filename
stringlengths
4
100
text
stringlengths
0
254k
đèn dầu.txt
Đèn dầu hay đèn Hoa Kỳ là một loại đèn phát sáng do ngọn lửa đốt bằng dầu hỏa. Chiếc đèn dầu đầu tiên được al-Razi (Rhazes) ở Baghdad thế kỉ 9 mô tả trong cuốn Kitab al-Asrar (Sách về các điều bí mật), ông gọi nó là "naffatah". Chiếc đèn dầu hiện đại do nhà phát minh người Ba Lan, Ignacy Łukasiewicz, chế tạo ra vào năm 1853. == Hoạt động == Đèn có một bầu đựng dầu, thường làm bằng kim loại hay thủy tinh, một sợi bấc, thường được dệt bằng sợi bông, đoạn dưới nhúng trong dầu để hút dầu lên trên, đoạn trên nhô lên khỏi bầu đèn và thường được chỉnh độ dài bởi một hệ thống núm vặn. Khi châm lửa vào phần nhô lên của bấc, dầu ngấm trong bấc sẽ cháy và tạo ra một ngọn lửa màu vàng. Khi dầu cháy, hiện tượng mao dẫn bên trong sợi bấc sẽ kéo thêm dầu từ dưới bầu đựng lên để tiếp tục cháy. Kích thước của ngọn lửa được điều khiển bằng cách chỉnh độ dài của phần bấc nhô lên. Núm vặn bấc cùng với trục sẽ làm quay một bánh răng kim loại có răng găm vào sợi bấc, nhờ đó sợi bấc bị kéo lên hoặc xuống tùy theo chiều vặn núm. Nếu bấc được vặn lên quá cao, ngọn lửa sẽ có khói (muội carbon chưa cháy hết). Ngọn lửa đèn được bảo vệ bằng bóng đèn hoặc chụp đèn bằng thủy tinh. Mục đích là để tránh bị gió thổi tắt, tránh gây cháy, và để tăng luồng không khí cung cấp cho ngọn lửa nhờ hiệu ứng nhiệt. Luồng gió này mang nhiều không khí (ôxi) thổi qua ngọn lửa, làm nó cháy sáng hơn là khi để ngọn lửa không có bóng chụp. Đèn dầu có thể có mùi nếu lửa cháy không đượm, thường là do sử dụng dầu không đúng loại hoặc dầu nhiễm bẩn. == Sử dụng == Đèn dầu đã từng được sử dụng rộng rãi trên thế giới trước khi các thiết bị chiếu sáng bằng điện được phổ biến. Ngày nay, ngoài các mục đích trang trí, chiếu sáng trong trường hợp khẩn cấp, hoặc tại các vùng xa xôi không có điện, đèn dầu hiếm khi được sử dụng tại các nước có mạng lưới điện và khí đốt phát triển. === Việt Nam === Đèn dầu bắt đầu xuất hiện tại Việt Nam vào cuối thế kỉ 19 đầu thế kỉ 20, khi hãng dầu lửa Shell (thời đó gọi là hãng "con sò") của Mỹ mang dầu hỏa sang bán ở Việt Nam. Thời đó, người dân Việt Nam quen dùng dầu lạc hay nến (bạch lạp) để thắp sáng mà không quen dùng dầu hỏa. Để tiếp thị, hãng Shell phát không đèn dầu cho người mua. Do đó xuất hiện cái tên đèn Hoa Kỳ (đèn Huê Kỳ). Dần dần, đèn Hoa Kỳ thay thế những đĩa đèn dầu lạc và những ngọn bạch lạp. Ngày nay, ngoại trừ các vùng sâu vùng xa chưa có lưới điện quốc gia, đèn dầu không còn là loại phương tiện chiếu sáng thông dụng ở Việt Nam. Tuy nhiên, đèn dầu vẫn còn được đặt trên bàn thờ ở các gia đình hoặc đình chùa để "giữ lửa" và để lấy lửa thắp hương trong các kì cúng lễ hay giỗ chạp. Đèn dầu cổ đã trở thành một thú chơi cho những người sưu tập. == Các loại đèn dầu đặc biệt == Đèn bão là loại đèn có hệ thống chụp và ống thông hơi phục vụ mục đích chiếu sáng ngoài trời trong điều kiện gió mạnh mà không bị thổi tắt. == Chú thích == == Xem thêm == Đèn măng-sông == Liên kết ngoài == VietNamNet, Đi "săn" đèn dầu cổ, (bài có nhiều ảnh đèn dầu đẹp)
justine henin.txt
Justine Henin (sinh ngày 1 tháng 6 năm 1982 tại Liège), đến từ vùng Wallonie (vùng nói tiếng Pháp) thuộc nước Bỉ, là tay vợt nữ đã từng nhiều lần được xếp hạng 1 thế giới. Henin đã giành được 7 danh hiệu Grand Slam đơn: 4 Pháp mở rộng, 2 Mỹ mở rộng và 1 Úc mở rộng. Cô nổi tiếng có một tinh thần thi đấu bền bỉ và có cú trái tay bằng một tay mà John McEnroe từng nhận xét đó là cú trái tay hay và đẹp nhất hơn bất cứ tay vợt nam nữ nào trên thế giới từng đánh. Ngày 26 tháng 1 năm 2011, cô thông báo buộc phải giải nghệ một lần nữa vì chấn thương khuỷu tay. Trong tháng 6 năm 2011, cô được vinh danh là một trong 30 huyền thoại quần vợt nữ bởi Time. == Tuổi thơ == Cô bé Justine lớn lên ở ngôi làng nhỏ Rochefort, trong một ngôi nhà gần câu lạc bộ tennis Rochefort. Lần đầu Juju đặt chân lên một sân quân vợt là vào năm năm tuổi. Rất nhanh cô đã tỏ ra có năng khiếu đặc biệt và có một chương trình rèn luyện riêng. Ngay từ nhỏ, Justine Henin đã rèn luyện được ý chí chiến đấu kiên cường để đạt được cái đích mà mình đặt ra. Ngay từ thuở đầu khi mới bắt đầu cầm vợt, cô đã có ước mơ trở thành một nhà vô địch và phấn đấu hết sức để đạt được điều đó. Nhận được sự ủng hộ của cả gia đình, mỗi mùa hè, người ta đều thấy mẹ của cô, một giáo viên dạy tiếng Pháp và lịch sử, chở cô sang Paris để xem giải Pháp mở rộng cho đến khi bà qua đời bởi bệnh ung thư dạ dày khi cô mới 12 tuổi. == Cuộc sống gia đình == Ngày 16 tháng 11 năm 2002, cô cưới Pierre-Yves Hardenne, một huấn luyện viên môn quần vợt tại Château de Lavaux-Sainte-Anne. Từ đó, tên thi đấu của cô được đổi thành Justine Henin-Hardenne vì luật Bỉ không yêu cầu phụ nữ đổi họ theo chồng. Người ta thường nói tới đám cưới này như một điều tích cực đến sự nghiệp của cô vì sau đám cưới, cô có một năm thi đấu rất thành công khi liên tiếp giành được 3 chức vô địch Grand Slam cũng như huy chương vàng tại Thế vận hội Athena 2004. Đầu tháng 1 năm 2007, nhiều hãng tin loan báo cô đã trở lại với tên cũ "Justine Henin" sau khi li dị chồng. Trên trang chủ của mình, Justine Henin đã khẳng định điều này. == Sự nghiệp quần vợt == === Thành tích khi thi đấu ở các lứa tuổi trẻ === Năm 14 tuổi, cô gặp Carlos Rodriguez, huấn luyện viên người Argentina gắn bó với sự nghiệp của cô cho đến nay. Cùng với ông, cô đã nhanh chóng khẳng định được tài năng của mình bằng việc đoạt được một số giải thưởng quần vợt quan trọng nhất dành cho các tay vợt trẻ như vô địch giải Orange Bowl lứa tuổi U 14 năm 1996, cùng năm đó cô cũng giành chức vị trí quán quân giải vô địch châu Âu U 14 được tổ chức tại San Remo. Sang năm 1997, Henin chiến thắng tại Roland Garros dành cho các tay vợt thiếu niên ở nội dung đơn nữ. Sau đó, trong khi các tay vợt cùng trang lứa tiếp tục rèn luyện bằng việc thi đấu thêm vài năm nữa ở các giải đấu dành cho thiếu niên. Cô và Rodriguez lại quyết định lập tức tham gia tranh đấu ở các giải thuộc hệ thống ITF (Các giải dành cho vận động viên chuyên nghiệp nhưng kém các giải thuộc hệ thống WTA Tour). Từ đó cho đến khi chính thức bắt đầu sự nghiệp vận động viên quần vợt chuyên nghiệp của mình vào năm 1999, Juju đã giành được 6 chức vô địch ITF đơn và 1 chức vô địch ở nội dung đánh đôi. Chức vô địch ITF thứ 7 cô giành được vào năm 2000 khi tham gia giải ở thành phố nơi cô sinh ra: Liege. === 1999 === Justine Henin tham gia giải đấu chuyên nghiệp thuộc hệ thống WTA Tour đầu tiên của mình tại Antwerpen, Bỉ vào tháng năm 1999 khi nhận được một xuất vé mời (Wild card) của ban tổ chức giải. Ngay lập tức, cô đã lọt vào trận chung kết trước khi đánh bại tay vợt người Pháp Sarah Pitkowski-Malcor để giành chức vô địch. Nhờ vậy Justine trở thành tay vợt thứ năm trong lịch sử giành chức vô địch một giải thuộc hệ thống WTA Tour ngay tại lần đầu tiên tham dự. Với thành tích này, cô có bước nhảy vọt trong bảng xếp hạng, từ vị trí thứ 178 trước khi tham dự giải, cô xếp thứ 106 sau chiến thắng tại Antwerpen. Trong năm này, cô cũng lần đầu tiên khoác áo đội tuyển Bỉ thi đấu tại Fed Cup và giúp cho đội lọt vào bán kết của giải. Đồng thời Henin lần đầu tiên tham gia thi đấu tại một giải Grand Slam khi vượt qua vòng loại giải Pháp mở rộng và bốn tháng sau lọt thẳng vào vòng đấu chính của Mỹ Mở rộng. === 2000 === Năm 2000 là một năm kém may mắn đối với Henin. Juju bị chấn thương ở nửa đầu mùa giải khiến cô phải nghỉ thi đấu trong vòng hơn 4 tháng. Thành tích ấn tượng nhất của năm có lẽ là việc cô lọt vào vòng 4 của giải Mỹ mở rộng, sau khi đánh bại tay vợt hạt giống số 14, Anna Kournilova. Thành tích này cho phép cô lần đầu tiên lọt vào "Top 50" trong bảng xếp hạng của Hiệp hội quần vợt nữ. === 2001 === Justine Henin khởi đầu năm 2001 không thể nào ấn tượng hơn được. Cô dành liền hai chức vô địch tại hai giải đầu tiên mà mình tham gia là Gold Coast và Canberra. Nhưng nếu đem so sánh với những thành tích cô đạt được ở phần còn lại của năm thi hai chiến thắng này chưa thấm vào đâu. Đặc biệt là vào mùa hè 2001 khi cô liên tiếp lọt vào bán kết giải được xếp hạng Tier I, Berlin Open. Rồi bán kết giải Pháp mở rộng, vô địch giải 'S-Hertogenbosch và lọt vào trận chung kết Wimbledon. Những thành tích ấn tượng trên cho phép cô lọt vào "Top 10" WTA cũng như tham dự giải WTA Championships lần đầu tiên trong sự nghiệp. Cô cũng là thành viên của đội tuyển Bỉ giành danh hiệu vô địch Cúp Fed năm 2001, danh hiệu đầu tiên trong lịch sử của đất nước nhỏ bé này. === 2002 === Năm thi đấu tương đối thành công của Justine Henin tuy cô không giành được danh hiệu nào nổi bật nào ngoài chiến thắng tại giải Tier I Berlin (chức vô địch một giải Tier I đầu tiên của cô). Việc thi đấu khá ổn định và thường xuyên lọt xâu vào các vòng đấu trong khiến Juju vững vàng trong top 10 và kết thúc năm 2002 ở vị trí thứ 5 trong bảng xếp hạng thế giới. === 2003 === Năm 2003 là năm Justine, bây giờ là bà Henin-Hardenne, khẳng định rằng mình có thể cạnh tranh danh hiệu số một thế giới. Có lẽ cô nhận thức được điều này khi lần đầu tiên trong sự nghiệp cô đánh bại Lindsay Davenport trong một trận đấu nghẹt thở kéo dài 3 h 13, ở vòng 4 Úc Mở rộng, kết thúc với tỉ số 7-5 5-7 9-7. Tiếp nối thắng lợi đó, cô đã giành được những kết quả vô cùng ấn tượng để giành danh hiệu số một thế giới lần đầu tiên vào ngày 20 tháng 10 sau khi chiến thắng tại Zürich. Tổng kết lại toàn bộ năm 2003, cô đã chiến thắng tổng cộng 75 trận, chịu thua 11 lần. Lọt vào ít nhất là trận bán kết ở 18 giải trong tổng số 19 giải tham gia thi đấu. Juju giành được 8 danh hiệu vô địch trong đó có hai chức vô địch Grand Slam đầu tiên của cô sau chiến thắng tại các giải Pháp Mở rộng và Mỹ Mở rộng. Cô nhận được 3.667.430 $ tiền thưởng và ở tại ngôi vị số một thế giới vào tuần cuối cùng của năm. === 2004 === Henin khởi đầu năm 2004 cũng ấn tượng như năm 2003, thậm chí còn ấn tượng hơn, khi cô vô địch giải Úc Mở rộng và ba giải nhỏ nữa để trở thành tay vợt đạt được mức tiền thưởng 1 triệu U$ trong năm nhanh nhất trong lịch sử. Sau đó, một loạt vấn đề về sức khỏe khiến cô phải nghỉ thi đấu trong phần lớn thời gian còn lại của năm. Nhưng trong thời gian có thể thi đấu được, cô cũng kịp giành được một chiến thắng vô cùng ý nghĩa trong sự nghiệp khi dành huy chương vàng tại một kỳ Thế vận hội tại Athena 2004. === 2005 === Vận xui lại tiếp tục bám đuổi cô vào đầu năm 2005, trong một buổi tập chuẩn bị cho mùa giải mới, cô bị chấn thương đầu gối và phải nghỉ thi đấu ba tháng. Phải đến cuối tháng 3 Justine mới trở lại sân đấu tại Miami. Ngay lập tức, cô đã nhanh chóng dần lấy lại được phong độ cũ khi chỉ chịu thua Maria Sharapova ở trận tứ kết. Nhưng mùa giải trên sân đất nện của cô mới thực sự nổi bật, cô giành liên tiếp ba danh hiệu vô địch ở Charleston, Warszawa và Berlin trước khi đến Paris dự giải Pháp mở rộng. Năm nay, tại Roland Garros, dù rơi vào phần bảng rất khó tập trung đa số các chuyên gia sân đất nện nhưng tại giải Pháp mở rộng năm 2005 dường như không ai đủ sức chặn cô giành danh hiệu Grand Slam thứ tư của mình. Kết quả thắng Mary Pierce hai set cùng với tỉ số 6-1 là dẫn chứng hùng hồn nhất vì điều đó. Henin trở thành tay vợt thứ 4 trong lịch sử bất bại trên mặt sân đất nện kể cỏ khi tham dự giải Pháp mở rộng trong cùng một mùa giải. Mệt mỏi sau nhiều tháng thi đấu liên tục và gặp phải một chấn thương nhỏ, cô quyết định tới Wimbledon mà không có một trận đấu chuẩn bị nào trên mặt sân cỏ. Cô thua ngay tại vòng 1 và trở thành ĐKVĐ Roland Garros đầu tiên thua tại vòng một Wimbledon. Nửa sau của mùa giải kém may mắn hơn đối với Justine khi cô liên tiếp gặp phải những vấn đề nhỏ về sức khỏe, cô quyết định kết thúc mùa giải sớm vào tháng 10 và không tham dự WTA Championships dù đã đoạt đủ điểm để góp mặt. === 2006 === Từ rất lầu rồi Justine Henin mới có được một mùa giải thi đấu gần trọn vẹn như năm 2006. Cô đã không phụ lòng người hâm mộ khi giành lại được vị trí số một thế giới từ tay Amelie Mauresmo. Cô cũng trở thành một trong những tay vợt hiếm hoi lọt vào cả 4 trận chung kết Grand Slam trong cùng một năm. Cũng như trận chung kết giải WTA Championships mà cuối cùng cô giành chức vô địch. Thất bại đáng tiếc nhất của cô có lẽ là không giúp được đội Bỉ giành chức vô địch Fed Cup khi thua Italia ở trận chung kết. Nhìn lại cả năm, cô giành được 6 chức vô địch trong đó có một chức vô địch Grand Slam (Pháp mở rộng), cô cũng lần đầu vô địch giải WTA Championships, kiếm được 4.204.810 U$ tiền thưởng và thắng 60/68 trận đấu đã tham gia trong cả năm. === 2007 === Năm 2007, Justine Henin rút lui khỏi giải đấu đầu năm ở Sydney và sau đó là Úc mở rộng vì lý do gia đình. Tháng 2 cô trở lại, thi đấu rất thành công tại Doha Open và Dubai Open. Henin đã giành cả 2 chức vô địch, đây cũng là năm thứ 4 cô chiến thắng tại Dubai, đánh bại Amelie Mauresmo của Pháp trong trận chung kết. Vào tháng 3, Justine Henin lọt vào đến trận chung kết giải Miami, Mỹ, để thua tay vợt nước chủ nhà Serena Williams. Đây cũng là thành tích cao nhất của cô ở giải đấu này. Tiếp tục chuỗi thành công của mình, Henin giành chức vô địch tại Warsaw Open, giải đấu trên sân đất nện chuẩn bị cho French Open. Tiếp đến tại Berlin mở rộng, cô thi đấu cũng khá thành công, chỉ chịu gác vợt trước tay vợt Svetlana Kuznetsova 6-4 7-5 6-4 tại bán kết. Đây mới chỉ là thất bại thứ hai của Henin trong 16 lần 2 tay vợt này gặp nhau. Henin khẳng định phong độ ấn tượng của mình khi vô địch giải Pháp mở rộng lần thứ ba liên tiếp, đồng thời vượt ngưỡng 15 triệu $ tiền thưởng trong toàn sự nghiệp thi đấu của mình. Đây cũng là lần thứ hai liên tiếp Henin không thua set nào tại Paris. Sau tháng 5 thắng lợi tại Paris, cô sang Luân Đôn để bước vào cuộc chinh phục chức vô địch Grand Slam cuối cùng còn thiếu trong bảng thành tích của mình, Wimbledon. Sự chuẩn bị của cô khá tốt khi Henin giành chức vô địch tại Eastbourne cũng như lọt khá dễ dàng vào vòng tứ kết Wimbledon. Tại vòng đấu này, Justine có trận thử lửa đầu tiên, gặp Serena Williams, cô đã giành thắng lợi sau một trận đấu mà người hâm mộ đánh giá sẽ còn được nhắc lại trong nhiều năm nữa. Ở bán kết, đối thủ của cô là Marion Bartoli, một bất ngờ của giải, lần này, cô là người chịu thất bại sau khi để tay vợt trẻ người Pháp lội ngược dòng, lật ngược tình thế ở nửa cuối trận đấu. Đấy cũng là thất bại cuối cùng của Henin trong năm 2007, lập lại thành tích của Steffi Graf năm 1989, với chuỗi 25 trận bất bại, vô địch cả 5 giải đấu cuối cùng trong năm mà cô tham dự, trong đó có 1 chức vô địch Grand Slam, 1 chức vô địch WTA Championship và hai chức vô địch các giải Tier 1. Tại giải Mỹ mở rộng, Henin giành được chức vô địch lần thứ hai khi hạ tay vợt Svetlana Kuznetsova (cựu vô địch giải này năm 2004) 6-1, 6-3 ở chung kết và không thua một set nào trong cả giải. Henin là người thứ hai hạ được cả hai chị em nhà Williams (Serena ở tứ kết và Venus ở bán kết) trong một giải Grand Slam (sau Martina Hingis năm 2001 tại giải Úc mở rộng). Henin kết thúc năm ở ngôi vị số 1 thế giới sau khi lần thứ hai liên tiếp đăng quang tại giải WTA Championship sau khi vượt tay vợt người Nga Maria Sharapova trong trận chung kết kéo dài 3 giờ 24 phút (5-7,7-5,6-3) và là danh hiệu thứ 10 trong năm của cô. Henin trở thành tay vợt nữ đầu tiên giành được hơn 5 triệu đô la tiền thưởng trong năm, vượt qua kỉ lục cũ của người đồng hương Kim Clijster năm 2003 (gần 4,5 triệu). 2007 là một năm thành công của Henin, với 10 danh hiệu cá nhân (trong đó có 2 Grand Slam và WTA Championship), số tiền thưởng kỉ lục và vững vàng ở ngôi vị số 1 thế giới. === Giải nghệ === Ngày 14 tháng 5 năm 2008 Henin tuyên bố giải nghệ và yêu cầu Hiệp hội quần vợt nữ rút tên cô ra khỏi bảng xếp hạng quốc tế. Đây là một điều ngạc nhiên vì cô đang đứng vị trí số 1 trên thế giới và ứng cử viên sáng giá cho chức vô địch giải Pháp Mở Rộng năm 2008, giải đấu mà cô đã 3 lần vô địch. === Tuyên bố trở lại === Ngày 23 tháng 9 năm 2009, Henin tuyên bố sẽ trở lại tranh giải sau 16 tháng giải nghệ. === Giải nghệ lần 2 === Ngày 26 tháng 1 năm 2011, Henin tuyên bố giải nghệ dứt khoát do chấn thương khuỷu tay của cô từ giải Wimbledon trước đã trở nên trầm trọng hơn. == Giải thưởng == 2003 Vận động viên thể thao Bỉ của năm. Vô địch thế giới ITF. 2004 Tay vợt WTA của năm (cho năm 2003). Vận động viên thể thao Bỉ của năm. == Chung kết Grand Slam đơn nữ đã tham dự == === Vô địch (7) === === Thua ở trận chung kết (4) === == Chung kết giải WTA Tour Championships đơn nữ đã tham dự == === Vô địch (2) === == Chung kết các giải WTA Tour đã tham dự == === Vô địch (43) === == Các danh hiệu ITF == === Các chức vô địch ITF nội dung đơn nữ === === Các chức vô địch ITF nội dung đôi nữ === == Tham khảo == == Liên kết ngoài == Website chính thức Justine Henin tại Hiệp hội quần vợt nữ Justine Henin trên ITF Justine Henin tại Fed Cup Justine Henin tại Internet Movie Database
massachusetts.txt
Massachusetts, tên chính thức: Thịnh vượng chung Massachusetts, là tiểu bang đông dân nhất của khu vực New England thuộc vùng Đông Bắc Hoa Kỳ. Phía đông Massachusetts giáp với Đại Tây Dương, phía nam giáp với các tiểu bang Connecticut và Rhode Island, phía bác giáp với New Hampshire và Vermont, và phía tây giáp với tiểu bang New York. Thủ đô của Massachusetts và thành phố lớn nhất của New England là Boston. Hơn 80% dân số của bang Massachusetts sống ở vùng đô thị Boston, khu vực có nhiều ảnh hưởng đến lịch sử và kinh tế Hoa Kỳ. Cảng Hàng không Quốc tế Boston-Logan là cảng hàng không tấp nập nhất của khu vực New England. Từ một vùng đất mậu dịch và nông nghiệp-thủy sản, trong cuộc Cách mạng Công nghiệp, tiểu bang Massachusetts đã trở thành một trung tâm sản xuất. Trong thế kỉ thứ 20, nền kinh tế của Massachusetts chuyển từ sản xuất sang dịch vụ. Hiện nay, Massachusetts là khu vực tiên phong trên thế giới trong các lĩnh vực như công nghệ sinh học, công nghệ thông tin, tài chính, giáo dục bậc cao và giao thương hàng hải. Toàn bộ vùng Thịnh vượng chung Massachusetts đóng một vai trò quan trọng trong lịch sử thương mại và văn hóa Hoa Kỳ. Plymouth là địa điểm thuộc địa đầu tiên của New England, thành lập năm 1620 bởi những người hành hương, hành khách của tàu Mayflower. Viện Đại học Harvard ở Cambridge là cơ sở giáo dục bậc cao lâu đời nhất của Hoa Kỳ. có tổng số tiền hiến tặng lớn hơn bất kì cơ sở học thuật nào trên thế giới, và có Trường Luật đào tạo ra đa số các Thẩm phán đương đại của Tòa án Tối cao Hoa Kỳ. Năm 1692, thị trấn Salem và các khu vực phụ cận đã trải qua một trong những trường hợp rối loạn phân ly tập thể nổi tiếng nhất của Hoa Kỳ: các phiên tòa phù thủy Salem. Vào thế kỉ thứ 18, Đại Tỉnh thức của tông phái Kháng Cách càn quét thế giới Atlantic khởi đầu từ thuyết giáo của nhà thuyết giáo vùng Northampton Jonathan Edwards. Vào cuối thế kỉ thứ 18, Boston được biết đến như "Cái nôi của Tự do" vì những xung động góp phần dẫn tới Cách mạng Mỹ. Năm 1777, Đại tướng Henry Knox thành lập kho vũ khí Springfield, nơi đã kiến thiết nhiều tiến bộ kĩ thuật quan trọng trong Cách mạng Công nghiệp, bao gồm các bộ phận hoán đổi. Năm 1786, cuộc nổi dậy của Shay, cuộc nổi dậy theo phái dân kiểm của các cựu chiến binh không bị ảnh hưởng bởi Cách mạng Mỹ, đã gây ảnh hưởng đến Hội nghị Hiến pháp Hoa Kỳ. Trước Nội chiến Hoa Kỳ, Massachusetts là trung tâm của các phong trào chủ nghĩa bãi nô, phong trào vận động hạn chế rựơu mạnh, và phong trào thuyết tiên nghiệm.Vào thế kỉ thứ 19, các môn thể thao bóng rổ và bóng chuyền đã được phát minh lần lượt tại các thành phố phía tây Massachusetts Springfield và Holyoke. Năm 2004, bang Massachusetts đã trở thành tiểu bang Hoa Kỳ đầu tiên công nhận sự hợp pháp của hôn nhân đồng giới do kết quả của phiên tòa Tòa án Tối cao của bang. Nhiều gia tộc chính trị nổi bật của Hoa Kỳ như gia tộc Adams hay gia tộc Kennedy đều khởi nguồn từ tiểu bang Massachusetts. == Tham khảo == == Liên kết ngoài == Massachusetts Office of Travel and Tourism
chiến tranh chống khủng bố.txt
Thuật ngữ Chiến tranh chống khủng bố hay Chiến tranh toàn cầu chống khủng bố (tiếng Anh: War on Terror hay Global War on Terrorism) được sử dụng lần đầu tiên bởi Tổng thống Hoa Kỳ George W. Bush và những nhân viên cao cấp Hoa Kỳ để chỉ đến xung đột toàn cầu quân sự, chính trị, luật pháp, và tư tưởng chống các tổ chức được coi là khủng bố, cũng như những chính quyền và cá nhân hỗ trợ hay có liên quan đến họ. Thuật ngữ này chủ yếu chỉ đến khủng bố Hồi giáo chống Hoa Kỳ, nhất là tổ chức khủng bố al-Qaeda, với mục đích "kết thúc chủ nghĩa khủng bố quốc tế" đáp trả lại vụ tấn công vào Mỹ ngày 11 tháng 9 năm 2001 do al-Qaeda tiến hành. Chính quyền Tổng thống Barack Obama gọi xung đột này là Overseas Contingency Operation (tạm dịch "Chiến dịch Ngẫu nhiên Hải ngoại"), "Chiến tranh chống khủng bố" vẫn được sử dụng thông thường trong chính trị, báo chí, và một số cơ quan chính phủ, vì thế có Huy chương Dịch vụ Chiến tranh toàn cầu chống khủng bố (Global War on Terrorism Service Medal) của Quân đội Hoa Kỳ. == Chú thích == == Xem thêm == Chiến tranh chống ma túy Trục ma quỷ Hệ thống nhà tù bí mật của Mỹ Học thuyết Bush Các quốc gia tài trợ cho khủng bố
4g.txt
4G, hay 4-G, viết tắt của fourth-generation, là công nghệ truyền thông không dây thứ tư, cho phép truyền tải dữ liệu với tốc độ tối đa trong điều kiện lý tưởng lên tới 1 cho đến 1,5 Gb/giây. Tên gọi 4G do IEEE (Institute of Electrical and Electronics Engineers) đặt ra để diễn đạt ý nghĩa "3G và hơn nữa" 4G còn được hiểu như là ngôn ngữ sử dụng thứ tư trong công nghệ vi tính. Công nghệ 4G được hiểu là chuẩn tương lai của các thiết bị không dây. Các nghiên cứu đầu tiên của NTT DoCoMo cho biết, điện thoại 4G có thể nhận dữ liệu với tốc độ 100 Megabyte/giây khi di chuyển và tới 1 Gb/giây khi đứng yên, cho phép người sử dụng có thể tải và truyền lên hình ảnh động chất lượng cao. Mạng điện thoại 3G hiện tại của DoCoMo có tốc độ tải là 384 kilobyte/giây và truyền dữ liệu lên với tốc độ 129 kilobyte/giây. NTT DoCoMo hy vọng đến năm 2010 sẽ có thể đưa mạng 4G vào kinh doanh. == Xem thêm == 0G PTT MTS IMTS AMTS 0.5G Autotel/PALM ARP 1G NMT AMPS Hicap CDPD Mobitex DataTac 2G GSM iDEN D-AMPS cdmaOne PDC CSD PHS 2.5G GPRS HSCSD WiDEN 2.75G CDMA2000 1xRTT EDGE 3G W-CDMA UMTS FOMA CDMA2000 1xEV TD-SCDMA UMA 3.5G HSDPA 3.75G HSUPA WiMAX Mesh networking Handover == Tham khảo == == Liên kết ngoài == Hướng dẫn nghiên cứu 4G 4G FAQ-Những thắc mắc thường có về 4G Xung quanh dự án mạng Dự án nghiên cứu tài chính về 4G. Tổng quan về điện thoại 4G Technical White Paper Chuẩn bị cho... 4G
quả bóng vàng việt nam.txt
Quả bóng vàng Việt Nam là giải thưởng đầu tiên dành cho các cầu thủ bóng đá xuất sắc nhất Việt Nam. Giải do báo Sài Gòn Giải Phóng đề xướng và tổ chức từ năm 1995. Ban đầu giải thưởng chỉ dành cho cầu thủ nam, đến năm 2000 có thêm giải cầu thủ nam trẻ, năm 2001 thêm giải thưởng cho cầu thủ nữ và cầu thủ nước ngoài thi đấu ở Việt Nam, năm 2012 có thêm giải cầu thủ nữ trẻ. Tuy nhiên năm 2013 giải không được trao với lý do nền bóng đá Việt Nam trong năm không có thành công, gặp nhiều thất bại. == Danh sách các nam cầu thủ đoạt giải == - Cầu thủ nam trẻ nhất đoạt giải: Phạm Văn Quyến (đoạt giải năm 2003) và Lê Công Vinh (đoạt giải năm 2004) khi đó cả hai mới chỉ 19 tuổi. == Danh sách các nữ cầu thủ đoạt giải == - Cầu thủ nữ trẻ nhất đoạt giải: Văn Thị Thanh (đoạt giải năm 2003 - sinh năm 1985) khi đó mới chỉ 18 tuổi. == Các giải khác == == Chú thích == == Liên kết ngoài == Lịch sử Quả bóng vàng Việt Nam trên báo Sài Gòn Giải Phóng: kỳ 1, kỳ 2, 3, 4, 5, 6.
30 tháng 4.txt
Ngày 30 tháng 4 là ngày thứ 120 trong mỗi năm thường (thứ 121 trong mỗi năm nhuận). Còn 245 ngày nữa trong năm. == Sự kiện == 313 – Hoàng đế Licinius đánh bại Maximinus II trong trận Tzirallum và thống nhất Đế quốc Đông La Mã. 502 – Lương vương Tiêu Diễn tức hoàng đế vị, khởi đầu triều Lương, sau đó giáng Nam Tề Hòa Đế Tiêu Bảo Dung làm Ba Lăng vương, tức ngày Bính Dần (8) tháng 4 năm Nhâm Ngọ. 932 – Mân vương Vương Diên Quân phục vị sau một thời gian làm đạo sĩ, tức ngày Giáp Thìn (22) tháng 3 năm Nhâm Thìn. 1492 – Tây Ban Nha ủy nhiệm việc thám hiểm cho Cristoforo Colombo. 1789 – Trên ban công Tòa nhà Liên bang trên Phố Wall tại thành phố New York, George Washington đọc lời tuyên thệ nhậm chức Tổng thống dân cử đầu tiên của Hoa Kỳ. 1803 – Hoa Kỳ mua lại Lãnh thổ Louisiana rộng lớn mà Pháp tuyên bố chủ quyền với giá 78 triệu Franc Pháp. 1812 – Lãnh thổ Orleans trở thành tiểu bang thứ 18 của Hoa Kỳ với tên Louisiana. 1888 – Ito Hirobumi trở thành chủ tịch đầu tiên của Xu mật viện Nhật Bản. 1994 – Chiến tranh Nga-Nhật: Trận sông Áp Lục bắt đầu. 1941 – Chiến tranh thế giới thứ hai: Trận Hy Lạp kết thúc với thắng lợi quyết định của phe Trục. 1945 – Adolf Hitler và Eva Braun cùng tự sát sau khi kết hôn chỉ được một ngày. Liên Xô cắm quốc kỳ trên nóc Tòa nhà quốc hội Đức. 1948 – Tổ chức các quốc gia châu Mỹ được hình thành tại Bogotá, Colombia. 1949 – Chiến tranh Đông Dương: Việt Minh quyết định kết thúc Chiến dịch Cao-Bắc-Lạng. 1975 – Sự kiện 30 tháng 4 năm 1975: Quân giải phóng miền Nam Việt Nam chiếm giữ Sài Gòn, Chiến tranh Việt Nam kết thúc với việc Tổng thống Việt Nam Cộng hòa Dương Văn Minh đầu hàng vô điều kiện. 1993 – CERN tuyên bố rằng World Wide Web sẽ phục vụ miễn phí. 1999 – Campuchia gia nhập Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á, nâng tổng số hội viên của tổ chức này lên 10. 1999 – Số hội viên NATO tăng lên khi Cộng hoà Séc, Hungary và Ba Lan chính thức gia nhập. 2009 – Bảy người thiệt mạng và 17 người bị thương trong vụ tấn công tại Apeldoorn, Hà Lan trong một nỗ lực nhằm ám sát Nữ vương Beatrix của Hà Lan. 2009 – Thảm sát Học viện Dầu mỏ Azerbaijan: 12 bị thiệt mạng trong cuộc tấn công của những phần tử vũ trang. 2013 – Nữ vương Beatrix của Hà Lan thoái vị, Willem-Alexander trở thành quân chủ mới của quốc gia. 2014 – 3 người chết và 79 người bị thương trong vụ khủng bố bằng dao và nổ bom tại khu chợ trời ở Urumqi, thủ phủ khu tự trị Tân Cương. == Sinh == 1245 – Philippe III, quốc vương của Pháp (m. 1285) 1651 – Gioan La San, linh mục, nhà cải cách giáo dục người Pháp (m. 1719) 1662 – Mary II, nữ vương của, Scotland và Ireland (m. 1694) 1777 – Carl Friedrich Gauß, nhà toán học người Đức (m. 1855) 1803 – Albrecht von Roon, sĩ quan và chính trị gia người Đức (m. 1879) 1870 – Franz Lehár, nhà soạn nhạc người Slovak-Áo (m. 1948) 1888 – Antonio Sant'Elia, kiến trúc sư người Ý (m. 1916) 1901 – Simon Kuznets, nhà kinh tế học người Ukraina-Mỹ, đoạt giải Nobel (m. 1985) 1902 – Theodore Schultz, nhà kinh tế học người Mỹ, đoạt giải Nobel (m. 1998) 1904 – Nhậm Bật Thời, nhà lãnh đạo quân sự và chính trị người Trung Quốc (m. 1950) 1909 – Juliana, nữ vương của Hà Lan (m. 2004) 1911 – Phùng Há, diễn viên cải lương người Việt Nam (m. 2009) 1914 – Trần Hiệu, nhà hoạt động và chính trị gia người Việt Nam (m. 1997) 1916 – Claude Shannon, nhà toán học và kỹ sư người Mỹ (m. 2001) 1920 – Hoàng Cầm, tướng lĩnh người Việt Nam (m. 2013) 1946 – Carl XVI Gustaf, quốc vương của Thụy Điển 1948 – Robert Tarjan, nhà khoa học máy tính người Mỹ 1954 – Jane Campion, đạo diễn, nhà sản xuất, nhà biên kịch người New Zealand 1956 – Lars von Trier, đạo diễn và nhà biên kịch người Đan Mạch 1956 – Nguyễn Quang Lập, nhà văn, nhà biên kịch người Việt Nam 1958 – Lương Chi Mai, nhà khoa học máy tính người Việt Nam 1959 – Stephen Harper, Thủ tướng Canada 1961 – Franky Van der Elst, cầu thủ bóng đá và huấn luyện viên người Bỉ 1962 – Maehara Seiji, chính trị gia người Nhật Bản 1967 – Philipp Bedrosovich Kirkorov, ca sĩ người Bulgaria-Armenia-Nga 1972 – Tokiwa Takako, diễn viên người Nhật Bản 1973 – Akon, ca sĩ người Senegal-Mỹ 1981 – John O'Shea, cầu thủ bóng đá người Ireland 1982 – Kirsten Dunst, diễn viên và ca sĩ người Mỹ 1982 – Drew Seeley,ca sĩ, vũ công, diễn viên người Canada-Mỹ 1985 – Ashley Alexandra Dupre, nhà bình luận, ca sĩ, gái gọi người Mỹ 1986 – Dianna Agron, diễn viên, ca sĩ, vũ công người Mỹ 1989 – Wooyoung, ca sĩ, vũ công, diễn viên người Hàn Quốc (2PM) 1992 – Marc-André ter Stegen, cầu thủ bóng đá người Đức == Mất == 1030 – Mahmud của Ghazni, sultan của đế quốc Ghaznavid (s. 971) 1063 – Triệu Trinh, tức Tống Nhân Tông, hoàng đế của triều Tống, tức ngày Tân Mùi (29) tháng 3 năm Quý Mão (s. 1010) 1687 – Nguyễn Phúc Tần, chúa Nguyễn, tức 19 tháng 3 năm Đinh Mão (s. 1648) 1870 – Nguyễn Phúc Miên Thẩm, thành viên hoàng thất và thi sĩ triều Nguyễn, tức 30 tháng 3 năm Canh Ngọ (s. 1819) 1883 – Édouard Manet, họa sĩ người Pháp (s. 1832) 1945 – Eva Braun, vợ của Adolf Hitler (s. 1912) 1945 – Adolf Hitler, chính trị gia người Áo-Đức, Thủ tướng Đức (s. 1889) 1960 – Nguyễn Lộc, võ sư người Việt Nam (s. 1912) 1975 – Nguyễn Khoa Nam, tướng lĩnh người Việt Nam (s. 1927) 1975 – Lê Văn Hưng, tướng lĩnh người Việt Nam (s. 1933) 1975 – Phạm Văn Phú, tướng lĩnh người Việt Nam (s. 1929) 1975 – Lê Nguyên Vỹ, tướng lĩnh người Việt Nam (s. 1933) 1975 – Trần Văn Hai, tướng lĩnh người Việt Nam (s. 1929) 1995 – Hoài Linh, nhạc sĩ người Việt Nam (s. 1925) 2000 – Poul Hartling, Thủ tướng Đan Mạch (s. 1914) 2009 – Nguyễn Văn Tuyên, nhạc sĩ người Việt Nam (s. 1909) 2011 – Saif al-Arab al-Gaddafi, sĩ quan người Libya (s. 1982) == Những ngày lễ và ngày kỷ niệm == Scandinavia – Xuân đến, Đêm Walpurgis Thuỵ Điển – Sinh nhật Vua Carl XVI Gustav Hà Lan – Ngày Nữ hoàng Đế quốc La Mã – ngày thứ ba trong Floralia, lễ thờ phụng nữ thần Flora Đêm Bealtaine Việt Nam – Ngày chấm dứt Chiến tranh Việt Nam == Tham khảo ==
kinh tế liên minh châu âu.txt
Nền Kinh tế Liên minh châu Âu theo quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) tạo ra 12.629 tỉ euro (tương đương 17.578 tỉ USD năm 2011) khiến nó trở thành nền kinh tế lớn nhất thế giới. Nền kinh tế Liên minh châu Âu (EU) bao gồm một thị trường nội khối và EU có vai trò như một thực thể thống nhất ở Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO). == Tiền tệ == Đồng tiền chính thức của EU là euro, được chấp nhận trong tất cả các tài liệu và chính sách của EU. Hiệp ước Ổn định và Phát triển đã tạo ra các tiêu chuẩn tài chính để bảo đảm cho sự ổn định và hội tụ kinh tế. Euro cũng là đồng tiền được sử dụng phổ biến nhất ở châu Âu. Nó được sử dụng tại 17 quốc gia thành viên gọi chung là Eurozone. Trừ Anh và Đan Mạch, những nước có opt-out đặc biệt, tất cả các thành viên khác đã cam kết chuyển sang sử dụng đồng euro ngay sau khi đáp ứng được các yêu cầu cần thiết. Ngoài ra, Thụy Điển có quyền quyết định xem liệu có hay không và khi nào thì tham gia vào Cơ chế tỷ giá Giao dịch châu Âu, đó là bước sơ bộ để tham gia vào Eurozone. Các nước còn lại cam kết tham gia euro thông qua hiệp ước gia nhập của họ. == Kinh tế == t: giá trị tạm thời e: giá trị ước lượng Nguồn: GDP Millions of PPS:EUROSTAT, GDP(PPP) per inhabitant: EUROSTAT, GDP per capita in PPS:EUROSTAT(, GDP per inhabitant expressed in PPS (2009): EUROSTAT == Tham khảo == ^ Cells shaded in green indicate forecast figure ^ One region may be classified by Eurostat as a NUTS-1, NUTS-2 as well as a NUTS-3 region. Several NUTS-1 regions are also classified as NUTS-2 regions such as Brussels-Capital or Ile-de-France. Many countries are only classified as a single NUTS-1 and a single NUTS-2 region such as Latvia, Lithuania, Luxemburg and (although over 3 million inhabitants) Denmark. “Euro-indicators News release” (PDF). June 2005 inflation data. Truy cập ngày 18 tháng 7 năm 2005. “Euro-indicators News release” (PDF). May 2005 unemployment data. Truy cập ngày 18 tháng 7 năm 2005. “World Bank”. GNI data (July 2005). Truy cập ngày 4 tháng 8 năm 2005. The following links are used for the GDP growth and GDP totals (IMF): Link to 10 new memberstates Growth Rates Link to Growth Rates for the Eurozone Link to non-Eurozone EU15 countries Growth Rates == Liên kết ngoài == European Commission – Economic and Financial Affairs Eurostat - Statistics Explained - All articles on economy and finance
chỉ số nhận thức tham nhũng.txt
Từ năm 1995, Tổ chức Minh bạch Quốc tế (Transparency International - TI) đã công bố một chỉ số nhận thức tham nhũng (Corruption Perceptions Index - CPI) hàng năm xếp thứ tự các quốc gia trên thế giới theo "mức độ tham nhũng mà được nhận thức tồn tại trong các giới công chức và chính trị gia". Tổ chức định nghĩa tham nhũng là "lạm dụng chức vụ công để hưởng tư lợi". Cuộc thăm dò năm 2003 bao gồm 133 nước; cuộc thăm dò năm 2006 là 163 nước; cuộc thăm dò năm 2007 bao gồm 180 quốc gia. Điểm số cao có nghĩa là minh bạch và ít tham nhũng hơn, trong mức điểm tối đa là 10. Kết quả cho thấy 7 trong 10 nước (và 9 trong 10 nước mới phát triển) có chỉ số nhỏ hơn 5 từ chỉ số cao nhất là 10. == Phương pháp và giải nghĩa == Tổ chức Minh bạch Quốc tế giao ông Johann Graf Lambsdorff của Đại học Passau để thảo ra Chỉ số Nhận thức Tham nhũng. Chỉ số năm 2005 rút kết từ "16 cuộc thăm dò và bình chọn khác nhau từ 10 viện nghiêm cứu độc lập… Các viện cung cấp dữ liệu cho Chỉ số Nhận thức Tham nhũng năm 2005 là: Đại học Columbia, Economist Intelligence Unit, Freedom House, Information International, International Institute for Management Development, Merchant International Group, Tư vấn Rủi ro Kinh tế và Chính trị, Uỷ ban Kinh tế Liên hiệp quốc về Phi châu, Diễn đàn Kinh tế Thế giới và Trung tâm Nghiên cứu Thị trường Thế giới. Các Chỉ số ban đầu sử dụng các thăm dò ý kiến công chúng nhưng hiện tại chỉ dùng các chuyên viên. Tổ chức Minh bạch Quốc tế yêu cầu ít nhất ba nguồn luôn có sẵn để xếp thứ tự một nước vào Chỉ số Nhận thức Tham nhũng. Tổ chức Minh bạch Quốc tế viết trong phần "Các câu hỏi thường được hỏi" về Chỉ số Nhận thức Tham nhũng rằng quan điểm của "dân cư trong nước" có tương quan với quan điểm của các chuyên gia ở ngoài nước. Trong quá khứ, các chuyên gia được xin ý kiến để làm nguồn cho Chỉ số Nhận thức Tham nhũng thường thường là các doanh nhân từ các nước công nghệ hóa; quan điểm của các nước kém phát triển hơn ít khi được dùng. Điều này đã thay đổi theo thời gian, tạo cơ hội ngày càng gia tăng tiếng nói của những người từ các nền kinh tế thị trường đang hội nhập." Vì chỉ số này dựa vào các cuộc thăm dò nên các kết quả là chủ quan và kém tin cậy đối với các nước có ít nguồn thông tin hơn. Thêm vào đó, những gì được định nghĩa là hợp pháp hoặc những gì được nhận thức là tham nhũng thì rất khác nhau giữa các nền tư pháp: việc cho tặng, ủng hộ chính trị hợp pháp ở một số nền tư pháp lại là bất hợp pháp ở các nền tư pháp khác; một vấn đề được coi như là tiền thưởng chấp nhận được ở một nước lại bị coi là hối lộ ở một nước khác. Vì thế các kết quả thăm dò phải được hiểu khá đặc biệt như đo lường nhận thức công chúng hơn là một cách đo lường tham nhũng khách quan. Các thống kê như thế này tất nhiên là không chính xác; các thống kê từ những năm khác nhau thì không nhất thiết là so sánh được. Trung tâm liên Tôn giáo vì Trách nhiệm Công ty (Interfaith Center on Corporate Responsibility) tự giải thích, "…các thay đổi từ năm này qua năm khác trong điểm số của một nước là kết quả không chỉ vì sự nhận thức thành quả của một nước thay đổi mà còn vì phương pháp học và mô hình đang thay đổi. Mỗi năm, có một số nguồn không được cập nhật và phải bị loại bỏ khỏi Chỉ số Nhận thức Tham nhũng trong khi các nguồn mới và đáng tin cậy được thêm vào. Với những câu trả lời khác và những phương pháp tính khác ít nhiều, một thay đổi trong điểm số của một nước có thể cũng liên quan đến sự thật rằng các quan điểm khác đã được thu thập và các câu hỏi khác đã được hỏi… [cho dù] cải cách chống tham nhũng… [hoặc] các phanh khui những vụ tại tiếng tham nhũng vừa qua… [thường] thì khó cải tiến điểm số của Chỉ số Nhận thức Tham nhũng trên một thời gian ngắn, thí dụ một hoặc hai năm. Chỉ số Nhận thức Tham nhũng dựa vào các dữ liệu từ ba năm về trước. Điều này có nghĩa một sự thay đổi về nhận thức tham nhũng chỉ xuất hiện trong chỉ số trong một thời gian dài". == Các nước được nhận thức là ít và nhiều tham nhũng nhất == Theo thăm dò năm 2014, các nước được nhận thức là ít tham nhũng nhất là: Đan Mạch 1/182 New Zealand 2/182 Phần Lan 3/182 Thụy Điển 4/182 Thụy Sĩ Na Uy 5/182 Singapore 7/182 Úc Hà Lan 8/182 Luxembourg 9/182 Canada 10/182 Úc 11/182 Đức & Iceland 12/182 Anh Quốc 14/182 Bỉ & Nhật Bản 15/182 Barbados, Hồng Kông, Ireland & Hoa Kỳ 17/182 Theo thăm dò năm 2014, các nước được nhận thức là nhiều tham nhũng nhất là: Somalia & CHDCND Triều Tiên 174/182 Sudan 173/182 Afghanistan 172/182 Nam Sudan 171/182 Iraq 170/182 Turkmenistan 169/182 Uzbekistan, Libya & Eritrea 166/182 Yemen, Venezuela, Haiti, Guiné-Bissau & Angola 161/182 Syria & Burundi 159/182 Zimbabwe, Myanmar & Campuchia 156/182 Riêng Việt Nam, đứng hạng 111/163 năm 2006 và hạng 123/180 năm 2007. Từ năm 2000-2007, chỉ số tham nhũng Việt Nam cải thiện từ 2,4 lên mức 2,6 nhưng lại tụt hạng trong thang hạng các nước do số nước được khảo sát tăng lên. (Xem biểu đồ trên trang Thanh tra Chính phủ). Từ sau 2007, chỉ số tham nhũng được cải thiện từ 2,6 lên 2,9, nhờ vậy thứ hạng của Việt Nam được cải thiện lên vị trí 112/182 nước vào năm 2011 và vị trí 119/182 vào các năm 2012, 2013, 2014. == Danh sách theo mẫu tự tiếng Anh == Bản dưới cập nhật số liệu đến 2016. Để xem những số liệu mới nhất, xem tại en:Corruption Perceptions Index == Tham khảo == == Xem thêm == Chỉ số Hối lộ Danh sách các nước xếp hạng theo Chỉ số Nhận thức Tham nhũng, năm 2007 Bảng xếp hạng Chỉ số nhận thức tham nhũng theo thứ hạng Tham nhũng == Liên kết ngoài == Tổ chức Minh bạch Quốc tế TI Trung tâm Internet Nghiên cứu Tham nhũng Chỉ số Nhận thức Tham nhũng năm 2004 của Tổ chức Minh bạch Quốc tế Chỉ số Nhận thức Tham nhũng năm 2005 của Tổ chức Minh bạch Quốc tế Chỉ số Nhận thức Tham nhũng năm 2006 của Tổ chức Minh bạch Quốc tế Công cụ thăm dò để đo các chỉ số tham nhũng riêng lẽ Chỉ số Nhận thức Tham nhũng tại Việt Nam trên đài RFA, 2007
lệ chi.txt
Lệ Chi là một xã thuộc huyện Gia Lâm, thành phố Hà Nội, Việt Nam. Xã Lệ Chi có diện tích 8,3 km², dân số năm 1999 là 9616 người, mật độ dân số đạt 1159 người/km². == Chú thích == == Tham khảo ==
ngân hàng thương mại.txt
Ngân hàng thương mại đã hình thành tồn tại và phát triển hàng trăm năm gắn liền với sự phát triển của kinh tế hàng hoá. Sự phát triển hệ thống ngân hàng thương mại (NHTM) đã có tác động rất lớn và quan trọng đến quá trình phát triển của nền kinh tế hàng hoá, ngược lại kinh tế hàng hoá phát triển mạnh mẽ đến giai đoạn cao nhất là nền kinh tế thị trường thì NHTM cũng ngày càng được hoàn thiện và trở thành những định chế tài chính không thể thiếu được. Thông qua hoạt động tín dụng thì ngân hàng thương mại tạo lợi ích cho người gửi tiền, người vay tiền và cho cả ngân hàng thông qua chênh lệch lại suất mà thu được lợi nhuận cho ngân hàng. == Khái niệm ngân hàng thương mại == Cho đến thời điểm hiện nay có rất nhiều khái niệm về NHTM: Ở Mỹ: Ngân hàng thương mại là công ty kinh doanh tiền tệ, chuyên cung cấp dịch vụ tài chính và hoạt động trong ngành công nghiệp dịch vụ tài chính. Đạo luật ngân hàng của Pháp (1941) cũng đã định nghĩa: "Ngân hàng thương mại là những xí nghiệp hay cơ sở mà nghề nghiệp thường xuyên là nhận tiền bạc của công chúng dưới hình thức ký thác, hoặc dưới các hình thức khác và sử dụng tài nguyên đó cho chính họ trong các nghiệp vụ về chiết khấu, tín dụng và tài chính". Ở Việt Nam, Định nghĩa Ngân hàng thương mại: Ngân hàng thương mại là tổ chức kinh doanh tiền tệ mà hoạt động chủ yếu và thường xuyên là nhận tiền ký gửi từ khách hàng với trách nhiệm hoàn trả và sử dụng số tiền đó để cho vay, thực hiện nghiệp vụ chiết khấu và làm phương tiện thanh toán Từ những nhận định trên có thể thấy NHTM là một trong những định chế tài chính mà đặc trưng là cung cấp đa dạng các dịch vụ tài chính với nghiệp vụ cơ bản là nhận tiền gửi, cho vay và cung ứng các dịch vụ thanh toán. Ngoài ra, NHTM còn cung cấp nhiều dịch vụ khác nhằm thoả mãn tối đa nhu cầu về sản phẩm dịch vụ của xã hội. == Chức năng của ngân hàng thương mại == === Chức năng trung gian tín dụng === Chức năng trung gian tín dụng được xem là chức năng quan trọng nhất của ngân hàng thương mại. Khi thực hiện chức năng trung gian tín dụng, NHTM đóng vai trò là cầu nối giữa người thừa vốn và người có nhu cầu về vốn. Với chức năng này, ngân hàng thương mại vừa đóng vai trò là người đi vay, vừa đóng vai trò là người cho vay và hưởng lợi nhuận là khoản chênh lệch giữa lãi suất nhận gửi và lãi suất cho vay và góp phần tạo lợi ích cho tất cả các bên tham gia: người gửi tiền và người đi vay... Cho vay luôn là hoạt động quan trọng nhất của ngân hàng thương mại, nó mang đến lợi nhuận lớn nhất cho ngân hàng thương mại. === Chức năng trung gian thanh toán === Ở đây NHTM đóng vai trò là thủ quỹ cho các doanh nghiệp và cá nhân, thực hiện các thanh toán theo yêu cầu của khách hàng như trích tiền từ tài khoản tiền gửi của họ để thanh toán tiền hàng hóa, dịch vụ hoặc nhập vào tài khoản tiền gửi của khách hàng tiền thu bán hàng và các khoản thu khác theo lệnh của họ. Các NHTM cung cấp cho khách hàng nhiều phương tiện thanh toán tiện lợi như séc, ủy nhiệm chi, ủy nhiệm thu, thẻ rút tiền, thẻ thanh toán, thẻ tín dụng… Tùy theo nhu cầu, khách hàng có thể chọn cho mình phương thức thanh toán phù hợp. Nhờ đó mà các chủ thể kinh tế không phải giữ tiền trong túi, mang theo tiền để gặp chủ nợ, gặp người phải thanh toán dù ở gần hay xa mà họ có thể sử dụng một phương thức nào đó để thực hiện các khoản thanh toán. Do vậy các chủ thể kinh tế sẽ tiết kiệm được rất nhiều chi phí, thời gian, lại đảm bảo thanh toán an toàn. Chức năng này vô hình trung đã thúc đẩy lưu thông hàng hóa, đẩy nhanh tốc độ thanh toán, tốc độ lưu chuyển vốn, từ đó góp phần phát triển kinh tế. === Chức năng tạo tiền === Tạo tiền là một chức năng quan trọng, phản ánh rõ bản chất của NHTM. Với mục tiêu là tìm kiếm lợi nhuận như là một yêu cầu chính cho sự tồn tại và phát triển của mình, các NHTM với nghiệp vụ kinh doanh mang tính đặc thù của mình đã vô hình trung thực hiện chức năng tạo tiền cho nền kinh tế. Chức năng tạo tiền được thực thi trên cơ sở hai chức năng khác của NHTM là chức năng tín dụng và chức năng thanh toán. Thông qua chức năng trung gian tín dụng, ngân hàng sử dụng số vốn huy động được để cho vay, số tiền cho vay ra lại được khách hàng sử dụng để mua hàng hóa, thanh toán dịch vụ trong khi số dư trên tài khoản tiền gửi thanh toán của khách hàng vẫn được coi là một bộ phận của tiền giao dịch, được họ sử dụng để mua hàng hóa, thanh toán dịch vụ… Với chức năng này, hệ thống NHTM đã làm tăng tổng phương tiện thanh toán trong nền kinh tế, đáp ứng nhu cầu thanh toán, chi trả của xã hội. Ngân hàng thương mại tạo tiền phụ thuộc vào tỉ lệ dự trữ bắt buộc của ngân hàng trung ương đã áp dụng đối với nhtm. do vậy ngân hàng trung ương có thể tăng tỉ lệ này khi lượng cung tiền vào nền kinh tế lớn. == Các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh của NHTM == === Sự gia tăng nhanh chóng trong danh mục sản phẩm dịch vụ === Ngày nay, các ngân hàng đang mở rộng danh mục sản phẩm dịch vụ tài chính mà họ cung cấp cho khách hàng. Quá trình mở rộng danh mục sản phẩm dịch vụ đã tăng tốc trong những năm gần đây dưới áp lực cạnh tranh gia tăng từ các tổ chức tài chính khác, từ sự hiểu biết và đòi hỏi cao hơn của khách hàng, và từ sự thay đổi công nghệ. === Sự gia tăng cạnh tranh === Sự cạnh tranh trong lĩnh vực dịch vụ tài chính đang ngày càng trở nên quyết liệt khi ngân hàng và các đối thủ cạnh tranh mở rộng danh mục sản phẩm dịch vụ. Các ngân hàng địa phương cung cấp tín dụng, kế hoạch tiết kiệm, kế hoạch hưu trí, dịch vụ tư vấn tài chính cho các doanh nghiệp và người tiêu dùng. Đây là những dịch vụ đang phải đối mặt với sự cạnh tranh trực tiếp từ các ngân hàng khác, các hiệp hội tín dụng, ngân hàng đầu tư Merrill Lynch, các công ty tài chính như GE Capital và các tổ chức bảo hiểm như Prudential. Áp lực cạnh tranh đóng vai trò như một lực đẩy tạo ra sự phát triển dịch vụ cho tương lai. === Sự gia tăng chi phí vốn === Sự nới lỏng luật lệ kết hợp với sự gia tăng cạnh tranh làm tăng chi phí trung bình thực tế của tài khoản tiền gửi – nguồn vốn cơ bản của ngân hàng. Với sự nới lỏng các luật lệ, ngân hàng buộc phải trả lãi do thị trường cạnh tranh quyết định cho phần lớn tiền gửi. Đồng thời, Chính phủ yêu cầu các ngân hàng phải sử dụng vốn sở hữu nhiều hơn – một nguồn vốn đắt đỏ - để tài trợ cho các tài sản của mình. Điều đó buộc họ phải tìm cách cắt giảm các chi phí hoạt động khác như giảm số nhân công, thay thế các thiết bị lỗi thời bằng hệ thống xử lý điện tử hiện đại. Các ngân hàng cũng buộc phải tìm các nguồn vốn mới như chứng khoán hóa một số tài sản, theo đó một số khoản cho vay của ngân hàng được tập hợp lại và đưa ra khỏi bảng cân đối kế toán; các chứng khoán được đảm bảo bằng các món vay được bán trên thị trường mở nhằm huy động vốn mới một cách rẻ hơn và đáng tin cậy hơn. Hoạt động này cũng có thể tạo ra một khoản thu phí không nhỏ cho ngân hàng, lớn hơn so với các nguồn vốn truyền thống (như tiền gửi). === Sự gia tăng các nguồn vốn nhạy cảm với lãi suất === Các quy định của Chính phủ đối với công nghiệp ngân hàng tạo cho khách hàng khả năng nhận được mức thu nhập cao hơn từ tiền gửi, nhưng chỉ có công chúng mới làm cho các cơ hội đó trở thành hiện thực. Và công chúng đã làm việc đó. Hàng tỷ USD trước đây được gửi trong các tài khoản tiết kiệm thu nhập thấp và các tài khoản giao dịch không sinh lợi kiểu cũ đã được chuyển sang các tài khoản có mức thu nhập cao hơn, những tài khoản có tỷ lệ thu nhập thay đổi theo điều kiện thị trường. Ngân hàng đã phát hiện ra rằng họ đang phải đối mặt với những khách hàng có giáo dục hơn, nhạy cảm với lãi suất hơn. Các khoản tiền gửi "trung thành" của họ có thể dễ tăng cường khả năng cạnh tranh trên phương diện thu nhập trả cho công chúng gửi tiền và nhạy cảm hơn với ý thích thay đổi của xã hội về vấn đề phân phối các khoản tiết kiệm. === Cách mạng trong công nghệ ngân hàng === Đối mặt với chi phí hoạt động cao hơn, từ nhiều năm gần đây các ngân hàng đã và đang chuyển sang sử dụng hệ thống hoạt động tự động và điện tử thay thế cho hệ thống dựa trên lao động thủ công, đặc biệt là trong công việc nhận tiền gửi, thanh toán bù trừ và cấp tín dụng. Những ví dụ nổi bật nhất bao gồm các máy rút tiền tự động ATM, cho phép khách hàng truy nhập tài khoản tiền gửi của họ 24/24 giờ; Máy thanh toán tiền POS được lắp đặt ở các bách hóa và trung tâm bán hàng thay thế cho các phương tiện thanh toán hàng hóa dịch vụ bằng giấy; và hệ thống máy vi tính hiện đại xử lý hàng ngàn giao dịch một cách nhanh chóng trên toàn thế giới. == Chú thích ==
george ii của liên hiệp anh.txt
George II của Vương quốc Liên hiệp Anh (George Augustus, tiếng Đức: Georg II. August, 30 tháng 10 hoặc 9 tháng 11 năm 1683 - 25 tháng 10 năm 1760) là nhà vua của Liên hiệp Anh và Ireland, Công tước xứ Brunswick-Lüneburg (Hanover), và Hoàng thân - Tuyển hầu của Thánh chế La Mã từ ngày 11 tháng 6 năm 1727 đến khi ông qua đời. George là vị vua cuối cùng cho đến thời điểm hiện nay của nước Anh sinh ra bên ngoài đảo Anh. Nơi ông trải qua những năm tháng đầu đời là miền bắc nước Đức. Năm 1701, bà ngoại của ông là Sophia của Hanover, đã trở thành người đứng thứ hai trong danh sách thừa kế sau vụ việc 50 người Công giáo có quan hệ huyết thống với hoàng tộc gần hơn bà bị loại khỏi danh sách vì lý do tôn giáo. Sau cái chết của Sophia và Anne của Anh, năm 1714, cha ông George I, Tuyển hầu tước Hanover, thừa kế ngai vàng Anh. Trong những năm đầu tiên của triều đại của cha mình, George có mâu thuẫn với nhà vua và qua lại với các chính trị gia đảng đối lập, cho đến khi họ tái gia nhập đảng cầm quyền vào năm 1720. Lên ngôi vua từ năm 1727, George không có nhiều ảnh hưởng quyết định đối với chính sách đối nội của Anh, vì ông là một vị vua lập hiến, và quyền lực thực sự nằm trong tay Nghị viện Anh. Nhưng với tư cách Tuyển hầu, ông cũng dành 12 mùa hạ ở Hanover và nắm quyền cai trị trực tiếp đối với vùng lãnh thổ này. Mâu thuẫn giữa ông và con trai trưởng, Hoàng tử Frederick của Wales cực kì gay gắt khi Frederick đứng về phía phe đối lập trong quốc hội, tương tự như quan hệ giữa ông và vua cha khi trước. George II tham dự trận Dettingen năm 1743 và ông là vị vua Anh cuối cùng thân chinh trong một trận chiến. Năm 1745, những người ủng hộ vương triều Stuart, đứng đầu là kẻ đòi ngôi theo đạo Công giáo, James Francis Edward Stuart và con trai ông là là Charles Edward Stuart đã thất bại trong âm mưu truất phế George II, đấy cũng là cuộc nổi dậy cuối cùng của phái Jacobite. Frederick bất ngờ qua đời năm 1751, chín năm trước cái chết của nhà vua, và người kế vị ông là con trai trưởng của Frederick, George III. Trong khoảng hai thế kỷ sau cái chết của George II, các sử gia có xu hướng nhìn nhận ông với thái độ khinh thị, chỉ trích việc ông có nhiều tình nhân, hay nổi cáu và thô lỗ. Về sau, hầu hết các học giả đã đánh giá lại di sản của ông và kết luận rằng ông đã có ảnh hưởng quan trọng trong chính sách ngoại giao và quân sự. == Cuộc sống ban đầu == George chào đời ở Công quốc Hanover thuộc nước Đức. Ông là con trai của George Louis, Công tước xứ Brunswick-Lüneburg (sau này là Vua George I của Anh), và Sophia Dorothea của Celle. Cả bố và mẹ của George đã từng ngoại tình, và vào năm 1694, hai người chính thức li hôn với lý do mà Sophia đã bỏ rơi chồng mình. Bà đã bị giam lỏng trong Ahlden House và không được gặp hai đứa con của bà. Cũng kể từ đó, George và em gái Sophia Dorothea của Hanover không bao giờ có thể gặp lại mẹ mình nữa. George chỉ nói được tiếng Pháp cho đến khi lên bốn tuổi,ông mới được dạy tiếng Đức bởi một trong số các gia sư là Johann Hilmar Holstein. Ngoài tiếng Pháp và tiếng Đức, ông cũng theo học tiếng Anh và Ý, và phả hệ học, lịch sử và quân sự. Ông được chú ý bởi thái độ học tập siêng năng. Người cô họ của ông là Nữ hoàng Anne đã bước lên ngai vàng của ba nước Anh, Scotland và Ireland năm 1702. Bà không có bất kì một người con sống sót để kế vị (dù đã mang thai 17 lần). Theo Đạo luật Kế vị năm 1701 được Nghị viện Anh ban hành, người Kháng Cách nào có quan hệ huyết thống gần gũi nhất với Anne sẽ kế vị, và đó là bà của George, Sophia. Do đó, sau bà nội và cha, George đứng thứ ba trong danh sách kế vị ngai vàng ở cả ba nước. Ông đã được nhập tịch Anh năm 1705 bởi luật nhập tịch Sophia, và vào năm 1706 ông đã được ban tặng danh hiệu Cấp tước Garter và Công tước xứ Cambridge, Bá tước xứ Milford Haven, Tử tước Northallerton và Baron Tewkesbury, như một thành viên trong quý tộc của nước Anh. Anh và Scotland đã sáp nhập với nhau vào năm 1707 để thành lập Vương quốc Anh, và cùng nhau công nhận sự kế vị của gia tộc Hanover. == Hôn nhân == Phụ vương của George không muốn con trai mình có một cuộc hôn nhân sắp đặt như trường hợp của ông ngày xưa, do đó quyết định sẽ để cho George có cơ hội gặp mặt người được dự định thành hôn cùng ông trước khi bất kì quyết định hôn nhân nào được đưa ra. Các cuộc thỏa thuận về hôn nhân từ năm 1702 dưới sự xếp đặt của Nữ công tước Hedvig Sophia của Thụy Điển, người giữ địa vị nhiếp chính tại Holstein-Gottorp không thu được kết quả gì đáng kể. Tháng 6 năm 1705, với tên giả Monsieur de Busch, George tới thăm xứ Ansbach và cư trú suốt mùa hè tại Triesdorf để tìm hiểu về Caroline của Ansbach, người tháp tùng cho người dì của ông là Hoàng hậu Sophia Charlotte của nước Phổ. Edmund Poley báo cáo lại rằng George có ấn tượng về Caroline như sau: cô ấy là một người rất tốt, và ông sẽ không nghĩ đến bất kì một ai khác. Một thỏa thuận hôn nhân được đặt ra vào cuối tháng 7. Ngày 22 tháng 8 (hoặc 2 tháng 9) năm 1705, Caroline chính thức đến Hanover cho buổi lễ thành hôn, được tổ chức vào buổi tối cùng ngày tại nhà nguyện ở Herrenhausen. George hi vọng được ra chiến trường trong Chiến tranh Kế vị Tây Ban Nha, cụ thể là trong một trận chiến với người Pháp Flanders, song phụ vương của ông từ chối lời đề nghị này, ít nhất là cho đến khi ông có một đứa con trai làm người thừa kế. Đầu năm 1707, hi vọng của George đã thành hiện thực Caroline hạ sinh một cậu bé, Frederick. Vào tháng 7, Caroline mắc bệnh đậu mùa rất nặng, và George cũng bị lây nhiễm khi chăm sóc vợ mình quá tận tình mà không có biện pháp phòng bệnh. Tuy nhiên sau đó cả hai đều khỏi bệnh. Vào năm 1708, George tham gia trận chiến Oudenarde, tham gia vào đội kị binh tiên phong của Hanover, trong khi con ngựa của ông và một đại tá ngay bên cạnh ông đã bị giết, nhưng George vẫn bình yên vô sự. Từ năm 1709 đến 1713, George và Caroline có với nhau tất cả ba người con, tất cả đều là con gái: Anne, Amelia và Caroline. Năm 1714, sức khỏe của Nữ hoàng Anne trở nên nguy kịch, và đảng Whig đang nắm ưu thế trên vũ đài chính trị, ủng hộ sự kế vị của gia tộc Hanover, nên họ tìm cách đưa gia đình George sang nước Anh để bảo đảm không có điều gì bất trắc sau khi nữ hoàng băng hà. Lúc đó George đang là Công tước xứ Cambridge, có ý kiến cho rằng ông được Nghị viện triệu tập đến Thượng nghị viện. Cả Anne và cha của George từ chối ủng hộ kế hoạch, mặc dù George, Caroline và Sophia đều ủng hộ. Cuối cùng ông không đi. Cùng năm đó, lần lượt Sophia và Anne qua đời, cha của George trở thành vua của nước Anh. == Thân vương xứ Wales == === Mâu thuẫn với phụ vương === George Augustus cùng với nhà vua khởi hành đến nước Anh từ The Hague vào ngày 16/27 tháng 9 năm 1714 và đến Greenwich hai ngày sau đó. Hôm sau nữa, họ chính thức đặt chân vào thành London với một lễ rước long trọng. George được phong tặng tước hiệu Hoàng tử xứ Wales, tương đương với địa vị kế thừa ngai vàng. Caroline cũng sang Anh đoàn tụ với chồng vào tháng 10 cùng năm, cùng với các con gái của họ, trong khi con trai trưởng Frederick vẫn ở lại Hanover và được trông nom bởi những người giám hộ. Thành London khác rất xa so với những gì George tưởng tượng, nó rộng lớn gấp 50 lần so với thành HanoverA, và đám đông đến đón ông lên tới một triệu rưỡi người. George tranh thủ được sự ủng hộ của quần chúng bởi tài ăn nói và khả năng nói tiếng Anh khá thành thạo, và ông tuyên bố rằng ông không có một giọt máu nào mà không thuộc về nước Anh. Tháng 7 năm 1716, Nhà vua trở về thăm Hanover trong thời gian 6 tháng, George được trao quyền lực cai trị nhưng rất hạn chế, với chức danh "Guardian and Lieutenant of the Realm", có quyền quyết định thay cho phụ vương. Ông đã thực hiện một nghi thức nghênh giá, đi qua Chichester, Havant, Portsmouth và Guildford, đều thuộc miền nam nước Anh. Công chúng được phép gặp mặt và quan sát một bữa ăn trưa của Hoàng tử tại Hampton Court Palace. Có một âm mưu ám sát nhằm vào Hoàng tử trong sự kiện này, và một người đã bị bắn chết trước khi kẻ ám sát bị bắt giữ, nhưng điều này càng làm gia tăng sự nổi tiếng của Hoàng tử trước quần chúng. Nhà vua rất không tin tưởng con trai mình, và cảm thấy bất an khi Hoàng tử xứ Wales nhận được quá nhiều sự ủng hộ, đó là bắt đầu cho một loạt những mâu thuẫn về sau trong quan hệ cha - con. Năm 1717, Caroline hạ sinh người con trai thứ hai, Hoàng tử George William là sự kiện đánh dấu đỉnh điểm trong xung đột này. Nhà vua bổ nhiệm Lord Chamberlain, công tước xứ Newcastle, là một trong số những người chủ trì buổi lễ rửa tội cho hoàng tử bé bỏng. Nhà vua tỏ ra rất tức giận khi George, vốn không ưa Newcastle, đã nói ra những lời lẽ chỉ trích ông ta trong nghi thức rửa tội đó. Công tước hiểu lầm đó là sự thách thức của Hoàng tử cho một cuộc đánh nhau tay đôiB. Do đó, George và Caroline bị quản thúc tại tư gia, sau đó còn bị trục xuất khỏi cung điện St James. Hoàng tử và công nương tuy bị trục xuất nhưng con cái của họ lại phải giao cho nhà vua chăm sóc. Hoàng tử và công nương rất nhớ con cái của họ nhưng lại không có cơ hội gặp mặt. Có một lần họ lén lút trở về cung để thăm các con mà không có sự chấp thuận của đức vua, trong dịp đó Caroline đã ngất đi và George "khóc như một đứa trẻ". Nhà vua có phần mủi lòng và sau đó cho phép vợ chồng George mỗi tuần được vào thăm các con một lần và tiếp nữa thì dỡ bỏ lệnh cấm đối với Caroline. Tháng 2 năm 1718, Hoàng tử George Wiliam qua đời, và George được ở bên cạnh con trai trong giờ phút đó. === Lãnh đạo phe đối lập === Bị đuổi ra khỏi cung điện và ngày càng xa lánh đối với phụ vương, trong những năm tiếp theo Hoàng tử xứ Wales thường có ý kiến trái chiều đối với những chính sách của vua cha, trong đó có cả các chính sách nhằm tăng quyền tự do tôn giáo ở Anh và mở rộng lãnh thổ của Hanover thông qua các tranh chấp với Thụy Điển. Ngôi nhà mới của ông tại London, Leicester House, đã trở thành một nơi gặp gỡ thường xuyên của các thành viên chính phủ phản đối chính sách của nhà vua, bao gồm cả Sir Robert Walpole và Tử tước Townshend, người đã rời Nghị viện trong năm 1717. Nhà vua lại về thăm Hanover từ tháng 5 đến tháng 11 năm 1719. Thay vì bổ nhiệm George giữ quyền quyết định thay mình ở Anh, nhà vua lại thành lập ra một Hội đồng nhiếp chính. Năm 1720, Walpole đề nghị hòa giải giữa nhà vua và hoàng tử vì lợi ích và sự ổn định của hoàng gia, hai người tuy làm lành với nhau nhưng quan hệ không thể nào khôi phục lại như ngày xưa nữa. Walpole và Townshend được triệu tập trở lại chính phủ. Hoàng tử nhanh chóng cảm thấy thât vọng vì các điều khoản của việc hòa giải, trong khi ba cô con gái của ông bị nhà vua giữ lại không được phép trở về với cha mẹ và ông vẫn bị tước quyền nhiếp chính khi nhà vua vắng mặt. Ông cho rằng Walpole đã lừa dối ông nhằm mục đích trở lại với quyền lực. Những năm tiếp theo, cuộc sống của George và Caroline khá lặng lẽ, họ không tham gia nhiều vào các hoạt động chính trị. Về gia đình, ông cùng vợ có thêm ba người con nữa: William, Mary và Louisa, tất cả đều đã lớn lên ở Leicester House và Richmond Lodge, nơi cư trú của George vào mùa hè. Năm 1721, cuộc khủng hoảng kinh tế có tên South Sea Bubble diễn ra. Walpole với những chính sách đúng đắn đã đưa nước Anh thoát khỏi khủng hoàng và ông ta vươn lên vị trí đỉnh cao trong chính phủ. Đảng Whig của ông ta nắm thế thượng phong trong Nghị viện, vì nhà vua lo sợ Đảng Tory vốn có tư tưởng chống đối lại Đạo luật Kế vị năm 1701. Quyền lực của đăng Whig lớn tới mức trong vòng 50 năm tiếp theo, Đảng Tory không thể nào giành lại qưyền lãnh đạo chính phủ. Năm 1727, George I qua đời trong một chuyến về thăm Hanover, và Hoàng tử xứ Wales lên kế vị, danh hiệu là George II. == Cai trị thời kì đầu == George I qua đời vào ngày 11/22 tháng 6 năm 1727 trong một lần trở về quê hương Hanover, và George II kế vị ngôi vua và Tuyển hầu tước ở tuổi 43. Vị tân vương quyết định không đi tới Đức để dự đám tang của cha mình, vì nguyên nhân này mà ông được dân Anh kính mến vì sự họ cho rằng ông yêu nước Anh. Ông tìm cách ngăn cản những dự định của phụ vương lúc còn sống như phân chia sự cai trị tại Hanover giữa những người cháu trai tương lai của George II thay vì đặt cả hai vương quốc (Anh và Hanover) dưới một liên minh cá nhân một vị vua duy nhất. Cả hai bộ trưởng Anh và Hanover đều cho rằng dự định này chí bất hợp pháp, vì George I không có quyền hợp pháp để xác định sự kế thừa cá nhân. Các nhà phê bình cho rằng ông giấu ý chí này để tránh làm ảnh hưởng đến danh dự của cha mình. Lễ gia miện của George II được tiến hành vào ngày 11/22 tháng 10 năm 1727 tại Tu viện Westminster. Nhà soạn nhạc George Frideric Handel được cử viết 4 bài hát cho buổi lễ đăng quang, bao gồm bài Zadok the Priest. Nhiều người cho rằng nhà vua sẽ loại bỏ Walpole, người đã lợi dụng ông để nắm lại quyền lực dưới thời vua cũ, và thay vào vị trí đó bởi Sir Spencer Compton. Nhà vua hỏi ý kiến của Compton, thay vì Walpole cho bài phát biểu đầu tiên của ông trước quần chúng trên cương vị quốc vương, nhưng Compton lại đem việc này hỏi ý của Walpole. Caroline khuyên George giữ lại Walpole, người vẫn được lòng hoàng gia bằng việc đảm bảo tiền trợ cấp từ Nghị viện cho nhà vua hằng năm là £ 800.000. Walpole nắm quyền lực đáng kể tại Quốc hội trong khi George đành phải giữ lại ông ta do lo sợ những bất ổn trong chính phủ khi loại bỏ Thủ tướng. Compton được phong làm Lord Wilmington vào năm sau, 1728. Walpole nắm quyền quyết định đến chính sách đối nội. Và sau sự từ chức của người anh trai trong pháp luật của ông, Townshend năm 1730 thì ông kiểm soát luôn những chính sách đối ngoại của triều đình George II. Các nhà sử học thường tin rằng George đã đóng vai trò như một lãnh tụ tinh thần, và thường nghe theo những lời khuyên của Walpole và các bộ trưởng cao cấp ai khi ban hành các quyết định lớn. Mặc dù nhà vua rất nóng lòng cho một cuộc chiến tranh ở châu Âu, song các Bộ trưởng dưới quyền ông tỏ ra thận trọng hơn. Chiến tranh Kế vị Tây Ban Nha chấm dứt và George thất bại trong việc ép Walpole tham gia Chiến tranh Kế vị Ba Lan trên lãnh thổ Đức. Tháng 4 năm 1733, Walpole bãi bỏ một loại thuế không được quần chúng tán đồng; điều này đã gây nên một làn sóng phản đối ngay đảng trong nội bộ đảng Whig. George đã đứng về phía Walpole khi quyết định trục xuất một số đối thủ chính trị chống đối ông ta khỏi chính quyền. == Vấn đề gia đình == Mối quan hệ giữa nhà vua với người thừa kế hợp pháp, Hoàng tử Frederick của Wales khá tồi tệ, trở nên tồi tệ trong những năm 1730. Frederick đã bị bỏ lại tại Đức khi cha mẹ ông đến nước Anh, và họ đã không gặp nhau trong suốt 14 năm ròng. Năm 1728, Hoàng tử được đưa đến nước Anh và nhanh chóng trở thành con bài trong tay phe đối lập trong chính phủ. Khi ông về thăm Hanover trong những năm 1729, 1732 và 1735, thì Hoàng hậu Caroline là người đứng đầu Hội đồng nhiếp chính chứ không phải hoàng tử Wales. Cũng trong lúc đó, sự căng thẳng trong mối quan hệ của ông và em rể Frederick William I của Phổ dẫn đến những căng thẳng tại vùng biên giới Phổ - Hanover. Cuối cùng mâu thuẫn lên đến đỉnh điểm với việc cả hai vua huy động quân đội ở khu vực biên giới để chuẩn bị cho một cuộc chiến tranh. Các cuộc thỏa thuận hôn nhân giữa hoàng tử xứ Wales và con gái vua Frederick William, Công chúa Wilhelmine kéo dài trong nhiều năm nhưng không bên nào chịu nhượng bộ yêu cầu của người kia, và dự định này không trở thành hiện thực. Thay vào đó, Hoàng tử xứ Wales thành hôn với Công chúa Augusta của Saxe-Gotha vào tháng 4 năm 1736. Tháng 5 năm 1736, nhà vua trở về Hanover, một hành động gây bất bình đối với người dân Anh. Một văn bản chế giễu được lén đặt trước cửa cung điện St James chỉ trích sự vắng mặt của George. Nội dung là: "Mất hoặc thất lạc khỏi nơi này", "một người đã bỏ lại vợ và sáu người con trong giáo xứ. Khi ông khởi hành về Anh vào tháng 12, hành trình gặp trắc trở bởi thời tiết khắc nghiệt, tàu của ông bị gặp phải một trận bão lớn. Có tin đồn lan đến London rằng nhà vua đã bị chết đuổi trên biển. Nhưng cuối cùng vào tháng 1 năm 1737, ông đã có thể đặt chân lên đất Anh. Ngay sau đó ông ngã bệnh, sốt rất cao và nằm liệt trên giường. Hoàng tử xứ Wales loan báo với những người xung quanh rằng nhà vua sắp băng hà, và George đã tham dự một số sự kiện xã hội đã bác bỏ tin đồn trên. Khi Hoàng tử xứ Wales đề nghị lên quốc hội việc tăng phụ cấp cho mình, thì một cuộc tranh cãi nổ ra giữa cha và con. Nhà vua vốn có tính bủn xỉn, đề nghị một giải pháp mà Frederick từ chối. Quốc hội đã bỏ phiếu chống lại dự luật, nhưng George miễn cưỡng tăng trợ cấp của con trai mình theo lời khuyên của Walpole. Mâu thuẫn giữa Hoàng tử với cha mẹ của mình càng tăng lên khi công nương xứ Wales hạ sinh một người con gái vào tháng 7 năm 1737. Khi đó vợ ông mặc dù đang đau đẻ nhưng vẫn được đưa lên xe đi ra ngoài vào ban đêm. George trục xuất con trai và gia đình của hoàng tử ra khỏi triều đình, giống như hình phạt cha của ông thi hành đối với ông khi xưa nhưng với ngoại lệ mà ông cho phép Frederick được quyền nuôi con. Ngay sau đó, hoàng hậu Caroline đã qua đời vào ngày 20 tháng 11 năm 1737. Nhà vua đau buồn sâu sắc trước cái chết của vợ, điều khiến nhiều người ngạc nhiên trước "một sự dịu dàng mà thế giới nghĩ rằng ông trước kia hoàn toàn không có khả năng". Trên giường bệnh của cô, Caroline thổn thức yêu cầu chồng mình nên tái hôn, nhưng ông trả lời, "Không, nhưng trẫm sẽ tìm nhân tình"). Thực chất nhà vua có nhiều tình nhân, nhưng ông đều giấu việc đó trước mặt hoàng hậu. Henrietta Howard, về sau là Nữ Bá tước xứ Suffolk, đã chuyển đến Hanover với chồng trong triều đại của Nữ hoàng Anne, và về sau trở thành người hầu phòng cho hoàng hậu. Bá trở thành tình nhân của nhà vua trước khi George I lên ngôi đến tận tháng 10 năm 1734. Ngoài ra còn có Amalie von Wallmoden, về sau là Nữ bá tước xứ Yarmouth, sinh ra một người con trai là Johann Ludwig von Wallmoden, nhiều người đồn đoán anh ta là con trai của nhà vua; nhưng Johann Ludwig chào đời lúc Amalie đã lấy chồng, và George đã không thừa nhận anh ta là con của mình. == Chiến tranh và nội loạn == Không như mong muốn của Walpole, nhưng phù hợp với ý định của nhà vua, nước Anh bước vào cuộc chiến tranh với Tây Ban Nha vào năm 1739. Cuộc xung đột lần đó được biết đến với tên gọi là Chiến tranh Ear Jenkins đã trở thành một phần của Chiến tranh Kế vị Áo, cuộc tranh chấp lớn nhất trên lãnh thổ châu Âu lúc bấy giờ nổ ra sau cái chết của Hoàng đế Thánh chế Lã Mã Charles VI năm 1740. Nguyên nhân của sự xung đột là tranh cãi về quyền thừa kế ngôi vua nước Áo cho người con gái duy nhất của hoàng đế, Maria Theresa. Vì lý do chiến tranh nên vào mùa hạ năm 1740 và 1741, George đã rời Anh quốc đến lãnh địa Hannover để có thể can thiệp nhiều hơn vào công việc đối ngoại ở châu Âu trên cương vị Tuyển hầu tước xứ Hannover. Hoàng tử Frederick đã đứng về phe đối lập trong cuộc tuyển cử năm 1741, và vì thế Walpole không thể duy trì thế thượng phong trong Quốc hội. Walpole đã cố gắng mua chuộc hoàng tử bằng lời hứa gia tăng phụ cấp cho Frederick và đề nghị hoàng tử thanh toán các khoản nợ của mình, nhưng Frederick từ chối. Với việc sự ủng hộ bị giảm sút, Walpole phải nghỉ hưu vào năm 1742 sau hơn 20 năm nắm quyền. Ông được thay thế bởi Spencer Compton, Bá tước thứ nhất của Wilmington, người mà trước kia vào năm 1727, George đã muốn phong làm thủ tướng. Tuy nhiên Lord Wilmington gần như chỉ là bù nhìn, quyền lực trên thực tế thuộc về những nhân vật khác ví dụ như Lord Carteret, người mà nhà vua có ý định đưa lên để thay thế Walpole. Sau khi Wilmington chết vào năm 1743, Henry Pelham trở thành người có vị trí đứng đầu chính phủ. Phe chủ chiến được sự dẫn dắt của Carteret, người luôn cho rằng thế lực của Pháp ở châu Âu sẽ tăng nhanh nếu Maria Theresa không thể kế vị ngay vàng Áo. George đồng ý và cho gửi 12.000 lính đánh thuê thuê Hessian và Đan Mạch đến châu Âu, tuyên bố là để hỗ trợ Maria Theresa. Tuy nhiên đó chỉ là bề ngoài, thực tế George cho bọn lính đóng quân ở Hanover để ngăn chặn quân Pháp tấn công vào vùng lãnh địa này. Quân đội Anh trong suốt 20 năm trở lại đó chưa từng tham gia vào một cuộc chiến quy mô lớn nào trên lãnh thổ châu Âu, nên việc huân luyện quân đội bị chính phủ quên lãng đi. George đã có ý định nâng cao tính chuyên nghiệp cho quân đội bằng cách mua hoa hồng nhưng không mấy thành công.. Lực lượng liên quân Áo, Anh, Hà Lan, Hanover và binh sĩ Hessian đã có một trận giao phong lớn với quân Pháp ở trận Dettingen vào ngày 16/27 tháng 6 năm 1743. Đích thân George tham gia vào trận chiến này, và ông là vị vua cuối cùng của nước Anh tính đến hiện nay thân chinh trên chiến trường. Thắng lợi trong trận chiến này của George khiến ông nhận được sự ngưỡng mộ từ người dân Anh, nhưng họ cũng cho rằng nhà vua và Carteret đã dùng sức mạnh của nước Anh để phục vụ cho lợi ích của người Hanover. Carteret mất đi sự ủng hộ và phải từ chức vào năm 1744 theo lệnh của George. Mâu thuẫn nảy sinh giữa Pelham và nhà vua khi ông này theo lời khuyên Carteret mà bãi bỏ sức ép từ các bộ trưởng khác như William Pitt trẻ, theo đó sẽ mở rộng cơ sở hỗ trợ của chính phủ. Nhà vua lại không thích Pitt bởi vì trước đó ông này phản đối chính sách của chính phủ và chỉ trích vào các biện pháp được xem là có lợi cho Hanover. Tháng 2 năm 1746, Pelham và các cộng sự của ông ta đều từ chức. George hỏi ý kiến của Bá tước Bath và Carteret về việc lập chính phủ mới, nhưng sau chưa đầy 48 giờ họ phải đưa Pelham trở về vì không thể chọn ra được một quốc hội mới. Pelham đã trở lại nắm quyền và George buộc lòng phải để cho Pitt làm Bộ trưởng. Quân đội Pháp vốn thù địch với nước Anh lại hỗ trợ cho sự nổi dậy của những người Jacobites, tức những người ủng hộ một thành viên Công giáo, James Francis Edward Stuart, con trai vua James II, lên ngôi thống trị nước Anh. Stuart, còn được gọi là Kẻ đòi ngôi già, là con trai của James II, người đã bị lật đổ năm 1688 và thay thế bằng William xứ Orange, một người Kháng Cách. Hai cuộc nổi loạn trước trong năm 1715 và 1719 đã thất bại. Tháng 7 năm 1745, con trai của hoàng tử James, Charles Edward Stuart, thường được gọi là Bonnie Prince Charlie hoặc Kẻ đòi ngôi trẻ, cập bến ở Scotland, nơi mà sự hỗ trợ dành cho ông ta vẫn còn khá cao. George, khi đó đang trải qua mùa hè ở Hanover, đã quay trở lại London vào cuối tháng Tám. Những người Jacobites đánh bại quân Anh trong tháng 9 tại trận Prestonpans, và sau đó tiến về phía nam nước Anh. Tuy nhiên quân Jacobites thất bại trong việc kiếm thêm sự hỗ trợ, và người Pháp không giúp đỡ như họ đã hứa. Mất tinh thần, quân Jacobites rút lui trở lại vào Scotland. Ngày 16/27 tháng 4 năm 1746, Charles có cuộc đối đầu với quân đội do con trai của George là Hoàng tử William, Công tước Cumberland, trong trận Culloden. Đó là trận chiến cuối cùng của ông ta trên đất Anh. Quân đội Jacobite đã bị quân hoàng gia đánh tan tác. Charles trốn sang Pháp, nhưng nhiều người ủng hộ ông đã bị bắt và xử tử. Từ đó phái Jacobites không còn nhận được sự ủng hộ để đưa dòng dõi Stuart trở lại với ngai vàng. Chiến tranh Kế vị Áo tiếp tục cho đến năm 1748, khi Maria Theresa đã được công nhận là Nữ hoàng Áo. == Những năm cuối đời == Trong cuộc tổng tuyển cử của năm 1747, Hoàng tử xứ Wales một lần nữa vận động tích cực cho phe đối lập nhưng phe Pelham của chiến thắng dễ dàng. Giống như cha mình trước kia, Frederick và phe đối lập thường họp bàn cùng nhau tại nhà của ông ở Quảng trường Leicester. Sau khi Hoàng tử xứ Wales đột ngột qua đời vào năm 1751, con trai lớn của ông, Hoàng tôn George trở thành người thừa kế ngôi vua. Nhà vua đích thân chia buồn cùng Công nương xứ Wales và khóc than chung với bà. Vì đến năm 1756 hoàng tôn mới đủ 18 tuổi nên một đạo luật Nhiếp chính đã được thông qua, theo đó một Hội đồng nhiếp chính do Công tước Cumberland đứng đầu sẽ được lập ra nếu như nhà vua qua đời mà hoàng tôn vẫn chưa đủ tuổi để đích thân chấp chính. Nhà vua cũng ban hành một ý chỉ chỉ định Cumberland là người nhiếp chính duy nhất tại Hanover. Sau cái chết của công chúa Lousia vào cuối năm đó, George đã than thở rằng: "Đây là một năm đầy chết chóc đối với gia đình trẫm. Trẫm đã mất đi người con trai lớn của mình, nhưng trẫm lại vui mừng vì điều đó... Bây giờ thì Lousia cũng đã ra đi. Trẫm biết rằng mình đã không yêu thương con cái khi còn trẻ; trẫm bực tức khi chúng vào phòng của trẫm; nhưng bây giờ trẫm lại yêu chúng như hầu hết những người cha trên thế giới này." === Chiến tranh bảy năm === Năm 1754, Pelham chết và được kế nhiệm bởi người anh trai là Công tước Newcastle. Sự xung đột giữa Anh và Pháp, nhất là vấn đề thuộc địa tại Bắc Mỹ vẫn tiếp tục. Lo sợ về một cuộc tấn công của người Pháp vào Hanover, George liên minh với Phổ, kẻ thù của Áo; trong khi Pháp và Nga liên minh với Áo, kẻ thù cũ của họ. Một cuộc xâm lăng nhằm vào đảo Anh được tổ chức bởi Minorca dẫn đến sự mở đầu của Chiến tranh bảy năm vào năm 1756. Quân Anh gặp một số thất bại ban đầu dẫn đến việc Newcastle từ chức và Công tước Devonshire làm Thủ tướng cùng với William Pitt Già làm Ngoại trưởng cục miền Nam. Tháng 4 năm sau, nhà vua cách chức Pitt, trong một nỗ lực thành lập chính phủ theo ý muốn của ông. Ba tháng tiếp theo, George cố gắng tạo nên một chính phủ ổn định và đoàn kết song thất bại. Tháng 6, James Waldegrave, Bá tước thứ hai của Waldegrave nắm trong tay con dấu và điều khiển chính phủ trong 4 ngày. Đến đầu tháng 7, Pitt trở lại, và Công tước Newcastle được phục chức Thủ tướng. Với vai trò Ngoại trưởng, Pitt chỉ đạo các chính sách liên quan đến chiến tranh. Liên hiệp Anh, Hanover và Phổ cùng các đồng minh của dòng họ Hesse-Kassel và Brunswick-Wolfenbüttel đã có những cuộc đọ sức với các cường quốc châu Âu khác, như Pháp, Áo, Nga, Thụy Điển và Saxony. Các cuộc chiến tranh lan rộng ra nhiều nơi từ châu Âu đến Bắc Mỹ và Ấn Độ, nơi mà sự thống trị của Anh được củng cố với những chiến thắng của Robert Clive trước quân Pháp và các đồng minh của họ ở trận Arcot và trận Plassey. Con trai của George là Công tước Cumberland chỉ huy quân đội của nhà vua ở miền bắc nước Đức. Trong năm 1757, Hanover bị xâm lược; George đã cho phép Cumberland có đầy đủ quyền hạn để ký kết một hiệp ước hòa bình. Tuy nhiên nhà vua tỏ ra tức giận với bản hiệp ước mà Cumberland đã ký với người Pháp, mà ông cho rằng nó có lợi hoàn toàn cho phe đối phương. George tuyên bố rằng con trai ông đã "hủy hoại hình ảnh của tôi và tự làm xấu hổ mình". Cumberland sau đó đã tự động xin từ chức và sau đó nhà vua rút lại tất cả các thỏa thuận với người Pháp với lý do người Pháp đã vi phạm nó bằng cách giải giáp quân Hessian sau khi ngừng bắn. Trong cái gọi là một năm đáng nhớ, năm 1759, quân Anh chiếm Québec và Guadeloupe. Một kế hoạch xâm lược nước Anh của người Pháp đã bị đánh bại sau trận hải chiến ở Lagos và vịnh Quiberon và cuộc tấn công của họ vào Hanover bị chặn lại bởi liên quân Anh - Hanover trong trận Minden. === Cái chết === Tháng 10 năm 1760, nhà vua bị mù một mắt và gặp khó khăn trong việc nghe. Vào sáng ngày 25 tháng 10, ông thức dậy như thường lệ vào lúc 6 giờ sáng, uống một tách socola nóng, và một mình đi vệ sinh. Sau một vài phút, người phục vụ của ông nghe thấy một tiếng động lớn, ông mở cửa phòng và thấy nhà vua nằm dài trên sàn nhà. George được dìu lên giường, và người ta hớt hải đi tìm công chúa Amelia, nhưng khi công chúa đến nơi thì nhà vua đã băng hà. Với cuộc sống kéo dài 77 năm, George II sống thọ hơn tất cả những vị vua Anh trước ông. Một khám nghiệm tử thi cho thấy rằng tâm thất phải của quả tim nhà vua đã bị vỡ, có lẽ là hậu quả của chứng phình động mạch chủ. Người kế vị của George II là cháu nội của ông, Hoàng tử xứ Wales cũng có tên là George, tức là vua George III. Ông được chôn cất vào ngày 11 tháng 11 tại cung điện Westminter. Theo lời dặn của nhà vua, áo quan của ông và hoàng hậu Caroline được mở ra rồi nhập hai bộ hài cốt vào nhau == Di sản == George đã quyên tặng Thư viện hoàng gia đến Bảo tàng Anh quốc năm 1757, bốn năm sau khi bảo tàng được thành lập. Ông không dành nhiều sự quan tâm cho việc đọc sách,, hội họa và khoa học, nhưng lại thường xuyên dùng thời gian rảnh để cưỡi ngựa săn hưu hoặc chơi đánh bài.. Vào năm 1737, ông thành lập the Đại học Georg August of Göttingen, trường Đại học đầu tiên tại Tuyển hầu quốc Hanover, và đến thăm nơi này năm 1748. Tiểu hành tinh 359 Georgia được đặt tên theo tên của ông tại trường đại học vào năm 1902. Ông còn là Hiệu trưởng danh dự của Trinity College, Dublin, trong thời gian 1716 đến 1727, và vào năm 1754 ông ban hành nội quy cho Trường Cao đẳng King tại thành phố New York, nơi về sau đổi tên thành Đại học Columbia. Tỉnh Georgia, được thành lập bởi điều lệ hoàng gia năm 1732, được đặt theo tên của nhà vua. Dưới thời trị vì của George II, thế lực Anh quốc mở rộng ra khắp cả thế giới, mối đe dọa từ những người Jacobite đối với vương triều Hanover được dập tắt, và quyền lực của Thủ tướng và Nghị viện từng bước được xác lập. Tuy nhiên, trong hồi ký của những người đương thời thí dụ như Lord Hervey và Horace Walpole, George bị xem như một người yếu đuối, bị chi phối của vợ ông và các bộ trưởng. Tiểu sử của George được viếc trong thế kỉ XIX và đầu thế kỉ XX dựa trên những thành kiến không tốt về ông. Từ những năm 70 thế kỉ XX trở đi, nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rằng George không nhu nhược như nhiều người vẫn lầm tưởng trước đây. Những lá thư được các Bộ trưởng gửi đến được George chú giải kĩ lưỡng và có những nhận xét phù hợp chứng tỏ rằng ông đã ít nhiều có quan tâm đến vấn đề đối ngoại nói riêng. Ông còn có quyền lực để ngăn việc bổ nhiệm các Bộ trưởng hay những sĩ quan mà ông không ưa, hoặc giáng họ xuống những chức vụ nhỏ hơn. Nhưng những ý kiến đánh giá lại thành quả của George II, cuối cùng vẫn không từ bỏ quan niệm cho rằng ông là một vị vua "yếu ớt và lố bịch". Ví dụ như sự cẩn thận gần như tuyệt đối của ông, có thể khiến cho người ta chế giễu, nhưng người viết tiểu sử của George cho rằng sự cẩn thận đó có vẻ thích hợp hơn trong nhiều trường hợp. Lord Charlemont biện minh cho tính nóng nảy của George rằng như thế vẫn có cảm giác chân thật hơn là sự giả tạo và lừa dối, "Tính khí của ông thật nóng nảy và bốc đồng, nhưng ông là người tốt bụng và chân thành. Ông có thể bị xúc phạm nhưng không bao giờ bị lừa gạt." Lord Waldegrave viết, "Tôi hoàn toàn bị thuyết phục rằng khi thời gian dần trôi đi, những thiếu sót mà làm hoen ố tính cách sáng sủa nhất, và từ đó không ai là hoàn hảo, ông ấy sẽ được có tên trong danh sách những vị vua yêu nước đó, dưới có chính phủ mọi người đã cảm nhận được sự hạnh phúc nhất. George có thể không đóng một vai trò to lớn trong lịch sử, nhưng ông đã có ảnh hưởng vào nhiều thời điểm và ông tán thành chính phủ lập hiến. Elizabeth Montagu nói về ông, "Với ông những phép tắc và các quyền tự do là chắn chắn, ông ấy sở hữu ở một mức độ tuyệt vời niềm tin của người dân Anh cùng sự tôn trọng từ các chính phủ nước ngoài; và sự kiên định của bản thân đã làm cho ông trở nên cao quý trong những thời gian bất ổn... Tên tuổi của ông sẽ không đủ khả năng làm nên một pho sử thi, nhưng sẽ được xem là tốt trong các trang sử sách." == Danh hiệu, huy hiệu == === Danh hiệu === Ở Anh Từ ngày 9 tháng 11 năm 1706: Công tước và Hầu tước xứ Cambridge, Bá tước xứ Milford Haven, Tử tước xứ Northallerton và Nam tước xứ Tewkesbury 1 tháng 8, 1714 - 27 tháng 9, 1714: His Royal Highness George Augustus, Hoàng tử của Anh, Hoàng tử Tuyển hầu Brunswick-Lüneburg, Công tước xứ Cornwall và Rothesay, vv 27 tháng 9, 1714 - 11/22 tháng 6, 1727: Hoàng tử xứ Wales 11/22 tháng 6, 1727 - 25 tháng 10, 1760: His Majesty The King. Danh hiệu đầy đủ của George là "George đệ nhị, Bởi Ân điển của Chúa, Vua của Liên hiệp Anh, Pháp và Icreland, Người Bảo vệ Đức tin, Công tước xứ Brunswick-Lüneburg, Archtreasurer và Hoàng tử-Tuyển hầu của Đế quốc La Mã Thần thánh === Huy hiệu === == Con cái == Hoàng hậu Caroline mang thai 10 lần, trong đó có 8 đứa trẻ sống sót khi chào đời, và 7 người sống tới tuổi trưởng thành == Tổ tiên == == Ghi chú == ^A Hanover chỉ có 1,800 ngôi nhà trong khi London có tới 100,000. ^B George lắc nắm tay của vào Newcastle và nói "Ngươi là một kẻ bất lương, ta sẽ vạch mặt nhà ngươi ra!", Mà công tước dường như nghe nhầm là "Ngươi là một kẻ bất lương;! Ta sẽ chiến đấu với nhà ngươi" == Chú thích nguồn == == Tham khảo == Ashley, Mike (1998) The Mammoth Book of British Kings and Queens. London: Robinson. ISBN 1-84119-096-9 Best, Nicholas (1995) The Kings and Queens of England. London: Weidenfeld & Nicolson. ISBN 0-297-83487-8 Black, Jeremy (2001) Walpole in Power. Stroud, Gloucestershire: Sutton Publishing. ISBN 0-7509-2523-X Black, Jeremy (2007) George II: Puppet of the Politicians? Exeter: University of Exeter Press. ISBN 978-0-85989-807-2 Cannon, John (2004) "George II (1683–1760)", Oxford Dictionary of National Biography, Oxford University Press, retrieved ngày 16 tháng 8 năm 2011 (yêu cầu đăng ký hoặc có quyền thành viên của thư viện công cộng Anh) Haag, Eugène; Haag, Émile; Bordier, Henri Léonard (1877) La France Protestante. Paris: Sandoz et Fischbacher (tiếng Pháp) online edition Kilburn, Matthew (2004) "Wallmoden, Amalie Sophie Marianne von, suo jure countess of Yarmouth (1704–1765)", Oxford Dictionary of National Biography, Oxford University Press, retrieved ngày 30 tháng 11 năm 2012 (yêu cầu đăng ký hoặc có quyền thành viên của thư viện công cộng Anh) Pinches, John Harvey; Pinches, Rosemary (1974) The Royal Heraldry of England. Slough, Buckinghamshire: Hollen Street Press. ISBN 0-900455-25-X Thompson, Andrew C. (2011) George II: King and Elector. New Haven and London: Yale University Press. ISBN 978-0-300-11892-6 Trench, Charles Chevenix (1975) George II. London: Allen Lane. ISBN 0-7139-0481-X Van der Kiste, John (1997) George II and Queen Caroline. Stroud, Gloucestershire: Sutton Publishing. ISBN 0-7509-1321-5 Weir, Alison (1996) Britain's Royal Families: The Complete Genealogy. London: Random House. ISBN 0-7126-7448-9 == Đọc thêm == Bultmann, William A. (1966) "Early Hanoverian England (1714–1760): Some Recent Writings" in Elizabeth Chapin Furber, ed. Changing views on British history: essays on historical writing since 1939. Harvard University Press, pp. 181–205 Dickinson, Harry T.; introduced by A. L. Rowse (1973) Walpole and the Whig Supremacy. London: The English Universities Press. ISBN 0-340-11515-7 Williams, Basil; revized by C. H. Stuart (1962) The Whig Supremacy 1714–1760. Second edition. Oxford: Oxford University Press == Liên kết ngoài == George II at BBC History George II at the official website of the British Monarchy Tài liệu lưu trữ liên quan đến George II của Liên hiệp Anh liệt kê tại Cơ quan lưu trữ quốc gia Vương quốc Anh Chân dung của King George II tại Phòng Trưng bày Chân dung Quốc gia, Luân Đôn
nhân khẩu việt nam.txt
== Nguồn gốc == Có nguồn gốc từ vùng đất hiện nằm ở phía nam Trung Quốc và miền bắc Việt Nam, người Việt đã tiến về phía nam trong tiến trình kéo dài hơn hai nghìn năm để chiếm lấy các vùng đất bờ biển phía đông bán đảo Đông Dương. Dân tộc Việt Nam, hay người Việt (thường được gọi chính xác là người Kinh), sống ở những vùng đất thấp và nói tiếng Việt. Nhóm dân tộc này chiếm ưu thế tuyệt đối về văn hoá và chính trị ở Việt Nam. == Các dân tộc thiểu số == Theo số liệu tổng điều tra dân số ngày 1/4/2009, Việt Nam có 54 dân tộc. Bên cạnh dân tộc đông nhất là Kinh chiếm 87% dân số, các dân tộc thiểu số đông dân nhất bao gồm: Tày (1.629.392), thuộc nhóm ngôn ngữ Tày-Thái, sống chủ yếu ở vùng núi phía bắc. Thái (1.550.423), thuộc nhóm ngôn ngữ Tày-Thái, cư trú tập trung tại các tỉnh Lai Châu, Sơn La, Hòa Bình, Nghệ An... Mường (1.268.963), thuộc nhóm ngôn ngữ Môn-Khmer, sống chủ yếu tại tỉnh Hòa Bình, các huyện miền núi tỉnh Thanh Hóa một số huyện miền núi của Nghệ An. Khmer (1.260.640), thuộc nhóm ngôn ngữ Môn-Khmer, sống chủ yếu tại các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long. H'Mông (1.068.189), thuộc ngữ hệ H'Mông-Miền, có nguồn gốc từ phía nam Trung Quốc, thường cư trú ở độ cao từ 800 đến 1500 m so với mực nước biển gồm hầu hết các tỉnh miền núi phía bắc trong một địa bàn khá rộng lớn, dọc theo biên giới Việt - Trung và Việt - Lào từ Lạng Sơn đến Nghệ An, trong đó tập trung chủ yếu ở các tỉnh thuộc Đông và Tây Bắc Việt Nam như Hà Giang, Lào Cai, Lai Châu, Sơn La... Hoa (823.071), người gốc Trung Quốc định cư ở Việt Nam, sống tập trung đông nhất (50%) tại vùng Chợ Lớn của Thành phố Hồ Chí Minh, 50% còn lại sinh sống ở các tỉnh trên toàn quốc, phần nhiều tại các tỉnh miền Tây Việt Nam. Nùng (968.800), thuộc nhóm ngôn ngữ Tày-Thái, sống tập trung ở các tỉnh Lạng Sơn, Cao Bằng, Bắc Kạn, Thái Nguyên, Hà Bắc, Tuyên Quang. Dao (751.067), cư trú chủ yếu dọc biên giới Việt-Trung, Việt-Lào và ở một số tỉnh trung du và ven biển Bắc bộ Việt Nam. Giarai (411.275), thuộc hệ ngôn ngữ Nam Đảo, cư trú tập trung ở các tỉnh Gia Lai, Kon Tum và phía bắc tỉnh Đắc Lắc. Êđê (331.194), thuộc hệ ngôn ngữ Nam Đảo, cư trú tập trung ở Đắc Lắc, phía nam Gia Lai và phía tây hai tỉnh Khánh Hòa, Phú Yên. Đa số các dân tộc này sống ở miền núi và vùng sâu vùng xa ở miền Bắc, Tây Nguyên và đồng bằng sông Cửu Long. Cuối cùng là các dân tộc Brâu, Ơ đu và Rơ Măm chỉ có khoảng vài trăm người. == Ngôn ngữ == Tiếng Việt là ngôn ngữ chính thức của cả nước. Nó là một ngôn ngữ gắn liền với hệ ngôn ngữ Nam Á, những ngôn ngữ gần gũi cũng bao gồm tiếng Khmer, tiếng Môn, vân vân. Tiếng Việt được 85,8 triệu người Việt sử dụng theo cuộc điều tra dân số năm 1999. 6,1 triệu người nói tiếng Việt khác hiện sống bên ngoài Việt Nam. Vì thế tiếng Việt là ngôn ngữ có đông người sử dụng nhất trong hệ Nam Á, lớn gấp ba lần so với ngôn ngữ đứng thứ hai là tiếng Khmer. Tuy nhiên, hai ngôn ngữ này khác biệt nhau rất lớn: vì có ảnh hưởng từ tiếng Trung Quốc, tiếng Việt đã trở thành một ngôn ngữ đơn âm, trong khi tiếng Khmer vẫn là đa âm. Tiếng Việt bị ảnh hưởng rất nhiều từ tiếng Trung Quốc và đa số từ tiếng Việt là có nguồn gốc từ tiếng Trung Quốc, trong khi tiếng Khmer lại có ảnh hưởng nhiều từ tiếng Phạn và tiếng Pali và phần lớn từ vựng của nó học từ các từ của các ngôn ngữ Ấn Độ. Từ đầu thế kỷ 20, tiếng Việt đã sử dụng hệ thống chữ viết Latin do người Pháp đặt ra. Trước đó, tiếng Việt dùng chữ Hán. Tiếng Việt là ngôn ngữ được nói rộng rãi thứ 5 ở Hoa Kỳ, thứ 4 ở Úc và Canada, thứ 2 ở Campuchia. Cũng được nói ở Châu Phi (phần lớn ở Nam Phi, Sénégal và Côte d'Ivoire), ở Châu Âu (phần lớn ở Pháp, Đức, Nga và Ba Lan), ở Châu Mỹ (phần lớn ở Khâu Bá, Peru, Brasil và Argentina), ở Thái Bình Dương (phần lớn ở Úc, New Zealand, Palau, Vanuatu và Tân Caledonia). Trong khi bất cứ ngôn ngữ sẽ ích lợi cho vài công việc hay khu vực, tiếng Việt là một trong những ngôn ngữ nước ngoài có thể ích lợi trên toàn thế giới. Tiếng Việt như một ngôn ngữ nước ngoài được dạy phổ biến trên thế giới. Nó được nói như một ngôn ngữ chính thức hay thiểu số ở 104 quốc gia trên thế giới và là ngôn ngữ Đông Nam Á duy nhất nói trên 5 châu lục. Vì thế, tiếng Việt là ngôn ngữ Đông Nam Á toàn cầu duy nhất. == Số liệu == Tổng dân số: 85.789.573 người (0 giờ ngày 01 tháng 4 năm 2009) Số nữ giới: 43.307.024 người. Tỷ số giới tính: 98,1 nam trên 100 nữ Tỷ lệ tăng dân số: 1,2% (2009) Số dân sống ở khu vực thành thị: 25.374.262 người (chiếm 29,6% dân số cả nước). Cơ cấu độ tuổi: 0-14 tuổi: 29,4% (nam 12.524.098; nữ 11.807.763) 15-64 tuổi: 65% (nam 26.475.156; nữ 27.239.543) trên 65 tuổi: 5,6% (nam 1.928.568; nữ 2.714.390) (2004 ước tính) Tỷ lệ sinh: 19,58 sinh/1.000 dân (2004 ước tính) Tỷ lệ tử: 6,14 tử/1.000 dân (2004 ước tính) Tỷ lệ di trú thực: -0,45 di dân/1.000 dân (2004 ước tính) Tỷ lệ giới: khi sinh: 1,08 nam/nữ dưới 15 tuổi: 1,06 nam/nữ 15-64 tuổi: 0,97 nam/nữ trên 65 tuổi: 0,71 nam/nữ tổng dân số: 0,98 nam/nữ (2004 ước tính) Tỷ lệ tử vong trẻ em: tổng: 29,88 chết/1.000 sống nam: 33,71 chết/1.000 sống nữ: 25,77 chết/1.000 sống (2004 ước tính) Tuổi thọ triển vọng khi sinh: tổng dân số: 70,35 tuổi nam: 67,86 tuổi nữ: 73,02 tuổi (2004 ước tính) Tổng tỷ lệ sinh: 2,22 trẻ em/phụ nữ (2004 ước tính) Các nhóm dân tộc: Các nhóm dân tộc: người Việt 86%, Khmer Krom 1.5%, gốc Hoa 3%, người Mường, người Tày, người Hmông (Mèo), người Mán, người Chăm và các dân tộc thiểu số khác. Các tôn giáo: Phật giáo đại thừa 7% Phật giáo tiểu thừa 1% Kitô giáo 8% Công giáo Rôma 7% (gần 6 triệu người) Tin Lành 1% (hơn 800 nghìn người) Hồi giáo 0,08% (dưới 70 nghìn tín đồ) Cao Đài 3% (hơn 2 triệu rưởi tín đồ) Hoà Hảo 1.6% (khoảng gần 1.3 triệu tín đồ) tín ngưỡng dân gian Các ngôn ngữ: tiếng Việt (chính thức), tiếng Anh, tiếng Pháp, tiếng Nga (các ngoại ngữ thông dụng), tiếng Khmer, tiếng Hoa, tiếng Chăm, các ngôn ngữ bộ tộc. Biết chữ: định nghĩa: từ 15 tuổi trở lên biết đọc, biết viết tổng dân số: 94% (2004 điều tra dân số) nam: 96,9% nữ: 91,9% (2002) == Xem thêm == Dân tộc Việt Nam == Tham khảo == == Liên kết ngoài == 1999 Census results Bản đồ mật độ dân số Việt Nam
henry v của anh.txt
Henry V (16 tháng 9 năm 1386 – 31 tháng 8 năm 1422) là quốc vương Anh, đã cai trị từ năm 1413 tới khi qua đời. Ông là một trong những ông hoàng chinh chiến lẫy lừng của nước Anh Trung Cổ, nổi tiếng với trận đại phá quân Pháp tại Agincourt trong cuộc chiến tranh 100 năm. Sau trận này, ông từng bước hợp nhất hai vương quốc Anh và Pháp dưới quyền bá chủ của mình. == Tuổi trẻ == Henry chào đời tại Monmouth, xứ Wales, trong một tòa tháp trên cổng thành Monmouth, là con của Henry xứ Bolingbroke (tức vua Henry IV sau này), và Mary de Bohun 16 tuổi, người đã mất khi sinh đẽ ở tuổi 24, trước khi Henry xứ Bolingbroke lên ngôi. Henry sinh ra dưới triều Richard II, và không có cơ may trở thành vua, vì Richard đã chọn Bá tước xứ March làm người thừa kế. Khi thân phụ Henry bị đày ải năm 1398, Henry mới 12 tuổi, và Richard II trông nom Henry và đối xử tử tế với ông. Năm 1399, cậu bé Henry tháp tùng vua Richard tới Ái Nhĩ Lan, và thăm lâu đài Trim ở Meath, một nơi gặp mặt cổ của quốc hội Ái Nhĩ Lan. Năm 1399, Richard bị truất phế, Henry IV lên ngôi, và Henry ở Ái Nhĩ Lan được triệu hồi về nước Anh. Trong lễ đăng quang của vua cha, Henry phong làm Hoàng thân xứ Wales. Ngày 10 tháng 11 năm 1399 ông được phong làm Công tước Lancaster. Năm 1403, ông cùng vua cha tiến hành trấn áp cuộc nổi dậy do Henry 'Hotspur' Percy cầm đầu tại Shrwesbury. Trong 5 năm tiếp theo, ông đàn áp cuộc bạo động của Owen Glendower ở xứ Wales. Ông cũng tham gia việc trị quốc, và đã mâu thuẫn với cha mình. == Cai trị == Năm 1413, Henry V lên ngôi. Năm 1415, vua dập tắt một âm mưu lật đổ ông và đưa Edmund, Mortimer, Bá tước của March lên ngai vàng. Ít lâu sau, ông thân chinh đánh Pháp, cuộc chiến tranh 100 năm tiếp diễn. Ông quyết tâm lấy lại những vùng đất mà các bậc tiên vương chiếm được Pháp (và bị Pháp lấy lại) đồng thời lập yêu sách về ngai vàng Pháp. Ông chiếm được thành Harfleur và đại phá quân Pháp trong trận Agincourt ngày 25 tháng 10 năm 1415. Trong các năm 1417 và 1419 vua Henry cất quân chinh phạt xứ Normandy. Ông chiếm lĩnh được thành phố Rouen (Normandy) vào tháng 1 năm 1419 và buộc quân Pháp phải ký Hòa ước Troyes năm 1420. Henry được công nhận là người thừa kế ngai vàng Pháp và cưới Catherine xứ Valois, con gái vua Charles VI của Pháp. Năm 31 tháng 8 năm 1422, trong một cuộc chiến ở Pháp, Henry V đột ngột qua đời tại Blois de Vicennes, gần Paris. Thi hài ông đã được bà Catherine đem về mang về nước Anh và chôn cất tại Tu viện Westminster, Luân Đôn. == Vinh danh == Henry V được xếp thứ 72 trong danh sách 100 Greatest Britons (100 người Anh vĩ đại nhất). Ông còn là nhân vật của các vở kịch Henry IV, phần 1, Henry IV, phần 2 và Henry V do William Shakespeare sáng tác. == Chú thích == == Tham khảo == BBC - History - Henry V (kh. 1387 – 1422) Christopher Allmand, Henry V (Luân Đôn, 1992) Henry V. The Pratice of Kingship, edited by G. L. Harris (Oxford, 1985) P. Earle, The Life and times of Henry V (Luân Đôn, 1972) H. F. Hutchinson, Henry V. A Biography (Luân Đôn, 1967) Juliet Barker, Agincourt: Henry and the Battle That Made England (Luân Đôn, 2005) J. H. Fisher, The Emergence of Standard English (Lexington, 1996) == Xem thêm == == Liên kết ngoài == J. Endell Tyler. Henry of Monmouth: Memoirs of Henry the Fifth Volume 1, Volume 2 at Project Gutenberg Bản mẫu:Genealogics name Henry V Chronology
tây hồ (quận).txt
