với hệ sinh thái phong phú được công nhận là khu dự trữ sinh quyển của thế giới.
Nhìn chung, điều kiện tự nhiên của Quảng Nam (thời tiết-khí hậu, địa hình, tài nguyên nước, biển) có nhiều thuận lợi, tiềm năng cho phát triển sự nghiệp văn hóa đa dạng, độc đáo (phát triển những tiểu vùng văn hóa), phát triển ngành du lịch (du lịch văn hóa, du lịch sinh thái).
=== Dân số và nguồn nhân lực ===
Tính đến hết năm 2010, dân số Quảng Nam là 1.435.629 người, với mật độ dân số trung bình là 139 người/km². Dân cư phân bố trù mật ở dải đồng bằng ven biển, dọc quốc lộ 1, đồng bằng Vu Gia Thu Bồn và Tam Kỳ. Mật độ dân số của Tam Kỳ, Hội An và Điện Bàn vượt quá 1,000 người/km2 trong khi rất thưa thớt ở các huyện miền núi phía Tây. Mật độ dân số trung bình của 6 huyện miền núi gồm Đông Giang, Tây Giang, Nam Giang, Phước Sơn, Bắc Trà My và Nam Trà My là dưới 20 người/km2. Với 81,4% dân số sinh sống ở nông thôn, Quảng Nam có tỷ lệ dân số sinh sống ở nông thôn cao hơn tỷ lệ trung bình của cả nước. Tuy nhiêu quá trình đô thị hóa của tỉnh đang diễn ra mạnh mẽ sẽ tác động lớn đến sự phân bố dân cư nông thôn-thành thị trong thời gian tới.
Theo cuộc tổng điều tra dân số ngày 01.04.2009, có 34 tộc người cùng sinh sống trên địa bàn Quảng Nam trong đó đông nhất là người Kinh (91.1%), người Cơ Tu (3.2%), người Xơ Đăng (2.7%), và người Gié Triêng (1.3%). 29 tộc người còn lại chỉ chiếm 0.9% dân số.
Quảng Nam có lực lượng lao động dồi dào, với trên 887.000 người (chiếm 62% dân số toàn tỉnh), trong đó lao động ngành nông nghiệp chiếm 61,57%, ngành công nghiệp và xây dựng là 16,48% và ngành dịch vụ là 21,95%.
Chất lượng nguồn lao động đang được cải thiện đáng kể. Tỷ lệ lao động được đào tạo nghề chiếm 30% tổng số lao động, trong đó nguồn nhân lực chất lượng cao là gần 18.000 người.
Là một tỉnh với quy mô dân số trung bình, nhưng cơ cấu dân số trẻ và đa phần trong độ tuổi lao động sẽ đặt ra nhu cầu lớn về tiêu dùng và hưởng thụ văn hoá, nhất là các hoạt động văn hoá công cộng, các loại hình văn hoá, nghệ thuật mới, các hoạt động thể thao.
Giai đoạn 2000-2010, dân số đô thị của tỉnh tăng chậm, từ 207.000 người (2000) lên hơn 260.000 người (2010). Việc hình thành các khu, cụm công nghiệp, khu kinh tế mở Chu Lai cùng với quá trình phát triển kinh tế nhằm đưa tỉnh trở thành tỉnh công nghiệp trước năm 2020 sẽ đẩy nhanh quá trình đô thị hóa. Quá trình công nghiệp hóa, đô thị hóa cùng với lực lượng lao động dồi dào sẽ làm tăng mức độ di động dân số trong nội tỉnh cũng như ngoại tỉnh. Quá trình di động dân số (nội tỉnh và ngoại tỉnh) sẽ làm tăng mức độ giao thoa văn hóa.
Quá trình đô thị hóa và di động dân số trong những năm tới đặt ra những vấn đề cho phát triển sự nghiệp Văn hóa của tỉnh, như: xây dựng môi trường văn hóa ở các khu công nghiệp, khu dân cư; nhu cầu văn hóa ở các khu đô thị, cụm dân cư (các sản phẩm văn hóa, dịch vụ văn hóa,...).
=== Địa hình ===
Quảng Nam có hướng địa hình nghiên dần từ Tây sang Đông hình thành 3 kiểu cảnh quan sinh thái rõ rệt là kiểu núi cao phía Tây, kiểu trung du ở giữa và dải đồng bằng ven biển. Vùng đồi núi chiếm 72% diện tích tự nhiên với nhiều ngọn cao trên 2.000m như núi Lum Heo cao 2.045m, núi Tion cao 2.032m, núi Gole - Lang cao 1.855m (huyện Phước Sơn). Núi Ngọc Linh cao 2.598m nằm giữa ranh giới Quảng Nam, Kon Tum là đỉnh núi cao nhất của dãy Trường Sơn Ngoài ra, vùng ven biển phía đông sông Trường Giang là dài cồn cát chạy dài từ Điện Ngọc, Điện Bàn đến Tam Quang, Núi Thành. Bề mặt địa hình bị chia cắt bởi hệ thống sông ngòi khá phát triển gồm sông Thu Bồn, sông Tam Kỳ và sông Trường Giang.
=== Khí hậu ===
Quảng Nam nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới, chỉ có 2 mùa là mùa mưa và mùa khô, chịu ảnh hưởng của mùa đông lạnh miền Bắc. Nhiệt độ trung bình năm 25,6oC, Mùa đông nhiệt độ vùng đồng bằng có thể xuống dưới 12oC và nhiệt độ vùng núi thậm chí còn thấp hơn. Độ ẩm trung bình trong không khí đạt 84%. Lượng mưa trung bình 2000-2500mm. Mùa mưa thường kéo dài từ tháng 10 đến tháng 12, mùa khô kéo dài từ tháng 2 đến tháng 8, tháng 1 và tháng 9 là các tháng chuyển tiếp với đặc trưng là thời tiết hay nhiễu loạn và khá nhiều mưa. Mưa phân bố không đều theo không gian, mưa ở miền núi nhiều hơn đồng bằng. Vùng Tây Bắc thuộc lưu vực sông Bung (các huyện Đông Giang, Tây Giang và Nam Giang) có lượng mưa thấp nhất trong khi vùng đồi núi Tây Nam thuộc lưu vực sông Thu Bồn (các huyện Nam Trà My, Bắc Trà My, Tiê Phước và Hiệp Đức) có lượng mưa lớn nhất. Trà My là một trong những trung tâm mưa lớn nhất của Việt Nam với lượng mưa trung bình năm vượt quá 4,000 mm. Mưa lớn lại tập trung trong một thời gian ngắn trong 3 tháng mùa mưa trên một địa hình hẹp, dốc tạo điều kiện thuận lợi cho lũ các sông lên nhanh.
Hiện có hai trạm khí tượng trên địa bàn tỉnh quan trắc đầy đủ các yếu tố khí tượng trong một thời gian dài (bắt đầu từ 1976) là trạm Tam Kỳ và trạm Trà My. Trạm Tam Kỳ đặt tại phường Hòa Thuận, thành phố Tam Kỳ được sử dụng để tính toán các yếu tố khí tượng liên quan cho vùng đồng bằng phía Đông của tỉnh. Trạm Trà My đặt tại thị trấn Trà My, huyện Bắc Trà My được sử dụng để tính toán các yếu tố khí tượng liên quan cho vùng núi phía Tây của tỉnh.
Giá trị trung bình của các yếu thời tiết cơ bản tại Tam Kỳ, đại diện cho vùng đồng bằng phía Đông của tỉnh được trình bày trong bảng dưới đây:
Giá trị trung bình của các yếu thời tiết cơ bản tại Trà My, đại diện cho vùng núi phía Tây của tỉnh được trình bày trong bảng dưới đây:
=== Thủy văn ===
Quảng Nam có hai hệ thống sông lớn là Vu Gia Thu Bồn (VGTB) và Tam Kỳ. Diện tích lưu vực VGTB (bao gồm một phần lưu vực thuộc tỉnh Kon Tum, Quảng Ngãi, thành phố Đà Nẵng là 10,350 km2 và lưu vực sông Tam Kỳ là 735 km2. Các sông bắt nguồn từ sườn đông của dãy Trường Sơn, chảy chủ yếu theo hướng Tây-Đông và đổ ra biển Đông tại các cửa Hàn (Đà Nẵng), Đại (Hội An) và An Hòa (Núi Thành). Ngoài hai hệ thống sông trên, sông Trường Giang có chiều dài 47 km chảy dọc ven biển theo hướng Bắc Nam kết nối hệ thống sông VGTB và Tam Kỳ.
Do địa hình đồi dốc và lượng mưa lớn nên mạng lưới sông ngòi của tỉnh Quảng Nam khá dày đặc. Mật độ sông ngòi trung bình là 0.47 km/km2 cho hệ thống VGTB và 0.6 km/km2 cho các hệ thống sông khác.
Các sông có lưu lượng dòng chảy lớn, đầy nước quanh năm. Lưu lượng dòng chảy trung bình năm của sông Vu Gia (tính đến Thạnh Mỹ với diện tích lưu vực 1,850 km2) là 127 m3/s, của sông Thu Bồn (tính đến Nông Sơn với diện tích lưu vực 3,130 km2) là 281 m3/s. Chế độ dòng chảy của sông ngòi có sự phân mùa rõ rệt. Dòng chảy 3 tháng mùa lũ (tháng Mười, Mười Một, Mười Hai) chiếm 65 - 70% tổng dòng chảy cả năm trong khi dòng chảy vào mùa kiệt (từ tháng Hai đến tháng Tám) rất thấp. Hai tháng Một và Chính là các tháng chuyển tiếp với dòng chảy thất thường. Lưu lượng cực đại của Thu Bồn tại Nông Sơn là 10,600 m3/s và lưu lượng tối thiểu đo được là 15.7 m3/s trong khi đó lưu lượng cực đại của Vu Gia tại Thạnh Mỹ là 4,540 m3/s và cực tiểu là 10.5 m3/s. Lưu lượng lớn vào mùa mưa và thấp vào mùa khô là nguyên nhân chính gây nên lũ lụt và hạn hán trong vùng .
Tài nguyên nước phong phú là tiền đề để phát triển thủy điện trên địa bàn. Tính đến 2015, trên địa bàn Quảng Nam có 8 dự án thủy điện có công suất lớn (trên 100 MW) và 35 thủy điện có công suất nhỏ. Nhiều nhà máy thủy điện công suất lớn như Sông Tranh 2, Dak Mi 4, A Vương, Sông Bung 2, Sông Bung 4, Sông Kôn 2... đã và đang được xây dựng góp phần cung cấp điện cho nhu cầu ngày càng tăng của cả nước.
== Lịch sử ==
=== Thời nhà Trần ===
Trước kia Quảng Nam là đất Chiêm Thành. Năm 1306 theo thỏa ước giữa vua Chiêm Thành là Chế Mân và vua Đại Việt là Trần Nhân Tông thì vua Chế Mân dâng hai châu Ô tức Thuận Châu (nam Quảng Trị, Huế) và châu Rí tức Hóa Châu (một phần Huế, bắc sông Thu Bồn) làm sính lễ cưới con gái vua Trần Nhân Tông là công chúa Huyền Trân. Người Việt dần định cư tại hai vùng đất mới; người Chiêm Thành lùi dần về vùng đất còn lại phía Nam của vương quốc.
Năm 1402, nhà Hồ thay thế nhà Trần. Nhà Hồ chia Hóa Châu thành 4 châu nhỏ hơn là Thăng Châu, Hóa Châu, Tư Châu và Nghĩa Châu và đặt An Phủ Sứ cai trị.
Năm 1408, Trần Ngỗi khởi nghĩa ở Nghệ An, hai viên quan Đặng Tất ở Hóa Châu (Huế) và Nguyễn Cảnh Chân ở Thăng Hoa (Quảng Nam). Tháng Giêng âm lịch năm 1408, Trần Ngỗi đánh 4 vạn quân Trương Phụ ở Bô Cô (Nam Định). Các nông dân Phạm Tất Đại, Phạm Chấn, Trần Nguyệt Hồ, Lê Ngã kéo về theo quân Trần Ngỗi. Nhưng có người gièm pha với Trần Ngỗi rằng hai viên quan kia là con hoàng xà đã biến thành nên Trần Ngỗi giết chết Đặng Tất và Nguyễn Cảnh Chân. Đặng Dung và Nguyễn Cảnh Dị đưa con Trần Ngạc là Trần Quý Khoáng tiếm quyền.
=== Thời Lê ===
Năm 1471, sau khi chiếm vùng đất phía Nam Thuận Hóa cho đến đèo Cù Mông, vua Lê Thánh Tông lập thêm đơn vị hành chính thứ 13 - Thừa Tuyên Quảng Nam gồm 3 phủ: Thăng Hoa, Tư Nghĩa và Hoài Nhơn (nay là Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định). Danh xưng Quảng Nam xuất hiện từ đây.
=== Thời chúa Nguyễn ===
Sang thời kỳ Trịnh-Nguyễn phân tranh, Quảng Nam thuộc quyền cai quản của chúa Nguyễn (từ năm 1570). Hội An được nhà chúa chọn là điểm giao thương duy nhất với thế giới khi đó nên nhiều thương gia nước ngoài hay gọi vùng đất này là "Quảng Nam Quốc". Biên niên sử thời Nguyễn đã chép về giai đoạn này như sau: "Chúa ở trấn hơn 10 năm, (chúa Tiên Nguyễn Hoàng) chính sự rộng rãi, quân lệnh nghiêm trang, nhân dân đều an cư lạc nghiệp, chợ không hai giá, không có trộm cướp. Thuyền buôn các nước đến nhiều. Trấn trở nên một đô hội lớn".
Đến giữa thế kỷ 17, việc triều chính xứ Đàng Trong suy đồi. Thuế thì nặng; quan lại thì lợi dụng địa vị, sinh sự làm khổ dân. Trước hoàn cảnh đó, khi phong trào Tây Sơn bùng nổ, dân Quảng Nam cũng nổi dậy. Mùa thu năm 1773 khi quân Tây Sơn kéo ra Quảng Nam, dân Quảng Nam đã phối hợp cùng nghĩa quân phục kích ở Bến Đá (Thạch Tân, Thăng Hoa, Quảng Nam) đánh bại quân của chúa Nguyễn do các tướng Nguyễn Cửu Thống, Nguyễn Hữu Sách chỉ huy. Nhà Tây Sơn tuy vậy chỉ tồn tại trong thời gian ngắn ngủi.
=== Thời nhà Nguyễn ===
Năm 1806 vua Gia Long thống nhất đất nước. Về hành chính, vua chia đất nước thành 23 trấn và 4 doanh thuộc đất kinh kỳ gồm Trực Lệ-Quảng Đức, Quảng Bình, Quảng Trị và Quảng Nam doanh.
Năm 1831, vua Minh Mạng đổi trấn và doanh thành tỉnh. Quảng Nam chính thức trở thành tỉnh từ năm này. Tỉnh Quảng Nam được chia thành 2 phủ Thăng Bình (升平) (trước là Thăng Hoa (gồm các huyện Lễ Dương (醴陽) Tam Kỳ (三岐), Hà Đông (河東), Quế Sơn (桂山)) và Điện Bàn 奠磐 (với các huyện Hòa Vang (和榮), Duy Xuyên (濰川), Diên Phúc (延福) (sau đổi là Diên Phước), Đại Lộc (大祿)).
=== Thời Pháp thuộc ===
Năm 1888, dưới triều vua Thành Thái, Đà Nẵng bị tách khỏi Quảng Nam để trở thành đất nhượng địa của thực dân Pháp.
=== Thời Việt Nam Cộng hòa ===
Sau Hiệp định Genève, tỉnh Quảng Nam thời Việt Nam Cộng Hòa vào năm 1956 lại chia thành hai tỉnh mới lấy sông Rù Rì (tên gọi khác của sông Ly Ly) làm ranh giới là Quảng Nam ở phía Bắc gồm chín quận và Quảng Tín ở phía Nam gồm sáu quận.
Chín quận của Quảng Nam là:
Hòa Vang (nay thuộc thành phố Đà Nẵng)
Đại Lộc,
Điện Bàn,
Duy Xuyên,
Đức Dục (một số xã miền núi của huyện Đại Lộc, Quế Sơn và Duy Xuyên, nay là huyện Nông Sơn)
Hiếu Nhơn (nay thuộc thành phố Hội An và một số xã của thị xã Điện Bàn)
Quế Sơn,
Hiếu Đức (nay thuộc huyện Đông Giang, Tây Giang và một số xã miền núi của huỵên Hòa Vang (thành phố Đà Nẵng)
Thượng Đức (nay thuộc huyện Nam Giang và một số xã miền núi huyện Đại Lộc).
Tỉnh lỵ đóng tại Hội An thuộc quận Hiếu Nhơn (Hội An) .
Tỉnh Quảng Tín, từ sông Ly Ly vào đến Dốc Sỏi (ranh giới giữa Quảng Nam và Quảng Ngãi), gồm 5 quận:
Thăng Bình (nay thuộc huyện Thăng Bình và một phần huyện Hiệp Đức),
Tam Kỳ (nay thuộc thành phố Tam Kỳ, huyện Núi Thành, huyện Phú Ninh),
Tiên Phước (nay thuộc huyện Tiên Phước và một phần huyện Hiệp Đức),
Hậu Đức (nay là huyện Nam Trà My và Bắc Trà My)
Hiệp Đức (nay thuộc huyện Phước Sơn và Hiệp Đức).
Dân số Quảng Tín lúc đó là 353.752 người; tỉnh lỵ đóng tại Tam Kỳ.
=== Sau năm 1975 ===
Tỉnh Quảng Nam - Đà Nẵng
Sau khi thống nhất đất nước, chính phủ nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam quyết định sáp nhập hai tỉnh Quảng Nam, Quảng Tín và Thành phố Đà Nẵng thành lập tỉnh Quảng Nam-Đà Nẵng với Đà Nẵng là tỉnh lị.
Sau khi thành lập tỉnh, có những thay đổi hành chính như sau: chuyển thị xã Đà Nẵng thành thành phố Đà Nẵng, hợp nhất thị xã Tam Kỳ và 2 huyện Bắc Tam Kỳ, Nam Tam Kỳ thành huyện Tam Kỳ.
Đến năm 1980, tỉnh Quảng Nam - Đà Nẵng có thành phố Đà Nẵng (tỉnh lị), thị xã Hội An, 12 huyện: Đại Lộc, Điện Bàn, Duy Xuyên, Giằng, Hiên, Hòa Vang, Phước Sơn, Quế Sơn, Tam Kỳ, Thăng Bình, Tiên Phước, Trà My.
Ngày 4 tháng 2 năm 1982, thành lập huyện đảo Hoàng Sa
Ngày 3 tháng 12 năm 1983, chia huyện Tam Kỳ thành thị xã Tam Kỳ và huyện Núi Thành.
Ngày 31 tháng 12 năm 1985, thành lập huyện Hiệp Đức trên cơ sở tách 2 xã thuộc huyện Thăng Bình, 4 xã thuộc huyện Quế Sơn và 2 xã thuộc huyện Phước Sơn.
Đến năm 1991, tỉnh Quảng Nam-Đà Nẵng gồm: thành phố Đà Nẵng (tỉnh lị), 2 thị xã: Tam Kỳ, Hội An và 14 huyện: Đại Lộc, Điện Bàn, Duy Xuyên, Giằng, Hiên, Hiệp Đức, Hòa Vang, Hoàng Sa, Núi Thành, Phước Sơn, Quế Sơn, Thăng Bình, Tiên Phước, Trà My.
Tỉnh Quảng Nam
Năm 1997, tại kỳ họp thứ X của Quốc hội, tỉnh Quảng Nam-Đà Nẵng được chia thành hai đơn vị hành chính độc lập gồm Thành phố Đà Nẵng và tỉnh Quảng Nam. Tỉnh Quảng Nam mới có 14 huyện gồm Đại Lộc, Điện Bàn, Duy Xuyên, Giằng, Hiên, Hiệp Đức, Núi Thành, Phước Sơn, Quế Sơn, Thăng Bình, Tiên Phước, Trà My và 2 thị xã: Tam Kỳ (tỉnh lị), Hội An.
Ngày 16 tháng 8 năm 1999, huyện Giằng được đổi tên thành huyện Nam Giang.
Ngày 20 tháng 6 năm 2003, chia huyện Trà My thành 2 huyện: Bắc Trà My và Nam Trà My; chia huyện Hiên thành 2 huyện: Đông Giang và Tây Giang.
Ngày 5 tháng 1 năm 2005, chia thị xã Tam Kỳ thành thị xã Tam Kỳ và huyện Phú Ninh.
Ngày 29 tháng 9 năm 2006, chuyển thị xã Tam Kỳ thành thành phố Tam Kỳ.
Ngày 29 tháng 1 năm 2008, chuyển thị xã Hội An thành thành phố Hội An.
Ngày 8 tháng 4 năm 2008, chia huyện Quế Sơn thành 2 huyện: Quế Sơn và Nông Sơn.
Ngày 11 tháng 3 năm 2015, chuyển huyện Điện Bàn thành thị xã Điện Bàn
== Hành chính ==
Theo kết quả điều tra ngày 01/04/2009 dân số tỉnh Quảng Nam là 1.419.503 người. Quảng Nam hiện có 18 đơn vị hành chính cấp huyện bao gồm 2 thành phố, 1 thị xã và 15 huyện, trong đó có với 247 đơn vị cấp xã (25 phường, 12 thị trấn, 210 xã):
== Biển số xe ==
Thành phố Tam Kỳ 92-B1 XXX.XX 92-L8 XXXX 92-L9 XXXX
Thành phố Hội An 92-C1 XXX.XX 92-H1 XXXX
Thị xã Điện Bàn 92-D1 XXX.XX 92-H2 XXXX, 92-S2 XXXX
Huyện Thăng Bình 92-H1 XXX.XX 92-H6 XXXX 92S5 XXXX
Huyện Bắc Trà My 92-V1 XXX.XX 92-L6 XXXX
Huyện Nam Trà My 92-X1 XXX.XX 92-L7 XXXX
Huyện Núi Thành 92-N1 XXX.XX 92-R1 XXXX
Huyện Phước Sơn 92-P1 XXX.XX. 92-L2 XXXX
Huyện Tiên Phước 92-M1 XXX.XX. 92-H9 XXXX
Huyện Hiệp Đức 92-K1 XXX.XX 92-H7 XXXX
Huyện Nông Sơn 92-Y1 XXX.XX
Huyện Đông Giang 92-T1 XXX.XX
Huyện Nam Giang 92-S1 XXX.XX
Huyện Đại Lộc 92-E1 XXX.XX 92-H3 XXXX 92-S3 XXXX 92-K7 XXXX
Huyện Phú Ninh 92-L1 XXX.XX 92-H8 XXXX
Huyện Tây Giang 92-U1 XXX.XXX
Huyện Duy Xuyên 92-F1 XXX.XX 92-H4 XXXX
Huyện Quế Sơn 92-G1 XXX.XX 92-H5 XXXX
== Kinh tế ==
Tỉnh Quảng Nam phấn đấu trở thành tỉnh công nghiệp trước năm 2020. Năm 2015, Tỉnh có cơ cấu kinh tế: Công nghiệp và dịch vụ chiếm 85%, Nông-Lâm-Nghư Nghiệp 15%. Tỉnh có tốc độ tăng trưởng kinh tế cao, bình quân giai đoạn 2010-2015 là 16,3% (Năm 2015 là 11,53%). Quảng nam có 13 khu công nghiệp, kinh tế mở (Khu kinh tế mở Chu Lai). Do đó Quảng Nam hiện nay đang thiếu rất nhiều lao động-một nghịch lý khi tỷ lệ sinh viên không có việc làm trên cả nước rất lớn, Tổng sản phẩm nội địa 2010 khoảng hơn 23.000 tỷ đồng tăng lên hơn 69.900 tỷ đồng năm 2016.Thu ngân sách nhà nước tăng cao, năm 2015 thu ngân sách ướt đạt xấp xỉ 15.000 tỷ đồng (đứng 12/63 tỉnh thành, đứng thứ 2 các tỉnh miền trung từ Thanh Hóa đến Bình Thuận chỉ sau Quảng Ngãi và trên Tp. Đà Nẵng. Năm 2016 chứng kiến nền kinh tế phát triển mạnh mẽ chỉ trong 9 tháng đầu năm thu ngân sách ướt đạt 14.300 tỷ đồng bằng 103,5% dự toán năm 2016 Dự kiến 2016 thu ngân sách khoảng xấp xỉ 20.000 tỷ đồng. Tuy nhiên thu ngân sách chủ yếu dựa vào khu phức hợp sản xuất và lắp ráp ô tô Trường Hải. Xuất khẩu 2015 ướt đạt trên 500 triệu USD. Tỉnh có cảng Kỳ Hà, Sân bay quốc tế Chu Lai. Phấn đấu đến năm 2020 GDP bình quân đầu người từ 3.400-3.600 USD (75-80 triệu đồng). Năm 2016 tỉnh này đón gần 4,4 triệu lượt khách du lịch (xếp thứ 2 miền trung sau Tp. Đà Nẵng với gần 5,1 triệu lượt).
=== Tài nguyên thiên nhiên ===
==== Tài nguyên đất ====
Tổng diện tích tự nhiên của Quảng Nam là 1.040.683ha được hình thành từ chín loại đất khác nhau gồm cồn cát và đất cát ven biển, đất phù sa sông, đất phù sa biển, đất xám bạc màu, đất đỏ vàng, đất thung lũng, đất bạc màu xói mòn trơ sỏi đá,... Nhóm đất phù sa ven sông là nhóm đất quan trọng nhất trong phát triển cây lương thực, thực phẩm và cây công nghiệp ngắn ngày. Nhóm đất đỏ vàng vùng đồi núi thuận lợi cho trồng rừng, cây công nghiệp và cây ăn quả dài ngày. Nhóm đất cát ven biển đang được khai thác cho mục đích nuôi trồng thủy sản.
==== Tài nguyên rừng ====
Tỉnh Quảng Nam có 425.921 ha rừng, tỷ lệ che phủ đạt 40,9%; trữ lượng gỗ của tỉnh khoảng 30 triệu m3. Diện tích rừng tự nhiên là 388.803 ha, rừng trồng là 37.118 ha. Rừng giàu ở Quảng Nam hiện có khoảng 10 nghìn ha, phân bố ở các đỉnh núi cao, diện tích rừng còn lại chủ yếu là rừng nghèo, rừng trung bình và rừng tái sinh, có trữ lượng gỗ khoảng 69 m3/ha. Các khu bảo tồn thiên nhiên trên địa bàn tỉnh nằm ở sông Thanh thuộc huyện Nam Giang.
Tháng Tư năm 2011 nhà chức trách tỉnh Quảng Nam cho thành lập Khu Bảo tồn Thiên nhiên Sao La (tiếng Anh: Saola Nature Reserve), mở hành lang cho các sinh vật vùng núi giữa Lào và Việt Nam, nhất là loài sao la đang bị đe dọa.
==== Tiềm năng thủy điện ====
Quảng Nam có hệ thống sông suối dày đặc với tiềm năng thủy điện lớn. Hệ thống sông Vu Gia - Thu Bồn với phần lớn lưu vực nằm trong địa giới tỉnh được đánh giá là có tiềm năng thủy điện lớn thứ tư cả nước đang được đầu tư khai thác. Hiện nay tỉnh có các nhà máy thủy điện đã và đang xây dựng như NMTĐ A Vương (210 MW - Tây Giang), Sông Bung 2 (100 MW), Sông Bung 4 (220 MW), Sông Giằng (60 MW), Đak Mi 1(255 MW), Đak Mi 4(210 MW), Sông Kôn 2 (60 MW), Sông Tranh 2 (135 MW),v.v.Đa phần các nhà máy thủy điện nằm trên lưu vực sông Vu Gia nơi có địa hình dốc và tiềm năng thủy điện lớn.
Việc xây dựng các công trình thủy điện thượng lưu Vu Gia Thu Bồn ảnh hưởng lớn đến dòng chảy hạ lưu. Việc thủy điện Dak Mi 4 chuyển nước từ Vu Gia sang Thu Bồn làm suy giảm đáng kể dòng chảy hạ lưu Vu Gia. Vào mùa kiệt từ tháng 2 đến tháng 8, vùng ven sông Vu Gia thường đối mặt với thiếu nước cho sinh hoạt và trồng trọt. dòng chảy bị suy giảm là nguyên nhân chính làm cho mặn xâm nhập sâu vào hạ lưu Vu Gia, Thu Bồn và Vĩnh Điện.
==== Sử dụng đất ====
Theo số liệu thống kê, kiểm kê đất đai vào ngày 01.01.2010, trong tổng diện tích tự nhiên 1.043.836 ha, diện tích đất nông nghiệp chiếm 798.790 ha, diện tích đất phi nông nghiệp là 87.765 ha và diện tích đất chưa sử dụng là 157.281 ha.
== Văn hóa - Xã hội ==
=== Lễ hội ===
Lễ hội Bà Thu Bồn là một lễ hội dân gian của cư dân ven sông Thu Bồn, tỉnh Quảng Nam với mục đích cầu nguyện một năm mới đất trời thuận hòa, người dân ấm no hạnh phúc. Lễ hội được tổ chức hằng năm vào ngày 12 tháng 2 âm lịch. Xen lẫn các tiết mục văn nghệ dân gian là tiếng hò reo cổ vũ của cư người xem hội hai bên bờ. Nghi thức quan trọng nhất là lễ tế Bà và lễ rước nước về đền. Đền thờ Bà Thu Bồn nằm trong một vùng đồng bằng ven sông thuộc huyện Duy Xuyên. Phần hội quan trọng nhất là hội đua thuyền Lệ Bà (Nam-Nữ), hội thả hoa đăng và đốt lửa thiêng trên những bãi bồi của dòng Thu Bồn.
Lễ hội Bà Chiêm Sơn là lễ hội của cư dân làm nghề nuôi tằm dệt vải của xã DUY TRINH, huyện Duy Xuyên. Lễ được tổ chức ngày 10-12 tháng Giêng âm lịch tại Dinh bà Chiêm Sơn. Lễ hội là dịp bày tỏ niềm tôn kính với người đã khai sinh ra nghề ươm tằm dệt lụa cho địa phương. Người tham gia lễ hội có cơ hội thưởng thức các món ăn đặc trưng của người Quảng Nam. Lễ hội còn là dịp để tham gia các trò chơi dân gian như đá gà, ném bóng vào rổ, hát bài chòi.
Carneval Hội An là lễ hội đường phố được tổ chức lần đầu tiên tại thành phố Hội An vào Giao thừa năm 2009 (dương lịch). Lễ hội mô phỏng theo các lễ hội Carneval đường phố vốn rất nổi tiếng tại các nước châu Âu và Mỹ Latin
Lễ hội Rước cộ Bà Chợ Được được tổ chức hằng năm vào ngày 11 tháng Giêng (âm lịch) tại xã Bình Triều, huyện Thăng Bình. Đây là một kiểu lễ hội tâm linh để tỏ lòng tôn kính với bà Nguyễn Thị Của. Theo tài liệu "Thần Nữ Linh Ứng Truyện", bà sinh năm 1799 tại huyện Đại Lộc, tỉnh Quảng Nam. Bà mất năm 1817, hưởng dương 18 tuổi. Theo cư dân địa phương, bà rất linh thiêng. Trong một lần ngao du đến làng Phước Ấm (nay là Chợ Được, xã Bình Triều), thấy cảnh sông nước hữu tình, bà chọn nơi này họp chợ để giúp cư dân có cuộc sống sung túc hơn. Bà hóa thân thành một thiếu nữ xinh đẹp chừng 18 tuổi làm nghề bán nước đổi trầu. Dần dần cư dân xung quanh tập trung buôn bán, Chợ Được được hình thành và phát triển. Để ghi nhớ công ơn bà, cư dân trong vùng lập đền thờ "Lăng Bà" và được triều đình phong tặng sắc phong "Thần Nữ Linh Ứng-Nguyễn Thị Đẳng Thần".
Lễ hội Nguyên Tiêu là lễ hội của Hoa Kiều tại Hội An. Lễ được tổ chức tại Hội Quán Triều Châu và Quảng Triệu vào ngày 16 tháng Giêng (âm lịch) hằng năm.
Lễ hội Đêm Rằm Phố Cổ được tổ chức vào ngày 14 âm lịch hằng tháng tại đô thị cổ Hội An. Tại thời điểm đó, cư dân trong thành phố sẽ tắt hết điện chiếu sáng, thay vào đó là ánh sáng rực rỡ từ đèn lồng. Thành phố sống trong không gian tĩnh mịch của quá khứ. Các phương tiện có động cơ không được tham gia lưu thông. Đường phố được dành cho người đi bộ thưởng lãm.
=== Làng nghề truyền thống ===
Làng gốm Thanh Hà (Ngoại ô Hội An)
Làng mộc Kim Bồng
Làng đúc đồng Phước Kiều (xã Điện Phương, huyện Điện Bàn)
Làng dệt Mã Châu (Duy Xuyên)
Làng dâu tằm Đông Yên - Thi Lai (xã Duy Trinh, huyện Duy Xuyên)
Làng dệt chiếu cói Bàn Thạch (Xã Duy Vinh, Duy Xuyên)
Làng rau Trà Quế (xã Cẩm Hà, Hội An)
Làng trống Lam Yên (xã Đại Minh, huyện Đại Lộc)
Làng nghề làm bún (Tân Thạnh, Tp.Tam Kỳ)
== Giáo dục ==
==== Hệ thống các trường đại học và cao đẳng ====
Đại học Quảng Nam
Đại học Nội vụ Hà Nội - Cơ sở Miền Trung
Đại học dân lập Phan Chu Trinh
Trường CĐ Y tế Quảng Nam
Trường CĐ Kinh tế Kỹ thuật Quảng Nam
Trường CĐ Công kỹ nghệ Đông Á
Trường CĐ Tư thục Phương Đông - Quảng Nam
Trường CĐ Kinh tế, Thủy lợi
Trường CĐ Điện lực Miền Trung
Trường CĐ Chu Lai - Trường Hải
Trường Trung cấp CSGT - T52
== Giao thông ==
Quảng Nam có hệ thống giao thông khá phát triển với nhiều loại hình như đường bộ, đường sắt, đường sông, sân bay và cảng biển. Quảng Nam có tuyến Quốc lộ 1A đi qua.
=== Đường bộ ===
Hệ thống đường quốc lộ và tỉnh lộ trên địa bàn tỉnh được xây dựng theo hướng Bắc - Nam và Đông - Tây. Quốc lộ 1A đi qua địa phận các huyện, thành phố: Núi Thành, Tam Kỳ, Phú Ninh, Thăng Bình, Quế Sơn, Duy Xuyên và Điện Bàn. Quốc lộ 14 đi qua địa phận các huyện: Phước Sơn, Nam Giang, Đông Giang và Tây Giang. Quốc lộ 14B đi qua địa phận các huyện Đại Lộc và Nam Giang. Quốc lộ 14E đi qua địa phận các huyện: Thăng Bình, Hiệp Đức và Phước Sơn. Ngoài ra tỉnh còn có 1 hệ thống đường bộ gồm các tỉnh lộ như 604, 607, 609, 610, 611, 614, 615, 616, 617, 618 (mới và cũ), 620 và nhiều hương lộ, xã lộ....
Quốc lộ 1A: Điểm đầu tại km 942 là ranh giới giữa thành phố Đà Nẵng và tỉnh Quảng Nam. Điểm cuối tại km 1027 là ranh giới giữa tỉnh Quảng Nam và tỉnh Quảng Ngãi.
Tổng chiều dài 85 km, tiêu chuẩn đường cấp III đồng bằng với bề rộng nền đường 12 m, mặt đường 11 m kết cấu mặt bê tông nhựa.
Đường Hồ Chí Minh: Điểm đầu tại A Tép ranh giới giữa tỉnh Thừa Thiên Huế và tỉnh Quảng Nam, Điểm cuối tại cầu Đắc Zôn ranh giới giữa tỉnh Quảng Nam và tỉnh Kon Tum.
Tổng chiều dài toàn tuyến 190 km tiêu chuẩn đường cấp IV miền núi với bề rộng nền đường 7,5 m, mặt đường 5,5 m kết cấu bê tông nhựa. Đoạn qua thị trấn, thị tứ có mặt cắt 22,5 m.
Quốc lộ 14B: Điểm đầu tại km 32 là ranh giới giữa thành phố Đà Nẵng và tỉnh Quảng Nam thuộc địa phận 2 huyện Hòa Vang và huyện Đại Lộc. Điểm cuối tại km 74 điểm giao với đường Hồ Chí Minh thuộc huyện Nam Giang.
Tổng chiều dài toàn tuyến 42 km tiêu chuẩn cấp IV với bề rộng nền đường 9 m, mặt đường 8 m kết cấu mặt bê tông nhựa.
Quốc lộ 14D: Điểm đầu lý trình km 0 tại Bến Giằng nối với đường Hồ Chí Minh, điểm cuối lý trình km 74,4 tại cửa khẩu Đắc ốc (huyện Nam Giang) ranh giới giữa tỉnh Quảng Nam - Việt Nam với tỉnh Xê Kông - Lào.
Tổng chiều dài toàn tuyến 74,4 km tiêu chuẩn đường cấp V với bề rộng nền đường 6,5 m, mặt đường 3,5 m kết cấu mặt đá dăm láng nhựa.
Quốc lộ 14E: Điểm đầu lý trình km 0 tại ngã ba Cây Cốc (huyện Thăng Bình) giao với quốc lộ 1A (lý trình km 972 + 200). Điểm cuối lý trình km 78 + 432 giao với đường Hồ Chí Minh tại thị trấn Khâm Đức (huyện Phước Sơn).
Tổng chiều dài toàn tuyến 78,4 km, đoạn km 0 - km 23 tiêu chuẩn đường cấp V nền đường 6,5 m, mặt 3,5 m kết cấu bê tông nhựa; đoạn km 23 - km 78,4 tiêu chuẩn đường cấp IV đồng bằng nền 9 m, mặt 6 m kết cấu bê tông nhựa.
Quốc lộ 40B
Quốc lộ 24C
=== Đường sắt ===
Trục đường sắt Bắc Nam đi qua tỉnh Quảng Nam. Ngoài nhà ga chính ở Tam Kỳ, còn có ga Nông Sơn, ga Phú Cang (Bình Quý, Thăng Bình), ga Núi Thành (Núi Thành), ga Trà Kiệu (Duy Xuyên)...
=== Đường hàng không ===
Năm 1965, người Mỹ xây dựng sân bay Chu Lai, nhằm mục đích phục vụ các hoạt động quân sự ở miền Trung và Tây Nguyên. 40 năm sau, ngày 02 tháng 3 năm 2005, sân bay Chu Lai đón chuyến bay thương mại đầu tiên từ thành phố Hồ Chí Minh, đánh dấu một sự kiện lịch sử của tỉnh. Năm 2010, Vietnam Airlines có tuyến bay Chu Lai - Hà Nội. Việc sân bay Chu Lai vào hoạt động thương mại sẽ thúc đẩy mạnh mẽ sự phát triển không chỉ của Quảng Nam (với khu công nghiệp Chu Lai) mà còn của tỉnh Quảng Ngãi (với khu công nghiệp Dung Quất). Xa hơn nữa, sân bay Chu Lai sẽ được phát triển thành sân bay quốc tế phục vụ cho việc trung chuyển hành khách và hàng hóa trong khu vực. Ngoài ra, việc đưa sân bay Chu Lai vào hoạt động sẽ giúp cho du khách đến với hai di sản văn hóa thế giới Hội An và Mỹ Sơn dễ dàng hơn.
=== Đường sông ===
Quảng Nam có 941 km sông ngòi tự nhiên, đang quản lý và khai thác 307 km sông (chiếm 32,62%), gồm 11 sông chính. Hệ thống sông hoạt động chính gồm 2 hệ thống: sông Thu Bồn và sông Trường Giang, hai hệ thống sông này đều đổ ra biển Đông theo 3 cửa sông: sông Hàn, Cửa Đại và Kỳ Hà
- Sông Trung ương quản lý: dài 132 km, gồm: Đoạn 1 sông Thu Bồn, sông Trường Giang.
- Toàn bộ đường sông đang khai thác vận tải thuỷ của tỉnh Quảng Nam dài 207 km, gồm 11 tuyến: Sông Thu Bồn, sông Trường Giang, sông Vu Gia, sông Yên, sông Vĩnh Điện, sông Hội An, sông Cổ Cò, sông Duy Vinh, sông Bà Rén, sông Tam Kỳ và sông An Tân.
Sông Thu Bồn: dài 95 km gồm Đoạn:Đoạn 1 dài 65 km, điểm đầu là Nông Sơn, điểm cuối là Cửa Đại, do Trung ương quản lý. Đoạn 2: dài 30 km, điểm đầu là ngã ba sông Tranh, điểm cuối là Nông Sơn, do địa phương quản lý.
Sông Trường Giang: Dài 67 km, điểm đầu là ngã ba An Lạc và điểm cuối là Kỳ Hà, do Trung ương quản lý. Trong đó có 16 km thuộc sông cấp V, 51 km là sông cấp VI. Tuyến sông chạy dọc theo bờ biển phía Đông tỉnh Quảng Nam, nối liền với thị xã Hội An, Tam Kỳ và các huyện Duy Xuyên, Thăng Bình, Núi Thành. Là tuyến sông có luồng lạch không ổn định do lòng sông bị bồi cạn, nguyên nhân do việc hình thành đập Cổ Linh làm ảnh hưởng đến chế độ thuỷ triều từ Cửa Đại tới cửa Kỳ Hà. Hiện tại trên tuyến có nhiều chướng ngại vật và nhiều bãi cạn do các công trình vượt sông như cầu, đập thuỷ lợi, đường điện... không đảm bảo các thông số kỹ thuật.
Sông Vu Gia: Dài 52 km, điểm đầu là ngã ba Quảng Huế, điểm cuối là bến Giằng, do địa phương quản lý. Là hợp lưu của sông Thu Bồn đạt tiêu chuẩn sông cấp VI, tuyến sông này chạy trên địa bàn huyện Nam Giang và huyện Đại Lộc. Đây là tuyến sông có vai trò quan trọng trong vận tải hàng hoá và hành khách đường sông của tỉnh Quảng Nam. Trên tuyến sông, vào mùa nước trung thì tàu thuyền có thể khai thác thuận lợi, sang mùa cạn chỉ khai thác được đến ngã ba Thượng Đức với chiều dài 23 km. Tuyến sông Vu Gia được chia thành 4 đoạn:
Sông Yên: Dài 12 km, có điểm đầu là ngã ba Quảng Huế và điểm cuối là ranh giới thành phố Đà Nẵng, do địa phương quản lý. Tuyến sông trên địa bàn tỉnh Quảng Nam có dòng sông hẹp, nhiều đoạn cạn và có đập Pa Ra An Trạch chắn ngang. Đoạn từ ngã ba sông Yên đến Đại Hiệp đạt tiêu chuẩn VI.
Sông Vĩnh Điện: Dài 12 km, điểm đầu tại km 43 + 500 sông Thu Bồn và điểm cuối là cầu Tứ Câu, do địa phương quản lý. Là sông cấp V, chảy qua 5 xã và 1 thị trấn thuộc huyện Điện Bàn. Đoạn sông này hẹp, có dòng chảy ổn định, thuận lợi cho việc khai thác vận tải thủy. Sông Vĩnh Điện nối giữa sông Thu Bồn và sông Hàn tạo thành tuyến vận tải thủy giữa thị xã Hội An, Vĩnh Điện và Đà Nẵng.
Sông Hội An (sông Hoài): Dài 11 km, điểm đầu là ngã ba sông Thu Bồn tại km 54 + 400 và điểm cuối là km 63 + 00 sông Thu Bồn, do địa phương quản lý. Nằm trên địa phận thị xã Hội An, lòng sông có độ sâu ổn định thuận tiện cho các loại phương tiện hoạt động. Đạt tiêu chuẩn kỹ thuật sông cấp III.
Sông Cổ Cò (sông Đế Võng): Dài 27,5 km có điểm đầu tại cửa Đại và điểm cuối nối vào sông Hàn thành phố Đà Nẵng do địa phương quản lý, tuyến chạy dọc bờ biển phía Bắc của tỉnh Quảng Nam bắt đầu từ ngã ba sông Hàn đến cửa Đại, được phân làm 2 nhánh.
Sông Duy Vinh: Dài 12 km, điểm đầu tại km 50 + 800 sông Thu Bồn và điểm cuối là km 5 + 700 sông Trường Giang, do địa phương quản lý. Là sông cấp V chiều rộng bình quân 100 m, độ sâu 1 - 1,5 m. Về mùa kiệt độ sâu chạy tàu chỉ đạt 1 m. Trên tuyến có 2 bãi cạn và 2 cầu, đặc biệt cầu máng Duy Vinh có tĩnh không thông thuyền thấp hơn 2 m.
Sông Bà Rén: Dài 32 km, điểm đầu tại km 5 + 700 sông Trường Giang và điểm cuối là ngã ba Vạn Lý (phân lưu của sông Thu Bồn)..
Sông Tam Kỳ: Dài 16 km, điểm đầu tại km 58 + 200 sông Trường Giang và điểm cuối là đập phía trên cầu đường sắt Tam Kỳ, do địa phương quản lý, tuyến sông đạt cấp VI, bắt đầu từ hồ Phú Ninh đổ về sông Trường Giang (xã Tam Tiến - huyện Núi Thành).
Sông An Tân: Dài 7,5 km, điểm đầu tại ngã ba sông Trường Giang và điểm cuối là cầu Tam Mỹ, đây là tuyến sông đang khai thác ở dạng tự nhiên với chiều dài 7,0 km (từ ngã ba Trường Giang đến cầu đường sắt An Tân), dòng sông chảy uốn khúc, có nhiều chi lưu tạo thành những bãi cạn, độ sâu trung bình của sông -0,8 đến -1,0m.
== Danh lam thắng cảnh - Du lịch ==
=== Di tích lịch sử ===
Đô thị cổ Hội An
Các di sản văn hóa Chăm:
Thánh địa Mỹ Sơn, Duy Xuyên
Phật viện Đồng Dương, Thăng Bình
Trà Kiệu, Duy Xuyên
Tháp Chiên Đàn, Tam Kỳ
Tháp Bằng An - Điện Bàn
Tháp Khương Mỹ - Núi Thành
=== Các địa điểm thắng cảnh và du lịch ===
Khe Lim, Đại Lộc
== Nạn lũ ==
=== 2016 ===
Hai đợt mưa lũ (kéo dài từ ngày 28-11 đến 17-12) đưa tới cái chết của 7 người, làm 33 người bị thương. Về nông nghiệp có 3.696 ha hoa màu, 823 ha lúa bị thiệt hại. Có gần 7.000 con gia súc, gia cầm bị chết trong lũ. Về giao thông các tuyến quốc lộ bị sạt lở với tổng khối lượng sạt lở, bồi lấp khoảng 180.000m3. Ước thiệt hại khoảng 473 tỉ đồng.
== Đặc sản ẩm thực ==
Các món ăn đặc sắc:
Cơm gà Tam Kỳ
Mì Quảng
Cao lầu Hội An
Xí Mà Hội An
Bánh đậu xanh mặn
Trà lài Tam Kỳ
Bê thui Cầu Mống
Chuối chát ngâm chua
Bánh tráng Gia Cốc
Bánh tráng Việt An
Khoai lang Trà Đóa
Bánh đập Cẩm Nam
Bánh in
Bánh tổ
Tôm/Tam hữu Trà Quế
Thịt heo luộc - bánh tráng Đại Lộc
== Người nổi tiếng và quan chức cao cấp ==
Tướng lĩnh:
Trung tướng Đặng Hòa,
Thượng tướng Võ Tiến Trung,
Thiếu tướng Nguyễn Quy Nhơn,
trung tướng Võ Thanh Tuấn
Nhà thơ, nhà văn:
Võ Quảng,
Nam Trân,
Tú Quỳ (Huỳnh Quỳ),
Bùi Giáng,
Nguyên Ngọc,
Thu Bồn,
Nguyễn Văn Bổng,
Nguyễn Nhật Ánh
Nhạc sĩ: La Hối, Lê Trọng Nguyễn, Vương Gia Khương, Trầm Tử Thiêng, Thuận Yến
Ca sĩ: Đàm Vĩnh Hưng, Dương Triệu Vũ, Trà Quang Quy, Ngọc Ánh, Ánh Tuyết,......
Nghệ sĩ hài: Hoài Linh, Trường Giang.
Báo chí: Huỳnh Thúc Kháng, Phan Khôi, Hoàng Hải Vân (Huỳnh Kim Sánh), Phước Trịnh, Huỳnh Đức Dũng, Vu Gia (Phạm Ngọc Phúc)...
Thể thao: Lê Văn Sinh, Lê Văn Hà, Hà Minh Tuấn, Lê Phước Tứ, Trần Hữu Đông Triều,...
Chính trị:
Trước 1945:
Hiếu chiêu hoàng hậu Đoàn Quý Phi - vợ Chúa Nguyễn Phước Lan,
Thượng thư Bộ binh, thượng thư bộ hình Trương Công Hy- thời các Chúa Nguyễn và thời Tây Sơn,
Tổng đốc Hà Nội - Ninh Bình: Hoàng Diệu,
Thượng thư Bộ binh: Nguyễn Tường Vân,
Thượng thư Bộ binh: Nguyễn Điển,
Lãnh tụ Phong trào Cần Vương: Trần Văn Dư, Phó bảng Nguyễn Duy Hiệu,
Lãnh tụ Phong trào Duy Tân: Huỳnh Thúc Kháng, Phan Châu Trinh, Trần Quý Cáp,
Nhà đấu tranh nghị trường: Phan Thanh...
Từ 1945 - nay:
Võ Chí Công - Chủ tịch nước,
Huỳnh Thúc Kháng - Quyền Chủ tịch nước,
Nguyễn Thị Bình - Phó chủ tịch nước
Nguyễn Xuân Phúc - Thủ tướng Chính phủ,
Trương Quang Được -Phó Chủ tịch Quốc hội,
Mai Thúc Lân- Phó Chủ tịch Quốc hội.
Phan Diễn - Thường trực Ban bí thư Trung ương Đảng CSVN
Quốc phòng: Trương Quang Khánh, Thượng tướng Thứ trưởng Bộ Quốc phòng.
GTVT: Trương Quang Nghĩa Bộ trưởng Bộ GTVT
== Hình ảnh Quảng Nam ==
== Chú thích ==
== Liên kết ngoài ==
Lịch sử Quảng Nam trên Cổng thông tin điện tử tỉnh Quảng Nam |
windhoek.txt | Windhoek ( /ˈvɪnt.hʊk/ VINT-huuk; tiếng Đức: ; tiếng Khoekhoe: ǀAiǁgams; tiếng Otjiherero: Otjomuise) là thủ đô và thành phố lớn nhất của Cộng hòa Namibia. Nó tọa lạc tại Miền Trung Namibia, ở khu vực cao nguyên Khomas Highland, khoảng 1.700 mét (5.600 ft) trên mặt nước biển, và gần như nằm chính xác tại trung tâm quốc gia về mặc địa lý. Dân số của Windhoek năm 2011 là 325.858, và đang tăng lên so sự di cư từ khắp Namibia.
Windhoek phát triển nhanh chóng sau khi Jonker Afrikaner, tù trưởng của người Orlam, định cư tại đây năm 1840 và lập một đền thờ đá cho người dân của ông. Những thập kỷ sau đó, nhiều cuộc chiến và hoạt động vũ trang đã làm thành phố xuy kiệt và phá hủy. Windhoek được tái lập một lần nữa năm 1890 bởi Thiếu ta Đức Major Curt von François, khi vùng này trở thành của thuộc địa của Đức.
Windhoek là trung tâm kinh tế, xã hội, chính trị và văn hóa của đất nước. Gần như tất cả các tổ chức kinh doanh, cơ quan chính phủ, giáo dục và tổ chức văn hóa của Namibia đều tập trung tại đây.
== Tham khảo == |
lachnocnema.txt | Lachnocnema, commonly called Woolly Legs, là một chi bướm ngày thuộc họ Lycaenidae được tìm thấy chủ yếu ở subsaharan Africa.
== Selected species ==
Listed alphabetically.
Lachnocnema bibulus (Fabricius, 1793) – Common Woolly Legs
Lachnocnema brimo Karsch, 1893 – Western Woolly Legs
Lachnocnema busoga Bethune-Baker, 1906
Lachnocnema camerunica D'Abrera, 1980
Lachnocnema delegorguei Boisduval, 1847
Lachnocnema disrupta Talbot, 1935
Lachnocnema divergens Gaede, 1915
Lachnocnema durbani Trimen, 1887 – D'Urban's Woolly Legs
Lachnocnema exiguus Holland, 1890
Lachnocnema jacksoni Stempffer, 1967
Lachnocnema laches (Fabricius, 1793) – Southern Pied Woolly Legs
Lachnocnema luna Druce, 1910
Lachnocnema magna Aurivillius, 1895
Lachnocnema niveus Druce, 1910
Lachnocnema obliquisigna Hulstaert, 1924
Lachnocnema rectifascia Hulstaert, 1924
Lachnocnema regularis (Libert, 1996) – Regular Woolly Legs
Lachnocnema reutlingeri Holland, 1892
Lachnocnema sudanica Aurivillius, 1905
== Hình ảnh ==
== Tham khảo == |
mô đun young.txt | Mô đun Young, hay mô đun ứng suất, mô đun đàn hồi là một tính chất cơ học của các vật liệu rắn đàn hồi tuyến tính. Nó đo lực (trên một đơn vị diện tích) cần để kéo giãn (hoặc nén) một mẫu vật liệu.
Mô đun Young được đặt theo tên nhà khoa học người Anh thế kỷ 19 là Thomas Young. Tuy nhiên, quan điểm này đã được Leonhard Euler phát triển năm 1727, và các thí nghiệm đầu tiên sử dụng quan điểm của mô đun Young theo công thức lúc đó được nhà khoa học người Ý Giordano Riccati thực hiện năm 1782, trước công trình của Young 25 năm.
== Chú thích == |
carex halleriana.txt | Carex halleriana là một loài thực vật có hoa trong họ Cói. Loài này được Asso mô tả khoa học đầu tiên năm 1779.
== Hình ảnh ==
== Chú thích ==
== Liên kết ngoài ==
Phương tiện liên quan tới Carex halleriana tại Wikimedia Commons
Dữ liệu liên quan tới Carex halleriana tại Wikispecies
Vườn thực vật hoàng gia Kew; Đại học Harvard; Australian Plant Name Index (biên tập). “Carex halleriana”. International Plant Names Index. Truy cập ngày 11 tháng 6 năm 2013. |
trường trung học phổ thông số 1 sơn tịnh.txt | Trường Trung học phổ thông Số 1 Sơn Tịnh (Trường THPT Sơn Tịnh 1) là trường Công lập trực thuộc Sở GD&ĐT tỉnh Quảng Ngãi, được thành lập năm 1975
== Lịch sử Nhà trường ==
Đây là trường cấp III đầu tiên của huyện Sơn Tịnh. Trường tọa lạc tại trung tâm thị trấn Sơn Tịnh (nay là Phường Trương Quang Trọng, Thành phố Quảng Ngãi - do thay đổi địa giới hành chính), trên bờ Bắc sông Trà Khúc, ở gần núi Thiên Ấn. Tên Trường trùng với tên Huyện, đều là Sơn Tịnh. So với các huyện trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi, người Sơn Tịnh có quyền tự hào về quê hương của mình – mảnh đất địa linh, nhân kiệt.
Lúc mới thành lập, cơ sở của Trường hiện nay là chung cho 2 trường (Trường cấp II Tịnh Ấn và Trường cấp III Sơn Tịnh) với 9 phòng học nhà cấp 4 được xây dựng từ những năm cuối thập kỷ 60. Năm 1977, cơ sở trên chuyển giao cho Trường cấp III (Trường cấp II chuyển địa điểm).
Từ năm 1986, đặc biệt là từ những năm 1990 trở lại đây, khi giáo dục được xem là động lực của sự phát triển, giáo dục là quốc sách hàng đầu, Nhà nước đã có chú trọng nhiều hơn đến sự đầu tư cho giáo dục. Do vậy, đến nay, Trường THPT số 1 đã có những đổi sắc thay da. Trường có một cơ ngơi khang trang, với bốn khối công trình được xây dựng kiên cố, được bố trí thành hình chữ U, cổng Trường hướng về phía Đông; sân trường đã được bê tông hóa và rợp bóng cây xanh mát. Diện tích sân Trường tuy nhỏ so với yêu cầu nhưng có không gian rất ấm áp và thân thiện. Diện tích của Trường được mở rộng thêm gần gấp đôi so với buổi đầu Trường mới thành lập. Phòng học, phòng làm việc, phòng chức năng, trang thiết bị, dụng cụ và nhà thi đấu đa năng đảm bảo cho mọi hoạt động của Nhà trường với số lượng khoảng 2.000 học sinh.
- Hiện tại, Nhà trường đang tiến hành các thủ tục cần thiết để đổi tên từ Trường Trung học Phổ thông số 1 Sơn Tịnh thành Trường Trung học Phổ thông Võ Nguyên Giáp.
== Các thời kỳ Hiệu trưởng ==
Thầy Lưu Hà Vỹ (1975 - 1976)
Thầy Hoàng Thu Nam (1976 - 1980)
Thầy Nguyễn Tề (1980 - 1989)
Thầy Phạm Ngọc Thiệu (1989 - 2005)
Thầy Lê Doãn Thống (2005 - 2011)
Thầy Nguyễn Tân Cảnh (2011 - nay)
== Hội đồng Sư phạm ==
Ban Giám hiệu gồm có 4 Thầy, Cô giáo, với 1 Hiệu trưởng và 3 Hiệu phó phụ trách các chuyên môn.
