filename
stringlengths
4
100
text
stringlengths
0
254k
độ bền kéo.txt
Độ bền kéo là đặc tính chịu được lực kéo đứt vật liệu. Đơn vị tính thông thường là Kg/cm², hay N/mm². == Mô tả == Độ bền kéo có thể được hiểu như là khi một lực tác động tăng dần đến khi vật liệu dạng sợi hay trụ bị đứt. Ở giá trị lực kéo giới hạn cho sự đứt của vật liệu được ghi lại được ký hiệu σk. Độ bền kéo được ứng dụng rất nhiều cho các vật liệu trong các lĩnh vực như thiết kế chế tạo máy, xây dựng, khoa học vật liệu. Công thức tính toán ứng suất kéo: σ = F A {\displaystyle \sigma ={\frac {F}{A}}} Trong đó F(N) là lực kéo đứt vật liệu có thiết diện A(mm2) == Tham khảo ==
công nghiệp.txt
Công nghiệp, là một bộ phận của nền kinh tế, là lĩnh vực sản xuất hàng hóa vật chất mà sản phẩm được "chế tạo, chế biến" cho nhu cầu tiêu dùng hoặc phục vụ hoạt động kinh doanh tiếp theo. Đây là hoạt động kinh tế, sản xuất quy mô lớn, được sự hỗ trợ thúc đẩy mạnh mẽ của các tiến bộ về công nghệ, khoa học và kỹ thuật. == Công nghiệp theo nghĩa là một ngành kinh tế == Một nghĩa rất phổ thông khác của công nghiệp là "hoạt động kinh tế quy mô lớn, sản phẩm (có thể là phi vật thể) tạo ra trở thành hàng hóa". Theo nghĩa này, những hoạt động kinh tế chuyên sâu khi đạt được một quy mô nhất định sẽ trở thành một ngành công nghiệp, ngành kinh tế như: công nghiệp phần mềm máy tính, công nghiệp điện ảnh, công nghiệp giải trí, công nghiệp thời trang, công nghiệp báo chí, v.v.. == Lịch sử == Công nghiệp, theo nghĩa là ngành sản xuất hàng hóa vật chất, trở thành đầu tàu của nền kinh tế ở Châu Âu và Bắc Mỹ trong Cách mạng công nghiệp. Nó đã thay đổi trật tự nền kinh tế phong kiến và buôn bán qua hàng loạt các tiến bộ công nghệ liên tiếp, khẩn trương như phát minh động cơ hơi nước, máy dệt và các thành tựu trong sản xuất thép và than quy mô lớn. Các quốc gia công nghiệp khi đó tiến hành chính sách kinh tế tư bản. Đường sắt và tàu thủy hơi nước nhanh chóng vươn tới những thị trường xa xôi trên thế giới, cho phép các công ty tư bản phát triển lên quy mô và sự giàu có chưa từng thấy. Hoạt động chế tạo, chế biến trở thành lĩnh vực tạo ra của cải cho nền kinh tế. Sau Cách mạng công nghiệp, một phần ba sản lượng kinh tế toàn cầu là từ các ngành công nghiệp chế tạo – vượt qua giá trị của hoạt động nông nghiệp. Những ngành công nghiệp đầu tiên khởi nguồn từ chế tạo những hàng hóa có lợi nhuận cao như vũ khí, vải vóc, đồ gốm sứ. Tại Châu Âu thời Trung cổ, sản xuất bị chi phối bởi các phường thợ ở các thành phố, thị trấn. Các phường hội này củng cố quyền lợi hội viên, duy trì chất lượng sản phẩm và lối cư xử có đạo lý. Từ những năm 60 của TK XVIII, Cách mạng công nghiệp diễn ra đầu tiên ở Anh sau lan ra các nước khác như Pháp, Đức mang đến sự phát triển những nhà máy có quy mô sản xuất lớn và những thay đổi xã hội tiếp theo. Ban đầu, các nhà máy sử dụng năng lượng hơi nước rồi chuyển sang sử dụng năng lượng điện khi lưới điện hình thành. Các nhà phát minh Ở Anh: - Năm 1764 James Hargreaves sáng chế ra máy kéo sợi và lấy tên máy là tên con gái ông Jenny - Năm 1769 Richard Arkwright phát minh máy kéo sợi chạy bằng sức nước - Năm 1785, Edmund Cartwright chế tạo máy dệt đầu tiên - Năm 1784, James Watt cải tiến động cơ hơi nước Sản xuất dây chuyền cơ khí hóa xuất hiện để lắp ráp sản phẩm, mỗi công nhân chỉ thực hiện những công việc nhất định trong quá trình sản xuất. Sản xuất dây chuyền mang lại hiệu quả sản xuất nhảy vọt, giảm chi phí sản xuất. Sau này, tự động hóa dần thay thế thao tác của con người. Quá trình này được gia tốc hơn nữa nhờ có sự phát triển của máy tính và người máy. Về mặt lịch sử, một số ngành sản xuất dần đi xuống bởi nhiều yếu tố kinh tế, bao gồm việc phát triển những công nghệ thay thế hay việc mất đi lợi thế cạnh tranh. Ví dụ, sự giảm dần tính quan trọng của ngành chế tạo toa xe đường sắt bởi ô tô trở nên thịnh hành. == Phân loại == Bởi hoạt động công nghiệp là vô cùng đa dạng, có rất nhiều cách phân loại công nghiệp, như: Theo mức độ thâm dụng vốn và tập trung lao động: Công nghiệp nặng và công nghiệp nhẹ Theo sản phẩm và ngành nghề: công nghiệp dầu khí, công nghiệp ô tô, công nghiệp dệt, công nghiệp năng lượng, v.v.. Theo phân cấp quản lý: công nghiệp địa phương, công nghiệp trung ương. Ở một số quốc gia như Việt Nam và Nhật Bản, công nghiệp bao gồm: Khai thác khoáng sản, than, đá và dầu khí Chế biến, chế tạo (kể cả chế biến thực phẩm, gỗ) Sản xuất và phân phối điện, khí đốt và nước. May mặc, đồ dụng gia đình Chế biến, sản xuất các chất hóa chất cần thiết Hệ thống phân loại hoạt động kinh tế của Anh và Hoa Kỳ không có mục công nghiệp riêng. Thay vào đó, cách phân loại dựa vào hoạt động kinh tế. Cũng theo cách sắp xếp các ngành kinh tế, công nghiệp là thành phần chủ yếu của khu vực thứ hai của nền kinh tế. Việc xếp chung công nghiệp chế biến với xây dựng, lắp đặt vào khu vực thứ hai này là do đặc thù hoạt động khá giống nhau và khó xác định ranh giới giữa chúng. == Chuẩn phân loại các ngành công nghiệp toàn cầu (GICS) == GICS là viết tắt của "(tiếng Anh) Global Industry Classification Standard" được phát triển bởi tổ chức Morgan Stanley Capital International (MSCI) và Standard & Poor's vào năm 1999. GICS được đưa ra nhằm thiết lập một tiêu chuẩn chung cho việc phân loại các công ty vào các ngành và nhóm ngành có liên quan với nhau. Các tiêu chí xây dựng chuẩn GICS Tính toàn cầu (Universal) Độ chính xác (Accurate) Mức độ linh hoạt (Flexible) Khả năng phát triển (Elvolving) Hiện nay, GICS bao gồm 10 nhóm ngành chính (sectors), 24 nhóm ngành (industry groups), 67 ngành (industries) và 147 ngành phụ trợ (sub-industries). 10 nhóm ngành chính của GICS Năng lượng (Energy): bao gồm các công ty thăm dò, khai thác, chế biến, vận tải,... nhiên liệu, chất đốt; sản phẩm là dầu khí, than đá,... và các phụ phẩm, chế phẩm của chúng. Nguyên vật liệu (Meterials): đây là một nhóm ngành rộng bao gồm các công ty hoá chất, vật liệu xây dựng, kính, giấy, lâm sản; các công ty khai mỏ và luyện kim; các công ty sản xuất các sản phẩm bao bì đóng gói (gồm cả bao bì giấy, kim loại, thuỷ tinh). Công nghiệp (Industrials): gồm các công ty chế tạo các loại máy móc công nghiệp, thiết bị điện; công nghiệp quốc phòng, xây dựng, giao thông vận tải cùng các dịch vụ liên quan. Hàng tiêu dùng không thiết yếu (Consumer Discretionary) gồm những nhóm hàng tiêu dùng nhạy cảm với chu kì của nền kinh tế như: xe hơi, hàng gia dụng lâu bền (đồ điện tử gia dụng), hàng may mặc và các thiết bị giải trí, giáo dục. Nhóm dịch vụ bao gồm khách sạn, nhà hàng, trung tâm giải trí, truyền thông. Hàng tiêu dùng thiết yếu (Consumer Staples) bao gồm các công ty sản xuất và phân phối lương thực, thực phẩm, nước giải khát, thuốc lá và các sản phẩm gia dụng không lâu bền, các vật dụng cá nhân. Nó cũng bao gồm các siêu thị, trung tâm bán lẻ thực phẩm và thuốc. Chăm sóc sức khoẻ (Health Care): bao gồm các công ty cung cấp các dịch vụ, thiết bị chăm sóc sức khoẻ và các công ty nghiên cứu, phát triển sản xuất dược phẩm và các sản phẩm công nghệ sinh học. Tài chính (Financials) gồm các ngân hàng, công ty bảo hiểm, các quỹ đầu tư tài chính và bất động sản, các công ty cung cấp các dịch vụ tài chính khác. Công nghệ thông tin (Information Technology) bao gồm các công ty nghiên cứu và sản xuất phần mềm cùng các dịch vụ liên quan và các công ty sản xuất các thiết bị công nghệ phần cứng cùng các công ty sản xuất chất bán dẫn và thiết bị bán dẫn. Dịch vụ viễn thông (Telecommunications Services) gồm các công ty cung cấp các dịch vụ viễn thông như: dịch vụ viễn thông cố định, không dây, truy cập dữ liệu băng thông rộng... Dịch vụ điện-nước (Utilities) gồm các công ty sản xuất và phân phối điện năng, các công ty quản lý hệ thống nước, khí gas sinh hoạt. == Một số ngành công nghiệp == Công nghiệp văn hóa Công nghiệp sáng tạo Công nghiệp khai thác khoáng sản Công nghiệp năng lượng Công nghiệp luyện kim Công nghiệp cơ khí Công nghiệp hóa chất Công nghiệp sản xuất hàng tiêu dùng Công nghiệp thực phẩm Công nghiệp điện tử-tin học Công nghiệp chế tạo xe Công nghiệp dệt may Công nghiệp đóng tàu Công nghiệp sản xuất vật liệu xây dựng Công nghiêp quốc phòng == Công nghiệp ảnh hưởng môi trường == Công nghiệp là ngành ảnh hưởng môi trường nhiều nhất trong tất cả các ngành còn lại: hiệu ứng nhà kính, Trái Đất ấm dần. Đặc biệt là ngành công nghiệp nặng. == Xem thêm == Ngành kinh tế Khu vực chế tạo Nông nghiệp Dịch vụ == Ghi chú ==
che guevara.txt
Ernesto Guevara de la Serna (1928-1967), thường được biết đến với tên Che Guevara, El Che hay đơn giản là Che, là một nhà cách mạng Mác-xít nổi tiếng người Argentina. Ông là một lý thuyết gia quân sự, nhà lãnh đạo phong trào cách mạng Cuba cùng đội quân du kích. Bức ảnh khuôn mặt ông đã trở thành một biểu tượng văn hóa phản kháng tượng trưng cho sự nổi dậy và một biểu hiệu toàn cầu trong văn hóa phổ thông. == Tuổi thơ và truyền thống gia đình == Che Guevara sinh ngày 14 tháng 6 năm 1928 tại Rosario, Argentina trong một gia đình truyền thống. Cha ông là Ernesto Guevara Lynch, mẹ là Celia dela Serna một phụ nữ cấp tiến. Ông nội ông là Roberto - người sáng lập nên Hội Nông thôn Argentina, một tổ chức quyền lực của những đại địa chủ. Còn ông ngoại ông Juan Martin là nhà hoạt động chính trị rất tích cực trong những ngày đầu thành lập Liên đoàn Công dân Cấp tiến (UCR). Đây chính là đảng phái chính trị đầu tiên ở Argentina đã giành được sự ủng hộ rộng rãi của dân chúng khi ra đời, trong thời điểm diễn ra cuộc Cách mạng năm 1890. Che còn có một cụ tổ là người đã từng đi tìm vàng ở California, miền tây nước Mỹ. Gia đình ông sống tại thị trấn Caraguatay, tỉnh Misiones, vùng đông bắc Argentina, sau chuyển tới San Isidro, một quận lị ngoại ô thủ đô Buenos Aires, rồi tới ngụ cư tại một thị trấn vùng đồi là thuộc tỉnh Cordoba là Altor Gracia. Năm 2 tuổi, Che bị viêm phổi nặng, làm khởi phát căn bệnh khác, mà như mẹ Che nói, là một yếu tố rất quan trọng cấu thành nên ý chí sắt đá của ông, là hen suyễn. Khi còn nhỏ, Che rất thích xem phim và đọc truyện phiêu lưu của Jack London, Jules Verne. == Tuổi trẻ == Khi học xong trung học tại trường Dean Funes, Che theo học ngành y tại Đại học Buenos Aires và chọn bệnh suyễn ông mắc phải làm chuyên ngành nghiên cứu. === Chuyến đi khởi đầu === Ngày 1 tháng 1 năm 1950, Che Guevara bắt đầu cuộc hành trình đầu tiên của mình với dự định kết hợp vui chơi và công việc, bằng chiếc xe đạp Micron có gắn động cơ. Khởi đầu chuyến đi hướng về phía tây, băng qua khu đồng bằng Pampas ở phía bắc. Cuộc hành trình có chiều dài lên tới 4.500 km. Ông đã sống và giúp việc trong khu người mắc bệnh phong Chanar một thời gian và làm việc trong đội xây dựng xa lộ quốc gia, rồi đội thuyền buôn của Argentina. Tháng 10 năm 1951, ông hội ngộ với một người bạn thân là Alberto Granado tại Córdoba. Che đề nghị hai người cùng thực hiện chuyến đi Bắc Mỹ và Alberto đã đồng ý. === Hành trình xuyên châu Mỹ Latinh === Ngày 29 tháng 12 năm 1951, hai người lên đường, bắt đầu hành trình đến các nước Mỹ Latinh khác bằng chiếc xe mô-tô La Poderosa II 500 phân khối của Alberto. Họ đã qua hầu hết các nước trong vùng. Hai tháng sau ngày khởi hành, họ tới Chile, tại đây chiếc xe máy bị hỏng và họ phải bỏ lại nó giữa chừng. Bằng nhiều cách khác nhau hai người vẫn tiếp tục đi hết Chile, tới Bolivia và Peru. Tại Peru, hai người đã tới thăm khu người mắc bệnh phong Sanpablo. Sau đó họ lại xuôi theo dòng sông Amazon đến Colombia và Venezuela trên chiếc bè có tên là Mambo Tanga. Tại Venuzuela hai người chia tay nhau, Alberto ở lại, nhận việc chăm sóc bệnh nhân phong còn Che quay trở lại Argentina để hoàn tất chương trình học đại học. Trong Nhật ký du hành của mình, Che đã cho thấy sự thay đổi trong con người ông là rất lớn. Cuộc hành trình đã hình thành trong ông lòng thương cảm những con người nghèo khổ và tinh thần chống đế quốc mãnh liệt. === Tiếp tục lên đường === Hoàn thành chương trình học không mấy khó khăn, ngày 16 tháng 6 năm 1953 tốt nghiệp bác sĩ, anh lại tiếp tục cuộc hành trình trở lại châu Mỹ Latinh cùng với Carlos Calica Ferre, một người bạn thân từ nhỏ ở Córdoba. Chuyến đi bắt đầu ngày 7 tháng 7 năm 1953, hai người đi xe lửa tới Bolivia, họ tới thủ đô Lapaz vào ngày 24 cùng tháng. Lúc này tình hình chính trị ở quốc gia này rất căng thẳng. Vài tháng sau, hai người lại đi chu du khắp Peru, Ecuador, rồi Costa Rica, sau đó ở lại Guatemala trong khoảng 9 tháng. Tại đây, Che đã gặp Hilda Gadea, một phụ nữ Peru lưu vong, người sau này đã trở thành vợ. Cô đã giới thiệu hai người với những người Cuba trong phong trào 26 tháng 7, đang sống lưu vong tại đây, trong số đó có Nico Lopez, người mà về sau đã đặt cho anh biệt danh Che. Sau một thời gian làm việc tại bệnh viện, anh lại lên đường dến México, tại đây, anh đã được giới thiệu với Fidel Castro Ruz (tháng 7 năm 1955) và không lâu sau lần gặp gỡ đó, anh đã tự nguyện tham gia vào nhóm viễn chinh của những người Cuba. == Chiến đấu == Tháng 4 năm 1956, anh bắt đầu được huấn luyện quân sự cùng với những người Cuba khác và được đánh giá là một trong những học viên xuất sắc nhất. Hai tháng sau, ngày 24 tháng 6, Che và Fidel cùng những người Cuba lưu vong khác đã bị chính quyền Mexico bắt giữ và giam tại nhà tù Miguel Schultz. Ngày 31 tháng 7 họ ra tù và lại tiếp tục khóa huấn luyện. Ngày 25 tháng 11 năm 1956 cùng với 82 người khác vượt biển trở về Cuba trên con tàu Granma (là từ viết tắt của Grandmother — bà) với tư cách là một thành viên trong Tổng tham mưu của quân du kích. Ngày 2 tháng 12 họ đã bí mật đổ bộ lên hòn đảo Cuba. === Chiến tranh du kích === Sau khi đổ bộ vào đảo quốc Cuba, quân du kích đã sử dụng nghệ thuật chiến tranh du kích, phát động nhiều cuộc chiến như: trận Algeria del Pio (21 thành viên bị tử trận) chiếm giữ được trại La Plata, trận Arroyo del Infierno, El Uvero... Nhờ sử dụng chiến tranh du kích nên chỉ với lực lượng ít nhưng họ vẫn giành nhiều chiến thắng quan trọng như vào tháng 6 năm 1958, 320 quân cách mạng đã phải chống lại 1 vạn quân chính quy của chế độ Batista. Cuộc chiến kết thúc, chính quyền vẫn không tiêu diệt được quân cách mạng mà còn bị tổn thất 1.000 quân và 400 quân khác thì bị quân cách mạng bắt làm tù binh. Ngày 21 tháng 7 năm 1957, Che được Fidel Castro thăng hàm Thiếu tá trước cả Raul Castro và Juan Almeida và giao trách nhiệm thành lập Đội quân số 4 của quân nổi dậy. Chỉ một tháng sau đó, Che đã lãnh đạo quân của mình chiến thắng tại trận El Hombrito (ngày 30 tháng 8). === Trận đánh quyết định === Tháng 8 năm 1958 Che Guevara và Camilo Cienfuesgos lãnh đạo các đội quân của mình bắt đầu phát động "cuộc xâm chiếm" từ phía tây đảo quốc. Họ đã hành quân chặng đường 554 km trong 47 ngày với quân dụng nghèo nàn, chủ yếu là đi bộ. Theo một hiệp ước sau đó, giữa các lực lượng, Che thống nhất chỉ huy các nhóm quân chống chế độ Batista. Quân nổi dậy bắt đầu tấn công vào Santa Clara, trung tâm kinh tế, đầu mối giao thông quan trọng. Ngày 31 tháng 8 năm 1958 quân nổi dậy chiếm được Santa Clara làm cho chế độ Batista nhanh chóng đi vào chỗ diệt vong. Batista phải chạy trốn ra nước ngoài, bắt đầu cuộc sống lưu vong. Ngày 4 tháng 1 năm 1959 Che cùng với những chỉ huy quân nổi dậy khác tiến vào La La Habana trên vị thế của những người chiến thắng. == Tham gia chính quyền == Sau những đóng góp vĩ đại của mình cho đảo quốc này, Che được trao quyền công dân Cuba. Chính quyền mới của quân cách mạng được thành lập, Che là một trong bộ ba lãnh đạo gồm (Che, Fidel Castro và Raul Castro) của đất nước này. Ngày 8 tháng 10 năm 1959 Che được bổ nhiệm giữ chức Trưởng ban Nông nghiệp của Viện Cải cách ruộng đất quốc gia. Với cương vị này, Che đã ra quyết định tịch thu toàn bộ ruộng đất tư hữu. Ngày 26 tháng 11 được bổ nhiệm giữ chức Chủ tịch Ngân hàng quốc gia. Tuy nhiên, có vẻ đây không phải là một vị trí thích hợp với ông, bởi Che rất coi thường đồng tiền, và ông thể hiện điều này bằng cách ký trên các tờ tiền mới chỉ với bí danh của mình. Tháng 4 năm 1960 Che kiêm nhiệm thêm chức chỉ huy Ban huấn luyện lực lượng vũ trang cách mạng. Tháng 2 năm 1961 được bầu làm Bộ trưởng Bộ Công nghiệp, Che đã ra quyết định đặt hàng trăm công ty quốc doanh dưới quyền kiểm soát của Trung ương. Với nhiệm vụ này, ông thường xuyên đi khắp thế giới trên cương vị là một đại sứ Cuba. Thời gian này xảy ra nhiều sự kiện ảnh hưởng tới Cuba như sự kiện Vịnh Con Lợn, Hoa Kỳ cấm vận, khủng hoảng tên lửa, khủng hoảng ngoại giao... Qua cuộc khủng hoảng tên lửa Guevara càng tin tưởng là hai siêu cường thế giới (Hoa Kỳ và Liên Xô) đã coi Cuba như là nơi mặc cả trong chiến lược toàn cầu của họ, ông tin rằng hành động xuống thang của Liên Xô cho thấy nước này không sẵn lòng mạo hiểm để trợ giúp cho cách mạng các nước Mỹ Latinh. Sau đó ông lên án Liên Xô hầu như thường trực như ông đã làm đối với Hoa Kỳ. Bài diễn văn phát biểu của ông tại Algeria ngày 25 tháng 2 năm 1965 chỉ trích Xô Viết đã không giúp đỡ đủ tích cực cho cuộc đấu tranh giải phóng nhân dân bị áp bức trên thế giới. == Tiếp tục chiến đấu == Đảm đương cương vị Chủ tịch Ngân hàng Nhà nước và Bộ trưởng Công nghiệp trong chính phủ cách mạng Cuba, Che luôn kêu gọi xây dựng xã hội mới, nơi con người mới biết sống vì mọi người, vì chủ nghĩa quốc tế. Tháng 3 năm 1963, mặc dù bị bệnh hen hành hạ từ nhỏ, Che quyết định từ nhiệm mọi cương vị kể cả quyền công dân Cuba để lên đường thực hiện mong muốn tiếp tục được cống hiến cho sự nghiệp tranh đấu giành tự do của các dân tộc bị áp bức. Ông từ biệt vợ con để lên đường tiếp tục cuộc cách mạng giải phóng Mỹ Latinh, để "Tạo ra một, hai, ba và rất nhiều Việt Nam" - như lời ông nói- vào thời khắc cuộc chiến tranh chống Mỹ ở Việt Nam bước sang giai đoạn quyết liệt. Quyết định ra đi được đưa ra vào đúng lúc con đường công danh đang rộng mở đối với Che khiến dư luận không khỏi hồ nghi có những khuất tất. Đã không ít ý kiến cho rằng: đằng sau sự ra đi đó có sự ép buộc khiên cưỡng của 2 anh em nhà Castro... Tuy nhiên, trong bức thư gửi Chủ tịch Fidel mà sau được chính Fidel đọc trong buổi lễ thành lập Đảng Cộng sản Cuba, Che đã nói rõ việc ông thôi giữ cương vị lãnh đạo là hoàn toàn tự nguyện, thể theo tiếng gọi của trái tim yêu tự do, khao khát hòa bình và cống hiến cho sự nghiệp cách mạng, sự nghiệp giải phóng loài người khỏi áp bức và bất công. Thư viết: Tôi cảm thấy đã hoàn thành phần nghĩa vụ của mình liên quan đến cách mạng Cuba trên lãnh thổ Cuba và tôi xin từ biệt anh, từ biệt các đồng chí, từ biệt nhân dân của anh, mà cũng đã trở thành của tôi. Tôi chính thức từ bỏ mọi chức vụ trong ban lãnh đạo đảng, chức bộ trưởng, cấp bậc tư lệnh, tư cách là người Cuba... Những miền đất khác trên thế giới đang đòi hỏi sức lực khiêm tốn của tôi... Tôi để lại một đất nước đã chấp nhận tôi như một người con... Trên những chiến trường khác tôi sẽ mang theo niềm tin mà anh đã vun đắp cho tôi, mang theo tinh thần cách mạng của nhân dân tôi, mang theo ý chí thực hiện nghĩa vụ quan trọng nhất: chiến đấu chống lại chủ nghĩa đế quốc ở bất kỳ nơi nào... Dù đến bất cứ đâu, tôi cũng sẽ cảm nhận trách nhiệm của một người cách mạng Cuba và sẽ hành động như vậy... Hẹn đến ngày toàn thắng. Tổ quốc hay là chết!" Đầu tháng 4 năm 1963, Che cùng một số người khác rời Cuba đi Congo. Tại đây, sau những dự định không thành, họ đã rút đi (tháng 11 năm 1965). Tháng 3 năm 1966 Che đến Praha (Tiệp Khắc), rồi bí mật trở về Cuba (tháng 7 năm 1966) lên kế hoạch cho chiến dịch Bolivia. Đầu tháng 10 năm 1967, Che và một số chiến hữu dùng thông hành giả để đến La Paz (thủ đô của Bolivia). Từ La Paz họ bí mật vào rừng thành lập một nhóm du kích quân, với mục đích tạo nên một hạt nhân đấu tranh thí điểm nhằm giải phóng cả châu Mỹ Latinh. Sau 11 tháng chiến dịch - từng chi tiết hoạt động được Che ghi lại trong nhật ký mà sau này được phổ biến rộng rãi với tên "Nhật ký của Che Guevara tại Bolivia" - dần dần tổ chức của ông bị bại lộ và cuối cùng thất bại. Với chiến thuật phục kích tổ chức của Che đã giành thắng lợi một số trận nhỏ. Nhưng do có phần tử nội phản, căn cứ và hoạt động của tổ chức bị phát hiện. Tránh sự truy quét của kẻ địch, tổ chức quyết định chuyển căn cứ. Tổ chức của ông bị cô lập. Mọi người bị thiếu lương thực trầm trọng và bệnh tật. Chính ông bị cơn suyển là căn bệnh cố hữu hành hạ mỗi lúc một nguy ngập vì thiếu thuốc men. Cả nhóm phải giết ngựa, lừa là phương tiện tải quân trong rừng, để ăn. Các đồng chí thân cận bên ông dần dần bị tử trận. Cuối cùng, ông bị bắt ngày 7 tháng 10 năm 1967 trong tình trạng bị thương ở chân, sau một cuộc giao tranh trong lúc ông và các chiến hữu đang tìm đường thoát ra khỏi rừng ở vùng Quebrada del Yuro. Ông thậm chí không thể tự sát: khẩu carbine của ông đã bị một loạt đạn pháo bắn nát. Ông bị giam giữ suốt đêm tại ngôi trường trong làng. Trong tình trạng tuyệt vọng, Che vẫn giữ vững niềm tin về tính đúng đắn của sự nghiệp mà ông theo đuổi. == Bị Tình báo Hoa Kỳ hành quyết == Ông bị hành quyết sau đó theo chỉ thị của CIA. Theo Felix Rodriguez, một trong các điệp viên CIA ở Bolivia đã phát hiện căn cứ của quân du kích và ra mệnh lệnh tử hình các chiến sĩ cách mạng, thì Che Guevara, lúc đó đã bị thương và áo quần rách nát. Lời nói cuối cùng của ông với Mario Teran, người thực hiện lệnh xử bắn là: "Cứ bắn đi, đồ hèn, cùng lắm chúng mày chỉ giết được 1 con người thôi" Để làm cho các vết thương do đạn có vẻ khớp với câu chuyện chính thức công bố, Felix Rodriguez đã lệnh cho người xạ thủ ngắm bắn cẩn thận để các vết thương này trông giống như thể Che đã bị giết trong một cuộc chạm súng với quân đội Bolivia, và như vậy sẽ giúp che giấu vụ ám sát bí mật. Sau đó họ còn chặt đi một bàn tay của Che. Sau vụ hành hình, hình ảnh ông nằm bất động, đôi mắt vẫn mở to - còn ám ảnh tâm trí hàng triệu người. Trong buổi lễ tưởng niệm ở Rosario, quê hương nơi ông ra đời, linh mục Hernán Benítez đã nói: "Hai phần ba nhân loại bị áp bức bị chấn động vì cái chết của Che. Một phần ba còn lại thuộc về Che hoàn toàn. Che đã đón nhận cái chết với tất cả đặc trưng của những anh hùng thần thoại, những người sống mãi trong lương tâm nhân loại..." Bàn tay này sau đó được gửi cho lãnh đạo Cuba Fidel Castro nhằm uy hiếp ông. Một nhân viên CIA còn cắt một lọn tóc và lấy đi một số kỉ vật của ông (cuối năm 2007, lọn tóc được bán đấu giá hơn 100 ngàn USD, trong khi lọn tóc của cố Tổng thống Mỹ Abraham Lincoln trước đây chỉ đấu giá được 25.000 USD) Chính quyền Barrientos chôn giấu xác ông, và mãi đến ba mươi năm sau, vào ngày 17 tháng 10 năm 1997, hài cốt ông cùng bảy người khác tại một ngôi mộ tập thể không được đánh dấu mới được khai quật và tìm thấy, mang về Cuba và mai táng tại Santa Clara, nơi ông đã lập chiến công lớn ở đó, quyết định sự thành công của Cách mạng Cuba. Nguyên nhân dẫn đến sự thất bại của chiến dịch Bolivia chính bởi: Tổ chức của Che chưa được nhân dân Bolivia lúc đó tin tưởng ủng hộ; chính quyền Cuba hậu thuẫn triệt để; chưa thực sự liên kết được các cuộc đấu tranh Lực lượng yếu, trang bị thô sơ, chưa có chiến lược và sách lược đúng đắn phù hợp, trong khi kẻ thù mạnh - lớn Thời cơ chưa chín muồi để cách mạng diễn ra rộng khắp và thành công. Mặc dù thất bại, tên tuổi và ảnh hưởng của Che mỗi ngày một lan rộng khắp châu Mỹ Latinh và cả thế giới. Ông đã trở thành một biểu tượng của sự đấu tranh, của tình nhân ái xả kỷ chống lại áp bức và nghèo đói để đem lại sự công bằng cho mọi người. Có người ví ông như Đông Kihôtê (Don Kyjote) chiến đầu vì người bị áp bức. Trong tài liệu được giải mật gần đây gửỉ Tổng thống Mỹ lúc bấy giờ là Lyndon B. Johnson, cố vấn cao cấp Walt Rostow đã gọi quyết định giết hại Che là "ngu xuẩn". Nhiều nhà nghiên cứu khác cũng thừa nhận sai lầm lớn của Mỹ là đã cho lưu hành bức hình Che Guevara sau khi ông bị giết, nó khiến cho người ta liên tưởng "hình ảnh Chúa Giêsu chịu nạn" vì đức tin của mình. Học giả phương Tây - Ariel Dorfman đã viết: “Đối với những con người không bao giờ theo bước Che, bị chìm đắm trong thế giới đầy hoài nghi yếm thế, sự tự tư tự lợi và nền công nghiệp tiêu thụ điên cuồng này, còn có gì hấp dẫn hơn thái độ khinh bạc của Che đối với những tiện nghi vật chất và những ham muôn tấm thường. Có thể nói rằng, đó là phẩm chất riêng biệt độc đáo của Che và không thể có bản sao thứ hai của anh trong thế giới này, đây là điều khiến anh trở nên cực kỳ quyến rũ”… == Gia đình == Cuộc hôn nhân đầu tiên của Che là với Hilda Gadea. Hôn lễ được tổ chức ngày 18 tháng 8 năm 1955, lúc đó Hilda đang mang thai. Ngày 15 tháng 2 năm 1956 đứa con đầu lòng chào đời, được đặt tên là Hilda Beatriz. Cuộc hôn nhân tồn tại chưa đến 4 năm, tháng 1 năm 1959 hai người ly hôn. Tháng 6 năm 1959, Che kết hôn cùng Aleida March, một chiến sĩ cách mạng cùng hoạt động ở Cuba. Hai người có với nhau 4 người con. Trước khi lên đường, Che đã gửi một bức thư dặn dò con mình mà sau này đã trở nên nổi tiếng. Thư viết: "Gửi các con của ba... Nếu có lần nào các con phải đọc lá thư này là bởi vì ba không còn với các con nữa. Có thể các con sẽ không nhớ gì về ba và các con bé hơn thì chắc sẽ không nhớ gì. Ba của các con là một người hành động như suy nghĩ và chắc chắn đã trung thành với những niềm tin của mình. Các con hãy lớn lên như những người cách mạng chân chính. Hãy học thật nhiều... Hãy nhớ rằng cách mạng là điều quan trọng nhất và nếu mỗi người chúng ta chia rẽ thì không có nghĩa lý gì... Ba chào các con và vẫn mong gặp lại các con..." Che còn có một con trai với một người tình, lúc đó còn là sinh viên, sau này là nhà báo Lilia Rosa López (1940), sinh năm 1964 ở Havanna, tên là Omar Pérez López. Omar lớn lên trở thành một nghệ sĩ và văn sĩ, và biết mình là con trai của Che vào năm 1989. == Huyền thoại == === Những câu nói về Che === "Ông là thành viên hấp dẫn nhất trong bộ ba lãnh đạo. Ông có nụ cười ngọt ngào, buồn buồn làm những người phụ nữ phải nghẹt thở. Che đang lèo lái con tàu Cuba bằng một đầu óc tính toán lạ lùng, bằng tài năng hiếm có, bằng trí thông minh xuất chúng và bằng óc khôi hài thú vị." - Tạp chí Time, ngày 8 tháng 8 năm 1960 "Đó là một con người chân chính, một người bạn tuyệt vời và là người mà ngay cả kẻ thù cũng phải kính nể." - Fidel Castro "Nếu phải diễn tả hình ảnh tương lai của thế hệ con cháu mà chúng ta muốn chúng trở thành, chúng ta sẽ nói rằng: Hãy giống như Che. Nếu phải bày tỏ lòng mong ước con cháu mình sẽ được giáo dục như thế nào, chúng ta sẽ nói không chút ngần ngại rằng: Chúng ta muốn chúng được giáo dục theo tinh thần của Che." - Fidel Castro, trong buổi lễ tưởng niệm Che, ngày 18 tháng 10 năm 1967. "Hình ảnh của Che có thể bị lãng quên, bị đem ra mua bán hay được mọi người sùng bái nhưng nó sẽ tạo nên một bộ phận trong hệ thống đấu tranh cách mạng trên toàn thế giới và bất cứ lúc nào nó cũng có thể khôi phục lại ý nghĩa nguyên thủy của mình." - Edmundo Desnoes. "Là con người hoàn thiện nhất trong thời đại chúng ta." - Jean Paul Sartre. "Che gợi nhắc chúng ta nhớ đến những điều đã được biết từ thời Spartacus nhưng đã có lúc bị bỏ quên: trong cuộc chiến chống lại sự bất công, nhân loại có thể tìm thấy một bậc thang để nâng cuộc chiến đấu này lên một tầm mức cao hơn, làm cho chúng tốt đẹp hơn, và thay đổi nó thành điều gì đó nhân bản hơn." - Marcos. "Sống chiến đấu là định mệnh của cuộc sống dành cho El Che." - Shangzie "Đối với những con người không bao giờ theo bước Che, bị chìm đắm trong thế giới đầy hoài nghi yếm thế, sự tự tư tự lợi và nền công nghiệp tiêu thụ điên cuồng này, còn có gì hấp dẫn hơn thái độ khinh bạc của Che đối với những tiện nghi vật chất và những ham muôn tấm thường. Có thể nói rằng, đó là phẩm chất riêng biệt độc đáo của Che và không thể có bản sao thứ hai của anh trong thế giới này, đây là điều khiến anh trở nên cực kỳ quyến rũ." - Ariel Dorfman === Sản phẩm của tinh thần Quốc tế === Chính trí thức thiên tả ở Pháp, kể cả Jean-Paul Sartre và Simone de Beauvoir, đã ngưỡng mộ Che và góp phần đưa Che thành một huyền thoại, một biểu tượng toàn cầu với phong cách lãng mạn cách mạng tuyệt vời. Che được ngợi ca như một người đã thoát ra khỏi mọi tư tưởng đố kỵ, mọi ràng buộc giai cấp, dân tộc nhỏ nhen, và là người tiên phong cho lý tưởng đấu tranh cho sự tiến bộ của toàn nhân loại. Sau khi qua đời, Che vẫn sống trong hàng trăm khúc ca, trong những kỉ vật quen thuộc, những cuốn phim - mới đây nhất là cuốn về cuộc đời Che dài hơn 4 tiếng của đạo diễn Steven Soderbergh giành giải Cành cọ Vàng cho diễn viên xuất sắc nhất vào vai Che tại liên hoan phim Cannes. Che vẫn hiện diện trong cuộc sống. Hình ảnh Che có trên các biểu ngữ, trên những tấm áo thun. Ca sĩ nổi tiếng Santana đã mặc chiếc áo in hình Che, đội mũ beret kiểu Che Guevara tại lễ trao giải Oscar năm 2005 được phát đi rộng rãi trên truyền hình Mỹ. Người Bôlivia gọi ông là Thánh Ernest. Tại nhà thờ ở vùng La Higuera nơi Che hy sinh, các tín đồ đã đặt tượng và ảnh Che bên cạnh hình chúa Giêsu và Đức Mẹ Đồng Trinh. Người kinh doanh tranh thủ hình ảnh Che để kiếm tiền. Đã có bia Che, Che Cola, kem Che, bật lửa Zippo Che, mũ Che, áo thun Che, đồng hồ, ví tiền và cả búp bê Che. Có người đã nói đùa: "Chủ nghĩa tư bản nghiến ngấu và xơi tất, kể cả kẻ thù tồi tệ nhất của nó..." == Danh sách tác phẩm == Nguyên gốc do Ernesto "Che" Guevara viết bằng tiếng Tây Ban Nha, sau đó dịch sang tiếng Anh A New Society: Reflections for Today's World, Ocean Press, 1996, ISBN 1-875284-06-0 Back on the Road: A Journey Through Latin America, Grove Press, 2002, ISBN 0-8021-3942-6 Che Guevara, Cuba, and the Road to Socialism, Pathfinder Press, 1991, ISBN 0-87348-643-9 Che Guevara on Global Justice, Ocean Press (AU), 2002, ISBN 1-876175-45-1 Che Guevara: Radical Writings on Guerrilla Warfare, Politics and Revolution, Filiquarian Publishing, 2006, ISBN 1-59986-999-3 Che Guevara Reader: Writings on Politics & Revolution, Ocean Press, 2003, ISBN 1-876175-69-9 Che Guevara Speaks: Selected Speeches and Writings, Pathfinder Press (NY), 1980, ISBN 0-87348-602-1 Che Guevara Talks to Young People, Pathfinder, 2000, ISBN 0-87348-911-X Che: The Diaries of Ernesto Che Guevara, Ocean Press (AU), 2008, ISBN 1-920888-93-4 Colonialism is Doomed, Ministry of External Relations: Republic of Cuba, 1964, ASIN B0010AAN1K Critical Notes on Political Economy: A Revolutionary Humanist Approach to Marxist Economics Ocean Press, 2008, ISBN 1-876175-55-9 Episodes of the Cuban Revolutionary War, 1956–58, Pathfinder Press (NY), 1996, ISBN 0-87348-824-5 Guerrilla Warfare: Authorized Edition Ocean Press, 2006, ISBN 1-920888-28-4 Latin America: Awakening of a Continent, Ocean Press, 2005, ISBN 1-876175-73-7 Marx & Engels: An Introduction, Ocean Press, 2007, ISBN 1-920888-92-6 Our America And Theirs: Kennedy And The Alliance For Progress, Ocean Press, 2006, ISBN 1-876175-81-8 Reminiscences of the Cuban Revolutionary War: Authorized Edition Ocean Press, 2005, ISBN 1-920888-33-0 Self Portrait Che Guevara, Ocean Press (AU), 2004, ISBN 1-876175-82-6 Socialism and Man in Cuba, Pathfinder Press (NY), 1989, ISBN 0-87348-577-7 The African Dream: The diaries of the Revolutionary War in the Congo Grove Press, 2001, ISBN 0-8021-3834-9 The Argentine, Ocean Press (AU), 2008, ISBN 1-920888-93-4 The Bolivian Diary of Ernesto Che Guevara Pathfinder Press, 1994, ISBN 0-87348-766-4 The Diary of Che Guevara: The Secret Papers of a Revolutionary, Amereon Ltd, ISBN 0-89190-224-4 The Great Debate on Political Economy, Ocean Press, 2006, ISBN 1-876175-54-0 The Motorcycle Diaries: A Journey Around South America, London: Verso, 1996, ISBN 1-85702-399-4 The Secret Papers of a Revolutionary: The Diary of Che Guevara, American Reprint Co, 1975, ASIN B0007GW08W To Speak the Truth: Why Washington's "Cold War" Against Cuba Doesn't End, Pathfinder, 1993, ISBN 0-87348-633-1 == Chú thích == == Tham khảo == == Liên kết ngoài == Che, Guía y Ejemplo: Photos, Songs(mp3) và Videos Nhớ Che Guevara trên báo Công an Nhân dân Hành trình đi tìm người anh hùng Che Guevara (kỳ 1) Hành trình đi tìm người anh hùng Che Guevara (kỳ 2) Che Guevara và Việt Nam
song ngọc.txt
Song Ngọc, sinh 1943 (tên thật Nguyễn Ngọc Thương) là một nhạc sĩ, ca sĩ người Mỹ gốc Việt. Ông nổi tiếng từ cuối thập niên 1960 tại Miền Nam Việt Nam với những ca khúc viết về tình yêu. == Tiểu sử == Sinh năm 1943 ở Long Xuyên, An Giang. Là anh trai của ca sĩ Kiều Oanh Viết nhạc từ năm 1957 với bài đầu tay Mưa chiều, nổi tiếng từ năm 1960 với bài Tiễn đưa phổ thơ Nguyên Sa, cho đến nay đã có trên 300 ca khúc. Sau sự kiện 30 tháng 4 năm 1975, ông sang Hoa Kỳ, trở thành một thương nhân thành đạt, bên cạnh đó vẫn tiếp tục sáng tác. Hiện nay ông đang định cư tại Houston Texas, Hoa Kỳ. Song Ngọc là tác giả của nhiều ca khúc nổi tiếng trước năm 1975: Tiễn đưa, Xin gọi nhau là cố nhân, Chiều thương đô thị, Tình yêu như bóng mây, Mưa ướt, Giờ Tý canh ba, Tuổi mùa xuân..., và sau 1975 như: Đàn bà, Hà Nội ngày tháng cũ, Hương đồng gió nội... Ngoài Song Ngọc, ông còn dùng các bút hiệu: Hàn Sinh, Nguyên Hà, Hoàng Ngọc Anh, Anh Tuyến Năm 2004, Trung tâm Thúy Nga có thực hiện chương trình Paris By Night 74: Hoa bướm ngày xưa vinh danh ông và hai nhạc sĩ Huỳnh Anh, Nguyễn Hiền. Trước năm 1975, ông có thực hiện 5 cuốn băng nhạc mang tên ông. Song Ngọc 1: Chuyện tình & kỷ niệm Song Ngọc 2: Những ngày xưa yêu dấu Song Ngọc 3: Hoa bướm ngày xưa Song Ngọc 4: Tình yêu & xa cách Song Ngọc Xuân 1974: Mùa xuân hạnh phúc == Sáng tác == === Song Ngọc === === Viết chung với các tác giả khác === Chúng mình ba đứa (Song Ngọc - Hoài Linh) Chuyện buồn năm cũ (Song Ngọc - Hoài Linh) Chuyến xe ba người (Song Ngọc - Hồ Đình Phương) Có buồn không em (Kiên Tuấn - Song Ngọc) Đêm không còn buồn (Song Ngọc - Hoài Linh) Giờ xa lắm rồi (Song Ngọc - Hoài Linh) Gửi người chưa quen (Song Ngọc - Hoài Linh) Một chuyến bay đêm (Song Ngọc - Hoài Linh) Những lần anh trở về (Song Ngọc - Nhật Ngân) Nó và tôi (Song Ngọc - Vọng Châu) Phiên khúc một chiều mưa (Song Ngọc - Hoài Linh) Tâm sự chúng mình (Hồng Vân - Nguyên Hà) Thiệp hồng anh viết tên em (Song Ngọc - Hoài Linh) Thương nhớ một người (Song Ngọc - Hồ Đình Phương) == Tham khảo ==
chùm đô thị west midlands.txt
Chùm đô thị West Midlands (tiếng Anh: West Midlands conurbation, hoặc West Midlands Urban Area) là một chùm đô thị rộng lớn ở vùng West Midlands của nước Anh. Đây là vùng đô thị lớn thứ hai ở Anh, sau Vùng đô thị London. Chùm đô thị này bao gồm nhiều đô thị lớn của nước Anh, như Birmingham (lớn thứ hai ở Anh), Wolverhampton (thứ 13), Dudley (thứ 19) và Walsall (thứ 28). Lưu ý là Chùm đô thị West Midland chỉ là một phần của vùng West Midland và hạt West Midland lại không nằm trong chùm đô thị này. Trong chùm đô thị West Midlands có các đơn vị hành chính sau: == Tham khảo ==
tô ngọc vân.txt
Tô Ngọc Vân (1906-1954) là một họa sĩ Việt Nam nổi tiếng, tác giả của một số bức tranh tiêu biểu cho nền mỹ thuật Việt Nam hiện đại. Ông còn có một số bút danh như Tô Tử, Ái Mỹ, TNV. Tô Ngọc Vân sinh ngày 15 tháng 12 năm 1906 tại làng Xuân Cầu, huyện Văn Giang, Hưng Yên, nhưng lớn lên tại Hà Nội. == Cuộc đời và Sự nghiệp == Tô Ngọc Vân sinh ngày 15 tháng 12 năm 1908 (một vài tài liệu ghi là 1906) tại làng Xuân Cầu, huyện Văn Giang, tỉnh Hưng Yên. Tô Ngọc Vân là một cậu bé con nhà nghèo, quá tuổi mới được đến trường học chữ. Đang học trung học năm thứ 3, Tô Ngọc Vân bỏ học để đi theo con đường nghệ thuật. Năm 1926, ông thi đỗ vào trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương, thuộc thế hệ đầu tiên của trường, tốt nghiệp khóa 2 năm 1931. Sau khi ra trường, Tô Ngọc Vân đã có tác phẩm xuất sắc, được giải thưởng cao ở Pháp. Ông đi vẽ nhiều nơi ở Phnôm Pênh, Băng Cốc, Huế... Ông cũng là một người viết về mỹ thuật, phê bình nghệ thuật trên báo chí. Ông hợp tác với các báo Phong Hóa và Ngày Nay của Nhất Linh, báo Thanh Nghị. Từ 1935 đến 1939 ông dạy học ở trường trung học Phnom Penh, sau đó ông về dạy ở Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương tới 1945. Thời gian đó ông vừa giảng dạy vừa sáng tác. Sau cách mạng Tháng Tám, Tô Ngọc Vân tham gia kháng chiến chống Pháp. Năm 1950 ông phụ trách Trường Mỹ thuật Việt Bắc. Thời gian này ông đã vẽ rất nhiều ký họa. Tô Ngọc Vân được đánh giá là người có công đầu tiên trong việc sử dụng chất liệu sơn dầu ở Việt Nam. Ông còn được xem là một trong những họa sĩ lớn của hội họa Việt Nam, nằm trong "bộ tứ" nhất Trí, nhì Vân, tam Lân, tứ Cẩn (Nguyễn Gia Trí, Tô Ngọc Vân, Nguyễn Tường Lân, Trần Văn Cẩn). Ngay từ những năm học trong trường Mỹ thuật, ông đã sớm nghiên cứu kỹ lưỡng kỹ thuật sử dụng chất liệu sơn dầu. Ông đã viết những dòng tự sự ...ngay từ lúc đi học đã mơ xây dựng một nền hội họa Việt Nam có tính chất dân tộc, phản ứng lại sự lan tràn của hội họa Pháp sang ta và để giành một địa vị mỹ thuật trọng yếu cho dân tộc trên thế giới.... Thông qua kỹ thuật, ông đã cố gắng diễn tả được vẻ đẹp của duyên dáng người Việt Nam đương thời mà tiêu biểu là chân dung thiếu nữ. Tô Ngọc Vân cũng là một trong số rất ít hoạ sĩ Việt Nam đã sớm vẽ tem ngay từ thời Pháp thuộc (Postes Indochine). Mẫu tem Apsara được ông thiết kế từ nguồn tư liệu của những chuyến đi vẽ, sáng tác ở khu đền Angkor Wat, Angkor Thom của Campuchia. Hình tượng chính của con tem là tiên nữ Apsara, một trong hàng ngàn tượng vũ nữ điêu khắc nổi trên những vách đền đài của nền văn hoá cổ Khmer. Tem Apsara của hoạ sĩ Tô Ngọc Vân là mẫu tem thứ 23 của Bưu điện Đông Dương kể từ khi Pháp phát hành tem thư ở Việt Nam. Và cũng là tem duy nhất ông góp vào nền nghệ thuật tem thư ở Việt Nam. Họa sĩ Tô Ngọc Vân mất ngày 17 tháng 6 năm 1954 tại Km 41, Ba Khe, bên kia Đèo Lũng Lô, do bom của máy bay Pháp, gần sát chiến trường Điện Biên Phủ. Ông được truy tặng danh hiệu Liệt sĩ và phần mộ hiện an táng tại Nghĩa trang Mai Dịch. == Tác phẩm tiêu biểu == Trước 1945 Thiếu nữ bên hoa sen (1944) Thiếu nữ bên hoa huệ (1943) Hai thiếu nữ và em bé (1944) Thiếu phụ ngồi bên tranh tam đa (1942) Buổi trưa (1936) Bên hoa (1942) Đều là tranh sơn dầu. Sau 1945 Hồ Chủ tịch làm việc tại Bắc Bộ phủ (1946-sơn dầu) Nghỉ đêm bên đồi (sơn mài - 1948) Con trâu quả thực (ký hoạ màu nước - 1954) Hai chiến sĩ (màu nước - 1949) Nghỉ chân bên đồi (1948) Và hàng trăm ký họa kháng chiến. == Tôn vinh == Giải nhất Triển lãm Mĩ thuật Toàn quốc 11/1954 tại Hà Nội Huân chương Độc lập hạng nhất Huân chương kháng chiến hạng Nhì Huy chương Vì sự nghiệp Văn học Nghệ thuật Việt Nam Huy chương Vì sự nghiệp Mĩ thuật Việt Nam Thư khen của Bác Hồ (1952) và chiếc áo Bác Hồ tặng (1954) Ông được truy tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh đợt I về văn học nghệ thuật (1996). Tên ông được đặt cho nhiều con đường tại Việt Nam và cũng được đặt cho một miệng núi lửa trên Sao Thủy. Tại Hà Nội, tên ông được đặt cho con phố nhỏ phía Đông Bắc Hô Tây, ường Xuân Diệu vào làng Quảng Bá, tới ngã ba hồ bơi Quảng Bá, ngoặt bên trái đi tới cổng nhà nghỉ Công ty Khách sạn và Du lịch công đoàn Hà Nội. Dài 530m == Chú thích == == Liên kết ngoài ==
luge tại thế vận hội mùa đông 2006.txt
Luge tại Thế vận hội Mùa đông 2006 được tổ chức tại Cesana Pariol của thị trấn Cesana (gần Torino). Các cuộc đua đơn nam xảy ra trong hai ngày 11 và 12 tháng 2, đơn nữ xảy ra trong hai ngày 13 và 14 tháng 2, còn các cuộc đua đôi nam xảy ra ngày 15 tháng 2 năm 2006. == Bảng huy chương == == Đôi nam == == Tham khảo == == Liên kết ngoài == Luge trên trang chủ Thế vận hội Mùa đông 2006
1945.txt
1945 là một năm bắt đầu vào ngày Thứ hai trong lịch Gregory. Theo âm dương lịch Việt Nam, năm 1945 có đa số các ngày trùng với năm âm lịch Ất Dậu. == Sự kiện == === Tháng 1 === 5 tháng 1 – Liên Xô công nhận chính quyền thân Liên Xô mới của Ba Lan. 7 tháng 1 – Tướng Bernard Montgomery (của Anh) tổ chức một buổi họp báo tại Zonhoven trình bày đóng góp của mình trong trận tổng tấn công Ardennes. 12 tháng 1 – Chiến tranh thế giới thứ hai: Hồng quân Liên Xô bắt đầu tổng tấn công quân Đức quốc xã ở chiến trường Đông Âu. 13 tháng 1 – Đội tuần tra Liên Xô bắt Raoul Wallenberg ở Hungary. 16 tháng 1 – Adolf Hitler chuyển xuống hầm ngầm (còn được biết đến với tên Führerbunker) 17 tháng 1 – Chiến tranh thế giới thứ hai: Liên Xô chiếm Warszawa. 17 tháng 1 – Holocaust: Lính Đức quốc xã bắt đầu rút khỏi trại tập trung Auschwitz. 20 tháng 1 – Franklin D. Roosevelt được bổ nhiệm vào nhiệm kỳ Tổng thống lần thứ 4, một điều chưa từng xảy ra trong lịch sử nước Mỹ. 20 tháng 1 – Hungary rút quân khỏi Chiến tranh thế giới thứ hai, đồng ý một thỏa thuận ngừng bắn với các nước Đồng Minh. 24 tháng 1 – Phóng thành công tên lửa A4b của Đức. 27 tháng 1 – Hồng quân Liên Xô đến Auschwitz và Birkenau ở Ba Lan và tìm thấy trại tập trung của Đức quốc xã, nơi có khoảng 1,1–1,5 triệu người đã bị giết. 28 tháng 1 – Chiến tranh thế giới thứ hai: Các nguồn tiếp tế bắt đầu đến Trung Quốc qua con đường Miến Điện mới mở. 30 tháng 1 – Wilhelm Gustloff cùng khoảng 10.000 lính Đức quốc xã và những người tị nạn từ Gotenhafen trong Vịnh Gdansk đã bị đánh chìm bởi 3 quả ngư lôi từ tàu ngầm S-13 của Liên Xô.9.400 người bị chết đuối tại Biển Baltic. 31 tháng 1 – Eddie Slovik bị tử hình, lính Mỹ đầu tiên bị tử hình vì đào ngũ kể từ cuộc Nội chiến Mỹ. === Tháng 2 === 3 tháng 2 – Chiến tranh thế giới thứ hai: Nga đồng ý tham gia cuộc bạo động mang tên Chiến trường Thái Bình Dương chống lại Nhật Bản. 4 tháng 2 – Chiến tranh thế giới thứ hai: Tổng thống Hoa Kỳ Franklin D. Roosevelt, Thủ tướng Anh Winston Churchill và nhà lãnh đạo Xô Viết Iosif Vissarionovich Stalin khai mạc Hội nghị Yalta (kết thúc vào ngày 11 tháng 2) 6 tháng 2 – Nhà văn Pháp Robert Brasillach bị tử hình vì hợp tác với Đức 7 tháng 2 – Chiến tranh thế giới thứ hai: Đại tướng Douglas MacArthur trở lại Manila 9 tháng 2 – Walter Ulbricht trở thành lãnh đạo của Đảng Cộng sản Đức ở Moskva 10 tháng 2 – Chiến tranh thế giới thứ hai: Tàu Tướng von Steuben bị đánh chìm bởi Tàu ngầm Xô viết S-13. 13 tháng 2 – Chiến tranh thế giới thứ hai: Quân đội Liên Xô chiếm giữ Budapest (Hungary) từ tay Đức quốc xã. 13 tháng 2 – Chiến tranh thế giới thứ hai: Không quân Hoàng gia Anh ném bom Dresden, Đức. 14 tháng 2 – Chile, Ecuador, Paraguay và Peru gia nhập Liên Hiệp Quốc. 16 tháng 2 – Chiến tranh thế giới thứ hai: Quân đội Mỹ đổ bộ lên đảo Corregidor của Philippines. 16 tháng 2 – Quân đội Mỹ chiếm lại bán đảo Bataan 19 tháng 2 – Chiến tranh thế giới thứ hai: Trận chiến Iwo Jima - khoảng 30.000 lính Hải quân Mỹ đổ bộ lên đảo Iwo Jima bắt đầu trận chiến. 21 tháng 2 – Phóng tên lửa A4 cuối cùng tại Peenemünde. 23 tháng 2 – Chiến tranh thế giới thứ hai: Tiếp sau chiến thắng của Mỹ tại trận chiến Iwo Jima, một nhóm lính Hải quân Mỹ leo lên đỉnh núi Surabachi trên đảo và chụp ảnh quốc kỳ Mỹ tung bay. Bức ảnh sau đó đã đoạt giải Pulitzer. 23 tháng 2 – Chiến tranh thế giới thứ hai: Thủ đô Manila của Philippines, được giải phóng bởi quân đội Mỹ. 23 tháng 2 – Chiến tranh thế giới thứ hai: Binh lính Mỹ đầu hàng tại Poznań, một thành phố đã được quân đội Hồng quân Liên Xô và Ba Lan giải phóng. 24 tháng 2 – Thủ tướng Ai Cập Ahmed Maher Pasha bị ám sát ngay tại Quốc hội sau khi đọc xong một bản nghị định. === Tháng 3 === 1 tháng 3 – Jesse Holman Jones bắt đầu nhiệm kỳ Bộ trưởng Bộ Thương mại Hoa kỳ, dưới thời Tổng thống Franklin D. Roosevelt 2 tháng 3 – Phóng tên lửa Natter từ Stetten am kalten Markt. Natter là tên lửa đầu tiên mang người lái và được phát triển như một vũ khí chống máy bay. Vụ phóng thất bại và viên phi công tử nạn. 3 tháng 3 – Chiến tranh thế giới thứ hai: Nước Phần Lan trung lập trước đây giờ cũng tuyên chiến với phe Trục. 3 tháng 3 – Một cuộc thử nghiệm nguyên tử có thể đã xảy ra tại căn cứ quân sự Ohrdruf của Đức quốc xã [1]. 6 tháng 3 – Chính phủ cộng sản được thành lập ở România 7 tháng 3 – Chiến tranh thế giới thứ hai: Quân Mỹ chiếm được cây cầu qua sông Rein tại Remagen, Đức và bắt đầu vượt sông. 8 tháng 3 – Josip Broz Tito thiết lập chính phủ ở Nam Tư 9 tháng 3 – 10 tháng 3 – Chiến tranh thế giới thứ hai: Máy bay ném bom B-29 của Mỹ tấn công Nhật Bản bằng bom lửa. Tokyo bị bom khiến 100.000 người chết. 9 tháng 3: Tại Đông Dương, Nhật đảo chính Pháp. 16 tháng 3 – Chiến tranh thế giới thứ hai: Trận chiến Iwo Jima kết thúc nhưng còn những nhóm biệt lập nhỏ của Nhật vẫn tồn tại. 17 tháng 3 – Chiến tranh thế giới thứ hai: Thành phố Kobe của Nhật bị đánh bom lửa bởi 331 máy bay ném bom B-29, giết chết hơn 8.000 người. 18 tháng 3 – Chiến tranh thế giới thứ hai: 1.250 máy bay ném bom của Mỹ tấn công Berlin. 19 tháng 3 – Chiến tranh thế giới thứ hai: Adolf Hitler ra lệnh tất cả các ngành công nghiệp, kho quân sự, cửa hàng, phương tiện vận tải và phương tiện truyền thông của Đức phải bị phá huỷ. 19 tháng 3 – Cách xa bờ biển Nhật, máy bay đánh bom đánh vào hàng không mẫu hạm USS Franklin, làm thiệt mạng 800 thủy thủ và làm méo con tàu. 21 tháng 3 – Chiến tranh thế giới thứ hai: Binh lính Anh giải phóng Mandalay, Miến Điện 22 tháng 3 – Liên minh Ả Rập được hình thành với sự thông qua Hiến chương ở Cairo, Ai Cập. 30 tháng 3 – Chiến tranh thế giới thứ hai: Quân đội Xô Viết xâm chiếm Áo và chiếm được Viên. Alger Hiss ăn mừng ở Moskva vì đã góp phần dẫn đến sự phản bội của phương Tây tại Hội nghị Yalta. Từ 14 tháng 2 năm 1936, đến 1 tháng 3, 1945, công ty đóng tàu AG Weser hạ thủy tổng cộng 162 tàu ngầm Đức. === Tháng 4 === 1 tháng 4 – Chiến tranh thế giới thứ hai: Binh lính Mỹ đổ bộ lên đảo Okinawa trong chiến dịch cuối cùng của cuộc chiến. Trận chiến Okinawa bắt đầu. 4 tháng 4 – Chiến tranh thế giới thứ hai: Binh lính Mỹ giải phóng trại diệt chủng Ohrdruf ở Đức. 7 tháng 4 – Chiến tranh thế giới thứ hai: Chiến hạm Yamato của Nhật bị chìm cách phía bắc đảo Okinawa 200 dặm trên đường thực hiện một nhiệm vụ liều chết. 9 tháng 4 – Kẻ chủ mưu Abwehr Wilhelm Canaris, Hans Oster và Hans Dohanyi bị treo cổ tại trại tập trung Flossenberg cùng với mục sư Dietrich Bonhoeffer. 10 tháng 4 – Quân đội Đồng Minh giải phóng trại tập trung Đức quốc xã đầu tiên, Buchenwald. 12 tháng 4 – Tổng thống Hoa Kỳ Franklin D. Roosevelt (1933-1945) qua đời tại văn phòng làm việc; Phó tổng thống Harry S. Truman (1945-1953) tuyên thệ nhậm chức. 15 tháng 4 – Trại tập trung Bergen-Belsen được giải phóng. 16 tháng 4 – Chiến tranh thế giới thứ hai: Tàu Goya bị đánh chìm bởi Tàu ngầm Xô Viết L-3. Thành lập Ủy ban Dân tộc giải phóng Việt Nam và Ủy ban Dân tộc giải phóng các cấp. 25 tháng 4 – Thành lập các đàm phán của Liên Hiệp Quốc ở San Francisco 25 tháng 4 – Chiến tranh thế giới thứ hai: Elbe Day, binh lính Mỹ và Nga gặp nhau tại sông Elbe, chia Đức ra làm đôi. 28 tháng 4 – Nhà độc tài người Ý Benito Mussolini và tình nhân, Clara Petacci, bị treo ngược bởi những người ủng hộ khi tìm cách chạy trốn khỏi đất nước. 29 tháng 4 – Bắt đầu Chiến dịch Manna. 30 tháng 4 – Adolf Hitler và người vợ mới cưới một ngày, Eva Braun, tự sát khi Hồng quân Liên Xô đến gần Führerbunker ở Berlin. Karl Dönitz tiếp nối Hitler làm Tổng thống Đức. Joseph Goebbels tiếp nối Hitler làm Thủ tướng Đức. === Tháng 5 === 1 tháng 5 – Joseph Goebbels và vợ tự tử sau khi giết chết 6 đứa con của họ. Karl Dönitz chỉ định Bá tước Lutz Schwerin von Krosigk làm Thủ tướng mới của Đức. 2 tháng 5 – Chiến tranh thế giới thứ hai: Xô Viết tuyên bố sự sụp đổ của thành Berlin. Binh lính Xô Viết kéo lá cờ đỏ lên trên tòa nhà Reichstag. 2 tháng 5 – Chiến tranh thế giới thứ hai: Binh lính Quân đội thứ tư của Nam Tư cùng với Corpus NOV thứ 9 của Slovenia giải phóng Trieste. 2 tháng 5 – Tem bưu chính cuối cùng của Mãn Châu quốc được phát hành. 3 tháng 5 – Chiến tranh thế giới thứ hai: các nhà tù nổi Cap Arcona, Thielbek và Deutschland bị Không quân Hoàng gia Anh đánh chìm tại vịnh Lübeck. 3 tháng 5 – Nhà khoa học về tên lửa Wernher von Braun và 120 thành viên trong nhóm đầu hàng quân đội Mỹ. Sau đó họ trợ giúp bắt đầu chương trình không gian của Mỹ. 4 tháng 5 – Chiến tranh thế giới thứ hai: Quân đội Hoàng gia Anh giải phóng trại tập trung Neuengamme gần Hamburg. 4 tháng 5 – Chiến tranh thế giới thứ hai: Thống tướng Bernard Montgomery trao trả quân đội Bắc Đức. 5 tháng 5 – Chiến tranh thế giới thứ hai: Praha nổi dậy chống lại Đức quốc xã. 5 tháng 5 – Nhà văn, nhà thơ Ezra Pound, bị bắt bởi binh lính Mỹ ở Ý vì tội phản quốc. 5 tháng 5 – Chiến tranh thế giới thứ hai: đơn vị vũ trang Hoa Kỳ giải phóng tù nhân từ trại tập trung Mauthausen – trong đó có Simon Wiesenthal 5 tháng 5 – Chiến tranh thế giới thứ hai: Binh lính Canada giải phóng thành phố Amsterdam từ sự chiếm đóng của Đức quốc xã. 5 tháng 5 – Chiến tranh thế giới thứ hai: Đô đốc Karl Dönitz ra lệnh cho tất cả các tàu ngầm Đức ngừng các hoạt động công kích và trở về vị trí xuất phát. 5 tháng 5 – Chiến tranh thế giới thứ hai: Một quả bom khí cầu của Nhật giết chết 5 đứa trẻ và một phụ nữ tên là Elsie Mitchell ở gần thị trấn Lakeview, Oregon. Quả bom phát nổ khi họ đang kéo nó ra khỏi rừng. Họ là những người duy nhất bị giết bởi sự tấn công của địch thủ trên lục địa Mỹ trong suốt Chiến tranh thế giới thứ hai. 6 tháng 5 – Chiến tranh thế giới thứ hai: Axis Sally mở chương trình phát thanh tuyên truyền cuối cùng đến quân lính Đồng Minh (chương trình đầu tiên vào ngày 11 tháng 12 năm 1941). 7 tháng 5 – Chiến tranh thế giới thứ hai: Đại tướng Alfred Jodl ký thỏa thuận đầu hàng không điều kiện tại thành phố Reims, Pháp, chấm dứt sự tham gia của Đức vào chiến tranh. Văn bản có hiệu lực vào ngày sau đó. 8 tháng 5 – Chiến tranh thế giới thứ hai: Ngày V-E (Victory-Europe, Chiến thắng ở châu Âu, khi Đức quốc xã đầu hàng) kỷ niệm ngày kết thúc Chiến tranh thế giới thứ hai ở châu Âu. 8 tháng 5 – Chiến tranh thế giới thứ hai: Quân đội số 8 của Anh cùng với lính du kích Slovenia và biệt đội cơ giới hóa của Quân đội số 4 Nam Tư đến Carinthia và Klagenfurt. 8-29 tháng 5 – Tại Algérie, Quân đội Pháp và các cựu tù nhân chiến tranh của Ý đánh bại quân phiến loạn Algérie. 9 tháng 5 – Chiến tranh thế giới thứ hai: Hermann Göring bị Quân đội Hoa Kỳ bắt; Na Uy bắt Vidkun Quisling; Sô Viết tham gia Ngày V-E. 9 tháng 5 – Chiến tranh thế giới thứ hai: Hồng quân Liên Xô tiến vào Praha (quân chiếm đóng Đức đầu hàng) 9 tháng 5 – Chiến tranh thế giới thứ hai: Đại tướng Alexander Löhr Chỉ huy của Quân đội Đức, nhóm E gần Topolšica, Slovenia, ký thỏa ước đầu hàng có điều kiện của binh lính chiếm đóng Đức. 9 tháng 5 – Chiến tranh thế giới thứ hai: Alderney, một phần của trại tập trung Neuengamme được giải phóng. 15 tháng 5 – Trận đánh cuối của Chiến tranh thế giới thứ hai xảy ra tại Poljana gần Slovenj Gradec, Slovenia 16 tháng 5 – Chiến tranh Đông Dương: Nam kỳ được chính phủ Trần Trọng Kim tuyên bố thống nhất với đất nước Việt Nam dưới thời Đế quốc Việt Nam. 23 tháng 5 – Tổng thống Đức, Karl Dönitz, và Thủ tướng Đức, Bá tước Lutz Schwerin von Krosigk, bị quân đội Anh bắt tại Flensburg. Họ là người đứng đầu nhà nước và người đứng đầu chính phủ cuối cùng của Đức cho đến năm 1949. 23 tháng 5 – Heinrich Himmler, người đứng đầu cơ quan mật vụ của Đức quốc xã, tự tử trong một trại giam của Anh. 25 tháng 5 – Ở Đại Tây Dương, các tàu có thể dùng đèn trở lại. Leo Szilard khẩn cầu Harry S. Truman không dùng bom. [2] 28 tháng 5 – William boyce, được biết đến như "Chúa tể Haw-Haw" bị bắt. Ông sau đó bị buộc tội ở London về bản tin bằng tiếng Anh của ông trong thời kỳ chiến tranh trên đài phát thanh Đức. Ông bị treo cổ vào tháng 1 năm 1946. 29 tháng 5 – Một nhóm các nhà cộng sản Đức, đứng đầu là Ulbricht, đến Berlin 30 tháng 5 – Chính phủ Iran yêu cầu binh lính Xô Viết và Anh rời khỏi đất nước họ. === Tháng 6 === 1 tháng 6 – Anh tiếp quản Liban và Tự Lợi Á. 4 tháng 6: Thành lập khu giải phóng Việt Bắc. 5 tháng 6 – Hội đồng Quản lý Đồng minh, cơ quan cai quản sự chiếm đóng quân đội của Đức, chính thức nắm quyền. 6 tháng 6 – Vua Haakon VII của Na Uy trở về Na Uy. 11 tháng 6 – William Lyon Mackenzie King tái cử nhiệm kỳ Thủ tướng Gia Nả Đại. Ủy ban Franck đề xuất chống lại chương trình bom hạt nhân bất ngờ của Nhật. [3] 21 tháng 6 – Chiến tranh thế giới thứ hai: Trận chiến Okinawa kết thúc. 24 tháng 6 – Chiến tranh thế giới thứ hai: Diễu hành ăn mừng chiến thắng tại Quảng trường Đỏ 25 tháng 6 – Seán T. O'Kelly được bầu làm Tổng thống Ireland lần thứ hai. 26 tháng 6 – Hiến chương Liên Hiệp Quốc được ký kết. 29 tháng 6 – Tiệp Khắc nhượng lại Ruthenia cho Xô Viết. === Tháng 7 === 1 tháng 7 – Chiến tranh thế giới thứ hai: Nước Đức bị chia sẻ bởi các lực lượng chiếm đóng Đồng Minh. 5 tháng 7 – Chiến tranh thế giới thứ hai: Philippines tuyên bố độc lập. 8 tháng 7 – Chiến tranh thế giới thứ hai: Harry S. Truman thông báo rằng Nhật Bản sẽ đàm phán về hòa bình nếu có thể giữ được Nhật Hoàng. [4] 9 tháng 7 – Một vụ cháy rừng xảy ra tại Tillamook Burn, vụ cháy thứ ba trong vùng này kể từ năm 1933. 16 tháng 7 – Thử nghiệm vũ khí hạt nhân: Cuộc thử nghiệm Trinity, thử nghiệm đầu tiên về vũ khí hạt nhân, sử dụng 6 kg plutonium, đã thành công, gây ra một vụ nổ tương đương với vụ nổ của 19000 tấn TNT. 17 tháng 7 – Hội nghị Potsdam – tại Potsdam, 3 lãnh đạo chính của Đồng Minh bắt đầu cuộc gặp thượng đỉnh cuối cùng của họ trong cuộc chiến. Cuộc gặp sẽ kết thúc vào ngày 2 tháng 8. 21 tháng 7 – Chiến tranh thế giới thứ hai: Harry S. Truman phê chuẩn chỉ thị cho phép sử dụng bom nguyên tử. [5] 23 tháng 7 – Chiến tranh thế giới thứ hai: Nguyên soái Pháp Philippe Pétain, người đứng đầu chính phủ Vichy trong suốt Chiến tranh thế giới thứ hai, bị đưa ra xét xử vì tội phản quốc. 26 tháng 7 – Winston Churchill từ chức Thủ tướng Anh sau khi Đảng Bảo thủ của ông ta thua Đảng Lao động trong cuộc tổng bầu cử 1945. Clement Attlee lên giữ chức thủ tướng mới. 26 tháng 7 – Bản tuyên bố Potsdam yêu cầu Nhật Bản đầu hàng không điều kiện; điều 12 cho phép Nhật Bản vẫn có Nhật hoàng đã bị Truman xóa bỏ.[6] 28 tháng 7 – Máy bay ném bom B-25 của Lực lượng Không quân Đồng minh tình cờ đâm vào Tòa nhà Empire State, giết chết 14 người. 28 tháng 7 – Chiến tranh thế giới thứ hai: Nhật Bản từ chối Bản tuyên bố Potsdam [7]. 29 tháng 7 – Đài phát thanh chương trình BBC Light bắt đầu hoạt động, nhằm vào xu thế giải trí và âm nhạc nhẹ nhàng. 30 tháng 7 – Chiến tranh thế giới thứ hai: tàu USS Indianapolis bị tàu ngầm I 58 của Nhật đâm và nhấn chìm. Một số người trong số 900 người sống sót nhảy xuống biển và trôi dạt trên biển trong 4 ngày. Gần 600 người chết trước khi lực lượng cứu hộ đến. Thuyền trưởng Charles Butler MacVey III sau đó bị đưa ra tòa án chiến tranh. 31 tháng 7 – Chiến tranh thế giới thứ hai: Pierre Laval, cựu thủ lĩnh đã bỏ trốn của chính phủ Vichy đầu hàng quân đội Đồng Minh ở Áo. === Tháng 8 === 6 tháng 8 – Chiến tranh thế giới thứ hai: Bom nguyên tử tại Hiroshima. Hoa Kỳ cho nổ một bom nguyên tử tên hiệu "Little Boy" tại Hiroshima, Nhật Bản lúc 8:16 giờ sáng (giờ địa phương), giết chết 447000 người dân. 7 tháng 8 – Tổng thống Harry Truman thông báo thành công vụ ném bom nguyên tử xuống Hiroshima khi đang quay trở về từ Hội nghị Potsdam trên bong chiếc tuần dương hạm hạng nặng USS Augusta (CA-31) ở giữa Đại Tây Dương. 8 tháng 8 - Hoa Kỳ phê chuẩn Hiến chương Liên Hiệp Quốc, và là nước thứ ba gia nhập tổ chức quốc tế trên. Xô Viết tuyên chiến với Nhật Bản. 9 tháng 8 – Chiến tranh thế giới thứ hai: Hoa Kỳ ném một quả bom nguyên tử tên hiệu "Fat Man" xuống thành phố Nagasaki, Nhật Bản lúc 11:02 AM (giờ địa phương). Liên bang Xô viết bắt đầu tấn công vào vùng Mãn Châu của Trung Quốc, khi ấy đang thuộc quyền kiểm soát của Nhật Bản. [8] 10 tháng 8 – Chiến tranh thế giới thứ hai: Hoa Kỳ thả truyền đơn cảnh báo xuống Nagasaki. [9] 13 tháng 8 – Đại hội Phục quốc Do Thái Thế giới đặt vấn đề với chính phủ Anh về việc thành lập nhà nước Israel. 14 tháng 8 – Chiến tranh thế giới thứ hai: Nhật Hoàng Hirohito chấp nhận các điều khoản của Tuyên bố Potsdam. 15 tháng 8 – Chiến tranh thế giới thứ hai: Nhật Hoàng Hirohito thông báo sự đầu hàng của Nhật trên đài phát thanh. Hoa Kỳ gọi ngày này là V-J Day (Ngày Chiến thắng Nhật Bản). Hành động này đã chấm dứt Chủ nghĩa Bành trướng Nhật Bản và bắt đầu giai đoạn Chiếm đóng Nhật Bản. 15 tháng 8 – Triều Tiên giành lại độc lập sau khi Nhật Bản đầu hàng. 16 tháng 8: Võ Nguyên Giáp chỉ huy quân giải phóng đánh chiếm thị xã Thái Nguyên. 17 tháng 8 – Những người quốc gia Indonesia dưới sự lãnh đạo của Sukarno và Mohammed Hatta tuyên bố nền độc lập của nước Cộng hoà Nam Dương, Sukarno nắm quyền tổng thống. Chính quyền thuộc địa Hà Lan không công nhận hành động này. 19 tháng 8 – Việt Minh do Hồ Chí Minh lãnh đạo nắm quyền lực ở Hà Nội, Việt Nam. 23 tháng 8: Việt Minh giành chính quyền tại Huế. 25 tháng 8: Việt Minh giành chính quyền tại Sài Gòn. Hồ Chí Minh và trung ương Đảng về Hà Nội. Cuối tháng 8 - Nội chiến Trung Quốc: Mao Trạch Đông và Tưởng Giới Thạch gặp gỡ tại Trùng Khánh đàm phán chấm dứt xung đột giữa Đảng Cộng sản Trung Quốc và Trung Hoa Quốc Dân Đảng. 30 tháng 8: Vua Bảo Đại thoái vị tại Huế, chế độ phong kiến tại Việt Nam chấm dứt === Tháng 9 === 2 tháng 9 – Chiến tranh thế giới thứ hai chấm dứt: Đầu hàng chính thức của Nhật Bản được tướng Douglas MacArthur và Đô đốc Chester Nimitz chấp nhận từ phái đoàn do Mamoru Shigemitsu dẫn đầu, trên boong chiếc tàu chiến Missouri ở Vịnh Tokyo. Nhưng tại Nhật Bản ngày 14 tháng 8 thường được coi là ngày chấm dứt cuộc Chiến tranh Thái Bình Dương. 2 tháng 9 – Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc Tuyên ngôn độc lập, khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa thống nhất từ Bắc đến Nam (xem Lịch sử Việt Nam). 4 tháng 9 – Chiến tranh thế giới thứ hai: Các lực lượng Nhật Bản đầu hàng tại Đảo Wake sau khi nghe tin về việc đầu hàng của chính phủ. 5 tháng 9 – Iva Toguri D'Aquino, một người Mỹ gốc Nhật bị nghi ngờ là kẻ tuyên truyền trên đài phát thanh "Tokyo Rose," bị bắt tại Yokohama. 6 tháng 9: Anh va Pháp kéo quân vào Sài Gòn giải giáp quân Nhật. 8 tháng 9 – Quân đội Hoa Kỳ chiếm miền nam Triều Tiên, Nga chiếm miền bắc, đánh dấu sự khởi đầu sự phân chia Triều Tiên. Chủ tịch Hồ Chí Minh ký sắc lệnh thành lập Nha Bình dân học vụ. 8 tháng 9 – Hideki Tojo, Thủ tướng Nhật Bản trong phần lớn thời gian Chiến tranh thế giới thứ hai, tìm cách tự sát nhằm tránh phải ra trước toà án tội ác chiến tranh. 10 tháng 9: Bắt đầu chiến dịch Thượng Đảng tại miền nam Sơn Tây Trung Quốc 11 tháng 9 – Radio Republik Indonesia bắt đầu phát sóng. 12 tháng 9 – Quân đội Nhật Bản chính thức đầu hàng tại Singapore. 20 tháng 9 – Mohandas Gandhi và Jawaharlal Nehru yêu cầu quân đội Anh rời Ấn Độ. 23 tháng 9: Thực dân Pháp đánh úp trụ sở Ủy ban nhân dân Nam Bộ, tái xâm lược Việt Nam. === Tháng 10 === 1 tháng 10 đến 15 tháng 10 – Phóng ba tên lửa A4 gần Cuxhaven để trình diễn cho các lực lượng Đồng Minh về tên lửa nhiên liệu lỏng (Operation Backfire). 5 tháng 10: Thực dân Pháp đem quân đến Sài Gòn đánh chiếm Nam Bộ. 10 tháng 10 – Mật mã viên người Nga Igor Gouzenko đào tẩu sang Canada. Ông giúp phương Tây khám phá ra các mạng lưới điệp viên Sô viết ở Bắc Mỹ. 12 tháng 10—Kết thúc chiến dịch Thượng Đảng, hồng quân Trung Quốc giải phóng Trường Trị 15 tháng 10 – Chiến tranh thế giới thứ hai: Cựu Thủ tướng chính phủ Vichy Pháp, Pierre Laval, bị hành quyết về tội phản quốc. Bắt đầu chiến dịch Tân Phổ 17 tháng 10 – Đại tá Juan Peron thực hiện đảo chính, trở thành người nắm quyền ở Argentina. 18 tháng 10 – Toà án tội ác chiến tranh đầu tiên của Đức bắt đầu xét xử tại Nürnberg. Isaías Medina Angarita, tổng thống Venezuela, bị lật đổ sau một cuộc đảo chính quân sự. Bắt đầu chiến dịch Bình Tuy 21 tháng 10 – Quyền bầu cử của Phụ nữ: Lần đầu tiên phụ nữ được quyền bầu cử ở Pháp. 23 tháng 10 – Jackie Robinson ký một hợp đồng với đội bóng chày Montreal Royals. 24 tháng 10 – Liên Hiệp Quốc được thành lập. Bắc đầu chiến dịch Bình Hán 24 tháng 10 – Hành quyết Vidkun Quisling, lãnh tụ Phát xít Na Uy. 27 tháng 10 – Những người theo đường lối ly khai Indonesia nổi dậy chiến đấu với các lực lượng an ninh Hà Lan và Anh. 29 tháng 10 – Getulio Vargas, tổng thống Brasil, từ chức. 29 tháng 10 – Tại Gimbels Department Store ở Thành phố New York chiếc bút bi đầu tiên được đưa ra bán (giá: $12.50 một chiếc). === Tháng 11 === 1 tháng 11 – John H. Johnson xuất bản cuốn đầu tiên tạp chí Ebony. 2 tháng 11—Kết thúc chiến dịch Bình Hán 13 tháng 11 – Charles de Gaulle được bầu làm lãnh đạo chính phủ lâm thời Pháp. 15 tháng 11 Harry S. Truman, Clement Attlee và Mackenzie King kêu gọi thành lập Cao uỷ Năng lượng Nguyên tử Liên Hiệp Quốc.[10] Quốc quân đánh chiếm Cẩm Châu 16 tháng 11 – Chiến tranh Lạnh: Hoa Kỳ đưa 88 nhà khoa học Đức về giúp phát triển kỹ thuật sản xuất tên lửa. 16 tháng 11 – Đại học Yeshiva được thành lập. 20 tháng 11 – Toà án Nürnberg bắt đầu: Xét xử 24 tội phạm chiến tranh phát xít trong Chiến tranh thế giới thứ hai bắt đầu tại Toà án Nürnberg. 29 tháng 11 – Liên bang Cộng hoà Nhân dân Nam Tư tuyên bố thành lập (ngày này từng được coi là Quốc Khánh cho đến tận thập kỷ 1990). Thống chế Tito được bầu làm tổng thống. - Lắp ráp chiếc máy tính điện tử phổ thông đầu tiên trên thế giới Electronic Numerical Integrator Analyzer and Computer (ENIAC), được hoàn thành. Nó chiếm diện tích 1800 feet sàn. === Tháng 12 === 3 tháng 12 – Những cuộc biểu tình cộng sản diễn ra tại Athena – báo hiệu cho cuộc Nội chiến Hy Lạp. 4 tháng 12 – Bằng tỷ lệ 65 trên 7, Thượng viện Hoa Kỳ chấp thuận việc Hoa Kỳ tham gia Liên Hiệp Quốc (Liên Hiệp Quốc được thành lập ngày 24 tháng 10, 1945). Kết thúc chiến dịch Bình Tuy Kết thúc chiến dịch Tân Phổ 2 tháng 12 – Tướng Eurico Gaspar Dutra được bầu làm Tổng thống Brasil. 21 tháng 12 – Tướng George S. Patton chết vì tai nạn xe hơi từ ngày mùng 9 tháng này ở tuổi 60. 27 tháng 12 – Hai tám nước kỷ thoả thuận thành lập Ngân hàng Thế giới. 27 tháng 12 – Những cuộc tấn công khủng bố vào các căn cứ quân sự Anh tại Palestine. == Những sự kiện không rõ thời điểm == Thành lập Tổ chức Nông nghiệp-Lương thực Liên Hiệp Quốc. Ba Lan có 2 chính phủ đối lập. Khám phá ra Kinh thánh Nag Hammadi Danh họa người Đức Han van Meegeren bị bắt giữ vì hợp tác với Đức quốc xã nhưng những bức tranh của ông đã bán cho Hermann Göring bị phát hiện là giả. Quyền bầu cử của phụ nữ ở Guatemala và Nhật Bản. Bảo hiểm bởi chính phủ tại Saskatchewan, công ty bảo hiểm lưu động của Nhà nước đầu tiên ở Bắc Mỹ được thành lập. Đan Mạch công nhận quyền độc lập của Iceland. Hạ viện Mỹ yêu cầu thả những người nhập cư Do Thái đến Palestine nhằm thiết lập một Khối thịnh vượng chung Do Thái ở đấy. Roben Hollis Fleet trả $11.550.000 tiền cấp dưỡng cho người vợ thứ hai Dorothy. === Sự kiện diễn ra liên tục === Chiến tranh Trung-Nhật (1937–1945) == Khoa học và Công nghệ == Arthur C. Clarke đưa ra ý tưởng vệ tinh thông tin trong một bài báo trên tạp chí Wireless World. Tại Dưỡng đường Mayo, streptomycin lần đầu tiên được sử dụng để điều trị bệnh lao. Percy Spencer bất ngờ khám phá rằng vi sóng có thể làm nóng thực phẩm. Tiếp đó là phát minh lò vi sóng. Grand Rapids, Michigan và Newburgh, New York trở thành các thành phố đầu tiên thêm flo vào nước uống. Lò phản ứng hạt nhân đầu tiên bên ngoài Hoa Kỳ được xây dựng tại Chalk River, Ontario, Canada. Gió tây đông, ở độ cao lớn thổi qua Thái Bình Dương - được người Nhật phát hiện năm 1942 và người Mỹ năm 1944 - được đặt tên jet stream. Salvador Edward Luria và Alfred Day Hershey cùng khám phá rằng các virus có trải qua các biến đổi. Thuốc diệt cỏ 2,4-D được đưa vào sử dụng; sau này nó được dùng làm một thành phần của Chất độc màu da cam. Một đội do Charles DuBois Coryell lãnh đạo khám phá ra nguyên tố 61, nguyên tố duy nhất còn chưa tìm thấy từ 1 đến 96 trên bảng tuần hoàn các nguyên tố hoá học. Nguyên tố mới được đặt tên là promethium. == Ngày sinh một số nhân vật nổi tiếng == === Tháng 1 – Tháng 2 === 3 tháng 1 – Stephen Stills, ca sĩ và nhạc sĩ Hoa Kỳ (Crosby, Stills, Nash and Young) 3 tháng 1 - Victoria Principal, diễn viên Hoa Kỳ 4 tháng 1 – Richard R. Schrock, nhà hóa học Mỹ, người đoạt giải Nobel 10 tháng 1 – Rod Stewart, ca sĩ Anh 26 tháng 1 – Jacqueline du Pré, nghệ sĩ vĩ cầm Anh (mất 1987) 29 tháng 1 – Tom Selleck, diễn viên Hoa Kỳ 30 tháng 1 – Michael Dorris, tác gia Mỹ (mất 1997) 3 tháng 2 – Bob Griese, cầu thủ bóng bầu dục Mỹ 5 tháng 2 – Charlotte Rampling, diễn viên Anh 6 tháng 2 – Bob Marley, nhạc sĩ, ca sĩ Jamaica (mất 1981) 7 tháng 2 – Gerald Davies, cầu thủ rugby xứ Wales 7 tháng 2- Pete Postlethwaite, diễn viên Anh 9 tháng 2 – Mia Farrow, diễn viên Mỹ 14 tháng 2 – Hoàng tử Hans-Adam II của Liechtenstein 17 tháng 2 – Brenda Fricker, diễn viên Ireland 24 tháng 2 – Barry Bostwick, diễn viên Mỹ 27 tháng 2 – Carl Anderson, ca sĩ, diễn viên Mỹ (mất 2004) 28 tháng 2 – Bubba Smith, diễn viên, cầu thủ bóng bầu dục Mỹ === Tháng 3 – Tháng 4 === 1 tháng 3 – Dirk Benedict, diễn viên Mỹ 2 tháng 3 - Giuse Đinh Đức Đạo, Giám mục phó Giáo phận Xuân Lộc 7 tháng 3 – John Heard, diễn viên Mỹ 8 tháng 3 – Jim Chapman, chính trị gia Mỹ 8 tháng 3 - Micky Dolenz, diễn viên, đạo diễn, nghệ sĩ Mỹ (The Monkees) 8 tháng 3 - Anselm Kiefer, họa sĩ Đức 9 tháng 3 – Dennis Rader, kẻ giết người hàng loạt Mỹ 19 tháng 3 – Cem Karaca, nghệ sĩ nhạc rock Thổ Nhĩ Kỳ 26 tháng 3 – Mikhail Voronin, vận động viên thể dục Nga (mất 2004) 29 tháng 3 – Walt Frazier, vận động viên bóng rổ Mỹ 30 tháng 3 – Eric Clapton, nghệ sĩ guitare Anh 2 tháng 4 – Linda Hunt, diễn viên Mỹ 4 tháng 4 – Daniel Cohn-Bendit, nhà hoạt động Pháp 9 tháng 4 – Peter Gammons, nhà báo thể thao 13 tháng 4 – Lowell George, nghệ sĩ Mỹ (Little Feat) 13 tháng 4 - Bob Kalsu, cầu thủ bóng bầu dục Mỹ (d. 1970) 13 tháng 4 - Tony Dow, diễn viên, nhà sản xuất và đạo diễn Mỹ 18 tháng 4 – Margaret Hassan, nhân viên viện trợ sinh tại Ireland (mất 2004) 25 tháng 4 – Björn Ulvaeus, nhà sáng tác nhạc Thuỵ Điển (ABBA) 27 tháng 4 – August Wilson, nhà soạn kịch Mỹ === Tháng 5 – Tháng 6 === 2 tháng 5 – Sarah Weddington, Chưởng lý Mỹ 4 tháng 5 – Narasinham Ram, nhà báo Ấn Độ 6 tháng 5 – Bob Seger, ca sĩ Mỹ 6 tháng 5 - Jimmie Dale Gilmore, nhạc sĩ Mỹ 8 tháng 5 – Keith Jarrett, nhạc sĩ Mỹ 15 tháng 5 – Duarte Pio, Công tước Braganza, người thừa kế ngai vàng Bồ Đào Nha 17 tháng 5 – Tony Roche, vận động viên tennis Australia 19 tháng 5 – Pete Townshend, nghệ sĩ guitar, nhà thơ Anh 21 tháng 5 – Ernst Messerschmid, nhà vật lý, nhà du hành vũ trụ Đức 23 tháng 5 – Doris Mae Oulton, người phát triển động đồng Canada 28 tháng 5 – John Fogerty, ca sĩ Mỹ 28 tháng 5 - Gary Stewart, ca sĩ Mỹ (d. 2003) 31 tháng 5 – Rainer Werner Fassbinder, đạo diễn phim người Đức 1 tháng 6 – Frederica von Stade, giọng ca mezzo-soprano Mỹ 12 tháng 6 – Pat Jennings, cầu thủ bóng đá Ireland 15 tháng 6 – Princess Michael of Kent 17 tháng 6 – Art Bell, dẫn chương trình talk show Mỹ 17 tháng 6 - Eddy Merckx, vận động viên đua xe đạp Bỉ 17 tháng 6 - Frank Ashmore, diễn viên Mỹ 17 tháng 6 - Anupam Kher, diễn viên Ấn Độ 19 tháng 6 – Aung San Suu Kyi, nhà thơ, nhà chính trị, người được Giải Nobel Hòa Bình Myanmar 25 tháng 6 – Carly Simon, ca sĩ, nhạc sĩ Mỹ 26 tháng 6 – Dwight York, nhạc sĩ, tư vấn thời trang, lãnh đạo tôn giáo, kẻ gạ gẫm trẻ em Mỹ === Tháng 7 – === 7 tháng 7 – Michael Ancram, chính trị gia Anh 8 tháng 7 – Micheline Calmy-Rey, Uỷ viên hội đồng liên bang Thuỵ Sĩ 9 tháng 7 – Dean R. Koontz, nhà văn Mỹ 15 tháng 7 – Jürgen Möllemann, chính trị gia Đức (d. 2003) 16 tháng 7 – Victor Sloan, nghệ sĩ Ireland 24 tháng 7 – Azim Premji, thương gia Ấn Độ 28 tháng 7 – Jim Davis, nhà làm phim hoạt hình Mỹ 28 tháng 7 - Richard Wright, nghệ sĩ đàn piano Anh (Pink Floyd) 1 tháng 8 – Douglas D. Osheroff, nhà vật lý Mỹ, người đoạt Giải Nobel 7 tháng 8 – Alan Page, cầu thủ bóng đá Mỹ 9 tháng 8 – Posy Simmonds, nhà làm phim hoạt hình Anh 14 tháng 8 – Steve Martin, diễn viên, nhà soạn kịch Mỹ 15 tháng 8 – Mahamandaleshwar Paramhans Swami Maheshwarananda, người có uy tín lớn trong cộng đồng Hindu Ấn Độ 31 tháng 8 – Van Morrison, nhạc sĩ Ireland 31 tháng 8 - Itzhak Perlman, nghệ sĩ violon Israel 3 tháng 9 – Aldo Moro, chính trị gia Italia 8 tháng 9 – Jose Feliciano, ca sĩ Puerto Rica 15 tháng 9 – Jessye Norman, giọng ca soprano Mỹ 12 tháng 10 – Aurore Clément, diễn viên Pháp 15 tháng 10 – Jim Palmer, cầu thủ bóng chày 25 tháng 10 – David Schramm, nhà vật lý thiên văn Mỹ 27 tháng 10 – Luís Inácio Lula da Silva, Tổng thống Brazil 30 tháng 10 – Henry Winkler, diễn viên Mỹ === Tháng 11-Tháng 12 === 5 tháng 11 – Jacques Lanctôt, nhân vật khủng bố Canada 12 tháng 11 – Neil Young, nhạc sĩ và ca sĩ người Canada (Crosby, Stills, Nash and Young) 15 tháng 11 – Anni-Frid Lyngstad, ca sĩ Na Uy (ABBA) 26 tháng 11 – Daniel Davis, diễn viên Mỹ 26 tháng 11 - John McVie, nhạc sĩ Anh (Fleetwood Mac) 6 tháng 12 – Larry Bowa, vận động viên bóng chày 24 tháng 12 – Ian "Lemmy" Kilminster, ca sĩ Anh và nghệ sĩ Bass (Motörhead) 28 tháng 12 – vua Birendra của Nepal (mất 2001) == Ngày mất của một số nhân vật nổi tiếng == === Tháng 1-3 === 3 tháng 1 – Edgar Cayce, nhà tâm linh Mỹ (s. 1877) 22 tháng 1 – Else Lasker-Schuler, nhà thơ Đức (s. 1869) 31 tháng 1 – Eddie Slovik, binh sĩ Mỹ (s. 1920) 5 tháng 2 – Lilian Rolfe, nữ anh hùng Pháp trong Chiến tranh thế giới thứ hai (bị hành quyết) (s. 1914) 5 tháng 2 - Violette Szabo, nữ anh hùng Pháp trong Chiến tranh thế giới thứ hai (bị hành quyết) (s. 1921) 5 tháng 2 - Denise Bloch, nữ anh hùng Pháp trong Chiến tranh thế giới thứ hai (bị hành quyết) (s. 1915) 11 tháng 2 – Al Dubin, nghệ sĩ sáng tác người Thuỵ Sĩ (s. 1891) 17 tháng 2 – Gabrielle Weidner, nữ anh hùng Bỉ trong Chiến tranh thế giới thứ hai (s. 1914) 21 tháng 2 – Eric Liddell, vận động viên điền kinh Scotland (s. 1902) Tháng 3 - Anne Frank, người ghi nhật ký Đức (sốt typhus) (s. 1929) 2 tháng 3 – Emily Carr, nghệ sĩ Canada (s. 1871) 16 Tháng 3 – Börries von Münchhausen, nhà thơ Đức (s. 1874 18 Tháng 3 – William Grover-Williams, vận động viên lái xe đua Pháp và là anh hùng chiến tranh (s. 1903) 19 Tháng 3 – Friedrich Fromm, quan chức Phát xít (s. 1888) 23 Tháng 3 – Elisabeth de Rothschild, nữ anh hùng Pháp trong Chiến tranh thế giới thứ hai (bị hành quyết) (s. 1902) 26 Tháng 3 – David Lloyd George, Thủ tướng Vương quốc Anh (s. 1863) 30 Tháng 3 – Elise Rivet, tu sĩ Pháp và là anh hùng thời chiến (s. 1890) 31 Tháng 3 – Hans Fischer, nhà vật lý Đức, được nhận Giải Nobel (s. 1881) === Tháng 4 - 8 === 9 tháng 4 – Wilhelm Canaris, thủ lĩnh tổ chức Abwehr của Đức (bị treo cổ vì tội phản bội) (s. 1887) 9 tháng 4 tháng 4 - Dietrich Bonhoeffer, nhà thần học Đức (bị treo cổ) (s. 1906) 12 tháng 4 – Franklin Delano Roosevelt, Tổng thống Hoa Kỳ (đột quỵ) (s. 1882) 18 tháng 4 – Ernie Pyle, nhà báo Mỹ (sniper fire) (s. 1900) 22 tháng 4 – Käthe Kollwitz, nghệ sĩ Đức (s. 1867) 28 tháng 4 – Benito Mussolini, kẻ độc tài Italia (bị treo cổ) (s. 1883) 30 tháng 4 – Adolf Hitler, kẻ độc tài Đức (tự sát) (s. 1889) 1 tháng 5 – Cecily Lefort nữ anh hùng Anh trong Chiến tranh thế giới thứ hai (bị hành quyết) (s. 1900) 1 tháng 5 - Joseph Goebbels, kẻ tuyên truyền Phát xít (tự sát) (s. 1897) 14 tháng 5 – Heber J. Grant, Chủ tịch Nhà thờ Jesus Christ của các vị thánh ngày cuối (s. 1856) 15 tháng 5 – Charles Williams, tác gia Anh (s. 1886) 23 tháng 5 – Heinrich Himmler, lãnh đạo Gestapo Phát xít (tự sát) (s. 1900) 15 tháng 6 – Nikola Avramov, hoạ sĩ Bulgaria (s. 1897) 5 tháng 7 – John Curtin, Thủ tướng Australia (s. 1885) 20 tháng 7 – Paul Valéry, nhà thơ Pháp (s. 1871) 2 tháng 8 – Pietro Mascagni, nhà soạn nhạc Italia (s. 1863) 9 tháng 8 – Harry Hillman, vận động viên Mỹ (s. 1881) 10 tháng 8 – Robert Goddard, nhà khoa học tên lửa Mỹ (s. 1882) 31 tháng 8 – Stefan Banach, nhà toán học Ba Lan (s. 1892) === Tháng 9 - 12 === 15 tháng 9 – Anton Webern, nhà soạn nhạc Áo (s. 1883) 24 tháng 9 – Johannes Hans Geiger, nhà vật lý, phát minh Đức (s. 1882) 26 tháng 9 – Béla Bartók, nhà soạn nhạc Hungary (s. 1881) 13 tháng 10 – Milton Hershey, ông trùm công nghiệp sô-cô-la Mỹ (s. 1857) 15 tháng 10 – Pierre Laval, Thủ tướng chế độ Vichy Pháp (đội hành quyết) (s. 1883) 19 tháng 10 – N.C. Wyeth, người vẽ tranh minh hoạ Mỹ (s. 1882) 24 tháng 10 – Vidkun Quisling, chính trị gia Na Uy, kẻ phản bội (bị hành quyết) (s. 1887) 26 tháng 10 – Paul Pelliot, nhà thám hiểm Pháp (s. 1878) 8 tháng 11 – August von Mackensen, Tướng mặt trận người Đức (s. 1849) 11 tháng 11 – Jerome Kern, nhà soạn nhạc Mỹ (s. 1885) 20 tháng 11 – Francis William Aston, nhà hoá học Anh, người đoạt Giải Nobel (s. 1877) 21 tháng 11 – Robert Benchley, nhà nhân loại học, phê bình sân khấu, diễn viên Mỹ (s. 1889) 4 tháng 12 – Thomas Hunt Morgan, nhà sinh vật học (s. 1866) 16 tháng 12 – Fumimaro Konoe, Thủ tướng Nhật Bản (tự sát) (s. 1891) 21 tháng 12 – George S. Patton, tướng Mỹ (tai nạn ô tô) (s. 1885) 28 tháng 12 – Theodore Dreiser, diễn viên Mỹ (s. 1871) Cosmo Lang, Tổng giám mục Canterbury (s. 1864) == Giải Nobel == Vật lý: Wolfgang Pauli Hoá học: Artturi Ilmari Virtanen Y khoa: Sir Alexander Fleming, Ernst Boris Chain, Sir Howard Walter Florey Văn học: Gabriela Mistral Hoà bình: Cordell Hull == Mất == 6 tháng 9 - Phạm Quỳnh, Thượng thư Triều Bảo Đại (sinh 1892) 30 tháng 4- Adolf Hitler,tên độc tài người Đức (sinh 1889) 30 tháng 4- Eva Braun,người vợ mới cưới một ngày của Adolf Hitler (sinh 1912) 1 tháng 5 - Joseph Goebbels,Thủ tướng Đức va là cánh tay mặt của Hitler (sinh 1897) 12 tháng 3 - Anne Frank == Tham khảo ==
tunisia.txt
Tunisia (phiên âm tiếng Việt: Tuy-ni-di; tiếng Ả Rập: تونس Tūnis), tên chính thức Cộng hòa Tunisia (الجمهورية التونسية al-Jumhūriyya at-Tūnisiyya), là một quốc gia ở Bắc Phi. Nước này giáp với Algérie ở phía tây, Libya ở phía đông nam, và Biển Địa Trung Hải ở phía bắc và phía đông. Tunisia có diện tích 165,000 km² với dân số ước tính chỉ hơn 10.3 triệu người. Tên nước xuất phát từ tên thủ đô Tunis nằm ở phía đông bắc. Tunisia là nước nằm ở cực bắc lục địa châu Phi, và là quốc gia nhỏ nhất trong số các quốc gia nằm dọc theo dãy núi Atlas. Miền nam nước này gồm một phần của sa mạc Sahara, và hầu hết phần còn lại gồm đất đai đặc biệt màu mỡ và 1,300 km bờ biển. Từng hai lần đóng vai trò đặc biệt quan trọng trong thời cổ đại, đầu tiên với thành phố Phoenicia nổi tiếng của Carthage, sau đó như Tỉnh châu Phi được gọi là "giỏ bánh mì" của Đế chế La Mã. Sau này, Tunisia bị những kẻ cướp bóc xâm chiếm ở thế kỷ thứ 5, người Byzantine ở thế kỷ thứ 6 và người Ả Rập ở thế kỷ thứ 7. Dưới thời Đế chế Ottoman, Tunisia được gọi là "Nhiếp chính Tunis". Nó được chuyển sang thuộc quyền bảo hộ của Pháp năm 1881. Sau khi giành được độc lập năm 1956, nước này lấy tên chính thức là "Vương quốc Tunisia" ở cuối thời kỳ cầm quyền của Lamine Bey và Triều đại Husainid. Với tuyên bố đưa nhà nước trở thành cộng hoà Tunisia ngày 25 tháng 7 năm 1957, nhà lãnh đạo quốc gia Habib Bourguiba trở thành tổng thống đầu tiên và lãnh đạo cuộc hiện đại hoá đất nước. Ngày nay Tunisia là một quốc gia hướng theo xuất khẩu, trong quá trình tự do hoá nền kinh tế của mình . Tunisia có những quan hệ thân cận với cả Liên minh châu Âu — và đã có một thoả thuận kết hợp với tổ chức này — và thế giới Ả Rập. Tunisia cũng là một thành viên của Liên đoàn Ả Rập và Liên minh châu Phi. == Từ nguyên == Từ Tunisia xuất xứ từ Tunis; một thành phố thủ đô của Tunisia hiện đại. Hình thức tên hiện nay, với hậu tố Latinh -ia, xuất phát từ chữ Tunisie của tiếng Pháp. Cái tên này đã được các nhà địa lý, sử học Pháp sử dụng như một phần nỗ lực của họ nhằm tạo ra những cái tên mới cho những lãnh thổ và khu vực bảo hộ mà họ mới chiếm được. Từ Pháp Tunisie đã được chấp nhận trong một số ngôn ngữ châu Âu với một ít sửa đổi để tạo ra một cái tên riêng biệt để chỉ nước này. Các ngôn ngữ khác không liên quan tới việc này như trong tiếng Tây Ban Nha Túnez. Trong trường hợp này, cái tên được dùng cho cả quốc gia và thành phố như trong tiếng Ả Rập: تونس và chỉ theo ngữ cảnh, thì mọi người mới phân biệt được sự khác biệt. Cái tên Tunis có thể được gán cho nhiều nguồn gốc khác nhau. Nó có thể liên quan tới vị nữ thần Phoenician Tanith (aka Tunit), thành phố cổ Tynes hay với nguồn gốc Berber ens có nghĩa "nằm xuống". == Lịch sử == Vào thời điểm bắt đầu có việc chép sử, Tunisia là nơi sinh sống của các bộ lạc Berber. Ven biển đã có người Phoenicia định cư từ thế kỷ 10 trước Công nguyên. Thành phố Carthage đã được thành lập vào thế kỷ 9 trước Công nguyên bởi những người định cư từ Týros (ngày nay thuộc Liban). Truyền thuyết cho rằng Nữ hoàng Elissa đã thành lập thành phố vào năm 814 trước Công nguyên và được nhắc lại bởi nhà văn Hy Lạp Timaeus của Tauromenium. Những người định cư Carthage mang văn hóa và tôn giáo của họ từ những người Phoenicia và Canaan. Sau một loạt các cuộc chiến với các thành bang Hy Lạp Sicilia vào thế kỷ 5 trước Công nguyên, quyền lực của Carthage đã mạnh lên và cuối cùng đã trở thành nền văn minh chủ đạo ở phía tây Địa Trung Hải. Người Carthage thờ cúng các vị thần Trung Đông, bao gồm Baal và Tanit. Biểu tượng của thần Tanit, một hình tượng phụ nữ đơn giản với cánh tay dang ra và mặc váy dài là một hình tượng phổ biến được tìm thấy ở các địa điểm cổ. Những người sáng lập của Carthage cũng lập nên một Tophet và được thay đổi vào thời kỳ La Mã. Dù người La Mã đề cập đến đế quốc mới phát triển ở thành phố Carthage là Punic hay Phoenician, nhưng đế quốc được xây xung quanh Carthage là một chính thể độc lập khỏi các khu định cư Phoenicia ở phía tây Địa Trung Hải. Một cuộc xâm lược Italia của Carthage do Hannibal chỉ huy trong cuộc chiến tranh Punic thứ hai, một trong một loạt các cuộc chiến với La Mã, gần như làm tê liệt Đế chế La Mã. Carthage cuối cùng đã bị La Mã chinh phục vào thế kỷ 2 trước Công nguyên, một bước ngoặt dẫn đến việc nền văn minh Địa Trung Hải cổ chủ yếu chịu ảnh hưởng của các nền văn hóa châu Âu thay vì châu Phi. Sau khi La Mã chinh phục, khu vực này đã trở thành một trong những vựa lúa của La Mã và đã bị Latinh hóa và Thiên Chúa giáo hóa hoàn toàn. Lãnh thổ này bị Vandals chinh phục vào thế kỷ 5 sau Công nguyên và lại bị chinh phục bởi Belisarius một lần nữa vào thế kỷ 6 trong thời kỳ trị vì của hoàng đế Byzantine Justinian. Vào thế kỷ 7, vùng này bị những người Hồi giáo Ả Rập, những người đã lập thành phố Kairouan chinh phục. Các triều đại Hồi đã bị gián đoạn bởi các cuộc nổi loạn của người Berber. Những thời kỳ cai trị của người Aghlabid (thế kỷ thứ 9) và của người Zirid (từ năm 972), những người Fatimid theo Berber, đặc biệt thịnh vượng. Khi những người Zirid làm người Fatimid tức giận ở Cairo (1050), người Fatimid đã gửi bộ tộc Banu Hilal tới trả thù Tunisia. Những vùng ven biển đã có thời gian ngắn bị người Norman của Sicilia kiểm soát vào thế kỷ 12 và việc tái chinh phục của người Ả Rập đã làm cho những tín đồ Thiên Chúa giáo cuối cùng ở biến mất. Năm 1159, Tunisia bị vua Hồi giáo Almohad chinh phục. Sau đó là Hafsids (khoảng 1230 – 1574) của Berber, dưới thời này Tunisia đã thịnh vượng. Cuối thế kỷ 16, vùng ven biển thành một căn cứ địa của cướp biển. Trong những năm cuối cùng của Hafsids, Tây Ban Nha đã chiếm đóng nhiều thành phố ven biển nhưng lại bị đế chế Ottoman chiếm lại. Dưới thời các toàn quyền người Thổ Nhĩ Kỳ, Beys, Tunisia đã lấy lại độc lập thực sự. Triều đại Hussein của Beys, được thành lập năm 1705, tồn tại đến năm 1957. === Thuộc địa Pháp === Giữa thập kỷ 1800, chính quyền Tunisia dưới sự cai trị của Bey đã thỏa hiệp thông qua các quyết định tài chính gây tranh cãi đã dẫn tới sự suy thoái của Tunisia. Pháp bắt đầu toan tính kiểm soát Tunisia khi Bey lần đầu vay mối khoản tiền lớn để phương Tây hóa đất nước. Những người định cư châu Âu ở nước này được đặc biệt khuyến khích; số lượng người Pháp tăng từ 34,000 năm 1906 lên 144,000 năm 1945. Năm 1910 có 105,000 người Italia ở Tunisia. === Thế chiến II === Năm 1942– 1943, Tunisia là nơi diễn ra những chiến dịch lớn của các lực lượng Đồng Minh (Đế chế Anh và Hoa Kỳ) chống lại các cường quốc Phe Trục (Italia và Đức) trong Chiến tranh thế giới thứ hai. Lực lượng chính của quân đội Anh, tiến lên sau chiến thắng của họ trong Trận El Alamein thứ hai dưới sự chỉ huy của Tướng Montgomery, tiến vào Tunisia từ hướng nam. Hoa Kỳ và các đồng minh khác, sau những cuộc xâm lược của họ ở Algeria và Maroc trong Chiến dịch Ngọn đuốc, tiến vào từ phía tây. Tướng Rommel, chỉ huy các lực lượng Phe Trục ở Bắc Phi, đã hy vọng giáng cho đồng minh một thất bại ở Tunisia như các lực lượng Đức từng thực hiện ở Trận nước Pháp năm 1940. Trước trận El Alamein, các lực lượng đồng minh đã buộc phải rút về hướng Ai Cập. Vì thế trận Tunisia là thử thách lớn cho quân đồng minh. Họ biết rằng để đánh bại các lực lượng phe Trục họ phải phối hợp hành động và nhanh chóng hồi phục từ những thất bại không thể tránh được mà các lực lượng Đức-Italia sẽ gây ra. Ngày 19 tháng 2 năm 1943, Tướng Rommel tung ra một cuộc tấn công vào các lực lượng Mỹ ở vùng Đèo Kasserine ở phía tây Tunisia, hy vọng giáng cho một đòn làm mất tinh thần của quân đồng minh như người Đức từng làm được tại Ba Lan và Pháp. Những kết quả ban đầu mang tính thảm hoạ cho người Mỹ; vùng xung quanh Đèo Kasserine là nơi có nhiều nghĩa trang chiến tranh của người Mỹ từ thời điểm đó. Tuy nhiên, các lực lượng Mỹ cuối cùng đã có thể đảo ngược tình thế. Biết được một chiến lược chiến tranh xe tăng tối quan trọng, quân Đồng minh đột phá qua giới tuyến Mareth ngày 20 tháng 3 năm 1943. Sau đó quân đồng minh đã có thể liên kết với nhau vào ngày 8 tháng 4 và vào ngày 2 tháng 5 quân đội Đức-Italia ở Tunisia đầu hàng. Nhờ thế, Hoa Kỳ, Anh Quốc, Pháp tự do và Ba Lan (cũng như các lực lượng khác) đã có thể giành được thắng lợi trong một trận đánh lớn như một đội quân đồng minh. Trận đánh này, dù thường bị Trận Stalingrad làm lu mờ, là một thắng lợi lớn của đồng minh trong Thế chiến II phần lớn bởi nó cho phép Đồng Minh trong một ngày sắp tới sẽ giải phóng Tây Âu. == Chính trị hiện thời == Tunisia là một nền dân chủ theo thủ tục. Trên giấy tờ đây là một hệ thống cộng hoà tổng thống có đặc điểm ở hệ thống nghị viện lưỡng viện, gồm Viện Đại biểu và Viện Cố vấn. Tổng thống độc tài Zine El Abidine Ben Ali, trước kia là một nhân vật quân sự, đã nắm quyền từ năm 1987, năm ông lên nhận chức vụ hành pháp của Habib Bourguiba sau khi một đội chuyên gia y tế cho rằng Bourguiba không thích hợp để thực hiện các chức năng của chức vụ này. Trước thời điểm đó Ben Ali là một bộ trưởng của Bourguiba. Ngày nhậm chức, mùng 7 tháng 11, được chào mừng như một ngày lễ quốc gia, với nhiều toà nhà công cộng và thậm chí cả đồng tiền tệ quốc gia và hãng hàng không tư nhân cùng đài truyền hình tư nhân duy nhất (cả hai đều thuộc sở hữu của gia đình đệ nhất phu nhân) đều mang logo '7 tháng 11'. Tại Tunisia, Tổng thống được bầu lại với đại đa số phiếu sau mỗi nhiệm kỳ 5 năm. Ông chỉ định một Thủ tướng và nội các, thủ tướng không đóng vai trò quan trọng trong việc thiết lập chính sách. Các thống đốc vùng và các cơ quan hành chính địa phương cũng do chính phủ trung ương chỉ định. Phần lớn các thị trưởng và các hội đồng thành phố được bầu ra với hầu như tất cả các ghế đều thuộc đảng của Tổng thống. Có một cơ cấu nghị viện lưỡng viện, Viện Đại biểu, có 182 ghế, 20% trong số đó được dành cho các đảng đối lập, và Viện Cố vấn gồm các đại diện của các đảng chính trị, các tổ chức chuyên nghiệp do Tổng thống kiểm soát và các cá nhân do Tổng thống của nền Cộng hoà chỉ định. Cả hai viện đều gồm hơn 20% nữ, khiến đây là nước hiếm hoi trong thế giới Ả Rập nơi phụ nữ có các quyền bình đẳng. Khá bất ngờ, đây cũng là quốc gia duy nhất trong thế giới Ả RẬp nơi chế độ đa thê bị luật pháp ngăn cấm. Đây là một phần của nội dung Luật Vị thế Cá nhân của quốc gia được cựu Tổng thống Bourguiba đưa ra năm 1956. Tư pháp không độc lập về các vấn đề hiến pháp và thường tham nhũng trong những vụ án dân sự. Quân đội không đóng một vai trò rõ ràng trong chính trị và để vị Tổng thống cựu quân nhân mặc sức điều hành đất nước. Hàng trăm hay hàng ngàn thanh niên đã trốn tránh nghĩa vụ quân sự và sống với mối lo sợ thường xuyên về việc bị bắt giữ mặc dù bề ngoài cảnh sát chỉ truy đuổi họ trong một số thời điểm trong năm và thường để họ đi nếu nhận được một khoản hối lộ. Chế độ liên tục thông qua các điều luật khiến họ có vẻ là dân chủ với những nhà quan sát từ bên ngoài. Từ năm 1987, Tunisia đã nhiều lần cải cách hệ thống chính trị. Họ đã chính thức xoá bỏ hệ thống tổng thống trọn đời và mở cửa nghị viện cho các đảng đối lập. Tuy nhiên, trên thực tế mọi quyền lực được tập trung chính thức trong tay tổng thống và đảng của ông - với văn phòng tổng thống và đảng của tổng thống đang đóng ở toà nhà cao nhất Tunis - và nằm dưới sự ảnh hưởng không chính thức của các gia đình như nhà Trabelsis phía họ vợ tổng thống, Leila, một người hành nghề cắt tóc trước kia. Gần đây Tunisia đã từ chối một yêu cầu của Pháp nhằm dẫn độ hai người cháu của Tổng thống, cháu bên phía Leila, vốn bị các công tố nhà nước Pháp buộc tội ăn cắp hai du thuyền lớn từ một bến cảng của Pháp Đảng của Tổng thống, được gọi là Tập hợp Dân chủ Hiến định (RCD) trong tiếng Pháp, gồm khoảng 2 triệu thành viên và hơn 6000 văn phòng đại diện trên khắp nước và chiếm hầu hết các định chế quan trọng của nhà nước. Dù đảng đã được đổi tên lại (trong thời Bourguiba nó thường được gọi là ĐẢng Xã hội Destourian), các chính sách của nó vẫn bị coi là hầu như thế tục. Hiện có tám 'đảng chính trị' nhỏ khác ở Tunisia, sáu trong số đó có đại diện trong nghị viện với vẻ ngoài mang tính hợp pháp. Từ năm 2007, toàn bộ các đảng có đại diện trong nghị viện đều được nhà nước trợ cấp để bù cho các chi phí đang gia tăng về giấy in và mở rộng sự xuất bản của họ. Tháng 7 năm 2008, những đề xuất hiến pháp mới đã được 'nghị viện' quốc gia bỏ phiếu. Trên thực tế không ai từng công khai đưa ra lời chỉ trích chế độ và mọi sự phản kháng đều bị đàn áp mạnh tay và không được truyền thông đưa tin. Việc tự kiểm duyệt được đa số người dân sợ hãi lực lượng cảnh sát thực hiện, và cảnh sát hiện diện ở khắp mọi nơi và thường chặn và lục soát các cá nhân cũng như phương tiện của họ - và thường đòi một khoản tiền hối lộ nhỏ để bù đắp cho khoản lương ít ỏi của họ. Những tờ báo hàng ngày có đăng những bài viết ca tụng vị Tổng thống với chân dung thường được đăng trên trang nhất. Những bức ảnh lớn của tổng thống Ben Ali và những băng rôn 'tự phát' được dựng lên để ca tụng ông xuất hiện tại mọi công trình công cộng và các phố lớn. Internet bị giới hạn chặt chẽ, gồm cả các site như YouTube. Tuy nhiên, internet đã có sự phát triển vượt bậc với hơn 1,1 triệu người sử dụng và hàng trăm quán cafe internet, được gọi là ‘publinet.’ Điều này phần lớn liên quan tới nạn thất nghiệp trên diện rộng và thiếu dân chủ cùng các cơ hội khiến hàng triệu người bị thất nghiệp. Các nhóm nhân quyền độc lập, như Ân xá Quốc tế, đã đưa ra tài liệu rằng các quyền cá nhân không được tôn trọng. === Bầu cử quốc gia năm 2009 === Ngày 25 tháng 10 năm 2009, cuộc tuyển cử quốc gia đã được tổ chức tại Tunisia. Cuộc tuyển cử gồm một cuộc bầu cử tổng thống và một cuộc bầu cử nghị viện. Tổng thống đương nhiệm Zinedine Ben Ali giành một thắng lợi lớn, với 89.62% số phiếu. Đối thủ chính của ông, Mohamed Bouchiha, nhận được 5.01% số phiếu. Đảng của Tổng thống, CDR, cũng giành một thắng lợi lớn với đa số 84.59% trong nghị viện. Phong trào của Đảng Dân chủ Xã hội giành được 4.63% số phiếu. Cuộc bầu cử bị cả truyền thông trong nước và quốc tế chỉ trích. Human Rights Watch đã thông báo rằng các đảng và các ứng cử viên đã bị cấm xuất hiện ở mức ngang bằng với tổng thống đương nhiệm, và rằng tờ tuần báo của đảng Ettajdid, Ettarik al-Jadid, đã bị chính quyền nắm giữ . Bốn ứng cử viên tổng thống trong cuộc bầu cử năm 2009 gồm: === Những cuộc biểu tình và sự từ chức của Ben Ali 2010-2011 === Để ứng phó với các cuộc biểu tình dâng cao ở Tunisia vào cuối năm 2010, đầu năm 2011, Ben Ali tuyên bố tình trạng khẩn cấp trong cả nước, giải thể chính phủ vào ngày 14 tháng 1 năm 2011 và hứa tổ chức các cuộc bầu cử lập pháp mới trong vòng sáu tháng. Sau đó cùng ngày trong bài phát biểu đọc trên truyền hình chiều thứ sáu 14 tháng 1 năm 2011, thủ tướng Tunisia Mohamed Ghannouchi loan báo ông sẽ nắm quyền thay tổng thống Ben Ali đã rời đất nước. Tuy nhiên, người đứng đầu Tòa án Hiến pháp của Tunisia, Fethi Abdennadher, xác nhận rằng Gannouchi đã vi phạm Hiến pháp. Tòa án Hiến pháp Tunisia ngày 15 tháng 1 năm 2011 đã quyết định bãi nhiệm Tổng thống Ben Ali, người bị lật đổ vì các cuộc biểu tình và bạo động chống ông - được giới truyền thông gọi là cuộc "Cách mạng hoa nhài". Đây cũng là nhà lãnh đạo đầu tiên trong thế giới Arab bị lật đổ bởi biểu tình của nhân dân. Theo Hiến pháp Tunisia, Chủ tịch Quốc hội Fouad Mebazaa đã đảm trách quyền điều hành đất nước và tổ chức tổng tuyển cử trong vòng 60 ngày. Quyền Tổng thống Mebazaa cũng ngay lập tức yêu cầu Thủ tướng Mohammed Ghannouchi thành lập một chính phủ liên minh đoàn kết dân tộc để lãnh đạo đất nước cho tới khi bầu được chính quyền mới. === 2012 đến nay === Trong cuộc bầu cử năm 2012, đảng Hồi giáo dung hòa Ennahdha đã thắng cử và cùng với 2 đảng trung tả không tôn giáo CPR và Ettakatol lập chính phủ. Tuy nhiên, việc hình thành một hiến pháp mới kéo dài hơn là đã dự định trong vòng 1 năm. Trong thời gian này, 2 cuộc khủng bố và ám sát hai chính trị gia đối lập, Chokri Belaid và Mohamed Brahmi đã xảy ra làm gia tăng căng thẳng tình hình mà cao điểm là tháng 8 năm 2013. Có những cuộc biểu tình lớn vào mùa hè năm 2013 trong đó đe dọa sự tồn tại tiếp tục của chính phủ quốc gia tại thời điểm đó và quá trình dân chủ có nguy cơ tan vỡ. Trong hoàn cảnh này, Tổng Liên đoàn Lao động Tunisia cố gắng tạo một cuộc đối thoại quốc gia nhưng đã thất bại, vì họ bị đảng Ennahdha tẩy chay. Tháng 9 năm 2013 với sự chuẩn bị tốt hơn lần trước, một nỗ lực thứ hai đã được khởi động. Kỳ này có tới 4 tổ chức xã hội dân sự - Bộ tứ Đối thoại Quốc gia Tunisia tham dự. Bộ Tứ đã tham gia các cuộc đàm phán diễn ra tại thời điểm đó giữa chính phủ Hồi giáo và các đảng phái chính trị khác nhau về việc thực hiện một cuộc chuyển giao quyền lực cho một hiến pháp dân chủ, và tổ chức bầu cử dân chủ cho chính phủ quốc gia. Nhóm này đã thành công trong việc thuyết phục các đảng nắm chính quyền và các đảng đối lập trong quốc hội (Nidaa, Aljomhoury, Almassar, Afek, Aljabha chaabia, vv.) ngồi lại cùng bàn. Những cố gắng hòa giải, bao gồm các đảng phái và chính phủ cả tổng thống, thủ tướng và chủ tịch quốc hội, vào tháng 10 năm 2013, họ đã lập ra một chương trình hoạt động dẫn tới một mặt việc từ chức của các đảng cầm quyền, mặt khác việc thiết lập một chính phủ lâm thời bao gồm những nhà chuyên môn độc lập chuẩn bị cho cuộc bầu cử Tổng thống và Quốc hội mới vào cuối tháng 10 năm 2014. Tháng 2 năm 2015, trên nền tảng của Hiến pháp mới, quyền lực hành pháp được đặt trở lại vào tay của chính phủ dân cử với tổng thống hiện nay là Beji Caid Essebsi. Trong các cuộc thảo luận, 4 nhóm xã hội dân sự này đã đóng vai trò chủ động được xem là khá quan trọng đối với sự thành công của các cuộc đàm phán và chuyển đổi quyền lực trong hòa bình. == Kinh tế == Tunisia có một nền kinh tế đa dạng, từ nông nghiệp, khai thác mỏ, chế tạo, các sản phẩm hoá dầu và du lịch. Năm 2008 nước này có GDP trị giá $41 tỷ (các tỷ giá trao đổi chính thức), hay $82 tỷ (sức mua tương đương) . It also has one of Africa and the Middle East's highest per-capita GDPs (PPP) . Lĩnh vực nông nghiệp chiếm 11,6% GDP, công nghiệp 25,7%, và dịch vụ 62,8%. Lĩnh vực công nghiệp chủ yếu gồm sản xuất vải vóc và giày da, sản xuất phụ tùng ô tô và máy điện. Dù Tunisia có mức tăng trưởng trung bình 5% trong thập kỷ qua, nước này vẫn tiếp tục gặp khó khăn với một tỷ lệ thất nghiệp cao đặc biệt trong giới trẻ. Tunisia được xếp hạng là nền kinh tế có tính cạnh tranh cao nhất châu Phi và đứng hàng 40 thế giới theo xếp hạng của Diễn đàn Kinh tế Thế giới. Tunisia đã tìm cáhc thu hút nhiều công ty quốc tế như Airbus và Hewlett-Packard. Liên minh châu Âu vẫn là đối tác thương mại hàng đầu của Tunisia, hiện tại chiếm 72.5% nhập khẩu của Tunisian và 75% xuất khẩu của nước này. Tunisia là một trong những đối tác thương mại lâu đời nhất của Liên minh châu Âu tại vùng Địa Trung Hải và là đối tác thương mại lớn thứ 30 của tổ chức này. Tunisia là quốc gia Địa Trung Hải đầu tiên ký Hiệp ước Liên kết với Liên minh châu Âu, tháng 7 năm 1995, dù thậm chí trước ngày hiệp ước này có hiệu lực, Tunisia đã bắt đầu bãi bỏ các biểu thuế trên thương mại song phương với EU. Tunisia đã kết thúc quá trình bãi bỏ thuế quan cho các sản phẩm công nghiệp năm 2008 và vì thế là quốc gia Địa Trung Hải đầu tiên tham gia vào một vùng thương mại tự do với EU. Tunisia cũng thu hút những khoản đầu tư lớn từ Vịnh Péc xích (đặc biệt từ Các tiểu Vương quốc Ả Rập Thống nhất) những dự án lớn nhất gồm: Cổng Địa Trung Hải: một dự án trị giá US$ 25 tỷ, để xây dựng một thành phố mới ở phía nam Tunis . Thành phố Thể thao Tunis: một thành phố hoàn toàn thể thao hiện đang được xây dựng ở phía nam Tunis, Tunisia. Thành phố này sẽ gồm các toà nhà cũng như nhiều cơ sở thể thao và sẽ do Bukhatir Group xây dựng với chi phí 5 tỷ $5. Cảng Tài chính Tunis: sẽ thực hiện trung tâm tài chính ngoài khơi đầu tiên của Bắc Phi tại Vịnh Tunis trong một dự án với giá trị tổng thể US$ 3 tỷ. Thành phố Viễn thông Tunis: Một dự án trị giá US$ 3 để tạo ra một cổng Công nghệ Thông tin ở Tunis. === Thị trường bất động sản === Trong những năm gần đây Tunisia đã phát triển một thị trường mới. Từ đầu những năm 2000, thị trường bất động sản đã có bước tăng trưởng. Thị trường tập trung một phần vào nhà ở cho những cá nhân, những cũng gồm cả các dự án lớn có mục tiêu phục vụ du lịch và thị trường buôn bán. Những nhà đầu tư đáng chú ý nằm trong Các quốc gia Ả Rập Vịnh Péc xích. === Khai thác dầu và khí đốt === Sản lượng dầu của Tunisia khoảng 97,600 barrel/ngày. Giếng dầu chính là El bourma. == Năng lượng == Đa phần lượng điện được sử dụng ở Tunisia đều do nước này tự sản xuất, bởi công ty thuộc sở hữu nhà nước STEG (Société Tunisienne de l´Electricité et du Gaz).Năm 2008 tổng cộng 13,747 GHW điện được sản xuất tại nước này,. === Dầu mỏ và khí đốt === Sản xuất dầu mỏ bắt đầu năm 1966 tại Tunisia. Hiện tại có 12 giếng dầu. Dưới đây là danh sách các giếng dầu: === Năng lượng hạt nhân === Tunisia đang trong quá trình phát triển hai nhà máy điện hạt nhân trong một giai đoạn kéo dài 10 năm. Mỗi nhà máy trong số đó dự tính có sản lượng 900-1000 MW. Trong nỗ lực của họ nhằm phát triển năng lượng hạt nhân, Pháp được coi là một đối tác quan trọng. Tunisia và Pháp đã ký kết các thoả thuận, theo đó Pháp sẽ cung cấp huấn luyện, kỹ thuật cũng nhiều hỗ trợ khác . === Dự án Desertec === Dự án Desertec là một dự án năng lượng trên diện rộng có mục tiêu lắp đặt các panel năng lượng mặt trời, và một hệ thống đường dây nối Bắc Phi với châu Âu. Tunisia sẽ là một bên trong dự án này, nhưng chính xác những lợi ích họ sẽ được hưởng vẫn chưa được biết. == Giao thông == Xem thêm thông tin: Giao thông đường sắt tại Tunisia Nước này có 19,232 km đường bộ, và A1 Tunis-Sfax, P1 Tunis-Libya và P7 Tunis-Algeria là những đường cao tốc chính. Có 30 sân bay tại Tunisia, và Sân bay Quốc tế Tunis Carthage và Sân bay Quốc tế Monastir là hai sân bay quan trọng nhất. Một sân bay mới, Sân bay Quốc tế Zine El Abidine Ben Ali, đã được hoàn thành vào cuối tháng 10 năm 2009, và dự định mở cửa tháng 12 năm 2009. Tuy nhiên, có lẽ các chuyến bay sẽ không bắt đầu trước mùa Lễ Phục sinh năm 2010. Sân bay nằm ở phía bắc Sousse tại Enfidha, và có lẽ sẽ phục vụ cho các khu resort Hamammet và Port El Kantoui, cùng với các thành phố nội địa như Kairouan. Có bốn hãng hàng không đóng trụ sở tại Tunisia: Tunisair, Karthago Airlines, Nouvelair và Sevenair. Mạng lưới đường sắt do SNCFT điều hành, và tổng chiều dài đường sắt là 2135 km. Vùng Tunis có một mạng lưới tàu điện, được gọi là Metro Leger. == Tôn giáo == Hiến pháp quy định Hồi giáo là tôn giáo chính thức của nhà nước và đòi hỏi tổng thống phải là một tín đồ Hồi giáo. Tunisia có mức tự do tôn giáo khá cao, một quyền được quy định và bảo vệ trong hiến pháp đảm bảo quyền tự do tín ngưỡng của mỗi người. Nước này có một nền văn hoá khuyến khích chấp nhận các tôn giáo khác; tự do tôn giáo được thực hiện rộng rãi. Tuy nhiên, chính phủ đã bị cáo buộc hạn chế tự do của các tín đồ Hồi giáo khi cấm quàng khăn trùm đầu (Hijab). Chính phủ tin rằng Hijab là một "loại trang phục có nguồn gốc từ bên ngoài và có một ý nghĩa đảng phái". Các cá nhân người Tunisian được khoan dung về tự do tôn giáo và nói chung không bị yêu cầu về những đức tin cá nhân. Đa số dân Tunisia (98%) là tín đồ Hồi giáo, khoảng 1% theo Thiên chúa giáo và số còn lại (1%) theo Do Thái giáo hay các tôn giáo khác. Tuy nhiên, không có dữ liệu đáng tin cậy về số người thực hiện các nghi thức Hồi giáo. Một số báo cáo cho rằng người vô thần là nhóm lớn thứ hai trong nước (khiến nước này có thể đứng hạng cao trong số các quốc gia Bắc Phi) về vấn đề này. Tunisia có một cộng đồng Thiên chúa giáo khá lớn khoảng 25,000 người; chủ yếu là Cơ đốc (20,000) và ở một mức độ thấp hơn là Tin Lành. Đạo Do Thái là tôn giáo lớn thứ ba trong nước với 1,500 tín đồ. Một phần ba dân số Do Thái sống tại hay xung quanh thủ đô. Số còn lại sống trên hòn đảo Djerba, nơi cộng đồng Do Thái có mặt từ khoảng 2,500 năm trước. Djerba, một hòn đảo trong Vịnh Gabès, là quê hương của Hội đạo Do Thái El Ghriba, một trong những hội đạo Do Thái cổ nhất thế giới. Nhiều người Do Thái coi đó là một địa điểm hành hương với các nghi lễ được tiến hành mỗi năm một lần. == Các vùng thủ hiến và thành phố == === Các vùng thủ hiến === Tunisia được chia thành 24 vùng thủ hiến, chúng gồm: Các vùng thủ hiến được chia thành 264 "phái đoàn" hay "các quận" (mutamadiyat), và được chia nhỏ tiếp thành các khu vực đô thị (shaykhats) và các khu vực (imadats). === Các thành phố lớn === == Quân đội == Các lực lượng vũ trang Tunisia được chia thành ba nhánh: Lục quân Không quân Tunisia Hải quân Chi tiêu quân sự của Tunisia chiếm 1.6% GDP (2006). Quân đội chịu trách nhiệm bảo vệ quốc gia và đảm bảo an ninh nội địa. Có vẻ trong những năm gần đây các lực lượng quốc phòng Tunisia đã tập trung hơn vào các nhóm Hồi giáo ở Bắc Phi. Hoa Kỳ đã tiến hành những cuộc tập trận với các lực lượng vũ trang Tunisia vì mối lo ngại này. == Địa lý == Tunisia là một quốc gia nằm ở bờ biển Địa Trung Hải của Bắc Phi, giữa đường giữa Đại Tây Dương và Châu thổ sông Nile. Tunisia giáp biên giới với Algérie ở phía tây và Libya ở phía đông nam. Đường bờ biển ngoặt gấp phía nam của nó khiến Tunisia có hai mặt giáp với Địa Trung Hải. Dù có kích thước khá nhỏ, Tunisia có sự đa dạng địa lý và khí hậu khá lớn. Dorsal, một dải mở rộng của Dãy núi Atlas, chạy ngang Tunisia theo hướng đông bắc từ biên giới Algeria ở phía tây tới bán đảo Cape Bon. phía bắc Dorsal là Tell, một vùng có đặc điểm ở những quả đồi và đồng bằng thấp, dù góc phía tây bắc của Tunisia, nơi đất đai đạt tới độ cao 1,050 mét. Sahil là một đồng bằng dọc theo bờ biển Địa Trung Hải phía đông Tunisia nổi tiếng với sự độc canh cây oliu. Bên trong nội địa từ Sahil, giữa Dorsal và một rặng đồi phía nam Gafsa, là các thảo nguyên. Đa phần vùng phía nam là đất đai bán khô cằn và sa mạc. Tunisia có đường bờ biển dài 1,148 kilômét. Theo các thuật ngữ hàng hải, nước này tuyên bố một vùng tiếp giáp 24 hải lý, và một hải phận 12 hải lý. Tunisia có khí hậu ôn hoà ở phía bắc, với mùa đông dễ chịu và nhiều mưa và một mùa hè nóng và khô. Miền nam đất nước là sa mạc. Đất đai phía bắc chủ yếu là núi non, đi dần về phía nam, tạo ra một đồng bằng trung tâm nóng và khô. Miền nam là bán khô cằn, và nhập vào Sahara. Một loạt các hồ muối, được gọi là chotts hay shatts, nằm ở đường phía đông tây ở mũi phía bắc Sahara, trải dài từ Vịnh Gabes vào trong Algérie. Điểm thấp nhất là Shatt al Gharsah, ở độ cao -17 m, và điểm cao nhất là Jebel ech Chambi, 1544 mét. === Vùng === Vùng Tunisia có một số sa mạc, gồm một phần của Sa mạc Sahara ở phía nam. Ở phía bắc và trung được bao quanh bởi Biển Địa Trung Hải. Tunisia không quá lạnh vào mùa đông để có tuyết, nhưng nhiệt độ vẫn hạ xuống dưới |0 °C. Vào mùa hè nhiệt độ có thể lên tới 32 °C. Đa phần lãnh thổ Tunisia có bốn mùa. == Nhân khẩu == Đa số (98%) người Tunisia hiện đại là người Ả Rập hay người Berber đã Ả Rập hoá, và là những người nói tiếng Tunisia Ả Rập. Tuy nhiên, cũng có một cộng đồng nhỏ (nhiều nhất là 1%) người Berber sống tại vùng núi Jabal Dahar ở phía đông nam và trên hòn đảo Jerba, dù còn có nhiều người hơn nữa có tổ tiên là người Berber. Người Berber chủ yếu nói các ngôn ngữ Berber, thường được gọi là Shelha. Cộng đồng châu Âu nhỏ (1%) gồm chủ yếu người Pháp và người Italia. Cũng có một cộng đồng Do Thái đã sống từ lâu ở nước này, lịch sử người Do Thái tại Tunisia có từ khoảng 2,000 năm trước. Năm 1948 số người Do Thái ước tính là 105,000, nhưng tới năm 2003 chỉ còn khoảng 1,500 người ở lại. Người đầu tiên trong lịch sử được biết tới sống ở Tunisia hiện nay là người Berber. Nhiều nền văn minh và sắc tộc đã từng xâm lược, di cư tới, và đã bị đồng hoá trong nhiều thiên niên kỷ, với nhiều làn sóng dân cư qua chinh phục và định cư từ người Phoenicia/Carthaginia, La Mã, Vandal, Ả Rập, người Thổ Nhĩ Kỳ Ottoman, và người Pháp. Ngoài ra, sau thời kỳ Reconquista và sự trục xuất những người phi Thiên chúa và người Morisco khỏi Tây Ban Nha, nhiều người Moor Tây Ban Nha và người Do Thái đã tới đây ở cuối thế kỷ 15. Ngoài ra, từ cuối những năm 1800 tới sau Thế chiến II, Tunisia là nơi sinh sống của nhiều người Pháp và người Italia (255,000 người châu Âu năm 1956), hầu như toàn bộ trong số họ, cùng với cộng đồng dân cư Do Thái, đã rời đi sau khi Tunisia độc lập. Tôn giáo tại Tunisia chủ yếu là Hồi giáo, với đa số dân Tunisia (98%) là tín đồ. Một trong những cộng đồng Do Thái cổ nhất thế giới sống tại Jerba, nơi sự đa dạng tôn giáo phát triển. Hòn đảo phía nam Tunisia là nơi cư trú của 39 cộng đồng tôn giáo. == Ngôn ngữ == Tiếng Ả Rập là ngôn ngữ chính thức của Tunisia. Như tại toàn bộ các quốc gia khác thuộc thế giới Ả Rập, một biến thể địa phương của tiếng Ả Rập được công chúng sử dụng. Tiếng Ả Rập Tunisia rất gần gũi với ngôn ngữ Maltese. Cũng có một cộng đồng thiểu số nhỏ những người nói tiếng Shelha, một ngôn ngữ Berber. Vì từng là thuộc địa của Pháp, tiếng Pháp cũng đóng một vai trò quan trọng ở nước này, dù không có vị thế chính thức. Nó được sử dụng rộng rãi trong giáo dục (ví dụ như ngôn ngữ giảng dạy khoa học tại các trường cấp hai), báo chí và trong kinh doanh. Đa phần người Tunisia có thể nói tiếng Pháp. Nhiều người Tunisia, đặc biệt là những người sống tại các vùng đô thị, dễ dàng sử dụng một ngôn ngữ pha trộn giữa tiếng Ả Rập Tunisia và tiếng Pháp, một loại ngôn ngữ lai thường được gọi không chính thức là 'Frarabic'. == Giáo dục == Giáo dục được ưu tiên lớn và chiếm 6% GNP. Một nền giáo dục căn bản cho trẻ em trong độ tuổi từ 6 đến 16 đã được quy định bắt buộc từ năm 1991. Tunisia xếp hạng 17 về "chất lượng hệ thống giáo dục [cao học]" và 21 về "chất lượng giáo dục tiểu học" trong Báo cáo Cạnh tranh Toàn cầu 2008-9, do Diễn đàn Kinh tế Thế giới đưa ra. Tuy trẻ em nói chung được học tiếng Tunisia Ả Rập tại gia đình, khi bắt đầu theo học lúc 6 tuổi, chúng được dạy đọc và viết theo tiếng Ả Rập tiêu chuẩn. Từ 8 tuổi, trẻ em được dạy tiếng Pháp trong khi tiếng Anh được dạy khi trẻ lên 12. Các trường cao đẳng và đại học tại Tunisia gồm: École Polytechnique de Tunisie International University of Tunis Université Libre de Tunis Université de l'Aviation et Technologie de Tunisie Institut National d'Agronomie de Tunis Université des Sciences de Tunis == Văn hoá == Tunisia có một nền văn hoá pha trộn vì một lịch sử lâu dài với những cuộc chinh phục như của người Phoenicia, La Mã, Vandal, Byzantine, Ả Rập, Thổ Nhĩ Kỳ, Tây Ban Nha và người Pháp, tất cả đều để lại dấu ấn tại quốc gia này. === Thể thao === Môn thể thao phổ biến nhất ở Tunisia là bóng đá. Đội tuyển bóng đá quốc gia, cũng được gọi là "Những chú đại bàng Carthage" đã tham gia vào bốn vòng chung kết World Cup. Thành tích của đội tuyển được liệt kê dưới đây: Giải đấu hàng đầu của Tunisia là "Tunisian Ligue Professionnelle 1". Các câu lạc bộ lớn gồm Espérance Sportive de Tunis, Club Africain, và Étoile Sportive du Sahel. === Bóng ném === Đội tuyển quốc gia đã tham gia nhiều vòng chung kết bóng ném thế giới. Năm 2005 Tunisia giành hạng 4. Giải bóng ném quốc gia gồm 12 đội, với ES. Sahel và Esperance S.Tunis là các đội thống trị. Vận động viên bóng ném Tunisia nổi tiếng nhất là Wissem Hmam. Tại giải vô địch bóng ném thế giới nam năm 2005 ở Tunis, Wisam Hmam là vận động viên có thành tích ghi điểm cao nhất giải. === Bơi lội === Tại Olympic năm 2008, vận động viên người Tunisia Oussama Mellouli đã giành một huy chương vàng nội dung bơi tự do 1500 mét. == Lễ hội == == Thành viên == Tunisia là một thành viên của các tổ chức sau: == Xem thêm == Bản mẫu:Các chủ đề Tunisia Cách mạng hoa nhài == Tham khảo == == Liên kết ngoài == The Official website of The Tunisian National Tourist Office UK & Ireland Government of Tunisia Tunisia Chamber of Deputies (tiếng Ả Rập) Country Profile from BBC News Tunisia from Encyclopedia Britannica International Religious Freedom Report 2003 từ Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ Tunisia from UCB Libraries GovPubs Tunisia tại DMOZ Mục “Tunisia” trên trang của CIA World Factbook. Wikimedia Atlas của Tunisia, có một số bản đồ liên quan đến Tunisia. [2] Who is Zine El Abidine Ben Ali? Radio France Internationale in English Photography gallery Everything about Tunisia at www.tunisia360.com
lịch sử bia.txt
Bia là một trong những đồ uống lâu đời nhất thế giới, lịch sử bia có niên đại đến 6000 năm TCN, nó đã được ghi lại trong văn bản lịch sử của vùng Lưỡng Hà. Các tài liệu sớm nhất của người Sumer cũng đề cập tới bia. Một lời cầu nguyện tới nữ thần Ninkasi còn được gọi là "Thánh ca cho Ninkasi" được dùng như một lời cầu nguyện cũng như phương pháp để ghi nhớ công thức làm bia trong một nền văn hóa có rất ít người biết chữ. Như hầu hết các chất có chứa carbohydrat, chủ yếu là đường hoặc tinh bột, có thể len men tự nhiên, có khả năng đồ uống giống bia được phát minh độc lập giữa các nền văn hóa khác nhau trên toàn thế giới. Việc phát minh ra bánh mì và/hoặc bia đã được chứng minh là động lực cho con người phát triển công nghệ và xây dựng nền văn minh nhân loại. Các thực nghiệm hóa học sớm nhất đã cho thấy bia lúa mạch được phát hiện tại Godin Tepe ở miền trung dãy nũi Zagros của Iran có niên đại khoảng 3400-3000 năm TCN. (Chalcolithic/Late Uruk Period). Bia có thể đã được biết đến ở châu Âu thời kỳ đồ đá mới khoảng 3000 năm TCN, và được ủ chủ yếu trong gia đình. Trước Cách mạng công nghiệp, bia tiếp tục được sản xuất bán trên quy mô gia đình, mặc dù đến thế kỷ 7 sau công nguyên, các tu viện ở châu Âu cũng sản xuất và bán bia. Trong cách mạng công nghiệp, việc sản xuất bia được chuyển từ thủ công sang công nghiệp, việc sản xuất nhỏ lẻ không còn đáng kể vào cuối thế kỷ 19. Sự phát triển của phù kế và nhiệt kế đã thay đổi việc làm bia, các công cụ đó cho phép người làm bia có thể kiểm soát nhiều hơn quá trình làm bia, thu được nhiều kết quả hơn. Ngày nay, ngành công nghiệp sản xuất bia là một nền kinh doanh toàn cầu, bao gồm một số công ty đa quốc gia chiếm ưu thế trên thị trường và hàng ngàn các nhà sản xuất nhỏ từ các cơ sở nhỏ tới các cơ sở lớn của vùng. Hơn 133 tỉ lít (35 tỉ gallon) được bán mỗi năm—doanh thu toàn cầu là 294,5 tỉ USD (147,7 tỉ bảng Anh) năm 2006. == Lịch sử == Tài liệu lịch sử cho thấy khoảng 6.000 năm trước, nền văn minh Trung Quốc cổ đại đã làm một loại đồ uống giống bia có tên gọi kyui. Ở vùng Lưỡng Hà cổ đại, các tấm đất sét cho thấy việc làm bia là một nghề nghiệp được kính trọng vào thời đó, phần lớn những người làm bia là phụ nữ. Các phát hiện cho thấy việc dùng lại cùng các dụng cụ chứa (chai, lọ, vại…) cho quá trình lên men nguyên liệu cung cấp các kết quả đáng tin cậy hơn khám phá ban đầu là: những người làm bia khi di chuyển mang theo các bình bên mình. Các tấm khắc đất sét Ebla được phát hiện năm 1974 tại Ebla, Syria, có niên đại 2500 năm TCN, tiết lộ việc thành phố cổ này đã sản xuất một loạt các loại bia khác nhau, gồm cả một loại bia có tên gọi là "Ebla". Các dấu vết ban đầu của bia và quá trình làm bia cũng đã được tìm thấy ở Babylon cổ đại. Vào thời điểm đó, phụ nữ và thầy tu cũng làm bia. Một số loại bia đã được sử dụng, đặc biệt trong các nghi lễ tôn giáo. Năm 2100 TCN, vua Babylon là Hammurabi đã ban hành bộ luật của mình, trong đó có cả các quy định về chủ quán rượu. Bia là một phần trong chế độ ăn uống hàng ngày của các Pharaoh Ai Cập cách đây hơn 5000 năm. Sau đó, nó được làm từ bánh mì lúa mạch nướng, và cũng được sử dụng trong các hoạt động tôn giáo. Vai trò của bia trong xã hội Ai Cập cổ đại là rất lớn, nó không chỉ là một đồ uống. Thông thường, bia được sử dụng để chữa một số bệnh khác nhau, bia còn được xem như một món quà thích hợp nhất để tặng cho các Pharaoh Ai Cập, và nó cũng được xem là vật cúng tế để dâng lên các vị thần. Dựa bằng chứng lịch sử, người Ai Cập đã dạy cho người Hy Lạp cách làm bia. Nhà văn Hy Lạp là Sophocles (450 TCN) đã thảo luận về khái niệm của sự điều độ khi nói đến việc tiêu thụ bia trong nền văn hóa Hy Lạp, và ông tin rằng chế độ ăn uống tốt nhất cho người Hy Lạp gồm bánh mì, thịt, các loại rau và bia (người Hy Lạp gọi bia là "ζῦθος" (zythos)). Người Hy Lạp cổ đại cũng làm bia barleywine (tiếng Hy Lạp: "κρίθινος οἶνος" - krithinos oinos, "barley wine"), loại bia này được sử gia Hy Lạp Polybius đề cập trong tác phẩm The Histories của ông, trong cuốn sách này ông nói người Phaeacia giữ bia barleywine trong krater (một loại vại) bằng bạc và vàng. Ngược lại với người Ai Cập và Sumer, với người Do Thái thì "bia chưa bao giờ đóng một vai trò quan trọng trong các thói quen uống đồ uống có cồn ở vùng đất Israel." Đây là tuyên bố của Bảng tàng Do Thái, New York và Jerusalem, liên quan tới tập quán của người Do Thái cổ đại. Quá trình sản xuất bia đã tăng lên rất nhanh khi Kitô giáo phát triển. Điều này chủ yếu do các thầy tu cũng làm bia. Tu viện là các tổ chức đầu tiên làm bia vì mục đích thương mại. Các thầy tu xây xưởng nấu bia là một phần của mục tiêu cung cấp thực phẩm, chỗ trú chân và đồ uống cho người hành hương và khách bộ hành. Một số lượng lớn các vị thánh của Kito giáo là thánh bảo trợ cho việc làm bia. Thánh Augustine thành Hippo, thánh Arnulf thành Metz, Thánh Luca người truyền giáo và thánh Nicôla thành Myra đều được xem là người bảo trợ cho nghề làm bia. Hoàng đế Charlemagne, người cai trị vương quốc Thiên chúa giao khoảng năm 770 SCN coi bia là một phần quan trọng của cuộc sống, và mọi người thường nghĩ chính ông đã dạy cách làm bia cho người Cơ đốc. Cũng giống như thời cổ đại, phụ nữ cũng là những người làm bia chính trong thời Trung Cổ. == Những loại bia đầu tiên == Hầu hết các loại ngũ cốc có chứa một lượng đường nhất định, lượng đường này giúp các loại ngũ cốc có thể tự lên men do nấm men tự nhiên trong không khí, có thể các đồ uống giống bia đã được phát triển độc lập trên khắp thế giới ngay khi một bộ tộc một nền văn hóa có được ngũ cố thuần hóa. Thử nghiệm hóa học các bình gốm cổ cho thấy rằng bia đã được làm từ khoảng 5500 năm trước tại vùng đất hiện nay là Iran, và quá trình lên men bia cũng là thử nghiệm sinh học đầu tiên được con người thực hiện. Ngoài ra những phát hiện khảo cổ học gần đây cho thấy người dân Trung Quốc đã ủ những đồ uống có cồn lên men vào khoảng 7000 năm TCN trên quy mô nhỏ lẻ, với quá trình sản xuất và phương pháp tương tự như ở Ai Cập và Lưỡng Hà cổ đại. Ở vùng Lưỡng Hà (Iraq cổ đại), bằng chứng sớm của bia là bài thơ 3.900 năm tuổi của người Sumer tôn vinh nữ thần bảo trợ nghề làm bia Ninkasi, trong bài thơ đó có các công thức bia lâu đời nhất còn đến nay, mô tả quá trình làm bia từ lúa mạch thông qua bánh mỳ. Tạm dịch: Bia cũng được đề cập tới trong Sử thi Gilgamesh, trong đó 'người đàn ông hoang dã' Enkidu đã lấy bia để uống. "...anh ăn cho đến khi anh no, uống bảy bình bia, trái tim anh trở nên nhẹ hơn, khuôn mặt anh tỏa sáng và anh cất tiếng hát với niềm vui." Bằng chứng văn tự cổ xác nhận việc làm bia ở Armenia có thể lấy từ trong tác phẩm Anabasis của Xenophon (thế kỷ 5 TCN), khi ông tới một trong những ngôi làng Armenia cổ đại và ông viết: Bia trở nên quan trọng đối với tất cả các nền văn minh trồng ngũ cốc ở Á-Âu và Bắc Phi cổ đại, gồm cả Ai Cập—do đó năm 1868, James Death đưa ra một thuyết có tên gọi Bia của Kinh thánh cho rằng thực phẩm từ thiên đường mà Chúa ban cho dân Israelite là loại bia giống cháo yến mạch, dựa trên bánh mì có tên gọi wusa. Các loại bia thường ở dạng sền sệt, giống cháo hơn là một loại đồ uống, nên người Sumer thường dùng ống hút để uống nhằm tránh các chất cặn đắng còn sót lại từ quá trình lên men. Ở thời La Mã cổ đại bia được uống phổ biến thay thế cho rượu vang. Tacitus đã viết chê bai loại bia do người Đức ủ vào thời đó. Người Thracia cũng biết dùng bia làm từ lúa mạch đen thậm chí là từ thế kỷ 5 TCN như Hellanicus thành Mytilene nói, tên gọi bia là brutos hay brytos. Còn người La Mã gọi bia của họ là cerevisia, đây là từ gọi bia trong tiếng Celtic. Người Nubia cổ đại đã dùng bia như một phương thuốc kháng sinh. == Châu Âu thời Trung cổ == Bia là một trong những đồ uống phổ biến nhất trong thời Trung Cổ. Bia được dùng hàng ngày bởi tất cả các tầng lớp xã hội ở phần phía bắc và đông châu Âu, do những vùng này rất khó hoặc không thể trồng được nho. Dù rượu vang là đồ uống phổ biến nhất ở miền nam châu Âu, nhưng bia vẫn có chỗ đứng của mình trong các tầng lớp thấp hơn. Vào thời trung cổ, nước thường không đảm bảo vệ sinh, nên đồ uống có cồn là một lựa chọn phổ biến do nó đã được đun sôi trong quá trình sản xuất. Bia cũng cung cấp một lượng calo đáng kể hàng ngày cho người dân ở vùng phía bắc châu Âu. Ở Anh và các quốc gia ở vùng đất thấp, lượng tiêu thụ bia đạt 275–300 lít/người/năm (60–66 gallon/người/năm) vào hậu kỳ Trung cổ, người ta uống bia vào mọi bữa ăn. Mặc dù có thể là một trong những đồ uống phổ biến nhất ở châu Âu, nhưng giới khoa học lại coi thường bia và cho nó là thứ đồ uống không lành mạnh, chủ yếu là do các thầy thuốc Hy Lạp cổ đại và Ả-rập đương thời có ít hoặc không có kinh nghiệm với loại đồ uống này. Năm 1256, Aldobrandino của thành Siena đã mổ tả bản chất của bia theo cách sau: Việc dùng hoa bia để làm bia đã được Carolingian Abbot đề cập đến năm 822. Việc tạo hương vị của bia từ hoa bia đã được biết đến ít nhất là từ thế kỷ 9, nhưng nó chỉ dần dần được thông qua vì những khó khăn trong việc thiết lập đúng tỷ lệ các thành phần. Trước đó, một hỗn hợp các loại thảo mộc khác nhau có tên gọi gruit đã được dùng, nhưng không có các đặc tính bảo quản như hoa bia. Bia nếu thiếu hoa bia sẽ bị hỏng ngay sau khi chế biến và không thể xuất khẩu được. Chỉ có một lựa chọn khác để giữ bia lâu nếu không có hoa bia là tăng hàm lượng cồn, nhưng cách này khá tốn kém. Bia có dùng hoa bia được hoàn thiện trong các thị trấn của Đức vào thế kỷ 13, bia đã có thể bảo quản được lâu hơn, kết hợp với các thùng chứa có kích thước tiêu chuẩn, đã cho phép xấu khẩu bia trên quy mô lớn. Các thị trấn ở Đức cũng đi tiên phong trong hoạt động sản xuất quy mô mới và chuyên nghiệp hóa mức độ cao hơn. Trước đây bia được làm ở nhà, nhưng đến giai đoạn này việc sản xuất với quy mô trung bình đã rất thành công và thay thế sản xuất quy mô nhỏ, sản xuất quy mô trung bình cần 8 đến 10 nhân công. Loại hình sản xuất này lan sang Hà Lan vào thế kỷ 14, sau đó là Flanders, Brabant và Anh vào cuối thế kỷ 15. Việc sản xuất bia và ale (một loại bia) ở Anh được làm một cách riêng biệt, những người làm bia không được phép sản xuất cả hai loại sản phẩm này. Hội những người nấu bia rượu London đã nói "không được cho hoa bia, thảo mộc, hoặc những thứ khác vào bất kỳ loại ale hay rượu mà làm nên ale – ale chỉ được làm từ rượu (nước), mạch nha và men." Chú thích này đôi khi được trích dẫn sai làm người đọc hiểu nhầm là hoa bia bị cấm. Tuy nhiên, bia làm từ hoa bia vẫn bị phản đối, ví dụ như: Ale is made of malte and water; and they the which do put any other thynge to ale than is rehersed, except yest, barme, or goddesgood [three words for yeast], doth sophysticat there ale. Ale for an Englysshe man is a naturall drinke. Ale muste haue these properties, it muste be fresshe and cleare, it muste not be ropy, nor smoky, nor it must haue no wefte nor tayle. Ale shulde not be dronke vnder.v. dayes olde …. Barly malte maketh better ale than Oten malte or any other corne doth … Beere is made of malte, of hoppes, and water; it is a naturall drynke for a doche [Dutch] man, and nowe of late dayes it is moche vsed in Englande to the detryment of many Englysshe men … for the drynke is a colde drynke. Yet it doth make a man fatte, and doth inflate the bely, as it doth appere by the doche mennes faces and belyes. == Châu Âu thời Cận đại == Tại châu Âu, bia chủ yếu vẫn là hoạt động trong mô hình hộ gia đình, nó vẫn được làm tại như trong thời trung cổ. Xưởng nấu bia thương mại cổ nhất vẫn hoạt động là xưởng bia tu viện Weihenstephan (Bavaria), tu viện này mua quyền nẫu bia từ thị trấn bên cạnh ở Freising năm 1040. Vào thế kỷ 14 và 15, việc sản xuất bia đã dần dần chuyển từ hoạt động trong gia đình sang một nghề thủ công, những người nấu bia còn mở cả quán bia để bán sản phẩm bia của họ. Nước Anh thế kỷ 15, bia không dùng hoa bia được gọi là ale. Bia dùng hoa bia được nhập khẩu vào Anh từ Hà Lan sớm nhất là khoảng năm 1400 ở Winchester, và hoa bia được trồng ở Anh vào năm 1428. Sự phổ biến của hoa bia là trong hỗn hợp đầu tiên—Hội những người nấu bia rượu London đã tiến xa với lời tuyên bố "không được cho hoa bia, thảo mộc, hoặc những thứ khác vào bất kỳ loại ale hay rượu mà làm nên ale – ale chỉ được làm từ rượu (nước), mạch nha và men." Tuy nhiên, vào thế kỷ 16 "ale" đã được coi là bất kỳ loại bia mạnh nào, tất cả các loại ale và bia đều dùng hoa bia, từ đó nhà khảo cổ John Aubrey đã làm ra bài thơ nổi tiếng Greeks, Heresie, Turkey-cocks and Beer Came into England all in a year. Tạm dịch Người Hy Lạp, Cải cách Kháng cách, Gà tây hoang và Bia Cùng tới Anh trong một năm. năm này, theo Aubrey là năm thứ 15 triều vua Henry VIII (1524). Năm 1516, William IV, Công tước xứ Bavaria, đã thông qua bộ luật Reinheitsgebot (luật sản xuất bia tinh khiết), có lẽ đây là bộ luật quy định về sản xuất thực phẩm lâu đời nhất vẫn còn được dùng cho đến thế kỷ 20 (Reinheitsgebot đã được luật pháp Đức thông qua chính thức vào năm 1987). Luật Gebot quy định các thành phần của bia chỉ được giới hạn trong nước, lúa mạch và hoa bia; men được thêm vào danh sách sau các khám phá của Louis Pasteur về vi khuẩn vào năm 1857. Luật của người Bavaria đã được áp dụng trên toàn nước Đức như một bộ luật của nước Đức thống nhất là Đế chế Đức dưới thời Otto von Bismarck, và từ đó nó được cập nhật để phản ánh các xu hướng hiện đại trong sản xuất bia. Cho đến ngày nay, bộ luật Gebot vẫn được coi là một tiêu chuẩn cho sự tinh khiết của bia, mặc dù điều này còn gây tranh cãi. Hầu hết các loại bia cho đến thời gian gần đây dùng men nổi (top-fermented). Các loại bia dùng men chìm (bottom-fermented) đã được phát hiện nhờ một sự tình cờ vào thế kỷ 16 sau khi bia được cất trong các hầm lạnh một thời gian dành; thể tích của loại bia dùng men chìm tăng nhanh hơn các loại bia dùng men nổi. == Châu Á == Bằng chứng thời tiền sử cho thấy việc làm bia bắt đầu khoảng 5400 năm TCN ở Sumer (miền nam Iraq hiện nay). Tuy nhiên, giống như lịch sử rượu whiskey ngo, sản xuất đồ uống có cồn thường được xem như một cách để bảo quản ngũ cốc dư thừa hơn là một nghề thủ công. Các tài liệu cổ và kết quả khai quật mộ cổ gần dây cho thấy, người Trung Quốc đã làm đồ uống có cồn từ mạch nha và ngũ cốc bằng nấm men từ thời tiền sử, nhưng người Trung Quốc lại xem quá trình biến đổi mạch nha là không hiệu quả khi đem so với việc dùng nấm men, đặc biệt là với gạo (gạo ủ với nấm men được gọi là Tửu khúc (酒麴) trong tiếng Trung Quốc và Koji trong tiếng Nhật), gạo nấu chín được trộn với nấm men sẽ biến tinh bột trong gạo lên men, sản phẩm sau khi chưng cất là đồ uống có cồn và bã (người Trung Quốc dùng bã gọi là Tửu tao (酒糟) làm nguyên liệu để nấu ăn, còn ở phương Tây lại dùng rượu vang). Hơn nữa, cây hoa bia không mọc ở Đông Á nên đồ uống có cồn làm từ mạch nha sẽ không thể giữ lâu, và việc dùng mạch nha để sản xuất đồ uống có cồn dần dần mờ nhạt ở Trung Quốc, cho đến khi nó biến mất khỏi lịch sử Trung Quốc vào cuối Triều đại nhà Đường. Người Trung Quốc chủ yếu sử dụng gạo để nấu rượu, nên họ ít biết tới các loại rượu vang từ trái cây cho đến khi chúng được nhập khẩu vào Trung Quốc. Đồ uống có cồn làm từ gạo nấu chín lên men bởi các loại vi khuẩn vẫn tiếp tục được sản xuất cho đến ngày nay, một số đồ uống được phân loại như bia (mễ tửu (米酒 mijiu) trong tiếng Trung và Sake trong tiếng Nhật) vì chúng được làm từ tinh bột hơn là đường trái cây. Tuy nhiên, đây còn là một điểm gây tranh cãi, và các đồ uống như vậy thường được gọi là "rượu gạo" hay "sake", đây là những từ chung chung trong tiếng Trung và tiếng Nhật cho tất cả các loại đồ uống có cồn. Một số nền văn hóa trên đảo ở Thái Bình Dương đã biết lên men tinh bột, và tinh bột biến thành đường lên men nhờ nước bọt của người giống như loại đồ uống chicha ở Nam Mỹ. Nhiều bộ lạc trên thế giới cũng làm đồ uống theo cách này, họ nhai hạt ngũ cốc và sau đó phun lên bình lên men hoặc phun vào bình lên men có gạo đã nấu chín, sau đó bình được đậy kín để quá trình lên men diễn ra. Enzyme trong nước bọt đã biến tinh bột thành đường lên men, loại đường này được lên men bằng nấm men tự nhiên. Sản phẩm dù là đồ uống được gọi là bia hay không đôi khi vẫn có tranh cãi, vì: Rượu làm từ gạo ở châu Á không làm từ mạch nha. Phương pháp này thường được sử dụng với các nguyên liệu như khoai mỡ, khoai môn, hoặc các loại rau củ quả chứ không hẳn là ngũ cốc. Một số bộ lạc người Đài Loan thực hiện quá trình ở một bước cao hơn là chưng cất đồ uống có cồn và kết quả là rượu. Tuy nhiên, có vẻ như không có bộ lạc Đài Loan nào biết cách phát triển hệ thống chữ viết, nên không có tài liệu nào nói về việc này diễn ra như thế nào, hoặc có thể kỹ thuật chưng cất này được mang từ Trung Quốc đại lục đến cùng với người nhập cư vào thời Hán. Thực tế cho thấy kỹ thuật này thường được tìm thấy trong các bộ lạc sử dụng kê (một loại ngũ cốc bản địa ở miền bác Trung Quốc) làm nguyên liệu. Nhà máy bia đầu tiên ở châu Á được thành lập chính thức vào năm 1855 (dù nó đã được thành lập từ trước đó) do Edward Dyer làm chủ. Nhà máy bia này được đặt ở Kasauli trên dãy núi Himalaya, Ấn Độ và có tên gọi là Dyer Breweries. Công ty này hiện vẫn đang hoạt động và được biết đến với tên gọi Mohan Meakin, ngày nay đây là một tập đoàn lớn gồm nhiều công ty hoạt động trong nhiều lĩnh vực công nghiệp. == Cuộc cách mạng công nghiệp == Sau những cải tiến đáng kể về hiệu suất động cơ hơi nước vào năm 1765, ngành công nghiệp bia đã hình thành. Các cải tiến mới trong quá trình sản xuất bia đã diễn ra với sự ra đời của nhiệt kế vào năm 1760 và phù kế vào năm 1770, cho phép các nhà sản xuất tăng hiệu quả và giảm tổn hao trong quá trình sản xuất. Thời kỳ trước cuối thế kỷ 18, mạch nha chủ yếu được sấy khô bằng lửa do đốt gỗ, than củi, rơm rạ, và tới năm 1600 là dùng thêm than cốc. Nói chung, các loại mạch nha được sấy khô theo phương thức đốt này sẽ bị ám khói, do đó những loại bia thời kỳ đầu thường có mùi vị khói; có nhiều bằng chứng cho thấy người nấu bia đã cố gắng hết sức để hạn chế khói ám vào bia thành phẩm. Những nhà văn vào thời kỳ này mô tả mùi vị đặc biệt có nguồn gốc từ mạch nha sấy khô bằng gỗ, và hầu hết chất lượng của bia bị thay đổi là do nó gây ra. Bia và ale có vị khói của các xứ miền Tây nước Anh nổi tiếng là không uống được – chỉ có người dân địa phương và những kẻ liều mạng mới uống nó. Đây là "Hướng dẫn Sản xuất bia rượu mạch nha" (1700): Hầu hết các xứ ở miền Tây, mạch nha của họ có mùi khó chịu với Khói (Smoak) của Gỗ, khi nó được sấy khô, nó khiến những Người lạ không thể chịu được, dù vậy những người dân, những người đã quen với nó, có thể nuốt nó như những Người Hà Lan làm Bia đen pha (Black Beer Brewed) đặc của họ với Bột kiều mạch (Buck Wheat). Thậm chí một tra cứu trước đó như vậy về mạch nha đã được William Harrison ghi lại trong tác phẩm "Description of England" viết năm 1577: Ở một số nơi nó [mạch nha] được sấy khô vào lúc rỗi rãi (at leisure) chỉ bằng gỗ, hoặc chỉ bằng rơm rạ, hoặc kết hợp gỗ và rơm rạ, nhưng, tất cả, sấy khô bằng rơm rạ là tốt nhất. Đối với mạch nha sấy khô bằng gỗ, khi nó được ủ, ngoài việc đồ uống có màu đậm hơn, nó làm đau đầu người uống mà điều này không liên quan, bởi khói. Cũng như dùng cả sự thờ ơ để lột vỏ, bổ củi, và làm khô gỗ của họ trong lò, do đó loại bỏ tất cả độ ẩm cần để tạo khói Trong cuốn "London and Country Brewer" (1736) chỉ rõ nhiều loại "mạch nha nâu" phổ biến ở thành phố: Mạch nha Nâu được sấy khô bằng Rơm rạ, Gỗ và Cây dương xỉ, vân vân. Sây khô bằng rơm rạ là tốt nhất, nhưng các loại gỗ có Mùi vị không tự nhiên nhất, mà ít người có thể chịu đựng, nhưng vì túng thiếu, và những người đã quen với mùi vị khói mạnh; nhưng nó đã được dùng nhiều trong một số xứ ở miền Tây nước Anh, và nhiều ngàn Quarter loại mạch nha này đã được sử dụng trước đây ở London để nấu Butt-keeoing-beer, và bởi vì nó được bán có 2 shilling mỗi Quarter rẻ hơn so với Mạch nha sấy khô bằng Rơm rạ, cũng không phải Chất lượng của Mạch nha sấy khô bằng Gỗ được quan tâm nhiều bởi một số Người ủ bia, Hương vị tồi của nó sẽ biến mất trong chín hoặc mười hai Tháng, theo Tuổi Bia, và độ mạnh của Chất lượng Hoa bia tốt đã được sử dụng để bảo quản nó Phù kế đo độ biến đổi của bia được ủ. Trước khi có phù kế, bia được ủ từ một loại mạch nha duy nhất: bia màu nâu từ mạch nha màu nâu, bia màu hổ phách từ mạch nha màu hổ phách, bia màu nhạt từ mạch nha màu nhạt. Khi có phù kế, người nẫu bia có thể tính được hiệu suất từ các loại mạch nha khác nhau. Họ quan sát thấy mạch nha nhạt, dù đắt hơn, nhưng chất lên men lại nhiều hơn so với mạch nha rẻ tiền. Ví dụ, mạch nha nâu (dùng cho bia Porter – một loại bia đen) cho 54 pound chiết xuất mỗi quarter, trong khi mạch nha vàng nhạt cho tới 80 pound. Khi đã biết điều này, người ủ bia chuyển sang chủ yếu dùng mạch nha màu nhạt để nấu tất cả các loại bia, sau đó họ bổ sung thêm một lượng nhỏ mạch nha có màu đậm hơn để đạt được màu đúng cho các loại bia sẫm màu hơn. Năm 1817, Daniel Wheeler phát minh ra lò nướng hình trống đã cho phép tạo ra các loại mạch nha rang có màu rất sẫm, góp phần tạo nên hương vị cho bia đen và bia nâu nặng. Việc phát triển này đã được nhắc đến trong một đạo luật Anh năm 1816 cấm việc sử dụng bất kỳ các thành phần khác ngoài mạch nha và hoa bia. Những người nấu bia đen lại chủ yếu dùng mạch nha nhạt, nên họ cần khẩn cấp một loại giải pháp hợp pháp để cho bia có màu sẫm hơn. Sáng chế của Wheeler là một giải pháp như vậy. Việc Louis Pasteur phát hiện ra vai trò của men trong quá trình lên men vào năm 1857 đã giúp người nấu bia có phương pháp sản xuất để ngăn bia chua do các vi khuẩn gây hại. == Bia hiện đại == Nhiều quốc gia châu Âu có truyền thống sản xuất bia rất lâu đời. Bia là một thức uống đặc biệt quan trọng ở các nước như Bỉ, Đức, Áo, Ireland, và Anh; với các quốc gia như Pháp, các nước Bắc Âu, Ba Lan, Cộng hòa Séc, Tây Ban Nha và các nước khác có truyền thống sản xuất bia độc đáo và lâu bền với lịch sử của riêng họ, các phương pháp sản xuất bia đặc trưng và nhiều loại bia khác nhau. Không giống như nhiều nơi trên thế giới, có một thị trường quan trọng ở châu Âu (đặc biệt là Vương quốc Anh) dành cho bia chứa men sống (bia tươi). Loại bia này chưa được lọc, chưa được diệt khuẩn. Loại bia này khiến người ta lúng túng khi đem so sánh với loại bia đã được lọc và diệt khuẩn vẫn được bán: chất lượng bia tươi có thể ít được chú ý, nhưng nhiều người lại thích hương vị của bia tươi hơn là bia chết. Trong khi bia thường được làm chính trong thời gian tương đối ngắn (vài tuần cho tới vài tháng) do với rượu vang, một số loại bia mạnh hơn gọi là real ale đã được làm với hương vị và đặc điểm được phát triển qua nhiều thập kỷ. Ở một số nơi trên thế giới, nhà máy bia bắt đầu như một ngành kinh doanh gia đình ở Đức, những người di dân châu Âu khác đã biến nó thành những công ty lớn, sau đó vi lợi nhuận những người đứng đầu công ty ít quan tâm tới chất lượng truyền thống của các loại bia, dẫn tới một sự xuống cấp của sản phẩm. Năm 1953, Morton W. Coutts người New Zealand đã phát triển một kỹ thuật lên men liên tục. Sáng chế của Coutts liên quan tới quá trình cho bia chảy qua bể kín, việc lên men xảy ra dưới áp suất và nhiệt độ, không bao giờ để bia tiếp xúc với không khí, thậm chí cả khi đóng chai. Phát minh này của Coutts được giới thiệu ở Mỹ và Anh, nhưng giờ nó chỉ được sử dụng trong ngành sản xuất bia ở New Zealand. Trong một số lĩnh vực, người làm bia miễn cưỡng phải đón nhận các công nghệ mới do họ sợ đánh mất các đặc tính truyền thống trong các sản phẩm bia của họ. Ví dụ nhà máy bia Marston ở Burton on Trent hiện vẫn sử dụng các thiết bị bằng gỗ gọi là Burton Union cho quá trình lên men để duy trì chất lượng và hương vị bia của mình, trong khi người làm bia lambic ở Bỉ lại để các nồi ủ bia ngoài không khí để chọn loại men tự nhiên để lên men dịch nha. Các kỹ thuật sản xuất bia truyền thống bảo vệ bia khỏi quá trình oxy hóa bằng cách duy trì một tấm phủ carbon dioxide trên dịch nha khi nó lên men thành bia, Các nhà máy bia hiện đại giờ sản xuất nhiều loại bia khác nhau, từ các loại bia cổ như bia lambic lên men một cách tự nhiên của Bỉ; bia vàng, bia đen, bia trắng (bia lúa mì) và nhiều loại khác của Đức; các loại bia ale như stout, mild, pale, bitter, golden của Anh; các loại bia mới của Mỹ như Chili Beer, Cream Ale và Double India Pale Ales Ngày nay, ngành công nghiệp sản xuất bia là một ngành công nghiệp toàn cầu rất lớn, bao gồm một số công ty đa quốc gia, và hàng ngàn các nhà sản xuất nhỏ khác nhau, từ các quán bia nhỏ tới các nhà máy bia vùng. Những tiến bộ trong việc làm lạnh, vận chuyển xuyên lục địa và quốc tế, tiếp thị và thương mại có kết quả trong một thị trường quốc tế, nơi người tiêu dùng có hàng trăm sự lựa chọn giữa các loại bia khác nhau của địa phương, vùng, quốc gia và nước ngoài. Hoa Kỳ Trước khi có lệnh cấm rượu bia, đã có hàng ngàn nhà máy bia tại Hoa Kỳ, chủ yếu làm các loại bia nặng hơn các loại bia mà người Mỹ hiện đại đang dùng. Bắt đầu từ năm 1920, hầu hết các nhà máy bia đều ngừng hoạt động, một số chuyển sang sản xuất nước giải khát và ngành kinh doang khác. Bia lậu thường pha thêm nước để tăng lợi nhuận cho người bán, khiến bia nhẹ hơn, và nó đã trở thành một xu hướng kéo dài đến ngày nay, đó là khẩu vị của người Mỹ thích loại bia nhẹ. Việc hợp nhất các nhà máy bia và áp dụng các tiêu chuẩn kiểm soát chất lượng công nghiệp đã đưa tới nền công nghiệp sản xuất hàng loạt và tiếp thị hàng loạt số lượng cực lớn các loại bia vàng nhẹ. Quảng cáo trở thành quan trọng nhất, công ty lớn hơn sẽ nắm giữ thị phần thị trường nhiều hơn. Những thập kỷ sau Chiến tranh Thế giới II đã thấy một sự hợp nhất mạnh mẽ của ngành công nghiệp sản xuất bia Mỹ: các công ty sản xuất bia mua đối thủ của mình chỉ để có được khách hàng và hệ thống phân phối, còn hệ thống sản xuất bia của đối thủ bị mua sẽ bị đóng cửa. Các nhà máy bia và lượng bia nhập khẩu đã trở nên nhiều hơn từ giữa thập niên 1980; số lượng nhà máy bay được tuyên bố vào năm 2007 là trên 1500, đến năm 2010 là 1400 nhà máy, tùy thuộc vào nguồn tin. == Bia trong thần thoại == Sử thi Kalevala của Phần Lan, được thu thập vào văn bản trong thế kỷ 19 nhưng dựa trên truyền thuyết truyền miệng qua nhiều thế kỷ, đã dành nhiều dòng hơn để nói về nguồn gốc của bia và cách làm bia so với những dòng nói về nguồn gốc của loài người. Thần thoại vua Gambrinus xứ Flemish (từ Jan Primus (John I)), đôi khi còn chép cả chuyện phát minh ra bia. Theo truyện truyền thuyết Séc, thần hiếu khách Radegast đã phát minh ra bia. Ninkasi là nữ thần bảo trợ cho nghề bia ở Sumer cổ đại. Trong thần thoại Ai Cập, sự thèm khát máu của nữ thần sư tử Sekhmet hung dữ chỉ được thỏa mãn sau khi nữ thần này bị lừa uống một lượng bia có màu đỏ rất lớn: nữ thần bị say, từ bỏ việc tàn sát và trở nên ngoan ngoãn. Trong thần thoại Bắc Âu, thần biển Ægir, vợ thần là Rán, và 9 người con gái đã ủ ale (hoặc rượu mật ong) cho các vị thần. Trong Lokasenna có nói rằng, Ægir sẽ tổ chức một bữa tiệc mà các vị thần sẽ được uống bia ủ cho họ. Ægir đã thực hiện điều này trong một két khổng lồ mà Thor mang tới. Những chiếc ly trong lâu đài của Ægir luôn luôn đầy, phép thuật kỳ diệu đã khiến chúng tự đầy khi hết. Ægir có hai người hầu trong lâu đài để hầu hạ mình; đó là Eldir [Fire-Kindler] và Fimafeng [Handy]. Trong khúc ca xaga Nart, Satanaya (Ubykh Bản mẫu:IPA-cau, Adyghe]] Bản mẫu:IPA-cau, Ossetian Bản mẫu:IPA-cau), mẹ của các Nart đã phát minh ra bia. == Xem thêm == Jofroi thành Waterford, một thầy tu dòng Dominic thế kỷ 13 đã viết một danh mục tất cả các loại rượu vang và ale nổi tiếng ở châu Âu, mô tả chúng với hương vị tuyệt vời và giới thiệu chúng cho các viện nghiên cứu và cố vấn. == Tham khảo == == Tài liệu == Dumper, Michael; Stanley, Bruce E. (2007). Cities of the Middle East and North Africa: A Historical Encyclopedia. ABC-CLIO. ISBN 9781576079195. . Arnold, John P. 1911. Origin and History of Beer and Brewing: From Prehistoric Times to the Beginning of Brewing Science and Technology. Chicago: Alumni Association of the Wahl-Henius Institute of Fermentology. ISBN 0-9662084-1-2 Benn, Charles. 2002. China's Golden Age: Everyday Life in the Tang Dynasty. Oxford University Press. ISBN 0-19-517665-0. Death, James. 1887. The Beer of the Bible. London: Trübner. ASIN B000889GP4 Eames, Alan D. 1995. Secret Life of Beer: Legends, Lore & Little-Known Facts Pownat, VT: Storey Communications. ISBN 0-88266-807-2 Fahey, David M. "Old-Time Breweries: Academic and Breweriana Historians," Ohio History Volume 116#1, 2009, pp. 101–121; focus on Ohio in Project MUSE Glick, Thomas, Steven J. Livesey, Faith Wallis, eds. Medieval science, technology, and medicine: an encyclopedia (2005) ISBN 0-415-96930-1 Mitchell, Stephen Gilgamesh, a new English version ISBN 0-7432-6164-X Scully, Terence. 1995. The Art of Cookery in the Middle Ages ISBN 0-85115-611-8 Smith, Gregg Beer: A History of Suds and Civilization from Mesopotamia to Microbreweries ISBN 0-380-78051-8 Unger, Richard W. 2004. Beer in the Middle Ages and the Renaissance. University of Pennsylvania Press. ISBN 0-8122-3795-1 == Liên kết ngoài == History of Beer in Infographics Beer in ancient Egypt The Hymn to Ninkasi The Foaming Head's History of Beer Page Did the Ancient Israelites Drink Beer? Biblical Archaeology Review History of Beer
quần đảo cook.txt
Quần đảo Cook (Tiếng Māori quần đảo Cook: Kūki 'Āirani) là một nền dân chủ nghị viện tự trị trong liên minh tự do với New Zealand. Mười lăm đảo nhỏ trong quốc gia ở Nam Thái Bình Dương này có diện tích đất liền tổng cộng 240 km² (92,7 sq mi), Khu vực Kinh tế Độc quyền (EEZ) của Quần đảo Cook bao phủ đến 1,8 triệu km² (0,7 triệu dặm vuông) đại dương. Trung tâm đông dân nhất là đảo Rarotonga (khoảng 10.000), có một sân bay quốc tế. Cũng có nhiều dân cư quần đảo này sống ở New Zealand, cụ thể là ở Đảo Bắc; trong điều tra năm 2006, 58.008 người tự nhận mình là hậu duệ của người Māori đảo Cook. Với 90.000 du khách viếng thăm đảo vào năm 2006, du lịch là ngành công nghiệp số một của đất nước, và yếu tố hàng đầu của nền kinh tế, bỏ xa ngành ngân hàng, khai thác ngọc, hải sản và xuất khẩu cây ăn quả. Phòng vệ là trách nhiệm của New Zealand, theo sự hội ý với Quần đảo và có sự yêu cầu từ Quần đảo. Trong thời gian gần đây, Quần đảo Cook đã đưa vào những chính sách ngoại giao ngày càng độc lập. == Địa lý == Quần đảo Cook nằm ở Nam Thái Bình Dương, đông bắc New Zealand, giữa Samoa thuộc Mỹ và Polynésie thuộc Pháp. Với 15 hòn đảo chính trải dài trên 2,2 triệu km² mặt biển, có 2 nhóm đảo riêng biệt: Quần đảo Nam Cook và Quần đảo Bắc Cook. Các hòn đảo được tạo thành từ các hoạt động của núi lửa; nhóm đảo phía bắc lâu đời hơn và bao gồm 6 đảo san hô vòng (san hô phát triển vùng trũng của miệng núi lửa). Khí hậu mang kiểu nhiệt đới. == Ngôn ngữ == Ngôn ngữ trên quần đảo gồm có tiếng Anh, tiếng Maori quần đảo Cook hay còn gọi là "Rarotongan", và tiếng Pukapukan. Có rất nhiều phương ngữ khác nhau tùy theo mỗi đảo. Tiếng Maori quần đảo Cook gần gũi với cả tiếng của đảo Tahiti, Polynésie thuộc Pháp và tiếng Maori ở New Zealand. Ngược lại, tiếng Pukapukan có quan hệ gần gũi với tiếng Samoa. Cả tiếng Anh và tiếng Maori ở Quần đảo Cook đều được coi là ngôn ngữ chính thức. == Chú thích == == Liên kết ngoài == Cook Islands Government Cook Islands Government (summary) Cook Islands Tourism Corporation Open Directory Project - Cook Islands directory category Comprehensive Cook Islands site with news section Detailed and non-commercial website Cook Islands National Environment Service Cook Islands Biodiversity Database Photographs of CI banknotes including unique 3 dollar bill
rupee sri lanka.txt
Rupee (tiếng Sinhala: රුපියල්, tiếng Tamil: ரூபாய்) (ký hiệu: රු, Rs, SLRs, /-; mã ISO 4217: LKR) là đơn vị tiền tệ chính thức của Sri Lanka. Một rupee được chia nhỏ thành 100 cent (xu). Ngân hàng Trung ương Sri Lanka là cơ quan có thẩm quyền phát hành tiền rupee Sri Lanka. Ký hiệu thông dụng của đồng tiền này là Rs. nhưng thỉnh thoảng còn được viết là SLRs. nhằm phân biệt rõ hơn. Một số quốc gia khác cũng có đơn vị tiền tệ gọi là rupee. == Lịch sử == Năm 1825, đồng bảng Anh trở thành đơn vị tiền gửi ngân hàng chính thức của Ceylon, thay thế cho đồng rixdollar Ceylon với tỉ lệ quy đổi 1 bảng = 13⅓ rixdollar. Tiền xu bằng bạc của Anh được hợp thức hóa. Tiền giấy kho bạc được phát hành vào năm 1827, thay thế cho giấy bạc rixdollar trước đó. Tiền rixdollar không mang ra đổi thì bị hủy bỏ vào tháng 6 năm 1831. Tiền xu rupee Ấn Độ trở thành tiền xu tiêu chuẩn của Ceylon vào ngày 26 tháng 9 năm 1836, và Ceylon quay về khu vực tiền tệ Ấn Độ. Giấy bạc mệnh giá bảng tiếp tục lưu hành sau năm 1836 song song với rupee. Tiền hợp pháp vẫn là đồng bạc Anh; tài khoản tiền gửi ngân hàng vẫn dùng bảng, shilling và penny. Tuy nhiên, các khoản thanh toán thì thực hiện bằng rupee và anna Ấn Độ với tỷ giá kế toán cố định là 2 shilling = 1 rupee, tức 1 bảng = 10 rupee. Ngân hàng Ceylon là ngân hàng tư nhân đầu tiên được phát hành giấy bạc tại Ceylon vào năm 1844. Tiền giấy kho bạc bị thu hồi vào năm 1856. Rupee Ấn Độ được lập làm đồng tiền hợp pháp vào ngày 18 tháng 6 năm 1869 và được chia nhỏ thành các đơn vị thấp hơn vào ngày 23 tháng 8 năm 1871. Rupee (=100 cent) trở thành đơn vị tiền gửi ngân hàng và tiền thanh toán hợp pháp duy nhất của Ceylon từ ngày hiệu lực 1 tháng 1 năm 1872, thay thế cho bảng Anh với tỉ lệ quy đổi 1 rupee = 2 shilling 3 penny. == Tiền xu == Năm 1872, các tiền xu làm bằng đồng mệnh giá ¼, ½, 1 và 5 được ra mắt (trên đó in năm sản xuất là 1870). Năm 1892, ra mắt tiền xu bằng bạc mệnh giá 10, 25 và 50 cent. Năm 1904, ngừng sản xuất tiền xu ¼ cent. Năm 1909, thay thế đồng xu 5 cent kích cỡ quá to thành tiền xu đồng-nickel kích cỡ nhỏ hơn nhiều, có hình vuông với bốn góc vát tròn. Năm 1919, độ bạc làm tiền xu bị giảm từ 0,800 thành 0,550. Trong thời kì 1940-1944, việc đúc tiền xu bị thay đổi lớn. Năm 1940, chấm dứt sản xuất đồng ½ cent. Năm 1942, ra mắt đồng xu làm bằng đồng mệnh giá 1 cent có khối lượng và độ dày đều giảm. Cũng trong năm 1942, chất liệu nickel-đồng thau thay thế cho chất liệu đồng-nickel của đồng xu mệnh giá 5 cent, đến năm 1943 thì thay thế cho chất liệu bạc của đồng xu 25 và 50 cent. Năm 1944, ra mắt tiền xu mệnh giá 2 và 10 cent được làm bằng nickel-đồng thau và có hình vỏ sò. Năm 1957, ra mắt đồng xu mệnh giá 2 cent có khắc chân dung Nữ hoàng Elizabeth II. Tiền xu khắc hình Vua George VI vẫn tiếp tục được đúc mặc dù nhà vua đã băng hà. Năm 1957, đồng xu bằng đồng-nickel mệnh giá 1 rupee và đồng xu 0,925 bạc mệnh giá 5 rupee được phát hành nhằm kỉ niệm 2500 năm Phật giáo. Năm 1963, bộ tiền xu mới ra mắt không còn khắc chân dung các nhân vật Hoàng gia Anh nữa mà thay vào đó là huy hiệu Ceylon. Các tiền xu được phát hành là: đồng 1 và 2 cent làm bằng nhôm, đồng 5 và 10 cent làm bbằng nickel-đồng thau và đồng 25, 50 cent và 1 rupee làm bằng đồng-nickel. Các đồng xu có chung hình dạng và kích thước như các bộ tiền xu trước đây, chỉ khác về mặt chất liệu. Năm 1976, phát hành với số lượng có hạn tiền xu 2 rupee có bảy cạnh và tiền xu 5 rupee có 10 cạnh. Năm 1978, sự mất giá tiền tệ khiến người ta dùng nhôm thay cho nickel-đồng thau khi đúc đồng 5 và 10 cent, và không lâu sau đó người ta cũng ngừng sản xuất đồng 1 và 2 cent. Năm 1984, đồng 2 rupee làm bằng đồng-nickel và đồng 5 rupee làm bằng nhôm-đồng thiếc được phát hành để thay thế hoàn toàn cho tiền giấy mệnh giá 2 và 5 rupee. Năm 1987, phát hành đồng xu kỉ niệm có mệnh giá 10 rupee, có hình vuông với các góc được vát tròn. Năm 1998, phát hành đồng xu lưỡng kim kỉ niệm có mệnh giá 10 rupee. Mặt trước của các đồng xu được phát hành từ 1972 có khắc huy hiệu Cộng hòa Sri Lanka. Mặt sau của đồg xu thì ghi mệnh giá của nó bằng số và bên dưới là bằng chữ (tiếng Sinhala, tiếng Tamil, tiếng Anh) kèm theo năm phát hành, bên trên là tên nước Sri Lanka viết bằng tiếng Sinhala. Ngày 14 tháng 12 năm 2005, Ngân hàng Trung ương Sri Lanka phát hành bộ tiền xu mới với các mệnh giá 25 và 50 cent, 1, 2 và 5 rupee. Các tiền xu mệnh giá 1, 2, 5 và 10 cent mặc dù vẫn hợp pháp nhưng không còn thấy trong lưu thông, và nói chung Ngân hàng Trung ương không phát hành chúng nữa. Lý do nữa giải thích tại sao các loại tiền xu này không còn được đúc là bởi chi phí đi kèm quá tốn kém đồng thời hoạt động thương mại cũng không có nhu cầu sử dụng. Thiết kế mặt trước và mặt sau của các tiền xu mới vẫn giữ giống hệt bộ tiền xu cũ. Tuy vậy, kích cỡ bị giảm và chất liệu bị đổi sang thép mạ điện do chi phí thấp hơn mà lại dễ dàng nhận diện hơn. Ngày 5 tháng 4 năm 2010, Sri Lanka thay thế tiền giấy 10 rupee bằng đồng xu hợp kim nickel-thép mạ điện có 11 cạnh. === Đồng xu kỉ niệm === Ngân hàng Trung ương Sri Lanka bắt đầu phát hành tiền xu kỉ niệm kể từ năm 1957. Ngày 15 tháng 12 năm 2010, nhân dịp kỉ niệm 60 năm ngày thành lập, Ngân hàng Trung ương phát hành đồng xu bằng bạc có nhiều màu sắc và không bị mờ, mệnh giá 5000 rupee. Đây là tiền xu nhiều màu đầu tiên được Ngân hàng Trung ương phát hành. == Tiền giấy == Chính phủ Ceylon lần đầu phát hành tiền giấy dưới hình thức giấy 5 rupee vào năm 1895. Nối tiếp nó là tiền giấy 10 rupee (1894), 1000 rupee (1899), 50 rupee (1914), 1 và 2 rupee (1917) và 100 và 500 rupee (1926). Năm 1942, phát hành khẩn cấp tiền giấy 5, 10, 25 và 50 cent và tiếp tục đến 1949. Ngân hàng Trung ương Ceylon được lập ra theo Đạo luật Tiền tệ số 58 năm 1949 và bắt đầu hoạt động nghiệp vụ vào ngày 28 tháng 8 năm 1950. Năm 1951, Ngân hàng Trung ương Ceylon chiếm quyền phát hành tiền giấy và cho ra đời tiền giấy 1 và 10 rupee. Nối tiếp đó là các tiền giấy mệnh giá 2, 5, 50 và 100 rupee vào năm 1952. Tiền giấy 1 rupee bị thế bằng tiền xu vào năm 1963. Từ 1977, giấy bạc do Ngân hàng Trung ương Sri Lanka phát hành. Tiền giấy 20 rupee ra mắt năm 1979, sau đó đến tiền giấy 500 và 1000 rupee (1981), 200 rupee (1998) và 2000 rupee (2006). Giấy bạc Sri Lanka khác thường ở chỗ mặt sau được in dọc. Năm 1998, Ngân hàng Trung ương phát hành tiền polyme mệnh giá 200 rupee để kỉ niệm 50 năm ngày độc lập (1948-1998). Đây là tiền polyme đầu tiên được phát hành ở Sri Lanka, do Úc in. Tất cả các tiền giấy mệnh giá khác đều do De la Rue Lanka Currency and Securities Print (Pvt) Ltd in. Đây là một doanh nghiệp liên doanh giữa Chính phủ Sri Lanka và De La Rue (một công ty in của Anh). Mặt trước tiền giấy Sri Lanka có in hình các thủ tướng trong lịch sử và thủ tướng đương nhiệm Mahinda Rajapaksa, còn mặt sau in hình động thực vật, cảnh quan, công nghiệp, hình ảnh thể hiện văn hóa, lịch sử và thành tựu của Sri Lanka. == tỷ giá hối đoái == == Xem thêm == Kinh tế Sri Lanka == Tham khảo ==
công tắc.txt
Công tắc là tên của một thiết bị (xét trong mạch điện), hoặc một linh kiện (xét trong một thiết bị điện, sử dụng với mục đích để đóng/bật - ngắt/mở/tắt dòng điện hoặc chuyển hướng trạng thái đóng-ngắt trong tổ hợp mạch điện có sử dụng chung một công tắc. Hay rõ hơn, trong mạng điện, một công tắc có thể cùng lúc chuyển trạng thái đóng-ngắt cho 1 hoặc nhiều mạch điện thành phần. Cầu dao, khóa điện, Rơ le,... là những dạng công-tắc đặc biệt, được người Việt đặt tên riêng để phân biệt do cách chế tạo, công năng sử dụng. == Cấu tạo == Một công tắc được cấu tạo từ 2 điểm của đường dây tải điện và cầu nối giữa chúng (giúp 2 điểm "tiếp xúc" với nhau). Công tắc có thể là công tắc đơn (2 điểm, kết nối 1-1) hoặc đa điểm (kết nối 1-n hoặc n-1 hoặc n-n hoặc n-m, trong đó n, m>1). == Phân biệt công tắc điện và công tắc từ == Công tắc điện và công tắc từ khác nhau cơ bản ở cơ chế điều khiển sự đóng-ngắt đường dây dẫn. Công tắc điện hoạt động nhờ tác động cơ học di chuyển cầu nối để nối-không nối 2 tiếp điểm của mạch điện, tác động này có thể là tác động chủ động từ con người hoặc tự động nhờ cảm biến nhiệt hoặc điện; Công tắc từ hoạt động nhờ một mạch điều khiển khác sẽ hút/nhả 2 tiếp điểm với nhau. == Tham khảo == == Xem thêm == Linh kiện điện tử Ký hiệu điện tử Sơ đồ mạch điện == Liên kết ngoài ==
samsung galaxy note edge.txt
Samsung Galaxy Note Edge là điện thoại lai máy tính bảng chạy hệ điều hành Android sản xuất bởi Samsung Electronics. Galaxy Edge đã được công bố trong buổi họp báo tại IFA Berlin vào 4 tháng 9 năm 2013 cùng với Galaxy Note 4. Đây là dòng điện thoại thương mại đầu tiên do Samsung sản xuất có thiết kế màn hình cong. Phần cạnh cong của màn hình được tích hợp một số tính năng thông minh đặc biệt. Cụ thể, phần cạnh cong được dùng như một thanh tiếp cận nhanh để chạy các ứng dụng ưa thích. Ngoài ra, phần cạnh cong này cũng có tính năng thông báo để nhận cuộc gọi đến, tin nhắn hoặc email và sử dụng máy chụp hình, điều khiển trình duyệt nghe nhạc, xem các cập nhật trạng thái trên mạng xã hội, thông tin thời tiết, kết quả thể thao và nhiều tính năng khác. Đặc biệt, phần cạnh cong cũng được trang bị “Các công cụ nhanh” bao gồm một số tính năng cơ bản chẳng hạn sử dụng như thước, đồng hồ bấm giờ, mở đèn LED và máy thu âm giọng nói. Tóm lại, đây là một khởi đầu thông minh từ Samsung: hãng đang tích cực kêu gọi các đơn vị phát triển ứng dụng tận dụng phần cạnh cong này để tích hợp thêm các tính năng mới cho ứng dụng nhằm nâng cao trải nghiệm khi dùng Samsung Galaxy Note Edge. == Thông số kỹ thuật == === Phần cứng === === Phần mềm === == Tham khảo == == Liên kết ngoài == Trang chủ của Samsung Galaxy Note 4 bằng tiếng Việt Hình ảnh chi tiết của Samsung Galaxy Note 4
osmi.txt
Oslà kim loại thuộc phân nhóm phụ nhóm 8; chu kì 6 trong bảng tuần hoàn; thuộc họ platin; ký hiệu Os; mang số hiệu nguyên tử 76; nguyên tử khối 190,2; do 2 nhà hóa học người Anh Smithson Tennant và William Hyde Wollaston tìm ra năm 1804. == Tính chất == === Vật lý === Osmi là kim loại nặng nhất trong các kim loại từng biết (khối lượng riêng 22,6g/cm3, nặng hơn khoảng 0,2g/cm3 so với Iridi, kim loại nặng thứ nhì). Osmi khá cứng nhưng cũng khá giòn; nhiệt độ nóng chảy rất cao, khoảng 3030 °C, đứng thứ 5 trong bảng xếp hạng các nguyên tố có nhiệt độ nóng chảy cao nhất. === Hóa học === Trong hợp chất, Osmi có số oxi hóa từ -2 đến +8. Trong đó, hợp chất có số oxi hóa +2; +3; +4 và +8 là khá phổ biến. OsO4 (Osmi tetraoxit) là hợp chất của Osmi mà trong đó Osmi có số oxi hóa +8. OsO4 là tinh thể màu vàng nhạt có mùi mạnh, tan trong nước, dễ bay hơi, được hình thành khi cho bột Osmi tiếp xúc với không khí. === Đồng vị === Osmi có 7 đồng vị tự nhiên, trong đó có 6 đồng vị bền là: 184Os, 187Os,188Os,189Os,190Os và 192Os. === Ứng dụng === Kim loại này được dùng chủ yếu trong các hợp kim không gỉ dùng để bịt đầu các ngòi bút hoặc các trụ bản lề dụng cụ == Tham khảo ==
wolfram alpha.txt
Để tạo liên kết trong tới bài viết này, bạn cần sử dụng tên bài gốc là Wolfram Alpha Wolfram|Alpha (hay còn được viết là WolframAlpha hoặc Wolfram Alpha) là một máy trả lời do Wolfram Research phát triển. Đây là một dịch vụ trực tuyến có nhiệm vụ trả lời các câu hỏi nhập vào trực tiếp bằng cách tính toán câu trả lời từ các dữ liệu có cấu trúc, chứ không chỉ cung cấp một danh sách các tài liệu hoặc trang có web có thể chứa câu trả lời như cách máy tìm kiếm thường làm. Website này được Stephen Wolfram công bố vào tháng 3 năm 2009, và được phát hành cho công chúng ngày 15 tháng 5 năm 2009. == Công nghệ == Wolfram|Alpha được viết ra bằng 5 triệu dòng mã Mathematica (sử dụng webMathematica và gridMathematica) và chạy trên 10.000 CPU (dù con số này đã nâng lên vào ngày ra mắt). == Ra mắt == Tiến trình chuẩn bị để ra mắt bắt đầu vào lúc 0 giờ ngày 16 tháng 5 năm 2009 theo giờ UTC và được phát sóng trực tiếp trên kênh Justin.tv. Kế hoạch là sẽ phát hành dịch vụ ra công chúng vài giờ sau đó, được dự đoán sẽ chịu lượng tải rất lớn. Dịch vụ chính thức ra mắt vào ngày 18 tháng 5 năm 2009. Wolfram Alpha đã nhận được những lời nhận xét khác nhau. Wolfram Alpha bảo vệ cho quan điểm về tiềm năng của mình, một số người thậm chí còn cho rằng cách nó quyết định câu trả lời quan trọng hơn sự hiệu quả như hiện nay. == Tham khảo == == Xem thêm == Mathematica == Liên kết ngoài == Trang web chính thức. Wolfram Alpha đang đến, blog của Stephen Wolfram. Đoạn phim ra mắt được lưu trữ. Bản mẫu:Computable knowledge
lào.txt
Lào (tên chính thức: Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào, tiếng Lào: ສາທາລະນະລັດ ປະຊາທິປະໄຕ ປະຊາຊົນລາວ) là một quốc gia không giáp biển duy nhất tại vùng Đông Nam Á. Lào giáp với nước Myanma và Trung Quốc phía tây bắc, Việt Nam ở phía đông, Campuchia ở phía nam, và Thái Lan ở phía tây. Lào còn được gọi là "đất nước Triệu Voi" hay Vạn Tượng; ngôn ngữ của nước này là tiếng Lào. Trước đây tại Việt Nam, Lào còn có tên là Ai Lao, Lão Qua. == Lịch sử == Lịch sử của Lào trước thế kỷ 13 gắn liền với sự thống trị của vương quốc Nam Chiếu (南詔). Mãi cho đến thế kỷ 14, lãnh thổ nước Lào hiện nay vẫn thuộc về đế chế Khmer, rồi đến vương quốc Sukhothai. Vào thế kỷ 14, vua Phà Ngừm (Fa Ngum) lên ngôi đổi tên nước thành Lan Xang (Lạn Xạn). Trong nhiều thế kỉ tiếp theo, Lào nhiều lần phải chống các cuộc xâm lược của Đại Việt, Miến Điện và Xiêm. Đến thế kỷ 18, Thái Lan giành quyền kiểm soát trên một số tiểu vương quốc còn lại. Các lãnh thổ này nằm trong phạm vi ảnh hưởng của Pháp trong thế kỷ 19 và bị sáp nhập vào Liên bang Đông Dương vào năm 1893. Trong Chiến tranh thế giới thứ hai, Pháp bị Nhật thay chân ở Đông Dương. Sau khi Nhật đầu hàng quân Đồng Minh, ngày 12 tháng 10 năm 1945, Lào tuyên bố độc lập. Đầu năm 1946, Pháp quay trở lại xâm lược Lào. Năm 1949 quốc gia này nằm dưới sự lãnh đạo của vua Sisavang Vong và mang tên Vương quốc Lào. Tháng 7 năm 1954, Pháp ký Hiệp ước Genève, công nhận nền độc lập và toàn vẹn lãnh thổ của Lào. Khi chiến tranh ra toàn cõi Đông Dương, năm 1968 quân tình nguyện Việt Nam sang tham chiến cùng quân Pathet Lào, chống lại chính phủ vương quốc Lào và quân đội Hoa Kỳ. Năm 1975 phong trào cộng sản Pathet Lào do Hoàng thân Souphanouvong lãnh đạo đã xóa bỏ chính quyền vương quốc Lào, đưa vua Savang Vatthana vào trại học tập cải tạo và nắm quyền lãnh đạo đất nước này. Ngày 2 tháng 12 năm 1975, Đại hội đại biểu nhân dân toàn quốc Lào quyết định xóa bỏ chế độ quân chủ, thành lập nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào. Ngày này cũng được lấy làm ngày quốc khánh của Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào. Lào là thành viên Liên Hiệp Quốc từ ngày 14 tháng 12 năm 1955. Những năm cuối thập niên 1980, Lào thực hiện chính sách nới lỏng kiểm soát kinh tế. Năm 1997 quốc gia này gia nhập Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á. Hiện nay quan hệ với Việt Nam vẫn là cơ bản trong chính sách đối ngoại của Lào. == Địa lý == Lào là một quốc gia duy nhất ở Đông Nam Á không giáp với biển. Lào giáp Trung Quốc ở phía bắc với đường biên giới dài 505 km; giáp Campuchia ở phía nam với đường biên giới dài 535 km; giáp với Việt Nam ở phía đông với đường biên giới dài 2069 km, giáp với Myanma ở phía tây Bắc với đường biên giới dài 236 km; giáp với Thái Lan ở phía tây với đường biên giới dài 1835 km. Địa thể đất Lào có nhiều núi non bao phủ bởi rừng xanh; đỉnh cao nhất là Phou Bia cao 2.817 m. Diện tích còn lại là bình nguyên và cao nguyên. Sông Mê Kông chảy dọc gần hết biên giới phía tây, giáp giới với Thái Lan, trong khi đó dãy Trường Sơn chạy dọc theo biên giới phía đông giáp với Việt Nam. Khí hậu trong khu vực là khí hậu nhiệt đới của khu vực gió mùa với hai mùa rõ rệt: mùa mưa và mùa khô. Mùa mưa kéo dài từ tháng 5 đến tháng 11, tiếp theo đó là mùa khô từ tháng 12 đến tháng 4 năm sau. Thủ đô và thành phố lớn nhất của Lào là Viêng Chăn, các thành phố lớn khác là: Louang Phrabang, Savannakhet và Pakse. Lào cũng là quốc gia có nhiều loài động vật quý hiếm trên thế giới sinh sống, nổi bật nhất là hổ, voi và bò tót khổng lồ. Rất nhiều loài đang đứng trước hiểm họa tuyệt chủng do nạn săn trộm và phá rừng. == Chính trị == Đảng chính trị duy nhất ở Lào là Đảng Nhân dân Cách mạng Lào. Người đứng đầu nhà nước là Chủ tịch nước được Quốc hội cử ra có nhiệm kỳ 5 năm. Người đứng đầu chính phủ là Thủ tướng. Chính phủ được Chủ tịch nước đề cử và Quốc hội thông qua. Đường lối chính sách của chính phủ do Đảng lãnh đạo thông qua 9 ủy viên Bộ Chính trị và 49 ủy viên Trung ương đảng. Các quyết sách quan trọng của chính phủ do Hội đồng bộ trưởng biểu quyết thông qua. Lào thông qua hiến pháp mới năm 1991. Trong năm sau đó đã diễn ra bầu cử Quốc hội với 85 đại biểu. Các thành viên quốc hội được bầu bằng bỏ phiếu kín. Quốc hội do cuộc bầu cử năm 1997 tăng lên thành 99 đại biểu đã thông qua các đạo luật mới mặc dù cơ quan hành pháp vẫn giữ quyền phát hành các sắc lệnh liên quan. Cuộc bầu cử gần đây nhất diễn ra tháng 2 năm 2002 với 109 đại biểu. == Kinh tế == Lào là nước nằm sâu trong lục địa, không có đường thông ra biển và chủ yếu là đồi núi trong đó 47% diện tích là rừng. Có một số đồng bằng nhỏ ở vùng thung lũng sông Mê Kông hoặc các phụ lưu như đồng bằng Viêng Chăn, Champasack...45 % dân số sống ở vùng núi. Lào có 800.000 ha đất canh tác nông nghiệp với 85% dân số sống bằng nghề nông. Lào có nguồn tài nguyên phong phú về lâm nghiệp, nông nghiệp, khoáng sản và thuỷ điện. Nhìn chung kinh tế Lào tuy phát triển song chưa có cơ sở bảo đảm ổn định. Nền kinh tế trong những năm gần đây có nhiều tiến bộ. Các mục tiêu kinh tế-xã hội do các kỳ đại hội và các chương trình kế hoạch 5 năm được triển khai thực hiện có hiệu quả. Lào đang nắm bắt thời cơ, đang tạo nên những bước đột phá và đang có những tiền đề cho một thời kỳ tăng tốc. Tăng trưởng GDP năm 2007 đạt 8%, năm 2008 đạt 7,9%. Thu nhập bình quân đầu người tăng dần, năm 2000 đạt 298 USD/người/năm; năm 2006 đạt 546 USD/người/năm, năm 2007 đạt 678 USD/người/năm, năm 2008 đạt 841 USD/người/năm. Đến năm 2020, Lào phấn đấu đạt GDP bình quân đầu người tăng gấp 2-3 lần hiện nay, khoảng 1.200-1.500 USD/năm. Kinh tế đối ngoại: đến năm 2007, Lào có quan hệ thương mại với 60 nước, ký Hiệp định thương mại với 19 nước, 39 nước cho Lào hưởng quy chế GSP. Hàng hoá xuất khẩu chủ yếu là khoáng sản và gỗ. Đại hội đảng Nhân dân Cách mạng Lào lần thứ VIII tháng 3 năm 2006 đề ra mục tiêu đến năm 2020: xây dựng vững chắc hệ thống chính trị dân chủ nhân dân, trong đó Đảng là hạt nhân lãnh đạo, giữ vững ổn định chính trị, an ninh trật tự an toàn xã hội; đưa đất nước thoát khỏi tình trạng kém phát triển; kinh tế phát triển dựa trên sự phát triển nông nghiệp vững chắc và lấy phát triển công nghiệp làm cơ sở, tạo tiền đề cho công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, tạo chuyển biến cơ bản về chuyển đổi cơ cấu kinh tế theo hướng tích cực; phát triển nhịp nhàng các thành phần kinh tế, trong đó thành phần kinh tế Nhà nước và kinh tế tập thể được củng cố và phát triển vững mạnh. GDP tăng gấp 3 lần năm 2000; chủ động mở rộng hợp tác quốc tế. Lào - một trong số ít các nước cộng sản còn lại - đã bắt đầu dỡ bỏ việc kiểm soát tập trung hóa và tăng cường phát triển doanh nghiệp tư nhân vào năm 1986. Kết quả từ một xuất phát điểm thấp là rất ấn tượng. Tỷ lệ tăng trưởng trung bình hàng năm đạt 7% trong các năm 1988-2001 ngoại trừ một khoảng thời gian tụt xuống do cuộc khủng hoảng tài chính châu Á bắt đầu năm 1997. Mặc dù tốc độ tăng trưởng cao nhưng Lào vẫn còn là một đất nước với cơ sở hạ tầng lạc hậu. Tại đây đã có tuyến đường sắt nối thủ đô Vientiane (Lào) đến tỉnh Nong Khai (Thái Lan), hệ thống đường bộ mặc dù đã được cải tạo nhưng vẫn đi lại khó khăn, hệ thống liên lạc viễn thông trong nước và quốc tế còn giới hạn, điện sinh hoạt chỉ mới có ở một số khu vực đô thị. Sản phẩm nông nghiệp chiếm khoảng một nửa tổng sản phẩm quốc nội (GDP) và sử dụng 80% lực lượng lao động. Năm 2015 sản xuất 4,2 triệu tấn lúa gạo. Nền kinh tế vẫn tiếp tục nhận được sự trợ giúp của Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF) và các nguồn quốc tế khác cũng như từ đầu tư nước ngoài trong chế biến sản phẩm nông nghiệp và khai khoáng. Sản xuất điện trong năm 2012-2013 là 10.570.000 MW. Dự án thủy điện Xayaboury được xây dựng. Khoảng 74,77% tổng số làng trong cả nước có điện (2014). Năm 2015 du khách nước ngoài đến Lào đạt 4,33 triệu lượt. Theo báo cáo tại Đại hội X Đảng Nhân dân cách mạng Lào, đến 2015 Lào thu nhập bình quân đầu người tăng lên đến 1.970 USD, và chỉ tiêu 3.190 USD vào năm 2020. Tính đến năm 2016, GDP của Lào đạt 13.761 USD, đứng thứ 122 thế giới, đứng thứ 37 châu Á và đứng thứ 9 Đông Nam Á. == Hành chính == Lào áp dụng một hệ thống hành chính bốn cấp gồm cấp trung ương và ba cấp địa phương. Cấp địa phương cao nhất là tỉnh có 17 đơn vị và thành phố Viêng Chăn. Cấp địa phương cấp hai là các quận, huyện, thị xã. Tiếp theo là cấp Cụm bản (thay cho cấp xã trước đây). Cấp địa phương thấp nhất là bản. Thủ đô: Viêng Chăn Các tỉnh: Attapeu - Bokeo - Borikhamxay - Champasack - Huaphanh - Khammuane - Luangnamtha - Luangprabang - Oudomxay - Phongsaly - Saravane - Savannakhet - Viêng Chăn - Xayabury - Sekong - Xiengkhuang - Xaisomboun Thành phố: Viêng Chăn (thủ đô), Luangprabang (thành phố) Thị xã: Attapeu, Ban Houayxay, Bounneua, Hat Dokeo, Luang Namtha, Nam Thane, Napheng, Oudomxay, Paklay, Pakse, Paksong, Phongsali, Phonhong, Phonsavan, Salavan, Savannakhet (Kaysone Phomvihane), Sayaboury, Seno, Thakhek, Thangone, Vang Vieng, Viengsay. == Dân cư == Khoảng 60% dân cư là dân tộc Lào theo nghĩa hẹp, nhóm cư dân thống lĩnh trong chính trị, văn hóa sinh sống ở các khu vực đất thấp. Dân tộc Lào bắt nguồn từ người Thái di cư từ Trung Quốc xuống phía nam khoảng thiên niên kỷ 1 trước công nguyên. 8% dân cư thuộc các sắc tộc khác ở vùng đất thấp cùng với người Lào được gọi chung là Lào Lùm. Các dân tộc sinh sống ở vùng cao là người H'Mông (Mèo), Dao (Yao hay Miền), Thái Lan, Shan và một ít người gốc Tây Tạng-Miến Điện, sống tại các khu vực cô lập của Lào. Các bộ lạc vùng cao với một di sản ngôn ngữ sắc tộc hỗn hợp ở phía bắc của Lào. Một cách tổng quát họ được biết đến như là người Lào Sủng hay người Lào vùng cao. Các vùng núi ở trung tâm và miền nam là nơi sinh sống của các bộ lạc thuộc sắc tộc Môn-Khmer, được biết đến như là người Lào Thơng. Có một ít người là gốc Việt Nam, chủ yếu ở các thành thị, nhưng nhiều người đã rời khỏi đây sau khi Lào giành độc lập cuối những năm thập niên 1940 và sau 1975. Thuật ngữ Lào không nhất thiết phải chỉ đến ngôn ngữ, dân tộc Lào hay tập quán của người Lào mà nó bao hàm ý nghĩa chính trị nhiều hơn. Nó có thể bao hàm cả các sắc tộc không phải là người Lào gốc nhưng đang sinh sống ở Lào và là công dân Lào. Tương tự như vậy từ "Lào" có thể chỉ đến những người hay ngôn ngữ, văn hóa và ẩm thực của những người thuộc sắc tộc Lào đang sinh sống ở vùng Đông Bắc Thái Lan (Isan). Tôn giáo chính là Phật giáo Theravada, cùng với những điểm chung của thờ cúng linh vật trong các bộ lạc miền núi là sự cùng tồn tại một cách hòa bình của thờ cúng tinh thần. Có một số ít người theo đạo Kitô và đạo Hồi. Ngôn ngữ chính thức và chi phối là tiếng Lào, ngôn ngữ của người Lào đa số, là một ngôn ngữ thuộc ngữ chi Thái trong hệ ngôn ngữ Tai-Kadai. Tiếng Lào có thanh điệu và phát âm giống tiếng Thái, và trong đối thoại người Lào và người Thái Lan có thể hiểu nhau được. Người của các dân tộc thiểu số, ở vùng trung và cao nguyên nói tiếng của dân tộc mình. == Văn hóa == Nền văn hóa Lào chịu ảnh hưởng nặng của Phật giáo Thượng tọa bộ. Sự ảnh hưởng này được phản ánh trong ngôn ngữ và nghệ thuật, văn học và nghệ thuật biểu diễn của Lào. === Âm nhạc === Âm nhạc của Lào ảnh hưởng lớn của các nhạc cụ dân tộc như khèn (một dạng của ống tre. Một dàn nhạc (mor lam) điển hình bao gồm người thổi khèn (mor khaen) cùng với biểu diễn múa bởi nghệ sĩ khác. Múa Lăm vông (Lam saravane) là thể loại phổ biến nhất của âm nhạc Lào, những người Lào ở Thái Lan đã phát triển và phổ biến rộng rãi trên thế giới gọi là mor lam sing. === Lễ hội === Lễ hội ở Lào hay được gọi là Bun. Nghĩa đúng của Bun là phước. Làm Bun nghĩa là làm phước để được phước. Cũng như các nước trong khu vực Đông Nam Á, lễ hội tại đất nước Lào cũng chia làm 2 phần, phần lễ và phần hội. Lào là xứ sở của lễ hội, tháng nào trong năm cũng có. Mỗi năm có 4 lần tết: Tết Dương Lịch, Tết Nguyên Đán (như ở một số nước Á Đông), Tết Lào (Bun PiMay vào tháng 4) và Tết H'mong (tháng 12). Ngoài ra còn các lễ hội: Bun PhaVet (Phật hóa thân) vào tháng 1; Bun VisakhaPuya (Phật Đản) vào tháng 4; Bun BangPhay (pháo thăng thiên) vào tháng 5; Bun Khao PhanSa (mùa chay) vào tháng 7; Bun Khao Padapdin (tưởng nhớ người đã mất) vào tháng 9; Bun Suanghua (đua thuyền) vào tháng 10. === Ẩm thực === Ẩm thực Lào mang phong cách tương tự các quốc gia láng giềng là Campuchia và Thái Lan: cay, chua và ngọt. Tuy nhiên, ẩm thực lại mang những phong cách đặc trưng rất riêng. == Giao thông == Giao thông Lào được xem tương đối tốt, tại các thành phố lớn, giao thông rất thuận tiện. Người Lào tại vùng thủ đô đều sử dụng xe hơi do giá nhập khẩu rẻ, người làm công chức được cấp xe nên lượng xe 4 bánh tại các thành phố lớn rất nhiều. Xe máy hầu như rất ít và không có, xe đạp cũng hiếm thấy ngay tại thủ đô. Đường sá hầu hết là đường 2 chiều, tại các ngã tư đèn xanh là đèn một hướng và không cho phép hướng đối diện chạy. Đèn bộ hành cũng như đèn cho xe chạy đều là đèn một hướng. Tổng chiều dài các tuyến đường trong nước là 45.825 km. Ngày 2 tháng 12 năm 2015 khởi công xây dựng đường sắt Trung Quốc - Lào trị giá 38,7 tỷ nhân dân tệ, tức khoảng hơn 6 tỷ USD dài 427 km, từ biên giới Trung Quốc ở Phongsaly (trước đó dự kiến Luangnamtha) đi Vientiane tới biên giới Lào - Thái Lan, kết nối với cầu đường sắt mới bắc qua sông Mê Công giữa Vientiane và tỉnh Nongkhai Thái Lan. Đường ray khổ tiêu chuẩn quốc tế có chiều rộng 1,43 m. Tuyến đường có 170 cây cầu với tổng chiều dài 69 km, và 72 đường hầm với tổng chiều dài 183 km. Các chuyến tàu chở khách sẽ được thiết kế cho tốc độ 160 km / h, trong khi tốc độ vận tải địa hình bằng phẳng giữa Vangvieng và thủ đô Vientiane sẽ là 200 km/h. Trung Quốc sẽ chịu trách nhiệm 70% của tổng vốn đầu tư, trong khi Lào sẽ chịu phần còn lại. == Truyền thông == Tất cả báo chí đều được phát hành bởi chính quyền, kể cả hai tờ báo tiếng nước ngoài là tờVientiane Times bằng tiếng Anh và tờ Le Renovateur bằng tiếng Pháp. Khao San Pathet Lao là hãng thông tấn chính thức, phát hành các bản tin với phiên bản tiếng Anh và tiếng Pháp. Lào hiện có 9 nhật báo, 90 tạp chí, 43 trậm phát thanh và 32 trạm truyền hình hoạt động trên khắp cả nước.. Ngoài ra, Trung Quốc cũng mở trạm phát thanh FM tại thủ đô Viêng Chăn để phát các chương trình của Đài Phát thanh Quốc tế Trung Quốc bằng tiếng Trung, tiếng Lào và tiếng Anh. Việc sử dụng Internet chủ yếu chỉ thông dụng ở khu vực đô thị lớn và đặc biệt phổ biến trong giới trẻ. == Tôn giáo == Hầu hết dân chúng Lào theo Phật giáo Nam Tông. Người Ki tô giáo và Tin Lành chiếm khoảng 2% dân số. Các nhóm thiểu số tôn giáo khác bao gồm những người thực hành đức tin Bahá'í, Hồi giáo, Phật giáo Đại thừa, và Nho giáo. Một số lượng rất nhỏ người dân không theo tôn giáo nào. Mặt trận Lào Xây dựng Đất nước (LFNC) chịu trách nhiệm về các vấn đề tôn giáo trong nước và tất cả các tổ chức tôn giáo ở Lào phải đăng ký với tổ chức này. Hiến pháp Lào quy định tự do tôn giáo, tuy nhiên trong thực tế chính phủ hạn chế các quyền này. Một số quan chức chính phủ bị cáo buộc vi phạm tự do tôn giáo của công dân. == Xem thêm == Liên lạc viễn thông ở Lào Vận tải ở Lào Lực lượng vũ trang Lào Quan hệ đối ngoại của Lào Danh sách các chủ đề liên quan Văn hóa nghệ thuật Lào == Chú thích == 1 Quốc kỳ Nguồn gốc tên gọi các quốc gia trên thế giới; Nguyễn Hông Trang, Nguyễn Kim Dân, Nguyễn Thuận Ánh - Vũ Hải biên soạn Nhà xuất bản Văn hóa Thông tin-2005 == Liên kết ngoài == Tiếng Anh Laoconnection.com – quốc gia, văn hóa, ngôn ngữ, hình ảnh, lời khuyên, và thêm hơn SEAsite Laos quốc gia, văn hóa, ngôn ngữ, hình ảnh, lời khuyên, và thêm hơn Wikimedia Atlas của Laos, có một số bản đồ liên quan đến Laos.
