filename
stringlengths
4
100
text
stringlengths
0
254k
công nghiệp điện tử oki.txt
Công ty TNHH Công nghiệp Điện tử Oki (沖電気工業株式会社, Oki Denki Kōgyō Kabushiki-gaisha) (tiếng Anh: Oki Electric Industry Co., Ltd.) (TYO: 6703) là một công ty điện tử Nhật Bản, được Kibataro Oki thành lập với tên Meikosha, Ltd.) thành lập tháng 1 năm 1881. == Tài trợ == Kể từ năm 2005, Oki đã tài trợ câu lạc bộ bóng đá của Premier League Portsmouth F.C. và cũng sở hữu quyền đặt tên của sân vận động Jubilee ở Kogarah, New South Wales, Úc (sân nhà của đội NRL St. George Illawarra Dragons). == Liên kết ngoài == Trang chủ == Tham khảo == Oki Electric Industry Company, Limited Company Profile - on Yahoo! Finance
limón (tỉnh).txt
Limón là một tỉnh của Costa Rica. Tỉnh này nằm ở phía đông quốc gia này, bên bờ Đại Tây Dương. Limón giáp ranh với các tỉnh (từ phía nam theo chiều kim đồng hồ): Panama, các tỉnh Puntarenas, San José, Cartago và Heredia, và Nicaragua. Tỉnh lỵ là Puerto Limón. Tỉnh có diện tích 9.189 km², với dân số là 339.295 người (2000). Về mặt hành chính, tỉnh được chia thành 6 tổng. Khoảng 50% dân tỉnh Limón là người Caribe gốc Phi (phần lớn có tổ tiên là người Jamaica). tiếng Anh Creole và tiếng Tây Ban Nha là các ngôn ngữ được sử dụng ở đây. Thị xã Puerto Viejo de Limón là một địa điểm lướt sóng, có các bãi biển Salsa Brava và Cockle. Tổng (thủ phủ): Guácimo (tổng) (Guácimo) Limón (tổng) (Limón) Matina (Matina) Pococí (tổng) (Guápiles) Siquirres (tổng) (Siquirres) Talamanca (tổng) (Bribri) == Tham khảo == == Liên kết ngoài == Caribbean Information Thông tin về tỉnh Limon
âm giai nửa cung.txt
Âm giai nửa cung hay còn gọi là âm giai đồng chuyển, âm giai bán cung hay bán âm âm giai (en:chromatic scale,zh:半 音 音 階) là 1 âm giai (gam) gồm 12 nốt cách đều nhau nửa cung (bán cung,demi-ton, semitone, half-step). Quan niệm phổ biến nhất của âm giai nửa cung trước thế kỷ 15 là âm giai nửa cung Pythagore. Do kỹ thuật điều chỉnh khác nhau, mười hai bán cung trong âm giai nửa cung này có hai cao độ hơi khác nhau. Như vậy, âm giai không hoàn toàn đối xứng. Nhiều hệ thống điều chỉnh khác, phát triển trong các thế kỷ sau đó, cũng không đối xứng như vậy. Khoảng cách cao độ tương tự nhau chỉ được cung cấp bởi hệ thống điều chỉnh bằng khí, được sử dụng rộng rãi trong âm nhạc đương đại. Thuật ngữ chromatic bắt nguồn từ tiếng Hy Lạp (chroma), có nghĩa là màu sắc. == Ký hiệu == Các nhà soạn nhạc đã không nhất quán trong việc quy định ký hiệu của âm giai nửa cung, tuy nhiên các nhà lý luận âm nhạc đã chia ra làm 2 loại ký hiệu: thăng và giáng: Âm giai nửa cung giai điệu (melodic) và âm giai nửa cung hòa âm (harmonic): Âm giai nửa cung hòa âm có 1 quy ước chung cho các dấu thăng và giáng mà không phân biệt dấu hóa. Nó được tạo ra bằng cách tập hợp tất cả các nốt của âm giai trưởng và thứ, sau đó giáng bậc 2 và thăng bậc 4. Do đó các nốt được viết lại 2 lần ngoại trừ nốt khóa, nốt đầu, cuối và nốt bậc 5. Âm giai nửa cung giai điệu không có mẫu chung để ký hiệu, tuy nhiên hình thức của nó phụ thuộc vào dấu âm giai trưởng hoặc thứ, từ đó mà thăng hay giáng. Hình trên cho thấy không dùng 1 nốt 3 lần liên tiếp để ký hiệu (ví dụ không thể dùng sol giáng, sol, sol thăng), một nốt chỉ được dùng tối đa 2 lần. == Liên kết ngoài == The Chromatic Scale arranged for guitar in several fingerings. (Formatted for easy printing) The 12 golden notes of music == Chú thích ==
đội tuyển bóng đá quốc gia costa rica.txt
Đội tuyển bóng đá quốc gia Costa Rica là đội tuyển cấp quốc gia của Costa Rica do Liên đoàn bóng đá Costa Rica quản lý. Trận đấu quốc tế đầu tiên của đội tuyển Costa Rica là trận gặp đội tuyển El Salvador vào năm 1921. Thành tích tốt nhất của đội cho đến nay là lọt vào tứ kết World Cup 2014, 3 lần vô địch CONCACAF vào các năm 1963, 1969, 1989 và tấm huy chương bạc của đại hội Thể thao liên châu Mỹ 1951. == Danh hiệu == Vô địch CONCACAF: 3 Vô địch: 1963; 1969; 1989 Á quân: 2002 Hạng ba: 1965; 1971; 1985; 1993 Hạng tư: 1991; 2003 Vô địch Trung Mỹ: 8 Vô địch: 1991; 1997; 1999; 2003; 2005; 2007; 2013; 2014 Á quân: 1993; 2001; 2009; 2011 Hạng tư: 1995 Bóng đá nam tại Americas Games: 1951 Hạng tư: 1975; 1979; 2011 == Thành tích == == Đội hình == 23 cầu thủ dưới đây được triệu tập tham dự vòng loại World Cup 2018 gặp México và Honduras ngày 24 và 28 tháng 3 năm 2017.Số liệu thống kê tính đến ngày 28 tháng 3 năm 2017 sau trận gặp Honduras. === Triệu tập gần đây === PRE Đội hình sơ bộ.WD Rút lui do vấn đề thể lực. === Kỷ lục === Số liệu thống kê chính xác tới 28 tháng 3 năm 2017. Cầu thủ in đậm vẫn còn thi đấu ở đội tuyển quốc gia. == Tham khảo == == Liên kết ngoài == Đội tuyển bóng đá quốc gia Costa Rica trên trang chủ của FIFA
cá tầm sao.txt
Cá tầm sao (Acipenser stellatus), trong tiếng Nga gọi là "sevruga" (cеврюга), là một loài cá tầm có nhiều tại các con sông chảy ra biển Đen và biển Azov. Chúng có mõm dài và nhọn, tương tự như ở sterlet (xem dưới đây), nhưng chỉ có một râu không tua. Mặc dù có kích thước chỉ cỡ một nửa các loài trên đây, nhưng giá trị của nó thì không thua kém, thịt của nó được đánh giá cao hơn và trứng cũng như thạch từ loài này có giá cao hơn. Năm 1850 người ta thông báo rằng mỗi năm có trên 1 triệu cá tầm này được đánh bắt. == Tham khảo == Bản mẫu:Sơ khai cá tầm
buôn người.txt
Buôn người là một dạng thương mại bất hợp pháp nhằm mục đích thu lợi bất chính. Nạn nhân của tội buôn người thường là phụ nữ và trẻ em bị lạm dụng tình dục hay lao động cưỡng bức, một dạng nô lệ thời hiện đại. Đây là "ngành công nghiệp" tội ác có mức độ phát triển nhanh nhất trên thế giới, cùng với buôn lậu vũ khí đứng hàng thứ hai về quy mô, chỉ sau buôn bán ma túy. == Tham khảo == Flores, T. (2007), The sacred bath: An American teen's story of modern day slavery. New York: iUniverse, Inc. ISBN 13:978-0595437184
ban chấp hành trung ương đảng cộng sản việt nam.txt
Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam (viết tắt là BCH hoặc BCHTW) là cơ quan lãnh đạo cao nhất của Đảng Cộng sản Việt Nam được bầu trong Đại hội đại biểu toàn quốc. Cơ quan lãnh đạo ở mỗi cấp giữa các nhiệm kì đại hội là ban chấp hành đảng bộ, chi bộ. Đứng đầu Ban Chấp hành Trung ương hiện là Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương. Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương do đại hội đại biểu toàn quốc bầu và số lượng Ủy viên do đại hội quyết định. Năm 1976 sau Đại hội IV thì số Ủy viên là 101 người. Đến Đại hội VIII thì số Ủy viên tăng lên 170. Ban Chấp hành Trung ương khóa X gồm 160 Ủy viên chính thức và 41 Ủy viên dự khuyết. Đến Đại hội XI (01/2011) gồm 175 Ủy viên chính thức và 25 Ủy viên dự khuyết. Tại Đại hội XII (01/2016) có 180 Ủy viên chính thức và 20 Ủy viên dự khuyết. == Nhiệm vụ == Tổ chức chỉ đạo thực hiện Cương lĩnh chính trị, Điều lệ Đảng, các nghị quyết của Đại hội đại biểu toàn quốc; quyết định những chủ trương, chính sách về đối nội, đối ngoại, công tác quần chúng và công tác xây dựng đảng; chuẩn bị Đại hội đại biểu toàn quốc nhiệm kỳ tiếp theo, Đại hội đại biểu toàn quốc bất thường (nếu có). Bầu Bộ Chính trị; bầu Tổng Bí thư trong số Ủy viên Bộ Chính trị; thành lập Ban Bí thư gồm Tổng Bí thư, một số Ủy viên Ban Bí thư do Ban Chấp hành Trung ương bầu trong số Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương và một số Ủy viên Bộ Chính trị do Bộ Chính trị phân công; bầu Ủy ban Kiểm tra Trung ương; bầu Chủ nhiệm Ủy ban Kiểm tra Trung ương trong số Ủy viên Ủy ban Kiểm tra Trung ương. Quyết định số lượng Ủy viên Bộ Chính trị, Ủy viên Ban Bí thư và Ủy viên Ủy ban Kiểm tra Trung ương. Triệu tập Đại hội đại biểu toàn quốc thường lệ 5 năm một lần; có thể triệu tập sớm hoặc muộn hơn, nhưng không quá một năm. Khi Ban Chấp hành Trung ương xét thấy cần hoặc khi có hơn một nửa số cấp Ủy trực thuộc yêu cầu thì Ban Chấp hành Trung ương triệu tập Đại hội đại biểu toàn quốc bất thường. Ban Chấp hành trung ương có thẩm quyền giới thiệu người ra ứng cử Chủ tịch Quốc hội, Chủ tịch nước và Thủ tướng Chính phủ để Quốc hội thảo luận và phê chuẩn , tham gia ý kiến về nhân sự Phó Chủ tịch nước, Phó Chủ tịch Quốc hội, Phó Thủ tướng Chính phủ, Chánh án Toà án Nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân tối cao, Chủ tịch Hội đồng Dân tộc, Chủ nhiệm các Ủy ban của Quốc hội và các thành viên Chính phủ. Theo Điều lệ Đảng thì Ban Chấp hành Trung ương quyết định các hình thức kỷ luật đảng viên, kể cả Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương, Ủy viên Ban Bí thư, Ủy viên Bộ Chính trị. Bộ Chính trị, Ban Bí thư quyết định các hình thức kỷ luật đảng viên, kể cả đảng viên là cán bộ thuộc Bộ Chính trị, Ban Bí thư quản lý, khiển trách, cảnh cáo Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương vi phạm phẩm chất chính trị, tư tưởng, đạo đức, lối sống, sinh hoạt đảng, thực hiện nhiệm vụ đảng viên. Điều lệ Đảng sửa đổi năm 2011 có quy định mới mở rộng quyền Ban Chấp hành Trung ương "căn cứ tình hình thực tế quyết định chỉ đạo thí điểm một số chủ trương mới". Theo quy định hiện hành thì Ban Chấp hành Trung ương có quyền xem xét về vấn đề Hiến pháp, trước khi Quốc hội thông qua. == Phương thức làm việc == Họp thường lệ sáu tháng một lần; họp bất thường khi cần. Các phiên họp của Ban Chấp hành Trung ương đều là họp kín, biểu quyết theo quy định của đảng. Tổng Bí thư chủ trì công việc của Ban Chấp hành Trung ương, kết luận các phiên họp Hội nghị Trung ương. Các Ủy viên Bộ Chính trị thay nhau điều