Nhà trường có đội ngũ gồm 100 thầy, cô giáo giàu kinh nghiệm và tình yêu học trò cũng như nghề nghiệp. Có hơn 10 Giáo viên Giỏi cấp tỉnh, 30 Giáo viên dạy giỏi cấp tỉnh, 5 Giáo viên trung học cao cấp, 7 Thạc sĩ và 100% Giáo viên đạt chuẩn.
Ngoài ra, các Thầy, Cô giáo trong Nhà trường liên tục được Đảng và Chính quyền khen, tặng danh hiệu "Chiến sĩ thi đua cấp tỉnh". Được Sở và Bộ nêu gương trong cuộc thi Giáo viên dạy học theo Chủ đề tích hợp.
== Thành tích ==
Trong năm học đầu tiên, nhà trường chỉ có chưa đến 500 Học sinh và số lượng học sinh đỗ tốt nghiệp chỉ có 51 (năm 1976). Đến nay, số lượng học sinh tốt nghiệp hằng năm trung bình khoảng 600 học sinh. Vốn chăm chỉ, cần cù và say mê sáng tạo, học hỏi, học sinh đã tạo được nhiều tiếng thơm cho trường. Bộ mặt và uy tín của Nhà trường cũng được góp phần tạo dựng nên từ các em.
Tỉ lệ đỗ Đại học trong những năm gần đây của học sinh Nhà trường là khoảng 63%, đó cũng chính là động lực để các em còn đang học và sẽ học ở Trường tiếp tục cần mẫn và ham học hơn. Cùng với tỉ lệ đỗ đại học như vậy, số lượng học sinh của trường tham dự các cuộc thi Học sinh Giỏi Quốc gia, và Miền Trung - Tây Nguyên, cuộc thi giải Toán qua mạng Internet, Tiếng Anh qua mạng Internet, cuộc thi Khoa học - Kỹ thuật, cuộc thi Vận dụng kiến thức Liên môn,... ngày đang tăng.
Nhà trường còn vinh dự được đón nhận "Huân chương lao động Hạng Ba" của Chính phủ, bằng khen, giấy chứng nhận từ Bộ GD&ĐT, UBND tỉnh Quảng Ngãi, cờ thi đua của Chính phủ.
Chi bộ Đảng CSVN và Đoàn Thanh niên luôn giữ vững danh hiệu "Trong sạch và Vững mạnh".
== Chú thích == |
marcel marceau.txt | Marcel Marceau (22 tháng 3 năm 1923 - 22 tháng 12 năm 2007) là nghệ sĩ kịch câm nổi tiếng của Pháp, đặc biệt qua nhân vật chú hề Bip.
== Thời kỳ đầu ==
Ông có tên khai sinh Marcel Mangel, sinh năm 1923 tại Strasbourg, Pháp, là con trai của Anne (tên thời thiếu nữ Werzberg) và Charles Mangel.. Khi ông 4 tuổi, gia đình chuyển tới Lille, những sau đó đã quay trở lại Strasbourg khi ông bước vào tuổi thiếu niên. Ngay từ nhỏ, ông đã bị lôi cuốn bởi những bậc thầy về hài kịch và phim câm như Buster Keaton, Harold Lloyd, Laurel và Hardy, anh em nhà Marx và đặc biệt là Charlie Chaplin.
Năm ông 16 tuổi, Pháp tham gia Thế chiến II, do đó nên gia đình gốc Do Thái của ông phải chuyển từ Strasbourg, vùng gần biên giới Đức, đến Limoges. Cha ông, một người hàng thịt, bị Gestapo bắt và cuối cùng đã chết tại trại tập trung Auschwitz vào năm 1944. Marcel và chị gái mình là Alain đã lấy họ là Marceau nhằm để che giấu nguồn gốc Do Thái của mình và cũng để thể hiện sự thách thức, khi mà họ mới của hai chị em bắt nguồn từ François Séverin Marceau-Desgraviers, một vị tướng của Cách mạng Pháp. Hai chị em sau đó gia nhập kháng chiến Pháp chống lại Đức Quốc xã ở Limoges, nơi họ đã bảo vệ nhiều trẻ em Do Thái thoát khỏi các trại tập trung. Sau này hai người cũng tham gia Lực lượng Pháp tự do của Charles de Gaulle. Nhờ khả năng nói tiếng Anh xuất sắc, nên Marcel trở thành một sĩ quan liên lạc trong quân đội của George S. Patton.
Nhờ khả năng trời cho về cử động và diễn xuất cùng với niềm say mê từ thuở nhỏ, Marcel đã trở thành một diễn viên. Sau chiến tranh, năm 1946, ông trở thành học trò tại Trường kịch nghệ của Charles Dullin tại Nhà hát Sarah Bernhardt ở Paris, nơi ông đã được học với những thầy giáo như Joshua Smith và đặc biệt là bậc thầy Étienne Decroux, người đã từng dạy cho Jean-Louis Barrault. Marceau gia nhập công ty của Barrault, và được đóng vai diễn đầu tiên: Arlequin trong vở kịch câm Baptiste, dựa trên nhân vật mà Barrault đã đóng trong bộ phim nổi tiếng Les Enfants du Paradis. Buổi trình diễn của Marceau được hoan nghênh nhiệt liệt và ông được khuyến khích công diễn vở kịch câm đầu tiên do mình sáng tác, mang tên Praxitèle et le poisson d'or (Praxitele và con cá vàng) tại Nhà hát Bernhardt cũng trong năm đó. Vở diễn đã được mọi người ủng hộ và điều này cũng đánh dấu bước đầu hình thành sự nghiệp kịch câm của Marceau.
Trước khi trở thành một diễn viên kịch câm, Marcel Marceau cũng từng khiêu vũ với Rina Shaham, và bà đã kết thúc sự cộng tác của họ để theo đuổi sự nghiệp múa hiện đại tại Israel.
Marcel đã kết hôn và li dị 3 lần với:
Huguette Malle: Họ có hai con trai tên Michel và Baptiste
Ella Jaroszewicz
Anne Sicco: Họ có hai con gái tên Camille và Aurélia
== Sự nghiệp sân khấu ==
=== Nhân vật Bip ===
Năm 1947, ông sáng tạo ra nhân vật "Bip", thay đổi một chữ trong "Pip", tên một vị anh hùng yêu thích của ông trong tác phẩm Great Expectations của Charles Dickens. Đó là một chú hề lúc nào cũng mặc áo chui đầu có sọc dường như quá ngắn, một chiếc quần dường như quá dài và đội một chiếc mũ chóp méo mó có gắn trên đó một bông cẩm chướng đỏ - để biểu thị cho sự mong manh nhưng cũng rất ngọt ngào của cuộc đời. Ông luôn trang điểm cho nhân vật của mình một khuôn mặt trắng, dựa trên nhân vật Pierrot của Jean-Gaspard Deburau và cũng để nhớ đến phong cách kịch câm của Pháp trong thế kỷ 19.
Nhân vật Bip luôn gặp tai nạn với tất cả mọi thứ và ở tất cả mọi nơi: từ con bướm đến con sư tử, trên xe lửa hay trên thuyền, từ sàn nhảy cho đến hàng ăn. Giống như Pedrolino của Commedia dell'Arte và Pierrot của Deburau, Bip có một địa vị thấp kém, nhưng lại luôn luôn mơ về một điều gì đó tốt đẹp hơn. Trong một số tác phẩm như Bip đóng David và Goliath, Bip mơ mình là Don Juan, và Bip, Ngôi sao lớn của rạp xiếc, anh ta lại có những sự tưởng tượng đầy tính trẻ con. Marcel luôn để cho Bip được mơ mộng, nhưng lúc nào ông cũng bắt anh ta quay trở lại tận cùng của Trái Đất. Bip đầy sáng tạo, cũng rất dễ xúc động và dễ tổn thương, nhưng chính sự đơn giản của anh ta đã cho phép anh ta chịu đựng được mọi bất hạnh và vẫn giữ được tình yêu với cuộc đời. Ông đã từng so sánh nhân vật Bip với Don Quixote, người đã dám chống lại cả cối xay gió dù với khả năng bất lực.
Giống như Little Tramp của Charlie Chaplin, chú hề Bip đã trở thành một cái tôi khác (alter ego) của Marcel Marceau. "Sinh ra trong trí tưởng tượng của tuổi thơ tôi", Marceau đã viết: "Bip là một người hùng lãng mạn và hài hước trong thời đại của chúng ta. Anh ấy không chỉ nhìn hướng về thiên đường, mà còn vào tận trong trái tim của con người"
=== Những sáng tạo khác ===
Những động tác kịch câm của Marcel bắt nguồn từ những sáng tạo của Etienne Decroux và Jean-Louis Barrault, những người đã làm việc không mệt mỏi trong suốt những năm 1930 để tìm ra những vận động mang tính kịch của con người. Những thành quả này đem đến kĩ thuật, sự cách điệu mà cho phép những nghệ sĩ kịch câm có thể trở thành những người "làm hữu hình sự vô hình", theo câu nói của Decroux.
Khi Marcel giới thiệu những tác phẩm tương tự của ông, chúng về bản chất là những chuỗi động tác ngắn, với mục đích làm khán giả phải kinh ngạc với những kĩ năng của nghệ sĩ kịch câm và khiến họ đánh giá đúng những động tác này khi tách biệt với nội dung vở kịch. Những tác phẩm nổi tiếng của ông như Đi ngược gió, Cái cũi, Thợ làm mặt nạ, hay Trong công viên..., là sự châm biếm với tất cả mọi thứ, từ người thợ điêu khắc đến anh chàng đấu bò, được coi là những tác phẩm của thiên tài. Trong tác phẩm Tuổi trẻ, trưởng thành, tuổi già và cái chết miêu tả tuổi tác của con người, một nhà phê bình đã viết: "Ông ấy đã hoàn thành chỉ chưa đầy hai phút tất cả những gì mà hầu hết các tiểu thuyết gia không thể làm trong một bộ sách". Michael Jackson đã mô phỏng động tác Đi ngược gió (Walking against the wind) trong bước đi "moonwalk" nổi tiếng của mình.
Năm 1949, sau khi nhận giải thưởng kịch câm danh giá mang tên Deburau (thành lập để tưởng nhớ huyền thoại kịch câm Jean-Gaspard Deburau) cho vở kịch thứ hai mang tên Mort avant l'Aube (Chết trước bình minh), Marceau đã sáng lập công ty Compagnie de Mime Marcel Marceau của riêng mình - là công ty kịch câm duy nhất trên thế giới vào thời điểm đó. Đoàn của ông đã diễn tại những nhà hát hàng đầu của Paris như Théâtre des Champs-Élysées, Théâtre de la Renaissance và Théâtre Sarah-Bernhardt, cũng như nhiều nhà hát khác trên khắp thế giới. Từ 1959-1960, những vở kịch ông biểu diễn, trong số đó có Le Manteau (Chiếc áo choàng) dựa trên tác phẩm của Gogol, đã chiếm lĩnh nhà hát Amibigu Theatre ở Paris trong suốt cả năm. Tổng cộng ông đã sản xuất 15 vở kịch câm, trong dó có Pierrot de Montmartre, Un soir aux Funambules (Buổi tối đi trên dây), Les Trois Perruques (3 bộ tóc giả), Le 14 Juillet (Ngày 14 tháng 7), Paris qui Rit, Paris qui Pleure (Paris cười, Paris khóc), Con sói của Tsu Ku Mi và Don Juan (dựa trên tác phẩm của Tirso de Molina).
== Thành công trên toàn thế giới ==
Marcel đã biểu diễn trên toàn thế giới với mục đích phổ biến "nghệ thuật của sự im lặng" (L'art du silence). Ông lưu diễn lần đầu tiên đến Mỹ vào năm 1955-1956, ngay sau đêm trình diễn đầu tiên của mình tại Bắc Mỹ trong Festival Stratford của Canada. Sau buổi diễn đầu tiên tại Phoenix Theater ở New York và nhận được những lời phê bình tích cực, chuyến lưu diễn của ông tiếp tục đến với nhà hát Barrymore lớn hơn thể theo yêu cầu của công chúng. Sau lần lưu diễn đầu tiên, ông đã quay trở lại với những đêm diễn phá vỡ kỉ lục về khán giả tại San Francisco, Chicago, Washington, D.C., Philadelphia, Los Angeles và nhiều thành phố lớn khác. Tên tuổi ông đã trở nên nổi tiếng trên toàn thế giới, với những tour diễn kế tiếp đến mọi nơi trên toàn thế giới và thu hút một lượng lớn công chúng. Có thời điểm ông đã lưu diễn khoảng 200 đêm diễn trong một năm, đi xuyên qua đại dương tới Nam Mỹ, châu Phi, châu Úc, Trung Quốc, Nhật Bản, Đông Nam Á, Nga và châu Âu. Lần lưu diễn gần đây nhất của ông là ở Mỹ vào năm 2004, quay trở lại Châu Âu năm 2005 và Châu Úc năm 2006.
Nghệ thuật của Marceau đã trở nên quen thuộc với tất cả mọi người trên thế giới thông qua truyền hình. Lần xuất hiện đầu tiên của ông trong vai trò ngôi sao khách mời tại Max Liebman Show of Shows đã giúp ông nhận được một giải Emmy trong lĩnh vực truyền hình. Ông xuất hiện trên BBC với vai Scrooge trong A Christmas Carol năm 1973. Ông là khách mời quen thuộc của Johnny Carson, Merv Griffin, Mike Douglas và Dinah Shore và ông đã kết hợp với Red Skelton trong 3 chương trình về kịch câm. Ngoài ra, Marcel đã có riêng một chương trình của riêng mình mang tên "Gặp gỡ Marcel Marceau"
Marcel cũng thể hiện khả năng đa dạng của mình ở lĩnh vực điện ảnh trong các phim như: First Class, bộ phim ông đóng tới 17 vai; Shanks, bộ phim ông kết hợp cả nghệ thuật câm lặng và tài năng ngôn từ khi đóng vai một người điều khiển rối bị câm điếc và một nhà khoa học bị điên; Barbarella với vai giáo sư Ping và Silent Movie, bộ phim câm của Mel Brooks mà ông đóng vai chính mình, trong đó ông đã nói một câu duy nhất, một từ duy nhất của cả bộ phim: "Non!". Ông cũng tham gia đóng một vai trong bộ phim kinh phí thấp dựa trên câu chuyện cuộc đời ông mang tên Paint It White. Bộ phim không bao giờ được hoàn thành bởi một diễn viên trong bộ phim, một người bạn lâu năm mà ông quen khi học ở trường, đã mất khi bộ phim quay được nửa chừng.
Với vai trò một tác giả, Marcel đã xuất bản hai cuốn sách dành cho trẻ em là Marcel Marceau Alphabet Book và Marcel Marceau Counting Book, cũng như một số bài thơ và tranh minh họa, bao gồm La ballade de Paris et du Monde (Bản ballad của Paris và của thế giới), một cuốn sách tranh mà ông viết năm 1966, và The Story of Bip (Câu chuyện của Bip) được ông viết và minh họa, xuất bản bởi Harper and Row. Năm 1982, Le Troisième Œil (Con mắt thứ 3), bộ sưu tập gồm 10 tờ in thạch bản cổ do ông sưu tập, được ông chú thích và xuất bản ở Paris. Cuốn sách Pimporello cũng được xuất bản ở Paris vào năm 1987. Năm 2001, một cuốn sách ảnh mới dành cho trẻ em Bip in a Book, xuất bản bởi Stewart, Tabori & Chang, cũng xuất hiện trong các quầy sách của Mỹ, Pháp và Úc. Ông cũng viết lời đề tựa cho cuốn sách năm 1985 của nghệ sĩ đi trên dây Philippe Petit mang tên On The High Wire và cuốn sách năm 1993 của Stefan Niedzialkowski và Jonathan Winslow mang tên Beyond the Word - the World of Mime.
Năm 1978, ông thành lập ngôi trường về kịch câm ở Paris École Internationale de Mimodrame de Paris, Marcel Marceau (Trường Kịch câm Quốc tế Paris, Marcel Marceau). Năm 1996, ông thành lập Quỹ Marceau để thúc đẩy nghệ thuật kịch câm ở Hoa Kỳ.
Năm 1995, ông cùng Michael Jackson dự định một đêm diễn cho HBO, những dự án không được hoàn thành. Năm 1999, sau khi Marceau trở lại với những đêm diễn solo quen thuộc của mình ở New York và San Francisco sau 15 năm vắng bóng những thành công về phê bình và doanh thu, sự nghiệp của ông được phục hưng cùng với sự ủng hộ mạnh mẽ của công chúng. Ông sau đó tiếp tục đi đến những nhà hát lớn của Mỹ như Ford's Theatre ở Washington, D.C., American Repertory Theatre ở Cambridge, Massachusetts, và Geffen Playhouse ở Los Angeles. Thập niên 1990-2000, ông cùng công ty của mình tiếp tục thực hiện những vở kịch câm như Le Chapeau Melon (Mũ quả dưa) và Les Contes Fantastiques (Câu chuyện tưởng tượng) và công diễn ở Pháp, Mỹ và nhiều nơi trên thế giới.
Ông mất vào ngày 22 tháng 12 năm 2007 tại nhà riêng ở Cahors vào đúng ngày lễ Yom Kippur của người Do Thái, ở tuổi 84. Hài cốt của Marcel Marceau được chôn cất tại Nghĩa trang Père-Lachaise ở Paris.
== Vinh danh ==
Ông đã được Chính phủ Pháp trao tặng Huân chương Bắc đẩu bội tinh bậc sĩ quan, và năm 1978, ông được nhận Médaille Vermeil de la Ville de Paris. Tháng 11 năm 1998, ông được Tổng thống Jacques Chirac trao tặng Huân chương Quốc gia Mérite dành cho bậc Đại sĩ quan. Ông là thành viên của Viện Mỹ thuật Berlin, Viện Mỹ thuật Munich, Viện hàn lâm Mỹ thuật của Institut de France.
Marceau đã được nhận học vị tiến sĩ danh dự của Đại học bang Ohio, Cao đẳng Linfield, Đại học Princeton và Đại học Michigan.
Năm 1999, thành phố New York đã lấy ngày 18 tháng 3 làm ngày Marcel Marceau (Marcel Marceau Day).
Ông trở thành người thứ 11 được nhận Huy chương Wallenberg vào ngày 30 tháng 4 năm 2001. Tháng 4 năm 2002, ông trở thành Đại sứ thiện chí của Liên Hiệp Quốc cho những người cao tuổi.
== Trong văn hóa đại chúng ==
Tác phẩm Sáng tạo thế giới của Marcel, kể lại hai chương đầu trong Sách Sáng thế, lại được thể hiện lại bởi Axel Jodorowsky trong bộ phim năm 1989 Santa Sangre của Alejandro Jodorowsky.
Ông được nhắc đến trong ca khúc của "Weird Al" Yankovic mang tên She Never Told Me She Was A Mime: "[she] Carries 'round a picture of Marcel Marceau...".
Nghệ sĩ kịch câm Nhật Bản Maruse Taro chịu ảnh hưởng lớn bởi Marcel Marceau, và nghệ danh của ông bắt nguồn từ tên Marceau.
Một diễn viên kịch câm có hình dạng giống như Marcel xuất hiện trong video năm 1991 của Dwight Yoakam It Only Hurts When I Cry.
Marcel Marceau đã bị nhại lại trong một số chương trình của Anh, ví dụ như Kenny Everett trong vai Maurice Mimer hay Alexei Sayle trong vai Monsieur Obergine.
Trong Pokémon Red and Blue, có một Mr. Mime mang tên là Marcel.
== Các phim đã tham gia ==
=== Diễn xuất ===
Joseph's Gift (1998).... The Snake
Kinski Paganini (1989).... Pantomime
Elogio della pazzia (1986)
Îles, Les (1983).... Directeur de l'IGN
Shanks (1974).... Malcolm Shanks/Old Walker (ông còn là biên đạo múa cho bộ phim)
Barbarella (1968).... Giáo sư Ping
Yego zvali Robert (1967)
Es (1966))
"The Red Skelton Show".... Bib (1966)
Schöne Lügnerin, Die (1959).... Mit seinem Ensemble
Un jardin public (1955).... La statue qui s'anime
Pantomimes (1954)
Journal masculin (1951)
Bague, La (1947)
=== Trong vai chính mình ===
Spine Tingler! The William Castle Story (2007)
"Silent Clowns" (2006)
"HermanSIC" (2003)
Charlie: The Life and Art of Charles Chaplin (2003)
AFI's 100 Years, 100 Laughs: America's Funniest Movies (2000) (TV)
"Lauren Hutton and...".... Himself (1996)
Constellation Jodorowsky, La (1994)
Jonathan Ross Presents for One Week Only: Alejandro Jodorowsky (1991) (TV)
"Laugh-In" (1977, chương trình TV)
Silent Movie (1976)
"Good Morning America" (1975)
Giải Oscar thường niên lần thứ 46 (1974) (TV)
"The Tonight Show Starring Johnny Carson" (5 tập, 1970-1973)
"MisteRogers' Neighborhood" (1973)
"The David Frost Show" (1971)
"The Flip Wilson Show" (1970)
"Rowan & Martin's Laugh-In" (2 tập, 1968-1969)
Chut, chut, Marceau (1968) (TV)
"The Hollywood Palace" (1966)
Portrait-souvenir: Molière (1963) (TV)
"The Dinah Shore Chevy Show" (2 tập, 1956-1959)
"Toast of the Town" (4 tập, 1956-1958)
== Tham khảo ==
== Liên kết ngoài ==
Marcel Marceau trên The Internet Movie Database
Obituary in The Times
An Audio Remembrance by Rob Mermin former student of The Maestro.
The World of Mime Theatre Library: Marcel Marceau
Compagnie Bodecker&Neander: Alexander Neander and Wolfram v. Bodecker are assistants and members of the Compagnie MARCEL MARCEAU.
"World's Smallest Page of Movie Quotes"
Salon - Brilliant Careers
L'école Marceau
Obituary and Tribute
Obituary (Hungarian)
Condolence book (Hungarian)
International corporeal mime school in Barcelona - MOVEO Project
"Walking Against The Wind" by Laraine Newman |
yamaha.txt | Công ty công nghiệp Yamaha (ヤマハ株式会社/Yamaha Corporation) là một công ty Nhật Bản chuyên nhiều lĩnh vực khác nhau từ những dụng cụ âm nhạc, động cơ, xe gắn máy cho đến những thiết bị điện.
== Lịch sử ==
Yamaha ban đầu là một công ty chế tạo đàn piano, Torakusu Yamaha là người sáng lập vào năm 1887 tại thành phố Hamamatsu, quận Shizouaka, Nhật Bản.
Nhờ nắm được công nghệ chế tạo hợp kim nhẹ, bền trong các chi tiết của đàn piano nên từ sau Thế Chiến thứ 2, Yamaha bắt đầu ứng dụng thành công những kinh nghiệm đó vào sản xuất động cơ và xe máy.
Yamaha Motors hiện là nhà sản xuất xe máy lớn thứ 2 thế giới, đội đua Yamaha có tay đua kỳ cựu Valentino Rossi.
Hiện diện tại Việt Nam từ 1996, Yamaha Việt Nam luôn đi đầu trong việc nghiên cứu và chế tạo ra các mẫu xe có thiết kế thể thao, đẹp mắt, động cơ, mạnh và ổn định.
== Tham khảo ==
== Liên kết ngoài == |
samsung galaxy s7.txt | Samsung Galaxy S7 và S7 Edge là điện thoại thông minh chạy hệ điều hành Android sản xuất và phân phối bởi Samsung Electronics. S7 là sự kế thừa của Galaxy S6 và S6 Edge giới thiệu vào năm 2015, và nó chính thức được công bố vào 21 tháng 2 năm 2016 trong suốt buổi họp báo của Samsung tại Triển lãm di động toàn cầu, nó được bán ra tại châu Âu và Bắc Mỹ từ 11 tháng 3 năm 2016. Giống như S6, S7 là bản chuẩn, cùng với biến thể "Edge" có màn hình cong dọc theo thiết bị.
Galaxy S7 là một sự biến đổi so với những năm trước, khôi phục lại thiết kế từ Galaxy S5 như chứng chỉ IP chống nước và bụi, cũng như bộ nhớ mở rộng.
== Tham khảo == |
sò mai.txt | Sò mai hay còn gọi là sò biên mai là một loài động vật thân mềm hai mảnh vỏ thuộc họ sò, chúng sống ở sâu dưới đáy biển. Chúng là loài động vật có giá trị và được dùng làm nguyên liệu cho món ăn còi biên mai, món ăn đặc sản tại Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang và nó cũng là đặc sản của vùng đảo Cù Lao Chàm thuộc Quảng Nam. Một số nơi ngư dân còn gọi là con bắp chuối vì nó có thân lớn, vỏ phình ra giống như bắp chuối.
== Đặc điểm ==
Sò mai là một loại sò biển có hình dáng to gần bằng con ốc cánh tiên, hình tam giác, to cỡ mu bàn tay người lớn, nó có thân lớn, vỏ phình ra giống như bắp chuối, sò biên mai cũng có màu nâu thẫm, dạng nan quạt dẹp, suôn dài như cây quạt khép hờ, trọng lượng hơn cả ký (nặng gấp nhiều lần sò huyết)/. Nhìn chung, về hình dáng, sò mai có hai mảnh vỏ giống hình tam giác úp lại, bên trong là phần thịt sò.
Chúng có nhiều thịt nhung nhão ăn không ngon, nhưng phần ngon nhất của sò biên mai chính là phần cơ thịt nối liền hai mảnh của vỏ sò gọi là còi hay cồi. Phần còi này có màu trắng, dày và to khoảng bằng ngón tay cái, vị ngọt và dai Loại sò này thịt nhão, người ta chỉ dùng phần còi tròn cỡ đồng xu trắng phau để chế biến món ăn, thịt thân con biên mai nhão, không ngon. Duy nhất chỉ có 2 lớp cơ thịt (to cỡ đồng xu, dày chừng nửa lóng tay) nối liền 2 mảnh vỏ gọi là "còi" là ngon nhất.
== Trong ẩm thực ==
Sò mai được dùng để chế biến thành nhiều món ăn ngon và lạ.
=== Các món ===
Một số món ăn ngon có thể kể đến như sò mai hấp tỏi, sò mai tách vỏ làm sạch. giữ lại một bên vỏ chứa thịt đặt trên đĩa, cho bún tàu đã trụng qua nước sôi vào. Tách thân sò ra khỏi vỏ đưa vào miệng nhai đến khi thấy dai dai, ngọt thơm. Món sò mai nướng, nướng chừng vài phút cho sò há miệng. Dùng tay gỡ một mặt vỏ sò, giữ lại bên chứa thịt rồi đặt vào nướng tiếp. Khi sò bắt đầu tiết nước thì rưới mỡ hành lên trên, tiếp tục nướng. Cháo sò nóng, sò mai đã hấp, gỡ thịt phi hành thơm rồi xào qua, tất cả cho vào nồi cháo đang sôi. Xong thêm tiêu chín đập dập, gừng giã nhỏ ngoài ra còn có món sò mai nướng mỡ hành để thưởng thức được trọn vẹn hương vị của còi biên mai thì có món nướng muối ớt, nướng chao hay nướng sa tế là ngon nhất. Chỉ khi nướng, từng phần còi săn lại thấm đẫm vị mằn mặn, cay cay của ớt
=== Còi biên mai ===
Còi biên mai là một trong năm món ăn đặc sản tại Phú Quốc thuộc tỉnh Kiên Giang là một hòn đảo lớn ở phía tây Việt Nam. Còi biên mai có thể chế biến nhiều món ăn ngon mang hương vị biển như: xào (nấm rơm, nấm đông cô, củ hành, cải bẹ xanh), nướng muối ớt, nướng chao, nhúng lẩu… Còi biên mai mua ở chợ về rửa nước lạnh pha ít muối cho sạch, để ra rổ cho ráo. Sả ớt bằm nhuyễn để sẵn ra chén. Bắc chảo lên bếp phi dầu mỡ và sả ớt cho thơm rồi cho còi biên mai vào xào cùng gia vị. Dùng xạng đảo nhiều lần cho thịt ngấm đều. Gần 10 phút sau thấy nước gia vị rút vào còi biên mai hơi sền sệt là chín.
== Tham khảo ==
== Liên kết ngoài ==
Còi biên mai muối ớt
Đến Phú Quốc ăn Còi Biên Mai |
trường đại học bách khoa hà nội.txt | Trường Đại học Bách khoa Hà Nội (tiếng Anh: Hanoi University of Science and Technology, viết tắt là HUST, tiếng Pháp: Institut Polytechnique de Hanoï) là trong những trường đại học kỹ thuật đa ngành hàng đầu tại Việt Nam, một trong các trường đại học trọng điểm quốc gia Việt Nam. Trường là một trong 13 thành viên của Hiệp hội các trường đại học kỹ thuật hàng đầu châu Á - Thái Bình Dương AOTULE (Asia-Oceania Top University League on Engineering).
Hiện nay Hiệu trưởng ĐHBKHN là PGS. TS Hoàng Minh Sơn.
== Lịch sử ==
Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội được thành lập theo Nghị định số 147/NĐ ngày 6-3-1956 do Bộ trưởng Bộ Giáo dục Việt Nam Nguyễn Văn Huyên ký. Đây là trường đại học kỹ thuật đầu tiên của Việt Nam có nhiệm vụ đào tạo kỹ sư công nghiệp cho công cuộc xây dựng CNXH ở miền Bắc và đấu tranh giải phóng miền nam Việt Nam. Với 60 năm xây dựng và phát triển, Đại học Bách Khoa Hà Nội đã trải qua 4 giai đoạn:
=== Giai đoạn 1956-1965 ===
Trong giai đoạn này các thế hệ cán bộ và sinh viên của Trường đã trải qua chặng đường đầu tiên với muôn vàn khó khăn, thách thức. Trường đã bắt đầu gần như từ không đến có để trở thành một trường đại học kỹ thuật công nghiệp tương đối hoàn chỉnh. Ngày 15-10-1956 trường đã chính thức làm Lễ khai giảng khóa học chính quy đầu tiên cho gần 1000 sinh viên thuộc 14 chuyên ngành của 4 Liên khoa Cơ - Điện, Mỏ - Luyện kim, Hóa - Thực phẩm và Xây dựng. Trong giai đoạn này đã đào tạo khoảng 4000 kỹ sư công nghiệp hệ chính quy, thực hiện hơn 100 đề tài nghiên cứu khoa học và hợp đồng kinh tế - kỹ thuật.
=== Giai đoạn 1965-1975 ===
Trong giai đoạn này Trường đã không ngừng phát triển về số lượng, nâng cao về chất lượng toàn diện để tham gia xây dựng CNXH trước mắt và lâu dài. Gắn nội dung giảng dạy và nghiên cứu khoa học với cuộc cách mạng kỹ thuật, đào tạo cán bộ thích ứng với yêu cầu về kinh tế, quốc phòng của Việt Nam. Trường đã nghiên cứu và ứng dụng thành công nhiều đề tài vào sản xuất và phục vụ quốc phòng. Trường đã đào tạo được gần 7000 SV tốt nghiệp hệ chính quy và 2302 SV hệ tại chức thuộc 58 chuyên ngành. Hưởng ứng phong trào "Ba sẵn sàng", gần 200 cán bộ và trên 2700 SV lần lượt nhập ngũ bổ sung kịp thời một số đáng kể cán bộ kỹ thuật cho quân đội nhân dân Việt Nam.
=== Giai đoạn 1975-1985 ===
Trường đã triển khai và thực hiện kế hoạch đào tạo đáp ứng nhu cầu cán bộ kỹ thuật của Việt Nam về số lượng, chất lượng và đa dạng ngành nghề. Trường đã tiến hành cải tiến nội dung chương trình, phương pháp đào tạo, kết hợp học với hành, kết hợp nghiên cứu tại Trường với phục vụ sản xuất. Để đáp ứng nhu cầu cán bộ Khoa học- kỹ thuật trình độ cao, năm 1976 Trường đã mở hệ đào tạo sau đại học và năm 1979 bắt đầu tuyển nghiên cứu sinh thuộc 9 chuyên ngành. Trong giai đoạn này được sự quan tâm của Đảng, Chính phủ Việt Nam, đặc biệt là sự giúp đỡ của Liên Xô, cơ sở vật chất và trang thiết bị đã được hiện đại hóa. Việc đào tạo và bồi dưỡng cán bộ trong giai đoạn này đã tiến bộ vượt bậc, tính đến năm 1985 số cán bộ giáo dục và phục vụ giáo dục là 1467 người, trong đó có trên 33% cán bộ giảng dạy có trình độ sau đại học, đã đào tạo gần 9000 kỹ sư hệ chính quy, 2200 kỹ sư hệ tại chức và 26 tiến sĩ, phó tiến sĩ.
=== Giai đoạn 1986 đến nay ===
Thực hiện mục tiêu chiến lược xây dựng trường Đại học Bách Khoa Hà Nội không chỉ là trung tâm đào tạo đa ngành, đa lĩnh vực, trình độ cao mà còn là trung tâm Nghiên cứu khoa học - chuyển giao công nghệ tiên tiến của Việt Nam. Trường đã tăng cường quy mô đào tạo của cả hệ ĐH và sau ĐH, đa dạng hóa loại hình đào tạo, mở thêm ngành và chuyên ngành mới, đổi mới căn bản mục tiêu, nội dung chương trình và phương thức đào tạo.
Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội đang đào tạo trên 40.000 SV, học viên cao học và nghiên cứu sinh với 67 chuyên ngành đại học và 33 chuyên ngành cao học, 57 chuyên ngành tiến sĩ.
Hiện nay Trường có quan hệ hợp tác trong đào tạo, Nghiên cứu khoa học với trên 200 trường đại học, trung tâm Nghiên cứu khoa học, viện nghiên cứu và tổ chức giáo dục của 32 quốc gia trên thế giới, là thành viên của 8 tổ chức mạng lưới đại học quốc tế. Thông qua hợp tác quốc tế, trường đã cử khoảng 500 cán bộ và sinh viên đi nước ngoài học tập, nghiên cứu, trao đổi,...Xây dựng hàng chục dự án quốc tế về đào tạo, trang bị, Nghiên cứu khoa học để góp phần tăng cường cơ sở vật chất cho Trường.
Bộ GD-ĐT Việt Nam đã giao cho trường Đại học Bách Khoa Hà Nội thực hiện bốn chương trình đào tạo tiên tiến là chương trình Cơ - Điện tử, Công nghệ Vật liệu, Điện - Điện tử và Kỹ thuật Y Sinh. Từ năm 1986 đến nay cơ sở vật chất của Trường đã được cải tạo và nâng cấp một cách cơ bản, cơ sở hạ tầng và cảnh quan đã khang trang sạch đẹp hơn nhiều, đã đầu tư nhiều phòng thí nghiệm hiện đại, xây dựng và đang thực hiện nhiều dự án lớn phục vụ công tác đào tạo và nghiên cứu khoa học ở trình độ cao. Điều kiện làm việc và đời sống vật chất, tinh thần của cán bộ, sinh viên không ngừng được cải thiện. Đặc biệt, tháng 9/2006 Trường đã đưa vào sử dụng Thư viện điện tử Tạ Quang Bửu với mức đầu tư 199 tỷ VNĐ.
Năm 2006, Trường đã xây dựng Đề án: ‘‘Quy hoạch tổng thể xây dựng và phát triển trường Đại học Bách Khoa Hà Nội giai đoạn 2006-2030. Ngày 01 tháng 02 năm 2007, Bộ trưởng Bộ GD - ĐT Nguyễn Thiện Nhân đã ký Quyết định số 668/QĐ-BGDĐT phê duyệt bản Đề án này.
== Nhân sự ==
Tính đến năm 2010,Tổng số cán bộ, công chức gồm 1950 cán bộ, với 1192 giảng viên và 394 cán bộ phục vụ giảng dạy và NCKH. Tính từ ngày thành lập năm 1956 đến nay, trong số các cán bộ giảng dạy và quản lý tại Đại học Bách Khoa Hà Nội có:
Nhà giáo nhân dân và ưu tú: 154
Giáo sư và Phó giáo sư: 399
Tiến sĩ khoa học và Tiến sĩ: 703
Thạc sĩ: 1200
Tỷ lệ CBGD tham gia nghiên cứu khoa học (tính theo số báo cáo KH từ cấp trường trở lên trong 5 năm 2002-2006). Tỷ lệ CBGD có 1 báo cáo KH: 26,50% Tỷ lệ CBGD có 2 báo cáo KH: 8,60% Tỷ lệ CBGD có 3 báo cáo KH: 10,03% Tỷ lệ CBGD có 4 báo cáo KH: 6,30% Tỷ lệ CBGD có 5 báo cáo KH trở lên: 24,70%
Ngoài ra, có 2 tập thể, 3 cá nhân Anh hùng Lao động, 4 Chiến sĩ thi đua toàn quốc, 2 nhóm tác giả được tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh. Đây là đội ngũ cán bộ có uy tín, kinh nghiệm, nhiệt huyết trong hoạt động đào tạo nghiệp vụ và quản lý, trong nghiên cứu khoa học và chuyển giao công nghệ.
== Cơ sở vật chất ==
Trường Đại học Bách khoa Hà Nội có tổng diện tích phục vụ giảng dạy, nghiên cứu khoa học và hội họp rộng 26,2 hecta. Trường có hơn 200 giảng đường, phòng học, hội trường lớn và hệ thống phòng hội thảo; gần 200 phòng thí nghiệm, trong đó có 8 phòng thí nghiệm trọng điểm quốc gia và khoảng 20 xưởng thực tập, thực hành. Các hệ thống cơ sở vật chất phục vụ bộ môn giáo dục thể chất và phong trào thể thao của sinh viên đầy đủ và hiện đại với 1 sân bóng tiêu chuẩn quốc gia, 1 nhà thi đấu đa năng tiêu chuẩn Đông Nam Á, 1 bể bơi tiêu chuẩn quốc gia, sân tennis tiêu chuẩn quốc gia... Trường có một khu ký túc xá với 420 phòng, đủ khả năng đáp ứng chỗ ở cho khoảng trên 4200 sinh viên Tổng diện tích đất sử dụng của Trường: 252.857,8 m², nơi làm việc 15.252m², nơi học78.846m², nơi vui chơi giải trí: 29.321 m²., 1 nhà câu lạc bộ sinh viên với 350 chỗ được trang bị âm thanh hiện đại và 1 trung tâm y tế.
=== Các cấp đào tạo ===
Trường Đại học Bách khoa Hà Nội đang đào tạo khoảng 40.000 sinh viên(2014), học viên cao học và nghiên cứu sinh với:
Kỹ sư: 75 chuyên ngành
Thạc sĩ: 33 mã ngành
Tiến sĩ: 57 chuyên ngành
=== Số lượng tuyển sinh hàng năm ===
Hệ đại học:
5.600 sinh viên chính quy (2015)
150 sinh viên văn bằng 2 chính quy (2016)
2.000 sinh viên tại chức
1000 sinh viên thuộc chương trình đào tạo hợp tác với nước ngoài
Hệ sau đại học:
1.000 - 1.200 học viên
60 - 70 nghiên cứu sinh
Ngoài ra còn có thêm chỉ tiêu hệ đại học và hệ liên thông đại học hàng năm
== Tổ chức ==
Năm 2007, trường có 88 bộ môn, 15 trung tâm và phòng thí nghiệm thuộc 15 khoa và 6 viện; 1 bộ môn, 26 trung tâm và phòng thí nghiệm trọng điểm trực thuộc trường, 3 doanh nghiệp, 21 phòng, ban và nhà xuất bản Bách khoa Hà Nội.
Danh sách các khoa, viện đào tạo
Viện Điện;
Viện Cơ khí;
Viện Cơ khí động lực;
Viện Điện tử - Viễn thông;
Viện Kỹ thuật hoá học;
Viện Vật lý kỹ thuật;
Viện Toán ứng dụng và Tin học;
Viện Công nghệ thông tin và truyền thông;
Viện Khoa học và kỹ thuật vật liệu;
Viện Công nghệ sinh học và công nghệ thực phẩm;
Viện Kỹ thuật Hạt nhân và Vật lý Môi trường;
Viện Khoa học và công nghệ môi trường;
Viện Khoa học và công nghệ nhiệt lạnh;
Viện Dệt may-Da giầy và Thời trang;
Viện Khoa học và kỹ thuật vật liệu;
Viện Kinh tế và quản lý;
Viện Ngoại ngữ;
Viện Sư phạm Kỹ thuật;
Viện Đào tạo sau đại học;
Viện Đào tạo liên tục;
Viện Đào tạo Quốc tế;
Viện Kỹ thuật điều khiển và Tự động hóa;
Viện Đào tạo quốc tế về khoa học vật liệu;
Viện Nghiên cứu quốc tế MICA;
Viện Tiên tiến khoa học và công nghệ;
Khoa Lý luận chính trị;
Khoa Giáo dục quốc phòng;
Khoa Giáo dục thể chất;
Danh sách các trung tâm nghiên cứu
Trung tâm nghiên cứu vật liệu Polyme
Trung tâm nghiên cứu vật liệu học và hợp kim đặc biệt
Trung tâm nghiên cứu ăn mòn và bảo vệ kim loại;
Trung tâm Nghiên cứu Năng lượng mới;
Trung tâm Nghiên cứu Quốc tế về Khoa học Vật liệu tính toán;
Trung tâm Hợp tác Quốc tế R&D Định vị sử dụng Vệ tinh (NAVIS);
Trung tâm Thông tin Năng lượng nguyên tử;
Trung tâm phần mềm và giải pháp an ninh mạng;
Trung tâm tính toán hiệu năng cao;
Trung tâm phát triển và ứng dụng phần mềm công nghiệp (DASI);
Trung tâm bảo dưỡng công nghiệp;
Trung tâm hợp tác khoa học kỹ thuật Việt Đức;
Trung tâm điện tử Y - Sinh;
Trung tâm Ngoại ngữ CFL
Trung tâm tiếng Pháp chuyên ngành;
Trung tâm đào tạo tài năng và chất lượng cao;
Chương trình PFIEV;
Chương trình đào tạo tiên tiến;
Dự án HEDSPI;
Chương trình VLIR-HUST;
Chương trình hợp tác đào tạo quốc tế Genetic Bách Khoa;
Danh sách các Các đơn vị thành viên khác
Trường Cao đẳng nghề Bách khoa Hà Nội;
Học viện Công nghệ thông tin Bách Khoa;
Công ty TNHH MTV Đầu tư và Phát triển Công nghệ Bách Khoa Hà Nội (BK-Holdings);
Công ty TNHH MTV tư vấn & chuyển giao công nghệ Bách Khoa;
Các phòng ban chức năng khác...
== Các ngành đào tạo từ năm 2009 ==
== Thành tích đào tạo ==
Từ lúc lập trường đến năm 2007, trường đã đào tạo được
trên 80.000 kỹ sư
trên 2.000 thạc sĩ
gần 400 tiến sĩ và tiến sĩ khoa học
== Các mốc lịch sử ==
Ngày 6 tháng 3 năm 1956: Bộ trưởng Quốc gia Giáo dục Việt Nam Dân chủ Cộng hòa là Nguyễn Văn Huyên ký nghị định số 147/NĐ về việc thành lập Trường Đại học Chuyên nghiệp Bách khoa. Thiếu tướng, Giáo sư, Kỹ sư vũ khí Trần Đại Nghĩa được bổ nhiệm làm giám đốc.
Ngày 15 tháng 10 năm 1956: Khai giảng khóa 1 (K1) cho 848 sinh viên chính quy trong 14 ngành học thuộc 4 liên khoa: Cơ-Điện, Mỏ-Luyện kim, Xây dựng, Hóa-Thực phẩm.
Ngày 15 tháng 3 năm 1960: Khởi công xây dựng trụ sở tại đường Đại Cồ Việt do Liên Xô tài trợ.
Tháng 10 năm 1961: Trường làm lễ phát bằng tốt nghiệp cho 633 kỹ sư khóa 1.
Năm học 1966-1967: Các khoa Xây dựng, Mỏ-Địa chất tách thành Trường Đại học Xây dựng Hà Nội, Trường Đại học Mỏ - Địa chất. Các bộ môn Dệt và Thực phẩm tách thành Trường Đại học Công nghiệp nhẹ.
Năm 1968, gần 200 cán bộ và hơn 2700 sinh viên của trường đã tham gia Quân đội Nhân dân Việt Nam.
Trong Chiến tranh Việt Nam, khoa Vô tuyến điện (tiền thân của khoa Điện tử - Viễn thông ngày nay) đã nghiên cứu và thực hiện thành công nhiều đề tài quan trọng phục vụ chiến đấu, điển hình là đề tài rà phá bom từ trường, đề tài phục hồi 4 hệ thống thông tin vi ba của đài phát thanh "Tiếng nói Việt Nam"...
Sau sự kiện 30 tháng 4 năm 1975, trường thực hiện nhiệm vụ cung cấp cán bộ khung cho Trường Đại học Bách khoa Thành phố Hồ Chí Minh, Trường Đại học Bách khoa Đà Nẵng, Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Thủ Đức (tiền thân của Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Thành phố Hồ Chí Minh ngày nay), Trường Đại học Tây Nguyên và hiện nay là Trường Đại học Điện lực, Trường Đại học Công nghiệp Hà Nội...
Năm 1976: Trường mở hệ đào tạo sau đại học.
Ngày 13 tháng 2 năm 1976: Tạ Văn Đĩnh, cán bộ giảng dạy Khoa Toán lý là người đầu tiên bảo vệ thành công luận án phó tiến sĩ tại trường và là một trong 2 người bảo vệ luận án phó tiến sĩ đầu tiên tại Việt Nam.
Năm 1977: Trường Công nghiệp nhẹ sáp nhập lại vào Trường Đại học Bách khoa Hà nội.
Ngày 6 tháng 1 năm 1984: Đỗ Sanh, cán bộ giảng dạy Khoa Chế tạo máy là người đầu tiên bảo vệ thành công luận án tiến sĩ khoa học tại trường.
Ngày 26 tháng 4 năm 2006, Trường nhận danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân Việt Nam.[5]
== Các danh hiệu đã được phong tặng ==
Huân chương chiến công hạng III (năm 1973) cho nhóm cán bộ tham gia đề tài GK1;
Danh hiệu Anh hùng Lao động (năm 1984) cho tập thể cán bộ, giảng viên bộ môn Thiết bị điện - điện tử, khoa điện
Danh hiệu Anh hùng Lao động (năm 2000) cho tập thể cán bộ, giảng viên trường;
Huân chương Hồ Chí Minh (2001);
Danh hiệu Anh hùng Lao động (năm 2005) cho tập thể cán bộ, giảng viên bộ môn hệ thống điện, khoa điện.
Ngoài ra, trường còn được trao tặng nhiều huân chương các loại. Nhiều đơn vị, cá nhân được nhà nước trao tặng huân chương lao động hạng nhất, nhì, ba và giải thưởng Hồ Chí Minh về khoa học công nghệ.
== Các vị hiệu trưởng ==
== Thư viện Tạ Quang Bửu ==
Ngày 7 tháng 10 năm 2006, thư viện Tạ Quang Bửu-công trình kỉ niệm 50 thành lập trường Đại học Bách Khoa Hà Nội-được khánh thành. Tổng vốn đầu tư cho xây dựng thư viện Tạ Quang Bửu là hơn 200 tỉ đồng. Thư viện Tạ Quang Bửu hiện là một trong những thư viện lớn nhất trong hệ thống thư viện đại học ở Việt Nam, bao gồm 1 toà nhà 10 tầng với tổng diện tích 37.000m².
Từ tầng 1 tới tầng 5 là hệ thống phòng đọc mở (người đọc có thể tự tìm kiếm, tra cứu sách và tài liệu). Thư viện có hai phòng học đa phương tiện với quy mô mỗi phòng 150 máy tính được kết nối Internet giúp sinh viên truy cập miễn phí. Thư viện có khả năng phục vụ cùng một lúc hơn 2000 sinh viên.
Tổng số máy tính của trường: 2.421. Dùng cho hệ thống văn phòng: 632. Dùng cho sinh viên học tập: 1.789. Mạng thông tin:
Trang web của Thư viện với hơn 600 000 đầu sách và cung cấp các truy cập đến các cơ sở dữ liệu trực tuyến như Science Direct, IEEE, ACM.
Trang web của Trung tâm Mạng thông tin cung cấp các thông tin cần thiết về các dịch vụ công nghệ của trường ĐH Bách Khoa Hà Nội từ email, tài khoản truy cập Internet, kết nối mạng nội bộ...
== Nhà xuất bản Bách khoa ==
Nhà xuất bản Bách Khoa – Hà Nội (gọi tắt là Nhà xuất bản) được thành lập vào ngày 24/10/ 2005 - là đơn vị xuất bản trực thuộc trường Đại học Bách Khoa Hà Nội (ĐHBKHN), có tôn chỉ, chức năng sau:
1. Tổ chức xuất bản các xuất bản phẩm văn hóa, khoa học, các loại sách giáo trình, chuyên khảo, sách tham khảo phục vụ cho các hệ đào tạo của trường ĐHBKHN, khối các trường Khoa học kĩ thuật và độc giả trên toàn quốc.
2. Tham mưu cho Ban Giám hiệu trường ĐHBKHN quản lý thống nhất và nâng cao chất lượng công tác xuất bản sách và giáo trình của Trường để phục vụ cho công tác giảng dạy, nghiên cứu khoa học, thông tin tuyên truyền, hướng dẫn thực hiện các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước, phục vụ cho sự nghiệp đào tạo, bồi dưỡng cán bộ các cấp nói riêng và sự nghiệp phát triển khoa học công nghệ của nước nhà.
Các thành viên trong ban lãnh đạo của Nhà xuất bản đều là các cán bộ, giảng viên của Trường.
Giám đốc Nhà xuất bản Bách Khoa: TS Bùi Đức Hùng
Tổng biên tập: TS Phùng Lan Hương
Phó giám đốc: ThS Ngụy Thị Liễu
Phó giám đốc: TS Hoàng Tuấn Bằng
=== Nhà sách Bách khoa ===
Trung tâm Sách Bách Khoa (Nhà sách Bách khoa) chịu trách nhiệm giới thiệu và phát hành các ấn phẩm do Nhà xuất bản Bách Khoa phát hành. Kinh doanh các loại sách khoa học kỹ thuật, sách giáo trình, sách đời sống, sách văn học, sách ngoại ngữ, sách tham khảo. Kinh doanh các loại văn hoá phẩm, văn phòng phẩm, đồ lưu niệm và nhiều mặt hàng khác phục vụ sinh viên và độc giả khác.
Địa chỉ: Số 17, phố Tạ Quang Bửu, phường Bách Khoa, quận Hai Bà Trưng, Hà Nội
=== Nhà In ===
Nhà In chịu trách nhiệm in các loại ấn phẩm cho Nhà xuất bản. Hợp đồng in các loại ấn phẩm trong phạm vi kinh doanh của Nhà xuất bản và các đối tác.
== Cựu sinh viên và cựu giảng viên nổi tiếng ==
Vũ Đình Cự: Phó chủ tịch quốc hội, giải thưởng Hồ Chí Minh đợt 1 về khoa học và kỹ thuật, cựu giảng viên nhà trường.
Trương Đình Tuyển : nguyên Bộ trưởng Bộ Thương mại
Phạm Gia Khiêm: Nguyên Phó Thủ tướng kiêm Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Việt Nam
Hoàng Trung Hải: K21, Khoa Điện; nguyên Bộ trưởng Bộ Công nghiệp, Phó Thủ tướng Chính phủ Việt Nam
Vũ Xuân Thiều: Anh hùng bắn rơi máy bay B52 năm 1972
Phạm Thế Duyệt: Chủ tịch Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, cựu sinh viên Khoa Mỏ-Địa chất, nay là Đại học Mỏ-Địa chất Hà Nội.
Hoàng Văn Phong: nguyên Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ.
Nguyễn Minh Hiển: nguyên Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo
Nguyễn Tiến Sâm, Anh hùng Lực lượng Vũ trang Nhân dân, Phi công Quân đội Nhân dân Việt Nam; nguyên Thứ trưởng Bộ Giao thông Vận tải, Cục trưởng Cục Hàng không Việt Nam.
Nguyễn Quân: Nguyên Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ Việt Nam, nguyên giảng viên, phó Hiệu trưởng thường trực nhà trường.
Chu Ngọc Anh: Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ Việt Nam, nguyên giảng viên
Nguyễn Hà Đông: Anh là tác giả của trò chơi Flappy Bird.
Lê Trung Đạo: Anh là quán quân Rung chuông vàng năm 2007.
== Thư viện ảnh ==
== Xem thêm ==
Danh sách trường đại học và cao đẳng tại Hà Nội
Danh sách các trường đại học trọng điểm đào tạo nhân lực an toàn thông tin ở Việt Nam
== Chú thích ==
== Liên kết ngoài ==
Trang web chính thức của Trường Đại học Bách khoa Hà Nội |
applied materials.txt | Applied Materials, Inc. là một tập đoàn Hoa Kỳ cung cấp thiết bị, dịch vụ và phần mềm để cho phép sản xuất chip vi mạc bán dẫn cho thiết bị điện tử, màn hình phẳng cho máy tính, điện thoại thông minh và ti vi, và sản phẩm năng lượng mặt trời. Công ty cũng cung cấp thiết bị để sản xuất lớp phủ điện cho điện tử linh hoạt, đóng gói và các ứng dụng khác. Trụ sở công ty ở Santa Clara, California, thung lũng Silicon.
== Lịch sử ==
== Tổ chức ==
=== Silicon Systems ===
=== Dịch vụ ===
=== Phần mềm tự động hóa ===
=== Hiển thị ===
=== Giải pháp năng lượng và môi trường ===
== Cơ sở vật chất ==
== Quản lý ==
== Tham khảo ==
== Liên kết ngoài ==
Website chính thức |
malachit.txt | Malachit (malakhit) hay còn gọi là đá lông công, là một khoáng vật chứa đồng có ký hiệu hóa học là CuCO3.Cu(OH)2. Tên gọi bắt nguồn từ tiếng Hy Lạp cổ malache- có nghĩa là "Cây cầm quỳ". Các tên gọi khác như: biến thể atlat-tên gọi đồng nghĩa của malachit, đá chim công - tên gọi cũ của malachit, malachit nhung -biến thể màu lá cây đậm của malachit.
== Những đặc điểm chính ==
Màu xanh lá cây đặc trưng là hợp chất của đồng. Sắc thái của malachit dao động từ xanh lá cây (biruza, ngọc lục bảo), xanh lá cây phớt xanh da trời đến xanh lá cây sẫm. Trong tự nhiên thường gặp malachit dưới dạng hình bầu dục. Các tập hợp dạng thận lớn có cấu tạo đồng tâm dưới dạng rất đặc trưng, nhìn thấy rõ trên các mẫu mài nhẵn.
=== Công dụng ===
Malachit đặc sít có màu sắc và vân rất đẹp dùng làm đồ trang trí. Chơi đá lông công là loại đá tao nhã và đẳng cấp thuộc hạng nhất trong làng chơi đá cảnh, vì nét đẹp rưc rỡ của nó.
Tính chất chữa bệnh
Kinh "Ajurveda" của Ấn Độ khuyên nên đặt viên đá lông công lên vùng cơ thể "bị tắc nghẽn" để "hòa tan nút thắt năng lượng" vê khai mở đường dẫn truyền sinh học. Đá lông công làm giảm sự căng thẳng trong cảm xúc. Nó có khả năng hấp thụ năng lượng tiêu cực, tạo ra một sự hài hòa về thể chất vê tinh thần trong cơ thể người. Trong thạch học trị liệu hiện đại, đá lông công được sử dụng trong điều trị bệnh tim, tuyến tụy vê lá lách. Nó kích thích quá trình tái sinh, có tác dụng tích cực đến tuyến yên và đầu xương. Theo ý kiến của một số thầy thuốc Hoa Kỳ đá lông công là chất chống phóng xạ tốt.
Tính chất khác
Có nhiều huyền thoại liên quan đến đá lông công như nó có thể làm cho người ta trở nên vô hình, còn uống nước từ cốc làm bằng đá lông công có thể hiểu được ngôn ngữ của loài vật. Ở Ấn Độ người ta cho rằng, đặt đá lông công lên luân xa "Con mắt thứ ba" giúp xua tan khỏi chi giác mọi giận hờn và lo lắng. Đối với người Nga, đá lông công được coi là biểu tượng để thực hiện điều ước muốn. Đá lông công là biểu tượng của chùm Sao Kim Ngưu và Thiên Bình trong cung hoàng đạo, năng lượng cảm thụ của âm có tác dụng tới luân xa vùng trán: Tác động đến các cơ quan ở vùng đầu: Luân xa này có kinh mạch đi qua bàng quang vê ruột, nó giúp thực hiện những ý tưởng, kích thích hoạt động thể lực. Đối với luân xa ở vùng tim: Ảnh hưởng tới hệ tim mạch, tế bào tuyến vú cột sống và hai tay. Luân xa này khơi gợi lòng nhân ái, tính cởi mở chân thành, sự nhạy cảm: Củng cố ý chí biến đổi thế giới.