kanji.txt
Kanji (漢字 (かんじ), Hán tự), là loại chữ tượng hình mượn từ chữ Hán (hànzì), được sử dụng trong hệ thống chữ viết tiếng Nhật hiện đại cùng với hiragana và katakana. Thuật ngữ tiếng Nhật kanji dùng để chỉ các kí tự Trung Quốc nghĩa đen là " chữ Hán" (Hán tự) và nó được viết cùng kí tự với từ tiếng Trung hànzì. == Lịch sử == Có một số bất đồng về cách thức chữ Hán du nhập vào Nhật Bản, nhưng ý kiến được chấp nhận rộng rãi nhất là các nhà sư đã mang các văn bản chữ Hán vào Nhật vào khoảng thế kỉ thứ 5. Các văn bản này được viết bằng chữ Hán vào và lúc đầu cũng được đọc bằng âm Hán. Tuy nhiên qua thời gian, hệ thống Hán văn (漢文, kanbun) xuất hiện - nó dùng văn bản chữ Hán với dấu thanh cho phép người Nhật đọc nó theo quy tắc ngữ pháp tiếng Nhật. Lúc bấy giờ tiếng Nhật chưa có dạng chữ viết. Ngay cả hệ thống chữ viết man'yōgana (万葉仮名, được dùng trong tuyển tập thơ cổ Man'yōshū) cũng dùng bộ chữ kanji với số ký tự hạn chế nhằm ký âm, chứ không nhằm diễn đạt ngữ nghĩa. Man'yōgana viết ở dạng đường cong trở thành hiragana (ひらがな, 平仮名), một hệ thống chữ viết dành cho phụ nữ (không được phép tham gia vào nền giáo dục cao). Hầu hết văn chương của phụ nữ vào thời đại Heian được viết bằng hiragana. Song song đó, katakana (カタカナ, 片仮名) xuất hiện do được các tu sinh giản lược manyogana thành một thành tố đơn. Hiragana và katakana được gọi chung là kana. Khi hệ thống chữ viết tiếng Nhật trưởng thành và mở rộng, kanji được dùng để viết một số phần trong câu, như danh từ, tính từ và động từ, còn hiragana được dùng để viết đuôi của động từ (okurigana), từ chỉ có ở tiếng Nhật và từ khó đọc hay nhớ bằng Kanji. Hiragana cũng được dùng trong sách dùng cho trẻ em và khi muốn giảm nhẹ mức độ của từ hoặc lời yêu cầu, thí dụ như từ kudasai (ください, xin vui lòng) và kodomo (子供, trẻ em). Ngược lại, vì có hình dạng góc cạnh, katakana được dùng để biểu thị từ tượng thanh, các âm thô và đột ngột, âm thanh của động vật và từ vay mượn của nước ngoài. Tuy nhiên cần lưu ý rằng việc dùng katakana để viết từ vay mượn chỉ xuất hiện sau này. Lúc đầu, các từ này được viết bằng kanji, dựa theo nghĩa (煙草 tabako, thuốc lá) hay theo phát âm (tempura 天婦羅 hay 天麩羅, tên một món ăn). Ngày nay thì ngược lại. Từ vay mượn, đặc biệt là gốc tiếng Anh, đang nhanh chóng thay thế cả những từ thường dùng có sẵn dạng tương đương trong tiếng Nhật thay vì được dùng để lấp khoảng trống từ vựng. Một giáo sư ngôn ngữ học ước tính đến 1/3 tiếng Nhật văn nói dùng từ vay mượn hay wasei-eigo, từ tiếng Anh được phát minh bởi người Nhật và từ kết hợp như パソコン pasokon (personal computer, máy tính cá nhân) == Phân loại chữ Hán Nhật văn theo lịch sử == === Quốc tự (Kokuji) === Trong khi một số từ chữ Hán trong tiếng Nhật và trong tiếng Trung có thể đọc qua lại lẫn nhau, một số từ chữ Kanji của tiếng Nhật không có chữ Hán tương đương trong tiếng Trung. Ngoài những từ được dùng với nghĩa khác, những từ có cùng nghĩa nhưng viết khác, cũng có những từ riêng của tiếng Nhật được gọi là Kokuji (国字), còn được gọi là Wasei kanji (和製漢字, tức Kanji được chế ra tại Nhật). Có hàng trăm chữ Quốc tự (xem danh sách ở sci.lang.japan AFAQ), và mặc dù một số từ này ít được dùng, những từ còn lại đã góp phần quan trọng và ngôn ngữ viết tiếng Nhật. Ví dụ như: 峠 tōge (đỉnh đèo) 榊 sakaki (cây sakaki, chi Cleyera) 畑 hatake (cánh đồng) 辻 tsuji (ngã tư đường) 働 dō, hatara(ku) (làm việc) === Quốc huấn (Kokkun) === Kokkun (国訓) là những chữ Kanji có nghĩa trong tiếng Nhật khác với nghĩa nguyên thuỷ trong tiếng Trung. Thí dụ: 沖 oki (ngoài khơi; tiếng Trung: chōng rửa) 椿 tsubaki (Camellia japonica, cây sơn trà Nhật Bản; tiếng Trung: chūn cây xuân Toona spp.) === Cách viết cũ và mới === Một số chữ kanji trong tiếng Nhật có thể được viết theo 2 cách khác nhau: cách viết cũ hay "Kyūjitai" (旧字体(きゅうじたい) - "cựu tự thể") và cách viết mới hay "Shinjitai" (新字体 (しんじたい)- "tân tự thể"). Dưới đây là một số thí dụ về hai cách viết, trong đó cách viết cũ đứng trước cách viết mới: 國 国 kuni (quốc, tức quốc gia) 號 号 gō (hào, nghĩa là số, ký hiệu, dấu hiệu) 變 変 hen, ka(waru) (biến, nghĩa là thay đổi) Cổ tự thể được dùng trước khi Chiến tranh thế giới thứ hai kết thúc; sau chiến tranh chính phủ Nhật đưa ra tân tự thể với lối viết đơn giản hóa. Một số chữ mới này tương tự với chữ Hán giản thể được dùng tại Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa. Thường thì trong tiếng Nhật, nếu chữ Hán đó có Shinjitai thì Kyujitai sẽ không được sử dụng. Tuy vậy nhiều chữ ở Kyujitai vẫn được dùng thường xuyên dù có Shinjitai, và giữa 2 tự thể còn có thể khác nghĩa. Ví dụ chữ "Long" (ryuu - "rồng"), Kyujitai: 龍, Shinjitai: 竜, đều dùng phổ biến như nhau. Hay chữ "diệp", Kyujitai: 葉 - "は(ha) - lá cây", nhưng ở Shinjitai: 叶, nó chỉ được dùng trong động từ "kanaimasu" - 叶います - "đáp ứng, phù hợp", và không thể tráo đổi 2 thể này ở từ "lá cây" và "đáp ứng" được (tức là muốn viết chữ "diệp" có nghĩa là "lá cây", phải viết chữ 葉, không được viết chữ 叶, dù 2 thể của chữ này trong tiếng Nhật đều được sử dụng phổ biến). Cũng có những chữ Hán được dùng trong tiếng Nhật chỉ với mục đích phát âm (当て字 ateji). và nhiều chữ Hán không được dùng trong tiếng Nhật. Tuy nhiên, về mặt lý thuyết, bất cứ chữ Hán nào cũng có thể là chữ Nhật Bản. Đại Hán-Hòa từ điển (大漢和辞典, Morohashi Daikanwa Jiten) là từ điển chữ Hán dùng trong tiếng Nhật lớn nhất cho đến nay; nó có gần 5 vạn mục từ, bao gồm cả những mục từ chưa từng được dùng trong tiếng Nhật. == Ký tự đặc biệt đứng cùng Kanji == Trong tiếng Nhật, có một số ký tự đặc biệt được sử dụng khi viết cùng Kanji: Dấu lặp lại Kanji ngay trước - "々" - được gọi là "kurikaeshi" (くりかえし). Ký tự này khi viết sau 1 chữ Hán, ta sẽ đọc nó theo âm của chữ Hán trước nó (tất nhiên sẽ có vài trường hợp biến âm sang âm đục hay âm bán đục cùng hàng). Ký tự này giúp người viết không cần phải viết lại chữ Hán ở trước nó. VD: "tokidoki" (ときどき - "thỉnh thoảng") vốn sẽ viết là 2 chữ "thời" - 時時 - trong tiếng Nhật ta sẽ viết 1 chữ "thời" với ký tự này - 時々. ”hibi” (ひび - "ngày ngày") vốn sẽ viết là 2 chữ "nhật" - 日日 - trong tiếng Nhật ta sẽ viết 1 chữ "nhật" với ký tự này - 日々. ”iroiro” (いろいろ- "nhiều") vốn sẽ viết là 2 chữ "sắc" - 色色 - trong tiếng Nhật ta sẽ viết 1 chữ "sắc" với ký tự này - 色々. Tương tự như vậy trong một số tên của người Nhật: Nene (寧々), Nonohana (野々花),... Chữ "ke - ケ" của katakana khi viết nhỏ lại (nhỏ bằng chữ "tsu - っ/ッ" với chức năng là âm ngắt) và đứng cạnh chữ Hán, sẽ được đọc là "ka" hoặc "ga". VD: 2ヶ月 (にかげつ - "ni-ka-getsu" - "2 tháng"). == Cách đọc == Do cách thức du nhập vào tiếng Nhật, một ký tự kanji có thể được dùng để viết một hoặc nhiều từ (hay hình vị, trong hầu hết các trường hợp) khác nhau. Từ cách nhìn nhận của người đọc, kanji cũng có một hoặc nhiều cách đọc khác nhau. Để quyết định sử dụng cách đọc nào, người ta phải dựa vào văn cảnh, dụng ý, hoàn cảnh phức hợp, thậm chí là vị trí từ kanji đó trong câu. Một số từ kanji thông dụng có từ 10 cách đọc trở lên. Những cách đọc này thường được phân loại thành nhóm on'yomi (hay cách đọc on) hoặc kun'yomi (hay cách đọc kun). === On'yomi (Cách đọc kiểu Hán) === On'yomi (音読み), cách đọc Hán-Nhật, là sự Nhật hóa cách phát âm tiếng Hán của Hán tự vào thời điểm nó được du nhập vào. Một số ký tự Kanji được du nhập từ các vùng khác nhau của Trung Quốc vào các thời điểm khác nhau, dẫn đến có nhiều on'yomi, và thường có nhiều ý nghĩa. Những kanji được phát minh thêm ở Nhật thường không có on'yomi, nhưng cũng có một số ngoại lệ, chẳng hạn ký tự 働 (động) "làm việc", có kun'yomi là hataraku và on'yomi là dō, hay ký tự 腺 (tuyến), chỉ có cách đọc on'yomi là sen. Nhìn chung, on'yomi chia làm 4 kiểu: Cách đọc Go-on (呉音 - "Ngô âm" - âm của tiếng Ngô) có xuất xứ từ cách phát âm trong thời kỳ Nam-Bắc triều ở Trung Quốc hay Bách Tế ở Triều Tiên, vào thế kỷ thứ 5 - 6. "Ngô" ở đây chính là khu vực nước Ngô thời Xuân Thu hoặc nước Đông Ngô thời Tam Quốc ở Trung Quốc (đều có có trung tâm là là thành phố Thượng Hải ngày nay). Cách đọc Kan-on (漢音 - "Hán âm" - âm của tiếng Hán) có xuất xứ từ cách phát âm trong thời kỳ nhà Đường vào khoảng thế kỷ thứ 7 - 9, chủ yếu lấy cách phát âm ở kinh đô Trường An (長安,长安) của nhà Đường làm tiêu chuẩn. Cách đọc Tō-on (唐音 - "Đường âm") có xuất xứ từ cách phát âm của các triều đại sau đó, như nhà Tống (宋) và nhà Minh (明). Đây là cách đọc chủ yếu được du nhập trong các thời kỳ Heian (平安) cho đến Edo (江戸). Ngoài ra còn một dạng khác là Tōsō-on (唐宋音 - "Đường Tống âm"). Cách đọc Kan'yō-on (慣用音 - "Quán dụng âm"- âm đọc theo thói quen) là những cách đọc ra đời do bị biến đổi, nhầm lẫn và được người Nhật chấp nhận trong ngôn ngữ của họ. Các ví dụ (những cách đọc hiếm dùng nằm trong dấu ngoặc đơn) Kiểu đọc thông dụng nhất là kan-on. Cách đọc go-on đặc biệt thông dụng trong các thuật ngữ đạo Phật, chẳng hạn gokuraku 極楽 "cực lạc". Cách đọc tō-on được dùng trong một số từ như isu 椅子 (ỷ tử) "chiếc ghế" hay futon 布団 (bố đoàn) "tấm nệm". Trong tiếng Hán, hầu hết các ký tự chỉ có một âm tiết tiếng Hán duy nhất. Tuy nhiên, một số từ đồng chuế khác nghĩa (cùng cách viết, khác ý nghĩa) được gọi là 多音字 (đa âm tự - bính âm: duōyīnzì) như 行 (hành - bính âm: háng hay xíng) (tiếng Nhật: kō, gyō) có nhiều hơn một cách đọc biểu diễn những ý nghĩa khác nhau, điều này cũng được phản ánh ở sự tiếp nhận trong tiếng Nhật. Ngoài ra, nhiều âm tiết tiếng Hán, đặc biệt là các âm tiết với thanh nhập (入声), không tương thích với các âm vị phụ-nguyên âm dùng rộng rãi trong tiếng Nhật cổ. Do đó hầu hết on'yomi được hình thành bởi hai morae (âm tiết hay nhịp), mora thứ hai có thể là sự kéo dài của nguyên âm trong mora thứ nhất, hoặc là một trong các âm tiết ku, ki, tsu, chi, hoặc âm tiết n, và được lựa chọn một cách tương đương nhất so với các nguyên âm cuối trong tiếng Hán trung cổ. Thực tế, các phụ âm vòm ở trước các nguyên âm không phải là i, cũng như âm tiết n, có lẽ đã được thêm vào tiếng Nhật để mô phỏng dễ hơn tiếng Hán; không đặc điểm nào trong số này xảy ra trong tiếng Nhật nguyên gốc. On'yomi được dùng chủ yếu trong các từ ghép kanji (熟語 jukugo thục ngữ), một số là kết quả do du nhập cùng với chính những ký tự kanji đó từ các từ các từ tiếng Hán do có thể không tồn tại trong tiếng Nhật hoặc không thể phát âm rõ ràng nếu chỉ sử dụng ngôn ngữ bản địa. Quá trình vay mượn ngôn ngữ này tương tự với quá trình vay mượn các từ tiếng Latin hoặc tiếng Pháp Noóc-măng đối với tiếng Anh, hay vay mượn các từ tiếng Pháp hoặc tiếng Anh đối với tiếng Việt; bởi các thuật ngữ mượn tiếng Hán thường có tính chuyên môn hóa uyên bác, âm tiết kiểu cách hơn so với từ bản địa tương ứng. Ngoại lệ đáng kể nhất trong nguyên tắc này là tên họ, trong đó thường sử dụng cách đọc kun'yomi hơn. === Kun'yomi (cách đọc kiểu Nhật) === Cách đọc kiểu Nhật hay cách đọc bản địa, kun'yomi (訓読み), là cách đọc một chữ kanji lấy nghĩa, dựa trên cách phát âm của một từ tương đương tiếng Nhật, tức yamatokotoba. Cách đọc này chuyển nghĩa của kanji sang một chữ tương xứng nhất trong tiếng Nhật. Giống với on'yomi, mỗi kanji có thể có một hoặc nhiều cách đọc. Có khi kanji đó chỉ có on'yomi mà không có kun'yomi. Lấy ví dụ, ký tự kanji 東, "phía đông", có cách đọc on'yomi là tō. Tuy nhiên, tiếng Nhật vốn đã có 2 từ mang nghĩa "phía đông" là: higashi và azuma. Do đó, ký tự 東 có những cách đọc kun là higashi và azuma. Ngược lại, ký tự kanji 寸, "thốn", biểu thị một đơn vị đo chiều dài trong tiếng Hán (xấp xỉ 3 cm), tiếng Nhật bản địa không có từ nào mang nghĩa tương đương. Do đó, nó chỉ có cách đọc on là sun và không có cách đọc kun nào. Hầu hết các kokuji, tức các ký tự kanji do người Nhật tạo ra thêm, chỉ có các cách đọc kun. Đặc trưng của kun'yomi được quyết định bởi cấu trúc âm tiết (phụ)-nguyên của yamatokotoba. Hầu hết các kun'yomi của danh từ và tính từ thường có độ dài từ 2 đến 3 âm tiết, không tính các ký tự hiragana đi kèm có tên gọi okurigana. Okurigana không được xem là một phần trong bản chất cách đọc của ký tự, mặc dù chúng là một phần trong cách đọc của toàn bộ từ. Người mới học tiếng Nhật có thể ít khi gặp phải các ký tự có cách đọc dài, nhưng những cách đọc có ba bốn âm tiết hay thậm chí nhiều hơn không hề hiếm. Những ký tự như 承る uketamawaru và 志 kokorozashi có đến 5 âm tiết chỉ để biểu đạt một ký tự kanji, đây là những cách đọc dài nhất trong số các kanji nằm trong bộ Jōyō kanji. Trong một số trường hợp, nhiều hơn một từ kanji được dùng để biểu diễn một từ tiếng Nhật duy nhất. Điều này thường xảy ra khi những từ kanji khác nhau biểu diễn những sắc thái ý nghĩa khác nhau. Chẳng hạn, từ なおす (naosu) có nghĩa là "sửa", "chữa", nhưng khi viết là 治す thì mang nghĩa là "chữa bệnh" (sinh vật sống), còn khi viết là 直す thì mang nghĩa là "sửa chữa cái gì đó" (đồ vật). Đặc điểm phân biệt nhiều khi rất rõ ràng nhưng không phải lúc nào cũng vậy. Sự khác biệt quan điểm giữa các tài liệu tham khảo không phải là hiếm; một cuốn từ điển có thể nói rằng những từ kanji này là tương đương, trong khi một cuốn từ điển khác lại chỉ ra những điểm khác biết trong cách dùng. Kết quả là, người bản địa cũng có thể không nắm rõ từ kanji nào được dùng, họ dựa vào sở thích cá nhân hoặc đành viết từ đó bằng hiragana. Thói quen này thường gặp đối với những trường hợp phức tạp như từ もと moto, có thể viết bằng ít nhất 5 ký tự kanji: 元, 基, 本, 下 và 素, ba ký tự đầu trong số đó chỉ có rất ít sự khác biệt về sắc thái. Những cách đọc kanji trong ngôn ngữ địa phương cũng được phân loại bằng kun'yomi, cách đọc đáng chú ý nhất là trong tiếng Ryukyu. === Những cách đọc khác === Có nhiều từ ghép kanji sử dụng kết hợp cách đọc on'yomi và kun'yomi, gọi là các từ jūbako (重箱) hay yutō (湯桶), chúng chính là những ví dụ của loại từ ghép này (chúng là những từ tự diễn giải): ký tự đầu tiên của jūbako được đọc bằng on'yomi, ký tự thứ hai dùng kun'yomi, những cách đọc khác liên quan đến yutō. Đó là dạng từ lai trong tiếng Nhật. Có thể kể một số ví dụ khác, như 場所 basho "nơi, địa điểm" (cách đọc kun-on), 金色 kin'iro "màu vàng kim" (on-kun) hay 合気道 aikidō "môn võ Aikido" (kun-on-on). Một số kanji cũng có những cách đọc ít được biết đến hơn gọi là nanori (名乗り), hầu hết được dùng cho tên người, và thường liên quan đến cách đọc kun'yomi. Tên địa danh đôi khi cũng dùng cách đọc nanori hoặc, thỉnh thoảng hơn, có những cách đọc rất riêng không theo quy luật nào cả. Gikun (義訓) hay jukujikun (熟字訓 thục tự huấn) là những cách đọc các từ ghép kanji không tương ứng với cả on'yomi hay kun'yomi của mỗi ký tự trong từ đó. Lấy ví dụ, 今朝 ("sáng nay") không đọc là *ima'asa - tương ứng với kun'yomi của mỗi ký tự -, cũng không đọc là *konchō - tương ứng với on'yomi của mỗi ký tự -, mà được đọc là kesa — một từ tiếng Nhật Bản địa có 2 âm tiết (đây có thể được xem là một hình vị đơn nhất, hoặc sự hợp nhất của 今日 kyō (trước đây là kefu), "hôm nay", và 朝 asa, "buổi sáng"). Nhiều ateji (当て字, kanji chỉ dùng để biểu diễn ngữ âm) có các ý nghĩa được suy ra từ cách dùng của chúng: ví dụ, từ cổ 亜細亜 ajia trước đây được dùng để biểu diễn "Asia" (châu Á) bằng kanji; ký tự 亜 (á) ngày nay có nghĩa là "Asia" (châu Á) trong những từ ghép như 東亜 tōa, "Đông Á". Từ cách viết 亜米利加 amerika, "Hoa Kỳ", lấy ra ký tự thứ 2, tạo thành từ gần chính thức 米国 beikoku, dịch sát nghĩa là "mễ quốc" nhưng vẫn mang nghĩa "Hoa Kỳ". === Khi nào dùng cách đọc nào === Mặc dù có nhiều quy tắc khi nào dùng cách đọc on'yomi hay khi nào dùng kun'yomi, trong tiếng Nhật tràn ngập các trường hợp không theo quy tắc, và ngay cả người bản địa không phải lúc nào cũng có thể biết cách đọc của một ký tự nếu không có kiến thức tốt. Quy tắc vỡ lòng là đối với những kanji độc lập, chẳng hạn một ký tự biểu diễn một từ đơn nhất, thường được đọc bằng cách đọc kun'yomi của chúng. Chúng có thể được viết cùng với okurigana để biểu đạt biến cách kết thúc của động từ hay tính từ, hay do qui ước. Ví dụ: 情け nasake "sự cảm thông", 赤い akai "đỏ", 新しい atarashii "mới", 見る miru "nhìn", 必ず kanarazu "nhất định, nhất quyết". Okurigana là một khía cạnh quan trọng trong cách dùng kanji trong tiếng Nhật; xem bài viết đó để biết thêm về kun'yomi. Các từ ghép kanji nhìn chung được đọc bằng on'yomi, trong tiếng Nhật gọi là 熟語 jukugo (thục ngữ). Ví dụ, 情報 jōhō "thông tin", 学校 gakkō "trường học", và 新幹線 shinkansen "tàu tốc hành" đều tuân theo dạng này. Sự khác nhau giữa quy tắc đọc kanji độc lập và ghép làm cho nhiều từ có ý nghĩa gần giống nhau nhưng lại có cách đọc hoàn toàn khác nhau. 東 "hướng đông" và 北 "hướng bắc" khi đứng độc lập dùng cách đọc kun tương ứng là higashi và kita, trong khi từ ghép 北東 "hướng đông bắc" lại dùng cách đọc on là hokutō. Điều này còn phức tạp hơn bởi thực tế nhiều kanji có nhiều hơn một cách đọc on'yomi: 生 đọc là sei trong từ 先生 sensei "giáo viên" nhưng lại đọc là shō trong 一生 isshō "cả đời người". Ý nghĩa cũng có thể là tác nhân đối với cách đọc; 易 đọc là i khi nó mang nghĩa "đơn giản", những lại thành eki khi nó mang nghĩa "tiên đoán, bói toán", cả hai cách đọc đều là on'yomi của ký tự này. Quy tắc vỡ lòng này cũng có rất nhiều ngoại lệ. Số lượng những từ ghép đọc bằng kun'yomi không lớn như on'yomi, nhưng cũng không phải là hiếm. Chẳng hạn như 手紙 tegami "thư", 日傘 higasa "cái ô", hay một từ khá nổi tiếng 神風 kamikaze "ngọn gió thần thánh". Những từ ghép như thế cũng có thể có okurigana, như 空揚げ (còn được viết là 唐揚げ) karaage "đồ ăn chiên" và 折り紙 origami "nghệ thuật gấp giấy", mặc dù nhiều khi chúng được viết bỏ đi okurigana (ví dụ, 空揚 hay 折紙). Tương tự, một số ký tự on'yomi cũng có thể được dùng như một từ khi đứng độc lập: 愛 ai "tình yêu", 禅 Zen "thiện", 点 ten "dấu chấm". Hầu hết các trường hợp này liên quan đến những kanji không có kun'yomi, nên có thể không có sự nhầm lẫn, mặc dù vẫn có các ngoại lệ. Ký tự độc lập 金 có thể đọc là kin "tiền, vàng" hoặc cũng có thể là kane "tiền, kim loại"; chỉ có cách dựa vào ngữ cảnh mới biết được cách đọc và ý nghĩa trong dụng ý của người viết. Do có nhiều cách đọc nên số lượng từ cùng cách viết khác ý nghĩa cũng tăng lên, nhiều khi chúng có các ý nghĩa khác nhau phụ thuộc vào cách đọc. Lấy một ví dụ là từ 上手, có thể đọc theo 3 cách khác nhau: jōzu (khéo léo, giỏi), uwate (phần trên), hoặc kamite (phần trên). Thêm nữa, từ 上手い lại được đọc là umai (khéo léo, giỏi). Người ta thường furigana trong những trường hợp này để làm rõ sự nhập nhằng về ý nghĩa. Như đã nói ở trên, cách đọc 重箱 jūbako và 湯桶 yutō cũng không hề hiếm. Thực tế, toàn bộ 4 kiểu kết hợp cách đọc đều có thể xảy ra: on-on, kun-kun, kun-on và on-kun. Nhiều tên địa danh nổi tiếng, như Tokyo (東京 Tōkyō) hay ngay cả tên Nhật Bản (日本 Nihon hoặc nhiều khi đọc là Nippon) được đọc bằng on'yomi; tuy nhiên, đại đa số tên địa danh ở Nhật được đọc bằng kun'yomi: 大阪 Ōsaka, 青森 Aomori, 箱根 Hakone. Khi các ký tự được dùng để viết tắt tên địa danh, cách đọc của chúng có thể không như nguyên gốc. Đội bóng chày của Osaka (大阪) và Kobe (神戸) có tên gọi Hanshin (阪神) Tigers, được lấy từ cách đọc on'yomi của ký tự kanji thứ 2 trong từ Ōsaka và đầu tiên trong từ Kōbe. Tên của tuyến đường sắt Keisei (京成) nối thành phố Tokyo (東京) và Narita (成田) cũng tương tự như vậy, nhưng cách đọc ký tự 京 trong 東京 lại biến thành kei, mặc dù kyō là một cách đọc on'yomi trong từ Tōkyō. Tên họ của người Nhật cũng thường được đọc bằng kun'yomi: 山田 Yamada, 田中 Tanaka, 鈴木 Suzuki. Tên riêng tuy không hẳn được đọc theo kiểu jūbako hay yutō đã đề cập, mà cũng bao gồm lẫn lộn kun'yomi, on'yomi và nanori: 大助 Daisuke [on-kun], 夏美 Natsumi [kun-on]. Do các bậc cha mẹ thường tự lựa chọn theo ý riêng, nên cách đọc tên riêng thường không theo bất kỳ quy tắc nào và cũng không thể biết chắc chắn cách đọc tên riêng của một người nếu không xác định lại. Người đặt tên có thể khá sáng tạo, có những đứa trẻ mang tên 地球 Āsu hay 天使 Enjeru, nghĩa đen tương ứng là "Địa Cầu" và "Thiên Sứ", những cách phát âm cũng gần giống các từ tiếng Anh "Earth" và "Angel" (khi được Nhật hóa phát âm); chúng không phải là tên phổ biến, cách đọc thông thường của 2 từ này tương ứng là chikyū và tenshi. Tuy nhiên, luôn có những quy tắc phổ biến giúp người đọc có kinh nghiệm có thể đoán trước khá chính xác cách đọc của hầu hết tên riêng. === Hỗ trợ phát âm === Do thường xảy ra các trường hợp tối nghĩa, kanji nhiều khi được viết kèm theo cách phát âm trong văn cảnh đó, bằng cách dùng các ký tự rubi (ルビ) gọi là furigana (những ký tự kana nhỏ viết kèm theo bên trên - khi viết theo hàng ngang - hoặc bên phải - khi viết theo hàng dọc - của ký tự kanji) hay kumimoji (những ký tự kana nhỏ nằm ngay trên dòng viết ngay sau ký tự kanji). Kiểu viết này đặc biệt thường gặp trong các văn bản dành cho trẻ em hoặc người nước ngoài, và trong manga (truyện tranh Nhật Bản). Nó cũng thường được dùng trên báo chí để diễn đạt những cách đọc hiếm dùng hay những ký tự không có trong bảng kanji thường dùng đã được công nhận chính thức. == Tổng số chữ Kanji trong tiếng Nhật == Đây đang là con số bị tranh cãi. Đại Hán họa Từ điển - từ điển chữ Hán được Haruo Shirane đánh giá là cực kỳ đáng tin cậy - có chứa khoảng 5 vạn chữ Hán và được cho là khá đầy đủ. Tuy nhiên những từ điển tiếng Trung gần đây có đến trên 8 vạn chữ Hán, nhiều ký tự bao gồm cả những biến thể rất ít biết đến. Hầu hết số đó đều không phổ biến ở cả Nhật Bản và Trung == Cải cách chính tả và các danh sách chữ Hán trong tiếng Nhật == === Kyōiku kanji === === Jōyō kanji === === Jinmeiyō kanji === === Hyōgaiji === === Các tiêu chuẩn công nghiệp Nhật Bản đối với kanji === === Gaiji === == Các thể loại kanji == == Giảng dạy chữ Kanji trong tiếng Nhật == Học sinh tiểu học ở Nhật được dạy và cố gắng nắm được 1.006 ký tự kanji cơ bản trong "Kyōiku kanji" (教育漢字) trước khi kết thúc lớp sáu. Thứ tự các ký tự được học đã được thay đổi. Danh sách Kyōiku kanji là một phần của danh sách lớn hơn bao gồm 1.945 chữ Hán gọi là "Jōyō kanji" (常用漢字) - đây là những ký tự cần phải nắm được để có thể đọc tốt sách báo tiếng Nhật. Các học sinh Nhật thường nắm bắt được danh sách lớn hơn trước khi kết thúc lớp chín. Học sinh tiểu học học các ký tự này bằng cách bắt chước và học các bộ. Các học viên học tiếng Nhật như một ngoại ngữ thường phải học chữ kanji mà không nắm được trước những từ vựng liên quan đến chúng. Do vậy, giải pháp cho những học viên này rất đa dạng, từ những phương pháp bắt chước, học thuộc lòng, hay các phương pháp sao cho dễ nhớ hơn, như dùng hình ảnh, hay những cách liên tưởng. Những học viên tiếng Nhật là người nói tiếng Việt thường cố gắng học thuộc cả phiên âm Hán Việt của ký tự đó (trừ những kokuji do người Nhật tự sáng chế) để dễ đoán nghĩa các từ vựng được viết bằng ký tự đó, hoặc một số người học thuộc các nét bộ như khi học tiếng Hán. Chính phủ Nhật Bản đưa ra các kỳ thi "kiểm định thí nghiệm" (Kanji kentei), viết tắt của 日本漢字能力検定試験 (Nihon kanji nōryoku kentei shiken có nghĩa là "Kiểm tra năng lực nắm bắt chữ Kanji trong tiếng Nhật") để kiếm tra khả năng đọc và viết chữ Kanji. Cấp độ cao nhất của kỳ thi này kiểm tra trong phạm vi khoảng 6.000 chữ Kanji. == Chú thích == == Tham khảo == RomajiDesu Kanji Lookup Tìm Kanji theo nhiều bộ thủ/chi tiết, hỗ trợ hướng dẫn viết Kanji. Chuyển đổi Kanji thành Romaji, Hiragana Chuyển đổi văn bản hay trang web có chứa kanji thành các dạng dễ đọc hơn, và dịch nghĩa (tiếng Anh) từng từ một. Tangorin Tìm kanji bằng cách lựa chọn các chi tiết của nó. Từ điển Hán Việt Từ điển Hán Việt dùng cho điện thoại Blackberry, giúp bạn tra cứu kanji với nhiều ví dụ được lấy từ các bài thi năng lực nhật ngữ đã được dịch ra tiếng việt. == Xem thêm == Danh sách kanji theo số nét
tex.txt
TEX, viết không định dạng là TeX, là một hệ thống sắp chữ được viết bởi Donald Knuth và giới thiệu lần đầu vào năm 1978. TeX được thiết kế với hai mục đích chính: cho phép bất kì ai cũng có thể tạo ra những cuốn sách chất lượng cao với ít công sức nhất, và cung cấp một hệ thống sắp chữ cho ra cùng một kết quả trên mọi máy tính, ngay bây giờ và cả trong tương lai. Nó phổ biến trong môi trường hàn lâm, đặc biệt là trong cộng đồng toán học, vật lý và khoa học máy tính. Trong hầu hết các bản cài đặt Unix, nó gần như thế chỗ của troff, cũng là một chương trình định dạng văn bản được ưa thích khác. TeX nói chung được xem là cách tốt nhất để gõ công thức toán học phức tạp, đặc biệt là ở dạng LaTeX, ConTeXt hoặc các gói khuôn mẫu (template package) khác, nó cũng được dùng cho các tác vụ sắp chữ khác. == Tên == Để tỏ lòng quý trọng đến Viện Công nghệ California (Caltech), nơi Knuth nhận bằng tiến sĩ, tên TeX được dụng ý dùng với phát âm "tekh", trong đó "kh" đại diện cho âm cuối của loch trong tiếng Scotland hay tên của nhà soạn nhạc người Đức Bach (theo Bảng chữ cái phiên âm quốc tế IPA /tɛx/). Chữ X được dùng để đại diện cho chữ χ (chi) trong tiếng Hy Lạp. TeX là dạng viết tắt của τέχνη (technē), tiếng Hy Lạp có nghĩa là "nghệ thuật" và "thủ công", cũng là chữ căn nguyên của technical (kĩ thuật). Tên được xếp chữ với "E" nằm bên dưới đường ngang; nếu hệ thống không hỗ trợ subscript, nó được viết "ước chừng" là "TeX". Các ủng hộ viên của TeX phát triển thêm các tên gọi từ "TeX" — như TeXnician (người dùng phần mềm TeX), TeXhacker (người lập trình TeX), TeXmaster (người lập trình thông thạo TeX), TeXhax, và TeXnique. == Lịch sử == Knuth bắt đầu viết TeX vì ông cảm thấy khó chịu khi chất lượng sắp chữ bị giảm sút trong các quyển I-III của tác phẩm The Art of Computer Programming (Nghệ thuật lập trình máy tính) hoành tráng của ông. Với phong thái của một hacker điển hình thôi thúc giải quyết vấn đề một lần cho mãi mãi, ông bắt đầu thiết kế ngôn ngữ sắp chữ của riêng mình. Ông dự tính hoàn thành trong kỳ nghỉ phép năm 1978 nhưng phải đến hơn 10 năm sau, tức năm 1989, ngôn ngữ này mới ngưng bổ sung thêm tính năng. Guy Steele tình cờ ở Stanford trong mùa hè năm 1978, khi Knuth phát triển phiên bản TeX đầu tiên. Khi Steele quay lại MIT mùa thu năm ấy, ông viết lại phần nhập/xuất (I/O) của TeX để chạy dưới Hệ thống chia sẻ thời gian không tương thích (ITS). Phiên bản TeX đầu tiên được viết bằng ngôn ngữ lập trình SAIL để chạy trên một PDP-10 dưới hệ điều hành WAITS của Đại học Stanford. Ở các phiên bản TeX sau này, Knuth phát minh khái niệm lập trình văn chương (literate programming), một phương thức tạo ra mã nguồn có tính tương thích và tài liệu có liên kết chéo với chất lượng cao (dĩ nhiên được sắp chữ bằng TeX) từ một cùng tập tin nguyên thuỷ. Ngôn ngữ được dùng gọi là WEB và tạo ra chương trình ở dạng Pascal. TeX có hệ thống đánh số phiên bản mang phong cách riêng. Từ phiên bản 3, các cập nhật được biểu thị bằng cách thêm vào một chữ số vào cuối số thập phân, sao cho số phiên bản tiệm cận π. Phiên bản hiện tại là 3.141592. Điều này phản ánh sự kiện rằng TeX hiện rất ổn định, và chỉ các cập nhật nhỏ được dự tính thực hiện. Knuth có nói rằng "thay đổi cuối cùng nhất (thực hiện trước khi tôi chết)" sẽ chuyển số phiên bản thành π, tại điểm đó mọi bọ còn lại sẽ thành tính năng. == Hệ thống sắp chữ == Các lệnh trong TeX thường bắt đầu với dấu chéo ngược và được nhóm bằng dấu ngoặc nhọn. Tuy nhiên hầu hết các đặc tính pháp cú của TeX có thể được thay đổi ngay trong lúc dùng, khiến một nguồn TeX khó có thể phân tích cấu trúc bởi bất cứ gì trừ chính bản thân TeX. TeX là một ngôn ngữ dựa trên macro và biểu tượng (token): nhiều lệnh, bao gồm hầu hết các lệnh do người dùng định nghĩa, được mở rộng trong lúc dùng cho đến khi chỉ còn các biểu tượng không thể mở rộng thêm được nữa và chúng sẽ được thực thi. Bản thân sự mở rộng này thực tế không gây tác dụng phụ. Đệ quy lặp (tail recursion) các macro không tốn bộ nhớ, và có sẵn cấu trúc if-then-else. Điều này khiến TeX trở thành ngôn ngữ Turing trọn vẹn (Turing-complete) ngay cả ở mức độ mở rộng. Hệ thống có thể được chia đại khái thành 4 cấp độ: ở cấp độ đầu, TeX phân tích từ vựng để tìm các chuỗi điều khiển. Bước kế tiếp, chuỗi điều khiển mở rộng (như câu điều kiện hoặc macro đã được định nghĩa) được thay bởi văn bản của chính chúng. Ở giai đoạn 3, các ký tự được xếp thành đoạn văn; thuật toán ngắt đoạn của TeX tối ưu hoá điểm ngắt cho toàn đoạn. Văn bản được phân thành trang ở bước cuối. Hệ thống TeX hiểu biết chính xác kích thước tất cả ký tự và ký hiệu, và nó dùng thông tin này để tính toán sắp xếp tối ưu số chữ trong dòng và dòng trong trang. Sau đó nó tạo tập tin DVI (viết tắt cho "device independent", độc lập với thiết bị) chứa vị trí chung cuộc cho mọi ký tự. Tập tin dvi này có thể được in trực tiếp với driver máy in phù hợp, hoặc có thể được chuyển sang các định dạng khác. Ngày nay, PDFTeX thường được dùng để bỏ qua giai đoạn phát sinh DVI. Hầu hết chức năng được cung cấp bởi các tập tin định dạng. Các định dạng thường gặp là TeX thuần tuý của Knuth, LaTeX (có ở khắp các ngành kĩ thuật), và ConTeXt (chủ yếu được dùng cho xuất bản trên desktop). Tác phẩm tham khảo cơ bản cho TeX là hai quyển đầu bộ Computers and Typesetting (Máy tính và sắp chữ) của Knuth, The TeXbook và TeX: The Program (có chứa toàn bộ mã nguồn được chú thích của TeX). TeX thường được phân phối cùng với Metafont, một chương trình đồng hành cũng được phát triển bởi Knuth cho phép miêu tả các font chữ bằng thuật toán. Cấu trúc thư mục cài đặt TeX / Metafont được chuẩn hoá trong cây thư mục texmf. == Giấy phép == Giấy phép cho quyền phân phối và sửa đổi tự do nhưng yêu cầu bất cứ phiên bản sửa đổi nào cũng không được gọi là TEX, TeX, hay bất cứ thứ gì tương tự có thể gây nhầm lẫn, tương tự như một thương hiệu. Bộ thử TRIPTRAP giúp kiểm tra một ứng dụng có thực sự là TEX hay không. == Chất lượng == Mặc dù được viết kĩ lưỡng, TeX quá lớn (và cũng chứa quá nhiều kĩ thuật mới mẻ) đến nỗi nó được cho là đã phát hiện ít nhất một lỗi lập trình trong mỗi hệ thống Pascal dùng để biên dịch. TeX chạy trên gần như mọi hệ điều hành. Knuth treo giải thưởng bằng tiền cho những ai phát hiện và thông báo lỗi (lỗi lập trình) trong TeX. Giải thưởng cho mỗi lỗi khởi đầu với $2,56 và nhân đôi mỗi năm cho đến khi nó đóng băng; giá trị hiện tại là $327,68. Tuy nhiên điều này không làm Knuth nghèo túng, vì có rất ít lỗi được phát hiện; và trong đa số trường hợp tờ ngân phiếu chứng minh trao cho người tìm ra lỗi thường được đóng thành khung thay vì đổi thành tiền. == Các khía cạnh khoa học máy tính của TeX == Phần mềm TeX hội tụ một số thuật toán thú vị, đã dẫn đến một số luận án của các học trò của Knuth. Thí dụ, thuật toán dấu nối từ (hyphenation) (công trình của Frank Liang) được dùng để quy định ưu tiên cho dấu ngắt trong nhóm các chữ cái. Thuật toán ngắt dòng là thí dụ cho lập trình động. Bài toán ngắt một đoạn văn n chữ thành các dòng có độ phức tạp thực 2^n, nhưng với lập trình động, bố trí tối ưu toàn bộ có thể rút ra theo thời gian tỉ lệ với số từ và số từ trong một dòng. Luận án của Michael Plass cho thấy cách thức bài toán ngắt trang có thể NP-trọn vẹn (NP-complete) vì các tình huống nảy sinh khi đặt hình ảnh. Chương trình đồng hành Metafont để phát sinh ký tự dùng đường cong Bezier theo cách khá chuẩn, nhưng Knuth cống hiến nhiều vào việc bài toán chuyển hình ảnh thành định dạng bitmap (rasterizing). Một luận án khác, bởi John Hobby, khảo sát hơn nữa bài toán số hoá "đường cọ" (brush trajectories). Thuật ngữ này xuất phát từ sự kiện rằng Metafont miêu tả ký tự như chúng được vẽ bởi các cọ trừu tượng. == Các công trình dẫn xuất == Vài hệ thống xử lý tài liệu dựa trên TeX, đáng lưu ý có: LaTeX (Lamport TeX), kết hợp các kiểu tài liệu cho sách, thư từ, ảnh chiếu (slide) v.v., và thêm hỗ trợ tạo tham khảo và đánh số tự động các phần và phương trình. ConTeXt, phần lớn được viết bởi Hans Hagen tại Pragma là một công cụ thiết kế tài liệu chuyên nghiệp dựa trên TeX. Thời gian xuất hiện của nó ít hơn nhiều so với LaTeX, vì vậy có lẽ ít phổ biến hơn người anh của nó, nhưng lại mạnh mẽ hơn. AMS-TeX, được tạo ra bởi Hội Toán học Hoa Kỳ, có nhiều lệnh thân thiện người dùng hơn, và có thể được thay đổi bởi các tạp chí để làm thích hợp cho phong cách của mình. Hầu hết các tính năng của AMS-TeX có thể được dùng trong LaTeX bằng cách sử dụng các "gói" AMS. Khi đó nó được gọi là AMS-LaTeX. Cẩm nang hướng dẫn chính của AMS-TeX có tựa đề là Thú vui của TeX (The Joy of TeX). jadeTeX dùng TeX làm hậu trường (backend) cho việc in ấn từ DSSSL Engine của James Clark. Texinfo, hệ thống xử lý tài liệu GNU. XeTeX là một công cụ TeX mới hỗ trợ Unicode và các kĩ thuật font cao cấp của Mac OS X. Hiện cũng đã có nhiều bản mở rộng cho TeX, trong số đó BibTeX cho việc tạo thư mục (bibliography) (được phân phối với LaTeX), PDFTeX, bỏ qua giai đoạn dvi và tạo ra sản phẩm với định dạng tài liệu PDF (Portable Document Format) của Adobe Systems, và Omega, cho phép TeX dùng bộ ký tự Unicode. Tất cả các bản mở rộng cho TeX có miễn phí ở CTAN (Comprehensive TeX Archive Network (Mạng lưới lưu trữ TeX tổng hợp). == Công cụ tương thích == Trên hệ thống tương thích UNIX (gồm cả Mac OS X), TeX được phân phối ở dạng teTeX. Trên Windows, có bản phân phối MiKTeX và bản phân phối fpTeX. Trình soạn thảo văn bản TeXmacs là chương trình soạn thảo văn bản khoa học WYSIWYG có dụng ý tương thích với TeX. Nó dùng các font của Knuth, và có thể phát sinh kết quả TeX. LyX là công cụ tương tự. == Tiếng Việt và TeX == Cho đến nay đã có một số nỗ lực đưa tiếng Việt vào TeX. VnTeX hỗ trợ tiếng Việt cho LaTeX và TeX thuần thông qua các gói macro và phông chữ. VnTeX thường được đóng gói kèm trong các bản phân phối TeX như teTeX, TeXLive... OmegaVN hỗ trợ trực tiếp unicode cho tiếng Việt thông qua hệ thống Omega. Người dùng ConTeXt có thể sử dụng các phông chữ đi kèm theo gói VnTeX cho việc hiển thị tiếng Việt. Ký hiệu tiếng Việt có thể được vẽ bằng các lệnh của TeX. Với phương pháp này, ký tự được vẽ có thể không được đẹp. Cách này từng được áp dụng tại Viện Toán học Việt Nam, Đại học Khoa học Tự nhiên Hà Nội và Bộ môn Toán, Khoa Khoa học thuộc Đại học Cần Thơ. == Xem thêm == Metafont MetaPost Danh sách ngôn ngữ đánh dấu So sánh các ngôn ngữ đánh dấu tài liệu == Liên kết ngoài == Hướng dẫn người dùng MediaWiki soạn thảo công thức toán học Nhóm người dùng TeX Mạng lưới lưu trữ TeX tổng hợp: Kho lưu trữ nguồn TeX và hàng trăm add-on và style file. Bắt đầu với LaTex tại Nghệ thuật giải quyết vấn đề (Art of Problem Solving) Bản phân phối TeXLive được cho là dễ sử dụng cho người mới bắt đầu. TeXShop – một trình soạn thảo TeX miễn phí cho Mac OS X MiKTeX – MiKTeX (phát âm mick-tech) là bản phân phối cập nhật TeX và các chương trình có liên hệ trên Windows (mọi biến thể hiện tại) trên hệ thống x86. fpTeX – fpTeX là bản port cập nhật của tetex cho Windows. Trang web về TeX/LaTeX trên Mac OS X FAQ của nhóm người dùng TeX ở UK ConTeXt: ConTeXt wiki và Trang nhà tại Pragma + Donald E. Knuth, The TeXbook (Computers and Typesetting Volume A), Reading, Massachusetts: Addison-Wesley, 1984. ISBN 0-201-13448-9. mã nguồn của sách có trên CTAN. Nó chỉ được dùng làm thí dụ và không được phép dùng để chuẩn bị một cuốn sách giống The TeXbook. Victor Eijkhout, TeX by Topic: Sách tham khảo cho người lập trình, tải xuống tự do TeX for the Impatient, một sách mang tính hướng dẫn, hiện được cấp phép theo GFDL. Norman Walsh, Making TeX Work: Sách trực tuyến miễn phí Stefan Schwarz và Rudolf Potucek, TeXikon: (tiếng Đức) tài liệu tham khảo trực tuyến cho hơn 1400 lệnh TeX và LaTeX Omega (phiên bản 16 bit của TeX; bao gồm phiên bản lambda cho LaTeX) TeXnicCenter (môi trường phát triển tích hợp (IDE) giàu tính năng dùng phát triển tài liệu LaTeX trên Microsoft Windows (Windows 9x/ME, NT/2000/XP) miễn phí theo GPL.) Simon Eveson, An Introduction to Mathematical Document Production Using AmSLaTeX GNU TeXmacs Scientific Editor vnTeX: hỗ trợ tiếng Việt cho TeX OmegaVN: hỗ trợ tiếng Việt dùng với Omega ViệtTUG, nhóm người Việt sử dụng TeX
nhảy cầu.txt
Nhảy cầu là môn thể thao nhảy hoặc rơi vào nước từ một nền tảng hoặc bàn đạp, trong khi thực hiện cú nhào lộn. Nhảy câu là một môn thể thao được quốc tế công nhận và là một môn thể thao tại Thế vận hội. Nhảy cầu là một trong những môn thể thao thu hút khán giả nhất tại Thế vận hội. Vận động viên môn nhảy cầu sở hữu nhiều đặc điểm của các vận động viên thể dục và vũ công. Các quốc gia mạnh về môn này có thể kể đến là Trung Quốc, Mỹ, Ý, Australia và Canada. == Các vận động viên nhảy cầu nổi tiếng == Australia: Matthew Mitcham, Mathew Helm, Chantelle Newbery, Robert Newbery, Dean Pullar, Melissa Wu, Rebecca Gilmore, and Loudy Tourky Canada: Myriam Boileau, Philippe Comtois, Alexandre Despatie, Arturo Miranda, Blythe Hartley, Émilie Heymans, Anne Montminy, Beverly Boys, and Irene MacDonald Trung Quốc: Fu Mingxia, Gao Min, Guo Jingjing, Hu Jia, Lao Lishi, Li Na, Li Ting, Wu Minxia, Peng Bo, Sang Xue, Tian Liang, Xiao Hailiang, Xiong Ni, He Chong, Chen Ruolin, Huo Liang, Wang Xin, Yang Jinghui, and Liang Boxi Đức: Jan Hempel, Patrick Hausding, Sascha Klein, Stephan Feck Ý: Klaus Dibiasi, Giorgio Cagnotto, Tania Cagnotto Mexico: Joaquín Capilla, Carlos Girón, Rommel Pacheco, Fernando Platas, Paola Espinosa, Yahel Castillo Hà Lan: Edwin Jongejans Nga: Alexander Dobroskok, Gleb Galperin, Vera Ilina, Igor Lukashin, Ioulia Pakhalina, and Dmitri Sautin Vương quốc Anh: Leon Taylor, Peter Waterfield, Jason Statham, Tom Daley Hoa Kỳ: Hobie Billingsley, Lesley Bush, Jennifer Chandler, Mary Ellen Clark, Scott Donie, Michael Galitzen, Barbara Gilders, Fletcher Gilders, Bruce Kimball, Micki King, Dana Kunze, Beatrice Kyle, Sammy Lee, Mark Lenzi, Greg Louganis, Pat McCormick, Cynthia Potter, Aileen Riggin, Jeanne Stunyo, Laura Wilkinson, Wendy Wyland Venezuela: Jhonmar Castillo == Tham khảo == == Liên kết == FINA USA Diving AAU Diving NCAA USA Masters' Diving. NCAA Woman's Swimming and Diving Northern Virginia Swimming League -- Diving FINA table of degree of difficulty Hobie Billingsly Diving mentality DivingTube - The Home Of Diving Videos Được miêu tả trong phim hoạt hình
hivaids.txt
Hội chứng suy giảm miễn dịch mắc phải ở người (viết tắt HIV/AIDS; tiếng Anh: human immunodeficiency virus infection / acquired immunodeficiency syndrome; hoặc SIĐA theo tiếng Pháp Syndrome d'immunodéficience acquise), còn gọi bệnh liệt kháng (tê liệt khả năng đề kháng), là một bệnh của hệ miễn dịch, gây ra do bị nhiễm virus suy giảm miễn dịch ở người (HIV). Giai đoạn đầu khi vừa nhiễm virus, người bệnh thường có những triệu chứng giống bệnh cúm trong một thời gian ngắn. Sau đó, bệnh nhân không có dấu hiệu gì trong một thời gian dài. Khi bệnh tiến triển, nó gây ảnh hưởng ngày càng nhiều đến hệ miễn dịch, làm cho bệnh nhân dễ mắc phải các nhiễm trùng, như các loại nhiễm trùng cơ hội hoặc các khối u, là những bệnh mà người có hệ miễn dịch hoạt động bình thường khó có thể mắc phải. HIV lây truyền chủ yếu qua quan hệ tình dục không an toàn (bao gồm cả quan hệ tình dục qua đường hậu môn và thậm chí bằng miệng), qua việc truyền máu từ nguồn đã bị nhiễm bệnh, qua dùng chung kim tiêm, và từ mẹ sang con: trong khi mang thai, khi sinh (lây truyền chu sinh), hoặc khi cho con bú. Một số chất dịch của cơ thể như nước bọt và nước mắt không lây truyền HIV. Phòng chống lây nhiễm HIV, chủ yếu thông qua các chương trình trao đổi kim tiêm và tình dục an toàn, là một chiến dịch quan trọng để kiểm soát sự lây lan của căn bệnh này. Tuy bệnh không thể chữa lành và không có thuốc chủng ngừa, nhưng điều trị bằng thuốc kháng virus có thể làm chậm tiến trình của bệnh và kéo dài tuổi thọ của người bệnh thêm 8-12 năm, thậm chí lâu hơn nếu uống đều đặn và đủ liều. Thuốc kháng HIV cần phải được uống mỗi ngày, nếu không thì virus có thể nhanh chóng vượt khỏi kiểm soát và trở nên kháng thuốc. Tuy điều trị bằng thuốc kháng virus có thể làm giảm nguy cơ tử vong và các biến chứng từ bệnh này, nhưng rất tốn kém và có thể gây ra các tác dụng phụ. Nhiễm HIV ở người được Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) xem như là đại dịch. Việc chủ quan đối với HIV càng làm tăng nguy cơ bị lây bệnh. Từ khi phát hiện ra HIV vào năm 1981 cho đến năm 2006, AIDS đã giết chết hơn 25 triệu người. Theo số liệu năm 2006, khoảng 0,6% dân số thế giới bị nhiễm HIV. Năm 2009, toàn thế giới có 1,8 triệu người mắc bệnh AIDS, đã giảm so với mức đỉnh là 2,1 triệu người trong năm 2004. Khoảng 260.000 trẻ em chết vì AIDS trong năm 2009. Một con số không cân xứng của số người tử vong do AIDS ở vùng Châu Phi hạ Sahara đã làm chậm tăng trưởng kinh tế và làm trầm trọng thêm gánh nặng của nghèo đói. Trong năm 2005, ước tính ở châu Phi có khoảng 90 triệu người bị nhiễm HIV, kết quả là một ước lượng tối thiểu sẽ có 18 triệu trẻ mồ côi. Điều trị bằng thuốc kháng retrovirus có thể làm giảm cả hai tỉ lệ tử vong và bệnh tật ở người nhiễm HIV. Mặc dù thuốc kháng retrovirus vẫn không có sẵn để dùng rộng rãi, nhưng việc mở rộng các chương trình điều trị bằng thuốc kháng retrovirus từ năm 2004 đã làm giảm số lượng các ca tử vong ở người mắc bệnh AIDS và số ca nhiễm mới ở nhiều nơi trên thế giới. Tăng cường việc nhận thức và các biện pháp phòng ngừa đối với người dân, cũng như quá trình diễn tiến tự nhiên của dịch bệnh, cũng đóng một vai trò quan trọng. Thế mà, ước tính vẫn có khoảng 2,6 triệu người mới bị nhiễm HIV trong năm 2009. Hầu hết những người nhiễm HIV-1 nếu không được chữa trị sẽ tiến triển sang giai đoạn AIDS. Người bệnh thường chết do nhiễm trùng cơ hội hoặc do các bệnh ác tính liên quan đến sự giảm sút của hệ thống miễn dịch. HIV tiến triển sang AIDS theo một tỷ lệ biến thiên phụ thuộc vào sự tác động của các virus, cơ thể vật chủ, và yếu tố môi trường; hầu hết sẽ chuyển sang giai đoạn AIDS trong vòng 10 năm sau khi nhiễm HIV: một số trường hợp chuyển rất sớm, một số lại lâu hơn. Điều trị bằng kháng retrovirus (ARV) có thể kéo dài tuổi thọ của người bị nhiễm HIV. Ngay cả khi HIV chuyển sang giai đoạn AIDS với những triệu chứng đặc trưng, thì việc điều trị bằng kháng retrovirus cũng có thể kéo dài tuổi thọ của bệnh nhân ước tính trung bình là hơn 5 năm (thống kê năm 2005). Trong khi đó, nếu không điều trị bằng kháng retrovirus thì bệnh nhân AIDS thường sẽ chết trong vòng 1 năm. == Hội chứng, suy giảm miễn dịch, mắc phải == Hội chứng: nhóm các biểu hiện (triệu chứng) như: sốt, tiêu chảy, sụt cân, nổi hạch... do một căn bệnh nào đó gây ra. Suy giảm miễn dịch: Hệ miễn dịch là hệ thống phòng ngự bảo vệ cơ thể chống lại các mầm bệnh từ ngoài xâm nhập vào cơ thể, suy giảm miễn dịch là tình trạng hệ miễn dịch trở nên yếu, giảm hoặc không có khả năng chống lại sự tấn công của các tác nhân gây bệnh. Mắc phải: Không do di truyền mà do bị lây nhiễm trong cuộc sống Tổ chức Y tế Thế giới ước tính rằng đến cuối năm 2009 sẽ có 37,2 triệu người lớn và 2,2 triệu trẻ em sống với HIV. Trong năm 2004, 4,9 triệu người đã bị nhiễm và 3,1 triệu chết vì AIDS. Từ năm 1981, AIDS đã giết 23,1 triệu người trong tổng cộng 79,9 triệu trường hợp. Ở Châu Phi, tuổi thọ đã giảm trong các thập kỉ vừa qua chỉ vì tử vong do AIDS và ung thư Kaposi, một khối u xuất hiện ở bệnh nhân AIDS, hiện nay là khối u phổ biến nhất được báo cáo ở các nước hạ Sahara. AIDS được lưu ý lần đầu tiên ở những người đàn ông đồng tính luyến ái và những người tiêm ma tuý vào tĩnh mạch vào thập niên 1980. Sang thập niên 1990 hội chứng này đã trở thành một dịch bệnh toàn cầu và vào năm 2004 58 phần trăm người bị AIDS là phụ nữ. Mặc dù những người đồng tính luyến ái nam và những người gốc Phi tiếp tục hứng chịu tỉ lệ AIDS theo đầu người cao nhất, phần lớn nạn nhân hiện nay là những người dị tính luyến ái nam và nữ, và trẻ em, ở các nước đang phát triển. == Dấu hiệu và triệu chứng == Nhiễm HIV-1 dẫn đến sự suy giảm cấp tiến số lượng tế bào T-CD4+ và tăng tải lượng virus cũng như nồng độ HIV trong máu. Có thể xác định giai đoạn nhiễm bệnh bằng cách đo số lượng tế bào T-CD4+ và tải lượng virus của bệnh nhân. Nhiễm HIV có 3 giai đoạn: giai đoạn nhiễm trùng cấp tính (còn gọi là nhiễm trùng tiên phát), giai đoạn tiềm ẩn và giai đoạn AIDS. Nhiễm trùng cấp tính kéo dài trong vài tuần và có thể bao gồm các triệu chứng như nổi hạch (sưng hạch bạch huyết), sốt, viêm họng, phát ban, đau cơ, khó chịu, lở loét miệng và thực quản. Giai đoạn tiềm ẩn không có triệu chứng và có thể kéo dài từ hai tuần đến hai mươi năm hoặc hơn, tùy thuộc vào từng cá nhân. Giai đoạn AIDS là giai đoạn cuối của nhiễm HIV, được xác định bởi số lượng tế bào T-CD4+ thấp (ít hơn 200 trong một mircolit), những bệnh nhiễm trùng cơ hội, ung thư và các tình trạng khác. Một tỷ lệ nhỏ các cá thể bị nhiễm HIV-1 vẫn giữ số lượng tế bào T-CD4+ ở mức cao mà không cần liệu pháp kháng ritrovirus. Tuy nhiên, hầu hết vẫn có thể phát hiện thông qua tải lượng virus và cuối cùng cũng sẽ tiến triển thành AIDS, mặc dù chậm hơn so với những người khác. Những người này được phân loại là những HIV controller hoặc long-term nonprogressor (LTNP). Những bệnh nhân có thể duy trì số lượng tế bào T-CD4+ đồng thời có tải lượng virus thấp hoặc không thể phát hiện được trên lâm sàng mà không cần điều trị kháng retrovirus được gọi là những elite controller hoặc elite suppressor (ES). === Giai đoạn cấp tính === Nhiễm HIV thường xảy ra bằng cách đưa các chất dịch cơ thể từ người bị nhiễm bệnh vào cơ thể của một người không bị nhiễm bệnh. Giai đoạn virus nhân lên một cách nhanh chóng xảy ra ngay sau đó, dẫn đến có nhiều virus trong máu ngoại biên. Ở giai đoạn này, mức HIV có thể lên đến vài triệu hạt virus trong mỗi ml máu. Phản ứng này đi kèm với việc lưu lượng tế bào T-CD4+ bị giảm đáng kể. Trong tất cả các bệnh nhân, mức virus này thực tế là do sự hoạt hóa của các tế bào T-CD8+ đã giết chết những tế bào bị nhiễm HIV, sau đó sản sinh các kháng thể hoặc biến đổi huyết thanh. Phản ứng của tế bào T-CD8+ được cho là quan trọng trong việc kiểm soát mức virus từ mức cao trở thành suy giảm dần, và phục hồi số lượng tế bào T-CD4+. Phản ứng của tế bào T-CD8+ tốt sẽ làm tiến triển bệnh chậm hơn và việc dự đoán bệnh tốt hơn, mặc dù nó không thể loại trừ được virus. Trong thời gian này (thường là 2-4 tuần sau khi phơi nhiễm), hầu hết các bệnh nhân (80-90%) sẽ mắc bệnh cúm hoặc bệnh gần giống như bệnh bạch cầu đơn nhân, gọi chung là nhiễm HIV cấp tính, có thể với các triệu chứng phổ biến bao gồm sốt, nổi hạch, viêm họng, phát ban, đau cơ, khó chịu, lở miệng và thực quản, và ít phổ biến hơn còn có các triệu chứng như nhức đầu, buồn nôn và nôn, sưng gan/lá lách, giảm cân, bệnh tưa miệng, và các triệu chứng thần kinh. Từng cá thể bị nhiễm bệnh có thể có 1 hoặc vài triệu chứng này, cũng có trường hợp không xuất hiện bất cứ triệu chứng nào. Thời gian của các triệu chứng là khác nhau, trung bình kéo dài 28 ngày và ngắn nhất thường là một tuần. Do tính chất không rõ ràng của những triệu chứng này, cho nên bệnh nhân thường không nhận ra các dấu hiệu của nhiễm HIV. Ngay cả khi bệnh nhân đến bác sĩ hay bệnh viện, họ thường sẽ được chẩn đoán nhầm là bị một trong các bệnh nhiễm khuẩn thông thường với các triệu chứng tương tự. Hệ quả là, những triệu chứng tiên phát này không được sử dụng để chẩn đoán nhiễm HIV, vì không phải tất cả các trường hợp nhiễm HIV đều xuất hiện những triệu chứng này và phần lớn lại giống triệu chứng của các bệnh thông thường khác. Tuy nhiên, nhận biết hội chứng có thể quan trọng, bởi vì bệnh nhân có thể dễ lây bệnh cho nhiều người trong giai đoạn này. === Giai đoạn mãn tính === Sự bảo vệ mạnh mẽ của hệ miễn dịch sẽ làm giảm số lượng của các hạt virus trong máu, chuyển sang giai đoạn nhiễm HIV mạn tính. Giai đoạn này có thể kéo dài từ 2 tuần cho đến 20 năm tùy theo từng trường hợp. Trong suốt giai đoạn mạn tính, HIV hoạt động trong các hạch bạch huyết, làm cho các hạch này thường bị sưng do phản ứng với một số lượng lớn virus bị kẹt trong mạng lưới các tế bào tua hình nang (FDC). Các mô giàu tế bào CD4+ xung quanh cũng có thể bị nhiễm bệnh, các hạt virus tích tụ cả trong các tế bào bị nhiễm và ở dạng virus tự do. Trong giai đoạn này bệnh nhân vẫn có khả năng lây bệnh, tế bào T CD4+ CD45RO+ mang theo tải lượng virus nhiều nhất, và việc bắt đầu sớm điều trị kháng retrovirus sẽ cải thiện đáng kể thời gian sống. === Giai đoạn AIDS === Khi số lượng các tế bào CD4+ giảm xuống dưới một mức 200 tế bào trên 1µL máu, sự miễn dịch qua trung gian tế bào bị vô hiệu và xuất hiện nhiễm trùng do một loạt các vi sinh vật cơ hội gây ra. Các triệu chứng đầu tiên thường bao gồm giảm cân vừa phải và không giải thích được, nhiễm trùng đường hô hấp tái phát (như viêm xoang, viêm phế quản, viêm tai giữa, viêm họng), viêm tuyến tiền liệt, phát ban da, và loét miệng. Nhiễm trùng cơ hội và các khối u phổ biến ở người bình thường sẽ bị tế bào miễn dịch trung gian CD4+ khống chế sau đó chúng mới ảnh hưởng đến người bệnh. Đặc trưng của mất sức đề kháng là sẽ nhanh chóng bị nhiễm vi nấm Candida species gây nên bệnh nấm miệng (còn gọi là đẹn trắng hay tưa miệng) hoặc nhiễm vi khuẩn hiếu khí Mycobacterium tuberculosis (MTB) gây bệnh lao. Sau đó, các virus herpes tiềm ẩn sẽ được kích hoạt gây tái phát ngày càng nặng hơn các tổn thương đau đớn phun trào do herpes simplex, bệnh zona, ung thư hạch bạch huyết do virus Epstein-Barr và ung thư Kaposi's sarcoma. Viêm phổi do nấm Pneumocystis jirovecii cũng phổ biến và thường gây tử vong. Trong giai đoạn cuối của AIDS, đáng chú ý là những bệnh nhiễm cytomegalovirus (một loại virus herpes) hoặc nhiễm Mycobacterium avium complex. Không phải tất cả các bệnh nhân AIDS đều bị tất cả các bệnh nhiễm trùng hoặc các khối u trên, nhưng có các loại khối u và các bệnh nhiễm trùng khác ít nổi bật hơn nhưng vẫn đáng kể. == Phương thức lây truyền == Bệnh nhân AIDS và người nhiễm HIV là nguồn truyền nhiễm duy nhất của nhiễm HIV. Không có ổ chứa nhiễm trùng ở động vật. Tất cả mọi người điều có khả năng cảm nhiễm HIV. HIV được phân lập từ máu, tinh dịch, dịch tiết âm đạo, nước bọt, nước mắt, sữa mẹ, nước tiểu và các dịch khác của cơ thể, nhưng nhiều nghiên cứu về dịch tể học cho thấy rằng chỉ có máu, tinh dịch và dịch tiết âm đạo đống vai trò quan trọng trong việc lây truyền HIV. Do đó chỉ có 3 phương thức hay đường lây truyền chính của HIV, trong đó HIV-2 có xác suất truyền qua đường mẹ sang con và quan hệ tình dục ít hơn HIV-1. === Tình dục === Phần lớn HIV lây qua đường quan hệ tình dục không được bảo vệ (quan hệ tình dục không an toàn). Ước tính tỷ lệ nhiễm HIV/AIDS trên thế giới qua đường tình dục chiếm khoảng 75% trong tổng số người bị nhiễm HIV/AIDS. Việc chủ quan đối với HIV đóng một vai trò quan trọng trong nguy cơ bị lây bệnh. Lây truyền qua đường tình dục có thể xảy ra khi chất tiết sinh dục của một bạn tình có chứa virus, tiếp xúc với niêm mạc sinh dục, miệng, hoặc trực tràng của người còn lại. Nguy cơ lây nhiễm qua một lần giao hợp với người nhiễm HIV là 0,1% đến 1%. Ở các quốc gia có thu nhập cao, nguy cơ nữ lây truyền cho nam là 0.04% cho mỗi lần quan hệ và nam truyền cho nữ là 0.08%. Vì những lý do khác nhau, nguy cơ này cao hơn từ 4 đến 10 lần ở các nước có thu nhập thấp. Người nhận trong giao hợp qua đường hậu môn có nguy cơ bị lây nhiễm cao hơn nhiều, 1.7% cho mỗi lần quan hệ. Người nào có nhiều bạn tình, đồng thời quan hệ tình dục không an toàn thì càng có nguy cơ lây nhiễm HIV. Mắc các bệnh lây truyền qua đường tình dục như giang mai, lậu... đều làm tăng nguy cơ lây nhiễm HIV lên gấp 20 lần. Các phân tích của các nghiên cứu năm 1999 về việc sử dụng bao cao su cho thấy rằng nếu sử dụng bao cao su đúng cách sẽ làm giảm nguy cơ lây truyền qua đường tình dục của HIV khoảng 85%. Tuy nhiên, chất diệt tinh trùng thực sự có thể làm tăng tỷ lệ lây truyền. Những thử nghiệm đối chứng ngẫu nhiên, trong đó, nam giới chưa cắt bao quy đầu được phân ngẫu nhiên để được giải phẫu cắt bao quy đầu trong điều kiện vô trùng và được tư vấn đã được thực hiện tại Nam Phi, Kenya, và Uganda, kết quả cho thấy mức độ lây nhiễm HIV trong đường tình dục nữ truyền cho nam giảm xuống 60%, 53%, và 51%, tương ứng với từng quốc gia. Từ kết quả này, WHO và Ban Thư ký UNAIDS đã triệu tập một nhóm chuyên gia để "khuyến cáo rằng nam giới cắt bao quy đầu được công nhận như là một sự can thiệp bổ sung quan trọng để giảm nguy cơ lây nhiễm HIV trong quan hệ tình dục dị tính luyến ái đối với nam giới". Đối với trường hợp nam có quan hệ tình dục với nam, không có đủ bằng chứng để chứng minh nam giới cắt bao quy đầu sẽ bảo vệ chống lại nhiễm HIV hoặc nhiễm những bệnh lây truyền qua đường tình dục khác. Các nghiên cứu về lây truyền HIV ở phụ nữ đã cắt bộ phận sinh dục (FGC) đã báo cáo các kết quả khác nhau, nhưng với một số bằng chứng cho rằng việc này làm tăng nguy cơ lây truyền. Theo báo cáo về các nghiên cứu trong năm 2007 của Cochrane Collaboration, thì các chương trình nhằm mục đích khuyến khích việc tiết chế tình dục trong giới trẻ ở những nước phát triển, đồng thời cũng thực hiện các chiến lược cổ động và giáo dục về tình dục an toàn cho những đối tượng đã có quan hệ tình dục, có thể làm giảm trong ngắn hạn và dài hạn những hành vi có rủi ro lây nhiễm HIV. === Đường máu === HIV có trong máu toàn phần và các thành phần của máu như hồng cầu, tiểu cầu, huyết tương, các yếu tố đông máu. Do đó HIV có thể được truyền qua máu hay các sản phẩm của máu có nhiễm HIV. Nguy cơ lây truyền qua đường máu có tỷ lệ rất cao, trên 90%. Kể từ năm 1985, sau khi có các xét nghiệm sàng lọc phát hiện kháng thể kháng HIV, nguy cơ lây truyền theo đường máu ở nhiều nước đã giảm đi rõ rệt. Tuy nhiên ngay cả khi xét nghiệm máu cho kết quả âm tính, khả năng lây nhiễm HIV vẫn có thể xảy ra, do máu được lấy ở người mới bị nhiễm HIV, người đó đang ở trong “thời kỳ cửa sổ” của quá trình nhiễm HIV. Nguy cơ này xảy ra nhiều ở nơi có tỷ lệ nhiễm HIV cao, đặc biệt ở những nơi người cho máu chuyên nghiệp cao và họ thường thay đổi địa điểm cho máu. Nếu vết thương hở tiếp xúc với máu bị nhiễm HIV thì sẽ bị lây truyền. Các đối tượng dễ bị lây nhiễm qua đường máu là những người tiêm chích ma túy, những bệnh nhân mắc bệnh rối loạn đông máu di truyền (bệnh ưa chảy máu), người nhận trong quá trình truyền máu (mặc dù hầu hết ở các nước thì máu khi dùng để truyền đều được xét nghiệm HIV) và các sản phẩm máu. Lây truyền HIV qua đường máu cũng là vấn đề lo ngại đối với những người được chăm sóc y tế tại các khu vực có vệ sinh không đạt tiêu chuẩn thông thường trong việc sử dụng các dụng cụ tiêm chích, chẳng hạn như việc tái sử dụng kim tiêm ở các nước thế giới thứ ba. HIV cũng truyền qua các dụng cụ xuyên, chích qua da chưa được tiệt trùng như bơm kim tiêm (tiêm chích ma túy), kim xâu tai, dao cạo râu...khi các dụng cụ đó có HIV. Lây truyền trong chăm sóc y tế: Nhân viên y tế như y tá, nhân viên phòng thí nghiệm, và các bác sĩ cũng là đối tượng rủi ro cao, mặc dù hiếm xảy ra hơn. Kể từ khi việc lây nhiễm HIV qua đường máu được phát hiện thì các nhân viên y tế cần thiết phải bảo vệ mình không tiếp xúc với máu bằng cách sử dụng các biện pháp dự phòng phổ quát. Trong quá trình xăm, xâu khuyên, và rạch da thì cả người thực hiện lẫn người được làm cũng đều dễ bị lây nhiễm HIV qua đường máu. HIV được tìm thấy với nồng độ thấp trong nước bọt, nước mắt, và nước tiểu của các cá nhân bị nhiễm bệnh, nhưng không có trường hợp nào bị lây nhiễm bởi những chất tiết này được ghi nhận và nguy cơ tiềm năng lây truyền là không đáng kể. Muỗi không thể truyền HIV. === Mẹ truyền sang con === Việc lây truyền virus từ mẹ sang con có thể xảy ra trong tử cung (trong thời kỳ mang thai), trong quá trình chuyển dạ (sinh con), hoặc thông qua việc cho con bú. Trong trường hợp không điều trị, tỷ lệ lây truyền giữa mẹ và con lên đến khoảng 25%. Tuy nhiên, với sự kết hợp điều trị bằng thuốc kháng virus và mổ lấy thai thì nguy cơ này có thể được giảm xuống thấp khoảng 1%. Sau khi sinh thì có thể ngăn ngừa lây truyền bằng cách tránh hoàn toàn nuôi con bằng sữa mẹ, tuy nhiên, điều này liên quan đáng kể đến các bệnh khác. Cho con bú hoàn toàn bằng sữa mẹ và cung cấp điều trị dự phòng kháng virus mở rộng cho trẻ sơ sinh cũng có hiệu quả trong việc tránh lây truyền. UNAIDS ước tính có 430.000 trẻ em bị nhiễm HIV trên toàn thế giới trong năm 2008 (19% là các ca nhiễm mới), chủ yếu là từ đường mẹ sang con, và thêm 65.000 ca lây nhiễm đã được ngăn chặn thông qua việc cung cấp điều trị dự phòng kháng virus cho phụ nữ nhiễm HIV dương tính. == HIV/AIDS và đồng tính luyến ái == Trên thế giới, năm 2014, tỷ lệ nhiễm HIV ở các cặp đồng tính luyến ái được ước tính trong khoảng 2-5%. Tỷ lệ lây nhiễm HIV khi quan hệ tình dục đồng tính được ước tính là cao hơn 18 lần so với quan hệ tình dục khác giới.. Thống kê của Trung tâm kiểm soát dịch bệnh Mỹ năm 2011 cho biết: nam đồng tính có khả năng nhiễm HIV cao gấp 44 tới 86 lần so với nam giới bình thường, và cao gấp 40 tới 77 lần so với nữ giới. Năm 2009, thống kê cho biết có 61% số ca nhiễm HIV mới ở Mỹ là đồng tính hoặc lưỡng tính, dù nhóm này chỉ chiếm khoảng 2% dân số Mỹ. Theo Cơ quan bảo vệ sức khỏe Anh (HPA), cứ trong 20 người đàn ông có quan hệ tình dục đồng tính ở Anh thì có 1 người bị nhiễm HIV. Riêng tại London tỉ lệ này là 1/12. Theo thống kê năm 2010, trong tổng số hơn 12.000 thanh niên Mỹ nhiễm HIV/AIDS thì có tới 72% số người có quan hệ tình dục đồng giới. Gần một nửa số ca nhiễm HIV ở nam giới đồng tính và lưỡng tính xảy ra chủ yếu ở 7 thành phố: New York, Los Angeles, Miami, Atlanta, Chicago, Dallas và Houston. Tại Thái Lan, nhóm nam quan hệ đồng giới có tỷ lệ nhiễm HIV là 7.1%, nhóm nam giới bán dâm là 12,2%. Quanh vùng khu vực Bangkok - nơi tập trung những người đồng tính - theo báo cáo năm 2010 có 31% nhiễm HIV. Tỷ lệ người nhiễm giang mai đã phát hiện và đang điều trị là 24,4%. Trung bình cứ 3 người Thái đồng tính nam ở Bangkok thì có 1 người nhiễm HIV, cứ 4 người là có 1 người nhiễm giang mai. Theo báo cáo tiến độ phòng, chống HIV/AIDS năm 2012, tỉ lệ nhiễm HIV trong những người nam quan hệ tình dục với nam ở Thành phố Hồ Chí Minh là 16%, tỷ lệ chỉ đứng sau nhóm tiêm chích ma túy. Tại đây, cứ 5 nam quan hệ đồng giới thì có 1 người nhiễm ít nhất một trong các nhiễm khuẩn giang mai, lậu sinh dục, lậu trực tràng, chlamydia sinh dục hoặc chlamydia trực tràng. Quan hệ đồng tính nam có nguy cơ bị nhiễm HIV cao gấp 20 lần gái mại dâm. Nguyên nhân dẫn đến tỉ lệ lây nhiễm HIV/AIDS cao do một đồng tính nam thường có nhiều bạn tình, họ thường giới thiệu bạn tình cho nhau và cùng quan hệ, nên chỉ cần 1 người nhiễm HIV thì sẽ nhanh chóng lây lan sang các đối tượng khác. Bên cạnh đó, các đồng tính nam thường quan niệm sai lầm rằng, chỉ có quan hệ khác giới mới bị nhiễm HIV, giang mai, mào gà... còn đồng tính thì không. Họ ít khi sử dụng các biện pháp phòng tránh khi quan hệ tình dục như một khảo sát của Ban quản lý dự án phòng chống HIV/AIDS (Việt Nam) trên 300 đồng tính nam cho thấy một số chỉ sử dụng bao cao su với bạn tình mới quen lần đầu, khi thân rồi họ không đề phòng nữa. Theo báo cáo năm 2011, tỉ lệ nhiễm HIV trong nhóm đồng tính nam ở Đồng Nai cao gấp 20 lần so với đối tượng ma túy và mại dâm. Nguyên nhân dẫn đến tỉ lệ lây nhiễm HIV/AIDS cao do một đồng tính nam thường có nhiều bạn tình, họ thường giới thiệu bạn tình cho nhau và cùng quan hệ, nên chỉ cần 1 người nhiễm HIV thì sẽ nhanh chóng lây lan sang các đối tượng khác. Họ ít khi sử dụng các biện pháp phòng tránh khi quan hệ tình dục, cũng có một vài đồng tính nam nhận thức được nguy cơ bị lây nhiễm HIV cao, nhưng họ không có biện pháp bảo vệ vì sợ bị bạn tình bạo hành. Tại TP HCM, năm 2014, nhóm nam có quan hệ tình dục đồng giới nhiễm HIV đang có chiều hướng gia tăng nhanh so với năm 2012, từ 7,33% lên 14,75% Mặt khác, người đồng tính thường hẹn hò nhiều, nhu cầu tình dục rất lớn, tần suất giao hợp cao nên một người đồng tính thường có nhiều bạn tình (một nam đồng tính 25 tuổi ở Hà Nội cho biết anh ta có hơn 100 bạn tình), nhiều lúc họ còn trao đổi bạn tình cho nhau trong khi kiến thức tình dục thì sai lệch (họ cho rằng HIV chỉ lây khi quan hệ tình dục với phụ nữ, còn nam quan hệ với nam thì không sao). Do xã hội không còn khắt khe với những người đồng tính nữa nên nhiều người đồng tính sống buông thả, thường xuyên quan hệ tình dục tập thể trong khi kiến thức an toàn tình dục còn nhiều hạn chế, nhiều trường hợp tuổi đời còn trẻ đã mang trong mình một lúc mấy bệnh: cả bệnh giang mai, sùi mào gà và cả HIV/AIDS.. Các nhà chuyên môn cho rằng, các đối tượng quan hệ đồng tính hiện không được quan tâm đúng mức trong việc giúp đỡ, cung cấp thông tin về sức khỏe tính dục và về nguy cơ lây nhiễm HIV/AIDS. Các chuyên gia y tế khẳng định sự kỳ thị, phân biệt đối xử khiến người đồng tính phải dấu mình là nguyên nhân làm tăng nguy cơ lây nhiễm HIV đối với nhóm đồng tính nam, và là rào cản lớn nhất đối với người đồng tính và chuyển giới trong việc tiếp cận các dịch vụ y tế về HIV.. Bà Margaret Chan, Tổng Giám đốc Tổ chức Y tế thế giới WHO đã cho biết: "Sự kiện WHO loại bỏ đồng tính luyến ái khỏi danh sách bệnh tâm lý từ năm 1990 là một bước tiến quan trọng, tuy nhiên trong hơn hai thập kỷ sau đó, sự kỳ thị và phân biệt đối xử chống lại người đồng tính vẫn còn tồn tại, dẫn đến việc hạn chế tiếp cận các dịch vụ y tế và bỏ qua các mục tiêu quan trọng trong các chương trình y tế. Phân biệt đối xử trên cơ sở xu hướng tình dục sẽ làm gia tăng tính dễ tổn thương dẫn đến trầm cảm, lo âu và lạm dụng thuốc ở thanh thiếu niên và người lớn; làm trầm trọng thêm bạo lực; cản trở tiếp cận với dịch vụ y tế do bị kỳ thị; và làm tăng nguy cơ các bệnh qua đường tình dục, bao gồm cả HIV" == Nghiên cứu cách điều trị và vaccine == Hiện tại không có vaccine nào để phòng ngừa lây nhiễm HIV, và cũng không có một liệu pháp nào có thể loại bỏ hoàn toàn vi-rút HIV ra khỏi cơ thể. Tuy nhiên, những người sống chung với AIDS hiện nay có thể kéo dài và cải thiện chất lượng cuộc sống bằng liệu pháp điều trị kháng vi-rút, hay còn gọi là ART (viết tắt của Anti- Retroviral Therapy). ART là liệu pháp điều trị sử dụng các thuốc kháng vi-rút, hay còn gọi là thuốc ARV (Anti-retrovirus). Các thuốc ARV này có tác dụng làm chậm sự nhân lên của HIV trong cơ thể, do đó làm tăng khả năng miễn dịch và giảm khả năng mắc các nhiễm trùng cơ hội. Lựa chọn điều trị lý tưởng hiện tại bao gồm các kết hợp ("cocktail") hai hay nhiều loại thuốc kháng retrovirus như hai chất ức chế reverse transcriptase giống nucleoside (nucleoside analogue reverse transcriptase inhibitor, NRTI), và một chất ức chế protease hoặc một chất thuốc ức chế reverse transcriptase non-nucleoside (non-nucleoside reverse transcriptase inhibitor, NNRTI). Với điều trị như vậy, kết quả cho thấy HIV không phát hiện được (âm tính) lặp đi lặp lại nhiều lần, nhưng nếu ngưng điều trị lượng virus trong cơ thể sẽ tăng nhanh chóng. Cũng có lo ngại cuối cùng sẽ xuất hiện đề kháng thuốc với phác đồ đó. Những năm gần đây thuật ngữ "điều trị kháng retrovirus tích cực cao" (highly-active anti-retroviral therapy, HAART) thường được dùng để chỉ cách thức điều trị này. Tuy nhiên, điều không may là phần lớn số người bệnh trên thế giới không tiếp cận được các điều trị HIV và AIDS. Hiện đang có các nghiên cứu tìm vắc-xin ngừa HIV và phát triển thuốc mới kháng retrovirus. Cũng đang có một số thử nghiệm ở người. Liệu pháp gene được đề nghị là biện pháp khả thi để ngăn ngừa hoặc điều trị nhiễm HIV. VRX496, một thành phần di truyền có vai trò ức chế HIV (đặc biệt ở kiểu trị liệu đối mã (antisense therapy) có ở lentivirus đã bị biến đổi, đang được thử nghiệm lâm sàng pha I năm 2003—lần đầu tiên dùng vector lentivirus trên người. Nghiên cứu nhằm cải thiện các điều trị đang có bao gồm giảm tác dụng phụ của thuốc, đơn giản hoá phác đồ để tăng mức tuân thủ và xác định trình tự điều trị tốt nhất để tránh đề kháng thuốc đã được dùng để điều trị triệu chứng. Trong thập kỉ đầu tiên khi chưa có biện pháp điều trị hữu hiệu, nhiều bệnh nhân AIDS dùng nhiều loại điều trị thay thế như mát-xa, thảo dược và châm cứu. Không biện pháp nào trong số đó cho thấy hiệu quả thực sự hoặc lâu dài trên virus ở các thử nghiệm có kiểm soát, nhưng chúng có lẽ nâng cao chất lượng sống cho bệnh nhân. Hiện chúng được dùng phối hợp với điều trị quy ước để cải thiện triệu chứng, như đau, ăn mất ngon... Chúng vẫn được sử dụng đơn thuần bởi những người tin rằng AIDS không phải do HIV gây ra. Năm 2007 Trung tâm Kiểm soát và Phòng ngừa Bệnh tật của Hoa Kì khuyến cáo phác đồ thuốc HIV 28 ngày cho những người tin là họ đã tiếp xúc với virus. Phác đồ này đã được chứng minh có hiệu quả ngăn ngừa virus gần 100% nếu bệnh nhân áp dụng điều trị trong vòng 24 giờ sau phơi nhiễm. Độ hiệu quả giảm còn 52% nếu áp dụng điều trị trong 48 giờ; phác đồ này không được khuyến cáo dùng nếu quá 48 giờ sau phơi nhiễm. Ngày 16-17/12/2010, nhiều báo chí Việt Nam đưa tin các bác sĩ tại đại học y khoa Charité ở Berlin, Đức đã thử nghiệm thành công điều trị HIV bằng phương pháp ghép tủy xương người khác Tuy nhiên đây mới chỉ là một trường hợp cá biệt, hơn nữa việc không còn phát hiện HIV trong máu bệnh nhân không có nghĩa rằng anh ta đã khỏi bệnh (HIV có thể tồn tại ẩn mình trong tế bào nội tạng trước khi sinh sôi bùng phát trở lại sau mấy năm). Theo lời giải thích của Bệnh viện Charité thì đây là "một trường hợp đáng chú ý" nhưng "hy hữu", không nên hy vọng quá nhiều vì ca bệnh trên có thể chỉ là một sự may mắn. "Đây là trường hợp đáng chú ý trong công tác nghiên cứu"- nhận định của Giáo sư Rodolf Tauber trong một bản tin - "Tuy nhiên, những hứa hẹn sẽ chữa lành cho hàng triệu bệnh nhân nhiễm HIV là không đáng tin" == Xem thêm == Ngày thế giới phòng chống bệnh AIDS == Chú thích == Tham khảo == Liên kết ngoài == UNAIDS Viet Nam American International AIDS Foundation Website về Giới tính - HIV và Tuổi Trẻ Tìm lại nguồn gốc bệnh Sida
norman foster.txt
Norman Robert Foster (sinh 1 tháng 6 năm 1935) là một kiến trúc sư người Anh. Ông được phong tặng tước hiệu Nam tước của bờ sông Thames, tước Hiệp sĩ và được tặng thưởng Huân chương danh dự (Anh). Phong cách kiến trúc của ông nguyên gốc đặc sắc và thời trang, ảnh hưởng máy móc của phong cách High-tech, nhưng dần dần ông đã chuyển sang một phong cách tinh tế và hiện đại, sắc nét hơn. Norman Foster sinh tại ngoại ô Manchester và theo học kiến trúc tại Đại học Manchester và Đại học Yale. Ông đã làm việc với kiến trúc sư nổi tiếng Buckminster Fuller, năm 1967 ông lập Nhóm 4 cùng với Richard Roger và thành lập hãng kiến trúc riêng Foster và cộng sự năm 1967. Norman Foster bắt đầu thu hút sự chú ý của công chúng từ năm 1971 khi thiết kế công trình nhà làm việc của hãng IBM tại Cosham. Vào năm 1975, kiến trúc hiện đại của Foster nổi tiếng toàn thế giới với công trình trụ sở làm việc của Willis Faber & Dumas tại Ipswish. Công trình 3 tầng, hoàn toàn bọc kính này nằm trên một khu phố có cấu hình không chuẩn tắc, là một tấm gương phản ánh toàn bộ các hoạt động của khu vực vào ban ngày nhưng lại hoàn toàn trong suốt vào ban đêm, bộc lộ không gian nội thất gồm hai tầng trên làm văn phòng và một bể bơi ở tầng dưới. Đồ án này được xem như một hình mẫu cho sự đáp ứng xã hội cũng như hiệu quả về mặt môi sinh. Trong vòng hai năm, Foster chứng minh tài năng của mình bằng những giải pháp sáng tạo cả về thiết kế không gian lẫn sử dụng vật liệu tại Trung tâm Nghệ thuật Thị giác Sainsbury tại Đại học Đông Anglia, Norwich. Năm 1979, ông thắng cuộc thi thiết kế quốc tế cho trụ sở Ngân hàng Hồng Kông Thượng Hải ở Hồng Kông, cao 180 mét, gồm 47 tầng lầu và 4 tầng ngầm. Toàn bộ các tầng lầu được treo trên các hệ kết cấu vượt một khoảng không là 38,4 m, dựa trên 8 nhóm cột thép cao thấp khác nhau. Công trình này hoàn thành năm 1985. Tòa nhà này là một ví dụ tiêu biểu của kiến trúc High-Tech trong những năm 1980-1990. Ông nhận giải thưởng Pritzker năm 1999. Ông là người Anh thứ hai đoạt giải thưởng Stirling hai lần. Một lần cho công trình Nhà chứa máy bay Mỹ (American Hangar) ở Viện Bảo tàng Chiến tranh Đế quốc (Imperial War Museum Duxford) ở Duxford năm 1998, và lần thứ hai cho toà nhà Swiss Re số 30 đường Mary Axe năm 2004. Công trình này bị một số người gọi là chỉ trích vì giống một biểu tượng gợi dục. Gần đây, một trong những trợ thủ chính của Norman Foster là kiến trúc sư Ken Shuttleworth, người đã vạch những nét phác thảo đầu tiên của tòa nhà "Quả dưa chuột" ở số 30 đường Mary Axe đã rời hãng Foster và cộng sự, thành lập hãng thiết kế kiến trúc MAKE. Có người cho rằng Ken Shuttleworth sẽ là đối thủ tiềm tàng của Foster trong tương lai. Ông cũng bị báo chí Anh đặt cho biệt hiệu "Nam tước lắc lư" sau sự cố trục trặc của Cầu Thiên niên kỷ ở London. Ngoài ra, toà nhà của hãng thiết kế và nhà riêng của Foster cũng bị chỉ trích vì có tác động xấu lên Bộ Sưu tập Nghệ thuật Từ thiện Couper (Couper Collection), tuy nhiên Foster từ chối điều này. Norman Foster đã có 3 đời vợ. Người vợ đầu của ông là đối tác làm việc lâu năm, qua đời năm 1989 vì bị ung thư. Người vợ thứ hai gốc Ấn Độ chỉ sống với Foster một thời gian ngắn và ly dị năm 1998. Vợ hiện nay của ông là Elena Foster, từng là phóng viên và đã giảng dạy tại ĐH Cambridge. Ông có tổng cộng 6 người con (5 trai và 1 gái). == Công trình thiết kế == IBM Pilot Head Office, Portsmouth, Anh (1970 – 1971) Trụ sở Willis Faber & Dumas, Ipswich (1970 – 1974) Trung tâm Nghệ thuật Thị giác Sainsbury, Đại học Đông Anglia, Norwich Tháp ngân hàng Commerzbank, Frankfurt am Main HSBC headquarters building và sân bay quốc tế Hong Kong, Hong Kong Nhà ga hành khách tại sân bay quốc tế Stansted London Metro của Bilbao, Tây Ban Nha Cải tạo thư viện Lionel Robbins, Trường Kinh tế London, Anh Tháp Collserola, Barcelona, Tây Ban Nha, (1992) Carré d'Art, Nîmes, Pháp (1993) Redevelopment of the Great Court of the British Museum (1999) Cầu thiên niên kỷ, London (1999) Cải tạo mái vòm nhà Quốc hội Đức, Berlin (1999) Trụ sở Electronic Arts châu Âu, Thụy Sĩ, 2000 Tòa Thị chính London (2000) Ga Expo MRT, Singapore (2001) Ga tàu điện ngầm La Poterie metro, Rennes, Pháp (2001) Trụ sở J Sainsbury, Holborn Circus, London (2001) 30 St Mary Axe — Trụ sở Swiss Re (2003) Cổng Sage Gateshead (2004) Cầu Millau — Pháp (2004) Đài Tưởng niệm Cảnh sát Quốc gia — The Mall, London (2005) Thư viện khoa triết, Đại học Tự do Berlin, Đức (2005) Khoa dược, Đại học Toronto, Canada Tháp Hearst, New York, New York (2006) Sân bay quốc tế thủ đô Bắc Kinh, Trung Quốc (2007) Quảng trường Spinningfield, Manchester (2005 - 2010) 40 căn hộ cao cấp, Saint Moritz, Thụy Sĩ (2005) Trung tâm Nghệ thuật Trình diễn Dallas, Dallas, Texas == Tham khảo == == Liên kết ngoài == Foster và cộng sự Ken Shuttleworth Structurae: Lord Norman Foster Toà Thị chính London
đại tỉnh thức.txt
Thuật từ Đại Tỉnh thức được dùng để chỉ các cuộc phục hưng tôn giáo trong lịch sử Hoa Kỳ và Anh Quốc, cũng được dùng để miêu tả các giai đoạn cách mạng về tư tưởng tôn giáo tại Hoa Kỳ. Phong trào này, với mục tiêu đánh thức sự sùng tín đã ngủ yên trong lòng tín hữu, lại kiến tạo cho mình ảnh hưởng đáng kể trong xã hội qua nỗ lực tuyên xưng các giá trị đạo đức, sự công chính và lòng nhân ái. Theo sự phân loại được chấp nhận rộng rãi nhất, có cả thảy bốn cuộc đại tỉnh thức xảy ra trong lịch sử Hoa Kỳ: Đại Tỉnh thức lần thứ nhất (thập niên 1730 - thập niên 1740) Đại Tỉnh thức lần thứ nhì (thập niên 1800 - thập niên 1830) Đại Tỉnh thức lần thứ ba (thập niên 1880 - thập niên 1900) Đại Tỉnh thức lần thứ tư (thập niên 1960 - thập niên 1970) == Đặc điểm == Joseph Tracy - một mục sư và sử gia, người đã mang đến cho hiện tượng tôn giáo này thuật ngữ "Đại Tỉnh thức" (cũng là tựa đề một tác phẩm của ông được xuất bản vào năm 1842) - cho rằng cuộc đại tỉnh thức lần thứ nhất là tiền thân của cuộc chiến dành độc lập của Hoa Kỳ. Cũng theo lập luận của Tracy, phong trào bãi nô, một phần của cuộc đại tỉnh thức lần thứ hai và là một trong những nhân tố kiến tạo sự phân hóa trong nước Mỹ về vấn đề nô lệ, được xem như là một trong những yếu tố dẫn nước Mỹ vào cuộc Nội chiến với mục tiêu chính là giải phóng nô lệ. Trong các cuộc Đại Tỉnh thức xuất hiện những hiện tượng nổi bật như bùng phát nhiều giáo phái, ngay cả một số tôn giáo mới, và các hệ thống tín ngưỡng mới xuất hiện cũng như các giáo hội truyền thống đều phát triển mạnh mẽ và tạo nhiều ảnh hưởng trong xã hội. Mặc dù chịu ảnh hưởng từ những trào lưu thần học khởi phát ở châu Âu, hiện tượng tôn giáo này chủ yếu diễn ra trong vòng nước Mỹ và thể hiện những đặc thù của đất nước này. Một phần có lẽ do Hoa Kỳ là vùng đất màu mỡ cho sự phát triển nhiều giáo phái, dù hầu hết đều chia sẻ những giá trị chung của cộng đồng Kháng Cách. Truyền thống Kháng Cách khuyến khích sự tự do bày tỏ các xác tín khác nhau. Sự thiếu vắng một tôn giáo chủ đạo hoặc một hệ thống quốc giáo là môi trường thuận lợi cho việc truyền bá những ý tưởng mới mà không cần nỗ lực, thường khi chậm chạp, cải cách từ bên trong. == Đại Tỉnh thức lần thứ nhất == Cuộc Đại Tỉnh thức thứ nhất là phong trào tôn giáo bùng phát trong cộng đồng Kháng Cách (Protestant) tại các khu định cư tại Bắc Mỹ trong những năm thuộc các thập niên 1730 và 1740. Khởi phát bởi Jonathan Edwards, một nhà thuyết giáo sống tại Massachusetts, người tìm cách phục hồi các giá trị cội rễ của Thần học Calvin (đã được chấp nhận và truyền bá rộng rãi trong thời kỳ lập quốc), và nỗ lực đánh thức tình cảm kính yêu Thiên Chúa đang phôi phai trong lòng tín hữu. Bài giảng Tội nhân trong tay Thiên Chúa đang thịnh nộ là một trong những bài giảng nổi tiếng nhất của ông. Edwards là diễn giả có sức thuyết phục lớn, và nhiều người tìm đến để nghe ông thuyết giảng. Nhà thuyết giáo người Anh George Whitefield tiếp nối phong trào, du hành khắp các khu định cư và thu hút số lượng thính giả đông đảo với cung cách thuyết giáo sinh động và đầy cảm xúc. Phương pháp giảng dạy mới cùng cung cách sống đạo của những người theo phong trào này đã thổi sức sống mới vào đời sống tôn giáo tại Mỹ. Người ta tìm đến tôn giáo với lòng nhiệt tâm, chứ không còn chịu ngồi nghe các bài luận thuyết tôn giáo cách lặng lẽ và xa cách. Nhiều người bắt đầu thói quen nghiên cứu Kinh Thánh tại nhà, tập quán này làm suy giảm ảnh hưởng của các nghi thức thờ phụng công cộng, và đem tín hữu đến gần với khynh hướng chú trọng vào sự trải nghiệm cá nhân đã được rao giảng tại Âu châu trong cuộc Cải cách Kháng Cách. Tất cả những điều này tạo nên sức mạnh thuyết phục cho thông điệp của Jonathan Edwards và các truyền đạo du hành (itinerant preacher), những người dong ruỗi dọc ngang nước Mỹ, tìm đến các khu định cư để giảng đạo. Họ thường được xem là thuộc về nhóm "Tân Quang", để phân biệt với nhóm "Cựu Quang". Sự tranh chấp giữa hai nhóm này dẫn đến việc thành lập một số viện đại học, nay được xếp vào danh sách của Ivy League, như Kings College (Đại học Columbia) và Đại học Princeton. Cuộc đại tỉnh thức có lẽ là biến cố thuần Mỹ nhất cho đến lúc ấy, nên thường được xem là một trong những yếu tố thúc đẩy tiến trình thống nhất các khu định cư và làm gia tăng quyết tâm dành độc lập và quyền tự quyết của người định cư. Cuộc đại tỉnh thức cũng được giải thích là sự thể hiện sau cùng các lý tưởng tôn giáo; vì cớ các lý tưởng này mà các khu định cư vùng New England được thành lập. Lòng sùng tín đang trên đà suy giảm trong các thập niên trước cuộc đại tỉnh thức, một phần là do ảnh hưởng của phong trào Khai sáng (Englightenment), cùng với phản ứng tiêu cực của công chúng đối với vụ án xét xử các phù thuỷ tại Salem. Sau cuộc đại tỉnh thức, lòng sùng tín lại thoái trào, mặc dù lịch sử Hoa Kỳ luôn điểm xuyết bởi các cuộc phục hưng tôn giáo (đáng kể nhất là cuộc đại tỉnh thức thứ nhì). Sức mạnh dẫn dắt các khu định cư trong suốt 60 năm kế tiếp căn bản là thế tục, mặc dù Hoa Kỳ vẫn còn là một quốc gia sùng đạo sâu sắc (nhiều vùng trên nước Mỹ vẫn duy trì lòng sùng tín cho đến ngày nay). === Ảnh hưởng === Các sử gia vẫn tiếp tục tranh luận về ảnh hưởng chính trị của cuộc đại tỉnh thức đối với cuộc Cách mạng Mỹ, diễn ra ngay sau đó. Heimert (1966) lập luận rằng trong thời kỳ trước khi xảy ra cuộc Cách mạng Mỹ, Thần học Calvin và Jonathan Edwards là nguồn cung ứng ý thức hệ chính trị cấp tiến theo khuynh hướng dân chủ xã hội; mặt khác, tôn giáo Tin Lành thể hiện và khuyến khích chủ nghĩa quốc gia. Thần học Calvin được vun trồng tại các khu định cư Mỹ lập nền cho hiện tượng thức tỉnh tâm linh, cùng lúc là tác nhân thúc đẩy cuộc Cách mạng Mỹ. Theo Heimert, ảnh hưởng chủ đạo của cuộc đại tỉnh thức là kiến tạo tinh thần quốc gia cho người Mỹ, đây là nhân tố quyết định dẫn đến cuộc cách mạng. Cuộc Đại Tỉnh thức lần thứ nhất khởi phát từ những lời thuyết giáo mạnh mẽ và đầy sức thuyết phục tập chú vào việc quở trách tội lỗi và nhu cầu nhận lãnh ơn cứu chuộc qua hành động công khai xưng tội để tiếp nhận ân điển của Thiên Chúa, dẫn người nghe đến "trải nghiệm tiếp xúc với Thiên Chúa theo cách riêng của mỗi người". Các diễn giả tra xem bản chất của điều người Mỹ thường xem là giao ước của Thiên Chúa dành cho dân tộc họ, và quở trách nếp sống suy đồi, chuộng vật chất, thích hưởng thụ tại các khu định cư đang trở nên giàu có tại Mỹ. Họ xem đó là ảnh hưởng đến từ Anh, như thế, cần cắt đứt quan hệ với mẫu quốc để có thể tái cung hiến nước Mỹ cho Thiên Chúa. Cuộc Đại Tỉnh thức biến tôn giáo trở thành trải nghiệm cá nhân cho người bình thường bằng cách kiến tạo nhận thức sâu sắc về tội lỗi và ơn cứu chuộc, cùng lúc với sự tra xét nội tâm và tinh thần tận hiến cho những chuẩn mực mới trong đời sống tâm linh. Nhà sử học Sydney E. Ahlstrom nhận thấy yếu tố này trong các cuộc phục hưng tôn giáo xảy ra ở những nơi khác như Phong trào Sùng tín tại Đức, cuộc Phục hưng Tin Lành và Phong trào Giám Lý tại Anh. == Đại Tỉnh thức lần thứ nhì == Cuộc Đại Tỉnh thức thứ nhì là phong trào phục hưng tôn giáo lớn xảy ra trong lịch sử Hoa Kỳ. Nảy sinh từ phong trào này là nhiều loại hình hoạt động khác nhau, nổi trội nhất là tính chủ động của các địa phương và sự bày tỏ nhiệt tâm tôn giáo. Tại vùng New England, sự quan tâm về tôn giáo vừa được hồi sinh dẫn đến một làn sóng hoạt động xã hội. Tại miền tây tiểu bang New York, tinh thần của cuộc phục hưng mở đường cho sự xuất hiện của các giáo phái tân lập, và tạo ra ảnh hưởng đáng kể trên Phong trào Thánh khiết. Tại vùng Appalachia của Kentucky và Tennessee, cuộc phục hưng đã tăng cường sức mạnh cho các giáo phái Giám Lý và Baptist, và sản sinh một hình thức truyền đạo mới - giảng phúc âm trong các lều trại. Vào cuối thế kỷ 18, nhiều người Mỹ thuộc giới trí thức không còn quan tâm đến đức tin Cơ đốc truyền thống, và cuộc phục hưng tôn giáo quét qua miền tây vào thượng bán thế kỷ 19 là một phản ứng đối với trào lưu thế tục của thời kỳ này. === New England === Phong trào Tin Lành bùng phát tại đây sản sinh nhiều hội đoàn truyền giáo liên giáo phái với mục tiêu truyền bá phúc âm cho vùng đất miền Tây còn hoang sơ. Thành viên của các hội đoàn này không chỉ hoạt động như nhà truyền giáo mà còn là nhà giáo dục, truyền bá các giá trị văn hóa đô thị của miền Đông, trong khi những hiệp hội xuất bản và giáo dục chăm lo phát triển giáo dục Cơ đốc, nổi bật nhất là Thánh Kinh Hội Hoa Kỳ, ra đời năm 1816. Cũng từ cuộc phục hưng này, xuất hiện Hội Tiết độ và các nhóm vận động bãi bỏ chế độ nô lệ, khởi phát các nỗ lực nhằm cải cách chế độ lao tù, chăm sóc người tàn tật và người mắc bệnh tâm thần. === New York === Cuộc phục hưng tại miền tây tiểu bang New York chịu nhiều ảnh hưởng của Charles Grandison Finney, một luật sư đến từ Adam, New York. Một vùng rộng lớn từ hồ Ontario đến dãy núi Adriondack chứng kiến quá nhiều cuộc phục hưng tôn giáo đến nỗi nó thường được nhắc đến với tên "Khu vực Bùng cháy" (Burned-over district). Năm 1821, Finney trải nghiệm một sự soi dẫn tâm linh trong khi đang tìm kiếm niềm xác tín tôn giáo cho mình. Ông khởi sự rao giảng Phúc âm tại miền tây tiểu bang New York. Các cuộc phục hưng của Finney nổi bật bởi những đặc điểm như chuẩn bị chu đáo, thuyết giáo với sức thuyết phục mạnh mẽ và kết quả sung mãn với số lượng lớn người qui đạo. Finney thuyết giảng tại khu vực này suốt từ những năm 1820 sang đến những năm đầu thập niên 1830 trước khi nhận lời giảng dạy môn thần học, và về sau trở thành viện trưởng, tại Đại học Oberlin. Cũng từ khu vực này đã sản sinh hai giáo phái quan trọng tại Hoa Kỳ - phong trào Thánh hữu Ngày sau (Mormon) với 12 triệu tín hữu và phong trào Phục lâm – dù cả hai đều không được cộng đồng Cơ Đốc giáo công nhận vì những dị biệt của họ về các vấn đề thần học. === Appalachia === Trong vùng núi Appalachia, cuộc phục hưng mang những đặc điểm tương tự với cuộc đại tỉnh thức thứ nhất của thế kỷ trước. Nhưng tại đây, tâm điểm của cuộc phục hưng là những buổi truyền giảng trong lều trại (camp meeting), thường kéo dài trong vài ngày, dành cho các nhóm cư dân, vì đòi hỏi của công việc, phải sống xa gia đình. Những con người lang bạt này nhìn xem các buổi truyền giảng trong lều bạt như là một nơi trú ẩn cho cuộc đời cô độc của họ tại vùng đất biên cương hoang dã. Bối cảnh đặc thù cộng với sự phấn khích khi tham dự các cuộc phục hưng tôn giáo đã nảy sinh một phong cách mới trong việc biểu lộ các tình cảm tôn giáo như nhảy múa, kêu la và ca hát, những đặc điểm thường được nối kết với các cuộc phục hưng xảy ra tại đây. Buổi truyền giảng trong lều bạt được tổ chức lần đầu tiên vào tháng 7 năm 1800 tại Nhà thờ Gasper River, tây nam Kentucky. Một buổi truyền giảng khác lớn hơn được tổ chức tại Cane Ridge, Kentucky vào tháng 8 năm 1801 với sự tham dự của từ 10 ngàn đến 25 ngàn người; cũng có mặt nhiều mục sư thuộc các giáo phái Trưởng lão, Baptist và Giám Lý. Buổi truyền giảng này đã giúp định hình các chương trình truyền giảng phục hưng có tổ chức, để trở nên hình mẫu cho sự phát triển của các giáo phái như Giám Lý hay Baptist. Nó cũng là công cụ giúp sản sinh các giáo phái thuộc phong trào Hồi cố như Disciples of Christ và Church of Christ. Cuộc phục hưng mau chóng quét qua khắp Kentucky, Tennessee và miền nam Ohio cùng với sự phát triển mạnh mẽ của các giáo phái Giám Lý và Baptist. Mỗi giáo phái có thế mạnh của mình để thu hoạch từ cuộc phục hưng. Giáo phái Giám Lý với cơ cấu tổ chức hiệu quả, dựa vào các truyền đạo khu vực (circuit rider), những người này tìm đến các vùng xa xôi, hẻo lánh để giảng đạo. Thường xuất thân từ giới bình dân, họ dễ dàng tìm được sự đồng cảm từ các gia đình sinh sống tại vùng biên cương. Trong khi đó, giáo phái Baptist chọn lựa cấu trúc tổ chức mềm dẻo. Những người truyền đạo nông dân của họ, những người nhận lãnh "ơn gọi" từ Thiên Chúa, chuyên cần nghiên cứu Kinh Thánh và đi ra thành lập nhà thờ; sau đó, họ được phong chức bởi giáo đoàn của họ. Các giáo đoàn này đào tạo nhiều mục sư và gởi họ đến các vùng xa hơn, sâu trong các hoang mạc để thành lập nhà thờ. Nhờ tính hiệu quả của phương pháp này, giáo phái Baptist chiếm vai trò chủ đạo trong đời sống tôn giáo tại những tiểu bang biên giới và hầu hết các tiểu bang miền Nam. Cuộc đại tỉnh thức thứ nhì có ảnh hưởng sâu sắc trên lịch sử Hoa Kỳ. Với số lượng tín hữu gia tăng mạnh, các giáo phái Baptist và Giám Lý đạt đến vị trí cân bằng, về sau vượt trội các giáo phái truyền thống có ảnh hưởng lớn trong thời kỳ thuộc địa như Anh giáo, Trưởng Lão, Tự trị giáo đoàn và Quaker. Trong vòng các tín hữu Quaker, những nỗ lực nhằm ứng dụng tư tưởng Cơ đốc giáo vào các giải pháp xã hội là tiền thân của phong trào Phúc âm xã hội của thế kỷ 19. Đến giữa thế kỷ 19, nước Mỹ trở nên một quốc gia đa dạng, và những dị biệt bên trong cộng đồng Kháng Cách tại Mỹ vừa phản ánh vừa đóng góp vào tình trạng đa dạng này. === Ảnh hưởng === Cùng lúc với những canh tân trong thần học và cấu trúc hội thánh là những cải cách xã hội xảy ra trong giai đoạn này. Các tín hữu Cơ Đốc tích cực tham gia vào các cải cách xã hội như chống nạn nghiện rượu, bảo vệ nữ quyền, phong trào bãi nô, và các hoạt động nhằm giải quyết những vấn nạn khác của xã hội từ nhận thức về vai trò của họ trong xã hội là thanh tẩy thế giới qua nỗ lực giới thiệu ơn cứu rỗi đến cho từng cá nhân. == Đại Tỉnh thức lần thứ ba == Đây là thời kỳ kéo dài từ thập niên 1850 đến thập niên 1900 ảnh hưởng đến nhiều giáo phái Kháng Cách. Công cuộc truyền giáo đem thông điệp Phúc âm đến khắp nơi trên thế giới và Phong trào Phúc âm Xã hội khởi phát trong giai đoạn này. Cũng xuất hiện một số hiện tượng như Phong trào Thánh khiết, Phong trào Nazarene và giáo phái Cơ Đốc Khoa học. Cuộc Đại Tỉnh thức bùng phát tại nhiều thành phố trong năm 1858, nhưng bị cắt đứt bởi cuộc Nội chiến Mỹ. Tuy vậy, ở miền Nam, chính cuộc nội chiến là nhân tố phát triển các cuộc phục hưng tôn giáo, đặc biệt trong vòng các binh sĩ dưới quyền Tướng Robert E. Lee. Sau chiến tranh, Dwight L. Moody xem chấn hưng niềm tin là trọng tâm trong các hoạt động của ông ở Chicago, dẫn đến việc thành lập Học viện Kinh Thánh Moody. Các giáo hội Kháng Cách mở rộng hoạt động truyền giáo ở Hoa Kỳ và tại nhiều nước trên khắp thế giới. Số lượng các đại học do các giáo hội thành lập tăng trưởng nhanh cùng với chất lượng giáo dục. YMCA có mặt ở nhiều thành phố, cùng lúc với các nhóm thanh niên Cơ Đốc như Epworth League (Giám Lý), và Walther League (Lutheran). === Ảnh hưởng === Cuộc Đại Tỉnh thức lần thứ ba được xem là ảnh hưởng chủ đạo dẫn dắt nước Mỹ qua những ngày khó khăn khi phải gánh chịu hậu quả nặng nề của cuộc Đại Suy thoái và chiến tranh thế giới lần thứ hai. Ý nghĩa của thuật từ "thức tỉnh" ngụ ý một xã hội mê ngủ hoặc trì trệ, thụ động và bị thế tục hóa. Như thế, "thức tỉnh" là thuật từ bắt nguồn từ những người Tin Lành và được sử dụng thường xuyên bởi cộng đồng này, kéo dài cho đến ngày nay như trong trường hợp của Tổng thống George W. Bush. == Đại Tỉnh thức lần thứ tư == Dù vẫn còn bất đồng về việc liệu có nên áp dụng thuật từ "Đại Tỉnh thức" cho giai đoạn từ cuối thập niên 1960 đến đầu thập niên 1970 hay không, thời kỳ này chứng kiến nhiều sự thay đổi đáng kể trong lĩnh vực tôn giáo tại Hoa Kỳ. Trong khi các giáo hội "chính lưu" thuộc cộng đồng Kháng Cách sút giảm đáng kể số lượng tín hữu và ảnh hưởng xã hội thì một số giáo phái truyền thống như Baptist Nam phương và Missouri Synod Lutheran phát triển mạnh mẽ số lượng thành viên, mở rộng ảnh hưởng trên khắp nước Mỹ, tham gia các cuộc tranh luận thần học, và trở nên các thế lực chính trị hùng mạnh. Cùng lúc, là sự lớn mạnh của chủ nghĩa thế tục, và các giáo hội phải đối đầu với các vấn đề như quyền của người đồng tính, quyền phá thai và phải nỗ lực bảo vệ học thuyết sáng tạo. Thời kỳ này cũng chứng kiến sự phát triển của các nhà thờ độc lập có chủ trương liên phái, và các "trung tâm đức tin cộng đồng", cùng lúc là sự trỗi dậy của hiện tượng đại giáo đoàn, và các tổ chức truyền giáo và công tác xã hội phi giáo phái. Phong trào Giê-xu được xem là một phần trong cuộc đại tỉnh thức lần thứ tư. Cũng thuộc thời kỳ này, theo quan điểm của một số người, là cuộc Phong trào Ân tứ từ năm 1961 đến 1982. Khởi nguồn từ Phong trào Ngũ Tuần, tập chú vào trải nghiệm mà họ xem là những "ân tứ" của Chúa Thánh Linh như nói tiếng lạ, chữa bệnh bằng đức tin và nói tiên tri; các "ân tứ" này cũng được xem là dấu chứng của trải nghiệm "đầy dẫy Chúa Thánh Linh". Dù khởi phát từ cộng đồng Kháng Cách, ảnh hưởng của phong trào này lan rộng trong Giáo hội Công giáo La Mã vào lúc các nhà lãnh đạo giáo hội tỏ thái độ rộng mở với chủ trương đại kết, bớt nhấn mạnh đến cấu trúc giáo hội, đồng thời quan tâm nhiều hơn đến vai trò của giáo dân trong giáo hội. == Chú thích == == Xem thêm == Jonathan Edwards Charles Grandison Finney Phong trào Tin Lành Phong trào Giám Lý Baptist Anh giáo == Tham khảo == === Đại Tỉnh thức lần thứ nhất === Jonathan Edwards, (C. Goen, editor) The Great-Awakening: A Faithful Narrative Collected contemporary comments and letters; 1972, Yale University Press, ISBN 0-300-01437-6. Alan Heimert and Perry Miller ed.; The Great Awakening: Documents Illustrating the Crisis and Its Consequences 1967 Davies, Samuel. Sermons on Important Subjects. Edited by Albert Barnes. 3 vols. New York: Robert Carter, 1845. ________. The Reverend Samuel Davies Abroad: The Diary of a Journal to England and Scotland, 1753-55. Edited by George William Pilcher. Urbana, IL: University of Illinois Press, 1967. Gillies, John. Memoirs of Rev. George Whitefield. New Haven, CN: Whitmore and Buckingham, and H. Mansfield, 1834. Jarratt, Devereux. The Life of the Reverend Devereux Jarratt. Religion in America, ed. Edwin S. Gaustad. New York, Arno, 1969. Whitefield, George. George Whitefield's Journals. Edited by Iain Murray. London: Banner of Truth Trust, 1960. ________. Letters of George Whitefield. Edited by S. M. Houghton. Edinburgh, UK: Banner of Truth Trust, 1976. === Đại Tỉnh thức lần thứ nhì === Abzug, Robert H. "Cosmos Crumbling: American Reform and the Religious Imagination" (1994) (ISBN 0-195-04568-8) Ahlstrom, Sydney. A Religious History of the American People (1972) (ISBN 0-385-11164-9) Birdsall Richard D. "The Second Great Awakening and the New England Social Order." Church History 39 (1970): 345-64. Bratt, James D. "Religious Anti-revivalism in Antebellum America." Journal of the Early Republic (2004) 24(1): 65-106. ISSN 0275-1275 Fulltext: in Ebsco. Examines oppositional literature of the antirevivalists, namely, the doubters and critics. The article includes an appendix of selected revivalist critiques. Brown, Kenneth O. Holy Ground; a Study on the American Camp Meeting. Garland Publishing, Inc., 1992. Brown, Kenneth O. Holy Ground, Too, the Camp Meeting Family Tree. Hazleton: Holiness Archives, 1997. Bruce, Dickson D., Jr. And They All Sang Hallelujah: Plain Folk Camp-Meeting Religion, 1800–1845 University of Tennessee Press, 1974. Butler Jon. "Enthusiasm Described and Decried: The Great Awakening as Interpretative Fiction." Journal of American History 69 (1982): 305-25. online in JSTOR Butler Jon. Awash in a Sea of Faith: Christianizing the American People. 1990. Carwardine, Richard J. Evangelicals and Politics in Antebellum America. Yale University Press, 1993. Carwardine, Richard J. "The Second Great Awakening in the Urban Centers: An Examination of Methodism and the 'New Measures,'" Journal of American History 59 (1972): 327-340. online in JSTOR Joseph A. Conforti; Jonathan Edwards, Religious Tradition and American Culture University of North Carolina Press. 1995. Cross, Whitney, R. The Burned-Over District: The Social and Intellectual History of Enthusiastic Religion in Western New York, 1800–1850 1950. Foster, Charles I. An Errand of Mercy: The Evangelical United Front, 1790–1837 University of North Carolina Press, 1960. Clifford S. Griffin. "Religious Benevolence as Social Control, 1815-1860," The Mississippi Valley Historical Review, Vol. 44, No. 3. (Dec., 1957), pp. 423–444. in JSTOR Hambrick-Stowe, Charles. Charles G. Finney and the Spirit of American Evangelicalism. Wm B. Eerdmans, 1996. Hankins, Barry. The Second Great Awakening and the Transcendentalists. Greenwood, 2004. 200 pp. Hatch Nathan O. The Democratization of American Christianity 1989. Charles A. Johnson, "The Frontier Camp Meeting: Contemporary and Historical Appraisals, 1805-1840" The Mississippi Valley Historical Review, Vol. 37, No. 1. (Jun., 1950), pp. 91–110. in JSTOR Long, Kimberly Bracken. "The Communion Sermons of James Mcgready: Sacramental Theology and Scots-Irish Piety on the Kentucky Frontier." Journal of Presbyterian History 2002 80(1): 3-16. Issn: 0022-3883 Loveland Anne C. Southern Evangelicals and the Social Order, 1800-1860. 1980 Marsden George M. The Evangelical Mind and the New School Presbyterian Experience: A Case Study of Thought and Theology in Nineteenth-Century America. 1970. McLoughlin William G. Modern Revivalism 1959. McLoughlin William G. Revivals, Awakenings, and Reform: An Essay on Religion and Social Change in America, 1607-1977 1978. Noll; Mark A. ed. God and Mammon: Protestants, Money, and the Market, 1790-1860 Oxford University Press. 2002. Walter Brownlow Posey, The Baptist Church in the Lower Mississippi Valley, 1776-1845 University at Kentucky Press, 1957 Roth Randolph A. The Democratic Dilemma: Religion, Reform, and the Social Order in the Connecticut River Valley of Vermont, 1791-1850. 1987 Shiels Richard D. "The Second Great Awakening in Connecticut: Critique of the Traditional Interpretation." Church History 49 (1980): 401-15. Smith, Timothy L. Revivalism and Social Reform: American Protestantism on the Eve of the Civil War 1957 === Đại Tỉnh thức lần thứ ba === Abell, Aaron. The Urban Impact on American Protestantism, 1865-1900 Harvard University Press, 1943. Ahlstrom, Sydney E. A Religious History of the American People. Yale University Press, 1972. Bordin, Ruth. Woman and Temperance: The Quest for Power and Liberty, 1873-1900 Temple University Press, 1981. Curtis, Susan. A Consuming Faith: The Social Gospel and Modern American Culture. Johns Hopkins University Press, 1991. Dieter, Melvin Easterday. The Holiness Revival of the Nineteenth Century Scarecrow Press, 1980. Dorsett, Lyle W. Billy Sunday and the Redemption of Urban America Eerdmans, 1991. Dorsett, Lyle W. A Passion for Souls: The Life of D. L. Moody. Moody Press, 1997. Bruce J. Evensen; God's Man for the Gilded Age: D.L. Moody and the Rise of Modern Mass Evangelism Oxford University Press, 2003 Findlay, James F. Dwight L. Moody: American Evangelist, 1837-1899 University of Chicago Press, 1969. Finke, Roger, and Rodney Stark. The Churching of America, 1776-1990: Winners and Losers in Our Religious Economy Rutgers University Press, 1992. Fishwick, Marshall W. Great Awakenings: Popular Religion and Popular Culture (1995) Hutchison William R. Errand to the World: American Protestant Thought and Foreign Missions. University of Chicago Press, 1987. Richard Jensen. The Winning of the Midwest: Social and Political Conflict, 1888-1896 (1971) Kathryn Teresa Long; The Revival of 1857-58: Interpreting an American Religious Awakening Oxford University Press, 1998 William G McLoughlin. Revivals Awakenings and Reform 1980 Marsden, George M. Fundamentalism and American Culture: The Shaping of Twentieth-Century Evangelicalism, 1870-1925 Oxford University Press, 1980. McLoughlin, William G. Modern Revivalism: Charles Grandison Finney to Billy Graham 1959. McLoughlin, William G. Revivals, Awakenings, and Reform: An Essay on Religion and Social Change in America, 1607-1977. University of Chicago Press, 1978. McLoughlin, William G. ed. The American Evangelicals, 1800-1900: An Anthology 1976. Sizer, Sandra. Gospel Hymns and Social Religion: The Rhetoric of Nineteenth-Century Revivalism. Temple University Press, 1978. Smith, Timothy L. Called Unto Holiness, the Story of the Nazarenes: The Formative Years. Kansas City: Nazarene Publishing House, 1962. Smith, Timothy L. Revivalism and Social Reform: American Protestantism on the Eve of the Civil War Abingdon Press, 1957. Ward, W. R. The Protestant Evangelical Awakening Cambridge University Press, 1992. Weisberger, Bernard A. They Gathered at the River: The Story of the Great Revivalists and Their Impact upon Religion in America 1958.