Quận Tây Hồ là một quận nằm ở phía bắc nội thành thủ đô Hà Nội, Việt Nam. Phía đông giáp quận Long Biên; phía tây giáp quận Bắc Từ Liêm; phía nam giáp quận Ba Đình; phía bắc giáp huyện Đông Anh. Quận được thành lập theo Nghị định số 69/CP ngày 28 tháng 10 năm 1995 của Chính phủ Việt Nam, trên cơ sở tách 3 phường: Bưởi, Thụy Khuê, Yên Phụ thuộc quận Ba Đình và 5 xã: Tứ Liên, Nhật Tân, Quảng An, Xuân La, Phú Thượng thuộc huyện Từ Liêm. Và được xác định là trung tâm dịch vụ – du lịch - văn hóa, vùng có cảnh quan thiên nhiên của Hà Nội. Theo định hướng phát triển của thủ đô Hà Nội đến năm 2020, toàn bộ quận Tây Hồ thuộc khu vực phát triển của Thành phố trung tâm. có điều kiện đặc biệt thuận lợi thu hút các nguồn lực vốn tài chính, nguồn nhân lực và khoa học công nghệ để thúc đẩy nhanh sự phát triển kinh tế – xã hội của quận nói riêng và của Hà Nội nói chung. Quận Tây Hồ có điều kiện môi trường thiên nhiên ưu đãi. Nổi bật với Hồ Tây rộng khoảng 526 ha được coi là "lá phổi của Thành phố". Từ xa xưa, Hồ Tây đã giữ một vị trí quan trọng về du lịch nhờ vào vị trí và giao thông thuận lợi. Tây Hồ là quận lớn thứ 4 về diện tích đất tự nhiên sau quận Hà Đông, Long Biên và Hoàng Mai). Quận có khoảng 2.401 ha trong tổng số hơn 17.878 ha (chiếm 13,4%) diện tích đất khu vực nội thành Hà Nội. == Hành chính == Quận Tây Hồ gồm 8 phường: Bưởi, Nhật Tân, Phú Thượng, Quảng An, Thụy Khuê, Tứ Liên, Xuân La, Yên Phụ. == Giao thông == Đường phố: Cầu: Cầu Nhật Tân Cầu Thăng Long Khu đô thị: Khu đô thị Ciputra Khu đô thị Phú Thượng Khu đô thị Tây Hồ Tây Khu đô thị Xuân La Đường sắt đô thị: Tuyến số 2 (Nội Bài - Thượng Đình, dự kiến quy hoạch đoạn Nam Thăng Long - Trần Hưng Đạo) == Các địa điểm nổi tiếng == Làng hoa Nghi Tàm Làng đào Nhật Tân Làng đào Phú Thượng Hồ Tây Chùa Bà Già Chùa Bà Đanh. Phủ Tây Hồ Công viên Hồ Tây Hồ Quảng Bá Chùa Tĩnh Lâu Chùa Thiên Niên (Thiên niên cổ tự) Chùa Vạn Niên Chùa Tào Sách Chùa Ức Niên Đền Quán Thánh Chùa Trấn Quốc (Đi theo đường Lạc Long Quân từ Bưởi lên Nhật Tân lần lượt gặp:chùa Thiên niên- Chùa Vạn Niên- Chùa Tào Sách (Tảo Sách) Đê Yên Phụ với "Liên hiệp thịt chó" Nhật Tân == Sản vật địa phương == Truyền thống Hồ Tây có các sản vật chim sâm cầm, hạt sen, vải lĩnh, giấy dó. Nay quanh Hồ Tây nổi tiếng với những quán thịt chó tại Nhật Tân, các món ốc tại Phủ Tây Hồ, bánh tôm Hồ Tây. == Chú thích == == Liên kết ngoài == Tóm tắt quận Tây Hồ
thomas jefferson.txt
Thomas Jefferson (13 tháng 4 năm 1743–4 tháng 7 năm 1826) là tổng thống thứ ba của Hợp chúng quốc Hoa Kỳ, người sáng lập ra Đảng Dân chủ-Cộng hòa Hoa Kỳ (Democratic-Republican Party), và là một nhà triết học chính trị có ảnh hưởng lớn, một trong những người theo chủ nghĩa tự do nhiệt thành lớn nhất thời cận đại. Ông sinh ngày 13 tháng 4 năm 1743 tại Shadwell, tiểu bang Virginia, lúc đó còn là vùng biên giới hoang vu, trong một gia đình kĩ sư gốc Anh. Thuở nhỏ, ông học ở quê nhà, rồi sau đó vào trường Đại học William & Mary (1760–1762). Năm 23 tuổi, ông trở thành luật sư. Bảy năm sau, ông thôi hành nghề với một tài sản kha khá và với mối ác cảm sâu sắc về giới luật sư, rồi sống cuộc sống của một nhà quý tộc nông thôn độc lập. Tuy nhiên, sự quan tâm đến các vấn đề xã hội của Jefferson không cho phép ông hưởng thú ẩn dật. Ông được cử làm thành viên Viện đại biểu bang Virginia, và khi các vấn đề thuộc địa trở nên gay gắt, ông đóng vai trò tích cực ngày càng tăng trong phong trào đấu tranh giành độc lập. Những kiến nghị của Jefferson trong đoàn đại biểu Virginia với Hội nghị lục địa được công bố trong quyển sách nhỏ tựa đề "Quan điểm tóm tắt về các quyền của nước Mỹ", đã đưa ông lên vị trí của một trong những nhà lãnh đạo cách mạng hàng đầu. Ông được cử làm công tác đặc biệt ở Anh, và tại Mỹ ông được các cộng sự chọn để dự thảo bản Tuyên ngôn Độc lập năm 1776. Từ bỏ ghế đại biểu ở Quốc hội, Jefferson quay ra quan tâm đến việc xây dựng một bản hiến pháp cho quê hương Virginia. Nhiều tư tưởng của ông tập trung trong văn kiện đó, và nhiều ý tưởng khác được thể hiện trong các đạo luật ban hành những năm sau đấy. Năm 1779, Jefferson được bầu làm thống đốc bang Virginia và giữ chức vụ này cho đến năm 1781. Năm 1783, trở lại tham gia Quốc hội một lần nữa, ông đứng đầu ủy ban được cử ra để xem xét hiệp ước hòa bình với Anh. Năm kế ông được cử làm công sứ đại diện cho chính phủ Mỹ non trẻ ở Pháp và đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ này. Từ năm 1789, với tư cách là ngoại trưởng Mỹ trong nội các của Tổng thống George Washington, ông đã công bố tư tưởng dân chủ mà dựa vào đó Đảng Dân chủ Hoa Kỳ được xây dựng, điều này đã đưa đến việc Jefferson đắc cử Tổng thống Mỹ năm 1800. Sau 2 nhiệm kì, ông rút lui và cống hiến những năm cuối đời cho việc thiết lập trường Đại học Virginia, được ông xem là một trong những công trình quan trọng nhất của mình. Jefferson mất ngày 4 tháng 7 năm 1826 ở Monticello, gần Charlottesville, tại căn nhà tự ông xây cất, cùng một ngày với John Adams, hưởng thọ 83 tuổi. Trên mộ bia được ông chọn từ trước, có mang dòng chữ: "Đây là nơi an nghỉ cuối cùng của Thomas Jefferson, tác giả của bản Tuyên ngôn Độc lập Mỹ, của Đạo luật Virginia về tự do tín ngưỡng, và là cha đẻ của trường Đại học Virginia". == Thiếu thời == Thomas Jefferson chào đời vào ngày 13 tháng 4 năm 1743 tại Shadwell, Quận Goochland, Virginia vùng đất mà ngày nay thuộc Quận Albemarle. Cha của cậu, ông Peter Jefferson, là một người đo đất và là chủ một đồn điền. Ông có gốc tổ tiên miền Wales. Mẹ của ông, Jane Randolph, là con gái của Isham Randolph, một thuyền trưởng và thỉnh thoảng cũng canh tác đồn điền. Hai người kết hôn với nhau vào năm 1739. Thomas Jefferson không quan tâm mấy đến việc tìm hiểu về tổ tiên của mình, ông chỉ biết về sự tồn tại của ông nội của mình mà thôi. Thomas là người con thứ ba và là con trai lớn của gia đình gồm 4 trai 6 gái. Phần lớn những người anh chị em này đã chết khi tuổi còn thơ. Thomas đã trải qua 7 năm trong số 9 năm đầu tiên tại Tuckahoe, một nông trại của gia đình Randolph bên bờ sông James, gần Richmond, tiểu bang Virginia. Năm Thomas lên 9 tuổi, gia đình Jefferson dọn trở về Shadwell và tại nơi này, cậu Thomas đã tập đọc và tập viết tại trường học và cậu cũng được cha dạy kèm. Ông Peter đã dạy cho con học cách câu cá, cách săn bắn gà lôi rừng, săn hươu nai gần dòng sông Rivanna cùng cách cưỡi ngựa. Thomas cũng học kéo đàn vĩ cầm và biết yêu chuộng âm nhạc từ dạo đó. Khi Thomas được 14 tuổi, ông Peter qua đời. Cậu Thomas trở nên gia trưởng vì là con trai lớn trong nhà. Cậu thừa hưởng hơn 5.000 mẫu Anh (2.000 ha; 7,8 sq mi) đất cùng với khoảng 20-40 người nô lệ, trong khi gia sản do người quản gia tên là John Harvie trông nom. === Sự nghiệp học hành === Thomas Jefferson bắt đầu đi học từ khi được 5 tuổi rồi khi lên 9 tuổi, vào ở nội trú trong trường học điều khiển do William Douglas, một vị tu sĩ gốc Scotland. Về sau, Thomas còn ghi nhớ rằng các loại bánh nướng trái cây của ông Douglas ngon tuyệt vời và các bài giảng của ông cũng rất xuất sắc, ngoại trừ về văn học cổ điển. Ngoài các môn học thông thường, Thomas còn được học về tiếng La Tinh, tiếng Hy Lạp, tiếng Pháp. Sau khi cha chết, Thomas theo học ngôi trường gần Gordonsville của James Maury, một tu sĩ theo Anh giáo và cũng là một học giả. Ông được huấn luyện về lòng nhân đạo và về niềm tin vào Thượng đế nhưng cậu không hoàn toàn tin tưởng vào một tổ chức tôn giáo nào. Năm 1760, vào tuổi 16, Thomas Jefferson theo học Học viện Williams and Mary tại Williamsburg. Đây là thủ phủ của thuộc địa Virginia với dân số thời đó chỉ vào khoảng 1,000 người. Thomas làm quen với xã hội thành thị và trong 2 năm trường, ông học về Toán học, Văn chương và triết học với Tiến sĩ William Small, một học giả gốc Scotland. Năm 1762, Tiến sĩ Small đã thu xếp để Thomas Jefferson học luật với vị Thẩm phán George Wythe, một trong các vị luật gia uyên thâm nhất của địa phương. Ông George Wythe đã gây ảnh hưởng tới Thomas Jefferson rất nhiều và chính ông Wythe sau này cũng là một trong các vị ký tên vào Bản tuyên ngôn độc lập sau này. Nhờ sự quen biết với hai ông Small và Wythe, Thomas Jefferson được giới thiệu với Thống đốc Francis Fauquier. Bốn người này thường trải qua các buổi chiều tại tư dinh của Thống đốc, bàn luận về thời cuộc cũng như dạo các bản nhạc thính phòng. Cũng nhân dịp này, Thomas Jefferson được gặp Patrick Henry. Trong thời gian học môn luật Thomas Jefferson đã quan tâm tới sự căng thẳng chính trị giữa nước Anh và các thuộc địa Bắc Mỹ. Cuộc chiến tranh Bảy Năm (1756-63), hay còn được gọi là cuộc Chiến tranh Pháp và người Da đỏ ở Bắc Mỹ đã loại người Pháp ra khỏi tiểu lục địa Ấn Độ và lục địa Bắc Mỹ. Người Pháp đã bị người Anh thay thế và thế lực Anh đã lấn át tại phía tây bán cầu và trên các mặt biển. Nước Anh nhờ thế đã thụ hưởng được sự phát triển thương mại trên rất nhiều lãnh thổ. Năm 1760, vua George III lên ngôi nhưng do sự bất lực của nhà vua này, đã sinh ra các bất ổn đối với các xứ thuộc địa Bắc Mỹ. Tại miền Bắc Mỹ, các doanh nhân thường buôn lậu với các kẻ địch và các quốc hội lục địa đã không cung cấp nhân lực và tiếp liệu cho chính quyền Anh trong khi số nợ nần của nước Anh đã tăng lên do việc quản trị các vùng đất mới. Để có tiền, Quốc hội nước Anh đã thông qua Đạo Luật Tem Thuế vào tháng 3 năm 1765 để gia tăng lợi tức cho nước Anh. Khi đạo luật này được công bố, Thomas Jefferson đã được nghe Patrick Henry dùng lời hùng biện, đả kích sự bất công và cho rằng Quốc hội Anh không có quyền đánh thuế các thuộc địa Bắc Mỹ. Sau này, Thomas đã kể lại rằng: "Đối với tôi, ông Henry đã nói hùng hồn giống như Thi hào Hómēros đã làm thơ vậy". Năm 1767, Thomas Jefferson được nhận vào Luật Sư đoàn và bắt đầu hành nghề luật sư một cách khá thành công. Ông đã chia thời gian qua lại hai địa điểm là Williamsburg và Shadwell. Tại nơi sau này, ông đã vẽ kiểu và trông coi xây dựng tòa nhà Monticello trên một ngọn đồi gần đó. === Kết hôn và gia đình === Thomas Jefferson cưới bà góa phụ 23 tuổi Martha Wayles Skelton vào năm 1772. Bà là con gái của ông John Wayles, một luật sư danh tiếng sống gần Williamsburg. Theo chuyện kể lại, chính nhờ âm nhạc mà ông Thomas đã chiếm được cảm tình của bà Martha vì một nhân vật khác cũng theo đuổi bà Martha đã phải bỏ cuộc khi nhìn thấy hai người hòa đàn vĩ cầm và dương cầm. Sau đó, gia đình Jefferson đã an cư tại Monticello, dù cho tòa nhà lớn này chưa xây xong. Bà Martha Jefferson qua đời năm 1782, sau 10 năm kết hôn. Trong cuộc hôn nhân 10 năm, họ đã có 5 con gái và một con trai đó là: Martha, thường gọi là Patsy, (1772–1836); Jane (1774–1775); một con trai chưa đặt tên (1777); Mary Wayles, thường gọi là Polly, (1778–1804); Lucy Elizabeth (1780–1781); và Lucy Elizabeth (1782–1785), tuy nhiên chỉ có hai đứa con là Martha và Mary sống cho đến tuổi trưởng thành. Sau cái chết của Martha Jefferson, Thomas Jefferson đã không lập gia đình nữa mà lo chăm sóc hai người con gái. == Sự nghiệp chính trị từ năm 1775 tới 1800 == === Bản tuyên ngôn độc lập Hoa Kỳ === Tại Quốc hội Lục địa, Thomas Jefferson đã là một trong những nhân vật dẫn đầu. Sau khi cuộc Chiến tranh Cách mạng Mỹ nổ ra, ông Jefferson được yêu cầu thảo ra "Bản Tuyên bố các nguyên do và sự cần thiết phải cầm lấy vũ khí" (Declaration of the Causes and Necessity of Taking up Arms). Quốc hội sau đó đã thấy rằng bản thảo này "quá mạnh" nên đã nhờ một nhân vật ôn hòa hơn là ông John Dickinson viết ra một bản thay thế nhưng văn bản mới gồm phần lớn các quan điểm được đưa ra bởi Jefferson. Vào mùa xuân năm 1776, ý kiến của các đại biểu Quốc hội Lục Địa càng nghiêng về nền Độc Lập của các xứ thuộc địa Bắc Mỹ. Ngày 7 tháng 6 năm đó, Richard Henry Lee thuộc xứ Virginia đã đưa ra một bản nghị quyết nổi danh, đó là "Các Thuộc Địa Liên Hiệp này phải có quyền và phải là các xứ tự do và độc lập" (these United Colonies are, and of right ought to be, free and independent states). Sau đó, Quốc hội Lục địa đã chỉ định một ủy ban để soạn thảo ra Bản Tuyên ngôn Độc Lập, sử gọi là Ủy ban Năm Nghị sĩ. Ủy ban này gồm: Thomas Jefferson, John Adams, Benjamin Franklin, Roger Sherman và Robert Livingston, hoạt động từ ngày 11 tháng 6 năm 1776 cho đến ngày 05 Tháng 7 năm 1776, ngày mà Tuyên ngôn được xuất bản. Ủy ban đồng ý cử Jefferson là người viết ra bản thảo và đã đồng ý với rất ít thay đổi. Ngày 2 tháng 7, Quốc hội Lục địa bắt đầu tranh luận và Bản tuyên ngôn độc lập được chấp thuận vào ngày 4 tháng 7 năm 1776. Bản tuyên ngôn độc lập là tác phẩm nổi tiếng nhất của Thomas Jefferson. Bản văn đó đã diễn tả được tính hùng biện với lời văn mạnh mẽ theo pháp lý, biện hộ thế đứng của cuộc Cách mạng Hoa Kỳ. Bản văn đó cũng xác nhận niềm tin vào các quyền lợi tự nhiên của tất cả mọi người. Các ý tưởng này phần lớn không phải là mới lạ vì theo lời ông, mục đích của ông là đặt lương tri của nhân loại vào việc cứu xét đề tài, bằng những lời văn vừa bình dị, vừa cương quyết khiến cho mọi người cùng đồng ý, và bản văn đó cũng là cách mô tả tinh thần độc lập của người Mỹ. === Nhà làm luật và thống đốc của Virgina === Tháng 9 năm 1776, Thomas Jefferson rời khỏi Quốc hội Lục Địa và sau đó, lại phục vụ tại Viện Dân Biểu Virginia (the Virginia House of Delegates). Ông Jefferson tự nhận không có khả năng phục vụ Quân đội trong cuộc Chiến tranh Cách mạng, nhưng lại có thể trở thành một nhà làm luật hữu ích. Chỉ sau 5 ngày phục vụ trong ngành lập pháp, ông Jefferson đã bắt đầu một chương trình cải cách rộng lớn, đầu tiên liên quan tới việc phân phối đất đai. Tại Virginia, một số người giàu có đã chiếm giữ nô lệ và kiểm soát các vùng đất rộng lớn khiến cho việc phân phối đất đai không công bằng. Chính quyền thuộc địa địa phương lại hạn chế quyền bầu cử và giới hạn các cơ hội giáo dục. Ông Thomas Jefferson được bầu vào Hội đồng Duyệt Xét. Trong hai năm, ông đã xây dựng được một bộ luật mà ông hy vọng rằng sẽ xóa đi mọi cơ cấu quý tộc cổ xưa và tương lai, để đặt nền móng cho một chính phủ của nhân dân. Giai cấp quý tộc căn cứ vào tài sản và gia đình đã dần dần phải nhường chỗ cho "giai cấp quý tộc của tài năng và đức hạnh", vì các đạo luật sau của ông Thomas Jefferson: Đạo luật tiêu hủy luật giới hạn về thừa kế ("Bill for Abolition of Entails"), Đạo luật tiêu hủy quyền thừa kế của con trưởng ("The Bill Abolishing and Primogeniture"), Đạo luật tự do tôn giáo ("The statute for religious freedom") nhờ đó đã bảo đảm sự tự do trí tuệ và phân cách "nhà thờ" và "quốc gia", hủy bỏ các đặc quyền của "nhà thờ Anh Giáo", giới tu sĩ không còn được hưởng lương bổng của chính quyền và người dân Virginia không còn phải đóng thuế để yểm trợ nhà thờ nữa. Trong 2 năm 1779 và 1780, Quốc hội xứ Virginia đã bầu ông Thomas Jefferson làm Thống đốc tiểu bang 2 lần, mỗi nhiệm kỳ 1 năm. Trong thời gian nhậm chức của ông, xứ Virginia đã phải chịu đựng nhiều hậu quả nặng nề của cuộc Chiến tranh cách mạng. Theo lời yêu cầu của George Washington, Jefferson đã lấy bớt các tài nguyên và nhân lực bảo vệ xứ Virginia để dùng trợ giúp Quân đội Cách mạng. Năm 1781, quân Anh đánh chiếm xứ Virginia. Vùng đất này không thể chống cự được và chính Jefferson cũng suýt bị bắt vào ngày 4 tháng 6 năm đó, khi các đội quân của Tướng Banastre Tarleton đánh phá miền Monticello. Ngày 2 tháng 6, nhiệm kỳ thống đốc của ông Jefferson chấm dứt. Ông Jefferson bị chỉ trích là đã không thể chống cự được Quân đội Anh và sự việc này đã làm tổn thương danh dự của ông Jefferson trong nhiều năm, dù cho một cuộc điều tra về sau đã xóa đi sự kết tội này. Sau đó, Thomas Nelson Jr, là vị sĩ quan đứng đầu đoàn Dân quân của xứ Virginia đã được đưa lên thay thế Jefferson làm Thống đốc. Sau khi quay về Monticello, ông bắt đầu viết tác phẩm: "Ghi chép về Tiểu Bang Virginia" (Notes on the State of Virginia, 1784-85). Đây là cuốn sách chứa đựng rất nhiều dữ kiện của xứ Virginia và nhiều niềm tin và lý tưởng của ông Jefferson. === Công sứ tới Pháp === Vào tháng 5 năm 1784, Quốc hội Hoa Kỳ đồng ý cử ông Thomas Jefferson qua nước Pháp để tham gia cùng John Adams và Benjamin Franklin trong việc thương lượng các hiệp ước thương mại. Tới năm sau, do ông Franklin từ chức Công sứ tại Pháp, ông Jefferson được lên kế tiếp chức vụ. Về sự việc này, có người đã hỏi ông Jefferson: "Có phải Ngài đã thay thế ông Franklin không?", thì ông Jefferson đã trả lời bằng câu: "Thưa không, tôi kế tiếp ông ấy vì không có ai có thể thay thế ông Franklin". Thực vậy, ông Thomas Jefferson đã là người theo rất gần các đường hướng của Benjamin Franklin. Jefferson đã lưu lại châu Âu cho tới mùa thu năm 1789 và đã cho thi hành các phương pháp ngoại giao trong hòa bình. Vào thời điểm này, nước Pháp đang sôi sục vì phong trào Cách mạng. Những người cải cách đã coi ông Thomas Jefferson là một nhân vật dẫn đầu về Tự do vì các bài viết chính trị và những cải tiến luật pháp của ông tại xứ Virginia. Hầu tước Gilbert du Motier de La Fayette, một người đã từng chiến đấu trong cuộc chiến giành Độc lập của Hoa Kỳ, cũng như những người ôn hòa khác, thường xin các lời khuyên của ông Jefferson nhưng ông Jefferson đã cố gắng đứng ngoài nội tình chính trị của nước Pháp. Dù thế, ông vẫn thảo ra Bản Hiến chương các Dân Quyền ("Charter of Rights") đệ trình lên Vua Louis XVI của Pháp. Văn kiện này và các tài liệu khác của ông Jefferson đã nghiêng về đường lối ôn hòa bởi vì, mặc dù có cảm tình với cuộc Cách mạng Pháp do những nguyên nhân tương tự như cuộc Cách mạng Hoa Kỳ, ông Jefferson nhận thấy rằng đại chúng Pháp chưa sẵn sàng với một chính phủ có nhân dân đại diện giống như tại Hoa Kỳ. Khi qua nước Pháp, Thomas Jefferson đã mang theo người con Martha rồi tới năm 1787, Mary cũng sang theo. Cả hai cô đã theo học trường tại Paris. Cũng trong thời gian phục vụ tại nước Pháp, ông Thomas Jefferson đã đi thăm nhiều nơi tại châu Âu và đã học hỏi được rất nhiều, nhất là về Canh nông và Kiến trúc. Ông đã quan tâm tới cách trồng lúa của người dân Ý và đã đưa lén hạt lúa giống về Hoa Kỳ để trồng tại hai xứ South Carolina và Gruzia. Ông Jefferson cũng báo cho Quốc hội Hoa Kỳ biết về sự phát minh ra máy dập, loại máy có thể sản xuất hàng loạt các bộ phận cơ khí. Về kiến trúc, ông Jefferson đã nghiên cứu, tìm hiểu nhiều dinh thự trong đó có Tòa Nhà Maison Carrée tại Nimes, để sau này ông vẽ nên Điện Capitol Mới tại Richmond, Virginia. Vì muốn làm ổn định các công việc tại Hoa Kỳ, ông Jefferson đã nộp đơn xin rời khỏi nước Pháp vào năm 1789 và ông đã xuống tàu về xứ vào tháng 10 năm đó. == Tổng thống == === Nhiệm kỳ thứ nhất === Năm 1800, các đảng viên đảng Dân chủ-Cộng hòa lại chỉ định Thomas Jefferson làm ứng viên Tổng thống và Thượng Nghị sĩ Aaron Burr của tiểu bang New York làm ứng viên Phó Tổng thống. Đảng Liên bang tái đề cử Tổng thống John Adams và chọn nhà ngoại giao Charles C. Pinckney của tiểu bang South Carolina làm ứng viên phó tổng thống. Tới kỳ kiểm phiếu, ông Jefferson giành được 73 phiếu cử tri so với 65 phiếu của ông Adams. Những người thuộc đảng Dân Chủ-Cộng Hòa đã ăn mừng nhưng rồi họ lại sớm thất vọng khi biết tin mỗi cử tri Dân Chủ-Cộng Hòa đã bỏ một phiếu cho ông Jefferson và một phiếu cho ông Burr, như vậy hai ông này đã bằng phiếu nhau dù rằng ý định của cử tri đoàn là bầu ông Jefferson làm Tổng thống. Tới lúc này, Hạ viện Hoa Kỳ phải đứng ra dàn xếp. Viện này lại gồm phần lớn những người thuộc đảng Liên Bang, họ ưa thích ông Burr hơn bởi vì họ cho rằng ông Burr dễ điều khiển hơn ông Jefferson. Nhưng ông Hamilton lại bất tín nhiệm ông Burr hơn là ông Jefferson, nên dùng ảnh hưởng khiến cho đa số đảng viên Liên Bang ủng hộ ông Jefferson. Cuộc bỏ phiếu cuối cùng diễn ra vào ngày 17 tháng 2 năm 1801, đã khiến ông Burr trở thành Phó tổng thống. Về sau, đã có một tu chính án theo đó mọi cử tri trong cử tri đoàn phải bỏ một phiếu cho chức vụ tổng thống và một phiếu khác cho chức vụ Phó tổng thống. Thomas Jefferson là vị Tổng thống Hoa Kỳ đầu tiên được bầu trong cuộc tranh cử lưỡng đảng, vị đầu tiên tuyên thệ nhậm chức tại Washington, D.C. và làm việc tại Tòa Bạch Ốc. Trong bài diễn văn nhậm chức, ông Jefferson đã nói năng ôn hòa hơn lúc tranh cử. Ông tuyên bố rằng: "Mọi khác biệt về ý kiến không phải là sự khác biệt về nguyên tắc" và sau một thời gian ngắn, những người thuộc đảng Dân Chủ-Cộng Hòa đã phải chấp nhận nhiều ý tưởng của các đảng viên Liên Bang. Trong thời gian làm Tổng thống, ông Thomas Jefferson đã duyệt xét lại rất nhiều đạo luật, công bố nhiều tu chính án. Ông Jefferson cũng tìm cách kiểm soát Tối cao Pháp Viện nhưng không thành công, trong khi đó Pháp viện Tối cao lại có thể tuyên bố một đạo luật đã được thông qua bởi Quốc hội là vi hiến, điều này đã làm cho ngành Tư Pháp có thêm quyền hành, rồi các vụ truy tố quan tòa đã khiến cho về sau có quy định rằng các thay đổi chính trị sẽ không ảnh hưởng tới nhiệm kỳ của các vị thẩm phán. === Nội các === === Tối cao Pháp viện === Jefferson đã bổ nhiệm những thẩm phán sau vào Tòa án Tối cao: William Johnson (1804) Henry Brockholst Livingston (1807) Thomas Todd (1807) === Tiểu bang được thu nhận vào Liên bang === Ohio (1803) === Chiến tranh với cướp biển Bắc Phi === Vào cuối thể kỷ 18, bọn cướp biển Barbary thuộc miền Bắc Phi thường hay tấn công các tàu buôn của nhiều quốc gia, đòi tiền chuộc hay tiền đóng góp. Trong vòng 10 năm, Hoa Kỳ đã phải nạp triều cống cho xứ Tripoli tới 2 triệu $. Sự kiện này đã khiến Thomas Jefferson luôn nhắc nhở chính phủ Hoa Kỳ phải có các hành động trừng phạt các quân cướp biển. Năm 1801, Tripoli đánh phá các tàu buôn Hoa Kỳ để đòi thêm tiền. Hạm đội của Hoa Kỳ vào thời đó còn nhỏ và yếu, nhưng đã vây hãm các hải cảng của Tripoli, oanh tạc các pháo đài và bắt buộc các bọn cướp biển phải kính nể các tàu thuyền mang lá cờ Mỹ. Đây là cuộc chiến tranh đầu tiên của quốc gia Hoa Kỳ với một nước khác, tuy chưa mang lại các thắng lợi cụ thể vào thời gian đó, nhưng đã khiến cho uy tín của Hải Quân Hoa Kỳ được tăng thêm. === Nhiệm kỳ thứ hai === Năm 1804 có cuộc bầu cử Tổng thống. Đất nước thịnh vượng đã là một lý do để Thomas Jefferson được dễ dàng đề cử và đảng Dân Chủ-Cộng Hòa đã chọn ông Thống Đốc tiểu bang New York là ông George Clinton làm ứng viên Phó tổng thống. Vào lúc này, một nhóm các đảng viên Liên Bang thuộc miền đông bắc đã e ngại việc mở rộng đất nước sẽ làm yếu đi vị trí và ảnh hưởng của miền Tân Anh Cát Lợi. Họ muốn bầu ông Aaron Burr làm Thống Đốc New York để Burr mang tiểu bang New York cùng với vùng Tân Anh Cát Lợi tách ra khỏi Liên bang Hoa Kỳ. Alexander Hamilton là người đã làm thất bại âm mưu này. Trong cuộc bầu cử Tổng thống năm 1804, đảng Liên Bang đã thất bại. Ông Thomas Jefferson đoạt được 162 phiếu cử tri, so với 14 phiếu dành cho ứng viên đảng Liên Bang là ông Charles C. Pinckney, một luật sư từ miền Charleston, South Carolina. Như vậy nhiệm kỳ Tổng thống thứ hai của ông Thomas Jefferson đã bắt đầu mà "không có một cụm mây đen nào ở chân trời", theo như lời ông Jefferson nói, thế nhưng bão táp đã kéo đến. Tháng 3 năm 1803 nổ ra cuộc chiến tranh giữa hai nước Anh và Pháp. Tổng thống Jefferson nhận thấy rằng nhiệm vụ chính của ông là giữ cho Hoa Kỳ ở ngoài cuộc chiến. Vào thời đó, hải quân Anh và Pháp tìm cách đánh phá các tàu biển của nhau, kết quả là phần lớn công cuộc thương mại giữa châu Âu và miền Tây Ấn lọt vào tay các nhà buôn Hoa Kỳ. Tại Hoa Kỳ, hai ngành thương mại và đóng tàu phát triển rất nhanh, cần đến hàng ngàn thủy thủ, những người này phần lớn tới từ miền Tân Anh Cát Lợi song cũng có nhiều kẻ đào ngũ từ các tàu thuyền của nước Anh. Cũng vào thời gian này, nước Anh cần tới nhiều thủy thủ nên các tàu biển của Anh thường chặn bắt các tàu biển Hoa Kỳ trên biển cả để tìm xét các thủy thủ Anh đào ngũ. Nhưng làm sao phân biệt dễ dàng giữa một người Anh và một người Mỹ, vì vậy hàng ngàn người Mỹ đã bị bắt và bị cưỡng bách đưa vào Hải quân Hoàng gia. Cuộc chiến tranh tại châu Âu giữa nước Anh và nước Pháp càng gia tăng cường độ, càng khiến cho cả hai phe lâm chiến không quan tâm đến quyền lợi của các quốc gia trung lập. Bằng đạo luật Berlin và Milan năm 1806 và 1807, Napoléon công bố rằng nước Pháp sẽ bắt giữ tất cả các tàu thuyền hướng về hay từ các hải cảng của nước Anh, trong khi đó chính phủ Anh ra lệnh phong tỏa các hải cảng của Pháp và của các nước đồng minh với Pháp. Tháng 6 năm 1807, chiếc tàu HMS Leopard của Anh đã chặn con tàu Hoa Kỳ tên là USS Chesapeake, đòi tìm xét các lính đào ngũ. Thuyền trưởng của tàu Mỹ đã không tuân lệnh nên HMS Leopard đã tấn công tàu Mỹ. Tổng thống Thomas Jefferson lúc đó biết rằng Hoa Kỳ chưa được chuẩn bị về chiến tranh và không rõ nên thiên về nước Anh hay nước Pháp. Cách đối phó của ông Jefferson là đóng cửa thị trường Mỹ đối với hàng hóa của cả hai nước và cũng không bán tiếp liệu của Hoa Kỳ cho hai nước Anh và Pháp đó. Nhăm 1805, Napoléon Bonaparte đánh bại liên minh thứ ba trong trận Austerlitz, người Mỹ mong muốn ủng hộ Pháp nhưng đều không thành công. Năm 1807, đạo luật "Cấm Vận" đã cấm chỉ việc xuất cảng từ Hoa Kỳ và ngăn cản các con tàu biển Mỹ đi vào các hải cảng ngoại quốc. Lệnh cấm vận đã làm thiệt hại Hoa Kỳ hơn là gây tổn thất cho hai nước Anh và Pháp. Hàng ngàn con tàu biển của Mỹ nằm bất động, thủy thủ và công nhân đóng tàu thất nghiệp, hàng xuất cảng chất đống trong các nhà kho. Kinh tế của miền nam Hoa Kỳ cũng bị thiệt hại khiến cho ông Jefferson bị mất đi các sức ủng hộ. Vào thời kỳ này, nhiều người Mỹ đã không tôn trọng pháp luật, nạn buôn lậu phát triển. Chính phủ Hoa Kỳ vì thế phải tăng cường việc phòng thủ bờ biển. Trước sự việc nan giải này, Tổng thống Thomas Jefferson càng ngày càng phải thiên về việc kiểm soát của Liên Bang và ông đã bình luận rằng: Vào năm 1808, nhiều người mong đợi ông ra tranh cử một lần nữa nhưng ông đã từ chối, vì muốn theo gương của George Washington là rút lui sau hai nhiệm kỳ. Thomas Jefferson cũng nói rõ cho mọi người biết là ông ước mong James Madison sẽ là vị Tổng thống kế tiếp. Và trên thực tế thì Madison cũng đã thắng cử dễ dàng. == Cuối đời == Thomas Jefferson rời khỏi chức vụ Tổng thống vào năm 1809, khi 65 tuổi. Ông đã cảm thấy tự do khi dùng thời giờ cho các bạn bè, sách vở, thư từ, đất đai và để vun trồng "các sự theo đuổi trầm lặng của Khoa học". Ông đã viết: "Không một người tù nào cảm thấy nhẹ nhàng hơn tôi khi tôi trút được gánh nặng quyền lực". Ông đã trải qua 15 năm cuối của cuộc đời, góp công vào việc thành lập Đại học Virginia (UVA) tại thành phố Charlottesville, khai trương vào năm 1825. Ông qua đời vào ngày 4 tháng 7 năm 1826, hưởng thọ 83 tuổi, đúng 50 năm sau ngày Tuyên bố độc lập của Hoa Kỳ. Ông mất vài giờ trước bạn cũ và cũng là đối thủ chính trị của ông, John Adams. Lời hấp hối của John Adams là "Độc lập muôn năm", và "Thomas Jefferson vẫn sống". Trên mộ của mình, ông viết: HERE WAS BURIED THOMAS JEFFERSON AUTHOR OF THE DECLARATION OF AMERICAN INDEPENDENCE OF THE STATUTE OF VIRGINIA FOR RELIGIOUS FREEDOM AND FATHER OF THE UNIVERSITY OF VIRGINIA. Tạm dịch là "Nơi đây an nghỉ Thomas Jefferson, tác giả của Bản Tuyên Ngôn Độc Lập Hoa Kỳ, của Đạo Luật Virginia về Tự Do Tôn Giáo và là Người Cha của Đại Học Virginia". Tuy Jefferson là một người giàu có, ông thường gặp nhiều vấn đề tài chính, và khi qua đời vẫn còn ôm nợ. Ông phải vay nợ trong suốt cuộc đời mình, trong đó có cả trách nhiệm kế thừa một khoản nợ từ cha vợ. Nguồn thu nhập chính từ đồn điền không đủ sống và cho đến cuối cuộc đời, ông nợ nhiều đến nỗi phải đệ đơn lên bang Virginia xin bán đấu giá đất tư của ông, nhưng chính phủ tiểu bang từ chối. Chỉ sau khi ông chết, bất động sản cũng ông mới được đấu giá để trả nợ và con gái của ông thì phải sống nhờ quỹ từ thiện. == Di sản == Thomas Jefferson đã đóng góp rất lớn lao vào các nguyên tắc của nền Dân Chủ Hoa Kỳ. Cùng với Tổng thống George Washington, ông là một trong các nhân vật vĩ đại của cuộc Cách mạng Bắc Mỹ mà danh tiếng đã vang lừng trên khắp Thế giới. Ông Jefferson đã ủng hộ các Quyền của Con người, các tự do ngôn luận, tôn giáo và báo chí và cũng vì tôn trọng nền tự do sau này mà ông đã phải chịu đựng nhiều vụ nói xấu của các tờ báo vô trách nhiệm. Ông Thomas Jefferson còn là một nhà canh nông. Ông đã phát minh ra một thứ máy cày được nông dân Mỹ dùng trong nhiều năm. Ông đã đưa loại máy đập lúa từ châu Âu vào Hoa Kỳ và khuyến khích Robert Mills trong việc phát triển loại máy gặt. Ông cũng là một trong những người chủ trương phương pháp luân canh. Là một nhà khoa học, ông Thomas Jefferson khuyến khích việc phát minh ra "thì kế", không những được dùng trong các cuộc chạy đua mà còn trong các công cuộc khảo sát thiên văn. Ông cũng là người đặt niềm tin vào loại tàu ngầm và về y tế, là một trong các nhân vật quan trọng chấp nhận chủng ngừa đậu mùa. Các con cháu của ông cũng đồng lòng chủng ngừa như ông. Về kiến trúc, ông Thomas Jefferson đã vẽ kiểu cho Tòa nhà Monticello gồm 35 phòng của ông. Đây là một trong các dinh thự lịch sử đẹp nhất của Hoa Kỳ. Ông cũng đã vẽ kiểu Điện Capitol của Thủ phủ Richmond và các tòa nhà ban đầu của Đại Học Virginia. Về các dụng cụ dùng trong nhà, ông Thomas Jefferson đã nghĩ ra các loại ghế xếp, ghế đu đưa, cùng cải tiến nhiều vật dụng khác. Ông thường được gọi là "Người cha của Văn phòng bằng sáng chế" bởi vì đạo luật đầu tiên về phát minh, sáng chế đã được ông giám sát. == Xem thêm == Chủ nghĩa dân chủ Jefferson Kinh thánh của Jefferson == Chú thích == == Tham khảo == === Nguồn sơ cấp === === Tiểu sử === === Nghiên cứu hàn lâm === ==== Tôn giáo ==== == Liên kết ngoài == Tiểu sử tại website Tòa Bạch Ốc
lưu tống.txt
Tống (chữ Hán: 宋; 420-479) là triều đại đầu tiên trong số bốn Nam triều ở Trung Quốc, tiếp theo sau nó là nhà Nam Tề. == Tên gọi == Triều đại này do Lưu Dụ (劉裕; 363-422) lập ra, họ của ông cùng với tên gọi triều đại "Tống" hợp thành tên gọi được sử dụng để chỉ triều đại này, nhà Lưu Tống. Tên gọi này được sử dụng nhằm mục đích phân biệt triều đại này với triều đại cùng tên là nhà Tống (宋; 960-1279), là triều đại nổi tiếng, tồn tại lâu hơn và có nhiều sự kiện lịch sử hơn. Nhà Lưu Tống cũng từng được gọi là nhà Nam Tống (南宋), do nó là một triều đại thuộc Nam triều trong lịch sử Trung Quốc, tức là một trong các triều đại có kinh đô đặt tại Kiến Khang (ngày nay là Nam Kinh). Tuy nhiên, nhà Tống (960-1279) kể từ sau năm 1127 cũng phải lui về phía nam, đặt kinh đô tại Lâm An (ngày nay là Hàng Châu, Chiết Giang), cũng được gọi là nhà Nam Tống. Vì thế, đối với triều đại ngắn hơn nhiều này, là chủ đề của bài này, thì tên gọi "Lưu Tống" được sử dụng là hợp lý hơn cả trong nhiều ngữ cảnh. == Thành lập == Hoàng đế khai quốc Lưu Dụ xuất thân từ trong quân đội, thuở nhỏ gia đình nghèo. Khi nhà Đông Tấn rơi vào thời kỳ xuống dốc, dân nổi lên làm loạn khắp nơi, nội bộ Triều đình đấu đá lẫn nhau làm tê liệt mọi hoạt động trong nước. Năm 402, một viên tướng nhà Đông Tấn là Hoàn Huyền khởi binh soán ngôi, lấy quốc hiệu là Sở. Lưu Dụ cùng Lưu Nghị khởi binh cần vương, cuối cùng tiêu diệt được lực lượng Hoàn Huyền. Sau đó Lưu Dụ xuất quân Nam chinh Bắc phạt, ổn định tình hình. Cuối cùng, Lưu Dụ tấn công tiêu diệt lực lượng của Lưu Nghị và đánh đuổi các tôn thất nhà Đông Tấn là Tư Mã Hưu Chi, Tư Mã Sở Chi. Không còn trở ngại, Lưu Dụ ép Tấn Cung Đế nhường ngôi, lập ra triều Tống. == Lãnh thổ == Phía bắc đến Tần Lĩnh Hoàng Hà, giáp ranh Bắc Ngụy, phía tây đến Đại Tuyết Sơn, Tứ Xuyên, phía tây nam bao gồm Vân Nam, phía đông nam giáp biển. Lưu Tống là vương triều có lãnh thổ rộng lớn nhất trong các triều đại Nam triều. Về sau khu vực từ Nam Hoàng Hà đến Bắc Hoài Hà bị Bắc Ngụy chiếm đoạt, trong đó có Tế Châu, Duyện Châu, Thanh Châu, Từ Châu. == Thời hưng thịnh == Tống Vũ Đế lên ngôi thực hành hàng loạt biện pháp tăng cường trung ương tập quyền, giảm bớt gánh nặng cho nông dân, làm dịu bớt mâu thuẫn giai cấp, đẩy nhanh việc khôi phục và phát triển kinh tế. Sau khi lên ngôi, để tránh cái gương của họ Tư Mã, Tống Vũ Đế liền tước bỏ quyền lực của các chư hầu, phiên trấn, tập trung quyền hành trung ương. Do Kinh Châu nhiều lần phản loạn nên biến Kinh Châu phủ thành Kinh Châu hạt, hạn chế quyền hành của các tướng. Để ngừa quyền thần làm loạn nên ra chiếu chỉ phàm sau khi xuất quân hồi sư phải giao lại binh quyền cho triều đình. Quản lý hộ khẩu các thế tộc, giảm bớt nguồn thu của quan phủ chỉnh đốn hộ tịch, thay đổi cách thổ đoạn (thu thuế), chính quyền sở hữu phát hành tiền tệ khuyến khích buôn bán. Tô thuế của nông dân được giảm nhẹ, nuôi dưỡng sức dân, phát triển sinh sản. Từ thời Ngụy Tấn đến nay, triều đình sống xa hoa phú quý, như do Vũ Đế xuất thân nghèo hèn nên chịu khó sống đời thanh bần, đối với ngựa xe, mĩ nữ càng tiết dục. Người sáng lập ra triều đại này Tống Vũ Đế lại được cho là một trong những viên tướng vĩ đại nhất trong thời kỳ Nam Bắc triều, và thời gian trị vì của vị Hoàng đế thứ ba, Tống Văn Đế, được biết đến như là giai đoạn ổn định chính trị và quản lý hành chính tốt, không chỉ của mỗi hoàng đế mà còn của các quan lại trung thực và mạnh mẽ. Thời kỳ này được biết đến dưới tên gọi triều Nguyên Gia (425-453, lấy theo niên hiệu mà vị hoàng đế này dùng) và nó là một trong những thời kỳ hoàng kim nhất của Nam triều. Năm 438, Văn Đế rất coi trọng văn hóa và giáo dục, muốn phát triển Nho thuật cho thành lập các trường học, khuyến khích Nho sinh nghiên cứu. Các quan chức dân sự được triều đình bổ nhiệm giảng dạy các môn khoa học khác nhau: Hà Thượng Chi (382 - 460) giảng môn Huyền học, Tạ Nguyên giảng văn chương, Lôi Thứ Tông giảng Khổng giáo, Hà Thừa Thiên (370–448), Thái thú Hành Dương, nhà thiên văn học nổi tiếng của Trung Quốc cổ đại giảng lịch sử. Năm 435 Đan Dương doãn Tiêu Mô Chi dâng chiếu thư thưa rằng: ”Phật giáo sau khi du nhập vào Trung Quốc đến nay đã trải qua bốn thời đại, chùa chiền thờ Phật hiện nay đã có đến hàng ngàn ngôi. Hiện nay một số người coi việc thờ cúng không còn là thành tâm nữa, mà họ rất coi trọng việc thờ cúng xa hoa, do đó mà hao tiền tốn của, mất thời gian và mệt mỏi. Do đó từ nay về sau, mong Bệ hạ hãy ban chiếu quy định rằng, mọi công việc như đúc tượng Phật, xây chùa đều phải trình báo và được phép của quan phủ, không được làm một cách tùy tiện”. Sau khi xem bức biểu này, Văn Đế thấy rằng việc xây dựng chùa chiền thờ Phật, đúc tượng Phật, đã hao tốn rất nhiều tiền của và công sức của nhân dân, việc đó là lãng phí vô cùng. Do đó ông đã hạ chiếu chỉnh đốn tăng đoàn, điều đó đã khiến cho hàng trăm tăng ni trong cả nước phải hoàn tục (trở lại làm thường dân). == Văn hóa, nghệ thuật == Dù cho (và có lẽ ở một mức độ nào đó là do) những cuộc tắm máu này, nhưng trong thời nhà Lưu Tống người ta đã sáng tạo ra nhiều tác phẩm thơ ca (thi 詩) lớn và các thể loại thơ ca khác, đáng chú ý là phú (賦). Hoàng tộc đã hỗ trợ cho nhiều tác phẩm văn thơ, và chính họ cũng viết rất nhiều. Thời gian trị vì của Văn Đế là đặc biệt tích cực cho các hoạt động văn chương, với việc họ Lưu hỗ trợ cho việc sưu tập và biên soạn một tập hợp lớn các giai thoại văn xuôi ngắn. Ba người khổng lồ của thời Nguyên Gia là Bão Chiếu (鮑照; ? - 466), Tạ Linh Vận (謝霊運; 385-422) và Nhan Diên Chi (顏延之; 384-456) là những nhà thơ nổi tiếng nhất của thời Lưu Tống, mỗi người trong số họ đã được cho là những ông tổ của ba xu hướng chính trong văn học sau này. Tạ Linh Vận (385 - 433) - cháu nội Khang Lạc công Tạ Huyền, cũng là một nhân vật tài hoa của gia tộc họ Tạ. Do từ nhỏ được gia đình gửi nuôi ở ngoài nên ông còn có tên là Khách Nhi, thường gọi là Tạ Khách. Ông đọc khắp các sách, văn chương trác việt, sánh ngang với Nhan Diên Chi nhưng thực tế còn hơn cả họ Nhan. Ông được tập phong tước Khang Lạc Công, nên người đời thường gọi là Tạ Khang Lạc. Từ nhỏ Tạ Linh Vận đã được sống trong xa hoa, sung sướng, lấy yến ẩm, du ngoạn làm vui. Khi nhậm chức Thái thú Vĩnh Gia, Tạ Linh Vận thường chỉ thích ngao du sơn thủy, không màng danh lợi, rồi cố xin từ quan, dời đến Cối Kê (nay là Thiệu Hưng - Chiết Giang), dựng nhà giữa chốn kề sông tựa núi, phong cảnh tuyệt trần. Ông là nhà thơ nổi tiếng thời Tấn, Tống, thơ ông phần lớn là thơ sơn thủy, trong đó có nhiều câu thơ nổi tiếng được lưu truyền rộng rãi như: "Trì đường sinh xuân thảo, Viên liễu biến minh cầm, (Bờ ao cỏ xuân mượt, Liễu vườn hóa chim kêu)”… Thơ ông cứ vừa viết xong thì khắp Kinh thành đã tranh nhau truyền chép. Ông còn nổi tiếng về thư pháp. Thơ và chữ của ông được Tống Văn Đế coi là "nhị bảo", và cho vời ông về làm quan ở Kinh sư, ngày đêm hầu cận, đàm đạo. Khoảng niên hiệu Nghĩa Hi nhà Đông Tấn, Tạ Linh Vận cùng với Tạ Hồn và các con cháu Tạ gia là Tạ Chiêm, Tạ Hối, Tạ Diệu, Tạ Hoằng Vi lập thành một nhóm thơ văn, thường cùng nhau tụ tập yến ẩm ngâm vịnh, sử sách gọi là "Ô Y chi du" trở thành văn chương thưởng hội nổi tiếng nhất của con cháu họ Tạ. Thơ văn họ Tạ còn có Tạ Diểu (464 - 499), tự Huyền Huy, thường được người đời gọi là Tiểu Tạ (so với Tạ Linh Vận). Ông từng nhậm chức Thái thú Tuyên Thành nhà Tề (Nam triều) nên còn được gọi là Tạ Tuyên Thành. Từ niên thiếu, ông đã có tài hoa xuất chúng, từng làm các chức văn học, công tào ở phủ Cánh Lăng Vương, là một trong "Cánh Lăng bát hữu", văn chương rất được hâm mộ. Ông và Thẩm Ước sáng lập ra thể thơ Vĩnh Minh, đánh dấu một giai đoạn quan trọng trên con đường phát triển thơ ca Trung Quốc từ "cổ thể" tự do đến "cận thể" có cách luật nghiêm chỉnh, trong đó các sáng tác của ông là nhiều nhất, hiện còn hơn hai trăm bài, đến đời Minh được người sau tập hợp lại thành Tạ Tuyên Thành tập. Ông có rất nhiều câu thơ hay được truyền tụng rộng rãi như: "Dư hà thành tán ỷ, Trừng giang tĩnh như luyện (Những đám ráng chiều sót lại thành những tấm là tản mát,Dòng sông trong vắt phẳng lặng như một dải lụa trắng) và "Thiên tế thức quy chu, Vân trung biện giang thụ" (Bên trời biết con thuyền đã trở về; Trong mây nhận rõ được những cái cây bên sông). Thơ của ông chính là mở đầu cho thơ ngũ ngôn, thất ngôn luật thi đời Đường sau này. Đến thời Đường, Lý Bạch, Đỗ Phủ đều có thơ ca ngợi Tạ Diểu, đánh giá cao thơ ca của ông. Cháu nội Tạ Linh Vận là Tạ Siêu Tông cũng nổi tiếng có văn tài, được vua rất ưa chuộng và từng ca ngợi: "Tạ Siêu Tông sừng lân lông phượng, đúng là Tạ Linh Vận tái thế". Tạ Siêu Tông không những giỏi thơ văn mà còn tiếp nối truyền thống uống rượu của họ Tạ. Ông từng giữ chức Hoàng môn lang thời Tề Cao Đế, nhưng do ông thường uống rượu ngay cả khi làm việc ở công đường nên bị điều đi làm chức Trung quân Tư mã cho Nam Quận Vương. Các nhà khoa học và thiên văn học cũng tích cực hoạt động trong thời kỳ tương đối yên bình. Đạo Phật bắt đầu được hiểu rõ hơn và được tu luyện rộng rãi hơn trong thời kỳ này, và một số quan lại, chẳng hạn như Tạ Linh Vận, là các Phật tử. == Chiến tranh với Bắc Ngụy == Xem chi tiết: Chiến tranh Lưu Tống - Bắc Ngụy Nhà Lưu Tống thành lập bắt đầu thời kỳ lịch sử Nam bắc triều chong mặt nhau. Bắc Ngụy trong khi Lưu Tống mới thành lập đã phát động mấy cuộc tấn công nhưng Lưu Tống cũng nhiều lần xua quân bắc phạt, đôi bên có thắng có thua và ngược lại. === Lần thứ nhất === Năm 422 nhà Ngụy nhân cơ hội Tống Vũ Đế chết liền cho 10 vạn quân tấn công vào các thành Hứa Xương, Hổ Lao, Đông Dương. Sau hơn 200 ngày giao chiến, kết quả quân Tống thất bại, nhiều quân sĩ bị bắt làm tù binh, chỉ có hơn 200 quân chạy thoát. Bên Ngụy số lượng quân chết vì bệnh dịch cũng lên tới trên 2 vạn. Tháng 1 năm 423, quân Ngụy hạ được thành Kim Dung, Lạc Dương và Lâm Tri. Các thành của Tống chỉ có Đông Dương và Hổ Lao còn cầm cự. Tướng Tống là Đàn Đạo Tế mang quân cứu ứng, thấy Đông Dương yếu hơn và gần hơn nên cứu trước. Quân Ngụy đúng lúc đó bị dịch bệnh nên thấy viện binh phải lui. Đàn Đạo Tế không được cấp nhiều lương nên phải dừng lại không truy kích được. Thành bị phá nặng nên tướng trấn thủ Đông Dương là Trúc Quỳ phải dời tới thành Bất Kỳ. Hổ Lao ở xa, các cánh quân của Đạo Tế ở Hồ Lục, Lưu Túy ở Hạng Thành, Thẩm Thúc Ly ở Cao Kiều nhưng không dám tới cứu vì sợ thế lớn của Bắc Ngụy. Do không được cứu nên tới tháng 4 năm 424, thành bị hạ. Quân Ngụy tuy lấy được thành nhưng tổn thất khá nhiều. Sau lần chiến tranh đó, Lưu Tống bị mất vùng đất từ Hồ Lục, Hạng Thành trở lên phía bắc. Cuộc chiến Tống Ngụy lần thứ nhất kết thúc với kết cục quân Tống mất nhiều đất đai ở phía nam Hoàng Hà. === Lần thứ hai === Trong thời gian trị vì của Tống Văn đế (423-453) thế nước cường thịnh nên nhà Lưu Tống mở các chiến dịch bắc phạt. Nhân lúc Bắc Ngụy phải đối phó với Nhu Nhiên phía bắc, năm 429, Tống Văn Đế đòi Ngụy trả đất Hà Nam. Bắc Ngụy Thái Vũ Đế không chịu. Năm 430, Tống Văn đế sai Đáo Ngạn Chi mang quân bắc phạt. Tháng 7 quân Tống tới Tu Xương. Quân Ngụy ở 4 thành Cao Ngao, Hoạt Đài, Hổ Lao và Kim Dung ít quân nên chủ động rút lui. Ngạn Chi thu 4 trấn rồi tiến đến bến Linh Xương và chia quân tiến sang Đồng Quan phía tây. Tướng Thôi Hạo của Bắc Ngụy thấy quân Tống mắc sai lầm là chỉ có 5 vạn mà dàn ngang 2000 dặm đông tây, nên lực lượng rất yếu ớt. Tháng 10 cùng năm, Bắc Ngụy ra quân phản công, lấy lại được Lạc Dương và Hổ Lao. Tháng 11, Tống Văn đế lại sai Đàn Đạo Tế đi tiếp ứng. Nhưng quân Đạo Tế chưa tới thì Ngạn Chi bị mất 2 thành đã hoảng sợ, hạ lệnh đốt thuyền, bỏ giáp nặng rút về Bành Thành. Quân Ngụy đuổi theo đến Lịch Thành, thái thú Tế Nam của Tống là Tiêu Thừa Chi chỉ có vài trăm quân nhưng dụng "không thành kế", cho mở toang cổng thành. Quân Ngụy sợ có phục binh không dám vào thành. Tháng 2 năm 431, quân Ngụy giao tranh với Đàn Đạo Tế lên bắc cứu Hoạt Đài. Hai bên đánh nhau 30 trận, đều bị tổn thất nặng. Thúc Tôn Kiến bèn dùng kế đánh úp đường vận lương của quân Tống khiến Đạo Tế bị thiếu lương. Đạo Tế phải rút quân. Quân Ngụy truy kích bắt được Chu Tu Chi. Cuộc bắc phạt của Tống Văn đế thất bại. === Lần thứ ba === Chiến sự Tống - Ngụy tạm ngừng trong nhiều năm. Năm 450, Thái Vũ đế điều 10 vạn quân vây đánh Huyền Hồ. Tướng thủ thành quân Tống là Trần Hỷ chỉ có 1000 quân chống trả trong 42 ngày, quân Ngụy bị thiệt hại hơn 1 vạn nhưng không hạ được thành. Tuy vậy, các thành xung quanh đều sợ thế Ngụy và bỏ thành rút chạy. Lưu Tống yếu thế hơn, nhưng Tống Văn Đế vẫn muốn ra quân. Để chuẩn bị cho cuộc tấn công lần thứ hai, Lưu Tống Văn Đế cho quân đồn trại và vận chuyển lương thảo đến các khu vực ven biên giới, sai các tướng do Vương Huyền Mô cầm đầu đem quân Bắc phạt. Thẩm Khánh Chi can ngăn: "Giữ việc nước, cũng như lo việc nhà vậỵ Muốn bàn luận về việc cày ruộng thì phải bàn luận với 1 nông phu nhiều kinh nghiệm. Muốn bàn luận về việc canh cửi thì phải bàn luận với người đàn bà dệt vải. Nay Bệ hạ muốn mở chiến tranh với nước khác, mà lại để những người bạch diện thư sinh không một chút kinh nghiệm về quân sự đứng ra bàn luận, thì làm sao mà thành công được." Tống Văn Đế không nghe, quyết tâm bắc phạt. Tháng 7 năm 450, quân Tống xuất phát. Phía đông, Vương Huyền Mô và Thẩm Khánh Chi cầm quân thủy; phía tây, hoàng tử Lưu Đãn cùng Liễu Nguyên Cảnh đánh chiếm Hoằng Nông. Chiến sự phía đông: Tướng Ngụy ở các thành Cao Ngao, Nhạc An đều bỏ thành chạy. Huyền Mô đánh Hoạt Đài, 1 tháng không hạ được. Tháng 9, vua Ngụy đích thân nam tiến cứu Hoạt Đài, xưng là có trăm vạn quân. Vương Huyền Mô bỏ lỡ mấy cơ hội hạ thành, nghe tin đó hoảng sợ, rút quân. Quân Ngụy truy kích giết hơn vạn quân Tống. Tổng chỉ huy Tiêu Bân nghe tin Huyền Mô thua trận, định đi cứu thì Mô đã chạy về đến nơi. Thấy quân Ngụy thế lớn, các tướng Tống phải bàn nhau rút về cố thủ ở Cao Ngao, Thanh Khẩu, Lịch Thành. Sau vì vị trí của Cao Ngao đặc biệt nên quân Tống phải bỏ Cao Ngao. Chiến sự phía tây: Tướng Tống là Liễu Nguyên Cảnh cùng lão tướng Bàng Quý Minh tiến đánh Lư Thị rồi hạ được Hoằng Nông, tiến đánh Đồng Quan và Thiểm châu. Tướng Ngụy là Liên Đề không chống nổi, bị tử trận cùng 3000 quân. 2 vạn quân Ngụy bị bắt, được Nguyên Cảnh cho thả hết. Thiểm Thành bị mất khiến Đồng Quan bị mất theo. Quân Tống uy hiếp phía tây dữ dội. Hào kiệt người Hán ở Quan Trung cũng như người Khương (1 trong Ngũ Hồ) hưởng ứng quy hàng. Cùng lúc đó, tướng Tống là Lưu Khang Tổ cũng hạ được Trương Xã rồi tiến đánh Hổ Lao. Nhưng lúc đó tin bại trận của Vương Huyền Mô phía đông báo về Kiến Khang. Tống Văn đế lại cho rằng cánh này bị thua nặng thì phía tây cũng không nên đơn độc vào sâu đất địch nên hạ lệnh lui quân. Các tướng Tống đành rút về Tương Dương. Phía tây của Bắc Ngụy qua được nguy hiểm. === Lần thứ tư === Thái Vũ đế thấy quân Tống rút lui bèn khởi đại quân nam tiến. Tướng Ngụy là Thác Bạt Nhân đánh Thọ Dương, hạ Huyền Hồ và Hạng Thành. Tống Văn đế điều Lưu Khang Tổ cứu Thọ Dương. Quân Tống chỉ có 8000, đụng 8 vạn quân Ngụy ở Úy Vũ. Chiếm ưu thế quân số, Thác Bạt Nhân tiêu diệt toàn bộ cánh quân này, giết chết Khang Tổ. Tướng giữ Thọ Dương của Tống là hoàng tử Lưu Thước cố thủ không đánh, quân Ngụy không hạ được. Thái Vũ đế đích thân cầm quân chủ lực đánh Bành Thành. Các hoàng tử Lưu Nghĩa Cung (em Tống Văn đế) và Lưu Tuấn (con Văn đế) cố thủ không ra, quân Ngụy không hạ được. Tháng 12 năm 450, Tống Văn đế sai Tang Chất đi cứu Bành Thành. Chất chỉ có 1 vạn quân, đụng đại quân Ngụy, bị giết gần hết, chỉ còn 800 quân chạy vào Vu Thai. Ngụy Thái Vũ đế cho 1 cánh quân nhỏ vây Vu Thai mà cất đại quân nam tiến tiếp. Rằm tháng chạp, quân Ngụy tới Qua Bộ, ông ra lệnh phá nhà dân làm bè, phao tin quân Ngụy muốn vượt Trường Giang vào Kiến Khang. Kinh thành nhà Tống rơi vào tình trạng khẩn cấp, phải điều động cả con em vương công ra trận. Nhưng đến ngày 2 tháng giêng năm 451, Thái Vũ đế hạ lệnh lui quân, chỉ bắt theo dân Tống mang về. Ngụy Thái Vũ đế quay trở lại Vu Thai, đòi tướng Tống là Tạng Chất dâng rượu. Chất sai mang bình nước tiểu cho vua Ngụy. Thái Vũ đế nổi giận hạ lệnh đánh thành, không tiếc mạng quân sĩ cố đánh cho được. Sau đó vua Ngụy lại gửi thư hăm dọa Tạng Chất. Chất cũng cứng cỏi, gửi thư mắng lại, lại chép giải thưởng của triều đình Lưu Tống vào thư: "Ai chém được Phật Ly (tức là Thái Vũ đế), phong hầu vạn hộ, thưởng 1 vạn tấm vải!" Thác Bạt Đào càng tức giận, thúc quân đánh rát, nhưng hơn 1 tháng quân Ngụy hao tổn nhiều vẫn không hạ được thành. Lúc đó Bành Thành vẫn trong tay quân Tống, Thái Vũ đế sợ quân địch hợp 2 mặt đánh lại nên đành giải vây Vu Thai, rút về bắc. Lúc quân Ngụy rút về qua Bành Thành, hoàng thân Lưu Nghĩa Cung không dám ra đánh. Sau đó vua Tống phát lệnh truy kích tới, quân Ngụy bèn giết hơn 1 vạn dân Tống bắt theo về vì họ đi chậm rồi toàn quân rút mau. Chiến tranh Tống - Ngụy kết thúc năm 451. Cả hai bên đều bị thiệt hại nặng nề. === Hậu quả với Lưu Tống === Sau trận chiến này sức mạnh của quân Tống suy giảm hẳn, tuy nhiên Bắc Ngụy cũng tổn thất quá nửa binh lực. Từ đó hai bên giữ chặt biên giới dọc theo sông Trường Giang. Ghi lại cuộc chiến này trong Tư trị thông giám, sử gia Tư Mã Quang viết: "Quân đội nước Ngụy đã tàn phá các châu Nam Duyện, Từ, Bắc Duyện, Dự, Thanh, Tế. Quân Tống chết và bị thương vô số. Khi quân Ngụy bắt được tù binh, họ nhanh chóng xử tử luôn. Số trẻ em bị đâm ngang người bằng giáo, tai bị cắt xỏ thành từng dây để làm trò giải trí. Những vùng quân Ngụy đi qua bị đốt phá tan hoang đến nỗi cỏ cũng không mọc được. Đến mùa xuân khi chim sẻ quay trở lại, chúng không tìm được chỗ nào để xây tổ và phải bay vào rừng." Nhận định về thất bại quân sự của Tống Văn Đế, Tư Mã Quang viết: "Mỗi lần hoàng đế Văn đế cử tướng lĩnh cầm quân, các tướng lĩnh phải tuân theo kế hoạch của hoàng đế, thậm chí ngày mở chiến dịch cũng phải xin hoàng đế phê chuẩn, và họ chẳng được tự quyết định việc gì cả. Hơn nữa các đội quân dự bị không được huấn luyện kỹ càng, chẳng có kỷ luật, quân lính tiến bừa lên khi thắng trận và chạy tán loạn khi thất bại. Đó là hai lý do khiến Văn đế thất bại, nhà nước suy thoái, kỷ nguyên Nguyên gia kết thúc." Một sử gia khác Thẩm Ước đã cho rằng Văn đế xây dựng quân đội theo cách thức của Quang Vũ đế thời Đông Hán, nhưng Văn đế khác Quang Vũ đế ở chỗ thiếu năng lực lãnh đạo quân sự và đích thân soạn thảo các kế hoạch quân sự. Năm 452, sau khi nhận được tin Thái Vũ đế nhà Bắc Ngụy bị quyền thần Tông Ái giết, Văn đế lại chuẩn bị đánh miền bắc, giao cho tướng Tiêu Hi Hoa cầm quân. Nhưng sau khi cánh quân do Trương Dung chỉ huy bị thất bại tại Kiều Áo, Văn đế từ bỏ chiến dịch. == Chinh phạt nước Lâm Ấp == Năm 436, Tống Văn Đế sai Thứ sử Giao Châu Đàn Hòa Chi và Tông Xác (người quận Nam Dương) cùng Túc Canh Hiến làm phó tướng đem binh sang đánh Lâm Ấp. Vua Lâm Ấp là Phạm Dương Mại đem quân ra chống cự. Đàn Hòa Chi và Tông Xác tiến quân chém được tướng, phá được thành, quân Lâm Ấp tan vỡ, Phạm Dương Mại cùng với con chạy thoát được. Đàn Hòa Chi vào đất Lâm Ấp lấy được vàng bạc châu báu rất nhiều rồi rút về. == Tàn sát trong nội tộc == Nhà Lưu Tống sau thời hưng thịnh đã rơi vào tình trạng bất ổn và cuối cùng bị tiêu vong. Một loạt các hoàng đế hoặc thiếu năng lực hoặc là các bạo chúa, điều đó đã dẫn tới nhiều cuộc nổi dậy quân sự. Trong số các vị hoàng đế đó có thể kể tới Lưu Thiệu, Tống Hiếu Vũ Đế, Tống Tiền Phế Đế, Tống Minh Đế và Tống Hậu Phế Đế. Vua Minh Đế là đặc biệt tàn bạo, đã giết hại một lượng lớn những người anh em, cháu chắt và các họ hàng gần xa khác - nhiều trong số đó chỉ là trẻ em. Tống Minh Đế đã giết 4 người em trai, 16 người con trai của Hiếu Vũ Đế. Sự thanh trừng tàn khốc diễn ra dưới các đời vua kế tiếp. === Lưu Thiệu giết Tống Văn đế === Tống Văn Đế có 19 người con, lập con trưởng Lưu Thiệu làm Thái tử. Lưu Thiệu thân thiết với người em là Hoàng tử thứ 4 Lưu Tuấn và cả hai người đều tin theo bà đồng Nghiêm Đạo Dục. Nghe theo bà đồng, Lưu Thiệu làm phép bùa yểm để cha mau chết. Năm 452, việc làm của thái tử Thiệu bị phát giác. Tuy nhiên Văn Đế chỉ mắng hai người con và sai truy tìm bà đồng. Sang tháng giêng năm 453, vẫn có tin tâu báo Nghiêm Đạo Dục còn trong phủ Lưu Thiệu. Văn Đế giận dữ, biết hai người không hối cải, bèn quyết định phế Thái tử Thiệu và hoàng tử Tuấn. Văn đế mật họp các đại thần Từ Trạm Chi, Giang Trạm, Vương Tăng Xước lại bàn nhưng không quyết đoán lập ai làm thái tử. Vì Từ và Giang đều là quốc thích (có người nhà lấy người hoàng tộc) và đều có ý riêng; Vương Tăng Xước biết hoàn cảnh như vậy, khuyên Văn Đế gấp rút thay Thái tử nhưng thấy vua chần chừ thì sợ việc đổi thái tử không thành mà dễ lộ ra (vì 2 người bàn cùng đều thân hoàng tộc) sẽ bị liên lụy, nên ngầm sai người tiết lộ với Phan Thục phi là mẹ hoàng tử Tuấn. Tuấn vội báo cho Thiệu việc hoán ngôi thái tử. Thái tử Thiệu sợ hãi, cấp tốc làm binh biến. Rạng sáng 21 tháng 2 năm 453, Thiệu tập hợp 2000 quân dưới quyền tiến vào Đài Thành, dùng chiếu thư giả lừa quân canh cửa mở cửa thành xông vào. Thủ hạ của Thiệu là Trương Siêu Chi sấn vào cung cấm. Tống Văn Đế trong cơn khủng hoảng bèn lấy bàn làm vật đỡ, liền bị chặt đứt cả bàn tay, sau đó bị giết. Từ Trạm Chi và Giang Trạm ngồi họp cùng Văn Đế đến sáng chưa kịp về, cũng bị giết. Lưu Thiệu tự lập làm hoàng đế, tuy nhiên về sau chính sử Trung Quốc đều gọi niên hiệu của Lưu Thiệu là Nguyên Hung, có nghĩa là giết vua. Ban đầu không biết Vương Tăng Xước giục Văn Đế sớm quyết việc thay thái tử nên Thiệu phong Xước làm Thượng thư Bộ Lại, nhưng sau phát giác bèn giết nốt Xước. === Hiếu Vũ đế === Một người con khác của Văn Đế cũng mang tên Lưu Tuấn là Vũ Lăng Vương Lưu Tuấn đang cùng Thẩm Khánh Chi đi dẹp quân khởi nghĩa, biết tin chính biến, bèn mang quân về hỏi tội Thiệu. Tháng 3 năm 453, Lưu Thiệu cho rằng Thẩm Khánh Chi theo mình nên viết thư dụ. Không ngờ Khánh Chi mang thư của Thiệu vào báo với Vũ Lăng Vương Lưu Tuấn và đề nghị gấp rút tiến quân. Được tin Vũ Lăng Vương dấy binh, các trấn đều hưởng ứng. Tháng 4 năm 453, Vũ Lăng Vương Tuấn tự lập làm Hoàng đế, tức Hiếu Vũ Đế. Tháng 5 năm đó quân Hiếu Vũ Đế hạ Đài Thành, giết chết Lưu Thiệu. Tứ Hoàng tử Lưu Tuấn (người đồng mưu giết Văn Đế) chạy trốn cũng bị giết nốt. Hiếu Vũ Đế vào cung, giết chết hết gia quyến Lưu Thiệu và Hoàng tử Lưu Tuấn. Không lâu sau, Hiếu Vũ Đế lại sai người đầu độc giết một người em là Nam Bình vương Lưu Thước vì đã được Lưu Thiệu tin tưởng. Năm 454, chú Hiếu Vũ đế là Thứ sử Kinh Châu - Nam Quận vương Lưu Nghĩa Tuyên nghe theo lời Thứ sử Ung Châu Tạng Chất, bèn dấy binh tranh ngôi. Thanh thế Nghĩa Tuyên rất lớn. Hiếu Vũ Đế sợ hãi, toan đầu hàng để nhường lại ngôi, nhưng em là Tùy vương Lưu Đãn cương quyết phản đối, bèn sai Vương Huyền Mô, Thẩm Khánh Chi mang quân đi dẹp. Hai cánh quân Triều đình nhanh chóng đánh bại và giết chết Nghĩa Tuyên và Tang Chất. Hiếu Vũ Đế sai xử tử 16 người con Nghĩa Tuyên cùng tướng giữ Vu Thai là Thẩm Phác vì đã từng phục tùng Lưu Thiệu. Tùy vương Lưu Đãn được đổi vương tước Cánh Lăng vương. Năm 455, một người em khác của Hiếu Vũ đế là Vũ Xương vương Lưu Hồn mới 17 tuổi tự lập làm Sở Vương, đặt niên hiệu và trăm quan. Lưu Hồn vốn là người ham chơi và hay giết người. Thủ hạ của Hồn tố giác, Hiếu Vũ Đế điều quân trấn áp, phế làm thứ dân và giết chết. Năm 459, Cánh Lăng vương Lưu Đãn từng giúp Hiếu Vũ Đế dẹp Nghĩa Tuyên, thấy anh mình nhu nhược, cũng định cướp ngôi. Đãn trấn thủ Quảng Lăng, ngầm chiêu binh làm phản. Việc bị phát giác, Hiếu Vũ Đế sai Thẩm Khánh Chi đi đánh. Đãn cố thủ trong thành, sau bị Khánh Chi phá thành giết chết. Hiếu Vũ Đế giận dân Quảng Lăng chống cự lâu ngày nên khi hạ được thành bèn ra lệnh tàn sát cả thành. Thẩm Khánh Chi phải đứng ra xin cho những người cao không đầy 5 thước được miễn chết nên dân Quảng Lăng mới được sống sốt một số. Phụ nữ trong thành được mang thưởng cho quân sĩ. Sau đó Hiếu Vũ Đế còn ra lệnh chất đầu người chết ở phía nam thành. Hiếu Vũ Đế ghét Thứ sử Dương châu là Ngạn Thoan, bèn vu cho tội câu kết với Lưu Đãn, bức phải tự sát rồi đầy cả nhà xuống Giao Châu, giữa đường giết hết nam giới trong đoàn đi đày. Năm 461, một người em khác là Thứ sử Ung châu - Hải Lăng vương Lưu Hưu Mậu mới 17 tuổi cũng làm phản nhưng bị Tham quân Doãn Huyền Khánh nhanh chóng dẹp được và giết chết. Nhằm phòng ngừa các thế lực quân sự địa phương, Hiếu Vũ Đế phân chia lại địa giới một số châu nhất là các châu Kinh, Dương, Giang. Đông Dương Châu tách ra từ Dương Châu, Hình Châu thành lập từ địa phận Giang Châu và Kinh Châu. Tại các châu, giữa Thứ sử và triều đình có chức quan Điển thiên, nhằm làm tai mắt cho Nhà vua giám sát châu quận, có vai trò ngày càng lớn. === Tiền Phế Đế === Hiếu Vũ Đế chết năm 464 lúc mới 35 tuổi. Con trưởng của ông là Lưu Tử Nghiệp (449 – 465) tức vị Hoàng đế. Tử Nghiệp mới lên 16 tuổi đã hoang chơi tàn phá, như lời chiếu lên ngôi của Tống Minh Đế mô tả: "Tử Nghiệp hung ác điêu ngoa, chống lại tính trời, mặt người lòng thú, lúc mới 8 tuổi mà đã phản đạo bại đức, từ những năm này, xâm vũ ngũ thường, bỏ trệ tam chính". Việc đầu tiên Lưu Tử Nghiệp làm khi cai trị là giết 3 trọng thần Hoàng thúc Giang Hạ vương Lưu Nghĩa Cung, Thượng thư Liễu Nguyên Cảnh, Thượng thư Tả bộc xạ Nhan Sư Bá. Lưu Nghĩa Cung mưu cùng Nhan Sư Bá và Liễu Nguyên Cảnh lật đổ Tử Nghiệp. Nghĩa Cung muốn lôi kéo Thẩm Khánh Chi, nhưng Nguyên Cảnh lại khinh Khánh Chi vũ phu, không nên dùng. Khánh Chi biết chuyện, nổi giận, bèn phát giác việc mưu phản. Tiền Phế Đế nhanh chóng điều cấm quân bắt được 3 người. Sau đó Tiền Phế Đế đích thân đến hành hình Nghĩa Cung, sai chặt hết chân tay, móc mắt ngâm mật rồi mới phanh bụng. Cả nhà Nghĩa Cung cùng họ Liễu, họ Nhan bị xử tử. Việc mưu phản của Lưu Nghĩa Cung khiến Tử Nghiệp lo lắng những người trong vương tộc sẽ đe dọa đến ngôi báu. Vì thế Tử Nghiệp quyết định chuyển toàn bộ tông thất vào ở trong cung. Chẳng cần lý do gì Tử Nghiệp cũng ra lệnh đánh đập những người họ hàng của mình. Thậm chí, có lúc cao hứng còn liền biến các vương gia thành những chiếc giẻ lau, buộc dây thừng vào rồi kéo trên nền đất. Thẩm Khánh Chi tuy có công dẹp loạn nhiều lần, nhưng vì can thẳng Lưu Tử Nghiệp không nên làm điều ác nên cũng bị Tử Nghiệp sai người giết chết (năm 465). Tử Nghiệp ghét em là Tử Loan mới lên 10 tuổi, vì Loan được cha yêu, nên hạ lệnh giết Loan. Các em cùng mẹ của Loan còn rất nhỏ cũng bị giết cùng. Chú Tiền Phế Đế là Nghi Dương vương Lưu Sưởng làm Thứ sử Từ Châu lo lắng cho tính mạng của mình, vì thủ hạ ở Bành Thành lại không đồng lòng, bèn trốn sang hàng Bắc Ngụy. Những người chú khác có chút tài năng cũng bị Tử Nghiệp ngược đãi: Tương Đông vương Lưu Úc bị đổi thành Trư vương (Vương lợn), Kiến An vương Lưu Hưu Nhân bị đổi thành Tử vương (Vương chết), Sơn Dương vương Lưu Hưu Hựu bị đổi thành Tặc vương (Vương giặc), Đông Hải vương Lưu Huy bị đổi thành Lư vương (Vương lừa); tất cả bị nhốt vào lồng tre. Tử Nghiệp là người hoang dâm, trụy lạc và bệnh hoạn, từng thông dâm với chị là Công chúa Sơn Âm Lưu Sở Ngọc, tuy xinh đẹp nhưng cũng dâm loạn vô độ. Khi người anh rể biết chuyện, tìm cách giết người em lẫn cô vợ, Lưu Tử Nghiệp liền hợp mưu với Sở Ngọc giết hại luôn người anh rể của mình. Sở Ngọc còn đòi Tử Nghiệp cấp cho hơn 30 người đàn ông tuấn tú khỏe mạnh để luân phiên hành lạc. Sau đó Tử Nghiệp lại lấy một người cô ruột là công chúa Tân Thái (con gái Văn Đế, em Hiếu Vũ Đế) đã được gả cho tướng Hà Mại, mang vào cung và đổi gọi là Tạ Phi. Hà Mại biết chuyện, muốn dấy binh làm phản để lập Tấn An vương Lưu Tử Huân mới lên 10 tuổi làm vua nhưng bị lộ nên bị giết chết. Tương truyền, Tử Nghiệp còn mắc chứng thị dâm, ra lệnh bắt các vương phi, công chúa ra đứng đầy sân rồi cho đám nô bộc ra hành dâm với họ, còn vua đứng xem để lấy hứng. Tử Nghiệp còn bắt các cung nữ khỏa thân chạy khắp sân để xem, rồi giết khi cô gái đã kiệt sức. Lưu Tử Nghiệp tàn bạo và dâm loạn nên hay nằm mơ. Một lần, nằm mơ thấy có cung nữ muốn giết mình. Sáng hôm sau hỏi một bà đồng, bà đồng này nói rằng trong hoàng cung có "quỷ". Lưu Tử Nghiệp nghe vậy vô cùng sợ hãi nên sau đó thường hay cầm cung tên đi khắp nơi trong cung để bắn "quỷ". Trong khi những biến cố này xảy ra ở Kiến Khang, một cuộc vận động đang thành hình chung quanh Tân An Vương Lưu Tử Huân, người con thứ ba của Hiếu Vũ Đế, nhằm phế Lưu Tử Nghiệp và lập Huân làm Hoàng đế tại Tầm Dương dưới sự lãnh đạo của Đặng Uyển. Nhưng trước khi Huân hành động, Lưu Tử Nghiệp đã bị giết và Lưu Hưu Bính lên ngôi. Bính liền phong cho Huân làm Xa kỵ tướng quân. Năm 466 xảy ra vụ khởi hấn Nghĩa Gia giành ngôi giữa Lưu Tử Huân và Lưu Hữu Bính. Lưu Tử Huân đã lên ngôi đặt niên hiệu Nghĩa Gia sau khi nhận được lời hứa ủng hộ của phần lớn các châu quận, nhưng quân Đặng Uyển thất bại, Lưu Tử Huân bị tướng Thẩm Du Chi giết lúc mới 11 tuổi. Khi Giang Châu mới khởi binh thì trong cung đã có biến. Thủ hạ của Trư vương Lưu Úc đang bị giam là Nguyên Tế Phu đồng mưu với người coi việc ăn mặc của vua là Thọ Thúc Chi, nhân lúc Tiền Phế Đế đang đi khắp nơi trong cung để "bắn quỷ", bèn xông vào cung giết chết. Lưu Úc được cứu thoát ra ngoài, lên ngôi Hoàng đế, tức Lưu Tống Minh Đế. === Minh Đế === Tháng 12 năm 465, Minh Đế lên ngôi, phong Tấn An vương Lưu Tử Huân làm Xa Kỵ tướng quân, nhưng thủ hạ của Tử Huân là Đặng Uyển không chịu thu binh. Các hoàng tử như Lưu Tử Phòng ở Cối Kê, Lưu Tử Húc ở Kinh châu hưởng ứng. Ngoài ra còn các trấn Thanh châu, Từ châu, Ký châu cũng ủng hộ. Tuy nhiên, lực lượng của Tử Huân nhanh chóng bị dẹp. Tháng 3 năm 466, Ngô Hỷ dẹp được Cối Kê và Ngô Quận. Tháng 8, tướng Thẩm Du Chi tiến vào Tầm Dương, giết chết Tử Huân. Thủ hạ của Tử Huân là Đặng Uyển bị bộ tướng giết. Năm 471, Minh Đế ốm nặng. Thấy Thái tử nhỏ tuổi, sợ bị bị các em cướp ngôi, bèn giết chết các em là Hưu Hựu, Hưu Nhân (Tặc vương và Tử vương thời Tiền Phế Đế), Thứ sử Kinh châu là Bá Lăng Vương Hưu Nhược. Riêng Thứ sử Giang châu là Quế Dương vương Lưu Hưu Phạm vì dốt nát nên được tha chết. Tướng Ngô Hỷ cũng bị bức tử, tội trạng được ghi trong chiếu là: "Quá được lòng người, há có thể thờ vị chúa giữ văn". Đầu năm 472, Minh Đế sắp mất, sợ anh hoàng hậu là tướng quân Vương Cảnh Văn sẽ chuyên quyền, bèn triệu đến bắt uống thuốc độc chết trước. == Diệt vong == Tháng 4 năm 472, Minh Đế chết, con là Lưu Dục mới 10 tuổi lên ngôi, tức Hậu Phế Đế. Biến loạn trong nội tộc nhà Lưu Tống vẫn không dứt. Năm 474, chú Hậu Phế Đế là Thứ sử Giang Châu - Quế Dương Vương Lưu Hưu Phạm (em Minh Đế) vốn tài năng kém cỏi nên được Minh Đế tha chết, tức giận vì không được làm quan nhiếp chính nên nổi loạn tiến quân về Kiến Khang. Tại Kiến Khang, người nắm quyền quân sự là Tây Dương hầu Tiêu Đạo Thành (427 - 482), nguyên Thứ sử Nam Duyện Châu, dòng dõi Tể tướng Tiêu Hà nhà Tây Hán. Tiêu Đạo Thành đã tham gia trấn áp cuộc nổi dậy của Thái thú Cối Kê, Tầm Dương vương Lưu Tử Phương. Tiêu Đạo Thành phái các tướng Hoàng Hồi và Trương Kính Nhi trá hàng Lưu Hưu Phạm và thừa cơ giết chết Lưu Hưu Phạm, lực lượng của Lưu Hưu Phạm tan rã. Năm 476, cháu nội Văn Đế là Thứ sử Nam Từ Châu, Kiến Bình vương Lưu Cảnh Tố lại làm phản nhưng cũng nhanh chóng bị dẹp. Hai người em họ Cảnh Tố, con trai Lưu Hưu Nhân (Tặc Vương) là Lưu Bá Hiến và Lưu Bá Dung, vì lớn tuổi nhất trong các anh em họ của vua, nên cũng bị nghi là đồng mưu và bị giết. Hậu Phế Đế hiếu sát, thích đeo đoản đao bên người, thích đi đêm hễ gặp chó, lừa, ngựa là giết. Thái hậu can ngăn, Lưu Dục bèn sai quan Thái y nấu thuốc độc định giết mẹ, vì có người can ngăn nên mới thôi. Tháng 6 năm 477, Lưu Dục sấn vào trong trại quân, thấy Tiêu Đạo Thành cởi trần nằm ngủ, bèn vẽ vòng tròn lên bụng Đạo Thành làm bia, định lấy cung bắn vào bụng Đạo Thành. Vương Đạo Ân muốn cứu Đạo Thành, bèn can rằng nếu bắn chết ngay thì không bắn được nhiều lần, nên dùng cung cùn (tên bẻ đầu) mà bắn cho lâu. Hậu Phế Đế nghe theo, nên Đạo Thành thoát chết. Tiêu Đạo Thành căm ghét Lưu Dục, bèn mưu cùng người hầu của Dục là Dương Ngọc Phu làm binh biến. Tháng 7 năm 477, Ngọc Phu nhân lúc Dục ngủ say bèn đâm chết. Tiêu Đạo Thành lập em Dục là An Thành Vương Lưu Chuẩn mới lên 9 tuổi lên ngôi, tức Lưu Tống Thuận Đế. Tống Thuận Đế phong cho Tiêu Đạo Thành tước Tề Công, sau đó là Tề Vương, gia phong Cửu tích. Được 2 năm sau (479), Tiêu Đạo Thành phế Lưu Chuẩn tự làm vua, lập ra nhà Tề, tức là nhà Nam Tề thời Nam Bắc triều. Nhà Lưu Tống diệt vong, tồn tại được 60 năm, tổng cộng có 8 vua. == Các hoàng đế == == Các danh tướng nhà Lưu Tống == Đàn Đạo Tế Vương Huyền Mô Tạng Chất Thẩm Khánh Chi Thẩm Du Chi == Tham khảo == Thẩm Khởi Vĩ, Kể chuyện Lưỡng Tấn Nam Bắc triều, NXB Đà Nẵng, 2007 Học viện quân sự cấp cao, Lịch sử Trung Quốc từ thượng cổ đến Năm đời mười nước, 1992 == Chú thích == == Xem thêm == Lịch sử Trung Quốc Nam-Bắc triều Nhà Tấn Bắc Ngụy Chiến tranh Lưu Tống - Bắc Ngụy
danh sách đảo theo điểm cao nhất.txt
Đây là danh sách các đảo của thế giới xếp theo chiều cao của đỉnh cao nhất tại đảo đó, chỉ tính các đảo có đỉnh cao hơn 2000 m. Các châu lục được đưa vào danh sách này để tiện so sánh. == Các khối lục địa == Ghi chú: Australia, diện tích 7.600.000 km², được xem là một lục địa, hơn là một đảo. Nếu xem là một đảo thì Australia phải xếp thứ 58. == Đảo có đỉnh cao hơn 2.000 m == == Các đảo đáng kể khác == Nhiều đảo sau đây được chọn đưa vào danh sách các đảo cao nhất thuộc về các đảo quốc. == Nguồn == www.peaklist.org - majority of information about mountain heights comes from here. == Xem thêm == Danh sách các đảo (theo quốc gia) Danh sách các đảo theo tên gọi Danh sách các đảo theo dân số Danh sách các đảo theo diện tích == Tham khảo ==
đông anh.txt
Đông Anh là một huyện ngoại thành Hà Nội, cách trung tâm thành phố 15 Km về phía Bắc. == Vị trí == phía đông, đông bắc giáp huyện Yên Phong và thị xã Từ Sơn thuộc tỉnh Bắc Ninh phía nam giáp sông Hồng giáp với quận Tây Hồ và quận Bắc Từ Liêm phía đông nam giáp Sông Đuống giáp giới quận Long Biên và huyện Gia Lâm, Hà Nội phía tây giáp huyện Mê Linh, Hà Nội phía bắc giáp huyện Sóc Sơn, Hà Nội == Đặc điểm == Diện tích: 18.230 ha (182,3 km²) Dân số: 375 000 người (2014) Mật độ dân số: 2.060 người/km² == Lịch sử == Huyện Đông Anh trước kia là một phần huyện Kim Hoa (gồm Mê Linh, Đông Anh, Sóc Sơn của Hà Nội, thị xã Phúc Yên của Vĩnh Phúc), thuộc phủ Bắc Hà và huyện Đông Ngàn, phủ Từ Sơn thuộc trấn Kinh Bắc. Từ năm 1831 đến năm 1901, đất huyện Kim Hoa (Kim Anh) thuộc tỉnh Bắc Ninh. Năm 1876-1903, huyện Kim Anh sáp nhập với huyện Đông Ngàn thuộc phủ Từ Sơn thành huyện Đông Khê, thuộc phủ Từ Sơn của tỉnh Bắc Ninh, rồi được nhập phần lớn vào tỉnh Phù Lỗ (được thành lập ngày 6 tháng 10 năm 1901). -Trấn Kinh Bắc xưa gồm 4 phủ Bắc Hà, Từ Sơn, Lạng Giang, Thuận An. + Phủ Hà Bắc gồm 4 huyện: Tân Phúc (Sóc Sơn), Kim Hoa (nay gồm Mê Linh, Đông Anh, Sóc Sơn của Hà Nội, thị xã Phúc Yên của Vĩnh Phúc), Hiệp Hoà, Việt Yên (Bắc Giang). Trong đó huyện Kim Hoa gồm:(năm Thiệu Trị thứ nhất (1841) bị đổi thành Kim Anh),gồm các tổng: tổng Phù Lỗ (gồm các xã Phù Lỗ, Phù Xá, Khê Nữ, Nhạn Tái, Bắc Giã, Xuân Nội, Tảo Mai, Thái Phù, Càn Khê, Kim Tiên, Xuân Kỳ, Liên Lý; nay thuộc phần đất các xã Nguyên Khê, Xuân Nội của huyện Đông Anh và thị trấn Phù Lỗ huyện Sóc Sơn), tổng Kim Hoa (gồm các xã Kim Hoa, Xuân Hoa, Thanh Tồi, Khả Do; nay thuộc phần đất các xã Kim Hoa, Thanh Lâm của huyện Mê Linh, xã Nam Viêm và phường Phúc Thắng của Phúc Yên), tổng Gia Thượng (gồm các xã Gia Thượng, Phù An, Chi Đông, Lâm Hộ, Giai Tạ; nay là phần đất thuộc các xã thị trấn: Thanh Lâm, Chi Đông, Quang Minh,... huyện Mê Linh), tổng Đông Đồ (gồm các xã Đông Đồ, Chu Lão, Sơn Du, Thụy Hà, Tằng My; nay là phần đất thuộc các xã Nam Hồng (Tằng My), Bắc Hồng (Thụy Hà,...), Nguyên Khê (Sơn Du) huyện Đông Anh Hà Nội), tổng Ninh Bắc (gồm các xã Ninh Bắc, Gia Hạ (Hương Gia), Nội Phật (Nội Bài), Đông Bài, Đống Mai (Mai Đình); nay là phần đất thuộc các xã Phú Cường (Hương Gia), Quang Tiến (Ninh Bắc, Nội Bài), Song Mai của huyện Sóc Sơn), tổng Cổ Bái (gồm các xã Cổ Bái, Thạch Lỗi, Thanh Nhàn, Hiền Lương, Phù Lai, Thắng Trí; nay là phần đất thuộc các xã Thanh Xuân (Thanh Nhàn, Thạch Lỗi), Hiền Ninh (Hiền Lương), Minh Trí (Thắng Trí),... huyện Sóc Sơn), tổng Quan Đình, tổng Tiên Dược, tổng Xuân Bảng. Nay là phần đất thuộc các huyện Mê Linh, Sóc Sơn của Hà Nội. +Phủ Từ Sơn gồm 5 huyện của Bắc Ninh: Đông Ngàn (thị xã Từ Sơn hiện nay), Yên Phong, Tiên Du, Quế Dương, Võ Giàng. (Quế Dương và Võ Giàng nay gộp thành Quế Võ). Trong đó huyện Đông Ngàn gồm: Huyện Đông Ngàn, gồm các tổng: tổng Hội Phụ (gồm các xã Đông Ngàn, Hội Phụ, Ông Xá, Du Lâm, Tiên Hội, Hoa Lâm, Mai Hiên, Lộc Hà; nay là các xã Đông Hội (Đông Ngàn, Hội Phụ, Tiên Hội), Mai Lâm (Du Lâm, Hoa Lâm, Mai Hiên, Lộc Hà) của huyện Đông Anh Hà Nội), tổng Hà Lỗ, tổng Yên Thường (gồm các xã Yên Thường, Trịnh Xá, Quy Mông, Xung Quán, Châu Tháp (các thôn Đa Hội, Song Tháp, Đa Vạn), Đình Vĩ, nay là phần đất thuộc xã Yên Thường huyện Gia Lâm, các xã Châu Khê (Châu Tháp), Phù Khê huyện Từ Sơn Bắc Ninh), tổng Hạ Dương (gồm các xã Hạ Dương, Ninh Giang, Hiệp Phù, Công Đình, Ninh Xuyên, Phù Ninh; nay là phần đất xã Ninh Hiệp (Ninh Giang, Hiệp Phù), Dương Hà, Đình Xuyên (Công Đình, Ninh Xuyên),... huyện Gia Lâm), tổng Dục Tú, tổng Mẫn Xá, tổng Phù Lưu (gồm các xã Phù Lưu, Đại Đình, Đình Bảng, Dương Lôi, Trang Liệt, Bính Hạ, Thụ Chương; nay là phần đất thuộc các xã Đình Bảng,... huyện Từ Sơn Bắc Ninh), tổng Phù Chẩn (gồm các xã Phù Chẩn, Phù Cảo, Phù Lộc, Phù Luân; nay là phần đất thuộc các xã Phù Chẩn,... huyện Từ Sơn Bắc Ninh), tổng Nghĩa Lập, tổng Cổ Loa (gồm các xã Cổ Loa, Lương Quán, Đường An (Đường Yên), Lỗ Giao, Lương Quy, Dục Nội, Gia Lộc; nay là phần đất các xã Cổ Loa (Cổ Loa), Việt Hùng (Lỗ Giao, Dục Nội, Gia Lộc), Xuân Nộn (Đường Yên),... huyện Đông Anh), tổng Tam Sơn, tổng Xuân Canh (gồm các xã Xuân Canh, Lực Canh, Xuân Trạch, Vạn Lộc, Mạch Tràng, Uy Nỗ Thượng, Phúc Lộc, Kinh Nỗ; nay thuộc phần đất các xã Xuân Canh (Xuân Canh, Vạn Lộc, Lực Canh, Xuân Trạch), Uy Nỗ (Uy Nỗ Thượng, Phúc Lộc, Kinh Nỗ), Cổ Loa (Mạch Tràng) của huyện Đông Anh), tổng Tuân Lệ (gồm các xã Tuân Lệ, Uy Nỗ, Uy Nỗ Trung, Vân Trì, Viên Nội, Tiên Kha, Cổ Dương, Chiêm Trạch, Phương Trạch, Ngọc Giang; nay là các xã Uy Nỗ, Vân Nội (Vân Trì, Viên Nội), Tiên Dương (Tiên Kha, Cổ Dương, Tuân Lệ), Vĩnh Ngọc (Chiêm Trạch, Phương Trạch, Ngọc Giang),... của huyện Đông Anh),. Huyện Đông Ngàn xưa, ngày nay là phần đất thuộc các quận huyện Đông Anh, Gia Lâm, Long Biên của Hà Nội. - Trấn Sơn Tây(xứ Đoài) gồm có 5 phủ: Quốc Oai, Quảng Oai, Tam Đới /Đái, Đoan Hùng, Lâm Thao. Trong đó phủ Tam Đái sau đổi thành Vĩnh Tường gồm có huyện Bạch Hạc, Yên lạc, Yên Lãng, lập Thạch, Phù Ninh. + trong đó huyện Yên Lãng, (nay thuộc huyện Bình Xuyên, Vĩnh Phúc, và các huyện Mê Linh, Đông Anh Hà Nội), gồm 9 tổng: tổng Yên Lãng (cấp làng xã gồm: Yên Lãng, Xuân Lãng, Tuyền Mỹ, Lý Nhân, Mộ Đạo, Can Bì, Hợp Lễ, Lý Hải, Thái Lai), tổng Kim Đà (cấp làng xã gồm: Kim Đà, Hoàng Xá, Văn Quán, Khê Ngoại, Đông Cao), tổng Hạ Lôi (cấp làng xã gồm: Hạ Lôi, Lục Trì, Đại Bối, Đường Lệ, Văn Lôi, Cư Triền, Nam Cường, Nội Động), tổng Hương Canh (cấp làng xã gồm: Hương Canh (nay là thị trấn Hương Canh huyện Bình Xuyên, Vĩnh Phúc), Ngọc Canh, Tiên Hàng, Quất Lưu (nay thuộc huyện Bình Xuyên Vĩnh Phúc), Vị Nội, Vị Trù, Nội Phật, Ngoại Trạch), tổng Bạch Trữ (cấp làng xã gồm: Bạch Trữ, Đạm Nội, Nhuế Khúc, Đạm Xuyên, Tháo Miếu, Thịnh Kỳ, Đông Lỗ, Kim Tuyến), tổng Thiên Lộc (Đa Lộc) (cấp làng xã gồm: Thiên Lộc (Đa Lộc), Thiên Dưỡng, Trung Hậu, Yên Nhân, Do Nhân, Trang Việt; nay là phần đất thuộc các xã Tráng Việt (Trang Việt), Tiên Phong huyện Mê Linh, xã Kim Chung (Đa Lộc, Thiên Dưỡng-Trung Hậu (Hậu Dưỡng)) huyện Đông Anh Hà Nội), tổng Quải Mai (sau đổi là Sáp Mai) (cấp làng xã gồm: Quải Mai, Mai Châu, Đại Độ (Đại đội), Đại Đồng, Mạch Lũng; nay thuộc các xã Đại Mạch (Đại Đồng, Mạch Lũng, Mai Châu), Võng La (Quải Mai (Sáp Mai), Đại Độ (Đại đội)) huyện Đông Anh Hà Nội), tổng Hải Bối (cấp làng xã gồm: Hải Bối, Cổ Điển, Uy Nỗ Hạ (Kim Nỗ), Đồng Nhân, Tàm Xá, Yên Hà, Thọ Đồi (Thọ Đa); nay là phần đất thuộc các xã Hải Bối (Hải Bối, Cổ Điển, Đồng Nhân, Yên Hà), Kim Nỗ (Kim Nỗ, Thọ Đa), Tầm Xá(Tàm Xá) của huyện Đông Anh Hà Nội), tổng Võng La (cấp làng xã gồm: Võng La, Canh Tác, Canh Vân, Công Ngư; nay thuộc xã Võng La huyện Đông Anh). Ngày 10 tháng 4 năm 1903, huyện Đông Khê lại được chia tách thành 2 huyện là Kim Anh và Đông Khê đổi tên thành huyện Đông Anh. Đến năm 1904, tỉnh Phù Lỗ đổi tên thành tỉnh Phúc Yên thì huyện Đông Anh thuộc tỉnh Phúc Yên. Thời kỳ 1913-1923 thuộc tỉnh Vĩnh Yên. Thời kỳ 1923-1950 thuộc tỉnh Phúc Yên. Thời kỳ 1950-1961 thuộc tỉnh Vĩnh Phúc. Ngày 20 tháng 4 năm 1961, huyện Đông Anh (gồm 16 xã: Bắc Hồng, Phúc Thịnh (Nguyên Khê), Tự Do (Xuân Nộn), Tiến Bộ (Thụy Lâm), Nam Hồng, Thành Công (Kim Nỗ), Hùng Sơn (Uy Nỗ), Toàn Thắng (Tiên Dương), Việt Hùng, Dân Chủ (Đại Mạch), Việt Thắng (Võng La), Anh Dũng (Hải Bối), Tân Tiến (Vĩnh Ngọc), Vạn Thắng (Xuân Canh), Liên Hiệp (Vân Nội), Quyết Tâm (Cổ Loa)) sáp nhập vào Hà Nội. Ngày 31 tháng 5 năm 1961, thành lập huyện Đông Anh mới gồm 23 xã (trên cơ sở tiếp nhận thêm 5 xã: Liên Hà, Vân Hà, Dục Tú, Đông Hội, Mai Lâm thuộc huyện Từ Sơn (Bắc Ninh); xã Kim Chung thuộc huyện Yên Lãng và xã Tầm Xá thuộc quận V cũ. Lúc này, huyện Đông Anh có 23 xã: Bắc Hồng, Cổ Loa, Đại Mạch, Đông Hội, Dục Tú, Hải Bối, Kim Chung, Kim Nỗ, Liên Hà, Mai Lâm, Nam Hồng, Nguyên Khê, Tầm Xá, Thụy Lâm, Tiên Dương, Uy Nỗ, Vân Hà, Vân Nội, Việt Hùng, Vĩnh Ngọc, Võng La, Xuân Canh, Xuân Nộn. Ngày 13 tháng 10 năm 1982, thành lập thị trấn Đông Anh. Thị trấn có diện tích 797,2 ha, gồm đất của 4 xã Tiên Dương, Uy Nỗ, Nguyên Khê, Xuân Nộn. Từ đó, huyện Đông Anh có 1 thị trấn Đông Anh và 23 xã. Danh nhân huyện Đông Anh Đông Anh là huyện có tổng số người thi đỗ tiến sĩ nhiều thứ hai trong tổng số 29 quận, huyện của Hà Nội - theo quy hoạch đến năm 2012, với tổng số 56 người đỗ đại khoa trong đó có 3 Thám hoa, 13 Hoàng giáp, 39 Đệ tam giáp đồng tiến sĩ xuất thân và 1 Phó bảng. Đứng đầu danh sách này là huyện Thường Tín với 64 người. Đông Anh cũng là một trong 8 quận, huyện có trên 35 người đỗ tiến sĩ. Theo thống kê này, số người đỗ đại khoa ở Đông Anh chiếm 8,41% số người đỗ đại khoa của cả Thăng Long – Hà Nội, đứng sau huyện Từ Liêm với 9,61%. - An Dương Vương - tên thật là Thục Phán (chữ Hán: 蜀泮), là vị vua lập nên nước Âu Lạc và cũng là vị vua duy nhất cai trị nhà nước này. Âu Lạc là nhà nước thứ hai trong lịch sử Việt Nam sau nhà nước Văn Lang đầu tiên của các vua Hùng. Niên đại trị vì của An Dương Vương được các tài liệu ghi khác nhau. Sử cũ như Đại Việt sử ký toàn thư, Khâm định Việt sử thông giám cương mục cho rằng thời gian ông làm vua kéo dài 50 năm, từ 257 TCN đến 208 TCN. - Tây Vu Vương- thủ lĩnh chống quân nhà Hán xâm lược ở thành Cổ Loa. - Lã Xử Bình (? - 966) là tướng nhà Ngô trong lịch sử Việt Nam. Khi Ngô Xương Văn mất, Lã Xử Bình đã cùng Kiều Tri Hựu,Dương Huy và Đỗ Cảnh Thạc nổi loạn tranh giành ngôi Vua, trực tiếp đưa đất nước rơi vào thời loạn 12 sứ quân.[1] Ông là thủ lĩnh của một trong những phe tiếm quyền triều đình Cổ Loa và bị lực lượng của Đinh Bộ Lĩnh đánh dẹp năm 966, mở đầu quá trình thống nhất đất nước để lập lên nhà Đinh trong lịch sử Việt Nam. - Hoàng Giáp Tiến sĩ Lê Tuấn Mậu - Thuỵ lôi, Thuỵ Lâm. Ông làm quan ngót bốn chục năm, từng được trao chức Đô Ngự Sử, về sau được thăng dần đến chức Lễ Bộ Thượng thư. Năm 1527, Mạc Đăng Dung cướp ngôi nhà Lê, vì quyết không chịu khuất phục, ông bị Mạc Đăng Dung giết. Các triều đình phong kiến Việt Nam phong nhiều sắc phong ghi nhận công đức của ông, qua quá trình lịch sử đã bị thất lạc nay chỉ còn lại 10 chiếc được lưu giữ tại Gia tộc họ Lê Tuấn ở Thụy Lôi - Thụy Lâm - Đông Anh - Hà Nội. - Đỗ Túc Khang (1470 - 1523) Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ xuất thân khoa Bính Thìn niên hiệu Hồng Đức năm thứ 27 (1496), người thôn Giao Tác, xã Hà Vỹ, huyện Đông Ngàn xứ Kinh Bắc xưa (nay thuộc xã Liên Hà huyện Đông Anh, Hà Nội). - Nguyễn Thực (1554-1637), là danh thần nhà Lê trung hưng trong lịch sử Việt Nam. Nguyễn Thực người làng Vân Điềm, huyện Đông Ngàn, nay là xã Vân Hà, huyện Đông Anh, Hà Nội, Việt Nam. - Nguyễn Nghi con trai Nguyễn Thực, từng giữ đến chức Tể tướng triều Lê trung hưng. - Quách Đồng Dần- (1566-?) là nhà khoa bảng sống vào thời Lê-Trịnh. Quê ông là Đông Ngàn, xứ Kinh Bắc, nay là huyện Đông Anh, thành phố Hà Nội. Ông sống trong khoảng cuối thế kỷ XVI-đầu thế kỷ XVII. - Chu Doãn Mại (1740 - ?) Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ xuất thân khoa Mậu Tuất niên hiệu Cảnh Hưng năm thứ 39 (1778), người thôn Hậu, xã Dục Tú, huyện Đông Ngàn (nay là xã Dục Tú, huyện Đông Anh, Tp. Hà Nội). Ông làm quan Hàn lâm viện Đãi chế, Quốc tử giám Tuỳ giảng, Đông các Hiệu thư. Nhà Lê mất, ông không làm quan với Tây Sơn. Có tài liệu ghi ông là Chu Doãn Lệ. - Chu Doãn Trí (1779 - 1850),tự Viễn Phu, hiệu Tạ Hiên. Con Tiến sĩ Chu Doãn Mại, quê thôn Hậu, xã Dục Tú, huyện Đông Ngàn, phủ Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh (nay thuộc xã Dục Tú, huyện Đông Anh, Tp. Hà Nội.). Khi còn trẻ ông theo học Phạm Quý Thích, được Phạm Quý Thích coi như con. Khi thầy mất ông đã làm nhà cỏ bên mộ thầy, để tang thầy suốt ba năm theo lệ. Ông là người có công lớn trong việc gìn giữ, sưu tập các tác phẩm của thầy Phạm. Ông có tài đức, có tiết tháo, không vọng cầu danh lợi, lại rất giỏi y học. Ông đã để lại nhiều bài thơ văn hay. Năm Canh Tý (1840), Nguyễn Đăng Giai tiến cử ông về hàng ẩn sĩ; Nhà vua khiến cấp lộ phí cho ông vào kinh, để bổ sung quan chức. Ông viện lấy bệnh già xin từ tạ. Vua Thiệu Trị khen ông có phong thái xử sĩ, không muốn ép uổng, bèn ban cho rượu hồng hoa dương tử.. Ông trở thành một nhân vật rất có uy tín và đức độ trong khu vực, đến mức từ các đường quan cho đến bọn phỉ tặc đều vị nể. - Nguyễn Án (1770 - 1815), tự Kính Phủ, hiệu Ngu Hồ; là một danh sĩ thời Lê mạt-Nguyễn sơ, Việt Nam. Ông và Phạm Đình Hổ là đồng tác giả tập ký Tang thương ngẫu lục. Nguyễn Án là người làng Du Lâm, huyện Đông Ngàn, phủ Từ Sơn, trấn Kinh Bắc; nay thuộc xã Mai Lâm, huyện Đông Anh ngoại thành Hà Nội. - Nguyễn Huy Tân (1820 - 1862), tự Đỉnh Khanh, người xã Dục Tú, huyện Đông Ngàn (nay là xã Dục Tú, huyện Đông Anh, Tp. Hà Nội). Đỗ Tú tài năm 1843, đỗ Cử nhân năm 1847, làm quan đến chức Ngự sử. Hy sinh trong khi đánh dẹp các toán cướp ở Bắc Ninh năm 1862. Triều đình truy tặng chức Hàn lâm viện, ban tên thụy là Đoan Trực, con trưởng được hưởng tập ấm Cửu phẩm Văn giai. - Nhà văn Ngô Tất Tố (1893 - 1954) ở làng Lộc Hà, tổng Hội Phụ, phủ Từ Sơn, Bắc Ninh (nay là thôn Lộc Hà, xã Mai Lâm, huyện Đông Anh, Hà Nội) - Nguyễn Tư Giản (阮思僩, 1823–1890), trước có tên: Văn Phú, Địch Giản, sau mới đổi lại là Tư Giản, tự: Tuân Thúc(洵叔), Hy Bật, hiệu: Vân Lộc(雲麓) và Thạch Nông(石農). Ông là một danh sĩ và là một vị quan từng trải qua những chức vụ trọng yếu suốt gần 40 năm, phục vụ 7 đời vua nhà Nguyễn ở Việt Nam.Nguyễn Tư Giản sinh tại làng Du Lâm, huyện Đông Ngàn, phủ Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh (nay là thôn Du Lâm, xã Mai Lâm, huyện Đông Anh, thành phố Hà Nội). - Nguyễn Triệu Luật-(1903-1946), bút hiệu: Dật Lang, Phất Văn Nữ Sĩ; là nhà giáo, nhà văn, nhà báo và là thành viên sáng lậpViệt Nam Quốc dân Đảng vào năm 1927 tại Việt Nam.Ông là người làng Du Lâm, huyện Đông Ngàn, phủ Từ Sơn, tỉnh Vĩnh Yên (nay thuộc xã Mai Lâm, huyện Đông Anh, ngoại thành Hà Nội). - Xích Điểu là một bút danh của Nguyễn Văn Tước (1910-2003), một nhà văn, nhà thơ trào phúng Việt Nam. Ông thường viết với các bút danh Xích Điểu, Minh Tước, Thương Biền, Trần Minh Tước. Ông quê ở xã Dục Tú, huyện Đông Anh, thành phố Hà Nội - Nguyễn Huy Tưởng (1912 - 1960 là một nhà văn, nhà viết kịch Việt Nam nổi tiếng. Ông là tác giả của những tiểu thuyết lịch sử, vở kịch lớn như: Vũ Như Tô, Đêm hội Long Trì, Bắc Sơn, Sống mãi với thủ đô. Ông sinh ra trong một gia đình nho giáo ở làng Dục Tú, Từ Sơn, Bắc Ninh, nay là xã Dục Tú, huyện Đông Anh, Tp. Hà Nội. Nguyễn Huy Tưởng là đại biểu Quốc hội khóa 1 năm 1946. Ông là người sáng lập và là giám đốc đầu tiên của Nhà xuất bản Kim Đồng. Ông được tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh về Văn học nghệ thuật năm 1996. - Nghiêm Thẩm- (1920-1982) là một giáo sư, nhà nghiên cứu khảo cổ nổi tiếng người Việt Nam.Ông sinh ngày 13 tháng 5 năm 1920, tại huyện Đông Anh, tỉnh Vĩnh Yên (nay thuộc Hà Nội). Ông là con thứ năm của cụ Nghiêm Hoàn Luyến, người làng Hòa Xá, phủ Ứng Hòa, tỉnh Hà Nội. - Đào Huy Vũ - (1924-1986) là tướng lĩnh cấp cao trong Quân đội Nhân dân Việt Nam, hàm Thiếu tướng, nguyên là (quyền) Tư lệnh đầu tiên Binh chủng tăng thiết giáp, Trung đoàn trưởng (đầu tiên) Trung đoàn xe tăng (đầu tiên) 202, Phó Tư lệnh rồi Tư lệnh Binh chủng Tăng thiết giáp, Trưởng Khoa thiết giáp Học viện Quân sự cấp cao. ông lớn lên trong một gia đình nông dân nghèo tại xã Xuân Canh, huyện Đông Anh, thành phố Hà Nội, là cán bộ tiền khởi nghĩa. - Đào Duy Tùng- (sinh ngày 20 tháng 5 năm 1924 - mất 1998). Quê quán tại Xóm Chợ, Cổ Loa, huyện Đông Anh, tỉnh Phúc Yên, nay là huyện Đông Anh, Thành phố Hà Nội. Ông là một Ủy viên Bộ Chính trị Ban chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam trong nhiều khóa liên tục. Ông được xem là nhà lý luận hàng đầu và đã để lại rất nhiều cuốn sách thuộc loại này. Thời gian công tác dài nhất của ông là ở cơ quan Trung ương và hơn 30 năm làm công tác tư tưởng lý luận của Đảng, suốt từ tháng 5-1955 đến năm 1998. Trong ngành tuyên huấn, ông đã lần lượt giữ các cương vị Phó Vụ trưởng, Vụ trưởng Vụ Huấn học, Phó Trưởng ban kiêm Tổng Biên tập Tạp chí Cộng sản, Viện trưởng Viện Mác Lê-nin và Trưởng ban Ban Tuyên huấn Trung ương. Ông đã liên tục được bầu 4 khóa vào Ban Chấp hành Trung ương Đảng, từ Đại hội IV (1976: Dự khuyết; tháng 11/1981: Chính thức), Đại hội V, Đại hội VI và Đại hội VII, trong đó, 2 khóa được bầu là Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng. - Đỗ Quốc Sam - (1929-2010) là một Giáo sư, Tiến sĩ Khoa học, nguyên Đại biểu Quốc hội Việt Nam, nguyên Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam, Bộ trưởng đầu tiên của Bộ Kế hoạch và Đầu tư Việt Nam, khi Bộ này được đổi tên sang từ Ủy ban Kế hoạch Nhà nước (cơ quan ngang Bộ, tiền thân). Quê ở Thôn Thái Bình, xã Mai Lâm, huyện Đông Anh, thành phố Hà Nội - Lê Đức Tụ - (sinh 1944) tại Xã Tàm Xá, huyện Đông Anh, TP Hà Nội là một Thiếu tướng Quân đội Nhân dân Việt Nam. nguyên Chánh án Tòa án Quân sự Trung ương, Phó Chánh án Tòa án nhân dân tối cao. Ông cũng là một đại biểu Quốc hội Việt Nam khóa X, thuộc đoàn đại biểu Lai Châu. - Lê Hữu Tựu-(1944 - 1972), quê xã Nguyên Khê, huyện Đông Anh, thành phố Hà Nội. Ông là xạ thủ súng máy phòng không 12,7 mm, chiến đấu trên 50 trận, bắn rơi 31 máy bay trực thăng Mỹ (lập kỷ lục bắn rơi nhiều máy bay ở chiến trường Tây Nguyên), diệt 64 địch (phần lớn là kíp lái).Do những công lao đóng góp với sự nghiệp cách mạng đồng chí đã được nhà nước tặng thưởng Huân chương chiến công (hạng nhất, hạng nhì, hạng ba). Được phong tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân ngày 15/2/1970. - Nguyễn Huy Đức- Ông sinh năm 1956 tại thôn Tằng My, xã Nam Hồng, huyện Đông Anh, TP Hà Nội. Ông công tác trong lực lượng CAND, học vị tiến sỹ luật, quân hàm trung Tướng, Nguyên phó tổng cục trưởng tổng cục cảnh sát, bộ công an. - Nguyễn Phú Trọng- Ông sinh ngày 14 tháng 4 năm 1944 tại xã Đông Hội, huyện Đông Anh, ngoại thành Hà Nội. Tổng bí thư Đảng Cộng sản Việt Nam. == Đơn vị hành chính == Gồm có 1 thị trấn Đông Anh và 23 xã: Bắc Hồng, Cổ Loa, Đại Mạch, Đông Hội, Dục Tú, Hải Bối, Kim Chung, Kim Nỗ, Liên Hà, Mai Lâm, Nam Hồng, Nguyên Khê, Tàm Xá, Thụy Lâm, Tiên Dương, Uy Nỗ, Vân Hà, Vân Nội, Việt Hùng, Vĩnh Ngọc, Võng La, Xuân Canh, Xuân Nộn. == Giao thông công cộng == Các tuyến xe buýt 07,15,17,35B,43,46,53A,56A,58,59,61,63,64,65,86. 07: Cầu Giấy - Sân bay Nội Bài đi qua cao tốc Thăng Long - Nội Bài 15: Bến xe Gia Lâm - Phố Nỉ (TTTM Bình An) đi qua quốc lộ 3 17: Long Biên - Phù Lỗ - Sân bay Nội Bài đi qua quốc lộ 3 35B: Trần Khánh Dư - Mê Linh đi qua cao tốc Nhật Tân - Nội Bài (ngã tư Nam Hồng đi Mê Linh) 43: CV Thống Nhất - TT Đông Anh đi qua quốc lộ 3, Cao Lỗ 46: Bến xe Mỹ Đình - Cổ Loa - TT Đông Anh đi qua cầu Thăng Long, đường 6 cây, đường quốc lộ 3, đường Cổ Loa 53A: Hoàng Quốc Việt - TT Đông Anh đi qua cầu Thăng Long, đường 6 cây, đường Vân Trì, cầu vượt Vân Trì, đường 23B, Cao Lỗ 56A: Nam Thăng Long - Núi Đôi đi qua cao tốc Thăng Long - Nội Bài 58: Yên Phụ - BV đa khoa Mê Linh đi qua cao tốc Thăng Long - Nội Bài 59: TT Đông Anh - Đại học Nông nghiệp Hà Nội đi qua đường Cao Lỗ, quốc lộ 3 61: Vân Hà (Đông Anh) - Nam Thăng Long đi qua đường Vân Hà, Liên Hà, Việt Hùng, Cao Lỗ, đường Vân Trì, đường 6 cây, cầu Thăng Long, Phạm Văn Đồng, Nam Thăng Long 63: KCN Bắc Thăng Long - Tiến Thịnh (Mê Linh) đi qua KCN Bắc Thăng Long, cao tốc Thăng Long - Nội Bài (ngã tư Nam Hồng) 64: KCN Bắc Thăng Long - Phố Nỉ (TTTM Bình An) đi qua KCN Bắc Thăng Long, cao tốc Thăng Long - Nội Bài 65: Thuỵ Lâm (Đông Anh) - Long Biên đi qua đường Thuỵ Lâm, Tập thể Z153, Ấp Tó, Đản Dị, Chợ Tó, Việt Hùng, Dục Tú, Quốc lộ 3, Đông Hội, cầu Đông Trù, Nguyễn Văn Cừ, cầu Chương Dương, Long Biên 86: Sân bay Nội Bài - Ga Hà Nội đi qua đường Võ Nguyên Giáp, cầu Nhật Tân == Đường phố == == Giao thông == Đường 23B Quốc lộ 3 Quốc lộ 3 mới (đường cao tốc Hà Nội - Thái Nguyên) Quốc lộ 23A (đường 6 cây (km)) Đường cao tốc Thăng Long-Nội Bài (đường Võ Văn Kiệt) Đường cao tốc Nhật Tân-Nội Bài (đường Võ Nguyên Giáp) Quốc lộ 5 kéo dài gồm đường Trường Sa và đường Hoàng Sa Các cây cầu trên địa bàn huyện và nối huyện với các địa phương xung quanh: cầu Thăng Long, cầu Nhật Tân, cầu Đông Trù, cầu Phù Lỗ, cầu Đò Lo, cầu Lớn, cầu Đôi, cầu E, cầu Phương Trạch, cầu Lộc Hà, cầu sông Thiếp, cầu Vân Trì. Các cầu vượt cạn: cầu vượt Kim Chung, cầu vượt Nam Hồng, cầu vượt Vân Trì, cầu vượt Vĩnh Ngọc, cầu vượt Bắc Hồng. Ngoài ra còn có dự án cầu Thượng Cát thuộc đường vành đai 3.5 Hà nội và cầu Tứ Liên bắc qua sông Hồng. == Đường sắt == Đường sắt Hà Nội - Lào Cai chạy qua các xã Dục Tú, Cổ Loa, Việt Hùng, Uy Nỗ, TT.Đông Anh, Tiên Dương, Bắc Hồng Đường sắt Hà Nội - Thái Nguyên chạy qua TT.Đông Anh, xã Nguyên Khê Đường sắt vận chuyển hàng hoá Thanh Trì - Đông Anh chạy qua các xã Hải Bối, Kim Nỗ, Nam Hồng, Bắc Hồng Các ga Cổ Loa, ga Đông Anh, ga Bắc Hồng Các dự án đường sắt đô thị đi qua địa bàn huyện (dự kiến) là các tuyến số 2 (Nội Bài - Thượng Đình), tuyến số 4 (Liên Hà - Bắc Thăng Long), tuyến số 6 (Nội Bài - Ngọc Hồi), tuyến số 7 (Mê Linh - Ngọc Hồi). == Văn hoá du lịch == Địa đạo Nam Hồng Cung văn hoá Đông Anh, bảo tàng Đông Anh Sân vận động Đông Anh Khu di tích Quốc gia đặc biệt thành cổ Cổ Loa cùng với đền An Dương Vương, đình Cổ Loa, Am Mị Châu, đền thờ Cao Lỗ, nhà triển lãm Cổ Loa, đền thờ Quan Trấn Nam,.. Đền Sái thờ Huyền thiên Trấn Vũ (xã Thụy Lâm) Nhà thờ thôn Đại Bằng Đình Đào Thục - Chùa Thánh Phúc (Đào Thục) - Làng múa rối nước Đào Thục. Sân golf Vân Trì cạnh đầm Vân Trì Công viên Cầu Đôi Vườn hoa Trung tâm Xưởng phim Cổ Loa Chùa Tó, đình Tó, chùa Linh Thông, đình Dục Nội, đình Gia Lộc,... Ở Đông Anh hiện nay có các lễ hội sau: === Hội đền An Dương Vương hay còn gọi là Hội Cổ Loa === Thờ: An Dương Vương (Thục Phán) Địa điểm: Xã Cổ Loa Thời gian: Từ 4 đến 15 tháng Giêng Chính hội: 6 tháng Giêng Đặc điểm: Đám rước lớn mười ba xóm: Cỗ bỏng, Chè lam === Hội làng Cổ Dương === Địa điểm: Thôn Cổ Dương, xã Tiên Dương Thời gian: 07/02-08/02 âm lịch Chính hội: 08/02 âm lịch Địa điểm tổ chức: trung tâm làng Cổ Dương Đặc điểm: Chọi gà, Kéo co, Đấu vật, Bắt vịt, Bóng Chuyền hơi, Bóng đá... === Hội làng Quan Âm === Địa điểm: Thôn Quan Âm, xã Bắc Hồng Thời gian: 07/02-08/02 âm lịch Chính hội: 08/02 âm lịch Địa điểm tổ chức: trung tâm làng Quan Âm, xung quanh hồ Mắt Ngọc. Đặc điểm: gồm các trò chơi dân gian như Đập niêu, Chọi gà, Vật dân tộc,..., Bóng chuyền, hát Quan họ,... Hội làng Mỹ Nội Địa điểm: Thôn Mỹ Nội, xã Bắc Hồng Thời gian: 09/01-10/01 âm lịch Chính hội: 10/01 âm lịch Địa điểm tổ chức: trung tâm làng Mỹ Nội, khu vực Sân kho thôn Mỹ Nội. Đặc điểm: gồm các trò chơi dân gian như Đập niêu, Chọi gà, Vật dân tộc,..., Bóng chuyền, hát Quan họ,... === Hội làng Đường Yên === Thờ: Lê Hoa - tướng của Hai Bà Trưng Địa điểm: Thôn Đường Yên, xã Xuân Nộn Thời gian: mồng 2 tháng 2 Đặc điểm: Hội thi kén rể Đường Yên === Hội rước vua giả Đền Sái === Địa điểm: thôn Thụy Lôi (Nhội), xã Thụy Lâm Thời Gian: Chính hội: 11/1 âm lịch Đặc điểm: Rước vua giả, hát Quan họ, Múa lân,... Là nơi duy nhất trên cả nước đến nay có tập tục rước vua quan sống (các vị lão trong làng sẽ là vua quan và được con cháu rước trên kiệu từ Đền Sái về đình làng) === Hội làng Rối nước Đào Thục === Địa điểm: thôn Đào Thục, xã Thụy Lâm Thời Gian: Chính hội: 13/11 âm lịch - 24/2 âm lịch giỗ tổ nghề rối Đặc điểm: Làng Đào Thục khi xưa có tên gọi là Đào Xá (có câu ca Nhất kinh kỳ nhì Đào Xá), là làng cổ có từ lâubđời được nhà Hậu Lê ban lưu giữ nghệ thuật múa rối nước đất Kinh kỳ Thăng Long từ năm 1705. Tổ nghề là Đào Đăng Khiêm tên thật là Nguyễn Đăng Vinh. === Hội làng Sơn Du === Địa điểm: Đình làng Và Đền Phù Đổng Thiên Vương Thời gian:Mồng 9 - 10 Tháng Giêng âm lịch Chính hội: Mồng 10 Tháng Giêng âm lịch Kính Mời:Chư Vị Khách Thập Phương Về Dự! === Hội làng Xuân Nộn === Thờ: Ả Lã Tuê Tịnh phu nhân Vũ Định Đại Vương và Thiên Lôi Tôn Thần Trương Hống Trương Hát Địa điểm: Thôn Xuân Nộn, xã Xuân Nộn Thời gian: 10 - 15/10 âm lịch Chính hội: 11/10 âm lịch Đặc điểm: Rước kiệu vua bà, Múa rắn === Hội làng Xuân Trạch === Thờ: Cao Minh Sơn Xạ Thần Quốc Địa điểm: Thôn Xuân Trạch, xã Xuân Canh Thời gian: Chính hội 10/03 âm lịch (8-13/3 âm lịch). Đặc điểm: Rước nước === Hội làng Quậy === Thờ: Thủy Hải, Đăng Giang, Khổng Chúng, Tam Giang và Đông Hải. Địa điểm: Thôn Châu Phong; Giao Tác và Đại Vỹ Thời gian: 12/1-15/1 âm lịch Đặc điểm: Hát giao duyên, Chọi gà, Đấu cờ người, Bịt mắt bắt dê, Kéo co, Đấu vật === Hội bà Máy hay còn gọi là lễ hội Giỗ === Thờ: Đức Thánh Minh Công và Đức Thánh Dực Công Địa điểm: thôn Hà Hương và thôn Hà Lỗ xã Liên Hà Thời gian: 12/3 [chính hội]đến 14/3 âm lịch Đặc điểm: Rước kiệu, Múa sư tử, Đấu vật, hát Quan họ, Bịt mắt bắt dê, Bắt vịt dưới ao,.... === Hội làng Phúc Hậu === Thờ: Đức Thánh Tam Lang tức Lý Tam Lang Địa điểm: Thôn Phúc Hậu, xã Dục Tú Thời gian: 13/02-14/02 âm lịch Chính hội: 14/02 âm lịch Đặc điểm: Bóng chuyền, hát Quan họ, Chọi gà,.... === Hội làng Dục Tú === Thờ: Đức Sĩ Vương tức Sĩ Nhiếp Địa điểm: Thôn Dục Tú 3, xã Dục Tú Thời gian: 11/02-12/02 âm lịch Chính hội: 12/02 âm lịch Đặc điểm: Bóng chuyền, hát Quan họ, chọi gà,.... === Hội làng Thụy Hà === Địa điểm: Đình và Chùa Tổ Long Tự, thôn Thụy Hà, Bắc Hồng Thời gian: Mồng 8/1 đến 13/1 âm lịch. Đặc điểm: Rước kiệu ngày 8/1 rước từ các nhà thờ lên đình làng, ngày 13/1 từ đình làng trở về nhà thờ, các ngày từ 9/1 đến 12/1 tổ chức các trò chơi dân gian, hát Quan họ, Bóng đá, Bóng chuyền....... == Giáo dục == Đó là các trường Trung học phổ thông(THPT) như: Trường THPT Liên Hà, Trường THPT Đông Anh, Trường THPT Cổ Loa, Trường THPT Vân Nội, Trường THPT Bắc Thăng Long (xây dựng năm 2010). Các trường THPT Dân lập như: Trường THPT Ngô Tất Tố, Trường THPT An Dương Vương, Trường THPT Hồng Bàng, Trường THPT Phạm Ngũ Lão, Trường THPT Ngô Quyền. Trung học cơ sở Nguyễn Huy Tưởng (xây dựng năm 1990), Trường THCS Lê Hữu Tựu, Trường Trung học cơ sở Cổ Loa Các trường trung học cơ sở, tiểu học và mầm non ở các xã trong huyện Trường Trung cấp Kinh tế-Kỹ thuật Bắc Thăng Long, Cao đăng nghề Việt Nam-Hàn Quốc, Trung tâm Giáo dục thường xuyên huyện Đông Anh, Trung tâm dậy nghề số 6, Trường cho trẻ em khuyết tật Bình Minh. == Y tế == Bệnh viện Đa khoa Đông Anh trên đường Cao Lỗ Bệnh viện Bắc Thăng Long trên đường Uy Nỗ Bệnh viện Miền Đông trên đường Liên Hà Trung tâm y tế huyện Đông Anh trên đường 23B Bệnh viện Nhiệt đới Trung ương cơ sở 2 - Kim Chung. == Kinh tế == Khu công nghiệp Bắc Thăng Long trên địa bàn xã Kim Chung và xã Võng La Khu công nghiệp Đông Anh Khu công nghiệp Thăng long Khu công nghiệp nhỏ ở Nguyên Khê chợ Trung tâm, chợ Tó và chợ Vân Trì Các làng nghề mộc Vân Hà, Liên Hà Các Công ty Ô tô 1-5, Công ty cổ phần khoá Việt-Tiệp, Công ty cơ khí Đông Anh, Công ty tấm lợp Đông Anh. Khu đô thị Bắc Thăng Long - Vân Trì Khu đô thị Liên Hà Các khu đô thị, khu nhà ở nằm dọc các đường 5 kéo dài, đường Võ Nguyên Giáp, đường Võ Văn Kiệt... Khu thương mại dịch vụ 1/5 đông anh Trung tâm hội chợ triển lãm Việt Nam (xã Đông Hội) == Tham khảo == == Liên kết ngoài == Trang web UBND huyện Đông Anh
nước mắt.txt
Nước mắt là một dung dịch dạng lỏng (nước) được tiết ra từ bộ phận mắt trên cơ thể thông qua tuyến lệ. Về mặt sinh học, nước mắt là dung dịch dùng để làm lau sạch những bụi bẩn bám ở con ngươi, khi tuyến lệ tiết ra nước mắt để làm ướt và trôi đi các bụi bẩn ở mặt do bụi bay vào mắt, nước bẩn tiếp xúc với mắt, hơi cay làm khô mắt nên tuyến lệ tiết nước mắt để làm ướt mắt. Ngoài ra khi con người hoặc động vật ngáp thì tuyến lệ cũng tiết nước mắt. Nước mắt cũng có thể tiết ra do kích thích mắt liên tục như chớp mắt, dụi mắt, chạm vào mắt... Về mặt tâm lý, nước mắt của con người là những biểu hiện sinh sộng cho trạng thái tâm lý đặc biệt là khi người ta khóc (có thể khóc do buồn, đau khổ, mất mát hoặc có thể khóc do hạnh phúc, vỡ òa trong sung sướng...). Những giọt nước mắt được gọi là giọt lệ, được tiết ra và thông thường được tiết ra rất nhiều. Ngoài ra trong nhiều trường hợp khi người ta cười cũng tiết ra nước mắt. Một số trường hợp trinh nữ khi giao hợp lần đầu cũng chảy nước mắt khi bị đau do rách màng trinh hay đạt cực khoái, hạnh phúc... Nước mắt hay giọt lệ là đề tài trữ tình và thơ mộng của văn chương, thơ ca, hội họa, phim ảnh, âm nhạc, ca kịch.... đặc biệt nhiều phim ảnh theo thể loại tâm lý, tình cảm, xã hội nhất là phim Hàn Quốc thường có nhiều cảnh đặc tả cảm xúc của các nhân vật khi học khóc, rơi lệ...tạo sự đồng cảm và lôi cuốn người xem. Thuật ngữ "nước mắt cá sấu" dùng để chỉ về những kẻ giả nhân, giả nghĩa. == Tham khảo == eye, human."Encyclopædia Britannica from Encyclopædia Britannica 2006 Ultimate Reference Suite DVD 2009 Skorucak A. "The Science of Tears." ScienceIQ.com. Truy cập ngày 29 tháng 9 năm 2006. Szczesna DH, Jaroński J, Kasprzak HT, Stenevi U (2006). "Interferometric measurements of dynamic changes of tear film". J Biomed Opt 11 (3): 34028. doi:10.1117/1.2209881. PMID 16822077. Morais Pérez D, Dalmau Galofre J, Bernat Gili A, Ayerbe Torrero V (1990). "[Crocodile tears syndrome]" (in Spanish; Castilian). Acta Otorrinolaringol Esp 41 (3): 175–7. PMID 2261223. Morais Pérez D, Dalmau Galofre J, Bernat Gili A, Ayerbe Torrero V (1990). "[Crocodile tears syndrome]" (in Spanish; Castilian). Acta Otorrinolaringol Esp 41 (3): 175–7. PMID 2261223. Dell'Amore, Christine. " Women's Tears Reduce Sex Drive in Men, Study Hints", "National Geographic, ngày 6 tháng 1 năm 2011, accessed ngày 6 tháng 6 năm 2011.