== Tham khảo ==
Sách Luyện kim loại màu và quý hiếm. Các tác giả: GS.TSKH Đinh Phạm Thái, PGS.TS Lê Xuân Khuông, PGS.TS Phạm Kim Đĩnh
== Ghi chú == |
pelé.txt | Edson Arantes do Nascimento, được biết đến nhiều với tên Pelé, là một cựu cầu thủ bóng đá nổi tiếng người Brazil. Ông được xem là cầu thủ bóng đá xuất sắc nhất mọi thời đại. Vào năm 1999, ông được bầu chọn là Cầu thủ xuất sắc nhất thế kỉ 20 bởi hiệp hội IFFHS. Cũng trong năm đó, ông được IOC bầu chọn là Vận động viên của thế kỉ và được tạp chí TIME đưa vào danh sách 100 người có ảnh hưởng lớn nhất thế giới. Vào năm 2013, ông được FIFA trao tặng giải thưởng Quả bóng vàng danh dự (Ballon d'Or Prix d'Honneur).
Được phát hiện từ khi còn rất trẻ, Pelé bắt đầu chơi ở Santos Futebol Clube khi mới 15 tuổi, ở đội tuyển quốc gia khi 16 tuổi và lần đầu đoạt Cúp Thế giới (World Cup) khi mới ở tuổi 17. Dù có nhiều lời mời từ các câu lạc bộ của Châu Âu, Pelé vẫn rất trung thành với câu lạc bộ của mình và đã chơi cho câu lạc bộ này trong suốt hai thập kỷ cho đến năm 1975.
Kể từ khi nghỉ hưu vào năm 1977, Pelé đã là một đại sứ toàn cầu về bóng đá và đã có nhiều hoạt động và thương mại liên doanh. Năm 2010, ông được bổ nhiệm làm Chủ tịch danh dự của đội bóng New York Cosmos.
Ông là cầu thủ ghi được nhiều bàn thắng nhất cho Đội tuyển bóng đá quốc gia Brasil (77 bàn trong 92 trận) và ông cũng là người duy nhất trong lịch sử môn thể thao vua giành được 3 World Cup dưới cương vị một cầu thủ. Ngoài ra, ông cũng là cầu thủ duy nhất ghi được hơn 1200 bàn thắng trong suốt sự nghiệp cầu thủ, theo IFFHS là 1281 bàn thắng trong 1363 trận đấu, bao gồm cả những trận giao hữu.
== Tiểu sử ==
Pele được sinh ra tại Três Corações, Minas Gerais, Brazil, con trai của cầu thủ bóng đá Fluminense Dondinho (tên khai sinh: João Ramos do Nascimento) và Celeste Arantes. Ông là anh lớn của hai anh em ruột. Ông được đặt tên theo nhà phát minh người Mỹ Thomas Edison. Cha mẹ ông đã quyết định bỏ đi chữ "i" và gọi ông là "Edson", nhưng có một lỗi trên giấy khai sinh, nên nhiều tài liệu đã đưa tên ông như là "Edison" chứ không phải "Edson". Ban đầu ông có biệt danh Dico do gia đình đặt cho. Ông đã nhận được biệt danh là "Pelé" trong những ngày đi học, theo kể lại ông đã có biệt danh như vậy vì tên của cầu thủ ưa thích của ông, thủ môn của đội Vasco da Gama Bilé, đã bị ông phát âm sai thành Pelé nhưng khi ông càng thanh minh thì càng bị gọi như vậy. Trong cuốn tự truyện của mình, Pele tuyên bố ông và bạn bè ông lúc đó không biết biệt danh đó có nghĩa gì. Ngoài việc phát âm nhầm như trên, và Pelé trong tiếng Hebrew có nghĩa là "phép lạ" (פֶּ֫לֶא), từ này không có ý nghĩa gì nổi bật trong tiếng Bồ Đào Nha.
Pelé lớn lên trong đói nghèo ở Bauru ở bang São Paulo. Ông kiếm tiền bằng cách làm việc trong các cửa hàng chè như một người phục vụ. Được cha dạy đá bóng, nhưng anh không có được một quả bóng đá phù hợp và thường chơi bóng với một cái túi nhồi báo được buộc chặt. Khi còn nhỏ ông chơi cho một số đội nghiệp dư: Sete de Setembro, Canto do Rio, São Paulinho, và Amériquinha. Pelé đã cùng với Bauru Athletic Club juniors (huấn luyện viên Waldemar de Brito) giành ba chức vô địch toàn bang São Paulo liên tiếp từ năm 1954 đến năm 1956. Ông cũng thống trị các cuộc thi đấu bóng bầu dục ở Futebol de Salão trong khu vực và giành được nhiều chức vô địch với đội địa phương Radium.ông bị M-TP6A chịch đến lúc máu sặc khỏi chim
== Sự nghiệp cầu thủ ==
=== Cấp câu lạc bộ ===
==== Tại Santos FC (1956-1971) ====
==== Tại New York Cosmos (1971-1977) ====
==== Bảng thống kê bàn thắng ====
== Hình ảnh ==
== Chú thích == |
22 tháng 10.txt | Ngày 22 tháng 10 là ngày thứ 295 (296 trong năm nhuận) trong lịch Gregory. Còn 70 ngày trong năm.
== Sự kiện ==
668 – Tướng quân Lý Thế Tích của Đường đánh chiếm kinh thành Bình Nhưỡng của Cao Câu Ly, bắt giữ Bảo Tạng Vương, tức ngày Quý Tị (12) tháng 9.
1956 - Chính phủ Việt Nam Cộng hòa cho cải tổ nhiều đơn vị hành chánh cấp tỉnh.
1962 – Khủng hoảng tên lửa Cuba: Tổng thống John F. Kennedy tuyên bố trên truyền hình rằng vũ khí hạt nhân Liên Xô được phát hiện ở Cuba và ra lệnh nâng tình trạng báo động quân sự lên mức DEFCON 3.
1967 - Cuộc bầu cử Hạ viện Việt Nam Cộng hòa.
1964 – Sau khi Ủy ban Nobel tuyên bố ông đoạt Giải Nobel Văn học, nhà triết học Pháp Jean-Paul Sartre trở thành người đoạt giải Nobel đầu tiên tự ý từ chối nhận giải này, vì không muốn bị “biến đổi”.
1968 - Tối cao Pháp viện Việt Nam Cộng hòa nhóm họp lần đầu tiên.
2012 – Liên đoàn Xe đạp Quốc tế ra tước 7 danh hiệu vô địch Tour de France và cấm thi đấu suốt đời đối với tay đua Lance Armstrong do cáo buộc sử dụng doping.
== Sinh ==
1913 – Bảo Đại, vị hoàng đế cuối cùng của Việt Nam (m. 1997)
1949 - Arsène Wenger, huấn luyện viên bóng đá người Pháp
1996 - B.I, rapper, nhà sản xuất, thủ lĩnh nhóm nhạc iKON (Hàn Quốc)
== Mất ==
1780 - Ngô Thì Sĩ, nhà sử học, nhà văn, nhà thơ nổi tiếng ở thế kỷ 18 tại Việt Nam (s. 1726),
1909 - Sigismund von Schlichting, tướng lĩnh quân đội Phổ (s. 1829),
1956 - Fritz Hofmann, nhà hóa học người Đức (s. 1886).
1984 - Hoa Phượng, soạn giả Cải lương (s. 1933),
== Những ngày lễ và kỷ niệm ==
== Tham khảo == |
nhà thờ kitô giáo.txt | Trong Kitô giáo, nhà thờ, còn gọi là nhà thánh, thánh đường hay giáo đường, là địa điểm để người Kitô hữu cử hành các nghi lễ thờ phượng Thiên Chúa. Mỗi giáo hội Kitô giáo đều có các phong cách, quy định xây dựng nhà thờ riêng, nhưng nhìn chung, bên ngoài nhà thờ phải có một cây thánh giá đặt nơi cao và dễ thấy nhất; bên trong thường gồm hai gian chính: gian cung thánh (trung tâm là cây thánh giá) và gian giáo dân (có hoặc không có ghế quỳ).
== Công giáo Rôma ==
Xét theo quy mô, nhà thờ Công giáo có thể phân chia thành:
Vương cung thánh đường: là những nhà thờ có kỷ niệm đẹp hoặc biến cố tôn giáo quan trọng được Tòa Thánh Vatican phong tặng
Nhà thờ chính tòa: là nhà thờ chính của một giáo phận, là nơi đặt tòa giám mục
Đền thánh: là nhà thờ có ý nghĩa hành hương quan trọng. Đền thánh có các cấp độ là đền thánh giáo phận, đền thánh quốc gia và đền thánh quốc tế, được công nhận bởi các thẩm quyền tương ứng (giám mục giáo phận, Hội đồng giám mục và Tòa thánh)
Nhà thờ giáo xứ (nhà thờ xứ): Nhà thờ của giáo xứ. Phần lớn giáo xứ chỉ có một nhà thờ, ở những giáo xứ lớn, các giáo họ trong giáo xứ cũng có thể có nhà thờ giáo họ.
Nhà nguyện: thường chỉ dùng riêng cho một cộng đồng nhỏ (tu viện, bệnh viện, dòng tu...)
=== Kiến trúc ===
Nhà thờ công giáo gồm có những thành phần sau:
Nhà thờ chính: là nơi diễn ra các nghi lễ thờ phượng: thánh lễ hàng ngày, cầu nguyện, chầu thánh thể, thực hiện các bí tích.
Cung Thánh: là nơi linh mục chủ tế thực hiện các nghi lễ. Cung thánh thường ở vị trí trang trọng và cao hơn để giáo dân có thể theo dõi thánh lễ. Phía trên có treo Thánh giá, phía dưới Thánh giá có Nhà tạm (nơi cất giữ Thánh Thể) và một quyển Kinh Thánh (sách thật hoặc hình ảnh, tượng). Trên cung thánh còn có bàn thánh và bục giảng.
Phần dành cho giáo dân dự thánh lễ, có các hàng ghế ngồi, quỳ.
Xung quanh nội thất nhà thờ chính luôn có 14 chặng Đàng Thánh giá, là tranh hay tượng mô tả lại cuộc thương khó của Chúa Giêsu.
Ngoài ra, trên Cung Thánh còn có thêm tượng và bàn thờ Đức mẹ Maria (bên trái khi nhìn từ ngoài vào trong), Thánh Giuse (bên phải khi nhìn từ ngoài vào trong). Mặt tiền bắt buộc phải có tượng Thánh bổn mạng cho nhà thờ (mỗi nhà thờ chỉ có duy nhất một thánh bổn mạng) hay các Thánh tử đạo liên quan đến nhà thờ hay địa phương.
Tháp chuông: có thể cùng một kiến trúc với nhà thờ chính hoặc là một kiến trúc độc lập. Thường hạng mục này là cao nhất trong công trình, trên đó có Thánh giá. Nhà thờ đổ chuông để báo giờ lễ cho giáo dân hoặc trong các dịp lễ quan trọng.
Các thành phần phụ trợ (có thể có hoặc không):
Đài Đức Mẹ
Các tượng đài khác
Hang đá
Nhà xứ, hay nhà mục vụ giáo xứ là nơi họi họp điều hành giáo xứ, cũng có các phòng cho giáo sĩ ở và làm việc.
Ngoài ra có thể có các công trình khác như phòng học giáo lý, nhà hài cốt (nơi đặt các hũ tro cốt người chết), nhà sách.
=== Hoạt động ===
Phụng vụ
Thánh lễ
Các Bí tích
Chầu Thánh thể
Rước kiệu
Ngắm Đàng Thánh giá
Truyền giáo
Dạy giáo lý
Công tác bác ái
== Chính Thống giáo ==
== Tin Lành ==
Nhà thờ Tin Lành gồm: bục giảng, thánh giá không có tượng chịu nạn. Nhà thờ Tin Lành không có bàn thánh, nhà tạm, không có tượng ảnh hay vật thánh khác như: chén thánh...
== Xem thêm ==
Nhà thờ
== Tham khảo ==
== Liên kết ngoài ==
Danh bạ và thông tin giờ thánh lễ các nhà thờ Công giáo tại Việt Nam |
aya bank cup 2016.txt | AYA Bank Cup 2016 là giải đấu bóng đá giao hữu được tổ chức tại Yangon, thành phố lớn nhất của Myanmar. Giải đấu quy tụ 4 đội tuyển bao gồm Việt Nam, Hồng Kông, Singapore và chủ nhà Myanmar, diễn ra từ ngày 3 tháng 6 đến ngày 6 tháng 6 tại sân vận động Sân vận động Thuwunna.
Bốn đội sẽ phân thành 2 cặp đấu, thi đấu theo thể thức loại trực tiếp. Hai đội giành chiến thắng sẽ bước vào trận chung kết còn 2 đội thua sẽ tranh giải Ba. Việt Nam giành ngôi vô địch sau khi thắng 3–0 trong hiệp phụ trước Singapore ở chung kết.
Ngân hàng Ayeyarwady là nhà tài trợ chính cho giải đấu sau khi ký hợp đồng tài trợ với Liên đoàn bóng đá Myanmar vào ngày 4 tháng 5 năm 2016.
== Địa điểm ==
== Các kết quả ==
Khung giờ (UTC+6:30)
=== Vòng bán kết ===
=== Trận tranh hạng ba ===
=== Trận chung kết ===
== Chú thích ==
== Liên kết ngoài == |
lịch sử video game.txt | Nguồn gốc của video game nằm trong quá trình phát triển với ống phóng tia âm cực -dựa trên hệ thống phòng thủ tên lửa vào cuối những năm 1940. Các chương trình này sau đó được chuyển thể thành trò chơi đơn giản khác trong những năm 1950. Vào cuối những năm 1950 và qua các năm 1960, trò chơi máy tính đã được phát triển nhiều hơn (phần lớn là trên các máy tính lớn), với sự tinh tế và phức tạp ngày càng tăng lên (rất nhiều các video game thời kỳ đầu đã biến mất và hầu như không có một bản ghi lại nào). Trải qua các thời kỳ, video game tách ra trên nhiều hệ máy khác nhau: hệ arcade (hệ máy thùng), máy tính lớn, hệ console (hệ máy có tay cầm điều khiển), máy tính cá nhân và sau cùng là hệ máy cầm tay.
Video game đầu tiên được thương mại hóa là Computer Space năm 1971, mà về sau đặt nền móng cho một ngành công nghiệp giải trí mới trong cuối những năm 1970 tại Hoa Kỳ, Nhật Bản, và châu Âu. Sự suy sụp đầu tiên xảy ra vào năm 1977 khi các công ty bị bắt buộc phải bán các hệ thống đã lỗi thời của họ tràn ngập thị trường. Sáu năm sau đó, một cuộc sụp đổ lớn hơn xảy ra. Cơn khủng hoảng này (gây ra bởi việc đổ bộ ồ ạt các video game chất lượng tệ hại vào trong thị trường) là kết quả sự sụp đổ hoàn toàn của ngành công nghiệp game trên hệ máy có tay cầm (game console) ở Mỹ, cuối cùng chuyển sự thống trị của thị trường game từ Bắc Mỹ sang Nhật Bản. Trong khi cơn khủng hoảng này tiêu diệt thị trường hệ máy console, thì game trên hệ máy tính cá nhân gần như không bị ảnh hưởng. Các thế hệ tiếp theo của hệ console vẫn tiếp tục bị thống trị bởi các tập đoàn Nhật Bản. Dù đã có vài nỗ lực bởi các tập đoàn ở Bắc Mỹ và Châu Âu nhằm giành lại chỗ đứng của mình, với thế hệ thứ tư các hệ máy console, nhưng sự liên doanh này thất bại hoàn toàn. Cho tới khi thế hệ máy chơi game thứ sáu ra đời với Xbox là thành công thương mại thực sự được phát triển bởi tập đoàn Microsoft nhưng vẫn còn tỏ ra yếu thế về doanh số với các tập đoàn Nhật Bản như Sony, Nintendo hay Sega. Thị trường game cho máy cầm tay cũng đi theo một con đường giống như hệ console với vài thất bại của các tập đoàn Mỹ, tất cả đều không thành công trừ một số thành công hạn chế trong các hệ máy cầm tay thời kỳ đầu. Hiện tại thì chỉ có duy nhất các tập đoàn Nhật Bản có những thành công lớn trên hệ máy cầm tay, mặc dù game cho hệ máy cầm tay vài năm gần đây đã chuyển dần sang các thiết bị như điện thoại di động hay PDA do sự phát triển của công nghệ.
== Thời kỳ đầu ==
Vào 25/1 năm 1947 Thomas T. Goldsmith, Jr. and Estle Ray Mann nộp đơn yêu cầu cấp bằng sáng chế lên chính phủ cho một sáng chế mới mà họ mô tả là "thiết bị giải trí bằng ống phóng tia âm cực (ống phóng điện tử)". Bằng sáng chế này được Văn phòng cấp bằng sáng chế Hoa Kỳ thông qua ngày 14/12/1948, mô tả chi tiết một chiếc máy mà một người sử dụng các nút bấm để thao tác súng tia âm cực bắn các tia tới các mục tiêu mô phỏng "máy bay". Một lớp in phủ lên màn hình CRT giúp xác định vùng tương tác.
Vào những năm 1949–1950, Charley Adama chạy một chương trình có tên "Bouncing Ball" cho chiếc máy tính Whirlwind của MIT. Dù chương trình vẫn chưa thực sự tương tác được, nhưng nó đã là tiền thân của video game sắp ra đời.
Vào tháng 2 năm 1951, Christopher Strachey thử chạy một chương trình cờ đam (tiếng Anh: draughts; tiếng Mỹ: checkers) do mình viết trên chiếc máy tính NPL Pilot ACE (là một trong những máy tính đầu tiên được xây dựng ở Vương quốc Anh, tại Phòng thí nghiệm vật lý quốc gia -NPL- trong đầu những năm 1950). Chương trình đã sử dụng vượt quá dung lượng bộ nhớ của cỗ máy và Strachey đã phải chạy thử lại nó trên một máy tính ở Manchester với một bộ nhớ lớn hơn vào tháng 10.
Cũng vào năm 1951, trong khi phát triển công nghệ truyền hình cho công ty điện tử New York là tập đoàn Loral, nhà sáng chế Ralph Baer xuất hiện ý tưởng với việc sử dụng các bóng đèn và các mẫu được ông dùng trong công việc của mình vào việc khác ngoài chức năng chỉ là các thiết bị hiệu chỉnh. Baer nhận ra rằng bằng cách cho khán giả khả năng thao tác với chương trình truyền hình của họ, vai trò của họ thay đổi từ thụ động quan sát sang thao tác tương tác. Khi ông đem ý tưởng này đến cấp trên của mình, ngay lập tức nó bị đè bẹp vì lý do tập đoàn đang bị chậm tiến độ.
OXO, một phiên bản trên máy tính của trò tic-tac-toe, được A.S. Douglas sáng chế vào năm 1952 tại Đại học Cambridge, nhằm mục đích chứng minh luận án của mình về khả năng tương tác giữa máy tính với người. OXO được thiết kế trên chiếc máy tính EDSAC với một ống tia phóng tia âm cực có chức năng như một màn hình hiển thị trực quan để hiển thị nội dung bộ nhớ.
Năm 1958, William Higinbotham tạo ra một trò chơi sử dụng một dao động ký và một máy tính tương tự (dạng máy tính sử dụng các mạch điện tử để thực hiện việc tính toán. Ví dụ như mắc nối tiếp các điện trở để thực hiện các phép cộng hay mắc nối tiếp điện trở với tụ điện để tính tích phân v.v...) với tên gọi Tennis for Two, nó lần đầu tiên được sử dụng để mua vui cho các khách tham quan Phòng thí nghiệm quốc gia Brookhaven ở New York. Tennis for Two thể hiện một sân tennis đơn giản hóa với góc nhìn từ bên cạnh, gồm có một quả bóng bị trọng lực kiểm soát và cần phải điều khiển quả bóng đó bay qua "lưới", không giống như trò kế thừa của nó—Pong. Tennis for Two được chơi với hai bộ điều khiển hình hộp, mỗi cái đều có một cần gạt để điều chỉnh quỹ đạo và một nút bấm để đánh bóng. Tennis for Two được trưng bày trong hai mùa trước khi bị tháo dỡ vào năm 1959.
=== Những năm 1950–1960 ===
Phần lớn các game máy tính thời kỳ đầu đều chủ yếu sử dụng nội bộ trong các máy tính lớn ở các trường đại học và các phòng thí nghiệm và được phát triển bởi các cá nhân như một sở thích. Khả năng tiếp cận với các phần cứng máy tính thời kỳ đầu này khá giới hạn nên các trò chơi rất ít ỏi và nhanh chóng bị lãng quên bởi các thế hệ sau.
Vào những năm 1959–1961, một bộ sưu tập các chương trình tương tác hình ảnh được tạo ra trên chiếc máy tính TX-0 tại MIT:
Mouse in the Maze(Chuột trong mê cung): cho phép người chơi đặt các bức tường mê cung, một vài mảnh pho mát, và trong một số phiên bản, có cả rượu martini, sử dụng bút ánh sáng (bút dùng để viết hay vẽ trên màn hình CRT sử dụng phương pháp dò sự thay đổi độ sáng trên đầu bút và đồng thời tô đậm điểm mà bút trỏ tới). Sau đó có thể thả con chuột vào mê cung và xem nó chạy để tìm thức ăn.
HAX: bằng cách điều chỉnh hai công tắc trên bàn điều khiển, có thể tạo ra các hình ảnh và âm thanh khác nhau.
Tic Tac Toe:sử dụng bút ánh sáng, người chơi có thể chơi các ván tic-tac-toe với máy tính.
Trong 1961, một nhóm sinh viên tại MIT, bao gồm Steve Russell, lập trình một trò chơi mang tên Spacewar! trên chiếc máy DEC PDP-1, một loại máy tính mới thời bấy giờ. Trò chơi giữa hai người chơi đọ sức với nhau, mỗi người điều khiển một phi thuyền có khả năng bắn tên lửa, trong khi một ngôi sao ở giữa màn hình là một mối nguy hiểm lớn với các phi thuyền. Game này thậm chí còn được phân phối cùng các máy tính DEC và được bán trong suốt các thời kì sau đó qua hệ thống mạng internet nguyên thủy. Spacewar! được ghi nhận như là game máy tính có nhiều ảnh hưởng đầu tiên.
Năm 1966, Ralph Baer tham gia hợp tác làm việc với Bill Harrison trong một dự án, nơi cả hai đều làm việc cho nhà thầu Sanders Associates trong lĩnh vực điện tử quân sự tại Nashua, New Hampshire. Hai người đã tạo ra một video game đơn giản tên là Chase, là game đầu tiên có khả năng hiển thị trên một chiếc tivi thông thường. Với sự hỗ trợ của Baer, Bill Harrison đã tạo ra súng ánh sáng(cấu tạo và hoạt động như bút ánh sáng nhưng sử dụng để chơi game). Baer và Harrison sau đó tham gia cùng Bill Rusch vào năm 1967, một người đã từng tốt nghiệp trường MIT (MSEE), mà sau đó đã được trao một số bằng sáng chế cho các thiết bị chơi game trên ti vi (Bằng sáng chế Mỹ số 3,659,284, 3,778,058, v.v...). Việc phát triển vẫn tiếp tục và đến năm 1968 một nguyên mẫu đã được hoàn tất và có thể chơi một số game khác nhau như bóng bàn và bắn các mục tiêu. Sau nhiều tháng lao động bí mật giữa các dự án chính thức, cả nhóm đã có thể mang một mẫu thử nghiệm đúng như đã hứa với bộ phận nghiên cứu và phát triển (R&D) của Sanders. Tới năm 1969, Sanders đã giới thiệu tay cầm điều khiển game dân dụng đầu tiên trên thế giới với các nhà sản xuất.
Vào năm 1969, lập trình viên máy tính Ken Thompson của hãng AT&T đã viết một game có tên Space Travel cho hệ điều hành Multics. Game này mô phỏng các hình dạng hành tinh của hệ mặt trời cùng chuyển động của chúng và người chơi sẽ phải cố gắng đáp phi thuyền lên đó. AT&T sau đó huỷ bỏ dự án MULTICS, và Thompson chuyển trò chơi này sang ngôn ngữ Fortran chạy trên máy tính lớn GE 635 với hệ điều hành GECOS của hãng General Electric. Hệ thống này yêu cầu 75 USD mỗi giờ sử dụng, và Thompson quyết định tìm một hệ thống nhỏ hơn và rẻ hơn để dùng. Cuối cùng ông tìm cách tận dụng chiếc máy tính PDP-7, và Thompson và Dennis Ritchie lại một lần nữa viết lại game dùng ngôn ngữ assembly (hợp ngữ) để có thể chạy trên PDP-7. Trong quá trình học cách để phát triển phần mềm cho chiếc máy đó, quá trình phát triển của hệ điều hành Unix bắt đầu, và Space Travel trở thành ứng dụng đầu tiên của hệ điều hành UNIX.
== Những năm 1970 ==
=== Kỷ nguyên vàng của game trên hệ máy arcade ===
Vào tháng 9/1971, chiếc máy arcade Galaxy Game được lắp đặt tại Trung tâm hoạt động sinh viên trong trường Đại học Stanford. Dựa trên trò Spacewar!, đây là video game đầu tiên vận hành trên hệ máy dùng tiền xu (hệ arcade). Chỉ có duy nhất một chiếc được làm, sử dụng một chiếc máy tính DEC PDP-11 và một thiết bị đầu cuối hiển thị vectơ. Năm 1972, cỗ máy được mở rộng để có thể cắm vào 4 tới 8 tay cầm điều khiển.
Cũng vào năm 1971, Nolan Bushnell và Ted Dabney tạo ra một phiên bản trò chơi Spacewar! trên hệ máy arcade và gọi là Computer Space. Hãng Nutting Associates mua bản quyền game và sản xuất 1500 cỗ máy Computer Space, với hạn phát hành ấn định vào tháng 11/1971. Trò chơi đã không thành công như mong muốn do sự nóng vội, nhưng đã trở thành cột mốc đánh dấu lần đầu tiên sản xuất video game và hệ máy chơi game số lượng lớn và cũng là lần đầu tiên chào bán thương mại một video game.
Bushnell và Dabney cảm thấy họ không nhận được thù lao xứng đáng khi bán bản quyền của Computer Space cho Nutting Associates và quyết định tự thành lập công ty riêng với tên Atari, Inc. vào năm 1972 trước khi cho ra đời game tiếp theo của mình: Pong. Pong là video game hệ máy arcade đầu tiên thành công trên diện rộng. Trò chơi dựa một phần vào nguyên tắc chơi bóng bàn: một quả bóng được đặt ở trung tâm "sân" và sẽ chuyển động về một trong hai phía của hai người chơi, mỗi người chơi sẽ phải điều khiển chiếc vợt bóng bàn của mình để đánh quả bóng về phía đối thủ của mình. Atari đã bán được hơn 19,000 cỗ máy Pong, tạo ra rất nhiều các bản sao.
Ngành công nghiệp sản xuất hệ máy và game arcade bước vào thời kỳ hoàng kim năm 1978 với sự xuất hiện của game Space Invaders tạo bởi Taito, một thành công đã truyền cảm hứng cho hàng tá các nhà sản xuất bước vào thị trường. Kỷ nguyên vàng đã tạo ra một số lượng lớn các máy arcade đặt tại trung tâm mua sắm, các cửa hàng truyền thống, nhà hàng và cửa hàng tiện lợi.
Space Invaders đã bán được hơn 360.000 máy trên toàn cầu, và tới năm 1981, tạo ra doanh thu hơn 1 tỷ USD từ hơn 4 tỷ đồng xu 25 cents (25 cent=1/4 đôla), tương đương hơn 2,5 tỷ USD vào thời điểm hiện tại (2011). Năm 1979, trò Galaxian (bắn ruồi) của hãng Namco (thành lập năm 1955 đến năm 2005 sáp nhập với Bandai thành Namco Bandai Games) bán được hơn 40,000 máy. Cũng trong năm 1979, Atari phát hành Asteroids với doanh số bán ra là hơn 70.000 máy.
Tổng doanh số bán ra của các máy chơi game arcade ở Bắc Mỹ tăng trưởng một cách đáng kể trong suốt thời kỳ cuối những năm 70 và đầu những năm 80, từ 50 triệu máy năm 1978 tới 900 triệu máy năm 1981, với doanh thu gần chạm mốc 1 tỷ đôla trong 3 năm cuối của thập niên 70, con số này tăng gấp 3 lần lên tới 2,8 tỷ USD trong những năm đầu của thập niên 80. Game arcade có màu cũng dần trở nên phổ biến vào các năm 1979 và 1980 với sự xuất hiện của các tựa game như Pac-man (Namco phát triển và phát hành tại Nhật, Midway phát hành tại Mỹ) đã bán được hơn 350.000 máy, và trong vòng 1 năm, tạo ra doanh thu hơn 1 tỷ USD; ước tính Pac-man đã thu về tổng cộng hơn 10 tỷ đồng 25 cent (tức 2,5 tỷ USD) trong thế kỷ 20, tương đương khoảng hơn 3.4 tỷ đôla bây giờ.
Năm 1981, ngành công nghiệp game arcade đã tạo ra một doanh thu hàng năm là 5 tỷ USD ở thị trường Bắc Mỹ, tức là 12,3 tỷ trong thời điểm hiện nay. Năm 1982, ngành công nghiệp video game arcade lên tới đỉnh điểm, thu về 8 tỷ USD (32 tỷ đồng 25 cents), tương đương hơn 18,5 tỷ hiện nay, vượt qua cả tổng doanh thu hàng năm của thị trường nhạc pop (4 tỷ) và ngành công nghiệp làm phim của Hollywood (3 tỷ) cộng lại vào thời điểm đó. Và nó cũng gần như gấp đôi doanh thu 3.8 tỷ của ngành công nghiệp máy chơi game gia dụng (bao gồm game console và máy tính cá nhân) cùng năm; cả 2 thị trường video game arcade và máy chơi game gia dụng có tổng doanh thu là 11.8 tỷ USD trong ngành công nghiệp game năm 1982 (27.3 tỷ hiện nay). Video game trên hệ arcade tiếp tục có doanh thu hàng năm khoảng 5 tỷ USD cho tới năm 1985.
=== Thế hệ đầu tiên của hệ máy console (1972-1977) ===
Hệ máy console trong nhà đầu tiên được phát triển bởi Ralph Baer và các cộng sự. Quá trình phát triển bắt đầu vào năm 1966 và một nguyên mẫu hoạt động được hoàn thành vào năm 1986 (được gọi là Brown Box- hộp nâu). Một cuộc chạy đua đã diễn ra để có được thoả thuận cấp phép cho hệ thống nhiều tiềm năng này, bao gồm GE(General Electric), Sylvania, RCA, Philco, and Sears, với Magnavox cuối cùng cũng được cấp phép công nghệ để sản xuất những hệ máy chơi game console gia dụng đầu tiên. Hệ thống ra mắt lần đầu tiên ở Mỹ năm 1972 bởi hãng Magnavox với tên gọi Magnavox Odyssey. Cỗ máy Odyssey sử dụng loại băng (ROM cartridge) chơi game, mà chủ yếu cấu tạo bởi các cầu nối tắt mà có thể hiệu lực hoá/vô hiệu hoá các chuyển mạch khác nhau chiếc băng đó, làm thay đổi các mạch logic (trái ngược với các hệ thống chơi game về sau sử dụng băng chơi game có khả năng lập trình được). Điều này cho phép chơi được vài game khác nhau trên cùng hệ thống, cùng với các lớp nhựa phủ được định dạng sẵn để thêm màu sắc lên màn hình, khu vực hoạt động, và các hình ảnh khác nhau có thể "tương tác" được bằng việc sử dụng các hình điện tử được tạo bởi hệ thống. Thêm vào đó là một cú thúc đẩy tiếp thị với việc mời diễn viên Frank Sinatra quảng cáo tính năng cho Odysseys, đã giúp Magnavox bán được khoảng 100,000 máy trong năm đầu.
Philips mua lại Magnavox và cho ra mắt một game khác ở châu Âu sử dụng nhãn hiệu Odysseys vào năm 1974 và một game liên quan mà Magnavox đã phát triển cho thị trường Hoa Kỳ. Qua thời gian, hệ thống Odyssey đã đạt được doanh số 2 triệu máy.
=== Game trên máy tính lớn ===
Game trên máy tính lớn trong các trường đại học phát triển nở rộ vào đầu thập niên 1970. Có khá ít thông tin về các game máy tính thời kỳ này trừ vài trò chơi nổi tiếng nhất, lý do vì các game này không được quảng bá rộng rãi cũng như khi làm một game thì thường không được coi như là một nỗ lực làm việc nghiêm túc. Những người viết ra các game này- phần lớn là sinh viên- thường làm một cách không chính thức khi còn các khúc mắc với hệ thống phần cứng đắt đỏ của trường, do đó họ không mong có nhiều người biết về công việc này của họ. Tuy nhiên, ít nhất cũng có hai con đường để công bố và phát hành game đáng chú ý cho các nhà sinh viên thiết kế trò chơi thời bấy giờ:
Hệ thống PLATO là một môi trường điện toán giáo dục thiết kế ở Đại học Illinois và chạy trên hệ thống máy tính lớn được làm bởi Control Data Corporation. Các game thường được trao đổi giữa các hệ thống PLATO khác nhau.
DECUS là nhóm người dùng cho các máy tính được thực hiện bởi Digital Equipment Corporation(DEC). Công ty này chuyên phân phối các chương trình -bao gồm cả game– mà có thể chạy trên các loại máy tính của hãng.
Một số trò chơi đáng chú ý cũng được viết cho các máy tính mini của hãng Hewlett-Packard (HP) như các máy tính HP2000.
Các điểm nổi bật của thời kỳ này, sắp xếp theo trình tự thời gian gần đúng,bao gồm:
1971: Don Daglow viết game bóng chày đầu tiên cho máy tính trên một chiếc máy tính lớn DEC PDP-10 tại trường Cao đẳng Pomona. Người chơi có thể chơi các trận đấu riêng lẻ hoặc mô phỏng cả một mùa giải. Daglow sau đó chung một nhóm với lập trình viên Eddie Dombrower để thiết kế game bóng chày Earl Weaver Baseball, được Electronic Arts phát hành năm 1987.
1971: game Star Trek được tạo ra (có thể bởi Mike Mayfield) trên chiếc máy tính mini Sigma 7 tại Đại học California. Đây là tựa game Star Trek nổi tiếng nhất và có số người chơi nhiều nhất vào những năm 70, và được chơi với một loạt các "bản đồ" nhỏ mô phỏng các khu vực của thiên hà in trên giấy hoặc trên màn hình. Đó là tựa game đầu tiên được chuyển qua nền tảng phần cứng bởi các sinh viên. Daglow cũng viết một game Star Trek nổi tiếng khác cho chiếc máy tính PDP-10 trong những năm 1970–1972, game trình bày các hành động như một kịch bản được nói bởi nhân vật của chương trình truyền hình. Một số lớn các game khác theo chủ đề Star Trek cũng được giới thiệu trên các hệ máy PLATO và DECUS trong suốt thập kỷ.
1972: Gregory Yob viết game trốn tìm Hunt the Wumpus cho máy PDP-10 mà có thể coi như là game phiêu lưu bằng chữ đầu tiên. Yob viết nó để phản ứng lại với các game trốn tìm trước đó như Hurkle, Mugwump, và Snark.
1974: Cả hai game Maze War (trên máy tính Imlac PDS-1 tại Ames Research Center của NASA tại California) và Spasim(trên máy PLATO) ra đời, được coi là hình mẫu tiên phong của game 3D bắn súng góc nhìn người thứ nhất chơi mạng.
1974: Brand Fortner và bạn mình phát triển game Airfight như là một phần mềm dạy bay mô phỏng. Để khiến game thêm thú vị, tất cả những người chơi sẽ phải chia sẻ vùng bay và chọn các máy bay quân sự, lựa chọn thêm vũ khí và nhiên liệu để bắn hạ máy bay của những người chơi khác. Bất chấp đồ họa tầm thường và tần số quét màn hình khá thấp (khiến cho game bị giật hình khi chơi), Airfight trở thành một game nổi tiếng trên hệ máy PLATO. Game về sau trở thành nguồn cảm hứng cho game Microsoft Flight Simulator.
1975: William Crowther viết game phiêu lưu dạng chữ hiện đại đầu tiên, Phiêu lưu (nguyên bản gọi là ADVENT, và sau đó là Colossal Cave). Game được lập trình trên ngôn ngữ Fortran cho máy tính PDP-10. Người chơi điểu khiển game qua các câu đơn giản- như là các câu lệnh và nhận được các văn bản mô tả trên màn hình. Trò chơi về sau được viết lại bởi các sinh viên trên máy PLATO, và nó là một trong những cái tên ít ỏi trở thành một phần trên cả hai hệ máy PLATO và DEC truyền thống.
1975: Cho tới năm 1975, rất nhiều các trường đại học đã thay thế các thiết bị hiển thị trước đây bằng màn hình CRT mà có thể hiển thị 30 dòng văn bản chỉ trong vài giây thay vì 1 phút hoặc hơn để in ra trên giấy. Điều này dẫn đến một loạt các game vẽ sẵn "hình ảnh" lên màn hình. Các màn hình CRT đã thay thế các máy điện báo cổ điển hoặc các máy in dòng (máy in liên tục theo từng dòng chứ không theo từng trang) mà tốc độ đầu ra biến động trong khoảng 10-30 ký tự mỗi giây.
1975: Daglow, và sau đó là một sinh viên ở Đại học Claremont Graduate, viết game nhập vai đầu tiên trên máy tính lớn PDP-10: Dungeon. Trò chơi là một phiên bản trên máy tính không có giấy phép bản quyền của trò chơi nhập vai (chơi với bút và giấy) mới nổi thời bấy giờ là Dungeons & Dragons. Mặc dù được thể hiện bằng chữ, nhưng đó là game đầu tiên sử dụng hệ thống nhân vật có "tầm nhìn", như là các bản đồ trên-dưới thể hiện các khu vực mà những nhân vật(trong game) đã thấy hoặc có thể nhìn thấy, đưa vào yếu tố ánh sáng/bóng tối và sự khác biệt trong tầm nhìn giữa các loài.
1975: Gần như cùng thời điểm, game dnd, cũng dựa trên Dungeons & Dragons lần đầu tiên xuất hiện trên hệ máy PLATO của CDC (Control Data Corporation). Với những người chơi game này thì dnd, không phải Dungeon, mới là game nhập vai đầu tiên trên máy tính.
1976: Một trong những game nhập vai sớm nhất sử dụng các yếu tố từ Dungeons & Dragons là Telengard, được viết vào năm 1976, và Zork (sau đó đổi lại tên thành Dungeon), viết năm 1977.
1977: Kelton Flinn và John Taylor tạo ra phiên bản đầu tiên của Air, một game chiến đấu trên không bằng chữ mà đã báo hiệu trước công trình sau đó của họ tạo ra sẽ là game trực tuyến nhiều người chơi đầu tiên sử dụng đồ họa (thay cho chữ): Air Warrior. Về sau Kelton Flinn và John Taylor còn thành công hơn nữa khi lập ra công ty cung cấp dịch vụ game trực tuyến đầu tiên Kesmai, sau thuộc Electronic Arts và đóng cửa năm 2001. như Flinn đã nói: "Nếu Air Warrior là chú linh trưởng đung đưa trên cây, AIR lại là dạng game văn bản như con trùng amip bò trên đáy đại dương. Nhưng nó đã gần như là thời gian thực, chơi mạng, và cố gắng dựng hình 3-D trên các thiết bị đầu ra sử dụng hình ảnh của hệ mã ASCII. Nó đã có được hương vị riêng."
1977: Các lập trình viên của trò Zork nguyên bản bao gồm Dave Lebling, Marc Blank, Tim Anderson, và Bruce Daniels. Không giống như Crowther, Daglow và Yob, đội Zork nhận ra tiềm năng khi chuyển các game này sang các máy tính cá nhân thế hệ mới và sáng lập ra công ty phát hành game văn bản Infocom năm 1979. Về sau Infocom bán lại cho Activision năm 1986 và đóng cửa năm 1989.
1978: Multi-User Dungeon, phiên bản đầu tiên, được tạo bởi Roy Trubshaw và Richard Bartle, là di sản đầu tiên và trở thành thứ mà bây giờ gọi là MMORPG.
1980: Michael Toy, Glenn Wichman và Ken Arnold cho ra đời game Rogue trên hệ điều hành BSD Unix sau 2 năm làm việc, game đã truyền cảm hứng cho rất nhiều các phiên bản tương tự thời bấy giờ. Giống như Dungeon trên PDP-10 và dnd trên PLATO, Rogue hiển thị các bản đồ hầm ngục sử dụng các ký tự. Tuy nhiên, không giống các game trên, các hầm ngục này được tạo một cách ngẫu nhiên mỗi lần chơi, do vậy con đường dẫn đến các kho báu và quái vật bảo vệ chúng sẽ khác nhau mỗi trận đấu. Và như đội ngũ làm game Zork, Rogue cũng được chuyển sang máy tính cá nhân và trở thành một sản phẩm thương mại.
=== Sự sụp đổ của video game vào năm 1977 ===
Năm 1977, các nhà sản xuất cũ, các máy console lỗi thời và các bản sao của trò Pong được bán ra ồ ạt nhằm mục đích dọn sạch kho hàng, tạo ra sự dư thừa quá lớn trên thị trường, và khiến cho các hãng như Fairchild và RCA bỏ mặc việc bán các game console của mình. Chỉ còn Atari và Magnavox vẫn bám trụ trên thị trường console gia dụng, mặc dù phải chịu tổn thất lớn vào hai năm 1977 và 1978.
Sự sụp đổ này phần lớn gây ra bởi số lượng rõ rệt các bản sao của Pong tràn ngập thị trường cả hệ arcade và hệ máy gia dụng. Cơn khủng hoảng cuối cùng đã kết thúc với sự thành công của game Space Invaders được hãng Taito phát triển và phát hành năm 1978, làm dấy lên một sự phục hưng của ngành công nghiệp game video và mở đường cho thời kỳ hoàng kim của các game arcade. Ngay sau đó, Space Invaders được cấp phép trên máy Atari VCS (về sau được đổi tên thành Atari 2600) trở thành ứng dụng có tầm quan trọng đặc biệt đầu tiên và cũng giúp doanh số bán ra Atari 2600 được nhân lên gấp nhiều lần. Điều này giúp Atari phục hồi từ tổn thất trước đó. Thành công của Atari 2600 đã làm hồi sinh thị trường máy chơi game gia dụng, cho tới khi thị trường video game Bắc Mỹ khủng hoảng vào năm 1983.
=== Thế hệ console thứ hai (1977-1983) ===
Trong thời kỳ đầu của các máy console, các mã máy tính cho một hoặc nhiều game thường được gắn cứng vào vi mạch sử dụng các hệ thống logic rời rạc, và không thể bổ sung được. Cho tới giữa những năm 1970, ngành công nghiệp game sáng chế ra được băng chơi game (ROM cartridge), bắt đầu vào năm 1976 với sự ra đời của cỗ máy Fairchild 'Video Entertainment System (VES). Các chương trình được ghi lên các chip ROM và được gắn bên trong vỏ băng bằng nhựa mà có thể gắn vào các khe cắm trên chiếc máy. Khi chiếc băng được gắn vào, vi xử lý trên máy sẽ đọc bộ nhớ của băng và thực thi bất kỳ chương trình nào trong đó. Thay vì bị giới hạn với một vài lựa chọn ít ỏi các game có sẵn trong hệ thống, khách hàng giờ đây có thể tích lũy cả một thư viện các băng chơi game cho mình. Tuy nhiên sản xuất video game vẫn còn là một kỹ năng hẹp vào thời điểm đó. Warren Robinett, lập trình viên nổi tiếng với tựa game Adventure, nói về việc phát triển game:"trong thời buổi trước kia, mỗi game cho máy chơi game Atari 2600 được làm hoàn toàn bởi một người, lập trình viên, người mà hình thành khái niệm cho trò chơi, viết chương trình, sau đó dựng hình ảnh cho game-các hình ảnh thường được vẽ trên giấy vẽ đồ thị trước rồi sau đó được chuyển đổi bằng tay sang hệ thập lục phân-, rồi sau đó là tạo âm thanh".
Dưới đây là ba cỗ máy thống trị thế hệ thứ hai của console trên Bắc Mỹ, với doanh số bán ra vượt xa các đối thủ còn lại:
Video Computer System (VCS) băng có ROM -cỗ máy console cơ bản, về sau đổi tên thành Atari 2600, ra mắt năm 1977 bởi Atari. Chín game đã được thiết kế và phát hành cho kỳ nghỉ lễ năm 1977. Trong khi cỗ máy console này có một sự khởi đầu chậm chạp, thì bản chuyển thể của game Space Invaders trên hệ arcade sang nó đã trở thành ứng dụng có tầm quan trọng đặc biệt và tăng số lượng bán ra lên nhiều lần. Ngay sau đó, Atari 2600 nhanh chóng trở thành cỗ máy console phổ biến nhất thời kỳ đầu trước khi ngành công nghiệp game khủng hoảng lần hai vào năm 1983
Intellivision, giới thiệu bởi hãng sản xuất đồ chơi Mattel năm 1980. Mặc dù theo thứ tự thời gian thì cỗ máy này thuộc "thế hệ 8-bit", nhưng Intellivision có một bộ vi xử lý độc nhất với độ rộng 10-bit (cho phép xử lý đa dạng hơn và tăng tốc độ tiềm năng), và các thanh ghi rộng 16 bit. Hệ thống này, với các tính năng cao hơn hẳn cỗ máy Atari 2600 lỗi thời, nhanh chóng trở nên phổ biến.
ColecoVision, một cỗ máy thậm chí còn mạnh mẽ hơn, xuất hiện vào năm 1982. Doanh số bán ra của nó cũng tăng vọt nhanh chóng, nhưng với sự xuất hiện của ba cỗ máy chơi game lớn trên thị trường cùng với tình trạng quá nhiều các game chất lượng kém bắt đầu làm chật cứng các kệ bán lẻ và làm giảm sút sự hứng thú của khách hàng vào video game. Trong vòng một năm sự quá tải này khiến cho thị trường sụp đổ.
Năm 1979, Activision được thành lập với các thành viên là các cựu nhân viên lập trình bất mãn của Atari "những người đã nhận ra rằng các game mà họ ẩn danh lập trình với mức lương chỉ 20.000 USD một năm nhưng lại thu về tới 60% của 100 triệu USD doanh số bán băng của hãng trong một năm". Activision trở thành hãng phát triển thứ ba đầu tiên về video game. Cho tới năm 1982, khoảng 8 triệu gia đình Mỹ sở hữu ít nhất một máy chơi game console, và toàn ngành công nghiệp tạo ra một doanh thu hằng năm là 13,8 tỉ USD, và trong đó doanh thu của các loại máy chơi game gia dụng là 3,8 tỉ, gần bằng một nửa lợi nhuận (8 tỉ USD) thu về bởi các máy chơi game arcade thời điểm đó.
=== Game trên máy tính gia dụng (cuối thập niên 70 tới đầu thập niên 80) ===
Khi những thành quả của video game thời kỳ đầu tập trung chủ yếu ở thị trường máy arcade và console, máy tính gia dụng (là một loại máy tính cá nhân xuất hiện vào cuối những năm 70 với giá thành thấp và cũng không mạnh mẽ lắm về bộ nhớ cũng như khả năng mở rộng tuy nhiên lại có một hệ thống đồ họa và âm thanh tốt hơn các máy tính dùng cho công việc hoặc nghiên cứu khoa học thời đó) lại nhanh chóng phát triển vào thập niên 80, cho phép chủ sở hữu có thể lập trình các game đơn giản. Các nhóm ưa thích lập trình trên loại máy tính mới này sớm hình thành và cho ra đời các game trên chúng.
Ban đầu rất nhiều các game này -chỉ là bản sao trên máy tính lớn của các tựa nổi tiếng như Star Trek, và về sau là bản chuyển thể hoặc bản sao của các game nổi tiếng trên arcade như Space Invaders, Frogger, Pac-Man và Donkey Kong— được phân phối thông qua nhiều kênh, như là in mã nguồn của trò chơi trong sách (ví dụ:David Ahl’s BASIC Computer Games), tạp chí (Creative Computing), và bản tin, điều này cho phép người sử dụng có thể tự đánh máy các mã này vào máy tính. Các nhà thiết kế game thời kỳ đầu (trên máy tính lớn) như Crowther, Daglow và Yob có thể thấy rằng các mã chương trình game của họ-thứ mà họ chưa bao giờ nghĩ về vấn đề bản quyền- được xuất bản trên sách và tạp chí nhưng tên của họ thì bị loại ra khỏi danh sách. Các máy tính gia dụng đời đầu từ Apple, Commodore, Tandy và các hãng khác đều có rất nhiều game mà người dùng phải tự viết mã lập trình vào.
Các trò chơi trên máy tính gia dụng còn được phân phối bằng thư hoặc bán qua các đĩa mềm, băng cassette, băng chơi game (ROM cartridge). Ngay sau đó một ngành công nghiệp nhỏ được hình thành, với các lập trình viên không chuyên bán các đĩa game trong các túi nhựa đặt trên giá của các cửa hàng địa phương hoặc gửi qua thư. Richard Garriott đã từng phân phối vài bản sao game nhập vai trên máy tính Akalabeth: World of Doom của mình trong các túi nhựa này trước khi game được chính thức phát hành vào năm 1980.
== Những năm 1980 ==
Ngành công nghiệp game máy tính trải qua nỗi đau lớn của sự phát triển đầu tiên vào đầu những năm 80 khi xuất hiện các nhà phát hành, với nhiều các hãng đáng tin cậy -có khi còn tồn tại trên 30 năm, như Electronic Arts- nhưng cùng với đó là những công ty với những chiến dịch "biến mất trong đêm" đã lừa đảo không ít các nhà phát triển. Trong lúc những game ra đời vào đầu thập kỷ 80 chỉ đơn giản là các bản sao của các game có sẵn trên hệ arcade, thì chi phí khá thấp để phát hành game cho máy tính cá nhân lại cho phép ra đời những game táo bạo, độc đáo.
=== Sự đổi mới thể loại ===
Thời kỳ hoàng kim của thế hệ game arcade đã đạt tới giới hạn của mình vào thập niên 1980. Thời kỳ đã mang lại cho ngành công nghiệp rất nhiều các tiến bộ công nghệ cùng với đó là sự phát triển, ra đời các định nghĩa thể loại game trong vòng vài năm đầu tiên của thập kỷ, bao gồm
Game phiêu lưu hành động: The Legend of Zelda (1986) đã góp phần định nghĩa thể loại phiêu lưu hành động, kết hợp các yếu tố từ các thể loại khác nhau để tạo ra một sự pha trộn hấp dẫn, bao gồm sự khám phá, những câu đố thay đổi, phong cách phiêu lưu, yếu tố hành động, một hệ thống tiền tệ ảo, và một phong cách nhập vai được đơn giản hóa (xây dựng nhân vật không theo điểm kinh nghiệm. Trò chơi cũng là một hình mẫu sơ khai về thế giới mở, lối chơi không tuyến tính, và giới thiệu sự cách tân mới về công nghệ như pin lưu game.
Game hành động nhập vai: Dragon Slayer II: Xanadu (1985) được coi là game hành động nhập vai chính thức đầu tiên, với hệ thống chỉ số cho nhân vật và các nhiệm vụ lớn, cùng phong cách hành động thiết lập dựa trên các game nhập vai khác. Zelda II: The Adventure of Link (1987), phát triển bởi Shigeru Miyamoto, xác định chính xác hơn và cũng phổ biến rộng rãi hơn cho thể loại game kết hợp giữa hành động-nhập vai.
Game phiêu lưu: Zork (1980) thể loại game phiêu lưu dạng chữ tiếp tục phổ biến rộng rãi ở thị trường máy tính gia dụng và hãng phát triển mới thành lập Infocom thống trị lĩnh vực này. Với việc các máy tính thời kỳ này thường có hình ảnh nghèo nàn, nên game phiêu lưu dạng chữ trở nên phổ biến. Mystery House (1980), một game của Roberta Williams cho chiếc máy tính Apple II, là game phiêu lưu hình ảnh đầu tiên. Toàn bộ đồ họa của game chỉ là các bản vẽ đơn sắc tĩnh, và tương tác trong game vẫn sử dụng các dòng lệnh như game phiêu lưu dạng chữ. Game này trở nên cực kỳ nổi tiếng trong thời điểm đó, và Roberta cùng chồng bà là Ken đã tiến tới thành lập nên Sierra On-Line, một hãng sản xuất chủ yếu là game phiêu lưu. Game King's Quest (1984) -một game của Sierra- đặt nền móng cho các game phiêu lưu hiện đại. Game có hình ảnh màu và cung cấp góc nhìn người thứ ba. Nhân vật được người chơi điều khiển trong game có thể di chuyển đến trước hoặc sau vật thể trên nền hai chiều được vẽ theo phối cảnh, tạo ra ảo giác giả không gian ba chiều. Các lệnh tương tác vẫn được nhập qua chữ. Maniac Mansion (1987) đã bỏ hệ thống tương tác bằng chữ ra khỏi game. Thay vào đó, LucasArts xây dựng hệ thống SCUMM cho phép tương tác bằng chuột "trỏ-và-click". Sierra và các công ty khác nhanh chóng theo cách tương tác bằng chuột này.
Beat 'em up (tạm dịch: đánh bại chúng): Kung-Fu Master (1984), một phim của Hong Kong đã truyền cảm hứng cho thể loại game hành động này, đặt nền tảng cho kiểu di chuyển ngang màn hình; beat 'em ups là thể loại game chiến đấu với lối chơi đơn giản và số lượng kẻ địch lớn. Nekketsu Kōha Kunio-kun (1986), cũng được ra mắt với tên Renegade, không theo chủ đề võ thuật truyền thống mà giới thiệu cách đánh đường phố vào trong game, và là trò chơi đặt tiêu chuẩn cho thể loại beat 'em up trong tương lai với khả năng di chuyển theo cả hai chiều trái phải và lên xuống.
Game theo phong cách điện ảnh (cinematic platformer): Prince of Persia (1989) là game theo phong cách điện ảnh đầu tiên.
Game nhập vai trên máy tính: Akalabeth (1980) được tạo ra cùng năm với game Rogue; Akalabeth là cảm hứng cho game tiếp theo Ultima (1981). Và Ultima cùng với Wizardry(1981) lại truyền tải tinh thần cho các game nhập vai trên console thời kỳ đầu của Nhật Bản. The Bard's Tale (1985) của hãng Interplay Entertainment được coi là game nhập vai trên máy tính đầu tiên với số lượng người chơi đông đảo và gần như không có đối thủ cho tới khi Diablo của Blizzard Entertainment xuất hiện.
Game nhập vai trên console: Dragon Warrior (1986), phát triển bởi Yuji Horii, là một trong những game nhập vai trên console đầu tiên. Với phong cách hình ảnh anime của họa sĩ Akira Toriyama (tác giả của bộ truyện nổi tiếng Dragon Ball), Dragon Quest đặt nó ở vị trí tách biệt với game nhập vai trên máy tính. Game này đã tạo ra cả một dòng game Dragon Warrior (về sau đổi tên thành Dragon Quest) đã trở thành biểu mẫu cho sự kết hợp thể loại nhập vai trên console; và truyền cảm hứng cho những game như Phantasy Star của Sega (1987) hay Final Fantasy (1987) của Squaresoft (đến năm 2003 Squaresoft sáp nhập với Enix Corporation thành Square Enix), bản đầu tiên của Final Fantasy thành công rực rỡ và đã sinh ra cả một dòng game lâu đời khi giới thiệu những tính năng như hệ thống góc nhìn bên cạnh trận đấu và lối chơi chiến thuật theo lượt với nhân vật của người chơi ở bên phải và đối phương ở bên trái, điều mà rất nhiều game sau này áp dụng. Megami Tensei (1987) và Phantasy Star (1987) lại không đi theo truyền thống, từ bỏ phong cách trung cổ và chủ đề về kiếm và các pháp sư thường thấy ở hầu hết các game nhập vai, thay vào đó là chủ đề về thế giới hiện tại/tương lai và khoa học viễn tưởng.
Game đối kháng: Karate Champ (1984), một game hành động của hãng Data East, được ghi nhận là một game đã thiết lập và phổ biến thể loại game đối kháng, và tiếp tục ảnh hưởng tới game Yie Ar Kung-Fu (1985) của Konami. Yie Ar Kung-Fu mở rộng thêm lối chơi bằng cách đưa người chơi vào đối mặt với nhiều đối thủ, mỗi đối thủ này có một diện mạo và phong cách chiến đấu đặc trưng.Street Fighter (1987), phát triển bởi Capcom, giới thiệu các đòn thế đặc biệt mà chỉ có thể thực hiện thông qua việc nhấn chính xác các nút trên tay cầm điều khiển.
Chặt và chém (hack and slash): Golden Axe (1988) được ca ngợi bởi lối chơi chặt và chém với nhiều chế độ chiến đấu kết hợp, ảnh hưởng thông qua việc lựa chọn các nhân vật chính với các phong cách đánh khác nhau
Tương tác phim: (thể loại game mà toàn bộ game được dựng trên một bộ phim hay phim hoạt hình có trước và người chơi sẽ tương tác khi có các yêu cầu xuất hiện trên màn hình. Ví dụ: để nhảy một điệu nhảy thì sẽ có yêu cầu bấm các phím nhất định và nếu bấm sai thì người chơi sẽ phải nhảy lại toàn bộ điệu nhảy đó) Astron Belt (1983), một game bắn súng góc nhìn thứ nhất sơ khai, là video game đầu tiên trên đĩa lade đang trong quá trình phát triển, với tính năng hành động trục tiếp của dựa trên FMV với tàu chiến người chơi với đối thủ và bắn các tia laser lẫn lộn. Dragon's Lair (1983) là game đầu tiên trên đĩa lade được phát hành rộng rãi, đánh bại Astron Belt về sự phổ biến.