liêu ninh.txt
Liêu Ninh (giản thể: 辽宁; phồn thể: 遼寧; bính âm: Liáoníng, ) là một tỉnh nằm ở Đông Bắc Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa. Tỉnh Liêu Ninh là một bộ phận của vành đai kinh tế Bột Hải tại Trung Quốc. Thủ phủ tỉnh Liêu Ninh đặt tại Thẩm Dương. Liêu Ninh giáp với tỉnh Cát Lâm ở phía đông bắc, giáp với khu tự trị Nội Mông Cổ ở phía tây bắc, giáp với tỉnh Hà Bắc ở phía tây nam, giáp với Triều Tiên qua Áp Lục Giang ở phía đông nam, phía nam là Bột Hải và Hoàng Hải. Liêu Ninh là yếu đạo giữa vùng Đông Bắc Trung Quốc và Trung Quốc bản thổ, cũng là nơi thông ra biển của vùng Đông Bắc Trung Quốc và khu vực đông bộ của Nội Mông Cổ. == Từ nguyên == Giản xưng của Liêu Ninh là "Liêu" (辽, liáo), bắt nguồn từ dòng Liêu Hà chảy qua tỉnh. Tên gọi của tỉnh có nghĩa là "Liêu Hà vĩnh viễn an ninh" (mãi yên bình). Năm 1907, triều đình nhà Thanh đã thành lập tỉnh Phụng Thiên (giản thể: 奉天; bính âm: Fèngtiān) và tên gọi của tỉnh đã được chính phủ Quốc dân đổi thành Liêu Ninh vào năm 1929. Dưới chế độ Mãn Châu Quốc, tỉnh lại mang tên gọi từ năm 1907, song tên gọi Liêu Ninh đã được khôi phục vào năm 1945. == Lịch sử == === Thời cổ đại === Theo phát hiện khảo cổ học, cách nay từ 400.000-500.000 năm, trên địa bàn tỉnh Liêu Ninh đã có các hoạt động của người cổ đại, bằng chứng là di chỉ động huyệt người vượn Kim Ngưu Sơn (金牛山猿人) tại Dinh Khẩu. Vào thời đại đồ đá mới, ngoài tổ tiên của người Hán ra thì địa bàn tỉnh Liêu Ninh là nơi cư trú của tổ tiên người Đông Hồ (东胡), Túc Thận (肃慎). Người Cô Trúc nguyên là thị tộc Mặc Thai, có quan hệ họ hàng gần với tổ tiên của các vua nhà Thương và cũng mang họ Tử. Sau đó, người của thị tộc Mặc Thai định cư tại khu vực ngày nay thuộc Triều Dương, tỉnh Liêu Ninh. Ngày Bính Dần tháng 3 thời Thương Thang được phong thành Cô Trúc, theo Hạ Thương Chu đoạn đại công trình thì sự kiện này ước chừng diễn ra khoảng năm 1600 TCN. Theo sử sách Trung Quốc, một người họ hàng của Trụ Vương nhà Thương là Cơ Tử (箕子) đã di cư ra khỏi Trung Nguyên và lập ra Cơ Tử Triều Tiên (箕子朝鲜) ở Tây Bắc của bán đảo Triều Tiên. Lãnh thổ của Cơ Tử Triều Tiên có khả năng bao gồm cả một bộ phận tỉnh Liên Ninh ngày nay. Bên cạnh Cơ Tử Triều Tiên, vào thời Tây Chu, trên địa bàn tỉnh Liêu Ninh còn có các chính quyền nước Yên, nước Cô Trúc, Sơn Nhung và Đông Hồ. Một bộ phận học giả Hàn Quốc thì nhận định trong thời gian này, Liêu Ninh cũng là lãnh thổ chính của Cổ Triều Tiên. Các hiện vật khảo cổ của văn hóa đồ đồng Liêu Ninh (辽宁青铜文化) được tìm thấy chủ yếu tại tỉnh Liêu Ninh và bán đảo Triều Tiên. Dao găm là hiện vật đặc trưng nhất của nền văn hóa này, và các hiện vật của nền văn hóa đồ đồng Liêu Ninh có hàm lượng kẽm cao hơn so với các nền văn hóa đồ đồng lân cận. Sơn Nhung của thị tộc Vô Chung là một nước chư hầu cổ đại tồn tại trong thời Xuân Thu, có nguồn gốc dân du mục cai trị khu vực phía bắc Trung Quốc ngày nay trải dài từ phía tây tỉnh Liêu Ninh đến phía đông tỉnh Hà Bắc. Khoảng thế kỷ 7 TCN, người Sơn Nhung nhiều lần tiến xuống phía nam, công phạt các nước Trịnh, Yên, Tề, kết quả đến thời Yên Hoàn hầu thì nước Yên buộc phải dời đô tới Lâm Dịch để tránh bị Sơn Nhung xâm chiếm, tàn phá. Thời Yên Trang công (trị vì 690 TCN-658 TCN), người Sơn Nhung từng mở chiến dịch quân sự lớn xâm lược Yên. Với sức mạnh quân sự yếu kém, Trang công không thể địch nổi Sơn Nhung, phải sai sứ sang nước Tề cầu viện. Tề Hoàn công lấy lý do cứu Yên xuất quân chinh phạt Sơn Nhung, nhân cơ hội đó cũng đánh chiếm và tiêu diệt các nước của người du mục phương bắc khác là Cô Trúc, Lệnh Chi (令支), Vô Chung (无终). Khi rút quân về nam, Tề Hoàn công giao lại lãnh thổ 3 nước này cho Yên Trang công. Từ đó lãnh thổ nước Yên được mở rộng thêm. Thời Yên Chiêu vương, tướng Tần Khai (秦开) của nước Yên đã khởi binh tập kích, đại phá Đông Hồ. Trong cuộc chiến này, Tần Khai đã vượt Liêu Thủy, tấn công bắc bộ Cơ Tử Triều Tiên. Đông Hồ phải lui trên 1.000 dặm, kết quả vùng lãnh thổ phía đông của Yên được mở rộng trên 1.000 dặm. Nước Yên cho sửa sang, xây đắp trường thành phía bắc. Trường thành này khởi đầu từ phía tây tại Tạo Dương (nay là vùng đông bắc Tuyên Hóa, Trương Gia Khẩu, tỉnh Hà Bắc), kéo dài về phía đông tới Tương Bình (nay là phía bắc Liêu Dương, tỉnh Liêu Ninh). Năm 226 TCN, sau khi chiếm được một nửa nước Yên từ trước đó, quân Tần công phá Kế thành, Yên vương Hỉ cùng thái tử Đan dẫn quân lui về Liêu Đông, tướng Tần là Lý Tín (李信) xuất quân truy đuổi. Yên vương giết thái tử Đan rồi dâng thủ cấp để cầu hòa. Tại vùng đất quân Tần chiếm được, vua Tần cho thành lập các quận Ngư Dương, Hữu Bắc Bình, Liêu Tây. Năm sau lại lập quận Thượng Cốc, Quảng Dương. Năm 222 TCN, vua Tần sai Vương Bí tấn công Yên ở Liêu Đông. Quân yên đại bại, Yên vương Hỉ bị bắt, nước Yên diệt vong. Tần thành lập Liêu Đông quận trên vùng Liêu Đông của nước Yên cũ. === Thời Tần, Hán === Sau khi Tần Thủy Hoàng thống nhất Trung Quốc, triều đình đã thiết lập trên đất Liêu Đông ngày nay ba quận là Liêu Đông, Liêu Tây và Hữu Bắc Bình. Đến thời Tây Hán thì vùng đất Liêu Ninh phụ thuộc vào U châu. Vệ Mãn được cho là một vị tướng của nước Yên, sau đó, ông đã quy phục Chuẩn Vương của Cổ Triều Tiên. Chuẩn Vương đã chấp thuận và bổ nhiệm Vệ Mãn giữ chức vụ chỉ huy tại vùng biên giới phía tây của Cổ Triều Tiên, trên địa phận tỉnh Liêu Ninh ngày nay. Mặc dù vậy, Vệ Mãn đã nổi dậy và tiêu diệt Cổ Triều Tiên. Năm 194 TCN, ông đã lập nên Vệ Mãn Triều Tiên và quyết định đặt kinh đô ở Vương Hiểm thành (王險城) và được một số học giả nhận định là nằm bên Liêu Hà. Trong giai đoạn này, Vệ Mãn Triều Tiên đã mở rộng kiểm soát trên một lãnh thổ rộng lớn và kiểm soát thương mại giữa nhà Hán và các quốc gia tại Mãn Châu. Cháu trai của Vệ Mãn là Hữu Cừ Vương (右渠王) đã cho phép nhiều người Hán lưu vong sống tại Vệ Mãn Triều Tiên. Năm 109 TCN, Hán Vũ Đế đã xâm lược Vệ Mãn Triều Tiên. Sau vài lần thất bại trong việc đè bẹp quân đội Vệ Mãn Triều Tiên, Hán Vũ Đế đã cố gắng thuyết phục các hoàng tử của Vệ Mãn giết Hữu Cừ Vương. Sau khi tiêu diệt Vệ Mãn Triều Tiên, nhà Hán lập nên Hán tứ quận trên các lãnh thổ chiếm được, tương ứng với các khu vực bán đảo Liêu Đông và tây bắc bán đảo Triều Tiên ngày nay, trong đó trên địa bàn tỉnh Liêu Ninh ngày nay có Liêu Đông quận và Huyền Thổ quận, cộng thêm hai quận Liêu Tây và Hữu Bắc Bình đã thành lập từ trước đó. Huyền Thổ nằm ở bên trong Trường Thành, trên khu vực Thẩm Dương và Phủ Thuận ngày nay, nhân khẩu khoảng trên 40.000 người. Căn cứ theo các tài liệu Tam quốc sử ký và Tam quốc di sự, một vương tử của Phù Dư Quốc, mang tên Chu Mông đã buộc phải rời khỏi đất nước của mình do sự tranh giành quyền kế vị diễn ra giữa các vương tử của Phù Dư; và ông là người đã thành lập ra quốc gia Cao Câu Ly (năm 37 TCN) trên vùng đất mang tên là Tốt Bản, lấy vương đô là Hội Thăng Cốt thành (纥升骨城) thuộc huyện Hoàn Nhân của tỉnh Liêu Ninh ngày nay. Ban đầu, Cao Câu Ly phát triển từ một liên minh các bộ lạc Uế Mạch và nhanh chóng phát triển từ vùng đất mà họ kiểm soát (lưu vực Hồn Hà thuộc tỉnh Liêu Ninh ngày nay). Sau khi có được nguồn nhân lực và vật lực dồi dào từ việc chinh phạt các bộ tộc láng giềng, Chu Mông xua quân tấn công các quận Lạc Lãng, Huyền Thổ và Liêu Đông ở khu vực Tây Bắc Triều Tiên, Mãn Châu và bán đảo Liêu Đông ngày nay; và trở thành một thế lực độc lập với các quận nhà Hán. Đến năm 3 SCN, Cao Câu Ly đã thiên đô đến Quốc Nội thành (nay thuộc Tập An, tỉnh Cát Lâm) do chịu áp lực từ nhà Hán. Cuối thời Đông Hán, triều đình suy yếu nên đã xảy ra tình trạng cát cứ. Công Tôn Độ đã cát cứ ở Liêu Đông khi cuộc chiến quân phiệt nổ ra. Sau đó Công Tôn Độ mang quân đánh về hai phía đông tây, đánh nước Cao Câu Ly và bộ tộc Ô Hoàn, đều thắng lợi. Công Tôn Độ công khai bày tỏ ý định tranh bá đồ vương. Bước đầu, Công Tôn Độ chia quận Liêu Đông làm ba: Liêu Đông, Liêu Tây và Trung Liêu, bổ nhiệm người của mình làm Thái thú 3 quận đó, còn ông tự xưng là Châu mục Bình châu, Liêu Đông hầu. Công Tôn Độ là người đặt nền móng cát cứ của họ Công Tôn ở Liêu Đông. === Thời Tam Quốc === Sau khi đánh bại quân Tào Ngụy vào năm 237, Công Tôn Uyên tự xưng là Yên vương. Năm 238, Ngụy Minh Đế Tào Duệ sai Tư Mã Ý mang đại quân đánh Yên. Tháng 6 năm đó quân Ngụy tấn công Liêu Đông. Cuối cùng, Công Tôn Uyên tử trận bên bờ sông Lương Thủy. Tư Mã Ý mang quân vào thành Tương Bình, giết 7000 đàn ông từ 15 tuổi trở lên, thu thập xác chất thành đống cao, hơn 2.000 quan văn võ do Công Tôn Uyên bổ nhiệm đều bị chém hết. Sau đó, chính quyền Tào Ngụy đã phế Hậu Thành huyện, thiết lập 4 huyện Cao Câu Ly, Cao Hiển, Liêu Dương và Vọng Bình thuộc Huyền Thổ quận. Sau khi Tào Ngụy chiếm được Liêu Đông, mối quan hệ hữu hảo giữa Tào Ngụy và Cao Câu Ly nhanh chóng tan vỡ và Cao Câu Ly xua quân tấn công các khu vực phía tây của Liêu Đông. Năm 244), U châu thứ sử Vô Khâu Kiệm từ trị sở của Huyền Thổ quận (nay thuộc Thẩm Dương) đã đưa 10.000 quân tấn công và tàn phá Hoàn Đô sơn thành (nay thuộc cực nam của Cát Lâm) của Cao Câu Ly. Đông Xuyên Vương của Cao Câu Ly phải bỏ chạy khỏi kinh đô. Tháng 6 năm 245, Vô Khâu Kiệm đưa quân Ngụy trở lại U châu, Đông Xuyên Vương lại trở về Hoàn Đô sơn thành, song Vô Khâu Kiệm lại cử Vương Kì (王頎) đi đánh và lần này Đông Xuyên Vương buộc phải chạy về phía Đông và nương nhờ tại lãnh thổ của các bộ tộc Ốc Trở. Tuy nhiên, sau đó quân Tào Ngụy đã bị Cao Câu Ly đẩy lui và không lâu sau đó, người Cao Câu Ly đã khôi phục được lãnh thổ cũ, gồm một bộ phận ở đông bộ tỉnh Liêu Ninh hiện nay. === Thời Tây Tấn, Ngũ Hồ thập lục quốc === Năm 265, Tây Tấn được thành lập. Trong khi đó, Cao Câu Ly xây dựng lại kinh đô của họ tại Hoàn Đô và bắt đầu xua quân tấn công các quận Liêu Đông và Huyền Thổ. Năm 302, Cao Câu Ly thôn tính Huyền Thổ quận, và sau đó thì thế lực của nước này chạm đến bán đảo Liêu Đông. Khi người Hồ tràn vào Trung Nguyên, Vương Tuấn đã cát cứ U châu và Ký châu. Bên cạnh thế lực của Vương Tuấn và Cao Câu Ly, trên địa bàn Liêu Ninh khi đó còn có ba thế lực thuộc Đông bộ Tiên Ti là Đoàn bộ, Vũ Văn bộ và Mộ Dung bộ. Vương Tuấn nhận thấy rằng thiên hạ rồi sẽ đại loạn nên đã hướng ra bên ngoài kết viện, ông ta gả một con gái cho thủ lĩnh Đoàn Vụ Mục Trần của Đoàn bộ Tiên Ti và đề nghị triều đình nhà Tấn phong cho Đoàn Vụ Mục Trần là Liêu Tây công, ban cho Đoàn Vụ Mục Trần Liêu Tây quận. Chính quyền này do đó cũng được gọi là "Liêu Tây công quốc", đô thành đặt tại Lệnh Chi (令支) (nay thuộc Thiên An, Hà Bắc). Sử sách đương thời viết rằng Đoàn bộ Tiên Ti "cứ hữu đất Liêu Tây, xưng thần với Tấn. Xứ này có hơn 3 vạn nóc nhà, có tới bốn hoặc năm vạn con ngựa". Trong số ba bộ tộc Đông bộ Tiên Ti thì Vũ Văn bộ là mạnh nhất. Vũ Văn bộ có lẽ hình thành từ những năm Hán Mạt hoặc Tam Quốc sơ. Sau thời Tây Tấn, Vũ Văn bộ có lãnh thổ trải rộng từ Nhu Nguyên (thượng du Loan Hà thuộc tỉnh Hà Bắc) đến Liễu Thành (nay là Triều Dương của Liêu Ninh). Còn Mộ Dung bộ đã thiên cư đến Liêu Tây vào đầu thời Tào Ngụy, đã có công trong chiến dịch thảo phạt Công Tôn Uyên của Tư Mã Ý, thủ lĩnh Mạc Hộ Bạt (莫护跋) sau đó đắp thành tại vùng đất nay là Triều Dương của tỉnh Liêu Ninh, đổi tên thành Mộ Dung Yên. Mộ Dung Thiệp Quy được triều đình Trung Nguyên phong là Tiên Ti thiền vu, thiên cư đến Liêu Đông và bắt đầu Hán hóa. Về sau, Mộ Dung bộ và Vũ Văn bộ thường xảy ra giao chiến. Sau khi bị quân Tấn đánh bại, Mộ Dung bộ đã trở thành chư hầu của nhà Tấn vào năm 289. Do có loạn ở Trung Nguyên, nhiều nạn dân người Hán đã đến các vùng lãnh địa tương đối an toàn của Mộ Dung bộ, do được đối xử tốt với nên hầu hết đã lựa chọn ở lại, sức mạnh của Mộ Dung bộ vì thế cũng tăng lên. Năm 337, thủ lĩnh Mộ Dung bộ là Mộ Dung Hoảng tự xưng Yên Vương, lịch sử gọi là Tiền Yên. Mùa đông năm 338, Tiền Yên và Hậu Triệu liên minh đánh Đoàn bộ. Sau khi đánh thắng Đoàn bộ, Hậu Triệu lại đem quân đánh Tiền Yên song thất bại và Tiền Yên đã giành được quyền kiểm soát các thành trước đây của Đoàn bộ. Năm 341, Mộ Dung Hoảng dời đô từ Cức Thành đến một thành mới được xây dựng là Long Thành (龍城, nay thuộc Liêu Ninh). Năm 342, Tiền Yên đã tấn công kinh đô Cao Câu Ly ở Hoàn Đô sơn thành. Quân Tiền Yên đã bắt một số thành viên vương tộc Cao Câu Ly đem về nước. Năm 344, Mộ Dung Hoảng cùng phó tướng Mộ Dung Hàn đã tiến đánh Vũ Văn bộ, quân Tiền Yên đã đại thắng và buộc tù trưởng Vũ Văn Dật Đậu Quy (宇文逸豆歸) phải chạy trốn. Quân Tiền Yên buộc Vũ Văn bộ phải di chuyển xuống phía nam và hợp nhất họ thành thần dân của Tiền Yên. Vào mùa xuân năm 350, nhân lúc Hậu Triệu suy yếu, Mộ Dung Tuấn bắt đầu tấn công nước này, quân Tiền Yên nhanh chóng chiếm được Kế Thành (薊城, nay thuộc Bắc Kinh). Mộ Dung Tuấn sau đó dời đô từ Long Thành (龍城, nay thuộc Cẩm Châu, Liêu Ninh) đến Kế Thành. Tiền Yên sau đó bị nước Tiền Tần tiêu diệt, toàn bộ địa bàn tỉnh Liêu Ninh thuộc nước Tiền Tần. Sau thất bại trước Đông Tấn trong trận Phì Thủy, Tiền Tần suy yếu và sụp đổ. Mộ Dung Thùy, một thân vương của Tiền Yên đã nổi loạn và lập ra nước Hậu Yên, lãnh thổ Hậu Yên cả địa phận Liêu Ninh. Về sau, Hậu Yên lại suy yếu, lãnh thổ bị thu nhỏ dần và hoàng đế Hậu Yên phải chuyển đến Long Thành (龍城, nay thuộc Cẩm Châu, Liêu Ninh). Vào mùa xuân năm 398, sau một cuộc nổi loạn của tướng Đoàn Tốc Cốt (段速骨), Mộ Dung Bảo đã bị vây trong Long Thành, Lan Hãn tận dụng thời này đã tiếm quyền trong một thời gian ngắn. Mộ Dung Thịnh sau đó đã tiến hành chính biến lật đổ nhạc phụ, tái lập Hậu Yên và xưng đế. Năm 407, Long Thành lại xảy ra chính biến, hoàng đế Mộ Dung Hi bị giết và con trai nuôi của Mộ Dung Bảo là Mộ Dung Vân lên thay thế, lập ra nước Bắc Yên. Năm 404, thừa cơ Hậu Yên suy yếu, Cao Câu Ly đã đưa quân chiếm đóng Liêu Đông. Mộ Dung Vân lên làm vua Yên, lại lấy họ cũ là Cao Vân. Năm 418, Bắc Ngụy Minh Nguyên Đế đã thực hiện một cuộc tấn công bất ngờ chống lại Bắc Yên, bao vây Hòa Long (tức Long Thành), quân Bắc Ngụy bắt khoảng 10.000 hộ tại Bắc Yên và rút lui. Vào mùa thu năm 432, Thái Vũ Đế của Bắc Ngụy lại tấn công Bắc Yên, hướng về kinh đô Hòa Long của Bắc Yên. Năm 436, Bắc Yên bị Bắc Ngụy thôn tính, vua Phùng Hoằng của Bắc Yến di tản dân chúng của mình sang Cao Câu Ly. Trường Thọ Vương của Cao Câu Ly đã cho người dân của Phùng Hoằng định cư tại Bình Quách (平郭, nay thuộc Dinh Khẩu, Liêu Ninh), và sau đó tại Bắc Phong (北豐, nay thuộc Thẩm Dương, Liêu Ninh). Tuy nhiên, do có mâu thuẫn, quốc vương Cao Câu Ly sau đó đã cho giết chết Phùng Hoằng. === Nam-Bắc triều === Sau khi Bắc Ngụy diệt Bắc Yên, vùng Liêu Đông do Cao Câu Ly kiểm soát. Tuy vậy, Cao Câu Ly cũng xưng thần với Bắc Ngụy và đến năm 491, Bắc Ngụy Hiếu Văn Đế đã sách phong cho Trường Thọ Vương của Cao Câu Ly làm Xa kị đại tướng quân, thái phó, Liêu Đông quận khai quốc công, Cao Câu Ly vương, thừa nhận việc Cao Câu Ly khống chế Liêu Đông. Năm 444, Bắc Ngụy đã thành lập Doanh châu (營州) trị sở đặt ở Long Thành huyện (nay thuộc Triều Dương của Liêu Ninh), châu này quản lý các khu vực của tỉnh Liêu Ninh khi đó thuộc Bắc Ngụy. Sau khi Bắc Ngụy bị chia tách thành hai nước ở phía đông và Tây, Doanh châu thuộc Đông Ngụy rồi Bắc Tề. Sau khi Bắc Tề bị Bắc Chu tiêu diệt, vùng đất phía tây tỉnh Liêu Ninh thuộc về Bắc Chu. Sau khi để mất Liêu Đông, Bắc Yên đã lập Liêu Đông quận ở phía tây tỉnh Liêu Ninh ngày nay, đến thời Bắc Tề thì quận này bị phế. Khu vực phía bắc của Bắc Ngụy và Cao Câu Ly trên địa bàn Liêu Ninh ngày nay ban đầu có người Nhu Nhiên. Cùng với sự phát triển của tộc Tiên Ti khi họ khống chế triều Bắc Ngụy, kiểm soát miền Bắc Trung Quốc, tộc Khiết Đan cũng trở nên hùng mạnh và được ghi nhận lần đầu trong lịch sử. === Thời Tùy === Dưới thời nhà Tùy, khu vực tỉnh Liêu Ninh do triều đình Trung Quốc kiểm soát được phân thành Liêu Đông quận, Liễu Thành quận và Yên quận. Trong đó, Liêu Đông quận được lập vào năm 612, trị sở đặt tại Tân Dân của Thẩm Dương hiện nay; Liễu Thành quận bắt nguồn từ Xương Lê quận của Doanh châu từ thời Bắc Ngụy. Các hoạt động quân sự của Cao Câu Ly ở Liêu Tây đã chọc tức triều đình nhà Tùy. Mặt khác, Bình Nguyên Vương và Anh Dương Vương của Cao Câu Ly cũng cương quyết duy trì mối quan hệ bình đẳng với nhà Tùy. Năm 597, Anh Dương Vương đã cùng với người Mạt Hạt tấn công vùng biên giới đông bắc của nhà Tùy. Năm 598, Tùy Dạng Đế đã lệnh cho hoàng tử Dương Lượng (楊諒) và Chu La Hầu (周罗睺) đem 30 vạn thủy binh tiến đánh Cao Câu Ly, kết quả là quân Tùy bại trận. Sau khi Tùy Văn đế qua đời, Tùy Dạng Đế tiếp tục thực hiện mưu đồ xâm chiếm Cao Câu Ly bằng các chiến dịch năm 612, 613, 614 song cũng đều thất bại. Trong cuộc tấn công năm 612, 9 đạo quân Tùy với 30 vạn 5 nghìn người đã tấn công Cao Câu Ly tại khu vực Liêu Hà và chọc thủng các phòng tuyến của Cao Câu Ly. Cuộc tấn công xâm lược năm 614 của Tùy bị bãi bỏ sau khi Cao Câu Ly đồng ý giao nộp Hộc Tư Chính (斛斯政), một phản tướng của nhà Tùy chạy sang Cao Câu Ly cho Dạng Đế xử tử. === Thời Đường === Năm Trinh Quán thứ 11 (643) thời Đường Thái Tông, do bị liên minh Cao Câu Ly và Bách Tế tấn công, Tân La đã thỉnh cầu cứu viện của nhà Đường. Nhân cơ hội này, Đường Thái Tông đã hạ lệnh tấn công Liêu Đông. Năm 645, Đường Thái Tông cho 17 vạn quân tấn công Cao Câu Ly, Lý Tích (李勣) xuất quân theo đường bộ còn Trương Lượng (张亮) xuất quân theo đường thủy, đích thân Đường Thái Tông đến Liêu Đông đốc chiến. Phía Cao Câu Ly cử 10 vạn quân đến Liêu Đông thành và An Thị thành ven Liêu Hà chống lại. Sau khi chiếm được Liêu Đông thành, quân Đường tiếp tục tấn công An Thị thành (nay thuộc Hải Thành của Liêu Ninh) từ tháng 6 đến tháng 9 song không hạ được thành này và phải rút lui. Sau khi Thái Tông qua đời năm 649, Đường Cao Tông tiếp tục những cuộc tấn công xâm lược Cao Câu Ly vào năm 661 và 662, nhưng tất cả đều bị Cao Câu Ly đánh bại. Mặc dù vậy những cuộc chiến tranh với nhà Đường đã khiến Cao Câu Ly hao binh tổn tướng khá nhiều. Sau khi tiêu diệt Bách Tế vào năm 660, liên quân Đường-Tân La đã tấn công Cao Câu Ly. Trong chiến dịch này, quân Đường huy động tới 35 vạn quân và Tân La chỉ bị yêu cầu cung cấp tiếp tế. Năm 668, Cao Câu Ly chính thức bị tiêu diệt. Lúc đầu, nhà Đường phân đất này thành 9 đô đốc phủ, 42 châu, 100 huyện và đặt An Đông đô hộ phủ tại Bình Nhưỡng để cai quản. Sau chiến tranh Tân La-Đường, Tân La kiểm soát được vùng đất phía nam sông Đại Đồng của bán đảo Triều Tiên. Nhà Đường buộc phải chuyển phủ lị của An Đông đô hộ phủ đến Liêu Dương ngày nay, nơi bộ máy này tiếp tục giám sát các công việc của những người tị nạn Cao Câu Ly và nhiều phần lãnh thổ của vương quốc Cao Câu Ly trước đây. Năm 699, triều Đường cử một vương tử Cao Câu Ly cũ là Cao Đức Vũ, con trai thứ ba của quốc vương Cao Câu Ly cuối cùng là Bảo Tạng Vương đến bán đảo Liêu Đông, đặt cho ông tước hiệu "Triều Tiên vương" và phong chức đô úy một quận của An Đông đô hộ phủ. Giống như cha mình, Cao Đức Vũ lên kế hoạch nổi loạn chống lại nhà Đường và hồi sinh Cao Câu Ly. Triều Đường vào thời điểm đó đang phải trải qua một số khủng hoảng, đặc biệt là khởi nghĩa An Lộc Sơn cùng với áp lực từ vương quốc Bột Hải do Đại Tộ Vinh lập ra vào năm 698 từ các du dân Cao Câu Ly và người Mạt Hạt. Tiểu Cao Câu Ly được Cao Đức Vũ thành lập và trở thành vùng đệm giữa Đường và vương quốc Bột Hải. Khu vực tỉnh Liêu Ninh thuộc Đường từng do An Lộc Sơn cai quản. Sau loạn An Sử, quân lực của Đường ở Liêu Ninh bị tổn hại nghiêm trọng. Sau thời trung Đường, đất nước xảy ra nạn phiên trấn cát cứ, Truy Thanh tiết độ sứ Lý Chính Kỉ chiếm cứ đất Bình Lư (trị sở nay thuộc Triều Dương, Liêu Ninh). Bình Lư do con cháu của Lý Chính Kỉ cát cứ trong 54 năm, về sau bị triều Đường bình định. === Thời Liêu, Kim và Nguyên === Trong thời Ngũ Đại Thập Quốc, một bộ phận tây bộ Liêu Ninh thuộc quyền cai quản của Lưu Thủ Quang (劉守光) 895-913. Năm 916, Da Luật A Bảo Cơ lập ra nước Liêu của người Khiết Đan, chiếm cứ Liêu Tây. Sau khi Bột Hải bị Liêu tiêu diệt vào năm 926, toàn bộ khu vực tỉnh Liêu Ninh ngày nay thuộc quyền cai quản của Liêu. Thời nhà Liêu, tỉnh Liêu Ninh phân thuộc Đông Kinh đạo, Thượng Kinh đạo, Trung Kinh đạo, Hạ Kinh đạo. Trong đó, Đông Kinh đạo đặt tại Liêu Dương phủ (nay là Liêu Dương của Liêu Ninh). Tàn dư của vương quốc Bột Hải cũng lập ra các chế độ Hậu Bột Hải, Định An và Hưng Liêu, chiếm cứ một bộ phận tỉnh Liêu Ninh hiện nay trong một thời gian ngắn, tuy nhiên, cuối cùng đều bị Liêu đánh dẹp. Thời nhà Kim, đại bộ phận Liêu Ninh thuộc Đông Kinh lộ, những phần còn lại phân thuộc Hàm Bình lộ, Thượng Kinh lộ, Bắc Kinh lộ. Thời nhà Nguyên, Liêu Ninh phân thuộc Liêu Dương đẳng xứ hành trung thư tỉnh (辽阳等处行中书省), trong đó đông bộ Liêu Ninh thuộc Liêu Dương lộ và Thẩm Dương lộ; khu vực bắc bộ Liêu Ninh thuộc Hàm Bình phủ của Khai Nguyên lộ, khu vực tây bộ Liêu Ninh thuộc Quảng Ninh lộ. Riêng các khu vực Cẩm Châu và Triều Dương thì thuộc Đại Ninh lộ của Trung thư tỉnh. Thời điểm này, Liêu Ninh đã có đến 10 vạn hộ, vùng đất canh tác khai khẩn rộng hơn 1000 lý. Ngoài nông nghiệp, các nghề luyện thép, dệt lụa, làm gốm sứ cũng có sự phát triển. Trên địa bàn tỉnh khi đó còn có các mỏ khai khoáng, nghề làm muối cũng phát triển. === Thời Minh === Quân Minh chiếm được Liêu Ninh vào năm 1371, chỉ ba năm sau khi họ trục xuất được người Mông Cổ ra khỏi Thượng Đô (Bắc Kinh). Thời Minh, triều đình đã thiết lập trên đất Liêu Ninh các trọng trấn/vệ sở Liêu Dương, Ninh Viễn và Thẩm Dương; một bộ phận tỉnh Liêu Đông thuộc Liêu Đông đô ti của Sơn Đông thừa tuyên bố chánh sứ ti (山东承宣布政使司), bộ phận còn lại thuộc Nô Nhi Can đô ti. Năm Vĩnh Lạc thứ 7 (1435), triều đình nhà Minh bãi bỏ Nô Nhi Can đô ti, lãnh thổ của cơ cấu này phân thuộc các vệ sở. Khoảng năm 1442, triều đình nhà Minh đã cho xây dựng một tuyến tường phòng thủ ở phía đông bắc để đề phòng những người Nữ Chân và Mông Cổ. Năm 1467-68, tường thành được mở rộng để bảo vệ cho khu vực đông bắc trước người Kiến Châu Nữ Chân, trong khi đó, tại địa bàn Liêu Ninh cũng có sự hiện diện của các bộ tộc Hải Tây Nữ Chân. Mặc dù có cùng một mục đích với Vạn Lý Trường Thành, song bức tường Liêu Đông này có chi phí thấp hơn. Mặc dù sử dụng một số gạch và đá ở một số điểm, song hầu hết bức tường này chỉ giống như một con đê bằng đất và có hào ở hai bên. === Thời Hậu Kim, Thanh === Năm 1593, đã diễn ra trận Cổ Lặc Sơn giữa Kiến Châu Nữ Chân với liên quân bao gồm bốn bộ lạc Hải Tây Nữ Chân và năm bộ lạc Mông Cổ tại địa phận Tân Tân ngày nay, kết quả là Nỗ Nhĩ Cáp Xích đã giành được chiến thắng. Sau đó, năm 1608, Nỗ Nhĩ Cáp Xích đã cùng quân Minh ở biên thùy lập bia hoạch giới. Năm 1616, tại Hách Đồ A Lạp, Nỗ Nhĩ Cáp Xích đã xưng hãn, đặt quốc hiệu là "Kim", lịch sử gọi là "Hậu Kim", tiền thân của nhà Thanh. Hách Đồ A Lạp nay thuộc Tân Tân của Liêu Ninh, nằm bên ngoài bức tường Liêu Đông. Đầu năm 1619, Minh Thần Tông sai Binh bộ Thị lang Dương Cảo làm Liêu Đông Kinh lược sứ, chỉ huy đại quân, cộng với binh lực của các bộ tộc Nữ Chân và Mông Cổ chống Nỗ Nhĩ Cáp Xích, đứng đầu là bộ tộc Diệp Hách, binh lực của quân Triều Tiên, chia bốn đường đánh dẹp Hậu Kim. Tận dụng ưu thế cơ động, Nỗ Nhĩ Cáp Xích cho quân Bát kỳ nhanh chóng tiến đến chiếm lĩnh thế trận trước tại bờ sông Tát Nhĩ Hử (薩爾滸), tức Hồn Hà tại đông bộ Liêu Ninh ngày nay. Chỉ trong 6 ngày tác chiến, 6 vạn quân Nữ Chân đã đánh bại 14 vạn liên quân Minh - Triều Tiên - Diệp Hách, làm rung động Minh triều. Danh tiếng Nỗ Nhĩ Cáp Xích vang dội toàn mạn Bắc Trung Quốc. Năm 1621, quân Bát kỳ tiếp tục đánh chiếm Liêu Dương, Trung Trấn, Thẩm Dương, khống chế toàn bộ vùng đất phía đông Liêu Hà. Cũng trong năm này, Nỗ Nhĩ Cáp Xích thiên đô về Liêu Dương, với mục đích khống chế vùng Liêu Đông. Đến năm 1625, kinh đô của Hậu Kim chuyển về Thịnh Kinh (盛京, nay thuộc Thẩm Dương). Tuy nhiên, Nỗ Nhĩ Cáp Xích sau đó đã đại bại trước quân Minh trong trận Ninh Viễn diễn ra vào năm 1626 tại Hưng Thành, Liêu Ninh hiện nay. Sau khi lên kế vị, Hoàng Thái Cực đã mở mang lãnh thổ của Hậu Kim, khuất phục Mông Cổ và Triều Tiên. Tuy nhiên, trong lần đánh thành Ninh Viễn, Hoàng Thái Cực đã thất bại trước tướng Viên Sùng Hoán của Minh. Về sau, do có biến cố tại Trung Nguyên, Lý Tự Thành chiếm Bắc Kinh, Ngô Tam Quế mở cổng Sơn Hải quan để tướng Hậu Kim Đa Nhĩ Cổn đã đưa quân Thanh xâm nhập Trung Nguyên, bắt đầu cuộc chinh phục toàn cõi Trung Quốc. Cuộc chinh phục Liêu Đông của Hậu Kim đã khiến cho dân số khu vực này suy giảm nghiêm trọng, các cư dân người Hán bản địa đã bị quân Nữ Chân/Mãn Châu sát hại hoặc phải dời vào trong Quan Nội (trong Vạn Lý Trường Thành), nhiều thành thị đã bị quân Minh phá hủy khi họ rút lui. Cuối năm 1661, một tường thuật đã viết rằng: ngoài thành Phụng Thiên (Thẩm Dương), Liêu Dương, và Hải Thành, tất cả các thành khác ở phía đông Liêu Hà đã bị bỏ hoang hoặc chỉ còn vài trăm cư dân còn ở lại. Trong đó, "Thiết Lĩnh và Phủ Thuận chỉ có một vài kẻ lang thang". Ở phía tây Liêu Hà, chỉ có Ninh Viễn, Cẩm Châu và Quảng Ninh là còn lại một lượng dân cư đáng kể. Trong nửa sau thế kỷ 17, (bắt đầu ban hành chiếu chỉ vào năm 1651 và 1653), triều đình nhà Thanh đã cho một số người ở phía nam Vạn Lý Trường Thành (đặc biệt là từ Sơn Đông) đến định cư tại các khu vực tương đối hoang vắng của Phụng Thiên (sau đổi thành Thịnh Kinh) tướng quân (gần tương ứng với Liêu Ninh ngày nay). Nhiều cư dân Liêu Ninh hiện nay có tổ tiên là những người định cư từ thế kỷ 17. Tuy nhiên, phần còn lại của Đông Bắc Trung Quốc vẫn duy trì lệnh cấm chính thức đối với việc người Hán nhập cư. Để ngăn cản người Hán nhập cư đến các khu vực nay là Cát Lâm và Cát Long Giang, cũng như các khu vực lân cận của Nội Mông, một hệ thống được gọi là Liễu điều biên (柳條邊) với các mương và kè trên trồng cây liễu đã được xây dựng vào khoảng từ 1638- 1672. Ranh giới này vây quanh khu vực trung tâm nông nghiệp của Phụng Thiên, chạy qua hầu hết các khu vực nằm bên ngoài bức tường Liêu Đông thời Minh trước đây, hoặc tái sử dụng nó, và tách biệt khu vực đó với các khu rừng của người Mãn ở đông bắc và các thảo nguyên của người Mông Cổ ở tây bắc. Sau đó, triều đình nhà Thanh đã cố gắng ngăn chặn dòng người nhập cư đến Phụng Thiên và thậm chí còn bắt một số người định cư trở về bản quán. Ví dụ như một chiếu chỉ vào năm 1704 đã trách tội những người Hán định cư trong thời gian gần đã không tuân thủ các chiếu chỉ bắt họ dời đi trước đó, và yêu cầu họ hoặc là phải hợp thức hóa hộ khẩu và gia nhập một đơn vị phòng thủ địa phương (保, bảo), hoặc sẽ phải rời khỏi Thịnh Kinh tướng quân và trở về bán quán trong 10 năm tới. Mười năm sau, một chiếu chỉ mới lại xuất hiện, nhắc nhở phải làm một điều gì đó với những người di cư bất hợp pháp. Dù thế nào đi nữa, chính sách hạn chế đã không đạt hiệu quả như mong muốn của triều đình ở Bắc Kinh, và dân số Thịnh Kinh đã tăng gấp đôi từ năm 1638 đến 1734. Từ thập niên 1860, triều đình nhà Thanh bắt đầu mở cửa khu vực cho những người Hán di cư, việc này được gọi là Sấm Quan Đông và người Hán đã nhanh chóng trở thành dân tộc chủ yếu trong khu vực. Đến thế kỉ 20, nhà Thanh đã thiết lập tỉnh Phụng Thiên tại Liêu Ninh ngày nay. Thời Thanh, khu vực Triều Dương của tỉnh Liêu Ninh thuộc về minh Trác Tát Đồ (卓索图盟) của Nội Mông. Trong Chiến tranh Thanh-Nhật 1894-1895, quân Nhật đã tấn công bán đảo Liêu Đông và Đan Đông. Ngày 21 tháng 11 năm 1894, quân Nhật đã chiếm được Lữ Thuận. Quân Nhật được cho là đã thảm sát hàng nghìn thường dân Trung Quốc trong một sự kiện gọi là Đại tàn sát Lữ Thuận. Theo Hòa ước Mã Quan ký ngày 17 tháng 4 năm 1895, nhà Thanh nhượng lại bán đảo Liêu Đông cho Nhật Bản "vĩnh viễn". Tuy vậy, các nước phương Tây đã can thiệp buộc Nhật phải từ bỏ bán đảo Liêu Đông. Tháng 3 năm 1898, Nga chính thức thuê khu vực cảng Lữ Thuận trong vòng 25 năm. Khu vực còn lại của bán đảo Liêu Đông được quy định là lãnh thổ trung lập, Trung Quốc không được cắt nhượng cho nước khác. Năm 1899, người Nga đã thành lập đô thị Dal'niy ở phía bắc căn cứ hải quân Lữ Thuận. Người Nga đã hoàn thành một tuyến đường sắt nối từ Cáp Nhĩ Tân đến cảng Lữ Thuận vào năm 1903, nó được gọi là đường sắt Nam Mãn. Khi Nhật Bản và đế quốc Nga giao chiến trong chiến tranh Nga-Nhật 1904-1905, đã có nhiều trận chiến quan trọng diễn ra tại Phụng Thiên, bao gồm Hải chiến cảng Lữ Thuận và Trận Phụng Thiên, hai đế quốc này đã huy động một lực lượng hùng hậu chưa từng có trong lịch sử chiến tranh của tỉnh Liêu Ninh. Do giành được thắng lợi, Nhật Bản thế chân Nga kiểm soát khu vực cảng Lữ Thuận và toàn bộ tuyến đường sắt Nam Mãn trên địa phận tỉnh Liêu Ninh. === Sau năm 1911 === Theo Nhị thập nhất điều (二十一條) ký kết giữa chính phủ Trung Hoa Dân Quốc và Nhật Bản, Nhật Bản được thuê Quan Đông trong vòng 99 năm, hết hạn vào năm 1997. Năm 1929, Trung Hoa Dân Quốc đã đổi tỉnh Phụng Thiên thành tỉnh Liêu Ninh. Tên gọi Liêu Ninh cũng ra đời từ đó, và có ý nghĩa là "Liêu Hà vĩnh viễn an ninh". Tỉnh lị tỉnh Liêu Ninh đặt tại Thẩm Dương, toàn tỉnh có 59 huyện. Trong thời kỳ Dân Quốc quân phiệt, Liêu Ninh nằm dưới quyền cai quản của Phụng hệ quân phiệt do Trương Tác Lâm và con trai Trương Học Lương đứng đầu. Từ năm 1928, Trương Học Lương đã tuyên bố ly khai chính phủ Bắc Dương, quy phục chính phủ Trung ương Nam Kinh. Sau sự biến Mãn Châu, tỉnh Liêu Ninh nằm dưới sự quản lý của chế độ Mãn Châu Quốc do Nhật Bản thành lập nên, đứng đầu Mãn Châu Quốc là cựu hoàng đế Phổ Nghi của nhà Thanh, tỉnh Liêu Ninh lại được đổi thành tỉnh Phụng Thiên. Năm 1934, chế độ Mãn Châu Quốc đã phân tỉnh Phụng Thiên thành ba tỉnh An Đông, Phụng Thiên và Cẩm Châu, riêng Quan Đông vẫn thuộc về Nhật Bản. Đến năm 1939, tỉnh An Đông được chia thành tỉnh An Đông và tỉnh Thông Hóa. Đến năm 1941, tỉnh Phụng Thiên được chia thành tỉnh Phụng Thiên và tỉnh Tứ Bình. Trong Chiến dịch Mãn Châu (1945), Hồng quân Liên Xô đã đánh bại đạo quân Quan Đông của Nhật Bản. Quân đội Liên Xô chiếm đóng Quân cảng Lữ Thuận, đến năm 1950 thì trao trả lại cho Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa. Cùng với sự tan rã của Đạo quân Quan Đông, quân đội và chính quyền bù nhìn Mãn Châu Quốc cũng sụp đổ. Từ năm 1946 đến 1948, trên một triệu người Nhật ở vùng Đông Bắc Trung Quốc đã được các tàu Hoa Kỳ hồi hương từ Hồ Lô Đảo. Sau năm 1945, chính phủ Quốc dân lại đổi tỉnh Phụng Thiên thành tỉnh Liêu Ninh. Năm 1947, chính phủ Quốc dân phân khu vực Đông Bắc thành 9 tỉnh, trên địa phận Liêu Ninh ngày nay có ba tỉnh: Liêu Ninh (tỉnh lị tại Thẩm Dương), Liêu Bắc (tỉnh lị tại Liêu Nguyên) và An Đông. Từ năm 1947, chính quyền Quốc dân thăng Thẩm Dương thành một trực hạt thị. Sau Chiến tranh thế giới thứ hai, Trung Quốc lại nổ ra nội chiến. Chiến dịch Liêu Thẩm (辽沈战役) diễn ra trên địa bàn tỉnh Liêu Ninh là một trong ba chiến dịch lớn cuối cùng của cuộc chiến này. Khi đó 550.000 Quốc quân đã chiến đầu với 700.000 Giải phóng quân. Sau khi Thẩm Dương thất thủ, lực lượng Quốc Dân đảng ở Cẩm Tây đã rút lui về Trung Nguyên bằng đường biển. Sau khi Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa thành lập, địa bàn tỉnh Liêu Ninh ngày nay phân thuộc hai tỉnh Liêu Đông (tỉnh lị đặt tại An Đông) và Liêu Tây (tỉnh lị đặt tại Cẩm Châu), cùng với năm trực hạt thị là Lữ Đại, Thẩm Dương, An Sơn, Phủ Thuận và Bản Khê. Đến năm 1954, các địa phương này hợp nhất lại thành tỉnh Liêu Ninh với tỉnh lị đặt tại Thẩm Dương. Triều Dương và 6 huyện của tỉnh Nhiệt Hà cũng được sáp nhập vào tỉnh Liêu Ninh năm 1955. Trong thời kỳ Cách mạng Văn hóa, năm 1969, minh Chiêu Ô Đạt của Nội Mông đã được sáp nhập vào tỉnh Liêu Ninh, song sau đó đã phục hồi lại như cũ. Năm 1981, thành phố Lữ Đại được đổi tên thành Đại Liên, Lữ Thuận trở thành khu Lữ Thuận của thành phố Đại Liên. Vùng Đông Bắc Trung Quốc trong đó có tỉnh Liêu Ninh từng là trái tim công nghiệp nặng của Trung Quốc, tuy nhiên, sau cải cách mở cửa, nền công nghiệp của vùng đã tụt hậu so với vùng ven biển phía đông Trung Quốc, vì thế chính quyền Trung Quốc đã phải đề ra kế hoạch Chấn hưng vùng công nghiệp cũ Đông Bắc (振兴东北老工业基地). Ngoài ra, tỉnh Liêu Ninh cũng nằm trong vành đai kinh tế Bột Hải, một trong ba vành đai kinh tế chủ yếu của Trung Quốc. == Địa lý == Tỉnh Liêu Ninh nằm ở phía nam của khu vực Đông Bắc Trung Quốc, có tọa độ giới hạn từ 118°53' đến 125°46' kinh Đông và từ 38°43' đến 43°26' vĩ Bắc. Liêu Ninh giáp với Hoàng Hải và Bột Hải ở phía nam, bán đảo Liêu Đông nằm giữa hai biển này. Vịnh Liêu Đông của Bột Hải nằm ở phía tây bán đảo Liêu Đông, còn ở phía đông bán đảo này là vịnh Triều Tiên của Hoàng Hải. Hoàng Hải và Bột Hải thông nhau qua eo biển Bột Hải, bên kia eo biển là bán đảo Sơn Đông. Liêu Ninh giáp với tỉnh Hà Bắc ở phía tây nam, giáp với khu tự trị Nội Mông Cổ ở phía tây bắc, giáp với tỉnh Cát Lâm ở phía đông bắc, giáp với Triều Tiên (tỉnh Pyongan Bắc và một phần tỉnh Chagang) ở phía tây nam qua Áp Lục Giang. Tỉnh Liêu Ninh có tổng diện tích 148.000 km², chiếm khoảng 1,5% diện tích Trung Quốc. Trong đó, các vùng sơn địa rộng 88.000 km², tức 59,5% diện tích của tỉnh; các vùng bình địa rộng 48.000 km², tức chiếm 32,4% diện tích của tỉnh; vùng mặt nước và các khu vực khác rộng 12.000 km², chiếm 8,1% diện tích của tỉnh. Địa hình tỉnh Liêu Ninh nói chung thấp dần từ bốn phía về vùng trung tâm, hình thành một hình móng ngựa nghiêng về phía Bột Hải. Hai bên Liêu Đông và Liêu Tây có các đồi núi cao tương ứng 800 mét và 500 mét so với mực nước biển; vùng trung bộ là đồng bằng Liêu Hà có độ cao bình quân 200 mét so với mực nước biển. Khu vực Liêu Tây nằm ven Bột Hải là vùng đồng bằng ven biển, còn được gọi là hành lang Liêu Tây (辽西走廊). === Sông === Trên địa bàn tỉnh Liêu Ninh có 441 con sông lớn và nhỏ, với tổng chiều dài 20.140 km. Trong đó, có 17 sông có diện tích lưu vực trên 5000 km² và 31 sông có diện tích lưu vực từ 1000–5000 km². Liêu Hà là sông lớn nhất tỉnh Liêu Ninh và cũng là một trong các sông quan trọng nhất tại Trung Quốc. Một số chi lưu của Lưu Hà trên địa bàn Liêu Ninh có Đông Liêu Hà, Tây Liêu Hà (gồm Lão Cáp Hà (老哈河) chảy từ Liêu Ninh sang Nội Mông), Hồn Hà, Thái Tử Hà, Nhiễu Dương Hà (绕阳河), Dưỡng Tức Mục Hà (养息牧河), Liễu Hà (柳河), Tú Thủy Hà (秀水河). Tuy nhiên, từ năm 1958, do sự can thiệp của con người, Liêu Hà đã đổi dòng, đổ ra biển theo dòng chảy của Song Đài Tử Hà ở Bàn Cẩm; Thái Tử Hà và Hồn Hà đã trở thành một hệ thống sông độc lập, vẫn chảy ra biển theo dòng chảy cũ của Liêu Hà ở Dinh Khẩu, gọi là Đại Liêu Hà. Áp Lục Giang ở biên giới với Triều Tiên là sông lớn thứ hai của Liêu Ninh, tuy nhiên, các cù lao ở cửa sông mặc dù nằm gần bờ Liêu Ninh hơn song lại tạo thành huyện Sindo của Triều Tiên. Áp Lục Giang chảy 200 km trên địa phận Liêu Ninh, 16.600 km² lưu vực của Áp Lục Giang nằm trên địa phận Liêu Ninh. Đoạn Liêu Hà chảy trên địa phận Liêu Ninh dài khoảng 480 km với diện tích lưu vực khoảng 69.200 km² (46,76% diện tích toàn tỉnh). Các sông của Liêu Ninh có đặc điểm là chảy từ ba hướng đông, tây và bắc hướng đến trung nam bộ rồi đổ vào biển. Đặc điểm thủy văn của các sông trong tỉnh là: dòng chảy êm đềm, hàm lượng phù sa cao, lưu lượng phân bố không đồng đều trong năm, có thể xảy ra lũ lụt. Các sông ở đông bộ Liêu Ninh có nước chảy nhanh, lòng sông hẹp, thích hợp phát triển thủy điện vừa và nhỏ. Đại Lăng Hà (大凌河) và Tiểu Lăng Hà (小凌河) là hai sông chính ở Liêu Tây và đều đổ ra vịnh Liêu Đông tại địa phận Cẩm Châu. Đại Lăng Hà có tổng chiều dài 397 km với diện tích lưu vực 23.500 km² (85% lưu vực thuộc tỉnh Liêu Ninh). Tiểu Lăng Hà có tổng chiều dài 206 km, diện tích lưu vực 5.475 km². Sông lớn thứ ba ở Liêu Tây là Lục Cổ Hà (六股河) tại Hồ Lô Đảo với tổng chiều dài 148,8 km. === Núi === Các dãy núi trên địa bàn tỉnh Liêu Ninh nằm ở hai phía đông và tây. Ở đông bộ tỉnh Liêu Ninh là hai nhánh liên tục của dãy núi Trường Bạch là Cáp Đạt Lĩnh (哈达岭) và Long Cương Sơn (龙岗山), chạy theo chiều bắc-nam với độ cao trong khoảng từ 500-800 mét so với mực nước biển. Đỉnh núi cao nhất của tỉnh Liêu Ninh là Hoa Bột Tử Sơn (花脖子山) ở đông bộ với cao độ tối đa là 1.336 mét. Các dãy núi ở tây bộ Liêu Ninh được cấu thành khi vùng cao nguyên Mông Cổ chuyển tiếp xuống đồng bằng Liêu Hà, độ cao trong khoảng 300-1000 mét trên mực nước biển, các dãy núi chú yếu bao gồm Nỗ Lỗ Nhi Hổ Sơn (努鲁儿虎山), Tùng Lĩnh (松岭), Hắc Sơn (黑山) và Y Vu Lư Sơn (医巫闾山). === Biển === Thềm lục địa của tỉnh Liêu Ninh có diện tích khoảng 150.000 km², trong đó vùng biển gần bờ có diện tích 64.000 km². Diện tích vùng bãi cạn ven biển là 2.070 km². Đường bờ biển của tỉnh Liêu Ninh kéo dài từ cửa sông Áp Lục đến Lão Long Đầu (老龙头), tức điểm được xem là bắt đầu của Vạn Lý Trường Thành thuộc huyện Tuy Trung có tổng chiều dài 2.292,4 km, chiếm 12% tổng chiều dài đường bờ biển của Trung Quốc. Vùng Bột Hải thuộc tỉnh Liêu Ninh có độ sâu tối đa là 32 mét, nhiệt độ nước biển có thể xuống dưới -1 °C vào mùa đông, độ mặn là 30‰. Vùng Hoàng Hải thuộc tỉnh Liêu Ninh có độ sâu bình quân là 38 mét, nhiệt độ nước biển trên 0 °C vào mùa đông, độ mặn là 32‰. === Đảo === Toàn tỉnh Liêu Ninh có 266 hải đảo với tổng diện tích là 191,5 km², chiều dài đường bờ biển của các hải đảo này là 627,6 km. Các hải đảo chủ yếu của tỉnh Liêu Ninh gồm quần đảo Ngoại Trường Sơn (外长山列岛), quần đảo Lý Trường Sơn (里长山列岛), quần đảo Thạch Thành (石城列岛) đều ở phía đông của bán đảo Liêu Đông và hình thành huyện Trường Hải của Đại Liên, đảo Đại Lộc (大鹿岛) thuộc Đan Đông, đảo Cúc Hoa (菊花岛) trên vịnh Liêu Đông thuộc Hưng Thành, đảo Trường Hưng (长兴岛) ở tây nam bán đảo Liêu Đông là đảo lớn nhất nằm ở phía bắc lưu vực Trường Giang của Trung Quốc và cũng là một trong các đảo lớn nhất của Trung Quốc. === Khí hậu === Tỉnh Liêu Ninh có khí hậu ôn đới lục địa gió mùa, bốn mùa rõ rệt. Vào mùa đông, chủ yếu là gió tây bắc với nhiệt độ lạnh giá kéo dài. Mùa hè có gió đông nam, nhiệt độ nóng và có nhiều mưa. Mùa xuân ít mưa và có nhiều gió. Mùa thu có nhiều nắng và chỉ kéo dài trong khoảng thời gian ngắn. Lượng bức xạ Mặt Trời hàng năm trên địa bàn tỉnh Liêu Ninh là từ 100-200 Ca-lo/cm², số giờ nắng trong năm dao động từ 2.100-2.900 giờ. Tính trung bình trong 30 năm từ 1971-2000, lượng giáng thủy hàng năm của Liêu Ninh là từ 439–1051 mm và mỗi năm có từ 131-223 ngày không có sương giá. Liêu Ninh cũng phải hứng chịu thiên tai bão cát. === Sinh vật === Tỉnh Liêu Ninh có 827 loài động vật thuộc 492 chi, 210 họ, 62 bộ và 7 lớp. Trong đó có 6 loài được bảo hộ cấp một quốc gia, 68 loài được bảo hộ cấp hai quốc gia và 107 loài được bảo hộ cấp ba quốc gia. Các loài động vật có giá trị lớn về mặt khoa học và kinh tế trên địa bàn tỉnh Liêu Ninh có hạc trắng, sếu Nhật Bản, Agkistrodon halys (một loài rắn độc), Onychodactylus fischeri (một loài kỳ giông), hải cẩu, cá heo.. Tỉnh Liêu Ninh có hơn 400 loài chim, chiếm 31% số loài chim tại Trung Quốc. Người ta cũng đã phát hiện được hóa thạch của các loài sinh vật từ thời tiền sử như Sinosauropteryx, Repenomamus hay Sinornithosaurus trên địa bàn Liêu Ninh. Vùng nước ven biển của tỉnh Liêu Ninh có tài nguyên sinh vật phong phú với hơn 520 loài. Trong đó có 107 loài sinh vật phù du; 208 loài sinh vật đáy (benthos), chủ yếu là nghêu, sò, bào ngư, cầu gai, hàu, hải sâm, điệp; 137 loài sinh vật trôi (Nekton), bao gồm động vật chân đầu và động vật có vú, trong đó có hơn 70 loài có giá trị kinh tế như Larimichthys polyactis (tiểu hoàng ngư), Larimichthys crocea (đại hoàng ngư), cá bố, cá thu, cá tuyết, cá chim trắng. Vùng thủy vực nội lục của tỉnh Liêu Ninh có 119 loài thủy sản, trong đó có 97 loài cá nước ngọt. Các loài thủy sản nước ngọt có giá trị kinh tế cao phải kể đến như cá chép, cá vàng (Carassius auratus auratus), Oreochromis mossambicus (một loại cá trê), cá mè trắng, cá mè hoa, cá trắm đen, cá hồi vân, cá chạch (Misgurnus anguillicaudatus) và cá học (Hypomesus olidus). Về thực vật, tỉnh Liêu Ninh có trên 2.200 loài thuộc 161 chi, trong đó có trên 1.300 loài có giá trị về mặt kinh tế. Liêu Ninh có trên 830 loài có thể sử dụng để sản xuất dược phẩm như nhân sâm (Panax ginseng), tế tân (Asarum sieboldii), ngũ vị tử (Fructus Schisandrae Chinensis), đảng sâm (Codonopsis pilosula), thiên ma (Gastrodia elata), long đảm (Gentiana scabra). Có hơn 70 loài có quả dại hay có chứa tinh bột như sơn bồ đảo (Vitis amurensis), mi hầu đào (Actinidia deliciosa), sơn tra, sơn lê (Pyrus ussuriensis Maxim). Có 89 loài cây lấy tinh dầu thơm, như nguyệt kiến thảo (Oenothera erythrosepala Borb), bạc hà, tường vi (Rosa multiflora). Có 149 loại cây lấy dầu như thông (lấy từ hạt thông), ké đầu ngựa. == Dân cư == Tính đến cuối 2007, tổng nhân khẩu của tỉnh Liêu Ninh là 42.317.000 người, trong năm, số người được sinh ra là 348.000 người, tỷ suất sinh đạt 8,2‰, số người tử vong là 245.000 người, tỷ suất tử vong đạt 5,8‰. Tính đến cuối năm 2009, số người trên 60 tuổi của tỉnh Liêu Ninh chiếm 14,93% tổng nhân khẩu. Năm 2009, tuổi thọ cư dân đô thị của tỉnh Liêu Ninh là 76,69 tuổi, tuổi thọ của cư dân nông thôn trong tỉnh là 73,96 tuổi, tuổi thọ bình quân chung là 75,35 tuổi. Năm 2008, chỉ số phát triển con người (HDI) của tỉnh Liêu Ninh là 0,835. Liêu Ninh là một trong các tỉnh có số nhân khẩu dân tộc thiểu số lớn tại Trung Quốc. Bên cạnh người Hán chiếm đa số, tỉnh Liêu Ninh còn có người Mãn, người Mông Cổ, người Hồi, người Triều Tiên và người Tích Bá cùng 51 dân tộc khác sinh sống. Theo số liệu năm 2007, tỉnh Liêu Ninh có khoảng 6,7 triệu người dân tộc thiểu số, đứng thứ 5 tại Trung Quốc và chiếm 16,02% tổng dân số toàn tỉnh. Toàn tỉnh Liêu Ninh có 8 huyện tự trị dân tộc, trong đó có 6 huyện tự trị dân tộc Mãn là Tân Tân, Tụ Nham, Thanh Nguyên, Bản Khê, Hoàn Nhân, Khoan Điện, 2 huyện tự trị dân tộc Mông Cổ là Khách Lạt Thấm Tả Dực và Phụ Tân. Ngoài ra, tỉnh Liêu Ninh còn có hai huyện được hưởng chính sách đãi ngộ cho huyện tự trị dân tộc là Phượng Thành và Bắc Trấn. 8 huyện tự trị dân tộc có tổng diện tích là 34.300 km², chiếm 23,3% diện tích của tỉnh Liêu Ninh. Các dân tộc thiểu số chiếm 54,3% tổng dân số của 8 huyện tự trị của tỉnh Liêu Ninh. Tỉnh Liêu Ninh còn có 77 hương dân tộc. Khu vực Đại Liên và Đan Đông của tỉnh Liêu Ninh nói Quan thoại Giao-Liêu giống như ở khu vực bán đảo Sơn Đông tại tỉnh Sơn Đông. Khu vực còn lại của tỉnh Liêu Ninh nói Quan thoại Đông Bắc. == Phân chia các đơn vị hành chính == Liêu Ninh được chia ra làm 14 địa cấp thị: Các địa cấp thị này lại được chia thành 100 đơn vị cấp huyện (17 thành phố cấp huyện), 19 huyện, 8 huyện tự trị và 56 quận và được chia thành 1511 cấp hương (613 trấn), 310 hương, 77 bản và 520 nhai biện xứ. == Kinh tế == Liêu Ninh là nền kinh tế lớn nhất Đông Bắc Trung Quốc. Năm 2011, tổng GDP của tỉnh Liêu Ninh là 2.202,59 tỉ NDT, theo giá cả so sánh thì đạt mức tăng trưởng 12,1% so với năm trước, GDP bình quân đầu người đạt 50.299 NDT. Trong đó, khu vực một đạt giá trị 191,56 tỉ NDT, khu vực hai đạt giá trị 1.215,07 tỉ NDT và khu vực ba đạt giá trị 795,96 tỉ NDT. Tỷ lệ giữa ba khu vực của nền kinh tế là 8,7:55,2:36,1. Tổng giá trị các ngành nông-lâm-mục-ngư nghiệp của tỉnh Cát Lâm vào năm 2011 là 191,56 tỉ NDT. Trong đó, ngành trồng trọt đạt giá trị 78,97 tỉ NDT, ngành lâm nghiệp đạt giá trị 6,27 tỉ NDT, ngành chăn nuôi đạt giá trị 61,45 tỉ NDT và ngành ngư nghiệp đạt giá trị 36,53 tỉ NDT. Năm 2011, tổng sản lượng lương thực của tỉnh Liêu Ninh là 20.355.000 tấn, tổng sản lượng rau xanh và quả của tỉnh trong năm này lần lượt là 28.325.000 tấn và 8.112.000 tấn. Diện tích đất canh tác của tỉnh Liêu Ninh là 4.092.900 ha, chiếm 27,65% diện tích toàn tỉnh, trong đó có khoảng trên dưới 80% phân bố tại khu vực đồng bằng trung bộ Liêu Ninh và vùng đồi cùng thung lũng phía bắc Liêu Tây. Theo số liệu năm 2000, toàn tỉnh Liêu Ninh có 6.344.000 đất sử dụng cho mục đích lâm nghiệp, chủ yếu phân bố ở đông bộ tỉnh, trong đó có 4.641.000 ha đất rừng (gồm 1.514.000 ha rừng kinh tế). Tỉnh Liêu Ninh có 350.100 ha diện tích đồng cỏ, chủ yếu phân bố tại tây bắc bộ, tạo điều kiện để phát triển ngành chăn nuôi gia súc. Năm 2011, sản lượng thịt lợn, bò, cừu và gia cầm của tỉnh Liêu Ninh là 4.010.000 tấn; sản lượng trứng gia cầm đạt 2.774.000 tấn, và sản lượng sữa bò đạt 1.245.000 tấn. Tỉnh Liêu Ninh có tiềm năng về thủy hải sản, sản lượng thủy hải sản cấp hai vùng biển ven bờ đạt 3,2 triệu tấn, sản lượng thủy hải sản tiềm năng tại vùng ven biển là 1,5 triệu tấn, sản lượng thủy hải sản tiềm năng ở vùng biển sâi là 700 nghìn tấn. Năm 2011, sản lượng thủy sản (không bao gồm sản lượng viễn dương) của tỉnh Liêu Ninh là 4.354.000 tấn, trong đó sản lượng thủy sản nước ngọt là 857.000 tấn, sản lượng đánh bắt thủy sản tại hải dương là 1.062.000 tấn, sản lượng nuôi trồng thủy sản tại hải dương là 2.435.000 tấn. Liêu Ninh là một khu vực công nghiệp quan trọng của Trung Quốc. Bốn ngành công nghiệp trụ cột của tỉnh Liêu Ninh là hóa dầu, luyện kim, thông tin điện tử và máy móc. Năm 2011, giá trị ngành công nghiệp và xây dựng của tỉnh Liêu Ninh đạt 1,07 nghìn tỉ NDT, theo giá cả so sánh thì đạt mức tăng trưởng 14,3% so với năm trước. Trong đó ngành công nghiệp chế tạo chiếm tỷ trọng 31,8% trong tổng giá trị công nghiệp của tỉnh Liêu Ninh, các sản phẩm chủ yếu của ngành công nghiệp chế tạo của tỉnh Liêu Ninh là thiết bị thông dụng, thiết bị chuyên dụng, thiết bị giao thông vận tải, máy điện, thiết bị thông tin, máy tính, và các thiết bị điện tử khác, chế phẩm kim loại, dụng cụ. Trong lĩnh vực chế biến nông sản, bên cạnh lĩnh vực chế biến thực phẩm còn có sản xuất thuốc lá, sản xuất đồ uống. Tính đến năm 2007, người ta đã phát hiện được 110 loại khoáng sản trên địa phàn tỉnh Liêu Ninh, trong đó đã xác định được trữ lượng của 79 loại. Liêu Ninh đứng số một tại Trung Quốc về trữ lượng quặng sắt, quặng Bo, quặng Magnesite; đứng thứ hai về trữ lượng kim cương, tan, ngọc thạch. Năm 2007, trữ lượng dầu và khí thiên nhiên của mỏ Liêu Hà chiếm 6,4% và 0,7% trữ lượng của toàn Trung Quốc. == Văn hóa == Viện Kinh kịch Thẩm Dương và viện Kinh kịch Đại Liên nằm trong số các viện và đoàn Kinh kịch trọng điểm tại Trung Quốc. "Nam Kỳ bắc Mã quan ngoại đường", "Thẩm Dương đường" là những trường phái Kinh kịch trọng yếu. Bình kịch (评剧) bắt nguồn từ Đường Sơn thuộc tỉnh Hà Bắc cũng là một loại hình hí kịch phổ biến tại Liêu Ninh, trong đó có ba trường phái lớn bắt nguồn từ Thẩm Dương: Hàn Thiểu Vân (韩少云) sáng lập ra Liễu Hàn phái, Hoa Thục Lan (花淑兰) sáng lập ra Liễu Hoa phái, Tiểu Tuấn Đình (筱俊亭) sáng lập ra Liễu Tiểu phái. Nhị nhân chuyển (二人转) là một loại hình nghệ thuật dựa trên các điệu ca dân gian ở vùng Đông Bắc Trung Quốc, hấp thụ nghệ thuật Liên hoa lạc (莲花落) của Hà Bắc, thêm vào vũ đạo, dáng bộ. Tại Liêu Ninh, các đoàn biểu diễn Nhị nhân chuyển nổi tiếng có đoàn Nghệ thuật Dân gian Thiết Lĩnh, tại Thẩm Dương có đại lão đài Lưu Lão Căn. Liêu Nam hí (辽南戏) là một thể loại tuồng địa phương tại tỉnh Liêu Ninh, hình thành từ huyện Cái. Sau năm 1949, loại hình này phát triển thành một thể loại kịch tuồng mới, đến năm 1961 thì được định danh là Liêu Nam hí. Tại Liêu Ninh cũng tồn tại loại kịch Tương thanh (相声). Trên bản đồ của nghệ thuật Tương thanh Trung Quốc, Thẩm Dương chỉ đứng sau Bắc Kinh và Thiên Tân. Một số đoàn âm nhạc nổi tiếng trên địa bàn tỉnh Liêu Ninh là viện Ca kịch Liêu Ninh (辽宁歌剧院), nhạc đoàn Giao hưởng Liêu Ninh (辽宁交响乐团), nhạc đoàn ái nhạc Thẩm Dương (沈阳爱乐乐团), nhạc đoàn Dân tộc Liêu Ninh (辽宁民族乐团), nhạc đoàn ái nhạc Đại Liên (大连爱乐乐团). Vũ đoàn Ba-lê Liêu Ninh (辽宁芭蕾舞团) được thành lập vào năm 1980, đương thời là một trong ba vũ đoàn Ba-lê lớn nhất Trung Quốc, cùng với Trung ương và Thượng Hải. Ẩm thực Liêu Ninh (辽菜) được hình thành từ đầu thời nhà Thanh, dựa trên cơ sở ẩm thực Sơn Đông và ẩm thực quan phủ, kết hợp các đặc điểm địa lý và thói quen ăn uống của người địa phương. Ẩm thực Liêu Ninh chú trọng vào cách cắt, cách múc và cách dùng lửa. === Du lịch === Liêu Ninh là một tỉnh có nhiều văn vật tại Trung Quốc, tính đến năm 2007 thì toàn tỉnh có trên 11.300 văn vật cổ. Cũng tính đến năm này, tỉnh Liêu Ninh có 53 văn vật được bảo hộ trọng điểm cấp quốc gia và 296 văn vật được bảo hộ trọng điểm cấp tỉnh. Đến năm 2007, Liêu Ninh có 9 khu phong cảnh danh thắng cấp quốc gia và 14 khu phong cảnh danh thắng cấp tỉnh. Trong những năm gần đây, Liêu Ninh còn đưa vào các sản phẩm du lịch mới lạ như đi xe lửa hơi nước, du lịch phục hồi sức khỏe, du lịch phỏng cổ và du lịch thương vụ. Lễ hội Phục trang Đại Liên (大连国际服装节) cũng thu hút nhiều du khách trong và ngoài nước. Tính đến cuối năm 2011, tỉnh Liêu Ninh có 235 khu du lịch cấp A quốc gia, trong đó có 3 khu du lịch cấp 5A. Toàn năm 2011, tỉnh Liêu Ninh đã tiếp đón trên 329 triệu lượt du khách trong và ngoài nước, trong đó có trên 325,6 triệu lượt khách nội địa, 659 nghìn khách Hồng Kông, Ma Cao và Đài Loan cùng 3,44 triệu lượt khách nước ngoài nhập cảnh. Cố cung Thẩm Dương là cung điện của các hoàng đế nhà Thanh trước khi họ chinh phục được Trung Nguyên và thiên đô về Bắc Kinh. Mặc dù không lớn và nổi tiếng bằng Tử Cấm thành tại Bắc Kinh, song Cố cung Thẩm Dương là đại diện cho kiến trúc cung điện đương thời, và đã được liệt vào danh sách Di sản thế giới của UNESCO với vị thế là một bộ phận của "Các cung điện Hoàng gia của nhà Minh và nhà Thanh tại Bắc Kinh và Thẩm Dương". Bên cạnh đó, Liêu Ninh còn có ba lăng mộ hoàng đế của nhà Thanh, gọi là Thịnh Kinh tam lăng (盛京三陵): Thanh Phúc lăng (清福陵) tại Thẩm Dương-lăng mộ của Nỗ Nhĩ Cáp Xích, Thanh Chiêu lăng (清昭陵) tại Thẩm Dương-lăng mộ của Hoàng Thái Cực, Thanh Vĩnh lăng (清永陵) tại Phủ Thuận-lăng mộ của tổ tiên Nỗ Nhĩ Cáp Xích. Ba lăng mộ này là một phần của quần thể Lăng tẩm hoàng gia Minh-Thanh, một di sản thế giới của UNESCO. Ngũ Nữ sơn thành (五女山), nơi khai sinh của vương quốc Cao Câu Ly, nay thuộc địa phận huyện Hoàn Nhân của tỉnh Liêu Ninh. Ngũ Nữ sơn thành là một phần trong quần thể Kinh thành và lăng mộ Cao Câu Ly, cũng là một di sản thế giới của UNESCO. Tại Bản Khê, có sản phẩm du lịch đi thuyền qua một thạch nhũ lớn trong hang động và sông ngầm. Ở An Sơn có An Sơn Phật ngọc uyển (鞍山玉佛苑). Ở Liêu Dương, một trong các thành phố có người cư trú liên tục cổ nhất tại Đông Bắc Trung Quốc, cũng có một số di tích lịch sử như Liêu Dương Bạch tháp (辽阳白塔) được xây dựng lại nhiều lần từ thời nhà Liêu đến thời nhà Thanh. Thành phố cảng Đại Liên cũng là một điểm đến của ngành du lịch Liêu Ninh, thành phố có các bãi biển, khu nghỉ dưỡng, sở thú, hải sản, khu mua sắm, các kiến trúc từ thời thuộc Nga và thuộc Nhật cũng như tàu điện, một thứ hiếm thấy tại Trung Quốc. Đan Đông là thành phố biên giới giáp với Triều Tiên, từ đây người ta có thế trông thấy thành phố Sinuiju của Triều Tiên. == Giao thông == === Đường sắt === Tỉnh Liêu Ninh có mật độ đường sắt đứng ở vị trí hàng đầu tại Trung Quốc, hệ thống đường sắt của tỉnh thuộc quyền quản lý của cục đường sắt Thẩm Dương. Tính đến năm 2011, tổng lý trình các tuyến đường sắt hoạt động trên địa bàn Liêu Ninh là 4.035 km. Năm 2011, hệ thống đường sắt của Liêu Ninh đã vận chuyển được trên 187 triệu tấn hàng hóa và trên 120 triệu lượt hành khách. Một số tuyến đường sắt trên địa bàn tỉnh Liêu Ninh: Đường sắt Cáp-Đại (哈大铁路), trước đây là đường sắt Nam Mãn (南满铁路), do người Nga xây dựng từ cuối thế kỷ 19-đầu thế kỷ 20, chạy từ Lữ Thuận Khẩu đến Cáp Nhĩ Tân thuộc tỉnh Hắc Long Giang. Đường sắt Thẩm-Sơn (沈山铁路), nối từ Thẩm Dương đến Sơn Hải quan thuộc tỉnh Hà Bắc. Đường sắt Thẩm-Đan (沈丹铁路), nối từ Thẩm Dương đến Đan Đông và nối với hệ thống đường sắt của Bắc Triều Tiên, là tuyến xuất khẩu chính của Trung Quốc sang Bắc Triều Tiên. Đường sắt Thẩm-Cát (沈吉铁路), nối từ Thẩm Dương đến thành phố Cát Lâm của tỉnh Cát Lâm. Đường sắt Cẩm-Thừa (锦承铁路), từ Cẩm Châu đến Thừa Đức của tỉnh Hà Bắc. Đường sắt Nguỵ Tháp (魏塔铁路), từng được gọi là đường sắt Liêu Tây, nay hầu như không hoạt động. Ngày 1 tháng 12 năm 2012, tuyến đường sắt cao tốc Cáp Nhĩ Tân-Đại Liên (哈大客运专线, Cáp-Đạt vận chuyển chuyên tuyến) đã chính thức được đưa vào vận hành. Đây là tuyến đường sắt cao tốc nằm ở vùng vĩ độ cao giá lạnh đầu tiên của Trung Quốc và thế giới. Tuyến đường sắt cao tốc này dài 921 km với tốc độ tàu chạy theo thiết kế là 350 km/h, nối liền ba tỉnh Liêu Ninh, Cát Lâm và Hắc Long Giang. === Đường bộ === Đến cuối năm 2007, tổng lý trình các tuyến công lộ trên địa bàn tỉnh Liêu Ninh là 103.228 km (không bao gồm các tuyến các thành phố quản lý), trong đó có 3.300 km công lộ cao tốc. Đến cuối năm, toàn tỉnh có gần 2,9 triệu xe ô tô cá nhân. Năm 2011, hệ thống công lộ của tỉnh Liêu Ninh đã vận chuyển được trên 1,5 tỉ tấn hàng hóa và hơn 860 triệu lượt hành khách. Đường cao tốc Thẩm-Đại (沈大高速公路) bắt đầu từ Thẩm Dương ở phía bắc và trải dài đến Đại Liên ở phía nam với tổng chiều dài 400 km, là một trong những tuyến đường cao tốc đầu tiên tại Trung Quốc đại lục, bắt đầu thông xe từ năm 1986. Tuyến đường cao tốc này đi qua 5 thành thị công nghiệp lớn và trung bình của tỉnh là Thẩm Dương, Liêu Dương, An Sơn, Doanh Khẩu và Đại Liên, thông đến cảng Địa Liên, cảng Doanh Khẩu. Đường cao tốc Thẩm-Đan kéo dài từ Thẩm Dương đến Đan Đông với chiều dài toàn tuyến là 222 km. Một số tuyến đường cao tốc khác trên địa phận tỉnh Liêu Ninh: đường cao tốc Kinh-Thẩm (京沈高速公路), đường cao tốc Cẩm-Triều (锦朝高速公路), đường cao tốc Cẩm-Phụ (锦阜高速公路), đường cao tốc Đan-Đại (丹大高速铁路), đường cao tốc Đan-Hải (丹海高速公路), đường cao tốc Đan-Thông (丹通高速), đường cao tốc Hoàn-Vĩnh (桓永高速公路), đường cao tốc Trang-Cái (庄盖高速公路), đường cao tốc Thẩm-Cát (沈吉高速). Tính đến đầu tháng 10 năm 2010, có 97% số huyện và khu tại lục địa của tỉnh Liêu Ninh đã thông xe cao tốc. === Hàng không === Trên địa bàn tỉnh Liêu Ninh có sân bay quốc tế Đào Tiên Thẩm Dương, sân bay quốc tế Chu Thủy Tử Đại Liên, sân bay Đằng Ngao An Sơn (鞍山腾鳌机场), sân bay Lãng Đầu Đan Đông (丹东浪头机场), sân bay Tiểu Lĩnh Tử Cẩm Châu (锦州小岭子机场) và sân bay Triều Dương (朝阳机场). Năm 2011, các sân bay dân dụng tại Liêu Ninh đã thông qua 89.000 tấn hàng hóa và vận chuyển được trên 7,5 triệu lượt người. Đến cuối năm 2007, Liêu Ninh có các đường bay đến 33 thành phố quốc tế của Hàn Quốc, Nhật Bản, Triều Tiên, Nga, Đức, Singapore và Hồng Kông và 50 tuyến bay nội địa. === Đường thủy === Năm 2011, hệ thống vận tải đường thủy của tỉnh Liêu Ninh đã vận chuyển được 116,32 triệu tấn hàng hóa và 5,49 triệu lượt hành khách. Trong số các cảng chủ yếu của tỉnh Liêu Ninh, cảng Đại Liên và cảng Doanh Khẩu là cảng cấp quốc gia và được liệt vào mười cảng lớn nhất Trung Quốc. Các cảng quan trọng khác là cảng Đan Đông, cảng Trang Hà, cảng Cẩm Châu, cảng Lữ Thuận Dương Đầu Oa. == Các trường đại học và cao đẳng == == Chú thích == == Tham khảo == == Liên kết ngoài == 中国辽宁 Chính quyền Liêu Ninh Bản đồ Liêu Ninh
tập tin.txt
Tập tin (viết tắt cho tập thông tin; còn được gọi là tệp, tệp tin); tiếng Anh: file; là một tập hợp của thông tin được đặt tên. Thông thường thì các tập tin này chứa trong các thiết bị lưu trữ như đĩa cứng, đĩa mềm, CD, DVD cũng như là các loại chip điện tử dùng kĩ thuật flash có thể thấy trong các ổ nhớ có giao diện USB. Nói cách khác, tập tin là một dãy các bit có tên và được chứa trong các thiết bị lưu trữ dữ liệu kỹ thuật số. == Đặc điểm == Một tập tin luôn luôn kết thúc bằng 1 ký tự đặc biệt (hay dấu kết thúc) có mã ASCII là 255 ở hệ thập phân. Ký tự này thường được ký hiệu là EOF (từ chữ End Of File). Một tập tin có thể không chứa một thông tin nào ngoại trừ tên và dấu kết thúc. Tuy nhiên, điều này không hề mâu thuẫn với định nghĩa vì bản thân tên của tập tin cũng đã chứa thông tin. Những tập tin này gọi là tập tin rỗng hay tập tin trống. Độ dài (kích thước) của tập tin có thể chỉ phụ thuộc vào khả năng của máy tính, khả năng của hệ điều hành cũng như vào phần mềm ứng dụng dùng nó. Đơn vị nhỏ nhất dùng để đo độ dài của tập tin là byte. Độ dài của tập tin không bao gồm độ dài của tên tập tin và dấu kết thúc. == Thuộc tính == Những đặc tính và giới hạn của tập tin gọi là thuộc tính của tập tin. === Các loại thuộc tính === Tùy theo hệ thống tập tin mà các thuộc tính này có thể khác nhau. Ví dụ các thuộc tính trên hệ thống tập tin FAT bao gồm: Archive: lưu trữ. Trên các hệ điều hành DOS thì thuộc tính này được định khi mỗi khi tập tin bị thay đổi, và bị xóa khi thực hiện lệnh backup để sao lưu dữ liệu. Hidden: ẩn. Khi một tập tin có thuộc tính này thì các chương trình liệt kê các tập tin theo mặc định sẽ bỏ qua, không liệt kê tập tin này. Người sử dụng vẫn có thể làm việc trên tập tin này như bình thường. Read-only: chỉ đọc. Khi một tập tin có thuộc tính này thì các chương trình xử lý tập tin theo mặc định sẽ không cho phép xóa, di chuyển tập tin hoặc thay đổi nội dung tập tin. Còn các thao tác khác như đổi tên tập tin, đọc nội dung tập tin vẫn được cho phép. System: thuộc về hệ thống. Một tập tin có thuộc tính này sẽ chịu các hạn chế bao gồm các hạn chế của thuộc tính Hidden và các hạn chế của thuộc tính Read-only, nghĩa là không bị liệt kê, không thể xóa, di chuyển, thay đổi nội dung. Thuộc tính này chủ yếu dùng cho các tập tin quan trọng của hệ điều hành. Sub-directory (hay directory): thư mục con. Những tập tin có thuộc tính này được xử lý như là thư mục. Thư mục là tập tin ở dạng đặc biệt, nội dung không chứa dữ liệu thông thường mà chứa các tập tin và các thư mục khác. Ngoài ra, còn rất nhiều thuộc tính khác của các tập tin mà tùy theo hệ điều hành sẽ được định nghĩa thêm vào. Ví dụ đối với hệ điều hành Linux các tập tin có thể có thêm các thuộc tính như các quyền sử dụng tập tin, đặc điểm của tập tin, và thông tin về các loại tập tin như là các loại tập tin liên kết mềm, các socket, các pipe... Lưu ý: Các thuộc tính của một tập tin thường không ảnh hưởng đến nội dung thông tin của tập tin đó nhưng lại ảnh hưởng rất nhiều đến chức năng và việc sử dụng tập tin. Ví dụ các tập tin không có thuộc tính cho phép thi hành thì không thể xem là một phần mềm khả thi được mặc dù nội dung của nó có thể chỉ chứa các chỉ thị máy tính. Cách để làm tập tin trở nên khả thi là thay đổi thuộc tính khả thi của nó hay là phải thay đổi phần đuôi của tên tập tin (như là trường hợp của hệ điều hành Windows - DOS) == Định dạng == Cấu trúc của một tập tin định nghĩa cách thức mà tập tin đó được chứa, được thực thi, và thể hiện trên các thiết bị (như màn hình hay máy in) gọi là định dạng của tập tin. Định dạng này có thể đơn giản hay phức tạp. Định dạng của tập tin phụ thuộc vào nhiều yếu tố trong đó quan trọng nhất bao gồm: Hệ điều hành khác nhau và kiến trúc máy tính khác nhau có thể đòi hỏi các định dạng cho tập tin một cách khác nhau. Ví dụ: Trên cùng một kiến trúc Intel, tập tin văn bản dạng đơn giản nhất tạo nên bởi hệ điều hành Linux cũng có sự khác nhau với tập tin văn bản của Windows (hay DOS). Dĩ nhiên, các tập tin văn bản này lại càng không thể đọc được trên các máy dùng hệ điều hành Mac OS (chúng khác nhau hoàn toàn về mặt kiến trúc máy tính) nếu không có các tiện ích đặc biệt để chuyển đổi định dạng. Tập tin dùng cho các mục tiêu khác nhau cũng sẽ có các định dạng khác nhau. Ngoài sự ràng buộc về định dạng của hệ điều hành, các tập tin dùng trong các ứng dụng hay các phần mềm khác nhau cũng sẽ khác nhau và sự khác nhau này tùy thuộc vào kiến trúc của các ứng dụng sử dụng các tập tin đó. Ví dụ dễ hiểu nhất là định dạng của mật tập tin văn bản phải khác với định dạng của một tập tin hình ảnh hay tập tin âm thanh. Các tập tin dùng cho cùng một mục tiêu cũng có thể có định dạng khác nhau tuỳ theo nhà sản xuất nào đã thiết kế ra nó. Ví dụ: Trong các tập tin hình vẽ đồ họa thì các tập tin kiểu Bitmap (các tệp hình có đuôi là.bmp) có định dạng hoàn toàn khác với các tập tin kiểu Tagged Image File Format (đuôi của loại tập tin này là.tif) và cũng khác với tập tin kiểu Joint Photographic Experts Group (với các đuôi có dạng.jpg hay.jpeg). == Tên == Tùy theo hệ điều hành mà có thể có các quy ước về tên tập tin. Độ dài của tên tập tin tùy thuộc vào hệ thống tập tin. Tùy thuộc vào hệ thống tập tin và hệ điều hành mà sẽ có một số ký tự không được dùng cho tên tập tin. Ví dụ: Trên hệ điều hành Microsoft Windows, không được dùng các ký tự sau trong tên tập tin: \ /: * ? " < > |, tên tệp không quá 255 ký tự thường Theo truyền thống cũ của hệ thống DOS và Windows, tên tập tin thường bao gồm hai phần: phần tên và phần mở rộng (còn gọi là phần đuôi). Tuy nhiên, tên của một tập tin không nhất thiết phải có phần mở rộng này. == Các ví dụ về cấu trúc bit trong nội dung thông tin của tập tin == === Ví dụ về cấu trúc bit của tập tin ASCII === Trong hình trên là hai tập tin văn bản dạng đơn giản dùng mã ASCII. Tập tin "hoso.txt" là tập tin soạn ra bằng lệnh edit của hệ điều hành Windows. Tập tin thứ nhì, "hoso2.txt", lại được soạn thảo bằng lệnh vi trong hệ điều hành Linux. Hãy lưu ý quy ước xuống hàng của tập tin trong Windows sẽ bao gồm hai byte: dấu CR (cariage return) có giá trị ASCII là 0x0D và dấu LF (line feed) có giá trị 0x0A; trong khi đó, Linux chỉ cần dấu LF là đủ. Điều này cho thấy sự khác nhau về định dạng. === Ví dụ về cấu trúc bit của tập tin hình ảnh === == Tham khảo == Microsoft Press Computer Dictionary: The Comprehensive Standard for Business, School, Library, and Home. Sách bìa thường. Lần xuất bản thứ 2. Redmond, WA (Mỹ): Microsoft Corp. 1 tháng 10 năm 2003. ISBN 1-55615-597-2. Tiếng Anh. Evi Nemeth, Garth Snyder, Scott Seebass, và Trent R. Hein. UNIX System Administration Handbook. Lần xuất bản thứ 2. Indianapolis, IN (Mỹ): Prentice Hall PTR. 15 tháng 1 năm 1995. ISBN 0-13-151051-7. Tiếng Anh. Tom Swan, Inside Windows File Format. Lần xuất bản thứ nhất. SAM Publishing. 1993. ISBN 0-672-30338-8. Tiếng Anh. == Xem thêm == Hệ thống tập tin Hệ quản lý tập tin Sao chép tập tin
mông cổ.txt
Mông Cổ (tiếng Mông Cổ: ᠮᠤᠩᠭᠤᠯ ᠤᠯᠤᠰ [Monggol Ulus] trong chữ viết Mông Cổ; Монгол Улс [Mongol Uls] trong chữ viết Kirin Mông Cổ) là một quốc gia có chủ quyền nội lục nằm tại Đông Á. Lãnh thổ Mông Cổ gần tương ứng với Ngoại Mông trong lịch sử, và thuật ngữ này đôi khi vẫn được sử dụng để chỉ quốc gia hiện tại. Mông Cổ có biên giới với Trung Quốc về phía nam và có biên giới với Nga về phía bắc. Mông Cổ có diện tích 1.564.116 kilômét vuông (603.909 sq mi), là quốc gia có chủ quyền đầy đủ lớn thứ 18 và thưa dân nhất trên thế giới, có dân số khoảng ba triệu người. Đây cũng là quốc gia nội lục lớn thứ nhì thế giới, sau Kazakhstan. Mông Cổ có rất ít đất canh tác do hầu hết diện tích do thảo nguyên bao phủ, có các dãy núi về phía bắc và phía tây, và sa mạc Gobi nằm về phía nam. Ulaanbaatar là thủ đô và thành phố lớn nhất của Mông Cổ, là nơi cư trú của khoảng 45% dân số toàn quốc. Khoảng 30% dân số Mông Cổ ngày nay là dân du mục hoặc bán du mục; văn hóa ngựa vẫn nguyên vẹn. Đa số cư dân là tín đồ Phật giáo, tiếp đến là nhóm người không theo tôn giáo nào, còn Hồi giáo chiếm ưu thế trong cộng đồng người Kazakh thiểu số. Đa số công dân thuộc dân tộc Mông Cổ, các dân tộc thiểu số như người Kazakh, người Tuva chủ yếu sống tại miền tây. Mông Cổ gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới vào năm 1997, và tìm cách mở rộng tham gia trong các tổ chức kinh tế và thương mại khu vực. Khu vực nay là Mông Cổ từng nằm dưới quyền cai trị của nhiều đế quốc du mục, như Hung Nô, Tiên Ti, Nhu Nhiên. Năm 1206, Thành Cát Tư Hãn lập ra Đế quốc Mông Cổ, sau đó nó phát triển thành đế quốc lục địa liền kề lớn nhất trong lịch sử nhân loại. Cháu nội của ông là Hốt Tất Liệt lập ra nhà Nguyên và chinh phục miền Nam Trung Quốc. Sau khi nhà Nguyên sụp đổ, người Mông Cổ triệt thoái về Mông Cổ và lại tiếp tục xung đột phe phái như trước, ngoại trừ trong thời kỳ Đạt Diên Hãn và Trát Tát Khắc Đồ Hãn. Đến thế kỷ 16, Phật giáo Tây Tạng bắt đầu truyền đến Mông Cổ. Nhà Thanh do người Mãn lập ra sáp nhập Mông Cổ trong thế kỷ 17. Đến đầu thập niên 1900, khoảng một phần ba nam giới trưởng thành tại Mông Cổ là tăng nhân. Sau khi nhà Thanh sụp đổ vào năm 1911, Ngoại Mông Cổ tuyên bố độc lập từ nhà Thanh, và đến năm 1921 thiết lập nền độc lập thực tế từ Trung Hoa Dân Quốc. Ngay sau đó, quốc gia nằm dưới quyền kiểm soát của Liên Xô, là thế lực giúp đỡ họ độc lập khỏi Trung Quốc. Năm 1924, Cộng hòa Nhân dân Mông Cổ được tuyên bố thành lập, trở thành một quốc gia vệ tinh của Liên Xô. Trước biến động tại Liên Xô và Đông Âu, Mông Cổ tiến hành cách mạng dân chủ hòa bình vào đầu năm 1990. Kết quả là một hệ thống đa đảng, một bản hiến pháp mới năm 1992, và chuyển đổi sang kinh tế thị trường. == Lịch sử == === Tiền sử và cổ đại === Người đứng thẳng cư trú tại Mông Cổ từ 850.000 năm trước. Người hiện đại tiến đến Mông Cổ khoảng 40.000 năm trước trong thời đại đồ đá cũ. Hang Khoit Tsenkher tại tỉnh Khovd có các hình vẽ đất son màu hồng, nâu và đỏ sống động (niên đại từ 20.000 năm trước) về voi ma mút, linh miêu, lạc đà hai bướu, và đà điểu. Các khu định cư nông nghiệp thời đại đồ đá mới (khoảng 5500–3500 TCN) tại các địa phương như Norovlin, Tamsagbulag, Bayanzag, và Rashaan Khad. Sinh hoạt du mục cưỡi ngựa xuất hiện là một sự kiện then chốt trong lịch sử Mông Cổ và trở thành văn hóa chi phối. Sinh hoạt du mục cưỡi ngựa được chứng minh qua các bằng chứng khảo cổ học tại Mông Cổ trong văn hóa Afanasevo (3500–2500 TCN) thời đại đồ đồng đá và thời đại đồ đồng. Phát hiện xe có bánh tại các mộ táng thuộc văn hóa Afanasevo có niên đại trước năm 2200 TCN. Sinh hoạt du mục và gia công kim thuộc trở nên phát triển hơn vào sau đó trong văn hóa Okunev (thiên niên kỷ 2 TCN), văn hóa Andronovo (2300–1000 TCN) và văn hóa Karasuk (1500–300 TCN), lên đến cực điểm vào Đế quốc Hung Nô thuộc thời đại đồ sắt. Các di tích thời đại đồ đồng tiền Hung Nô gồm đá hươu, kurgan, mộ tấm vuông, và bức họa trên đá. Mặc dù trồng trọt tiếp tục kể từ thời đại đồ đá mới, song nông nghiệp luôn duy trì quy mô nhỏ so với du mục chăn thả. Nông nghiệp có thể được đưa đến từ phía tây hoặc phát sinh độc lập trong khu vực. Cư dân trong thời đại đồ đồng đá được mô tả là thuộc chủng Mongoloid (da vàng) tại miền đông của Mông Cổ ngày nay, và thuộc chủng Europoid (da trắng) tại miền tây. Người Tochari (Nguyệt Chi) và người Scythia cư trú tại miền tây Mông Cổ trong thời đại đồ đồng. Xác một chiến binh Scythia phát hiện tại dãy núi Altai của Mông Cổ được cho là có niên đại khoảng 2.500 năm, là một nam giới từ 30-40 tuổi có tóc vàng hoe. Khi sinh hoạt du mục cưỡi ngựa được đưa đến Mông Cổ, trung tâm chính trị của Thảo nguyên Âu-Á cũng chuyển đến Mông Cổ. Các cuộc xâm phạm của các dân tộc chăn nuôi gia súc ở phương bắc vào Trung Quốc trong thời nhà Thương và nhà Chu báo trước thời đại các đế quốc du mục. Khái niệm về Mông Cổ là một thế lực độc lập ở phía bắc của Trung Quốc thể hiện trong một lá thư do Hán Văn Đế gửi Lão Thượng thiền vu vào năm 162 TCN (ghi trong Hán thư). Kể từ thời tiền sử, Mông Cổ là nơi cư trú của các dân tộc du mục, theo thời gian họ hình thành các bang liên lớn giúp gia tăng sức mạnh và ưu thế. Các thể chế thường thấy là chức vụ hãn, Kurultai (hội đồng tối cao), tả dực và hữu dực, quân đội đế quốc (Keshig) và hệ thống quân sự theo hệ thập phân. Đế quốc đầu tiên là Hung Nô, do Mặc Đốn tập hợp để hình thành một bang liên vào năm 209 TCN. Họ nhanh chóng nổi lên thành mối đe dọa lớn nhất cho nhà Tần, buộc Trung Hoa phải xây Trường thành. Tướng quân Mông Điềm của Tần phải đem 30 vạn quân canh giữ biên giới phía bắc, nhằm phòng thủ trước các cuộc tấn công hủy diệt của Hung Nô. Đế quốc Hung Nô rộng lớn tồn tại cho đến năm 93, bị thay thế bằng Đế quốc Tiên Ti (93–234), toàn bộ Mông Cổ ngày nay nằm trong lãnh thổ quốc gia này. Hãn quốc Nhu Nhiên (330–555) gốc người Tiên Ti là thể chế đầu tiên sử dụng "khả hãn" làm đế hiệu. Nhu Nhiên cai trị một lãnh thổ lớn trước khi bị Đột Quyết (555–745) đánh bại, lãnh thổ của Đột Quyết còn lớn hơn quốc gia trước. Người Đột Quyết từng bao vây Panticapaeum nay thuộc Krym tại châu Âu vào năm 576. Kế tiếp họ là Hãn quốc Hồi Cốt (745–840) của người Duy Ngô Nhĩ, quốc gia này bị người Kyrgyz đánh bại. Người Khiết Đan là hậu duệ của người Tiên Ti, họ cai trị Mông Cổ thời nhà Liêu (907–1125), sau đó bang liên Mông Ngột Quốc (1125–1206) nổi lên. === Trung Cổ đến đầu thế kỷ 20 === Trong cảnh hỗn loạn vào cuối thế kỷ 12, một tù trưởng tên là Thiết Mộc Chân cuối cùng thống nhất thành công các bộ lạc Mông Cổ nằm giữa Mãn Châu và dãy núi Altai. Năm 1206, ông lấy hiệu là Thành Cát Tư Hãn, và tiến hành một loạt chiến dịch quân sự vốn nổi tiếng tàn bạo tại một phần lớn của châu Á, lập nên Đế quốc Mông Cổ, là đế quốc lục địa liền kề lớn nhất trong lịch sử thế giới. Dưới sự cai trị của những người thừa kế của ông, đế quốc kéo dài từ Ukraina hiện nay đến bán đảo Triều Tiên, và từ Siberia đến vịnh Oman và Việt Nam hiện nay, chiếm diện tích khoảng 33.000.000 kilômét vuông (13.000.000 sq mi), (22% tổng diện tích đất liền của Trái đất), dân số đạt trên 100 triệu người (khoảng một phần tư tổng dân số thế giới vào đương thời). Sự xuất hiện của Thái bình Mông Cổ cũng tạo thuận lợi đáng kể cho mậu dịch và thương nghiệp trên khắp châu Á vào thời đỉnh cao của nó. Sau khi Thành Cát Tư Hãn từ trần, đế quốc bị phân hành bốn hãn quốc. Chúng cuối cùng trở nên bán độc lập sau nội chiến của dòng Đà Lôi (1260–1264), vốn bùng phát do tranh chấp quyền lực sau khi Mông Kha từ trần vào năm 1259. Một trong các hãn quốc này gọi là "Đại hãn quốc", bao gồm đất tổ của người Mông Cổ và Trung Quốc, đến thời Hốt Tất Liệt thì được gọi là nhà Nguyên. Hốt Tất Liệt định đô tại Bắc Kinh ngày nay. Sau hơn một thế kỷ cầm quyền, nhà Nguyên bị nhà Minh thay thế vào năm 1368, triều đình của người Mông Cổ đào thoát về phía bắc. Khi quân Minh truy kích người Mông Cổ về đất tổ, họ cướp phá và hủy diệt kinh thành Hòa Lâm của người Mông Cổ. Một số cuộc tấn công trong số đó bị quân Mông Cổ dưới quyền Nguyên Chiêu Tông và bộ tướng là Khoách Khuếch Thiếp Mộc Nhi đẩy lui. Sau khi các quân chủ nhà Nguyên bị trục xuất khỏi Trung Quốc, người Mông Cổ tiếp tục cai trị quê hương Mông Cổ, gọi là Bắc Nguyên. Trong các thế kỷ sau, diễn ra tranh chấp quyền lực bạo lực giữa các phái khác nhau, đáng chú ý là giữa dòng hậu duệ Thành Cát Tư Hãn và người Ngõa Lạt không phải hậu duệ của ông (người Mông Cổ Tây), ngoài ra còn có một số cuộc xâm chiếm của Trung Quốc như Minh Thành Tổ từng tiến hành năm cuộc chinh phạt người Mông Cổ. Đến đầu thế kỷ 15, người Ngõa Lạt dưới quyền Dã Tiên thái sư giành được ưu thế, và tấn công Trung Quốc vào năm 1449. Quân của Dã Tiên từng bắt được Minh Anh Tông trong sự biến Thổ Mộc bảo. Đến khi Dã Tiên bị ám sát vào năm 1454, dòng hậu duệ của Thành Cát Tư Hãn giành lại quyền lực. Đầu thế kỷ 16, Đạt Diên Hãn và phu nhân là Mãn Đô Hải tái thống nhất toàn thể dân tộc Mông Cổ dưới quyền dòng hậu duệ Thành Cát Tư Hãn. Đến giữa thế kỷ 16, A Nhĩ Thản Hãn của bộ lạc Thổ Mặc Đặc, một cháu nội của Đạt Diên Hãn – song không phải người thừa kế hoặc là hãn hợp pháp – lên nắm quyền. Ông thành lập thành phố Hohhot nay thuộc Nội Mông vào năm 1557. sau khi A Nhĩ Thản Hãn gặp Đạt Lai Lạt Ma vào năm 1578, ông ra lệnh truyền Phật giáo Tây Tạng đến Mông Cổ. A Ba Đại Hãn của nhóm Khách Nhĩ Khách cải sang Phật giáo và lập Tu viện Erdene Zuu vào năm 1585. Cháu nội của ông là Zanabazar trở thành Jebtsundamba Khutughtu đầu tiên vào năm 1640. Sau các lãnh đạo, đến lượt toàn bộ cư dân Mông Cổ đi theo Phật giáo. Mỗi gia đình để kinh và tượng Phật trên một bàn thờ tại phía bắc lều của họ. Các quý tộc Mông Cổ hiến đất, tiền và mục dân cho các tu viện. Ngoài quyền lực tôn giáo, các thể chế tôn giáo đứng đầu và các tu viện nắm giữ quyền lực thế tục đáng kể. Hãn độc lập cuối cùng của người Mông Cổ là Lâm Đan Hãn vào đầu thế kỷ 17. Ông tham gia các cuộc xung đột với người Mãn nhằm tranh nhau cướp bóc các thành thị của Trung Quốc. Đến năm 1636, hầu hết các bộ lạc Nội Mông đã quy phục người Mãn, là dân tộc lập ra nhà Thanh. Người Khách Nhĩ Khách cuối cùng quy phục nhà Thanh vào năm 1691, đến lúc này toàn bộ Mông Cổ ngày nay thuộc quyền cai trị của nhà Thanh. Sau một số cuộc chiến tranh, người Chuẩn Cát Nhĩ (người Mông Cổ Tây hay Oirat) cuối cùng hầu như bị tiêu diệt hoàn toàn khi quân Thanh chinh phạt Dzungaria nay thuộc Tân Cương vào năm 1757–58. Một số học giả ước tính khoảng 80% hoặc 60 vạn hoặc hơn người Chuẩn Cát Nhĩ bị thiệt mạng do dịch bệnh và chiến tranh. Ngoại Mông Cổ được tự trị tương đối, gồm bốn bộ nằm dưới quyền quản trị của các hãn thế tập là Thổ Tạ Đồ Hãn (Tusheet Khan), Xa Thần Hãn (Setsen Khan), Trát Tát Khắc Đồ Hãn (Zasagt Khan) và Tái Âm Nặc Nhan Hãn (Sain Noyon Khan). Jebtsundamba Khutuktu của Mông Cổ là người có quyền thế lớn trên thực tế. Nhà Thanh cấm chỉ người Hán nhập cư hàng loạt đến khu vực, để cho người Mông Cổ duy trì văn hóa của mình. Tuyến đường mậu dịch chủ yếu trong thời kỳ này là Con đường Trà qua Siberia; con đường có các trạm cố định nằm cách nhau 25 đến 30 kilômét (16 đến 19 mi), mỗi trạm có 5-30 gia đình làm nhiệm vụ. Urga (nay là Ulaanbaatar) hưởng lợi lớn từ tuyến mậu dịch đường bộ này, do nó là điểm dân cư chính duy nhất tại Ngoại Mông được các thương nhân, quan chức và lữ khách dùng làm điểm dừng chân trên con đường Trà. Cho đến năm 1911, nhà Thanh duy trì quyền cai trị Ngoại Mông thông qua một loạt liên minh và thông hôn, cũng như các phương thức quân sự và kinh tế. Các trú tráp đại thần (amban) được đặt tại Khố Luân, Ô Lý Nhã Tô Đài,và Khoa Bố Đa, và Ngoại Mông được chia thành các bộ theo thể thức phong kiến và tăng lữ. Trong suốt thế kỷ 19, giới vương công tăng cường quyền đại diện song lại ít chịu trách nhiệm hơn đối với thần dân của mình. Thái độ của giới quý tộc Mông Cổ, cùng với hành động cho vay nặng lãi của các thương nhân Trung Quốc, cùng thu thuế bằng vàng thay vì động vật, khiến cho tình trạng dân du mục nghèo khổ lan rộng. Đến năm 1911, có trên 700 tu viện lớn nhỏ tại Ngoại Mông; 115.000 tăng nhân tại đó chiếm đến 21% dân số. Ngoài Jebtsundamba Khutuktu, còn có 13 lạt ma cao quý hiện thân khác tại Ngoại Mông. === Lịch sử hiện đại === Nhà Thanh sụp đổ vào năm 1911, Mông Cổ dưới quyền Bogd Khaan tuyên bố độc lập. Tuy nhiên, Trung Hoa Dân Quốc mới thành lập xem Mông Cổ là bộ phận lãnh thổ của mình. Tổng thống Trung Hoa Dân Quốc Viên Thế Khải cho rằng nước cộng hòa mới là thể chế kế thừa nhà Thanh. Bogd Khaan thì nói rằng cả Mông Cổ và Trung Quốc đều do người Mãn cai quản vào thời Thanh, và sau khi nhà Thanh sụp đổ vào năm 1911, giao ước Mông Cổ quy phục người Mãn trở nên vô hiệu. Khu vực nằm dưới quyền kiểm soát của Bogd Khaan gần tương ứng với Ngoại Mông thời Thanh. Năm 1919, sau Cách mạng Tháng Mười Nga, quân Trung Quốc dưới quyền Từ Thụ Tranh chiếm đóng Mông Cổ. Chiến tranh bùng phát tại miền giới phía bắc. Do hậu quả của Nội chiến Nga, tướng lĩnh Bạch vệ Nga Baron Ungern dẫn binh sĩ vào Mông Cổ trong tháng 10 năm 1920, đánh bại quân Trung Quốc đồn trú tại Khố Luân (Ulaanbaatar) vào đầu tháng 2 năm 1921 với giúp đỡ từ người Mông Cổ. Nhằm loại bỏ mối đe dọa từ Ungern, nước Nga Bolshevik quyết định ủng hộ thành lập một chính phủ và quân đội Mông Cổ cộng sản. Quân đội Mông Cổ này chiếm phần thuộc Mông Cổ giáp thị trấn Kyakhta của Nga từ tay quân Trung Quốc vào ngày 18 tháng 3 năm 1921, và đến ngày 6 tháng 7 quân Nga và Mông Cổ cộng sản đến Khố Luân. Mông Cổ lại tuyên bố độc lập vào ngày 11 tháng 7 năm 1921. Kết quả là Mông Cổ trở thành quốc gia liên kết mật thiết với Liên Xô trong bảy thập niên sau đó. Năm 1924, sau khi Bogd Khaan từ trần vì ung thư thanh quản, hoặc theo một số nguồn là dưới tay các điệp viên Liên Xô, hệ thống chính trị của quốc gia thay đổi. Nước Cộng hòa Nhân dân Mông Cổ được thành lập. Năm 1928, Khorloogiin Choibalsan lên nắm quyền. Các nhà lãnh đạo ban đầu của nước Cộng hòa Nhân dân Mông Cổ (1921–1952) không phải là người cộng sản và nhiều trong số họ theo chủ nghĩa liên Mông Cổ. Liên Xô lập ra một chế độ cộng sản tại Mông Cổ bằng cách tiêu diệt những người liên Mông Cổ. Trong thập niên 1960, Liên Xô công nhận Đảng Nhân dân Cách mạng Mông Cổ là những người cộng sản "đích thực", là thành phần nắm quyền sau khi nhà lãnh đạo theo chủ nghĩa liên Mông Cổ là Choibalsan từ trần. Khorloogiin Choibalsan cho tiến hành tập thể hóa gia súc, bắt đầu phá hủy các tu viện Phật giáo, tiến hành đàn áp kiểu Stalin tại Mông Cổ, kết quả là sát hại nhiều tăng nhân và các nhà lãnh đạo khác. Trong thập niên 1920, một phần ba nam giới tại Mông Cổ là tăng nhân, và đến đầu thế kỷ 20 có khoảng 750 tu viện hoạt động tại đây. Năm 1930, Nga ngăn chặn người Buryat (một phân nhóm Mông Cổ) di cư sang Mông Cổ nhằm đề phòng tái thống nhất liên Mông Cổ. Toàn bộ các nhà lãnh đạo của Mông Cổ không thực hiện yêu cầu của Nga về thi hành khủng bố người Mông Cổ đều bị người Nga hành quyết, trong số họ có cựu chủ tịch và thủ tướng Peljidiin Genden và cựu thủ tướng Anandyn Amar. Thanh trừng kiểu Stalin tại Mông Cổ bắt đầu vào năm 1937, sát hại trên 30.000 người. Năm 1952, Choibalsan chết một cách khả nghi tại Liên Xô. Nhà lãnh đạo Quốc tế cộng sản Bohumír Šmeral nói rằng "Nhân dân Mông Cổ không quan trọng, đất mới quan trọng. Đất Mông Cổ lớn hơn Anh, Pháp và Đức". Sau khi Nhật Bản xâm chiếm Đông Bắc Trung Quốc vào năm 1931, Mông Cổ bị đe dọa tại phía đông. Trong Chiến tranh Biên giới Xô-Nhật năm 1939, Liên Xô phòng thủ thành công Mông Cổ trước chủ nghĩa bành trướng Nhật Bản. Mông Cổ chiến đấu chống Nhật Bản trong cuộc chiến chiến này, cũng như trong Chiến tranh Xô-Nhật vào tháng 8 năm 1945 nhằm giải phóng Nội Mông khỏi Nhật Bản và Trung Quốc. Tháng 2 năm 1945, Hội nghị Yalta quy định về Liên Xô tham gia Chiến tranh Thái Bình Dương. Một trong số các điều kiện của Liên Xô tại hội nghị Yalta là sau chiến tranh Ngoại Mông duy trì độc lập. Một cuộc trưng cầu dân ý diễn ra vào ngày 20 tháng 10 năm 1945, theo số liệu chính thức 100% cử tri bỏ phiếu cho độc lập. Sau khi nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa thành lập, họ và Mông Cổ xác nhận công nhận lẫn nhau vào ngày 6 tháng 10 năm 1949. Đến khi Chia rẽ Trung-Xô phát triển trong thập niên 1960, Mông Cổ liên kết vững chắc với Liên Xô. Năm 1960, Mông Cổ giành được ghế thành viên tại Liên Hiệp Quốc sau khi nhiều nỗ lực trước đó thất bại do Hoa Kỳ và Trung Hoa Dân Quốc tại Đài Loan phủ quyết. Những năm hậu chiến cũng diễn ra các bước tiến tăng tốc nhằm hướng đến hình thành một xã hội xã hội chủ nghĩa. Trong thập niên 1950, gia súc lại bị tập thể hóa. Cùng thời kỳ, các nông trại quốc doanh được thành lập, và với viện trợ từ Liên Xô và Trung Quốc, các dự án hạ tầng như đường sắt Xuyên Mông Cổ được hoàn thành. Trong thập niên 1960, thành phố Darkhan được xây dựng với viện trợ từ Liên Xô và các quốc gia khác trong COMECON, và đến thập niên 1970 tổ hợp Erdenet hình thành. Ngày 26 tháng 1 năm 1952, Yumjaagiin Tsedenbal lên nắm quyền tại Mông Cổ. Chính sách ngoại giao của ông ghi dấu ấn với các nỗ lực nhằm đưa Mông Cổ hợp tác mật thiết hơn nữa với Liên Xô. Được Liên Xô hỗ trợ hoàn toàn, Tsedenbal thanh trừng thành công các địch thủ chính trị của mình. Người ta nói rằng trong thời gian làm nguyên thủ quốc gia, Tsedenbal đệ trình yêu cầu hợp nhất Mông Cổ vào Liên Xô từ năm đến tám lần, song các đề xuất này luôn bị các nhà lãnh đạo Liên Xô bác bỏ. Trong khi Tsedenbal đang đi thăm Moskva vào tháng 8 năm 1984, tình trạng sức khỏe rất xấu của ông khiến quốc hội tuyên bố ông nghỉ hưu và thay thế ông bằng Jambyn Batmönkh. Sự sự sụp đổ của Liên Xô vào năm 1989 tác động mạnh đến chính trường và thanh niên Mông Cổ. Nhân dân Mông Cổ tiến hành cách mạng dân chủ hòa bình vào năm 1990, dẫn đến hệ thống đa đảng và kinh tế thị trường. Một bản hiến pháp mới được ban hành vào năm 1992, cụm từ "Cộng hòa Nhân dân" bị loại bỏ khỏi quốc hiệu. Quá trình chuyển đổi sang kinh tế thị trường thường không vững chắc; vào đầu thập niên 1990 quốc gia phải đương đầu với lạm phát cao và thiếu hụt thực phẩm. Thắng lợi bầu cử đầu tiên của các đảng phi cộng sản đến vào trong cuộc bầu cử tổng thống năm 1993. Trung Quốc ủng hộ đơn đệ trình của Mông Cổ xin làm thành viên của Diễn đàn Hợp tác châu Á (ACD), Diễn đàn Hợp tác Kinh tế châu Á - Thái Bình Dương (APEC) và trao cho Mông Cổ vị thế quan sát viên tại Tổ chức Hợp tác Thượng Hải. Trong bầu cử quốc hội năm 1996, Liên minh Dân chủ giành thắng lợi, dưới quyền đồng lãnh đạo của Tsakhiagiin Elbegdorj. Đảng Nhân dân Cách mạng Mông Cổ lần đầu để mất thế đa số. Ứng cử viên của Đảng Nhân dân Cách mạng là Natsagiin Bagabandi đắc cử làm tổng thống năm 1997, và tái đắc cử vào năm 2001. Trong các cuộc bầu cử quốc hội vào năm 2000, 2004, và 2008 Đảng Nhân dân Cách mạng Mông Cổ giành thắng lợi và lại trở thành đảng cầm quyền. Kết quả bầu cử năm 2004 buộc đảng này phải gia nhập một chính phủ liên minh, song họ rời bỏ liên minh vào tháng 1 năm 2006 và tự lập chính phủ. Đảng Nhân dân Cách mạng Mông Cổ thành lập một chính phủ liên minh với Đảng Dân chủ vào năm 2008, song chiến thắng đa số của Đảng Nhân dân Cách mạng phải đối diện với các cáo buộc gian lận phiếu và các cuộc náo loạn sau đó. Trong bầu cử tổng thống năm 2009, ứng cử viên của Đảng Dân chủ là Tsakhiagiin Elbegdorj chiến thắng trước tổng thống đương nhiệm Nambaryn Enkhbayar của Đảng Nhân dân Cách mạng. Đảng Dân chủ giành chiến thắng trong bầu cử quốc hội vào năm 2012. Năm 2012, Đảng Nhân dân Mông Cổ (bỏ từ 'cách mạng' năm 2010) chịu thất bại lần đầu tiên lịch sử tại kỳ bầu cử địa phương. Trong kỳ bầu cử tổng thống năm 2013, ứng cử viên của Đảng Dân chủ là Tsakhiagiin Elbegdorj tái đắc cử. Đảng Nhân dân Mông Cổ giành thắng lợi lớn trong bầu cử quốc hội năm 2016 và thủ tướng hiện tại là Jargaltulgyn Erdenebat. == Chính trị và hành chính == Mông Cổ hiện nay là một nước cộng hòa dân chủ đại nghị bán tổng thống, theo đó tổng thống được bầu cử trực tiếp. Nhân dân cũng chọn ra các đại biểu quốc hội, gọi là Đại Khural Quốc gia. Tổng thống bổ nhiệm thủ tướng, và bổ nhiệm nội các theo đề xuất của thủ tướng. Hiến pháp Mông Cổ đảm bảo một số quyền tự do, bao gồm quyền tự do ngôn luận và tôn giáo. Mông Cổ có một số chính đảng, lớn nhất là Đảng Nhân dân Mông Cổ và Đảng Dân chủ. Tổ chức phi chính phủ Freedom House nhìn nhận Mông Cổ là quốc gia tự do. Đảng Nhân dân Mông Cổ có tên là Đảng Nhân dân Cách mạng từ năm 1921 đến năm 2010, họ thành lập chính phủ của Mông Cổ từ năm 1921 đến năm 1996, và từ năm 2000 đến năm 2004. Từ năm 2004 đến năm 2006, họ là bộ phận trong chính phủ liên minh với Đảng Dân chủ và các đảng khác, và sau năm 2006 họ là đảng chi phối hai liên minh khác. Đảng Dân chủ là thế lực chi phối trong chính phủ liên minh từ năm 1996 đến năm 2000, và là đối tác gần bình đẳng trong chính phủ liên minh từ năm 2004 đến năm 2006. Trong bầu cử quốc hội năm 2012, không đảng nào chiếm đa số trong quốc hội;, tuy nhiên do Đảng Dân chủ có nhiều ghế đại biểu nhất,, nên lãnh đạo của đảng là Norovyn Altankhuyag được bổ nhiệm làm thủ tướng. Năm 2014, thay thế ông là Chimediin Saikhanbileg. Đảng Nhân dân Mông Cổ giành thắng lợi lớn trong bầu cử quốc hội năm 2016 và thủ tướng hiện tại là Jargaltulgyn Erdenebat. Tổng thống Mông Cổ chủ yếu có vai trò biểu tượng, nhưng có thể ngăn cản các quyết định của nghị viện, và nếu nghị viện muốn bác bỏ điều này phải có biểu quyết thuận với hơn hai phần ba số phiếu. Hiến pháp Mông Cổ đặt ra ba yêu cầu với một cá nhân muốn trở thành tổng thống, phải là một người sinh ra tại Mông Cổ, ít nhất 45 tuổi, và đã sống ở Mông Cổ trong năm năm trước khi nhậm chức. Tổng thống cũng bị yêu cầu phải chính thức rút lui khỏi đảng của mình. Tổng thống hiện tại là Tsakhiagiin Elbegdorj, người từng hai lần làm thủ tướng và là một thành viên của Đảng Dân chủ được bầu lên làm tổng thống năm 2009 và tái cử vào năm 2013. Mông Cổ sử dụng một hệ thống nghị viện đơn viện theo đó tổng thống có một vai trò biểu tượng, và phe lập pháp chọn ra chính phủ để thực hiện quyền hành pháp. Nhánh lập pháp được gọi là "Đại Khural Quốc gia", là quốc hội đơn viện với 76 ghế. Các thành viên của viện được bầu ra theo tổng tuyển cử với nhiệm kỳ 4 năm. Đại Khural Quốc gia có vai trò lớn trong chính phủ Mông Cổ với tổng thống chủ yếu chỉ mang tính biểu tượng và thủ tướng được nghị viện thông qua. === Thủ tướng và Nội các === Thủ tướng Mông Cổ do Đại Khural Quốc gia bầu ra. Thủ tướng hiện nay là Sükhbaataryn Batbold lên nhậm chức ngày 29 tháng 10 năm 2009. Phó thủ tướng là Norovyn Altankhuyag. Có các ghế bộ trưởng cho mỗi nhánh (tài chính, quốc phòng, lao động, nông nghiệp, vân vân) và những chức vụ đó tạo nên nội các của thủ tướng. Nội các do thủ tướng chỉ định với sự tham vấn tổng thống và được Đại Khural Quốc gia thông qua. == Quan hệ ngoại giao và quân đội == Mông Cổ vẫn duy trì các quan hệ thân cận và các phái bộ ngoại giao với nhiều quốc gia như Hoa Kỳ, Nga, Bắc Triều Tiên và Hàn Quốc, Nhật Bản, và Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa. Chính phủ tập trung trên việc khuyến khích đầu tư và thương mại nước ngoài. Mông Cổ ủng hộ cuộc xâm lược Iraq năm 2003, và đã nhiều lần gửi binh sĩ với số lượng mỗi lần từ 103 tới 180 quân tới Iraq. Khoảng 130 lính hiện đang được triển khai tại Afghanistan. 200 quân Mông Cổ đang thực hiện nhiệm vụ ở Sierra Leone dưới một sự uỷ quyền của Liên hiệp quốc để bảo vệ toà án đặc biệt của Liên hiệp quốc được thành lập ở đó, và vào tháng 7 năm 2009, Mông Cổ đã quyết định gửi một tiểu đoàn tới Chad để hỗ trợ cho MINURCAT. Từ năm 2005 tới năm 2006, khoảng 40 quân đã được triển khai với các tiểu đoàn Bỉ và Luxembour tại Kosovo. Ngày 21 tháng 11 năm 2005, George W. Bush trở thành tổng thống đầu tiên của Mỹ tới thăm Mông Cổ. Năm 2004, dưới sự chủ tịch của Bulgaria, Tổ chức An ninh và Hợp tác châu Âu (OSCE), đã mời Mông Cổ trở thành Đối tác châu Á mới nhất của họ. Mông Cổ có các đại sứ tại Almaty, Ankara, Bangkok, Berlin, Bắc Kinh, Brussels, Budapest, Cairo, Canberra, Warsaw, Washington, D.C., Viên, Viên Chăn, La Habana, Delhi, Luân Đôn, Moskva, Ottawa, Paris, Praha, Bình Nhưỡng, Seoul, Sofia, Tokyo, Hà Nội, và Singapore, một lãnh sự tại Irkutsk và Ulan-Ude, và một phái bộ ngoại giao tại Liên hiệp quốc ở Thành phố New York và tại Liên minh châu Âu ở Geneva. == Địa lý và khí hậu == Với diện tích 1.564.116 km2 (603,909 mi²), Mông Cổ là nước rộng thứ 19 trên thế giới, sau Iran. Nước này lớn hơn rất nhiều so với nước đứng kế tiếp là Peru. Địa lý Mông Cổ đa dạng với Sa mạc Gobi ở phía nam và các vùng núi lạnh ở phía bắc và phía tây. Đa phần lãnh thổ Mông Cổ gồm các thảo nguyên. Đỉnh cao nhất tại Mông Cổ là Đỉnh Khüiten thuộc khối núi Tavan bogd ở cực tây với độ cao 4,374 m (14,350 ft). Châu thổ hồ Uvs Nuur, chung với nước Cộng hoà Tuva tại Nga, là một Địa điểm di sản tự nhiên thế giới. === Khí hậu === Hầu hết nước này đều nóng vào mùa hè và rất lạnh về mùa đông, với nhiệt độ trung bình tháng 1 hạ xuống chỉ còn -30 °C (-22 °F). Nước này cũng thỉnh thoảng gặp phải những đợt thời tiết khắc nghiệt được gọi là zud. Ulan Bator có nhiệt độ trung bình thấp nhất so với bất kỳ thủ đô nào khác trên thế giới. Mông Cổ cao, lạnh và nhiều gió. Nước này có khí hậu lục địa cực đoan với mùa đông dài và lạnh, mùa hè ngắn, và đa phần lượng mưa trong năm cũng diễn ra vào mùa hè. Nước này trung bình có 257 ngày không mây mỗi năm, và thường ở trung tâm của một vùng có áp lực khí quyển cao. Lượng mưa cao nhất ở phía bắc (trung bình 20 tới 35 centimét một năm) và thấp nhất ở phía nam, với lượng mưa hàng năm 10 tới 20 centimét. Vùng cư cực nam là Sa mạc Gobi, một số vùng tại đó có hầu như không có mưa trong nhiều năm. Cái tên "Gobi" là một thuật ngữ tiếng Mông Cổ để chỉ một thảo nguyên sa mạc, thường nói tới một đặc tính của loại đất không có đủ thực vật cho những con marmot nhưng đủ cho lạc đà. Người Mông Cổ phân biệt Gobi khỏi sa mạc thực sự, dù sự khác biệt không phải luôn rõ ràng với những người bên ngoài không quen thuộc với cảnh vật Mông Cổ. Các vùng đất Gobi rất mong manh và dễ bị tàn phá bởi sự quá tải, dẫn tới sự mở rộng của sa mạc thực sự, một vùng đá vô dụng nơi thậm chí cả lạc đà hai bướu cũng không sống nổi. === Hệ sinh thái === Đặc trưng của hệ sinh thái Mông Cổ chính là đồng bằng lớn với những thảo nguyên rộng bao la và sự ưu thế của những động vật móng guốc ăn cỏ. Thảo nguyên Mông Cổ nổi bật với những đàn thú móng guốc sinh sống, trong đó đáng chú ý là những đàn linh dương quần tụ cùng nhau với số lượng rất lớn, các bầy thú móng guốc thường tụ hội cùng nhau trước khi di chuyển đến nơi có nguồn thức ăn phong phú. Gia súc ở Mông Cổ cũng chiếm số lượng rất lớn và đông đúc trên đồng cỏ. Hệ sinh vật và động vật Mông Cổ có tổng số 138 loài động vật có vú, có 449 loài chim, 75 loài cá cũng như các loài động vật lưỡng cư và bò sát. Tổng cộng có 30 loài động vật có vú và phân loài đã được đưa vào phân loại hiếm và rất hiếm của Sách đỏ Mông Cổ, bao gồm cả các những con ngựa hoang Mông Cổ (còn gọi là Takhi) cũng như nhiều động vật có vú khác, đặc biệt là quần thể linh dương Mông Cổ khá đông đảo. Mặc dù Mông Cổ hiện có 30 loài động vật có vú đặc trưng, nhưng chỉ có năm loại phổ biến, đó là ngựa, dê, cừu, bò, lạc đà với tổng đàn 60 triệu con, trong đó ngựa Mông Cổ có khoảng trên 2,5 triệu con. == Phân chia hành chính == Mông Cổ được chia thành 21 aimag (tỉnh), và các tỉnh được chia tiếp thành 315 sum (huyện). Thủ đô Ulan Bator được quản lý hành chính riêng biệt như một khot (khu đô thị) với vị thế tỉnh. Các aimag gồm: == Kinh tế == Kinh tế Mông Cổ tập trung vào nông nghiệp và khai thác mỏ. Mông Cổ có nhiều nguồn tài nguyên thiên nhiên, và đồng, than, môlípđen, kẽm, tungsten, và vàng chiếm một phần lớn sản phẩm công nghiệp. Hiện có hơn 30,000 doanh nghiệp độc lập tại Mông Cổ, chủ yếu tập trung quanh thành phố thủ đô . Đa số dân cư bên ngoài các khu vực đô thị sinh sống bằng chăn thả tự cấp tự túc; các loại gia súc chủ yếu gồm cừu, dê, trâu bò, ngựa, và lạc đà hai bướu. Các sản phẩm lương thực gồm bột mì, lúa mạch, khoai tây, các loại rau, cà chua, dưa hấu, sea-buckthorn cỏ cho gia súc. GDP trên đầu người năm 2015 là $3,946. Dù GDP đã tăng ổn định từ năm 2002 ở tốc độ 7.5% theo một ước tính chính thức năm 2006, nước này vẫn đang phải cố gắng để giải quyết một khoản thâm hụt thương mại khá lớn. Một khoản nợ nước ngoài lớn ($11 tỷ) với Nga đã được chính phủ Mông Cổ giải quyết năm 2004 với một khoản chi trả $250 triệu. Dù có tăng trưởng, tỷ lệ dân số sống dưới mức nghèo khổ ước tính là 35.6% năm 1998, 36.1% năm 2002–2003, 32.2% năm 2006, và cả tỷ lệ thất nghiệp và lạm phát đều khá cao ở mức 3.2% và 6.0%, (năm 2006) Đối tác thương mại lớn nhất của Mông Cổ là Trung Quốc. Ở thời điểm năm 2006, 68.4% xuất khẩu của Mông Cổ là sang Trung Quốc và Trung Quốc cung cấp 29.8% nhập khẩu của Mông Cổ. Thị trường Chứng khoán Mông Cổ, được thành lập năm 1991 tại Ulan Bator, là thị trường chứng khoán nhỏ nhất thế giới xét theo tư bản hoá thị trường. Tính đến năm 2016, GDP của Mông Cổ đạt 11.164 USD, đứng thứ 129 thế giới và đứng thứ 38 châu Á. === Lĩnh vực công nghiệp === Công nghiệp hiện chiếm 21.4% GDP, xấp xỉ tương đương với lĩnh vực nông nghiệp (20.4%). Các ngành công nghiệp gồm vật liệu xây dựng, khai mỏ (than, đồng, môlípđen, fluorspar, kẽm, tungsten, và vàng), dầu, thực phẩm và đồ uống, chế biến các sản phẩm từ gia súc, và casơmia và sản xuất sợi tự nhiên. Tỷ lệ tăng trưởng sản xuất công nghiệp ước tính ở mức 4.1% năm 2002. Khai mỏ tiếp tục phát triển như một ngành công nghiệp chính của Mông Cổ với bằng chứng ở số lượng công ty Trung Quốc, Nga và Canada có mặt và tiến hành kinh doanh tại Mông Cổ. Sản xuất thực phẩm trong nước, đặc biệt thực phẩm đóng gói đã tăng nhanh cùng tốc độ đầu tư từ các công ty nước ngoài. === Khoa học và công nghệ === Một số công ty cộng nghệ từ các quốc gia láng giềng, như Hàn Quốc và Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa đã bắt đầu mở văn phòng tại Mông Cổ. Những công ty này có ý định tập trung vào phát triển phần mềm hơn là sản xuất phần cứng. Một số công ty viễn thông và nhà cung cấp dịch vụ internet đã được thành lập dẫn tới sự cạnh tranh lớn trên thị trường internet và điện thoại, đặc biệt là điện thoại di động như Mobicom Corporation và Magicnet, đây là những nhà điều hành điện thoại di động và ISP lớn nhất ở Mông Cổ. === Lĩnh vực dịch vụ === Sau những cú sốc chuyển tiếp đầu thập niên 1990, sản xuất nội địa Mông Cổ đã tăng trở lại. Theo CIA World Factbook, năm 2003, lĩnh vực dịch vụ chiếm 58% GDP, với 29% lực lượng lao động và 1.488 triệu người tham gia. Đầu tư nước ngoài từ các quốc gia khác (gồm Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc, Đức và Nga) đã giúp làm gia tăng số lượng đường sá. Quan trọng nhất là một con đường theo hướng nam bắc dài 1000 km dẫn từ biên giới Nga ở Sükhbaatar tới biên giới Trung Quốc tại Zamyn-Üüd. Có nhiều công ty vận tải tại Mông Cổ, gồm MIAT, Aero Mongolia, và Eznis Airways. Các sản phẩm dầu mỏ chủ yếu (80%) được nhập khẩu từ Nga, khiến Mông Cổ dễ bị ảnh hưởng bởi các cú sốc từ phía nhà cung cấp. Đây là một ví dụ cụ thể về ảnh hưởng của các quốc gia láng giềng trên nền kinh tế của họ. == Vận tải == Đường sắt xuyên Mông Cổ là tuyến đường sắt chính nối giữa Mông Cổ và các nước láng giềng. Nó khởi đầu tại Đường sắt xuyên Siberia ở Nga tại thị trấn Ulan-Ude, chạy vào Mông Cổ, chạy qua Ulaanbaatar, sau đó vào Trung Quốc tại Erenhot nơi nó nhập vào hệ thống đường sắt Trung Quốc. Một tuyến đường sắt riêng biệt nối thành phố phía đông Choibalsan với tuyến Đường sắt xuyên Siberia; tuy nhiên, tuyến đường nối này đã bị đóng với hành khách sau thị trấn Chuluunkhoroot của Mông Cổ. Mông Cổ có một số sân bay nội địa. Sân bay quốc tế duy nhất là Sân bay Quốc tế Chinggis Khaan gần Ulaanbaatar. Có các chuyến bay thẳng giữa Mông Cổ và Hàn Quốc, Trung Quốc, Nhật Bản, Nga và Đức. MIAT là hãng hàng không lớn nhất tại Mông Cổ và cung cấp cả các chuyến bay nội địa và quốc tế. Đa phần đường bộ ở Mông Cổ chỉ là đường rải sỏi hay đơn giản chỉ là những con đường đất. Có những tuyến đường trải nhựa từ Ulaanbaatar tới biên giới Nga và Trung Quốc, và từ Darkhan tới Bulgan. Một số dự án xây dựng đường hiện đang được thực hiện, ví dụ việc xây dựng cái gọi là tuyến đường "Đường Thiên niên kỷ" đông tây. == Nhân khẩu == Tổng dân số Mông Cổ vào tháng 7 năm 2007 ước tính bởi Văn phòng Điều tra Hoa Kỳ là 2.951.786 người, xếp khoảng hạng thứ 138 trên thế giới theo quy mô dân số. Nhưng Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ Văn phòng các Công việc Đông Á và Thái Bình Dương sử dụng những ước tính của Liên hiệp quốc thay vì các con số của Văn phòng Thống kê Hoa Kỳ. Cục Kinh tế và các Vấn đề Xã hội Liên hiệp quốc Phòng dân số ước tính tổng dân số Mông Cổ (giữa năm 2007) là 2.629.000 (11% nhỏ hơn con số của Phòng Thống kê Hoa Kỳ). Ước tính của Liên hiệp quốc giống với con số của Phòng Thống kê Quốc gia Mông Cổ (2.612.900, cuối tháng 6 năm 2007). Tỷ lệ tăng trưởng dân số của Mông Cổ ở mức 1.2% (ước tính 2007). Khoảng 59% trong tổng dân số dưới 30 tuổi, 27% trong số đó dưới 14. Đây là dân số khá trẻ và sự tăng trưởng dân số đã đặt ra một số vấn đề với nền kinh tế Mông Cổ. Từ cuối thời kỳ xã hội chủ nghĩa, Mông Cổ đã trải qua sự sụt giảm trong tổng tỷ suất sinh (trẻ em trên phụ nữ) cao hơn ở bất kỳ một quốc gia nào khác trên thế giới, the những ước tính gần đây của Liên hiệp quốc: giai đoạn 1970-1975, tỷ lệ sinh được ước tính ở mức 7.33 trẻ em trên phụ nữ, nhưng những dự đoán cho giai đoạn 2005-2010 là 1.87 (thấp hơn 4 lần). Mông Cổ đã trở nên đô thị hoá hơn. Khoảng 40% dân số sống tại Ulaanbaatar, và vào năm 2002 khoảng thêm 23% nữa sống tại Darkhan, Erdenet, các trung tâm aimag và các khu định cư thường trực cấp sum. Một phần dân số khác sống tại các trung tâm sum. Năm 2002, khoảng 30% tổng số hộ tại Mông Cổ sống bằng chăn nuôi gia súc. Đa số những người chăn nuôi ở Mông Cổ vẫn sống theo mô hình sinh hoạt du mục hay bán du mục. Sắc tộc Mông Cổ chiếm khoảng 85% dân số và gồm Khalkha cùng các nhóm khác, tất cả được phân biệt chủ yếu bởi các phương ngữ của ngôn ngữ Mông Cổ. Người Khalkha chiếm 90% dân số Mông Cổ. 10% còn lại gồm Buryat, Durbet Mông Cổ và các nhóm khác ở phía bắc và Dariganga Mông Cổ ở phía đông. Người Turk (Kazakh, Tuva, và Chantuu (Uzbek) chiếm 7% dân số Mông Cổ, và số còn lại là người Tungus, Trung Quốc, và người Nga. Đa số, nhưng không phải toàn bộ, người Nga đã rời khỏi quốc gia này sau sự rút lui hỗ trợ kinh tế và sự sụp đổ của Liên bang Xô viết năm 1991. === Ngôn ngữ === Ngôn ngữ chính thức của Mông Cổ là tiếng Mông Cổ Khalkha, và được 90% dân số sử dụng. Nhiều phương ngữ khác nhau được dùng trên khắp nước. Những phương ngữ này gồm trong các ngôn ngữ Mông Cổ. Tiếng Mông Cổ thường được gộp vào trong các ngôn ngữ Altaic, một nhóm các ngôn ngữ được đặt theo tên dãy núi Altay và cũng bao gồm cả các ngôn ngữ Turk và Tungus. Ngày nay, tiếng Mông Cổ được viết bằng bảng chữ cái Kirin, dù trong quá khứ nó được viết bằng ký tự Mông Cổ. Một kế hoạch tái sử dụng ký tự cũ được dự định vào năm 1994, nhưng vẫn chưa diễn ra vì nhiều lý do. Ở phía tây đất nước, tiếng Kazakh và tiếng Tuva, cùng với các ngôn ngữ khác, cũng được sử dụng. Tiếng Nga là ngoại ngữ được dùng phổ thông nhất ở Mông Cổ, tiếp sau là tiếng Anh, dù tiếng Anh đã dần thay thế tiếng Nga trở thành ngôn ngữ thứ hai. Tiếng Triều Tiên đã trở thành phổ thông bởi có hàng chục nghìn người Mông Cổ làm việc ở Hàn Quốc. Sự quan tâm tới tiếng Trung Quốc, ngôn ngữ của cường quốc láng giềng, cũng đã gia tăng. Tiếng Nhật cũng phổ biến trong giới trẻ. Một số người có học và lớn tuổi Mông Cổ nói một chút tiếng Đức, bởi họ đã từng theo học tại Đông Đức cũ, trong khi một số nói các ngôn ngữ thuộc của các quốc gia Khối Đông Âu cũ. Bên cạnh đó, nhiều thanh niên Mông Cổ sử dụng thành thạo các ngôn ngữ Tây Âu bởi họ học và làm việc tại các quốc gia đó gồm Đức, Pháp và Italia. Người điếc ở Mông Cổ sử dụng ngôn ngữ ký hiệu Mông Cổ. === Tôn giáo === Theo CIA World Factbook và Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ, 50% dân số Mông Cổ theo Phật giáo Tây Tạng tức 1.009.357 tín đồ, 40% được coi là vô thần, 6% theo Shaman giáo tức 55.174 tín đồ và Thiên chúa giáo là 41,117 tín đồ, và 4% là các tín đồ Hồi giáo với 57.702 tín đồ. Nhiều hình thức Tengri giáo và Shaman giáo đã được thực hiện trong suốt lịch sử của vùng là nước Mông Cổ hiện đại ngày nay, bởi những đức tin đó là phổ thông trong số những người du mục trong lịch sử châu Á. Những đức tin đó dần nhường chỗ cho Phật giáo Tây Tạng, nhưng Shaman giáo đã để lại một dấu ấn trong văn hoá tôn giáo Mông Cổ, và vẫn tiếp tục được thực hiện. Trong tầng lớp tinh hoa của Mông Cổ thời Đế chế Mông Cổ, Hồi giáo dần được ưa chuộng hơn những tôn giáo khác, bởi ba trong bốn vị hãn danh tiếng nhất đều là tín đồ Hồi giáo. Trong suốt thế kỷ 20, chính phủ cộng sản luôn đàn áp việc thực thi tôn giáo của người dân Mông Cổ. Khorloogiin Choibalsan đã phá huỷ hầu hết trong tổng số hơn 700 tu viện Phật giáo của Mông Cổ và giết hại hàng nghìn tăng lữ. Số lượng tu sĩ Phật giáo đã giảm từ 100.000 năm 1924 xuống còn 110 năm 1990. Sự sụp đổ của chủ nghĩa cộng sản năm 1991 đã giúp tái lập tính pháp lý của việc thực thi tôn giáo, và Phật giáo Tây Tạng, vốn từng là tôn giáo phổ biến nhất trước đây trong vùng trước sự trỗi dậy của chủ nghĩa cộng sản, một lần nữa nổi lên trở thành tôn giáo có số tín đồ đông nhất tại Mông Cổ. Sự chấm dứt đàn áp tôn giáo trong thập niên 1990 cũng cho phép các tôn giáo khác, như Hồi giáo và Thiên chúa giáo, phát triển ở nước này. Theo Nhóm truyền giáo Thiên chúa giáo Barnabas Fund, số lượng tín đồ Thiên chúa đã tăng từ chỉ 4 người năm 1989 lên khoảng 40.000 vào thời điểm năm 2008. === Giáo dục === Trong thời kỳ nhà nước xã hội chủ nghĩa, giáo dục là một trong những lĩnh vực đạt thành tựu đáng chú ý ở Mông Cổ. Tỉ lệ mù chữ đã giảm nhiều, một phần nhờ việc sử dụng các trường học theo mùa cho trẻ em thuộc các gia đình du mục. Tài chính cung cấp cho những trường theo mùa này đã bị cắt trong thập niên 1990, góp phần làm gia tăng trở lại nạn mù chữ. Giáo dục tiểu học và cấp hai trước kia kéo dài 10 năm, nhưng đã được mở rộng lên thành 11 năm. Từ năm học 2008-2009, những trẻ em mới bước vào cấp một theo hệ 12 năm. Như vậy, việc chuyển tiếp hoàn toàn sang hệ thống 12 năm mãi tới năm học 2019-2020 mới hoàn thành, khi những trẻ em đó tốt nghiệp. Các trường đại học quốc gia Mông Cổ đều thuộc Đại học Quốc gia Mông Cổ và Đại học Khoa học và Kỹ thuật Mông Cổ. Quá trình tự do hoá rộng rãi hồi thập niên 1990 đã dẫn tới một sự bùng nổ các định chế giáo dục cao học tư nhân, dù nhiều cơ sở trong số đó gặp khó khăn trong việc được chấp nhận tên gọi "cao đẳng" hay "đại học". === Y tế === Từ năm 1990, các chỉ số y tế chính như tuổi thọ và tỷ lệ tử vong trẻ sơ sinh và tử vong trẻ em đã được cải thiện vững chắc, cả vì những thay đổi xã hội và vì những cải tiến trong lĩnh vực y tế. Tuy nhiên, những vấn đề nghiêm trọng vẫn còn tồn tại, đặc biệt tại vùng nông thôn. Số trẻ em ra đời trung bình (tỷ lệ sinh) khoảng 2.25 - 1.87 trẻ trên phụ nữ (2007) và tuổi thọ trung bình là 67-68 năm. Tỷ lệ tử vong trẻ sơ sinh ở mức 1.9%-4% và tỷ lệ tử vong trẻ em ở mức 4.3%. Lĩnh vực y tế gồm 17 bệnh viện và trung tâm chuyên khoa, 4 trung tâm chẩn đoán và điều trị khu vực, 9 bệnh viện đa khoa cấp quận và 21 cấp aimag, 323 bệnh viện soum, 18 điểm feldsher, 233 phòng khám nhóm gia đình, và 536 bệnh viện tư và 57 công ty dược. Năm 2002 tổng số nhân viên y tế là 33,273 người, trong số đó có 6,823 bác sĩ, 788 dược sĩ, 7,802 y tá và 14,091 nhân viên trung cấp. Hiện tại, có 27.7 bác sĩ và 75.7 giường bệnh viện cho mỗi 10,000 dân. == Văn hoá == Lễ hội chính là Naadam, đã từng được tổ chức từ nhiều thế kỷ, gồm ba môn thể thao truyền thống của Mông Cổ, bắn cung, đua ngựa (qua những khoảng cách điền dã dài, chứ không phải đua những quãng ngắn quanh một sân vận động như kiểu phương Tây), và vật. Hiện tại nó được tổ chức ngày 11 tháng 1 đến ngày 13 tháng 7 để kỷ niệm ngày Cách mạng Dân chủ Quốc gia và thành lập Nhà nước Đại Mông Cổ. Một hoạt động rất phổ biến khác được gọi là "búng" một đốt xương chân cừu vào một bia xa nhiều bộ, sử dụng một chuyển động búng của ngón tay để bắn đốt xương nhỏ vào các mục tiêu và bắn những viên xương mục tiêu bay đi. Cuộc đấu này tại Naadam rất phổ thông và có một lượng khán giả là những người lớn tuổi rất trung thành. Tại Mông Cổ, khoomei (hay hát cổ họng), kiểu âm nhạc phổ thông, đặc biệt tại các khu vực phía tây Mông Cổ. Biểu tượng trang trí ở góc phía trái của lá quốc kỳ là một hình tượng Phật giáo được gọi là Soyombo. Nó thể hiện mặt trời, mặt trăng, các vì sao, và các thiên đường theo biểu tượng thiên văn tiêu chuẩn đã được trừu tượng hoá từ những biểu tượng được thấy trong những bức tranh thangka truyền thống. === Thể thao và giải trí === Lễ hội Naadam của Mông Cổ diễn ra trong ba ngày vào mùa hè và bao gồm đua ngựa, bắn cung, và vật Mông Cổ. Ba môn thể thao này, theo truyền thống được ghi nhận là ba hoạt động chủ yếu của nam giới, là những môn thể thao được theo dõi và tập luyện nhiều nhất trong nước. Cưỡi ngựa có vai trò đặc biệt trung tâm trong văn hoá Mông Cổ. Những cuộc đua đường trường được thực hiện trong các lễ hội Naadam là một trong những khía cạnh của nó, bởi sự phổ biến của kỹ thuật đua ngựa. Một ví dụ về kỹ thuật đua ngựa là truyền thuyết rằng anh hùng quân sự Mông Cổ Damdin Sükhbaatar đã rải những đồng xu trên mặt đất và sau đó nhặt chúng lên trên lưng một chú ngựa phi nước đại. Các môn thể thao khác như bóng bàn, bóng rổ, và bóng đá cũng đang dần được ưa chuộng. Ngày càng có nhiều vận động viên bóng bàn Mông Cổ thi đấu quốc tế. Vật là một thể thao phổ thông nhất trong số tất cả các môn thể thao Mông Cổ. Nó là điểm nhấn của Ba Môn Thể thao Nam giới tại Naadam. Các nhà sử học cho rằng vật kiểu Mông cổ có nguồn gốc từ khoảng bảy nghìn năm trước. Hàng trăm vận động viên vật từ các thành phố và aimag khác nhau khắp đất nước tham gia vào cuộc thi đấu quốc gia. Không có các quy định về trọng lượng hay giới hạn tuổi tác. Mỗi đô vật có người phục vụ riêng. Mục đích của môn thể thao là làm đối thủ mất cân bằng và ném anh ta xuống đất, khiến anh ta phải chạm khuỷu tay và đầu gối xuống đất. Những người thắng cuộc được vinh danh bằng những danh hiệu cổ: người thắng ở vòng thứ năm được danh hiệu nachin (chim ưng), ở vòng bảy và tám là zaan (voi), và vòng mười và mười một là arslan (sư tử). Đô vật trở thành vô địch tuyệt đối được trao danh hiệu avarga (Người khổng lồ). Mọi thắng lợi sau đó tại lễ hội quốc gia Naadam sẽ được thêm một tính ngữ cho danh hiệu avarga, như "Người Khổng lồ Bất bại được mọi người nhớ đến". Bắt đầu từ năm 2003, nghị viện Mông Cổ đã thông qua một luật mới về Naadam, đưa ra những sửa đổi với một số danh hiệu vật. Các danh hiệu iarudi và Khartsaga (Chim ưng) được thêm vào những quy định đã đề cập ở trên. Trang phục vật truyền thống gồm một áo hở phía trước, được buộc chặt quanh eo bằng một sợi dây. Kiểu áo này được cho là đã được đưa vào sử dụng sau khi nhà vô địch môn vật nhiều năm trước bị phát hiện là một phụ nữ. Chiếc áo được đưa ra để đảm bảo rằng chỉ nam giới mới được tranh tài. ==== Các môn thể thao quốc tế ==== Các đô vật truyền thống Mông Cổ đã chuyển sang môn vật sumo Nhật Bản với nhiều thành công lớn. Asashōryū Akinori là người Mông Cổ đầu tiên được phong lên hàng sumo hạng nhất yokozuna năm 2003 và tiếp đó là người đồng hương Hakuhō Shō của anh năm 2007. Naidangiin Tüvshinbayar đã giành huy chương vàng Olympic đầu tiên cho Mông Cổ ở môn judo nam hạng 100 kg. Bóng đá cũng được chơi ở Mông Cổ. Đội tuyển bóng đá quốc gia Mông Cổ đã bắt đầu chơi lại trong thập niên 1990; tuy nhiên họ vẫn chưa có cơ hội tham gia vào một giải đấu lớn. Mongolia Premier League là giải hạng cao nhất của Mông Cổ. Nhiều phụ nữ Mông Cổ có khả năng vượt trội trong các môn bắn súng: Otryadyn Gündegmaa là người giành được huy chương bạc tại Olympic năm 2008, Munkhbayar Dorjsuren đã hai lần là vô địch thế giới và giành huy chương đồng (hiện đang thi đấu cho Đức), trong khi Tsogbadrakhyn Mönkhzul ở thời điểm tháng 5 năm 2007, được xếp hạng 3 thế giới môn bắn súng 25 m. === Kiến trúc === Nơi cư ngụ truyền thống Mông Cổ được gọi là một yurt (Tiếng Mông Cổ: ger). Theo nghệ sĩ và nhà phê bình nghệ thuật Mông Cổ N. Chultem, các yurt và lều trại là căn bản cho sự phát triển của kiến trúc truyền thống Mông Cổ. Ở thế kỷ 16 và 17, các tu viện lama đã được xây dựng trên khắp đất nước. Nhiều công trình trong số đó khởi đầu như những đền yurt. Khi chúng cần được mở rộng để đủ chỗ cho số lượng tín đồ ngày càng đông đảo thêm, các kiến trúc sư Mông Cổ đã sử dụng các cấu trúc với 6 và 12 góc với các mái kiểu kim tự tháp để thích hợp với hình dáng tròn của yurt. Việc mở rộng thêm nữa dẫn tới hình dạng bậc hai của các đền. Các mái được làm theo hình dạng những lều lớn. Các bức tường kiểu lưới mắt cáo, các cột chống mái và các lớp nỉ được thay bằng đá, gạch, các dầm và những tấm ván và trở thành cấu trúc vĩnh cửu. Chultem phân biệt ba kiểu kiến trúc truyền thống Mông Cổ: Mông Cổ, Tây Tạng và Trung Quốc và kiểu kết hợp. Trong số những đền dạng bậc hai đầu tiên có Batu-Tsagaan (1654) được thiết kế bởi Zanabazar. Một ví dụ về phong cách kiến trúc yurt là lama Dashi-Choiling tại Ulan Bator. Đền Lavrin (thế kỷ 18) tại lama Erdene Zuu được xây dựng theo truyền thống Tây Tạng. Một ví dụ về đền được xây dựng theo truyền thống Trung Quốc là lama Choijing Lamiin Sume (1904), ngày nay là một bảo tàng. Đền bậc hai Tsogchin tại lama Gandan ở Ulan Bator là một sự tổng hợp truyền thống Mông Cổ và Trung Quốc. Đền Maitreya (đã bị dỡ ra năm 1938) là một ví dụ về kiến trúc Tây Tạng-Mông Cổ. Tu viện Dashi-Choiling đã bắt đầu motọ dự án xây dựng lại đền và 80 ft điêu khắc Maitreya. === Âm nhạc === ==== Âm nhạc dân gian ==== Âm nhạc Mông Cổ bị ảnh hưởng mạnh từ thiên nhiên, phong tục du mục, saman giáo, và cả Phật giáo Tây Tạng. Âm nhạc truyền thống bao gồm nhiều nhạc cụ, nổi tiếng nhất là mã đầu cầm (morin khuur/morinhur), và các phong cách hát như urtyn duu ("long song"), và thuật hát trong cổ họng đồng song thanh (khoomei/khomij). "Tsam" được nhảy múa để tránh ma quỷ và nó được coi là sự hồi tưởng về saman giáo. ==== Âm nhạc đại chúng ==== Ban nhạc rock đầu tiên của Mông Cổ là Soyol Erdene, được thành lập trong thập niên 1960. Phong cách kiểu Beatles của họ đã bị giới kiểm duyệt Cộng sản chỉ trích mạnh mẽ. Tiếp sau đó là Mungunhurhree, Ineemseglel, Urgoo, vân vân, đã mở ra con đường cho thể loại nhạc này trong môi trường khắc nghiệt của lý tưởng Cộng sản. Mungunhurhree và Haranga là những người tiên phong trong âm nhạc rock nặng Mông Cổ. Haranga phát triển tới đỉnh cao hồi cuối thập niên 1980 và 1990. Người lãnh đạo Haranga, nghệ sĩ guitar nổi tiếng Enh-Manlai, đã tận tình giúp đỡ những thế hệ ca sĩ nhạc rock sau này. Trong số những ban nhạc tiếp bước Haranga có ban nhạc Hurd. Đầu thập niên 1990, nhóm Har-Chono đã đặt ra bước khởi đầu của rock-dân gian Mông Cổ, pha trộn những yếu tố của "long song" Mông Cổ vào trong thể loại nhạc rock. Tới thời điểm đó, môi trường cho sự phát triển của tư tưởng nghệ thuật đã được tự do hơn rất nhiều nhờ một xã hội dân chủ mới trong nước. Thập kỷ 1990 chứng kiến sự phát triển của rap, techno, hip-hop và cả những boy band và girl band ở thời điểm chuyển tiếp thiên niên kỷ. === Truyền thông === Báo chí Mông Cổ bắt đầu năm 1920 với những quan hệ thân cận với Liên Xô dưới sự quản lý của Đảng Cộng sản, với việc thành lập tờ báo Unen ("Sự thật") tương tự tờ Pravda Xô viết. Cho tới những cuộc cải cách trong thập niên 1990, chính phủ kiểm soát chặt chẽ truyền thông và quản lý mọi công việc xuất bản, và không cho phép sự tồn tại của truyền thông độc lập. Sự giải tán Liên bang Xô viết đã có tác động mạnh tới Mông Cổ, nơi Nhà nước độc đảng đã phát triển trở thành một chế độ dân chủ đa đảng, và cùng với đó, những quyền tự do của truyền thông được đặt lên hàng đầu. Một luật mới về tự do báo chí, được soạn thảo với sự giúp đỡ của các Tổ chức phi chính phủ quốc tế ngày 28 tháng 8 năm 1998 và được thông qua ngày 1 tháng 1 năm 1999, mở đường cho các tự do truyền thông. Truyền thông Mông Cổ hiện tại gồm khoảng 300 tờ báo in và các đài phát thanh, truyền hình. Từ năm 2006, môi trường truyền thông đã được cải thiện với việc chính phủ thảo luận một Đạo luật Tự do Thông tin, và loại bỏ bất kỳ một sự liên quan nào của truyền thông tới chính phủ. Những cuộc cải cách thị trường đã dẫn tới sự gia tăng của số người làm việc trong ngành truyền thông sau từng năm, cùng với số lượng các sinh viên và trường báo chí. Trong báo cáo năm 2008 của mình, Tổ chức Phóng viên Không Biên giới xếp hạng môi trường báo chí ở vị trí 93 trên 173, vị trí số 1 là tự do nhất. == Xem thêm == Đại Mông Cổ Ẩm thực Mông Cổ Lịch sử Mông Cổ Châu Á == Tham khảo == == Đọc thêm == Mongolia, Encyclopaedia Britannica Mục “Mongolia” trên trang của CIA World Factbook. Background notes on Mongolia, US Department of State Desertification Documentary on OneWorldTV Bài viết này kết hợp các tài liệu thuộc phạm vi công cộng từ website hay thư mục thuộc Library of Congress Country Studies. == Liên kết ngoài == Chính phủ Chính phủ mở Mông Cổ từ Văn phòng Thủ tướng Bộ Ngoại giao Mông Cổ Mongolia Government Overview (tiếng Mông Cổ) Chief of State and Cabinet Members Thông tin chung Thông tin về Mông Cổ trên trang Web Bộ Ngoại giao Việt Nam Mục “Mongolia” trên trang của CIA World Factbook. Mongolia at UCB Libraries GovPubs Mông Cổ tại DMOZ Wikimedia Atlas của Mongolia, có một số bản đồ liên quan đến Mongolia. Mongolia; Mongolia trên International Business; Du lịch Official Tourism Website of Mongolia
1877.txt
Năm 1877 (MDCCCLXXVII) là một năm thường bắt đầu vào Thứ 2 (liên kết sẽ hiển thị đầy đủ lịch) trong Lịch Gregory (hoặc một năm thường bắt đầu vào Thứ 7 trong Lịch Julius chậm hơn 12 ngày). == Sinh == == Mất == A Cổ Bách Công chúa Kazu == Tham khảo ==
hàng bồ.txt
Phố Hàng Bồ nằm trong khu vực phố cổ Hà Nội. Thời kì thuộc Pháp vào cuối thế kỉ XIX phố có tên tiếng Pháp là Rue des Paniers. Từ sau năm 1945 phố chính thức mang tên Hàng Bồ. Cùng thời gian đó phố là nơi tập trung các cửa hàng bán dụng cụ đan bằng tre nứa như bồ, sọt, thúng mủng. Vào những dịp Tết nguyên đán hàng hoá truyền thống được chất đầy trên phố, kẻ mua người bán tấp nập. == Vị trí == Phố Hàng Bồ hiện nay thuộc phường Hàng Bồ, quận Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội. Phố dài khoảng 0,27 km theo hướng Đông - Tây. Đầu phố phía Đông là ngã tư giao với các phố Hàng Đào, Hàng Ngang và Hàng Bạc. Đầu phố phía Tây là ngã tư giao với các phố Hàng Thiếc, Thuốc Bắc và Bát Đàn. Phố nằm ở vị trí cách Hồ Hoàn Kiếm 0,35 km về phía Bắc và cách chợ Đồng Xuân 0,5 km về phía Nam == Lịch sử == khu vực phía Đông phố thuộc về thôn Nhân Nội, phía Tây thuộc về thôn Xuân Yên, cả hai thôn này thuộc tổng Thuận Mỹ, huyện Thọ Xương cũ. === Di tích nổi bật === == Ngành nghề truyền thống == Bán bồ (thùng đựng thóc thời xưa) đan bằng tre, nứa == Xem thêm == Phố cổ Hà Nội == Chú thích == == Liên kết ngoài ==
thế vận hội mùa đông.txt
Thế vận hội Mùa đông là sự kiện thể thao được tổ chức bốn năm một lần với nhiều môn thể thao, đây là sự kiện được tổ chức bởi Ủy ban Olympic quốc tế. Thế vận hội mùa đông là sự kiện thể thao được tổ chức dành riêng cho các môn thể thao mùa đông, được thi đấu trên băng hoặc tuyết như trượt băng nghệ thuật, trượt tuyết... Cũng giống như Thế vận hội Mùa hè, mỗi Ủy ban Olympic quốc gia ở mỗi nước chọn các vận động viên tiêu biểu cho nước đó tới tranh tài cùng các vận động viên ở các quốc gia khác. Trong mỗi sự kiện thể thao, vị trí thứ nhất sẽ giành được Huy chương vàng, vị trí thứ hai với Huy chương bạc và vị trí thứ ba với Huy chương đồng. Thế vận hội Mùa đông có ít các quốc gia tham dự hơn Thế vận hội Mùa hè, chủ yếu là do điều kiện khí hậu, vì có rất nhiều quốc gia nằm gần xích đạo không có điều kiện để tập luyện các môn thể thao mùa đông. Cũng giống Thế vận hội Mùa hè, Hoa Kỳ là quốc gia có nhiều lần tổ chức Thế vận hội Mùa đông nhất với bốn lần, lần gần đây nhất là tại Salt Lake City, Utah năm 2002. Pháp đã có ba lần tổ chức Thế vận hội Mùa đông, trong khi Áo, Canada, Ý, Nhật Bản, Na Uy và Thụy Sĩ giành được vinh dự này hai lần. Đức, Nga và Nam Tư đã có một lần tổ chức kỳ đại hội này; Hàn Quốc và Trung Quốc sẽ có lần tổ chức Olympic mùa đông đầu tiên vào các năm 2018 và 2022. Ba thành phố đã có hai lần tổ chức thế vận hội mùa đông là: Lake Placid, New York, St. Moritz của Thụy Sĩ và Innsbruck của Áo. Thế vận hội Mùa đông gần đây nhất tổ chức tại Sochi (Nga) năm 2014 và thế vận hội tiếp theo sẽ được tổ chức ở Pyeongchang (Hàn Quốc) năm 2018. Vào ngày 31 tháng 7 năm 2015, thủ đô Bắc Kinh của Trung Quốc đã được chọn đăng cai Thế vận hội Mùa đông 2022. == Danh sách các quốc gia tổ chức thế vận hội mùa đông == == Tham khảo ==
đẳng thức lượng giác.txt
Trong toán học, các đẳng thức lượng giác là các phương trình chứa các hàm lượng giác, đúng với một dải lớn các giá trị của biến số. Các đẳng thức này hữu ích cho việc rút gọn các biểu thức chứa hàm lượng giác. Ví dụ trong việc tính tích phân với các hàm không phải là lượng giác: có thể thay chúng bằng các hàm lượng giác và dùng các đẳng thức lượng giác để đơn giản hóa phép tính. == Định nghĩa == Xem thêm các hàm lượng giác tan ⁡ ( x ) = sin ⁡ ( x ) cos ⁡ ( x ) cot ⁡ ( x ) = cos ⁡ ( x ) sin ⁡ ( x ) = 1 tan ⁡ ( x ) {\displaystyle \tan(x)={\frac {\sin(x)}{\cos(x)}}\qquad \operatorname {cot} (x)={\frac {\cos(x)}{\sin(x)}}={\frac {1}{\tan(x)}}} == Tuần hoàn, đối xứng và tịnh tiến == Các đẳng thức sau có thể dễ thấy trên vòng tròn đơn vị: Đẳng thức sau cũng đôi khi hữu ích: a sin ⁡ x + b cos ⁡ x = a 2 + b 2 ⋅ sin ⁡ ( x + φ ) {\displaystyle a\sin x+b\cos x={\sqrt {a^{2}+b^{2}}}\cdot \sin(x+\varphi )} với φ = { arctan ⁡ b a , n e ^ ´ u a ≥ 0 ; π + arctan ⁡ b a , n e ^ ´ u a < 0. {\displaystyle \varphi =\left\{{\begin{matrix}\arctan {\dfrac {b}{a}},&&{\mbox{n}}{\acute {\hat {\mbox{e}}}}{\mbox{u}}\ a\geq 0;\\\pi +\arctan {\dfrac {b}{a}},&&{\mbox{n}}{\acute {\hat {\mbox{e}}}}{\mbox{u}}\ a<0.\end{matrix}}\right.} == Đẳng thức Pytago == Các đẳng thức sau dựa vào định lý Pytago. sin 2 ⁡ ( x ) + cos 2 ⁡ ( x ) = 1 {\displaystyle \sin ^{2}(x)+\cos ^{2}(x)=1\;} tan 2 ⁡ ( x ) + 1 = sec 2 ⁡ ( x ) = 1 cos 2 ⁡ ( x ) {\displaystyle \tan ^{2}(x)+1=\sec ^{2}(x)={\frac {1}{\cos ^{2}(x)}}} 1 + cot 2 ⁡ ( x ) = csc 2 ⁡ ( x ) = 1 sin 2 ⁡ ( x ) {\displaystyle 1+\cot ^{2}(x)=\csc ^{2}(x)={\frac {1}{\sin ^{2}(x)}}} Đẳng thức thứ 2 và 3 có thể suy ra từ đẳng thức đầu bởi chia nó cho cos²(x) và sin²(x). == Công thức cộng trừ lượng giác == Xem thêm Định lý Ptolemy Cách chứng minh nhanh các công thức này là dùng công thức Euler. sin ⁡ ( x ± y ) = sin ⁡ ( x ) cos ⁡ ( y ) ± cos ⁡ ( x ) sin ⁡ ( y ) {\displaystyle \sin(x\pm y)=\sin(x)\cos(y)\pm \cos(x)\sin(y)\,} cos ⁡ ( x ± y ) = cos ⁡ ( x ) cos ⁡ ( y ) ∓ sin ⁡ ( x ) sin ⁡ ( y ) {\displaystyle \cos(x\pm y)=\cos(x)\cos(y)\mp \sin(x)\sin(y)\,} tan ⁡ ( x ± y ) = tan ⁡ ( x ) ± tan ⁡ ( y ) 1 ∓ tan ⁡ ( x ) tan ⁡ ( y ) {\displaystyle \tan(x\pm y)={\frac {\tan(x)\pm \tan(y)}{1\mp \tan(x)\tan(y)}}} c o t ( x ± y ) = 1 ∓ tan ⁡ ( x ) tan ⁡ ( y ) tan ⁡ ( x ) ± tan ⁡ ( y ) {\displaystyle \ cot(x\pm y)={\frac {1\mp \tan(x)\tan(y)}{\tan(x)\pm \tan(y)}}} c ı s ( x + y ) = c ı s ( x ) c ı s ( y ) {\displaystyle {\rm {c\imath s}}(x+y)={\rm {c\imath s}}(x)\,{\rm {c\imath s}}(y)} c ı s ( x − y ) = c ı s ( x ) c ı s ( y ) {\displaystyle {\rm {c\imath s}}(x-y)={{\rm {c\imath s}}(x) \over {\rm {c\imath s}}(y)}} với c ı s ( x ) = e ı x = cos ⁡ ( x ) + ı sin ⁡ ( x ) {\displaystyle {\rm {c\imath s}}(x)=e^{\imath x}=\cos(x)+\imath \sin(x)\,} và ı = − 1 . {\displaystyle \imath ={\sqrt {-1}}.\,} == Công thức góc bội == === Bội hai === Các công thức sau có thể suy ra từ các công thức trên. Cũng có thể dùng công thức de Moivre với n = 2. sin ⁡ ( 2 x ) = 2 sin ⁡ ( x ) cos ⁡ ( x ) {\displaystyle \sin(2x)=2\sin(x)\cos(x)\,} cos ⁡ ( 2 x ) = cos 2 ⁡ ( x ) − sin 2 ⁡ ( x ) = 2 cos 2 ⁡ ( x ) − 1 = 1 − 2 sin 2 ⁡ ( x ) {\displaystyle \cos(2x)=\cos ^{2}(x)-\sin ^{2}(x)=2\cos ^{2}(x)-1=1-2\sin ^{2}(x)\,} tan ⁡ ( 2 x ) = 2 tan ⁡ ( x ) 1 − tan 2 ⁡ ( x ) {\displaystyle \tan(2x)={\frac {2\tan(x)}{1-\tan ^{2}(x)}}} cot ⁡ ( 2 x ) = cot 2 ⁡ ( x ) − 1 2 cot ⁡ ( x ) {\displaystyle \cot(2x)={\frac {\cot ^{2}(x)-1}{2\cot(x)}}} Công thức góc kép có thể dùng để tìm bộ ba Pytago. Nếu (a, b, c) là bộ ba Pytago thì (a2 − b2, 2ab, c2) cũng vậy. cos ⁡ ( n x ) = 2 cos ⁡ ( ( n − 1 ) x ) cos ⁡ ( x ) − cos ⁡ ( ( n − 2 ) x ) {\displaystyle \cos(nx)=2\cos((n-1)x)\cos(x)-\cos((n-2)x)} === Bội ba === ==== Cơ bản ==== Ví dụ của trường hợp n = 3: sin ⁡ ( 3 x ) = 3 sin ⁡ x − 4 sin 3 ⁡ x {\displaystyle \sin(3x)=3\sin x-4\sin ^{3}x} cos ⁡ ( 3 x ) = 4 cos 3 ⁡ x − 3 cos ⁡ x {\displaystyle \cos(3x)=4\cos ^{3}x-3\cos x} ==== Nâng cao ==== sin ⁡ ( 3 x ) = 4 sin ⁡ x sin ⁡ ( 60 o − x ) sin ⁡ ( 60 o + x ) {\displaystyle \sin(3x)=4\sin x\sin(60^{o}-x)\sin(60^{o}+x)} cos ⁡ ( 3 x ) = 4 cos ⁡ x cos ⁡ ( 60 o − x ) cos ⁡ ( 60 o + x ) {\displaystyle \cos(3x)=4\cos x\cos(60^{o}-x)\cos(60^{o}+x)} tan ⁡ ( 3 x ) = tan ⁡ x tan ⁡ ( 60 o − x ) tan ⁡ ( 60 o + x ) {\displaystyle \tan(3x)=\tan x\tan(60^{o}-x)\tan(60^{o}+x)} == Công thức hạ bậc == Giải các phương trình ở công thức bội cho cos2(x) và sin2(x), thu được: sin 2 ⁡ ( x ) = 1 − cos ⁡ ( 2 x ) 2 {\displaystyle \sin ^{2}(x)={1-\cos(2x) \over 2}} cos 2 ⁡ ( x ) = 1 + cos ⁡ ( 2 x ) 2 {\displaystyle \cos ^{2}(x)={1+\cos(2x) \over 2}} tan 2 ⁡ ( x ) = 1 − cos ⁡ ( 2 x ) 1 + cos ⁡ ( 2 x ) {\displaystyle \tan ^{2}(x)={1-\cos(2x) \over 1+\cos(2x)}} sin 2 ⁡ ( x ) cos 2 ⁡ ( x ) = 1 − cos ⁡ ( 4 x ) 8 {\displaystyle \sin ^{2}(x)\cos ^{2}(x)={1-\cos(4x) \over 8}} sin 3 ⁡ ( x ) = 3 sin ⁡ ( x ) − sin ⁡ ( 3 x ) 4 {\displaystyle \sin ^{3}(x)={\frac {3\sin(x)-\sin(3x)}{4}}} cos 3 ⁡ ( x ) = 3 cos ⁡ ( x ) + cos ⁡ ( 3 x ) 4 {\displaystyle \cos ^{3}(x)={\frac {3\cos(x)+\cos(3x)}{4}}} sin 4 ⁡ ( x ) = 1 cos ⁡ ( 4 x ) − 4 cos ⁡ ( 2 x ) + 3 8 {\displaystyle \sin ^{4}(x)={\frac {1\cos(4x)-4\cos(2x)+3}{8}}} cos 4 ⁡ ( x ) = 1 cos ⁡ ( 4 x ) + 4 cos ⁡ ( 2 x ) + 3 8 {\displaystyle \cos ^{4}(x)={\frac {1\cos(4x)+4\cos(2x)+3}{8}}} == Công thức góc chia đôi == Thay x/2 cho x trong công thức trên, rồi giải phương trình cho cos(x/2) và sin(x/2) để thu được: sin ⁡ ( x 2 ) = ± 1 − cos ⁡ ( x ) 2 {\displaystyle \sin \left({\frac {x}{2}}\right)=\pm \,{\sqrt {\frac {1-\cos(x)}{2}}}} cos ⁡ ( x 2 ) = ± 1 + cos ⁡ ( x ) 2 {\displaystyle \cos \left({\frac {x}{2}}\right)=\pm \,{\sqrt {\frac {1+\cos(x)}{2}}}} Dẫn đến: tan ⁡ ( x 2 ) = sin ⁡ ( x / 2 ) cos ⁡ ( x / 2 ) = ± 1 − cos ⁡ x 1 + cos ⁡ x . ( 1 ) {\displaystyle \tan \left({\frac {x}{2}}\right)={\sin(x/2) \over \cos(x/2)}=\pm \,{\sqrt {1-\cos x \over 1+\cos x}}.\qquad \qquad (1)} Nhân với mẫu số và tử số 1 + cos x, rồi dùng định lý Pytago để đơn giản hóa: tan ⁡ ( x 2 ) = ± ( 1 − cos ⁡ x ) ( 1 + cos ⁡ x ) ( 1 + cos ⁡ x ) ( 1 + cos ⁡ x ) = ± 1 − cos 2 ⁡ x ( 1 + cos ⁡ x ) 2 {\displaystyle \tan \left({\frac {x}{2}}\right)=\pm \,{\sqrt {(1-\cos x)(1+\cos x) \over (1+\cos x)(1+\cos x)}}=\pm \,{\sqrt {1-\cos ^{2}x \over (1+\cos x)^{2}}}} = sin ⁡ x 1 + cos ⁡ x . {\displaystyle ={\sin x \over 1+\cos x}.} Tương tự, lại nhân với mẫu số và tử số của phương trình (1) bởi 1 − cos x, rồi đơn giản hóa: tan ⁡ ( x 2 ) = ± ( 1 − cos ⁡ x ) ( 1 − cos ⁡ x ) ( 1 + cos ⁡ x ) ( 1 − cos ⁡ x ) = ± ( 1 − cos ⁡ x ) 2 ( 1 − cos 2 ⁡ x ) {\displaystyle \tan \left({\frac {x}{2}}\right)=\pm \,{\sqrt {(1-\cos x)(1-\cos x) \over (1+\cos x)(1-\cos x)}}=\pm \,{\sqrt {(1-\cos x)^{2} \over (1-\cos ^{2}x)}}} = 1 − cos ⁡ x sin ⁡ x . {\displaystyle ={1-\cos x \over \sin x}.} Suy ra: tan ⁡ ( x 2 ) = sin ⁡ ( x ) 1 + cos ⁡ ( x ) = 1 − cos ⁡ ( x ) sin ⁡ ( x ) . {\displaystyle \tan \left({\frac {x}{2}}\right)={\frac {\sin(x)}{1+\cos(x)}}={\frac {1-\cos(x)}{\sin(x)}}.} Nếu t = tan ⁡ ( x 2 ) , {\displaystyle t=\tan \left({\frac {x}{2}}\right),} thì: Phương pháp dùng t thay thế như trên hữu ích trong giải tích để chuyển các tỷ lệ thức chứa sin(x) và cos(x) thành hàm của t. Cách này giúp tính đạo hàm của biểu thức dễ dàng. == Biến tích thành tổng == Dùng công thức tổng và hiệu góc bên trên có thể suy ra. sin ⁡ ( x ) sin ⁡ ( y ) = − cos ⁡ ( x + y ) − cos ⁡ ( x − y ) 2 {\displaystyle \sin \left(x\right)\sin \left(y\right)=-{\cos \left(x+y\right)-\cos \left(x-y\right) \over 2}\;} cos ⁡ ( x ) cos ⁡ ( y ) = cos ⁡ ( x + y ) + cos ⁡ ( x − y ) 2 {\displaystyle \cos \left(x\right)\cos \left(y\right)={\cos \left(x+y\right)+\cos \left(x-y\right) \over 2}\;} sin ⁡ ( x ) cos ⁡ ( y ) = sin ⁡ ( x + y ) + sin ⁡ ( x − y ) 2 {\displaystyle \sin \left(x\right)\cos \left(y\right)={\sin \left(x+y\right)+\sin \left(x-y\right) \over 2}\;} == Biến tổng thành tích == Thay x bằng (x + y) / 2 và y bằng (x – y) / 2, suy ra: sin ⁡ ( x ) + sin ⁡ ( y ) = 2 sin ⁡ ( x + y 2 ) cos ⁡ ( x − y 2 ) {\displaystyle \sin(x)+\sin(y)=2\sin \left({\frac {x+y}{2}}\right)\cos \left({\frac {x-y}{2}}\right)\;} sin ⁡ ( x ) − sin ⁡ ( y ) = 2 cos ⁡ ( x + y 2 ) sin ⁡ ( x − y 2 ) {\displaystyle \sin(x)-\sin(y)=2\cos \left({\frac {x+y}{2}}\right)\sin \left({x-y \over 2}\right)\;} cos ⁡ ( x ) + cos ⁡ ( y ) = 2 cos ⁡ ( x + y 2 ) cos ⁡ ( x − y 2 ) {\displaystyle \cos(x)+\cos(y)=2\cos \left({\frac {x+y}{2}}\right)\cos \left({\frac {x-y}{2}}\right)\;} cos ⁡ ( x ) − cos ⁡ ( y ) = − 2 sin ⁡ ( x + y 2 ) sin ⁡ ( x − y 2 ) {\displaystyle \cos(x)-\cos(y)=-2\sin \left({x+y \over 2}\right)\sin \left({x-y \over 2}\right)\;} == Hàm lượng giác ngược == arcsin ⁡ ( x ) + arccos ⁡ ( x ) = π / 2 {\displaystyle \arcsin(x)+\arccos(x)=\pi /2\;} arctan ⁡ ( x ) + arccot ⁡ ( x ) = π / 2. {\displaystyle \arctan(x)+\operatorname {arccot}(x)=\pi /2.\;} arctan ⁡ ( x ) + arctan ⁡ ( 1 / x ) = { π / 2 , n e ^ ´ u x > 0 − π / 2 , n e ^ ´ u x < 0 . {\displaystyle \arctan(x)+\arctan(1/x)=\left\{{\begin{matrix}\pi /2,&{\mbox{n}}{\acute {\hat {\mbox{e}}}}{\mbox{u}}\ x>0\\-\pi /2,&{\mbox{n}}{\acute {\hat {\mbox{e}}}}{\mbox{u}}\ x<0\end{matrix}}\right..} arctan ⁡ ( x ) + arctan ⁡ ( y ) = arctan ⁡ ( x + y 1 − x y ) {\displaystyle \arctan(x)+\arctan(y)=\arctan \left({\frac {x+y}{1-xy}}\right)\;} arctan ⁡ ( x ) − arctan ⁡ ( y ) = arctan ⁡ ( x − y 1 + x y ) {\displaystyle \arctan(x)-\arctan(y)=\arctan \left({\frac {x-y}{1+xy}}\right)\;} sin ⁡ ( arccos ⁡ ( x ) ) = 1 − x 2 {\displaystyle \sin(\arccos(x))={\sqrt {1-x^{2}}}\,} cos ⁡ ( arcsin ⁡ ( x ) ) = 1 − x 2 {\displaystyle \cos(\arcsin(x))={\sqrt {1-x^{2}}}\,} sin ⁡ ( arctan ⁡ ( x ) ) = x 1 + x 2 {\displaystyle \sin(\arctan(x))={\frac {x}{\sqrt {1+x^{2}}}}} cos ⁡ ( arctan ⁡ ( x ) ) = 1 1 + x 2 {\displaystyle \cos(\arctan(x))={\frac {1}{\sqrt {1+x^{2}}}}} tan ⁡ ( arcsin ⁡ ( x ) ) = x 1 − x 2 {\displaystyle \tan(\arcsin(x))={\frac {x}{\sqrt {1-x^{2}}}}} tan ⁡ ( arccos ⁡ ( x ) ) = 1 − x 2 x {\displaystyle \tan(\arccos(x))={\frac {\sqrt {1-x^{2}}}{x}}} == Dạng số phức == cos ⁡ ( x ) = e i x + e − i x 2 {\displaystyle \cos(x)={\frac {e^{ix}+e^{-ix}}{2}}\;} sin ⁡ ( x ) = e i x − e − i x 2 i {\displaystyle \sin(x)={\frac {e^{ix}-e^{-ix}}{2i}}\;} với i 2 = − 1. {\displaystyle i^{2}=-1.\,} == Tích vô hạn == Trong các ứng dụng với hàm đặc biệt, các tích vô hạn sau có ích: sin ⁡ x = x ∏ n = 1 ∞ ( 1 − x 2 π 2 n 2 ) {\displaystyle \sin x=x\prod _{n=1}^{\infty }\left(1-{\frac {x^{2}}{\pi ^{2}n^{2}}}\right)} sinh ⁡ x = x ∏ n = 1 ∞ ( 1 + x 2 π 2 n 2 ) {\displaystyle \sinh x=x\prod _{n=1}^{\infty }\left(1+{\frac {x^{2}}{\pi ^{2}n^{2}}}\right)} cos ⁡ x = ∏ n = 1 ∞ ( 1 − x 2 π 2 ( n − 1 2 ) 2 ) {\displaystyle \cos x=\prod _{n=1}^{\infty }\left(1-{\frac {x^{2}}{\pi ^{2}(n-{\frac {1}{2}})^{2}}}\right)} cosh ⁡ x = ∏ n = 1 ∞ ( 1 + x 2 π 2 ( n − 1 2 ) 2 ) {\displaystyle \cosh x=\prod _{n=1}^{\infty }\left(1+{\frac {x^{2}}{\pi ^{2}(n-{\frac {1}{2}})^{2}}}\right)} sin ⁡ x x = ∏ n = 1 ∞ cos ⁡ ( x 2 n ) {\displaystyle {\frac {\sin x}{x}}=\prod _{n=1}^{\infty }\cos \left({\frac {x}{2^{n}}}\right)} == Đẳng thức số == === Cơ bản === Richard Feynman từ nhỏ đã nhớ đẳng thức sau: cos ⁡ 20 ∘ ⋅ cos ⁡ 40 ∘ ⋅ cos ⁡ 80 ∘ = 1 8 . {\displaystyle \cos 20^{\circ }\cdot \cos 40^{\circ }\cdot \cos 80^{\circ }={\frac {1}{8}}.} Tuy nhiên nó là trường hợp riêng của: ∏ j = 0 k − 1 cos ⁡ ( 2 j x ) = sin ⁡ ( 2 k x ) 2 k sin ⁡ ( x ) . {\displaystyle \prod _{j=0}^{k-1}\cos(2^{j}x)={\frac {\sin(2^{k}x)}{2^{k}\sin(x)}}.} Đẳng thức số sau chưa được tổng quát hóa với biến số: cos ⁡ 24 ∘ + cos ⁡ 48 ∘ + cos ⁡ 96 ∘ + cos ⁡ 168 ∘ = 1 2 {\displaystyle \cos 24^{\circ }+\cos 48^{\circ }+\cos 96^{\circ }+\cos 168^{\circ }={\frac {1}{2}}} . Đẳng thức sau cho thấy đặc điểm của số 21: cos ⁡ ( 2 π 21 ) + cos ⁡ ( 2 ⋅ 2 π 21 ) + cos ⁡ ( 4 ⋅ 2 π 21 ) {\displaystyle \cos \left({\frac {2\pi }{21}}\right)\,+\,\cos \left(2\cdot {\frac {2\pi }{21}}\right)\,+\,\cos \left(4\cdot {\frac {2\pi }{21}}\right)} + cos ⁡ ( 5 ⋅ 2 π 21 ) + cos ⁡ ( 8 ⋅ 2 π 21 ) + cos ⁡ ( 10 ⋅ 2 π 21 ) = 1 2 . {\displaystyle \,+\,\cos \left(5\cdot {\frac {2\pi }{21}}\right)\,+\,\cos \left(8\cdot {\frac {2\pi }{21}}\right)\,+\,\cos \left(10\cdot {\frac {2\pi }{21}}\right)={\frac {1}{2}}.} Một cách tính pi có thể sựa vào đẳng thức số sau, do John Machin tìm thấy: π 4 = 4 arctan ⁡ 1 5 − arctan ⁡ 1 239 {\displaystyle {\frac {\pi }{4}}=4\arctan {\frac {1}{5}}-\arctan {\frac {1}{239}}} hay dùng công thức Euler: π 4 = 5 arctan ⁡ 1 7 + 2 arctan ⁡ 3 79 . {\displaystyle {\frac {\pi }{4}}=5\arctan {\frac {1}{7}}+2\arctan {\frac {3}{79}}.} Một số đẳng thức khác: sin ⁡ 0 = sin ⁡ 0 ∘ = 0 = cos ⁡ 90 ∘ = cos ⁡ ( π 2 ) sin ⁡ ( π 6 ) = sin ⁡ 30 ∘ = 1 / 2 = cos ⁡ 60 ∘ = cos ⁡ ( π 3 ) sin ⁡ ( π 4 ) = sin ⁡ 45 ∘ = 2 / 2 = cos ⁡ 45 ∘ = cos ⁡ ( π 4 ) sin ⁡ ( π 3 ) = sin ⁡ 60 ∘ = 3 / 2 = cos ⁡ 30 ∘ = cos ⁡ ( π 6 ) sin ⁡ ( π 2 ) = sin ⁡ 90 ∘ = 1 = cos ⁡ 0 ∘ = cos ⁡ 0 {\displaystyle {\begin{matrix}\sin 0&=&\sin 0^{\circ }&=&0&=&\cos 90^{\circ }&=&\cos \left({\frac {\pi }{2}}\right)\\\\\sin \left({\frac {\pi }{6}}\right)&=&\sin 30^{\circ }&=&1/2&=&\cos 60^{\circ }&=&\cos \left({\frac {\pi }{3}}\right)\\\\\sin \left({\frac {\pi }{4}}\right)&=&\sin 45^{\circ }&=&{\sqrt {2}}/2&=&\cos 45^{\circ }&=&\cos \left({\frac {\pi }{4}}\right)\\\\\sin \left({\frac {\pi }{3}}\right)&=&\sin 60^{\circ }&=&{\sqrt {3}}/2&=&\cos 30^{\circ }&=&\cos \left({\frac {\pi }{6}}\right)\\\\\sin \left({\frac {\pi }{2}}\right)&=&\sin 90^{\circ }&=&1&=&\cos 0^{\circ }&=&\cos 0\end{matrix}}} sin ⁡ π 7 = 7 6 − 7 189 ∑ j = 0 ∞ ( 3 j + 1 ) ! 189 j j ! ( 2 j + 2 ) ! {\displaystyle \sin {\frac {\pi }{7}}={\frac {\sqrt {7}}{6}}-{\frac {\sqrt {7}}{189}}\sum _{j=0}^{\infty }{\frac {(3j+1)!}{189^{j}j!\,(2j+2)!}}\!} sin ⁡ π 18 = 1 6 ∑ j = 0 ∞ ( 3 j ) ! 27 j j ! ( 2 j + 1 ) ! {\displaystyle \sin {\frac {\pi }{18}}={\frac {1}{6}}\sum _{j=0}^{\infty }{\frac {(3j)!}{27^{j}j!\,(2j+1)!}}\!} Dùng tỷ lệ vàng φ: cos ⁡ ( π 5 ) = cos ⁡ 36 ∘ = 5 + 1 4 = ϕ / 2 {\displaystyle \cos \left({\frac {\pi }{5}}\right)=\cos 36^{\circ }={{\sqrt {5}}+1 \over 4}=\phi /2} sin ⁡ ( π 10 ) = sin ⁡ 18 ∘ = 5 − 1 4 = φ − 1 2 = 1 2 φ {\displaystyle \sin \left({\frac {\pi }{10}}\right)=\sin 18^{\circ }={{\sqrt {5}}-1 \over 4}={\varphi -1 \over 2}={1 \over 2\varphi }} - - === Nâng cao === - − sin ⁡ ( π 7 ) sin 2 ⁡ ( 2 π 7 ) + sin ⁡ ( 3 π 7 ) sin 2 ⁡ ( π 7 ) + sin ⁡ ( 2 π 7 ) sin − 2 ( 3 π 7 ) = 2 7 {\displaystyle -{\frac {\sin({\frac {\pi }{7}})}{\sin ^{2}({\frac {2\pi }{7}})}}+{\frac {\sin({\frac {3\pi }{7}})}{\sin ^{2}({\frac {\pi }{7}})}}+{\frac {\sin({\frac {2\pi }{7}})}{\sin -^{2}({\frac {3\pi }{7}})}}=2{\sqrt {7}}} - sin 2 ⁡ ( π 7 ) sin 4 ⁡ ( 2 π 7 ) + sin 2 ⁡ ( 3 π 7 ) sin 4 ⁡ ( π 7 ) + sin 2 ⁡ ( 2 π 7 ) sin − 4 ( 3 π 7 ) = 28 {\displaystyle {\frac {\sin ^{2}({\frac {\pi }{7}})}{\sin ^{4}({\frac {2\pi }{7}})}}+{\frac {\sin ^{2}({\frac {3\pi }{7}})}{\sin ^{4}({\frac {\pi }{7}})}}+{\frac {\sin ^{2}({\frac {2\pi }{7}})}{\sin -^{4}({\frac {3\pi }{7}})}}=28} - sin 2 ⁡ ( π 7 ) sin 4 ⁡ ( 2 π 7 ) ( 4 sin ⁡ ( π 7 ) sin ⁡ ( 2 π 7 ) − 2 sin ⁡ ( 3 π 7 ) sin − ( π 7 ) ) + sin 2 ⁡ ( 3 π 7 ) sin 4 ⁡ ( π 7 ) ( 2 sin ⁡ ( 2 π 7 ) sin ⁡ ( 3 π 7 ) + 4 sin ⁡ ( 3 π 7 ) sin − ( π 7 ) ) − sin 2 ⁡ ( 2 π 7 ) sin 4 ⁡ ( 3 π 7 ) ( 2 sin ⁡ ( π 7 ) sin ⁡ ( 2 π 7 ) + 4 − sin ⁡ ( 2 π 7 ) sin ⁡ ( 3 π 7 ) ) = 280 {\displaystyle {\frac {\sin ^{2}({\frac {\pi }{7}})}{\sin ^{4}({\frac {2\pi }{7}})}}({\frac {4\sin({\frac {\pi }{7}})}{\sin({\frac {2\pi }{7}})}}-{\frac {2\sin({\frac {3\pi }{7}})}{\sin -({\frac {\pi }{7}})}})+{\frac {\sin ^{2}({\frac {3\pi }{7}})}{\sin ^{4}({\frac {\pi }{7}})}}({\frac {2\sin({\frac {2\pi }{7}})}{\sin({\frac {3\pi }{7}})}}+{\frac {4\sin({\frac {3\pi }{7}})}{\sin -({\frac {\pi }{7}})}})-{\frac {\sin ^{2}({\frac {2\pi }{7}})}{\sin ^{4}({\frac {3\pi }{7}})}}({\frac {2\sin({\frac {\pi }{7}})}{\sin({\frac {2\pi }{7}})}}+{\frac {4-\sin({\frac {2\pi }{7}})}{\sin({\frac {3\pi }{7}})}})=280} - cos ⁡ ( π 17 ) = 1 8 ( 2 ( 2 17 ( 17 − 17 ) 2 − 17 − 17 2 − 4 34 + 2 17 + 3 17 + 17 + 34 − 2 17 + 17 + 15 ) ) {\displaystyle \cos({\frac {\pi }{17}})={\frac {1}{8}}{\sqrt {(}}2(2{\sqrt {{\sqrt {\frac {17(17-{\sqrt {17}})}{2}}}-{\sqrt {\frac {17-{\sqrt {17}}}{2}}}-4{\sqrt {34+2{\sqrt {17}}}}+3{\sqrt {17}}+17}}+{\sqrt {34-2{\sqrt {17}}}}+{\sqrt {17}}+15))} - tan ⁡ ( π 120 ) = 8 − 2 ( 2 − 3 ) ( 3 − 5 ) − 2 ( 2 + 3 ) ( 5 + 5 ) 8 + 2 ( 2 − 3 ) ( 3 − 5 ) + 2 − ( 2 + 3 ) ( 5 + 5 ) {\displaystyle \tan({\frac {\pi }{120}})={\sqrt {\frac {8-{\sqrt {2(2-{\sqrt {3}})(3-{\sqrt {5}})}}-{\sqrt {2(2+{\sqrt {3}})(5+{\sqrt {5}})}}}{8+{\sqrt {2(2-{\sqrt {3}})(3-{\sqrt {5}})}}+{\sqrt {2-(2+{\sqrt {3}})(5+{\sqrt {5}})}}}}}} - cos ⁡ ( π 240 ) = 1 16 ( 2 − 2 + 2 ( 2 ( 5 + 5 ) + 3 − 15 ) + 2 + 2 + 2 ( 6 ( 5 + 5 ) + 5 − 1 ) ) {\displaystyle \cos({\frac {\pi }{240}})={\frac {1}{16}}({\sqrt {2-{\sqrt {2+{\sqrt {2}}}}}}({\sqrt {2(5+{\sqrt {5}})}}+{\sqrt {3}}-{\sqrt {15}})+{\sqrt {{\sqrt {2+{\sqrt {2}}}}+2}}({\sqrt {6(5+{\sqrt {5}})}}+{\sqrt {5}}-1))} - π 4 = cot − 1 ⁡ ( 2 ) + cot − 1 ⁡ ( 3 ) {\displaystyle {\frac {\pi }{4}}=\cot ^{-1}(2)+\cot ^{-1}(3)} - π 4 = cot − 1 ⁡ ( 2 ) + cot − 1 ⁡ ( 5 ) + cot − 1 ⁡ ( 8 ) {\displaystyle {\frac {\pi }{4}}=\cot ^{-1}(2)+\cot ^{-1}(5)+\cot ^{-1}(8)} - π 4 = 2 cot − 1 ⁡ ( 3 ) + cot − 1 ⁡ ( 7 ) {\displaystyle {\frac {\pi }{4}}=2\cot ^{-1}(3)+\cot ^{-1}(7)} - π 4 = 3 cot − 1 ⁡ ( 4 ) + cot − 1 ⁡ ( 99 5 ) {\displaystyle {\frac {\pi }{4}}=3\cot ^{-1}(4)+\cot ^{-1}({\frac {99}{5}})} - π 4 = 4 cot − 1 ⁡ ( 5 ) − cot − 1 ⁡ ( 239 ) {\displaystyle {\frac {\pi }{4}}=4\cot ^{-1}(5)-\cot ^{-1}(239)} - π 4 = 4 cot − 1 ⁡ ( 5 ) − cot − 1 ⁡ ( 70 ) + cot − 1 ⁡ ( 99 ) π 4 = 5 cot − 1 ⁡ ( 6 ) − cot − 1 ⁡ ( 503 16 ) − cot − 1 ⁡ ( 117 ) {\displaystyle {\frac {\pi }{4}}=4\cot ^{-1}(5)-\cot ^{-1}(70)+\cot ^{-1}(99){\frac {\pi }{4}}=5\cot ^{-1}(6)-\cot ^{-1}({\frac {503}{16}})-\cot ^{-1}(117)} - π 4 = 5 cot − 1 ⁡ ( 7 ) + 2 cot − 1 ⁡ ( 79 3 ) π 4 = 6 cot − 1 ⁡ ( 8 ) + cot − 1 ⁡ ( 99 5 ) − 3 cot − 1 ⁡ ( 268 ) {\displaystyle {\frac {\pi }{4}}=5\cot ^{-1}(7)+2\cot ^{-1}({\frac {79}{3}}){\frac {\pi }{4}}=6\cot ^{-1}(8)+\cot ^{-1}({\frac {99}{5}})-3\cot ^{-1}(268)} - π 4 = 8 cot − 1 ⁡ ( 10 ) − cot − 1 ⁡ ( 239 ) − 4 cot − 1 ⁡ ( 515 ) π 4 = 8 cot − 1 ⁡ ( 10 ) − 2 cot − 1 ⁡ ( 452761 2543 ) − cot − 1 ⁡ ( 1393 ) {\displaystyle {\frac {\pi }{4}}=8\cot ^{-1}(10)-\cot ^{-1}(239)-4\cot ^{-1}(515){\frac {\pi }{4}}=8\cot ^{-1}(10)-2\cot ^{-1}({\frac {452761}{2543}})-\cot ^{-1}(1393)} - π 4 = 8 cot − 1 ⁡ ( 10 ) − cot − 1 ⁡ ( 100 ) − cot − 1 ⁡ ( 515 ) − cot − 1 ⁡ ( 371498882 3583 ) π 4 = 12 cot − 1 ⁡ ( 18 ) + 3 cot − 1 ⁡ ( 70 ) + 5 cot − 1 ⁡ ( 99 ) + 8 cot − 1 ⁡ ( 307 ) {\displaystyle {\frac {\pi }{4}}=8\cot ^{-1}(10)-\cot ^{-1}(100)-\cot ^{-1}(515)-\cot ^{-1}({\frac {371498882}{3583}}){\frac {\pi }{4}}=12\cot ^{-1}(18)+3\cot ^{-1}(70)+5\cot ^{-1}(99)+8\cot ^{-1}(307)} - π 4 = 12 cot − 1 ⁡ ( 18 ) + 8 cot − 1 ⁡ ( 99 ) + 3 cot − 1 ⁡ ( 239 ) + 8 cot − 1 ⁡ ( 307 ) {\displaystyle {\frac {\pi }{4}}=12\cot ^{-1}(18)+8\cot ^{-1}(99)+3\cot ^{-1}(239)+8\cot ^{-1}(307)} == Giải tích == Các công thức trong giải tích sau dùng góc đo bằng radian lim x → 0 sin ⁡ ( x ) x = 1 , {\displaystyle \lim _{x\rightarrow 0}{\frac {\sin(x)}{x}}=1,} lim x → 0 1 − cos ⁡ ( x ) x = 0 , {\displaystyle \lim _{x\rightarrow 0}{\frac {1-\cos(x)}{x}}=0,} d d x sin ⁡ ( x ) = cos ⁡ ( x ) {\displaystyle {d \over dx}\sin(x)=\cos(x)} Các đẳng thức sau có thể suy ra từ trên và các quy tắc của đạo hàm: d d x cos ⁡ ( x ) = − sin ⁡ ( x ) {\displaystyle {d \over dx}\cos(x)=-\sin(x)} d d x tan ⁡ ( x ) = sec 2 ⁡ ( x ) {\displaystyle {d \over dx}\tan(x)=\sec ^{2}(x)} d d x cot ⁡ ( x ) = − csc 2 ⁡ ( x ) {\displaystyle {d \over dx}\cot(x)=-\csc ^{2}(x)} d d x sec ⁡ ( x ) = sec ⁡ ( x ) tan ⁡ ( x ) {\displaystyle {d \over dx}\sec(x)=\sec(x)\tan(x)} d d x csc ⁡ ( x ) = − csc ⁡ ( x ) cot ⁡ ( x ) {\displaystyle {d \over dx}\csc(x)=-\csc(x)\cot(x)} d d x arcsin ⁡ ( x ) = 1 1 − x 2 {\displaystyle {d \over dx}\arcsin(x)={\frac {1}{\sqrt {1-x^{2}}}}} d d x arctan ⁡ ( x ) = 1 1 + x 2 {\displaystyle {d \over dx}\arctan(x)={\frac {1}{1+x^{2}}}} Các biểu thức về tính tích phân có thể tìm tại danh sách tích phân với hàm lượng giác và danh sách tích phân với hàm lượng giác ngược. == Hàm lượng giác nghịch đảo == Các hàm lượng giác tuần hoàn, do vậy để tìm hàm nghịch đảo, cần giới hạn miền của hàm. Dươi đây là định nghĩa các hàm lượng giác nghịch đảo: Các hàm nghịch đảo có thể được ký hiệu là sin−1 hay cos−1 thay cho arcsin và arccos. Việc dùng ký hiệu mũ có thể gây nhầm lẫn với hàm mũ của hàm lượng giác. Các hàm lượng giác nghịch đảo cũng có thể được định nghĩa bằng chuỗi vô hạn: arcsin ⁡ z = z + ( 1 2 ) z 3 3 + ( 1 ⋅ 3 2 ⋅ 4 ) z 5 5 + ( 1 ⋅ 3 ⋅ 5 2 ⋅ 4 ⋅ 6 ) z 7 7 + ⋯ = ∑ n = 0 ∞ ( ( 2 n ) ! 2 2 n ( n ! ) 2 ) z 2 n + 1 ( 2 n + 1 ) | z | < 1 {\displaystyle {\begin{matrix}\arcsin z&=&z+\left({\frac {1}{2}}\right){\frac {z^{3}}{3}}+\left({\frac {1\cdot 3}{2\cdot 4}}\right){\frac {z^{5}}{5}}+\left({\frac {1\cdot 3\cdot 5}{2\cdot 4\cdot 6}}\right){\frac {z^{7}}{7}}+\cdots \\&=&\sum _{n=0}^{\infty }\left({\frac {(2n)!}{2^{2n}(n!)^{2}}}\right){\frac {z^{2n+1}}{(2n+1)}}\end{matrix}}\,\quad \left|z\right|<1} arccos ⁡ z = π 2 − arcsin ⁡ z = π 2 − ( z + ( 1 2 ) z 3 3 + ( 1 ⋅ 3 2 ⋅ 4 ) z 5 5 + ( 1 ⋅ 3 ⋅ 5 2 ⋅ 4 ⋅ 6 ) z 7 7 + ⋯ ) = π 2 − ∑ n = 0 ∞ ( ( 2 n ) ! 2 2 n ( n ! ) 2 ) z 2 n + 1 ( 2 n + 1 ) | z | < 1 {\displaystyle {\begin{matrix}\arccos z&=&{\frac {\pi }{2}}-\arcsin z\\&=&{\frac {\pi }{2}}-(z+\left({\frac {1}{2}}\right){\frac {z^{3}}{3}}+\left({\frac {1\cdot 3}{2\cdot 4}}\right){\frac {z^{5}}{5}}+\left({\frac {1\cdot 3\cdot 5}{2\cdot 4\cdot 6}}\right){\frac {z^{7}}{7}}+\cdots )\\&=&{\frac {\pi }{2}}-\sum _{n=0}^{\infty }\left({\frac {(2n)!}{2^{2n}(n!)^{2}}}\right){\frac {z^{2n+1}}{(2n+1)}}\end{matrix}}\,\quad \left|z\right|<1} arctan ⁡ z = z − z 3 3 + z 5 5 − z 7 7 + ⋯ = ∑ n = 0 ∞ ( − 1 ) n z 2 n + 1 2 n + 1 | z | < 1 {\displaystyle {\begin{matrix}\arctan z&=&z-{\frac {z^{3}}{3}}+{\frac {z^{5}}{5}}-{\frac {z^{7}}{7}}+\cdots \\&=&\sum _{n=0}^{\infty }{\frac {(-1)^{n}z^{2n+1}}{2n+1}}\end{matrix}}\,\quad \left|z\right|<1} arccsc ⁡ z = arcsin ⁡ ( z − 1 ) = z − 1 + ( 1 2 ) z − 3 3 + ( 1 ⋅ 3 2 ⋅ 4 ) z − 5 5 + ( 1 ⋅ 3 ⋅ 5 2 ⋅ 4 ⋅ 6 ) z − 7 7 + ⋯ = ∑ n = 0 ∞ ( ( 2 n ) ! 2 2 n ( n ! ) 2 ) z − ( 2 n + 1 ) 2 n + 1 | z | > 1 {\displaystyle {\begin{matrix}\operatorname {arccsc} z&=&\arcsin \left(z^{-1}\right)\\&=&z^{-1}+\left({\frac {1}{2}}\right){\frac {z^{-3}}{3}}+\left({\frac {1\cdot 3}{2\cdot 4}}\right){\frac {z^{-5}}{5}}+\left({\frac {1\cdot 3\cdot 5}{2\cdot 4\cdot 6}}\right){\frac {z^{-7}}{7}}+\cdots \\&=&\sum _{n=0}^{\infty }\left({\frac {(2n)!}{2^{2n}(n!)^{2}}}\right){\frac {z^{-(2n+1)}}{2n+1}}\end{matrix}}\,\quad \left|z\right|>1} arcsec ⁡ z = arccos ⁡ ( z − 1 ) = π 2 − ( z − 1 + ( 1 2 ) z − 3 3 + ( 1 ⋅ 3 2 ⋅ 4 ) z − 5 5 + ( 1 ⋅ 3 ⋅ 5 2 ⋅ 4 ⋅ 6 ) z − 7 7 + ⋯ ) = π 2 − ∑ n = 0 ∞ ( ( 2 n ) ! 2 2 n ( n ! ) 2 ) z − ( 2 n + 1 ) ( 2 n + 1 ) | z | > 1 {\displaystyle {\begin{matrix}\operatorname {arcsec} z&=&\arccos \left(z^{-1}\right)\\&=&{\frac {\pi }{2}}-(z^{-1}+\left({\frac {1}{2}}\right){\frac {z^{-3}}{3}}+\left({\frac {1\cdot 3}{2\cdot 4}}\right){\frac {z^{-5}}{5}}+\left({\frac {1\cdot 3\cdot 5}{2\cdot 4\cdot 6}}\right){\frac {z^{-7}}{7}}+\cdots )\\&=&{\frac {\pi }{2}}-\sum _{n=0}^{\infty }\left({\frac {(2n)!}{2^{2n}(n!)^{2}}}\right){\frac {z^{-(2n+1)}}{(2n+1)}}\end{matrix}}\,\quad \left|z\right|>1} arccot ⁡ z = π 2 − arctan ⁡ z = π 2 − ( z − z 3 3 + z 5 5 − z 7 7 + ⋯ ) = π 2 − ∑ n = 0 ∞ ( − 1 ) n z 2 n + 1 2 n + 1 | z | < 1 {\displaystyle {\begin{matrix}\operatorname {arccot} z&=&{\frac {\pi }{2}}-\arctan z\\&=&{\frac {\pi }{2}}-(z-{\frac {z^{3}}{3}}+{\frac {z^{5}}{5}}-{\frac {z^{7}}{7}}+\cdots )\\&=&{\frac {\pi }{2}}-\sum _{n=0}^{\infty }{\frac {(-1)^{n}z^{2n+1}}{2n+1}}\end{matrix}}\,\quad \left|z\right|<1} Chúng cũng có thể được định nghĩa thông qua các biểu thức sau, dựa vào tính chất chúng là đạo hàm của các hàm khác. arcsin ⁡ ( x ) = ∫ 0 x 1 1 − z 2 d z , | x | < 1 {\displaystyle \arcsin \left(x\right)=\int _{0}^{x}{\frac {1}{\sqrt {1-z^{2}}}}\,\mathrm {d} z,\quad |x|<1} arccos ⁡ ( x ) = ∫ x 1 1 1 − z 2 d z , | x | < 1 {\displaystyle \arccos \left(x\right)=\int _{x}^{1}{\frac {1}{\sqrt {1-z^{2}}}}\,\mathrm {d} z,\quad |x|<1} arctan ⁡ ( x ) = ∫ 0 x 1 1 + z 2 d z , ∀ x ∈ R {\displaystyle \arctan \left(x\right)=\int _{0}^{x}{\frac {1}{1+z^{2}}}\,\mathrm {d} z,\quad \forall x\in \mathbb {R} } arccot ⁡ ( x ) = ∫ x ∞ 1 z 2 + 1 d z , z > 0 {\displaystyle \operatorname {arccot} \left(x\right)=\int _{x}^{\infty }{\frac {1}{z^{2}+1}}\,\mathrm {d} z,\quad z>0} arcsec ⁡ ( x ) = ∫ x 1 1 | z | z 2 − 1 d z , x > 1 {\displaystyle \operatorname {arcsec} \left(x\right)=\int _{x}^{1}{\frac {1}{|z|{\sqrt {z^{2}-1}}}}\,\mathrm {d} z,\quad x>1} arccsc ⁡ ( x ) = ∫ x ∞ − 1 | z | z 2 − 1 d z , x > 1 {\displaystyle \operatorname {arccsc} \left(x\right)=\int _{x}^{\infty }{\frac {-1}{|z|{\sqrt {z^{2}-1}}}}\,\mathrm {d} z,\quad x>1} Công thức trên cho phép mở rộng hàm lượng giác nghịch đảo ra cho các biến phức: arcsin ⁡ ( z ) = − i log ⁡ ( i ( z + 1 − z 2 ) ) {\displaystyle \arcsin(z)=-i\log \left(i\left(z+{\sqrt {1-z^{2}}}\right)\right)} arccos ⁡ ( z ) = − i log ⁡ ( z + z 2 − 1 ) {\displaystyle \arccos(z)=-i\log \left(z+{\sqrt {z^{2}-1}}\right)} arctan ⁡ ( z ) = i 2 log ⁡ ( 1 − i z 1 + i z ) {\displaystyle \arctan(z)={\frac {i}{2}}\log \left({\frac {1-iz}{1+iz}}\right)} == Một số đẳng thức == Xem thêm Đẳng thức lượng giác Xem thêm Danh sách tích phân với hàm lượng giác, Danh sách tích phân với hàm lượng giác ngược sin ⁡ ( x + y ) = sin ⁡ x cos ⁡ y + cos ⁡ x sin ⁡ y {\displaystyle \sin \left(x+y\right)=\sin x\cos y+\cos x\sin y} sin ⁡ ( x − y ) = sin ⁡ x cos ⁡ y − cos ⁡ x sin ⁡ y {\displaystyle \sin \left(x-y\right)=\sin x\cos y-\cos x\sin y} cos ⁡ ( x + y ) = cos ⁡ x cos ⁡ y − sin ⁡ x sin ⁡ y {\displaystyle \cos \left(x+y\right)=\cos x\cos y-\sin x\sin y} cos ⁡ ( x − y ) = cos ⁡ x cos ⁡ y + sin ⁡ x sin ⁡ y {\displaystyle \cos \left(x-y\right)=\cos x\cos y+\sin x\sin y} sin ⁡ x + sin ⁡ y = 2 sin ⁡ ( x + y 2 ) cos ⁡ ( x − y 2 ) {\displaystyle \sin x+\sin y=2\sin \left({\frac {x+y}{2}}\right)\cos \left({\frac {x-y}{2}}\right)} sin ⁡ x − sin ⁡ y = 2 cos ⁡ ( x + y 2 ) sin ⁡ ( x − y 2 ) {\displaystyle \sin x-\sin y=2\cos \left({\frac {x+y}{2}}\right)\sin \left({\frac {x-y}{2}}\right)} cos ⁡ x + cos ⁡ y = 2 cos ⁡ ( x + y 2 ) cos ⁡ ( x − y 2 ) {\displaystyle \cos x+\cos y=2\cos \left({\frac {x+y}{2}}\right)\cos \left({\frac {x-y}{2}}\right)} cos ⁡ x − cos ⁡ y = − 2 sin ⁡ ( x + y 2 ) sin ⁡ ( x − y 2 ) {\displaystyle \cos x-\cos y=-2\sin \left({\frac {x+y}{2}}\right)\sin \left({\frac {x-y}{2}}\right)} tan ⁡ x + tan ⁡ y = sin ⁡ ( x + y ) cos ⁡ x cos ⁡ y {\displaystyle \tan x+\tan y={\frac {\sin \left(x+y\right)}{\cos x\cos y}}} tan ⁡ x − tan ⁡ y = sin ⁡ ( x − y ) cos ⁡ x cos ⁡ y {\displaystyle \tan x-\tan y={\frac {\sin \left(x-y\right)}{\cos x\cos y}}} cot ⁡ x + cot ⁡ y = sin ⁡ ( x + y ) sin ⁡ x sin ⁡ y {\displaystyle \cot x+\cot y={\frac {\sin \left(x+y\right)}{\sin x\sin y}}} cot ⁡ x − cot ⁡ y = − sin ⁡ ( x − y ) sin ⁡ x sin ⁡ y {\displaystyle \cot x-\cot y={\frac {-\sin \left(x-y\right)}{\sin x\sin y}}} == Xem thêm == Lượng giác Hàm lượng giác == Chú thích == == Tham khảo ==
thủ công mỹ nghệ.txt
Hàng thủ công mỹ nghệ (chữ Nôm: 手工美艺) là các đồ vật được làm bằng tay, không phải làm bằng máy. Cũng có thể hiểu thủ công mỹ nghệ là đồ thủ công (hand crafted). Những người làm đồ thủ công chuyên nghiệp và lành nghề được gọi là nghệ nhân thủ công. Thủ công mỹ nghệ có gốc rễ của nó trong hàng thủ công từ nông thôn bao gồm các nhu yếu phẩm, vật liệu và hàng hóa của các nền văn minh cổ đại. Một số hàng thủ công đã tồn tại trong nhiều thế kỷ, trong khi một số khác lại là các phát minh hiện đại, là sự phát triển đại trà của hàng thủ công mà ban đầu được sản xuất chỉ trong một khu vực địa lý hạn chế. Nhiều nghệ nhân làm hàng thủ công mỹ nghệ sử dụng vật liệu tự nhiên, thậm chí hoàn toàn bản địa, trong khi những người khác có thể dùng vật liệu phi truyền thống hiện đại, và thậm chí tái sử dụng các vật liệu công nghiệp. Tay nghề thủ công cá nhân của một mặt hàng thủ công mỹ nghệ là tiêu chí tối quan trọng; những hàng hóa được sản xuất hàng loạt hay bằng máy không phải là hàng thủ công mỹ nghệ. == Phân loại == === Thủ công === Hàng hóa được làm hoàn toàn 100% bằng tay. === Lắp ráp === Các sản phẩm này được lắp ráp từ các vật liệu thủ công đã sản xuất có sẵn như dây hoặc tấm kim loại, các viên đá...). Người nghệ nhân thủ công phối hợp các vật liệu có sẵn (được tạo hình từ trước) để tạo ra một sản phẩm mới hoàn toàn. == Tham khảo ==
nhà trắng.txt
Nhà Trắng (tiếng Anh: White House, cũng được dịch là Tòa Bạch Ốc hay Bạch Cung) là nơi ở chính thức và là nơi làm việc chính của Tổng thống Hoa Kỳ. Nhà Trắng là một biệt thự sơn màu trắng và được xây bằng sa thạch theo kiểu tân cổ điển, số nhà 1600 Đại lộ Pennsylvania NW tại Washington, D.C.. Thuật ngữ "Nhà Trắng" thường được dùng để chỉ chính quyền của tổng thống Hoa Kỳ đương nhiệm do đó là nơi làm việc chính của tổng thống Hoa Kỳ, (xem Hoán dụ). Dịch vụ Vườn Quốc gia (NPS) quản lý mảnh đất vườn thuộc Công viên Tổng thống. Hình Nhà Trắng có trên mặt sau của tờ giấy bạc 20 đô la. == Lịch sử == Nhà Trắng được xây dựng sau khi Quốc hội quyết định thành lập Đặc khu Columbia và chọn nơi này làm thủ đô Hoa Kỳ ngày 16 tháng 7 năm 1790. Tổng thống George Washington cùng với Pierre L’Enfant, người chịu trách nhiệm quy hoạch thành phố, giúp chọn địa điểm này. Kiến trúc sư được chọn qua một cuộc thi với chín đề án gởi đến dự thi. James Hoban, người Ireland, là người thắng cuộc; toà nhà được khởi công xây dựng với lễ đặt viên đá đầu tiên vào ngày 13 tháng 10 năm 1792. Toà nhà theo thiết kế của Hoban mô phỏng tầng trệt và lầu một của toà nhà Leinster House, dinh thự của một công tước toạ lạc ở Dubin, Ireland, ngày nay là toà nhà Quốc hội Ireland. Trái với những điều người ta thường biết về Nhà Trắng, cổng Bắc của toà nhà không được thiết kế mô phỏng theo cổng của một dinh thự khác tại Dublin, Viceregal Lodge (nay là Aras an Uachtarain, nơi ở của Tổng thống Ireland). Trong thực tế, chiếc cổng này chỉ được xây dựng sau này. Quyết định đặt thủ đô trên nhượng địa của hai tiểu bang chủ trương sở hữu nô lệ - Virginia và Maryland – gây ảnh hưởng đến việc tuyển dụng nhân công xây dựng cho các toà nhà chính phủ. Các uỷ viên thành phố D.C., được Quốc hội giao nhiệm vụ kiến thiết thành phố mới dưới sự hướng dẫn của tổng thống, lúc đầu dự định sử dụng nhân công tuyển dụng từ Âu châu; nhưng vì những đáp ứng từ châu lục là tiêu cực nên họ phải quay trở lại tìm kiếm nhân công người Mỹ gốc Phi, cả nô lệ và người tự do. Những người này chiếm phần lớn lực lượng lao động xây dựng Nhà Trắng. Công cuộc kiến thiết Nhà Trắng hoàn tất ngày 1 tháng 11 năm 1800. Tiến độ thi công cực kỳ chậm, phải mất 8 năm và tiêu tốn 232.371,83 USD, tương đương với 2,4 triệu USD theo trị giá ngày nay tính cả mức lạm phát. Cổng trước và sau chỉ được thêm vào kiến trúc toà nhà cho đến năm 1825. Toà nhà lúc đầu được gọi là Dinh Tổng thống (Presidential Palace hoặc Presidential Mansion). Dolley Madison gọi nó là "Lâu đài Tổng thống". Tuy vậy, có chứng cớ cho thấy trong năm 1811, toà nhà này lần đầu tiên được gọi là "Nhà Trắng", vì mặt ngoài của nó được sơn trắng. Tên gọi Dinh Hành pháp cũng thường được dùng đến trong các văn kiện chính thức cho đến khi Tổng thống Roosevelt thiết lập tên chính thức của nó là "Nhà Trắng", tên này được khắc lên các vật dụng văn phòng của tổng thống năm 1901. John Adams là tổng thống đầu tiên đến sống trong Nhà Trắng từ ngày 1 tháng 11 năm 1800. Năm 1814 trong lúc diễn ra cuộc chiến năm 1812, nhiều toà nhà ở Washington, D.C. bị thiêu rụi bởi binh lính Anh, Nhà Trắng cũng đứng trơ trọi với những bức tường chỏng chơ. Nhiều người cho rằng chính trong lúc tái thiết, người ta tìm cách phủ lấp những thiệt hại của toà nhà do hoả hoạn bằng những lớp sơn màu trắng, do đó trở nên tên gọi cho toà nhà; nhưng cách giải thích này là không có nền tảng bởi vì toà nhà đã được sơn trắng từ năm 1798. Trong số rất nhiều tài sản của Nhà Trắng bị binh lính Anh cướp phá, chỉ có hai món được tìm thấy lại - bức chân dung George Washington, được cứu thoát bởi đệ nhất phu nhân Dolley Madison, và một hộp nữ trang, năm 1939 được hoàn trả cho Tổng thống Franklin Delano Roosevelt bởi một người Canada, người này nói rằng ông nội của ông đã lấy nó từ Washington. Phần lớn của cướp bị mất khi một đoàn tàu Anh trên đường đến Halifax bị chìm ngoài khơi Prospect do bị bão. Chiếc HMS Fantome dẫn một đoàn tàu trở lại Halifax khi đoàn tàu kia bị đánh chìm bởi cơn bão trong đêm 24 tháng 11 năm 1814. Ngày 16 tháng 8 năm 1841, Nhà Trắng bị tấn công lần nữa khi Tổng thống John Tyler phủ quyết dự luật tái lập Đệ nhị Ngân hàng Hoa Kỳ. Những thành viên Đảng Whig tức giận tụ tập trước Nhà Trắng trong một cuộc biểu tình, cho đến nay vẫn được xem là cuộc tụ tập bạo động nhất từng xảy ra trong lịch sử nước Mỹ. Cũng giống các dinh thự vùng quê nước Anh và Ireland mà nó mô phỏng, từ đầu thế kỷ 20, Nhà Trắng được mở cửa cho công chúng. Tổng thổng Thomas Jefferson cho mở cửa toà nhà đón tiếp người dân vào dịp lễ nhậm chức nhiệm kỳ thứ hai của ông năm 1805, khi một đám đông dân chúng, đến tham dự lễ tuyên thệ tổ chức tại Điện Capitol, đã theo tổng thống về nhà và được tổng thống tiếp đón trong Phòng Lam (Blue Room). Đôi khi những lần mở cửa tiếp đón công chúng gây ra rối loạn: năm 1829, Tổng thống Andrew Jackson bị buộc phải đến ở tạm tại một khách sạn khi một đám đông ước chừng 20.000 công dân đến dự lễ tuyên thệ nhậm chức của ông được tổ chức bên trong Nhà Trắng. Các phụ tá của tổng thống phải dùng những chậu giặt chứa đầy món cocktail pha rượu whiskey với nước cam vắt mới có thể thu hút đám đông di chuyển ra bên ngoài. Dù vậy, thông lệ này vẫn cứ được duy trì cho đến năm 1885, khi tổng thống tân cử Grover Cleveland sắp xếp lễ duyệt binh từ lễ đài lớn đặt ngay trước Nhà Trắng thay vì bên trong toà nhà như trước đây. Jefferson mở cửa cho công chúng đến thăm ngôi nhà của tổng thống được tổ chức theo đoàn, thông lệ này vẫn được duy trì cho đến nay, ngoại trừ trong lúc chiến tranh. Jefferson cũng là người khởi xướng truyền thống hằng năm đón tiếp công chúng vào dịp năm mới và ngày Lễ Độc lập Hoa Kỳ. Tuy nhiên, thông lệ này chấm dứt vào đầu thập niên 1930. Nhà Trắng vẫn được mở cửa theo những cung cách khác; Tổng thống Abraham Lincoln than phiền rằng ông thường xuyên bị bao vây bởi những người đang kiếm việc làm, đến gặp ông yêu cầu được bổ nhiệm vào những vị trí chính trị hoặc đòi hỏi những đặc ân khác khi tổng thống mới bắt đầu một ngày làm việc của mình. Lincoln thà chịu đựng những phiền phức này hơn là gánh nguy cơ trở nên thù địch với những người thân tín hoặc bạn hữu của một chính trị gia đầy quyền lực nào đó, hoặc một người có ảnh hưởng trên dư luận quần chúng. Ngày 19 tháng 12 năm 1960, Nhà Trắng được công nhận Danh thắng Lịch sử Quốc gia. == Cấu trúc == Chỉ có ít người có thể nhận ra Nhà Trắng rộng đến mức nào, bởi vì phần lớn cấu trúc của nó ẩn dưới mặt đất và vì nó trông nhỏ bé hơn kích thước thật khi so sánh với khung cảnh chung quanh. Bên trong Nhà Trắng có: 6 tầng với diện tích sàn tổng cộng là 5.100 m² (55.000 ft²) 132 phòng và 35 phòng tắm 412 cửa ra vào 147 cửa sổ 28 lò sưởi 8 cầu thang 3 thang máy 5 đầu bếp làm việc trọn thời gian 5.000 khách viếng thăm mỗi ngày 1 sân quần vợt 1 đường băng bowling 1 rạp chiếu phim 1 đường chạy 1 hồ bơi Nhà Trắng là một trong những toà nhà chính phủ ở Washington D.C. có thiết kế đường dành riêng cho xe lăn với những thay đổi thích hợp khi Tổng thống Franklin D. Roosevelt, phải di chuyển trên xe lăn vì mắc bệnh bại liệt, đến sống ở đây. Trong thập niên 1990, Hillary Clinton, chấp thuận đề nghị của giám đốc văn phòng du khách Melinda N. Bates, cho thiết lập một đường dành cho xe lăn ở hành lang của Cánh Đông toà nhà. Năm 1948, Tổng thống Harry S. Truman ra một quyết định gây tranh cãi khi cho mở một ban công trên tầng hai hướng về Cổng Nam. Không lâu sau khi ban công được xây xong, người ta nhận ra rằng toà nhà có cấu trúc không cân xứng và nguy cơ bị đổ sụp là gần kề. Tổng thống và gia đình buộc phải dời sang toà nhà Blair bên kia đường trong khi tiến hành sửa chữa Nhà Trắng. Bên trong toà nhà bị tháo dỡ làm nó trông giống như một vỏ sò, những thanh rầm bằng gỗ được thay thế bằng đà bê tông cốt thép. Cũng có một số thay đổi, đặc biệt là thay đổi vị trí của cầu thang lớn để mở ra Tiền Sảnh (Entrance Hall), thay vì hướng vào Sảnh Thập tự như trước đây. Tổng thống Truman và gia đình trở về Nhà Trắng ngày 27 tháng 3 năm 1952. Dù đã được chỉnh sửa vào cuối thập niên 1940 và đầu thập niên 1950 để phù hợp với tổng thể toà nhà, nội thất Nhà Trắng, qua những thập kỷ không được chăm sóc đúng mức cùng với nhiều di dời và sửa đổi, ngày càng xuống cấp. Jacqueline Kennedy, phu nhân Tổng thống John F. Kennedy (1961-1963), bắt tay tái thiết nội thất nhiều căn phòng của toà nhà theo kiểu dáng đầu thế kỷ 19, sử dụng những vật dụng trang trí nội thất chất lượng cao vốn từ lâu bị lãng quên trong kho ở tầng hầm. Nhiều món đồ cổ, những bức tranh quý và những hiện vật khác là quà tặng từ những nhà hảo tâm giàu có, trong đó có Jane Engelhard, Jane Wrightsman, gia đình Oppenheimer ở Nam Phi và những cá nhân nhiều tiền của khác. Kiểu cách trang trí Kennedy, rất được ngưỡng mộ, mang âm hưởng cung đình Pháp là công trình của nhà trang trí Stephane Boudin của Jansen, một công ty thiết kế tiếng tăm ở Paris chuyên trang trí cho hoàng gia của Bỉ, Iran, Nữ Công tước Windsor và ngân hàng Reichsbank của Đức Quốc xã. Kể từ lúc ấy, mỗi khi có một gia đình tổng thống vào sinh sống, họ đều tìm cách thay đổi phần trang trí của toà nhà; những thay đổi này đôi khi nhẹ nhàng, đôi khi triệt để, có khi gây ra lắm tranh cãi. Điển hình, phu nhân và tổng thống Clinton nhờ Kaki Hockersmith, một nhà trang trí đến từ Arkansas, làm mới lại một số căn phòng của toà nhà, kết quả là sự thay đổi này đã thu hút nhiều sự chế giễu của công luận. == Cánh Tây == Đầu thế kỷ 20, một số kiến trúc phụ được thêm vào hai bên toà nhà chính nhằm đáp ứng số lượng nhân viên ngày càng gia tăng. Ở Cánh Tây có văn phòng tổng thống (Phòng Bầu dục) và văn phòng các viên chức cao cấp, có sức chứa cho khoảng 50 người. Ở đó cũng có Phòng Nội các, nơi hội họp của Hội đồng Bộ trưởng Hoa Kỳ, và Phòng Tình huống Nhà Trắng. Một số người thuộc ban nhân viên Tổng thống làm việc ở Toà nhà Văn phòng Hành pháp Eisenhower kế cận. == Cánh Đông == Cánh Đông là nơi dành cho các văn phòng phụ, được thêm vào Nhà Trắng năm 1942. Cánh Đông đôi khi được dùng để đặt văn phòng và là nơi làm việc cho ban nhân viên của Đệ nhất Phu nhân. Rosalynn Carter, năm 1977, là người đầu tiên đặt văn phòng tại Cánh Đông và chính thức gọi nó là "Văn phòng Đệ nhất Phu nhân". Cánh Đông được xây dựng trong thời kỳ Chiến tranh thế giới thứ hai nhằm che giấu công trình xây dựng công sự phòng thủ bên dưới nó để chuẩn bị cho những tình huống khẩn cấp. Công sự này được biết đến như là Trung tâm Điều hành Khẩn cấp của Tổng thống. == Khuôn viên == Mặc dù khuôn viên Nhà Trắng có nhiều khu vườn được xây dựng suốt theo chiều dài lịch sử của tòa nhà, khung cảnh hiện thời của nó được thiết kế vào năm 1935 bởi Frederick Law Olmsted, Jr. thuộc công ty Olmsted Brothers, theo sự ủy quyền của Tổng thống Franklin D. Roosevelt. == Xem thêm == Tổng thống Hoa Kỳ Đệ nhất Phu nhân Hoa Kỳ The West Wing Nhà Trắng (Moskva), tòa nhà cùng tên của chính phủ Nga tại Moskva Điện Capitol Hoa Kỳ, tòa nhà cũng ở Washington, D.C. có Quốc hội Hoa Kỳ Nhà Xanh, Hàn Quốc == Tham khảo == == Liên kết ngoài == WhiteHouse.gov – trang chủ của Nhà Trắng (tiếng Anh) Lưu ý: Trước khi Nhà Trắng xây dựng website chính thức trên Internet, người khác đã đăng ký hai tên miền Whitehouse.org và Whitehouse.com. Hai địa chỉ này không phải là website chính thức của Nhà Trắng. WhiteHouse.org là website nhại lại chính phủ Bush, còn, tuy WhiteHouse.com ngày xưa cung cấp văn khiêu dâm, ngày nay nó là thư mục thương mại điện tử. Công viên Tổng thống – Dịch vụ Vườn Quốc gia (tiếng Anh) Kho Hình ảnh Nhà Trắng (tiếng Anh) 13/10/1792: Khởi công xây dựng Nhà Trắng
trắng.txt
Màu trắng là màu có độ sáng cao nhưng giá trị màu sắc bằng 0. (Chính xác hơn thì nó chứa toàn bộ các màu của quang phổ và đôi khi được miêu tả như màu tiêu sắc — màu đen thì là sự vắng mặt của các màu). Cảm giác về ánh sáng trắng có thể được tạo ra bằng cách phối trộn (thông qua một quy trình gọi là "phối trộn bổ sung") của các màu gốc của quang phổ với các cường độ thích hợp: màu đỏ, màu xanh lá cây, màu xanh lam, nhưng cần phải lưu ý rằng việc chiếu sáng thông qua kỹ thuật này có sự khác biệt đáng kể với những nguồn sáng trắng (xem dưới đây). == Ánh sáng trắng == Ánh sáng trắng là hỗn hợp của tất cả ánh sáng đơn sắc, trong đó có bảy màu cơ bản: đỏ, cam, vàng, lục, lam, chàm, tím. Ánh sáng trắng là một trường hợp của ánh sáng phức tạp hay ánh sáng đa sắc. Trước khi các công trình của Newton được chấp nhận, phần lớn các nhà khoa học tin rằng màu trắng là màu nền tảng của ánh sáng; và các màu khác chỉ được tạo thành bằng cách bổ sung thêm một cái gì đó vào ánh sáng. Newton đã chứng minh rằng màu trắng được tạo thành bởi tổ hợp của các màu khác. Newton đã chiếu một chùm tia sáng Mặt Trời qua một lăng trụ kính rồi chiếu lên tường. Những gì thu được từ thí nghiệm của Newton cho thấy ánh sáng trắng không hề "nguyên chất", mà nó là tổng hợp của một dải quang phổ 7 màu cơ bản: đỏ, da cam, vàng, xanh lá cây, xanh nước biển, chàm, tím. Thí nghiệm này thể hiện hiện tượng tán sắc ánh sáng. Để thử lại xem có phải thủy tinh đã làm thay đổi ánh sáng trắng chiếu vào nó không, Newton đã làm thí nghiêm sau: Tách một chùm có màu xác định thu được trong thí nghiêm trên rồi cho chùm này đi qua lăng kính một lần nữa. Kết quả thí nghiệm cho thấy màu sắc của chùm tia sáng này không đổi. Trong khoa học về ánh sáng, tồn tại một tập hợp liên tục của các màu ánh sáng mà có thể gọi là "màu trắng". Một tập hợp của các màu có thể xứng đáng với miêu tả này là các màu phát xạ trong quá trình gọi là nóng sáng, bởi vật đen tại các nhiệt độ cao tương đối khác nhau. Ví dụ, màu của vật đen ở nhiệt độ 2.848 K phù hợp với những nguồn sáng phát ra bởi các thiết bị chiếu sáng trong nhà như đèn dây tóc. Người ta nói rằng "nhiệt độ màu của những đèn như vậy là 2.848 K". Ánh sáng trắng sử dụng để chiếu sáng trong nhà hát có nhiệt độ màu khoảng 3.200 K. Ánh sáng ban ngày có nhiệt độ màu danh nghĩa là 5.400 K (được gọi là màu trắng cân bằng nhiệt) nhưng nó có thể dao động từ đỏ tới hơi xanh (25.000 K). Không phải mọi bức xạ của vật đen có thể cho là ánh sáng trắng: bức xạ nền của vũ trụ là một ví dụ rõ ràng, chỉ có nhiệt độ vài kelvin và nó là hoàn toàn không nhìn thấy. == Các màu trắng tiêu chuẩn == Các màu trắng tiêu chuẩn thông thường được định nghĩa với dẫn chiếu đến biểu đồ màu sắc của Ủy ban quốc tế về chiếu xạ (CIE). Các màu này nằm trong chuỗi D của các chiếu xạ tiêu chuẩn. Chiếu xạ D65, nguyên gốc tương ứng với màu của nhiệt độ 6.500 K, nó được chọn để thể hiện ánh sáng tiêu chuẩn ban ngày. == Vẽ, nhuộm, sơn == Trong vẽ, nhuộm hay sơn cảm giác về màu trắng có thể được tạo ra theo một trong hai cách sau: phản xạ ánh sáng bao quanh một nền trắng hay sử dụng các chất màu tạo cảm giác màu trắng để vẽ, sơn, nhuộm. Màu trắng khi trộn với màu đen sẽ cho màu xám. Đối với các sinh viên theo học ngành nghệ thuật đồ họa, việc sử dụng màu trắng có thể nảy sinh các vấn đề nào đó, do đó luôn luôn có ít nhất một học trình về việc sử dụng màu trắng trong nghệ thuật. == Máy tính == Các màn hình máy tính thông thường có chức năng quản lý nhiệt độ màu, cho phép người sử dụng lựa chọn nhiệt độ màu (thông thường thông qua một tập hợp nhỏ các giá trị cố định trước) của ánh sáng phát xạ khi máy tính cung cấp các tín hiệu điện tử phù hợp với "màu trắng". Tọa độ RGB của màu trắng là (255, 255, 255). == Tọa độ màu == Số Hex = #FFFFFF RGB (r, g, b) = (255, 255, 255) CMYK (c, m, y, k) = (0, 0, 0, 0) HSV (h, s, v) = (0, 0, 100) == Sử dụng, biểu tượng == Thuật ngữ da trắng để chỉ những người có nguồn gốc Kavkaz, chủ yếu là người phương Tây như châu Âu, Tây Á v.v với nước da sáng. Trên thực tế, nước da của những người này dao động trong khoảng từ hồng đến nâu nhạt. Ở Trung Quốc, Việt Nam, Ấn Độ màu trắng có thể bị coi là màu của chết chóc, tang lễ hay ma quỷ. Tuy vậy, dưới ảnh hưởng của các văn hóa Tây phương, nó lại là màu trang phục của cô dâu trong đám cưới hay chỉ sự trinh bạch, trong sáng, ngây thơ. Quân trắng là thuật ngữ để chỉ một bên trong các môn cờ chơi trên bảng như cờ vua, cờ vây. Cờ trắng là dấu hiệu quốc tế của sự đầu hàng hoặc ngừng bắn, điều đó có nghĩa nó là xu hướng của hòa bình, thông thường trong thời gian chiến tranh. == Xem thêm == Danh sách màu == Tham khảo ==
sân vận động wunna theikdi.txt
Wunna Theikdi Stadium (tiếng Miến Điện: ဝဏ္ဏသိဒ္ဒိ အားကစားကွင်း) là sân vận động đa năng nằm tại Naypyidaw,thủ đô Myanmarcó sức chứa 30.000 khán giả. Đây là nơi tổ chức khai mạc và bế mạc Đại hội Thể thao Đông Nam Á 2013. Sân cũng là nơi tổ chức các trận đấu vòng bảng của giải vô địch bóng đá Đông Nam Á 2016. == Chú thích ==
thông luật.txt
Thông luật là một loại luật pháp chủ yếu được phát triển bởi các phán xét thông qua các phán quyết của tòa án hay các cơ quan tương tự hơn là những quyết định của các cơ quan lập pháp hay hành pháp (luật thành văn). Hệ thống thông luật là một loại hệ thống luật pháp trong đó thông luật chiếm tỉ trọng rất đáng kể theo nguyên tắc "có thái độ xử lý khác nhau đối với các sự việc giống nhau trong các tình huống khác nhau là một việc làm bất công". Phần chính yếu của các tiền lệ được gọi là "thông luật" và nó có vai trò ràng buộc các quyết định trong tương lai. Trong những trường hợp các bên tham gia trong vụ án không đồng thuận với nhau về phần luật pháp, tòa án sẽ tra cứu hồ sơ của các bản án trước đó và nếu như một vụ việc tương tự trong quá khứ đã được giải quyết, tòa án có nghĩa vụ phải áp dụng các phán quyết trong vụ án tương tự ở quá khứ vào vụ việc hiện tại (nguyên tắc này được gọi là stare decisis). Tuy nhiên, nếu như tình huống phát sinh ra trong vụ án hiện tại là hoàn toàn mới và chưa hề có trong các bản án ở quá khứ (được gọi là "ấn tượng đầu tiên"), tòa án có toàn quyền sáng tạo ra một tiền lệ mới để áp dụng cho các trường hợp sau này. Các tiền lệ như vậy được gọi là án lệ hay tiền lệ pháp == Xem thêm == Luật Angel-Saschsen Common law offences Tiền cấp dưỡng cho vợ Quyển sách Dōm, bộ luật của vua Anh Alfred Vĩ đại Thưa kiện Dân luật Kết hôn theo thông luật Luật pháp Liên bang Nga Luật Anh Đại hội thẩm đoàn Jury trial List of legal topics Luật Scotland List of legal doctrines Rule of law == Chú thích == == Liên kết ngoài == Friedman, Lawrence Meir (2005). A History of American Law (ấn bản 3). New York: Simon and Schuster. ISBN 978-0-7432-8258-1. Garner, Bryan A. (2001). A Dictionary of Modern Legal Usage (ấn bản 2). New York: Oxford University Press. ISBN 978-0-19-514236-5. Bảo trì CS1: Văn bản dư (link) Morrison, Alan B. (1996). Fundamentals of American Law. New York: Oxford University Press. ISBN 978-0-19-876405-2. Salmond, John William (1907). Jurisprudence: The Theory of the Law (ấn bản 2). London: Stevens and Haynes. OCLC 1384458. == Liên kết ngoài == The Common Law by Oliver Wendell Holmes, Jr. The Common Law by Oliver Wendell Holmes Jr. tại Dự án Gutenberg The History of the Common Law of England by Matthew Hale The Australian Institute of Comparative Legal Systems The International Institute for Law and Strategic Studies (IILSS) New South Wales Legislation Historical Laws of Hong Kong Online – University of Hong Kong Libraries, Digital Initiatives Maxims of Common Law from Bouvier's 1856 Law Dictionary Bản mẫu:Law
lady.txt
Từ ngữ lady là một thuật ngữ chỉ sự tôn trọng đối với phụ nữ, đặc biệt tương đương với phụ nữ, hoặc người phối ngẫu của một người đàn ông hoặc vua chúa, và trong nhiều ngữ cảnh là một thuật ngữ để chỉ bất kỳ người phụ nữ trưởng thành nào. == Trong tiếng Việt == Thuật ngữ "Lady" có thể được dịch sang tiếng Việt thành: Quý bà Phu nhân Bà chủ == Xem thêm == Tất cả các trang có tựa đề chứa "lady" == Chú thích == == Tham khảo == Merriam Webster's Dictionary of English Usage (Merriam-Webster, 1989), ISBN 0-87779-132-5.