giáo dục tại anh.txt
Với lịch sử gần 800 năm, nền giáo dục Vương quốc Anh là một trong những nền giáo dục được đánh giá cao và thành công nhất, có ảnh hưởng không nhỏ đến hệ thống giáo dục toàn thế giới. Tất cả các cơ sở giáo dục, cả các trường phổ thông, các trường dạy nghề, các trường đại học đều chịu sự quản lý khắt khe của Chính phủ về chất lượng giảng dạy của giáo viên cho đến chất lượng hệ thống hỗ trợ học sinh. Mặc dù trách nhiệm giáo dục toàn Vương quốc Anh thuộc về chính quyền trung ương nhưng các trường học chủ yếu được điều hành bởi các quan chức giáo dục địa phương, lấy kinh phí từ chính quyền trung ương và cả từ các khoản thuế địa phương. Đa số học sinh theo học tại các trường quốc lập dạng này, chỉ có một nhóm nhỏ theo học tai các trường do nhà thờ điều hành và hoạt động dựa trên đóng góp của cộng đồng địa phương – các trường này ngoài dạy kiến thức còn tập trung vào giáo lý và giá trị của tôn giáo. Một dạng trường học khác cũng rất quan trọng trong hệ thống giáo dục Anh Quốc là các trường do tư nhân quản lý và trường phải đóng phí (trường độc lập hay trường công), nơi học sinh được học trong các lớp có sĩ số vừa phải. Các trường này có ngân sách cao hơn để dành cho các hoạt động ngoại khóa như thể thao, kịch và âm nhạc. == Giáo dục phổ thông == Ở Anh, trẻ em từ 5 đến 16 tuổi được hưởng sự giáo dục miễn phí và bắt buộc. Hệ thống giáo dục được chia thành bốn giai đoạn theo giáo trình quốc gia và có kiểm tra chất lượng vào các tuổi 7, 11, 14 và 16. Cấu trúc hệ thống giáo dục xứ Wales và Bắc Ireland nhìn chung giống như tại Anh. Có hai dạng trường tiểu học và trung học tại xứ Wales: - Một là dạy tất cả các môn học bằng tiếng Welsh (tiếng bản xứ ở Wales) và tiếng Anh là ngôn ngữ thứ hai. - Một dạy bằng tiếng Anh còn tiếng Welsh được dạy như ngôn ngữ thứ hai. Còn ở Bắc Ireland, hệ thống được chia thành nhóm trường Tin Lành và trường Công giáo La Mã. == Giáo dục sau phổ thông == Có nhiều dạng giáo dục sau phổ thông bao gồm đại học, các trường công nghệ thường dạy nhiều về kỹ thuật, trong khi các trường cao đẳng chuyên ngành như Học viện Nghệ thuật Hoàng gia truyền dạy những kiến thức và kỹ năng chuyên môn. Ngoài ra còn có dạng Đại học Mở thực hiện việc giảng dạy chủ yếu trên truyền hình. Các học viện và các trường do chính quyền địa phương điều hành. Ở Anh có hơn 47 trường đại học, hầu hết hoạt động dựa vào ngân sách Chính phủ. Các trường đại học nổi tiếng tiếng nhất là Oxford và Cambridge – có lịch sử từ thế kỷ 12, 13; các trường này có những toà nhà lịch sử và những thư viện tuyệt vời, các phòng thí nghiệm nổi tiếng cùng nhiều cơ sở khác phục vụ cho mục đích giảng dạy và nghiên cứu. Nhiều trường đại học của Scotland cũng có lịch sử từ thế kỷ 15, 16 như đại học St. Andrews, Glasgow, Aberdeen, Edinburgh... Nhìn chung, tất cả các trường đại học của Vương quốc Anh ít nhất cũng đã thành lập được 200 năm. Nhà nước khuyến khích sinh viên theo học đại học nhiều hơn bằng các chính sách miễn học phí hoặc cấp học bổng. Ví dụ như vào năm 2003, ước tính có khoảng 64% dân số trong độ tuổi đại học được ghi danh vào các chương trình giáo dục dục đại học. Và vào năm 2003, chi tiêu công cho giáo dục ước tính khoảng 5.3% GDP, hay 11.5% tổng chi tiêu của Chính phủ. Chất lượng giáo dục là điều thu hút sinh viên nước ngoài muốn theo học tại Vương quốc Anh, trong đó có ngày càng nhiều du học sinh đến từ Việt Nam.
hội nghị hiến pháp (hoa kỳ).txt
Hội nghị Hiến pháp của Hoa Kỳ (tiếng Anh: Constitutional Convention hay còn được biết đến với tên gọi Philadelphia Convention, Federal Convention hay Grand Convention at Philadelphia) diễn ra từ ngày 25 tháng 5 đến 17 tháng 9 năm 1787 để bàn cách xử lý các vấn đề tại Hoa Kỳ sau khi độc lập khỏi Đế quốc Anh. Dù hội nghị này có ý định công khai là sửa đổi Các điều khoản Liên bang, nhưng ý định được nhiều người đề xướng ra hội nghị đưa ra, đứng đầu trong số đó có James Madison và Alexander Hamilton lại là bắt từ sự bắt đầu lập một chính phủ mới hơn là "sửa đổi" chính phủ đang tồn tại. Các đại biểu đã bầu George Washington làm chủ tịch hội nghị. Kết quả của cuộc hội nghị này là bản Hiến pháp Hoa Kỳ. Hội nghị cũng là một trong những sự kiện trung tâm trong lịch sử Hoa Kỳ. == Bối cảnh lịch sử == Trước khi bản hiến pháp được soạn thảo, 13 bang đã hoạt động theo Các điều khoản Liên bang được tạo lập bởi Hội nghị Lục địa thứ hai cuối cùng dẫn đến sự chia rẽ sâu sắc giữa các bang mà chính quyền quốc gia không thể giải quyết. Ngày 21 tháng 1 năm 1786, Nghị viên bang Virginia, theo đề nghị của James Madison, đã mời tất cả các bang thảo luận cách giảm các xung đột giữa các bang Annapolis, Maryland. Vụ việc này được gọi là Hội nghị Annapolis, các đại biểu bang tham gia đã ký một bản kiến nghị kêu gọi các bang gặp nhau ở Philadelphia vào tháng 5 năm 1787 để bàn cách cải tiến các Điều khoản Liên bang trong một "Đại hội". == Tham khảo ==
toàn cầu hóa.txt
Toàn cầu hóa là khái niệm dùng để miêu tả các thay đổi trong xã hội và trong nền kinh tế thế giới, tạo ra bởi mối liên kết và trao đổi ngày càng tăng giữa các quốc gia, các tổ chức hay các cá nhân ở góc độ văn hóa, kinh tế, v.v... trên quy mô toàn cầu. Đặc biệt trong phạm vi kinh tế, toàn cầu hoá hầu như được dùng để chỉ các tác động của thương mại nói chung và tự do hóa thương mại hay "tự do thương mại" nói riêng. Cũng ở góc độ kinh tế, người ta chỉ thấy các dòng chảy tư bản ở quy mô toàn cầu kéo theo các dòng chảy thương mại, kỹ thuật, công nghệ, thông tin, văn hóa. == Lịch sử của toàn cầu hoá == Toàn cầu hoá, theo nghĩa cổ điển, đã bắt đầu vào khoảng thế kỷ thứ 15, sau khi có những thám hiểm hàng hải quy mô lớn. Cuộc thám hiểm lớn lần đầu tiên vòng quanh thế giới do Ferdinand Magellan thực hiện vào năm 1522. Cũng như việc xuất hiện các trục đường trao đổi thương mại giữa châu Âu, châu Á, châu Phi và châu Mỹ không phải là hiện tượng gần đây. Ngoài những trao đổi về hàng hoá vật chất, một số giống cây cũng được đem trồng từ vùng khí hậu này sang vùng khí hậu khác (chẳng hạn như khoai tây, cà chua và thuốc lá). Do có hai khía cạnh kỹ thuật và chính trị, "toàn cầu hoá" sẽ có nhiều lịch sử khác nhau. Thông thường trong phạm vi của môn kinh tế học và kinh tế chính trị học, toàn cầu hoá chỉ là lịch sử của việc trao đổi thương mại không ngừng giữa các nước dựa trên những cơ sở ổn định cho phép các cá nhân và công ty trao đổi hàng hoá với nhau một cách trơn tru nhất. Thuật ngữ "tự do hoá" xuất hiện để chỉ sự kết hợp của học thuyết kinh tế về thị trường tự do tuyệt đối và sự hủy bỏ các rào cản đối với việc lưu thông hàng hoá. Điều này dẫn tới sự chuyên môn hoá không ngừng của các nước trong lĩnh vực xuất khẩu, cũng như tạo ra áp lực chấm dứt hàng rào thuế quan bảo hộ và các rào cản khác. Thời kỳ bắt đầu dùng vàng làm tiêu chuẩn của hệ thống tiền tệ (bản vị vàng) và tự do hoá trong thế kỷ thứ 19 thường được chính thức gọi là "thời kỳ đầu của toàn cầu hoá". Cùng với thời kỳ bành trướng của đế quốc Anh (Pax Britannica) và việc trao đổi hàng hoá bằng các loại tiền tệ có sử dụng tiền xu, thời kỳ này là cùng với giai đoạn công nghiệp hoá. Cơ sở lý thuyết là công trình của David Ricardo nói về lợi thế so sánh và luật cân bằng chung của Jean-Baptiste Say, cho rằng, về cơ bản các nước sẽ trao đổi thương mại một cách hiệu quả, và bất kỳ những bất ổn tạm thời về cung hay cầu cũng sẽ tự động được điều chỉnh. Việc thiết lập bản vị vàng bắt đầu ở các nước công nghiệp hoá chính khoảng giữa năm 1850 và năm 1880, mặc dù chính xác khi nào các nước này áp dụng bản vị vàng vẫn còn là đề tài gây nhiều tranh cãi. "Thời kỳ đầu của toàn cầu hoá" rơi vào thoái trào khi bắt đầu bước vào Chiến tranh thế giới lần thứ nhất, và sau đó sụp đổ hẳn khi xảy ra khủng hoảng bản vị vàng vào cuối những năm 1920 và đầu những năm 1930. Trong môi trường hậu Chiến tranh thế giới lần thứ hai, thương mại quốc tế đã tăng trưởng đột ngột do tác động của các tổ chức kinh tế quốc tế và các chương trình tái kiến thiết. Kể từ Chiến tranh thế giới lần thứ hai, các Vòng đàm phán thương mại do GATT khởi xướng, đã đặt lại vấn đề toàn cầu hoá và từ đó dẫn đến một loạt các hiệp định nhằm gỡ bỏ các hạn chế đối với "thương mại tự do". Vòng đàm phán Uruguay đã đề ra hiệp ước thành lập Tổ chức thương mại thế giới hay WTO, nhằm giải quyết các tranh chấp thương mại. Các hiệp ước thương mại song phương khác, bao gồm một phần của Hiệp ước Maastricht của châu Âu và Hiệp ước mậu dịch tự do Bắc Mỹ (NAFTA) cũng đã được ký kết nhằm mục tiêu giảm bớt các thuế quan và rào cản thương mại. Từ thập kỷ 1970, các tác động của thương mại quốc tế ngày càng rõ rệt, cả về mặt tích cực lẫn tiêu cực. == Ý nghĩa của toàn cầu hóa == Thuật ngữ toàn cầu hoá xuất hiện vào những năm 1950, với sự phổ biến các phương tiện vận tải có động cơ và sự gia tăng các trao đổi thương mại; và được chính thức sử dụng rộng rãi từ những năm 1990 của thế kỷ thứ 20. "Toàn cầu hóa" có thể có nghĩa là: Sự hình thành nên một ngôi làng toàn cầu — dưới tác động của những tiến bộ trong lĩnh vực tin học và viễn thông, quan hệ giữa các khu vực trên thế giới ngày càng gần gũi hơn, cộng với sự gia tăng không ngừng về các trao đổi ở mức độ cá nhân và sự hiểu biết lẫn nhau cũng như tình hữu nghị giữa các "công dân thế giới", dẫn tới một nền văn minh toàn cầu, Toàn cầu hoá kinh tế — "thương mại tự do" và sự gia tăng về quan hệ giữa các thành viên của một ngành công nghiệp ở các khu vực khác nhau trên thế giới (toàn cầu hoá một nền kinh tế) ảnh hưởng đến chủ quyền quốc gia trong phạm vi kinh tế. Xem bài nói riêng về toàn cầu hoá kinh tế Tác động tiêu cực của các tập toàn đa quốc gia tìm kiếm lợi nhuận — việc sử dụng các phương tiện luật lệ và tài chính mạnh mẽ và tinh vi để vượt qua giới hạn của các tiêu chuẩn và luật pháp địa phương hòng lợi dụng nhân công và dịch vụ của các vùng phát triển chưa đồng đều lẫn nhau. Sự lan rộng của chủ nghĩa tư bản từ các quốc gia phát triển sang các quốc gia đang phát triển. Khái niệm này cũng chia sẻ một số tính chất với khái niệm quốc tế hoá và có thể dùng thay cho nhau được, mặc dù có một số người thích dùng "toàn cầu hoá" để nhấn mạnh sự mờ nhạt của ý niệm nhà nước hay biên giới quốc gia. Toàn cầu hóa được định nghĩa một cách khách quan nhất là sự phụ thuộc qua lại không ngừng giữa các quốc gia và các cá nhân. Sự phụ thuộc qua lại có thể xảy ra trên lĩnh vực kinh tế, công nghệ, môi trường, văn hoá hay xã hội.... Rõ ràng cần phân biệt toàn cầu hoá kinh tế với khái niệm rộng hơn là toàn cầu hoá nói chung. Khái niệm chủ nghĩa toàn cầu, nếu chỉ được sử dụng trong phạm vi kinh tế, có thể được xem là trái ngược hẳn với khái niệm chủ nghĩa kinh tế quốc gia và chủ nghĩa bảo hộ. Nó có liên quan đến khái niệm chủ nghĩa tư bản không can thiệp và chủ nghĩa tân tự do. == Biểu hiện của toàn cầu hóa == Có thể nhận biết toàn cầu hoá thông qua một số xu hướng, hầu hết các xu hướng đó bắt đầu từ Chiến tranh thế giới lần thứ hai. Trong số đó có lưu thông quốc tế ngày càng tăng đối với hàng hoá, tiền tệ, thông tin và người; cùng với việc phát triển các công nghệ, tổ chức, hệ thống luật lệ và cơ sở hạ tầng cho việc lưu thông này. Hiện nay vẫn còn nhiều tranh luận xung quanh sự tồn tại của một số xu hướng. Gia tăng thương mại quốc tế với tốc độ cao hơn tốc độ tăng trưởng kinh tế thế giới Gia tăng luồng tư bản quốc tế bao gồm cả đầu tư trực tiếp từ nước ngoài Gia tăng luồng dữ liệu xuyên biên giới thông qua việc sử dụng các công nghệ như Internet, các vệ tinh liên lạc và điện thoại Gia tăng trao đổi văn hoá quốc tế, chẳng hạn như việc xuất khẩu các văn hoá phẩm như phim ảnh hay sách báo. Toàn cầu hoá cũng tác động đến ý thức con người, khiến con người chú ý hơn đến những vấn đề có ảnh hưởng toàn cầu như vấn đề nóng lên của khí hậu, khủng bố, buôn lậu ma tuý và vấn đề nâng cao mức sống ở các nước nghèo. Sự tràn lan của chủ nghĩa đa văn hoá và việc cá nhân ngày càng có xu hướng hướng đến đa dạng văn hoá, mặt khác, làm mất đi tính đa dạng văn hoá thông qua sự đồng hoá, lai tạp hoá, Tây hoá, Mỹ hoá hay Hán hoá của văn hoá. Làm mờ đi ý niệm chủ quyền quốc gia và biên giới quốc gia thông qua các hiệp ước quốc tế dẫn đến việc thành lập các tổ chức như WTO và OPEC Gia tăng việc đi lại và du lịch quốc tế Gia tăng di cư, bao gồm cả nhập cư trái phép Phát triển hạ tầng viễn thông toàn cầu Phát triển các hệ thống tài chính quốc tế Gia tăng thị phần thế giới của các tập đoàn đa quốc gia Gia tăng vai trò của các tổ chức quốc tế như WTO, WIPO, IMF chuyên xử lý các giao dịch quốc tế Gia tăng số lượng các tiêu chuẩn áp dụng toàn cầu; v.d. luật bản quyền Các rào cản đối với thương mại quốc tế đã giảm bớt tương đối kể từ Chiến tranh thế giới lần thứ hai thông qua các hiệp ước như Hiệp ước chung về thuế quan và mậu dịch (GATT). Các đề xuất của GATT cũng như WTO bao gồm: Thúc đẩy thương mại tự do Về hàng hoá: giảm hoặc bỏ hẳn các loại thuế quan; xây dựng các khu mậu dịch tự do với thuế quan thấp hoặc không có Về tư bản: giảm hoặc bỏ hẳn các hình thức kiểm soát tư bản Giảm, bỏ hẳn hay điều hoà việc trợ cấp cho các doanh nghiệp địa phương Thắt chặt vấn đề sở hữu trí tuệ Hoà hợp luật sở hữu trí tuệ giữa các quốc gia (nói chung là thắt chặt hơn) Công nhận sở hữu trí tuệ ở quy mô giữa các nước (v.d. bằng sáng chế do Việt Nam cấp có thể được Mỹ thừa nhận) Có khá nhiều thảo luận mang tính học thuật nghiêm túc quanh việc xem toàn cầu hoá là một hiện tượng có thật hay chỉ là một sự đồn đại. Mặc dù thuật ngữ này đã trở nên phổ biến, nhiều học giả lý luận rằng các tính chất của hiện tượng này đã từng được thấy ở một thời điểm trước đó trong lịch sử. Tuy vậy, nhiều người cho rằng những dấu hiệu làm người ta tin là đang có tiến trình toàn cầu hoá, bao gồm việc gia tăng thương mại quốc tế và vai trò ngày càng lớn của các tập đoàn gia quốc gia, thực sự không rõ ràng như ta tưởng. Do vậy, nhiều học giả thích dùng thuật ngữ "quốc tế hoá" hơn là "toàn cầu hoá". Để cho đơn giản, vai trò của nhà nước và tầm quan trọng của các quốc gia lớn hơn nhiều trong khái niệm quốc tế hoá, trong khi toàn cầu hoá lại loại trừ vai trò các nhà nước quốc gia theo bản chất thực sự của nó. Chính vì vậy, các học giả này xem biên giới quốc gia, trong một nghĩa rộng, còn lâu mới mất đi, do vậy tiến trình toàn cầu hoá căn bản này vẫn chưa thể xảy ra, và có lẽ sẽ không bao giờ xảy ra vì dựa trên lịch sử thế giới người ta thấy rằng quốc tế hoá sẽ không bao giờ biến thành toàn cầu hoá — chẳng hạn như trường hợp Liên hiệp châu Âu và NAFTA hiện tại. == Tác động của toàn cầu hoá == === Khía cạnh kinh tế === Các tổ chức quốc gia sẽ mất dần quyền lực (xem ảnh hưởng về khía cạnh chính trị phía dưới), quyền lực này sẽ chuyển về tay các tổ chức đa phương như WTO. Các tổ chức này sẽ mở rộng việc tự do đối với các giao dịch thương mại, và thông qua các hiệp ước đa phương hạ thấp hoặc nâng cao hàng rào thuế quan để điều chỉnh thương mại quốc tế. Toàn cầu hóa cũng làm cho hiện tượng "chảy máu chất xám" diễn ra nhiều và dễ dàng hơn, kéo theo biến tướng là nạn "săn đầu người". Hai hiện tượng này đã góp phần gia tăng khoảng cách giàu nghèo giữa các quốc gia phát triển và đang phát triển, giữa từng khu vực riêng biệt trong một đất nước. === Khía cạnh văn hoá, xã hội và ngôn ngữ === Toàn cầu hoá sẽ tạo ra những hiệu quả trái ngược ở mức độ cá nhân hay dân tộc, mà kết cục thế nào đến nay cũng vẫn chưa ngã ngũ. Toàn cầu hoá sẽ tạo ra: Một sự đa dạng cho các cá nhân do họ được tiếp xúc với các nền văn hoá và văn minh khác nhau. Toàn cầu hoá giúp con người hiểu hơn về thế giới và những thách thức ở quy mô toàn cầu qua sự bùng nổ các nguồn thông tin, việc phổ thông hoá hoạt động du lịch, việc tiếp cận dễ dàng hơn với giáo dục và văn hoá; Một sự đồng nhất đối với các dân tộc qua ảnh hưởng của các dòng chảy thương mại và văn hoá mạnh. Trên thực tế, thông tin tạo ra chính kiến và vì thế một vài tập đoàn truyền thông lớn, chủ yếu là phương Tây có thể tạo ra (và làm giả) thông tin đưa đến dân chúng. Sự độc quyền trong lĩnh vực văn hoá và thông tin này được xem như một sự " Mỹ hoá " thế giới. Mỗi người nhìn toàn cầu hoá theo một kiểu khác nhau. Có hai xu hướng chính: nỗ lực che giấu những khác biệt về bản sắc, thay vì để lộ ra. cảm giác toàn cầu hoá sẽ mang lại sự tự do cá nhân, ngay cả khi điều đó đi cùng với một sự đồng nhất hoá toàn cầu một cách tương đối. Ở góc độ ngôn ngữ, chúng ta thấy khuynh hướng rõ ràng hướng tới đồng nhất hoá việc dùng "tiếng Anh toàn cầu" ("globish", viết tắt của global English), một thứ tiếng Anh nghèo nàn do những người không phải là người Anglo-Saxon dùng khi họ ở nước ngoài. Sự phổ cập của tiếng Anh toàn cầu gắn với việc mất đi quyền lực chính trị ở cấp độ thế giới: thay vì một chính sách văn hoá quốc tế có sự phối hợp để có thể dẫn đến việc chọn một thứ tiếng có quy luật rõ ràng và ngữ âm học rõ ràng, phần lớn các nước đều chọn dạy tiếng Anh cho giới trẻ dựa trên lựa chọn của các nước khác! Do sự bắt chước một cách máy móc và sự trơ ì chính trị, tiếng Anh đã trở thành một ngôn ngữ của thế giới và được gọi là "tiếng Anh toàn cầu" ("globish") vì các yếu tố cơ bản của tiếng Anh Oxford đã bị biến dạng về phát âm, ngữ pháp, từ vựng, v.v.). Đối với một số những người nói tiếng Anh, "tiếng Anh toàn cầu" là kết quả của chủ nghĩa đế quốc về ngôn ngữ của nước họ. Vấn đề là liệu có thể dễ dàng cho rằng các nỗ lực hướng đến việc dạy tiếng Anh thay vì giảng dạy các thứ tiếng khác sẽ làm giảm chất lượng của các ngôn ngữ khác hay không (như tiếng Pháp lai Anh - franglais). === Khía cạnh chính trị === Toàn cầu hóa làm cho các dân tộc xích lại gần nhau hơn. Marx nhận xét "Với sự phát triển của giai cấp tư sản, tự do buôn bán, thị trường thế giới, sự đồng đều của sản xuất công nghiệp và những điều kiện sinh hoạt thích ứng với nền sản xuất ấy thì những sự cách biệt dân tộc và những sự đối lập giữa nhân dân các nước cũng ngày càng mất đi.". Toàn cầu hoá sẽ làm tăng lên nhiều lần các mối quan hệ giữa các công dân trên thế giới và cũng như các cơ hội cho từng người. Tuy nhiên nó đặt ra vấn đề là phải tìm ra một giải pháp thay thế cho hệ thống chính trị và hiến pháp hiện tại dựa trên khái niệm nhà nước-quốc gia. Các thực thể này đã từng gây ra những tác động tiêu cực trong suốt lịch sử do tính chất can thiệp mạnh bạo của nó. Ảnh hưởng của chúng giảm dần do sự toàn cầu hoá, và không còn đủ tầm xử lý nhiều thách thức mang tính toàn cầu ngày nay. Từ đó nảy sinh thách thức cần thiết lập một toàn cầu hoá dân chủ thể chế nào đó. Kiểu toàn cầu hoá này dựa trên khái niệm "công dân thế giới", bằng cách kêu gọi mọi người sống trên hành tinh này tham gia vào quá trình quyết định những việc liên quan đến họ, mà không thông qua một bức màn "quốc tế". Các tổ chức phi chính phủ muốn thay vào khoảng trống này, tuy nhiên họ thiếu tính hợp pháp và thường thể hiện các tư tưởng đảng phái quá nhiều để có thể đại diện tất cả công dân trên thế giới. == Phản ứng xung quanh toàn cầu hoá == === Chống toàn cầu hoá === Các nhà hoạt động xã hội vì lợi ích cộng đồng coi một số khía cạnh của toàn cầu hoá là nguy hại. Phong trào này không có tên gọi thống nhất. "Chống toàn cầu hoá" là thuật ngữ mà báo chí hay dùng nhất. Ngay chính các nhà hoạt động xã hội như Noam Chomsky đã cho rằng tên này không có ý nghĩa gì cả vì mục tiêu của phong trào là toàn cầu hoá sự công bằng. Trên thực tế, có một tên phổ biến là "phong trào đòi công bằng toàn cầu". Nhiều nhà hoạt động xã hội cũng tập hợp dưới khẩu hiệu "có thể có một thế giới khác", từ đó ra đời những tên gọi như altermondisme hay altermondialisation, đến từ tiếng Pháp. Có rất nhiều kiểu "chống toàn cầu hoá" khác nhau. Nói chung, những phê phán cho rằng kết quả của toàn cầu hoá hiện không phải là những gì đã được hình dung khi bắt đầu quá trình tăng cường thương mại tự do, cũng như nhiều tổ chức tham gia trong hệ thống toàn cầu hoá đã không xét đến lợi ích cho các nước nghèo cũng như giới lao động. Các lý luận kinh tế của các nhà kinh tế theo học thuyết thương mại công bằng thì cho rằng thương mại tự do không giới hạn chỉ đem lại lợi ích cho những ai có tỷ lệ vốn lớn (v.d. người giàu) mà không hề quan tâm đến người nghèo. Nhiều nhà hoạt động xã hội "chống toàn cầu hoá" coi toàn cầu hoá là việc thúc đẩy chương trình nghị sự của những người theo chủ nghĩa tập đoàn, một chương trình này nhằm mục tiêu giới hạn các quyền tự do cá nhân dưới danh nghĩa lợi nhuận. Họ cũng cho rằng sự tự chủ và sức mạnh ngày càng tăng của các tập đoàn dần dần hình thành nên các chính sách chính trị của nhà nước quốc gia. Một số nhóm "chống toàn cầu hoá" lý luận rằng toàn cầu hoá chỉ đơn thuần là hình thức đế quốc, là một trong những lý do căn bản dẫn đến chiến tranh Iraq và là cơ hội kiếm tiền của Mỹ hơn là các nước đang phát triển. Một số khác cho rằng toàn cầu hoá áp đặt một hình thức kinh tế dựa trên tín dụng, kết quả là dẫn tới các nợ nần và khủng hoảng nợ nần chồng chất không tránh khỏi. Sự phản đối chủ yếu nhắm vào sự toàn cầu hoá không kiểm soát (như trong các chủ nghĩa tân tự do và tư bản tự do tuyệt đối) do các chính phủ hay các tổ chức gần như chính phủ (như Quỹ tiền tệ quốc tế và Ngân hàng thế giới) chỉ đạo và không chịu trách nhiệm đối với quần chúng mà họ lãnh đạo mà thay vào đó gần như chỉ đáp ứng lợi ích của các tập đoàn. Rất nhiều các cuộc hội thảo giữa các vị bộ trưởng tài chính và thương mại các nước trong trục toàn cầu hoá đã gặp phải những phản kháng rầm rộ, đôi khi cũng có bạo lực từ các đối tượng chống đối "chủ nghĩa toàn cầu tập đoàn". Phong trào này quy tụ nhiều thành phần, bao gồm các nhóm tín ngưỡng, các đảng phái tự do dân tộc, các đảng phái cánh tả, các nhà hoạt động vì môi trường, các hiệp hội nông dân, các nhóm chống phân biệt chủng tộc, các nhà chủ nghĩa xã hội tự do và các thành phần khác. Đa số theo chủ nghĩa cải cách (hay ủng hộ chủ nghĩa tư bản nhưng mang tính nhân bản hơn) và một thiểu số tương đối thuộc thành phần cách mạng (ủng hộ một hệ thống nhân bản hơn chủ nghĩa tư bản). Nhiều người đã chê trách sự thiếu thống nhất và định hướng của phong trào, tuy nhiên một số khác như Noam Chomsky thì cho rằng sự thiếu tập trung hoá kiểu này trên thực tế có thể lại là một sức mạnh. Những người phản đối bằng phong trào công bằng toàn cầu đã tổ chức các cuộc gặp mặt quốc tế lớn ở những thành phố nhỏ thay vì những trung tâm đô thị lớn như trước đây. Nguồn: United Nations Development Program. 1992 Human Development Report === Ủng hộ toàn cầu hoá (chủ nghĩa toàn cầu) === Những người ủng hộ toàn cầu hoá dân chủ có thể được gọi là những người ủng hộ chủ nghĩa toàn cầu. Họ cho rằng giai đoạn đầu của toàn cầu hoá là hướng thị trường, và sẽ được kết thúc bởi giai đoạn xây dựng các thiết chế chính trị toàn cầu đại diện cho ý chí của toàn thể công dân thế giới. Sự khác biệt giữa họ với những người ủng hộ chủ nghĩa toàn cầu khác là họ không định nghĩa trước bất kỳ hệ tư tưởng nào để định hướng ý chí này, mà để cho các công dân được tự do chọn lựa thông qua một tiến trình dân chủ. Những người ủng hộ thương mại tự do dùng các học thuyết kinh tế như lợi thế so sánh để chứng minh thương mại tự do sẽ dẫn đến một sự phân phối tài nguyên hiệu quả hơn, với tất cả những ai tham gia vào quá trình tìm kiếm lợi ích từ thương mại. Thương mại tự do sẽ cho những nhà sản xuất tại các nước một thị trường tiêu thụ rộng lớn hơn dẫn đến lợi nhuận cao hơn. Đồng thời tạo ra sự cạnh tranh giữa các nguồn tư bản, từ đó đem lại lợi ích cho người lao động trên toàn thế giới; cũng như cạnh tranh giữa nguồn nhân công trên toàn thế giới sẽ mang lại lợi ích cho các nhà tư bản và trên hết là cho người tiêu thụ. Nói chung, họ cho rằng điều này sẽ dẫn đến giá thành thấp hơn, nhiều việc làm hơn và phân phối tài nguyên tốt hơn. Toàn cầu hoá đối với những người ủng hộ dường như là một yếu tố dẫn đến phát triển kinh tế cho số đông. Chính từ điều này mà họ chỉ nhìn thấy trong sự truyền thông hoá khái niệm "toàn cầu hoá" một cố gắng biện minh đầy cảm tính và không duy lý của chủ nghĩa bảo hộ kinh tế. Những người ủng hộ chủ nghĩa tự do cá nhân và những người ủng hộ chủ nghĩ tư bản tự do tuyệt đối cho rằng mức độ tự do cao về kinh tế và chính trị dưới hình thức dân chủ và chủ nghĩa tư bản ở phần thế giới phát triển sẽ làm ra của cải vật chất ở mức cao hơn. Do vậy họ coi toàn cầu hoá là hình thức giúp phổ biến nền dân chủ và chủ nghĩa tư bản. Họ phê phán phong trào chống toàn cầu hoá chỉ sử dụng những bằng chứng vụn vặt để biện minh cho quan điểm của mình, còn họ thì sử dụng những thống kê ở quy mô toàn cầu. Một trong những dẫn chứng này là tỉ lệ phần trăm dân chúng ở các nước đang phát triển sống dưới mức 1 đôla Mỹ (điều chỉnh theo lạm phát) một ngày đã giảm một nửa chỉ trong hai mươi năm. Tuổi thọ gần như tăng gấp đôi ở các nước đang phát triển kể từ Chiến tranh thế giới lần thứ hai và bắt đầu thu hẹp khoảng cách với các nước phát triển nơi ít có sự cải thiện hơn. Tỉ lệ tử vong trẻ sơ sinh đã giảm ở các khu vực đang phát triển trên thế giới. Bất bình đẳng trong thu nhập trên toàn thế giới nói chung đang giảm dần. Nhiều người ủng hộ chủ nghĩa tư bản cũng phản đối Ngân hàng thế giới và Quỹ tiền tệ quốc tế với lý luận rằng những tổ chức này đều tham ô, quan liêu do các nhà nước kiểm soát và cung cấp tài chính, chứ không phải các tập đoàn kinh doanh. Nhiều khoản cho vay chỉ đến tay những lãnh đạo độc tài không thực hiện bất kỳ một cải cách nào, rốt cuộc chỉ dân thường là những người phải trả những khoản nợ này về sau. Một số nhóm đặc biệt như các liên đoàn thương mại của thế giới phương Tây cũng phản kháng sự toàn cầu hoá vì mâu thuẫn quyền lợi. Tuy nhiên, thế giới ngày càng chia sẻ những vấn đề và thách thức vượt qua khỏi quy mô biên giới quốc gia, nhất là vấn đề ô nhiễm môi trường tự nhiên, và như vậy phong trào được biết đến trước đây với tên gọi phong trào chống toàn cầu hoá từ nay đã biến thành một phong trào chung của các phong trào vì toàn cầu hoá; họ tìm kiếm, thông qua thử nghiệm, các hình thức tổ chức xã hội vượt qua khỏi khuôn khổ nhà nước quốc gia và nền dân chủ đại diện. Do đó, cho dù các lý lẽ của phe chống toàn cầu hoá lúc ban đầu có thể bị bác bỏ thông qua các thực tế về quốc tế hoá như ở trên, song sự xuất hiện của một phong trào toàn cầu là không thể chối cãi và do đó chúng ta có thể nói về một tiến trình thực sự hướng tới một xã hội nhân bản ở quy mô toàn cầu của tất cả các xã hội. == Xem thêm == === Kinh tế và thương mại === Chỉ số toàn cầu hóa Khối mậu dịch lục địa G11n (quốc tế hoá và khu vực hoá) WTO (Tổ chức Thương mại Thế giới), GATT (Hiệp ước chung về thuế quan và mậu dịch) Danh sách các chủ đề thương mại quốc tế Di dời kinh tế (tiếng Anh: offshoring) Cạnh tranh thuế Khối mậu dịch Thương mại công bằng Thương mại tự do Hệ thống Bretton Woods Chủ nghĩa kinh tế quốc gia Chủ nghĩa trọng thương, chủ nghĩa bảo hộ kinh tế === Chính trị === Xã hội 20-80 Chủ nghĩa tập đoàn kinh tế (tiếng Anh: Corporatism) Tập đoàn trị (tiếng Anh: Corporatocracy) Chủ nghĩa đế quốc văn hoá Toàn cầu hoá dân chủ Văn minh toàn cầu Luật quốc tế Trật tự thế giới mới Dân chủ thế giới Chính sách một thế giới Toàn cầu hoá kiểu khác === Truyền thông === Phương tiện truyền thông rộng rãi Viễn thông Mạng không biên giới Mạng lưới vạn vật kết nối Internet === Lĩnh vực khác === Toàn khu hoá (tiếng Anh: Glocalization) Khu vực hoá == Chú thích == == Thư mục == Jagdish Bhagwati: In Defence of Globalization (2004), Oxford University Press, ISBN 0195170253 David Held, Anthony McGrew, David Goldblatt, & Jonathan Perraton (1999). Global Transformations: Politics, Economics, and Culture. Stanford University Press, ISBN 0804736278 — The difinitive academic publication on globalization Hirst & Thompson: Globalization in Question (1996), Polity Press, ISBN 0-7456-2164-3 Naomi Klein: No Logo (2001). A popular book which is very much against globalization. ISBN 0006530400 Philippe Legrain: Open World: The Truth About Globalization (2002) ISBN 034911644X — A largely pro-globalization book which responds to many of the complaints of the anti-globalization movement, written by a former Special Adviser to the World Trade Organisation Director-General. Hans-Peter Martin: The Global Trap: Globalization and the Assault on Prosperity and Democracy (Die Globalisierungsfalle, 1996) ISBN 1856495302 David Ransom: The Trojan Horse: A Radical Look at Foreign Aid (1975), pp. 93–116 Arundhati Roy, Ordinary Person's Guide To Empire, Consortium Book Sales and Dist, ngày 15 tháng 9 năm 2004, hardcover, ISBN 089608728X; trade paperback, Consortium, ngày 15 tháng 9 năm 2004, ISBN 0896087271 Manfred Steger: Globalization: A Very Short Introduction (2003), Oxford University Press, ISBN 019280359X - A good short introduction. Joseph Stiglitz, Globalization and its discontents (2002) — A book largely sympathetic to the theory of globalization from the 2001 Economics Nobel Prize winner. However, he is sharply critical of the global institutions, the International Monetary Fund, the WTO and the World Bank, regulating the process. ISBN 014101038X Thomas Friedman, The Lexus and the Olive Tree (2000), ISBN 0374185522. Deals with the conflicting processes of tradition and progress, which ultimately influence the progression of globalization throughout the Middle East and the world. Bản tiếng Việt: Thomas L. Friedman, Chiếc Lexus và cây ô liu, Lê Minh dịch, Hà Nội: Nhà xuất bản Khoa học xã hội, 2005. Le Cauchemar de Darwin, một phim tài liệu năm 2005 Thế giới phẳng (The World Is Flat: A Brief History of the Twenty-first Century) của tác giả Thomas L. Friedman. Barbara, Christopher (2008). International legal personality: Panacea or pandemonium? Theorizing about the individual and the state in the era of globalization. Saarbrücken: Verlag Dr. Müller. ISBN 3639115147. Barzilai, Gad (2008). Beyond Relativism: Where is Political Power in Legal Pluralism. The Berkeley Electronic Press. tr. 395–416. ISSN 1565-1509. Bastardas-Boada, Albert (2002), "World Language Policy in the Era of Globalization: Diversity and Intercommunication from the Perspective of 'Complexity'", Noves SL, Revista de Sociolingüística (Barcelona), http://www6.gencat.net/llengcat/noves/hm02estiu/metodologia/a_bastardas1_9.htm. von Braun, Joachim; Eugenio Diaz-Bonilla (2007). Globalization of Food and Agriculture and the Poor. Oxford: Oxford University Press. ISBN 9780195695281. Peter Berger, Four Faces of Global Culture (The National Interest, Fall 1997). Friedman, Thomas L. (2005). The World Is Flat. New York: Farrar, Straus and Giroux. ISBN 0-374-29288-4. Glyn, Andrew (2006). Capitalism Unleashed: Finance, Globalization, and Welfare. Oxford: Oxford University Press. ISBN 0199226792. Gowan, Peter (1999). The Global Gamble: Washington's Faustian Bid for World Dominance. London: Verso. ISBN 1859842712. Grinin, Leonid. Globalization and Sovereignty: Why do States Abandon their Sovereign Prerogatives?. Haggblade, Steven; et al. (2007). Transforming the Rural Nonfarm Economy: Opportunities and Threats in the Developing World. Johns Hopkins University Press. tr. 512. ISBN 978-0-8018-8663-8. Kitching, Gavin (2001). Seeking Social Justice through Globalization. Escaping a Nationalist Perspective. Penn State Press. ISBN 0271021624. Gernot Kohler and Emilio José Chaves (Editors) "Globalization: Critical Perspectives" Haupauge, New York: Nova Science Publishers (http://www.novapublishers.com/) ISBN 1-59033-346-2. With contributions by Samir Amin, Christopher Chase Dunn, Andre Gunder Frank, Immanuel Wallerstein Mander, Jerry; Edward Goldsmith (1996). The case against the global economy: and for a turn toward the local. San Francisco: Sierra Club Books. ISBN 0-87156-865-9. Moore, Karl; David Lewis (2009). Origins of Globalization. New York: Routledge. ISBN 978-0-415-80598-8. Murray, Warwick E. (2006). Geographies of Globalization. New York: Routledge. ISBN 0415317991. Osterhammel, Jurgen; Niels P. Petersson (2005). Globalization: A Short History. Princeton, NJ: Princeton University Press. ISBN 0-691-12165-6. Raffaele Feola, La Globalizzazione dell'Arte. L'UTOPIA DEL GLOBALE, Napoli 2009. Reinsdorf, Marshall and Matthew J. Slaughter (2009). International Trade in Services and Intangibles in the Era of Globalization. Chicago: The University of Chicago Press. ISBN 9780226709598. Sen, Amartya (1999). Development as Freedom. Oxford, New York: Oxford University Press. ISBN 019289330 . Sirkin, Harold L; James W. Hemerling and Arindam K. Bhattacharya (2008). Globality: Competing with Everyone from Everywhere for Everything. New York: Business Plus. tr. 292. ISBN 0446178292. Smith, Charles (2007). International Trade and Globalisation, 3rd edition. Stocksfield: Anforme. ISBN 1905504101. Steger, Manfred (2002). Globalism: the new market ideology. Lanham, MD: Rowman & Littlefield Publishers. ISBN 0742500721. Steger, Manfred (2003). Globalization: A Very Short Introduction. Oxford, New York: Oxford University Press. ISBN 0-19-280359-X. Stiglitz, Joseph E. (2002). Globalization and Its Discontents. New York: W.W. Norton. ISBN 0-393-32439-7. Stiglitz, Joseph E. (2006). Making Globalization Work. New York: W.W. Norton. ISBN 0-393-06122-1. Tausch, Arno (2008). Multicultural Europe: Effects of the Global Lisbon Process. Hauppauge, NY: Nova Science Publishers. ISBN 978-1-60456-806-6. Tausch, Arno (2009). Titanic 2010? The European Union and its failed "Lisbon strategy. Hauppauge, NY: Nova Science Publishers. ISBN 978-1-60741-826-9. Wolf, Martin (2004). Why Globalization Works. New Haven: Yale University Press. ISBN 978-0300102529. == Liên kết ngoài == === Tiếng Việt === Toàn cầu hóa và vận hội của Việt Nam === Tiếng Anh === Global Politician: In Defense of Globalization, Free-Trade and Free-Market Yale Global Online Foreign Policy Magazine's Annual Index of Globalization Free Trade and Globalization — discusses the negative aspects of globalization, WTO and many others related to globalization === Tiếng Pháp === Les 10 mensonges de la globalisation Dossier mondialisation du Québécois Libre Association pour la Taxation des Transactions financières et l'Aide aux Citoyens (ATTAC) 6 mythes de la mondialisation === Các ấn bản tin tức === Evaluating The World Bank's Approach to Global Programs: Addressing the Challenges of Globalization The Globalist
ngai vàng.txt
Ngai vàng (hay còn gọi là ngai rồng, ngôi báu, cửu đỉnh) là một loại ghế được chạm trổ tinh xảo, được nạm các loại ngọc quý, dát vàng và trang trí điêu khắc tinh vi được đặt nơi trang trọng nhất trong chính điện hoặc sảnh lớn để dành cho vị Hoàng đế, vị vua hoặc nguyên thủ quốc gia ngồi mỗi khi thiết triều hoặc tiếp kiến trong những dịp quan trọng. Ngai vàng tượng trưng cho quyền lực của người đứng đầu nhà nước hoặc người đứng đầu một cộng đồng, tổ chức tôn giáo nhất định, biểu tượng của sự trị vì của vị quân chủ quốc gia. Trong lịch sử nhiều cuộc chiến tranh, binh biến, ám sát lẫn nhau đã diễn ra chỉ vì muốn tranh giành ngai vàng. == Các loại ngai vàng == Ở Trung Quốc, Việt Nam thường vua ngồi ở ngai rồng, là chiếc ngai có chạm trổ hình con rồng và làm bằng vàng Ở Châu âu Trung cổ, ngai vàng là một chiếc ghế được chạm khắc tinh xảo và có nạm ngọc, kim cương và thường ghế có tâm nệm màu đỏ. Ở các nước Phật giáo thì thường dùng biểu tượng chim công hoặc đài sen Ở các bộ lạc thì ngai vàng có thể là một chiếc ghế có phủ một bộ da hổ hoặc sư tử, một số khác thì có thể chiếc ngai làm bằng đá. == Tham khảo ==
will ferrell.txt
John William "Will" Ferrell ( /ˈfɛrəl/, sinh ngày 16 tháng 7 năm 1967 tại California) là tác giả, diễn viên lồng tiếng, diễn viên hài người Mỹ, ông từng được đề cử giải Emmy và giải Quả cầu vàng. Ông được coi là thành viên của nhóm "Frat Pack" gồm các diễn viên hài xuất sắc thập niên 1990 và 2000 cùng với Ben Stiller, Jack Black, Steve Carell, anh em Luke Wilson và Owen Wilson. == Phim tham gia == === Điện ảnh === === Truyền hình === Saturday Night Live (1995-2002) Cow and Chicken (1997-2001) (lồng tiếng một số tập) Saturday Night Live: Presidential Bash 2000 (2000) Undeclared (khách mời) The Oblongs (2001-2002) (lồng tiếng) King of the Hill (lồng tiếng) The Tom Green Show (khách mời) The Naked Trucker and T-Bones Show (khách mời) Ant and Dec's Saturday Night Takeaway (voiceover và khách mời) Family Guy (lồng tiếng một số tập) == Tham khảo ==
thâm hụt ngân sách.txt
Thâm hụt ngân sách trong kinh tế học vĩ mô và kinh tế học công cộng là tình trạng các khoản chi của ngân sách Nhà nước (ngân sách chính phủ) lớn hơn các khoản thu, phần chênh lệch chính là thâm hụt ngân sách. Trường hợp ngược lại, khi các khoản thu lớn hơn các khoản chi được gọi là thặng dư ngân sách. Thu của chính phủ không bao gồm khoản đi vay. Đi vay chính là một cách mà chính phủ tài trợ cho thâm hụt ngân sách. Trong lịch sử, phát hành thêm tiền đã từng là một cách tài trợ cho thâm hụt ngân sách, nhưng do hậu quả nghiêm trọng của nó là dẫn đến lạm phát ở mức cao nên ngày nay cách này hầu như không được chính phủ của bất cứ quốc gia nào sử dụng nữa. Do chính phủ bù đắp cho thâm hụt ngân sách bằng cách đi vay, nên lũy kế các khoản thâm hụt ngân sách chính phủ đến một thời điểm nào đó chính là nợ chính phủ. == Thâm hụt cơ cấu và thâm hụt chu kỳ == Tài chính công hiện đại phân loại thâm hụt ngân sách thành hai loại: thâm hụt cơ cấu và thâm hụt chu kỳ. Thâm hụt cơ cấu là các khoản thâm hụt được quyết định bởi những chính sách tùy biến của chính phủ như quy định thuế suất, trợ cấp bảo hiểm xã hội hay quy mô chi tiêu cho giáo dục, quốc phòng,... Thâm hụt chu kỳ là các khoản thâm hụt gây ra bởi tình trạng của chu kỳ kinh tế, nghĩa là bởi mức độ cao hay thấp của sản lượng và thu nhập quốc dân. Ví dụ khi nền kinh tế suy thoái, tỷ lệ thất nghiệp tăng sẽ dẫn đến thu ngân sách từ thuế giảm xuống trong khi chi ngân sách cho trợ cấp thất nghiệp tăng lên. Giá trị tính ra tiền của thâm hụt cơ cấu và thâm hụt chu kỳ được tính toán như sau: Ngân sách thực có: liệt kê các khoản thu, chi và thâm hụt tính bằng tiền trong một giai đoạn nhất định (thường là một quý hoặc một năm). Ngân sách cơ cấu: tính toán thu, chi và thâm hụt của chính phủ sẽ là bao nhiêu nếu nền kinh tế đạt mức sản lượng tiềm năng. Ngân sách chu kỳ: là chênh lệch giữa ngân sách thực có và ngân sách cơ cấu. Việc phân biệt giữa ngân sách cơ cấu và ngân sách chu kỳ phản ánh sự khác nhau giữa chính sách tài chính: chính sách ổn định tùy biến và chính sách ổn định tự động. Việc phân biệt hai loại thâm hụt trên đây có tác dụng quan trọng trong việc đánh giá ảnh hưởng thực sự của chính sách tài chính khi thực hiện chính sách tài chính mở rộng hay thắt chặt sẽ ảnh hưởng đến thâm hụt ngân sách như thế nào giúp cho chính phủ có những biện pháp điều chỉnh chính sách hợp lý trong từng giai đoạn của chu kỳ kinh tế == Xem thêm == Xem thêm thông tin: Chính sách tài chính, Nợ chính phủ, và Ngân sách Nhà nước == Tham khảo == Samuelson, Paul A. and Nordhaus, Wiliam D. (2007), Kinh tế học, Nhà xuất bản Tài chính, Hà Nội.
ngày quốc tế lao động.txt
Ngày Quốc tế Lao động hay ngày 1 tháng 5 là ngày lễ kỷ niệm và ngày hành động của phong trào công nhân quốc tế và của người lao động. Vào các ngày 1 tháng 5, tại nhiều nước trên thế giới, có khi tại Mỹ và Canada, thường có các cuộc biểu tình trên đường phố của hàng triệu người lao động và các tổ chức công đoàn của họ. Vào ngày này, các phong trào cộng sản, cánh tả, các tổ chức theo chủ nghĩa vô chính phủ cùng với các công đoàn liên minh thực hiện các cuộc tuần hành trên đường phố yêu cầu mở rộng các quyền lao động và an sinh xã hội. == Lịch sử == Năm 1886, tại thành phố công nghiệp lớn Chicago, Đại hội Liên đoàn Lao động Mỹ thông qua nghị quyết nêu rõ: "...Từ ngày 1/5/1886, ngày lao động của tất cả các công nhân sẽ là 8 giờ". Sở dĩ ngày 1/5 được chọn bởi đây là ngày bắt đầu một năm kế toán tại hầu hết các nhà máy, xí nghiệp ở Mỹ. Vào ngày này, hợp đồng mới giữa thợ và chủ sẽ được ký. Giới chủ tư bản có thể biết trước quyết định của công nhân mà không thể kiếm cớ chối từ. Ngày 1/5/1886, do yêu cầu của công nhân không được đáp ứng một cách đầy đủ, giới công nhân trên toàn nước Mỹ đã tham gia bãi công nhằm gây áp lực buộc giới chủ thực hiện yêu sách của mình. Đầu tiên là cuộc bãi công tại thành phố Chicago. Khoảng 40 nghìn người không đến nhà máy. Họ tổ chức mit-tinh, biểu tình trên thành phố với biểu ngữ "Từ hôm nay không người thợ nào làm việc quá 8 giờ một ngày! Phải thực hiện 8 giờ làm việc, 8 giờ nghỉ ngơi, 8 giờ vui chơi!" Cuộc đấu tranh lôi cuốn ngày càng đông người tham gia. Cũng trong ngày hôm đó, tại các trung tâm công nghiệp khác trên nước Mỹ đã nổ ra 5.000 cuộc bãi công với 340 nghìn công nhân tham gia. Ở Washington, New York, Baltimore, Boston... hơn 125.000 công nhân giành được quyền ngày chỉ phải làm 8 giờ. Các cuộc biểu tình bị đàn áp nặng nề. Giới chủ đuổi những công nhân bãi công, thuê người làm ở các thành phố bên cạnh, thuê bọn khiêu khích và cảnh sát đàn áp, phá hoại cuộc đấu tranh của công nhân. Đặc biệt, ở Chicago, cảnh sát đã xả súng vào đoàn người tay không, làm 4 người chết, hơn 70 bị thương và trên 100 người bị bắt. Các xung đột xảy ra dữ dội khiến hàng trăm công nhân chết và bị thương, nhiều thủ lĩnh công đoàn bị bắt... gây nên sự kiện thảm sát Haymarket năm 1886 tại Chicago, Mỹ. Nhưng cuối cùng, giới chủ phải chấp nhận yêu sách của công nhân. Ngày 20/6/1889, ba năm sau "thảm kịch" tại thành phố Chicago, Quốc tế cộng sản lần II nhóm họp tại Paris (Pháp). Dưới sự lãnh đạo của Friedrich Engels, Đại hội lần thứ nhất của Quốc tế Cộng sản II đã quyết định lấy ngày 1/5 hàng năm làm ngày biểu dương lực lượng và đấu tranh chung của tầng lớp vô sản các nước. == Xem thêm == Ngày tưởng niệm của Người lao động == Chú thích == == Tham khảo == == Liên kết ngoài == Ngày Quốc tế Lao động tại Từ điển bách khoa Việt Nam
pubmed.txt
PubMed là một cơ sở dữ liệu miễn phí truy cập chủ yếu qua cơ sở dữ liệu MEDLINE về các tài liệu tham khảo và tóm tắt về các chủ đề khoa học đời sống và y sinh học. Thư việt Y học Quốc gia Hoa Kỳ (NLM) tại Viện Y tế quốc gia Hoa Kỳ duy trì hoạt động của cơ sở dữ liệu là một phần trong hệ thống truy cập thông tin Entrez. PubMed được phát hành đầu tiên vào tháng 1 năm 1996. == Định danh PubMed == Định danh PubMed hay PMID là một số duy nhất cấp cho mỗi bản ghi PubMed. Việc cấp một PMID hay PMCID cho một ấn phẩm không thể cho người đọc biết điều gì về loại hay chất lượng nội dung của ấn phẩm đó. PMID được cấp cho các bức thư gởi đến biên tập viên, các ý kiến của biên tập viên, op-ed columns, và bất kỳ phần nào mà biên tập viên chọn bao gồm trong tạp chí, cũng như các bài báo được xét duyệt. Số định danh này cũng không là bằng chứng cho thấy rằng các bài báo không được rút lại do gian lận, chưa hoàn chỉnh, hoặc sai. Việc thông báo để chỉnh sửa bài báo gốc có thể được cấp số PMID. == Tham khảo ==
normandie.txt
Normandie (tiếng Normandy: Normaundie) là một địa phận ở tây bắc nước Pháp, dọc bờ biển Manche, giữa Bretagne (phía tây) và Picardie (phía bắc). == Tham khảo ==
ga đại học giáo dục quốc gia gyeongin.txt
Ga đại học giáo dục quốc gia Gyeongin là ở quận Gyeyang của thành phố đô thị Incheon ở Hàn Quốc. Nhà ga này được mở cửa vào năm 1999 với tên là ga đại học giáo dục quốc gia Incheon. Năm 2003, tên này được thay đổi theo tên của trường đại học. Trường đại học đổi tên thành đại học giáo dục quốc gia Gyeongin. == Vùng lân cận == Lối thoát 1: Trường tiểu học Bupyeong, chợ Gyesan Lối thoát 2: Cơ quan Gyesan Lối thoát 3: Quận Gyeyang Lối thoát 4: Đại học giáo dục Gyeongin Lối thoát 5: Bupyeong Hyanggyo Lối thoát 6: Trường trung học BukIncheon == Hành khách == == Tham khảo ==
nhạc phúc âm.txt
Thuật từ Nhạc Phúc âm thường được dùng để chỉ thể loại nhạc tôn giáo khởi phát từ các giáo đoàn của người Mỹ gốc Phi. Tuy nhiên, trong ý nghĩa rộng lớn hơn, có hai thể loại nhạc phúc âm: một của người da đen, loại còn lại là nhạc tôn giáo được những nghệ sĩ Cơ Đốc da trắng ngụ cư tại miền Nam nước Mỹ sáng tác và trình diễn. Trong khi sự tách biệt giữa hai thể loại âm nhạc này không bao giờ có giá trị tuyệt đối - cả hai đều bắt nguồn từ thánh ca và giới nghệ sĩ thuộc hệ phái Giám Lý - sự chia cắt sâu sắc giữa một nước Mỹ thuộc về người da trắng và một nước Mỹ thuộc về người da đen, nhất là giữa các giáo hội của người da đen và của người da trắng trong bối cảnh lịch sử thời ấy, đã khiến hai thể loại âm nhạc tách rời khỏi nhau. Và mặc cho sự phân biệt được thu hẹp dần trong năm mươi năm qua, hai thể loại này của nhạc phúc âm vẫn tiếp tục tồn tại như là hai thực thể riêng biệt. Khởi phát từ đầu thế kỷ 17 và được phổ biến trong cộng đồng da đen theo phương pháp truyền khẩu. Những bản thánh ca và nhạc tâm lýnh được lặp đi lặp lại theo thể đối đáp. Người hát thường vỗ tay và dậm chân để giữ nhịp. Hầu hết các bài hát đều được thể hiện theo phong cách a cappella. Lần đầu tiên những ca khúc này được xuất bản dưới tên "Nhạc Phúc âm" là vào năm 1874. Các tác giả đầu tiên của dòng nhạc Phúc âm là George F. Root, Philip Bliss, Charles H. Gabriel, William Howard Doane, và Fanny Crosby, rồi bắt đầu hình thành những nhà xuất bản cho dòng nhạc mới này. Sau thế chiến thứ hai, nhạc phúc âm tìm được chỗ đứng của mình trong những thính phòng lớn, và được tổ chức công phu hơn. Trong cả hai truyền thống, trong khi một số ca sĩ như Mahalia Jackson tự giới hạn mình chỉ trình diễn trong khung cảnh tôn giáo, thì những người khác như nhóm Tứ ca Golden Gate, và Clara Ward chấp nhận trình diễn nhạc phúc âm trong môi trường thế tục, ngay cả tại các hộp đêm. Những nghệ sĩ này vẫn thường trình bày các ca khúc phúc âm trong các buổi trình diễn nhạc thế tục, mặc dù không có ca sĩ nào trình diễn các ca khúc thế tục trong các chương trình nhạc phúc âm. Tuy vẫn được xem là một hiện tượng của nước Mỹ, Nhạc Phúc âm đã lan tỏa khắp nơi trên thế giới, điển hình là tại Úc với các ca đoàn như The Elementals và Jonah & The Whalers cùng những festival như Festival Nhạc Phúc âm Úc. == Nhạc Phúc âm Da đen == Hiện tượng âm nhạc mà hầu hết mọi người ngày nay nhìn nhận như là "nhạc tôn giáo của người Mỹ gốc Phi dựa trên các ca đoàn nhà thờ với những giọng đơn ca điêu luyện đã có một khởi đầu 80 năm trước đây không giống như hiện nay. Nhạc Phúc âm mà Thomas A. Dorsey (nổi tiếng với ca khúc "Take My Hand, Precious Lord"), Sallie Martin, Tiến sĩ Mattie Moss Clark, Willie Mae Ford Smith, và những nhà tiên phong khác đã khổ công biến thành một thể loại âm nhạc được công chúng yêu thích, bắt nguồn từ những hình thức khoáng đạt được sử dụng để biểu thị lòng mộ đạo tại các nhà thờ thuộc Phong trào Thánh khiết nhằm khuyến khích tín hữu "làm chứng", thuật lại, hoặc ca hát cách tự phát về đức tin, và những trải nghiệm của họ khi được Chúa Thánh Linh "thăm viếng", cũng như tình trạng ngập tràn phước hạnh trong tâm linh, đôi khi họ nhảy múa như một cách biểu đạt cảm xúc. Nhạc phúc âm đô thị đương đại còn được gọi là nhạc phúc âm của người da đen. Nhạc phúc âm blues là sự kết hợp của nhạc blues với ca từ phúc âm. Nhạc phúc âm miền Nam được trình diễn bởi những nhóm tứ ca nam với hai giọng tenor và bass. Nhạc đồng quê Cơ Đốc là một thể loại nhạc phúc âm với âm điệu đồng quê. Dòng nhạc này đạt đến đỉnh cao vào giữa thập niên 1990. Nhạc phúc âm Bluesgrass bắt nguồn từ âm nhạc ở vùng cao nước Mỹ. Nhạc phúc âm Celtic mang âm hưởng Celtic, được yêu thích tại những xứ sở như Ireland. Nhạc phúc âm da đen ở Anh phổ biến trong cộng đồng di dân đến từ châu Phi. Ngày nay, bất kể những dị biệt lịch sử ấy, nhạc phúc âm được chấp nhận rộng rãi trong các giáo hội Cơ Đốc. === Thế kỷ 19 === Khởi phát từ đầu thế kỷ 17, nhạc phúc âm bắt nguồn từ những trải nghiệm tâm linh của người Mỹ gốc Phi, được phổ biến và lưu truyền qua truyền khẩu, ca từ của những bài hát thuộc dòng nhạc này được lặp lại nhiều lần, chính yếu tố này giúp những người da đen không biết chữ có cơ hội tham gia vào các buổi lễ thờ phượng. Trong thời kỳ này, người ta thường hát thánh ca và nhạc tâm linh theo thể đối đáp, dần dà phong cách này được chấp nhận như là một phần của nền âm nhạc người châu Phi, có tác dụng gắn kết các cá nhân trong cộng đồng. Trong nhà thờ, khi hát người ta thường vỗ tay và dậm chân để giữ nhịp. Đàn guitar và trống lục lạc (tambourine) thi thoảng mới được sử dụng. Hầu hết đều hát không nhạc đệm. Thuật từ “Ca khúc Phúc âm” xuất hiện lần đầu tiên vào năm 1874 khi Philip Bliss xuất bản quyển Ca khúc Phúc âm: Tuyển tập Thánh ca. Thuật từ này được dùng để miêu tả một thể loại mới trong nền âm nhạc tôn giáo, đó là những bài hát dễ cảm thụ với giai điệu dễ nhớ và ca từ dễ thuộc, bắt nguồn từ phong trào chấn hưng tâm linh của Dwight L. Moody với Ira D. Sankey phụ trách phần âm nhạc. Dòng nhạc này được yêu thích trong những buổi truyền giảng phục hưng tổ chức tại các thành phố lớn. George F. Root, Philip Bliss, Charles H. Gabriel, William Howard Doane, và Fanny Crosby là những nhà sáng tác nổi bật trong thời kỳ sơ khai của dòng nhạc phúc âm. === Thế kỷ 20 (thập niên 1920 - 1940) === Trong thập niên 1920, các "nghệ sĩ được thánh hóa", điển hình như Arizona Dranes - nhiều người trong số họ cũng là những nhà thuyết giáo du hành - khởi sự ghi âm các ca khúc theo cách pha trộn các chủ đề tôn giáo với kỹ thuật barrelhouse, blues và boogi woogie, cũng như bắt đầu đem các loại nhạc cụ của nhạc jazz, như trống và kèn, vào nhà thờ. Cần ghi nhớ rằng nhạc phúc âm không chỉ đơn giản là một loại hình âm nhạc, mà còn là một phần tinh tế trong các trải nghiệm tôn giáo của các tín hữu. Từ thập niên 1920, công nghiệp truyền thanh làm gia tăng đáng kể số lượng thính giả nghe nhạc phúc âm. Arizona Dranes, một trong những giọng ca nữ đầu tiên của dòng nhạc phúc âm, là người đầu tiên giới thiệu phong cách ragtime cho dòng nhạc này. Trong cộng đồng người Mỹ gốc Phi, sau những thành công của nhóm Fisk Jubilee Singers, phong cách a cappella được ưa chuộng nhiều hơn qua sự trình bày của các nhóm tứ ca. Thập niên 1930 chứng kiến sự xuất hiện của những nhóm nhạc như Tứ ca Fairfield, Dixie Hummingbirds, Five Blind Boys of Mississippi, Five Blind Boys of Alabama, Soul Stirrers, Swan Silvertones, Charioteers, và Tứ ca Golden Gate. Trong thời kỳ nô lệ, những tín hữu da đen bị xem là thấp hèn trong nhà thờ của người da trắng, nhưng sau khi được giải phóng, người da đen tự thiết lập những giáo đoàn cho chính họ. Các nhóm nhạc phúc âm rất được yêu thích trong cộng đồng da đen, mặc dù chỉ có ít người da trắng bắt đầu quan tâm đến. Trong hai thập niên, 1920 – 30, ngoài những nhóm tứ ca nổi tiếng, còn có nhiều nghệ sĩ trình bày nhạc phúc âm, thường thì với đàn guitar họ hát trên đường phố ở những khu đô thị miền Nam. Thập niên 1930 ở Chicago xuất hiện một tên tuổi mới, về sau trở thành một trong số những người tạo lập nhiều ảnh hưởng trong dòng nhạc phúc âm: Thomas A. Dorsey. Trước khi đến với dòng nhạc phúc âm sau những thử thách và trải nghiệm trong đời sống tâm linh, kể cả cái chết đột ngột của người vợ đang mang thai, Dorsey đã dành suốt thập niên 1920 để sáng tác và trình diễn nhạc blues dưới nghệ danh Georgia Tom. Nhận lãnh kiến thức Kinh Thánh từ cha, một mục sư Baptist, và kỹ năng trình diễn piano từ mẹ, Dorsey trở thành nhạc sĩ blues khi gia đình dời đến Atlanta. Dorsey là người có công phát triển sự nghiệp âm nhạc của nhiều nghệ sĩ da đen, trong đó có Mahalia Jackson. Ông tổ chức các hội nghị thường niên cho giới nghệ sĩ, cùng Martin đi khắp nơi để bán nhạc tờ (sheet music), cuối cùng ông đã thành công trong nỗ lực vượt qua mọi trở ngại thường gặp tại các nhà thờ có khuynh hướng bảo thủ, ở đây loại nhạc mới được xem là trần tục và tội lỗi. Cung cách thể hiện phóng khoáng này ảnh hưởng đến các thể loại nhạc tôn giáo khác của người da đen. Những nhóm nhạc được yêu thích nhất thường là các nhóm tứ ca nam hoặc những nhóm nhỏ như Tứ ca Golden Gate. Họ hát, thường không có nhạc đệm (a cappella), với cách thể hiện vui tươi sinh động, hòa âm được soạn kỹ, giai điệu du dương, kỹ thuật chuyển âm điêu luyện, đã tạo ra một phong cách thể nghiệm tươi mới khác xa với cách hát thánh ca trầm lắng theo truyền thống. Chịu ảnh hưởng những nhóm nhạc pop như The Mill Brothers, các nhóm nhạc này cho ra mắt những ca khúc pha trộn các chủ đề tôn giáo quen thuộc với những cảm nhận về các vấn đề chính trị và xã hội. Ảnh hưởng của Phúc âm ngày càng được nhận thấy rõ hơn, khi họ đem loại hình âm nhạc mới này vào vốn liếng âm nhạc sẵn có của mình. === Thời Hoàng kim (thập niên 1940 - thập niên 1950) === Sau thế chiến thứ hai, vị trí của nhạc phúc âm được nâng cao khi những buổi hòa nhạc được chuẩn bị chu đáo hơn và được mời trình diễn trong những thính đường có uy tín như Carnegie Hall với Festival Nhạc Phúc âm Da đen và Âm nhạc Tôn giáo do Joe Bostic tổ chức trong năm 1950. Năm sau, ông thực hiện tiếp một festival với quy mô lớn hơn, đến năm 1959, festival được dời đến Madison Square Garden. Nhạc phúc âm được sáng tác bởi Dorsey, và bởi những nhạc sĩ khác, trở nên rất thịnh hành với các nhóm tứ ca, các nhóm này khởi sự chuyển sang một hướng mới. Các nhóm như Dixie Hummingbirds, Pilgrim Travelers, Soul Stirrirs, Swan Silverstones, Sensational Nightingales, và Five Blind Boys of Mississippi đem đến một cách thể hiện phóng khoáng hơn cho những phối âm đóng của phong cách lễ hội, thêm khoảng trống cho những ngẫu hứng, và sử dụng những phân đoạn ngắn được lặp lại nhiều lần trong nhạc nền để duy trì nhịp điệu căn bản cho những sáng tạo của ca sĩ chính. Thành viên của các nhóm tứ ca thường kết hợp phần phô diễn tính điêu luyện của giọng ca đơn với phần hợp ca đầy ngẫu hứng theo những nhịp điệu luôn được cải biên, giúp biểu đạt những cung bậc cảm xúc và thể hiện được tính nghệ thuật qua các ca khúc được trình bày. Trong những thập niên 1940 và 1950, khi các nhóm tứ ca lên đến đỉnh cao, cũng là lúc một số giọng ca nữ bắt đầu bước vào vùng hào quang của các ngôi sao. Những ngôi sao như Mahalia Jackson, và Bessie Griffin chuyên về đơn ca, trong khi những người khác như Clara Ward, The Caravans, The Davis Sisters, và Dorothy Love Coates, trình diễn với những nhóm nhỏ. Hầu hết các giọng ca nữ thuộc dòng nhạc phúc âm gây dựng sự nghiệp ca hát của mình dựa trên sức mạnh kỹ thuật và sức thu hút của lời chứng về những trải nghiệm tôn giáo của chính họ. Trong các giọng ca nữ này nổi bật hơn cả là Roberta Martin ở thành phố Chicago. Martin lãnh đạo những nhóm nhạc có cả ca sĩ nam lẫn nữ, trình diễn theo phong cách tập thể hơn là chú trọng vào sự phô diễn tính điêu luyện của giọng ca đơn; Martin cũng là người bảo trợ những nghệ sĩ hoạt động độc lập như James Cleveland, Cleveland là nhân vật trong những thập niên kế tiếp đã làm thay đổi bộ mặt của dòng nhạc phúc âm. === Các Ca đoàn và những Ngôi sao (thập niên 1960 đến nay) === Cleveland và Alex Bradford mang đến một bầu không khí mới cho dòng nhạc phúc âm, khi họ khởi sự thành lập những ca đoàn đông đảo và những tổ chức lớn với kỷ luật làm việc tốt, sử dụng phối âm phức tạp, giúp tiếng hát của toàn thể ca đoàn thể hiện những tiết tấu thu hút, những hòa âm tinh tế, và hỗ trợ cho những giọng hát thuộc các nhóm tứ ca của thời kỳ vàng son phô diễn chất giọng và kỹ năng điêu luyện của mình. The Brooklyn Tabernacle Choir, và The Mississippi Mass Choir là hai ca đoàn nổi tiếng nhất trong số hàng trăm ca đoàn của các nhà thờ địa phương. Giống Dorsey và những nhà tiên phong khác đã vay mượn từ nhạc blues và nhạc jazz, những ngôi sao nhạc phúc âm gần đây như Andrae Crouch, CeCe Winans và Take 6 tiếp cận với ảnh hưởng của nhạc pop, trong khi những người khác như Kirk Franklin đem một số yếu tố của nhạc hip hop vào dòng nhạc phúc âm. Sự chấm dứt luật phân biệt chủng tộc tại miền Nam nước Mỹ đã làm thay đổi điểm tập chú của nhạc phúc âm. Suốt trong thời kỳ phân biệt chủng tộc với những biện pháp bất công và khắc nghiệt áp đặt trên người da đen, trong vòng các nhà thờ có thái độ phi chính trị thuộc Phong trào Thánh khiết, nhạc phúc âm chỉ có thể diễn đạt những than thở kín đáo ví như ca từ "Khi lên đến Thiên đàng tôi sẽ ca hát và kêu to/ vì không còn ai tống cổ tôi ra"; người nghe sẽ hiểu được ý nghĩa ẩn giấu đằng sau những ca từ này. Chẳng có gì đáng ngạc nhiên khi bùng nổ Phong trào Dân quyền (được soi dẫn bởi tinh thần bất bạo động của Mục sư Martin Luther King, Jr., theo đuổi những biện pháp ôn hòa nhằm đấu tranh cho quyền hiến định của người da đen) nhạc phúc âm trở nên một loại "nhạc hiệu" cho phong trào. Ngày nay nhạc phúc âm tập chú vào thông điệp như sự cần thiết phải có những trải nghiệm cá nhân về sự cứu rỗi. === Ảnh hưởng của Nhạc Phúc âm === Những nghệ sĩ nhạc phúc âm, từng chịu ảnh hưởng trào lưu nhạc pop trong nhiều năm, đến phiên mình gây ảnh hưởng đáng kể trên dòng nhạc rhythm và blues (R&B); những nhóm nhạc như Orioles, Ravens và Flamingos đã ứng dụng kỹ thuật a cappella của các nhóm tứ ca nhạc phúc âm cho các ca khúc nhạc pop vào cuối thập niên 1940, và suốt trong thập niên 1950. Những nghệ sĩ nhạc phúc âm hoạt động độc lập như Sam Cooke, và những nghệ sĩ nhạc thế tục như Ray Charles, và James Brown, từng vay mượn nhiều từ nhạc phúc âm, đã tạo nên dấu ấn đậm nét trong thập niên 1950, khi giúp kiến tạo dòng nhạc soul bằng cách mang nhiều hơn tính chất của nhạc phúc âm vào trong nhạc rhythm và nhạc blues. Có lẽ Elvis Presley là nghệ sĩ nhạc phúc âm vĩ đại nhất, mặc dù ông cũng là đại thụ trong giới nhạc rock’n roll, và nhạc đồng quê. Presley yêu thích những ca khúc nhạc phúc âm như "Why me Lord", "How great Thou art" (Lớn Bấy Duy Ngài), và "You’ll never walk alone". Nhiều người trong số các nghệ sĩ nổi tiếng của dòng nhạc soul như Aretha Franklin, Marvin Gaye, Wilson Pickett và Al Green, đều xuất thân từ các ca đoàn nhà thờ và dòng nhạc phúc âm, vì vậy họ mang theo mình nhiều âm hưởng từ cung cách trình diễn ca khúc của những ca sĩ nhạc phúc âm như Clara Ward và Julius Cheeks. Những nhạc sĩ sáng tác nhạc thế tục thường cải biên một số bài hát nhạc phúc âm như ca khúc "I’ve Got A New Home" của nhóm Pilgrim Traveler đã được Ray Charles soạn lại thành ca khúc "Lonely Avenue", hay bài hát "Stand By Me" được Ben E. King cùng Lieber và Stoller soạn lại từ một ca khúc nhạc phúc âm nổi tiếng. == Nhạc Phúc âm Da trắng == Vẫn thường được gọi là nhạc phúc âm miền Nam hoặc nhạc phúc âm đồng quê để phân biệt với nhạc phúc âm của người da đen, nhạc phúc âm da trắng đi theo một lộ trình khác trong suốt tám mươi năm qua. Một phần nguồn gốc của nhạc phúc âm da trắng được tìm thấy trong các tác phẩm của Aldine S. Kieffer, và Ephraim Ruebush. Dòng nhạc này được phát triển bởi những giáo viên âm nhạc lưu động, các nhóm tứ ca nhạc phúc âm, và các công ty xuất bản nhạc như A.J. Showalter (1879), James D. Vaughan Publishing, và Stamps-Baxter Music and Printing. Nhạc phúc âm miền Nam tìm thấy nguồn cảm hứng sáng tác trong bối cảnh tôn giáo của các giáo đoàn thuộc Phong trào Thánh khiết, khi ấy đang phát triển mạnh trên khắp miền Nam trong những thập niên đầu của thế kỷ 20 để kiến tạo một nền âm nhạc mới, bổ sung cho những bài thánh ca truyền thống của thế kỷ 18 và 19, hình thành nên những hình thái mới trong nghi thức thờ phượng. Có những nghệ sĩ nhạc phúc âm đồng quê, như Carter Family, giành được tình cảm của đông đảo người nghe qua các đĩa nhạc và các chương trình trên sóng phát thanh trong thập niên 1920 và 1930. Những người khác, như Homer Rodeheaver, George Beverly Shea hay Cliff Barrows, là những ca sĩ nổi tiếng nhờ xuất hiện thường xuyên trong các chiến dịch truyền giảng Tin Lành của những nhà truyền bá phúc âm du hành như Billy Sunday hoặc Billy Graham. Thành phố Hartford, Tiểu bang Arkansas, suốt một thời được xem là ốc đảo của ngành xuất bản nhạc phúc âm, nơi đặt bản doanh của Công ty Âm nhạc Hartford với sự cộng tác của các tài năng âm nhạc như Albert E. Brumley (sáng tác ca khúc "I’ll Fly Away"), và E. M. Barlett (sáng tác ca khúc "Victory in Jesus"). Trong số những nghệ sĩ trình diễn nhạc phúc âm miền Nam thành công nhất phải kể đến Tứ ca The Statesmen, The Blackwood Brothers, Jordanaires, J.D. Summer, Tứ ca Stamps, Oak Ridge Boys, The Happy Goodman Family và The Cathedrals. Cũng giống nhạc phúc âm của người da đen, khán giả nhạc phúc âm của người da trắng phần lớn là các tín hữu thường đến dự các buổi lễ thờ phượng tại nhà thờ, không phải lúc nào cũng đồng ý tha thứ các ngôi sao của họ, khi những nghệ sĩ này từ bỏ dòng nhạc phúc âm để quay sang thể loại âm nhạc khác, như trường hợp của Oak Ridge Boys với chọn lựa mới là dòng nhạc pop. Có những nhóm truyền thống khác như The Imperials, góp phần cho sự phát triển của nền âm nhạc Cơ Đốc đương đại. Trong những năm gần đây, nhạc phúc âm miền Nam chứng kiến sự hồi sinh khi đông đảo người hâm mộ trở lại với dòng nhạc này nhờ những thành công của Bill và Gloria Gaither khi họ cho phát hành một loạt băng video "Homecoming", tập hợp những giọng ca huyền thoại của dòng nhạc phúc âm miền Nam cùng trình diễn với nhiều ngôi sao đương đại như The Gaither Vocal Band, The Hoppers và Ernies Haase & Signature Sound. Hiệp hội Nhạc Phúc âm là tập hợp chủ lực của giới nghệ sĩ nhạc phúc âm với nhiều nhân vật nổi tiếng trong mọi lãnh vực của nhạc phúc âm. Hiệp hội Nhạc Phúc âm miền Nam đặc biệt chú trọng vào nhạc phúc âm miền Nam, có một Sảnh Vinh Danh (Hall of Fame), và một viện bảo tàng tọa lạc trong khuôn viên của công viên chủ đề Dollywood tại Pigeon Forge, Tiểu bang Tennessee. == Xem thêm == Mahalia Jackson Nhạc Blues Nhạc Jazz R&B Đại Tỉnh thức Phong trào Tin Lành Phong trào Giám Lý == Chú thích == == Liên kết ngoài == Thánh Ca Take My Hand, Precious Lord (Elvis Presley) - YouTube Elvis Presley - How Great Thou Art Lớn Bấy Duy Ngài - YouTube Mahalia Jackson - Precious Lord Take My Hand - YouTube MAHALIA JACKSON Live late 1960's We shall overcome - YouTube Gospel Music Association web site Gospel Music Channel web site Music Home Page James D. Vaughan Publishing and School of Music Handbook of Texas Online: Gospel Music Lyrics to Christian Songs and Christian Hymns Gaelic-gospel link is ‘academic racism’ - Christian Gospel Rock Music black gospel music Gospel Rap & Hip Hop Gospel music radio stations Albert Brumley, Sr., Gospel Songs - Gospel Today GOSPELflava - News of the Gospel Music Industry [1] - Gaither Homecoming website [2] - Southern Gospel News [3] - AGQC Convention and Quartet Preservation Website
3 tháng 4.txt
Ngày 3 tháng 4 là ngày thứ 93 trong mỗi năm thường (ngày thứ 94 trong mỗi năm nhuận). Còn 272 ngày nữa trong năm. == Sự kiện == 1329 – Nguyên Văn Tông phái người đem bảo tỉ hoàng đế dâng cho Nguyên Minh Tông, chính thức nhượng lại hoàng vị triều Nguyên và hãn vị đế quốc Mông Cổ. 1922 – Joseph Stalin trở thành Tổng bí thư đầu tiên của Đảng Cộng sản Liên Xô. 1948 – Tổng thống Hoa Kỳ Harry S. Truman ký Kế hoạch Marshall, theo đó giành 5 tỷ Đô la Mỹ để viện trợ cho 16 quốc gia. 1948 – Tại đảo Jeju, Nam Triều Tiên bùng phát hành động khởi nghĩa vũ trang, kết quả làm 30.000 người thiệt mạng do xung đột. 1969 – Chiến tranh Việt Nam: Bộ trưởng Quốc phòng Hoa Kỳ Melvin Laird thông báo Hoa Kỳ sẽ bắt đầu nỗ lực "Việt Nam hóa chiến tranh". 1992 – Đại hội đại biểu Nhân dân toàn quốc Trung Quốc thông qua quyết nghị liên quan đến việc xây dựng đập Tam Hiệp trên Trường Giang. 2016 – Công bố một bộ gồm 11,5 triệu tài liệu mật từ công ty Mossack Fonseca tại Panama, có thông tin chi tiết về hơn 214.000 công ty ngoài khơi. == Sinh == 1845 - Đào Tấn, nhà soạn tuồng nổi tiếng, ông tổ hát bội Việt Nam (m. 1907). == Mất == 1287 – Giáo hoàng Honorius IV (s. khoảng năm 1210) 1897 – Johannes Brahms, nhà soạn nhạc (s. năm 1833) 1981 – Juan Trippe, nhà doanh nghiệp và người tiên phong trong hàng không, sáng lập ra Pan American World Airways (s. 1899) == Ngày lễ và ngày kỷ niệm == == Tham khảo ==
dấu chấm.txt
Dấu chấm (.) là một dấu câu được sử dụng rộng rãi trên thế giới và là một trong mười dấu câu của tiếng Việt. Dấu chấm dùng ở cuối câu tường thuật. Điều đó có nghĩa là câu đã kết thúc. Trong tiếng Việt, khi đọc, phải ngắt đoạn ở dấu chấm, là chỗ có quãng ngắt tương đối dài hơn, so với dấu phẩy, dấu chấm phẩy. Dấu chấm cũng là yếu tố tạo thành dấu khác, thường tên của dấu làm từ dấu chấm có chữ chấm trong đó như: dấu chấm hỏi (?), dấu chấm cảm (!), dấu chấm phẩy (;), dấu hai chấm (:),... Khi ba dấu chấm đứng kế nhau (...), chúng được gọi là ba chấm hay dấu lửng. Khi dùng với số, dấu chấm thường dùng để phân tách phần nguyên và phần thập phân của số, ví dụ 1.234. Tại Việt Nam, người ta thường dùng dấu phẩy cho chức năng này. Dấu chấm có thể dùng để đánh dấu dự viết tắt: Pty. Ltd. Các đại từ xưng hô trong tiếng Anh rất thường được viết tắt với dấu chấm: Mr.; Dr.; Mrs.... == Lịch sử == == Xem thêm == Dấu câu == Chú thích ==
złoty stok.txt
Złoty Stok là một thị trấn thuộc huyện Ząbkowicki, tỉnh Dolnośląskie ở miền tây nam Ba Lan. Thị trấn có diện tích 8 km². Đến ngày 1 tháng 1 năm 2011, dân số của thị trấn là 2879 người và mật độ 372 người/km². == Tham khảo ==
hà lan.txt
Hà Lan, còn gọi là Hoà Lan (tiếng Hà Lan: Nederland, tiếng Anh: Netherlands), là một quốc gia nằm ở châu Âu. Dù không được công nhận chính thức nhưng quốc gia này được xem như là chính quốc trong bốn quốc gia cấu thành của Vương quốc Hà Lan, cương vực bao gồm Hà Lan bản thổ nằm ở tây bắc châu Âu và một số đảo ở vùng biển Caribe. Hà Lan bản thổ chiếm đại bộ phận lãnh thổ Hà Lan, phía bắc và phía tây giáp biển Bắc, phía đông giáp nước Đức, phía nam giáp nước Bỉ. Hà Lan là một trong những quốc gia có mật độ dân số cao và nằm thấp nhất so với mực nước biển trên thế giới. Hà Lan có khoảng 27% diện tích và 60% dân số nằm ở khu vực có độ cao dưới mực nước biển. Và Hà Lan nổi tiếng với các con đê, cối xay gió, giày gỗ, hoa tulip và sự đa dạng về xã hội. Các chính sách tự do của quốc gia này thông thường được đề cập tới ở nước ngoài. Quốc gia này là nơi đặt trụ sở của Tòa án Quốc tế vì Công lý. Amsterdam là thủ đô chính thức được công nhận trong hiến pháp. Den Haag (hay còn gọi là La Haye theo tiếng Pháp) là thủ đô hành chính (nơi hội họp của chính phủ), nơi ở của Nhà vua, và là nơi đặt trụ sở của nhiều đại sứ quán, của Toà án quốc tế. Hà Lan cũng là một trong những quốc gia đầu tiên trên thế giới cho phép sử dụng ma tuý công khai; công nhận mại dâm như một nghề hợp pháp, khu phố mại dâm hay còn gọi là khu Đèn Đỏ ở Amsterdam còn là một điểm đến trong hầu hết các tour du lịch. Hà Lan cũng đi tiên phong trong việc công nhận kết hôn đồng giới. Hà Lan đứng thứ năm trong danh sách năm 2004 về đánh giá các quốc gia theo tiêu chuẩn mức sống, sau Na Uy, Thụy Điển, Úc và Canada. == Tên gọi == Các danh xưng "Hà Lan" (chữ Hán: 荷蘭), "Hoà Lan" (和蘭) và "Ni Đức Lan" (尼德蘭) trong tiếng Việt bắt nguồn từ dịch danh của nước này trong chữ Hán. "Hà Lan" và "Hoà Lan" là dịch âm của tên gọi "Holland", vốn là chỉ một vùng nằm ở tây bộ Hà Lan, về sau trở thành tục xưng của "Ni Đức Lan" (là dịch âm của tên gọi "Nederland". Tại Hà Lan cách gọi lấy bộ phận thay cho chỉnh thể, dùng tên gọi "Holland" để chỉ toàn bộ đất nước thường được chấp nhận nhưng nhiều người ở các vùng khác không thích cách gọi này. Tên gọi "Hà Lan" cũng thường được dùng để chỉ cả Vương quốc Hà Lan mặc dù Vương quốc Hà Lan không phải chỉ bao gồm có Hà Lan. == Địa lý == Khoảng một nửa nước Hà Lan có độ cao ít hơn 1 mét trên mặt biển, một vài vùng còn thấp hơn cả mực nước biển. Điểm cao nhất của nước Hà Lan, Vaalserberg nằm ở phía đông-nam, cao hơn mức Amsterdam 322,50 m, tại đấy cũng là góc 3 nước, giáp ranh giới với Đức và Bỉ. Nhiều phần của Hà Lan thí dụ như gần toàn bộ tỉnh Flevoland được tạo thành do lấn biển chiếm đất. Vào khoảng 1/5 (18,41%) diện tích là nước, trong đó phần lớn nhất là IJsselmeer, ngày xưa nguyên là một vịnh của biển Bắc, đã được ngăn bằng một con đập dài 29 km vào năm 1932 để lấy đất. Các con sông quan trọng nhất của Hà Lan là sông Rhein, sông Waal và sông Maas. Hướng gió chính ở Hà Lan là hướng tây-nam với kết quả là một khí hậu đại dương ôn hòa với mùa hè mát và mùa đông không lạnh. Hà Lan có ranh giới về phía tây và phía bắc là biển Bắc, về phía đông là Đức và về phía nam là Bỉ. == Chính trị == Từ sau khi cuộc chiếm đóng của Pháp chấm dứt vào năm 1815, nước Hà Lan có một nền quân chủ nghị viện, đứng đầu là hoàng gia Hà Lan Oranien-Nassau. Hà Lan được coi là một trong những nước tự do nhất thế giới (về báo chí, mại dâm, sử dụng ma túy..) xuất phát từ đề cao chủ nghĩa cá nhân, nhân quyền. Nhà vua vừa là nguyên thủ quốc gia vừa là thành phần của chính phủ bên cạnh Thủ tướng và các Bộ trưởng. Vua có trách nhiệm đọc các bài phát biểu hàng năm, khai mạc quốc hội và thông qua kế hoạch năm của chính phủ vào ngày Thứ Ba tuần thứ ba của Tháng Chín. Vua có vai trò quan trọng trong việc lập chính phủ mới sau khi bầu nghị viện. === Hiến pháp === Hiến pháp là nền tảng pháp lý của Hà Lan, quy định những nguyên tắc chính của nhà nước Hà Lan là: Chế độ quân chủ; Nền dân chủ thông qua đại diện; Chế độ pháp quyền; và Phi tập trung hoá (1. Monarchy 2. Representative democracy 3. The rule of law 4. Decentralisation). === Nguyên thủ quốc gia === Nguyên thủ quốc gia từ 1980 là Nữ hoàng Beatrix. Con trai của bà, Willem-Alexander là người nối ngôi; cùng với người vợ là bà Màxima ông có 3 người con gái, Catharina-Amalia và Alexia. Theo Hiến pháp, Beatrix là thành viên của chính phủ và bổ nhiệm các bộ trưởng. Trên thực tế, sau khi bầu cử Hoàng hậu cử một thông tin viên (informateur) hỏi các phái chính trị trong Quốc hội. Sau bản tường trình, Hoàng hậu cử một thành lập viên (formateur), người có thể sẽ là thủ tướng tương lai, thành lập chính phủ. Ngày 30 tháng 4 năm 2013, nữ hoàng Beatrix thoái vị, con trai bà Willem-Alexander, Hoàng tử xứ Orange trở thành vua Hà Lan sau 123 năm nước này trị vì bởi các nữ hoàng. === Nội các === Nội các hiện nay của Hà Lan bao gồm 1 Thủ tướng, 2 Phó Thủ tướng kiêm Bộ trưởng, 14 Bộ trưởng, 9 Quốc Vụ Khanh. Thủ tướng hiện nay là Mark Rutte thuộc Đảng Nhân dân vì Tự do và Dân chủ (Volkspartij voor Vrijheid en Democratie/VVD), nhậm chức từ tháng 10 năm 2010. === Quốc hội === Quốc hội (Staten-Generaal) bao gồm 2 viện. Việc bầu cử 150 thành viên của Viện thứ hai (Tweede Kamer) thông thường được tiến hành 4 năm một lần. Viện này thật ra là quốc hội, đại diện cho nhân dân và kiểm tra chính phủ. Viện thứ nhất (Eerste Kamer) là Thượng viện bao gồm 75 đại diện của các hội đồng tỉnh và cũng được bầu 4 năm một lần. Công việc của Viện thứ nhất trước nhất là thẩm định những luật lệ do Viện thứ hai là Hạ viện đưa ra; trong những trường hợp nhất định Viện thứ nhất có thể ngăn chận một đạo luật bằng quyền phủ quyết. === Hệ thống pháp lý (The Judicial System) === Toà án Tối cao gồm các thẩm phán do Nữ hoàng bổ nhiệm suốt đời từ danh sách do Hạ viện đề cử. Hệ thống tư pháp được thực hiện bởi các thẩm phán được bổ nhiệm và không có chế độ Bồi thẩm đoàn. Dưới Toà Tối cao có 3 loại toà án khác: 61 toà án khu chuyên xét xử các vụ hình sự và dân sự nhỏ; 19 Toà án quận xử các vụ quan trọng hơn và 5 Toà Phúc thẩm xử khiếu nại từ các toà án cấp quận. Ngoài ra hệ thống pháp lý Hà Lan còn có các toà án hành chính và toà án quân sự. Các toà án hành chính được chuyên môn hoá trong nhiều lĩnh vực như thương mại và công nghiệp, thuế, tài chính... Hiến pháp Hà Lan bác bỏ việc áp dụng xét xử bằng bồi thẩm đoàn và án tử hình. === Đảng phái === Đảng Dân chủ Kitô giáo (Christen Democratisch Appèl /CDA) Đảng Lao động (Partij van de Arbeid/PvdA) Đảng Nhân dân vì Tự do và Dân chủ (Volkspartij voor Vrijheid en Democratie/VVD) Đảng Xã hội chủ nghĩa (Socialistische Partij/SP) Đảng Cánh tả Xanh (GroenLinks/GL) Người Dân chủ 66/D66 === Chính sách xã hội === Trong những thập niên vừa qua, nước Hà Lan được biết đến đặc biệt là vì những quy định pháp luật tự do về những chất gây nghiện "mềm" (đọc Coffeeshop), về mại dâm (là một nghề được luật pháp công nhận và người mại dâm vì thế có bảo hiểm xã hội), về việc phá thai cũng như về việc giúp người chết không đau đớn (tiếng Anh: euthanasia). Hà Lan cũng là quốc gia đầu tiên tạo khả năng cho hôn nhân của những người đồng tính luyến ái. Trừ những thành phố gọi là Randstad (Amsterdam, Rotterdam và Den Haag), cởi mở và khoan dung trong quần chúng một phần đi theo sau những luật lệ tự do của chính mình này. Vào ngày 2 tháng 11 năm 2004 nhà đạo diễn phim phê bình đạo Hồi Theo van Gogh bị giết chết tại Amsterdam. Tiếp theo sau đó là nhiều vụ đốt cháy nhà thờ đạo Hồi và tấn công nhà thờ Thiên Chúa giáo của người theo đạo Hồi. Các vụ việc đã khởi đầu cho nhiều thảo luận mãnh liệt về hội nhập người nước ngoài và về việc chung sống của những văn hóa và tôn giáo khác nhau. Bắt đầu từ ngày 15 tháng 3 năm 2006 những người muốn di dân vào Hà Lan phải trải qua một thử nghiệm. Cuộc thử nghiệm bao gồm nhiều câu hỏi về kiến thức ngôn ngữ, văn hóa và vài đề tài khác. Thêm vào đó hiện nay đang thảo luận về một đạo luật cấm sử dụng những thứ tiếng khác ngoài tiếng Hà Lan nơi công cộng. === Quân sự === Nghĩa vụ quân sự nói chung được hoãn vô hạn định từ năm 1996. Nước Hà Lan vì thế có một quân đội chuyên nghiệp. Lực lượng quân sự bao gồm tổng cộng 53.130 người, trong đó 23.150 người thuộc lục quân, 11.050 người thuộc không quân và 12.130 người thuộc hải quân. Bên cạnh đó, từ năm 1998 còn có Koinklijke Marechaussee (cảnh sát biên phòng) là một phần độc lập của quân đội. Chi phí cho quân sự chiếm 1,6% tổng sản phẩm quốc nội (Đức: 1,5%, USA 3,4%) Lục quân của nước Hà Lan (Koninklijke Landmacht) được liên kết chặt chẽ với lực lượng lục quân Đức thông qua Quân đoàn 1 Đức-Hà Lan. === Phân chia hành chính === Khởi sự ban đầu năm 1579 với 7 tỉnh, 2 tỉnh Nord-Brabant và Limburg được thêm vào sau đó. Drenthe cũng trở thành một tỉnh riêng và tỉnh Holland được chia thành Holland-Bắc và Holland-Nam vào năm 1840. Tỉnh trẻ nhất là Flevoland, chỉ được thành lập từ 1986. Từ ngày 1 tháng 1 năm 1986 Hà Lan được chia thành 12 tỉnh (provincies). Các tỉnh lại được chia thành 483 làng (gemeenten). Tỉnh của Hà Lan là vùng cấp hai của Liên minh châu Âu. Làng là vùng cấp ba. Mười hai tỉnh nhóm lại thành 4 vùng liên tỉnh (Landsdelen). Bốn vùng liên tỉnh này thực ra không phải là một cấp hành chính mà chỉ nhóm lại để phục vụ công tác thống kê. Mỗi vùng liên tỉnh là một vùng cấp một của Liên minh châu Âu. === Đối ngoại === Hà Lan là nạn nhân của nhiều cuộc chiến tranh (Tây Ban Nha, Pháp, Đức, Anh...). Trước chiến tranh thế giới thứ 2, Hà Lan theo đường lối trung lập. Sau khi bị phát xít Đức chiếm (hoàng gia phải chạy ra nước ngoài), Hà Lan liên kết với phe đồng minh và phương Tây, tham gia sáng lập và có vai trò quan trọng (đóng góp nhiều sáng kiến và tài chính) ở nhiều tổ chức quốc tế như UN, EU, IMF, Ngân hàng Thế giới, CSCE, GATT, WTO, NATO, ASEM... Hà Lan ưu tiên củng cố quan hệ với đồng minh truyền thống như Mỹ, NATO, Tây Âu, Nhật. Ngoại trưởng hiện nay (Verhagen) coi "Mỹ là đồng minh quan trọng nhất" (có 3 Tổng thống Mỹ gốc Hà Lan, hai nước mới kỷ niệm 400 năm quan hệ 1609 – 2009, Hà Lan đầu tư hơn 150 tỉ USD ở Mỹ - lớn thứ 3 sau Anh và Nhật, Mỹ là nhà đầu tư lớn nhất ở Hà Lan với hơn 200 tỉ USD). Hà Lan chú trọng quan hệ với các nước đang phát triển (một phần vì thuộc địa trước đây), tranh thủ tài nguyên, thị trường tiêu thụ... Về viện trợ phát triển, từ tháng 2 năm 1999, chính phủ Hà Lan quyết định giảm số nước được nhận viện trợ song phương từ 70 xuống còn 17 nước là Bangladesh, Bolivia, Ethiopia, Burkina Faso, Eritrea, Ghana, Ấn Độ, Macedonia, Mali, Mozambique, Nicaragua, Sri Lanka, Tanzania, Uganda, Việt Nam, Yemen, Zambia. Hiện nay gồm 21 nước. Trong quá trình chọn lựa danh sách các nước được nhận viện trợ song phương, chính phủ Hà Lan đã đặt ra nhiều tiêu chuẩn, trong đó có: 1) Chính sách kinh tế - xã hội có chất lượng tốt; 2) Trình độ quản lý đạt yêu cầu, nhất là trình độ quản lý các quỹ công. Về nhân quyền, Bộ Ngoại giao Hà Lan đã quyết định thành lập Vụ Nhân quyền và gìn giữ hoà bình, chỉ định Đại sứ nhân quyền (Ambasador for Human Rights). Hà Lan đặc biệt ưu tiên hợp tác trong lĩnh vực xây dựng luật pháp quốc tế (Toà án hình sự), an ninh, xây dựng châu Âu, nhân quyền, xoá đói giảm nghèo, chú trọng lĩnh vực năng lượng, môi trường, biến đổi khí hậu. Năm 2010, Hà Lan sẽ đóng góp 3,6 tỉ euro cho EU (năm 2009 là hơn 7 tỉ euro). Chính phủ mới sẽ tiếp tục chính sách của chính phủ trước: coi trọng quan hệ với các nước láng giềng (Pháp, Bỉ, Luxembourg), các nước thành viên EU, NATO. Ngay sau khi Chính phủ mới được thành lập, Thủ tướng Mark Rutte đã thăm Bỉ và Luxembourg, Ngoại trưởng Uri Rosenthal thăm Bỉ, gặp song phương với Tổng Thư ký NATO và Đại diện cấp cao Chính sách đối ngoại và An ninh chung của EU. Ngoài ra, Chính phủ của Thủ tướng Mark Rutte tiếp tục coi Mỹ là đối tác chiến lược; tranh thủ các nước đang phát triển, đặc biệt với châu Phi và châu Á; đề cao vấn đề năng lượng, môi trường, nhân quyền, các mục tiêu thiên niên kỷ… Đối với các vấn đề quốc tế, Thủ tướng Mark Rutte tuyên bố Hà Lan sẽ tiếp tục gách vác các trách nhiệm quốc tế như đã thực hiện trong quá khứ; để ngỏ khả năng đưa nhân viên quân sự Hà Lan trở lại Afghanistan và giúp Afghanistan đào tạo cảnh sát theo đề nghị của NATO. Hợp tác phát triển là một phần quan trọng trong chính sách đối ngoại của Hà Lan. Chính sách viện trợ phát triển của Hà Lan do Chính phủ thông qua và giao cho Bộ Hợp tác phát triển thuộc Bộ Ngoại giao quản lý và điều phối việc cấp các khoản viện trợ. Hà Lan là một trong những nước có tỉ lệ viện trợ ODA cao nhất trên thế giới (0,8% GDP hàng năm), tương đương hơn 4 tỉ USD/năm, chủ yếu cho những nước chậm phát triển nhất ở châu Phi, Nam Á, Mỹ Latinh… và chủ yếu tập trung vào lĩnh vực xoá đói, giảm nghèo, quản lý nước, thuỷ lợi, giáo dục… Mức độ viện trợ của Hà Lan cho các nước tuỳ thuộc trình độ phát triển của các nước này và quan hệ chính trị nói chung. == Lịch sử == Đọc bài chính về lịch sử Hà Lan Vùng này là nơi định cư của các bộ tộc Arawak và Carib trước khi người Tây Ban Nha đến đây vào thế kỉ 16. Hai nhà thám hiểm Alonso de Ojeda và Amerigo Vespucci phát hiện ra đảo Curaao năm 1499. Người Hà Lan đến xâm chiếm đảo Curaçao cùng hai đảo Aruba và Bonaire năm 1634, Peter Stuyvesant trở thành viên Toàn quyền đầu tiên ở Curaçao. Sau khi Vương quốc Frank bị chia cắt, Hà Lan thuộc về Vương quốc Frank Đông (Regnum Teutinicae) và sau đó thuộc về Đế quốc La Mã Thần thánh dân tộc Đức. Dưới triều của hoàng đế Karl V, người đồng thời cũng là vua Tây Ban Nha, nước được chia thành 17 tỉnh và cũng bao gồm phần lớn nước Bỉ ngày nay. Sau tuyên bố độc lập của 7 tỉnh miền Bắc (Liên minh Utrecht) vào ngày 23 tháng 1 năm 1579 và cuộc chiến 80 năm kế tiếp theo đó chống lại dòng họ Habsburg Tây Ban Nha, nền độc lập trên hình thức đối với Tây Ban Nha được ghi nhận trong Hòa ước Münster, là một phần của Hòa ước Westfalen vào ngày 15 tháng 5 năm 1648, dẫn đến việc tách ra khỏi Đế chế Đức trong thời kỳ Trung cổ, đồng thời với Thụy Sĩ. Ngày này được xem là ngày nước Hà Lan ra đời. Trong thời gian sau đó nước Hà Lan, là Cộng hòa Hà Lan Thống nhất (Republiek der Zeven Verenigde Nederlanden - Cộng hòa của bảy tỉnh Hà Lan Thống nhất), lớn mạnh trở thành một trong những thế lực kinh tế và hàng hải lớn nhất của thế kỷ 17. Trong thời gian đấy nhiều thuộc địa và địa điểm buôn bán được thiết lập trên toàn thế giới. Nieuw Amsterdam (Amsterdam mới) được thành lập, thành phố mà sau này được đổi tên thành New York. Tại châu Á người Hà Lan thiết lập thuộc địa Nederlands-Indië, nước Indonesia ngày nay, độc lập vào tháng 12 năm 1949. Trong vùng đông bắc Nam Mỹ (Suriname) và vùng biển Caribbean cũng thành hình thuộc địa Hà Lan (Aruba, Curaçao, Bonaire, Saba, Sint Eustatius và Saint Martin); các đảo này là phần đất tự trị của vương quốc Hà Lan. Vì thế mà vương quốc Hà Lan bao gồm chính thức là 3 phần: Hà Lan, Aruba và quần đảo Antille thuộc Hà Lan. Năm 1796, với sự hỗ trợ của Pháp, Cộng hòa Batavia (Bataafse Republiek) được thành lập, được gọi theo bộ tộc người German là Bataver, đầu tiên định cư tại vùng giữa sông Rhein và sông Maas. Năm 1806 Napoléon thành lập Vương quốc Holland từ Cộng hòa này. Sau khi bị nước Pháp dưới thời Napoléon I thôn tính, vương quốc Nederlande được thành lập, bao gồm cả nước Bỉ ngày nay. Vị vua đầu tiên là Wilhelm I từ dòng dõi Oranje-Nassau. Bỉ và cùng với nước Bỉ là vùng Flandern Franken Hạ giành được độc lập sau cuộc Cách mạng Bỉ năm 1830 nhưng mãi đến 1839 mới được Wilhelm I công nhận. Vua Hà Lan đồng thời cũng là Đại Công quốc của Luxembourg, nơi Đạo luật Salica (Lex Salica) không cho phép người nguyên thủ quốc gia là nữ. Khi Wilhelm III chết chỉ để lại một người con gái (nữ hoàng Wilhelmina), ngai vàng Luxembourg được chuyển về một nhánh kế thừa khác trong dòng họ Nassau và người anh em họ của Wilhelm là Adolf von Nassau kế nhiệm tại đó. Nước Hà Lan chính thức trung lập trong Chiến tranh thế giới thứ nhất và đã có thể thành công trong việc không tham gia vào cuộc chiến. Thế nhưng Hà Lan vẫn động viên toàn bộ quân đội cho đến khi chiến tranh kết thúc và thêm vào đó là phải đối phó với làn sóng người di tản từ nước Bỉ bị Đế chế Đức chiếm đóng. Trong Chiến tranh thế giới thứ hai chính phủ Hà Lan cũng đã cố gắng không tham gia chiến tranh; những lời cảnh báo khác đi không được tin. Thế nhưng Hitler đã ra lệnh xâm chiếm Hà Lan, để có thể thôn tính nước Pháp từ phía Bắc vòng qua tuyến phòng thủ Maginot. Sau 3 ngày chiến đấu, quân đội Đức bắt buộc Hà Lan đầu hàng vào đêm 14 tháng 5 năm 1940 bằng cuộc bỏ bom Rotterdam. Trung tâm thành phố bị phá hủy hầu hết vì bom và những đám cháy kế tiếp theo đó. Đây là cuộc bỏ bom trên diện rộng đầu tiên trong Chiến tranh thế giới thứ hai. Đất nước bị quân đội Đức chiếm đóng từ tháng 5 năm 1940 cho đến tháng 5 năm 1945. Nhiều người Hà Lan hợp tác với chế độ chiếm đóng và nhiều người cũng đã tiếp thu ý tưởng của một Đại Đế chế Đức hay Đại Đế chế German, thuộc vào trong số đó là những người Hà Lan nói tiếng Đức. Việc truy nã người Do Thái xảy ra tại Hà Lan đặc biệt dữ dội: không một nước nào khác ở châu Âu lại có nhiều người có tính ngưỡng đạo Do Thái bị bắt đi trại tập trung nhiều như thế. Cho đến nay vai trò của các cơ quan hành chính Hà Lan và của công ty tàu hỏa Hà Lan vẫn chưa được làm rõ hoàn toàn. Tượng trưng cho việc truy nã người Do Thái là vụ việc của Anne Frank. Thế nhưng đa số người dân phải cam chịu cảnh chiếm đóng. Phần phía Nam của Hà Lan được quân đội Đồng minh đang tiến quân giải phóng vào nửa cuối năm 1944; phần miền Bắc mãi cho đến khi chiến tranh chấm dứt. Nước Hà Lan là thành viên thành lập Liên minh Kinh tế Benelux (Low Coutries) và cũng là nước đồng thành lập khối NATO và Cộng đồng Kinh tế châu Âu (và vì thế cũng là nước đồng thành lập Liên minh châu Âu). Trong thập niên 1980, các quy định mang tính tự do trong các việc về người thiểu số và về tiêu dùng các loại thuốc gây nghiện "mềm" được đưa ra. Đi trước các thay đổi luật pháp này là nhiều xung đột trầm trọng với người nước ngoài, đã bắt buộc chính phủ Hà Lan phải hành động. Các quy định của Hà Lan trước đó hoàn toàn là những gì khác với những quy định được coi là gương mẫu. Trong những năm 1990, đặc biệt là vụ thảm sát tại Srebrenica đã có nhiều tác động chính trị lớn và bắt buộc chính phủ phải từ chức vào năm 1994. Antille thuộc Hà Lan trở thành vùng tự trị năm 1954, đảo Aruba tách khỏi nhóm đảo này năm 1986. Năm 1994, dân cư trên nhóm đảo này bỏ phiếu quyết định duy trì việc liên hiệp với Hà Lan. Trong thời gian vừa qua mô hình chính trị đa văn hóa rộng lượng của Hà Lan đã trải qua nhiều thử thách. Các vấn đề của đường lối chính trị này biểu hiện đặc biệt ở vụ giết người của phái dân túy (populist) Pim Fortuin, người đã tạo một vết sướt sâu đậm trên hình tượng Hà Lan. Thêm vào đó, chính sách chính trị tự do tạo điều kiện thuận lợi cho việc những người theo đạo Hồi quá khích và những người được gọi là giảng đạo căm thù di dân vào Hà Lan: vào ngày 2 tháng 11 năm 2004 đạo diễn Theo van Gogh bị giết chết. Hậu quả của việc này là nhiều cuộc tấn công các đền thờ đạo Hồi và những tuyên bố thù địch chống lại người dân theo đạo Hồi. Từ đấy phần lớn người dân yêu cầu một chính sách không khoan nhượng đối với những người di dân có hành động bạo lực và thay đổi các luật lệ di dân được cảm nhận là quá tự do. Và cũng từ thời điểm đấy nhiều chính trị gia phải được cảnh sát bảo vệ vì họ vẫn tiếp tục bị người theo đạo Hồi đe dọa. == Dân cư == Với khoảng 480 người dân trên một cây số vuông, Hà Lan là một trong những nước có mật độ dân cư lớn nhất thế giới (Monaco 16.435, Đức: 236 người, Namibia: 2). Tiếng Hà Lan là tiếng chính thức trên toàn quốc gia; bên cạnh đó là nhiều tiếng Đức địa phương. Tiếng Friesen là ngôn ngữ chính thức trong tỉnh Friesland (tiếng Friesen: Provinsje Fryslân, tiếng Hà Lan: Provincie Friesland) và ở đấy cũng là ngôn ngữ của đài phát thanh và hệ thống quản lý nhà nước. Trong vùng đông bắc người ta nói nhiều tiếng Hà Lan địa phương, trong vùng đông nam là tiếng Đức. Tiếng Hà Lan là cũng là ngôn ngữ chính thức tại Vlaanderen (xứ bắc của nước Bỉ), Surinam, Aruba và trên quần đảo Atillen. Tại Nam Phi, tiếng Afrikaans là một ngôn ngữ phát triển độc lập từ tiếng Hà Lan. Với một ít khó khăn người nói tiếng Afrikaans và người Hà Lan có thể đọc và hiểu được thứ tiếng kia. Tiếng Anh cũng được sử dụng rộng rãi tại Hà Lan, đặc biệt là trong lĩnh vực giáo dục đại học và nghiên cứu. Ước tính có khoảng 80% người dân Hà Lan sử dụng tốt tiếng Anh trong giao tiếp hàng ngày. Sống tại Hà Lan là người di dân đến từ khắp thế giới: Indonesia, vùng biển Caribbean, Nam Mỹ, châu Phi, Thổ Nhĩ Kỳ, Ba Lan,... == Giáo dục == Hà Lan có 3 hình thức giáo dục bậc cao tồn tại song song với nhau: 1. Đại học (University): Hà Lan có 14 trường đại học, bao gồm cả trường đại học Mở. Theo nguyên tắc, các trường này đào tạo sinh viên trở thành học giả và nhà khoa học, nhiều chương trình học cũng có một phần chuyên nghiệp, hầu hết các sinh viên tốt nghiệp tìm việc làm ngoài các viện nghiên cứu. Các trường đại học có quy mô khác nhau, số lượng sinh viên đăng ký từ 6,000 đến 30,000. Tổng cộng, số sinh viên lên đến khoảng 150,000 người. 