Game platform: Space Panic (1980) đôi khi được ghi nhận như là game platform đầu tiên, với lối chơi tập trung vào việc trèo thang để lên xuống các tầng khác nhau. Donkey Kong (1981), một game arcade được làm bởi Shigeru Miyamoto của hãng Nintendo, là game đầu tiên cho phép người chơi nhảy được qua các chướng ngại vật và các khoảng trống, khiến cho nó trở thành game platform đầu tiên đúng như định nghĩa của thể loại này. Donkey Kong cũng là game giới thiệu cho tựa game sau đó Mario, một biểu tượng của game platform. Mario Bros. (1983) cũng do Shigeru Miyamoto phát triển, cung cấp khả năng hợp tác hai người chơi đông thời và đặt nền móng cho kiểu chơi hai người trên thể loại platform.
Game platform với màn hình di chuyển theo nhân vật: Jump Bug (1981), một game bắn súng platform của hãng Alpha Denshi Corporation, là game đầu tiên sử dụng kiểu hình ảnh di chuyển theo nhân vật chính. Game Jungle King (1982) hãng của Taito giới thiệu tính năng chạy và nhảy qua các chướng ngại vật. Hãng Namco tiến thêm một bước nữa trong thể loại này với game Pac-Land (1984), là game đầu tiên giới thiệu tinh năng di chuyển thị sai bằng hình ảnh đa lớp (parallax scrolling) và gần giống như các game về sau như Super Mario Bros. (1985) hay Wonder Boy (1986).
Game bắn súng với màn hình di chuyển theo nhân vật: Defender (1980) sử dụng tính năng di chuyển theo nhân vật vào thể loại shoot 'em ups, di chuyển màn hình theo chiều ngang. Scramble (1981) là game đầu tiên di chuyển theo chiều ngang với nhiều cấp độ khác biệt. Jump Bug (1981) là game bắn súng platform đơn giản với người chơi điều khiển một cái xe có thể nhảy. Trong game có thể di chuyển theo cả chiều ngang và chiều dọc. Vanguard (1981) là game bắn súng platform mà cho phép người chơi bắn theo bốn hướng. Xevious (1982) thường được trích dẫn là game bắn súng di chuyển theo chiều dọc đầu tiên, mặc dù trước đó đã có các game di chuyển theo chiều dọc, nhưng đây là game có tầm ảnh hưởng lớn nhất. Moon Patrol (1982) giới thiệu công nghệ di chuyển thị sai trên đồ họa máy tính. Gradius (1985) cho người chơi điều khiển sâu hơn về lựa chọn vũ khí, do vậy tăng cường các yếu tố chiến lược. Game cũng cho phép người chơi ghi nhớ các cấp độ đã đạt được nhắm làm thước đo đánh giá thành công. Thrust (1986) cho người chơi điều khiển một phi thuyền đi qua một loạt các hang động hai chiều, với mục tiêu là lấy được một quả bóng lơ lửng, trong khi chống lại lực hút của trọng lực, sức ỳ và tránh hoặc tiêu diệt tháp canh của địch.
Game platform giả ba chiều (game 2.5D): Congo Bongo (1983), do Sega phát triển, là game giả 3 chiều đầu tiên.
Game bắn súng giả ba chiều: Zaxxon (1982) là game bắn súng đầu tiên sử dụng phép chiếu (góc nhìn) giả 3 chiều.
Game bắn súng sử dụng súng ánh sáng: NES Zapper là súng ánh sáng thương mại đầu tiên. Và game thành công nhất với súng ánh sáng là Duck Hunt 1984, là game đi kèm khi mua máy NES.
Game mê cung: Pac-Man (1980) là game đầu tiên đạt được sự phổ biến rộng rãi trong văn hóa game chính thống và là nhân vật đầu tiên trở nên nổi tiếng bởi bản thân game. 3D Monster Maze (1981) là game 3D đầu tiên cho máy tính gia dụng, sau đó Dungeons of Daggorath (1982) thêm vào rất nhiều vũ khí và các con quái vật, hiệu ứng âm thanh tinh vi, và một chế độ hiển thị thanh sức khỏe theo nhịp tim.
Game platform-phiêu lưu: Metroid (1986) là game sớm nhất kết hợp các nguyên tắc cơ bản của game platform với các yếu tố của game hành động-phiêu lưu, cùng vài đặc trưng của game nhập vai. Những yếu tố này bao gồm khả năng khám phá các khu vực trong game một cách tự do, với đường vào những khu vực mới thông qua các kỹ năng mới học hoặc sử dụng các món đồ trong hòm đồ. Zelda II: The Adventure of Link (1987) and Castlevania II: Simon's Quest (1987) là hai ví dụ khác về game platform kết hợp yếu tố phiêu lưu.
Game đua xe: Turbo (1981), của Sega, là game đua xe đầu tiên với góc nhìn người thứ ba nhìn từ phía sau. Pole Position (1982), của Namco, sử dụng góc nhìn cố định vào nhân vật, hình ảnh giả 3 chiều (2.5D) và biến đổi góc nhìn người thứ ba từ phía sau thành "góc nhìn đua xe từ phía sau" mà người chơi sẽ nhìn từ đằng sau và phía trên của phương tiện, nhìn thẳng ra đường đua phía trước với đường chân trời trong tầm nhìn. Phong cách này nhanh chóng được sử dụng rộng rãi và kể cả khi game ba chiều trở thành chuẩn mực cho game đua xe.
Shoot 'em up: Hover Attack (1984) cho máy tính gia dụng Sharp X1 là game bắn và chạy mà có thể di chuyển về mọi hướng và cho phép người chơi bắn súng theo đường chéo cũng như bắn thẳng phía trước. Space Harrier (1985) là một trong những game shoot 'em up thời kỳ đầu đã đặt một mốc mới về hình ảnh và sự đa dạng của nó với nhiều cấp độ- cho người chơi nhiều đối thủ hơn để có nhiều điểm hơn. Game này cũng là một trong những hình mẫu về game bắn súng góc nhìn người thứ ba thời kỳ đầu. Cũng trong năm 1985 xuất hiện Thexder, một nhãn hiệu đột phá trong thể loại bắn và chạy. Commando (1985) là một game có ảnh hưởng lớn khi nhân vật điều khiển trong game là một người lính chứ không phải là một phương tiện
Chiến lược thời gian thực: Herzog Zwei (1989) được coi là game chiến lược thời gian thực đầu tiên, trước khi Dune II trở nên nổi tiếng. Đây là hình mẫu sớm nhất của game RTS theo định nghĩa hiện nay
Game nhịp điệu: Dance Aerobics ra mắt năm 1987 cho phép người chơi tạo ra âm nhạc bằng cách dậm chân lên Power Pad của Nintendo. Về sau game được coi là game nhịp điệu đầu tiên.
Game hành động lén lút: 005 (1981), một game arcade của Sega, là một minh chứng sớm nhất về thể loại game lén lút. Metal Gear (1987), do nhà phát triển game nổi tiếng của Nhật Bản Hideo Kojima (người đã tạo ra và phát triển loạt game Metal Gear Solid và Metal Gear Acid), là game hành lén lút đầu tiên trong khuôn khổ thể loại hành động-phiêu lưu, và trở thành game lén lút đầu tiên thành công về mặt thương mại.
Game kinh dị: Haunted House (1981) giới thiệu các yếu tố của một tiểu thuyết kinh dị. Sweet Home (1989) thêm vào các tính chất chủ đạo của thể loại này. Lối chơi bao gồm việc chiến đấu chống lại các sinh vật ghê rợn và giải đố. Phát triển bởi Capcom, Sweet Home ảnh hưởng lớn đến tựa game tiếp theo của hãng là Resident Evil (1996) với việc sử dụng cách thiết kế kiểu dinh thự và kiểu chuyển cảnh theo từng đoạn tương tự nhau.
Game mô phỏng phương tiện: Battlezone (1980) sử dụng kiểu hình ảnh vectơ để tạo ra thế giới ba chiều thực sự đầu tiên trong game (hình ảnh trong game chỉ là những đa giác đơn giản trông như các khung dây được nối lại với nhau). Elite (1984), do David Braben và Ian Bell thiết kế, mở ra thời đại của đồ họa 3D theo phong cách hiện đại, với kiểu hình ảnh vectơ chân thực hơn, điều khiển di chuyển vật thể tự do theo 6 mức độ, và có thể đến được hàng ngàn các hệ thống hành tinh. Game được coi là một tiên phong của thể loại game mô phỏng tàu không gian.
Visual novel: Portopia Renzoku Satsujin Jiken (1983), phát triển bởi nhà thiết kế game Yuji Horii (nhà thiết kế cho tựa game nổi tiếng Dragon Quest), là game visual novel đầu tiên và là một trong những game phiêu lưu bằng hình ảnh sớm nhất (hình ảnh tĩnh), với góc nhìn người thứ nhất, kèm theo lối kể chuyện tự sự, đồng thời game cũng là game phiêu lưu đầu tiên với hình ảnh có màu. Portopia Renzoku Satsujin Jiken đã truyền cảm hứng cho Hideo Kojima tham gia vào ngành công nghiệp game và về sau phát triển game phiêu lưu hình ảnh của riêng mình,Snatcher (1988).
=== Game trên máy tính ===
Theo sau thành công của hai cỗ máy tính gia dụng Apple II và Commodore PET vào cuối những năm 1970 là một loạt các dòng máy rẻ hơn và cũng thua kém hai đàn anh này xuất hiện vào đầu thập niên 1980. Những chiếc máy tính gia dụng này bao gồm Commodore Vic 20 và 64; hãng Sinclair với ZX80, ZX81 và ZX Spectrum; NEC PC-8000, PC-6001, PC-88 và PC-98; Sharp X1 và X68000; và họ máy tính Atari 8-bit, BBC Micro, Acorn Electron, Amstrad CPC, và dòng MSX. Những đối thủ này đã giúp kích thích cả thị trường máy tính gia dụng lẫn thị trường game, bằng cách nâng cao nhận thức về máy tính và chơi game qua các chiến dịch quảng cáo cạnh tranh của mình.
Ba hãng Sinclair, Acorn và Amstrad các dịch vụ nói chung chỉ được biết đến trong Châu Âu và Châu Phi, NEC và Sharp lại khá nổi tiếng ở khu vực Châu Á, trong khi MSX có trụ sở ở Bắc và Nam Mỹ, châu Âu, và châu Á, trong khi đó các hãng có trụ sở ở Mỹ như Apple, Commodore và Atari lại có thể cung cấp sản phẩm của mình cho cả thị trường Hoa Kỳ cũng như châu Âu.
Năm 1984, thị trường game máy tính tiếp quản luôn thị trường game trên console do cơn khủng hoảng vào năm đó; máy tính cung cấp khả năng chơi game gần bằng với console và từ khi có kiểu thiết kế đơn giản của máy tính gia dụng cho phép phần mềm game có thể hoàn toàn điều khiển phần cứng sau khi bật máy (gần như game trở thành hệ điều hành), điều này khiến cho việc khởi động game trên máy tính dễ dàng như trên console.
Commodore 64 được giới thiệu trước công chúng vào tháng 8 năm 1982. Chiếc máy đạt được những thành công ban đầu vì được tiếp thị tốt và có giá cạnh tranh, sử dụng môi trường lập trình BASIC, hệ thống đồ họa tiên tiến và tính năng âm thanh tốt vào thời đó, giống như máy console ColecoVision. Hơn nữa Commodore 64 còn sử dụng cổng giao tiếp với tay cầm điều khiển game phổ biến bởi Atari 2600, cho phép game thủ sử dụng tay cầm cũ của Atari 2600 với hệ thống. Cỗ máy tính gia dụng này trở thành máy tính phổ biến nhất vào thời đó tại Mỹ và rất nhiều các nước khác, đồng thời cũng là mẫu máy tính cá nhân bán chạy nhất mọi thời đại.
Cũng trong khoảng thời gian này, máy ZX Spectrum của hãng Sinclair được ra mắt tại Anh và nhanh chóng trở thành máy tính gia dụng phổ biến nhất tại rất nhiều khu vực của Tây Âu và về sau là khối phía Đông- do sự dễ dàng làm nhái của chiếc máy này.
Các máy tính tương thích IBM (máy tính với khả năng mở rộng cao) trở thành một kỹ thuật mang tính cạnh tranh cho nền tảng máy tính chơi game với sự xuất hiện PC/AT của IBM năm 1984. Hệ 4-màu nguyên thủy CGA (Color Graphics Adapter) (chuẩn màu của IBM) của thế hệ trước chỉ giới hạn cho phân khúc thị trường là các doanh nghiệp hoặc người dùng máy tính để làm việc, và hệ màu này thua xa so với Commodore 64 hay Apple II. Hệ 16 màu chuẩn EGA (Enhanced Graphics Adapter) mới này cho phép hình ảnh gần đạt đến chất lượng hình ảnh đã thấy ở các máy tính gia dụng khác như Commodore 64. Hệ thống tương thích âm thanh sử dụng từ mẫu máy tính AT trước đây, tuy nhiên, điều này vẫn giới hạn tới khả năng phát của loa máy tính, khi mà nó vẫn thua kém chất lượng so với cách gắn sẵn chip xử lý âm thanh đã có ở các loại máy tính gia dụng khác. Ngoài ra, chi phí sản xuất tương đối cao của các hệ thống máy tính tương thích hạn chế nghiêm trọng sự phổ biến của dòng PC/AT với thị trường máy tính chơi game.
Máy Macintosh của Apple cũng xuất hiện vào thời kỳ này. Nó thiếu các tính năng màu sắc của Apple II trước đây, thay vào đó là nâng cao độ phân giải, nhưng hệ điều hành của Mac lại hỗ trợ giao diện người dùng đồ họa (GUI) đã cuốn hút các nhà phát triển làm ra một số game thú vị (như Lode Runner) trước cả khi màu sắc đã trở lại đẹp hơn vào năm 1987 với chiếc Mac II.
Sự xuất hiện của Atari ST (của Atari) và Amiga của Commodore vào năm 1985 là sự khởi đầu cho một kỷ nguyên mới: thế hệ 16-bit. Đối với phần đông người dùng thì hai loại máy tính mới này quá đắt đỏ cho đến gần cuối của thập kỷ, ở thời điểm mà các tiến bộ trong nền tảng máy tính mở của IBM đã tạo ra một thế hệ máy tính tương thích (nơi mà các nhà sản xuất phần cứng chuyên biệt bắt đầu tham gia thị trường này vì sản xuất một phần của máy tính sẽ dễ dàng hơn là lập ra cả một tập đoàn để sản xuất đầy đủ cả một chiếc máy) khiến máy tính của IBM có sức cạnh tranh đủ mạnh với một mức giá thấp hơn so với các đối thủ. Chuẩn VGA phát triển cho chiếc máy PS/2 (IBM Personal System/2) mới của IBM vào năm 1987 cho phép PC có khả năng hiển thị 256 màu. Đây là một bước nhảy vọt trước các máy tính gia dụng đa phần lúc đó là 8 bit, nhưng vẫn tụt hậu so với các nền tảng tích hợp cố định sẵn phần cứng hình ảnh và âm thanh như máy Amiga (ra đời năm 1985 của hãng Commodore). Điều này gây ra một xu hướng kỳ lạ vào những năm 89-91 theo hướng phát triển đến một loại máy tính có vẻ yếu hơn các máy trước đó. Do đó khi cả 2 chiếc máy Atari ST và Amiga đều là nơi thích hợp về mặt kỹ thuật để có những game tuyệt vời, nhưng thời gian nổi tiếng của chúng ngắn hơn so với thời các máy 8 bit, khi có những cổng giao tiếp mới vào những năm 80 và thậm chí là cả những năm 90.
Card âm thanh chuyên dụng bắt đầu giải quyết vấn đề khả năng tạo âm thanh nghèo nàn với máy tính tương thích của IBM trong những năm cuối 1980. Hãng sản xuất card âm thanh Ad Lib (đã đóng cửa) đã sớm đặt một tiêu chuẩn dựa trên thực tế (tiêu chuẩn không chính thức) cho card âm thanh vào năm 1987, với các sản phẩm của mình dựa trên chip âm thanh YM3812 của Yamaha. Chuẩn này tồn tại cho đến khi Creative Labs (nay là Creative Technology Ltd.) cho ra mắt sản phẩm Sound Blaster vào năm 1989, với việc thay thế chip và thêm vào các tính năng mới trong khi vẫn tương thích với các card của Ad Lib, đông thời tạo ra một chuẩn dựa trên thực tế nữa. Tuy nhiên, nhiều game của thời kỳ này vẫn hỗ trợ các chuẩn âm thanh mới này và cả những chuẩn khá hiếm như Roland MT-32 và Disney Sound Source cho tới đầu thập niên 90. Giá bán thời kỳ đầu cao đồng nghĩa với việc những chiếc card âm thanh này sẽ không phổ biến cho tới những năm 90.
Những game chia sẻ lần đầu xuất hiện vào giữa những năm 80 nhưng thành công lớn đối với cách này lại đến vào thập kỷ sau đó.
=== Game online thời kỳ đầu ===
Hệ thống bảng thông tin (bulletin board systems) quay số (dial-up) đã khá phổ biến vào thập niên 80, và đôi khi được sử dụng đổ chơi game online. Loại hình sơ khai nhất của hệ thống này xuất hiện vào cuối những năm 70 đến đầu những năm 80 và có một giao diện văn bản đơn giản. Về sau các hệ thống sử dụng các ký tự điều khiển vào/ra (cũng hay được gọi là nghệ thuật ANSI, bao gồm cả các ký tự cụ thể cho các máy tính tương thích IBM mà không nằm trong chuẩn ANSI) để tạo ra một kiểu giao diện giả lập hình ảnh. Một số hệ thống mạng cung cấp khả năng truy cập tới nhiều trò chơi trực tuyến khác nhau nơi mà người chơi có thể chơi game với kiểu giao diện thiếu hình ảnh như vậy, từ những game phiêu lưu dạng chữ cho tới các game đánh bạc như blackjack (thường thì người chơi bằng điểm số hơn là tiền thật). Trên một số hệ thống mạng nhiều người dùng (cho phép hơn một người dùng có thể kết nối cùng lúc), có những game cho phép các người chơi tương tác với nhau.
Hãng SuperSet Software tạo ra game Snipes (chim dẽ giun hay chim mỏ nhát), một game chơi mạng dạng chữ ra đời năm 1983 để kiểm tra một loại máy tính cá nhân mới của IBM và tính tương thích với hệ thống mạng của nó. Snipes được chính thức ghi nhận là game có ảnh hưởng đến việc tạo ra hệ thống mạng Novell NetWare. Nó được cho là trò chơi mạng bằng văn bản đầu tiên cho một máy tính cá nhân thương mại và được công nhận cùng với Maze War năm 1974 (một game mê cung chơi mạng dùng trên vài máy tính nghiên cứu) và Spasim (1974) (game 3D mô phỏng không gian nhiều người chơi được chia sẻ giữa các máy tính lớn thời kỳ đó) cũng như là tiền thân của các game chơi mạng về sau như MIDI Maze (1987) và Doom (1993). Các dịch vụ thương mại trực tuyến cũng nảy sinh trong thời kỳ này. Giao diện người dùng ban đầu chỉ là những văn bản đơn giản cho các hệ thống mạng -nhưng chúng chỉ hoạt động trên những máy tính cực lớn, để cho phép nhiều người tham gia mạng cùng lúc. Cho đến cuối thập kỷ, các dịch vụ nội tuyến đã có một môi trường giao diện hình ảnh đầy đủ sử dụng phần mềm cụ thể cho từng nền tảng máy tính cá nhân. Các nhà cung cấp dịch vụ mạng với giao diện văn bản nổi tiếng lúc đó bao gồm CompuServe, The Source, và GEnie, trong khi các hãng cung cấp dịch vụ mạng với giao diện hình ảnh riêng biệt cho từng hệ máy gồm có PlayNET và Quantum Link cho máy Commodore 64, AppleLink cho Apple II và Macintosh, và PC Link cho máy tính của IBM— tất cả đều được điều hành bởi một công ty mà sau đó trở thành America Online và một công ty cung cấp hệ thống máy chủ là Prodigy. Các tinh năng tương tác trong game được cung cấp thông qua các dịch vụ này, dù cho tới năm 1987 giao diện của chúng vẫn chỉ là văn bản không hình ảnh.
=== Game trên hệ máy cầm tay màn hình tinh thể lỏng ===
Năm 1979, hãng Milton Bradley Company giới thiệu hệ thống chơi game cầm tay đầu tiên sử dụng băng Microvision có thể thay thế được. Và hệ máy này nhận được thành công khiêm tốn trong năm đầu sản xuất, số lượng game ít ỏi, kích thước màn hình và sự khủng hoảng video game vào năm 1983 đã khiến cho chiếc máy có một cuộc đời ngắn ngủi.
Năm 1980, Nintendo cho ra mắt dòng sản phẩm Game & Watch, một hệ máy trò chơi điện tử cầm tay mà đã thúc đẩy hàng tá các công ty sản xuất đồ chơi và trò chơi để làm các game của mình, rất nhiều các game này chỉ là bản sao của các tựa game trên Game & Watch hoặc chuyển thể từ hệ arcade. Công nghệ LCD tiến bộ nhanh chóng đồng nghĩa với các hệ máy cầm tay mới có thể chắc chắn hơn và tiêu thụ ít pin hơn LED hay VFD, gần như chỉ yêu cầu pin dùng cho đồng hồ đeo tay. Và đồng thời màn hình LCD trên máy cầm tay cũng có kích thước nhỏ hơn phần lớn các màn hình sử dụng LED, nhỏ tới mức có thể đeo trên cổ tay như một cái đồng hồ. Hãng Tiger Electronics đã vay mượn ý tưởng này của Nintendo với các hệ máy cầm tay giá cả phải chăng và vẫn sản xuất các game cho mẫu này cho tới ngày nay.
=== Cuộc khủng hoảng video game năm 1983 ===
Vào cuối năm 1983, ngành công nghiệp game trải qua sự tổn thất còn lớn hơn cả cuộc khủng hoảng năm 1977. Đây là sự sụp đổ của cả ngành công nghiệp (không giống như năm 1977 là chỉ sụp đổ cho hệ arcade và một phần console), cũng như là sự phá sản của một vài hãng chuyên sản xuất máy tính gia dụng và hệ console cho thị trường Bắc Mỹ vào cuối năm 1983 và 1984. Nó mang đến cái gọi là sự kết thúc của các hệ máy console thế hệ hai. Gây ra sự sụp đổ này còn bao gồm các sản phẩm game được thiết kế một cách tệ hại như Custer's Revenge, E.T. the Extra-Terrestrial, và Pac-Man cho hệ máy Atari 2600 do phải chịu áp lực phát hành cực kỳ chặt chẽ. Có phát hiện rằng số lượng băng Pac-Man được sản xuất ra nhiều hơn số lượng được bán ra. Thêm vào đó, có quá nhiều băng E.T. the Extra-Terrestrial không thể tiêu thụ khiến cho hãng Atari phải quyết định chôn hàng ngàn băng của mình tại một bãi rác ở New Mexico.
=== Thế hệ console thứ ba (1983-1995) ===
Năm 1985, thị trường game console game tại Bắc Mỹ được hồi sinh với các sản phẩm console 8-bit của Nintendo, hệ thống này ở Mỹ có tên Famicom, còn ở các khu vực khác thì được gọi là Nintendo Entertainment System (NES). Hệ thống được bán kèm với Super Mario Bros. và ngay lập tức trở nên thành công. Máy NES đã thống trị trên thị trường Bắc Mỹ và Nhật Bản cho tới khi có sự trỗi dậy của thế hệ console tiếp theo vào đầu những năm 90. Các thị trường khác thì NES không đạt được sự thống trị lớn như Bắc Mỹ và Nhật Bản, cho phép các hệ máy khác có các khách hàng trung thành như Sega Master System ở Châu Âu, Úc và Brasil (dù hệ máy này cũng được bán ở Bắc Mỹ).
Với thế hệ console mới này, tay cầm hay tay điều khiển, thay thế vị trí của cần điều khiển, tay cầm điều khiển có nút cuộn (paddle), và bàn phím số như là thiết bị điều khiển mặc định đi kèm với hệ thống. Tay cầm được thiết kế với khả năng di chuyển theo 8 hướng nên còn gọi là tay cầm điều hướng (Directional-pad hay gọi tắt là D-pad) với 2 hay nhiều nút để tương tác đã trở thành chuẩn mực cho các hệ máy về sau.
Dòng game Legend of Zelda xuất hiện lần đầu vào năm 1986 với game The Legend of Zelda. Trong cùng năm, dòng Dragon Quest xuất hiện với tác phẩm đầu tay là Dragon Quest, và đã tạo ra một hiện tượng văn hóa chưa từng thấy ở Nhật Bản. Năm sau đó, hãng Square đang trong thời kỳ cực kỳ khó khăn và Hironobu Sakaguchi quyết định làm game cuối cùng của mình -một game nhập vai theo kiểu của Dragon Quest và đặt tên là Final Fantasy —kết quả là ra đời dòng game Final Fantasy, mà về sau trở thành một trong những tựa game nhập vai (theo kiểu Nhật Bản) thành công nhất. Năm 1987 cũng là năm ra đời của thể loại game lén lút với dòng game Metal Gear của Hideo Kojima -phiên bản đầu được thiết kế cho máy tính MSX2 và sau đó nhanh chóng được chuyển sang hệ máy NES. Năm 1989, Capcom ra mắt game Sweet Home trên máy NES, mà về sau được coi như là tiền thân của thể loại game kinh dị.
Năm 1988, Nintendo phát hành số đầu tiên của tạp chí Nintendo Power.
Thế hệ này kết thúc với việc ngưng sản xuất máy NES vào năm 1995.
== Những năm 1990 ==
Những năm 1990 đánh dấu một sự cách tân trong ngành công nghiệp game. Đó là thập kỷ của sự biến đổi từ đồ họa raster sang đồ họa 3 chiều và đã dẫn đến sự ra đời của một vài thể loại game bao gồm bắn súng góc nhìn người thứ nhất, chiến lược thời gian thực, và game trực tuyến. Game trên hệ máy cầm tay trở nên phổ biến rộng rãi, một phần nhờ vào việc phát hành Game Boy. Game trên arcade, mặc dù vẫn còn tương đối phổ biến vào đầu thập kỷ, bắt đầu suy giảm do sự phổ biến dần của các hệ console gia dụng.
Ngành công nghiệp game trở thành một dạng giải trí chính thức vào những năm 90. Các bước phát triển lớn của thập kỷ bao gồm: các hãng phát hành bắt đầu củng cố vững mạnh hơn, ngân sách để phát triển game cao hơn, các đội ngũ sản xuất lớn hơn và sự kết hợp với cả ngành công nghiệp âm nhạc lẫn phim ảnh. Ví dụ cho điều này có thể là việc diễn viên Mark Hamill tham gia vào game Wing Commander III hay nhà soạn nhạc Quincy Jones giới thiệu công nghệ âm thanh giả lập ba chiều QSound.
Sự tăng cường sức mạnh điện toán và sự giảm giá thành của các vi xử lý như Intel 80386, Intel 80486, và Motorola 68030, khiến cho đồ họa 3 chiều trở nên phát triển, cũng như tính tương thích đa phương tiện giữa card âm thanh và CD-ROM. Các game 3D sơ khai bắt đầu thể hiện được khả năng tô bóng đa giác (flat-shading) (như các game:Elite, Starglider 2 hay Alpha Waves) và sau đó là các dạng đơn giản của kết cấu bề mặt (như Wolfenstein 3D).
Từ năm 1989 đến đầu những năm 1990 có sự xuất hiện và phổ biến của các cơ sở mã MUD như DikuMUD và LPMud, dẫn đến một sự tăng trưởng to lớn trong sự phát triển và phổ biến của MUD. Trước khi kết thúc thập kỷ, sự tiến hóa của thể loại này tiếp tục từ các game "MUD có hình" trở thành những game MMORPG đầu tiên, như Ultima Online và EverQuest, điều này đã giải phóng những người sử dụng khỏi việc bị giới hạn số lượng tối đa các người chơi mô phỏng trong game và mang đến một thế giới ảo liên tục (thế giới vẫn tiếp tục thay đổi kể cả khi người chơi thoát ra) tới thị trường đại chúng. Một ví dụ điển hình của MUD MMORPG là game Runescape được tạo ra bởi Jagex.
Vào đầu những năm 1990s, việc phân phối phần mềm chia sẻ (shareware) trở thành phương pháp phổ biến để phát hành trò chơi cho các nhà phát triển nhỏ, bao gồm cả các hãng còn non trẻ như Apogee (giờ là 3D Realms), Epic Megagames (bây giờ là Epic Games), và id Software. Nó cho phép khách hàng cơ hội để thử một phần của trò chơi, thường là cho phép người chơi chơi phần đầu tiên hay "chương đầu tiên", trước khi đặt mua toàn bộ các phần còn lại. Kệ của nhiều của hàng thời đó thường trưng bày các đĩa đơn 5 1/4 inch về sau là 3.5 inch và thường chỉ có vài USD cho mỗi đĩa. Từ khi các phiên bản phần mềm chia sẻ trở nên gần như miễn phí, thì giá thành gần như chỉ còn cần cho vỏ bọc đĩa và bao bì. Với các game có dung lượng ngày càng tăng vào giữa thập kỷ khiến chúng trở nên không thực tế khi cho vào các đĩa mềm, và các nhà phân phối bán lẻ cũng như các nhà phát triển bắt đầu nghiêm túc mô phỏng thực tế, phần mềm game chia sẻ giờ đây thay thế bằng các đoạn demo ngắn hơn (thường chỉ có một hai màn chơi), phân phối miễn phí trên các đĩa CD qua các tạp chí hay qua Internet.
Năm 1991, game Sonic the Hedgehog được phát hành. Trò này đã khiến máy Mega Drive của Sega trở nên nổi tiếng, và là đối thủ cạnh tranh với thương hiệu Mario của Nintendo. Nhân vật Sonic trở thành linh vật của Sega và trở thành một trong những nhân vật trong game dễ nhận biết nhất (sau Pacman và Mario)
Năm 1992, Dune II ra mắt. Game này không phải là game theo thể loại chiến lược thời gian thực đầu tiên (một số tựa game khác cũng có thể gọi là game chiến lược thời gian thực đầu tiên,xem lịch sử game chiến lược thời gian thực). Nhưng Dune II đã đặt tiêu chuẩn về lối chơi cho các tựa game bom tấn về sau như Warcraft: Orcs & Humans, Command & Conquer, và StarCraft. Chiến lược thời gian thực với đặc trưng là một góc nhìn trên cao xuống, một bản đồ con (mini-map), và điều khiển một đội quân trên cả lĩnh vực kinh tế lẫn các khía cạnh quân sự. Có hai phong cách đối nghịch trong game chiến lược thời gian thực: phong cách Warcraft- sử dụng một giao diện điều khiển xuất hiện khi chọn một tòa nhà hay một đơn vị, và phong cách C&C-cho phép xây dựng bất kỳ đơn vị nào từ trong một bảng hiện thường xuyên trên màn hình(phong cách này vẫn tiếp tục cho tới đầu thiên kỷ tiếp theo).
Alone in the Dark (1992), dù không phải là game kinh dị đầu tiên, nhưng đã gieo những hạt giống cho thể loại game kinh dị ngày nay. Game lấy phong cách hành động-phiêu lưu và không nhấn mạnh vào cách màn chiến đấu mà tập trung vào việc điều tra, khám phá. Là một trong những game đầu tiên cố gắng mô phỏng các đoạn tình huống trong không gian ba chiều bằng cách pha trộn các đa giác với phông nền hai chiều, nó đã thiết lập nên công thức mà về sau phát triển mạnh mẽ trên các hệ console dùng CD-ROM, với các game như Resident Evil -game đã đặt ra cái tên "survival horror" đồng thời phổ biến thể loại này, và Silent Hill.
Game phiêu lưu tiếp tục phát triển, với dòng game King's Quest của Sierra Entertainment, và dòng Monkey Island của LucasArts trực thuộc LucasFilms đem lại tính tương tác hình ảnh và sự sáng tạo nên khái niệm "trỏ và click" trong game. Myst và các bản tiếp theo của nó truyền cảm hứng cho một phong cách mới trong thể loại phiêu lưu-giải đố. Phát hành năm 1993, bản thân Myst đã là một trong những game trên máy tính đầu tiên tận dụng tối đa được khả năng của định dạng lưu trữ trên CD-ROM. Bất chấp thành công lớn của Myst, sự phổ biến mạnh mẽ của các game hành động và thời gian thực dẫn đến game phiêu lưu và game mô phỏng(hai trụ cột chính của trò chơi trên máy tính trong những thập kỷ trước đó) bắt đầu trôi dần vào quên lãng.
Cũng vào thập kỷ 90, hãng Maxis bắt đầu phát hành dòng game Sims của mình, bắt đầu với SimCity, và tiếp tục với hàng chục tên khác nhau như SimEarth, SimCity 2000, SimAnt, SimTower, và game bán chạy nhất trong lịch sử game trên PC:The Sim, vào đầu những năm 2000.
Năm 1996, 3dfx Interactive cho ra mắt con chip Voodoo, dẫn đầu trong việc tạo ra card tăng tốc đồ họa 3D giá cả phải chăng cho máy tính cá nhân. Bo mạch con dành cho dựng hình 3d này thực hiện một phần của tính toán cần thiết cho nhiều chi tiết đồ họa ba chiều (chủ yếu là lọc kết cấu-texture filtering), cho phép hiển thị nhiều chi tiết đồ họa hơn so với việc CPU bị yêu cầu xử lý cả tính toán trong game và toàn bộ đồ họa. Thể loại bắn súng góc nhìn thứ nhất (FPS) (đáng chú ý là Quake) là những game đi đầu trong việc tận dụng công nghệ mới này. Trong khi các game khác cũng tận dụng card đồ họa, thì thể loại FPS trở thành động lực chính trong việc phát triển những phần cứng 3D mới, cũng như là thước đo về khả năng trình diễn, thường được định lượng bằng số khung hình trên giây (frames per second-fps) dựng được trong một trường đoạn cụ thể của một game cụ thể.
Một vài vấn đề khác, ít quan trọng hơn, đó là khá nhiều thể loại được tạo ra trong thập kỷ này. Thief: The Dark Project của Looking Glass Studios và các phiên bản tiếp theo được ghi nhận là thể loại "hành động lén lút góc nhìn người thứ nhất" đầu tiên. Game chiến lược theo lượt tiến triển hơn nữa, với dòng game danh tiếng Heroes of Might and Magic (HOMM) (của hãng 3DO) thu hút rất nhiều các game khác làm theo phương pháp kết hợp thể loại.
Quake (1996) của Id Software tiên phong trong thể loại FPS chơi qua Internet. Khả năng chơi qua mạng Internet trở thành một yêu cầu quan trọng (dù không thực sự chính thức) trong hầu hết các game bắn súng góc nhìn người thứ nhất. Các thể loại khác cũng bắt đầu cung cấp chơi trực tuyến, bao gồm các game chiến lược thời gian thực như Age of Empires (đế chế) của Microsoft Game Studios, dòng Warcraft và Starcraft của Blizzard, và game chiến lược theo lượt như Heroes of Might and Magic. Sự phát triển của các plugin cho trình duyệt web như Java và Adobe Flash cho phép lập trình được các game đơn giản trên trình duyệt (webgame). Chúng là những game chơi đơn hoặc chơi nhiều người dung lượng nhỏ mà có thể nhanh chóng tải về và chơi ngay trên trình duyệt chứ không cần cài đặt. Dạng phổ biến nhất cho kiểu game này là các game câu đố, platform, các game arcade cổ điển, và các game đánh bài hay chơi cờ trực tuyến.
Một vài thể loại mới đã sinh ra từ khi xuất hiện của hai thể loại FPS và RTS, với thể loại bắn súng góc nhìn người thứ ba (nhìn từ sau lưng và qua vai nhân vật chính) có thể coi như là một ngoại lệ. Các tựa game như Grand Theft Auto III, Tom Clancy's Splinter Cell, Enter the Matrix, và Hitman đều sử dụng góc nhìn người thứ ba, nhưng có vẻ như chúng chỉ là như một biến thể của góc nhìn thứ nhất.
=== Quá trình suy giảm của hệ máy arcade ===
Với sự ra đời của các máy console 16 và 32 bit, game chơi tại nhà bắt đầu tiếp cận được tới mức độ hình ảnh đẹp như của hệ arcade. Một số lớn người chơi sẵn sàng ngồi đợi cho các game nổi tiếng trên arcade được chuyển sang console hơn là đi ra các trung tâm giải trí nơi đặt vô số các máy arcade. Thực tế thì hệ arcade đã trải qua một cuộc hồi sinh vào đầu cho tới giữa thập kỷ 90 với những game như Street Fighter II hay Mortal Kombat và các game thể loại đối kháng khác, hoặc như game bóng rổ NBA Jam (1993). Khi sự hứng thú với hệ máy arcade suy giảm, rất nhiều trong số chúng đã buộc phải ngừng hoạt động. Các máy chơi game vận hành bằng tiền xu cổ điển phần lớn trở thành các tài sản riêng của những người có sở thích đặc biệt và hoặc là chỗ giết thời gian cho các địa điểm kinh doanh khác, như trong rạp chiếu phim, chỗ tập bóng, sân golf mini, và các máy arcade gắn với các cửa hàng game như F.Y.E..
Chỗ trống mà trước đây đặt các máy arcade nay được thường lấp đầy bằng những trung tâm giải trí cung cấp một môi trường sạch sẽ, an toàn và các hệ thống chơi game đắt tiền mà không có sẵn cho việc sử dụng trong gia đình. Chúng thường là những game thể thao như trượt tuyết, hoặc đua xe đạp, cũng như là các game nhịp điệu như Dance Dance Revolution đã chiếm một phần không nhỏ trên thị trường. Dave & Buster và GameWorks là hai dây chuyền lớn tại Hoa Kỳ với kiểu mô hình này. Nhắm vào đối tượng người trưởng thành và thiếu niên, chúng cung cấp đầy đủ dịch vụ từ nhà hàng với các quán bar bán rượu cho tới rất nhiều các video game và các trò chơi điện tử. Chuck E. Cheese's cũng là một loại hình tương tự nhưng nhắm tới đối tượng là trẻ em.
=== Thời kỳ trưởng thành của các hệ máy cầm tay ===
Năm 1989, Nintendo cho ra mắt Game Boy, thiết bị chơi game cầm tay đúng nghĩa đầu tiên từ sau chiếc Microvision bạc mệnh mười năm trước. Nhóm thiết kế với Gunpei Yokoi là trưởng nhóm cũng là đội ngũ đã cho ra đời hệ thống Game & Watch trước đây. Đi kèm với máy là trò Tetris, một game xếp hình nổi tiếng. Một vài thiết bị chơi game cầm tay khác cũng xuất hiện lần đầu trong thời gian này, bao gồm Sega Game Gear và Atari Lynx (máy cầm tay có màu đầu tiên với màn hình LCD). Dù phần lớn các hệ thống cầm tay khác có nhiều tiến bộ công nghệ hơn, nhưng chúng bị hạn chế về mặt tiêu thụ pin và ít được các nhà phát triển thứ ba hỗ trợ. Trong khi các máy cầm tay khác còn đang trong quá trình sản xuất cho tới giữa thập niên 90, thì Game Boy vẫn ở vị trí hàng đầu trong doanh số bán ra suốt thời gian tồn tại của nó.
=== Game trên điện thoại di động ===
Điện thoại di động trở thành một thiết bị chơi game từ khi Nokia cài đặt Snake (rắn săn mồi) vào các dòng điện thoại của mình từ năm 1998. Ngay sau đó mỗi thương hiệu điện thoại lớn đều cung cấp "game giết thời gian" mà có thể chơi trong các khoảng thời gian khá ngắn như chờ xe buýt. Game trên điện thoại di động thời kỳ đầu khá hạn chế ở một số điểm như: kích thước khiêm tốn của màn hình, tất cả đều là các game đơn sắc và sự giới hạn bộ nhớ cũng như sức mạnh xử lý, chưa tính đến việc tiêu thụ pin nhanh chóng khi chơi.
=== Thế hệ console thứ tư (1989-1999) (16-bit) ===
Máy Mega Drive\Sega Mega Drive\Genesis chứng tỏ sự đáng giá của mình vào lần đầu ra mắt vào năm 1989. Nintendo đáp trả lại với thế hệ console tiếp theo của mình được biết đến với cái tên Super NES (hay SNES) vào năm 1991. Máy TurboGrafx-16 ra đời cùng với thời điểm máy Genesis, nhưng không đạt được thành công lớn tại Mỹ do sự nghèo nàn về số lượng các game và việc phân phối bị quá nhiều hạn chế do sự áp đặt của tập đoàn bán lẻ Hudson của Mỹ.
Sự cạnh tranh khốc liệt trong thời gian này cũng là một khoảng thời gian tiếp thị không hoàn toàn trung thực. Máy TurboGrafx-16 được quảng cáo là hệ thống 16-bit đầu tiên nhưng vi xử lý trung tâm của nó chỉ là một chip 8-bit có tên HuC6280, chỉ có duy nhất chip HuC6270 xử lý các tác vụ đồ họa là chip 16-bit thực sự. Thêm vào đó, chiếc console Intellivision của hãng Mattel ra đời sớm hơn rất nhiều (1979) đã có chứa một chip 16-bit. Cũng lại là Sega được biết đến với việc "kéo dài" sự thật trong cách tiếp cận tiếp thị của mình; họ dùng thuật ngữ "Blast Processing" (xử lý bùng nổ) để mô tả một thực tế đơn giản là các máy console của họ có CPU chạy ở một xung nhịp cao hơn SNES (7.67 MHz với 3.58 MHz)
Tại Nhật Bản, thành công của hệ máy TurboGrafx-16 (ở Nhật thì nó có tên gọi là PC Engine) năm 1987 là đối thủ đáng gờm của Famicom (chính là máy NES thiết kế lại cho gọn hơn) và ổ đĩa CD cho phép nó có thể chống đỡ về doanh số cho Mega Drive (Genesis) vào 1988, hệ máy mà không bao giờ có được thành công tương tự ngoài Nhật Bản. PC Engine cuối cùng cũng mất ngôi vị vào tay Super Famicom (hay SNES thiết kế lại), nhưng do sự phổ biến của CD, nên giữ lại được đủ số người sử dụng tối thiểu để hỗ trợ các game mới đến cuối những năm 1990.
Ổ đĩa CD-ROM lần đầu được sử dụng trong thế hệ này, như PC Engine năm 1988 và Mega Drive năm 1991. Đồ họa 3 chiều đơn giản trở thành chủ đạo với kiểu hình ảnh được tô bóng theo từng đa giác (flat-shading) được phát triển bằng cách thêm vào các quá trình xử lý vào trong băng (ROM-cartridge) như ở các game Virtua Racing và Star Fox.
Máy Neo-Geo của SNK là cỗ máy console đắt nhất khi nó được công bố vào năm 1990, và vẫn giữ ngôi vị này trong nhiều năm. Nó có khả năng thể hiện đồ họa hai chiều ở một cấp độ chất lượng đi trước các hệ máy console khác hàng năm trời. Lý do của khả năng đồ họa tuyệt vời này chính là chiếc console này có những phần cứng giống như trong máy arcade của SNK. Đây là lần đầu tiên từ sau khi máy Pong gia dụng xuất hiện và người dùng có thể có một trải nghiệm arcade thực sự tại nhà.
Thế hệ console này kết thúc vào năm 1999 với việc ngừng sản xuất SNES.
=== Thế hệ console thứ năm (1993-2006) (32 và 64-bit) ===
Năm 1993, Atari quay trở lại thị trường máy console gia dụng với sản phẩm Atari Jaguar. Cùng năm đó, hãng 3DO cho ra mắt 3DO Interactive Multiplayer, mà cho dù chính sách quảng cáo và khuyến khích cao nhưng cũng không thể bắt kịp với doanh số của Jaguar do mức giá của mình. Cả hai dòng console này đều có doanh số bán ra rất thấp và số lượng game ít ỏi, cuối cùng dẫn đến sự sụp đổ của chúng. Năm 1994, ba máy console mới được giới thiệu tai Nhật Bản: Sega Saturn, PlayStation, và PC-FX, Saturn và PlayStation sau đó sang thị trường Mỹ vầo năm 1995. PlayStation được tiêu thụ một cách nhanh chóng so với các đối thủ còn lại, ngoại trừ cỗ máy SNES già cỗi vì vẫn được được hỗ trợ bởi khá nhiều các công ty làm game.
Máy Virtual Boy (máy console hiển thị hình ảnh 3 chiều thực sự đầu tiên nhờ tạo ảo ảnh bằng thị sai) từ Nintendo được giới thiệu vào năm 1995 nhưng không đạt được doanh thu cao. Năm 1996 Virtual Boy bị loại ra khỏi thị trường.
Sau nhiều lần trì hoãn, Nintendo cũng phát hành máy console 64 bit với tên Nintendo 64 vào năm 1996. Thương hiệu game hàng đầu của chiếc console này: Super Mario 64, trở thành một chuẩn mực cho game platform 3 chiều.
PaRappa the Rapper phổ biến rộng rãi thể loại game nhịp điệu, hay rộng hơn là video game âm nhạc tại Nhật Bản vào năm 1996 trên PlayStation. Tiếp theo là các game âm nhạc và nhảy khác như Beatmania và Dance Dance Revolution trở nên phổ biến rộng rãi trên thị trường arcade tại Nhật. Trong khi Parappa, DDR, và các game khác được tiếp tục sùng bái khi mang sang Bắc Mỹ, game âm nhạc không được biết rộng rãi trên thị trường cho tới thập kỷ tiép theo. Cũng trong năm 1996, Capcom phát hành Resident Evil, game đầu tiên hoàn chỉnh định nghĩa cho thể loại survival horror (tồn tại-kinh dị). Resident Evil thành công cực lớn với hơn 2 triệu bản được bán ra và được coi là một trong những game hay nhất trên máy Playstation.
Các game cột mốc khác trong thời kỳ này bao gồm GoldenEye 007 (1997) của hãng Rare cho máy Nintendo 64, mà được đánh giá cao khi đem đến sự đổi mới là game bắn súng góc nhìn người thứ nhất đầu tiên dành riêng cho console, và là game đi tiên phong với một số tính năng mà đã trở thành đặc điểm nổi bật của thể loại như khả năng ngắm, kỹ năng kết liễu nhanh chóng khi bắn vào đầu, và một trung tâm lưu trữ các nhiệm vụ. The Legend of Zelda: Ocarina of Time (1998) cho Nintendo 64 là game được đánh giá cao nhất từ trước đến nay. Tựa game cũng kèm theo các tính năng vượt trội như ngắm mục tiêu theo chiều sâu mà được hầu hết các game ngày nay sử dụng.
Nintendo chọn sử dụng băng thay vì dùng CD-ROM cho Nintendo 64, kiểu duy nhất giữa các máy console thời kỳ này, và kết quả mang lại là tiêu cực. Trong khi băng có tốc độ nhanh hơn và có khả năng chống lại sự vi phạm bản quyền, thì CD lại có thể lưu giữ nhiều dữ liệu hơn và giá thành sản xuất rẻ hơn rất nhiều, việc này khiến cho nhiều công ty sản xuất game quay lưng lại với Nintendo và hợp tác với các hãng sử dụng CD cho console. Đặc biệt, Square, vốn đã phát hành tất cả các game trước đó trong dòng Final Fantasy của hãng cho console của Nintendo; giờ lại chuyển sang PlayStation với Final Fantasy VII; Final Fantasy VII (1997) là một thành công vang dội, thành lập nên sự phổ biến của game nhập vai kiểu Nhật Bản ở phía tây và biến PlayStation trở thành hệ máy chính cho thể loại này.
Đến cuối giai đoạn này, Sony trở thành hãng dẫn đầu trên thị trường video game. Máy Saturn của Sega có một thành công đáng kể tại Nhật nhưng lại là một thất bại ở Bắc Mỹ và châu Âu, khiến Sega không phải là đối thủ cạnh tranh chính. Máy Nintendo 64 đạt được thành công rất lớn trong thị trường Bắc Mỹ và châu Âu, mặc dù nó không bao giờ vượt qua doanh số của PlayStation hoặc đạt được sự phổ biến tương tự tại Nhật Bản.
Thế hệ console này kết thúc với việc dừng sản xuất PlayStation vào tháng 3 năm 2006.
=== Chuyển đổi sang ba chiều và đĩa CD ===
Thế hệ console thứ năm đáng chú ý nhất là sự phát triển của các game hoàn toàn 3 chiều. Trong khi các game trước đó đã sử dụng môi trường ba chiều, như Virtua Racing và Star Fox, trong thời kỳ này rất nhiều các game được thiết kế chuyển từ môi trường hai chiều truyền thống và giả ba chiều sang ba chiều hoàn toàn. Super Mario 64 trên N64, Crash Bandicoot trên Play Station và Nights into Dreams trên Saturn, là những ví dụ chính cho xu hướng này. Các môi trường 3 chiều của những game này được phổ biến trên thị trường và hướng sự tập trung của thị trường ra khỏi các thể loại như game platform với màn hình di chuyển theo nhân vật, cũng như là cánh cửa mở đến các game và các thể loại phức tạp hơn. Các game như GoldenEye 007, The Legend Of Zelda: Ocarina of Time hay Virtua Fighter không hề giống các thể loại đã được biết đến trước đó như shoot-em-ups, nhập vai hay đối kháng. Hình ảnh 3 chiều trở thành đối tượng chủ yếu trong thời kỳ này cũng như sự suy giảm từ từ của băng chơi game và sự lên ngôi của CD.
== Những năm 2000 ==
Thập kỷ đầu tiên của thiên niên kỷ mới cho thấy sự cách tân trên cả console và PC, và thị trường ngày càng cạnh tranh gay gắt của các hệ thống chơi game cầm tay.
Hiện tượng người dùng tạo ra các bản chỉnh sửa (hay "mod") cho các game dần trở thành một xu hướng quanh thời điểm chuyển giao giữa thiên niên kỷ. Hình mẫu nổi tiếng nhất cho xu hướng này là Counter Strike; xuất hiện vào năm 1999, đến giờ vẫn là game bắn súng góc nhìn người thứ nhất chơi mạng nổi tiếng nhất, mặc dù nó được tạo ra như là một bản chỉnh sửa cho Half Life bởi hai lập trình viên độc lập. Cuối cùng, các nhà thiết kế game nhận ra tiềm năng của các bản chỉnh sửa và việc tùy chỉnh nội dung nói chung để nâng cao giá trị các trò chơi của họ, và vậy là bắt đầu thời kỳ bắt đầu khuyến khích các sáng tạo nội dung game. Một số vi dụ tiêu biểu bao gồm Unreal Tournament, cho phép người chơi chuyển các hình ảnh trong 3dsmax để sử dụng như các mô hình nhân vật, và game The Sim của Maxis, cho phép người chơi tự tạo ra các vật thể.
=== Game trên điện thoại di động ===
Game trên điện thoại di động bắt đầu được quan tâm khi Nokia giới thiệu điện thoại N-Gage là thiết bị chơi game cầm tay của mình vào năm 2003. Trong khi chỉ có khoảng 2 triệu máy được bán ra, dòng sản phẩm này không được coi là một thành công và sớm bị Nokia loại khỏi danh sách cung cấp. Trong khi đó nhiều nhà phát triển game đã nhận thấy rằng các mẫu điện thoại cao cấp hơn có màn hình màu, bộ nhớ và sức mạnh xử lý đủ để chơi game. Điện thoại di động chơi game có doanh thu hơn 1 tỷ USD vào năm 2003, và vượt qua 5 tỷ USD trong năm 2007, chiếm 1/4 doanh thu của tất cả video game trên thị trường. Các điện thoại đời mới hơn được bán ra thị trường như các smartphone N-Series của Nokia trong năm 2005 và iPhone của Apple trong năm 2007 là những ví dụ mạnh mẽ cho sự hấp dẫn của game trên điện thoại di động. Năm 2008, Nokia không định phục hồi lại thương hiệu N-Gage nhưng lại cho ra một thư viện các game cho dòng điện thoại cao cấp này. Cũng trong năm 2008 trên AppStore của Apple, hơn một nửa trên tổng số tất cả các ứng dụng được bán ra là các game cho iPhone.
=== Thế hệ console thứ 6 (1998-nay) ===
Thế hệ thứ sáu của game trên console, Sega không còn tham gia vào thị trường phần cứng, Nintendo bị tụt hậu, Sony củng cố địa vị dẫn đầu của mình trong ngành công nghiệp, và Microsoft bắt đầu sản xuất các máy console.
Thế hệ này bắt đầu với sự ra đời Dreamcast (của Sega) vào năm 1998. Đó là máy console đầu tiên có modem được gắn sẵn trong máy để có thể hỗ trợ Internet và chơi mạng. Mặc dù đã có những thành công bước đầu, doanh thu và độ phổ biến của cỗ máy này bắt đầu giảm nhanh chóng với các yếu tố góp phần là: danh tiếng của Sega đã bị tổn hại từ những thất bại thương mại trước đó, các phần mềm bị sao chép trái phép, và dự đoán sự áp đảo của chiếc console PlayStation 2 sắp ra đời. Các máy Dreamcast ở hầu hết các thị trường bị dừng sản xuất vào năm 2002 và là máy console cuối cùng mà Sega phát triển trước khi trở thành một hãng thứ ba chuyên sản xuất game.
PlayStation 2 của Sony là máy console ra đời thứ 2 trong thế hệ này, mà về sau trở thành máy console bán chạy nhất mọi thời đại. Nintendo theo sau đó một năm với Nintendo GameCube, máy console đầu tiên của Nitendo sử dụng CD. Nintendo GameCube phải chịu đựng sự thiếu hụt các hãng phát triển thứ ba phát triển game cho mình so với hệ thống của Sony, và doanh số bán ra còn bị cản trở vì danh tiếng là "console cho trẻ con" với số lượng ít ỏi các game cho lứa tuổi lớn hơn 16 -là thị trường chủ yếu.
Gần cuối năm 2001, tập đoàn Microsoft, được biết đến nhiều nhất với hệ điều hành Windows và chuyên sản xuất các phần mềm, bước vào thị trường console với máy Xbox. Dựa trên CPU Intel Pentium III, cỗ máy này sử dụng khá nhiều công nghệ máy tính bên trong để phát triển. Để đảm bảo giữ được Xbox trên thị trường, Microsoft đã bán Xbox ở một mức giá thua lỗ đáng kể và tập trung thu lợi nhuận bằng việc phát triển và phát hành game. Ngay sau đó vào tháng 12 năm 2001, studio phát triển game Bungie Studio (đã ký hợp đồng độc quyền với Microsoft phát hành game của mình -hợp đồng này chấm dứt vào năm 2007) cho ra đời Halo: Combat Evolved và ngay lập tức trở thành bước ngoặt quan trọng trong sự thành công của Xbox, và dòng game Halo sau đó trở thành một trong những game bắn súng trên console thành công nhất mọi thời đại. Cho tới cuối thế hệ console này, doanh số toàn cầu của Xbox đã bằng với Nintendo GameCube, nhưng từ khi doanh số của Xbox vượt qua GameCube ở Bắc Mỹ, đã khiến Nintendo bị đẩy xuống vị trí thứ ba ở thị trường Hoa Kỳ.
Cũng trong năm 2001, game Grand Theft Auto III ra đời, phổ biến tới người chơi thể loại thế giới mở trong game bằng cách sử dụng lối chơi phi tuyến tính. Game này đã rất thành công trên cả phương diện phê bình lẫn thương mại và được coi là một cột mốc hết sức quan trọng trong quá trình phát triển của game và thế hệ console thứ 6.
Nintendo vẫn tiếp tục thống trị thị trường máy cầm tay trong thế hệ này. Game Boy Advance được giới thiệu vào năm 2001 giúp Nitendo duy trì vị trí của mình trên thị trường. Hãng sản xuất điện thoại di động của Phần Lan -Nokia bước vào thị trường cầm tay với N-Gage, nhưng nó đã không giành được thành công đáng kể.
Game trên console phần lớn vẫn tiếp tục xu hướng đã được thiết lập bởi PlayStation với lối chơi ngày càng phức tạp, tinh vi, và theo định hướng dành cho người lớn (15 tuổi trở lên). Phần lớn các game đạt được thành công trên thế hệ console thứ 6 đều được đánh giá hạng T (Teen) và M (Mature) theo chuẩn đánh giá của ESRB, bao gồm rất nhiều các thương hiệu mà đã trở nên kinh điển như Halo hay Resident Evil, mà về sau đều đáng chú ý về cả mặt thành công lẫn tai tiếng của mình. Thậm chí cả Nintendo, được cho là khá ác cảm với các game có nội dung người lớn (với một số rất ít các ngoại lệ nổi bật như game Conker's Bad Fur Day cho máy Nintendo 64), cũng bắt đầu phát hành các game được đánh giá hạng M nhiều hơn với các thí dụ điển hình như Silicon Knights's Eternal Darkness: Sanity's Requiem và Resident Evil 4 của Capcom. Xu hướng phát triển game cho người trưởng thành này trên các máy console chủ yếu trong thế hệ 6 phần nào bị đảo ngược trong thế hệ 7 với sự xuất hiện của Wii. Cho tới năm 2011, PlayStation 2 vẫn được sản xuất và tiếp tục được bán đều đặn dù đã hơn một thập kỷ từ lần đầu ra mắt.
==== Sự trở lại của các tay cầm điều khiển thay thế ====
Một trong những đặc điểm quan trọng của thời kỳ này là việc các nhà sản xuất khác nhau đổi mới xu hướng với các thiết bị điều khiển ngoại vi. Trong khi các tay cầm điều khiển thay thế không phải là mới với các nhà sản xuất, như Nintendo từng sản xuất các vô-lăng lái xe và cần điều khiển máy bay cho máy NES và PC, các game trên console sử dụng chúng lần đầu tiên trở thành những tựa game lớn nhất của thập kỷ. Konami từng giới thiệu một bàn dậm nhảy bằng nhựa mềm điều khiển bằng chân cho trò Dance Dance Revolution vào năm 1998. Sega thì có thiết bị ngoại vi cho trò Samba De Amigo. Nintendo từng giới thiệu bộ đôi trống bongo cho một vài phiên bản của trò Donkey Kong. Nhà phát hành RedOctane (sau trở thành công ty con của Activision) thì phát hành Guitar Hero và đi kèm một thiết bị điều khiển hình đàn guitar đặc trưng cho máy PlayStation 2. Cũng trong thời gian này, Sony ra mắt máy quay EyeToy có thể phát hiện chuyển động của người chơi dành cho máy PlayStation 2.
=== Game trực tuyến tăng trưởng một cách mạnh mẽ ===
Khi việc kết nối Internet băng thông rộng với giá cả phải chăng trở nên phổ biến, nhiều nhà phát hành quay sang game online như một cách để đổi mới. Game nhập vai trực tuyến nhiều người chơi (MMORPGs) với những tựa game nổi bật cho thị trường game trên PC như EverQuest, World of Warcraft, và Ultima Online. Trong lịch sử, các game nhập vai trực tuyến trên console có rất ít do thiếu kết nối Internet đi kèm cho hệ máy đó. Điều này khiến cho khó để thiết lập một cộng đồng thuê bao đủ lớn để bù đắp cho các chi phí phát triển. Game online trên console đầu tiên có tầm ảnh hưởng quan trọng là Phantasy Star Online trên máy Dreamcast của Sega (máy có sẵn một modem tích hợp bên trong và một bộ chuyển đổi Ethernet được bán ngoài), Theo sau là Final Fantasy XI cho PlayStation 2 của Sony (một bộ chuyển đổi Ethernet được bán ngoài-không bán kèm theo máy để hỗ trợ game này). Mọi máy console ra đời trong thế hệ này từ sau Dreamcast đều đi kèm với khả năng hỗ trợ kết nối Internet hoặc cho phép mua một thiết bị chuyển đổi gắn ngoài để kết nối. Xbox của Microsoft cũng có một dịch vụ hỗ trợ game trực tuyến gọi là Xbox Live. Xbox Live là một thành công to lớn và chứng tỏ là một động lực cho Xbox với các trò chơi như Halo 2 đã trở nên cực kỳ phổ biến.
=== Sự lên ngôi của các game casual (game đơn giản) trên máy tính cá nhân ===
Khởi đầu với máy tính cá nhân, một xu hướng mới với game đơn giản, các trò chơi với sự phức tạp vừa phải được thiết kế để có thể chơi các phần một cách nhanh chóng hoặc ngẫu hứng, bắt đầu nhận được sự chú ý của ngành công nghiệp. Rất nhiều các game này chỉ là giải câu đố, xếp hình, như Bejeweled (xếp kim cương) của PopCap Games và Diner Dash của PlayFirst, trong khi các game khác với lối chơi thoải mái hơn và có kết thúc mở. Tựa game lớn nhất trong thể loại này là The Sims của hãng Maxis, mà trở thành game máy tính bán chạy nhất mọi thời đại, vượt qua cả tựa game phiêu lưu kinh điển Myst.
Các game casual nổi tiếng khác bao gồm các tựa game của hãng Zynga Games như Mafia Wars, FarmVille (Nông Trại),Cafe World, cùng với rất nhiều các game khác, mà được gắn liền vào các trang mạng xã hội như Myspace hay Facebook. Các game này được cung cấp miễn phí với các lựa chọn mua vật phẩm trong game.
=== Thế hệ console thứ bảy (2005-nay) ===
Thế hệ này mở đầu bằng những thiết bị cầm tay, như Nintendo giới thiệu chiếc Nintendo DS và Sony cho ra mắt PlayStation Portable (PSP) trong vòng 2 tháng liên tiếp vào năm 2004. Trong khi PSP khoe sức mạnh và đồ họa cao cấp, một xu hướng được định hình từ những năm 80, thì Nintendo đánh cược với một sản phẩm với sức mạnh thấp hơn nhưng lại có thiết kế đặc sắc với hình dáng như một cuốn sách. DS có hai màn hình, một màn hình là cảm ứng, đã tỏ ra cực kỳ phổ biến với các khách hàng, đặc biệt là đối với trẻ em và các game thủ có độ tuổi trung niên, những người đã bị chinh phục bởi những tựa game cho thiết bị như Nintendogs hay dòng Brain Age. Trong khi PSP thu hút một phần đáng kể các game thủ kỳ cựu, DS khiến cho Nintendo tiếp tục thống trị thị trường máy cầm tay. Nintendo sau đó nâng cấp dòng sản phẩm của mình với Nintendo DS lite năm 2006, Nintendo DSi vào năm 2008 tại Nhật và năm 2009 tại Mỹ và châu Âu, và cuối cùng là Nintendo DSi XL trong khi Sony nâng cấp PSP vào năm 2007 và thêm một lần nữa với PSP Go nhỏ gọn hơn vào 2009. Nokia không thành công lắm với N-Gage vào năm 2005 nhưng lại tái sử dụng thương hiệu này như một dịch vụ cung cấp game cho các dòng điện thoại cao cấp vào 3/4/2008.
Tập đoàn Apple bước vào lĩnh vực phần cứng chơi game di động với sự ra đời App Store cho iPhone và iPod Touch trong mùa hè năm 2008. Sự thay đổi lớn nhất đưa ra bởi chính sách của Apple là bỏ mặc sự phụ thuộc truyền thống vào "gạch và vữa" của các cửa hàng bán lẻ để phân phối phần mềm cho mình; thay vào đó, nền tảng iPhone phụ thuộc hoàn toàn vào các nội dung phân phối bằng kỹ thuật số (phân phối qua mạng).
Trên mặt trận console, Microsoft tiến thêm một bước trước các đối thủ với Xbox 360 vào tháng 11 năm 2005, và Sony theo sau với PlayStation 3 vào năm 2006, sau đó được ra mắt tại châu Âu vào tháng 3/2007. Thiết lập chuẩn công nghệ cho cả thế hệ này, cả hai cỗ máy đều thể hiện được hình ảnh ở độ phân giải HD, một ổ cứng dung lượng lớn làm thiết bị lưu trữ thứ hai, tích hợp các thiết bị kết nối mạng, và một hệ thống trực tuyến hỗ trợ người chơi cũng như bán các sản phẩm game, cụ thể là Xbox Live và PlayStation Network. Cả hai cỗ máy đều là những hệ thống đáng gờm và cũng là lần đầu tiên các hệ thống console có thể thách thức được cả máy tính cá nhân về mặt sức mạnh (vào thời điểm ra mắt) trong khi lại có một mức giá tương đối khiêm tốn so với một chiếc PC chuyên để chơi game. Và cả hai đều là những hệ thống đắt đỏ hơn hầu hết các console trước đó, Xbox 360 được hưởng một mức giá có lợi thế đáng kể, giá bán lẻ khoảng $300 hoặc $400 tùy vào các mẫu máy, trong khi đó PS3 được bán ra với giá dao động từ 500-600 USD tùy theo mẫu. Đi kèm với Blu-ray và Wi-Fi, PlayStation 3 trở thành máy console đắt nhất trên thị trường từ sau chiếc console 3DO Interactive Multiplayer do Panasonic sản xuất (thiết kế máy là của hãng 3DO), với giá bán lẻ thấp hơn 700 USD một chút.
Nintendo ra mắt máy Wii ngay sau khi PlayStation 3 được bán ra, và điều này đã đưa Nintendo trở lại với cuộc đua console. Trong khi Wii có các đặc tính kỹ thuật thấp hơn (cũng có nghĩa giá thành thấp hơn) cả Xbox 360 và PlayStation 3, thiết bị điều khiển cảm ứng của nó lại là thứ được ca ngợi nhiều. Rất nhiều game thủ, các nhà phát hành và các nhà phân tích ban đầu bác bỏ Wii như là một cỗ máy không có đủ sự hấp dẫn, nhưng rồi đều hết sức ấn tượng với việc Wii nhanh chóng hết hàng vào kỳ nghỉ Giáng Sinh năm 2006, và tiếp tục bán chạy vào 18 tháng tiếp theo, trở thành máy console bán chạy nhất trên hầu hết thị trường game trên thế giới.
Tháng 6/2009, Sony tuyên bố rằng sẽ cho ra đời PSP Go với giá 249.99USD vào ngày 1/10 tại châu Âu và Bắc Mỹ, và tại Nhật thì vào 1/11. PSP Go là một phiên bản mới hơn và mỏng hơn của máy PSP, với các nút điều khiển được giấu dưới màn hình và trượt ra khi sử dụng, còn màn hình thì chiếm toàn bộ mặt trước.
==== Gia tăng ngân sách phát triển ====
Với sự phát triển một cách không thể phủ nhận của video độ nét cao (HD) và các game thủ kỳ cựu đang tìm kiếm những trải nghiệm cao hơn, kỳ vọng về mặt hình ảnh và độ phức tạp trong game sẽ càng cao dẫn đến sự tăng vọt trong ngân sách phát triển của các công ty làm game. Trong khi khá nhiều các studio làm game nhận thấy các dự án cho Xbox 360 của mình đều có khả năng hoàn vốn hoặc có lãi thì sự yếu kém bất ngờ trong doanh số bán ra của PS3 dẫn đến tổn thất nặng nề đối với một số nhà phát triển, và rất nhiều nhà phát hành đã phải bỏ các thỏa thuận độc quyền game cho hệ máy PS3 hoặc hủy bỏ hoàn toàn các dự án game để tránh thua lỗ.
==== Nintendo tập trung vào game casual ====
Trong thời gian này, Nintendo nhận thấy tín hiệu tốt lành từ thị trường game trên PC và sự thành công của mình với Nintendo Wii, và các game được thiết kế khéo léo để phù hợp với tính chất trực quan của điều khiển chuyển động. Nhấn mạnh vào sự thay đổi lối chơi từ các game khá đơn giản thành các trò chơi không chỉ có chạy nhảy và đánh, bao gồm các gói đi kèm theo như Wii Sports, và Wii Fit. Với doanh số Wii bán ra tăng vọt, rất nhiều nhà phát hành đã bị bất ngờ và phản ứng lại bằng các thương hiệu chắp vá vội vàng nhằm lấp đầy khoảng trống. Mặc dù có một số game cốt lõi tiếp tục được Nintendo sản xuất, rất nhiều các thương hiệu kinh điển của hãng được làm lại thành "các game cầu nối", có nghĩa là cung cấp cho người chơi qua trải nghiệm các game casual (game đơn giản) tới một kiểu trải nghiệm sâu sắc hơn, trong đó bao gồm cả thương hiệu hàng đầu của Wii là Super Mario Galaxy, bất chấp đồ họa chỉ sử dụng độ phân giải chuẩn (so với hàng loạt các game cùng thời kỳ với độ phân giải HD) nhưng game được các nhà phê bình đánh giá cao nhất trong danh sách game hay nhất năm 2007. Tuy nhiên, rất nhiều người khác chỉ trích mạnh mẽ Nintendo cho việc cự tuyệt rõ ràng với các game thủ kỳ cựu và cảnh báo dựa trên việc những người chơi mới thường hay thay đổi và sẽ khó khăn để giữ họ tiếp tục với các sản phẩm game.
==== Điều khiển cảm ứng chuyển động tạo nên một cuộc cách mạng trong lối chơi ====
Cách các game thủ tương tác với game đã thay đổi một cách mạnh mẽ, đặc biệt với toàn bộ gói điều khiển cảm ứng chuyển động của Nintendo như một phương pháp tương tác tiêu chuẩn. Tay cầm Wii Remote từng bước khẳng định vị thế của mình trên toàn thế giới. Ở một mức độ thấp hơn, Sony đã thử nghiệm tay cầm chuyển động trong bộ điều khiển Sixaxis và sau đó là DualShock 3 cho PS3, trong khi Microsoft tiếp tục chú trọng đến phát triển công nghệ cho Xbox360 như dự án Project Natal. Trong khi hệ thống cảm ứng hồng ngoại của Wii được đánh giá cao, và là nguyên nhân chính cho thành công của các game như Metroid Prime 3: Corruption (Nintendo phát triển và phát hành) và Medal of Honor: Heroes 2 của EA. Mặc dù các thương hiệu này thực sự thành công, nhưng điều khiển cảm ứng chuyển động vẫn chưa thực sự nhạy, thậm chí với cả tay cầm điều khiển tinh tế nhất nhất vẫn không đạt được đúng khả năng sao chép chuyển động tức thời 1-1 của người chơi lên màn hình. Một số người chơi còn nhận thấy rằng họ phải cử động chậm hơn bình thường hoặc máy Wii sẽ không nhận thấy chuyển động của họ, nhưng trường hợp này khá hiếm. Công bố của Nintendo năm 2008 với sản phẩm gắn vào Wii Remote là Wii MotionPlus sẽ nhằm để giải quyết vấn đề này
Tay cầm điều khiển thay thế cũng tiếp tục là một phần quan trọng đối với ngành công nghiệp game, như sự tăng mạnh của các bộ điều khiển gắn liền với game mà ví dụ như Guitar Hero do Red Octane phát triển hay như thương hiệu Rock Band của Harmonix. Thêm vào đó, Nintendo cũng sản xuất nhiều loại điều khiển gắn thêm để thay thế Wii Remote trong các game cụ thể, như Wii Zapper cho game bắn súng và Wii Wheel cho game lái xe. Với sự ra đời của Balance Board trong gói Wii Fit của Nintendo, điều khiển cảm ứng được điều khiển bằng chân người chơi. Những nỗ lực từ hãng thứ ba như THQ, EA, và các hãng phát hành khác dự kiến là sẽ tích hợp cả cách điều khiển của Balance Board vào các game mới trong năm 2009.
Tại hội chợ E3 (Electronic Entertainment Expo) năm 2009, Microsoft và Sony đều giới thiệu điều khiển cảm ứng chuyển động của riêng mình: Project Natal (về sau đổi tên thành Kinect) và PlayStation Move.
=== Điện toán đám mây tham gia vào thị trường game ===
Trong năm 2009, một vài dịch vụ điện toán đám mây công bố sẽ nhằm phục vụ để chơi video game. Những dịch vụ này cho phép dựng hình ảnh trong game ở trên máy chủ của mình và hình ảnh sẽ được chuyển tới người chơi thông qua kết nối Internet. Dịch vụ Onlive cho phép người sử dụng kết nối với máy chủ của hãng nơi thực hiện các tác vụ xử lý trong game thay cho máy tính của người sử dụng. Hệ thống Gaikai của Nhật còn cung cấp các game mà người dùng chơi hoàn toàn bằng trình duyệt hoặc bất cứ thiết bị nào có thể kết nối Internet.
== Tham khảo == |
herefordshire.txt | Herefordshire ( /ˈhɛrɪfərdʃər/) Herefordshire là một hạt lễ nghi trong khu vực West Midlands của Anh. Hạt có diện tích km², dân số người. Thủ phủ hạt đóng ở. Đối với mục đích của Eurostat nó là một vùng NUTs 3 quả hạch (mã UKG11) và là một trong ba hạt bao gồm vùng NUTS1 "Herefordshire, Worcestershire và Gloucestershire". Nó cũng hình thành một khu vực đơn nhất được gọi là quận Herefordshire. Giáp các quận nghi lễ Anh Shropshire phía bắc, Worcestershire về phía đông, Gloucestershire phía đông nam, và các hạt của Wales Gwent phía tây nam và Powys về phía tây. Hereford là một thành phố nhà thờ chính tòa của hạt, với dân số khoảng 55.800 người, nó cũng là khu định cư lớn nhất. Hạt này là một trong những hạt dân cư thưa thới và tỷ lệ nông thôn cao nhất trong các hạt ở Anh, với mật độ dân số 82/km ² (212/sq dặm). Việc sử dụng đất chủ yếu là cho canh tác và hạt nổi tiếng với trái cây và sản xuất rượu táo, và giống gia súc Hereford.
== Tham khảo == |
1783.txt | Năm 1783 (số La Mã: MDCCLXXXIII) là một năm thường bắt đầu vào thứ Tư trong lịch Gregory (hoặc một năm thường bắt đầu vào Chủ Nhật của lịch Julius chậm hơn 11 ngày).
== Sự kiện ==
=== Tháng 2 ===
Nguyễn Huệ, Nguyễn Lữ lần thứ tư tiến công Gia Định, phá tan quân Nguyễn, Nguyễn Ánh chạy trốn về Đồng Tuyên.
=== Tháng 8 ===
Quân Tây Sơn truy kích, Nguyễn Ánh trốn ra đảo Côn Lôn.
== Sinh ==
Cảnh Thịnh Đế Nguyễn Quang Toản.
== Mất ==
== Tham khảo == |
đế quốc tây ban nha.txt | Đế quốc Thực dân Tây Ban Nha (tiếng Tây Ban Nha: Imperio español) là một trong những đế quốc lớn nhất thế giới và là một trong những đế quốc toàn cầu đầu tiên trên thế giới. Đạt tới thời kỳ cực thịnh về quân sự, quyền lực chính trị và kinh tế dưới vương triều Habsburgs Tây Ban Nha, trong thế kỷ 16 và 17, có phạm vi rộng nhất dưới vương triều Bourbon, khi đã chiếm được các đế chế lớn khác trên thế giới. Đế quốc Tây Ban Nha trở thành siêu cường trong thời gian đó và là đế quốc đầu tiên được gọi là "đế quốc có mặt trời không bao giờ lặn".
Vào thế kỷ thứ 15 và 16 Tây Ban Nha là quốc gia tiên phong cho phong trào thám hiểm thế giới và chủ nghĩa bành trướng thuộc địa của châu Âu cũng như tiên phong trong việc mở các lộ trình giao thương qua đại dương, với việc thông thương phát triển nở rộ qua Đại Tây Dương giữa Tây Ban Nha với Mỹ và qua Thái Bình Dương giữa Châu Á - Thái Bình dương với México qua Philippines. Những người Tây Ban Nha đi khai phá thuộc địa đã lật đổ những nền văn minh Aztec, Inca, Maya và tuyên bố chủ quyền với một dải đất bao la ở Bắc và Nam Mỹ. Trong một khoảng thời gian, đế chế Tây Ban Nha thống trị các đại dương nhờ hạm đội tàu giàu kinh nghiệm, một sức mạnh bậc nhất toàn cầu, và họ thống trị những chiến trường ở châu Âu với một lực lượng bộ binh dày dạn và thiện chiến có tên là tercios. Tây Ban Nha trải qua thời kỳ vàng son về văn hóa trong thế kỷ 16 và 17.
Từ giữa thế kỷ 16, vàng và bạc từ các mỏ ở châu Mỹ đã tăng cường tiềm lực quân sự của Tây Ban Nha Habsburg trong một chuỗi các cuộc chiến tại châu Âu và Bắc Phi. Vào thế kỷ 17 và 18, đế chế Tây Ban Nha có được một lãnh thổ rộng lớn nhất trên thế giới, dù nó có trải qua sự biến động trong quân đội và tài sản kinh tế từ thập niên 1640. Phải đương đầu với kinh nghiệm và thử thách mới trong việc xây dựng đế chế, các nhà tư tưởng Tây Ban Nha đã công thức ra một vài ý tưởng tân tiến trong các đạo luật thiên nhiên, quyền tối cao độc lập, đạo luật quốc tế, chiến tranh và kinh tế - họ thậm chí đặt dấu hỏi về tính hợp pháp của chủ nghĩa Đế quốc - liên quan đến những trường phái ý tưởng về tính tập thể như trường phái Salamanca.
Những bất đồng thường xuyên với các thế lực thù địch đã gây ra các cuộc chiến về lãnh thổ, giao thương và tôn giáo mà đã góp phần không nhỏ vào sự suy tàn dần dần của đế chế Tây Ban Nha từ giữa thế kỷ 17. Trên Địa Trung Hải, Tây Ban Nha thường xuyên giao chiến với đế quốc Ottoman, trên lục địa châu Âu, Pháp vươn lên với một sức mạnh tương đương. Ở bên ngoài, Tây Ban Nha ban đầu bị cạnh tranh bởi Bồ Đào Nha, rồi sau đó là Anh và Hà Lan. Thêm vào đó, các lực lượng phá rối dưới sự đỡ đầu của Anh, Pháp và Hà Lan cùng với việc phạm tội quá mức của quân đội Tây Ban Nha, sự tham nhũng gia tăng của chính phủ và sự đình trệ về kinh tế gây ra bởi các chi tiêu quân đội đã phần nào đóng góp cho sự đi xuống của đế chế này.
Đế chế Tây Ban Nha tại châu Âu đã không thể thực hiện được do hiệp ước Utrecht (1713), hiệp ước đã cắt bỏ những lãnh thổ còn lại của Tây Ban Nha ở Ý và các quốc gia thuộc vùng đất thấp. Tài sản của Tây Ban Nha tăng lên sau đó, nhưng nó vẫn duy trì là một sức mạnh thứ hai về chính trị tại lục địa châu Âu.
Tuy nhiên, Tây Ban Nha duy trì và mở rộng đế chế bên ngoài của nó cho đến thế kỷ 19, cú sốc của cuộc chiến tranh bán đảo đã tạo nên một làn sóng tuyên bố độc lập tại Quito (1809), Colombia (1810), Venezuela và Paraguay (1811) đồng thời các cuộc cách mạng liên tiếp nổ ra đã cướp đi các thuộc địa của đế chế tại Đại Lục Châu Mỹ. Tây Ban Nha cố gắng duy trì những mảnh vụn của đế chế tại vùng Caribbean (Cuba và Puerto Rico); Châu Á (Philippines), và Châu Đại Dương (Guam, Micronesia, Palau, và Quần đảo Bắc Mariana) cho đến tận chiến tranh Tây Ban Nha-Hoa Kỳ nổ ra năm 1898. Sự tham gia của Tây Ban Nha trong cuộc tranh chấp châu Phi là rất nhỏ; vùng Maroc Tây Ban Nha (thuộc địa Maroc của Tây Ban Nha) được duy trì cho đến năm 1956, Guinea Tây Ban Nha và Sahara Tây Ban Nha được duy trì cho đến năm 1968 và 1975. Quần đảo Canary, Ceuta, Melilla là những khu vực hành chính hiện vẫn là một phần của Tây Ban Nha trong khi Isla de Alborán, Isla Perejil, Islas Chafarinas, Peñón de Alhucemas, và Peñón de Vélez de la Gomera vẫn là các lãnh thổ thuộc Tây Ban Nha. Và theo UN, "Sahara Tây Ban Nha/Tây Sahara" hiện vẫn dưới sự điều hành của Tây Ban Nha.
== Tham khảo == |
thời đại đồ đá cũ.txt | Thời đại đồ đá cũ là một thời đại tiền sử được phân biệt bằng sự phát triển của các công cụ đá. Về cơ bản, nó chiếm gần như toàn bộ lịch sử loài người trên Trái Đất, kéo dài từ khoảng 2,5 triệu năm trước, với sự xuất hiện của các công cụ bằng đá do các dạng người nguyên thủy như người khéo tay (Homo habilis) đưa ra, cho đến khi có sự xuất hiện của nông nghiệp vào khoảng 10.000 TCN. Thuật ngữ "Paleolithic", nghĩa văn chương là "Thời đại cổ của đá", đã được nhà khảo cổ học John Lubbock tạo ra vào năm 1865 và có nguồn gốc từ tiếng Hy Lạp "παλαιός", "paleos" (cổ, cũ) và "λίθος", "lithos", (đá). Thời đại đồ đá cũ nói chung kết thúc khi thời đại đồ đá giữa (Mesolithic) bắt đầu, hoặc ở các khu vực với quá trình đồ đá mới hóa là sự bắt đầu của thời đại đồ đá cũ trên (Epipaleolithic).
Thời đại đồ đá cũ được đặc trưng bằng việc sử dụng các công cụ bằng đá được ghè đẽo, mặc dù người nguyên thủy vào thời gian đó cũng sử dụng các công cụ bằng gỗ và xương. Các sản phẩm nguồn gốc hữu cơ cũng được sử dụng làm công cụ, bao gồm da và các sợi thực vật; tuy nhiên các loại công cụ này đã không được bảo quản ở mức độ đáng kể. Theo truyền thống, thời đại đồ đá cũ được chia ra thành ba thời kỳ, là thời đại đồ đá cũ sớm, thời đại đồ đá cũ giữa và thời đại đồ đá cũ muộn. Các thời kỳ này đánh dấu các tiến bộ trong công nghệ và văn hóa ở các xã hội loài người nguyên thủy khác biệt.
== Niên đại học ==
== Sự tiến hóa của loài người ==
=== Phả hệ loài người đơn giản hóa ===
Niên biểu chỉ ra dưới đây là phả hệ đơn giản hóa của nhân loại thời kỳ đồ đá:
== Khí hậu ==
=== Các sự kiện địa khí hậu chính ===
== Cách sinh sống ==
Nền kinh tế của một xã hội thời đại đồ đá cũ điển hình là rất đơn giản, với việc săn bắn và hái lượm là chủ yếu. Con người khi đó thu lượm thức ăn, củi và các vật liệu làm công cụ, quần áo hay các túp lều để tránh mưa gió.
=== Công cụ ===
Nói chung, các phương pháp chế tạo công cụ không thay đổi nhiều ở mức đáng kể trong thời đại đồ đá cũ, mặc dù đã có một loạt các nền văn hóa đã tồn tại trong thời đại này.
=== Xã hội ===
Không có chứng cứ khảo cổ học cho thấy có sự bất bình đẳng trong xã hội hay các trận đánh đầy bạo lực giữa các nhóm (nghĩa là chiến tranh). Người nguyên thủy thời đại đồ đá cũ đã nhóm lại thành các thị tộc có khoảng 25-50 thành viên; các thị tộc này được tạo ra từ một vài gia đình.
== Tham khảo ==
== Xem thêm ==
== Liên kết ngoài == |
diện tích.txt | Diện tích là độ đo dùng để đo độ lớn của bề mặt. Diện tích bề mặt của một đối tượng là toàn bộ những gì ta có thể nhìn thấy của đối tượng.
== Các công thức thông dụng ==
== Xem thêm ==
Độ dài
Thể tích
== Tham khảo == |
bộ giao thông vận tải (việt nam).txt | Bộ Giao thông Vận tải là cơ quan của Chính phủ Việt Nam, thực hiện chức năng quản lý Nhà nước về giao thông vận tải đường bộ, đường sắt, đường sông, hàng hải và hàng không trong phạm vi cả nước; quản lý nhà nước các dịch vụ công và thực hiện đại diện chủ sở hữu phần vốn của nhà nước tại doanh nghiệp có vốn nhà nước thuộc Bộ quản lý theo quy định của pháp luật.
Trụ sở của Bộ đặt tại số 80, phố Trần Hưng Đạo, Hà Nội. Bộ trưởng hiện tại là ông Trương Quang Nghĩa.
== Lãnh đạo hiện nay ==
Bộ trưởng: Trương Quang Nghĩa
Thứ trưởng: Nguyễn Hồng Trường
Thứ trưởng: Nguyễn Ngọc Đông
Thứ trưởng: Nguyễn Văn Công
Thứ trưởng: Lê Đình Thọ
Thứ trưởng: Nguyễn Nhật
== Cơ cấu tổ chức ==
=== Cơ quan trực thuộc ===
Văn phòng Bộ
Thanh tra Bộ
Vụ Kế hoạch - Đầu tư
Vụ Tổ chức cán bộ
Vụ Tài chính
Vụ An toàn giao thông
Vụ Kết cấu hạ tầng và giao thông
Vụ Pháp chế
Vụ Vận tải
Vụ Khoa học Công nghệ
Vụ Môi trường
Vụ Hợp tác quốc tế
Vụ Quản lý doanh nghiệp
Trung tâm Công nghệ thông tin
Ban Quản lý đầu tư các dự án đối tác công tư
Văn phòng thường trực Ban chỉ đạo Phòng chống lụt bão và tìm kiếm cứu nạn
Văn phòng Quỹ bảo trì đường bộ Trung ương
Tổ Cố vấn Bộ trưởng
Hội đồng Khoa học và công nghệ giao thông vận tải
Văn phòng thường trực Ban chỉ đạo Nhà nước các Công trình, Dự án trọng điểm
=== Các Tổng cục, cục ===
Tổng cục Đường bộ Việt Nam
Cục Đăng kiểm Việt Nam
Cục Đường sắt Việt Nam
Cục Đường thuỷ nội địa Việt Nam (VIWA)
Cục Hàng hải Việt Nam
Cục Hàng không Việt Nam
Cục Y tế Giao thông vận tải
Cục Quản lý xây dựng và chất lượng công trình giao thông
=== Báo chí, xuất bản ===
Báo Giao thông vận tải
Tạp chí Giao thông vận tải
Tạp chí Cầu đường
Tạp chí Con đường xanh
Tạp chí Vận tải ô tô
Tạp chí Công nghiệp Tàu thủy Việt Nam
Tạp chí Vietnam Logistics review
Nhà xuất bản Giao thông vận tải
=== Học viện, nhà trường ===
Viện Khoa học và công nghệ giao thông vận tải
Viện Chiến lược và phát triển giao thông vận tải
Học viện Hàng không Việt Nam
Trường Đại học Công nghệ Giao thông Vận tải
Trường Đại học Hàng hải Việt Nam
Trường Đại học Giao thông vận tải Thành phố Hồ Chí Minh
Trường Cán bộ quản lý Giao thông vận tải I
Trường Cán bộ quản lý Giao thông vận tải II
Trường Cao đẳng Giao thông vận tải II
Trường Cao đẳng Giao thông vận tải III
Trường Cao đẳng Giao thông vận tải miền trung
Trường Cao đẳng nghề giao thông vận tải Trung ương I
Trường Cao đẳng nghề giao thông vận tải Trung ương II
Trường Cao đẳng nghề giao thông vận tải Trung ương III
Trường Cao đẳng Hàng hải I
Trường Cao đẳng nghề đường sắt I
Trường Cao đẳng nghề GTVT đường thủy I
Trường Cao đẳng nghề GTVT đường thủy II
Trường Cao đẳng nghề hàng hải TP.Hồ Chí Minh
Trường Cao đẳng nghề Vinashin
Trường Trung cấp Giao thông vận tải miền Bắc
Trường Trung cấp Giao thông vận tải miền Nam
Trường Trung cấp nghề CNTT II
Trường Trung cấp nghề CNTT III
Trường Trung cấp nghề cơ giới đường bộ
Trường Trung cấp nghề công nghiệp ô tô
Trường Trung cấp nghề đường bộ
Trường Trung cấp nghề đường thủy
=== Các Ban quản lý dự án ===
Ban Quản lý dự án Đường Hồ Chí Minh
Ban Quản lý dự án 1 (PMU1)
Ban Quản lý dự án 2 (PMU2)
Ban Quản lý dự án 6 (PMU6)
Ban Quản lý dự án 7 (PMU7)
Ban Quản lý dự án 85 (PMU85)
Ban Quản lý dự án Thăng Long (PMU Thăng Long)
Ban Quản lý dự án An toàn giao thông (TSPMU)
Ban Quản lý dự án Đường Thủy (PMU-W)
Ban Quản lý dự án Đường sắt
=== Các doanh nghiệp ===
==== Tổng công ty ====
Tổng công ty Đường sắt Việt Nam
Tổng công ty Hàng hải Việt Nam
Tổng công ty Xây dựng Thăng Long
Tổng công ty Xây dựng công trình giao thông 1 (Cienco 1)
Tổng công ty Xây dựng công trình giao thông 4
Tổng công ty Xây dựng công trình giao thông 5
Tổng công ty Xây dựng công trình giao thông 6
Tổng công ty Xây dựng công trình giao thông 8
Tổng công ty Xây dựng đường thuỷ
Tổng công ty Tư vấn thiết kế giao thông Vận tải
Tổng công ty Đường sông miền Nam
Tổng công ty Thương mại và Xây dựng
Tổng công ty Cảng hàng không Việt Nam
Tổng công ty Hàng không Việt Nam (Vietnam Airlines)
Tổng công ty Đầu tư phát triển đường cao tốc Việt Nam
Tổng công ty Quản lý bay Việt Nam
Tổng công ty Công nghiệp ô tô Việt Nam
Tổng công ty Vận tải thủy Việt Nam
Tổng công ty Bảo đảm an toàn hàng hải miền Bắc
Tổng công ty Bảo đảm an toàn hàng hải miền Nam
Tổng công ty Đầu tư Phát triển và Quản lý Dự án hạ tầng giao thông Cửu Long (CIPM)
==== Công ty ====
Công ty Vận tải đa phương chi
Công ty cổ phần Dịch vụ vận tải Trung ương
Công ty Dịch vụ vận tải Sài Gòn
Công ty cổ phần Hợp tác lao động nước ngoài
Công ty Vận tải và thuê tàu
Công ty Vật tư vận tải và Xây dựng công trình giao thông
Công ty Cơ khí giao thông vận tải 2
Công ty Vật tư thiết bị và Xây dựng công trình giao thông
Công ty Sản xuất vật liệu giao thông 2
Công ty Xây dựng và thương mại
Công ty Tư vấn thiết kế giao thông vận tải phía Nam
Công ty Xuất - Nhập khẩu và hợp tác đầu tư giao thông vận tải
== Bộ trưởng qua các thời kỳ ==
== Chú thích ==
== Liên kết ngoài ==
Trang chủ của Bộ Giao thông Vận tải Việt Nam
Tra cứu văn bản quy phạm pháp luật của bộ Giao thông Vận tải
Bộ GTVT cần 12.174 tỉ đồng xây trụ sở.
Viện chiến lược và phát triển GTVT |
edward elgar.txt | Sir Edward Elgar (2 tháng 6 năm 1857 – 23 tháng 2 năm 1934) là nhà soạn nhạc người Anh. Ông được biết đến qua những tác phẩm nổi tiếng như Biến thể Enigma, Hành khúc Pomp and Circumstances. Ông là tác giả của nhiều bản concerto cho violon và cello và hai bản giao hưởng và một số bản nhạc thính phòng và ca khúc khác.
== Cuộc đời sự nghiệp ==
=== Đầu đời ===
Edward Elgar được sinh ra trong ngôi làng nhỏ ở Hạ Broadheath, ngoài Worcester, Anh. Cha của ông, William Henry Elgar (1821-1906), lớn lên ở Dover và đã được học nghề từ một nhà xuất bản âm nhạc London. Năm 1841 William chuyển đến Worcester, nơi ông làm việc như là một người chỉnh đàn piano và thành lập một cửa hàng bán nhạc và nhạc cụ. Năm 1848, ông kết hôn với Ann Greening (1822-1902), con gái của một người nông dân. Edward là con thứ tư trong bảy người con. Tám tuổi, Elgar đã bắt đầu học piano và violin.
Mẹ của Elgar đã quan tâm đến nghệ thuật và khuyến khích phát triển âm nhạc của ông. Ông thừa hưởng từ bà một thị hiếu sành điệu với văn học và một tình yêu nồng nàn của vùng nông thôn.
Còn nói về âm nhạc, đối với cậu bé Edward Elgar, đó là một quá trình tự học (sau này Elgar cũng mày mò học âm nhạc). Vào những ngày của mùa hè ấm áp, cậu bé Edward đem theo các bản nhạc, đi xe đạp đến các vùng quê yên tĩnh và nghiên cứu các bản nhạc mà cậu mang đến. Chính những hôm đi xa như thế đã khiến Edward có một mối liên hệ giữa âm nhạc và tự nhiên. Mà nói về xe đạp, cậu con trai nhà Elgar còn là một người thích xe đạp mạo hiểm. Cậu biết đi xe đạp từ khá sớm, khi mới chỉ có 5 tuổi.
Edward Elgar rời khỏi trường học khá sớm, khi 15 tuổi. Cậu bé bước vào đường đời với nghề luật sư địa phương. Nghề này đã tỏ ra không phù hợp với con người có lẽ sỉnh ra để sáng tác âm nhạc như Edward. Vì vậy, một năm sau, Edward Elgar đã kết thúc nghề luật ở đó và bắt đầu sự nghiệp âm nhạc vứi vai trò là một người giảng dạy violin và piano.
=== Thời thanh niên ===
Ở tuổi 22, Edward Elgar đã trở thành nhạc trưởng của Dàn nhạc Worcester and County Lunatic Asylum ở Powick. Đây là nơi bắt đầu đánh dấu sự nghiệp sáng tác của Elgar khi một số tác phẩm thuộc thể loại vũ khúc được ông sáng tác để dành tặng cho dàn nhạc dưỡng trí viện. Điều đáng nói là các tác phẩm này đã biến mất đến hơn một thế kỷ và chỉ được tìm thấy và biểu diễn lần đầu vào năm 1996 tại chính Powick.
Nếu xét cho cùng, những ngày tháng là nghệ sĩ violin trẻ tuổi ở Worcestershire là khoảng thời gian tuyệt vời nhất đối với Elgar. Ông được chơi violin trong các lễ hội ở Worcester và Birmingham. Trong khoảng thời gian này, ông thu được kinh nghiệm quý giá khi chơi bản Giao hưởng số 6 và bản Stabat Mater của Antonín Dvořák trong sự chỉ huy của chính tác giả này. Elgar vô cùng ấn tượng với lối hòa âm của nhà soạn nhạc người Séc này. Antonín Dvořák đã ảnh hưởng đến phong cách sáng tác của Elgar đến hơn một thập kỷ.
=== Khi trưởng thành ===
Ở tuổi 29, trong quá trình giảng dạy âm nhạc, Elgar đã gặp Caroline Alice Roberts. 3 năm sau, họ kết hôn với nhau, mặc cho sự phản đối của gia đình Roberts. Đáng chú ý là khi hai người yêu nhau trước khi kết hôn, Elgar đã tặng bản nhạc Salut d’amour cho người yêu, một trong những bản nhạc nổi tiếng nhất của ông. Gia đình của Elgar chuyển đến sống ở London để Elgar có thể gần gũi hơn với đời sống âm nhạc Anh và bắt đầu sáng tác một cách nghiêm túc. Thật không may là, do vấn đề tài chính, Elgar lại phải rời London để đến Great Malvern, nơi ông có thể kiếm sống bằng việc dạy học.
Trong thập niên 1890, Elgar dần tạo được dấu ấn nghệ thuật với vai trò là một nhà soạn nhạc. Các bản hợp xướng dành cho lễ hội ở Midlands như Hiệp sĩ đen, Vua Olaf, Ánh sáng cuộc đời và Caractacus thành công một cách khiêm tốn. Tuy nhiên, điều đó không quan trọng bằng việc ông có một nhà xuất bản lâu dàiː Novello and Company.
Năm 1842, Elgar đã đạt được thành công lớn với tác phẩm Những biến tấuu Enigma. Đó là bước đệm để Elgar trở thành nhà soạn nhạc Anh xuất sắc trong thế hệ của ông. Tác phẩm đáng chú ý tiếp theo là Giấc mơ của Gerontius. Tuy tác phẩm này đã thất bại trong buổi công diễn đầu tiên do các nhạc công đã không chuẩn bị kỹ càng, về sau nó lại được chứng nhận là một trong những tác phẩm xuất sắc nhất của Elgar.
Tuy nhiên, nổi tiếng nhất là bộ tác phẩm Pomp and Circumstance Marches, trong đó có bản hành khúc số 1 là nổi tiếng hơn cả. Ngoài ra còn phải kể đến tác phẩm Vùng đất của hy vọng và vinh quang được viết để ca tụng lễ đăng quang của Edward VII của Anh.
Trong các năm 1902 đến năm 1914, Elgar là khoảng thời gian ông có những thành công phi thường. Ông đến thăm Hoa Kỳ đến 4 lần, trong đó có một lần trở thành nhạc trưởng. Vùng đất ở Tân Thế giới này đã đem lại cho ông một khoản tiền lớn. Trong các năm 1905 đến 1908, Elgar trở thành giáo sư của trường Đại học Birmingham. Những bài giảng của ông đã dấy lên những tranh cãi do ông có những nhận xét về các nhà soạn nhạc Anh khác và nền âm nhạc Anh. Phòng sưu tập đặc biệt của trường Đại học Birmingham lưu trữ nhiều bức thư mà ông viết.
=== Khi về già và qua đời ===
Trong Chiến tranh thế giới thứ nhất, âm nhạc của Elgar đã cho thấy sự già cỗi của mình. Sau sự ra đi của người vợ vào năm 1920, ông viết rất ít các tác phẩm quan trọng. Ông đã sống ở làng Kempsey từ năm 1923 đến năm 1927. Trong khoảng thời gian này, ông nhận tước vị Master of the King’s Music.
Elgar là nhà soạn nhạc đầu tiên cho thu âm những tác phẩm của mình. Đầu tiên, HMV đã thu âm không dùng điện phần lớn các tác phẩm của ông. Tiếp theo là việc thu âm dùng điện trong các năm 1926 đến năm 1933. Trong bản thu âm tác phẩm Concerto cho violin vào năm 1932, Elgar có làm việc với nghệ sĩ violin trẻ tuổi Yehudi Menuhin khi đó mới có 16 tuổi. Về sau, Menuhin đã nhắc đến người cộng sự cao tuổi với sự trìu mến khi ông biểu diễn tác phẩm duy nhất dành cho violin và dàn nhạc của Elgar với Dàn nhạc Giao hưởng San Francisco.
Trong những năm cuối cuộc đời, Elgar mới bắt đầu sáng tác opera. Tác phẩm đầu tiên ông viết đó là vở Quý cô Tây Ban Nha. Ngoài ra, ông cũng nhận lời từ BBC sáng tác bản giao hưởng số 3. Nhưng bệnh tật đã ngăn ông hoàn thành những tác phẩm này. Ngày 23 tháng 2 năm 1934, Edward Elgar qua đời và được chôn cất tại Nhà thờ Saint Wulstan ở Little Malvern.
== Danh mục tác phẩm ==
=== Dàn nhạc ===
Froissart, concert overture, Op. 19 (1890)
Serenade for Strings, Op. 20 (1888–1892)
Variations on an Original Theme (Enigma), Op. 36 (1899)
includes Variation 9 Nimrod
Cockaigne (In London Town), concert overture, Op. 40 (1900–1901)
Pomp and Circumstance, five marches, all Op. 39 (1901–1930)
March No. 1 in D (1901) (The trio contains the tune known as Land of Hope and Glory)
In the South (Alassio), concert overture, Op. 50 (1903–1904)
Introduction and Allegro for strings (quartet and orchestra), Op. 47 (1904–05)
The Wand of Youth, suites Nos. 1 and 2, Opp. 1a/b (1867–71, rev. 1907/8)
Symphony No. 1 in A-flat, Op. 55 (1907–1908)
Violin Concerto in B minor, Op. 61 (1909–1910)
Romance for bassoon and orchestra, Op. 62 (1910)
Symphony No. 2 in E-flat, Op. 63 (1909–1911)
Falstaff, symphonic study, Op. 68 (1913)
Cello Concerto in E minor, Op. 85 (1918–1919)
The Severn Suite, Op. 87 (1930) (for brass band, trans. for orchestra 1932)
=== Cantatas và oratorios ===
The Black Knight, symphony/cantata for chorus and orchestra, Op. 25 (1889–1892)
The Light of Life (Lux Christi), oratorio for soprano, alto, tenor and bass soloists, chorus and orchestra, Op. 29 (1896)
Scenes From The Saga Of King Olaf, cantata for soprano, tenor and bass soloists, chorus and orchestra, Op. 30 (1896)
Caractacus, cantata for soprano, tenor, baritone and bass soloists, chorus and orchestra, Op. 35 (1897–1898)
The Dream of Gerontius, for mezzo-soprano, tenor and bass soloists, chorus and orchestra, Op. 38 (1899–1900)
The Apostles, oratorio for soprano, contralto, tenor and three bass soloists, chorus and orchestra, Op. 49 (1902–1903)
The Kingdom, oratorio for soprano, contralto, tenor and bass soloists, chorus and orchestra, Op. 51 (1901–1906)
The Music Makers, ode for contralto or mezzo-soprano soloist, chorus and orchestra, Op. 69 (1912)
=== Các ca khúc ===
"The Wind at Dawn", poem by C. Alice Roberts (1888)
Sea Pictures, (Sea Pictures: A Cycle of Five Songs for Contralto), Op. 37. (1897–1899)
"Land of Hope and Glory", words by Arthur Christopher Benson (1902)
Seven Lieder of Edward Elgar (1907)
=== Partsongs ===
"O Happy Eyes", SATB unacc., words by C. Alice Elgar, Op. 18 No.1 (1890)
"My Love Dwelt in a Northern Land", SATB unacc., words by Andrew Lang, dedicated to Rev. J. Hampton (1890)
"The Snow", SSA acc. 2 violins and piano, words by C. Alice Elgar, dedicated to Mrs. E. B. Fitton, Op. 26 No.1 (1894) (also with orchestral accompaniment, 1903, and various other combinations of voices SATB etc.)
"Go, Song of Mine", SSAATB unacc., words by Cavalcanti, tr. D. G. Rossetti, dedicated to Alfred H. Littleton, Op. 57 (1909)
"The Shower" and "The Fountain", SATB unacc., words by Henry Vaughan, Op. 71 Nos.1 and 2 (1914)
=== Nhạc nhà thờ ===
Ba motet: "Ave verum corpus", "Ave Maria" and "Ave Maris Stella", Op. 2 (1887)
Te Deum and Benedictus, Op. 34 (1897)
=== Nhạc thính phòng ===
Romance, violin and piano, Op. 1 (1878)
Salut d'Amour (Liebesgruss), violin and piano, Op. 12 (1888)
Chanson de Nuit and Chanson de Matin, violin and piano, Op. 15 Nos. 1 and 2 (1897/1899).
Violin Sonata in E minor, Op. 82 (1918)
String Quartet in E minor, Op. 83 (1918)
Piano Quintet in A minor, Op. 84 (1918–1919)
=== Nhạc phím ===
Organ Sonata in G, Op. 28
Concert Allegro, piano, Op. 46 (1901; unpublished)
=== Phối ngẫu ===
J. S. Bach, Fantasia and Fugue in C minor, BWV 537, tr. for orchestra, Op. 86 (1921–1922)
Handel, Overture in D minor (Overture to Chandos Anthem "In the Lord put I my Trust", HWV247), tr. for orchestra (1923)
== Câu nói nổi tiêng ==
== Xem thêm ==
== Tham khảo ==
== Chú thích ==
== Liên kết ngoài ==
The Best of Elgar
Tác phẩm Salut d'amour của Edward Elgar
Edward Elgar tại DMOZ
The Elgar Society (Bản lưu trữ tại Wayback Machine), official site.
The Elgar Foundation and Birthplace Museum, official site.
Elgar in Hereford, official site.
"Elgar, Sir Edward William" at The National Archives
"Sir Edward Elgar, Bt." at National Portrait Gallery
"The Growing Significance of Elgar", lecture by Simon Mundy, Gresham College, ngày 29 tháng 6 năm 2007
Nhạc score miễn phí của Edward Elgar tại International Music Score Library Project
Free scores by Edward Elgar trong Choral Public Domain Library (ChoralWiki)
Works by or about Edward Elgar at Internet Archive và Google Books (scanned books original editions color illustrated)
Edward Elgar tại Find a Grave
Edward Elgar trên AllMusic
Bản mẫu:S-court
Bản mẫu:LSO principal conductors |
hiệp định về chống bán phá giá.txt | Hiệp định về Chống bán Phá giá là một trong những hiệp định của Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) được ký kết tại Vòng đàm phán Uruguay.
Tên đầy đủ của Hiệp định là Hiệp định về việc Thực thi Điều VI của Hiệp định chung về Thuế quan và Thương mại 1994 (GATT 1994). Điều VI của GATT 1994 cho phép các thành viên có biện pháp chống lại hành vi bán phá giá. Hiệp định về Chống bán Phá giá quy định chi tiết các điều kiện để các thành viên WTO có thể thực hiện các biện pháp như vậy. Cả Hiệp định và Điều VI được sử dụng cùng nhau để điều chỉnh các biện pháp chống bán phá giá.
== Điều kiện áp dụng ==
Định nghĩa đầy đủ của hành vi bán phá giá được quy định trong Hiệp định. Nói một cách vắn tắt, đó là hành vi của một công ty bán một mặt hàng xuất khẩu thấp hơn giá thông thường mà họ bán mặt hàng đó tại thị trường trong nước. Để áp dụng biện pháp chống bán phá giá, nước nhập khẩu là thành viên WTO phải chứng minh được ba điều kiện sau:
Có hành động bán phá giá: được tính bằng độ chênh lệch giữa giá của mặt hàng nhập khẩu với giá của mặt hàng tương tự bán tại thị trường của nước xuất khẩu (gọi là biên độ phá giá).
Có thiệt hại vật chất đối với ngành sản xuất của nước nhập khẩu đang cạnh tranh trực tiếp với hàng nhập khẩu.
Hành động bán phá giá là nguyên nhân gây ra thiệt hại vật chất, hoặc đe dọa gây ra thiệt hại vật chất nêu trên.
== Biện pháp áp dụng ==
Khi thỏa mãn được ba điều kiện trên, Hiệp định cho phép thành viên WTO được phép áp dụng biện pháp chống bán phá giá với mặt hàng nhập khẩu bị điều tra. Các biện pháp này thường là áp thêm một khoản thuế nhập khẩu đối với sản phẩm bị coi là bán phá giá nhằm đưa mức giá của sản phẩm đó xấp xỉ với "giá trị thông thường" của nó hoặc để khắc phục thiệt hại đối với ngành sản xuất của nước nhập khẩu. Các biện pháp này nếu trong điều kiện bình thường là những hành vi vi phạm các nguyên tắc của WTO về ràng buộc thuế suất nhập khẩu và không phân biệt đối xử hàng nhập khẩu. Tuy nhiên, biện pháp chống bán phá giá chỉ mang tính tạm thời nhằm loại trừ ảnh hưởng tiêu cực của hàng hoá nhập khẩu phá giá trên thị trường quốc gia nhập khẩu vì vậy các quốc gia chỉ được phép áp dụng thuế chống bán phá giá đối với hàng hoá nhập khẩu thời hạn nhất định - tối đa là 5 năm.
== Miễn trừ ==
Điều tra chống bán phá giá sẽ kết thúc ngay lập tức mà không đưa ra biện pháp chống bán phá giá nào nếu cơ quan chức năng xác định rằng biên độ phá giá không đáng kể (nhỏ hơn 2% giá xuất khẩu). Điều tra cũng chấm dứt nếu khối lượng hàng bán phá giá là không đáng kể (khối lượng hàng phá giá từ một nước bị điều tra nhỏ hơn 3% tổng nhập khẩu, đồng thời tổng khối lượng hàng phá giá từ tất cả các nước bị điều tra nhỏ hơn 7% tổng nhập khẩu).
== Cơ quan theo dõi ==
Hiệp định cũng quy định các thành viên phải báo cáo chi tiết ngay lập tức cho Ủy ban phụ trách các Hành động Chống bán Phá giá của WTO khi họ bắt đầu tiến hành điều tra sơ bộ cũng như khi đưa ra kết luận cuối cùng. Họ cũng phải báo cáo tổng kết hai lần mỗi năm cho Ủy ban tất cả những cuộc điều tra của họ. Khi có sự tranh cãi, các thành viên được khuyến khích tiến hành tham vấn lẫn nhau. Nếu tham vấn không đạt được kết quả, họ có thể sử dụng cơ chế giải quyết tranh chấp của WTO để giải quyết và phải chấp nhận kết quả giải quyết theo cơ chế này.
== Tham khảo == |
màn hình tinh thể lỏng.txt | Màn hình tinh thể lỏng hay LCD (Liquid crystal display) là loại thiết bị hiển thị cấu tạo bởi các tế bào (các điểm ảnh) chứa tinh thể lỏng có khả năng thay đổi tính phân cực của ánh sáng và do đó thay đổi cường độ ánh sáng truyền qua khi kết hợp với các kính lọc phân cực. Chúng có ưu điểm là phẳng, cho hình ảnh sáng, chân thật và tiết kiệm năng lượng.
== Lịch sử ==
Được sản xuất từ năm 1970, LCD là một loại vật chất phản xạ ánh sáng khi điện thế thay đổi. Nó hoạt động dựa trên nguyên tắc ánh sáng nền (Back Light). Nó bao gồm một lớp chất lỏng nằm giữa 2 lớp kính phân cực ánh sáng. Bình thường, khi không có điện áp, các tinh thể này được xếp thẳng hàng giữa hai lớp cho phép ánh sáng truyền qua theo hình xoắn ốc. Hai bộ lọc phân cực, 2 bộ lọc màu và 2 bộ cân chỉnh sẽ xác định cường độ ánh sáng đi qua và màu nào được tạo ra trên một pixel. Khi có điện áp cấp vào, lớp canh chỉnh sẽ tạo một vùng điện tích, canh chỉnh lại các tinh thể lỏng đó. Nó không cho phép ánh sáng đi qua để hiện thị lên hình ảnh tại vị trí điểm ảnh đó. Các điểm ảnh trong màn hình LCD là một transistor cực nhỏ ở một trong 2 chế độ: cho phép ánh sáng đi qua hoặc không. Điểm ảnh bao gồm 3 yếu tố màu: đỏ, xanh lá, xanh dương. Các màn hình LCD trước đây thường tiêu thụ điện năng nhiều, độ tương phản thấp cho đến khi các nhà khoa học người Anh tìm ra "Biphenyl" - vật liệu chính của tinh thể lỏng, thì LCD mới thực sự phổ biến. LCD xuất hiện đầu tiên trong các máy tính cầm tay, trò chơi điện tử cầm tay, đồng hồ điện tử, … LCD ngày nay được thiết kế nhỏ gọn, nhẹ, chiếm ít không gian, chất lượng hình ảnh tốt, tiêu thụ ít năng lượng và đang thay thế dần màn hình CRT.
== Cấu tạo ==
Có hai kiểu cấu tạo màn hình tinh thể lỏng chính, khác nhau ở thiết kế nguồn sáng.
Trong kiểu thứ nhất, ánh sáng được phát ra từ một đèn nền, có vô số phương phân cực như các ánh sáng tự nhiên. Ánh sáng này được cho lọt qua lớp kính lọc phân cực thứ nhất, trở thành ánh sáng phân cực phẳng chỉ có phương thẳng đứng. Ánh sáng phân cực phẳng này được tiếp tục cho truyền qua tấm thủy tinh và lớp điện cực trong suốt để đến lớp tinh thể lỏng. Sau đó, chúng tiếp tục đi tới kính lọc phân cực thứ hai; có phương phân cực vuông góc với kính lọc thứ nhất, rồi đi tới mắt người quan sát. Kiểu màn hình này thường áp dụng cho màn hình màu ở máy tính hay TV. Để tạo ra màu sắc, lớp ngoài cùng, trước khi ánh sáng đi ra đến mắt người, có kính lọc màu.
Ở loại màn hình tinh thể lỏng thứ hai, chúng sử dụng ánh sáng tự nhiên đi vào từ mặt trên và có gương phản xạ nằm sau, dội ánh sáng này lại cho người xem. Đây là cấu tạo thường gặp ở các loại màn hình tinh thể lỏng đen trắng trong các thiết bị bỏ túi. Do không cần nguồn sáng nên chúng tiết kiệm năng lượng.
== Phân loại sản phẩm ==
=== LCD ma trận thụ động ===
LCD ma trận thụ động (dual scan twisted nematic, DSTN LCD) có đặc điểm là đáp ứng tín hiệu khá chậm (300ms) và dễ xuất hiện các điểm sáng xung quanh điểm bị kích hoạt khiến cho hình có thể bị nhòe. Các công nghệ được Toshiba và Sharp đưa ra là HPD (hybrid passive display), cuối năm 1990, bằng cách thay đổi công thức vật liệu tinh thể lỏng để rút ngắn thời gian chuyển đổi trạng thái của phân tử, cho phép màn hình đạt thời gian đáp ứng 150ms và độ tương phản 50:1. Sharp và Hitachi cũng đi theo một hướng khác, cải tiến giải thuật phân tích tín hiệu đầu vào nhằm khắc phục các hạn chế của DSTN LCD, tuy nhiên hướng này về cơ bản chưa đạt được kết quả đáng chú ý.
=== LCD ma trận chủ động ===
LCD ma trận chủ động thay thế lưới điện cực điều khiển bằng loại ma trận transistor phiến mỏng (thin film transistor, TFT LCD) có thời gian đáp ứng nhanh và chất lượng hình ảnh vượt xa DSTN LCD. Các điểm ảnh được điều khiển độc lập bởi một transistor và được đánh dấu địa chỉ phân biệt, khiến trạng thái của từng điểm ảnh có thể điều khiển độc lập, đồng thời và tránh được bóng ma thường gặp ở DSTN LCD.
== Hoạt động bật tắt cơ bản ==
Nếu điện cực của một điểm ảnh con không được áp một điện thế, thì phần tinh thể lỏng ở nơi ấy không bị tác động gì cả, ánh sáng sau khi truyền qua chỗ ấy vẫn giữ nguyên phương phân cực, và cuối cùng bị chặn lại hoàn toàn bởi kính lọc phân cực thứ hai. Điểm ảnh con này lúc đó bị tắt và đối với mắt đây là một điểm tối.