hành các phiên họp của Trung ương Đảng. == Thành viên == Thành viên Ban Chấp hành Trung ương thường gồm các quan chức cấp cao trong bộ máy Đảng, Nhà nước, đoàn thể ở cấp trung ương và cấp tỉnh. Các Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương thường đảm nhiệm các cương vị quan trọng: Tổng Bí thư, Chủ tịch nước, Thủ tướng Chính phủ, Chủ tịch Quốc hội, Thường trực Ban Bí thư, Phó Chủ tịch nước, Phó Thủ tướng, Phó Chủ tịch Quốc hội, Trưởng và một số Phó Trưởng ban các Ban của đảng, Bộ trưởng các bộ và chức vụ tương đương, Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị Quân đội Nhân dân Việt Nam, Tổng Tham mưu trưởng Quân đội Nhân dân Việt Nam, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng và Thứ trưởng Bộ Công an, Chủ nhiệm các Ủy ban quan trọng của Quốc hội, Chủ nhiệm Văn phòng Quốc hội, Bí thư các tỉnh thành, Chủ tịch Ủy ban Nhân dân Thành phố Hà Nội, Chủ tịch Ủy ban Nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh, Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và người đứng đầu các đoàn thể Phụ nữ, Nông dân, Thanh niên, Liên đoàn Lao động, Chánh án Tòa án Nhân dân Tối cao, Viện trưởng Viện Kiểm sát Nhân dân Tối cao, Chủ nhiệm Văn phòng Chủ tịch nước, Chủ tịch Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam, Chủ tịch Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam, Tổng Giám đốc Thông tấn xã Việt Nam, Đài Truyền hình và Đài Tiếng nói Việt Nam, Giám đốc Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, Tổng biên tập Tạp chí Cộng sản, Báo Nhân dân, Tư lệnh các Quân chủng, Quân khu, Bộ đội Biên phòng, Tổng Kiểm toán Nhà nước và một số chức vụ quan trọng khác. Ban Chấp hành Trung ương xem xét việc chuyển Ủy viên Trung ương dự khuyết có đủ điều kiện để thay thế Ủy viên Trung ương chính thức khi khuyết. Quyền hạn của các Ủy viên Trung ương Đảng theo quy định của Đảng, bao gồm tham gia quyết định các nhiệm vụ thuộc thẩm quyền Ban Chấp hành Trung ương, và các quyền khác. Các Ủy viên dự khuyết không có quyền biểu quyết. Tại kỳ họp 6 Ban Chấp hành Trung ương khóa XI đã bàn và quyết nghị quy hoạch Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư và các chức danh lãnh đạo chủ chốt của Đảng và Nhà nước, với các tiêu chuẩn được đặt ra với Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương, Ủy viên Bộ Chính trị, Ban Bí thư và các chức danh lãnh đạo chủ chốt của Đảng và Nhà nước. Theo quy định hiện hành thì hàng năm, sẽ lấy phiếu tín nhiệm các thành viên Bộ Chính trị, Ban Bí thư, với đối tượng ghi phiếu tín nhiệm là các Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương. == Cơ quan tham mưu giúp việc == Ban Chấp hành Trung ương Đảng có 10 cơ quan tham mưu giúp việc là: Văn phòng Trung ương Đảng Ban Tổ chức Trung ương Ban Tuyên giáo Trung ương Ban Dân vận Trung ương Ban Đối ngoại Trung ương Ban Kinh tế Trung ương Ban Nội chính Trung ương Ủy ban Kiểm tra Trung ương Ban Cán sự Đảng Ngoài nước Hội đồng Lý luận Trung ương == Các đơn vị sự nghiệp trực thuộc == Hiện có bốn cơ quan đào tạo cán bộ, nghiên cứu, báo chí, xuất bản. Về mặt tổ chức, các cơ quan này tương đương với các Ban Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam: Học viện Chính trị - Hành chính Quốc gia Hồ Chí Minh Báo Nhân dân Nhà xuất bản Chính trị quốc gia - Sự thật Tạp chí Cộng sản == Các Đảng ủy cơ quan trực thuộc == Quân ủy Trung ương Đảng ủy Công an Trung ương Đảng ủy Khối cơ quan Trung ương Đảng ủy Khối doanh nghiệp Trung ương Ban Cán sự Đảng các cơ quan, bộ, ngành; Đảng đoàn các cơ quan, tổ chức Hội cấp trung ương Tỉnh ủy, Thành ủy trực thuộc trung ương == Ban Chấp hành Trung ương trước Đại hội lần thứ nhất của đảng == Ban Chấp hành Trung ương lâm thời thành lập sau Hội nghị thành lập đảng tháng 2 năm 1930 có: Trịnh Đình Cửu (phụ trách Ban chấp hành lâm thời), Nguyễn Hới, Trần Văn Lan, Nguyễn Phong Sắc, Lê Mao, Phạm Hữu Lầu, Hoàng Quốc Việt, Lưu Lập Đạo (bổ sung), sau đến tháng 7 bổ sung thêm Trần Phú. Ít lâu sau hội nghị trên, Trịnh Đình Cửu xin rút khỏi Ban Chấp hành Trung ương lâm thời để nhận công tác ở Xử Ủy Bắc Kỳ. Một số bị Pháp bắt sau đó (Nguyễn Hới, Hoàng Quốc Việt, Phạm Hữu Lầu, sau Nguyễn Hới hi sinh). Xứ Ủy Nam Kỳ cử Nguyễn Trọng Nhã và Ngô Đức Trì tham gia Ban Chấp hành TW lâm thời. Sau Hội nghị Ban chấp hành Trung ương lần thứ nhất tháng 10 năm 1930, Ban Chấp hành Trung ương gồm 6 Ủy viên: Trần Phú, Ngô Đức Trì, Nguyễn Trọng Nhã, Trần Văn Lan, Nguyễn Phong Sắc, Lê Mao. Tổng Bí thư: Trần Phú. Phong trào nổi dậy 1930-1931, nổi bật là Xô-viết Nghệ Tĩnh bị Pháp đàn áp. Tổ chức của đảng bị tan vỡ, kể cả Ban Chấp hành TW, Trần Phú, Trần Văn Lan, Nguyễn Phong Sắc... hi sinh. Cuối năm 1931, Lê Hồng Phong trở về Trung Quốc bắt liên lạc với cán bộ Việt Nam ở nước ngoài như: Hoàng Đình Giong, Hoàng Văn Thụ... mục đích lập lại Ban chấp hành Trung ương lâm thời của Đảng và thảo chương trình hành động của Đảng. Tháng 3 năm 1934, Ban chỉ huy ở ngoài được thành lập gồm có Lê Hồng Phong, Hà Huy Tập, Nguyễn Văn Dựt do Lê Hồng Phong làm Bí thư. Sau đó còn có thêm các người khác như Phùng Chí Kiên. Ban chỉ huy ở ngoài của Đảng trước Đại hội I có chức năng như là Ban chấp hành Trung ương Lâm thời và được Quốc tế cộng sản công nhận, quy định rõ chức năng nhiệm vụ. == Chú thích == == Liên kết ngoài == Điều lệ Đảng Cộng sản Việt Nam BAN CHẤP HÀNH TRUNG ƯƠNG ĐẢNG KHOÁ X (2006-2010)
directwrite.txt
DirectWrite là một văn bản trình bày và trả về dạng glyph API của Microsoft. == Các ưu điểm == Hỗ trợ toàn diện cho Unicode, với hơn 20 dạng mã kịch bản cung cấp mẫu và dạng trả về mỗi ngôn ngữ được dùng trong Windows. DirectWrite hỗ trợ việc đo đạc, vẽ, và hit-testing của nhiều định dạng văn bản. Hỗ trợ các tính năng Unicode bao gồm bidi, sự vỡ dòng, tính đại diện, UVS, thuộc tính hóa ngôn ngữ kịch bản hướng dẫn, số lượng thay thế, và hình glyph. Điểm phụ ClearType văn bản trả về hai chiều khử nhiễu răng cưa có thể tương thích với GDI/GDI+, Direct2D / Direct3D và bất kỳ công nghệ ứng dụng cụ thể. Hỗ trợ các tính năng đồ họa tiên tiến của dạng mở (OpenType) như dạng phong cách thay thế và dạng Swash mà chưa hỗ trợ trong GDI và Windows Forms. Cung cấp API trả về dạng glyph ở mức độ thấp dành cho các mẫu văn bản ưu tiên và quá trình chuyển mã Unicode sang glyph. == Hỗ trợ các mã kịch bản == ‡ Không có phông chữ mặc định trong Windows. Braille, Ogham, và Runic được hỗ trợ bằng ký tự Segoe UI == Xem thêm == Pango là thư viện nền tảng chéo để trả về văn bản có chất lượng cao, nhấn mạnh việc hỗ trợ đa ngôn ngữ. Cairo là một thư viện đồ họa véc tơ dựa trên nền tảng chéo có thể trả về nội dung văn bản. == Liên kết ngoài == MSDN: Introducing DirectWrite == Tham khảo ==
máy chủ.txt
Máy chủ, máy phục vụ hay hệ thống cuối (tiếng Anh: server computer, end system) là một máy tính được nối mạng, có IP tĩnh, có năng lực xử lý cao và trên máy đó người ta cài đặt các phần mềm để phục vụ cho các máy tính khác (máy trạm) truy cập để yêu cầu cung cấp các dịch vụ và tài nguyên. == Các loại máy chủ == Máy chủ cấp phát địa chỉ IP động Máy chủ cơ sở dữ liệu Máy chủ điều khiển tên miền Máy chủ proxy Máy chủ tập tin Máy chủ tên Máy chủ thư điện tử Máy chủ truyền tập tin Máy chủ ứng dụng Máy chủ web == Xem thêm == Phần mềm phục vụ Siêu máy tính Mainframe == Tham khảo ==
quân giải phóng nhân dân trung quốc.txt
Quân Giải phóng Nhân dân Trung Quốc (Trung văn giản thể: 中国人民解放军, Trung văn phồn thể: 中國人民解放軍, phiên âm Hán Việt: Trung Quốc Nhân dân Giải phóng Quân), gọi tắt là Nhân dân Giải phóng quân hoặc Giải phóng quân, là lực lượng vũ trang chủ yếu của Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa. Đây là quân thường trực lớn nhất thế giới và bao gồm 5 lực lượng: Lục quân, hải quân, không quân, tên lửa chiến lược và chi viện chiến lược. Trong chiến tranh thì cảnh sát vũ trang sẽ là một nhánh của Quân Giải phóng Nhân dân Trung Quốc. == Quân huy, quân kỳ, quân ca == Quân huy Quân Giải phóng Nhân dân Trung Quốc, còn gọi là "quân huy bát nhất", hình ngôi sao năm cánh màu đỏ viền vàng, bên trong khảm hai chữ "bát nhất" (八一_. Ngôi sao đỏ tượng trưng cho nhân dân Trung Quốc đã được giải phóng, hai chữ "bát nhất" biểu thị ngày mồng 1 tháng 8 năm 1927, ngày Đảng Cộng sản Trung Quốc phát động cuộc khởi nghĩa Nam Xương, được xem là ngày thành lập Quân Giải phóng Nhân dân Trung Quốc . Quân kỳ Quân Giải phóng Nhân dân Trung Quốc, còn gọi là "quân kỳ bát nhất", nền màu đỏ, hình chữ nhật, tỉ lệ giữa chiều dài và chiều rộng là 5:4, góc trên bên phải gần cán cờ có một ngôi sao vàng năm cánh và hai chữ "bát nhất" màu vàng, biểu thị kể từ ngày thành lập đến nay ánh sao xán lạn của Quân Giải phóng Nhân dân Trung Quốc đã chiếu rọi khắp Trung Quốc . Quân ca Quân Giải phóng Nhân dân Trung Quốc là bài "Hành khúc Quân Giải phóng Nhân dân Trung Quốc", nguyên thủy là ca khúc thứ tám có tên là "Hành khúc Bát lộ quân", trong tổ ca "Đại hợp xướng Bát lộ quân" do nhà thơ Công Mộc (公木) và nhạc sĩ người Triều Tiên Trịnh Luật Thành (鄭律成) cùng hợp tác sáng tác. == Thể chế == Sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Trung Quốc là một nguyên tắc cơ bản trong hệ thống chỉ huy của Quân đội Trung Quốc. Giải phóng quân Trung Quốc không chịu sự cai quản của Quốc vụ viện mà chịu sự cai quản của hai Ủy ban Quân sự Trung ương (Quân ủy Trung ương), một cơ quan thuộc Nhà nước (Quốc gia Trung ương Quân ủy), còn một cơ quan thì thuộc Đảng (Trung cộng Trung ương Quân ủy). Trên thực tế, hai cơ quan này không xung