2. Trường đại học chuyên nghiệp (University of professional education hay còn gọi là Hogescholen) Các trường đại học chuyên nghiệp có các chương trình học đào tạo về mọi ngành nghề. Hà Lan có hơn 50 trường chuyên nghiệp. Trường có số sinh viên đăng ký nhiều nhất là khoảng 20,000 - 25,000, ở các trường khác thì ít hơn nhiều. Tổng cộng có tất cả 280,000 sinh viên học tại các trường này. 3. Viện giáo dục quốc tế (International Education institute): 15 viện giáo dục quốc tế ở Hà Lan có những khóa học sau đại học trong nhiều lĩnh vực. Các khóa học được giảng dạy bằng tiếng Anh và được thiết kế cho sinh viên nước ngoài. Để được chấp nhận vào học các khóa này, sinh viên phải có bằng cử nhân và nhiều năm kinh nghiệm làm việc. Các viện giáo dục quốc tế có khoảng ngàn sinh viên theo học. Các trường đại học và đại học chuyên nghiệp cũng có các khóa học quốc tế được giảng dạy bằng tiếng Anh. == Tôn giáo == Các tôn giáo quan trợng nhất là Công giáo Rôma 31%, Tin Lành 20% và Hồi giáo 5,5%, tôn giáo khác 2,5%, khoảng 40% người Hà Lan không cảm thấy thuộc vào tôn giáo nào. Người theo Công giáo sống chủ yếu ở miền Nam trong khi người theo đạo Tin Lành chủ yếu ở miền Bắc Hà Lan. Hiện nay, ở Hà Lan ước tính có khoảng 250.000 tín đồ Phật giáo. == Kinh tế == === Tổng quát === Nước Hà Lan có một hệ thống kinh tế cởi mở và hoạt động tốt. Từ những năm 1980 chính phủ đã rút lại các can thiệp về kinh tế của nhà nước. Công nghiệp hóa và công nghiệp thực phẩm, lọc dầu và sản xuất thiết bị điện thống lĩnh trong lãnh vực sản xuất. Trước các nước láng giềng một thời gian dài, đất nước này đã có một ngân sách quốc gia cân đối và đấu tranh chống trì trệ trong thị trường lao động có hiệu quả. Được công nghệ hóa cao và hiện đại, nền nông nghiệp đặc biệt có năng suất rất cao: bên cạnh việc trồng ngũ cốc, rau cải, cây ăn trái và hoa – việc trồng hoa uất kim cương (hoa tu líp) đã có ảnh hưởng đến cả lịch sử của đất nước – là nuôi bò sữa trên quy mô lớn, là cơ sở cho phó mát, một sản phẩm xuất khẩu quan trọng. Nền nông nghiệp Hà Lan tạo việc làm cho gần 4% người lao động nhưng lại góp phần quan trọng trong xuất khẩu. Sau Mỹ và Pháp, Hà Lan là nước xuất khẩu sản phẩm nông nghiệp lớn thứ ba trên thế giới. Từ thế kỷ 16, Hà Lan đã theo kinh tế thị trường, tự do hóa nền kinh tế - thương mại, có đội thương thuyền mạnh nhất thế giới, xâm chiếm Mỹ (còn nhiều địa danh do người Hà Lan đặt tên như phố Wall, khu Harlem, New York vốn tên là New Amsterdam...), châu Phi, Indonesia... Thế kỷ 17, Hà Lan là trung tâm tài chính lớn nhất thế giới với các tổ chức tín dụng, ngân hàng, thị trường chứng khoán đầu tiên trên thế giới. Công ty Đông Ấn Hà Lan được coi là tập đoàn xuyên quốc gia đầu tiên trên thế giới. Do vậy, thế kỷ 17 được coi là "thế kỷ Hà Lan", sau đó bị Anh, Đức, Mỹ vượt lên. Điểm nổi bật của nền kinh tế Hà Lan là có nền công nghiệp phát triển và ổn định, tỷ lệ thất nghiệp và lạm phát ở mức thấp và là cửa ngõ thông thương quan trọng ở châu Âu. Các ngành công nghiệp mũi nhọn của Hà Lan là chế biến thực phẩm, hoá chất, khai thác dầu khí và sản xuất máy móc thiết bị điện tử. Là nước hẹp, người đông, không có nhiều tài nguyên thiên nhiên, Hà Lan chỉ có khí đốt (trữ lượng khoảng 2.680 tỷ m3), một khối lượng không lớn dầu lửa ở biển Bắc (sản lượng đáp ứng khoảng 20% nhu cầu hiện nay), nhưng đã biết sử dụng thế mạnh là một quốc gia ven biển, cửa khẩu của 3 con sông lớn ở Tây Âu và giữa các cường quốc kinh tế Anh, Pháp, Đức để phát triển các ngành dịch vụ hàng hải, cảng, vận tải sông, công nghiệp chế biến, hoá dầu… Hà Lan cũng đã tận dụng đất đai màu mỡ để phát triển nông nghiệp và ngành công nghiệp thực phẩm. Những lĩnh vực có thế mạnh: xây dựng, hoá chất, khai thác dầu khí, công nghiệp sản xuất máy móc thiết bị điện tử, vi điện tử, chế biến nông sản, thực phẩm, đánh cá. Năm 2007, kinh tế cơ bản tiếp tục phát triển, GDP đạt 556 tỉ euro và tổng kim ngạch thương mại là 654 tỉ euro tuy nhiên từ năm 2008 kinh tế Hà Lan bị tác động mạnh của khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế thế giới. Hiện nay, với kim ngạch thương mại khoảng 1100 tỉ USD, Hà Lan là nền kinh tế đứng thứ 16 thế giới. Mấy thập niên qua, Hà Lan đã xây dựng thành công nền kinh tế tri thức. Dịch vụ chiếm 74%, công nghiệp 24% và nông nghiệp 2% GDP. 98% dân có tivi và sử dụng internet (thứ 2 thế giới sau Israel), 91% dân sử dụng máy vi tính, cao thứ 3 thế giới (sau Canada và Thụy Sĩ). Hà Lan có các tập đoàn hàng đầu thế giới như Shell (số 1 thế giới năm 2008), Philips (công ty điện tử đầu tiên trên thế giới), Unilever, Akzo Nobel, tập đoàn ING và ABN... Hà Lan chú trọng phát triển bền vững (GDP tăng 1 – 2%/năm), cân bằng sinh thái, môi trường, chất lượng cuộc sống, xây dựng các thiết chế học tập suốt đời, tuổi thọ trung bình 80 tuổi, chỉ số phát triển con người HDI 95,8% (cao thứ 6 thế giới)... Hiện Hà Lan là một trong những nước Châu Âu bị tác động mạnh bởi khủng hoảng kinh tế - tài chính toàn cầu bắt đầu từ 2008. Mặc dù Chính phủ đã có nhiều nỗ lực (từ 2008 dành khoảng 50 tỉ euro để kích cầu tập trung vào 4 lĩnh vực chính: mua nợ xấu kèm điều kiện tăng giám sát hệ thống tài chính; mở rộng giao thông như nâng cấp cơ sở hạ tầng dài hạn, tạo việc làm, giảm thất nghiệp..; hỗ trợ doanh nghiệp vừa và nhỏ là đối tượng bị tác động mạnh nhất của khủng hoảng nhưng năng động, dễ thích nghi, tạo nhiều việc làm; tăng bảo hiểm xã hội nhất là cho người già, trẻ em, người bệnh) nhưng tình hình vẫn rất khó khăn: GDP năm 2009 dự kiến giảm 4%, tăng 0% năm 2010 và có thể bắt đầu tăng trưởng từ năm 2011. Năm 2009, mặc dù vẫn chịu ảnh hưởng kinh tế suy thoái, Hà Lan vẫn xuất siêu 39 tỷ đô, là nước xuất siêu cao thứ 2 trong EU sau Đức với 135,8 tỷ đô. Tỉ lệ thất nghiệp của Hà Lan năm 2009 là 5,6% và có thể tăng đến 8% năm 2010 (tương đương 600.000 người thất nghiệp). Thâm hụt ngân sách năm 2009 là 5,3%, dự kiến thâm hụt 6% năm 2010. Nợ quốc gia dự kiến tăng lên khoảng 65,7% năm 2010. Các chỉ số kinh tế: GDP: 796,7 tỉ USD (2009) GDP đầu người: 39.400 USD (2009) Tăng trưởng kinh tế: - 3,9% (2009), 1,9% (2008), 3.9% (2007) Thất nghiệp: 4,8% (2009) Lạm phát: 1,2% (2009) Nợ công: 60,9% GDP Tính đến năm 2016, GDP của Hà Lan đạt 769.930, đứng thứ 17 thế giới và đứng thứ 7 châu Âu. === Lâm nghiệp và ngư nghiệp === Rừng của Hà Lan khá khiêm tốn so với các nước châu Âu[ khá, cho nên việc sản xuất [[[gỗ]] được xếp vào loại sản xuất thứ yếu. Nhưng ngư nghiệp lại là một hoạt động truyền thống vẫn tiếp tục giữ một vai trò quan trọng, mặt dù có sự giảm trữ lượng hải sản do tình trạng ô nhiễm ở Biển Bắc. Cá thu Đại Tây Dương, cá trích Đại Tây Dương, cá bơn sao châu Âu, trai xanh, cá bơn, cá tuyết Đại Tây Dương và tôm là những loại hải sản được đánh bắt nhiều nhất, với tổng lượng lên đến 570.226 tấn năm 2001. === Sản xuất === Hà Lan có lĩnh vực sản xuất rất đa dạng, và đa số mới được bắt đầu trong thời gian gần đây vì việc sản xuất công nghiệp tương đối không còn quan trọng nữa sau Thế chiến II. Những ngành công nghiệp nặng như sản xuất sắt thép, các thiết bị vận tải và các loại máy móc lớn có mức độ quan trọng kém hơn so với các nước láng giềng. Sự tăng tướng nhanh chóng sau năm 1945 đã được dẫn đầu bởi các ngành công nghiệp hóa chất và điện tử. Cũng quan trọng không kém trong lĩnh vực sản xuất là việc chết biến thực phẩm, nước uống, các sản phẩm thuốc lá, máy móc, thiết bị vận tải (đặc biệt là cho cho các tàu buôn), sắt thép và vật liệu in ấn. === Năng lượng và khai khoáng === Cấu trúc công nghiệp của Hà Lan có liên quan mật thiết đối với các nguồn năng lượng. Trong nhiều thế kỷ đất nước này phụ thuộc chủ yếu vào các cối xay gió và than bùn để làm nguồn năng lượng. Khi những nguồn này trở nên lỗi thời thì than lại ngày càng trở nên quan trọng. Trữ lượng than ở Limburg đã cung ứng cho một phần nhu cầu của Hà Lan. Nhưng hầu hết lượng than sử dụng ở đây đều phải nhập khẩu. Xăng dầu và khí thiên nhiên đã trở nên quan trọng sau Thế chiến II. những loại nhiên liệu này cũng phải nhập khẩu, và cảng Rotterdam đã trở thành một trung tâm hàng đầu trong việc tiếp nhận và tinh chế xăng dầu. Đến thập kỷ 1950 và 1960, Hà Lan đã phát hiện được một trữ lượng lớn khí thiên nhiên ở tỉnh Groningen. Việc sản xuất các loại khí này đã gia tăng nhanh chóng, ho phép các mỏ than cuối ùng ở đây có thể đóng cửa vào năm 1973 và biến nước này thành quốc gia xuất khẩu hàng đầu về những loại sản phẩm này. Sản lượng điện 2001 là 88,3 tỉ kilowatt giờ, trong đó 90% được sản xuất từ các nhà máy sử dụng nhiên liệu hóa thạch. === Tài nguyên thiên nhiên === Nước Hà Lan có khí đốt, được khai thác trên quy mô lớn gần Groningen cũng như là phía nam biển Bắc. Năm 1996 có 75,8 tỉ m³ (theo BP) được khai thác. Như thế Hà Lan đứng thứ 5 trên thế giới về khai thác khí đốt, sau Nga (561,1 tỉ m³), Mỹ (546,9 tỉ m³), Canada (153 tỉ m³) và Liên hiệp Anh (84,6 tỉ m³). Ngoài ra còn có trữ lượng dầu nhỏ tại vùng biên giới Emsland và mỏ muối tại Delfzijl và Hengelo. Ngoại trừ đất sét thí dụ như tại Bourtanger Moor Hà Lan không có tài nguyên khoáng sản lớn. === Chi tiêu quốc gia === Trong thời gian tỷ lệ chi tiêu quốc gia cho: Hệ thống y tế-sức khỏe: 15% Hệ thống giáo dục: 10% Quân sự: 4% == Văn hóa == === Ngày lễ === === Hội họa === Nhiều họa sĩ nổi tiếng thế giới là người Hà Lan. Một trong những nghệ sĩ nổi tiếng nhất là Hieronymus Bosch. Thời kỳ nở rộ của nền cộng hòa trong thế kỷ 17, cái được gọi là "Kỷ nguyên Vàng", đã mang lại nhiều nghệ sĩ lớn như wie Rembrandt van Rijn, Johannes Vermeer, Frans Hals, Carel Fabritius, Gerard Dou, Paulus Potter, Jacob Izaaksoon van Ruisdael hay Jan Steen. Họa sĩ nổi tiếng của những thời kỳ sau đó là Vincent van Gogh và Piet Mondriaan. M. C. Escher là một nhà nghệ sĩ tạo hình được nhiều người biết đến === Khoa học === Desiderius Erasmus, Baruch Spinoza và Christiaan Huygens đều là người Hà Lan. René Descartes ở tại Hà Lan phần lớn thời gian sáng tạo của ông. Nói chung từ đầu thời kỳ Cận đại (Modern Times) rất nhiều nhà khoa học bị truy nã đã tìm được nơi tỵ nạn và khả năng làm việc tại Hà Lan. Lý thuyết về Xã hội học hiện đại đã hàm ơn người thành lập ra nó, Sebald Rudolf Steinmetz, nhiều khởi xướng quan trọng. === Kiến trúc === Kiến trúc sư người Hà Lan đã có nhiều thúc đẩy quan trọng cho kiến trúc của thế kỷ 20. Đặc biệt nổi bật là Hendrik Petrus Berlage và các kiến trúc sư của nhóm De Stijl (Robert van't Hoff, J.J.P. Oud, Gerrit Rietveld). Trường phái Amsterdam (Michel de Klerk) đóng góp một phần đáng chú ý cho trường phái biểu hiện của kiến trúc. Sau Chiến tranh thế giới thứ hai vẫn nổi bật nhiều kiến trúc sư người Hà Lan. Aldo van Eyck và Herman Hertzberger đã tạo hình cho trường phái kết cấu (structuralism). Piet Blom được nhiều người đến qua các căn nhà có tính cách riêng biệt của ông. === Văn học === Trong Kỷ nguyên Vàng (De Gouden Eeuw) của Hà Lan, văn học cũng nở rộ bên cạnh hội họa mà trong số những người được biết đền nhiều nhất phải kể đến Joost van den Vondel và P. C. Hooft. Trong thời gian chiếm đóng của Đức (1940-1945) Anne Frank đã viết quyển nhật ký nổi tiếng trên thế giới của bà tại Amsterdam. Các tác giả quan trọng của thế kỷ 20 là Harry Mulisch, Jan Wolkers và Simon Vestdijk. === Âm nhạc === Cuộc sống âm nhạc Hà Lan trong lãnh vực nhạc cổ điển đã không được tổ chức với mức độ của các quốc gia châu Âu khác trong một thời gian dài. Chỉ đến cuối thế kỷ 19 mới bắt đầu một cuộc chuyên môn hóa và nhiều dàn nhạc giao hưởng cũng như đoàn ca múa thành hình. Các nhà soạn nhạc quan trọng trong thế kỷ 20 là Julius Röntgen, Willem Pijper, Mathijs Vermeulen, Louis Andriessen, Otto Ketting, Ton de Leeuw, Theo Loevendie, Misha Mengelberg, Tristan Keuris và Klaas de Vries. Ban nhạc rock Hà Lan được biết đến nhiều nhất Golden Earring đã có hit lớn nhất của họ với bài "Radar Love" trong thập niên 1970. Cũng được biết đến trên thế giới là ban nhạc rock cổ điển Ekseption chung quanh Rick van der Linden. Hà Lan có một giới âm nhạc rất sống động trên một mức độ cao. Có rất nhiều nơi tổ chức và trong giới truyền thông các nhà nghệ sĩ được tạo cho khoảng không gian lớn. Những nhạc sĩ được thế giới biết đến thí dụ như là Anouk Teeuwe hay các nhóm Within Temptation và The Gathering (Band). Từ một vài năm nay âm nhạc tiếng Hà Lan rất thành công. Các ban nhạc nổi tiếng nhất là Blof, là ban nhạc có bài hát được phát thanh nhiều nhất trong truyền thanh Hà Lan, và Acda en de Munnik, song ca bắt đầu được biết đến với những chương trình kỹ xảo nghệ thuật nhỏ. Các ca sĩ như Marco Borsato và Frans Bauer còn đạt được số lượng đĩa bán được cao hơn. Trong dòng nhạc rap, được nhiều người biết đến là Ali B và Lange Frans & Baas B. === Thắng cảnh === Triển lãm hoa và vườn hoa Floriade Keukenhof Vườn quốc gia De Hoge Veluwe và Veluwezoon tại Veluwe Khu vực bảo vệ tự nhiên Texel Reeuwijkse Plassen tại Gouda Schiermonnikoog === Ẩm thực === Đọc bài chính về ẩm thực Hà Lan. === Thể thao === Đội tuyển bóng đá quốc gia Hà Lan là một trong những đội tuyển hàng đầu thế giới (3 lần giành ngôi Á quân thế giới). Giải VĐQG Hà Lan cũng là một trong 10 giải VĐQG lớn của châu Âu. Các CLB của nước này đã giành được 7 chiếc cúp C1 / UEFA Champions League Ajax Amsterdam, PSV Eindihoven, Feyenoord. Ngoài ra Hà Lan còn có một số VĐV tiêu biểu ở các môn thể thao khác == Đọc thêm == Các tỉnh của Hà Lan Du lịch Hà Lan Vườn quốc gia Hà Lan Hệ thống giáo dục Hà Lan == Tham khảo == == Liên kết ngoài == Trang web chính thức của chính phủ Hà Lan (tiếng Anh) Trang web chính thức của hoàng gia Hà Lan (tiếng Anh)
pakistan.txt
Pakistan (tiếng Việt: Pa-ki-xtan; tiếng Urdu: پاکِستان), tên chính thức Cộng hoà Hồi giáo Pakistan, là một quốc gia ở Nam Á. Tiếng Việt còn gọi quốc gia này vào thế kỷ 20 là Hồi Quốc. Pakistan có bờ biển dài 1,046 km (650 mi) dọc theo Biển Ả Rập và Vịnh Oman ở phía nam; phía tây giáp Afghanistan và Iran; phía đông giáp Ấn Độ; cực đông bắc giáp Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa. Tajikistan cũng nằm rất gần với Pakistan nhưng bị ngăn cách bởi Hành lang Wakhan hẹp. Vì thế, nước này nằm trên ngã tư đường giữa Nam Á, Trung Á và Trung Đông. Vùng tạo thành nước Pakistan hiện đại từng là trung tâm của nền Văn minh lưu vực sông Ấn cổ đại và sau này là nơi lĩnh hội các nền văn hoá Vệ Đà, Ba Tư, Ấn-Hy Lạp, Turk-Mông Cổ và Hồi giáo. Vùng này đã chứng kiện những cuộc xâm lược và/hay định cư của người Ấn-Aryan, Ba Tư, Hy Lạp, Ả Rập, Thổ, Afghan, Mông Cổ, Sikh và Anh. Ngoài Phong trào độc lập Ấn Độ yêu cầu một nước Ấn Độ độc lập, Phong trào Pakistan (dưới sự lãnh đạo của Muhammad Ali Jinnah thuộc Liên đoàn Hồi giáo), cũng tìm kiếm một nền độc lập cho Ấn Độ, tìm kiếm một nhà nước độc lập cho đa số dân cư Hồi giáo ở các vùng phía đông và phía tây của Ấn Độ thuộc Anh. Người Anh đã trao độc lập và cũng thành lập một nhà nước đa số Hồi giáo Pakistan gồm các tỉnh Sindh, Tỉnh biên giới Tây Bắc, Tây Punjab, Balochistan và Đông Bengal. Với việc thông qua hiến pháp năm 1956, Pakistan trở thành một nước Cộng hoà Hồi giáo. Năm 1971, một cuộc nội chiến bùng phát ở Đông Pakistan dẫn tới việc thành lập Bangladesh. Lịch sử Pakistan có đặc điểm bởi những giai đoạn cai trị quân sự và bất ổn chính trị. Pakistan là một quốc gia đang phát triển phải đối mặt với các vấn đề tỷ lệ đói nghèo và mù chữ cao. Nước này là nước đông dân thứ sáu trên thế giới và có cộng đồng dân số Hồi giáo đứng hàng thứ hai thế giới sau Indonesia. Pakistan có số dân theo dòng Hồi giáo Shia đứng thứ hai thế giới.. Đây là quốc gia hạt nhân có đa số dân là tín đồ Hồi giáo duy nhất trên thế giới. Pakistan là một thành viên của Khối thịnh vượng chung, các nền kinh tế Next Eleven và D8. == Từ nguyên == Cái tên Pakistan (phát âm tiếng Urdu: [paːkɪsˈtaːn] ()) có nghĩa vùng đất của (sự) Thanh khiết trong tiếng Urdu và tiếng Ba Tư (Farsi). Nó được Choudhary Rahmat Ali gọi là Pakstan vào năm 1934 trong cuốn sách mỏng Bây giờ hay Không bao giờ của ông. Cái tên là một từ kết hợp đại diện cho "ba mươi triệu người Hồi giáo PAKISTAN, đang sống ở các Khu vực phía Bắc của British Raj — Punjab, Afghania (bây giờ được gọi là Tỉnh biên giới Tây Bắc), Kashmir, Sindh, và Balochistan." == Lịch sử == Lưu vực sông Ấn, bao gồm một phần lớn lãnh thổ Pakistan, từng là địa điểm của nhiều nền văn hoá cổ gồm cả văn hoá Mehrgarh thời kỳ đồ đá mới và Văn minh Châu thổ sông Ấn thời kỳ đồ đồng (2500 trước Công Nguyên – 1500 trước Công Nguyên) tại (Harappa thuộc quận Sahiwal) và Mohenjo-Daro. Các làn sóng người chinh phục và di cư từ phía tây - gồm cả người Harappan, Ấn-Aryan, Ba Tư, Hy Lạp, Saka, Parthia, Kushan, Hephthalite, Afghan, Ả Rập, Turk và Mughal - đã tới định cư trong vùng trong nhiều thế kỷ, ảnh hưởng tới người dân địa phương và bị hấp thụ vào bên trong họ. Các đế chế cổ ở phía đông – như Đế chế Nanda, Maurya, Sunga, Gupta, và Pala – đã cai trị những lãnh thổ này ở những khoàng thời gian khác nhau từ Patliputra. Tuy nhiên, ở giai đoạn trung cổ, khi các tỉnh phía đông của Punjab và Sindh dần liên kết với nền văn minh Ấn Độ-Hồi giáo, các khu vực phía tây về văn hoá trở thành đồng minh của nền văn minh Iran của Afghanistan và Iran. Vùng này là ngã tư của các con đường thương mại lịch sử, gồm cả Con đường tơ lụa, và như một cảng vào cho con đường thương mại ven biển giữa Lưỡng Hà và kéo dài tới La Mã ở phía tây và Malabar và tới tận Trung Quốc ở phía đông. Pakistan ngày nay từng là trung tâm của nền Văn minh Châu thổ sông Ấn; đã sụp đổ hồi giữa thiên niên kỷ thứ hai trước Công nguyên và tiếp đó là Văn minh Vệ Đà, cũng mở rộng hầu hết các đồng bằng Ấn-Hằng. Các đế chế và vương quốc cổ đại nối tiếp nhau cai trị vùng này: đế chế Ba Tư Achaemenid khoảng năm 543 trước Công nguyên, đế chế Hy Lạp do Alexander Đại đế thành lập năm 326 trước Công nguyên và đế chế Maurya sau đó. Vương quốc Ấn-Hy Lạp do Demetrius của Bactria thành lập gồm cả Gandhara và Punjab từ năm 184 trước Công nguyên, và đạt tới tầm vóc lớn nhất dưới thời Menander, thành lập nên giai đoạn Hy Lạp-Phật giáo với những tiến bộ trong thương mại và văn hoá. Thành phố Taxila (Takshashila) trở thành một trung tâm học thuật chính ở những thời cổ đại – tàn tích của thành phố, nằm ở phía tây Islamabad, là một trong những địa điểm khảo cổ chính của đất nước. Triều đại Rai (khoảng 489–632) của Sindh, ở thời cực thịnh, đã cai trị vùng này và các lãnh thổ xung quanh. Năm 712 sau Công Nguyên, vị tướng Ả Rập Muhammad bin Qasim đã chinh phục Sindh và Multan ở Punjab phía nam. Biên niên sử chính thức của chính phủ Pakistan nói rằng "sự thành lập của nó đã được sắp đặt" như một kết quả của cuộc chinh phục này. Thắng lợi này của người Ả Rập và Hồi giáo sẽ lập ra một giai đoạn của nhiều đế chế Hồi giáo nối tiếp nhau ở Nam Á, gồm cả Đế chế Ghaznavid, Vương quốc Ghorid, Vương quốc Hồi giáo Delhi và Đế chế Mughal. Trong giai đoạn này, các nhà truyền giáo Sufi đóng một vai trò then chốt trong việc cải đạo đa số tín đồ Phật giáo và dân cư Hindo trong vùng sang Hồi giáo. Sự suy tàn lần lần của Đế chế Mughal đầu thế kỷ 18 mang lại cơ hội cho những người Afghan, Balochis và Sikh nắm quyền ảnh hưởng trên những khu vực rộng lớn cho tới khi Công ty Đông Ấn Anh giành được uy thế ở Nam Á. Cuộc Nổi dậy Ấn Độ năm 1857, cũng được gọi là Binh biến Ấn Độ, là cuộc đấu tranh vũ trang lớn cuối cùng chống lại Raj Anh, và nó lập ra những nền tảng cho cuộc đấu tranh phi vũ trang dưới sự lãnh đạo của Đảng Quốc đại Ấn Độ trong thế kỷ 19. Trong thập niên 1920 và 1930, một phong trào dưới sự lãnh đạo của Mahatma Gandhi, thể hiện cam kết ahimsa, hay bất bạo động, hàng triệu người phản kháng đã tham gia vào các chiến dịch bất tuân dân sự rộng lớn. Liên đoàn Hồi giáo Toàn Ấn giành được sự ủng hộ của dân chúng cuối thập niên 1930 giữa những lo ngại về sự lơ đãng và không chú tâm của tín đồ Hồi giáo với chính trị. Ngày 29 tháng 12 năm 1930, bài diễn văn của Allama Iqbal đã kêu gọi cho một "nhà nước tự trị ở tây bắc Ấn Độ cho các tín đồ Hồi giáo Ấn Độ, bên trong cơ cấu chính trị của Ấn Độ." Muhammad Ali Jinnah tán thành Lý thuyết Hai Nhà nước và lãnh đạo Liên đoàn Hồi giáo thông qua Nghị quyết Lahore năm 1940, thường được gọi là Nghị quyết Pakistan. Đầu năm 1947, Anh thông báo quyết định chấm dứt cai trị Ấn Độ. Tháng 6 năm 1947, các lãnh đạo quốc gia của Ấn Độ thuộc Anh - gồm cả Nehru và Abul Kalam Azad thay mặt cho Đảng Quốc đại, Jinnah đại diện cho Liên đoàn Hồi giáo và Master Tara Singh đại diện cho người Sikhs - đồng ý các điều khoản được đề xuất của việc chuyển giao quyền lực và độc lập. Nhà nước Pakistan hiện đại được thành lập ngày 14 tháng 8 năm 1947 (27 Ramadan 1366 theo Lịch Hồi giáo), cắt ra hai khu vực đa số Hồi giáo ở phía đông và phía tây bắc của Ấn Độ thuộc Anh và gồm các tỉnh Balochistan, East Bengal, Tỉnh biên giới Tây Bắc, Tây Punjab và Sindh. Sự tranh cãi, sai thời điểm, phân chia các tỉnh Punjab và Bengal đã gây ra các vụ bạo động cộng đồng trên khắp Ấn Độ và Pakistan – hàng triệu người Hồi giáo đã dời sang Pakistan và hàng triệu người Hindus và người Sikhs đã phải sang Ấn Độ. Những cuộc tranh cãi gia tăng về nhiều vương quốc hoàng thân gồm cả Jammu và Kashmir đa số Hồi giáo, nơi nhà cai trị người Hindu đã nhượng nó cho Ấn Độ sau một cuộc xâm lược của các chiến binh bộ tộc Pashtun, dẫn tới cuộc Chiến tranh Kashmir lần thứ nhất năm 1948. Từ năm 1947 đến năm 1956, Pakistan là một lãnh thổ tự trị bên trong Khối thịnh vượng chung. Nó trở thành một nhà nước Cộng hoà năm 1956, nhưng quyền cai trị dân sự đã bị ngừng lại sau một cuộc đảo chính của Tướng Ayub Khan, người nắm chức tổng thống trong giai đoạn 1958–69, một giai đoạn bất ổn bên trong và một cuộc chiến tranh thứ hai với Ấn Độ năm 1965. Người kế nhiệm ông, Yahya Khan (1969–71) phải giải đương đầu với một trận bão có sức tàn phá mạnh — làm 500.000 người chết ở Đông Pakistan— và cũng phải đối mặt với một cuộc nội chiến năm 1971. Những sự bất bình về kinh tế và bất đồng về chính trị ở Đông Pakistan dẫn tới một tình trạng căng thẳng chính trị và bạo lực và sự đàn áp quân sự leo thang trở thành một cuộc nội chiến. Sau chín tháng chiến tranh du kích giữa Quân đội Pakistan và quân du kích Belgan Mukti Bahini được Ấn Độ ủng hộ, sau này sự can thiệp của Ấn Độ leo thang thành cuộc Chiến tranh Ấn Độ-Pakistani năm 1971, và cuối cùng là sự ly khai của Đông Pakistan trở thành nhà nước Bangladesh độc lập. Quyền cai trị dân sự ở Pakistan được tái lập từ năm 1972 tới năm 1977 dưới thời Zulfikar Ali Bhutto, cho tới khi ông bị hạ bệ và bị kết án tử hình năm 1979 bởi Tướng Zia-ul-Haq, người trở thành tổng thống quân sự thứ ba của đất nước. Zia đưa ra bộ luật hình sự Hồi giáo Sharia, tăng cường ảnh hưởng của tôn giáo trong đời sống dân sự và quân sự. Khi Tổng thống Zia chết trong một tai nạn máy bay năm 1988, Benazir Bhutto, con gái của Zulfikar Ali Bhutto, được bầu làm nữ Thủ tướng đầu tiên của Pakistan. Trong thập kỷ tiếp theo bà phải đấu tranh cho quyền lực với Nawaz Sharif khi tình hình chính trị và kinh tế trong nước ngày càng xấu đi. Pakistan tham gia vào cuộc Chiến tranh Vùng Vịnh năm 1991 và gửi 5,000 quân như một phần của liên quân dưới sự lãnh đạo của Mỹ, để bảo vệ Ả Rập Saudi. Những căng thẳng quân sự trong cuộc xung đột Kargil với Ấn Độ được tiếp nối bằng một cuộc đảo chính quân sự Pakistan năm 1999 trong đó tướng Pervez Musharraf đã nắm quyền hành pháp tuyệt đối. Năm 2001, Musharraf trở thành Tổng thống sau vụ từ chức gây tranh cãi của Rafiq Tarar. Sau cuộc bầu cử nghị viện năm 2002, Musharraf chuyển giao quyền hành pháp cho Thủ tướng mới được bầu là Zafarullah Khan Jamali, ông được Shaukat Aziz kế vị sau cuộc bầu cử thủ tướng năm 2004. Ngày 15 tháng 11 năm 2007 Quốc hội hoàn thành nhiệm kỳ và cuộc bầu cử mới được kêu gọi. Các lãnh đạo chính trị lưu vong Benazir Bhutto và Nawaz Sharif được cho phép quay trở lại Pakistan. Tuy nhiên, vụ ám sát Benazir Bhutto trong chiến dịch tranh cử tháng 12 đã dẫn tới sự trì hoãn bầu cử và những cuộc nổi loạn khắp đất nước. Đảng Nhân dân Pakistan (PPP) của bà Butto giành nhiều ghế nhất trong cuộc bầu cử được tổ chức tháng 2 năm 2008 và một thành viên của đảng này Yousaf Raza Gillani đã tuyên thệ nhậm chức Thủ tướng. Ngày 18 tháng 8 năm 2008, Pervez Musharaff từ chức tổng thống khi phải đối mặt với cuộc luận tội. Hiện tại, (ở thời điểm cuối năm 2009), hơn 3 triệu người Pakistan đã phải dời bỏ nhà cửa vì cuộc xung đột đang diễn ra ở Tây Bắc Pakistan giữa chính phủ và các chiến binh Taliban. == Chính phủ và chính trị == Hiến pháp đầu tiên của Pakistan được thông qua năm 1956, nhưng đã bị Tướng Ayub Khan đình chỉ năm 1958. Hiến pháp năm 1973 — bị đình chỉ năm 1977, bởi Zia-ul-Haq, nhưng đã được tái lập năm 1985 — là văn kiện quan trọng nhất của quốc gia, đặt ra những nền tảng cho chính phủ hiện tại. Pakistan là một nước cộng hoà dân chủ liên bang bán tổng thống với Đạo Hồi là tôn giáo của nhà nước. Nghị viện lưỡng viện gồm Thượng viện 100 thành viên và một Quốc hội với 342 thành viên. Tổng thống là Nguyên thủ quốc gia và Tổng tư lệnh các lực lượng vũ trang và được bầu bởi một ban bầu cử. Thủ tướng thường là lãnh đạo đảng lớn nhất trong Quốc hội. Mỗi tỉnh có một hệ thống chính phủ tương tự với một nghị viện Tỉnh được bầu trực tiếp trong đó lãnh đạo đảng hay liên minh lớn nhất trở thành thủ hiến (Chief Minister). Các thống đốc tỉnh do Tổng thống chỉ định. Quân đội Pakistan đã đóng một vai trò ảnh hưởng trên trường chính trị trong suốt lịch sử Pakistan, với các vị tổng thống quân sự cầm quyền từ 1958–71, 1977–88 và từ 1999–2008. Đảng Nhân dân Pakistan cánh tả, dưới sự lãnh đạo của Zulfikar Ali Bhutto, đã giành được sự ủng hộ sau khi Bangladesh ly khai nhưng đã bị lật đổ sau những cuộc bạo động năm 1977. Dưới sự cai trị quân sự của Muhammad Zia-ul-Haq, trong thập niên 1980, Phong trào Muttahida Qaumi (MQM) chống phong kiến, ủng hộ Muhajir khởi đầu như một đảng của tầng lớp dân cư đô thị dị giáo và có giáo dục cao người Sindh và đặc biệt ở Karachi. Một cuộc nổi dậy ở Balochistan đã bị thống đốc Rahimuddin đàn áp bằng quân sự. Thập niên 1990 có đặc điểm là các liên minh chính trị dưới sự lãnh đạo của Đảng Nhân dân Pakistan và một Liên đoàn Hồi giáo đổi mới. Pakistan là một thành viên tích cực của Liên hiệp quốc (UN) và Tổ chức Hội nghị Hồi giáo (OIC), tổ chức mà Pakistan đã sử dụng như một diễn đàn cho Khai sáng Điều độ, một kế hoạch khuyến khích một sự phục hưng và khai sáng trong thế giới Hồi giáo. Pakistan cũng là một thành viên của Hiệp hội Hợp tác Vùng Nam Á (SAARC) và Tổ chức Hợp tác Kinh tế (ECO). Trong quá khứ, Pakistan có những quan hệ pha trộn với Hoa Kỳ; đầu thập niên 1950, Pakistan là "đồng minh thân cận nhất tại châu Á" của Hoa Kỳ và là một thành viên của cả Tổ chức Hiệp ước Trung tâm (CENTO) và Tổ chức Hiệp ước Đông Nam Á (SEATO). Trong cuộc Chiến tranh Xô viết tại Afghanistan hồi thập niên 1980 Pakistan là một đồng minh chính của Hoa Kỳ. Nhưng các quan hệ đã xấu đi trong thập niên 1990, khi những lệnh cấm vận được Hoa Kỳ áp đặt vì Pakistan từ chối từ bỏ các hoạt động hạt nhân của mình. Tuy nhiên, Cuộc chiến chống Khủng bố của Hoa Kỳ, một hậu quả của những vụ tấn công ngày 11 tháng 9 năm 2001 tại Mỹ, đã dẫn tới một sự cải thiện trong quan hệ Hoa Kỳ–Pakistan, đặc biệt sau khi Pakistan chấm dứt sự hỗ trợ của họ cho chế độ Taliban tại Kabul. Thái độ hợp tác của Pakistan được minh chứng bằng sự gia tăng viện trợ quân sự lớn của Mỹ, cung cấp cho Pakistan nhiều hơn $4 tỷ trong ba năm sau các vụ tấn công ngày 9/11 so với trước đó. Mặt khác, Pakistan hiện đang có gánh nặng 3 triệu người phải dời bỏ nhà cửa bởi cuộc chiến tranh đang diễn ra ở Afghanistan. Từ năm 2004, Pakistan đã được Hoa Kỳ gọi là một phần của Đại Trung Đông. Ngày 18 tháng 2 năm 2008, Pakistan tổ chức cuộc tổng tuyển cử sau khi vụ ám sát Benazir Bhutto đã làm trì hoãn ngày dự định trước đó là mùng 8 tháng 1 năm 2008. Đảng Nhân dân Pakistan giành đa số phiếu và thành lập một liên minh với Liên đoàn Hồi giáo Pakistan (N). Họ chỉ định và bầu Yousaf Raza Gilani làm Thủ tướng Pakistan. Ngày 18 tháng 8 năm 2008, Pervez Musharraf từ chức Tổng thống Pakistan giữa những lời kêu gọi ngày càng gia tăng về việc luận tội ông. Trong cuộc bầu cử tổng thống diễn ra sau đó, Asif Ali Zardari thuộc Đảng Nhân dân Pakistan giành một thắng lợi lớn và trở thành Tổng thống Pakistan. === Phân chia hành chính === Pakistan là một liên hiệp gồm bốn tỉnh, một lãnh thổ thủ đô và các vùng bộ tộc do chính quyền trung ương quản lý. Chính phủ Pakistan trên thực tế thực hiện quyền tài phán với các phần phía tây của vùng tranh chấp Kashmir, được tổ chức thành hai thực thể chính trị riêng biệt (Azad Kashmir và Gilgit-Baltistan) Tầng thứ ba của chính phủ gồm 26 khu vực hành chính với hai tầng nữa (các quận và các tehsil) được quản lý trực tiếp từ cấp tỉnh. Các khu vực hành chính đã bị xoá bỏ năm 2001 và một hệ thống chính phủ địa phương ba tầng mới bắt đầu có hiệu lực gồm các quận, tehsil và các hội đồng liên minh với một cơ cấu theo bầu cử ở mỗi tầng. Hiện có 107 quận trong lãnh thổ Pakistan, mỗi quận có nhiều tehsil và các hội đồng liên minh. Các khu vực bộ tộc gồm bảy cơ quan bộ tộc và sáu vùng biên giới nhỏ hơn được tách khỏi các quận lân cận trong khi Azad Kashmir gồm bảy quận và Các vùng phía Bắc gồm sáu quận. == Nhân khẩu == Ước tính dân số Pakistan năm 2009 là hơn 180,800,000 người khiến nước này có số dân đứng hàng thứ sáu trên thế giới sau Brasil và trước Nga. Tới năm 2020, dân số nước này dự tính sẽ đạt mức 208 triệu người, vì tỷ lệ tăng dân số khá cao. Khoảng 20% dân số sống dưới ngưỡng nghèo khổ quốc tế ở mức US$1.25 một ngày. Việc dự đoán dân số cho Pakistan khá khó khăn bởi những khác biệt trong độ chính xác của mỗi cuộc điều tra dân số và những mâu thuẫn giữa nhiều cuộc điều tra liên quan tới tỷ lệ sinh, nhưng có lẽ tỷ lệ tăng dân số đã lên tới đỉnh trong thập niên 1980 và từ đó đã giảm đáng kể. Đa số dân cư miền nam Pakistan sống dọc theo Sông Indus. Theo mức độ dân số, Karachi là thành phố lớn nhất Pakistan. Ở nửa phía bắc, hầu hết dân số sống trong một vành đai được tạo thành bởi các thành phố Lahore, Faisalabad, Rawalpindi, Islamabad, Gujranwala, Sialkot, Gujrat, Jhelum, Sargodha và Sheikhupura. Trong quá khứ, dân số nước này từng có tỷ lệ tăng khá lớn, tuy nhiên đã giảm vì tỷ lệ sinh giảm. Những thay đổi xã hội lớn đã dẫn tới sự đô thị hoá nhanh chóng và sự xuất hiện của các siêu thành phố. Trong thời kỳ 1990–2003, Pakistan duy trì được vị thế lịch sử như là quốc gia đô thị hoá nhất ở Nam Á, với dân cư thành thị chiếm 36% dân số. Pakistan có một xã hội đa văn hoá và đa sắc tộc và là nơi tiếp đón một trong những cộng đồng người tị nạn lớn nhất thế giới cũng như một dân số trẻ. Xấp xỉ 1.7 triệu người tị nạn Afghanistan đang ở Pakistan. Gần một nửa số người này thực tế ra đời và lớn lên ở Pakistan trong 30 năm qua, vì thế họ chưa từng nhìn thấy Afghanistan. Họ không được tính đến trong các cuộc điều tra dân số quốc gia, thậm chí với cả người ra đời tại Pakistan, bởi họ vẫn bị coi là các công dân Afghanistan. Khoảng 8 triệu người Muhajir khi ấy chiếm một phần tư dân số đất nước tới từ Ấn Độ sau khi nước này độc lập năm 1947. Người Muhajir nói tiếng Urdu chiếm gần một nửa trong số 17 triệu dân Karachi, người Punjabi và Pashtun cũng là những cộng đồng đáng kể trong thành phố này. Bản mẫu:Danh sách thành phố Pakistan theo dân số === Ngôn ngữ === Pakistan là một quốc gia đa ngôn ngữ với hơn sáu mươi ngôn ngữ hiện đang được sử dụng. Tiếng Anh là ngôn ngữ chính thức của Pakistan và được sử dụng trong thương mại, chính phủ và các hợp đồng pháp lý, trong khi tiếng Urdu là ngôn ngữ quốc gia. Tiếng Punjabi là ngôn ngữ cấp tỉnh của Punjab. Tiếng Pashto là ngôn ngữ cấp tỉnh của NWFP. Tiếng Sindhi là ngôn ngữ cấp tỉnh của Sindh và tiếng Balochi là ngôn ngữ cấp tỉnh của Balochistan. Các ngôn ngữ khác gồm Aer, Badeshi, Bagri, Balti, Bateri, Bhaya, Brahui, Burushaski, Chilisso, Dameli, Dehwari, Dhatki, Domaaki, Farsi (Dari), Gawar-Bati, Ghera, Goaria, Gowro, Gujarati, Gujari, Gurgula, Hazaragi, Hindko (hai loại), Jadgali, Jandavra, Kabutra, Kachchi (Kutchi), Kalami, Kalasha, Kalkoti, Kamviri, Kashmiri, Kati, Khetrani, Khowar, Indus Kohistani, Koli (ba loại), Lasi, Loarki, Marwari, Memoni, Od, Ormuri, Pahari-Potwari, Ngôn ngữ Ký hiệu Pakistan, Palula (Phalura), Sansi, Savi, Shina (hai loại), Torwali, Ushojo, Vaghri, Wakhi, Waneci, và Yidgha. Một số trong số các ngôn ngữ đó đang gặp nguy cơ biến mất với một số người sử dụng khá nhỏ và những ngôn ngữ khác có hàng trăm nghìn người sử dụng. Đa số các ngôn ngữ thuộc nhánh Ấn-Iran của ngữ hệ Ấn-Âu. Các ngoại trừ là Burushaski, là một ngôn ngữ tách biệt; Balti, là Trung-Tạng; và Brahui, là Dravidian. === Tôn giáo === Pakistan là nước có quốc gia có đa số dân là tín đồ Hồi giáo hàng thứ hai thế giới và cũng có cộng đồng Shi'a hạng hai thế giới. Khoảng 95% người dân Pakistan là tín đồ Hồi giáo, trong số đó gần 75% thuộc phái Sunni và 20% là Shi'a. Dù hai nhóm Hồi giáo này thường chung sống hoà bình, những vụ bạo lực giáo phái thỉnh thoảng vẫn xảy ra. Thống kê tôn giáo của đất nước như sau: Hồi giáo 173,000,000 (96%) (gần 70% là tín đồ Hồi giáo Sunni và 20% là Hồi giáo Shi'a). Ấn Độ giáo 3,200,000 (1.85%) Ki-tô giáo 2,800,000 (1.6%) Đạo Sikh khoảng 20,000 (0.001%) Số còn lại là Parsis, Hồi giáo Ahmadi, Phật giáo, Do Thái, Bahá'ís, và vật linh (chủ yếu là Kalasha của Chitral). === Sức khoẻ === Tuổi thọ khi sinh là 63 với nữ và 62 với nam năm 2006. Tuổi thọ khoẻ mạnh khi sinh là 54 cho nam và 52 cho nữ năm 2003. Expenditure on health was at 2% of the GDP in 2006. Tỷ lệ tử dưới 5 tuổi ở mức 97 trên 1,000 ca sinh sống năm 2006. == Quân đội == Các lực lượng vũ trang Pakistan là một lực lượng hoàn toàn tự nguyện và lớn thứ sáu trên thế giới. Ba nhánh chính là Lục quân, Hải quân và Không quân, được hỗ trợ bởi một số lực lượng bán vũ trang thực hiện các vai trò an ninh nội địa và tuần tra biên giới. Bộ tư lệnh Quốc gia chịu trách nhiệm huấn luyện sử dụng và kiểm soát phát triển mọi lực lượng và tổ chức hạt nhân chiến lược. Quân đội Pakistan lần đầu tham chiến trong cuộc Chiến tranh Kashmir lần thứ nhất, giành được quyền kiểm soát vùng hiện là Azad Kashmir. Năm 1961, quân đội đã đẩy lui một cuộc tiến công bất ngờ của Afghanistan vào biên giới phía tây Pakistan. Pakistan và Ấn Độ một lần nữa tham chiến năm 1965 và năm 1971. Năm 1973, quân đội đã tiêu diệt một cuộc nổi dậy quốc gia Baloch. Trong cuộc chiến tranh Xô viết-Afghanistan, Pakistan đã bắn hạ nhiều máy bay của lực lượng Afghanistan ủng hộ Liên Xô và cung cấp hỗ trợ bí mật cho lực lượng mujahideen Afghanistan thông qua cơ quan Inter-Services Intelligence. Năm 1999, Pakistan tham gia vào cuộc xung đột Kargil với Ấn Độ. Hiện tại, quân đội nước này đang tham gia vào một cuộc xung đột vũ trang với các chiến binh Hồi giáo cực đoan ở phía tây bắc đất nước. Các lực lượng vũ trang Pakistan đã tham gia vào các nỗ lực gìn giữ hoà bình của Liên hiệp quốc, với hơn 10,000 quân được triển khai năm 2007, và hiện là nước đóng góp lớn nhất. Trong quá khứ, binh sĩ Pakistan đã tình nguyện phục vụ cùng với các lực lượng Ả Rập trong các cuộc xung đột với Israel. Pakistan cung cấp một đội quân cho liên minh được Liên hiệp quốc ủng hộ trong cuộc Chiến tranh vùng Vịnh lần thứ nhất. Quân đội Pakistan sử dụng nhiều loại vũ khí gồm cả vũ khí hạt nhân, các hệ thống tên lửa đạn đạo di động, các hệ thống thông tin laser, xe bọc thép và xe tăng, máy bay phản lực chiến đấu/ném bom đa nhiệm. Đầu thế kỷ 21, Pakistan bị cáo buộc đã nhận hàng tỷ dollar để chiến đấu chống chủ nghĩa khủng bố, trong khi cùng lúc đó lại cung cấp nơi trú ẩn an toàn cho một số những kẻ cực đoan Hồi giáo nguy hiểm nhất, gồm cả lãnh đạo al-Qa'ida Osama bin Laden và lãnh đạo Taliban Afghanistan Mullah Omar . == Địa lý và khí hậu == Pakistan có diện tích 881,640 km² (340,403 dặm vuông), xấp xỉ bằng diện tích của Pháp và Anh. Các vùng phía đông nước này nằm trên đĩa kiến tạo Ấn Độ và các vùng tây và bắc trên cao nguyên Iran và lục địa Á Âu. Ngoài 1,046-kilômét (650 dặm) bờ Biển Ả Rập, các biên giới trên bộ của Pakistan có tổng chiều dài 6,774 kilômét—2,430 kilômét (1,509 dặm) với Afghanistan ở phía tây bắc, 523 kilômét (325 dặm) với Trung Quốc ở phía đông bắc, 2,912 kilômét (1,809 dặm) với Ấn Độ ở phía đông và 909 kilômét (565 dặm) với Iran ở phía tây nam. Các cao nguyên phía bắc và phía tây Pakistan gồm các dãy núi Karakoram và Pamir cao ngất, gồm cả một số những đỉnh cao nhất thế giới, như K2 (28,250 ft; 8,611 m) và Nanga Parbat (26,660 ft; 8,126 m). Cao nguyên Balochistan nằm ở phía tây, và sa mạc Thar và một sự mở rộng của các đồng bằng bồi đắp, Punjab và Sind, nằm ở phía đông. Sông Indus dài 1,609 km (1,000 dặm) và các phụ lưu của nó chảy xuyên qua đất nước từ vùng Kashmir vào Biển Ả Rập. Pakistan có bốn mùa: một mùa đông lạnh và khô từ tháng 12 đến tháng 2; một mùa xuân nóng và khô từ tháng 3 đến tháng 5; mùa hè nhiều mưa, hay giai đoạn gió mùa tây nam, từ tháng 6 đến tháng 9; và giai đoạn gió mùa rút đi từ tháng 10 đến tháng 11. Sự bắt đầu và quá trình của các mùa này hơi khác biệt tuỳ theo địa điểm. Lượng mưa có thể khác biệt rất nhiều tuỳ theo năm, và những mô hình kế lụt và hạn hán kế tiếp nhau cũng không hiếm thấy. == Hệ động thực vật == Con vật quốc gia Pakistan là Markhor và loài chim quốc gia là Chukar, cũng được gọi là Chakhoor trong tiếng Urdu. Sự đa dạng trong phong cảnh và khí hậu ở Pakistan cho phép nhiều loài động vật và chim hoang dã phát triển. Các khu rừng từ tùng bách núi cao và các loài cây cận núi cao như vân sam, thông và thông tuyết ở các vùng núi phía bắc tới các loài cây rụng lá như Shisham kiểu dâu tằm ở dãy Sulaiman ở phía nam. Các vùng đồi phía tây có cây bách xù và cây thánh liễu cũng như các loại cỏ lá rộng và cây bụi. Dục theo bờ biển phía nam là các rừng xoài chiếm hầu hết các vùng đất ẩm bờ biển. Ở phía nam, có cá sấu sinh sống tại các vùng nước tối tại cửa sông Indus trong khi trên các bờ sông, có các loài lợn lòi, hươu, nhím, và các loài gặp nhấm nhỏ sinh sống. Tại các vùng đất cây bụi cát ở trung Pakistan có chó sói, linh cầu, mèo rừng, báo còn trên trời có các loài chim ưng, diều hâu và đại bàng. Ở các sa mạc phía tây nam có các loài báo Cheetah châu Á sinh sống. Ở những vùng núi phía bắc có nhiều loài thú quý đang gặp nguy hiểm gồm cừu Marco Polo, cừu Urial, dê Markhor và Ibex, gấu đen và gấu xám Himalaya, và loài báo tuyết quý hiếm. Trong tháng 8 năm 2006, Pakistan đã tặng một con báo tuyết mồ côi tên là Leo cho Mỹ. Các giống loài quý hiếm khác là cá heo mù sông Indus khoảng 1,100 được cho là còn đang tồn tại, được bảo vệ tại Khu dự trữ cá heo sông Indus ở Sindh. Trong những năm gần đây số lượng các loài thú hoang dã bị giết để lấy lông và da khiến nước này phải ra một luật mới cấm săn bắn các loài thú hoang và chim và thành lập nhiềm khu vực dự trữ bảo vệ các loài sinh vật này. Số lượng thợ săn đã giảm đáng kể sau đó. == Kinh tế == Dù là một nước rất nghèo năm 1947, tỷ lệ tăng trưởng kinh tế của Pakistan đã ở trên mức trung bình của thế giới trong bốn thập niên sau đó, nhưng các chính sách không thận trọng đã khiến tốc độ này chậm lại hồi cuối thập niên 1990. Gần đây, những chính sách cải cách kinh tế trên diện rộng đã dẫn tới một triển vọng kinh tế mạnh mẽ hơn và tăng tốc phát triển đặc biệt trong các lĩnh vực chế tạo và dịch vụ tài chính. Từ thập niên 1990, đã có sự cải thiện đáng kể trong vị thế ngoại hối và một sự tăng trưởng nhanh chóng trong dự trữ ngoại tệ mạnh. Ước tính số nợ nước ngoài năm 2005 ở mức gần US$40 tỷ. Tuy nhiên, nó đã giảm bớt trong những năm gần đây với sự hỗ trợ từ Quỹ Tiền tệ Quốc tế và khoản xoá nợ đáng kể từ Hoa Kỳ. Tổng Sản phẩm Quốc nội của Pakistan, tính theo sức mua tương đương, ước tính ở mức US$5,403 tỷ trong khi thu nhập trên đầu người đứng ở mức $1,428. Tỷ lệ nghèo khổ ở Pakistan ước tính trong khoảng 23% đến 28%. Tăng trưởng GDP bền vững trong gia đoạn giữa những năm 2000 với tỷ lệ 7%; tuy nhiên, nó đã giảm bớt trong cuộc khủng hoảng kinh tế năm 2008 xuống mức 4.7%. Một tỷ lệ lạm phát cao 24.4% và mức dự trữ thấp, cùng các yếu tố kinh tế khác, tiếp tục là trở ngại cho việc duy trì một tốc độ phát triển kinh tế cao. GDP của Pakistan ở mức US$167 tỷ, khiến nước này trở thành nền kinh tế đứng hàng 48 trên thế giới hay hạng 27 khi tính theo sức mua tương đương đã được điều chỉnh tỷ giá. Hiện nay, Pakistan được coi là nền kinh tế đứng thứ hai ở Nam Á (sau Ấn Độ). Tính đến năm 2016, GDP của Pakistan đạt 271.050 USD, đứng thứ 43 thế giới và đứng thứ 16 châu Á. Cơ cấu kinh tế Pakistan đã thay đổi từ chủ yếu dựa vào nông nghiệp sang một kết cấu dựa mạnh vào dịch vụ. Nông nghiệp hiện nay chỉ chiếm khoảng 20% GDP, trong khi lĩnh vực dịch vụ chiếm 53% GDP. Các khoản đầu tư nước ngoài lớn đã được rót vào nhiều lĩnh vực gồm cả viễn thông, bất động sản và năng lượng. Các ngành công nghiệp quan trọng khác gồm đồ trang sức và dệt may (chiếm gần 60% xuất khẩu), chế biến thực phẩm, sản xuất hoá chất, và các ngành công nghiệp sắt và thép. Xuất khẩu của Pakistan năm 2008 đạt giá trị $20.62 tỷ (USD). Pakistan là một nước phát triển nhanh. Tuy nhiên, cuộc khủng hoảng kinh tế năm 2008 đã khiến Pakistan phải tìm kiếm hơn $100 tỷ để tránh tình trạng phá sản có thể xảy ra. Khoản tiền này không bao giờ được trao cho Pakistan và vì thế họ phải phụ thuộc vào một chính sách thuế khoá nặng nề hơn, do IMF hậu thuẫn. Một năm sau Ngân hàng Phát triển châu Á thông báo cuộc khủng hoảng kinh tế của Pakistan đã giảm nhẹ trong năm 2009 . Hơn nữa, họ dự đoán rằng trong năm 2010 kinh tế Pakistan sẽ tăng trưởng ít nhất 4% và có thể tăng trưởng hơn nữa với sự phục hồi kinh tế mạnh mẽ của thế giới. == Giáo dục == Giáo dục tại Pakistan được chia thành năm cấp: tiểu học (lớp một tới lớp năm); trung học (lớp sáu đến lớp tám); cao (lớp chín và mười và được cấp Bằng cấp hai); trung gian (lớp mười một và mười hai, được cấp Chứng nhận giáo dục cấp hai hạng cao); và các chương trình đại học với các bằng cấp tốt nghiệp và sau đại học. Pakistan cũng có một hệ thống giáo dục cấp hai song song tại các trường tư, dựa trên bộ chương trình và do Cambridge International Examinations quản lý, thay cho các kỳ thi của chính phủ. Một số học sinh lựa chọn thực hiện các kỳ kiểm tra O level và A level qua Hội đồng Anh. Hiện có 730 trường kỹ thuật và dạy nghề ở Pakistan. Những yêu cầu tối thiểu để vào trường dạy nghề của nam là hoàn thành lớp 8. Các chương trình nói chung kéo dài hai hay ba năm. Các yêu cầu tối thiểu để vào các trường dạy nghề của nữ là hoàn thành lớp 5. Tất cả các cơ sở giáo dục hàn lâm thuộc trách nhiệm của các chính quyền tỉnh. Chính phủ Liên bang chủ yếu hỗ trợ phát triển chương trình giảng dạy, cấp bằng công nhận và một số trợ giúp tài chính cho nghiên cứu. Giáo dục tiếng Anh trung học được mở rộng, dựa trên cơ sở các giai đoạn, với mọi trường học trên cả nước. Thông qua nhiều cuộc cải cách giáo dục, tới năm 2015, bộ giáo dục dự kiến đạt mức đăng ký theo học 100% với các trẻ em trong độ tuổi, và tỷ lệ biết chữ đạt 86% ở người trên 10 tuổi. Pakistan cũng có các madrassah cung cấp giáo dục miễn phí và cũng cung cấp các chương trình học cùng nơi ở miễn phí cho các học sinh thuộc tầng lớp nghèo nhất xã hội. Sau những chỉ trích về việc những kẻ khủng bố sử dụng những trường này cho mục đích tuyển mộ chiến binh, những nỗ lực đã được đưa ra nhằm quản lý các trường đó. == Xã hội và văn hoá == Xã hội Pakistan phần lớn theo chế độ thứ bậc, với sự tôn trọng lớn dành cho các giá trị truyền thống Hồi giáo, dù các gia đình thành thị đã phát triển thành một hệ thống gia đình hạt nhân bởi những đè nén kinh tế xã hội đã bị áp đặt bởi hệ thống gia đình chung truyền thống. Những thập kỷ gần đây đã chứng kiến sự xuất hiện của một tầng lớp trung lưu tại các thành phố như Karachi, Lahore, Rawalpindi, Hyderabad, Faisalabad, Multan và Peshawar những người muốn theo một khuynh hướng ôn hoà hơn, lập trường bị các khu vực phía tây bắc giáp giới với Afghanistan chủ yếu vẫn rất bảo thủ và vẫn tuân theo các truyền thống bộ tộc từ hàng thế kỷ phản đối. Sự gia tăng toàn cầu hoá khiến nước này được xếp hạng 46 theo Chỉ số Toàn cầu hoá A.T. Kearney/FP. Sự đa dạng của âm nhạc Pakistan từ các loại âm nhạc dân gian của các tỉnh tới các thể loại âm nhạc truyền thống như Qawwali và Ghazal Gayaki tới các hình thức âm nhạc hiện đại dựa trên âm nhạc truyền thống và phương tây, như sự đồng bộ hoá Qawwali và âm nhạc phương tây bởi nhà soạn nhạc nổi tiếng thế giới Nusrat Fateh Ali Khan. Ngoài ra Pakistan cũng là quê hương của nhiều ca sĩ nhạc dân gian nổi tiếng như Alam Lohar, người cũng nổi tiếng ở Punjab Ấn Độ. Tuy nhiên, đa số người dân Pakistan nghe âm nhạc Ấn Độ do Bollywood sản xuất và của ngành công nghiệp điện ảnh Ấn Độ. Sự xuất hiện của những người tị nạn Afghanistan ở các tỉnh phía tây đã nhen lại âm nhạc Pashto và Ba Tư và biến Peshawar thành một cổng chính cho các nhạc sĩ Afghanistan và là một trung tâm phân phối của âm nhạc Afghanistan ra nước ngoài. Tập đoàn Truyền hình Pakistan (PTV) và Tập đoàn Truyền phát Pakistan thuộc sở hữu nhà nước là các cơ quan truyền thông có vai trò chi phối, nhưng hiện có nhiều kênh truyền hình tư nhân. Đại đa số người dân Pakistan được tiếp cận nhiều kênh truyền hình và các bộ phim Mỹ, châu Âu và châu Á thông qua các mạng lưới truyền hình tư nhân, truyền hình cáp, và truyền hình vệ tinh. Cũng có một ngành công nghiệp phim bản xứ nhỏ tại Lahore và Peshawar (thường được gọi là Lollywood). Và tuy các bộ phim Bollywood đã bị cấm trình chiếu tại các rạp chiếu phim công cộng từ năm 1965 chúng vẫn phổ biến trong văn hoá đại chúng. Kiến trúc của các khu vực hiện tạo thành Pakistan có thể chia thành bốn giai đoạn riêng biệt —tiền Hồi giáo, Hồi giáo, thuộc địa và hậu thuộc địa. Với sự bắt đầu của văn minh Indus khoảng giữa thiên niên kỷ thứ ba trước Công Nguyên, một nền văn hoá thành thị tiên tiến đã phát triển lần đầu tiên trong vùng, với những cơ sở kiến trúc lớn, một số công trình vẫn còn tồn tại đến ngày nay. Mohenjo Daro, Harappa và Kot Diji thuộc các khu định cư thời kỳ tiền Hồi giáo. Sự trỗi dậy của Phật giáo và ảnh hưởng Ba Tư và Hy Lạp đã dẫn tới sự phát triển của phong cách Hy Lạp-Phật giáo, bắt đầu từ thế kỷ thứ nhất sau Công Nguyên. Đỉnh cao của thời kỷ này diễn ra cùng phong cách Gandhara. Một ví dụ về kiến trúc Phật giáo là các tàn tích của tu viện Phật giáo Takht-i-Bahi ở tỉnh Biên giới Tây Bắc. Sự xuất hiện của Đạo Hồi ở Pakistan hiện nay có nghĩa là một sự chấm dứt đột ngột của kiến trúc Phật giáo. Tuy nhiên, một sự chuyển tiếp nhẹ nhàng sang kiến trúc Hồi giáo không tranh ảnh đã diễn ra. Công trình quan trọng nhất trong một số ít công trình đã hoàn toàn được khám phá thuộc phong cách Ba Tư là lăng mộ của Shah Rukn-i-Alam ở Multan. Trong thời kỳ Mughal các yếu tố thiết kế của kiến trúc Hồi giáo-Ba Tư đã bị pha trộn với các hình thức thường ít nghiêm túc của nghệ thuật Hindustani. Lahore, nơi ở không thường xuyên của các vị vua cai trị Mughal, có nhiều công trình quan trọng từ thời đế chế, trong số đó có thánh đường Hồi giáo Badshahi, Pháo đài Lahore với Cổng Alamgiri nổi tiếng, thánh đường Hồi giáo Wazir Khan nhiều màu sắc, mang nặng ảnh hưởng Ba Tư cũng như nhiều thánh đường và lăng mộ khác. Tương tự Thánh đường Shahjahan ở Thatta của người Sindh từ thời Mughal. Trong thời kỳ thuộc địa Anh, các công trình chủ yếu mang tính chất chức năng thuộc phong cách Ấn-Âu đã phát triển từ một tập hợp các yếu tố châu Âu và Ấn Độ-Hồi giáo. Bản sắc quốc gia hậu thuộc địa được thể hiện trong những công trình hiện đại như Thánh đường Faisal, Minar-e-Pakistan và Mazar-e-Quaid. Văn học Pakistan gồm văn học của các ngôn ngữ đã từng tồn tại ở quốc gia này, gồm Urdu, Sindhi, Punjabi, Pushto, Baluchi cũng như tiếng Anh trong các thời kỳ gần đây và trong quá khứ gồm cả văn học Ba Tư. Trước thế kỷ 19, văn học chủ yếu gồm yếu tố thơ trữ tình và tôn giáo, thần bí và đại chúng. Trong thời kỳ thuộc địa các nhân vật văn học bản xứ, dưới ảnh hưởng của văn học phương Tây thuộc chủ nghĩa hiện thực, đã ngày càng tiếp cận với các chủ đề và các hình thức diễn tả khác nhau. Ngày nay, truyện ngắn được dân chúng rất ưa chuộng. Nhà thơ quốc gia Pakistan, Allama Muhammad Iqbal, đã đề xuất việc tạo lập một quê hương riêng biệt cho những người Hồi giáo Ấn Độ. Tuy nhiên, Iqbal cũng đã viết Tarana-e-Hind nói nên niềm tin vào một nước Ấn Độ thống nhất và hùng mạnh. Cuốn sách The Reconstruction of Religious Thought in Islam (Tái thiết Tư tưởng Tôn giáo trong Đạo Hồi) của ông là một tác phẩm lớn của triết học Hồi giáo hiện đại. Nhân vật nổi tiếng nhất của văn học Urdu đương đại ở Pakistan là Faiz Ahmed Faiz. Thơ Sufi Shah Abdul Latif, Bulleh Shah và Khawaja Farid cũng rất phổ biến ở Pakistan. Mirza Kalich Beg đã được gọi là người cha của văn xuôi Sindhi hiện đại. == Du lịch == Dù không có hình ảnh tốt và thường bị cường điệu ở phương Tây, và từng bị tạp chí "The Economist" coi là một trong những địa điểm nguy hiểm nhất thế giới, du lịch vẫn là một ngành công nghiệp đang trên đà phát triển tại Pakistan nhờ sự đa dạng văn hoá, con người và phong cảnh. Sự đa dạng trong thu hút du lịch từ những tàn tích của những nền văn hoá cổ như Mohenjo-daro, Harappa và Taxila, cho tới những địa điểm nghỉ dưỡng ở Himalaya, thu hút những người say mê phong cảnh hoang dã và các môn thể thao mùa đông. Pakistan cũng có nhiều đỉnh núi có độ cao trên 7.000 mét (22.970 ft), thu hút những nhà thám hiểm và người leo núi từ khắp nơi trên thế giới, đặc biệt là K2. Từ tháng 4 đến tháng 9, khách du lịch trong nước và quốc tế tới thăm các vùng này khiến du lịch trở thành một nguồn thu nhập cho người dân địa phương. Đa số khách du lịch tới từ các nước châu Á. Tại Balochistan có nhiều hang động cho những khách du lịch và người thám hiểm hang động, đặc biệt là Hang Juniper Shaft, hang Murghagull Gharra, hang Mughall saa, và những hang tự nhiên đẹp đẽ. Pakistan là một quốc gia thành viên Liên minh Hang động học Quốc tế (UIS). Những vùng phía bắc Pakistan là nơi có nhiều pháo đài, tháp và các kiến trúc lịch sử, gồm cả các thung lũng Hunza và Chitral, thung lũng là nơi sinh sống của Kalash, một cộng đồng theo thuyết vật linh nhỏ thời tiền Hồi giáo. Punjab cũng là một địa điểm diễn ra trận đánh của Alexandre trên sông Jhelum. Thành phố Lahore lịch sử được coi là trung tâm văn hoá của Pakistan và có nhiều công trình kiến trúc Mughal như Badshahi Masjid, Vườn Shalimar, Lăng mộ Jahangir và Pháo đài Lahore. Hiệp hội Phát triển Du lịch Pakistan (PTDC) cũng giúp quảng bá du lịch trong nước. Tuy nhiên, du lịch vẫn bị hạn chế bởi sự thiếu hụt cơ sở hạ tầng thích hợp và tình hình an ninh đang kém đi trong nước. Các hoạt chiến sự gần đây của Pakistan tại các địa điểm du lịch, gồm cả Swat và NWFP, đã ảnh hưởng lớn tới ngành công nghiệp du lịch. Những khó khăn khác cũng được quy cho mạng lưới du lịch còn hạn chế, khung quản lý du lịch kém, chính phủ ít ưu tiên cho ngành du lịch, tính hiệu quả thấp trong quảng bá du lịch và một nhận thức thiển cận về du lịch. Hơn nữa Pakistan từng tiếp đón hơn 500,000 du khách trước cuộc giảm phát kinh tế toàn cầu . == Thể thao == Môn thể thao chính thức và quốc gia của Pakistan là khúc côn cầu trên cỏ, dù cricket được ưa chuộng hơn. Đội tuyển cricket quốc gia đã một lần giành Cricket World Cup (năm 1992), và một lần về nhì (năm 1999), và nước này hai lần đồng đăng cai tổ chức (năm 1987 và 1996). Pakistan về nhì trong giải ICC World Twenty20 2007 đầu tiên được tổ chức ở Nam Phi và là nhà vô địch ICC World Twenty20 2009 được tổ chức ở Anh. Squash là một môn thể thao nổi bật khác của người Pakistan, với các vận động viên đẳng cấp thế giới như Jahangir Khan và Jansher Khan nhiều lần giành giải World Open trong sự nghiệp của họ. Ở mức độ quốc tế, Pakistan đã nhiều lần tham gia Olympics mùa hè môn hockey trên cỏ, quyền Anh, điền kinh, bơi lội, và bắn súng. Pakistan đã giành được tổng số 10 chiếc huy chương (3 vàng, 3 bạc và 4 đồng) trong khi tại Commonwealth Games và Asian Games họ có 61 và 182 huy chương. Hockey là môn thể thao Pakistan có được nhiều thành công nhất tại các kỳ Olympic, với ba huy chương vàng năm (1960, 1968, và 1984). Pakistan cũng có kỷ lục bốn lần giành Hockey World Cup (1971, 1978, 1982, 1994). Motorsport Association của Pakistan là một thành viên của Fédération Internationale de l'Automobile. Trong các môn thể thao thám hiểm hang động Pakistan là một quốc gia thành viên của UIS (Liên đoàn Hang động học Quốc tế) Freedom Rally là một cuộc đua off-road được tổ chức hàng năm diễn ra trong các dịp kỷ niệm Độc lập. Pakistan cũng đã lần đầu tiên được tham gia Golf World Cup năm 2009. == Đề cương Pakistan == == Tham khảo == == Đọc thêm == Cohen, Stephen P. The Idea of Pakistan. The Brookings Institution. November 2004. ISBN 0-8157-1502-1. Banuazizi, Ali and Weiner, Myron. The State, Religion, and Ethnic Politics: Afghanistan, Iran, and Pakistan. Syracuse University Press. August 1988. ISBN 0-8156-2448-4. Halliday, Fred. State and Ideology in the Middle East and Pakistan. Monthly Review Pr. February 1998. ISBN 0-85345-734-4. Hammond Incorporated. Hammond Greater Middle East Region: Including Afghanistan, Pakistan, Libya, and Turkey. American Map Corporation. August 2002. ISBN 0-8437-1827-7. Hilton, Isabel. Letter from Pakistan: The Pashtun Code. The New Yorker. ngày 3 tháng 12 năm 2001.ISABEL HILTON (3 tháng 12 năm 2001). “THE PASHTUN CODE”. Bản gốc lưu trữ ngày 2 tháng 2 năm 2007. Insight Guides, Halliday, Tony and Ikram, Tahir. Insight Guide Pakistan. Apa Productions. January 1998. ISBN 0-88729-736-6. Malik, Hafeez. Pakistan: Founders' Aspirations and Today's Realities. Oxford University Press, USA. May 2001. ISBN 0-19-579333-1. Malik, Iftikhar H. Religious Minorities in Pakistan. Minority Rights Group International. September 2002. ISBN 1-897693-69-9.[6] Malik, Iftikhar H. Culture and customs of Pakistan. Greenwood Press. December 2005. ISBN 0-313-33126-X. Najim, Adil. Pakistan and Democracy. The News International Pakistan. ngày 6 tháng 5 năm 2004.“Pakistan and Democracy”. Truy cập ngày 14 tháng 8 năm 2008. Rooney, John. Shadows in the dark: A history of Christianity in Pakistan up to the 10th century. Christian Study Centre. January 1984. OCLC 12177250 Rahman, Tariq.1996. Language and Politics in Pakistan Karachi: Oxford University Press. Reprinted several times, latest repr. 2006. Rahman, Tariq.2002. Language, Ideology and Power: Language-learning Among the Muslims of Pakistan and North India Karachi: OUP. Rahman, Tariq.2004. Denizens of Alien Worlds: A Study of Education, Inequality and Polarization in Pakistan Karachi: OUP, 2006 repr. Sharif, Shuja. Musharraf's Administration And Pakistan's Economy. Contemporary Review. ngày 31 tháng 3 năm 2005. 129–134. Wolpert, Stanley. Jinnah of Pakistan. Oxford University Press, USA. May 1984. ISBN 0-19-503412-0. Zakaria, Rafiq. The Man Who Divided India: An Insight into Jinnah's Leadership and its Aftermath. Popular Prakashan. 2001. ISBN 81-7154-892-X. Statehood in South Asia. Strategic Insights, Volume III, Issue 10 (October 2004). == Liên kết ngoài == Government of Pakistan Pakistan Board of Investment The President of Pakistan The Ministry of Information and Broadcasting Chief of State and Cabinet Members Mục “Pakistan” trên trang của CIA World Factbook. Pakistan at UCB Libraries GovPubs Pakistan tại DMOZ Wikimedia Atlas của Pakistan, có một số bản đồ liên quan đến Pakistan. Pakistan; Pakistaniaat: A Journal of Pakistan Studies
flappy bird.txt
Flappy Bird (tạm dịch là "chú chim vỗ cánh") là một trò chơi điện tử trên điện thoại do Nguyễn Hà Đông, một developer ở Hà Nội, Việt Nam phát triển, và do dotGEARS, một studio phát triển game quy mô nhỏ, hoạt động độc lập có trụ sở tại Việt Nam phát hành vào năm 2013. Trò chơi được trình bày theo phong cách side-scroller (phong cách game với các đối tượng được nhìn thấy ở mặt bên (side-view) và di chuyển từ cạnh trái sang cạnh phải của màn hình), trong đó người chơi điều khiển một chú chim, cố gắng vượt qua các hàng ống màu xanh lá cây mà không chạm vào chúng. Nguyễn Hà Đông tạo ra Flappy Bird trong vòng một vài ngày, sử dụng một nhân vật chú chim mà anh đã thiết kế cho một dự án trò chơi bị hủy bỏ vào năm 2012. Ban đầu, Flappy Bird được phát hành vào tháng 5 năm 2013 trên nền iOS5, sau đó nâng cấp cho hệ máy iOS6 và mới hơn vào tháng 9 năm 2013. Vào tháng 1 năm 2014, trò chơi bất ngờ trở nên nổi tiếng, đứng đầu bảng thể loạt miễn phí trên iTunes App Store của Mỹ và Trung Quốc và sau đó là trên UK App Store khi nó được mệnh danh là "trò Angry Birds mới". Vào cuối tháng 1, Flappy Bird là ứng dụng được tải về nhiều nhất trên App Store cũng như trên Google Play Flappy Bird đã bị chỉ trích về mức độ khó của trò chơi, cũng như các cáo buộc về sao chép hình ảnh, âm thanh cũng như cách vận hành của một số trò chơi khác, cũng như tính gây nghiện của trò chơi này. Việc Flappy Bird bỗng nhiên nhảy vọt từ vị trí 1454 lên số 1 vào đầu năm 2014 chỉ trong vòng 26 ngày cũng gây nghi ngờ. Flappy Bird đã bị gỡ xuống trên App Store và Google Play bởi tác giả của nó vào ngày 10 tháng 2 năm 2014, do những tội lỗi của nó - mà như tác giả cảm thấy - là gây nghiện và bị lạm dụng quá mức. Độ nổi tiếng và việc gỡ xuống đột ngột của trò chơi khiến cộng đồng sôi sục, thậm chí những chiếc điện thoại đã cài sẵn Flappy Bird được rao bán trên mạng Internet với giá cao Các trò chơi tương tự Flappy Bird trở nên nổi tiếng trên iTunes App Store sau khi trò chơi này bị gỡ bỏ, và cả Apple và Google đã gỡ bỏ những trò chơi từ chợ ứng dụng vì lý do quá giống với nguyên tác. Trò chơi cũng đã được phân phối thông qua các kênh không chính thức trên nhiều nền tảng. Tháng 8 năm 2014, một phiên bản chỉnh sửa của Flappy Bird mang tên Flappy Birds Family được phát hành độc quyển cho Amazon Fire TV. Bay Tek Games cũng cho ra mắt một phiên bản trò chơi hành động Flappy Bird thanh toán bằng tiền xu. == Mục tiêu == Mục tiêu của trò chơi là điều khiển một chú chim bay qua những cái ống. Nếu chú chim chạm vào chướng ngại vật thì trò chơi sẽ kết thúc. Mỗi khi chú chim vượt qua một cặp ống thì người chơi nhận được một điểm. Nó sử dụng đồ họa tương tự như Super Mario Bros., với một hệ thống điều khiển vô cùng đơn giản. == Đón nhận == Huffington Post gọi ứng dụng này là "một trò chơi điên rồ, khó chịu, khó nhằn và gây bực bội khi kết hợp một đường cong khó siêu dốc với đồ họa nhàm chán, xấu xí và chuyển động giật". Tuy nhiên, một đánh giá tích cực hơn đến từ Jenifer Whiteside của Amongtech.com, cho rằng nó có thể che mờ đi Candy Crush Saga như là một tựa game phổ biến nhất 2014 vì tính gây nghiện của nó. Độ khó của trò chơi thường gây ra sự tức giận cho người chơi, một trong số đó tuyên bố anh ta đã mất đến nữa giờ để giành được năm điểm. Phiên bản trên Android dễ chơi hơn một chút so với phiên bản trên iOS, theo người sáng tạo ra trò chơi. Flappy Bird cũng được mệnh danh là "Ma túy trên App Store". IGN cho trò chơi này 5.4 điểm trên 10, cho rằng tuy nó gây nghiện nhưng cũng nông cạn, cực kỳ đơn điệu, thiếu sáng tạo, không có sự tiến triển, và chỉ là thứ để giết thời gian. Khung cảnh trong trò chơi được cho là giống Super Mario, còn nhân vật chính thì giống con cá một mắt hơn là chim. Người đánh giá Vince Ingenito cho rằng Flappy Bird có thể hút hồn người chơi, hoặc khiến họ nhấn lên màn hình vài cái rồi xóa đi trong vòng 2 phút. Một số người dùng IGN đã lên tiếng phản đối bài đánh giá của Vince Ingenito, bình luận rằng IGN không nên phí thời gian viết bài đánh giá "thứ rác rưởi" này. Theo đánh giá của Patrick O'Rourke, biên tập viên chuyên về công nghệ và các trò chơi của Canada.com thì Flappy Bird là một trò chơi tồi tệ và thuộc loại dở nhất mà anh ta từng chơi. == Tranh cãi == The Daily Telegraph đặt dấu hỏi về sự nổi tiếng bất thường của trò chơi, khi mà nó chẳng được chú ý gì trong nhiều tháng sau khi phát hành vào tháng 5 năm 2013, nhưng đến tháng 1 năm 2014 lại đột ngột nhảy từ vị trí số 1454 trong bảng (thống kê của GB Family) lên số 1 chỉ trong vòng 26 ngày (1 tháng 1 đến 27 tháng 1). Tờ Telegraph nghi ngờ tác giả đã tự tạo những lượt truy cập giả nhằm đẩy trò chơi của mình lên vị trí cao hơn trên bảng xếp hạng của các cửa hàng phần mềm. Nguyễn Hà Đông đã từ chối không bình luận về vấn đề này khi được hỏi. Kotaku nhấn mạnh rằng chẳng có gì trong trò chơi này là nguyên bản, và cáo buộc Flappy Bird đã nhái Super Mario từ cảnh vật trong trò chơi, những ống cống màu xanh, đến tạo hình con chim. Biên tập viên Patrick O'Rourke của Canada.com cáo buộc Flappy Bird đã bắt chước gần như giống hệt trò chơi tên Piou Piou vs. Cactus (được phát hành cho iOS và Android vào năm 2011). Một số trang tin của Pháp như 20 Minutes, Metronews cũng nghi ngờ Flappy Bird là "hàng nhái" bởi nó "giống đến mức kỳ lạ" Piou Piou vs. Cactus từ cách chơi (gõ gõ vào màn hình) đến tạo hình con chim (màu vàng với cái mỏ to màu đỏ), và các chướng ngại (màu xanh lá). Kek, tác giả người Pháp của trò chơi Piou Piou vs. Cactus cũng đã lên tiếng về sự tương đồng quá lớn giữa hai trò chơi (Flappy Bird ra đời sau Piou Piou vs. Cactus khoảng 2 năm). Khi Kek liên hệ với Nguyễn Hà Đông thì Đông nói rằng "không hề biết gì về Piou Piou vs. Cactus". Pocket Gamer cho rằng có lẽ đủ chứng cứ để khẳng định Flappy Bird là game nhái, nhưng Kek nói anh ta sẽ không kiện ra tòa mà sẽ dùng số tiền và thời gian đi thưa kiện để đầu tư làm game mới thì hơn. == Bị "khai tử" == Vào lúc 2:09 sáng ngày 9 tháng 2 năm 2014, giờ Việt Nam, Nguyễn Hà Đông tuyên bố trên tài khoản Twitter của mình là "trong 22 tiếng tới, tôi sẽ gỡ trò 'Flappy Bird' xuống. Tôi không thể chịu đựng nổi nữa." Trước đó Đông đã viết "Flappy Bird là một thành công của tôi. Nhưng nó cũng đã phá hoại cuộc sống đơn giản của tôi. Thế nên giờ đây, tôi rất ghét nó." Ngày 10/2/2014, Dong Nguyen gỡ Flappy Bird. Sau đó, Kotaku có bài xin lỗi cha đẻ Flappy Bird. Trong một lá thư gửi cho tờ Wall Street Journal, người phát ngôn Yasuhiro Minagawa của Nintendo nhấn mạnh rằng hãng không có lời than phiền nào liên quan đến game Flappy Bird. Ông nói: “Mặc dù chúng tôi thường không bình luận gì về tin đồn và những nghi vấn, nhưng chúng tôi đã bác bỏ nghi ngờ này.” Trước đây có những thông tin không xác thực nói rằng Nintendo đang muốn kiện Flappy Bird vì sử dụng những hình ảnh tương tự như trò chơi nổi tiếng Super Mario Bros, và đó cũng là một trong những lý do khiến tác giả Nguyễn Hà Đông quyết định gỡ bỏ Flappy Bird ra khỏi các kho ứng dụng App Store cũng như Google Play. Trong những dòng tweet, Đông chia sẻ rằng trò chơi này bị gỡ đơn giản là do nó “làm hỏng cuộc đời đơn giản” của anh và những áp lực từ báo chí, không phải vì vấn đề pháp lý hay bản quyền. Tuy nhiên theo dư luận đánh giá anh còn bị áp lực từ chính sự than phiền của phụ huynh game thủ, game khiến người chơi dễ nóng giận, ức chế đập phá máy và đồ đạc - Tạo ra game là giúp người chơi thư giãn bớt căng thẳng nhưng game này lại đem lại tiêu cực cho xã hội và cuộc sống của anh. Tuy nhiên không thể không công nhận trò chơi của anh đã tạo cảm hứng cho rất nhiều studio game độc lập phát triển mạnh mẽ sau khi thấy được sự thành công vang dội và khoản thu nhập khổng lồ do game đem lại. Hà Đông cũng khẳng định không bán game của mình cho bất kì công ty nào. == Khởi động lại == Trong một cuộc phỏng vấn mới đây với tờ Rolling Stone, Nguyễn Hà Đông cho biết anh đang cân nhắc đến việc đưa Flappy Bird trở lại. == Chú thích ==
vàng(i) sulfua.txt
Vàng (I) sulfua là một hợp chất vô cơ với công thức hoá học là Au2S. Nó là một trong hai loại hợp chất chính chứa lưu huỳnh của vàng, chất kia là Vàng (III) sulfua với công thức Au2S3 == Điều chế == Nó có thể được điều chế bàng cách xử lý vàng clorua hoặc đixyanoaurat với hiđro sulfua: H2S + 2 KAu(CN)2 → Au2S + 2 KCN + 2 HCN == Chú thích ==
thomas muster.txt
Thomas Muster (sinh ngày 2 tháng 10 năm 1967 tại Leibnitz, Styria) là cựu tay vợt số 1 thế giới người Áo. Là một trong những người xuất sắc vào thập niên 90, Muster giành danh hiệu Pháp Mở rộng năm 1995 và được biết đến như là ông vua đất nện. Anh đã giành 8 danh hiệu Masters 1000. Muster là một trong 3 tay vợt từng thắng giải Masters 1000 trên 3 mặt sân (nện, trải thảm, cứng). == Grand Slam and Masters Series == === Grand Slam === ==== Vô địch: 1 (1) ==== === Masters Series === ==== Vô địch: 8 ==== ==== Á quân: 2 ==== == Các trận chung kết == === Singles: 55 (44–11) === === Đánh đơn === Ghi chú: Các nội dung này mang tên 'Masters Series' và 'ATP Tour World Championships' chi sau khi ATP tiếp quản tour đấu của nam vào năm 1990. == Tham khảo ==
jamie vardy.txt
Jamie Richard Vardy (tên khai sinh Jamie Richard Gill; 11 tháng 1 năm 1987) là một cầu thủ bóng đá chuyên nghiệp người Anh hiện đang chơi cho câu lạc bộ Leicester City và Đội tuyển Anh. Anh có sở trường chơi tiền đạo cắm, đồng thời có thể chơi cả vị trí tiền vệ cánh. Sau khi ra mắt trong màu áo đội trẻ Sheffield Wednesday ở tuổi 16, Vardy bắt đầu sự nghiệp lớn của mình với câu lạc bộ Stocksbridge Park Steels. Anh được lên đội một năm 2007 và có thu nhập 30 bảng/tuần. Tại đây anh đã có ba năm gắn bó cùng đội bóng trước khi gia nhập câu lạc bộ đang chơi tại Conference North Halifax Town năm 2010. Với 27 bàn thắng ở ngay mùa giải đầu tiên, anh đã xuất sắc đoạt giải "Cầu thủ xuất sắc nhất năm" của câu lạc bộ. Anh bắt đầu mùa giải 2011-12 với Halifax nhưng sau đó tiếp tục chuyển đến Fleetwood Town vào tháng 8 năm 2011 với mức phí chuyển nhượng không được tiết lộ. Anh đã ghi 31 bàn thắng cho Fleetwood trong cả mùa giải 2011-12, tiếp tục đoạt giải "Cầu thủ của năm" của câu lạc bộ. Đây cũng là danh hiệu cá nhân thứ hai liên tiếp mà Jamie giành được, qua đó giúp Fleetwood đoạt danh hiệu Conference Premier. Tháng 5 năm 2012, anh ký hợp đồng với câu lạc bộ đang chơi ở Football League Championship Leicester City với mức phí chuyển nhượng kỷ lục của đội bóng 1 triệu bảng. Vào tháng 11 năm 2015, Vardy trở thành cầu thủ đầu tiên ghi bàn trong 11 trận liên tiếp tại Giải bóng đá Ngoại hạng Anh. Vào ngày 2 tháng 5 năm 2016, Vardy đã chính thức cùng Leicester City vô địch Ngoại hạng Anh sau khi Chelsea cầm hòa Tottenham Hotspur. Jamie Vardy khoác áo đội tuyển Anh từ năm 2015 ở tuổi 28, anh cũng là cầu thủ khoác áo đội tuyển quốc gia muộn nhất tính đến thời điểm này. Anh được huấn luyện viên Roy Hodgson triệu tập tham dự Euro 2016 diễn ra tại Pháp. Ở lượt trận thứ hai của bảng B trước đội tuyển xứ Wales, Jamie Vardy đã ra sân ở những phút cuối hiệp 2 và đã ghi bàn thắng quyết định giúp đội tuyển Anh thắng xứ Wales với tỉ số 2-1 (trước đó, tiền đạo Gareth Bale của xứ Wales đã ghi bàn thắng mở tỉ số trước). == Sự nghiệp cầu thủ == === Stocksbridge Park Steels === Sinh ra tại Sheffield, South Yorkshire, Vardy bắt đầu sự nghiệp cầu thủ ở đội trẻ Stocksbridge Park Steels năm 16 tuổi sau khi được Sheffield Wednesday giải phóng hợp đồng. Anh có thời gian dài chơi cho đội dự bị và được chọn vào đội hình chính, có trận ra mắt đầu tiên dưới thời huấn luyện viên Gary Marrow năm 2007, kiếm được 30 bảng mỗi tuần ở câu lạc bộ. Sau những màn trình diễn ấn tượng, một vài đội bóng của Football League dành sự quan tâm và năm 2009 anh dành một tuần để chơi thử với Crewe Alexandra. Một vụ chuyển nhượng đã không xảy ra và sau đó Vardy cũng từ chối một bản hợp đồng ngắn hạn với Rotherham United. === FC Halifax Town === Tháng 6 năm 2010, huấn luyện viên Neil Aspin, một người ngưỡng mộ tài năng của Vardy trong thời gian dài đã đưa anh về FC Halifax Town với mức phí 15.000 bảng. Anh có trận ra mắt ngày 21 tháng 8 năm 2010 trong trận sân nhà tiếp đón Buxton, ghi bàn trong chiến thắng 2-1 cho đội bóng của anh. Vardy có một mùa giải đầu tiên thành công với "the Shaymen" khi là tay săn bàn hàng đầu của đội với 26 bàn thắng và được bình chọn là cầu thủ xuất sắc nhất mùa. Càng về cuối mùa giải anh càng tiến gần việc ghi một hat-trick của nhiều hat-trick nhưng không có được bàn thắng thứ ba trong chiến thắng 3-1 của Halifax trước Nantwich Town. Những bàn thắng của anh đã đảm bảo danh hiệu Northern Premier League Premier Division cho mùa 2010-11. Vardy bắt đầu mùa 2011-12 cùng Halifax khi ghi ba bàn trong bốn trận mở màn của mùa giải. === Fleetwood Town === Chỉ sau hơn một mùa giải với Halifax và có ba bàn trong bốn trận mở màn mùa giải 2011-12, Vardy ký hợp đồng với đội bóng Conference Premier Fleetwood Town với mức phí không tiết lộ. Anh có trận ra mắt trong trận hòa 0-0 với York City. Anh có những bàn thắng đầu tiên cho câu lạc bộ trong trận đấu thứ ba của mình, lập cú đúp trong chiến thắng 3-2 trong trận sân khách tiếp Kettering Town. Tuần tiếp theo anh ghi hai bàn thắng khác khi đối đầu Gateshead ở sân vận động Highbury, bao gồm một bàn ở phút bù giờ. Vardy tiếp tục lập cú đúp trong trận thứ ba liên tiếp trong chiến thắng sân khách 3-1 trước Ebbsfleet United, nhưng không ghi bàn nào trong hơn một tháng đến khi anh lập một hat-trick trong trận sân khách đối đầu Alfreton Town ngày 18 tháng 10. Ngày 1 tháng 1 năm 2012, Vardy lập cú đúp trong chiến thắng 6-0 trước Southport và sáu ngày sau, đội để thua 5-1 trên sân nhà tiếp đón kình địch cùng địa phương Blackpool ở vòng ba của FA Cup. Sau trận đấu đó, huấn luyện viên Blackpool Ian Holloway đề nghị mức giá 750.000 bảng cho anh nhưng bị Fleetwood từ chối, giữ chặt 1 triệu bảng và một khoản vay trở lại câu lạc bộ. Anh có sáu bàn trong bốn trận đầu tiên của mình trong năm dương lịch. Ngày 21 tháng 2, anh ghi hat-trick thứ hai trong mùa giải, trong chiến thắng 6-2 trước Ebbsfleet United khi mà Fleetwood bỏ lại Wrexham hai điểm để đoạt ngôi đầu bảng. Vardy ghi tất cả bàn thắng của Fleetwoood trong trận hòa 2-2 đối đầu Lincoln City; Trận hòa của Wrexham trước Grimsby Town ngày hôm sau gián tiếp giúp Fleetwood có được chức vô địch Conference và cũng là lần đầu tiên đăng quang tại The Football League. 31 bàn thắng của Vardy khi kết thúc mùa giải đưa anh trở thành chân sút hàng đầu tại Conference Premier. === Leicester City === ==== Mùa 2012-13 ==== Ngày 17 tháng 5 năm 2012, có thông tin cho rằng Vardy sẽ ký hợp đồng với Leicester City ngay trước mùa 2012-13 với phí chuyển nhượng 1 triệu £, một kỷ lục của giải đấu, thậm chí còn có khả năng giá trị tăng đến 1.7 triệu £ với khoản phụ phí. Ngày hôm sau, anh ký hợp đồng có thời hạn ba năm đến tháng 6 năm 2015. Ngày 14 tháng 8, Vardy có trận ra mắt Leicester khi đối đầu Torquay United ở vòng một League Cup, chơi trọn vẹn trận đấu tại Plainmoor và đánh đầu ghi bàn cuối cùng trong chiến thắng 4-0. Bốn ngày sau đó anh có trận ra mắt Football League tại sân vận động King Power, một thắng lợi 2-0 trước Peterborough United trong đó anh kiến tạo một bàn cho Andy King. Anh ghi bàn đầu tiên tại giải đấu trong thất bại sân khách 2-1 trước Blackburn Rovers ngày 25 tháng 8. Trong tháng 9, anh đều lập công trong những chiến thắng lội ngược dòng 2-1 khi chạm trán Burnley và Middlesbrough. Tuy nhiên mùa giải đầu tiên của Vardy ở Leicester không thành công do anh đánh mất phong độ. Điều này gây nên những lời chỉ trích từ một số người ủng hộ thành phố trên phương tiện truyền thông, thậm chí anh đã cân nhắc treo giày đến khi huấn luyện viên Nigel Pearson và trợ lý Craig Shakespeare thuyết phục anh tiếp tục gắn bó với đội bóng. ==== Mùa 2013-14 ==== Mùa giải tiếp theo đem lại nhiều vận may cho Vardy khi anh tự khẳng định mình là một chân sút ghi nhiều bàn trên mặt trận tấn công của Leicester khi câu lạc bộ đoạt ngôi đầu bảng xếp hạng. Vardy ghi bàn và chiến thắng trên chấm phạt đền giúp Leicester đánh bại kình địch cùng thành phố đang ở phong độ cao Derby County 4-1 ngày 10 tháng 11 năm 2014 và khẳng định vị thế dẫn đầu của đội bóng ở Championship. Vardy kết thúc mùa giải với 16 bàn thắng trong khi Leicester thăng hạng lên chơi tại Premier League vào cuối mùa giải với ngôi vô địch. Anh được bầu là cầu thủ xuất sắc nhất mùa của Leicester trong lễ trao giải thưởng của câu lạc bộ. ==== Mùa 2014-15 ==== Ngày 19 tháng 8 năm 2014, Vardy gia hạn hợp đồng đến mùa hè năm 2018. Sau khi bỏ lỡ hai trận đầu mùa giải vì chấn thương, anh có trận ra mắt Premier League ngày 31 tháng 8 năm 2014 khi vào sân thay người trong trận hòa 1-1 trên sân nhà trước Arsenal. Ngày 21 tháng 9, Vardy đóng vai trò là người cứu nguy trong trận đấu bằng việc ghi bàn thắng đầu tiên tại Premier League và kiến tạo bốn bàn khác giúp Leicester tạo nên cuộc lội ngược dòng bất ngờ từ thế thua 1-3 đến chiến thắng 5-3 trước Manchester United. Ngày 11 tháng 4 năm 2015, Vardy ghi bàn thắng vàng ở phút 90 trong thắng lợi 3-2 của "Bầy cáo" trước West Bromwich Albion. Màn trình diễn ấn tượng trong thời gian còn lại của tháng 4, bao gồm một bàn thắng khác trong trận gặp Burnley ngày 25 tháng 4 giúp Vardy được đề cử giải Cầu thủ Ngoại hạng Anh xuất sắc nhất tháng. Vardy và Leicester kết thúc mùa 2014-15 ở vị thứ 14 an toàn khi tăng 22 điểm kể từ 4 tháng 4. Họ có trận đại thắng 5-1 trước Queens Park Rangers ở ngày cuối cùng của mùa giải Premier League ngày 24 tháng 5. ==== Mùa 2015-16 ==== Vardy bắt đầu mùa 2015-16 bằng việc ghi bàn mở tỉ số giúp Leicester giành chiến thắng 4-2 trên sân nhà khi đối đầu Sunderland vào ngày 8 tháng 5 năm 2015. Anh lập công cân bằng tỉ số trong trận thắng lội ngược dòng 3-2 của Leicester trước Aston Villa ngày 13 tháng 9. Với cú đúp ghi được trong trận thua 2-5 của "Bầy cáo" trước Arsenal ngày 26 tháng 9, Vardy đã cán mốc ghi bảy bàn tại giải đấu, vượt qua tổng số bàn anh có được ở mùa giải năm ngoái.. Ngày 24 tháng 10, anh ghi bàn thắng duy nhất trong chiến thắng sân nhà khi tiếp đón Crystal Palace, trận thứ bảy liên tiếp tại Premier League mà anh nổ súng và cũng là bàn thứ mười của anh tại giải đấu. Vardy tiếp tục lập công trong trận thứ tám liên tiếp ngày 31 tháng 10, và trở thành cầu thủ thứ ba làm được điều này tại Premier League sau Ruud van Nistelrooy (hai lần) và Daniel Sturridge, trong thắng lợi 3-2 trước West Bromwich Albion. Một tuần sau đó, anh ghi bàn thành công trên chấm phạt đền đảm bảo chiến thắng 2-1 trước Watford, nâng tổng số trận ghi bàn liên tiếp của anh lên con số chín, chỉ xếp sau kỷ lục Premier League 10 trận của tiền đạo Ruud van Nistelrooy. Vardy cũng trở thành cầu thủ đầu tiên tại Premier League ghi bàn trong chín trận liên tiếp chỉ trong một mùa giải, trong khi 10 trận của Van Nistelrooy là vào cuối mùa 2002-03 và đầu mùa 2003-04. Với màn trình diễn thuyết phục trên, Vardy trở thành cầu thủ giải Ngoại hạng xuất sắc nhất tháng trong tháng 10 năm 2015, là cầu thủ Leicester đầu tiên đoạt danh hiệu này kể từ thủ môn Tim Flowers vào tháng 9 năm 2000. Ngày 21 tháng 10, Vardy cân bằng kỷ lục số trận liên tiếp tại giải Ngoại hạng của Van Nistelrooy với bàn thắng mở tỉ số trong chiến thắng 3-0 trước Newcastle United. Một tuần sau, khi đối đầu Manchester United, anh tiếp tục lập công để xác lập kỷ lục cho chính mình. Hành trình của Vardy kết thúc khi anh không ghi được bàn nào trong thắng lợi 3-0 trước Swansea City, nếu ghi bàn anh sẽ cân bằng kỷ 12 trận ghi bàn liên tiếp của Jimmy Dunne cho Sheffield United trong mùa 1931-32; mặc dù vậy kết quả trên vẫn đưa Leicester lên ngôi đầu bảng. Sau kỳ tích ghi bàn của mình, Vardy được bầu chọn là cầu thủ Ngoại hạng Anh xuất sắc nhất tháng cho tháng 11, trở thành cầu thủ thứ năm từng thắng giải thưởng này hai tháng liên tiếp. Anh được trao tặng một giấy chứng nhận từ Sách Kỷ lục Guinness cho thành quả của mình. Với 24 bàn thắng tại giải đấu, Vardy là cầu thủ ghi bàn tại Premier League cao thứ hai trong mùa 2015-16 bên cạnh Sergio Agüero, chỉ kém một bàn so với chủ nhân chiếc giày vàng Harry Kane. Vardy là một trong bốn cầu thủ của Leicester góp mặt trong Đội hình PFA của năm; anh cũng được vinh danh là Cầu thủ FWA của năm và Cầu thủ Ngoại hạng Anh xuất sắc nhất mùa giải năm 2016. ==== Mùa 2016-17 ==== Ngày 3 tháng 6 năm 2016, Arsenal đưa ra mức giá 22 triệu £ dành cho Vardy, kích hoạt điều khoản giải phóng hợp đồng của anh. Leicester đã đề nghị anh gia hạn hợp đồng, và 20 ngày sau anh đồng ý một bản hợp đồng bốn năm, được ký kết sau khi trở về từ UEFA Euro 2016. Vardy từ chối lời đề nghị của Arsenal do không được đảm bảo rằng anh sẽ được chơi ở vị trí sở trường và cũng bởi sự khác biệt giữa chiến thuật của hai đội, trong khi Arsène Wenger ưa thích lối đá tấn công thì Leicester lại thiên về chơi phòng ngự-phản công. == Sự nghiệp quốc tế == Ngày 21 tháng 5 năm 2015, Vardy lần đầu tiên được triệu tập lên đội tuyển bóng đá quốc gia Anh trước trận giao hữu với Cộng hòa Ireland và một trận đấu thuộc vòng loại UEFA Euro 2016 đối đầu Slovenia. Anh có trận ra mắt ngày 7 tháng 6 trong trận hòa không bàn thắng trước Cộng hòa Ireland tại sân vận động Aviva ở Dublin khi vào sân thay thế đội trưởng Wayne Rooney trong 15 phút cuối. Ngày 30 tháng 8, Vardy một lần nữa được gọi lên tuyển Anh cho các trận đấu gặp San Marino và Thụy Sĩ trong khuôn khổ vòng loại UEFA Euro 2016; anh được chọn vào đội hình xuất phát khi Tam sư đại thắng 6-0 trước San Marino tại Serravalle sáu ngày sau đó. Vary ghi bàn thắng quốc tế đầu tiên vào ngày 26 tháng 3 năm 2016, cân bằng tỉ số với một cú giật gót từ đường chuyền của Nathaniel Clyne khi vào sân thay người đem về chiến thắng sân khác 3-2 trước tuyển Đức. Anh tiếp tục lập công ba ngày sau đó khi mở tỉ số trong thất bại 2-1 trước Hà Lan tại sân vận động Wembley. Ngày 16 tháng 6, trong trận đấu thứ hai của tuyển Anh tại vòng bảng UEFA Euro 2016, anh vào sân từ băng ghế dự bị để có trận ra mắt tại giải đấu, khi tuyển Anh bị xứ Wales dẫn trước 1-0 và ghi bàn cân bằng tỉ số giúp đội bóng lội ngược dòng giành thắng lợi 2-1. Trong suốt giải đấu có tin đồn trên các phương tiện truyền thông rằng có sự mâu thuẫn giữa Vardy và tiền đạo đồng hương Rooney nhưng bị huấn luyện viên Roy Hodgson bác bỏ. == Thống kê sự nghiệp == Số liệu thống kê chính xác tới ngày 18 tháng 3 năm 2017 === Đội tuyển quốc gia === === Bàn thắng quốc tế === == Danh hiệu == === Câu lạc bộ === ==== F.C. Halifax Town ==== Northern Premier League Premier Division: 2010–11 ==== Fleetwood Town ==== Conference Premier: 2011–12 ==== Leicester City ==== Football League Championship: 2013–14 Giải bóng đá Ngoại hạng Anh: 2015-2016 === Cá nhân === Cầu thủ Ngoại hạng Anh xuất sắc nhất mùa giải: 2015-16 Cầu thủ bóng đá FWA xuất sắc nhất năm: 2015-16 Đội hình PFA của năm Premier League: 2015-16 Cầu thủ Ngoại hạng Anh xuất sắc nhất tháng: tháng 10-11 năm 2015 Conference Premier Cầu thủ của Tháng (1): Tháng 11 năm 2011 Conference Premier Tốp Vua phá lưới (1): 2011–12 Cầu thủ Leicester City xuất sắc nhất mùa (1): 2013–14 === Kỷ lục === Cầu thủ Leicester City ghi bàn trong nhiều trận liên tiếp nhất: 11 (29 tháng 8 năm 2015 - 28 tháng 11 năm 2015) Cầu thủ Ngoại hạng Anh ghi bàn trong nhiều trận liên tiếp nhất: 11 (29 tháng 8 năm 2015 - 28 tháng 11 năm 2015) == Tham khảo == == Liên kết ngoài == Jamie Vardy profile tại trang web chính thức của Leicester City F.C. Jamie Vardy profile tại trang web chính thức của Hiệp hội Bóng đá Anh Jamie Vardy tại Soccerbase
alan turing.txt