Để bật một điểm ảnh con, cần đặt một điện thế vào điện cực của nó, làm thay đổi sự định hướng của các phân tử tinh thể lỏng ở nơi ấy; kết quả là ánh sáng sau khi truyền qua phần tinh thể lỏng ở chỗ điểm ảnh con này sẽ bị xoay phương phân cực đi, có thể lọt qua lớp kính lọc phân cực thứ hai, tạo ra một điểm màu trên tấm kính trước.
== Hiển thị màu sắc và sự chuyển động ==
Hình ảnh hiện ra trên tấm kính trước là do sự cảm nhận tổng thể tất cả các điểm ảnh, ở đấy mỗi điểm ảnh mang một màu sắc và độ sáng nhất định, được quy định, theo quy tắc phối màu phát xạ, bởi mức độ sánh của ba điểm ảnh con của nó (tỉ lệ của ba màu đỏ, lục và lam), tức được quy định bởi việc bật/tắt các điểm ảnh con ấy.
Để làm điều này, cùng một lúc các điện thế thích hợp sẽ được đặt vào các điểm ảnh con nằm trên cùng một hàng, đồng thời phần mềm trong máy tính sẽ ra lệnh áp điện thế vào những cột có các điểm ảnh con cần bật.
Ở mỗi thời điểm, các điểm ảnh ở một trạng thái bật/tắt nhất định - ứng với một ảnh trên màn hình. Việc thay đổi trạng thái bật/tắt của các điểm ảnh tạo ra một hình ảnh chuyển động. Điều này được thực hiện bằng cách áp điện thế cho từng hàng từ hàng này đến hàng kế tiếp (gọi là sự quét dọc) và áp điện thế cho từng cột từ cột này đến cột kế tiếp (sự quét ngang). Thông tin của một ảnh động từ máy tính được chuyển thành các tín hiệu quét dọc và quét ngang và tái tạo lại hình ảnh đó trên màn hình.
== Xem thêm ==
Phối màu phát xạ
== Tham khảo ==
== Liên kết ngoài == |
danh sách tiền tệ.txt | Danh sách này bao gồm tất cả các loại tiền tệ, ở hiện tại cũng như trong quá khứ. Tên địa phương của tiền tệ được sử dụng trong danh sách này kèm theo tên nước hoặc tên vùng lãnh thổ.
Để xem danh sách tiền tệ theo quốc gia, xem Danh sách các loại tiền tệ đang lưu hành.
Để xem danh sách tiền tệ thay thế, xem Alternative currency (Danh sách tiền tệ thay thế).
Để xem danh sách tiền điện tử, xem Danh sách các loại tiền điện tử.
Để xem danh sách tiền tệ cổ, xem Danh sách các loại tiền tệ cổ.
Để xem danh sách tiền tệ giả định, xem Danh sách các loại tiền tệ giả định.
== A ==
Afghani - Afghanistan
Akşa - Tuva
Angolar - Angola
Argentino - Argentina
Ariary - Madagascar
Austral - Argentina
Auksinas - Litva
== B ==
Baht - Thái Lan
Balboa - Panama (dùng tiền giấy là đô la Mỹ)
Birr - Ethiopia
Bitcoin - Dùng để thanh toán qua mạng.
Bolívar - Venezuela
Boliviano - Bolivia
Budju - Algérie
== C ==
Cedi - Ghana
Chervonets - Nga
Colón
Colón Costa Rica - Costa Rica
Colón Salvador - El Salvador
Conventionsthaler - Đế quốc La Mã Thần thánh
Córdoba - Nicaragua
Cruzado Bồ Đào Nha - Bồ Đào Nhal
Cruzado Brazil - Brazil
Cruzeiro Brazil - Brazil
Cruzeiro Real - Brazil
Cupon - Moldova
Chinese customs gold unit - Trung Hoa Dân Quốc
== D ==
Dalasi - Gambia
Daler - Danish West Indies
Denar - Cộng hòa Macedonia
Denier - Pháp
Dime
Dime (Canada) - Canada
Dime (Hoa Kỳ) - Hoa Kỳ
Dinar (دينار)
Dinar Algeri - Algérie
Dinar Bahrain - Bahrain
Dinar Bosnia and Herzegovina - Bosnia và Herzegovina
Dinar Croatia - Croatia
Dinar Iraq - Iraq
Dinar Jordani - Jordan, Vùng lãnh thổ Palestin
Dinar Kelantan - Kelantan
Dinar Krajina - Krajina
Dinar Kuwait - Kuwait
Dinar Libya - Libya
Republika Srpska dinar - Cộng hòa Srpska
Dinar Serbia - Serbia
Dinar Nam Yemen - Nam Yemen
Dinar Sudan - Sudan
Swiss dinar - Iraq
Dinar Tunisia - Tunisia
Dinar Nam Tư - Nam Tư
Diner - Andorra (Chỉ để lưu niệm)
Dinero Tây Ban Nha - Tây Ban Nha
Dinheiro Bồ Đào Nha - Bồ Đào Nha
Dirham (درهم)
Dirham Morocco - Maroc
Dirham Các Tiểu vương quốc Ả Rập thống nhất - Các Tiểu vương quốc Ả Rập Thống nhất
Dobra - São Tomé và Príncipe
Dollar
Đô la Antigua - Antigua
Đô la Úc - Úc, Kiribati, Nauru và Tuvalu
Đô la Bahamas - Bahamas
Đô la Barbados - Barbados
Đô la Belize - Belize
Đô la Bermuda - Bermuda
Đô la British Columbia - British Columbia
Đô la British North Borneo - British North Borneo
British West Indies dollar - British West Indies
Đô la Brunei - Brunei
Canadian dollar - Canada
Cayman Islands dollar - Quần đảo Cayman
Đô la lục địa - Colonial America
Đô la Quần đảo Cook - Cook Islands
Đô la Dominica - Dominica
Đô la Đông Caribbe - Anguilla, Antigua and Barbuda, Dominica, Grenada, Montserrat, Saint Kitts và Nevis, Saint Lucia, Saint Vincent và Grenadines
Đô la Fiji - Fiji
Đô la Grenada - Grenada
Đô la Guyana - Guyana
Đô la Hawaii - Hawaii
Đô la Hồng Kông - Hong Kong
Đô la quốc tế - Tiền dự định, tỷ lệ 1:1 vớiĐô la Mỹ
Đô la Jamaica - Jamaica
Kiautschou dollar - Qingdao
Đô la Kiribati - Kiribati
Đô la Liberia - Liberia
Đô la Malaya và Borneo thuộc Anh - Malaya, Singapore, Sarawak, British North Borneo và Brunei
Đô la Malaya - Brunei, Malaysia và Singapore
Mauritian dollar - Mauritius
Đô la Mông Cổ - Mông Cổ
Đô la Namibia - Namibia
Đô la Nevis - Nevis
New Brunswick dollar - New Brunswick
Đô la New Zealand - New Zealand, Cook Islands, Niue, Tokelau, Pitcairn Islands.
Newfoundland dollar - Newfoundland
Nova Scotian dollar - Nova Scotia
Prince Edward Island dollar - Prince Edward Island
Penang dollar - Penang
Đô la Puerto Rico - Puerto Rico
Đô la Rhodesia - Rhodesia
Đô la Saint Kitts - Saint Kitts
Đô la Saint Lucia - Saint Lucia
Đô la Saint Vincent - Saint Vincent
Đô la Sarawak - Sarawak
Đô la Sierra Leone - Sierra Leone
Đô la Singapore - Singapore
Quần đảo Solomon dollar - Quần đảo Solomon
Straits dollar - Brunei, Malaysia và Singapore
Đô la Sumatra - Sumatra
Đô la Suriname - Suriname
Old Taiwan dollar - Taiwan
New Taiwan dollar - Taiwan
Texan dollar - Republic of Texas
Đô la Tobago - Tobago
Đô la Trinidad - Trinidad
Đô la Trinidad và Tobago - Trinidad và Tobago
Đô la Tuvalu - Tuvalu (không phải là hối đoái độc lập, lệ thuộc vào tiền Australian dollar)
Đô la Mỹ - Hoa Kỳ; cũng được dùng chính thức tại 7 nước khác: Lãnh thổ Ấn Độ Dương thuộc Anh (được chấp nhận), Đông Timor (có tiền riêng centavo coins), Ecuador (tiền riêng centavo coins), El Salvador, Quần đảo Marshall, Liên bang Micronesia, Palau và Panama (tiền riêng balboa)
Đô la Zimbabwe - Zimbabwe
Đồng
Đồng (tiền Việt Nam Dân chủ Cộng hòa) - Việt Nam dân chủ cộng hòa
Đồng (tiền Việt Nam Cộng hòa) - Việt Nam Cộng hòa
Đồng Việt Nam - Việt Nam
Drachma - Hy Lạp
Dram (Դրամ) - Armenia
== E ==
Ekwele (Ekuele) - Equatorial Guinea
Xem thêm: Scudo (bên dưới)
Escudo
Escudo Angola - Angola
Cabo Verde Escudo - Cabo Verde
Escudo Chile - Chile
Escudo Mozambique - Mozambique
Escudo Bồ Đào Nha - Bồ Đào Nha
Escudo Guinea thuộc Bồ Đào Nha - Guinea Bissau
Portuguese Indian escudo - Portuguese India
Escudo Đông Timor thuộc Bồ Đào Nha - Đông Timor
São Tomé and Príncipe escudo - São Tomé và Príncipe
Spanish escudo - Tây Ban Nha
Euro (Eυρώ, Евро) - Áo, Bỉ, Cộng hòa Síp, Estonia, Phần Lan, Pháp, Đức, Hy Lạp, Ireland, Ý, Luxembourg, Malta, Hà Lan, Bồ Đào Nha, Slovakia, Slovenia, Tây Ban Nha
Các quốc gia có thỏa hiệp chính thức với EU để dùng đồng Euro: Monaco, San Marino, Vatican
Các quốc gia mà tự dùng đồng Euro: Andorra, Montenegro, Kosovo
Các hối đoái dựa vào đồng Euro: Escudo Cabo Verde, CFA franc, CFP franc, Comorian franc, Bulgarian lev, Litas Litva, Bosnia and Herzegovina convertible mark
== F ==
Fanam - Madras Presidency
Fiorino - Tuscany
Florin
Florin Aruba - Aruba
Florin Áo - Áo
Florin Đông Phi - Kenya, Somalia, Tanzania và Uganda
Lombardy-Venetia florin - Lombardy-Venetia
Forint - Hungary
Franc
Algerian franc - Algeria
Belgian franc - Bỉ
Burundian franc - Burundi
Cambodian franc - Campuchia
Central African CFA franc - Cameroon, Central African Republic, Chad, Cộng hòa Congo, Equatorial Guinea, Gabon
CFP franc - New Caledonia, Polynésie thuộc Pháp, Wallis và Futuna
Comorian franc - Comoros
Congolese franc - Cộng hòa Dân chủ Congo (thay thế năm 1967, tái lập 1998)
Djiboutian franc - Djibouti
French franc - Pháp
French Camerounian franc - French Cameroun
French Equatorial African franc - French Equatorial Africa
French Guianan franc - French Guiana
Polynésie thuộc Phápn franc - Polynésie thuộc Pháp
French West African franc - French West Africa
Geneva franc - Geneva
Guadeloupe franc - Guadeloupe
Guinean franc - Guinea (thay thế năm 1971, tái lập 1985)
Katangan franc - Katanga
Luxembourgish franc - Luxembourg
Malagasy franc - Madagascar
Malian franc - Mali
Martinique franc - Martinique
Monegasque franc - Monaco
Moroccan franc - Maroc
Nouvelle-Calédonien franc - New Caledonia
New Hebrides franc - New Hebrides
Réunion franc - Réunion
Rwanda and Burundi franc - Rwanda và Burundi
Rwandan franc - Rwanda
Saar franc - Saar
Saint Pierre and Miquelon franc - Saint Pierre and Miquelon
Swiss franc - Thụy Sĩ, Liechtenstein
Togolese franc - Togo
Tunisian franc - Tunisia
US occupation franc - Pháp (được in và dùng bởi quân đội đồng minh, nhưng không được chấp nhận bới bất cứ chính phủ nào)
West African CFA franc - Bénin, Burkina Faso, Bờ Biển Ngà, Guinea-Bissau, Mali, Niger, Senegal, Togo
Vaud franc - Vaud
Franco
Dominican franco - Cộng hòa Dominica
Luccan franco - Lucca
Ticino franco - Ticino
Frange - Korçë
Frank
Aargau Frank - Aargau
Appenzell Frank - Appenzell
Basel Frank - Basel
Berne Frank - Berne
Fribourg Frank - Fribourg
Glarus Frank - Glarus
Graubünden Frank - Graubünden
Liechtenstein frank - Liechtenstein
Luzern Frank - Luzern
Schaffhausen Frank - Schaffhausen
Schwyz Frank - Schwyz
Solothurn Frank - Solothurn
St. Gallen Frank - St. Gallen
Thurgau Frank - Thurgau
Unterwalden Frank - Unterwalden
Uri Frank - Uri
Vlorë frank - Vlorë
Westphalian frank - Westphalia
Zürich Frank - Zürich
== G ==
Gazeta (Γαζετα) - Ionian Islands
Genevoise - Geneva
Gineih - Ai Cập
Gourde - Haiti
Grosz - Kraków
Guaraní - Paraguay
Guilder - British Guiana
Gulden
Austro-Hungarian gulden - Austria-Hungary
Baden Gulden - Baden
Bavarian Gulden - Bavaria
Danzig Gulden - Danzig
Dutch gulden - Hà Lan
Fribourg Gulden - Fribourg
Luzern Gulden - Luzern
Netherlands Antillean gulden - Netherlands Antilles
Netherlands Indian gulden - Netherlands Indies
Neuchâtel gulden - Neuchâtel
Schwyz Gulden - Schwyz
South German Gulden - Baden, Bavaria, Frankfurt, Hohenzollern, Württemberg và các vương quốc khác
Surinamese gulden - Suriname
West New Guinean gulden - West New Guinea
Württemberg Gulden - Württemberg
== H ==
Hryvnia (Гривня) - Ukraine
Hwan (圜 or 환) - Hàn Quốc
== I ==
Inca - Peru
Inti - Peru
Rupee Ấn Độ - India
== K ==
Karbovanets
Ukrainian karbovanets - Ukraine
Keping
Kelantan keping - Kelantan
Trengganu keping - Trengganu
Kina - Papua New Guinea
Kip - Lào
Konvertibilna marka (Конвертибилна марка) - Bosna và Hercegovina
Kori - Kutch
Korona - Hungary
Koruna
Bohemian and Moravian koruna - Bohemia and Moravia
Czech koruna - Cộng hòa Séc
Czechoslovak koruna - Czechoslovakia
Slovak koruna - Slovakia
Koruuni - Greenland
Króna
Faroese króna - Faroe Islands (not an independent currency, equivalent to Danish krone)
Icelandic króna - Iceland
Krona - Thụy Điển
Krone
Austro-Hungarian krone - Áo
Danish krone - Đan Mạch, Greenland
Liechtenstein krone - Liechtenstein
Norwegian krone - Na Uy
Yugoslav krone - Yugoslavia
Kronenthaler
Austrian Netherlands kronenthaler - Bỉ
Holy Roman Empire Kronenthaler - Holy Roman Empire
Kroon - Estonia
Kuna - Croatia
Kuna - Independent State of Croatia
Kwacha
Malawian kwacha - Malawi
Zambian kwacha - Zambia
Kwanza - Angola
Kyat () - Myanmar
== L ==
Laari - Maldives
Lari (ლარი) - Gruzia
Lats - Latvia
Lek - Albania
Lempira - Honduras
Leone - Sierra Leone
Leu
Leu Moldova - Moldova
Leu Romania - România
Lev (Лев) - Bulgaria
Libra - Peru
Lilangeni - Swaziland
Lira
Lira Israel (לירה, pound) - Israel
Lira Italia - Ý
Lira Đông Phi thuộc Ý - Đông Phi thuộc Ý
Lira Somaliland thuộc Ý - Somaliland thuộc Ý
Lebanese lira (ليرة) - Liban
Luccan lira - Lucca
Maltese lira - Malta
Neapolitan lira - Napoli (Kingdom of Joachim Murat)
Papal States lira - Papal States
Parman lira - Parma
Sammarinese lira - San Marino
Sardinian lira - Sardinia
Tripolitanian lira (ليرة) - Tripolitania
Turkish lira - Thổ Nhĩ Kỳ
Turkish new lira - Thổ Nhĩ Kỳ
Tuscan lira - Tuscany
Vatican lira - Vatican
Venetian lira - Venice
Litas - Litva
Livre
French colonial livre - French Guiana, Guadeloupe, Haiti, Martinique, Mauritius và Réunion
French livre - Pháp
Guadeloupe livre - Guadeloupe
Jersey livre - Jersey
French livre parisis - Pháp
French livre tournois - Pháp
Haitian livre - Haiti
New France livre - New France
Luxembourgish livre - Luxembourg
Saint Lucia livre - Saint Lucia
Loti - Lesotho
== M ==
Manat
Azerbaijani manat - Azerbaijan
Turkmenistani manat - Turkmenistan
Maneti - Gruzia
Maravedí - Tây Ban Nha
Mark
Danzig Mark - Danzig
Estonian mark - Estonia
Mark Đức - Đức
German Goldmark - Đức
German Papiermark - Đức
German Reichsmark - Đức
German Rentenmark - Đức
German South West African Mark - German South West Africa
East German Mark - Đông Đức
Hamburg Mark - Hamburg
New Guinean Mark - New Guinea
Saar Mark - Saar
Marka
Bosnia and Herzegovina konvertibilna marka (конвертибилна марка) - Bosna và Hercegovina
Polish marka - Ba Lan
Markka - Phần Lan
Metica - Mozambique (proposed)
Metical - Mozambique
Mohar - Nepal
Mon - Nhật Bản
Mun - Korea
== N ==
Nahar - Chechnia (planned and printed but never used)
Naira - Nigeria
Nakfa - Eritrea
New pence - Britain
Ngultrum (དངུལ་ཀྲམ) - Bhutan
Nuevo Sol - Peru
== O ==
Obol - Ionian Islands
Ora - Orania, South Africa
Ostmark
Ostmark - Litva
East German mark - Đông Đức (known as the Ostmark, or East mark)
Ostruble - Litva
Ouguiya (أوقية) - Mauritania
== P ==
Pa'anga - Tonga
Pataca
Pataca Macao (澳門圓) - Macau
Pataca Malta - Malta
Pataca Timor thuộc Bồ Đào Nha - Timor thuộc Bồ Đào Nha
Pengő - Hungary
Penning - Thụy Điển
Perper
Serbian perper - Serbia
Montenegrin perper - Montenegro
Perun - Montenegro (proposed)
Peseta
Catalan peseta - Catalunya
Equatorial Guinean peseta - Equatorial Guinea
Peruvian peseta - Peru
Spanish peseta - Tây Ban Nha
Peso
Argentine peso - Argentina
Argentine peso argentino - Argentina
Argentine peso ley - Argentina
Argentine peso moneda corriente - Argentina
Argentine peso moneda nacional - Argentina
Peso Bolivia - Bolivia
Peso Peso Chile - Chile
Peso Colombia - Colombia
Peso Costa Rica - Costa Rica
Cuban convertible peso - Cuba
Peso Cuba - Cuba
Peso Dominica - Cộng hòa Dominica
Peso Ecuador - Ecuador
Peso Guatemala - Guatemala
Peso Guinea Bissau - Guinea Bissau
Peso Honduras - Honduras
Japanese government-issued Philippine fiat peso - Philippines
Malvinas Islands peso - Malvinas Islands (Falkland Islands)
Mexican peso - México
Nicaraguan peso - Nicaragua
Paraguayan peso - Paraguay
Philippine peso - Philippines
Puerto Rican peso - Puerto Rico
Salvadoran peso - El Salvador
Uruguayan peso - Uruguay
Venezuelan peso - Venezuela
Phoenix - Hy Lạp
Piastra
Neapolitan piastra - Mainland part of Two Sicilies
Sicilian piastra - Sicilia
Two Sicilies piastra - Two Sicilies
Piastre
Piastre - Campuchia, Lào và Vietnam
Ottoman Turkish piastre - Ottoman Empire
Piso - Philippines
Pitis - Brunei
Bảng
Alderney pound - Alderney (commemorative, same as British pound
Bảng Anglo-Saxon - Anglo-Saxon England
Bảng Úc - Australia
Bảng Bahamas - Bahamas
Bảng Bermuda - Bermuda
Biafra - Biafra
Bảng Anh - United Kingdom, Lãnh thổ Ấn Độ Dương thuộc Anh (accepted)
Bảng Tây Phi thuộc Anh - Cameroon, Gambia, Ghana, Liberia, Nigeria và Sierra Leone
Bảng Canada - Canada
Connecticut pound - Connecticut
Bảng Síp - Cộng hòa Síp], Akrotiri and Dhekelia
Delaware pound - Delaware
Bảng Ai Cập - Ai Cập
Falkland Islands pound - Falkland Islands
Bảng Fiji - Fiji
Bảng Gambia - Gambia
Bảng Georgia - Georgia
Bảng Ghana - Ghana
Bảng Gibraltar - Gibraltar
Guernsey pound - Guernsey
Israeli pound - Israel
Bảng Jamaica - Jamaica
Bảng Jersey - Jersey
Bảng Libya - Libya
Bảng Malawi - Malaŵi
Bảng Malta - Malta
Manx pound - Isle of Man
Maryland pound - Maryland
Massachusetts pound - Massachusetts
New Brunswick pound - New Brunswick
Newfoundland pound - Newfoundland
New Guinean pound - New Guinea
New Hampshire pound - New Hampshire
New Jersey pound - New Jersey
New York pound - New York
New Zealand pound - New Zealand
Nigerian pound - Nigeria
North Carolina pound - Bắc Carolina
Nova Scotian pound - Nova Scotia
Oceanian pound - Kiribati, Nauru, New Guinea, Quần đảo Solomon và Tuvalu
Palestinian pound - Palestine
Pennsylvania pound - Pennsylvania
Prince Edward Island pound - Prince Edward Island
Rhode Island pound - Rhode Island
Rhodesia and Nyasaland pound - Rhodesia và Nyasaland
Rhodesian pound - Rhodesia
Saint Helena pound - Saint Helena
Pound Scots - Kingdom of Scotland
Quần đảo Solomon pound - Quần đảo Solomon
Bảng Nam Phi - Cộng hòa Nam Phi
South Carolina pound - Nam Carolina
Southern Rhodesian pound - Southern Rhodesia
Bảng Sudan - Sudan
(New) Sudanese pound - Southern Sudan
Bảng Syria - Syria
Bảng Tonga - Tonga
Virginia - Virginia
West Indian pound - British West Indies
Bảng Tây Samoa - Samoa
Bảng Zambia - Zambia
Pula - Botswana
== Q ==
Qiran - Iran
Quetzal - Guatemala
== R ==
Rai stones - Yap
Rand - Cộng hòa Nam Phi
Reaal - Curaçao
Real
Angolan real - Angola
Argentine real - Argentina
Azorean real - Azores
Brazilian real - Brazil
Real Cabo Verde - Cabo Verde
Central American Republic real - Costa Rica, El Salvador, Guatemala, Honduras và Nicaragua
Colombian real - Colombia
Ecuadorian real - Ecuador
Gibraltar real - Gibraltar
Honduran real - Honduras
Mexican real - México
Mozambican real - Mozambique
Paraguayan real - Paraguay
Peruvian real - Peru
Philippine real - Philippines
Portuguese Guinea real - Guinea Bissau
Portuguese real - Bồ Đào Nha (số nhiều réis)
Santo Domingo real - Santo Domingo
Salvadoran real - El Salvador
São Tomé and Príncipe real - São Tomé và Príncipe
Spanish colonial real - Argentina, Bolivia, Chile, Colombia, Costa Rica, Cuba, Cộng hòa Dominica, Ecuador, El Salvador, Guatemala, Honduras, México, Nicaragua, Panama, Paraguay, Peru, Uruguay và Venezuela
Spanish real - Tây Ban Nha
Venezuelan real - Venezuela
Reichsmark - Đức
Reichsthaler - Đức
Renminbi (人民币 or 人民幣) - Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa
Rentenmark - Đức
Rial (ريال)
Iranian rial - Iran
Moroccan rial - Maroc
North Yemeni rial - North Yemen
Omani rial - Oman
Tunisian rial - Tunisia
Yemeni rial - Yemen
Riel - Campuchia
Rigsdaler
Danish West Indies rigsdaler - Danish West Indies
Danish rigsdaler - Đan Mạch
Greenlandic rigsdaler - Greenland
Norwegian rigsdaler - Na Uy
Riksdaler - Thụy Điển
Rijksdaalder - Hà Lan
Ringgit
Malaysian ringgit - Malaysia
Brunei ringgit - Brunei - known in English as the dollar
Rixdollar - Sri Lanka
Riyal (ريال)
Hejaz riyal - Hejaz
Qatari riyal - Qatar
Saudi riyal - Ả Rập Saudi
Zanzibari riyal - Zanzibar
Roepiah - Netherlands Indies
Ruble (Рубль)
Armenian ruble - Armenia
Azerbaijani ruble - Azerbaijan
Belarusian ruble - Belarus
Russian ruble - Nga
Tajikistani ruble - Tajikistan
Transcaucasian ruble - Transcaucasia
Transnistrian ruble - Transnistria
Rublis - Latvia
Rufiyah (ދިވެހި ރުފިޔ) - Maldives
Rupee (India)
Afghan rupee - Afghanistan
Bhutanese rupee - Bhutan
Burmese rupee - Myanma
Danish Indian rupee - Danish India
East African rupee - Kenya, Somalia, Tanzania và Uganda
French Indian rupee - French India
Gulf rupee - Bahrain, Kuwait, Oman, Qatar và UAE
Hyderabad rupee - Hyderabad
Indian rupee - India
Javan rupee - Java
Mauritian rupee - Mauritius
Nepalese rupee - Nepal
Pakistani rupee - Pakistan
Portuguese Indian rupia - Portuguese India
Seychellois rupee - Seychelles
Sri Lankan rupee (ரூபாய) - Sri Lanka
Travancore rupee - Travancore
Zanzibari rupee - Zanzibar
Rupiah - Indonesia
Indonesian rupiah - Indonesia
Italian Somaliland rupia - Italian Somaliland
Riau rupiah - Riau
West New Guinea rupiah - West New Guinea
Rupie - Burundi, Rwanda và Tanzania
Ryō - Nhật Bản
== S ==
Schilling - Áo
see also: Escudo (above)
Scudo
Bolivian scudo - Bolivia
Lombardy-Venetia scudo - Lombardy-Venetia
Maltese scudo - Malta
Milanese scudo - Milan
Papal States scudo - Papal States
Piedmont scudo - Piedmont and other mainland parts of the Kingdom of Sardinia
Sardinian scudo - Sardinia
Shah (Шаг) - Ukraine
Shekel
New Shekel (שקל חדש) - Israel, Gaza Strip, West Bank
Shekel (שקל) - Israel, Gaza Strip, West Bank
Shilling
East African shilling - Kenya, Somalia, Tanzania và Uganda
Kenyan shilling - Kenya
Somali shilling - Somalia
Somaliland shilling - Somaliland
Tanzanian shilling - Tanzania
Ugandan shilling - Uganda
Skender - Korçë
Sol - Peru
Som
Kyrgyzstani som (Сом) - Kyrgyzstan
Uzbekistani som (Сўм) - Uzbekistan
Somalo - Italian Somaliland
Somoni (Сомонӣ) - Tajikistan
Speciedaler - Na Uy
Speciethaler - Schleswig-Holstein
Srang - Tibet
Sucre - Ecuador
Syli - Guinea
== T ==
Tael (兩, liǎng) - Trung Quốc
Taka (টাকা) - Bangladesh
Tala - Samoa
Tallero - Eritrea
Talonas - Litva
Tangka - Tibet
Tenga
Bukharan tenga - Bukhara
Kokand tenga - Kokand
Khwarazmi tenga - Khwarazm
Tenge (Теңге) - Kazakhstan
Thaler - Đức, Áo, Hungary
Basel Thaler - Basel
Berne Thaler - Berne
Bremen Thaler - Bremen
Danzig Thaler - Danzig
Geneva thaler - Geneva
Hannovarian Thaler - Hannover
Hesse-Kassel Thaler - Hesse-Kassel (or Hesse-Cassel)
Mecklenburg Thaler - Mecklenburg
Prussian Thaler - Phổ
St. Gallen Thaler - St. Gallen
Saxon Thaler - Mecklenburg
Solothurn Thaler - Solothurn
Valais thaler - Valais
Westphalian Thaler - Westphalia
Zürich Thaler - Zürich
Tical - Campuchia
Tögrög (Tөгрөг) - Mông Cổ
Tolar - Slovenia
Toman (تومان) - Iran
Trade dollar
British trade dollar - Đảo Anh
Japanese trade dollar - Nhật Bản
United States trade dollar - Hoa Kỳ
== V ==
Vatu - Vanuatu
Venezolano - Venezuela
Vereinsthaler
Hanoverian vereinsthaler - Hannover
Hesse-Kassel vereinsthaler - Hesse-Kassel (or Hesse-Cassel)
Mecklenburg vereinsthaler - Mecklenburg
Prussian vereinsthaler - Phổ
Saxon vereinsthaler - Saxony
== W ==
Won (원,圓)
Won Triều Tiên - Triều Tiên
Won Bắc Triều Tiên - Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Triều Tiên
Won Hàn Quốc - Đại Hàn Dân quốc
== Y ==
Yang (兩) - Korea
Yen (円)
Korean yen - Korea
Japanese military yen - Hong Kong
Yen - Nhật Bản
Taiwanese yen - Taiwan
Yuan
Yuan (元, 圆 or 圓) - Trung Quốc
Chinese yuan (元, 圆 or 圓) - Trung Quốc
Chinese renminbi yuan (人民币 or 人民幣) - Trung Quốc
Manchukuo yuan (圓) - Manchukuo
Taiwanese old yuan (Old Taiwan dollar) - Republic of China (Đài Loan)
Taiwanese new yuan (New Taiwan dollar) - Republic of China (Đài Loan)
== Z ==
Zaire (tiền tệ) - Zaire
Złoty - Ba Lan
Kraków złoty - Kraków
Polish złoty - Ba Lan
== Đọc thêm ==
Danh sách các loại tiền tệ đang lưu hành
== Tham khảo == |
nông nghiệp.txt | Nông nghiệp là ngành sản xuất vật chất cơ bản của xã hội, sử dụng đất đai để trồng trọt và chăn nuôi, khai thác cây trồng và vật nuôi làm tư liệu và nguyên liệu lao động chủ yếu để tạo ra lương thực thực phẩm và một số nguyên liệu cho công nghiệp. Nông nghiệp là một ngành sản xuất lớn, bao gồm nhiều chuyên ngành: trồng trọt, chăn nuôi, sơ chế nông sản; theo nghĩa rộng, còn bao gồm cả lâm nghiệp, thủy sản.
Nông nghiệp là một ngành kinh tế quan trọng trong nền kinh tế của nhiều nước, đặc biệt là trong các thế kỷ trước đây khi công nghiệp chưa phát triển.
Trong nông nghiệp cũng có hai loại chính, việc xác định sản xuất nông nghiệp thuộc dạng nào cũng rất quan trọng:
Nông nghiệp thuần nông hay nông nghiệp sinh nhai là lĩnh vực sản xuất nông nghiệp có đầu vào hạn chế, sản phẩm đầu ra chủ yếu phục vụ cho chính gia đình của mỗi người nông dân. Không có sự cơ giới hóa trong nông nghiệp sinh nhai.
Nông nghiệp chuyên sâu: là lĩnh vực sản xuất nông nghiệp được chuyên môn hóa trong tất cả các khâu sản xuất nông nghiệp, gồm cả việc sử dụng máy móc trong trồng trọt, chăn nuôi, hoặc trong quá trình chế biến sản phẩm nông nghiệp. Nông nghiệp chuyên sâu có nguồn đầu vào sản xuất lớn, bao gồm cả việc sử dụng hóa chất diệt sâu, diệt cỏ, phân bón, chọn lọc, lai tạo giống, nghiên cứu các giống mới và mức độ cơ giới hóa cao. Sản phẩm đầu ra chủ yếu dùng vào mục đích thương mại, làm hàng hóa bán ra trên thị trường hay xuất khẩu. Các hoạt động trên trong sản xuất nông nghiệp chuyên sâu là sự cố gắng tìm mọi cách để có nguồn thu nhập tài chính cao nhất từ ngũ cốc, các sản phẩm được chế biến từ ngũ cốc hay vật nuôi...
== Lịch sử ==
=== Các nguồn gốc thời tiền sử ===
Làm vườn rừng (Forest gardening) được xem là một hình thức nông nghiệp lâu đời nhất trên thế giới. Các thức này bắt đầu vào thời kỳ tiền sử dọch theo các bờ sông trong rừng và ở các chân đồi ẩm ướt trong vùng nhiệt đới gió mùa. Trong quá trình diễn biến từ từ của một gia đình cải thiện môi trường sống của họ, các loài nho và cây hữu ích dần được nhận dạng, được bảo vệ và cải tiến ngược lại các loài không mong muốn thì bị loại bỏ. Thậm chí các loài ngoại lai được chọn lọc và trồng trọt trong khu vườn của họ.
=== Thời cổ đại ===
Vùng trăng lưỡi liềm màu mỡ của Tây Á, Ai Cập, và Ấn Độ là những nơi có hoạt động gieo trồng và thu hoạch theo kế hoạch sớm nhất so với hái lượm trong tự nhiên. Sự phát triển độc lập của ngành nông nghiệp xuất hiện ở phía Bắc và Nam Trung Quốc, Sahel của châu Phi, New Guinea và một số khu vực của châu Mỹ. Tám loài được xem là nền tảng cây trồng thời đồ đá mới là: lúa mì emmer và lúa mì einkorn, đại mạch, đậu Hà Lan, lens, Vicia ervilia, Cicer arietinum và lanh (Linum usitatissimum).
Nông nghiệp được xem là bắt đầu sớm nhất ở vùng Levant, Địa trung hải. Tại di tích Tell Abu Hureyra phát hiện dấu tích sớm nhất của lúa mì (chừng 9050 năm trước Công nguyên). ngoài ra còn có nền văn minh nông nghiệp trồng lúa nước của cư dân đông nam á. nền văn minh nông nghiệp này xuất hiện vào khoảng 10000 đến 15000 nghìn năm trước công nguyên
Vào năm 5000 TCN, người Sumer đã phá triển các kỹ thuật nông nghiệp thiết yếu như canh tác mở rộng trên quy mô lớn, canh tác một vụ, tưới tiêu, và sử dụng lực lược lao động chuyên biệt, đặc biệt dọc theo các đường thủy mà hiện nay là Shatt al-Arab, từ châu thổ vịnh Ba Tư đến Tigris và Euphrates. Thuần hóa các loài aurochs và mouflon hoang dại thành bò nhà và cừu, mở ra việc sử dụng động vật làm thực phẩm/sợi. Những người chăn cừu trở thành người cung cấp thực phẩm quan trọng theo phương thức xã hội du canh du cư. Ngô, sắn (củ mì), và mì tinh được thần hóa đầu tiên ở châu Mỹ vào khoảng 5200 TCN.
Một trung tâm thần hóa nhỏ của người dân bản địa phía Đông Hoa Kỳ, họ đã thuần hóa một số loại cây trồng. Hoa hướng dương, thuốc lá, các giống bí và Chenopodium cũng như các loại cây không phát triển như Iva annua và Hordeum pusillum đã được thần hóa. Các loài thực phẩm dại khác có thể đã trải qua quá trình trồng trọt chọn lọc như lúa dại và phong đường. Các giống dâu tây phổ biến nhất đã được thuần hóa ở Tây Bắc Bắc Mỹ.
=== Thời trung cổ ===
=== Ngày nay ===
Nông nghiệp hiện đại vượt ra khỏi sản xuất nông nghiệp truyền thống, loại sản xuất nông nghiệp chủ yếu tạo ra lương thực cho con người hay làm thức ăn cho các con vật. Các sản phẩm nông nghiệp hiện đại ngày nay ngoài lương thực, thực phẩm truyền thống phục vụ cho con người còn các loại khác như: sợi dệt (sợi bông, sợi len, lụa, sợi lanh), chất đốt (mê tan, dầu sinh học, ethanol..), da thú, cây cảnh, sinh vật cảnh, chất hóa học (tinh bột, đường, mì chính, cồn, nhựa thông), lai tạo giống, các chất gây nghiện cả hợp pháp và không hợp pháp như (thuốc lá, cocaine..)
Thế kỷ 20 đã trải qua một sự thay đổi lớn trong sản xuất nông nghiệp, đặc biệt là sự cơ giới hóa trong nông nghiệp và ngành sinh hóa trong nông nghiệp. Các sản phẩm sinh hóa nông nghiệp gồm các hóa chất để lai tạo, gây giống, các chất trừ sâu, diệt cỏ, diêt nấm, phân đạm.
== Xem Thêm ==
Nông nghiệp Việt Nam
Khuyến nông
nông sản
== Chú thích ==
== Tham khảo ==
== Liên kết ngoài ==
Tủ sách khuyến nông phục vụ người lao động |
chả cốm.txt | Chả cốm là một món ăn đặc sản dân dã của Hà Nội. Khác với các loại chả khác như chả rươi, chả cá, chả mực được làm chủ yếu từ hải sản và có mùi hơi tanh, chả cốm được làm chủ yếu từ cốm mà khi ăn vào sẽ cảm nhận được một mùi thơm nhẹ nhàng. Vào tiết trời sang thu se lạnh ở Hà Nội, thưởng thức món chả cốm nóng hổi, thơm ngon sẽ đem lại một hương vị đặc trưng, khó quên.
== Nguyên liệu và cách chế biến ==
Chả cốm được làm chủ yếu từ cốm, thịt nạc và mộc (còn được gọi là giò sống). Cách chế biến chả cốm khá đơn giản. Đầu tiên trộn thịt nạc với mộc lại với nhau và nêm gia vị vừa ăn. Cốm đãi qua nhiều lần với nước sạch, để vào rổ cho ráo nước rồi đem trộn với hỗn hợp thịt ở trên. Dùng muỗng hoặc tay nắn chả thành từng miếng tròn vừa ăn, có thể chiên luôn hoặc gói vào lá sen hấp sơ rồi đem chiên.
== Hương vị ==
Mùi vị của chả cốm rất thơm và bùi nhưng ăn nhiều không bị ngán. Chả cốm ngon nhất là dùng nóng với vỏ ngoài giòn tan, bên trong lại mềm dẻo, dậy mùi thơm của cốm, đem lại một hương vị đặc trưng của mùa thu Hà Nội. Chả cốm thường được chấm với nước tương hoặc tương ớt, ăn kèm với cơm hoặc bún đều rất ngon.
== Chú thích ==
== Tham khảo ==
Khéo tay làm chả cốm mùa thu |
hiệp phụ (bóng đá).txt | 30 phút đá hai hiệp phụ (tiếng Anh: Extratime) là thời gian đá thêm thời gian (trận đấu phụ) 30 phút thường được sử dụng ở vòng đấu loại trực tiếp trong các giải đấu bóng đá chuyên nghiệp, nếu hai đội có tỉ số hòa sau 90 phút đá hai hiệp chính thì họ sẽ phải đá hai hiệp phụ, mỗi hiệp gồm 15 phút không được nghỉ giữa giờ. Ở những giải đấu không chuyên nghiệp, điều lệ tổ chức giải có thể bỏ thi đấu hai hiệp phụ mà sẽ thi đấu luôn màn sút luân lưu 11m để chọn đội giành chiến thắng giành quyền vào được vòng kế tiếp nếu sau 90 phút đá chính, kết quả hòa.
== Tác hại của hiệp phụ ==
30 phút đá hai hiệp phụ làm các cầu thủ mất sức rất nhiều sau khi thi đấu xong 120 phút, đòi hỏi phải có một thể lực thật tốt. FIFA đang xem xét việc cho áp dụng lại luật bàn thắng vàng hoặc bàn thắng bạc.
== Quy định ==
Khi bắt đầu hai hiệp phụ, trọng tài sẽ cho đội vừa được đá quả giao bóng ở hiệp một (trong 90 phút đá chính) được quyền đá quả giao bóng để bắt đầu hiệp phụ thứ nhất. Sau 15 phút thi đấu hiệp phụ thứ nhất, hai đội sẽ đổi sân và đội còn lại (đội được đá quả giao bóng ở hiệp hai trong 90 phút đá chính) sẽ đá quả giao bóng để bắt đầu hiệp phụ thứ hai. Sau 30 phút đá hiệp phụ, nếu kết quả có phân bại thắng/thua thì đội thắng được vào vòng kế tiếp, đội thua bị loại. Nếu sau 30 phút đá hiệp phụ mà kết quả vẫn hòa, hai đội sẽ tiếp tục sút luân lưu 11m (thay phiên nhau sút các quả đá phạt đền) để phân bại thắng/thua.
== Bàn thắng vàng ==
== Bàn thắng bạc ==
== Chú thích ==
== Liên kết ngoài == |
săn bắt và hái lượm.txt | Săn bắt và hái lượm là một kiểu kinh tế của một xã hội, cộng đồng người cổ xưa hoặc lạc hậu trong thời đại ngày nay. Đây là một loại hình kinh tế tự nhiên theo đó hầu hết hoặc tất cả các nguồn thức ăn thu được từ việc hái và lượm lặt các loài thực vật có sẵn (thường là hái, lượm các quả, quả mọng ở cây bụi, đào bới các củ...) và săn bắt các loài động vật hoang dã, hoặc thu lượm các động vật khác như nghêu, sò, ốc, hến.... Nền kinh tế này trái ngược với xã hội nông nghiệp nơi nguồn thực phẩm phụ thuộc chủ yếu vào các loài động, thực vật đã thuần dưỡng (chăn nuôi và trồng trọt). Săn bắt và hái lượm là chế độ sinh hoạt của tổ tiên của người tiền sử cũng như tất cả các người hiện đại đã thực hiện phương thức sinh sống săn bắt hái lượm mãi cho đến cách đây khoảng 10.000 năm.
== Lịch sử ==
Những con người đầu tiên có lẽ đã sống chủ yếu vào hái, lượm, nhặt các sản vật có sẵn từ tự nhiên, săn bắt không thực tế vì thời này con người chưa phát minh ra các công cụ săn bắt hiệu quả (??). Người cổ sống trong môi trường tự nhiên phong phú cho phép họ thu thập các sản vật như thịt thừa, trứng, các loại hạt và hoa quả. Thay vì giết chết động vật lớn để lấy thịt, họ sử dụng các xác động vật lớn bị giết bởi những kẻ săn mồi khác hoặc xác từ động vật đã chết do nguyên nhân tự nhiên.
Săn bắt và thu thập được có lẽ là đời sống sinh hoạt của xã hội loài người bắt đầu khoảng 1,8 triệu năm trước với Homo erectus, và từ sự xuất hiện Homo sapiens khoảng 0,2 triệu năm trước đây. Loài người vẫn chỉ ở chế độ tự cung tự cấp cho đến khi kết thúc giai đoạn khoảng 10.000 năm trước đây, và sau này đã được thay thế dần dần của cuộc cách mạng ở thời kỳ đồ đá mới.
Một phát hiện mới nhất về các dấu hiệu của một lò mổ thời cổ đại tại Tanzania cho biết những người thời cổ nắm được những kỹ thuật săn bắt khá phức tạp, có ý kiến cho rằng người tiền sử đã có khả năng phục kích những đàn động vật lớn sau khi cẩn thận chọn ra mục tiêu sẽ hạ thủ điều này có thể đi đến khẳng định rằng thời điểm con người bắt đầu săn bắt đã được đẩy lùi đến khoảng 2 triệu năm trước.
Sau phát minh của nông nghiệp, săn bắt hái lượm đã được thay thế bằng nông nghiệp hay trồng trọt, chăn nuôi trong hầu hết các nơi trên thế giới. Sự phân công lao động xã hội thành loại hình săn bắt hái lượm đã được thay thế bằng hoạt động tìm kiếm thức ăn với canh tác và nuôi giữ động vật. Sống trong môi trường tự nhiên phong phú, hoạt động săn bắt hái lượm được sử dụng và coi đó như một phương thức kiếm sống tự nhiên để thích ứng trong nhũng trường hợp thiếu đói. Tuy nhiên hình thức săn bắt và hái lượm trong ngày nay cũng chưa hoàn toàn biến mất, nhất là những vùng miền còn nghèo nàn, lạc hậu, vẫn còn nhiều trường hợp con người phải sống dựa vào việc mò cua, bắt ốc, mót thóc, mót lúa....
Ngay nay, một số bộ phận người, nhiều nhóm sắc tộc, bộ lạc vẫn tiếp tục săn bắt hái lượm lối sống, mặc dù số lượng của họ đã giảm xuống do một phần đông gia nhập vào cộng đồng nông nghiệp đang phát triển. Nhiều người trong số họ cư trú ở các vùng khô cằn và rừng nhiệt đới ở các nước đang phát triển. Trong cuộc cạnh tranh sử dụng đất đai, các xã hội sống bằng săn bắt hái lượm di chuyển đến các khu vực khác sau khi sử dụng xong nguồn thực phẩm tại đây.
== Tham khảo ==
Barnard, A. J., ed. (2004). Hunter-gatherers in history, archaeology and anthropology. Berg. ISBN 1-85973-825-7.
Bettinger, R. L. (1991). Hunter-gatherers: archaeological and evolutionary theory. Plenum Press. ISBN 0-306-43650-7.
Brody, Hugh (2001). The Other Side Of Eden: hunter-gatherers, farmers and the shaping of the world. North Point Press. ISBN 0-571-20502-X.
Lee, Richard B. and Irven DeVore, eds. (1968). Man the hunter. Aldine de Gruyter. ISBN 0-202-33032-X.
Meltzer, David J (2009). First peoples in a new world: colonizing ice age America. University of California, Berkeley. ISBN 0-5202-5052-4.
Morrison, K. D. and L. L. Junker, eds. (2002). Forager-traders in South and Southeast Asia: long term histories. Cambridge University Press. ISBN 0-521-01636-3.
Panter-Brick, C., R. H. Layton and P. Rowley-Conwy, eds. (2001). Hunter-gatherers: an interdisciplinary perspective. Cambridge University Press. ISBN 0-521-77672-4.
Turnbull, Colin (1987). The Forest People. Touchstone. ISBN 978-0671640996.
Nature's Secret Larder - Wild Foods & Hunting Tools.
A wiki dedicated to the scientific study of the diversity of foraging societies without recreating myths
Balmer, Yves (2003–2009). “Ethnological videos clips. Living or recently extinct traditional tribal groups and their origins”. Andaman Association.
== Xem thêm ==
Tiến trình tiến hóa loài người
Tiến hóa loài người
== Liên kết ngoài ==
Nature's Secret Larder - Wild Foods & Hunting Tools.
A wiki dedicated to the scientific study of the diversity of foraging societies without recreating myths
Balmer, Yves (2013). “Ethnological videos clips. Living or recently extinct traditional tribal groups and their origins”. Andaman Association. Bản gốc lưu trữ ngày 11 tháng 1 năm 2014. |
maria yuryevna sharapova.txt | Maria Yuryevna Sharapova (tiếng Nga: ; sinh ngày 19 tháng 4 năm 1987) là một vận động viên quần vợt quốc tịch Nga hiện sinh sống ở Mỹ và là nữ vận động viên kiếm được nhiều tiền nhất trên thế giới.
Sharapova cho đến thời điểm này đã giành được trọn bộ 5 danh hiệu Grand Slam ở nội dung đánh đơn. Danh hiệu đầu tiên là Wimbledon 2004, khi hạ Serena Williams tại trận chung kết, tiếp đó là tại Mỹ Mở rộng, sau khi thắng Justine Henin tại trận chung kết năm 2006. Danh hiệu thứ 3 là tại Úc Mở rộng đánh bại Ana Ivanović năm 2008. Danh hiệu thứ 4, hoàn tất bộ sưu tập Grand Slam sự nghiệp tại giải Pháp Mở rộng năm 2012 khi vượt qua Sara Errani. Cô có Grand Slam thứ 5 sau khi vô địch giải Pháp mở rộng năm 2014. Sharapova còn có danh hiệu WTA Championships vào năm 2004. Ngoài ra thời gian gần đây cô còn vào chung kết Wimbledon năm 2011, chung kết Úc Mở rộng năm 2012, bán kết Mỹ Mở rộng năm 2012, chung kết WTA Championships năm 2012 và chung kết Pháp Mở rộng năm 2013.
== Sự nghiệp ==
Năm 2004, Sharapova trở thành người thứ 3 trẻ nhất trong lịch sử giành chức vô địch Wimbledon đơn nữ (sau Lottie Dod và Martina Hingis), người trẻ thứ 2 nếu tính từ kỷ nguyên open khi đánh bại Ai Sugiyama (5–7, 7–5, 6–1) ở tứ kết, Lindsay Davenport (2–6, 7–6, 6–1) ở bán kết, và ĐKVĐ Serena Williams (6–1, 6–4) ở chung kết. Cô cũng trở thành người Nga đầu tiên giành danh hiệu vô địch tại đây. Sharapova kết thúc năm 2004 với chiến thắng tại WTA Championships, khi hạ Williams (4–6, 6–2, 6–4) sau khi bị dẫn 0–4 ở set quyết định.
Từ tháng 6 năm 2004 đến trận bán kết Wimbledon 2005, Sharapova đã có một mạch 22 trận bất bại trên mặt sân cỏ (trong đó có 2 chức vô địch liên tiếp ở Birmingham và một chức vô địch ở Wimbledon). Sau thành công trong năm 2004, Sharapova tiếp tục trụ vững, cô lọt vào bán kết giải Úc mở rộng 2005, và chỉ chịu thua sát nút Serena Williams 2–6, 7–5, 8–6, sau khi đã có 3 cơ hội kết thúc trận đấu (match point).
Tại giải Wimbledon năm 2005, trên đường bảo vệ danh hiệu của mình Sharapova thẳng tiến tới trận bán kết mà không thua 1 set nào cả, nhưng tới đây cô đã vấp phải tay vợt đang hồi sinh Venus Williams và đành chịu thua với tỉ số (7–6, 6–1). Đồng thời chấm dứt mạch 22 trận bất bại trên mặt sân cỏ của mình.
Cũng trong năm Davenport bị chấn thương ở trận chung kết Wimbledon nên phải nghỉ thi đấu trong khoảng thời gian từ sau Wimbledon đến sau US Open, vì vậy mà lần đầu tiên Sharapova leo lên vị trí số 1 thế giới và ở tại vị trí này trong vòng 6 tuần cho đến khi Davenport giành được chức vô địch giải Tier I (chỉ kém 4 giải Grand Slam) tại Zürich vào tháng 10.
Cũng trong năm 2005, điều hy hữu đã xảy ra với Sharapova. Tại 4 giải Grand Slam cô đã thua 4 tay vợt mà sau đó đã giành chức vô địch. (Thua Kim Clijsters ở bán kết US Open, Serena Williams ở bán kết Úc Mở rộng, Justine Henin-Hardenne ở giải Roland Garros và Venus Williams ở bán kết Wimbledon.
Năm 2006 Sharapova giành danh hiệu đầu tiên trong năm ở giải Pacific Life Open tại Indian Wells (giải được xếp hạng Tier 1), sau khi hạ hạt giống số 4 Elena Dementieva ở trận chung kết, 6-1 6-2. Đông thời Sharapova và Dementieva trở thành hai tay vợt Nga đầu tiên lọt vào trận chung kết của giải đấu này. Ngay sau đó, Sharapova cũng lọt vào trận chung kết của giải Nasdaq-100 Open, nhưng đã chịu thua Svetlana Kuznetsova 6-4, 6-3.
Danh hiệu thứ hai của năm 2006 mà cô giành được là giải Acura Classic ở San Diego, sau khi thắng Clijsters, 7-5, 7-5. Đây là chiến thắng đầu tiên của Sharapova trước Clijsters sau năm lần gặp mặt.
Được coi là một trong những ứng cử viên cho chức vô địch ở giải Mỹ Mở rộng, cô đã xuất sắc giành chức vô địch Grand Slam thứ hai trong sự nghiệp của mình khi lần lượt đánh bại Mauresmo ở trận bán kết với tỉ số 6-0, 4-6, 6-0, rồi Henin-Hardenne ở trận chung kết.
Vào tháng 10 Sharapova giành danh hiệu thứ tư của năm khi vô địch giải Zurich Open 2006.
Cô giành danh hiệu thứ 15 – cũng là danh hiệu thứ 5 trong năm sau chức vô địch giải Generali Ladies Linz, đánh bại ĐKVĐ Nadia Petrova sau 2 set.
=== 2016 thú nhận doping ===
Vào ngày 7 tháng 3, Sharapova thú nhận là là không qua được cuộc thử doping tại Australian Open. Mẫu thử doping của cô tại Australian Open 2016 đã dương tính với meldonium, có trong danh sách chất cấm từ năm 2016. Sharapova cho biết là bác sĩ đã viết toa cho cô dùng thuốc này từ năm 2006.
Chất meldonium chỉ được phép bán ở các nước Baltic và Nga với tên Mildronat để trị bệnh tim, nó tăng lưu thông máu, do đó giúp tăng khả năng tập luyện, sức bền và khả năng chịu đựng của các vận động viên. Theo một nghiên cứu vào năm 2015, 17% vận động viên Nga (724 trong số 4,316), toàn cầu 2,2% dùng thuốc này.
Vì kết quả cuộc thử doping này, Nike đã ngưng mọi quan hệ với cô.
=== 2017: Trở lại sau án cấm ===
Sharapova trở lại hệ thống WTA tour vào tháng 4 năm 2017. Cô ấy nhận vé đặc cách tham dự bao gồm ba giải WTA tournaments: Women's Stuttgart Open, Madrid Open và Giải quần vợt Ý Mở rộng. Cô ấy chơi trận đầu tiên sau khi trờ lại vào ngày 26 tháng 4 năm 2017 tại Porsche Tennis Grand Prix, 1 giải đấu mà trước đây cô ấy đã giành chiến thắng 3 lần. Đối thủ vòng một là tay vợt người Ý Roberta Vinci, người mà cô ấy tiếp tục đánh bại trong để thẳng để tiến vào vòng hai, làm cho nó trở thành trận chiến thắng đầu tiên kể từ khi cô ấy trở lại sau án cấm. Trong cuộc phỏng vấn trên sân khấu Sharapova cho biết, "Vài giây đầu tiên trước khi bạn bước vào đấu trường - đó là một giai đoạn của tôi từ khi tôi còn là một cô gái trẻ - Tôi đã chờ đợi thời điểm này trong một thời gian dài.." Cô đã theo đuổi nó bằng một chiến thắng khác trong giải đấu là Ekaterina Makarova ở vòng hai. Ở tứ kết, cô ấy đánh bại người vượt qua vòng loại là Anett Kontaveit 1 séc trắng, sau đó thua trước Kristina Mladenovic ở bán kết.
== Giải thưởng ==
2003
Tay vợt nữ của WTA mới xuất hiện ấn tượng nhất
Nữ vận động viên thể thao quyến rũ nhất (Maxim)
2004
Tay vợt nữ của WTA xuất sắc nhất
Tay vợt nữ của WTA tiến bộ nhất
Nữ vận động viên thể thao quyến rũ nhất (Maxim)
2005
Tay vợt nữ xuất sắc nhất do ESPN trao tặng
Tay vợt Nga xuất sắc nhất do Liên đoàn quần vợt Nga trao tặng
Nữ vận động viên thể thao quyến rũ nhất (Maxim)
2006
Nữ vận động viên thể thao quyến rũ nhất (Maxim)
Tay vợt Nga xuất sắc nhất do Liên đoàn quần vợt Nga trao tặng
== Đời sống riêng tư ==
Sharapova đã sống ở Mỹ từ khi cô còn nhỏ nhưng cô vẫn giữ quốc tịch Nga.
Gần đây Sharapova đã mua một ngôi nhà nhìn ra bờ biển ở Manhattan Beach, ngoại ô Los Angeles, California, nhưng suốt thời gian trong năm, cô sống gần cơ sở huấn luyện của IMG ở Bradenton.
Năm 19 tuổi, Sharapova đã hoàn thành xong chương trình trung học.
Sharapova có một thói quen là hay hét trên sân thi đấu. Là tay vợt ồn áo nhất kể từ khi Monica Seles từ giã sự nghiệp, một tờ bào lá cải ở London đã viết "giọng hét của cô lúc cao điểm đạt tới âm lực 102 decibel" (ngang với còi của một ôtô cảnh sát).
Sharapova là bạn thân với tay vợt nữ người Nga Maria Kirilenko, nếu không thì không thân thiết với các tay vợt Nga khác.
Tên gọi thân mật của Sharapova là "Masha".
Sharapova tặng cây vợt mà cô đã sử dụng tại trận chung kết Wimbledon cho Regis Philbin khi quay Trực tiếp với Regis và Kelly (Live with Regis and Kelly).
Sharapova là tay vợt Nga duy nhất đã giành được nhiều hơn một chức vô địch Grand Slam.
Nhà tạo mốt mà Sharapova thích nhất là Marc Jacobs. Cô thỉnh thoảng tới dự các buổi trình diễn thời trang của ông.
Sharapova đã hoàn thành bộ sưu tập Grand Slam của mình (Grand Slam sự nghiệp) sau khi giành được chức vô địch tại Pháp Mở rộng.
Sharapova giành được huy chương Bạc tại Olympics London 2012 sau khi thua Serena Williams với tỉ số 6-0 6-1.