progressive rock.txt
Progressive rock, cũng được gọi tắt là prog rock hay prog, là một tiểu thể loại nhạc rock bắt nguồn từ Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland và phát triển xa hơn hơn ở Đức, Ý, và Pháp, từ giữa tới cuối thập niên 1960 và 1970. Nó phát triển từ psychedelic rock, và ban đầu, giống với art rock, cố gắng để đưa sức nặng nghệ thuật lớn hơn vào nhạc rock. Các ban nhạc rời bỏ các đĩa đơn pop, sử dụng kỹ thuật nhạc cụ và cấu tạo âm nhạc gần với jazz và nhạc cổ điển hơn để đưa nhạc rock đến cùng đẳng cấp với âm nhạc phức tạp. Progressive rock bỏ qua đoạn beat để nhảy từng định nghĩa phong cách rock ban đầu và thử nghiệm với cấu trúc, nhạc cụ, hòa âm, nhịp điệu, và nội dung lời bài hát. Nghệ sĩ progressive rock tiêu biểu thường có trình độ chơi nhạc cụ rất cao. Cấu trúc âm nhạc bị xóa nhòa qua việc mở rộng các phân đoạn và đoạn nhạc dạo nối các phân đoạn với nhau, kết quả là một tổ khúc (suite). Nhiều ban nhạc, đặc biệt vào thời điểm bắt đầu prog rock, thu âm album mà họ biểu diễn với cả một dàn nhạc. Nghệ sĩ grogressive rock thường thử sức với các số chỉ nhịp (time signature) phức tạp như 5/8 và 7/8. Nhịp độ, điệu nhạc và số chỉ nhịp thay đổi là điều bình thường trong progressive rock. Các ca khúc được thay thế bởi các tổ khúc kéo dài từ 20 tới 40 phút với ảnh hưởng của giao hưởng, chủ đề âm nhạc mở rộng, lời bài hát triết học, thần bí và/hay siêu thực và phối nhạc phức tạp. Thể loại này không phải không có những lời chỉ trích, như một số nhà phê bình cho ​​rằng những chủ đề này thật "tự phụ", còn âm nhạc "khoa trương" và "thổi phồng". Progressive rock có độ phổ biến cao vào giữa thập kỷ 1970. Các ban nhạc như Pink Floyd, Jethro Tull, The Moody Blues, Yes, King Crimson, Genesis, và Emerson, Lake & Palmer (ELP) là những nghệ sĩ có sức ảnh hưởng lớn và phổ biến nhất. Thể loại này bắt đầu suy sụp vào nửa sau thập kỷ. Chủ yếu là sự phát triển của punk rock gây ra điều này, mặc dù trong thực tế một số yếu tố cùng góp phần vào. Progressive rock có đạt thành công thương mại vào thập kỷ 1980, mặc dù với đội hình các ban nhạc thay đổi và cấu trúc âm nhạc ngắn hơn. Đa số các ban nhạc vào những "ngày vàng" thập niên 1970 đều thuộc về "symphonic prog", khi dàn nhạc giao hưởng và/hoặc kỹ thuật soạn nhạc cổ điển được trộn vào nhạc rock. Những tiểu thể loại khác, gồm neo-progressive rock của thập niên 1980, Canterbury sound của những năm 1960 và 1970, và phong trào Rock in Opposition vào cuối thập niên 1970, cũng hiện diện. Progressive rock ảnh hưởng lên krautrock và post-punk, và được kết hợp với heavy metal để tạo nên neo-classical metal và progressive metal. Một phong trào, tên new prog, xuất hiện vào đầu thế kỷ XXI. == Tham khảo == == Liên kết ngoài == Prog-Rock/Art Rock, Allmusic.com, 2011, truy cập ngày 4 tháng 12 năm 2007 Allmusic.com (2013), Frances the Mute: Awards, Allmusic.com, truy cập ngày 12 tháng 7 năm 2013 Anderson, Ian (2008), BBC Prog Rock Britannia: An Observation in Three Movements (Televised interview), BBC Four Anonymous (2013), Prog pack, Hollow Sun, truy cập ngày 13 tháng 6 năm 2013 Beck, Matt (tháng 12 năm 2010), “5 Ways to Play Like Keith Emerson”, Keyboard, truy cập ngày 16 tháng 6 năm 2013 Berkmann, Marcus (ngày 3 tháng 4 năm 1999), “In the long run”, The Spectator (The Spectator Ltd. (UK)), HighBeam Research, truy cập ngày 9 tháng 5 năm 2013 (cần đăng ký mua) Berry, Mick; Gianni, Jason (2003), The Drummer's Bible: How to Play Every Drum Style from Afro-Cuban to Zydeco, See Sharp Press Boone, edited by John Covach & Graeme M. (1997), Understanding Rock: Essays in Musical Analysis , New York: Oxford University Press, ISBN 0195100050 Bowman, Durrell S. (2001), K. Holm-Hudson, biên tập, “'Let Them All Make Their Own Music:' Individualism, Rush, and the Progressive/Hard Rock Alloy, 1976-77”, Progressive Rock Reconsidered (Taylor & Francis) Bowman, Durrell Scott (2003), Permanent Change: Rush, Musicians' Rock, and the Progressive Post-Counterculture (PDF) (Dissertation), University of California Los Angeles Braitman, Stephen M H (2011), “Progressive Rock is a World Unto Itself”, Goldmine (Krause Publications), HighBeam Research, truy cập ngày 9 tháng 5 năm 2013 (cần đăng ký mua) Brinn, David (ngày 4 tháng 5 năm 2011), “Still pretty in pink”, Jerusalem Post (Jerusalem Post), HighBeam Research, truy cập ngày 8 tháng 6 năm 2013 (cần đăng ký mua) Brown, Arthur (2008), BBC Prog Rock Britannia: An Observation in Three Movements (Televised interview), BBC Four Browne, David (ngày 18 tháng 8 năm 2011), “In digital age, less is more in album art”, International Herald Tribune (International Herald Tribune), HighBeam Research, truy cập ngày 27 tháng 6 năm 2013 (cần đăng ký mua) Bruford, Bill (2012), Theo Cateforis, biên tập, “Reflections on Progressive Rock”, The Rock History Reader (Routledge) Campbell, Dan (ngày 5 tháng 5 năm 2003a), “The Strawbs unplugged; British band performs tonight at the Birchmere with Pentangle”, The Washington Times (News World Communications, Inc), HighBeam Research., truy cập ngày 12 tháng 5 năm 2013 (cần đăng ký mua) Campbell, Dan (ngày 24 tháng 7 năm 2003b), “Industrious Tree; Diverse threads united in concert at 9:30 Club”, The Washington Times (News World Communications, Inc.), HighBeam Research, truy cập ngày 27 tháng 5 năm 2013 (cần đăng ký mua) Cateforis, Theo (2011), Are We Not New Wave? Modern Pop at the Turn of the 1980s, University of Michigan Press, ISBN 978-0-4721-1555-6 Chappell, Jon; Prown, Pete (tháng 4 năm 2008), “When guitars went gargantuan: a prog rock primer”, Guitar Player (NewBay Media LLC) Christensen, Thor (ngày 7 tháng 7 năm 2004), “Rock music's unsung milestones”, The Dallas Morning News (Knight Ridder/Tribune News Service), HighBeam Research, truy cập ngày 26 tháng 5 năm 2013 (cần đăng ký mua) Clark, William (ngày 25 tháng 8 năm 2012), Ian Crichton Talks About Saga, Guitars, Throwing Shapes and 20/20, guitarinternational.com, truy cập ngày 6 tháng 6 năm 2013 Clayton-Lea, Tony (ngày 6 tháng 11 năm 2006), “Reviews”, The Irish Times (The Irish Times), HighBeam Research, truy cập ngày 28 tháng 5 năm 2013 (cần đăng ký mua) Cleveland, Barry (tháng 6 năm 2003), “Eyes wide open: Robert Fripp and Adrian Belew's vision of the new King Crimson”, Guitar Player (NewBay Media LLC) Cleveland, Barry (tháng 3 năm 2005), “Prog Rock”, Guitar Player (NewBay Media LLC) “Radiohead’s new album proves again that they can be intelligent without being pretentious”, The Colby Echo, Ngày 22 tháng 2 năm 2011, truy cập ngày 9 tháng 5 năm 2013 Cotner, John Sidney (2001), Archetypes of progressiveness in rock, ca. 1966-1973, University of Wisconsin-Madison Covach, John (1997), John Covach; Graeme M. Boone, biên tập, “Progressive Rock, 'Close to the Edge,' and the Boundaries of Style”, Understanding Rock: Essays in Musical Analysis (New York: Oxford University Press) Covach, John (2000), “Echolyn and American progressive rock”, Contemporary Music Review, Informaworld.com 18 (4), truy cập ngày 28 tháng 5 năm 2013 (cần đăng ký mua) Covach, John (2005), “The Hippie Aesthetic: Cultural Positioning and Musical Ambition in Early Progressive Rock” (PDF), Proceedings of the International Conference "Composition and Experimentation in British Rock 1966-1976", truy cập ngày 13 tháng 6 năm 2013 Cowen, Andrew (ngày 24 tháng 3 năm 2001), “Live album of the week”, The Independent (London, England) (Independent Print Ltd), HighBeam Research, truy cập ngày 5 tháng 6 năm 2013 (cần đăng ký mua) Curtis, Jim (1987), Rock Eras: Interpretations of Music and Society, 1954-1984, Bowling Green, OH: Bowling Green State University Popular Press Cutler, Chris (2013), Rock in Opposition, ccutler.com, truy cập ngày 19 tháng 6 năm 2013 Dang, Katy (ngày 11 tháng 6 năm 2008), “Drawing Attention”, Boise Weekly (Boise Weekly), HighBeam Research, truy cập ngày 27 tháng 6 năm 2013 (cần đăng ký mua) DeRogatis, Jim (ngày 4 tháng 10 năm 1993), “Rock 'n' Roll”, Chicago Sun-Times (Sun-Times News Group), HighBeam Research, truy cập ngày 19 tháng 5 năm 2013 (cần đăng ký mua) DeRogatis, Jim (ngày 30 tháng 6 năm 2002), “A British prog-rock band digests the U.S.”, Chicago Sun-Times (Sun-Times News Group), HighBeam Research, truy cập ngày 19 tháng 5 năm 2013 (cần đăng ký mua) DeRogatis, Jim (ngày 18 tháng 5 năm 2005), “Bombastic Mars Volta plays to the pit”, Chicago Sun-Times (Sun-Times News Group), HighBeam Research, truy cập ngày 27 tháng 5 năm 2013 (cần đăng ký mua) Deloro, Joe (tháng 5 năm 1997), “Chimes of Freedom: ringing up The Byrds' jangle guitar sound”, Guitar Player (NewBay Media LLC) Demasi, Vincent (tháng 7 năm 2007), “Dream weaver: Dream Theater's John Petrucci carries the torch of prog-shred guitar into the new millennium”, Guitar Player (NewBay Media LLC) Demasi, Vinnie (tháng 1 năm 2011), “10 Things You Gotta Do to Play like Alex Lifeson”, Guitar Player (NewBay Media LLC) 45 (1) Downie, Ken (tháng 2 năm 2011), “Genesis 1971-1975: The Classic Era”, Goldmine (Krause Publications), HighBeam Research., truy cập ngày 12 tháng 5 năm 2013 (cần đăng ký mua) Duffy, John (ngày 21 tháng 3 năm 2010), “The Moody Blues and the Mellotron”, Sunday News (Lancaster, PA) (Lancaster Newspapers Inc.), HighBeam Research., truy cập ngày 12 tháng 5 năm 2013 (cần đăng ký mua) Evans, Simon (ngày 13 tháng 7 năm 1999), “Ian's return to the court of the Crimson King”, The Birmingham Post (England) (MGN Ltd), HighBeam Research., truy cập ngày 12 tháng 5 năm 2013 (cần đăng ký mua) ew.com (ngày 16 tháng 9 năm 2005), Coheed and Cambria music review, Entertainment Weekly, truy cập ngày 17 tháng 4 năm 2008 Fortner, Stephen (tháng 12 năm 2012), “Jordan Rudess”, Keyboard (NewBay Media LLC) Friedlander, Paul (1998), Rock and Roll: A Social History, Boulder, CO: Westview Press Fripp, Robert (1975), The Young Person's Guide to King Crimson (LP liner notes), EG Records, Ltd Gilbert, Gerard (ngày 7 tháng 3 năm 2009), “Cover versions”, The Independent (London, England) (Independent Print Ltd), HighBeam Research, truy cập ngày 27 tháng 6 năm 2013 (cần đăng ký mua) Gill, Chris (tháng 4 năm 1995), “Prog gnosis: a new generation exhumes the list wisdom of the '70s”, Guitar Player Globe staff (ngày 21 tháng 2 năm 1992), “Second time's the charm for Dregs”, The Boston Globe (The New York Times Company), HighBeam Research., truy cập ngày 22 tháng 6 năm 2013 (cần đăng ký mua) Gottlieb, Jed (ngày 29 tháng 9 năm 2010), “Rebuilding `The Wall'; Roger Waters takes Pink Floyd's enduring epic on tour.”, The Boston Herald (Herald Media, LLC), HighBeam Research, truy cập ngày 11 tháng 5 năm 2013 (cần đăng ký mua) Guarino, Mark (ngày 29 tháng 9 năm 2007), “Genesis turns it on New tour looks back 40 years.”, Daily Herald (Arlington Heights, IL) (Paddock Publications, Inc.), HighBeam Research, truy cập ngày 11 tháng 5 năm 2013 (cần đăng ký mua) Guitar Player staff (tháng 1 năm 1993), “1992 Editors Awards for Lifetime Achievement”, Guitar Player Harrell, Jim (2012), Calprog.com, Calprog.com, truy cập ngày 28 tháng 5 năm 2013 Harrington, J. S. (2003), Sonic Cool: the Life & Death of Rock 'n' Roll, Milwaukee, WI: Hal Leonard Corporation, ISBN 0-634-02861-8 Hegarty, Paul; Halliwell, Martin (2011), Beyond and Before: Progressive Rock Since the 1960s, New York: The Continuum International Publishing Group, ISBN 978-0-8264-2332-0 Hochman, Steve (ngày 26 tháng 8 năm 1992), “That 'Pretentious' Trio ELP Is Back on the Rock Scene”, Los Angeles Times, truy cập ngày 23 tháng 6 năm 2013 Hogg, Brian (tháng 11 năm 1994), “1-2-3 and the Birth of Prog”, Mojo (BBC/Guinness Publishing) Howe, Brian (ngày 5 tháng 9 năm 2007), “The prog lifts”, Indy Week (The Independent Weekly), HighBeam Research., truy cập ngày 13 tháng 6 năm 2013 (cần đăng ký mua) Imbrogno, Douglas (ngày 23 tháng 8 năm 2001), “Stick Figure: Greg Howard one of a handful of international figures who Stick with it”, The Charleston Gazette (Charleston, WV) (McClatchy-Tribune Information Services), HighBeam Research., truy cập ngày 9 tháng 5 năm 2013 (cần đăng ký mua) “Tapestry: More King Crimson Than Carole King”, Indy Week (The Independent Weekly), HighBeam Research, Ngày 4 tháng 6 năm 2003, truy cập ngày 13 tháng 6 năm 2013 (cần đăng ký mua) Ingram, David (2007), “'Go to the forest and move’: 1960s American Rock Music as Electronic Pastoral” (PDF), 49th Parallel , Vol. 20 Johnston, Andrew (ngày 30 tháng 3 năm 2013), “It's only rock 'n' roll, but the fans still like it”, Belfast Telegraph (Independent News & Media PLC), HighBeam Research, truy cập ngày 27 tháng 5 năm 2013 (cần đăng ký mua) Jones, Chris (2007), Emerson, Lake and Palmer From The Beginning (Review), BBC Music, truy cập ngày 3 tháng 7 năm 2013 Karnick, S. T. (tháng 8 năm 2003), “Roll over Sibelius”, The American Spectator (The American Spectator), HighBeam Research., truy cập ngày 28 tháng 5 năm 2013 (cần đăng ký mua) Kava, Brad (ngày 15 tháng 7 năm 2002), “Progressive rock's Yes: band of a thousand chances”, San Jose Mercury News (McClatchy-Tribune Information Services), HighBeam Research, truy cập ngày 9 tháng 5 năm 2013 (cần đăng ký mua) Lake, Greg (1975), Robert Fripp, biên tập, “Interviewed by Nick Logan in New Musical Express”, The Young Person's Guide to King Crimson (LP liner notes) (EG Records, Ltd.) Lien, Tracey (ngày 14 tháng 2 năm 2013), Outside the Box: The Story of Roger Dean, polygon.com, truy cập ngày 27 tháng 6 năm 2013 Livgren, Kerry (1977), “Miracles Out of Nowhere”, Leftoverture (Sheet music) (New York: Warner Bros. Publications) Lucky, Jerry (2000), Progressive Rock, Burlington, Ontario: Collector's Guide Publishing, Inc. Macan, Edward (1997), Rocking the Classics: English Progressive Rock and the Counterculture, Oxford: Oxford University Press, ISBN 0-19-509887-0 Martin, Bill (1996), Music of Yes: Structure and Vision in Progressive Rock, Chicago: Open Court Martin, Bill (1998), Listening to the Future: The Time of Progressive Rock, Chicago: Open Court, ISBN 0-8126-9368-X Martin, Bill (2002), Avant Rock: Experimental Music from the Beatles to Bjork, Chicago: Open Court Martinez, Gerald (ngày 7 tháng 7 năm 2002), “Totally Tull”, Sunday Mail (The New Straits Times Press), HighBeam Research, truy cập ngày 11 tháng 5 năm 2013 (cần đăng ký mua) Maske, Dan (2007), Progressive Rock Keyboard, Milwaukee, WI: Hal Leonard Corporation McNair, James (ngày 30 tháng 4 năm 2013), “Slow progress, but Rush's hour is here at last”, The Independent (London, England) (Independent Print Ltd), HighBeam Research, truy cập ngày 18 tháng 5 năm 2013 (cần đăng ký mua) Miers, Jeff (ngày 15 tháng 8 năm 2004), “Still a Rush; Canadian Progressive-Rock Trio Remains Energized after Three Decades”, The Buffalo News (Buffalo, NY) (Dialog LLC), HighBeam Research, truy cập ngày 10 tháng 5 năm 2013 (cần đăng ký mua) Miles, Barry (1999), “An Interview with Ed Sanders-ngày 1 tháng 10 năm 1968”, The Review of Contemporary Fiction 19 (1) Modern Drummer staff (tháng 7 năm 2012), “Modern Drummer 2012 Readers Poll Winners”, Modern Drummer Moon, Tom (ngày 2 tháng 10 năm 2000), “Highly anticipated followup to `OK Computer' goes in a different direction”, Knight Ridder/Tribune News Service (McClatchy-Tribune Information Services), HighBeam Research, truy cập ngày 18 tháng 5 năm 2013 (cần đăng ký mua) Moore, Allan (2004), Jethro Tull's Aqualung, Bloomsbury Publishing, ISBN 978-1-4411-1315-3 Novara, Vincent J. (ngày 7 tháng 2 năm 2013), Romantic Warriors II: A Progressive Music Saga about Rock in Opposition (Book Review), truy cập ngày 19 tháng 6 năm 2013 “Mothers of Invention Inventor Dead at 52”, NPR Morning Edition (National Public Radio), HighBeam Research, Ngày 6 tháng 12 năm 1993, truy cập ngày 26 tháng 5 năm 2013 (cần đăng ký mua) O'Brien, Lucy (1999), Sounds of the Psychedelic Sixties, britannica.com, truy cập ngày 18 tháng 6 năm 2013 Palmer, Carl (2008), BBC Prog Rock Britannia: An Observation in Three Movements (Televised interview), BBC Four Perrone, Pierre (ngày 16 tháng 9 năm 2011), “Betty Thatcher”, The Independent (London, England) (Independent Print Ltd), HighBeam Research, truy cập ngày 9 tháng 5 năm 2013 (cần đăng ký mua) Pirenne, Christophe (2005), “The Role of the Media in the Emergence of Progressive Rock”, Proceedings of the International Conference "Composition and Experimentation in British Rock 1966-1976, truy cập ngày 27 tháng 6 năm 2013 Price, Stuart (ngày 22 tháng 3 năm 2003), “Books: Pick of the week Gerald Scarfe Tue Arts Centre, Stamford”, The Independent (London, England) (Independent Print Ltd), HighBeam Research, truy cập ngày 11 tháng 5 năm 2013 (cần đăng ký mua) Ragogna, Mike (2013), Breakfast in America: A Conversation with Supertramp's Roger Hodgson, rogerhodgson.com, truy cập ngày 13 tháng 6 năm 2013 Rees, David; Webb, Martin (1988), 20 Years of Jethro Tull (CD liner notes), Chrysalis Records Limited Regen, Jon (tháng 12 năm 2012), “Jon Lord”, Keyboard (NewBay Media LLC) Reid, Gordon (tháng 12 năm 2001), “PROG SPAWN! The Rise And Fall Of Rocky Mount Instruments”, Sound on Sound (Sound on Sound Ltd), truy cập ngày 13 tháng 6 năm 2013 Riley, Glenn (2004), Progressive Rock Guitar: A Guitarist's Guide to the Styles and Techniques of Art Rock, Alfred Music Publishing Romano, Will (tháng 4 năm 2013), “A Different View: Steve Hackett”, Modern Drummer (Modern Drummer Publications Inc) Rosfest staff (2013), RoSfest.com, truy cập ngày 28 tháng 5 năm 2013 Santella, Jim (ngày 6 tháng 9 năm 1993), “Over the weekend, Jethro Tull, one of the '70s super-groups, headed the weekend lineup with a performance in the Darien Lake Performing Arts Center. The same night, George Carlin, a veteran comedian whose heritage goes back even further, delivered his satire to the crowd in Melody Fair”, The Buffalo News (Buffalo, NY) (Dialog LLC), HighBeam Research, truy cập ngày 11 tháng 5 năm 2013 (cần đăng ký mua) Sarig, Roni (1998), The Secret History of Rock: The Most Influential Bands You\'ve Never Heard, Crown Publishing Group Scivales, Riccardo (tháng 10 năm 2008), “Odd Meters in Prog Music”, Piano Today (Keyboard Classics Inc.) Serpick, Evan (ngày 9 tháng 5 năm 2005a), Prog Rocks Again, Entertainment Weekly Serpick, Evan (ngày 5 tháng 5 năm 2005b), For New-Prog Hogs, Entertainment Weekly, truy cập ngày 6 tháng 12 năm 2009 Sharbutt, Jay (ngày 7 tháng 12 năm 1988), “Phil Collins returns to acting”, Chicago Sun-Times (Sun-Times News Group), HighBeam Research., truy cập ngày 22 tháng 6 năm 2013 (cần đăng ký mua) Sheinbaum, John J (tháng 6 năm 2004), “Mainlines, Blood Feasts, and Bad Taste: A Lester Bangs Reader”, Notes (Music Library Association), HighBeam Research, truy cập ngày 3 tháng 7 năm 2013 (cần đăng ký mua) Sherwin, Adam (ngày 18 tháng 8 năm 2012), “The sound that goes on and on...”, The Independent (London, England) (Independent Print Ltd), HighBeam Research, truy cập ngày 29 tháng 5 năm 2013 (cần đăng ký mua) Shuker, Roy (2002), Popular Music: The Key Concepts, London: Routledge Sweers, Britta (2004), Electric Folk: The Changing Face of English Traditional Music, New York: Oxford University Press Tamm, Eric (1990), “Chapter Three: Fripp the Listener”, Robert Fripp: From crimson king to crafty master , Faber and Faber, ISBN 0-571-16289-4, truy cập ngày 5 tháng 6 năm 2013 Tamm, Eric (9 tháng 5 năm 1990), “Eight: Out of Retirement - The Drive to 1981”, Robert Fripp: From crimson king to crafty master , Faber and Faber, ISBN 0-571-16289-4, truy cập ngày 13 tháng 6 năm 2013 Tamm, Eric (1995), Brian Eno: His Music and the Vertical Color of Sound, Da Capo Press, ISBN 0-306-80649-5 Thrills, Adrian (ngày 3 tháng 3 năm 2006), “Daddy cool gives Jets their lift-off”, Daily Mail (London) (McClatchy-Tribune Information Services), HighBeam Research, truy cập ngày 28 tháng 5 năm 2013 (cần đăng ký mua) Thrills, Adrian (ngày 9 tháng 7 năm 2010), “Spinal Tap? we're the real kings of prog rock”, Daily Mail (London) (McClatchy-Tribune Information Services), HighBeam Research, truy cập ngày 11 tháng 5 năm 2013 (cần đăng ký mua) Vail, Mark (2000), Keyboard Magazine Presents Vintage Synthesizers: Pioneering Designers, Groundbreaking Instruments, Collecting Tips, Mutants of Technology, Cupertino, CA: Backbeat Books Wakeman, Rick (ngày 16 tháng 8 năm 2008), Yes, we were the original Spinal Tap, says Rick Wakeman of Seventies prog-rock supergroup, The Daily Mail Online, truy cập ngày 14 tháng 6 năm 2013 Wakeman, Rick (2011), “Rick Wakeman” (PDF), Upbeat: The Magazine for the Royal College of Music (Interview) (Royal College of Music) Webb, Robert (ngày 11 tháng 4 năm 2008), “The Good Earth' Manfred Mann's Earth Band (1974)”, The Independent (London, England) (Independent Print Ltd), HighBeam Research, truy cập ngày 5 tháng 6 năm 2013 (cần đăng ký mua) Weigel, David (ngày 14 tháng 8 năm 2012a), Prog Spring: Entry 1: Before it was a joke, prog was the future of rock ‘n’ roll, Slate.com, truy cập ngày 22 tháng 6 năm 2013 Weigel, David (ngày 14 tháng 8 năm 2012b), Prog Spring: Entry 2: The rise of prog, music never meant for "the average person", Slate.com, truy cập ngày 5 tháng 1 năm 2014 Weigel, David (ngày 16 tháng 8 năm 2012d), Prog Spring: Entry 4: Rick Wakeman, Yes, and the insane excess that doomed prog, Slate.com, truy cập ngày 22 tháng 6 năm 2013 Weigel, David (ngày 17 tháng 8 năm 2012e), Prog Spring: Entry 5: Prog Lives!, Slate.com, truy cập ngày 22 tháng 6 năm 2013 White, Paul (tháng 12 năm 2006), “Vocal FX”, Sound on Sound (Sound on Sound Ltd), truy cập ngày 13 tháng 6 năm 2013 Whitehead, Paul (2013), Genesis & Record Covers, paulwhitehead.com, truy cập ngày 27 tháng 6 năm 2013 Williams, Wheat (tháng 3 năm 2000), “Heroes: Steve Howe”, Guitar Player (NewBay Media LLC) Windsor, John (ngày 29 tháng 5 năm 1994), “Collectables”, The Independent (London, England) (Independent Print Ltd), HighBeam Research, truy cập ngày 27 tháng 6 năm 2013 (cần đăng ký mua) Zaillian, Charlie (ngày 15 tháng 2 năm 2013), “Coheed and Cambria set to (prog) rock Showbox SoDo”, The Seattle Times (Seattle, WA) (The Seattle Times), HighBeam Research, truy cập ngày 29 tháng 5 năm 2013 (cần đăng ký mua) Zak, Albin J. (tháng 12 năm 2002), “Progressive Rock Reconsidered”, Notes (Book Review) (Music Library Association), HighBeam Research., truy cập ngày 6 tháng 6 năm 2013 (cần đăng ký mua) == Đọc thêm == Lucky, Jerry. The Progressive Rock Files. Burlington, Ontario: Collector's Guide Publishing, Inc (1998), 304 pages, ISBN 1-896522-10-6 (paperback). Gives an overview of progressive rock's history as well as histories of the major and underground bands in the genre. Lucky, Jerry. The Progressive Rock Handbook. Burlington, Ontario: Collector's Guide Publishing, Inc. (2008), 352 pages, ISBN 978-1-894959-76-6 (paperback). Reviews hundreds of progressive rock bands and lists their recordings. Also provides an updated overview, similar to The Progressive Rock Files. Snider, Charles. The Strawberry Bricks Guide To Progressive Rock. Chicago, Ill.: Lulu Publishing (2008) 364 pages, ISBN 978-0-615-17566-9 (paperback). A veritable record guide to progressive rock, with band histories, musical synopses and critical commentary, all presented in the historical context of a timeline. Stump, Paul. The Music's All That Matters: A History of Progressive Rock. London: Quartet Books Limited (1997), 384 pages, ISBN 0-7043-8036-6 (paperback). Smart telling of the history of progressive rock focusing on English bands with some discussion of American and European groups. Takes you from the beginning to the early 1990s. Weingarten, Marc. Yes Is The Answer: (And Other Prog-Rock Tales). Barnacle Book/Rare Bird Books (2013), 280 pages, ISBN 9780985490201. Defense of the genre.
tacitus.txt
Tacite (Tên La Mã đầy đủ là Publius Cornelius Tacitus) là nhà sử gia người La Mã nổi tiếng nhất của nhân loại, sống vào thế kỉ thứ 1. == Cuộc đời == Ông sinh vào năm 58 và mất năm 120. Ông xuất thân trong một gia đình có truyền thống hiệp sĩ lâu đời và ngay từ nhỏ đã được gia đình hướng theo học Luật. Lúc bấy giờ, ông là học trò của nhiều nhà hùng biện nổi tiếng của La Mã. Sau khi trở thanh một luật sư xuất sắc, ông kết hôn với con gái của nhà cầm quyền cao cấp Julius Agricola vào năm 77. Từ đó, con đường danh vọng của ông đã rộng mở. Tacite là một người được rất nhiều tầng lớp trí thức ngưỡng mộ và nể phục bởi tài năng và trí tuệ siêu phàm của ông. == Sự nghiệp == Vào năm 78, ông được cử làm quan cai quản về Tài chính (năm 78), sau đó là Pháp quan (năm 88) và Tổng tài (năm 97). Thời gian này, ông bắt đầu viết sách, đó là những tác phẩm về thơ ca, luận văn rất đặc sắc và có giá trị. Nhưng đến nay hầu hết các tác phẩm đã bị thất lạc. Tác phẩm tiêu biểu của ông như là Đối thoại giữa những nhà hùng biện ghi lại cuộc tranh luận của Maternus Aper và Messala xung quanh lợi ích của thi ca và hùng biện. Sau đó là tác phẩm Julius Agricola kể về cuộc đời và công việc cai quản của chính người cha vợ của ông. Lần lượt sau đó là tác phẩm Biên niên sử ghi chép lại những biến cố xảy ra trong 54 năm, rồi Lịch sử hiện đại ghi lại lịch sử La Mã từ năm 68 đến năm 96. Ngoài ra là nhiều bộ sử ký ghi chép khác nhưng đều thất lạc hoặc không còn đầy đủ. Các sự kiện ghi chép của ông đều tôn trọng sự thật, không hề bao che những tội ác của nhân vật đương thời hay những bất công trong xã hội đều được ông ghi chép rất chân thật. Đây là kết quả của sự tìm tòi, nghiên cứu các bút ký, sách và tham khảo ý kiến của nhiều nhà sử gia, nhân chứng để tổng hợp thành những tác phẩm hoàn hảo. Nhiều nhà phê bình văn học và sử gia đương đại coi ông là Một nhà sử gia vĩ đại và lỗi lạc nhất của nhân loại. Ngoài khả năng về ghi chép sử học, ông còn là một nhà văn đầy tài năng với những tác phẩm văn thơ được đánh giá cao lúc bấy giờ. == Xem thêm == Tacite, Œuvres complètes, traduction de Pierre Grimal, Gallimard, coll. "Pléiade", Paris, 1990, ISBN 2070111768 Tacite, Œuvres, dans la traduction de Nicolas Perrot d'Ablancourt, édition établie par Jean Pietri et Eric Pesty, volume relié, Paris, éditions Ivrea, 2004 Tacite, La Germanie. Trad. en ligne [1] Tacite, Les Annales, éd. Flammarion, coll. Garnier Flammarion/Littérature étrangère, 1999, ISBN 2-08-070071-5. Trad. en ligne Les Annales Tacite, Histoires, texte établi et traduit par P. Wuilleumier et H. Le Bonniec, annoté par J. Hellegouarch (3 volumes), CUF, Paris, 1987-1992. Trad. en ligne [2] == Tham khảo == Từ điển Danh nhân thế giới, Nhà xuất bản Giáo dục năm 2004 == Tham khảo ==
vương quốc liên hiệp anh và bắc ireland.txt
Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland hay Liên hiệp Vương quốc Anh và Bắc Ireland (tiếng Anh: United Kingdom of Great Britain and Northern Ireland; phát âm tiếng Anh: /ɡreɪt ˈbrɪt(ə)n ənd ˈnɔːð(ə)n ˈʌɪələnd/), thường gọi tắt là Vương quốc Anh hoặc Anh Quốc (tiếng Anh: United Kingdom), là một quốc gia có chủ quyền tại châu Âu. Quốc gia này nằm tại ngoài khơi đại lục châu Âu, bao gồm đảo Anh và phần đông bắc của đảo Ireland, cùng nhiều đảo nhỏ. Bắc Ireland là bộ phận duy nhất của Vương quốc Liên hiệp Anh có một biên giới trên bộ với quốc gia khác: Cộng hòa Ireland. Ngoài biên giới trên bộ này, bao quanh Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland là Đại Tây Dương, trong đó biển Bắc tại phía đông và eo biển Manche tại phía nam. Biển Ireland nằm giữa đảo Anh và đảo Ireland. Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland có diện tích 243.610 km², là quốc gia có chủ quyền rộng thứ 78 trên thế giới và rộng thứ 11 tại châu Âu. Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland là quốc gia đông dân thứ 22 trên thế giới, với khoảng 64,1 triệu cư dân. Đây là một quốc gia quân chủ lập hiến với một thể chế đại nghị trong cai trị. Thủ đô Luân Đôn là một thành phố toàn cầu và là trung tâm tài chính, cũng là khu vực đô thị lớn thứ tư tại châu Âu. Quân chủ hiện nay là Nữ vương Elizabeth II. Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland gồm bốn quốc gia: Anh (England), Scotland, Wales, và Bắc Ireland. Ba quốc gia sau được trao quyền cai trị, Guernsey, Jersey, và đảo Man không phải là bộ phận của Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland, các lãnh thổ này là vùng tự trị, thuộc địa hoàng gia và Chính phủ Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland chịu trách nhiệm về quốc phòng và đại diện quốc tế. Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland cũng có 14 lãnh thổ hải ngoại, các lãnh thổ đang tranh chấp là quần đảo Falkland, Gibraltar, và Lãnh thổ Ấn Độ Dương. Quan hệ giữa các quốc gia trong Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland biến hóa theo thời gian. Wales được hợp nhất vào Vương quốc Anh theo các Đạo luật Liên Minh vào năm 1536 và 1543. Một hiệp định giữa Anh và Scotland có kết quả là một Vương quốc Anh thống nhất vào năm 1707, đến năm 1801 thì vương quốc này hợp nhất với Vương quốc Ireland để hình thành Vương quốc Liên hiệp Anh và Ireland. Năm 1922, 5/6 lãnh thổ Ireland ly khai khỏi Vương quốc Liên hiệp, để lại Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland như hiện nay. Các lãnh thổ hải ngoại của Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland nguyên là những thuộc địa, chúng là tàn dư của Đế quốc Anh từng bao phủ gần một phần tư đại lục trên thế giới vào cuối thế kỷ 19 và đầu thế kỷ 20 và là đế quốc lớn nhất trong lịch sử. Ảnh hưởng của Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland có thể nhận thấy trong ngôn ngữ, văn hóa, hệ thống tư pháp của nhiều cựu thuộc địa. Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland là một quốc gia phát triển, có kinh tế lớn thứ năm thế giới theo GDP danh nghĩa và lớn thứ 10 theo sức mua tương đương. Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland được nhận định là có một kinh tế thu nhập cao và được phân loại là rất cao theo Chỉ số phát triển con người. Đây là quốc gia công nghiệp hóa đầu tiên trên thế giới và cường quốc đứng đầu thế giới trong thế kỷ 19 và đầu thế kỷ 20. Ngày nay, Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland vẫn là một đại cường quốc, với các ảnh hưởng đáng kể về kinh tế, văn hóa, quân sự, khoa học, và chính trị trên quy mô quốc tế. Đây là một quốc gia vũ khí hạt nhân được công nhận và xếp hạng 5 hay 6 về chi tiêu quân sự trên thế giới. Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland là một thành viên thường trực trong Hội đồng Bảo an Liên Hiệp Quốc kể từ phiên họp đầu tiên của cơ cấu vào năm 1946. Quốc gia này cũng là thành viên của Thịnh vượng chung các Quốc gia, G7, G8, G20, NATO, OECD, và WTO. == Tên gọi == Liên hiệp Vương quốc Anh và Bắc Ireland (The United Kingdom of Great Britain and Northern Ireland) có nhiều tên gọi cho một quốc gia, nhiều tên gọi khác nhau cho những thực thể khác nhau song thường bị dùng nhầm lẫn một cách phổ biến với từ England và Great Britain: England: Anh quốc, nước Anh. Great Britain (còn gọi là Britain): Liên hiệp Anh, bao gồm England, Wales và Scotland. Tên này lần đầu tiên được dùng vào năm 1707 khi đạo luật hợp nhất Scotland với England và Wales ra đời. Đúng ra thì Great Britain chỉ là một khu vực địa lý chỉ hòn đảo lớn mà nó được chia thành England, Wales và Scotland; và mặc dù đã được hợp nhất, nhưng Great Britain hay Britain thực chất chỉ là một liên hiệp giữa 3 thực thể này. Tên gọi ngắn gọn: The United Kingdom, The UK. The United Kingdom gồm England, Wales, Scotland và Ireland được thành lập vào năm 1801; đến năm 1922, Nam Ireland tách ra và năm 1949 thì trở thành một nước cộng hòa độc lập với tên gọi Cộng hòa Ireland. Đã từ lâu người ta thường dùng England một cách nhầm lẫn để chỉ Britain và cả the United Kingdom; và hiện nay Great Britain và the United Kingdom được dùng để chỉ cùng một thực thể - tuy nhiên, đây chỉ là cách gọi không chính thức. Trong tiếng Việt, liên hiệp này thường được gọi theo lối lấy tên gọi của bộ phận để nói đến chỉnh thể là Anh hoặc Anh quốc. Cách gọi này bắt nguồn từ Trung Quốc. Anh (Trung văn: 英) và Anh quốc (giản thể: 英国; phồn thể: 英國) là giản xưng của Anh Cát Lợi (英吉利) và Anh Cách Lan (giản thể: 英格兰; phồn thể: 英格蘭), vốn đều là tên dịch âm Trung văn của quốc hiệu "England". Do Anh có vai trò và ảnh hưởng to lớn trong quá trình hình thành và phát triển của Vương quốc Liên hiệp Anh và Ireland và sau đó là Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland nên Anh được nhiều người xem là chủ thể của các vương quốc liên hiệp đó. Cho đến hiện nay trong tiếng Trung Quốc, tiếng Nhật, tiếng Triều Tiên và tiếng Việt "Anh quốc" vẫn là tục xưng thường gặp của Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland. Do trong tiếng Việt "Anh" không chỉ được dùng để chỉ Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland mà còn được dùng để dịch các tên gọi "England" và "Britain" nên dễ nảy sinh sự nhầm lẫn, khó phân biệt, khó khăn trong dịch thuật. == Lịch sử == === Trước 1707 === Người hiện đại ban đầu châu Âu đến định cư tại khu vực nay là Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland trong các làn sóng bắt đầu từ khoảng 30.000 năm trước. Đến khi kết thúc thời kỳ tiền sử trong khu vực, cư dân được nhận định chủ yếu thuộc về một nền văn hóa được đặt tên là Celt Đảo, gồm người Briton tại đảo Anh và người Gael tại Ireland. Người La Mã bắt đầu chinh phục đảo Anh vào năm 43 CN, và cai trị miền nam đảo Anh trong 400 năm, tiếp theo là một cuộc xâm chiếm của những người định cư Anglo-Saxon thuộc chủng Germain, thu nhỏ khu vực của người Briton còn chủ yếu là Wales ngày nay và Vương quốc Strathclyde. Hầu hết khu vực mà người Anglo-Saxon định cư thống nhất thành Vương quốc Anh (England) trong thế kỷ 10. Trong khi đó, những người nói tiếng Gael tại tây bắc đảo Anh (có liên hệ với đông bắc của Ireland và theo truyền thống được cho là di cư từ đó từ thế kỷ 5) hợp nhất với người Pict để hình thành Vương quốc Scotland trong thế kỷ 9. Năm 1066, người Norman từ Pháp xâm chiếm Anh và sau cuộc chinh phục này, người Norman chiếm phần lớn Wales, chinh phục hầu hết Ireland và được mời đến định cư tại Scotland, đem đến mỗi quốc gia chế độ phong kiến theo mô hình miền bắc Pháp và văn hóa Norman-Pháp. Tầng lớp quý tộc Norman có ảnh hưởng rất lớn, song cuối cùng bị đồng hóa vào mỗi văn hóa địa phương. Sau đó, các quốc vương Anh thời Trung Cổ hoàn thành chinh phục Wales và tiến hành một nỗ lực bất thành nhằm thôn tính Scotland. Sau đó, Scotland duy trì vị thế độc lập của bản thân, song xảy ra xung đột gần như liên tục với Anh. Các quân chủ Anh thừa kế các lãnh thổ tại Pháp và yêu sách vương vị Pháp, tham dự cao độ trong các xung đột tại Pháp, đáng chú ý nhất là Chiến tranh Trăm Năm, trong khi các quốc vương của người Scot nằm trong một liên minh với Pháp trong thời kỳ này. Trong thời kỳ hiện đại ban đầu, diễn ra xung đột tôn giáo do kết quả từ Cải Cách và đưa Tin Lành làm quốc giáo tại mỗi quốc gia. Wales hoàn toàn được hợp nhất vào Vương quốc Anh, và Ireland trở thành một vương quốc có liên minh cá nhân với quân chủ Anh. Tại khu vực mà nay là Bắc Ireland, đất của những quý tộc Gael theo Công giáo độc lập bị tịch thu và trao cho những người định cư Tin Lành từ Anh và Scotland. Năm 1603, các vương quốc Anh, Scotland và Ireland được thống nhất trong một liên minh cá nhân khi Quốc vương của người Scot là James VI kế vị vương vị của Anh và Ireland và chuyển triều đình của mình từ Edinburgh đến Luân Đôn; tuy vậy mỗi quốc gia duy trì vị thế một thực thể chính trị riêng biệt và duy trì các cơ cấu chính trị, lập pháp, và tôn giáo riêng biệt. Đến giữa thế kỷ 17, toàn bộ ba vương quốc đều tham dự trong một loạt chiến tranh liên tiếp (trong đó có Nội chiến Anh) dẫn đến lật đổ tạm thời chế độ quân chủ và thiết lập cộng hòa nhất thể đoản mệnh là Thịnh vượng chung Anh, Scotland và Ireland. Mặc dù chế độ quân chủ được khôi phục, song được đảm bảo (với Cách mạng Vinh Quang năm 1688) rằng, không giống với phần còn lại của châu Âu, chính thể chuyên chế vương thất sẽ không được lưu hành, và một người Công giáo công khai có thể không bao giờ được ngồi lên vương vị. Hiến pháp Anh Quốc sẽ phát triển trên cơ sở chế độ quân chủ lập hiến và thể chế đại nghị. Trong thời kỳ này, đặc biệt là tại Anh, sự phát triển năng lực hải quân dẫn đến việc thâu tóm và định cư tại các thuộc địa hải ngoại, đặc biệt là tại Bắc Mỹ. === Sau năm 1707 === Ngày 1 tháng 5 năm 1707, Vương quốc Anh (Great Britain) được hình thành, là kết quả của các Đạo luật Liên Minh do quốc hội của Anh và Scotland thông qua nhằm phê chuẩn Hiệp định Liên Minh và do đó hợp nhất hai vương quốc. Một loại cuộc nổi dậy Jacobite nhằm loại bỏ gia tộc Hannover Tin Lành khỏi vương vị Anh Quốc và khôi phục gia tộc Stuart Công giáo. Phe Jacobite cuối cùng thất bại trong trận Culloden vào năm 1746, sau đó những người Scot vùng cao bị đàn áp tàn nhẫn. Các thuộc địa của Anh Quốc tại Bắc Mỹ ly khai trong Cách mạng Mỹ để trở thành Hợp chúng quốc Hoa Kỳ vào năm 1782. Thạm vọng đế quốc của Anh chuyển sang những nơi khác, đặc biệt là Ấn Độ. Thuật ngữ 'Vương quốc Liên hiệp' được chính thức hóa vào năm 1801 khi các quốc hội của Anh Quốc và Ireland thông qua các Đạo luật Liên Minh, thống nhất hai vương quốc và thiết lập Vương quốc Liên hiệp Anh và Ireland. Đến đầu thế kỷ 19, Cách mạng công nghiệp do Vương quốc Liên hiệp Anh và Ireland dẫn đầu bắt đầu biến đổi quốc gia. Cách mạng dần khiến quyền lực chính trị rời xa các tầng lớp địa chủ Tory và Whig cũ để hướng về những nhà tư bản công nghiệp mới. Một liên minh của giới công thương với phe Whig dẫn đến hình thành phe Tự do, với tư tưởng mậu dịch tự do và vô can thiệp. Năm 1832, Quốc hội thông qua Đạo luật Đại cải cách, bắt đầu chuyển giao quyền lực chính trị từ tầng lớp quý tộc cho giai cấp trung lưu. Tại nông thôn, phong trào rào đất đẩy những nông dân nhỏ rời đi. Dân số thành thị bắt đầu tăng lên với một tầng lớp lao động đô thị mới. Rất ít công nhân bình thường có quyền bỏ phiếu và họ thiết lập các tổ chức của bản thân theo hình thức công đoàn. Sau khi đánh bại Pháp trong Cách mạng Pháp và Các cuộc chiến tranh của Napoléon (1792–1815), Vương quốc Liên hiệp Anh và Ireland nổi lên thành cường quốc hải quân và đế quốc chủ yếu trong thế kỷ 19 (với Luân Đôn là đô thị lớn nhất thế giới từ khoảng 1830). Vương quốc Liên hiệp Anh và Ireland không bị thách thức trên biển, ưu thế của họ về sau được mô tả là Pax Britannica (Hòa bình Anh). Thời điểm diễn ra Đại Triển lãm năm 1851, Vương quốc Liên hiệp Anh và Ireland được mô tả là "công xưởng của thế giới". Đế quốc Anh được khoách trương, gồm có Ấn Độ, nhiều bộ phận tại châu Phi và các lãnh thổ khác trên toàn thế giới. Bên cạnh kiểm soát chính thức các thuộc địa, Vương quốc Liên hiệp Anh và Ireland còn kiểm soát có hiệu quả kinh tế của nhiều quốc gia như Đại Thanh, Argentina và Xiêm La. Tại nội địa, quan điểm chính trị ủng hộ các chính sách mậu dịch tự do và vô can thiệp và dần mở rộng quyền bầu cử. Trong thế kỷ này, dân số gia tăng với tốc độ mạnh mẽ, kèm theo là đô thị hóa nhanh chóng, gây nên các áp lực nghiêm trọng về xã hội và kinh tế. Sau năm 1875, thế độc quyền công nghiệp của Vương quốc Liên hiệp Anh và Ireland bị Đức và Hoa Kỳ thách thức. Nhằm tìm kiếm các thị trường và nguồn cung nguyên liệu thô mới, Đảng Bảo thủ dưới quyền Benjamin Disraeli khởi đầu một thời kỳ khoách trương đế quốc tại Ai Cập, Nam Phi và những nơi khác. Canada, Úc và New Zealand trở thành các quốc gia tự quản. Vương quốc Liên hiệp Anh và Ireland cùng với Pháp, Nga và (sau 1917) Hoa Kỳ chiến đấu với Đức và đồng minh của nước này trong Chiến tranh thế giới thứ nhất (1914–18). Các lực lượng vũ trang Vương quốc Liên hiệp Anh và Ireland chiến đấu trên hầu hết Đế quốc Anh và một số khu vực của châu Âu, đặc biệt là Mặt trận phía Tây. Sau Chiến tranh, Vương quốc Liên hiệp Anh và Ireland tiếp nhận ủy thác của Hội Quốc Liên đối với một số cựu thuộc địa của Đức và Ottoman. Đế quốc Anh đạt đến quy mô cực đại, bao trùm một phần năm bề mặt lãnh thổ và một phần tư dân số thế giới. Tuy nhiên, Vương quốc Liên hiệp Anh và Ireland chịu tổn thất 2,5 triệu thương vong và kết thúc chiến tranh với nợ quốc gia khổng lồ. Sự trỗi dậy của chủ nghĩa dân tộc Ireland và các tranh chấp nội bộ của Ireland về các điều khoản tự trị địa phương cuối cùng dẫn đến phân chia đảo vào năm 1921, và Quốc gia Tự trị Ireland được độc lập với địa vị quốc gia tự trị vào năm 1922. Bắc Ireland duy trì là bộ phận của Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland. Một làn sóng đình công vào giữa thập niên 1920, đỉnh điểm là tổng đình công Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland năm 1926. Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland vẫn không khôi phục sau các tác động của chiến tranh khi Đại khủng hoảng (1929–32) diễn ra, dẫn đến tỷ lệ thất nghiệp cao và khó khăn tại các khu vực công nghiệp cũ, cũng như các bất ổn chính trị và xã hội trong thập niên 1930. Một chính phủ liên minh được hình thành vào năm 1931. Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland tham gia Chiến tranh thế giới thứ hai khi tuyên chiến với Đức vào năm 1939. Đến năm 1940, Winston Churchill trở thành thủ tướng và đứng đầu một chính phủ liên minh. Bất chấp thất bại của các đồng minh tại châu Âu trong năm đầu chiến tranh, Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland tiếp tục đơn độc chiến đấu chống Đức. Sau khi Đức chiến bại, Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland trở thành một trong ba cường quốc tụ họp nhằm dự tính về thế giới hậu chiến; trở thành một trong năm thành viên thường trực của Hội đồng Bảo an Liên Hiệp Quốc. Tuy nhiên, thế chiến khiến Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland suy yếu nghiêm trọng và phụ thuộc về tài chính vào viện trợ Marshall và các khoản vay từ Hoa Kỳ. Ngay sau thế chiến, chính phủ của Công đảng khởi xướng một chương trình cải cách triệt để, có tác động đáng kể đến xã hội Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland trong các thập niên sau. Các ngành công nghiệp chủ yếu và tiện ích công cộng được quốc hữu hóa, hình thành một nhà nước phúc lợi, và một hệ thống y tế toàn diện nhận tài trợ công được thiết lập mang tên Dịch vụ y tế quốc dân. Sự trỗi dậy của chủ nghĩa dân tộc tại các thuộc địa diễn ra đồng thời với vị thế kinh tế của Anh bị suy yếu đi nhiều, do đó một chính sách phi thuộc địa hóa là không thể tránh khỏi. Độc lập được trao cho Ấn Độ và Pakistan vào năm 1947. Trong ba thập niên sau đó, hầu hết thuộc địa trong Đế quốc Anh giành được độc lập, nhiều cựu thuộc địa trở thành thành viên của Thịnh vượng chung các Quốc gia. Mặc dù Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland là quốc gia thứ ba phát triển vũ khí hạt nhân, song các hạn chế mới trong vị thế quốc tế của Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland thời hậu chiến được thấy rõ trong khủng hoảng kênh đào Suez năm 1956. Sự truyền bá ở quy mô quốc tế của tiếng Anh giúp văn học và văn hóa Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland đảm bảo tiếp tục có ảnh hưởng quốc tế. Từ thập niên 1960 trở đi, văn hóa đại chúng của Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland cũng có ảnh hưởng tại ngoại quốc. Do tình trạng thiếu công nhân trong thập niên 1950, chính phủ Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland khuyến khích nhập cư từ các quốc gia trong Thịnh vượng chung. Trong các thập niên sau đó, Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland trở thành một xã hội đa dân tộc. Mặc dù tiêu chuẩn sinh hoạt được nâng cao vào cuối thập niên 1950 và trong thập niên 1960, song thành tích kinh tế của Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland không được thành công như nhiều đối thủ của họ, chẳng hạn như Tây Đức và Nhật Bản. Năm 1973, Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland gia nhập Cộng đồng Kinh tế châu Âu (EEC), và khi EEC trở thành Liên minh châu Âu (EU) vào năm 1992, Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland là một trong 12 thành viên sáng lập. Từ cuối thập niên 1960, Bắc Ireland trải qua náo loạn công cộng và bán vũ trang (đôi khi tác động đến các bộ phận khác của Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland), tình trạng này thường được gọi trong tiếng Anh là the Troubles. Nó thường được nhận định là kết thúc bằng Hiệp định "Thứ sáu tốt lành" Belfast năm 1998. Sau một thời kỳ suy thoái kinh tế và xung đột công nghiệp lan rộng trong thập niên 1970, chính phủ Bảo thủ trong thập niên 1980 khởi xướng một chính sách cấp tiến về chủ nghĩa tiền tệ, bãi bỏ các quy định đặc biệt là trong lĩnh vực tài chính và thị trường lao động, bán các công ty quốc hữu (tư hữu hóa), và rút trợ cấp cho các lĩnh vực khác. Điều này dẫn đến tỷ lệ thất nghiệp cao và bất ổn xã hội, song cuối cùng cũng giúp kinh tế tăng trưởng, đặc biệt là trong lĩnh vực dịch vụ. Từ năm 1984, kinh tế được tiếp thêm sinh lực từ thu thập đến từ dầu biển Bắc. Khoảng cuối thế kỷ 20, có các biến hóa lớn trong việc cai trị Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland khi thiết lập chính phủ cho Scotland, Wales và Bắc Ireland. Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland duy trì là một quốc gia quan trọng trên quy mô toàn cầu trong ngoại giao và quân sự, có vai trò lãnh đạo hàng đầu trong Liên minh châu Âu, Liên Hiệp Quốc và NATO. Tuy nhiên, tồn tại tranh luận quanh các vụ triển khai quân sự ra hải ngoại của Anh, đặc biệt là tại Afghanistan và Iraq. Khủng hoàng tài chính toàn cầu 2008 có tác động nghiêm trọng đến kinh tế Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland. Năm 2010, chính phủ liên minh tiến hành các biện pháp khắc khổ nhằm mục đích giảm thâm hụt ngân sách và thu được kết quả. Tháng 9 năm 2014, đa số cử tri Scotland bác bỏ đề xuất độc lập cho Scotland trong một cuộc trưng cầu dân ý.. Ngày 23 tháng 6 năm 2016, nước Anh tổ chức trưng cầu dân ý quyết định ở lại EU hoặc rời khỏi EU (hay còn gọi là brexit) và kết quả là Anh đã rời khỏi châu Âu. == Chính trị == Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland là một quốc gia nhất thể theo thể chế quân chủ lập hiến. Nữ vương Elizabeth II là nguyên thủ quốc gia của Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland, và cũng là quân chủ của 15 quốc gia Thịnh vượng chung độc lập khác. Quân chủ có "quyền được tham vấn, quyền khích lệ, và quyền cảnh cáo". Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland là một trong bốn quốc gia duy nhất trên thế giới có một hiến pháp bất thành văn. Hiến pháp Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland do đó chủ yếu gồm một tập hợp các nguồn thành văn riêng biệt, gồm có các pháp quy, tiền lệ pháp và các hiệp định quốc tế, cùng với các quán lệ hiến pháp. Do không có khác biệt về mặt kỹ thuật giữa các pháp quy thông thường và "luật hiến pháp", Quốc hội Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland có thể thi hành "cải cách hiến pháp" bằng cách chỉ cần thông qua các đạo luật quốc hội, và do đó có quyền lực chính trị trong việc cải biến hoặc phế trừ bất kỳ các yếu tố thành văn hoặc bất thành văn của hiến pháp. Tuy nhiên, không có khóa quốc hội nào có thể thông qua các đạo luật mà các khóa quốc hội sau không thể cải biến. === Chính phủ === Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland có một chính phủ nghị viện dựa theo Hệ thống Westminster, một hệ thống được mô phỏng trên khắp thế giới do di sản của Đế quốc Anh. Quốc hội Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland họp tại Cung điện Westminster với hai viện; Thứ dân viện được bầu cử, tức Hạ viện, và một Quý tộc viện được bổ nhiệm, tức Thượng viện. Tất cả các dự luật thông qua phải được ngự chuẩn trước khi thành luật. Thủ tướng là người đứng đầu chính phủ Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland, thuộc về cá nhân có năng lực nhất trong điều khiển phát biểu trong Thứ dân viện; nhân vật này thường là lãnh tụ của chính đảng hoặc liên minh các chính đảng có số ghế lớn nhất trong viện này. Thủ tướng lựa chọn một nội các và họ được quân chủ chính thức bổ nhiệm để hình thành chính phủ của quân chủ bệ hạ. Theo quán lệ, Nữ vương tôn trọng các quyết định của thủ tướng trong chính phủ. Theo truyền thống, các thành viên trong nội các xuất thân từ đảng hoặc liên minh của thủ tướng và hầu hết đến từ Thứ dân viện, song luôn có các thành viên đến từ cả lưỡng viện, nội các chịu trách nhiệm với cả lưỡng viện. Quyền lực hành pháp do thủ tướng và nội các thi hành, những nhân vật này đều phải tuyên thệ trước Xu mật viện Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland, và trở thành các đại thần vương quốc. Trong bầu cử Thứ dân viện, Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland hiện được phân thành 650 khu vực tuyển cử, mỗi khu vực bầu ra một thành viên đại diện duy nhất theo nguyên tắc đa số chế giản đơn. Quân chủ yêu cầu tổng tuyển cử khi được thủ tướng khuyến nghị như vậy. Các đạo luật Quốc hội năm 1911 và 1949 yêu cầu rằng một cuộc tuyển cử mới cần phải được tổ chức không muộn hơn 5 năm sau tổng tuyển cử trước đó. Ba chính đảng chủ yếu tại Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland là Đảng Bảo thủ, Công đảng và Dân chủ Tự do, lần lượt đại diện cho các truyền thống bảo thủ, xã hội và tự do xã hội của Vương quốc Liên hiệp. Trong tổng tuyển cử năm 2010, ba đảng này giành được 622 trong tổng số 650 ghế của Thứ dân viện. Hầu hết các ghế còn lại thuộc về các đảng chỉ tranh cử tại một bộ phận của Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland như Đảng Dân tộc Scotland (chỉ tại Scotland) hay Plaid Cymru (chỉ tại Wales). === Chính quyền phân cấp === Mỗi quốc gia Scotland, Wales và Bắc Ireland có chính phủ hay cơ quan hành pháp riêng, do một Đệ nhất Bộ trưởng lãnh đạo, và một nghị viện nhất thể được phân quyền. Anh không có các cơ quan hành pháp hoặc lập pháp phân quyền như vậy và được chính phủ và quốc hội Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland quản lý về hành pháp và tư pháp trực tiếp trong toàn bộ các sự vụ. Tình trạng này làm nổi lên vấn đề được gọi là West Lothian, là lo ngại rằng các thành viên quốc hội đến từ Scotland, Wales và Bắc Ireland có thể bỏ phiếu, đôi khi là mang tính quyết định, đối với các vấn đề chỉ tác động đến Anh. Ủy ban McKay báo cáo về vấn đề vào tháng 3 năm 2013 với đề nghị rằng các đạo luật chỉ tác động đến Anh cần phải nhận được sự ủng hộ của một đa số các thành viên Anh trong quốc hội. Chính phủ và Quốc hội Scotland có quyền lực trên quy mô lớn đối với bất kỳ vấn đề nào chưa được dành riêng một cách rõ ràng cho Quốc hội Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland, gồm có giáo dục, y tế, luật Scot và chính quyền địa phương. Chính phủ và Quốc hội Wales có quyền lực hạn chế hơn so với quyền lực được phân cho Scotland. Cơ quan hành pháp và Nghị hội Bắc Ireland có các quyền lực tương tự như các quyền được phân cho Scotland. Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland không có hiến pháp thành văn và các vấn đề hiến pháp không nằm trong số các quyền lực được phân cấp cho Scotland, Wales hay Bắc Ireland. Theo học thuyết chủ quyền quốc hội, Quốc hội Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland theo lý thuyết có thể phế trừ Quốc hội Scotland, Nghị hội Wales hay Nghị hội Bắc Ireland. Năm 1972, Quốc hội Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland đơn phương đình chỉ Quốc hội Bắc Ireland, thiết lập một tiền lệ thích hợp trong việc giải quyết các cơ cấu phân cấp đương thời. Trong thực tế, sẽ khó khăn về phương diện chính trị nếu Quốc hội Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland phế trừ phân quyền cho Quốc hội Scotland và Nghị hội Wales. Quốc hội Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland có các rằng buộc trong quyền cản trở phân quyền tại Bắc Ireland và điều này thậm chí còn lớn hơn so với Scotland và Wales, do phân quyền tại Bắc Ireland dựa trên một hiệp định quốc tế với Chính phủ Ireland. === Pháp luật === Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland không có một hệ thống pháp luật đơn nhất, do Điều 19 của Hiệp định Liên hiệp năm 1706 cho phép Scotland duy trì hệ thống pháp luật riêng. Ngày nay, Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland có ba hệ thống pháp luật riêng biệt: luật Anh, luật Bắc Ireland và luật Scot. Một Tòa án Tối cao mới xuất hiện vào tháng 10 năm 2009 nhằm thay thế Ủy ban Thượng tố của Quý tộc viện. Ủy ban Tư pháp của Xu mật viện gồm các thành viên giống như của Tòa án Tối cao, là tòa thượng tố cấp cao nhất đối với một số quốc gia Thịnh vượng chung độc lập, các Lãnh thổ hải ngoại của Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland và các thuộc địa vương thất. Luật Anh (áp dụng tại Anh và Wales) và luật Bắc Ireland đều dựa theo các nguyên tắc thông luật. Đứng đầu các tòa án tại Anh và Wales là Tòa án cấp cao của Anh và Wales, gồm Tòa án Thượng tố, Tòa án cấp cao tư pháp (đối với các vụ án dân sự), Tòa án vương thất (với các vụ án hình sự). Tòa án Tối cao là cấp cao nhất đối với các vụ thượng tố hình sự và dân sự tại Anh, Wales và Bắc Ireland và bất kỳ quyết định nào của tòa đều mang tính ràng buộc với các tòa án khác trong cùng quyền hạn, thường có một tác động thuyết phục đối với các phạm vi quyền hạn khác. Luật Scot là một hệ thống hỗn hợp dựa theo cả các nguyên tắc thông luật và dân luật. Các tòa án chủ yếu là Tòa án hội nghị đối với các vụ án dân sự, và Tòa án cấp cao Tư pháp đối với các vụ án hình sự. Tòa án Tối cao Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland đóng vai trò là tòa thượng tố cấp cao nhất đối với các vụ án dân sự theo luật Scot. === Quan hệ đối ngoại === Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland là một trong năm thành viên thường trực của Hội đồng Bảo an Liên Hiệp Quốc, là một thành viên của NATO, Thịnh vượng chung các Quốc gia, G7, G8, G20, OECD, WTO, Hội đồng châu Âu, OSCE. Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland được cho là có một "quan hệ đặc biệt" với Hoa Kỳ và một quan hệ đối tác mật thiết với Pháp, và chia sẻ công nghệ vũ khí hạt nhân với hai quốc gia này. Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland cũng có liên kết mật thiết với Cộng hòa Ireland; hai quốc gia chia sẻ một khu vực du hành công cộng và hợp tác thông qua Hội nghị liên chính phủ Anh Quốc-Ireland và Hội đồng Anh Quốc-Ireland. Hiện diện và ảnh hưởng toàn cầu của Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland tiếp tục được khoách trương thông qua các quan hệ mậu dịch, đầu tư ngoại quốc, viện trợ phát triển chính thức và các cam kết quân sự. === Quân sự === Các lực lượng vũ trang Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland được gọi chính thức là Quân đội của Nữ vương bệ hạ, gồm ba nhánh phục vụ chuyên nghiệp: Hải quân Hoàng gia Anh Quốc và Đội Hải quân lục chiến Hoàng gia Anh Quốc (tạo thành lực lượng hải quân), Lục quân Anh Quốc và Không quân Hoàng gia Anh Quốc. Các lực lượng do Bộ Quốc phòng quản lý và chịu sự chỉ huy của Hội đồng Quốc phòng do Quốc vụ khanh Quốc phòng chủ tọa. Tổng tư lệnh là quân chủ Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland, Elizabeth II, các thành viên trong quân đội phải tiến hành tuyên thệ trung thành với nhân vật này. Quân đội chịu trách nhiệm bảo vệ Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland và các lãnh thổ hải ngoại của mình, xúc tiến các quan tâm an ninh toàn cầu của Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland và hỗ trợ các nỗ lực duy trì hòa bình quốc tế. Quân đội Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland là một thành viên tích cực và thường xuyên trong NATO, cũng như các Hiệp định Phòng thủ Ngũ quốc, RIMPAC và các hoạt động liên hiệp toàn cầu khác. Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland duy trì các doanh trại và căn cứ hải ngoại tại đảo Ascension, Belize, Brunei, Canada, Síp, Diego Garcia, quần đảo Falkland, Đức, Gibraltar, Kenya và Qatar. Quân đội Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland đóng một vị thế trọng yếu trong việc biến Đế quốc Anh thành một thế lực thống trị thế giới vào thế kỷ 18, 19 và đầu thế kỷ 20. Trong suốt lịch sử của mình, quân đội Anh Quốc hành động trong một số đại chiến như Chiến tranh Bảy năm, Các cuộc chiến tranh của Napoléon, Chiến tranh Krym, Chiến tranh thế giới thứ nhất và Chiến tranh thế giới thứ hai—cũng như nhiều xung đột thuộc địa. Anh Quốc trở nên nổi bật sau thắng lợi từ những xung đột này, và thường có tư cách ảnh hưởng mang tính quyết định đến các sự kiện thế giới. Từ khi Đế quốc Anh kết thúc, chính sách quốc phòng là "các cuộc hành quân tối cần thiết" sẽ được tiến hành trong thành phần một liên minh. == Địa lý == Tổng diện tích của Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland xấp xỉ 243.610 kilômét vuông (94.060 sq mi). Quốc gia chiếm phần lớn quần đảo Anh và gồm đảo Anh, một phần sáu đông bắc của đảo Ireland và một số đảo nhỏ hơn xung quanh. Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland nằm giữa Bắc Đại Tây Dương và biển Bắc, bờ biển đông nam Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland nằm cách bờ biển miền bắc Pháp trong vòng 22 dặm (35 km), cách nhau qua eo biển Manche. Năm 1993, 10% diện tích Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland có rừng che phủ, 46% được sử dụng làm bãi cỏ và 25% dùng để canh tác. Đài thiên văn Hoàng gia Greenwich tại Luân Đôn là điểm xác định của Kinh tuyến gốc. Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland nằm giữa các vĩ độ 49° và 61° B, và các kinh độ 9° T và 2° Đ. Bắc Ireland có biên giới trên bộ dài 224 dặm (360 km) với Cộng hòa Ireland. Đường bờ biển của Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland dài 11.073 dặm (17.820 km). Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland được liên kết với đại lục châu Âu thông qua Đường hầm eo biển Manche với chiều dài 31 dặm (50 km) (24 dặm (38 km) dưới biển), là đường hầm dưới nước dài nhất trên thế giới. Anh chiếm hơn một nửa tổng diện tích Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland, với 130.395 kilômét vuông (50.350 sq mi). Hầu hết Anh là địa hình đất thấp, địa hình đồi núi nằm ở tây bắc của đường Tees-Exe; gồm dãy núi Cumbrian tại Lake District, Pennines và các đồi đá vôi tại Peak District, Exmoor và Dartmoor. Các sông và cửa sông chính là Thames, Severn và Humber. Núi cao nhất Anh là Scafell Pike (978 mét (3.209 ft)) tại Lake District. Scotland chiếm gần một phần ba tổng diện tích Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland, với 78.772 kilômét vuông (30.410 sq mi) và bao gồm gần 800 đảo, chủ yếu nằm tại phía tây và phía bắc của đại lục; đáng kể là các quần đảo Hebrids, Orkney và Shetland. Địa hình Scotland được phân chia theo đứt đoạn ranh giới Highland cắt ngang Scotland từ Arran tại phía tây đến Stonehaven tại phía đông. Đường đứt dãy phân chia thành hai khu vực khác biệt rõ ràng, mang tên Highland (Đất Cao) tại phía bắc và tây và Lowland (Đất Thấp) tại phía nam và đông. Khu vực Highland gồ ghề hơn và gồm phần lớn đất núi của Scotland, trong đó có Ben Nevis với độ cao 1.343 mét (4.406 ft) là điểm cao nhất tại quần đảo Anh. Khu vực Lowland mà đặc biệt là eo đất hẹp nằm giữa vịnh Clyde và vịnh Forth mang tên Central Belt có địa hình bằng phẳng hơn và là nơi cư trú của hầu hết dân cư. Wales chiếm dưới một phần mười tổng diện tích của Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland, với 20.779 kilômét vuông (8.020 sq mi). Địa hình Wales hầu hết là đồi núi, song miền nam có ít đồi núi hơn miền bắc và miền trung. Khu vực cư dân và công nghiệp chính nằm tại miền nam. Các núi cao nhất tại Wales nằm tại Snowdonia và gồm có Snowdon cao nhất Wales với độ cao 1.085 mét (3.560 ft). Wales có 14 hoặc 15 núi cao hơn 3.000 feet (914 m). Wales có đường bờ biển dài 2.704 kilômét (1.680 dặm). Bắc Ireland tách biệt với đảo Anh qua biển Ireland và eo biển Bắc, có diện tích 14.160 kilômét vuông (5.470 sq mi) và hầu hết là đồi. Bắc Ireland có hồ lớn nhất quần đảo Anh là Lough Neagh với diện tích 388 kilômét vuông (150 sq mi). Đỉnh cao nhất tại Bắc Ireland là Slieve Donard thuộc dãy núi Mourne với độ cao 852 mét (2.795 ft). === Khí hậu === Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland có khí hậu ôn đới, lượng mưa dồi dào quanh năm. Nhiệt độ biến hóa theo mùa, hiếm khí giảm xuống dưới −11 °C (12 °F) hoặc tăng trên 35 °C (95 °F). Gió phổ biến thổi từ tây nam và mang theo thường xuyên các đợt thời tiết ôn hòa và mưa từ Đại Tây Dương, song phần phía đông hầu như bị chắn gió do hầu hết mưa rơi tại các khu vực phía tây, phía đông do đó khô hơn. Các hải lưu Đại Tây Dương được Gulf Stream làm ấm và đem đến mùa đông ôn hòa; đặc biệt là tại phía tây nơi mà mùa đông có mưa nhất là tại vùng cao. Mùa hè ấm hơn tại khu vực đông nam của Anh, do là nơi nằm sát đại lục châu Âu nhất, và phía bắc là nơi mát nhất. Tuyết rơi dày có thể xuất hiện trong mùa đông và đầu mùa xuân tại những vùng cao. === Phân chia hành chính === Mỗi quốc gia tại Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland có hệ thống phân chia hành chính và địa lý riêng, thường có nguồn gốc từ trước khi thành lập Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland. Do đó, không có cấp bậc chung của đơn vị hành chính tại Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland. Cho đến thế kỷ 19, có ít biến hóa về những sắp xếp này, song kể từ đó có sự tiến triển liên tục về vai trò và nhiệm vụ. Tổ chức của chính quyền địa phương tại Anh có tính phức tạp, phân bổ trách nhiệm biến đổi theo sắp xếp địa phương. Pháp luật liên quan đến chính quyền địa phương tại Anh là trách nhiệm của quốc hội và chính phủ Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland, do Anh không có quốc hội riêng. Cấp hành chính cao nhất của Anh là 9 khu vực văn phòng chính phủ hoặc khu vực văn phòng chính phủ Liên minh châu Âu. Một khu vực là Đại Luân Đôn có một hội đồng và thị trưởng được bầu trực tiếp từ năm 2000. Theo dự định, các khu vực khác cũng sẽ được trao quyền bầu hội đồng khu vực của họ, song một đề xuất hội đồng tại khu vực Đông Bắc bị bác bỏ trong một cuộc trưng cầu dân ý vào năm 2004. Bên dưới cấp khu vực, một số nơi của Anh có các hội đồng quận huyện và một số nơi khác có các cơ quan nhất thể; trong khi Luân Đôn gồm 32 quận và Thành phố Luân Đôn. Các hội viên của hội đồng được bầu theo thể thức đa số chế trong các phường có 1 thành viên hoặc theo thể chế đa số đa thành viên trong các phường có nhiều thành viên. Đối với mục đích chính quyền địa phương, Scotland được phân thành 32 khu vực hội đồng, với khác biệt lớn về cả kích thước và dân số. Các thành phố Glasgow, Edinburgh, Aberdeen và Dundee là các khu vực hội đồng riêng biệt, trong khi Hội đồng Highland gồm một phần ba diện tích của Scotland song chỉ có trên 200.000 dân. Các hội đồng địa phương được hình thành từ các hội viên đắc cử; họ được trả lương bán thời gian. Mỗi hội đồng bầu một Provost, hoặc Convenor, để chủ trì các cuộc họp của hội đồng và để đóng vai trò là nhân vật đứng đầu khu vực. Các hội viên hội đồng là đối tượng áp dụng của một quy tắc đạo đức do Ủy ban Tiêu chuẩn Scotland thi hành. Chính quyền địa phương tại Wales gồm 22 cơ quan nhất thể, gồm các thành phố Cardiff, Swansea và Newport. Các cuộc bầu cử được tổ chức mỗi bốn năm theo thể thức đa số chế. Hiệp hội chính quyền địa phương Wales đại diện cho quyền lợi của các chính quyền địa phương tại Wales. Chính quyền địa phương tại Bắc Ireland từ năm 1973 được tổ chức thành 26 hội đồng huyện, mỗi hội đồng được bầu theo thể thức khả chuyển nhượng đơn nhất. Quyền lực của họ bị hạn chế trong các dịch vụ như thu gom rác, kiểm soát chó và bảo vệ công viên và nghĩa địa. Ngày 13 tháng 3 năm 2008, cơ quan hành pháp tán thành đề xuất thiết lập 11 hội đồng mới và thay thể hệ thống hiện tại. Các cuộc bầu cử địa phương được hoãn cho đến năm 2016 nhằm phục vụ mục đích này. == Lãnh thổ phụ thuộc == Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland có chủ quyền với 17 lãnh thổ không phải là bộ phận của bản thân Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland: 14 lãnh thổ hải ngoại và ba thuộc địa vương thất. 14 lãnh thổ hải ngoại của Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland gồm: Anguilla; Bermuda; Lãnh thổ Ấn Độ Dương thuộc Anh; Lãnh thổ châu Nam Cực thuộc Anh; Quần đảo Virgin thuộc Anh; Quần đảo Cayman; Quần đảo Falkland; Gibraltar; Montserrat; Saint Helena, Ascension và Tristan da Cunha; Quần đảo Turks và Caicos; Quần đảo Pitcairn; Nam Georgia và Quần đảo Nam Sandwich; và Các khu vực chủ quyền tại Síp. Tuyên bố chủ quyền của Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland tại châu Nam Cực không được công nhận phổ biến. Tổng cộng, các lãnh thổ hải ngoại của Anh có diện tích đất liền 1.727.570 kilômét vuông (667.018 sq mi) và dân số xấp xỉ 260.000 người (2008). Chúng là tàn dư của Đế quốc Anh và một vài lãnh thổ bỏ phiếu ủng hộ duy trì là lãnh thổ của Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland (Bermuda năm 1995, Gibraltar năm 2002 và quần đảo Falkland năm 2013). Các thuộc địa vương thất thuộc sở hữu của quân chủ, ngược với các lãnh thổ hải ngoại. Chúng gồm ba khu vực pháp lý được quản trị riêng biệt: Jersey và Guernsey tại eo biển Manche, và đảo Man trên biển Ireland. Theo các hiệp định song phương, chính phủ Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland quản lý sự vụ đối ngoại và quốc phòng của các đảo và Quốc hội Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland có quyền lực lập pháp nhân danh họ. Tuy nhiên, trên phạm vi quốc tế, các lãnh thổ này được đề cập là "các lãnh thổ mà Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland chịu trách nhiệm". == Nhân khẩu == Một cuộc điều tra nhân khẩu được tiến hành đồng thời tại mọi khu vực của Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland mỗi mười năm. Cục Thống kê Quốc gia chịu trách nhiệm thu thập dữ liệu cho Anh và Wales, Tổng cục Hộ tịch Scotland và Cơ quan Thống kê và Nghiên cứu Bắc Ireland chịu trách nhiệm về điều tra tại quốc gia của họ. Trong điều tra nhân khẩu năm 2011, tổng dân số Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland là 63.181.775. Đây là quốc gia đông dân thứ ba trong Liên minh châu Âu, thứ năm trong Thịnh vượng chung và đứng thứ 21 trên thế giới. 2010 là năm thứ ba liên tiếp biến động tự nhiên đóng góp vào tăng trưởng dân số nhiều hơn di cư quốc tế dài hạn thực. Từ năm 2001 đến năm 2011, dân số Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland tăng trưởng hàng năm với mức xấp xỉ 0,7%, so với 0,3%/năm trong giai đoạn 1991-2001 và 0,2%/năm trong giai đoạn 1981-1991. Điều tra nhân khẩu năm 2011 cũng xác thực rằng tỷ lệ dân số trong độ tuổi 0–14 giảm gần một nửa (31% năm 1911 so với 18% năm 2011) và tỷ lệ người già từ 65 tuổi trở lên tăng gấp ba lần (từ 5% lên 16%). Dân số Anh trong năm 2011 là 53 triệu, chiếm khoảng 84%. Đây là một trong các quốc gia có mật độ dân số dày đặc nhất trên thế giới với 383 người/km² vào giữa năm 2003, đặc biệt tập trung tại Luân Đôn và khu vực đông nam. Điều tra nhân khẩu năm 2011 biểu thị dân số Scotland là 5,3 triệu, Wales có 3,06 triệu dân và Bắc Ireland có 1,81 triệu dân. Năm 2012, tổng tỷ suất sinh trung bình toàn quốc là 1,92 trẻ/phụ nữ. Mặc dù tỷ suất sinh gia tăng đóng góp vào tăng trưởng dân số hiện tại, song vẫn thấp hơn đáng kể so với mức đỉnh bùng nổ sinh sản 2,95 trẻ/phụ nữ vào năm 1964, dưới mức thay thế là 2,1, song cao hơn mức thấp kỷ lục vào năm 2001 là 1,63. Năm 2012, Scotland có tỷ suất sinh thấp nhất với chỉ 1,67, tiếp đến là Wales với 1,88, Anh với 1,94, và Bắc Ireland với 2,03. Năm 2011, 47,3% ca sinh tại Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland là của sản phụ chưa kết hôn. Một số liệu của chính phủ ước tính rằng có 3,6 triệu người đồng tính luyến ái tại Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland, chiếm 6% dân số. === Dân tộc === Trên phương diện lịch sử, người Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland bản địa được cho là hậu duệ của các dân tộc khác nhau đến định cư tại đây từ trước thế kỷ 11: người Celt, La Mã, Anglo-Saxon, Norse và Norman. Người Wales có thể là dân tộc cổ xưa nhất tại Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland. Một nghiên cứu di truyền học vào năm 2006 biểu thị rằng hơn 50% nguồn gen của Anh có chứa các nhiễm sắc thể Y Germain. Phân tích di truyền khác vào năm 2005 biểu thị rằng "khoảng 75% tổ tiên truy nguyên của cư dân Anh Quốc hiện đại đến quần đảo Anh vào khoảng 6.200 năm trước, lúc khởi đầu thời kỳ đồ đá mới hoặc đồ đá Anh", và rằng chia sẻ phổ biến một tổ tiên chung với người Basque. Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland có một lịch sử nhập cư phi da trắng quy mô nhỏ, Liverpool có dân cư da đen xưa nhất trong toàn quốc với ít nhất là từ thập niên 1730 trong thời kỳ mua bán nô lệ châu Phi, và cộng đồng người Hoa xưa nhất tại châu Âu bắt đầu khi thủy thủ người Hoa đến vào thế kỷ 19. Năm 1950, có thể có ít hơn 20.000 cư dân phi da trắng tại Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland, hầu hết được sinh tại hải ngoại. Từ năm 1948, diễn ra nhập cư đáng kể từ châu Phi, khu vực Caribe và Nam Á, là di sản liên kết được thiết lập từ Đế quốc Anh. Nhập cư từ các quốc gia thành viên mới trong EU tại Trung và Đông Âu từ năm 2004 dẫn đến tăng trưởng dân số của các nhóm này tuy nhiên, tính đến năm 2008, xu hướng bị đảo chiều. Nhiều trong số những người nhập cư này trở về tổ quốc của họ, khiến không rõ về quy mô các nhóm này. Tính đa dạng dân tộc thay đổi đáng kể trên khắp Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland. 30,4% cư dân Luân Đôn và 37,4% cư dân Leicester được ước tính không phải là người da trắng năm 2005, trong khi đó dưới 5% cư dân Đông Bắc Anh, Wales và Tây Nam Anh đến từ các nhóm thiểu số theo điều tra nhân khẩu năm 2001. Năm 2011, 26,5% số học sinh tiểu học và trung học trong các trường công tại Anh là thành viên của một dân tộc thiểu số. Dân số phi da trắng của Anh và Wales tăng 38% từ 6,6 triệu năm 2001 lên 9,1 triệu vào năm 2009. Nhóm tăng trưởng nhanh nhất là cư dân hỗn chủng, tăng từ 672.000 vào năm 2001 lên 986.600 vào năm 2009. Cũng trong giai đoạn này, người Anh Quốc da trắng suy giảm 36.000. === Ngôn ngữ === Ngôn ngữ chính thức trên thực tế của Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland là tiếng Anh. Theo ước tính, 95% cư dân Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland đơn ngữ tiếng Anh. 5,5% cư dân được ước tính là nói các ngôn ngữ được đưa đến Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland do kết quả của nhập cư tương đối gần đây. Các ngôn ngữ Nam Á, gồm Bengal, Tamil, Punjab, Hindi và Gujarat, là các nhóm lớn nhất và được 2,7% cư dân Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland nói. Theo điều tra nhân khẩu năm 2011, tiếng Ba Lan trở thành ngôn ngữ được nói nhiều thứ hai tại Anh và có 546.000 người nói. Bốn ngôn ngữ Celt được nói tại Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland: tiếng Wales; tiếng Ireland; tiếng Gael Scotland; và tiếng Cornwall. Tất cả đều được công nhận là các ngôn ngữ khu vực hoặc thiểu số, là chủ thể của các biện pháp cụ thể nhằm bảo vệ và xúc tiến theo Công ước châu Âu về các ngôn ngữ khu vực và thiểu số và Công ước khung về bảo vệ các dân tộc thiểu số. Theo điều tra nhân khẩu năm 2001, hơn một phần năm (21%) cư dân Wales nói là họ có thể nói tiếng Wales, tăng so với điều tra nhân khẩu năm 1991 (18%). Ngoài ra, ước tính có khoảng 200.000 người nói tiếng Wales sống tại Anh. Trong cuộc điều tra nhân khẩu này, tại Bắc Ireland có 167.487 người (10,4%) nói rằng họ có "một số kiến thức về tiếng Ireland", hầu như đều là trong cộng đồng dân cư dân tộc chủ nghĩa (chủ yếu là Công giáo). Trên 92.000 người tại Scotland (dưới 2%) có một số năng lực ngôn ngữ Gael, cao nhất là tại Ngoại Hebrides. Số học sinh được dạy bằng tiếng Wales, Gael Scotland và Ireland gia tăng. Tiếng Scots là một ngôn ngữ có nguồn gốc từ tiềng Anh Trung đại miền bắc thời kỳ đầu, được công nhận hạn chế với tư cách biến thể khu vực, tiếng Scots Ulster tại Bắc Ireland không có cam kết cụ thể nhằm bảo vệ và xúc tiến. Học sinh đến 14 tuổi tại Anh bắt buộc phải học một ngôn ngữ thứ hai, tại Scotland là đến 16 tuổi. Tiếng Pháp và tiếng Đức là ngôn ngữ thứ hai được giảng dạy phổ biến nhất tại Anh và Scotland. Toàn bộ học sinh tại Wales được dạy tiếng Wales như ngôn ngữ thứ hai cho đến năm 16 tuổi, hoặc được giảng dạy bằng tiếng Wales. === Tôn giáo === Cơ Đốc giáo là nền tảng quan trọng cho di sản văn hóa Anh Quốc trong hơn 14 thế kỷ. Mặc dù đa số công dân vẫn gắn bó với Cơ Đốc giáo trong nhiều nghiên cứu, song số người dự lễ trong nhà thờ giảm đi đáng kể từ giữa thế kỷ 20, trong khi nhập cư và biến đổi nhân khẩu học góp phần vào sự phát triển của các tín ngưỡng khác, đáng chú ý nhất là Hồi giáo. Tình hình này khiến một số nhà bình luận có các mô tả khác nhau về Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland như xã hội đa tín ngưỡng, thế tục hóa, hoặc hậu Cơ Đốc giáo. Trong điều tra nhân khẩu 2001, 71,6% tổng số người trả lời biểu thị rằng họ là tín đồ Cơ Đốc giáo, các tôn giáo lớn tiếp theo là Hồi giáo (2,8%), Ấn Độ giáo (1,0%), Sikh giáo (0,6%), Do Thái giáo (0,5%), Phật giáo (0,3%). 15% số người trả lời biểu thị rằng họ không theo tôn giáo nào, và thêm 7% không trả lời về tôn giáo. So sánh các điều tra nhân khẩu năm 2001 và 2011, số người nhận là tín đồ Cơ Đốc giáo giảm 12%, trong khi tỷ lệ của những người trả lời là không tôn giáo tăng gấp đôi. Điều này trái ngược với sự tăng trưởng của các nhóm tôn giáo chính khác, khi số lượng tín đồ Hồi giáo tăng khoảng 5%. Giáo hội Anh là quốc giáo tại xứ Anh. Giáo hội duy trì đại diện trong Quốc hội Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland và Quân chủ Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland là người quản trị tối cao. Tại Scotland, Giáo hội Scotland (Trưởng Lão) được công nhận là giáo hội quốc gia. Giáo hội Scotland không chịu sự kiểm soát của nhà nước, và quân chủ Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland là một thành viên thông thường, được yêu cầu tuyên thệ "duy trì và bảo tồn tôn giáo Tin Lành và thiết chế giáo hội Trưởng Lão" khi đăng quang. Giáo hội Anh giáo tại Wales bị phi quốc lập hóa vào năm 1920, Giáo hội Anh giáo Ireland cũng như thế vào năm 1870 trước khi đảo Ireland bị phân chia, do đó nên không có giáo hội quốc lập tại Bắc Ireland. Mặc dù cuộc điều tra nhân khẩu toàn Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland năm 2001 không lấy dữ liệu cụ thể về các hệ phái Cơ Đốc giáo, song có ước tính rằng 62% tín đồ Cơ Đốc theo Anh giáo, 13,5% theo Công giáo, 6% theo Trưởng Lão, 3,4% theo Giám Lý cùng số lượng nhỏ theo các giáo phái Tin Lành khác, và Chính thống giáo Đông phương. === Giáo dục === Giáo dục tại Anh là trách nhiệm của Bộ trưởng Giáo dục Vương quốc Liên hiệp, song quản lý thường ngày và tài trợ cho các trường công là trách nhiệm của chính quyền địa phương. Giáo dục công miễn phí được tiến hành dần dần từ năm 1870 đến năm 1944. Giáo dục nay là bắt buộc trong độ tuổi từ 5 đến 16 (15 nếu sinh vào cuối tháng 7 hoặc tháng 8). Năm 2011, TIMSS xếp hạng các học sinh 13–14 tuổi tại Anh và Wales thứ 10 thế giới về toán và thứ 9 về khoa học. Năm 2010, trên 45% chỉ tiêu tại Đại học Oxford và 40% tại Đại học Cambridge thuộc về các sinh viên đến từ các trường tư thục, dù chỉ chiếm 7% số học sinh phổ thông. Anh có hai đại học cổ nhất trong thế giới Anh ngữ, đó là Đại học Oxford và Đại học Cambridge, với lịch sử trên tám thế kỷ. Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland có 9 trường đại học nằm trong nhóm 100 đại học hàng đầu theo xếp hạng của Times Higher Education năm 2013, số lượng chỉ đứng thứ hai sau Hoa Kỳ. Giáo dục tại Scotland là trách nhiệm của Bộ trưởng Nội các về Giáo dục và Học tập suốt đời, quản lý thường ngày và tài trợ cho các trường công là trách nhiệm của chính quyền địa phương. Hai cơ cấu công cộng không ngang cấp bộ đóng vai trò trọng yếu trong giáo dục Scotland: Cơ quan Tư cách Scotland, Cơ quan Học tập và Giảng dạy Scotland. Scotland lần đầu tiên pháp luật hóa giáo dục bắt buộc vào năm 1496. Tỷ lệ trẻ tại Scotland theo học trường tư là trên 4%, tăng chậm trong những năm gần đây. Sinh viên Scotland theo học tại các trường đại học Scotland sẽ không phải trả học phí hay trách nhiệm hiến tặng tốt nghiệp, do các khoản phí bị bãi bỏ vào năm 2001 và trách nhiệm hiến tặng tốt nghiệp bị bãi bỏ vào năm 2008. Chính phủ Wales chịu trách nhiệm về giáo dục tại Wales. Một số lượng đáng kể học sinh Wales được giảng dạy hoàn toàn hoặc ở mức độ lớn bằng tiếng Wales; các bài học bằng tiếng Wales là bắt buộc đối với toàn bộ học sinh cho đến tuổi 16. Giáo dục tại Bắc Ireland là trách nhiệm của Bộ trưởng Giáo dục Bắc Ireland và Bộ trưởng Công việc và Học tập, song trách nhiệm nằm tại cấp địa phương trong việc quản lý. Hội đồng Khóa trình, Khảo thí và Đánh giá (CCEA) là cơ cấu chịu trách nhiệm cố vấn cho chính phủ về những kiến thức nên được giảng dạy trong các trường học Bắc Ireland, kiểm định tiêu chuẩn và công nhận trình độ. === Y tế === Y tế tại Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland là một vấn đề được phân cấp và mỗi quốc gia có hệ thống riêng về chăm sóc sức khỏe tư nhân và công cộng, cùng với các phương pháp điều trị thay thế, toàn diện, và bổ sung. Y tế công cộng được cung cấp cho toàn bộ cư dân thường trú tại Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland và hầu hết là miễn phí tại điểm cần thiết, được trả từ thuế chung. Tổ chức Y tế Thế giới vào năm 2000 xếp hạng dự phòng y tế tại Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland tốt thứ 15 tại châu Âu và đứng thứ 18 trên thế giới. Các cơ quan quản lý được tổ chức trên cơ sở toàn Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland như Tổng hội Y khoa, Hội đồng Hộ lý và Trợ sản và các cơ quan có cơ sở phi chính phủ như Royal College. Tuy nhiên, trách nhiệm chính trị và hoạt động y tế thuộc về cơ quan hành pháp của bốn quốc gia; y tế tại Anh là trách nhiệm của chính phủ Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland; y tế tại Bắc Ireland là trách nhiệm của cơ quan hành pháp Bắc Ireland; y tế tại Scotland là trách nhiệm của chính phủ Scotland; và y tế tại Wales là trách nhiệm của chính phủ hội đồng Wales. Mỗi dịch vụ y tế quốc dân có các chính sách và ưu tiên khác nhau, dẫn đến các tương phản. Kể từ năm 1979, chi tiêu cho y tế gia tăng đáng kể, đạt gần hơn tới mức bình quân của Liên minh châu Âu. Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland chi tiêu khoảng 8,4% tổng thu nhập nội địa cho y tế, thấp hơn 0,5% so với mức trung bình của OECD và thấp hơn khoảng 1% so với mức trung bình của Liên minh châu Âu. == Kinh tế == Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland có một nền kinh tế thị trường chịu kiểm soát cục bộ. Dựa theo tỷ giá hối đoái thị trường, Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland vào năm 2009 là nền kinh tế lớn thứ sáu trên thế giới và lớn thứ ba tại châu Âu sau Đức và Pháp. Bộ Ngân khố Nữ vương bệ hạ (HM Treasury) chịu trách nhiệm phát triển và thi hành các chính sách tài chính công và chính sách kinh tế của chính phủ Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland. Ngân hàng Anh là ngân hàng trung ương của Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland và chịu trách nhiệm phát hành giấy bạc và tiền đồng bảng Anh. Bảng Anh là tiền tệ dự trữ lớn thứ ba thế giới (sau Dollar Mỹ và Euro). Kể từ năm 1997, Ủy ban Chính sách Tiền tệ của Ngân hàng Anh chịu trách nhiệm thiết lập lãi suất ở mức độ cần thiết nhằm đạt được mục tiêu lạm phát tổng thể do Bộ trưởng Tài chính xác định. Lĩnh vực dịch vụ chiếm khoảng 73% GDP của Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland (2006). Luân Đôn là một trong ba "trung tâm chỉ huy" của kinh tế toàn cầu (cùng với New York và Tokyo), là trung tâm tài chính lớn nhất thế giới cùng New York, và là thành phố có GDP lớn nhất tại châu Âu. Du lịch là một ngành rất quan trọng đối với kinh tế Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland với trên 27 triệu du khách năm 2004, là địa điểm du lịch hàng đầu thế giới và Luân Đôn là thành phố có nhiều du khách quốc tế nhất trên thế giới. Các ngành công nghiệp sáng tạo chiếm 7% GVA vào năm 2005 và trăng trưởng 6% mỗi năm trong giai đoạn từ 1997 đến 2005. Cách mạng công nghiệp khởi đầu tại Anh Quốc với tập trung ban đầu vào ngành công nghiệp dệt may, tiếp đến là các ngành công nghiệp nặng khác như đóng tàu, khai thác than, và sản xuất thép. Đế quốc Anh được sử dụng làm một thị trường hải ngoại cho hàng hóa Anh Quốc, cho phép Anh Quốc chi phối mậu dịch quốc tế trong thế kỷ 19. Giống như các quốc gia công nghiệp hóa khác, với sự suy giảm kinh tế sau hai thế chiến, Anh Quốc bắt đầu mất lợi thế cạnh tranh và công nghiệp nặng suy giảm theo thứ bậc trong suốt thế kỷ 20. Chế tạo vẫn là bộ phận quan trọng trong kinh tế song chỉ chiếm 16,7% sản phẩm quốc gia vào năm 2003. Ngành công nghiệp ô tô là một bộ phận quan trọng trong lĩnh vực chế tạo của Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland, tạo công việc cho hơn 800.000 người, với doanh thu khoảng 52 tỷ bảng (2011). Ngành công nghiệp hàng không vũ trụ của Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland lớn thứ nhì hoặc thứ ba thế giới tùy theo cách thức tính. Ngành công nghiệp dược phẩm đóng một vai trò quan trọng trong kinh tế Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland, quốc gia này có tỷ lệ chi tiêu dược khoa R&D cao thứ ba toàn cầu (sau Hoa Kỳ và Nhật Bản). Nông nghiệp Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland có đặc điểm thâm canh, cơ giới hóa cao độ, và có hiệu quả theo tiêu chuẩn châu Âu, sản xuất khoảng 50% thực phẩm cần thiết với ít hơn 1,6% lực lượng lao động. Trong quý cuối cùng của năm 2008, kinh tế Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland chính thức bước vào suy thoái lần đầu tiên kể từ năm 1991. Tỷ lệ thất nghiệp tăng từ 5,2% trong tháng 5 năm 2008 lên 7,6% trong tháng 5 năm 2009 và đến tháng 1 năm 2012 thì tỷ lệ thất nghiệp trong nhóm tuổi 18 đến 24 năm tăng từ 11,9% lên 22,5%, mức cao nhất từ 1992. Tổng nợ chính phủ của Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland tăng từ 44,4% vào năm 2007 lên 82,9% GDP vào năm 2011. Năm 2006, Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland là nước tiêu thụ lớn thứ chín và nước sản xuất lớn thứ 15 trên thị trường năng lượng thế giới. Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland là nơi đặt trụ sở của một số công ty năng lượng lớn, trong đó có BP, Royal Dutch Shell và BG Group. Năm 2011, 40% điện năng của Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland được sản xuất bằng khí đốt, 30% bằng than đá, 19% bằng năng lượng hạt nhân, và 4,2% bằng gió, hydro, nhiên liệu sinh học, và chất thải. Lương điều chỉnh lạm phát tại Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland giảm 3,2% từ quý thứ ba của năm 2010 đến quý thứ ba của năm 2012. Kể từ thập niên 1980, bất bình đẳng kinh tế tại Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland tăng nhanh nhất trong số các quốc gia phát triển. Chuẩn nghèo tại Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland thường được định nghĩa là 60% thu nhập hộ gia đình trung bình. Năm 2007–2008, 13,5 triệu người hay 22% dân số sống dưới mức này. Đây là một mức nghèo tương đối cao thứ 5 trong Liên minh châu Âu. Trong cùng năm, 4,0 triệu trẻ em, tương đương 31%, sống trong các hộ gia đình sống dưới mức nghèo sau khi tính cả chi phí nhà ở, giảm 400.000 trẻ trong năm 1998–1999. Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland nhật khẩu 40% cung cấp thực phẩm. Tính đến năm 2016, GDP của Vương quốc Anh đạt 2.649.890 USD, đứng thứ 4 thế giới và đứng thứ 2 châu Âu. === Khoa học và Công nghệ === Anh và Scotland là các trung tâm hàng đầu trong Cách mạng khoa học từ thế kỷ 17 và Anh Quốc dẫn đầu Cách mạng công nghiệp từ thế kỷ 18, và liên tục sản sinh các nhà khoa học và kỹ sư có danh tiếng với những tiến bộ quan trọng. Các nhà lý luận lớn từ thế kỷ 17 và 18 bao gồm Isaac Newton, các định luật về chuyển động và sự khai sáng về trọng lực của ông được xem là một nền tảng của khoa học hiện đại; từ thế kỷ 19 Charles Darwin với thuyết tiến hóa theo chọn lọc tự nhiên là nền tảng cho sự phát triển của sinh học hiện đại, và James Clerk Maxwell với việc công thức hóa thuyết điện tử học kinh điển; và gần đây hơn là Stephen Hawking, người đã nâng cấp nhiều học thuyết chủ yếu trong các lĩnh vực vũ trụ học, hấp dẫn lượng tử và nghiên cứu lỗ đen. Các khám phá khoa học lớn từ thế kỷ 18 gồm có hydro bởi Henry Cavendish; từ thế kỷ 20 là penicillin bởi Alexander Fleming, và cấu trúc ADN bởi Francis Crick và những người khác. Các công trình và ứng dụng kỹ thuật chính của người Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland trong thế kỷ 18 gồm có đầu máy hơi nước được phát triển bởi Richard Trevithick và Andrew Vivian; từ thế kỷ 19 là động cơ điện bởi Michael Faraday, đèn sợi đốt bởi Joseph Swan, và điện thoại thực tiễn đầu tiên là phát minh của Alexander Graham Bell; và trong thế kỷ 20 là hệ thống truyền hình hoạt động đầu tiên của thế giới bởi John Logie Baird và những người khác, động cơ phản lực bởi Frank Whittle, cơ sở của máy điện toán hiện đại bởi Alan Turing, và World Wide Web bởi Tim Berners-Lee. Nghiên cứu và phát triển khoa học duy trì vị thế quan trọng trong các đại học Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland, nhiều trường thành lập các công viên khoa học nhằm tạo điều kiện sản xuất và hợp tác với công nghiệp. Từ năm 2004 đến năm 2008, Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland sản xuất 7% bài báo nghiên cứu khoa học của thế giới và 8% trích dẫn khoa học, cao thứ ba và thứ hai thế giới (lần lượt sau Hoa Kỳ và Trung Quốc, và Hoa Kỳ). Các tạp chí khoa học xuất bản tại Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland gồm có Nature, British Medical Journal and The Lancet. === Giao thông === Một mạng lưới đường bộ xuyên tâm có 29.145 dặm (46.904 km) đường chính, 2.173 dặm (3.497 km) đường cao tốc và 213.750 dặm (344.000 km) đường trải nhựa. Năm 2009, có tổng cộng 34 triệu xe được đăng ký tại Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland. Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland có một mạng lưới đường sắt dài 10.072 dặm (16.209 km) tại đảo Anh 189 dặm (304 km) tại Bắc Ireland. Đường sắt tại Bắc Ireland do NI Railways điều hành, đây là một công ty con của công ty quốc doanh Translink. Trên đảo Anh, mạng lưới đường sắt được tư hữu hóa từ năm 1994 đến năm 1997. Network Rail sở hữu và quản lý hầu hết các tài sản cố định như đường ray. Khoảng 20 công ty đường sắt thuộc sở hữu tư nhân hoạt động chuyên chở hành khách và chở trên 18.000 đoàn tàu hành khách mỗi ngày. Mỗi ngày cũng có khoảng 1.000 đoàn tàu chở hàng hoạt động. Từ tháng 10 năm 2009 đến tháng 9 năm 2010, các sân bay Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland có tổng cộng 211,4 triệu hành khách thông qua. Trong giai đoạn này, ba sân bay lớn nhất là Sân bay London Heathrow (65,6 triệu hành khách), Sân bay Gatwick (31,5 triệu hành khách) và Sân bay London Stansted (18,9 triệu hành khách). Sân bay London Heathrow tọa lạc cách 15 dặm (24 km) về phía tây của thủ đô, có lưu lượng hành khách quốc tế cao nhất trên toàn cầu và là trung tâm của British Airways, cũng như của BMI và Virgin Atlantic. == Văn hóa == Văn hóa Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland chịu ảnh hưởng từ nhiều yếu tố gồm: tình trạng đảo quốc; có lịch sử là một thể chế dân chủ tự do Tây phương và là là một cường quốc lớn; cũng như là một liên minh chính trị của bốn quốc gia với mỗi quốc gia duy trì các yếu tố truyền thống, phong tục và tượng trưng đặc biệt. Do sự tồn tại của Đế quốc Anh, có thể quan sát thấy ảnh hưởng của Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland trong ngôn ngữ, văn hóa, và các hệ thống tư pháp của nhiều cựu thuộc địa như Ấn Độ, Canada, Ireland, New Zealand, Nam Phi, Hoa Kỳ và Úc. Phạm vi ảnh hưởng văn hóa đáng kể của Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland khiến quốc gia này được mô tả như là một "siêu cường văn hóa." === Văn học === Hầu hết tác phẩm văn học Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland được viết bằng tiếng Anh. Năm 2005, khoảng 206.000 sách được xuất bản tại Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland và đến năm 2006 thì đây là quốc gia xuất bản nhiều sách nhất trên thế giới. Nhà viết kịch và nhà thơ người Anh William Shakespeare được nhận định phổ biến là nhà biên kịch vĩ đại nhất mọi thời đại, và những người cùng thời với ông là Christopher Marlowe và Ben Jonson cũng liên tục được quý trọng cao độ. Các tác gia Anh tiền hiện đại và đầu hiện đại gồm có Geoffrey Chaucer (thế kỷ 14), Thomas Malory (thế kỷ 15), Thomas More (thế kỷ 16), John Bunyan (thế kỷ 17) và John Milton (thế kỷ 17). Trong thế kỷ 18, Daniel Defoe (tác giả của Robinson Crusoe) và Samuel Richardson là những người tiên phong của tiểu thuyết hiện đại. Trong thế kỷ 19, tiếp tục có cách tân hơn nữa của Jane Austen, Mary Shelley, tác gia thiếu nhi Lewis Carroll, chị em nhà Brontë, nhà vận động xã hội Charles Dickens, nhà tự nhiên chủ nghĩa Thomas Hardy, nhà duy thực chủ nghĩa George Eliot, nhà thơ ảo tưởng William Blake và nhà thơ lãng mạn William Wordsworth. Các tác gia Anh thế kỷ 20 gồm có tiểu thuyết gia khoa học viễn tưởng H. G. Wells; các tác gia kinh điển thiếu nhi Rudyard Kipling, A. A. Milne, Roald Dahl và Enid Blyton; nhà phê bình D. H. Lawrence; nhà tân thời chủ nghĩa Virginia Woolf; nhà trào phúng Evelyn Waugh; tiểu thuyết gia tiên tri George Orwell; tiểu thuyết gia quần chúng W. Somerset Maugham và Graham Greene; tác gia hình sự Agatha Christie; Ian Fleming (James Bond); các nhà thơ T.S. Eliot, Philip Larkin và Ted Hughes; các tác gia tưởng tượng J. R. R. Tolkien, C. S. Lewis và J. K. Rowling; tiểu thuyết gia thị giác Alan Moore với tiểu thuyết Watchmen là một trong những tiểu thuyết thị giác bán chạy nhất từng được phát hành. Đóng góp của Scotland gồm có tác gia trinh thám Arthur Conan Doyle (sáng tác Sherlock Holmes), văn học lãng mạn của Walter Scott, tác gia thiếu nhi J. M. Barrie, những cuộc phiêu lưu sử thi của Robert Louis Stevenson và thi nhân trứ danh Robert Burns. Gần đây hơn, các nhà tân thời chủ nghĩa và dân tộc chủ nghĩa Hugh MacDiarmid và Neil M. Gunn đóng góp cho Phục hưng Scotland. Một quang cảnh dữ tợn hiện ra trong các câu chuyện của Ian Rankin và hài kịch kinh dị tâm lý của Iain Banks. Thủ đô Edinburgh của Scotland được UNESCO chọn làm thành phố văn học toàn cầu đầu tiên. Nhiều tác gia từ các quốc gia khác, chủ yếu từ các quốc gia Thịnh vượng chung, Cộng hòa Ireland và Hoa Kỳ, đã cư trú và làm việc tại Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland. Những trường hợp cụ thể trong nhiều thế kỷ gồm có Jonathan Swift, Oscar Wilde, Bram Stoker, George Bernard Shaw, Joseph Conrad, T.S. Eliot, Ezra Pound và gần đây hơn có các tác gia Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland sinh tại hải ngoại như Kazuo Ishiguro và Salman Rushdie. === Âm nhạc === Các phong cách âm nhạc khác nhau phổ biến tại Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland, từ âm nhạc dân gian bản địa của Anh, Wales, Scotland và Bắc Ireland cho đến âm nhạc heavy metal. Những nhà soạn nhạc cổ điển nổi tiếng từ Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland và các quốc gia tiền thân gồm có William Byrd, Henry Purcell, Edward Elgar, Gustav Holst, Arthur Sullivan, Ralph Vaughan Williams và Benjamin Britten, người tiên phong của nhạc kinh Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland hiện đại. Peter Maxwell Davies là một trong những nhà soạn nhạc hiện tại lỗi lạc nhất. Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland cũng là quê hương của các dàn nhạc và dàn hợp xướng giao hưởng nổi tiếng thế giới như Dàn nhạc giao hưởng BBC và Dàn hợp xướng London. Những chỉ huy nổi tiếng gồm có Simon Rattle, John Barbirolli và Malcolm Sargent. Một số nhà soạn nhạc nền phim đáng chú ý gồm có John Barry, Clint Mansell, Mike Oldfield, John Powell. George Frideric Handel là một công dân Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland nhập tịch và một số tác phẩm hay nhất của ông như Messiah được viết bằng tiếng Anh. Andrew Lloyd Webber đạt được thành công lớn về thương mại trên toàn cầu và là một nhà soạn nhạc của sân khấu âm nhạc, các tác phẩm của ông chi phối Rạp West End tại Luân Đông trong một số năm và đã đi đến Broadway tại New York. The Beatles bán được trên một tỷ đĩa trên toàn cầu và là ban nhạc có ảnh hưởng nhất trong lịch sử âm nhạc đại chúng. Những người đóng góp Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland nổi bật khác có tác động đến âm nhạc đại chúng trong những thập niên qua gồm có The Rolling Stones, Led Zeppelin, Pink Floyd, Queen, Bee Gees, và Elton John, họ đều bán được trên 200 triệu đĩa trên toàn cầu. Giải Brit là giải thưởng âm nhạc thường niên của BPI, và một số nhận giải Đóng góp nổi bật cho âm nhạc như The Who, David Bowie, Eric Clapton, Rod Stewart và The Police. Những ca sĩ Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland gần đây có thành công trên quy mô quốc tế gồm có Coldplay, Radiohead, Oasis, Spice Girls, Robbie Williams, Amy Winehouse và Adele. === Điện ảnh === Anh Quốc có ảnh hưởng đáng kể đến lịch sử điện ảnh, các đạo diễn người Anh Quốc như Alfred Hitchcock với Vertigo được một số nhà phê bình nhận định là phim hay nhất mọi thời đại, và David Lean nằm trong số những người được hoan nghênh nhất về phê bình mọi thời đại. Các đạo diễn quan trọng khác gồm có Charlie Chaplin, Michael Powell, Carol Reed và Ridley Scott. Nhiều diễn viên Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland đạt được danh tiếng quốc tế và thành công về phê bình, bao gồm: Julie Andrews, Richard Burton, Michael Caine, Charlie Chaplin, Sean Connery, Vivien Leigh, David Niven, Laurence Olivier, Peter Sellers, Kate Winslet, Anthony Hopkins, và Daniel Day-Lewis. Một số phim thành công nhất về thương mại trong mọi thời đại được sản xuất tại Anh Quốc, bao gồm Harry Potter và James Bond). Ealing Studios được tuyên bố là xưởng phim hoạt động liên tục lâu năm nhất trên thế giới. Mặc dù có một lịch sử với các sản phẩm quan trọng và thành công, công nghiệp điện ảnh Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland thường mang đặc trưng bắt nguồn từ tranh luận về bản sắc và mức độ ảnh hưởng của Hoa Kỳ và châu Âu. Các nhà sản xuất Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland hoạt động trong hợp tác sản xuất quốc tế và các diễn viên, đạo diễn, và đoàn làm phim Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland thường xuyên tham gia trong các bộ phim Mỹ. Nhiều phim thành công của Hollywood dựa trên nhân vật, các câu chuyện hoặc sự kiện của Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland như Titanic, The Lord of the Rings, Pirates of the Caribbean. Năm 2009, các bộ phim Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland thu về khoảng 2 tỷ $ trên toàn cầu và giành thị phần khoảng 7% toàn cầu và 17% tại Anh Quốc. Doanh thu phòng vé tại Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland đạt tổng cộng 944 triệu £ vào năm 2009. Hiệp hội Điện ảnh Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland lập ra một bảng xếp hạng 100 phim Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland hay nhất mọi thời đại mang tên BFI Top 100 British films. Giải thưởng điện ảnh hàn lâm Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland được Viện Hàn lâm Nghệ thuật Điện ảnh và Truyền hình Anh Quốc tổ chức thường niên. === Truyền thông === BBC được thành lập vào năm 1922 là công ty phát thanh, truyền hình và truyền thông mạng sử dụng công quỹ của Anh Quốc, và là cơ quan phát thanh truyền hình lâu năm nhất và lớn nhất trên thế giới. Công ty vận hành nhiều trạm truyền hình và phát thanh tại Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland và phát ra hải ngoại, dịch vụ quốc nội của công ty lấy kinh phí từ thuế truyền hình. Những cơ quan khác trong lĩnh vực truyền thông tại Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland gồm có ITV plc với 11 trong số 15 đài truyền hình khu vực hình thành ITV Network, và News Corporation sở hữu một số báo chí toàn quốc thông qua News International như The Sun và The Times, cũng như nắm giữ một cổ phần lớn trong British Sky Broadcasting. Luân Đôn chi phối lĩnh vực truyền thông tại Anh Quốc: các báo chí và truyền hình cùng phát thanh toàn quốc phần lớn có trụ sở tại đây, song Manchester cũng là một trung tâm truyền thông quốc gia quan trọng. Edinburgh cùng Glasgow, và Cardiff, là các trung tâm quan trọng về báo chí và phát thanh truyền hình tại Scotland và Wales. Lĩnh vực xuất bản tại Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland có tổng doanh thu khoảng 20 tỷ £ và sử dụng 167.000 người. Năm 2009, theo ước tính khán giả xem truyền hình trung bình 3,75 giờ và nghe phát thanh trung bình 2,81 giờ mỗi ngày. Trong năm này, các kênh phát sóng công cộng của BBC chiếm khoảng 28,4% tổng số theo dõi; ba kênh độc lập chính chiếm 29,5% và các kênh vệ tinh và kỹ thuật số đang ngày càng quan trọng khác chiếm 42,1% còn lại. Số lượng báo bán ra giảm từ thập niên 1970 và trong năm 2009 có 42% nhân dân được tường thuật là đọc một tờ báo toàn quốc mỗi ngày. Năm 2010, 82,5% cư dân Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland sử dụng Internet, đây là tỷ lệ cao nhất trong 20 quốc gia có tổng số người sử dụng lớn nhất vào cùng năm. === Thể thao === Các môn thể thao chủ yếu, bao gồm bóng đá, bóng bầu dục kiểu liên hiệp, bóng bầu dục kiểu liên minh, quần vợt, golf, quyền Anh, rowing và cricket, bắt nguồn hoặc về căn bản được phát triển tại Anh Quốc hoặc các quốc gia tiền thân. Do luật lệ và quy tắc của nhiều môn thể thao hiện đại được phát minh và hệ thống hóa vào cuối thế kỷ 19 tại Anh Quốc thời kỳ Victoria, năm 2002, Chủ tịch IOC Jacques Rogge nói rằng; "Quốc gia vĩ đại, yêu mến thể thao này được công nhận phổ biến là sinh quán của thể thao hiện đại". Trong hầu hết các cuộc tranh tài quốc tế, các đội tuyển riêng biệt đại diện cho Anh, Scotland và Wales. Bắc Ireland và Cộng hòa Ireland thường liên hiệp trong một đội tuyển duy nhất đại diện cho toàn đảo, ngoại lệ đáng chú ý là bóng đá và Đại hội thể thao Thịnh vượng chung. Trong phạm vi thể thao, các đội tuyển Anh, Scotland, Wales, Ireland/Bắc Ireland thường được gọi chung là "Home Nations". Trong một số môn thể thao, một đội tuyển duy nhất đại diện cho toàn Anh Quốc, bao gồm trong Thế vận hội. Các Thế vận hội Mùa hè 1908, 1948 và 2012 được tổ chức tại Luân Đôn, và đây là thành phố đầu tiên tổ chức đại hội này ba lần. Anh Quốc tham dự mọi kỳ Thế vận hội hiện đại cho đến nay và đứng thứ ba tổng số huy chương. Một cuộc thăm dò ý kiến vào năm 2003 cho thấy rằng bóng đá là môn thể thao phổ biến nhất tại Anh Quốc. Mỗi một quốc gia cấu thành có hiệp hội, đội tuyển quốc gia và hệ thống giải đấu bóng đá riêng. Giải đấu bóng đá đứng đầu tại Anh là Giải Ngoại hạng, đây là giải đấu bóng đá được xem nhiều nhất trên thế giới. Trận đấu bóng đá quốc tế đầu tiên là cuộc tranh tài giữa Anh và Scotland vào ngày 30 tháng 11 năm 1872. Anh, Scotland, Wales và Bắc Ireland cạnh tranh như các quốc gia riêng biệt trong thi đấu quốc tế. Một đội tuyển bóng đá Thế vận hội Anh Quốc tập hợp để thi đấu trong Thế vận hội Luân Đôn 2012. Tuy nhiên, các hiệp hội bóng đá của Scotland, Wales, Bắc Ireland từ chối tham gia, do lo ngại rằng điều này sẽ làm suy yếu địa vị độc lập của họ. Năm 2003, bóng bầu dục liên hiệp được xếp hạng là môn thể thao phổ biến thứ nhì tại Anh Quốc. Môn thể thao này được sáng tạo tại Anh, và trận thi đấu bóng bầu dục đầu tiên diễn ra vào ngày 27 tháng 3 năm 1871 giữa Anh và Scotland. Anh, Scotland, Wales, Ireland, Pháp và Ý tham dự Giải vô địch Lục quốc; giải đấu quốc tế đứng đầu tại Bắc Bán cầu. Các cơ quan quản lý thể thao tại Anh, Scotland, Wales và Bắc Ireland tổ chức và điều tiết riêng biệt về thi đấu. Nếu bất kỳ đội tuyển đảo Anh hoặc Ireland nào đánh bại ba đội khác trong một giải đấu, đội tuyển sẽ được trao thưởng Triple Crown. Bóng bầu dục liên minh bắt nguồn tại Huddersfield và thường được chơi tại miền bắc Anh. Một đội tuyển 'Great Britain Lions' duy nhất tham dự Giải vô địch bóng bầu dục liên minh Thế giới và các giải đấu Test, song điều này thay đổi vào năm 2008 khi Anh, Scotlad và Ireland tham dự với tư cách các quốc gia riêng. Cricket được phát minh tại Anh, đội tuyển cricket Anh do Ủy ban Cricket Anh và Wales kiểm soát, là đội tuyển quốc gia duy nhất tại Anh Quốc có vị thế Test. Cricket khác biệt với bóng đá và bóng bầu dục ở chỗ Wales và Anh liên hiệp trong đội tuyển quốc gia, dù Wales từng có đội tuyển riêng. Các cầu thủ người Ireland và Scotland được phép thi đấu cho Anh do hai đội tuyển Scotland và Ireland đều không có vị thế Test và chỉ gần đây mới bắt đầu thi đấu tại One Day International. Scotland, Anh (và Wales), và Ireland (bao gồm Bắc Ireland) thi đấu trong Giải vô địch Cricket thế giới, Anh từng vài lần vào đến trận chung kết. Có một giải đấu chuyên nghiệp, trong đó các câu lạc bộ đại diện cho 17 hạt của Anh và một hạt của Wales tham gia tranh tài. Quần vợt hiện đại bắt nguồn từ Birmingham, Anh trong thập niên 1860, sau đó truyền bá ra toàn cầu. Giải Vô địch Wimbledon diễn ra lần đầu tiên vào năm 1877 và là giải đấu lâu năm nhất thế giới, hiện nay sự kiện diễn ra vào cuối tháng 6 và đầu tháng 7. === Tượng trưng === Quốc kỳ Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland là Quốc kỳ Liên minh, nó được tạo ra vào năm 1606 do xếp chồng quốc kỳ Anh lên quốc kỳ Scotland và được cập nhật vào năm 1801 khi thêm vào Hiệu kỳ Thánh Patrick. Wales không được đại diện trong Quốc kỳ Liên minh do quốc gia này bị Anh thôn tính trước khi thành lập Vương quốc Liên hiệp. Khả năng tái thiết kế Quốc kỳ Liên hiệp nhằm có đại diện cho Wales không hoàn toàn bị loại trừ. Quốc ca của Anh Quốc là "God Save the King", với "King" thay bằng "Queen" trong lời nếu quân chủ là một nữ giới. Britannia là hiện thân quốc gia của Anh Quốc, bắt nguồn từ Britain thuộc La Mã. Britannia được tượng trưng hóa là một phụ nữ trẻ tuổi có tóc màu nâu hoặc vàng, đội một mũ sắt Corinth và mặc áo choàng trắng. Bà giữ một đinh ba của Poseidon và một khiên, có thể hiện Quốc kỳ Liên minh. Đôi khi bà được mô tả là cưỡi trên lưng một con sư tử. Do đỉnh cao của Đế quốc Anh vào cuối thế kỷ 19, Britannia thường được gắn liền với sự chi phối hàng hải của Anh Quốc, như trong bài ca ái quốc "Rule, Britannia!". Cho đến năm 2008, biểu tượng sư tử được mô tả sau Britannia trên đồng 50 xu và trên mặt sau của đồng 10 xu. Nó cũng được sử dụng như là một tượng trưng trên hiệu kỳ phi lễ nghi của Lục quân Anh Quốc. Chó Bull đôi khi được sử dụng như là một tương trưng của Anh Quốc và được liên hệ với sự thách thức của Winston Churchill với Đức Quốc xã. == Ghi chú == == Xem thêm == Anh Scotland Wales Bắc Ireland == Tham khảo == == Liên kết ngoài ==
ah6.txt
Đường Xuyên Á 6 (AH6) là đường nằm trên Đường Xuyên Á. Nó chạy từ Busan, Hàn Quốc (trên ) đến biên giới giữa Nga và Belarus. Tổng chiều dài là 10.533 kilômét (6.545 mi). Đối với phần lớn của chiều dài nước Nga, AH6 trùng với Đường cao tốc Trans-Siberian và, phía Tây của Dãy núi Ural, với Tuyến đường châu Âu E30. == Hàn Quốc == Tuyến đô thị Busan 61: Busan - Trung tâm - Busan - Nopo-dong Quốc lộ 7: Busan - Nopo-dong - Ulsan - Pohang - Donghae Đường cao tốc Donghae: Donghae - Gangneung - Sokcho Quốc lộ 7: Sokcho - Goseong == Triều Tiên == Đường cao tốc Wonsan–Mount Kumgang: Kosong - Wonsan Nhánh: Đường cao tốc Pyongyang–Wonsan: Wonsan - Pyongyang (Đánh dấu như Quốc lộ 7 của Hàn Quốc): Wonsan - Hamhung - Sinpo - Tanchon - Kimchaek - Chongjin - Rason == Nga == A189 Đường A189: Khasan - Razdolnoye A370 Đường A370: ( Đường cao tốc M60 trước 2010): Razdolnoye - Ussuriysk A184 Đường A184: Ussuriysk - Pogranichny == Trung Quốc == Đường cao tốc G10: Tuy Phân Hà - Cáp Nhĩ Tân - Tề Tề Cáp Nhĩ - Cam Nam Đường cao tốc quốc gia 301: Cam Nam - Mãn Châu Lý == Nga == A350 Đường A350 (A166 Đường A166 trước 2010): Zabaykalsk - Chita P258 P258 Road ( Đường cao tốc M55 trước 2010): Chita - Ulan-Ude - Irkutsk P255 P255 Road ( Đường cao tốc M53 trước 2010): Irkutsk - Krasnoyarsk - Novosibirsk P254 P254 Road ( Đường cao tốc M51 trước 2010): Novosibirsk - Omsk - Isilkul == Kazakhstan == Đường cao tốc M51: Karakoga - Petropavl - Chistoe == Nga == P254 Đường P254 ( Đường cao tốc M51 trước 2010): Petukhovo - Kurgan - Chelyabinsk Đường cao tốc M5: Chelyabinsk - Ufa - Samara - Moskva Đường cao tốc M1:Moskva - Krasnoye ( Belarus: Đường cao tốc M1) == Tham khảo ==
nước cường toan.txt
Nước cường toan hay nước cường thủy (Hán Việt: 強酸水,強水; tên tiếng Latinh là aqua regia, tức "nước hoàng gia") là chất ăn mòn mạnh, ở dạng lỏng, màu vàng, dễ bay hơi. Nó được tạo thành bằng cách trộn lẫn dung dịch axit nitric đậm đặc và dung dịch axít clohiđric đậm đặc, tối ưu là ở tỉ lệ mol 1:3. Nó là một trong số ít thuốc thử có khả năng hòa tan vàng và bạch kim. Nó có tên gọi "aqua regia" vì đặc tính có thể hòa tan được những kim loại "hoàng tộc" hoặc "quý tộc", mặc dù tantali, iridi, và một vài kim loại cực kỳ thụ động khác không bị hòa tan trong nước cường toan. Nó được sử dụng trong việc khắc bằng axít và trong những thủ tục phân tích. Do có sự hình thành các chất dễ bay hơi là nitrozyl clorua (NOCl) và khí clo, nước cường toan sẽ nhanh chóng mất tác dụng cho nên nó chỉ được pha trộn khi cần sử dụng. == Một số phương trình phản ứng == Các axít riêng biệt trong nước cường toan tự nó không thể hòa tan được vàng. Khi kết hợp với nhau tạo thành nước cường toan, mỗi axít thực hiện một nhiệm vụ khác nhau. Axít nitric (chất ôxi hóa mạnh) sẽ hòa tan một lượng rất nhỏ vàng, tạo ra những ion vàng (Au3+). Axít clohiđric sẵn sàng cung cấp những ion clo (Cl-), các ion này sẽ kết hợp với ion vàng để tạo ra các anion cloraurat (AuCl4-). Vì phản ứng với axít clohiđric là phản ứng hoàn toàn nên các ion vàng sẽ kết hợp hết với các ion clo, cho phép sự ôxi hóa vàng tiếp tục diễn ra. Cứ như vậy, vàng sẽ bị hòa tan hết. Thêm vào đó, vàng có thể bị ôxi hóa bởi clo tự do. Các phương trình của những phản ứng trên được biểu diễn như sau: Au (rắn) + 3 NO3- (dung dịch) + 6 H+ (dung dịch) → Au3+ (dung dịch) + 3 NO2 (khí) + 3 H2O (lỏng) Au3+ (dung dịch) + 4 Cl- (dung dịch) → AuCl4- (dung dịch) Phản ứng ôxi hóa trong trường hợp sản phẩm tạo thành là nitơ mônôxít thay vì nitơ điôxít: Au (rắn) + NO3- (dung dịch) + 4 H+ (dung dịch) → Au3+ (dung dịch) + NO (khí) + 2 H2O (lỏng) Chuỗi phản ứng hòa tan bạch kim trong nước cường toan (tương tự như với vàng): Pt (rắn) + 4 NO 3- (dung dịch) + 8 H+ (dung dịch) → Pt4+ (dung dịch) + 4 NO2 (khí) + 4 H2O (lỏng) Pt (rắn) + 4/3 NO 3- (dung dịch) + 16/3 H+ (dung dịch) → Pt4+ (dung dịch) + 4/3 NO (khí) + 8/3 H2O (lỏng) Ion bạch kim sau khi bị ôxi hóa lại phản ứng với ion clo tạo thành ion cloroplatinat. Pt4+ (dung dịch) + 6 Cl- (dung dịch) → PtCl62- (dung dịch) Trong thực tế, phản ứng của bạch kim với nước cường toan phức tạp hơn. Những phản ứng ban đầu tạo ra hỗn hợp axít cloroplatinơ (H2PtCl4) và nitrosoplatinic clorua ((NO)2PtCl4). Nitrosoplatinic clorua là chất rắn. Nếu muốn hòa tan hoàn toàn bạch kim, thì phản ứng tạo ra kết tủa nitrosoplatinic clorua dư với axít clohiđric đậm đặc phải được thực hiện lặp đi lặp lại nhiều lần. Pt (rắn) + 2 HNO3 (dung dịch) + 4 HCl (dung dịch) → (NO)2PtCl4 (kết tủa) + 3 H2O (lỏng) + 1/2 O2 (khí) (NO)2PtCl4 (kết tủa) + 2 HCl (dung dịch) → H2PtCl4 (dung dịch) + NOCl (khí) Axít cloroplatinơ có thể bị ôxi hóa thành axít cloroplatinic khi phản ứng với khí clo trong điều kiện đun nóng. H2PtCl4 (dung dịch) + Cl2 (khí) → H2PtCl6 (dung dịch) == Sự phân ly của nước cường toan == Nếu trộn lẫn dung dịch axít nitric đậm đặc và dung dịch axít clohiđric đậm đặc thì các phản ứng hóa học sẽ bắt đầu xảy ra. Những phản ứng này tạo ra các chất dễ bay hơi là nitrozyl clorua (NOCl) và khí clo, dẫn đến sự bốc khói tự nhiên của nước cường toan. Màu vàng của các chất này làm cho nước cường toan có màu vàng đặc trưng. Vì các chất tạo thành bay hơi khỏi dung dịch, nên nước cường toan sẽ mất hiệu nghiệm. HNO3 (dung dịch) + 3 HCl (dung dịch) → NOCl (khí) + Cl2 (khí) + 2 H2O (lỏng) Nitrozyl clorua có thể bị phân ly thành nitơ monoxit và khí clo. Đó là quá trình phân ly không hoàn toàn. Do đó, khói bốc lên từ nước cường toan có chứa nitrozyl clorua, nitơ mônôxít và khí clo. 2 NOCl (khí) → 2 NO (khí) + Cl2 (khí) == Lịch sử == Axít clohidric được phát hiện lần đầu tiên vào khoảng năm 800 bởi nhà giả kim người Hồi giáo Jabir Ibn Hayyan (Gaber), bằng cách trộn muối ăn với axít sulfuric. Phát minh của Jabir về nước cường toan, bao gồm axít clohiđric và axít nitric, đã đóng góp vào sự cố gắng tìm kiếm đá tạo vàng của những nhà giả kim thuật. Khi Đức xâm chiếm Đan Mạch trong Chiến tranh thế giới thứ II, nhà hóa học người Hungary George de Hevesy đã hòa tan những huân chương Nobel bằng vàng của Max von Laue và James Franck vào nước cường toan để ngăn không cho bọn phát xít ăn cắp chúng. Ông đã cất giữ dung dịch sau phản ứng trên ngăn sách trong phòng thí nghiệm của mình tại học viện Niels Bohr. Sau chiến tranh, ông trở lại, thấy dung dịch không hề suy chuyển, tiến hành kết tủa để thu lại vàng ra khỏi axít. Số vàng này đã được hoàn trả về viện Hàn Lâm Khoa học Hoàng Gia Thụy Điển để đúc lại những huân chương mới cho Laue và Franck.[1] == Những nguồn tham khảo == The Nobel Medals == Tham khảo == == Liên kết ngoài == Aqua regia (chemistry) tại Encyclopædia Britannica (tiếng Anh) Chemistry Comes Alive! Aqua Regia The Columbia Encyclopedia: Aqua Regia
eira.txt
Eira là một chi động vật có vú trong họ Chồn, bộ Ăn thịt. Chi này được C. E. H. Smith miêu tả năm 1842. Loài điển hình của chi này là Mustela barbara Linnaeus, 1758. == Các loài == Chi này gồm các loài: == Hình ảnh == == Chú thích == == Tham khảo == Dữ liệu liên quan tới Eira tại Wikispecies Phương tiện liên quan tới Eira tại Wikimedia Commons
muhammadu buhari.txt
Muhammadu Buhari (sinh 17 tháng 12 năm 1942) được bầu làm tổng thống Nigeria và là cựu thiếu tướng tướng quân đội Nigeria. Ông đã là quốc trưởng Nigeria từ 31 tháng 12 năm 1983 tới 27 tháng 8 năm 1985, sau khi nắm quyền trong một cuộc đảo chính của quân đội. Sau những tranh giành trong quân đội chính ông 1985 qua một cuộc đảo chính bởi tướng Ibrahim Babangida bị hạ bệ và bị bắt giam cho tới 1988. Ông đã ra ứng cử tổng thống Nigeria 3 lần 2003, 2007, 2011 nhưng thất bại. Trong cuộc bầu cử 2015 Buhari đã đánh bại tổng thống đang cầm quyền Goodluck Jonathan. Người dân cho là ông có thể đánh thắng nhóm khủng bố Boko Haram, và sẽ chăm sóc cho đa số dân nghèo ở miền Bắc Hồi giáo tốt hơn là tổng thống hiện thời, một người theo đạo Ki tô ở vùng châu thổ sông Niger. Buhari xuất thân từ Daura thuộc bang Katsina; gốc dân Fulani. Buhari đã tuyên bố là ông ta chịu trách nhiệm cho những gì đã xảy ra trong thời quân đội lãnh đạo dưới quyền ông, nói là không có thể thay đổi quá khứ, và tự cho là mình đã trở thành một người dân chủ. == Chú thích == == Liên kết ngoài == Website chính thức 2011 Presidential Election Campaign website Muhammadu Buhari - In a HARDtalk interview on ngày 21 tháng 1 năm 2004
microsoft visual studio.txt
Microsoft Visual Studio là một môi trường phát triển tích hợp (IDE) từ Microsoft. Nó được sử dụng để phát triển chương trình máy tính cho Microsoft Windows, cũng như các trang web, các ứng dụng web và các dịch vụ web. Visual Studio sử dụng nền tảng phát triển phần mềm của Microsoft như Windows API, Windows Forms, Windows Presentation Foundation, Windows Store và Microsoft Silverlight. Nó có thể sản xuất cả hai ngôn ngữ máy và mã số quản lý. Visual Studio bao gồm một trình soạn thảo mã hỗ trợ IntelliSense cũng như cải tiến mã nguồn. Trình gỡ lỗi tích hợp hoạt động cả về trình gỡ lỗi mức độ mã nguồn và gỡ lỗi mức độ máy. Công cụ tích hợp khác bao gồm một mẫu thiết kế các hình thức xây dựng giao diện ứng dụng, thiết kế web, thiết kế lớp và thiết kế giản đồ cơ sở dữ liệu. Nó chấp nhận các plug-in nâng cao các chức năng ở hầu hết các cấp bao gồm thêm hỗ trợ cho các hệ thống quản lý phiên bản (như Subversion) và bổ sung thêm bộ công cụ mới như biên tập và thiết kế trực quan cho các miền ngôn ngữ cụ thể hoặc bộ công cụ dành cho các khía cạnh khác trong quy trình phát triển phần mềm. Visual Studio hỗ trợ nhiều ngôn ngữ lập trình khác nhau và cho phép trình biên tập mã và gỡ lỗi để hỗ trợ (mức độ khác nhau) hầu như mọi ngôn ngữ lập trình. Các ngôn ngữ tích hợp gồm có C, C++ và C++/CLI (thông qua Visual C++), VB.NET (thông qua Visual Basic.NET), C# (thông qua Visual C#) và F# (như của Visual Studio 2010). Hỗ trợ cho các ngôn ngữ khác như J++/J#, Python và Ruby thông qua dịch vụ cài đặt riêng rẽ. Nó cũng hỗ trợ XML/XSLT, HTML/XHTML, JavaScript và CSS. Microsoft cung cấp phiên bản "Express" (đối với phiên bản Visual Studio 2013 trở về trước) và "Comunity" (đối với bản Visual Studio 2015) là phiên bản miễn phí của Visual Studio. == Cấu trúc == Visual Studio không hỗ trợ cho bất kỳ ngôn ngữ lập trình nào về giải pháp hoặc công cụ thực chất, thay vào đó nó cho phép cắm chức năng được mã hóa như là một VSPackage. Khi cài đặt, các chức năng có sẵn như là một dịch vụ. IDE cung cấp ba dịch vụ: SVsSolution cung cấp khả năng liệt kê các dự án và các giải pháp; SVsUIShell cung cấp cửa sổ và giao diện người dùng và SVsShell. Ngoài ra, IDE cũng có trách nhiệm điều phối và cho phép truyền thông giữa các dịch vụ. Tất cả các biên tập viên, nhà thiết kế, các loại dự án và các công cụ khác được thực hiện theo VSPackages. Visual Studio sử dụng COM để truy cập VSPackages. Visual Studio SDK cũng bao gồm Managed Package Framework (MPF) là một tập hợp quản lý bao bọc quanh các COM-interfaces cho phép các gói được viết bằng bất kỳ ngôn ngữ nào. Tuy nhiên, MPF không cung cấp tất cả các chức năng bộc lộ trong Visual Studio COM-interfaces. Các dịch vụ có thể được tiêu thụ để tạo ra các gói khác, để thêm chức năng cho Visual Studio IDE. Hỗ trợ cho các ngôn ngữ lập trình được thêm vào bằng cách sử dụng một VSPackage đặc biệt được gọi là một dịch vụ ngôn ngữ. Một dịch vụ ngôn ngữ định nghĩa giao tiếp khác nhau mà việc thực hiện VSPackage có thể thực hiện để hỗ trợ thêm cho các chức năng khác nhau. Các chức năng có thể được thêm vào theo cách này bao gồm cú pháp màu, hoàn thành báo cáo kết quả, kết hợp đôi, công cụ chú giải tham số thông tin, danh sách thành viên và đánh dấu lỗi trên nền biên dịch. Nếu giao diện được thực hiện, các tính năng sẽ có sẵn ngôn ngữ. Dịch vụ ngôn ngữ sẽ được thực hiện trên cơ sở mỗi ngôn ngữ. Việc triển khai có thể tái sử dụng mã từ phân tích cú pháp hoặc trình biên dịch cho ngôn ngữ. Dịch vụ ngôn ngữ có thể được triển khai hoặc trong mã nguồn gốc hoặc mã số quản lý. Đối với mã nguồn gốc, thì cả COM-interfaces gốc hoặc Babel Framework (một phần của Visual Studio SDK) đều có thể được sử dụng. Đối với mã số quản lý thì các MPF sẽ bao hàm các dịch vu quản lý văn bản. Visual Studio không bao gồm bất kỳ Hệ thống quản lý phiên bản hỗ trợ kiểm soát mã nguồn nhưng nó xác định hai cách thay thế cho các hệ thống kiểm soát mã nguồn để tích hợp với IDE. Một VSPackage kiểm soát mã nguồn có thể cung cấp giao diện người dùng tùy chỉnh của riêng mình. Ngược lại, một plugin kiểm soát mã nguồn bằng cách sử dụng MSSCCI (Microsoft Source Code Control Interface) cung cấp một tập các chức năng được sử dụng để thực hiện chức năng kiểm soát mã nguồn khác nhau, với một giao diện người dùng Visual Studio tiêu chuẩn. MSSCCI lần đầu tiên được sử dụng để tích hợp Visual SourceSafe với Visual Studio 6.0 nhưng sau đó được mở ra thông qua Visual Studio SDK. Visual Studio.NET 2002 dùng MSSCCI 1.1, và Visual Studio.NET 2003 dùng MSSCCI 1.2. Visual Studio 2005, 2008 và 2010 dùng MSSCCI 1.3. Visual Studio hỗ trợ chạy nhiều cá thể của môi trường (tất cả đều có VSPackages riêng của mình). Những trường hợp sử dụng các registry hives khác nhau để lưu trữ trạng thái cấu hình và được phân biệt bởi AppID (Application ID). Các trường hợp được đưa ra bởi một AppId-specific.exe cụ thể mà lựa chọn AppID, thiết lập các hive gốc và khởi chạy IDE. VSPackages đăng ký một AppID được tích hợp với VSPackages khác cho AppID đó. Các phiên bản sản phẩm khác nhau của Visual Studio được tạo ra bằng cách sử dụng AppIds khác nhau. Các sản phẩm phiên bản Visual Studio Express được cài đặt với AppIds riêng nhưng với các sản phẩm Standard, Professional và Team Suite chia sẻ cùng AppID. Do đó, người ta có thể cài đặt các phiên bản Express song song với các phiên bản khác, không giống như các phiên bản khác cập nhật các cài đặt tương tự. Phiên bản Professional bao gồm các VSPackages khổng lồ trong phiên bản Standard và Team. Hệ thống AppID được thừa hưởng bởi Visual Studio Shell trong Visual Studio 2008. == Tính năng == === Biên tập mã === Giống như bất kỳ IDE khác, nó bao gồm một trình soạn thảo mã hỗ trợ tô sáng cú pháp và hoàn thiện mã bằng cách sử dụng IntelliSense không chỉ cho các biến, hàm và các phương pháp mà còn các cấu trúc ngôn ngữ như vòng điều khiển hoặc truy vấn. IntelliSense được hỗ trợ kèm theo cho các ngôn ngữ như XML, Cascading Style Sheets và JavaScript khi phát triển các trang web và các ứng dụng web. Các đề xuất tự động hoàn chỉnh được xuất hiện trong một hộp danh sách phủ lên trên đỉnh của trình biên tập mã. Trong Visual Studio 2008 trở đi, nó có thể được tạm thời bán trong suốt để xem mã che khuất bởi nó. Các trình biên tập mã được sử dụng cho tất cả các ngôn ngữ được hỗ trợ. Các trình biên tập mã Visual Studio cũng hỗ trợ cài đặt dấu trang trong mã để điều hướng nhanh chóng. Hỗ trợ điều hướng khác bao gồm thu hẹp các khối mã lệnh và tìm kiếm gia tăng, ngoài việc tìm kiếm văn bản thông thường và tìm kiếm Biểu thức chính quy. Các trình biên tập mã cũng bao gồm một bìa kẹp đa mục và một danh sách công việc. Các trình biên tập mã hỗ trợ lưu lại các đoạn mã được lặp đi lặp lại nhằm để chèn vào mã nguồn sử dụng về sau. Một công cụ quản lý cho đoạn mã được xây dựng là tốt. Những công cụ này nổi lên như các cửa sổ trôi nổi có thể được thiết lập để tự động ẩn khi không sử dụng hoặc neo đậu đến các cạnh của màn hình. Các trình biên tập mã Visual Studio cũng hỗ trợ cải tiến mã nguồn bao gồm tham số sắp xếp lại, biến và phương pháp đổi tên, khai thác và đóng gói giao diện các lớp thành viên bên trong những trạng thái giữa những thứ khác. Visual Studio có tính năng biên dịch nền (còn gọi là biên dịch gia tăng). Như mã đang được viết, Visual Studio biên dịch nó trong nền để cung cấp thông tin phản hồi về cú pháp và biên dịch lỗi, được đánh dấu bằng một gạch dưới gợn sóng màu đỏ. Biên dịch nền không tạo ra mã thực thi, vì nó đòi hỏi một trình biên dịch khác hơn là để sử dụng tạo ra mã thực thi. Biên dịch nền ban đầu được giới thiệu với Microsoft Visual Basic nhưng bây giờ đã được mở rộng cho tất cả các ngôn ngữ. === Trình gỡ lỗi === Visual Studio có một trình gỡ lỗi hoạt động vừa là một trình gỡ lỗi cấp mã nguồn và là một trình gỡ lỗi cấp máy. Nó hoạt động với cả hai mã quản lý cũng như ngôn ngữ máy và có thể được sử dụng để gỡ lỗi các ứng dụng được viết bằng các ngôn ngữ được hỗ trợ bởi Visual Studio. Ngoài ra, nó cũng có thể đính kèm theo quy trình hoạt động và theo dõi và gỡ lỗi những quy trình. Nếu mã nguồn cho quá trình hoạt động có sẵn, nó sẽ hiển thị các mã như nó đang được chạy. Nếu mã nguồn không có sẵn, nó có thể hiển thị các tháo gỡ. Các Visual Studio debugger cũng có thể tạo bãi bộ nhớ cũng như tải chúng sau để gỡ lỗi. Các chương trình đa luồng cao cấp cũng được hỗ trợ. Trình gỡ lỗi có thể được cấu hình sẽ được đưa ra khi một ứng dụng đang chạy ngoài Visual Studio bị treo môi trường. Trình gỡ lỗi cho phép thiết lập các breakpoint (mà cho phép thực thi được tạm thời dừng lại tại một vị trí nhất định) và watch (trong đó giám sát các giá trị của biến là việc thực hiện tiến bộ). Breakpoint có thể có điều kiện, nghĩa là chúng được kích hoạt khi điều kiện được đáp ứng. Mã có thể được biểu diễn, tức là chạy một dòng (của mã nguồn) tại một thời điểm. Nó có hoặc là bước sang các chức năng để gỡ lỗi bên trong nó, hoặc là nhảy qua nó, tức là, việc thực hiện các chức năng không có sẵn để kiểm tra thủ công. Trình gỡ lỗi hỗ trợ Edit and Continue, nghĩa là, nó cho phép mã được chỉnh sửa khi nó đang được sửa lỗi (chỉ có 32 bit, không được hỗ trợ trong 64 bit). Khi gỡ lỗi, nếu con trỏ chuột di chuyển lên bất kỳ biến, giá trị hiện tại của nó được hiển thị trong phần chú giải ("chú thích dữ liệu"), nơi mà nó cũng có thể được thay đổi nếu muốn. Trong quá trình viết mã, các trình gỡ lỗi của Visual Studio cho phép một số chức năng được gọi ra bằng tay từ cửa sổ công cụ Immediate. Các thông số cho phương thức được cung cấp tại các cửa sổ Immediate. === Thiết kế === Windows Forms Designer: được sử dụng để xây dựng GUI sử dụng Windows Forms; bố trí có thể được xây dựng bằng các nút điều khiển bên trong hoặc khóa chúng vào bên cạnh mẫu. Điều khiển trình bày dữ liệu (như hộp văn bản, hộp danh sách, vv) có thể được liên kết với các nguồn dữ liệu như cơ sở dữ liệu hoặc truy vấn. Các điều khiển dữ liệu ràng buộc có thể được tạo ra bằng cách rê các mục từ cửa sổ nguồn dữ liệu lên bề mặt thiết kế. Các giao diện người dùng được liên kết với mã sử dụng một mô hình lập trình hướng sự kiện. Nhà thiết kế tạo ra bằng C thăng hay VB.NET cho ứng dụng. WPF Designer: có tên mã là Cider, được giới thiệu trong Visual Studio 2008. Giống như Windows Forms Designer, hỗ trợ kéo và thả ẩn dụ. Sử dụng tương tác người-máy nhắm mục tiêu theo Windows Presentation Foundation. Nó hỗ trợ các chức năng WPF bao gồm kết nối dữ liệu và tự động hóa bố trí quản lý. Nó tạo ra mã XAML cho giao diện người dùng. Các tập tin XAML được tạo ra là tương thích với Microsoft Expression Design, sản phẩm thiết kế theo định hướng. Các mã XAML được liên kết với mã đang sử dụng một mô hình code-behind. Web designer/development: Visual Studio cũng bao gồm một trình soạn thảo và thiết kế trang web cho phép các trang web được thiết kế bằng cách kéo và thả các đối tượng. Nó được sử dụng để phát triển các ứng dụng ASP.NET và hỗ trợ HTML, CSS và JavaScript. Nó sử dụng mô hình code-behind để liên kết với mã ASP.NET. Từ Visual Studio 2008 trở đi, công cụ bố trí được sử dụng bởi các nhà thiết kế web được chia sẻ với Microsoft Expression Web. Ngoài ra ASP.NET MVC Framework hỗ trợ cho công nghệ MVC là tải xuống riêng biệt và dự án ASP.NET Dynamic Data có sẵn từ Microsoft. Class designer: Các lớp thiết kế được dùng để biên soạn và chỉnh sửa các lớp (bao gồm cả các thành viên và truy cập của chúng) sử dụng mô hình UML. Các lớp thiết kế có thể tạo ra mã phác thảo C thăng và VB.NET cho các lớp và cá phương thức. Nó cũng có thể tạo ra sơ đồ lớp từ các lớp viết tay. Data designer: Thiết kế dữ liệu có thể được sử dụng để chỉnh sửa đồ họa giản đồ cơ sở dữ liệu bao gồm các bảng, khóa chính, khóa ngoại và các rằng buộc. Nó cũng có thể được sử dụng để thiết kế các truy vấn từ các giao diện đồ họa. Mapping designer: Từ Visual Studio 2008 trở đi, thiết kế ánh xạ được dùng bởi Language Integrated Query để thiết kế các ánh xạ giữa các giản đồ cơ sở dữ liệu và các lớp để đóng gói dữ liệu. Các giải pháp mới từ cách tiếp cận ORM, ADO.NET Entity Framework sẽ thay thế và cải thiện các công nghệ cũ. === Các công cụ khác === Open Tabs Browser: được sử dụng để liệt kê tất cả thẻ đang mở và chuyển đổi giữa chúng. Được viện dẫn bằng cách sử dụng CTRL+TAB. Properties Editor: được sử dụng để chỉnh sửa các thuộc tính trong một cửa sổ giao diện bên trong Visual Studio. Nó liệt kê tất cả các thuộc tính có sẵn (gồm chỉ đọc và những thuộc tính có thể được thiết lập) cho tất cả các đối tượng bao gồm các lớp, biểu mẫu, trang web và các hạng mục khác. Object Browser: là một không gian tên và trình duyệt lớp thư viện cho Microsoft NET. Nó có thể được sử dụng để duyệt các không gian tên (được sắp xếp theo thứ bậc) trong Assembly (CLI). Các hệ thống phân cấp có thể hoặc không có thể phản ánh các tổ chức trong hệ thống tập tin. Solution Explorer: theo cách nói trong Visual Studio, một giải pháp là một tập hợp các tập tin mã và các nguồn khác được sử dụng để xây dựng một ứng dụng. Các tập tin trong một giải pháp được sắp xếp theo thứ bậc, mà có thể có hoặc không thể phản ánh các tổ chức trong hệ thống tập tin. Solution Explorer được sử dụng để quản lý và duyệt các tập tin trong một giải pháp. Team Explorer: được sử dụng để tích hợp các khả năng của Team Foundation Server, Revision Control System và là cơ sở cho môi trường CodePlex đối với dự án mã nguồn mở. Ngoài việc kiểm soát nguồn nó cung cấp khả năng xem và quản lý các công việc riêng lẻ (bao gồm cả lỗi, nhiệm vụ và các tài liệu khác) và để duyệt thống kê TFS. Nó được bao gồm như là một phần của một cài đặt TFS và cũng có sẵn để tải xuống cho Visual Studio. Team Explorer cũng có sẵn như là một môi trường độc lập duy nhất để truy cập các dịch vụ TFS. Data Explorer: được sử dụng để quản lý cơ sở dữ liệu trên Microsoft SQL Server. Nó cho phép tạo ra và sửa đổi các bảng cơ sở dữ liệu (hoặc bằng cách ban hành các lệnh T-SQL hoặc bằng cách sử dụng các thiết kế dữ liệu). Nó cũng có thể được sử dụng để tạo các truy vấn và các thủ tục lưu trữ trong T-SQL hoặc trong Managed code thông qua SQL CLR. Có sẵn gỡ lỗi và hỗ trợ IntelliSense. Server Explorer: công cụ được sử dụng để quản lý các kết nối cơ sở dữ liệu trên một máy tính truy cập được. Nó cũng được sử dụng để duyệt chạy Windows Services, quầy thực hiện, Windows Event Log và hàng đợi tin nhắn và sử dụng chúng như một nguồn dữ liệu. Dotfuscator Software Services Community Edition: Visual Studio bao gồm một phiên bản light của sản phẩm PreEmptive Solutions' Dotfuscator cho mã gây rối và giảm kích thước ứng dụng. Khởi đầu với Visual Studio 2010, phiên bản này của Dotfuscator sẽ bao gồm khả năng Runtime Intelligence cho phép tác giả thu thập cách sử dụng của người dùng cuối, hiệu suất, tính ổn định và các thông tin từ các ứng dụng của họ chạy trong sản xuất. Text Generation Framework: Visual Studio bao gồm một khung tạo văn bản đầy đủ được gọi là Text Template Transformation Toolkit T4 cho phép Visual Studio tạo ra tập tin văn bản từ các mẫu hoặc trong IDE hoặc thông qua mã. ASP.NET Web Site Administration Tool: công cụ quản trị trang web ASP.NET cho phép cấu hình các trang web ASP.NET. Visual Studio Tools for Office: Công cụ Visual Studio cho Ofice là một SDK và một add-in cho Visual Studio bao gồm các công cụ để phát triển cho các bộ Microsoft Office. Trước đây (với Visual Studio.NET 2003 và Visual Studio 2005) đó là một SKU riêng biệt mà chỉ hỗ trợ Visual C# Visual Basic.NET hoặc đã được đưa vào Team Suite. Với Visual Studio 2008, nó không còn là một SKU riêng biệt nhưng lại kèm trong các phiên bản chuyên nghiệp và cao hơn. Một thời gian chạy riêng biệt được yêu cầu khi triển khai các giải pháp VSTO. === Khả năng mở rộng === Visual Studio cho phép các nhà phát triển viết các phần mở rộng cho Visual Studio để mở rộng tính năng của nó. Những phần mở rộng "cắm vào" Visual Studio và mở rộng tính năng của nó. Các phần mở rộng đến ở dạng macro, add-in và các gói. Các macro đại diện cho các nhiệm vụ lặp đi lặp lại và hành động mà các nhà phát triển có thể ghi lại theo chương trình để tiết kiệm, phát lại, và phân phối. Tuy nhiên, không thể thực hiện các lệnh mới hoặc tạo ra các cửa sổ công cụ. Chúng được viết bằng Visual Basic và không được biên dịch. Các trình bổ sung cung cấp quyền truy cập vào mô hình đối tượng Visual Studio và có thể tương tác với các công cụ IDE. Các trình bổ sung có thể được sử dụng để thực hiện các chức năng mới và có thể thêm các cửa sổ công cụ mới. Các trình bổ sung được cắm vào IDE thông qua COM và có thể được tạo ra trong bất kỳ ngôn ngữ COM-tuân thủ. Gói được tạo ra bằng cách sử dụng Visual Studio SDK và cung cấp mức cao nhất của khả năng mở rộng. Chúng có thể tạo ra các thiết kế và các công cụ khác, cũng như tích hợp các ngôn ngữ lập trình khác. Visual Studio SDK cung cấp các API không được quản lý cũng như một API quản lý để thực hiện các nhiệm vụ này. Tuy nhiên, các API quản lý không phải là toàn diện như một không được quản lý. Các phần mở rộng được hỗ trợ trong phiên bản Standard và cao hơn của phiên bản Visual Studio 2005. Phiên bản Express không hỗ trợ phần mở rộng. Visual Studio 2008 giới thiệu Visual Studio Shell cho phép phát triển một phiên bản tùy biến của IDE. Visual Studio Shell định nghĩa một tập hợp các VSPackages cung cấp các chức năng cần thiết trong bất kỳ IDE. Trên hết, các gói khác có thể được thêm vào tùy chỉnh các cài đặt. Các chế độ biệt lập của vỏ tạo ra một AppID mới, nơi các gói được cài đặt. Những thứ này được bắt đầu với một thực thi khác nhau. Nó nhằm mục đích cho sự phát triển của môi trường phát triển tùy chỉnh, hoặc cho một ngôn ngữ cụ thể hoặc một kịch bản cụ thể. Các chế độ tích hợp cài đặt các gói vào AppID của các phiên bản Professional / Standard / Team System, do đó các công cụ tích hợp vào các phiên bản. Visual Studio Shell là miễn phí tải về. Sau khi phát hành Visual Studio 2008, Microsoft đã tạo ra Visual Studio Gallery. Nó phục vụ như vị trí trung tâm cho đăng tải thông tin về phần mở rộng cho Visual Studio. Phát triển cộng đồng cũng như phát triển thương mại có thể tải lên thông tin về các phần mở rộng của họ đến Visual Studio.NET 2002 thông qua Visual Studio 2010. Người sử dụng trang web có thể đánh giá và xem lại các phần mở rộng để giúp đánh giá chất lượng các phần mở rộng được đăng. RSS feed thông báo cho người dùng trên bản cập nhật tới trang web và các tính năng gắn thẻ cũng được lên kế hoạch. == Tham khảo ==
tenzin gyatso.txt