Alan Mathison Turing (23 tháng 6 năm 1912 – 7 tháng 6 năm 1954) là một nhà toán học, logic học và mật mã học người Anh thường được xem là cha đẻ của ngành khoa học máy tính. Phép thử Turing (Turing test) là một trong những cống hiến của ông trong ngành trí tuệ nhân tạo: thử thách này đặt ra câu hỏi rằng máy móc có khi nào đạt được ý thức và có thể suy nghĩ được hay không. Ông đã hình thức hóa khái niệm thuật toán và tính toán với máy Turing, đồng thời đưa ra phiên bản của "Turing", mà ngày nay được đông đảo công chúng chấp nhận, về luận đề Church-Turing, một luận đề nói rằng tất cả những gì tính được bằng thuật toán đều có thể tính được bằng máy Turing. Trong Chiến tranh thế giới thứ hai, Turing đã từng làm việc tại Bletchley Park, trung tâm giải mật mã của Anh, và một thời là người chỉ huy của Hut 8, một bộ phận của Anh có trách nhiệm giải mật mã của hải quân Đức. Ông đã sáng chế ra nhiều kỹ thuật phá mật mã của Đức, trong đó có phương pháp nối các máy giải mã lại với nhau thành một bộ bombe, một máy điện-cơ để tìm ra công thức cài đặt cho máy Enigma. Sau chiến tranh, ông công tác tại Phòng thí nghiệm Vật lý Quốc gia (National Physical Laboratory), và đã tạo ra một trong những đồ án thiết kế đầu tiên của máy tính có khả năng lưu trữ chương trình (stored-program computer), nhưng nó không bao giờ được kiến tạo thành máy. Năm 1947 ông chuyển đến Đại học Victoria tại Manchester để làm việc, đa số trên phần mềm cho máy Manchester Mark I, lúc đó là một trong những máy tính hiện đại đầu tiên, và trở nên quan tâm tới sinh học toán học. Ông đã viết bài báo về cơ sở hóa học của sự tạo hình, và ông cũng đã dự đoán được các phản ứng hóa học dao động chẳng hạn như phản ứng Belousov–Zhabotinsky, được quan sát thấy lần đầu tiên trong thập niên 1960. Năm 1952, Turing bị kết án với tội đã có những hành vi khiếm nhã nặng nề, sau khi ông tự thú đã có quan hệ đồng tính luyến ái với một người đàn ông ở Manchester. Ông chấp nhận dùng liệu pháp hoóc môn nữ (thiến hóa học) thay cho việc phải ngồi tù. Ông mất năm 1954, chỉ 2 tuần sau lần sinh nhật thứ 42, do ngộ độc xyanua. Một cuộc điều tra đã xác định nguyên nhân chết là tự tử, nhưng mẹ ông và một số người khác tin rằng cái chết của ông là một tai nạn. Ngày 10 tháng 9 năm 2009, sau một chiến dịch Internet, thủ tướng Anh Gordon Brown đã thay mặt chính phủ Anh chính thức xin lỗi về cách đối xử với Turing sau chiến tranh. == Thời thơ ấu và thiếu niên == Mẹ của Alan mang thai ông vào năm 1911, tại Chatrapur, Orissa, Ấn Độ. Cha ông, Julius Mathison Turing, lúc đó là một công chức trong ngành Dân chính Ấn Độ (Indian Civil Service), lúc đó vẫn dưới sự cai quản của chính phủ Anh. Julius và vợ mình, bà Ethel (nguyên họ là Stoney) muốn con mình lớn lên tại Anh, nên họ đã trở về Maida Vale, Paddington, Luân Đôn, nơi Alan Turing được sinh ra vào ngày 23 tháng 6 năm 1912, theo thông tin trên một tấm biển màu xanh ở ngoài ngôi nhà ông sinh ra, sau này là khách sạn Colonnade. Ông có một người anh trai tên là John. Vì nhiệm vụ với ngành dân chính của cha ông vẫn còn, trong lúc Alan còn nhỏ, cha mẹ của ông thường phải di chuyển giữa Guildford (Anh) và Ấn Độ, để hai đứa con trai của họ cho các người bạn tại Anh giữ hộ, vì tình trạng y tế ở Ấn Độ còn thấp kém. Ngay từ lúc còn nhỏ, ông đã thể hiện các dấu hiệu thiên tài. Ông tự tập đọc trong vòng ba tuần, và có biểu lộ ham thích toán học, cùng với giải đáp các câu đố. Lúc Alan 6 tuổi, cha mẹ cho ông học tại trường St. Michael's. Bà hiệu trưởng của trường đã nhận thấy thiên tài của Alan từ lúc ban đầu, cũng như các giáo viên của ông sau này. Năm 1926, khi ông 14 tuổi, ông đến học tại trường nội trú Sherborne ở Dorset. Ngày khai giảng của khóa đầu xảy ra cùng ngày với một cuộc tổng đình công tại Anh, nhưng vì ông quyết chí muốn đến lớp, ông đã chạy xe đạp trên 60 dặm (97 km) từ Southampton đến trường, không có người dẫn, chỉ dừng lại và trọ qua đêm tại một quán trọ trên đường. Sự kiện này đã được báo chí địa phương tường trình. Tuy có năng khiếu toán và khoa học, Turing không được các thầy cô coi trọng tại Sherborne, một trường công nổi tiếng và đắt đỏ (thật sự đây là một trường tư ở Anh nổi tiếng với tính từ thiện) vì trường này đánh giá các môn kinh điển cao hơn. Hiệu trưởng của ông đã viết thư cho cha mẹ ông nói "Tôi hy vọng rằng anh ta không cố gắng cả đôi đường mà hỏng cả hai. Nếu anh ta muốn ở lại trường công, thì anh ta nhất định phải đặt mục tiêu để trở thành một người có giáo dục. Còn nếu anh ta chỉ muốn trở thành một Nhà khoa học chuyên ngành thì anh ta đang phung phí thời gian của mình tại trường công" . Mặc dầu vậy, Turing vẫn biểu hiện năng khiếu trong các môn ông ưa thích. Ông đã giải được nhiều bài toán bậc cao năm 1927 trước khi học đến giải tích cơ bản. Khi ông 16 tuổi (1928), ông đã hiểu được các tác phẩm của Albert Einstein, không những nắm được nội dung, ông còn suy luận được về những thắc mắc của Einstein đối với các định luật của Newton về chuyển động trong một bài viết mà Einstein không nói thẳng ra. Trong lúc học tại Sherborne, Turing đã ngầm yêu Christopher Morcom, một người bạn, nhưng mối tình không được đáp lại. Morcom qua đời vào ngày 13 tháng 2 năm 1930, một vài tuần trước khi ra trường vì bệnh lao bò đã mắc phải sau khi uống sữa bò có vi khuẩn lao lúc còn nhỏ. Turing rất đau lòng vì sự việc này. Đức tin tôn giáo của ông bị tan vỡ và ông trở thành người vô thần. Ông tin rằng tất cả các hiện tượng, bao gồm cả hoạt động của bộ não con người, đều là vật chất, nhưng ông cũng tin vào sự tồn tại của linh hồn sau khi chết. == Đại học và các nghiên cứu trong toán học == Vì Turing không chịu học các môn ngoài toán và khoa học, ông không nhận được học bổng để học tại Học viện Trinity của Đại học Cambridge, mà phải học tại King's college của Đại học Cambridge từ năm 1931 đến 1934 và tốt nghiệp đại học với bằng danh dự. Năm 1935 ông được chọn làm nghiên cứu sinh tại trường King's, nhờ chất lượng của luận văn trong đó ông đã chứng minh định lý giới hạn trung tâm, mặc dù ông không nhận ra rằng nó đã được chứng minh năm 1922 bởi Jarl Waldemar Lindeberg. Năm 1928, nhà toán học người Đức David Hilbert kêu gọi sự chú ý đến Entscheidungsproblem (bài toán quyết định). Trong bài viết nổi tiếng của ông, tựa đề "Các số khả tính, với áp dụng trong Vấn đề về lựa chọn" (On Computable Numbers, with an Application to the Entscheidungsproblem) - thuật toán lôgic - (nộp ngày 28 tháng 5 năm 1936 và nhận được ngày 12 tháng 11), Turing tái dựng lại kết quả của Kurt Gödel hồi năm 1931 về những hạn chế trong chứng minh và tính toán, thay đổi thuật ngữ tường trình số học chính quy của Gödel, bằng cái mà ngày này người ta gọi là máy Turing, một dụng cụ chính quy và đơn giản. Ông đã chứng minh rằng một cái máy như vậy sẽ có khả năng tính toán bất cứ một vấn đề toán học nào, nếu vấn đề ấy có thể được biểu diễn bằng một thuật toán. Máy Turing, cho đến nay, vẫn là một vấn đề nghiên cứu trung tâm trong lý thuyết về máy tính. Ông còn tiếp tục chứng mình rằng vấn đề về lựa chọn (Entscheidungsproblem) là một vấn đề không giải được, bằng cách đầu tiên chứng minh rằng bài toán dừng trong máy của Turing là bất khả định; nói chung, không thể quyết định bằng một thuật toán liệu một máy Turing cho trước có bao giờ dừng hay không. Tuy chứng minh của ông được đăng công khai sau chứng minh tương tự của Alonzo Church đối với phép tính lambda (lambda calculus), chứng minh của Turing được coi là dễ hiểu và trực giác hơn. Chứng minh của ông còn có một đóng góp quan trọng là đưa ra khái niệm "máy Turing vạn năng" (Universal (Turing) Machine), với ý tưởng rằng một máy như vậy có thể làm bất cứ việc gì mà các máy khác làm được. Bài viết còn giới thiệu khái niệm về số khả định (definable number). Trong hồi ký, Turing viết rằng ông đã rất thất vọng về những phản hồi cho bài báo năm 1936, khi chỉ có hai người có phản hồi, là Heinrich Scholz và Richard Bevan Braithwaite. Từ tháng 9 năm 1936 đến tháng 7 năm 1938, ông cư trú tại đại học Princeton, nghiên cứu dưới sự hướng dẫn của Alonzo Church. Năm 1938, ông đạt được bằng Tiến sĩ tại trường này. Luận văn của ông giới thiệu quan niệm tính toán tương đối (relative computing). Trong khái niệm này, máy Turing được mở rộng bằng cách cho phép hỏi máy tiên tri (oracle machine), cho phép nghiên cứu những bài toán không thể giải được bằng máy Turing. Sau khi quay trở lại Cambridge vào năm 1939, ông dự thính bài giảng của Ludwig Wittgenstein về nền tảng của toán học (foundations of mathematics). Hai người tranh cãi và bất đồng ý kiến một cách kịch liệt. Trong khi Turing bảo vệ lập trường của chủ nghĩa hình thức (formalism), thì Wittgenstein lại tranh cãi rằng toán học được đánh giá quá mức, và bản thân nó không thể tìm ra bất cứ một chân lý cuối cùng nào (absolute truth) (Wittgenstein 1932/1976). == Giải mật mã == Trong Chiến tranh thế giới thứ hai, Turing là một người tham gia đóng góp quan trọng tại Bletchley Park, trong việc phá mật mã của Đức. Ông đóng góp những hiểu biết sâu sắc về việc giải mã cả hai máy Enigma và máy Lorenz SZ 40/42 (một máy điện báo đánh chữ dùng làm bộ mã hoá ghép thêm, được quân đội Anh đặt tên là "Tunny"), và ông đã từng một thời là trưởng phòng Hut 8, bộ phận chịu trách nhiệm thu và đọc tín hiệu của hải quân Đức. Từ tháng 9 năm 1938, Turing làm thêm giờ tại Trường mật mã của chính phủ (Government Code and Cypher School). Turing có mặt và báo cáo tại Bletchley Park vào ngày 4 tháng 9 năm 1939, ngay sau ngày Anh tuyên bố chiến tranh với Đức. === Máy bombe của Turing và Welchman === Chỉ trong vài tuần sau khi đến Bletchley Park, Turing đã sáng chế ra một cái máy cơ-điện tử (electromechanical machine) giúp vào việc giải mã máy Enigma, đặt tên là máy bombe, lấy tên theo cái máy "bomba" được sáng chế tại Ba Lan. Máy bombe, với một nâng cấp được đề bạt bởi nhà toán học Gordon Welchman, trở thành dụng cụ chủ yếu dùng để đọc nguồn tin truyền qua lại từ máy Enigma. Máy bombe dò tìm công thức cài đặt của khối quay trong máy Enigma, và nó cần phải có một bộ mã (crib), tức là một dòng chữ chưa mã hóa và một dòng mật mã tương ứng. Với mỗi dự kiến cài đặt của khối quay, máy bombe hoàn thiện một chuỗi các tiến trình suy luận lôgic, dựa vào bộ mã, dùng các cấu kết mạch điện tử đã được lắp ráp. Máy bombe lùng tìm và phát hiện mâu thuẫn khi nó xảy ra, loại bỏ công thức cài đặt gây nên sự mâu thuẫn ấy, rồi tiếp tục lùng tìm một công thức khác, hợp lý hơn. Đa số các công thức cài đặt khả quan đều gây nên sự mâu thuẫn, và bị loại bỏ, chỉ để lại một số ít các công thức khả dĩ để được nghiên cứu chi tiết hơn. Máy bombe của Turing lần đầu tiên được lắp ráp vào ngày 18 tháng 3 năm 1940. Máy giải mã điện cơ Turing Bomb dựa trên phương pháp nối các máy giải mã lại với nhau thành một hệ thống để tìm ra công thức cài đặt của Enigma. Turing Bomb có thể đọc được 159.000 tỉ ký tự phức tạp. Nhờ nó, mỗi ngày, người Anh giải mã thành công khoảng 3.000 bức điện mật của quân đội Đức chỉ trong vài phút sau khi các dữ liệu chặn thu được nạp vào. Từ thời điểm đó, tất cả các tin nhắn có thể được đọc trong thời gian thực. Có tới 210 bombe Anh được xây dựng trong thời gian chiến tranh và tất cả đã bị phá hủy vào những ngày cuối của cuộc chiến === Hut 8 và máy Enigma của hải quân Đức === Vào tháng 12 năm 1940, Turing khám phá ra hệ thống chỉ thị của máy Enigma của hải quân Đức, một hệ thống chỉ thị phức tạp hơn tất cả các hệ thống chỉ thị khác đang được dùng bởi các chi nhánh trong quân đội. Turing cũng sáng chế ra công thức xác suất Bayes (Bayesian), một kỹ thuật trong thống kê được đặt tên là "Banburismus", để giúp vào việc giải mã Enigma của hải quân Đức. Banburismus cho phép loại bỏ một số công thức cài đặt của khối quay của máy Enigma, giảm lượng thời gian kiểm nghiệm các công thức cài đặt cần thiết trên các máy bombe. Vào mùa xuân năm 1941, Turing đính hôn với một nhân viên cùng làm việc tại Hut 8, tên là Joan Clarke, nhưng chỉ đến mùa hè, cả hai đã thoả thuận hủy bỏ cuộc hôn nhân. Tháng 7 năm 1942, Turing sáng chế ra một kỹ xảo, đặt tên là Turingismus hoặc Turingery, dùng vào việc chống lại máy mật mã Lorenz. Rất nhiều người lầm tưởng rằng Turing là một nhân vật quan trọng trong việc thiết kế máy tính Colossus, song điều này không phải là một sự thật . Tháng 11 năm 1942, Turing du lịch sang Mỹ và bắt liên lạc với những nhân viên phân tích mật mã của hải quân Mỹ tại Washington, D.C., thông báo cho họ biết về máy Enigma của hải quân Đức, cùng với sự việc lắp ráp máy bombe. Ông đồng thời trợ lý việc kiến tạo các công cụ truyền ngôn bảo mật (secure speech) tại Bell Labs. Tháng 3 năm 1948, ông quay trở lại Bletchley Park. Trong khi ông vắng mặt, Hugh Alexander thay thế ông làm trưởng phòng Hut 8, tuy trên thực tế Hugh Alexander đã nắm quyền trưởng phòng trong một thời gian khá lâu. Turing rất ít quan tâm đến việc quản lý công việc hằng ngày của bộ phận. Turing trở thành cố vấn chung về phân tích mật mã tại Bletchley Park. Trong những ngày sau rốt của chiến tranh, ông tự trau dồi về công nghệ điện tử, trong khi chịu trách nhiệm (được sự hỗ trợ của kỹ sư Donald Bayley) thiết kế một cái máy di động - mật hiệu là Delilah - cho phép thông tin truyền âm bảo mật (secure voice). Với xu hướng ứng dụng trong các công dụng khác, máy Delilah thiếu khả năng truyền sóng radio trường tuyến (long-distance radio transmission), và không được sử dụng trong chiến tranh vì sự hoàn thành của nó quá muộn. Tuy Turing đã thao diễn chức năng của máy cho các quan chức cấp trên, bằng cách mật mã hóa và giải mã một bản ghi âm lời nói của Winston Churchill, máy Delilah vẫn không được chọn và sử dụng. Trong năm 1945, Turing đã được tặng huy chương OBE (Order of the British Empire) vì thành tích phục vụ trong cuộc chiến tranh. == Những máy tính đầu tiên và kiểm nghiệm của Turing == Từ năm 1945 đến năm 1947, Turing đã làm việc tại Phòng thí nghiệm Vật lý Quốc gia (National Physical Laboratory). Tại đây, ông thiết kế máy tính ACE (Automatic Computing Engine - Máy tính tự động). Ngày 19 tháng 2 năm 1946, ông đệ trình một bản thiết kế hoàn chỉnh đầu tiên của Anh về máy tính với khả năng lưu trữ lập trình (xem kiến trúc Von Neumann). Tuy ông đã thành công trong việc thiết kế máy ACE, song do những trì hoãn trong việc khởi công đề án, ông trở nên thất vọng và chán nản. Cuối năm 1947, ông quay trở lại Cambridge, bắt đầu một năm nghỉ ngơi của mình (sabbatical year). Trong khi ông đang nghỉ ngơi tại Cambridge, công việc xây dựng máy ACE đã bị huỷ bỏ hoàn toàn, trước khi nó được khởi công xây dựng. Năm 1949, ông trở thành phó giám đốc phòng thí nghiệm máy tính (computing laboratory) của Đại học Manchester, và viết phần mềm cho một trong những máy tính đầu tiên — máy Manchester Mark I. Trong thời gian này, ông tiếp tục làm thêm những công việc trừu tượng, và trong bài viết "Vi tính máy móc và trí thông minh" (Computing machinery and intelligence) - tờ Mind, tháng 10 năm 1950 - ông nói đến vấn đề về "trí tuệ nhân tạo" (artificial intelligence) và đề đạt một phương thức kiểm nghiệm, mà hiện giờ được gọi là kiểm nghiệm Turing (Turing test), một cố gắng định nghĩa tiêu chuẩn cho một cái máy được gọi là "có tri giác" (sentient). Năm 1948, Turing, hiện đang làm việc với một người bạn học cũ, D.G. Champernowne, bắt đầu viết một chương trình đánh cờ vua cho một máy tính chưa từng tồn tại. Năm 1952, tuy thiếu một máy tính đủ sức để thi hành phần mềm, Turing đã chơi một ván cờ. Trong ván cờ này, ông bắt chước cái máy tính, đợi nửa tiếng đồng hồ trước khi đi một quân cờ. Ván cờ đã được ghi chép lại; phần mềm thua người bạn đồng hành của Turing, Alick Glennie, song lại thắng người vợ của ông Champernowne. == Tạo mẫu hình và sinh toán học == Turing nghiên cứu vấn đề sinh toán học (mathematical biology) từ năm 1952 cho đến khi qua đời năm 1954, đặc biệt về hình thái học (morphogenesis). Năm 1952, ông đã cho xuất bản một bài viết về vấn đề này, dưới cái tên "Cơ sở hoá học của hình thái học" (The Chemical Basis of Morphogenesis). Điểm trọng tâm thu hút sự chú ý của ông là việc tìm hiểu sự sắp xếp lá theo chu trình của dãy số Fibonacci, sự tồn tại của dãy số Fibonacci trong cấu trúc của thực vật. Ông dùng phương trình phản ứng phân tán, cái mà hiện nay là trung tâm của ngành Tạo mẫu hình (pattern formation). Những bài viết sau này của ông không được xuất bản, cho mãi đến năm 1992, khi loạt các cuốn "Những nghiên cứu và sáng chế của A.M. Turing" (Collected Works of A.M. Turing) được xuất bản. == Bị khởi tố vì hành vi đồng tính luyến ái và cái chết của Turing == Turing là một người đồng tính luyến ái sống vào thời điểm mà các hành vi đồng tính luyến ái bị coi là phạm pháp. Năm 1952, người tình lâu năm của ông lúc bấy giờ là Arnold Murray đã lén lút giúp một kẻ đột nhập vào nhà Turing. Turing báo cáo sự vụ này đến đồn cảnh sát. Dưới sự khám xét của cảnh sát, Turing công nhận là ông có quan hệ tình dục với Murray, và cả hai bèn bị kết tội có hành vi không đúng đắn theo điều 11, bộ luật năm 1885 của Anh Section 11. Turing không tỏ ra hối lỗi vì ông cho rằng quan hệ đồng tính là chuyện hết sức bình thường và cần được sớm công nhận, cuối cùng bị kết án một cách vô lý. Ông buộc phải lựa chọn giữa hai hình phạt, án tù giam hoặc là quản thúc tại gia, với điều kiện là ông phải chấp nhận dùng "điều trị" bằng hormone (chemical castration), một phương pháp điều trị nhằm ức chế khát khao tình dục (libido) và bị hoạn. Để tránh bị giam, ông chấp nhận tiêm hormone estrogen trong vòng khoảng 1 năm, và việc này gây các hiệu ứng phụ như sự phát triển vú. Bản án "tội trạng" còn gây cho ông việc bị tước bỏ giấy phép làm việc trong bộ phận bảo mật của chính phủ, ngăn cản ông tiếp tục với công việc tư vấn cho Trung tâm truyền tin của chính phủ (Government Communications Headquarters) trong các vấn đề về mật mã. == Cái chết == Từng được xem là 'Einstein của toán học', ông Turing bị kết tội “lăng nhục thuần phong mỹ tục” vào năm 1952 chỉ vì mình là người đồng tính và bị hoạn bằng chất hóa học. Ngày 7/6/1954, người phục vụ dọn dẹp tìm thấy Turing chết. Khám nghiệm tử thi cho thấy ông bị nhiễm độc cyanide. Bên cạnh xác ông là một quả táo đang cắn dở. Quả táo này chưa bao giờ được xác nghiệm là có nhiễm độc cyanide, nhưng nhiều khả năng cái chết của ông do từ quả táo tẩm cyanide ông đang ăn dở. Hầu hết mọi người tin rằng cái chết của Turing là có chủ ý và bản điều tra vụ tử vong đã được kết luận là do tự sát. Có dư luận cho rằng phương pháp tự ngộ độc này được lấy ra từ bộ phim mà Turing yêu thích - bộ phim Bạch Tuyết và bảy chú lùn (Snow White and the Seven Dwarfs). Tuy vậy, mẹ của ông không nghĩ như mọi người, mà khăng khăng cho rằng, cái chết đến từ tính bất cẩn trong việc bảo quản các chất hóa học của Turing. Bạn bè của ông có nói rằng Turing có thể đã chủ ý tự sát để cho mẹ ông có lý do từ chối một cách rõ ràng. Khả năng ông đã bị ám hại cũng đã từng được kể đến, do sự tham gia của ông trong cơ quan bí mật, và do việc họ nhận thức sai rằng bản chất đồng tính luyến ái của ông "gây nguy hiểm cho việc bảo vệ bí mật". Trong cuộc đời ngắn ngủi, nhà toán học tài năng này đã đặt nền tảng cho tin học hiện đại và đưa ra những lý thuyết đầu tiên về trí thông minh nhân tạo. Ông Turing cũng chính là người “bẻ khóa” thành công mật mã Enigma trong các tàu ngầm của phát xít Đức ở Bắc Đại Tây Dương vào Thế chiến 2. Nhiều sử gia đánh giá đây là đòn chí tử góp phần khiến Hitler bại trận sớm. Năm 2012, nhân kỷ niệm 100 năm ngày sinh của Turing, 11 nhà khoa học Anh đã cùng yêu cầu hủy bản án của ông. Trước đó, năm 2009, Thủ tướng Anh khi ấy là Gordon Brown cũng chính thức xin lỗi vì "cách hành xử khủng khiếp" cũng như là gián tiếp gây ra cái chết tự tử đối với nhà toán học nổi tiếng này. Ngày 24.12,2013, nhà toán học người Anh Alan Turing được Nữ hoàng Elizabeth II đặc xá sau hơn 60 năm bị "kết án" vì đồng tính. == Vinh danh == Bắt đầu từ năm 1966, Giải thưởng Turing đã được Association for Computing Machinery (Hiệp hội Máy tính) trao cho cá nhân có đóng góp kĩ thuật cho cộng đồng máy tính. Giải này được coi như tương đương với giải Nobel trong cộng đồng này. Ngày 23 tháng 6 năm 2001 một bức tượng của Turing được đặt tại công viên Sackville Park của thành phố Manchester, giữa tòa nhà của Đại học Manchester trên phố Whitworth và khu gay village của phố Canal. Để kỉ niệm 50 năm ngày mất của ông, một tấm bảng kỉ niệm đã được khánh thánh tại nơi ông ở trước đây, Hollymeade, Wilslow, vào ngày 6 tháng 7 năm 2004. Viện khoa học Alan Turing (Alan Turing Institute) được sáng lập bởi UMIST và Đại học Manchester vào mùa hè năm 2004. Lễ kỉ niệm cuộc đời và sự nghiệp của Turing đã được tổ chức tại Đại học Manchester vào ngày 5 tháng 6 năm 2004 do British Logic Colloquium (Hội Logic Anh) và British Society for the History of Mathematics (Nhóm nghiên cứu Lịch sử Toán học Anh) tổ chức. Vào ngày 28 tháng 10 năm 2004 a bức tượng đồng của Alan Turing, tạc bởi John W. Mills, được khánh thành tại Đại học Surrey. Bức tượng kỷ niệm 50 năm ngày Turing mất. Nó diễn tả Turing đang cầm sách đi trong viện đại học này. Holtsoft đã sản xuất ngôn ngữ lập trình mang tên Turing. Ngôn ngữ này dành cho người mới bắt đầu lập trình và không tương tác trực tiếp với phần cứng. Năm 2015, bộ phim Imitation Game (tựa Việt: Người giải mã) dựa theo cuốn hồi ký Alan Turing: The Enigma của Andrew Hodges kể về cuộc đời cùng những đóng góp của ông. Ngày 13/04/2015, tại chi nhánh Nhà bán đấu giá Bonhams ở New York (Mỹ) diễn ra phiên đấu giá bản giải mã của ông. Số tiền thu được sẽ dành cho mục đích từ thiện, dựa theo ý nguyện của nhà toán học Anh Robin Gandy (1919-1995), người đồng nghiệp được Alan Turing tặng tờ bản thảo giải mã khi còn sống. == Tham khảo == Alan Turing: The Enigma by Andrew Hodges, Walker Publishing Company edition, 2000 (first published 1983). Alan Turing: Life and Legacy of a Great Thinker, Christof Teuscher (Ed.), ISBN 3540200207 (Springer-Verlag, 2004) Jack Copeland, "Colossus: Its Origins and Originators", in the IEEE Annals of the History of Computing, 26(4), October-December 2004, pp38–45. == Đọc thêm == Levin, Janna (2006). A Madman Dreams of Turing Machines. New York, New York: Knopf. ISBN 978-1-4000-3240-2 Agar, Jon (2002). The Government Machine. Cambridge, Massachusetts: The MIT Press. ISBN 0-262-01202-2 Beniger, James (1986). The Control Revolution: Technological and Economic Origins of the Information Society. Cambridge, Massachusetts: Harvard University Press. ISBN 0-674-16986-7 Bodanis, David (2005). Electric Universe: How Electricity Switched on the Modern World. New York: Three Rivers Press. ISBN 0-307-33598-4. OCLC 61684223. Campbell-Kelly, Martin (ed.) (1994). Passages in the Life of a Philosopher. London: William Pickering. ISBN 0-8135-2066-5 Campbell-Kelly, Martin, and Aspray, William (1996). Computer: A History of the Information Machine. New York: Basic Books. ISBN 0-465-02989-2 Ceruzzi, Paul (1998). A History of Modern Computing. Cambridge, Massachusetts, and London: MIT Press. ISBN 0-262-53169-0 Chandler, Alfred (1977). The Visible Hand: The Managerial Revolution in American Business. Cambridge, Massachusetts: Belknap Press. ISBN 0-674-94052-0 Copeland, B. Jack (2004). “Colossus: Its Origins and Originators”. IEEE Annals of the History of Computing 26 (4): 38–45. doi:10.1109/MAHC.2004.26. Copeland, B. Jack (ed.) (2004). The Essential Turing. Oxford: Oxford University Press. ISBN 0-19-825079-7. OCLC 156728127 224173329 48931664 57434580 57530137 59399569. Copeland (ed.), B. Jack (2005). Alan Turing's Automatic Computing Engine. Oxford: Oxford University Press. ISBN 0-19-856593-3. OCLC 224640979 56539230. Copeland, B. Jack (2006). Colossus: The secrets of Bletchley Park's code-breaking computers. Oxford University Press. ISBN 978-0-19-284055-4. Edwards, Paul N (1996). The Closed World. Cambridge, Massachusetts: MIT Press. ISBN 0-262-55028-8 Hodges, Andrew (1983). Alan Turing: The Enigma of Intelligence. London: Burnett Books. ISBN 0-04-510060-8. Hochhuth, Rolf. Alan Turing Leavitt, David (2007). The Man Who Knew Too Much; Alan Turing and the invention of the computer. Phoenix. ISBN 978-0-7538-2200-5. Lubar, Steven (1993) Infoculture. Boston and New York: Houghton Mifflin. ISBN 0-395-57042-5 O'Connor, John J.; Robertson, Edmund F., “Alan Mathison Turing”, Bộ lưu trữ lịch sử toán học MacTutor Petzold, Charles (2008). "The Annotated Turing: A Guided Tour through Alan Turing's Historic Paper on Computability and the Turing Machine". Indianapolis: Wiley Publishing. ISBN 978-0-470-22905-7 Smith, Roger (1997). Fontana History of the Human Sciences. London: Fontana. Weizenbaum, Joseph (1976). Computer Power and Human Reason. London: W.H. Freeman. ISBN 0-7167-0463-3 Williams, Michael R. (1985). A History of Computing Technology. Englewood Cliffs, New Jersey: Prentice-Hall. ISBN 0-8186-7739-2 Yates, David M. (1997). Turing's Legacy: A history of computing at the National Physical Laboratory 1945–1995. London: London Science Museum. ISBN 0-901805-94-7. OCLC 123794619 40624091. Turing's mother, Sara Turing, who survived him by many years, wrote a biography of her son glorifying his life. Published in 1959, it could not cover his war work; scarcely 300 copies were sold (Sara Turing to Lyn Newman, 1967, Library of St John's College, Cambridge). The six-page foreword by Lyn Irvine includes reminiscences and is more frequently quoted. Breaking the Code is a 1986 play by Hugh Whitemore, telling the story of Turing's life and death. In the original West End và Broadway runs, Derek Jacobi played Turing – and he recreated the role in a 1997 television film based on the play made jointly by the BBC và WGBH, Boston. The play is published by Amber Lane Press, Oxford. ASIN: B000B7TM0Q === Ấn phẩm === An extensive list of Turing's papers, reports and lectures, plus translated versions and collections
đô la dầu lửa.txt
Dollar dầu lửa là thuật ngữ kinh tế, mà theo nghĩa rộng là số tiền bằng dollar Mỹ mà các nước xuất khẩu dầu lửa thu được nhờ xuất khẩu dầu lửa; còn theo nghĩa hẹp là cụm từ chỉ số tiền bằng dollar Mỹ mà các nước thành viên OPEC thu được từ xuất khẩu dầu lửa và dùng để đầu tư ở nước ngoài kiếm lời. Thuật ngữ này xuất hiện từ thời kỳ khủng hoảng dầu lửa lần thứ nhất (1973-1975). Giá dầu khi ấy tăng vọt. Các nước xuất khẩu dầu lửa, nhất là Kuwait, Ả Rập Saudi và Qatar, thu bội tiền, nhưng đầu tư và chi tiêu tài chính trong nước không dùng hết số tiền đó. Số dollar dôi dư đó được các nước đưa vào các quỹ đầu tư hoặc các ngân hàng thương mại để đầu tư vào thị trường tài chính quốc tế, nhất là thị trường tài chính ở Hoa Kỳ, để kiếm lời. Những quỹ này, chẳng hạn như Kuwait Investment Authority, được gọi là quỹ dollar dầu lửa. Ngoài việc đầu tư kiếm lời, nhiều nước A Rập xuất khẩu dầu lửa còn dùng số dollar dôi dư để viện trợ cho các nước khác. ODA từ các nước A Rập tăng mạnh từ giữa năm 1973. Hoa Kỳ là nước nhập khẩu dầu lửa có lợi lớn từ dollar dầu lửa. Vì thu nhập từ dầu lửa bằng dollar, nên các nước có dollar dầu lửa có xu hướng đầu tư vào Hoa Kỳ và làm lãi suất ở Mỹ hạ xuống. Bên cạnh đó, Hoa Kỳ có thể in thêm dollar để mua dầu lửa. Dựa vào đây mà đã có không ít sự nghi ngờ động cơ của Hoa Kỳ trong các cuộc chiến tranh ở vùng Vịnh. Họ gọi những cuộc chiến tranh đó là chiến tranh dollar dầu lửa. Song thực tế, không chỉ có Hoa Kỳ mà nhiều nước đang phát triển cũng được lợi. Việc xuất hiện một nguồn tài chính dồi dào mới này khiến cho lãi suất cho vay quốc tế hồi cuối thập niên 1970 hạ xuống.[2] Nhiều nước đang phát triển, nhất là ở khu vực Mỹ Latinh, đã tận dụng cơ hội đó để vay tiền phục vụ công nghiệp hóa. Một vấn đề mà dollar dầu lửa đem lại là sự gia tăng của dòng vốn ngắn hạn có tính thanh khoản cao vì một phần lớn dollar dầu mỏ được dùng để mua chứng khoán. Nó nguy hiểm với mọi nền kinh tế mở trên thế giới. == Chú thích ==
el niño.txt
El Niño (phát âm là "eo ni-nhô" hoặc "en ni-nô") là hiện tượng trái ngược với La Niña, là một trong những hiện tượng thời tiết bất thường gây thảm họa cho con người từ hơn 5000 năm nay. Ngày nay, hiện tượng El Niño xuất hiện thường xuyên hơn và sức tàn phá của nó cũng mãnh liệt hơn. == Tên gọi == El Niño trong tiếng Tây Ban Nha có nghĩa là "Đứa trẻ", có ý nói đến Chúa Giêsu Hài đồng. Cứ trung bình 3-10 năm, ngư dân vùng biển tại Peru phát hiện ra nước biển ấm dần lên vào mùa đông, khoảng vài tuần trước Lễ Giáng Sinh. Đây chính là một nghịch lý, nhưng nó vẫn tồn tại có chu kì và kéo theo hiện tượng hơi nước ở biển bốc lên nhiều hơn, tạo ra những cơn mưa như thác đổ. Và ngư dân đã gọi hiện tượng này là El Niño để đánh dấu thời điểm xuất phát của nó là gần Giáng Sinh. Trong khí tượng học, đôi khi người ta còn gọi hiện tượng El Niño là Dao động phương Nam (El Niño–Southern Oscillation). Ngày nay, khoa học đã chứng minh được rằng hiện tượng El Niño có ảnh hưởng trên phạm vi toàn cầu và thuật ngữ El Niño dùng để chỉ hiện tượng nước biển nóng lên. == Tác động == Mưa bão, lụt lội, đó là các hiện tượng dễ thấy nhất của El Niño. Lý do là dòng nước ấm ở phía đông Thái Bình Dương chạy dọc theo các nước Chile, Peru... đã đẩy vào không khí một lượng hơi nước rất lớn. Hậu quả là các quốc gia ở Nam Mỹ phải hứng chịu một lượng mưa bất thường, có khi lượng mưa lên đến 15 cm mỗi ngày. Điều bất ngờ là những cơn gió ở Thái Bình Dương tự dưng đổi hướng vào thời điểm có El Niño. Chúng thổi ngược về phía đông thay vì phía tây như thời tiết mỗi năm. Những cơn gió này có khả năng đưa mây vượt qua Nam Mỹ, đến tận România, Bulgaria, hoặc bờ biển Đen của Nga. Như vậy, một vùng rộng lớn của tây bán cầu bị El Niño khống chế. Năm 1997, toàn vùng này bị thiệt hại ước tính 96 tỷ USD do mưa bão, lũ lụt từ El Niño gây ra. Ngược lại, hiện tượng khô hạn lại xảy ra trên các quốc gia thuộc đông bán cầu. Do mây tập trung vào một khu vực có mật độ quá cao, do đó, phần còn lại của thế giới phải hứng chịu đợt hạn hán nghiêm trọng. Các nước thường xuyên chịu ảnh hưởng khô hạn do El Niño gây ra có thể kể: Úc, Philippines, Indonesia, Thái Lan, Việt Nam... Đợt hạn hán gần đây nhất ở Úc đã làm hàng triệu con kangaroo, cừu, bò... chết vì khát. Bang New South Wales suốt chín tháng không có mưa, hồ nước ngọt Hinze (bang Queensland) cạn kiệt. Tại Thái Lan, hơn một triệu gia đình bị thiếu nước trầm trọng. Tại Việt Nam, một vùng rộng lớn bị mặn xâm nhập, đặc biệt là tại Nam Bộ, gây khô hạn, thiếu nước ngọt và thời tiết khô nóng, không mưa kéo dài. == Nguyên nhân == El Niño không phải là hiện tượng do con người tạo ra, mà chính là thiên nhiên. Vì sao lại xuất hiện dòng nước ấm đột ngột ở phía đông Thái Bình Dương để khởi đầu hiện tượng El Niño? Một trong những nguyên nhân lớn gây ra hiện tượng El Niño là sự thay đổi hướng gió, tuy nhiên đến nay các nhà khoa học vẫn chưa có lời giải đáp hoàn toàn thống nhất. Những nguyên nhân khác bao gồm sự thay đổi áp suất không khí, Trái Đất nóng dần lên, hay cả các cơn động đất dưới đáy biển. == Đối phó == Các nhà khoa học đã đề ra ba giải pháp đối phó với hiện tượng này: Khai thác tất cả tiềm lực văn minh nhân loại để dự báo thời điểm chính xác xuất hiện, dự báo đường đi và sức công phá. Không làm các công việc tiếp tay cho El Niño như phá rừng, thải khí cácbonic vào không khí, vì El Niño càng mạnh mẽ hơn nếu mặt đất thiếu cây xanh hay để xảy ra hiện tượng nhà kính. Chuẩn bị những điều kiện tối thiểu để sống chung với El Niño, ví dụ như xây nhà phao tránh lũ (đối với vùng lũ lụt) hay dự trữ nước (đối với vùng khô hạn)... == Lợi ích của El Niño == Không phải El Niño lúc nào cũng gây tai họa cho con người. Cách đây hơn 5000 năm, khi mà hiện tượng này mới được ngư dân Peru phát hiện thì El Niño đồng nghĩa với "tin mừng". Vì nước biển lúc ấy tăng lên đủ ấm để vi sinh vật phát triển. Chúng là thức ăn cho cá biển. Nhờ thế nền đánh bắt cá của các nước ven biển Nam Mỹ phát triển mạnh. Nếu năm nào mà hiện tượng El Niño không làm cho nhiệt độ nước biển tăng lên quá cao thì năm đó sẽ có mùa cá bội thu. Ngoài ra, El Niño còn làm cho một số hoang mạc khô cằn nhất thế giới như Antacama (Nam Mỹ) có những cơn mưa lớn giúp cho thực vật tại nơi đây phát triển đáng kinh ngạc. Tiêu biểu là vào năm 2015, hoa đã nở rộ khắp Hoang mạc Antacama. == Các đợt El Niño == Biểu đồ thời gian các đợt El Niño trong khoảng thời gian 1900 đến 2017. Ba đợt mạnh nhất từng được ghi nhận đến thời điểm này: 1982-83, 1997-98 và 2014-16. == Đọc thêm == Caviedes, César N. (2001). El Niño in History: Storming Through the Ages. Gainesville: University of Florida Press. ISBN 0-8130-2099-9. Fagan, Brian M. (1999). Floods, Famines, and Emperors: El Niño and the Fate of Civilizations. New York: Basic Books. ISBN 0-7126-6478-5. Glantz, Michael H. (2001). Currents of change. Cambridge: Cambridge University Press. ISBN 0-521-78672-X. Philander, S. George (1990). El Niño, La Niña and the Southern Oscillation. San Diego: Academic Press. ISBN 0-12-553235-0. Trenberth, Kevin E. (1997). “The definition of El Niño” (PDF). Bulletin of the American Meteorological Society 78 (12): 2771–7. Bibcode:1997BAMS...78.2771T. doi:10.1175/1520-0477(1997)078<2771:TDOENO>2.0.CO;2. ISSN 1520-0477. Kuenzer, C.; Zhao, D.; Scipal, K.; Sabel, D.; Naeimi, V.; Bartalis, Z.; Hasenauer, S.; Mehl, H.; Dech, S.; Waganer, W. (2009). “El Niño southern oscillation influences represented in ERS scatterometer-derived soil moisture data”. Applied Geography 29 (4): 463–477. doi:10.1016/j.apgeog.2009.04.004. Li, J.; Xie, S.-P.; Cook, E.R.; Morales, M.; Christie, D.; Johnson, N.; Chen, F.; d’Arrigo, R.; Fowler, A.; Gou, X.; Fang, K. (2013). “El Niño modulations over the past seven centuries”. Nature Climate Change 3 (9): 822–826. Bibcode:2013NatCC...3..822L. doi:10.1038/nclimate1936. == Chú thích == == Liên kết ngoài == Mùa hè giữa mùa đông Thuật ngữ El Nino và La Nina trên trang Trung tâm Khí tượng Thủy văn Quốc gia FAO response to El Niño International Research Centre on El Niño-CIIFEN (dead link) PO.DAAC's El Niño Animations (dead link) National Academy of Sciences El Niño/La Niña article (dead link) Latest El Niño/La Niña Watch Data from NASA JPL's Ocean Surface Topography Mission Economic Costs of El Niño / La Niña and Economic Benefits from Improved Forecasting from "NOAA Socioeconomics" website initiative El Niño and La Niña from the 1999 International Red Cross World Disasters Report by Eric J. Lyman. NOAA announces 2004 El Niño NOAA El Niño Page Ocean Motion: El Niño The Climate of Peru What is El Niño? Kelvin Wave Renews El Niño — NASA, Earth Observatory image of the day, 2010, March 21
1899.txt
Theo lịch Gregory, năm 1899 (số La Mã: MDCCCXCIX) là năm bắt đầu từ ngày Chủ Nhật. == Sự kiện == === Tháng 1 === 8 tháng 1: Thành lập câu lạc bộ SK Rapid Wien 17 tháng 1: Hoa Kỳ chiếm đảo Wake. === Tháng 2 === 2 tháng 2: Nguyễn Phúc Bửu Lân lên ngôi vua niên hiệu Thành Thái === Tháng 3 === 4 tháng 3: Benjamin Harrison nhậm chức tổng thống Hoa Kỳ === Tháng 4 === 11 tháng 4: Hoa Kỳ đánh chiếm Philippines === Tháng 7 === 20 tháng 7: Khang Hữu Vi thành lập hội bảo hoàng 24 tháng 7: Quân Bãi Sậy phục kích giết viên quản khố xanh tại làng Hoàng Vân === Tháng 8 === 12 tháng 8: Thủ lĩnh quân Bãi Sậy là Đốc Tính hàng Pháp === Tháng 10 === 12 tháng 10: Bùng nổ chiến tranh Bố Nhĩ tại Nam Phi === Tháng 11 === 8 tháng 11: Hoa Kỳ thành lập bang Montana 11 tháng 11: Hoa Kỳ thành lập Bang Washington 15 tháng 11: Thành lập nước cộng hòa Brasil 29 tháng 11: Thành lập câu lạc bộ F.C. Barcelona === Tháng 12 === 16 tháng 12: Thành lập câu lạc bộ A.C. Milan == Sinh == 1 tháng 1: Jack Beresford, huy chương Thế Vận Hội (mất 1977) 4 tháng 1: Alfred Sohn-Rethel, nhà kinh tế học Đức (mất 1990) 6 tháng 1: Heinrich Nordhoff, doanh nhân Đức (mất 1968) 7 tháng 1: Francis Poulenc, nghệ sĩ dương cầm Pháp, nhà soạn nhạc (mất 1963) 8 tháng 1: Solomon West Ridgeway Dias Bandaranaike, nữ thủ tướng Sri Lanka (mất 1959) 10 tháng 1: Axel Eggebrecht, nhà báo Đức, nhà văn, tác giả kịch bản (mất 1991) 10 tháng 1: Lya de Putti, nữ diễn viên Hungary (mất 1931) 12 tháng 1: Paul Hermann Müller, nhà hóa học Thụy Sĩ (mất 1965) 13 tháng 1: Karl Friedrich Bonhoeffer, nhà hóa học Đức (mất 1957) 13 tháng 1: Kay Francis, nữ diễn viên Mỹ (mất 1968) 17 tháng 1: Nevil Shute, nhà văn Anh, phi công (mất 1960) 21 tháng 1: Alexander Tcherepnin, nhà soạn nhạc Nga (mất 1977) 25 tháng 1: Paul-Henri Spaak, chính trị gia Bỉ, chính khách (mất 1972) 27 tháng 1: Piet van Mever, nhà soạn nhạc Hà Lan (mất 1985) 29 tháng 1: Gerhard Moritz Graubner, kiến trúc sư Đức (mất 1970) 29 tháng 1: Hans Henn, chính trị gia Đức (mất 1958) 30 tháng 1: Max Theiler, nhà sinh vật học Mỹ (mất 1972) 2 tháng 2: Wolfgang Gröbner, nhà toán học Áo (mất 1980) 3 tháng 2: João Café Filho, tổng thống Brasil (mất 1970) 3 tháng 2: Lão Xá, nhà văn Trung Hoa (mất 1966) 15 tháng 2: George Auric, nhà soạn nhạc Pháp (mất 1983) 19 tháng 2: Lucio Fontana, họa sĩ Ý, nhà điêu khắc (mất 1968) 19 tháng 2: Werner Beumelburg, nhà báo Đức, nhà văn (mất 1963) 20 tháng 2: Emmy Meyer-Laule, nữ chính trị gia Đức (mất 1985) 21 tháng 2: Bernard William Griffin, tổng giám mục Westminster, Hồng y Giáo chủ (mất 1956) 23 tháng 2: Elisabeth Langgässer, nhà văn Đức (mất 1950) 23 tháng 2: Erich Kästner, nhà văn Đức, tác giả kịch bản (mất 1974) 23 tháng 2: Norman Taurog, đạo diễn phim Mỹ (mất 1981) 24 tháng 2: Helmut Kolle, họa sĩ Đức (mất 1931) 25 tháng 2: Henry Hensche, họa sĩ Mỹ (mất 1992) 26 tháng 2: Max Petitpierre, chính trị gia Thụy Sĩ (mất 1994) 27 tháng 2: Charles Best, nhà sinh lý học Mỹ, nhà hóa sinh (mất 1978) 3 tháng 3: Jacob Klein, triết gia, nhà toán học (mất 1978) 4 tháng 3: Blandine Ebinger, nữ diễn viên Đức (mất 1993) 6 tháng 3: Furry Lewis, nhạc sĩ blues Mỹ (mất 1981) 7 tháng 3: Werner Hochbaum, đạo diễn phim Đức (mất 1946) 8 tháng 3: Eric Linklater, nhà văn Scotland (mất 1974) 9 tháng 3: Giuseppe Antonio Ferretto, Hồng y Giáo chủ Ý (mất 1973) 10 tháng 3: Grete von Zieritz, nghệ sĩ dương cầm Áo, nhà soạn nhạc (mất 2001) 13 tháng 3: Radie Britain, nhà soạn nhạc Mỹ (mất 1994) 13 tháng 3: John H. van Vleck, nhà vật lý học Mỹ (mất 1980) 13 tháng 3: Pantscho Wladigerow, nhà soạn nhạc Bulgaria (mất 1978) 14 tháng 3: Ricardo Adolfo de la Guardia Arango, tổng thống Panama (mất 1969) 15 tháng 3: George Brent, diễn viên Mỹ (mất 1979) 16 tháng 3: Ok Formenoy, cầu thủ bóng đá Hà Lan (mất 1977) 19 tháng 3: Aksel Sandemose, nhà văn (mất 1965) 19 tháng 3: Jan Hendrik de Boer, nhà vật lý học Hà Lan, nhà hóa học (mất 1971) 23 tháng 3: Boris Alexandrowitsch Tschagin, triết gia Nga, nhà sử học (mất 1987) 23 tháng 3: Dora Gerson, nữ diễn viên Đức, nữ ca sĩ (mất 1943) 23 tháng 3: Louis Adamic, nhà báo Mỹ, nhà văn (mất 1951) 25 tháng 3: Jacques Audiberti, thi sĩ Pháp (mất 1965) 27 tháng 3: Carl Aage Hilbert, luật gia Đan Mạch (mất 1953) 31 tháng 3: Franz Völker, nam ca sĩ Đức (người hát giọng nam cao) (mất 1965) 6 tháng 4: Hans Wentorf, cầu thủ bóng đá Đức (mất 1970) 7 tháng 4: Jo Hanns Rösler, nhà văn Đức (mất 1966) 7 tháng 4: Robert Casadesus, nghệ sĩ dương cầm Pháp (mất 1972) 9 tháng 4: Raoul de Verneuil, nhà soạn nhạc Peru, người điều khiển dàn nhạc 12 tháng 4: Emil Gsell, giáo sư Thụy Sĩ (mất 1973) 13 tháng 4: Alfred Butts, kiến trúc sư Mỹ (mất 1993) 13 tháng 4: Alfred Schütz, nhà xã hội học Áo (mất 1959) 14 tháng 4: Josef Oesterle, chính trị gia Đức (mất 1959) 15 tháng 4: Curtis Bernhardt, đạo diễn phim (mất 1981) 16 tháng 4: Konstantin Vaginov, thi sĩ Nga (mất 1934) 19 tháng 4: Robert Lusser, kĩ sư Đức (mất 1969) 21 tháng 4: Rolland-Georges Gingras, nghệ sĩ đàn ống Canada, nhà phê bình âm nhạc, nhà soạn nhạc (mất 1964) 23 tháng 4: Vladimir Nabokov, nhà văn Mỹ (mất 1977) 30 tháng 4: Lucie Mannheim, nữ diễn viên (mất 1976) 1 tháng 5: Jón Leifs, nhà soạn nhạc (mất 1968) 1 tháng 5: Josef Lokvenc, người đánh cờ Áo (mất 1974) 2 tháng 5: Kurt Pohle, chính trị gia Đức (mất 1961) 8 tháng 5: Friedrich Hayek, nhà kinh tế học Áo, nhận Giải thưởng Nobel (mất 1992) 10 tháng 5: Ernst Rüdiger Starhemberg, chính trị gia Áo (mất 1956) 10 tháng 5: Fred Astaire, nghệ sĩ múa Mỹ, nam ca sĩ, diễn viên (mất 1987) 10 tháng 5: Karl Hartl, đạo diễn phim Áo (mất 1978) 14 tháng 5: Pierre Auger, nhà vật lý học Pháp (mất 1993) 20 tháng 5: Alexander Deyneka, họa sĩ Nga, nghệ sĩ tạo hình (mất 1969) 23 tháng 5: Erich Engels, đạo diễn phim Đức, tác giả kịch bản (mất 1971) 24 tháng 5: Henri Michaux, thi sĩ Pháp, họa sĩ (mất 1984) 24 tháng 5: Suzanne Lenglen, nữ vận động viên quần vợt Pháp (mất 1938) 30 tháng 5: Irving Thalberg, nhà sản xuất phim Mỹ (mất 1936) 1 tháng 6: Edward Charles Titchmarsh, nhà toán học Anh (mất 1963) 3 tháng 6: Georg von Bekesy, nhà vật lý học, sinh lý học (mất 1972) 7 tháng 6: Elizabeth Bowen, nhà văn Anh (mất 1973) 8 tháng 6: Ernst-Robert Grawitz, nhà y học Đức (mất 1945) 9 tháng 6: Robert Sidney Cahn, nhà hóa học Anh (mất 1981) 10 tháng 6: Raoul Salan, tướng Pháp (mất 1984) 12 tháng 6: Fritz Albert Lipmann, nhà hóa sinh Mỹ (mất 1986) 13 tháng 6: Carlos Chávez Ramírez, nhà soạn nhạc Mexico (mất 1978) 14 tháng 6: Kawabata Yasunari, nhà văn Nhật Bản, Giải thưởng Nobel về văn học (mất 1972) 14 tháng 6: Yasunari Kawabata, nhà văn Nhật Bản, Giải thưởng Nobel về văn học (mất 1972) 21 tháng 6: Pavel Haas, nhà soạn nhạc Séc (mất 1944) 22 tháng 6: Michal Kalecki, nhà kinh tế học Ba Lan (mất 1970) 24 tháng 6: Bruce Marshall, nhà văn Scotland (mất 1987) 25 tháng 6: Charlotte von Kirschbaum, nữ thần học Đức (mất 1975) 25 tháng 6: Hans Schwippert, kiến trúc sư Đức (mất 1973) 30 tháng 6: František Tomášek, tổng giám mục Praha, Hồng y Giáo chủ (mất 1992) 1 tháng 7: Charles Laughton, diễn viên Anh (mất 1962) 1 tháng 7: Konstantin Tsatsos, luật gia Hy Lạp, tác giả, chính trị gia (mất 1987) 3 tháng 7: Thomas Peter McKeefry, tổng giám mục Wellington, Hồng y Giáo chủ (mất 1973) 5 tháng 7: Benjamin Péret, thi sĩ Pháp, nhà văn (mất 1959) 6 tháng 7: Gustav Ucicky, đạo diễn phim Đức (mất 1961) 7 tháng 7: George Cukor, đạo diễn phim Mỹ (mất 1983) 14 tháng 7: Gregory Breit, nhà vật lý học Mỹ (mất 1981) 15 tháng 7: Hugo Decker, chính trị gia Đức (mất 1985) 17 tháng 7: James Cagney, diễn viên Mỹ (mất 1986) 21 tháng 7: Ernest Hemingway, nhà văn Mỹ (mất 1961) 23 tháng 7: Gustav Heinemann, chính trị gia Đức, tổng thống Cộng hòa Liên bang Đức (mất 1976) 26 tháng 7: Eduard Wandrey, diễn viên Đức (mất 1974) 27 tháng 7: Harl McDonald, nhà soạn nhạc Mỹ (mất 1955) 30 tháng 7: Gerald Moore, nghệ sĩ dương cầm Anh (mất 1987) 2 tháng 8: Paul Eugen Sieg, nhà vật lý học Đức, nhà văn (mất 1950) 5 tháng 8: Mart Stam, kiến trúc sư Hà Lan, nhà thiết kế (mất 1986) 9 tháng 8: P. L. Travers, nhà văn nữ Úc (Mary Poppins) (mất 1996) 11 tháng 8: Jindřich Štyrský, họa sĩ Séc, nhiếp ảnh gia, nghệ sĩ tạo hình, thi sĩ (mất 1942) 12 tháng 8: Thea Rasche, nữ nhà báo Đức (mất 1971) 13 tháng 8: Alfred Hitchcock, đạo diễn phim Anh, nhà sản xuất (mất 1980) 14 tháng 8: Margarete Gröwel, nữ chính trị gia Đức (mất 1979) 23 tháng 8: Albert Claude, nhà y học Bỉ, Giải thưởng Nobel (mất 1983) 24 tháng 8: Herbert Quaine, nhà văn (mất 1941) 24 tháng 8: Jorge Luis Borges, nhà văn Argentina (mất 1986) 25 tháng 8: Guy Butler, vận động viên điền kinh Anh, huy chương Thế Vận Hội (mất 1981) 26 tháng 8: Rufino Tamayo, họa sĩ Mexico (mất 1991) 26 tháng 8: Wolfgang Krull, nhà toán học Đức (mất 1971) 27 tháng 8: Cecil Scott Forester, nhà văn Anh, nhà báo (mất 1966) 27 tháng 8: Eduardo Torroja y Miret, kĩ sư xây dựng Tây Ban Nha, kiến trúc sư (mất 1961) 3 tháng 9: Frank MacFarlane Burnet, nhà y học Úc (mất 1985) 11 tháng 9: Jimmie Davis, ca sĩ nhạc country Mỹ, thống đốc Louisiana (mất 2000) 16 tháng 9: Hans Swarowsky, người điều khiển dàn nhạc Áo, giáo sư (mất 1975) 20 tháng 9: Leo Strauss, triết gia (mất 1973) 21 tháng 9: Juliusz Schauder, nhà toán học Ba Lan (mất 1943) 22 tháng 9: Veit Harlan, diễn viên Đức, đạo diễn phim (mất 1964) 24 tháng 9: Jovan Bandur, nhà soạn nhạc Croatia (mất 1956) 28 tháng 9: Achille Campanile, nhà báo Ý (mất 1977) 29 tháng 9: László József Bíró, nhà phát minh Hungary (mất 1985) 29 tháng 9: Robert Gilbert, nhà soạn nhạc Đức, nam ca sĩ, diễn viên (mất 1978) 1 tháng 10: Joseph Guillemot, vận động viên điền kinh Pháp, huy chương Thế Vận Hội (mất 1975) 3 tháng 10: Louis Hjelmslev, nhà ngôn ngữ học Đan Mạch (mất 1965) 4 tháng 10: Franz Jonas, tổng thống liên bang Áo (mất 1974) 10 tháng 10: Wilhelm Röpke, nhà kinh tế quốc gia Đức (mất 1966) 19 tháng 10: Miguel Ángel Asturias, nhà văn, nhà ngoại giao, Giải thưởng Nobel (mất 1974) 24 tháng 10: Ferhat Abbas, chính trị gia Algérie (mất 1985) 3 tháng 11: Rezső Seress, nhà soạn nhạc Hungary (mất 1968) 4 tháng 11: Jóhannes úr Kötlum, nhà văn Iceland (mất 1972) 4 tháng 11: Nicolas Frantz, tay đua xe đạp Luxembourg (mất 1985) 4 tháng 11: Paul Nicolas, cầu thủ bóng đá Pháp (mất 1959) 17 tháng 11: Roger Vitrac, nhà soạn kịch Pháp (mất 1952) 22 tháng 11: Hoagy Carmichael, nhà soạn nhạc Mỹ, nghệ sĩ dương cầm, diễn viên, nam ca sĩ (mất 1981) 30 tháng 11: Hans Krása, nhà soạn nhạc (mất 1944) 2 tháng 12: John Barbirolli, người điều khiển dàn nhạc Anh (mất 1970) 4 tháng 12: Friedo Lampe, nhà văn Đức (mất 1945) 15 tháng 12: Harold Abrahams, vận động viên điền kinh Anh (mất 1978) 16 tháng 12: Aleksander Zawadzki, chính trị gia cộng sản Ba Lan (mất 1964) 16 tháng 12: Noel Coward, diễn viên Anh, nhà văn, nhà soạn nhạc (mất 1973) 18 tháng 12: Walther Hans Reinboth, họa sĩ Đức, thi sĩ (mất 1990) 21 tháng 12: Juliana von Stockhausen, nhà văn Đức (mất 1998) 23 tháng 12: Elisabeth Schnack, nhà văn Thụy Sĩ (mất 1992) 25 tháng 12: Humphrey Bogart, diễn viên Mỹ (mất 1957) 28 tháng 12: Eugeniusz Bodo, diễn viên Ba Lan, đạo diễn phim (mất 1943) 30 tháng 12: Helge Ingstad, nhà khảo cổ học Na Uy, nhà văn (mất 2001) 31 tháng 12: Silvestre Revueltas, nhà soạn nhạc Mexico (mất 1940) == Mất == 15 tháng 1: Serafino Dubois, kiện tướng cờ vua Ý (sinh 1817) 29 tháng 1: Alfred Sisley, họa sĩ Pháp (sinh 1839) 6 tháng 2: Leo von Caprivi, nhà quân sự Đức, chính khách (sinh 1831) 16 tháng 2: Félix Faure, tổng thống Pháp (sinh 1841) 18 tháng 2: Sophus Lie, nhà toán học Na Uy (sinh 1842) 24 tháng 2: Emil Welti, chính trị gia Thụy Sĩ (sinh 1825) 12 tháng 3: Julius Vogel, thủ tướng New Zealand (sinh 1835) 18 tháng 3: Othniel Charles Marsh, nhà cổ sinh vật học Mỹ (sinh 1831) 3 tháng 4: Adolf Guyer-Zeller, doanh nhân Thụy Sĩ (sinh 1839) 17 tháng 4: Jan Balatka, nhà soạn nhạc Mỹ (sinh 1825) 20 tháng 4: Charles Friedel, nhà hóa học Pháp (sinh 1832) 21 tháng 4: Leopold Hoesch, doanh nhân Đức (sinh 1820) 21 tháng 4: Heinrich Kiepert, nhà địa lý Đức (sinh 1818) 1 tháng 5: Ludwig Büchner, nhà y học Đức, nhà khoa học gia tự nhiên (sinh 1824) 6 tháng 5: Philipp Krementz, nhà thần học Đức, Hồng y Giáo chủ, tổng giám mục Köln (sinh 1819) 25 tháng 5: Rosa Bonheur, nữ họa sĩ Pháp (sinh 1822) 25 tháng 6: Franziskus von Paula Schönborn, Hồng y Giáo chủ, tổng giám mục Praha (sinh 1844) 18 tháng 7: Horatio Alger, tác giả Mỹ (sinh 1832) 19 tháng 7: Heinrich von Achenbach, chính trị gia Đức, luật gia (sinh 1829) 22 tháng 7: Siegfried Saloman, nhà soạn nhạc Đan Mạch (sinh 1810) 25 tháng 7: Niklaus Riggenbach, kĩ sư Thụy Sĩ, nhà phát minh (sinh 1817) 28 tháng 7: Antonio Guzmán Blanco, tướng, tổng thống Venezuela (sinh 1829) 16 tháng 8: Robert Wilhelm Bunsen, nhà hóa học Đức (sinh 1811) 28 tháng 9: Giovanni Segantini, họa sĩ Ý (sinh 1858) 8 tháng 10: Julius Mařák, họa sĩ (sinh 1832) 10 tháng 10: Albert Böhler, nhà tư bản công nghiệp Áo (sinh 1845) 12 tháng 10: Oscar Baumann, triết gia, nhà dân tộc học, nhà địa lý Áo (sinh 1864) 27 tháng 10: Florence Marryat, nhà văn Anh (sinh 1837) 2 tháng 11: Paul Leopold Haffner, nhà thần học Đức (sinh 1829) 27 tháng 11: Constant Fornerod, chính trị gia Thụy Sĩ (sinh 1819) 27 tháng 11: Guido Gezelle, thi sĩ (sinh 1830) 4 tháng 12: Leopold Ullstein, nhà xuất bản Đức (sinh 1826) 5 tháng 12: August Rauschenbusch, nhà thần học Đức (sinh 1816) 15 tháng 12: Numa Droz, chính trị gia Thụy Sĩ (sinh 1844) 21 tháng 12: Charles Lamoureux, người điều khiển dàn nhạc Pháp (sinh 1834) 30 tháng 12: James Paget, bác sĩ phẫu thuật Anh (sinh 1814) == Tham khảo ==
thủy sản.txt
Thủy sản là một thuật ngữ chỉ chung về những nguồn lợi, sản vật đem lại cho con người từ môi trường nước và được con người khai thác, nuôi trồng thu hoạch sử dụng làm thực phẩm, nguyên liệu hoặc bày bán trên thị trường. Trong các loại thủy sản, thông dụng nhất là hoạt động đánh bắt, nuôi trồng và khai thác các loại cá. Một số loài là cá trích, cá tuyết, cá cơm, cá ngừ, cá bơn, cá đối, tôm, cá hồi, hàu và sò điệp có năng suất khai thác cao. Trong đó ngành thủy sản có liên quan đến việc đánh bắt cá tự nhiên hoặc cá nuôi thông qua việc nuôi cá. Nuôi trồng thủy sản đã trực tiếp hoặc gián tiếp tác động lớn đến đời sống của hơn 500 triệu người ở các nước đang phát triển phụ thuộc vào nghề cá và nuôi trồng thủy sản. == Tổng quan == Theo tổ chức FAO thì việc nuôi trồng thủy sản là nuôi các thủy sinh vật trong môi trường nước ngọt và lợ/mặn, bao gồm áp dụng các kỹ thuật vào quy trình nuôi nhằm nâng cao năng suất thuộc sở hữu cá nhân hay tập thể. Trong đó, nguồn lợi thủy sản là tài nguyên sinh vật trong vùng nước tự nhiên, có giá trị kinh tế, khoa học để phát triển nghề khai thác thủy sản, bảo tồn và phát triển nguồn lợi thủy sản. Gần 90% của ngành thủy sản của thế giới được khai thác từ biển và đại dương, so với sản lượng thu được từ các vùng nước nội địa. Hoạt động thủy sản là việc tiến hành khai thác, nuôi trồng, vận chuyển thủy sản khai thác; bảo quản, chế biến, mua bán, xuất khẩu, nhập khẩu thủy sản; dịch vụ trong hoạt động thủy sản, điều tra, bảo vệ và phát triển nguồn lợi thủy sản. Khai thác thủy sản là việc khai thác nguồn lợi thủy sản trên biển, sông, hồ, đầm, phá và các vùng nước tự nhiên khác. Đánh bắt quá mức, bao gồm cả việc lấy cá vượt quá mức bền vững, giảm trữ lượng cá và việc làm ở nhiều vùng trên thế giới. Ðất để nuôi trồng thủy sản là đất có mặt nước nội địa, bao gồm ao, hồ, đầm, phá, sông, ngòi, kênh, rạch; đất có mặt nước ven biển; đất bãi bồi ven sông, ven biển; bãi cát, cồn cát ven biển; đất sử dụng cho kinh tế trang trại; đất phi nông nghiệp có mặt nước được giao, cho thuê để nuôi trồng thủy sản. Hầu hết các thủy sản là động thực vật hoang dã, nhưng nuôi trồng thủy sản đang gia tăng. Canh tác có thể thực hiện ở ngay các vùng ven biển, chẳng hạn như với các trang trại hàu, nhưng hiện này vẫn thường canh tác trong vùng nước nội địa, trong các hồ, ao, bể chứa và các hình thức khác. == Phân loại thủy sản == Sự phân lại các loài thủy sản được dựa theo đặc điểm cấu tạo loài tính ăn và môi trường sống và khí hậu. Nhóm cá (fish): Là những động vật nuôi có đặc điểm cá rõ rệt, chúng có thể là cá nước ngọt hay cá nước lợ. Ví dụ: cá tra, cá bống tượng, cá chình,… Nhóm giáp xác (crustaceans): Phổ biến nhất là nhóm giáp xác mười chân, trong đó tôm và cua là các đối tượng nuôi quan trọng. Ví dụ: Tôm càng xanh, tôm sú, tôm thẻ, tôm đất, cua biển. Nhóm động vật thân mềm (molluscs): Gồm các loài có vỏ vôi, nhiều nhất là nhóm hai mảnh vỏ và đa số sống ở biển (nghêu, sò huyết, hàu, ốc hương,....) và một số ít sống ở nước ngọt (trai, trai ngọc). Nhóm rong (Seaweeds): Là các loài thực vật bậc thấp, đơn bào, đa bào, có loài có kích thước nhỏ, nhưng cũng có loài có kích thước lớn như Chlorella, Spirulina, Chaetoceros,Sargassium (Alginate), Gracillaria… Nhóm bò sát (Reptilies) và lưỡng cư (Amphibians): Bò sát là các động vật bốn chân có màng ối(ví dụ: cá sấu) Lưỡng cư là những loài có thể sống cả trên cạn lẫn dưới nước (ví dụ: ếch, rắn…) được nuôi để lấy thịt, lấy da dùng làm thực phẩm hoặc dùng trong mỹ nghệ như đồi mồi (lấy vây), ếch (lấy da và thịt), cá sấu (lấy da). == Xem thêm == Hải sản Ngư nghiệp Nuôi trồng thủy sản == Tham khảo ==
danh sách lãnh thổ phụ thuộc.txt
Một lãnh thổ phụ thuộc, vùng phụ thuộc hay trước đây còn gọi là thuộc địa là một lãnh thổ không có đầy đủ nền độc lập chính trị hay chủ quyền như một quốc gia. Có nhiều hình thức và cấp độ phụ thuộc phổ biến khác nhau để phân biệt giữa các địa thể/địa khu (entities) và không được xem là một phần của mẫu quốc (motherland) hay chính quốc (mainland) của quốc gia chủ quản (governing state). Trong đa số trường hợp, tất cả những điều vừa nói cũng đại diện một trật tự khác nhau về phân chia hành chính. Một địa khu cấp dưới quốc gia thường thường đại diện cho sự phân chia hành chính quốc gia cho hợp lý trong khi một lãnh thổ phụ thuộc có thể là một lãnh thổ hải ngoại được hưởng một mức độ tự trị lớn hơn. Ví dụ nhiều lãnh thổ phụ thuộc có những hệ thống pháp lý ít nhiều khác với quốc gia chủ quản. Vì còn có nhiều sự khác biệt nữa ngoài hệ thống pháp lý và truyền thống hiến pháp, những lãnh thổ này có thể hoặc không thể xem như một phần của các quốc gia chủ quản. Những vùng được gọi riêng là phi độc lập là các lãnh thổ đang trong vòng tranh chấp, bị chiếm đóng quân sự, hoặc có chính quyền lưu vong hay phong trào đòi độc lập đáng kể. == Danh sách các lãnh thổ phụ thuộc == Hiện tại có 58 lãnh thổ phụ thuộc trong danh sách. Dưới đây, các lãnh thổ của Úc, Anh và New Zealand là thuộc Khối thịnh vượng chung Anh - mỗi quốc gia chủ quản là thành viên dưới vương quyền Anh (vương quyền chỉ có tính tôn trọng hơn là thực quyền). Theo thỏa thuận trong Hiệp ước về Nam cực, tất cả những tuyên bố chủ quyền từ 60 độ nam trở xuống phía nam đều không được công nhận hoặc tranh chấp. Các lãnh thổ này được ghi bằng chữ nghiêng. Các lãnh thổ không người ở hoặc không có một dân số thường xuyên được ghi bằng dấu thăng (#). Danh sách bao gồm vài lãnh thổ không có ghi trong danh sách các lãnh thổ phi tự trị của Liên hiệp quốc [1] mà Đại hội đồng Liên hiệp quốc đưa ra (có ghi Tây Sahara kể từ năm 1990, Đại hội đồng Liên hiệp quốc xác nhận rằng vấn đề Tây Sahara là vấn đề phi thực dân hóa, cần được hoàn tất bởi nhân dân Tây Sahara). Một số địa khu chính trị có vị trí đặc biệt được công nhận bởi hiệp ước hay thỏa thuận quốc tế là (Åland ở Phần Lan, Hồng Kông và Ma Cao ở Cộng hòa nhân dân Trung Hoa, và Svalbard ở Na Uy). Trong ý nghĩa hạn hẹp, đây không phải là các lãnh thổ phụ thuộc nhưng trong cách nào đó chúng có vị trí giống như vậy. Xem thêm Danh sách các địa khu đặc biệt được công nhận bởi hiệp ước hay thỏa thuận quốc tế. Kosovo là một vùng bảo hộ quốc tế trong quốc gia có chủ quyền là Serbia. Nó không phải là lãnh thổ phụ thuộc trong ý nghĩa hạn hẹp nhưng thực tế là như vậy. === Úc === === Đan Mạch === === Pháp === Các địa khu hải ngoại như Guyane (tiếng Anh: French Guiana ở Nam Mỹ, đừng lầm lẫn với French Guinea ở châu Phi), Guadeloupe, Martinique, Réunion và Mayotte là những phần liên đới của Pháp và vì thế không phải là lãnh thổ phụ thuộc. === Hà Lan === === New Zealand === === Na Uy === === Anh === === Hoa Kỳ === Theo các hiệp ước với Cuba, Hoa Kỳ thuê mướn Căn cứ Hải quân Vịnh Guantanamo vì thế nó không thuộc chủ quyền cũng không phải là lãnh thổ phụ thuộc của Hoa Kỳ. == Xem thêm == Danh sách liệt kê các lãnh thổ tự trị theo từng quốc gia Danh sách quốc gia Lãnh thổ chưa sáp nhập của Hoa Kỳ Thuộc địa Chủ nghĩa thực dân Chủ nghĩa đế quốc Danh sách các quốc gia có chủ quyền Danh sách các lãnh thổ bị tranh chấp Danh sách các quốc gia chưa được công nhận Lãnh thổ Nam cực == Tham khảo == == Liên kết ngoài == Trang thông tin WorldStatesmen- bao gồm các cựu quốc gia và lãnh thổ phụ thuộc Xếp hạng tự do chính trị và nhân quyền tại các lãnh thổ phụ thuộc
josé eduardo dos santos.txt
José Eduardo dos Santos (sinh ngày 28/08/1942) là tổng thống hiện tại của Angola, tại vị từ năm 1979. Ông cũng là chủ tịch phong trào giải phóng Angola - Đảng lao động (MPLA). Eduardo dos Santos sinh ở Luanda, cha là công nhân xây dựng từ São Tomé and Príncipe. Khi ông vẫn đang ở trong trường học, đã tham gia MPLA vào năm 1956 bắt đầu hoạt động sự nghiệp chính trị. Sự áp bức về thuế của chính phủ thuộc địa, Eduardo dos Santos đã đi tha hương sang Pháp năm 1961. Sau đó tới nước cộng hòa Congo. Từ đó ông phối hợp với MPLA, sớm trở thành phó chủ tịch. Tiếp tục với sự nghiệp giáo dục một lần nữa ông đã đến các nước USSR, nơi đây ông đã nhận được một bằng kỹ thuật máy móc hóa dầu Azerbaijan và Viện nghiên cứu hóa học ở Baku, Azerbaijan. Năm 1970 ông về tới Angola và tham gia EPA (Exército Popular de Libertação de Angola), một nhánh của MPLA. Sau cái chết của chủ tịch đầu tiên của MPLA là Agostinho Neto, vào 10/09/1979. José Eduardo dos Santos đã trúng cử chủ tịch 20/09/1979. Được bầu làm chủ tịch hội đồng nhân dân vào 09/10/1980. == Tham khảo == == Liên kết ngoài == (tiếng Anh) Official webpage of MPLA
thai nghén.txt
Thai nghén (tiếng la tinh graviditas) là việc mang một hay nhiều con, được gọi là một bào thai hay phôi thai, bên trong tử cung của một phụ nữ. Trong một lần thai nghén, có thể có nhiều bào thai, như trong trường hợp sinh đôi hay sinh ba. Việc thai nghén ở loài người được nghiên cứu kỹ lưỡng nhất trong số tất cả các loài động vật có vú. Sản khoa là lĩnh vực phẫu thuật nghiên cứu và chăm sóc những trường hợp thai nghén có nguy cơ cao. Thuật đỡ đẻ là lĩnh vực phi phẫu thuật chăm sóc thai nghén và phụ nữ mang thai. Việc sinh đẻ thường diễn ra sau khoảng 38 tuần từ khi thụ thai, ví dụ, khoảng 40 tuần từ lần có kinh bình thường cuối cùng (LNMP) với loài người. Tổ chức Y tế Thế giới định nghĩa thời kỳ sinh đẻ bình thường trong khoảng 37 tới 42 tuần. Việc tính toàn ngày sinh liên quan tới thời kỳ giả định thông thường 28 ngày. == Thuật ngữ == Một thuật ngữ khoa học về tình trạng mang thai là gravid (có mang - tiếng Anh), và một phụ nữ có thai thỉnh thoảng được gọi là gravida. Không từ nào được sử dụng trong trò chuyện thông thường. Tương tự, thuật ngữ "parity" (viết tắt "para") được dùng cho số lượng những lần sinh thành công trước đó. Về y học, một phụ nữ chưa bao giờ có thai được gọi là "nulligravida", và ở những lần có thai sau đó được gọi là "multigravida" hay "multiparous". Vì thế trong lần mang thai thứ hai một phụ nữ có thể được miêu tả là một "gravida 2, para 1" và khi sinh là "gravida 2, para 2". Lần mang thai, cũng như những lần phá thai, sẩy thai hay chết non được tính cho giá trị parity ít hơn số gravida, trong khi một lần sinh nhiều con sẽ làm tăng giá trị parity. Phụ nữ chưa bao giờ có thai nhiều hơn 20 tuần tuổi được gọi là "nulliparous". Thuật ngữ y tế về một phụ nữ có thai lần đầu là primigravida. Thuật ngữ embryo (phôi thai) được dùng để miêu tả đứa trẻ đang phát triển trong tám tuần đầu tiên sau khi thụ thai, và thuật ngữ fetus (bào thai) được dùng từ khoảng hai tháng tuổi tới khi sinh. Trong nhiều định nghĩa y tế và pháp lý xã hội, sự mang thai của con người được chia không chính xác thành ba giai đoạn ba tháng, như một công cụ để đơn giản hoá việc biểu hiện ba giai đoạn phát triển thai nhi. Ba tháng đầu có nguy cơ sẩy thai (phôi thai hay bào thai chết tự nhiên) cao nhất. Trong ba tháng tiếp theo, sự phát triển của bào thai có thể được giám sát và chẩn đoán dễ dàng hơn. Sự bắt đầu của ba tháng cuối thường xấp xỉ thời điểm khả năng sống sót, hay khả năng sống sót của bào thai, với hoặc không có sự hỗ trợ y tế, bên ngoài tử cung. == Tiến triển == === Bắt đầu === Sự mang thai xảy ra như kết quả của giao tử cái hay noãn bào bị một giao tử đực tinh trùng xâm nhập trong một quá trình được gọi là, trong y học, sự "thụ thai". Sau khi được "thụ thai" nó được gọi là một trứng. Sự tiết tinh trùng nam thường xảy ra qua hoạt động quan hệ tình dục. Tuy nhiên, sự xuất hiện của thụ tinh nhân tạo và thụ tinh trong ống nghiệm cũng khiến việc thụ thai có thể xảy ra trong những trường hợp quan hệ tình dục không thể dẫn đến có thai (ví dụ qua việc lựa chọn hay vô sinh nam/nữ). === Giai đoạn trước khi sinh === Perinatal là giai đoạn "khoảng thời gian sinh", đặc biệt từ đủ 22 tuần (154 ngày) mang thai (thời gian khi trọng lượng sinh thường là 500 g) tới đủ bảy ngày sau khi sinh. Các quy định khác biệt khác nhau tuỳ theo quốc gia gồm cả tuổi thai nghén bắt đầu từ 16 – 22 tuần (5 tháng) trước khi sinh. nnn === Giai đoạn sau khi sinh === === Thời gian === Thời gian sinh (EDD) thông thường là 40 tính từ lần kinh nguyệt (LMP) cuối cùng và việc sinh đẻ thường diễn ra trong khoảng 37 tới 42 tuần, Thời gian mang thai thực tế thường là 38 tuần sau khi thụ thai. Dù việc thai nghén bắt đầu khi thụ thai, để thuận tiện hơn nó sẽ được tính từ ngày đầu tiên của kỳ kinh nguyệt cuối cùng, hay từ ngày thụ thai nếu biết. Bắt đầu từ một trong những ngày đó, ngày sinh dự tính có thể được tính toán. 40 tuần là chín tháng và sáu ngày, là cơ sở của quy tắc Naegele tính toán ngày sinh. Các thuật toán phức tạp và chính xác hơn có tính đến những sai biệt, như đây là lần mang thai đầu hay không (ví dụ phụ nữ có thai con so hay con rạ), sắc tộc, tuổi cha mẹ, chiều dài và sự đều đặn của chu kỳ kinh nguyệt. Thai nghén được cho là 'đến kỳ' khi thai đạt đủ 37 tuần tuổi nhưng chưa đến 42 tuần (giữa 259 và 294 ngày từ LMP). Các sự kiện trước khi đủ 37 tuần (259 ngày) được coi là sinh sớm; từ tuần 42 (294 ngày) các sự kiện được coi là sinh muộn. Khi một lần thai nghén vượt quá 42 tuần (294 ngày), nguy cơ biến chứng cho phụ nữ và thai nhi gia tăng mạnh. Như vậy, các bác sĩ sản khoa thường muốn cho đẻ kích thích, trong một trường hợp thai nghén phức tạp, ở giai đoạn từ 41 đến 42 tuần. Văn bản y tế gần đây thường thích dùng thuật ngữ sinh sớm (pre-term) và sinh muộn (post-term) hơn premature và post-mature. Pre-term và post-term được định nghĩa không rõ ràng như trên, theo đó premature và postmature có nghĩa lịch sử và liên quan nhiều hơn tới kích thước trẻ sơ sinh và tình trạng phát triển hơn là giai đoạn thai nghén. Chưa tới 5% ca sinh xảy ra vào ngày dự đoán; 50% ca sinh xảy ra trong vòng 1 tuần từ ngày đoán, và tới 90% trong vòng hai tuần. Vì thế, sẽ dễ dàng hơn, khi xem xét một loạt ngày dự đoán chứ không phải một ngày chính xác, một số các dự đoán ngày sinh trên mạng có thể cung cấp thông tin này. Ngày mang thai chính xác là quan trọng, bởi nó được dùng để tính toán các kết quả của nhiều thử nghiệm trước khi sinh (ví dụ, trong triple test). Một quyết định có thể được đưa ra để tiến hành kích thích sinh đẻ nếu bào thai đã quá tuổi. Hơn nữa, nếu LMP và dự đoán siêu âm ngày sinh khác biệt với ngày dự đoán, nếu ngày dự đoán muộn hơn, điều này làm giảm đáng kể nguy cơ chết và vì thế đòi hỏi phải xem xét kỹ lưỡng. Tuổi khả năng sống sót đã không ngừng giảm khi y khoa tiếp tục phát triển. Trong khi thời hạn thông thường là 28 tuần, hiện nó đã có thể sớm hơn ở mức 23 tuần [22 tuần ở một số quốc gia]. Không may thay đã có sự gia tăng mạnh tình trạng ốm yếu và tử vong đi liền với số tăng sống sót tới mức nó đã dẫn tới một số câu hỏi về đạo lý và đạo đức khi cố gắng cứu chữa những ca ở bờ vực của sự sống. === Sinh đẻ === Sinh đẻ là quá trình theo đó một trẻ sơ sinh được sinh ra. Nó được nhiều người coi là sự khởi đầu của một cuộc sống con người, và ở hầu hết các nền văn hoá tuổi được xác định theo sự kiện này. Một phụ nữ được coi là đau đẻ khi cô ta bắt đầu cảm thấy những co bóp tử cung đều đặn, đi kèm với những thay đổi ở cổ tử cung - chủ yếu là giãn. Tuy việc sinh đẻ thường bị coi là gây nhiều đau đớn, một số phụ nữ đã kể lại về việc sinh đẻ không đau, trong khi những người khác thấy rằng việc tập trung vào ca đẻ giúp việc sinh đẻ nhanh hơn và giảm cảm giác. Đa số các ca sinh có thể diễn ra qua đường âm đạo, nhưng thỉnh thoảng với những ca phức tạp một phụ nữ có thể phải trải qua mổ tử cung. Ngay sau khi sinh, cả người mẹ và đứa trẻ cued to bond về mặt hóc môn, người mẹ thông qua việc tiết oxytocin, một hóc môn cũng được sản sinh ra khi cho bú. == Chẩn đoán == Sự bắt đầu của thai nghén có thể được phát hiện theo một số cách khác nhau, hoặc bởi một phụ nữ có thai mà không cần thử nghiệm y tế, hoặc bởi cách sử dụng các thử nghiệm y tế có hay không có sự trợ giúp của nhân viên y tế chuyên nghiệp. Đa số phụ nữ có thai đều có một số triệu chứng, có thể sử dụng để xác định tình trạng mang thai. Các triệu chứng có thể gồm buồn nôn và nôn mửa, mệt mỏi quá mức, thèm một số loại thực phẩm trước đó không ưa chuộng lắm và đi tiểu thường xuyên đặc biệt vào ban đêm. Một số dấu hiệu y tế sớm đi liền với thai nghén. Những dấu hiệu này thường xuất hiện trong vài tuần đầu tiên sau thụ thai. Dù không phải mọi dấu hiệu này đều xuất hiện, cũng không phải toàn bộ chúng đều có thể được dùng để chẩn đoán, nhưng cùng với nhau chúng có thể tạo thành chẩn đoán mang thai. Các dấu hiệu này gồm sự xuất hiện của kích tố sinh dụng màng đệm con người (hCG) trong máu và nước tiểu, mất kinh, chảy máu dưới da xảy ra khi thai bám vào tử cung trong tuần thứ ba hay thứ tư sau chu kỳ kinh nguyệt cuối cùng, tăng nhiệt độ cơ bản cơ thể duy trì trong tuần sau khi rụng trứng, dấu hiệu Chadwick (đen cổ tử cung, âm đạo, và âm hộ), dấu hiệu Goodell (mềm phần âm hộ của âm đạo), dấu hiệu Hegar (mềm dạ con eo), và sự hình thành sắc tố linea alba - Linea nigra, (đen da ở giữa bụng, gây ra bởi siêu sắc tố vì những thay đổi hóc môn, thường xuất hiện khoảng giữa thời kỳ mang thai). Việc phát hiện có thai có thể được thực hiện bằng một hay nhiều cách thử xác định các hóc môn mới được nhau sản sinh. Các thử nghiệm y tế về máu và nước tiểu có thể xác định có thai ngay sau khi phôi cấy dưới da, 6 đến 8 ngày sau khi thụ thai. Các thử nghiệm máu có độ chính xác cao hơn thử nghiệm nước tiểu. Các thử nghiệm có thai tại nhà là thử nghiệm nước tiểu cá nhân, thông thường chỉ có thể phát hiện thai ít nhất 12–15 ngày từ khi thụ thai. Cả các thử nghiệm tại nhà và tại cơ sở y tế chỉ có thể xác định tình trạng mang thai, và không thể xác định tuổi phôi thai. Ở giai đoạn sau khi thai đã cấy dưới da, blastocyst sinh ra một hóc môn gọi là kích tố sinh dục màng đệm con người, hóc môn này lại kích thích corpus luteum trong buồng trứng phụ nữ để tiếp tục tạo ra progesterone (hóc môn giới tính duy trì thai). Việc này duy trì màng tử cung để phôi thai tiếp tục được nuôi dưỡng. Các tuyến trong màng tử cung sẽ căng lên khi có blastocyst, và các mao dẫn sẽ được kích thích phát triển trong vùng này. Điều này cho phép blastocyst nhận được chất dinh dưỡng cần thiết từ người phụ nữ. Dù có tất cả các dấu hiệu đó, một số phụ nữ có thể không nhận ra mình đang mang thai cho tới khi đã có thai khá lâu, trong một số trường hợp thậm chí tới khi bắt đầu đau đẻ. Điều này có thể vì nhiều yếu tố, gồm cả chu kỳ kinh nguyệt không đều (thường thấy ở thiếu niên), một số loại dược phẩm (không liên quan tới thụ thai trẻ em), và phụ nữ béo phì những người không chú ý nhiều khi tăng cân. Những người khác có thể không muốn chấp nhận tình trạng của mình. Một chẩn đoán siêu âm sớm có thể xác định tình trạng mang thai với độ chính xác cao. Trên thực tế các bác sĩ thường thể hiện tuổi thai (ví dụ "tuổi" của một phôi thai) theo "ngày kinh nguyệt" dựa trên ngày đầu tiên của kỳ kinh nguyệt cuối cùng, khi người phụ nữ thông báo ngày này. Trừ khi một phụ nữ có hoạt động tình dục giới hạn, hay cô ta đã lập biểu đồ chu kỳ kinh của mình, hay việc thụ thai là kết quả của một hay nhiều cách điều trị vô sinh (như IUI hay IVF) ngày chính xác của việc thụ thai thường không thể xác định. Các triệu chứng không xuất hiện như ốm vào buổi sáng, thường là dấu hiệu rõ ràng duy nhất của một lần có thai là một sự đứt đoạn của chu kỳ kinh nguyệt hàng tháng của cô ta, (ví dụ một "chu kỳ muộn"). Vì thế, "ngày kinh nguyệt" đơn giản là một ước tính được dạy thông thường về tuổi của phôi thai, trung bình chậm hơn hai tuần sau ngày đầu tiên của chu kỳ kinh nguyệt cuối cùng. Thuật ngữ "ngày thụ thai" có thể thỉnh thoảng được sử dụng khi ngày này là chắc chắn, mặc dù cả các bác sĩ chuyên môn có thể không chắc chắn về việc sử dụng hai thuật ngữ khác biệt đó. Ngày dự đoán có thể được tính theo quy tắc Naegele. Ngày sinh dự tính cũng có thể được tính bằng cách đo phôi thai bằng siêu âm. Biện pháp này hơi chính xác hơn các biện pháp dựa trên LMP. Sự bắt đầu đau đẻ, được gọi theo nhiều cách như sinh đẻ hay lâm bồn, diễn ra vào ngày tiên đoán theo LMP là 3.6% và theo siêu âm là 4.3%. Các tiêu chí chẩn đoán là: Phụ nữ có chu kỳ kinh nguyệt và chủ động về tình dục, có thể thêm vào thời kỳ mang thai một giai đoạn chậm vài ngày hay vài tuần, B-hcG cao ở khoảng 100,000 mIU/mL ở 10 tuần mang thai.[1] == Sinh lý học == Thuật ngữ ba tháng đầu dẫn tới đây. Về thuật ngữ ba tháng đầu được sử dụng trong môi trường hàn lâm, xem Thuật ngữ hàn lâm Thai nghén thường được chia làm ba giai đoạn, hay thời kỳ ba tháng. Tuy không có các quy định chặt chẽ, sự phân chia này hữu ích trong việc miêu tả những thay đổi diễn ra theo thời gian. === Ba tháng đầu === Theo truyền thống, các bác sĩ tiến hành đo đạc thai nghén theo một số thời điểm thích hợp, gồm ngày chu kỳ kinh nguyệt cuối cùng, các rụng trứng, thụ thai, thai cấy dưới da và thử nghiệm hoá học. Trong y khoa, thai nghén thường được coi là bắt đầu khi phôi thai đang phát triển được cấy vào trong màng dạ con trong tử cung người phụ nữ. Trong một số trường hợp phức tạp, trứng đã thụ tinh có thể tự cấy vào bên trong ống dẫn trứng hay cổ tử cung, gây ra thai lệch vị trí. Đa số phụ nữ có thai không có bất kỳ dấu hiệu đặc trưng hay triệu chứng nào khi thai cấy, dù không phải không có chảy máu một chút khi xảy ra điều này. Một số phụ nữ cũng bị chuột rút trong ba tháng đầu tiên. Điều này không đáng lo ngại trừ khi cùng lúc xuất hiện đốm hay chảy máu. Sau khi cấy màng trong dạ con cổ tử cung được gọi là màng rụng. Nhau được hình thành một phần từ màng rụng và một phần từ các màng phía ngoài của phôi thai chịu trách nhiệm vận chuyển chất dinh dưỡng tới, và loại bỏ các chất rác khỏi bào thai. Dây rốn là đường dây kết nối từ phôi thai hay bào thai tới nhau. Phôi thai đang phát triển lớn lên và thay đổi nhanh chóng trong quá trình phát triển thai. Ốm buổi sáng có thể xảy ra ở khoảng bảy mươi phần trăm phụ nữ có thai và giảm bớt nhiều sau ba tháng đầu. Trong 12 tuần đầu tiên bầu và núm vú bị đen vì sự thay đổi hóc môn tạm thời. Đa số trường hợp sẩy thai diễn ra trong giai đoạn này. === Ba tháng giữa === Các tháng từ thứ 4 tới thứ 6 thai kỳ được gọi là ba tháng giữa. Đa số phụ nữ ở giai đoạn này đã cảm thấy mạnh mẽ hơn, và bắt đầu tăng cân khi các triệu chứng mỏi mệt buổi sáng giảm bớt và cuối cùng biến mất. Ở tuần thứ 20, tử cung, cơ bắp giữ bào thai đang phát triển, có thể lớn gấp hai mươi lần kích cỡ bình thường. Dù bào thai bắt đầu cử động và có hình dáng của con người trong ba tháng đầu tiên, nhưng phải tới ba tháng giữa thì cử động của bào thai mới "nhanh hơn" để có thể cảm nhận được. Điều này thường xảy ra trong tháng thứ 4, chính xác hơn là trong tuần 20 tới tuần 21, hay ở tuần 19 nếu người phụ nữ đã có thai trước đó. Tuy nhiên, việc nhiều phụ nữ không hề cảm thấy cử động của thai cho tới thời gian lâu hơn cũng là bình thường. Nhau khi đó đã hoạt động đầy đủ và bào thai đang tạo ra insulin và đi tiểu. Các cơ quan sinh dục giúp phân biệt bào thai là nam hay nữ. === Ba tháng cuối === Quá trình tăng cân cuối cùng diễn ra, và là giai đoạn tăng cân nhiều nhất trong suốt thai kỳ. Bào thai lớn lên nhanh nhất trong giai đoạn này, tăng tới 28g mỗi ngày. Bụng người phụ nữ sẽ thay đổi hình dạng khi bụng xệ xuống vì phôi thai quay đầu xuống chuẩn bị ra đời. Trong ba tháng giữa, bụng người phụ nữ rất thẳng, trong khi ở ba tháng cuối nó xệ xuống khá thấp, và người phụ nữ có thể nâng và hạ bụng. Bào thai bắt đầu cử động thường xuyên, và người phụ nữ có thể cảm nhận điều này. Cử động của thai nhi có thể khá mạnh và gây khó chịu cho người phụ nữ. Rốn của người phụ nữ có thể lồi lên, lồi ra, vì bụng to lên. Giai đoạn thai kỳ này có thể gây khó chịu, gây ra các triệu chứng như khó kiểm soát bọng đái và đau lưng. Cử động của thai nhi trở nên mạnh hơn và thường xuyên hơn và vì não đã phát triển hoạt động của mắt và cơ thai nhi đã sẵn sàng cho sự ra đời. Phụ nữ có thể cảm thấy thai "quay" và nó có thể gây ra đau hay khó chịu khi thai ở gần xương sườn hay xương sống người phụ nữ. Ở thời gian này một thai nhi sinh sớm có thể sống sót. Việc sử dụng kỹ thuật chăm sóc y tế đặc biệt làm gia tăng đáng kể khả năng sống sót của thai nhi sinh sớm, và đẩy lùi biên vùng có thể sống sót tới sớm hơn so với trường hợp không có hỗ trợ. Dù có những phát triển đó, sinh sớm vẫn là một mối đe doạ lớn với thai nhi, và có thể gây ra tình trạng ốm yếu sau này, thậm chí khi đứa trẻ sống sót. === Phát triển thai nhi và các hình ảnh siêu âm === Quá trình phát triển trước khi sinh được chia làm hai giai đoạn sinh học chính. Giai đoạn đầu là giai đoạn phôi thai, kéo dài khoảng hai tháng. Tiếp đó là giai đoạn bào thai. Ở đầu giai đoạn bào thai, nguy cơ sẩy thai tăng mạnh, tất cả các cơ quan chính gồm tay, chân, đầu, óc, và các cơ quan khác đã hình thành, và chúng tiếp tục phát triển lớn lên. Khi giai đoạn bào thai bắt đầu, một bào thai thường dài khoảng 30 mm (1.2 inches), và có thể thấy tim thai đập qua siêu âm; bào thai cúi đầu, và thực hiện một số cử động và giật mình tác động tới toàn thân. Một số sự thành tạo vân tay xảy ra ở đầu giai đoạn bào thai. Hoạt động điện não lần đầu tiên có thể được phát hiện giữa tuần thứ 5 và thứ sáu của thai kỳ, dù nó vẫn bị coi là hoạt động thần kinh nguyên thủy hơn là sự khởi đầu của một ý thức, điều sẽ phát triển sau này trong chu kỳ phát triển thai. Các khớp thần kinh bắt đầu hình thành ở 17 tuần, và ở khoảng tuần thứ 28 bắt đầu nhân lên với tốc độ cao và kéo dài tiếp tới 3-4 tháng sau khi sinh. Không phải đủ 23 tuần tuổi bào thai mới có thể sống sót bên ngoài dạ con, dù với sự hỗ trợ y tế mạnh. Cũng không phải tới khi ấy bào thai mới sở hữu một bộ não thực sự. Một cách quan sát sự phát triển thai trước khi sinh là thông qua các hình ảnh siêu âm. Các hình ảnh siêu âm 3D hiện đại cung cấp nhiều thông tin hơn cho việc chẩn đoán tiền sinh so với kỹ thuật 2D cũ. Tuy 3D là kỹ thuật phổ thông với những bậc cha mẹ muốn có một bức ảnh tiền sinh để lưu trữ, cả kỹ thuật 2D và 3D đều bị FDA khuyến nghị hạn chế dùng ngoài mục đích y tế, nhưng không có những nghiên cứu xác định cho thấy siêu âm liên quan tới bất kỳ hiệu ứng y tế bất lợi nào. Các hình ảnh siêu âm 3D dưới đây được chụp ở những giai đoạn thai kỳ khác nhau: == Những thay đổi sinh lý khi mang thai == Khi mang thai, người phụ nữ trải qua nhiều thay đổi sinh lý, chúng hoàn toàn bình thường, gồm tim mạch, huyết học, trao đổi chất, thận và hô hấp và chúng trở nên rất quan trọng trong những trường hợp biến chứng. Cơ thể phải thay đổi các bộ máy sinh lý và cân bằng nội môi trong thai kỳ để đảm bảo phôi được cung cấp đủ các nhu cầu. Những sự gia tăng về đường máu, lượng hơi thở và hô hấp là hoàn toàn cần thiết. Những mức độ progesterone và oestrogens gia tăng trong suốt thai kỳ, chế áp trục dưới đồi và sau đó là chu kỳ kinh nguyệt. Nhiều phụ nữ và các nhân viên y tế nghĩ sai lầm rằng việc cho con bú khiến ngực của phụ nữ bị chảy (trong y khoa gọi là chứng sa), và vì thế một số người lưỡng lự trong việc cho con bú. Tháng 2 năm 2009, Cheryl Cole đã nói với tạp chí Vogue rằng cô ta lưỡng lự trong việc cho con bú bởi tác động nó có thể gây ra với bộ ngực của mình. "Tôi muốn cho con bú," cô nói, "nhưng tôi đã chứng kiến điều nó có thể gây ra, vì thế tôi phải xem xét lại." Những nghiên cứu cho thấy việc nuôi con bằng sữa mẹ không phải là một yếu tố như mọi người vẫn nghĩ trước đây. Những nguy cơ chủ yếu dẫn tới việc chảy ngực là hút thuốc lá, chỉ số khối lượng cơ thể (BMI) của người phụ nữ, số lần mang thai, kích thước ngực trước khi mang thai và độ tuổi. == Quản lý == Chăm sóc y tế trước sinh và chăm sóc khi nuôi dưỡng cần thiết được thực hiện với những phụ nữ trước và trong thai kỳ. Mục đích của việc chăm sóc trước sinh là xác định sớm bất kỳ vấn đề tiềm tàng nào, và ngăn chặn chúng nếu có thể (thông qua việc hấp thụ dinh dưỡng hợp lý, uống vitamin vân vân), và quản lý các vấn đề, có thể hướng dẫn phụ nữ tới những chuyên gia, bệnh viện thích hợp vân vân, nếu cần thiết. === Dinh dưỡng === Một chế độ ăn cân bằng, giàu chất dinh dưỡng là yếu tố quan trọng của một chu kỳ mang thai khỏe mạnh. Việc ăn theo chế độ mạnh khỏe, cân bằng về carbohydrates, chất béo, và proteins, và ăn nhiều loại hoa quả và rau, thường đảm bảo dinh dưỡng tốt. Những người có chế độ ăn bị ảnh hưởng bởi các vấn đề sức khỏe, tôn giáo, hay những đức tin sắc tộc có thể lựa chọn tư vấn một chuyên gia về sức khỏe để có lời khuyên riêng biệt. Một chế độ ăn có đủ lượng axít folic (cũng được gọi là folate hay Vitamin B9) gần thời điểm thụ thai đã cho thấy tác dụng làm giảm nguy cơ khiếm khuyết ống thần kinh phôi thai như spina bifida, một khiếm khuyết sinh đẻ nghiêm trọng. Ống thần kinh phát triển trong 28 ngày đầu thai kỳ, giải thích sự cần thiết đảm bảo lượng folate hấp thụ đủ trong giai đoạn đầu thai kỳ. Folate (xuất xứ từ folia, lá) có nhiều trong rau bina (tươi, đông lạnh, hay đóng hộp), và có trong rau xanh ví dụ như xà lách, của cải đường, bông cải xanh, măng tây, các loại quả giống cam quýt và dưa, đậu xanh (ví dụ dưới hình thức món khai vị hay falafel), và trứng. Tại Hoa Kỳ và Canada, hầu hết các sản phẩm lúa mì (bột mì, mì) giàu các axít folic. DHA omega-3 là một a xít béo cấu trúc chính trong não và võng mạc, và thường có trong sữa vắt. Một yếu tố quan trọng là người phụ nữ phải hấp thụ những lượng đủ DHA trong thai kỳ và khi nuôi con giúp họ có sức khỏe tốt và cả sức khỏe cho đứa trẻ. Phôi thai đang lớn không thể tạo DHA một cách hiệu quả, và phải nhận chất dinh dưỡng thiết yếu này từ người phụ nữ qua nhau thai và trong sữa mẹ sau khi sinh. Nhiều vi chất dinh dưỡng khác cũng quan trọng cho sức khỏe và sự phát triển của phôi thai, đặc biệt tại các vùng thiếu đói trên thế giới. Tại những khu vực phát triển, như Tây Âu và Hoa Kỳ, một số chất dinh dưỡng như Vitamin D và calcium, cần thiết cho sự phát triển xương có thể cần được bổ sung. Một cuộc nghiên cứu năm 2011 nghiên cứu máu dây rốn của những trẻ sơ sinh khỏe mạnh và phagts hiện những mức độ vitamin D thấp gắn liền với sự gia tăng nguy cơ nhiễm trùng đường hô hấp thấp trong năm đầu đời. Những vi khuẩn hay động vật ký sinh nguy hiểm có thể làm ô nhiễm thực vật, gồm Listeria và Toxoplasma gondii. Việc rửa kỹ hoa quả và rau có thể loại bỏ những nguồn bệnh này, việc nấu chín kỹ thức ăn dùng lại, thịt, hay thịt đã qua chế biến cũng có tác dụng tốt. Phó mát mềm có thể chứa Listeria; nếu làm từ sữa tươi, nguy cơ có thể tăng thêm. Phân mèo cũng gây ra một nguy cơ đặc biệt về toxoplasmosis. Phụ nữ có thai dễ bị nhiễm trùng Salmonella từ trứng và gà, vì thế các sản phẩm này phải được nấu kỹ. Thực hiện vệ sinh trong bếp có thể làm giảm những nguy cơ này. === Tăng cân === Việc hấp thụ calo phải gia tăng để đảm bảo sự phát triển đầy đủ của phôi thai. Trọng lượng cơ thể tăng lên trong một lần mang thai khác biệt tùy theo từng người phụ nữ. Viện Y tế khuyến khích lượng tăng tổng trọng lượng cơ thể cho phụ nữ bắt đầu mang thai ở trọng lượng thông thường, với chỉ số khối lượng cơ thể 18.5–24.9, là 25–35 pounds (11.4–15.9 kg). Những người phụ nữ thiếu cân, với BMI chưa tới 18.5, có thể cần tăng trong khoảng 28–40 lbs. Những phụ nữ quá cân được tư vấn tăng thêm trong khoảng 15–25 lbs, trong khi một phụ nữ béo phì có thể tăng trong khoảng 11–20 lbs. Các bác sĩ và chuyên gia tư vấn về dinh dưỡng có thể đưa ra những lời khuyên khác, tùy theo cá nhân hơn, cho những bệnh nhân riêng biệt, dựa trên các yếu tố gồm tuổi mang thai thấp, tình trạng dinh dưỡng, sự phát triển của phôi thai, và tình trạng béo phì. Trong khi mang thai, việc tăng cân không đủ hay quá cân có thể gây hại tới sức khỏe của bà mẹ và phôi thai. Tất cả phụ nữ được khuyến khích lựa chọn một chế độ ăn mạnh khỏe mà không cần quan tâm tới trọng lượng trước khi mang thai. Việc tập luyện trong khi mang thai, như đi bộ và bơi, được khuyến khích với những phụ nữ mang thai khỏe mạnh. Việc tập luyện mang lại nhiều lợi ích cho sức khỏe cho cả bà mẹ và phôi thai, gồm cả tác dụng ngăn chặn quá cân. === Miễn nhiễm dung nạp === Phôi bên trong một phụ nữ mang thai có thể được coi như một trường hợp ghép mô bất thường, bởi về nó khác biệt về gene với người phụ nữ. Theo cách tương tự, nhiều trường hợp sẩy thai tự phát có thể được miêu tả cùng cách như sự từ chối cấy ghép. === Sử dụng thuốc === Thuốc được sử dụng trong quá trình thai kỳ có thể có những tác dụng tạm thời hay lâu dài trên phôi thai. Vì thế, nhiều y sĩ không muốn kê đơn thuốc cho những phụ nữ mang thai, lo ngại chủ yếu là về những tác dụng có thể gây quái thai của thuốc. Thuốc đã được xếp vào các hạng A, B, C, D và X theo hệ thống xếp hạng của Cơ quan Quản lý Thuốc và Thực phẩm (FDA) cung cấp hướng dẫn về cách chữa bệnh dựa trên những lợi ích tiềm năng và những nguy cơ cho thai nhi. Thuốc, gồm cả một số loại đa vitamin, đã được chứng minh không gây nguy cơ cho phôi thai sau những cuộc nghiên cứu có kiểm soát trên người được xếp hạng A. Mặt khác, những loại thuốc như thalidomide với nguy cơ gây hại cho phôi thai đã được chứng minh vượt quá mọi lợi ích nó mang lại được xếp hạng X. === Nguy cơ nhiễm độc === Nhiều loại chất độc là một nguy cơ lớn với các phôi thai trong quá trình phát triển. Một cuộc nghiên cứu năm 2011 cho thấy rõ ràng trong cơ thể mọi phụ nữ Hoa Kỳ đều có nhiều loại hóa chất, gồm cả một số loại đã bị cấm từ thập niên 1970. Những nhà nghiên cứu đã phát hiện ra polychlorinated biphenyls, thuốc trừ sâu organochlorine, các hợp chất perfluorinated, phenols, polybrominated diphenyl ethers, phthalates, polycyclic aromatic hydrocarbons, perchlorate PBDEs, các hợp chất được sử dụng làm chất chống cháy, và dichlorodiphenyltrichloroethane (DDT), một loại thuốc trừ sâu đã bị cấm ở Hoa Kỳ năm 1972, trong cơ thể 99 trên 100 phụ nữ mang thai mà họ kiểm tra. Bisphenol A (BPA) được tìm thấy trong 96 phụ nữ được nghiên cứu. Nhiều hóa chất có mức độ tập trung từng được chứng minh là liên quan tới những tác dụng có hại ở trẻ em từ những cuộc nghiên cứu khác và mọi người cho rằng nguy cơ nhiễm độc từ nhiều loại hóa chất có thể có tác động lớn hơn là việc chỉ phải đương đầu với nguy cơ bị nhiễm một loại dẫn xuất. Việc uống rượu trong quá trình mang thai có thể gây ra hội chứng ngộ độc rượu ở thai nhi, một hội chứng khiếm khuyết khi sinh vĩnh viễn và thường có hậu quả xấu. Một số cuộc nghiên cứu đã cho thấy việc uống ở mức độ ít hay trung bình trong thai kỳ có thể không gây ra tác hại với phôi thai, dù không lượng cồn nào được hấp thụ trong quá trình mang thai có thể đảm bảo sự an toàn tuyệt đối. Nhiều cuộc nghiên cứu cho thấy trẻ em bị nguy cơ nhiễm độc khói thuốc trước khi sinh có thể gặp nhiều vấn đề khó khăn về cách cư xử, thần kinh và cơ thể. Thủy ngân cơ bản và thủy ngân methyla là hai dạng thủy ngân có thể gây những nguy cơ trong quá trình mang thai. Thủy ngân methyla, một chất gây ô nhiễm trong cá nước mặn và cá nước ngọt trên toàn thế giới, được biết gây ra những tác động có hại với hệ thần kinh, đặc biệt trong quá trình phát triển não. Ăn cá là nguồn chính gây nhiễm độc thủy ngân ở người và trong một số loài cá có thể chứa lượng thủy ngân đủ để gây ra tổn hại tới sự phát triển hệ thần kinh của phôi thai hay bào thai, thỉnh thoảng dẫn tới những khó khăn trong quá trình học tập. Thủy ngân có trong nhiều loại cá, nhưng chủ yếu trong một số loại cá lớn. Cơ quan Quản lý Thuốc và Thực phẩm và Cơ quan Bảo vệ Môi trường đề nghị các bà mẹ mang thai không ăn cá kiếm, cá mập, cá thu vua và cá lát và hạn chế tiêu thụ cá ngừ California ở mức 6 ounce hay ít hơn một tuần. Các báo cáo từ cuộc nghiên cứu của Trung tâm Sức khỏe Môi trường Trẻ em cho thấy nguy cơ nhiễm độc từ ô nhiễm không khí trong quá trình mang thai liên quan tới những hậu quả xấu khi sinh gồm cả trọng lượng sinh thấp, đẻ non và những bệnh về tim. Máu dây rốn của những đứa trẻ bị nhiễm độc cho thấy những DNA bị hư hại có liên quan tới bệnh ung thư. Những cuộc nghiên cứu tiếp theo cho thấy một mức độ chậm phát triển cao ở độ tuổi lên 3, những chỉ số IQ thấp và gia tăng các vấn đề về cách cư xử ở độ tuổi lên 6 và lên 8. Theo Trung tâm Kiểm soát Dịch bệnh Hoa Kỳ, sự phát triển hệ thần kinh của phôi thai đặc biệt dễ bị tác động bởi sự nhiễm độc chì. Chất độc với hệ thần kinh được quan sát thấy trong những trẻ em có người mẹ bị nhiễm độc như hậu quả của khả năng của chì vượt qua hàng rào nhau thai và gây ra sự khiếm khuyết thần kinh ở phôi thai. Một lo ngại đặc biệt với phụ nữ mang thai là một số sự tích tụ chì trong xương sẽ được phát tán vào máu trong quá trình thai kỳ. Nhiều cuộc nghiên cứu đã chỉ ra bằng chứng rằng thậm chí mức độ ngộ độc chì thấp ở người mẹ cũng dẫn tới những giảm sút về khả năng trí tuệ và vận động ở trẻ em1. Một cuộc nghiên cứu năm 2006 cho thấy trẻ em bị nhiễm độc thuốc trừ sâu chlorpyrifos trước khi sinh có sự phát triển tâm thần và vận động kém ở tuổi lên 3 và gia tăng nguy cơ với các vấn đề về cách cư xử. Một cuộc nghiên cứu năm 2007 sử dụng mô hình trên chuột cho thấy sự nhiễm độc polycyclic aromatic hydrocarbons trước khi sinh và khi bú sữa làm giảm số lượng trứng trong buồng trứng con cái con tới hai phần ba. Một cuộc nghiên cứu năm 2009 về phụ nữ mang thai bị nhiễm độc tetrachloroethylene trong nước uống cho thấy một sự gia tăng nguy cơ hở hàm ếch và khiếm khuyết ống thần kinh ở trẻ sơ sinh. Một cuộc nghiên cứu năm 2009 phát hiện sự nhiễm độc phthalates, hợp chất hóa học sử dụng như chất tạo dẻo trong nhiều sản phẩm chăm sóc sức khỏe cá nhân, đồ chơi trẻ em, và các thiết bị y tế, có thể là một môi trường gây nguy cơ thiếu cân ở trẻ em." Một cuộc nghiên cứu năm 2010 phát hiện sự nhiễm độc trước sinh với các hợp chất chống cháy được gọi là polybrominated diphenyl ethers liên quan tới những tác động xấu tới sự phát triển thần kinh ở trẻ sơ sinh. === Hoạt động tình dục khi mang thai === Hầu hết phụ nữ có thể tiếp tục hoạt động tình dục trong suốt thai kỳ. Đa số các cuộc nghiên cứu cho thấy trong thai kỳ cả ham muốn và tần suất quan hệ tình dục đều giảm. Trong sự giảm sút ham muốn tổng thể này, một số cuộc nghiên cứu chỉ ra một sự gia tăng ham muốn ở ba tháng thứ hai trước khi có sự giảm sút ham muốn ở ba tháng cuối. Một số cá nhân có sự hấp dẫn tình dục với phụ nữ mang thai (pregnancy fetishism, cũng được gọi là maiesiophilia). Quan hệ tình dục trong khi mang thai là một hành động có nguy cơ thấp ngoại trừ khi các bác sĩ tư vấn cần tránh quan hệ tình dục vì những lý do y tế cụ thể. Mặt khác, với một phụ nữ mang thai khỏe mạnh, không ốm yếu, không có cách an toàn hay đúng để quan hệ tình dục trong thai kỳ: chỉ cần sử dụng những quy tắc chung là cả hai người không gây áp lực lớn lên tử cung, hay một bên đè cả sức nặng lên bụng đang mang thai. === Tập luyện === Ủy ban Tập luyện Sản khoa Canada khuyến cáo rằng "Mọi phụ nữ không bị chỉ định cấm đều được khuyến khích tham gia tập luyện aerobic và những bài tập như một cách sống lành mạnh trong thai kỳ". Dù không có một mức trên nào về cường độ tập luyện được quy định, những phụ nữ vẫn thường tập luyện trước khi mang thai và những người có thai kỳ khỏe mạnh và không biến chứng có thể tham gia vào các bài tập luyện cường độ khá mạnh như chạy bộ và aerobic trong dưới 45 phút, và không gây hậu quả có hại nếu họ quan tâm tới khả năng rằng mình có thể cần gia tăng hấp thu năng lượng và quan tâm tới việc không để thân thể nóng quá mức. Nếu không có những phàn nàn về y tế hay sản khoa, những phụ nữ mang thai này được khuyến khích thực hiện tổng cộng 30 phút tập luyện mỗi ngày và hầu hết nếu không phải là mọi ngày trong tuần. Nói chung, việc tham gia vào nhiều hoạt động giải trí là an toàn, với việc tránh những hành động có nguy cơ ngã cao như cưỡi ngựa hay trượt băng hay với những môn thể hao có nguy cơ gây chấn thương bụng như bóng đá hay hockey . Đại học Sản khoa và Bác sĩ phụ khoa Mỹ báo cáo rằng trong quá khứ, những lo ngại chính của việc tập luyện trong khi mang thai tập trung vào phôi thai và những lợi ích mang lại cho bà mẹ bị cho là không tương thích với nguy cơ tiềm tàng gây ra cho phôi thai. Tuy nhiên, họ viết rằng những thông tin gần đây cho thấy với những thai kỳ khỏa mạnh, các chấn thương với phôi thai hầu như không thể diễn ra. Tuy nhiên, họ có liệt kê một loạt những hoàn cảnh khi một phụ nữ phải liên hệ với trung tâm y tế trước khi tiếp tục một chương trình tập luyện. Những sự cấm chỉ định gồm: Chảy máu âm hộ, khó thở trước khi vận động mạnh, hoa mắt, đau đầu, đau ngực, mỏi cơ, những cơn đau đẻ trước kỳ hạn, giảm vận động phôi thai, ra chất dịch màng ối, và đau bắp chân hay sưng (để loại trừ viêm tĩnh mạch huyết khối). Tờ báo Nurse Practitioners (2007) báo cáo rằng nhiều phụ nữ mang thai không tập luyện và họ khuyến khích rằng cần tư vấn việc tập luyện mức trung bình cho phụ nữ mang thai như một phần của sự chăm sóc trước sinh. Họ tư vấn rằng việc tập luyện mang lại những lợi ích cho cả bà mẹ và phôi thai. Một Cochrane review năm 2006 về những nghiên cứu vấn đề tập luyện trước khi sinh đánh giá những tác động của việc tập luyện aerobic thường xuyên (ít nhất hai hay ba lần một tuần) với việc giữ gìn thân thể, quá trình co dạ con và đẻ, và tác động với quá trình mang thai ở phụ nữ khỏe mạnh. Họ kết luận rằng những bài tập aerobic thường xuyên trong khi mang thai dường như cải thiện (hay duy trì) trình trạng thân thể, tuy nhiên các tác giả lưu ý rằng những thử nghiệm là nhỏ và không có chất lượng phương pháp cao và dữ liệu là không đủ để suy luận những nguy cơ hay lợi ích quan trọng với bà mẹ hay phôi thai. Các tác giả cho rằng cần tiến hành những cuộc thử nghiệm lớn và sâu hơn trước khi có thể đưa ra những khuyến cáo rõ ràng về những lợi ích và nguy cơ của việc tập aerobic khi mang thai. == Biến chứng và phàn nàn == Theo WHO, mỗi năm các triệu chứng bệnh do mang thai được ghi nhận trên 20 triệu phụ nữ trên toàn thế giới. Thêm vào đó, "cuộc sống của hàng triệu phụ nữ bị đe dọa, và hơn 500.000 phụ nữ được dự đoán là chết trong năm 1995 do các biến chứng khi mang thai và khi sinh đẻ". Các triệu chứng sau có thể xảy ra trong thời kỳ mang thai: Đau lưng. đâu là chứng đau thường xuyên nhất trong 3 tháng cuối trước khi sinh do trọng tâm cơ thể đã chuyển đổi. Carpal tunnel syndrome chiếm khoảng 21% đến 62% các trường hợp, có thể do phù nề. Táo bón. Triệu chứng này do sự giảm chuyển động thức ăn trong ruột để tăng progesterone (mang thi bình thường), đều này làm cho lượng nước được hấp thụ nhiều hơn. Co thắt. Thỉnh thoảng và thường các cơn co thắt không đau xảy ra vài lần mỗi ngày. Phù. Đây là triệu chứng thường gặp, do sự nén ép của inferior vena cava (IVC) và tĩnh mạch khung chậu (mông) gần tử cung làm cho tăng áp lực thủy tĩnh ở các chi dưới. Mửa (ói), ợ chua, và buồn nôn. Đây là triệu chứng phổ biến. Bệnh trĩ. Triệu chứng này thường được ghi nhận ở một số trường hợp mang thai. Đau vùng chậu. Đau dây chằng. Cơn đau diễn ra khi các dây chằng ở vị trí dưới tử cung căng giãn và mở rộng để nâng đỡ tử cung đang lớn dần. Đi tiểu nhiều. Đây là trường hợp phổ biến do tăng thể tích trong mạch và sự đè nén bàng quang do tử cung lớn lên. Suy tĩnh mạch. Đây là triệu chứng phổ biến gây ra bởi sự giãn các tĩnh mạch cơ trơn và tăng áp lực nội mạch. === Mang thai ngoài dạ con === Mang thai ngoài dạ con là một biến chứng thai kỳ trong đó phôi thai làm tổ bên ngoài khoang tử cung. Với một số ít ngoại trừ, những ca mang thai ngoài dạ con không thể tồn tại. Hầu hết các ca mang thai ngoài dạ con diễn ra trong ống dẫn trứng, nhưng việc làm tổ cũng có thể diễn ra trong cổ tử cung, buồng trứng, và bụng. Nguy cơ này cần được xem xét đến với bất kỳ phụ nữ nào có triệu chứng đau bụng hay chảy máu âm đạo từng được thử thai dương tính. Một siêu âm thể hiện một túi thai với tim thai ở một ví trí khác ngoài khoang tử cung là bằng chứng rõ ràng về một trường hợp mang thai ngoài dạ con. Mang thai trong ống dẫn trứng là nguyên nhân thường thấy nhất của việc tử vong bà mẹ trong ba tháng đầu thai kỳ. Khoảng 1% các ca mang thai diễn ra tại một vị trí bên ngoài dạ con và phôi không cấy bên trong tử cung, và trong số đó 98% diễn ra trong ống dẫn trứng. Trong một ca mang thai ngoài dạ con điển hình, phôi thai cấy vào màng ống dẫn trứng và đào vào màng ống. Thường thì điều này làm cản trở các mạch máu gây ra chảy máu dẫn tới việc loại bỏ việc phôi cấy ra khỏi ống. Được miêu tả bằng thuật ngữ "xảy thai ống dẫn", khoảng một nửa số ca mang thai ngoài dạ con sẽ được giải quyết mà không cần điều trị. Việc sử dụng điều trị methotrexate cho ca mang thai ngoài dạ con đã làm giảm sự cần thiết phải phẫu thuật, nhưng việc can thiệp phẫu thuật vẫn cần thiết trong những trường hợp ống dẫn trứng đã đứt hay đang gặp nguy hiểm. Sự can thiệp phẫu thuật có thể là nội soi hay bằng vết mổ lớn hơn, được gọi là laparotomy. Một phụ nữ từng mang thai ngoài dạ con dễ gặp lại tình huống này. Đa số phụ nữ từng mang thai ngoài dạ con từng mắc bệnh nhiễm trùng khung xương chậu hay viêm vòi trứng, một sự nhiễm trùng ống dẫn trứng. Một lịch sử từng mắc lậu hay chlamydia cũng có thể gây ra các vấn đề ở vòi trứng làm gia tăng nguy cơ. Viêm màng trong dạ con, một điều kiện khiến mô thông thường đệm cho phôi thai phát triển bên ngoài dạ con có thể hơi làm tăng nguy cơ mang thai ngoài dạ con. Nguy cơ gia tăng khi phụ nữ có ống dẫn trứng hình dạng bất thường hay ống dẫn trứng bị tổn hại, có thể trong một lần phẫu thuật. Việc uống thuốc kích thích rụng trứng cũng làm tăng nguy cơ mang thai ngoài dạ con. Khi được sử dụng chính xác, việc mang thai hiếm khi xảy ra khi dùng viên thuốc tránh thai hay một dụng cụ tránh thai đặt trong tử cung (IUD) tuy nhiên, nếu nó xảy ra, thì thường là mang thai ngoài dạ con. Dù việc mang thai là hiếm sau khi thắt ống dẫn trứng, nếu nó xảy ra, cũng thường là mang thai ngoài dạ con. Một siêu phân tích từ các dữ liệu y khoa đã cho thấy việc hút thuốc lá làm gia tăng đáng kể nguy cơ mang thai ngoài dạ con. == Các bệnh đồng hành == Ngoài các biến chứng thai kỳ có thể diễn ra, một phụ nữ có thể có các bệnh hay điều kiện khác (không trực tiếp gây ra bởi việc mang thai) trở nên trầm trọng hơn hay có thể trở thành một nguy cơ với việc mang thai. Đái tháo đường và mang thai là những tương tác của bệnh đái tháo đường (không hạn chế ở đái tháo đường do thái nghèn) và mang thai. Các nguy cơ cho đứa trẻ gồm sẩy thai, hạn chế phát triển, phát triển quá mức, thai quá lớn (macrosomia), polyhydramnios và khiếm khuyết khi sinh. Trong trường hợp bệnh đồng hành systemic lupus erythematosus và thai nghén, có sự gia tăng tỷ lệ phôi chết trong tử cung và sẩy thai tự phát (sẩy thai), cũng như neonatal lupus. == Giữ lại tế bào thân == Hai kiểu tế bào thân có thể được giữ lại trước khi đứa trẻ sinh: tế bào thân màng ối và tế bào thân rốn máu dây rốn. Việc tập hợp các tế bào thân màng ối là một phần của quá trình amniocentesis. Các tế bào thân rốn máu dây rốn có thể được lưu giữ trong cả các ngân hàng máu dây rốn nhà nước và tư nhân, ngân hàng tế bào thân màng ối đầu tiên tại Hoa Kỳ được mở cửa bởi Trung tâm Tế bào Sinh học tháng 10 năm 2009 tại Medford, Massachusetts. == Xã hội và văn hóa == Trong hầu hết các nền văn hóa, phụ nữ mang thai có một vị trí đặc biệt trong xã hội và nhận được sự chăm sóc đặc biệt ân cần. Đồng thời, họ cũng là chủ thể của những mong đợi có thể gây ra những áp lực tâm sinh lý lớn, như phải sinh ra một đứa con trai và người thừa tự. Trong nhiều xã hội truyền thống, phải có hôn nhân trước khi mang thai, bà mẹ và (không hợp pháp) đứa trẻ có thể bị trừng phạt. Việc thể hiện hình những phụ nữ mang thai có thể là những biểu tượng thần bí bao hàm khả năng sinh sản. Cái gọi là Venus of Willendorf phóng đại những đặc điểm tình dục của phụ nữ (ngực và bụng lớn, mu lớn) đã được coi như là đặc điểm thể hiện khả năng sinh sản tốt trong nghi lễ sinh sản tại châu Âu thời kỳ đồ đá. Nói chung, việc mang thai gắn liền với nhiều phong tục thường là đối tượng của việc nghiên cứu sắc tộc, thường có nguồn gốc từ y khoa truyền thống hay tôn giáo. Việc tắm cho trẻ sơ sinh là một ví dụ của phong tục hiện đại. Thai nghén là một chủ đề quan trọng trong xã hội học và gia đình. Đứa trẻ sắp sinh đã được đặt trước vào nhiều vai trò xã hội như một người sẽ thừa kế hay quản lý tài sản. Mối quan hệ của cha mẹ hay quan hệ giữa cha mẹ và những người xung quanh cũng bị ảnh hưởng. === Nghệ thuật === Vì vai trò quan trọng của Đức mẹ trong Thiên chúa giáo, nghệ thuật hội họa phương Tây có một truyền thống lâu dài trong việc thể hiện những phụ nữ mang thai. Việc mang thai, và đặc biệt là sự mang thai của những phụ nữ chưa kết hôn, cũng là một motif quan trọng trong văn học. Những tác phẩm đáng chú ý là Tess of the d'Urbervilles của Hardy và Faust của Goethe. === Nhân khẩu học === Tại châu Âu, tuổi sinh trung bình đã tăng lên liên tục trong một khoảng thời gian. Ở Tây Âu, Bắc Âu, và Nam Âu, tuổi sinh lần đầu trung bình của phụ nữ trong khoảng 26 tới 29, tăng so với mức 23 tới 25 hồi đầu thập niên 1970. Tại một số quốc gia châu Âu (Tây Ban Nha), tuổi trung bình của phụ nữ ở lần sinh đầu tiên thậm chí còn vượt quá ngưỡng 30. Quá trình này không chỉ diễn ra ở châu Âu. châu Á, Nhật Bản và Hoa Kỳ cũng đang chứng kiện sự gia tăng tuổi sinh lần đầu tiên, và quá trình này cũng đang mở rộng ra các nước đang phát triển như Trung Quốc, Thổ Nhĩ Kỳ và Iran. Tại Mỹ, tuổi sinh lần đầu là 25 năm 2006. ==== Phá thai ==== Một sự phá thai là việc chấm dứt một phôi hay thai, hoặc tự nhiên hoặc bằng các biện pháp y tế. Khi được thực hiện, thường là nó diễn ra trong ba tháng đầu hơn là ba tháng thứ hai và hiếm khi diễn ra ở ba tháng cuối. Không sử dụng biện pháp tránh thai, tránh thai không hiệu quả, kế hoạch hóa gia đình kém hay cưỡng hiếp có thể dẫn tới việc mang thai ngoài ý muốn. Tính pháp lỹ xã hội về việc phá thai khác biệt trên toàn thế giới và cũng thay đổi theo thời gian. Tại hầu hết các quốc gia Tây Âu, việc phá thai trong ba tháng đầu là một tội hình sự vài thập kỷ trước nhưng đã được hợp pháp hóa, thỉnh thoảng là chủ đề của việc bắt buộc tư vấn. Ví dụ, tại Đức, ở thời điểm năm 2009 chưa tới 3% các vụ phá thai có sự chỉ dẫn y tế. === Sự bảo vệ pháp lý với phụ nữ mang thai === Nhiều quốc gia có nhiều điều luật hiện hành để bảo vệ phụ nữ mang thai và trẻ em. Hiệp ước Bảo vệ Bà mẹ đảm bảo rằng người phụ nữ mang thai được miễn làm ca đêm hay làm việc nặng. Nghỉ thai sản thường cho phép bà mẹ được nghỉ có lương trong khoảng ba tháng cuối thai kỳ và một khoảng thời gian nữa sau khi sinh. Những ví dụ đáng chú ý gồm Na Uy (8 tháng trả đủ lương) và Hoa Kỳ (không trả lương thời gian nghỉ ngoại trừ một số bang). Hơn nữa, nhiều quốc gia có các đạo luật chống phân biệt khi mang thai. === Mang thai sau mãn kinh === Với những sự phát triển của công nghệ các trường hợp mang thai sau mãn kinh đã diễn ra, và có nhiều ca phụ nữ có tuổi mang thai tới kỳ sinh sản, thường là nhờ cấy phôi vào tử cung từ một trứng hiến tặng, được ghi nhận. Một phụ nữ 61 tuổi người Brazil cấy ghép trứng được hiến tặng đang chờ sinh đứa con đầu tiên vào tháng 9 năm 2011. == Xem thêm == Chống đông máu khi mang thai Bắt đầu của sự tranh cãi thai nghén Phủ nhận mang thai Mang thai giả Đàn ông mang thai Pregnancy fetishism Mang thai ở tuổi trên 50 Tỷ lệ mang thai Mang thai tái tạo Tuyến giáp khi mang thai == Tham khảo == == Liên kết ngoài == Bà bầu ăn gì để con thông minh khỏe mạnh? Genesis: In the womb- Slideshow Thai nghén tại DMOZ Merck Manual Home Health Handbook – các chi tiết thêm về bệnh tật, rối loạn, vân vân, có thể diễn ra trong thai kỳ. Pregnancy care planner – NHS hướng dẫn sinh con gồm cả trước khi thụ thai, mang thai, đau đẻ và đẻ. Dinh dưỡng bà bầu giai đoạn mang thai