đột vì ủy viên của hai cơ quan này thường đồng nhất với nhau. Thông thường, chỉ có một vài tháng trong mỗi năm năm thì ủy viên của hai hội đồng này mới khác nhau, đó là trong giai đoạn giữa một đại hội đảng, khi uỷ viên của Quân ủy Trung ương thay đổi và kỳ họp của Quốc hội Trung Quốc, khi Quốc hội bầu ra Ủy ban Quân sự Trung ương Nhà nước. Ủy ban Quân sự Trung ương thực hiện trách nhiệm theo quyền hạn được quy định trong Hiến pháp Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa và theo Luật Quốc phòng Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa. Tháng 12 năm 1982, Đại hội lần thứ năm của Quốc hội Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa đã sửa đổi Hiến pháp quy định rằng Ủy ban Quân sự Nhà nước Trung ương lãnh đạo toàn bộ các lực lượng vũ trang của quốc gia. Chủ tịch của Ủy ban Quân sự Nhà nước Trung ương được bầu chọn và miễn nhiệm bởi Hội nghị toàn thể của Quốc hội Trung Quốc trong khi các ủy viên thì do Ủy ban Thường vụ Quốc hội chọn ra. Tuy nhiên, Quân ủy Trung ương thuộc Ban chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc vẫn là một cơ quan của Đảng, trực tiếp lãnh đạo quân đội và các lực lượng vũ trang khác. Trên thực tế, Quân ủy Trung ương Đảng sau khi hiệp thương với các bên, đề cử các ủy viên Ủy ban Quân sự Trung ương Nhà nước để khi những người này thông qua các thủ tục pháp lý bầu cử có thể được Quốc hội Trung Quốc bầu vào Ủy ban Quân sự Trung ương Nhà nước. Điều đó có nghĩa Quân ủy Trung ương thuộc Ban Chấp hành Trung ương Đảng và Ủy ban Quân sự Trung ương của Nhà nước là một nhóm và một tổ chức. Tuy nhiên, nhìn bề ngoài theo tổ chức thì hai Ủy ban này trực thuộc hai hệ thống khác nhau - hệ thống Đảng và hệ thống Nhà nước. Do đó, các lực lượng vũ trang nằm dưới sự lãnh đạo tuyệt đối của Đảng Cộng sản và cũng như thế đối với các lực lượng vũ trang của Nhà nước. Chế độ lãnh đạo chung này phản ánh xuất thân của Giải phóng quân Trung Quốc là một nhánh quân sự của Đảng và chỉ thành quân đội Nhà nước sau khi Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa được thành lập năm 1949. Theo lệ thường, chủ tịch và phó chủ tịch của Ủy ban Quân sự Trung ương là các ủy viên dân sự của Đảng Cộng sản Trung Quốc nhưng những người này không nhất thiết là những người đứng đầu của chính quyền dân sự. Cả Giang Trạch Dân và Đặng Tiểu Bình nắm giữ cương vị này ngay cả sau khi họ đã thôi giữ chức trong bộ máy Nhà nước và Chính phủ. Tất cả các ủy viên khác của Ủy ban Quân sự Trung ương đều sĩ quan đương nhiệm. Bộ trưởng Quốc phòng Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa không phải là người đứng đầu quân đội và thường chỉ là phó chủ tịch của Ủy ban Quân sự Trung ương. Chế độ quân đội Nhà nước kế thừa và duy trì nguyên tắc lãnh đạo tuyệt đối của Đảng Cộng sản đối với các lực lượng vũ trang nhân dân. Đảng và Nhà nước cùng lập nên Ủy ban Quân sự Trung ương để thực hiện sự lãnh đạo quân sự tối cao đối với các lực lượng vũ trang. Hiến pháp năm 1954 của Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa quy định rằng Chủ tịch nước thống soái các lực lượng vũ trang và quy định Chủ tịch nước là Chủ tịch Hội đồng Quốc phòng (Hội đồng Quốc phòng là một cơ quan cố vấn, không lãnh đạo các lực lượng vũ trang). Ngày 28 tháng 9 năm 1954, Ủy ban Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc thiết lập lại Ủy ban Quân sự Trung ương làm lãnh đạo Giải phóng quân Nhân dân Trung Quốc và các lực lượng vũ trang nhân dân. Kể từ đó trở đi, chế độ lãnh đạo chung giữa Đảng và Nhà nước đối với quân đội đã được thiết lập. Ủy ban Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc lãnh đạo mọi công việc quân đội. Chủ tịch nước thống soái các lực lượng quân đội nhà nước và phát triển các lực lượng quân đội do Quốc vụ viện quản lý. Để đảm bảo quyền lãnh đạo tuyệt đối của Đảng Cộng sản đối với quân đội, mỗi cấp ủy đảng trong các lực lượng quân sự thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ, các đơn vị và ban cấp trên xây dựng bộ máy chính uỷ và đảm bảo rằng các tổ chức cấp dưới hoạt động đồng nhất. === Kỳ hạn quân dịch === Về mặt lý thuyết thì tất cả công dân của CHNDTH có trách nhiệm phải đi nghĩa vụ quân sự. Tuy nhiên trong thực tế, việc thi hành nghĩa vụ quân sự với QĐGPNDTH lại là tự nguyện; tất cả công dân 18 tuổi đều phải đăng ký với nhà cầm quyền, tương tự như Hệ thống tuyển quân của Hoa Kỳ. Trừ một ngoại lệ dành cho các tân sinh viên đại học (cả nam và nữ), là phải tham gia đợt tập huấn quân sự (thường kéo dài một tuần hoặc hơn) trước khi bắt đầu học đại học hoặc sau đó một năm. Thời hạn phục vụ trong lục quân là 36 tháng, trong không quân và hải quân là 48 tháng, trong lực lượng tên lửa chiến lược không ấn định thời hạn. == Lịch sử tác chiến == === Các sự kiện và các cuộc chiến lớn === 1931 đến 1945: Chiến tranh thế giới thứ 2 chống Đế quốc Nhật 1945 đến 1950: Quốc Cộng nội chiến chống lại các lực lượng của Quốc Dân Đảng; thiết lập quyền kiểm soát ở Tây Tạng 1950 đến 1953: Chiến tranh Triều Tiên (Dưới danh xưng chính thức là Chí nguyện quân Nhân dân Trung Quốc, dù đội quân này là gồm quân chính quy của Quân Giải phóng Nhân dân Trung Quốc). Tháng 8 năm 1954 đến tháng 5 năm 1958: Khủng hoảng Eo biển Đài Loan tại đảo Kim Môn và đảo Mã Tổ. Tháng 10 năm 1962 đến tháng 11 năm 1962: Chiến tranh Trung-Ấn 1966 đến 1976: Đại Cách mạng Văn hóa Vô sản 1967: Giao tranh biên giới với Ấn Độ 1969 đến 1978: Xung đột biên giới Trung-Xô 1974: Hải chiến Hoàng Sa 1974 1979: Chiến tranh biên giới Việt-Trung, 1979 1988: Sự kiện Thiên An Môn 1981 - 1991: Giao tranh biên giới với Việt Nam == Tổ chức quân đội == === Trước năm 2016 === Trước năm 2016, các cấp tổng cục của Quân Giải phóng Nhân dân Trung Quốc bao gồm: Bộ Tổng Tham mưu, Tổng cục Chính trị, Tổng cục Hậu cần và Tổng cục Trang bị. Tổng cục Chính trị duy trì một hệ thống các chính ủy, đảm bảo sự trung thành với đảng và chính quyền dân sự. Ủy ban Quân sự Trung ương thực hiện quyền lãnh đạo quân đội ở cả Hải, Lục, Không quân và Tên lửa Đạn đạo Chiến lược (Nhị pháo, 二炮) thông qua bốn quân chủng. Ngoại trừ quân chủng Tên lửa Đạn đạo Chiến lược thuộc sự lãnh đạo trực tiếp của Ủy ban Quân sự Trung ương; trong một quân khu, các đơn vị thuộc 3 quân chủng đầu phối hợp với nhau trong hiệp đồng tác chiến dưới sự chỉ huy thống nhất của quân khu đó. Các đơn vị Lục quân thuộc sự chỉ đạo của quân khu đó. Các đội Hải quân và Không quân thuộc sự lãnh đạo chung của quân khu và của quân chủng mình (ngành dọc). Ở hệ thống quân khu, toàn quốc được chia thành 7 đại quân khu gồm Thẩm Dương, Bắc Kinh, Nam Kinh, Tế Nam, Thành Đô, Quảng Châu, Lan Châu. Đứng đầu mỗi quân khu gồm Tư lệnh và Chính ủy mang quân hàm từ Trung tướng đến Thượng tướng. === Sau năm 2016 === Từ ngày 11 tháng 1 năm 2016, tổ chức lãnh đạo của Quân đội Giải phóng Nhân dân Trung Quốc được cải tổ lại. Đối với Quân ủy Trung ương, vẫn giữ cơ cấu như hiện nay (gồm: Chủ tịch, 2 Phó Chủ tịch và 8 ủy viên). Chủ tịch Quân ủy Trung ương có quyền chỉ huy tối cao và tuyệt đối, thông qua Bộ Tham mưu Liên hợp - cơ quan chỉ huy tác chiến của 5 chiến khu, 5 quân chủng thực hiện nhiệm vụ tác chiến liên hợp và xây dựng lực lượng. Tuy nhiên, thay đổi lớn nhất trong Quân ủy Trung ương là 4 cơ quan trực thuộc trước đây, gồm: Bộ Tổng Tham mưu, Tổng cục Chính trị, Tổng cục Hậu cần và Tổng cục Trang bị được cơ cấu lại thành 15 đơn vị trực thuộc Quân ủy trung ương, bao gồm 7 cục/văn phòng, 3 ủy ban, 5 cơ quan trực thuộcː ===== Khối Cơ quan trực thuộc Quân ủy ===== Văn phòng Quân ủy Trung ương Bộ Tham mưu liên hợp Cục Công tác Chính trị Cục Bảo đảm Hậu cần Cục Phát triển Trang bị Cục Quản lý Huấn luyện Cục Động viên Quốc phòng Ủy ban Kiểm tra kỷ luật Ủy ban Chính trị và Pháp luật Ủy ban Khoa học kỹ thuật Văn phòng Quy hoạch chiến lược Văn phòng Cải cách và Biên chế Văn phòng Hợp tác Quân sự Quốc tế Cục Kiểm toán Tổng cục Quản lý các cơ quan Quân ủy ===== Khối Quân chủng ===== Quân chủng Lục quân Quân chủng Hải quân Quân chủng Không quân Quân chủng Tên lửa Chiến lược Quân chủng Chi viện Chiến lược ===== Khối Chiến khu ===== Chiến khu miền Đôngː địa bàn gồm 6 tỉnh thành và đặc khu, gồm Giang Tô, Chiết Giang, Thượng Hải, Phúc Kiến, An Huy và Giang Tây. Bộ tư lệnh đặt tại Nam Kinh. Chiến khu miền Namː địa bàn gồm 8 tỉnh thành và đặc khu, gồm Quảng Đông, Quảng Tây, Hồ Nam, Hải Nam, Vân Nam, Quý Châu, Hương Cảng và Áo Môn. Bộ tư lệnh đặt tại Quảng Châu. Chiến khu miền Tâyː địa bàn gồm 7 tỉnh thành và đặc khu, gồm Tứ Xuyên, Tây Tạng, Cam Túc, Ninh Hạ, Thanh Hải, Tân Cương và Trùng Khánh. Bộ tư lệnh đặt tại Thành Đô. Chiến khu miền Bắcː địa bàn gồm 5 tỉnh thành và đặc khu, gồm Hắc Long Giang, Cát Lâm, Liêu Ninh, Nội Mông và Sơn Đông. Bộ tư lệnh đặt tại Thẩm Dương. Chiến khu Trung tâmː địa bàn gồm 7 tỉnh thành và đặc khu, gồm Bắc Kinh, Thiên Tân, Hà Bắc, Sơn Tây, Hà Nam, Thiểm Tây và Hồ Bắc. Bộ tư lệnh đặt tại Bắc Kinh. Khối Học viện Đại học Quốc phòng Viện Khoa học Quân sự Trường Đại học Công nghệ Quốc phòng Trung Quốc === Quân số và biên chế === - Tổng quân số lực lượng vũ trang chính quy: 2.000.000 người - Tổng quân số dự bị động viên cục bộ: 10.000.000 người - Tổng quân số dự bị động viên toàn quốc: 198.400.000 người - Các đơn vị bán vũ trang: + Cảnh sát vũ trang: 110.000 người + Dân quân, dân cảnh: 3.000.000 người + Các đơn vị đặc biệt thuộc Bộ An ninh: 50.000 người === Lục quân === Tổng quân số: năm 2000 là 1.8; năm 2008 còn 1.5 triệu người; năm 2013 còn 850.000 Biên chế tổ chức Các đơn vị cấp quân đoàn: có 21 quân đoàn quân chính quy gồm: - 44 sư đoàn bộ binh - 10 sư đoàn xe tăng - 5 sư đoàn pháo binh Các đơn vị cấp sư đoàn, lữ đoàn độc lập - 13 lữ đoàn xe tăng - 15 lữ đoàn bộ binh - 23 lữ đoàn pháo binh - 3 sư đoàn đổ bộ đường không - 5 sư đoàn bộ binh cơ giới hóa - 1 sư đoàn pháo binh đặc biệt - 4 lữ đoàn pháo + tên lửa phòng không lục quân - 7 trung đoàn máy bay trực thăng Các đơn vị tác chiến cấp quân khu - 12 sư đoàn bộ binh - 1 sư đoàn bộ binh sơn cước - 4 lữ đoàn bộ binh độc lập - 87 tiểu đoàn bộ binh độc lập - 50 trung đoàn công binh - 30 trung đoàn thông tin liên lạc Khung các đơn vị dự bị: - 50 khung sư đoàn bộ binh, pháo binh, phòng không - 80 khung trung đoàn bộ binh, pháo binh độc lập Trang bị vũ khí của bộ binh - Xe tăng: Tổng số 9.800 chiếc; trong đó có 5.000 xe tăng T54/59, 2.400 xe tăng lội nước PT76, 1.200 xe tăng T62/63, 800 xe tăng chủ lực T72, 200 xe tăng chủ lực ZYZ98/99. - Xe bọc thép: 5.500 chiếc gồm các loại xe xích BMP-1, BMP-3, WN-3; bánh hơi: Honghe-70 (mẫu BTR-70), Honghe-80 (mẫu BTR-80), WZ-551 - Pháo lớn: hơn 14.500 khẩu, gồm các loại: lựu pháo 85 mm, lựu pháo 105 mm, lựu pháo 155 mm, pháo nòng dài 122 mm, pháo nòng dài 130 mm, pháo tự hành 152 mm đặt trên bệ xe tăng T54/59, pháo chống tăng 57 mm và 100 mm. - Súng cối: hơn 100.000 khẩu các cỡ nòng: 60 mm, 82 mm, 120 mm và 160 mm. - Hoả tiễn đất đối đất bắn loạt: 2.300 giàn các loại BM12-13, BM-27, BM-40 - Súng và tên lửa chống tăng: RPG-2, RPG-7B, AT-3 Sagger, Jevelin, Gustav... - Súng phòng không bộ binh: 15.000 cao xạ các loại 24 mm, 37 mm, 57 mm, 100 mm; 180 bộ khí tài + bệ phóng tên lửa Hongqi-2 (SAM-2); 15 bộ khí tài + bệ phóng tên lửa 9K330 (Tor-M1), 100 bộ khí tài + bệ phóng Hongqi-3 (SAM-3). - Trực thăng: 243 chiếc các loại Mi-8 (trực thăng đa chức năng), Mi-17(trực thăng vận tải) và Mi-24 (trực thăng chiến đấu) - Vũ khí hạng nhẹ của bộ binh: Đại liên Trường An (mẫu đại liên Goriunov), đại liên SK-75; trung liên RPD, RPK; các loại súng trường chiến đấu, Type56sao chép AK-47 AK-47(Kalasnicov), AK-74(Nikonov), M-4 sao chép sử dụng hạn chế ở một số lực lượng nhất định QBZ-95, K63, K89, K95; các loại súng trường SKS, K84.v.v... === Không quân === Biên chế, tổ chức - Tổng quân số: 398.000 người - Tổ chức: + 195 phi đội tiêm kích và tiên kích - bom + 120 phi đội cường kích + 42 phi đội ném bom + 15 phi đội trinh sát + 50 phi đội vận tải, tiếp dầu + 24 phi đội trực thăng + 8 trung đoàn cao xạ phòng không + 2 Trung đoàn tên lửa Hongqi-2 + 2 trung đoàn tên lửa S-300RMU + 8 tiểu đoàn tên lửa SA-20RMU2 Vũ khí, khí tài - Máy bay ném bom: + 120 chiếc H-6 (TU-16) + 120 chiếc H-7 (IL-28) + 400 chiếc Q-5 (TU-16) - Máy bay tiêm kích và tiêm kích - bom + 150 chiếc J-5 (MIG-17) + 1.800 chiếc J-6 (MIG 19) + 500 chiếc J-7 (MIG 21) + 180 chiếc J-8 + 120 chiếc J-10 (FT-2000) + 24 chiếc J-11 (SU-27) + 48 chiếc SU-27 + 23 chiếc SU-30MK - Máy bay trinh sát: + 18 chiếc BA-1E + 12 chiếc KJ-200 + 8 chiếc KJ-2000 - Máy bay vận tải quân sự: + 44 chiếc vận tải IL-76 + 4 chiếc tiếp dầu trên không IL-78 + 10 chiếc vận tải IL-18 + 300 chiếc Y-5 (AN-2) + 56 chiếc Y-7 (AN-24) + 24 chiếc Y-8 (AN-12) + 15 chiếc Y-11 + 2 chiếc Y-12 - Máy bay trực thăng: + 6 chiếc AS-332 + 4 chiếc BELL-214 + 80 chiếc Mi-8 + 24 chiếc Mi-17 + 25 chiếc Z-5 (Mi-4) + 18 chiếc Mi-24 + 50 chiếc Z-9 (SA-365N) - Máy bay huấn luyện: + Hơn 150 chiếc các loại YAK-51, L-39 và YAK-18 === Hải quân === - Tổng quân số: 235.000 người; trong đó + Hải quân hạm tàu: 230.000 người + Không quân của hải quân: 25.000 người, gồm 24 trung đoàn + Hải quân đánh bộ: 9.000 người gồm 2 lữ đoàn (mỗi lữ đoàn gồm 3 tiểu đoàn TQLC, 1 tiểu đoàn cơ giới, 1 tiểu đoàn xe lội nước, 1 tiẻu đoàn pháo binh) + Hải quân tuần duyên: 28.000 người gồm 28 trung đoàn chia làm 28 vùng phòng thủ. Các căn cứ, quân cảng chính Liễu Sơn, Hồ Lô Đảo, Thanh Đảo (căn cứ chỉ huy hạm đội Bắc Hải), Thượng Hải, Ninh Ba (căn cứ chỉ huy hạm đội Đông Hải), Chu Sơn, Vân Châu, Tây Dân, Quảng Châu, Trạm Giang (căn cứ chỉ huy hạm đội Nam Hải), Tam Á (căn cứ tàu ngầm). Vũ khi, trang bị - Tàu ngầm hạt nhân: + 3 tàu ngầm nguyên tử mang tên lửa hạt nhân tầm xa: K-092/Xia (lớp Hạ), K-93/Shang (lớp Thương), K-94/Jin (lớp Tấn) + 5 tàu ngầm nguyên tử mang tên lửa hạt nhân tầm trung K-91/Han (lớp Hán). + 13 tàu ngầm diezel-điện K-30 lớp ROMEO + 18 tàu ngầm diezel-điện K-35 lớp Ming + 17 tàu ngầm diezen-điện K-51 lớp Kilo + 15 tàu ngầm diezel-điện lớp Yuan (Nguyên) - Tàu tuần dương, tàu khu trục, tàu trợ chiến + 3 soái hạm K-052C lớp Luyang (Lữ Dương) + 2 tuần dương hạm K-51C lớp Luzhou (Lữ Châu) + 43 tàu khu trục tên lửa lớp K-22 lớp Houbei (Hồng Bại, 紅稗) + 8 tàu khu trục tên lửa lớp K-054A/Meenshan Mẫn Sơn)và K-054B/Jiangkai (theo mẫu tàu Sovremenny của Nga) + 3 tàu khu trục tàng hình K-021 lớp Houku + 7 tàu khu trục K-18 lớp Luda (Lữ Đại). + 27 tàu với mìn K-010 lớp T-43. + 234 tàu tuần duyên kiểu Hải tuần + 28 tàu phóng lôi các loại. + 6 tàu chở dầu, 48 tàu vận tải (huy động từ tàu dân sự khi có chiến sự) - Tàu đổ bộ: + 36 tàu đổ bộ bộ binh + xe tăng hạng nặng kiểu K-072-II và K072-III lớp Yuting + 32 tàu đổ bộ bộ binh + xe tăng hạng trung kiểu K-071 + 9 tàu đổ bộ bộ binh kiểu LCU + 44 cano hạng trung + 9 tàu đổ bộ chạy bằng đệm khí. - Máy bay của hải quân + 180 chiếc tiêm kích - bom J-8, J-10 + 36 chiếc Su-27UKN + 40 trực thăng Ka-25 + 360 trực thăng Mi-8, Mi-17 + 220 trực thăng Z-9C - Phương tiện chiến đấu trên bộ của hải quân + Xe tăng T59, T63 + Xe thiết giáp WZ-551 + Pháo lựu 122 mm + Pháo tầm xa 130 mm + Hỏa tiễn phóng loạt HM-12 - Các loại tên lửa + 120 tên lửa đất đối hạm YJ-62 và YJ-62C, + Tên lửa hạm đối hạm các loại: HHQ-7 (Con tằm), YJ-83. + Tên lửa hạm đối không SA-N-20 + Tên lửa đạn đạo hạm đối đất Julang-1, + Tên lửa hành trình SS-N-22/SUNBURN và SS-N-27/SIZZLER phóng từ tàu ngầm. Hiện nay, Trung Quốc vừa hoàn thành việc thử tên lửa hạm đối đất mang đầu đạn hạt nhân Julang-2 (JL-2 trang bị cho các tàu ngầm hạt nhân chiến lược và tàu ngầm lớp Kilo; đồng thời, trang bị loại tên lửa YJ-1 (Ying ji-1) (âm Hán Việt là Ưng Kích 1) cho các tàu ngầm hạt nhân chiến lược. === Lực lượng Tên lửa === Lực lượng tên lửa (RF) của Quân Giải phóng nhân dân Trung Quốc (PLA), trước đây được gọi là lực lượng pháo binh thứ hai (Đệ nhị pháo binh bộ đội) đặt dưới sự chỉ đạo trực tiếp của Quân ủy Trung ương Trung Quốc. Bộ Quốc phòng CHND Trung Hoa có trách nhiệm chỉ huy, quản lý các phương tiện phóng, đầu đạn và các phương tiện, vật chất, kỹ thuật bảo đảm khác. Biên chế, tổ chức Toàn bộ RF của PLA có biên chế 11.000 người (không kể lực lượng khoa học kỹ thuật dân sự phục vụ có thời hạn). Tổ chức SMF của PLA được phân thành 4 cấp: - Bộ Tư lệnh; - Căn cứ khu vực: gồm 4 vùng tác chiến, 2 vùng bán quân sự và 1 vùng huấn luyện mang các mật danh Cxx: + Căn cứ C51 ở vùng Đông Bắc: Sở chỉ huy đặt tại Cáp Nhĩ Tân; lực lượng tác chiến của căn cứ này là đơn vị 80301 (gồm 3 lữ đoàn) đóng lại Liêu Ninh, một trong các lữ đoàn này có khả năng cơ động khắp vùng Mãn Châu bằng đường sắt và đường bộ. + Căn cứ C52 ở Hoa Trung: Sở chỉ huy đặt tại [Tây An?], thuộc tỉnh An Huy; lực lượng tác chiến của căn cứ này là đơn vị 80302 (gồm 3 lữ đoàn) đóng lại Hoàng Sơn, một trong các lữ đoàn này có khả năng cơ động khắp vùng Bắc sông Trường Giang bằng đường sắt và đường bộ. + Căn cứ C53 ở Thanh Hải: Sở chỉ huy đặt tại Lan Châu, lực lượng tác chiến của căn cứ này là đơn vị 80306 (gồm 3 lữ đoàn) đóng lại Thiểm Tây - Ninh Hạ, một trong các lữ đoàn này có khả năng cơ động khắp vùng Thanh Hải - Tân Cương bằng đường bộ. + Căn cứ C54 ở Cao nguyên Vân - Quý: Sở chỉ huy chính đặt tại Côn Minh, thuộc tỉnh Vân Nam, lực lượng tác chiến của căn cứ này là đơn vị 80303 (gồm 3 lữ đoàn) đóng lại Liêu Ninh, một trong các lữ đoàn này có khả năng cơ động khắp vùng Vân - Quý và Tứ Xuyên bằng đường bộ. + Căn cứ C55 ở vùng Nội Mông; được chuyển thành căn cứ bán quân sự từ năm 1992. + Căn cứ C56 ở tỉnh ven biển Phúc Kiến; được chuyển thành căn cứ bán quân sự từ năm 2008 (sau khi Mã Anh Cửu, người của Quốc dân Đảng lên cầm quyền ở Đài Loan) + Vùng tác chiến thử nghiệm, nơi huấn luyện, căn cứ hàng không vũ trụ đồng thời là nơi dự trữ đầu đạn C22 tại khu vực Bảo Kê (Baoji) tỉnh Thiểm Tây. - Lữ đoàn tác chiến (gồm 12 lữ đoàn tác chiến); mỗi căn cứ quân sự có 2 lữ đoàn có bệ phóng cố định và 1 lữ đoàn có bệ phóng di động. - Tiểu đoàn tác chiến, (mỗi lữ đoàn có 2 tiểu đoàn tác chiến và 1 tiểu đoàn kỹ thuật bảo đảm); Trang bị vũ khí, khí tài - 20 tên lửa đạn đạo Dongfeng-3 (CSS-2) IRBMs (Đông Phong-3) có cự ly tác xạ tối đa 4.000 km; (tương lai sẽ thay bằng Dongfeng-21) - 20 tên lửa đạn đạo Dongfeng-4 (CSS-3) IRBMs có cự ly tác xạ từ 5.500 - 7.000 km; (tương lai sẽ thay bằng Dongfeng-31) - 20 tên lửa đạn đạo Dongfeng-5 (CSS-4) IRBMs có cự ly tác xạ tối đa 13.000 km; - 80 tên lửa đạn đạo Dongfeng-21 (CSS-5) MRBMs có cự ly tác xạ 1.500 km; (Các loại tên lửa này đều mang đầu đạn đơn) - 300 tên lửa đạn đạo Dongfeng-15 (CSS-6) SRBMs có cự ly tác xạ tối đa 600 km; - 600 tên lửa đạn đạo Dongfeng-11 (CSS-7)SRBMs có cự ly tác xạ tối đa 300 km; - 20 tên lửa đạn đạo Dongfeng-21C (CSS-5 Mod-3) MRBMs có cự ly tác xạ 4.500 km; - 30 tên lửa đạn đạo Dongfeng-31 (CSS-9) và Dongfeng 31-A có cụ ly tác xạ từ 8000 km - 12000 km. - 45 tên lửa hành trình phóng từ mặt đất DH-10 (Các loại tên lửa này đều có thể mang từ 5 đến 7 đầu đạn, tiến đánh cùng lúc từ 5 đến 7 mục tiêu) Hiện