Đăng-châu Gia-mục-thố (tiếng Tạng: Tenzin Gyatso, བསྟན་འཛིན་རྒྱ་མཚོ་; sinh ngày 6 tháng 7 năm 1935) là tên của Đạt-lại Lạt-ma thứ 14, là nhà lãnh đạo thế quyền và giáo quyền của nhân dân Tây Tạng. Theo công trình nghiên cứu cá nhân vừa qua của giáo sư Eric Sharp thuộc Đại học Sydney, Úc thì trong số những thánh nhân của thế kỷ thứ 20 này, có ba thánh nhân người châu Á, đó là cố thi hào Ấn Độ Rabindranath Tagore (1861-1941), Mahātma Gandhi (1869-1948) và chính vị Đạt-lại Lạt-ma thứ 14 này. == Tiểu sử == Sư chào đời tại làng Taktser, vùng Đông Bắc Tây Tạng vào ngày 6 tháng 7 năm 1935 trong một gia đình nông dân. Tên trước khi được thừa nhận trở thành vị Đạt-Lại Lạt ma thứ 14 là "Lhamo Dhondup". Sư được thừa nhận là Đạt-lại Lạt-ma vào năm 2 tuổi theo truyền thống Tây Tạng như là Hóa thân của Đạt-lại Lạt-ma thứ 13, cũng là hiện thân của Bồ Tát Quán Thế Âm, hiện thân của lòng từ bi. Theo truyền thống của người Tây Tạng, Đạt-lại Lạt-ma là hiện thân lòng từ của chư Phật và Bồ Tát, người chọn con đường tái sinh trở lại kiếp người để cứu giúp chúng sanh. Danh hiệu Đạt-lại Lạt-ma cũng được hiểu là Hộ Tín, "Người bảo vệ đức tin", Huệ Hải, "Biển lớn của trí tuệ", Pháp vương, "Vua của Chánh Pháp", Như ý châu, "Viên bảo châu như ý"... Đạt-lại Lạt-ma được tấn phong tước vị vào ngày 22 tháng 2 năm 1940 tại Lhasa, thủ đô của Tây Tạng, chính thức là người lãnh đạo chính trị và tôn giáo cho 6 triệu người. Khi Đạt-lại Lạt-ma thứ 13 viên tịch vào năm 1933, chính phủ Tây Tạng gặp khủng hoảng trong việc tìm kiếm một người thừa kế. Năm 1935, vị nhiếp chính đi đến hồ thiêng Lhamo Lhatso ở Chokhorgyal, khoảng 90 dặm từ thủ đô Lhasa. Theo truyền thống của Tây Tạng, người ta có thể nhìn thấy mọi việc ở tương lai từ hồ linh thiêng này. Lúc bấy giờ vị nhiếp chính thấy ba chữ Tây Tạng Ah, Ka và Ma hiện lên giữa mặt nước trong vắt của hồ thiêng, theo sau ba mẫu tự này là bức tranh của một ngôi chùa ba tầng với mái ngói màu xanh lục và một căn nhà có chiếc máng xối kỳ lạ. Năm 1937, chính phủ Tây Tạng đã gởi những hình ảnh thiêng liêng ấy từ hồ thiêng đến các tỉnh thành của Tây Tạng để tìm kiếm nơi tái sinh của Đạt-lại Lạt-ma. Một phái đoàn tìm kiếm tái sanh được thành lập và đi về hướng Đông Bắc Tây Tạng, vị trưởng phái đoàn là Lạt-ma Kewtsang Rinpoche, Tu viện trưởng Tu viện Sera. Khi phái đoàn đến làng Amdo, họ thấy quang cảnh nơi này giống y như hình ảnh đã thấy dưới hồ thiêng. Lobsang Tsewang cải trang thành người trưởng đoàn, và Lạt-ma Kewtsang cải trang thành người thị giả và họ vào thăm một căn nhà với chiếc máng xối kỳ lạ. Bấy giờ Lạt-ma Kewtsang có mang một xâu tràng hạt (rosary) của Đạt-lại Lạt-ma thứ 13 và chú bé trong căn nhà ấy đã nhận ra nó và yêu cầu được cầm xem. Lạt-ma Kewtsang hứa sẽ cho nếu chú đoán được ngài là ai. Và chú bé liền trả lời ngay bằng một loại tiếng lóng của địa phương là "Sera aga", nghĩa là "Lạt-ma ở tu viện Sera". Tiếp đó, sư hỏi chú bé vị trưởng đoàn là ai và chú bé đã trả lời đúng, và chú cũng cho biết tên chính xác của người thị giả. Theo sau đó là một loạt trắc nghiệm khác để chú bé chọn lựa những đồ dùng thường ngày của Đạt-lại Lạt-ma thứ 13 và chú bé cũng nhận ra tất cả và nói: "của tôi, của tôi". Chú bé ấy chính là Đạt-lại Lạt-ma hiện nay. Từ những kết quả của cuộc kiểm tra này giúp họ đoán chắc rằng họ đã tìm ra hóa thân mới và niềm tin của họ càng được vững mạnh thêm bởi những ý nghĩa từ ba mẫu tự Tây Tạng đã từng thấy dưới hồ thiêng: Ah là hàm nghĩa cho tỉnh lmdo, nơi chú bé chào đời, Ka là chỉ cho Tu viện Kumbum, một ngôi Tu viện lớn nhất với ba tầng gần nhà của chú bé và Ma là ám chỉ cho ngôi tu viện Karma Rolpai Dorje ở trên ngọn núi của ngôi làng gần bên. Cuối cùng phái đoàn quyết định chú bé ấy là hậu thân của vị Đạt-lại Lạt-ma thứ 13. Đạt-lại Lạt-ma bắt đầu sự nghiệp học vấn của mình vào năm 6 tuổi và hoàn tất học vị cao nhất của Phật giáo Tây Tạng là Geshe Lharampa, tương đương với Tiến sĩ triết học Phật giáo (Doctorate of Buddhist Philosophy) ở tuổi 25 vào năm 1959. Năm 24 tuổi, Sư đã tham dự kỳ thi đầu tiên tại các đại học Phật giáo Drepung, Sera và Ganden. Kỳ thi cuối cùng được tổ chức tại Jokhang, thủ đô Lhasa trong thời gian lễ hội Monlam, tháng giêng theo lịch Tây Tạng. Trước đó Sư phải học tất cả các môn học chính như Luận lý (logic) văn hóa và nghệ thuật Tây Tạng (Culture & Tibetan Art), Phạn ngữ (sanskrit), Y học (medicine), Triết học Phật giáo (Buddhist philosophy). Riêng môn Phật học này là khó nhất, được chia ra làm năm phần là Bát-nhã-ba-la-mật-đa (sa. prajñāpāramitā), Trung quán (sa. mādhyamika), Giới luật (sa. vinaya), A-tì-đạt-ma và Lượng học (sa. pramāṇa) . Và các môn học phụ khác là: biện luận (dialetics), thi ca (poetry), âm nhạc (music) và kịch nghệ (drama), thiên văn (astrology), văn phạm (metre and phrasing). Vào ngày 17 tháng 11 năm 1950, Đạt-lại Lạt-ma 14 đảm nhận trọng trách là người lãnh đạo thế quyền của người dân Tây Tạng (head of the State and Government) sau khi có khoảng 80.000 quân lính của Trung Quốc tấn công vào Tây Tạng. Năm 1954, Sư đã đến Bắc Kinh để thương thuyết hòa bình với chủ tịch Mao Trạch Đông và những nhà lãnh đạo Trung Hoa khác, gồm Chu Ân Lai và Đặng Tiểu Bình. Tuy nhiên, các cuộc đàm phán trong chuyến đi này không mang lại kết quả. Cuối thập niên 50, tại miền Đông Tây Tạng, dân chúng đã đứng lên kháng cự mạnh mẽ chống đối chính quyền Trung Quốc. Sự kháng cự này đã lan ra trên nhiều tỉnh thành của Tây Tạng. Vào ngày 10 tháng 3 năm 1959, một cuộc biểu tình lớn nhất trong lịch sử của Tây Tạng tại thủ đô Lhasa để kêu gọi binh lính Trung Quốc phải rút khỏi Tây Tạng và tái xác định rằng Tây Tạng là một quốc gia độc lập. Cuộc biểu tình ôn hòa này đã bị quân đội Trung Quốc trấn áp quyết liệt. Trong thời kì Đại nhảy vọt, đã có khoảng 200.000 đến 1 triệu người Tây Tạng chết và khoảng 6 nghìn chùa chiền bị phá hủy tại vùng đất này. Để tránh sự đàn áp của chính quyền Trung Quốc, 80.000 người dân Tây Tạng cùng với Đạt-lại Lạt-ma 14 vượt qua dãy Hy Mã Lạp Sơn đến tị nạn tại miền bắc Ấn Độ vào năm 1959. Thời điểm đó trên thế giới ít người biết và để ý đến tình hình xảy ra ở Tây Tạng và Dalai Lama. Ấn Độ có tranh chấp với Trung Quốc về vấn đề biên giới, vì vậy họ không muốn làm tình hình căng thẳng thêm, nên cũng chẳng tha thiết giúp đỡ đoàn người tỵ nạn đến từ Tây Tạng. Ngày nay, với hơn 120.000 người Tây Tạng lưu trú tại vùng đất Dharamsala, Ấn Độ, được biết như là một "Lhasa nhỏ", lập thành một chính quyền lưu vong Tây Tạng với một Hội đồng Dân cử Tây Tạng vào năm 1960. Trong những năm đầu lưu vong, Đạt-lại Lạt-ma đã kêu gọi Hoa Kỳ lên tiếng về vấn đề của Tây Tạng, kết quả ba quyết nghị đã được thông qua tại Hội đồng Lập Pháp của Hoa Kỳ vào năm 1959, 1961 và 1965, kêu gọi nhà cầm quyền Bắc Kinh phải tôn trọng nhân quyền của người Tây Tạng và ước muốn tự trị của họ. Với việc thành lập một chính phủ lưu vong Tây Tạng, Đạt-lại Lạt-ma thấy rằng công việc khẩn cấp phải làm là cứu nguy dân tị nạn và nền văn hóa của Tây Tạng. Các lĩnh vực nông nghiệp, kinh tế, văn hóa, giáo dục đã dần được tái hoạt động tại Ấn Độ. Trẻ em Tây Tạng được đi học và một Đại học Tây Tạng được thành lập tại Ấn Độ. Có khoảng 200 tu viện Tây Tạng được xây dựng tại Ấn Độ để tăng chúng tu học, duy trì và bảo vệ văn hóa và tôn giáo của Tây Tạng. Năm 1963, Đạt-lại Lạt-ma đã ban hành một hiến pháp dân chủ (democratic constitution) hoàn toàn dựa trên giới luật của nhà Phật và bản Hiến chương Nhân quyền của Liên Hiệp Quốc để biên soạn và chuẩn bị cho một mô hình đất nước Tây Tạng tự do ở tương lai. Năm 1965, Sư đến tham dự đại lễ Phật Đản Phật lịch 2500 tại Ấn Độ, đã gặp được Thủ tướng Ấn Độ là ông Jawaharlal Nehru, và ông Chu Ân Lai, đàm phán về vấn đề của Tây Tạng. Ngày nay, thành viên của quốc hội Tây Tạng sẽ được bầu cử bởi dân chúng. Hội đồng nội các được bầu cử bởi quốc hội. Đạt-lại Lạt-ma nhấn mạnh rằng nhiệm vụ chính của chính quyền Tây Tạng là chăm lo cho đời sống người dân và Sư cũng nói thêm, khi Tây Tạng giành lại nền độc lập, Sư sẽ không còn ngồi ở văn phòng chính phủ nữa. Năm 1987, Đạt-lại Lạt-ma tham dự một hội nghị nhân quyền tại thủ đô Washington, Hoa Kỳ. Sư đề xuất một Chương trình Hòa bình Năm điểm bao gồm: Biến Tây Tạng thành một khu vực hòa bình; Chấm dứt việc di dân Trung Hoa đang de dọa sự tồn tại của dân tộc Tây Tạng; Tôn trọng các quyền dân chủ, tự do và quyền làm người của dân Tây Tạng; Phục hồi và bảo vệ môi sinh của Tây Tạng và chấm dứt việc sử dụng đất Tây Tạng để sản xuất vũ khí nguyên tử và bỏ đồ phế thải nguyên tử; Khởi sự thương thảo ngay về quy chế tương lai của Tây Tạng và bang giao giữa Tây Tạng với Trung Hoa. Ngày 15 tháng 6 năm 1988, tại Strasbourg, Pháp, Sư nhắc lại Chương trình Hòa bình Năm điểm và yêu cầu nhà cầm quyền Bắc Kinh trao trả lại nền độc lập cho Tây Tạng. Ngày 9 tháng 10 năm 1991, trong khi phát biểu tại Đại học Yale, Hoa Kỳ, Sư bày tỏ ý định muốn trở về thăm Tây Tạng để đích thân đánh giá tình hình chính trị nơi ấy. Sư nói: Tôi thật sự lo lắng vì tình cảnh bạo động có lẽ sẽ bùng nổ. Tôi muốn làm cái gì đó để chặn đứng lại... chuyến viếng thăm của tôi sẽ là một cơ hội mới để làm tăng thêm sự cảm thông và tạo ra một nền tảng để giải quyết. Đạt-lại Lạt-ma 14 thường nói rằng: Tôi chỉ là một tu sĩ Phật giáo bình thường, không hơn, không kém (I am just a simple Buddhist monk - no more, no less). Sống trong một tịnh thất nhỏ ở Dharamsala, Sư thức dậy vào lúc 4 giờ sáng, ngồi thiền, rồi tiếp tục làm việc theo thời khóa biểu của văn phòng chính phủ, tiếp khách và diễn giảng giáo lý cho các khóa tu hoặc chứng minh các đại lễ. == Hoạt động chính trị == === Người Tây Tạng bầu giới lãnh đạo === Ðạt Lai Lạt Ma khuyến khích người Tây Tạng lưu vong hãy đi theo hệ thống dân chủ để bầu lên một nhà lãnh đạo, nói rằng đó là điều thiết yếu để theo kịp thế giới rộng lớn hơn và để bảo đảm sự liên tục của chính phủ của họ. Trong một đoạn phim được chiếu cho hàng trăm nhà sư, ni cô và người thường tại thành phố Dharamsala núi non ở phía Bắc Ấn Ðộ vào chiều tối thứ Bảy, 20 tháng 6 năm 2009 nhà lãnh đạo nói hiện giờ không còn cần thiết phải đè nặng vai trò lãnh đạo tinh thần và chính trị lên một người. "Các vị Ðạt Lai Lạt Ma đã giữ vai trò lãnh đạo thế tục và tinh thần từ 400 năm đến 500 năm qua. Ðiều đó có thể hầu như hữu ích. Nhưng thời kỳ đó đã qua," Ðạt Lai Lạt Ma nói trong đoạn phim, theo một biên bản đã được dịch cho giới báo chí. "Ngày nay, đối với toàn thể thế giới, rõ ràng nền dân chủ là hệ thống tốt nhất mặc dù có những khiếm khuyết nhỏ. Ðó là lý do tại sao người Tây Tạng cũng phải chuyển động cùng với cộng đồng thế giới rộng lớn hơn," ngài nói. Trước đây Ðức Ðạt Lai Lạt Ma đã đề nghị tùy người Tây Tạng quyết định về việc muốn duy trì định chế tinh thần sau khi ngài chết hay không, và có thể tổ chức một cuộc bầu cử trong số những người Tây Tạng ở nước ngoài. Ðức Ðạt Lai Lạt Ma cũng có thể tự mình lựa chọn một người kế nghiệp từ các thành viên của chính phủ lưu vong của ngài, hoặc một hội đồng các lạt ma cao cấp sẽ chọn một người nào đó trong hàng ngũ của họ, loại bỏ sự thần bí của tiến trình lựa chọn truyền thống. "Khi chúng ta đặt hết trách nhiệm vào con người của vị Ðạt Lai Lạt Ma, đó là điều nguy hiểm. Nên có một nhà lãnh đạo được bầu lên một cách dân chủ để cầm đầu một phong trào của dân chúng," ngài nói. "Trong thực tế, một sự thay đổi đang diễn ra về trách nhiệm của vị Ðạt Lai Lạt Ma trong tư cách một lãnh tụ thế tục và tinh thần. Theo tôi, điều này rất tốt. Một nhà lãnh đạo tôn giáo phải đảm nhận cả vai trò lãnh đạo chính trị, thời kỳ đó đã qua rồi," ngài nói. Việc kế nghiệp Ðức Ðạt Lai Lạt Ma là một vấn đề tế nhị khi ngài ngày càng lớn tuổi và sức khỏe suy giảm. Nhiều người Tây Tạng sợ rằng cái chết của Ðức Ðạt Lai Lạt Ma, người đã sống lưu vong tại Ấn Ðộ kể từ khi trốn thoát một cuộc nổi dậy bất thành chống chế độ Trung Quốc vào năm 1959, có thể tạo ra một khoảng trống lãnh đạo mà Bắc Kinh có thể lợi dụng để siết chặt nắm tay của họ. Người Tây Tạng lưu vong đã bầu vị thủ tướng đầu tiên của họ vào năm 2001. Vị thủ tướng lúc này, ông Samdhong Rinpoche, một nhà sư Tây Tạng và là một học giả Phật Giáo, đã phục vụ hai nhiệm kỳ, và Ðức Ðạt Lai Lạt Ma thường nói ngài ở trong tình trạng "nửa về hưu" trong tư cách một lãnh tụ tinh thần, khi yêu cầu ông Rinpoche cầm đầu trong việc giao tiếp với người Tây Tạng. "Với cuộc bầu cử diễn ra mỗi năm năm, bất kể vị Ðạt Lai Lạt Ma có đó hay không, hệ thống chính trị lưu vong sẽ vẫn an toàn, ổn định và có thể tồn tại lâu dài," ngài nói trong đoạn phim được phát ngày 20/6. === Hợp tác toàn cầu trong cuộc khủng hoảng kinh tế === Ngày 2 tháng 8 năm 2009, Đạt-lại Lạt-ma kêu gọi có sự hợp tác toàn cầu để chống lại các hậu quả của cuộc khủng hoảng kinh tế và tuyên bố rằng cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu cho thấy rằng "trái đất của chúng ta quả thật là nhỏ" và kêu gọi các nước hãy có hành động kết hợp. Tuyên bố trước một hội nghị về khủng hoảng kinh tế được tổ chức tại Frankfurt, thường được mô tả là thủ đô tài chánh của nước Đức, Ðức Đạt-lại Lạt-ma nhấn mạnh tiếp, "Chúng ta cần phải suy nghĩ chung cho toàn cầu." Ông cũng tiếp thêm rằng chúng ta cần các biện pháp khẩn cấp để đối phó với tình trạng ấm toàn cầu và xóa sự cách biệt giữa người giàu và kẻ nghèo. Lên tiếng trước một cử tọa đông đến nhiều ngàn người tập trung tại một sân bóng tròn, Ðức Đạt-lại Lạt-ma nhấn mạnh rằng, "Chúng ta không cần chỉ nói hay, mà trái lại chúng ta cần phải có hành động." Từ khi bỏ quê hương chạy đi lánh nạn năm 1959, vị lãnh đạo tinh thần này đã tham gia vào hội nghị về cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu này do một số nhóm đứng ra tổ chức, trong đó có hội Phật giáo Ðức. === Chuyến đi đến Arunachal Pradesh === Ngày 5 tháng 11 năm 2009, Ấn Ðộ ban hành một lệnh có hiệu quả cấm các nhà báo ngoại quốc tường thuật chuyến đi hiếm hoi của Đạt-lại Lạt-ma 14 tới một chủng viện Phật giáo sát với Tây Tạng, trong một nỗ lực có vẻ nhằm xoa dịu sự giận dữ của Trung Quốc bằng cách giảm bớt việc tường thuật của báo chí về chuyến đi này. Cuộc viếng thăm theo dự tính của Sư vào ngày Chủ Nhật, 8 tháng 11, tới tiểu bang Arunachal Pradesh ở vùng Ðông Bắc Ấn Ðộ - trọng tâm của một cuộc tranh chấp biên giới từ lâu nay giữa Trung Quốc và Ấn Ðộ – làm gia tăng những căng thẳng vốn đã gay gắt giữa hai cường quốc châu Á. Người ngoại quốc di chuyển tới tiểu bang núi non hẻo lánh này cần giấy phép đặc biệt của chính phủ Ấn Ðộ. Hầu hết các nhà báo ngoại quốc đã không nhận được giấy phép để tường thuật chuyến viếng thăm của Đạt-lại Lạt-ma. Ngày 5 tháng 11 năm 2009, bốn nhà báo được cấp phép - kể cả hai nhân viên của thông tấn xã AP - bị thu hồi giấy phép. Một điện thư gởi tới các nhà báo nói chính quyền tiểu bang đã bãi bỏ các giấy phép theo lời yêu cầu của Bộ Ngoại giao. "Chúng tôi kinh ngạc và bất mãn khi biết rằng các giấy phép của các phóng viên để tới Arunachal Pradesh bị hủy bỏ trước khi có cuộc viếng thăm của Ðức Ðạt Lai Lạt Ma," theo lời chủ tịch Câu lạc bộ Báo chí Ngoại quốc ở Tân Delhi, Heather Timmons. Các nhà báo Ấn Ðộ được phép tường thuật chuyến đi. Trung Quốc chống đối phần lớn các hoạt động của Đạt-lại Lạt-ma. Bắc Kinh cáo buộc ngài là tranh đấu để Tây Tạng thoát khỏi nền cai trị của Trung Quốc, mặc dù ngài phủ nhận điều đó. Mặc dù các quan hệ giữa Trung Quốc và Ấn Ðộ đã cải thiện trong những năm cuối thập niên 2000, những căng thẳng gần đây lại bùng lên vì những kình chống về kinh tế, vụ tranh chấp biên giới vẫn còn âm ỉ và tình trạng bất ổn tại Tây Tạng - vùng Himalaya do Trung Quốc kiểm soát, nằm trên biên giới với Ấn Ðộ. Vào đầu tháng 11 năm 2009, Trung Quốc mạnh mẽ chống đối các kế hoạch của Ðức Ðạt Lai Lạt Ma nhằm trải qua năm ngày tại một chủng viện Phật giáo ở thành phố Tawang gần đường biên giới bị tranh chấp. Trước đó, Ðức Ðạt Lai Lạt Ma nói Trung Quốc đang chính trị hóa quá đáng những chuyến đi của ngài, và nói thêm rằng những quyết định của ngài về những nơi viếng thăm có tính cách tinh thần, không phải chính trị. Các tín đồ Phật giáo ngày 8 tháng 11 năm 2009, vui mừng đón tiếp Sư quay trở lại thị trấn ở rặng núi Himalaya nơi ngài lần đầu tiên đặt chân tới năm thập niên trước khi trốn chạy chế độ cộng sản Trung Quốc thống trị Tây Tạng - một cuộc viếng thăm hiếm thấy gần nơi quê nhà khiến Bắc Kinh vô cùng giận dữ. Sự hiện diện của đức Ðạt Lai Lạt Ma hơn đây cũng tạo thêm sự chú ý về cuộc tranh chấp biên giới giữa Ấn Ðộ và Trung Quốc, cho thấy sự nhạy cảm của Bắc Kinh về vấn đề Tây Tạng và nêu lên câu hỏi là ai sẽ thay thế Ðạt Lai Lạt Ma trong vị trí lãnh đạo tinh thần sau này. Phát ngôn viên Bộ ngoại giao Trung Quốc Mã Triều Húc nói chuyến đi này "một lần nữa cho thấy con người thật của ông ta là chống Trung Quốc". Tuy nhiên, Ðức Ðạt Lai Lạt Ma nói rằng lời cáo buộc này là vô căn cứ" và ngài chỉ tìm cách khuyến khích các giá trị tôn giáo, hòa bình và hòa hợp. "Cuộc viếng thăm của tôi nơi đây không có tính cách chính trị," ngài nói sau khi vừa đến nơi vào sáng 8 tháng 11. Ðối với dân chúng ở Tawang, cuộc viếng thăm này có vẻ hoàn toàn có tính cách tôn giáo. Hai bên đường trong thị trấn rợp cờ và biểu ngữ chào mừng Ðạt Lai Lạt Ma và hàng ngàn người đứng ngoài bầu trời lạnh lẽo gió mạnh để tham gia vào các buổi cầu nguyện và thuyết giảng Phật Giáo của ngài. Người hành hương lũ lượt kéo đến nơi này bằng đủ mọi cách, chen chúc nhau trên các xe vận tải hay đi bộ mất mấy ngày trên đường mòn ngoằn ngoèo ở dãy Hymalaya để được nghe tiếng nói của người mà họ cung kính coi là Phật sống. Chính quyền địa phương, có khoảng 25.000 người hiện diện, dựng lên một khu lều cho người hành hương, trong khi các khách khác vào ở nhờ trong các tu viện và nhà khách. Tawang là nơi sinh sống của bộ lạc Monpa, vốn có mối liên hệ chặt chẽ với thủ phủ Lhasa ở Tây Tạng. Vị Đạt-lại Lạt-ma đời thứ sáu đến từ nơi này hồi thế kỷ 17 và Trung Quốc lo ngại rằng nếu vị Đạt-lại Lạt-ma kế tiếp xuất hiện ở khu vực này thì sẽ ra ngoài sự kiểm soát của Bắc Kinh. === Chuyến đi tới Liên bang Nga === Năm 1971, ngài đã có chuyến đi lịch sử tới Liên Xô, và được giới chức trách Liên Xô chào đón. Nhưng ngài cũng không phải là người được lòng lúc đó do tư tưởng cộng sản ở Nga thời kì đó. Nhưng vì chia rẽ Trung-Xô thời gian đó rất căng thẳng, nên Lạt Ma tin rằng Nga sẽ đứng ra che chở cho Tây Tạng. Khi Liên Xô sụp đổ năm 1991, Sư đã đến Nga một năm sau đó. Tại đây, ngài đã được Tổng thống Boris Yeltsin chào đón nồng hậu ở vùng Kavkaz. Tại đây, Đạt Lai Lạt Ma đã yêu cầu Nga "bảo vệ truyền thống Phật giáo" ở Kalmykia, Tuva và Buryatia, đặc biệt sư rất nhấn mạnh đến Kalmykia, khi nhà nước Phật giáo thuộc Nga này lại giáp biên giới hoặc rất gần với các quốc gia Hồi giáo rất cực đoan như Dagestan hoặc Chechnya. Vào năm 2004 và năm 2012, Tổng thống Vladimir Putin đã mời Sư tới Kalmykia, và Sư đã được Tổng thống Putin chăm sóc chu đáo tại đây. Nó đã vấp phải sự phản đối của Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa, khi Trung Quốc vẫn cáo buộc Sư là "phần tử khủng bố và ly khai" ở Khu tự trị Tây Tạng. === Tiếp xúc Đông Tây === Từ năm 1967, Đạt-lại Lạt-ma đã khởi hàng loạt chuyến viếng thăm, đến nay đã được 46 quốc gia. Vào mùa thu năm 1991, Sư đến thăm vùng Baltic khi nhận được lời mời của Tổng thống Litva, ông Vytautas Landsbergis, và Sư đã trở thành vị khách ngoại quốc đầu tiên đọc diễn văn tại quốc hội của Liva. Sư đã gặp Giáo hoàng Paul VI tại Vatican vào năm 1973 và Giáo hoàng John Paul II vào năm 1980 tại Roma và các năm khác là 1980, 1982, 1986, 1988 và 1990. Khi viếng thăm một ngôi trường ở Nam Đầu đã bị đất chuồi tiêu hủy trong cơn bão Morakot đầu tháng 8/2009, Tổng thống Ðài Loan Mã Anh Cửu bất ngờ công bố chính phủ ông đồng ý cho Ðức Ðạt Lai Lạt Ma viếng thăm nạn nhân bão, mặc dù điều này có thể khiến Trung Hoa lục địa nổi giận. Bão Morakot làm thiệt mạng 670 người ở Đài Loan. Các viên chức địa phương đã mời Ðức Ðạt Lai Lạt Ma đến viếng thăm. Hành động này của Ðài Loan đã diễn ra trong lúc mối quan hệ giữa Ðài Loan và Trung Quốc đang thân thiện hơn. Đạt-lại Lạt-ma rất quan tâm, dành thời gian tới thăm và có những buổi nói chuyện với cộng đồng người Mỹ gốc Việt. == Các giải thưởng == Từ chuyến viếng thăm phương Tây đầu tiên của Sư vào năm 1973, một số trường đại học và viện nghiên cứu đã trao tặng Sư những Giải thưởng về Hòa bình và bằng Tiến sĩ danh dự (Honorary Doctorate Degree) để tuyên dương những tác phẩm xuất sắc của Sư viết về triết học Phật giáo, giải pháp cho những xung đột của quốc tế, vấn đề nhân quyền và môi sinh toàn cầu. Trong lần trao giải thưởng cho Đạt-lại Lạt-ma tại Ủy hội Nhân quyền Raoul Wallenberg, dân biểu Mỹ Tom Lantos đã nói: "sự đấu tranh dũng cảm của Đức Đạt-lại Lạt-ma đã tạo ra một sự chú ý đặc biệt về nhân quyền và hòa bình thế giới. Sự kiên trì đấu tranh của Sư để chấm dứt khổ đau cho dân tộc Tây Tạng qua những cuộc đàm phán hòa bình và hòa giải". Ủy ban Hòa bình Na Uy quyết định trao tặng Giải thưởng Nobel Hòa bình cho Sư vào năm 1989 sau khi được cả thế giới tán dương và tán thành, ngoại trừ Trung Hoa. Trong quyết định ấy có đoạn viết: "Ủy ban muốn nhấn mạnh rằng Đức Đạt-lại Lạt-ma với sự đấu tranh cho tự do cho Tây Tạng vẫn kiên quyết không sử dụng bạo lực. Sư đã ủng hộ giải pháp hòa bình dựa trên tinh thần khoan dung và tôn trọng lẫn nhau để bảo vệ lịch sử và tài sản văn hóa của con người. Vào ngày 10 tháng 12 năm 1989, Đạt-lại Lạt-ma đã tiếp nhận giải thưởng hòa bình trên tinh thần nhân danh những người bị đàn áp ở khắp mọi nơi, tất cả những ai đấu tranh cho tự do và hòa bình thế giới và đặc biệt là nhân dân Tây Tạng. Trong lời phát biểu tại buổi lễ nhận giải, Sư đã nói: Giải thưởng đã tái xác nhận một lần nữa lòng quyết tâm của chúng tôi rằng chân lý, lòng dũng cảm và quyết tâm của chúng tôi như là những vũ khí, Tây Tạng sẽ được tự do. Cuộc đấu tranh của chúng tôi vẫn phải theo đuổi đường hướng bất bạo động và loại bỏ hận thù (The prize reaffirms our conviction that with truth, courage and determination as our weapons, Tibet will be liberated. Our struggle must remain nonviolent and free of hatred). == Tác phẩm == Mặc dù bận rộn với nhiều công tác của chính phủ và hoằng Pháp, nhưng Đức Đạt-lại Lạt-ma cũng dành những thời gian nhất định để viết những tác phẩm Phật học, lịch sử, tự truyện... để phổ biến những tinh túy trong giáo lý của Phật Đà. Khởi viết cuốn Đất nước tôi và Nhân dân tôi (My Land and My People) vào năm 1964 sau khi Sư đến tị nạn tại Ấn Độ, tính đến nay đã có trên 50 tác phẩm các loại, do chính ngài tự tay viết hoặc do đệ tử ghi chép những bài giảng của Sư hoặc họ viết về ngài. Đáng chú ý trong số tác phẩm này là: Mở Huệ Nhãn (The opening of the Wisdom eye, xuất bản năm 1972); Phật giáo Tây Tạng (The Buddhism of Tibet, xb năm 1975); Biển của Trí Huệ (Ocean of Wisdom, xb tháng 2 năm 1990); Dalai Lama: Chính sách của Lòng Từ (The Dalai Lama: A Policy of Kindness, xb năm 1990); Tự do nơi lưu đày (Free in Exile, xb năm 1991); Ý nghĩa của cuộc sống (The meaning of Life, xb năm 1992); Tia sáng trong bóng đêm (Flash of Lightning in the Dark of Night, xb năm 1994); Cuộc đối thoại về trách nhiệm chung và giáo dục (Dialogues on Universal Responsibility and Education, xb năm 1995); Sức mạnh của lòng từ bi (The power of compassion, xb năm 1995); Con đường giác ngộ (The Path of Enlightenment, xb năm 1995); Bạo lực và Lòng từ bi-Sức mạnh của Phật giáo (Violence and Compassion/ Power of Buddhism, xb năm 1995); Chữa lành cơn thịnh nộ: Sức mạnh của sự kiên nhẫn từ cách nhìn của Phật tử (Healing Anger: The Power of Patience from a Buddhist Perspective, xb tháng 3 năm 1997); Tứ Diệu Đế (The Four Noble Truths, xb năm 1998); Nghệ thuật hạnh phúc (The art of Happiness, xb năm 1998); Thời luân Đát-đặc-la (KALACHAKRA TANTRA, Xb 1999); Ý Nghĩa cuộc cuộc sống (THE MEANING OF LIFE, Xb 1999); Khoa học Tâm Linh, Cuộc đối thoại Đông-Tây (MIND SCIENCE, An East-West Dialogue, xb 1999); Ngủ, mơ và chết, một cuộc khám phá của Tâm thức (SLEEPING, DREAMING, AND DYING, An Exploration of Consciousness, Xb 1999); Thế giới Phật giáo Tây Tạng, khái quát về triết lý và thực hành (THE WORLD OF TIBETAN BUDDHISM, An Overview of Its Philosophy and Practice, Xb 1999); Đạo Đức Thiên Niên Ki Mới (Ethics for the new millennium, xb tháng 8 năm 1999); Nghệ Thuật của Hạnh Phúc: Sổ tay cho cuộc sống (The Art of Happiness: A Handbook for Living, xb tháng 9 năm 1999); Trí Huệ Luận (The Dalai Lama's Book of Wisdom, xb tháng 4 năm 2000); Biến đổi Tâm (Transforming the Mind, xb tháng 5 năm 2000); Các Giai Đoạn của Thiền Định (Stages of Meditation, xb tháng 3 năm 2001); Con Đường dẫn tới cuộc sống đầy ý nghiã (How to Practice: The Way to a Meaningful Life, xb tháng 5 năm 2001) Tâm hồn rộng mở: Thực Hành Từ bi trong cuộc sống hàng ngày (An Open Heart: Practicing Compassion in Everyday Life, xb tháng 9 năm 2001); Luận về Từ Bi và Bác Ái (The Dalai Lama's Book of Love and Compassion, xb tháng 10 năm 2001); Những lời Khuyên của Thích-Ca-Mâu-Ni (Advice from Buddha Shakyamuni, xb tháng 7 năm 2002); Cốt Tủy của Hạnh Phúc: Sách Hướng Dẫn cho Cách Sống (The Essence of Happiness: A Guidebook for Living xb tháng 7 năm 2002); Đường Dẫn tới sư Yên Tĩnh: Trí huệ hàng ngày (The Path to Tranquility: Daily Wisdom , xb tháng 8 năm 2002); Tỉnh Thức Luận (The Dalai Lama's Book of Awakening, xb tháng 2 năm 2003); Nghệ Thuật của Hạnh Phúc trong Công Việc (The Art of Happiness at Work, xb tháng 8 năm 2005); Vũ Trụ Trong Một Nguyên Tử: Sự Hội Tụ của Khoa Học và Tâm Linh (The Universe in a Single Atom: The Convergence of Science and Spirituality, xb tháng 9 năm 2005); Để Thấy được Thực Sự Chính Mình (How to See Yourself As You Really Are, xb tháng 12 năm 2006); == Đánh giá == Như sự miêu tả của giáo sư Eric Sharpe thánh nhân là người suốt đời chú trọng đến việc mang lại an lạc cho con người và cuộc đời. Trong khi theo đuổi lý tưởng ấy, họ thường phải hứng chịu những trở ngại, đau đớn hoặc nguy hiểm đến sinh mạng. Đạt-lại Lạt-ma thứ 14 đã hiện thân cho những gì đã được miêu tả ấy. Tuy nhiên, theo các nhà phân tích, sự xuất hiện của ngài như là một định mệnh, đã thừa kế tước vị Đạt-lại Lạt-ma ở trong một giai đoạn bấp bênh nhất trong toàn bộ lịch sử cao quý này. Hiện nay, vẫn trong thân phận người tị nạn lưu vong, tuy nhiên, Sư rất lạc quan và hy vọng cho tương lai độc lập và tự do cho thế giới và xứ sở của Sư như lời Sư đã nhắc tới trong bức Thông Điệp 2000: "Thế kỷ 20 đầy xung đột và chiến tranh. Từng bước, chúng ta bảo đảm thế kỷ tới sẽ có đặc tính bất bạo động và đối thoại, là điều kiện tiên quyết để cùng hiện hữu bên nhau trong hòa bình". "Xã hội nào cũng có những khác biệt và xung đột. Tuy vậy, chúng ta cần phát triển niềm tin tưởng rằng: đối thoại và tình bạn là một đường lối chính chắn để tránh bạo động. Trước thiên kỷ mới, điều mọi người cần thực hiện là tăng cường tinh thần trách nhiệm đối với quốc tế". == Ngữ lục == Nếu một khó khăn có thể sửa chữa được, nếu một tình huống mà bạn có thể làm cái gì đó cho nó, thì không cần thiết để lo lắng. (nhưng) Nếu nó không còn sửa chữa được, thì cũng không lợi chi trong việc lo lắng. Theo quan điểm Phật giáo thì quan hệ giữa nam với nam, giữa nữ với nữ là những hành vi tình dục sai trái. Còn theo quan điểm của xã hội, quan hệ đồng giới mà có sự đồng tình của cả hai người thì có thể có lợi, mang đến niềm vui cho nhau, và vô hại. Hạnh phúc không phải là thứ có sẵn, nó đến từ chính hành động của bạn. Nếu bạn có khả năng, hãy giúp đỡ kẻ khác. Nếu không làm được vậy thì ít nhất đừng hại họ. Tín ngưỡng của tôi rất đơn giản, tín ngưỡng của tôi là lòng tốt. Không cần có các chùa chiền, không cần các triết lý cao siêu. Tim và óc của tôi là các chùa chiền; triết lý của tôi là lòng tốt. == Chú thích == == Thư mục == Mary Craig (1997): Kundun, A biography of the Family of the Dalai Lama, Harper Collins Publishers, London. Roger Hicks & Ngakpa Chogyam (1984): Great Ocean, An Authories Biography of the Buddhist Monk Tenzin Gyatso His Holiness The 14th Dalai Lama, Element Books, Great Britain. Tenzin Gyatso Dalai Lama (1998): Freedom in Exile, Snow Lion Publications, New York. Thich Nguyen Tang: Phật Giáo Khắp Thế Giới, http://www.quangduc.com/quocte/01pgkhaptg3-datlailatma.html == Liên kết ngoài == Trang WEB của Văn Phòng của Dạt-Lai Lạt-Ma – trang WEB có nhiều bài giảng pháp được viết hay thu âm bằng Anh ngữ và Tạng ngữ Ảnh hưởng của đức Dalai Lama đối với những nhân vật nổi tiếng (Thích Quảng Bảo dịch ra tiếng Việt) Đức Dạt Lai Lạt Ma, vị sứ giả của hòa bình (của Thích Nguyên Tạng) Đức Đạt Lai Lạt Ma bị gọi là Kẻ Độc Tài Hồi Giáo? | Trung Quốc Không Kiểm Duyệt
phân cấp hành chính pháp.txt
Phân cấp hành chính Pháp là tổ chức địa lý nước Pháp về mặt hiến pháp và hành chính. == Nước Pháp chính quốc == Từ ngày 1 tháng 1 năm 2006, lãnh thổ chính quốc Pháp (lãnh thổ Pháp tại Tâu Âu) được phân cấp như sau: Vùng (région, bao gồm cả đảo Corse). Vùng hành chính là cấp độ chia chính của lãnh thổ Pháp, quản lý bởi một Hội đồng vùng (conseil régional) được bầu với nhiệm kỳ 6 năm qua cuộc bầu cử phổ thông trực tiếp. Nước Pháp chia thành 18 vùng. Vai trò chính của hội đồng vùng là cung cấp tài chính cho các trường phổ thông (lycée), nhưng ngân sách lớn còn cho phép đầu tư vào nhiều lĩnh vực kinh tế và xã hội. Một vùng có một thủ hiến (préfet có thể là thủ hiến hay tỉnh trưởng), chỉ định bởi chính phủ, với nhiệm vụ thay mặt nhà nước ở địa phương đó và đảm bảo sự vận hành của các ban, phòng... không tập trung (ví dụ phối hợp với hoạt động của cảnh sát). Riêng đơn vị hành chính đảo Corse có một quy chế đặc biệt, tương tự như một vùng hành chính nhưng với những quyền lực "nhạy cảm" hơn, được gọi là collectivité territoriale (vùng tự trị địa phương). Tỉnh (département). Một mức độ dưới vùng, tức một vùng sẽ bao gồm nhiều tỉnh. Có 101 tỉnh. Các tỉnh được điều hành bởi các hội đồng tỉnh (conseil général) và các hội đồng này được trực tiếp bầu lên theo thể thức phổ thông đầu phiếu cho nhiệm kỳ sáu năm. Các hội đồng này cũng có vai trò về tài chính trong các lĩnh vực kinh tế và xã hội. Các lỵ sở cũng được thiếp lập tại trung tâm tỉnh để cho tất cả những người dân có thể tới được tỉnh lỵ (chef-lieu) từ nơi họ sống trong một ngày. Mỗi tỉnh có một tỉnh trưởng (préfet), đại diện của chính phủ trung ương và trước năm 1982 là người đứng đầu hội đồng tỉnh. Tuy nhiên hiện nay, chủ tịch hội đồng tỉnh là người đứng đầu hội đồng tỉnh. Quận (arrondissement). Mỗi tỉnh của Pháp được chia thành nhiều quận, mỗi quận sẽ có một quận trưởng (sous-préfet). Chức năng của họ là giúp đỡ các tỉnh trưởng. Các quận không có hội đồng quận riêng. Về mặt pháp lý, quận không có tư cách pháp nhân. Có 342 quận Tổng (canton). Quận được chia tiếp tục thành nhiều tổng. Hiến pháp quy định một tổng có thể cùng thuộc hai quận, nhưng trên thực tế rất hiếm và hiện nay không có tổng nào như vậy. Tổng có hội đồng tổng, nhưng ngoài chức năng là khu vực bầu cử và khu vực pháp lý, tổng hầu như không có chức năng hành chính gì khác. Có 2054 tổng. Cấp xã (commune) là đơn vị hành chính địa phương thấp nhất của Cộng hòa Pháp: có thể là một thành phố, một thị trấn, một ngôi làng hay đơn giản là một khu vực nông thôn/rừng núi. Tại thời điểm ngày 1 tháng 1 năm 2008, cả nước Pháp có 35945 đơn vị xã trong đó có 212 ở các lãnh thổ hải ngoại. == Sự phân chia cũ == Trước Cách mạng Pháp năm 1789, nước Pháp được chia thành các tỉnh (province). Khái niệm "lãnh thổ hải ngoại" (territoire d'outre-mer) không còn giá trị pháp lý kể từ thay đổi hiến pháp ngày 28 tháng 3 năm 2003. == Tham khảo ==
kíp lào.txt
Kip (tiếng Lào: ກີບ) là tiền tệ của Lào kể từ năm 1952. Mã ISO 4217 là LAK và thường được viết là ₭ hay ₭N. Một kíp được chia ra 100 att (ອັດ). == Kíp Lào tự do == Giai đoạn 1945-1946, chính quyền tự do đã phát hành ở Viêng Chăn một xê ri tiền giấy có mệnh giá 10, 20 và 50 att và 10 kip trước khi các giới chức Pháp kiểm soát khu vực này. == Kíp Hoàng gia == Đồng kíp đã được giới thiệu lại vào năm 1952, thay thế ngang giá Đồng Đông Dương Pháp. Đồng kíp, cũng gọi là piastre trong tiếng Pháp) được chia ra 100 att (tiếng Lào) hoặc cent (tiếng Pháp). === Tiền xu kim loại === Tiền xu kim loại được đúc với mệnh giá 10, 20 và 50 att hay cent với chữ Pháp và chữ Lào. Tất cả đều được đúc bằng nhôm và có lỗ ở giữa, giống như đồng xu wen Trung Hoa. Đồng xu chỉ được đúc năm 1952. === Giấy bạc === Năm 1953, chi nhánh tại Lào của Institut d'Emission des Etats du Cambodge, du Laos et du Vietnam đã phát hành các đồng giấy bạc đặt tên đơi là piastre và kip. Đồng thời, hai chi nhánh tương tự đã có dàn xếp tương tụ với riel ở Campuchia và đồng ở Nam Việt Nam. Có các giấy bạc 1, 5, 100 và 100 kip/piastres. Năm 1957, chính quyền đã phát hành các giấy bạc chỉ có tên kíp. Các đồng giấy bạc có các mệnh giá là 1, 5, 10, 20, 50, 100 và 500 kip. Năm 1963, giấy bạc 200 và 1000 kip đã được bổ sung, sau đó là giấy bạc 5000 kip năm 1975. Tất cả giấy bạc đều được in ở Pháp. == Kíp Pathet Lào == Kíp Pathet Lào đã được giới thiệu vào khoảng trước năm 1976 ở các khu vực dưới quyền kiểm soát của quân Pathet Lào. Các mệnh giá được phát hành là: 10, 20, 50, 100, 200 500 kíp. Giấy bạc được in ở Trung Quốc. Năm 1976, kíp Pathet Lao đã thay kíp Hoàng gia khắp nước Lào sau khi Pathet Lào lên nắm quyền lãnh đạo. Tỷ giá giữa hai đồng kíp là Pathet Lao kip = 20 kíp Hoàng gia. == Kíp Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào == Năm 1979, đã diễn ra một cuộc cải cách tiền tệ, thay đồng 100 kíp Pathet Lào bằng đồng kíp mới. === Tiền kim loại === Trước năm 1980, ở Lào có tiền kim loại các mệnh giá10, 20 và 50 att. Nhưng sau đó, do lạm phát, tiền kim loại không còn được sử dụng trong lưu thông nữa. === Tiền giấy === Năm 1979, tiền giấy có các mệnh giá 1, 5, 10, 20, 50 và 100 kip. 500 kip đã được bổ sung năm 1988, sau đó là 1000 kip năm 1992, 2000 và 5000 kip năm 1997, 10.000 và 20.000 kip năm 2002 và 50.000 vào ngày 17 tháng giêng năm 2006 (dù ghi năm 2004). == Tỉ giá hối đoái hiện thời của đồng LAK == == Xem thêm == Kinh tế Lào Đơn vị tiền tệ được định giá ít nhất == Tham khảo == == Liên kết ngoài == Lao banknote collection
mumbai.txt
18.96°B 72.82°Đ / 18.96; 72.82 Mumbai (tiếng Marathi: मुंबई Muṃbaī, IPA: ), trước đây được gọi là Bombay, là thủ phủ của bang Maharashtra, là thành phố đông dân nhất Ấn Độ, và theo một số cách tính toán là thành phố đông dân nhất thế giới với một dân số ước tính khoảng 13 triệu người (thời điểm năm 2006). Mumbai tọa lạc trên đảo Salsette, ngoài bờ tây của Maharashtra. Cùng với các ngoại ô xung quanh, nó tạo thành một vùng đô thị đông dân thứ 6 thế giới với dân số khoảng 20 triệu người. Vị trí này của Mumbai ước tính có thể nhảy lên thứ 4 thế giới năm 2015 do tỷ lệ tăng dân số hàng năm là 2,2%. Thành phố này có một bến cảng sâu tự nhiên và cảng này đã phục vụ hơn một nửa lượng khách đường thủy và một số lượng đáng kể hàng hóa thông qua. Mumbai là thủ đô thương mại và giải trí của Ấn Độ, là nơi có nhiều tổ chức tài chính quan trọng, như Ngân hàng Dự trữ Ấn Độ (RBI), Sở giao dịch Chứng khoán Bombay (BSE), Sở Giao dịch Chứng khoán Quốc gia Ấn Độ (NSE) và là nơi đóng trụ sở của nhiều công ty Ấn Độ. Mumbai đã thu hút người nhập cư từ khắp nơi trên đất nước Ấn Độ do thành phố này có nhiều cơ hội kinh doanh và mức sống, khá cao khiến cho thành phố là một "nồi lẩu thập cẩm" của nhiều cộng đồng dân cư và các nền văn hóa. Thành phố là nơi trụ sở ngành điện ảnh và truyền hình tiếng Hindi, được biết đến với tên gọi Bollywood. Mumbai cũng là một trong những thành phố hiếm hoi có một vườn quốc gia, Vườn quốc gia Sanjay Gandhi, nằm trong địa phận của thành phố. == Tên gọi == Tên gọi Mumbai là một eponym, về mặt từ nguyên lấy từ từ Mumba hoặc Maha-Amba— tên của vị nữ thần Hindu Mumbadevi, và Aai — mẹ của Marathi. Tên trước đây Bombay có nguồn gốc từ thế kỷ 16 khi người Bồ Đào Nha đến khu vực này và gọi khu vực này với nhiều tên gọi khác nhau mà cuối cùng được chốt lại với cách viết Bombaim, hiện vẫn đang được sử dụng phổ biến trong tiếng Bồ Đào Nha. Sau khi Anh giành được quyền kiểm soát vào thế kỷ 17, tên gọi này được Anh hóa thành Bombay, dù thành phố này được biết đến với tên gọi Mumbai hay Mambai cho đến tên Marathi đối những người nói tiếng Gujarati, và tên gọi Bambai trong tiếng Hindi, Urdu, và Ba Tư. Tên gọi vẫn được chính thức đổi thành Mumbai năm 1995, nhưng tên cũ vẫn đang được người dân thành phố và nhiều thể chế nổi tiếng sử dụng rộng rãi. Một sự giải thích rộng rãi nguồn gốc tên gọi bằng tiếng Anh truyền thống Bombay cho rằng từ này xuất phát từ tên bằng tiếng Bồ Đào Nha có nghĩa là vịnh tốt. Điều này dựa trên thực tế là bom trong tiếng Bồ Đào Nha là tốt còn từ tiếng Anh vịnh tương tự như từ tiếng Bồ Đào Nha baía (bahia trong cách viết cũ). Tuy nhiên, tiếng Bồ Đào Nha thì vịnh tốt phải viết là bahia boa chứ không phải viết sai ngữ pháp thành bom bahia. Các nguồn khác có một nguồn gốc xuất xứ của toponym tiếng Bồ Đào Nha Bombaim. Dicionário Onomástico Etimológico da Língua Portuguesa ("Từ điển Tên riêng và Từ nguyên học") của José Pedro Machado cho rằng có lẽ tên gọi tiếng Bồ Đào Nha đầu tiên về vùng đất này từ năm 1516, là Benamajambu hay Tena-Maiambu, chỉ ra rằng "maiambu"' dường như chỉ Mumba-Devi, vị nữ thần Hindu sau khi nơi này được đặt tên bằng tiếng Marathi (Mumbai). Trong cùng thế kỷ, cách viết này đã biến thành Mombayn (1525) và sau đó là Mombaim (1563). Cách viết cuối cùng Bombaim xuất hiện cuối thế kỷ 16, như đã được ghi chép bởi Gaspar Correia trong tác phẩm của mình Lendas da Índia ("Các huyền thoại Ấn Độ"). J.P. Machado dường như bác bỏ giả thuyết "Bom Bahia", xác nhận rằng các ghi chép của Bồ Đào Nha đề cập sự hiện diện của một vịnh ở nơi này đã dẫn đến việc người Anh cho rằng danh từ (bahia, "bay") là một phần không thể tách rời của tên đất theo tiếng Bồ Đào Nha, do đó tên gọi Bombay trong tiếng Anh phỏng theo tiếng Bồ Đào Nha. == Lịch sử == Mumbai hiện này ban đầu là một quần đảo bao gồm bảy hòn đảo. Các hiện vật được tìm thấy gần Kandivali, ở phía Bắc Mumbai cho thấy các đảo này đã có người ở từ Thời kỳ Đồ Đá. Các chứng cứ bằng tài liệu ghi chép được về sự sinh sống của loài người ở đây có niên đại đến năm 250 trước Công nguyên, khi nó được biết đến với tên Heptanesia (Ptolemy) (tiếng Hy Lạp cổ: Một cụm 7 hòn đảo). Vào thế kỷ thứ 3 trước Công nguyên, các đảo này đã tạo thành một phần của Đế quốc Maurya, do một hoàng đế theo Phật giáo trị vì, Aşoka. Trong những thế kỷ đầu sau Công nguyên, việc kiểm soát Mumbai đã bị tranh chấp giữa các phó vương phía Tây (Western Satraps) Indo-Scythianvà Satavahanas. Những người cai trị Hindu của triều đại Silhara sau đó đã cai trị các đảo này cho đến năm 1343, khi vương quốc Gujarat đã thôn tín họ. Một trong những dinh tự cổ nhất của quần đảo này là Các động Elephanta và quần thể đền Walkeshwar có niên đại trong thời kỳ này. Năm 1534, người Bồ Đào Nha đã chiếm các đảo từ Bahadur Shah của Gujarat. Họ đã nhượng cho Charles II của Anh năm 1661, làm của hồi môn cho Catherine de Braganza. Những hòn đảo này sau đó lại được cho Cồng ty Đông Ấn thuộc Anh thuê năm 1668 với giá thuê 10 £10 mỗi năm. Công ty này thấy bến cảng nước sâu này bên bờ biển phía Đông của các hòn đảo là nơi lý tưởng để xây cảng đầu tiên của họ ở tiểu lục địa Ấn Độ. Dân số đã tăng lên nhanh chóng từ 10.000 năm 1661, lên 60.000 năm 1675; Năm 1687, Công ty Đông Ấn Anh đã chuyển trụ sở của mình từ Surat đến Bombay. Thành phố này cuối cùng đã trở thành thủ phủ hành chính của Quận Bombay. Từ năm 1817 trở về sau, thành phố đã được tạo lại hình dáng với các dự án xây dựng dân dụng với mục đích sáp nhập tất cả các hòn đảo ở quần đảo vào một khối đơn nhất. Dự án với tên gọi Hornby Vellard, đã được hoàn thành năm 1845, và dẫn đến tổng diện tích của khu vực phình ra đến 438 km². Năm 1853, tuyến đường sắt hành khách đầu tiên đã được thiết lập, nối Bombay với thị xã Thane. Trong thời kỳ Nội chiến Hoa Kỳ (1861–1865), thành phố này đã trở thành thị trường mua bán bông chính của thế giới, dẫn đến một sự bùng nổ kinh tế và kết quả là tăng tầm vóc của thành phố. Việc khai trương Kênh đào Suez năm 1869 đã chuyển Bombay thành một trong những hải cảng lớn nhất thế giới bên bờ Biển Ả Rập. Trong 30 năm sau, thành phố đã phát triển thành một trung tâm đô thị lớn, được thúc đẩy bởi một sự cải thiện hạ tầng cơ sở và việc xây dựng nhiều định chế của thành phố. Dân số của thành phố đã lên đến 1 triệu người năm 1906, khiến nó trở thành thành phố lớn thứ hai Ấn Độ, sau Calcutta. Là thủ phủ của Quận Bombay, thành phố này là cơ sở chính của Phong trào Độc lập Ấn Độ, với Phong trào Trả lại Ấn Độ do Mahatma Gandhi kêu gọi năm 1942 là sự kiện rubric nhất. Sau khi Ấn Độ giành được độc lập năm 1947, thành phố đã trở thành thủ phủ của Bang Bombay. Năm 1950 thành phố mở rộng ranh giới ra như ranh giới hiện nay bằng cách sáp nhập các khu vực của các hòn đảo Salsette nằm ở phía Bắc. Sau năm 1955, khi Bang Bombay được tổ chức lại theo ranh giới ngôn ngữ của các bang Maharashtra và Gujarat, đã có một yêu cầu rằng thành phố phải được thiết lập thành một bang-thành phố tự trị. Tuy nhiên, phong trào Samyukta Maharashtra đã phản đối yêu cầu này và khăng khăng đòi Bombay/Mumbai được công bố là thủ phủ của Maharashtra. Theo những cuộc tuần hành phản đối mà đã có 105 người bị cảnh sát bắn chết, bang Maharashtra đã được thành lập với Bombay là thủ phủ vào ngày 1 tháng 5 năm 1960. Cuối thập niên 1970, Bombay trải qua một thời kỳ bùng nổ về xây dựng và một luồng dân di cư đáng kể và Bombay đã vượt qua Kolkata để trở thành thành phố đông dân nhất Ân Độ. Điều này đã dẫn đến việc tạo ra Shiv Sena, một đơn vị chính trị bảo vệ quyền của những 'con trai của đất' năm 1966. Các công trình cổ của thành phố đã bị phá tan tành trong năm 1992/93, sau một cuộc bạo loạn phe phái gây ra tổn thất lơn về sinh mạng và tài sản. Một vài tháng sau, ngày 12 tháng 3 năm 1993, các vụ đánh bom đồng loạt vào các công trình nổi bật của thành phố bởi thế giới ngầm Mumbai đã giết chết khoảng 300 người. Năm 1995, thành phố đã được chính quyền Maharashtra của đảng Shiv Sena đổi tên thành Mumbai, với mục đích duy trì chính sách đổi tên các thể chế thời thuộc địa theo các tên gọi lịch sử địa phương. Đã có các vụ đánh bom nhằm vào các xe bus vận chuyển công cộng trong vài năm qua. Năm 2006, Mumbai cũng là một địa điểm của một vụ khủng bố lớn trong đó hơn 200 người bị giết chết khi nhiều quả bom đã phát nổ hầu như đồng thời ở Tuyến tàu hỏa Ngoại ô Mumbai. == Địa lý == Mumbai tọa lạc tại đảo Salsette nằm ở cửa sông Ulhas ngời bờ biển phía Tây của Ấn Độ, ở vùng duyên hải gọi là Konkan. Phần lớn đất Mumbai ngang mực nước biển, và độ cao trung bình dao động từ 10–15 m. Phần phía Bắc của Mumbai thì đồi núi, điểm cao nhất của thành phố là 450 m (1.450 feet). Mumbai có diện tổng diện tích 468 km² (169 mi²). Có 5 hồ cung cấp nước cho Mumbai, đó là các hồ Vihar, Vaitarna, Powai, Tulsi và Tansa. Ban hồ nằm bên trong ranh giới của thành phố là hồ Tulsi, hồ Vihar và hồ Powai. Hai hồ đầu tiên nằm bên trong Vườn quốc gia Borivali, và cung cấp một phần nước uống cho thành phố. Mumbai cũng có 3 con sông nhỏ chảy trong thành phố và bắt nguồn từ khu Vườn quốc gia. Bờ biển của Mumbai bị ăn lõm bởi nhiều lạch và vịnh. Bờ biển của các đảo Salsette được bao phủ bởi nhiều đầm lầy đước, phong phú về đa dạng sinh học. Bờ biển phía Tây có hai bãi biển gọi là bãi Juhu và bãi Chowpatty. Đất bao phủ khu vực thành phố phần lớn là cát do vị trí của thành phố gần biển. Ở các vùng ngoại ô, đất bao phủ chủ yếu là đất phù sa và nhiều mùn. Các lớp đá nằm dưới thành phố bao gồm các tầng basalt đen Deccan và sự khác nhau về độ axit và ba-dơ có niên đại từ cuối kỷ nguyên Cretaceous và đầu kỷ nguyên Eocene eras. Mumbai nằm trên một khu vực hoạt động địa chấn do sự hiện diện của ba đường phay đứt ở khu vực phụ cận. Khu vực này được xếp vào khu vực Vùng III, có nghĩa có thể xảy ra một trận động đất có cường độ 6,5 Richter. Mumbai được phân loại là một đô thi của Ấn Độ, dưới quyền quản lý của Hội đồng thành phố BrihanMumbai. Nó bao gồm hai vùng riêng biệt: nội thành và ngoại thành, tạo nên hai quận của bang Maharashtra. Khu vực thành phố thường được gọi là Thành phố đảo. == Khí hậu == Khí hậu của thành phố, nằm ở trong vùng nhiệt đới, và gần Biển Ả Rập, có thể đại khái chia ra hai mùa: mùa ẩm và mùa khô. Mùa ẩm rơi vào giữa tháng 3 và tháng 10 với độ ẩm cao và nhiệt độ hơn 30 °C (86 °F). Mưa gió mùa rơi vào giữa tháng 6 và tháng 9 và cung cấp phần lớn lượng mưa hàng năm của thành phố là 2.200 mm (85 inches). Lượng mưa trung bình hàng năm ghi nhận được là 3.452 mm (135.89 inches) năm 1954. lượng mưa cao nhất ghi nhận được trong một ngày là 944 mm (37.16 inches) on 2005-07-26. Mùa khô rơi vào giữa tháng 11 và tháng giêng có đặc trưng có độ ẩm và thời tiết mát mẻ ấm áp ôn hòa. Gió bắc lạnh tạo ra các đợt lạnh nhẹ vào tháng giêng và tháng 2. Nhiệt độ hàng năm chênh lệch trong khoảng cao nhất 38 °C (100 °F) và thấp nhất 11 °C (52 °F). Nhiệt độ cao nhất kỷ lục là 43,3 °C (110 °F) và thấp kỷ lục là 7,4 °C (45 °F) on 1962-01-22. Nhiệt độ trung bình hàng tháng của Mumbai vào giữa mùa Hè (tháng 5) là 33 °C (91 °F) & giữ tháng mùa Đông (tháng giêng) rơi xuống 19 °C (67 °F). Do kiểu thời tiết và độ ẩm và kiểu thời tiết chung như thế này, con người không phải gánh gchịu bất kỳ sự cực đoan nào của thời tiết trừ gió mùa trong một vài trường hợp – ví dụ lũ lụt. == Kinh tế == Mumbai đóng góp 10% số lượng việc làm tại nhà máy, 40% thuế thu nhập, 60% thuế hải quan, 20% thuế môn bài, 40% kim ngạch ngoại thương và 9 tỷ USD thuế kinh doanh của Ấn Độ. Nhiều định chế tài chính Ấn Độ có trụ sở tại trung tâm Mumbai, bao gồm Sở giao dịch Chứng khoán Mumbai, Ngân hàng Dự trữ Ấn Độ, Sở giao dịch Chứng khoán quốc gia Ấn Độ, Xưởng đúc tiền quốc gia, và nhiều tập đoàn kinh tế lớn (bao gồm Tata Group, Godrej và Reliance). Nhiều ngân hàng nước ngoài và các thể chế tài chính cũng có chi nhánh tại khu vực này. Cho đến thập niên 1980, sự thịnh vượng của Mumbai phần lớn là nhờ các nhà máy dệt và cảng biển. Nhưng từ đó trở đi, nền kinh tế của Mumbai đã được đa dạng hóa với các ngành: kỹ thuật công trình, gọt giũa kim cương, chăm sóc y tế, và công nghệ thông tin. Là một thủ phủ bang, các công sở ở đây cũng là nơi thu hút đang kể lực lượng lao động của Mumbai. Mumbai cũng có một lực lượng đông đảo những người lao động không có tay nghề cao và trung bình làm việc trong các lĩnh vực lao động chân tay như: bán hàng rong, lái taxi, cơ khí và các nghề cổ cồn xanh khác. Cảng và ngành vận tải tàu biển cũng sử dụng nhiều lao động. Công nghiệp giải trí cũng là một ngành thu hút nhiều lao động và đóng góp đáng kể cho kinh tế Mumbai. Phần lớn các đài truyền hình và các hệ thống vệ tinh lớn, các nhà xuất bản lớn đều đóng trụ sở ở Mumbai. Trung tâm ngành phim ảnh tiếng Hindi, hay thường gọi là Bollywood, nằm ở Mumbai với các xưởng phim và các hãng sản xuất phim ảnh. Cùng với cả Ấn Độ, Mumbai -thủ đô thương mại của Ấn Độ- đã có sự bùng nổ kinh tế kể từ khi tự do hoá năm 1991. Ngành tài chính phát triển nhảy vọt từ thập niên 1990 cùng với các ngành công nghệ thông tin, dịch vụ. Tầng lớp trung lưu ở Mumbai là tầng lớp được lợi nhất của đợt bùng nổ kinh tế này và đồng thời cũng là lực lượng tạo ra sự bùng nổ tiêu dùng của Mumbai. == Quản lý hành chính == Thành phố này do Hội đồng thành phố Brihanmumbai (BMC) quản lý (trước đây là Hội đồng thành phố Bombay), với quyền chấp hành được giao cho Cao ủy thành phố, là một quan chức ngành hành chính Ấn Độ được chính quyền bang bổ nhiệm. Hội đồng này bao gồm 227 ủy viên hội đồng được bầu cử trực tiếp đại diện cho 24 quận, 5 ủy viên hội đồng được chỉ định và một người giữ chức thị trưởng. BMC chịu trách nhiệm quản lý các nhu cầu về hạ tầng và công dân đô thị. Một người Phó cao ủy giám sát mỗi quận cho mục đích hành chính. Hầu như tất cả các đảng chính trị bang đều đưa ứng cử viên tham gia bầu cử chọn các ủy viên hội đồng. Vùng đô thị tạo thành hai quận của Maharashtra, mà mỗi quận dưới sự quản lý của một Người phục trách thu thuế Quận (District Collector). Các người phụ trách thu thuế quận này đảm trách việc hồ sơ tài sản và thu ngân khố cho Chính phủ Liên bang, và giám sát các cuộc bầu cử quốc gia tổ chức ở trong thành phố. Cảnh sát Mumbai do một Cao ủy Cảnh sát lãnh đạo, cao ủy cảnh sát này là một quan chức của IPS. Sở Cảnh sát Mumbai thuộc Bộ Nội vụ Bang. Thành phố được chia ra 7 vùng cảnh sát và 17 vùng cảnh sát giao thông, mỗi vùng do một Phó Cao ủy lãnh đạo. Cảnh sát giao thông là một cơ quan bán tự trị thuộc Sở Cảnh sát Mumbai. Mumbai là nơi có Tòa án Tối cao Mumbai, là cơ quan thi hành quyền hạn tư pháp trên toàn bang Maharashtra và Goa, và Các lãnh thổ Liên hiệp Daman và Diu và Dadra và Nagar Haveli. Mumbai cũng có hai tòa cấp dưới là Tòa án Tiểu điều khoản (Small Causes Court) xử các vụ việc dân sự, và Tòa án Khai đình (Sessions Court) for criminal cases. Thành phố bầu 6 nghị sĩ vào Lok Sabha và 34 nghị sĩ vào Quốc hội Bang Maharashtra == Giao thông == Phần lớn dân Mumbai sử dụng giao thông công cộng từ nhà đi làm và ngược lại do thiếu các bãi đậu xe, tắc nghẽn giao thông và nhìn chung là tình trạng đường sá tồi tệ trong thời gian gió mùa. Thành phố là nơi có trụ sở của hai bộ phận đường sắt – Đường sắt Trung tâm (CR) đóng trụ sở tại Ga cuối Chatrapati Shivaji (trước đây gọi là Ga cuối Victoria), và Đường sắt phía Tây (WR) đóng trụ sở ở gần Churchgate. Xương sống của giao thông thành phố, Đường sắt Ngoại ô Mumbai, bao gồm 3 mạng lưới riêng biệt chạy theo chiều dài thành phố, theo hướng Bắc-Nam. Tuyến Đường sắt phía Tây chạy dọc theo vùng phía Tây của thành phố còn tuyến Đường sắt Trung tâm bao trùm phần lớn các phần trung tâm và Đông Bắc của thành phố. Cả hai tuyến tỏa ra các vùng ngoại vi, mỗi tuyến có chiều dài một chiều khoảng 125 km. Tuyến Bến cảng là một nhánh của tuyến Đường sắt Trung tâm, với một độ dài 54 km dọc theo phần Tây-Nam của thành phố, gần các bến cảng và mở rộng vào Navi Mumbai (Bombay Mới). Mumbai được Đường sắt Ấn Độ kết nối tốt với phần lớn các nơi trong Ấn Độ. Xe bus công cộng được quản lý bơi BEST (một đơn cơ quan tự chủ thuộc BMC) bao quát hầu như tất cả các nơi trong vùng đô thị cũng như các địa điểm cử Navi Mumbai và Thane. Xe buýt được sử dụng cho việc đi lại các tuyến ngắn và trung còn tàu hỏa thì có giá vé tiết kiệm hơn cho các tuyến đường dài. Đội tàu hỏa của BEST bao gồm các xe bus một tầng, 2 tầng và xe có điều hòa nhiệt độ. Xe taxi màu đen và màu vàng có đồng hồ, được chở đến 4 khách cùng hành lý, bao quát khắp vùng đô thị. Xe tuk-tuk ([Auto rickshaw) chỉ được phép hoạt động ở các khu vực ngoại ô, là loại xe vận tải thuê ở đây. Các xe tuk-tuk (trông giống như xe lam) 3 bánh này có 3 bánh và có thể chở đến ba khách Sân bay quốc tế Chhatrapati Shivaji (trước đây gọi là, Sân bay quốc tế Sahar) của Mumbai là sân bay bận rộn nhất ở Ấn Độ, phục vụ vận tải hành khách và hàng hóa bằng đường hàng không. Nhà ga hàng không Andheri phục vụ các chuyến bay quốc tế còn Nhà ga Santacruz phục vụ các chuyến bay nội địa. Sân bay Juhu đã là sân bay đầu tiên của Ấn Độ và hiện nay là nơi đăng cai một câu lạc bộ bay và một sân bay trực thăng. Với địa hình duy nhất của mình, Mumbai có một trong những bến cảng tự nhiên tốt nhất thế giới, phục vụ 50% lượng khách của cả nước và phần nhiều hàng hóa vận tải đường thủy của Ấn Độ. Đây cũng là một căn cứ quan trọng của Hải quân Ấn Độ. Phà từ Bến phà cho phép đi đến các đảo và các bãi biển trong khu vực với giá rẻ. == Các dịch vụ tiện ích == Hội đồng Thành phố Mumbai (BMC) cung cấp nước uống cho thành phố, phần lớn được khai thác từ các hồ Tulsi và Vihar, cũng như các hồ xa về phía Bắc. Nước được lọc tại Bhandup, là nhà máy lọc nước lớn nhất châu Á. BMC cũng chịu trách nhiệm bảo dưỡng đường sá và thu gom rác thải trong thành phố. Hầu như tất cả số lượng rác thải 7800 tấn mỗi ngày của Mumbai đều được chở đến các bãi thải ở Gorai nằm ở Tây Bắc, và Deonar ở phía Đông. Việc xử lý nước cống được tiến hành ở Worli và Bandra. Điện được cung cấp bởi: BEST ở trong thành phố, và bởi Reliance Energy, Tata, và Mahavitaran (Công ty TNHH Phân phối Điện Bang Maharashtra) ở các vùng ngoại ô. Phần lớn điện của thành phố lấy từ thủy điện và máy điện nguyên tử. Công ty cung cấp dịch vụ điện thoại lớn nhất là công ty quốc doanh MTNL, là công ty đã độc quyền cung cấp dịch vụ điện thoại cố định và di động cho đến năm 2000 và hiện đang cung cấp dịch vụ điện thoại cố định, di động cũng như WLL. Vùng phủ sóng điện thoại di động rộng rãi và nhà cung cấp dịch vụ chính là Hutch, Airtel, BPL group, Reliance Infocomm và Tata Indicom. Cả hai công nghệ di động GSM và CDMA đều có sẵn ở thành phố. Việc sử dụng Internet băng thông rộng đang gia tăng ở thành phố với các công ty cung cấp dịch vụ dẫn đầu là MTNL và Tata. == Thông tin nhân khẩu == Theo điều tra dân số năm 2001, dân số Mumbai là 11.914.398 người, Theo cuộc điều tra do World Gazetteer tiến hành năm 2008, Mumbai có dân số 13.662.885 người and the Mumbai Metropolitan Area has a population of 20,870,764. Mật độ dân số ước tính khoảng 22.000 người trên mỗi ki-lô-mét vuông. Tỷ lệ biết chữ của dân thành phố này là trên 86%, cao hơn mức trung bình của toàn Ấn Độ. Cơ cấu tôn giáo ở Mumbai gồm đạo Hindu (67,39%), đạo Hồi (18,56%), đạo Phật (5,22%), đạo Jain (3,99%) và Thiên Chúa giáo (3,72%), còn lại là đạo Sikh và đạo Parsi. Cơ cấu dân số và ngôn ngữ gồm: người Maharashtria (53%), người Gujaratis (22%), người Bắc Ấn Độ (17%), người Tamil (3%), người Sindhi (3%), người Tuluva/người Kannadiga (2%) và các dân tộc khác. Cơ cấu dân tộc đa dạng do các cộng đồng dân cư từ khắp Ấn Độ đã đến định cư ở đây. Thành phố này cũng thu hút một số lượng người nước ngoài đến kinh doanh. Đối với một đô thị có quy mô lơn như thế nhưng Mumbai có một tỷ lệ tội phạm vừa phải.. Mumbai đã ghi nhận được 27.577 vụ tội phạm năm 2004, giảm 11% từ mức 30.991 năm 2001. Nhà tù chính của thành phố này là Arthur Road Jail. Mumbai có một bộ phận lớn dân biết nhiều thứ tiếng giống như các thành phố khác ở Ấn Độ. Marathi, ngôn ngữ chính thức của Maharashtra được nói rộng rãi. Các ngôn ngữ khác được nói tại đây là Hindi và tiếng Anh. Một kiểu nói thông tục của tiếng Hindi, được gọi là Bambaiya – một sự pha trộn của tiếng Marathi, Hindi, tiếng Anh Ấn Độ và một số từ thông tục được pha trộn được sử dụng ngoài phố. Tiếng Anh được nói rộng rãi và là ngôn ngữ chính của lực lượng cổ cồn trắng của thành phố. Giống như nhiều thành phố lớn khác ở thế giới đang phát triển, Mumbai phải gánh chịu các vấn đề tương tư của quá trình đô thị hóa lớn nảy sinh ở các thành phố lớn ở các nước đang phát triển — sự nghèo khó phổ biến và tình trạng chăm sóc y tế kém, nạn thất nghiệp, mức giáo dục và trình độ thị dân của bộ phận lớn dân số. Với không gian thành phố có hạn, dân Mumbai thường phải sống trong các khu nhà tù túng, đắt đỏ, thường xa nơi làm việc và do đó cần đi làm bằng các tuyến xe tháng có điểm trung chuyển đông nghẹt người hay các tuyến đường kẹt cứng xe cộ. Theo tuần báo Business Week, khoảng 43% dân số sống ở các khu ổ chuột và các vành đai ổ chuột của thành phố. Mặc dù mãi dâm là bất hợp pháp ở Ấn Độ, Mumbai có mộ số lượng dân số lớn là những người làm nghề bán dâm, ước tính hơn 100.000 người. Sự thịnh hành cao của HIV trong những người hành nghề mại dâm nữ (mức không đổi trên 50% kể từ năm 1993 == Dân cư và Văn hóa == Một người dân của Mumbai trong tiếng Anh gọi là một Mumbaikar, hay Bombayite (người Mumbai). Nhiều người dân thích ở gần các ga tàu hỏa lớn để tiện đi làm do một lượng thời gian đáng kể phải mất cho việc đi lại hàng ngày. Do đó, nhiều người sống theo kiểu sống nhanh, với rất ít thời gian dành cho các hoạt động xã hội. Dân Mumbai cử hành các lễ hội Ấn Độ và phương Tây với sự phô trương ầm ỹ. Vùng đô thị có hương vị thức ăn nhanh lề đường, bao gồm các món vada pav (bánh mì lên men tách đôi ra, với bánh bao chiên kẹp giữa), panipuri (bánh xèo với xốt me và đậu lăng), pav bhaji (bánh mì lên men ăn kèm rau xào), sandwich (bánh mì kẹp trắng với bơ và xốt cà chua (Chutney) nóng, khoai tây, hành, dưa leo và beatroot) và bhelpuri (hỗi hợp cơm xốp), còn ẩm thực Nam Ấn Độ thực phẩm Trung Hoa cũng phổ biến. Cư dân thành phố này có gu ẩm thực, âm nhạc, phi, ảnh và văn học cả Ấn Độ và quốc tế độc nhất vô nhị. Năm 2004, Mumbai đã nhận được các giải thưởng bảo tồn di sản từ UNESCO. Mumbai là cái nôi sinh ra điện ảnh Ấn Độ (Dadasaheb Phalke đã đặt nền móng bằng những bộ phim câm và theo chúng là những bộ phim Marathi của ông), với sự truyền bá phim ảnh ở đây vào đầu thế kỷ 20. Mumbai cũng có một số lượng lớn các rạp chiếu phim, bao gồm nhà hát mái vòm chiếu phim lớn nhất thế giới IMAX, trình chiếu các bộ phim chủ đạo của Bollywood, Marathi và Hollywood. Nhiều lễ hội phim được mọi người háo hức tham gia quanh năm. Ngoài phục vụ cho những người mê điện ảnh, thành phố có một truyền thống kịch nghệ cả bằng tiếng Anh và các ngôn ngữ địa phương phát đạt. Nghệ thuật đương đại được trưng bày tốt ở các phòng trưng bày nghệ thuật do nhà nước bảo trợ và các phòng trưng bày tư nhân. Nhà nước bảo trợ kinh phí cho các gallery: Phòng trưng bày Nghệ thuật Jehangir và Phòng trưng bày Nghệ thuật hiện đại Quốc gia. Được xây dựng năm 1833, Hiệp hội châu Á Bombay là thư viện công cộng cổ nhất thành phố. Thành phố này cũng có phần lớn các tòa nhà cao nhất. Mumbai có 6 thành phố kết nghĩa (con số tối đa được chính phủ Ấn Độ cho phép). Các thành phố kết nghĩa của Mumbai là: Berlin, London, Los Angeles, Saint Petersburg, Stuttgart và Yokohama. == Các phương tiện truyền thông == Mumbai có nhiều ấn bản báo chí, nhiều đài phát thanh và truyền hình; các tờ báo bằng tiếng Anh xuất bản và bán ở Mumbai có Times of India, Mid-day, DNA, Hindustan Times, Mumbai Mirror and Indian Express. Các tờ báo Marathi bao gồm Loksatta, Sakaal và Maharashtra Times. Ngoài các tờ báo này ra còn có nhiều tờ báo khác được in bằng các ngôn ngữ Ấn Độ khác. Mumbai cũng là nơi có tờ báo cổ nhất Ấn Độ, tờ Bombay Samachar, một tờ báo được xuất bản bằng tiếng Anh và tiếng Gujarati kể từ năm 1822. Bombay Durpan-the first Marathi newspaper was started by Jambhekar in Mumbai on 1832. Đài truyền hình quốc gia Doordarshan cung cấp 2 kênh mặt đất miễn phí còn 3 mạng lưới truyền hình cáp chính phục vụ phần lớn các hộ gia đình. Zee Marathi, DD Sahyadri, Zee TV, Star plus các kênh tin tức là các kênh truyền hình phổ biến. Truyền hình vệ tinh (DTH) vẫn chưa nhận được sự chấp nhận rộng rãi do phí lắp đặt cao. Các hộ gia đình ở Mumbai bắt được hơn 100 kênh truyền hình cáp, và đại bộ phận các kênh này được sản xuất để phục vụ cho quần chúng biết nhiều thứ tiếng của thành phố này. Thành phố này cũng là trung tâm của nhiều tập đoàn truyền thông quốc tế với nhiều kênh tin tức và ấn bản phẩm hiện diện lớn ở đây. Có 9 đài phát thanh ở Mumbai, với 6 đài phát bằng băng tần FM, và các đài All India Radio phát bằng băng tần AM. == Giáo dục == Các trường học ở Mumbai hoặc là "các trường thành phố" (do BMC quản lý) hay các trường tư thục (do các tổ hợp (trust) và các cá nhân quản lý) và thường được chính quyền trợ giúp. Đại đa số dân thích trường tư hơn vì các trường tư có cơ sở vật chất tốt hơn và sử dụng tiếng Anh làm ngôn ngữ giảng dạy chính. Tất cả các trường tư là hội viên của Ban SSC của bang Maharashtra hoặc các ban Bằng cấp Giáo dục Trung học Ấn Độ (ICSE) và Ban Trung ương Giáo dục Phổ thông Trung học (CBSE) toàn Ấn Độ. Nhu cầu học đặc biệt cao đối với các trường thuộc hội viên của ICSE và CBSE, và đối với những trường do các nữ tu viện hoặc các trường thuộc thầy tu dòng Tên. Các trường công du chính phủ điều hành thiết nhiều trang thiết bị nhưng là lựa chọn duy nhất cho các cư dân nghèo hơn không có khả năng nhập học các trường tư đắt đỏ hơn. Theo kế hoạch 10+2+3, học sinh mất 10 năm học phổ thông, sau đó 2 năm vào các Trường cao đẳng 2 năm đầu (Junior College), nơi họ lựa chọn theo ba ngành: nghệ thuật, thương mại hoặc khoa học. Tiếp theo là một khóa đại học tổng hợp ở lĩnh vực học hay một khóa chuyên nghiệp như luật, kỹ thuật, y khoa. Phần lớn các trường cao đẳng ở thành phố là hội viên của Đại học Mumbai, một trong những trường đại học lớn nhất thế giới về mặt tỷ lệ tốt nghiệp. Viện Công nghệ Ấn Độ, Mumbai, là một trong những trường kỹ thuật hàng đầu của Ấn Độ và Đại học Nữ SNDT là những trường đại học khác tại Mumbai. Mumbai cũng là nơi có hai viện nghiên cứu quan trọng của Ấn Độ: Viện Nghiên cứu Cơ bản Tata (TIFR), và Trung tâm Nghiên cứu Nguyên tử Bhabha (BARC). == Thể thao == Môn cricket là môn thể thao phổ biến nhất của thành phố Mumbai và thường được chơi ở trong các maidan (sân) xung quanh thành phố. Gully cricket, một dạng cải biến của môn cricket, được chơi trong các ngõ hẻm hẹp của thành phố, đặc biệt vào các ngày Chủ Nhật. Mumbai đã sản sinh ra nhiều các vận động viên cricket quốc tế nổi tiếng, và là chủ nhà của Ban Kiểm soát môn cricket ở Ấn Độ (BCCI). Môn cricket quốc tế được đông đảo dân chúng xem và thành phố ngừng hoạt động trên thực tế trong những ngày khi đội cricket Ấn Độ chơi các trận quan trọng. Thành phố có hai sân vận động cricket quan trọng là Sân vận động Wankhede và Sân vận động Brabourne. Đội tuyển cricket Mumbai thuộc loại một trong những đội mạnh ở Ranji Trophy, vòng thi đấu trong nước hạng nhất quốc gia. Bóng đá là môn thể thao phổ biến thứ hai với những câu lạc bộ chơi vào các đợt gió mùa, khi các môn thể thao ngoài trời khác không thể chơi được. Football World Cup là một trong những sự kiện truyền hình được đông đảo người theo dõi nhất ở Mumbai. Môn thể thao quốc gia Ấn Độ, field hockey, đã sụt giảm mạnh trong những năm gần đây, sụt giảm về độ phổ biến so vơi môn cricket, dù nhiều tuyển thủ Mumbai chơi trong đội tuyển quốc gia. Các môn thể thao được nhiều chơi khác ở các câu lạc bộ và câu lạc bộ thể thao (gymkhana), và bao gồm tennis, bóng quần, billiards, cầu lông, bóng bàn và golf. Mumbai cũng chơi môn bóng rugby, là một trong số ít các thành phố ở Ấn Độ chơi môn này. Mỗi tháng 2, Mumbai tổ chức các cuộc đua ngựa 3 tuổi ở Trường đua ngựa Mahalaxmi. Dịp này chứng kiến những người ăn mặc đúng mốt tranhg điểm thời thượng. Trong những thời gian gần đây, môn đua xe công thức 1 (Formula 1) đã gây sự chú ý của công chúng. Các môn thể thao khác như bóng chuyền và bóng rổ phần lớn phổ biến ở các trường phổ thông và cao đẳng. Năm 2004, Cuộc đua việt dã Mumbai Marathon, một sự kiện hàng năm được Standard Chartered Bank tài trợ, đã thiết lập một sự cố gắng mang môn thể thao này đến với công chúng Ấn Độ. == Chú thích == == Tham khảo == == Đọc thêm == Fox, Edmund A; Short History of Bombay Presidency (1887) — Thacker & Co — No ISBN MacLean, James Mackenzie; A Guide to Bombay (1875 & 1902) — Various editions; No ISBN Chaudhari, K.K; History of Bombay (1987) — Modern Period Gazetteers Dept., Govt. of Maharashtra Tindall, Gillian; City of Gold (1992) — Penguin ISBN 0-14-009500-4 Mehta, Suketu; Maximum City: Bombay Lost and Found (2004) — Knopf ISBN 0-375-40372-8 Patel, Sujata & Thorner, Alice; Bombay, Metaphor for Modern India (1995) — Oxford University Press ISBN 0-19-563688-0 Katiyar, Arun & Bhojani, Namas; Bombay, A Contemporary Account (1996) — Harper Collins ISBN 81-7223-216-0 Contractor, Behram; From Bombay to Mumbai (1998) — Oriana Books Virani, Pinki; Once was Bombay (1999) — Viking ISBN 0-670-88869-9 Mappls — Satellite based comprehensive maps of Mumbai (1999) — CE Info Systems Ltd. ISBN 81-901108-0-2 Agarwal, Jagdish; Bombay - Mumbai: A Picture Book (1998) — Wilco Publishing House ISBN 81-87288-35-3 Dwivedi, Sharada & Mehrotra, Rahul; Bombay, The Cities Within (1995) — India Book House Pvt. Ltd. ISBN 81-85028-80-X BMC information on the city — A complete reference on the city prepared by the BMC Sharada Dwivedi,Goddess Island Indian Express, June 6, 2005 TIFR information — a vast collection of information on the city Our Greater Bombay (1990) — Maharashtra State Bureau of Textbook Production and Curriculum Research The Oxford School Atlas; 28th Revised Edition (1991) — Oxford University Press ISBN 0-19-563316-4 BusinessWeek; August 12, 2005; "China and India" special coverage Mumbai Suburban Rail Map (including Proposed Metrol Rail Project) == Liên kết ngoài == Mumbai trên trang WikiMapia Bản mẫu:IndicText Official site of the Municipal Corporation of Greater Mumbai Official site of the Government of Maharashtra State The Mumbai Pages: The complete guide to the city of Mumbai (Bombay) from the Tata Institute of Fundamental Research Official city report Mumbai in pictures
điện tích.txt
Điện tích là một tính chất cơ bản và không đổi của một số hạt hạ nguyên tử (hạt sơ cấp), đặc trưng cho tương tác điện từ giữa chúng. Điện tích tạo ra trường điện từ và cũng như chịu sự ảnh hưởng của trường điện từ. Sự tương tác giữa một điện tích với trường điện từ, khi nó chuyển động hoặc đứng yên so với trường điện từ này, là nguyên nhân gây ra lực điện từ, một trong những lực cơ bản của tự nhiên. Điện tích tạo từ các hạt mang điện rất nhỏ, như một chất điểm, thì điện tích được gọi là điện tích điểm. Nếu điện tích điểm được sử dụng trong một thí nghiệm, có thể là thí nghiệm tưởng tượng trên lý thuyết, thì nó được gọi là điện tích thử. Điện tích của một vật vĩ mô là tổng đại số của tất cả các điện tích tương ứng của các hạt phần tử cấu thành nên vật đó. Thông thường, các vật quanh ta đều trung hòa về điện, đó là do mỗi nguyên tử ở trạng thái tự nhiên đều có tổng số proton bằng tổng số electron. Tuy nhiên, ngay cả khi điện tích tổng cộng của một vật bằng không, vật ấy vẫn có thể tham gia tương tác điện từ, đó là nhờ hiện tượng phân cực điện. Các điện tích chịu sự ảnh hưởng của hiện tượng phân cực gọi là điện tích liên kết, các điện tích có thể di chuyển linh động trong vật dẫn dưới tác dụng của từ trường ngoài gọi là điện tích tự do. Chuyển động của các hạt mang điện theo một hướng xác định sẽ tạo thành dòng điện. Phần lớn điện lượng trong tự nhiên là bội số nguyên của điện tích nguyên tố. Các hạt quark có điện tích phân số so với e. Phản hạt của một hạt cơ bản có điện tích bằng về độ lớn nhưng trái dấu so với điện tích của hạt đó. Có thể đo điện tích bằng một dụng cụ gọi là tĩnh điện kế. == Điện tích == Điện tích còn được hiểu là "vật tích điện". Mọi vật trung hòa về điện khi cho hay nhận điện tử âm sẻ trở thành Điện tích. Khi vật nhận điện tử âm vật sẻ trở thành điện tích âm Vật + e --> (-) Khi vật cho điện tử âm vật sẻ trở thành điện tích dương Vật - e --> (+) Điện tích âm có ký hiệu - Q. Điện tích dương có ký hiệu + Q Mọi Điện tích đo bằng đơn vị Coulomb có ký hiệu C. Đơn vị Coulomb được định nghỉa như sau 1 C = 6 , 24 × 10 18 e {\displaystyle 1C=6,24\times 10^{18}e} == Tương tác điện tích == === Tương tác giữa hai điện tích === Khi hai điện tích tương tác với nhau. Điện tích đồng loại đẩy nhau. Điện tích khác loại hút nhau Khi có 2 điện tích khác dấu nằm kề nhau ở khoảng cách r. Lực hút của điện tích âm hút điện tích dương tuân theo định luật Culomb tạo ra lực Coulomb Định luật Coulomb phát biểu là: Độ lớn lực tương tác giữa hai điện tích điểm tỷ lệ thuận với tích độ lớn của các điện tích và tỷ lệ nghịch với bình phương khoảng cách giữa chúng. Công thức lực Coulomb F = k e q 1 q 2 r 2 {\displaystyle F=k_{\mathrm {e} }{\frac {q_{1}q_{2}}{r^{2}}}} k e = 1 4 π ε 0 = c 2 μ 0 4 π = c 2 ⋅ 10 − 7 H ⋅ m − 1 = 8.987 551 787 × 10 9 N ⋅ m 2 / C 2 . {\displaystyle {\begin{aligned}k_{\mathrm {e} }&={\frac {1}{4\pi \varepsilon _{0}}}={\frac {c^{2}\ \mu _{0}}{4\pi }}=c^{2}\cdot 10^{-7}\ \mathrm {H} \cdot \mathrm {m} ^{-1}\\&=8.987\ 551\ 787\times 10^{9}\ \mathrm {N\cdot m^{2}/C^{2}} .\end{aligned}}} === Tương tác giữa điện tích và điện === Tương tác giữa điện tích đứng yên và điện có điện lực F_E tạo ra dòng điện tích di chuyển thẳng hàng có điện trường E tuân theo định luật Ampere E = F E Q {\displaystyle E={\frac {F_{E}}{Q}}} Vì vậy F E = Q E {\displaystyle F_{E}=QE} === Tương tác giữa điện tích và từ === Tương tác giữa điện tích di chuyển và nam châm từ có từ lực F_B tạo ra từ trường B vuông góc với điện trường E tuân theo định luật Lorentz F B = Q v B {\displaystyle F_{B}=QvB} Vậy, B = F B Q v {\displaystyle B={\frac {F_{B}}{Qv}}} v = F B Q B {\displaystyle v={\frac {F_{B}}{QB}}} === Tương tác giữa điện tích cùng với điện và từ === F E B = F E + F B = Q E ± Q v B = Q ( E ± v B ) {\displaystyle F_{EB}=F_{E}+F_{B}=QE\pm QvB=Q(E\pm vB)} == Tham khảo == == Liên kết ngoài ==
hệ ngôn ngữ nam đảo.txt
Hệ ngôn ngữ Nam Đảo hay Ngữ hệ Nam Đảo là một ngữ hệ phân bổ rộng rãi tại các hải đảo Đông Nam Á và Thái Bình Dương, Madagascar và một phần nhỏ tại đại lục châu Á. Ngữ hệ Nam Đảo được khoảng 386 triệu người nói. Otto Dempwolff, một học giả người Đức, là nhà nghiên cứu đầu tiên đã khảo sát một cách rộng rãi Ngữ hệ Nam Đảo bằng cách sử dụng phương pháp so sánh. Một học giả người Đức khác là Wilhelm Schmidt, đã đặt ra từ tiếng Đức austronesisch bắt nguồn từ tiếng Latinh auster "gió nam" cộng với tiếng Hy Lạp nêsos "đảo". Đúng như tên gọi, phần lớn Ngữ hệ Nam Đảo được nói trên các hòn đảo, chỉ có một vài ngôn ngữ, như tiếng Mã Lai và nhóm ngôn ngữ Chăm là các ngôn ngữ bản địa tại lục địa châu Á. Nhiều ngôn ngữ Nam Đảo chỉ có rất ít người nói, song các ngôn ngữ Nam Đảo chính có hàng chục triệu người nói và đặc biệt, tiếng Mã Lai có đến 180 triệu người nói và là ngôn ngữ được nói nhiều thứ tám trên thế giới. Khoảng hơn hai mươi ngôn ngữ Nam Đảo là ngôn ngữ chính thức của các quốc gia. Các nguồn khác nhau đưa ra số lượng các ngôn ngữ khác nhau, song Nam Đảo và Niger–Congo là hai ngữ hệ lớn nhất trên thế giới về số lượng ngôn ngữ, mỗi ngữ hệ chiếm khoảng một phần năm tổng số ngôn ngữ được ước tính trên thế giới. Phạm vi địa lý của Ngữ hệ Nam Đảo lớn hơn bất kỳ ngữ hệ nào khác trước khi Ngữ hệ Ấn-Âu mở rộng phạm vi trong thời kỳ thuộc địa. Ngữ hệ Nam Đảo kéo dài từ Madagascar ở ngoài khơi đông nam châu Phi đến đảo Phục Sinh ở phía đông của Thái Bình Dương. Tiếng Hawaii, tiếng Rapa Nui, và tiếng Malagasy (nói tại Madagascar) là các ngôn ngữ phân bổ ở những vùng địa lý xa nhất của Ngữ hệ Nam Đảo. Theo Robert Blust (1999), Ngữ hệ Nam Đảo được chia thành một số nhánh chính, ngoại trừ một nhánh duy nhất thì tất cả các nhánh còn lại đều ở Đài Loan. Nhóm ngôn ngữ Formosa tại Đài Loan được phân thành 9 phân nhóm bậc đầu tiên của Ngữ hệ Nam Đảo. Toàn bộ các ngôn ngữ Nam Đảo được nói bên ngoài Đài Loan (bao gồm tiếng Yami ở ngoài khơi của đảo) thuộc nhánh Malayo-Polynesia, thỉnh thoảng được gọi là Ngoài-Formosa. == Cấu trúc == Không dễ để khái quát về các ngôn ngữ của một ngữ hệ đa dạng như Nam Đảo. Ngữ hệ này được nói trên một phạm vi rộng rãi, các ngôn ngữ Nam Đảo có thể được chia thành ba nhóm ngôn ngữ: các ngôn ngữ kiểu Philippines, các ngôn ngữ kiểu Indonesia và kiểu hậu Indonesia (Ross 2002). Các ngôn ngữ Nam Đảo có xu hướng sử dụng điệp từ (lặp lại tất cả hoặc một phần của một từ, như wiki-wiki hay agar-agar), và, giống như các ngôn ngữ Đông và Đông Nam Á khác, hầu hết chúng có phương pháp tổ hợp ngữ âm rất hạn chế, với các âm vị thường có số lượng hạn chế và phần lớn là các âm tiết phụ âm-nguyên âm. == Từ vựng == Ngữ hệ Nam Đảo được hình thành theo phương pháp so sánh ngôn ngữ dựa trên cơ sở từ cùng nguồn gốc, các tập hợp từ tương tự trong cách phát âm và ý nghĩa có thể thể hiện chúng có nguồn gốc từ những từ tổ tiên giống nhau trong tiếng Nam Đảo nguyên thủy theo quy tắc thông thường. Một số tập hợp từ cùng gốc rất ổn định. Từ mắt trong nhiều ngôn ngữ Nam Đảo là mata (các ngôn ngữ Nam Đảo xa nhất về phía bắc miền Bắc, nhóm ngôn ngữ Formosa như tiếng Bunun và tiếng Amis đến phía nam như tiếng Maori). Các từ khác có khó khăn hơn để xây dựng mối liên hệ. Từ hai cũng là một từ ổn định, nó xuất hiện trên toàn bộ phạm vi của các ngôn ngữ Nam Đảo, song một số dạng (tiếng Bunun rusya, lusha; tiếng Amis tusa; tiếng Māori tua, rua) yêu cầu cần phải được một số chuyên gia ngôn ngữ học công nhận. Cơ sở dữ liệu từ vựng cơ bản Nam Đảo đưa ra một danh sách từ cho xấp xỉ 500 ngôn ngữ Nam Đảo. == Phân loại == Kết cấu nội tại của các ngôn ngữ Nam Đảo là phức tạp. Ngữ hệ gồm có nhiều ngôn ngữ tương tự và có liên hệ chặt chẽ với một số lượng lớn các phương ngữ liên tục, khiến việc xác định ranh giới ngôn ngữ giữa các nhánh gặp khó khăn. Tuy nhiên, có điều rõ ràng là tính đa dạng lớn nhất trong phả hệ ngôn ngữ là nhóm ngôn ngữ Formosa tại Đài Loan, và đây cũng là đảo có ngôn ngữ đa dạng nhất tại Thái Bình Dương, điều này ủng hộ luận điểm ngữ hệ Nam Đảo bắt nguồn từ Đài Loan hay Trung Quốc đại lục. Phân loại toàn diện đầu tiên để phản ánh điều này là Dyen (1965). Các bài viết chuyên đề về việc phân loại các ngôn ngữ Formosa và, bằng cách mở rộng, cấu trúc cấp cao nhất của Ngữ hệ Nam Đảo—là Blust (1999). Các học giả chuyên nghiên cứu về ngôn ngữ Formosa còn tranh luận về một số đặc điểm, và vẫn còn là vấn đề để các nhà ngôn ngữ học hiện đại nghiên cứu. Nhóm ngôn ngữ Malayo-Polynesia thường được xếp vào trong nhánh Đông Formosa của Blust do chúng chia sẻ việc đồng nhất âm Nam Đảo nguyên thủy *t, *C thành /t/ và *n, *N thành /n/, chúng thay đổi *S thành /h/, và các tư vựng như *lima "năm" mà không được chứng thực trong các ngôn ngữ Formosa khác. Có vẻ như đã có hai cuộc di cư vĩ đại của ngôn ngữ Nam Đảo và nó đã nhanh chóng bao phủ một khu vực rộng lớn. Đầu tiên là nhóm ngôn ngữ Malayo-Polynesia phân bố đến Philippines, Indonesia, và Melanesia. Các ngôn ngữ thuộc nhóm ngôn ngữ Trung Malayo-Polynesia cũng tương tự như nhau sau không phải vì mối quan hệ phả hệ chặt chẽ, mà bởi chúng phản ánh sự tác động nền tảng mạnh mẽ của các ngôn ngữ phi Nam Đảo. Cuộc di cư thứ hai là các ngôn ngữ châu Đại Dương mở rộng đến Polynesia và Micronesia(Greenhill, Blust & Gray 2008). Ngoài Malayo-Polynesia, mười ba nhóm ngôn ngữ Formosa được chấp thuận rộng rãi. Cuộc tranh luận giữa các nhà ngôn ngữ học chủ yếu xoay quanh mối quan hệ giữ các hệ ngôn ngữ này. Trong một số phương pháp phân loại được trình bày trong bài, Blust (1999) liên kết hai hệ ngôn ngữ vào nhóm Đồng bằng phía Tây, hai hệ nữa vào nhóm Tây Bắc Formosa, và ba hệ nữa vào nhóm Đông Formosa, trong khi Lý Nhâm Quý (2008) liên kết năm hệ vào một nhóm Bắc Formosa. Cơ sở dữ liệu từ vựng cơ bản Nam Đảo (2008) chấp thuận nhóm phía Bắc, từ chối nhóm phía Đông, liên kết Tsou và Rukai (hai ngôn ngữ khác nhau khá lớn), và liên kết nhóm Malayo-Polynesia với nhóm Paiwan thành nhóm Paiwan. Ross (2009) chia tách nhóm Tsou, và lưu ý rằng Tsou, Rukai, và Puyama nằm ngoài việc phục dựng lại tiếng Nam Đảo nguyên thủy. Các nghiên cứu khác trình bày về bằng chứng âm vị học để bác bỏ việc nhóm Paiwan gồm Paiwan, Puyuma, Bunun, Amis, và Malayo-Polynesia, song điều này không được phản ánh trong từ vựng. Những người nói tiếng Đông Formosa như Basay, Kavalan, và Amis cùng chia sẻ một câu chuyện rằng họ có nguồn gốc từ một hòn đảo gọi là Sinasay hay Sanasay (Li 2004). Người Ami, đặc biệt, vẫn duy trì quan niệm rằng họ đến từ phía đông, và bị người Puyuma đối xử như là một nhóm phục tùng (Taylor 1888). === Blust (1999) === Nam Đảo (theo chiều kim đồng hồ từ tây nam) Tsou Saaroa Kanakanabu Thao (AKA Sao. Các phương ngữ Brawbaw, Shtafari) Các đồng bằng Trung tâm phía Tây Babuza (Taokas, các phương ngữ Poavosa; tiếng Favorlang cũ) Papora-Hoanya (các phương ngữ Papora, Hoanya) Saisiyat (Taai, các phương ngữ Tungho) Pazeh (hay Kulun) Atayal Seediq (AKA Truku, Taroko) miền Bắc (Kavalan) Basay (Trobiawan, các phương ngữ Linaw–Qauqaut) Kavalan Ketagalan hay Ketangalan Trung (Amis) Amis Nataoran (Bắc Amis) Sakizaya Siraya (Mantauran, Tona, và các phương ngữ Maga bị phân tách) === Lý Nhâm Quý (2008) === Cách phân loại của Lý giữ lại nhóm Đông Formosa của Blust, và kết hợp hai hệ ngôn ngữ miền Bắc khác. Lý Nhâm Quý đề xuất một tổ tiên ngôn ngữ Formosa nguyên thủy (F0) tương đương với Nam Đảo nguyên thủy (PAN), theo mô hình của Starosta (1995). Rukai và Tsou được xem là rất khác biệt, mặc dù vị trí của nhóm Rukai là điều gây tranh cãi. F0: Formosa = Nam Đảo Mantauran Maga–Tona, Budai–Labuan–Taromak F1 Tsou Nam Tsou Saaroa Kanakanabu F2 Tây Bắc (Đồng bằng) Saisiyat–Kulon–Pazeh Tây Thao Bờ biển phía Tây (Papora–Hoanya–Babuza–Taokas) Atayal Squliq Atayal Ts'ole' Atayal (= C'uli') Seediq Kavalan–Basay Siraya–Amis ? Nam [không chắc chắn] Isbukun Bắc và Trung (Takitudu và Takbanuao) === Cơ sở dữ liệu từ vựng cơ bản Nam Đảo (2008) === Nghiên cứu này giữ nhóm Bắc Formosa của Lý Nhâm Quý, song tách nhóm Đông Formosa của Blust, và đề xuất Paiwan có thể là nhóm gần nhất với Malayo-Polynesia. Nó cũng kết hợp Tsou và Rukai, hai ngôn ngữ khác biệt nhất theo Lý Nhâm Quý. Nam Đảo Basay (Trobiawan, các phương ngữ Linaw–Qauqaut) Kavalan Ketagalan Thao (hay Sao. Brawbaw, các phương ngữ Shtafari) Đồng bằng phía Tây Babuza (AKA Favorlang. Các phương ngữ Taokas, Poavosa) Papora-Hoanya (Các phương ngữ Papora, Hoanya) Saisiyat (vác phương ngữ Taai, Tungho) Pazeh (AKA Kulun) Atayal Atayal (Squliq, C’uli’) Seediq (AKA Truku, Taroko) Sakizaya Nataoran (Bắc Amis) Amis Bunun Tsou Tsou Saaroa Kanakanabu Rukai Siraya (các phương ngữ Taivoan, Makatao) Puyuma Paiwan Malayo-Polynesia === Ross (2009) === Năm 2009, Malcolm Ross đã đề xuất một cách phân loại mới cho Ngữ hệ Nam Đảo dựa trên bằng chứng hình thái học từ các ngôn ngữ Formosa khác nhau. Ông đề xuất rằng hiện nay thì việc tái dựng ngôn ngữ Nam Đảo nguyên thủy thực sự tương ứng với một giai đoạn trung gian, mà ông gọi với thuật ngữ "Nam Đảo hạt nhân nguyên thủy". Đáng chú ý, cách phân loại của Ross không ủng hộ tính thống nhất của nhóm ngôn ngữ Tsou, thay vào đó, ông coi nhóm ngôn ngữ Nam Tsou gồm Kanakanavu và Saaroa là một nhánh riêng biệt. Điều này ủng hộ tuyên bố của Chang (2006) rằng Tsou không phải là một nhóm hợp lý. Nam Đảo (các phương ngữ Mantauran và Tona–Maga phân biệt) == Các ngôn ngữ chính == Ngôn ngữ với trên 4 triệu người nói bản địa Java (76 triệu) Filipino / Tagalog (47 triệu bản địa, ~90 triệu tổng cộng) Mã Lai / Indonesia, (45 triệu bản địa, ~250 triệu tổng cộng) Sunda (27 triệu) Cebuano (19 triệu bản địa, ~30 triệu tổng cộng) Malagasy (17 triệu) Madura (14 triệu) Ilokano (8 triệu bản địa, ~10 triệu tổng cộng) Hiligaynon (7 triệu bản địa, ~11 triệu tổng cộng) Minangkabau (7 triệu) Batak (7 triệu, tất cả các phương ngữ) Bikol (4,6 triệu, tất cả các phương ngữ) Banjar (4,5 triệu) Bali (4 triệu) Các ngôn ngữ chính thức Caroline (5.700, Quần đảo Bắc Mariana) Chamorro (60.000, Guam và Quần đảo Bắc Mariana) Fiji (350.000 bản địa, 550.000 tổng cộng, Fiji) Filipino (47 triệu bản địa, ~90 triệu tổng cộng, Philippines) Gilbert (100.000, Kiribati) Hawaii (1.000 bản địa, 8.000 thạo, Hawaii) Mã Lai / Indonesia, (45 triệu bản địa, ~250 triệu tổng cộng, Brunei, Đông Timor, Indonesia, Malaysia, và Singapore) Malagasy (17 triệu, Madagascar) Māori (100.000, New Zealand) Marshall (> 44.000, Quần đảo Marshall) Nauru (6.000, Nauru) Niue (8.000, Niue) Palau (15.000, Palau) Rapa Nui (5.000, Đảo Phục Sinh) Samoa (370.000, Samoa, Samoa thuộc Mỹ) Sonsorol (600, Sonsorol, Palau) Tahiti (120.000, French Polynesia) Tetum (800.000, Đông Timor) Tobi (100, Hatohobei, Palau) Tonga (108.000, Tonga) Tuvalu (13.000, Tuvalu) == Chú thích == == Tham khảo == == Đọc thêm == == Liên kết ngoài ==
william james.txt
William James (sinh 11 tháng 1 1842 - mất 26 tháng 8 1910) là một nhà tâm lý học và triết học tiên phong người Mỹ. Ông đã viết những cuốn sách có tầm ảnh hưởng về khoa học tâm lý, tâm lý học giáo dục, tâm lý học trải nghiệm tôn giáo, chủ nghĩa thần bí cũng như triết học về chủ nghĩa thực dụng. Ông là anh của nhà văn Henry James và của Alice James. William James là một người có nhiều ảnh hưởng tới nhiều và học giả như Ralph Waldo Emerson, Horace Greeley, William Cullen Bryant, Oliver Wendell Holmes, Jr., Charles Peirce, Josiah Royce, George Santayana, Ernst Mach, John Dewey, W. E. B. Du Bois, Helen Keller, Mark Twain, Horatio Alger, Jr., James George Frazer, Henri Bergson, H. G. Wells, G. K. Chesterton, Sigmund Freud, Gertrude Stein, và Carl Jung. == Tham khảo == Phương tiện liên quan tới William James (psychologist) tại Wikimedia Commons Làm thế nào để đẩy bản thân vượt qua trạng thái "OK, biết rồi"?, Khoa Phan
sri jayawardenepura kotte.txt
Sri Jayawardenapura Kotte (tiếng Sinhala: ශ්‍රී ජයවර්ධනපුර කෝට්ටේ, tiếng Tamil: ஸ்ரீ ஜயவர்த்தனபுரம் கோட்டை) còn gọi là Kotte, là thủ đô hành chính của Sri Lanka. Thành phố này nằm phía đông kề với thủ đô thương mại Colombo, nên còn được gọi là Thủ đô mới. Quốc hội Sri Lanka đã được dời về đây từ khi khánh thành tòa nhà quốc hội mới ngày 29 tháng 4 năm 1982. Sri Jayewardenapura-Kotte có 115.826 dân vào năm 2001, diện tích 17 km², mật độ dân số 3.300 người/km². == Tham khảo ==
bill gates.txt
William Henry "Bill" Gates III (sinh ngày 28 tháng 10 năm 1955) là một doanh nhân người Mỹ, nhà từ thiện, tác giả và chủ tịch tập đoàn Microsoft, hãng phần mềm khổng lồ mà ông cùng với Paul Allen đã sáng lập ra. Ông luôn có mặt trong danh sách những người giàu nhất trên thế giới. và là người giàu nhất thế giới từ 1995 tới 2014, ngoại trừ tháng 3/2013, 3/2012, tháng 3/2011 (hạng 2) và 2008 khi ông chỉ xếp thứ ba. Tháng 5 năm 2013, Bill Gates đã giành lại ngôi vị người giàu nhất thế giới. Gần đây, ông cũng là người giàu nhất thế giới với tài sản 77,8 tỷ đô la Mỹ. Trong thực tế Bill Gate là người không học hành đầy đủ. Ở Microsoft, Gates làm CEO và kiến trúc sư trưởng phần mềm định hướng cho sự phát triển của tập đoàn. Hiện tại, ông là cổ đông với tư cách cá nhân lớn nhất trong tập đoàn, nắm giữ trên 8 phần trăm cổ phiếu. Ông cũng là tác giả và đồng tác giả của một số cuốn sách. Gates là một trong những doanh nhân nổi tiếng về cuộc cách mạng máy tính cá nhân. Mặc dù có nhiều người ngưỡng mộ ông,song nhiều đối thủ cạnh tranh đã chỉ trích những chiến thuật trong kinh doanh của ông, mà họ coi là cạnh tranh không lành mạnh hay độc quyền và công ty của ông đã phải chịu một số vụ kiện tụng. Trong giai đoạn gần cuối của sự nghiệp, Gates đã theo đuổi một số nỗ lực từ thiện, quyên góp và ủng hộ một số tiền lớn cho các tổ chức từ thiện và nghiên cứu khoa học thông qua Quỹ Bill & Melinda Gates, được thành lập năm 2000. Gates đã thôi giữ chức giám đốc điều hành của Microsoft từ tháng 1 năm 2000 nhưng ông vẫn còn là chủ tịch và kiến trúc sư trưởng về phần mềm tại tập đoàn. Tháng 6 năm 2006, Gates thông báo ông sẽ chỉ giành một phần thời gian làm việc cho Microsoft và giành nhiều thời gian hơn cho Quỹ Bill & Melinda Gates. Bill dần dần chuyển vị trí kiến trúc sư trưởng sang cho Ray Ozzie, và vị trí giám đốc chiến lược và nghiên cứu sang cho Craig Mundie. Ngày làm việc toàn phần cuối cùng dành cho Microsoft của Gates là ngày 27 tháng 6 năm 2008. Ông vẫn còn giữ cương vị chủ tịch Microsoft nhưng không điều hành hoạt động tập đoàn. == Tiểu sử == Bill Gates sinh ra ở Seattle, Washington, bố là William H. Gates, Sr. và mẹ Maxwell Gates, là những người gốc Anh, Đức và Scotland-Ailen. Ông sinh ra và lớn lên trong gia đình khá giả; bố ông là một luật sư có tiếng, mẹ ông thuộc ban giám đốc của công ty tài chính First Interstate BancSystem và United Way of America, và ông ngoại ông, J. W. Maxwell là chủ tịch của một ngân hàng liên bang. Gates có chị gái Kristi (Kristianne), và một em gái là Libby. Ông là đời thứ tư trong gia tộc, nhưng người ta biết đến ông như là William Gates III hay "Trey" (ba) do bố ông đã bỏ hậu tố "III" trong tên gọi. Khi còn nhỏ, nghề nghiệp của bố mẹ Bill Gates đã làm cho ông có ước mơ trở thành luật sư. Khi Bill còn bé, gia đình ông thường tham dự vào một giáo đoàn của hội Tin lành. Năm 13 tuổi, ông vào học trường Lakeside, một trường dự bị cho các học sinh giỏi. Khi ông học lớp 8, câu lạc bộ các bà mẹ (phụ huynh-Mothers Club) ở trường này đã dùng một khoản tiền nhờ việc bán các đồ dùng đã qua sử dụng để mua một máy đánh chữ cơ điện Model 33 ASR và một máy tính của hãng General Electric (GE) cho các học sinh của trường. Gates thấy thích thú khi lập trình trên máy tính của GE bằng ngôn ngữ BASIC, và ông đã bỏ các lớp toán để theo đuổi sở thích của mình. Ông đã viết chương trình đầu tiên trên máy tính này đó là các thao tác của trò chơi tic-tac-toe cho phép người chơi thi đấu với máy tính. Chiếc máy đã thu hút Gates và tự đặt câu hỏi làm sao mà chiếc máy có thể luôn luôn thực thi các mã phần mềm một cách hoàn hảo như vậy. Khi ông nhớ lại thời điểm này, ông nói, "Chỉ cần một cái gì đó rõ ràng cho chiếc máy" ("There was just something neat about the machine"). Khi quỹ của hội phụ huynh đã hết, ông và các học sinh khác chuyển sang các hệ máy khác bao gồm máy tính mini PDP của hãng DEC. Hãng Computer Center Corporation (CCC) sáng chế ra PDP-10 đã cấm bốn học sinh trường Lakeside bao gồm Bill Gates, Paul Allen, Ric Weiland, và Kent Evans sử dụng hệ máy tính này trong mùa hè sau khi bốn người này đã khai thác các lỗi trong hệ điều hành để nhận được thêm thời gian sử dụng hệ máy tính này. Khi hết hạn cấm, bốn học sinh đề nghị với công ty CCC là họ sẽ tìm các lỗi trong phần mềm của CCC và đổi lại họ được sử dụng các máy tính của công ty này. Thay vì sử dụng các hệ thống thông qua điện báo, Gates đã đến văn phòng CCC và nghiên cứu mã nguồn cho các chương trình khác nhau chạy trên hệ thống, bao gồm cả chương trình trong FORTRAN, LISP, và ngôn ngữ máy. Việc thỏa thuận với CCC bị kết thúc vào năm 1970, khi công ty này bị phá sản. Một năm sau, Information Sciences, Inc. đã thuê bốn học sinh trường Lakeside để viết một chương trình trả lương bằng ngôn ngữ COBOL, cho phép họ có thời gian sử dụng máy tính và bản quyền phần mềm của công ty. Sau khi những người quản lý ở trường biết được khả năng lập trình của ông, Bill đã được giao nhiệm vụ viết một chương trình lập thời khóa biểu cho các lớp học. Ông đã sửa các mã sao cho chương trình sắp xếp ông vào các lớp có nhiều nữ sinh nhất. Sau này ông nhận xét "thật khó có thể tách tôi ra khỏi máy tính mà rõ ràng tôi có thể chứng minh sự thành công từ nó" ("it was hard to tear myself away from a machine at which I could so unambiguously demonstrate success"). Lúc 17 tuổi, Gates lập kế hoạch kinh doanh với Allen đó là Traf-O-Data nhằm đếm lưu lượng giao thông dựa trên bộ xử lý Intel 8008. Gates tốt nghiệp trường Lakeside vào năm 1973. Ông đạt được 1590 trên 1600 điểm ở kỳ thi SAT và ghi danh vào Đại học Harvard trong mùa thu năm 1973. Khi học ở Harvard, ông đã quen Steve Ballmer, người sau này kế vị chức CEO của Microsoft. Trong năm học thứ hai, Gates nghĩ ra thuật toán trong vấn đề sắp xếp bánh kếp, bài toán được xếp vào một trong những vấn đề chưa giải được được nêu ra trong lớp toán tổ hợp của giáo sư Harry Lewis, một trong những người thầy của ông. Thuật toán của Gates đã giữ kỉ lục là thuật toán có thời gian giải nhanh nhất trên 30 năm; và thuật toán sau này chỉ nhanh hơn nó khoảng một phần trăm. Phương pháp của ông sau này được viết thành một bài báo chung với nhà khoa học máy tính ở Harvard là Christos Papadimitriou. Gates không có kế hoạch học tập cụ thể ở Harvard và ông đã giành nhiều thời gian bên cạnh các máy tính ở trường. Ông vẫn liên lạc với Paul Allen, cùng tham gia vào Honeywell trong mùa hè năm 1974. Vào năm sau, chứng kiến sự ra đời của máy MITS Altair 8800 trên nền vi xử lý Intel 8080, lúc này Gates và Allen nhận ra đây là cơ hội cho họ sáng lập ra một công ty về phần mềm máy tính. Ông đã nói quyết định này với bố mẹ ông, họ đã ủng hộ ông sau khi thấy được ông sẽ cần bao nhiêu tiền để bắt đầu lập nghiệp với công ty. == Microsoft == === BASIC === Sau khi đọc bài báo trên tạp chí Popular Electronics số tháng 1 năm 1975 về khả năng của máy Altair 8800, Gates đã liên lạc với công ty đã sáng chế ra chiếc mày này là Micro Instrumentation and Telemetry Systems (MITS), để công ty này có thể mời ông và những người khác làm việc với chiếc máy trên nền tảng trình thông dịch BASIC. Thực tế, Gates và Allen đã không được tiếp xúc với máy Altair và họ đã không viết mã chương trình cho nó; hai người chỉ muốn thử xem công ty MITS có muốn họ cộng tác hay không. Giám đốc MITS là Ed Roberts đồng ý cho họ sử dụng phiên bản demo, và chỉ trong vài tuần họ đã phát triển chương trình giả lập máy Altair chạy trên một máy tính mini, và sau đó là ngôn ngữ BASIC. Cuộc thử nghiệm chiếc máy đã diễn ra tại trụ sở của MITS ở Albuquerque đã thành công và kết quả là một bản thỏa thuận với MITS để công ty phân phối trình thông dịch dưới tên gọi Altair BASIC. Paul Allen được mời làm việc cho MITS, và Gates đã không có mặt ở trường Harvard để tới làm việc cùng Allen ở MITS tại Albuquerque vào tháng 11 năm 1975. Họ đặt tên cho sự hợp tác giữa hai người là "Micro-Soft" và trụ sở đầu tiên của công ty đặt ở Albuquerque. Cũng trong năm này, dấu gạch ngang đã được bỏ ra khỏi tên của công ty, và vào ngày 26 tháng 11 năm 1976, thương hiệu "Microsoft" đã được đăng ký tại Văn phòng bang New Mexico. Do đó mà Gates không thể hoàn thành khóa học tại Harvard được. BASIC của Microsoft được phổ biến trong giới đam mê máy tính, nhưng Gates đã phát hiện ra rằng bản sao chép trước khi phần mềm được đưa ra thị trường đã bị rò rỉ ra cộng đồng và nhanh chóng nó được sao chép và phân tán. Tháng 2 năm 1976, Gates viết "Lá thư mở đến những người đam mê máy tính" trong chuyên san của MITS nói rằng MITS không thể tiếp tục sản xuất phần mềm, phân phối, và duy trì chất lượng cao của phần mềm mà không trả phí cho ông. Lá thư này không được nhiều người đam mê máy tính biết đến nhưng Gates vẫn khăng khăng tin rằng công ty phải trả khoản phí do ông đòi hỏi. Microsoft tách ra khỏi MITS vào cuối 1976, công ty tiếp tục phát triển các ngôn ngữ lập trình cho các hệ máy khác nhau. Ngày 1 tháng 1 năm 1979, công ty chuyển trụ sở từ Albuquerque đến Bellevue, Washington. Những năm đầu của Microsoft, mọi nhân viên trong công ty cũng phải kiêm luôn hoạt động kinh doanh của nó. Gates giám sát khâu kinh doanh đến từng chi tiết, nhưng vẫn tiếp tục tham gia viết mã chương trình. Trong 5 năm đầu, cá nhân ông thường đánh giá từng dòng lệnh trong các phần mềm đóng gói của công ty, và thường viết lại từng phần của chúng cho đến khi ông thấy phù hợp. === Đối tác với IBM === Năm 1980, IBM thông qua Microsoft để viết trình thông dịch BASIC cho máy tính cá nhân sắp được tung ra của họ là máy IBM PC. Khi người đại diện của IBM đề cập đến họ cần một hệ điều hành trên các máy tính của họ, Gates đã giới thiệu họ với Digital Research (DRI), công ty viết hệ điều hành CP/M được sử dụng rộng rãi thời đó. Thỏa thuận giữa IBM với Digital Research đạt được kết quả không như mong đợi, và hai bên đã không đạt đến được thỏa thuận về đăng ký bản quyền. Đại diện của IBM là Jack Sams nhắc đến sự khó khăn trong vấn đề đăng ký trong cuộc gặp sau đó giữa ông và Bill Gates và nói với ông về đưa ra một hệ điều hành chấp nhận được. Vài tuần sau, Gates đề xuất sử dụng 86-DOS (QDOS), một hệ điều hành tương tự như CP/M do Tim Paterson của hãng Seattle Computer Products (SCP) viết cho các phần cứng có tính năng tương tự như PC. Microsoft đã thực hiện một thỏa thuận với SCP để trở thành đại lý cấp phép độc quyền, và sau đó là chủ sở hữu hoàn toàn đối với 86-DOS. Sau khi nâng cấp hệ điều hành cho phù hợp với PC, Microsoft chuyển giao nó cho IBM với tên gọi PC-DOS với phí một lần trao đổi là $50.000. Gates không đưa ra khả năng chuyển giao bản quyền của hệ điều hành, bởi vì ông tin rằng các nhà sản xuất phần cứng khác sẽ sản xuất PC dựa trên dòng máy của IBM. Và đúng là như vậy, nhờ thị phần lớn của MS-DOS làm cho Microsoft trở thành hãng phần mềm lớn trong công nghiệp phần mềm. Gates giám sát quá trình tái cơ cấu Microsoft vào ngày 25 tháng 6 năm 1981, trong đó kết hợp lại công ty ở tiểu bang Washington và Gates trở thành Chủ tịch và Chủ tịch hội đồng quản trị của Microsoft. === Windows === Microsoft phát hành phiên bản bán lẻ đầu tiên của Microsoft Windows vào ngày 20 tháng 11 năm 1985, và trong tháng 8, công ty ký hợp đồng với IBM nhằm phát triển một hệ điều hành riêng biệt gọi là OS/2. Mặc dù hai công ty đã phát triển thành công phiên bản đầu tiên của hệ điều hành mới, nhưng sự gắn kết giữa những ý tưởng sáng tạo khác nhau đã dần làm suy yếu quan hệ đối tác. Gates phân phát một bản ghi nhớ nội bộ ngày 16 tháng 5 năm 1991 tuyên bố chấm dứt sự hợp tác trong OS/2 và Microsoft sẽ chuyển sang nỗ lực phát triển nhân hệ điều hành Windows NT. === Phong cách quản lý === Từ khi thành lập Microsoft năm 1975 cho đến 2006, Gates có trách nhiệm chính trong chiến lược sản phẩm của công ty. Ông đã tích cực mở rộng phạm vi sản phẩm của công ty, và ở bất cứ nơi nào Microsoft đạt được vị trí thống trị của nó thì ông mạnh mẽ bảo vệ vị thế này. Ông đạt được danh tiếng vượt xa so với những người khác; vào đầu năm 1981 một giám đốc điều hành công nghiệp phàn nàn trước công chúng rằng: "Gates có tính xấu là không chịu nghe và trả lời bằng điện thoại." Một vị giám đốc khác nhớ lại rằng sau khi chỉ cho Gates cách chơi một trò trơi điện tử và ông đã đánh bại anh ta với tỷ số 35 trên 37 ván, và khi hai người gặp lại nhau một tháng sau thì Gates "đã giành chiến thắng hoặc mê mẩn với trò chơi. Anh đã nghiên cứu trò này cho đến khi có thể giải được nó. Đây đúng là một đối thủ cạnh tranh." Là giám đốc điều hành, Gates thường xuyên gặp gỡ với các nhà quản lý cấp cao và quản lý chương trình phần mềm của Microsoft. Những người tham dự các cuộc họp này mô tả ông luôn sẵn sàng tranh luận trực tiếp, hoặc trách móc các thành viên quản lý để mọi người nhận thấy được các lỗ hổng trong chiến lược kinh doanh của họ hoặc những rủi ro trong đề xuất khi tính đến lợi ích lâu dài của công ty. Ông thường ngắt lời người thuyết trình với những câu phê phán như, "tại sao anh không từ bỏ quyền chọn của mình và gia nhập Peace Corps?" Những người này sẽ phải bảo vệ đề xuất của mình trước những phản biện của ông cho đến khi người đó hoàn toàn thuyết phục được Gates hay không. Khi những người cấp dưới có vẻ chần chừ và muốn trì hoãn, ông thường nói một cách châm biếm rằng, "tôi sẽ làm việc đó vào cuối tuần." Vai trò của Gates tại Microsoft trong phần lớn lịch sử của tập đoàn chủ yếu là người quản lý và điều hành. Tuy nhiên, ông cũng tham gia vào phát triển phần mềm trong những ngày đầu của công ty, đặc biệt về các sản phẩm ngôn ngữ lập trình. Ông không còn đảm nhiệm trưởng nhóm phát triển phần mềm kể từ sản phẩm TRS-80 Model 100 (1983), nhưng vẫn còn viết mã chương trình cho các sản phẩm của công ty cho đến 1989. Ngày 15 tháng 6 năm 2006, Gates tuyên bố ông rời vị trí quản lý thường nhật của tập đoàn trong hai năm tiếp theo để giành thêm thời gian cho công tác từ thiện. Ông quyết định chia trọng trách đảm nhiệm của mình, đề bạt Ray Ozzie là người quản lý hàng ngày và Craig Mundie giữ vai trò quản lý chiến lược sản phẩm dài hạn. === Vụ kiện chống độc quyền === Nhiều quyết định của Bill Gates trong hoạt động kinh doanh của Microsoft đã dẫn đến vụ kiện chống độc quyền nhằm vào tập đoàn. Trong vụ kiện Hoa Kỳ chống lại Microsoft năm 1998, một số nhà báo đưa tin rằng trong lúc lấy lời khai, Gates trả lời nhiều câu hỏi một cách lảng tránh. Ông cãi với luật sư David Boies với nội dung tương đương một số từ như, "cạnh tranh", "quan tâm", và "chúng tôi". Báo BusinessWeek đăng nội dung: Ở những vòng lấy lời khai ban đầu, ông thường trả lời lúng túng và nói 'tôi không nhớ' rất nhiều lần khiến vị thẩm phán chủ tọa cũng phải cười. Tệ hơn nữa, nhiều lời phủ nhận và biện hộ không thể chối cãi của vị lãnh đạo công nghệ đã bị bên nguyên bác bỏ với những đoạn câu trong e-mail mà Gates đã gửi và nhận được. Gates sau đó nói rằng ông chỉ đơn giản chống lại những cố gắng của luật sư Boies nhằm hiểu sai những từ và hành động của ông. Nói về những cử chỉ trong lúc trả lời hỏi cung, ông kể, "Tôi có rào đón Boies không?... Tôi đã nhận tội. Cho dùng hình phạt nên áp dụng vào tôi thì sự khiếm nhã của Boies phải được nhắc đến trước tiên." Mặc dù Gates phủ nhận, quan tòa đã phán quyết rằng Microsoft đã độc quyền và bán kèm đối với những sản phẩm của mình làm cản trở sự cạnh tranh trong thị trường, cả hai điều này đều vi phạm đạo luật chống độc quyền Sherman. === Xuất hiện trong quảng cáo === Bill Gates đã xuất hiện trong một số chương trình quảng bá cho Microsoft vào năm 2008. Phim quảng cáo thương mại đầu tiên, ông diễn cùng với Jerry Seinfeld, là một đoạn đối thoại ngắn dài 90 giây giữa một người lạ do Seinfeld thủ vai đi đến tiệm bán giày giảm giá trong trung tâm mua sắm và gặp Gates đang mua giày ở bên trong. Người bán hàng đang cố bán cho Bill Gates loại giày quá cỡ. Khi Gates đang chọn mua, trên tay ông cầm một thẻ mua hàng giảm giá có ảnh hơi khác ảnh chụp của ông khi bị cảnh sát bắt tạm giữ vì Bill Gates đã vi phạm luật giao thông ở New Mexico năm 1977. Khi hai khách hàng đi ra khỏi trung tâm, Seinfeld hỏi Gates có định hướng cho những nhà phát triển khác không, sau khi Bill trả lời là có thì ông ta hỏi tiếp là có phải họ đang làm cho máy tính trở lên dễ sử dụng hơn không, Gates tiếp tục trả lời là có. Một số người nói rằng đây là sự kính trọng dành cho chương trình hài kịch tình huống của Seinfeld về "không cái gì cả" (Seinfeld). Trong đoạn phim quảng cáo thứ hai, Gates và Seinfeld đến ở nhà của một gia đình trung lưu và cố gắng thích nghi với lối sống của họ. == Hậu Microsoft == Từ khi rời vị trí quản lý thường nhật tại Microsoft (ông vẫn là chủ tịch), Gates dành thời gian cho các hoạt động từ thiện, cùng các dự án khác như mua lại bản quyền ghi hình các bài giảng của Richard Feynman với nội dung Tính chất các định luật vật lý tại Đại học Cornell năm 1964 do hãng BBC ghi lại. Có thể xem miễn phí các video tại dự án Tuva của Microsoft. Tháng 4 năm 2010, Gates được mời nói chuyện tại Viện Công nghệ Massachusetts với sinh viên về những vấn đề khó khăn mà thế giới trong tương lai phải đối mặt. == Cuộc sống cá nhân == Gates cưới Melinda French ngày 1 tháng 1 năm 1994. Họ có 3 con: Jennifer Katharine, Rory John, Phoebe Adele. Gia đình họ sống trong khu biệt thự nhìn ra hồ Washington ở Medina, bang Washington. Theo thống kê công khai của quận King, cho đến 2006 giá trị của khu biệt thự vào khoảng 125 triệu $, và thuế bất động sản hàng năm là $991.000. Khu bất động sản rộng 66.000 sq ft (6.100 m2) có một bể bơi dài 60 foot (18 m) trang bị hệ thống âm nhạc dưới nước, một phòng tập thể thao 2.500 sq ft (230 m2) và có một phòng ăn rộng 1.000 sq ft (93 m2). Một trong những bộ sưu tập của Gates là bản thảo Codex Leicester, bao gồm những trang giấy viết tay của Leonardo da Vinci mà Gates đã mua trong cuộc đấu giá với số tiền 30,8 triệu $ năm 1994. Ông cũng là một người ham đọc sách, và trên trần của gian thư viện trong khu biệt thự có khắc một câu nói trong tiểu thuyết The Great Gatsby. Ông cũng thích chơi bài bridge, tennis, và golf. Gates được xếp vào danh sách tỷ phú Forbes 400 từ 1993 đến 2007 và là người giàu nhất thế giới theo danh sách tỷ phú của Forbes từ 1995 tới 2007 và 2009. Năm 1999, tài sản của ông vượt qua 101 tỷ $ trong một thời gian ngắn và các phương tiện truyền thông đã gọi Bill Gates "người giàu trăm tỷ đô". Mặc dù là người giàu có và thường xuyên phải di chuyển khắp nơi trên thế giới nhưng Gates vẫn đặt vé máy bay hạng phổ thông cho đến tận 1997 khi ông đặt mua một chiếc máy bay riêng. Từ 2000, giá trị cổ phần mà ông nắm giữ tại Microsoft bị tụt giảm do sự giảm giá cổ phiếu của Microsoft sau bong bóng Dot-com và do ông đã giành nhiều tỷ đô la cho quỹ từ thiện của mình. Trong một cuộc phỏng vấn tháng 5 năm 2006, Bill Gates đã nói rằng ông ước gì không trở thành người giàu nhất trên thế giới bởi vì ông không muốn quá nhiều sự chú ý mà danh hiệu này đem lại. Ông cũng đầu tư kinh doanh tại các công ty khác ngoài Microsoft, mà trong năm 2006 ông kiếm được số tiền 966.667$ với mức lương 616.667$ và khoản thưởng 350.000$ từ các công ty này. Ông thành lập hãng Corbis, một công ty ảnh kỹ thuật số vào năm 1989. Năm 2004 ông là giám đốc ban quản trị của Berkshire Hathaway, một tập đoàn đầu tư do người bạn lâu năm Warren Buffett thành lập. Tháng 3 năm 2010, Bill Gates được xếp hạng là người giàu thứ hai thế giới sau Carlos Slim. === Công tác từ thiện === Gates bắt đầu đánh giá cao sự mong đợi từ những người khác khi dư luận cho rằng ông có thể dùng tài sản của mình để làm từ thiện. Gates đã học cách làm của Andrew Carnegie và John D. Rockefeller, và vào năm 1994 ông bán một số cổ phiếu của Microsoft nhằm tạo dựng Quỹ William H. Gates. Năm 2000, Gates và vợ đã sáp nhập ba quỹ của gia đình thành một là Quỹ Bill & Melinda Gates, quỹ từ thiện hoạt động công khai lớn nhất thế giới hiện nay. Cách hoạt động của quỹ cho phép các nhà hảo tâm biết được thông tin mà tiền họ quyên góp sẽ được sử dụng như thế nào, không giống như cách hoạt động của những tổ chức từ thiện lớn khác như Wellcome Trust. Sự hào phóng và đóng góp lớn của David Rockefeller cho công việc từ thiện được coi là nhân tố chính tác động đến ông. Gates cùng cha mình đã gặp Rockefeller vài lần, và họ thực hiện công tác từ thiện theo những mục tiêu giống với mục tiêu hoạt động của quỹ từ thiện nhà Rockefeller, như những vấn đề toàn cầu bị chính phủ các nước và các tổ chức bỏ qua hoặc chưa được quan tâm đúng mức. Cho đến 2007, Bill và Melinda Gates là quỹ từ thiện lớn thứ hai ở Hoa Kỳ, với ngân sách tới 28 tỷ $. Họ có kế hoạch dành tới 95% tài sản cho từ thiện. Quỹ đầu tư vào các công ty có mục đích làm giảm tỷ lệ đói nghèo ở các nước kém phát triển, vào các công ty sản xuất gây ô nhiễm nặng, công ty dược mà nhiều loại thuốc không được bán ở các nước đang phát triển. Mục tiêu của Quỹ là thúc đẩy những ý tưởng sáng tạo, phát triển các công nghệ năng lượng sạch, nâng cao khả năng chăm sóc sức khỏe của xã hội cũng như đầu tư vào giáo dục. Melinda Gates cho rằng nhiều người nên học lòng từ thiện của gia đình Salwen. Gia đình này đã bán nhà của họ và dành một nửa số tiền thu được cho quyên góp từ thiện, như được miêu tả trong The Power of Half. Gates và vợ đã mời Joan Salwen đến Seattle để kể về những hoạt động mà gia đình họ đã làm. Vào ngày 9 tháng 12 năm 2010, Gates, Warren Buffett, và Mark Zuckerberg đã ký vào bản ghi nhớ "Cam kết cho đi của Gates-Buffet", mà họ hứa sẽ giành ít nhất một nửa tài sản làm từ thiện trong tương lai. === Công nhận === Năm 1987, Gates lần đầu tiên trở thành tỷ phú khi có tên trong danh sách Những người giàu nhất Forbes 400 xuất bản ở Hoa Kỳ, chỉ một ngày trước lần sinh nhật thứ 32 của ông. Là một tỷ phú tự thân lập nghiệp trẻ nhất thế giới với tài sản khi đó là 1,25 tỷ $, tăng hơn 900 triệu $ so với tài sản ông có ở năm trước. Tạp chí Time nêu tên Gates là một trong những người ảnh hưởng nhất của thế kỷ 20, cũng như một trong 100 người ảnh hưởng nhất trong các năm 2004, 2005, và 2006. Time cũng vinh danh đồng thời Gates, Melinda và trưởng nhóm ban nhạc U2 Bono là Nhân vật của năm 2005 cho những nỗ lực mang tính nhân văn của họ. Năm 2006, ông đứng thứ 8 trong danh sách "Anh hùng của thời đại". Năm 1999 báo The Sunday Times nêu tên ông trong "Danh sách những người quyền lực nhất", và Tạp chí Giám đốc điều hành công nhận ông là CEO của năm 1994. Ông xếp thứ nhất trong "Top 50 Nhân vật Công nghệ" của Time năm 1998, xếp thứ hai trong "Danh sách 100 người nổi tiếng" của tờ Upside năm 1999 và là một trong "Top 100 người ảnh hưởng trong truyền thông" của The Guardian năm 2001. Năm 1994, ông được vinh danh là Hội viên xuất sắc thứ 20 của Hiệp hội Máy tính Anh quốc. Bill Gates đã nhận nhiều bằng tiến sĩ danh dự từ Đại học kinh doanh Nyenrode, Breukelen, Hà Lan năm 2000; Viện công nghệ hoàng gia, Stockholm, Thụy Điển năm 2002; Đại học Waseda, Tokyo, Nhật Bản năm 2005; Đại học Thanh Hoa, Bắc Kinh, Trung Quốc năm 2007; Đại học Harvard năm 2007; Viện Karolinska, Stockholm, năm 2008, và Đại học Cambridge năm 2009. Ông cũng là thành viên danh dự của Đại học Bắc Kinh năm 2007. Gates cũng là Hiệp sĩ danh dự của Đế chế Anh (KBE) do Nữ hoàng Elizabeth II trao năm 2005, và các nhà côn trùng học đặt tên Bill Gates cho một côn trùng họ Ruồi giả ong là Eristalis gatesi. Tháng 11 năm 2006, ông và vợ nhận Tước hiệu Đại bàng Aztec cho hoạt động từ thiện của họ trên thế giới trong các lĩnh vực sức khỏe và giáo dục, đặc biệt ở Mexico với chương trình "Un país de lectores". Tháng 10 năm 2009, Gates nhận Giải thưởng Bower 2010 trong lĩnh vực Người lãnh đạo kinh doanh của Viện Franklin vì những thành tựu trong kinh doanh và công tác từ thiện. Năm 2010 ông nhận Giải bạc Buffalo của Hội Nam Hướng đạo Mỹ, giải thưởng cao nhất dành cho người lớn vì những hoạt động dành cho tuổi trẻ. Năm 2011, Bill Gates là một trong năm người quyền lực nhất trên thế giới theo tạp chí Forbes. Năm 2013 ông và bà vợ được Viện hàn lâm Khoa học quốc gia Hoa Kỳ trao tặng Huy chương Phúc lợi công cộng. === Đầu tư === Cascade Investments LLC, công ty bất động sản và đầu tư tư nhân ở Hoa Kỳ, do Bill Gates quản lý, có trụ sở Kirkland, Washington. bgC3, một công ty nghiên cứu các công nghệ mới do Bill Gates sáng lập. Corbis, công ty dịch vụ ảnh bản quyền kĩ thuật số. TerraPower, công ty thiết kế lò phản ứng hạt nhân thế hệ mới. == Sách và phim == Cho tới nay, Bill Gates đã viết hai cuốn sách. Con đường phía trước, viết cùng giám đốc điều hành Nathan Myhrvold và nhà báo Peter Rinearson, xuất bản tháng 11 năm 1995, cuốn sách tổng kết vai trò và ý nghĩa của cuộc cách mạng máy tính cá nhân và miêu tả tương lai sẽ thay đổi như thế nào khi có một mạng lưới truyền thông tin tốc độ siêu cao. Kinh doanh @ tốc độ của Tư duy xuất bản năm 1999, thảo luận về kinh doanh và công nghệ được kết hợp với nhau như thế nào, và tác giả chỉ ra mạng lưới thông tin và cơ sở hạ tầng kĩ thuật số sẽ là một yếu tố cạnh tranh trong thời đại số. Gates đã xuất hiện nhiều trong phim tài liệu như phim Waiting for "Superman" năm 2010, và loạt phim tài liệu của BBC The Virtual Revolution. Bill Gates là nhân vật chính trong phim Pirates of Silicon Valley năm 1999, bộ phim kể về lịch sử hình thành và quá trình phát triển của Apple và Microsoft từ đầu thập niên 1970 tới 1997. Diễn viên Anthony Michael Hall thủ vai ông. == Xem thêm == Microsoft Melinda Gates Corbis === Sách === Fridson, Martin (2001). How to be a Billionaire: Proven Strategies from the Titans of Wealth. John Wiley & Sons. ISBN 0471416177. Gates, Bill (1996). The Road Ahead. Penguin Books. ISBN 0140260404. Lesinski, Jeanne M. (2006). Bill Gates (Biography (a & E)). A&E Television Networks. ISBN 0822570270. Manes, Stephen (1994). Gates: How Microsoft's Mogul Reinvented an Industry and Made Himself The Richest Man in America. Touchstone Pictures. ISBN 0671880748. Wallace, James (1993). Hard Drive: Bill Gates and the Making of the Microsoft Empire. New York: HarperCollins Publishers. ISBN 0471568864. == Tham khảo == == Liên kết ngoài == Website chính thức Quỹ Bill & Melinda Gates Hồ sơ tại Microsoft Hồ sơ tại Forbes
người nhật.txt
Người Nhật Bản (kanji:日本人, rōmaji: nihonjin, nipponjin) là dân tộc chi phối Nhật Bản. Trên thế giới có khoảng 130 triệu người huệ duệ của dân tộc Nhật, khoảng 127 triệu người trong số đó là cư dân của Nhật Bản. Người gốc Nhật sống ở nước ngoài được gọi là nikkeijin (日系人, nikkeijin) (Nhật hệ nhân). Thuật ngữ "người Nhật Bản hay dân tộc Nhật Bản" cũng được sử dụng trong một số ngữ cảnh để chỉ các dân tộc khác, bao gồm cả người Yamato, người Ainu,người Triều Tiên và người Ryukyu. Những bằng chứng khảo cổ học cho thấy người Nhật cổ là người thuộc ngữ hệ Altai từ miền trung nam Siberi di cư tới quần đảo Nhật Bản trong thời gian từ cuối thời kỳ đồ đá mới tới đầu thời kỳ đồ đồng. Người Nhật sử dụng tiếng Nhật, một ngôn ngữ chắp dính và được coi là một ngôn ngữ cô lập. Chữ viết sử dụng 3 loại chữ Hiragana, Katakana và chữ Kanji. == Tham khảo ==
chi đoạn.txt
Chi Đoạn (danh pháp khoa học: Tilia) là một chi của khoảng 30 loài cây thân gỗ, có nguồn gốc chủ yếu tại khu vực ôn đới của Bắc bán cầu, chủ yếu tại châu Á (tại đây có sự đa dạng nhất về loài), châu Âu và miền đông Bắc Mỹ; nhưng không thấy có mặt tại miền tây Bắc Mỹ. Trong hệ thống phân loại Cronquist, chi này được đặt trong họ Đoạn (Tiliaceae), nhưng nghiên cứu gen của nhóm APG đã cho thấy họ này cần hợp nhất với họ Cẩm quỳ (Malvaceae) và hiện nay chi này được xếp trong phân họ Đoạn (Tilioideae) của họ Cẩm quỳ nghĩa rộng. Các loài cây trong chi này nói chung được gọi là đoạn hay gia. Các loài Tilia là các loài cây thân gỗ lớn, lá sớm rụng, cao tới 20-40m, với các lá hình tim xiên, rộng 6–20 cm, và chủ yếu sinh trưởng trong vùng ôn đới. Số lượng chính xác loài hiện không chắc chắn, do nhiều loài rất dễ dàng bị lai ghép, cả trong tự nhiên lẫn được trồng bởi con người. Danh sách dưới đây là các loài được công nhận nhiều nhất == Các loài == Tilia americana - đoạn Mỹ Tilia amurensis - đoạn Amur Tilia begoniifolia Tilia caroliniana - đoạn Carolina Tilia chinensis Tilia chingiana Tilia cordata - đoạn lá nhỏ Tilia dasystyla Tilia henryana - đoạn Henry Tilia heterophylla - đoạn trắng Tilia insularis Tilia intonsa Tilia japonica - đoạn Nhật Bản Tilia kiusiana Tilia mandshurica - đoạn Mãn Châu Tilia maximowicziana Tilia mexicana Tilia miqueliana Tilia mongolica - đoạn Mông Cổ Tilia nobilis Tilia occidentalis - đoạn phương tây Tilia oliveri - đoạn Oliver Tilia paucicostata Tilia platyphyllos - đoạn lá to Tilia rubra - đoạn Kavkas Tilia tomentosa - đoạn lá bạc Tilia tuan Các giống lai ghép Tilia × euchlora (T. dasystyla × T. platyphyllos) Tilia × europaea đoạn thông thường (T. cordata × T. platyphyllos) Tilia × petiolaris (T. tomentosa × T. ?) Tilia 'Flavescens' (T. americana × T. cordata) Tilia 'Moltkei' (lai ghép, không rõ nguồn gốc) Tilia 'Orbicularis' (lai ghép, không rõ nguồn gốc) Tilia 'Spectabilis' (lai ghép, không rõ nguồn gốc) === Sử dụng === Các loài cây đoạn sản sinh ra các hoa có hương thơm, chứa nhiều mật và là một loại thuốc trong y học. Nó cũng là loài cây quan trọng để nuôi ong nhằm thu mật ong, với mật ong có màu nhạt nhưng nhiều hương vị. Hoa của nó cũng được sử dụng trong một số dạng trà thuốc. T. cordata là loài được ưa chuộng cho các mục đích y học, do có nồng độ cao của các hoạt chất. Nó được coi là có tác dụng tốt đối với hệ thần kinh, được dùng trong y học để điều trị mất ngủ, động kinh và đau đầu. Thông thường, các loài đoạn hoa kép được sử dụng trong sản xuất nước hoa. Các chồi và lá non có thể ăn được. Các loài đoạn bị ấu trùng của một số loài nhậy thuộc bộ Lepidoptera phá hoại - xem Danh sách côn trùng cánh vảy phá các loài đoạn. Gỗ của các loài đoạn khá mềm và dễ gia công. Người ta cũng kinh doanh gỗ đoạn, cụ thể là tại khu vực Bắc Mỹ với tên gọi basswood. Tên gọi này có nguồn gốc từ phần lõi gỗ dạng sợi bên trong thân cây, được biết đến như là bast (libe) (tiếng Anh cổ). Sợi gỗ thu được từ thân gỗ non của cây. Gỗ của chúng được dùng để làm mô hình cho các công trình xây dựng hay các bản khắc gỗ phức tạp cũng như làm các phần của đàn ghita. Cây đoạn là biểu trưng quốc gia của Slovakia, Slovenia và Cộng hòa Séc, tại đó nó được gọi là lipa (trong tiếng Slovak và tiếng Slovenia) và lípa (trong tiếng Séc). Cây đoạn cũng là loài cây huyền thoại của người Slav. Trong thế giới Chính thống giáo Slav, gỗ đoạn là loại gỗ ưa thích được dùng để làm các tượng thánh. Các tượng thánh đáng chú ý được làm thủ công của Andrei Rublev, như Chúa ba ngôi (Lòng hiếu khách của Abraham) và Đấng Cứu thế, hiện nay đang đặt trong viện bảo tàng Tretyakov tại Moskva được tạo ra từ gỗ đoạn. Gỗ đoạn được chọn là do khả năng được đánh bóng rất tốt cũng như khả năng chịu cong vênh của nó. == Xem thêm == Dragostea Din Tei - Bài hát của người Romania/Moldova về cây đoạn Unter den Linden - Đường phố của các cây đoạn tại Berlin, Đức == Tham khảo ==
east sussex.txt
Đông Sussex (/ˈsʌsɨks/) là một hạt ở Đông Nam Anh. Hạt này giáp các hạt Kent, Surrey và West Sussex, và phía nam giáp eo biển Anh. Hạt có diện tích 1792 km2, dân số năm 2008 là 766.400 người. East Sussex được chia thành 5 Huyện không thuộc vùng đô thị. Ba trong số đó là huyện nông nghiệp lớn (từ tây sang đông): Lewes; Wealden; và Rother. Eastbourne và Hastings chủ yếu là khu vực thành thị. Huyện được chia thành các xã. == Lịch sử == == Địa lý == == Chính quyền == == Các danh thắng == == Giao thông == == Giáo dục == == Tham khảo ==
hypena laceratalis.txt
Hypena laceratalis là một loài bướm đêm thuộc họ Erebidae. Nó là loài bản địa của Châu Phi (nhưng đã được du nhập một cách cố ý vào Úc năm 1965 để kiểm soát Lantana camara. Ấu trùng ăn Lantana camara. Chúng ăn phía dưới lá, tạo thành lá thủng lốm đốm.. == Hình ảnh == == Liên kết ngoài == Insects of Hawaii. Volume 7, Macrolepidoptera Australian Insects Biological control species factsheet Phương tiện liên quan tới Hypena laceratalis tại Wikimedia Commons == Chú thích ==
danh sách các thuật ngữ ngôn ngữ học.txt
Dưới đây là danh sách các thuật ngữ dùng trong ngôn ngữ học, xếp theo thứ tự chữ cái của các từ tiếng Anh. == Xem thêm == Bài chính Ngôn ngữ học Thuật ngữ ngữ âm học Danh sách các nhà ngôn ngữ học Cách (ngữ pháp) (declension) Chia động từ (conjugation) Giống (ngữ pháp) (grammatical gender) Đại từ nhân xưng (grammatical person) Số (ngữ pháp) (grammatical number) Dạng (ngữ pháp) (grammatical voice) Thì (ngữ pháp) (grammatical tense) Thể (ngữ pháp) (grammatical aspect) Trạng (ngữ pháp) (grammatical mood) == A == == B == == C == == D == == E == == F == == G == == H == == I == == J == == L == == M == == N == == O == == P == == R == == S == == T == == V == == W == == Tham khảo ==
giáo hoàng.txt
Giáo hoàng (tiếng Latinh: papa, tiếng Hy Lạp: πάππας pappas) là vị giám mục của Giáo phận Rôma, lãnh đạo của Giáo hội Công giáo toàn thế giới. Theo quan điểm của Giáo hội Công giáo, giáo hoàng là người kế vị Thánh Phêrô - tông đồ trưởng của Chúa Giêsu, với vai trò là người giữ chìa khóa thiên đàng, là "tảng đá" để xây dựng nên giáo hội. Giáo hoàng đương kim là Phanxicô, người được bầu chọn vào ngày 13 tháng 3 năm 2013, kế vị Giáo hoàng Biển Đức XVI thoái vị. Thời gian tại vị của một giáo hoàng được gọi là "triều đại giáo hoàng" và thẩm quyền của ông đối với giáo hội thường được gọi là "quyền Tông Tòa" ("Papacy") mà thực thể đại diện cho quyền lực đó gọi là Tòa Thánh (tiếng Latinh: Sancta Sedes), dựa trên truyền thống Giáo hội cho rằng đó là "chiếc ngai tòa" của Thánh Phêrô trên cương vị là Giám mục Roma. Giáo hoàng cũng là nguyên thủ quốc gia của Thành Vatican, một thành bang có chủ quyền nằm trong lòng thành phố Roma của nước Ý. Thể chế Giáo hoàng là một trong những cách tổ chức lâu đời nhất trên thế giới và đã đóng một phần nổi bật trong lịch sử nhân loại. Các Giáo hoàng đã giúp Kitô giáo được truyền đi khắp nơi và giải quyết các tranh chấp về giáo lý khác nhau. Thời Trung Cổ, họ có vị trí quan trọng chính trường Tây Âu vì thường đóng vai trò là trọng tài phán quyết giữa các quốc gia Kitô giáo. Ngày nay, Giáo hoàng đã không còn nhiều quyền lực đối với các nhà nước thế tục, ông chỉ có thẩm quyền chính thức trong các vấn đề tôn giáo, ngoại trừ việc ông là người lãnh đạo Thành Quốc Vatican—quốc gia có chủ quyền trên một lãnh thổ nhỏ nhất thế giới, nằm trọn trong thủ đô Roma, nước Ý. == Từ nguyên == Chữ pope trong tiếng Anh xuất phát từ chữ papa trong tiếng Latinh. Đây lại là từ có gốc tiếng Hy Lạp πάππας (páppas), vốn để gọi người cha trong gia đình một cách kính mến, sau được dùng để đề cập tới giám mục hoặc thượng phụ. Từ đầu thế kỷ thứ 3, danh hiệu này nhìn chung được dành cho tất cả các giám mục. Ghi chép sớm nhất dùng danh hiệu páppas theo nghĩa thượng phụ là việc đề cập tới vị Thượng phụ thành Alexandria, Heraclas trong một bức thư khoảng giữa thế kỷ thứ 3. Còn Giám mục Roma đầu tiên được gọi bằng danh hiệu papa là Giáo hoàng Marcellinô. Ngày nay, các Giáo hội Chính thống giáo Hy Lạp, Nga và Serbia vẫn dùng cách gọi như thế cho các giám mục và cả linh mục, tuy nhiên, Giáo hội Công giáo Rôma chỉ sử dụng từ ngữ này dành cho vị Giám mục Rôma. Lịch sử Giáo hội Công giáo ghi nhận, Giáo hoàng Grêgôriô VII (1073-1085) là người đã chính thức giới hạn việc dùng từ "papa". Từ "Giáo hoàng" trong tiếng Việt thực ra không dịch sát từ gốc Latinh, nó được dịch cách cảm quan để gọi một vị lãnh đạo tinh thần có quyền lực như một vị vua. Gần đây có ý kiến đề xuất trở lại dùng cách gọi Giáo tông. Thông thường, các giáo hữu Công giáo Việt Nam hay sử dụng danh xưng Đức Giáo hoàng hoặc Đức thánh cha để thể hiện sự tôn kính. Trước thế kỷ 20 từ điển tiếng Việt còn dùng Đức Giáo tông và Đại phụ Thánh hội tông để chỉ Giáo hoàng. Sách chữ Nôm thì dùng Đức thánh Pha Pha. == Lịch sử == == Sắp xếp theo nhóm thời đại == Giáo hội Công giáo chia danh sách các Giáo hoàng theo thời đại chứ không theo niên đại hay thế kỷ, ứng với những sự kiện quan trọng trong lịch sử giáo hội. Thời đại Thánh Kinh (từ năm 30 đến 100 CN): gồm năm vị Giáo hoàng (thời gian trị vì trong ngoặc): Thánh Phêrô (32-67). Giáo hoàng Linô (67-76). Giáo hoàng Anaclêtô (76-88). Giáo hoàng Clêmentê I (88-97). Giáo hoàng Êvaristô (97-105). Thời đại các Giáo phụ (từ năm 100 đến năm 600): Giáo phụ là những tổ phụ rất thông thái và Thánh thiện, đã trình bày những giảng dạy của Kitô Giáo và diễn giải Thánh Kinh cho toàn thể giáo hội. Thời đại này gồm 59 Giáo hoàng, từ vị thứ 6 đến vị thứ 64 (tức Giáo hoàng Grêgôriô I) Thời đại Trung Cổ (từ năm 600 đến năm 1548): Hai sự kiện lớn nằm trong thời đại này là Ly giáo Đông - Tây và Cải cách Kháng cách. Thời đại này có tất cả là 163 Giáo hoàng, từ vị thứ 65 đến vị thứ 219. Thời đại Công đồng Trent (từ năm 1548 đến năm 1958): Đây là thời kỳ của việc củng cố lại và đem ra thi hành các học thuyết, được bắt đầu bằng Công Đồng Trent (từ 1548 đến 1570). Thời đại này có tất cả là 41 Giáo hoàng, từ vị thứ 220 đến vị thứ 260. Thời đại Công đồng Vatican II (từ năm 1958 đến nay): Thời kỳ này có 6 Giáo hoàng, từ vị thứ 261 đến vị thứ 266: Giáo hoàng Gioan XXIII (từ năm 1958 đến 1963). Giáo hoàng Phaolô VI (từ năm 1963 đến 1978). Giáo hoàng Gioan Phaolô I (một năm 1978). Giáo hoàng Gioan Phaolô II (từ năm 1978 đến 2005). Giáo hoàng Biển Đức XVI (từ năm 2005 đến 2013). Giáo hoàng Phanxicô (từ năm 2013 đến nay). == Ảnh hưởng == Là vị Vua chuyên chế duy nhất trên thế giới ngày nay, Giáo hoàng là người được bảo vệ bởi pháp luật của Liên Hiệp Quốc và các công ước quốc tế, đó là không một tòa án nào trên thế giới được xét xử Giáo hoàng một khi ông không muốn (không cho phép). Theo Giáo hội Công giáo Rôma, Giáo hoàng là người kế vị Thánh Phêrô và là người đại diện Thiên Chúa ở trần gian, Giáo hoàng có quyền tối thượng đối với Giáo hội Công giáo Rôma của mình trên khắp thế giới; là vị chủ chăn, người Cha tinh thần của toàn bộ hơn 1,3 tỉ người Công giáo Rôma. Chỉ có duy nhất Giáo hoàng mới có quyền bổ nhiệm các Giám mục ở mọi giáo phận trên thế giới. Giáo hoàng được bầu bởi Mật nghị Hồng y (conclave) sau khi vị Giáo hoàng đương nhiệm băng hà. Ngày nay, có lẽ Giáo hoàng là người có vị thế nhất trên Trái Đất, tiếng nói của Giáo hoàng cũng là tiếng nói có uy lực. Quyền lực của Giáo hoàng và Tòa Thánh Vatican, bất chấp diện tích nhỏ bé nhất địa cầu của đất nước và nền kinh tế phi thương mại duy nhất hành tinh, đã thâu tóm ảnh hưởng thế giới trên nhiều bình diện từ trong lịch sử xa xưa của loài người cho đến kỷ nguyên hiện đại hôm nay nhờ vào vô số những đóng góp vĩ đại xuất phát từ Giáo hội Công giáo cũng như các thành viên của họ cho nhân loại mà con người ngày nay đang thụ hưởng. Giáo hoàng luôn được xếp trong danh sách những người có quyền lực và ảnh hưởng nhất hành tinh do các tạp chí danh tiếng thế giới như TIME, Forbes bình chọn. Giáo hoàng luôn nằm trong danh sách vì thỏa mãn đủ cả bốn tiêu chí căn bản của việc bình chọn, đó là, người có ảnh hưởng tới rất nhiều người; người kiểm soát một nguồn tài chính lớn; người có quyền lực lớn ở nhiều lĩnh vực khác nhau; và, người thực sự dùng quyền lực đó để thi hành chức vụ mình đảm nhiệm. Một trong những vị Giáo hoàng thời hiện đại, Chân phước Gioan Phaolô II, được TIME bình chọn là một trong bốn người có ảnh hưởng lớn nhất với nhân loại của thế kỷ 20 và cả những năm đầu thế kỷ 21. Chính nhờ những cống hiến của Giáo hội Công giáo, đứng đầu là Giáo hoàng, cho nhân loại mà góp phần làm tăng thêm quyền lực thực sự cũng như các quyền lực mềm và quyền lực tinh thần cho Giáo hoàng, trong đó tiêu biểu như: Giáo hội Công giáo đã đặt tiền đề cho các ngành khoa học căn bản là: thiên văn học, khoa học vũ trụ, sinh học, di truyền học, hình học, đại số, toán học, khoa học địa lý và ngành bản đồ học, các ngành khoa học tự nhiên nghiên cứu về thiên nhiên và Trái Đất, v.v. qua những nhà bác học lỗi lạc của Giáo hội như Linh mục Gregor Mendel, cha đẻ của ngành di truyền học hiện đại, người đề ra định luật Meldel và các nguyên tắc phân ly độc lập, di truyền giống, biến đổi gen; nhà bác học đa tài Nicolaus Copernicus; nhà bác học Blaise Pascal; nhà bác học Linh mục Matteo Ricci ; v.v. Giáo hội Công giáo hình thành hai ngành khoa học cơ bản là triết học và thần học vào buổi bình minh của lịch sử, đặt nền tảng cho các lý luận của con người tới tận ngày nay nhằm giải quyết các vấn đề của bản thể luận, nhận thức luận, tôn giáo, đức tin và linh hồn. Giáo hội Công giáo giúp hình thành và phát triển nền nghệ thuật, âm nhạc và kiến trúc phương Tây với các nhà soạn nhạc vĩ đại như Beethoven, Mozart, Bach, các họa sĩ và kiến trúc sư lừng danh mọi thời đại như Michelangelo, Bernini, Raphael, Caravaggio, Antoni Gaudí, Leonardo da Vinci, v.v. Giáo hội Công giáo sở hữu và điều hành hơn 1/4 (26%) số bệnh viện và cơ sở chăm sóc y tế trên toàn thế giới, nhiều hơn bất kỳ quốc gia, tổ chức hay định chế nào, bao gồm: hơn 117.000 cơ sở chăm sóc y tế; 5.428 bệnh viện lớn; 18.025 phòng khám đa khoa và chuyên khoa; 15.985 trại tế bần, viện dưỡng lão, trung tâm chăm sóc người tàn tật; 9.962 cô nhi viện; 11.902 trường đào tạo y bác sĩ; 13.945 trung tâm tư vấn hôn nhân gia đình; 529 trung tâm chăm sóc người phong cùi, hủi; hơn 18.000 xưởng sản xuất thuốc và nhà thuốc; và hơn 34.250 cơ sở chăm sóc người nhiễm HIV/AIDS và cơ sở y tế các loại khác... Giáo hội Công giáo sở hữu và điều hành khoảng 1/5 (25%) hệ thống giáo dục toàn cầu gồm: 67.848 nhà trẻ và trường mẫu giáo; 93.315 trường tiểu học; 42.234 trường trung học; hàng ngàn trường đại học, viện đại học và học viện trên khắp thế giới với số lượng lên tới hơn 50 triệu sinh viên. Giáo hội Công giáo còn điều hành hàng trăm tổ chức và viện nghiên cứu cao cấp về các lĩnh vực khác nhau khắp thế giới, 01 viện hàn lâm khoa học và nhiều viện nghiên cứu sinh học, vật lý, thiên thể, vũ trụ, lượng tử, toán học, hóa học, hạt nhân... Giáo hội Công giáo đã phát triển và đặt nền tảng cho hệ thống giáo dục đại học hiện đại bằng việc mở các trường đại học đầu tiên trên thế giới như Đại Học Bologna (thành lập năm 1088, là trường đại học đầu tiên trên thế giới và vẫn hoạt động đến ngày nay); Đại Học Paris (1150), Đại Học Oxford (1167); Đại Học Salerno (1173); Đại Học Vicenza (1204), Đại Học Cambridge (1209); Đại Học Salamanca (1218-1219); Đại Học Padua (1222); Đại Học Naples (1224); Đại Học Vercelli (1228); Đại Học La Sapienza (1303, là trường đại học có đông sinh viên nhất thế giới với gần 150.000 sinh viên), v.v. Đến giữa thế kỷ XV (khoảng 70 năm trước khi thời kỳ Cải Cách), đã có hơn 50 trường đại học Công giáo trên toàn châu Âu. Giáo hội Công giáo thiết lập nền tảng của hệ thống Pháp Luật và ngành Luật học. Vào đầu thế kỷ thứ 12, các giáo sĩ Công giáo đã tạo ra một bộ luật hoàn chỉnh và có tính khoa học đầu tiên trên thế giới mà trong đó tất cả điều khoản, các phần tương hợp với nhau trong một tổng thể chung. Vào năm 1088, Giáo hoàng Urban II thể nghiệm ngành luật bằng cách cho thành lập Đại học Bologna với phân khoa luật, từ đó nghề luật nổi lên, và khái niệm như "tổ chức pháp nhân", "cơ quan", "tổ chức", "cơ sở pháp lý", "công ty", "quỹ tín thác"... ra đời. Và một loạt các nguyên tắc về luật học như tôn trọng quyền lợi các bên, bình đẳng trước pháp luật, luật pháp quốc tế, xét xử, bồi thẩm đoàn, lệnh đình chỉ bắt giam và việc bắt buộc phải chứng minh sự hồ nghi tội phạm vượt quá khả năng phạm tội... cũng được các tu sĩ Công giáo hình thành. Đây chính là sự thành hình cho các ngành luật hiện đại. Giáo hội Công giáo điều hành một trong những tổ chức từ thiện lớn nhất hành tinh là Caritas. Caritas Quốc tế (Caritas Internationalis) là một hiệp hội của 164 tổ chức cứu trợ nhân đạo quốc tế và phục vụ phát triển xã hội do Giáo hội Công giáo Rôma điều hành, hoạt động tại hơn 200 quốc gia và vùng lãnh thổ trên toàn thế giới. Caritas cùng với Cơ quan Cứu Trợ Nhân Đạo Liên Hiệp Quốc (UNRRA) là hai tổ chức cứu trợ lớn nhất thế giới. Tại Việt Nam, Caritas được Hội đồng Giám mục Miền Nam Việt Nam thành lập ở cấp Trung ương vào năm 1965. Do biến động thời cuộc, tháng 6 năm 1976, Caritas Việt Nam bị Nhà nước Việt Nam yêu cầu phải giải thể. Với sự kiên trì của Hội đồng Giám mục Việt Nam, Caritas Việt Nam đã được tái lập vào ngày 2 tháng 7 năm 2008. Caritas Việt Nam đã tái hòa nhập làm một thành viên của Caritas Quốc tế, tuy nhiên, Chính phủ Việt Nam vẫn chưa cho phép để Caritas Quốc tế đặt chi nhánh ở Việt Nam. Giáo hội Công giáo khởi xướng phong trào đề cao phụ nữ và nữ quyền. Trái với định kiến trọng nam khinh nữ vào thời xưa, Giáo hội đánh giá cao người phụ nữ và đã tôn vinh nhiều vị Thánh nữ, nâng một số Thánh nữ lên hàng Tiến sĩ Giáo hội, một tước hiệu cao quý chỉ được trao cho một vài vị Thánh lỗi lạc của Giáo hội Công giáo, và tỏ lòng quý trọng các nữ tu. Sở dĩ nữ tu không được làm linh mục trong Giáo hội là vì truyền thống do Chúa Giêsu đặt để chỉ chọn người nam làm linh mục, Giáo hội không có thẩm quyền sửa đổi truyền thống này. Nhiều phụ nữ đã để lại vết son trong sử sách Giáo hội như các Thánh nữ Hildegard von Bingen, Catarina thành Siena, Têrêsa thành Ávila, Têrêsa thành Lisieux, những người phụ nữ nổi bật trong lĩnh vực chính trị có thể kể đến Bertha xứ Kent, Nữ hoàng Matilda, Elizabeth xứ Aragon. Công giáo cũng mang đến cho nền văn minh con người nhiều nhà khoa học và giáo sư là phụ nữ đầu tiên trên thế giới như nữ giáo sư vật lý Italia Trotula ở Salermo trong thế kỷ 11, và nữ giáo sư vật lý Dorotea Bucca, người đã giữ ghế giáo sư y khoa trưởng tại Đại học Bologna, nữ triết gia Elena Lucrezia Piscopia, người phụ nữ đầu tiên trên thế giới nhận bằng tiến sĩ triết học (1678) và Maria Agnesi (1799), một triết gia, nhà giả kim học, nhà ngôn ngữ học và nhà toán học là người phụ nữ được Giáo hoàng Benedict XIV chỉ định trở thành giáo sư toán học đầu tiên tại Italia vào năm 1750. Vào tháng 3 năm 2004, Mary Ann Glendon, giáo sư luật học tại Đại học Harvard, cựu Đại sứ Hoa Kỳ tại Tòa Thánh, chủ tịch Hội đồng Đạo đức Sinh học của tổng thống Mỹ được Giáo hoàng Gioan Phaolô II chỉ định làm Chủ tịch Viện Hàn Lâm Khoa Học Giáo hoàng và là người phụ nữ đầu tiên trên thế giới đảm trách chức vụ này; trước đó vào năm 1995, Giáo hoàng Gioan Phaolô II cũng đã chọn bà là người đại diện Vatican tham dự Hội nghị Quốc tế về các Quyền của Phụ nữ tại Bắc Kinh (Trung Quốc) do Liên Hiệp Quốc tổ chức. Giáo hội Công giáo kiến tạo và phong phú hóa các hệ thống ngôn ngữ căn bản của con người như tiếng Hy Lạp, Latinh và bảng chữ cái alphabet. Giáo hội cũng sáng tạo ra hệ thống chữ nổi Braille dành cho người mù. Vào năm 1784, Valentin Haüy, anh trai của Abbé Haüy, một linh mục Công giáo người Pháp, người phát minh ra tinh thể học, đã thành lập ngôi trường đầu tiên trên thế giới dành cho người mù mang tên Viện Khiếm thị Hoàng gia thanh thiếu niên tại Paris (ngày nay gọi là Viện Quốc gia người khiếm thị, INJA). Sinh viên nổi tiếng nhất của trường này, Louis Braille, vào học năm 1819, với sự hướng dẫn của Valentin Haüy đã phát triển một hệ thống chữ nổi cho người mù đọc mà ngày nay trên toàn thế giới hệ thống chữ Braille này mang tên ông. Tại Việt Nam, vào thế kỷ 17, chữ Quốc ngữ được các nhà truyền giáo Dòng Tên người Bồ Đào Nha và Ý sáng chế, linh mục Alexandre de Rhodes là người điển chế hệ chữ viết này với việc in cuốn từ điển Việt–Bồ–La tại Roma năm 1651. Nhà truyền giáo Girolamo Maiorica viết các tác phẩm bằng chữ Nôm với lối văn xuôi gần gũi. Các sách vở Công giáo Hán Nôm tiếp tục được sử dụng phổ biến tại Việt Nam cho tới giữa thế kỷ 20. Giáo hội Công giáo sáng tạo và thiết lập niên lịch mà con người ngày nay sử dụng hằng ngày. Lịch được sử dụng như là một phần của hệ thống duy trì thời gian hoàn hảo mà trong đó ngày tháng và thời gian của một ngày cùng nhau chỉ ra các thời điểm theo thời gian. Bộ lịch được sử dụng rộng rãi nhất trên thế giới ngày nay là lịch Gregory, hay còn gọi là Dương Lịch. Bộ lịch này là tiêu chuẩn quốc tế đo lường thời gian và được sử dụng ở khắp thế giới cho các mục đích khác nhau, bao gồm cả Trung Quốc và Ấn Độ, vốn là những quốc gia trước đây sử dụng lịch khác. Lịch Gregory là bộ lịch do Giáo hoàng Grêgôriô XIII ban hành vào năm 1582 lấy mốc thời gian Chúa Giêsu sinh ra làm năm số 0, còn gọi là Công nguyên, và khoảng thời gian trước năm 0 gọi là trước Công nguyên (Before Christ), sau năm 0 gọi là sau Công nguyên (Anno Domini) và chia lại các thời kỳ của lịch sử con người. Bộ lịch này chia năm thành 12 tháng với 365 ngày, cứ mỗi chu kỳ hết 3 năm thì thêm một ngày vào cuối tháng 2 tạo thành năm nhuận. == An ninh == Giáo hoàng được đánh giá là người được bảo vệ nghiêm nghặt nhất trên thế giới. Theo Reuters, sau Hiệp ước Lateran được ký vào năm 1929 với phần quy định về đảm bảo an ninh cho Vatican và người đứng đầu Tòa Thánh, thì bên cạnh hơn 100 Vệ binh Thụy Sĩ luôn túc trực, Giáo hoàng còn được bảo vệ bởi khoảng 2000 nhân viên thuộc các cơ quan an ninh và phản gián như CIA, FBI, đặc nhiệm và mật vụ Italia, cảnh sát Italia, đội hiến binh Vatican, các đặc vụ gián điệp chìm... Khi ra nước ngoài công du, thì theo luật quốc tế, Giáo hoàng được bảo vệ bằng mọi giá bởi các cơ quan an ninh chuyên nghiệp nhất của quốc gia mà ông đến. Giáo hoàng là một yếu nhân có khả năng quy tụ công chúng đông đảo hiếm thấy trên thế giới. Các buổi lễ do Giáo hoàng cử hành dù ở Vatican hay ở nước ngoài đều lôi kéo được một số lượng khổng lồ các tín hữu, các nguyên thủ quốc gia và ngoại giao đoàn đến tham dự dẫn đến những lo ngại về an ninh cực lớn đối với các giới chức. Thông thường một buổi lễ hay nghi thức phụng vụ ngoài trời do Giáo hoàng chủ sự có đến hàng trăm ngàn người cho tới nhiều triệu người tham dự tùy vào địa điểm tổ chức có thể quy tụ được số lượng bao nhiêu. Vào ngày 1 tháng 5 năm 2011, có hơn 2 triệu người, đông gấp đôi dân số thành phố Rôma, và 23 nguyên thủ quốc gia, 5 gia đình hoàng gia châu Âu đến Đền thờ Thánh Phêrô ở Vatican tham dự Lễ Phong Chân phước cho Giáo hoàng Gioan Phaolô II do Giáo hoàng Biển Đức XVI cử hành. Các kỳ Đại hội Giới trẻ Thế giới được tổ chức 3 năm một lần cũng là dịp Giáo hoàng quy tụ hàng triệu người trẻ khắp năm châu về tham dự, dẫn đến các công tác an ninh càng được thắt chặt. Tại lễ bế mạc Đại hội Giới trẻ Thế giới đầu tiên được tổ chức tại Á châu là ở Philippines vào tháng 1 năm 1995 đã có hơn 5 triệu người tham dự nghi thức do Giáo hoàng Gioan Phaolô II cử hành. An ninh cho các chuyến công du của Giáo hoàng Gần đây, như chuyến tông du của Giáo hoàng Biển Đức XVI tới Israel vào tháng 5 năm 2009, quân đội nước này đã mở chiến dịch quân sự lớn chưa từng có trong lịch sử quốc gia mang tên "Chiếc Áo Choàng Trắng" (Operation White Cloak), huy động đến 80.000 nhân viên an ninh gồm mật vụ, đặc nhiệm, cơ động phản ứng nhanh, cảnh sát, binh sĩ thuộc quân đội và hàng chục ngàn nhân viên an ninh chìm, phản gián để bảo vệ người đứng đầu Tòa Thánh Vatican. Trong đó lên tới 60.000 sĩ quan cảnh sát, còn lại 20.000 là các nhân viên mật vụ, đặc nhiệm và quân đội. Trước đó, hai cuộc viếng thăm cấp nhà nước của hai tổng thống Mỹ là George W. Bush và Barack H. Obama vào năm 2008 đến Israel được quốc gia này bảo đảm an ninh lần lượt bằng 3.500 và 5000 nhân viên cảnh sát, nhỏ hơn khoảng 20 lần về quy mô so với an ninh dành cho Giáo hoàng Biển Đức XVI. Trong chuyến công du vào tháng 4 năm 2008 của Giáo hoàng Biển Đức XVI tới Mỹ, để đảm bảo an toàn cho thủ lĩnh các tín đồ Công giáo, tổng thống George W. Bush lúc ấy đã huy động lực lượng an ninh lên mức cao nhất theo thang sự kiện quốc gia là 15.000 cảnh sát và mật vụ, ngang bằng với an ninh mà Lầu Năm Góc áp dụng để bảo vệ các kỳ họp Đại hội đồng Liên Hiệp Quốc với sự tham dự của hàng trăm nguyên thủ quốc gia khắp thế giới và an ninh cho lễ nhậm chức của tổng thống Barack Obama. Vào tháng 9 năm 2010, trong chuyến thăm chính thức Anh Quốc của Giáo hoàng, các giới chức chính phủ nước này cũng đã điều động một lực lượng an ninh hùng hậu lên đến gần 16.000 cảnh sát, mật vụ làm nhiệm vụ bảo vệ. Thông thường, an ninh áp dụng để bảo vệ Giáo hoàng trong các chuyến đi ra khỏi Vatican hay tông du nước ngoài được thắt chặt tối đa, bao gồm: Nhân viên nhiều bộ ngành được triển khai để phân tích tổng hợp các nguy cơ và ngăn chặn, đối phó với bất kỳ cuộc tấn công khủng bố nào. Một lực lượng cảnh sát khổng lồ mặc quân phục cũng như thường phục được bố trí trên khắp các đường phố. Chó nghiệp vụ được huy động để phát hiện bom. Cảnh sát phong tỏa toàn bộ giao thông và các tuyến đường, cấm mọi loại xe cộ đi lại trong những khu vực bán kính Giáo hoàng di chuyển bằng việc thiết lập "vùng đóng băng" ở các tuyến phố trung tâm. Phải có giấy phép hay vé tham dự và phải qua kiểm tra quét toàn thân trước khi được vào những nơi này. Hàng nghìn máy quay được thiết lập ở các góc đường và quảng trường. Các tay thiện xạ, bắn tỉa được bố trí trên các điểm cao. Trực thăng cảnh sát tuần tiễu trên trời trong không phận Giáo hoàng hiện diện hay đi ngang qua và thiết lập vùng cấm bay bằng các chiến đấu cơ phản lực tuần tra vùng trời, vùng biển. Cảnh sát cũng triển khai các hệ thống vũ khí đất đối không. Tại các bến cảng, cảnh sát thợ lặn tuần tra dọc các con sông và bên dưới mặt nước, tàu thuyền được trang bị súng máy. Chuẩn bị cho các tấn công bất ngờ bằng vũ khí hóa học và sinh học. Hệ thống y tế lưu động cũng được thiết lập trên quy mô lớn trong trường hợp xảy ra tấn công vào Giáo hoàng hoặc đám đông. Một chuyến công du của Giáo hoàng phải mất tối thiểu hàng chục triệu đô la chi phí, và được coi là người tốn nhiều tiền nhất cho việc công du trên thế giới, hơn hẳn tổng thống các quốc gia hay các vua và nữ hoàng. Mỗi lần Giáo hoàng đi công du thì các cơ quan an ninh Vatican, và Bộ Nội vụ Italia phải phối hợp với các cơ quan an ninh nước chủ nhà để tính toán chuyến hành trình của Giáo hoàng trước đó nhiều tháng trời, thậm chí là nhiều năm. Các cơ quan này muốn có càng nhiều thời gian chuẩn bị càng tốt để hoạch định cho một chuyến đi nước ngoài như vậy của Giáo hoàng. Nhưng trong một số trường hợp đặc biệt, họ phải làm việc khẩn trương. Đó cũng là lý do mà Vatican cho duy trì một bộ phận nghiên cứu bảo vệ an ninh trên diện rộng, chuyên nghiên cứu và đánh giá những mối đe dọa toàn cầu. An ninh cho Lễ An táng và Đăng quang Giáo hoàng Vào tháng 4 năm 2005, một sự kiện đảm bảo an ninh chưa từng có trong lịch sử hiện đại đã diễn ra tại Vatican. Thời điểm đó, có hơn 200 nguyên thủ quốc gia và phái đoàn ngoại giao khắp thế giới, 117 Hồng y bầu chọn Giáo hoàng mới, các nhà lãnh đạo các tôn giáo lớn trên thế giới và gần 5 triệu tín đồ Công giáo tuôn về Vatican dự Lễ An táng Giáo hoàng Gioan Phaolô II, lễ tang lớn nhất trong lịch sử loài người và quy tụ nhiều lãnh đạo thế giới nhất. Trong đó có nhiều gia đình hoàng gia khắp năm châu, nhiều vua chúa, nữ hoàng và các nhà quý tộc. Phái đoàn của Mỹ là rầm rộ nhất với 3 vị tổng thống George W. Bush, George H. W. Bush, Bill Clinton, ngoại trưởng Condoleezza Rice, đệ nhất phu nhân Laura Bush và Tổng thư ký Liên hiệp quốc Kofi Annan. Điều này khiến cho Hồng y Đoàn, có nhiệm vụ điều hành Vatican khi Giáo hoàng băng hà, lo ngại và yêu cầu sự giúp đỡ từ bên ngoài. Vì tang lễ của cố Giáo hoàng, cơ mật viện bầu Giáo hoàng mới và lễ đăng quang của tân Giáo hoàng sẽ biến Vatican thành mục tiêu của khủng bố. Trước tang lễ vào sáng thứ sáu ngày 8 tháng 4 năm 2005, NATO và không quân Italia (Aeronautica Militare Italiana) đã cho thiết lập vùng cấm bay trên không phận toàn thành phố Rôma và bán kính 5 dặm xung quanh đó. Các máy bay chiến đấu cường kích có gắn tên lửa hành trình và tên lửa không đối không cùng hệ thống tên lửa không đối đất của NATO được triển khai. Dưới mặt đất quân đội cũng lắp đặt các hệ thống tên lửa phòng thủ, bệ phóng tên lửa chống hạm và đất đối không xung quanh thành phố Vatican với sự cho phép miễn cưỡng của Hồng y Đoàn vì tình thế quá khẩn trương. Dọc bờ biển Địa Trung Hải, các tàu chiến của hải quân Italia (Marina Militare) được bố trí tuần tra ngày đêm cùng hệ thống tàu ngầm có ngư lôi tìm diệt và tên lửa hành trình. Trên các con sông bao bọc thành phố Rôma, cảnh sát tuần tra dày đặc bằng thuyền máy và canô, nhất là dòng sông Tiber huyền thoại chảy ngang qua Vatican. Hơn 1000 tay súng bắn tỉa được lệnh án ngữ mọi điểm cao và hỗ trợ cho hàng chục ngàn cảnh sát rà phá bom mìn trên đường phố. Các trực thăng chiến đấu và trinh sát cũng được huy động để quan sát, bảo vệ Rôma từ trên không. Rôma với 2 triệu người dường như quá tải bởi dòng người gấp 3 lần dân số của nó đổ về. Chiều hôm trước ngày lễ an táng, chính phủ đã cho đóng cửa 2 sân bay bận rộn nhất nước là sân bay quốc tế Leonardo da Vinci (Fiumicino) và sân bay quân sự Ciampino ở Rôma. Các tuyến tàu điện ngầm và xe buýt cũng bị buộc phải ngưng hoạt động đến hết lễ tang. Những biện pháp an ninh trên cũng được áp dụng cho lễ đăng quang của Giáo hoàng Biển Đức XVI vào ngày 24 tháng 4 năm 2005. == Quyền bính == Giáo hoàng với Triều thiên Ba tầng (Papal Tiara) tượng trưng cho việc cai quản, Thánh hóa, chăm sóc các tín hữu. Gậy Mục tử (Crosier) tượng trưng cho quyền bính. Dây Pallium được làm bằng lông cừu để nói lên Giáo hoàng là chủ chiên lành thay Chúa Kitô vác chiên trên vai; nhẫn Ngư phủ (Ring of the Fisherman) trên mặt có hình Thánh Phêrô đang đánh cá. Khi Giáo hoàng băng hà thì nhẫn đó được Hồng y nhiếp chính đập vỡ đi để tránh giả mạo. == Bầu cử, qua đời và thoái vị == === Bầu cử === === Qua đời === === Thoái vị === == Các biểu tượng và huy hiệu của Giáo hoàng == Mỗi triều đại Giáo hoàng đều có biểu tượng và huy hiệu riêng. Tuy nhiên, biểu tượng và huy hiệu của Tòa Thánh và Quốc gia Vatican thì chỉ có một. == Văn kiện của Giáo hoàng == Các Giáo hoàng phát biểu hoặc đưa ra các tài liệu theo từng loại để nhận biết với từng mức độ thẩm quyền và ảnh hưởng chung đến giáo hội. Các văn kiện đó phải bởi chính Giáo hoàng chứ không phải bởi một người trung gian nào ghi nhận. Tông Hiến (Constitutio Apostolica): là một loại văn kiện rất quan trọng, bao gồm những đạo luật sửa chữa, bổ sung hay làm mới do Giáo hoàng đưa ra. Tông hiến tác động rất lớn đối với hệ thống Giáo luật của Giáo hội và Pháp luật Thành Vatican. Tông Thư (Littera Apostolica): Là những lá thư kém quan trọng hơn so với Tông Hiến, chúng có thể được viết ra dựa trên một vấn đề có liên quan tới học thuyết (ví dụ: Thư của Giáo hoàng Gioan Phaolô II nhân dịp bắt đầu thiên niên kỷ thứ ba). Chúng cũng có thể thông báo một quyết định nào đó của Giáo hoàng, chẳng hạn như phong chân phước một người nào đó, nâng một nhà thờ nào đó lên thành Vương cung Thánh đường… nhưng nó mang nghĩa riêng tư. Tông Huấn (Exhortatio Apostolica): Văn kiện này tương tự như Tông Thư, nhưng chứa đựng nhiều những kết luận, những đường hướng, những chỉ dẫn của Giáo hoàng, sau khi đã suy xét vấn đề. Tông Dụ (Epistula Apostolica): Văn kiện hướng dẫn của Giáo hoàng dành cho những người cấp dưới thực hiện. Sắc lệnh (Decretum): là những quy tắc pháp lý được ban hành để giải quyết những vấn đề cấp bách, không có tính ổn định của Giáo hội, nhưng chưa phải là luật hoặc đang trong giai đoạn hình thành luật. Sắc lệnh gồm có tổng quát và riêng biệt (khi có đơn thỉnh cầu để xin một ân ban nào đó). Sắc chỉ (Bulla): là văn kiện bổ nhiệm các chức vụ trong giáo hội. Tự sắc (Motu Proprio): Văn kiện thể hiện ý kiến hoặc tư tưởng riêng của Giáo hoàng, không phải để trả lời cho một yêu cầu hay một ý kiến của người khác. Tình trạng hợp hiến do Giáo hoàng đó quyết định. Tự sắc thường không tác động đến Giáo luật hiện hành của Giáo hội. Thông Điệp (Epistula Encyclica): Những thông điệp ngắn gọn được viết hay được đọc ra, thường truyền đạt lời đón chào riêng của Giáo hoàng đến với các cá nhân hay các nhóm người. Nội dung thường là để cổ võ, khuyến khích đời sống đức tin, luân lý dựa trên những biến đổi của xã hội, thế giới. Tuyên bố Chung (Declaratio): Tức là tuyên bố chung của Giáo hoàng với một vị lãnh đạo của một tôn giáo khác có liên quan đến sự hiểu biết chung. Bài giảng: Tức là các bài giảng của Giáo hoàng về những đoạn Kinh Thánh tại Thánh Lễ. Buổi Tiếp kiến: Buổi Tiếp kiến Chung của Giáo hoàng dành cho dân chúng, diễn ra vào Thứ Tư hằng tuần, tại Quảng trường Thánh Phêrô hoặc một địa điểm nào đó tại Vatican như Đại Thính Đường Phaolô VI. Các bài diễn thuyết của Giáo hoàng khi tiếp kiến chung thường phản ánh tình hình thời đại. Buổi Tiếp kiến Riêng của Giáo hoàng dành những cá nhân hay các nhóm. Chủ đề các bài nói chuyện lúc này tương ứng, thích hợp với khách mời. Ví dụ, vấn đề về y học đối với một nhóm các bác sĩ; hay tình hình thế giới với các nguyên thủ quốc gia, các nhà ngoại giao; những giảng dạy và những thủ tục của Giáo hội đối với các Giám mục, viên chức của Giáo triều Rôma. Các buổi tiếp kiến dạng này thường diễn ra tại Sảnh Đường Công Nghị, Điện Tông Tòa hoặc Đại Thính Đường Phaolô VI. Diễn Thuyết: Các văn kiện của Giáo hoàng bên ngoài phạm vi của Thánh Lễ hay bên ngoài của những buổi tiếp kiến, có thể khi Giáo hoàng đến thăm một nơi nào đó. == Các bài hát về Giáo hoàng == == Các ngụy Giáo hoàng == == Các Giáo hoàng ở ngôi dài nhất == Danh sách các Giáo hoàng có thời gian trị vì dài nhất được xác định từ các tài liệu lịch sử được thống kê như sau: Piô IX (1846-1878): 31 năm, 7 tháng và 23 ngày (11.560 ngày). Gioan Phaolô II (1978-2005): 26 năm, 5 tháng và 18 ngày (9665 ngày). Lêô XIII (1878-1903): 25 năm, 5 tháng và 1 ngày (9.281 ngày). Piô VI (1775-1799): 24 năm, 6 tháng và 15 ngày (8.962 ngày). Adrian I (772-795): 23 năm, 10 tháng và 25 ngày (8.729 ngày). Piô VII (1800-1823): 23 năm, 5 tháng và 7 ngày (8.560 ngày). Alexander III(1159-1181): 21 năm, 11 tháng và 24 ngày (8.029 ngày). Sylvester I (314-335): 21 năm, 11 tháng và 1 ngày (8.005 ngày). Lêô I (440-461): 21 năm, 1 tháng, và 13 ngày (7.713 ngày). Ubanô VIII (1623-1644): 20 năm, 11 tháng và 24 ngày (7.664 ngày). Mặc dù một số tài liệu cho rằng Thánh Phêrô trị vì trong khoảng 30 năm (sau 29 - 64? / 67?) nhưng tính cho đúng thì những tài liệu này thiếu chính xác nên tên của ông không được liệt kê ở đây. == Các Giáo hoàng ở ngôi ngắn nhất == Bên cạnh đó có những Giáo hoàng có thời gian trị vì rất ngắn chưa tới một tháng. Vì vậy, nếu triều đại của một Giáo hoàng được bắt đầu vào ngày 1 tháng 8 và qua đời vào ngày 2 tháng 8, thì triều đại của vị Giáo hoàng này sẽ được tính là 2 ngày. Ubanô VII (15 tháng 9 - 27 tháng 9 năm 1590): 13 ngày, mất trước khi đăng quang. Boniface VI (tháng 4 năm 896): 16 ngày. Celestine IV (25 tháng 10 - 10 tháng 1 1241): 17 ngày, mất trước khi đăng quang. Theodore II (tháng 12 năm 897): trong 20 ngày. Sisinnius (15 tháng 1 - 4 tháng 2 năm 708): 21 ngày. Marcellus II (9 tháng 4 -1 tháng 5 năm 1555): 22 ngày. Đamaxô (17 tháng 7 - 9 tháng 8 năm 1048): 24 ngày. Piô III (22 tháng 9 - 18 tháng 10 năm 1503): 27 ngày. Lêô XI (1 tháng 4 - 27 tháng 4 năm 1605): 27 ngày. Biển Đức V (22 tháng 5 - 23 tháng 6 năm 964): 33 ngày. Gioan Phaolô I (26 tháng 8 - 28 tháng 9 năm 1978): 33 ngày. Stêphanô (23 tháng ba - 26 tháng ba, 752) mất đột ngột sau khi được bầu làm Giáo hoàng ba ngày, và trước khi được tấn phong làm Giám mục. Ông đã không được công nhận là Giáo hoàng hợp lệ nhưng đã được thêm vào danh sách ''Catholic encyclopedia'' với tông hiệu là Stêphanô II. Chính điều này đã gây khó khăn cho việc liệt kê các Giáo hoàng có tên Stêphanô sau đó. Tên của ông đã bị loại bỏ khỏi danh sách các Giáo hoàng do nghị quyết của Vatican vào năm 1961. == Các Tước hiệu của Giáo hoàng == Giáo hoàng có nhiều danh xưng khác nhau. Các tước hiệu chính thức của Giáo hoàng theo thứ tự xuất hiện trong Annuario Pontificio (Niên giám Tòa Thánh) là: Giám mục Rôma, Đại diện Chúa Kitô, Đấng kế vị thủ lĩnh các Tông đồ, Thượng Giáo chủ của Giáo hội Hoàn vũ, Giáo trưởng Italia, Tổng Giám mục và Đô thành trưởng Giáo tỉnh Rôma, Quốc vương Vatican, Tôi tớ các tôi tớ của Thiên Chúa. Ngoài ra, Bộ Giáo Luật (x. Canon 331) còn ghi những danh xưng khác như: Giáo chủ Rôma (Romanus Pontifex, The Roman Pontiff) Thủ lĩnh của Giám mục Đoàn (Caput Collegii, Head of the College of Bishops) Thượng phụ Tây Phương (Patriarch of the West) Tước hiệu "Giáo hoàng" cũng được sử dụng. Khi ký tên trong các văn kiện, Giáo hoàng thường dùng dạng tắt của "Papa" là "PP." đứng trước số, chẳng hạn "Benedictus PP. XVI" (Giáo hoàng Biển Đức XVI). == Các Giáo hoàng == Giáo hoàng đầu tiên của Giáo hội Công giáo Rôma là Thánh Phêrô, tông đồ trưởng của Chúa Giêsu. Giáo hoàng đương nhiệm là giáo hoàng Phanxicô, người kế vị giáo hoàng Biển Đức XVI sau khi ngài từ chức, trước đó đã có 263 người được nhận chức Giáo hoàng. == Xem thêm == Thượng phụ Thượng phụ Đại kết thành Constantinopolis == Chú thích == == Liên kết ngoài == Trang chủ Tòa Thánh Vatican, tiếng Anh Trang Twitter tiếng Anh chính thức của Giáo hoàng Giáo hoàng - Giáo Tông - Giáo chủ, các thuật từ
đại hỏa hoạn luân đôn 1666.txt
Đại hỏa hoạn Luân Đôn là vụ hỏa hoạn tồi tệ nhất trong lịch sử Luân Đôn, Anh. Vụ hỏa hoạn bắt nguồn từ một tiệm bánh mỳ ở Pudding Lane, gần bờ sông Thames vào ngày 2 tháng 9 năm 1666, và kéo dài trong 5 ngày. Vụ hỏa hoạn đã phá hủy hầu như toàn bộ khu vực phố cổ Luân Đôn thời Trung Cổ. Ngọn lửa cháy từ phía đông và lan qua phía tây Luân Đôn. Thậm chí vua Charles II và em trai là Công tước xứ York (tức vua James II tương lai) cũng phải tham gia vào công tác chữa cháy. Khoảng 13.200 căn nhà, gần 90 nhà thờ, 6 nhà nguyện, 4 nhà tù đã bị phá hủy. Đây là một trong số nhũng vụ hỏa hoạn lớn nhất từ trước đến nay. == Tham khảo ==
kim xuân.txt
Nghệ sĩ ưu tú Kim Xuân (sinh năm 1956) là một nghệ sĩ người Việt Nam, bà được biết đến với vai trò diễn viên điện ảnh, diễn viên truyền hình và tham gia nhiều vở kịch tại sân khấu IDECAF. == Tiểu sử == Kim Xuân đã từng đoạt 3 danh hiệu Diễn viên phụ xuất sắc do: Hội Điện ảnh TPHCM (năm 1992), Tạp chí Điện ảnh (năm 1993) và Hãng phim truyền hình TFS (năm 2001) trao tặng. Bà đã đoạt Huy Chương Vàng tại Hội diễn sân khấu kịch nói toàn quốc năm 1991, HCV Liên hoan Sân khấu Mùa thu năm 1998, Giải Mai Vàng do báo Người Lao động trao tặng năm 1997. Bà đã đóng những phim: Tấm Cám, Xương rồng đen, Người tìm vàng, Ngọn cỏ gió đùa, Cái chết của nhà tỉ phú, Sài Gòn xa xăm... và tạo được ấn tượng qua những vở kịch Kim Xuân từng tham gia: Cõi tình, Đôi bông tai, Tiếng nổ lúc không giờ, Người cần được bảo vệ, Đời chỉ có một lần, Hành trình vượt dốc, Mimosa, Lửa của rừng, Cho tình yêu mai sau, Thời con gái đã xa, Nhân danh công lý, Người đàn bà mộng du, Cơn mê cuối cùng, Khoảnh khắc tình yêu, Tình yêu cho hai người,...Trong những năm qua, Kim Xuân xuất hiện khá nhiều trên sân khấu, phim ảnh, truyền hình. Bà tham gia đủ thể loại với sự đa dạng trong tính cách từ vai chính, vai phụ, thậm chí vai rất phụ với nhiều độ tuổi khác nhau. == Sự nghiệp == === Kịch đã đóng (Tiêu biểu) === === Hài kịch (Tiêu biểu) === Hay quên Tình yêu thương Các tiểu phẩm hài trong: Tài tiếu tuyệt và Chuyện Gia đình Vàng === Phim đã tham gia === === Chương trình tham gia === == Giải thưởng == Mai Vàng năm 1997 "Huy Chương Vàng" tại Liên hoan Sân khấu nhỏ toàn quốc lần 1 tổ chức tại Quảng Ninh == Tham khảo == == Liên kết ngoài == Kim Xuân tại Internet Movie Database
đường cao tốc hà nội – thái nguyên.txt
Đường cao tốc Hà Nội – Thái Nguyên (ký hiệu toàn tuyến là CT 07) hay còn gọi là Quốc lộ 3 mới là một trong 6 tuyến cao tốc đang xây dựng theo quy hoạch tại miền Bắc Việt Nam. Tuyến đường được thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng khởi công vào ngày 24 tháng 11 năm 2009.. Tuyến đường sẽ đi qua địa bàn ba tỉnh thành là Hà Nội, Thái Nguyên và một đoạn ngắn trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh. Đường cao tốc Hà Nội – Thái Nguyên sẽ có mặt đường rộng 34,5m và dài hơn 61 km có điểm đầu là Quốc lộ 1A mới thuộc xã Ninh Hiệp (Gia Lâm, Hà Nội); đi qua địa bàn các phường, xã: Ninh Hiệp, Yên Thường (huyện Gia Lâm), Dục Tú, Liên Hà, Vân Hà (huyện Đông Anh), Việt Long, Bắc Phú, Tân Minh, Tân Hưng, Trung Giã (huyện Sóc Sơn) của thành phố Hà Nội; Đình Bảng (thị xã Từ Sơn), Văn Môn, Yên Phụ, Hòa Tiến, Tam Giang (huyện Yên Phong) của tỉnh Bắc Ninh; Thuận Thành, Tân Phú, Đông Cao, Tân Hương, Đồng Tiến, Bãi Bông, Hồng Tiến (thị xã Phổ Yên), Lương Sơn (thành phố Sông Công) của tỉnh Thái Nguyên và điểm cuối là tuyến đường tránh thành phố Thái Nguyên, tuyến đường cao tốc này sẽ chủ yếu nằm về bên phải quốc lộ 3 cũ .;km. Đường cao tốc Hà Nội – Thái Nguyên là đường cao tốc loại A dài hơn 61 km đi qua 3 địa phương này có quy mô 4 làn xe, tốc độ thiết kế 100 km/h. Tổng mức đầu tư dự án là 8.104 tỷ đồng, trong đó vốn vay ODA của Cơ quan hợp tác quốc tế Nhật Bản (JICA) 6.093,1 tỷ đồng, vốn đối ứng của Chính phủ Việt Nam 2.011,3 tỷ đồng dự kiến hoàn thành vào năm 2013. Theo thiết kế, điểm đầu của tuyến đường cao tốc này bắt đầu từ km 152+400 quốc lộ 1A mới (thuộc xã Ninh Hiệp, (Gia Lâm, Hà Nội)) và giao với quốc lộ 18 tại địa bàn huyện Yên Phong (Bắc Ninh) và đi song song với đường sắt, quốc lộ 3 hiện nay ở phía Đông rồi nối với thành phố Thái Nguyên tại km 61+300. Trên tuyến có 6 nút giao thông, trong đó có 3 nút giao khác mức và 29 cầu (có 17 cầu lớn). Khi được hoàn thành, đường cao tốc Hà Nội - Thái Nguyên sẽ giảm tải cho Quốc lộ 3 cũ, tuyến đường cũng có ý nghĩa rất lớn để phát triển kinh tế cho các tỉnh vùng núi phía Bắc, đặc biệt là các tỉnh Cao Bằng, Bắc Kạn, Thái Nguyên. Nhất là khi tỉnh Thái Nguyên vốn được Chính phủ coi là Trung tâm văn hoá và kinh tế của các dân tộc các tỉnh phía Bắc. và tỉnh Thái Nguyên hiện là hai tỉnh duy nhất tại Việt Nam cùng với Kiên Giang có số người chết do tai nạn giao thông tăng liên tục 3 năm liền (2008-2010), mà trong đó một phần là do giao thông quá tải. Ngày 18 tháng 1 năm 2014, Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Tấn Dũng chính thức cắt băng khánh thành và thông xe toàn bộ tuyến cao tốc Hà Nội - Thái Nguyên. Hiện nay, đang có dự án kéo dài tuyến đường này đến huyện Chợ Mới, tỉnh Bắc Kạn. == Tham khảo ==
viện nghiên cứu chính sách thực phẩm quốc tế.txt