bismut.txt
Bitmut là một nguyên tố hóa học trong bảng tuần hoàn có ký hiệu Bi và số nguyên tử 83. Nó là một kim loại yếu giòn, nặng, kết tinh màu trắng ánh hồng, có hóa trị chủ yếu là +3 và có các tính chất hóa học tương tự như asen và antimon. Trong số các kim loại thì nó là chất có độ nghịch từ lớn nhất và chỉ có thủy ngân là có độ dẫn nhiệt thấp hơn. Các hợp chất của bitmut không lẫn chì đôi khi được sử dụng trong mỹ phẩm và một số ứng dụng y học. == Các đặc trưng nổi bật == Nó là một kim loại giòn với sắc hồng và các vết xỉn óng ánh nhiều màu. Trong số các kim loại nặng, bitmut là bất thường do độ độc tính của nó thấp hơn nhiều so với của các nguyên tố cận kề trong bảng tuần hoàn như chì, tali và antimon. Thông thường, nó cũng được coi là nguyên tố có đồng vị ổn định nặng nhất, nhưng hiện nay người ta đã biết rằng điều này không hoàn toàn đúng (xem dưới đây). Không có kim loại nào là nghịch từ tự nhiên nhiều hơn bitmut (khác với tính siêu nghịch từ). Điều này diễn ra trong dạng tự nhiên của nó và nó có trở kháng cao. Trong số các kim loại, nó có độ dẫn nhiệt kém, chỉ hơn thủy ngân và là kim loại có hiệu ứng Hall cao nhất. Khi cháy với ôxy, bitmut cháy với ngọn lửa màu xanh lam và ôxít của nó tạo ra khói màu vàng. Đã từ lâu, trên cơ sở lý thuyết người ta cho rằng bitmut là không ổn định, nhưng chỉ đến năm 2003 thì điều này mới được chứng minh khi các nhà nghiên cứu tại Institut d'Astrophysique Spatiale ở Orsay, Pháp đã đo đạc được chu kỳ bán rã theo phân rã alpha của Bi209 là 1,9 × 1019 năm, điều này có nghĩa là bitmut là một chất phóng xạ rất chậm, với chu kỳ bán rã gấp cả hàng tỷ lần tuổi vũ trụ mà hiện nay người ta đã ước tính. Do chu kỳ bán rã quá lớn này, bitmut có thể coi là ổn định và không phóng xạ. Các thực phẩm thông thường, cũng như cơ thể của chúng ta chứa một lượng đáng kể C14 có tính phóng xạ gấp hàng nghìn lần so với bitmut. Tuy nhiên, tính phóng xạ là sự quan tâm của giới khoa học do bitmut là một trong ít các nguyên tố mà tính phóng xạ đã được dự báo trước trên lý thuyết, trước khi được phát hiện trong phòng thí nghiệm. == Ứng dụng == Ôxyclorua bitmut được sử dụng nhiều trong mỹ phẩm. Subnitrat bitmut và subcacbonat bitmut được sử dụng trong y học. Subsalicylat bitmut (Pepto-Bismol®) được dùng làm thuốc chống bệnh tiêu chảy. [1] Một số ứng dụng khác là: Nam châm vĩnh cửu mạnh có thể được làm ra từ hợp kim bismanol (MnBi). Nhiều hợp kim của bitmut có điểm nóng chảy thấp và được dùng rộng rãi để phát hiện cháy và hệ ngăn chặn của các thiết bị an toàn cháy nổ. Bitmut được dùng để sản xuất thép dễ uốn. Bitmut được dùng làm chất xúc tác trong sản xuất sợi acrylic. Nó cũng dược dùng trong cặp nhiệt điện (bitmut có độ âm điện cao nhất). Vật chuyên chở các nhiên liệu U235 hay U233 cho các lò phản ứng hạt nhân. Bitmut cũng được dùng trong các que hàn. Một thực tế là bitmut và nhiều hợp kim của nó giãn nở ra khi chúng đông đặc lại làm cho chúng trở thành lý tưởng cho mục đích này. Subnitrat bitmut là thành phần của men gốm, nó tạo ra màu sắc óng ánh của sản phẩm cuối cùng. Bitmut đôi khi được dùng trong sản xuất các viên đạn. Ưu thế của nó so với chì là nó không độc, vì thế nó là hợp pháp tại Anh để săn bắn các loại chim vùng đầm lầy. Những năm đầu thập niên 1990, các nghiên cứu bắt đầu đánh giá bitmut là sự thay thế không độc hại cho chì trong nhiều ứng dụng: Như đã nói trên đây, bitmut được sử dụng trong các que hàn; độc tính thấp của nó là đặc biệt quan trọng cho các que hàn dùng trong các thiết bị chế biến thực phẩm. Một thành phần của men gốm sứ. Một thành phần trong đồng đỏ. Thành phần trong thép dễ cắt cho các chi tiết có độ chính xác cao của máy móc. Một thành phần của dầu hay mỡ bôi trơn. Vật liệu nặng thay chì trong các chì lưới của lưới đánh cá. == Tinh thể == Mặc dù không được nhìn thấy nhiều trong tự nhiên, nhưng bitmut có độ tinh khiết cao có thể tạo thành các tinh thể lò cò đặc trưng. Các vật tạo ra trong phòng thí nghiệm đầy màu sắc này nói chung được bán cho những người có sở thích sưu tập đồ kỳ dị. == Lịch sử == Bitmut (Tân Latinh bisemutum từ tiếng Đức Wismuth, có lẽ là từ weiße Masse, "khối màu trắng") trong thời kỳ đầu đã bị nhầm lẫn với thiếc và chì do sự tương tự của chúng. Claude Geoffroy le Jeune (Claude Geoffroy trẻ) năm 1753 đã chỉ ra rằng kim loại này là khác hẳn chì. == Sự phổ biến == Các quặng bitmut quan trọng nhất là bitmuthinit và bitmit. Canada, Bolivia, Nhật Bản, México và Peru là các nhà sản xuất chính. Bitmut sản xuất tại Hoa Kỳ là sản phẩm phụ thu được từ sản xuất đồng, vàng, bạc, thiếc và đặc biệt là chì. Năm 2000, giá trung bình của bitmut là 7,70 USD trên 1 kg. == Tham khảo == Phòng thí nghiệm quốc gia Los Alamos, Hoa Kỳ - Bitmut == Liên kết ngoài == WebElements.com - Bitmut Chu kỳ bán rã của bitmut trong phân rã alpha
sân bay quốc tế hartsfield-jackson atlanta.txt
Sân bay Quốc tế Hartsfield-Jackson Atlanta (tiếng Anh: Hartsfield-Jackson Atlanta International Airport) (IATA: ATL, ICAO: KATL), hay gọi tắt tại địa phương là Atlanta Airport, là sân bay quốc tế tại thành phố Atlanta, tiểu bang Georgia của Hoa Kỳ. Từ năm 2005, đây là sân bay nhộn nhịp nhất thế giới tính theo lượng khách (89.379.287 lượt hành khách). Sân bay Hartsfield-Jackson nắm giữ danh hiệu là sân bay bận rộn nhất thế giới trong năm 2012, cả về tiêu chí tổng số lượt hành khách và số chuyến bay, với 95 triệu lượt hành khách (hơn 260.000 lượt hành khách mỗi ngày) và 950.119 chuyến bay. Phần lớn trong gần một triệu chuyến bay hàng năm là các chuyến bay nội địa từ bên trong Hoa Kỳ, nơi Atlanta phục vụ như là một trung tâm chính cho các chuyến bay trên khắp Đông Nam Hoa Kỳ. Sân bay này có 207 cửa trong nước và quốc tế. Sân bay Quốc tế Hartsfield-Jackson là một thành phố tập trung cho hãng hàng không Southwest Airlines và là trung tâm hoạt động chính của các hãng Delta Air Lines và đối tác của Delta Connection ExpressJet; với gần 1.000 chuyến bay mỗi ngày, trung tâm của Delta là trung tâm hàng không lớn nhất thế giới. Delta Air Lines chiếm 59,01% số lượng hành khách từ sân bay vào tháng 2 năm 2011, AirTran chiếm 17,76%, và ExpressJet chiếm 13,86%%.. Ngoài là nơi có trụ sở công ty của Delta, Hartsfield-Jackson cũng là nơi đóng trụ sở của Trung tâm Vận hành Kỹ thuật của Delta, là đơn vị đại tu, sửa chữa, bảo dưỡng chính của hãng này.. Sân bay có tuyến bay quốc tế với Bắc Mỹ, Nam Mỹ, Trung Mỹ, châu Âu, châu Á và châu Phi. Là một cửa ngõ quốc tế với Hoa Kỳ, Hartsfield-Jackson đứng thứ sáu về số lượng khách quốc tế trong các sân bay Hoa Kỳ. Sân bay này nằm chủ yếu ở các khu vực chưa hợp nhất các quận Fulton và Claytao. Tuy nhiên, khuôn viên sân bay nằm lan qua giới hạn thành phố Atlanta College Park và Hapeville.. Nhà ga nội địa của sân bay được phục vụ bởi tuyến đường sắt Đỏ/Vàng kim của MARTA. == Lịch sử == Hartsfield-Jackson đã có sự khởi đầu của mình với một hợp đồng cho thuê không thu phí thuê kéo dài năm năm, trên khu đất rộng 287 mẫu Anh (116 ha) đã là nơi có một đường đua ô tô bị bỏ hoang mang tên The Atlanta Speedway. Hợp đồng thuê đất được ký kết vào ngày 16 tháng 4 năm 1925, bởi Thị trưởng Walter Sims, người đã cam kết thành phố sẽ phát triển nó thành một sân bay. Trong một phần của thỏa thuận, tài sản đã được đổi tên thành Candler Field theo chủ sở hữu trước đây của nó, nhà tài phiệt Coca-Cola và cựu thị trưởng thành phố Atlanta Asa Candler. Chuyến bay đầu tiên đến Candler Field vào ngày 15 tháng 9 năm 1926, một máy bay chở thư của Florida Airways bay từ Jacksonville, Florida. Trong tháng 5 năm 1928, Pitcairn Aviation bắt đầu tuyến bay đến Atlanta, tiếp theo trong tháng 6 năm 1930 bởi Delta Air Service. Sau đó hai hãng hàng không, nay được gọi tương ứng là Eastern Air Lines và Delta Air Lines đã sử dụng Atlanta là trung tâm chính của họ]]. Vào ngày 1 tháng 9 năm 1928, trạm thời tiết của sân bay đã trở thành vị trí chính thức cho quan sát và ghi chép thời tiết Atlanta bởi Cục Thời tiết Quốc gia. Đây là một sân bay bận rộn từ khi ra đời và đến cuối năm 1930 nó là sân bay thứ ba sau Thành phố New York và Chicago về số chuyến bay thường xuyên hàng ngày với mười sáu chuyến bay đến và đi. (Vào tháng năm 1931 Atlanta có bốn chuyến bay thường lệ khởi hành.) Tháp không lưu đầu tiên của Candler Field mở cửa vào tháng 3 năm 1939. Tháng 3 năm 1939, Hướng dẫn Hàng không Chính thức cho thấy mười bốn chuyến bay xuất phát các ngày trong tuần: 10 chuyến của Eastern và 4 của hãng Delta. Trong tháng 10 năm 1940, Chính phủ Mỹ tuyên bố đó là sân bay quân sự và Không quân Hoa Kỳ vận hành Căn cứ quân sự Atlanta cùng với Candler Field. Không quân Hoa Kỳ sử dụng sân bay chủ yếu phục vụ cho các máy bay tạm bay qua, với nhiều loại máy bay chiến đấu được bảo trì tại sân bay. Trong thế chiến II sân bay được tăng gấp đôi kích thước và thiết lập một kỷ lục 1.700 lượt cất cánh và hạ cánh trong một ngày, làm cho nó sân bay bận rộn nhất của Hoa Kỳ về khai thác bay. Căn cứ quân sự Atlanta đóng cửa sau chiến tranh. Năm 1946, Candler Field được đổi tên thành Atlanta Municipal Airport và năm 1948, hơn một triệu hành khách đi qua một nhà chứa máy bay thừa của chiến tranh mà phục vụ như là một nhà ga. Delta và Eastern đã có mạng lưới bay rộng khắp từ ATL, mặc dù Atlanta không có chuyến bay thẳng ngoài Texas, St Louis và Chicago cho đến năm 1961. Southern Airways thiết lập hoạt động tại ATL sau chiến tranh và đã có đường bay ngắn quanh Đông Nam cho đến năm 1979. Ngày 1 tháng 6 năm 1956 một chuyến bay của hãng Eastern đến Montreal, Canada là chuyến bay quốc tế đầu tiên ra khỏi Atlanta. Chuyến bay quốc tế thường lệ đầu tiên của Atlanta Delta / Pan Am DC-8 sang châu Âu bắt đầu vào năm 1964; chuyến bay thẳng thường lệ đầu tiên đến một nước ngoài là chuyến bay của hãng Eastern đến Thành phố Mexico khoảng năm 1972. chuyến bay thẳng đến châu Âu bắt đầu vào năm 1978 và đến châu Á giai đoạn 1992-93. == Hãng hàng không và điểm đến == === Hàng hóa === == Thống kê == == Tham khảo == == Liên kết ngoài == Hartsfield-Jackson Atlanta International Airport web site Atlanta Journal-Constitution Insiders.com Hartsfield Atlanta International Airport 1961-1980 Current inbound flights in 3D / Google Earth
quốc-cộng nội chiến lần thứ hai.txt
Nội chiến Quốc-Cộng lần thứ 2 (giản thể: 第二次国共内战); 1946-1950 là cuộc chiến giữa Đảng Cộng sản Trung Quốc và Quốc Dân Đảng Trung Quốc tranh chấp quyền kiểm soát Trung Quốc đại lục. Tháng 3 năm 1947, chiến tranh bùng nổ và kết thúc tạm thời bằng việc chính quyền Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa thành lập tại Bắc Kinh (1949) và chính quyền Trung Hoa Dân quốc rút về Đài Loan. Mặc dù vậy, cho đến tận ngày nay, 2 bên vẫn duy trì trạng thái đối đầu xung quanh eo biển Đài Loan. == Tên gọi == Các tài liệu của Đảng Cộng sản Trung Quốc và chính quyền Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa gọi cuộc chiến là Chiến tranh giải phóng nhân dân Trung Quốc (giản thể: 中国人民解放战争) hoặc Nội chiến cách mạng lần thứ 3 (giản thể: 第三次国内革命战争). Còn tài liệu của Trung Quốc Quốc dân đảng và chính quyền Trung Hoa Dân quốc coi đây là cuộc nổi loạn của Trung Cộng chống lại chính quyền Trung ương, nên gọi là Kham loạn chiến tranh(giản thể: 戡乱战争), (chiến tranh chống nổi loạn). Cộng đồng quốc tế gọi chung là Nội chiến Quốc-Cộng lần thứ 2. == Bối cảnh == Ngay từ trước khi Chiến tranh thế giới thứ hai nổ ra, cả 2 phe Cộng sản và Quốc dân đã có những bất đồng sâu sắc, từng dẫn đến Nội chiến lần thứ nhất.Khi Chiến tranh Trung-Nhật bùng nổ, hai bên tạm gác những xung đột để cùng hợp tác chống lại kẻ thù chung, dù sự hợp tác rất hạn chế, mỗi bên đền tìm cơ hội để tiêu diệt bên kia. Khi thời điểm quân Nhật chuẩn bị thua trận, kẻ thù chung của cả 2 phe Cộng sản và Quốc dân sắp biến mất, thì mâu thuẫn trong quá khứ của 2 bên bắt đầu xuất hiện lại. Trong Chiến tranh Trung-Nhật, chính phủ Quốc dân tấn công quân Nhật trực tiếp từ khu vực phía Đông vùng hạ lưu sông Tùng Hoa cho đến Tây Nam Trung Quốc. Vì vậy trước khi quân Nhật đầu hàng, quân chủ lực Quốc dân quân tập trung hầu hết ở khu vực này. Ngoài ra, ở khu vực phía nam sông Trường Giang, tuyến đường sắt Quảng Châu - Hán Khẩu (Việt Hán lộ) về phía Đông có lực lượng địa phương Quốc dân quân thuộc Đệ tam Chiến khu bảo vệ. Ở khu vực Hoa Bắc và Đông Bắc, về danh nghĩa vẫn thuộc chính phủ Quốc dân kiểm soát, nhưng thực chất quyền kiểm soát thuộc chính phủ Uông Tinh Vệ thân Nhật. Còn từ phía bắc sông Trường Giang và khu vực từ tuyến đường sắt Bắc Bình - Hán Khẩu (Bình Hán lộ) về phía đông không có lực lượng chính quy của chính phủ Quốc dân. Phía Trung Cộng trong chiến tranh sử dụng chiến tranh du kích và tác chiến ở nông thôn, tổ chức phong trào chống Nhật Bản ở khu vực nông thôn trong khu vực chiếm đóng của Nhật Bản. Vì vậy, đến tháng 4 năm 1945, Trung Cộng kiểm soát hầu hết các vùng nông thôn Bắc Trung Quốc, tổng dân số khoảng 95,5 triệu và xây dựng một chính quyền và quân đội riêng đối đầu lại chính quyền và quân đội Quốc dân Đảng. Kể từ khi Quốc dân Đảng nắm chính phủ, quân Đồng Minh luôn coi đây là đại diện hợp pháp duy nhất tại Trung Quốc. Chính phủ Mỹ về giai đoạn cuối Chiến tranh thế giới thứ hai cũng lo ngại về sự mạnh lên và ngày càng mở rộng của lực lượng Cộng sản, vì vậy chính phủ Quốc dân nhận được hỗ trợ trực tiếp của Mỹ ngày càng nhiều hơn trong chiến tranh. Ngoài ra, trước khi quân Nhật đầu hàng, chính phủ Quốc dân và Liên Xô đã ký cam kết về sự độc lập của Ngoại Mông và các cam kết liên quan đến lợi ích của Liên Xô tại khu vực Đông Bắc, để bảm đảm Liên Xô không hỗ trợ cho phía Trung Cộng. Trong nước, chính phủ Quốc dân nhiều lần nhấn mạnh tính chính danh của chính phủ hợp pháp trong quá trình tiếp nhận đầu hàng của quân Nhật. === Nhân tố trong nước === Khi chiến tranh sắp kết thúc, đất nước mong ước được hòa bình. Theo lòng dân 2 Đảng tranh thủ chính trị, chủ động tìm kiếm hòa bình. Từ ngày 14 đến 23 tháng 8, Tưởng Giới Thạch gửi 3 điện mời Mao Trạch Đông tới Trùng Khánh để thảo luận vấn đề về tương lai đất nước. Ngày 25 tháng 8, phía Trung Cộng ra phát biểu "Tuyên bố về tình hình chính trị hiện tại" (giản thể: 对目前时局宣言; Hán-Việt: Đối mục tiền thì cục tuyên ngôn), yêu cầu chính phủ Quốc dân thừa nhận chính quyền dân bầu khu giải phóng, quân đội, đảng phái hợp pháp; triệu tập hội nghị các đảng phái thành lập chính phủ chung và chủ trương chính trị. Ngày 26, Mao Trạch Đông chính thức tham gia đàm phán hòa bình tại Trùng Khánh. Mặc dù cả 2 bên đều tìm kiếm sự hòa bình, nhưng bất đồng vẫn còn,dẫn tới xung đột. Ngay từ ngày 11 tháng 8 năm 1945, lãnh đạo chính phủ Quốc dân Tưởng Giới Thạch nhận được tin quân Nhật chuẩn bị đầu hàng, đã yêu cầu Quốc dân quân "tích cực thúc đẩy" tái chiếm các khu vực kiểm soát của quân Nhật, đồng thời ngăn cảnh phía Trung Cộng mở rộng vùng kiểm soát đang nằm trong tay quân Nhật và chính quyền Uông Tinh Vệ bằng mệnh lệnh "ở yên đợi lệnh". Phía Cộng sản từ chối lệnh "ở yên đợi lệnh" và yêu cầu Giải phóng quân phản công trên diện rộng, cố gắng mở rộng kiểm soát ở các vùng nông thôn rộng lớn, thậm chí ở một vài đô thị quan trọng. Ngày 15 tháng 8 năm 1945, Nhật hoàng Hirohito phát biểu chấm dứt chiến tranh và tuyên bố đầu hàng vô điều kiện. Tổng tư lệnh tối cao các lực lượng quân Đồng Minh tại Viễn Đông MacArthur ra chỉ thị, ngoài khu vực Đông Bắc (bấy giờ do Liên Xô kiểm soát), toàn bộ Trung Hoa đại lục, Đài Loan và vùng Đông Dương thuộc Pháp từ vĩ độ 16 trở lên sẽ do phía Quốc dân quân chịu trách nhiệm tiếp nhận việc đầu hàng của quân Nhật. Phía Cộng sản lập tức phản đối quyết liệt. Chu Đức Tư lệnh Giải phóng quân gửi thư đến đại sứ các nước Anh, Liên Xô, Hoa Kỳ tuyên bố phản đối quyết định việc tiếp nhận đầu hàng và giải giáp quân Nhật do một mình chính phủ Quốc dân thực hiện, đồng thời cáo buộc Tưởng Giới Thạch là "lãnh đạo phát xít", "chuyên quyền", "kẻ phản bội", "kích động cuộc nội chiến". Phía Cộng sản yêu cầu được quyền tiếp nhận đầu hàng và giải giáp quân Nhật ở các vùng Hoa Bắc, Hoa Đông, Hoa Trung, Hoa Nam, nhưng bị bác bỏ. Ngày 21 tháng 8, chính phủ Quốc dân tổ chức lễ tiếp nhận sự đầu hàng của quân đội Nhật Bản, kết thúc chiến tranh. Tuy nhiên, tại các khu vực do Trung Cộng kiểm soát, chính quyền Cộng sản địa phương tổ chức tiếp nhận sự đầu hàng của quân Nhật, không tuân theo quy định của Đồng Minh, dẫn tới sự xung đột giữa 2 bên Quốc-Cộng tại khu vực Đông Bắc và phía Bắc. Việc chuyển giao chính quyền ngay lập tức giữa chính phủ Quốc dân và phía Nhật Bản thực sự gặp nhiều khó khăn, vì vậy chính phủ Quốc dân đã sử dụng quân đội của chính quyền Uông Tinh Vệ vào công tác "duy trì trị an". Ngày 23 tháng 8, Tổng tư lệnh Lục quân Quốc dân quân Hà Ứng Khâm đã gửi thư cho Tư lệnh Chi Na phái khiển quân là tướng Okamura Yasuji, yêu cầu quân Nhật phải duy trì các vùng lãnh thổ chiếm đóng, đảm bảo giao thông trong khi chờ Quốc dân quân đến tiếp quản chuyển giao, kể cả tại các khu vực mới bị lực lượng Giải phóng quân chiếm giữ. Bấy giờ, tính đến ngày 26 tháng 8, lực lượng Giải phóng quân đã "chiếm được 59 thành phố và nhiều vùng nông thôn rộng lớn". Quân đội Nhật theo lệnh của chính phủ Quốc dân, đã phản công và đến cuối tháng 9 tái chiếm lại được 20 thành phố. Xung đột cũng bùng nổ khi Quốc dân quân và Giải phóng quân giao tranh trực tiếp tại Sơn Tây và Bắc Bình. Tháng 9 năm 1945, các lãnh đạo Trung Cộng quyết định từ bỏ khu vực kiểm soát từ Bình Hán lộ về phía Đông, chính thức đưa ra phương châm "hướng Bắc phát triển, hướng Nam phòng ngự", rút bớt lực lượng từ Giang Nam tiến lên Giang Bắc, dốc sức phát triển căn cứ địa ở Hoa Bắc và Đông Bắc. Bát lộ quân thuộc quân Đông Bắc tướng Vạn Nghị, Lữ Chính Thao, Trương Học Tư,Quân khu Nhiệt Liên Lý Vận Xương tiến quân vào Đông Bắc chuẩn bị tiếp nhận đầu hàng của Nhật Bản.Ngày 30 tháng 8 Bát lộ quân phối hợp với quân đội Liên Xô đánh chiếm Sơn Hải Quan. Tằng Khắc Lâm là đội quân tiên phong ở Đông Bắc đã tiếp nhận lượng lớn vũ khí và thành viên. Hoàng Khắc Thành thuộc Tân Tứ quân Sư đoàn 3,3 vạn quân bắt đầu ở phía Bắc từ tháng 9 tiến vào Đông Bắc vào tháng 11.Đồng thời La Vinh Hoàn dẫn quân từ Sơn Đông với khoảng 6 vạn tiến lên Đông Bắc tái chiếm các vùng đảo thuộc khu vực.Khu vực phía Nam Vương Chấn cũng đưa Lữ đoàn 359 lên Đông Bắc.Trước sau đạt được khoảng 10 vạn quân.Đảng Cộng sản Trung Quốc cũng thành lập Cục Đông Bắc,và hơn 20 cán bộ cấp cao được gửi đến đây. Chính quyền Quốc Dân yêu cầu quân đội Nhật Bản, ngụy quân ngụy quyền được "duy trì trật tự an ninh ở địa phương"... ở nhiều nơi, những tên Hán gian và quân đội tay sai của phát xít Nhật trước kia nay trở lại thành quan quân của Quốc Dân,gây ra sự bất mãn lan rộng.Sau khi kết thúc chiến tranh,Quốc Dân đảng tham nhũng dẫn tới sự oán giận. Thời gian ấy trong dân gian có nhiều câu như "Đẳng trung ương,phán trung ương,trung ương lai liễu cảnh tao ương" (chờ trung ương,đợi trung ương,trung ương gây tai họa) "Tiếp thu thành liễu kiếp thu ".Quốc Dân đảng trong thời kỳ này gây ra sự cố 28 tháng 2 (hay còn được gọi sự kiện 228) gây ra thảm sát nghiêm trọng trên đảo Đài Loan. Nền thống trị độc tài quân phiệt của tập đoàn tư bản quan liêu, đại diện cho quyền lợi của địa chủ phong kiến và tư sản mại bản, được thiết lập ở những vùng quân Tưởng chiếm đóng. Bọn tư bản quan liêu đứng đầu là "4 họ" lớn (Tưởng Giới Thạch, Tống Tử Văn, Khổng Tưởng Hi, Trần Lập Phu đại diện) đã ra sức vơ vét, bóc lột tài sản của nhân dân Trung Quốc. Chiếm đoạt hầu hết các ngân hàng, xí nghiệp, của cải mà trước đây quân Nhật đã chiếm đoạt của nhân dân. Đến tháng 5 -1946 cả "4 họ" này đã chiếm trên 80% tổng số tư bản sản nghiệp trong toàn quốc, nắm 2/3 số ngân hàng (2446/3489 ngân hàng) cả nước và số tài sản của "4 họ" trị giá 20 tỷ USD. Nửa cuối năm 1945,xảy ra các cuộc xung đột giữa Quốc Cộng,danh sách xung đột chủ yếu Quốc Cộng: Chiến dịch Thượng đẳng - 10/9-12/10 Chiến dịch Tân Phổ - 15/10-14/12 Chiến dịch Bình Tuy - 18/10-14/12 Chiến dịch Bình Hán - 24/10-2/11 Chiến dịch Sơn Hải Quan - 15/11 === Nhân tố Quốc tế === Tháng 2 năm 1945 tại Hội nghị Yalta Liên Xô, Hoa Kỳ, Anh ra quyết định để giảm chi phí chiến tranh cho Hoa Kỳ,không cần sự đồng ý của chính phủ Quốc Dân,đã chấp thuận cho Liên Xô thuê cảnh Đại Liên và Lữ Thuận Khẩu và sử dụng tuyến đường sắt Đông Thanh và Nam Mãn thuộc khu vực Đông Bắc. Ngày 14 tháng 8 năm 1945 Quốc Dân Đảng và Liên Xô ký "Trung-Xô hữu hảo đồng minh hiệp ước",trong đó Trung Quốc đồng ý cho Ngoại Mông trưng cầu dân ý về vấn đề tương lai,đồng thời Liên Xô không tham gia hỗ trợ cho Đảng Cộng sản Trung Quốc. Vào cuối tháng 12 theo tuyên bố Potsdam,bộ trưởng 3 nước Anh,Liên Xô,Hoa Kỳ đã tổ chức một cuộc họp tại Moskva. Về Trung Quốc, ba nước đã nhất trí rằng Trung Quốc nên thành lập một chính phủ dân chủ thống nhất, Chính phủ cần có sự tham gia rộng rãi, và chiến tranh dân sự cần ngừng bắn. Ba nước đồng ý sẽ không can thiệp vào công việc nội bộ của Trung Quốc. Bộ trưởng Ngoại giao Liên Xô đã nói rằng quân đội Liên Xô đóng quân ở phía đông bắc đã hoàn tất việc giải giáp quân Nhật và cho hồi hương; nên chính phủ Trung Quốc yêu cầu việc rút quân đội Liên Xô đóng quân ở vùng Đông Bắc sẽ được hoãn lại đến tháng 2 năm 1946. Ngoại trưởng Mỹ lưu ý rằng nhiệm vụ chính của quân đội Mỹ ở miền Bắc là việc thực hiện các giải trừ quân bị và hồi hương quân Nhật. Sau khi quân đội Trung Quốc có thể độc lập và tự chịu trách nhiệm, quân đội Mỹ sẽ rút quân ngay lập tức. == Hiệp thương chính trị và hòa giải quân sự == Tháng 8 năm 1945 Mao Trạch Đông cùng đoàn đại biểu đến Trùng Khánh tham gia hội nghị tương lai Trung Quốc với Tưởng Giới Thạch.Đàm phán chủ yếu của Trung Cộng là Chu Ân Lai và Vương Nhược Phi,chính phủ Quốc Dân là Vương Thế Kiệt, Trương Quần, Trương Trị Trung, Thiệu Lực Tử tham gia tiến hành. Diên An đề xuất chiến lược mới với Liên Xô "phía bắc phát triển,phía nam phòng ngự",hy vọng Moskva hỗ trợ các khu vực Đông Trung Quốc, Hoa Bắc, Đông Bắc và khu vực giáp Liên Xô thành lập các căn cứ đấu tranh chính trị.Quốc Cộng hai bên đã đi đến ký Hiệp định Song Thập (10-10-1945), trong đó quy định những biện pháp bảo vệ hoà bình ở trong nước, xác định việc triệu tập Hội nghị hiệp thương chính trị. Hiệp định ghi rõ: "kiên quyết tránh nội chiến, lấy hoà bình, dân chủ, đoàn kết, thống nhất làm cơ sở, xây dựng nước Trung Hoa mới độc lập, dân chủ và giàu mạnh". Tháng 1 năm 1946,Hội nghị Chính trị Hiệp thương được triển khai tại Trùng Khánh với các đại biểu của Quốc, Cộng và Đảng Dân Minh (Đảng Đồng minh dân chủ),đảng Thanh niên, và nhân sĩ không đảng phái. Tiến trình Hội nghị diễn ra rất gay gắt giữa 3 lực lượng và 3 đường lối chính trị khác nhau, tuy nhiên nhờ sự nỗ lực của Đảng Cộng sản và áp lực đấu tranh của nhân dân, Hội nghị đã thông qua 5 Nghị quyết về Tổ chức Chính phủ, Quốc hội, Cương lĩnh hòa bình xây dựng đất nước, Dự thảo hiến pháp và vấn đề quân sự.Thỏa thuận quy định chính phủ sau cải tổ thành Ủy ban Chính phủ Quốc dân cơ quan hành pháp tối cao,quy định Quốc Dân Đảng chiếm một nửa số Ủy viên,một nửa số còn lại do các Đảng phái và người có tài tổ chức thành,tu chính cần có 2/3 số Ủy viên tán thành;áp dụng theo thỏa thuận,Đảng Cộng sản thảo luận làm cơ sở cho "Cương lĩnh hòa bình kiến quốc",nhất trí thực hiện đường lối hòa bình dân chủ theo hiến pháp;nhất trí đồng ý tổ chức lại quân đội Quốc Cộng,thực hiện Quốc hữu hóa quân đội; Ngày 25 tháng 2 Quốc Cộng đạt thỏa thuận song phương về việc tổ chức lại quân đội;Ngày 6 tháng 3 Mao Trạch Đông đề xuất phục viên làm 2 giai đoạn,giai đoạn đầu giải ngũ 1/3,giai đoạn 2 giải ngũ 1/3.Tại thời điểm đó Trung Cộng có 1.300.000 người sau 2 giai đoạn giải ngũ còn 40 vạn.Do xuất ngũ quá nhiều quân nên Trung Cộng rơi vào tình thế nguy hiểm. Đầu tháng 1 năm 1946 dưới sự trung gian của Marshall,Quốc Cộng đạt được lệnh đình chiến tháng 1, để chuẩn bị cho Hội nghị Chính trị hiệp thương.Tháng 2 Quốc Cộng quyết định phương án chỉnh sửa thống nhất quân Quốc Cộng vì Quân đội Quốc gia,nghị quyết về vấn đề quân sự quy định phải dựa vào chế độ dân chủ, cải cách chế độ quân sự và tổ chức lại quân đội, thực hiện sự phân lập giữa quân đội và đảng phái, sự phân trị giữa quân đội và nhân dân. Liên Xô rút quân khỏi khu vực Đông Bắc,Quốc Dân đảng gây xung đột tại khu vực này.1 tháng 3 năm 1946 Liên Xô cho chính phủ Quốc Dân biết họ sắp rút quân,6 tháng 4 Trung Cộng tiến hành xâm chiếm Trường Xuân, Cáp Nhĩ Tân, Tề Tề Cáp Nhĩ và một số trung tâm đô thị khác. Hoa Kỳ hỗ trợ vận chuyển vũ khí trang thiết bị và nhân lực cho Quốc Dân lên vùng Đông Bắc,Quốc Dân tấn công Trung Cộng,gây suy giảm tình hình cho phía Trung Cộng tại khu vực Đông Bắc.Vào lúc đó sau khi quân đội Liên Xô rút được vài tiếng,Trung Cộng liền tần công và chiếm được Trường Xuân vào 8 tháng 4. Chính phủ Quốc Dân cho rằng đã có vi phạm trong "lệnh đình chiến 1 tháng",vào tháng 4 toàn tuyến khu vực Đông Bắc Trường Xuân xảy ra xung đột với quy mô lớn. Lâm Bưu đưa 30 vạn quân dự bị tập trung tại khu Tứ Bình và khu vực phụ cận để ngăn chặn bước tiến Quốc Quân. Đỗ Duật Minh của Quốc quân chuyển đến xem xét tình hình,đầu tháng 5 bắt đầu phát động phản công tại Đông Bắc.3 tháng 5 Quốc quân chiếm được Bản Khê,chiến đấu 1 dải khu Tứ Bình.19 tháng 5 chiếm được Tứ Bình,sau chiến dịch thứ 2 Tứ Bình,Lâm Bưu bị trọng thương tại trụ sở,Quốc quân truy kích tới bờ sông Tùng Hoa.23 tháng 5 Quốc quân chiếm Trường Xuân,28 tháng 5 chiếm Cát Lâm,5 tháng 6 uy hiếp Cáp Nhĩ Tân.Marshall nỗ lực với Tưởng Giới Thạch đạt thỏa thuận "lệnh đình chiến tháng 6" (ngày 6 tháng 6),đồng ý Đông Bắc ngưng chiến trong 15 ngày sau đó mở rộng 8 ngày.Trong thời gian ngưng chiến,Tưởng yêu cầu Trung Cộng phải rút khỏi Tô Bắc (Giang Tô),đường sắt Tế Nam, Thừa Đức,Cổ Bắc Khẩu trấn (thuộc Bắc Kinh),và Cáp Nhĩ Tân.Trung Cộng phản bác cự tuyệt. Tháng 3 năm 1946,phiên họp thứ 2 Đảng Quốc Dân khóa 6 về sửa đổi Hiến pháp đã kịch liệt phản đối Trung Cộng.Trùng Khánh - Nam Kinh Quốc Cộng đồng ý đàm phán,đồng thời xung đột vẫn tiếp diễn,2 bên ảnh hưởng tới nhau.Trung Cộng vẫn tiếp tục hoạt động công khai tại khu vực quản lý,tại Trung Khánh phát hành báo "Tân hoa Nhật báo",vì thế Quốc quân công khai bùng phát quyết liệt.Tổng thống Truman,Marshall hạ lệnh từ 29 tháng 7 năm 1946 tới 26 tháng 5 năm 1947,Hoa Kỳ chính thức cấm vận vũ khí Chính phủ Quốc Dân. Sau khi kết thúc chiến tranh,tướng Wedemeyer đã tố cáo với Quốc hội Hoa Kỳ,năm 1947 Tổng thống Truman đã quyết định ngừng huấn luyện quân sự cho quân đội Chính phủ Quốc Dân,đối với Chính phủ Quốc Dân thực thi cấm vận vũ khí,các nhà báo phương Tây đồng ý với chính sách Hoa kỳ đồng thời phê bình và chỉ trích Quốc Dân Đảng. Dẫn tới tinh thần binh sĩ Quốc Dân giảm sút,dẫn tới sự thất bại của quân đội Quốc Dân. == Quốc Quân tấn công toàn diện,Giải phóng Quân phòng ngự toàn diện == Chính phủ Quốc Dân ngày 26 tháng 6 năm 1946 đã ra lệnh tấn công toàn diện vào khu vực giải phóng.Ngay sau khi hiệp ước đình chiến hết hiệu lực,Quốc quân dưới sự chỉ huy của Lưu Trĩ và Trình Tiềm,lấy 200.000 quân làm ưu thế tấn công Hồ Bắc, Hà Nam khu vực giáp Tuyên Hoa Điếm bao vây 60.000 quân Trung nguyên Giải phóng của Lý Tiên Niệm,Lý Tiên Niệm đưa quân đội phá vòng vây Tháng 7,đàm phán Quốc Cộng bị đình trệ tại Tô Bắc,Quốc quân bảo vệ ngoại vi Nam Kinh,phía Tô Trung và Tô Bắc do Tân Tứ quân đồn trú phát động tiến công. Quốc quân 5 Sư đoàn chỉnh biên cộng 15 lữ đoàn ước khoảng 120.000 quân,mưu tính từ Nam Thông, Thái Châu 1 mặt trận tiến công giải phóng khu Tô Trung.Giải phóng quân bắt đầu chiến dịch Tô Trung,hay còn gọi "Thất chiến thất tiệp". Túc Dụ, Đàm Chấn Lâm chỉ huy 19 đoàn ước khoảng 3 vạn quân,từ 13 tháng 7 tới 27 tháng 8,liên tục giành thắng lợi.Trong nửa tháng,tiêu diệt 6 lữ đoàn Quốc quân và 5 đại đội cảnh vệ,tổng 5 vạn quân.Quân của Túc Dụ đã tiêu diệt sư đoàn số 69 của Quốc quân.Quốc quân chiếm toàn bộ Tô Bắc,áp sát Quân đội Trung Cộng tại Lũng Hải tuyến. Tại Sơn Tây,Giải phóng quân phát lệnh tiến công vào cuối tháng 7.20 tháng 7,Giải phóng quân bao vây tấn công Đại Đồng,tại Ứng huyện Quốc quân phản kích,không vượt qua được.Tháng 8, Hạ Long chỉ huy quân Giải phóng bao vây Đại Đồng. Phó Tác Nghĩa toàn lực tăng viện phòng thủ cho Đại Đồng.14 tháng 9,Phó Tác Nghĩa đưa quân số 35 của Quân Quốc dân Cách mạng thu phục Tập Ninh,phá tan bao vây Đại Đồng. Ngày 11 tháng 10,tập đoàn 36 Quốc quân đột kích chiếm từ tay Đảng Cộng sản Trung Quốc thành phố Trương Gia Khẩu,trung tâm của vùng Hoa Bắc. Tại Sơn Đông,ngày 10 tháng 8 quân của Lưu Bá Thừa và Đặng Tiểu Bình đột kích Lũng Hải tuyến,chiếm Nãng Sơn,Lan Phong và hàng trăm Km đường sắt,sau đó Quốc quân điều quân phản công với số lượng lớn.Đầu tháng 9,Giải phóng quân rút lui đồng thời tại Định Đào tiêu diệt 3 sư đoàn chỉnh biên của Quốc quân,song Quốc quân vẫn nguyên vẹn thế tấn công. Tại Tây Nam địa khu,tuyến Đông Lỗ,Quốc quân tiến triển khá thành công,tại Tấn Nam địa khu quân của Hồ Tông Nam bị chặn,lữ đoàn 1 thuộc sư đoàn chỉnh biên số 1 bị quân của Trần Canh tiêu diệt. Cuối tháng 10,Quốc quân chiếm 25 huyện thành hoàn thành tuyến tác chiến Nam Hoa Bắc,Giải phóng quân bị áp chế phía bắc sông Hoàng Hà. Ngày 1 tháng 11,Quốc quân rút Yên Đài,chiếm Lỗ Nam.Giải phòng quân rút để Quốc quân tưởng đã thắng lợi.Tuy nhiên Giải phóng quân không thực sự giảm số lượng mà tiếp tục phản công. Sau khi Quốc quân chiếm Trương Gia Khẩu,Đảng Cộng sản và Dân Minh yêu cầu truy cứu trách nhiệm phá hoại hòa bình của Quốc Dân Đảng. Giữa tháng 10 năm 1946 triệu tập Quốc dân Đại hội lập hiến (giản thể: 制憲國民大會) trước Đại hội Chu Ân Lai tuyên bố "Quốc dân Đại hội một ngày nào đó triệu tập,nó phải ở Diên An". Ngày 15 tháng 11 Đại hội Quốc dân tổ chức tại Nam Kinh,là Đại hội gồm nhiều đảng phái tham dự,Quốc Dân Đảng,Đảng Cộng sản,Đảng Dân Minh,Dân Xã Đảng (Đảng Dân chủ Xã hội),Thanh niên Đảng và một số thành phần khác.Trong thời gian này chính phủ Quốc dân ban hành lệnh ngừng bắn,nhưng vẫn đặt quân đội trong tư thế chiến đấu. Từ tháng 12 năm 1946 Quân Giải phóng Nhân dân Đông Bắc phát động tấn công,Đảng Cộng sản tuyên bố tới tháng 4 năm 1947 tiêu diệt được 4 vạn quân Quốc dân và chiếm được 11 thành thị. Năm 1946 sau khi Hiến pháp Trung Hoa Dân Quốc được lập,Chính phủ Quốc dân yêu cầu Marshall kêu gọi Đảng Cộng sản Trung Quốc đàm phán bàn tròn lần thứ 3 nhằm tìm kiếm giải pháp chính trị trong xung đột giữa 2 bên.Đảng Cộng sản Trung Quốc cho rằng lời kêu gọi của Quốc dân không có thành ý,đại biểu Đảng Cộng sản tại Nam Kinh Lục Định Nhất trả lời "Xóa bỏ Hiến pháp ngụy quyền và khôi phục vị trí quân sự ngày 31/1/1946,tán thành khôi phục và đàm phán là tối thiểu". Đảng Cộng sản Trung Quốc cho rằng Quốc Dân Đảng đang tấn công một cách hòa bình,nhằm đổ lỗi cho Đảng Cộng sản. Còn Chính phủ Quốc Dân cho rằng "Chính phủ chúng tôi bất đắc dĩ buộc phải huy động,tham gia chống nổi loạn,đó là sự thực lịch sử".Tháng 1 năm 1947,Quốc quân tiến vào Lỗ Nam do chủ nhiệm Từ Châu Tiết Nhạc chỉ huy khi đó Trần Nghị đang chỉ huy quân Giải phóng tại Lỗ Nam. Tại chiến trường phía Đông Bắc,quân của Lâm Bưu và La Vinh Hoàn chiếm ưu thế,được tranh bị tốt vũ khí từ các cuộc tấn công.Mùa hè năm 1947,Quốc quân tuy liên tục giành thắng lợi tại các Địa,nhưng tại phòng địa Đông Bắc do rộng lớn nên thiếu hụt lượng lớn binh lực.Giao thông bị Quân giải phóng phá hủy,nên bị đưa vào thế bị động. Cuối tháng 2 cùng năm,Lâm Bưu vượt sông Tùng Hoa xâm lấn Giang Nam,đầu tháng 5 phát động tiến công ác liệt,ngày 17 chiếm được Hoài Đức,ngày 21 chiếm đồn Công Chủ.Vĩnh Cát,Trường Xuân,Tứ Bình Nhai lâm vào thế bị bao vây. Cuối tháng 2 năm 1947,Chính quyền Trung ương trục xuất đại diện Đảng Cộng sản tại Nam Kinh,Thượng Hải,Trùng Khánh,Đảng Cộng sản đưa đại biểu di tản đến hết ngày 5/3 và dừng tờ "Tân hoa nhật báo" tại Trùng Khánh.Từ tháng 7 năm 1946 tới tháng 2 năm 1947 sau 8 tháng chiến đấu,quân đội chính quy Quốc quân bị tiêu diệt 66 sư đoàn,quân chính quy Cộng sản tổn thất 71 vạn quân,cuộc chiến tổn thất nghiệm trọng. == Quốc quân tiến công trọng điểm và Giải phóng quân phản công cục bộ == Ngày 10 tháng 3,các lộ quân của Quốc quân gồm 20 vạn tại Tây An,chủ nhiệm Hồ Tông Nam chỉ huy chia làm các cánh quân Lạc Xuyên, Nghi Xuyên tấn công Diên An,Trung Cộng điều động 5000 lính,bằng mìn và tường lũy quân Trung Cộng kháng cự kiên cường.Ngày 19 Quốc quân tiến tới Diên An,Quốc quân giết và làm bị thương 16.000 quân Giải phóng,bắt hơn 10.000 làm tù binh.Trung ương Trung Cộng chủ động rút quân khỏi Diên An, Bành Đức Hoài gần 20.000 quân dã chiến Tây Bắc tiến hành chiến tranh du kích tại cao nguyên Thiểm Bắc,bước đầu giành thắng lợi chiếm được Thanh Hóa Biêm,Dương Mã Hà,Sa Gia Điếm (Thiểm Tây). Tại phía nam Sơn Đông, Hác Bằng Cử thống lĩnh 20.000 quân Giải phóng quy hàng Quốc quân. Đầu tháng 4 tại tuyến đường sắt Tân Phổ đoạn từ Từ Châu tới Tế Nam được thông thương,Quốc quân bao vây Trần Nghị tại núi Nghi Mông. Cố Chúc Đồng thống lĩnh 60.000 quân tấn công. Do Quốc quân sử dụng chiến thuật tiến chắc,quân đội khống chế phạm vi những nơi chiếm đóng,vì vậy chiến thuật du kích của quân Giải phòng không được hiểu quả. Nhưng Túc Dũ đề xuất lấy Quân Giải phóng tại Sơn Đông làm chủ lực quyết chiến tiêu diệt chiến thuật của Quốc quân.Tại trận chiến Mạnh Lương,sư đoàn 74 chỉnh biên của Quốc quân bị đánh bại,sư đoàn trưởng Trương Linh Phủ tử trận. Đầu tháng 5, Hồ Tông Nam đã chiến đấu được 3 tháng,nhưng mục tiêu tiêu diệt Trung ương Trung Cộng chưa đạt được. Tại Địa khu Hoa Bắc,quân Quốc quân không còn, Niếp Vinh Trăn thành lập Ban Dã chiến tiêu diệt,với nhiệm vụ cơ động tác chiến.Kể từ tháng 5/1947,Quân Giải phóng do Từ Hướng Tiến,Bành Đức Hoài bắt đầu bao vây Thái Nguyên,chủ tịch chính phủ tỉnh Sơn Tây Diêm Tích Sơn cố thủ. Tháng 6,Quốc quân tiếp tục tấn công từ hướng bắc Lỗ Nam,Quốc quân tiếp tục uy hiếp. Ngày 6/6,Giải phóng quân tiến công bao vây Nhiệt Hà, Xích Phong.Ngày 16/6 Quốc quân buộc phải bỏ tỉnh An Đông.Quân Giải phóng bắt đầu bao vây Liêu Ninh, Thẩm Dương.Từ tháng 6 tới tháng 7 bao vây Tứ Bình. Ngày 18/6, Hồ Liễu chỉ huy sư đoàn chỉnh biên số 11 chiếm trụ sở Trung Cộng Sơn Đông tại trấn Nam Ma.Quân của Lưu Bá Thừa và Đặng Tiểu Bình (gọi tắt quân Lưu Đặng) tại Lỗ Tây tiến công,Quốc quân bị ép tới phải gọi viện binh, Trần Nghị Túc Dụ thừa thắng tấn công Nam Ma trấn nhưng do trời mưa to,đạn dược ẩm ướt,cuộc tiến công gặp khó khăn.Đồng thời Quốc quân tái điều binh tập hợp phá vòng vây,do tình thế nguy hiểm và tránh thương vong quân của Trần Nghị và Túc Dụ lui quân rút về Huệ Dân phía bắc sông Hoàng Hà. Bắt đầu từ mùa hè năm 1947,quân Giải phóng lấy lại ưu thế,bắt đầu tiến công trở lại.30/6 Viện Tư pháp,viện Kiểm sát Chính phủ Quốc Dân ra lệnh bắt Mao Trạch Đông và Chu Ân Lai.Ngày 31/7 Trung Cộng chính thức sử dụng tên quân Giải phóng Nhân dân Trung Quốc.Sau 1 năm chiến đấu,quân Giải phóng Nhân dân đã đánh tan Quốc quân,cơ bản đập tan những cuộc tiến công trọng điểm. Tổng số quân của Quốc quân giảm từ 4.300.000 vào tháng 6/1946 xuống còn 3.730.000,tinh thần binh sĩ giảm sút và đầu hàng,113 lữ đoàn bị tiêu diệt,quân tác chiến cơ động còn lác đác.Sau 1 năm quân Giải phóng tăng từ 1.270.000 lên 1.950.000 người và quân chính quy phát triển gần 1 triệu. == Giải phóng quân tiến công chiến lược và Quốc quân phòng ngự trọng điểm == Tại khu vực Trung Nguyên,ngày 30/6 Lưu Bá Thừa và Đặng Tiểu Bình đưa quân vượt Hoàng Hà vào ban đêm,phát động chiến dịch Lỗ Tây Nam,đây là chiến dịch mở màn cho giai đoạn tiến công chiến lược của Giải phóng quân.Sau khi vượt sông Giải phóng quân bao vây Sư đoàn 55 Quốc quân Chỉnh biên tại Vận Thành,đồng thời quân Trần Túc tấn công Quốc quân từ phía Nam.Tấn công Phí Huyện,uy hiếp Duyện Châu. Đồng thời đại quân Lưu Đặng tấn công chiếm được Vận Thành, Tào Huyện,Tịnh Tương Dương Sơn nơi tập hợp quân của sư đoàn 66 quân chỉnh biên Quốc quân. Cuối tháng 7 bao vây tiêu diệt quân chỉnh biên 66 của Quốc quân tại Dương Sơn.Tháng 8 Quốc quân loại bỏ tuyến đường sắt Giao Tế (vịnh Giao Châu-Tế Nam) khỏi Giải phóng quân. Tháng 8,Quân Lưu Đặng bao vây tấn công Quốc quân tại phía nam Trung Nguyên,tiến công vào khu vực Quốc quân suy yếu.Ngày 19/8 toàn quân vượt khu vực lũ lụt sông Hoàng Hà.Ngày 22/8 Quân Giải phóng tại Hoa Trung do Trần Canh chỉ huy từ phía tây Hà Nam như Tây An, Thằng Trì, Thiểm Huyện vượt sông Hoàng Hà,núi Ngưu Sơn,tấn công vây hãm Tung Huyện, Lạc Ninh, Đăng Phong, Lâm Nhữ, Lỗ Sơn, Phương Thành gặp Quốc quân bao vây tiêu diệt,cưối cùng phải lui về phía Bắc Hoàng Hà.Ngày 23/8 tấn công mạnh sông Nhữ.Ngày 26/8 thừa lúc sông Hoài gây ngập lụt Giải phóng quân vượt sông tiến vào Đại Biệt Sơn và là chìa khóa chiến lược. Truy kích Quốc quân nhân nước sông Hoài dâng lên ngăn chặn lên phía bắc sông Hoài.Đồng thời binh đoàn của Trần Canh, Tạ Phú Trị tại Mao Tân vượt sông tấn công Lạc Dương.Tháng 8 Mao Trạch Đông ra chỉ thị,quân Trần Túc vượt Hoàng Hà,phát động tiến công. Ngày 14/9/1947, Quốc quân bị đẩy về hướng tây bởi quân cộng sản. Rạng sáng, sư đoàn 50 quốc quân bị đơn vị số 8 và sư đoàn độc lập số 1 đánh bại tại Lê Thụ Câu môn và buộc phải rút lui. Sư đoàn độc lập số 1 đã không truy kích sư đoàn 50 quốc quân mà tấn công sư đoàn 22 đang đồn trú phía trước, tiêu diệt quốc quân tại giữa Dương Gia Trưởng Tử và Cựu môn. Sư đoàn 60 Quốc quân đồn trú gần đó ngay lập tức rút lui sau khi nghe tin 2 sư đoàn thất thủ, Cộng quân truy kích không kịp rút quân về phía tây tập hợp lực lượng. Trong khi củng cố đơn vị quân số 9 sắp xếp chỉnh chu tại Kim Khê và Dương Gia Trưởng Tử gia cố lực lượng sẵn sàng ứng chiến với quân Quốc Dân đảng. Ngày 17/9/1947 Quân đoàn 49 Quốc quân tấn công Kiến Xương từ Cẩm Châu. Khi Quân đoàn 49 tấn công Dương Gia Trưởng Tử, đơn vị số 8 và sư đoàn độc lập số 1 đang bao vây tại đó. Quốc quân gửi ra 2 lữ đoàn bao gồm 6 trung đoàn củng cố Quân đoàn 49, nhưng đơn vị đó bị sư đoàn 24 của đơn vị số 8 và sư đoàn 26 của đơn vị số 9 chặn lại tại Hồng Loa Hiện phía tây Kim Khê và khu vực Lão Biên, tây bắc Kim Khê. Ngày 22/9 Quân đoàn 49 phá vòng vây rút lui về phía nam, nhưng sau đó bị tiêu diệt hoàn toàn tại Lão Biên. Trung cộng ra lệnh cho đơn vị tiền tuyến số 2 phá hủy đường sắt từ Cẩm Châu tới Sơn Hải Quan, phá hủy thành công giảm đáng kể năng lực vận tải của Quốc quân. Những thất bại liên tục buộc Trần Thành đưa quân đoàn chỉnh biên số 6 từ Thiết Lĩnh đề củng cố Cẩm Châu, để lại 2 khu vực Từ Bình và Thiết Lĩnh dễ bị tấn công. Cộng quân lợi dụng tình hình ấy đưa 3 đơn vị tổng cộng 8 sư đoàn tấn công Tây Phong, Xương Đồ, Khai Nguyên và tiêu diệt quân đoàn 53 Quốc quân. == Quốc Cộng quyết chiến chiến lược == === Chiến dịch Liêu Thẩm === === Chiến dich Hoài Hải === === Chiến dịch Bình Tân === Vào mùa đông năm 1948, cán cân quân sự chuyển sang quân Giải phóng. Dã chiến quân đệ tứ do Lâm Bưu và La Vinh Hoàn tiến vào đồng bằng Hoa Bắc sau khi kết thúc chiến dịch Liêu Thẩm. Phó Tác Nghĩa và chính phủ Quốc dân đảng quyết định rút bỏ khỏi Thừa Đức, Bảo Định, Sơn Hải Quan và Tần Hoàng Đảo về Bắc Bình, Thiên Tân và Trương Gia Khẩu. Quốc Dân đảng hy vọng vào sức mạnh của mình và củng cố Từ Châu. Các lựa chọn khác là rút tới tỉnh Tuy Viễn. Trong việc chuẩn bị chiến dịch lực lượng Giải phóng quân đã đưa Dã chiến quân đệ nhất hướng tới Thái Nguyên. Cuộc tấn công vào Hohhot do Dã chiến quân đệ tam được triển khai từ huyện Tế Ninh hướng tới Bắc Bình. Ngày 29/11/1948 Quân giải phóng phát động tấn công Trương Gia Khẩu. Phó Tác Nghĩa ngay lập tức cho quân đoàn 35 tại Bắc Bình và quân đoàn 104 tại Hoài Lai củng cố bảo vệ Trương Gia Khẩu. Ngày 2/12 tập đoàn quân Trung cộng tiến về hướng Trác Lộc. Dã chiến quân đệ tứ chiếm Mật Vân ngày 5/12 về tiếp tục hướng về Hoài Lai. Dã chiến quân đệ nhị hướng tới Trác Lộc. Bắc Bình có nguy cơ thất thủ, Phó Tác Nghĩa đưa quân đoàn 35 từ Trương Gia Khẩu và ra lệnh cho quân đoàn 104 từ Hoài Lai bảo vệ Bắc Bình. Quân đoàn 35 quốc quân bị bao vây bởi giải phóng quân tại Tân Bảo An khi đang rút về Bắc Bình. Ngay lập tức quân tiếp viện được gửi tới Bắc Bình nhằm hy vọng phá vòng vây cho quân đoàn 35. Tuy nhiên quân tiếp viện bị quân Giải phóng tiêu diệt chưa kịp tới thành phố. Sau đó quân giải phóng phát động tấn công Tân Bảo An để tiêu diện quân đoàn 35 quốc quân ngày 21/12 và chiếm được thị trấn với tối hôm sau. Tư lệnh Quách Cảnh Vân tự sát, phần còn lại của quốc quân rút về Trương Gia Khẩu. Sau khi chiếm Trương Gia Khẩu và Tân Bảo An, quân Giải phòng chỉnh chu lực lượng quanh khu vực Thiên Tân bắt đầu từ 2/1/1949. Sau khi chiến dịch Hoài Hải kết thúc vào 10/1 quân giải phóng phát động tấn công vào Thiên Tân ngày 14/1. Thành phố bị chiếm sau 29 tiếng giao tranh, và quân đoàn 62 và 86 của Quốc Dân tổng cộng 130000 quân thuộc 10 sư đoàn bị tiêu diệt. Tư lệnh Quốc dân đảng Trần Trưởng Tiệp bị bắt. Lực lượng còn lại của Quốc dân gồm quân đoàn 17 và 5 sư đoàn khác thuộc quân đoàn 87 rút về phía nam Đường Cô bằng đường biển. Sau sự thất bại tại Thiên Tân, các lực lượng còn lại của Quốc dân tại Bắc Bình bị cô lập. Phó Tác Nghĩa quyết định thương lượng một cách hòa bình vào ngày 21/1. Ngay tuần sau hơn 260000 quân Quốc dân rút khỏi thành phố với sự đầu hàng ngay lập tức. Vào ngày 31/1 Dã chiến đệ tứ quân tiến vào Bắc Bình kết thúc chiến dịch Bình Tân. == Giải phóng quân giải phóng toàn Quốc == Do chiến tranh kéo dài,đời sống nhân dân khó khăn,kinh tế kiệt quệ. Đầu năm 1949,do mặt trận quân sự thay đổi,tình hình chính trị thúc dục,để đáp ứng yêu cầu đàm phán hòa bình, Tưởng Giới Thạch tuyên bố ngày 21/1 sẽ từ chức,do Phó Tổng thống Lý Tông Nhân đảm nhận chức vụ Quyền Tổng thống. Ngày 5/2 Hành chính viện chuyển về văn phòng Quảng Châu. Nam Kinh chỉ còn lại văn phòng Đại Tổng thống.Ngày 1/4 Trương Trị bay tới Bắc Bình. 9 giờ sáng ngày 5/4 Hội nghị "Hòa đàm" trừ bị khai mạc.Đảng Cộng sản thông qua thương lượng trên cơ sở "Dự thảo Hiệp định hòa bình trong nước".Ngày 15/4 Hội nghị hòa đàm lần thứ 2 khai mạc, Chu Ân Lai sửa đổi một số điều trong hiệp định (là lần sửa đổi cưối cùng)"Hiệp định hòa bình trong nước",Trương Trị phải ký trước 20/4,cho dù bất kể chiến tranh hay hòa bình,quân Giải phóng không vượt quá sông Trường Giang.Tuy nhiên,Đảng Cộng sản cũng quy định thời hạn,Chính phủ Dân Quốc nhận định:"1 số tướng Quốc Dân Đảng cao cấp bị liệt vào tội phạm chiến tranh,và Chính phủ Quốc dân trong mọi khả năng không thể chấp thuận ".Ngày 20/4 Ủy ban thường vụ Trung ương Quốc Dân Đảng Trung Quốc phát biểu tuyên bố lên án Đảng Cộng sản Trung Quốc "Hiệp định hòa bình trong nước" bóp méo sự thật.Ngày 21/4 Chủ tịch Quân ủy Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc, Chủ tịch Ủy ban Quân sự Cách mạng Nhân dân Trung Quốc Mao Trạch Đông và Tổng Tư lệnh Quân Giải phóng Nhân dân Trung Quốc Chu Đức ban lệnh Tổng tấn công,sau đó quân của Lâm Bưu, Bành Đức Hoài cùng một số đơn vị khác,áp sát Vũ Hán và Tây An. Quân Giải phóng 1 triệu quân vượt sông Trường Giang,chiến dịch "độ giang" (vượt sông) bắt đầu.Ngày 22/4 quân của Lưu Bá Thừa chiếm Vu Hồ.23/4 chiếm Nam Kinh,tiếp đó Giải phóng quân truy kích tàn quân của Quốc quân. Cùng ngày Quốc quân rút khỏi Nam Kinh, Lý Tông Nhân bay tới Quế Lâm.Lý Tông Nhân nhất quyết không tới Quảng Đông xử lý công việc.Lý Tông Nhân và Bạch Sùng Hy tổ chức phòng tuyến Hoa Nam.Ngày 24/4 thành phố Thái Nguyên bị đánh phá,Quốc quân thất bại thảm hại,nhà cửa bị tàn phá hoàn toàn,người bị thương vong vô số. Cuối tháng 4,Lâm Bưu tiến quân hướng về Vũ Hán. Ngày 4/5/1949,quân của Trần Nghị vây hãm Hàng Châu.Ngày 8/5 quân của Bành Đức Hoài vây hãm Lan Châu,cùng ngày Lý Tông Nhân tới Quảng Châu,Trưởng quan Quân chính (Bộ trưởng Quốc phòng) Trung Hoa Bạch Sùng Hy dời văn phòng về Hành Dương.Ngày 16/5-17/5 Giải phóng quân tương kế diệu kế chiếm 3 trấn của Vũ Hán.Ngày 20/5 Hồ Tông Nam của Quốc quân rút khỏi Tây An. Các khu vực phía đông Cam Túc hoàn toàn do Giải phóng quân chiếm đóng.Ngày 21/5 quân của Lưu Bá Thừa vây hãm Nam Xương.Quân của Trần Nghị bao vây Thượng Hải.Quân Giải phóng bị thương vong gần 60.000 quân.Tới ngày 27/5 Quốc quân chủ động rút toàn bộ về Chu Sơn, Đài Loan.Giải phóng quân tấn công Thượng Hải,sau cuộc tiến công duyên hải Đông Nam. Cùng ngày,quân Mỹ đồn trú tại Thanh Đảo rút quân toàn bộ. Ngày 2/6 Quân Giải phóng chiếm Thanh Đảo. Ngày 3/6 Thái Nguyên bị vây hãm,Thanh Đảo mất giá trị quân sự,là thành trì bị cô lập tại Hoa Bắc,phòng thủ không dễ dành.Quốc quân tư động rút lui,toàn bộ quân dân vật tư rút về Đài Loan,Giải phóng quân chiếm được toàn bộ Hoa Bắc.Ngày 16/7 quân của Lâm Bưu chiếm Nghi Xương.Ngày 26/7 chiếm được Chu Châu.Ngày 29/7 chiếm được Thường Đức. Cuối tháng 7,200.000 quân Giải phóng vào Cam Túc. Ngày 1/8/1949,Chủ tịch Chính phủ Hồ Nam,Tư lệnh binh đoàn số 1 Quốc quân Trần Minh Nhân và Chủ nhiệm văn phòng Trường Sa Trình Tiềm đầu hàng Đảng Cộng sản.Ngày 4/8 Trình Tiềm và Trần Minh Nhân tuyên bố tham gia vào Đảng Cộng sản.Ngày 5/8,Chính phủ ra lệnh cho Hoàng Kiệt làm Chủ tịch Chính phủ Hồ Nam,rút quân khỏi Trường Sa tập trung quân tại Hành Dương và vùng phụ cận.Ngày 16/8 Đệ nhị quân dã chiến chiếm Cống Châu.Ngày 17/8 Giải phóng quân do Trần Nghị chỉ huy bao vây Phúc Châu. Chính phủ Quốc Dân ra lệnh cho Thang Ân Bá làm chủ trì quân chính Phúc Kiến,Thang ra lệnh cho quân chủ lực tập trung tại Hạ Môn.Ngày 24/8 Tưởng Giới Thạch bay tới Trùng Khánh,chủ trì Hội nghị nhân viên quân chính Tây Nam. Ngày 2/9/1949 Giải phóng quân chiếm Tây Ninh.Tháng 9,Giải phóng quân mở chiến dịch Hành Bảo (diễn ra tại Hành Dương và Bảo Khánh),chiến dịch Quảng Tây tiêu diệt được quân chủ lực của Bạch Sùng Hy.Ngày 20/9 Giải phóng quân chia làm 3 tấn công Hạ Môn,thương vong vô số.Ngày 21/9 Chủ tịch Chính phủ Tuy Viễn Đổng Kì Võ ra thông điệp đầu hàng Đảng Cộng sản.Ngày 25-26/9 Tổng tư lệnh Cảnh bị Tân Cương Đào Trĩ Nhạc và Chủ tịch Chính phủ Tân Cương Bào Nhĩ Hán tiếp nhận đề xuất 8 điều kiện hòa bình của Đảng Cộng sản,tướng lĩnh và binh sĩ hơn 70.000 tại Địch Hoa đồng ý về với Đảng Cộng sản, Tân Cương rơi vào tay Cộng sản không tốn 1 viên đạn.Ngày 28/9 Đệ nhất quân dã chiến chiếm Ngân Xuyên.Đệ nhất quân dã chiến chiếm được 4 tỉnh Thiểm Tây, Cam Túc, Liêu Ninh, Thanh Hải. Ngày 5/10/1949,quân Giải phóng chiếm Thiều Quan.Ngày 8/10 chiếm Hành Dương.Ngày 12/10 Chính phủ Quốc dân tuyên bố rời Chính phủ về Trùng Khánh,Chính phủ Quảng Đông chuyển tới đảo Hải Nam.Ngày 13/10 rút khỏi Quảng Châu,đến tháng 10 quân Giải phóng chiếm Quảng Đông.Ngày 17/10 Quốc quân rút khỏi Hạ Môn,tập trung quân cố thủ Kim Môn. Trần Nghị đưa hải quân chiếm Hạ Môn. Ngày 23/10,Giải phóng quân phát lệnh tác chiến tiến quân Tứ Xuyên, Quý Châu.Ngày 25/10 Binh đoàn số 10 Giải phóng quân chuẩn bị tấn công Kim Môn,quân số lên tới 20.000 quân,khi đó Lý Lương Vinh chỉ huy binh đoàn 22 dã chiến phòng thủ gồm 20.000 quân. Ngày 1/11/1949,Giải phóng quân triển khai chiến dịch Tây Nam,từ Hồ Bắc Hồ Nam tiến quân về phía Tây Nam. Cùng ngày Lý Tông Nhân thấy tình hình xấu đi,bay từ Trùng Khánh về Côn Minh.Ngày 3/11 Đệ tam quân dã chiến đổ bộ lên Quần đảo Chu Sơn, Chiết Giang nhưng chiến dịch đổ bộ lên đảo thất bại,Quốc quân giành thắng lợi trụ vững trên đảo. Ngày 14/11 Tưởng Giới Thạch từ Đài Loan bay tới Trùng Khánh,trở lại Chính phủ. Cùng ngày,quân Giải phóng chiếm Quế Lâm.Ngày 15/11 chiếm Quý Dương.Ngày 20/11 Lý Tông Nhân dời khỏi Hồng Kông.Ngày 30/11 Giải phóng quân tấn công Trùng Khánh. Cùng ngày,Giải phóng quân chiếm Nam Ninh. Chính phủ Quốc Dân rời về Thành Đô. Bạch Sùng Hy dời trụ sở về Hải Khẩu. Hoàng Kiệt dẫn đầu quân rút vào Việt Nam. Ngày 7/12 Chính phủ Quốc Dân quyết định chuyển về Đài Bắc,thiết lập căn cứ tại Tây Xương,đặt Bộ Tư lệnh tại Thành Đô.Ngày 10/12 Chủ tịch Chính phủ Tứ Xuyên Lưu Văn Huy, Đặng Tích Hầu,Chủ tịch Chính phủ Vân Nam Lư Hán công khai đầu hàng quân Trung Cộng tại Bành Huyện, Côn Minh.Giải phóng quân tiến vào Vân Nam, Tứ Xuyên một cách hòa bình.Ngày 16/12 Giải phóng quân chiếm lĩnh Lạc Sơn phía nam Tứ Xuyên.Ngày 18/12 chiếm lĩnh Kiếm Các.Lưu Văn Huy chiếm lĩnh Nhã An chặn đường rút của Quốc quân,Thành Đô bị bao vây lo lắng,ngày 26/12 Quốc quân rút quân. Hồ Tông Nam chuyển trụ sở về Tây Xương tiếp tục chiến đấu.Ngày 27/12 Quân Giải phóng chiếm được Thành Đô,chiến dịch Tây Nam kết thúc,Giải phóng quân tiêu diệt được hơn 900.000 Quốc quân,Chính phủ Quốc dân tại đại lục và tập đoàn quân chủ lực chính thức bị tiêu diệt. Ngày 28/12 sau chiến dịch Tân Độ Khẩu,Sư đoàn 181 quân Giải phóng từ Phù Giang chiếm Tam Đài,ngay lập tức chiếm Miên Dương. Ngày 27/3/1950,Giải phóng quân tiến vào Tây Xương,sau 4 tháng chiến dịch Tây Xương kết thúc.Ngày 5/3 Đệ tứ quân dã chiến bắt đầu chiến dịch Hải Nam,bằng thuyền gỗ quân Giải phóng vượt eo Quỳnh Châu đổ bộ lên Hải Nam,tới 1/5 chiếm được đảo Hải Nam.Sau khi đổ bộ lên đảo các chiến dịch quy mô lớn gần như kết thúc.Trong gần 4 năm Quân Giải phóng tiêu diệt được hơn 8 triêu quân Quốc quân,giành thắng lợi hoàn toàn. Từ 6/10-24/10/1950,Quân Giải phóng phát động chiến dịch Qamdo.Giải phóng quân Hạ Long, Bành Đức Hoài, Trần Canh chia quân từ Tây Khang, Thanh Hải, Vân Nam tiến vào Tây Tạng.Ngày 19/10 chiếm được trung tâm chính trị kinh tế Qamdo phía Đông Tây Tạng,,tiêu diệt được hơn chục nghìn quân Tây Tạng.Giải phóng quân mở rộng đường tiến vào Tây Tạng. Tháng 2/1951,Tây Tạng cử Ngapoi Ngawang Jigme làm đoàn đại biểu tới Bắc Kinh cùng Lý Duy Hán đại diện Chính phủ Nhân dân Trung ương đàm phán.Ngày 23/5/1951 Đoàn đại biểu tại Bắc Kinh đã ký "Hiệp ước thông báo biện pháp giải phóng hòa bình Tây Tạng giữa Chính phủ Nhân dân Trung ương và Chính phủ địa phương Tây Tạng".Ngày 1/12 Giải phóng quân do Trương Quốc Hoa, Phạm Minh tham gia lực lượng tại Lhasa,tới tháng 2 chiếm Gyangzê và Xigazê.Trung Cộng tuyên bố giải phóng hòa bình Tây Tạng. Cho tới nay, Đảng Cộng sản Trung Quốc chiếm được toàn bộ Trung Quốc đại lục, trừ Đài Loan. == Thành lập Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa == Quân Giải phóng Nhân dân tiếp tục tiến công trên toàn Quốc, đồng thời Hội nghị Chính trị Hiệp thương được diễn ra từ ngày 21-30/9/1949 tại Bắc Bình, tham gia Hội nghị gồm Đảng Cộng sản, Đảng Dân Minh và các đảng phái chính trị dân chủ.Hội nghị thông qua Hiến pháp tạm thời, đồng thời chuẩn bị công tác thành lập nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa,Bắc Bình được đổi tên thành Bắc Kinh và được chọn làm thủ đô. Hội nghị thống nhất Quốc hiệu,không sử dụng tên Trung Hoa Dân Quốc làm tên mới,sử dụng Quốc hiệu mới là Trung Hoa Nhân dân Cộng hòa là tên của Nhà nước mới. Xác định ngày 1/10/1949 làm ngày cử hành nghi thức thành lập nước. 2 giờ chiều ngày 1/10/1949,cử hành hội nghị thứ 1 Ủy ban Chính phủ Nhân dân Trung ương Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa,theo "Cương lĩnh Cộng đồng Hội nghị Hiệp thương Chính trị Nhân dân Trung Quốc", Mao Trạch Đông trở thành Chủ tịch Chính phủ Nhân dân Trung ương, Phó Chủ tịch bao gồm Chu Đức, Lưu Thiếu Kỳ, Tống Khánh Linh, Cao Cương, Lý Tế Thâm, Trương Lan;Chu Ân Lai trở thành Tổng lý Chính vụ viện Chính phủ Nhân dân Trung ương kiêm Bộ trưởng Bộ Ngoại giao, Chu Đức đảm nhiệm chức vụ Tổng Tư lệnh quân Giải phóng Nhân dân Trung Quốc.3 giờ chiều,nghi lễ thành lập chính thức bắt đầu, Mao Trạch Đông đứng trên lầu của Thiên An Môn tuyên bố thành lập Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa và Chính phủ Nhân dân Trung ương. Ngày 9/10 Hội nghị thứ nhất Ủy ban Hội nghị Hiệp thương Chính trị Nhân dân Trung Quốc khóa nhất khai mạc. Mã Tự Luân và Lâm Bá Cừ đề nghị lấy ngày 1/10 là ngày Quốc khánh,Mao Trạch Đông tán thành. Ngày 2/12 Chính phủ Nhân dân Trung ương quyết định "Thông báo quyết định Quốc khánh Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa", quyết định lấy ngày 1/10 hàng năm là ngày Quốc khánh. == Mặt trận thứ 2 == === Cải cách ruộng đất === Trong giai đoạn này Chính phủ Quốc Dân tức Chính phủ Trung Hoa Dân Quốc dựa vào Hiến pháp để lấy lòng người dân, đối đầu với Trung Cộng. Tháng 4/1947 Chính phủ lâm thời chuẩn bị sửa đổi Hiến pháp thông qua Nghị quyết của Hội nghị Chính trị Hiệp thương để sửa đổi, kết thúc chế độ độc Đảng, tiến hành cho phép các Đảng phái tham gia Chính phủ. Từ 21-23/11/1947 Quốc Dân Đảng tổ chức bầu cử lần đầu tiên Đại hội Quốc dân lần thứ 1, 3045 đại biểu trúng cử. Tháng 3/1948 Hội nghị thứ nhất Đại hội Quốc dân lần thứ 1 (Quốc hội khóa 1) được tiến hành để bầu Tổng thống và Phó Tổng thống. Tháng 5, Chính phủ Quốc dân chính thức hoạt động. Tháng 10/1945 Chính phủ Quốc dân công bố biện pháp giảm tô.Năm 1946 công bố "Luật Đất đai" Chính phủ mua đất từ các chủ sở hữu cung cấp cho người nghèo, đạt được đất cho dân cày. Năm 1948 Lập pháp Viện thông qua "Chương trình cải cách ruộng đất" quán triệt mục tiêu đất cho dân cày. Đến năm 1949 Chính phủ hoàn thành chương trình cải cách ruộng đất, dự kiến tới năm 1952 hoàn thành cơ bản mục tiêu đất cho dân cày. Đối với vùng chiếm đóng của Trung Cộng để cải cách ruộng đất, tháng 10 năm 1946 Hành chính viện công bố "Biện pháp xử lý ruộng đất tại khu vực bình định", Trung Cộng phải trả lại ruộng đất cho Chính phủ, Quốc quân chiếm sau, ruộng đất địa chủ không được quy hoàn toàn về nông dân. Do Trung Cộng tiến hành chống lại chính sách, địa chủ và dân quân tham gia Quốc dân sau khi về quê, thực tế các địa chủ dùng mọi thủ đoạn để trách tổn thất. Trung Cộng trong thời kỳ kháng chiến ra chính sách giảm tô, giảm tức, ban bố "Luật Đất đai Trung Quốc". Chính sách cơ bản chia ruộng đất phù hợp với bần nông, trung nông, phù nông và địa chủ. Địa chủ và phù nông bị thu, địa chủ bị phê bình đấu tố do đã bóc lột làm cho bần nông và điền nông nghèo đói. Năm 1947 cải cách ruộng đất vào thời kỳ cao trào, thu đất đai của trung nông lại tiếp tục phân chia. Do đó nông thôn xuất hiện tình trạng khủng bố, báo cáo được gửi từ Tấn Tuy "Đa phần quần chúng hoảng loạn, sản xuất ngưng trệ, cộng với thảm họa tọa tình trạng nghiêm trọng. Phú nông, địa chủ chạy trốn, ngay đối với bần nông cũng bỏ chạy". Đến những bần nông cũng bị tịch thu ruộng đất. "Người dân dùng muối nước để chết, và dùng lửa để thiêu". Lòng người hoảng loạn. Sau báo cáo, ngày 25/12/1947 Mao Trạch Đông tại Thiểm Bắc đã ra chỉ thị triển khai để báo cáo với Hội nghị Trung ương Trung Cộng, đề xuất phương châm cải cách ruộng đất "Bần nông liên hợp với trung nông tiêu diệt địa chủ giai cấp và quy tắc phú nông để đánh đổ chế độ phong kiến và bán phong kiến", nhấn mạnh "Kiên quyết duy trì đoàn kết trung nông, không gây tổn hại lợi ích trung nông", "cho dù phát sinh 1 hộ trung nông thành địa chủ, cũng phải xem xét sửa đổi toàn bộ". Sau đó Trung ương Trung Cộng và Mao Trạch Đông đầu năm 1948 liên tục ban hành chỉ thị, yêu cầu duy trì các chính sách không gây bất lợi với trung nông, cho trung nông sở hữu cao hơn chút ít. Phân ra thứ bậc tân phú nông và cựu phú nông, xem xét của cải của tân phú nông đãi ngộ cho trung nông. Yêu cầu được khoán của các địa phương trong cải cách ruộng đất cho địa chủ và phú nông là 10% dân cư. Sau sửa chữa năm 1948 cải cách ruộng đất trở lại bình thường và có trật tự === Cải cách Tài chính === Cuộc chiến nổ ra, thâm hụt ngân sách Chính phủ Quốc Dân ra tăng, buộc phải in thêm tiền dẫn tới tình trạng lạm phát tăng cao. Lượng vàng bị giảm sút đáng kể. Tháng 8/1948 Chính phủ phát hành "Kim viên khoán" trên danh nghĩa quy đổi ra vàng không giới hạn. Kim Viên Khoán được tung ra nhằm mục đích thu hút lượng vàng của người dân, thu đổi ngoại tệ. Do không có sự giới hạn cho sự quy đổi dẫn tới siêu lạm pháp.Nền kinh tế Quốc dân rơi vào tình trạng hỗn loạn. Tới tháng 7/1949 1 tỷ kim viên khoán cũng không đổi lấy được 1 USD, trong khi đó tháng 10/1948 1 tỷ kim viên bản tương đương 15 triệu lượng vàng. Tuy nhiên do tính toàn của Tưởng Giới Thạch về nguy cơ đại lục sẽ rơi vào tay của Trung Cộng nên đã chuyển toàn bộ số vàng quy đổi được ra Đài Loan.Tưởng Giới Thạch đã vận chuyển hơn 40 triệu lượng vàng, trong đó có 14 triệu lượng về lại đại lục, trong đó khoảng 5 triệu lượng vàng được sử dụng cho quân đội, khoảng 6 triệu được chi tiêu cho chính phủ Quốc Dân Đảng. Số vàng được cất giữ tại Đài Loan vào khoảng 35 triệu lượng, tương đương với 80 triệu quân dân mỗi người được chia 50 USD. Một phần số vàng này được dùng để hỗ trợ việc phát hành Tân Đài Tệ Quân Giải phóng ngày càng chiếm ưu thế trên chiến trường, để phát triển kinh tế cần có một đồng tiền thống nhất chung. Tháng 4/1947 Trung ương Trung Cộng thành lập "ban kinh tế Hoa Bắc" do Đổng Tất Võ làm chủ nhiệm, với nhiệm vụ tái thống nhất kinh tế tại vùng giải phóng và ra đồng tiền chung. Tháng 10/1947 thành lập Ngân hàng Nhân dân Trung Quốc lâm thời. Ngày 1/12/1948 Ngân hàng Nhân dân Trung Quốc được chính thức thành lập tại Thạch Gia Trang,Hà Bắc,đồng thời phát hành tờ Nhân dân tệ. === Biểu tình sinh viên === Đảng Cộng sản Trung Quốc tại sau tuyền tuyến thông qua hoạt động bí mật của Đảng viên, kích động biểu tình trong tầng lớp sinh viên, đặc biệt tháng 5/1947 tại Thượng Hải, Nam Kinh sinh viên Đại học xuống đường tuần hành "Chống nạn đói, chống nội chiến",cuộc tuần hành của sinh viên đã bị quân đội đàn áp đẫm máu. Đảng Dân chủ Đồng minh Trung Quốc, đảng phái hỗ trợ Trung Cộng vào tháng 10/1947 trước khi bị cấm đã phối hợp với Trung Cộng tích cực tuần hành biểu tình cùng sinh viên đấu tranh. Ngày 15/8/1948 Bộ Giáo dục Chính phủ Dân quốc thống kê "học sinh sinh viên trong vòng 1 năm đã biểu tình tuần hành 109 lần, trì hoãn việc học tập 506 ngày, biểu tình trên 18 thành phố quan trọng". Danh sách các cuộc biểu tình lớn của học sinh sinh viên từ cuối năm 1946-10/1949 === Tình báo và tuyên truyền === Ngoài ra, Trung Cộng có đội ngũ tình báo trong Chính phủ Quốc Dân như Lưu Phỉ, Hùng Hướng Huy, Quách Nhữ Côn cung cấp nhiều thông tin quan trọng cho sách lược của Đảng Cộng sản Trung Quốc. Ngoài ra con gái của Phó Tác Nghĩa là Phó Đông Cúc là nữ tình báo trong hàng ngũ của Đảng Cộng sản Trung Quốc. == Thống kê thương vong == === Trung Hoa Dân Quốc Quốc quân === Theo số liệu thống kê của Quân Giải phóng Nhân dân, tổng số quân Quốc quân bị tiêu diệt là 5542470 quân chính quy, 2528880 quân không chính quy. Tổng ước đạt hơn 8 triệu quân. Số quân bị tiêu diệt theo thời gian: Giai đoạn 1 (7/1946-6/1947):Quốc quân bị thương vong 426000 người, bắt làm tù binh 677000 người, nổi dậy 17000 người. Tổng 1120000 người Giai đoạn 2 (7/1947-6/1948):Quốc quân bị thương vong 540000 người, bắt làm tù binh 953000 người, nổi dậy 28000 người. Tổng 1521000 người Giai đoạn 3 (7/1948-6/1949):Quốc quân bị thương vong 572000 người, bắt làm tù binh 1834000 người,đầu hàng 243000 người, nổi dậy 131000 người, cải biên 271000. Tổng 3050000 người Giai đoạn 4 (7/1949-6/1950):Quốc quân bị thương vong 173000 người, bắt làm tù binh 1123000 người,đầu hàng 391000 người, nổi dậy 671000 người, cải biên 22000. Tổng 2380000 người Tổng kết Quốc quân bị thương vong 1711000, bắt làm tù binh 4587000, đầu hàng 634000, nổi dậy 847000, cải biên 293000. Tổng 8071520. === Quân Giải phóng Nhân dân === Quân Giải phòng Nhân dân:Tử trận 260000 người, mất tích và đầu hàng 190000 người, 850000 người bị thương.Tổng số thương vong 1300000 người (bao gồm dân quân tiến tuyến) == Ảnh hưởng == === Di tản === Trước và sau cuộc Nội chiến, nhiều người Trung Quốc đã di tản khỏi Trung Quốc đại lục để tránh chiến tranh. Các điểm đến thường là Hong Kong thuộc Anh, Đài Loan, Hoa Kỳ. Trong số ấy có Hồ Thích, Kim Dung và Đường Đức Cương. === Quan hệ quốc tế === Sau cuộc Nội chiến, Hoa Kỳ điều chỉnh chính sách với Trung Quốc. Tổng thống Truman phát biểu ngày 5/1/1950 sẽ không bảo vệ Đài Loan, chỉ hỗ trợ kinh tế cho Đài Loan. Sau khi chiến tranh Triều Tiên nổ ra, Hạm đội 7 Hoa Kỳ tiến vào eo biển Đài Loan, và sau đó thiết lập bảo vệ Đài Loan khỏi Trung Cộng. Trung Quốc Đại lục tham gia phe Liên Xô, tiền hành cuộc đối đầu Đông-Tây. === Phân vùng 2 bên === Sau khi kết thúc Nội chiến, Trung Quốc lục địa tạm thời ổn định, nhưng tại Tây Nam và một số hòn đảo tại Đông Nam vẫn có các cuộc xung đột lẻ tẻ. Sau khi giải phóng Thành Đô, quân Giải phóng Trung Quốc không thể tấn công quy mô lớn các trận chiến du kích của tàn dư còn lại của Quốc quân. Sư đoàn 93 Quốc quân rút về phía biên giới Thái Miến khu vực đang khủng hoảng. Năm 1954 Miến Điện yêu cầu Đài Loan rút quân ra Liên Hợp Quốc. Số quân đóng tại Miến Điện được đưa về Đài Loan, số quân còn lại vẫn đóng tại Bắc Thái. Do Thái Lan khi ấy chống Cộng sản nên đã cấp Quốc tịch Thái Lan cho số quân ấy. === Phúc Kiến === Phúc Kiến khu vực giáp với eo biển Đài Loan. Là khu vực đối đầu trực tiếp của cả 2 bên. Những năm 1950-1970 tập trung quân sự, kinh tế giảm sút. Sau những năm 1980, mối quan hệ 2 bên thay đổi, với sự mở cửa của kinh tế Trung Quốc, Phúc Kiến bắt đầu phát triển. == Tham khảo ==
kẻ trộm mặt trăng 2.txt
Despicable Me 2 (tạm dịch: Tôi ti tiện, phát hành ở Việt Nam dưới tên Kẻ trộm Mặt Trăng 2) là một bộ phim hoạt hình 3D của hãng Universal Pictures và do Illumination Entertainment sản xuất, được công chiếu ở Úc vào ngày 5 tháng 6 năm 2013 và tại các rạp ở Mỹ vào ngày 3 tháng 7 năm 2013. Bộ phim là phần tiếp theo của Kẻ trộm mặt trăng được sản xuất vào năm 2010, cả hai bộ phim điều do Pierre Coffin và Chris Renaud làm đạo diễn, đồng thời Cinco Paul và Ken Daurio viết kịch bản. == Chú thích == == Liên kết ngoài == Website chính thức Despicable Me 2 tại Internet Movie Database Despicable Me 2 tại Big Cartoon DataBase Despicable Me 2 tại Rotten Tomatoes Despicable Me 2 tại Metacritic Despicable Me 2 tại Box Office Mojo
bolton wanderers f.c..txt
Câu lạc bộ bóng đá Bolton Wanderers (biệt danh The Trotters) là một câu lạc bộ bóng đá chuyên nghiệp của Anh, đặt tại Horwich, Bolton thuộc thành phố Manchester, phía Tây Bắc nước Anh. Bolton hiện đang chơi tại giải vô địch bóng đá Anh (League Championship) Là một trong những thành viên sáng lập giải bóng đá nhà nghề, Bolton là đội bóng thành công của thập niên 1920, họ đã từng 3 lần vô địch cúp FA, và một lần giành cúp FA Charity Shield. Câu lạc bộ này từng có quãng thời gian tồi tệ thì phải chơi ở giải hạng tư trong mùa giải 1987, họ trở lại giải hạng nhất năm 1995 sau 15 năm vắng bóng. Mùa 2005-2006 CLB lần đầu tiên tham dự cúp châu Âu, vào đến vòng 1/32 của cúp UEFA. Mùa 2007–08. Bolton kết thúc mùa bóng với vị trí thứ 7 chung cuộc. Bolton Wanderers chuyển đến sân vận động mới Reebok năm 1997 thay thế cho sân cũ Burnden Park. == Thành tích == === Trong nước === FA Cup: 5 1906, 1933, 1958, 1974, 2005 Carling Cup: 2 1976, 2004 FA Community Shield: 3 1981, 1988, 2002 == Đội hình hiện tại == Số liệu thống kê chính xác tới 1 tháng 9 năm 2015 Ghi chú: Quốc kỳ chỉ đội tuyển quốc gia được xác định rõ trong điều lệ tư cách FIFA. Các cầu thủ có thể giữ hơn một quốc tịch ngoài FIFA. === Cho mượn === Ghi chú: Quốc kỳ chỉ đội tuyển quốc gia được xác định rõ trong điều lệ tư cách FIFA. Các cầu thủ có thể giữ hơn một quốc tịch ngoài FIFA. == Tham khảo ==
tội phạm tại cộng hoà nhân dân trung hoa.txt
Tội phạm tại Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa hiện diện dưới nhiều hình thức khác nhau. Các hình thức tội phạm phổ biến gồm buôn bán ma túy, rửa tiền, lừa đảo, buôn người, tham nhũng, buôn chợ đen và lưu thông tiền giả. == Lịch sử == Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa thành lập vào năm 1949. Trong giai đoạn từ 1949 đến 1956, quá trình chuyển đổi phương tiện sản xuất từ tư hữu sang công hữu đã được hoàn thành. Trong giai đoạn này, chính phủ mới đã dẹp tan ảnh hưởng của các băng nhóm tội phạm và đẩy lùi nạn ma tuý và cờ bạc. Do những cải cách đó, tỉ lệ tội phạm trong nước giảm đi đáng kể. Ở giai đoạn từ 1949 đến 1956, những tội phạm phi chính trị diễn ra chủ yếu là nạn trộm cắp, đốt phá, hiếp dâm, giết người và cướp bóc. Phần lớn tội phạm kinh tế là những tư bản trốn thuế, lấy trộm tài sản công cộng và tham gia vào hối lộ. Một số tội phạm kinh tế là các quan chức chính phủ có liên quan đến đến việc chiếm đoạt tài sản công và nhận hối lộ. Giữa năm 1957 và 1965, ở một số vùng nông thôn không có sự cố tội phạm nào xảy ra và mức độ an ninh công cộng nói chung là tốt. Nhưng sau đó tỉ lệ tội phạm gia tăng. Năm 1981 tiêu biểu cho một năm đỉnh cao tội phạm chưa từng có trước đây ở trong nước. Điều này xảy ra ngay sau cải cách kinh tế vào cuối những năm 1970, trong đó có cho phép một số yếu tố của nền kinh tế thị trường. Dưới đây là một báo cáo so sánh các trường hợp tội phạm từ 1977 đến 1988 (không bao gồm tội phạm kinh tế): Tội phạm thanh thiếu niên tăng nhanh trong những năm 1980, chiếm 60,2% tổng số tội phạm năm 1983, 63,3% vào năm 1984, 71,4% vào năm 1985, 72,4% vào năm 1986 và 74,3% vào năm 1987. Số lượng tội phạm chạy trốn gia tăng trong những năm qua. Tội phạm kinh tế tăng lên trong những năm gần đây. Từ năm 1982 đến 1988, tổng số tội phạm kinh tế là 218.000. Năm 1989, tổng cộng 76.758 trường hợp vi phạm kinh tế đã được thống kê sổ sách, trong đó gồm hối lộ, buôn lậu và trốn thuế. Những thay đổi trong chính sách kinh tế đã có ảnh hưởng đến những đặc thù tội phạm. Kể từ Đại hội Toàn thể lần thứ ba của Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc thứ mười một, tội phạm đã tăng lên dưới nhiều hình thức đa dạng. == Tình hình hiện nay == Mặc dù Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa áp dụng hệ thống pháp luật độc nhất của Đảng Cộng sản Trung Quốc, sức mạnh tội phạm cũng đủ mạnh mẽ và nạn tham nhũng vẫn phổ biến giữa các nhân viên chính phủ. Các tổ chức tội phạm đã có nhiều vũ khí và phương tiện mà thường có chất lượng tốt hơn so với vũ khí và phương tiện của lực lượng cảnh sát. Năm 1995, hơn 100.000 vũ khí bất hợp pháp loại nhỏ bị phát hiện và thu giữ trên toàn quốc. Từ tháng 1 đến tháng 7 năm 1996, khoảng 300.000 vũ khí bất hợp pháp loại nhỏ bị thu giữ từ 14 tỉnh trong nước. Nhiều loại tội phạm bạo lực khác nhau đã trở nên phổ biến ở Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa. Một số nhà hàng và khách sạn trong nước tống giá cao với khách hàng, và những người phản kháng bị đánh đập hoặc bị giam giữ. Nạn đe dọa đối thủ trong hoạt động kinh doanh diễn ra phổ biến. Tham nhũng là tệ nạn diễn ra phổ biến giữa các nhân viên chính phủ. Giữa năm 1978 và 2003, ước tính các quan chức tham nhũng đã lén đưa ra nước ngoài khoảng 50 tỷ đô la Mỹ. Một phán quyết pháp lý có thể thay đổi từ có tội thành vô tội, án tử hình có thể biến thành vô tội và thời hạn bị cầm tù có thể được giảm xuống bởi các quan chức hối lộ. Lực lượng vũ trang sử dụng tàu hải quân và máy bay cho các hoạt động buôn lậu khác nhau. Các trạm cảnh sát thường mở nhà cờ bạc bí mật, hoặc họ có thể tự tìm được sự bảo hộ. Năm 2009, 106.000 công chức ở Trung Quốc bị kết án tham nhũng. Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa là một nguồn cung cấp, quá cảnh và là nước mà phụ nữ, nam giới và trẻ em bị buôn bán được đưa đến bởi nhiều mục đích khác nhau. Đa số việc buôn bán ở quốc gia này diễn ra nội bộ và nạn buôn người trong nước là vấn đề chủ yếu. Khoảng 10.000 đến 20.000 nạn nhân bị buôn bán mỗi năm. Ngoài ra còn có việc buôn bán công dân Trung Quốc sang quốc tế. Phụ nữ bị dụ dỗ thông qua các lời hứa giả dối về việc làm hợp pháp, sau cùng chuyển thành khai thác tình dục thương mại tại Đài Loan, Thái Lan, Malaysia, và Nhật Bản. Nam giới Trung Quốc bị buôn lậu sang các nước trên toàn thế giới để thành lao động bị bóc lột. Phụ nữ và trẻ em từ Mông Cổ, Miến Điện, Bắc Triều Tiên, Nga và Việt Nam bị buôn bán sang Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa để làm lao động cưỡng bức và nô lệ tình dục. Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa là một điểm trung chuyển chính cho heroin sản xuất ở Tam giác Vàng. Nạn lạm rồng ma túy trong nước là một vấn đề lớn ở quốc gia này. Ước tính lượng tiêu thụ ma tuý bất hợp pháp trong nước là 17 tỷ đô la Mỹ. == Tham khảo == == Liên kết ngoài == China Black Markets Thông tin về thị trường tội phạm ở Trung Quốc. (tiếng Anh) Keeping a Lid on Crime Bài viết trên tạp chí về tỉ lệ tội phạm ở Trung Quốc. (tiếng Anh)
phần mềm xách tay.txt
Portable application, còn gọi là portable software, tạm dịch là phần mềm xách tay, là phần mềm không cần phải cài đặt vào máy tính mà có thể trực tiếp chạy từ thiết bị lưu trữ ngoại vi như CD-ROM, USB flash drive, thẻ nhớ hay thậm chí từ đĩa mềm, có khả năng chạy được trên nhiều máy tính. Nói như vậy không có nghĩa là phần mềm xách tay có thể hoạt động được trên những hệ điều hành khác nhau, nền tảng khác nhau hoặc những máy tính không đủ đáp ứng yêu cầu về phần cứng (Ví dụ: Một phần mềm xách tay vốn được tạo ra từ phần mềm gố chỉ tương thích với hệ điều hành Linux thì không thể hoạt động trong hệ điều hành Windows). Một số gọi portable software là standalone. == Portable Software cho môi trường Windows == Phần lớn phần mềm viêt́ cho Microsoft Windows không được thiết kế để có thể portable hóa. Windows registry, nơi quản các thư viện liên kết động .dll luôn luôn yêu cầu đăng ký thông tin về phần mềm trước khi sử dụng. Một số phần mềm lớn như ví dụ như Adobe Photoshop và Microsoft Word luôn sử dụng bộ đăng ký, và lưu trữ các tệp thông tin tại thư mục "My Documents" hoặc "Documents and Settings". Để có thể tạo ra các ứng dụng portable, các nhà lập trình phải làm cho phần mềm của họ có thể được chuyển khỏi máy tính một cách "sạch sẽ". Điều này đồng nghĩa với việc ứng dụng khoong được sử dụng registry hay lưu trữ các tập tin vào bất kỳ thư mục nào trên máy tính ngoài thư mục ứng dụng được cài đặt. Khi được cài đặt vào các thiết bị lưu trữ có thể tháo rời, chương trình cần lưu các cấu hình trong một tập tin INI file (hoặc các file cấu hình tương tự) thay vì registry. Cũng có phương thức khác cũng có thể được sử dụng để biến ứng dụng thành ứng dụng portable trong môi trường Windows mà không đòi hỏi thay đổi về mã nguồn. Thông qua sử dụng ảo hóa, truy cập tới file system và registry của ứng dụng sẽ bị chặn lại và chuyển hướng. Lớp ảo hóa này sẽ chặn tất cả các lệnh truy cập mà có thể làm ứng dụng không portable được và chuyển hướng tới các tập tin trong thư mục cài đặt của ứng dụng. Phương thức này cho phép không thay đổi ứng dụng mà có thể cung cấp khả năng portable. == Portable Software cho môi trường Macintosh == Rất nhiều ứng dụng cho máy tính Macintosh OS X có một mức độ portable sẵn có vì chúng được cài đặt thông qua kéo thả thay vì sử dụng các bộ Installer. Tuy nhiên nhiều ứng dụng khác không thực sự portable vì chúng lưu trữ các file cấu hình trên đĩa lắp trong nơi hệ điều hình được cài đặt. Các ứng dụng Mac được thiết kế với mục đích portable sẽ lưu trữ cấu hình tại ổ đĩa mà ứng dụng được chạy.. == Ứng dụng của phần mềm Portable == Ứng dụng Portable xuất hiện để đáp ứng nhu cầu của các cá nhân là người sử dụng cuối cùng cũng như nhu cầu của các doanh nghiệp. Đối với các cá nhân, cùng với việc sử dụng thẻ nhớ xách tay USB chứa các dữ liệu cá nhân, họ có nhu cầu có thể truy cập dữ liệu này từ bất kỳ nơi nào trên bất kỳ máy tính nào. Vì vậy họ cần có các ứng dụng có khả năng chạy từ ổ đĩa USB trong đó lưu trữ mọi cấu hình mà họ đã thiết lập. Một số phần mềm được thiết kế cho mục đích này và do vậy có khả năng portable. Đối với các doanh nghiệp, việc quản trị cài đặt, cấu hình, nâng cấp, bảo dưỡng cho các ứng dụng trong một môi trường có hàng trăm hay hàng nghìn máy tại các địa điểm khác nhau là một vấn đề khó khăn. Chúng ta có thể tưởng tượng một ngân hàng hoạt động trên quy mô cả nước với hàng nghìn chi nhánh và hàng chục nghìn máy lẻ và họ muốn nâng cấp một phần mềm. Để làm được điều này, theo cách thông thường, sẽ phải tới từng máy tính một và thực hiện các thao tác cài đặt và cấu hình trên máy tính đó. Phần mềm Portable sẽ giải quyết hiệu quả bài toán này thông qua việc thực hiện và cài đặt trên 1 máy và sau đó copy phần mềm đó tới tất cả các máy mà không cần phải cấu hình. == Vấn đề bản quyền == Vi phạm bản quyền là một vấn đề khá phổ biến trong các phần mềm xách tay nhờ khả năng "copy và chạy" của phần mềm portable. Các nhóm cung cấp phần mềm vi phạm bản quyền có xu hướng cung cấp phần mềm dưới dạng portable vì chúng được download nhiều hơn do dễ sử dụng, thường có dung lượng lớn hơn và vì vậy có doanh thu hoặc nhiều điểm hơn tại các máy chủ hosting. So với cách cung cấp phần mềm vi phạm bản quyền theo cách thông thường gồm phần cài đặt chính thức của phần mềm và số serial đăng ký, phần mềm tạo số serial tự động hoặc một bản chương trình đã bẻ khóa, phân phối phần mềm vi phạm bản quyền dưới dạng portable có nhiều ưu điểm hơn với người sử dụng cuối như không phải cài đặt, đảm bảo khả năng chạy là 100% cũng như với người cung cấp như bắt buộc phải tải 100 ứng dụng, giấu được cách bẻ khóa, lưu danh v.v. Rất nhiều phần mềm của các công ty lớn, rất quen thuộc và có giá trị khá cao "bị portable hóa", ví dụ như Microsoft Office; Adobe Photoshop CS2,3; Nero; Norton Antivirus. Nói chính xác, portable chỉ là một dạng phát hành khác của các phần mềm vi phạm bản quyền và vi phạm bản quyền hay không là do người sử dụng cuối cùng. == Tạo phần mềm portable sử dụng Thinstall == Thinstall là giải pháp đơn giản để biến đổi một phần mềm Windows sang dạng portable. Để tạo một phần mềm Portable, chỉ cần thực hiện các thao tác sau: 1. Chạy Thinstall và quét cấu hình hệ thống (Pre-install scan). Thông thường một phiên bản sạch của điều hành được sử dụng để đảm bảo tất cả thay đổi sau này sẽ được phát hiện. Thinstall sẽ quét và lưu giữ một ảnh chụp của hệ thống hiện tại gồm các tập tin trên đĩa và trạng thái registry 2. Cài đặt và cấu hình ứng dụng: Cài đặt và cấu hình ứng dụng như bình thường 3. Chạy Thinstall và quét lại cấu hình hệ thống (Post-install scan). Thinstall quét lại hệ thống, phát hiện ra các tập tin và khóa registry đã bị thay đổi trong quá trình cài đặt và đưa vào một thư mực riêng. 4. Chạy file batch để biên dịch ứng dụng portable. Phần mềm biên dịch sẽ gộp các file và khóa registry ở bước 3 vào một hệ điều hành ảo và gộp vào một file. 5. Phát hành file đã được biên dịch == Tham khảo thêm == Danh sách các phần mềm xách tay Danh sách trò chơi trên máy tính (xách tay) == Tham khảo == == Liên kết ngoài == klik - Portable Software cho HĐH Linux OS X Portable Applications - FreeSMUG.org - Mac OS X Portable Software. Portable Freeware - Chỉ là danh sách các phần mềm có thể portable hóa. Tuuko-Free Portable Software - Chỉ là danh sách các phần mềm có thể portable hóa. Thinstall-Thinstall là công nghệ ảo hóa ứng dụng hàng đầu trong môi trường Windows. Hướng dẫn tạo ứng dụng Portable Tạo ứng dụng Portable đơn giản sử dụng Thinstall.