nay, Trung Quốc đã nghiên cứu chế tạo và thử thành công loại tên lửa Dongfeng-32 (DF-32) có tầm bắn xa đến 11.500 km, có khả năng vượt qua hệ thống tên lửa đánh chặn SMD của Mỹ. === Một số vấn đề mới về vũ khí bộ binh === Thời kỳ đỉnh điểm khoảng những năm 1980-1990, PLA có khoảng 10.000 xe tăng, giảm dần còn khoảng 6.000-8.000 xe tăng trong vòng vài năm qua. Số xe tăng Trung Quốc sản xuất theo mẫu xe tăng Liên Xô T-54A (Type 59 và Type 69) chiếm đến hơn hai phần ba tổng số xe tăng. Đồng thời với việc cho nghỉ hưu các xe tăng loại cũ Type-59/69, thay thế bằng thế hệ hai Type 88 và Type 96, PLA cũng nâng cấp số xe tăng Type-59/69 còn lại với những công nghệ mới, bao gồm hệ thống liên lạc và kiểm soát hỏa lực cải tiến, thiết bị nhìn đêm, giáp ERA, động cơ được nâng cấp, và hỏa tiễn chống tăng bắn bằng pháo chính, khiến cho chúng có thể tiếp tục phục vụ như các giàn hỏa lực cơ động. Loại xe tăng mới nhất là Type 99, bắt đầu phục vụ từ năm 2001. PLA cũng có chừng 2.000 xe tăng hạng nhẹ, kể cả loại Type-62 hạng nhẹ và xe tăng lội nước Type-63, bắt đầu đưa vào sản xuất từ những năm 1960s. Loại Type-63 được nâng cấp đặc biệt với hỏa lực được máy tính hóa, trang bị tên lửa chống tăng (ATGM), thiết bị tác chiến đêm, hệ thống định vị bằng vệ tinh, và nâng cấp mã lực. === Vũ khí hóa học === Cộng hòa nhân dân Trung Hoa không phải là một thành viên của Nhóm Australia, một tổ chức được thành lập năm 1985 để theo dõi sự phát triển nhanh chóng của việc sử dụng hóa chất vào mục đích kép (dùng trong dân sự và quân sự) và để kết hợp việc quản lý mặt hàng hóa chất xuất khẩu cũng như các thiết bị được sử dụng trong ngành hóa học. Vào tháng tư 1997, PRC thông qua Quy ước vũ khí Hóa học (CWC) và trong tháng 9 năm 1997, Trung Quốc đã công bố một chỉ thị quản lý hàng xuất khẩu vũ khí hóa học mới. === Hệ thống cơ bản không gian === PLA đang triển khai một số chương trình không gian tạo cơ sở cho việc sử dụng hệ thống này vào mục đích quân sự bao gồm: Các vệ tinh thăm dò khí tượng loại ZiYan, xác định (mục tiêu) quân sự loại JianBing Những vệ tinh khẩu độ tổng hợp (SAR) như loại JianBing-5 Mạng vệ tinh dẫn đường loại BeiDou (Bắc Đẩu-1 và Bắc Đẩu-2) Đảm bảo an toàn cho những vệ tinh thông tin loại FENGHUO-1. Các vệ tinh do thám quân sự kiểu Yaogan-1, 2, 3, 4, 5, 6; Haiyang-1B; CBER-2 và CBR-2B. Vào ngày 11 tháng Giêng, 2007 tại trung tâm vũ trụ Tây Xương, tỉnh Tứ Xuyên, Trung Quốc tiến hành thử nghiệm thành công một tên lửa chống vệ tinh. === Chuyến bay vào không gian có người === Quân đội Nhân dân Trung Quốc chịu trách nhiệm đối với Chương trình Bay vào không gian có người lái của Trung Quốc. Đến này, tất cả các taikonautđã được tuyển chọn trong số Không quân Quân đội Nhân dân Trung Quốc. Trung Quốc đã trở thành quốc gia thứ 3 duy nhất đưa người vào vũ trụ bằng các trang thiết bị do mình chế tạo với chuyến bay của trung tá Dương Lợi Vĩ trên tàu vũ trụ Thần Châu 5 vào ngày 15 tháng 10 năm 2003. Sau chuyến bay thành công, Dương Lợi Vĩ được phong cấp hàm đại tá. == Ngân sách quốc phòng Trung Quốc == Theo Trung Quốc công bố chính thức thì ngân sách quốc phòng của nước này trong một số năm gần đây như sau: năm 2000 là 13 tỷ USD, năm 2007 là 52 tỷ USD, năm 2008 là 61 tỷ USD, năm 2009 là 70,27 tỷ USD, năm 2013 là hơn 100 tỷ USD. Tuy nhiên, Mỹ, Nhật Bản và một số nước phương Tây cho rằng những con số đó rất thấp so với thực tế. Theo phía Mỹ, ngân sách quốc phòng Trung Quốc năm 2008 có thể đạt đến 122 tỷ USD vì chỉ riêng việc trang bị động cơ mới cho toàn bộ 273 chiếc SU-27, SU-30MK và J-11 (loại máy bay sao chép từ SU-27) đã tiêu tốn không dưới 2 tỷ USD. Phía Trung Quốc cho rằng, nguy cơ quân sự từ phía họ đã bị phương Tây thổi phồng. == Kế hoạch thành lập hạm đội xuyên đại dương == Theo nguồn tin từ các chuyên gia quân sự Nga (được Interfax-ABN trích dẫn), Hải quân Trung Quốc đang có kế hoạch thành lập 2 hạm đội xuyên đại dương hùng mạnh trước năm 2050 với tên gọi: Kế hoạch Con rồng đỏ (Xích long). Hạm đội này có thể triển khai tác chiến ở bất kỳ khu vực nào trên Thái Bình Dương. Trung Quốc cũng có kế hoạch hiện đại hóa các "hạm đội nước vàng" (hạm đội ven bờ) của họ thành "hạm đội nước sâu" (hạm đội biển khơi) trước năm 2020 với 2 nhiệm vụ "Mạch đảo" nhiệm vụ kiểm soát đến các tuyến chiến lược: - Mạch đảo thứ nhất: phía Bắc đến Vladivostok (Nga), Hokkaido (bắc Nhật Bản), Nampo (thuộc Hàn Quốc), Ryukiu (Trung Quốc gọi là Lưu Câu Kiều, quần đảo Điếu Ngư Đài (Trung Quốc đang tranh chấp với Nhật Bản)Quần đảo Nansi (Nam Sa, tức quần đảo Trường Sa của Việt Nam), quần đảo Philippines; các vùng biển Hoàng hải, Đông Hải (tức biển Hoa Đông), Nam Hải (tức Biển Đông) đến eo biển Malacca (Singapore) và quần đảo Indonesia. Trọng điểm của giai đoạn "Mạch đảo thứ nhất" là Biển Đông (Trung Quốc gọi là biển Nam Trung Hoa) - Mạch đảo thứ hai: phía Bắc đến quần đảo Aleutians (Hoa Kỳ), qua các vùng đảo Kuril (quần đảo đang có sự tranh chấp Nga-Nhật), Mariana, Carolina (thuộc Mỹ) và New Guinea (Bắc Australia). Trọng điểm của giao đoạn "Mạch đảo thứ hai"" là khống chế Hawai và bờ Tây nước Mỹ. Kế hoạch này còn bao gồm các hoạt động bảo vệ lợi ích của Trung Quốc (bằng sức mạnh) đối với các ngồn tài nguyên thiên nhiên trên biền, trong lòng biển và dưới đáy đại dương mà Trung Quốc cho là thuộc chủ quyền của họ cũng như việc đảm bảo an ninh của ngành vận tải đường biển Trung Quốc. Cùng với việc hiện đại hóa các hạm tàu, Trung Quốc cũng chú trọng phát triển không quân của hải quân và lực lượng lính thủy đánh bộ. Trung Quốc đang cố gắng tự đóng tàu sân bay trước năm 2020 (do việc họ không tranh được với Ấn Độ hợp đồng mua tàu sân bay Admiral Goskov của Nga); nâng cấp, cải tiến các máy bay SU-30MK và J-10 thành máy bay dùng cho hàng không mẫu hạm; phát triển chế tạo các loại tàu đổ bộ cỡ lớn hoặc mua các tàu này từ Đông Âu (UKRAINA đã nhận đơn đặt hàng đóng cho Trung Quốc 12 tàu loại này). Dự kiến các hạm đội xuyên đại dương của Trung Quốc sẽ được biên chế, trang bị 1 tàu sân bay có khả năng đảm bảo hoạt động cho 45 đến 50 máy bay chiến đấu của hải quân, 1 tàu ngầm nguyên tử chiến lược, 4 tàu ngầm nguyên tử đa chức năng, 12 tàu ngầm diezel-điện, 29 tàu tuần dương, 49 tàu khu trục, 234 tàu tuần tiễu trang bị tên lửa, 15 tàu phóng lôi, 48 tàu quét mìn, 120 tàu, cano, xuồng đổ bộ các loại. == Cương lĩnh quân sự của Trung Quốc thời đại mới == === Về đổi mới và hiện đại hóa quân đội === Trọng tâm là cơ cấu lại các lực lượng theo hướng giảm biên chế quân số, tăng cường chất lượng, triệt để áp dụng các biện pháp cơ giới hóa, tự động hóa, tin học hóa các loại vũ khí thông thường; cải tiến cơ cấu hành chính quân sự, biên chế tổ chức và bố trí, phân phối binh lực hợp lý. Tập trung hoàn thiện khả năng đánh thắng các cuộc chiến tranh cục bộ trong điều kiện ứng dụng công nghệ cao và vũ khí thông minh. === Chương trình hành động === Đến năm 2020, đạt mục tiêu phát triển bộ máy quân sự có trình độ tiên tiến, có khả năng tiến hành các hoạt động tác chiến có quy mô châu lục, cách biên giới quốc gia (của Trung Quốc) từ 3.000 đến 10.000 km. Kết hợp tự lực phát triển hệ thống vũ khí, trang bị với việc mua sắm từ nước ngoài; chú trọng phát triển hiện đại hóa các hệ thống vũ khí phòng không, vũ khí chống tàu ngầm và tàu nổi; phát triển hệ thống vũ khí chống vệ tinh, phóng thêm các loại vệ tinh phục vụ chỉ huy quân sự, định vị, dẫn đường và vệ tinh do thám tín hiệu, do thám hình ảnh; phát triển lực lượng tên lửa đạn đạo mang nhiều đầu đạn hạt nhân và tên lửa, bom hạt nhân chiến thuật. Phát triển lực lượng kinh tế - quân sự, lấy lực lượng tài chính-ngân hàng quân sự để có nguồn thu lớn bù đắp cho chi phí quân sự ngay cả trong thời gian đang có chiến tranh cục bộ. === Chiến lược hành động === Phương sách xuyên suốt áp dụng cho cả thời bình và thời chiến là phản công quyết liệt, không bị hạn chế bởi không gian và thời gian. Triệt để tận dụng các cơ hội và điều kiện thuận lợi để tấn công, khi tấn công thì không đặt vấn đề biên giới quốc gia và vùng lãnh thổ. Tập trung hỏa lực vào những điểm trọng yếu của đối phương; triển khai cùng lúc các hoạt động phòng thủ và tấn công, không chờ phòng thủ xong mới tấn công. Thực hành tấn công trả đũa ngay sau khi bị tấn công với thời hạn nhanh nhất. Nhất thiết chỉ sử dụng lực lượng của chính mình để tấn công đối phương. Phối hợp chặt chẽ hoạt động quân sự với hoạt động ngoại giao để chủ động chấm dứt chiến sự trên thế mạnh, thế có lợi. Phối hợp các hoạt động quân sự với hoat động kinh tế quân đội. Triệt để lợi dụng sự rối loạn trên thị trường tài chính, tiền tệ quốc tế do việc chủ động phát động chiến sự gây ra để tổ chức các hoạt động buôn bán, môi giới tài chính, ngân hàng, thu lợi nhuận cho quân đội. === Chiến lược phát triển hải quân === (xem Kế hoạch thành lập hạm đội xuyên đại dương của Trung Quốc) == Hệ thống cấp bậc == === Hệ thống quân hàm 1955 === Từ khi thành lập cho đến trước 1955, Quân Giải phóng nhân dân Trung Quốc không duy trì hệ thống quân hàm, vốn được cho là sản phẩm của thế giới tư bản, không phù hợp với Quân đội công nông. Trong chiến tranh Triều Tiên, nhiều bất cấp nảy sinh, chính quyền Trung Quốc nhận thấy rõ sự cần thiết phải áp dụng một hệ thống quân hàm trong Quân đội. Năm 1955, Hệ thống quân hàm Quân Giải phóng nhân dân Trung Quốc đầu tiên được chính thức ra đời, hệ thống này được xem là chịu nhiều ảnh hưởng của Quân đội Liên Xô. ==== Sĩ Quan ==== Nguyên soái Đại Nguyên soái (không ai được