Viện Nghiên cứu Chính sách Thực phẩm Quốc tế (International Food Policy Research Institute - IFPRI) là một trung tâm nghiên cứu nông nghiệp quốc tế được thành lập vào đầu những năm 1970 để nâng cao sự hiểu biết về chính sách nông nghiệp và lương thực quốc gia để thúc đẩy việc thông qua đổi mới trong công nghệ nông nghiệp. Ngoài ra, IFPRI đã có nghĩa là để làm sáng tỏ thêm về vai trò của phát triển nông nghiệp và nông thôn trong con đường phát triển rộng lớn của một quốc gia. [1] [4] [5] Nhiệm vụ của IFPRI là để tìm kiếm các giải pháp bền vững cho kết thúc đói nghèo thông qua nghiên cứu. [6] IFPRI thực hiện nghiên cứu chính sách lương thực và phổ biến nó thông qua hàng trăm ấn phẩm, bản tin, hội nghị, và các sáng kiến ​​khác. IFPRI đã được tổ chức như một quận của Columbia phi lợi nhuận, công ty không cổ trên 05 tháng 3 năm 1975 và bản tin nghiên cứu đầu tiên được sản xuất vào tháng 2 năm 1976. [7] [8] IFPRI có văn phòng ở nhiều nước đang phát triển, bao gồm cả Trung Quốc, Ethiopia, và Ấn Độ, và có nhân viên nghiên cứu làm việc tại nhiều quốc gia khác trên thế giới. Hầu hết các nghiên cứu diễn ra ở các nước đang phát triển ở Trung Mỹ, Nam Mỹ, châu Phi và châu Á. IFPRI là một phần của một mạng lưới các viện nghiên cứu quốc tế tài trợ một phần bởi CGIAR, mà lần lượt được tài trợ bởi các chính phủ, các doanh nghiệp tư nhân và các quỹ và Ngân hàng Thế giới. [9] [10] [11] [12] == Phạm vi == Chiến lược của IFPRI dựa trên ba trụ cột:. nghiên cứu, nâng cao năng lực, truyền thông và chính sách [13] == Lĩnh vực nghiên cứu == Đề tài nghiên cứu đã bao gồm cây trồng thấp và năng suất vật nuôi, và suy thoái môi trường, quản lý nước, các vùng đất mỏng manh, quyền sở hữu, hoạt động tập thể, thâm canh bền vững của sản xuất nông nghiệp, tác động của biến đổi khí hậu đối với nông dân nghèo, các vấn đề và cơ hội của công nghệ sinh học, [14 ] an ninh lương thực, suy dinh dưỡng vi chất dinh dưỡng, các chương trình tài chính vi mô, an ninh lương thực đô thị, phân bổ nguồn lực trong các hộ gia đình, [15] và cho ăn học ở các nước có thu nhập thấp. [16] == Giới và Phát triển == Một lĩnh vực chính của nghiên cứu là giới tính và phát triển, [17] Một nghiên cứu được tiến hành ở tiểu vùng Sahara châu Phi, nhìn vào năng suất tương đối của khu đất trang trại được kiểm soát bởi những người đàn ông so với lô điều khiển bởi phụ nữ. Họ phát hiện ra rằng phần lớn các nguồn lực dành cho lô điều khiển bởi những người đàn ông, nhưng nếu nguồn lực đã được chuyển hướng đến âm mưu kiểm soát bởi năng suất phụ nữ có thể tăng đến 20%. Trong một nghiên cứu ở Kenya, nơi phụ nữ có được hầu như không có giáo dục, họ xác định rằng nếu phụ nữ nông dân được cung cấp trong một năm của giáo dục tiểu học, sản xuất ngô có thể tăng nhiều như 24%. [18] == Biến đổi khí hậu == Một trong những lĩnh vực nghiên cứu cho IFPRI là tác động của biến đổi khí hậu đối với các nước đang phát triển. Biến đổi khí hậu mô tả một sự thay đổi toàn cầu trong khí hậu, nhưng điều này không có nghĩa là tất cả các khu vực trên thế giới sẽ bị ảnh hưởng như nhau hoặc là tất cả họ sẽ trải qua cùng một loại biến đổi khí hậu. Một số khu vực có thể trở nên ấm áp hơn khi những người khác có thể trở nên lạnh hơn. IFPRI đã tiến hành nghiên cứu để mô hình các tác động của biến đổi khí hậu lên các quần thể phát triển. Trong năm 2011, IFPRI công bố kết quả của một nghiên cứu tại Cộng hòa Yemen dự đoán kết quả kinh tế của biến đổi khí hậu trong cộng đồng Yemen đô thị và nông thôn. Nghiên cứu dự đoán rằng GDP của nước này sẽ giảm, nhưng đó GDP nông nghiệp sẽ tăng lên. Nó dự đoán rằng lũ sẽ gây ra người nông dân mất một số cây trồng, nhưng nông nghiệp nói chung sẽ được hưởng lợi. Nhóm này dự kiến ​​sẽ phải chịu nhiều nhất sẽ là vùng nông thôn phi nông dân. Về lâu dài, biến đổi khí hậu được dự đoán sẽ gây tổn hại an ninh lương thực và gây giảm GDP hộ gia đình. [21] Trong tháng 12 năm 2011, IFPRI xuất bản một báo cáo gửi cho Công ước khung của Liên hợp quốc về biến đổi khí hậu (UNFCCC) nêu bật sự cần thiết phải nghiên cứu hệ thống nông nghiệp có khả năng bị ảnh hưởng bởi biến đổi khí hậu. Họ nhấn mạnh rằng 12 họ đề nghị nên có nhiều ưu tiên nghiên cứu: [22] - Sâu và bệnh [22] - Các hệ sinh thái đất [22] - Động vật nhai lại Nông nghiệp [22] - Cơ cấu thủy lợi và hiệu quả [22] - Trồng cây lâu năm [22] - Chất lượng hạt [22] - Lưu trữ [22] - Công nghệ sinh học [22] - Sử dụng đất [22] - Thương mại quốc tế [22] - Sở hữu trí tuệ [22] - Phát triển nguồn nhân lực [22] == Suy dinh dưỡng == IFPRI đã thực hiện nghiên cứu sâu rộng sang các lĩnh vực liên quan đến suy dinh dưỡng. Họ đã tiến hành nghiên cứu trên toàn thế giới về các vấn đề khác nhau mà phát sinh từ hoặc gây suy dinh dưỡng. Họ đã nhìn HIV và sốt rét và cách suy dinh dưỡng ảnh hưởng đến dịch tễ học của các bệnh này. Họ đã xem xét các tác động của suy dinh dưỡng ở trẻ em đối với sức khỏe của người lớn. Họ đã xem xét các lợi ích tiềm năng của cây trồng CNSH về dinh dưỡng trẻ em, và những ảnh hưởng của việc bổ sung vitamin nói chung. Một nghiên cứu ở Ethiopia để kiểm tra hiệu quả chi phí của hai phương pháp khác nhau để điều trị suy dinh dưỡng ở trẻ em đã được thực hiện bởi Tekeste Asayehegn. Trong nghiên cứu này các so sánh hai phương pháp khác nhau chăm sóc dài hạn cho các trẻ em bị suy dinh dưỡng. Trong phương pháp đầu tiên trẻ em được đưa đến Trung tâm ăn điều trị nơi họ vẫn là bệnh nhân nội trú. Phương pháp thay thế liên quan đến các nguồn cung cấp để điều trị suy dinh dưỡng trẻ em được gửi đến phòng khám địa phương và các cơ sở y tế, nơi trẻ em được đưa vào một cơ sở hàng tuần hoặc hai tuần để điều trị. sau đó các chất bổ sung dinh dưỡng được đưa về nhà với con. Các tình nguyện viên kiểm tra trên các bệnh nhân tại nhà và đưa họ đến các cơ sở điều trị. chương trình điều trị nội địa hóa này đã được tìm thấy để cắt giảm chi phí điều trị một đứa trẻ bị suy dinh dưỡng trong một nửa. [23] Tại Uganda, IFPRI tiến hành một nghiên cứu về mối quan hệ giữa suy dinh dưỡng và tỷ lệ mắc bệnh sốt rét. Có hai biến trong nghiên cứu đầu tiên là bằng chứng của suy dinh dưỡng ở trẻ em và thứ hai là có hay không việc trẻ em bị nhiễm HIV. Nghiên cứu chỉ ra rằng có thể có một mối tương quan giữa suy dinh dưỡng và tăng nguy cơ mắc bệnh sốt rét. Cả hai bệnh nhân HIV âm tính và dương tính đã được suy dinh dưỡng cho thấy tỷ lệ cao của bệnh sốt rét so với các nhóm chất dinh dưỡng tốt hơn. [24] == Cây trồng biến đổi gen == IFPRI không hỗ trợ cũng không phản đối thực phẩm biến đổi gen, tuy nhiên, họ đã phát hành nhiều ấn phẩm về các tác động tiềm năng của việc sử dụng cây trồng biến đổi gen. Có rất nhiều loại cây trồng biến đổi gen. Một số thay đổi khả năng của cây để sản xuất thuốc trừ sâu tự nhiên trong khi những người khác ảnh hưởng đến giá trị dinh dưỡng của các loại cây trồng chính mình. Năm 2009 IFPRI phát hành một ấn phẩm đó là một cái nhìn tổng quan về việc sử dụng cây trồng CNSH từ năm 1997 đến năm 2007. Kể từ học viện duy trì quan điểm trung lập về vấn đề này, họ đã chọn thuật ngữ "công nghệ sinh học" như là ít viêm hơn "biến đổi gen" hoặc " chuyển gen. "[25] việc công bố là một đánh giá của nhiều nghiên cứu được tiến hành trong khoảng thời gian mười năm ở một số nước trên thế giới. Họ quan sát thấy rằng nhiều nghiên cứu đã không thể kết luận về giá trị kinh tế của cây trồng. Ví dụ, các nghiên cứu cho thấy kết luận rằng việc sử dụng bông Bt làm giảm nhu cầu điều trị thuốc trừ sâu và tăng năng suất cây trồng, nhưng họ không cho thấy cho dù đó tăng lợi nhuận cho các trang trại nhỏ tham gia. [25] Họ xác định rằng các thông tin được cung cấp cho người tiêu dùng là quan trọng trong nghiên cứu luận án. thông điệp tiêu cực là rất hiệu quả trong việc sử dụng dissuading. Nhìn chung, các nhà nghiên cứu xác định rằng một số chủng loại cây trồng công nghệ sinh học được đầy hứa hẹn về kinh tế đặc biệt là ở các nước như Ấn Độ và Trung Quốc. Họ không muốn làm quá mạnh một phán quyết trên các dữ liệu được cung cấp giới thiệu các nghiên cứu tốt hơn được thực hiện trong mười năm sau để có được một sự hiểu biết đầy đủ hơn về những tác động kinh tế của cây trồng CNSH ở các nước đang phát triển. [25] Ấn phẩm này đã không quan sát về các vấn đề môi trường và sức khỏe liên quan đến tiềm năng có liên quan với các loại cây trồng. Nó chỉ đơn giản là xử lý với lợi nhuận tiềm năng và tác động kinh tế. IFPRI cũng phân tích những cải cách thị trường nông nghiệp, chính sách thương mại, đàm phán Tổ chức Thương mại Thế giới trong bối cảnh nông nghiệp, hiệu quả thể chế, cây trồng và đa dạng hóa thu nhập, hoạt động sau thu hoạch, và nông lâm. [26] Viện có liên quan đến đo lường dự án Mục tiêu Phát triển Thiên niên kỷ và hỗ trợ các chính phủ trong việc xây dựng và thực hiện chiến lược phát triển. [27] Công việc tiếp theo bao gồm nghiên cứu về các hệ thống đổi mới nông nghiệp và vai trò của tăng cường năng lực trong phát triển nông nghiệp. [28] == Sản phẩm và ấn phẩm == IFPRI mục tiêu chính sách và nghiên cứu sản phẩm của mình cho nhiều khán giả, bao gồm hoạch định chính sách phát triển quốc gia, các tổ chức phi chính phủ (NGO), các tổ chức xã hội dân sự ", lãnh đạo ý kiến", các nhà tài trợ, cố vấn, và phương tiện truyền thông. Ấn phẩm của IFPRI bao gồm sách, báo cáo nghiên cứu, mà còn các bản tin, tóm tắt, và tờ. [29] mà cũng có sẵn từ Repository Kiến thức IFPRI của. [30] Nó cũng tham gia vào việc thu thập dữ liệu sơ cấp và việc soạn thảo và xử lý dữ liệu thứ cấp. [31] Báo cáo chính sách lương thực toàn cầu là một trong những ấn phẩm hàng đầu của IFPRI của. Nó cung cấp một cái nhìn sâu sắc vào sự phát triển chính sách lương thực chủ yếu và các sự kiện. Đáp lại sự quan tâm quốc tế về thực phẩm và dinh dưỡng an toàn và bền vững, báo cáo thường niên này cung cấp một cái nhìn tổng quan về sự phát triển chính sách thực phẩm đã đóng góp vào hoặc cản trở sự tiến bộ trong thực phẩm và dinh dưỡng, an ninh. Nó đánh giá những gì đã xảy ra trong chính sách lương thực và lý do tại sao, xem xét những thách thức và cơ hội chính, cổ phiếu chứng cứ và kiến ​​thức mới, cập nhật chỉ số chính sách lương thực chính, và nổi bật các vấn đề đang nổi lên. [32] Năm 1993 IFPRI giới thiệu Tầm nhìn 2020 Initiative, [33] mà nhằm phối hợp và hỗ trợ một cuộc tranh luận giữa các chính phủ, các tổ chức phi chính phủ, khu vực tư nhân, các tổ chức phát triển quốc tế, và các yếu tố khác của xã hội dân sự để đạt được an ninh lương thực cho tất cả vào năm 2020. Đến năm 2006 IFPRI sản xuất Chỉ số đói nghèo toàn cầu (GHI) [34] hàng năm đo lường sự tiến bộ và sự thất bại của từng quốc gia và vùng lãnh thổ trong cuộc chiến chống đói nghèo. GHI là sự hợp tác của IFPRI, các Welthungerhilfe, Concern Worldwide. [35] IFPRI đã sản xuất Chỉ số đói nghèo liên quan đối với các nước Ấn Độ (ISHI) [36] (2008) và Tiểu Quốc Chỉ số đói nghèo cho Ethiopia [37] (2009). == Cơ cấu tổ chức == IFPRI được tạo thành từ các văn phòng của Tổng giám đốc, [ 38 ] Đông và Nam Phi Office, [ 39 ] Nam Văn phòng khu vực châu Á, [ 40 ] Tây và Trung Phi Office, [ 41 ] Truyền thông & Kiến thức bộ phận quản lý, [ 13 ] sự Tài chính và Hành chính, và 5 nghiên cứu bộ phận: [ 3 ] - Chiến lược phát triển và quản trị [ 27 ] - Công nghệ môi trường và sản xuất [ 14 ] - Thị trường, thương mại, và các tổ chức [ 26 ] - Đói nghèo, y tế, dinh dưỡng và [ 15 ] - Truyền thông & Kiến thức quản lý [ 42 ] - Tài chính và Quản trị - Đối tác, tác động và năng lực Tăng cường [ 43 ] Giám đốc Tổng - Shenggen Fan (2009 -nay) - Joachim von Braun (2002 - 2009) - Mỗi Pinstrup - Andersen (1992 - 2002) - Chỉ cần Faaland (tạm DG, 1990-1992) - John W. Mellor (1977 - 1990) - Dale E. Hathaway (1975 - 1977, thành lập Tổng giám đốc) IFPRI cũng dẫn hai của chương trình nghiên cứu của CGIAR (CRPs): Chính sách, tổ chức, và Thị trường (PIM) và nông nghiệp vì dinh dưỡng và sức khỏe (A4NH). IFPRI tổ chức một số mạng lưới nghiên cứu: - Khoa học nông nghiệp và chỉ số công nghệ (ASTI) - Chương trình CGIAR toàn hệ thống về hành động tập thể và quyền sở hữu (Capri) [ 44 ] Harvest Plus HarvestChoice AGRODEP ReSAKSS == Impact == Các đánh giá nghiên cứu định hướng chính sách đặt ra rất nhiều thách thức bao gồm những khó khăn để xác định tác động của kiến ​​thức và ý tưởng về giảm nghèo và hoặc tăng thu nhập hoặc sự ghi nhận thay đổi về những con số này cho một dự án nghiên cứu hoặc nghiên cứu cụ thể. [ 45] Mặc dù có những thách thức, nghiên cứu tìm thấy rằng nghiên cứu của IFPRI có hiệu ứng lan tỏa cho nghiên cứu cấp quốc gia cụ thể, mà còn trong việc thiết lập chương trình nghị sự chính sách toàn cầu, ví dụ như trong các lĩnh vực đa dạng sinh học (ảnh hưởng đến các Hiệp ước quốc tế về tài nguyên di truyền thực vật) và thương mại (với đối với Vòng đàm phán Doha của đàm phán thương mại). [45] Một ví dụ về tác động IFPRI về xây dựng chính sách là cuộc khủng hoảng giá lương thực 2007-2008 trên thế giới. IFPRI đã có thể nhanh chóng kéo nghiên cứu cùng có liên quan và kiến ​​nghị kết quả của nó đã được bao gồm trong khung toàn diện của Liên Hợp Quốc về hành động về an ninh lương thực. [46] IFPRI dẫn một số các đối tác tham gia mà các bên liên quan khác nhau ảnh hưởng đến chính sách với một tác động về nghèo đói và tình hình lương thực của người nghèo. [47] Mới nhất của các sáng kiến ​​này là Compact2025, một sự hợp tác phát triển và phổ biến các lời khuyên dựa trên bằng chứng để các chính trị gia và các nhà hoạch định khác nhằm chấm dứt nạn đói và suy dinh dưỡng trong 10 năm tới. == Phê bình == CGIAR và các cơ quan của nó, bao gồm cả IFPRI, đã bị chỉ trích vì kết nối của họ cho các chính phủ phương Tây và kinh doanh nông nghiệp đa quốc gia, mặc dù các ấn phẩm nghiên cứu của nó cũng đã được trích dẫn bởi các nhà phê bình của sinh vật biến đổi gen trong nông nghiệp. IFPRI mô tả mình là "không phải là một người ủng hộ cũng không phải là đối thủ của cây trồng biến đổi gen." Ngoài ra, nhiều nguồn tin nhận CGIAR là có hỗ trợ các hộ sản xuất nhỏ và nông dân nghèo Trung ương đến sứ mệnh của mình. == Tham khảo == Farrar, Curtis. 2000. Mười năm đầu tiên của IFPRI. Washington, DC: IFPRI. Văn phòng IFPRI CGIAR Khoa học Thư ký Hội đồng. 2006. Chương trình ngoài thứ tư và Tạp chí Quản lý của Viện nghiên cứu chính sách lương thực quốc tế (IFPRI). Rome, Italy: Hội đồng khoa học CGIAR. Lele, Uma J. 2004. Nghiên cứu chính sách trong CGIAR. Trong CGIAR tại 31: An Independent Meta-Đánh giá của Nhóm Tư vấn Nghiên cứu Nông nghiệp Quốc tế, Chương 11, trang 87-92.. Washington, DC: Ngân hàng Thế giới. IFPRI website Viện Nghiên cứu Chính sách lương thực quốc tế. IFPRI báo cáo. Viện Thực phẩm Quốc tế Nghiên cứu Chính sách (Washington DC), 1976. p. 39. nhu cầu ^ ăn hội họp tại các nước đang phát triển: vị trí và tầm quan trọng của nhiệm vụ trong các thập kỷ tới. Tập 1 của báo cáo nghiên cứu (Food Viện Quốc tế Nghiên cứu Chính sách) Chính sách Lương thực Intl Res Inst, 1976 ISBN 978-0-89629-000-6 Cáo phó: Peter Oram, Guardian (London), 22 tháng 2 năm 2007. Europa thư mục của các tổ chức quốc tế, Tập 9, Europa Ấn Limited, Đại học California (2008) ISBN 978-1-85743-425-5 p. 1949 Michael Barker, "Bill Gates Engineers Một cuộc cách mạng xanh (Phần 3 của 3)", Znet, 08 tháng 8 năm 2008. CGIAR tham gia lấy đất nông nghiệp toàn cầu, tháng 9 năm 2009 GRAIN.org Adelman, Sarah; Daniel Gilligan; Kim Lehrer (2008). Làm thế nào có hiệu quả Are Thực phẩm cho chương trình giáo dục? Một sự đánh giá quan trọng của bằng chứng từ các nước đang phát triển (PDF). Viện nghiên cứu chính sách lương thực quốc tế. Lấy ngày 13 tháng 4 năm 2013. Vyawahare, Malavika. "Có phải người đàn ông vô dụng? (Chính phủ đã Yes) "New York Times: Ấn Độ Ink, ngày 09 tháng 3 năm 2012 http://india.blogs.nytimes.com/2012/03/09/are-men-useless-government-says-yes/ "Phụ nữ, các chính để an ninh lương thực" IFPRI tháng 6 năm 2000 http://www.ifpri.org/sites/default/files/pubs/pubs/ib/ib3.pdf Datt, Gaurav và Jolliffe, Dean "YẾU TỐ QUYẾT ĐỊNH NGHÈO TẠI AI CẬP: 1997" IFPRI http://www.ifpri.org/sites/default/files/publications/dp75.pdf Datt, Guarav. "YẾU TỐ QUYẾT ĐỊNH NGHÈO TẠI MOZAMBIQUE: 1996-1997" IFPRI http://www.ifpri.org/sites/default/files/pubs/divs/fcnd/dp/papers/dp78.pdf Wiebelt, Manfred, et al. "Biến đổi khí hậu và lũ lụt ở Yemen" IFPRI. 2011. www.ifpri.org Beachy, Roger, et al. "Chiến đấu chống đói trong biến đổi khí hậu: Làm thế nào Nông nghiệp có thể ứng phó '' IFPRI, 2011. www.ifpri.org Tekeste, Asayehegn, et al. "Hiệu quả chi phí của các chương trình cho ăn điều trị dựa vào cộng đồng và trong bệnh nhân để điều trị suy dinh dưỡng cấp tính nghiêm trọng ở Ethiopia" Arinaitwe, Emmanuel, et al. "Sự kết hợp giữa suy dinh dưỡng và tỷ lệ mắc bệnh sốt rét ở trẻ em Uganda trẻ nhiễm HIV và -uninfected: một nghiên cứu tiền cứu" IFPRI 2012 www.ifpri.org Smale, Melinda, et al. "Đo lường tác động kinh tế của cây chuyển gen trong phát triển nông nghiệp trong thập kỷ đầu tiên" IFPRI. 2009. www.ifpri.org Chiến lược Phát triển và Quản trị kiến ​​thức, năng lực, và đổi mới của IFPRI http://ebrary.ifpri.org/ http://thedata.harvard.edu/dvn/dv/IFPRI http://www.ifpri.org/book-9464/ourwork/researcharea/global-food-policy-report 2020 Sáng kiến ​​Vision toàn cầu Chỉ số đói nghèo 2009 Hàng triệu Fed: Những thành công đã được chứng minh trong phát triển nông nghiệp Ấn Độ Chỉ số đói nghèo Nhà nước Sub-Quốc Chỉ số đói nghèo cho Ethiopia, IFPRI, 2009 http://www.ifpri.org/book-762/ourwork/division/director-generals-office http://esa.ifpri.info/ http://southasia.ifpri.info/ http://wca.ifpri.info/ "Quản lý Truyền thông & Kiến thức". http://www.ifpri.org/book-7954/ourwork/division/partnership-impact-and-capacity-strengthening-unit http://capri.cgiar.org/ Mitch Renkow và Derek Byerlee. 2010. Những tác động của nghiên cứu CGIAR: Tổng quan các bằng chứng gần đây. Chính sách lương thực. Klaus von Grebmer và Ingeborg Hovland. 2009. Sử dụng "hệ thống nhận thức": một cơ chế đề xuất cho truyền thông theo dõi. Bằng chứng & chính sách: Tạp chí Nghiên cứu, tranh luận và thực tiễn. IFPRI dẫn chương trình và quan hệ đối tác Chính sách Compact2025: Chấm dứt nạn đói và suy dinh dưỡng. 2015. Dự án Giấy. IFPRI: Washington, DC. Lưu ý từ Tổng Giám đốc Công nghệ sinh học và an toàn sinh học chính sách, Balancing Công nghệ sinh học và an toàn sinh học (không có ngày) The Economist. (2-18-2012) "Các câu đố dinh dưỡng: Tại sao có nhiều người ở các nước nghèo ăn rất tệ, và những gì có thể được thực hiện về nó" "Marie Ruel, thuộc Viện Nghiên cứu Chính sách Lương thực Quốc tế ở Washington, DC, ve tắt một số nhiệm vụ: tập trung vào 1.000 ngày đầu tiên của cuộc sống (bao gồm cả thời kỳ mang thai); mở rộng quy mô chương trình mẹ sức khỏe và việc giảng dạy thực hành nuôi dưỡng tốt; tập trung vào người nghèo; đo lường và giám sát các vấn đề. " Trần, Mark. (2011/09/02) "Đầu tư vào chăn có thể giúp chống đông khủng hoảng lương thực châu Phi" The Guardian. "Các ILRI, có trụ sở tại Nairobi, là một người ủng hộ mục súc và khẳng định rằng chăn gia súc ở những vùng khô có ý nghĩa kinh tế tốt hơn so với thủy lợi." The Economist (4-23-2000) "Cắn đạn bạc" "CGIAR... giúp nông dân nghèo" Nhảy lên ^ New nông học (1-2007) "Đương đầu với những thách thức của sự thay đổi" "Các CGIAR có một lịch sử rất lâu dài và thành công của việc cung cấp khoa học nông nghiệp vì lợi ích của người nghèo trên toàn thế giới, và đó vẫn là nhiệm vụ cốt lõi của chúng tôi." New nông học (1-2005) "Các CGIAR: Một cầu đến tương lai" "nông nghiệp nhiệt đới đã được hưởng lợi rất đáng kể từ công việc của CGIAR (Nhóm Tư vấn Nghiên cứu Nông nghiệp Quốc tế)... tác động.the của CGIAR, vì nó sáng lập vào những năm 1970, là một ước tính US $ 9 lợi nhuận trên mỗi US $ 1 có vốn đầu tư ". == Tham khảo ==
xalapa, veracruz.txt
Xalapa là một đô thị thuộc bang Veracruz, México. Năm 2005, dân số của đô thị này là 413136 người. == Khí hậu == == Tham khảo ==
đặc hữu.txt
Đặc hữu là hiện trạng trong sinh thái học khi một sinh vật chỉ sinh sống tự nhiên ở một nơi. Địa điểm đó có phân định địa lý rõ ràng như một hòn đảo, hay một hệ sinh thái. Có hai dạng đặc hữu. "Cố đặc hữu" tức là địa bàn thuở trước rộng lớn nhưng nay thu hẹp lại thì sinh vật đó là cố đặc hữu ở vùng mà nay đã diệt chủng. "Tân đặc hữu" là sự lai giống và thành hình của một loài mới, thường thấy trong các loài thảo mộc. Loài đặc hữu thường hình thành vì tình thế cô lập địa lý như trường hợp những hải đảo lẻ loi. Điển hình là quần đảo Hawaii, Galápagos và Socotra. == Xem thêm == Loài bản địa Loài du nhập Loài xâm lấn == Hình ảnh == == Tham khảo ==
citibank.txt
Citibank là một ngân hàng quốc tế lớn, là công ty con hoạt động trong lĩnh vực tài chính của tập đoàn Citigroups. Citibank được thành lập năm 1812 với tên gọi City Bank of New York, sau đó là First National City Bank of New York. Vào tháng 3 năm 2010, Citigroups là ngân hàng lớn thứ 3 ở Hoa Kỳ theo tổng giá trị tài sản, chỉ sau Bank of America và JPMorgan Chase. == Lịch sử == == Các số liệu lịch sử == == Các chi nhánh Quốc tế == Citibank Algeria Citibank Argentina Citibank Australia Citibank Belgium Citibank Bolivia Citibank Bangladesh Citibank Brazil Citibank (China) Citibank (Colombia) Citibank (Egypt) Citibank (Greece) Citibank (Hong Kong) Citibank Hungary Citibank India Citibank Indonesia Citibank Italy Citibank Japan Citibank Malaysia Citibank Nicaragua Citibank Nigeria Citibank Pakistan Citibank Peru Citibank Philippines Citi Handlowy Citibank Portugal Citibank Romania Citibank Russia Samba (Citibank for Saudi Arabia) Citibank International Personal Bank Singapore/Citibank IPB Singapore Citibank Singapore Citibusiness Singapore Citibank Slovakia Citibank Korea Citibank Spain Citibank Taiwan Citibank Thailand Citibank Trinidad and Tobago Citibank Tunisia Citibank Ukraine Citibank Venezuela Citibank Vietnam == Tham khảo == == Đọc thêm == Wriston: Walter Wriston, Citibank, and the Rise and Fall of American Financial Supremacy. Phillip L. Zweig, New York: Crown, 1996. Citibank, 1812–1970. Harold van B. Cleveland & Thomas F. Huertas (Harvard Business History Studies), Boston: Harvard University Press, 1985. == Liên kết ngoài == Website chính thức
bàn thắng bạc.txt
Năm 2003, UEFA cho ra đời luật bàn thắng bạc. == Nội dung == Sau khi hai đội hòa ở hai hiệp chính, hai đội đá hiệp phụ và khi kết thúc một hiệp phụ (có thể là kết thúc hiệp phụ thứ nhất), đội nào ghi được nhiều bàn thắng hơn sẽ trở thành người thắng cuộc và trận đấu sẽ kết thúc ngay sau hiệp phụ đó. Đạo luật này bớt "tàn nhẫn" hơn bàn thắng vàng, nhưng thức tế nó cũng không nhận được sự ủng hộ của người hâm mộ và giới chuyên gia. Như tại bán kết Euro 2004, Séc đã bị loại bởi Hy Lạp do Hy Lạp ghi bàn vuơn lên vào đúng những giây cuối cùng của hiệp phụ thứ nhất. Vì thế, chỉ sau gần một năm áp dụng, nó cũng đã bị loại bỏ. == Xem thêm == Bàn thắng vàng == Tham khảo ==
erwin rommel.txt
Erwin Johannes Eugen Rommel () (15 tháng 11 năm 1891 – 14 tháng 10 năm 1944) (còn được biết đến với tên Cáo Sa mạc, Wüstenfuchs ), là một trong những vị Thống chế lừng danh nhất của nước Đức trong cuộc Chiến tranh thế giới lần thứ hai. Ông là một trong những bậc thầy vĩ đại về mưu mẹo trong chiến tranh, có lòng quả cảm. Ông phục vụ cho Adolf Hitler, và dù ông là một chiến binh xuất sắc của Đức Quốc xã, nhưng ông không phải là đảng viên của Đảng Quốc xã. Vì tinh thần thượng võ cao đẹp của ông, đến cả người Anh cũng phải bội phục ông, dù ông đã đánh nhau với họ trong nhiều trận đánh quan trọng tại Bắc Phi. Không những thế, cho đến nay người Mỹ vẫn coi ông là một lãnh đạo mẫu mực. Là một Sĩ quan nổi tiếng trong cuộc Chiến tranh thế giới lần thứ nhất, Rommel gặp gỡ lãnh tụ Adolf Hitler lần đầu tiên vào năm 1934. Ông được tặng thưởng huân chương Pour le Mérite vì những chiến công của ông ở mặt trận Ý. Trong Chiến tranh thế giới lần thứ hai, Rommel nổi bật lên trong vai trò chỉ huy của Sư đoàn Ma trong cuộc tấn công Pháp năm 1940 của nước Đức Quốc xã. Tiếp đó, Rommel nắm giữ vai trò chỉ huy liên quân Ý - Đức tại châu Phi, dù phải đối mặt với quân địch đông đảo hơn những nhờ tài nghệ của mình ông đã gặt hái những chiến thắng vẻ vang. Ông đã thực hiện thành công vai trò thống lĩnh Quân đội phe Trục ở Phi châu, đến nỗi nó mang lại cho ông biệt danh Cáo Sa mạc (Wüstenfuchs) và được công nhận rộng rãi là chỉ huy quân sự giỏi nhất ở địa hình sa mạc. Sau đó, ông chỉ huy lực lượng phòng thủ của Đức trong trận Normandie. Erwin Rommel là một chỉ huy hào hiệp và nhân đức, ngược hẳn với hình tượng chung về Phát xít Đức. Quân đoàn châu Phi (Afrikakorps) của ông hoàn toàn không bị cáo buộc bất cứ tội ác chiến tranh nào. Ngoài ra, ông còn nhiều lần cứng rắn từ chối những lệnh yêu cầu ông phải hành quyết lính và người Do Thái bị bắt giữ ở mọi mặt trận mà ông chỉ huy. Dù thế, trong khắp nước Đức Quốc xã thì không người lính nào có oai danh lẫy lừng như ông. Ông trở thành một nhân vật trung tâm trong sử sách quân sự châu Âu hiện đại. Ở cuối cuộc Chiến tranh thế giới lần thứ hai, Rommel tham gia vào phong trào chống đối Adolf Hitler, nhưng phản đối âm mưu mưu sát ông này năm 1944. Vì sự dính dáng của Rommel nhưng đồng thời cũng vì danh tiếng quá lớn của ông, Hitler buộc Rommel phải tự sát thay vì hành quyết ông. Điều này khiến người ta coi ông là một nạn nhân của chế độ Adolf Hitler, là hiện thân của một người Đức tốt. Sau khi mất, Rommel được chôn cất với đầy đủ các nghi thức dành cho chỉ huy quân sự cấp cao, nhưng lý do thực sự cho cái chết của ông là một bí ẩn mãi tới tận khi Tòa án Nürnberg được mở. Cho đến này, cuộc đời và sự nghiệp của ông vẫn luôn là điểm thu hút các học giả quân sự. == Cuộc đời và sự nghiệp thuở ban đầu == Erwin Rommel sinh ra tại Heidenheim an der Brenz, huyện Heidenheim cách Ulm khoảng 50 km, thuộc bang Württemberg (nay là bang Baden-Württemberg), Đế chế Đức. Ông là người con thứ hai của giáo sư Erwin Rommel, hiệu trưởng một trường trung học phổ thông đến hết lớp 10 (tiếng Đức: Progymnasium) theo đạo Tin Lành (Protestant) tại Aalen, với Helene von Luz, con gái của một người có chức sắc tại địa phương. Rommel có một anh trai chế́t sớm tên Manfred, hai em trai Karl và Gerhard, và người chị gái mà ông đặc biệt yêu quý là Helene. Theo lời chị gái kể, khi còn nhỏ, Erwin, một cậu bé tóc bạch kim ốm yếu da dẻ trắng xanh, không thích chơi cũng không thích học, chỉ thích ở gần thiên nhiên. Cậu nhút nhát, tính ngoan ngoãn hay mềm lòng với người nhà đặc biệt là mẹ, nhưng không sợ ai trên đời, khép kín và khó kết bạn (mãi đến già cũng như vậy) nhưng rất cởi mở thân thiện với những người thợ thuyền, lười học nhưng nếu đã thích cái gì thì rất tập trung làm và có kết quả ngay. Ở tuổi 14, Rommel và một người bạn của mình đã làm ra một chiếc tàu lượn có thể bay được, tuy không xa lắm. Lúc trẻ, ông có ý định trở thành một kỹ sư hàng không, thế nhưng cha mẹ ông lại đặt ông trước sự chọn lựa hoặc là trở thành nhà giáo hay là sĩ quan. Ban đầu ông chọn nghề giáo nhưng sau đó bỏ và gia nhập vào trung đoàn bộ binh số 124 của bang Württemberg với chức vụ thiếu sinh quân vào năm 1910 và không lâu sau đó, ông được gửi đến trường Thiếu Sinh Quân tại Danzig. Trong lúc học tại Danzig, đầu năm 1911, Rommel đã gặp người vợ tương lai của mình là Lucie Maria Mollin. Ông tốt nghiệp vào tháng 11 năm 1911 và được phong chức trung úy vào tháng 1 năm 1912. Trước khi kết hôn, Rommel còn có một mối quan hệ khác với một phụ nữ tên Walburga Stemmer vào năm 1912 và mối tình đó đã đem đến cho hai người một người con gái tên Gertrud. Ông viết cho bà nhiều lá thư với giọng điệu lãng mạn, hơi nông nổi, sau này không còn bao giờ thấy trong thư từ sách vở của ông nữa. Gia đình Rommel phản đối gay gắt đặc biệt là mẹ Rommel vì bà cho rằng xuất thân thấp hèn của Stemmer sẽ làm khó cho việc thăng tiến của Rommel. Lúc ấy, Chiến tranh thế giới thứ nhất gần kề, nếu xuất ngũ để kết hôn với Walburga thì có thể bị coi là hèn nhát, các bạn đồng ngũ của Rommel cũng đều khuyên ông chọn sự nghiệp quân sự. Khi chiến tranh nổ ra, Rommel ra trận, dặn chị gái "Nếu em chết thì tất cả tiền bạc trao lại cho Walburg và Trudel tội nghiệp." Nhưng hết chiến tranh, tình yêu không còn nữa, và Rommel đến gặp Lucie thú thật mọi chuyện. Năm 1916, Rommel làm đám cưới với Lucie. Walburga và Gertrud chuyển về sống với hai vợ chồng và được giới thiệu là "em họ và cháu gái." Walburga biết Rommel hết sức yêu thương chiều chuộng Gertrud nên còn hy vọng và đã chờ ông suốt 12 năm, thế nhưng khi biết Lucie đã có mang thì bà tự tử. Tháng 12, năm 1928 con trai của Rommel ra đời và được đặt tên là Manfred – người con này về sau trở thành thị trưởng của Stuttgart từ 1974 đến 1996. === Thế chiến thứ I === Trong cuộc Thế chiến thứ I, Erwin Rommel phục vụ tại các mặt trận Pháp, România và Ý. Là một Sĩ quan trẻ tuổi, ông có hào khí tham chiến lúc cuộc đại chiến bùng nổ vào năm 1914. Ông miêu tả về Trung đoàn của ông như sau: Tổng cộng, ông bị thương ba lần và được phong tặng Huân chương Thập tự Sắt (Iron Cross) cả hạng I và hạng II. Rommel trở thành người trẻ tuổi nhất nhận được huân chương cao nhất của Đế chế Đức, Huân chương Pour le Mérite (huân chương này là một vinh dự có tính cách truyền thống chỉ dành cho các vị tướng). Ông nhận được nó sau các trận đánh tại các dãy núi phía đông bắc nước Ý. Phần thưởng này là kết quả từ trận đánh tại Longarone, và việc chiếm giữ được ngọn núi Matajur (ngọn núi này cao 1.650 mét, từ đây có thể quan sát được vùng biển Adriatic) cùng với 150 sĩ quan, 7.000 lính Ý và 81 cây đại bác (trong trận đánh này, Rommel cùng với 100 quân của mình chống lại lực lượng Ý hơn 7.000 người). Tiểu đoàn của Rommel sử dụng khí ga trong chuỗi trận chiến tại Isonzo và còn giữ vai trò chủ chốt trong chiến thắng quyết định của Liên minh Trung tâm trước quân Ý trong trận Caporetto (địa điểm trận đánh ngày nay là Kobarid thuộc Slovenia). Trong khi chiến đấu tại Isonzo, Rommel bị lực lượng Ý bắt giữ nhưng trốn thoát về lại Đức hai tuần sau đó. === Giữa hai thế chiến === Rommel là một trong những sĩ quan có khả năng được đưa lên vị trí cao hơn, Thế nhưng, ông tìm cách từ chối một vị trí trong Truppenamt (tổ chức thay thế cho Bộ Tổng tham mưu quân đội Đức, tổ chức mà Đức không được có theo Hiệp ước Versailles)--con đường để vươn lên cấp chỉ huy cao hơn. Thay vào đó, ông lựa chọn để trở thành một sĩ quan ở tiền tuyến.. Sau Thế chiến thứ I, Rommel nắm giữ một chức chỉ huy cấp tiểu đoàn và là giảng viên tại trường bộ binh Dresden từ 1929 đến 1933, và tại Học viện Chiến tranh Potsdam từ 1935 đến 1937. Năm 1934, quyển "Gefechts-Aufgaben für Zug und Kompanie: Ein Handb. f. d. Offizierunterrich" (Bài tập dành cho Trung đội và Đại đội: Một sách hướng dẫn dành cho sĩ quan huấn luyện). Quyển sách này được in tới tận năm 1945 với 5 bản in có điều chỉnh và thay đổi tựa. Từ năm 1935 tới 1938, Rommel làm một công việc chỉ huy tại Học viện Chiến tranh Potsdam. Các quyển nhật ký chiến tranh của Rommel, "Những cuộc Tấn công bằng Bộ binh" (tiếng Đức: Infanterie greift an), xuất bản năm 1937, đã trở thành cuốn sách giáo khoa quân sự được đánh giá cao, và cũng thu hút được sự chú ý của Adolf Hitler. Từ đó, Hitler đã lần lượt giao cho Rommel vị trí thuộc bộ Chiến tranh Đức, chủ yếu là các công việc có liên quan tới tổ chức Đoàn Thanh niên Hitler (tiếng Đức: Hitler Jugend); các vị trí đứng đầu lĩnh vực Thể thao Quân đội. Năm 1937, Rommel tổ chức một loạt chuyến viếng thăm đến các cuộc mít-tinh và nơi đóng trại của Hitler Jugend. Nơi ông tổ chức các buổi giảng dạy quân sự, kiểm tra cơ sở hạ tầng và dự giờ các buổi giảng. Đồng thời, Rommel còn gây áp lực lên Baldur von Schirach, chỉ huy lúc đó của Hitler Jugend, để ông này chấp nhận sự có mặt nhiều hơn của quân đội trong việc huấn luyện Hitler Jugend. Schirach coi đó là một nỗ lực nhằm mục đích biến Hitler Jugend thành một lực lượng hậu cần cho quân đội Đức. Vì thế, Schirach từ chối mọi đề nghị của Rommel, đồng thời ông này còn trở nên không ưa Rommel, có vẻ là do sự ghen tỵ đối với ảnh hưởng của Rommel trong Hitler Jugend. Cuối cùng thì một thỏa thuận hợp tác giữa Hitler Jugend và quân đội Đức cũng hình thành, nhưng nội dung điều khoản thì chỉ cho phép quân đội tổ chức huấn luyện trong Trường dạy Bắn Súng của Hitler Jugend, ít hơn những gì Rommel mong muốn. Tới trước 1939, Hitler Jugend nhận được khoảng 20.000 sĩ quan huấn luyện bắn súng. Trong thời gian này, Rommel vẫn tiếp tục giảng dạy ở Potsdam, công việc đã mang lại cho ông nhiều phần thưởng của quân đội vì thành tích xuất sắc của mình. Năm 1938, lúc này Rommel đã là đại tá, ông được chỉ định là chỉ huy của Học viện Chiến tranh tại Wiener Neustadt. Tại đây, Rommel bắt đầu viết cuốn sách có tựa đề "Xe Tăng trong các cuộc Tấn công" (tiếng Đức: Panzer greift an). Không lâu sau đó, Rommel lại được thuyên chuyển và giao quyền chỉ huy Tiểu đoàn Bảo vệ Quốc trưởng (tiếng Đức: Führer-Begleitbattalion) để bảo vệ Hitler trong cuộc thăm viếng của ông này đến Nam Tư và vùng Mermel thuộc Litva. Thời gian này chính là thời gian ông đã gặp Joseph Goebbels, khi này là Bộ trưởng Bộ tuyên truyền Đức. Goebbels về sau trở nên hâm mộ Rommel một cách nhiệt thành và ông này giữ một vai trò quan trọng trong việc làm cho truyền thông Đức luôn đưa tin về các chiến công của Rommel. == Thế chiến thứ II == === Ba Lan 1939 === Vào mùa thu năm 1938, Hitler chọn Rommel chịu trách nhiệm đơn vị lính Đức bảo vệ ông ta trong các chuyến viếng thăm Tiệp Khắc sau khi đã xâm chiếm nước đó. Trước khi cuộc xâm lược Ba Lan xảy ra, ông được thăng hàm thiếu tướng và chỉ huy trưởng của Tiểu đoàn Bảo vệ Quốc trưởng, chịu trách nhiệm về sự an toàn cho các sở chỉ huy di động của Hitler trong suốt chiến dịch này. === Pháp 1940 === ==== Chỉ huy tăng thiết giáp ==== Khoảng năm 1940, Rommel xin Hitler để được chỉ huy một sư đoàn tăng thiết giáp mặc dù trước đó Rommel không hề có kinh nghiệm trong việc chỉ huy loại hình quân này. Vào ngày 6 tháng 2 năm 1940, khoảng hai tháng trước cuộc tấn công Pháp diễn ra, Rommel được giao chỉ huy Sư đoàn Thiết giáp số 7 sẽ được tham gia trong kế hoạch Trường hợp Vàng (Fall Gelb), trong cuộc tấn công nước Pháp và các nước vùng Hà Lan và xung quanh Hà Lan. Sự thăng chức nhanh quá mức này đã khiến một số sĩ quan đồng cấp với Rommel nổi giận. Một Tướng quản lý về Nhân sự của Quân đội Đức trước đó đã từ chối yêu cầu của Rommel dựa trên cơ sở rằng Rommel không có bất cứ kinh nghiệm vào trong việc chỉ huy tăng thiết giáp, thay vào đó ông này đề nghị Rommel chỉ huy một sư đoàn bộ binh chuyên đánh vùng núi khi đó còn thiếu chỉ huy. Thế nhưng, Rommel tuy thích việc sử dụng bộ binh can thiệp nhanh nhưng sau đó lại nhận ra lợi ích của thiết giáp ở mặt trận Ba Lan. Ông bắt đầu tự tập làm quen và học tập kỹ năng chiến đấu tăng thiết giáp một cách rất nhanh chóng và đầy nhiệt tình. ==== Tấn công nước Pháp ==== Vào ngày 10 tháng 5 năm 1940; một bộ phận của Quân đoàn 15 của quân đội Đức dưới sự chỉ huy của tướng Hermann Hoth tiến vào Bỉ để tiến lên vùng sông Meuse gần vùng đô thị Wallonia của Dinant. Ở bờ sông Meuse, Sư đoàn thiết giáp số 7 của Rommel bị giam chân bởi cầu đường bị phá hủy cũng như hỏa lực từ phía quân Bỉ phòng thủ. Quân Đức lúc này thiếu lựu đạn khói nên Rommel, lúc này là toàn quyền chỉ huy cuộc vượt sông, ra lệnh đốt một vài ngôi nhà ven sông để che mắt quân Bỉ. Các đơn vị Panzergrenadier sau đó vượt sông bằng thuyền cao su, và Rommel thì chỉ huy đợt thứ hai. Sư đoàn của Rommel tiến sâu hơn vào đất quân Bỉ và cách xa các đơn vị quân Đức khác. Kiểu tiến quân của Rommel là liều lĩnh dùng một lực lượng cơ động mạnh (chủ yếu là lực lượng tăng thiết giáp) đánh thẳng vào một điểm trên phòng tuyến đối phương rồi tiến tới luôn, chấp nhận mạo hiểm khi để hai bên sườn hoàn toàn trống trải, cách tấn công này chủ yếu dựa trên việc đánh vào tinh thần của binh lính đối phương, khiến họ không dám tấn công và làm tan rã ý chí chiến đấu của họ. Khi gặp kháng cự, Rommel sẽ đơn giản là ra lệnh cho xe tăng nhắm vào một điểm mà tiến tới, ra lệnh cho toàn bộ hỏa lực triển khai, dựa chủ yếu vào tính bất ngờ của cuộc tấn công để làm cho tinh thần binh lính đối phương tan rã và sau đó họ đầu hàng. Kiểu đánh này bù đắp được điểm yếu của xe tăng Đức là có thiết giáp giới hạn và cỡ nòng pháo thấp, và nó còn thường làm cho một nhóm lớn tăng hạng nặng đối phương đang dàn quân ra phải đầu hàng. Thêm vào đó, nó sẽ giúp giảm số quân tử trận cho hai bên sườn của phe tiến công vì tránh được kiểu đánh dàn trải nhưng đồng thời cũng gây nhiều rủi ro. Có một lần sư đoàn của Rommel dựa theo cách đánh này, vội vã khai hỏa tối đa vào một đoàn xe vận chuyển của Pháp để rồi sau đó nhận ra rằng người Pháp dùng nhóm xe này để làm bẫy "chuông báo động" từ xa. ==== Trận Arras ==== Khoảng này 18 tháng 5, Quân đoàn quân Đức chính chiếm được Cambari nhưng từ đó thông tin về hướng tiến quân của Rommel được phát về một cách rất ít ỏi. Có lúc, Bộ Tham mưu của Đức ở mặt trận này, khi đó đang chỉ huy một phần quân đoàn đóng ở Bỉ, không nhận được bất cứ liên lạc vô tuyến nào từ Rommel, liền ghi lại rằng nhóm quân của Rommel đã bị tiêu diệt và dừng việc tiếp vận nhiên liệu cho nhóm quân này. Lệnh này về sau gây tranh cãi lớn; Rommel thì giận dữ và buộc tội một phần trong nhóm sĩ quan quân nhu của mình là bất cẩn còn Bộ Tham mưu của Đức thì chỉ trích Rommel vì tốc độ tiến quân của ông làm cho chỉ huy không bắt kịp. Vào ngày 20 tháng 5, nhóm quân của Rommel tiến tới thành phố Arras. Ở đây ông muốn ngăn cách Lực lượng Viễn chinh Anh khỏi bờ biển và ông ra lệnh cho Hans von Luck, lúc này đang chỉ huy một tiểu đoàn trinh sát của sư đoàn, tìm cách mở đường vượt qua nhóm kênh La Bassée gần thành phố này. Được hỗ trợ bởi các máy bay tiêm kích ném bom Junkers Ju 87, nhóm quân của Hans von Luck mở được đường tiến qua sông. Quân Anh phản công (trận Arras) vào ngày 21 tháng 5 với xe tăng Matilda Mk I. Quân Đức nhận ra rằng súng 35 ly họ dùng vô dụng trước giáp tăng của quân Anh. Một khẩu đội súng 88 ly được đưa ra để chống xe tăng Anh và đích thân Rommel chỉ huy khẩu đội này. Kết quả là quân Anh-Pháp phải từ bỏ kế hoạch vượt sông. Sau trận Arras, Hitler ra lệnh cho các đơn vị thiết giáp chuyển về trạng thái phòng thủ, cũng lúc đó thì người Anh, thực thi theo chiến dịch Dynamo, rút số quân của họ ra khỏi Dunkirk và Sư đoàn Thiết giáp số 7 của Rommel có được một khoảng thời gian cần thiết để nghỉ ngơi. Vào ngày 26 tháng 5, Sư đoàn Thiết giáp số 7 quân Đức tiếp tục tiến quân và nó tiến sát Lille trong ngày 27 tháng 5. Để tấn công thị trấn này, Rommel được giao thêm một sư đoàn tăng nữa, Sư đoàn Thiết giáp 5; việc này làm cho một tướng khác là Max von Hartlieb có cảm giác khó chịu. Cùng ngày, Rommel nhận được tin mình được tặng thưởng huân chương Chữ thập Hiệp sĩ của chữ Thập Sắt; Rommel trở thành Sư trưởng đầu tiên được tặng thưởng trong chiến dịch này. Giải thưởng này đã giúp cho Rommel đảm bảo được vị trí của mình trước Hitler cũng như làm cho các sĩ quan đồng cấp khác chỉ trích là Hitler có quan hệ quá gần gũi với Rommel. Họ tin rằng đây là bằng chứng khác cho thấy Hitler có vẻ ưu tiên Rommel. Vào ngày 28 tháng 5, khi đang tổng tiến quân vào Lille, và lại ở xa nhóm quân Đức gần nhất, sư đoàn thiết giáp số 7 đụng phải một trận pháo dữ dội của quân Pháp. Rommel thúc quân tiến lên, chiếm được Lille, vây được một nửa của Quân đoàn thứ Nhất (Ire Armée) của Pháp và không cho họ lùi về Dunkirk. Sau trận này quân của Rommel lại có thời gian nghỉ ngơi. ==== Bờ biển Manche ==== Quân của Rommel tiếp tục tiến quân vào ngày 6 tháng 6 với ý định chiếm vùng quanh sông Seine và đảm bảo an toàn cho các cây cầu gần thành phố Rouen. Nhóm quân này tiến hơn 100 km trong hai ngày nhưng đến nơi thì toàn bộ cầu đã bị phá hết. Ngày 10 tháng 6, Rommel đến được bờ biển gần Dieppe, gửi tin nhắn "Tôi đang ở bờ biển" về bộ chỉ huy. Ngày 15 tháng 6, Sư đoàn Thiết giáp 7 bắt đầu tiến về Cherbourg. Tới ngày 17 thì tiến được 35 km và tới ngày 18 thì chiếm được thị xã này. Sau đó, Sư đoàn tiếp tục tiến về Bordeaux nhưng phải dừng lại khi một lệnh đình chiến ngắn được ký kết vào ngày 21 tháng 6. Vào tháng 7, Sư đoàn của Rommel được điều đến Paris nhằm chuẩn bị cho chiến dịch Sư tử biển, chiến dịch tấn công Anh quốc của phát xít Đức. Sự chuẩn bị này là nửa vời bởi vì quân Đức ngày càng nhận ra rằng họ không thể cân bằng về lực lượng không quân với quân đội Anh. ==== Sư đoàn Ma ==== Sư đoàn thiết giáp số 7, sau này được đổi tên thành Sư đoàn Ma (tiếng Đức: Gespenster-Division) do tốc độ và tính bất ngờ khi nó làm những nhiệm vụ được giao; thậm chí đến mức có lúc Bộ Chỉ huy Tối cao của quân Đức đã mất liên lạc với nó và không biết nó nằm ở đâu. Rommel nhận được cả lời tán dương lẫn chỉ trích cho kiểu đánh của mình. Một số chỉ huy như tướng Georg Stumme, người trước đó chỉ huy Sư đoàn Thiết giáp 7 thì ấn tượng mạnh bởi tốc độ và sự thành công của Rommel nhưng một số khác, một vài người vì ghen tị, thì nghĩ ngược lại và chỉ trích rằng chiến thuật Rommel ẩn chứa nhiều nguy cơ không cần thiết. Hermann Hoth, ngoài mặt thì ca ngợi Rommel nhưng sau lưng thì chỉ trích. Trong một báo cáo mật, Hoth ghi rằng không nên giao cho Rommel chỉ huy sư đoàn nào nữa cho tới khi Rommel có thêm nhiều kinh nghiệm và khả năng phán đoán. Hoth còn cáo buộc rằng Rommel không muốn thừa nhận đóng góp của người khác trong những chiến thắng của ông. Chỉ huy Quân đoàn thứ tư của quân đội Đức, tướng Günther von Kluge, còn chỉ trích Rommel là tự nhận một cách sai trái toàn bộ vinh quang trong những chiến thắng của ông. Kluge cảm thấy rằng Rommel không thừa nhận đóng góp của Không quân Đức (Luftwaffe) và chiến ký của Rommel về thời gian ông ở Pháp thì ghi sai về hướng tiến quân của các đơn vị chiến đấu cũng để chiếm hết công về mình. Kluge còn dẫn ra lời phàn nàn của tướng Hartlieb là Rommel đã lạm dụng dụng cụ xây cầu của Sư đoàn Thiết giáp số 5 vào ngày 14 tháng 5 khi dụng cụ của Sư đoàn Thiết giáp số 7 đã hết; việc làm này khiến cho Sư đoàn Thiết giáp 5 vượt sông bị chậm nhiều giờ. Sau đó Rommel lại lặp lại điều này trong cuộc vượt sông Scarpe ngày 27 tháng 5. === Bắc Phi 1941-1943 === Phần thưởng tiếp theo mà Rommel nhận được cho những thành công của mình là ông được thăng cấp và được chỉ định trở thành chỉ huy của Sư đoàn Tia chớp số 5 của quân đội Đức (về sau trở thành Sư đoàn Thiết giáp số 21, sư đoàn này cùng với Sư đoàn Thiết giáp số 15 tạo nên Quân đoàn châu Phi Deutsches Afrikakorps,()). Quân đoàn này được gửi đến Lybia đầu năm 1941 trong chiến dịch Sonnenblume để hộ trợ quân Ý đang mất tinh thần vì những thiệt hại do liên quân Thịnh Vượng chung gây ra trong chiến dịch Compass. Ở Châu phi, Rommel giành được danh tiếng cao nhất của mình trong lãnh vực quân sự. ==== Đợt tấn công thứ nhất của phe Trục ==== Vào ngày 6 tháng 2 năm 1941, Rommel được lệnh chỉ huy quân đoàn châu Phi tiến về Libya để giúp quân Ý đang đã bị đánh lui trong chiến dịch Compass của liên quân khối Thịnh Vượng chung dưới sự chỉ huy của thiếu tướng Richard O'Connor vào khoảng tháng 11 năm 1940. Bộ Tổng chỉ huy phe Trục ban đầu thì ra lệnh nghi binh phòng thủ nhưng về sau lại tổ chức những đợt tấn công nhỏ trong tháng 5 vào Agedabia và Benghazi, và lên kế hoạch giữ vững phòng tuyến ở giữa các thành phố trên. Rommel phàn nàn rằng những kiểu tấn công nhỏ như thế sẽ vô dụng vì toàn bộ Cyrenaica sẽ bị chiếm nếu phe Trục phải phải tìm cách giữ tiền tuyến. Ngoài ra, lực lượng của phe Trục phải nhận thêm 7000 lính Ý vốn đã bị mất tinh thần do việc vào 3 tháng trước đó O'Connor's đã bắt giữ được 130.000 lính và 400 xe tăng của quân đoàn Ý ở Bắc Phi. Vào 24 tháng 3 năm 1941, Rommel mở một đợt tấn công nhỏ với Sư đoàn Tia chớp số 5 và 2 sư đoàn bộ binh Ý hỗ trợ. Đợt tấn công này là một đợt nhỏ trước khi quân Rommel được tăng cường thêm bởi Sư đoàn Thiết giáp số 15 vào tháng 5. Quân Anh, vốn đã bị suy yếu vì phải chia quân gửi sang tham chiến tại mặt trận Hy lạp, lùi về Mersa el Brega để bắt đầu xây dựng phòng tuyến. Rommel quyết định tiếp tục tấn công một lần nữa để ngăn chặn quân Anh củng cổ phòng tuyến này. Sau một ngày đụng độ quyết liệt, quân Đức chiếm ưu thế và Rommel tiếp tục tiến quân bất chấp lệnh phải hoãn tấn công vào Agedabia cho đến tháng 5. Tổng tư lệnh Anh ở Trung Đông, tướng Archibald Wavell, đánh giá quá cao sức mạnh của liên quân phe Trục và cộng thêm nỗi lo ngại về vấn đề thời tiết mùa đông, liền ra lệnh rút quân khỏi Benghazi để tránh việc bị đợt tấn công của Rommel chia cắt. Rommel, thấy được sự miễn cưỡng của người Anh trong một trận đánh quyết định, liền đưa ra một quyến định liều lĩnh: chiếm đóng toàn bộ Cyrenaica chỉ với lực lượng được trang bị nhẹ. Ông ra lệnh cho Sư đoàn Thiết giáp Ariete của quân Ý truy đuổi số quân Anh đang rút đi, cùng lúc cho Sư đoàn Tia chớp số 5 của quân Đức liền tiến vào Benghazi. Chỉ huy Sư đoàn Tia chớp số 5, thiếu tướng Johannes Streich, phản đối lệnh với lý do rằng hình trạng trang thiết bị của Sư đoàn hiện tại không thích hợp để hành quân. Thế nhưng, Rommel bỏ ngoài tai lời phải đối này, ông nói "không thể để dịp may hiếm hoi trôi đi chỉ vì những chuyện vặt vãnh". Cùng lúc đó, Tổng Tư lệnh quân Ý là tướng Italo Gariboldi liên tục tìm cách hoãn cuộc tiến quân của Rommel nhưng ông này không thể liên lạc được với Rommel. Sau khi chiếm được Benghazi, phe trục tiếp tục chiếm thêm khu vực Cyrenaica tới tận Gazala vào 8 tháng 4. Việc làm này của Rommel nhận được sự chỉ trích dữ dội từ phía Bộ Tổng chỉ huy quân Ý vì họ cảm thấy Rommel đã bất tuân thượng lệnh. Điều này càng đặc biệt khi mà Rommel đáng lẽ phải tuân theo lệnh của phía Ý. Sau đó, Rommel còn nhận được lệnh từ phía Bộ Chỉ huy Tối cao quân Đức rằng ông không được vượt qua khỏi Maradah, nhưng một lần nữa Rommel lại bỏ ngoài tai lệnh này cũng như mọi lời phản đối khác từ thuộc tướng của mình. Rommel tin rằng thời điểm đó là một cơ hội lớn lao để tiêu diệt một lượng lớn quân Đồng minh ở Bắc phi và chiếm giữ Ai Cập. Sau đó, Rommel quyết định tiếp tục gây sức ép lên quân Anh đang rút lui và mở một đợt tấn công cánh vào cảng Tobruk. Trong đợt tấn công này, quân của Rommel bắt được Tổng chỉ huy quân sự của quân Đồng Minh tại khu vực Cyrenaica là Trung tướng Philip Neame và cả Richard O'Connor, khi này là thuộc tướng của Neame. Trong thời gian quân Ý đang tấn công dọc theo bờ biển, Rommel quyến định tiến lên phía bắc và tấn công khu cảng từ phía Đông Nam với Sư đoàn Tia chớp số 5 với mục tiêu rằng sẽ vây được số lớn quân Anh đang đóng tại đó. Đợt tấn công này thất bại vì các lý do về hậu cần cũng như quân Đức không đảm bảo được đường tiếp vận; đồng thời quân của Rommel cũng nhiều lần bị đột kích bởi số quân Anh đóng tại Tobruk. Ngày 11 tháng 4, vòng vây quanh Tobruk đã được thiết lập và liên quân phe Trục mở đợt tấn công đầu tiên vào thành phố. Còn các lực lượng còn lại của phe Trục tiếp tục đông tiến và đẩy lui toàn bộ quân Đồng minh ra khỏi Libya vào ngày 15 tháng 4. ==== Cuộc vây hãm Tobruk ==== Cảng quan trọng Tobruk, mặc dầu đã bị bao vây, vẫn nằm trong tay các lực lượng Đồng Minh dưới sự chỉ huy của viên tướng người Úc, Leslie Morshead. Phe phòng thủ bao gồm Sư đoàn số 9 của quân Úc và toàn bộ số lính Anh đã rút kịp về Tobruk, tổng cộng là 25.000 quân. Rommel vội vàng muốn có được chiến thắng một nhanh nhất, ông liên tiếp mở các đợt tấn công nhỏ vào cảng. Những đợt tấn công kiểu trên dễ dàng bị đánh bật. Rommel sau đó còn chỉ trích Bộ Chỉ huy Tối cao quân Ý là đã không thể cung cấp cho ông sơ đờ bố phòng của cảng (cảng này do người Ý xây dựng trước cuộc chiến). Điều này xảy ra là do quân của Rommel tiến quá nhanh so với dự kiến khiến cho quân Ý hầu như không có thời gian để đưa ra sơ đồ mà Rommel yêu cầu. Về giai đoạn này, tướng Heinrich Kirchheim, về sau là chỉ huy của Sư đoàn Tia chớp số 5 kể lại: "Một điều tôi không muốn nhớ lại là trong thời gian đó có quá nhiều máu đã đổ vô ích." Sau đó trong cuộc chiến, Kirchheim đã chống lại việc mở các tấn công khác vào Tobruk do thiệt hại ở các đợt đầu là quá cao. Rommel vẫn giữ suy nghĩ rằng chiến thắng sắp xảy ra. Trong nhật ký của mình, ông ghi lại rằng ông đã nhận ra từ trước rằng phe địch (chỉ quân Đồng minh) chắc chắc là sẽ bỏ Tobruk, thế nhưng chính bản thân ông cũng nghi ngờ điều này. Trong một bức thư gửi vợ ngày 16 tháng 4 cùng năm, ông ghi rằng quân Đồng minh đang rút khỏi Tobruk bằng đường biển và ông tự tin rằng quân Đồng minh sẽ không cố giữ khu cảng cho đến hết tháng 4. Nhưng sự thật là các chuyến tàu đến cảng Tobruk không phải là để di tản mà là để tiếp vận quân nhu và cả viện binh. Một bức thư khác của Rommel, viết vào ngày 21 tháng 4, kể lại rằng Rommel bắt đầu nhận ra rằng thời gian chờ người Ý cung cấp sơ đồ bố phòng của Toburk lại càng làm cho binh sĩ giảm tinh thần thêm nữa. Nhưng dù như thế nào, Rommel vẫn tiếp tục tin rằng việc chiếm được Toburk chỉ là một sớm một chiều. Đồng thời, mối quan hệ giữ Rommel với các thuộc tướng cũng trở nên xấu chưa từng thấy. Đặc biệt là với Streich người đã công khai chỉ trích các quyết định của Rommel và sau đó ông này còn từ chối mọi trách nhiệm về các trận đánh. Rommel bắt đầu mở một loạt các phiên tòa quân đội, nhưng rốt cục ông hầu như không ký quyết định kết án nào cả. Tình trạng này làm cho đích thân Tổng tư lệnh Walther von Brauchitsch viết thư cho Rommel nói rằng ông thay vì tiếp tục đe dọa và đòi thay những sĩ quan "cho tới nay đã cống hiến xuất sắc trong các trận đánh", Rommel nên có "một cuộc tranh cãi bình tĩnh và có tính xây dựng" thì "kết quả đem lại" sẽ "tốt hơn". Rommel vẫn tiếp tục án binh bất động. Đến lúc này, Rommel yêu cầu Bộ Tổng tư lệnh Tối cao quân Đức cho ông thêm quân để có thể mở thêm các đợt công kích. Thế nhưng, vì Đức có nhu cầu quân cho chiến dịch Barbarossa ở Đông Âu, yêu cầu của Rommel bị từ chối. Tham mưu trưởng quân đội Đức Franz Halder, trước khi ông này rời khỏi Phi châu, nói với Rommel rằng quân đội sẽ không thể lo về mặt hậu cần cho một số quân lớn thì Rommel trả lời lại "đó là chuyện của ông". Sau đó Halder mỉa mai nhận xét: "bây giờ thì hắn (Rommel) cũng phải miễn cưỡng mà tuyên bố rằng lực lượng của hắn chẳng mạnh đến nổi để mà ông ta có thể dùng chúng để mà tận dụng các 'cơ hội độc nhất' mà tình thế chung đem lại. Đó là cảm giác mà chúng ta có ở hầu hết thời gian mà chúng ta ở đây". Đồng thời, Halder vì nổi giận với Rommel do lệnh cấm vượt qua Maradah của mình bị Rommel bất tuân và thiệt hại của quân Đức quá lớn, nên ông này cử Friedrich Paulus để "chặn thằng lính hoàn toàn mất trí ấy". Khi mới đến nơi vào ngày 27 tháng 4, Paulus lại bị thuyết phục để cho phép Rommel mở một đợt tấn công khác. Về sau khi ở thủ đô Berlin, Halder viết "theo quan điểm của tôi, điều đó là một sai lầm" nhưng ông này vẫn biện hộ cho Paulus. Đợt tấn công ngày 4 tháng 5 về sau bị Paublus bắt hoãn vì ông này cho rằng nó sẽ trở thành một thảm họa. Thêm vào đó, Paublus cấm Rommel dùng quân để tấn công thêm nữa và ra lệnh hoãn toàn bộ các đợt tấn công khác cho tới khi toàn bộ lực lượng được tái tổ chức và có chỉ đạo từ Bộ tổng tư lệnh tối cao quân Đức. Tham mưu trưởng của quân Đồng Minh tại đây, tướng Archibald Wavell đã cố gắng thực hiện hai cuộc tấn công nhằm giải vây cho Tobruk, chiến dịch Brevity và Battleaxe, nhưng đều thất bại. Sau thất bại đáng kể của chiến dịch Battleaxe, Wavell đã được thay thể bằng viên tổng tư lệnh gốc Ấn Độ, tướng Claude Auchinleck. Auchinleck đã mở một trận tấn công lớn để giải vây cho Tobruk, chiến dịch Crusader, và cuối cùng đã thành công. Đã có một lần Rommel đến một bệnh viện cho binh lính New Zealand – hãy còn trong vùng kiểm soát của Anh. "Ông đã hỏi thăm về nhu cầu của bệnh nhân, hứa sẽ cung cấp thuốc của Anh và ra đi không bị ngăn trở." Chiến dịch Crusader là một thất bại cho Rommel. Vài tuần sau trận đánh, Rommel đã hạ lệnh rút lui tất cả các lực lượng của mình đang đóng tại các khu vực xung quanh Tobruk (7 tháng 12, 1941) và triệt thoái về El Agheila. Quân Anh đã đuổi theo, cố gắng tiêu diệt toán quân Đức đang rút lui như họ đã làm vào năm 1940, thế nhưng Rommel đã tung ra một đợt phản công vào ngày 20 tháng 1 năm 1942 và giáng một đòn chí mạng vào quân Anh. Tập đoàn quân Bắc Phi tái chiếm Benghazi, quân Anh phải lui về khu vực Tobruk và bắt đầu xây dựng các vị trí phòng thủ. Đầu mùa hè năm 1942 (24 tháng 5, 1942), đội quân của Rommel tấn công. Theo cách đánh chớp nhoáng (blitzkrieg) kinh điển, đội quân của ông đã thọc vào sườn quân Anh tại Gazala. Song, quân Pháp vẫn ngoan cố kháng cự lại các đợt tấn công của người Đức trong trận Bir Hakeim. Tuy nhiên, Rommel cùng các chiến sĩ của ông đã triệt hạ được Bir Hakeim, buộc quân thù phải lui binh khỏi điểm phòng ngự kiên cố này. Như vậy là dù có sai sót trong việc chỉ huy nhưng vị Thống chế đaị tài cùng các binh sĩ tinh nhuệ đã lập nên những chiến công hiển hách, đẩy quân địch - dù đông đảo hơn quân của ông - vào thế yếu. Quân Đức thắng thế, buộc quân Anh rút lui một cách nhanh chóng, nên được gọi là "Cú phi nước đại Gazala", để tránh bị tiêu diệt hoàn toàn. Tobruk giờ đây bị cô lập và chỉ còn một mình, nằm giữa Tập đoàn quân Bắc Phi và Ai Cập. Vào ngày 21 tháng 6 năm 1942, sau một trận tấn công phối hợp nhanh, mạnh mẽ và có tính kết hợp của quân Đức, thành phố đã bị bao vây cùng với 33.000 quân lính. Gần một năm sau thất bại tại Singapore, quân Anh và lực lượng trong Khối Thịnh vượng chung Anh mới bị tổn thất thê thảm như vậy. Các lực lượng Đồng Minh đã hoàn toàn bị đánh bại. Vài tuần sau đó, họ phải rút lui ra xa khỏi Ai Cập. Cuộc tấn công của Rommel cuối cùng phải dừng lại tại đường ray của một thị trấn nhỏ ở El Alamein (Ai Cập), chỉ cách Alexandria 60 dặm. Trong trận chiến El Alamein lần thứ nhất, quân của Rommel thất bại do những vấn đề về nguồn tiếp tế vũ khí, lương thực do một chiến dịch nhằm cắt đứt các tuyến đường vận chuyển của quân Đức mang tên Ultra được Không quân và Hải quân Hoàng gia Anh (Royal Air Force và Royal Navy) thực hiện và những chiến thuật được cải tiến của quân Anh. Người Anh rất gần với nguồn tiếp tế và có được những người lính mới, khỏe mạnh để tăng cường cho các vị trí đóng quân của họ. Chiến thuật của Auchinleck là tiếp tục tấn công vào các lực lượng Ý yếu kém để giành thế chủ động về phía mình. Rommel, một lần nữa cố gắng bẻ gãy phòng tuyến của quân Anh bằng trận đánh tại Alam Halfa. Ông đã hoàn toàn bị cầm chân lại bởi vị chỉ huy mới đến của quân Đồng Minh, Trung tướng Bernard Montgomery, một người luôn có được sự hỗ trợ tuyệt đối về lương thực và vũ khí. Do các lực lượng Đồng Minh từ Malta ngăn chặn nguồn tiếp tế của Rommel ngay tại bờ biển, và cả một khu vực rất rộng lớn mà ông phải giữ lấy, Rommel không thể giữ El Alamein mãi được. Vì vậy mà sau trận chiến tại El Alemein lần thứ hai, quân của Rommel phải rút lui. Sau thất bại tại El Alamein, mặc dù các vị lãnh tụ Hitler và Mussolini nhiều lần thúc giục Rommel, các lực lượng của ông đã không thể đứng vững và chiến đấu lại được nữa cho đến khi họ tiến vào Tunisia. Sau đó, trận chiến đầu tiên của họ không phải đối đầu với lực lượng quân đội tám nước của người Anh nữa (British Eighth Army, gồm có Úc, Ấn Độ, New Zealand, Nam Phi, Rhodesia, Pháp và Ba Lan), mà là Quân đoàn số 2 của Mỹ. Thống chế Rommel xua quân tấn công quân Mỹ trong trận chiến tại đèo Kasserine, và giáng một đòn nặng nề vào quân địch. Lại một lần nữa, ông lại được vui với chiến thắng lừng lẫy nhờ có sự quyết đoán của ông, tài năng và sự mạnh mẽ của ông đã khiến cho quân thù phải nếm mùi đại bại. Một lần nữa, khi đối mặt với các lực lượng Khối Thịnh vượng chung của người Anh tại vành đai phòng thủ ở vùng biên giới của Pháp tại Mareth, Rommel đã không thể tránh được sự trễ nải trong các cuộc tấn công do không có nguồn tiếp tế. Kế hoạch Ultra chính là một mắt xích quan trọng dẫn đến sự thất bại đối với các lực lượng của ông. Rommel phải rời khỏi Bắc Phi và nhiều người lính từng chiến đấu dưới sự chỉ huy của ông trở thành tù binh chiến tranh. Như một số mệnh được định sẵn với Đức Quốc xã, trong khi lực lượng của Rommel đã không thể chiến đấu một cách hiệu quả do luôn gặp phải tình trạng thiếu thốn về nguồn tiếp tế thì tại trận chiến Stalingrad ở mặt trận phía đông nước Nga, mặc dù được sự hỗ trợ tuyệt đối nhưng Đạo quân số 6 do Thống chế Friedrich Paulus chỉ huy đã bị tiêu diệt gần như hoàn toàn và thậm chí viên Thống chế này đã bị bắt làm tù binh. Trong giai đoạn này, quân Anh đã cố gắng tổ chức một cuộc bắt sống Rommel ngay tại tổng hành dinh của ông, ở phía sau phòng tuyến quân Đức, nhưng ông không có mặt ở đó nên toán biệt kích không thành công, còn thiệt hại nặng. Khi biết được ông đã lấy làm vừa buồn cười vừa tức là họ nghĩ sẽ tìm thấy ông ở nơi cách phòng tuyến những 250 dặm, nhưng ông đã ra lệnh an táng trọng thể cho những người chết.. === Pháp 1943–1944 === Quay trở về Đức, Rommel có một khoảng thời gian vô công rỗi nghề. Tuy nhiên, khi quân đội phát xít Đức mất thể chủ động trên chiến trường, Hitler đã gửi Rommel đến bộ tham mưu của Tập đoàn quân B. Lúc này, Rommel đang rất bi quan, quan hệ với Hitler thì rất căng thẳng nên Hitler chủ yếu chỉ muốn dùng sự có mặt của ông để quân đội lên tinh thần. Ông đến nơi, rất ngạc nhiên nhận thấy tuyến phòng thủ dọc theo bờ biển Đại Tây Dương chỉ tồn tại trong tuyên truyền của Hitler, còn quân đội thì lơ là, chậm chạp. Trong khi đó Rundstedt và Blumentritt do không hiểu các vấn đề kỹ thuật nên đã giao lại công việc cho một viên tướng chuyên trách về kỹ thuật nhưng lại thiếu năng lực chỉ đạo bao quát. Chỉ giữ chức trách Thanh tra (thực chất là tham mưu), Rommel tự tập hợp các chỉ huy từ cấp trung đội trở lên, giải thích cho họ kế hoạch của bản thân, được ủng hộ nhiệt liệt, nhưng sự chống đối gần như công khai từ các kẻ thù chính trị của ông đang giữ các chức vụ cao cấp nhất xung quanh Hitler đã dẫn đến giằng co, gây chậm tiến độ hàng tháng trời. Cuối cùng Rundstedt can thiệp, ủng hộ cho Rommel được chuyển sang làm chỉ huy. Dưới sự trực tiếp chỉ đạo của ông, công việc diễn ra với tốc độ đáng kinh ngạc, hàng triệu bãi mìn, hàng ngàn ụ bê tông bảo vệ xe tăng và các chướng ngại vật đã được dựng lên trên các bãi biển và các vùng thôn quê. Tướng công binh Meise và nhiều chuyên gia kỹ thuật hiện đại nhận xét rằng Rommel không chỉ có năng lực quân sự mà còn là thiên tài kỹ thuật nữa. Sau các trận chiến của mình tại châu Phi, ông đúc kết ra rằng không thể nào ngăn chặn được tốc độ tiến công dưới sự yểm trợ tối đa bằng đường không của quân Đồng Minh. Ông đã đưa ra quan điểm rằng các lực lượng xe tăng nên được tách ra thành các đơn vị nhỏ để củng cố vững chắc các điểm trọng yếu và nên được đặt gần chiến tuyến càng tốt bởi vì chúng không thể di chuyển được đi xa một khi cuộc tấn công nổ ra. Ông muốn cuộc tấn công của quân Đồng Minh phải được chặn đứng ngay từ các bãi biển bằng cách kết hợp hỏa lực của quân đội với hệ thống chướng ngại vật. Tuy nhiên, vị chỉ huy của ông, Thống chế Gerd von Rundstedt, lại cho rằng không có cách nào ngăn chặn được cuộc tấn công từ bờ biển vì hỏa lực quá mạnh của lực lượng Hải quân Hoàng gia Anh. Ông ta lại nghĩ các lực lượng xe tăng nên được tổ chức lại thành các đơn vị lớn đóng sâu vào vùng đất liền gần Paris, nơi cho phép lực lượng Đồng Minh tiến sâu vào và sau đó sẽ tiêu diệt họ. Rundstedt bản tính hòa hoãn, không muốn căng thẳng với Rommel, nhưng Leo Geyr von Schweppenburg (vốn là người của Guderian cài vào ngay từ đầu - vốn không phải để chống Rommel mà để cạnh tranh với các lực lượng SS - và được sự ủng hộ ngầm và về sau là công khai của ông này) đã ủng hộ ý tưởng của Rundstedt và cãi nhau với Rommel. Cuối cùng vụ việc đến tai Hitler. Khi phải lựa chọn một kế hoạch cụ thể để tiến hành, Hitler tỏ ra do dự và đưa ra một giải pháp mang tính lưng chừng, giao cho Rommel 3 sư đoàn tăng và Rundstedt 4 sư đoàn, tự giữ lại 4 sư đoàn khác. Kết quả này khiến cả kế hoạc của Rommel lẫn Rundstedt đều không thể thực hiện. Trong ngày D-Day (ngày mở màn cuộc đổ bộ vào Normandie), nhiều đơn vị xe tăng, nhất là Sư đoàn Panzer SS số 12 khi đó đang ở rất gần bờ biển và có đủ khả năng để gây ra một sự thiệt hại nghiêm trọng cho quân Đồng Minh. Cái rủi cho quân phát xít Đức lại là cái may cho quân Đồng Minh, Hitler đã từ chối tung ra các đơn vị tăng này vì ông ta tin rằng cuộc đổ bộ lên bờ biển chỉ là đòn nghi binh của đối phương. Nhờ có sự thành công của chiến dịch tung tin giả mạo mang tên Fortitude, Hitler và bộ chỉ huy tối cao của Đức đã mong chờ một cuộc tấn công lớn của quân Đồng Minh vào Pas de Calais. Đối mặt với các cuộc tấn công quy mô nhỏ của quân Đức, lực lượng Đồng Minh nhanh chóng chiếm được các vị trí đổ bộ. === Âm mưu chống lại Hitler === Ngày 17 tháng 7 năm 1944, Thống chế Rommel đang di chuyển trên xe hơi thì bị một chiếc máy bay Spitfire của Không lực Hoàng gia Canada (RCAF) oanh kích, ông đã được đưa vào bệnh viện với các vết thương ở vùng đầu. Cùng khoảng thời gian này, sau sự thất bại của âm mưu đảo chính chống lại Hitler vào ngày 20 tháng 7, một cuộc đàn áp thẳng tay đã được thực hiện trong khắp hệ thống quân đội Đức. Khi các cuộc điều tra được tiến hành, nhiều mối liên kết đã chỉ ra sự dính líu chặt chẽ của Rommel đối với âm mưu này, và cả những phụ tá thân tín nhất của ông cũng có liên quan tới. Khi đó, cũng có nhiều nhân viên đảng Quốc xã ở địa phương đã báo cáo rằng Rommel đã có những lời lẽ khinh miệt dành cho giới lãnh đạo đảng Quốc xã trong thời gian ông nằm tại bệnh viện. Sau chiến tranh, vợ của Rommel quả quyết rằng ông đã chống lại việc ám sát (nhưng cầm nói thêm rằng, ngay sau chiến tranh, nhiều người Đức vẫn trung thành với Hitler và tham gia ám sát có thể bị coi là phản bội). Người ta đã cho rằng vì không muốn đem các thế hệ người tương lai của người Đức rơi vào sự thất bại của cuộc chiến bởi thuyết Dolchstoßlegende vẫn thường được một số người Đức tin tưởng sau Thế chiến thứ I, mà thay vào đó, Rommel ủng hộ cuộc một cuộc đảo chính và Hitler sẽ được đem ra xét xử trước công chúng. Một mặt khác, Rommel cảm thấy ngày càng không thể ngồi yên để Hitler quyết định các vấn đề chính trị và chiến lược sau một cuộc trao đồi năm 1943, khi Hitler tuyên bố thẳng thắn là nếu không thể thắng lợi thì sẽ cho dân tộc Đức diệt vong luôn cho xứng với tinh thần của một dân tộc vĩ đại (một điều Hitler sau này đã thực sự thực hiện và chỉ bị chặn lại do Albert Speer và một số người khác ngầm không nghe lệnh). Sau đó tuy Rommel cố gắng nói thẳng nhiều lần với hy vọng Hitler bỏ các suy nghĩ tai hại còn Hitler thì cố lấy lòng Rommel cốt để quan hệ trở lại tốt đẹp như cũ, song cả hai bên đều không thành công. Các tài liệu mật của tình báo Anh mới được giải mã gần đây cho thấy, dường như Rommel cuối cùng đã thay đối ý định và ủng hộ việc tiêu diệt Hitler. Trước khi Rommel tự tử khoảng một tháng, phía Đồng minh đã biết việc Rommel can dự vào âm mưu chống lại Hitler. Trong một cuộc nói chuyện riêng tư, Tướng Heinrich Eberbach (khi đó đã là tù binh của quân Đồng minh và không biết căn phòng đã bị Tình báo Anh cài đặt máy ghi âm) nói rằng thượng cấp của ông là Thống chế Rommel đã nói thẳng rằng: "Hitler và những đồng minh thân cận nhất của ông ta cần phải bị giết." Eberbach là một trong những sĩ quan cao cấp (những người khác bao gồm cả Geyr von Schweppenburg người mới là đối thủ của ông về vấn để Normandie, và các tướng lĩnh SS ở mặt trận phía Tây mà trước đó ông đã có va chạm do ông thường chỉ trích các tội ác của họ như Bittrich, Hausser, Sepp Dietrich - một sĩ quan đã từng rất thân cận với Hitler và một người Quốc xã nhiệt thành) đã hứa với Rommel rằng sẽ phục tùng mệnh lệnh của Thống chế và ủng hộ ông trong nỗ lực chấm dứt chiến tranh với các nước phương Tây. Cấp trên của Rommel là Thống chế Kluge cũng ủng hộ ông, dù không nhiệt tình (Thống chế Manstein cũng biết - trước đó hai người chưa từng quen biết nhưng Rommel vẫn đến xin ông giúp, và bị từ chối. Thống chế Rundstedt không đồng ý tham gia, tuy vậy ông giục Rommel "Cậu phải đứng ra làm đi. Cậu hẵng còn trẻ. Mọi người đèu biết cậu và yêu cậu."). Với sự đồng tình của Kluge, Rommel đã gửi một tối hậu thư cho Hitler ("Đây là cơ hội cuối cùng của ông ta, nếu ông ta không nghe thì chúng ta sẽ hành động!") yêu cầu đi đến "giải pháp chính trị" với các nước phương Tây thuộc phe Đồng minh. Thật không may, sau đó hai ngày Rommel bị thương nặng do một cuộc không kích của quân Đồng minh và không thể điều động các lực lượng ở mặt trận phía Tây cũng như hỗ trợ nhóm của Stauffenberg. Hiện nay, việc Rommel đồng ý và tham gia vào vụ ám sát còn có những tranh cãi (tính riêng ở Đức, các nhà sử học đồng ý là ông đã ủng hộ cả vụ ám sát gồm có Cornelia Hecht, Maurice Remy, Peter Lieb, trong khi Reuth phản đối. Các nhà sử học Anh-Mỹ như Showalter, Fraser hay Butler thì có xu hướng lý luận rằng thật khó tin một con người trước đó chả quan tâm gì đến chính trị như Rommel lại tự nhiên đổi ý và dây dính vào một vụ ám sát), nhưng tuyệt đại đa số các nhà sử học xác nhận ông đã chủ trì kế hoạch hòa bình ở mặt trận phía Tây (ông hơi ngây thơ khi tin rằng phương Tây sẽ chấp nhận bắt tay với Đức để ngăn họa Cộng sản, và nhất là lại đi giục Hitler là người mà không một chính phủ nào còn tin tưởng được đi làm việc đàm phán đó - nhưng cũng có những nhà sử học như Pimlott cho rằng cũng có khả năng đàm phán thành công, nếu là chính ông đi đàm phán, Maurice Remy thì cho là ít ra cũng ngăn được hàng triệu người chết vô nghĩa, và đa phần sử gia công nhận vụ ông bị thương ngay trước cuộc ám sát là một vận rủi tệ hại ảnh hưởng đến kết quả kế hoạch và số phận nước Đức) Về cơ bản, với ý thức về khả năng nội chiến, và ý thức về nghĩa vụ của người sĩ quan lẫn tình cảm cá nhân với Hitler vẫn rất lớn, có lẽ ông đã không tham gia vào nhóm chuẩn bị và trực tiếp ám sát (những người vẫn sẽ tiến hành khi không có ông). Nhưng ông che chở cho họ, cố gắng tập hợp một lực lượng thống nhất và tìm kiếm một phương án chung có lợi cho nước Đức.. Quá trình tiến hành đã khiến ông đối mặt những "nguy hiểm chẳng kém gì với những người trực tiếp ám sát" (nhận định của Remy) trong vòng vây của bộ máy Quốc xã. Có lúc ông đã tính tới sơ tán vợ con sang Pháp nhưng nghĩ làm thế lại gây nghi ngờ nên thôi. == Rommel bị bức tử == Sau vụ ám sát hụt Hitler ngày 20 tháng 7, 1944, năm người chủ mưu bị xử tử ngay trong ngày, còn Mật vụ Đức truy ra sự can dự của Thống chế Günther von Kluge, Tổng Tư lệnh Mặt trận miền Tây, tức cấp trên trực tiếp của Rommel. Sau khi bị thay thế bởi Thống chế Otto Moritz Walter Model, Thống chế Kluge tự tử. Thượng tướng von Stülpnagel (Thống đốc quân sự tại Pháp), sau khi tự tử không thành, lúc nửa mê nửa tỉnh đã thốt ra tên của Rommel. Sau đấy, khi bị Mật vụ tra tấn dã man, Đại tá Caesar von Hofacker (thuộc tổng hành dinh của Ban Quân quản Pháp tại Paris) và nhiều nguười khác khai ra vai trò của Rommel trong âm mưu. Hofacker khai Rommel đã trấn an ông: "Hãy nói với những người ở Berlin rằng họ có thể trông cậy nơi tôi." Đấy là câu nói ám ảnh đầu óc của Hitler khiến cho Lãnh tụ quyết định vị thống chế được ông yêu thích phải chết, dù ông biết đấy là người được ngưỡng mộ nhất trên nước Đức - Thực ra, ban đầu, dù hết sức tức giận và "tổn thương" (từ của Der Spiegel), nhưng Hitler định đợi đến lúc Rommel hết cơn hôn mê thì sẽ cho ông về hưu trong im lặng, nhưng không ngờ ông tỉnh dậy quá nhanh còn bằng chứng thì càng lúc càng nhiều. Hơn nữa, lúc này, các kẻ thù của Rommel, vốn đã chờ cơ hội này từ lâu, đã liên kết với nhau: Himmler, Bormann, Keitel, Jodl... đã vây quanh Hitler và xúi giục, thúc ép ông ta ra tay với kẻ phản bội.. Trong khi xương sọ, trán và xương má còn đang mang những vết nứt nặng, mắt bên trái còn bị thương nặng và cả đầu còn mang mảnh bom, Rommel được dời ra khỏi bệnh viện dã chiến để tránh bị quân Đồng minh bắt, rồi được đưa về nhà riêng ở Herrlingen gần Ulm. Ông nhận được dấu hiệu cảnh báo đầu tiên cho số phận của mình khi biết người cựu tham mưu trưởng của ông, Tướng Hans Speidel, bị bắt ngày 7/9, một ngày sau khi đến thăm ông ở Ulm. Khi họ nói chuyện với nhau về Hitler, Rommel đã than thở với Tướng Speidel: Cái tên lừa dối bệnh hoạn ấy đã hoàn toàn điên khùng. Hắn đang trút cơn bạo hành lên những người âm mưu ngày 20/7, và đấy chưa phải là hết! Bây giờ, Rommel nhận thấy nhân viên SS đang rình rập quanh nhà ông. Khi ông đi tản bộ trong khu rừng gần nhà cùng với cậu con trai 15 tuổi, được đơn vị phòng không nơi cậu phục vụ cho phép về săn sóc cha, cả hai đều mang súng lục. Cùng lúc, tại tổng hành dinh ở Rastenburg Hitler nhận được báo cáo về lời khai của Hofacker đề cập đến Rommel. Theo lời Tướng Wilhelm Keitel (Tham mưu trưởng Bộ Tổng tham mưu Quân lực) khai trước Tòa án Nürnberg, Lãnh tụ nhận ra rằng đấy sẽ là một vụ xì-căng-đan kinh khủng nếu vị Thống chế có tiếng tăm này, người được yêu mến nhất, lại bị bắt và bị lôi ra trước Tòa án Nhân dân. Thế là, vào buổi trưa ngày 14/10/1944, hai vị tướng là Burgdorf và Maisel từ tổng hành dinh của Hitler đi đến nhà của Rommel, bấy giờ bị binh sĩ SS bao vây cùng với 5 xe bọc thép. Họ đã báo trước cho Rommel hay rằng Hitler phái họ đến để thảo luận "công tác sắp tới" của Thống chế. Sau này, Keitel khai trước Tòa án Nurnberg rằng ông ta đã viết một bức thư do Hitler đọc (gửi kèm lời khai của những người khác về sự tham gia của Rommel): Nếu Rommel vô tội, Hitler yêu cầu ông hãy đến gặp trực tiếp Hitler và giải thích , nếu ông không chọn như vậy thì tức là thú nhận đã phản bội và trong trường hợp đó, ông hãy tự cân nhắc các hậu quả. Hitler cử Burgdorf và Maisel đưa thư và mang thuốc độc đến.) Sau khi Burgdorf và Maisel đến, mọi người thấy không phải để thảo luận công tác sắp tới của Rommel. Hai người yêu cầu được nói chuyện riêng với Thống chế, và ba người đi vào phòng đọc sách. Rommel đã không tận dụng cảm tình của Hitler để tìm đường sống (chọn lựa đến Berlin và giải thích). Ông thú nhận nhẹ nhàng, đến mức Maisel phải ngạc nhiên: "Ừ, tôi sẽ đối mặt với các hậu quả. Có lẽ tôi đã quên." Rồi ông đi lên đi xuống, trong khi hai người cứ chờ, cho đến khi ông dừng, và nói như xin lỗi, "Tôi từng yêu Lãnh tụ, đến bây giờ cũng vẫn yêu." "Sự đạo đức giả" này khiến Maisel, người một lòng trung thành với Hitler, cảm thấy "thật kinh tởm": làm sao một người đã nhận là mình muốn giết Hitler còn nói được câu đó? Nhưng Burgdorf và Maisel vẫn cư xử với vẻ tôn kính. Sau khi chia tay với vợ con, mặc chiếc áo jacket cũ bằng da của Binh đoàn châu Phi và cầm cây gậy thống chế, Rommel bước vào chiếc xe cùng với hai người tướng. Xe chạy được khoảng 3 kilômét theo con đường ven một khu rừng, rồi Tướng Meisel và tài xế SS bước ra, để Rommel và Tướng Burgdorf ngồi lại phía sau. Một phút sau, hai người quay lại chiếc xe; Rommel đã chết. Mười lăm phút sau khi vĩnh biệt chồng, bà vợ của Rommel nhận được một cuộc gọi từ bệnh viện. Bác sĩ cho biết hai người tướng đã mang thi hài của Rommel đến, qua đời vì nghẽn mạnh máu não, hiển nhiên là do việc vỡ xương sọ lúc trước. Thật ra, Burgdorf đã cấm khám nghiệm tử thi. Ông bảo: "Không được đụng đến xác chết. Mọi việc đã được thu xếp ở Berlin." Tất cả những người nhìn thấy Rommel khi chết đều kinh ngạc vì cái nhếch mép nửa như cười nửa khinh bỉ trên gương mặt người chết, mà Lucie nghĩ rằng đó là dành cho Hitler. Họ chưa từng thấy ông có biểu cảm đó bao giờ. Thống chế Model ra một nhật lệnh cho biết Rommel đã qua đời vì "những vết thương gây ra ngày 17/7" và tỏ ý thương tiếc sự mất mát "của một trong những vị tư lệnh vĩ đại nhất của đất nước." Phần lớn các quan chức Quốc xã cao cấp, bao gồm cả Hitler, Himmler..., trừ Keitel và Jodl, gửi điện chia buồn. Hitler ra lệnh tổ chức lễ quốc táng trong đó vị sĩ quan cao niên của Quân đội Đức, Thống chế Karl Rudolf Gerd von Rundstedt (cựu Tổng Tư lệnh Mặt trận miền Tây, cũng là cấp trên trực tiếp của Rommel, trước Kluge), đọc điếu văn khi đứng bên thi hài của Rommel phủ cờ chữ thập ngược: "Con tim của ông ấy thuộc về Lãnh tụ." Công bằng mà nói, có lẽ Rundstedt không biết những tình tiết trong cái chết của Rommel, và hẳn chỉ biết được qua lời khai của Keitel tại Tòa án Nürnberg. Rundstedt khai: "Tôi không nghe được những lời đồn đại ấy, nếu không tôi đã từ chối đại diện cho Lãnh tụ ở lễ tang; đấy sẽ là điều ô nhục không lời nào diễn tả được." Tuy nhiên, tang quyến Rommel nhận thấy Rundstedt từ chối đến dự lễ hỏa thiêu sau lễ tang và đến chia buồn với quả phụ tại nhà của Rommel, trong khi phần lớn các tướng lĩnh khác đều đến. Sau này, một bia tưởng niệm được dựng nơi chiếc xe dừng cho Rommel uống thuốc độc với dòng chữ: Tại đây, Thống chế Erwin Rommel bị ép buộc phải tự tử vào ngày 14 tháng 10 năm 1944. Ông nhận một cốc thuốc độc và tự hy sinh, hầu cứu gia đình ông thoát khỏi tay sai của Hitler. Gần đây, khi ở Đức lại dấy lên cuộc tranh luận về Rommel, tờ Der Spiegel có ra bài tổng hợp mang tên "Quỷ thuật", với lời bình luận về cuộc đời và cái chết của ông, đại ý: Câu chuyện về con người đầy mâu thuẫn này bắt đầu như trong các truyền thuyết kinh điển. Một người đàn ông đầy tham vọng bán linh hồn cho Quỷ... Chàng đã hoàn thiện nghệ thuật bắt mình không thấy những gì không nên thấy. Nước Đức có những nhà quân sự xuất sắc khác, nhưng không ai có ma lực nhân cách như anh chàng Swabia trán tròn. Chiến dịch châu Phi phải nói là một chiến dịch vớ vẩn về đại cục, nhưng kệ, hồi xưa Napoleon cũng thế, và hơn nữa, châu Phi là một nơi lãng mạn, với thiên nhiên hoang dã và những người Bedouin huyền bí. Với sự giúp đỡ của bộ máy tuyên truyền, huyền thoại về người hùng dũng mãnh, một nhà chiến lược thiên tài đã khơi gợi trí tưởng tượng của bao người. Hết chiến tranh, Rommel tiếp tục thực hiện bước nhảy chưa từng có tiền lệ trong lịch sử, ngôi sao của ông chói sáng hơn bao giờ: "ái tướng của Hitler" trở thành người hùng của nước Cộng hòa non trẻ, trong khi tất cả những hình tượng người cha khác bị lịch sử vạch mặt. Nếu kết tội theo kiểu liên đới thì ông có tội (vì đã làm bạn với Quỷ), nhưng không có tội đến mức không ai muốn đặt niềm tin... (Quay trở lại câu chuyện) Và rồi Rommel, kẻ gan dạ không ai sánh kịp, nhận ra không còn có lý do để tiếp tục cuộc chiến nữa. Nhưng những viên tướng khác, 90 phần trăm là quý tộc, không mấy ai dám nói thẳng tình hình mặt trận với Hitler... Huyền thoại về người anh hùng của truyền thuyết dân gian đã trở nên mạnh mẽ đến nỗi, kẻ đã biến châu Âu thành một lò sát sinh cũng không sao kiểm soát được nữa. Người ta nói, trước lúc đi về thế giới bên kia đầy vinh quang, người hùng đã khóc. Lời Rommel nói, rằng "Tôi vẫn yêu Quốc trường," có lẽ là nói thật. Bị phản bội và tổn thương sâu sắc, Hitler không còn tâm hồn đâu đi đám tang, nhưng gửi điện chia buồn thì muốn tránh cũng không được, "Tên tuổi của Thống chế sẽ mãi gắn với các trận đánh anh hùng ở châu Phi." Và ở đây, nhà độc tài nói đúng. Sau chiến tranh, quyển nhật ký chiến tranh của ông được xuất bản mang tên The Rommel Papers. Rommel là thành viên duy nhất của Đế chế thứ ba (Third Reich) có được bảo tàng ghi lại cuộc đời và sự nghiệp của ông. Mộ của ông nằm ở Herrlingen, cách Ulm không xa. == Con người và ảnh hưởng chính trị == Dù hiện nay còn có tranh cãi, nhưng đa số (điều được công nhận cả bởi những nhà sử học xét lại như Proske) sử gia nhận định rằng Rommel không phạm tội ác nào, và tù binh hay nhân dân các nước đều được ông và quân lính của ông đối xử tử tế. Trong một cuộc họp Quốc hội, Churchill có nói: "Chúng ta có một đối thủ rất dũng cảm và tài giỏi, và tôi có thể nói (rõ hơn là) phía bên kia của cuộc chiến tàn phá này là, một vị tướng quân vĩ đại.” Khi nghe tin về cái chết của Rommel, Churchill có nói: "Ông ta xứng đáng có được sự tôn trọng của chúng ta, bởi vì, mặc dầu là một người lính Đức trung thành, ông đã chán ghét Hitler và những việc làm của hắn, và đã tham gia vào âm mưu giải thoát nước Đức khỏi tay tên bạo chúa này. Vì điều đó mà ông ta đã phải trả giá bằng chính mạng sống của mình. Trong những cuộc chiến tranh cho nền dân chủ tân tiến, có rất ít chỗ cho tinh thần hiệp sĩ này. Các nhà sử học thậm chí còn không chắc rằng con người ngây thơ, đã nhiều lần chống lại, thậm chí đốt bỏ (là tội có thể xử bằng tử hình) các mệnh lệnh tội ác, giáo dục cả đối phương cư xử cho đúng luật lệ chiến tranh, can thiệp vào các cơ quan không dưới quyền mình (như lực lượng SS, Tổ chức Todt) để bênh vực dân thường và tù binh này có bao giờ thật sự nhận ra toàn bộ bộ mặt của chế độ mình đã phục vụ và giá trị của những việc mình đã làm cho nó hay không, hay là một lúc nào đó có biết nhưng đã cố gắng trốn tránh hiện thực. Nguyên nhân đến từ tính cách lạc quan hơi quá đáng, ít đọc sách báo gì ngoại trừ liên quan đến quân sự, lối sống khép kín, những hiểu lầm gây ra do ảo tưởng của ông về Hitler, thói quen luôn luôn có mặt nơi tiền tuyến (nhiều khi để các công việc hành chính lại cho người khác) và một thứ vận may (hoặc vận xui) kỳ lạ nó dẫn đến những trường hợp như: trước chiến tranh, ông tình cờ thoát khỏi việc bị điều động đi huấn luyện hoặc hợp tác với các đơn vị Freikorps nổi tiếng tàn nhẫn (vốn không ngại ngần bắn thằng vào nhân dân Đức); khi chiến tranh diễn ra, ông lại không có mặt ở mặt trận phía Đông nơi các tội ác chú yếu xảy ra; khi ở Ba Lan, ông có đi thăm người chú vợ là nhà lãnh đạo nổi tiếng Edmund Roszczynialski, được mấy hôm thì ông này bị giết trong một đợt thảm sát do Quốc xã tổ chức - Rommel, không biết gì về các việc xảy ra chung quanh, tiếp tục (làm theo lời vợ giục) liên tiếp gửi các bức thư cho các cấp dưới của Himmler nhờ hỏi tin tức và chiếu cố đến người họ hàng của mình (sau cả năm trời viện cớ khó khăn về thủ tục hành chính, các viên chức này thông báo cho ông là có vẻ như ông chú vợ của ông đã tử vong do thời tiết khắc nghiệt hoặc một tai nạn của chiến tranh); khi ở châu Phi, một nhóm SS do Walther Rauff được cử đến để cướp vàng bạc và thanh trừng người Do Thái nhưng Rommel thì đang ở cách đó 500km chỉ huy trận El Alamein, và nhóm này lặng lẽ về Đức khi tình hình xấu đi; các mệnh lệnh tội ác từ trên gửi xuống thì qua OKW (là những người Rommel vốn không có thiện cảm và cho là đã che mắt một lãnh đạo "đầy lý tưởng" như Hitler) và dùng ngôn ngữ mập mờ; năm 1943, ông lên hỏi Hitler là có lẽ nên thăng một người Do Thái lên làm Gauleiter để thế giới biết là các tin đồn mà Đồng minh tuyên truyền là sai; ở Italy, vào thời điểm một nhóm SS gây ra thảm sát (ở khu vực do Rommel cai quản vốn không có đổ máu lớn) thì Rommel đang ốm liệt nằm trong bệnh viện - Tuy nhiên sau ông biết được việc này do đào lên được xác người Do Thái trong cái hồ nước gần đó, và các phản ứng trơ trẽn lạnh lùng của các sĩ quan SS khi ông phàn nàn về tội ác của họ đã khiến ông kinh hoàng. Sau đó bạn ông là tướng Johannes Blaskowitz (một người có lương tâm và lòng dũng cảm, và cũng kết thúc bi kịch) ở phía Đông về đã nói cho ông biết rằng các "tin đồn" đáng sợ về mặt trận phía Đông là có thật. Theo như Desmond Young, ông lên gặp thẳng Hitler báo cáo các sự việc mình mới biết và yêu cầu xử lý ngay, tất nhiên là Hitler tỉnh bơ giải thích cho ông rằng các đề nghị của ông khó mà thực hiện được. Còn nhật ký của Đô đốc Ruge ghi lại rằng sau khi biết được cả tình hình đạo đức lẫn quân sự của đất nước, ông đã trầm cảm nặng, và có lúc ông tâm sự rằng "Công lý là nền tảng không thể nào thay thế được của quốc gia. Vậy mà mấy người trên đó lại không biết giữ mình sạch sẽ." Tuy vậy ông còn tình cảm với Hitler và đã không ngăn được niềm vui chỉ vì y đến thăm, nhưng khi ông ta về thì Rommel quay lại trạng thái trầm cảm như cũ khi nhớ lại hiện thực (dù khi bắt tay vào công việc ông vẫn tràn đầy năng lượng như thường). Tất nhiên Rommel có biết là quan điểm của chính quyền lúc ấy có yếu tố phân biệt chủng tộc, nhưng điều này lúc ấy phổ biến khắp thế giới phương Tây nên chỉ có vậy thì không đủ để ông tin là quốc gia của mình bất thường. Nhìn chung, các nhà sử học nhận định là không có bằng chứng nào cho thấy ông có biết các tội ác chủ yếu của chế độ cho đến trước thời điểm cuối 1943/đầu 1944, là thời điểm ông gia nhập phe chống chính quyền (có lẽ với nhiều lý do), còn nếu là sự việc đập vào mắt trực tiếp thì ông đã ngăn chặn, phản đối, và vì giá trị to lớn của ông với chế độ, Hitler và Đảng Quốc xã đánh chấp nhận. Bản thân Rommel bất bình với các vấn đề xã hội trong trong nước, đặc biệt là chia rẽ vùng miền và giai cấp, nhưng ông không thích con đường chính trị, hay nghề nghiệp bàn giấy nhàm chán khác và không muốn thỏa hiệp với lý tưởng của mình (sau Chiến tranh Thế giới thứ nhất, dù rất khát vọng thăng tiến, nhưng ông lại cho là chấp nhận thăng tiến là góp phần ủng hộ “hệ thống bất công”, nên đã từ chối cơ hội gia nhập hàng ngũ ưu tú và lên tướng). Mặc dù cổ vũ công bằng xã hội, ông lại nhiệt liệt ủng hộ đạo đức và các tinh hoa truyền thống của giai tầng hiệp sĩ -quý tộc xưa cũ. Là “hiện thân và linh hồn của chiến tranh”, “ở ngoài mặt trận như thể trong mùa ái tình” vào thời chiến, nhưng thông thường ông thích giải quyết mọi chuyện bằng biện pháp ngoại giao (một điều thể hiện rõ ở Rommel trong nội loạn sau Chiến tranh Thế giới thứ nhất - ông lấy lại Thành phố Lindau và bảo vệ khu Thị chính Schwäbisch Gmünd từ làn sóng Cách mạng Cộng sản bằng đàm phán hòa bình, trong khi khắp nước Đức các đội quân chính quy và không chính quy đã đàn áp các cuộc nổi dậy trong bể máu và hỗn loạn. Hitler cũng tham gia các hoạt động dẹp loạn thời kỳ này), với mong muốn tận hưởng hòa bình bên người vợ yêu dấu. Với con người như vậy, nhiều nhà sử học cho rằng, nếu không có cuộc gặp định mệnh với Hitler thì thế giới không thể nào biết đến ông. Ông nhìn thấy ở Hitler, kẻ xuất thân bình dân như mình, hiện thân cho ý chí của nhân dân Đức, và ông sẽ cống hiến, được ghi nhận và tưởng thưởng bởi ý chí đó. Đó cũng là định mệnh với Hitler, người nhìn thấy ở Rommel một chiến binh huyền thoại đúng với lý tưởng của ông ta về người hùng của nhân dân, đồng thời là một công cụ chính trị hoàn hảo để giữ vững tinh thần chiến đấu cho quân dân (không chỉ quân lính mà cả tướng tá nữa) trong những thời khắc gay go nhất, để đổ gánh nặng hận thù từ các quan chức cấp cao sang đôi vai của ông. Y cũng không thể chọn ai khác, vì không ai khác có sức hấp dẫn cá nhân và cá tính mạnh mẽ của Rommel để làm điều đó (một điều thể hiện vào giai đoạn Rommel không còn niềm tin vào chiến thắng và cả Hitler lẫn bộ máy - Hitler và Goebbels đã nghĩ đến Manstein như một giải pháp thay thế để khôi phục khí thế lẫn "định hướng chính trị" cho các sĩ quan, nhưng không thành công). (Sau cuộc ám sát, hoảng hốt về hậu quả khi để cho một người từ đầu đã có tư tưởng dở dở ương ương, thậm chí cấm báo chí Quốc xã tuyên truyền ông là Đảng viên Quốc xã đóng vai trò hiệu triệu, Hitler và Goebbels đã ép Rundstedt và nhất là Guderian giúp phát-xít hóa quân đội) Mối quan hệ này được sử gia Maurice Remy gọi là “cuộc hôn nhân trong mơ”, dù về sau, như nhà văn Ernst Juenger nhận xét, nó trở thành “tình yêu pha lẫn hận thù.” Ngay từ năm 1941, Joseph Goebbels đã đưa cái tên "Rommel" trở thành biểu hiện của sự bất khả chiến bại của dân tộc Đức. Hệ thống chiến tranh và mô hình lãnh đạo do Rommel lập ra phục vụ hoàn toàn cho các lý tưởng đó, với sự nhấn mạnh vào sự bình đẳng về hưởng thụ và hy sinh giữa tướng và lính, lãnh đạo bằng tấm gương, sự hào hiệp với kẻ yếu và người nước ngoài, sự đào tạo toàn diện và trọng dụng dành cho các sĩ quan trẻ, giảm thiểu quyền lực của tầng lớp chiến lược gia bàn giấy vốn toàn quý tộc. Có điều sự thiết kế này dựa trên những tính toán rõ ràng của một con người lạnh lùng, hãnh tiến, cao vọng như Hitler, nhưng có tầm nhìn, không phạm tội ác, tỉnh táo hơn cả Hitler vào lúc sống còn, như một số nhà chính trị học đề xuất, hay là cảm hứng nhất thời của một sĩ quan liều mạng nhưng nhân ái, thông minh nhưng ngây thơ, khắc kỷ mà lãng mạn, như nhiều sử gia miêu tả, thì đến nay vẫn còn tranh cãi. Có sử gia như Bruce Watson nhận định “Anh hùng, ác nhân, kẻ thao túng, một tướng quân chân thành... thế nào cũng đúng cả. Trừ có “thằng hèn” thì không phải thôi.” Peter Lieb cho rằng “Ông ấy là con người huyền thoại … Còn nếu nói có nên coi ông ấy làm hình mẫu phấn đấu, thì bạn phải tự quyết lấy cho mình thôi.” Nhiều sử gia khác đồng ý rằng dù ông là một trong những vĩ nhân tự ghi chép các hoạt động của mình cẩn thận nhất, nhưng đến nay ông thật sự là người thế nào thì rất khó lý giải (bởi vì các ghi chép đó, tuy văn phong mạch lạc, cụ thể ngày tháng lại kèm theo nhiều minh họa tự vẽ tự chụp, nhưng ngoại trừ hỏi thăm vợ con, còn thì có lần hiếm hoi mà ông bình luận sự kiện không dính líu quân sự, là nhận xét một buổi đi nhà hát mà người ép ông tham gia là "quá chán"). Một số hãng truyền thông như FOCUS thì đưa ra ý kiến rằng, có thể ông không phải người Quốc xã, nhưng ngây thơ lại liều mạng như vậy mà đến giờ còn được đem ra làm mẫu hình phấn đấu thì thật là tai hại. Cần nói là con người Rommel có khía cạnh tàn nhẫn: dù chống lại tận cùng mọi sự hy sinh vô nghĩa, nhưng nếu cảm thấy hy sinh binh sĩ hay kể cả cấp dưới thân cận là cần thiết thì ông không bao giờ tiếc, vả lại dù sao người cũ chết thì dọn chỗ trống cho các sĩ quan trẻ thuộc tầng lớp thấp đi lên, cũng vốn chính là ý đồ của ông. Các Tham mưu trưởng của ông, như Mellenthin có miêu tả "(Với ông ấy) Chết thì thay", hay theo Gause "Ông ấy khắc nghiệt, thiếu sự gần gũi cá nhân, chỉ xét đoán con người theo tài năng và đức tính. Ông ấy chả lấy lòng ai, cấp trên hay cấp dưới. Ngay cả với binh lính mà ông ấy rất chăm lo, ông ấy cũng chẳng thèm cố gắng để được họ yêu quý. Nhưng ông ấy có một thứ hào quang không miêu tả được." Nhiều sĩ quan tham mưu cho là bị phái đến làm việc với ông là hình phạt. Nhìn chung các binh lính và sĩ quan kính trọng tin tưởng, sợ hãi ông, có thể là tôn sùng, nhưng yêu quý thì không hẳn, mặc dù họ có cảm thấy, đằng sao lớp áo giáp lạnh lùng, sự khắc nghiệt thái quá, thái độ bất công không nhận thấy lỗi của mình mà chỉ thấy lỗi của người khác (nhưng cũng chóng nguội, dễ thông cảm, không tiếc lời khen với đối thủ hay đồng nghiệp như Guderian hay Manstein, và nhiệt tình giúp cấp dưới phát triển sự nghiệp) ở đâu đó có trái tim dịu dàng của một "chevalier sans peur et sans reproche" (kỵ sĩ vô khuyết). Điều đáng nói là không như với Walther Model là người có nhiều quan điểm về lãnh đạo gần gũi với ông (và là người có khi bị nguyên cả ban tham mưu bỏ rơi, còn sau chiến tranh thì bị kỳ thị và đổ tội hết lời, dù cũng rất dũng cảm và quan tâm cấp dưới), không chỉ binh lính mà cả các sĩ quan hay phàn nàn về ông nói trên đã hết lòng trung thành phục vụ ông, sẵn sàng lao vào chỗ chết nếu ông muốn, chăm sóc ông như chăm trẻ con (vì theo họ thì ông tự hành xác quá mức, không tự lo được cho bản thân). Thậm chí với những người Ý mà sự mâu thuẫn và các lời chế nhạo ông dành cho họ đã thành giai thoại, chính Jodl kẻ thù của ông, vào năm 1943, cũng phải nhìn nhận rằng "Người duy nhất có thể khiến cho nhiều sĩ quan và binh lính bên đó tự nguyện phục tùng thì chỉ có Rommel thôi." (Nhưng vì sự phản đối của phe chống Rọmmel nên cuối cùng Hitler giao cho Kesselring quyền chỉ huy chung ở Ý) Goebbels và ngành tuyên truyền nhận thấy khuyết điểm thiếu tình cảm này nên đã cố gắng tạo ra hình ảnh thân thiện hơn. Nhưng Rommel vẫn giữ thái độ như vậy, và trong quan hệ với giới thượng lưu lại vụng về: khi người ta tổ chức một bữa tiệc lớn để ông làm quen với giới này thì ông biến mất - hóa ra ông có đến, nhưng thấy đám đông thì ngượng nên ngồi trên gác cả buổi tối lắp tàu điện đồ chơi với con chủ nhà; hoặc bình thường thì thì quá khó gần, nhưng hứng lên thì ngồi kể chuyện Caporetto hoặc châu Phi cả buổi mà không cần biết đối phương muốn nghe hay không (Hitler cũng là "nạn nhân") Nhiều người tham gia vào các âm mưu chống lại Hitler năm đó nhận thấy sự ngây thơ chính trị và lối suy nghĩ nghiêng về lý tướng hóa của Rommel, nhưng không đánh giá thấp ông về điều đó. Stauffenberg gọi ông là một "nhà lãnh đạo vĩ đại". Nhà văn, triết gia Đức Ernst Jünger (khi đó là một Đại úy dưới quyền Thượng tướng von Stülpnagel và cũng là người đã soạn thảo thông điệp hòa bình mà những người tham gia vụ Stauffenberg dự định phát hành sau khi hoàn thành kế hoạch) sau này nhận xét rằng: "Cú đòn xảy đến cho Rommel trên đường Livarot đã tước đoạt khỏi kế hoạch của chúng tôi con người duy nhất có khả năng chịu đựng sức nặng của cả cuộc chiến lẫn một cuộc nội chiến - con người duy nhất mà ngay sự ngây thơ của ông ta đủ để đương đầu với tính chất giản đơn kinh khủng của những kẻ cầm quyền." Khi chiến tranh qua đi, tác dụng của ông vẫn to lớn cả bề nổi lẫn bề chìm. Các bên sử dụng hình ảnh của ông làm biểu tượng hòa giải ngoại giao, lấy cớ thành lập Bundeswehr và phát triển NATO. Vai trò của ông trong vụ ám sát Hitler cũng khiến ông trở thành biểu hiện cho một nước Đức tốt đẹp: ông là người lính chiến đấu vì vinh quang của dân tộc, theo cách đàng hoàng, chứ ông không phải là người Quốc xã - nhà sử học Thomas Vogel lý luận rằng không có khía cạnh phân biệt chủng tộc thì không thể coi một người là theo chủ nghĩa Quốc xã được. Nước Đức chỉ còn ông là biểu tượng đoàn kết cuối cùng, khi mọi kẻ khác đã bị vạch mặt và sụp đổ. Trong khi đó, theo một số nhà nghiên cứu gần đây mới khám phá ra, nội bộ tầng lớp cầm quyền lúc đó ở châu Âu, đặc biệt Anh và Đức, diễn ra sự chuyển giao giữa “tân chế” (New Regime) và “cựu chế” (Old Regime), dẫn đến xung đột giữa các phe quý tộc hoài cổ, tiểu tư sản trung thành với phát xít, tầng lớp lao động... Họ tận dụng khía cạnh gần gũi nhất của ông với mình để hòa giải (ví như những năm 60, hai phe quý tộc và tiểu tư sản trong Bundeswehr - lúc này mới thành lập - đã xung đột, cuối cùng hòa giải đạt được do cả hai phe đều hâm mộ Rommel) hoặc tuyên truyền cho lý tưởng cục bộ, vì ông là con người có thể lý giải thành anh hùng của tất cả các phe (trừ một nhóm duy nhất, mà với họ ông chưa bao giờ là một thành viên, và họ cảm thấy bị vinh quang của ông che mờ: Keitel, Jodl, Halder và các sĩ quan tham mưu cao cấp khác của Wehrmacht. Họ đã tích cực tô vẽ hình ảnh một Rommel thiếu tầm nhìn bao quát). Nhà lịch sử văn hóa Sandra Mass cho rằng, huyền thoại (Mythos, lưu ý là từ này được các nhà nghiên cứu Đức dùng để chỉ ánh hào quang, các hiện tượng và câu chuyện xoay quanh một nhân vật, mà không có hàm ý ám chỉ Mythos đó sai hay đúng với con người lịch sử) về Rommel là một sự tổng hợp nhiều huyền thoại, nhiều lý tưởng anh hùng cũ và mới như lý tưởng anh hùng vô sản vốn được đại diện bởi Carl Peters và lý tưởng anh hùng tư sản đại diện bởi Paul von Lettow-Vorbeck, kết nối mô hình chiến tranh kiểu kỵ sĩ cổ xưa với chiến tranh kiểu mới thời kỳ công nghiệp hóa... Trong khi đó, các nước thực dân mới và cũ, đặc biệt là Mỹ, cần một mô hình về cả kỹ năng quân sự lẫn đạo đức để xây dựng người lính kiểu mới, vừa ái quốc, có hiệu quả quân sự, vừa có năng lực ngoại giao và ảnh hưởng quốc tế... nên đã chọn Rommel, một thiên tài quân sự phi chính trị nhưng lại cũng có thể coi là một Chính khách-Người lính (Statesman-Soldier). Đến nay đây vẫn là quan điểm chính thức của Bundeswehr và NATO , dù một số sĩ quan như tướng Đức Klaus Naummann và tướng Mỹ Zabecki nghi ngờ không chỉ năng lực chiến lược mà cả hành vi “vô kỷ luật”, “kiêu căng phù phiếm” của Rommel. Nguyên Phó Tổng tham mưu trưởng Bundeswehr Storbeck nhận xét rằng “Mô hình Rommel về cả phong cách lãnh đạo và tư duy tiến công tuy có khía cạnh mạo hiểm … nhưng thực tế thì ngày nay, cả chúng ta, các đồng minh NATO, các nước Khối Warszawa, thậm chí bên Israel, ai cũng đang sử dụng cả.” Storbeck cũng chỉ trích một số phim tài liệu hiện đại là sử dụng những nhân chứng có ý kiến tiêu cực về Rommel quá nhiều (trong khi nhiều nhân chứng khác, những người có ý kiến ngược lại, không được hỏi đến), đưa ra những thông tin không có cơ sở và tự đặt những tiêu đề sai lệch như "Cuộc chiến tranh của Rommel"("Rommels Krieg"). Các danh tướng hiện đại như Schwarzkopf (và Gaddafi ở bên kia chiến tuyến, người tự nhận là kẻ thừa kế tinh thần của Rommel), Moshe Dayan và nhiều người khác đã coi Rommel làm mô hình của họ không chỉ về chuyên môn mà cả với tư cách một lãnh đạo, một biểu tượng nữa. Có phương tiện truyền thông trách cứ ông vì chiếm dụng một căn biệt thự mà chính quyền cướp đoạt của người Do Thái. Thực ra, trong những tháng gần cuối đời, quả là sau khi nhà của Rommel bị bom đạn làm sập, Thị trưởng Stuttgart có liên hệ với chính quyền ở Ulm bố trí cho ông một căn biệt thự ở chỗ hẻo lánh làm chỗ ở, và quả 2 năm trước đó nó là của người Do Thái, nhưng gia đình Rommel chưa bao giờ nhận quyền sở hữu nó cả. Trong khi những viên tướng khác nhận được các món "quà" bất động sản (mỗi cơ ngơi hàng vài trăm héc ta) từ Hitler thì Rommel hoặc là không được gợi ý hoặc đã từ chối, cho dù hai người thân thiết như vậy. Đáng nói là trong đời thường, Rommel tính tằn tiện và khắc khổ quá mức, lại tháo vát (theo lời vợ ông thì nhà đỡ được tất cả các loại thợ do chồng có thể chế tạo hay sửa chữa được mọi thứ trong nhà) và quản lý tiền bạc khéo léo theo kiểu người Swabia (thậm chí còn tự lên kế hoạch tránh thuế hợp pháp rất tài tình khi thấy cuốn Infanterie greift an bán được đến không ngờ) nên không hề nghèo (dù ông hào phòng với vợ và cấp dưới) - lúc nghĩ mình sắp tử trận, trong thư tuyệt mệnh, ông vẫn hướng dẫn vợ làm sao đổi món tiền lương trả bằng lire mà ông mới dành dụm được. == Danh tiếng quân sự của Rommel == Thống chế Erwin Rommel là một bậc thầy trận mạc. Ngay cả khi biết liên quân Anh - Mỹ có quân số đông hơn Đức, ông vẫn tự tin sẵn sàng chiến đấu bằng tài chiến thuật siêu việt. Theo thời gian, tên tuổi của ông vẫn lôi cuốn hậu thế. David Fraser, Knight's cross: a life of Field Marshal Erwin Rommel, trang 428</ref> Tướng lĩnh kiêm nhà sử học Anh David Fraser viết năm 1993 rằng, ông là một vị danh tướng lỗi lạc sánh vai với Napoléon Bonaparte và Robert Lee, dù có một sự thật là ông cũng như hai người này đều thua trận đánh cuối cùng trong sự nghiệp quân sự của mình. Thiên tài quân sự của ông có ảnh hưởng lớn lao đến mức mà cả Thống chế Anh Bernard Montgomery và Đại tướng Hoa Kỳ George S. Patton đều coi cuộc chiến là một cuộc đọ sức cá nhân với vị Thống chế Đức lỗi lạc. Như Patton có nói: "Hai đoàn quân có thể xem. Tôi sẽ bắn Rommel. Ông ta sẽ bắn tôi. Nếu tôi giết được ông ta, tôi sẽ là vị cứu tinh, nước Mỹ sẽ chiến thắng cuộc chiến tranh". Montgomery và Patton cũng hết mực thán phục ông, đáp lại, Rommel cũng có lời bàn: "Montgomery chưa bao giờ làm nên một sai lầm chiến lược... [và] trong quân đội của Patton chúng ta nhận thấy thành tựu nổi bật nhất về chiến tranh cơ động". Các Sĩ quan và binh lính Anh trong cuộc Chiến tranh thế giới lần thứ hai cũng ngưỡng mộ "Cáo Sa mạc" đến mức mà họ thường nói "làm nên một Rommel" để chỉ sự làm việc một cách ngay thẳng và mạnh mẽ. Theodor Werner, từng là một sĩ quan phục vụ dưới quyền Rommel trong cuộc Chiến tranh thế giới lần thứ nhất, đã nói: Bất kỳ ai bị rơi vào sức thu hút mạnh mẽ của ông đều trở thành một người lính thực sự. Ông ta dường như biết được kẻ thù của mình ra sao và họ sẽ đánh trả lại như thế nào.. Rommel học rộng binh thư, và ông rất ngưỡng mộ vị Hoàng đế Pháp trứ danh Napoléon Bonaparte. Ngay từ khi là một Sĩ quan trẻ tuổi, ông đã mua một bản in cảnh Napoléon trên thuyền đến nơi an trí tại Helena. Ông thật sự thán phục tài nghệ lãnh đạo của Napoléon, và đặc biệt là câu nói nổi tiếng của vị Hoàng đế rằng các tướng lĩnh không thể chỉ huy Đại quân (Grand Armée) của ông từ cung điện Tuileries, trong khi đó ông không có mấy thiện cảm với Carl von Clausewitz, cho rằng ông này quá lý thuyết: Khi học viên của ông trích dẫn Clausewitz, Rommel sẽ bực mình trả lời "Mặc kệ Clausewitz nghĩ gì, hãy cho tôi biết, ANH nghĩ gì?" == Trong tiểu thuyết và phim ảnh == James Mason đã đóng vai của Rommel trong cuốn phim The Desert Fox năm 1951, và diễn viên Karl Michael Vogler cũng thủ vai của ông trong bộ phim Patton, do George C. Scott đóng vai chính. Năm 1988, Hardy Kruger đóng vai Rommel trong loạt phim nhiều tập War and Remembrance. Trong cuốn truyện lịch sử giả tưởng The Man in the High Castle, tác giả Philip K. Dick có đề cập đến chi tiết Rommel được chính quyền Mỹ chỉ định làm chủ tích của đảng Quốc xã trong những năm đầu thập niên 1960. Trong cuốn tiểu thuyết lịch sử Fox on the Rhin của hai tác giả Douglas Niles và Michael Dobson, Hitler bị giết trong âm mưu cho nổ bom vào ngày 20 tháng 7 năm 1944. Điều này dẫn tới việc Rommel tiếp tục sống và nhanh chóng mở ra một cuộc tấn công. Cuộc tấn công này bị đẩy lùi và cuốn sách kết thúc với việc Rommel đầu hàng người Anh và người Mỹ, vì ông tin rằng người dân Đức sẽ được sống tốt đẹp hơn dưới quyền lực của người phương Tây chứ không phải dưới tay chính quyền Xô Viết. Cuốn Fox on the Front là cuốn tiếp theo của Fox on the Rhine. == Tham khảo == === Bị chú === === Chú thích === === Thư mục === The Battle of Alamein: Turning Point, World War II, bởi Bierman and Smith (2002). ISBN 0-670-03040-6 Rommel's Greatest Victory, bởi Samuel W. Mitcham, Samuel Mitcham. ISBN 0-89141-730-3 Meeting the Fox: The Allied Invasion of Africa, from Operation Torch to Kasserine Pass to Victory in Tunisia, bởi Orr Kelly. ISBN 0-471-41429-8 INSIDE THE AFRIKA KORPS: The Crusader Battles, 1941–1942. ISBN 1-85367-322-6 Alamein, bởi Jon Latimer. ISBN 0-674-01016-7 Tank Combat in North Africa: The Opening Rounds: Operations Sonnenblume, Brevity, Skorpion and Battleaxe tháng 2 năm 1941–tháng 6 năm 1941 (Schiffer Military History), bởi Thomas L. Jentz. ISBN 0-7643-0226-4 Rommel's North Africa Campaign: tháng 9 năm 1940 – tháng 11 năm 1942, bởi Jack Greene. ISBN 1-58097-018-4 Tobruk 1941: Rommel's Opening Move (Campaign, 80) bởi Jon Latimer. ISBN 1-84176-092-7 21st Panzer Division: Rommel's Africa Korps Spearhead (Spearhead Series), bởi Chris Ellis. ISBN 0-7110-2853-2 Afrikakorps, 1941–1943: The Libya Egypt Campaign, bởi Francois De Lannoy. ISBN 2-84048-152-9 With Rommel's Army in Libya bởi Almasy, Gabriel Francis Horchler, Janos Kubassek. ISBN 0-7596-1608-6 Knight's cross: a life of Field Marshal Erwin Rommel bởi David Fraser. HarperPerennial, 1994. ISBN 0-06-092597-3. Rommel: the end of a legend bởi Ralf Georg Reuth. Haus Publishing, 2006. ISBN 1-904950-20-5. Patton and Rommel: Men of War in the Twentieth Century bởi Dennis E. Showalter. Berkley Pub. Group, 2006. ISBN 0-425-20663-7. Patton, Montgomery, Rommel: Masters of War bởi Tery Brighton. Crown Publishing Group, 2010. ISBN 0-307-46155-6. Generalfeldmarschall Rommel: opperbevelhebber van Heeresgruppe B bij de voorbereiding van de verdediging van West-Europa, 5 tháng 11 năm 1943 tot 6 juni 1944 bởi Hans Sakkers (1993). ISBN 90-800900-2-6 [sách hình ảnh bằng tiếng Hà Lan nói về Rommel tại bức tường Đại Tây Dương 1943/44] Zaloga, Steven (2013). The Devil's Garden: Rommel's Desperate Defense of Omaha Beach. Stackpole Books. ISBN 978-0-8117-5277-0. Rice, Earle (2009). Erwin J. E. Rommel-Great Military Leaders of the 20th Century Series. Infobase. tr. 95. ISBN 9781438103273. Von Fleischhauer, Jan; Friedmann, Jan (2012). “Die Kraft des Bösen”. Der Spiegel (bằng tiếng Đức) (44). Truy cập ngày 3 tháng 8 năm 2016. {{cite web | last=Fischer| first=Thomas | website=SWR | url = http://www.swr.de/rommel/rommel-und-hitler/hitlers-lieblingsgeneral/-/id=10224964/did=10210228/nid=10224964/tmdsxi/index.html%7C title = Rommel und Hitler | authorlink = | date = 2014 | access-date = 30 May 2016 | ref = CITEREFFischer2014 Lewin, Ronald (1998) [1968]. Rommel As Military Commander. New York: B&N Books. ISBN 978-0-7607-0861-3. Mitcham, Samuel W. (2007). Rommel's Desert War: The Life and Death of the Afrika Korps. Stackpole Books. ISBN 9780811741521. Moorhouse, Roger (2007). Killing Hitler: The Third Reich and the Plots Against the Führer. London: Random House. ISBN 978-1-844133-22-2. Remy, Maurice Philip (2002). Mythos Rommel (bằng tiếng Đức). Munich: List Verlag. ISBN 3-471-78572-8. Brighton, Terry (2008). Patton, Montgomery, Rommel: Masters of War. New York: Crown. ISBN 978-0-307-46154-4. Stein, Marcel; Fairbank, Gwyneth (2007). Field Marshal Von Manstein: The Janushead - A Portrait. Helion & Company Limited. tr. 242. ISBN 9781906033026. —— (2003). Rommel and His Art of War. Greenhill Books. ISBN 9-78185367543-0. Lieb, Peter (2013). “Erwin Rommel. Widerstandskämpfer oder Nationalsozialist?”. Vierteljahrshefte für Zeitgeschichte 61 (3). Degruyter. tr. 303–343. == Liên kết ngoài == Rommel Chronology World History Database The Forced Suicide of Field Marshall Rommel, 1944 Excerpts from Rommel's account of the blitzkrieg, 1940 Erwin Johannes Eugen Rommel Prominent People – Erwin Rommel
rotterdam.txt
Rotterdam (Tiếng Hà Lan: [ˌrɔtərˈdɑm] ( nghe)), thành phố ở Tây Nam Hà Lan, thành phố lớn nhất ở tỉnh Nam Hà Lan (Zuid-Holland), cảng lớn thứ hai thế giới, là một thành phố cảng gần Sông Maas, gần thành phố Den Haag. Được tuyên bố thành lập năm 1328, Rotterdam ngày nay là một trong những hải cảng lớn của thế giới. Rotterdam là trung tâm ngoại thương chính của Hà Lan cũng như quận Ruhr công nghiệp hoá cao độ của Đức, thành phố Rotterdam được trực tiếp nối với Sông Rhine có tầm quan trọng thương mại. Cảng Rotterdam lớn nhất châu Âu và lớn thứ nhất thế giới từ năm 1962 nhưng năm 2004 đã bị cảng tại Thượng Hải đoạt lấy danh hiệu này. Một con kênh nước sâu với tên gọi Đường thủy mới được mở ra năm 1872, được tạo ra từ (1866-1890) cho phép tàu biển tải trọng lớn đi vào từ Biển Bắc. Con kênh này và sự mở mang thương mại đã tạo ra sự bùng nổ về phát triển kinh tế của thành phố cuối thế kỷ 19. Europoort, một khu bến cảng lớn tại phía Tây của con kênh đã được xây thập niên 1960 chủ yếu dành cho việc bốc dỡ và chứa dầu từ những tàu chở dầu lớn. Các cơ sở kinh tế khách như các nhà máy lọc dầu, các nhà máy đóng tàu, các nhà máy sản xuất hoá chất, kim loại, đường ăn tinh chế nằm ở bờ Nam của Sông Maas tại Rotterdam. Các mặt hành xuất khẩu bao gồm than đá, máy móc, sản phẩm sữa. Các mặt hành nhập khẩu chính có dầu mỏ, quặng và ngũ cốc. Phần lớn thành phố và cảng cũ Rotterdam đã bị phá huỷ bởi bom oanh tạc trong Chiến tranh thế giới thứ hai (1939-1945), và thành phố hiện đại, có quy hoạch đã được xây dựng từ khi kết thúc chiến tranh. Khu vực trung tâm dân cư và thương mại chính của Rotterdam toạ lạc bên bờ Bắc của Sông Maas. Phía Tây của Coolsingel, đường phố lớn chính là một khu phố mua sắm rộng rãi với tên gọi Lijnbaan, chỉ mở cửa cho người đi bộ. Thành phố có Bảo tàng Boymans-van Beuningen (1847) nổi tiếng và Đại học Erasmus Rotterdam (1973), Vườn Động vật Blijdorp. Dân số năm 2003 là 599.651 người. == Địa lý == 'Rotterdam' được chia thành một phần phía bắc và một phần phía nam của sông Nieuwe Maas, nối liền bởi (từ tây sang đông): sông Beneluxtunnel; Maastunnel; Erasmusbrug ('Cầu Erasmus'); Một đường hầm tàu ​​điện ngầm; Các Willemsspoortunnel ('Willems đường hầm đường sắt'); Cầu Willemsbrug ('cầu Willems'); Koninginnebrug ('Cầu Nữ hoàng'); Và Van Brienenoordbrug ('Cầu Van Brienenoord'). Cầu đường sắt De Hef cũ ('the Lift') được giữ nguyên như một đài tưởng niệm ở vị trí được dỡ bỏ giữa Noordereiland ('Đảo Bắc') và phía nam của Rotterdam. Trung tâm thành phố nằm ở phía bắc của Nieuwe Maas, mặc dù sự phát triển đô thị gần đây đã mở rộng trung tâm đến các khu vực phía Nam Rotterdam gọi là De Kop van Zuid ('Đầu miền Nam', tức phía bắc của miền nam Rotterdam). Từ lõi nội địa của nó, Rotterdam tiếp cận biển Bắc bằng một vùng bao phủ chủ yếu là bến cảng. Được xây dựng chủ yếu dưới đê, phần lớn của Rotterdam nằm dưới mực nước biển. Ví dụ: Prins Alexander Polder ở phía đông bắc Rotterdam kéo dài 6 mét (20 ft) dưới mực nước biển, hoặc thấp hơn Normaal Amsterdams Peil (NAP) hoặc 'Amsterdam Damage Datum'. Điểm thấp nhất ở Hà Lan (6,66 mét (22,2 ft) dưới NAP) nằm ngay phía đông Rotterdam, trong đô thị của Nieuwerkerk aan den IJssel. Sông Rotte không còn trực tiếp vào Maze Maas. Kể từ đầu những năm 1980, khi việc xây dựng tuyến tàu điện ngầm thứ hai của Rotterdam đã can thiệp vào khóa học của Rotte, nước của nó đã được bơm qua đường ống dẫn vào Nieuwe Maas thông qua Boerengat. == Tham khảo ==
kyrgyzstan.txt
Kyrgyzstan (phiên âm tiếng Việt: Cư-rơ-gư-dơ-xtan hoặc Cư-rơ-gư-xtan; tiếng Kyrgyz: Кыргызстан; tiếng Nga: Киргизия, tuỳ từng trường hợp còn được dịch thành Kirgizia hay Kirghizia) (đánh vần theo IPA: /ˈkəːgɪztan/), tên chính thức Cộng hoà Kyrgyzstan, là một quốc gia tại Trung Á. Nằm kín trong lục địa và nhiều đồi núi, nước này giáp biên giới với Kazakhstan ở phía bắc, Uzbekistan ở phía tây, Tajikistan ở phía tây nam và Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa ở phía đông nam. Theo những con số ước tính tháng 8 năm 2016, dân số nước này là 6.088.000 người với đa số (72,6 phần trăm) là tín đồ Hồi giáo. == Lịch sử == === Buổi đầu lịch sử === Theo những khám phá lịch sử gần đây, lịch sử người Kyrgyz bắt đầu từ năm 201 trước Công Nguyên. Ban đầu người Kyrgyz sống ở vùng thượng châu thổ sông Enisei, trung tâm Siberia. Sự khám phá những nền văn hóa Pazyryk và Tashtyk cho thấy chúng có pha trộn các yếu tố văn hóa từ các bộ lạc du mục Turk và Iran. Các văn bản Trung Quốc và Hồi giáo giai đoạn thế kỷ 7–12 Công nguyên miêu tả người Kyrgyz là giống người tóc đỏ với nước da sáng và mắt xanh lá cây hay xanh nước biển. Mặt khác nguồn gốc người Kyrgyz từ dân bản địa Siberia đã được xác nhận sau những cuộc nghiên cứu di truyền học gần đây. Đáng chú ý, 63% đàn ông Kyrgyz hiện đại có chung Haplogroup R1a1 (Y-DNA) với người Tajik (64%), người Ukraine (54%), người Ba Lan (56%) và thậm chí người Iceland (25%). Haplogroup R1a1 (Y-DNA) được cho là tín hiệu của những nhóm người nói các ngôn ngữ Tiền Ấn-Âu. Quốc gia Kyrgyz mở rộng nhất sau khi đánh bại Hãn quốc Hồi Cốt năm 840 sau Công Nguyên. Sau đó người Kyrgyz nhanh chóng tiến xa tới tận dãy Thiên Sơn và tiếp tục duy trì ảnh hưởng của họ trên vùng đất này trong khoảng 200 năm. Tuy nhiên, ở thế kỷ 12, ảnh hưởng của Kyrgyz chỉ còn tới Dãy Altay và Núi Sayan vì sự mở rộng của Đế quốc Mông Cổ đang trên đà hình thành. Với sự xuất hiện của Đế quốc Mông Cổ ở thế kỷ 13, người Kyrgyz đã di cư về phía nam. Nhiều dân tộc Turk đã cai trị họ cho tới năm 1685, khi họ rơi vào quyền kiểm soát của Kalmyk (Oirat, Dzungar). === Ảnh hưởng của Nga === Đầu thế kỷ 19, vùng phía nam của Kyrgyzstan ngày nay rơi vào vòng kiểm soát của Hãn quốcd Kokand. Lãnh thổ này, khi ấy được người Nga gọi là "Kirgizia", đã được chính thức sáp nhập vào Đế chế Nga năm 1876. Người Nga phải đối mặt với nhiều cuộc nổi dậy chống chính quyền Sa Hoàng, và nhiều người Kyrgyz đã lựa chọn di cư tới Pamir và Afghanistan. Ngoài ra, sự đàn áp cuộc nổi dậy năm 1916 tại Trung Á đã khiến nhiều người Kyrgyz phải di cư tới Trung Quốc. Bởi nhiều nhóm sắc tộc trong vùng này đã (và vẫn đang) sống trên lãnh thổ của nhiều quốc gia láng giềng, ở thời điểm khi các biên giới còn chưa được phân định rõ ràng, nên việc di chuyên tới lui giữa các vùng núi, phụ thuộc vào địa điểm nào họ cho là thích hợp nhất với cuộc sống của mình; có nghĩa là nơi có nhiều mưa cho mùa màng hay sự quản lý của chính phủ dễ dàng hơn, là điều rất thông thường. === Thời kỳ Xô viết === Lần đầu tiên quyền lực Xô viết được thiết lập ở vùng này là vào năm 1919 và Vùng tự trị Kara-Kyrgyz được thành lập bên trong nước Cộng hòa Liên bang Xã hội chủ nghĩa Xô viết Nga (thuật ngữ Kara-Kirghiz đã được người Nga sử dụng cho tới giữa những năm 1920 để phân biệt họ với người Kazakhs, những người cũng được gọi là Kirghiz). Ngày 5 tháng 12 năm 1936, Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Xô viết Kyrgyz được thành lập với tư cách một nước cộng hòa đầy đủ của Liên bang Xô viết. Trong thập niên 1920, Kyrgyzstan đã có bước phát triển đáng kể về văn hoá, giáo dục và đời sống xã hội. Tỷ lệ biết chữ gia tăng mạnh, và một tiêu chuẩn về biết chữ được đưa ra. Phát triển kinh tế và xã hội cũng đạt thành quả lớn. Nhiều lĩnh vực văn hóa quốc gia Kyrgyz vẫn được duy trì dù có sự đàn áp các hoạt động quốc gia thời Stalin, và vì thế, những căng thẳng với tất cả các cơ quan liên bang liên tục diễn ra. Những năm đầu thời kỳ cải tổ không mang lại thay đổi nhiều trong đời sống chính trị Kyrgyzstan. Tuy nhiên, báo chí tại nước cộng hòa này được cho phép có quan điểm tự do hơn và được thành lập một cơ quan xuất bản mới, Literaturny Kirghizstan, của Liên minh Nhà văn. Các nhóm chính trị không chính thức bị cấm đoán, nhưng nhiều nhóm vẫn xuất hiện năm 1989 để đương đầu với cuộc khủng hoảng sâu sắc về nhà ở được phép hoạt động. Tháng 6 năm 1990, căng thẳng sắc tộc giữa người Uzbek và người Kyrgyz xuất hiện tại Vùng Osh, nơi người Uzbek chiếm đa số. Bạo lực nhanh chóng diễn ra, và tình trạng khẩn cấp cùng lệnh giới nghiêm được ban hành. Trật tự chỉ được tái lập vào tháng 8 năm 1990. Đầu thập niên 1990 nhiều thay đổi to lớn đã diễn ra tại Kyrgyzstan. Tới thời điểm ấy, Phong trào Dân chủ Kyrgyzstan (KDM) đã phát triển thành một lực lượng chính trị khá mạnh trong nghị viện. Trong một thắng lợi gây tranh cãi, Askar Akayev, vị chủ tịch theo đường lối tự do của Viện hàn lâm Kyrgyz, đã lên giữ chức tổng thống tháng 10 năm 1990. Tháng 1 năm sau đó, Akayev đưa ra các cơ cấu chính phủ mới và chỉ định một chính phủ gồm chủ yếu những chính trị gia trẻ, có khuynh hướng cải cách. Tháng 12 năm 1990, Xô viết Tối cao bỏ phiếu thay đổi tên nhà nước cộng hòa thành Cộng hoà Kyrgyzstan. (Năm 1993, nước này đổi tên thành Cộng hoà Kyrgyz.) Tháng 2 năm 1991, tên thủ đô, Frunze, được đổi lại theo cái tên trước đó là Bishkek. Dù có những động thái theo hướng độc lập, những thực tế kinh tế dường như vẫn chống lại sự ly khai khỏi Liên bang Xô viết. Trong một cuộc trưng cầu dân ý về việc duy trì nhà nước Xô viết tháng 3 năm 1991, 88.7% cử tri đã bỏ phiếu ủng hộ duy trì Liên bang Xô viết dưới hình thức một "Liên bang mới." Ngày 19 tháng 8 năm 1991, khi Ủy ban Khẩn cấp Nhà nước nắm quyền lực tại Moskva, đã có nỗ lực nhằm hạ bệ Akayev tại Kyrgyzstan. Sau khi vụ đảo chính bị tiêu diệt một tuần sau đó, Akayev và Phó tổng thống German Kuznetsov thông báo việc rút lui khỏi Đảng Cộng sản Liên bang Xô viết (CPSU), và toàn thể ủy ban cũng như các thư ký cơ cấu đảng đều từ chức. Sau đó Xô viết Tối cao bỏ phiếu tuyên bố độc lập khỏi Liên bang Xô viết ngày 31 tháng 8 năm 1991. === Độc lập === Tháng 10 năm 1991, Akayev là ứng cử viên duy nhất tranh cử và chiến thắng trong cuộc bầu cử tổng thống của nước Cộng hòa mới qua bỏ phiếu trực tiếp, với 95% phiếu bầu. Cùng với các đại biểu của 7 nước cộng hòa khác, cũng trong tháng 10, ông ký kết Hiệp ước Cộng đồng Kinh tế Mới. Cuối cùng, ngày 21 tháng 12 năm 1991, Kyrgyzstan cùng bốn nước cộng hòa khác vùng Trung Á chính thức gia nhập Cộng đồng các quốc gia độc lập mới được thành lập. Năm 1992, Kyrgyzstan gia nhập Liên hiệp quốc và Tổ chức An ninh và Hợp tác châu Âu (OSCE). Cuộc "Cách mạng Tulip," sau cuộc bầu cử nghị viện tháng 3 năm 2005, đã buộc Tổng thống Akayev phải từ chức ngày 4 tháng 4 năm 2005. Các lãnh đạo phe đối lập đã thành lập một liên minh và một chính phủ mới dưới sự lãnh đạo của Tổng thống Kurmanbek Bakiyev và Thủ tướng Feliks Kulov. Tuy nhiên, sự ổn định chính trị dường như còn mong manh, bởi nhiều nhóm và phe phái được cho là có liên quan tới tội phạm có tổ chức đang gắng sức giành quyền lực. Ba trong 75 thành viên Nghị viện được bầu tháng 3 năm 2005 đã bị ám sát, và một thành viên khác bị ám sát ngày 10 tháng 5 năm 2006 một thời gian ngắn sau khi trúng cử chiếc ghế trống của anh mình đã bị ám sát trước đó. Tất cả bốn người đều bị cho là có liên quan trực tiếp tới các hoạt động kinh doanh bất hợp pháp. Những vấn đề hiện nay ở Kyrgyzstan gồm: tư nhân hóa các doanh nghiệp nhà nước, mở rộng dân chủ và tự do chính trị, quan hệ sắc tộc và chủ nghĩa khủng bố. == Chính trị == Hiến pháp năm 1993 quy định hình thức chính phủ là cộng hòa dân chủ. Nhánh hành pháp gồm một tổng thống và thủ tướng. Nghị viện hiện tại theo chế độ đơn viện. Nhánh tư pháp gồm một Tòa án tối cao, một Tòa án Hiến pháp, các tòa án địa phương, và một Trưởng Công tố. Tháng 3 năm 2002, tại quận phía nam Aksy, năm người phản đối việc tùy tiện bắt giữ một chính trị gia đối lập đã bị cảnh sát bắn chết, gây ra những cuộc phản kháng rộng rãi trên khắp cả nước. Tổng thống Akayev đã đề xuất một quá trình cải cách hiến pháp ban đầu gồm sự tham gia của một ủy ban đại diện chính phủ, dân sự và xã hội rộng lớn hơn trong một cuộc thảo luận mở, dẫn tới cuộc trưng cầu dân ý vào tháng 2 năm 2003, không thành công bởi những gian lận. Những sử đổi hiến pháp được phê chuẩn theo cuộc trưng cầu dân ý dẫn tới quyền kiểm soát mạnh hơn cho tổng thống và giảm quyền lực của Nghị viện cùng Tòa án Hiến pháp. Cuộc bầu cử nghị viện mới với 75 ghế được tổ chức từ ngày 27 tháng 2 đến 13 tháng 3 năm 2005, nhưng bị đa số các nhà quan sát cho là có gian lận. Những cuộc biểu tình phản kháng sau đó đã dẫn tới một cuộc đảo chính hòa bình ngày 24 tháng 3, sau sự kiện này Akayev đã chạy trốn khỏi đất nước và được thay thế bởi tổng thống lâm thời Kurmanbek Bakiyev. (xem: Cách mạng Tulip). Các lãnh đạo chính phủ lâm thời đang phát triển một cơ cấu chính phủ mới cho đất nước và làm việc để giải quyết các vấn đề nổi cộm về hiến pháp. Ngày 10 tháng 7 năm 2005, tổng thống lâm thời Bakiyev chiến thắng trong cuộc bầu cử tổng thống với thắng lợi vang dội, đạt 88.9% số phiếu, và chính thức nhậm chức ngày 14 tháng 8. Tuy nhiên, sự ủng hộ ban đầu của công chúng cho ban lãnh đạo mới sau mấy tháng đã sụt giảm vì họ không thể giải quyết các vấn đề tham nhũng đã từng là tai họa của đất nước từ khi độc lập khỏi Liên bang Xô viết, cùng với những vụ ám sát các thành viên nghị viện. Những vụ tuần hành đông đảo phản đối tổng thống Bakyiev đã diễn ra tại Bishkek trong tháng 4 và tháng 11 năm 2006, các lãnh đạo phe đối lập buộc tội tổng thống không thể thực hiện các lời hứa khi tranh cử như cải cách hiến pháp và chuyển giao một số quyền lực cho nghị viện. [1] == Phân chia hành chính == Kyrgyzstan được chia thành 7 tỉnh (số ít oblast (область), số nhiều oblasttar (областтар)) được quản lý bởi các thống đốc do chỉ định. Thủ đô, Bishkek, về mặt hành chính là một thành phố độc lập (shaar) với vị thế tương đương một tỉnh. Các tỉnh, thành phố thủ đô, như sau: Bishkek Batken (Batken) Chui (Chui-Tokmok) Jalal-Abad (Jalal-Abad) Naryn (Naryn) Osh (Osh) Talas (Talas) Issyk-Kul (Karakol) Mỗi tỉnh gồm một số quận (raion), được quản lý bởi các quan chức do chính phủ chỉ định (akim). Các cộng đồng nông nghiệp (ayıl ökmötü), gồm tới hai mươi khu định cư nhỏ, có thị trưởng riêng do họ tự bầu và các hội đồng địa phương. == Địa lý == Kyrgyzstan là một nước nằm kín trong lục địa tại Trung Á, giáp biên giới với Kazakhstan, Trung Quốc, Tajikistan và Uzbekistan. Vùng núi non Tian Shan bao phủ 80% đất nước (vì thế Kyrgyzstan thỉnh thoảng cũng được gọi là "Thụy Sĩ vùng Trung Á" [2].), phần diện tích còn lại gồm các thung lũng và châu thổ. Hồ Issyk-Kul ở tây bắc Tian Shan là hồ lớn nhất tại Kyrgyzstan và là hồ trên núi lớn thứ hai trên thế giới sau Titicaca. Những đỉnh cao nhất nằm trên rặng Kakshaal-Too, hình thành nên biên giới với Trung Quốc. Đỉnh Jengish Chokusu, độ cao 7.439 m (24.400 feet), là điểm cao nhất và được các nhà địa chất (dù không phải là các nhà leo núi) coi là đỉnh nằm xa nhất phía bắc thế giới. Mùa đông với những trận tuyết rơi dày mang tới những trận lụt vào mùa xuâ và thường gây thiệt hại lớn phía hạ nguồn. Những dòng nước chảy từ trên cao cũng là tiềm năng lớn cho thủy điện. Khí hậu khác biệt theo từng vùng. Thung lũng Fergana phía tây nam thuộc kiểu khí hậu cận nhiệt đới và rất nóng vào mùa hè, với nhiệt độ đạt tới 40 °C (104 °F.) Các vùng đồi phía bắc thuộc khí hậu ôn hoà và Tian Shan từ kiểu khí hậu lục địa khô tới khí hậu cực, tùy thuộc độ cao. Tại các vùng lạnh nhất nhiệt độ ở mức dưới không trong khoảng 40 ngày mùa đông, và thậm chí tại một số vùng sa mạc còn có tuyết rơi thường xuyên trong thời kỳ này. Kyrgyzstan có nguồn khoáng sản kim loại khá lớn gồm vàng và kim loại hiếm. Vì địa hình đất nước này chủ yếu là đồi núi, chưa tới 8% diện tích có thể canh tác, và tập trung tại các vùng đất thấp phía bắc và các rìa Thung lũng Fergana. Bishkek ở phía bắc là thủ đô và thành phố lớn nhất, với xấp xỉ 900.000 nghìn dân (thời điểm năm 2005). Thành phố đứng thứ hai là thị trấn cổ Osh, nằm tại Thung lũng Fergana gần biên giới với Uzbekistan. Con sông chính là Naryn, chảy về phía tây xuyên qua Thung lũng Fergana vào Uzbekistan, nơi nó hợp lưu với dòng sông chính khác của Kyrgyzstan, sông Kara Darya, hình thành nên Syr Darya cuối cùng chảy vào Biển Aral — dù một lượng lớn nước đã bị khai thác cho tưới tiêu tại các cánh đồng bông của Uzbekistan khiến con sông khô cạn trước khi nó tới được biển này. sông Chu cũng có một đoạn ngắn chảy qua Kyrgyzstan trước khi vào Kazakhstan. === Những vùng đất bị quốc gia khác bao quanh và những vùng đất tách khỏi mẫu quốc === Có một vùng đất tách khỏi mẫu quốc, đó là ngôi làng nhỏ Barak, Kyrgyzstan [3], (dân số 627 người) tại thung lũng Fergana. Làng này bị lãnh thổ Uzbek bao quanh và nằm giữa các thị trấn Margilan và Fergana. Có bốn vùng đất Uzbekistan nằm trong lãnh thổ Kyrgyzstan. Hai trong số đó là các thị trấn Sokh (diện tích 325 km²/125 dặm vuông với dân số 42.800 người năm 1993, dù một số ước tính cho rằng con số này có thể lên tới 70.000 người; 99% là người Tajik, số còn lại là người Uzbek), và Shakhrimardan (cũng được gọi là Shakirmardon hay Shah-i-Mardan, diện tích 90 km²/35 dặm vuông và dân số 5.100 năm 1993; 91% là người Uzbek, số còn lại là người Kyrgyz); hai vùng lãnh thổ nhỏ khác là Chuy-Kara (hay Kalacha, dài khoảng 3 km và rộng 1 km hay 2 dặm nhân 0.6 dặm) và Dzhangail (một chấm đất nhỏ chỉ có chiều ngang 2 hay 3 km). Chuy-Kara nằm trên sông Sokh, giữa biên giới Uzbek và khu lãnh thổ tách khỏi mẫu quốc Sokh. Có hai vùng lãnh thổ của Tajikistan nằm gọn trong Kyrgyzstan: Vorukh (diện tích khoảng 95 và 130 km² [37–50 dặm vuông], dân số được ước lượng trong khoảng 23.000 và 29.000, 95% người Tajik và 5% Kyrgyz, sống tại 17 ngôi làng), nằm cách 45 kilômét (28 dặm) phía nam Isfara trên bờ phải sông Karafshin, và một khu định cư nhỏ gần ga đường sắt Kyrgyz Kairagach. == Kinh tế == Dù có sự giúp đỡ của các nhà tài trợ lớn phương Tây, gồm cả Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF), Ngân hàng thế giới và Ngân hàng phát triển châu Á, Cộng hoà Kyrgyz vẫn phải đối mặt với những khó khăn về kinh tế từ sau độc lập. Ban đầu, đó là hậu quả của sự tan vỡ khối thương mại Xô viết dẫn tới mất thị trường, cản trở sự chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường tự do của nước này. Chính phủ đã giảm chi tiêu, chấm dứt đa số các khoản trợ giá, và đưa ra áp dụng thuế giá trị gia tăng. Nói chung, chính phủ có vẻ kiên quyết chuyển đổi sang một nền kinh tế thị trường. Thông qua biện pháp cải cách và ổn định, chính phủ muốn thiết lập những nền tảng cho một sự phát triển kinh tế lâu dài và bền vững. Các biện pháp cải cách đã giúp Cộng hòa Kyrgyz gia nhập Tổ chức thương mại thế giới (WTO) ngày 20 tháng 12 năm 1998. Kinh tế Cộng hòa Kyrgyz đã bị ảnh hưởng nặng nề sau sự sụp đổ của Liên bang Xô viết và sự biến mất của một thị trường rộng lớn. Năm 1990, khoảng 98% xuất khẩu Kyrgyz là tới những khu vực khác thuộc Liên bang Xô viết. Vì thế, tình hình nền kinh tế quốc gia đầu những năm 1990 ở đây tồi tệ hơn bất kỳ một nước cộng hòa nào khác thuộc Liên bang Xô viết cũ ngoại trừ các quốc gia bị ảnh hưởng bởi những cuộc chiến tranh: Armenia, Azerbaijan, và Tajikistan, khi các nhà máy, các hợp tác xã nông nghiệp sụp đổ cùng sự biến mất của các thị trường truyền thống. Tuy tình hình kinh tế đã có cải thiện đáng kể trong vài năm qua, và đặc biệt từ năm 1998, nhiều vấn đề vẫn tồn tại như nhu cầu về các khoản thu thích ứng từ thuế và tạo lập được một mạng lưới an sinh xã hội thích hợp. Nông nghiệp là một lĩnh vực quan trọng của nền kinh tế Cộng hòa Kyrgyz; xem Nông nghiệp Kyrgyzstan. Tới đầu thập niên 1990, lĩnh vực nông nghiệp tư nhân chiếm khoảng một phần ba tới một nửa sản lượng thu hoạch. Năm 2002 nông nghiệp chiếm 35.6% GDP và khoảng một nửa lực lượng lao động. Lãnh thổ Cộng hoà Kyrgyz chủ yếu là đồi núi, thích hợp cho chăn nuôi, hoạt động nông nghiệp lớn nhất, với những sản phẩm chính là len, thịt, và các sản phẩm sữa. Cây trồng chủ chốt gồm lúa mì, củ cải đường, khoai tây, bông, thuốc lá, rau, và quả. Bởi giá nhập khẩu các sản phẩm hóa chất nông nghiệp và dầu mỏ tăng cao, đa số các hoạt động nông nghiệp được thực hiện bằng tay hay bằng sức ngựa, như hàng thế hệ trước. Chế biến sản phẩm nông nghiệp là một yếu tố then chốt của kinh tế công nghiệp, cũng như là một trong những lĩnh vực thu hút đầu tư nước ngoài lớn nhất. Cộng hoà Kyrgyz sở hữu nhiều nguồn tài nguyên khoáng sản nhưng có trữ lượng dầu mỏ và khí tự nhiên thấp; nước này phải nhập khẩu dầu mỏ và khí gas. Trong số các nguồn tài nguyên khoáng sản có than, vàng, uranium, antimony, và các kim loại hiếm khác. Luyện kim là một ngành công nghiệp quan trọng, và chính phủ hy vọng đây sẽ là lĩnh vực thu hút đầu tư nước ngoài mạnh. Chính phủ đã khuyến khích sự tham gia của các nhà đầu tư nước ngoài vào lĩnh vực khai thác và chế biến vàng. Các nguồn tài nguyên nước phong phú của Cộng hòa Kyrgyz và địa hình đồi núi cho phép nước này sản xuất và xuất khẩu một lượng lớn năng lượng thủy điện. Ở mức độ địa phương, kinh tế chủ yếu là kinh doanh nhỏ. Một lượng lớn giao dịch thương mại địa phương diễn ra tại các chợ và kiốt ở các làng. Hàng hóa tiêu dùng như khí đốt (nhiên liệu) thường được bán ven đường trong các thùng chứa. Một lượng đáng kể thương mại diễn ra ngoài tầm kiểm soát của nhà nước. Tại các làng hẻo lánh tình trạng thiếu thốn hàng hóa tiêu dùng cũng thường xảy ra. Vì thế phần đông các gia đình đều có khả năng tự cung tự cấp về lương thực. Có sự khác biệt rất lớn giữa kinh tế thành thị và nông thôn. Các mặt hàng xuất khẩu chính là các loại kim loại màu và khoáng sản, sản phẩm len cùng các sản phẩm nông nghiệp, năng lượng điện, và một số sản phẩm cơ khí. Nhập khẩu gồm dầu mỏ và khí gas, kim loại màu, hóa chất, đa số các loại máy móc, len và các sản phẩm giấy cùng một số loại thực phẩm và vật liệu xây dựng. Các đối tác thương mại chính của nước này là Đức, Nga, và các nước láng giềng Trung Quốc, Kazakhstan và Uzbekistan. Tính đến năm 2016, GDP của Kyrgyzstan đạt 5.794 USD, đứng thứ 148 thế giới, đứng thứ 41 châu Á và đứng thứ 5 Trung Á. == Nhân khẩu == The World Almanac 2005 báo cáo rằng dân số Kyrgyzstan hơi lớn hơn 5 triệu người, được ước tính khoảng 5.081.429. Trong số đó, 34.4% dưới 15 tuổi và 6.2% trên 65 tuổi. Đây là một quốc gia nông thôn; chỉ khoảng một phần ba (33.9%) dân số Kyrgyzstan sống tại các vùng đô thị. Mật độ dân số trung bình 29 người trên km² (69 người trên dặm vuông). Nhóm sắc tộc lớn nhất nước là Kyrgyz, một dân tộc Turk. Người Kyrgyz chiếm 69.5% dân số và trong lịch sử từng là những người chăn nuôi bán du mục, sống trong những chiếc lều tròn được gọi là yurt và nuôi cừu, ngựa và bò Tây Tạng. Truyền thống du mục này còn tiếp tục diễn ra theo mùa (xem Chuyển gia súc lên núi) khi các gia đình chăn nuôi quay trở về từ các đồng cỏ (hay jailoo) trên núi cao vào mùa hè. Việc bảo tồn di sản du mục này cũng như những tư tưởng tự do của nó vẫn có ảnh hưởng lớn tới không khí chính trị trong nước. Cái tên Kyrgyz, sử dụng cho cả người dân và quốc gia, được cho rằng có nghĩa "bốn mươi cô gái", một sự ám chỉ tới Manas (sử thi) dân gian về việc thống nhất bốn mươi bộ tộc chống lại người Mông Cổ. Các nhóm sắc tộc khác gồm người Nga (9.0%) tập trung ở phía Bắc và người Uzbek (14.5%) sống ở phía nam. Các cộng đồng nhỏ nhưng cũng đáng chú ý khác gồm Tatars (1.9), Uyghurs (1.1%), Kazakhs (0.7%) và Ukraina (0.5%). Cộng đồng Đức Volga từng khá đông đúc trước kia, đã bị Stalin trục xuất tới đây từ nhà cửa của họ tại nước Cộng hòa Đức Volga, đa số họ đã quay trở về Đức, và chỉ còn sót lại vài nhóm nhỏ. Một số nhỏ dân số là người Triều Tiên Xô viết, có nghĩa hậu duệ của những cư dân Triều Tiên trước kia tại Vladivostok, Những người đã bị Stalin trục xuất tại Trung Á (và vùng Kavkaz) trong Chiến tranh thế giới thứ hai. == Ngôn ngữ == Kyrgyzstan là một trong hai trong số năm nước cộng hòa thuộc Liên Xô cũ ở Trung Á còn giữ tiếng Nga là một ngôn ngữ chính thức (tiếng Kazakh là ngôn ngữ kia). Nước này đã thêm tiếng Kyrgyz để trở thành quốc gia có hai ngôn ngữ chính thức vào tháng 9 năm 1991. Đây là một tín hiệu rõ ràng cho những người Nga sinh sống ở Kyrgyzstan rằng họ được chào đón trong nước cộng hòa mới, trong một nỗ lực nhằm tránh tình trạng chảy máu chất xám. Tiếng Kyrgyz là một thành viên thuộc nhóm ngôn ngữ Turk và được viết bằng ký tự Ả Rập cho đến tận thế kỷ 20. Ký tự Latinh đã được đưa ra và chấp nhận năm 1928, và sau đó đã được thay thế bởi ký tự Kirin năm 1941. Nói chung, tất cả mọi người trong nước đều hiểu và nói tiếng Nga, ngoại trừ tại một số vùng xa xôi hẻo lánh. Tiếng Nga là tiếng mẹ đẻ của đa số dân cư Bishkek, và hầu hết các giao dịch thương mại cũng như chính trị đều được tiến hành bằng ngôn ngữ này. Cho tới gần đây, tiếng Kyrgyz vẫn là ngôn ngữ được sử dụng tại gia đình, và hiếm khi được dùng trong các cuộc gặp gỡ hay các sự kiện khác. Tuy nhiên, đa số các cuộc họp nghị viện hiện nay được tiến hành bằng tiếng Kyrgyz, với phiên dịch đồng thời cho những người không nói tiếng Kyrgyz. == Văn hoá == Manas, một sử thi Komuz, đàn luýt ba dây Tush kyiz, đồ treo tường thêu tỉ mỉ lớn Shirdak, nệm phẳng làm bằng shadow-pairs [4] các loại sản phẩm dệt khác, đặc biệt chế tạo từ nỉ Thuật săn bằng chim ưng === Truyền thống === Một hành động đã bị cấm đoán nhưng vẫn thường diễn là truyền thống bắt cóc cô dâu [5]. Hiện đang có tranh cãi về việc liệu hành động bắt cóc cô dâu có thực sự là một truyền thống hay không. Một số lý lẽ xung đột có thể xuất phát từ việc các cuộc hôn nhân có sắp xếp là một hành động truyền thống, và một trong những cách thoát khỏi những cuộc hôn nhân có sắp xếp đó là tổ chức một cuộc "bắt cóc." Xem Báo cáo của Human Rights Watch "Cam chịu Bạo lực: Nhà nước không thể ngăn chặn những vụ lạm dụng và bắt cóc phụ nữ tại Kyrgyzstan" xuất bản tháng 9 năm 2006, Vol. 18, No.9. === Tôn giáo === Kyrgyzstan là một quốc gia thế tục. Trong thời Xô viết, quốc gia vô thần được khuyến khích. Tôn giáo chủ yếu của nước này là Hồi giáo Sunni (đặc biệt là trường phái Hanafi) - khoảng 70% vào thời điểm năm 1994.[6] Hồi giáo tại Kyrgyzstan là một nền tảng văn hóa chứ không phải là sự thực hiện nghi thức hàng ngày đối với một số người. Các nhà thờ Thiên chúa giáo chính là Chính thống Nga và Chính thống Ukraine. Một cộng đồng nhỏ người Đức là các tín đồ Tin lành Thiên chúa, chủ yếu thuộc phái Lutheran và Baptist. Các truyền thống duy linh vẫn tồn tại, và là những ảnh hưởng từ Phật giáo như hành động treo cờ phướn trên những cây thiêng. Một số lượng nhỏ Người Do Thái Bukharian sống tại Kyrgyzstan, nhưng trong thời kỳ Liên bang Xô viết sụp đổ đa số họ đã tới Hoa Kỳ và Israel. === Cờ === Mặt trời tỏa 40 tia nắng vàng ở trung tâm lá cờ thể hiện 40 chiến binh của người anh hùng thần thoại Manas. Các đường bên trong mặt trời thể hiện ngôi vua hay tunduk (Kyrgyz түндүк) của một yurt, một biểu tượng được lặp lại trên nhiều công trình kiến trúc Kyrgyz. Phần màu đỏ trên lá cờ biểu hiện hòa bình và sự cởi mở của Kyrgyzstan. === Giáo dục === Các định chế giáo dục tại Kyrgyzstan gồm: Đại học Trung Á Hoa Kỳ KRSU - Đại học Slavơ Kyrgyz Nga KNU - Đại học quốc gia Kyrgyz Đại học Kyrgyz-Thổ Nhĩ Kỳ MANAS Đại học Nhân loại Bishkek Đại học quốc tế Kyrgyzstan Đại học quốc tế Ataturk-Alatoo Đại học quốc gia Osh Đại học Kyrgyz Uzbek Đại học kỹ thuạt Osh Viện Luật và Doanh nghiệp Moskov Đại học quốc tế Kyrgyzstan Đại học quốc gia Kyrgyz-Nga === Cưỡi ngựa === Các môn thể thao truyền thống quốc gia phản ánh tầm quan trọng của hành động cưỡi ngựa trong văn hoá Kyrgyz. Rất phổ thông, như tại tất cả các quốc gia Trung Á khác, là Kok Boru (có nghĩa "sói xanh"), một môn thể thao đồng đội giống như polo và rugby trên lưng ngựa, theo đó hai đội tìm cách mang xác một con dê không đầu vượt qua vạch gôn đội đối thủ, hay theo kiểu thường được chơi ngày nay, vào trong gôn đội đối thủ, một chiếc bình lớn hay một vòng đánh dấu trên mặt đất. Trong trận đấu các đấu thủ tìm cách giật xác dê từ tay đối thủ. Các môn thể thao phổ thông trên lưng ngựa khác gồm Tyiyn hay Tenghe Enish (nhặt một đồng xu trên mặt đất trong khi đang phi ngựa), Kyz Kuumai (đuổi một cô gái để thắng một cái hôn của cô ta, khi cô đang phi ngựa chạy và có thể đánh kẻ đuổi theo bằng chiếc roi da của mình), Oodarysh (vật trên lưng ngựa), những cuộc đua ngựa đường trường trên 15, 20 hay thậm chí 50 và 100 km, và các môn thể thao khác. == Vận tải == Vận tải Kyrgyzstan ở tình trạng kém phát triển vì kiểu địa hình đồi núi của nước này. Các con đường phải chạy ngoằn nghèo theo các thung lũng, vượt qua những con đèo có độ cao tới 3.000 mét (9.000 feet) hoặc hơn nữa, và thường bị lở đất hay lở tuyết. Đường sá vào mùa đông có thể bị đóng hoặc không thể đi lại ở nhiều vùng xa xôi và có độ cao lớn. Ngoài các vấn đề về đường bộ, các tuyến đường sắt được xây dựng thời Xô viết hiện đã bị ngăn cách bởi nhiều biên giới quốc tế, đòi hỏi thời gian hoàn thành các thủ tục cần thiết để vượt qua khi chúng còn ở tình trạng hoạt động được. Cũng cần chú ý rằng ngựa vẫn là phương tiện vận tải được lựa chọn nhiều, đặc biệt tại các vùng nông thôn và không có đường giao thông, bởi nó không phụ thuộc vào nhiên liệu nhập khẩu. === Sân bay === Cuối thời kỳ Xô viết có khoảng 50 sân bay và đường băng tại Kyrgyzstan, nhiều trong số chúng được xây dựng chủ yếu phục vụ cho các mục đích quân sự tại vùng biên giới giáp Trung Quốc này. Chỉ một vài sân bay hiện vẫn hoạt động. Sân bay Manas gần Bishkek là cảng hàng không quốc tế chính, với các đường bay tới Moskva, Tashkent, Dushanbe, Istanbul, Baku, và Luân Đôn. Sân bay Osh là cảng hàng không chính ở phía Nam, với các chuyến bay hàng ngày tới Bishkek. Sân bay Jalal-Abad được nối với Bishkek bởi hai chuyến bay mỗi tuần. Các cơ sở khác xây dựng thời Xô viết hoặc đã đóng cửa hoặc chỉ được sử dụng thỉnh thoảng hay dành riêng cho quân sự (ví dụ, căn cứ không quân Kant, hiện là căn cứ không quân của Nga gần Bishkek === Đường sắt === Thung lũng Chui ở phía bắc và thung lũng Ferghana ở phía nam là các điểm kết thúc của hệ thống đường sắt Liên bang Xô viết ở Trung Á. Sau khi các quốc gia độc lập xuất hiện thời hậu Xô viết, các tuyến đường sắt được xây dựng trước kia đã bị các biên giới hành chính cắt ngang, và vì thế ảnh hưởng nghiêm trọng tới hoạt động giao thông. Những đoạn đường sắt ngắn bên trong Kyrgyzstan, tổng cộng khoảng 370 km (khổ 1.520 mm), có ít giá trị kinh tế vì thiếu hàng hóa vận chuyển trên khoảng cách xa cũng như đi và tới các trung tâm như Tashkent, Almaty và các thành phố của Nga. Hiện có những kế hoạch bước đầu để mở rộng các tuyến đường sắt từ Balykchy ở phía bắc và/hay từ Osh ở phía nam tới Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa, nhưng chi phí cho việc này rất lớn. ==== Những tuyến đường sắt nối với các quốc gia lân cận ==== Kazakhstan - có - nhánh Bishkek - cùng khổ Uzbekistan - có - nhánh Osh - cùng khổ Tajikistan - không - cùng khổ Trung Quốc - không - khác khổ 1524mm/1435mm === Đường cao tốc === Với sự hỗ trợ của Ngân hàng phát triển châu Á, một đường chính nối từ phía bắc tới tây nam từ Bishkek tới Osh gần đây đã hoàn thành. Công trình này giúp việc liên lạc giữa hai trung tâm dân cư chính trong nước—Thung lũng Chui ở phía bắc và Thung lũng Fergana ở phía nam trở nên dễ dàng hơn rất nhiều. Một phần của con đường này vượt qua một con đèo cao 3.500 dẫn vào Thung lũng Talas ở phía tây bắc. Nhiều kế hoạch đang được đưa ra nhằm xây dựng một con đường chính từ Osh tới Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa. Tổng cộng: 30.300 km (gồm 140 km đường cao tốc)đường trải nhựa: 22.600 km (gồm cả một số đoạn trải sỏi)không trải nhựa: 7.700 km (những con đường này làm bằng đất không lu và rất khó đi lại trong điều kiện thời tiết xấu) (1990) === Đường ống === Khí tự nhiên 200 km === Đường thuỷ === Các tuyến đường thủy chỉ hoạt động trên Hồ Issyk Kul, và đã thu hẹp nhiều từ sau khi Liên bang Xô viết sụp đổ. === Cảng === Balykchy (Ysyk-Kol hay Rybach'ye), trên Hồ Issyk Kul. == Các chủ đề khác == Liên minh Trung Á Viễn thông Kyrgyzstan Quan hệ nước ngoài Kyrgyzstan Kyrgyzstan tại Olympic mùa hè 2004 Bầu cử nghị viện Kyrgyz năm 2005 Bầu cử tổng thống Kyrgyz năm 2005 Danh sách các loài chim Kyrgyzstan Danh sách thành phố Kyrgyzstan Quân đội Kyrgyzstan Hướng đạo sinh Kyrgyzstan Vận tải Kyrgyzstan Cách mạng Tulip Tem bưu chính và lịch sử bưu chính Kyrgyzstan Căn cứ không quân Manas == Đọc thêm == Historical Dictionary of Kyrgyzstan của Rafis Abazov Kyrgyzstan: Central Asia's Island of Democracy? của John Anderson Kyrgyzstan: The Growth and Influence of Islam in the Nations of Asia and Central Asia của Daniel E. Harmon Lonely Planet Guide: Central Asia của Paul Clammer, Michael Kohn và Bradley Mayhew Odyssey Guide: Kyrgyz Republic của Ceri Fairclough, Rowan Stewart và Susie Weldon "Silk Road to Ruin: Is Central Asia the New Middle East?" của Ted Rall "Kyrgyzstan: Traditions of Nomads," của V. Kadyrov, Rarity Ltd., Bishkek, 2005 ISBN 9967-424-42-7 == Ghi chú == == Liên kết ngoài == US State Department - Background Note: Kyrgyzstan Embassy of the Kyrgyz Republic in the USA Chính phủ Government of Kyrgyzstan official site President of the Kyrgyz Republic Kyrgyzstan Ministry of External Trade and Industry Kyrgyz State Television and Radio Local government Official website (in Russian) Tổng quan CIA World Factbook - Kyrgystan KyrgyzReport.com ongoing analysis, including an analysis of the clusters of political forces in Kyrgyzstan and the roots of the country’s political problems Open Directory Project - Kyrgyzstan directory category Tin tức BBC News - Kyrgystan Country Profile Eurasianet - Kyrgyzstan Daily Digest news Liên kết khác Common Language Project Country Fact Sheet - Kyrgyzstan PBS documentary on Kyrgyz bride "kidnapping" tháng 3 năm 2004 Photos of traditional life in Kyrgyzstan Photo gallery and information about Kyrgyzstan - in German Traditional felt making in Kyrgyzstan, journal by Dutch designer Sietze Kalkwijk Kyrgyzstan's location on a 3D globe (Java)
bại liệt.txt
Bệnh viêm tủy xám còn gọi là bệnh bại liệt của trẻ em hay Polio (tiếng Latin: Poliomyelitis) là một chứng bệnh nhiễm trùng cấp tính do siêu vi trùng poliovirus lây theo đường phân-miệng. Khi nhiễm vào cơ thể, siêu vi trùng lan vào hệ thần kinh trung ương, làm yếu các cơ và làm bại liệt. Mặc dù có khoảng 90% các ca nhiễm trùng bệnh bại liệt không thể hiện bất kỳ một triệu chứng nào, những người bị nhiễm có thể thể hiện một loạt các triệu chứng nếu virus đi vào dòng máu. Trong khoảng 1% các ca bệnh, virus tấn công vào hệ thần kinh trung ương, trước tiên là nhiễm và phá hủy các tế bào thần kinh vận động làm cho các cơ yếu đi và làm liệt phần mềm cấp tính. Các loại liệt phần mềm khác nhau có thể xảy ra tùy theo loại tế bào thần kinh bị ảnh hưởng. Liệt cột sống là hình thức phổ biến nhất, biểu hiện bởi sự tê liệt không đối xứng mà thường xảy ra ở chân. Bại liệt hành tủy làm yếu đi các cơ nâng đỡ các dây thần kinh sọ. Bại liệt Bulbo là một sự kết hợp của liệt hành tủy và tủy sống. Polio hoành hành các cộng đồng loài người thời thượng cổ nhưng tới năm 1840 mới được Jakob Heine nghiên cứu ra căn nguyên và từ khi có vắc-xin phòng ngừa, số nạn nhân của bệnh này giảm dần trong vài thập niên gần đây. Biểu hiện lâm sàng của bệnh rất đa dạng, bao gồm sốt, viêm họng, ho, nôn mửa, đau bụng. Trường hợp nhẹ, bệnh nhân bình phục nhanh. Trường hợp nặng,khi tế bào thần kinh bị phá hủy, dẫn đến teo cơ và liệt. Bệnh nặng nữa là liệt hành tủy, viêm màng não, liệt hô hấp dẫn đến tử vong. == Phân loại == Bại liệt là từ dùng để chỉ bệnh gây ra bởi bất kỳ bệnh nào trong 3 loại bệnh bại liệt. Hai loại bại liệt thường gặp được miêu tả như: bệnh nhẹ không liên quan đến hệ thần kinh trung ương, đôi khi được gọi là abortive poliomyelitis, và loại bệnh nặng liên quan đến hệ thần kinh trung ương có thể gây liệt hoặc không liệt. Ở hầu hết những người có hệ miễn dịch bình thường, nhiễu virus bại liệt không có triệu chứng. Hiếm khi nhiễm trùng có các triệu chứng nhỏ; các triệu chứng có thể là nhiễm trùng đường hô hấp trên (viêm họng và sốt), rối loạn tiêu hóa (buồn nôn, nôn, đau bụng, táo bón hoặc hiếm hơn là tiêu chảy), và biểu hiện bệnh giống cúm. Virus đi vào hệ thần kinh trung ương chiếm khoảng 3% các ca nhiễm. Hầu hết bệnh nhân bị bệnh liên quan đến hệ thần kinh trung ương phát triển bệnh viêm màng não vô trùng không liệt, với các triệu chứng đau đầu, cổ, lưng, bụng và đau chi, sốt, nôn mửa, hôn mê và khó chịu. Khoảng 1 đến 5 trong 1000 ca phát triển thành bệnh liệt, trong đó các cơ bị yếu đi, mềm và khó kiểm soát, và cuồi cùng bị liệt hoàn toàn; tình trạng này được gọi là liệt phần mềm cấp tính. Tùy thuộc vào vị trí liệt, bại liệt được phân loại thành liệt cột sống, hành tủy và cột sống-hành tủy. Viêm não, một loại nhiễm trùng tế bào não, có thể hiếm xảy ra, và thường chỉ gặp đối với trẻ sơ sinh. Nó đặc trưng bởi sự nhầm lẫn, thay đổi trạng thái tinh thần, đau đầu, sốt, và ít phổ biến hơn là co giật và liệt cứng. == Nguyên nhân == Bệnh bại liệt gây ra bởi sự xâm nhiễm một loài virus trong chi Enterovirus, có tên là poliovirus (PV). RNA virus của nhóm này xâm chiếm đường tiêu hóa — đặc biệt là hầu họng và ruột. PV chỉ lây nhiễm và gây bệnh ở người. Cấu trúc virus của loài này rất đơn giản, bao gồm một gen (+) sense RNA được bao bọc bằng một vỏ protein được gọi là capsid. Ngoài ra, để bảo vệ vật liệu gen của virus, các protein capsid cho phép poliovirus lây nhiễm một số kiểu tế bào nhất định. Có 3 chủng poliovirus đã được xác định gồm poliovirus tuýp 1 (PV1), tuýp 2 (PV2), và tuýp 3 (PV3)— mỗi tuýp này cần các protein capsid hơi khác nhau. Cả ba đều là các virus độc hại và có thể tạo ra cùng các triệu chứng bệnh. PV1 là dạng phổ biến nhất, và có mối quan hệ gần gũi nhất liên quan đến bệnh tê liệt. Những cá nhân bị phơi nhiễm virus, hoặc qua lây nhiễm hoặc do tiêm chủng bằng vắc-xin polio đều phát triển sự miễn dịch. Ở những người miễn dịch, kháng thể IgA chống lại poliovirus có mặt trong amidan và đường tiêu hóa, và có thể ngăn chặn việc sao chép của virus; các kháng thể IgG và IgM chống lại PV có thể ngăn chặn sự xâm nhập của virus vào các nơ-ron vận động của hệ thần kinh trung ương. Nhiễm hoặc tiêm vắc-xin bằng một trong 3 loại PV không cung cấp đủ tính miễn dịch để chống lại các loại PV khác, và khả năng miễn dịch hoàn toàn cần phải tiếp xúc với cả ba tuýp huyết thanh virus. Một bệnh hiếm gặp với biểu hiện tương tự, bệnh bại liệt không do poliovirus, có thể là kết quả của sự lây nhiễm của các enterovirus không phải poliovirus. === Truyền bệnh === Bại liệt rất dễ lây qua đường phân-miệng và hầu-họng. Trong vùng bệnh, polioviruses tự nhiên có thể lây nhiễm gần như toàn bộ dân số. Đây là loại bệnh mang tính theo mùa ở vùng ôn đới, với đỉnh lây nhiễm vào mùa hè và thu. Sự khác biệt theo mùa ít rõ nét hơn ở các vùng nhiệt đới. Thời gian giữa lần tiếp xúc đầu tiên và các triệu chứng đầu tiên, được gọi là thời kỳ ủ bệnh, thường từ 6 đến 20 ngày, khoảng tối đa là 3 đến 35 ngày. Các hạt virus được bài tiết trong phân sau vài tuần khi nhiễm đầu tiên. Bệnh được truyền chủ yếu qua đường phân-miệng, thông qua việc ăn thức ăn hoặc nước bị nhiễm virus. Nó thỉnh thoảng cũng truyền qua đường uống-miệng, một cơ chế dễ bắt gặp ở những vùng có điều kiện vệ sinh và vệ sinh môi trường tốt. Polio bị lây nhiễm mạnh nhất giữa ngày thứ 7 và 10 trước và sau khi xuất hiện triệu chứng, nhưng sự truyền bệnh xảy ra miễn là virus còn nằm trong phân hoặc nước bọt. Các yếu tố làm tăng nguy cơ nhiễm polio hoặc ảnh hưởng đến độ nghiêm trọng của bệnh bao gồm suy giảm miễn dịch, suy dinh dưỡng, hoạt động thể chất ngay sau khi bắt đầu tê liệt, chấn thương cơ xương do tiêm vắc-xin hay tác nhân điều trị, và mang thai. Mặc dù virus có thể vượt qua rào cản mẹ-thai trong thời kỳ mang thai, thai nhi dường như không bị ảnh hưởng bởi mẹ nhiễm trùng hoặc tiêm chủng bại liệt. Kháng thể mẹ cũng đi qua nhau, cung cấp miễn dịch thụ động để bảo vệ trẻ sơ sinh không bị nhiễm virus bại liệt trong những tháng đầu sau khi chào đời. Để phòng ngừa lây nhiễm, các hồ bơi công cộng thường đóng cửa trong thời gian có dịch bệnh. == Sinh lý bệnh == Poliovirus đi vào cơ thể qua đường miệng, sẽ lây nhiễm những tế bào đầu tiên mà nó tiếp xúc là họng và niêm mạc ruột. Nó đi vào bằng cách gắn kết với một thụ thể dạng immunoglobulin, được gọi là thụ thể poliovirus hay CD155, trên màng tế bào. Sau đó, virus tấn công bộ máy của tế bào chủ, và bắt đầu sao chép. Poliovirus phân chia bên trong các tế bào tiêu hóa trong khoảng một tuần, từ đó nó phát tán vào amidan (đặc biệt là tế bào đuôi gai nang nằm gần tâm germinal center amidan), mô lymphoid của đường ruột gồm các tế bào M của Peyer's patches, và đi sâu vào cổ tử cung và các hạch bạch huyết mạc treo, nơi nó nhân lên rất nhiều. Virus này sau đó được hấp thụ vào dòng máu. Được gọi là virus trong máu (viremia), sự có mặt của virus trong dòng máu làm nó phân bố rộng khắp trong cơ thể. Poliovirus có thể tồn tại và nhân lên trong máu và hệ bạch huyết trong thời gian dài, đôi khi có thể kéo dài 17 tuần. Trong một tỉ lệ nhỏ các ca bệnh, nó có thể phát tán và sao chép ở những vị trí khác, như mỡ nâu, các tế nào nội mô, và cơ. Sự sao chép được duy trì này gây ra một lượng lớn virus trong máu, và dẫn đến các triệu chứng tương tự như cảm. Hiếm khi, điều này có thể tiến triển và virus có thể xâm nhập vào hệ thần kinh trung ương, gây ra phản ứng viêm địa phương. Trong hầu hết các trường hợp, điều này gây ra triệu chứng viêm giới hạn màng não, là các lớp mô bao bọc xung quanh não, được gọi là viêm màng não vô khuẩn. Sự xâm nhập vào hệ thần kinh trung ương cho thấy không có lợi cho virus, và có thể là một sự lây nhiễm ngẫu nhiên của nhiễm trùng đường tiêu hóa thông thường. == Vắc-xin bại liệt == Có hai loại vắc-xin ngừa bại liệt được dùng rộng rãi trên khắp thế giới. Cả hai loại đều kích thích miễn dịch với bại liệt, có hiệu quả trong việc khống chế truyền bệnh từ người sang người đối với các virus bại liệt tự nhiên, do đó bảo vệ được cả người nhận vắc-xin và cộng đồng (được gọi là miễn dịch nhóm). Vắc-xin thứ nhất, dựa trên một loại huyết thanh của virus còn sống nhưng đã bị làm yếu, loại này đã được nhà virus học Hilary Koprowski phát triển. Nguyên mẫu vắc-xin của Koprowski đã được tiêm cho một cậu bé 7 tuổi vào ngày 27 tháng 2 năm 1950. Koprowski đã tiếp tục công việc nghiên cứu vắc-xin này trong suốt thập niên 1950, đã đi tiên phong trong việc tạo ra những cuộc thử nghiệm trên quy mô lớn trong vùng Belgian Congo và đã tiêm vắc-xin này cho 7 triệu trẻ em ở Ba Lan để chống lại các tuýp virus PV1 và PV3 giữa năm 1958 và 1960. Loại vắc-xin virus không hoạt động thứ 2 được Jonas Salk phát triển năm 1952 tại đại học Pittsburgh, và đã thông báo trên thế giới vào ngày 12 tháng 4 năm 1955. Vắc-xin Salk hay vắc-xin virus bại liệt không hoạt động (IPV), được tạo ra dựa trên virus bại liệt phát triển trên một loại nuôi cấy mô thận khỉ (tế bào vero line), chúng bị ức chế hoạt động hóa học bằng chất formalin. Sau hai liều vắc-xin IPV (bằng phương pháp tiêm), 90% hoặc hơn nữa số lượng cá thể đã có thể hình thành đủ kháng thể để chống lại 3 tuýp virus bại liệt, và với ít nhất 99% được miễn dịch nếu tiêm tiếp liều thứa 3. == Dịch tễ học == Trong khi bệnh này hiếm gặp tại các nước phương Tây thì Nam Á và châu Phi là nơi có các ca bệnh nhiều nhất, đặc biệt là Pakistan, và Nigeria. Sau khi sử dụng vắc-xin poliovirus rộng rãi vài giữa thập niên 1950, tỷ lệ mắc bệnh bại liệt giảm mạnh ở nhiều nước công nghiệp phát triển. Nỗ lực của toàn cầu là loại trừ bệnh bại liệt từ năm 1988, dẫn đầu bởi các tổ chức Y tế Thế giới, UNICEF, và Rotary Foundation. Những nỗ lực này đã làm giảm số các ca được chẩn đoán hàng năm lên 99%; theo ước tính trên 350.000 ca năm 1988 xuống còn 483 ca năm 2001, sau đó nó duy trì ở mức khoảng 1.000 ca mỗi năm (1.606 ca năm 2009). Năm 2012, số ca giảm xuống còn 223. Bại liệt là một trong hai loại bệnh hiện được đưa vào chương trình loại bỏ nó trên toàn cầu cùng với bệnh giun chỉ (Dracunculiasis hoặc Guinea-worm disease). Cho đến nay, chỉ có bệnh đậu mùa đã được loại bỏ hoàn toàn từ năm 1979, và bệnh dịch tả trâu bò năm 2010. Một số mốc lộ trình loại bỏ bệnh bại liệt đã đạt được, và nhiều khu vực trên thế giới đã được công nhận không còn bệnh bại liệt. Châu Mỹ tuyên bố không còn bệnh bại liệt năm 1994. Năm 2000, bệnh bại liệt được tuyên bố đã loại bỏ chính thức ở 37 quốc gia phía tây Thái Bình Dương, bao gồm cả Trung Quốc và Úc. Châu Âu tuyên bố không còn bệnh năm 2002. Cho đến năm 2012, bại liệt chỉ còn phổ biến ở 3 quốc gia là Nigeria, Pakistan, và Afghanistan, mặc dù nó tiếp tục gây ra các bệnh ở các quốc gia lân cận do sự truyền nhiễm ẩn hoặc tái phát. Ví dụ, thay vì loại bỏ 10 năm trước, bệnh này lại tái phát ở Trung Quốc vào tháng 9 năm 2011 liên quan đến dòng truyền bệnh chính từ những người láng giềng Pakistan. Từ tháng 1 năm 2011, không có ca nhiễm bệnh bại liệt nào được báo cáo ở Ấn Độ, và vào tháng 2 năm 2012, quốc gia này đã được đưa ra khỏi danh sách các nước có bệnh bại liệt nhiều (đặc hữu). Nếu không có ca bệnh bại liệt tự nhiên nào được thông báo ở một quốc gia trong vòng 2 năm, thì quốc gia đó sẽ là nước không còn bệnh bại liệt. == Chú thích == == Đọc thêm == Kluger Jefferey (2004). Splendid Solution - Jonas Salk and the Conquest of Polio. New York: G. P. Putnam's Sons. ISBN 0-399-15216-4. Oshinsky, David M. (2005). Polio: an American story. Oxford: Oxford University Press. ISBN 0-19-515294-8. Shaffer, Mary M.; Bernard Seytre (2005). The death of a disease: a history of the eradication of poliomyelitis. New Brunswick, N.J: Rutgers University Press. ISBN 0-8135-3677-4. Shell, Marc (2005). Polio and its aftermath: the paralysis of culture. Cambridge: Harvard University Press. ISBN 0-674-01315-8. Wilson, Daniel J. (2005). Living with polio: the epidemic and its survivors. Chicago: University of Chicago Press. ISBN 0-226-90103-3. Wilson, Daniel J.; Julie Silver (2007). Polio voices: an oral history from the American polio epidemics and worldwide eradication efforts. New York: Praeger. ISBN 0-275-99492-9. == Liên kết ngoài == Bệnh bại liệt Bệnh Bại liệt polio Bệnh bai liệt (Poliomyelitis)