=== Các mối quan hệ ===
Sharapova hứa hôn với vận động viên bóng rổ chuyên nghiệp người Slovenia, Sasha Vujačić, mà chơi cho đội Anadolu Efes S.K. ở Istanbul, Thổ Nhĩ Kỳ. Cả hai đã cặp với nhau từ 2009. Vào ngày 31 tháng 8 năm 2012, Sharapova chứng nhận là cuộc hứa hôn đã bị hủy bỏ và họ đã chia tay vào mùa xuân 2012. Kể từ giữa năm 2012, cô cặp với vận động viên quần vợt Grigor Dimitrov. Sau giải Madrid mở rộng 2013, cả hai thừa nhận có quan hệ tình cảm với nhau. Ngày 26/7/2015, Dimitrov chính thức xác nhận đã chia tay Sharapova.
== Trích dẫn ==
"Khi tôi cố gắng để trở thành tay vợt quần vợt hàng đầu, tôi không bao giờ nói tôi là thứ 2, tôi nói tôi muốn là số 1".
"Sau khi đã suy nghĩ kĩ càng, cá nhân tôi tin rằng, cuộc đời tôi không chỉ là về một quả chuối". (Phát biểu trong buổi họp báo sau chức VĐ US Open khi có người cho rằng HLV của cô đã ra dấu để cô ăn một quả chuối)
== Chung kết Grand Slam đơn nữ đã tham dự ==
=== Vô địch (5) ===
=== Á quân (5) ===
== Chung kết giải WTA Tour Championships đơn nữ đã tham dự ==
=== Vô địch (1) ===
=== Á quân (2) ===
== Chung kết các giải WTA Tour đã tham dự ==
=== Vô địch (19) ===
=== Thua ở trận chung kết (7) ===
=== Vô địch đôi nữ (3) ===
=== Thua ở trận chung kết đôi nữ (1) ===
=== Bảng tổng kết thành tích ===
Để tránh việc nhầm lẫn do sự trùng lặp khi đếm, bảng sau đây chỉ được cập nhật khi một giải đấu đã hoàn toàn kết thúc. Lần cuối cùng cập nhật là sau Giải quần vợt Úc Mở rộng 2007
A = Không tham gia giải đấu
SR = Tỉ lệ số lần đoạt chức vô địch trên tổng số lần tham dự giải
V1, V2, V3... = Vòng 1, Vòng 2, Vòng 3
TK = Tứ kết
BK = Bán kết
CK = Thua ở trận chung kết
VĐ = Vô địch
== Chú thích ==
"Maria puts world domination on hold". (11 tháng 11 năm 2005). New Straits Times, p. 42.
"Sharapova makes 'too much noise'" by Piers Newbery, bbc.co.uk, 4 tháng 7 năm 2006, truy cập 5 tháng 9 năm 2006
== Liên kết ngoài ==
Thống kê về các trận giữa Sharapova với các đối thủ
Trang chủ của Maria Sharapova
Maria Sharapova tại Hiệp hội quần vợt nữ
Maria Sharapova tại Internet Movie Database
|} |
ngói.txt | Ngói là loại vật liệu được thường sử dụng để lợp mái các công trình xây dựng. Tùy theo cách thức chế tạo, phương pháp sản xuất, nguyên liệu sản xuất, công nghệ sản xuất hoặc phạm vi sử dụng để có thể phân thành nhiều loại và nhiều tên gọi khác nhau.
== Phân loại ngói lợp ==
=== Ngói đất nung ===
Được chế tạo chủ yếu từ đất sét, qua các công đoạn phức tạp như ủ đất, cán, nhào, đùn ép, hút khí... để tạo thành những tấm nhỏ (galet). Sau quá trình phơi ủ sẽ chuyển sang tạo hình bằng phương pháp dập dẻo. Tùy theo hình dáng và vị trí sử dụng của sản phẩm cuối cùng, ngói được đặt những tên gọi khác nhau.
Ngói mộc được sấy tự nhiên hoặc cưỡng bức đến một độ ẩm cần thiết. Sản phẩm ngói mộc sau khi khô có thể tráng men hoặc không tráng men, được xếp vào lò nung. Dưới tác dụng của nhiệt, thông thường khoảng 1000 °C –1150 °C, đất sét kết khối, rắn chắc lại nên có độ hút nước thấp và hình dáng ổn định.
Một số công nghệ có thể thêm thiết bị, ngược lại một số lại bỏ bớt một vài công đoạn, tất cả đều có ảnh hưởng đến chất lượng sản phẩm.
Có thể nung ngói trong các lò thủ công hoặc lò tự động, lò liên tục hay gián đoạn. Ngói không tráng men chỉ cần nung 1 lần, riêng ngói tráng men có thể nung 1 hoặc 2 lần.
==== Ngói đất nung không tráng men (ngói đất truyền thống) ====
Ngói 22 v/m². Đây là loại ngói tuy không có tên gọi cụ thể nhưng là loại thông dụng nhất.
Ngói 20 v/m².
Ngói 10 v/m².
Ngói vảy cá, vảy rồng.
Ngói con sò.
Ngói hếch còn gọi là ngói mũi hài đơn (và kép).
Ngói liệt: còn gọi là ngói ván hoặc ngói bằng.
Ngói âm.
Ngói dương.
Ngói chữ S.
Ngói ống (hay ngói tiểu) – Ngói câu đầu.
Ngói úp nóc, ngói chạc 3, chạc 4, ngói đuôi, ngói rìa...
==== Ngói đất nung tráng men ====
Ngói tráng men: Các loại ngói đất nếu được phủ men gốm thông thường, sau khi nung xong được gọi là ngói tráng men.
Ngói lưu ly: Các loại ngói âm, dương, ống, câu đầu, trích thuỷ, liệt nếu được tráng men thanh lưu ly(青琉璃), hoàng lưu ly(黃琉璃) hoặc bích lưu ly(碧琉璃) thì được gọi là ngói lưu ly.
Ngói vỏ quế, tên chữ là ngói la-qua (羅堝瓦): là loại ngói ống tráng men nhưng nhỏ và dài hơn, không có chuôi ngói như ở ngói lưu ly
==== Ngói trang trí ====
Một số loại ngói trên được chế tạo với kích thước nhỏ, có thể tráng men hoặc không dùng để dán trên mái đã được đúc sẵn (thường là mái betông) được gọi là ngói trang trí vì chúng không có tác dụng chính là lợp (chống mưa nắng).
=== Ngói xi măng, ngói không nung hay ngói màu ===
Được chế tạo bởi vữa xi măng và sơn phủ bột màu. Vữa xi măng sau khi trộn được đổ vào khuôn kim loại, được nén chặt bằng búa gỗ (sản xuất thủ công) hoặc rung bằng máy (sản xuất công nghiệp). Sau đó chuyển sang công đoạn bảo dưỡng trong một thời gian nhất định.
Hiện nay, tại Việt Nam, các nhà sản xuất sử dụng hai loại công nghệ chính cho việc sơn phủ lên ngói xi măng: công nghệ khô và công nghệ ướt.
Với công nghệ phủ màu khô: Sơn acrylic được phun lên bề mặt ngói trong trạng thái khô sau khi sấy. Tiến trình này đơn giản như sơn nhà và việc chọn lựa màu sắc phun cho ngói cũng rất dễ dàng. Tuy nhiên, công nghệ này không đáp ứng được nhu cầu về độ bền của màu sắc cho sản phẩm. Sự gắn kết lỏng lẻo giữa lớp sơn acrylic và bề mặt ngói sẽ sớm bị bong tróc theo thời gian. Hơn thế nữa, màu sắc sẽ rất chóng phai do sơn acrylic có tính nhạy cảm cao với tia cực tím.
Trái ngược với công nghệ nêu trên là công nghệ phủ màu ướt WET on WET hiện đang được các nhà sản xuất ngói bê tông hàng đầu thế giới áp dụng. Công nghệ ướt nổi bật ở chỗ bột màu được hoà lẫn với vữa hồ và phun trực tiếp lên bề mặt viên ngói còn ướt, ngay sau khi ngói vừa được định dạng, nhằm tạo ra mối liên kết chặt chẽ giữa lớp màu sơn và bề mặt ngói. Thực tế kiểm nghiệm cho thấy với công nghệ này, màu sắc ngói được giữ lâu bền hơn so với ngói màu làm từ công nghệ khô.
=== Ngói composite ===
Một số nơi còn dùng ngói composite vì nó có hệ số giãn nở nhiệt tương thích khí hậu vùng đó, điều mà các loại ngói xi măng hay ngói đất nung không thể đáp ứng.
=== Ngói Ác - đoa ===
Ngói Ác - đoa (Ardoise): là loại ngói khai thác từ đá trầm tích của Pháp, có màu đen nhánh như than đá, hình dáng như kiểu ngói vẩy cá hoặc có hình chữ nhật.
== Một số kiểu lợp ngói ==
=== Kiểu lợp ngói xi măng ===
1. Lắp đặt cây mè sao cho khoảng cách giữa các cây mè đều nhau và nằm trong khoảng 320 – 340 mm. Riêng cây mè dưới cùng phải cách điềm mái 345mm và cặp 2 cây mè trên nóc cách nhau chừng 40 - 60mm.
2. Đặt lần lượt từng viên ngói vào khung theo chiều hướng lên từ hàng thấp nhất.
3. Lắp vít vào ngói để giữ viên ngói ổn định tại mỗi 2 hàng.
4. Không trám vữa vào khoảng trống rìa cũng như không tạo những lỗ nhỏ với đường kính 6mm tại rãnh thoát nước trên viên ngói dọc theo chiều dài rìa.
5. Cắt ngói dọc hông sao cho rãnh của chúng càng nhỏ càng tốt. Không trét vữa phủ lên khoảng trống hông mái và không cần tạo lỗ dọc theo hông mái.
6. Phải dùng miếng xốp hay giẻ khô để làm sạch vết vữa xi-măng trên ngói chính và ngói nóc khi vữa có màu trắng (vữa khô).
7. Sơn phủ vữa bằng sơn lên vữa dọc theo nóc và hông mái, đồng thời không là sơn rớt lên ngói chính và ngói nóc.
8. Khoảng cách ngói tại khe mái khoảng chừng 30-50mm và dùng sơn để sơn tại gờ viên ngói được cắt.
9. Không dùng vữa gắn giữa 2 viên ngói nóc, tại giữa ngói nóc với ngói hông mái và xung quanh khe mái bằng mọi cách.
=== Kiểu lợp thông thường ===
Trên một mái đã được lắp đặt gỗ hoàn chỉnh, người thợ tính chỉ cần đặt những viên ngói sát nhau hoặc chồng lên nhau theo các gờ chỉ đã được định hình trên viên ngói. Tại các vị trí như nóc, bờ quyết hoặc các chỗ giao của mái, người ta có thể dùng ngói úp nóc, ngói chạc 3, chạc 4 để úp vào và dán lại bằng hồ vữa xi măng.
Một số vùng hay có gió bão, người ta phải xâu dây thép vào những lỗ đã được đục sẵn trên viên ngói và cố định chúng bằng cách buộc vào phần gỗ hoặc sắt bên dưới.
=== Kiểu lợp ngói lưu ly ===
==== Một số thuật ngữ ====
Nê ngõa tượng cục: xưởng chuyên sản xuất gạch ngói.
Nê ngõa tượng: thợ lợp ngói.
Ngõa Tượng (nghĩa đen là thợ ngói): là một cựu tích được lưu lại qua địa danh Ngõa Tượng, là tên gọi một xóm nhỏ nằm giữa hai làng La Khê và Địa Linh, thuộc xã Hương Vinh, huyện Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên-Huế, nơi có nhiều người làm nghề này.
Ngày nay, người ta dùng thuật ngữ nghệ nhân hoặc thợ chính, thợ kép... để chỉ những người thợ có khả năng lợp ngói lưu ly.
Ví dụ: Trương Văn Ấn được phong là nghệ nhân nề ngoã, gia đình ông đã có 7 đời làm nghề này.
==== Gầy nóc (hay còn gọi là gầy mái) ====
Trên một mái đã được lắp đặt gỗ hoàn chỉnh, người thợ tính toán để đặt những viên ngói đầu tiên tại nóc và khoá chặt chúng bằng hồ vữa truyền thống hoặc vữa xi măng. Thực chất chính là thao tác sắp xếp, định vị và liên kết các viên ngói tại vị trí góc trên của mái (bờ nóc, bờ quyết)cho công đoạn lợp mái sau này. Trong quá trình gầy mái, ngoài việc định vị, sắp xếp các ngói theo quy cách truyền thống, người thợ còn phải căn chỉnh cho các viên ngói được nằm trên cùng một mặt phẳng, tạo bằng vữa lợp và ngói liệt không men. Dùng hồ vữa truyền thống hoặc vữa xi măng để hoàn thiện bờ nóc, bờ quyết.
Trên đây là những công đoạn khó khăn nhất, đòi hỏi kỹ thuật cao và chiếm nhiều thời gian nhất, bởi những viên đầu tiên sẽ làm căn cứ hay làm chuẩn để lợp ngói phần mái còn lại. Dựa theo hàng ngói đã được định vị ở bờ nóc, bờ quyết, các viên ngói âm dương tiếp tục được xếp dần từ trên xuống dưới. Viên cuối cùng được khóa lại, và cũng để trang trí bằng các viên ngói câu đầu và trích thuỷ.
==== Lắp dựng con giống ====
Các con giống như rồng, phụng, tứ linh... hoặc các hình khối trang trí khác có thông thường được chế tạo từ trước được vận chuyển và lắp dựng tại những vị trí cần thiết như đỉnh nóc, đầu hồi...
==== Lợp ngói liệt chiếu ====
Liệt chiếu là loại ngói liệt được phủ men toàn bộ một mặt ngói; khi lợp, phần men hướng xuống dưới. Ngói liệt chiếu có tác dụng làm thành một mặt phẳng để dán các loại ngói khác lên trên; mặt men hướng xuống dưới để làm đẹp cho mái khi nhìn từ dưới lên.
Theo chiều dốc mái từ trên xuống, cứ cách khoảng vài lối ngói liệt chiếu, người ta phải đóng thêm những thanh gỗ nhỏ, dài (gọi là lách chặn) để ngăn chặn sự trượt của mái ngói, nếu mái càng dốc, số lượng lách chặn phải tăng.
Kích thước cơ bản là: 180 mm × 140 mm.
==== Lợp ngói liệt độn hay liệt thí ====
Là loại ngói liệt không men, được dán trên lớp liệt chiếu, có thể từ 1 đến 3 lớp. Tác dụng của nó là khoá chặt lớp liệt chiếu, tạo mặt phẳng (hơn) để dán các loại ngói khác lên trên.
==== Lợp mái ngói chính ====
Mái ngói âm dương (陰陽瓦)
Ngói âm và ngói dương có hình như là một phần của hình chóp cụt bị cắt bởi một mặt phẳng song song trục tâm, nó có một đầu lớn và một đầu bé. Ngói dương là ngói được tráng men một phần ở mặt lồi, còn ngói âm là ngói được tráng men một phần ở mặt lõm.
Kích thước cơ bản (đầu lớn nhất - đầu bé nhất - chiều dài viên ngói) là: 240-220-240 hoặc 210-190-210 mm. Chưa thấy có tài liệu nào nói về bán kính cong của loại ngói này.
Khi lợp ngói, các viên hàng trên lợp trùm lên 2/3 viên ở ngay hàng sát dưới. Ngói âm lợp dưới, ngói dương lợp úp lên trên khe tạo bởi hai viên ngói âm trên cùng hàng ngang để làm kín nước. Trọng lượng của 1 m² ngói âm dương từ 160–180 kg trong trường hợp ngói hoàn toàn khô.
Liên kết giữa ngói âm và ngói dương là lớp vôi vữa truyền thống hoặc vữa xi măng thông thường. Nếu chất lượng ngói và kỹ thuật lợp không tốt, đặc biệt vào mùa mưa ở Huế, trọng lượng mái thường tăng do độ hút nước của ngói, điều này có thể làm ảnh hưởng đến hệ khung kết cấu công trình. Kinh nghiệm của thợ lợp để mái khỏi bị dột vào mùa mưa là làm sao tạo một độ rỗng nhất định phía dưới viên ngói dương. Ở hàng ngói cuối cùng (tính từ trên xuống), người ta sử dụng ngói câu đầu (鉤頭瓦) hoặc trích thuỷ (滴水瓦) để tăng độ thẩm mỹ của mái ngói.
Trong xây dựng, đối với các lớp ngói hoàn thiện trên cùng, cần có chú trọng đặc biệt về đường phân thuỷ và số lượng hàng ngói đếm theo chiều dọc công trình. Số lượng trung bình số viên ngói (cả âm và dương) cho 1 m² mái lợp là 84 viên khi lợp theo đúng công nghệ truyền thống.
Ngói âm dương thường được sử dụng trong các công trình di tích ở Huế như Thế Tổ miếu, Lăng Thiệu Trị, v.v.
Mái ngói âm ống
Gọi là mái ngói âm ống vì dùng hai loại ngói: ngói âm (tương tự trên) và ngói ống. Ngói ống là loại ngói có hình ống hai bậc hoặc hình chóp cụt bị cắt bởi mặt phẳng trùng với tâm ống, và được tráng men một phần của mặt lồi.
Kích thước cơ bản (chiều dài toàn bộ - chiều dài hữu ích - đường kính lớn nhất) là: 300-240-170 hoặc 230-180-120 mm.
Về cách lợp, có thể nói tương tự kiểu lợp ngói âm dương. Tuy nhiên vì kích thước viên ngói ống có khác so với ngói dương nên số lượng ngói khác nhau.
Ở hàng ngói cuối cùng (tính từ trên xuống), người ta sử dụng ngói câu đầu hoặc trích thuỷ để tăng độ thẩm mỹ của mái ngói.
Mái ngói liệt men
Gọi là mái ngói liệt men là do dùng lớp ngói liệt tráng men. Khác với ngói liệt chiếu, viên ngói liệt này chỉ được tráng men một phần trên bề mặt.
Kích thước cơ bản (chiều dài - chiều dài hữu ích - chiều rộng) là: 180-10-180 mm.
Khi lợp, các viên ngói được đan cài nhau theo kiểu lòn ba hoặc lòn tư (lóng ba, lóng tư).
=== Một số kiểu đặc biệt khác ===
Với một mái đã được đúc bêtông, người ta có thể tạo hình mái ngói bằng hồ vữa hoặc dán lên bất cứ loại ngói nào người ta yêu thích và có thể gọi đó là mái ngói giả hay mái giả ngói hay giả mái ngói...
Trong trường hợp này, ngói có chức năng trang trí là chủ yếu. Chức năng bao che chống mưa nắng chỉ còn là yếu tố phụ
== Tham khảo ==
Gạch ngói và gốm tráng men dùng trong xây dựng và trang trí cung điện thời Nguyễn (1802-1945)- Trần Đức Anh Sơn, đăng trong "Thời gian đã chứng minh", Trung tâm Bảo tồn Di tích Cố đô Huế xuất bản năm 2001. |
masalia terracotta.txt | Masalia terracotta là một loài bướm đêm trong họ Noctuidae.
== Chú thích ==
== Liên kết ngoài ==
Dữ liệu liên quan tới Masalia terracotta tại Wikispecies
Phương tiện liên quan tới Masalia terracotta tại Wikimedia Commons |
british columbia.txt | British Columbia (viết tắt B.C.; tiếng Pháp: la Colombie-Britannique, C.-B.), còn được gọi Columbia thuộc Anh, là tỉnh bang cực tây của Canada, một trong những vùng có nhiều núi nhất Bắc Mỹ.
Trước thế kỷ 19 tất cả đất đai của British Columbia (kể cả đảo Vancouver) và một phần của tiểu bang Washington của Hoa Kỳ là đất thuộc Công ty Hudson Bay (trao đổi lông thú vật với dân bản xứ). Vào giữa thế kỷ 19 phần đất phía bắc vĩ tuyến 49 rơi vào tay Đế quốc Anh và được chia ra làm hai thuộc địa: British Columbia (nằm trong lục địa) và Vancouver (nằm ngay trên đảo Vancouver). Đến năm 1866 hai thuộc địa này sáp nhập với nhau thành British Columbia và 5 năm sau British Columbia được gia nhập vào Liên bang Canada. Do đó British Columbia vẫn giữ tên để giữ truyền thống Anh vì British Columbia có nghĩa là "Columbia thuộc Anh".
Vì ở cạnh biển, British Columbia được xem là cửa ngõ để đến Thái Bình Dương và Á Châu. Về phía đông của B.C. là tỉnh bang Alberta, về phía bắc là hai lãnh thổ tự trị Yukon và các Lãnh thổ Tây Bắc, về phía tây-bắc là tiểu bang Alaska, về phía nam là các tiểu bang Washington, Idaho và Montana của Hoa Kỳ.
British Columbia tận hưởng một khí hậu tương đối ôn hoà do dòng nước biển Gulf Stream mang nước ấm từ Xích đạo lên, hoa thường thường nở vào đầu tháng 2. Nằm giữa Thái Bình Dương và dãy Rocky Mountains là những vùng địa lý hoàn toàn khác nhau của B.C.: từ núi đá nhọn và cao hơn 2.000 m đến các thung lũng ấm áp vừa đủ để trồng nho làm rượu, từ những con sông hùng vĩ uốn mình giữa các ngọn núi dẫn nước của băng đá ra biển đến vô số các vịnh dọc theo bờ biển được tạo ra khi sóng đập vào bờ đá.
British Columbia liên tục thu hút các dân định cư, trong cũng như ngoài nước: hàng năm khoảng 40.000 người định cư ở đây, và dân số của B.C. hiện nay (2005) vào khoảng 4,22 triệu người. Thành phố Vancouver là hải cảng lớn nhất bên bờ biển Thái Bình Dương của Bắc Mỹ và cũng là nơi tập trung của trên 1,5 triệu người, trở thành thành phố lớn thứ ba của Canada (sau Toronto và Montréal). Vancouver có một cộng đồng người Hoa lớn thứ hai ở Bắc Mỹ (sau San Francisco). Ngoài ra còn có trên 60.000 cư dân gốc Ấn Độ và trên 16.000 gốc Nhật Bản. Nằm ở đầu phía nam của đảo Vancouver, chỉ 85 dặm về hướng tây bắc của Seattle, là thủ phủ Victoria. Hơn 300.000 dân của thủ phủ này hưởng một khí hậu cận Địa Trung Hải với thời tiết ôn hoà quanh năm. Chính phủ và ngành du lịch là hai nền kinh tế chính ở Victoria.
== Rừng và công viên ==
Có 14 khu vực công viên và khu vực bảo vệ trong tỉnh, có 141 dự trữ sinh học, 35 công viên biển cấp tỉnh, 7 khu di sản cấp tỉnh, 6 địa chỉ lịch sử cấp quốc gia, 4 công viên quốc gia và 3 Khu bảo tồn công viên quốc gia. 12.5% (114.000 km2 (44.000 sq mi)) của British Columbia đang được coi là khu vực cần được bảo vệ nằm trong 14 khu vực công viên.
British Columbia có 7 công viên quốc gia:
Công viên Quốc gia Glacier
Khu dự trữ công viên quốc gia Gulf Islands
Khu dự trữ công viên quốc gia Gwaii Haanas và Khu di sản Haida
Công viên Quốc gia Kootenay
Công viên Quốc gia Mount Revelstoke
Công viên Quốc gia Pacific Rim
Công viên Quốc gia Yoho
British Columbia cũng có mạng lưới rộng các công viên cấp tỉnh, điều hành bởi B.C. Parks thuộc Bộ Môi trường. Hệ thống công viên cấp tỉnh của British Columbia là hệ thống công viên lớn thứ hai của Canada (lớn nhât là Hệ thống Công viên QUốc gia Canada).
Một cấp công viên khác là công viên cấp vùng, duy trì và điều hành bởi các huyện.
== Tham khảo ==
== Liên kết ngoài ==
The Political Economy of British Columbia's Rainforests |
1785.txt | Năm 1785 (số La Mã: MDCCLXXXV) là một năm thường bắt đầu vào thứ bảy trong lịch Gregory (hoặc một năm thường bắt đầu vào thứ Tư trong lịch Julius chậm hơn 11 ngày).
== Sự kiện ==
=== Tháng 1 ===
Ngày 19 và 20: trận Rạch Gầm - Xoài Mút, quân Tây Sơn đại phá quân Xiêm La.
Nhà vua nước Phổ Friedrich II Đại Đế thiết lập "Liên minh các Vương hầu", bảo vệ các Vương hầu người Đức chống lại những âm mưu thôn tính của Đế quốc Áo.
=== Tháng 3 ===
Bị Tây Sơn truy đuối, Nguyễn Ánh trốn sang Xiêm.
== Sinh ==
Lâm Tắc Từ, tướng nhà Thanh, vị quan đã ra lệnh đốt thuốc phiện của người Anh
== Mất ==
== Tham khảo == |
chongryon.txt | Bản mẫu:Infobox Chinese/Japanese
Tổng hội Liên hiệp người Triều Tiên tại Nhật Bản (Chae Ilbon Chosŏnin Ch'ongryŏnhaphoe trong tiếng Triều Tiên hay Zai-Nihon Chōsenjin Sōrengōkai trong tiếng Nhật), viết tắt là Chongryon (Korean: 총련, Hanja: 總聯, tổng liên) hay Chōsen Sōren (tiếng Nhật: 朝鮮総連, Triều Tiên tổng liên), là một trong hai tổ chức chính của Zainichi (hay Jaeil) Triều Tiên (những người Triều Tiên định cư lâu dài tại Nhật Bản), và có mối quan hệ gần gũi với Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Triều Tiên. Do không có quan hệ ngoại giao giữa hai nước, tổ chức này [có chức năng như một đại sứ quán "trên thực tế" của Bắc Triều Tiên tại Nhật Bản.
Thành viên Chongryon chủ yếu là những người đã giữ lại quốc tịch Triều Tiên (Choson/Joseon) (tiếng Nhật: Chōsen), để chống đối những người đã lựa chọn quốc tịch Nhật Bản hay Hàn Quốc. Quốc tịch Joseon là một định nghĩa hợp pháp được chính phủ Nhật Bản đưa ra sau thất bại trong Thế chiến thứ 2, khi chính quyền trên bán đảo Triều Tiên chưa được xác định bằng một nhà nước duy nhất. Trước khi kết thúc Thế chiến 2, Triều Tiên được quản lý như là một phần của Nhật Bản, do vậy quốc tịch hợp pháp của người Triều Tiên khi đó cả ở Nhật Bản và Triều Tiên, là người Nhật Bản.
Tổ chức lớn còn lại là Mindan, Liên hiệp cư dân Hàn Quốc tại Nhật Bản, gồm những Zainichi Triều Tiên nhận quốc tịch Hàn Quốc. Hiện nay, trong số 610.000 cư dân Triều Tiên tại Nhật Bản không nhận quốc tịch Nhật Bản, 25% là thành viên Chongryon, và 65% là thành viên Mindan. Mối liên hệ mạnh mẽ của Chongryon với Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Triều Tiên, lòng trung thành của họ với ý thức hệ Bắc Triều Tiên và sự phản đối của tổ chức này đối với việc người Triều Tiên hòa nhập vào xã hội Nhật Bản đã khiến cho hai tổ chức này có nhiều tranh cãi.
Trụ sở của Chongryon nằm tại Chiyoda, Tokyo, có trụ sở và chi nhánh tỉnh và vùng trên khắp Nhật Bản.
Có nhiều tổ chức liên hệ với Chongryon, bao gồm 18 cơ quan truyền thông đại chúng và 23 doanh nghiệp. Một trong số các lĩnh vực kinh doanh quan trọng nhất là pachinko. Tổ chức cũng điều hành 60 trường học và một trường đại học Triều Tiên, cũng như các ngân hàng và cơ sở khác tại Nhật Bản.
Chủ tịch hiện nay của tổng hội là Seo Man-sul, ông cùng 5 thành viên cấp cao khác của Chongryon là đại biểu của Hội nghị Nhân dân Tối cao (quốc hội Bắc Triều Tiên).
== Tham khảo ==
== Liên kết ngoài ==
Trang chính thức của Chongryon (Bị chặn tại Hàn Quốc) (tiếng Hàn) (tiếng Nhật)
Cuộc khủng hoảng nhận dạng của người Triều Tiên tại Nhật Bản - BBC |
cường quốc.txt | Cường quốc, hay còn gọi là cường quyền. đại quốc, nước lớn là từ dùng để chỉ 1 quốc gia hay 1 đất nước có khả năng tạo tầm ảnh hưởng của mình ở phạm vi toàn cầu. Những cường quốc thường sở hữu sức mạnh về kinh tế, quân sự, ngoại giao và văn hóa. Những thứ mà có thể khiến những quốc gia nhỏ hơn phải xem xét ý kiến của những cường quốc trước khi tự mình hành động.
Sau thời kỳ Napoléon, người ta bắt đầu dùng từ "Cường quốc" để chỉ những quốc gia có thế lực lớn ở châu Âu. Chẳng hạn như nhà sử học vĩ đại nước Đức là Leopold von Ranke, ông cho rằng một nước trở thành liệt cường sau khi đánh bại được mọi nước láng giềng. Quốc vương Friedrich II Đại Đế, nhờ chiến thắng vẻ vang trong cuộc đấu tranh bảo vệ nước Phổ chống liên minh Áo - Pháp - Nga - Thụy Điển và phần lớn các nước trong Đế quốc La Mã Thần thánh, đã hoàn toàn đưa nước Phổ trở thành một trong những liệt cường của châu Âu. Trên thực tế, kể từ sau khi ông chinh phạt tỉnh Silesia vào năm 1745 thì Vương quốc của ông đã vươn lên thành liệt cường.
Từ thời Napoléon đến nay, đã có nhiều thay đổi về cục diện sức mạnh, phần lớn là từ sau Chiến tranh thế giới thứ nhất và Chiến tranh thế giới thứ hai. Trong khi một vài nước được công nhận rộng rãi là Cường quốc, không có 1 danh sách cụ thể nào về những Cường quốc, và danh sách những cường quốc vẫn đang được tranh cãi.
== Lịch sử ==
Có nhiều quốc gia lớn mạnh từng tồn tại trong lịch sử; thực chất, trong thế kỷ 18, châu Âu đã có năm cường quốc: Anh, Áo, Nga, Pháp và Phổ. Sau cuộc Chiến tranh Bảy Năm (1756-1763), vị thế của Anh và Pháp ở châu Âu suy giảm, trong khi Nga và Phổ trỗi lên ở Đông Âu nhờ những thắng lợi quân sự của họ. Nga vốn đã vươn lên trở thành cường quốc kể từ khi Nga hoàng Pyotr Đại đế tiến hành cải cách và đánh bại Thụy Điển trong cuộc Đại chiến Bắc Âu (1700-1721). Năm 1725, một số người đã nhìn nhận Nga là một cường quốc vì nước này làm chủ vùng biển Baltic. Dưới thời Elizaveta, Nga tham gia liên minh chống Phổ, cường quốc quân sự mạnh nhất châu Âu thời bấy giờ, trong cuộc Chiến tranh Bảy năm. Một số chiến thắng vang dội của quân đội Nga trước các lực lượng hùng hậu của Phổ, mà tiêu biểu là trận Kunersdorf, đã chứng tỏ ưu thế của Nga so với các đồng minh của mình là Áo, Thụy Điển và Pháp. Cho đến năm 1763, Nga đã được khẳng định là một cường quốc, dù cuộc chiến không mang lại cho họ một lãnh thổ mới nào. Tuy nhiên, quan niệm thời thế kỷ 18 đòi hỏi một cường quốc thực thụ phải đánh bại một nước khác mà không có sự hỗ trợ của một nước nào, vì vậy Nga chỉ thực sự là cường quốc sau năm 1763, dưới thời Nữ hoàng Ekaterina II. Khi ấy, Nga giành được nhiều lãnh thổ trong hai cuộc chiến với Đế quốc Ottoman. Đến năm 1790, với chính sách phòng ngự lãnh thổ của Ekaterina, quân đội Nga trở thành lực lượng quân sự lớn nhất Đông Âu.
Cũng trong thế kỷ này, vua Friedrich Wilhelm I của Phổ đã gầy dựng một lực lượng quân sự tinh nhuệ cùng với một bộ máy hành chính hiệu quả, dù Phổ không có được nguồn nhân lực và vật lực dồi dào như Nga. Tài thao lược của người kế tục ông, vua Friedrich Đại đế, đã tạo điều kiện cho Phổ vào hàng ngũ cường quốc. Mặc dù Friedrich đã giành được tỉnh Schlesien từa tay Áo sau thắng lợi của mình trong hai cuộc Chiến tranh Schlesien (1740-1745), thực lực của vương quốc vẫn còn non yếu. Trong cuộc Chiến tranh Bảy năm, nước Phổ lâm chiến với liên minh Nga, Áo (cùng hầu hết các vương hầu ở Đức), Pháp, Thụy Điển có nguồn nhân lực và tài lực áp đảo. Mặc dù sự thay đổi chính sách ngoại giao của Nga năm 1762 đã loại bỏ nguy cơ thất bại cho Phổ, tài dụng binh của Friedrich Đại đế, kết hợp với sự bài bản của bộ máy hành chính và quân đội của Phổ, cùng với khoản viện trợ của Anh và việc khai thác tài nguyên ở Sachsen bị chiếm đóng là những nhân tố chính yếu dẫn đến thắng lợi phòng ngự của Phổ trong cuộc chiến. Sự thật rằng Phổ tiếp tục chiến đấu vào thời điểm Nga rút khỏi liên minh là một minh chứng cho sự dai sức của họ. Vào thời điểm chiến tranh kết thúc năm 1763, không ai có thể chối cãi vai trò cường quốc của Phổ, chí ít là cường quốc quân sự. Người đương thời thán phục Friedrich Đại đế và các lực lượng hùng mạnh của ông, đồng thời Phổ trở thành một nhân tố không thể thiếu được trong nền ngoại giao châu Âu. Ngoài ra, sự thôn tính một phần lãnh thổ Ba Lan cũng nâng cao vị thế của Phổ trên chính trường châu Âu.
Trong khi ấy, vị thế của Pháp - do thảm bại trước quân đội Phổ do Friedrich Đại đế chỉ huy trong trận Roßbach, và trước Anh trong các trận chiến giành thuộc địa ở hải ngoại – bị sa sút. Uy tín quốc tế của Pháp bị tổn hại nghiêm trọng. Sự khủng hoảng chính trị của Pháp tạo nên suy nghĩ rằng nước này không còn là cường quốc. Nội bộ Pháp chia rẽ, với những thất bại cá nhân của các vua Louis XV và Louis XVI sau năm 1774. Trong khi liên minh giữa Phổ và Nga năm 1764 đã mang lại tình hình ổn định cho Phổ, liên minh này đặt nền tảng cho Nga cùng với Phổ xâm chiếm Ba Lan, một chư hầu cũ của Pháp. Việc tham chiến trong Chiến tranh Cách mạng Mỹ khiến Pháp càng suy yếu dưới bóng của Nga.
Tuy nhiên, thuật ngữ "cường quốc" mới chỉ được sử dụng nhiều trong ngôn ngữ học thuật bắt đầu từ Đại hội Viên năm 1815. Hội nghị thiết lập hòa bình tại châu Âu sau các cuộc chiến Napoleon. Hội nghị Viên có năm cường quốc: Vương quốc Anh, Đế quốc Áo, Phổ, Nga và Pháp. Đây chính là năm quốc gia hình thành nên những cường quốc đầu tiên theo nghĩa của thuật ngữ mà chúng ta hiểu ngày nay. Các quốc gia khác như Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha và Thụy Điển cũng được tham khảo ý kiến nhưng không phải là thành viên đầy đủ. Hannover, Bayern, và Württemberg cũng được lấy ý kiến tham khảo các vấn đề liên quan tới Đức.
Trong năm cường quốc tại Hội nghị Viên, chỉ còn Vương quốc Anh và Pháp là còn giữ được vị thế cường quốc cho tới ngày nay, mặc dù Pháp bị đánh bại nhanh chóng trong cuộc Chiến tranh Pháp-Đức và bị chiếm đóng trong Thế chiến II. Sau Hội nghị Viên, Đế quốc Anh nổi lên như một cường quốc nổi bật nhờ sự mở rộng lãnh và sức mạnh của hải quân. Cán cân sức mạnh trở thành một đề tài có tầm ảnh hưởng trong chính trị ở châu Âu. Qua thời gian, sức mạnh của các quốc gia này có những thay đổi, đầu thế kỷ 20 chứng kiến sự nổi lên của cán cân quyền lực mới. Một vài quốc gia như Vương quốc Anh và Phổ vẫn duy trì tăng trưởng kinh tế và sức mạnh chính trị. Các quốc gia khác, như Nga và Áo-Hung trở nên trì trệ. Trong khi đó, các quốc gia khác đang nổi lên và mở rộng sức mạnh nhờ quá trình công nghiệp hóa. Nổi bật nhất trong số đó là Nhật Bản sau thời kỳ Minh Trị Duy tân và Hoa Kỳ sau nội chiến, cả hai quốc gia này chỉ là cường quốc bậc trung khu vực hồi năm 1815. Tới những năm đầu của thế kỷ 20, cán cân sức mạnh thay đổi đáng kể, Liên quân tám nước là một liên minh quân sự gồm tám quốc gia chống lại cuộc Khởi nghĩa Nghĩa Hòa Đoàn ở Trung Quốc. Liên minh này thành lập năm 1900 gồm năm cường quốc tại Hội nghị Viên cộng thêm Ý, Nhật Bản và Hoa Kỳ, đại diện cho những cường quốc hàng đầu thế kỷ 20.
=== Cường quốc trong chiến tranh ===
Sự chuyển gia sức mạnh sau ra chủ yếu thông qua các cuộc xung đột, kết quả của Thế chiến I và các Hiệp ước Versailles, St-Germain, và Trianon đã chứng kiến Vương quốc Anh, Pháp, Ý, Nhật Bản và Hoa Kỳ trở thành những nhà phán xét trật tự thế giới mới. Sau Thế chiến I, Đế quốc Đức bị đánh bại, Đế quốc Áo-Hung bị chia thành các quốc gia yếu và nhỏ bé hơn trong khi Đế quốc Nga bị chìm trong một cuộc cách mạng. Trong Hiệp ước Versailles, Anh, Pháp, Hoa Kỳ nắm giữ nhiều quyền lực và ảnh hưởng hơn Nhật Bản và Ý.
Khi Thế chiến II bùng nổ năm 1939, cuộc chiến được chia thành hai phe, phe Đồng minh (ban đầu gồm Anh và Pháp, sau đó là Liên Xô, Hoa Kỳ và Trung Quốc năm 1941) và phe Trục gồm Đức, Ý và Nhật Bản. Cuối Thế chiến II, Hoa Kỳ, Liên Xô và nước Anh nổi lên như những người chiến thắng. Pháp và Trung Quốc cũng được công nhận là những kẻ thắng trận, các quốc gia này (Hoa Kỳ, Liên Xô, Anh, Pháp, Trung Quốc) chính là các cường quốc lớn mạnh nhất thời điểm đó và họ nắm giữ ghế thường trực của Hội đồng Bảo an Liên Hiệp Quốc (Và trong 5 Cường Quốc hàng đầu này thì Hoa Kỳ là mạnh nhất, Liên Xô mạnh thứ nhì, Anh mạnh thứ 3, Trung Quốc mạnh thứ 4 và cuối cùng là Pháp mạnh thứ 5).
Sau chiến tranh, thuật ngữ "siêu cường" bắt đầu xuất hiện. Đây là thuật ngữ mô tả các quốc gia có sức mạnh và tầm ảnh hưởng bao trùm. Từ này được đưa ra bởi William T.R. Fox năm 1944, theo ông, có ba siêu cường là: Vương quốc Anh, Hoa Kỳ và Liên Xô. Tới cuối thập niên 1950, Đế quốc Anh mất vị thế siêu cường, siêu cường lúc này chỉ còn Hoa Kỳ và Liên Xô.
Trong thời Chiến tranh Lạnh, Nhật Bản và các quốc gia châu Âu như Anh, Pháp và Tây Đức xây dựng lại nền kinh tế. Pháp và Anh đến nay vẫn duy trì một lực lượng quân sự trang bị hiện đại với tiềm lực huy động mạnh và ngân sách quốc phòng lớn. Trung Quốc, với dân số lớn nhất thế giới, dần nổi lên trở thành siêu cường nhờ tốc độ tăng trưởng kinh tế cao và sức mạnh quân sự ngày càng gia tăng. Đến thập niên 1970, Trung Hoa Dân Quốc mất sự công nhận là chính quyền hợp pháp của Trung Quốc. Đến năm 1971 thì Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa chính thức thay thế vị trí thành viên thường trực Hội đồng Bảo an Liên Hiệp Quốc của Trung Hoa Dân Quốc.
=== Sau chiến tranh Lạnh ===
Hiện nay Hoa Kỳ, Anh, Pháp, Nga và Trung Quốc được xem là các cường quốc mặc dù thực chất không có một sự nhất trí hay một định nghĩa về thế nào là cường quốc. Đây là năm quốc gia có ghế thường trực tại Hội đồng Bảo an Liên Hiệp Quốc và cũng là năm quốc gia được công nhận sở hữu vũ khí hạt nhân theo Hiệp ước không phổ biến vũ khí hạt nhân. Dù không có ghế thường trực tại Hội đồng Bảo an, Đức và Nhật Bản cũng được coi là các cường quốc bởi sức mạnh kinh tế và công nghệ.
Sau khi Liên Xô tan rã, ghế thường trực tại Hội đồng Bảo an được chuyển cho Liên bang Nga năm 1991 với tư cách là nhà nước kế tục. Sự tan rã của Liên Xô đưa Hoa Kỳ trở thành siêu cường duy nhất trên thế giới cho tới ngày nay. Nhưng kể từ năm 2008, khi kinh tế thế giới cùng Mỹ trên đà lao dốc, Trung Quốc đã nổi lên dần với mong muốn trở thành siêu cường của thế giới, và điều này đang đe dọa vị trí số một của Mỹ trên toàn cầu.
== Các cường quốc theo thời gian ==
== Xem thêm ==
Siêu cường
== Tham khảo ==
== Đọc thêm ==
Theodor Schieder, Sabina Berkeley, Hamish M. Scott, Frederick the Great, Longman, 2000. ISBN 0582017696.
The Tragedy of Great Power Politics by John J. Mearsheimer
Theory of International Politics by Kenneth N Waltz
World Politics: Trend and Transformation by Eugene R. Witkopf
The Rise and Fall of the Great Powers by Paul Kennedy
France and the Nazi Threat: The Collapse of French Diplomacy 1932–1939 by Jean-Baptiste Duroselle, Introduction by Anthony Adamthwaite (Enigma Books, ISBN 1-929631-15-4) |
giới (sinh học).txt | Trong phân loại sinh học, một giới (kingdom hay regnum) là một đơn vị phân loại ở cấp cao nhất (theo lịch sử), hoặc là cấp ngay dưới lãnh giới (trong hệ thống ba lãnh giới mới). Mỗi giới được chia thành các nhóm nhỏ hơn, gọi là ngành (nói chung là "phylum" nhưng đối với thực vật thì hay dùng "division"). Hiện tại, các tài liệu về phân loại tại Hoa Kỳ sử dụng hệ thống 6 giới:
Animalia - Động vật
Plantae -Thực vật
Fungi - Nấm
Protista - Sinh vật Nguyên sinh
Archaea - Vi khuẩn cổ
Bacteria - Vi khuẩn
Trong khi đó, các tài liệu tương tự tại Anh và Australia lại sử dụng hệ thống 5 giới:
Animalia - Động vật
Plantae -Thực vật
Fungi - Nấm
Protista - Sinh vật Nguyên sinh
Monera - Giới Khởi sinh
Carolus Linnaeus đã phân biệt hai giới của sự sống: Animalia cho động vật và Vegetabilia cho thực vật (Linnaeus cũng xem xét các khoáng vật và đặt chúng trong giới thứ ba, gọi là Mineralia). Linnaeus phân chia mỗi giới thành các lớp, sau này được gộp lại thành các phylum cho động vật và division cho thực vật. Khi các sinh vật đơn bào lần đầu tiên được phát hiện, chúng được phân chia giữa hai giới: dạng có thể vận động trong ngành động vật Protozoa, còn các dạng tảo màu và vi khuẩn thuộc về ngành thực vật gọi là Thallophyta hay Protophyta. Tuy nhiên, một lượng lớn các dạng rất khó để xếp đặt, hoặc được các tác giả khác nhau đặt vào các giới khác nhau. Ví dụ, chi tảo có thể vận động như Euglena và niêm khuẩn dạng giống như trùng biến hình. Kết quả là Ernst Haeckel đã đề xuất việc tạo ra giới thứ ba, gọi là Protista cho chúng.
== Hai siêu giới, bốn giới ==
Việc phát hiện ra vi khuẩn có cấu trúc tế bào khác biệt cơ bản với các sinh vật khác - tế bào vi khuẩn có 1 hay 2 lớp màng nằm tại hay gần với bề mặt của nó, trong khi các sinh vật khác có cấu trúc phức tạp hơn với nhân và các cơ quan tử khác được phân chia bằng các màng nội tế bào — đã dẫn tới việc nhà vi sinh vật học Edouard Chatton đề xuất việc phân chia sự sống thành các sinh vật có nhân vào Eukaryota và các sinh vật không nhân vào Prokaryota.
Đề xuất của Chatton đã không được chọn ngay, hệ thống điển hình hơn là của Herbert Copeland, trong đó ông xếp các sinh vật nhân sơ (Prokaryota) vào một giới riêng, ban đầu gọi là Mychota nhưng sau đó được gọi là Monera hay Bacteria. Hệ thống bốn giới của Copeland đặt tắt cả các sinh vật nhân chuẩn mà không là động vật hay thực vật vào giới Protista.
Dần dần, một điều trở nên rõ ràng là các khác biệt giữ sinh vật nhân chuẩn/sinh vật nhân sơ có tầm quan trọng như thế nào, và Stanier cùng C.B. van Niel đã truyền bá đề xuất của Chatton trong thập niên 1960.
== Năm giới ==
Robert Whittaker đã công nhận một giới bổ sung cho nấm là Fungi. Kết quả là Hệ thống năm giới, được đề xuất năm 1968, đã trở thành tiêu chuẩn phổ biến và với một số cải tiến vẫn còn được sử dụng trong rất nhiều tác phẩm về sinh học, hoặc tạo thành nền tảng cho các hệ thống nhiều giới mới hơn. Nó dựa chủ yếu vào các khác biệt trong cách thức lấy các chất dinh dưỡng:
Plantae chủ yếu là sinh vật đa bào tự dưỡng.
Animalia là sinh vật đa bào dị dưỡng
Fungi là sinh vật đa bào hoại sinh.
Hai giới còn lại, Protista và Monera, bao gồm các quần thể đơn bào và tế bào đơn giản.
== Sáu giới ==
Trong những năm khoảng 1980 nổi lên tầm quan trọng của phát sinh loài học và việc định nghĩa lại các giới như là các nhóm đơn ngành, là các nhóm hợp thành từ các sinh vật có mối quan hệ tương đối gần gũi nhau. Animalia, Plantae, Fungi nói chung đã được quy về các nhóm cốt lõi của các dạng có quan hệ gần gũi, còn các dạng khác được đặt trong Protista. Dựa trên các nghiên cứu rARN, Carl Woese đã phân chia Prokaryota (giới Monera) thành hai giới, gọi là Eubacteria (vi khuẩn thật sự) và Archaebacteria (vi khuẩn cổ). Carl Woese đã cố gắng thiết lập hệ thống Ba Giới Chính (Urkingdom) trong đó Thực vật, Động vật, Sinh vật nguyên sinh, Nấm được gộp lại trong một giới chính của tất cả các dạng sinh vật nhân chuẩn. Eubacteria và Archaebacteria tạoh thành hai urkingdom khác. Việc sử dụng ban đầu của các "hệ thống sáu giới" là sự hòa trộn hệ thống năm giới kinh điển và hệ thống ba giới của Woese. Những hệ thống sáu giới như vậy đã trở thành tiêu chuẩn trong nhiều tác phẩm.
Một loạt các giới sinh vật nhân chuẩn mới cũng được đề xuất, nhưng phần lớn hoặc là nhanh chóng bị coi là không hợp lệ, bị hạ xuống cấp ngành hay lớp, hoặc bị hủy bỏ. Giới duy nhất vẫn còn được sử dụng khá rộng rãi là giới Chromista do Cavalier-Smith đề xuất, bao gồm các sinh vật như tảo bẹ (Laminariales), tảo cát (Bacillariophyceae), thủy khuẩn (Oomycetes). Vì thế sinh vật nhân chuẩn được phân chia thành 3 nhóm chủ yếu là dị dưỡng (Animalia, Fungi, Protozoa) và 2 nhóm chủ yếu là quang hợp, (Plantae, bao gồm cả tảo đỏ, tảo lục và Chromista. Tuy nhiên, nó không được sử dụng rộng rãi do sự không chắc chắn về tính đơn ngành của hai giới cuối cùng này.
Woese nhấn mạnh sự giống nhau về gen so với biểu hiện và hành vi ra ngoài, dựa trên so sánh các gen của ARN ribosome ở mức phân tử để xếp loại các thể loại phân loại. Thực vật trông không giống như động vật, nhưng ở mức tế bào thì cả hai nhóm đều là sinh vật nhân chuẩn, có cơ cấu tổ chức hạ tế bào tương tự, bao gồm nhân tế bào, cái mà Eubacteria và Archaebacteria không có. Quan trọng hơn, thực vật, động vật, nấm, sinh vật nguyên sinh là tương tự nhau trong cấu trúc gen của chúng ở mức phân tử, dựa trên các nghiên cứu rARN, hơn là giống với Eubacteria hay Archaebacteria. Woese cũng phát hiện ra rằng tất cả các sinh vật nhân chuẩn, gộp lại với nhau như là một nhóm, về mặt di truyền là có quan hệ họ hàng gần gũi với Archaebacteria hơn là quan hệ của nhóm này với Eubacteria. Điều này có nghĩa là Eubacteria và Archaebacteria là các nhóm tách rời ngay cả khi so sánh với Eukaryota. Vì thế, Woese đã thiết lập hệ thống ba vực, cho rằng tất cả các dạng Eukaryota là có quan hệ di truyền gần gũi hơn khi so sánh với mối quan hệ di truyền với Eubacteria hay Archaebacteria, mà không có sự thay thế các "hệ thống sáu giới" với hệ thống ba giới. Hệ thống ba vực là "hệ thống sáu giới" trong đó hợp nhất các giới của Eukaryota thành vực Eukarya, dựa trên sự tương tự gen tương đối của chúng khi so sánh với vực Bacteria và vực Archaea. Woese cũng công nhận rằng giới Protista không là nhóm đơn ngành và có thể phân chia tiếp ở mức giới. Ví dụ, một số tác giả chia giới Protista ra thành Protozoa và Chromista.
== Tổng quan ==
Lưu ý rằng sự tương đương trong bảng trên là không hoàn hảo. Ví dụ Haeckell đặt tảo đỏ (Florideae của Haeckell, hiện nay là Florideophyceae) và tảo lục-lam (Archephyta của Haeckell; hiện nay là Cyanobacteria) trong Plantae của ông, nhưng trong phân loại hiện nay chúng được coi là thuộc về Protista và Bacteria. Tuy nhiên, bảng này cho thấy sự đơn giản hóa hữu ích; các vực trong bảng được coi là của Chatton, trên thực tế ông không phân cấp cho hai nhóm này và cũng không đặt tên chính thức cho chúng.
== Tham khảo ==
== Xem thêm ==
Miêu tả theo nhánh học
Hệ thống hóa
== Liên kết ngoài ==
Khái niệm năm giới
Phân loại của Whittaker |
uruguay.txt | Uruguay (phiên âm Tiếng Việt: U-ru-goay; tiếng Tây Ban Nha: República Oriental del Uruguay) là một quốc gia tại Nam Mỹ. Nước này tiếp giáp với Brasil ở phía bắc, Argentina ở phía tây (qua sông Uruguay) và tây nam qua Río de la Plata, với Đại Tây Dương ở phía đông nam. Đây là quốc gia độc lập có diện tích nhỏ thứ hai ở Nam Mỹ sau Suriname.
Colonia del Sacramento, một trong số những khu định cư châu Âu lâu đời nhất ở Uruguay được thành lập bởi Bồ Đào Nha. Tây Ban Nha chiếm Montevideo vào đầu thế kỉ 18 và họ dựng lên thành phố ở đó. Uruguay nổi dậy dành độc lập vào những năm 1811–1828 từ ba nước Tây Ban Nha, Argentina, Brasil. Đó là một nền dân chủ lập hiến, nơi tổng thống giữ cả hai vai trò đứng đầu nhà nước và chính phủ.
Uruguay là một trong số những nền kinh tế phát triển ở Nam Mĩ, với GDP cao, đứng hàng thứ 50 về chất lượng sống tên thế giới. Nền kinh tế dựa vào nông nghiệp (chiếm 10% GDP và đứng thứ nhất về xuất khẩu).Theo Tổ chức Minh bạch quốc tế, Uruguay là nước ít tham nhũng nhất châu Mĩ Latin (cùng với Chile).
Năm 2007, Uruguay là nước đầu tiên ở châu Mĩ Latin thực hiện kết hợp dân sự giữa những người đồng tính.
== Từ nguyên ==
Từ tiếng Tây Ban Nha República Oriental del Uruguay dịch sang tiếng Việt là Cộng hoà Đông Uruguay. Đó là do nước này có vị trí địa lý ở phía đông sông Uruguay. Từ Uruguay trong tiếng Guaraní nghĩa là con sông nơi mà loài chim đang sống.
== Lịch sử ==
=== Sự thực dân hóa ===
Người Tây Ban Nha khám phá ra Uruguay vào đầu thế kỷ 16 nhưng gặp phải sự kháng cự của thổ dân rồi lại bị người Bồ Đào Nha gây khó dễ khiến Uruguay trở thành chiến trường giữa hai đế quốc, Bồ Đào Nha và Tây Ban Nha. Trong những năm 1669 - 1671, Bồ Đào Nha lập đồn lũy ở Colonia del Sacramento hầu kiểm soát khu vực này. Trong khi đó Tây Ban Nha cũng tìm đưa dân đến lập nghiệp, chống lại dân Bồ Đào Nha từ Brasil lấn xuống.
Triều đình Tây Ban Nha cho thành lập Montevideo vào đầu thế kỷ 18 làm căn cứ quân sự rồi sau thị trấn này phát triển thành một hải cảng quan trọng cạnh tranh với Buenos Aires bên Argentina. Vào những năm 1806 - 1807, trong khi bên Âu châu Anh và Pháp lâm chiến thì ở Nam Mỹ cuộc chiến chống Napoleon cũng cuốn Anh, Bồ Đào Nha và Tây Ban Nha vào vòng binh lửa nhằm khống chế hai thị trấn chính là Montevideo và Buenos Aires. Quân Anh chiếm được Montevideo vào năm 1807 nhưng không bao lâu thì quân Tây Ban Nha tái chiếm được.
=== Đấu tranh giành độc lập khỏi Tây Ban Nha những năm 1811-1814 ===
Năm 1811, José Gervasio Artigas, anh hùng dân tộc của Uruguay, đứng đầu một cuộc cách mạng chống lại Tây Ban Nha, đánh bại họ vào ngày 18 tháng 5 tại trận Las Piedras và ông tuyên bố thành lập liên bang Liga vào năm 1814.
=== Liên bang Liga 1814-1820 ===
Từ năm 1815 - 1820, Uruguay là trung tâm chính trị của Liên bang Liga hay Liên bang của những người tự do. Tuy nhiên, sự tăng trưởng và uy tín của nó làm cho Đế quốc Bồ Đào Nha ở Brasil sợ hãi (vì chính thể cộng hòa của nó). Tháng 8 năm 1816, Bồ Đào Nha tấn công các tỉnh miền Đông (Uruguay) với ý định tiêu diệt nền cộng hòa ở đây. Nhờ ưu thế về quân sự, quân Bồ Đào Nha chiếm Montevideo vào ngày 20 tháng 1 năm 1817. Quân của Artigas rút về đấu tranh ở nông thôn đấu tranh trong ba năm tiếp theo. Cuối cùng, quân Bồ Đào Nha đánh bại Artigas trong trận Tacuarembó.
=== Sự chiếm đóng của Brasil 1821 - 1830 ===
Năm 1821, các tỉnh miền Đông (Uruguay) bị sáp nhập vào Brasil (như là một phần của Vương quốc Bồ Đào Nha). Đế chế Brasil được độc lập từ 1822. Ba năm sau, ba mươi ba tỉnh do Juan Antonio Lavalleja đứng đầu tuyên bố độc lập ngày 25 tháng 8 năm 1825 dưới sự bảo trợ của Liên hiệp các tỉnh Rio de la Plata (nay là Argentina).
Điều này đã dẫn đến cuộc chiến tranh Brasil-Argentina kéo dài 500 ngày. Nhưng không bên nào đạt được thế thượng phong, do vậy, hai nước Brasil, Argentina ký kết Hiệp ước Montevideo theo đó công nhận nhà nước Uruguay độc lập. Hiến pháp đầu tiên được thông qua ngày 18 tháng 7 năm 1830.