phong) Nguyên soái (10 người được phong) Tướng quan Đại tướng (10 người được phong) Thượng tướng(57 người được phong) Trung tướng Thiếu tướng Hiệu quan Đại hiệu Thượng hiệu Trung hiệu Thiếu hiệu Uý quan Đại úy Thượng úy Trung úy Thiếu úy ==== Hạ sĩ quan ==== Thượng sĩ Trung sĩ Hạ sĩ ==== Binh sĩ ==== Thượng đẳng binh Liệt binh Hệ thống này đến khi Cách mạng văn hóa nổ ra thì bãi bỏ. === Hệ thống quân hàm hiện tại === Hệ thống quân hàm Quân Giải phóng nhân dân Trung Quốc hiện nay được xây dựng và áp dụng từ năm 1988 trên cơ sở đoạn tuyệt với hệ thống cấp bậc cũ đặt ra năm 1955, gồm các cấp: ==== Sĩ Quan ==== Tướng quan Nhất cấp Thượng tướng (bãi bỏ năm 1994). Thượng tướng Trung tướng Thiếu tướng Hiệu quan Đại hiệu Thượng hiệu Trung hiệu Thiếu hiệu Uý quan Thượng úy Trung úy Thiếu úy ==== Hạ sĩ quan ==== Cao cấp Nhất cấp Quân sĩ trưởng Nhị cấp Quân sĩ trưởng Tam cấp Quân sĩ trưởng Trung cấp Tứ cấp Quân sĩ trưởng Thượng sĩ Sơ cấp Trung sĩ Hạ sĩ ==== Binh sĩ ==== Thượng đẳng binh Liệt binh === Quy định về tương quan chức vụ và quân hàm === Chủ tịch Quân uỷ Trung ương (thường do Tổng bí thư kiêm nhiệm): không cấp quân hàm. Phó Chủ tịch Quân uỷ Trung ương: Thượng tướng. Ủy viên Quân uỷ Trung ương: Thượng tướng. Tư lệnh Đại quân khu: Thượng tướng hoặc Trung tướng Phó Tư lệnh Đại quân khu: Trung tướng hoặc Thiếu tướng Tư lệnh Quân đoàn: Thiếu tướng hoặc Trung tướng. Phó Tư lệnh Quân đoàn:Thiếu tướng hoặc Đại hiệu. Sư đoàn trưởng: Đại hiệu hoặc Thiếu tướng. Lữ đoàn trưởng (Sư đoàn phó): Thượng hiệu hoặc Đại hiệu. Trung đoàn trưởng (Lữ đoàn phó): Thượng hiệu hoặc Trung hiệu. Trung đoàn phó: Trung hiệu hoặc Thiếu hiệu. Tiểu đoàn trưởng: Thiếu hiệu hoặc Trung hiệu. Tiểu đoàn phó: Thượng úy hoặc Thiếu hiệu. Đại đội trưởng: Thượng úy hoặc Trung úy. Đại đội phó: Trung úy hoặc Thượng úy. Trung đội trưởng: Thiếu úy hoặc Trung úy. Các chức vụ không được nêu sẽ được đối chiếu xem tương đương với chức vụ nào ở trên để áp dụng quân hàm phù hợp.Chính ủy,phó chính ủy một đơn vị sẽ áp dụng quân hàm y như với chỉ huy trưởng, chỉ huy phó của đơn vị đó. == Văn hiến tham khảo == Squadron Leader KK Nair, Space: The Frontiers of Modern Defence, Knowledge World Publishers, New Delhi. 2006 International Institute for Strategic Studies, The Military Balance 2006. == Liên kết ngoài == Video:Quân đội TQ duyệt binh Chinese Defence Today based in UK, run by volunteers. Liberation Daily, the official newspaper of the PLA in Chinese English edition of Liberation Daily China-Defense.com - Articles on the Chinese military Chinese Defense Today - Detailed discuss of the Chinese military The People's Liberation Army as Organization: Reference Volume v1.0 2005 annual report to Congress (PDF file) on current Chinese military capability Globalsecurity.org China's Rise as a Regional Superpower (PDF file)
đội tuyển bóng đá quốc gia philippines.txt
Đội tuyển bóng đá quốc gia Philippines là đội tuyển cấp quốc gia của Philippines do Liên đoàn bóng đá Philippines quản lý. Trận thi đấu quốc tế đầu tiên của đội tuyển Philippines là trận gặp đội tuyển Trung Quốc vào năm 1921. Thành tích tốt nhất của đội cho đến nay là 3 lần hạng 3 AFF Cup giành được vào các năm 2010, 2012, 2014 và ngôi vị á quân của Challenge Cup 2014. Tại bảng xếp hạng FIFA tháng 3.2015 đội tuyển Philippines giành vị trí số 1 Đông Nam Á. == Danh hiệu == Vô địch Cúp Challenge: 0 Á quân: 2014 Hạng ba: 2012 Vô địch AFF Cup: 0 Hạng ba: 2010, 2012, 2014 == Thành tích tại Giải vô địch bóng đá thế giới == 1930 đến 1938 - Không tham dự 1950 - Bỏ cuộc 1954 đến 1962 - Không tham dự 1966 - FIFA cấm tham dự do không đóng phí 1970 - Không tham dự 1974 - Bỏ cuộc 1978 đến 1994 - Không tham dự 1998 - Không vượt qua vòng loại 2002 - Không vượt qua vòng loại 2006 đến 2010 - Không tham dự 2014 đến 2018 - Không vượt qua vòng loại == Thành tích tại Cúp bóng đá châu Á == 1956 - Vòng sơ loại 1960 đến 1968 - Không vượt qua vòng loại 1972 đến 1976 - Không tham dự 1980 đến 1984 - Không vượt qua vòng loại 1988 đến 1992 - Không tham dự 1996 đến 2004 - Không vượt qua vòng loại 2007 - Không tham dự 2011 đến 2015 - Không vượt qua vòng loại == Thành tích tại giải vô địch bóng đá Đông Nam Á (AFF Suzuki Cup) == 1996 đến 2008 - Vòng 1 2010 - Bán kết 2012 - Bán kết 2014 - Bán kết 2016 - Vòng 1 == Thành tích tại Cúp Challenge AFC == 2006 - Vòng 1 2008 đến 2010 - Không vượt qua vòng loại 2012 - Hạng ba 2014 - Á quân == Cầu thủ == === Đội hình === Ngày thi đấu: 22 tháng 3 năm 2017 Đối thủ: Malaysia Giải đấu: Giao hữu === Triệu tập gần đây === == Tham khảo == == Liên kết ngoài == Đội tuyển bóng đá quốc gia Philippines trên trang chủ của FIFA
tiếng telugu.txt
Tiếng Telugu (తెలుగు telugu) là một ngôn ngữ thuộc hệ ngôn ngữ Dravida có bản địa tại tiểu lục địa Ấn Độ. Đây là ngôn ngữ chính thức của Andhra Pradesh, một trong những bang lớn của Ấn Độ. Đây cũng là một trong 22 các ngôn ngữ thường lệ của Cộng hòa Ấn Độ và có tư cách là ngôn ngữ kinh điển bởi Chính phủ Ấn Độ. Là ngôn ngữ mẹ đẻ của đa số dân sống ở bang Andhra Pradesh, ngôn ngữ này cũng được sử dụng ở những bang gần đó như bang Karnataka, Tamil Nadu, Orissa, Maharashtra và Chattisgarh. Telugu là ngôn ngữ được nói nhiều thứ ba (74 triệu người nói như tiếng mẹ đẻ theo điều tra dân số năm 2001) và xếp thứ 13 trong danh sách Ethnologue các ngôn ngữ được nói nhiều nhất thế giới. == Chỉ dẫn == == Tham khảo == == Xem thêm == Danh sách ngôn ngữ Danh sách các nước theo ngôn ngữ nói == Liên kết ngoài ==
1 (số).txt
1 (một) là một số tự nhiên ngay sau 0 và ngay trước 2. 1 lá số đầu tiên trong tập hợp N*. == Trong toán học == Số 1 có một số tính chất số học đặc biệt: Số 1 nhân với bất cứ số nào cũng cho kết quả bằng chính số đó: ∀ {\displaystyle \forall } x, x.1 = 1.x = x Mọi số đều viết được dưới dạng phân số với tử số là số đó còn mẫu số là 1. Một số bất kì viết được dưới dạng số đó mũ 1. a 0 = 1 {\displaystyle a^{0}=1} với mọi a ≠ 0 {\displaystyle a\not =\ 0} . a a = 1 {\displaystyle {a \over a}=1} với mọi a ≠ 0 {\displaystyle a\not =\ 0} . 1 a = 1 {\displaystyle {\sqrt[{a}]{1}}=1} với mọi a ≠ 0 {\displaystyle a\not =\ 0} 1 a = 1 {\displaystyle 1^{a}=1} với mọi a {\displaystyle a} . == Trong hóa học == 1 là số hiệu nguyên tử của nguyên tố Hiđrô (H). == Tham khảo ==
quốc hội.txt
Quốc hội là cơ quan lập pháp của một quốc gia. Quốc hội được người dân bầu cử và có nhiệm vụ thông qua hiến pháp và các bộ luật và thường được thiết kế theo hình thức Nghị viện. == Các loại quốc hội == === Một viện === Quốc hội chỉ bao gồm một viện duy nhất. Ví dụ: Việt Nam, Trung Quốc, Đài Loan, Hàn Quốc,... === Lưỡng viện === Quốc hội bao gồm hai viện Thượng nghị viện Hạ nghị viện Ví dụ: Hoa Kỳ, Canada, Nga (Liên Xô cũ cũng có cơ chế lưỡng viện cho Xô viết tối cao), Anh, Pháp, Campuchia... Đại biểu quốc hội tại hạ nghị viện thường là do người dân trực tiếp bầu, nên còn gọi là dân biểu. Trong khi đại biểu quốc hội tại thượng nghị viện thường được gọi là nghị sĩ, hay là thượng nghị sĩ. == Quyền lực của Quốc hội == Quyền lực của quốc hội là một trong ba quyền quan trọng nhất (tam quyền phân lập) trong hệ thống chính trị của các quốc gia trên thế giới: quyền lập pháp. Quyền lực của quốc hội được thể hiện khác nhau tại mỗi quốc gia. == Xem thêm == Danh sách các quốc gia theo cơ quan lập pháp Quốc hội của các quốc gia trên thế giới Cơ quan lập pháp Ngành hành pháp Ngành tư pháp Tam quyền phân lập Quốc hội Hoa Kỳ Quốc hội Trung Quốc Quốc hội Đài Loan Quốc hội Pháp Quốc hội Anh Quốc hội Úc Quốc hội Việt Nam == Tham khảo == == Liên kết ngoài == Nghị viện các nước trên trang Đại biểu Nhân dân
internet.txt
Internet, còn được viết là in-tơ-nét, là một hệ thống thông tin toàn cầu có thể được truy nhập công cộng gồm các mạng máy tính được liên kết với nhau. Hệ thống này truyền thông tin theo kiểu nối chuyển gói dữ liệu (packet switching) dựa trên một giao thức liên mạng đã được chuẩn hóa (giao thức IP). Hệ thống này bao gồm hàng ngàn mạng máy tính nhỏ hơn của các doanh nghiệp, của các viện nghiên cứu và các trường đại học, của người dùng cá nhân và các chính phủ trên toàn cầu. == Lợi ích == Mạng Internet mang lại rất nhiều tiện ích hữu dụng cho người sử dụng, một trong các tiện ích phổ thông của Internet là hệ thống thư điện tử (email), trò chuyện trực tuyến (chat), công cụ tìm kiếm (search engine), các dịch vụ thương mại và chuyển ngân và các dịch vụ về y tế giáo dục như là chữa bệnh từ xa hoặc tổ chức các lớp học ảo. Chúng cung cấp một khối lượng thông tin và dịch vụ khổng lồ trên Internet. Nguồn thông tin khổng lồ kèm theo các dịch vụ tương ứng chính là hệ thống các trang Web liên kết với nhau và các tài liệu khác trong WWW (World Wide Web). Trái với một số cách sử dụng thường ngày, Internet và WWW không đồng nghĩa. Internet là một tập hợp các mạng máy tính kết nối với nhau bằng dây đồng, cáp quang, v.v.; còn WWW, hay Web, là một tập hợp các tài liệu liên kết với nhau bằng các siêu liên kết (hyperlink) và các địa chỉ URL và nó có thể được truy nhập bằng cách sử dụng Internet. Trong tiếng Anh, sự nhầm lẫn của đa số dân chúng về hai từ này thường được châm biếm bằng những từ như "the intarweb". Tuy nhiên việc này không có gì khó hiểu bởi vì Web là môi trường giao tiếp chính của người sử dụng trên Internet. Đặc biệt trong thập kỷ đầu của thế kỷ 21 nhờ sự phát triển của các trình duyệt web và hệ quản trị nội dung nguồn mở đã khiến cho website trở nên phổ biến hơn, thế hệ web 2.0 cũng góp