phụ nữ trong xã hội ả rập.txt
Phụ nữ trên khắp thế giới Ả Rập trong suốt lịch sử phải hứng chịu sự phân biệt đối xử và đã bị hạn chế các quyền tự do và quyền lợi của mình. Một số các thực hành này được dựa trên niềm tin tôn giáo, nhưng nhiều sự hạn chế là vì văn hóa và bắt nguồn từ phong tục hơn là tôn giáo. Những khó khăn chính tạo ra một trở ngại hướng về quyền lợi và tự do của phụ nữ được phản ánh trong luật pháp đối phó với công lý hình sự, kinh tế, giáo dục và y tế. == Chú thích == == Tham khảo ==
trạm điều hành xe buýt sài gòn.txt
Trạm điều hành Sài Gòn (hay còn gọi là Trạm Bến Thành, Sài Gòn) là trạm trung chuyển hành khách công cộng lớn nhất, quan trọng nhất trong mạng lưới xe buýt tại Thành phố Hồ Chí Minh với 28 tuyến xe buýt đang tham gia hoạt động. Trạm được xây dựng năm 1956, khi mạng lưới xe buýt Sài Gòn được thiết lập và vẫn đóng vai trò là trạm vận chuyển công cộng chính của thành phố cho đến hiện nay. Trạm điều hành cùng Bệnh viện Đa khoa Sài Gòn, chợ Bến Thành, Công trường Quách Thị Trang (công viên 23 tháng 9) tạo thành một vòng cung có tâm là tượng đài Trần Nguyên Hãn. == Tên gọi == Cho đến trước ngày 1 tháng 10 năm 2013, trạm giữ tên gọi chính thức là Trạm Điều hành xe buýt Sài Gòn. Khi đầu bến của các tuyến được dời về bãi đậu xe buýt ở khu B Công viên 23 tháng 9, bộ phận trung tâm điều hành xe buýt cũng dời về đó. Vì thế, bãi xe Công viên 23 tháng 9 trở thành Trạm Điều hành xe buýt Sài Gòn mới, hay Ga hành khách xe buýt Sài Gòn. Mặc dù vậy, theo thói quen nhiều cơ quan báo chí vẫn sử dụng tên gọi 'Trạm điều hành Sài Gòn' khi đề cập đến trạm cũ. Hiện tại, trạm được gọi tắt thành Trạm Bến Thành theo tên Chợ Bến Thành ở đối diện trạm. Đồng thời, hầu hết tuyến xe buýt có dừng đón ở đây cũng mang tên có yếu tố Bến Thành, như các tuyến 93 (Bến Thành - Đại học Nông Lâm), 01 (Bến Thành - Bến xe Chợ Lớn). Mặc dù vậy, một số tuyến khác có tên tương tự nhưng không qua trạm mà dừng tại Công viên 23 tháng 9, như tuyến 102 (Bến Thành - Nguyễn Văn Linh - Bến xe Miền Tây), 703 (Bến Thành - Mộc Bài). Trong sơ đồ lộ trình tuyến xe buýt, trạm được gọi tên theo kèm điểm đón trả khách ở mặt sau trạm, như Bến Thành A, Bến Thành D, Bến Thành F. Công trường Quách Thị Trang cũng là một tên gọi không chính thức để chỉ Trạm Điều hành xe buýt Sài Gòn. == Lịch sử == Trước năm 1975, Trạm điều hành xe buýt Sài Gòn do Công quản Xe buýt Đô Thành (còn gọi là Công quản Xe buýt Sài Gòn) quản lý và là trạm chính của hệ thống xe buýt trong địa phận Sài Gòn và tỉnh Gia Định. Từ năm 1956, bến xe buýt này được nâng cấp thành trạm điều hành xe buýt Sài Gòn, còn trụ sở Công Quản Xe Buýt Đô Thành nằm bên đường Pasteur, cũng ở quận 1. Sau ngày thống nhất đất nước, nơi này tiếp tục là trạm trung chuyển và bãi đậu xe buýt chính của Thành phố, đồng thời là bến xuất phát cho một số tuyến xe chuyên chở công công khác là xe Lam và xe Daihatsu. Thực hiện chủ trương khôi phục và phát triển hệ thống giao thông công cộng, năm 1997, trạm này mới chính thức đặt tên Trạm điều hành xe buýt Sài Gòn. Và từ đó đến tháng 10 năm 2013, nơi này đóng vai trò làm đầu bến cho nhiều tuyến xe buýt đi vào trung tâm thành phố. Trạm cũng có bãi đậu xe buýt ngay mặt sau trạm còn các xe buýt đón trả khách ở mặt trước và mặt sau của trạm cũng như tại bãi đỗ xe buýt. Từ ngày 1 tháng 10 năm 2013, các tuyến xe buýt có đầu bến là trạm điều hành Sài Gòn được điều chỉnh về bến xe tại Công viên 23 tháng 9, đồng thời một số tuyến khác cũng được thay đổi lộ trình để không dừng đón khách tại trạm này. Việc làm này nhằm hạn chế xe buýt đi qua khu vực để thi công dự án đường sắt đô thị Bến Thành—Suối Tiên. Tháng 4 năm 2013, khu vực bãi đỗ xe ở mặt sau được nâng cấp thành khu vực trung chuyển khang trang, hiện đại, với 6 trạm chờ hành khách (platform), được đánh dấu A, B, C, D, E, F. Đồng thời, các tuyến xe buýt được sắp xếp phân luồng một chiều đi vào từng trạm chờ để đón trả khách. Theo đó, các tuyến đi từ phía Đông sang phía Tây vòng xoay Quách Thị Trang ghé trả khách tại các trạm chờ A, B, C. Các tuyến đi vào trạm từ phía Tây sang Đông vòng xoay sẽ ghé các trạm D, E, F. Còn khu vực mặt tiền nhìn ra Công trường Quách Thị Trang chỉ dành để treo pa nô cổ động. Tháng 7 năm 2016, Trung tâm quản lý điều hành vận tải hành khách công cộng TP cho biết sẽ dời Trạm điều hành Sài Gòn sang phía đầu đường Hàm Nghi. Còn Trạm điều hành hiện tại sẽ bị đập bỏ để bàn giao mặt bằng thi công tuyến đường sắt đô thị Bến Thành-Suối Tiên. == Sơ đồ trạm == == Tuyến xe buýt == === Các điểm đón khách === Trạm điều hành Sài Gòn hiện sở hữu 6 trạm chờ hành khách, được thiết kế dạng platform, đánh dấu từ A đến F. Mỗi trạm chờ có chiều dài đủ để đón một lượng lớn xe buýt vào đón trả khách cùng lúc. Mỗi trạm này được đánh số như một trạm xe buýt riêng biệt. === Các tuyến xe buýt === Hiện tại thành phố có 28 tuyến xe buýt đi qua Trạm Điều hành Sài Gòn. == Xem thêm == Chợ Bến Thành Danh sách tuyến xe buýt thành phố Hồ Chí Minh == Chú thích ==
bán kính nguyên tử.txt
Bán kính nguyên tử của một nguyên tố hóa học là kích thước nguyên tử của nguyên tố đó, thường là khoảng cách trung bình tính từ tâm của hạt nhân nguyên tử đến ranh giới ngoài cùng của đám mây electron. Vì ranh giới này không phải là một thực thể vật lý được xác định rõ ràng, nên có nhiều định nghĩa không tương đồng về bán kính nguyên tử. Ba định nghĩa được sử dụng phổ biến về bán kính nguyên tử là bán kính Van der Waals, bán kính ion, và bán kính cộng hóa trị tương ứng với 3 kiểu liên kết hóa học. Tùy thuộc vào mỗi định nghĩa, thuật ngữ có thể chỉ áp dụng cho các nguyên tử bị cô lập, hoặc cũng cho các nguyên tử ở trang thái vật chất kết chặt, liên kết cộng hóa trị trong phân tử, hoặc trong các trạng thái kích thích và ion hóa; và giá trị của nó có thể được thu nhận thông qua các thí nghiệm, hoặc tính toán bằng các mô hình lý thuyết. Theo một vài định nghĩa, giá trị bán kính phụ thuộc vào trạng thái của nguyên tử. Các electron không có quỹ đạo nhất định, hoặc dãi được xác định rõ ràng. Thêm nữa, các vị trí của chúng phải được mô tả là phân phối xác suất là tình trạng giảm dần khi ra xa hạt nhân, mà không có ranh giới rõ rệt. Ngoài ram ở trạng thái cô đặc/nén chặt và phân tử, các đám mây electron của nguyên tử thường chồng lấn ở một mức độ nhất định, và một vài electron có thể di chuyển trên một vùng rộng lớn giữa hai hoặc nhiều nguyên tử. Định nghĩa phổ biến nhất, bán kính của các nguyên tử trung hòa cô lập nằm trong khoảng 30 đến 300 pm (hay 0,3 đến 3 angstrom). Tuy nhiên, bán kính của nguyên tử gấp 10.000 lần bán kính hạt nhân của nó (1–10 fm), và nhỏ hơn 1/1000 bước sóng của ánh sáng nhìn thấy (400–700 nm). == Bán kính nguyên tử đo thực nghiệm == Bảng bên dưới thể hiện bán kính cộng hóa trị được đo đạc thực nghiệm theo xuất bản của J. C. Slater năm 1964. Đơn vị đo là picomet (pm hay 1×10−12 m,), với độ chính xác khoảng 5 pm. Tông màu tăng từ đỏ đến vàng theo chiều tăng bán kính; màu xám là không có giá trị. == Bán kính nguyên tử theo tính toán == Bảng bên dưới thể hiện giá trị bán kính nguyên tử được tính theo mô hình toán, do Enrico Clementi và cộng sự công bố năm 1967. Đơn vị tính là picomet (pm). == Chú thích ==
khuy măng sét.txt
Khuy măng sét hoặc măng-sét (gốc tiếng pháp: manchette) tạm gọi là một loại ốc vít trang trí, được dùng để giữ cố định cổ tay áo sơ mi không có khuy chỉ có hai cái lỗ khuyết. Nó có chức năng như cúc áo ở cổ tay, nhưng nó không đơm liền vào tay áo như cúc mà tháo rời ra. == Vật liệu == Khuy măng sét được ví giống như viên ngọc quý bởi nó có nhiều hình dạng khác nhau, nhưng chủ yếu là hình tròn hoặc hình vuông. Nó có thể được làm từ kim loại, đá quý, ngà voi,...thậm chí là vàng bạc tùy theo yêu cầu nhà sản xuất ra cặp măng-sét. == Tham khảo == == Liên kết ngoài == Từ điển tiếng Pháp
giải vô địch bóng đá nữ u-17 châu âu 2009.txt
Giải vô địch bóng đá nữ U-17 châu Âu 2009 diễn ra tại Thụy Sĩ từ 22 đên 25 tháng 6 năm 2009. Đức giành chức vô địch sau chiến thắng trước Tây Ban Nha trong trận chung kết. == Vòng loại == == Các đội tham dự == Đức Na Uy Pháp Tây Ban Nha == Kết quả == === Bán kết === === Tranh hạng ba === === Chung kết === == Liên kết ngoài == Kết quả trên RSSSF.com
axit selenic.txt
Axit selenic là một hợp chất hóa học với công thức H2SeO4. Đây là một ôxiaxit của selen, cấu trúc chính xác hơn của nó được mô tả bằng công thức (HO)2SeO2. Theo dự đoán của lý thuyết VSEPR, trung tâm của axít là selen và có dạng tứ diện, với độ dài liên kết Se-O là 161 pm. Trong trạng thái rắn, nó kết tinh ở dạng cấu trúc trực thoi. == Tính chất hóa học == Giống như axit sulfuric, axit selenic là một axit mạnh ưa ẩm và cực kỳ dễ hòa tan trong nước. Các dung dịch đậm đặc thì có tính nhớt. Các dạng mono- và di-hydrat đã được biết đến. Dạng monohydrat nóng chảy ở 26 °C, còn dạng dihydrat nóng chảy ở −51,7 °C. Axít selenic loãng có các tính chất như các axít thường khác: Tác dụng với kim loại giải phóng khí hiđrô: H2SeO4 + Ca → CaSeO4 + H2 Tác dụng với bazơ tạo thành muối và nước: H2SeO4 + 2RbOH → Rb2SeO4 + 2H2O Tác dụng với ôxít bazơ tạo thành muối và nước: H2SeO4 + CuO → CuSeO4 + 2H2O Tác dụng với muối tạo thành axít mới và muối mới: H2SeO4 + K2SO4 → K2SeO4 + H2SO4 Axít selenic đậm đặc có những tính chất hóa học riêng: Tác dụng với đồng: Cu + 2H2SeO4 → CuSeO4 + 2H2O + SeO2 Axít selenic là axít có tính ôxi hóa mạnh hơn axit sulfuric, có khả năng giải phóng clo từ các ion clorua và bị khử thành axít selenơ: H2SeO4 + 2HCl → H2SeO3 + H2O + Cl2 Axit selenic bị phân hủy ở nhiệt độ trên 200 °Co giải phóng khí ôxy và bị khử thành axit selenơ: 2H2SeO4 → 2H2SeO3 + O2 Axit selenic phản ứng với các muối bari cho kết tủa BaSeO4: H2SeO4+ BaCl2 → BaSeO4↓ + HCl Tương tự như axít sulfuric. Nhìn chung, các muối selenat cũng tương tự như các muối sulfat nhưng có độ hòa tan cao hơn trong nước. Nhiều muối selenat có cấu trúc tinh thể giống như các muối sulfat tương ứng. Xử lý axit selenic bằng axit fluorosulfuric tạo ra dioxydifluorua (điểm sôi −8,4 °C): H2SeO4 + 2 HO3SF → SeO2F2 + 2 H2SO4 Đặc biệt, axít selenic đậm đặc nóng có khả năng hòa tan vàng tạo thành dụng dịch màu vàng cam là vàng selenat: 2Au + 6H2SeO4 → Au2(SeO4)3 + 3H2SeO3 + 3H2O == Sản xuất == Vì selen triôxít có cấu tạo không bền vững nên không thể sản xuất axít selenic bằng cách hòa selen triôxít vào nước như cách sản xuất axít sulfuric mà phải ôxi hóa các hợp chất selen ở trạng thái ôxi hóa thấp hơn. Phương pháp thường được sử dụng để sản xuất axít selenic hiện nay là ôxi hóa selen điôxít trong dung dịch H2O2: SeO2 + H2O2 → H2SeO4 Để có được axít selenic khan ở dạng chất rắn kết tinh, người ta làm bốc hơi dung dịch axít selenic ở nhiệt độ dưới 140 °C (413 K; 284 °F) trong chân không. Axít selenic cũng có thể tạo ra bởi các quá trình ôxi hóa H2SeO3 với halogen, ví dụ như clo hoặc brôm, hoặc với kali pemanganat. Tuy nhiên, bằng cách sử dụng clo hoặc brôm làm tác nhân ôxi hóa cũng đồng thời sản xuất ra axit clohydric hoặc axit bromhydric là các phụ phẩm cần loại bỏ, do chúng có thể khử axit selenic thành axit selenơ. Ngoài các cách trên còn có một phương pháp nữa, đó là ôxi hóa selen nguyên tố bằng clo lơ lửng trong nước: Se + 4H2O + 3Cl2 → H2SeO4 + 6HCl == Nguy hiểm == Axít selenic mạnh hơn axít sulfuric nên khi rơi vào da sẽ làm bỏng, thậm chí đi sâu vào tác dụng với xương, tủy, gây hậu quả nghiêm trọng. Giống như các hợp chất của selen, axít selenic có độc tính cao, vì vậy cần phải hết sức cẩn thận khi làm việc với hóa chất này. Do có tính háo nước nên tuyệt đối không pha loãng bằng cách đổ nước vào axít, nếu làm vậy nước sẽ sôi lên và mang theo axít bắn ra xung quanh. == Ghi chú ==
hypena sylpha.txt
Hypena sylpha là một loài bướm đêm trong họ Erebidae. == Chú thích == == Liên kết ngoài == Dữ liệu liên quan tới Hypena sylpha tại Wikispecies Phương tiện liên quan tới Hypena sylpha tại Wikimedia Commons
paris.txt
Paris là thành phố thủ đô của nước Pháp, cũng là một trong ba thành phố phát triển kinh tế nhanh nhất thế giới cùng Luân Đôn và New York và cũng là một trung tâm hành chính của vùng Île-de-France. Nằm ở phía bắc nước Pháp, khu vực trung tâm của châu Âu, Paris được xây dựng hai bên bờ sông Seine với tâm là đảo Île de la Cité. Đây cũng là nơi hợp lưu của sông Seine và sông Marne. Paris nằm ở điểm gặp nhau của các hành trình thương mại đường bộ và đường sông, và là trung tâm của một vùng nông nghiệp giàu có. Vào thế kỷ 10, Paris đã là một trong những thành phố chính của Pháp cùng các cung điện hoàng gia, các tu viện và nhà thờ. Từ thế kỷ 12, Paris trở thành một trong những trung tâm của châu Âu về giáo dục và nghệ thuật. Thế kỷ 14, Paris là thành phố quan trọng bậc nhất của Cơ Đốc giáo và trong các thế kỷ 16, 17, đây là nơi diễn ra Cách mạng Pháp cùng nhiều sự kiện lịch sử quan trọng của Pháp và châu Âu. Đến thế kỷ 19 và 20, thành phố trở thành một trong những trung tâm văn hóa của thế giới, thủ đô của nghệ thuật và giải trí. Năm 2005, nội ô Paris có dân số là 2.153.600 người, mật độ 20.408 người/km², thuộc hàng cao nhất trong các thủ đô châu Âu. Nếu tính toàn bộ vùng đô thị Paris, vào năm 1999, dân số Paris là 11.174.740 người, đứng thứ ba châu Âu sau Moskva, ngang với Luân Đôn và khoảng thứ 20 thế giới. Là thành phố thủ đô, Paris tập trung các hoạt động văn hóa, tài chính, thương mại... của toàn nước Pháp. Năm 2006, GDP của Paris cùng với toàn vùng Île-de-France đạt 500,839 tỷ euro, tương đương với nước Hà Lan. Nổi tiếng với tên gọi Kinh đô ánh sáng, Paris là một trung tâm văn hóa lớn của thế giới và cũng là một trong những thành phố du lịch thu hút nhất. Sự nhộn nhịp, các công trình kiến trúc và không khí nghệ sĩ đã giúp Paris mỗi năm có đến 30 triệu khách nước ngoài. Thành phố còn được xem như kinh đô của thời trang cao cấp với nhiều khu phố xa xỉ cùng các trung tâm thương mại lớn. Là nơi đặt trụ sở chính của các tổ chức quốc tế như OECD, UNESCO... cộng với những hoạt động đa dạng về tài chính, kinh doanh, chính trị và du lịch đã khiến Paris trở thành một trong những trung tâm trung chuyển lớn nhất trên thế giới và được coi như một trong bốn " thành phố toàn cầu " cùng với New York, Luân Đôn và Tokyo. == Tên gọi == "Paris" xuất phát từ tên gọi những người Parisii bộ tộc Gaulois. Năm 52 trước Công Nguyên, khi người La Mã tới, họ gọi khu vực này là Lutetia hay Lutetia Parisiorum. Khoảng năm 300, Lutetia được đổi tên thành Paris, lấy từ chữ " Civitas Parisiorum " - có nghĩa Thành của người Parisii. Còn nguồn gốc tên những người Parisii vẫn chưa được chắc chắn. Hiện nay, ở Paris cũng có một khách sạn nổi tiếng mang tên Lutetia. Trong tiếng Việt, Paris từng được gọi phổ biến bằng tên Ba Lê, âm Hán-Việt của 巴黎. Tuy nhiên, tên gọi này hiện nay ít được sử dụng, và Ba Lê còn trùng với nghệ thuật múa ba lê, xuất phát từ chữ ballet trong tiếng Pháp. Còn cách viết cũ dựa vào phiên âm, Paris được viết là Pa-ri, tương tự Mát-xcơ-va cho Moskva. Nhưng cách phiên âm Pa-ri cũng không hẳn chính xác. Trong khi với những người Anh, Paris được phát âm là /ˈpærɨs/, thì những người Pháp gọi tên thủ đô của mình là /paʁi/ . Paris nổi tiếng với tên gọi " Kinh đô ánh sáng ", vốn từ trong tiếng Pháp là " Ville lumière ", dịch chính xác là Thành phố ánh sáng, cũng giống trong tiếng Anh: The City of Lights. Tên gọi này được bắt đầu từ nghĩa đen của nó: cuối thế kỷ 17, trung tướng cảnh sát đầu tiên của Paris Gabriel Nicolas de La Reynie ra lệnh thắp sáng những khu vực công cộng nhiều tệ nạn của thành phố. Nhưng bởi Paris nổi tiếng với vị trí trung tâm văn hóa, tri thức của cả thế giới, nên tên gọi này thường được hiểu theo nghĩa bóng. Cùng với Venezia, Paris còn được ví là " Thành phố của tình yêu ". Những người yêu thích Paris cũng nói: Chỉ cần thêm hai chữ cái, Paris trở thành thiên đường. Trong tiếng Pháp, thêm hai chữ a và d, Paris thành Paradis, có nghĩa là thiên đường. Từ " parisien " trong tiếng Pháp là tính từ của Paris, cũng là danh từ để chỉ những người dân của thành phố này. Ngoài ra, " parisien " còn là một từ lóng được các nhà văn của thế kỷ 19 như Victor Hugo, Eugène Sue hay Balzac sử dụng rộng rãi và còn phổ biến cho tới thập niên 1950. Một tên gọi thân mật khác của Paris là " Paname " từ đầu thế kỷ 20 khi những chiếc mũ panama phổ biến. Bắt đầu bởi các công nhân đào con kênh Panama, loại mũ này rất thịnh hành ở Mỹ và châu Âu. Rồi đến Paris, tất cả đàn ông đều đội một chiếc panama và nó thành một tên gọi cho thành phố. Cũ hơn nữa, Paris và một trong các ngoại ô là Pantin được gọi lóng là " Pantruche " theo tên công ty tổ chức lễ hội Carnaval của Paris: Compagnie Carnavalesque Parisienne " les Fumantes de Pantruche ". " Parigot " cũng là một từ lóng để chỉ những người Paris, nhưng từ này ít nhiều mang tính châm chọc, chễ giễu. == Địa lý == Tại trung tâm của bồn Paris, trên một vùng trầm tích bằng phẳng rộng lớn, Paris nằm hai bên bờ sông Seine. Hai đảo của sông tạo nên trung tâm lịch sử của thành phố: Île de la Cité ở phía tây và Île Saint-Louis ở phía đông. Từ tâm này, thành phố trải rộng ra xung quanh, nhưng phần diện tích Paris ở phía bắc - tức hữu ngạn sông Seine - rộng hơn bên tả ngạn phía nam rõ rệt. Cả hai bên sông Seine, một số vùng đất tạo bởi đá thạch cao nhô lên thành những quả đồi nhỏ. Ở hữu ngạn: đồi Montmartre có độ cao là 131 mét, đỉnh là vị trí nhà thờ Saint-Pierre; Belleville cao 128,5 m tại phố Télégraphe; Ménilmontant 108 m; công viên Buttes-Chaumont 103 m; Passy 71 m. Bên tả ngạn: Montparnasse cao 66 m; Butte aux Cailles 63 m; đồi Sainte-Geneviève 61 m. Vào năm 1844, nội ô Paris (Paris intra-muros) được giới hạn bởi bức tường thành Thiers. Tới năm 1860, một số hạt và quận xung quanh được sát nhập vào thành phố. Còn ngày nay, Paris được phân định với ngoại ô bằng các đại lộ vành đai dài 35 km. Tuy nhiên có một vài ngoại lệ. Quận 15 vượt qua ranh giới này tới sân bay trực thăng Issy-les-Moulineaux. Quận 16 bao gồm cả rừng Boulogne rộng 846 hecta ở phía tây. Còn rừng Vincennes rộng 995 hecta thuộc Quận 12 ở phía Đông. Tổng cộng chu vi của Paris dài tới 54,74 km. Thành phố Paris rộng 105 km². Nếu tính khu vực đô thị Paris, có nghĩa gồm thành phố và đô thị ngoại ô, tổng diện tích là 2.723 km² với 9.644.507 dân vào năm 1999, chiếm 396 xã của vùng Île-de-France. Còn toàn bộ vùng đô thị Paris, có nghĩa bao gồm tất cả các vùng phụ cận chịu ảnh hưởng của thủ đô, vào năm 1999 có dân số 11.174.743 người trên tổng cộng 1.584 xã. Điểm cây số 0 của Pháp được đánh dấu ở sân trước nhà thời Đức Bà, có tọa độ địa lý 48,85341°N, 2,34880°E. Đây là điểm giữa, cũng là trung tâm lịch sử của thành phố Paris, nằm trên đảo Île de la Cité. === Địa chất thủy văn === Bồn Paris tạo nên một tập hợp các lớp trầm tích kế tiếp. Đây là một trong những nơi đầu tiên trở thành đối tượng của việc xây dựng bản đồ địa chất và cho phép tạo ra nhiều lý thuyết về địa chất, như cổ sinh vật học và giải phẫu so sánh của Georges Cuvier. Bồn Paris được tạo trong khoảng thời gian 41 ngàn năm. Đây là một bồn thềm lục địa trên những khối núi từ thời Đại cổ sinh như khối núi Vosges, khối núi Massif central, khối núi Armorica. Với sự tạo thành của dãy Alps, bồn Paris bị đóng lại, chỉ còn mở ra phía biển Manche và Đại Tây Dương. Nó báo trước cho sự hình thành lưu vực sông Loire và sông Seine. Cuối thế Oligocen, bồn Paris trở thành lục địa. Năm 1911, nhà địa lý Paul Lemoine chỉ ra rằng bồn Paris được hợp bởi những địa tầng bố trí thành những vùng trũng đồng tâm. Sau đó, các nghiên cứu sâu hơn trên nhưng dữ liệu địa chấn và phương pháp khoan đã cho phép có một cái nhìn chính xác. Chúng xác nhận những vùng trũng đồng tâm nhưng phức tạp giống như các phay. Sự cấu tạo của địa hình Paris nằm ở các tầng Đại Trung Sinh và Kỷ Paleogen và được tạo bởi sự xói mòn. Địa tầng đầu tiên bắt đầu từ Kỷ Đệ Tam tiếp tục bồi đắp bởi sông Seine vào thời kỳ hiện đại. Các lớp đọng đầu tiên là cát và đất sét xuất hiện ở khu vực Trocadéro, Quận 16 ngày nay. Nhưng giai đoạn được biết tới nhiều nhất là tầng Lutetia với các lớp đọng giàu thạch cao và đá vôi. Tầng động vật này đã được đặt theo tên tiếng La Tinh của Paris: Lutetia. Lòng đất của Paris mang nhiều đặc tính với sự hiện diện của đá vôi, thạch cao và đá vôi silic. Một số đã được sử dụng như ở Hầm mộ Paris, ngày nay vẫn được mở cửa một phần cho công chúng. Đá vôi được khai thác cho tới thế kỷ 14 ở tả ngạn sông Seine, từ quảng trường Italie tới phố Vaugirard. Ngày nay sự khai thác chuyển về Oise. Còn việc khai thác thạch cao từng rất phổ biến ở Montmartre và Bagneux. Dòng sông Seine chảy qua Paris theo hình một cánh cung: vào thành phố từ phía đông nam và ra khỏi thành phố phía tây bắc. Hơn 30 cây cầu của Paris bắc qua dòng sông này. Còn có hai dòng chảy khác qua Paris. Sông Bièvre phía nam, ngày nay ngầm hoàn toàn dưới đất. Kênh Saint-Martin hoàn thành 1825 dài 4,5 km, nối với bồn Villette và vào thành phố ở phía đông bắc. Kênh Saint-Martin chảy ngầm dưới đất cho tới phố Faubourg-du-Temple ở quảng trường Bastille rồi tiếp tục chảy lộ thiên và nối với sông Seine ở phía thượng lưu của đảo Île Saint-Louis. Một con kênh khác là Saint-Denis, cũng nối với bồn Villette theo hướng Saint-Denis, dài 4,5 km và hoàn thành vào năm 1821. Con kênh này gặp sông Seine ở phần hạ lưu và không đi qua Paris. Một dòng sông nữa là Marne, chảy gần Paris qua Seine-Saint-Denis, Val-de-Marne và gặp sông Seine ở phía đông nam thành phố. Địa chất thủy văn đã ảnh hưởng nhiều tới quy hoạch đô thị Paris. Sông Bièvre, một nhánh nhỏ của sông Seine, đã bị che lại, chỉ chảy ngầm dưới đất từ thế kỷ 19 bởi vấn đề vệ sinh. Nhiều dòng nước ngầm khác dưới lòng Paris, như Auteuil đã cung cấp nước cho thành phố bởi các giếng khoan. Các mạch nước tầng Alba được biết đến nhiều nhất trong vùng Paris và được khai thác từ năm 1841 bởi giếng Grenelle. === Khí hậu và môi trường === Paris có khí hậu ôn đới đại dương. Ảnh hưởng của đại dương chiếm ưu thế, thể hiện như: mùa hè mát, trung bình 18°C; mùa đông không quá lạnh, trung bình 6 °C; các mùa đều mưa nhiều và thời tiết thất thường. Lượng mưa trung bình ở Paris là 641 mm. Mưa tuyết không nhiều, chủ yếu vào những tháng lạnh nhất như tháng 1, tháng 2, nhưng đôi khi vào tận tháng 4. Tuy vậy khí hậu Paris cũng đôi khi đột biến. Nhiệt độ cao nhất ghi được tại đây là vào ngày 28 tháng 6 năm 1948, lên đến 40,4 °C. Còn nhiệt độ thấp nhất ghi lại được vào ngày 10 tháng 12 năm 1879, xuống tới -23,9 °C. Mùa hè năm 2003, cùng với châu Âu, Paris cũng phải chịu một trận nắng nóng lịch sử. Như tất cả các thành phố lớn khác trên thế giới, Paris chịu hậu quả của sự thay đổi môi trường do dân số tăng và các hoạt động kinh tế. Là thủ đô có mật độ dân số cao nhất châu Âu nhưng tỷ lệ không gian xanh ở Paris lại thấp nhất, dù những thập kỷ gần đây một số công viên và vườn mới được tạo thêm. Không chỉ là lời đồn, vấn đề phân chó thực sự có ở Paris. Nó vẫn xuất hiện trên vỉa hè, dù ngày nay nhiều người dắt chó đi dạo phải mang theo túi ni lông để nhặt phân chó. == Lịch sử == Paris có một lịch sử lâu đời, gắn liền với lịch sử Pháp và cả châu Âu. Từ một thành trì của người Parisii thuộc bộ tộc Gaulois, nơi đây trở thành một thành phố La Mã vào thế kỷ 1. Tới thế kỷ 6, vua Clovis I lấy Paris làm thủ đô cho vương quốc Franc. Trải qua nhiều thế kỷ biến động, mặc dù không liên lục, Paris vẫn là thủ đô của Pháp. Tới thế kỷ 16, thành phố là nơi nổ ra Cách mạng Pháp, rồi sau đó trở thành thủ đô của Đệ nhất đế chế thời Napoléon Bonaparte. Vào thế kỷ 17, Paris bắt đầu có những phát triển vượt bậc và được quy hoạch lại dưới thời Napoléon III. Sau Công xã Paris, thành phố bước vào thời kỳ Belle Époque và trở thành trung tâm văn hóa của cả châu Âu. Qua hai cuộc chiến tranh thế giới, Paris ít bị hủy hoại và tiếp tục phát triển mạnh mẽ trong giai đoạn hậu chiến. Ngày nay, thành phố tiếp tục là một trung tâm văn hóa, kinh tế của cả thế giới. === Tiền sử và Cổ đại === Cách đây ít nhất 40.000 năm đã có sự hiện diện của con người ở vùng Île-de-France, bằng chứng là những công cụ đá được tìm thấy ở bờ sông Seine. Vào đầu thời kỳ Đồ đá mới, khoảng năm 4.000 đến 3.800 trước Công Nguyên, con người đã sinh sống thường xuyên ở bờ trái một nhánh cũ của sông Seine, thuộc Quận 12 ngày nay. Dường như sự sống của con người đã liên tục ở đây suốt thời kỳ Đồ đá mới, nhưng không có nhiều hiểu biết về khoảng thời gian từ thời Tiền sử cho tới thời kỳ Gaule La Mã. Những người Parisii thuộc bộ tộc Gaulois đã làm chủ khu vực này cho đến năm 52 trước Công Nguyên, khi quân đội của Julius Caesar tới. Trong trận chiến với quân đội La Mã, người Gaulois đã phá cầu, đốt thành của mình. Cũng không biết chính xác thành của người Gaulois đã nằm ở đâu: Île de la Cité, Île Saint-Louis, hay một hòn đảo khác mà ngày nay đã nhập vào tả ngạn. Thậm chí có thể là ở tận Nanterre. Sau thất bại của những người Gaulois, nơi đây trở thành Lutetia. Vào thế kỷ 1, một thành phố La Mã được xây dựng ở bờ trái sông Seine theo bản vẽ kiểu Hippodamos. Lutetia chỉ có khoảng 5 tới 6 ngàn dân vào thời kỳ đỉnh cao. Trong đế chế La Mã, nó chỉ là một thành phố khiêm tốn, so sách với Lugdunum vào thế kỷ 2 có tới 50.000 đến 80.000 người. Theo truyền thuyết thì Thánh Denis, người tử vì đạo khoảng năm 250, đã truyền Cơ Đốc giáo vào thành phố. Khoảng năm 300, Lutetia được đổi tên thành Paris. Năm 451, trước sự xâm lược của người Hung và người Attila, Thánh Geneviève - một người có ảnh hưởng to lớn của Cơ Đốc giáo khi đó và về sau trở thành thánh bảo trợ của Paris - đã đến thuyết phục những người dân Paris không chạy trốn. Nhưng sau đó họ đã thất bại ở trận Chalons. === Trung Cổ === Thời kỳ Trung Cổ, thành phố thoát khỏi sự cai trị của những người Attila trong một thời gian ngắn rồi Childéric I tới chiếm vào năm 464. Năm 508, sau khi chiến thắng những người La Mã, Clovis I - con trai của Childéric I - lấy Paris làm thủ đô của vương quốc Franc và sống ở đây tới khi chết vào năm 511. Trong khoảng thời gian sau đó, thành phố cùng các công trình tôn giáo tiếp tục được xây dựng. Vào thế kỷ 9, các bức thành được dựng lên bên ở hữu ngạn để bảo vệ các giáo khu Saint-Gervais và Saint-Germain-l'Auxerrois. Năm 845, những người Viking tới đánh Paris lần đầu tiên, dân chúng phải rời bỏ thành phố. Các cuộc tấn công này còn kéo dài tới đầu thế kỷ 10 và được kết thúc bởi hòa ước Saint-Clair-sur-Epte năm 911. Năm 987, dòng họ Capet lên trị vì. Khi đó, Paris và Orléans là hai thành phố lớn nhất trong lãnh thổ và vương triều Capet đã chọn Orléans. Hugues Capet, mặc dù cung điện ở Île de la Cité nhưng ít khi sống ở đây. Robert II thì đến Paris thường xuyên hơn. Từ thế kỷ 11, Paris trở thành một trung tâm quan trọng của giáo dục tôn giáo. Quyền lực hoàng gia dần được tập trung ở Paris và thành phố trở lại thành thủ đô của vương quốc từ thời vua Louis VI, rồi Philippe Auguste. Là điểm giao của các con đường buôn bán lớn, Paris trở nên giàu có nhờ thương mại. Lúa mì vào thành phố từ phố Saint-Honoré, dạ ở phố Saint-Denis, và cá từ biển Bắc và biển Manche đến Paris ở phố Poissonniers... Vào năm 1150, dân số Paris ước tính khoảng 50.000 người. Năm 1163, giáo mục Maurice de Sully xây dựng nhà thờ Đức Bà trên đảo Île de la Cité. Sự quan trọng của thành phố tăng lên, Paris trở thành trung tâm chính trị lẫn tôn giáo. Tả ngạn sông Seine với các nhà thờ đóng vai trò quan trọng về giáo dục. Còn hữu ngạn là trung tâm của thương mại và tài chính. Vào thời kỳ này, các trường học của giáo hội gây dựng được tiếng tăm và muốn trở nên độc lập. Dưới thời vua Philippe II, năm 1215, Đại học Paris được thành lập. Vua Saint Louis lên ngôi năm 1226, cho xây dựng nhà thờ Sainte-Chapelle và tiếp tục công trình nhà thờ Đức Bà. Khoảng 1328, dân số Paris ước tính khoảng 200.000 người, là thành phố đông dân nhất châu Âu · . Nhưng năm vào 1348, nạn dịch hạch đen đã tàn sát dân chúng thành phố. Trong thế kỷ 14, bức tường thành của vua Charles V bao gồm cả Quận 3 và Quận 4 ngày nay, và trải từ cầu Pont Royal tới cửa ô Saint-Denis. Năm 1337 nổ ra cuộc chiến tranh Trăm năm. Sự bất mãn của dân chúng đã nuôi tham vọng của quan thái thú Étienne Marcel gây nên chính biến lớn đầu tiên trong lịch sử Pháp vào năm 1358. Điều này khiến các vị vua không còn ở trong trung tâm thành mà tới Hôtel Saint-Pol, rồi Hôtel des Tournelles, nơi dễ dàng thoát khi có binh biến. Năm 1407 nổ ra cuộc nội chiến giữa hai phe Armagnacs và Bourguignons, tới 1420 mới kết thúc. Chiến tranh Trăm năm vẫn tiếp tục, Paris nằm trong phần lãnh thổ do người Anh kiểm soát. Năm 1429, Jeanne d'Arc thất bại trong việc đánh đổ người Anh và đồng minh là Bourguignons rồi bị thiêu sống năm 1431. Tới năm 1453, thời vua Charles VII, chiến tranh kết thúc. Nhưng Charles VII và con trai là Louis XI lại chuyển đến Val de Loire. Trong khoảng từ 1422 đến 1500, dân số Paris tăng lên, từ 100 ngàn thành 150 ngàn người. Giữa thế kỷ 16, tuy kinh tế có phát triển nhẹ, nhưng thiếu vắng triều đình, Paris chuyển thành một thành phố hành chính và tư pháp. === Từ Phục Hưng tới thế kỷ 18 === Vào thời kỳ Phục Hưng, triều đình vẫn ở Val de Loire. Paris tiếp tục được mở rộng nhưng khá lộn xộn. Năm 1500, quy tắc xây dựng đô thị đầu tiên được ban bố. Tới năm 1528, François I chính thức chuyển về Paris. Theo ý muốn của nhà vua, ở Collège de France, giáo dục hiện đại hướng đến chủ nghĩa nhân đạo và khoa học chính xác. Dưới sự trị vì của François I, Paris đạt tới 280.000 người và tiếp tục là thành phố đông dân nhất Tây Âu. Từ 1562 tới 1598 là khoảng thời gian Chiến tranh tôn giáo với 8 cuộc xung đột liên tiếp. Ngày 24 tháng 8 năm 1572, dưới thời Charles IX, đã xảy ra vụ Thảm sát Ngày lễ Thánh Barthélemy. Những người Công giáo tàn sát những người Kháng Cách khắp Paris với số nạn nhân trong khoảng 2 ngàn tới 10 ngàn người. Giáo hội Pháp, đặc biệt ở Paris, nổi dậy chống lại vua Henri III vào năm 1588. Ngày 2 tháng 8 năm 1589, Henri III bị ám sát, Henri de Navarre trở thành vua Henri IV của Pháp năm 1589. Paris, mặc dù đổ nát và hoang tàng đã không mở cửa cho nhà vua cho tới tận 1594. Năm 1610, một kẻ cuồng tín ám sát Henri IV trên phố Ferronnerie, Paris. Năm 1648, một vụ nổi loạn của dân Paris là nguyên nhân khiến kinh tế giảm sút. Mặc dù số lượng người chết cao hơn số lượng sinh, nhưng dân số Paris vẫn đạt tới 400.000 nhờ những cuộc di cư từ các tỉnh. Thời kỳ này, Paris là một thành phố thảm hại và kém an ninh. Khu phố Caire và Réaumur, ở quận Quận 2 ngày nay, tràn ngập trộm cắp và ăn mày, được gọi là Cour des miracles. Từ năm 1656, nhờ trung tướng cảnh sát Gabriel Nicolas de La Reynie, nó mới dần bị dẹp bỏ. Kể từ Louis XIII, và tiếp đó là Louis XIV, các vị vua Pháp chuyển đến sống tại cung điện Versailles. Năm 1682 triều đình cũng chuyển về Versailles, Jean-Baptiste Colbert trở thành người quản lý Paris. Mặc dù Versailles nằm rất gần Paris, nhưng trong suốt thời gian trị vì Louis XIV chỉ đến Paris 24 lần để dự các buổi lễ chính thức. Năm 1715, công tước Philippe II, khi đó là nhiếp chính, rời Versailles về Palais-Royal trong Paris. Tiếp đó vị vua trẻ Louis XV sống tại cung điện Tuileries. Một lần nữa, triều đình quay về Paris. Nhưng từ 1722, Louis XV lại trở lại cung điện Versailles. Trong thế kỷ 18, Paris trở thành trung tâm tri thức, nơi sản sinh những tư tưởng của Khai sáng, là thời kỳ hoàng kim của các phòng khách văn học. Thế kỷ 18 còn là giai đoạn Paris phát triển mạnh mẽ về kinh tế khiến dân số tăng nhanh, đạt tới con số 640.000 người trước khi nổ ra Cách mạng Pháp. Thành phố khi đó trải rộng bằng khoảng 6 quận trung tâm của Paris hiện nay, vườn Luxembourg đánh dấu ranh giới phía tây. Tuy ở Versailles, Louis XV vẫn yêu thích thành phố, quyết định xây dựng quảng trường Louis XV - tức quảng trường Concorde - cùng việc mở ra trường quân sự École militaire vào năm 1752. Và hơn hết là việc xây dựng một nhà thờ ở Sainte-Geneviève vào năm 1754, chính là Điện Panthéon. === Cách mạng và Đế chế === Cách mạng Pháp được bắt đầu ở Versailles với sự triệu tập Hội nghị các đẳng cấp và sau đó là Lời tuyên thệ Jeu de paume, những người thuộc Đẳng cấp thứ ba tự thành lập quốc hội. Nhưng nguyên nhân chính của cách mạng là ở Paris: những người dân bị ảnh hưởng bởi khủng hoảng kinh tế, giá bánh mỳ tăng, nhạy cảm với chính trị bởi các tư tưởng Khai sáng và oán giận triều đình cùng tầng lớp quý tộc. Việc chiếm ngục Bastille ngày 14 tháng 7 năm 1789 là bước đầu tiên. Jacques de Flesselles - prévôt des marchands của thành phố, tương đương thị trưởng - bị giết. Ngày 15 tháng 7, nhà thiên văn Jean Sylvain Bailly tới Tòa thị chính trở thành thị trưởng đầu tiên của Paris. Đến cuối tháng 7 thì tinh thần chủ quyền nhân dân lan ra khắp nước Pháp. Ngày 4 tháng 8, Quốc hội tuyên bố bãi bỏ chế độ phong kiến. Ngày 5 tháng 10, những người nổi dậy tới Versailles vào buổi tối. Sáng ngày 6, họ chiếm lâu đài và buộc nhà vua phải quay trở lại Paris, trú ngụ ở cung điện Tuileries. Sau đó một Quốc hội lập hiến được triệu tập ở Tuileries ngày 19 tháng 10. Ngày 14 tháng 7 năm 1790, lễ hội Fédération được tổ chức ở Champ-de-Mars mừng một năm ngày phá ngục Bastille. Quốc hội với nhiều bè phái dẫn tới mâu thuẫn. Đa số vẫn ủng hộ chế độ quân chủ, đã đi đến thỏa thuận cho vua Louis làm một đấng quân vương bù nhìn. Tình hình chính trị rối loạn đẩy Pháp vào cuộc chiến tranh với Áo và các đồng minh. Ngày 20 tháng 4 năm 1792, Pháp khai chiến với Áo, tình hình trong nước hỗi loạn. Đêm 9 tháng 7 năm 1792, những người cách mạng chiếm Tòa thị chính thành phố. Trong ngày 10 tháng 8, đám đông vây hãm cung điện Tuileries với sự ủng hộ của chính quyền thành phố mới. Vua Louis XVI cùng hoàng gia bị tống giam ở Tour du Temple. Ngày 21 tháng 9 năm 1792, chính quyền tuyên bố chấm dứt chế độ quân chủ và lập ra nền Cộng hòa. Ngày 21 tháng 1, tại quảng trường Louis XV - được đặt tên lại là quảng trường Cách mạng - Louis XVI bị hành quyết bởi tội danh âm mưu chống lại tự do nhân dân và an ninh chung. Sau đó tới Marie-Antoinette, Danton, Lavoisier và Robespierre cùng khoảng 1200 người khác bị ghép vào tội phản cách mạng, lĩnh án tử hình. Thời kỳ Cách mạng không phải là giai đoạn tốt cho việc phát triển thành phố. Rất ít công trình được xây dựng và nhiều nhà thờ, tu viện bị phá hủy. Đến thời kỳ Đốc chính, một số công trình phong cách Tân cổ điển mọc lên. Vào năm 1800, dân số Paris khoảng 548.000 người. Đến năm 1806, nhờ các cuộc di cư từ các tỉnh, dân số Paris lên đến 650.000 người. So với Luân Đôn, từ giữa thế kỷ 18, Paris bị bỏ xa về kinh tế lẫn dân số. Năm 1800, dân số Luân Đôn đã xấp xỉ 1.000.000 người. Năm 1799, Napoléon Bonaparte lên nắm quyền. Ngày 2 tháng 12 năm 1804, Napoléon nhận tôn phong hoàng đế từ Giáo hoàng Pie VII tại nhà thờ Đức Bà. Paris tiếp tục là thủ đô của Đệ nhất đế chế Pháp. === Từ thời kỳ Khôi phục tới Công xã Paris === Sự sụp đổi của Đệ nhất đế chế vào 1814 và 1815 dẫn đến việc quân đội Anh và Nga tới đồn trú ở Paris. Louis XVIII trở về từ nơi lưu đày, ngụ tại cung điện Tuileries. Louis XVIII và Charles X, rồi cả nền Quân chủ tháng bảy ít bận tâm tới quy hoạch đô thị Paris. Giai cấp công nhân phát triển mạnh, sống chen chúc trong các khu phố trung tâm, mật độ tới 100.000 người một km². Dịch tả năm 1832 sát hại 32.000 người. Vào năm 1848, 80% số người chết bị chôn ở các huyệt tập thể và hai phần ba dân Paris quá nghèo để trả tiền thuế. Những người dân bị bần cùng hóa tiếp tục nổi dậy khiến Charles X, rồi Louis-Philippe phải thoái vị. Đây cũng là giai đoạn Paris có nhiều phát triển. Năm 1825, việc xây dựng kênh Saint-Martin hoàn tất. Ngày 26 tháng 8 năm 1837, tuyến đường sắt đầu tiên của Pháp hoàn thành, nối Paris với Saint-Germain-en-Laye. Các nhà ga Saint-Lazare, Gare du Nord, các tuyến đường sắt Paris-Orléans, Paris-Rouen được xây dựng mở ra kỷ nguyên đường sắt. Năm 1825, chiếu sáng công cộng bằng khí gaz được thử nghiệm ở quảng trường Vendôme. Và tới năm 1843, chiếu sáng bằng điện được thử nghiệm ở quảng trường Concorde. Xã hội phức tạp thời kỳ này được phản ánh qua các tác phẩm của Balzac, Victor Hugo hay Eugène Sue. Đệ nhị đế chế bắt đầu từ năm 1852. Dưới thời Napoléon III, Paris có những thay đổi triệt để. Trong vòng không đến 20 năm, từ một thành phố với cấu trúc cũ, Paris trở thành một thành phố hiện đại. Napoléon III cùng Nam tước Haussmann có những ý tưởng chính xác về quy hoạch thành phố: các con phố, đại lộ được vẽ lại, quy định về mặt ngoài các ngôi nhà, bố trí các không gian xanh... Ngày 1 tháng năm 1860, một đạo luật cho phép sát nhập một loạt hạt xung quanh với Paris. Từ 12 quận với 3.288 hecta, Paris trở thành 20 quận với tổng diện tích 7.088 hecta. Sự phát triển đô thị còn tiếp tục vào cuối thế kỷ 19, đầu thế kỷ 20. Trong cuộc chiến tranh Pháp-Phổ, năm 1870 Paris bị quân đội Phổ vây hãm trong nhiều tháng. Ngày 8 tháng 2 năm 1871, một chính phủ mới được bầu. Tới ngày 26 tháng 2, một hiệp định sơ bộ được ký ở Versailles chuẩn bị cho hiệp ước Frankfurt - mà nước Pháp quá thua thiệt - sau đó. Tới ngày 1 tháng 5, mang tính tượng trưng, những nhóm quân Phổ vào Paris diễu hành trên đại lộ Champs-Élysées. Dân chúng Paris bất mãn, nổi dậy ngày 18 tháng 5 năm 1871, là sự bắt đầu của Công xã Paris. Adolphe Thiers cùng chính phủ phải tạm thời chuyển về Versailles ngày 20 tháng 3. Từ 22 tới 28 tháng 5 là Tuần lễ đẫm máu kết thúc Công xã Paris · . === Từ Belle Époque tới Chiến tranh thế giới thứ hai === Trong thời kỳ Belle Époque, Paris có những bước phát triển kinh tế quan trọng. Năm 1913, thành phố có tới một ngàn công ty với một triệu nhân công. Trong khoảng thời quan 1900 tới 1913, sau sự ra đời của điện ảnh, 175 rạp chiếu phim được mở ở Paris. Các đại cửa hàng cũng bắt đầu xuất hiện, mở đầu là Le Bon Marché, rồi tới La Samaritaine, Galeries Lafayette... Hai cuộc triển lãm thế giới vào năm 1889 và 1900 minh chứng cho giai đoạn hoàng kim của Belle Époque. Tháp Eiffel xây dựng nhân triển lãm năm 1889, kỷ niệm 100 năm Cách mạng Pháp. Tuyến tàu điện ngầm đầu tiên cùng Grand Palais, Petit Palais và cầu Alexandre-III hoàn thành năm 1900. Công nghiệp phát triển chuyển ra ngoài ngoại thành: hãng ô tô Renault ở Boulogne-Billancourt và Citroën ở Suresnes. Một số lĩnh vực khác, như ngành in và báo chí, vẫn ở lại trong nội ô thành phố. Belle Époque cũng là thời kỳ mà Paris trở thành trung tâm văn hóa của thế giới. Thành phố sản sinh ra nhiều nghệ sĩ lớn cùng rất nhiều các nhà văn, họa sĩ nổi tiếng của Pháp và khắp nơi trên thế giới tới Paris. Năm 1910, sông Seine với một trận lụt thế kỷ đã làm thành phố thiệt hại tới ba tỷ franc. Trong Chiến tranh thế giới thứ nhất, Paris tránh được những trận đánh nhưng phải chịu các buộc ném bom và nã pháo của quân đội Đức. Tuy vậy các cuộc ném bom này chỉ lẻ tẻ và mang tính chất tâm lý. Vào khoảng thời gian giữa hai cuộc thế chiến, thành phố phải đối mặt với những khủng hoảng về kinh tế và xã hội. Để giải quyết vấn đề nhà ở, những chung cư bình dân được lập nên. Bên cạnh đó, ngoại ô cũng được chia lô để xây dựng các ngôi nhà. Vào năm 1921, dân số Paris lên đến 2.906.000 người. Trong Chiến tranh thế giới thứ hai, nước Pháp đầu hàng, Chính phủ của thống chế Pétain chuyển đến Vichy. Paris trở thành trụ sở chỉ huy của quân đội Đức tại Pháp. Ngày 16 và 17 tháng 7 năm 1942, 12.884 người Do Thái - cả phụ nữ và trẻ em - bị bắt. Ngày 6 tháng 6 năm 1944, các lực lượng Đồng Minh đổ bộ vào bờ biển Normandie và tới ngày 25 tháng 8, Paris được giải phóng. Trước khi rút quân, tướng Dietrich von Choltitz đã trái lệnh Adolf Hitler, không cho phá hủy thành phố. === Paris đương đại === Năm 1956, Paris trở thành thành phố sinh đôi của Roma, như một biểu tượng của sự hòa giải sau Chiến tranh thế giới thứ hai. Trong nhiệm kỳ của tổng thống Charles de Gaulle, từ 1958 tới 1969, nhiều sự kiện chính trị đã diễn ra ở thủ đô. Ngày 17 tháng 10 năm 1961, một cuộc biểu tình cho nền độc lập của Algérie bị cảnh sát đàn áp, ước tính 32 tới 325 người chết. Từ ngày 22 tháng 3 năm 1968, một phong trào sinh viên, bắt đầu từ Đại học Nanterre lan dần tới khu phố La Tinh trở thành một vụ bạo loạn. Đỉnh điểm ngay 13 tháng 5, một cuộc biểu tình với 800.000 người chống lại cảnh sát. Phải sau hai tháng, tình hình mới yên tĩnh trở lại. Vào thời kỳ tiếp theo, các tổng thống Pháp cho xây dựng nhiều công trình hiện đại cả trong Paris và ngoại ô. Từ những năm 1960, khu đô thị hiện đại La Défense dần xuất hiện. Vào năm 1976, chính phủ lần đầu tiên chấp nhận một hội đồng thị chính độc lập kể từ 1871. Jacques Chirac trở thành thị trưởng Paris đầu tiên kể từ 1971 và giữ chức vụ này cho tới tận 16 tháng 5 năm 1995. Trong nhiệm kỳ của tổng thống François Mitterrand, luật ngày 31 tháng 12 năm 1982 cho phép mỗi quận của Paris có một quận trưởng và hội đồng riêng. Thị trưởng của Paris hiện nay là Bertrand Delanoë, đảng viên Đảng xã hội, được bầu năm 2001. Bertrand Delanoë theo đuổi những chính sách giảm lượng ô tô trong thành phố, khuyến khích phương tiện giao thông công cộng cùng xe đạp và đi bộ. Cũng trong nhiệm kỳ của Bertrand Delanoë, một số hoạt động, lễ hội như Nuit Blanche, Paris-Plage bắt đầu được tổ chức hằng năm. == Dân số == Không giống với các thủ đô khác, địa giới của Paris chỉ bao gồm 20 quận. Khu vực ngoại ô nằm ngoài 20 quận này tuy được đô thị hóa từ thế kỷ 19 và có mật độ dân số rất cao nhưng đều thuộc về các tỉnh khác của vùng Île-de-France. Vì vậy tồn tại các khái niệm nội ô Paris, khu vực đô thị Paris, vùng đô thị Paris. Theo ước tính của Viện Thống kê và Nghiên cứu kinh tế quốc gia Pháp, dân số nội ô thành phố Paris vào 1 tháng 1 năm 2004 khoảng 2.142.800 người, đứng thứ năm trong Liên minh châu Âu. Số dân cư này sống trên một diện tích 10.540 hecta, tức mật độ dân số Paris là 20.408 người trên một km², thuộc hàng cao nhất châu Âu. Theo điều tra năm 1999, khu vực đô thị Paris với 396 xã có dân số là 9.644.507. Cũng năm 1999, vùng đô thị Paris, gồm tổng cộng 1584 xã chịu ảnh hương bởi thủ đô, có dân số 11.174.743 người, đứng thứ 22 trong các đô thị lớn trên thế giới thế giới. == Tổ chức hành chính == Theo luật ngày 10 tháng 7 năm 1964, và có hiệu lực từ 1 tháng 1 năm 1968, về tổ chức lại vùng Paris: thành phố Paris là một xã của Pháp (commune), đồng thời là tỉnh của Pháp (département). Trước đó, từ năm 1790, Paris từng là tỉnh lỵ của tỉnh Seine. Ngược lại với các thủ phủ khác của Pháp, không có sự liên quan về thuế khóa giữa Paris và ngoại ô của thành phố. Cũng phải xác định rằng địa hạt của thành phố Paris chỉ bao gồm phần trung tâm, khác với các thủ đô khác trên thế giới. Tỉnh Paris chỉ gồm một xã duy nhất, và được chia nhỏ thành 20 quận. Trong lịch sử, vào 11 tháng 10 năm 1795, Paris được chia làm 12 quận. Cách phân chia này kéo dài tới năm 1860, khi một số phần ngoại ô được sát nhập vào Paris, và thành phố được chia thành 20 quận như ngày nay. Tuy thế, trong bầu cử, Paris lại được chia thành 21 khu vực cử tri. === Quy chế === Quy chế của Paris đã từng thay đổi nhiều lần. Từ 26 tháng 3 tới 22 tháng 5 năm 1871, Paris là trụ sở của chính quyền khởi nghĩa Công xã Paris với hội đồng dân chủ được bầu lên. Bắt đầu Đệ tam cộng hòa, bộ luật được ban bố ngày 5 tháng 4 năm 1884 trao quyền hành pháp cho tỉnh trưởng tỉnh Seine và quyền cảnh sát cho cảnh sát trưởng thành phố. Hội đồng Paris, do thành phố bầu, mỗi năm chỉ định một chủ tịch có chức năng đại diện. Paris không có thị trưởng. Ngân sách thành phố do Nhà nước phê chuẩn. Luật ngày 31 tháng 12 năm 1975, có hiệu lực vào năm 1977 khi bầu cử thành phố, đã thiết lập Hội đồng Paris. Hội đồng này vừa là hội đồng thị chính, vừa là hội đồng chung, gồm 109 thành viên là những người bầu lên thị trưởng Paris. Các ủy ban của quận giữ vai trò tư vấn. Cảnh sát trưởng được Nhà nước bổ nhiệm giữ vai trò cảnh sát. Cuối cùng, luật ngày 31 tháng 12 năm 1982 mở rộng quyền lực của Hội đồng Paris, đóng vai trò chính về mặt ngân sách và thiết lập các Hội đồng quận. Các chức năng về quản lý hành chính trật tự xã hội được chia sẻ giữa thị trưởng và cảnh sát trưởng. === Ngân sách và thuế === Ngân sách của thành phố năm 2007 lên đến 6,827 tỷ euro, trong đó 5,331 tỷ dành cho bộ máy hành chính và 1,495 tỷ dành cho đầu tư. Hội đồng Paris quay lại tỷ lệ đánh thuế giống như năm 2000: 8,8% thuế cư trú; 7,11% thuế đất xây dựng; 13,5% thuế đất không xây dựng và 12,35% thuế kinh doanh, sản xuất. Thuế khóa chiếm 53,2% nguồn thu của thành phố. === Tư pháp === Tòa án lớn Paris nằm tại Palais de Justice trên đảo Île de la Cité. Đây là nơi xét xử nhiều vụ án lớn nhất của Pháp. Mỗi quận còn có một tòa án riêng. Tòa án thương mại của Paris cũng nằm trên đảo Île de la Cité. Tòa án cảnh sát ở phố Ferrus Quận 14 còn Hội đồng hòa giải lao động nằm trên phố Louis-Blanc Quận 10. Ngoài ra Paris còn có ba phòng giúp tư vấn về những thông tin pháp lý tại các Quận 10, 14 và 17. Thành phố Paris có những nhà tù nổi tiếng, đi vào lịch sử: Bastille được hoàn thành năm 1370 bị phá trong Cách mạng Pháp; Conciergerie từng là nơi giam giữ Marie-Antoinette cùng một số nhân vật hoàng gia cũng trong thời gian Cách mạng; một phần của lâu đài Vincennes cũng từng là nhà tù. == Kinh tế == Vùng Île-de-France là một trong những khu vực kinh tế quan trọng nhất thế giới. Vào năm 2006, GDP của Île-de-France là 500,839 tỷ euro, tương đương 628,9 tỷ đô la. Giả sử là một quốc gia, Île-de-France sẽ đứng thứ 17 thế giới, xấp xỉ với Hà Lan. Mặc dù khu vực đô thị Paris có dân số đứng khoảng thứ 20 trong các khu vực đô thị lớn trên thế giới, nhưng GDP của Paris đứng thứ 4, chỉ sau Tokyo, New York, Los Angeles, và Chicago. Hoạt động kinh tế ở khu vực Paris cũng đa dạng, không đặc trưng giống các thành phố kinh tế lớn khác như Los Angeles với ngành công nghiệp giải trí, hay Luân Đôn và New York với lĩnh vực tài chính. Theo số liệu của INSEE vào 31 tháng 12 năm 2004, vùng Île-de-France có 18.548 người làm việc trong lĩnh vực nông nghiệp, công nghiệp có 847.802 lao động, còn các ngành dịch vụ chiếm đến 4.476.415 người. Tuy nông nghiệp chiếm tới 50% diện tích đất của toàn vùng, nhưng số nông dân chỉ là 7.600 người. Vào năm 2002, tổng sản phẩm nông nghiệp của Île-de-France đạt 750 triệu euro. Ở công nghiệp, con số đó là 67,25 tỷ euro với các lĩnh vực chủ yếu như: sản xuất hàng tiêu dùng, xây dựng, xe hơi, năng lượng... Còn ngành dịch vụ lên tới 328,225 tỷ euro, tương đương 82,8%. Nội ô Paris tập trung một số lượng lớn lao động, gần 1.650.600 vào năm 2004, chiếm 31% số nhân lực của vùng. Tiếp theo đó là Hauts-de-Seine với 848.200, tương đương 16% . Vào năm 2002, mức lương trung bình ở Paris là 19 euro một giờ, cao hơn một chút so với toàn Île-de-France: 18,2 euro. So với trung bình của toàn nước Pháp là 13,1 euro một giờ thì nó vượt khá xa. Nhưng lại tồn tại một chênh lệch lớn: 10% những nhân công hưởng lương cao nhất nhận được gấp bốn lần 10% hưởng lương thấp nhất. Còn toàn vùng, tỷ lệ này là 3,7 và ở các tỉnh là 2,6. Mặt khác, còn có sự không đồng đều về mặt địa lý: ở Quận 8, lương trung bình một giờ là 24,2 euro, cao hơn 82% so với Quận 20: 13,3 euro. Nhưng ngược lại, sự chênh lệch lương giữa nam giới và nữ giới chỉ 6%, trong khi ở các tỉnh lên đến 10 %. === Các khu phố văn phòng === Paris thuộc khu vực kinh tế thứ ba - không trực tiếp sản xuất. Thành phố là nơi đặt trụ sở, văn phòng nhiều công ty lớn của Pháp cũng như thế giới. Sở giao dịch chứng khoán Paris với gần 400 ngân hàng và công ty, được xem như đứng thứ tư thế giới, sau Tokyo, New York và Luân Đôn. Được phát triển từ những năm 1960, khu vực La Défense ở phía tây thành phố với các nhà chọc trời như tháp Areva, tháp EDF, tháp Gan... có tới 3 triệu m² văn phòng và tập trung 150.000 nhân viên. Có thể thấy ở đây sự hiện diện của 1.500 công ty, trong đó có 14 trong 20 công ty hàng đầu của Pháp và 15 trong 50 công ty hàng đầu của thế giới. Vẫn có những dự án phát triển tiếp khu vực này với nhiều nhà chọc trời sẽ được thực hiện trong tương lai 2010 đến 2015. Một khu phố văn phòng khác thuộc trung tâm thành phố, quanh nhà hát Opéra Garnier. Tuy có một vài trò quan trọng nhưng ở đây giá bất động sản quá cao và diện tích các văn phòng rất giới hạn. Một vài khu vực vẫn tiếp tục được quy hoạch. Paris Rive Gauche ở Quận 13 là dự án quan trọng nhất hiện nay. Hay ở ngoại ô, các địa điểm có giá bất động sản thấp hơn, như Plaine Saint-Denis thuộc tỉnh Seine Saint-Denis hoặc về phía sân bay Charles-de-Gaulle. === Du lịch === Du lịch, với khái niệm hiện đại, chỉ trở nên thực sự quan trọng ở Paris sau việc xuất hiện của đường sắt vào những năm 1840. Và bắt đầu từ năm 1855, các Triển lãm thế giới đã thu hút số lượng lớn du khách, cũng là dịp giúp Paris có thêm nhiều công trình mới, trong đó nổi tiếng nhất chính là tháp Eiffel vào năm 1889. Các công trình của Paris, cùng với các giá trị về văn hóa, đã giúp du lịch thành phố đặc biệt phát triển. Lĩnh vực du lịch hiện nay đóng một vai trò quan trọng trong nền kinh tế Paris, chiếm 12,8% nhân công của thành phố, tức 147.000 người. Các du khách chiếm 50% số người tới thăm bảo tàng, 8% doanh số của Công ty giao thông công cộng Paris RATP, và cuối cùng là 60% khách trọ của các khách sạn. Năm 2005, toàn vùng Île-de-France có 2.508 khách sạn với 154.745 phòng, trong đó 1.534 khách sạn nằm trong Paris. Tuy là một thành phố đắt đỏ, nhưng giá các khách sạn 2 sao của Paris lại thấp, đứng thứ 17 trên tổng số 20 đô thị lớn của thế giới. Ngược lại, các khách sạn sang trọng của Paris lại thuộc hạng đắt nhất, sau Genève. Năm 2006, Paris đón tổng cộng 27 triệu khách du lịch, trong đó 17 triệu khách nước ngoài. Còn toàn vùng Île-de-France con số lên đến 44 triệu. Vào năm 2006, năm mươi địa điểm văn hóa hàng đầu của thành phố đã có 69,1 triệu lượt viếng thăm, tăng 11,3% so với năm 2005. Nhà thờ Đức Bà đón 13,5 triệu du khách, là công trình thu hút nhất nước Pháp. Tiếp theo, nhà thờ Sacré-Coeur với 10,5 triệu, viện bảo tàng Louvre với 8,3 triệu, tháp Eiffel 6,7 triệu, trung tâm Pompidou 5,1 triệu, Cité des sciences et de l'industrie trong công viên La Villette và bảo tàng Orsay ngang nhau với 3 triệu lượt khách viếng thăm. Ngoài ra công viên Disneyland nằm ở ngoại ô Paris mỗi năm cũng thu hút 12,5 triệu lượt khách. Tuy là thủ đô thu hút nhất trên thế giới, nhưng Paris lại là một trong những thành phố đắt nhất và bị cho là kém hiếu khách. Theo cuộc một điều tra được thực hiện bởi văn phòng Global Market Insite về 60 thành phố trên thế giới, qua ý kiến của 14.000 người, Paris đứng đầu là thành phố đẹp nhất, năng động nhất nhưng đứng thứ 52 về chất lượng đón tiếp. Chính quyền thành phố đã có những cố gắng để thay đổi điều này. Trên truyền hình xuất hiện những đoạn phim ngắn tự chế giễu về tính kém hiếu khách của người dân Paris. == Xã hội == === Khác biệt xã hội === Tương tự ở một vài thành phố lớn khác như Luân Đôn hay New York, sự tăng giá liên tục của bất động sản cho thấy những dân cư nghèo và trung bình dần được thay thế bằng một tầng lớp mới khá giả hơn. Ở Paris, sự vận động này phổ biến ngay cả ở những khu phố được xem là bình dân, như Quận 10 hay một số khu vực gần ngoại ô như Montreuil thuộc Seine-Saint-Denis. Paris là thành phố đứng thứ 12 nước Pháp về tỷ lệ phải đóng thuế tài sản: 34,5 hộ trên 1.000 người dân. Năm 2006, 73.362 gia đình khai thuế tài sản trên 1.961.667 euro. Với 27.400 euro thu nhập trung bình cho mỗi người vào 2001, các gia đình Paris ở mức sung túc nhất nước Pháp. Bốn tỉnh dẫn đầu khác cũng đều thuộc Île-de-France: Hauts-de-Seine, Yvelines, Essonne và Val-de-Marne. Điều này phản ánh sự tập trung nguồn nhân lực cao ở khu vực Paris. Nhưng mặc dù Paris mang hình ảnh của một thành phố giàu có với những tầng lớp cao và quan trọng của xã hội, ngay trong nội thành Paris thực tế vẫn có những chênh lệch. Sự khác biệt truyền thống đánh dấu bởi những người dân phía tây thường giàu có hơn phía đông. Thu nhập trung bình những người dân Quận 7 cao nhất, 31.521 euro trên một người một năm vào 2001. Còn ở Quận 19, con số này là 13.759 euro. Người dân ở các Quận 6, 7, 8 và 16 có thu nhập cao hơn các Quận 10, 18, 19, 20 - là những quận kém nhất. Những người nghèo cũng tồn tại ở Paris: 12% số gia đình Paris, tức 210.000 người, sống dưới ngưỡng 670 euro mỗi tháng. Tỷ lệ này được đưa ra vào năm 2001, khi đó mức trung bình của vùng Île-de-France là 11,2%. Còn toàn nước Pháp là 13,7%. Sự khác biệt xã hội này còn mang cả tính chủng tộc: 32,6% các gia đình Paris có gốc ngoài Liên minh châu Âu ở mức nghèo, trong khi đó con số với những gia đình Pháp là 9,7 %. Các Quận 18, 19 và 20 tập trung tới 40% dân nghèo của Paris và nhiều khu phố còn kèm theo các khó khăn xã hội khác, như thất nghiệp cao, điều kiện giáo dục, y tế cũng kém hơn. Đây cũng là khu vực đón tiếp nhiều người nhập cư đến từ Bắc Phi và một số nước gần Sahara. Chênh lệch mức sống phân bố theo địa lý còn kéo dài ra cả ngoài ngoại ô. Các xã thuộc Hauts-de-Seine gần Quận 16 giàu có hơn các xã thuộc Seine-Saint-Denis gần Quận 19. Những khác biệt về mặt xã hội còn có thể thấy ở một số khu phố xuất hiện các cộng đồng đặc thù. Khu phố Le Marais thu hút nhiều người đồng tính. Cộng đồng Do Thái quy tụ quanh phố Rosiers từ thế kỷ 13. Phường Olympiades Quận 13 là nơi tập trung những người Trung Quốc, Việt Nam, Lào... tạo nên khu phố châu Á lớn nhất ở châu Âu. Khu phố La Tinh, với các trường học và công trình, luôn đông đúc sinh viên và khách du lịch. === Gia đình === Tương tự nhiều thành phố trung tâm khác, Paris có nhiều sinh viên, thanh niên và người già hơn trung bình của cả nước Pháp. Vì thế số gia đình dường như ít hơn. Vào năm 1999, trong số các gia đình Paris, có 22% hợp thành bởi một cặp vợ chồng với ít nhất một con nhỏ hơn 25 tuổi. Số gia đình này, với tổng cộng 865.000 người, chiếm 40,7% dân số Paris. Ngược lại có 27% sống độc thân và 19% sống đôi. Tức tổng cộng có khoảng 47% là độc thân trên giấy tờ, trong khi tỷ lệ đó của toàn nước Pháp là 35%. Có 37% số người Paris đã kết hôn, còn cả nước Pháp tỷ lệ là 50%. Tỷ lệ số gia đình chỉ có bố hoặc mẹ của Paris cũng cao hơn trung bình nước Pháp. Vào năm 1999, trong khi cả nước Pháp là 19% thì ở Paris là 27%, chiếm 7,7% dân số. Điều đó có thể cho thấy tỷ lệ ly hôn cũng cao: trên tổng số 100 cặp kết hôn có 55 cặp ly hôn sau đó. Tỷ lệ sinh của Paris cao hơn trung bình nước Pháp: 14,8 ca sinh trên 1.000 dân so với con số 13,2 của cả nước. Ngược lại, tỷ lệ sinh 1,75 con trên một gia đình của Paris thấp hơn mức trung bình 1,87 của cả vùng và 1,86 của cả nước Pháp. Trong đó 50% số gia đình Paris chỉ có một con và 17% có ba con hoặc hơn. Lý do bởi giá bất động sản cao, các gia đình thường sống trong một diện tích nhỏ hẹp. === Nhà ở === Hơn một nửa - 58,1% vào năm 1999 - số căn hộ của Paris chỉ gồm một hoặc hai phòng. Điều đó có thể cho thấy một phần khá lớn dân Paris sống độc thân hoặc là các cặp không con. Với lý do các căn hộ không có diện tích rộng và giá bất động sản quá cao khiến nhiều gia đình chuyển ra sống ngoài ngoại ô. Nhưng sự lựa chọn này kéo theo những bất lợi trong việc phải di chuyển vào thành phố hàng ngày để làm việc. Những người quyết định ở lại cũng đối mặt với một số khó khăn: dân số quá đông, tâm lý stress của đô thị, ô nhiễm, giá cả đắt đỏ, kém an ninh... Về thâm niên các tòa nhà, vào năm 1999, 55,4% được xây trước 1949, và chỉ có 3,8% xây sau 1990. Toàn bộ thành phố, số lượng nhà ở xã hội chiếm hơn 17%. Thế nhưng tỷ lệ này có sự không đồng đều, mười quận đầu tiên thuộc khu vực lịch sử trung tâm chỉ chiếm 6% số nhà ở xã hội của thành phố. Trong khi đó ba Quận 13, 19 và 20 chiếm tới 47% với con số 96.000 và năm 1999. Nếu thêm vào đó các Quận 12, 14, 15 và 18 thì có thể thấy vành đai phía nam và đông bắc chiếm tới 81% số nhà ở xã hội của Paris. Giá cả bất động sản ở Paris thuộc hàng cao nhất châu Âu và thế giới góp phần làm cuộc sống ở thành phố này trở nên đắt đỏ. Vào năm 2007, giá nhà trung bình các chung cư cao cấp đạt tới 12.600 euro một mét vuông. Ở một số khu phố sang trọng, con số còn có thể cao hơn nữa. === Nhập cư === Như đã được ghi trong hiến pháp, các cuộc điều tra dân số ở Pháp không đặt những câu hỏi thuộc về chủng tộc hay tôn giáo, nhưng có thu thập những thông tin về nơi sinh. Qua những con số này, có thể thấy Paris là nơi đa văn hóa nhất toàn châu Âu. Theo cuộc điều tra năm 1999, có 19,4% dân số của thành phố sinh ngoài lãnh thổ chính quốc Pháp. Cũng theo số liệu của cuộc điều tra, 4,2% dân vùng Paris là những người mới nhập cư, tới Pháp trong khoảng từ 1990 đến 1999, trong đó nhiều nhất là từ Trung Quốc và châu Phi. Mặt khác, vùng Paris có khoảng 15% là tín đồ Hồi giáo. Làn sóng nhận cư quốc tế đầu tiên về Paris được bắt đầu từ năm 1820 với các nông dân Đức tới, chạy trốn cuộc khủng hoảng nông nghiệp. Nhiều làn sóng nhập cư khác kéo dài liên tục tới tận ngày nay: những người Ý và Do Thái vào thế kỷ 19, những người Nga sau cách mạng Nga năm 1917, những người dân thuộc địa trong Chiến tranh thế giới thứ nhất, những người Ba Lan đến vào khoảng thời gian giữa hai cuộc thế chiến, người Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha và Bắc Phi những năm 1950 tới 1970, những người Do Thái sau khi một số nước Bắc Phi dành độc lập, những người châu Phi tiếp tục tới Pháp, và những người châu Á tới sau chiến tranh Việt Nam. Những người nhập cư cư trú tập trung thành những khu vực riêng: Quận 18 và 19 gồm những người gốc Phi bắc Sahara, đặc biệt khu Château Rouge và khu Belleville với cả cộng đồng Bắc Phi và cùng Trung Hoa. Quận 13 là nơi có Chợ Tàu, " chinatown " lớn nhất châu Âu. Khắp vùng Île-de-France, cũng có những người nhập cư còn sống rải rác. Những người dân nhập cư, hoặc có gốc nhập cư, không ít đã giành được những thành công. Vào đầu thế kỷ 20, nhà văn Marcel Proust và nghệ sĩ Sarah Bernhardt đều mang một phần máu Do Thái và đã nổi danh khắp thế giới. Tiếp đó là nhà hóa học người Ba Lan Marie Curie, sau khi mất được đưa vào điện Panthéon và in trên tờ 500 franc của Pháp. Tổng thống Pháp hiện nay Nicolas Sarkozy tuy sinh ở Paris nhưng là người gốc Hungary. Còn thị trưởng Paris Bertrand Delanoë sinh tại Tunisia và có bố là người Tunisia. === Người vô gia cư === Cũng như tất cả các đô thị lớn, một số lượng không nhỏ người vô gia cư sống trên đường phố của Paris. Vào năm 2005, theo ước tính của viện INSEE, thành phố có khoảng 8.000 người vô gia cư. Nếu so sách với một vài thành phố lớn khác thì số lượng người vô gia cư ở Paris không cao. Tại Luân Đôn, có 50.000 người vô gia cư trên tổng số 7 triệu dân. Tại Berlin, các con số ước tính rất chênh lệch, từ 4.000 tới 10.000 người trên tổng số 3,5 triệu dân. Còn vào năm 2006, con số ở New York là 33.000 người. Ở Paris, 17% người vô gia cư là nữ giới, và cứ 3 nữ vô gia cư thì một người kèm theo con nhỏ, có thể cùng bố đưa trẻ hoặc không. 57% số người vô gia cư là độc thân, chỉ có 8% có gia đình và một phần ba còn lại đã ly hôn hoặc góa. 24% số đàn ông cư gia cư sinh trong vùng Île-de-France, 37% sinh tại các vùng còn lại của Pháp và gần 40% sinh ở nước ngoài. Về tuổi, 48% các nữ vô gia cư trong khoảng từ 18 tới 30 tuổi. Con số đó ở nam giới là 22%, và 57% đàn ông vô gia cư trong khoảng 31 tới 50 tuổi. Với điều kiện sống kém, nhiều người vô gia cư gặp các vấn đề về sức khỏe, cả thể chất lẫn tâm lý. 15% có vấn đề liên quan tới rượu, 20% có vấn đề về thể chất và 7% về tâm lý. 59% nam và 78% nữ vô gia cư có ăn trưa vào tất cả các ngày, chủ yếu là bánh mỳ kẹp. Còn 16% nam và 10% nữ không có bữa trưa nào vào tuần của cuộc điều tra. Nhiều tổ chức xã hội tham gia vào việc giúp đỡ những người vô gia cư. Nhà thờ Saint-Eustache giúp đỡ các bữa ăn miễn phí. Les Enfants de Don Quichotte (Những đứa con của Don Quichotte), được thành lập năm 2006, đã bố trí những chiếc lều đỏ cạnh kênh Saint-Martin giúp đỡ những người vô gia cư trong mùa đông. === Y tế === Paris là một trong những thành phố của Pháp có tỷ lệ bác sĩ cao nhất, cả đa khoa và chuyên khoa. Vào năm 2005, toàn Paris có 5.840 bác sĩ đa khoa. Con số đó ở cả Seine-Saint-Denis và Val-d'Oise là 3.349, mặc dù tổng dân số hai tỉnh này cao hơn Paris. Trong những bệnh viện của thành phố, một số được thành lập từ rất lâu. Hôtel-Dieu de Paris do Thánh Landry, giáo mục của Paris, lập ra vào năm 651. Hôtel-Dieu de Paris là biểu tượng của lòng từ thiện của thành phố, và là bệnh viện duy nhất ở đây cho tới tận thế kỷ 12. Bệnh viên Quinze-Vingts do vua Saint Louis lập ra năm 1260 để đón những người mù của Paris, hiện nay ở số 28 phố Charenton, quận 12. Điện Invalides được bắt đầu xây dựng vào năm 1671 cũng là một bệnh viện cho thương binh. Ngày nay, dù trở thành một công trình nổi tiếng, nó vẫn còn giữ chức năng này. Phần lớn các bệnh viện của Paris đều thuộc AP-HP (Assistance Publique - Hôpitaux de Paris, cơ quan về y tế công cộng của Paris từ năm 1849) và chính quyền thành phố. AP-HP, với vai trò trung tâm bệnh viện vùng cho cả Paris và Île-de-France, có tới 90.000 nhân viên. === Tôn giáo === Công giáo Rôma Tổng giáo phận Paris là một trong hai mươi ba giáo phận Công giáo ở Pháp. Là giáo phận từ thế kỷ 3, Paris được nâng lên thành tổng giáo phận vào ngày 20 tháng 10 năm 1622. Tổng giáo mục hiện nay là hồng y André Vingt-Trois. Vào năm 2005, thành phố gồm có 106 giáo xứ, đón tiếp những giáo dân và hội truyền giáo nước ngoài. Cũng năm 2005, toàn Paris có 730 linh mục, 2.500 tu sĩ và 220 tu viện (140 cho nữ và 80 cho nam). Kháng Cách Ở Paris có 15 giáo sở thuộc Giáo hội Cải cách Pháp, và 10 giáo sở thuộc Giáo hội Luther Pháp. Hồi giáo Nhà thờ Hồi giáo Paris là nhà thờ Hồi giáo lớn nhất nước Pháp. Nằm trong khu phố La Tinh, thuộc Quận 5, nhà thờ Hồi giáo này được khánh thành vào ngày 15 tháng 7 năm 1926. Trong nội thành Paris còn rất nhiều nhà thờ Hồi giáo khác và ở Quận 10 cũng có một trung tâm văn hóa Hồi giáo. Viện thế giới Ả Rập cũng là một địa điểm quan trọng về văn hóa Ả Rập, Hồi giáo. Phật giáo Chùa Vincennes nằm trong rừng Vincennes, bờ nam hồ Daumesnil, trong một tòa nhà cũ của triển lãm thuộc địa từ năm 1931. Tại khu phố Tàu ở Quận 13 cũng có hai ngôi chùa khác. Trong vùng Île-de-France cũng có khoảng 10 ngôi chùa của người Việt. Do Thái giáo Toàn thành phố có 96 đền thờ Do Thái giáo. == Giáo dục == === Giáo dục tiểu học và trung học === Trong năm học 2005–2006, Paris có 263.812 học sinh theo học tại các trường công, gồm 135.570 ở bậc học thứ nhất và 138.527 ở bậc học thứ hai. Ở các trường tư có 138.527 học sinh theo học. Vào năm 2007, toàn thành phố có 881 cơ sở giáo dục công gồm: 323 trường mẫu giáo, 334 trường tiểu học, 6 cơ sở đặc biệt - trường trong bệnh viện, 110 trung học cơ sở, 72 trung học phổ thông, 34 trung học nghề và 2 trung học thực nghiệm. Thêm vào đó là 256 cơ sở giáo dục tư: 110 trường mẫu giáo và tiểu học, 1 trường đặc biệt, 67 trung học cơ sở, 73 trung học phổ thông và 5 trung học nghề. Trong giáo dục bậc trung học, những trường như Louis-le-Grand, Henri-IV và Trung học quốc tế Saint-Germain-en-Laye là những trường danh tiếng, từng là nơi nhiều vĩ nhân của Pháp theo học. === Giáo dục đại học === Là thành phố thủ đô, Paris tập trung nhiều trường đại học lớn và có số lượng sinh viên đông đảo. Từ thế kỷ 12, Paris đã là một trong những trung tâm tri thức lớn nhất của châu Âu, đặc biệt về thần học và triết học. Mang tính biểu tượng, năm 1200 được coi là năm thành lập Đại học Paris, dựa theo một pháp điển của vua Philippe II. Trường đại học với các khoa xuất hiện nằm tại đồi Sainte-Geneviève, thuộc khu phố La Tinh ngày nay. Từ thế kỷ 18, các trường đặc biệt được mở ra cho một số ngành nghề. Đó chính là nguồn gốc của các trường lớn hiện nay. Trường Bách khoa và Trường Sư phạm được thành lập vào thời kỳ Cách mạng Pháp. Vào thế kỷ 19, Đại học Paris hiện đại hợp thành bởi sáu khoa luật, y, dược, văn, thần học và khoa học. Thế kỷ 20, số lượng sinh viên tăng nhanh. Sau cuộc nổi loạn của sinh viên năm 1968, Đại học Paris được tổ chức lại thành 13 trường độc lập: Paris I tới Paris XIII như hiện nay. Một số trường đại học được mở ở ngoại ô vào những năm 1960, sớm nhất là Đại học Paris X Nanterre năm 1964. Cùng vào khoảng thời gian đó, nhiều trường lớn đã rời trung tâm, tìm những khu vực rộng hơn ngoài ngoại thành. Cao nguyên nhỏ Saclay ở phía nam thành phố trở thành một địa điểm quan trọng. Trên một diện tích đủ rộng, nơi đây tập trung Đại học Paris XI, các trường lớn như Bách khoa, Trường thương mại HEC cùng các phòng thí nghiệm công và tư. Năm 1991, bốn đại học khác được thành lập ở vùng Île-de-France. Khác với các đại học gần thành phố, chữ " Paris " không xuất hiện trong tên các trường này. Trong những năm 1990, đã có những ý định giảm bớt sự tập trung này như chuyển Trường Hành chính quốc gia ENA về Strasbourg và Trường Sư phạm về Lyon. Nhưng cuối cùng, các trường quan trọng nhất vẫn ở lại Paris. Ngày nay, nội thành Paris vẫn là trung tâm chính của các đại học Pháp. Các trường đại học Paris từ I đến VII đều ở trong nội ô, mặc dù Paris-Dauphine nằm hơi lệch tâm. Có thể nhận thấy bên tả ngạn nhiều trường đại học hơn hẳn. Khu phố La Tinh là một địa điểm quan trọng với sự hiện diện của Sorbonne và Trường Sư phạm (École normale supérieure), Trường Mỏ (École des Mines) cùng Collège de France... Tại Quận 13, gần thư viện François-Mitterrand, nhiều tòa nhà đại học mới được xây thêm cách đây không lâu. Chính quyền thành phố Paris cũng tự duy trì bảy cơ sở giáo dục bậc đại học. Bốn trong số đó dành cho nghệ thuật ứng dụng, đặc biệt là trường École Boulle về nội thất và École Estienne về họa hình, thiết kế bìa sách. Ngoài ra còn hai trường kỹ thuật và một trường về làm vườn. Năm 2004, toàn vùng Île-de-France có tổng cộng khoảng 600.000 sinh viên, chiếm hơn một phần tư số sinh viên ở Pháp. Trong đó, một nửa sinh viên thuộc các trường nội thành Paris. Cơ quan về đời sống sinh viên, CROUS của Paris có 600 nhân viên làm việc, với ngân sách 70 triệu euro. CROUS Paris quản lý 30 ký túc xá, 16 căng tin và 20 quán cà phê sinh viên cùng một trung tâm thể thao, một trung tâm văn hóa và một phòng triển lãm. Cư xá đại học lớn nhất Paris là Cité internationale universitaire gồm 40 tòa nhà với 5.000 chỗ. Ngoài ra, các khu vực còn lại của Île-de-France do CROUS Créteil và CROUS Versailles quản lý. Ngoài các ưu tiên, trợ cấp như ở toàn nước Pháp, các sinh viên ở vùng Île-de-France còn được hưởng một vài ưu tiên riêng, như giảm giá vé giao thông công cộng, xem phim... Ngược lại, đời sống sinh viên Paris cũng gặp nhiều khó khăn: giá thuê phòng cao, tốn nhiều thời gian cho đi lại... == Giao thông == Paris có một hệ thống giao thông công cộng đa dạng và dày đặc. Ngoài mạng lưới xe buýt phủ khắp thành phố và ngoại ô, ở Paris còn có thể kể ra 16 tuyến tàu điện ngầm (đánh số 1 đến 14 và hai tuyến 3bis, 7bis), 5 tuyến RER (từ A đến E) và 4 tuyến tàu điện (T1 đến T4). Để nối liền Paris với các xã ngoại ô, ngoài hệ thống chính RER, từ sáu nhà ga lớn Saint-Lazare, Gare du Nord, La Défense, Gare de l'Est, Montparnasse, Lyon còn có 15 tuyến đường sắt Transilien tỏa đi khắp vùng Île-de-France. Bốn trong số đó cũng là các nhà ga của TGV, tàu thường nối Paris với tất cả các thành phố của Pháp và châu Âu. Giống như tất cả các đô thị lớn khác trên thế giới, cộng thêm lý do là một thành phố cổ, giao thông đường bộ Paris khá khó khăn và dày đặc xe cộ mặc dù các đại lộ rộng rãi nhờ những cải tạo của Haussmann từ thế kỷ 19. Thành phố được bao bọc bởi một hệ thống các đại lộ vành đai và từ các cửa ô của Paris, các đường quốc lộ, xa lộ tỏa đi khắp vùng và tới các tỉnh. Việc đậu xe ở Paris cũng không đơn giản và hầu như ở tất cả các phố đều phải trả tiền. Còn mạng lưới taxi, đầu 2007 toàn thành phố có khoảng 15.500 chiếc và trung bình mỗi ngày phục vụ 200.000 chuyến. Từ những năm cuối 1990, chính quyền thành phố thực hiện chính sách khuyến khích giao thông công cộng và xe đạp. Cùng với các làn đường được phép chạy chung với xe buýt, ở nhiều phố những người đi xe đạp còn có làn đường riêng, tổng cộng dài 371 km. Và tiếp theo Rennes và Lyon, từ ngày 15 tháng 7 năm 2007, chính quyền Paris đưa ra hệ thống dịch vụ xe đạp tự do với tên Vélib'. Đây là mạng lưới xe đạp dày đặc nhất châu Âu, với 20.000 chiếc vào cuối 2007, 1.400 điểm đỗ trong Paris cách nhau trung bình 300 m. Giao thông hàng không Paris có hai sân bay chính, Charles-de-Gaulle ở phía đông bắc và Orly ở phía nam. Sau Luân Đôn, Paris là thành phố châu Âu có lượng hành khách trung chuyển lớn nhất, 82,5 triệu và 2,24 triệu tấn hàng hóa trong 2006. Nằm cách Paris 25 km, sân bay quốc tế Charles-de-Gaulle được nối với thành phố bởi đường cao tốc, xe buýt và tuyến RER B. Tại sân bay cũng có một nhà ga với các tuyến tàu và TGV tới các tỉnh. Về lượng máy bay hoạt động, năm 2006 Charles-de-Gaulle xếp thứ nhất châu Âu với 541.566 chuyến bay. Orly vốn là sân bay chính của Paris trước khi xây dựng Charles-de-Gaulle. Ngày nay, ngoài tới các tỉnh của Pháp, Orly phục vụ các chuyến bay đến các thành phố của châu Âu, Trung Đông, châu Phi và Caribe. Ngoài ra, vùng Paris vẫn còn một vài sân bay nhỏ khác như Le Bourget, Beauvais mà các hãng hàng không giá rẻ vẫn thường sử dụng. == Thể thao == Thể thao cũng ghi nhiều dấu ấn trong lịch sử thành phố Paris. Từ thế kỷ 12 đã xuất hiện môn jeu de paume, một trò chơi tương tự quần vợt. Trong thời kỳ Cách mạng Pháp, môn thể thao này đã đi vào lịch sử với Lời tuyên thệ Jeu de paume, một sự kiện quan trọng. Paris đã hai lần đăng cai Thế vận hội mùa hè vào năm 1900 và 1924. Ngoài ra, thành phố còn tranh cai tổ chức vào các năm 1992, 2008 và 2012 nhưng không thành công, lần lượt để lọt vào tay Barcelona, Bắc Kinh và Luân Đôn. Trong hai lần Pháp đăng cai Giải vô địch bóng đá thế giới vào 1938 và 1998, Paris đều là thành phố quan trọng. Trong đó năm 1998, đội tuyển Pháp đã giành chức vô địch tại sân Stade de France. Paris còn là địa điểm của một trong những giải quần vợt quan trọng nhất: Giải Roland-Garros. Đại lộ Champs-Élysées là chặng cuối của giải đua xe đạp nổi tiếng Tour de France. Thành phố có một số câu lạc bộ thể thao chính: Paris Saint-Germain môn bóng đá, Paris-Levallois Basket môn bóng rổ, Paris Handball môn bóng ném, Stade français CASG Paris môn bóng bầu dục. Toàn Paris hiện nay có 360 địa điểm thể thao: 172 sân tennis; 131 phòng tập thể dục thuộc chính quyền thành phố; 36 bể bơi đón 3,4 triệu lượt người năm 2006; 10 bể bơi trong trường học; 32 sân vân động thuộc thành phố; hai địa điểm dành cho môn bơi thuyền. Những trường đại học ở ngoại ô cũng có các khu thể thao riêng. Người dân Paris còn chơi một số môn đơn giản như bi sắt, cờ vua tại các công viên, vườn hoa. Sân vận động Công viên các hoàng tử (Parc des Princes) của Paris được hoàn thành từ năm 1897 nằm ở phía tây nam thành phố, tới năm 1972 được xây dựng lại. Sân vận động này có sức chứa 45.500 chỗ ngồi, và là sân nhà của đội Paris Saint-Germain. Khu thể thao liên hợp Paris-Bercy nằm ở Quận 12 được hoàn thành năm 1984. Ngoài các hoạt động thể thao, nó còn là nơi tổ chức nhiều buổi hòa nhạc lớn. Sân Stade Charléty ở Quận 13, có từ năm 1939 và được xây lại năm 1994, là nơi lý tưởng cho những người chơi thể thao của thành phố. Stade Charléty bao gồm một sân điền kinh 20.000 chỗ và một phòng đa thể thao với sức chứa 1.500 người. Sân Stade de France được xây dựng cho Giải vô địch bóng đá thế giới 1998 có sức chứa 80.000 chỗ tại Saint-Denis, ngoại ô phía bắc Paris. Ngoài bóng đá, sân vận động này còn là địa điểm của các trận bóng bầu dục quan trọng. Tại rừng Vincennes phía đông Paris còn có trường đua Vincennes từ năm 1863. Đây là nơi tổ chức một số giải đua ngựa như Prix de Paris, Prix de France, Prix d'Amérique... == Quy hoạch đô thị == Khác với Luân Đôn từng chịu vụ hỏa hoạn năm 1666 hay Lisboa bởi động đất năm 1755, Paris chưa bao giờ bị phá hủy. Nhờ đó hầu hết các triều đại của Pháp kể từ thời Phục Hưng đều để lại những dấu ấn ở Paris. Những chứng tích của quá khứ vẫn còn in dấu ở các con phố, nhưng Paris vẫn là một thành phố đồng nhất và không ngừng hiện đại hóa. Cách tổ chức của thành phố ngày nay phụ thuộc rất nhiều vào quy hoạch của nam tước Haussmann dưới thời Đệ nhị đế chế. Haussmann đã vạch ra phần lớn những con đường chính hiện nay, như đại lộ Saint-Germain, đại lộ Sébastopol... Trung tâm của thành phố Paris là khu Châtelet. Nhiều đường phố lớn và các tàu điện ngầm giao nhau ở đây. Khu vực trung tâm Paris khác biệt với nhiều thành phố châu Âu khác bởi mật độ dân số dày đặc của nó. Chỉ riêng Manhattan của New York với mật độ 26.000 ngàn người trên một km² là có thể so sách với trung tâm Paris. Là thành phố được xây dựng hai bên bờ sông, riêng trong nội ô Paris có tới 37 cây cầu bắc qua sông Seine. Chưa kể tới một số tuyến tàu điện ngầm chạy dưới lòng sông. Có thể nhận thấy ở Paris, các công trình quan trọng, cả cổ và hiện đại, đều là những điểm nhấn trong quang cảnh của thành phố. Quy hoạch đô thị của Paris cho phép có thể ngắm nhìn các công trình này từ rất xa. Đứng ở quảng trường Italie, nhìn dọc theo đại lộ Gobelins có thể thấy điện Panthéon. Từ điện Panthéon nhìn dọc phố Soufflot về phía vườn Luxembourg sẽ thấy tháp Eiffel. Khu vực tốt nhất để ngắm nhìn tháp Eiffel là sân giữa của Palais de Chaillot, cạnh quảng trường Trocadéro. Nếu đứng ở chân tháp Eiffel, bãi cỏ Champ-de-Mars, nhìn về phía École militaire sẽ thấy tháp Montparnasse. Đứng trước nhà thờ Madeleine nhìn về phía sông Seine sẽ thấy cột đá Obélisque ở giữa quảng trường Concorde, và bên kia sông là Palais Bourbon. Từ điện Invalides nhìn dọc cầu Alexandre-III có thể thấy Grand Palais và Petit Palais ở hai bên đại lộ Winston-Churchill... Nhưng trục quan trọng nhất trong quy hoạch đô thị Paris là Axe historique. Bắt đầu từ bức tượng vua Louis XIV cưỡi ngựa trong sân Napoléon của bảo tàng Louvre, trục này đi qua rất nhiều công trình quan trọng của thành phố: Khải hoàn môn Carrousel, vườn Tuileries, quảng trường Concorde với cột đá Obélisque, đại lộ Champs Élysées, quảng trường Étoile với Khải Hoàn Môn, đại lộ Grande Armée. Vào thập niên 1960, Axe historique còn được tiếp tục kéo dài tới tận khu đô thị hiện đại La Défense với công trình Grande Arche. Kim tự tháp kính Louvre không nằm trên đường thẳng này, mà được xây lệnh sang một bên. Để bảo đảm mỹ quan, mặt ngoài các tòa nhà ở Paris phải tuân theo những quy định của thành phố, như về màu sắc, kiểu cửa sổ... Và từ rất lâu, Paris đã có những quy định chặt chẽ về độ cao các tòa nhà. Ngày nay, những tòa nhà mới có độ cao trên 37 mét phải có giấy phép đặc biệt và ở một vài quận giới hạn chiều cao này còn nhỏ hơn thế. Tháp Montparnasse được xây dựng vào năm 1973 là công trình cao nhất Paris và cả nước Pháp. Vị trí số một này sẽ còn được giữ tới năm 2010, khi nhiều dự án nhà chọc trời sẽ hoàn thành tại khu La Défense: Tour Phare 300 m, và Tour Generali sẽ đạt tới 318 m trở thành tòa nhà cao nhất Tây Âu. === Đường phố và quảng trường === Vào năm 1997, toàn Paris có tổng cộng 6.088 con đường, cả công cộng và tư nhân. Phần nhiều các con phố Paris đều bằng phẳng, ít dốc. Một số đường phố, đại lộ không rải nhựa mà được lát bằng những viên đá nhỏ. Tương tự ở nhiều thành phố khác, tầng một các tòa nhà mặt phố đều dành cho cửa hàng, quán cà phê... Một số hộp đêm, phòng chiều phim chỉ có một cửa nhỏ trên phố, còn không gian chính nằm ở tầng ngầm. Một số đường phố Paris nổi tiếng mang những đặc trưng riêng. Đại lộ Champs-Élysées gần Khải Hoàn Môn và là nơi tổ chức nhiều sự kiện quan trọng, luôn tràn ngập khách du lịch. Phố Rivoli tấp nập ở trung tâm chạy dọc sông Seine ngang qua các công trình nổi tiếng Tòa thị chính, bảo tàng Louvre, Khải hoàn môn Carrousel, vườn Tuileries. Đại lộ Saint-Michel thuộc khu phố La Tinh đông đúc sinh viên. Đại lộ Opéra gần nhà hát Opéra Garnier và khu mua sắm Galeries Lafayette, Printemps... là nơi có nhiều văn phòng hàng không, du lịch. Phố Mouffetard cổ với các nhà hàng, quán cà phê và những cửa hàng truyền thống. Đại lộ Clichy là nơi tấp nập vào ban đêm với nhiều quán cà phê, hộp đêm, trong đó có Moulin Rouge. Đại lộ Montaigne là nơi có nhiều cửa hiệu thời trang cao cấp và khách sạn sang trọng Plaza Athénée... Tổng cộng Paris có khoảng gần 500 quảng trường lớn nhỏ. Trong số đó, quảng trường lớn nhất là Concorde, rộng thứ hai tại Pháp - sau quảng trường Quinconces ở Bordeaux - và thứ 11 thế giới. Ở giữa quảng trường này là cột đá Obélisque, còn xung quanh quảng trường còn có nhiều tòa nhà quan trọng như Đại sứ quán Hoa Kỳ, khách sạn Crillon. Concorde không chỉ là một quảng trường đẹp và quan trọng của giao thông Paris, mà ở đây đã từng xảy ra nhiều sự kiện lịch sử. Một quảng trường nổi tiếng khác là Vendôme. Cũng như Concorde, Vendôme gắn với một vài sự kiện lịch sử. Nằm ở một khu vực trung tâm thành phố, Vendôme không có diện tích rộng. Nơi đây có sự hiện diện của Bộ Tư pháp, khách sạn Ritz danh tiếng và nhiều cửa hàng xa xỉ. Một số quảng trường khác cũng được biết đến như: quảng trường Bastille là nơi có ngục Bastille bị phá hủy trong Cách mạng; quảng trường Étoile, nối với đại lộ Champs-Élysées, là nơi có Khải Hoàn Môn; quảng trường Trocadéro nằm ở khu phố sang trọng, là địa điểm chính ngắm tháp Eiffel... Một điểm nữa tạo nên hình ảnh đặc trưng của các đường phố Paris là sự góp mặt của cột Morris và vòi phun nước Wallace. === Kiến trúc và các công trình === Các công trình nổi tiếng nhất Paris được xây dựng vào những khoảng thời gian khác nhau và hầu hết tập trung hai bên bờ sông Seine. Hai bờ sông, từ cầu Sully tới cầu Bir-Hakeim, hợp thành một trong những dòng sông đẹp nhất chạy trong thành phố với các công trình được xếp hạng di sản thế giới của UNESCO. Có thể thấy, từ đông sang tây: nhà thờ Đức Bà, bảo tàng Louvre, điện Invalides, Palais Bourbon, cầu Alexandre-III, Grand Palais, bảo tàng Branly, tháp Eiffel, khu vực Trocadéro với Palais de Chaillot. Ngược lại về phía đông, một số công trình khác hiện đại cũng đã được xây dựng như Bộ Tài chính, thư viện François Mitterrand, cung Bercy... Trên đảo Île de la Cité tập trung các công trình cổ đặc trưng. Nhà thờ Đức Bà mang phong cách kiến trúc Gothic được xây dựng từ thế kỷ 12 tới thế kỷ 13. Nhà thờ Đức Bà được xem là tâm của Paris, trước sân có một điểm đánh dấu cây số 0 của nước Pháp. Điện Conciergerie từng là cung điện của hoàng gia cho tới thời vua Charles V vào nửa cuối thế kỷ 14. Một phần của công trình đã từng là nhà tù giam giữ các nhân vật nổi tiếng của chế độ phong kiến khi nổ ra Cách mạng Pháp. Sainte-Chapelle, xây dựng gần Conciergerie, được xem như một kiệt tác của kiến trúc Gothic. Cầu Pont Neuf, nằm ở điểm cuối phía tây của đảo, có từ cuối thế kỷ 16 và là chiếc cầu cổ nhất của Paris còn lại tới nay. Các công trình phong cách cổ điển cũng ghi dấu ấn ở khu trung tâm Paris. Nhà thờ nhỏ Sorbonne nằm ở giữa khu phố La Tinh được xây vào đầu thế kỷ 17. Cung điện hoàng gia Louvre cũng có từ thế kỷ 17 và được sửa chữa nhiều lần sau đó. Điện Invalides, với nóc mạ vàng được xây dựng vào cuối thế kỷ 17 theo lệnh của vua Louis XIV dành cho các thương binh và là nơi lưu trữ tro hài cốt của Napoléon từ năm 1840. Điện Élysée được xây dựng và trang trí trong khoảng 1718 tới 1722 tiêu biểu cho phong cách cổ điển, hiện là dinh Tổng thống Pháp. Điện Panthéon được xây dựng vào cuối thế kỷ 18 là nơi yên nghỉ của nhiều vĩ nhân. Những công trình xây dựng vào thế kỷ 19 rất phổ biến ở Paris: Khải Hoàn Môn, nhà hát Opéra Garnier, nhà thờ Sacré-Cœur xuất hiện vào cuối Đệ nhị đế chế. Tòa thị chính Paris hiện nay cũng được xây vào khoảng thời gian 1874 tới 1882. Nhiều công trình khác tiếp tục được xây dựng cho các Cuộc triển lãm thế giới như tháp Eiffel, Palais de Chaillot, Petit Palais, Grand Palais, cầu Alexandre-III... Trong thế kỷ 20, rất nhiều các kiến trúc sư danh tiếng tiếp tục ghi lại dấu ấn trên đường phố Paris như: Guimard, Plumet hay Lavirotte với phong cách Tân nghệ thuật, kế đó Mallet-Stevens, Roux-Spitz, Dudok, Henri Sauvage, Le Corbusier, Auguste Perret vào thời kỳ giữa hai cuộc thế chiến. Kiến trúc đương đại của Paris được hiện diện bởi Trung tâm Pompidou, xây từ những năm 1970, là nơi có bảo tàng Nghệ thuật hiện đại và một thư viện quan trọng mở cửa cho công chúng; tháp Montparnasse cao 210 mét, một điểm nhấn trong quảng cảnh thành phố được xây từ 1969 tới 1972; Viện thế giới Ả Rập (Institut du monde arabe) được mở cửa vào năm 1987. Và đặc biệt là các công trình nhờ tổng thống François Mitterrand như Grande Arche ở khu La Défense, nhà hát Opéra Bastille - thuộc nhà hát quốc gia cùng Opéra Garnier; Kim tự tháp kính Louvre - tác phẩm nổi tiếng của kiến trúc sư Ieoh Ming Pei; và thư viện François Mitterrand thuộc thư viện quốc gia nằm tại khu Paris Rive Gauche. Mới hơn cả, bảo tàng Branly về nghệ thuật và văn minh châu Phi, Á, Đại Dương và Mỹ thiết kế bởi Jean Nouvel hoàn thành 2006 tiếp tục làm đa dạng thêm kiến trúc của Paris. === Nghĩa trang === Cả bốn nghĩa trang trong nội ô Paris hiện nay đều được xây dưới thời Napoléon và đều nằm trên con đường vành đai của thành phố khi ấy. Trước đó, nhiều nhà thờ của Paris cũng có những nghĩa địa riêng, nhưng cuối thế kỷ 18, chúng đã phải dẹp bỏ vì vấn đề vệ sinh. Tất cả những hài cốt trong nghĩa địa của xứ đạo bị xóa bỏ năm 1786 đã được chuyển về hầm khai thác đá bên ngoài cửa ô phía nam Paris, nơi hiện nay là quảng trường Denfert-Rochereau, Quận 14. Ngày nay là Hầm mộ Paris. Với sự mở rộng thành phố, các nghĩa trang thời Napoléon hiện đều nằm trong nội thành Paris và trở thành những không gian xanh yên tĩnh. Père-Lachaise là nghĩa trang lớn nhất, và cũng là không gian xanh rộng nhất thành phố. Cả bốn nghĩa trang của Paris: Père-Lachaise, Montparnasse, Passy và Montmartre đều là nơi yên nghỉ của rất nhiều danh nhân, không chỉ người Pháp mà còn nhiều vĩ nhân nước ngoài đã tới sống và mất ở Paris. Père-Lachaise là một trong những nghĩa trang nổi tiếng nhất thế giới, với các ngôi mộ của Balzac, Chopin, Molière, La Fontaine, Marcel Proust, Oscar Wilde hay Sarah Bernhardt... đã thu hút rất nhiều du khách tới thăm. Một số nghĩa trang mới khác nằm ngoài ngoại ô được xây dựng và đầu thế kỷ 20. Trong đó lớn nhất là các nghĩa trang Saint-Ouen, Pantin, Ivry và Bagneux. === Công viên và vườn === So với các thủ đô khác ở châu Âu, Paris là thành phố có mật độ không gian xanh thấp. Ngoài hai khu rừng Boulogne và Vincennes nằm ngay bên cạnh thành phố, Paris có khoảng 20 công viên và 20 khu vườn cùng các nghĩa trang được trồng cây xanh. Nghĩa trang Père-Lachaise chính là không gian xanh lớn nhất trong thành phố. Vườn Paris, nổi tiếng hơn cả là hai khu vườn cổ Tuileries và Luxembourg. Vườn Tuileries có từ thế kỷ 16, nằm ở bên phải sông Seine, gần viện bảo tàng Louvre. Cung điện Tuileries từng ở đây đã bị đốt vào năm 1871. Vườn Luxembourg nằm ở bờ trái sông Seine, thuộc về lâu đài được xây cho hoàng hậu Marie de Médicis khoảng năm 1625. Cũng vào thế kỷ 17, Vườn bách thảo, do bác sĩ Guy de La Brosse của Louis XIII, tạo nên để trồng các cây thuốc rồi trở thành một vườn công cộng của Paris. Tới thời Đệ nhị đế chế, việc tạo ra các không gian xanh trở nên cần thiết cho một thành phố có dân số đang phát triển nhanh. Với sự chỉ đạo của kỹ sư Jean-Charles Alphand và họa sĩ phong cảnh Jean-Pierre Barillet-Deschamps, các khu vườn của Paris mới có được bộ mặt như hiện nay. Rừng Boulogne và rừng Vincennes, nằm ngoài Paris, được bố trí tôn trọng điểm cực tây và điểm cực đông của nội thành thành phố. Một số khu vườn khác trong trung tâm cũng được bố trí lại cùng các không gian thoáng đãng được mở ra ở các khu phố. Ở các quận mới hơn, một số công viên quan trọng được quy hoạch: Monceau, Montsouris, Buttes-Chaumont đều do kiến trúc sư của Napoléon III dự kiến. Từ những năm 1980, nhiều khu vực mang các chức năng khác được cải tạo thành không gian xanh. Theo thiết kế của kiến trúc sư Bernard Tschumi, một khu vực lò mổ cũ đã trở thành công viên La Villette - công viên lớn nhất trong nội ô Paris hiện nay. Tiếp tục, trong những năm 1990 là công viên Bercy, công viên Belleville cùng một số khác. Kế đến là những khu vườn gia đình hoặc giáo dục nằm bên vành đai dọc tuyến đường sắt cũ Petite Ceinture. Vườn Éole hoàn thành năm 2007 là công viên quan trọng nhất của Paris vào những năm 2000. == Paris, thủ đô văn hóa == Paris là một trong những trung tâm văn hóa của thế giới. Đón tiếp 27 triệu lượt khách du lịch nước ngoài mỗi năm, Paris có hơn 100 bảo tàng, nhiều nhà hát, các địa điểm đặc biệt - như đại lộ Champs-Élysées, đồi Montmartre, các công trình nổi tiếng - như Khải Hoàn Môn, tháp Eiffel... Thành phố còn là trung tâm của các cuộc hội thảo, hội nghị, là nơi đặt trụ sở của nhiều tổ chức quan trọng. Paris cũng là trung tâm của thời trang, của hàng xa xỉ phẩm, của ẩm thực và được mệnh danh là thành phố của tình yêu lãng mạn, cùng Venezia. Về giải trí, Paris là nơi tổ chức nhiều hoạt động trình diễn đa dạng, sở hữu những nhà hát quan trọng và lâu đời cùng các rạp chiếu phim với một lượng công chúng đông đảo. Nhiều khu phố Paris mang những đặc trưng văn hóa riêng. Quận La Tinh là khu phố sinh viên, nơi có các trường đại học từ nhiều thế kỷ trước. Café de Flore ở Saint-Germain-des-Prés từng là ngôi nhà của Chủ nghĩa hiện sinh. Đồi Montmartre ngoài nhà thờ Sacré-Cœur nổi tiếng còn là trung tâm của hội họa đầu thế kỷ 20. Tương tự, Montparnasse cũng từng thu hút nhiều họa sĩ, nhà văn nhưng ngày nay trở thành một khu phố văn phòng. Chợ Tàu Paris với sự hiện diện rõ nét của văn hóa phương Đông là khu phố Tàu lớn nhất châu Âu. Đại lộ Champs-Élysées và các phố gần đấy như George-V, Montaigne... là khu vực nhiều cửa hàng thời trang cao cấp, cùng các khách sạn đặc biệt sang trọng Plaza Athénée, George V... Năm 1991, tổ chức UNESCO đã công nhận một số các công trình của Paris thuộc cụm hai bên bờ sông Seine là di sản thế giới. Các công trình biểu tượng của Paris trở nên nổi tiếng trên toàn cầu. Tại Las Vegas, một casino đã xây dựng các bản sao của tháp Eiffel, Khải Hoàn Môn và nhà hát Opéra Garnier. Tương tự, ở ngoại ô Hàng Châu, những người Trung Quốc cũng xây dựng một Paris nhỏ. === Bảo tàng === Paris và vùng Île-de-France là nơi có số lượng bảo tàng lớn và quan trọng nhất nước Pháp. Ít nhất một trăm bảo tàng tính riêng trong nội ô Paris, và thêm khoảng một trăm mười bảo tàng khác thuộc vùng Île-de-France. Không chỉ lớn về số lượng, các bảo tàng này còn là nơi trưng bày rất nhiều hiện vật, tác phẩm nghệ thuật quan trọng của thế giới. Cổ nhất, diện tích lớn nhất là viện bảo tàng Louvre, nơi lưu trữ các tác phẩm nổi tiếng như Mona Lisa, tượng thần Vệ Nữ... Với kỷ lục 8,3 triệu lượt khách trong năm 2006, Louvre là bảo tàng nghệ thuật thu hút nhất thế giới. Tiếp đó phải kể đến những bảo tàng nghệ thuật khác: Orsay, sở hữu nhiều bộ sưu tập trường phái Ấn tượng, Hậu ấn tượng; bảo tàng Nghệ thuật hiện đại nằm trong trung tâm Pompidou. Ở ngoại ô, lâu đài Versailles, được xây dựng bởi vua Louis XIV là cung điện của các vị vua nước Pháp trong thế kỷ 17 và 18, cũng thu hút nhiều triệu du khách mỗi năm với 18.000 m² dành cho bảo tàng Lịch sử Pháp. Mới mở cửa năm 2006, Bảo tàng Quai Branly (Musée du quai Branly) về nghệ thuật và văn minh châu Phi, châu Á, châu Đại Dương, châu Mỹ cũng là một bảo tàng quan trọng với 2.175.000 lượt khách thăm vào năm 2007. Bên cạnh đó còn có những bảo tàng dành riêng của các nghệ sĩ tên tuổi như bảo tàng Picasso, Không gian Dalí, bảo tàng Rodin, bảo tàng Eugène Delacroix. Ngoài nghệ thuật và lịch sử, thành phố Paris cũng có nhiều bảo tàng về lĩnh vực khác như bảo tàng Thời trang (Musée de la Mode et du Textile), bảo tàng Bưu điện (Musée de la Poste), bảo tàng Con người (Musée de l'Homme), bảo tàng Hàng hải (Musée national de la Marine), bảo tàng Tiền tệ (Musée de la Monnaie de Paris), bảo tàng Trung Cổ (Musée national du Moyen Âge), bảo tàng Vũ khí (Musée de l'armée), bảo tàng Điện ảnh (Cinémathèque française - Musée du Cinema)... Một số công trình quan trọng như Palais Bourbon, Palais de Chaillot, Petit Palais, Grand Palais, Opéra Garnier... cũng đều có những không gian bảo tàng. Các bảo tàng nổi tiếng nhất của Paris đều là bảo tàng quốc gia, thuộc về Nhà nước Pháp. Một số bảo tàng thuộc về các bộ, như bảo tàng Vũ khí trong Điện Invalides và bảo tàng Hàng không Bourget thuộc về Bộ Quốc phòng Pháp. Một số khác thuộc Viện Pháp - Institut de France, và có cả các bảo tàng tư nhân. Chính quyền thành phố Paris quản lý mười bốn bảo tàng, trong đó có một số nổi tiếng như bảo tàng Carnavalet về lịch sử Paris, nhà tưởng niệm Victor Hugo, Hầm mộ Paris. Nhiều triển lãm được tổ chức ở những địa điểm này. === Thư viện === Paris sở hữu một số lượng thư viện lớn và phần nhiều đều mở cửa tự do cho công chúng. Được lập từ thư viện tư của Hồng y Jules Mazarin, Mazarine là thư viện cho công chúng cổ nhất Paris, bắt đầu từ năm 1643. Một thư viện cổ quan trọng khác là Sainte-Geneviève nằm cạnh Panthéon với hai triệu cuốn sách. Thư viện quốc gia Pháp được nằm chủ yếu ở Paris, với hai địa điểm chính: " Richelieu " ở Quận 2 và " François-Mitterrand " ở Quận 13. Trong đó " Richelieu " là thư viện cổ, nhỏ hơn, nằm ở trung tâm, còn " François-Mitterrand " là một công trình kiến trúc hiện đại gồm bốn tòa nhà cao tầng ở khu Paris Rive Gauche. Đây là nơi lưu trữ tư liệu quan trọng bậc nhất thế giới với khoảng 30 triệu cuốn sách gồm nhiều phiên bản gốc giá trị. Cơ sở này trở thành nơi lưu trữ hợp pháp của nước Pháp kể từ triều vua François Đệ nhất. Chính quyền thành phố Paris quản lý 55 thư viện phổ thông và khoảng 10 thư viện chuyên đề, là những nơi công chúng có thể tự do mượn tài liệu. Trong số đó có một vài thư viện được nhiều người biết tới như thư viện Lịch sử Paris, khánh thành năm 1871, nơi lưu trữ một triệu cuốn sách, ảnh, bản đồ liên quan tới lịch sử thành phố. Hoặc thư viện điện ảnh François-Truffaut với nhiều tài liệu điện ảnh quan trọng. Ngược lại với Thư viện quốc gia Pháp hay thư viện Mazarine, các thư viện của chính quyền thành phố đều miễn phí, kể cả các thư viện chuyên đề có thể cấm vị thành viên. Những sách, tạp chí, truyện tranh... được mượn tự do, còn các đĩa nhạc, video thì cần trả một số tiền trung bình hàng năm. Còn có một số thư viện cho công chúng khác, như thư viện trong trung tâm Georges-Pompidou. Rất nhiều thư viện của các đại học cũng mở cửa cho người ngoài. Những cửa hàng sách có thể tìm thấy ở khắp Paris. Các siêu thị của Fnac, bên cạnh những mặt hàng máy tính, thiết bị hình ảnh, âm thanh... còn dành một không gian lớn cho sách, CD nhạc, DVD phim. Đại lộ Saint-Michel cũng có nhiều cửa hàng sách, cả cho sách cũ lẫn sách mới. Còn dọc sông Seine, những hàng nhỏ bán sách cũ đã trở thành một phần của văn hóa Paris. === Nhà hát, phòng trình diễn === Hai nhà hát lớn và được biết đến nhiều nhất Paris là Opéra Garnier và Opéra Bastille, được dành cho cả nghệ thuật cổ điển lẫn hiện đại. Ngoài ra, Paris còn có những nhà hát quan trọng khác như Nhà hát kịch Pháp (Comédie-Française), nhà hát Châtelet, nhà hát Odéon, nhà hát Mogador và Gaîté-Montparnasse. Một vài trong số này cũng gồm cả các phòng hòa nhạc. Nhà hát vẫn là địa điểm truyền thống quan trọng của văn hóa Paris, kể cả hiện nay, nhiều diễn viên nổi tiếng của nhà hát cũng đồng thời là những ngôi sao trên truyền hình. Một số ca sĩ lớn của âm nhạc Pháp như Édith Piaf, Maurice Chevalier, Georges Brassens và Charles Aznavour đã từng tìm được danh tiếng ở những phòng hòa nhạc của Paris: Bobino, Olympia, La Cigale hoặc Le Splendid. Salle Pleyel là nơi tổ chức nhiều buổi nhạc giao hưởng, Salle Gaveau dành cho nhạc thính phòng, Maison de Radio France có nhiều buổi hòa nhạc lớn mang nhiều phong cách khác. New Morning là một trong những phòng hòa nhạc luôn dành cho jazz, nhưng cũng có các thể loại nhạc khác. Le Zénith ở khu La Villette với 6.000 chỗ ngồi là một trong những phòng hòa nhạc lớn nhất thành phố. Ngoài ra khu thể thao liên hợp Paris-Bercy ở khu Bercy, sân vận động Stade de France ở Saint-Denis thuộc ngoại ô, và sân vận động Công viên các hoàng tử... cũng là những nơi tổ chức các buổi hòa nhạc quy mô lớn. Các quán rượu và cà phê hòa nhạc từng là xương sống của giải trí Paris trước Chiến tranh thế giới thứ hai. Ngay từ nửa đầu thế kỷ 19, ở Paris đã xuất hiện quán Moulin de la galette và cà phê hòa nhạc Élysée Montmartre cùng Château-Rouge. Các ban nhạc bình dân đã phục vụ cho đám đông nhảy múa tại quán nhạc Apollo hay khiêu vũ điệu Java tại vùng ngoại ô Temple và Belleville. Các câu lạc bộ thời kỳ tiếp theo mở ra những sàn nhảy hiện đại, như Le Palace - đã đóng cửa - từng rất nổi tiếng ở Paris. Ngày nay, trong những câu lạc bộ ở Paris, như hộp đêm Queen, vũ trường L'Étoile, Le Cab rất được yêu thích. Các sàn với nhạc điện tử như Le Rex, Batofar - một chiếc thuyền được cải tạo thành hộp đêm, hay The Pulp cũng rất đại chúng với sự góp mặt của những DJ hàng đầu thế giới. === Rạp chiếu phim === Giống như những thành phố khác ở châu Âu, phim Hollywood chiếm một thị phần lớn tại các rạp của Paris. Nhưng cùng với đó là những bộ phim Pháp, những phim châu Âu khác, và cả điện ảnh châu Á cũng được trình chiếu phổ biến. Năm 2007, Paris có hơn 374 phòng chiếu phim. Số lượt người xem đã đạt tới con số hơn 30 triệu vào năm 2004. Những tập đoàn như UGC, Gaumont sở hữu các rạp ở khắp Paris. Từ 1990, các công ty này xây dựng những trung tâm chiếu phim lớn, từ 10 đến hơn 20 phòng chiếu. UGC có ba trung tâm quan trọng, tại Les Halles, Bercy và La Défense. Gaumont từng có một trong những phòng chiếu lớn nhất Paris ở quảng trường Italie, nhưng đã đóng cửa. Phòng chiếu rộng nhất thành phố hiện nay là Le Grand Rex với 2.800 chỗ ngồi. Các phòng chiếu còn lại đều nhỏ hơn 1.000 chỗ. Các địa điểm như Opéra, Champs-Élysées, Montparnasse là những trung tâm của rạp chiếu phim. Ngoài ra còn một hệ thống rạp nhỏ, nhưng cũng rất quan trọng, cho những phim độc lập. Những phòng chiếu này giới thiệu nhiều bộ phim đa dạng, của cả những nền điện ảnh nhỏ, với con số tới 450 đến 500 phim một tuần cho một bộ phận công chúng riêng. === Quán cà phê, nhà hàng và khách sạn === Quán cà phê đầu tiên của Paris là Régence, được khai trương năm 1688 tại khu Palais-Royal. Sau đó một năm tới quán Café Procope được mở ở bên tả ngạn sông Seine. Rất nhanh chóng, các quán cà phê trở thành một phần của văn hóa Paris. Những quán cà phê vườn từng rất phổ biến vào thế kỷ 18 và có thể xem như là các " terrasses de café " - cà phê thềm - đầu tiên của Paris. Vào thế kỷ 19, việc quy hoạch lại thành phố cùng sự xuất hiện các đại lộ lớn với vỉa hè tạo điều kiện thuận lợi cho những " terrasses de café ". Ngày nay, các quán cà phê có mặt ở khắp thành phố và từng khu vực lại có những đặc điểm riêng biệt: nơi tập trung nhiều sinh viên như trong quận La Tinh, nơi chủ yếu cho khách du lịch như Montmartre, Champs-Élysées. Trong số đó có những quán nổi tiếng như Café Procope hay Café de Flore từng là nơi gặp gỡ của nhiều danh nhân. Nhờ giao thông đường sắt vào giữa thế kỷ 19 và cách mạng công nghiệp, nhiều người từ các tỉnh tới thủ đô mang theo những phong cách ẩm thực khác nhau đã tạo nên những nhà hàng với các đặc sản riêng. Chez Jenny là một ví dụ cho ẩm thực vùng Alsace, Aux Lyonnais với các món từ Lyon... Sau đó, những người nhập cư tiếp tục giúp cho ẩm thực Paris thêm đa dạng với những món ăn của các dân tộc trên khắp thế giới như Ý, Ấn Độ, Trung Quốc, Việt Nam, Thái Lan... Không chỉ nổi tiếng về ẩm thực, Paris còn có các nhà hàng đặc biệt khác như Maxim's - nhà hàng được trang trí theo phong cách Tân nghệ thuật từng là điểm đến của nhiều nghệ sĩ nổi tiếng, hay nhà hàng Jules Verne nằm trên tầng hai của tháp Eiffel. Vào cuối thế kỷ 19, Paris xây dựng thêm rất nhiều khách sạn bởi những cuộc Triển lãm thế giới được tổ chức ở đây đã kéo theo một số lượng lớn du khách từ khắp nơi tới thành phố. Trong số đó có thể kể tới khách sạn Ritz trên quảng trường Vendôme mở cửa năm 1898 và khách sạn Crillon trên quảng trường Concorde năm 1909. Ngày nay hai khách sạn này được xếp vào hạng " palace " - đặc biệt sang trọng - cùng năm khách sạn khác: Bristol, George V, Meurice, Plaza Athénée và Fouquet's Barrière. Ngoài ra, các tập đoàn lớn như Hilton, Accor cũng sở hữu các khách sạn ở khắp Paris. === Lễ hội và các sự kiện === Ngoài các lễ hội chung với thế giới và nước Pháp, Paris có nhiều lễ hội riêng được tổ chức trong suốt cả năm. Đầu tháng một, Tết Nguyên Đán được những người châu Á tổ chức ở Quận 13. Tháng hai, lễ hội Carnaval của Paris diễu hành xuyên qua thành phố. Vào cuối tháng hai còn có triển lãm thế giới về nông nghiệp. Triển lãm sách được tổ chức vào tháng ba và Hội chợ Paris cùng cuộc chạy marathon Paris vào tháng tư. Đầu mùa hè, tháng sáu có cuộc diễn hành Gay pride của những người đồng tính. Ngày quốc khánh Pháp 14 tháng bảy là dịp tổ chức duyệt binh truyền thống tại đại lộ Champs-Élysées. Cũng vào cuối tháng này, Champs-Élysées là chặng đích của cuộc đua xe đạp Tour de France. Từ năm 2002, trong vòng hai tháng bảy và tám, thành phố tổ chức Paris-Plage, thay đổi một phần bờ sông Seine thành bãi biển nhân tạo với cát và các ghế vải gập. Một triển lãm về ô tô được tổ chức vào tháng mười các năm chẵn. Tháng mười còn có Hội chợ quốc tế nghệ thuật đương đại - FIAC, và từ 2002 thành phố bắt đầu tổ chức lễ hội Nuit Blanche - Đêm trắng - vào đêm thứ bảy đầu tiên của tháng với nhiều hoạt động nghệ thuật. Thứ bảy tuần thứ hai tháng mười, tại Montmartre còn có lễ hội hái nho. === Truyền thông === Phần lớn những tập đoàn truyền thông của Pháp đều nằm tại Paris và thành phố cũng có một số tờ báo riêng. Le Parisien là nhật báo chính của Paris. 20 phút và Métro là hai nhật báo miễn phí, không có nguồn gốc ở Paris, nhưng được nhiều người dân thành phố đọc. Những hành khách đọc các tờ báo miền phí trên phương tiện giao thông công cộng trở thành một hình ảnh hàng ngày của thành phố. Về văn hóa, có tờ L'Officiel des spectacles đăng các chương trình, và tờ Paris frimousse phát hành hàng tháng về các hoạt động văn hóa cho thiếu nhi. Trước đây còn hai tờ báo khác cũng đăng tin tương tự là Zurban và Le Pariscope. Ngược lại với các vùng khác của Pháp, truyền hình địa phương ở Paris không phát triển mạnh. Có thể thấy một số chương trình riêng cho Paris trên đài quốc gia France 3. Còn tại vùng Paris, Télif gần như là kênh duy nhất truyền qua cáp. Truyền qua ADSL hoặc vệ tinh có một số kênh địa phương: VOTV của Val-d'Oise, Télessonne của Essonne, TVM Est parisien của Seine-Saint-Denis, TVFil78 của Yvelines và RTV của Rosny-sous-Bois. Ngoài ra còn một vài kênh khác như Zaléa TV hay Teleplaisance.org... == Paris, kinh đô thế giới == Trong lịch sử của mình, Paris là nơi sản sinh và được tìm đến của rất nhiều nhân vật nổi tiếng cũng như các trào lưu tư tưởng, nghệ thuật. Vào thế kỷ 18, Paris là trung tâm của triết học Khai sáng với những Rousseau, Voltaire. Tới thế kỷ 19, các nhà văn vĩ đại của Pháp như Alexandre Dumas, Honoré de Balzac, Victor Hugo đều tìm tới Paris. Và cùng với đó là các tên tuổi đến từ nước ngoài như Chopin, Van Gogh, Heine. Cuối thế kỷ 19, thành phố trở thành thủ đô của hội họa, với các trường phái Ấn tượng, Hậu ấn tượng. Sang thế kỷ 20, Paris tiếp tục là trung tâm văn hóa của cả thế giới, là nơi sản sinh các nhà văn Marcel Proust, André Gide... và là điểm đến của Pablo Picasso, Marc Chagall, Henri Matisse, James Joyce, Ernest Hemingway, Albert Camus, Beckett. Một số nhà khoa học, chính trị gia quan trọng của thế kỷ 20 như Marie Curie, Chu Ân Lai, Hồ Chí Minh... cùng từng sống và học tập ở Paris. Paris còn là quê hương của điện ảnh, kinh đô của thời trang và là một trung tâm xuất bản lớn. Từng là nơi diễn ra nhiều hội nghị lịch sử quan trọng, thành phố hiện nay là nơi đặt trụ sở của nhiều tổ chức thế giới như UNESCO, OECD. === Trung tâm tri thức và văn học === Từ thế kỷ 12, Paris đã là một trong những trung tâm tri thức của thế giới Cơ Đốc giáo. Việc chấp nhận phương ngữ Paris bởi triều đình khẳng định khuynh hướng này. Trong thời kỳ Phục Hưng, Paris trở thành trung tâm của Chủ nghĩa nhân văn. Với quyền lực dần được tập trung, thành phố cũng quy tụ các ưu việt của văn hóa Pháp. Khoảng giữa thế kỷ 17, Paris với các phòng khách văn học gần như trở thành trung tâm duy nhất của văn chương Pháp. Thế kỷ 18, cùng với sự ảnh hưởng của văn hóa Pháp lên khắp châu Âu, Paris trở thành trung tâm văn hóa lớn nhất. Những phòng khách văn học Paris đạt tới thời kỳ hoàng kim nhờ những nhà văn, nhà triết học vĩ đại như Voltaire, Jean-Jacques Rousseau của Thế kỷ ánh sáng. Phòng khách của bà Geoffrin từ 1749 tới 1777 từng là nơi tụ họp của Diderot, Voltaire, d'Alembert... cùng nhiều nghệ sĩ, nhà văn khác. Thế kỷ 19, là trung tâm tri thức, Paris là điểm đến của hầu hết những nghệ sĩ lớn của Pháp, như các nhà văn Honoré de Balzac, Victor Hugo, Alexandre Dumas... các nhà thơ Paul Verlaine, Arthur Rimbaud, Baudelaire... Không những thế, nhiều trí thức tiến bộ của châu Âu như Chopin, Heine... cũng tìm đến thành phố này. Đến cuối thế kỷ, Paris trở thành chiếc nôi của nhiều trường phái hội họa. Năm 1872, bức tranh Ấn tượng mặt trời mọc (Impression soleil levant) của Claude Monet mở đầu cho Trường phái ấn tượng, rồi được tiếp tục bởi 8 triển lãm khác ở Paris. Thành phố đã quy tụ các họa sĩ nổi tiếng nhất đương thời: Vincent van Gogh, Paul Cézanne, Auguste Rodin, Alfred Sisley, Paul Gauguin, Auguste Renoir, Camille Pissarro... Ngày 28 tháng 12 năm 1895, buổi chiếu phim đầu tiên của anh em Auguste và Louis Lumière tổ chức tại Salon Indien nằm dưới tầng hầm quán cà phê Grand Café ở Paris đánh dấu sự ra đời của điện ảnh. Sang thế kỷ 20, các nhà văn, nghệ sĩ vẫn tiếp tục tìm tới Paris. Tại Montmartre, Georges Braque và Pablo Picasso khởi xướng chủ nghĩa Lập thể. Henri Matisse, Salvador Dalí, Marc Chagall đều tới Paris. Văn học đầu thế kỷ 20 cũng là thời kỳ cách mạng của tiểu thuyết. Từ 1913 tới 1927, bộ tiểu thuyết Đi tìm thời gian đã mất (À la recherche du temps perdu) của Marcel Proust lần lượt được phát hành ở Paris. Năm 1922, tiểu thuyết tiếng Anh Ulysses của James Joyce cũng được xuất bản bởi Sylvia Beach ở Paris, và sau đó rất khó khăn mới chính thức vào được Mỹ. Không chỉ các nhà văn Pháp, rất nhiều các nhà văn lớn nước ngoài tới Paris và trải qua một thời kỳ sáng tạo ở đây, như Ernest Hemingway, Henry Miller, Gertrude Stein... Sau Chiến tranh thế giới thứ hai, khu phố Saint-Germain-des-Prés trở thành một trung tâm văn học với sự góp mặt của Jean-Paul Sartre, Simone de Beauvoir, Boris Vian và Jacques Prévert. Samuel Beckett sống ở Paris và viết bằng tiếng Pháp. Cuốn tiểu thuyết tiếng Anh Lolita của Vladimir Nabokov không phát hành được ở Mỹ, sau đó được xuất bản ở Paris. García Márquez cũng sống ở Paris một thời gian khi quyết định ở lại châu Âu, chính là giai đoạn viết cuốn Giờ xấu (La mala hora). Một số chính khác quan trọng của các nước như Toàn quyền Canada Adrienne Clarkson, Roméo LeBlanc, Thủ tướng Canada Pierre Elliott Trudeau, Tổng thống Tunisia Habib Bourguiba, Tổng thống Sénégal Abdou Diouf, Tổng thống Ấn Độ Rajendra Prasad... từng học ở Paris và trọ tại Cư xá đại học quốc tế. Sau thời kỳ này, Paris mất dần vị trí độc tôn, nhưng vẫn là một trung tâm lớn về văn học, tri thức và xuất bản của thế giới. Cho tới cuối thế kỷ 20, một số nhà văn danh tiếng như Cao Hành Kiện, Milan Kundera... vẫn tiếp tục tìm đến thành phố. Ngày nay, hầu như các khu phố của Paris đều có những tấm biển ghi lại thời gian lưu trú của các nhà văn danh tiếng. Các nghĩa trang của thành phố không chỉ là nơi yên nghỉ những nhân vật nổi tiếng người Pháp mà còn của rất nhiều danh nhân thế giới. === Trụ sở các tổ chức quốc tế === Không chỉ là thủ đô của Pháp, rất nhiều các tổ chức quốc tế cũng có trụ sở tại Paris. Có thể kể tới: Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa Liên Hiệp Quốc - UNESCO, Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế - OECD, Phòng Thương mại Quốc tế - ICC, Lực lượng Đặc nhiệm Hành động Tài chính - FATF, Tổ chức Phóng viên không biên giới... Ngoài ra Paris cũng là nơi tổ chức các hội nghị quan trọng. Nhiều hiệp ước, hòa ước lịch sử đã được ký kết ở đây, như Hòa ước Versailles năm 1919, Hiệp định Paris năm 1973... Với 600.000 m² phục vụ cho mục đích hội họp, Paris chiếm 5% các hoạt động hội thảo, hội nghị của thế giới. === Kinh đô thời trang và xa xỉ phẩm === Paris vẫn thường được xem là kinh đô thời trang của thế giới. Ở đây tập trung những nhà mẫu nổi tiếng, các buổi trình diễn thời trang quan trọng và những cửa hàng thời trang cao cấp. Từ thế kỷ 18, nước Pháp có thể xem như đã đi đầu châu Âu về thời trang khi nghệ thuật, kiến trúc, âm nhạc và các ăn mặc của triều đình Pháp tại Versailles ảnh hưởng tới khắp châu Âu. Những du khách tới Paris và mang về các bộ quần áo rồi lại được những nhà may địa phương bắt chước. Tới khi đường sắt và tàu thủy hơi nước giúp đi lại ở châu Âu được dễ dàng hơn, những phụ nữ giàu có đã tìm tới Paris để mua sắm quần áo. Những thợ may Pháp được xem như hàng đầu và cách ăn mặc của người Paris gây ảnh hưởng tới các nơi khác. Tới thời kỳ Belle Époque, qua các tạp chí, thời trang Paris trở thành chuẩn mực cho tất cả phụ nữ ở các thành phố lớn trên thế giới. Giữa thế kỷ 19, thời trang may đo cao cấp Haute couture xuất hiện ở Paris mặc dù cha đẻ của nó là Charles Frederick Worth, một nhà may người Anh. Sau đó, Haute couture được các nhà tạo mẫu ở Paris như Lanvin, Chanel, Dior... nối tiếp. Vào thời kỳ hậu chiến, trong thập niên 1960, các nhà tạo mẫu của Paris thế hệ sau như Yves Saint Laurent, Pierre Cardin, Givenchy... tiếp tục ảnh hưởng lên toàn bộ ngành thời trang. Ngày nay, Haute couture được bảo vệ bởi luật và do Phòng Thương mại và Công nghiệp Paris (Chambre de Commerce et d'Industrie) quản lý. Dù phải chia sẻ với một vài thành phố lớn khác, nhưng Paris vẫn giữ vị trí kinh đô thời trang. Các du khách vẫn tiếp tục tới đây để mua sắm. Tập đoàn kinh doanh hàng xa xỉ hàng đầu thế giới LVMH cũng có trụ sở ở Paris. Một vài khu phố của Paris quy tụ nhiều các cửa hàng đồ xa xỉ. Những hãng trang sức như Cartier, dinh van, Chanel... nằm ở quảng trường Vendôme và phố Paix cạnh đó. Đại lộ Montaigne ở Quận 8 với những cửa hàng của Chanel, Louis Vuitton, Gucci, Armani, Dior, Prada, Valentino, Nina Ricci... Phố Faubourg-Saint-Honoré có sự hiện diện của Hermès, Dolce & Gabbana... Đầu đại lộ Champs-Élysées cũng có các cửa hàng của Cartier, Montblanc, Hugo Boss cùng Louis Vuitton đặc biệt thu hút du khách. Paris cũng là trung tâm của mua sắm với các hệ thống cửa hàng nổi tiếng như Galeries Lafayette, Printemps... cùng các trung tâm thương mại Les Halles, La Défense... Vào thế kỷ 19, các cửa hàng hiện đại xuất hiện ở Paris như một ý tưởng cách mạng. Những đại cửa hàng, có sự kết hợp cả chiều rộng và chiều sâu, ghi giá cả rõ ràng, ổn định, hàng hóa đa dạng, trưng bày trong các không gian rộng, sang trọng... được đi tiên phong bởi Le Bon Marché vào năm 1852. Kế đó tới các đại cửa hàng La Samaritaine, Galeries Lafayette... Nhà văn Emile Zola trong tiểu thuyết Au Bonheur des Dames năm 1883 cũng đã miêu tả cuộc đời một nhân viên làm việc trong một đại cửa hàng. Ngày nay, Paris có tất cả 5 hệ thống đại cửa hàng: Galeries Lafayette, Printemps, Le Bon Marché, La Samaritaine và BHV. == Paris với văn hóa và nghệ thuật == === Paris với văn học === Từ rất lâu, Paris đã là nguồn cảm hứng cho các nhà văn. Vào thế kỷ 15, François Villon đã viết về Paris trong tác phẩm chính của mình: Le Testament. Trong thế kỷ 17 và thế kỷ 18, miêu tả một Paris hiện thực cũng thu hút các tác giả. Thế kỷ 19, các nhà văn Pháp có những bước tiến trong việc miêu tả thành phố với phong cách mang tính chính xác hơn. Dưới nền Quân chủ tháng bảy, Honoré de Balzac phác họa bức tranh chi tiết và hiện đại về xã hội Pháp trong bộ tiểu thuyết đồ sộ Tấn trò đời (La Comédie Humaine). Gồm hơn 100 tác phẩm, gồm cả tiểu thuyết, truyện ngắn, tiểu luận... Tấn trò đời với vô số các nhân vật ở Paris, là một bức tranh toàn cảnh miêu tả xã hội Pháp thế kỷ 19. Alexandre Dumas với Ba người lính ngự lâm cũng cho thấy một Paris khác trong lịch sử. Trong khi Balzac quan tâm tới các tầng lớp cao của xã hội thì một vài tác giả khác lại chú ý đến tầng lớp bình dân của Paris. Bí mật thành Paris (Les Mystères de Paris) của Eugène Sue với những miêu tả về tầng lớn dưới đáy xã hội đăng từng kỳ trên báo từ 1842 tới 1843 đã rất thành công. Hai mươi năm sau đó, một trong những tiểu thuyết gia lớn nhất của Paris, Victor Hugo đã xuất bản Những người khốn khổ (Les Misérables), tác phẩm đồ sộ miêu tả cuộc sống nhiều mặt của thành phố, khiến Paris trở thành cổ điển. Một tiểu thuyết khác của Victor Hugo, Nhà thờ Đức Bà Paris (Notre-Dame de Paris) tiếp tục giúp độc giả khắp thế giới biết đến nhà thờ nổi tiếng của thành phố. Thành phố Paris sau những cải tạo của Haussmann được Émile Zola miêu tả trong bộ Les Rougon-Macquart với những tác phẩm Le Ventre de Paris, Nana, Au Bonheur des Dames. Đầu thế kỷ 20, nhà hát Opéra Garnier của Paris trở thành bối cảnh chính của tiểu thuyết Bóng ma trong nhà hát (Le Fantôme de l'Opéra) của Gaston Leroux. Tác phẩm này đã có rất nhiều chuyển thể, trong đó nổi tiếng như vở nhạc kịch The Phantom of the Opera của Andrew Lloyd Webber trên sân khấu Broadway năm 1986, rồi bộ phim cùng tên năm 2004. Trong những năm 1960, các nhà văn biến Paris thành một thành phố hoang đường, đôi khi khôi hài và nực cười như trong Zazie dans le métro của Raymond Queneau. Hay một Paris đầy ắp những kỷ niệm trong Je me souviens của Georges Perec. Nhà văn Colombia Gabriel García Márquez trong truyện ngắn Dấu máu em trên tuyết (El Rastro de tu Sangre en la Nieve) cũng cho thấy cái nhìn của một người nước ngoài cô đơn giữa Paris về thành phố này. === Paris với hội họa và điêu khắc === Là thành phố quan trọng bậc nhất của hội họa, Paris không chỉ là nơi khai sinh của những trường phái Ấn tượng, Lập thể... mà nó còn là đề tài của nhiều họa sĩ. Cho tới Chiến tranh tôn giáo vào cuối thế kỷ 16, không thấy tác phẩm nào thực sự về Paris. Dưới thời Henri IV và Louis XIII, thành phố được Jacques Callot cùng các họa sĩ Hà Lan De Verwer và Zeeman thể hiện trên tranh, đặc biệt là hai bên bờ sông Seine. Cung điện Louvre cũng trở thành một đề tài rất được ưa thích vào thế kỷ 17. Phải đến thế kỷ 19, đời sống thường nhật của Paris mới thu hút các họa sĩ. Jean-Baptiste Camille Corot dựng giá vẽ bên bờ sông Seine; Claude Monet tái hiện không khí mờ hơi nước của nhà ga Saint-Lazare; Auguste Renoir miêu tả cuộc sống khu phố Montmartre với các quán Moulin de la galette, Moulin Rouge; Camille Pissarro vẽ cầu Pont Neuf và Alfred Sisley với cảnh đảo Île Saint-Louis. Tiếp đó, vào cuối thế kỷ, Georges Seurat, Paul Gauguin, Paul Cézanne và Van Gogh tiếp tục tái hiện Paris trong các tác phẩm của mình. Còn Toulouse-Lautrec bị thu hút bởi các quán cabaret của thành phố. Vào thế kỷ 20, Albert Marquet và Maurice Utrillo vẽ những khu phố ít may mắn của Paris. Henri Matisse, Maurice de Vlaminck và André Derain làm việc trong tòa nhà Bateau-Lavoir ở Montmartre, còn Fernand Léger, Amedeo Modigliani, Marc Chagall, Ossip Zadkine và Chaïm Soutine sáng tác trong xưởng vẽ La Ruche ở Montparnasse. Đó chính là thời kỳ hoàng kim của trường phái Paris. Về điêu khắc, ở Paris thế kỷ 19 có thể kể tới François Rude với bức phù điêu La Marseillaise trên Khải Hoàn Môn, hay Jean-Baptiste Carpeaux với đài phun nước tại Đài thiên văn. Tiếp đó, vô số các nghệ sĩ danh tiếng với những tác phẩm của mình đã trang hoàng cho Paris: Auguste Rodin, Aimé-Jules Dalou tại vườn Luxembourg và quảng trường Nation, Antoine Bourdelle ở Palais de Tokyo, Aristide Maillol ở vườn Tuileries và Paul Landowski với tượng Thánh Geneviève ở cầu Tournelle. Tân nghệ thuật cũng trang trí cho một số lối vào tàu điện ngầm của Paris nhờ Hector Guimard. Nghệ thuật đương đại hiện diện ở Palais-Royal với các cây cột của nhà điêu khắc Daniel Buren hay ở Trung tâm Pompidou với đài phun nước Stravinski của Jean Tinguely và Niki de Saint Phalle. === Paris với âm nhạc === Truyền thống âm nhạc ở Paris bắt từ thời Phục Hưng. Cuối thế kỷ 12 trường phái âm nhạc đa âm điệu Notre-Dame ra đời. Dưới thời François I, công nghệ in ấn mới xuất hiện đã giúp các ca khúc trở nên phổ biến. Thời Louis XIV, nhiều vở opera lớn được giới thiệu ở Paris. Nhạc sĩ gốc Ý Jean-Baptiste Lully tới sống tại Paris và trở thành người phục trách âm nhạc của triều đình. Các vở ba lê của Lully được trình diễn tại cung điện Louvre từ năm 1655. Thế kỷ 18, Jean-Philippe Rameau làm nổi bật vai trò của dàn nhạc trong các vở opera-ba lê. Lịch sử Pháp cũng ảnh hưởng tới âm nhạc của Paris. Nhiều bài hát đại chúng được sáng tác trong thời kỳ Cách mạng Pháp, như Carmagnole trở thành ca khúc biểu tượng cho những người cách mạng vào năm 1792. Vào thế kỷ 19, Paris trở thành thủ đô của âm nhạc, các nghệ sĩ nổi tiếng nước ngoài đã tìm tới đây. Âm nhạc tiến đến Chủ nghĩa lãng mạn với những nhạc sĩ như Frédéric Chopin, Hector Berlioz hay Charles Gounod. Âm nhạc cho khiêu vũ của Paris trong thế kỷ 19 nổi tiếng khắp thế giới. Được chơi ở các lễ hội Carnaval Paris, nó còn ảnh hưởng đến âm nhạc truyền thống và các cả nhạc sĩ nước ngoài. Trong số đó có thể kể đến nhạc sĩ người Áo Johann Strauss I, người đã tới Pháp vào 1837. Sau năm 1870, Paul Dukas, Camille Saint-Saëns hay Georges Bizet đã làm nước Pháp trở thành bậc thầy của âm nhạc ba lê. Những cá tính dân tộc trong âm nhạc trở lại với Maurice Ravel và Claude Debussy - các nhạc sĩ ấn tượng. Cuối thế kỷ 19 cũng là thời kỳ của các ca sĩ ứng tác và quán cabaret Le Chat noir ở Montmartre là một địa điểm biểu tượng. Đầu thập niên 1880, " la divine " Sarah Bernhardt, người được xem như nữ nghệ sĩ nổi tiếng bậc nhất trong lịch sử nghệ thuật, đã từ Paris đi lưu diễn khắp thế giới, tại Luân Đôn, Hoa Kỳ và Nga. Trong Thế kỷ 20, những bài hát của Édith Piaf - người mang biệt danh " cô bé của Paris " - và cả Maurice Chevalier trở thành các ca khúc phổ biến ở Paris và còn được biết đến trên toàn thế giới. Nền ca nhạc Pháp còn rất nhiều những bài hát về Paris. === Paris với điện ảnh === Với các công trình nổi tiếng và sự lãng mạn, Paris là một trong những thành phố được đưa lên màn ảnh nhiều nhất. Ngoài các bộ phim quan trọng của điện ảnh Pháp, những đạo diễn thế giới cũng chọn Paris làm bối cảnh cho những tác phẩm của mình. Trong danh sách dài những bộ phim Pháp quay ở đây, có thể kể đến một vài tác phẩm lớn đã trở thành kinh điển. Hôtel du Nord (1938) là khung cảnh cho lời thoại nổi tiếng của Arletty: " Atmosphère, atmosphère, est-ce que j'ai une gueule d'atmosphère? ". Tuy bộ phim được thực hiện trong trường quay, nhưng khách sạn nhỏ bên con kênh Saint-Martin vẫn trở thành địa điểm yêu thích của những khán giả điện ảnh. La Traversée de Paris (1956) cùng Le Dernier Métro (1980) gợi lại những hiện thực về thời gian thành phố bị Đức Quốc xã chiếm đóng năm 1943, và Paris brûle t-il? (1966) về giải phóng Paris vào tháng 8 năm 1944. Đầu thập niên 2000, Le Fabuleux Destin d'Amélie Poulain (2001) là câu quận hoang tưởng trong một Paris huyền thoại và vĩnh hằng. Bộ phim này giành được những thành công quốc tế và khiến nhiều người yêu điện ảnh tới Montmartre để tìm kiếm những địa điểm tượng trưng của các cảnh quay. Điện ảnh thế giới cũng ghi dấu ấn với những bộ phim về Paris. Năm 1951, bộ phim ca nhạc An American in Paris, nói về một họa sĩ trẻ ở Paris, đã thành công rực rỡ, đạt giải Oscar cho phim hay nhất. Năm 1957, Tình yêu ban chiều (Love in the Afternoon) mở đầu với những cảnh Paris tràn ngập các đôi yêu đương và Audrey Hepburn gặp gỡ Gary Cooper tại khách sạn Ritz. Trong Last Tango in Paris năm 1972, Marlon Brando trong vai một người đàn ông trung niên gặp cô gái trẻ Maria Schneider tại một căn phòng sang trọng ở quận 16. Cuối thế kỷ 20 là bộ phim ca nhạc Everyone Says I Love You (1996) của đạo diễn Woody Allen. Đầu những năm 2000, trong Moulin Rouge! (2001), Nicole Kidman vào vai cô ca sĩ Satine của quán Moulin Rouge yêu chàng nhà văn Christian do Ewan McGregor diễn. Năm 2004, Bóng ma trong nhà hát (The Phantom of the Opera) chuyển thể từ tiểu thuyết của Gaston Leroux lại giới thiệu một Paris của âm nhạc và sân khấu thời Belle Époque. Da Vinci code (2006) tiếp tục chọn Paris làm bối cảnh cho bộ phim. Mới nhất năm 2007, với vị trí kinh đô của ẩm thực, Paris lại xuất hiện trong bộ phim hoạt hình Mỹ Chú chuột đầu bếp (Ratatouille). Không chỉ những tác phẩm lãng mạn, cảnh Paris với tháp Eiffel bị phá hủy thường xuyên được sử dụng trong các phim khoa học viễn tưởng. Bên cạnh điện ảnh, các công trình nổi tiếng và đời sống thường nhật của Paris là đề tài sáng tác của nhiều nhiếp ảnh gia danh tiếng. Bắt đầu từ Eugène Atget ở cuối thế kỷ 19, tiếp đó tới Robert Doisneau giữa thế kỷ 20, người đã chụp vô số các bức ảnh về Paris, trong đó nổi tiếng hơn cả là Le Baiser de l'Hôtel de Ville (Nụ hôn trước tòa thị chính). == Thành phố kết nghĩa == Từ năm 1956, Paris trở thành thành phố sinh đôi cùng với duy nhất Roma của Ý: Tiếng Pháp: " Seule Paris est digne de Rome; seule Rome est digne de Paris " Tiếng Ý: " Solo Parigi è degna di Roma; solo Roma è degna di Parigi " Có nghĩa: " Duy nhất Paris xứng với Roma; duy nhất Roma xứng với Paris " Ngoài ra Paris còn có nhiều thành phố kết nghĩa khác: == Chú thích == == Tham khảo == Soyer, Robert; André Cailleux (1960). Géologie de la région parisienne. Que sais-je ?. Paris: Presses universitaires de France. Fierro, Alfred (1999). Robert Laffont, biên tập. Histoire et dictionnaire de Paris. Bouquins. ISBN 9782221078624. Le Clère, Marcel (1985). Paris de la Préhistoire à nos jours. Bordessoules. Favier, Jean (1997). Fayard, biên tập. Paris, 2000 ans d'histoire. ISBN 9782213598741. Laurence, Jonathan; Justin Vaïsse (2007). Intégrer l'Islam. Odile Jacob. ISBN 9782738119001. == Liên kết ngoài == (tiếng Pháp) Trang chính thức của thành phố (tiếng Anh) Trang chính thức của thành phố
thực phẩm.txt
Thực phẩm hay còn được gọi là thức ăn là bất kỳ vật phẩm nào, bao gồm chủ yếu các chất: chất bột (cacbohydrat), chất béo (lipit), chất đạm (protein), hoặc nước, mà con người hay động vật có thể ăn hay uống được, với mục đích cơ bản là thu nạp các chất dinh dưỡng nhằm nuôi dưỡng cơ thể hay vì sở thích. Quan trọng nhất khái niệm thực phẩm lại tùy thuộc vào mỗi vùng miền mỗi con người. Có những thứ nới này được coi là thực phẩm nhưng nơi khác thì không. Ví dụ: ở phương Tây họ không xem lục phủ ngũ tạng là thực phẩm nhưng người phương Đông lại xem đó là nguồn thực phẩm tuyệt vời. Các thực phẩm có nguồn gốc từ thực vật, động vật, vi sinh vật hay các sản phẩm chế biến từ phương pháp lên men như rượu, bia. Mặc dù trong lịch sử thì nhiều nền văn minh đã tìm kiếm thực phẩm thông qua việc săn bắn và hái lượm, nhưng ngày nay chủ yếu là thông qua trồng trọt, chăn nuôi, đánh bắt và các phương pháp khác. Phần lớn các nền văn hóa đều có nghệ thuật ẩm thực. Văn hóa ẩm thực là một tập hợp cụ thể của các truyền thống, thói quen, sở thích, cách thức chọn lựa thực phẩm và tập quán trong nấu ăn. Việc nghiên cứu các khía cạnh của ẩm thực gọi là khoa học về nghệ thuật ẩm thực. Nhiều nền văn hóa đã đa dạng hóa các chủng loại thực phẩm của mình bằng các phương pháp chế biến, nấu nướng và sản xuất. Bên cạnh đó, việc buôn bán các loại lương thực, thực phẩm cũng tạo điều kiện để các nền văn hóa đa dạng hóa hơn nữa các chủng loại thực phẩm của mình. Trong khi con người, về bản chất là động vật ăn tạp, thì tôn giáo và các định kiến xã hội, chẳng hạn như các tiêu chuẩn luân lý, thường có ảnh hưởng tới các chủng loại thực phẩm mà xã hội đó tiêu thụ. An toàn thực phẩm cũng là một vấn đề cần được quan tâm với các bệnh do ăn uống. == Phân loại == Thực phẩm bao gồm các loại: Ngũ cốc Rau củ Hoa quả Thịt cá == Một số khái niệm thực phẩm hiện đại == === Thực phẩm ăn liền === Thực phẩm ăn liền là dạng thực phẩm không cần phải nấu nướng mà có thể thể sử dụng ngay, thực phẩm ăn liền khác với fast food, thực phẩm ăn liền đã được làm sẵn như mì gói chỉ cần chế nước sôi vào là ăn được ngay, đồ hộp chỉ cần hâm nóng là ăn được ngay. Còn fast food thì không cần hâm nóng không cần chế nước sôi có thể ăn ngay được === Thực phẩm đóng hộp === Đóng hộp là một phương thức để bảo quản thực phẩm bằng cách chế biến và xử lý trong môi trường thiếu khí. Phương pháp này lần đầu tiên được sử dụng cho quân đội Pháp phát minh bởi Nicolas Appert. Đóng gói giúp ngăn chặn vi sinh vật xâm nhập và nảy nở bên trong. Để tránh làm thức ăn bị hỏng trong quá trình trước và trong suốt quá trình bảo quản, một số phương pháp đã được sử dụng: diệt khuẩn, nấu chín (và các ứng dụng dựa trên nhiệt độ cao), bảo quản lạnh, đóng băng, sấy khô, hút chân không, chống các tác nhân vi trùng hay bảo quản để giữ nguyên các tính chất ban đầu như, ion hóa bức xạ vừa đủ, ngâm trong nước muối, axít, bazơ. === Thực phẩm chức năng === Hippocrates, thủy tổ của ngành y từng có một câu nói nổi tiếng: "Làm sao để thuốc là thực phẩm và thực phẩm cũng là thuốc". Thế kỷ 21 đánh dấu sự xuất hiện của thực phẩm chức năng (hay còn gọi là thực phẩm bổ sung) và ngày càng thịnh hành. Tại Hội nghị lần thứ 17 của Hội nghị dinh dưỡng thế giới tại Brazil đã nêu ra định nghĩa cho thực phẩm chức năng: "Thực phẩm chức năng là những sản phẩm dùng để hỗ trợ các chức năng của các bộ phận trong cơ thể, nghĩa là phục hồi, tăng cường, duy trì các chức năng của các bộ phận trong cơ thể, có tác dụng dinh dưỡng, tạo cho cơ thể tình trạng thoải mái, tăng cường sức đề kháng và phòng ngừa bệnh tật." == Xem thêm == Phụ gia thực phẩm Thực phẩm đông lạnh Thực phẩm khô == Tham khảo == == Liên kết ngoài == 15 thực phẩm màu đỏ chống lạnh tốt nhất cho mùa đông
khủng hoảng tài chính hoa kỳ 2007-2009.txt
Khủng hoảng tài chính Hoa Kỳ 2007-2009 là cuộc khủng hoảng trong nhiều lĩnh vực tài chính (tín dụng, bảo hiểm, chứng khoán) diễn ra từ năm 2007 cho đến tận nay. Cuộc khủng hoảng này bắt nguồn từ cuộc khủng hoảng tín dụng nhà ở thứ cấp. Và bản thân nó lại là nguồn gốc trực tiếp của cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu 2007-2010. == Nguyên nhân == === Chứng khoán hóa === Các sản phẩm chứng khoán hóa xuất hiện từ đầu thập niên 1970 và phát triển mạnh trong môi trường chính sách tiền tệ được nới lỏng từ năm 2001. Chứng khoán hóa và việc ra đời các sản phẩm của quá trình này như chứng khoán đảm bảo bằng tài sản thế chấp (MBS), giấy nợ đảm bảo bằng tài sản (CDO) và các loại tương tự là một phát minh lớn về công cụ tài chính. Tuy nhiên, vì có ít nhất tới 4 loại chủ thể kinh tế liên quan đến chứng khoán hóa (thay vi 2 loại chủ thế kinh tế là người thế chấp - đi vay và tổ chức tín dụng cho vay - nhận thế chấp như giao dịch tín dụng truyền thống), vì sự xuất hiện của bảo hiểm cho các sản phẩm chứng khoán hóa như hợp đồng hoán đổi tổn thất tín dụng (CDS), vì sự ra đời của các thể chế như các thể chế mục đích đặc biệt (SPV) và những công cụ đầu tư kết cấu (SIV) để mua bán MBS và CDO, nên đã tồn tại những rủi ro hệ thống bao gồm cả rủi ro đạo đức và lựa chọn trái ý. Trong khi đó, mô hình giám sát tài chính của Hoa Kỳ trước khủng hoảng không đủ năng lực giám sát các rủi ro này. Những rủi ro mang tính hệ thống đã tồn tại và một khi sự cố đối với bong bóng thị trường tài sản xảy ra thì những rủi ro này sẽ làm mất lòng tin ghê gớm của các bên liên quan. Thêm vào đó, việc thực hành cho vay liên ngân hàng sẽ làm cho những tổn thất tín dụng lây lan ra toàn hệ thống ngân hàng; một ngân hàng phá sản sẽ kéo theo nhiều ngân hàng khác phá sản. Và mất lòng tin ở người gửi tiền gây ra đột biến rút tiền gửi còn làm cho tình hình thêm nghiêm trọng và diễn ra nhanh chóng hơn.hkh Thực tế, thị trường nhà ở bắt đầu tự điều chỉnh từ năm 2005 khiến cho giá nhà đất giảm và chất lượng tài sản đảm bảo cho các MBS và các CDO giảm theo. Rủi ro mang tính hệ thống đã làm cho khủng hoảng tín dụng nhà ở thứ cấp nổ ra vào tháng 5 năm 2006 khi mà nhiều tổ chức phát hành MBS và CDO cũng như một số tổ chức tài chính mà trong danh mục tài sản của mình có nhiều MBS và CDO sụp đổ. Tiếp theo đó, khủng hoảng tài chính nổ ra vào tháng 8 năm 2007 khi đến lượt cả các SPV và SIV cũng sụp đổ, rồi phát triển thành khủng hoảng tài chính toàn cầu từ tháng 9/2008 khi cả những tổ chức tài chính khổng lồ như Lehman Brothers sụp đổ. === Bong bóng thị trường nhà ở === Sau khi bong bóng Dot-com vỡ vào năm 2001 và suy thoái kinh tế hiện rõ sau sự kiện 11 tháng 9, Cục Dự trữ Liên bang Hoa Kỳ đã có những biện pháp tiền tệ để cứu nền kinh tế nước này khỏi suy thoái, đó là hạ lãi suất cho vay qua đêm liên ngân hàng.. Chỉ trong thời gian ngắn từ tháng 5 năm 2001 đến tháng 12 năm 2002, lãi suất liên ngân hàng giảm 11 đợt từ 6,5% xuống còn 1,75%. Tín dụng thứ cấp cũng giảm lãi suất theo. Điều này kích thích sự phát triển của khu vực bất động sản và ngành xây dựng làm động lực cho tăng trưởng kinh tế. Trong môi trường tín dụng dễ dãi, những tổ chức tài chính đã có xu hướng cho vay mạo hiểm, kể cả cho những người nhập cư bất hợp pháp vay. Hệ quả là vay và đi vay ồ ạt nhằm mục đích đầu cơ dẫn tới hình thành bong bóng nhà ở. Năm 2005, có tới 28% số nhà được mua là để nhằm mục đích đầu cơ và 12% mua chỉ để không. Năm này, bong bóng nhà ở này phát triển đến mức cực đại và vỡ. Từ quý IV năm 2005 đến quý I năm 2006, giá trị trung vị của giá nhà giảm 3,3%. Thời điểm đó, tổng giá trị lũy tích các khoản tín dụng nhà ở thứ cấp lên đến 600 tỷ dollar. Sau khi bong bóng nhà ở vỡ, các cá nhân gặp khó khăn trong việc trả nợ. Nhiều tổ chức tín dụng cho vay mua nhà gặp khó khăn vì không thu hồi được nợ. Giá nhà ở giảm nhanh khiến cho các loại giấy nợ đảm bảo bằng tài sản (CDO - viết tắt của collateralized debt obligations) và chứng khoán đảm bảo bằng tài sản thế chấp (MBS - viết tắt của mortgage-backed security) do các tổ chức tài chính phát hành bị giảm giá nghiêm trọng. Kết quả là bảng cân đối tài sản của các tổ chức này xấu đi và xếp hạng tín dụng của họ bị các tổ chức đánh giá đánh tụt. Cuộc khủng hoảng tín dụng nhà ở thứ cấp nổ ra. Nguyên Chủ tịch Fed Alan Greenspan sau này thừa nhận rằng ông đã không nhận thức hết quy mô của thị trường tín dụng nhà ở thứ cấp. == Diễn biến của khủng hoảng == Tháng 8 năm 2007, một số tổ chức tín dụng của Mỹ như New Century Financial Corporation phải làm thủ tục xin phá sản. Một số khác thì rơi vào tình trạng cổ phiếu của mình mất giá mạnh như Countrywide Financial Corporation. Nhiều người gửi tiền ở các tổ chức tín dụng này đã lo sợ và đến rút tiền, gây ra hiện tượng đột biến rút tiền gửi khiến cho các tổ chức đó càng thêm khó khăn. Nguy cơ khan hiếm tín dụng hình thành. Cuộc khủng hoảng tài chính thực thụ chính thức nổ ra. Từ Mỹ, rối loạn này lan sang các nước khác. Ở Anh quốc, ngân hàng Northern Rock bị chao đảo vì người gửi tiền xếp hàng đòi rút tiền gửi của mình ra. Trước tình hình đó, Cục Dự trữ Liên bang Mỹ đã tiến hành các biện pháp nhằm tăng mức độ thanh khoản của thị trường tín dụng chẳng hạn như thực hiện nghiệp vụ thị trường mở mua vào các loại công trái Mỹ, trái phiếu cơ quan chính phủ Mỹ và trái phiếu cơ quan chính phủ Mỹ đảm bảo theo tín dụng nhà ở. Tháng Chín 2007, Cục Dự trữ Liên bang còn tiến hành giảm lãi suất cho vay qua đêm liên ngân hàng (Fed fund rates) từ 5,25% xuống 4,75%. Trong khi đó, Ngân hàng Trung ương châu Âu đã bơm 205 tỷ Dollar Mỹ vào thị trường tín dụng để nâng cao mức thanh khoản. Tháng 12 năm 2007, cuộc khủng hoảng tiến sang nấc trầm trọng hơn khi những báo cáo kinh tế cuối năm cho thấy sự điều chỉnh của thị trường bất động sản diễn ra lâu hơn dự tính và quy mô của khủng hoảng cũng rộng hơn dự tính. Tình trạng đói tín dụng trở nên rõ ràng. Hệ thống dự trữ liên bang cố gắng giảm mạnh lãi suất liên ngân hàng vào tháng 12/2007 và tháng 2 năm 2008 nhưng không có hiệu quả như mong đợi. Tháng 3 năm 2008, Ngân hàng dự trữ liên bang New York cố cứu Bear Sterns, nhưng không nổi. Công ty này chấp nhận để JP Morgan Chase mua lại với giá 10 dollar một cổ phiếu, nghĩa là thấp hơn rất nhiều với giá 130,2 dollar một cổ phiếu lúc đắt giá nhất trước khi khủng hoảng nổ ra. Việc Ngân hàng dự trữ liên bang New York cứu không nổi Bear Sterns và buộc lòng để công ty này bị bán đi với giá quá rẻ đã khiến cho sự lo ngại về năng lực can thiệp của chính phủ cứu viện các tổ chức tài chính gặp khó khăn. Sự sụp đổ của Bear Stern đã đẩy cuộc khủng hoảng lên nấc thang trầm trọng hơn. Tháng 8 năm 2008, đến lượt Lehman Brothers, một tổ chức tài chính vào loại lớn nhất và lâu đời nhất của Mỹ, bị phá sản. Tiếp sau Lehman là một số công ty khác. Tháng 9 năm 2008, Thượng viện Hoa Kỳ thông qua Đạo luật Ổn định Kinh tế Khẩn cấp 2008 cho phép bộ trưởng Tài chính Hoa Kỳ chi tới 700 tỷ USD cứu nền tài chính của nước này bằng cách mua lại các khoản nợ xấu của ngân hàng, đặc biệt là các chứng khoán đảm bảo bằng bất động sản. == Tác động == === Đối với Hoa Kỳ === Cuộc khủng hoảng này là nguyên nhân chính làm cho kinh tế Hoa Kỳ rơi vào suy thoái từ tháng 12 năm 2007. NBER dự đoán đây sẽ là đợt suy thoái nghiêm trọng nhất ở Hoa Kỳ kể từ sau Chiến tranh thế giới thứ hai. Bình quân mỗi tháng từ tháng 1 tới tháng 9 năm 2008, có 84 nghìn lượt người lao động Hoa Kỳ bị mất việc làm. Hàng loạt tổ chức tài chính trong đó có những tổ chức tài chính khổng lồ và lâu đời bị phá sản đã đẩy kinh tế Hoa Kỳ vào tình trạng đói tín dụng. Đến lượt nó, tình trạng đói tín dụng lại ảnh hưởng đến khu vực sản xuất khiến doanh nghiệp phải thu hẹp sản xuất, sa thải lao động, cắt giảm các hợp đồng nhập đầu vào. Thất nghiệp gia tăng ảnh hưởng tiêu cực đến thu nhập và qua đó tới tiêu dùng của các hộ gia đình lại làm cho các doanh nghiệp khó bán được hàng hóa. Nhiều doanh nghiệp bị phá sản hoặc có nguy cơ bị phá sản, trong đó có cả 3 nhà sản xuất ô tô hàng đầu của Hoa Kỳ là General Motors, Ford Motor và Chrysler LLC. Các nhà lãnh đạo 3 hãng ô tô này đã nỗ lực vận động Quốc hội Hoa Kỳ cứu trợ, nhưng không thành công. Hôm 12 tháng 12 năm 2008, GM đã phải tuyên bố tạm thời đóng cửa 20 nhà máy của hãng ở khu vực Bắc Mỹ. Tiêu dùng giảm, hàng hóa ế thừa đã dẫn tới mức giá chung của nền kinh tế giảm liên tục, đẩy kinh tế Hoa Kỳ tới nguy cơ có thể bị giảm phát. Cuộc khủng hoảng còn làm cho dollar Mỹ lên giá. Do dollar Mỹ là phương tiện thanh toán phổ biến nhất thế giới hiện nay, nên các nhà đầu tư toàn cầu đã mua dollar để nâng cao khả năng thanh khoản của mình, đẩy dollar Mỹ lên giá. Điều này làm cho xuất khẩu của Hoa Kỳ bị thiệt hại. Xem thêm: Khủng hoảng ngành chế tạo ô tô Hoa Kỳ 2008-2010. === Đối với thế giới === Hoa Kỳ là thị trường nhập khẩu quan trọng của nhiều nước, do đó khi kinh tế suy thoái, xuất khẩu của nhiều nước bị thiệt hại, nhất là những nước theo hướng xuất khẩu ở Đông Á. Một số nền kinh tế ở đây như Nhật Bản, Đài Loan, Singapore và Hong Kong rơi vào suy thoái. Các nền kinh tế khác đều tăng trưởng chậm lại. Châu Âu vốn có quan hệ kinh tế mật thiết với Hoa Kỳ chịu tác động nghiêm trọng cả về tài chính lẫn kinh tế. Nhiều tổ chức tài chính ở đây bị phá sản đến mức trở thành khủng hoảng tài chính ở một số nước như Iceland, Nga. Các nền kinh tế lớn nhất khu vực là Đức và Ý rơi vào suy thoái, và Anh, Pháp, Tây Ban Nha cùng đều giảm tăng trưởng. Khu vực đồng Euro chính thức rơi vào cuộc suy thoái kinh tế đầu tiên kể từ ngày thành lập. Các nền kinh tế Mỹ Latinh cũng có quan hệ mật thiết với kinh tế Hoa Kỳ, nên cũng bị ảnh hưởng tiêu cực khi các dòng vốn ngắn hạn rút khỏi khu vực và khi giá dầu giảm mạnh. Ecuador tiến đến bờ vực của một cuộc khủng hoảng nợ. Kinh tế các khu vực trên thế giới tăng chậm lại khiến lượng cầu về dầu mỏ cho sản xuất và tiêu dùng giảm cũng như giá dầu mỏ giảm. Điều này lại làm cho các nước xuất khẩu dầu mỏ bị thiệt hại. Đồng thời, do lo ngại về bất ổn định xảy ra đã làm cho nạn đầu cơ lương thực nổ ra, góp phần dẫn tới giá lương thực tăng cao trong thời gian cuối năm 2007 đầu năm 2008, tạo thành một cuộckhủng hoảng giá lương thực toàn cầu. Nhiều thị trường chứng khoán trên thế giới gặp phải đợt mất giá chứng khoán nghiêm trọng. Các nhà đầu tư chuyển danh mục đầu tư của mình sang các đơn vị tiền tệ mạnh như dollar Mỹ, yên Nhật, franc Thụy Sĩ đã khiến cho các đồng tiền này lên giá so với nhiều đơn vị tiền tệ khác, gây khó khăn cho xuất khẩu của Mỹ, Nhật Bản, Thụy Sĩ và gây rối loạn tiền tệ ở một số nước buộc họ phải xin trợ giúp của Quỹ Tiền tệ Quốc tế. Hàn Quốc rơi vào khủng hoảng tiền tệ khi won liên tục mất giá từ đầu năm 2008. Xem thêm: Khủng hoảng tài chính 2007-2010. == Phản ứng của chính phủ Hoa Kỳ == === Cục Dự trữ Liên bang === Ngay khi khủng hoảng tín dụng nhà ở thứ cấp nổ ra, Fed bắt đầu can thiệp bằng cách hạ lãi suất và tăng mua MBS. Đến khi tình hình phát triển thành khủng hoảng tài chính từ tháng 8 năm 2007, Cục Dự trữ Liên bang Hoa Kỳ (Fed) đã tiếp tục tiến hành các biện pháp nới lỏng tiền tệ để tăng thanh khoản cho các tổ chức tài chính. Cụ thể là lãi suất cho vay qua đêm liên ngân hàng đã được giảm từ 5,25% qua 6 đợt xuống còn 2% chỉ trong vòng chưa đầy 8 tháng (18/9/2007-30/4/2008). Lãi suất này sau đó còn tiếp tục giảm và đến ngày 16/12/2008 chỉ còn 0,25%, mức lãi suất gần 0 hiếm thấy. Fed còn thực hiện nghiệp vụ thị trường mở (mua lại các trái phiếu chính phủ Hoa Kỳ mà các tổ chức tài chính nước này có) và hạ lãi suất tái chiết khấu. Giữa tháng 12 năm 2008, Fed tuyên bố có kế hoạch thực hiện chính sách nới lỏng tiền tệ mặt lượng. Tháng 12 năm 2007, Chính phủ Hoa Kỳ đã lập ra và giao cho Fed chủ trì chương trình Term Auction Facility để cấp các khoản vay ngắn hạn có kỳ hạn từ 28 đến 84 ngày theo lãi suất cao nhất mà các tổ chức tài chính trả qua đấu giá. Tính đến tháng 11 năm 2008, đã có 300 tỷ dollar được FED đem cho vay theo chương trình này. FED còn tiến hành cho vay thế chấp đối với các tổ chức tài chính với số tiền tổng cộng tới 1,6 nghìn tỷ tính đến tháng 11 năm 2008. === Chính phủ === Ngày 13 tháng 2 năm 2008, Tổng thống George W. Bush đã ký Economic Stimulus Act of 2008 theo đó chính phủ sẽ áp dụng một chương trình kích cầu tổng hợp trị giá 168 tỷ dollar chủ yếu dưới hình thức hoàn thuế thu nhập cá nhân. Trước tình hình khủng hoảng tài chính nghiêm trọng, chính quyền Bush đã trình quốc hội thông qua gói tài chính 700 tỷ dollar. Ban đầu Hạ viện Hoa Kỳ do Đảng Dân chủ Hoa Kỳ chiếm đa số bác bỏ vì cho rằng không thể phí tiền để cứu không được quá nhiều tổ chức tài chính gặp khó khăn. Song sau khi kế hoạch sử dụng 700 tỷ dollar được điều chỉnh sang hướng chi cho cả các chương trình phục vụ đông đảo người dân nhằm kích thích tiêu dùng (như trợ giúp cho người thất nghiệp, hỗ trợ dinh dưỡng cho người nghèo và người thu nhập thấp, phát triển cơ sở hạ tầng), qua đó vực dậy nền kinh tế, nó đã được Thượng viện thông qua. Ngày 3 tháng 10 năm 2008, Tổng thống Bush đã ký Emergency Economic Stabilization Act of 2008 cho phép thực hiện gói kích thích 700 tỷ dollar này. === Kế hoạch của Barack Obama === Barack Obama, tổng thống thứ 44 của Hoa Kỳ, sau khi trúng cử đã nêu ra một chương trình kích thích kinh tế trong đó Hoa Kỳ sẽ tiến hành kích cầu bằng: Những dự án phát triển cơ sở hạ tầng chưa từng có kể từ thập niên 1950; Nâng cấp hệ thống sử dụng năng lượng của các văn phòng cơ quan chính phủ Hoa Kỳ theo hướng tiết kiệm năng lượng; Đầu tư lớn cho phát triển công nghệ nhất là thông tin y tế điện tử, hệ thống máy tính cho các trường phổ thông và phát triển mạng Internet băng thông rộng; Cấp thêm ngân sách cho Chương trình bảo hiểm y tế (Medicaid). Cấp thêm 50 tỷ dollar ngoài khoản 20 tỷ dollar đã được đồng ý cho ngành công nghiệp ô tô với điều kiện là ngành này phải cải tổ đáng kể. === The Obama-Biden Plan === Chương trình nghị sự phục hồi kinh tế của Tổng thống và Phó Tổng thống mới có nội dung: Hành động khẩn cấp để tạo việc làm cho người Mỹ; Trợ giúp khẩn cấp cho các hộ gia đình gặp khó khăn; Trợ giúp trực tiếp và khẩn cấp cho người sở hữu nhà, thay vì cứu trợ các tổ chức tài chính cho vay nhà ở thế chấp vô trách nhiệm; Phản ứng nhanh, mạnh với khủng hoảng tài chính bằng tất cả các công cụ mà nước Mỹ có. Ngày 17 tháng 2 năm 2009, Barack Obama đã ký American Recovery and Reinvestment Act. Đạo luật này cho phép Chính phủ thực hiện gói kích thích thứ hai kể từ khi khủng hoảng nổ ra. Gói kích thích này trị giá 787 tỷ dollar. == Tham khảo == == Xem thêm == Khủng hoảng kinh tế châu Á 1997 Khủng hoảng tín dụng nhà ở thứ cấp Khủng hoảng ngành chế tạo ô tô Hoa Kỳ 2008-2010 Khủng hoảng tài chính toàn cầu năm 2008 == Liên kết ngoài == Báo Kinh tế & Đô thị: "Năm 2008: TTCK Mỹ– thành quả tăng điểm 6 năm "tan thành mây khói"." VnExpress: "Chứng khoán thế giới 'thở phào' khi năm 2008 kết thúc." President George W. Bush's Address to the Nation Trần Văn Thọ và Trần Lê Anh (2008), "Cuộc khủng hoảng hình thành như thế nào?" Báo Thanh Niên. Trần Văn Thọ và Trần Lê Anh (2008), "Giải cứu" Báo Thanh Niên. Trần Văn Thọ và Trần Lê Anh (2008), "Kinh tế Mỹ sẽ đi về đâu?" Báo Thanh Niên.