san antonio.txt
San Antonio là thành phố lớn thứ hai của tiểu bang Texas và là thành phố lớn thứ 7 ở Hoa Kỳ. Nằm trên vùng phía bắc của miền Nam Texas, thành phố này là một cửa ngõ văn hóa vào vùng Tây Nam Hoa Kỳ. San Antonio là quận lỵ của Quận Bexar với một dân số 1,2 triệu người theo điều tra dân số của Cục điều tra dân số Hoa Kỳ năm 2006. Vùng đô thị có dân số 1,9 triệu và là vùng đô thị lớn thứ 29 ở Hoa Kỳ. San Antonio được đặt tên theo một vị thánh người Bồ Đào Nha là Thánh Antôn thành Padova, có ngày hội vào thời điểm (13 tháng 6) một đoàn thám hiểm Tây Ban Nha dừng lại ở khu vực này vào năm 1691. Thành phố là nơi có nhiều đơn vị quân đội đóng quân, ở đây có Fort Sam Houston, Căn cứ không quân Lackland, Căn cứ không quân Randolph, và Căn cứ thành phố Brooks, với Trại Bullis và Trại Stanley ngay bên ngoài thành phố. San Antonio có Trung tâm Y tế Nam Texas, là trung tâm nghiên cứu y tế và chăm sóc sức khỏe lớn nhất và duy nhất ở vùng Nam Texas. Thành phố này nổi thiếng với River Walk, Alamo, văn hóa Tejano, các công viên giải trí SeaWorld San Antonio, Six Flags Fiesta Texas, thành phố thu hút 20 triệu khách thăm qua mỗi năm. San Antonio cũng là nơi có bảo tàng nghệ thuật hiện đại đầu tiên ở Texas—Bảo tàng Nghệ thuật Marion Koogler McNay, cũng như có một trong những đội Hiệu hội bóng rổ quốc gia thành công nhất trong lịch sử của liên đoàn, đó là San Antonio Spurs. == Lịch sử == == Khí hậu == == Tham khảo ==
rio de janeiro.txt
Rio de Janeiro (phát âm IPA [ˈʁiu dʒi ʒaˈneiɾu]; theo tiếng Bồ Đào Nha nghĩa là "sông tháng Giêng") (phiên âm: Ri-ô-dê-gia-nây-rô) là thành phố tại bang cùng tên (Bang Rio de Janeiro) ở phía nam của Brasil với diện tích 1260 km² và dân số là 5.613.000 người. Thành phố này đã từng là thủ đô của Brasil giai đoạn 1763-1960 và của Đế quốc Bồ Đào Nha từ 1808-1821. Thành phố thường được gọi tắt là Rio và nickname là A Cidade Maravilhosa (thành phố kỳ diệu). Vùng đô thị Rio de Janeiro có dân số lên đến 11.620.000 dân. Thành phố này nổi tiếng với phong cảnh tự nhiên, các lễ hội carnival và nhạc samba và các loại hình âm nhạc khác, các bãi biển. Ở đây có bức tượng lớn của Đức Jesus đứng trên đỉnh núi nhìn ra biển. Sân bay quốc tế Galeão - Antônio Carlos Jobim kết nối thành phố Rio de Janeiro với các tuyến điểm Brasil và các thành phố trên thế giới. Dù có vẻ đẹp và sự quyến rũ, thành phố này vẫn là một trong những thành phố bạo động nhất thế giới. == Địa lý == Rio de Janeiro nằm trên một dãi dọc theo bờ biển Đại Tây Dương của Brasil, gần chí tuyến nam, nơi có bờ biển chạy theo hướng đông-tây. Hướng phần lớn về phía nam, thành phố được thành lập trên một eo biển thuộc vịnh Guanabara (Baía de Guanabara), và lới vào của eo biển này được đánh dấu bởi một điểm trên đất liền được gọi là "Pão de Açúcar" – "calling card" của thành phố. Trung tâm (Centro) của Rio nằm trên các đồng bằng của bờ biển phía tây vịnh Guanabara. Phần lớn hơn của thành phố thường được gọi là vùng phía Bắc kéo dài về hướng bắc trên các đồng bằng được cấu tạo bởi trầm tích biển và lục địa và trên các quả đồi cũng như các núi đá. Phần phía nam của thành phố kéo dài đến các bờ biển nô ra vùng biển mở, bị các núi ven biển chia cắt với phần trung tâm và phía bắc. Các núi và đồi này là những nhánh của Serra do Mar kép dài về phía tây nam, một dãi núi cấu tạo bởi gneiss-granite cổ tạo thành các sườn phía nam của cao nguyên Brazil. Vùng phía tây rộng lớn kéo dài bị phân cắt bởi các địa hình núi, đã được nối liền bởi các đường bộ và đường hầm mới vào cuối thế kỷ 20. Dân số của thành phố Rio de Janeiro định cư trên một khu vực có diện tích 1182,3 km2, vào khoảng 6.000.000. Dân số của vùng đại đô thị này vào khoảng 11–13.5 triệu. Thành phố này từng là thủ đô của Brazil cho đến năm 1960, khi Brasilia được chọn làm thủ đô. == Khí hậu == Rio thuộc vùng khí hậu savan nhiệt đới rất gần với ranh giới khí hậu nhiệt đới gió mùa theo phân loại khí hậu của Köppen, và thường đặc trưng bởi thời gian mưa kéo dài từ tháng 12 đến tháng 3 năm sau. Ở các khu vực thuộc đất liền của thành phố, nhiệt độ trên 40 °C thường xuất hiện trong suốt hè mặc dù hiếm gặp trong các giai đoạn dài trong khi nhiệt độ tối đa trên 27 °C có thể xuất hiện trong một tháng (monthly basis). Dọc theo bờ biển, gió thay đổi hướng thường xuyên tạo ra nhiệt độ ôn hòa. Do vị trí địa lý, thành phố thường thường hứng chịu các đợt lạnh kéo đến đầu tiên từ Nam Cực đặc biệt vào mùa thu và đông làm cho thời tiết thay đổi thường xuyên. Hầu hết trong mùa hè các đợt mưa rào thường gây ra lũ và lở đất. Các vùng núi có lượng mưa lớn hơn vì chúng là lá chắn luồn gió ẩm thổi đến từ Đại Tây Dương. Có người từng nói rằng thành phố từng hứng chịu các đợt sương giá trong quá khứ, nhưng thông tin này không bao giờ được xác nhận. Một số khu vực thuộc bang bang Rio de Janeiro từng có mưa đá nhưng không thường xuyên (hiện tượng này hiếm gặp hoặc chỉ xảy ra hạn chế trong một vài vùng thuộc vùng đại đô thị và các vùng ngoại ô phía tây của thành phố), mỗi 2 thập kỷ hoặc ít hơn ở một số khu vực, và ở những khu vực khác có tuyết trên một lần trong mỗi thế kỷ, chủ yếu ở các thành phố Resende và Itatiaia (vĩ độ thấp hơn so với Rio de Janeiro, nhưng ở độ cao lớn hơn), các khu vực lạnh nhất ở bên dưới Nam Brasil, và nhiều phần là có sương giá. Nhiệt độ trung bình thấp nhất nhàng năm là 21 °C, nhiệt độ trung bình cao nhất hàng năm là 27 °C, và nhiệt độ trung bình hàng năm là 23 °C. Lượng mưa trung bình hàng năm là 1.175 mm. Theo INMET, nhiệt độ thấp nhất ghi nhận được là 4,8 °C vào tháng 7 năm 1928 ở Campo dos Afonsos bairro (tiếng Bồ Đào Nha là "vùng lân cận"), và nhiệt độ tuyệt đối cao nhất là 44 °C vào tháng 2. Nhiệt độ thấp nhất từng xảy ra trong thế kỷ 21 cho đến nay là 8,1 °C ở Vila Militar vào tháng 7 năm 2011. Temperatures below 10 °C (50 °F) are very rare in the city. The temperature varies according to elevation, distance from the coast, and type of vegetation. Winter brings mild temperatures and less rain than in the summer. Nhiệt độ trung bình hàng năm của biển là dao động 23-24 °C, từ 22 °C trong giai đoạn tháng 7-10 đến 26 °C trong tháng 2 và tháng 3. The wettest and driest months tend to be December and August respectively. == Thiên nhiên == Rio de Janeiro được mệnh danh là thành phố giữa núi và biển với những bãi biển cát trắng trải dài, thảm thực vật của Vườn quốc gia Tijuca và Vườn bách thảo, đỉnh núi Corcovado (với bức tượng chúa Kitô nổi tiếng), những ngọn đồi xung quanh vịnh Guanabara.. tất cả tạo ra một sự hài hòa giữa một đô thị đông dân cư, góp phần cho phong cảnh văn hóa sống ngoài trời của thành phố. Với những giá trị văn hóa, các công trình kiến trúc hài hòa với núi và biển, UNESCO đã công nhận Rio de Janeiro là di sản thế giới vào năm 2012 với các khu vực bao gồm: Bức tượng chúa Kitô, Vườn bách thảo, các công trình dọc bờ biển Copacabana, các công trình ở các ngọn đồi quanh Guanabara, công viên văn hóa của thành phố. == Nhân khẩu học == Theo Viện Địa lý và Thống kê Brasil, năm 2010 thành phố có 5.940.224 người định cư. Trong đó 3.234.812 là người da trắng (51,2%), 2.307.104 là người da nâu (36.5%), 724,197 là người da đen (11.5%), 46,484 người Đông Á (0.7%), 6,320 là người Amerindian (0.1%). Năm 2010, Rio de Janeiro là thành phố đông dân thứ 2 Brasil sau São Paulo. Năm 2010, thành phố có 1.200.697 cặp vợ chồng khác giới, và 5.612 cặp đồng giới (xem thêm quyền LGBT ở Brazil). Dân số của Rio de Janeiro gồm 53,2% nữ và 46,8% nam. Trước khi người châu Âu đến thuộc địa hóa, có ít nhất bảy dân tộc bản địa và nói 20 ngôn ngữ trong vùng này. Một phần trong đó sử dụng tiếng Bồ Đào Nha và một nhóm khác sử dụng tiếng Pháp. Những người nói tiếng Pháp sau đó bị tiêu diệt bởi những người Bồ Đào Nha, trong khi phần khác đã bị đồng hóa. Rio de Janeiro là nơi định cư của phần lớn dân người Bồ Đào Nha ở ngoài Lisbon ở Bồ Đào Nha. Sau khi độc lập khỏi Bồ Đào Nha, Rio de Janeiro trở thành nơi đến của hàng trăm ngàn người di cư khỏi Bồ Đào Nha, chủ yếu trong đầu thế kỷ 20. Người nhập cư chủ yếu là nông dân nghèo sau đó họ tìm thấy sự hưng thịnh khi làm công nhân và tiểu thương ở Rio. Sự ảnh hưởng văn hóa của Bồ Đào Nha vẫn còn ở một số nơi trong thành phố (và các nơi khác của Rio de Janeiro), bao gồm kiến trúc và ngôn ngữ — hầu hết mỗi người bản địa của Brazil có liên kết văn hóa với Rio và nơi sinh sống biết cách làm thế nào để dễ dàng làm phân biệt giữa fluminense và các tiếng địa phương Brasil khác. Cộng đồng người da đen được hình thành từ những cư dân mà tổ tiên của họ bị bán làm nô lệ, hầu hết từ Angola hoặc Mozambique, cũng như phần lớn người gốc Angolan, Mozambican và Tây Phi ở các phần khác của Brazil. Vũ điệu samba (từ Bahia với ảnh hưởng của Angolan) và các phiên bản lễ hội carnival địa phương nổi tiếng (từ châu Âu) đầu tiên chịu sự ảnh hưởng của cộng đồng da đen ở Rio. == Kinh tế == Rio de Janeiro có GDP lớn thứ 2 trong nhóm các thành phố ở Brasil xếp sau São Paulo. Theo IBGE, GDP năm 2008 khoảng 201 tỉ USD, ciếm 5,1% GDP toàn quốc. Lĩnh vực dịch vụ chiếm tỉ lệ lớn nhất (65,52%), xếp sau là từ thuế (23,38%), công nghiệp (11,06%) và nông nghiệp (0,04%). == Giáo dục == Tiếng Bồ Đào Nha là quốc ngữ và là ngôn ngữ được giảng dạy chính thức tại các trường. Tiếng Anh và tiếng Tây Ban Nha cũng một phần cũng được giảng dạy chính thức trong chương trình đào tạo tại các trường trung học. Ngoài ra, cũng có các trường quốc tế như American School of Rio de Janeiro, Our Lady of Mercy School, Corcovado German School, Lycée Français và British School of Rio de Janeiro. === Các cơ sở giáo dục === Thành phố có nhiều trường đại học. Bộ Giáo dục Brasil đã xác nhận có khoảng 99 cơ sở đào tạo bậc trung học trở lên ở thành phố này. Some notable higher education institutions are: Đại học liên bang Rio de Janeiro (UFRJ); Đại học Rio de Janeiro (UERJ); Đại học liên bang Rural do Rio de Janeiro (UFRRJ); Đại học liên bang Fluminense (UFF); Đại học Công giáo Rio de Janeiro (PUC-Rio); Getúlio Vargas Foundation (FGV); Học viện Kỹ thuật quân sự (IME); Viện Công nghệ Khoa học máy tính Rio de Janeiro (IST-Rio); Đại học liên bang tại Rio de Janeiro (UNIRIO); Đại học Estácio de Sá (UNESA); Học viện Quốc gia về toán cơ bản và ứng dụng (IMPA). Có hơn 137 cơ sở đào tạo trong toàn bang Rio de Janeiro. === Hệ thống giáo dục === Các trường tiểu học phần lớn chịu sự kiểm soát của chính quyền thành phố, trong khi vai trò của bang thì chi phối hệ thống các trường trung học. Cũng có một số nhỏ các trường chịu sự quản lý của chính quyền liên bang như trường hợp của Colégio Pedro II, Colégio de Aplicação da UFRJ và Centro Federal de Educação Tecnológica of Rio de Janeiro (CEFET-RJ). Ngoài ra, Rio cũng phát triển các trường tư thục ở tất cả các bậc học. Rio là nơi đặt trụ sở của nhiều trường cấp đại học. == Phát triển con người == Phát triển con người của Rio thay đổi mang tính địa phương, phản ánh sự biệt không gian và bất bình đẳng kinh tế xã hội. Năm 2000, một số khu vực lân cận của Rio có Chỉ số phát triển con người cao hơn hầu hết các quốc gia phát triển nhất trên thế giới. === Các vấn đề xã hội === Có sự khác biệt đáng kể giữa người giàu và người nghèo ở Rio de Janeiro. Mặc dù thành phố được xếp vào nhóm các đô thị lớn trên thế giới, 1/5 dân cư sống trong các khu vực lân cận gọi là khu ổ chuột, là các khu nhà ở không có quy định nào cả. Trong các khu ổ chuột, 15% dân số là người nghèo, so với 10% tổng dân số. Chính phủ cũng có những giải pháp về vấn đề này như chương trình "Favela Bairro" nhằm di dời cư dân sống trong khu ổ chuột đến các chúng cư như Cidade de Deus, và để cải thiện các điều kiện sống trong khu ổ chuột, và đưa các khu vực này lên ngang tầm với các khu khác của thành phố. === Tội phạm === Rio có tỉ lệ tội phạm cao đặc biệt là tội giết người ở São Cristóvão/Mangueira, Grande Tijuca và Copacabana/Leme. Năm 2006, 2.273 bị sát hại trong thành phố tương ứng 37,7 trường hợp trên 100.000 dân. Theo một nghiên cứu của chính phủ liên bang, đô thị này xếp thứ 206 trên 5.565 trong danh sách các thành phố và đô thị có bạo lực cao nhất ở Brazil. Giữa năm 1978 và 2000, có 49.900 người bị giết ở Rio. The urban warfare involves drug-traffic battle with police fighting against outlaws, hoặc thậm chí cảnh sát tham nhũng. Năm 2007, cảnh sát bị cáo buộc đã giết 1.330 người ở bang state of Rio Janeiro, tăng 25% so với năm 2006 với 1.063 người bị giết. Trong khi đó cảnh sát trên khắp nước Mỹ đã giết 347 người trong năm 2006. == Quan hệ quốc tế == === Thành phố kết nghĩa === Dưới đây là danh sách các thành phố kết nghĩa với Rio de Janeiro . == Tham khảo == == Liên kết ngoài == Images of Rio—Hundreds of images from the 1920s to the present
safari.txt
Safari là một trình duyệt web được phát triển bởi tập đoàn Apple và được cài đặt kèm theo hệ điều hành Mac OS X. Được phát hành dưới dạng beta vào ngày 7 tháng 1, năm 2003, và là trình duyệt mặc định trong hệ điều hành Mac OS X v10.3 và các phiên bản sau đó. Nó cũng là trình duyệt Web được cài đặt mặc định trên các máy iPhone,iPad và iPod touch của Apple. Phiên bản Safari cho hệ điều hành Windows được phát hành vào 11 tháng 6, năm 2007, hỗ trợ Windows XP, Windows Vista và Windows 7. Bản ổn định và mới nhất là Safari 6.0.4 (16.04.2013), dành cho cả Windows và Mac OS X. Trong tháng 3 năm 2013, Safari là trình duyệt được dùng nhiều thứ 4, sau Google Chrome,Internet Explorer, và Mozilla Firefox. == Lịch sử phát triển == Cho đến năm 1997, những máy tính Macintosh của Apple sản xuất được sử dụng duy nhất trình duyệt Navigator của Netscape and Cyberdog. Internet Explorer cho Mac sau đó đã được sử dụng như là trình duyệt web mặc định cho hệ điều hành phiên bản Mac 8.1 trở đi, như một phần của một thỏa thuận hợp tác năm giữa Apple và Microsoft. Trong thời gian đó, Microsoft đã phát hành ba phiên bản chính của Internet Explorer cho Mac đã được đi kèm với Mac OS 8 và Mac OS 9, mặc dù Apple tiếp tục dùng Netscape Navigator như một sự thay thế. Microsoft cuối cùng cũng đã phát hành cho Mac OS X phiên bản Internet Explorer, và từ đó nó được xem như là trình duyệt mặc định trong tất cả Mac OS X phiên bản từ Mac OS X DP4 lên đến và bao gồm cả Mac OS X v10.2. === Safari 1 === Vào ngày 7 /1/2003, tại Macworld San Francisco, Steve Jobs đã công bố rằng Apple đã phát triển trình duyệt web riêng của họ, mang tên Safari. Apple phát hành phiên bản beta đầu tiên cho OS X ngày hôm đó. Một số phiên bản beta chính thức và không chính thức theo sau, cho đến khi phiên bản 1.0 được phát hành vào ngày 23 /6/2003. Ban đầu chỉ có thể tải riêng cho Mac OS X v10.2, từ 24 /10/2003 nó được xem như là trình duyệt mặc định từ OS X v10.3, Internet Explorer cho Mac chỉ còn là một trình duyệt khác. 1.0.3, phát hành vào ngày 13 /8/2004 là phiên bản mới nhất hỗ trợ Mac OS X v10.2, trong khi 1.3.2, phát hành vào ngày 12 /1/2006 là phiên bản mới nhất hỗ trợ Mac OS X v10.3. Tuy nhiên, OS X 10,3 nhận được bản cập nhật bảo mật thông qua năm 2007. === Safari 2 === Vào /4- 2005, Dave Hyatt, một trong những nhà phát triển Safari của Apple, đưa ra những tài liệu nghiên cứu của mình cho việc sửa chữa những lỗi cụ thể trong Safari, do đó cho phép nó vượt qua kiểm nghiệm Acid2 được phát triển bởi các dự án chuẩn WebKit. Trên 27 /4/2005, ông tuyên bố rằng phiên bản phát triển Safari của mình đã thông qua các kiểm tra, làm cho nó là trình duyệt web đầu tiên làm như vậy Safari 2.0 được phát hành vào ngày 29 /4/2005 nhưng chỉ có trong Mac OS X v10.4. Phiên bản này được Apple đưa ra lập tức tốc độ tăng gắp 1,8 lần so với phiên bản 1.2.4, nhưng chưa được sửa lỗi Acid2. Cuối cùng Apple phát hành phiên bản 2.0.2 của trình duyệt Safari, trong đó bao gồm những sửa đổi cần thiết để vượt qua thử nghiệm Acid2 vào 31/10/ 2005. Trong 6/2005, sau khi một số lời chỉ trích từ các nhà phát triển trên KHTML thiếu tiếp cận để thay đổi các bản ghi, Apple chuyển mã nguồn phát triển và theo dõi lỗi của WebCore và JavaScriptCore để OpenDarwin.org. WebKit chính nó cũng đã được phát hành dưới dạng nguồn mở. Mã nguồn của không renderer khía cạnh của trình duyệt, chẳng hạn như các yếu tố giao diện của nó, vẫn còn độc quyền. Phiên bản ổn định cuối cùng của Safari 2, Safari 2.0.4, được phát hành vào ngày 10/1/2006 cho Mac OS X.Safari 2.0.4 là phiên bản cuối cùng được phát hành độc quyền trên Mac OS X cho đến khi phiên bản 6 trong năm 2012. === Safari 3 === Trên 09 /1/2007, tại Macworld SF, Jobs đã công bố iPhone của Apple, mà sẽ sử dụng một phiên bản di động của trình duyệt Safari. Tới 11/6/2007, tại Hội nghị phát triển Toàn cầu của Apple, Jobs đã công bố Safari 3 dành cho Mac OS X v10.5, Windows XP và Windows Vista. Trong thông báo, ông chạy một điểm chuẩn dựa trên iBench bộ kiểm tra trình duyệt so sánh các trình duyệt phổ biến nhất của Windows, do đó tuyên bố rằng Safari là trình duyệt nhanh nhất. Sau đó kiểm tra của bên thứ ba về thời gian tải HTTP sẽ ủng hộ tuyên bố của Apple Safari 3 đã thực sự là trình duyệt nhanh nhất trên nền tảng Windows về dữ liệu ban đầu tải qua Internet, mặc dù nó đã được tìm thấy là chỉ nhanh hơn không đáng kể so với Internet Explorer 7 và Mozilla Firefox khi tải nội dung tĩnh từ bộ nhớ cache của địa phương. Phiên bản Safari 3 beta đầu tiên cho Windows, được phát hành vào cùng ngày với thông báo của mình tại WWDC 2007, đã có một số lỗi được biết đến. Để giải quyết các lỗi này, sau đó Apple đã đưa ra những sửa chữa ba ngày sau đó vào ngày 14/6/2007, trong phiên bản 3.0.1 cho Windows. Ngày 22/6/2007, Apple phát hành Safari 3.0.2 khắc phục một số lỗi về vấn đề hiệu suất và các vấn đề bảo mật khác. Safari 3.0.2 cho Windows xử lý một số phông chữ bị thiếu trong trình duyệt nhưng đã được cài đặt trên các máy tính Windows, chẳng hạn như Tahoma, Trebuchet MS. IPhone được chính thức phát hành vào ngày 29 tháng 6 năm 2007. Nó bao gồm một phiên bản Safari dựa trên công cụ rendering cùng WebKit như phiên bản máy tính để bàn, nhưng với một tính năng sửa đổi thiết lập phù hợp hơn cho một thiết bị di động. Số phiên bản của Safari như báo cáo trong chuỗi tác nhân người dùng của nó là 3.0, phù hợp với các phiên bản máy tính để bàn hiện đại của Safari. Phát hành bản beta đầu tiên của trình duyệt Safari cho Windows, Safari 3.1, được tải về miễn phí từ 18/3/2008. Trong 6/2008, Apple phát hành phiên bản 3.1.2, giải quyết một số lỗ hổng bảo mật trong các phiên bản Windows, nơi truy cập vào một trang web độc hại có thể buộc phải tải về các tập tin thực thi và thực hiện chúng trên máy tính để bàn của người dùng. Safari 3.2, phát hành vào ngày 13/11/2008, giới thiệu các tính năng chống lừa đảo và mở rộng hỗ trợ Giấy chứng nhận xác thực. Phiên bản cuối cùng của Safari 3 là 3.2.3, phát hành vào ngày 12/5/2009. === Safari 4 === Ngày 02/6/2008, nhóm nghiên cứu phát triển WebKit công bố SquirrelFish, một công cụ JavaScript mới nhầm cải thiện tốc độ của Safari. Đây là một trong những tính năng mới trong Safari 4, JavaScript mới nhanh chóng phát triển thành cực SquirrelFish, tính năng thậm chí còn cải thiện hơn nữa hiệu suất hơn SquirrelFish, và cuối cùng đã được bán trên thị trường như Nitro. Một phiên bản Safari 4 đã được phát hành vào ngày 24/2/2009, với các tính năng mới như các công cụ trang web hàng đầu (tương tự như tốc độ Dialfeature Opera), Cover Flow, một tính năng của Mac OS X và iTunes, cũng được thực hiện trong Safari. Trong các phiên bản beta, các tab được đặt trên thanh tiêu đề của cửa sổ, tương tự như Google Chrome. Thanh tab đã được chuyển trở lại vị trí ban đầu của nó bên dưới thanh địa chỉ URL, trong phiên bản cuối cùng. Các phiên bản Windows thông qua một chủ đề Windows bản địa, chứ không phải là giao diện Mac OS X - phong cách làm việc trước đây. Ngoài ra Apple loại bỏ các thanh tiến trình màu xanh nằm trong thanh địa chỉ (sau này phục hồi trong Safari 5). Safari 4.0.1 đã được phát hành cho Mac vào ngày 17. Safari 4 trong Mac OS X v10.6 " Snow Leopard " đã hỗ trợ 64-bit, có thể làm cho JavaScript tải lên nhanh hơn 50 % Safari 4.0.4, phát hành vào ngày 11/11/2009 cho cả OS X và Windows, tiếp tục cải thiện hiệu suất JavaScript. Safari là một trong mười hai trình duyệt cung cấp cho người dùng ở của Microsoft Windows trong năm 2010. Đó là một trong năm trình duyệt chọn lựa đầu tiên cùng với Chrome, Firefox, Internet Explorer và Opera. === Safari 5 === Apple phát hành Safari 5 vào ngày 07/6/2010, có tính năng mới là Safari Reader, một tính năng đọc bài báo trên web (dựa trên công cụ Arc90's Readability), Safari 5 được cải thiện các công cụ phát triển và hỗ trợ hơn một chục công nghệ HTML5 mới, tập trung vào khả năng tương tác. Với Safari 5, các nhà phát triển có thể tạo tùy chỉnh vấn đề bảo mật trên trình duyệt Safari và nâng cao hiệu suất duyệt web. Apple cũng đang tăng thanh tiến trình vào sau thanh địa chỉ trong phiên bản này. Safari 5.0.1 cho phép các phần mở rộng prefpane theo mặc định mà trước đây người dùng phải kích hoạt nó thông qua menu Debug. Apple cũng phát hành Safari 4.1 đồng thời với Safari 5, dành riêng cho Mac OS X Tiger. Bản cập nhật bao gồm phần lớn các tính năng và cải tiến bảo mật được tìm thấy trong Safari 5.Tuy nhiên, nó không bao gồm Safari Reader hay Safari Extensions. Cùng với Mac OS X 10.7 Lion, Apple phát hành Safari 5.1 cho cả Windows và Mac vào 20/7/2011, với các chức năng mới ' Danh sách đọc và duyệt web nhanh hơn. Apple đồng thời phát hành Safari 5.0.6 cho Mac OS X 10.5 Leopard. === Safari 6 === Safari 6.0 trước đây được biết đến như Safari 5.2 cho đến khi Apple công bố sự thay đổi tại WWDC 2012. Phiên bản ổn định của Safari 6 được công bố cùng với việc phát hành OS X Mountain Lion vào 25/7/2012, và được tích hợp vào trong hệ điều hành. Apple tích hợp nó với Mountain Lion và nó không còn được cho tải về từ trang web của Apple hoặc các nguồn khác.Safari 5 tiếp tục là có cho Windows. Vào 11/6/2012, Apple đã phát hành một bản beta của Safari 6.0 với một tính năng gọi là iCloud Tabs, cho phép người dùng " đồng bộ hóa " các tab mở của họ với bất kỳ iOS hoặc các hệ điều hành X thiết bị chạy phần mềm mới nhất. Safari 6 cũng bao gồm tính năng bảo mật mới, bao gồm một " Yêu cầu các trang web không theo dõi tôi ". Safari 6 có Sheets chia sẻ khả năng trong OS X Mountain Lion. Các tùy chọn Bảng Chia sẻ là: Thêm vào danh sách Reading, Add Bookmark, Email cho bạn bè, tin nhắn, Twitter và Facebook. Người dùng có thể thấy các tab với xem trước trang đầy đủ có sẵn. === Safari 7 === Được công bố tại Hội nghị phát triển Toàn cầu của Apple (WWDC) vào ngày 10/6/2013, Safari phát triển phiên bản 7 cải tiến những hiệu suất JavaScript và sử dụng bộ nhớ, cũng như có cái nhìn mới cho Top Sites và thanh Sidebar, và một số tính năng Liên kết chia sẻ. Safari 7 cho OS X Mavericks và Safari 6.1 (cho Lion và Mountain Lion) dự kiến phát hành chung vào cuối năm 2013. == Tham khảo == == Liên kết ngoài == Trang chủ Safari 3.1
long phước, bà rịa.txt
Long Phước là một xã thuộc thành phố Bà Rịa, tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu, Việt Nam. == Địa lý == === Vị trí địa lý === Xã Long Phước là đơn vị hành chính xã thuộc thành phố Bà Rịa tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu có ranh giới hành chính: - Phía đông giáp xã Long Tân huyện Đất Đỏ - Phía tây giáp xã Hòa Long - Phía nam giáp thị trấn Long Điền - Phía bắc giáp xã Đá Bạc huyện Châu Đức === Diện tích tự nhiên === Long Phước là một xã vùng ven thị xã Bà Rịa, có tổng diện tích tự nhiên 1.618,77 ha với 2.446 hộ, 8.846 người; đồng bào theo đạo công giáo là 234 người chiếm 2%, cao đài là 75 người chiếm 0,81%; còn lại là lương giáo chiếm 96,54%. Xã có 70% hộ dân sống bằng nghề nông nghiệp số còn lại là các ngành nghề tiểu thủ công nghiệp, dịch vụ thương mại và kinh doanh buôn bán nhỏ. === Các đặc điểm địa hình, thổ nhưỡng, khí hậu, thủy văn === - Địa hình: xã Long Phước có địa hình cao ở phía đông và phía tây, thấp dần từ bắc xuống nam. Độ cao trung bình ở vùng đồi thấp 13-29m,điểm cao nhất phía đông bắc có cao trình 36m. - Thổ nhưỡng: chủ yếu là đất đỏ bazan và đất phù sa phục vụ cho sản xuất lúa và hoa màu. - Khí hậu: Xã Long Phước mang đặc trưng khí hậu nhiệt đới gió mùa, một năm có hai mùa mưa và mùa khô rõ rệt, với nhiệt độ bình quân cao đều quanh năm 25.7 độ C. Đây là điều kiện thuận lợi cho việc phát triển cây trồng nhiệt đới. - Thủy văn: Chế độ thủy văn xã phân hóa theo mùa: Mùa khô kéo dài từ tháng 11 đến tháng 4, lượng nước sinh hoạt và phục vụ sản xuất chủ yếu sử dụng nguồn nước ngầm và hai nguồn nước từ đập Đá Bàng và đập Sông Dinh. Mùa mưa kéo dài từ tháng 5 đến tháng 10, nước lũ trên vùng cao có thể gây ngập úng ở khu vực thấp. Tổng diện tích toàn xã là 1.618 ha, trong đó đất nông nghiệp 1.393 ha chiếm 86% còn lại 221 ha đất phi nông nghiệp. == Chú thích == == Tham khảo ==
núi yên tử.txt
Núi Yên Tử (chữ Hán: 安子山 Yên Tử sơn) là ngọn núi cao 1068m so với mực nước biển trong dãy núi Đông Triều vùng đông bắc Việt Nam. Núi nằm ở ranh giới giữa 2 tỉnh Bắc Giang và Quảng Ninh. Núi Yên Tử là một dải núi cao nằm ở phía Đông Bắc của Việt Nam với hệ thống động thực vật phong phú và đa dạng đã được nhà nước công nhận là khu bảo tồn thiên nhiên. Phía Đông dãy Yên Tử thuộc tỉnh Quảng Ninh và phía Tây thuộc tỉnh Bắc Giang. Núi Yên Tử hiện còn lưu giữ một hệ thống các di tích lịch sử văn hóa gắn với sự ra đời, hình thành và phát triển của thiền phái Trúc Lâm Yên Tử. Đỉnh núi thuộc xã Thượng Yên Công, thành phố Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh. Vốn là một thắng cảnh thiên nhiên, ngọn Yên Tử còn lưu giữ nhiều di tích lịch sử với mệnh danh "đất tổ Phật giáo Việt Nam". Trên đỉnh núi thường có mây bao phủ nên ngày trước có tên gọi là Bạch Vân sơn. Tổng chiều dài đường bộ để lên đỉnh Yên Tử (chùa Đồng) là khoảng 6000m với 6 giờ đi bộ liên tục qua hàng ngàn bậc đá, đường rừng núi... Xung quanh khu vực núi Yên Tử là còn có các di tích và danh thắng quan trọng như khu bảo tồn thiên nhiên Tây Yên Tử (Bắc Giang) và Khu di tích lịch sử nhà Trần ở Đông Triều (Quảng Ninh). Hệ thống các di tích và danh thắng này được gộp chung thành Quần thể di tích danh thắng Yên Tử để đề nghị UNESCO công nhận là di sản thế giới. == Trung tâm Phật giáo trong lịch sử Việt Nam == Yên Tử trở thành trung tâm của Phật giáo từ khi vua Trần Nhân Tông từ bỏ ngai vàng khoác áo cà sa tu hành để tìm đến sự thanh tịnh sau khi truyền ngôi và thành lập một dòng Phật giáo đặc trưng của Việt Nam, đó là dòng Thiền Trúc Lâm Yên Tử và trở thành vị tổ thứ nhất với pháp danh Điều Ngự Giác Hoàng Trần Nhân Tông (調御覺皇陳仁宗, 1258-1308). Ông đã cho xây dựng hàng trăm công trình lớn nhỏ trên núi Yên Tử để làm nơi tu hành và truyền kinh, giảng đạo. Sau khi ông qua đời, người kế tục sự nghiệp là Pháp Loa Đồng Kiên Cương (法螺同堅剛, 1284-1330), vị tổ thứ hai của dòng Trúc Lâm. Trong 19 năm tu hành, ông đã soạn ra bộ sách Thạch thất mị ngữ (石室寐語) và cho xây dựng 800 ngôi chùa, am, tháp lớn nhỏ trong nước với hàng nghìn pho tượng có giá trị, trong đó có những chùa nổi tiếng như Chùa Quỳnh Lâm, chùa Hồ Thiên ở Đông Triều; Chùa Vĩnh Nghiêm (Bắc Giang)... Tại trung tâm truyền giáo của Pháp Loa còn có Huyền Quang Lý Đạo Tái (玄光李道載, 1254-1334), vị tổ thứ ba của phái Trúc Lâm. Ngày 17 tháng 5 năm 2008, Yên Tử và Vịnh Hạ Long (Quảng Ninh) đã cùng với chùa Bái Đính ở Cố đô Hoa Lư (Ninh Bình) là những địa danh của Việt Nam được chọn là những thắng tích phật giáo cho các đại biểu tham dự đại lễ phật đản thế giới lần đầu tiên tại Việt Nam đến tham quan, chiêm bái. == Thắng cảnh == Khu Bảo tồn thiên nhiên Tây Yên Tử nằm trên địa bàn hành chính thị trấn Thanh Sơn và các xã Thanh Luận, Tuấn Mậu, An Lạc thuộc huyện Sơn Động, xã Lục Sơn thuộc huyện Lục Ngạn ỉnh Bắc Giang. Ranh giới của Khu bảo tồn tiếp giáp với tỉnh Lạng Sơn và Quảng Ninh. KBTTN Tây Yên Tử hiện có 13.022,7 ha rừng và đất rừng đặc dụng bao gồm: phân khu bảo vệ nghiêm ngặt (6.022,5 ha), phân khu phục hồi sinh thái và phân khu hành chính dịch vụ (7.000,2 ha). Tại Tây Yên Tử đã xác định được 5 kiểu thảm thực vật chính: ở độ cao dưới 100 m: trảng cỏ và cây bụi; ở độ cao 100–200 m: trảng hóp xen cây gỗ nhỏ và tre nứa; ở độ cao 200–900 m: kiểu rừng kín thường xanh, cây lá rộng thường xen cây lá kim, mưa ẩm nhiệt đới; trên 900 m: kiểu rừng cây gỗ lá rộng. Theo kết quả nghiên cứu của Viện Sinh thái và Tài nguyên sinh vật (2003, 2009), bước đầu đã thống kê được sự đa dạng về thành phần phân loại học của các lớp thú, chim, bò sát và ếch nhái gồm: 27 bộ, 91 họ, 285 loài. Từ Hà Nội có thể đi xe ô-tô vượt quãng đường 125 km, đến thành phố Uông Bí thì rẽ vào đường Yên Tử, đi tiếp khoảng 9 km thì rẽ trái. Có thể lên núi Yên Tử bằng hai cách: Theo đường cáp treo hiện đại vượt quãng đường trên 1,2 km lên tới độ cao 450 m gần chùa Hoa Yên. Với cách này có thể ngắm nhìn toàn cảnh rừng núi Yên Tử từ trên cao với những cây tùng, đại hàng trăm năm tuổi xen lẫn trong những rừng cây xanh tươi và hít thở không khí trong lành. Theo đường đi bộ dài trên 6 km đã được gia cố bởi hàng nghìn bậc đá xếp, len lỏi theo lối mòn vượt qua bạt ngàn cây cỏ, dưới tán rừng trúc, rừng thông. Hành trình thăm viếng Yên Tử bắt đầu từ suối Giải Oan với một cây cầu đá xanh nối hai bờ suối. Cầu dài 10 m, có kiến trúc không cầu kỳ nhưng toát lên vẻ đẹp cổ kính, vững chãi. Tục truyền xưa kia vua Trần Nhân Tông nhường ngôi lại cho con là Trần Anh Tông rồi tìm đến cõi Phật. Vua Nhân Tông có rất nhiều cung tần và mỹ nữ. Họ đã khuyên ông trở về cung gấm nhưng không được nên đã gieo mình xuống suối tự vẫn. Vua Nhân Tông thương cảm cho họ nên lập một ngôi chùa siêu độ để giải oan, từ đó con suối mang tên Giải Oan. Trước sân chùa sum suê từng khóm loa kèn màu hoàng yến chen lẫn màu trắng mịn, xung quanh chùa có 6 ngọn tháp, lớn nhất là tháp mộ vua Trần Nhân Tông, hai bên là tháp mộ sư Pháp Loa và sư Huyền Quang. Tiếp đó tới chùa Hoa Yên (các tên gọi khác: chùa Cả, chùa Phù Vân, chùa Vân Yên) nằm ở độ cao 543 m với hàng cây tùng cổ tương truyền được trồng từ khi vua Trần Nhân Tông lên tu hành trên Yên Tử. Phía trên độ cao 700 m là chùa Vân Tiêu lẩn khuất trong mây bên triền núi. Sau điểm này là chùa Đồng, tọa lạc trên đỉnh Yên Tử cao 1.068 m. Chùa được khởi dựng vào thời nhà Hậu Lê với tên gọi Thiên Trúc tự (天竺寺). Đầu năm 2007, chùa Đồng mới được đúc hoàn toàn bằng đồng nguyên chất (cao 3 m, rộng 12 m², nặng 60 tấn) đã được đưa lên đỉnh Yên Tử. Đứng ở độ cao 1068 m trên đỉnh núi có thể nhìn bao quát cả vùng Đông Bắc rộng lớn với những đảo nhỏ thấp thoáng trong Vịnh Hạ Long như một bức tranh, xa hơn là sông Bạch Đằng. Dọc đường còn có một số điểm tham quan như Tháp Tổ, chùa Một Mái, chùa Bảo Sái, tượng đá Yên Kỳ Sinh, am Ngọa Vân, bàn cờ tiên, các khu du lịch sinh thái Thác Vàng, Thác Bạc. Thiền viện Trúc Lâm Yên Tử xây trên nền dấu tích của chùa Lân mà đức Điếu Ngự Giác Hoàng Trần Nhân Tông từng thuyết giảng chúng sinh. Đây là công trình thiền viện lớn nhất Việt Nam. == Hội xuân Yên Tử == Lễ hội Yên Tử được tổ chức hàng năm bắt đầu từ ngày 10 tháng giêng và kéo dài hết tháng 3 (âm lịch). == Ảnh == == Xem thêm == Khu di tích và danh thắng Tây Yên Tử Trúc Lâm Yên Tử Tây Yên Tử Quần thể di tích danh thắng Yên Tử Chùa Vĩnh Nghiêm (Bắc Giang) == Tham khảo == == Liên kết ngoài == Đã đúc xong pháp bảo, pháp khí chùa Đồng Yên Tử Đúc mới chùa Đồng Cất nóc chùa Đồng trên đỉnh thiêng Yên Tử Ngọa Vân am ở đâu trong dãy núi thiêng Yên Tử? Yên Tử ký sự Lịch sử Việt Nam
giai thừa.txt
Trong toán học, giai thừa là một toán tử một ngôi trên tập hợp các số tự nhiên. Cho n là một số tự nhiên dương, "n giai thừa", ký hiệu n! là tích của n số tự nhiên dương đầu tiên: n! = n.(n-1).(n-2)....4.3.2.1 Đặc biệt, với n = 0, người ta quy ước 0! = 1. Ký hiệu n! được dùng lần đầu bởi Christian Kramp vào năm 1808. == Định nghĩa đệ quy == Ta có thể định nghĩa đệ quy (quy nạp) n! như sau 0! = 1 (n + 1)! =n! × (n + 1) với n> 0 Ví dụ: 3! = 2! x 3 = 6 (vì 2! = 1.2=2) == Một số tính chất của giai thừa == Giai thừa có tốc độ tăng nhanh hơn hàm mũ nhưng chậm hơn hàm mũ hai tầng (abc) có cùng cơ số và mũ. log ⁡ n ! = ∑ x = 1 n log ⁡ x . {\displaystyle \log n!=\sum _{x=1}^{n}\log x.} ∫ 1 n log ⁡ x d x ≤ ∑ x = 1 n log ⁡ x ≤ ∫ 0 n log ⁡ ( x + 1 ) d x {\displaystyle \int _{1}^{n}\log x\,dx\leq \sum _{x=1}^{n}\log x\leq \int _{0}^{n}\log(x+1)\,dx} n log ⁡ ( n e ) + 1 ≤ log ⁡ n ! ≤ ( n + 1 ) log ⁡ ( n + 1 e ) + 1. {\displaystyle n\log \left({\frac {n}{e}}\right)+1\leq \log n!\leq (n+1)\log \left({\frac {n+1}{e}}\right)+1.} e ( n e ) n ≤ n ! ≤ e ( n + 1 e ) n + 1 . {\displaystyle e\left({\frac {n}{e}}\right)^{n}\leq n!\leq e\left({\frac {n+1}{e}}\right)^{n+1}.} n ! ≈ 2 π n ( n e ) n . {\displaystyle n!\approx {\sqrt {2\pi n}}\left({\frac {n}{e}}\right)^{n}.} (Công thức Stirling). n ! > 2 π n ( n e ) n . {\displaystyle n!>{\sqrt {2\pi n}}\left({\frac {n}{e}}\right)^{n}.} log ⁡ n ! ≈ n log ⁡ n − n + log ⁡ ( n ( 1 + 4 n ( 1 + 2 n ) ) ) 6 + log ⁡ ( π ) 2 . {\displaystyle \log n!\approx n\log n-n+{\frac {\log(n(1+4n(1+2n)))}{6}}+{\frac {\log(\pi )}{2}}.} Đây là công thức ước lượng của Srinivasa Ramanujan. == Các hệ thức sử dụng ký hiệu giai thừa == Công thức tính số tổ hợp: C n k = n ! k ! ( n − k ) ! ( 0 < k ≤ n ) {\displaystyle C_{n}^{k}={\frac {n!}{k!(n-k)!}}(0<k\leq n)} Công thức tính số chỉnh hợp: A n k = n ! ( n − k ) ! ( 0 < k ≤ n ) {\displaystyle A_{n}^{k}={\frac {n!}{(n-k)!}}(0<k\leq n)} == Mở rộng cho tập số rộng hơn == Theo công thức đệ quy nói trên, thì ta có 0! = 1, còn các giai thừa của số âm không tồn tại. Như vậy giai thừa trên tập số nguyên đã giải quyết xong. Một vấn đề được đặt ra: phải mở rộng giai thừa cho tập số rộng hơn. Nhưng làm thế nào? === Công thức Gamma === Là công thức mang tên một chữ cái Hy Lạp do nhà toán học Pháp, Adrien-Marie Legendre đề ra. Hàm số này có dạng sau: Γ ( z ) = ∫ 0 ∞ t z − 1 e − t d t {\displaystyle \Gamma (z)=\int _{0}^{\infty }t^{z-1}e^{-t}\,{\rm {d}}t} Bằng phương pháp tích phân từng phần ta có được: Γ ( z + 1 ) = z Γ ( z ) . {\displaystyle \Gamma (z+1)=z\,\Gamma (z)\,.} Khi đó ta có: z ! = Γ ( z + 1 ) . {\displaystyle z!=\Gamma (z+1).\,} Sau này Euler và Weierstrass đã biến đổi lại thành: Γ ( z ) = lim n → ∞ n z n ! ∏ k = 0 n ( n + k ) {\displaystyle \Gamma (z)\ =\lim _{n\to \infty }{\frac {n^{z}n!}{\prod _{k=0}^{n}(n+k)}}} Tính chất quan trọng nhất của nó đã được chính Euler chứng minh, đó là: Γ ( z ) Γ ( 1 − z ) = π sin ⁡ ( π z ) {\displaystyle \Gamma (z)\ \Gamma (1-z)\ ={\frac {\pi }{\sin({\pi }z)}}} Thay z = 1/2 ta thu được: Γ ( 1 2 ) = π {\displaystyle \Gamma \left({\frac {1}{2}}\right)\ ={\sqrt {\pi }}} Một công thức khác cũng không kém phần quan trọng là: Γ ( z ) Γ ( z + 1 m ) Γ ( z + 2 m ) ⋯ Γ ( z + m − 1 m ) = ( 2 π ) ( m − 1 ) / 2 m 1 / 2 − m z Γ ( m z ) . {\displaystyle \Gamma (z)\;\Gamma \left(z+{\frac {1}{m}}\right)\;\Gamma \left(z+{\frac {2}{m}}\right)\cdots \Gamma \left(z+{\frac {m-1}{m}}\right)=(2\pi )^{(m-1)/2}\;m^{1/2-mz}\;\Gamma (mz)\,.} Hai công thức dưới đây là do Gauss chứng minh: Γ ( 1 2 + n ) = ( 2 n ) ! 4 n n ! π = ( 2 n − 1 ) ! ! 2 n π = π ⋅ [ ( n − 1 2 n ) n ! ] {\displaystyle \Gamma \left({\frac {1}{2}}+n\right)={(2n)! \over 4^{n}n!}{\sqrt {\pi }}={\frac {(2n-1)!!}{2^{n}}}\,{\sqrt {\pi }}={\sqrt {\pi }}\cdot \left[{n-{\frac {1}{2}} \choose n}n!\right]} Γ ( 1 2 − n ) = ( − 4 ) n n ! ( 2 n ) ! π = ( − 2 ) n ( 2 n − 1 ) ! ! π = π / [ ( − 1 2 n ) n ! ] {\displaystyle \Gamma \left({\frac {1}{2}}-n\right)={(-4)^{n}n! \over (2n)!}{\sqrt {\pi }}={\frac {(-2)^{n}}{(2n-1)!!}}\,{\sqrt {\pi }}={\sqrt {\pi }}/\left[{-{\frac {1}{2}} \choose n}n!\right]} === Giai thừa với số thực === Theo công thức tương ứng giữa giai thừa với công thức Gamma, các nhà toán học đã đề ra công thức Pi có dạng sau: z ! = Π ( z ) = Γ ( z + 1 ) . {\displaystyle z!=\Pi (z)=\Gamma (z+1)\,.} Như vậy: ( − 0 , 5 ) ! = Π ( − 1 2 ) = Γ ( 1 2 ) . {\displaystyle (-0,5)!=\Pi \left(-{\frac {1}{2}}\right)=\Gamma \left({\frac {1}{2}}\right)\,.} ( n − 0 , 5 ) ! = Π ( n − 1 2 ) = Γ ( n + 1 2 ) . {\displaystyle (n-0,5)!=\Pi \left(n-{\frac {1}{2}}\right)=\Gamma \left(n+{\frac {1}{2}}\right)\,.} ( − n − 0 , 5 ) ! = Π ( − n − 1 2 ) = Γ ( − n + 1 2 ) . {\displaystyle (-n-0,5)!=\Pi \left(-n-{\frac {1}{2}}\right)=\Gamma \left(-n+{\frac {1}{2}}\right)\,.} Ví dụ: Γ ( 4.5 ) = 3.5 ! = Π ( 3.5 ) = 1 2 ⋅ 3 2 ⋅ 5 2 ⋅ 7 2 π = 8 ! 4 4 4 ! π = 105 16 π ≈ 11.63. {\displaystyle \Gamma \left(4.5\right)=3.5!=\Pi \left(3.5\right)={1 \over 2}\cdot {3 \over 2}\cdot {5 \over 2}\cdot {7 \over 2}{\sqrt {\pi }}={8! \over 4^{4}4!}{\sqrt {\pi }}={105 \over 16}{\sqrt {\pi }}\approx 11.63.} Γ ( − 2.5 ) = ( − 3.5 ) ! = Π ( − 3.5 ) = 2 − 1 ⋅ 2 − 3 ⋅ 2 − 5 π = ( − 4 ) 3 3 ! 6 ! π = − 8 15 π ≈ − 0.9453. {\displaystyle \Gamma \left(-2.5\right)=(-3.5)!=\Pi \left(-3.5\right)={2 \over -1}\cdot {2 \over -3}\cdot {2 \over -5}{\sqrt {\pi }}={(-4)^{3}3! \over 6!}{\sqrt {\pi }}=-{8 \over 15}{\sqrt {\pi }}\approx -0.9453.} === Giai thừa với số phức === Công thức chính để tính giai thừa trong trường hợp này là ước lượng Laurent: Γ ( z ) = ∑ k = 0 ∞ Γ ( k ) ( 1 ) k ! z k − 1 , {\displaystyle \Gamma (z)=\sum _{k=0}^{\infty }{\frac {\Gamma ^{(k)}(1)}{k!}}z^{k-1}\,,} với |z| < 1. Khai triển ra ta có bảng các hệ số như sau: Ở đây γ {\displaystyle \gamma } là hằng số Euler - Mascheroni còn ζ {\displaystyle \zeta } là hàm zeta Riemann. == Các khái niệm tương tự == === Giai thừa nguyên tố (primorial) === Xem Giai thừa nguyên tố. === Giai thừa kép === Có thể coi n! là tích n phần tử đầu của cấp số cộng với phần tử đầu bằng 1 và công sai bằng 1. Mở rộng với công sai bằng 2 ta có: Giai thừa kép là tích n phần tử đầu của cấp số cộng với phần tử đầu 1 và công sai là 2. n ! ! = { 1 , khi n <= 1 ; n ( n − 2 ) ! ! khi n ≥ 2. {\displaystyle n!!=\left\{{\begin{matrix}1,\qquad \quad \ &&{\mbox{khi }}n<=1;\\n(n-2)!!&&{\mbox{khi }}n\geq 2.\qquad \qquad \end{matrix}}\right.} Ví dụ: 8!! = 2 · 4 · 6 · 8 = 384 9!! = 1 · 3 · 5 · 7 · 9 = 945. Dãy các giai thừa kép đầu tiên là: Định nghĩa trên có thể mở rộng cho các số nguyên âm như sau: ( n − 2 ) ! ! = n ! ! n {\displaystyle (n-2)!!={\frac {n!!}{n}}} Các giai thừa kép nguyên âm lẻ đầu tiên với n= -1, -3, -5, -7,...là 1, -1, 1/3, -1/15... Các giai thừa kép của số nguyên âm chẵn là không xác định. Một vài đẳng thức với giai thừa kép: n ! = n ! ! ( n − 1 ) ! ! {\displaystyle n!=n!!(n-1)!!\,} ( 2 n ) ! ! = 2 n n ! {\displaystyle (2n)!!=2^{n}n!\,} ( 2 n + 1 ) ! ! = ( 2 n + 1 ) ! ( 2 n ) ! ! = ( 2 n + 1 ) ! 2 n n ! {\displaystyle (2n+1)!!={(2n+1)! \over (2n)!!}={(2n+1)! \over 2^{n}n!}} Cũng nên phân biệt n!! với (n!)!. === Giai thừa bội === Ta có thể tiếp tục mở rộng với các giai thừa bội ba (n!!!),bội bốn (n!!!!).... Tổng quát, giai thừa bội k ký hiệu là n!(k), được định nghĩa đệ quy như sau n ! ( k ) = { 1 , khi 0 ≤ n < k ; n ( n − k ) ! ( k ) , khi n ≥ k . {\displaystyle n!^{(k)}=\left\{{\begin{matrix}1,\qquad \qquad \ &&{\mbox{khi }}0\leq n<k;\\n(n-k)!^{(k)},&&{\mbox{khi }}n\geq k.\quad \ \ \,\end{matrix}}\right.} === Siêu giai thừa(superfactorial) === Neil Sloane và Simon Plouffe đã định nghĩa siêu giai thừa (năm 1995) là tích của n giai thừa đầu tiên. Chẳng hạn, siêu giai thừa của 4 là s f ( 4 ) = 1 ! × 2 ! × 3 ! × 4 ! = 288 {\displaystyle \mathrm {sf} (4)=1!\times 2!\times 3!\times 4!=288\,} Tổng quát s f ( n ) = ∏ k = 1 n k ! = ∏ k = 1 n k n − k + 1 = 1 n ⋅ 2 n − 1 ⋅ 3 n − 2 ⋯ ( n − 1 ) 2 ⋅ n 1 . {\displaystyle \mathrm {sf} (n)=\prod _{k=1}^{n}k!=\prod _{k=1}^{n}k^{n-k+1}=1^{n}\cdot 2^{n-1}\cdot 3^{n-2}\cdots (n-1)^{2}\cdot n^{1}.} Các siêu giai thừa đầu tiên bắt đầu từ n = 0) là 1, 1, 2, 12, 288, 34560, 24883200,... (dãy A000178 trong OEIS) Vào năm 2000, tư tưởng này được Henry Bottomley mở rộng thành siêu giả giai thừa (superduperfactorial) là tích của n siêu giai thừa đầu tiên. Những giá trị đầu tiên của chúng là (bắt đầu từ n = 0): 1, 1, 2, 24, 6912, 238878720, 5944066965504000,... và tiếp tục đệ quy với siêu giai thừa bội (multiple-level factorial) trong đó siêu giai thừa bội cấp m của n là tích của n siêu giai thừa bội cấp(m − 1), nghĩa là m f ( n , m ) = m f ( n − 1 , m ) m f ( n , m − 1 ) = ∏ k = 1 n k ( n − k + m − 1 n − k ) {\displaystyle \mathrm {mf} (n,m)=\mathrm {mf} (n-1,m)\mathrm {mf} (n,m-1)=\prod _{k=1}^{n}k^{n-k+m-1 \choose n-k}} trong đó m f ( n , 0 ) = n {\displaystyle \mathrm {mf} (n,0)=n} for n > 0 {\displaystyle n>0} and m f ( 0 , m ) = 1 {\displaystyle \mathrm {mf} (0,m)=1} . === Giai thừa trên === x n ¯ = x ( x + 1 ) ( x + 2 ) ⋯ ( x + n − 1 ) = ( x + n − 1 ) ! ( x − 1 ) ! {\displaystyle x^{\overline {n}}=x(x+1)(x+2)\cdots (x+n-1)={\frac {(x+n-1)!}{(x-1)!}}} == Tham khảo == == Liên kết ngoài == Tính toán của giai thừa
số.txt
Số hay con số là một khái niệm trong toán học sơ cấp, đã trở thành một khái niệm phổ cập, khởi đầu trong lịch sử toán học của loài người. Số là cách thức con người ghi lại số lượng các đối tượng như công cụ sản xuất, súc vật chăn nuôi... Các dân tộc khác nhau có cách ký hiệu khác nhau, mỗi ký hiệu thường được gọi là một chữ số, hay một con số, ngày nay thường được gọi là ký số. Người ta ghép các chữ số khác nhau vào theo những quy ước nhất định để tạo thành các số. Ngày nay còn lại phổ biến là cách ghi số của người Ả Rập (0,1,2...,9), La Mã (I,V,X, L, C,..), Trung Quốc... Ngày nay số đã trở thành một trong các khái niệm cơ bản của toán học, là đối tượng nghiên cứu của hầu hết các phân ngành của toán học như lý thuyết số, giải tích, đại số, xác suất thống kê..... == Các loại số == Các số có thể phân chia thành các tập hợp số theo các hệ thống số khác nhau. Số tự nhiên Số dương Số âm Số nguyên tố Số hữu tỉ Số vô tỉ Số thực Số phức Hợp số Số chính phương === Số dương === Số dương là số có giá trị lớn hơn 0. Số dương có thể đặt một dấu "+" ở trước nó. Chúng thuộc tập hợp số thực R. === Số âm === Số âm là số có giá trị nhỏ hơn 0. Trong toán học, số âm thường được biểu diễn bằng một dấu trừ – trước giá trị dương tương ứng. === Số tự nhiên === Loại số quen thuộc nhất với hầu như tất cả mọi người là số tự nhiên, trước kia nó được hiểu như số nguyên dương (không kể số 0), nhưng ngày nay đa số các tài liệu toán học thống nhất nó bao gồm cả số không (số nguyên không âm). Các số nguyên dương được xem như là các số để đếm. Trong hệ thập phân được dùng rộng rãi, các ký hiệu dùng để viết số tự nhiên là các chữ số từ 0 đến 9. Trong hệ này, mỗi vị trí tương ứng với một lũy thừa của 10, các số lớn hơn 9 được biểu diễn bởi hai hoặc nhiều hơn các chữ số. Còn có thể ghi theo các hệ cơ số khác như hệ nhị phân, hệ bát phân, hệ thập lục phân,...Tập các số tự nhiên thường được ký hiệu là N {\displaystyle \mathbb {N} } . === Số nguyên === Số nguyên bao gồm các số tự nhiên và các số đối của các số tự nhiên dương. Số đối của một số tự nhiên dương n là một số khi cộng với n cho kết quả bằng không, nó thường được viết bằng cách thêm dấu "trừ" đằng trước số n. Về ý nghĩa, nếu một số dương là một khoản tiền gửi ngân hàng thì số âm là số biểu thị khoản tiền rút ra. Tập các số nguyên thường được ký hiệu là Z {\displaystyle \mathbb {Z} } (viết tắt của từ Zahl trong tiếng Đức). === Số nguyên tố và hợp số === Số nguyên tố là số chỉ có 2 ước là 1 và chính nó. VD: 2, 3, 5, 7, 11, 13, 17, 19,... Hợp số là số có nhiều hơn 2 ước. VD: 4, 6, 8, 9, 10, 12, 14, 15, 16, 18,... Số 0 và số 1 không phải là số nguyên tố và cũng không phải là hợp số. === Số hữu tỉ === Một số hữu tỉ là một số có thể biểu diễn như một thương (hay phân số) của phép chia một số nguyên cho một số tự nhiên khác 0. Thường m/n là diễn tả việc chia một khối lượng nào đó thành n phần bằng nhau và chọn lấy m phần. Hai phân số khác nhau có thể biểu diễn cho cùng một số, chẳng hạn ½ và 2/4 là như nhau. Nếu giá trị tuyệt đối của m lớn hơn n thì giá trị tuyệt đối của phân số lớn hơn một. Phân số có thể dương âm hoặc bằng 0. === Số vô tỉ === Số vô tỉ là số không thể biểu diễn được thành tỉ số với tử số và mẫu số nguyên hay còn gọi là số thập phân vô hạn không tuần hoàn. Ví dụ: Số thập phân vô hạn có chu kỳ thay đổi: 0,1010010001000010000010000001... (Số thập phân vô hạn không tuần hoàn) Số 2 {\displaystyle {\sqrt {2}}} = 1,414213... Số π = 3 , 141592653589793... {\displaystyle \pi =3,141592653589793...} Số lôgarít tự nhiên e = 2,718281... === Số thực === Các số hữu tỉ (các phân số m n {\displaystyle {\frac {m}{n}}} trong đó m ∈ Z {\displaystyle m\in \mathbb {Z} } , n ∈ N , n > 0 {\displaystyle n\in \mathbb {N} ,n>0} ) không đủ dùng để biểu diện các độ đo trong hình học, chẳng hạn độ dài đường chéo của một hình vuông có cạnh là 1 là 2 {\displaystyle {\sqrt {2}}} . Có thể chứng minh rằng, không có số hữu tỉ nào bình phương bằng 2. Tổng quát hơn, người ta mở rộng tập hợp số hữu tỷ thành tập hợp số trong đó mọi dãy Cauchy đều có giới hạn, tập hợp đó được gọi là tập hợp số thực. (Dãy {xn}n ∈ N {\displaystyle \in \mathbb {N} } được gọi là dãy Cauchy nếu với mọi số r > 0 tồn tại số nguyên dương N sao cho với mọi m,n > N luôn có | xm − xn | < r.) Các số thực biểu diễn được dưới dạng phân số được gọi là các số hữu tỉ (rational). Các số thực không biểu diễn được dưới dạng phân số được gọi là các số vô tỷ (irrational). Tập các số thực được ký hiệu là R {\displaystyle \mathbb {R} } , tập các số vô tỉ là I {\displaystyle \mathbb {I} } . Như vậy R = Q ∪ I {\displaystyle \mathbb {R} =\mathbb {Q} \cup \mathbb {I} } và Q ∩ I = ∅ {\displaystyle \mathbb {Q} \cap \mathbb {I} =\emptyset } . Tập các số thực còn được phân chia thành tập các số đại số và tập các số siêu việt. === Số phức === Tập các số phức là mở rộng đại số của tập các số thực với việc bổ sung một số mới là căn bậc hai của -1, số này được gọi là đơn vị ảo và ký hiệu là i. Khi đó tập các số phức là tập các số dạng z=a+b×i. Trong tập các số phức, mọi phương trình đại số bậc n có đúng n nghiệm. Tập các số phức được ký hiệu là C {\displaystyle \mathbb {C} } , như vậy quan hệ bao hàm giữa các tập hợp số đã biết là: N ⊂ Z ⊂ Q ⊂ R ⊂ C {\displaystyle \mathbb {N} \subset \mathbb {Z} \subset \mathbb {Q} \subset \mathbb {R} \subset \mathbb {C} } . === Số siêu phức === Khái niệm mở rộng của số phức từ dạng tổ hợp tuyến tính 2 chiều z = a + b.i với các hệ số thực a, b của hai đơn vị cơ sở 1 và i sang không gian vectơ n chiều với n hệ số thực x0, x1, x2,..., xn-&, của n dơn vị cơ sở 1, e1, e2, e3,..., en-1: z = x0.1 + x1.e1 + x2.e2 +... + xn-1.en-1 === Số đại số === Số đại số là số có thể thỏa mãn (nghiệm) một phương trình đại số. Số đại số có thể là số thực hoặc số phức. === Số siêu việt === Số siêu việt là số vô tỉ (thực hoặc phức) không là nghiệm của bất ký một phương trình đại số nào. Nói theo ngôn ngữ toán tập hợp, trường số siêu việt là phần bù của trường số đại số. == Lịch sử số nguyên == === Lịch sử số không === Con số "không" mà chúng ta quen và thấy mọi ngày, được ra đời khoảng 200 năm sau Thiên Chúa giáng sinh. Con số "không" đã được tượng hình do người Hindu Ấn Độ. Người Hindu là những người đầu tiên đưa ra con số này để để trình bày quan niệm "không có số lượng". Những nền văn minh trước đó, ngay cả người Hi Lạp, khái niệm "không" vẫn chưa xảy ra mặc dù rất cần có một con số để chỉ sự vắng mặt của một số đồ vật nào đó. Liên quan với khái niệm trước của con số zéro, nghĩa thứ hai là có thật, phải biết và phải được phân biệt với sự "không" (nulle, null). Điều rõ ràng là những dân tộc trước đây không đủ khả năng để cảm nhận sự phân biệt giữa "không" và "không có gì". Thí dụ, một người không có một sổ ngân hàng nào hết thì người đó thuộc vào hạng "không có gì", còn một người có sổ ngân hàng nhưng không có đồng nào trong công thì kết toán sẽ là "không". Nhưng cuối cùng các nhà toán học đã phát triển cách để viết những con số. Trước tiên ta đếm những đơn vị rồi đến bậc cao hơn là hàng chục rồi hàng chục của chục, hàng chục của chục của chục.. vân vân... Ta cũng trình bày được một trăm hai mươi ba bởi 123. Bởi vì số "mười" đóng một vai trò căn bản trong sự đo lường có lẽ bởi con người đếm bằng những ngón tay trên hai bàn tay và xem như số mười (10) là con số lớn nhất của đơn vị. Vi trí của con số nói lên số lượng nên gọi là cách đếm theo vị trí. Hệ thống đếm thập phân theo vị trí do người Hindus, tuy nhiên cũng trên cách xếp đặt đó trước đó hai ngàn năm người Babylone đã dùng nhưng trên căn bản 60 (thay vì 10) và dưới hình thức giới hạn vì họ chưa có số zéro. Có hai cách sử dụng cực kỳ quan trọng của con số zéro: Thứ nhất là ý niệm "không có gì" và "giá trị không" như đã trình bày thí dụ ở chương trước Thứ hai là để chỉ giá trị sự không có gì trong hệ thống đếm số theo vị trí. Thí dụ trong số 2106 thì ở vị trí hàng chục là có giá trị không nhưng rõ ràng là nếu so sánh 2 số 216 và 2106 là hoàn toàn khác hẳn. Cả hai cách dùng đều có một lịch sử không dễ gì giải thích được. Có thể do một người nào đó đã phát minh ra những ý nghĩ rồi thì mỗi người bắt đầu dùng. Cuối cùng cách sử dụng để chỉ con số zéro khác xa với khái niệm lúc đầu. Ngày xưa toán học dùng để chỉ những vấn đề thực tế hơn là trừu tượng như hôm nay. Phải trải qua những bước đi khổng lồ về ý tưởng để đi từ 5 "con ngựa" sang 5 "vật" rồi cuối cùng ý nghĩ trừu tượng là con số "năm". Nếu như dân tộc xưa giải đáp một bài toán về số ngựa của một nhà chăn nuôi thì chắc chắn họ sẽ không có giải đáp là sẽ có 0 con ngựa hay -23 con ngựa. Mặc dù người Babylone đã có hệ thống đếm giá trị theo vị trí từ trên 1000 năm nay nhưng chắc chắn là có rất nhiều sự lầm lẫn. Điều đáng kể là những có những câu văn nguyên thủy người Babylone viết bằng chữ hình góc (écriture cunéiforme) -cũng như họ đã kiếm ra con số Pi- từ thời đại Toán học Babylone. Người Babylone đã viết chữ hình góc trên những miếng đất sét không nung chín. Những ký hiệu được ấn vô những miếng đất sét. Có rất nhiều miếng đất sét mà số còn sống sót cỡ 1700 miếng trước Công Nguyên và chúng ta có thể đọc được những câu nguyên thủy. Lẽ đương nhiên khái niệm của họ khác với khái niệm của ta hiện nay và không trên cách đếm căn bản 10 mà là 60 như đã nói trên. Thí dụ nếu dịch con số 2106 và 216 cho họ xem thì họ sẽ hoàn toàn không phân biệt được. Đến năm 400 trước TC người Babylone đã để 2 số tượng trưng chêm vô nơi mà ta để con số zéro để biểu hiệu những con số 216 hay 21 hay 6. Hai số tượng trưng chêm không phải là ký hiệu duy nhất được dùng. Người ta đã tìm thấy một viên đất sét nén nơi những người Kish (một thành phố cổ xưa của Mesopotamian ở phía Đông của Babylone, bây giờ là Trung-Nam Irak) đã dùng một ký hiệu mới. Khoảng 700 năm trước CN, viên đất sét nén này có dùng 3 dấu móc để biểu hiệu một chỗ trống (endroit vide) cho cách trình bày vị trí. Có một dấu hiệu trên một tấm bảng cùng thời kì đó cũng dùng một dấu móc để chỉ chỗ trống. Sự bố trí chung cho cách dùng những dấu hiệu khác nhau để chỉ chỗ trống. Dấu hiệu trống đó chỉ nằm giữa hai con số chớ không bao giờ nằm hai đầu mút của con số. Như vậy ta thấy rằng với 21 và 6, sẽ không có số 216. Ta có thể giả sử rằng vì ngày trước, tình cảm xưa hơn ngữ cảnh (contexte) và đủ để chỉ những gì đã dự kiến để dùng trong những két (caisse). Nếu lời chỉ dẫn cho ngữ cảnh có vẻ đần độn thì ta cũng phải lưu ý rằng nhờ những lời chỉ dẫn đó đã giúp ta giải thích những con số hiện nay. Nếu tôi hỏi giá tiền xe buýt đi từ nhà tôi đến thành phố bên cạnh mà người ta trả lời là "ba năm mươi" thì tôi hiểu là 3 bảng Anh và 50 pence. Tuy nhiên cũng với câu trả lời tương tự cho câu hỏi về giá tiền chuyến bay từ Edimbourg đến New York thì tôi lại hiểu là 350 bảng Anh, như đã dự kiến. Từ việc này, ta có thể thấy cách dùng ngắn hạn của zéro để biểu hiệu một chỗ trống thì zéro không phải là một con số mà chỉ là một loại dấu chấm câu (ponctuation) để diễn tả con số chính xác. == Biểu diễn số == Các số có thể được biểu diễn dưới dạng số thập phân hữu hạn, vô hạn tuần hoàn và không tuần hoàn. == Tham khảo == == Liên kết ngoài == Bài giảng Lý thuyết Số học tại trường Đại học Cần Thơ == Xem thêm ==
nòng nọc.txt
Nòng nọc là động vật lưỡng cư khi còn nhỏ thường sống dưới nước tuy nhiên có một số nòng nọc sống trên can. Nòng nọc thở bằng mang. Nó không tay hay chân cho đến khi trưởng thành và thường có vi trên lưng và một cái đuôi mà nó dùng để bơi như là cá. Khi nó bắt đầu lớn lên, nó biến thái và mọc tứ chi, thường là chân sau trước rồi đến chân trước. Đuôi bị mất đi do sự chết rụng tế bào. Phổi bắt đầu phát triển cùng lúc với chân và nòng nọc trong giai đoạn cuối cùng thường hay sống gần mặt nước để thở không khí. Sau cùng thì mồm của chúng biến thành rộng ra bằng chiêu ngang của đầu. Ruột non ngắn lại để thích họp với nguồn thức ăn mới. Phần đông nòng nọc ăn rông rêu và cây cỏ. Một vài loại ăn tạp và có thể ăn cả những nòng nọc nhỏ hơn. == Liên kết ngoài == Phương tiện liên quan tới Tadpole tại Wikimedia Commons Định nghĩa trên Wiktionary của nòng nọc Video hình những con nòng nọc Làm sao nuôi nòng nọc Nuôi nòng nọc cho đến trưởng thành (University of California Berkeley) Mưa nòng nọc ở Nhật tháng 6 năm 2009 == Tham khảo ==
osiris.txt
Osiris (/ɔʊˈsaɪrɪs /,trong tiếng Hy Lạp Ὄσιρις còn gọi là Usiris; các tên khác dịch từ tiếng Ai Cập là Asar, Asari, Aser, Ausar, Ausir, Wesir, Usir, Usire và Ausare) là một vị thần Ai Cập, thường được coi là thần của thế giới bên kia, thần chết. Osiris được miêu tả là có nước da màu xanh, mang bộ râu của pharaoh và phần chân được quấn vải như xác ướp. Ông thường đội một chiếc vương miện đặc biệt với hai chiếc lông đà điểu lớn ở cả hai phía, và cầm một cây gậy cong mang tính biểu tượng và đòn đập lúa. Osiris được coi là người con trai cả của thần Trái đất Geb và nữ thần bầu trời Nut, là anh trai và cũng là chồng của Isis. Horus là con trai của Osiris, được Isis sinh ra sau khi Osiris chết. Osiris còn là một trong những thần cổ nhất trong các văn bản đã được tìm thấy; một trong những bút tích lâu đời nhất được biết có nhắc tới Osiris là ở Palermo vào khoảng năm 2500 TCN. Ông được thờ rộng rãi cho đến khi xảy ra Sự đàn áp trong kỷ nguyên Cơ đốc giáo. Osiris được thờ phụng không chỉ vì ông cai quản những linh hồn người chết, ông còn bảo vệ sự sống, là thần của cây cỏ và cũng là người dâng nước sông Nile.Các pharaoh Ai Cập thường mong được gặp Osiris sau khi chết, bởi Osiris giúp họ hưởng sự sống vĩnh cửu song song với công xã người sau nghi thức mai táng. Và ở Ai Cập, tất cả mọi người, không chỉ các pharaoh, tin rằng họ sẽ được Osiris bảo trợ sau khi chết nếu thực hiện đầy đủ các nghi thức ma thuật. Osiris được coi là con trai cả của thần đất Geb và nữ thần bầu trời Nut, anh trai của Seth và là chồng của Isis. Sau này ông còn được biết đến với cái tên Khenti-Amentiu, nghĩa là "người đứng đầu phương Tây" ("Phương Tây" ở đây ám chỉ cái chết). Trong suốt chiều dài của nền văn minh Ai Cập, Osiris được coi như một vị Chúa Trời, ông đứng đầu tất cả các thần Ai Cập, chỉ sau thần Ra. == Hình thức == Trong các tài liệu cổ, Osiris được miêu tả là một vị pharoh với nước da màu xanh (màu tượng trưng cho sự tái sinh) với vương miện Atef(một loại vương miện trắng có gắn lông vũ ở hai bên), biểu tượng của Thượng Ai Cập,trên tay cầm quyền trượng dưới dạng một cây gậy có móc và một cái néo (dụng cụ đập lúa của người Ai Cập cổ). Gậy có móc thường là quyền trượng của Pharaoh, thể hiện Osiris chính là một vị quân vương, người đứng đầu. Còn cái néo hiện chưa biết là biểu tượng của nông nghiệp, cây đuổi ruồi hay sự liên tưởng tới thần Andjety == Huyền thoại == Từ rất sớm, các văn tự ở Kim Tự Tháp đã thể hiện quan điểm về một cuộc sống vĩnh cửu == Chú thích ==
mecca.txt
Mecca (phiên âm tiếng Việt: Mếch-ca) hay Makkah (IPA: [ˈmækə]), tên đầy đủ là Makkah al-Mukarramah (IPA: [mækːæ(t) ælmʊkarˑamæ]; Tiếng Ả Rập: مكّة المكرمة) là thành phố thánh địa của đạo Hồi, thuộc lãnh thổ Ả Rập Xê Út. Theo quy định của đạo Hồi, mỗi giáo dân ít nhất một lần trong cuộc đời phải hành hương về thánh địa Mecca bằng chính kinh phí của bản thân mình và trước khi đi phải chuẩn bị thức ăn thức uống cho người thân (những người ở nhà, không đi hành hương) trong thời gian mà họ đi vắng. Vào tháng Ramadan, người Hồi giáo hành hương về đây (và chỉ có người Hồi giáo mới được về đây). Sau khi hành hương đến Mecca, tín đồ đạo Hồi sẽ có được danh hiệu là "Haj" hoặc "Haji". Với dân số 1.700.000 (2008), thành phố có vị trí 73 km (45 dặm) từ nội địa Jeddah trong một thung lũng hẹp ở độ cao 277 m (909 ft) trên mực nước biển. Mỗi năm, hàng triệu người Hồi giáo thực hiện Hajj hành hương đến Mecca đi bộ bảy lần quanh tòa nhà khối lập phương Kaaba và hơn 13.000.000 người thăm Mecca hàng năm. == Chính phủ == Mecca được cai-quản bởi Tòa thị chính Mecca, một hội đồng thành phố gồm có mười bốn thành viên được bầu tại địa phương do thị trưởng (được gọi là Amir) đứng đầu, thị trưởng được Chính phủ Saudi chỉ định. Thị trưởng hiện tại của thành phố là Usama al-Bar. Mecca là thủ phủ của tỉnh Makkah, bao gồm lân cận Jeddah. Thống đốc tỉnh là hoàng tử Abdul Majeed bin Abdul Aziz từ năm 2000 đến khi qua đời vào năm 2007. Ngày 16 tháng 5 năm 2007, hoàng tử Khalid al Faisal được bổ nhiệm làm thống đốc mới. == Các lễ hội Hajj == Lý do chính của người Hồi giáo đến Mecca là để cầu nguyện trong thánh đường Al-Masjid Al-Haram. Thông thường, họ thực hiện các Umrah, cuộc hành hương nhỏ, trong khi hành hương đến Masjid al-haram. Mỗi năm một lần, Hajj, cuộc hành hương lớn, diễn ra tại Mecca và các khu vực gần đó. Trong Hajj, nhiều triệu người thuộc nhiều chủng tộc và quốc gia đến hành hương tại Mecca. Hồi giáo dạy rằng nếu một người thực hiện Umrah hoặc Hajj đúng và với ý định chân thành (để cầu xin Allah) thì tất cả họ được tha tội. === Các vụ giẫm đạp nhau === Cứ vào tháng 9 hằng năm, người Hồi giáo trên khắp thế giới lại đổ về thánh địa Mecca trong lễ hành hương Hajj. Đây là một trong những nghi lễ tôn giáo lớn nhất thế giới. Do đó, những rủi ro cũng luôn rình rập người hành hương. Do số lượng tín đồ về hành hương quá đông, cũng như khâu tổ chức chưa tốt nên trong lịch sử cũng đã có nhiều vụ giẫm đạp nhau làm nhiều người chết: Năm 1990, khi 1.426 người hành hương thiệt mạng trong vụ giẫm đạp ở một đường hầm gần Mecca. Tháng 1-2006, một vụ giẫm đạp xảy ra khi người hành hương thực hiện nghi thức ném sỏi khiến 364 người thiệt mạng. Ngày 24/09/2015, vụ giẫm đạp xảy ra ở Phố 204, một trong hai con đường huyết mạch dẫn từ Mina tới Jamarat làm 2000 người chết == Lịch sử thành phố == == Địa lý == Mecca nằm ở độ cao 277 m (909 ft) trên mực nước biển, vá cách Biển Đỏ 80 km (50 mi). Trung tâm Mecca nằm trong hành lang giữa các dãy núi, khu vực này gồm thung lũng Al Taneem, thung lũng Bakkah và thung lũng Abqar. Vị trí này được xác định là trung tâm mở rộng hiện đại của thành phố. Trung tâm thành phố ở vùng Masjid al-Haram area, nơi có độ cao thấp hơn nhiều nơi khác của thành phố. Các trục đường chính là Al-Mudda'ah và Sūq al-Layl để đến phía bắc của thánh đường, và As-Sūg Assaghīr về phía nam. Tổng diện tích của Mecca ngày nay hơn 1.200 km2 (460 sq mi). === Các khu === == Khí hậu == Mecca có khí hậu cực kỳ khô. Không giống các thành phố Ả Rập Saudi khác, Mecca vẫn có nhiệt độ ấm vào mùa đông dao động từ 18 °C (64 °F) vào ban đêm đến 30 °C (86 °F) vào buổi trưa. Nhiệt động mùa hè rất nóng và đôi khi trên 40 °C (104 °F) vào buổi trưa và tụt xuống 30 °C (86 °F) vào chiều. Lượng mưa hàng năm ở Mecca thì nhỏ diễn ra giữa tháng 11 và tháng 1. == Hình ảnh == == Tham khảo == == Liên kết ngoài ==
bằng sáng chế.txt
Một bằng sáng chế hay bằng độc quyền sáng chế là một chứng nhận các đặc quyền dành cho nhà sáng chế hoặc chủ sở hữu sáng chế bởi một quốc gia trong một thời hạn nhất định, đổi lấy việc nội dung của sáng chế được công bố rộng rãi ra công chúng. Quy trình để cấp bằng sáng chế, các điều kiện để cấp bằng và đặc quyền cũng như thời hạn của đặc quyền thay đổi giữa các quốc gia, theo luật pháp của từng quốc gia và các thỏa thuận quốc tế. == Quy định == Thông thường, để được có bằng sáng chế, các yêu cầu cấp bằng cần chỉ rõ tính mới (chưa được công bố hoặc chưa được dùng hoặc chưa được cấp bằng hoặc chưa được mô tả ở bất cứ tài liệu nào), tính sáng tạo và không hiển nhiên (không được hiển nhiên đối với một người bình thường trong ngành), và tính hữu ích hay ứng dụng công nghiệp. Ngoài các quy định thông dụng trên, tại một số quốc gia, nếu nộp hồ sơ cấp bằng sáng chế muộn quá một thời gian quy định sau ngày công bố đầu tiên thì hồ sơ sẽ không được nhận. Nếu có dấu hiệu cho thấy một nhà sáng chế không còn hoạt động gì để hoàn thiện sáng chế của họ, trong khi có nhà sáng chế khác sau đó tiếp tục hoàn thiện sáng chế này, bằng sáng chế có thể được cấp cho nhà sáng chế sau chứ không phải là nhà sáng chế đầu. Ở nhiều nước, một số chủ đề không được cấp bằng sáng chế, như phương pháp kinh doanh. Các đặc quyền được cấp cho một bằng sáng chế, tại hầu hết các nước, gồm quyền ngăn cấm người khác làm, sử dụng, bán, hoặc phân phối các sáng chế mà không được phép, trong lãnh thổ của quốc gia cấp bằng. Tại một số quốc gia, có thể tồn tại nhiều loại bằng sáng chế khác nhau, ứng với các điều kiện cấp bảo hộ và thời hạn bảo hộ khác nhau. Trong Hiệp định về các Khía cạnh Liên quan đến Thương mại của Sở hữu Trí tuệ của Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO), bằng sáng chế cần được cho phép cấp trong tất cả các lĩnh vực công nghệ, tại các nước thành viên WTO, đối với bất kỳ sáng chế nào và thời hạn bảo hộ nên là hai mươi năm tối thiểu. Không phải bằng sáng chế nào cũng có giá trị thương mại. Tiền bản quyền thu được khi bán hay chuyển giao công nghệ từ bằng sáng chế, nếu có, có thể không bù đắp được chi phí nghiên cứu công nghệ và đăng ký bảo hộ. Khi bằng sáng chế được cấp, nội dung của sáng chế được công bố rộng rãi, và có thể tới những lãnh thổ tại đó nó chưa được bảo hộ. Ngược lại, các sáng chế không được cấp bằng vẫn có những giá trị; ví dụ như chúng có thể là bí quyết công nghệ. Kho dữ liệu về nội dung các sáng chế đã được cấp bằng, quản lý bởi chính phủ các quốc gia, là nguồn tài nguyên công bố công cộng, có thể giúp các nhà nghiên cứu công nghệ tìm hiểu sâu về công nghệ liên quan, các nhà kinh doanh nắm được xu hướng công nghệ của đối thủ, các học giả có thêm tài liệu tham khảo miễn phí hoặc chi phí rất thấp. Tính đến năm 2010, đã có khoảng 60 triệu nội dung sáng chế (được cấp bằng) được tóm tắt hoặc công bố chi tiết trên mạng Internet. == Xem thêm == Sáng chế Phân loại Bằng sáng chế Quốc tế == Tham khảo == == Liên kết ngoài == WIPO, Tổ chức Sở hữu Trí tuệ Thế giới Văn phòng Bằng sáng chế Hoa Kỳ Văn phòng Bằng sáng chế Châu Âu Cục Sở hữu trí tuệ Việt Nam Công cụ tra cứu nội dung các sáng chế đã được cấp bằng của Google
oldham athletic a.f.c..txt
Oldham Athletic Association Football Club (biệt danh The Latics) là một câu lạc bộ bóng đá chuyên nghiệp có trụ sở tại Oldham, Greater Manchester, Anh. Câu lạc bộ thi đấu tại League One, hạng đấu thứ ba của bóng đá Anh, và chọn Boundary Park làm sân nhà. Lịch sử của Oldham Athletic A.F.C. bắt đầu với việc Pine Villa F.C. được thành lập năm 1895, thi đấu trong các giải của Manchester và Lancashire. Khi đối thủ Oldham County F.C. giải thể năm 1899, Pine Villa F.C. chuyển tới sân của họ và đổi tên thành Oldham Athletic. Họ là á quân Football League mùa 1914–15 nhưng xuống hạng Football League First Division năm 1923. Họ từng vào chung kết Football League Cup 1990 và giành chức vô địch Football League Second Division năm 1991, kết thúc 68 năm thi đấu bóng đá dưới giải đấu hàng đầu nước Anh. Họ trụ lại giải đấu thành công năm sau đó và trở thành thành viên sáng lập Premier League nhưng sau đó xuống hạng năm 1994. Sau khi phá sản 2003–04, câu lạc bộ được thu mua bởi một nhóm doanh nhân người Anh gốc Mỹ đứng đầu là Simon Blitz. == Cầu thủ == === Đội hình một === Số liệu thống kê chính xác tới 18 tháng 7 năm 2016 Ghi chú: Quốc kỳ chỉ đội tuyển quốc gia được xác định rõ trong điều lệ tư cách FIFA. Các cầu thủ có thể giữ hơn một quốc tịch ngoài FIFA. == Đội nữ == Oldham Athletic có một đội nữ thi đấu tại Greater Manchester Women's Football League. == Quan chức câu lạc bộ == === Ban giám đốc === Chủ tịch: Simon Corney Giám đốc điều hành: Neil Joy Các giám đốc: Simon Brooke, Simon Corney, Anthony Gee, Ian Hill, Neil Joy, Anna Kocerhan & Barry Owen === Ban huấn luyện chuyên nghiệp === Huấn luyện viên: Steve Robinson Trợ lý huấn luyện viên: Ian Baraclough Huấn luyện viên thủ môn: Carlo Nash Trưởng đội vật lý trị liệu: Stuart Irwin Phân tích phong độ: Tom Hart Kit Man: Steve Cross === Ban huấn luyện học viện === Quản lý học viện: Tony Philliskirk Huấn luyện viên trưởng: Simon Cooper Huấn luyện viên phát triển cầu thủ trẻ: Pete Wild Huấn luyện viên quản lý quỹ: Craig Large Chuyên viên trị liệu: Anthony Gray Tuyển trạch viên trưởng: Paul Ogden Quản trị viên: Natalie Seaton == Danh hiệu == === League === Football League First Division Á quân: |1914–15 (1) Football League Second Division Vô địch: 1990–91 (1) Á quân: 1909–10 (1) Football League Third Division Vô địch: 1973–74 (1) Football League Third Division North Vô địch: 1952–53 (1) Football League Fourth Division Á quân: 1962–63 (1) Lancashire Combination Vô địch: 1906–07 (1) === Cup === FA Cup Bán kết: 1912–13, 1989–90, 1993–94 (3) Football League Cup Á quân: 1990 (1) Lancashire Senior Cup Vô địch: 1907–08, 1966–67, 2005–06 (3) Anglo-Scottish Cup Á quân: 1978–79 (1) === Kỉ lục câu lạc bộ === Kỉ lục thắng League: 11–0 v Southport, Division 4, Boundary Park, 26 tháng 12 năm 1962 Kỉ lục thắng Cup: 10–1 v Lytham, FA Cup, Vòng 1, Boundary Park, 28 tháng 11 năm 1925 Kỉ lục thua League: 4–13 v Tranmere Rovers, Division 3 (North), Prenton Park, 26 tháng 12 năm 1935 Kỉ lục thua Cup: 1–7 v Sunderland, League Cup, Vòng 2, Roker Park, 24 tháng 9 năm 1962 Kỉ lục khán giả sân nhà: 47,671 v Sheffield Wednesday, FA Cup, Vòng 4, Boundary Park, 25 tháng 1 năm 1930 Kỉ lục khán giả sân nhà tại league: 45,120 v Blackpool, Division 2, Boundary Park 21 tháng 4 năm 1930 Chuỗi bất bại league dài nhất: 20 từ 1 tháng 5 năm 1990 tới 17 tháng 11 năm 1990 Thi đấu nhiều trận League nhất: 525 Ian Wood, 1966–1980 Ghi nhiều bàn League nhất: 141 Roger Palmer, 1980–1994 Ghi nhiều bàn League nhất một mùa: 33 Tom Davis, Division 3 (North), 1936–37 Khoác áo đội tuyển nhiều nhất: 24 Gunnar Halle – Na Uy, 1991–1996 Kỉ lục mua cầu thủ: £750,000 Ian Olney, Aston Villa, tháng 6 năm 1992 Kỉ lục bán cầu thủ: £1,700,000 Earl Barrett, Aston Villa, tháng 2 năm 1992 == Tham khảo == == Liên kết ngoài == Trang chủ Oldham Athletic Trust Oldham (Supporters Trust) Oldham Athletic Mad Oldham Athletic Books (Oldham Athletic: On This Day & Oldham Athletic: Miscellany) Trang tin độc lập Bản mẫu:BBC Football Info Oldham Athletic tại dữ liệu lịch sử câu lạc bộ bóng đá
oman.txt
Oman (phiên âm tiếng Việt: Ô-man; tiếng Ả Rập: سلطنة عُمان) là một quốc gia tại Trung Đông. Tên đầy đủ là Vương quốc Oman. == Địa lý == Oman nằm ở Đông Nam bán đảo Ả Rập, Tây Bắc giáp Các tiểu vương quốc Ả Rập thống nhất, Tây giáp Ả Rập Xê Út, Tây Nam giáp Yemen, Nam giáp Ấn Độ dương. Oman có vị trí rất quan trọng, kiểm soát eo biển Hormuz. === Khí hậu === Oman có khí hậu nóng và lượng mưa rất ít. Lượng mưa hàng năm tại Muscat trung bình 100 mm (3,9 in), giảm trong tháng Giêng. Khu vực dãy núi Dhofar nhận được lượng mưa theo mùa (từ cuối tháng 6 đến cuối tháng 9) như một kết quả của gió mùa từ Ấn Độ Dương bão hòa với độ ẩm mát mẻ và sương mù dày đặc. Các khu vực miền núi nhận được lượng mưa nhiều hơn, và lượng mưa hàng năm trên các phần cao của vùng núi Akhdar Jabal có thể vượt quá 400mm. Một số vùng ven bờ biển, đặc biệt là các khu vực gần đảo Masirah, đôi khi không có mưa ở tất cả các tháng trong một năm. Khí hậu nói chung là rất nóng, với nhiệt độ đạt khoảng 50 °C (cao điểm) trong mùa nóng, từ tháng 5 đến tháng 9. === Môi trường === Hạn hán và lượng mưa hạn chế góp phần vào tình trạng thiếu nguồn cung cấp nước của quốc gia, do đó để duy trì được đủ nước cung cấp cho nông nghiệp và sinh hoạt trong nước là một trong những vấn đề môi trường cấp bách nhất của Oman, với nguồn nước tái tạo hạn chế, 94% lượng nước có sẵn được sử dụng trong nông nghiệp và 2% đối với hoạt động công nghiệp, với phần lớn có nguồn gốc từ nước dưới các bể chứa ngầm sâu trong lòng đất trong các khu vực sa mạc và nước suối trong vùng đồi núi. == Lịch sử == Từ thời Cổ đại, vùng này đã có những mối quan hệ với các nền văn minh Lưỡng Hà, văn minh Ba Tư và văn minh Ấn Độ. Xứ sở này được Hồi giáo hóa và thuộc quyền kiểm soát của triều đại Abbasid từ thế kỉ 7. Thế kỷ 7, Oman là một bộ phận của Ả Rập Xê Út. Năm 1508, Bồ Đào Nha chiếm Muscat. Đầu thế kỷ 18 bị Ba Tư chiếm đóng. Năm 1741, người Ả Rập phục hồi quyền thống trị của Oman. Đến cuối thế kỷ 18, Anh chiếm Oman và chia thành Ôman và Muscat. Năm 1913 một giáo chủ Hồi giáo đã lãnh đạo các bộ lạc chống thực dân Anh đòi độc lập và lập ra Vương quốc Oman (Sultanate). Tháng 9 năm 1920 một thỏa thuận hòa bình được ký kết ở Síp giữa Anh và Oman. Theo hòa ước này đất nước bị chia thành Vương quốc Muscat và Vương quốc Oman. Năm 1954, Tiểu vương Oman là Gha-leb Alim tuyên bố Oman độc lập và đòi tham gia Liên đoàn Ả Rập. Năm 1955, dưới sự bảo trợ của quân đội Anh, quân của Muscat đã tấn công và chiếm đóng toàn bộ Oman và thống nhất lại thành Vương quốc Oman. Ngày 18 tháng 11 năm 1962 Uỷ ban chính trị Đại hội đồng Liên Hợp Quốc đã thông qua nghị quyết đòi trao trả độc lập cho Oman. Năm 1970, Anh phải tuyên bố rút khỏi vùng Vịnh, tuy nhiên phải 2 năm sau Anh mới thực hiện việc rút quân. Trong cuộc đảo chính ngày 23 tháng 7 năm 1970, Qabus ibn Sa'id lật đổ vua cha, thực hiện công cuộc hiện đại hóa đất nước đồng thời phải đương đầu với cuộc nổi dậy của Mặt trận giải phóng nhân dân Oman do Yemen hậu thuẫn và đã dẹp tan phong trào này nhờ sự giúp đỡ của quân đội Iran. Năm 1991, Oman được dùng làm căn cứ của Mỹ trong cuộc Chiến tranh vùng Vịnh, nhưng tán thành việc bãi bỏ lệnh cấm vận đối với Iraq. Năm 1992, Oman và Yemen ký kết một hiệp định chấm dứt việc tranh chấp biên giới giữa hai nước. Năm 1997, Quốc vương Qabus công nhận quyền của phụ nữ được bầu vào Hội đồng tư vấn (Majlis al-Shura). Hội đồng này không có quyền hạn chính thức, nhưng đảm nhiệm chức năng tư vấn cho Quốc vương về các vấn đề kinh tế và chính sách cộng đồng. == Chính trị == Oman theo chế độ quân chủ chuyên chế, đứng đầu Nhà nước là Quốc vương. Quốc vương vừa là nguyên thủ quốc gia vừa là người đứng đầu chính phủ. Các thành viên chính phủ do quốc vương bổ nhiệm. Cơ quan tư pháp gồm Majlis al-Dawla (Thượng viện, có 71 ghế do quốc vương bổ nhiệm, chỉ có quyền cố vấn), và Majlis al-Shura (Hạ viện, có 84 ghế, nhiệm kỳ 4 năm, các thành viên được chọn qua bầu cử phổ thông đầu phiếu, chỉ có quyền cố vấn). Oman không có đảng phái chính trị hoạt động, không có các nhóm áp lực hoặc đối lập với chính phủ. Phong trào đối lập là Mặt trận Nhân dân Giải phóng Oman - OPLF (thành lập năm 1965) hoạt động bí mật. === Luật pháp === Hệ thống pháp luật của đất nước dựa trên luật Hồi giáo. Ngành tư pháp nằm dưới quyền trực tiếp của quốc vương và Bộ Tư pháp. Luật Hồi giáo Sharia là nguồn gốc của tất cả các luật và các Tòa án Sharia trong hệ thống tòa án dân sự chịu trách nhiệm về các vấn đề gia đình, pháp luật, chẳng hạn như ly dị và thừa kế. Ở một số vùng nông thôn, luật lệ của bộ lạc thường được sử dụng để giải quyết tranh chấp. Quy chế cơ bản của Nhà nước là nền tảng của hệ thống pháp luật Oman và nó hoạt động như một hiến pháp cho đất nước. Quy chế cơ bản đã được ban hành trong năm 1996 và cho đến nay chỉ mới được sửa đổi một lần, vào năm 2011, để đối phó với cuộc biểu tình. === Chính sách đối ngoại === Từ năm 1970, Oman đã theo đuổi một chính sách đối ngoại trung lập và mở rộng quan hệ ngoại giao quốc tế đáng kể. Oman là một trong số rất ít các quốc gia Ả Rập đã duy trì quan hệ hữu nghị với Iran. WikiLeaks tiết lộ một bức điện ngoại giao của Mỹ nói rằng Oman đã giúp thủy thủ Anh bị bắt bởi lực lượng hải quân Iran trong năm 2007. Các bức điện tương tự cũng miêu tả chính phủ Oman vì muốn duy trì mối quan hệ thân mật với Iran đã liên tục từ chối các nhà ngoại giao Mỹ yêu cầu Oman thay đổi để có một lập trường chống lại Iran. === Quân đội === Các lực lượng quân sự của Oman có 44.100 người vào năm 2006, trong đó có 25.000 người phục trong lục quân, 4.200 thủy thủ trong hải quân, và một lực lượng không quân với 4.100 nhân viên. Hoàng gia duy trì 5.000 vệ binh, 1.000 trong lực lượng đặc biệt, 150 thủy thủ trong hạm đội du thuyền Hoàng gia, và 250 phi công và nhân viên mặt đất trong các phi đội bay Hoàng gia. Oman cũng duy trì một lực lượng bán quân sự khiêm tốn với 4.400 người. Quân đội Hoàng gia Oman có 25.000 nhân viên hoạt động trong năm 2006, cộng với một đội ngũ nhỏ của lực lượng bảo vệ gia đình Hoàng gia. Mặc dù chi tiêu cho quốc phòng lớn, nhưng quân đội nước này chậm chạp trong việc hiện đại hóa lực lượng của mình. Oman có một số lượng tương đối hạn chế của xe tăng, trong đó có 6 chiếc M60A1, M60A3 có 73 chiếc, và 38 chiếc Challenger 2 là các loại xe tăng chiến đấu chủ lực, cũng như 37 xe tăng hạng nhẹ Scorpion. Không quân Hoàng gia Oman có khoảng 4.100 người, chỉ có 36 máy bay chiến đấu và máy bay trực thăng không vũ trang. Máy bay chiến đấu bao gồm 20 chiếc Jaguar đã lỗi thời, 12 chiếc Hawk Mk 203s, 4 chiếc Hawk Mk 103s và 12 chiếc PC-9 phản lực cánh quạt với khả năng chiến đấu hạn chế. Nước này cũng còn một phi đội gồm 12 máy bay F-16C/D. Oman cũng có 4 chiếc A202-18 Bravos, và 8 chiếc MFI-17B Mushshaqs. Hải quân Hoàng gia Oman có 4.200 người vào năm 2000, và có trụ sở tại Seeb. Nó có các căn cứ tại Ahwi, đảo Ghanam, Mussandam và Salalah. Năm 2006, Oman đã có 10 tàu chiến đấu. Chúng bao gồm hai chiếc Qahir 1.450 tấn lớp tàu hộ tống, và 8 tàu tuần tra đi biển. Hải quân Oman có một chiếc vận tải Nasr al Bahr 2.500 tấn lớp LSL (240 quân, 7 xe tăng) với một cỗ máy bay trực thăng. Oman cũng có ít nhất bốn tàu đổ bộ. Trong năm 2010, Oman dành 4.074.000.000 USD cho quân sự, tức 8,5% GDP. == Hành chính == Vương quốc Hồi giáo Oman được chia thành mười một governorates (tỉnh). Governorates được chia lần lượt thành 60 wilayats (huyện). Ad Dakhiliyah Ad Dhahirah North Al Batinah North Al Batinah South Al Buraimi Al Wusta Ash Sharqiyah North Ash Sharqiyah South Dhofar Mascat Musandam == Nhân khẩu học == === Dân số === Theo điều tra dân số năm 2010, tổng dân số Oman là 2.773.479 người. Dân số đã tăng từ 2.340.815 trong điều tra dân số năm 2003. Tổng tỷ suất sinh năm 2011 là ước tính là 3,70%. Có 43% dân số ở độ tuổi dưới 15. Khoảng 50% dân số sống ở Muscat và Batinah cùng các vùng đồng bằng ven biển phía tây bắc; khoảng 200.000 người sinh sống trong khu vực Dhofar (miền Nam), và khoảng 30.000 sinh sống trong bán đảo Musandam trên eo biển Hormuz. Đất nước này có nhiều chủng tộc hỗn hợp, một di sản bởi quá khứ đế quốc của mình. Nhiều người Oman có nguồn gốc từ Đông Phi hoặc Baluchistan. Một số khoảng 600.000 người nước ngoài sống ở Oman, hầu hết trong số họ là người lao động từ Pakistan, Bangladesh, Ai Cập, Ấn Độ và Philippines. === Tôn giáo === Khoảng 75% của Oman là người Hồi giáo. Chính phủ Oman không thống kê tình hình tôn giáo, nhưng hầu hết các công dân là người Hồi giáo. Khoảng một nửa dân số thuộc trường phái Ibadi của Hồi giáo. Cộng đồng tôn giáo không theo đạo Hồi bao gồm các nhóm khác nhau của Ấn giáo, Kỳ Na giáo, Phật giáo, Hỏa giáo, đạo Sikh, Bahá'í, và Kitô giáo. Cộng đồng Kitô giáo được tập trung trong các khu vực đô thị của Thủ đô Muscat, Sohar, và Salalah và bao gồm Công giáo La Mã, Chính Thống giáo, và Tin Lành, được tổ chức thành các cộng đồng cùng ngôn ngữ và sắc tộc. Hiện có hơn 50 nhóm Kitô giáo khác nhau. === Ngôn ngữ === Tiếng Ả Rập là ngôn ngữ chính thức của Oman. Tiếng Balochi được sử dụng rộng rãi, cùng các ngôn ngữ khác bao gồm tiếng Bathari, tiếng Harsusi, tiếng Hobyot, tiếng Jibbali, tiếng Khojki, tiếng Kumzari, tiếng Mehri, tiếng Zidgali. == Kinh tế == Oman là nước có mức thu nhập cao, nền kinh tế phụ thuộc phần lớn vào tài nguyên dầu lửa. Oman đang trong quá trình thực hiện kế hoạch đa dạng hóa nền kinh tế, công nghiệp hóa và tư nhân hóa, với mục tiêu giảm tỷ lệ đóng góp của ngành dầu khí trong nền kinh tế xuống còn 9% vào năm 2020. Du lịch và các ngành công nghiệp liên quan đến khí đốt là hai lĩnh vực chính trong chiến lược đa dạng hóa của chính phủ. Tính đến năm 2016, GDP của Oman đạt 59.675 USD, đứng thứ 76 thế giới, đứng thứ 27 châu Á và đứng thứ 9 Trung Đông. Tài nguyên khoáng sản chủ yếu của Oman là dầu mỏ và hơi đốt. Trữ lượng dầu lửa là 5,7 tỷ thùng và hơi đốt là 846 tỷ m³. Công nghiệp dầu lửa chiếm khoảng 80% thu nhập quốc dân. Ngoài ra Ô-man có crôm, trữ lượng khoảng 2 tỷ tấn, sản xuất hàng năm 15.000 tấn. Nông nghiệp kém phát triển. Oman xuất khẩu: Dầu lửa (70% xuất sang các nước tư bản, trong đó 60% sang Nhật), tái xuất khẩu cá, kim loại, hàng dệt… Nhập khẩu: Máy móc, thiết bị giao thông, hàng công nghiệp, thực phẩm, gia súc, dầu nhớt. Các bạn hàng chính: Nhật, Hàn Quốc, Trung Quốc, Thái lan, UAE, Singapore, Mỹ, Anh, Đức. Cơ cấu kinh tế: Nông nghiệp 3%, công nghiệp 55%, dịch vụ: 42% GDP (2008): 67 tỷ USD (PPP) hoặc 56.32 tỷ USD (theo tỷ giá hối đoái). GDP đầu người: 20.200 USD (2008). Tỷ lệ tăng trưởng: 6.7% (2008); Lạm phát: 12.5%, Thất nghiệp: 15%. == Văn hóa == Mặc dù tiếng Ả Rập là ngôn ngữ chính thức của Oman, có người bản ngữ của các thổ ngữ khác nhau, cũng như Balochi (ngôn ngữ của Balochi từ phía Tây-Nam, phía đông Iran), và miền nam Afghanistan hay nhánh của miền Nam Ả Rập, và một số con cháu của các thủy thủ Sindhi. Cũng nói ở Oman là các ngôn ngữ Semit chỉ xa với tiếng Ả Rập, nhưng chặt chẽ liên quan đến ngôn ngữ Semit tại Eritrea và Ethiopia. Tiếng Swahili và tiếng Anh cũng được sử dụng rộng rãi trong nước do các mối quan hệ lịch sử giữa Oman và Zanzibar hai ngôn ngữ có liên quan lịch sử. Các ngôn ngữ bản địa chiếm ưu thế là một phương ngữ của tiếng Ả Rập và các nước cũng đã được thông qua tiếng Anh như một ngôn ngữ thứ hai. Hầu như tất cả các dấu hiệu và những bài viết xuất hiện trong cả tiếng Ả Rập và tiếng Anh. Một số lượng đáng kể cũng nói được tiếng Urdu, do làn sóng di dân Ấn Độ trong thời gian cuối những năm 1980 và 1990. Khanjar là dao găm truyền thống của Oman, xuất hiện khoảng năm 1924. Oman nổi tiếng với các dao Khanjar của nó, mà là cong dao găm đeo trong ngày lễ như là một phần của trang phục nghi lễ, trong kỷ nguyên Trung Cổ các Khanjar trở nên rất phổ biến nó tượng trưng cho Hồi giáo thủy thủ, sau đó các loại Khanjar của đã được thực hiện đại diện cho các quốc gia đi biển khác nhau trong thế giới Hồi giáo. Hôm nay quần áo truyền thống là mòn của hầu hết đàn ông Omani. Họ đeo một mắt cá chân dài, áo choàng collarless gọi là dishdasha rằng nút ở cổ bằng một tua treo xuống. Theo truyền thống tua này sẽ được nhúng vào nước hoa. Hôm nay tua được chỉ là một phần truyền thống của dishdasha này. Phụ nữ mặc hijabs và abayas. Một số phụ nữ che mặt và bàn tay của họ, nhưng hầu hết không. Các abaya là một trang phục truyền thống và hiện đang có trong phong cách khác nhau. Quốc vương đã cấm việc bao gồm các khuôn mặt trong văn phòng công cộng. Vào những ngày lễ, như Eid, người phụ nữ mặc trang phục truyền thống, mà thường là rất sáng màu và bao gồm một áo dài giữa bê trên quần. == Tham khảo == == Liên kết ngoài == Government Ministry of Information Ministry of Foreign Affairs Oman Tourism Portal State Council Majlis As-shura Omani sites on the world heritage list Chief of State and Cabinet Ministers General information Country Profile from BBC News Country Page from Encyclopaedia Britannica Mục “Oman” trên trang của CIA World Factbook. Rulers and Coins of Oman Oman at UCB Libraries GovPubs Oman tại DMOZ Congressional Research Service (CRS) Reports regarding Oman Information and News about Oman Oman from the United States Department of State includes Background Notes, Country Study and major reports Wikimedia Atlas của Oman, có một số bản đồ liên quan đến Oman. News media Oman state TV and Radio Oman newspaper Al-Watan newspaper Al-Shabiba newspaper Oman News Times of Oman Oman Tribune Oman Observer The Week
xây dựng.txt
Xây dựng là một quy trình thiết kế và thi công nên các cơ sở hạ tầng hoặc công trình, nhà ở. Hoạt động xây dựng khác với hoạt động sản xuất ở chỗ sản xuất tạo một lượng lớn sản phẩm với những chi tiết giống nhau, còn xây dựng nhắm tới những sản phẩm tại những địa điểm dành cho từng đối tượng khách hàng riêng biệt. Tại những nước phát triển, ngành công nghiệp xây dựng đóng góp từ 6-9% Tổng sản phẩm nội địa. Hoạt động xây dựng bắt đầu bằng việc lên kế hoạch, thiết kế, lập dự toán và thi công tới khi dự án hoàn tất và sẵn sàng đưa vào sử dụng. Mặc dù hoạt động này thường được xem là riêng lẻ, song trong thực tế, đó là sự kết hợp của rất nhiều nhân tố. Đầu tiên, một nhà quản lý dự án chịu trách nhiệm quản lý công việc chung, sau đó những nhà thầu, kỹ sư tư vấn thiết kế, kỹ sư thi công, kiến trúc sư, tư vấn giám sát... chịu trách nhiệm điều hành, thực hiện và giám sát hoạt động của dự án. Một dự án thành công đòi hỏi một kế hoạch xây dựng hiệu quả, bao gồm việc thiết kế và thi công đảm bảo phù hợp với địa điểm xây dựng và đúng với ngân sách đề ra trong dự toán; tổ chức thi công hợp lý, thuận tiện cho việc chuyên chở, lưu trữ vật liệu xây dựng; đảm bảo các tiêu chuẩn về môi trường, an toàn lao động; giảm thiểu những ảnh hưởng tới cộng đồng... == Các khái niệm == Hoạt động xây dựng bao gồm lập quy hoạch xây dựng, lập dự án đầu tư xây dựng công trình, khảo sát xây dựng, thiết kế xây dựng công trình, thi công xây dựng công trình, giám sát thi công xây dựng công trình, quản lý dự án đầu tư xây dựng công trình, lựa chọn nhà thầu trong hoạt động xây dựng và các hoạt động khác có liên quan đến xây dựng công trình. "Công trình xây dựng" là sản phẩm được tạo thành bởi sức lao động của con người, vật liệu xây dựng, thiết bị lắp đặt vào công trình, được liên kết định vị với đất, có thể bao gồm phần dưới mặt đất, phần trên mặt đất, phần dưới mặt nước và phần trên mặt nước, được xây dựng theo thiết kế. Công trình xây dựng bao gồm công trình xây dựng công cộng, nhà ở, công trình công nghiệp, giao thông, thủy lợi, năng lượng và các công trình khác. Các hoạt động xây dựng phải tuân thủ theo quy chuẩn xây dựng và tiêu chuẩn xây dựng. Trường hợp áp dụng tiêu chuẩn xây dựng của nước ngoài, thì phải được sự chấp thuận của cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền về xây dựng. "Giấy phép xây dựng" là văn bản pháp lý do cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp cho chủ đầu tư để xây dựng mới, sửa chữa, cải tạo, di dời công trình. "Công trường xây dựng" là phạm vi khu vực diễn ra các hoạt động xây dựng đã được sự cho phép của chính quyền. Các thành phần cơ bản hình thành một công trường xây dựng là: Khu lán trại dành cho cán bộ, công nhân; khu vực tập kết vật tư vật liệu; khu vực mà công trình xây dựng được xây dựng trực tiếp trên đó. "Thi công xây dựng" công trình bao gồm: xây dựng và lắp đặt thiết bị đối với các công trình xây dựng mới sửa chữa, cải tạo, di dời, tu bổ, phục hồi; phá dỡ công trình; bảo hành, bảo trì công trình đã có. == Phân loại công trình xây dựng == Các công trình xây dựng thường được phân chia thành 3 loại chính: công trình nhà, công trình cơ sở hạ tầng và công trình công nghiệp. Công trình nhà thường được phân chia theo mục đích sử dụng dùng làm nơi sinh sống (nhà ở) hay là không (trung tâm thương mại, trường đại học, viện nghiên cứu...). Cơ sở hạ tầng bao gồm những công trình phục vụ cộng đồng như đập, cầu, cống, hầm, đường sá... Công trình công nghiệp bao gồm các nhà máy như lọc dầu, hoá chất, nhà máy điện, sản xuất công nghiệp, hầm mỏ. == Xem thêm == Kiến trúc Kiến trúc sư Kỹ sư xây dựng Kết cấu xây dựng cao tầng Khoa học xây dựng Quản lý xây dựng Xây dựng cao tầng Thiết kế nội thất Chung cư == Tham khảo == == Liên kết ngoài ==
phù rể.txt
Phù rể hay Rể phụ hay Chú rể phụ là những người đàn ông được lựa chọn giúp cho chú rể trong lễ cưới như một vai trò của tiếp viên. Tại Anh, thông thường, chú rể lựa chọn những người bạn thân và người thân để phục vụ như là phù rể, và nó được coi là một vinh dự khi được lựa chọn. Những người làm phù rể được phân công giúp cho chú rể một số công việc trong các nghi lễ cưới xin. == Các dạng == Trong đám cưới, có hai kiểu phù rể, một là đội ngũ bạn bè của đôi uyên ương, hai là những thiên thần nhí, làm nhiệm vụ cầm nhẫn cưới cho chú rể. Những phù rể thường là trợ thủ giúp đỡ hai nhân vật chính từ khi chuẩn bị đám cưới, lo lắng các công việc quan trọng như chọn trang phục, tư vấn nơi đặt tiệc, làm hoa, thuê xe... tới đón khách, góp các tiết mục sôi động trong ngày lễ. Các phù rể nhí thường chỉ tham gia vào lễ thành hôn và tiệc, tạo không khí đáng yêu, sinh động cho đám cưới. Trong các tiệc cưới phù rể là đa số nhờ bạn bè, anh em trong gia đình, họ hàng đảm nhận. Một số cô dâu chú rể do quan trọng hóa lễ cưới mà cũng lựa chọn kỹ càng những phù rể và phù dâu, hạn chế họn những người tình duyên dang dở, lận đận hay gia đình tan đàn xẻ nghé. == Xem thêm == Phù dâu == Tham khảo ==
semaphore.txt
Semaphore hay tạm gọi là truyền tin thị giác (optical telegraph) là một công cụ dùng để truyền tin qua phương tiện tín hiệu nhìn thấy được với tháp cao cùng với các phiến quay quanh trục (pivoting blades) hay các cánh quạt (paddles), các cửa chớp (shutters) trong một hình thể ma trận (matrix), hoặc là các cờ cầm tay...Thông tin được mã hóa theo vị trí của các thành phần cơ học; nó được đọc khi các phiến hoặc cờ nằm ở một vị trí đã ấn định. Trong thời hiện đại, nó thường được ám chỉ đến một hệ thống truyền tín hiệu bằng hai lá cờ cầm tay. Hệ thống semaphore dùng hai cán cờ ngắn có cờ hình vuông là một trong các phần cơ bản của kỹ thuật Hướng đạo. Những hình thức tín hiệu thị giác khác còn có cờ hiệu hàng hải, đèn hiệu, và gương hiệu. Semaphore ra đời trước điện tín. Chúng nhanh hơn người đưa tin đi bằng ngựa trên một quãng đường xa, nhưng phí tổn nhiều và ít được bảo mật hơn điện tín mà thay thế nó sau đó. Khoảng cách mà một tín hiệu thị giác có thể truyền đi bị hạn chế bởi địa hình và thời tiết, vì vậy đa số các phương tiện truyền tín hiệu thị giác trong thực tế thường sử dụng nhiều trạm tiếp vận để nối liên lạc những khoảng cách xa hơn. == Semaphore hiện đại == Hệ thống semaphore mới hơn dùng hai cờ hình vuông có cán ngắn. Một người cầm cờ giữ chúng ở các vị trí khác nhau để truyền đi các mẫu tự và các số. Người cầm cờ giữ mỗi cờ trong mỗi tay, và đưa mỗi cánh tay của mình ở một trong 7 vị trí, các vị trí kế tiếp nhau cách nhau một góc 45 độ. Trừ khi ở vị trí nghỉ, hai cờ không thể chồng lên nhau. Màu cờ thì khác nhau dựa vào tín hiệu được truyền đi ở trên biển hay trên bờ. Màu đỏ và vàng cho cờ dùng ở biển trong khi màu trắng và xanh dương được dùng trên bờ. ==== Các mẫu tự Semaphore ==== Các mẫu tự Semaphore sau đây được biểu thị như bạn đang đối diện với người cầm cờ: == Đọc thêm == The Old Telegraphs, Geoffrey Wilson, Phillimore & Co Ltd 1976 ISBN 0900592796 Faster Than The Wind, The Liverpool to Holyhead Telegraph, Frank Large, an avid publication ISBN 0952102099 == Tham khảo == == Liên kết ngoài == Semaphore translator (applet) Interactive and animated semaphore translation applet. Chappe's semaphore (an illustrated history of optical telegraphy) The Early History of Data Networks - England and Ireland The Origin of the Railway Semaphore The Royal Signals Org.UK Datasheets Webpage including a map of England's telegraph chains Luyện semaphore trực tuyến Học và luyện semaphore online Phần mềm luyện semaphore cho android Phần mềm luyện semaphore cho android Dịch semarphore trực tuyến RFC 4824 The Transmission of IP Datagrams over the Semaphore Flag Signaling System (SFSS)
vanuatu.txt
Vanuatu, tên chính thức Cộng hòa Vanuatu, là đảo quốc gồm quần đảo vùng Melanesia, tây nam Thái Bình Dương. Quần đảo này nằm phía đông Úc cách 1.750 km, phía đông bắc Nouvelle-Calédonie cách 500 km, phía tây Fiji, và phía nam quần đảo Solomon. Trước năm 1980, Vanuatu có tên là New Hebrides thuộc sự đồng trị của cả hai nước Anh và Pháp. Người Việt thời đó gọi Vanuatu là Tân Đảo vì thực dân Pháp thường mộ phu chân đăng ở Đông Dương để đi khai phá và canh tác đồn điền ở đó. == Lịch sử == Theo chứng tích khảo cổ thì con người có mặt trên đảo Vanuatu từ khoảng 1300 năm trước Công nguyên. Năm 1606, người Tây Ban Nha dưới sự chỉ huy của Luis Váez de Torres và Pedro Fernández de Quirós đến đảo thám hiểm và cho rằng Vanuatu là một phần của lục địa châu Úc. Mãi đến thế kỷ 18 sau chuyến hải hành thứ hai của nhà thám hiểm người Anh James Cook và đảo được đặt tên "New Hebrides" người châu Âu mới đến định cư vùng đảo. Trong thời gian ngắn ngủi sau năm 1879, đảo Efate thành lập thể chế cộng hòa dưới tên "Franceville" với đặc điểm là quốc gia độc lập đầu tiên với quyền đầu phiếu phổ thông không phân biệt sắc tộc hay giới tính. Tuy nhiên riêng người da trắng được nhậm chức. Năm 1887, đảo được đặt dưới quyền cai trị quân đội của hai nước Anh và Pháp. Về sau được xác định thông qua nghị định thư năm 1914, chính thức phê chuẩn năm 1923. Sau chiến tranh thế giới thứ hai, quần đảo New Hebrides được hưởng thể chế sau này đưa đến quyền tự trị năm 1975. Từ đó những bất đồng giữa cộng đồng Anh ngữ (đa số) và cộng đồng Pháp ngữ lại gia tăng. Việc tạm ngừng đấu tranh cho phép thông qua một dự án hiến pháp. Tháng 11 năm 1979, đảng thuộc cộng đồng Anh ngữ giành thắng lợi trong cuộc tuyển cử, Mục sư Walter Lini trở thành Thủ tướng. Cộng đồng Pháp ngữ ở hai đảo Espíritu Santo và Tanna dự định tiến hành li khai. Một lực lượng gồm đội quân của Anh và Pháp phải can thiệp nhằm ngăn cản ý định li khai. Độc lập được tuyên bố ngày 30 tháng 7 năm 1980. Quần đảo New Hebrides đổi tên thành Cộng hòa Vanuatu. Georges Ati Sokomanu được bầu làm Tổng thống. Năm 1983, đảng của Walter Lini đắc cử. Năm 1984, Sokomanu phải đương đầu với Lini, từ chức và tái đắc cử. Năm 1987, Lini lại giành thắng lợi trong cuộc bầu cử. Tháng 9 năm 1991, Lini rút khỏi chính trường và Maxime Carlot Korman thuộc cộng đồng Pháp ngữ trở thành Thủ tướng. Năm 1994, Jean-Marc Leyé được bầu làm Tổng thống. Năm 1999, John Bani giữ chức Tổng thống và bổ nhiệm Donald Kalpokas vào chức Thủ tướng. == Địa lý == Vanuatu là một quần đảo san hô và núi lửa gồm 83 đảo lớn nhỏ, thuộc quần đảo Melanesia, gồm một quần đảo trải dài từ Bắc đến Nam trên 850 km ở Tây Nam Thái Bình Dương, nằm về phía Đông Bắc New Caledonia. Khoảng 75% diện tích đất đai bao phủ bởi các khu rừng nhiệt đới. Tabwemasana là đỉnh núi cao nhất (1.879 m) thuộc đảo Espíritu Santo (4.860 km2), đảo lớn nhất của quần đảo này. Nhiều ngọn núi lửa thuộc quần đảo này nằm trong "vành đai lửa Thái Bình Dương" hiện vẫn còn hoạt động, nhất là đảo Tanna, Ambrym, Aoba và Gaua. Hai đảo Matthew và Hunter còn trong vòng tranh chấp với Nouvelle-Calédonie. Trong tổng số đó có 14 đảo với diện tích hơn 100 km² là: Đa số những hải đảo là núi non, địa chất phún thạch của những ngọn núi lửa xưa với khí hậu nhiệt đới và bán nhiệt đới. Vũ lượng tại Vanuatu tính trung bình là 2.360 mm nhưng có năm lên đến 4.000 mm ở những đảo miền bắc. Có vài ngọn núi lửa còn hoạt động tại Vanuatu như ngọn Lopevi. Thiên tai địa chấn và núi lửa thường đe dọa quần đảo. Ngọn núi cao nhất Vanuatu là đỉnh Tabwemasana, đo được 1879 m trên đảo Espiritu Santo. Thành phố lớn nhất là thủ đô Port Vila trên đảo Efate. Thị trấn thứ nhì là Luganville trên đảo Espiritu Santo. Vanuatu được công nhận là vùng địa sinh thái đặc biệt (distinct terrestial ecoregion) thuộc phân khu sinh thái (ecozone) Australasia. == Khí hậu == Vanuatu nằm trong vùng khí hậu cận nhiệt đới. Thời tiết ôn hòa nhờ gió mậu dịch thổi theo hướng Đông Nam. Mùa khô từ tháng 5 đến tháng 10, mùa mưa từ tháng 11 đến tháng 4, lượng mưa trung bình tương đối cao. == Hành chính == Kể từ năm 1994, Vanuatu được chia thành sáu tỉnh (province). Tên của sáu tỉnh thì ghép từ tên những đảo phụ thuộc. Malampa (MALakula, AMbrym, PAama) Penama (PENntecost, Ambae, MAewo) Sanma (SANto, MAlo) Shefa (nhóm SHepherds, EFAte) Tafea (Tanna, Aniwa, Futuna, Erromango, Aneityum) Torba (TORres, BAnks) Mỗi tỉnh là đơn vị tự trị với hội đồng tỉnh do cư dân bầu lên. Hội đồng này có quyền thu thuế địa phương và quyết định ngân sách hàng tỉnh cùng những nghị luật. Chủ tịch Hội đồng do chính các thành viên bầu ra, lại có thư ký trợ lý do Ủy ban Công chức (Public Service Commission) bổ nhiệm. Ngành hành pháp có hành pháp viên (executive officer) do phủ Thủ tướng bổ nhiệm. Ở cấp tỉnh cũng có vị tổng thống tỉnh bang (provincial president) thuộc cử tri đoàn để bầu ra tổng thống Vanuatu. Dưới cấp tỉnh là xã (municipality), tương đương với một đảo một. Xã có hội đồng xã và xã trưởng do cư dân bầu nên. == Chính trị == Vanuatu là một nước dân chủ nghị viện. Đứng đầu là Tổng thống với nhiệm kỳ năm năm nắm vai trò lễ nghi. Cử tri đoàn gồm các đại biểu quốc hội và tổng thống tỉnh bang bỏ phiếu bầu tổng thống toàn quốc. Thủ tướng điều hành chính phủ thì do Quốc hội bầu nếu đạt được hơn nửa số phiếu của ¾ đại biểu. Thủ tướng có nhiệm vụ lập nội các, tức hội đồng bộ trưởng để điều hành ngành hành pháp Vanuatu. Quốc hội Vanuatu là viện lập pháp đơn viện (unicameral) với 52 đại biểu nhiệm kỳ bốn năm do cử tri trực tiếp bầu ra. Quốc hội có thể tự giải tán hay do lệnh Tổng thống với sự cố vấn của Thủ tướng. Song song với Quốc hội là Hội đồng tộc trưởng Malvatu Mauri để cố vấn chính phủ trong những lãnh vực văn hóa và ngôn ngữ Vanuatu. Các Đảng chính trị chính: Vanuaaku Pati, Đảng thống nhất Dân tộc (NUP) và một số đảng khác. == Đối ngoại == Vanuatu theo đuổi chính sách đối ngoại hòa bình, không liên kết, chống vũ khí hạt nhân. Đến nay, Vanuatu có quan hệ ngoại giao với 74 nước. Vanuatu có quan hệ hợp tác kinh tế và văn hóa chặt chẽ với Úc, New Zealand và EU và Nam Thái Bình Dương. Hiện nay, Vanuatu cũng đang chú trọng phát triển quan hệ với nhiều nước khác, đặc biệt là các nước lớn cung cấp nhiều viện trợ như Trung Quốc, Mỹ và các nước láng giềng khu vực. Vanuatu là thành viên Liên Hợp Quốc (1981), Khối thịnh vượng chung (Common Wealth), Phong trào không liên kết (1983), Cộng đồng Pháp ngữ (ACCT), Ngân hàng thế giới WB, Quỹ tiền tệ quốc tế IMF, Diễn đàn các nước Nam Thái Bình Dương (SPF)... == Kinh tế == Vanuatu có nền kinh tế còn chưa phát triển, chủ yếu là nông nghiệp với quy mô nhỏ, công nghiệp còn khiêm tốn; ngoài ra còn một số ngành khác như đánh bắt hải sản, khai khoáng và du lịch. Tốc độ tăng GDP trung bình khoảng 2,9%. Vanuatu nhập khẩu nhiều máy móc, phương tiện vận tải, thực phẩm, dầu mỏ, hoá chất trong khi xuất khẩu khiêm tốn chủ yếu là cùi dừa, ca cao, thịt bò, gỗ. Bạn hàng và cũng là nước cung cấp viện trợ chính là Úc, Anh, Pháp, Liên minh châu Âu (EU), Nhật Bản, New Zealand. Nhập khẩu của Vanuatu từ Úc chiếm khoảng 40% - 50%, New Zealand: 11%, New Caledonia: 8%, Nhật: 10%, Fiji và Pháp: 6%. Thu nhập bình quân đầu người của Vanuatu đạt 2442 USD năm 2008 (số liệu của IMF). == Nhân khẩu học == Dân số Vanuatu hiện nay là 205,754 người. Bao gồm các sắc tộc chính: Người Vanuatu (94%), người châu Âu (4%), người gốc Micronesians, Polynesians; người Hoa và người Việt (2%). Người Người Vanuatu (94%), người gốc Micronesians, Polynesians nói tiếng Bislama; người châu Âu, người Hoa và người Việt nói tiếng Anh và tiếng Pháp. Các tôn giáo chính có: Giáo hội Trưởng Lão (Cơ Đốc) 36.7%, Anh giáo 15%, Công giáo 15%, tín ngưỡng bản địa 7.6%, các tôn giáo khác. == Văn hóa == Với dân số khoảng 221.000 người (thống kê 2006), Vanuatu tự hào có 113 ngôn ngữ khác nhau đại hình thành tại vô số đại phương ở những hòn đảo xa xôi. Điều này đã biến quốc đảo này là một trong những nước có nền văn hóa đa dạng nhất trên thế giới. Sự đa dạng là kết quả của hơn 3.000 năm tích tụ từ các dân tộc khác nhau về quốc đảo này đôi khi dẫn đến sự xung đột sắc tộc, tan biến văn hóa và đánh mất đi giá trị truyền thống gốc của nó. Thực phẩm, động vật là những vật quan trọng nhất của đảo vì nó là nguồn cung cấp thức ăn cho người dân và trong đó loài lợn là con vật quan trọng. Xét về khía cạnh sống lợn là con vật linh thiêng nhất cho cuộc sống người dân Vanuatu vì nó không chỉ là nguồn cung cấp thực phẩm, chất dinh dưỡng mà là nền tảng của đời sống nghi thức, biểu tượng của sự giàu có và quyền lực được xác lập từ bấy lâu nay. Nhịp sống hiện đại đã không làm xáo trộn nét đặc trưng của một nghi thức sống trong gia đình. Mọi khía cạnh của cuộc sống được tổ chức và biểu hiện dưới hình thái của một quy trình sống được tổ chức trong một đại gia tộc mà ở đó con số người thân có thể lên đến hàng trăm người. Mối quan hệ hiếu thảo được bảo tồn và còn lưu giữ nhiều tập tục cổ xưa cắt bao qui đầu khởi sinh cho một sinh linh bé bỏng… và các người chết là một việc người đó được về với tổ tiên vì thế mà được cho là việc làm tối thượng. Nghệ thuật tại quốc đảo này thật đa dạng và biểu cảm dưới nhiều hình thức khác nhau như từ việc trang trí đồ trang sức, trang trí thân người bởi hình xăm, các mặt nạ, mũ nón, chạm khắc… rất quan trọng đại diện tiêu biểu cho một làng nào đó. Với xã hội hiện đại, tại quốc đảo nền kinh tế nông nghiệp vẫn là chủ yếu. Họ trồng các loại cây thực phẩm như khoai lang, khoai, sắn, trái cây theo mùa… Với diện tích rừng bị thu hẹp để lấy đất làm nông nghiệp, săn bắt thú hình như không còn phổ biến như xưa và thay vào đó là nuôi động vật, loài lợn là quan trọng là chỗ dựa cho nền kinh tế không chỉ là cung cấp thực phẩm mà là thể hiện sự đẳng cấp giàu có của mình. Văn hóa sống vẫn được bảo tồn và gìn giữ như là một phần của nghi thức cuộc sống. Trên một số hòn đảo, bà mẹ trả tiền để các bác sĩ cắt bao qui đầu trẻ em, các bé trai được đưa vào bụi rậm một tuần, đôi khi cả tháng… có một vài bộ tộc vẫn còn khỏa thân nhưng không như xưa, cánh đàn ông có vỏ bọc dương vật trong khi các phụ nữ vẫn để đôi ngực trần của mình tự nhiên. Dấu ấn văn hóa Pháp Giành chủ quyền từ tay thực dân Pháp vào đầu những năm 1980, Vanuatu là đất nước thuộc thế giới thứ ba ở quần đảo Nam Thái Bình Dương. Dấu ấn văn hóa Pháp vẫn in đậm trên những con phố và đặc biệt là thủ đô Port Vila, đồng thời là thành phố lớn nhất trên đảo Efate. Port Vila nằm trải dài quanh vịnh Vila. Đứng trên cảng, sẽ thấy một khung cảnh tuyệt mỹ, xa xa là những hòn đảo nhô lên giữa đại dương xanh thẳm. Văn hóa Pháp hòa quyện với văn hóa truyền thống của người bản xứ NiVan tạo nên nét độc đáo cho vùng đất này. Những con phố đông đúc, những khu chợ sầm uất ở thủ đô Port Vila nằm dọc theo bến cảng, nơi có nhiều thuyền đang neo đậu. Hầu hết cư dân ở đây đều đi bộ, chỉ một số ít đi lại bằng xe ô tô (loại xe tải). Những chiếc xe này luôn chật ních người và sẽ phải kinh ngạc về luật giao thông đường bộ ở đây. == Chú thích == == Liên kết ngoài == Chính phủ Vanuatu Vanuatu tại Encyclopædia Britannica (tiếng Anh) Vanuatu tại Từ điển bách khoa Việt Nam
chèo thuyền (thể thao).txt
Chèo thuyền là một môn thể thao có từ thời Ai Cập cổ đại. Nó dựa trên việc đẩy một chiếc thuyền trên nước, sử dụng các mái chèo. Bằng cách đẩy ngược dòng nước với mái chèo, một lực được tạo ra để đẩy con thuyền. Môn thể thao có thể dùng để giải trí, với mục tiêu học hỏi kỹ thuật chèo thuyền, hoặc để thi đấu, khi các vận động viên đua với nhau trên thuyền. == Tham khảo == === Ghi chú === === Chú thích ===
giáo hội anh.txt
Giáo hội Anh là giáo hội Kitô giáo được thiết lập chính thức ở Anh Cát Lợi (England), đóng vai trò là giáo hội mẹ của Khối Hiệp thông Anh giáo trên toàn cầu. Giáo hội được chia làm 2 giáo tỉnh - Canterbury ở miền Nam và York ở miền Bắc, được đứng đầu bởi Tổng giám mục Canterbury và Tổng giám mục York, mỗi vị đều mang thêm tước hiệu Giáo trưởng (Primate). Giáo hội Anh nhìn nhận mình mang cả hai căn tính Công giáo và Cải cách. Bởi vì Anh giáo được công nhận là quốc giáo nên về mặt danh nghĩa, Quốc vương Anh (hiện nay là Nữ hoàng Elizabeth II) có tước hiệu hiến định là "Người quản trị tối cao (Supreme Governor) của Giáo hội Anh". Thực tế, Tổng Giám mục Canterbury là người lãnh đạo Giáo hội Anh. Anh giáo trên toàn cầu bao gồm nhiều giáo hội độc lập tại hơn 160 quốc gia và vùng lãnh thổ công nhận Tổng giám mục Canterbury là nhà lãnh đạo tượng trưng. Giám mục Justin Welby đã thay thế tiến sĩ Rowan Williams đảm nhận chức Tổng Giám mục Canterbury vào ngày 21 tháng 3 năm 2013. == Lịch sử == Kitô giáo được truyền giảng tại Anh vào thế kỉ thứ nhất hay thứ hai và được điều hành độc lập với giáo hội Rôma. Vào thời kì Trung cổ, giáo hội Anh chịu dưới quyền của Giáo hoàng, nhưng tách ra khỏi Rôma vào năm 1534 dưới triều vua Henry VIII, tuy rằng đã có nhập lại một cách tạm thời dưới triều của Nữ hoàng Mary I trong năm 1555. == Chú thích == == Liên kết ngoài == Website của Giáo hội Anh (tiếng Anh)
quốc ca.txt
Quốc ca nói chung là một bài hát ái quốc khơi gợi và tán dương lịch sử, truyền thống và đấu tranh của nhân dân quốc gia đó, được chính phủ của một đất nước công nhận là bài hát chính thức của quốc gia, hoặc được người dân sử dụng nhiều thành thông lệ. Quốc ca xuất hiện ở châu Âu trong thế kỷ 19; quốc ca cổ nhất là "Het Wilhelmus", quốc ca Hà Lan, được viết vào khoảng năm 1568 và 1572 trong Chiến tranh tám năm. Quốc ca Nhật Bản, "Kimi ga Yo", có lời bài hát được lấy từ bài thơ có vào thời kỳ Kamakura, vẫn chưa được phổ nhạc cho đến năm 1880. "God Save the Queen", bài quốc ca của Liên hiệp Vương quốc Anh và Bắc Ireland, được trình diễn đầu tiên vào năm 1745 dưới tựa đề "God Save the King". Bài quốc ca Tây Ban Nha, "Marcha Real" (Hành khúc hoàng gia), sáng tác từ năm 1770. "La Marseillaise", quốc ca Pháp, được viết vào năm 1792 và trở thành quốc ca vào năm 1795. Trong thời kỳ vươn lên của các quốc gia độc lập vào thế kỷ thứ 19 và 20, đa số các quốc gia chọn quốc ca dựa trên từng dân tộc. Vì sự ảnh hưởng của thực dân châu Âu, nó cũng phản ánh trong việc chọn quốc ca, và do đó một vài quốc ca bên ngoài châu Âu mang phong cách châu Âu. Chỉ có một số quốc gia không phải châu Âu có quốc ca của mình có gốc gác từ dân tộc trong đó có Pakistan, Ấn Độ, Trung Quốc, Nhật Bản, Costa Rica, Iran, Sri Lanka, và Myanmar. Một bài hát ái quốc có thể trở thành quốc ca của một quốc gia bằng một quy định trong hiến pháp của nước đó, bằng một bộ luật của cơ quan lập pháp ban hành, hoặc chỉ đơn giản là do truyền thống. Đa số quốc ca có phong cách hành khúc hoặc bài ca tụng. Những quốc gia ở Châu Mỹ Latin có xu hướng sử dụng các đoạn nhạc mang phong cách opera, trong khi một số quốc gia chỉ đơn giản là kèn lệnh. Quốc ca thường viết bằng ngôn ngữ phổ biến nhất của quốc gia đó, có thể là trên danh nghĩa hoặc chính thức. Quốc ca Ấn Độ, Jana Gana Mana, là một phiên bản Sanskrit hóa ngôn ngữ Bengali. Mặt khác, quốc ca Pakistan không phải là tiếng Urdu hay tiếng Anh (ngôn ngữ chính thức) hoặc bất cứ ngôn ngữ bản địa nào mà là tiếng Ba Tư. Thực tế này do truyền thống của Pakistan đại diện cho đỉnh cao của các quốc gia và vương quốc Hồi giáo trong khu vực; ngôn ngữ của nhiều quốc gia đó là tiếng Ba Tư. Các quốc gia có nhiều hơn một ngôn ngữ chính thức thường có nhiều phiên bản quốc ca, như quốc ca Thụy Sĩ có nhiều lời khác nhau cho mỗi ngôn ngữ của quốc gia (tiếng Pháp, Đức, Ý và Romansh). Mặt khác, quốc ca Nam Phi độc đáo ở chỗ năm trong mười một ngôn ngữ chính thức được dùng trong cùng một bài quốc ca (mỗi thứ tiếng là một khổ thơ). Quốc gia đa ngôn ngữ khác, Tây Ban Nha, không có lời cho quốc ca, La Marcha Real, mặc dù vào năm 2007 một cuộc thi toàn quốc để viết lời đã được tổ chức. == Sử dụng == Quốc ca được dùng trong nhiều loại bối cảnh. Chúng được chơi tại buổi lễ và lễ hội quốc gia, và cũng gắn liền với các sự kiện thể thao. Trong các cuộc thi đấu thể thao, như Thế vận hội, quốc ca của vận động viên đoạt huy chương vàng được chơi tại mỗi buổi lễ trao huy chương. Quốc ca cũng được chơi trước các trận đấu trong nhiều giải thể thao, từ khi nó bắt đầu được sử dụng trong trận đấu bóng chày vào Chiến tranh thế giới II. Tuy nhiên việc sử dụng quốc ca bên ngoài đất nước đó phụ thuộc vào sự công nhận của quốc tế về quốc gia đó. Ví dụ, Đài Loan không được Olympics công nhận là một quốc gia riêng biệt và phải thi đấu dưới tên Trung Hoa Đài Bắc; Quốc kỳ ca được sử dụng thay cho quốc ca. Ở một số quốc gia, quốc kỳ được cử cho học sinh mỗi ngày vào đầu buổi học như bài học về lòng yêu nước. Ở các nước khác quốc ca được chơi tại rạp hát trước một vở kịch hoặc trong rạp chiếu phim trước một bộ phim. Nhiều đài phát thanh và truyền hình cũng cử quốc ca khi họ bắt đầu phát sóng vào buổi sáng và khi kết thúc phát sóng vào ban đêm. Những nước tùy vào văn hóa và đơn vị cấp nhỏ hơn quốc gia mà có nhạc hoàng gia, nhạc tổng thống, nhạc bang, hoặc nhạc được hiến pháp công nhận chính thức dành cho từng phần của quốc gia liên bang hoặc liên minh. Những loại nhạc này có thể gọi là "quốc ca khu vực", như đối với các khu vực của Bỉ. Các nước đa quốc gia như Liên hiệp Vương quốc Anh và Bắc Ireland và Đan Mạch thi đấu tại các sự kiện thể thao theo nhiều đội khác nhau, như các đội tuyển bóng đá Anh, Scotland, Wales và Bắc Ireland của Vương quốc Anh và Đảo Faroe của Đan Mạch. Điều này sẽ gây ra vấn đề với truyền thống cử quốc ca trước trận đấu, vì Anh lẫn Đan Mạch đều không có quốc ca khu vực và đều dùng quốc ca, God Save the Queen và Der er et yndigt land. Những chính thể lớn hơn đôi khi cũng có quốc ca. Có nhiều quốc ca ở dạng đa quốc gia hoặc quốc tế. Quốc tế ca là nhạc chính thức của phong trào chủ nghĩa xã hội, Quốc tế cộng sản, và một thời gian là quốc ca Liên bang Xô viết. Giai điệu Ode to Joy trích từ Bản giao hưởng số 9 của Beethoven là quốc ca châu Âu; Liên Hợp Quốc và Liên minh châu Phi cũng có quốc ca không chính thức. Phong trào Olympics cũng có Bài hát Olympic riêng của nó. Những người nói tiếng Esperanto tại những cuộc họp thường sử dụng bài La Espero làm bài hát chính thức. Một số đảo cũng có quốc ca riêng, như Puerto Rico có "La Borinquena". == Lời bài hát == Một số lời bài hát được những người đạt giải Nobel viết nên. Ấn Độ và Bangladesh lấy hai bài hát do nhà thơ và cũng là người đạt giải Nobel Rabindranath Tagore làm quốc ca, Jana Gana Mana và Amar Shonar Bangla. Người giành giải Nobel Bjørnstjerne Bjørnson đã viết lời cho quốc ca Na Uy Ja, vi elsker dette landet. Một số quốc ca không có lời chính thức, trong đó có Bosnia và Herzegovina, Tây Ban Nha, và San Marino. == Tham khảo == == Xem thêm == Danh sách quốc ca Quốc kỳ Quốc huy == Liên kết ngoài == Tất cả quốc ca (dạng MIDI) Bản nhạc của tất cả các quốc ca trên thế giới Nhạc, lời và bản nhạc của tất cả các quốc gia Bản thu âm các quốc ca trên thế giới của ban nhạc Hải quân Hoa Kỳ Tập hợp các quốc ca quốc gia và lãnh thổ ở dạng mp3. Có lời hát.