phần đẩy cuộc cách mạng web lên cao trào, biến web trở thành một dạng phần mềm trực tuyến hay phần mềm như một dịch vụ. Cách thức thông thường để truy cập Internet là không dây, vệ tinh và qua điện thoại cầm tay, IPad, IPhone, Samsung Galaxy và một số dòng điện thoại cảm ứng khác. == Các trình duyệt Web phổ biến == Các chương trình duyệt Web thông dụng hiện nay là: Internet Explorer, Microsoft Edge có sẵn trong Microsoft Windows, của Microsoft Mozilla Firefox của Tập đoàn Mozilla Google Chrome của Google Netscape Navigator của Netscape Opera của Opera Software Safari trong Mac OS X, macOS, iOS của Apple Computer Maxthon của MySoft Technology Avant Browser của Avant Force (Ý). == Lịch sử == Tiền thân của mạng Internet ngày nay là mạng ARPANET. Cơ quan quản lý dự án nghiên cứu phát triển ARPA thuộc bộ quốc phòng Mỹ liên kết 4 địa điểm đầu tiên vào tháng 7 năm 1969 bao gồm: Viện nghiên cứu Stanford, Đại học California, Los Angeles, Đại học Utah và Đại học California, Santa Barbara. Đó chính là mạng liên khu vực (Wide Area Network - WAN) đầu tiên được xây dựng. Thuật ngữ "Internet" xuất hiện lần đầu vào khoảng năm 1974. Lúc đó mạng vẫn được gọi là ARPANET. Năm 1983, giao thức TCP/IP chính thức được coi như một chuẩn đối với ngành quân sự Mỹ và tất cả các máy tính nối với ARPANET phải sử dụng chuẩn mới này. Năm 1984, ARPANET được chia ra thành hai phần: phần thứ nhất vẫn được gọi là ARPANET, dành cho việc nghiên cứu và phát triển; phần thứ hai được gọi là MILNET, là mạng dùng cho các mục đích quân sự. Giao thức TCP/IP ngày càng thể hiện rõ các điểm mạnh của nó, quan trọng nhất là khả năng liên kết các mạng khác với nhau một cách dễ dàng. Chính điều này cùng với các chính sách mở cửa đã cho phép các mạng dùng cho nghiên cứu và thương mại kết nối được với ARPANET, thúc đẩy việc tạo ra một siêu mạng (SuperNetwork). Năm 1980, ARPANET được đánh giá là mạng trụ cột của Internet. Mốc lịch sử quan trọng của Internet được xác lập vào giữa thập niên 1980 khi tổ chức khoa học quốc gia Mỹ NSF thành lập mạng liên kết các trung tâm máy tính lớn với nhau gọi là NSFNET. Nhiều doanh nghiệp đã chuyển từ ARPANET sang NSFNET và do đó sau gần 20 năm hoạt động, ARPANET không còn hiệu quả đã ngừng hoạt động vào khoảng năm 1990. Sự hình thành mạng xương sống của NSFNET và những mạng vùng khác đã tạo ra một môi trường thuận lợi cho sự phát triển của Internet. Tới năm 1995, NSFNET thu lại thành một mạng nghiên cứu còn Internet thì vẫn tiếp tục phát triển. Với khả năng kết nối mở như vậy, Internet đã trở thành một mạng lớn nhất trên thế giới, mạng của các mạng, xuất hiện trong mọi lĩnh vực thương mại, chính trị, quân sự, nghiên cứu, giáo dục, văn hoá, xã hội... Cũng từ đó, các dịch vụ trên Internet không ngừng phát triển tạo ra cho nhân loại một thời kỳ mới: kỷ nguyên thương mại điện tử trên Internet. == Sự xuất hiện của WWW == Năm 1991, Tim Berners Lee ở Trung tâm nghiên cứu nguyên tử châu Âu (Cern) phát minh ra World Wide Web (WWW) dựa theo một ý tưởng về siêu văn bản được Ted Nelson đưa ra từ năm 1985. Có thể nói đây là một cuộc cách mạng trên Internet vì người ta có thể truy cập, trao đổi thông tin một cách dễ dàng. Năm 1994 là năm kỉ niệm lần thứ 25 ra đời ARPANET, NIST đề nghị thống nhất dùng giao thức TCP/IP. WWW đã trở thành dịch vụ phổ biến thứ 2 sau dịch vụ FTP. Những hình ảnh video đầu tiên được truyền đi trên mạng Internet. == Các ISP == ISP (Internet Service Provider) là nhà cung cấp dịch vụ Internet. Các ISP phải thuê đường và cổng của một IAP. Các ISP có quyền kinh doanh thông qua các hợp đồng cung cấp dịch vụ Internet cho các tổ chức và các cá nhân. Các loại ISP dùng riêng được quyền cung cấp đầy đủ các dịch vụ Internet. Điều khác nhau duy nhất giữa ISP và ISP riêng là không cung cấp dịch vụ Internet vào mục đích kinh doanh. Người dùng chỉ cần thoả thuận với một ISP hay ISP riêng nào đó về các dịch vụ được sử dụng và thủ tuc thanh toán được gọi là thuê bao Internet. === Một số mốc thời gian === ==== Thời kỳ phôi thai ==== Năm 1969 Bộ Quốc phòng Mĩ đã xây dựng dự án ARPANET để nghiên cứu lĩnh vục mạng, theo đó các máy tính được liên kết với nhau và sẽ có khả năng tự định đường truyền tin ngay sau khi một phần mạng đã được phá hủy. Năm 1972 trong 1 cuộc hội nghị quốc tế về truyền thông máy tính, Bob Kahn đã trình diễn mạng ARPANET liên kết 40 máy thông qua các bộ xử lý giao tiếp giữa các trạm cuối Terminal Interface Processor-TIP. Cũng năm này nhóm interNET Working Group (INWG)do Vinton Cerf làm chủ tịch ra đời nhằm đáp ứng nhu cầuthiết lập giao thức bắt tay(agreed-upon). Năm 1972 cũng là năm Ray Tomlinson đã phát minh ra E-mail để gửi thông điệp trên mạng.Từ đó đến nay, E-mail là một trong những dich vụ được dùng nhiều nhất Năm 1973, một số trường đại học của Anh và của Na Uy kết nối vào ARPANET. Cũng vào thời gian đó ở đại học Harvard, Bob Metcalfe đã phác họa ra ý tưởng về Ethernet(một giao thức trong mạng cục bộ). Tháng 9/1973 Vinto Cerf và Bob Kahn đề xuất những cơ bản của Internet.Đó chính là những nét chính của giao thức TCP/IP Năm 1974 BBN đã xây dựng giao thức ứng dụng Telnet cho phép sử dụng máy tính từ xa. Năm 1976 phòng thí nghiệm của hãng AT&T phát minh ra dịch vụ truyền tệp cho mạng FTP Năm 1978 Tom Truscott và Steve Bellovin thiết lập mạng USENET dành cho những người sử dụng UNIX. Mạng USENET là một trong những mạng phát triển sớm nhất và thu hút nhiều người nhất. Năm 1979 ARPA thành lập ban kiểm soát cấu hình Internet. Năm 1981 ra đời mạng CSNET(Computer Science NETwork) cung cấp các dịch vụ mạng cho các nhà khoa học ở trường đại học mà không cần truy cập vào mạng ARPANET. Năm 1982 các giao thức TCP và IP được DAC và ARPA dùng đối với mạng ARPANET.Sau đó TCP/IP được chọn là giao thức chuẩn. Năm 1983 ARPANET được tách ra thành ARPANET và MILNET.MILNET tích hợp với mạng dữ liệu quốc phòng, ARPANET trở thành 1 mạng dân sự.Hội đồng các hoạt động Internet ra đời, sau này được đổi tên thành Hội đồng kiến trúc Internet. === Thời kỳ bùng nổ lần thứ nhất của Internet === Năm 1986 mạng NSFnet chính thức được thiết lập, kết nối năm trung tâm máy tính.Đây cũng là năm có sự bùng nổ kết nối, đặc biệt là ở các trường đại học.Như vậy là NSF và ARPANET song song tồn tại theo cùng 1 giao thức, có kết nối với nhau. Năm 1990, với tư cách là 1 dự án ARPANET dừng hoạt động nhưng mạng do NSF và ARPANET tạo ra đã được sử dụng vào mục đích dân dụng, đó chính là tiền thân của mạng Internet ngày nay.Một số hãng lớn bắt đầu tồ chức kinh doanh trên mạng. Đến lúc này đối tượng sử dụng Internet chủ yếu là những nhà nghiên cứu và dịch vụ phổ biến nhất là E-mail va FTP.Internet là 1 phương tiện đại chúng. ==== Thời kỳ bùng nổ lần thứ hai với sự xuất hiện của WWW ==== Năm 1991 Tim Berners Lee ở trung tâm nghiên cứu nguyên tử châu Âu CERN phát minh ra World Wide Web (WWW) dựa theo ý tưởng về siêu văn bản được Ted Nelson đưa ra từ năm 1985. Có thể nói đây là 1 cuộc cách mạng trên Internet vì người ta có thể truy cập, trao đổi thông tin một cách dễ dàng, nhanh chóng. Cũng vào thời gian này NSFnet backbone được nâng cấp đạt tốc độ 44736Mbps. NSFnet truyền 1 tỉ tỉ byte/tháng và 10 tỉ gói tin/tháng. Năm 1994 là năm kỉ niệm lần thứ 25 ra đời ARPANET, NIST đề nghị thống nhất dùng giao thức TCP/IP.WWW trở thành dịch vụ phổ biến thứ hai sau dịch vụ FTP.Những hình ảnh video đầu tiên được truyền đi trên mạng Internet. WWW vượt trội hơn FTP và trở thành dịch vụ có số lưu thông lớn nhất căn cứ trên số lượng gói tin truyền và số byte truyền.Các hệ thống quay số trực tuyến truyền thống như CompuServe, AmericanOnline, Prodigy bắt đầu khả năng kết nối Internet. Tháng 10 năm 1994 Tập đoàn truyền thông Netscape cho ra đời phiên bản beta của trình duyệt Navigator 1.0 nhưng còn cồng kềnh và chạy rất chậm. Hai công ty trở thành đối thủ của nhau, cạnh tranh thị trường trình duyệt.Ngày 11 tháng 6 năm 1997,Netscape công bố phiên bản trình duyệt 4.0.Ngày 30 tháng 10 cũng năm đó có Microsoft cũng cho ra đời trình duyệt của mình phiên bản 4.0. Tháng 7 năm 1996,công ty Hotmail bắt đầu cung cấp dịch vụ Web Mail.Sau 18 tháng đã có 12 triệu người sử dụng và vì thế đã được Microsoft mua lại với giá 400 triệu USD. Năm 1996, triển lãm Internet World Exposition là triển lãm thế giới đầu tiên trên mạng Internet. ==== Mạng không dây ngày càng phổ biến ==== Năm 1985,Cơ quan quản lý viễn thông của Mĩ quyết định mở cửa một số băng tần của giải phóng không dây, cho phép người sử dụng chúng mà không cần giấy phép của chính phủ.Đây là bước mở đầu cho các mạng không dây ra đời và phát triển rất nhanh.Ban đầu các nhà cung cấp các thiết bị không dây dùng cho mạng LAN như Proxim và Symbol ở Mĩ đều phát triển các sản phẩm độc quyền, không tương thích với các sản phẩm của các công ty khác. Điều này dẫn đến sự cần thiết phải xác lập 1 chuẩn không dây chung. Năm 1997, một tiểu ban đã tiến hành thương lượng hợp nhất các chuẩn và đã ban hành chuẩn chính thức IEE 802.11.Sau đó là chuẩn 802.11b và chuẩn 802.11a lần lượt được phê duyệt vào các năm 1999 và năm 2000. Tháng 8 năm 1999 sáu công ty gồm Intersil, 3Com, Nokia, Aironet, Symbol và Lucent liên kết tạo thành liên minh tương thích Ethernet không dây VECA. Thuật ngữ WiFi ra đời, là tên gọi thống nhất để chỉ công nghệ kết nối cục bộ không dây đã được chuẩn hóa. == Kiểm duyệt Internet == Một số quốc gia đã sử dụng nhiều biện pháp khác nhau để thực hiện công tác kiểm duyệt, lọc thông tin thông qua các nhà cung cấp dịch vụ Internet, như tại Trung Quốc, Syria, Triều Tiên, Việt Nam. == Xem thêm == World Wide Web Danh sách quốc gia theo số lượng người sử dụng Internet == Tham khảo ==