larry ellison.txt
Lawrence Joseph "Larry" Ellison (sinh 17 tháng 8 năm 1944) là một ông trùm tư bản người Mỹ, đồng sáng lập và giám đốc điều hành của tập đoàn Oracle, chuyên về phần mềm quản trị. Năm 2012, Forbes xếp ông giàu thứ 5 trên thế giới. == Tuổi trẻ == Larry Ellison sinh tại thành phố New York, mẹ ông là một người Do Thái chưa kết hôn cha của ông là một phi công không quân Mỹ gốc Italia. Sau khi ông bị viêm phổi lúc mới chín tháng tuổi, mẹ ông đã đưa ông cho cô và chú của bà để làm con nuôi. Ellison đã không gặp lại mẹ ruột của mình cho đến khi ông 48 tuổi Ellison đã tốt nghiệp trường phổ thông Eugene Field ở Chicago tháng 1 năm 1958 rồi theo học trường trung học Sullivan ít nhất cho đến hết mùa xuân năm 1959 trước khi chuyển đến South Shore. Ông sống trong một căn hộ hai phòng ngủ tại khu trung lưu của người Do Thái ở South Shore, Chicago. Ellison nhớ lại rằng mẹ nuôi của ông, Lillian Ellison, là người đằm thắm và giàu tình cảm, trái ngược với người cha nuôi Louis Ellison khắc khổ, lạnh nhạt và hay xa nhà. Louis đã chọn họ Ellison để ghi nhớ nơi ông đã nhập cảnh vào Mỹ, đảo Ellis. Mặc dù Ellison lớn lên trong một gia đình theo đạo Do Thái cải cách, cha mẹ nuôi thường xuyên đến giáo đường Do Thái, ông vẫn là một người hoài nghi tôn giáo. Ellison đã nói rằng: "Trong khi tôi cho rằng tôi cũng là một người mộ đạo theo cách hiểu nào đó, những giáo điều đạo Do Thái lại không phải những giáo điều tôi chấp nhận. Tôi không tin rằng chúng là thật. Chúng là những câu chuyện thú vị. Chúng là những truyền thuyết thú vị và tôi chắc chắn tôn trọng những người tin đây là đúng theo nghĩa đen, nhưng tôi thì không... Tôi chẳng thấy thuyết phục gì với những thứ này". Khi 13 tuổi, Ellison đã từ chối nghi lễ "bar mitzvah" (đánh dấu tuổi 13 cho người Do Thái). Ellison là một học sinh sáng dạ nhưng thiếu tập trung. Ông đã rời đại học Illinois tại Urbana-Champaign sau năm thứ 2, không làm bài thi cuối năm vì mẹ nuôi của ông vừa qua đời. Sau mùa hè ở Bắc California, Ellison theo học đại học Chicago một học kỳ, tại đây lần đầu tiên ông tiếp cận với thiết kế máy tính. Năm 1966, 22 tuổi, Ellison chuyển đến bắc California. == Sự nghiệp == Trong những năm 1970, sau một thời gian ngắn tại tập đoàn Amdahl, Ellison làm việc cho tập đoàn Ampex. Một trong các dự án của ông là xây dựng cơ sở dữ liệu cho CIA, ông đặt tên nó là "Oracle". Ellison lấy cảm hứng từ bài báo của Edgar F. Codd viết về các hệ thống cơ sở dữ liệu liên kết gọi là "A Relational Model of Data for Large Shared Data Banks". Năm 1977, ông thành lập Phòng thí nghiệm Phát triển Phần mềm (Software Development Laboratories SDL) với hai cộng sự và một khoản đầu tư 2.000 USD; riêng ông đóng góp 1.200 USD. Năm 1979, công ty đổi tên thành Relational Software Inc., sau đó lại đổi thành Oracle theo tên sản phẩm then chốt Oracle Database. Ông đã nghe nói đến cơ sở dữ liệu IBM System R, cũng dựa trên lý thuyết của Codd và ông muốn Oracle tương thích với nó, nhưng điều này là không thể vì IBM từ chối chia sẻ mã của System R. Oracle phát hành lần đầu là Oracle 2; không có Oracle 1. == Tham khảo ==
html5.txt
HTML5 là một ngôn ngữ cấu trúc và trình bày nội dung cho World Wide Web và sẽ là công nghệ cốt lõi của Internet trong tương lai không xa, được đề xuất đầu tiên bởi Opera Software. Đây là phiên bản thứ năm của ngôn ngữ HTML - được tạo ra năm 1990 và chuẩn hóa như HTML4 năm 1997 - và xuất hiện vào tháng 12 năm 2012, là 1 ứng viên được giới thiệu bởi World Wide Web Consortium (W3C). Mục tiêu cốt lõi khi thiết kế ngôn ngữ là cải thiện khả năng hỗ trợ cho đa phương tiện mới nhất trong khi vẫn giữ nó dễ dàng đọc được bởi con người và luôn hiểu được bởi các thiết bị và các chương trình máy tính như trình duyệt web, phân tích cú pháp, v.v... HTML5 vẫn sẽ giữ lại những đặc điểm cơ bản của HTML4 và bổ sung thêm các đặc tả nổi trội của XHTML, DOM cấp 2, đặc biệt là JavaScript. Là phiên bản tiếp sau của HTML 4.01 và XHTML 1.1, HTML5 phản ánh thực tế rằng HTML và XHTML được sử dụng phổ biến trên World Wide Web là một hỗn hợp các tính năng với các thông số kĩ thuật khác nhau, được giới thiệu bởi nhiều nhà sản xuất phần mềm, cùng với các sản phẩm phần mềm được giới thiệu như trình duyệt web, những người thành lập phổ biến thực tế và có quá nhiều lỗi cú pháp trong các văn bản web. Đây là một nỗ lực để xác định một ngôn ngữ đánh dấu duy nhất có thể được viết bằng cú pháp HTML hoặc XHTML. Nó bao gồm các mô hình xử lý chi tiết để tăng tính tương thích, mở rộng, cải thiện và chuẩn hóa các đánh dấu có sẵn cho tài liệu, đưa ra các đánh đấu mới và giới thiệu giao diện lập trình ứng dụng (application programming interfaces API) để tạo ra các ứng dụng Web phức tạp. Cùng một lý do như vây, HTML5 là một ứng cử viên tiềm năng cho nền tảng ứng dụng di động. Nhiều tính năng của HTML5 được xây dựng với việc xem xét chúng có thể sử dụng được trên các thiết bị di động như điện thoại thông minh và máy tính bảng hay không. Trong tháng 12 năm 2011, công ty nghiên cứu Strategy Analytics dự báo doanh số bán hàng của điện thoại tương thích HTML5 sẽ đứng đầu 1 tỷ vào năm 2013. Đặc biệt, HTML5 có thêm nhiều tính năng cú pháp mới. Chúng bao gồm các thẻ mới như <video>, <audio> và các thành phần <canvas>, cũng như sự tích hợp của đồ họa vector có khả năng mở rộng (Scalable Vector Graphics) nội dung (thay thế việc sử dụng thẻ chung <object>) và MathML cho các công thức toán học. Những tính năng này được thiết kế để làm cho nó dễ dàng bao quát, xử lý đa phương tiện và nội dung đồ họa trên web mà không cần phải dùng đến quyền sở hữu bổ sung và APIs. Các yếu tố mới khác, chẳng hạn như <section>, <article>, <header> và <nav>, được thiết kế để làm phong phú thêm nội dung ngữ nghĩa của tài liệu. Thuộc tính mới đã được giới thiệu với mục đích tương tự, trong khi một số yếu tố và các thuộc tính đã được loại bỏ. Một số yếu tố, chẳng hạn như <a>, <cite> và <menu> đã được thay đổi, xác định lại hoặc chuẩn hóa. APIs và Document Object Model (DOM) không phải suy nghĩ muộn hơn quá nhiều, nhưng là bộ phận cơ bản của đặc điểm kỹ thuật HTML5. HTML5 cũng xác định cụ thể một số các xử lý cần thiết cho các tài liệu không hợp lệ để các lỗi cú pháp sẽ được xử lý thống nhất của tất cả các trình duyệt phù hợp và các tác nhân người dùng khác. == Tham khảo ==
lịch sử giáo dục nhật bản.txt
Lịch sử giáo dục Nhật Bản được bắt đầu từ khoảng thế kỉ thứ 6, khi mà chế độ giáo dục Trung Hoa được giới thiệu dưới triều đại Yamato. Những nền văn hoá du nhập từ các nước bạn thường mang lại ý tưởng cho người Nhật tự phát triển nền văn hoá độc đáo và riêng biệt của mình. == Thế kỷ thứ 6 và 15 == Nền giáo dục Trung Hoa ảnh hưởng vào Nhật Bản từ thế kỉ thứ 6 đến thế kỉ thứ 9. Cùng với sự du nhập của đạo Phật cho đến hệ thống chữ viết, nền văn học truyền thống, và đạo Khổng. Đến thế kỉ thứ 9, thủ đô Heian-kyo (nay là Kyoto) có được 5 cơ sở giáo dục cao cấp, và chúng được tồn tại cho đến thời kì Heian, ngoài ra cũng có những trường học khác được thành lập bởi hoàng tộc, hoặc các quý tộc, quan quyền. Trong suốt thời kỳ Trung Cổ (1185-1600), các Thiền viện đạo Phật của phái Zen đã trở thành trung tâm quan trọng dành cho việc học. Đến thế kỉ 15 các trường học của Ashikaga, Ashikaga Gakko thu hút được sự chú ý như là một trong những trung tâm cao học. Sự yêu cầu về một mức sống cao hơn và bùng nổ dân số đã gây ra những ảnh hưởng to lớn đối với nền kinh tế. == Thế kỷ 16 == Trong thế kỉ 16 và đầu thế kỉ 17, Nhật Bản phải trải qua một giai đoạn giao thoa với các nước Phương Tây hùng mạnh rất khắc nghiệt. Những người truyền đạo dòng Tên đến cùng với các nhà buôn Bồ Đào Nha, họ truyền bá Thiên Chúa giáo và lập rất nhiều trường học cho những con chiên ngoan đạo. Những học sinh Nhật Bản theo đó dần dần học tiếng Latin và âm nhạc cổ điển Tây phương]] thay cho tiếng mẹ đẻ truyền thống. Xem: Thời kỳ thương mại Nanban == Thời kỳ Edo == Vào những năm 1603, Nhật Bản được thống nhất lại dưới triều đại của Tokugawa (1600- 1867), và các học viện Nho giáo mới, Yuma Seido ở Edo là tổng trưởng điều hành cơ quan giáo dục của nhà nước. Đứng đầu cơ quan hành chính được gọi là Daigaku-no kami đóng vai trò là người đứng đầu của trường đào tạo quan chức cho Mạc Phủ Tokugawa. Đến năm 1640, những người nước ngoài bị quản lý rất nghiêm ngặt, Thiên chứa giáo bị cấm đoán, và hầu như các mối quan hệ với nước ngoài đều cắt đứt.Quốc gia lúc này đi vào thời kì ‘bế quan toả cảng’ và trong nước tương đối bình ổn. Cơ chế này tồn tại hơn 200 năm. Khi triều đại Tokugawa vừa bắt đầu, có rất ít người bình thường biết đọc và viết, nhưng sau đó việc học đã trở nên vô cùng phổ biến ở Nhật. Nền giáo dục của Tokugawa đã để lại một tài sản có vô cùng giá trị: một sự tăng trưởng về số lượng dân có học, một thế hệ nhân tài, và một sự nhấn mạnh đến việc bồi dưỡng năng lực, tinh thần và đạo đức. Dưới thời Minh Trị ngay kế đó, việc thành lập trường học càng trở nên dễ dàng hơn, Nhật Bản nhanh chóng thay đổi từ một nước phong kiến lạc hậu thành một quốc gia hiện đại. Một điều khiến cho người Châu Âu rất kinh ngạc khi đến với Nhật Bản cuối thời Edo chính là sự phát triển thịnh vượng của nền giáo dục. Ngoài ra tác phong công nghệ cũng được tìm thấy ở hầu hết người Nhật, vì dân chúng tin rằng đất nước này không thể tồn tại nếu không trải qua công cuộc cải cách kinh tế. Theo ước lượng cho thấy, tỉ lệ người biết chữ lên đến 80% với nam và nữ(trong những năm 60 và 70), và tỉ lệ này còn cao hơn với những thành phố lớn như Edo và Osaka. Trong suốt thời Tokugawa, vai trò của bushi hoặc Samurai, thay đổi từ những chiến binh thành người quản lý. Kết quả là việc giáo dục lễ nghi và tri thức tăng nhanh. Giáo trình dạy Samurai thiên về đạo đức và bao gồm cả việc học quân sự và văn hoá. Đạo Khổng truyền thống cung được ghi nhớ, nó được đọc và sử dụng như một phương pháp giáo dục phổ biến. Ngoài ra thì số học và thư pháp cũng được giảng dạy. Hầu hết Samurai tham gia vào các lớp học dưới sự bảo hộ quyền lực bởi các Han của họ, và khi bước sang công cuộc Minh Trị Duy Tân vào năm 1868, có hơn 200 của 276 lãnh địa đã thành lập trường học. Một vài Samurai và thậm chí là dân thường cũng tham gia vào các học viện tư nhân. Nơi này thường được những người dân Nhật đặc biệt lực chọn là y học Tây phương, khoa học quân sự hiện đại, chế tạo đại bác, hoặc là Hà Lan học (Rangaku) cũng như là Tây phương học. Nền giáo dục cho người dân thường được định hướng tập trung cung cấp những kiến thức nền tảng bao gồm: đọc, viết, số học, thư pháp và sử dụng bàn tính. Hầu hết nền giáo dục được quản lý bởi các trường chùa (terakoya), có nguồn gốc từ những trường của Phật giáo trước đây. Sự thành lập các trường này không chịu nhiều ảnh hưởng của tôn giáo hoặc bởi người thành lập. Đến năm 1867, hầu hết trường học được xây dựng ở chùa. Vào cuối thời Tokugawa đã có hơn 11 000 trường học với hơn 750 000 học sinh tham gia. Dụng cụ giảng dạy bao gồm đọc từ nhiều loại sách chính khác nhau, trí nhớ, bàn tính, nhửng bản sao chép chữ Trung Quốc, và hệ thống chữ viết Nhật Bản. == Thời kỳ Minh trị == Xem: Giáo dục thời Đế quốc Nhật Bản Sau năm 1868, nhà lãnh đạo mới của Nhật tổ chức những khoá học để hiện đại hóa đất nước. Bên cạnh đó là thành lập hệ thống giáo dục cộng đồng hòng giúp người Nhật với phương Tây và hình mẫu một quốc gia hiện đại. Có nhiều phái đoàn như phái đoàn Iwakura đã được gởi sang nước ngoài để học tập hệ thống giáo dục của những quốc gia hàng đầu Tây Âu. Rồi những người đó trở về với những ý tưởng phân cấp giáo dục, trường học địa phương và giáo viên tại chỗ. Những ý tưởng và tham vọng tuyệt vời bắt đầu được lên kế hoạch dẫu cho nó chứng tỏ để biến chúng trở thành hiện thực. Sau một vài thử nghiệm và thất bại, một hệ thống giáo dục quốc gia đã được ra đời. Một số liệu chứng minh cho sự thành công chính là trường sơ cấp đã đạt được con số kỉ lục về tỉ lệ người nhập học là từ 40 đến 50 phần trăm dân số trong độ tuổi đi học trong những năm 70 thế kỉ 19 lên đến hơn 90 phần trăm trong năm 1900, mặc cho một số chống đối của dư luận đặc biệt là về phần tiền học phí quá cao. Đến những năm 90 thế kỉ 19, sau những định kiến sâu sắc ban đầu với phương Tây mà nhất là với Mĩ, những ý tưởng giáo dục đã trở nên ôn hoà hơn và định hướng truyền thống cũng cởi mở hơn. Những giáo huấn của Khổng Tử cũng được chú tâm giáo dục, đặc biệt là về những mối quan hệ tự nhiên của con người, phục vụ cho chế đố mới, và hơn hết chính là đạo đức. Những ý tưởng đó đã được định hình vào năm 1890 trong Bản công bố Hoàng gia về Giáo dục, bên cạnh đó là sự quản lý trung tâm của chính phủ và nội các cấp cao, tất cả đã điều hành nền giáo dục cho đến cuối thế chiến thứ II. == Thế kỷ 20 trước chiến tranh == Trong những năm đầu của thế kỉ 20, giáo dục cấp tiểu học đã quá phổ biến và gần như bao quát được toàn bộ dân số, nhưng những cấp cao hơn thì dường như quá thiếu, chậm phát triển, và đòi hỏi quá cao. Giáo dục Cao đẳng đã bị giới hạn vì số lượng trường đại học công lập quá ít trong khi điều này lại rất mạnh ở Đức. Ba trường đại học công lập cũng nhận nữ sinh, và cũng có một số lượng sinh viên nữ nhất định và một vài trong số đó đã thành danh, nhưng hầu hết phụ nữ lại ít có cơ hội được học lên cao. Trong suốt thời gian này, một số trường đại học được thành lập bời những người truyền đạo Thiên chúa và họ cũng đóng một vài trò không thể thiếu trong việc mở rộng cơ hội học tập cho phụ nữ, đặc biệt là ở cấp trung học. Sau năm 1919 nhiều trường tư thục đã nhận chứng chỉ quốc gia và chính phủ công nhận bằng tốt nghiệm cũng như chương trình giảng dạy của họ. Trong những năm 1920, trong một thời gian ngắn nền giáo dục tự do truyền thống đã xuất hiện trở lại đặc biệt là ở cấp mầm non, nơi mà phương pháp dạy trẻ của Montessori (một nhà giáo dục người Ý) được theo đuổi. Trong những năm 1930, giáo dục đã là một phần quan trọng và bị ảnh hưởng mạnh trong lĩnh vực quân sự, chủ nghĩa dân tộc và sự quản lý quốc gia, dưới sự lãnh đạo của Sadao Araki. == Thời kỳ chiếm đóng == Xem: Cải cách Giáo dục thời kỳ Nhật Bản bị chiếm đóng Những năm 1945 hệ thống giáo dục của Nhật đã bị tàn phá, và với ý nghĩa của người thất trận. Một làn sóng tư tưởng mới đã được du nhập vào Nhật Bản trong suốt thời kì hậu chiến và bị chiếm đóng quân sự. Sự ảnh hưởng của quản lý chính trị và sự chiếm đóng quân sự của Mĩ đã làm thay đổi của giáo dục dân chủ: trường với cấu trúc 6 – 3 – 3 (sáu năm tiểu học, ba năm trung học cơ sở, ba năm trung học phổ thông), và kéo theo đó là trường giáo dục bắt buộc hệ 9 năm. họ thay thế hệ thống trường Cao trung thành bao hàm của trường Trung học. Chương trình giảng dạy và sách giáo khoa cũng được kiểm duyệt và sửa chữa lại, chương trình đạo đức đã được thay bằng giáo dục cộng đồng, trường nội trú địa phương cũng được giới thiệu với những giáo viên liên hợp. Với sự bãi bỏ của hệ thống giáo dục cấp cao và tăng nhanh của những trường trung học, cơ hội cho việc học lên đã tăng nhanh. Việc mở rộng đã hoàn thành những bước đầu bằng việc tốt nghiệp ở những trường đại học, cao đẳng hướng nghiệp và một số học viện công nghệ, trường thường và trung học cao cấp. == Thời kỳ hậu chiếm đóng == Sau khi hoàn trả toàn bộ chủ quyền quốc gia vào năm 1952, nước Nhật ngay lập tức bắt đầu xoa dịu những thay đổi về giáo dục, nhằm phản chiếu ý tưởng của mình về cách dạy và cách quản lý giáo dục. Bộ Giáo dục thời hậu chiến đã giành lại rất nhiều quyền lực. Trường học được sàng lọc lại. Một khoá học đạo đức theo khuôn mẫu truyền thống được tổ chức mặc cho một vài sự phản đối, nó đã đem lại sự hồi phụ lòng tự trọng dân tộc của mỗi người dân trên đất nước mặt trời mọc này. Vào thời kì hậu chiến 1960 là giai đoạn nước Nhật phát triển thần kì mang lại sự đòi hỏi sự mở rộng của nền cao học. Không chỉ vậy, thêm vào là sự trông đợi phát triển chất lượng phải được cải thiện nhưng vì vậy mà học phí cũng leo thang. Phổ biến là trong những năm 1960 là thời kì khủng hoảng giáo dục ở cấp cao. Đặc biệt là cuối thập kỉ đó, những trường đại học ở Nhật đã bị tấn công bởi những sinh viên bạo động khiến nhiều khu vực trong khuôn viên bị tàn phá nghiêm trọng. Sự lo lắng từ phía khuôn viên trường bị tác động bởi nhiều nhân tố, bao gồm cả làn sóng chống đối cuộc chiến tranh Việt Nam ở Nhật, tư tưởng khác nhau giữa những nhóm học sinh, những cuộc tranh luận về thành quả giáo dục cũng như là phương thức giáo dục, bạo lực học đường, và đôi khi là những xung đột thông thường ngay trong chính bản thân của hệ thống trường đại học. Phản ứng của chính phủ với Luật Quản lý Trường Đại Học trong năm 1969 và trong đầu những năm 70 thế kỉ 20, với hy vọng cải cách lại nền giáo dục. bộ luật mới cũng quản lý sự thành lập trường mới, lương giáo viên, và chương trình giảng dạy ở trường công lập của bị kiểm duyệt lại. Sự thành lập của những trường tư thục cũng bắt đầu nhận được sự giúp đỡ của cộng đồng, và kì thi tham dự vào đại học được tổ chức theo mức chuẩn phổ biến trên toàn quốc (kì thi quốc gia). Trong suốt thời kì này, sự mâu thuẫn giữa chính phủ và hội nhà giáo cũng trở nên mạnh mẽ. Mặc cho những thay đổi to lớn, toàn diện của giáo dục từ năm 1868 và đặc biệt là từ 1945, hệ thống giáo dục vẫn phản chiếu một chuẩn mực truyền thống lâu dài và tư tưởng triết học rằng: việc học và giáo dục là đáng quý và cần được theo đuổi một cách nghiêm túc, trong đó một nền giáo dục toàn diện cần phát triển đạo đức và nhân cách cho con người. Nhửng di sản từ thế hệ nhân tài của thời Minh Trị đã được sử dụng như là kết cấu tring tâm của nền giáo dục. Điều thú vị là người Nhật đã kết hợp mềm dẻo giữa tư tưởng hiện đại và phương pháp giảng dạy truyền thống trong việc cải tạo và phát triển lại hệ thống đương thời. == Những năm 80 của thế kỷ 20 == Mặc cho những thành công đáng ngưỡng mộ của hệ thống giáo dục từ thế chiến thứ II, những vấn đề vẫn tồn tại và ảnh hưởng cho đến những năm 80. Một vài sự khó khăn được nhận thấy bởi nyhững người quản lý trong và ngoài nước bao gồm tính thiếu mềm dẻo, sự đồng đều thái quá, thiếu sự lực chọn, ảnh hưởng quá mức của kì thi đại học quốc gia (nyugaku shiken 入学試験), và hơn hết là bệnh thành tích trong giáo dục. Cũng có lòng tin rằng giáo dục phải có trách nhiệm đối với vấn đề cộng đồng, và vấn đề thiếu thực tế, hành vi, sự ôn hoà của một vài học sinh. Đáng lo nhất chính là giáo dục Nhật Bản phải có đáp ứng cho những nhu cầu xã hội do thách thức thay đổi của thế giới trong thế kỉ 21. Năng động, sáng tạo, hoà đồng, quốc tế hoá (kokusaika 国際化), cá tính, sự đa dạng hóa thậm chí đã trở thành khẩu hiệu quan trọng trong cuộc cải cách giáo dục toàn diện trong những năm 80, mặc dù chuỗi chủ đề đã gây được tiếng vang từ những năm 70. Sự đề suất và tiềm năng thay đổi của Nhật Bản trong những năm 80 đã mang một ý nghĩa to lớn và được so sánh với việc mở cửa cho người Tây phương vào thế kỉ 19. Những sự lo ngại về cải cách giáo dục đạ được tìm thấy trong chuỗi báo cáo được công bố từ 1985 đến 1987 bởi Hội đồng Cải cách Giáo dục Quốc gia (được thành lập bởi thủ tướng chính phủ Yasuhiro Nakasone). Điểm chính trong những bản báo cáo cuối cùng trong phản ứng với quốc tế hoá giáo dục, công nghệ thông tin mới, phương tiện truyền thông, và tầm quan trọng của cá tính, việc học lâu dài, khả năng điểu chỉnh với sự thay đổi của xã hội. Để tìm ra hướng mới cho việc này, hội đồng đề nghị có 8 môn cụ thể gồm: Thiết kế giáo dục cho thế kỉ 21; tổ chức một hệ thống cho việc học suốt đời và giảm sự lo lắng trên phông nền riêng biệt của giáo dục; cải thiện và đa dạng hoá giáo dục cao cấp; nâng cao chất lượng và đa dạng hoá giáo dục tiểu học và trung học; nâng cao chất lượng của đội ngũ giảng dạy; thích ứng với sự quốc tế hoá; thích ứng với thời đại thông tin; và xem lại cấu trúc giáo dục và tài chính và quản lý. Những phần này phản chiếu sự cái cách của cả giáo dục và xã hội, trong cái nhìn gắn giáo dục với cộng đồng. Thậm chí vì sự tranh cãi về vấn đề cải cách diễn ra, chính phủ nhanh chóng thay đổi công cụ trong hầu hết 8 mặt. Sự cải cách này vẫn đang được tiếp tục, và thậm chí hầu hết đã quên đi những việc được làm trong những năm 80, bao gồm cả những sự thay đổi còn dấu ấn cho đến ngày nay. == Nền giáo dục dành cho nữ == Lịch sử của nền giáo dục dành cho nữ thường bị giới hạn bởi sự đè nén của tôn giáo và dư luận, nó trở thành một hậu của to lớn ở thời Heian hơn một ngàn năm trước. Nhưng thời Chiến Quốc (Sengoku) cuối cùng đã chứng tỏ rằng người phụ nữ cần được giáo dục đầy đủ bởi vì học phải là người bảo vệ đất nước khi người chồng chết đi. Nó cũng nói lên rằng đạo Phật và thần đạo Nhật Bản đã không tìm hiểu và đối xử với những người phụ nữ một cách công bằng. "Câu chuyện của Genji" đã được viết bởi một người phụ nữ được giáo dục cẩn thận từ thời Heian. Nó đã nói lên khát vọng, niền tin vào một ngày mai tươi sáng của những người phụ nữ trong suốt những quảng đường lịch sử của Nhật Bản. == Xem thêm == Hà Lan học Trường học của Han (trường học do daimyo quản lý) Đại học Đế quốc Bản công bố Hoàng gia về Giáo dục Thuê mướn chuyên gia nước ngoài thời Minh Trị Cuộc tranh luận về sách giáo khoa lịch sử Nhật Bản == Chú thích == == Tham khảo == R.H.P Mason & J.G.Caiger (1997). Lịch sử Nhật Bản; Nhà xuất bản Lao động, người dịch: Nguyễn Văn Sỹ. De Bary, William Theodore, Carol Gluck, Arthur E. Tiedemann. (2005). Sources of Japanese Tradition, Vol. 2. New York: Columbia University Press. 10-ISBN 023112984X/13-ISBN 9780231129848; OCLC 255020415 Kelly, Boyd. (1999). Encyclopedia of Historians and Historical Writing, Vol. 1. London: Taylor & Francis. 10-ISBN 1-884-96433-8/13-ISBN 978-1-884-96433-6
james i của anh.txt
James VI và I (19 tháng 6 năm 1566 – 27 tháng 3 năm 1625) là vua Scotland với vương hiệu là James VI, và là vua Anh và vua Ireland với vương hiệu là James I. Ông trị vì ở Scotland với vương hiệu James VI từ ngày 24 tháng 7 năm 1567, khi ông mới một tuổi và kế vị mẹ của mình là Mary, Nữ hoàng Scot. Các người nhiếp chính đã cai quản khi ông còn nhỏ và chỉ chính thức chấm dứt năm 1578, dù ông không có đầy đủ quyền kiểm soát triều chính cho đến năm 1581. Ngày 24 tháng 3 năm 1603, với vương hiệu là James I, ông đã kế vị quốc vương nhà Tudor cuối cùng của Anh và Ireland, Elizabeth I, khi Elizabeth I băng hà mà không có người nối dõi. Sau đó ông trị vì Anh, Scotland và Ireland trong 22 năm, cho đến khi ông băng hà ở tuổi 58. James giành được phần lớn mục tiêu của ông ở Scotland nhưng lại phải đối mặt với nhiều khó khăn lớn ở Anh, bao gồm cả vụ âm mưu thuốc súng năm 1605 và các xung đột liên tục với Nghị viện Anh. == Thời thơ ấu == === Chào đời và lên ngôi === James là con trai duy nhất của nữ hoàng Mary Stuart với người chồng thứ hai, Henry Stuart, Huân tước Darnley. Cả Mary và Darnley đều là chắt của Henry VII của Anh thông qua Margaret Tudor, con gái Hẻny VII, chị gái của Henry VIII. Địa vị của nữ hoàng Mary ở Scotland không vững chắc; cả bà và chồng bà, là người Công giáo Roma, phải đối mặt với một cuộc nổi loạn của giới quý tộc Kháng Cách. Trong hôn nhân nhiều trắc trở của Mary và Darnley. Darnley ngấm ngầm liên minh với lực lượng phiến quân và âm mưu giết người của thư ký của Nữ hoàng, David Rizzio, chỉ ba tháng trước khi James chào đời. James sinh ra vào ngày 19 tháng 6, 1566 tại Lâu đài Edinburgh, Với thân phận con trai cả và người thừa kế của nữ hoàng, James ngay lập tức được phong làm Công tước Rothesay và Hoàng tử và Great Steward của Scotland. Ông được rửa tội "Charles James" vào ngày 17 tháng 12, năm 1566 trong một buổi lễ Công giáo tổ chức tại lâu đài Stirling. Cha mẹ đỡ đầu của ông là Charles IX của Pháp (đại diện bởi John, bá tước của Brienne), Elizabeth I của Anh (đại diện bởi Bá tước Bedford), và Emmanuel Philibert, Công tước xứ Savoy (đại diện bởi đại sứ Philibert du Croc (As the Earl of Bedford was a Protestant, his place in the ceremony was taken by Jean, Countess of Argyll Willson 1963, tr. 17). Mary từ chối để cho Tổng Giám mục của St Andrews, người mà bà gọi là "một linh mục có thẹo", nhổ vào miệng của trẻ, như sau đó bà đã đổi ý. Phụ thân của James, Darnley, đã bị ám sát vào ngày 10 Tháng 2, năm 1567 tại Kirk o 'Field, Edinburgh, có lẽ để trả thù cho cái chết của Rizzio. James thừa kế danh hiệu của cha ông là Công tước xứ Albany và Bá tước của Ross. Mary là đã không được lòng dân, và cuộc hôn nhân của mình vào ngày 15 tháng 5 năm 1567 với James Hepburn, Bá tước thứ tư của Bothwell, người bị tình nghi là giết Darnley, càng làm giảm sút uy tín của hoàng. Tháng 6 năm 1567, quân Kháng Cách bắt giữ nữ hoàng và giam cầm bà ở Lâu đài Loch Leven; bà không bao giờ nhìn thấy con trai mình một lần nữa, sau đó bị buộc phải thoái vị vào ngày 24 Tháng 7 năm 1567; nhường ngôi cho cậu bé James mới một tuổi và quyền nhiếp chính nằm trong tay anh trai khác mẹ của bà, James Stewart, Bá tước của Moray. === Chế độ nhiếp chính === James được chăm sóc bởi John Erskine, Bá tước của Mar và phu nhân ông này trong lâu đài Stirling. James chính thức lên ngôi vua Scotland khi mới 13 tháng tuổi tại Nhà thờ hoàng gia bởi Adam Bothwell, giám mục Orkney, vào ngày 29 tháng 7, 1567. Phù hợp với các đức tin của phần lớn người cầm quyền tại Scotland, James được nuôi dưỡng trong đức tin Kháng Cách. Hội đồng Cơ mật chọn George Buchanan, Peter Young, Adam Erskine (cha xứ Cambuskenneth), và David Erskine (cha xứ Dryburgh) như James của chúng sanh thân hoặc gia sư. Thầy giáo của nhà vua khi trẻ, Buchanan bị James đánh đập thường xuyên nhưng cũng truyền cho ông niềm đam mê cho văn học và nghệ thuật. Buchanan tìm cách biến James thành một người tin cẩn đức tin Thiên Chúa, vua Tin Lành, người chấp nhận những hạn chế của chế độ quân chủ, như được nêu trong cuốn chuyên luận De Jure Regni apud Scotos. Năm 1568, Mary trốn thoát khỏi Lâu đài Loch Leven, dẫn đến nhiều năm xung đột lẻ tẻ. Bá tước của Moray đánh bại quân của Mary tại trận Langside, buộc bà phải chạy trốn sang Anh, nơi cô sau đó đã bị cầm tù bởi nữ vương Elizabeth. Ngày 23 Tháng 1 năm 1570, Moray đã bị ám sát bởi James Hamilton của Bothwellhaugh. Các nhiếp chính tiếp theo cho James gồm Matthew Stewart, Bá tước thứ tư của Lennox, người một năm sau đó đã bị trọng thương bởi cuộc tấn công vào lâu đài Stirling thực hiện bởi những người ủng hộ của Mary. Người kế nhiệm ông, bá tước Mar, "mắc một bệnh kịch liệt", và qua đời vào ngày 28 tháng 10 năm 1572 tại Stirling. Bệnh của Mar,theo viết James Melville, bắt đầu từ sau một bữa tiệc tại Dalkeith Palace do James Douglas, Bá tước thứ tư của Morton tổ chức. Morton, người nhiếp chính tiếp theo, đã chứng tỏ mình là người nhiếp chính có hiệu quả nhất trong suốt triều đại James VI, nhưng lại là một người quá tham lam. Ông ta mất đi sự ủng hộ khi một người đến từ Pháp là Esme Stewart, Công tước thứ nhất của Lennox, chú họ của nhà vua đến Scotland và nhanh chóng nhận được sự tín nhiệm của nhà vua. Ngày 2 tháng 6 năm 1581, Morton bị hành quyết vì bị buộc tội đồng lõa cho cái chết của phụ thân nhà vua. Ngày 8 tháng 8, James chỉ định Lennox là công tước duy nhất ở Scotland. Lúc bấy giờ, cậu bé James 15 tuổi vẫn chưa thể chấp chính và phải dựa vào Lennox thêm một năm nữa. == Trị vì ở Scotland == Mặc dù là một người cải đạo Tin Lành, nhưng Lennox không nhận được sự ủng hộ từ người Scotland là Calvinists, người nghi về mối quan hệ xác thịt của nhà vua với Lennox. Tháng 8 năm 1582, Raid Ruthven, một bá tước có tư tưởng phản kháng đã lừa James vào lâu đài Ruthven và giam lỏng ông trong một năm, sau đó buộc Lennox phải rời khỏi Scotland. Mãi đến tháng 6 năm 1583, James mới được tự do, và từ đó ông có thể đích thân chấp chính. Ông thực hiện "Hành động đen" để củng cố vương quyền tuyệt đối của mình, qua các nhà thờ và lên án các tác phẩm của người thầy cũ của ông, Buchannan. Trong khoảng thời gian 1584 - 1603, dưới sự cai trị của James, nền chính trị tương đối ổn định và không có sự tranh chấp đáng kể nào trong tầng lớp quý tộc; sự thành công này có sự đóng góp lớn của John Maitland của Thirlestane, người lãnh đạo Nghị viện cho đến năm 1592. Một nhóm tám quan đại thần, thường được gọi là Octavians, đã đem lại một số quyền kiểm soát tình trạng đổ nát tài chính của James trong năm 1596, nhưng nó đã thu hút sự phản đối từ nhóm quý tộc cũ. Nhóm này bị giải tán một năm sau vụ bạo động ở Edinburgh được tổ chức bởi những người công giáo, khiến cho triều đình Scots phải rời khỏi Linlithgow trong một thời gian. Sự kiện chống đối cuối cùng nhằm vào nhà vua ở Scotland diễn ra vào tháng 8 năm 1600, khi James bị mưu sát bởi Alexander Ruthven, em trai của John Ruthven, Bá tước thứ ba Gowrie, tại Gowrie House, là nơi ở của Ruthvens. Sau một cuộc ẩu đả, Ruthven chạy thoát nhờ sự trợ giúp của một cận vệ nhà vua, trong khi bá tước bị thiệt mạng; và chỉ có một vài người sống sót để làm nhân chứng. Một số tài liệu lịch sử cho rằng, James đã nợ nhà Ruthven một khoản nợ lớn, nhưng quyển lịch sử về thời đại của James phủ nhận việc này. Năm 1586, nhà vua ký với nước Anh hiệp ước Berwich. Vào năm 1587, mẫu thân của ông, Nữ hoàng Mary đã bị hành quyết tại nước Anh, điều mà James xem như là "một thủ tục phi lý và kì lạ giúp dọn đường cho sự kế nhiệm của ông tại đất nước phía nam biên giới". Nữ hoàng Elizabeth không lập gia đình và sinh con, vì thế James là người đứng đầu trong danh sách kế vị tại Anh. Một trong những chính sách của ông là lập quan hệ ngoại giao tốt với nước Anh để đảm bảo cho sự kế vị của mình về sau. Trong cuộc tấn công của hạm đội Tây Ban Nha vào nước Anh năm 1588, ông trả lời với nữ hoàng Anh rằng ông là:"con trai tự nhiên của bà và đồng minh thân cận của nước bà". === Hôn nhân === Trong thời trẻ, James đã được ca ngợi về đức tính thanh tịnh, vì ông đã ít quan tâm đến phụ nữ. Sau khi mất Lennox, ông vẫn tiếp tục gần gũi với nhiều người đàn ông khác. Tuy nhiên chỉ có hôn nhân mới có thể để củng cố chế độ quân chủ và cai trị của dòng họ Stuart. Cuối cùng, ông quyết định kết hôn với công chúa 14 tuổi, Anne của Đan Mạch, con gái Tuyển hầu tước Frederick II. Một thời gian ngắn sau khi một lễ đính hôn diễn ra tại Copenhagen vào tháng 8 năm 1589, Anne lên đường đi Scotland nhưng gặp bão to khi đến bờ biển của Na Uy. Khi được tin, James, trong những gì Willson gọi là "một tập phim lãng mạn của cuộc đời ông", khởi hành từ Leith với một đoàn tùy tùng ba trăm người để giải cứu cho Anne. Hai người chính kết hôn chính thức tại Cung điện Bishop ở Oslo vào ngày 23 tháng 11. Và sau thời gian lưu trú tại Elsinore và Copenhagen, nhà vua và hoàng hậu trở về Scotland vào ngày 1 tháng năm 1590. Theo tất cả các nguồn thông tin, ban đầu tình yêu của James dành cho vợ rất nồng thắm, trong những năm đầu sau hôn nhân, Anne luôn tỏ ra kiên nhẫn và rất tình cảm. Họ có với nhau ba người con sống tới tuổi trưởng thành: Henry Frederick, Hoàng tử xứ Wales, chết vì sốt thương hàn vào năm 1612, ở tuổi 18; Elizabeth, sau là hoàng hậu Bohemia; và Charles, người về sau thừa kế ngai vàng. Anne qua đời vào năm 1619, trước James 7 năm. === Săn lùng phù thủy === Trong một chuyến viếng thăm của James tới Đan Mạch, một quốc gia có tục lệ săn phù thủy, ông cũng đã bị thu hút bởi tục lệ này và xem nó như một phần của thần học. Trở về Scotland, ông tham dự vào cuộc xét xử phù thủy ở Bắc Berwich, sự kiện khủng bố lớn đầu tiên nhằm vào những người bị coi là phù thủy kể từ khi Đạo luật Phù thủy được thông qua năm 1563. Nhiều người, trong đó nổi bật là Agnes Sampson, đã bị buộc tội dùng ma thuật tạo bão tấn công vào tàu của nhà vua. Vua James trở nên ám ảnh với các mối đe dọa của phù thủy sau sự kiện này. Năm 1597, ông cho ra đời quyển Daemonologie nhằm phản đối việc học phép phù thủy. Thậm chí ông còn nhiều lần đích thân giám sát việc tra tấn những người phụ nữ bị xem là phù thủy. Từ sau năm 1599, mối hoài nghi của ông về phù thủy càng trở nên lớn hơn. Trong một bức thư sau này được viết ở Anh cho Hoàng tử Henry, James chúc mừng con mình về "sự phát hiện những người con gái giả của Henry và cầu nguyện Đức Chúa Trời để cho hoàng tử của trẫm có thể tiếp tục có những khám phá như thế... hầu hết các phép lạ bây giờ một ngày chứng minh nhưng ảo tưởng, và các ngươi có thể nhìn thấy bằng cách này cách cảnh giác nên tin tưởng vào những lời buộc tội ". === Tình hình cao nguyên và hải đảo === === Học thuyết về nền quân chủ === Khoảng năm 1597 - 1598, James cho ra đời tác phẩm The True Law of Free Monarchies và Basilikon Doron (hay quà tặng hoàng gia), trong đó ông lập luận cơ sở thần học cho chế độ quân chủ. Trong The True Law of Free Monarchies, ông đặt ra những quyền lợi thiêng liêng chỉ dành cho những vị vua, giải thích rằng vì lý do Kinh Thánh vua là những sinh vật tối cao hơn với những người bình thường khác, và hiển nhiên có đặc quyền được ngồi ở vị trí cao nhất". Tác phẩm này nêu lên một ý tưởng về nền quân chủ tuyệt đối, mà một vị vua có thể áp đặt luật pháp lên thần dân nhờ vào đặc quyền hoàng gia nhưng cũng phải tôn trọng truyền thống và Thiên Chúa, người sẽ "giáng tai họa như xuống để trừng phạt của các vị vua độc ác". Basilikon Doron, viết một cuốn sách hướng dẫn cho hoàng tử Henry bốn tuổi, cung cấp các kiến thức về vương quyền. Tác phẩm được viết bằng văn bản và là tác phẩm tiêu biểu trong cuộc đời của nhà vua. Bàn về quốc hội, mà ông hiểu là chỉ đơn thuần là "cung điện phía trước" của nhà vua, báo trước những khó khăn của mình với dân Anh:. "Không cần có Quốc hội,". Trong tác phẩm nhà vua cho rằng quyền sở hữu vương quốc của ông là một lãnh chúa phong kiến sở hữu lãnh địa của mình, bởi vì vua đã có"trước khi quốc hội thành lập hoặc hàng ngũ của những người đàn ông, trước khi bất kỳ quốc hội là Holden, hoặc pháp luật được thực hiện, và bởi chúng được đất phân tán, mà lúc đầu tiên đã hoàn toàn của họ. Và do đó, nó cần thiết sau đó vua là các tác giả và các nhà hoạch định của pháp luật, và không phải là luật pháp của các vị vua. === Bảo trợ nghệ thuật === Trong những năm 1580 - 1590, James ban hành nhiều chính sách để phát triển văn học trên đất nước của ông. Luận thuyết của ông, Some Rules and Cautions to be Observed and Eschewed in Scottish Prosody, xuất bản năm 1584 khi ông 18 tuổi, được đánh giá vừa thơ mộng và vừa mô tả truyền thống thơ bằng tiếng mẹ đẻ của mình, Scotland, áp dụng nguyên tắc Renaissance. Ông cũng đã ban hành luật định để cải cách và thúc đẩy việc giảng dạy âm nhạc. Ông vừa là người bảo trợ và người đứng đầu của vòng tròn lỏng lẻo của Scotland, thơ văn và âm nhạc Jacobean. Các nhạc sĩ, trong đó bao gồm William Fowler và Alexander Montgomerie, sau này là được đồn là những người tình đồng giới của nhà vua. James, cũng là một nhà thơ, đã vui mừng khi được nhìn nhận như là một thành viên trong nhóm. Vào cuối thập kỷ 1590, cuộc đấu tranh của ông nhằm giữ gìn truyền thống Scotland là một số mức độ khuếch tán của các khách hàng tiềm năng ngày càng dự kiến thừa kế ngai vàng Anh, [60] và một số nhà thơ cận thần đã theo vua đến London sau năm 1603, như William Alexander, đã bắt đầu anglicise viết của mình ngôn ngữ. [61] vai trò đặc trưng của James là người tham gia văn học đang hoạt động và bảo trợ tại tòa án Scotland khiến anh trong nhiều khía cạnh một con số xác định cho thi ca Anh Renaissance và phim truyền hình, trong đó có thể đạt tới đỉnh cao về thành tích trong triều đại của ông, [62] nhưng bảo trợ của ông cho phong độ cao trong truyền thống của riêng mình Scotland, một truyền thống bao gồm tổ tiên ông James I của Scotland, phần lớn trở nên ngồi ngoài. [63] == Kế vị ở Anh == == Đăng quang ở nước Anh == Elizabeth I là hậu duệ cuối cùng của Henry VIII, và James được coi là người thích hợp nhất để kế vị ngai vàng Anh thông qua bà cố của ông, Margaret Tudor, con gái lớn của Henry VII. Từ 1601, và những năm cuối thời Elizabeth I, một số chính trị gia, đặc biệt là quan tể tướng Sir Robert Cecil—duy trì mối liên hệ bí mật với James để chuẩn bị trước cho sự kế vị diễn ra suôn sẻ. Cecil gửi đến James một dự thảo tuyên thệ đăng quang ngai vàng Anh vào tháng 3 năm 1603, với việc Nữ hoàng chắc chắn sẽ chết. Elizabeth chết vào sáng sớm ngày 24 tháng 3, và James được tuyên bố là vua ở London ngay trong ngày hôm đó. Ngày 5 tháng 4, James rời Edinburgh đến London, hứa rằng sẽ trở về sau mỗi ba năm (lời hứa này không được ông thực hiện đúng), và tiến bước một cách chậm chạp về phía nam. Các lãnh chúa địa phương tiếp đón ông với lòng mến khách đến lãng phí dọc theo lộ trình của James và ông rất ngạc nhiên với sự giàu có của vùng đất và thần dân mới của ông. James nói rằng ông 'đổi một chiếc ghế đá với một chiếc giường lông đẹp đẽ'. Tại nhà của Cecil, Theobalds, Hertfordshire, James rất kinh ngạc rằng ông đã mua nó ở đó và sau đó, đến thủ đô sau lễ tang của Elizabeth. Những thần dân mới đổ xô đến gặp mặt ông, cảm thấy nhẹ nhõm rằng sự thừa kế diễn ra suôn sẻ không kích hoạt tình trạng xung đột hay cuộc xâm lược. Khi ông bước vào thành London ngày 7 tháng 5, ông được chào đời bởi một đám đông người xem. Lễ đăng quang của ông ở Anh diễn ra ngày 25 tháng 7, with elaborate allegories provided by dramatic poets such as Thomas Dekker và Ben Jonson. An outbreak of plague restricted festivities, but "the streets seemed paved with men," wrote Dekker. "Stalls instead of rich wares were set out with children, open casements filled up with women." The kingdom to which James succeeded was, however, not without its problems. Monopolies and taxation had engendered a widespread sense of grievance, and the costs of war in Ireland had become a heavy burden on the government. By the time of his succession, England had incurred a debt of £400,000. === Thời kì đầu cai trị ở Anh === === Âm mưu thuốc súng === === Xung đột với nghị viện === === Quan hệ với Tây Ban Nha === === Chính sách tôn giáo === == Sở thích == == Cuối đời == == Di sản == == Danh hiệu và huy hiệu == === Danh hiệu === Ở Scotland, James được xưng tụng là "James đệ lục, nhà vua của Scotland" cho đến năm 1604. Khi đến Anh, ông tự xưng là "James đệ nhất, vua của Anh, Pháp, Ireland, Người bảo vệ Đức tin vào ngày 24 tháng 3 năm 1603. Ngày 20 tháng 10 năm 1604, James tuyên bố danh hiệu tại Westminsterlaf "vua của Vương quốc Anh, Pháp và Ireland, người bảo vệ Đức tin, vv". Những danh hiệu này không được sử dụng trong các đạo luật tại Anh, nhưng được sử dụng trên những tuyên ngôn, tiền đúc, chữ cái, các hiệp ước, và ở Scotland. Cũng như các quốc vương khác của Anh từ 1340 đến 1800, James tự xưng là Vua của Pháp mặc dù ông không thực sự cai trị nước Pháp. === Huy hiệu === Với tư cách nhà vua Scotland, James có huy hiệu hoàng gia hoặc là một con sư tử Gules và Azure với cặp ngọn cây. Trên huy hiệu còn cs hai con ngựa một sừng Argent, crined và unguled Proper, gorged with a coronet Or composed of crosses patée and fleurs de lys a chain affixed thereto passing between the forelegs and reflexed over the back also Or. The crest was a lion sejant affrontée Gules, imperially crowned Or, holding in the dexter paw a sword and in the sinister paw a sceptre both erect and Proper. Liên minh giữa Anh và Scotland dưới quyền James được biểu thị bằng cách kết hợp hai huy hiệu hai quốc gia. Các vũ khí sử dụng ở Scotland là: Định kỳ hàng quý 1 và 4 Scotland, Anh và Pháp quý II, III; Ireland, Scotland được ưu tiên hơn Anh. Ngoài ra còn có: Dexter một con kỳ lân của Scotland triều đình đăng quang, hỗ trợ một lance nghiêng bay một banner Azure một saltire Argent (Cross of Saint Andrew) và nham hiểm của sư tử vương miện của Anh hỗ trợ một lance tương tự bay một banner Argent một Gules chéo (Cross of Saint George). Đỉnh Scotland và phương châm đã được giữ lại, sau khi thực hành Scotland phương châm Trong defens (mà là viết tắt In My Defens Thiên Chúa Me Defend) được đặt ở trên đỉnh. Huy hiệu được sử dụng ở liên hiệp: hoa hồng Tudor, cây kế (cho Scotland, sử dụng lần đầu từ thời vua James III). Hoa hồng Tudor bị cắt đôi cùng với cây kế và vương miện hoàng gia, một cây đàn hạc cho Ireland và fleur de lys (cho Pháp). == Hậu duệ == Xem thêm thông tin: Descendants of James I of England Hoàng hậu của James, Anne của Đan Mạch, hạ sinh 7 người con còn sống sót khi chào đời, trong đó có 3 người sống tới tuổi trưởng thành: Henry, Hoàng tử Wales (19 tháng 2 1594 – 6 tháng 11 1612). Chết do sốt thương hàn ở tuổi 18. Elizabeth (19 tháng 8, 1596 – 13 tháng 2, 1662). Thành hôn với, Frederick V, Hầu tước Palatine. Chết ở tuổi 65. Margaret (24 tháng 12 1598 – Tháng 3 1600). Chết khi vừa 1 tuổi. Charles I (19 tháng 11 năm 1600 – 30 tháng 1 năm 1649). Thành hôn năm 1625, với Henrietta Maria. Kế vị James I, bị giết trong cách mạng vào năm 1649; Robert, Công tước Kintyre (18 tháng 2 1602 – 27 tháng 5 1602). Chết chỉ sau 4 tháng. Mary (8 tháng 4, 1605 – 16 tháng 12, 1607). Chết khi mới 2 tuổi. Sophia (6, 1607). Chết 48 giờ sau khi sinh. == Tổ tiên == == Phả hệ == == Danh sách nguồn == The Essayes of a Prentise in the Divine Art of Poesie, (also called Some Reulis and Cautelis), 1584 His Majesties Poeticall Exercises at Vacant Houres, 1591 Lepanto, poem Daemonologie, 1597Newes from Scotland, 1591 The True Law of Free Monarchies, 1598 Basilikon Doron, 1599 A Counterblaste to Tobacco, 1604 An Apologie for the Oath of Allegiance, 1608 A Premonition to All Most Mightie Monarches, 1609 == Xem thêm == Charles I của Anh Mary Stuart Henry Stuart Anne của Đan Mạch == Liên kết ngoài == Phương tiện liên quan tới James I of England tại Wikimedia Commons Trích dẫn liên quan tới James I of England tại Wikiquote Các tác phẩm của James I của Anh tại Dự án Gutenberg Các tác phẩm của hoặc nói về James I của Anh tại Internet Archive Tác phẩm của James I của Anh trên LibriVox (sách audio thuộc phạm vi công cộng) == Chú thích ==
cúp bóng đá nữ brasil.txt
Cúp bóng đá nữ Brasil (tiếng Bồ Đào Nha: Copa do Brasil de Futebol Feminino) là giải đấu bóng đá nữ Brasil do Liên đoàn bóng đá Brasil (CBF) tổ chức với sự trợ giúp của Bộ Thể thao Brasil. Giải đấu tương đương với Copa do Brasil và khởi đầu năm 2007. Do phải tới năm 2013 Brasil mới có giải vô địch nữ quốc gia nên đội vô địch cúp quốc gia từ 2008 tới 2013 giành quyền dự giải bóng đá nữ câu lạc bộ Nam Mỹ Copa Libertadores Femenina. == Lịch sử == Giải đấu được công bố sau khi chủ tịch FIFA Sepp Blatter đề nghị tổ chức một giải bóng đá nữ ở Brasil. == Thể thức == Vào năm 2007 giải đấu gồm 32 đội và thi đấu từ tháng 9 tới tháng 12. Giai đoạn một gồm ba vòng, các đội thi đấu theo thể thức loại trực tiếp sân nhà sân khách. Trong giai đoạn hai, tám đội được chia thành hai bảng thi đấu vòng tròn một lượt tại một thành phố chủ nhà. Hai đội đầu mỗi bảng lọt vào bán kết. Các đội tham dự cúp bao gồm các đội vô địch bang, một số bang lớn có thể có nhiều suất. == Các đội vô địch == === Thống kê === == Xem thêm == Cúp bóng đá Brasil == Tham khảo == == Liên kết ngoài == (tiếng Bồ Đào Nha) Copa do Brasil de Futebol Feminino Cúp tại soccerway.com
quốc kỳ vương quốc liên hiệp anh và bắc ireland.txt
Quốc kỳ Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland là do ba lá cờ của ba vùng đất Anh, Scotland và Ireland xếp chồng lên nhau thành một. Trong lá cờ có 3 chữ thập chồng chéo lên nhau, mỗi chữ thập tiêu biểu cho vị thánh thủ hộ (trông nom) của mỗi vùng đất nêu trên. Chữ thập ở giữa là cờ của Anh - biểu tượng của thánh George. Dấu chéo trắng và nền xanh là cờ của Scotland - biểu tượng của thánh Andrew. Còn dấu chéo màu đỏ là cờ của Ireland - biểu tượng của thánh Patrick. == Lịch sử == Quốc kỳ Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland được biết đến một cách rộng rãi dưới tên gọi the Union Jack (Jack là từ dân thủy thủ chỉ lá cờ treo trên tàu biển để thể hiện quốc tịch). Quốc kỳ này được sử dụng làm cờ của Liên hiệp Anh kể từ năm 1603 khi England và Scotland được hợp nhất. Mẫu cờ nguyên thủy là sự kết hợp giữa chữ thập đỏ của cờ Anh và hai vạch chéo màu trắng trên nền xanh của Scotland. Hai vạch chéo màu đỏ của Ireland được thêm vào năm 1801 khi Ireland trở thành một bộ phận của Vuwong quốc Liên hiệp. Xứ Wales không hiện diện trên the Union Jack, vì xứ Wales chỉ là một Công quốc thuộc Anh. Cờ của xứ Wales - Con rồng đỏ xứ Cadwallader - được sử dụng từ năm 1950. == Sử dụng == Quốc kỳ Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland thường được treo ở các tòa nhà công cộng hoặc trong các sự kiện thể thao. Trẻ em thường vẫy những lá cờ nhỏ khi một thành viên của Hoàng gia thăm địa phương mình. Trong những ngày lễ quốc gia, người Anh trang hoàng đường phố bằng nhiều cờ nhỏ treo trên dây vắt ngang đường. == Xem thêm == == Tham khảo ==
1949.txt
1949 (số La Mã: MCMXLIX) là một năm thường bắt đầu vào thứ Bảy trong lịch Gregory. Bản mẫu:Tháng trong năm 1949 == Sự kiện == === Tháng 1 === 8 tháng 1: Thành lập hội đồng tương trợ kinh tế 10 tháng 1: kết thúc chiến dịch Hoài Hải. Tưởng Giới Thạch hạ lệnh ngân hàng trung ương chuyển tiền sang Đài Loan 15 tháng 1: quân giải phóng Trung Quốc giải phóng Thiên Tân. 20 tháng 1: Thành lập quân giải phóng nhân dân Lào 21 tháng 1: tổng thống Trung Hoa Dân Quốc Tưởng Giới Thạch trao quyền lực cho phó tổng thổng Lý Tông Nhân. Quân giải phóng Trung Quốc giải phóng Hợp Phì 25 tháng 1: Quân giải phóng Trung Quốc giải phóng Dương Châu 31 tháng 1: quân giải phóng Trung Quốc giải phóng Bắc Bình, kết thúc chiến dịch Bình Tân === Tháng 2 === 4 tháng 2: Israel triệu tập quốc hội. Trung Hoa Dân Quốc chính phủ di dời đến Quãng Châu. === Tháng 3 === 8 tháng 3: Tổng thống Pháp Vincent Auriol và Cựu hoàng Bảo Đại đã ký Hiệp ước Elysée, thành lập Quốc gia Việt Nam địa vị quốc gia độc lập hội viên trong khối Liên hiệp Pháp, đứng đầu là Quốc trưởng Bảo Đại. === Tháng 4 === 1 tháng 4: Newfoundland sáp nhập vào Canada 4 tháng 4: thành lập tổ chức hiệp ước Bắc Đại Tây Dương (NATO) tại Hoa Thịnh Đốn (thủ đô Hoa Kỳ). 5 tháng 4: quân giải phóng Trung Quốc giải phóng Lạc Dương. 21 tháng 4:quân giải phóng Trung Quốc vượt Trường Giang, tiến quân giải phóng Hoa Nam. 22 tháng 4: quân giải phóng Trung Quốc giải phóng Thái Nguyên (Sơn Tây). 23 tháng 4: quân giải phóng Trung Quốc giải phóng Nam Kinh (thủ đô chính phủ Trung Hoa Dân Quốc) và các thành phố Thái Nguyên, Trấn Giang, An Khánh 24 tháng 4: Cựu hoàng Bảo Đại từ Pháp về Việt Nam. 27 tháng 4: Quân giải phóng Trung Quốc giải phóng Tô Châu === Tháng 5 === 3 tháng 5: quân giải phóng Trung Quốc giải phóng Hàng Châu. 7 tháng 5: quân giải phóng Trung Quốc giải phóng Thiệu Hưng. 10 tháng 5: Nước Đức bị phân liệt thành Đông Đức và Tây Đức. 11 tháng 5: Kết thúc cuộc phong tỏa Berlin Israel gia nhập Liên Hợp Quốc. 13 tháng 5: Chính phủ Pháp để ra kế hoạch Rơve 16 tháng 5: quân giải phóng Trung Quốc giải phóng Vũ Hán. 20 tháng 5: quân giải phóng Trung Quốc giải phóng Tây An. 21 tháng 5: quân giải phóng Trung Quốc giải phóng Nam Xương. 23 tháng 5: Thành lập nước Cộng hòa liên bang Đức (Tây Đức). Quân giải phóng Trung Quốc giải phóng Chính Hòa 27 tháng 5: quân giải phóng Trung Quốc giải phóng Thượng Hải. === Tháng 6 === 2 tháng 6: Quân giải phóng Trung Quốc giải phóng Thanh Đảo. Quân giải phóng Trung Quốc giải phóng đảo Sùng Minh, kết thúc chiến dịch Độ Giang 8 tháng 6: Khủng hoảng đỏ lên đến đỉnh điểm với việc quy kết nhiều nhân vật nổi tiếng Hoa Kỳ là thành viên Đảng Cộng sản. 12 tháng 6: Quân giải phóng Trung Quốc giải phóng Hán Trung 14 tháng 6: Bảo Đại tuyên bố tạm cầm quyền với danh hiệu hoàng đế. 15 tháng 6: Hội nghị hiệp thương chính trị diễn ra tại Bắc Bình, chuẩn bị thành lập cộng hòa nhân dân Trung Hoa 20 tháng 6: thủ thướng Nguyễn Văn Xuân từ chức, chính phủ lâm thời Nam phần giải tán. === Tháng 7 === 1 tháng 7: Chính phủ lâm thời quốc gia Việt Nam thành lập với Bảo Đại làm quốc trưởng. 5 tháng 7: Quân giải phóng Trung Quốc giải phóng Cửu Khê 13 tháng 7: Tại Bành Hồ xảy ra sự kiện chiềm tàu 16 tháng 7: Quân đội Trung Hoa Dân Quốc bắt đầu rút khỏi Trung Quốc và di chuyển đến Đài Loan. 19 tháng 7: Lào tuyên bố độc lập. === Tháng 8 === 5 tháng 8: quân giải phóng Trung Quốc giải phóng Trường Sa. 8 tháng 8: Bất Đan giành được độc lập. 11 tháng 8: Quân giải phóng Trung Quốc giải phóng Thủy Tần 15 tháng 8: Quân giải phóng Trung Quốc giải phóng Mân Thanh 16 tháng 8: Quân giải phóng Trung Quốc giải phóng Liên Giang 17 tháng 8: quân giải phóng Trung Quốc giải phóng Phúc Châu. 21 tháng 8: Quân giải phóng Trung Quốc giải phóng Nam An 23 tháng 8: Quân giải phóng Trung Quốc giải phóng Thụy Kim Quân giải phóng Trung Quốc giải phóng Huệ An 25 tháng 8: Quân giải phóng Trung Quốc giải phóng Tiên Lữ 26 tháng 8: quân giải phóng Trung Quốc giải phóng Lan Châu. 29 tháng 8: Liên Xô chế tạo thành công bom nguyên tử. === Tháng 9 === 1 tháng 9: Quân giải phóng Trung Quốc giải phóng Long Nham 5 tháng 9: Quân giải phóng Trung Quốc giải phóng Tây Ninh. 6 tháng 9: Quân giải phóng Trung Quốc giải phóng Đại Điền 13 tháng 9: Liên Xô phủ quyết tư cách hội viên Liên Hiệp Quốc của Ceylon, Phần Lan, Iceland, Ý, Jordan, và Bồ Đào Nha. Quân giải phóng Trung Quốc giải phóng Chương Bình 15 tháng 9: Konrad Adenauer trở thành thủ tướng đầu tiên của Cộng hòa Liên bang Đức. 17 tháng 9: Quân giải phóng Trung Quốc giải phóng Bình Hòa 19 tháng 9: Quân giải phóng Trung Quốc giải phóng Quy Nhuy Hải quân Trung Hoa Dân Quốc khởi nghĩa tại Ngô Tùng. Quân giải phóng Trung Quốc giải phóng An Khê, Đồng An 23 tháng 9: Quân giải phóng Trung Quốc giải phóng Ngân Xuyên. Liên Xô thử nghiệm thành công bom nguyên tử. Quân giải phóng Trung Quốc giải phóng Vân Tiêu, Chương Phố 25 tháng 9: Quân giải phóng Trung Quốc giải phóng Ô Lỗ Mộc Tề 27 tháng 9: Bắc Bình đổi tên thành Bắc Kinh. === Tháng 10 === 1 tháng 10: Nhà nước Cộng hoà nhân dân Trung Hoa ra đời. 3 tháng 10: Cộng hòa nhân dân Trung Hoa và Liên Xô thiết lập quan hệ ngoại giao. 6 tháng 10: Trung Quốc và Bắc Triều Tiên thiết lập quan hệ ngoại giao 7 tháng 10: Nước Cộng hòa dân chủ Đức (Đông Đức) thành lập. 14 tháng 10: quân giải phóng Trung Quốc giải phóng Quảng Châu chính phủ Trung Hoa Dân Quốc trở về Trùng Khánh. 15 tháng 10: quân giải phóng Trung Quốc tấn công Chương Châu, Hạ Môn. 16 tháng 10: kết thúc nội chiến Hy Lạp. Quân giải phóng Trung Quốc giải phóng Thâm Quyến 17 tháng 10: quân giải phóng Trung Quốc giải phóng Hạ Môn, Chương Châu, Võ Bình 21 tháng 10: Quân giải phóng Trung Quốc giải phóng Ninh Hóa 25 tháng 10: quân giải phóng Trung Quốc đổ bộ lên đảo Kim Môn. 27 tháng 10: quân Trung Hoa Dân Quốc đánh bại quân giải phóng Trung Quốc bảo vệ Kim Môn. 30 tháng 10: quân giải phóng Trung Quốc giải phóng Trung Sơn. === Tháng 11 === 1 tháng 11: Bắc đầu chiến dịch Nam Tuyền. 3 tháng 11: Quân giải phóng Trung Quốc tiến công đảo Đăng Bộ, mở đầu chiến dịch đảo Đăng Bộ. 6 tháng 11: chiến dịch đảo Đăng Bộ kết thúc, quốc quân Trung Hoa Dân Quốc thắng lợi, bảo vệ đảo Đăng Bộ. 8 tháng 11: Cao Miên giành độc lập hạn chế vẫn thuộc Liên Hiệp Pháp. 15 tháng 11: quân giải phóng Trung Quốc giải phóng Quý Dương. 18 tháng 11: Quân giải phóng Trung Quốc giải phóng Hoa An 22 tháng 11: Quân giải phóng Trung Quốc giải phóng Quế Lâm 24 tháng 11: Quân giải phóng Trung Quốc giải phóng Đức Hóa 28 tháng 11: chính phủ Trung Hoa Dân Quốc tháo chạy khỏi Thành Đô Tứ Xuyên. 30 tháng 11: quân giải phóng Trung Quốc giải phóng Trùng Khánh. === Tháng 12 === 4 tháng 12: Quân giải phóng Trung Quốc giải phóng Nam Ninh. Lý Tông Nhân trốn sang Hoa Kỳ 6 tháng 12: Mao Trạch Đông thăm Liên Xô 7 tháng 12: Tưởng Giới Thạch từ Thành Đô Tứ Xuyên rút chạy sang Đài Loan 8 tháng 12: Thành lập chính phủ lâm thời Trung Hoa Dân Quốc tại Đài Bắc. 9 tháng 12: quân giải phóng Trung Quốc giải phóng Côn Minh. 12 tháng 12: Quân giải phóng Trung Quốc giải phóng Chiếu An 17 tháng 12: Miến Điện thừa nhận cộng hòa nhân dân Trung Hoa. 19 tháng 12: Quân giải phóng Trung Quốc giải phóng Trạm Giang Quãng Đông 27 tháng 12: Hà Lan thừa nhận nện độc lập của Nam Dương, quân giải phóng Trung Quốc giải phóng Thành Đô. 30 tháng 12: Ấn Độ thừa nhận cộng hòa nhân dân Trung Hoa. 31 tháng 12: Đồng Tất Vũ nhậm chức chủ tịch tỉnh Tuy Viễn == Sinh == 2 tháng 2 - Phùng Quang Thanh, Đại tướng Quân đội Nhân dân Việt Nam, Ủy viên Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng 11 tháng 9 - Lư Bảo Quốc, nghệ sĩ hài kịch == Mất == == Giải Nobel == Vật lý - Yukawa Hideki Hóa học - William Francis Giauque Y học - Walter Rudolf Hess, Antonio Caetano De Abreu Freire Egas Moniz Văn học - William Faulkner Hòa bình - John Boyd Orr == Xem thêm == == Tham khảo ==
tiếng bengal.txt
Tiếng Bengal, cũng được gọi là tiếng Bangla (বাংলা [ˈbaŋla] ()), một ngôn ngữ Ấn-Arya được nói tại Nam Á. Đây là ngôn ngữ chính thức và ngôn ngữ quốc gia của Cộng hòa Nhân dân Bangladesh, và là ngôn ngữ chính thức tại một số bang vùng đông bắc Cộng hòa Ấn Độ, gồm Tây Bengal, Tripura, Assam (thung lũng Barak) và Quần đảo Andaman và Nicobar. Tiếng Bengal là một ngôn ngữ Ấn-Âu, song cũng được ảnh hưởng bởi nhiều nhóm ngôn ngữ khác tại Nam Á, như các ngôn ngữ Dravida, Nam Á, và Tạng-Miến, tất cả đều đóng góp vào khối từ vựng và một số nét ngữ pháp tiếng Bengal. Ngày nay, tiếng Bengal là ngôn ngữ chính tại Bangladesh và ngôn ngữ phổ biến thứ nhì tại Ấn Độ. Với hơn 210 triệu người nói, tiếng Bengal là ngôn ngữ có số người bản ngữ đông thứ bảy trên thế giới. Nền văn học tiếng Bengal có lịch sử hàng thế kỷ cộng với di sản văn học dân gian, đã phát triển mạnh mẽ từ thời phục hưng Bengal. Đây là một trong những nền văn học nổi bật và đa dạng nhất châu Á. Cả quốc ca của Bangladesh (Amar Sonar Bangla) và Ấn Độ (Jana Gana Mana) được sáng tác bằng tiếng Bengal. Năm 1952, Phong trào ngôn ngữ Bengal đã thành công trong việc đẩy ngôn ngữ này lên địa vị chính thức tại Lãnh địa Pakistan. Năm 1999, UNESCO công nhận ngày 21 tháng 2 làm Ngày tiếng mẹ đẻ Quốc tế để tưởng nhớ phong trào ngôn ngữ tại Đông Pakistan (tức Bangladesh ngày nay). == Lịch sử == Tương tự các ngôn ngữ Ấn-Arya Đông khác, tiếng Bengal phát triển dựa trên các phương ngữ Ấn-Arya Trung của tiểu lục địa Ấn Độ. Hai ngôn ngữ nói sớm nhất được ghi nhận tại đây là Magadhi Prakrit và Pali, về sau phát triển thành Jain Prakrit hay Ardhamagadhi ở đầu thiên niên kỷ thứ nhất. Tiếng Ardhamagadhi dần bị tiếng Apabhraṃśa lấn át vào thời điểm sắp kết thúc của thiên niên kỷ thứ nhất. Sau đó, thứ tiếng Apabhraṃśa ở miền đông Ấn Độ - tức tiếng Purvi Apabhraṃśa hay Abahatta - phát triển trở thành các phương ngữ địa phương, sau chia thành ba nhóm: nhóm ngôn ngữ Assam-Bengal, nhóm ngôn ngữ Bihar và nhóm ngôn ngữ Oriya. Một số người cho rằng sự phân chia này thực chất diễn ra còn sớm hơn nữa, vào khoảng năm 500;; tuy nhiên vào lúc đó ngôn ngữ chưa ổn định: có nhiều biến thể cùng tồn tại song song và người ta dùng nhiều phương ngữ khi viết. Chẳng hạn, tiếng Magadhi Prakrit được cho là đã phát triển thành tiếng Abahatta vào khoảng thế kỷ 6, đồng thời trở thành lực lượng cạnh tranh với tổ tiên của tiếng Bengal trong một giai đoạn lịch sử. Thường thì người ta phân chia lịch sử tiếng Bengal như sau: Tiếng Bengal cổ (900/1000–1400): chữ viết và ngôn ngữ trong giai đoạn này chịu ảnh hưởng chủ yếu của tiếng Kampura (chữ viết là Kamrupa Prakrit), do cả vùng Assam, Bengal cùng nhiều vùng của Bihar và Orissa đều nằm dưới sự kiểm soát của Vương quốc Kamarupa (nay gọi là Assam). Tiếng Bengal trung đại (1400–1800): chịu ảnh hưởng của tiếng Ba Tư. Một số học giả chia nhỏ giai đoạn này thành Bengal trung đại sớm và Bengal trung đại muộn. Tiếng Bengal mới (kể từ 1800) Trong lịch sử, tiếng Bengal chịu ảnh hưởng nặng từ Pali và Prakrit. Ngoài ra, nó ngày một bị ảnh hương bởi tiếng Phạn trong giai đoạn Bengal Trung đại và giai đoạn Bengal phục hưng. Ngày nay, tiếng Bengal - cũng như tiếng Oriya và tiếng Assam - đều có một cơ số từ vựng tiếng Pali/Phạn lớn. Cần lưu ý rằng về cơ bản thì tiếng Hindi nói và tiếng Urdu nói là giống nhau. Tuy nhiên, dạng tiêu chuẩn dùng trong văn viết của tiếng Hindi ngày này sử dụng rất nhiều từ vựng thu nhận từ tiếng Phạn, trong khi dạng viết của tiếng Urdu lại mượn nhiều từ vựng từ tiếng Ả Rập và tiếng Ba Tư. Mãi tận thế kỷ 18 vẫn chưa có tài liệu nào ghi chép ngữ pháp tiếng Bengal. Quyển sách đầu tiên dưới dạng từ điển/sách ngữ pháp về tiếng Bengal là cuốn Vocabolario em idioma Bengalla, e Portuguez dividido em duas partes của nhà truyền giáo người Bồ Đào Nhà là Manuel da Assumpção, viết từ 1734 đến 1742. Nhà ngữ văn học người Anh là Nathaniel Brassey Halhed có sách A Grammar of the Bengal Language (1778) viết về ngữ pháp tiếng Bengal. Ram Mohan Roy - nhà cải cách người Bengal - cũng viết cuốn Grammar of the Bengali Language (1832). Trong giai đoạn này, Choltibhasha phát triển từ Shadhubhasha và trở thành dạng chữ dùng để viết tiếng Bengal. Giai đoạn 1951-52, tiếng Bengal là tâm điểm của Phong trào ngôn ngữ Bengal (ভাষা আন্দোলন Bhasha Andolon) diễn ra tại Đông Bengal (nay là Bangladesh). Mặc dù hầu hết dân số sống ở Đông Bengal đều nói tiếng Bengal, song tiếng Urdu lại được quy định là ngôn ngữ quốc gia duy nhất của Thuộc địa Pakistan. Ngày 21 tháng 2 năm 1952, cảnh sát và quân đội tiến hành đàn áp nhiều sinh viên và nhà hoạt động chính trị tại Đại học Dhaka; ba sinh viên và vài người khác bị giết chết. Năm 1999, UNESCO tuyên bố ngày 21 tháng 2 là Ngày tiếng mẹ đẻ quốc tế nhằm tưởng nhớ những người đã ngã xuống trong phong trào này. Trong một diễn biến khác (Phong trào tiếng Bengal (thung lũng Barak)) xảy ra vào ngày 19 tháng 5 năm 1961, cảnh sát vùng thung lũng Barak ở Assam đã giết chết bảy người biểu tình phản đối luật quy định tiếng Assam là thứ tiếng chính thức. == Phân bố địa lý == Tiếng Bengal là ngôn ngữ chính ở khu vực Bengal, một vùng bao gồm bang Tây Bengal, Tripura, nam Assam (Ấn Độ) và đất nước Bangladesh. Ngoài ra, nó cũng được nói bởi phần lớn dân cư Quần đảo Andaman và Nicobar. Nhiều người nói tiếng Bengal tại Odisha, Bihar, Jharkhand, Chhattisgarh và Delhi, ở các thành phố như Mumbai, Varanasi, Vrindavan, và một số thành phố khác tại Ấn Độ. Có nhiều cộng đồng kiều dân Bengal tại Trung Đông, Nhật Bản, Hoa Kỳ, Singapore, Malaysia, Maldives, Úc, Canada, Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland và Ý. === Tình trạng === Tiếng Bengal là ngôn ngữ quốc gia và ngôn ngữ chính thức của Bangladesh, và là một trong 23 ngôn ngữ có tình trạng chính thức tại Ấn Độ. Đây là ngôn ngữ chính thức tại Tây Bengal, Tripura và thung lũng Barak ở Assam, và là ngôn ngữ thông dụng tại Quần đảo Andaman và Nicobar. Tiếng Bengal đã là ngôn ngữ chính thức thứ hai tại bang Jharkhand từ tháng 9 năm 2011. Nó cũng là ngôn ngữ được công nhận tại thành phố Karachi, Pakistan. Quốc ca của cả Bangladesh và Ấn Độ đều được sáng tác bởi tác giả người Bengal Rabindranath Tagore. Năm 2009, đại diện của Bangladesh và Tây Bengal kêu gọi việc đưa tiếng Bengal trở thành một ngôn ngữ chính thức của Liên Hiệp Quốc. == Ngữ âm == Tiếng Bengal chuẩn gồm 29 phụ âm và 7 nguyên âm (chưa tính nguyên âm mũi hóa). == Tham khảo == === Sách === Ali, Shaheen Sardar; Rehman, Javaid (2001). Indigenous Peoples and Ethnic Minorities of Pakistan: Constitutional and Legal Perspectives. Routledge. ISBN 0-7007-1159-7. Baxter, C (1997). Bangladesh, From a Nation to a State. Westview Press. ISBN 0-8133-3632-5. Bhattacharya, T (2000). “Bengali”. Trong Gary, J. and Rubino. C. Encyclopedia of World's Languages: Past and Present (Facts About the World's Languages) (PDF). WW Wilson, New York. ISBN 0-8242-0970-2. Keith, Arthur Berriedale (1998). The Sanskrit Drama. Motilal Banarsidass Publ. ISBN 81-208-0977-7. Sen, D (1996). “Bengali Language and Literature”. International Centre for Bengal Studies, Calcutta. Shah, Natubhai (1998). Jainism: The World of Conquerors. Sussex Academic Press. ISBN 1-898723-31-1. Tagore, Rabindranath; Das, Sisir Kumar (1996). The English Writings of Rabindranath Tagore. Sahitya Akademi. ISBN 81-260-0094-5. Wilson, A.J; Dalton, D (1982). The States of South Asia: Problems of National Integration. Essays in Honour of W. H. Morris-Jones. University of Hawaii Press. ISBN 0-8248-1183-6. == Liên kết ngoài == Viện hàn lâm Bangla, cơ quan quy định tiếng Bengal ở Bangladesh Paschimbanga Bangla Akademi, cơ quan quy định tiếng Bengal ở Tây Bengal thuộc Ấn Độ Báo cáo của Ethnologue về tiếng Bengal
giải thưởng fifa puskás.txt
Giải thưởng FIFA Puskás là một giải thưởng được thành lập vào ngày 20 tháng 10 năm 2009 của Liên đoàn bóng đá thế giới (FIFA) theo lệnh của Chủ tịch FIFA Sepp Blatter để trao giải cho cầu thủ đã ghi bàn có giá trị thẩm mỹ nhất (đẹp nhất) của năm. Giải thưởng này được lập ra để tưởng nhớ tới Ferenc Puskás, tiền đạo huyền thoại của câu lạc bộ Real Madrid và là thành viên nổi bật nhất trong thế hệ vàng của bóng đá Hungary với rất nhiều thành công trong giai đoạn 1950 - 1960. Ông là một trong những cầu thủ ghi bàn hàng đầu của thế kỷ 20 với 512 bàn thắng trong 528 trận đấu và ông đã lập một kỷ lục thế giới khi ông ghi tới 84 bàn thắng trong 85 trận khi đá cho đội tuyển quốc gia Hungary. == Tiêu chí == Nó phải là một bàn thắng đẹp (tiêu chí chủ quan - nguyên nhân dẫn đến các bàn thắng là từ những sút xa, sút phạt trực tiếp, sự phối hợp cùng đồng đội, đánh đầu, kĩ thuật cá nhân,...). Tầm quan trọng của trận đấu nên được đưa vào xem xét (tiêu chí khách quan - giải đấu cấp độ thế giới, châu lục hay trận đấu giữa các đội bóng hàng đầu của quốc gia, châu lục,... và các bàn thắng quan trọng hơn thì tốt hơn). Bàn thắng không phải là kết quả của sự may mắn, những sai lầm hoặc cú sút chệch hướng bởi một đồng đội hoặc các cầu thủ khác. Người ghi bàn cần phải chơi đẹp, tức là các cầu thủ không được hành xử xấu trong pha bóng trước đó hoặc đã bị buộc tội sử dụng doping,... == Thập niên 2000 == === 2009 === Khung thời gian cho các đề cử của giải thưởng FIFA Puskás lần đầu tiên là các bàn thắng được ghi từ tháng 7 năm 2008 đến tháng 7 năm 2009. Giải thưởng được trao lần đầu tiên trong đêm gala cầu thủ xuất sắc nhất thế giới của FIFA năm 2009 (tiếng Anh: 2009 FIFA World Player of the Year Gala) vào ngày 21 tháng 12 năm 2009 tại Thụy Sĩ. Cristiano Ronaldo (CR7) là người chiến thắng giải thưởng đầu tiên với một siêu phẩm là cú sút xa từ cự li 35m anh ghi được vào lưới F.C. Porto ở trận lượt về vòng tứ kết UEFA Champions League 2008-09 diễn ra trên sân Dragão của Porto, bàn thắng được ghi trong khoảng thời gian CR7 còn thi đấu cho Manchester United F.C. (MU). Ngoài ý nghĩa cá nhân với Ronaldo, bàn thắng này còn là bàn thắng ấn định chiến thắng của 1–0 của MU trước Porto, chiến thắng này giúp đội bóng của ngài Alex Ferguson tiến bước vào vòng bán kết mặc dù đã có kết quả bất lợi ở trận lượt đi và đây cũng là chiến thắng đầu tiên của một đội bóng Anh trên sân nhà của Porto. == Thập niên 2010 == Từ năm 2010, giải thưởng FIFA Puskás được trao trong đêm gala Quả bóng vàng FIFA (do việc sáp nhập 2 giải thưởng Quả bóng vàng châu Âu của tạp chí France Football với giải thưởng Cầu thủ xuất sắc nhất năm của FIFA thành giải thưởng Quả bóng vàng FIFA). === 2010 === === 2011 === === 2012 === === 2013 === === 2014 === Ngày 12 tháng 11 năm 2014, 10 đề cử cho giải thưởng FIFA Puskás 2014 được FIFA công bố. Theo đó, FIFA giới hạn thời gian thực hiện các bàn thắng từ ngày 3 tháng 10 năm 2013 đến ngày 26 tháng 9 năm 2014. Đáng chú ý, lần đầu tiên trong lịch sử của giải có một bàn thắng được ghi bằng đầu nằm trong top 10 bàn thắng được đề cử, đó là pha đánh đầu đẹp mắt của Robin van Persie vào lưới của thủ thành Iker Casillas tại FIFA World Cup 2014 trên sân sân Maracanã, Brasil. Ngày 1 tháng 12 năm 2014, cùng với việc công bố danh sách rút gọn của giải thưởng Quả bóng vàng FIFA 2014 thì FIFA cũng đã công bố top 3 bàn thắng nhận được nhiều lượt bình chọn nhất từ 10 đề cử ban đầu. Qua đó, ba bàn thắng của Stephanie Roche, James Rodríguez và Robin van Persie được tiếp tục bầu chọn cho đến ngày diễn ra đêm gala Quả bóng vàng FIFA 2014 ở thành phố Zürich, Thụy Sĩ. Đây là lần đầu tiên trong lịch sử giải thưởng có một cầu thủ nữ lọt vào danh sách chủ nhân của top 3 bàn thắng cuối cùng. Ngày 12 tháng 1 năm 2015, trong đêm gala Quả bóng vàng FIFA 2014, James Rodríguez là người thứ 6 giành giải FIFA Puskás với một cú volley mẫu mực ghi vào lưới Uruguay trên sân Maracanã trong khuôn khổ vòng 16 đội FIFA World Cup 2014 ở Brasil. Đây là bàn thắng đầu tiên trong lịch sử bóng đá giành được cú đúp danh hiệu là bàn thắng đẹp nhất Vòng chung kết FIFA World Cup và giải thưởng FIFA Puskás trong cùng năm. === 2015 === FIFA công bố danh sách 10 đề cử cho giải thưởng năm 2015 vào ngày 6 tháng 11 năm 2015. Qua đó, khung thời gian cho các đề cử lần này là từ 27 tháng 9 năm 2014 đến ngày 23 tháng 9 năm 2015. == Xem thêm == Ferenc Puskás Quả bóng vàng FIFA == Ghi chú == == Tham khảo == == Liên kết ngoài == Website chính thức Previous Editions Winners List
chữ tất-đàm.txt
Chữ Tất Đàm là một dạng văn tự cổ của tiếng Phạn được dùng để ghi chép kinh điển Phật giáo ở Ấn Độ thời xưa. Chữ này âm Phạn đọc là Siddham có nghĩa là "thành tựu"; chữ Devanagari viết là सिद्धं Khi chữ này truyền sang Trung Quốc thì được phiên ra nhiều âm khác nhau: Tất Đàm, Tất Đàn, Tất Đán, Thất Đán, Thất Đàn... Khi truyền sang Nhật Bản thì người Nhật gọi chữ này là Bonji. == Lịch sử == Thời điểm ra đời của loại chữ này đến nay vẫn chưa thống nhất. Trong quyển "Thư pháp linh tự Đông Phương", John Stevens cho rằng chữ này được hình thành vào khoảng sau năm 700. Tuy nhiên thực sự thì chữ này đã có trước đó rất lâu. Điển hình là lá bối có ghi bài Bát Nhã Tâm Kinh bằng chữ Siddham được mang từ Ấn Độ sang Trung Quốc rồi người Nhật thỉnh về nước vào khoảng năm 610. Một số tài liệu cho rằng chữ này hình thành trong khoảng những năm 420-588 và xuất phát từ Nam Ấn. Chữ Siddham hình thành trên cơ sở chữ cổ Gupta và sau đó nó làm nền tảng cho sự hình thành chữ Devanagari sau này. Kinh điển Phật giáo từ Ấn Độ thời xưa truyền sang các nước lân cận ở nhiều dạng văn tự khác nhau trong đó chữ Siddham mang tầm quan trọng nhất. Kinh tạng của Ngài Huyền Trang thỉnh về từ Ấn Độ (vào năm 645) được viết ở thể chữ này. Tại Việt Nam chữ Siddham từ xưa đến nay được mật truyền trong các tự viện. Không hình thành các văn bản lưu hành phổ thông trong đại chúng. Ở Trung Quốc thời Đường, kinh văn chữ Phạn chính là chữ Siddham, đã xuất hiện các tác phẩm Phạn Tự Thiên Văn của Nghĩa Tịnh, Tất Đàm Tự Ký của Trí Quảng, Tự Mẫu Biểu của Nhất Hạnh. Tại Nhật Bản chữ Siddham được gọi là Bonji, mang nghĩa là "Phạn tự". Chữ Siddham du nhập vào Nhật Bản bởi một phái đoàn Tăng nhân và du học sinh Nhật sang Trung Quốc vào năm 608. Đáng kể nhất là dòng phái Đông Mật của Ngài Không Hải đã bảo tồn và phát huy loại chữ này. Có người cho rằng khi Trung Quốc tiếp thu chữ Nagari thì chữ Siddham bị đẩy vào quên lãng. Thời điểm này cũng là lúc bang giao giữa Nhật và Trung Quốc bị gián đoạn nên chữ Nagari và các thế hệ chữ viết sau này không được truyền sang lấn chân chữ Siddham tại Nhật. Vì lý do đó, chữ này đã trở thành tử ngữ tại Trung Quốc và ở các nước khác trừ nước Nhật. Thực tế là chữ Siddham vẫn được bảo tồn và lưu truyền trong các dòng Mật tông tại các nước trong khu vực. == Các giả thuyết về sự hình thành chữ Siddham == Chữ Siddham dùng để ghi lại lời Phật dạy ở cảnh giới Long Cung, do Long Thọ Bồ Tát mang về truyền dạy lại. Do đó chữ này được gọi là Long Cung Tương Thừa. Chữ Siddham do Phạm Thiên tạo ra để làm phương tiện truyền đạt tri thức cho nhân loại. Do đó chữ này được gọi là Phạm Vương Tương Thừa hay Nam Thiên Tương Thừa. Chữ Siddham do Phật Thích Ca truyền dạy. Do đó chữ này được gọi là Thích Ca Tương Thừa. Đến sau khi Phật nhập diệt thì các vị Văn Thù, Di Lặc, A Nan dùng chữ này để kết tập kinh điển. Chữ Siddham do Đại Nhật Như Lai truyền dạy. Do đó chữ này được gọi là Đại Nhật Tương Thừa. Kim Cương Tát Đỏa dùng chữ này để kết tập. Về sau Long Mãnh Bồ Tát vào tháp sắt thọ nhận và lưu truyền. == Bảng mẫu tự == === Nguyên âm === === Phụ âm === == Bát Nhã Tâm Kinh viết bằng chữ Siddham == == Tham khảo == == Liên kết ngoài == Bộ gõ chữ Siddham Thông tin chữ Siddham trên Omniglot Các kiến thức cơ bản về chữ Siddham - tiếng Anh Thông tin chữ Siddham - tiếng Hoa
biên thành la mã.txt
Biên thành La Mã là một hệ thống phân chia ranh giới, bảo vệ biên giới của La Mã cổ đại. Nó cũng đánh dấu Biên giới của Đế quốc La Mã, được phân định có thể là một con đường, dòng suối, con kênh hoặc cột mốc bất kỳ. Biên thành La Mã được xây dựng vào thế kỷ thứ 2 với chiều dài lên đến 5.000 km từ bờ biển Đại Tây Dương ở miền Bắc Vương quốc Anh qua châu Âu, tới tận biển Đen (Hắc Hải), phản ánh sự hưng thịnh cho đến khi suy tàn của La Mã trong hơn 1.000 năm. Phần còn lại của công trình vĩ đại này là những gì còn sót lại của các bức tường, mương nước, pháo đài, tháp canh, các khu dân cư. Phần đường biên giới ở Đức với chiều dài 550 km từ phía Tây Bắc đến tận sông Danube ở phía Đông Nam. Phần ở Anh dài 118 km là tường thành Hadrian được xây dựng vào năm 122 TCN dưới thời hoàng đế Hadrian và phần còn lại của bức tường Antonine ở Scotland được xây dựng dưới thời hoàng đế Antonius Pius năm 142 TCN tại phía Bắc vùng lãnh thổ của La Mã trên đảo Anh (Britannia). Đây là ví dụ nổi bật về khu vực quân sự, công sự phòng thủ, chiến lược địa chính của đế quốc La Mã thời cổ đại. == Đường biên giới tại Đức == Tại Đức, bức tường thành đầu tiên được xây dựng vào năm 83 TCN, kéo dài từ sông Rhein tới dãy núi Taunus cùng với đó là nhiều pháo đài mới được xây dựng. Tiếp sau đó, dưới thời hoàng đế Claudius, hoàng đế Domitian, hoàng đế Traianus, tường thành được mở rộng qua các con sông về phía Bắc và một số pháo đài đã được xây dựng như pháo đài Trajan. Trong thế kỷ thứ 2, dưới thời hoàng đế Hadrian, vật liệu đá được sử dụng để thay thế cho các hàng rào, tháp canh bằng gỗ. == Đường biên giới tại Anh == Thế kỷ 2 TCN, La Mã mở rộng xâm lược vượt ra khỏi vùng núi Alps, hướng tới xứ Gaul, Germania, vượt qua eo biển Manche tới lãnh thổ nước Anh. Người tiên phong đó là hoàng đế Julius Caesar nhưng chưa thể thành công, phải đến thời hoàng đế Claudius, Anh mới bị chinh phục. Mặc dù vậy, La Mã đã bị sự chống trả quyết liệt bởi Agricola ở phía Bắc Scotland. Hadrian ra lệnh tấn công nhiều lần nhưng không thành công, vì vậy đường ranh giới Stanegate, tuyến phòng thủ lớn nhất được xây dựng bằng đá từ Tyne-Solway, sau đó là các tuyến phòng thủ Antonine, hoàn chỉnh hơn dưới thời Septimius Severus nhằm ngăn chặn sự xâm lược của các bộ tộc phía Bắc xâm lược vào lãnh thổ La Mã ở Anh. Sau khi đế chế La Mã suy tàn, các bức tường nhanh chóng bị những hư hại bởi tự nhiên, bắt đầu từ các đoạn tường thành là các hàng rào gỗ. Sau đó, thời trung cổ, đá ở các tường thành bị lấy để xây dựng lâu đài, nhà ở, nông trại cùng với đó là hoạt động khai thác than trong khu vực, các khu dân cư mở rộng khiến nó bị hư hại nghiêm trọng. Di sản tường thành thời La Mã bao gồm 193 cụm nằm tại hai quốc gia Đức và Vương quốc Anh được UNESCO công nhận là di sản thế giới vào năm 1987. == Hình ảnh == == Tham khảo == == Xem thêm == Biên giới của đế chế La Mã == Liên kết ngoài == Official website of the Verein Deutsche Limes-Straße (in German) German site with nice maps Vici.org Interactive map with the limes and other Roman castles and sites Livius.org: Limes Livius.org: Limes Tripolitanus Antikefan: Roman Limes (German) Derlimes.at Official website of the Limes group in Austria) (in German, Serbian, Bosnian, Croatian, Montenegrin) Limes, Italian Review of Geopolitics (Italian)
quảng tây.txt
Quảng Tây (Tiếng Tráng: Gvangjsih; chính tả kiểu cũ: Gvaŋзsiƅ; chữ Hán giản thể: 广西; chữ Hán phồn thể: 廣西; bính âm: Guǎngxī), tên đầy đủ Khu tự trị dân tộc Choang Quảng Tây (Tiếng Tráng: Gvangjsih Bouxcuengh Swcigih; chính tả kiểu cũ: Gvaŋзsiƅ Bouчcueŋƅ Sɯcigiƅ; chữ Hán giản thể: 广西壮族自治区; chữ Hán phồn thể: 廣西壯族自治區; bính âm: Guǎngxī Zhuàngzú Zìzhìqū; Hán-Việt: Quảng Tây Tráng tộc tự trị khu) là một khu tự trị của dân tộc Choang tại Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa. == Tên gọi "Quảng Tây" == Quảng Tây là giản xưng của "Quảng Nam Tây lộ" (广南西路) từ thời nhà Tống. "Quảng" 广 có nghĩa là "mở rộng", và được đặt cho vùng này kể từ thời nhà Tây Tấn trở đi. "Quảng Tây" và tỉnh láng giềng Quảng Đông có tên gọi chung là "Lưỡng Quảng" (两广). Tên gọi tắt của khu tự trị này là "Quế" 桂, lấy theo tên Quế Lâm là một thành phố lớn trong khu tự trị. == Lịch sử == Vùng đất này chính thức thuộc về Trung Quốc từ năm 214 TCN, khi quân đội nhà Tần xâm chiếm hầu hết miền Nam Trung Hoa ngày nay. Tên gọi "Quảng Tây" bắt nguồn từ thời nhà Tống, khi khu vực này được tổ chức thành một lộ, gọi là Quảng Nam Tây Lộ. Vào cuối đời nhà Nguyên, vùng này được tổ chức thành một tỉnh với tên gọi được rút gọn thành "Quảng Tây". Trong sáu thế kỷ tiếp theo, Quảng Tây vẫn là một tỉnh của Trung Quốc cho đến khi được Chính phủ Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa chuyển thành một khu tự trị dành cho dân tộc thiểu số đông đảo ở đây. Vào cuối đời nhà Thanh, ở huyện Quế Bình, miền đông Quảng Tây, đã nổ ra Khởi nghĩa Kim Điền (金田起义) vào ngày 11 tháng 1 năm 1851, khởi đầu của phong trào khởi nghĩa nông dân vĩ đại Thái Bình Thiên Quốc. Cửa ải Trấn Nam Quan (ngày nay là Hữu Nghị Quan) trên biên giới với Việt Nam cũng là nơi diễn ra trận đánh Trấn Nam Quan (镇南关战役) vào ngày 23 tháng 3 năm 1885, trong Chiến tranh Pháp-Thanh. Trong trận đánh này, mũi tấn công của quân Pháp đã bị lực lượng Trung Quốc của tướng Phùng Tử Tài (冯子才) đánh bại, một sự kiện lịch sử rất được những người yêu nước Trung Hoa ca tụng. Sau ngày thành lập Trung Hoa Dân Quốc, Quảng Tây trở thành căn cứ của một trong những tập đoàn quân phiệt hùng mạnh nhất của Trung Quốc: Tập đoàn Quảng Tây (Quế hệ) cũ. Do Lục Vinh Đình (陆荣廷) và những người khác lãnh đạo, tập đoàn này đã vươn ra kiểm soát cả các tỉnh Hồ Nam và Quảng Đông ở liền kề. Đầu thập niên 1920, Tập đoàn Quảng Tây cũ bị thất bại, và được thay thế bằng Tập đoàn Quảng Tây mới, do Lý Tông Nhân và Bạch Sùng Hi cầm đầu. Quảng Tây còn được nhắc đến bởi Khởi nghĩa Bách Sắc (百色起义), một cuộc khởi nghĩa cộng sản do Đặng Tiểu Bình lãnh đạo vào năm 1929. Các căn cứ cộng sản đã được thiết lập mặc dù cuối cùng đều bị lực lượng Quốc dân Đảng tiêu diệt. Vào năm 1944 gần kết thúc Thế chiến II, Nhật Bản chiếm đóng Quảng Tây sau Chiến dịch Ichigo (hay còn gọi là Chiến dịch Dự Tương Quế (豫湘桂战役) trong một nỗ lực thu tóm tuyến đường sắt Hồ Nam-Quảng Tây và thiết lập một vùng đất nối với Đông Dương Pháp thuộc. Người Nhật đã chiến thắng và một loạt các thành phố chính ở Quảng Tây trở thành thuộc địa của Nhật Bản. Nằm ở xa phía nam, lực lượng cộng sản kiểm soát Quảng Tây muộn hơn. Chính quyền tỉnh thay đổi vào tháng 12 năm 1949, hai tháng sau khi thành lập nước Cộng hòa Nhân dân. Vào năm 1958, Quảng Tây được chuyển đổi thành Khu tự trị dân tộc Tráng theo đề nghị của Thủ tướng Chu Ân Lai. Quyết định này được đưa ra do người Tráng là một trong những dân tộc thiểu số lớn nhất ở Trung Hoa, và tập trung nhiều ở Quảng Tây; tuy nhiên người Tráng vẫn chỉ chiếm thiểu số trong dân số Quảng Tây. Suốt chiều dài lịch sử, Quảng Tây là vùng đất nội lục (không có biển). Năm 1952 một phần nhỏ của bờ biển Quảng Đông được chuyển giao cho Quảng Tây, từ đó vùng đất này được thông với biển. Năm 1955 chuyển giao lại, và năm 1965 tiếp nhận lại. Mặc dù có sự phát triển công nghiệp nặng diễn ra trong tỉnh trong suốt những năm 1960 và 1970, vẫn còn rất nhiều các danh lam thắng cảnh du lịch hấp dẫn mọi người trên khắp thế giới. Thậm chí mức tăng trưởng kinh tế ở Trung Quốc trong những năm 1990 dường như để Quảng Tây tụt lại phía sau. Tuy nhiên trong những năm gần đây đã có sự tăng trưởng mạnh về công nghiệp hóa và tập trung hóa cây trồng. GDP đầu người đã tăng nhanh chóng do các ngành công nghiệp ở Quảng Đông phải tìm kiếm các địa điểm sản xuất tại các khu vực có giá nhân công rẻ hơn. == Các đơn vị hành chính của Quảng Tây == Quảng Tây được chia ra 14 thành phố thuộc tỉnh (địa cấp thị), dưới nữa là 56 huyện, 34 quận, 12 huyện tự trị và 7 thị xã (huyện cấp thị). Các thành phố (địa cấp thị) là: == Địa lý == Nằm ở phía nam Trung Quốc, Quảng Tây giáp giới với Vân Nam phía tây, Quý Châu phía bắc, Hồ Nam phía đông bắc, và Quảng Đông phía đông nam. Nó cũng có biên giới với Việt Nam phía tây nam (giáp các tỉnh Hà Giang, Cao Bằng, Lạng Sơn và Quảng Ninh của Việt Nam) và Vịnh Bắc Bộ phía nam. Quảng Tây là vùng núi. Dãy Nam Lĩnh nằm ở ranh giới phía đông bắc, với Việt Thành Lĩnh (越城岭) và Hải Dương Sơn (海洋山) là những nhánh ngắn của Nam Lĩnh. Gần vào giữa tỉnh hơn có các núi Đại Dao Sơn (大瑶山) và Đại Minh Sơn (大明山). Về phía bắc có các núi Đô Dương Sơn (都阳山) và Phượng Hoàng Sơn (凤凰山), còn ở vùng ranh giới đông nam có núi Vân Khai Đại Sơn (云开大山). Đỉnh núi cao nhất Quảng Tây là Miêu Nhi Sơn, thuộc dãy Việt Thành Lĩnh, cao 2141 m. Nhiều con sông cắt qua các dãy núi tạo thành các thung lũng. Hầu hết các sông này đều thuộc lưu vực sông Tây Giang: Quảng Tây có bờ biển ngắn nằm bên Vịnh Bắc Bộ. Các hải cảng chính là Bắc Hải, Khâm Châu và Phòng Thành Cảng. Quảng Tây có khí hậu cận nhiệt đới. Mùa hè thường dài và nóng. Nhiệt độ trung bình hàng năm từ 17 - 23 °C, trong khi lượng mưa hàng năm từ 1250 - 1750 mm. Thành phố chính: Nam Ninh, Bắc Hải, Quế Lâm, Liễu Châu. Thị xã tiêu biểu: Long Môn, Tam Giang, Dương Sóc. == Kinh tế == Các loại ngũ cốc và lương thực quan trọng của Quảng Tây gồm: gạo, ngô, khoai và lúa mỳ. Hoa màu có: mía đường, lạc, thuốc lá và đay. Quảng Tây có trữ lượng thiếc, măng gan, indium nhiều hơn bất cứ tỉnh nào của Trung Quốc. Trong những năm gần đây, Quảng Tây đã tụt hậu so với tỉnh Lưỡng Quảng là Quảng Đông về kinh tế. GDP danh nghĩa năm 2004 của Quảng Tây là 332 tỷ NDT (41,19 tỷ USD), xếp thứ 17 các tỉnh Trung Quốc. GDP đầu người là 680 USD. == Dân cư == Quảng Tây là một trong những nơi bắt nguồn sớm nhất của loài người cổ của Trung Quốc, thời kỳ Nguyên cổ Quảng Tây đã có hoạt động của loài người. Tuy nhiên do điều kiện tự nhiên của Quảng Tây cổ đại khắc nghiệt, khai thác nông nghiệp thiếu nghiêm trọng, thủ công nghiệp và thương nghiệp từ xưa đến nay lạc hậu, trình độ phát triển kinh tế và số lượng dân số thời gian dài thấp hơn khu vực Trung Nguyên và khu vực lân cận như Hồ Nam, Quảng Đông, Giang Tây, Phúc Kiến v.v, vì vậy cho đến năm 1912 thời kỳ đầu dân quốc, toàn tỉnh Quảng Tây chỉ có 1,7589 triệu hộ, 9,1606 triệu người. Năm 1912 – 1926, biên độ tăng dân số khá lớn, từ 9,1606 triệu người tăng lên đến 10,633 triệu người, tăng trưởng trung bình năm 104.800 người. Năm 1926 – 1931, do trong thời kỳ này "chiến tranh Tưởng Quế" bùng nổ, nhiều năm liên tiếp tình hình chiến tranh hỗn loạn, xã hội không yên ổn, kinh tế văn hoá bị phá hoại nghiêm trọng, tăng trưởng dân số bị ảnh hưởng, từ 10,633 triệu người tăng đến 10,778 triệu người, tăng trưởng bình quân hàng năm chỉ là 29.000 người. Năm 1932 – 1944, dân số tăng nhanh chóng, từ 11,819 triệu người tăng lên đến 14,9707 triệu người, dân số tăng trung bình năm là 262.600 người.‚ Đây là do năm 1932 cho đến đêm trước kháng chiến xã hội Quảng Tây tương đối yên ổn, kinh tế văn hoá dần dần phát triển, người dân được bồi dưỡng sinh lợi. Trong thời gian chiến tranh, năm 1939 – 1940, mặc dù có quân Nhật xâm lược Nam Quảng Tây, tài sản sinh mệnh của nhân dân bị tổn thất nhất định, song thời gian chỉ là 1 năm, khu vực chỉ hơn 10 huyện, mà khi đó Quảng Tây là hậu phương lớn của kháng chiến, xã hội tương đối ổn định, lượng lớn dân bị nạn của khu chiến tranh đổ về Quảng Tây, đã thúc đẩy tăng trưởng nhanh chóng của dân số Quảng Tây. Năm 1944 – 1945, quân Nhật xâm nhập toàn diện vào Quảng Tây, toàn tỉnh 80 huyện thị bị xâm chiếm, sinh mệnh tài sản của nhân dân bị tổn thất nặng nề, dân số từ 14,9707 triệu người hạ xuống còn 14,5458 triệu người. Sau khi kháng chiến kết thúc, dân số tăng trưởng trở lại, năm 1948 tăng đến 14,6727 triệu người, tăng 126.900 người năm 1945, dân số tăng trung bình năm 42.300 người. Nhìn từ tổng thể, trước khi nước Trung Quốc mới thành lập, Quảng Tây giống như toàn quốc, vẫn bảo lưu đặc điểm tái sinh sản dân số truyền thống. Một là tăng trưởng dân số có sự tăng mạnh giảm mạnh mang tính chu kỳ. Khi kẻ thống trị thu thuế ít, xã hội ổn định, kinh tế phồn vinh, dân số tăng gấp; Khi kẻ thống trị vơ vét bóp nặn (sưu cao thuế nặng), xã hội bất ổn định, kinh tế tiêu điều, dân số giảm mạnh. Hai là tỷ lệ sinh cao, tỷ lệ tử vong cao, tỷ lệ tăng trưởng tự nhiên thấp. Theo điều tra, trước năm 1949, tỷ lệ dân số tử vong của Trung Quốc là 25%0 - 33%0, tỷ lệ tử vong trẻ em chiếm 1/5 – 1/4 số dân số ra đời, tỷ lệ dân số ra đời đạt tới 35‰ - 38‰. Sau khi nước Trung Quốc mới thành lập, quá trình phát triển của dân số Quảng Tây về đại thể đã trải qua mấy giai đoạn sau: Giai đoạn thứ nhất, thời kỳ cao trào sinh đẻ thứ nhất (1953 - 1958). Trong thời kỳ này, chính quyền mới đã dẹp yên tình hình rối loạn của chiến tranh, đồng thời đã tiến hành cải cách đất đai ở trong phạm vi toàn tỉnh, đã ngăn chặn hiệu quả hiện tượng nghèo hoá của kinh tế nông thôn, tỷ lệ tử vong của dân số liên tục hạ xuống, còn tỷ lệ sinh dân số tương đối cao, tổng số dân số từ 19,76 triệu người tăng lên đến 21,86 triệu người, trung bình năm tăng 420.000 người, tỷ lệ tăng trưởng dân số tự nhiên gần 21‰. Giai đoạn thứ hai, thời kỳ thoái trào sinh đẻ thứ nhất (1959 - 1961). Trong thời gian này, do chịu ảnh hưởng của "đại nhảy vọt" "cộng sản phong", phát triển của kinh tế quốc dân đã gặp trắc trở nghiêm trọng, mức sống của nhân dân hạ thấp nhanh chong, thêm vào liên tục gặp phải thiên tai, gây nên tỷ lệ sinh dân số giảm mạnh, tỷ lệ tử vong tăng đột ngột, tổng số dân số từ 22,05 triệu người giảm xuống còn 21,59 triệu người, trung bình năm giảm 230.000 người, tỷ lệ tăng trưởng tự nhiên dân số là -10,5‰. Giai đoạn thứ ba, thời kỳ cao trào sinh đẻ dân số thứ hai (1962-1972). Trong thời kỳ này, do quan niệm cũ "đông con nhiều phúc" của mọi người chưa thay đổi, chính phủ càng buông tuồng hành vi sai lầm "đông con nhiều phúc", do đó khi thiên tai vừa qua, cách làm "cộng sản phong" vừa mới được sửa chữa, liền xuất hiện cao trào tăng trưởng dân số thứ hai. Tổng dân số từ 22,18 triệu người tăng lên đến 29,73 triệu người, trung bình năm tăng 755.000 người, tỷ lệ tăng dân số tự nhiên là 29,7‰, còn cao hơn gần 4 phần nghìn so với mức trung bình toàn quốc. Trong thời kỳ này dân số tăng tịnh của Quảng Tây là 7,55 triệu người, đã hình thành cao trào sinh đẻ dân số lần thứ hai sau khi thành lập nước. Chính lần cao trào sinh dân số này, đã tăng thêm một bước cơ số dân số của Quảng Tây, đã tăng thêm khó khăn chồng chất cho việc thực hiện chính sách sinh đẻ kế hoạch sau thập niên 80 thế kỷ 20 của Quảng Tây, đã ảnh hưởng nghiêm trọng đến tốc độ của phát triển kinh tế và xã hội của Quảng Tây. Giai đoạn thứ tư, thời kỳ thoái trào sinh đẻ dân số thứ hai (1973-1984). Trong thời kỳ này, do Đảng và chính phủ quyết tâm nắm chặt sinh đẻ kế hoạch, cuối cùng làm cho tỷ lệ sinh hạ xuống một chút, từ đó làm cho tỷ lệ tăng trưởng dân số tự nhiên cũng hạ thấp từng năm, từ 28,3%0 năm 1973 hạ dần xuống còn 19,6‰. Giai đoạn thứ năm, giai đoạn hạ xuống sau khi tỷ lệ tăng trưởng dân số tự nhiên xuất hiện tăng trở lại rõ rệt (sau năm 1985). Kể từ nửa cuối năm 1984, nhà nước bắt đầu từng bước nới lỏng diện quan tâm đối với sinh hai. Do các nguyên nhân như kích thích nội tại của chế độ trách nhiệm bao thầu gia đình đối với mong muốn sinh đẻ của nông dân và xuất hiện sự yếu kém trong quản lý khi thể chế mới cũ thay thế, cũng như khó khăn mà lưu động dân số mang đến cho quản lý sinh đẻ kế hoạch và kết cấu tuổi tác v.v, kể từ sau năm 1985, tỷ lệ sinh và tỷ lệ tăng trưởng tự nhiên dân số trong toàn phạm vi khu tự trị xuất hiện sự tăng trở lại mạnh. Dân số tăng tịnh hàng năm từ 670.000 người năm 1985 tăng lên đến 920.000 người năm 1990, tỷ lệ tăng trưởng tự nhiên cũng từ 17,6%0 tăng lên đến 22,2‰. Tình hình phát triển này đã thu hút sự quan tâm mạnh mẽ của các nhân sĩ hữu quan, Trung ương Đảng, Quốc vụ viện càng hết sức coi trọng, đồng thời chỉ rõ, người lãnh đạo đảng chính phủ các khu vực chịu trách nhiệm chính đối với sinh đẻ kế hoạch. Sau năm 1990, tỷ lệ sinh và tỷ lệ tăng trưởng tự nhiên của dân số Quảng Tây xuất hiện xu thế hạ xuống theo năm, đến năm 2000, tỷ lệ tăng trưởng tự nhiên đạ hạ xuống còn 8‰. Dân số Quảng Tây năm 2000 là 47,51 triệu, tương đương với 81,2% dân số nước Pháp, 57,9% dân số nước Đức, 80,8% dân số nước Anh, tuy nhiên tổng giá trị sản xuất quốc dân bình quân đầu người lại thấp hơn nhiều so với trình độ của những quốc gia này, còn không bằng 3% trình độ bình quân đầu người của các quốc gia nói trên. Khu tự trị là nơi tập trung nhiều Người Tráng, hơn 14 triệu, một trong những dân tộc thiểu số chính ở Trung Quốc. Hơn 90% người Tráng ở Trung Quốc sống ở Quảng Tây, đặc biệt là ở khu vực trung tâm và phía Tây. Cũng có một số lượng khá người dân tộc thiểu số Người Đồng và Người Miêu. Dân tộc thiểu số khác gồm: Người Dao, Người Hồi, Người Di, Lô Lô, Người Thủy, và Người Kinh (người Việt). Người Hán (汉族): 27,02 triệu (62%) Người Tráng (壮族): 14,21 triệu Người Dao (瑶族): 1,47 triệu Người Miêu (苗族): 46 vạn Người Đồng (侗族): 30 vạn Người Ngật Lão (仫佬族): 17 vạn Người Mao Nam (毛南族): 7,4 vạn Người Hồi (回族): 3,3 vạn Người Bố Y (布依族): 2,1 vạn Người Kinh/Người Việt (京族): 2 vạn Người Thủy (水族): 1,5 vạn Người Tạng (彝族): 9.712 người Người Mãn (满族): 9.576 người == Văn hóa == Quảng Tây nổi tiếng vì sự đa dạng ngôn ngữ. Ví dụ ở thủ phủ Nam Ninh, có tới bốn phương ngữ được nói: Quan thoại Phương Nam, Quảng Đông thoại, Bình Thoại, và tiếng Tráng. == Các trường cao đẳng, đại học == Đại học Sư phạm Quảng Tây Đại học Quảng Tây Đại học dân tộc Quảng Tây Đại học Y khoa Quảng Tây Học viện Sư phạm Quảng Tây Học viện Công nghệ Điện tử Quế Lâm == Du lịch == Điểm du lịch hấp dẫn nhất ở Quảng Tây là Quế Lâm, một thành phố nổi tiếng khắp Trung Quốc và trên thế giới vì vẻ ngoạn mục của nó bên bờ Li Giang (漓江) với các đỉnh núi karst vây quanh. Đây từng là thủ phủ của Quảng Tây, và Tĩnh Giang vương thành (靖江王城), nơi ở trước đây của các ông hoàng cũng mở cửa cho dân chúng. Từ Quế Lâm xuôi về phía nam là thị trấn Dương Sóc (阳朔), một điểm đến nổi tiếng của du khách nước ngoài đặc biệt là khách du lịch ba-lô. Những người dân tộc thiểu số ở Quảng Tây như người Tráng và người Đồng đều rất quan tâm đến du lịch. Phía bắc của tỉnh, tiếp giáp với Quý Châu, là quê hương của ruộng bậc thang Long Môn được coi là một trong những ruộng dốc nhất trên thế giới. Không xa đó là Huyện tự trị Đồng tộc Tam Giang. == Xem thêm == Nam Ninh Quảng Đông == Tham khảo == == Liên kết ngoài == Chính quyền Quảng Tây Bản đồ Quảng Tây
hội đồng chuyển tiếp quốc gia libya.txt
Hội đồng Chuyển tiếp Quốc gia (tiếng Ả Rập: al-majlis al-waṭanī al-intiqālī) là một tổ chức hình thành bởi lực lượng chống lại tổng thống Gaddafi trong cuộc nổi dậy năm 2011. Việc hình thành tổ chức này đã được công bố tại thành phố Benghazi vào ngày 27 tháng 2 năm 2011 và mục đích của nó là có vai trò là "khuôn mặt chính trị của cuộc cách mạng". Trong một số phương tiện truyền thông, hội đồng được gọi là "Hội đồng Quốc gia Libya". Ngày 5 tháng 3 năm 2011, Hội đồng đã ban hành một tuyên bố trong đó tuyên bố mình là "đại diện duy nhất của toàn nước Libya" . Hội đồng quyết định lấy tên nhà nước Libya là nước Cộng hòa Libya (tiếng Ả Rập: الجمهورية الليبية al-Jumhūriyya al-Lībiyya). Pháp trở thành quốc gia đầu tiên công nhận Hội đồng Quốc gia của phe đối lập ở Libya và cho biết nước này sẽ gửi một đại sứ đến thành phố Bengzaghi, đại bản doanh của quân nổi dậy. == Phản ứng quốc tế == Hội đồng đã tuyên bố rằng họ muốn được công nhận bởi cộng đồng quốc tế. Chủ tịch Hội đồng nói với Al Jazeera rằng "đã có các tiếp xúc chính thức với châu Âu và các nước Ả Rập". Các quốc gia đã bày tỏ sự ủng hộ của họ đối với hội đồng: Pháp: Ngày 05 Tháng 3 2011, phát ngôn viên bộ ngoại giao Pháp Bernard Valero nói hỗ trợ của Pháp cho các hội đồng nói rằng Pháp "cam kết hỗ trợ cho các nguyên tắc mà thúc đẩy hội đồng này và các mục tiêu hội đồng đã đề ra". Ngoại trưởng Pháp Alain Juppé gọi hành động Gaddafi là "điên rồ hình sự". Vương quốc Anh: Ngày 5 tháng 3 năm 2011, Bộ trưởng quốc phòng Liam Fox phát biểu rằng một đội ngoại giao nhỏ Anh đã ở Benghazi.. Ngày 10/3, Anh và Pháp ban hành tuyên bố kêu gọi châu Âu công nhận Hội đồng Chuyển tiếp Quốc gia Libya. Hoa Kỳ: Ngoại trưởng Hoa Kỳ Hillary Clinton bày tỏ bà sẽ gặp các lãnh đạo đối lập chống Gaddafi trong một chuyến đi sắp tới đến Ai Cập và Tunisia. == Tham khảo ==
ralph waldo emerson.txt
Ralph Waldo Emerson (1803–1882) là nhà viết tiểu luận, nhà thơ, triết gia người Mỹ, và cũng là người đi đầu trong phong trào tự lực cánh sinh và chủ nghĩa siêu việt (Anh ngữ: transcendentalism). == Tiểu sử == Ralph Waldo Emerson sinh ở thành phố Boston, tiểu bang Massachusetts. Cha ông là một giáo sĩ Ki-tô giáo theo thuyết nhất vị1, giảng đạo ở Boston, qua đời khi ông lên 8 tuổi. Ralph Waldo Emerson vào học ở Đại học Havard lúc mới 14 tuổi, nhận học bổng của đại học này và tốt nghiệp vào năm 18 tuổi. Ba năm tiếp theo, ông đi dạy học ở Boston, và sinh sống với chức vụ hiệu trưởng của một trường trung học phổ thông tư. Năm 1825, ông theo học trường thần học Harvard Divinity School của Đại học Harvard. Năm sau, ông được chứng nhận là giáo sĩ giảng đạo, và bắt đầu rao giảng trong các nhà thờ ở Boston. Năm 1829, ông trở thành mục sư theo thuyết nhất vị, rồi cưới vợ, nhưng vợ ông qua đời 17 tháng sau. Năm 1832, vì bất đồng với các chức sắc giáo hội về lễ thông công và nghi ngại về việc cầu nguyện đã dẫn đến việc ông từ chức, như ông đã viết: "Phương thức này để tưởng nhớ Đấng Kitô không phù hợp với tôi. Đó là lý do tôi từ bỏ việc làm đó." Cùng năm này, ông đi châu Âu. Ông sống một thời gian ở Anh, gặp gỡ và giao thiệp với những nhân vật nổi danh như Walter Savage Landor (nhà thơ và cây bút viết văn xuôi, người Anh), Samuel Taylor Coleridge (nhà thơ dẫn đầu trường phái lãng mạn, cũng là nhà nhà phê bình, người Anh), Thomas Carlyle (sử gia, nhà phê bình xã hội người Scotland), và William Wordsworth, nhà thơ nổi tiếng của trường phái lãng mạn, người Anh). Sau gần một năm, Emerson trở về Mỹ, rồi dời đến ngụ tại thành phố Concord, Massachusetts. Năm 1835, ông kết hôn lần thứ hai. Năm 1836, ông cùng vài nhà trí thức thành lập Câu lạc Bộ thuyết Siêu việt. Năm 1838, ông được mời trở lại giảng dạy ở Đại học Havard, nhưng vì có tư tưởng quá mới lạ, gây tranh cãi, việc giảng dạy ở đây chấm dứt. Nhưng ông sinh sống nhờ vào thù lao của các bài giảng ở những nơi nào chấp nhận luồng tư tưởng của ông, và dần dà trở nên một diễn giả được ưa thích ở tiểu bang New England. Trong các buổi diễn giảng này, ông đề cập đến nhiều đề tài khác nhau. Trong Phong trào Siêu việt, Emerson giao du thân mật với những nhân vật nổi tiếng đương thời như các nhà văn Nathaniel Hawthorne và Henry David Thoreau. Emerson lại đi Anh từ năm 1847 đến 1848, được thỉnh giảng ở Anh. Giai đoạn này đóng góp nhiều tư liệu cho nguồn suy tư của ông, và tạo nên chất liệu cho nhiều tiểu luận dưới những tiêu đề khác nhau, kể các khía nhìn của một người Mỹ về nền văn hóa Anh. Cuối thập kỷ 1870, sức sáng tác của Emerson bắt đầu chậm lại, nhưng uy tín của ông càng ngày càng dâng cao. == Tư tưởng và Tác phẩm == Chịu ảnh hưởng bởi những luồng tư tưởng khác nhau như trường phái lãng mạn Anh, Học thuyết Tân Plato2 và triết lý của Ấn giáo, Emerson được nổi tiếng nhờ tài hùng biện cùng ngôn ngữ văn hoa nhằm thể hiện một cách hùng hồn ý tưởng của ông. Không như nhiều tác giả chỉ dùng ngòi bút, ông còn dùng ngôn từ qua những bài diễn văn, những tiết dạy thỉnh giảng cho sinh viên đại học... từ đó tạo sức thu hút mạnh mẽ đối với thính giả. Trong thời gian học ở Đại học Harvard, Emerson đã bắt đầu viết lách, ghi lại những điều quan sát và suy tưởng. Sau này, ông sử dụng những chất liệu đó để gọt giũa thành những tiểu luận, bài thuyết trình..., rồi sau khi ông qua đời được tổng hợp để xuất bản trong bộ hồi ức Journals. Ông cũng được biết đến như là sinh viên đã phản bác những tư tưởng mà giáo sư truyền đạt, rồi tạo dựng luồng tư tưởng cho riêng mình. Nhưng trong nghiệp viết, ông được người ta biết đến như là cây bút trừu tượng khiến cho người đọc khó thấu hiểu ông muốn diễn tả gì. Tư tưởng của ông được trình bày rõ nhất trong quyển sách đầu tiên, Nature (1836). Khởi đầu, quyển sách này được ghi tác giả là vô danh; chỉ sau khi tái bản mới mang tên ông. Khởi đầu, quyển sách không được mấy ai để ý đến, nhưng dần dà được xem là tác phẩm quan trọng nhất của ông, chứa những ý tưởng nguyên thủy mà ông vận dụng để phân tích triết lý siêu việt. Triết lý này kêu gọi tạo sự tự do cho cá nhân, để thoát khỏi những ràng buộc do con người tạo ra cho con người. Tư tưởng như thế đi ngược lại với thuyết Calvin3 trong hệ thống Ky Tô giáo vốn thịnh hành thời bấy giờ. Cũng dựa trên hệ thống triết lý này, vào năm 1837 Emerson đọc một bài diễn văn có tựa đề The American Scholar (Học giả Mỹ) tại đại hội những cựu sinh viên xuất chúng của Đại học Havard, cổ vũ cho sự độc lập về tư tưởng tri thức. Năm sau, ông đọc một bài diễn văn tại trường thần học Cambridge Divinity College. Bài diễn văn này, (không có tựa chính thức, nhưng sau đó được gọi là Address at Divinity College), làm dấy lên tranh luận sôi nổi vì có ý phê phán hệ thống tôn giáo truyền thống, cổ vũ cho sự tự lập và kinh nghiệm tâm linh trực cảm. Ông cũng gây một cú sốc cho giáo chúng Ky Tô khi đánh giá Giê-xu là một con người vĩ đại, nhưng không phải là thần thánh. Vì việc này, ông bị tố cáo là người vô thần. Dù bị công kích dữ dội, ông không trả lời. Cũng vì đã gây tranh cãi, Đại học Havard không mời ông đến giảng dạy cho đến 40 năm sau. Tuyển tập đầu tiên những bài tiểu luận được in ra trong quyển Emerson’s Essays (1841). Tuyển tập này có những bài tiểu luận gây ảnh hưởng rộng theo những tiêu đề như lịch sử, tính tự lập, tình yêu, tình bạn, anh hùng tính, nghệ thuật... Tuyển tập thứ hai có tư tưởng ôn hòa hơn, nhấn mạnh ít hơn đến bản thể và nhìn nhận rằng cuộc đời thực đặt ra nhiều hạn chế cho con người. Trong thời gian này, ông cũng đóng góp bài vở cho tạp chí The Dial, cơ quan ngôn luận của phong trào siêu việt được thành lập năm 1840. Năm 1842, ông làm chủ bút của tạp chí này. Năm 1846 (nhưng ghi năm xuất bản là 1847), ông cho xuất bản tập thơ đầu, lấy tựa đơn giản là Poems. Tuyển tập Representative Men (1850) tổng hợp những bài giảng khác của ông về những danh nhân như nhà hiền triết Plato người Hi Lạp, triết gia Emanuel Swedenborg người Thụy Điển, và cây bút Michel Eyquem de Montaigne người Pháp. Tuyển tập English Traits (1856) ghi lại những điều ông suy ngẫm sau khi quan sát xã hội và văn hóa Anh. Riêng quyển The Conduct of Life (1860) là tác phẩm đầu tiên được đón nhận nồng nhiệt ngay lần ra mắt đầu tiên. Tuyển tập này bàn đến những đề tài như quyền lực, sự giàu có, định mệnh và văn hóa. Tiếp đó là tập thơ May Day and Other Pieces (1867) gồm những bài thơ đã được gửi đăng ở các tạp chí triết lý và văn học. Thêm một số tác phẩm được xuất bản rải rác: Society and Solitude (1870) tổng hợp thêm những tư liệu đã được sử dụng cho các bài giảng; tập thơ Parnassus (1874); Letters and Social Aims (1876); và Natural History of Intellect (1893). == Danh ngôn == Hãy kết thúc mỗi ngày và quên nó đi: bạn đã làm mọi việc có thể được. Bị vướng mắc và đối diện với chuyện vô lý, bạn hãy nhanh chóng quên hết đi. Ngày mai là một ngày mới; bạn sẽ phải bắt đầu ngày này trong thanh thản và với tinh thần cao, vì thế bạn không nên để chuyện không hay vướng bận mình. Những gì phía sau ta và những gì phía trước ta đều là vụn vặt so với những gì trong tâm tư của ta. Một khi bạn đã ra quyết định, cả vũ trụ sẽ cùng hợp sức để thực hiện nó. Trên đời này thật dễ dàng sống theo ý kiến của người khác; trong cô đơn ta cũng dễ dàng sống theo bản ngã của mình; nhưng một người vĩ đại là người mà khi ở giữa đám đông vẫn giữ cho mình một sự độc lập và ngọt ngào trong cô đơn. == Ghi chú == Chú giải 1: Thuyết nhất vị hay Nhất vị luận (Unitarianism) là phong trào tôn giáo tin Thượng đế chỉ có một ngôi vị, ngược lại với quan điểm Ba Ngôi (Tam vị Nhất thể). Thuyết này đánh giá tính nhân bản và tôn chỉ đạo đức trong những lời rao giảng của Giê-xu hơn là bị hấp dẫn vì hào quang thần thánh hoặc tin vào phép lạ. Thuyết này cũng nhấn mạnh đến tinh thần trách nhiệm cá nhân và tự lực cánh sinh dựa trên lương tri và lý lẽ, không bị trói buộc trong giáo điều. Rộng ra, con người phải chịu trách nhiệm đối với bản thân mình, chứ không phải phó mặc hoặc đổ lỗi cho định mệnh. Ở điểm này, thuyết nhất vị đối đầu với thuyết định mệnh của John Calvin. Chú giải 2: Thuyết Tân Plato (neoplatonism) là hệ thống tư tưởng có tính chất triết lý pha trộn tôn giáo nhằm phát triển và tổng hợp những ý tưởng của Plato. Chú giải 3: Thuyết Calvin: chủ thuyết do John Calvin (1509-1564), nhà thần học và cải tổ tôn giáo người Pháp lập nên, tin vào quyền năng tối cao của Thượng đế, và thuyết định mệnh: mọi việc đều đã được Ơn Trên sắp đặt trước. Vào thế kỷ 16-17, thuyết này gây ảnh hưởng mạnh ở châu Âu từ dân thường cho đến vua chúa. Chẳng hạn, vua Thụy Điển là Karl XII tin rằng khi nào Thượng đế quyết định người nào chết thì anh ta sẽ chết, chưa đến khi đó thì anh ta không nên sợ chết. Ông tin tưởng và rao giảng điều này cho binh sĩ dưới quyền, khiến cho Quân đội Thụy Điển chiến đấu rất mãnh liệt. == Chú thích ==
essen.txt
Essen là một thành phố trong bang Nordrhein-Westfalen của nước Đức. Thành phố có diện tích km², dân số thời điểm năm 2008 là 579.000 người. Thành phố nằm bên sông Ruhr, là thành phố lớn thứ 7 hay 8 ở Đức. Essen là Thủ đô Văn hóa châu Âu thay mặt cho khu vực Ruhr. Đã từng là một trong những trung tâm than đá và thép quan trọng của Đức, thành phố đã phát triển trở thành một trung tâm công nghiệp lĩnh vực thứ ba. == Tham khảo ==
chỉ số thương hiệu quốc gia.txt
Chỉ số thương hiệu quốc gia (Country Brand Index – CBI) là kết quả của một nghiên cứu toàn cầu về thương hiệu quốc gia được tổ chức Future Brand công bố hằng năm. CBI đánh giá thường niên trên 75 quốc gia và xếp loại nhận diện các quốc gia trên toàn thế giới từ văn hóa, công nghiệp, sức khỏe nền kinh tế đến các chính sách công. Kết quả thu được là một sự tổng hòa rút ra từ các bài phóng sự, đánh giá của chuyên gia, các số liệu thống kê thông tin dày đặc và các dự đoán tích cực về tương lai. FutureBrand là một đơn vị tư vấn thương hiệu hàng đầu nằm trong hệ thống Interpublic cung cấp toàn cầu giải pháp Marketing chuyên nghiệp, xuất hiện ở 18 quốc gia với 23 văn phòng đại diện, 48.400 nhân viên ở mọi thị trường toàn cầu. Các khách hàng của FutureBrand gồm có ArcelorMittal, P&G, Microsoft, Nakheel, Barclays Premier, Nokia, Nestlé, MasterCard, UPS và Unilever. Future Brand là một trong số những đơn vị tiên phong dùng cách nghiên cứu để giải mã các giả thuyết vì sao có quốc gia được coi là nổi tiếng và được nhận diện nhiều hơn quốc gia khác. Giống như các thương hiệu doanh nghiệp hoặc sản phẩm khác, điểm mạnh hoặc điểm yếu trong nhận thức về một quốc gia sẽ ảnh hưởng tới quyết định của những người quan tâm về việc có hay không lựa chọn quốc gia đó để du lịch, sinh sống hoặc đầu tư. Những nhận thức tốt về về quốc gia nếu có sẽ tạo ra một lợi thế cạnh tranh lớn trên nền kinh tế toàn cầu về du lịch, giáo dục, đầu tư… nên các quốc gia rất cần xây dựng từ sớm cơ sở cho sự quản lý thương hiệu quốc gia và triển khai những dự án cụ thể. Trong vòng 5 năm qua, CBI ra đời đã góp phần đem lại nhiều hiệu quả trong việc quy hoạch minh bạch thông tin, thúc đẩy các quốc gia tối ưu hóa các chính sách quan tâm đến việc xây dựng hình ảnh thương hiệu quốc gia. Một trong số các hiệu quả cụ thể của việc triển khai đo lường CBI có thể thấy là góp phần nhấn mạnh tầm quan trọng của “nguồn gốc quốc gia” trong việc hiểu rõ sức mạnh của thương hiệu đất nước. Cụ thể, nghiên cứu Made in năm 2013 – 2014 đã chứng minh thương hiệu quốc gia đóng vai trò quyết định khi khách hàng lựa chọn tìm mua những dòng sản phẩm ngoại. Nghiên cứu cho thấy mỗi “công dân toàn cầu”, khi cần mua một chiếc xe hơi, ăn một loại đồ ăn hay mua các sản phẩm may mặc, họ hoàn toàn nhận thức được nên sử dụng sản phẩm có thương hiệu đến từ các quốc gia có tên tuổi. Những quốc gia không có được “tên tuổi” đã phải chịu bất lợi lớn khi cạnh tranh với các đối thủ khác trên trường quốc tế. == Tham khảo ==
1348.txt
Năm 1348 (Số La Mã: MCCCXLVIII) là một năm nhuận bắt đầu từ ngày thứ Ba trong lịch Julius. == Sự kiện == == Sinh == == Mất == == Tham khảo ==
bhatkal.txt
13.97°B 74.57°Đ / 13.97; 74.57 Bhatkal là một thị xã của quận Uttara Kannada thuộc bang Karnataka, Ấn Độ. == Địa lý == Bhatkal có vị trí 13.97°B 74.57°Đ / 13.97; 74.57 Nó có độ cao trung bình là 4 mét (13 foot). == Nhân khẩu == Theo điều tra dân số năm 2001 của Ấn Độ, Bhatkal có dân số 31.785 người. Phái nam chiếm 50% tổng số dân và phái nữ chiếm 50%. Bhatkal có tỷ lệ 75% biết đọc biết viết, cao hơn tỷ lệ trung bình toàn quốc là 59,5%: tỷ lệ cho phái nam là 78%, và tỷ lệ cho phái nữ là 73%. Tại Bhatkal, 14% dân số nhỏ hơn 6 tuổi. == Tham khảo ==
4 tháng 11.txt
Ngày 4 tháng 11 là ngày thứ 308 (309 trong năm nhuận) trong lịch Gregory. Còn 57 ngày trong năm. == Sự kiện == 1952 – Chính phủ liên bang Hoa Kỳ thiết lập Cơ quan An ninh Quốc gia, hay NSA. 1956 – Quân đội Liên Xô tiến vào Hungary để chấm dứt cuộc cách mạng Hungary. 1964 - Phan Khắc Sửu lên làm quốc trưởng Việt Nam Cộng hòa. 1970 – Salvador Allende nhậm chức Tổng thống Chile, người Marxist đầu tiên trở thành tổng thống tại một quốc gia Mỹ Latinh thống qua bầu cử mở. 1979 – Khủng hoảng con tin Iran, sinh viên hồi giáo Iran tấn công sứ quán Hoa Kỳ ở Teheran bắt 60 nhân viên sứ quán làm con tin. 1995 – Thủ tướng Israel Yitzhak Rabin bị ám sát trong khi tham dự một cuộc vận động quần chúng tại thành phố Tel Aviv. 2002 – Tại Phnom Penh, Trung Quốc và các nước thành viên ASEAN ký kết Tuyên bố về ứng xử các bên ở Biển Đông. 2008 – Barack Obama giành thắng lợi trước John McCain trong kỳ Bầu cử tổng thống Hoa Kỳ, trở thành người Mỹ gốc Phi đầu tiên thắng cử chức vụ này. == Người sinh == 1987 – T.O.P, thành viên ban nhạc nam Hàn Quốc Big Bang == Người chết == 1995 – Yitzhak Rabin, thủ tướng Do Thái, bị một tên cuồng tín cực hữu Do Thái bắn chết trong một cuộc vận động hòa bình. == Những ngày lễ và kỷ niệm == == Tham khảo ==