hồ (họ).txt
Hồ (chữ Hán: 胡; Hangul: 호; Romaja quốc ngữ: Ho) là họ của người Trung Quốc, Việt Nam và Triều Tiên. Tại Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa, đây là họ xếp thứ 15 về độ phổ biến, theo một nghiên cứu năm 2006. Trong Bách gia tính, họ Hồ được xếp ở vị trí 158. === Họ Hồ Việt Nam === Ông tổ đầu tiên của họ Hồ Việt Nam là trạng nguyên Hồ Hưng Dật sống vào thế kỷ thứ 10,vào thời Hậu Hán. Quê gốc ở Triết Giang (Trung Quốc).Ông sang làm thái thú Châu Diễn được vài năm thì loạn 12 sứ quân, ông đến hương Bàu Đột (nay là xã Quỳnh Lâm, huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An) lập nghiệp. Tộc phả dòng họ Hồ sau đó bị thất truyền 11 đời (khoảng 300 năm). Đến đời 12 (ông Hồ Liêm) dời ra Thanh Hóa và đời 13 (ông Hồ Kha) ở Nghệ An, tộc phả mới liên tục. Nhà thờ họ Hồ Đại tộc, tọa lạc tại thôn 4, xã Quỳnh Đôi, Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An. Hàng năm con cháu họ Hồ tổ chức đại lễ dâng hương tại nhà thờ lớn của dòng họ vào ngày 12 tháng giêng âm lịch hằng năm. == Một số nhân vật nổi tiếng == === Việt Nam === Hồ Thông là chỉ huy phó sứ thời vua Đinh Tiên Hoàng, có công dẹp loạn 12 sứ quân. Hồ Quý Ly: vị vua đầu tiên của nhà Hồ tại Việt Nam Các con: Hồ Nguyên Trừng, Hồ Hán Thương Hồ Hưng Dật, tổ tiên của Hồ Quý Ly Hồ Đản tức Đinh Bá Thi, Đại sứ đầu tiên của nước CHXHCN Việt Nam tại Liên Hiệp Quốc, nguyên phó đoàn đàm phán hội nghị Paris của CPCMLTMN Việt Nam, đại sứ tại Tiệp Khắc và Hungari. Hồ Sĩ Dương Hồ Sĩ Đống Hồ Thơm: tức hoàng đế Quang Trung - Nguyễn Huệ Hồ Thị Hoa: chánh thất vua Minh Mạng, mẹ vua Thiệu Trị, bà nội vua Tự Đức Hồ Sĩ Tạo Hồ Học Lãm Hồ Huấn Nghiệp Hồ Tùng Mậu hay Hồ Bá Cự, đảng viên của cả hai Đảng Cộng sản Trung Quốc và Đảng Cộng sản Việt Nam Hồ Tá Bang Hồ Nghĩa Dũng: từng giữ chức Bộ trưởng Bộ Giao thông Vận tải Việt Nam Hồ Trọng Hiếu: tên thật của nhà thơ Tú Mỡ Hồ Xuân Hương: nữ thi sĩ thế kỉ 19 Hồ Biểu Chánh: một nhà văn miền Nam đầu thế kỉ 20 Hồ Hữu Tường: là một chính trị gia, nhà văn, nhà báo Việt Nam. Hồ Tông Thốc: nhà sử học của Việt Nam vào cuối thời nhà Trần Hồ Bắc: nhạc sĩ Hồ Đắc Di: giáo sư, bác sĩ, hiệu trưởng đầu tiên của Đại học Y Hà Nội Hồ Đức Việt: Ủy viên Bộ Chính trị Ban Chấp hành trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam khóa X, Trưởng ban Tổ chức Trung ương Hồ Ngọc Cẩn: nguyên Tổng giám mục Tổng giáo phận Huế Hồ Anh Thái: nhà văn, nhà ngoại giao, Chủ tịch Hội nhà văn Hà Nội Hồ Đức Phớc: Bí thư tỉnh ủy Nghệ An; Tổng kiểm toán nhà nước Hồ Anh Dũng: Nguyên ủy viên Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam, Tổng giám đốc đài truyền hình Việt Nam Hồ Xuân Hùng: Nguyên Chủ tịch tỉnh Tỉnh Nghệ An, hiện là Thứ trưởng. Hồ Thiệu Trị: Hiện là một trong các kiến trúc sư hàng đầu Việt Nam và khu vực, người từng thiết kế cải tạo nhà hát lớn Hà Nội (Việt kiều Pháp) Hồ Liên tức Hoàng Bích Sơn, nhà chính trị, nhà ngoại giao. Hồ Dzếnh, nhà thơ của Việt Nam. Hồ Hảo Hớn, Bí thư Thành Đoàn đầu tiên của Sài Gòn - Gia Định trong thời kỳ Chiến tranh Việt Nam Hồ Giáo, anh hùng lao động ngành chăn nuôi Việt Nam Hồ Viết Thắng, chính khách Việt Nam, Nguyên ủy viên Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam, Bộ trưởng Bộ Lương thực-thực phẩm. Hồ Hùng Anh, Chủ tịch HĐQT Ngân hàng TMCP Kỹ Thương Việt Nam- Techcombank; Phó Chủ tịch HĐQT tập đoàn Masan Hồ Ngọc Hà, ca sĩ, người mẫu và diễn viên Việt Nam. Hồ Quỳnh Hương, ca sĩ Việt Nam. === Trung Quốc === Hồ Ca (胡歌) Hồ Ban (thời Tam Quốc) Hồ Liên, Tướng lĩnh quân đội Quốc dân Đảng Trung Hoa Hồ Tông Nam, Chủ tịch chính phủ Chiết Giang, Tham mưu Trưởng quân đội Quốc dân Đảng Trung Hoa Hồ Diệu Bang, Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Trung Quốc từ 1982 đến 1987 Hồ Cẩm Đào, Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Trung Quốc, Chủ tịch nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa Hồ Quân, diễn viên điện ảnh nổi tiếng. == Chú thích ==
radon.txt
Radon là một nguyên tố hóa học thuộc nhóm khí trơ trong bảng tuần hoàn có ký hiệu Rn và có số nguyên tử là 86. Radon là khí hiếm phóng xạ không màu, không mùi, là sản phẩm phân rã của radium. Nó là một trong những chất đặc nhất tồn tại ở dạng khí trong các điều kiện bình thường và được xem là có hại cho sức khỏe do tính phóng xạ của nó. Đồng vị bền nhất của nó là 222Rn, có chu kỳ bán rã 3,8 ngày. Do cường độ phóng xạ của nó cao nên nó chưa được nghiên cứu nhiều, chỉ có vài hợp chất được biết đến. Radon được tạo ra trong chuỗi phân rã phóng xạ bình thường của urani. Urani đã có trên Trái Đất từ lúc Trái Đất được hình thành và các đồng vị của urani có chu kỳ bán rã rất lâu (4,5 tỷ năm). Urani, radi, và radon sẽ tiếp tục có mặt trong vài triệu năm nữa với cùng nồng độ so với hiện tại. Khí radon có nguồn gốc tự nhiên có thể tích tụ trong các tòa nhà, đặc biệt trong các khu vực như gác xép và tầng hầm. Nó cũng có thể được tìm thấy trong một số suối nước nóng. Bằng chứng dịch tễ học cho thấy mối quan hệ rõ ràng giữa hít thở nồng độ radon cao với tỷ lệ mắc ung thư phổi. Do đó, radon được xem là chất gây ô nhiễm đáng kể ảnh hưởng đến chất lượng không khí trong nhà trên toàn cầu. Theo EPA, radon là chất gây ung thư phổi đứng thứ 2 sau tác hại của thuốc lá, đã gây nên 21.000 ca tử vong do ung thư phổi hàng năm ở Hoa Kỳ. == Tính chất == === Tính chất vật lý === Radon là khí không màu, không mùi và không vị, và do đó không thể phát hiện chỉ bằng giác quan con người. Ở điều kiện tiêu chuẩn, radon ở dạng khí đơn nguyên tử với mật độ 9,73 kg/m3, cao khoảng 8 lần mật độ của khí quyển Trái Đất trên bề mặt đất, 1,217 kg/m3, và là một trong những khí nặng nhất ở nhiệt độ phòng và là khí hiếm nặng nhất, kể cả ununocti. Ở điều kiện tiêu chuẩn, radon là chất khí không màu nhưng khi nó bị làm lạnh bên dưới điểm đông của nó 202 K (−71 °C; −96 °F), nó là chất lân quang sáng và từ từ chuyển sang màu vàng khi nhiệt độ xuống thấp hơn nữa, và chuyển sang màu đỏ-cam khi hóa lỏng ở nhiệt độ dưới 93 K (−180,1 °C; −292,3 °F). Ở trạng thái ngưng tụ, radon cũng sôi do các bức xạ cao mà nó tạo ra. === Tính chất hóa học === Radon là nguyên tố hóa trị-0 thuộc nhóm khí hiếm, nên nó trơ với hầu hết các phản ứng hóa học như cháy, do lớp ngoài cùng chứa đủ 8 electron. Đặc điểm này làm cho nó có năng lượng ổn định, tối thiểu mà theo đó các electron ngoài cùng liên kết với nhau một cách chặt chẽ. Cần hơn 248 kcal/mol để tách một electronn ra khỏi lớp ngoài cùng (hay còn gọi là năng lượng ion hóa cấp 1). Tuy nhiên, do xu hướng tuần hoàn, radon có ái lực electron thấp hơn các nguyên tố cùng nhóm trước nó, xenon, và do đó phản ứng mạnh hơn. Radon ít hòa tan trong nước, nhưng hòa tan nhiều hơn trong các khí hiếm nhẹ hơn. Radon hòa tan nhiều trong các dung môi hữu cơ hơn trong nước. Các nghiên cứu trước đây kết luận rằng khả năng ổn định của hydrat radon có thể giống như các hydrat của clo (Cl2) hoặc sulfur dioxide (SO2), và cao hơn đáng kể so với khả năng ổn định của hydrat hiđrô sunfua (H2S). Do giá cả và tính phóng xạ của nó nên có ít thí nghiệm hóa học được tiến hành với radon, và do vậy có ít các hợp chất của radon được công bố, ở dạng florua hay ôxit. Radon có thể bị ôxy hóa bởi các chất ôxy hóa mạnh như F2, và tạo thành radon florua. Nó phân hủy lại thành các nguyên tố ở nhiệt độ hơn 250 °C. Hợp chất này có tính dễ bay hơi và được cho là RnF2. Như do có thời gian tồn tại của radon ngắn và tính phóng xạ của các hợp chất của nó, nó không thể được nghiên cứu chi tiết ở dạng hợp chất. Các nghiên cứu lý thuyết về phân tử này dự đoán rằng khoảng cách liên kết Rn-F là 2,08 Ǻ, và hợp chất này ổn định nhiệt động lực và bay hơi hơn các hợp chất của các chất trong nhóm trước nó XeF2. Phân tử tám mặt RnF6 được dự đoán là có enthalpy tạo thành thấp hơn điflorua. Ion [RnF]+ được cho là tào thành từ phản ứng: Rn (r) + 2 [O2]+[SbF6]− (r) → [RnF]+[Sb2F11]− (r) + 2 O2 (k) Các ôxit radon cũng được đề cập trong một số báo cáo. Radon carbonyl RnCO được dự đoán là bền và có hình học phân tử tuyến tính. Các phân tử Rn2 và RnXe được phát hiện là ổn định đáng kể bởi liên kết quỹ đạo spin. Radon được lồng bên trong fullerene đã được đề xuất làm một loại thuốc chống các khối u. === Đồng vị === Radon không có các đồng vị bền, dù vậy đã có 36 đồng vị phóng xạ được nhận dạng, với khối lượng nguyên tử từ 193 đến 228. Đồng bị bền nhất là 222Rn, là sản phẩm phân rã của 226Ra, từ 238U.. Các hạt nhân con phân rã từ 222Rn cũng có đồng vị không ổn định cao218Rn. Có 3 đồng vị radon khác có chu kỳ bán rã hơn 1 giờ: 211Rn, 210Rn và 224Rn. Đồng vị 220Rn là sản phẩm phân rã tự nhiên của đồng vị thori bền nhất (232Th), và thường được gọi là thoron. Nó có chu kỳ bán rã 55,6 giây và cũng phát xạ tia anpha. Tương tự, 219Rn được sinh ra từ đồng vị bền nhất của actini (227Ac)— được đặt tên "actinon"— và là nguồn phát ra tia anpha với chu kỳ bán rã 3,96 giây. Không có đồng vị radon này nằm trong chuỗi phân rã của neptuni(237Np). == Xem thêm == == Tham khảo == == Liên kết ngoài == == Liên kết ngoài == Toxicological Profile for Radon, Draft for Public Comment, Agency for Toxic Substances and Disease Registry, September 2008 Health Effects of Exposure to Radon: BEIR VI. Committee on Health Risks of Exposure to Radon (BEIR VI), National Research Council available on-line UNSCEAR 2000 Report to the General Assembly, with scientific annexes: Annex B: Exposures from natural radiation sources. Should you measure the radon concentration in your home?, Phillip N. Price, Andrew Gelman, in Statistics: A Guide to the Unknown, January 2004. Radon and radon publications at the United States Environmental Protection Agency Radon Information from the UK Health Protection Agency Frequently Asked Questions About Radon at National Safety Council Home Buyer's and Seller's Guide to Radon An article by the International Association of Certified Home Inspectors (InterNACHI) Radon and Lung Health from the American Lung Association Radon's impact on your health - Lung Association Map referring to radon concentrations in England and Wales
indie rock.txt
Indie rock là một thể loại alternative rock có nguồn gốc tại Anh và Mỹ từ những năm 1980. Đây là một thể loại khá đa dạng, với các tiểu thể loại bao gồm indie pop, jangle pop, lo-fi, và một số khác nữa. Indie rock ban đầu được sử dụng để mô tả các hãng thu âm, thuật ngữ này dần gắn liền với âm nhạc mà các hãng đĩa sản xuất và ban đầu có thể được sử dụng thay thế với alternative rock. Vì các ban nhạc grunge và punk revival ở Mỹ, và Britpop ở Anh, trở nên đại chúng vào thập niên 1990, indie rock được dùng để chỉ các ban nhạc "ngoài cuộc" và nằm trong giới nhạc ngầm, đồng thời nó cũng phát triển một số tiểu thể loại và phong cách liên quan. Vào những năm 2000, kết quả của những thay đổi trong ngành công nghiệp âm nhạc và tầm quan trọng ngày càng tăng của Internet, một số nghệ sĩ indie rock bắt đầu nhận được thành công thương mại. == Lịch sử == === Căn nguyên: Cuối thập niên 1970 và thập niên 1980 === ==== College rock và noise rock ==== Phim tài liệu 'Music for Misfits: The Story of Indie' của BBC xác định sự hình thành của indie là vào năm 1977 khi ban nhạc Manchester Buzzcocks tự mình ra mắt Spiral Scratch EP. Dù Buzzcocks thường được xem là một nhóm punk, BBC và một số khác cho rằng sự phát hành độc lập của Spiral Scratch đã dẫn đến việc tạo nên thuật ngữ 'indie' ('indie' là cách viết rút gọn của 'independent'). Vào giữa thập niên, từ "indie" ban đầu được dùng để mô tả âm nhạc do các hãng đĩa post-punk sản xuất (nhưng không dùng để chỉ chính hãng đĩa). Giới indie rock tại Mỹ có tiền thân là college rock với những nhóm như R.E.M. và The Smiths. Các ban nhạc này đi ngược với những gì synthpop thống trị đầu thập niên 1980 đã làm, và giúp truyền cảm hứng cho jangle pop; một số ban nhạc quan trọng khác gồm 10,000 Maniacs và the dB's từ nước Mỹ, và The Housemartins và The La's từ Anh quốc. Tại Mỹ, thuật ngữ "college rock" được gắn kết đặc biệt với âm thanh thô ráp, nặng tiếng biến âm của Pixies, Hüsker Dü, Minutemen, Meat Puppets, Dinosaur Jr., và The Replacements. Một phân nhánh thô bạo và nghịch tai của punk là noise rock, nhấn mạnh vào tiếng guitar điện ồn ào bị biến âm và tiếng trống mạnh mẽ, đại diện bởi các ban nhạc như Sonic Youth, Swans, Big Black và Butthole Surfers. Một số hãng đĩa indie rock nổi bật được thành lập vào thập niên 1980. Số này có Dischord Records (Washington, DC) năm 1980, Sub Pop Records (Seattle) năm 1986, Matador Records (Thành phố New York) và Merge Records (Durham, Bắc Carolina) năm 1989. Touch and Go Records của Chicago được thành lập như một fanzine năm 1979 và bắt đầu phát hành nhạc vào thập niên 1980. ==== Indie pop ==== Tại Anh Quốc, băng cassette C86, một album tổng hợp của NME với sự góp mặt của Primal Scream, The Pastels, The Wedding Present và nhiều nhóm khác, cho thấy sự phát triển của giới indie Anh vào năm 1986. Nó giúp định hình giới indie pop theo sau. Tiền thân của indie pop là Josef K và Orange Juice của Postcard, cùng vài nghệ sĩ của một vài hãng đĩa đáng chú ý khác gồm Creation, Subway và Glass. The Jesus and Mary Chain kết hợp "sự ồn ào sầu muộn" của the Velvet Underground với giai điệu pop của Beach Boys và lớp sản xuất "Wall of Sound" của Phil Spector, còn New Order lại xuất hiện từ sự tan rã của nhóm post-punk Joy Division và thử sức với techno và house. The Jesus and Mary Chain, Dinosaur Jr, và dream pop của Cocteau Twins, là nguồn ảnh hưởng nền tảng cho phong trào shoegazing cuối thập niên 1980. My Bloody Valentine, sau đó là Slowdive và Ride, tạo nên lớp "hỗn âm" ồn ào che đậy tiếng hát và giai điệu bằng những đoạn riff dài, drone-ing, tiếng biến âm và hồi âm. Một phong trào lớn nữa là Madchester. Xoay quanh The Haçienda, một nightclub tại Manchester do New Order sở hữu và Factory Records, các nghệ sĩ Madchester như Happy Mondays và The Stone Roses kết hợp những "điệu" (rhythm) nhảy acid house, Northern soul và funk với guitar pop giàu giai điệu. === Phát triển: Thập niên 1990 === ==== Alternative trở nên đại chúng ==== Thập niên 1990 đem đến nhiều thay đổi lớn đến giới alternative rock. Những ban nhạc grunge như Nirvana, Pearl Jam, Soundgarden, Hole, và Alice in Chains đạt thành công thương mại, trở nên nổi tiếng và lan rộng danh tiếng. Những nhóm pop punk như Green Day và The Offspring cũng trở nên phổ biến và nhiều khi được gộp vào thể loại "alternative". Tương tự, tại Anh Quốc, Britpop của Blur và Oasis liên tục leo bảng xếp hạng. Thuật ngữ "indie rock" dần gắn kết với những ban nhạc vẫn giữ vững được tình trạng độc lập của họ. Thậm chí những nhóm grunge, sau đột phá thương mại, cũng bắt đầu chơi nhạc mang màu sắc độc lập hơn. ==== Đa dạng hóa ==== Tính tới cuối thập niên 1990, indie rock đã phát triển một số tiểu thể loại và phong cách liên quan. Lo-fi (viết tắt của low fidelity) từ phong trào do-it-yourself từ bỏ những kỹ thuật thu âm tốt và được đi đầu bởi những nghệ sĩ như Beck, Sebadoh hay Pavement; nhiều ban nhạc của Elephant 6 (Neutral Milk Hotel, Elf Power và of Montreal) cũng đi theo con đường lo-fi. Talk Talk và Slint truyền cảm hứng cho post-rock (một phong cách nhạc ảnh hưởng bởi jazz và âm nhạc điện tử, tiên phong bởi những nhóm chủ chốt như Bark Psychosis và tiếp nối bởi Tortoise, Stereolab và Laika), và giúp dẫn tới math rock, một loại nhạc có kết cấu phức tạp, lấy tiếng guitar chơi cầu kỳ làm nền tảng, được phát triển bởi các nhóm như Polvo hay Chavez. Trái lại, sadcore của American Music Club hay Red House Painters nhấn mạnh nỗi đau và sự chịu đựng qua việc sử dụng cả nhạc cụ điện và acoustic giàu tính giai điệu, trong khi sự "tái xuất" của Baroque pop như một sự đối lập với lo-fi và experimental khi nhấn mạnh vào giai điệu và nhạc cụ cổ điển với những nhóm như Arcade Fire, Belle and Sebastian và Rufus Wainright. === Dấu hiệu của thành công thương mại: thập niên 2000 === == Xem thêm == Danh sách các nghệ sĩ indie rock == Tham khảo ==
p.txt
P, p là chữ thứ 16 trong phần nhiều chữ cái dựa trên Latinh và là chữ thứ 20 trong chữ cái tiếng Việt. Trong bảng mã ASCII dùng ở máy tính, chữ P hoa có giá trị 80 và chữ p thường có giá trị 111. Trong hệ đo lường quốc tế: p được dùng cho tiền tố picô – hay 10−18. P được dùng cho tiền tố pêta – hay 1015. Trong hóa sinh học, P là biểu tượng cho proline. Trong hóa học, P là ký hiệu cho phốt pho. Trong vật lý hạt, p là ký hiệu cho proton. Trong tin học, <p> là một thẻ HTML để bắt đầu một đoạn văn mới. Trong toán học, chữ P {\displaystyle \mathbb {P} } bảng đen đậm chỉ tới tập hợp các số nguyên tố. Trong môn cờ vua, P là ký hiệu để ghi quân Quân (Pawn). Theo mã số xe quốc tế, P được dùng cho Bồ Đào Nha (Portugal). P được gọi là Papa trong bảng chữ cái âm học NATO. Trong bảng chữ cái Hy Lạp, P tương đương với Π và p tương đương với π. Trong bảng chữ cái Cyrill, P tương đương với П và p tương đương với п. == Tham khảo ==
gà tikka masala.txt
Gà Tikka Masala là một món ăn thịt gà có nguồn gốc từ Nam Á, nơi phổ biến tại Bangladesh, Ấn Độ và Pakistan.. Món gà dùng với nước xốt sữa chua, có nhiều gia vị và có màu cam từ màu cà chua. Món này thường được bán tại các quán ăn Ấn Độ ở Âu Châu và Bắc Mỹ, được xem là một món ăn đa văn hóa (multikulti) ở Anh. Năm 2001, nó được bầu là món ăn được ưa chuộng nhất ở Vương quốc Anh. == Cách làm == Gà Tikka Masala được ướp với gia vị và sữa chua ít nhất 2 tiếng, rồi trộn cả gà và nước ướp với hành đã được sào trước rồi nướng trong lò khoảng 15 phút cho thịt chín. Thật ra không có một nguyên liệu tiêu chuẩn cho Gà Tikka Masala. Tuy nhiên các nguyên liệu cơ bản trong món gà này bao gồm cà chua, yogurt, nước dừa hoặc kem tươi và bột gaham masala, một loại gia vị hơi giống cà ri. Ngoài ra gà tikka có thể có màu đỏ tươi do cho nhiều bột ớt paprika hoặc màu vàng đậm khi cho nhiều bột nghệ. == Chú thích ==
austrolimnophila hausa.txt
Austrolimnophila hausa là một loài ruồi trong họ Limoniidae. Chúng phân bố ở vùng nhiệt đới châu Phi. == Tham khảo == == Liên kết ngoài == Dữ liệu liên quan tới Austrolimnophila hausa tại Wikispecies == Tham khảo ==
đại bình nguyên bắc mỹ.txt
Đại Bình nguyên (tiếng Anh: Great Plains) là một vùng trải rộng gồm đồng cỏ và thảo nguyên nằm về phía đông dãy Rocky (Rặng Thạch Sơn) trong lãnh thổ của Hoa Kỳ và Canada. Khu vực này bao phủ những phần đất của các tiểu bang Colorado, Kansas, Montana, Nebraska, New Mexico, Bắc Dakota, Oklahoma, Nam Dakota, Texas và Wyoming của Hoa Kỳ, các tỉnh bang và lãnh thổ của Canada là Alberta, Manitoba và Saskatchewan, và kéo dài vào trong México. Tại Canada, thuật từ prairie (đồng cỏ) được thông dụng hơn, và vùng này được biết đến là các tỉnh bang đồng cỏ (Prairie Provinces hay đơn giản là "the Prairies". Một số suy nghĩ hiện thời coi vị trí địa lý của Đồng bằng trung tâm Bắc Mỹ là được biểu thị qua một bản đồ [1] tại Trung tâm Nghiên cứu Đại Bình nguyên của Đại học Nebraska-Lincoln. Bản đồ này kéo dài ranh giới phía đông của đồng bằng trung tâm xuống sông Assiniboine đến Winnipeg, Canada, về phía nam xuống sông Red of the North đến biên giới phía đông của Nam Dakota và Nebraska rồi xuống sông Missouri đến Kansas City, xuống biên giới phía đông của Kansas đến Oklahoma là nơi bình nguyên này rẽ sang hướng tây nam về phía Oklahoma City trước khi tiếp tục hướng về phía nam qua Ft. Worth và trung Texas rồi sang hướng tây về phía Big Bend của sông Rio Grande. Vùng này rộng khoảng 500 dặm Anh (800 km) từ đông sang tây và 2.000 dặm Anh (3.200 km) từ bắc đến nam. Phần lớn vùng này là nơi cư trú của những đàn bò bison khổng lồ cho đến khi chúng bị săn bắn đến nổi gần như tuyệt chủng trong suốt giữa/cuối thế kỷ 1800. Đồng bằng này có diện tích khoảng 1.300.000 km2 Với đất đai màu mỡ, Đồng bằng trung tâm có nhiều trang trại cùng các cơ sở canh nông chăn nuôi mục súc. Phải kể thêm địa chất ở đây có nhiều quặng than đá và giếng dầu. == Tham khảo ==
chūgoku.txt
Vùng Chugoku của Nhật Bản (tiếng Nhật: 中国地方 | Chūgoku-chiho) (âm Hán Việt: Trung Quốc Địa phương) là một trong chín vùng địa lý của Nhật Bản. Vùng này nằm ở tận cùng phía tây của đảo Honshu. Vùng Chugoku bao trùm 5 tỉnh Hiroshima, Yamaguchi, Shimane, Tottori, và Okayama. Chugoku viết bằng chữ Hán-Nhật là 中国, phiên âm qua Hán-Việt sẽ thành Trung Quốc. Tuy nhiên, vùng này không liên quan gì đến nước Trung Quốc. Một trong nhiều nghĩa của chữ 国 (goku) trong tiếng Nhật là "xứ sở". Chugoku là xứ ở giữa. Tuy nhiên, vì không muốn bị nhầm với Trung Quốc, nên vùng này còn có tên gọi khác là San'in-San'yō (Sơn Âm Sơn Dương) đặt theo tên phần phía bắc và phía nam của vùng Chugoku. San'in - Sơn Âm là vùng phía bắc, bên bờ biển Nhật Bản thường có thời tiết ảm đạm. San'yo - Sơn Dương là vùng phía nam, bên bờ biển Setonaikai thường có thời tiết nắng ấm. == Tham khảo ==
hệ quản trị cơ sở dữ liệu quan hệ.txt
Một Hệ quản trị cơ sở dữ liệu quan hệ (tiếng Anh: relational database management system, viết tắt RDBMS) là một hệ quản trị cơ sở dữ liệu (database management system) dựa trên mô hình quan hệ được Edgar F. Codd giới thiệu. == Lịch sử của thuật ngữ == == Sự sử dụng hiện tại == == Xem thêm == Danh sách các hệ quản trị cơ sở dữ liệu quan hệ Danh sách các hệ quản trị cơ sở dữ liệu SQL So sánh các hệ quản trị dữ liệu quan hệ == Tham khảo == == Liên kết ngoài == Database Debunkings - Critical point of view that argues that it is important that the predicate relational should be reserved for those database systems that are fully faithful to the relational model. SQL Server, DB2, and Oracle có thật sự là hệ quản trị cơ sở dữ liệu quan hệ? - Bài viết của Itoi Blomgren, Michiko. (2003) Lược sử quản lý công nghệ thông tin và Hệ quản trị cơ sở dữ liệu quan hệ - Tóm lược lịch sử của công nghệ cơ sở dữ liệu quan hệ hiện đại.
samsung life insurance.txt
Samsung Life Insurance (Tiếng Hàn: 삼성생명, KRX: 032830) là một công ty bảo hiểm đa quốc gia Hàn Quốc có trụ sở chính tại Seoul, Hàn Quốc, và là công ty con của Tập đoàn Samsung. Nó là công ty bảo hiểm lớn nhất Hàn Quốc và là một 500 công ty được Fortune Global xếp hạng. Sản phẩm chủ yếu của Samsung Life bao gồm bảo hiểm nhân thọ, y tế và trợ cấp. Samsung Life là công ty tư nhân thành lập từ năm 1957 cho đến khi chuyển sang cộng đồng vào năm 2010. IPO lớn nhất trong lịch sử Hàn Quốc và làm cho Samsung Life là một trong những công ty có giá trị nhất của Hàn Quốc được đo bằng vốn hóa thị trường. Trụ sở chính nằm đối diện với Namdaemun, cổng có giá trị lịch sử nằm ở trung tâm Seoul. == Lịch sử == Thành lập vào 1957, công ty nhanh chóng phát triển và dẫn đầu thị trường sau 18 tháng hoạt động. Kể từ đó, Samsung Life Insurance duy trì dẫn đầu thị trường trong ngành công nghiệp thông qua đổi mới sản phẩm, tiếp thị, và phân phối. Đặc biệt, sự tăng trưởng được đẩy mạnh sau khi công ty được thành lập dưới Tập đoàn Samsung vào năm 1963. Vào năm 1986, công ty đã mở văn phòng đại diện tại New York và Tokyo. Nó còn mở rộng hoạt động nước ngoài thông qua một liên doanh tại Thái Lan vào năm 1997 và Trung Quốc vào năm 2005. Công ty còn là một công ty bảo hiểm đầu tiên ở Hàn Quốc có tài sản đạt mốc 100 nghìn tỉ Won vào năm 2006. Vào 12 tháng 5 năm 2010, Samsung Life Insurance chuyển sang công cộng và bán rac ổ phiếu 110.000 won, hoặc $96/cổ phiếu trong một dịch vụ lớn nhất và đạt kỉ lục quốc gia, lên đến $4.4 tỉ. == Tham khảo == == Liên kết == Samsung Global Samsung Fire & Marine
henry vii của anh.txt
Henry VII (tiếng Wales: Harri Tudur; tiếng Anh: Henry VII of England; 28 tháng 1, 1457 - 21 tháng 4, 1509) là Quốc vương của nước Anh và là Lãnh chúa của Ireland, lên ngôi này 22 tháng 8, năm 1485 cho đến khi ông qua đời. Ông là vị quân vương đầu tiên của Triều đại Tudor. Henry đã giành được ngôi vị khi ông đã đánh bại Richard III trong trận Bosworth Field. Ông là vị Quân chủ cuối cùng của Anh chiếm được ngai vàng từ chiến trường. Ông đã thành công trong việc khôi phục lại sức mạnh và sự ổn định của chế độ quân chủ Anh sau khi biến động chính trị của cuộc Chiến tranh Hoa Hồng. Ông thành lập một triều đại lâu dài, và sau khi trị vì gần 24 năm, nền thái bình thịnh trị được con trai ông, Henry VIII, giữ vững. Mặc dù Henry có thể được ca ngợi với việc khôi phục ổn định chính trị ở Anh, và một số khen ngợi về những cải cách hành chính, kinh tế và ngoại giao, nhưng những năm cuối của triều đại ông đã được được đặc bởi việc tham nhũng tài chính kéo căng các giới hạn của tính hợp pháp. Theo nhà sử học đương đại Polydore Vergil, "tham nhũng" trong phần lớn được nhấn mạnh qua các kiểm soát viên hoàng gia đã khẳng định trong những năm cuối đời của Henry. == Thân thế == Henry ra đời tại Pembroke Castle vào ngày 28 tháng 1, năm 1457, mẹ ông là Margaret Beaufort, Bá tước phu nhân xứ Richmond, khi đó bà chỉ vừa 13 tuổi. Cha ông là Edmund Tudor, Bá tước Richmond thứ nhất, qua đời 3 tháng trước khi Henry chào đời. Ông nội của Henry VII là ngài Owen Tudors, xuất thân từ gia tộc Tudors xứ Penmynydd, người đã phục vụ dưới triều đình Henry V của Anh và đã bí mật kết hôn với quá phụ của nhà vua, Catherine de Valois. Sau cuộc hôn nhân đó, một trong những đứa con của họ chính là Edmund Tudors, cha của Henry VII. Việc thừa kế ngai vàng nước Anh chủ yếu là qua mẹ ông, Phu nhân Margaret Beaufort, người hậu duệ của John xứ Gaunt, Công tước xứ Lancaster, con trai thứ tư của Quốc vương Edward III của Anh. == Gia quyến và tước hiệu == Henry VII trải qua 2 lần tước hiệu, cụ thể là: Trước năm 1485: Bá tước xứ Richmond (The Earl of Richmond). 22 tháng 8, 1485 - 21 tháng 4, 1509: Quốc vương điện hạ của nước Anh và Pháp, Lãnh chúa xứ Ireland (His Grace The King of England and France, Lord of Ireland). Tước hiệu đầy đủ của Henry khi là Quốc vương: Henry, by the Grace of God, King of England, France and Lord of Ireland. Năm 1486, ngày 18 tháng 1, Henry VII kết hôn với Elizabeth xứ York tại Tu viện Westminster. Elizabeth là con gái của Edward IV của Anh và Vương hậu Elizabeth Woodville, thuộc Nhà York. Vì mong muốn hòa bình lâu dài, Henry VII kết hôn với Elizabeth, Công nương xứ York. Cả Henry VII và Elizabeth đều là hậu duệ của John xứ Gaunt. Cuộc hôn nhân làm xoa dịu đáng kể chiến tranh giữa các gia tộc và củng cố quyền kế vị ngai vàng nước Anh của các con ông. Để đánh dấu nền hòa bình này, Henry VII tạo ra Hoa hồng Tudor, kết hợp giữa Hoa hồng trắng York và Hoa hồng đỏ Lancaster. Henry VII và Elizabeth sinh được 7 người con, gồm 3 trai và 4 gái: == Tham khảo == Ashley, Mike (2002). British Kings & Queens. Carroll & Graf. tr. 280–286. ISBN 0-7867-1104-3. Chrimes, Stanley B. (1999) [First publisher in 1972]. Henry VII. New Haven: Yale University Press, second ed. ISBN 0-520-02266-1. Cunningham, Sean (2007). Henry VII. New York: Routledge. ISBN 0-415-26620-3. Currin, John M. "'The King's Army into the Partes of Bretaigne': Henry VII and the Breton Wars, 1489–1491," War in History, Nov 2000, Vol. 7, Issue 4 Gunn, Steven. "Politic history, New Monarchy and state formation: Henry VII in European perspective," Historical Research, Aug 2009, Vol. 82 Issue 217, pp 380–392 Guy, John (1988). “The Tudor Age (1485–1603)”. Trong Morgan, Kenneth O. The Oxford History of Britain. Oxford: Oxford University Press. ISBN 0-19-285202-7Bản mẫu:Inconsistent citations Kendall, Paul Murray (1973). Richard the Third. Sphere Books. ISBN 0-351-17095-2. MacCulloch, Diarmaid (1996). “The Consolidation of England 1485–1603”. Trong Morrill, John. The Oxford Illustrated History of Tudor and Stuart Britain. Oxford: Oxford University Press. ISBN 0-19-289327-0Bản mẫu:Inconsistent citations Morgan, Kenneth O. (1988). The Oxford History of Britain. Oxford [Oxfordshire]: Oxford University Press. ISBN 0-19-285202-7. Morrill, John (1996). The Oxford Illustrated History of Tudor and Stuart Britain. Oxford [Oxfordshire]: Oxford University Press. Penn, Thomas (2011). Winter King – Henry VII and The Dawn of Tudor England. London: Simon & Schuster. ISBN 978-1-4391-9156-9 Rogers, Caroline; Turvey, Roger (2000). Henry VII. London: Hodder & Stoughton Educational. ISBN 0-340-75381-1. Starkey, David (2006). Monarchy: From the Middle Ages to Modernity. New York, NY: Harper Perennial. ISBN 0-00-724766-4. Towle, Carolyn; Hunt, Jocelyn (1998). Henry VII. New York: Longman. ISBN 0-582-29691-9. Weir, Alison (2011). Britain's Royal Families: The Complete Genealogy. London, UK: Vintage. ISBN 1-446-44911-4. Weir, Alison (2002). Henry VIII: King and Court. London: Pimlico. ISBN 0-7126-6451-3. Weir, Alison (1995). The Princes in the Tower. New York: Ballantine. ISBN 0-345-39178-0. Williams, Neville (1973). The Life and Times of Henry VII. London: Weidenfeld and Nicolson. ISBN 0-297-76517-5. == Tổ tiên == == Liên kết ngoài == Illustrated history of Henry VII Wars of the Roses Information on Henry and Bosworth Tudor Place page on Henry VII Dictionary of National Biography excerpt == Xem thêm == Triều đại Tudor
cầu thủ bóng đá.txt
Cầu thủ bóng đá hay còn gọi là cầu thủ là vận động viên thể thao chơi môn bóng đá cũng như các loại hình khác nhau của bóng đá (bóng đá bãi biển, bóng đá trong nhà, bóng đá mini, bóng đá đường phố). Người ta ước tính rằng trên thế giới có khoảng 250 triệu cầu thủ bóng đá cùng nhiều người chơi bóng đá với các hình thức khác. == Công việc == Trong trận đấu bóng đá, hai đội, mỗi đội sẽ tìm cách đưa trái bóng vào khung thành (còn gọi là cầu môn). Thủ môn là người duy nhất được phép chơi bóng bằng tay, tuy nhiên việc này cũng chỉ được giới hạn trong khu cấm địa phía trước khung thành do thủ môn trấn giữ. Tùy theo từng vị trí mà cầu thủ bóng đá còn có cách gọi khác nhau như hậu vệ (hậu vệ thòng, hậu vệ cánh...) trung vệ (phòng ngự, tấn công), tiền vệ (trung tâm, cánh, tự do...), tiền đạo (cánh, lùi, tự do, cắm...) và các vị trí khác. Bên cạnh số cầu thủ chính thức mỗi đội cũng còn một số cầu thủ dự bị để thay thế khi cần thiết, thông thường trong một trận bóng đá thi đấu chính thức, mỗi đội chỉ được phép thay đổi 3 cầu thủ. Cầu thủ sau khi được thay ra sẽ không thể tiếp tục quay trở lại sân thi đấu. Để chơi trọn vẹn một trận đấu bóng (thường dài 90 phút), cầu thủ cần một sức khỏe và độ bền lớn vì tùy theo vị trí, họ phải di chuyển (chủ yếu là chạy) trên quãng đường tổng cộng dài từ 6 đến 11 km. Bên cạnh đó, cầu thủ bóng đá còn bị đe dọa bởi các chấn thương rất dễ xảy ra trong trận đấu hoặc trong lúc tập luyện, chấn thương thường xảy ra với họ ở chân, ví dụ chấn thương gân khoeo, chấn thương gót chân và đôi khi thậm chí là gãy chân. Vì sự tiêu tốn thể lực và các mối đe dọa này, một cầu thủ bóng đá chuyên nghiệp hiếm khi có đủ 100% khả năng để thi đấu suốt một mùa giải dài 9 tháng, họ thường có chiến thuật phân bổ sức lực chú trọng cho các trận đấu lớn. Cũng như nhiều môn thể thao hiện đại khác, hiện tượng doping cũng xuất hiện trong bóng đá == Trang phục == Trang phục thi đấu trong các trận chính thức của các cầu thủ thường bao gồm áo phông, quần soóc, tất cao đến đầu gối, giày và bảo vệ ống đồng. Cầu thủ thi đấu trên sân bị cấm mặc, đeo hoặc mang theo các đồ vật có thể gây nguy hiểm cho cầu thủ đối phương như vòng, dây chuyền hoặc đồng hồ. Do là vị trí được sử dụng tay và thường xuyên phải bay người theo bóng, thủ môn được trang bị kĩ hơn các cầu thủ khác, họ thường mặc áo phông dài tay, đeo cả bảo vệ ống đồng và bảo vệ khuỷu tay và mang găng khi thi đấu. Trang phục mà cầu thủ mặc khi ra sân thi đấu gồm: Áo, vớ (tất), giày và găng tay (thủ môn). Nếu có, cầu thủ sẽ trang bị thêm băng gối hoặc băng tay. Đặc điểm của trang phục: Ở trên ngực thường có logo,tên nhà sản xuất trang phục (có thể không có) và tên nhà tài trợ ở bụng áo (riêng đội tuyển quốc gia thì không có,trang phục đội tuyển quốc gia ở bụng áo chỉ có số áo). Đằng sau áo là tên cầu thủ trên cùng,dưới đó là số áo và tiếp đó là tên CLB (có thể). Bên cánh tay bên trái thường có gắn logo đội hoặc được đeo dải băng dành cho đội trưởng đội bóng. Bến cánh tay phải thì sẽ là logo và tên của giải ngoại hạng mà đội bóng đang chơi. Phân loại trang phục. Trong một đội bóng thường có 2 loại trang phục: Áo sân khách và áo sân nhà. Áo sân nhà: Là trang phục đội bóng đó mặc khi thi đấu ở sân vận động của họ.Thường trùng màu với logo của đội. Áo sân khách: Là trang phục đội bống đó mặc khi thi đấu ở sân vận động của đội bóng khác. Mùa đông hoặc thời tiết lạnh,các cầu thủ sẽ được thay áo tay ngắn thành áo tay dài hoặc trang bị mùa đông. Màu sắc áo sân khách phải khác màu áo sân nhà.Đôi khi, có một số đội bóng cũng có đồng phục thứ ba. == Nghề nghiệp == Cầu thủ bóng đá thường bắt đầu sự nghiệp của mình từ hạng nghiệp dư và các cầu thủ tốt nhất, tiến bộ nhất có cơ hội để trở thành các cầu thủ chuyên nghiệp và tham gia chơi ở các giải đấu đỉnh cao ở cấp quốc gia, cấp châu lục và thế giới. Những cầu thủ xuất sắc cùng một quốc tịch có thể được triệu tập và trở thành những tuyển thủ quốc gia, thi đấu cho đội tuyển quốc gia của nước họ. Cầu thủ bóng đá, nhất là những ngôi sao bóng đá là một trong những đối tượng luôn được hâm mộ của những người hâm mộ, các cổ động viên. Thu nhập của các cầu thủ bóng đá ngày càng tăng. Tại nhiều quốc gia, cầu thủ bóng đá đã thành lập công đoàn để bảo vệ quyền lợi cho các cầu thủ. Một số câu lạc bộ trên thế giới cũng đã đầu tư mua bảo hiểm cho các cầu thủ vì đây là những đối tượng dễ bị chấn thương trong khi thi đấu và tập luyện. == Chú thích ==
ư.txt
Ư, ư là ký tự thứ 26 trong bảng chữ cái tiếng Việt. Ký tự này ít có trong các kiểu chữ và hiếm gặp trên bàn phím máy tính cho nên nó thường được viết thành u* hoặc u+. Theo tiêu chuẩn VIQR là u+, VNI: u+7, Telex: u+w hoặc w. Bởi vì tiếng Việt là ngôn ngữ có thanh điệu cho nên ký tự này còn có thể kèm theo 5 dấu thanh: Ừ ừ Ứ ứ Ử ử Ữ ữ Ự ự == Mã ký tự == == Tham khảo ==
bảo tàng hồ chí minh.txt
Bảo tàng Hồ Chí Minh là một bảo tàng vào loại lớn nhất của Việt Nam. Bảo tàng tập trung chủ yếu vào việc trưng bày những hiện vật, tư liệu về cuộc đời và con người Hồ Chí Minh. Nằm trong khu vực có nhiều di tích như: Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh, Khu di tích Phủ chủ tịch, Chùa Một Cột... tạo thành một quần thể các di tích thu hút khách tham quan trong và ngoài nước. == Chức năng nhiệm vụ == Ngày 15 tháng 10 năm 1979 Chính phủ Việt Nam đã ban hành Nghị định số 375/ CP về chức năng, nhiệm vụ và tổ chức của Viện bảo tàng Hồ Chí Minh: "Là trung tâm nghiên cứu những tư liệu hiện vật và di tích lịch sử có quan hệ đến đời sống và hoạt động của Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại trong suốt quá trình đấu tranh cách mạng của Người và tuyên truyền, giáo dục quần chúng về sự nghiệp tư tưởng, đạo đức và tác phong của Người thông qua những tư liệu, hiện vật và di tích đó". == Danh sách lãnh đạo qua các thời kỳ == == Ghi chú == Phương tiện liên quan tới Ho Chi Minh Museum tại Wikimedia Commons == Liên kết ngoài == Giới thiệu Bảo tàng Hồ Chí Minh http://thehehochiminh.net/modules.php?name=News&op=viewst&sid=33
harry shum, jr..txt
Harry Shum, Jr. (tiếng Trung: 岑勇康, Sầm Dũng Khương; sinh ngày 28 tháng 4 năm 1982) là vũ công, biên đạo múa và diễn viên người Mỹ. Trong bộ phim truyền hình nhạc kịch hài Glee, anh thủ vai Mike Chang. Anh được biết đến nhiều khi góp mặt trong các phim về vũ đạo như Stomp the Yard, You Got Served, Step Up 2: The Streets và Step Up 3D. Anh cũng thủ vai Elliot Hoo trong The Legion of Extraordinary Dancers. == Thời nhỏ == Shum sinh ra tại Puerto Limón, Costa Rica vào ngày 28 tháng 4 năm 1982. Mẹ anh là người Hồng Kông, còn bố anh đến từ Quảng Châu. Hai người đến định cư tại Costa Rica, tại đây Shum cùng hai người chị đã được sinh ra. Khi Shum lên sáu tuổi, gia đình anh chuyển đến San Francisco, California. Anh nói rằng, "Tôi cảm thấy tôi có cái tốt nhất của nhiều thế giới. Tôi nói tiếng Hoa và tiếng Tây Ban Nha. Tiếng Tây Ban Nha thực tế là ngôn ngữ thứ nhất của tôi trước khi tôi học tiếng Hoa và tiếng Anh". anh đã cho biết rằng những động lực đầu tiên cho việc học nhảy của anh là Ginuwine, Dru Hill, và Usher, trước khi bị tác động mạnh mẽ bởi các hình tượng vũ công như Gene Kelly và Michael Jackson. Shum tốt nghiệp trường trung học Arroyo Grande High School năm 2000. Anh bắt đầu nhảy cùng với nhóm của anh khi còn ở trường và tiếp tục sự nghiệp tại San Francisco ở vài studio khác nhau. Anh kết hợp nhiều phong cách khác nhau trong điệu nhảy của mình, bao gồm popping, tutting, waving, locking, breakdance và múa đương đại. Shum được nhận vào trường đại học San Francisco State University, nhưng chỉ ở lại ba tháng trước khi quyết định theo đuổi sự nghiệp khiêu vũ và giải trí. == Sự nghiệp == Shum bắt đầu sự nghiệp với tư cách là vũ công nam duy nhất trong Comic View của BET năm 2002 và tiếp tục sự nghiệp từ đó. Anh là một trong những vũ công dẫn đầu cùng nhiều ngôi sao như Beyoncé, Mariah Carey, Jennifer Lopez và Jessica Simpson. == Chú thích == == Liên kết ngoài == Harry Shum, Jr. – Official Site Harry Shum Jr. tại Internet Movie Database 3 Minutes – Official Site
mùa hạ.txt
Mùa hạ hay mùa hè là một trong bốn mùa thường được công nhận ở các vùng ôn đới và cận cực. Mùa hạ là mùa nóng nhất và thời điểm nó diễn ra rơi vào khoảng giữa mùa xuân và mùa thu. Vào ngày hạ chí, ngày là dài nhất còn đêm thì ngắn nhất, và kể từ sau ngày hạ chí trở đi quãng thời gian ban ngày bắt đầu giảm dần. Điểm khởi đầu của mùa hè là khác nhau phụ thuộc vào khí hậu, truyền thống và văn hóa của từng khu vực. Khi ở Bắc bán cầu đang là mùa hè thì ở Nam bán cầu sẽ là mùa đông và ngược lại. == Trên Trái Đất == Trên Trái Đất, mùa này được định nghĩa theo tập quán trong khí tượng học như là toàn bộ các tháng Sáu, Bảy và Tám ở Bắc bán cầu và toàn bộ các tháng Mười Hai, Một và Hai ở Nam bán cầu. Tại một số nước phương Tây, ngày đầu tiên của mùa hạ (ở Bắc bán cầu) rơi vào hoặc là xấp xỉ ngày 21 tháng 6 (hạ chí) hoặc vào ngày 1 tháng 6 (ngày thứ nhất là theo ý nghĩa thiên văn học, ngày thứ hai là theo ý nghĩa khí tượng học). Theo lịch Trung Quốc cổ đại, mùa hạ bắt đầu vào khoảng ngày 6 tháng 5, với tiết khí có tên gọi là 立夏 (lập hạ), tức "ngày bắt đầu mùa hè" và chấm dứt khi kết thúc tiết đại thử vào ngày 6 hoặc 7 tháng 8 dương lịch. Mùa hạ nói chung được nhìn nhận như là mùa với những ngày có thời gian ban ngày dài nhất và nóng nhất trong năm, trong đó ánh sáng ban ngày là chủ yếu, mặc dù ở các mức độ khác nhau theo vĩ độ. Ở các vĩ độ cao, thời gian chạng vạng chỉ kéo dài trong vài giờ, càng lên các vĩ độ cao hơn thì thời gian chạng vạng càng ngắn lại (nếu tính cùng một thời điểm nhất định trong mùa hạ). Đôi khi trong những ngày cận kề với ngày hạ chí thì nó có thể tạo ra những đêm trắng nổi tiếng như ở St. Petersburg và Scandinavia. Đôi khi người ta cũng gọi nó là mùa của "Mặt Trời giữa đêm" ở Bắc cực cũng như ở Iceland. Đối với nhiều người ở phương Tây, các mùa được coi là bắt đầu và kết thúc ở các điểm chí và các điểm phân theo ý nghĩa "thiên văn học". Tuy nhiên, do hiện tượng trễ mùa, thời điểm bắt đầu của mùa "khí tượng học" đến sớm hơn, vào khoảng 3 tuần so với thời điểm bắt đầu của mùa "thiên văn". Sự chênh lệch về thời gian này giữ cho định nghĩa "khí tượng học" phân chia mùa đối xứng xung quanh khoảng thời gian ấm nhất/lạnh nhất của năm hơn so với mùa "thiên văn". Ngày nay, định nghĩa "khí tượng học" là phổ biến nhất, nhưng trong quá khứ thì định nghĩa "thiên văn" là phổ biến hơn và ngày nay thì một số người vẫn thích sử dụng nó. Ngoài ra, các điểm phân và các điểm chí còn được coi là điểm phân chia giữa mùa, chứ không phải là điểm bắt đầu, chẳng hạn trong thiên văn học của người Trung Quốc và các nước xung quanh chịu ảnh hưởng thì mùa hạ bắt đầu vào khoảng ngày 6 tháng 5, với tiết khí có tên gọi là 立夏 (lập hạ), tức "ngày bắt đầu mùa hè". Trong phần lớn các quốc gia, trẻ em được nghỉ hè trong khoảng thời gian này của năm, mặc dù ngày có thể khác nhau. Một số bắt đầu vào đầu tháng Sáu, mặc dù tại Anh thì trẻ em trong độ tuổi 5-16 chỉ được nghỉ hè vào giữa tháng Bảy. Mùa hè cũng là mùa mà nhiều loại hoa quả, rau cỏ và các loại thực vật khác có sự phát triển đầy đủ nhất. === Mùa hè ở một số nước === Mùa hè ở Việt Nam là mùa mà học sinh được nghỉ học. Tại các trường tiểu học thì học sinh được nghỉ học từ cuối tháng Năm đến hết tháng 8 đi học hè từ đầu cuối tháng 8 và đầu tháng 9. Các trường cấp lớn hơn thì học sinh được nghỉ học muộn hơn và bắt đầu năm học cũng sớm hơn. Đối với lứa tuổi học sinh thì nó thường được gắn liền với hình ảnh của cây phượng vĩ và con ve cũng như là mùa của sự chia tay của các học sinh cuối mỗi cấp học. Trong nông nghiệp, mùa này cũng là mùa thu hoạch vụ chiêm xuân. Đối với những người thích du lịch thì đây là mùa phù hợp nhất để đi tắm biển hay nghỉ mát ở những vùng núi cao để tránh cái nóng oi bức. Trong công nghiệp điện ảnh của Hoa Kỳ, mùa hạ còn có tên riêng là "mùa của bom tấn". Nó là thời gian của các cạnh tranh và đem lại lợi nhuận nhiều nhất trong năm, trong đó một lượng lớn các bộ phim có đầu tư lớn (thông thường là phim hành động hay phim khoa học viễn tưởng) được khởi chiếu. Do điều này, mùa hạ thông thường được các nhà phê bình cũng như khán giả coi như là mùa của một số các phim thành công nhất cũng như là của một số phim thất bại nhất. "Mùa phim mùa hè" kéo dài từ tuần đầu tiên của tháng Năm cho tới đầu tháng Chín, tới ngày nghỉ cuối tuần của Ngày Lao động tại Bắc Mỹ (1 tháng 9 thay vì 1 tháng 5 như toàn thế giới). == Trên các hành tinh == Các hành tinh có trục tự quay không vuông góc với mặt phẳng quỹ đạo đều có hiện tượng mùa, bao gồm mùa hạ. Mùa hạ ở bắc bán cầu là khoảng thời gian bắt đầu khi hành tinh nằm ở điểm hạ chí (Ls = 90°) trên quỹ đạo, và kết thúc khi nó nằm ở điểm thu phân (Ls = 180°). Mùa hạ ở bắc bán cầu trùng với mùa đông ở nam bán cầu, và mùa hạ ở nam bán cầu trùng với mùa đông ở bắc bán cầu. == Hạ và hè trong tiếng Việt == Trong tiếng Việt hai từ "mùa hè" và "mùa hạ" được sử dụng như nhau để chỉ mùa này, nhưng ngày nay từ mùa hè có lẽ được sử dụng phổ biến hơn. Tuy nhiên, các từ "hạ" và "hè" khi nói về các vấn đề liên quan đến mùa này không phải là luôn luôn tương đương với nhau. Ví dụ người ta nói hạ chí/hạ chí tuyến mà không nói "hè chí"/"hè chí tuyến", nói lập hạ mà không nói "lập hè" hay nói nghỉ hè mà không nói "nghỉ hạ". == Xem thêm == Sự nghiêng trục Trái Đất Mùa xuân Mùa thu Mùa đông == Tham khảo == == Liên kết ngoài == "Mùa hạ của động và thực vật ở Phần Lan" của "Northern Nature Project" (tiếng Anh)
kinh tế thụy điển.txt
Kinh tế Thụy Điển là một nền kinh tế hỗn hợp tiên tiến, hướng ngoại và có ngành khai thác tài nguyên phát triển. Các ngành công nghiệp chủ đạo là chế tạo ô tô, viễn thông, dược phẩm và lâm nghiệp. Do giữ thái độ trung lập, Thụy Điển đã không bị hai cuộc chiến tranh thế giới tàn phá giống như nhiều nước châu Âu khác. Hai đặc trưng đáng chú ý của kinh tế Thụy Điển đó là nền kinh tế dựa trên các ngành công nghệ cao và những phúc lợi. Thụy Điển có tỷ lệ thu từ thuế trong tổng thu ngân sách nhà nước cao thứ hai sau Đan Mạch. Vào năm 2007, tổng số thuế thu nhập bằng 47,8% GDP, giảm từ 49,1% năm 2006. == Lịch sử == Trong thế kỷ 19 Thụy Điển phát triển từ một nền kinh tế phần lớn là nông nghiệp chuyển sang bắt đầu của một quá trình công nghiệp hóa, đô thị hoá đất nước. Đói nghèo vẫn phổ biến rộng rãi trong các thành phần dân cư. Tuy nhiên, thu nhập đủ cao để tài trợ di cư đến những nơi xa xôi, khiến cho một phần lớn người dân của đất nước đã rời đi, đặc biệt là tới Hoa Kỳ. Cải cách kinh tế và tạo ra một hệ thống kinh tế hiện đại, các ngân hàng và công ty đã được thành lập trong nửa sau của thế kỷ 19. Vào những năm 1930, Thụy Điển đã có một trong những nước có mức sống cao nhất của châu Âu. Thụy Điển đã tuyên bố bản thân trung lập trong cả hai cuộc chiến tranh thế giới, qua đó tránh được nhiều phá hủy giống như một số nước trung lập khác. Hậu chiến bùng nổ đưa Thụy Điển tới sự thịnh vượng kinh tế lớn hơn, đưa đất nước này vào vị trí thứ ba trong bảng xếp hạng GDP bình quân đầu người năm 1970. Bắt đầu từ những năm 1970 và đỉnh điểm với sự suy thoái sâu của đầu những năm 1990, mức sống người Thụy Điển phát triển kém thuận lợi hơn so với nhiều nước công nghiệp hóa khác. Kể từ giữa những năm 1990 hiệu quả kém từ hoạt động kinh tế đã được cải thiện. Năm 2006, Thụy Điển đứng thứ chín trên thế giới về GDP bình quân đầu người trong điều kiện danh nghĩa và đứng ở vị trí 14 trong điều kiện sức mua tương đương (con số năm 2005). === Cuộc khủng hoảng của những năm 1990 === Thụy Điển đã có một mô hình kinh tế duy nhất trong thời kỳ sau chiến tranh thế giới thứ 2, đặc trưng bởi sự hợp tác chặt chẽ giữa chính phủ, công đoàn lao động và các tổng công ty. Nền kinh tế Thụy Điển đã được mở rộng và toàn bộ lợi ích xã hội được tài trợ bởi các loại thuế cao, gần 50% GDP. Trong những năm 1980, bất động sản và tài chính đã hình thành nên bong bóng, được thúc đẩy bởi sự gia tăng nhanh chóng trong việc cho vay. Một sự chuyển dịch cơ cấu của hệ thống thuế, nhằm nhấn mạnh lạm phát thấp kết hợp với nền kinh tế quốc tế phát triển chậm lại trong những năm 1990, gây ra bong bóng để vỡ tung. Giữa những năm 1990 và 1993 GDP giảm xuống 5% và tỷ lệ thất nghiệp tăng vọt, gây ra cuộc khủng hoảng kinh tế tồi tệ nhất ở Thụy Điển kể từ thập niên 1930. Năm 1992 đã có một giảm nhanh trên các loại tiền tệ, ngân hàng trung ương trong một thời gian ngắn đã kích lãi suất lên đến 500% trong một nỗ lực không thành công để bảo vệ tỷ giá cố định của đơn vị tiền tệ. Tổng số việc làm giảm gần 10% trong khi cuộc khủng hoảng diễn ra. Một thực tế là bùng nổ bất động sản đã kết thúc bằng việc đổ vỡ. Chính phủ đã tiếp nhận gần một phần tư tài sản của ngân hàng với thua lỗ khoảng 4% GDP của các quốc gia. Điều này đã được biết đến với nghĩa thông tục như là "Stockholm Solution." Cục Dự trữ Liên bang Hoa Kỳ nhận xét trong năm 2007, rằng: "Trong những năm 1970, Thụy Điển đã là một trong những nước có mức thu nhập cao nhất tại châu Âu; ngày nay, lần đầu tiên của nó đã biến mất tất cả nhưng.... Vì vậy, thậm chí có quản lý tài chính tốt thì khủng hoảng không thực sự có một kết thúc có hậu. " Hệ thống phúc lợi xã hội đã được phát triển nhanh chóng kể từ những năm 1970 có thể không được duy trì lâu dài với việc GDP giảm xuống thấp hơn, và các khoản thanh toán phúc lợi lớn hơn. Năm 1994, thâm hụt ngân sách vượt quá 15% GDP. Các phản ứng của chính phủ là phải cắt giảm chi tiêu và tăng cường cải cách để cải thiện khả năng cạnh tranh của Thụy Điển. Khi triển vọng kinh tế quốc tế được cải thiện kết hợp với sự phát triển nhanh chóng trong lĩnh vực công nghệ thông tin, mà Thụy Điển đã có thể chuyển thành vốn từ cả nước để có thể thoát ra từ cuộc khủng hoảng. Tuy nhiên, việc cải cách ban hành trong năm 1990 dường như đã tạo ra một mô hình, trong đó lợi ích phúc lợi xã hội rộng lớn có thể được duy trì trong một nền kinh tế toàn cầu. == Nền kinh tế đương đại == Thụy Điển là một nền kinh tế hỗn hợp theo định hướng xuất khẩu đặc trưng bởi một hệ thống phân phối hiện đại, xuất sắc trong và ngoài ngành truyền thông, và một lực lượng lao động có tay nghề. Cây gỗ, thủy năng và quặng sắt chiếm phần lớn trong các cơ sở tài nguyên của một nền kinh tế theo định hướng trọng tâm về hướng thương mại quốc tế. Ngành kỹ thuật của Thụy Điển chiếm 50% sản lượng và xuất khẩu. Viễn thông, ngành công nghiệp ô tô và các ngành công nghiệp dược phẩm cũng quan trọng. Báo cáo kế toán về ngành nông nghiệp chiếm 2 phần trăm của GDP và việc làm. Danh sách 20 công ty lớn nhất Thụy Điển theo doanh thu năm 2007 là Volvo, Ericsson, Vattenfall, Skanska, Sony Ericsson, Svenska Cellulosa Aktiebolaget, Electrolux, Volvo Personvagnar, TeliaSonera, Sandvik, Scania, ICA, Hennes & Mauritz, Nordea, Preem, Atlas Copco, Securitas, Nordstjernan và SKF. Ngành công nghiệp của Thụy Điển chủ yếu là kiểm soát tư nhân; không giống như một số nước công nghiệp phương Tây khác, chẳng hạn như Áo và Italia, công khai doanh nghiệp luôn luôn được thể hiện là tầm quan trọng nhỏ. Một số 4,5 triệu người dân đang làm việc, trong đó khoảng một phần ba với giáo dục đại học. GDP bình quân giờ làm việc cao thứ 9 trên thế giới đạt mức 31 USD trong năm 2006, so với 22 USD ở Tây Ban Nha và 35 USD ở Hoa Kỳ. Theo OECD, bãi bỏ quy định, toàn cầu hóa, và sự phát triển ngành công nghệ đã được coi là phím điều khiển năng suất. GDP bình quân giờ làm việc đang tăng lên 2 ½ phần trăm mỗi năm cho nền kinh tế nói chung và thương mại-điều kiện cân bằng năng suất tăng trưởng 2%. Thụy Điển là một nước dẫn đầu thế giới về lương hưu tư nhân và các vấn đề kinh phí trợ cấp là vấn đề nhỏ so với nhiều nước Tây Âu khác. Thụy Điển đã trở thành thị trường lao động linh hoạt hơn, nhưng nó vẫn có một số vấn đề được thừa nhận rộng rãi. Nhân viên thường chỉ nhận được 40% thu nhập của mình sau khi nêm thuế. Từ từ giảm dần tổng thể thuế, 51,1% của GDP năm 2007, vẫn còn gần gấp đôi của trong đó ở Hoa Kỳ hoặc Đảo Ireland. Công chức số lượng để một phần ba của lực lượng lao động Thụy Điển, gấp nhiều lần tỷ trọng ở nhiều nước khác. Nhìn chung, tăng trưởng GDP đã được cải cách nhanh chóng kể từ đầu thập niên 1990, đặc biệt là trong sản xuất. Diễn đàn kinh tế thế giới năm 2008 cho thấy chỉ số năng lực cạnh tranh Thụy Điển xếp thứ 4 hầu hết cạnh tranh, đứng sau Đan Mạch. Chỉ số tự do kinh tế năm 2008 Thụy Điển xếp thứ 27 về tự do kinh tế trên 162 quốc gia, hoặc 14 trong số 41 nước châu Âu. Thụy Điển xếp thứ 9 trong cạnh tranh IMD biên niên năm 2008, ghi được hiệu quả cao trong khu vực tư nhân. Theo cuốn sách, The Flight of the Creative Class, bởi nghiên cứu đồ thị Hoa Kỳ, Giáo sư Richard Florida của Đại học Toronto, Thụy Điển được xếp hạng là có sáng tạo tốt nhất ở Châu Âu cho doanh nghiệp và được dự đoán sẽ trở thành một nam châm cho người lao động tài năng của thế giới có mục đích nhất. Cuốn sách được biên dịch một chỉ số để đo các loại sáng tạo nó tuyên bố là hữu ích nhất cho doanh nghiệp - tài năng, công nghệ và sự khoan dung. Thụy Điển đầu tư vào nghiên cứu và phát triển, trong năm 2007, tại mức hơn 3,5% GDP. Điều này là đáng kể so với một số những thành viên của MEDC, trong đó có Hoa Kỳ, và là lớn nhất trong số các thành viên của OECD. Thụy Điển từ chối Euro trong một cuộc trưng cầu dân ý trong năm 2003, và Thụy Điển duy trì đơn vị tiền tệ của riêng mình, Krona Thụy Điển (SEK). Riksbank của Thụy Điển—thành lập năm 1668 và do đó khiến nó trở thành trung tâm ngân hàng lâu đời nhất trên thế giới-hiện tại đang tập trung vào sự ổn định giá, với mục tiêu lạm phát của nó là 2%. Theo Economic Survey of Sweden 2007 bởi OECD, sự lạm phát trung bình ở Thụy Điển là một trong những mức thấp nhất trong số các nước châu Âu kể từ giữa thập niên 1990, phần lớn là do bãi bỏ quy định và sử dụng nhanh chóng của toàn cầu hóa. Các dòng chảy thương mại lớn nhất là với Đức, Hoa Kỳ, Na Uy, Vương quốc Anh, Đan Mạch và Phần Lan. Những hình ảnh kinh tế Thụy Điển đã sáng đáng kể từ khi suy thoái nặng vào đầu những năm 1990. Tăng trưởng đã đạt được mạnh mẽ trong những năm gần đây, và mặc dù sự tăng trưởng trong nền kinh tế đã chậm lại giữa năm 2001 và 2003, tốc độ tăng trưởng đã đạt được đáng kể với tốc độ tăng trưởng trung bình là 3,7% trong ba năm qua. Triển vọng lâu dài cho sự tăng trưởng vẫn còn thuận lợi. Tỷ lệ lạm phát là thấp và ổn định, với dự báo cho các cấp tiếp tục thấp trong 2-3 năm tới. Kể từ giữa thập niên 1990 ngành xuất khẩu đã bùng nổ, làm động cơ chính cho tăng trưởng kinh tế. Xuất khẩu của Thụy Điển cũng đã chứng minh là không có gì ngạc nhiên khi mạnh mẽ. Một đánh dấu thay đổi trong cơ cấu của hàng xuất khẩu, trong đó dịch vụ, các ngành công nghệ thông tin, và các ngành viễn thông đã đưa hơn từ các ngành công nghiệp truyền thống như: thép, giấy và bột giấy, đã làm cho ngành xuất khẩu Thụy Điển ít dễ bị biến động quốc tế. Tuy nhiên, đồng thời ngành công nghiệp Thụy Điển đã nhận được tiền ít hơn cho hàng xuất khẩu của nó trong khi giá nhập khẩu đã đi lên. Trong giai đoạn 1995-2003 giá xuất khẩu đã giảm 4%, đồng thời là giá nhập khẩu tăng 11%. Hiệu quả cuối cùng là tỷ lệ mậu dịch của Thụy Điển giảm 13%. === Chính phủ === Ngân sách chính phủ đã được cải thiện đáng kể từ một mức thâm hụt kỷ lục của hơn 12% GDP vào năm 1993. Trong những thập kỷ qua, từ năm 1998 đến nay, chính phủ đã tạo ra thặng dư hàng năm, trừ các năm 2003 và 2004. Việc dư thừa trong năm 2007 dự kiến sẽ được 138 tỷ (20 tỷ USD) Krona. Quá trình ngân sách nghiêm ngặt với chi tiêu trần được thiết lập bởi Nghị viện, và một Hiến pháp thay đổi đến một sự độc lập của ngân hàng trung ương, có rất nhiều chính sách cải thiện uy tín. Điều này có thể được nhìn thấy trong tỷ lệ lãi suất lâu dài so với Euro, đó là không đáng kể. Từ góc nhìn của nền tài chính bền vững lâu dài, cải cách được chờ đợi rất lâu những khoản trợ cấp người già đã có hiệu lực vào năm 1999. Điều này đòi hỏi một cải cách mạnh mẽ hơn rất nhiều hệ thống vis-à-vis bất lợi nhân khẩu và những xu hướng kinh tế, mà nên giữ lại tỷ lệ của tổng số tiền cấp dưỡng giải ngân tới việc tổng hợp hóa đơn tiền lương gần 20% trong những thập kỷ trước. Nắm giữ lẫn nhau, cả hai hợp nhất tài chính và cải cách trợ cấp đã mang tài chính công cộng trở lại trên một thế bền vững. Tổng khoản nợ công cộng, trong đó đã tăng từ 43% GDP năm 1990 lên 78% vào năm 1994, ổn định khoảng giữa những năm 1990 và bắt đầu đi xuống một lần nữa đáng kể đầu năm 1999. Năm 2000 nó đã giảm dưới mức quan trọng của 60%, và đã không đạt một mức 37% GDP như năm 2007, và dự kiến sẽ đi xuống mức dưới 20% GDP vào năm 2010. == Chú thích ==
maicon sisenando.txt
Maicon Douglas Sisenando (sinh ngày 26 tháng 7 năm 1981 ở Criciúma, Santa Catarina), thường được biết tới với tên Maicon, là một cầu thủ bóng đá người Brasil, hiện đang là cầu thủ tự do. Maicon từng được đánh giá là một trong những hậu vệ cánh phải hàng đầu thế giới. == Sự nghiệp câu lạc bộ == === Thời gian đầu === Được đánh giá là một hậu vệ phải tài năng, Maicon có trận ra mắt cho Cruzeiro vào năm 2001 và sau hai mùa giải thành công ở Brazil với một chức vô địch quốc gia và một lần được triệu tập vào đội tuyển bóng đá quốc gia Brazil vào năm 2003, anh được đội bóng đang chơi cho Ligue 1 AS Monaco ký hợp đồng vào tháng 6 năm 2004. === Inter Milan === Vào tháng 7 năm 2006, Inter Milan chính thức cho biết họ đã ký hợp đồng 5 năm với Maicon cùng với hậu vệ trái người Brasil Maxwell và tiền vệ người Pháp Olivier Dacourt. Trong quãng thời gian ở Inter, anh đã thể hiện được tài năng bên hành lang cánh phải với khả năng phòng thủ tốt cùng tốc độ tốt, anh cũng có thể ghi bàn hoặc kiến tạo. Anh chiếm được vị trí của hậu vệ đội trưởng Javier Zanetti để trở thành sự lựa chọn số 1 bên hành lang cánh phải. Anh thường được đánh giá là một trong những hậu vệ cánh phải hay nhất thế giới và là sự lựa chọn số 1 ở đội tuyển Brazil, đánh bại cả hậu vệ của Barcelona Daniel Alves. Trong trận đấu ở cúp C1 vào ngày 6 tháng 3 năm 2007, anh gây ra một chấn thương nghiêm trọng cho hậu vệ của Valencia CF David Navarro. Ban đầu Maicon bị treo giò 6 trận, nhưng sau đó đã được giảm xuống còn 3 trận. Anh tiếp tục thể hiện phong độ tốt ở mùa giải 2009-10. Anh bắt đầu mùa giải bằng bàn thắng vào lưới AC Milan trong chiến thắng 4-0, và sau đó chơi tốt trong trận đấu ở cúp C1 gặp FC Barcelona ở Giuseppe Meazza. Anh kiến tạo cho Diego Milito ghi bàn ở vòng 5 trong trận gặp Napoli, trận này Inter thắng 3-1. Anh cũng ghi bàn cuối cùng trong trận thắng 5-0 trước Genoa. Anh cũng thực hiện một pha xuống biên mạnh mẽ để tạo cơ hội cho Milito ghi bàn thắng quyết định ở trận thắng 5-3 trước Palermo và ở trận sau đó anh ghi bàn thắng quyết định để đánh bại Livorno. Maicon ghi bàn đầu tiên ở cúp C1 mùa giải này khi sút tung lưới Barcelona. Ở trận đó anh đã bị gãy răng sau một pha va chạm cùng Lionel Messi. Màn trình diễn ấn tượng của anh ở Inter đã gây ra nhiều lời đồn thổi về tương lai của anh. Cả Real Madrid và Manchester City (câu lạc bộ bóng đá) đều đã thể hiện mong muốn có chữ ký của anh. Tuy nhiên anh đã thể hiện mong muốn ở lại Inter và chủ tịch Inter Massimo Moratti đã ra giá 30 triệu euro cho anh. === Manchester City === Ngày 31 tháng 8 năm 2012, Maicon chuyển sang Manchester City với giá chuyển nhượng 3.5 triệu £, khoác chiếc áo số 3.Anh có trận ra mắt cho câu lạc bộ vào ngày 15 tháng Chín, trong trận hòa 1–1 với Stoke. === A.S. Roma === Ngày 18 tháng 6 năm 2013,anh chuyển tới câu lạc bộ Ý A.S. Roma với mức phí ba triệu bảng. == Thi đấu quốc tế == Maicon chơi ở giải trẻ quốc tế vào năm 2001 cùng đồng đội Adriano. Maicon lần đầu tiên được gọi vào đội tuyển bóng đá quốc gia Brazil ở giải Cúp Vàng CONCACAF vào năm 2003 khi là thành viên của đội U23 Brazil. Vào ngày 13 tháng 7 năm 2003, anh có trận ra mắt cho đội tuyển quốc gia trong trận gặp đội tuyển bóng đá quốc gia Mexico. Trong lần ra sân thứ 2, anh ghi bàn đầu tiên vào lưới đội tuyển bóng đá quốc gia Honduras. Vào tháng 1 năm 2004, anh chơi ở giải CONMEBOL tiền Olympic cùng các đồng đội ở Cruzeiro Heurelho Gomes, Edu Dracena, Wendel và người đồng đội tương lai Maxwell. Anh cũng tham gia vào đội hình đội tuyển quốc gia ở Copa America 2004 và Confederations Cup 2005, những giải đấu mà Brazil đều vô địch. Tuy nhiên, anh không được triệu tập ở World Cup 2006, giải đấu mà Cicinho và Cafu được triệu tập ho vị trí hậu vệ phải. Sau khi Cafu giải nghệ và Dunga lên chức HLV trưởng, Maicon trở thành sự lựa chọn số 1 cho vị trí hậu vệ phải của Brazil. Anh cũng được triệu tập cho Copa America 2007, giải đấu mà Brazil vô địch. Maicon ghi bàn thứ 3 trong chiến thắng 3-0 của Brazil trước Mỹ ở vòng bảng FIFA Confederations Cup 2009 sau một pha chồng cánh rất hay ở bên phải, và anh cũng là người kiến tạo cho Felipe Melo ghi bàn từ một quả đá phạt. == Thống kê sự nghiệp câu lạc bộ == Số liệu thống kê chính xác tới 5 tháng 11 năm 2015. == Danh hiệu == Cruzeiro Campeonato Brasileiro Série A: 2003 Copa do Brasil: 2003 Campeonato Mineiro: 2002, 2003 Internazionale Serie A: 2007, 2008, 2009,2010 Supercoppa Italiana: 2006, 2008,2010 Coppa Italia: 2006, 2007, 2008, 2009, 2010 UEFA Champion Leage: 2010 Quốc tế Copa América: 2004, 2007 FIFA Confederations Cup: 2005, 2009 == Tham khảo == == Liên kết ngoài == Maicon trên FiFA.com Maicon at www.uefa.com Maicon at www.inter.it Maicon – sambafoot.com
tòa án nhân dân tối cao (việt nam).txt
Tại Việt Nam, Tòa án Nhân dân Tối cao là cơ quan xét xử cao nhất của nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Theo Luật tổ chức Toà án Nhân dân năm 2002, Toà án Nhân dân Tối cao gồm Chánh án, các Phó Chánh án, Thẩm phán, Thư ký toà án. == Lịch sử == Ngày 13 tháng 9 năm 1945, Chính phủ lâm thời Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra Sắc lệnh thiết lập các Toà án quân sự. Theo Điều 1 của Sắc lệnh này thì sẽ thiết lập các Toà án quân sự gồm: Bắc bộ tại Hà Nội, Hải Phòng, Thái Nguyên, Ninh Bình; Trung bộ tại Vinh, Huế, Quảng Ngãi; Nam bộ tại Sài Gòn, Mỹ Tho. Uỷ ban nhân dân Trung bộ và Nam bộ, trong địa hạt hai bộ ấy, có thể đề đạt lên Chính phủ xin mở thêm Toà án quân sự ở những nơi trọng yếu khác. Về thẩm quyền xét xử, Toà án quân sự xử tất cả những người nào phạm vào một việc gì có phương hại đến nền độc lập của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, trừ trường hợp phạm nhân là binh sĩ thì thuộc về nhà binh tự xử lấy theo quân luật (Điều 2). Trong cuộc cải cách Tư pháp năm 1950 Chính phủ ra Sắc lệnh số 85 ngày 22/5/1950 quy định: Về tổ chức: - Bộ máy tư pháp được dân chủ hoá các Tòa án sơ cấp, đệ nhị cấp nay gọi là Tòa án nhân dân huyện, Tòa án nhân dân tỉnh. Hội đồng phúc án nay là Tòa Phúc thẩm phụ thẩm nhân dân nay gọi là hội thẩm nhân dân. - Thành phần nhân dân được đa số trong việc xét xử: Để xét xử việc hình và hộ, Tòa án nhân dân huyện và tỉnh gồm một Thẩm phán và hai Hội thẩm nhân dân. Tòa Phúc thẩm gồm hai Thẩm phán và ba hội thẩm nhân dân. Hội thẩm nhân dân có quyền xem hồ sơ và biểu quyết. - Thành lập hội đồng hoá giải tại mỗi huyện nhằm mục đích giao cho nhân dân trực tiếp phụ trách việc hoá giải tất cả các việc hộ kể cả việc ly dị mà từ trước tới nay chỉ có Chánh án Tòa án tỉnh mới có thẩm quyền. Biên bản hòa giải thành có chấp hành lực. Đây là một điểm tiến bộ so với thế hệ cũ. Khi các đương sự đã thoả thuận trước hội đồng hoá giải thì việc hòa giải được đem thi hành ngay. - Áo chùng đen của Thẩm phán và luật sư nay bỏ đi. Về thẩm quyền: - Tăng thẩm quyền cho ban tư pháp xã về việc phạt vi cảnh để làm cho một số việc ít quan trọng về mặt trị an sẽ được giải quyết mau chóng ngay tại xã. - Giao cho các Tòa án nhân dân huyện quyền ấn định các phương pháp bảo thủ, dù việc xử kiện không thuộc thẩm quyền Tòa án nhân dân huyện để tránh cho đương sự khỏi phải tốn phí đi lên Tòa án tỉnh và những việc cấp bách có thể được giải quyết mau chóng hơn. Về tố tụng: Thủ tục tố tụng được hợp lý và giản dị hơn. - Trái với quan niệm cũ cho rằng việc hộ thường chỉ có lợi hoặc có hại riêng cho tư nhân mà xã hội không cần can thiệp đến, thì nay công tố viên có quyền kháng cáo các án hộ nếu xét ra cần thiết. - Theo Sắc lệnh số 51 ngày 17 tháng 4 năm 1946, biện lý bắt buộc phải đưa sang phòng dự thẩm để thẩm cứu một số việc hình dù rằng xét ra không cần thiết. Nay biện lý chỉ giao sang phòng dự thẩm khi xét thật cần thiết mà thôi. - Trước đây mỗi khi thủ tục tố tụng không được theo đúng thì bị tiêu hủy dù không có hại cho việc thẩm cứu, hoặc cho quyền lợi của đương sự. Nay coi điều đó là quá câu nệ về hình thức không còn hợp thời nữa. - Từ nay người bị thiệt hại về một vụ phạm pháp có thể xin kháng cáo không những để tăng tiền bồi thường mà còn để tăng hình phạt nữa. - Việc chấp hành án nay giao cho Thẩm phán huyện phụ trách. == Nhiệm vụ và quyền hạn == Theo điều 127 của Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992 đã được sửa đổi, bổ sung; Điều 2 của Luật tổ chức Toà án nhân dân được Quốc hội Việt Nam khóa X, kỳ họp thứ 11 thông qua, Tòa án Nhân dân Tối cao có những nhiệm vụ và quyền hạn sau đây: Hướng dẫn các Tòa án áp dụng thống nhất pháp luật, tổng kết kinh nghiệm xét xử của các Tòa án; Giám đốc việc xét xử của các Tòa án các cấp; giám đốc việc xét xử của Tòa án đặc biệt và các Tòa án khác, trừ trường hợp có quy định khác khi thành lập các Tòa án đó; Trình Quốc hội dự án luật và trình Ủy ban Thường vụ Quốc hội dự án pháp lệnh theo quy định của pháp luật. Tòa án Nhân dân Tối cao có thẩm quyền xét xử: Giám đốc thẩm, tái thẩm những vụ án mà bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật bị kháng nghị theo quy định của pháp luật tố tụng; Phúc thẩm những vụ án mà bản án, quyết định sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật của Tòa án cấp dưới trực tiếp bị kháng cáo, kháng nghị theo quy định của pháp luật tố tụng. Kinh phí hoạt động của Tòa án Nhân dân Tối cao, của các Tòa án Nhân dân địa phương do Tòa án Nhân dân Tối cao lập dự toán và đề nghị Chính phủ trình Quốc hội quyết định. == Cơ cấu tổ chức == Cơ cấu tổ chức của Tòa án Nhân dân Tối cao gồm có: Hội đồng Thẩm phán: gồm Chánh án Tối cao, các Phó Chánh án Tối cao và một số Thẩm phán Tòa án Nhân dân Tối cao do Ủy ban Thường vụ Quốc hội quyết định theo đề nghị của Chánh án Tòa án Nhân dân Tối cao. Tổng số không được quá 17 người. Tòa án Quân sự Trung ương Tòa hình sự Tòa dân sự Tòa kinh tế Tòa lao động Tòa hành chính Các Tòa phúc thẩm Tòa án Nhân dân Tối cao tại Hà Nội, Đà Nẵng và TP Hồ Chí Minh Bộ máy giúp việc: Ban Thanh tra, Ban Thư ký, Vụ tổ chức... Trong trường hợp cần thiết, Ủy ban thường vụ Quốc hội quyết định thành lập các Tòa chuyên trách khác theo đề nghị của Chánh án Tòa án Nhân dân Tối cao; == Các chức vụ == Chánh án Tòa án Nhân dân Tối cao do Quốc hội bầu, miễn nhiệm, bãi nhiệm theo đề nghị của Chủ tịch nước. Nhiệm kỳ của Chánh án Tòa án Nhân dân Tối cao theo nhiệm kỳ của Quốc hội. Phó Chánh án, Thẩm phán do Chủ tịch nước bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức theo đề nghị của Chánh án Toà án Nhân dân Tối cao. Nhiệm kỳ của Phó Chánh án, Thẩm phán Tòa án Nhân dân Tối cao là 5 năm. == Quy định về xét xử == Theo Hiến pháp Việt Nam và theo các quy định về xét xử, các cuộc xét xử của Tòa án Nhân dân Tối cao công khai, độc lập, không lệ thuộc vào chính quyền, và chỉ tuân theo pháp luật. Cách thức xét xử tập thể, có hội thẩm Nhân dân tham gia, quyết định theo đa số. Toà án Nhân dân Tối cao phải đảm bảo nguyên tắc bình đẳng trước pháp luật; người tham gia tố tụng có quyền tự bào chữa và mời luật sư bào chữa, có quyền được dùng tiếng nói, chữ viết của dân tộc mình. == Đặc điểm và hiện tình == Theo ông Nguyễn Văn Hiện, cựu Chánh án Toà án Nhân dân Tối cao: "Để đảm bảo chất lượng công tác xét xử, cần phải có 5 điều kiện: người tiến hành tố tụng tốt; hệ thống pháp luật tốt; người tham gia tố tụng tốt; hệ thống các cơ quan hỗ trợ tư pháp tốt; và thực hiện tốt nguyên tắc độc lập tư pháp, tuân theo pháp luật". == Các chánh án qua các thời kỳ == Trần Công Tường quyền chánh án tòa án nhân dân tối cao (5/1958-5/1959) Phạm Văn Bạch (05/1959 - 05/1981) Phạm Hưng (1981 - 1997) Trịnh Hồng Dương (1997-2002) Nguyễn Văn Hiện (2002-2007) Trương Hòa Bình (2007-2016) Nguyễn Hòa Bình (2016-nay) == Tổ chức nhân sự tòa án đương nhiệm == === Hội đồng Thẩm phán === Chánh án Tối cao: Nguyễn Hòa Bình. Các Phó Chánh án Tối cao: Bùi Ngọc Hòa: Phó Chánh án thường trực Tống Anh Hào Nguyễn Sơn Nguyễn Thúy Hiền Nguyễn Văn Thuân Nguyễn Văn Hạnh: Chánh án Tòa án Quân sự Trung ương === Tòa án Quân sự Trung ương === Chánh án, Thiếu tướng, Thạc sĩ Nguyễn Văn Hạnh === Tòa Hình sự === Chính tòa: Lê Bá Thân === Tòa Dân sự === chính tòa Hoàng Văn Liên Phó chính tòa: Vũ Mạnh Hùng === Tòa Kinh tế === Chính tòa Đặng Xuân Đào === Tòa Lao động === chính tòa: Nguyễn Xuân Thanh Phó chính tòa: Trần Thị Thu Hiền === Tòa Hành chính === chính tòa: Nguyễn Thị Hoàng Bạch Yến === Các Tòa phúc thẩm Trung ương === Tòa Phúc thẩm Tòa án Nhân dân Tối cao tại Hà Nội chính tòa: Nguyễn Hùng Cường Tòa Phúc thẩm Tòa án Nhân dân Tối cao tại Đà Nẵng chính tòa: Nguyễn Hồng Sơn(2009) Tòa Phúc thẩm Tòa án Nhân dân Tối cao tại Thành phố Hồ Chí Minh chính tòa: Trần Văn Cò (2010) === Ban Thanh tra === Trưởng ban: Hoàng Văn Hồng Phó trưởng ban: Nguyễn Khuyến Phó trưởng ban: Triệu Đình Thành Phó trưởng ban: Đào Thị Tú Nga === Ban Thư ký === Trưởng ban: Lý Khánh Hồng Vụ tổ chức - cán bộ === Học viện Tòa án === Hiệu trưởng: Nguyễn Đức Bình == Nhận xét == Nguyên chủ tịch quốc hội Nguyễn Văn An nhận xét rằng Việt Nam hiện đang mắc lỗi hệ thống. Tòa án là nhánh yếu nhất trong ba cơ quan quyền lực nhà nước. Mặc dù "Hiến pháp và Pháp luật đã ghi rất rõ: Nhà nước ta là Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, pháp luật là tối thượng. Song trong thực tiễn thì không ít trường hợp chỉ chị, nghị quyết của Đảng mới là tối thượng". Điều này trái với nguyên tắc Tam quyền phân lập, tức hành pháp, tư pháp và lập pháp là bình đẳng và giám sát lẫn nhau. == Xem thêm == == Chú thích == == Liên kết ngoài == Cổng thông tin của Tòa án Nhân dân Tối cao Việt Nam Tòa án Nhân dân Tối cao Luật 33/2002/QH10 ngày 2 tháng 4 năm 2002 - Luật của Quốc hội về tổ chức Tòa án Nhân dân. Nghị quyết Về việc thi hành Luật Tổ chức Tòa án Nhân dân và Luật Tổ chức Viện Kiểm sát Nhân dân Chánh án Tòa án Nhân dân Tối cao trả lời chất vấn Chánh án Tòa án Nhân dân Tối cao trả lời chất vấn
l.txt
L, l là chữ thứ 12 trong phần nhiều chữ cái dựa trên Latinh và là chữ thứ 14 trong chữ cái tiếng Việt, nó bắt đầu từ chữ lamed của tiếng Xê-mit, dùng cho âm /l/. Chữ lamda của tiếng Hy Lạp và những chữ tương ứng trong bảng chữ cái Etruscan cũng có âm /l/. Trong bảng mã ASCII dùng ở máy tính, chữ L hoa có giá trị 76 và chữ l thường có giá trị 108. Trong hệ đo lường quốc tế, cả L lẫn l là ký hiệu của lít. Trong hóa sinh học, L là biểu tượng cho leucine. Trong biểu diễn số dưới dạng số La mã, L có giá trị là 50. Trong ngôn ngữ học, L. là lối viết tắt cho tiếng Latinh. Theo mã số xe quốc tế, L được dùng cho Lục Xâm Bảo (Luxembourg). L được gọi là Lima trong bảng chữ cái âm học NATO. Trong bảng chữ cái Hy Lạp, L tương đương với Λ và l tương đương với λ. Trong bảng chữ cái Cyrill, L tương đương với Л và l tương đương với л. == Tham khảo ==
32-bit.txt
Trong kiến trúc máy tính, 32-bit số nguyên, địa chỉ bộ nhớ, hoặc đơn vị dữ liệu khác là những thứ hầu hết đều có 32 bit (4 octets). Ngoài ra, kiến trúc 32-bit CPU và ALU cũng dựa trên thanh ghi, địa chỉ bus, hoặc dữ liệu bus của kích thước đó. 32-bit là một thuật ngữ dành cho thế hệ máy vi tính trong đó 32-bit vi xử lý là tiêu chuẩn. Một thanh ghi 32-bit có thể lưu trữ 232 giá trị khác nhau. Phạm vi có dấu của giá trị số nguyên có thể lưu trữ trong 32 bit là từ -2,147,483,648 đến 2,147,483,647 (không dấu: 0 đến 4,294,967,295). Do đó, vi xử lý với 32-bit địa chỉ nhớ có thể trực tiếp truy cập 4 GiB của bộ nhớ địa chỉ byte. == Tham khảo == == Liên kết == HOW Stuff Works "How Bits and Bytes work" Ken Colburn on LockerGnome.com: 32-Bit Vs. 64-Bit Windows
công nghệ thông tin và truyền thông dành cho phát triển.txt
Công nghệ thông tin và truyền thông dành cho phát triển (tiếng Anh: Information and Communication Technologies for Development, viết tắt: ICT4Dev) là một thuật ngữ chung đề cập đến việc áp dụng công nghệ thông tin và truyền thông trong các lĩnh vực phát triển kinh tế xã hội, phát triển quốc tế và nhân quyền. Thuật ngữ thường dùng cho lĩnh vực này là "ICT4Dev". Ngoài ra còn có các tên gọi tương tự khác như ICTD (tiếng Anh: Information and Communication Technologies and Development) và tin học phát triển. ICTD là ứng dụng các giải pháp công nghệ cho các vấn đề của thế giới đang phát triển. Về lý thuyết, nó có sự khác biệt với ICT4Dev. ICT4Dev tập trung vào sử dụng công nghệ kỹ thuật số để cung cấp những mục tiêu phát triển cụ thể (đặc biệt là hầu hết các Mục tiêu Phát triển Thiên niên kỷ). ICTD được sử dụng rộng rãi hơn tại những nước phát triển sử dụng công nghệ thông tin và truyền thông. Đây là một điểm khác biệt ít khi được hiểu hoặc sử dụng đúng trong thực tế. Một cộng đồng nghiên cứu khá nhỏ lẻ đã phát triển dần qua những cuộc hội thảo ICTD hàng năm, cuộc hội thảo gần đây đã diễn ra tại Doha, Qatar. Điểm nổi bật của cộng đồng này là sự kết hợp của những nhà nghiên cứu khoa học xã hội và khoa học kĩ thuật trong cùng một lĩnh vực chuyên môn. Khái niệm về ICT4Dev có thể được hiểu như việc đối phó với bất lợi dân số tại bất cứ nơi nào trên thế giới, nhưng thường được kết hợp trong các ứng dụng ở các nước đang phát triển. ICT4Dev liên quan trực tiếp việc áp dụng công nghệ thông tin nhằm mục tiêu giảm nghèo đói. Công nghệ thông tin và truyền thông có thể được áp dụng theo nghĩa trực tiếp, trong đó việc sử dụng chúng đem lại lợi ích trực tiếp cho khó khăn dân số; hoặc theo nghĩa gián tiếp, trong đó công nghệ thông tin và truyền thông hỗ trợ các tổ chức chính phủ hoặc phi chính phủ, hỗ trợ cho chính phủ hoặc các doanh nghiệp nhằm cải thiện điều kiện kinh tế xã hội chung. == Tham khảo == == Liên kết ngoài == ICT4Dev and e-Agriculture Oxford Internet Institute course on ICT for Development Austrian Network for Information and Communication technologies for Development UNDP Page for ICT4Dev case Studies i4d magazine information 4 development magazine, published from India Quick guide: Low-cost computing devices and initiatives for the developing world The Ethnos Project - ICT4Dev advocacy and information resource NextLab, MIT project that uses mobile technologies for development The Digital Divide, ICT and the 50x15 Initiative === Phương tiện truyền thông === In Developing Countries, Web Grows Without Profit === Video === Low-Cost, Low-Power Computing - Mary Lou Jepsen at ETech 2009 Hello Africa - a documentary about mobile phone culture in Africa == Tham khảo ==
thuyết đa thần.txt
Thuyết đa thần là niềm tin hoặc việc cúng bái, tín ngưỡng nhiều thần thánh. Thuyết được xây dựng từ những thần tháng cùng truyền thuyết và nghi lễ về họ. Nhiều tôn giáo, kể cả các tôn giáo trong lịch sử cũng như hiện thời có niềm tin đa thần, như Thần đạo của Nhật Bản, tôn giáo đa thần Ai Cập cổ, đạo đa thần Hy Lạp cổ, đạo đa thần La Mã, đạo đa thần của người German, thuyết đa thần của người Slav, tôn giáo cổ Trung Quốc, đạo đa thần của người Anglo-Saxon. == Các loại thần == Các loại thần thường có mặt trong thuyết đa thần: Thần bầu trời Thần chết Mẫu thần Thần tình yêu Thần tạo hóa Thần trí khôn Thần cai quản cuộc sống sau khi chết Anh hùng dân tộc ... == Xem thêm == Thuyết vô thần Thần thoại Hy Lạp == Chú thích == Blain, Jenny (2004) An Understanding of Polytheism. Quotation used here with the author's permission. == Đọc thêm == Assmann, Jan, 'Monotheism and Polytheism' in: Sarah Iles Johnston (ed.), Religions of the Ancient World: A Guide, Harvard University Press (2004), ISBN 0-674-01517-7, pp. 17–31. Burkert, Walter, Greek Religion: Archaic and Classical, Blackwell (1985), ISBN 0-631-15624-0. Greer, John Michael; A World Full of Gods: An Inquiry Into Polytheism, ADF Publishing (2005), ISBN 0-9765681-0-1 Iles Johnston, Sarah; Ancient Religions, Belknap Press (ngày 15 tháng 9 năm 2007), ISBN 0-674-02548-2 Swarup, R., & Frawley, D. (2001). The word as revelation: Names of gods. New Delhi: Voice of India. Marbaniang, Domenic Epistemics of Divine Reality Google Books (See Chapter 3 Empirical Epistemics of Divine Reality for philosophical analysis of polytheism) Paper, Jordan; The Deities are Many: A Polytheistic Theology, State University of New York Press (ngày 3 tháng 3 năm 2005), ISBN 978-0-7914-6387-1 Penchansky, David, Twilight of the Gods: Polytheism in the Hebrew Bible (2005), ISBN 0-664-22885-2. == Liên kết ngoài == The Association of Polytheist Traditions - APT, a UK-based community of Polytheists. International Year Of Polytheism Philosophical project promoting polytheism by group monochrom
uông bí.txt
Uông Bí là một thành phố nằm ở phía tây của tỉnh Quảng Ninh, Việt Nam, thuộc Vùng duyên hải Bắc Bộ. Nằm dưới chân dãy núi Yên Tử và giáp sông Đá Bạc. Ngày 25 tháng 2 năm 2011, Chính phủ ban hành Nghị quyết số 12/NQ - CP thành lập thành phố Uông Bí thuộc tỉnh Quảng Ninh trên cơ sở thị xã Uông Bí. Ngày 28/11/2013, Chính phủ đã ban hành quyết định số 2306/QĐ-TTg về việc công nhận thành phố Uông Bí thuộc tỉnh Quảng Ninh là đô thị loại II. == Vị trí địa lý == Thành phố Uông Bí nằm ở phía tây tỉnh Quảng Ninh, cách Thủ đô Hà Nội 135 km, cách Hải Phòng gần 30 km, và cách thành phố Hạ Long 45 km. Có toạ độ địa lý từ 20o58’ đến 21o9’ vĩ độ bắc và từ 106o41’ đến 106o52’ kinh độ đông. Địa giới hành chính Uông Bí ở phía đông giáp huyện Hoành Bồ và thị xã Quảng Yên, phía tây giáp thị xã Đông Triều, vùng đất ở phía nam giáp huyện Thuỷ Nguyên, phía bắc giáp huyện Sơn Động. Uông Bí có vị trí đặc biệt quan trọng về quốc phòng, an ninh, là tuyến phòng thủ phía đông Bắc của Việt Nam. == Điều kiện tự nhiên == Địa hình Thành phố Uông Bí chủ yếu là đồi núi chiếm 2/3 diện tích, đồi núi dốc nghiêng từ phía bắc xuống phía nam. Địa hình ở đây có thể được thành 3 vùng, bao gồm vùng cao chiếm 65.04%, Vùng thung lũng, chiếm 1,2%, cuối cùng là Vùng Thấp chiếm 26,90% diện tích tự nhiên Thành phố. Thành phố Uông Bí Có 3 con sông chính là sông Sinh, sông Tiên Yên và sông Uông, các sông này chạy theo hướng Bắc Nam. Do vị trí địa lý và địa hình nằm trong cánh cung Đông Triều – Móng Cái, với nhiều dãy núi cao ở phía bắc và thấp dần xuống phía nam, chính vì lẽ đó đã tạo cho Uông Bí một chế độ khí hậu vừa mang tính chất khí hậu miền núi vừa mang tính chất khí hậu miền duyên hải. Nhiệt độ trung bình năm là 22,2oC. Số giờ nắng trung bình mùa hè 6 – 7 giờ/ngày, mùa đông 3 – 4 giờ/ngày, trung bình số ngày nắng trong tháng là 24 ngày. Tổng lượng mưa trung bình năm là 1.600 mm, cao nhất 2.200 mm. Mưa thường tập trung vào các tháng 6,7,8 trong năm, số ngày có mưa trung bình năm là 153 ngày. Độ ẩm tương đối trung bình năm là 81%, độ ẩm tương đối thấp nhất trung bình là 50,8. == Hành chính == Thành phố Uông Bí có 11 đơn vị hành chính trực thuộc, trong đó gồm 9 phường: Bắc Sơn, Nam Khê, Phương Đông, Phương Nam, Quang Trung, Thanh Sơn, Trưng Vương, Vàng Danh, Yên Thanh và 2 xã: Điền Công, Thượng Yên Công. == Lịch sử == Ngày 28 tháng 10 năm 1961, Chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hòa ra Nghị định 181/CP thành lập thị xã Uông Bí trực thuộc Khu Hồng Quảng (một tỉnh cũ, trước khi sát nhập với Hải Ninh thành tỉnh Quảng Ninh), gồm 3 xã: Đồng Tiến, Nam Khê, Phương Nam. Ngày 26 tháng 9 năm 1966, chuyển 2 xã Thượng Yên Công và Phương Đông thuộc huyện Yên Hưng về thị xã Uông Bí quản lý. Ngày 18 tháng 3 năm 1969, thành lập thị trấn Vàng Danh. Sau năm 1975, thị xã Uông Bí có 4 phường: Bắc Sơn, Quang Trung, Thanh Sơn, Trưng Vương; thị trấn Vàng Danh và 5 xã: Đồng Tiến, Nam Khê, Phương Đông, Phương Nam, Thượng Yên Công. Ngày 10 tháng 9 năm 1981, thành lập phường Vàng Danh trên cơ sở thị trấn Vàng Danh và sáp nhập xã Đồng Tiến vào phường Bắc Sơn và phường Quang Trung. Thị xã Uông Bí lúc này gồm năm phường là: Bắc Sơn, Thanh Sơn, Trưng Vương, Quang Trung, Vàng Danh và bốn xã Phương Đông, Phương Nam, Nam Khê và Thượng Yên Công. Ngày 25 tháng 8 năm 1999, chuyển xã Nam Khê thành phường Nam Khê; chia xã Phương Đông thành xã Phương Đông và phường Yên Thanh. Ngày 12 tháng 6 năm 2006, chuyển xã Điền Công thuộc huyện Yên Hưng về thị xã Uông Bí quản lý. Ngày 1 tháng 2 năm 2008, thị xã Uông Bí đã được Bộ Xây dựng ra quyết định công nhận là đô thị loại III. Ngày 25 tháng 2 năm 2011, thị xã Uông Bí chính thức trở thành thành phố trực thuộc tỉnh Quảng Ninh.. Đến ngày 25 tháng 8 năm 2011, các xã Phương Đông và Phương Nam được chuyển thành phường, đến thời điểm này thành phố Uông Bí có 9 phường và 2 xã. Ngày 28 tháng 11 năm 2013, Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Tấn Dũng đã ký quyết định số 2306/QĐ-TTg về việc công nhận thành phố Uông Bí thuộc tỉnh Quảng Ninh là đô thị loại II, chỉ sau 5 năm được công nhận là đô thị loại III (năm 2008), thành phố Uông Bí đã tiếp tục được nâng hạng đô thị. Đây là một trong số ít địa phương của cả nước được "thăng hạng" đô thị loại 2 trước thời hạn và điều này phù hợp với định hướng Quy hoạch tổng thể phát triển hệ thống đô thị Việt Nam, Quy hoạch Vùng duyên hải Bắc Bộ và Quy hoạch Vùng tỉnh, cũng như định hướng phát triển kinh tế xã hội của tỉnh Quảng Ninh. == Giao thông == Có quốc lộ 18, đường sắt Hà Nội - Hạ Long đi qua. Ngoài ra còn có dự án đường cao tốc Nội Bài - Hạ Long - Móng Cái đi qua hiện đang được đầu tư. == Kinh tế == Đến năm 2009, giá trị sản xuất công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp của thị xã đã chiếm 56,1%, du lịch - dịch vụ - thương mại chiếm 32,5%, sản xuất nông - lâm - ngư nghiệp chỉ còn 11,4%. Uông Bí nổi tiếng với nền công nghiệp khai thác than. Mỏ than Vàng Danh được khai thác từ thời thuộc địa. Ngoài ra Uông Bí được xem là cái nôi của công nghiệp sản xuất điện năng. Giai đoạn từ năm 2005 đến 2010, tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân của Uông Bí ước đạt 17%/năm, thu nhập bình quân đầu người 1.465 USD/người/năm. Với lợi thế Khu di tích danh thắng Yên Tử và các khu du lịch tâm linh, sinh thái khác trên địa bàn thu hút du lịch, nên lượng khách du lịch đến thành phố Uông Bí năm 2010 ước đạt 3 triệu lượt khách, tốc độ tăng bình quân là 57,7%/năm. Cũng trong giai đoạn từ năm 2005 đến 2010, Uông Bí đã thực hiện 348 dự án công trình. Phấn đấu đến 2015, thu nhập bình quân đầu người của thành phố ước đạt 3.000 USD trở lên. == Du lịch == Thành phố Uông Bí có khu thắng cảnh nổi tiếng Yên Tử, đây được xem là cội nguồn của dòng Thiền Trúc Lâm Việt Nam, với nhiều chùa và di tích văn hoá quý. Lễ hội mùa xuân hàng năm thu hút rất nhiều khách du lịch, vãn cảnh chùa. Trên địa bàn thành phố Uông Bí còn có hồ Yên Trung nằm gần Yên Tử, với rất nhiều tiềm năng phát triển du lịch trong quần thể của khu di tích - danh thắng Yên Tử. Các điểm du lịch và văn hóa chính ở thành phố như Hang Son, Động Bảo Phúc, Núi Yên Tử, Khu di tích Yên Tử, Hồ Yên Trung, Lựng Xanh, Chùa Ba Vàng...Ngoài ra thành phố đã phát triển mở rộng xây dựng nhà hát ở giữa trung tâm thành phố trở thành thành phố du lịch trọng điểm của Quảng Ninh. == Các địa danh, đường phố, công trình công cộng tại Uông Bí == == Chú thích == == Liên kết ngoài == Thành lập thành phố Uông Bí thuộc tỉnh Quảng Ninh (Dân Trí online Báo Quảng Ninh online Thành lập thành phố Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh (Lao động) == Xem thêm == Cánh cung Đông Triều Mỏ than Vành Danh
bảng chữ cái hebrew.txt
Bảng chữ cái Hebrew tiếng Hebrew: אָלֶף־בֵּית עִבְרִי, alefbet ʿIvri ) là bảng chữ cái sử dụng trong tiếng Hebrew, cũng như các ngôn ngữ Do Thái khác, đáng chú ý là tiếng Yiddish, Ladino, và Judeo-Arabic. == Sách == Bản mẫu:Cite GHG ff. Hoffman, Joel M. 2004. In the Beginning: A Short History of the Hebrew Language. New York: New York University Press. Saenz-Badillos, Angel. 1993. A History of the Hebrew Language. Cambridge, England: Cambridge University Press. Steinberg, David. History of the Hebrew Language. Mathers table Aleph-Beth Quick Study Chart. 28 tháng 2 năm 2005. Qumran Bet Community. Truy nhập 5 tháng 1 năm 2006. == Tham khảo == == Liên kết ngoài == === Chung === The Hebrew alphabet, meanings, and spiritual symbolism How to draw letters Official Unicode standards document for Hebrew Transliterate your English name into Hebrew Letters Hebrew Alphabet Charts Interactive Hebrew Alphabet Lesson Mobile OCR Hebrew Dictionary === Bàn phím === LiteType.com – Virtual & Interactive Hebrew Keyboard Hebrew calligraphy alphabet Model Hebrew calligraphy Alphabet Mikledet.com – For typing Hebrew with an English keyboard (Hebrew keyboard|Hebrew layout) Hebrew Writing – Typing Hebrew and Nikud using extended English keyboard (Hebrew keyboard|Hebrew Writing layout) Prize Find: Oldest Hebrew Inscription Biblical Archaeology Review