=== "Guerra Grande" 1839–1852 ===
Quang cảnh chính trị ở Uruguay đã trở thành phân chia giữa hai bên, các bảo thủ Blancos ("da trắng") và các tự do Colorados ("Quỷ đỏ"). Các Colorados được dẫn đầu bởi Fructuoso Rivera và đại diện lợi ích kinh doanh của Montevideo; các Blancos đã được lãnh đạo bởi Manuel Oribe, người chăm sóc lợi ích của nông nghiệp nông thôn và thúc đẩy bảo hộ. Hai nhóm lấy tên của họ từ màu sắc của các băng tay mà họ mặc. Các bên Uruguay đã trở thành gắn liền với chiến tranh phe phái chính trị tại nước láng giềng Argentina. Các Colorados ủng hộ tự do lưu vong Argentina Unitarios, nhiều người đã lấy tị nạn tại Montevideo, trong khi tổng thống Blanco Manuel Oribe là một người bạn thân của người cai trị Argentina Manuel de Rosas. Oribe đã phía Rosas khi hải quân Pháp phong tỏa Buenos Aires năm 1838. Điều này dẫn các Colorados và Unitarios lưu vong để tìm kiếm sự ủng hộ của Pháp chống lại Oribe, và vào ngày 15 Tháng Sáu 1838, một đội quân dẫn đầu là Rivera Colorado lãnh đạo lật đổ tổng thống, người đã bỏ chạy tới Argentina. Các Unitarians Argentina đã thành lập một chính phủ lưu vong tại Montevideo và, với sự khuyến khích Pháp bí mật, Rivera tuyên chiến Rosas năm 1839. Cuộc xung đột kéo mười ba năm và trở thành được gọi là "Grande Guerra" ("Đại chiến"). Trong năm 1840, một đội quân Unitarios lưu vong đã cố gắng xâm lược miền bắc Argentina từ Uruguay, nhưng họ đã thành công rất ít. Trong tháng 12 năm 1842, Tổng thống Joaquín Suárez chính thức bãi bỏ chế độ nô lệ. Hai tháng sau, một đội quân người Argentina đã trượt khỏi Uruguay thay mặt của Oribe. Họ tịch thu nhất của đất nước nhưng không có vốn. Các cuộc bao vây của Montevideo, bắt đầu từ tháng 2 năm 1843, sẽ chín cuối năm và chụp thế giới tưởng tượng của các. Alexandre Dumas so sánh nó với một mới Trojan War. Những người Uruguay bao vây kêu gọi người nước ngoài cư trú để được giúp đỡ và một quân đoàn Pháp và một người Ý đã được hình thành. thứ hai là do lưu vong Giuseppe Garibaldi, người đã làm việc như một giáo viên toán học tại Montevideo khi chiến tranh nổ ra.
Garibaldi cũng làm người đứng đầu của hải quân Uruguay. Ông đã tham gia vào nhiều hành động nổi tiếng trong chiến tranh, đặc biệt là trong trận San Antonio, trong đó dành cho ông một danh tiếng trên toàn thế giới như là một nhà lãnh đạo du kích dữ dội. Cuộc phong tỏa của Argentina với Montevideo không hiệu quả như Rosas thường cố gắng không can thiệp với vận chuyển quốc tế về mảng sông. Nhưng năm 1845, khi vào Paraguay đã bị chặn, Anh và Pháp liên minh chống lại Rosas, thu giữ hạm đội của mình và bắt đầu một cuộc phong tỏa của Buenos Aires, trong khi Brasil tham gia chống lại Argentina.
Rosas đạt thỏa thuận hòa bình với Anh và Pháp vào năm 1849 và 1850. Người Pháp đã đồng ý rút quân đoàn của mình nếu Rosas di tản quân đội Argentina từ Uruguay. Oribe vẫn duy trì một cuộc bao vây lỏng lẻo với thủ đô. Năm 1851, những người Argentina Caudillo Justo José de Urquiza quay lưng lại với Rosas và ký kết một hiệp ước với Unitarios lưu đày, các Colorados Uruguay và Brazil chống lại ông. Urquiza vượt qua thành Uruguay, đánh bại Oribe và dỡ bỏ cuộc bao vây với Montevideo. Ông sau đó đã lật đổ Rosas ở trận Caseros ngày 3 tháng 2 năm 1852. Với thất bại này, Rosas sống lưu vong, Guarra Grande cuối cùng đã kết thúc.
=== Chiến tranh giữa liên minh Triple ===
Năm 1855, cuộc xung đột mới nổ ra giữa các bên. Nó đạt đỉnh cao trong thời gian chiến tranh của Liên minh Triple. Năm 1863, Colorado chung Venancio Flores tổ chức một cuộc nổi dậy vũ trang chống lại tổng thống Blanco, Bernardo Prudencio Berro. Flores đã giành sự ủng hộ từ Brasil và, thời gian này, Argentina đã cung cấp ông với quân đội và vũ khí, trong khi Berro thực hiện một liên minh với các nhà lãnh đạo Paraguay Francisco Solano López. Khi chính phủ của Berro bị lật đổ trong năm 1864 với sự giúp đỡ của Brazil, López sử dụng nó như là một lý do để tuyên chiến với Uruguay. Kết quả là cuộc chiến tranh của Liên minh Triple, một cuộc xung đột năm năm, trong đó Uruguay, quân đội Brasil và Argentina, Paraguay đã chiến đấu, và đó Flores cuối cùng thắng, nhưng chỉ ở mức giá của sự mất 95% quân của riêng mình. Flores đã không tận hưởng của mình chiến thắng Pyrrhic cho lâu dài. Năm 1868, ông bị giết trong cùng một ngày như là đối thủ của ông Berro.
Cả hai bên đã mệt mỏi của sự hỗn loạn này. Năm 1870, họ đã đi đến một thỏa thuận để xác định các lĩnh vực ảnh hưởng: các Colorados sẽ kiểm soát Montevideo và khu vực ven biển, các Blancos sẽ cai trị nội địa với bất động sản nông nghiệp của mình. Ngoài ra, Blancos đã được trả nửa triệu đô la để bồi thường cho họ mất cổ phần của họ ở Montevideo. Nhưng Caudillo tâm lý rất khó để xóa từ Uruguay và tiếp tục hoạt động chính trị mà đỉnh cao là cuộc cách mạng của Lances (Revolución de las Lanzas) (1870-1872), và sau này với các cuộc nổi dậy của Aparicio Saravia, người đã bị thương tại trận Masoller (1904).
=== Xã hội và sự phát triển kinh tế đến năm 1890 ===
Sau khi kết thúc Guerra Grande có một sự gia tăng mạnh số lượng người nhập cư, nhiều nhất là từ Italy và Tây Ban Nha. Số lượng người nhập cư đã tăng từ 48% dân số trong 1860 lên 68% năm 1868. Trong thập niên 1870, một 100,000 người châu Âu tiếp tục đến, để đến năm 1879 khoảng 438.000 người đã sống ở Uruguay, một phần tư trong số họ trong Montevideo. Năm 1857, ngân hàng đầu tiên đã được mở cửa, ba năm sau đó, một hệ thống kênh đào đã được bắt đầu xây dựng, dòng điện tín đầu tiên được thành lập, và các liên kết đường sắt được xây dựng giữa các thành phố và nông thôn.
Nền kinh tế nhìn thấy sự tăng trưởng mạnh sau khi "Guerra Grande" kết thúc, trên tất cả trong chăn nuôi và xuất khẩu. Giữa năm 1860 và 1868, số lượng cừu tăng 3-17.000.000. Lý do cho sự gia tăng này nằm ở trên tất cả trong các phương pháp cải tiến chăn nuôi của những người nhập cư châu Âu.
Montevideo đã trở thành một trung tâm kinh tế lớn của khu vực. Nhờ bến cảng tự nhiên của nó, nó trở thành một nơi trung chuyển hàng hóa từ Argentina, Brasil và Paraguay. Các thị xã Paysandú và Salto, cả trên sông Uruguay, cũng có kinh nghiệm phát triển tương tự.
=== Thế kỉ 20 ===
Uruguay phát triển tăng tốc trong phần sau của thế kỷ 19 cũng như số ngày càng tăng của người nhập cư thành lập doanh nghiệp và mua đất. Một phần thông qua nỗ lực của họ, cừu đã được giới thiệu để gặm cỏ cùng với gia súc, trang trại được rào, và những con bò và cừu được nhập khẩu để cải thiện chăn nuôi. Thu nhập từ len (mà đã trở thành việc xuất khẩu hàng đầu vào năm 1884), da, và thịt bò khô khuyến khích người Anh đầu tư xây dựng đường sắt và cũng đã giúp hiện đại hóa Montevideo, đáng chú ý trong các tiện ích công cộng và hệ thống giao thông vận tải, mà qua đó khuyến khích nhập cư bổ sung.
Năm 1876, các lực lượng vũ trang Uruguay đã qua của chính phủ, và hỗ trợ bởi thông tin liên lạc được cải thiện, bắt đầu thiết lập vững chắc hơn trong kiểm soát đất nước. Tuy nhiên, công cuộc hỗ trợ cho chế độ dần dần phai nhạt vì sự tàn bạo và tham nhũng của một số nhà lãnh đạo của nó, và một chính phủ dân sự Colorado trở lại cầm quyền vào năm 1890.
Blanco nhu cầu của một vai trò lớn hơn trong chính phủ leo thang thành cuộc Cách mạng năm 1897, do Aparicio Saravia, kết thúc khi tổng thống Colorado, Juan Idiarte Borda, đã bị giết bởi một sát thủ không liên kết với các Blancos. Mặc dù các cuộc xung đột giữa Colorados và Blancos vẫn tiếp tục cản trở sự phát triển kinh tế, theo dân số của Uruguay năm 1900 đã lên đến một triệu tăng 13 lần so với mức của năm 1830. Các nhà lãnh đạo Colorado José Batlle y Ordóñez được bầu làm tổng thống năm 1903. Năm sau các Blancos đã dẫn đầu một cuộc nổi dậy nông thôn, và tám tháng chiến đấu đẫm máu xảy ra sau đó trước khi Saravia bị giết chết trong trận chiến và lực lượng chính phủ đã nổi lên giành chiến thắng. Năm 1905 các Colorados thắng cuộc bầu cử lập pháp lần đầu tiên trong suốt phần lớn trong 30 năm qua, và sự ổn định trong nước cuối cùng đã đạt được.
Batlle, người đã trở thành một anh hùng Colorado, đã dùng sự ổn định của quốc gia và phát triển thịnh vượng kinh tế để viện cải cách lớn, bao gồm gia tăng sự can thiệp của nhà nước trong các vấn đề kinh tế. Chính quyền của ông đã giúp mở rộng chăn thả gia súc, giảm sự phụ thuộc của quốc gia nhập khẩu và vốn nước ngoài, cải thiện điều kiện lao động thông qua những cải cách sâu rộng đến xã hội, và mở rộng giáo dục. Ngoài ra Batlle bãi bỏ án tử hình, cho phép phụ nữ để tiến hành thủ tục ly dị, tăng cường các quyền của trẻ em sinh ra ngoài giá thú, và giảm các ảnh hưởng chính trị của Giáo hội Công giáo La Mã, phản ánh xu hướng phát triển theo hướng tự do hóa xã hội và thế tục tại Uruguay.
Batlle đã có hai nhiệm kỳ (1903-1907 và 1911-1915), trong đó để bắt đầu chính sách của ông, nhưng ông nhận ra rằng chương trình của mình có thể bị đảo ngược bởi một tổng thống trong tương lai hoặc độc tài, ông đã thúc đẩy một cuộc cải cách hiến pháp để kết thúc nhiệm kỳ tổng thống và thay thế bằng một số nhiều điều hành, các colegiado. kế hoạch táo bạo của Batlle chia Colorados và hồi sinh Blanco phe đối lập, và năm 1916 các colegiado bị đánh bại trong cuộc bầu cử đầu tiên của nước bằng cách bỏ phiếu kín. Batlle giữ lại một số lượng đáng kể uy tín và hỗ trợ, tuy nhiên, trong đó cho phép ông ta tấn công một thỏa hiệp là một phần giải cứu các colegiado, do đó, trong hiến pháp ban hành vào năm 1918, trách nhiệm điều hành được phân chia giữa tổng thống và một Hội đồng Hành chính Quốc gia.
Một chính quyền đồng thuận nổi lên với các chính sách đã được thận trọng hơn so với sáng tạo, ngoại trừ trong pháp luật về xã hội. mức sống cao hơn được hỗ trợ bởi một nền kinh tế nông trại đó đã ngừng phát triển, một tiến thoái lưỡng nan ẩn do giá xuất khẩu cao của cuối thập niên 1920. Năm 1930, Uruguay được chọn là nơi tổ chức đầu tiên của bóng đá World Cup. Mặc dù quy mô của giải nhỏ hơn rất nhiều so với các cuộc thi của ngày hôm nay, sự kiện cung cấp niềm tự hào quốc gia khi đội chủ nhà đã giành giải đấu trên nước láng giềng Argentina.
Trong cuối thập niên 1950, một phần vì làm giảm nhu cầu tại các thị trường thế giới cho các sản phẩm nông nghiệp, Uruguay đã bắt đầu gặp phải vấn đề kinh tế, bao gồm lạm phát, thất nghiệp hàng loạt, và dốc thả một trong mức sống cho người lao động Uruguay. Điều này dẫn đến tình trạng bất ổn quân sự cho sinh viên và lao động.
Năm 1950 cũng chứng kiến Uruguay giành chiến thắng thứ hai World Cup, đánh bại Brazil 2-1 trong trận chung kết của cuộc thi để có vị trí trong nhóm vô địch, một sự kiện được gọi là Maracanazo. Một phong trào du kích đô thị được gọi là Tupamaros hình thành trong đầu những năm 1960, lần đầu tiên tham gia vào các hoạt động phản đối Robin Hood loại, như cướp ngân hàng và phân phối tiền cho người nghèo, và cố gắng đối thoại chính trị. Theo chính quyền cấm hoạt động chính trị của họ và cảnh sát trở nên ngột ngạt, các Tupamaros đã lên công khai đấu tranh vũ trang, tham gia vào cuộc xung đột trực tiếp với cảnh sát và bắt cóc các quan chức tham nhũng và nhận thức kẻ thù. [11] Hoa Kỳ Văn phòng An Toàn Công Cộng (OPS) đã bắt đầu hoạt động tại Uruguay vào năm 1965. Văn phòng Mỹ An Toàn Công Cộng cảnh sát Uruguay đào tạo và thông minh trong lập chính sách và kỹ thuật interrogration.
Tổng thống Jorge Pacheco tuyên bố tình trạng khẩn cấp vào năm 1968, tiếp theo là tiếp tục đình chỉ quyền tự do dân sự vào năm 1972 bởi người kế nhiệm ông, Tổng thống Juan María Bordaberry, người mang trong quân đội để chống lại các du kích MLN, do Raúl Sendic. Sau khi đánh bại các Tupamaros, việc thu giữ quyền lực quân sự năm 1973. Một nhà nước quân luật được hiệu quả sử dụng để tiêu diệt các MLN (Phong trào giải phóng quốc gia). Thủ trưởng MLN đã bị cô lập trong nhà tù. Bordaberry cuối cùng đã được gỡ bỏ từ chủ tịch phụ trách "của mình" trong năm 1976. Ông là thành công đầu tiên của Alberto Demicheli. Sau đó một hội đồng quốc gia được lựa chọn bởi chính phủ quân sự được bầu Aparicio Méndez.
Năm 1980, lực lượng quân đội đề xuất một sự thay đổi trong hiến pháp sẽ được thông qua với một trưng cầu dân ý. Các "Không" cho những cải cách hiến pháp đã giành được bỏ phiếu với 57,2% số phiếu, hiển thị các unpopularity của chính phủ trên thực tế, mà sau này được tăng tốc bởi một cuộc khủng hoảng kinh tế. Năm 1981, Tổng Gregorio Álvarez nắm chức tổng thống.
Năm 1984, cuộc biểu tình lớn chống lại quyền quân sự nổ ra. Sau một cuộc tổng đình công 24 giờ, cuộc đàm phán đã bắt đầu và lực lượng vũ trang công bố một kế hoạch quay trở lại quy luật dân sự. cuộc bầu cử quốc gia đã được tổ chức vào năm 1984; Colorado Đảng lãnh đạo Julio María Sanguinetti thắng cử tổng thống và, sau khi tạm ngắn gọn của Tổng thống Rafael Addiego Bruno, phục vụ 1985-1990. Các Sanguinetti đầu tiên chính quyền triển khai thực hiện cải cách kinh tế và dân chủ hợp nhất các năm tiếp theo của đất nước dưới sự cai trị quân sự. Tuy nhiên, Sanguinetti không bao giờ ủng hộ những tuyên bố nhân quyền, và chính phủ của ông đã không truy tố các phiến quân, khủng bố, các nhà lãnh đạo quân sự hoặc những người đã bị buộc tội giết người và tra tấn. Thay vào đó, ông chọn cho một lựa chọn hòa bình hơn, ký kết một hiệp ước ân xá gọi là tiếng Tây Ban Nha "Ley de Amnistia".
=== Kỉ nguyên hiện đại ===
Sanguinetti cải cách kinh tế, tập trung vào việc thu hút thương mại và vốn nước ngoài, đạt được một số thành công và ổn định nền kinh tế. Để thúc đẩy hòa giải dân tộc và tạo điều kiện cho sự trở lại của luật dân sự dân chủ, bảo đảm Sanguinetti phê duyệt công cộng bằng phổ thông đầu phiếu của một cuộc đại xá gây tranh cãi cho các nhà lãnh đạo quân sự bị cáo buộc vi phạm nhân quyền dưới chế độ quân sự và tăng tốc việc phát hành các cựu du kích.
Đảng Quốc gia của Luis Alberto Lacalle thắng cuộc bầu cử tổng thống năm 1989 và phục vụ 1990-1995. Tổng thống Lacalle thực hiện kết cấu chính và cải cách kinh tế theo đuổi tự do hóa hơn nữa các chế độ thương mại, bao gồm bao gồm nội dung của Uruguay trong Khối thị trường chung Nam Mỹ(MERCOSUR) trong năm 1991. Mặc dù tăng trưởng kinh tế trong nhiệm kỳ của Lacalle, điều chỉnh và nỗ lực tư nhân kích động chống đối chính trị, và một số cải cách đã được đảo ngược bằng cách trưng cầu dân ý.
Trong cuộc bầu cử năm 1994, cựu Tổng thống Sanguinetti giành một thuật ngữ mới, mà chạy từ năm 1995 đến tháng 3 năm 2000. Vì không có đảng duy nhất có đa số tại Đại hội, Đảng Quốc gia đã tham gia với Sanguinetti của Đảng Colorado trong một chính phủ liên minh. Chính phủ tiếp tục cải cách kinh tế Sanguinetti của Uruguay và hội nhập MERCOSUR. cải cách quan trọng khác là nhằm cải thiện hệ thống bầu cử, an sinh xã hội, giáo dục, và an toàn công cộng. Nền kinh tế tăng trưởng ổn định cho hầu hết các kỳ hạn của Sanguinetti cho đến khi giá cả hàng hóa thấp và khó khăn kinh tế tại các thị trường xuất khẩu chính của nó gây ra một cuộc suy thoái vào năm 1999, trong đó có tiếp tục vào năm 2002. Các cuộc bầu cử quốc gia năm 1999 đã được tổ chức theo một hệ thống bầu cử mới được thành lập theo một sửa đổi hiến pháp năm 1996. Bầu cử sơ bộ trong tháng tư đã quyết định ứng cử viên tổng thống duy nhất cho mỗi bên, và cuộc bầu cử quốc gia ngày 31 tháng 10 xác định đại diện trong cơ quan lập pháp. Vì không có ứng cử viên tổng thống đã nhận được một đa số trong cuộc bầu cử tháng mười, một dòng chảy đã được tổ chức trong tháng mười một. Trong dòng chảy này, ứng cử viên Đảng Colorado Jorge Batlle, hỗ trợ bởi sự hỗ trợ của Đảng Quốc gia, đánh bại Mặt trận Rộng ứng cử viên Tabare Vázquez.
Các Colorado và Quốc gia thành viên liên minh tiếp tục lập pháp của họ, không bên nào giành tự như nhiều chỗ ngồi là 40% của mỗi nhà giành chiến thắng liên minh Mặt trận rộng. Các liên minh chính thức kết thúc vào tháng 11 năm 2002, khi Bộ trưởng Blancos rút khỏi nội các, mặc dù Blancos tiếp tục hỗ trợ trên hầu hết các vấn đề Colorados.
Các năm nhiệm kỳ của Batlle được đánh dấu bởi tình trạng suy thoái kinh tế và sự không chắc chắn, đầu tiên với sự mất giá năm 1999 của Brazil thực sự, sau đó với các dịch lở mồm long móng (aftosa) trong thịt bò khu vực trọng điểm của Uruguay vào năm 2001, và cuối cùng với các chính trị và kinh tế sụp đổ của Argentina. Thất nghiệp tăng lên gần hai mươi phần trăm, tiền lương thực giảm, đồng peso đã mất giá và tỷ lệ đói nghèo của Uruguay đạt gần bốn mươi phần trăm. Những điều kiện kinh tế xấu đi góp phần vào chuyển ý kiến công chúng đối với thị trường tự do đã thông qua chính sách kinh tế của chính quyền và người tiền nhiệm của nó Batlle, dẫn đến từ chối phổ biến thông qua các đề xuất để tư nhân hoá của công ty dầu khí nhà nước trong năm 2003 và của công ty nhà nước trong nước năm 2004.
Năm 2004 Uruguayans được bầu làm tổng thống Tabaré Vázquez, trong khi cho Mặt trận Rộng (liên minh của chủ nghĩa xã hội, cộng sản, Tupamaros, cựu cộng sản và dân chủ xã hội) một đa số tại cả hai viện của Quốc hội. Chính phủ mới được bầu, trong khi cam kết tiếp tục thanh toán nợ nước ngoài của Uruguay, cũng đã hứa sẽ thực hiện một vụ tai nạn công ăn việc làm chương trình để tấn công những vấn đề phổ biến rộng rãi của nghèo đói và thất nghiệp. Trong thời chính quyền cựu Tổng thống Vazquez Juan Maria Bordaberry và Tổng Gregorio Alzarez sẽ được tống giam đối với vi phạm nhân quyền cam kết trong thập niên 1970 '. Điều tra bắt đầu sau khi xuất bản cuốn sách "Los Años Oscuros 1967-1987" của Northamerican sử Scott Myers.
Trong năm 2009 Mặt trận Rộng dành cho cuộc bầu cử lần thứ hai. Còn lại liên minh duy trì phần lớn trong cả hai ngôi nhà của Nghị viện và José Mujica nổi lên làm Tổng thống mới của Uruguay. Được gọi là "El Pepe", (sinh ngày 20 tháng năm 1935) Mujica là một chính trị gia Uruguay và cựu du kích chiến đấu, một thành viên của Mặt trận Rộng (liên minh cánh tả) và Tổng thống Uruguay hiện hành. Ông đã sống khắc khổ trên một trang trại ở ngoại ô Montevideo, thủ đô của đất nước. Mujica đã được Bộ trưởng Bộ Chăn nuôi, Nông nghiệp, Thủy sản và 2005-2008 và một Thượng nghị sĩ sau đó. Ông đã giành được cuộc bầu cử tổng thống và nhậm chức làm Tổng thống vào ngày 01 tháng 3 năm 2010.
== Địa lý ==
Lãnh thổ của Uruguay bao gồm 176.220 km 2 diện tích đất liền và 142.999 km 2 diện tích sông, biển, và các đảo có thẩm quyền tài phán. Uruguay là nước độc lập có diện tích nhỏ thứ hai ở Nam Mỹ sau Suriname. Địa hình chủ yếu là đồng bằng, đồi thấp. Điểm cao nhất ở trong nước là Cerro Catedral cao 514 m trong phạm vi đồi Sierra Carapé.
== Khí hậu ==
Khí hậu của Uruguay là khí hậu ôn đới có đủ bốn mùa: xuân, hạ, thu, đông. Nó nhận không khí địa cực vào mùa đông, không khí nhiệt đới từ Brasil vào mùa hè. Do vậy, nếu không có núi che chở như một rào cản thì thời tiết dễ bị thay đổi đột ngột.
== Tỉnh thành ==
Uruguay bao gồm 19 tỉnh. Các tỉnh đầu tiên được thành lập từ năm 1816 và gần đây nhất Flores được thành lập vào năm 1885.
== Kinh tế ==
Uruguay là nền kinh tế chủ yếu dựa vào thương mại, đặc biệt là xuất khẩu nông sản, khiến cho trong nước dễ bị biến động giá cả hàng hóa.
Chăn nuôi bò, cừu trở thành ngành kinh tế chủ yếu thúc đẩy phát triển các ngành công nghiệp chế biến để xuất khẩu (len, hàng dệt, thịt và ngành da thú). Ngành trồng trọt gồm có: ngũ cốc, mía, cây ăn quả.
Kinh tế gặp nhiều khó khăn do nợ nước ngoài chồng chất. Là nước thành viên của tổ chức Mercosur, Uruguay bị lấn át bởi hai nước láng giềng khổng lồ Brasil và Argentina. Thâm hụt cán cân mậu dịch gia tăng.
Mặc dù nông nghiệp chỉ chiếm 9% GDP, nhưng nông phẩm chiếm hơn 50% hàng xuất khẩu. Uruguay đứng đầu Mỹ Latinh và thứ 6 thế giới về xuất khẩu lúa gạo. Công nghiệp chủ yếu là chế biến nông sản (thịt, sản phẩm da thuộc, len…). Từ giữa thập kỷ 80 của thế kỷ 20, Uruguay theo mô hình kinh tế tự do mới, giảm được lạm phát và thâm hụt ngân sách, cân đối xuất nhập khẩu. Uruguay là một trong những nước có điều kiện và chính sách lao động tự do nhất ở châu Mỹ.
Từ năm 1999, kinh tế Uruguay suy thoái, một nguyên nhân lớn là do tác động của việc phá giá tiền tệ của Brasil làm giảm sức cạnh tranh của hàng hoá Uruguay và ảnh hưởng của khủng hoảng kinh tế Argentina. Tháng 6 năm 2002, chính phủ quyết định thả nổi đồng pê xô, đồng đô la Mỹ tăng giá 60% so với nội tệ, giúp cho hàng hoá xuất khẩu của Uruguay tăng sức cạnh tranh nhưng cũng gây ra đổ vỡ tín dụng, khủng hoảng hệ thống ngân hàng, làm giảm sức mua của người tiêu dùng và tăng lạm phát từ 4% (2001) lên tới 26% (2002).
Uruguay có môi trường đầu tư tốt, hệ thống pháp lý mạnh và thị trường tài chính mở cửa. Chiến lược của chính phủ hiện nay là kích thích tăng trưởng dựa trên việc đẩy mạnh xuất khẩu sang các nước bạn hàng truyền thống trong khối Mercosur, EU và Bắc Mỹ. Với châu Á, Uruguay có quan hệ thương mại với Nhật Bản, Trung Quốc, Hàn Quốc, Singapore, Malaysia và Indonesia... Uruguay xuất hàng truyền thống như thịt bò, lúa gạo, len, cá, da thuộc và đồ da; nhập khẩu máy móc, hoá chất, nhiên liệu, hàng tiêu dùng, quần áo...
Tính đến năm 2016, GDP của Uruguay đạt 54.374 USD, đứng thứ 79 thế giới và đứng thứ 14 khu vực Mỹ Latin.
=== Nông nghiệp ===
Nông nghiệp đóng vai trò quan trọng trong nền kinh tế của Uruguay. Hiện nay, nông nghiệp đóng góp 11% GDP của Uruguay và là nguồn thu ngoại hối chính, đưa Uruguay lên ngang tầm các nước có số lượng nông sản xuất khẩu khác như Brasil, Argentina, New Zealand.
== Chính trị ==
Uruguay là một nền cộng hòa dân chủ. Tổng thống giữ cả hai vai trò đứng đầu nhà nước và chính phủ. Tổng thống giữ quyền hành pháp. Quốc hội, gồm thượng viện và hạ viện giữ quyền lập pháp. Bộ tư pháp nắm quyền tư pháp.
Đảng Colorado và các bên khác đã đấu tranh giành quyền lực trong suốt phần lớn lịch sử Uruguay. Tuy nhiên, vào cuộc bầu cử năm 2004, một mặt trận rộng đã được thành lập gồm liên minh của Tupamaros, cộng sản, Đảng Dân chủ Thiên chúa giáo trong số những người được bầu vào quốc hội. Tabare Vazquez được bầu làm Tổng thống.
Hiến pháp đầu tiên của Uruguay được thông qua vào năm 1830, sau Hiệp ước Montevideo theo đó thành lập nhà nước Uruguay.
Uruguay là nước đứng thứ 25 trong Chỉ số nhận thức tham nhũng.
Hiến pháp Uruguay cho phép sử dụng trưng cầu dân ý để thay đổi luật pháp và hiến pháp.
== Giao thông vận tải ==
=== Đường bộ ===
Đường quốc lộ kết nối Montevideo và các thành phố lớn khác trong nước. Đường cao tốc chính dẫn tới những vùng biên giới. Những con đường nhỏ khác không được trải nhựa nối các trang trại và thị trấn nhỏ. Đường sá phát triển mạnh sau khi Khối thị trường chung Nam Mỹ được thành lập vào những năm 1990. Hầu hết hàng hóa vận chuyển trong nước được chuyên chở bằng đường bộ chứ không phải đường sắt.
=== Đường sắt ===
Mạng lưới đường sắt hầu hết đều đã cũ (mua của Anh từ Chiến tranh thế giới thứ nhất) trừ một đường nhỏ chạy từ Montevideo đi San José de Mayo, qua các thành phố Las Piedras và Canelones.
=== Đường thủy ===
Cảng biển chủ yếu ở Montevideo, Tàu thuyền di chuyển trong nội địa có các kích thước khác nhau, một dịch vụ tàu cánh ngầm kết nối Buenos Aires với Montevideo và Colonia del Sacramento qua Rio de Plata.
=== Hàng không ===
Một sân bay quốc tế nằm gần khu nghỉ mát bãi biển Carrasco một khoảng 21 km từ trung tâm thành phố Montevideo. Các hãng hàng không thuộc sở hữu của chính phủ, Primeras Líneas Uruguayas de Navegación Aérea (PLUNA), liên kết các điểm đến Montevideo với một số sân bay quốc tế.
== Tôn giáo ==
Uruguay không có tôn giáo chính thức của nhà nước, nhà thờ và nhà nước được chính thức tách ra, và tự do tôn giáo được đảm bảo. Một cuộc khảo sát năm 2008 của Viện Nacional de Estadística của Uruguay cho thấy Công giáo Rôma là tôn giáo chính, với 45,7% dân số tin theo, 9,0% là Kitô hữu khác ngoài Công giáo, 0,6% là Thuyết duy linh hoặc Umbandists (một tôn giáo bản địa), và 0,4% là người Do Thái giáo, 30,1% cho biết họ có tin tưởng vào một vị thần, nhưng không thuộc tôn giáo nào, trong khi 14% là người vô thần hoặc bất khả tri.
Giới quan sát chính trị xem Uruguay quốc gia thế tục nhất ở châu Mỹ. Uruguay thế tục hóa bắt đầu với vai trò tương đối nhỏ của nhà thờ trong thời kỳ thuộc địa, so với các bộ phận khác của đế quốc Tây Ban Nha. Sau khi độc lập, ý tưởng chống đối ảnh hưởng của tôn giáo đối với chính quyền lan rộng tới Uruguay, đặc biệt là từ Pháp, tiếp tục làm xói mòn ảnh hưởng của nhà thờ đối với chính phủ. Năm 1837, hôn nhân dân sự đã được công nhận và năm 1861 nhà nước tiếp quản các hoạt động của các nghĩa trang nhân dân vốn do nhà thờ đảm trách. Trong năm 1907, ly hôn đã được hợp pháp hóa và năm 1909, tất cả các chương trình giáo dục giảng dạy tôn giáo đã bị cấm tại tất cả các trường công lập nhà nước. Dưới ảnh hưởng của các cải cách tự do, do nhà lãnh đạo Colorado José Batlle y Ordóñez (1903-1911) đề xướng, một bản Hiến pháp mới đã được ban hành năm 1997 đã tách hoàn toàn ảnh hưởng của nhà thờ đối với nhà nước.
Theo khảo sát chính thức gần đây nhất khoảng 58,1% dân số Uruguay xác định mình là Kitô giáo (47% Công giáo La Mã, Tin Lành 11,1%), và khoảng 40,89% dân số không xưng tôn giáo (23,2% "tin vào Thiên Chúa nhưng không có tôn giáo", 17,2% là người vô thần), 0,6% là tín đồ của các tôn giáo châu Phi khác, 0,5% là người Do Thái giáo, và 0,4% theo tôn giáo khác.
Có khoảng 2,3 triệu người Công giáo Rôma trong cả nước. Có 9 giáo phận trực thuộc tổng giáo phận Montevideo; Chủ tịch Hội đồng Giám mục Uruguay hiện nay lag Tổng giám mục Nicolas Cotugno Fanizzi, người được bổ nhiệm vào tháng 12 năm 1998. Các vị thánh bảo trợ của Uruguay là Maria, hiện được tôn kính tại Vương cung thánh đường Nhà thờ Florida.
Hồi giáo ở Uruguay ước tính có từ 300 đến 400 người, đại diện cho 0,01 phần trăm dân số. Có hai trung tâm Hồi giáo, tại Montevideo.
Hiện nay, có từ 20.000-25.000 người Do Thái giáo sống ở Uruguay, với 95% cư trú tại Montevideo. Có một cộng đồng nhỏ ở Paysandú. Khoảng 75% trong số đó là nhánh Do Thái giáo Ashkenazi và 11% thuộc nhánh Sephardi. Đến năm 2003, có 20 giáo đường Do Thái, nhưng chỉ có sáu trong số đó tổ chức các buổi lễ Shabbat hàng tuần.
Đức tin Bahá'í được truyền bá đến Uruguay bởi Abdu'l-Baha, một trong những người đứng đầu tôn giáo này trong năm 1916. Hội đồng tin thần Bahá'í địa phương đầu tiên tại Montevideo được bầu vào năm 1942. Năm 1961, Hội đồng tinh thần Bahá'í Uruguay được thiết lập và tới năm 1963 đã có ba Hội đồng tinh thần Bahá'í địa phương. Năm 2001 có khoảng 4.000 tín đồ Baha'is tại Uruguay và đến năm 2005, đã tăng lên 7.300 người.
== Externi liên kết ==
Chính phủ Uruguay Portal
== Tham khảo == |
kim yuna.txt | Kim Yu-Na (Hangul: 김연아, Hanja: 金姸兒); sinh ngày 5 tháng 9 năm 1990 tại Bucheon, Gyeonggi-do, là một vận động viên trượt băng nghệ thuật người Hàn Quốc.
Cô là nhà vô địch đơn nữ tại Olympic mùa đông năm 2010, vô địch thế giới năm 2009, vô địch giải bốn châu lục năm 2009, ba lần giành vô địch Grand Prix Final (2006–2007, 2007–2008, 2009–2010), vô địch giải trẻ thế giới năm 2006, vô địch Junior Grand Prix Final (2005–2006), và bốn lần giành chức vô địch giải quốc gia Hàn Quốc (2002–2005).
Kim là vận động viên trượt băng nghệ thuật đầu tiên của Hàn Quốc có huy chương tại một sự kiện Trẻ của ISU hay Senior Grand Prix, Giải vô địch ISU, hay Olympic. Cô là một trong những vận động viên và nhân vật truyền thông được đánh giá cao nhất tại Hàn Quốc.
Tới thời điểm tháng 3 năm 2010, Kim được Liên đoàn Trượt băng Quốc tế (ISU) xếp hạng nhất thế giới. Cô cũng đang giữ kỷ lục nữ môn short program, free skating và tổng cộng theo Hệ thống Xếp hạng ISU. Cô là vận động viên trượt băng nghệ thuật nữ đầu tiên vượt qua 200 điểm theo Hệ thống Xếp hạng ISU.
Năm 2009 và 2010 cô được tạp chí Forbes bình chọn là Người nổi tiếng ảnh hưởng nhất Hàn Quốc. Năm 2011 và 2012 cô lọt top 5 và năm 2013 cô lọt top 10. Kim Yuna được xem là vận động viên trượt băng xuất sắc nhất Hàn Quốc mọi thời đại và một trong những nữ vận động viên trượt băng hàng đầu thế giới.
== Tiểu sử ==
Kim sinh ra tại Bucheon, Gyeonggi-do, và chuyển tới Gunpo năm lên sáu tuổi. Tháng 3 năm 2007, cô sang Toronto, Ontario, Canada để tập luyện với Brian Orser. Năm 2009, Kim được ghi danh vào Đại học Hàn Quốc như một sinh viên đặc cách, dù vẫn đang tiếp tục tập luyện tại Canada.
Cách đánh vần chuẩn tên cô là Kim Yeon-A. Tuy nhiên, khi xin cấp hộ chiếu, cô định viết tên mình là Yun-a, nhưng người nhân viên thực hiện đã viết nhầm tên cô là Yu-na. Theo các ký tự Hangeul, Yu-na được đánh vần đúng là "유나" chứ không phải là "연아."
== Sự nghiệp ==
=== Khởi đầu ===
Kim bắt đầu trượt băng từ năm lên 7. Huấn luyện viên của cô ở thời điểm đó, Ryu Jong-Hyeon, rất ấn tượng với tài năng của Kim, đề nghị mẹ cô nên để cô tiếp tục tập luyện, dự đoán rằng Kim sẽ trở thành một vận động viên trượt băng nghệ thuật tầm cỡ quốc tế trong tương lai.
Năm 2002, cô lần đầu tiên tham gia tranh tài trên đấu trường quốc tế tại Triglav Trophy, nơi cô giành huy chương vàng giải dành cho những người mới bắt đầu. Một năm sau, ở tuổi 12, cô giành danh hiệu chuyên nghiệp tại Giải vô địch trượt băng nghệ thuật Hàn Quốc, trở thành vận động viên trẻ tuổi nhất đạt danh hiệu này. Cô giành chiến thắng trong lần thứ hai tham gia thi tài quốc tế tại Golden Bear of Zagreb, một giải cũng cho những người mới khởi đầu. Cô tiếp tục là vận động viên vô địch Hàn Quốc năm 2004.
=== Sự nghiệp trẻ ===
==== Mùa 2004–2005 ====
Mùa giải 2004–2005, với tư cách một vận động viên trẻ, Kim tham gia tranh tài tại ISU Junior Grand Prix, một giải trẻ phụ của ISU Grand Prix of Figure Skating. Cô giành huy chương bạc ở Trung Quốc và huy chương vàng tại Hungary. Cô giành một huy chương bạc tại 2005 Junior Grand Prix Final với tổng số điểm 137.75 points, 30.80 điểm kém hơn người đoạt huy chương vàng Asada Mao.
Cô vẫn giữa được danh hiệu Vô địch quốc gia trong năm thứ ba liên tiếp trước khi tham gia Giải vô địch trượt băng nghệ thuật trẻ thế giới năm 2005. Tại cuộc thi này, cô một lần nữa giành huy chương bạc, với 158.93 điểm, 20.31 điểm kém hơn người về nhất là Mao Asada.
==== Mùa 2005–2006 ====
Mùa giải năm 2005–2006, Kim không đủ tuổi để tham gia thi tài tại Thế vận hội mùa đông năm 2006, thậm chí khi Hàn Quốc được trao chỗ tại cuộc thi chung kết 2005 Karl Schäfer Memorial.
Thay vào đó, cô tham gia thi đấu tại 2005–2006 Junior Grand Prix và giành chiến thắng trong cả hai lần ở Bulgaria và Slovakia. Tại 2006 Junior Grand Prix Final, cô giành chiến thắng với 28.34 hơn người đoạt huy chương bạc Aki Sawada. Trong bài thi tự do, cô thực hiện bảy lần nhảy xoay ba vòng, gồm cả một cú nhảy kết hợp "nhảy bay ba vòng - triple toe loop" và một cú nhảy kết hợp "double axel - triple toe loop".
Kim giành giải vô địch quốc gia thứ tư liên tiếp. Tại Giải vô địch trượt băng nghệ thuật trẻ quốc tế năm 2006, cô một lần nữa đối đầu với Mao Asada và giành huy chương vàng với tổng số 177.54 điểm, với khoảng cách sít sao 24.19 điểm với Asada.
=== Chuyên nghiệp ===
==== Mùa 2006–2007 ====
Để chuẩn bị cho sự khởi đầu chuyên nghiệp trong mùa giải 2006–2007, Kim tập thường xuyên tại Toronto Cricket, Skating and Curling Club ở Toronto, Canada trong mùa hè năm 2006. Cô luyện tập dưới sự chỉ đạo của huần luyện viên Brian Orser và biên đạo múa David Wilson.
Kim khởi đầu sự nghiệp chuyên nghiệp tại 2006 Skate Canada nơi cô giành một huy chương đồng sau khi đã được xếp hạng nhất nội dung short program và hạng tư nội dung tự do với tổng số điểm 168.48. Cô giành 2006 Trophée Eric Bompard với số điểm 184.54, 10.10 điểm nhiều hơn người giành huy chương bạc Ando Miki. Những kết quả này giúp Kim lần đầu tiên được tham dự Grand Prix Final. Tại 2006 Grand Prix Final ở St. Petersburg, Nga, Kim được xếp hạng ba nội dung short program với 65.06 điểm và hạng nhất nội dung long program với 119.14 điểm. Cô giành chiến thắng tại Grand Prix Final với 184.20 điểm, hơn 11.68 điểm so với người giành huy chương bạc là Mao Asada.
Kim buộc phải rút lui vì chấn thương tại Giải vô địch Hàn Quốc năm 2006–2007 và không thể bảo vệ ngôi vô địch. Tháng 1 năm 2007, Kim được chẩn đoán đang ở giai đoạn đầu của chứng thoát vị đĩa đệm lưng (L4~L5).
Kim được lựa chọn để thi tài tại Giải vô địch trượt băng nghệ thuật thế giới năm 2007 với những màn trình diễn của cô trong mùa giải. Vì việc lựa chọn Choi Ji Eun một năm trước đó, Hàn Quốc chỉ có một chỗ tại Giải vô địch thế giới. Trong thời gian Giải vô địch thế giới tại Tokyo, Nhật Bản, Kim giành chiến thắng nội dung với 71.95 điểm, lập kỷ lục điểm nội dung short program cao nhất từ khi có Hệ thống Xếp hạng ISU, và vì thế cũng là một kỷ lục thế giới. Cô xếp hạng tư ở nội dung long program với 114.19 điểm, và kết thúc cuộc thi ở vị trí thứ ba với 186.14 điểm sau Ando Miki và Asada Mao của Nhật. Vị trí của Kim giúp Hàn Quốc có được hai xuất nữ tham gia Giải vô địch trượt băng nghệ thuật thế giới năm 2008. Kim là vận động viên trượt băng nghệ thuật nữ duy nhất với kĩ thuật triple-triple combination của mình được các trọng tài công nhận trong cả nội dung short và tự do mùa giải 2006-2007 season.
Tháng 3 năm 2007, Brian Orser trở thành huấn luyện viên riêng của cô. Hài lòng với môi trường huấn luyện tại Toronto, Kim quyết định tập luyện thường xuyên tại đây. Sau đó đội huấn luyện viên của cô bao gồm Brian Orser, Astrid Shrubb, David Wilson và Tracy Wilson.
==== Mùa 2007–2008 ====
Kim khởi đầu mùa giải 2007–2008 với chiến thắng tại "2007 Cup of China" với tổng số điểm 180.68, 24.34 điểm nhiều hơn người giành huy chương bạc Caroline Zhang. Tại "2007 Cup of Russia", Kim giành chiến thắng ở cả nội dung short program với 63.50 điểm và tự do với 133.70 điểm, để về nhất tổng thể với 197.20 điểm, 24.43 điểm hơn người về nhì là Yukari Nakano, lập một kỷ lục thế giới về số điểm nội dung tự do theo Hệ thống Xếp hạng ISU. Cô đã thực hiện một triple flip-triple toe loop combination, một triple loop, một triple lutz-double toe loop combination, một double axel-triple toe loop combination, một triple lutz, một triple salchow và double axel.
Cô đạt đủ điểm để được tham gia vào "2007–2008 Grand Prix of Figure Skating Final" tại Torino, Italia. Cô giành chiến thắng nội dung short program với 64.62 điểm và xếp hạng nhì nội dung tự do với 132.21 điểm. Với tổng số điểm 196.83, Kim lần thứ hai giành chức vô địch Grand Prix Final.
Cô không tham gia 'Giải vô địch Quốc gia Hàn Quốc năm 2007–2008" và rút lui khỏi "Giải vô địch bốn lục địa năm 2008" một tuần trước khi sự kiện này diễn ra vì chấn thương. Với tình trạng đau lưng dai dẳng, cô tham gia thi đấu tại Giải vô địch trượt băng nghệ thuật thế giới năm 2008. Cô được xếp hạng năm nội dung short program với 59.85 điểm, nhưng đạt điểm cao ở nội dung tự do với 123.38 điểm. Cô tổng cộng giành được 183.23 điểm, và lần thứ hai liên tiếp đoạt Huy chương đồng tại "Giải vô địch Thế giới".
==== Mùa 2008–2009 ====
Kim được cử tham gia 2008 Skate America và 2008 Cup of China Grand Prix trong mùa giải 2008–2009 ISU Grand Prix.
Tại 2008 Skate America, Kim đứng đầu nội dung short program với số điểm 69.50, với cách biệt 11.70 điểm so với người thứ hai dù đã mắc một lỗi ở động tác double axel. Cô giành danh hiệu vô địch nữ với thắng lợi ở nội dung tự do với điểm số 123.95. Tổng cộng cô giành 193.45 điểm, nhiều hơn 20 điểm so với người đoạt huy chương bạc là Nakano Yukari người Nhật.
Cô tiếp tục thành công tại 2008 Cup of China, với 63.64 điểm ở nội dung short program và 128.11 điểm nội dung tự do, đứng đầu ở cả hai nội dung. Tổng số điểm của cô là 191.75 cao hơn gần 21 điểm so với người đoạt huy chương bạc là Miki Ando người Nhật. Màn trình diễn của cô giúp Kim có được suất tham gia 2008–2009 Grand Prix Final.
Tại 2008–2009 Grand Prix Final, được tổ chức ở Goyang, Hàn Quốc, cô được xếp đầu ở nội dung short program với 65.94 điểm và thứ hai ở nội dung tự do với 120.41 điểm. Với tổng số 186.35 điểm, cô đứng thứ hai kém hơn 2.20 điểm so với Asada Mao của Nhật.
Kim tham gia thi đấu tại Giải vô địch trượt băng nghệ thuật bốn châu lục năm 2009. Cô lập một kỉ lục thế giới mới với 72.24 điểm ở nội dung short program trong cuộc thi với một màn trình diễn hoàn hảo. Cô giành 116.83 điểm ở nội dung tự do, dẫn đầu với tổng số 189.07 điểm và giành huy chương vàng.
Tại Giải vô địch trượt băng nghệ thuật thế giới năm 2009, cô lại ập một kỉ lục thế giới mới với 76.12 điểm tại nội dung short program, vượt qua kỉ lục trước đó của mình bốn điểm. Cô đã thực hiện một triple flip-triple toe loop combination, một triple lutz và một double axel. Cô cũng chiến thắng ở nội dung tự do, ghi được 131.59 điểm và cho thấy một khả năng trình diễn tuyệt hảo với tài năng và khả năng thẩm âm của mình. Và đã lập một kỉ lục thế giới mới với tổng số 207.71 điểm và lần đầu tiên giành danh hiệu Vô địch Thế giới và trở thành vận động viên trượt băng nghệ thuật nữ đầu tiên vượt quá 200 điểm tính theo Hệ thống Xếp hạng ISU. Khoảng cách điểm với người đứng thứ hai, Joannie Rochette, là 16.42. Cô là vận động viên duy nhất giành được tám điểm ở cả nội dung short program và tự do tại cuộc thi. Kim là vận động viên nữ duy nhất có triple-triple combination được các trọng tài công nhận tại cả nội dung short program và tự do trong mùa giải 2008–2009.
==== Mùa 2009–2010 ====
Kim tham gia 2009 Trophée Eric Bompard và 2009 Skate America trong mùa giải 2009–2010 ISU Grand Prix.
Tại Trophée Eric Bompard năm 2009, cô đứng đầu nội dung short program với số điểm 76.08, 16.44 cao hơn Yukari Nakano. Cô thực hiện thành công một triple lutz-triple toe loop combination, tiếp đó là một triple flip và một double axel. Mở màn với một triple lutz-triple toe loop combination và thể hiện trình độ nghệ thuật hoàn hảo, và cô giành số điểm nội dung tự do là 133.95. Cô cũng thực hiện một double axel-double toe loop-double loop, một double axel-triple toe loop, một triple salchow, một triple lutz và một double axel. Cô giành chiến thắng giải này với 210.03 điểm, 36.04 cao hơn người giành huy chương bạc là Mao Asada. Kim lập các kỉ lục thế giới về số điểm nội dung tự do và tổng điểm theo Hệ thống Xếp hạng ISU tại giải này.
Tại Skate America năm 2009, Kim một lần nữa xếp hạng nhất nội dung short program với số điểm 76.28, 17.48 điểm hơn người đứng sau là Rachael Flatt. Cô được nhận +2.20 cấp độ trình diễn cho lutz jump-triple toe loop combination của mình, số điểm cao nhất từng có cho những cú nhảy trong nội dung trượt băng nghệ thuật nữ của ISU. Cô xếp thứ hai ở nội dung tự do với 111.70 điểm vì các lỗi trong các cú nhảy. Dù đó là một trong những điểm số thấp nhất của cô, cô vẫn chiến thắng giải với 187.98 điểm, đánh bại người đoạt huy chương bạc là Rachael Flatt với 13.07 điểm. Tại giải đấu, cô một lần nữa lập một kỷ lục thế giới mới ở nội dung short program theo Hệ thống Xếp hạng ISU.
Các chiến thắng của cô tại cả hai Grand Prix khiến cô được tham gia 2009–2010 Grand Prix Final ở Tokyo, Nhật Bản, tháng 12 năm 2009. Tại giải này, cô đứng hạng hai nội dung short program với 65.64 điểm, 0.56 điểm sau Miki Ando. Ngày hôm sau cô chiến thắng ở nội dung tự do với 123.22 điểm. Nhờ thế, Kim lần thứ ba giành danh hiệu vô địch Grand Prix Final với tổng số 188.86 điểm.
==== Olympic mùa đông năm 2010 ====
Kim tham gia nội dung đơn nữ tại Olympic mùa đông năm 2010, được tổ chức tại Vancouver, British Columbia, Canada.
Trong phần trình diễn nội dung short program ngày 23 tháng 2, cô đã thực hiện một triple lutz-triple toe loop combination, một triple flip và một double axel. Điểm kỹ thuật của cô đạt 44.70, cao nhất tại giải. Cô cũng nhận được những điểm rất cao về nội dung, với 33.80 điểm cho nghệ thuật trình diễn của mình. Vì thế Kim ghi được 78.50 điểm, dẫn đầu với 4.72 điểm vượt hơn Mao Asada của Nhật Bản và ghi được điểm số cao nhất của mình ở nội dung short program. Cô lập một kỷ lục thế giới mới.
Ngày 25 tháng 2 cô giành chiến thắng nội dung tự do với 150.06 điểm, 18.34 nhiều hơn Asada, người về thứ hai ở nội dung này. Kim đã thực hiện một triple lutz-triple toe loop combination, một triple flip, một double axel-double toe loop-double loop combination, một double axel-triple toe loop combination, một triple salchow, một triple lutz và một double axel. Cộng với vẻ duyên dáng và khả năng thể hiện âm nhạc của mình, cả điểm kỹ thuật và điểm trình diễn của cô, 78.30 và 71.76 đều là cao nhất trong đêm đó. Cô là người duy nhất đạt được các điểm 9 cho program components. Cô lập một kỷ lục thế giới mới ở nội dung tự do theo Hệ thống Xếp hạng ISU. Tổng cộng, Kim ghi được 228.56 điểm, vượt qua kỷ lục tốt nhất trước đó của mình và cũng là kỷ lục thế giới cũ 18 điểm. Cô giành huy chương vàng và trở thành vận động viên trượt băng nghệ thuật đầu tiên của Hàn Quốc đạt huy chương ở Olympic.
==== Mùa 2013–2014 ====
Kim dự giải 2013 Golden Spin of Zagreb tại Zagreb, Kroatia từ 5–8 tháng 12 năm 2013. Cô đứng đầu short program với điểm 73.37 và cũng thắng luôn free program với 131.12 điểm, mặc dù đã té khi nhảy triple lutz. Cô đoạt được huy chương vàng với 204.02 điểm, hơn Miki Ando của Nhật Bản 27.67 điểm.
Vào tháng hai 2014, Kim thi tại giải đơn nữ ở thế vân hội mùa Đông 2014, chỉ đoạt được huy chương bạc, mặc dù đã dẫn đầu ở short program. Kim sau đó nói, như nhiều người đã tiên đoán trước, là sẽ không tiếp tục thi đấu nữa. Không chỉ những người ái mộ cô không đồng ý với kết quả này. Katherina Witt, người 2 lần đoạt giải này tại thế vân hội 1984 và 1988 cho Đông Đức, và 4 lần vô địch thế giới, bình luận gia cho đài truyền hình ARD Đức, rất khó chịu, nói kết quả này làm cho môn thể thao này mang tiếng. Cùng ý kiến này có cả vô địch năm 1996 Todd Eldredge, Kurt Browning 4 lần vô địch thế giới, cũng như các báo chí quốc tế như tờ báo thể thao Pháp "L'Équipe", hay Ý "Corriere dello Sport".,
== Các kĩ thuật trượt băng ==
Kim lần đầu tiên thực hiện nhảy xoay ba vòng năm 10 tuổi, lên 12 tuổi cô đã thực hiện được năm cú nhảy xoay ba vòng trong bài trình diễn của mình. Năm 14 tuổi, cô lần đầu tiên thực hiện cú nhảy kết hợp triple-triple tại Giải vô địch trẻ thế giới năm 2005.
Kim đã thực hiện ba cú nhảy kết hợp triple-triple khác nhau trong các giải đấu: một triple lutz-triple toe loop, một triple flip-triple toe loop, và một triple toe loop-triple toe loop. Cô cũng có thể thực hiện một cú nhảy kết hợp triple lutz-double toe loop-double loop. Cô đã nhận được +2.20 mức thực hiện cho các cú nhảy, và cũng nhận được mức thực hiện +2.00 cho spiral sequence của mình, và cho các cú xoay của cô.
Một trong những cách di chuyển đặc trưng của Kim là bent-leg layover camel spin, thường được gọi là "vòng xoay Yu-Na". Một đặc trưng khác là layback ina bauer mà cô dẫn trực tiếp vào một cú nhảy double axel, tới một cú nhảy kết hợp double axel-triple toe loop hay tới một cú nhảy kết hợp double axel-double toe loop-double loop.
Kim nổi tiếng vì kỹ thuật hoàn hảo, các cú nhảy cao, di chuyển trên khoảng cách rộng, tốc độ, trình độ nghệ thuật, phong cách âm nhạc, sự duyên dáng, và khả năng thẩm âm, và với những cú nhảy xa vì tốc độ bật cao của cô.
== Người của công chúng ==
Các nhà tài trợ chính thức của Kim là Nike, Kookmin Bank, Samsung và Hyundai Motor Company.
Âm nhạc trượt băng và các bản nhạc ưa thích khác của cô đã được sưu tập trong album Yuna Kim ~ Fairy On ICE ~ Skating Music (Universal Music Korea, 2008). Cô là ngôi sao biểu diễn của Festa On Ice năm 2008 và 2009, nơi xuất hiện của những vận động viên trượt băng nghệ thuật hàng đầu thế giới. IB Sports, cơ quan thông tấn của Kim, sản xuất màn trình diễn trên băng. IB Sports sản xuất một màn trình diễn trên băng khác, Ice All Stars 2009, diễn ra tại Seoul ngày 14–16 tháng 8 năm 2009. Michelle Kwan, thần tượng của Kim, cũng tham gia sự kiện.
Kim cũng được chỉ định làm thiện chí cho Năm Du lịch Hàn Quốc 2010–2012.
Kim đã xuất hiện trên nhiều chương trình thương mại ở Hàn Quốc. Cô đã ký một số hợp đồng thương mại và cũng hát trên một số chương trình TV đặc biệt. Việc cô tham gia quảng cáo cho máy tính cảm ứng Haptic technology mới của Samsung, được gọi là Yuna's Haptic (SPH-W7700), bắt đầu ở Hàn Quốc ngày 24 tháng 5 năm 2009. Trong lĩnh vực thương mại, cô đóng vai trò là một ca sĩ nhạc rock, một thiếu nữ tuổi teen, và một tác giả giới thiệu nhiều tính năng của chiếc điện thoại. Samsung Electronics đã bán hơn một triệu chiếc điện thoại trong thời gian kỉ lục là bảy tháng.
== Các bài trình diễn ==
== Các điểm nhấn sự nghiệp ==
=== Các kết quả thi đấu chuyên nghiệp ===
=== Các giải trẻ ===
N = Mới tham gia
J = Trẻ
== Chi tiết kết quả ==
=== Chuyên nghiệp ===
SP = Short program; FS = Free skating
Các kỷ lục cá nhân in đậm
=== Trẻ ===
QR = Vòng xếp hạng; SP = Short program; FS = Free skating
== Tham khảo ==
== Liên kết ngoài ==
ISU.org
Trang web chính thức của cô
Blog cá nhân của Kim Yu Na
Trang của những người hâm mộ cô
Official website (tiếng Hàn) (tiếng Anh)
Kim Yu-Na's profile on NBC
Kim Yu-Na's profile on CTV |
Subsets and Splits
No community queries yet
The top public SQL queries from the community will appear here once available.