katakana.txt
Katakana(kanji: 片仮名, âm Hán Việt: phiến giả danh; katakana: カタカナ hay Hiragana: かたかな) là một thành phần trong hệ thống chữ viết truyền thống của Nhật Bản, bên cạnh hiragana, kanji và đôi khi còn để viết phiên âm chữ cái Latin. Từ "katakana" có nghĩa là "kana chắp vá", do chữ katakana được hợp thành từ nhiều thành phần phức tạp của Kanji. Katakana được tạo thành từ các nét thẳng, nét cong và nét gấp khúc, là kiểu chữ đơn giản nhất trong chữ viết tiếng Nhật. Katakana có hai kiểu sắp thứ tự thường gặp: Kiểu sắp xếp cổ iroha (伊呂波), và kiểu thường dùng thịnh hành gojūon (五十音). == Sử dụng == Khác với kanji có thể được phát âm theo nhiều cách tùy theo ngữ cảnh (dạng chữ "tượng hình, biểu ý"), cách phát âm của các ký tự katakana (và hiragana) hoàn toàn theo quy tắc (dạng chữ "tượng thanh, biểu âm"). Trong tiếng Nhật hiện đại, katakana thường được dùng để phiên âm những từ có nguồn gốc ngoại lai (gọi là gairaigo). Ví dụ, "television" (Tivi) được viết thành "テレビ" (terebi). Tương tự, katakana cũng thường được dùng để viết tên các quốc gia, tên người hay địa điểm của nước ngoài. Ví dụ, tên "Việt Nam" được viết thành "ベトナム" (Betonamu) (ngoài ra, Việt Nam cũng có tên Kanji là "越南" - Etsunan). Tuy nhiên, cũng có những trường hợp ngược lại, đó là cách viết kanji từ những từ vốn được viết bằng katakana. Một ví dụ là từ コーヒー (kōhī), nghĩa là cà phê, đôi khi có thể được viết là 珈琲. Từ kanji này thỉnh thoảng được các nhà sản xuất cà phê sử dụng nhằm tạo sự mới lạ. Katakana cũng được sử dụng để viết các từ tượng thanh, những từ để biểu diễn một âm thanh. Ví dụ như tiếng chuông cửa "đinh - đong", sẽ được viết bằng chữ katakana là "ピンポン" (pinpon). Những từ ngữ trong khoa học - kỹ thuật, như tên loài động vật, thực vật, tên sản vật, thông thường cũng được viết bằng katakana. Katakana cũng nhiều khi (những không phải là tất cả) được sử dụng để viết tên các công ty ở Nhật. Ví dụ như Sony được viết là "ソニ", hay Toyota là "トヨタ". Katakana ngoài ra còn được dùng để nhấn mạnh, đặc biệt đối với các ký hiệu, quảng cáo, panô ápphích. Ví dụ, chúng ta có thể sẽ nhìn thấy chữ "ココ" - koko - ("ở đây"), ゴミ gomi ("rác") hay メガネ megane ("kính đeo mắt"). Những từ muốn nhấn mạnh trong câu đôi khi cũng được viết bằng katakana, giống như kiểu chữ nghiêng italic. Katakana được sử dụng để biểu diễn cách đọc on'yomi (cách đọc âm Hán Trung Quốc) của một từ kanji trong từ điển kanji. Một số họ tên người Nhật được viết bằng katakana. Ngày xưa điều này thường phổ biến hơn, nên những người phụ nữ đứng tuổi thường có tên katakana. Những từ kanji khó đọc được viết thành katakana rất phổ biến. Những trường hợp này thường thấy trong các thuật ngữ y học. Ví dụ, trong từ 皮膚科 hifuka (khoa da liễu), từ kanji thứ 2, 膚, được cho là một từ khó đọc, do đó từ hifuka rất hay được viết thành 皮フ科 hay ヒフ科, dùng cả kanji và katakana. Tương tự, từ 癌 gan (ung thư) thường được viết bằng katakana hoặc hiragana. == Chính tả == Các câu trong ngôn ngữ nhiều nước thường được ngăn cách bởi dấu câu (chấm, phẩy,...) trong tiếng Nhật gọi là 中黒 (nakaguro) còn các từ được ngăn cách bởi dấu cách. Tuy nhiên, trong những trường hợp người đọc biết từ nước ngoài đó phân cách ở đâu, thì dấu cách (hay dấu câu) không được sử dụng. Ví dụ, từ コンピュータゲーム ("konpyūta gēmu," hay "computer game") - "trò chơi điện tử", chứa hai từ tiếng Anh khá thông dụng tại Nhật, nên nó không có một dấu phân cách nào cả. Cú pháp chính tả của Katakana hơi khác với hiragana. Hiragana biểu diễn nguyên âm dài bằng cách cho thêm nguyên âm kana thứ hai vào sau, còn trong katakana, thường sử dụng một dấu gạch mở rộng gọi là chōon. Dấu gạch này trong cách viết Yokogaki (Trái sang phải, trên xuống dưới) là một dấu gạch ngắn nằm ngang theo dòng viết, và trong cách viết Tategaki (Trên xuống dưới, phải sang trái) là nằm dọc. Tuy nhiên, nó thường được sử dụng nhiều khi viết các từ mượn; nguyên âm dài trong tiếng Nhật được viết bằng katakana cũng thông dụng như được viết bằng hiragana. Ngoại trừ một số từ như ローソク(蝋燭)(rōsoku)(cây nến) hay ケータイ(携帯)(kētai)(điện thoại di động). Chữ tsu nhỏ ッ được gọi là sokuon chỉ ra một phụ âm kép, được phát âm bằng cách nhân đôi phụ âm đi sau nó. Ví dụ, từ bed (giường ngủ) được viết bằng katakana sẽ là ベッド (beddo). Sokuon đôi khi được dùng trong những vị trí không có sự tương đương của âm tiết vốn có. Ví dụ, chữ h kép trong chữ "ch" (thường thấy trong tên tiếng Đức). Lấy ví dụ chữ "bach" được viết là バッハ (Bahha); chữ "Mach" là マッハ (Mahha). Chữ "h" kép trong từ Bach và Mach (được biểu diễn bằng chữ ッ) có lẽ là cách biểu diễn tốt nhất của tiếng Nhật cho những từ này. Một số âm tiết trong nhiều ngôn ngữ thường khá khó khăn để biểu diễn bằng tiếng Nhật, ví dụ từ "hướng" (tiếng Việt) lại trở thành フオン (Fuon). Ali Khamenei là アリー・ハーメネイー (Arī Hāmeneī). == Bảng katakana == Sau đây là bảng katakana cùng với phiên âm romaji tương ứng. Nhũng chữ bên bảng đầu tiên là chữ katakana tiêu chuẩn (ký tự có màu đỏ là ký tự cổ (hiện tại không dùng), còn ký tự có màu xanh là chữ katakana hiện đại, sử dụng chủ yếu để phiên âm những từ nước ngoài). Việc đọc chữ katakana có đôi chút phức tạp do bề ngoài tương tự của một số chữ. Như chữ shi シ và chữ tsu ツ, hay so ソ và chữ n ン, trông có vẻ giống nhau về hình thù nhưng khác nhau về thứ tự các nét khi viết và độ nghiêng của các nét. Một số chữ katakana lại khá giống chữ Hán, như chữ "ni" (ニ) và chữ Nhị (二 "số 2"), chữ "ka" (カ) và chữ Lực (力 "sức mạnh"), chữ "ro" (ロ) và chữ Khẩu (口 "cái miệng"). Sự khác biệt sẽ rõ hơn khi những chữ này được viết bằng bút mực nước (bút lông). 1: ヲ ("wo") phát âm giống オ ("o"), nhưng trong thực tế nó hiếm khi được sử dụng ngoại trừ khi cần biểu diễn chữ hiragana tương ứng bằng chữ katakana. Để biểu diễn âm "wo", người Nhật dùng chữ cứng ウォ("uo"). 2: Những chữ katakana này được đưa vào hệ thống giáo dục từ khá sớm - thời kỳ Minh Trị, nhưng chưa bao giờ trở nên phổ biến. [2] [3] 3: ヲ giống phụ âm "k (bật hơi)" trong bộ chữ Hangul của Hàn Quốc. 4: フ giống phụ âm "k/g" trong bộ chữ Hangul của Hàn Quốc. 5: ス giống phụ âm "ch/j" trong bộ chữ Hangul của Hàn Quốc. == Lịch sử == Katakana được phát triển vào thời kỳ Heian từ các thành phần của các ký tự man'yōgana (万葉仮名, "vạn diệp giả danh") - một dạng tốc ký - là những chữ Trung Quốc được dùng để biểu diễn cách phát âm của người Nhật, bắt đầu hình thành từ thế kỷ thứ 5. Ví dụ, chữ ka カ được hình thành từ phần bên trái của chữ ka 加 (gia - gia tăng). Bảng dưới đây cho thấy nguồn gốc của từng chữ katakana: chữ đỏ là chữ gốc (chữ Hán). == Giảng dạy Katakana == Nhiều giảng viên "giới thiệu katakana sau khi người học đã học đọc và viết hiragana một cách dễ dàng đồng thời nắm rõ các quy tắc." Hầu hết người học đã học qua hiragana cũng sẽ "không gặp quá khó khăn khi học và nhớ" katakana. Tuy nhiên, với những người học hiragana trước khi học katakana, nếu tạo thành thói quen viết và đọc hiragana đôi khi sẽ gây đôi chút khó khăn cho việc sử dụng katakana một cách thuần thục và nhanh nhẹn. Trong khi đó, một số giảng viên khác lại giới thiệu katakana trước, bởi chúng được sử dụng để biểu diễn các từ mượn. Việc này giúp người học, nhất là những người nói ngôn ngữ không chịu ảnh hưởng Hán văn, luyện đọc và viết kana với các từ ngữ dễ hiểu hơn. == Mã hóa trong máy tính == Katakana có thể viết được trong tất cả các phông chữ dành cho tiếng Nhật và phông chữ đầy đủ của Unicode (như Arial Unicode MS), khá nhiều phông chữ hỗ trợ tiếng Trung Quốc cũng hỗ trợ cả katakana (như MS Song). Katakana có hai định dạng mã hóa, halfwidth (độ rộng 1 nửa) hankaku (半角) và fullwidth (độ rộng đầy đủ) zenkaku (全角). Định dạng halfwidth có nguồn gốc từ JIS X 0201. Trong định dạng này, hầu hết các chữ katakana được biểu diễn bằng 1 byte. Cuối thập kỷ 1970, các ký tự 2 byte ra đời (như JIS X 0208) để viết chữ Hiragana, Kanji và các ký tự khác. Hệ thống JIS_X_0208 có cách biểu diễn chữ katakana hoàn toàn khác với JIS_X_0201. Chữ katakana của JIS_X_0208 được biểu diễn bằng ít nhất là 2 byte, vì thế nhiều thiết bị (đặc biệt là các thiết bị của thệ hệ trước) thường viết katakana có độ dài 2 byte. Đó là lý do tại sao chữ Katakana của JIS_X_0201 được gọi là halfwidth còn JIS_X_0208 là fullwidth. Và cũng do đó, hầu hết các định dạng mã hóa không có định dạng chữ Hiragana halfwidth. Mặc dù hầu như không còn được dùng nữa, nhưng trong thực tế chữ katakana halfwidth vẫn còn trong nhiều hệ thống mã hóa. Ví dụ trong các máy điện toán, nhãn đĩa, phụ đề DVD hay truyền hình số. Nhiều kiểu mã hóa tiếng Nhật như EUC-JP, Unicode và Shift-JIS vừa có cả mã katakana halfwidth vữa có cả mã fullwidth. Ngược lại, ISO-2022-JP lại không có mã katakana halfwidth, và thường được dùng trong các giao thức SMTP và NNTP. Chữ halfwidth katakana thông thường được dùng để tiết kiệm bộ nhớ. === Mã Unicode === Trong Unicode, chữ fullwidth katakana chiếm các vị trí từ U+30A0 đến U+30FF [4]: Những chữ halfwidth katakana tương ứng cùng được mã hóa trong Unicode. Bắt đầu từ U+FF65 đến U+FF9F (các vị trí từ U+FF61 đến U+FF64 là các dấu câu halfwidth): Các vị trí mã từ 32D0 đến 32FE là các chữ Katakana khoanh tròn. Chú ý: Không có chữ ン khoanh tròn. == Các ví dụ về cách phiên âm của Katakana từ những từ nước ngoài == === Dược phẩm === === Công nghệ thông tin === === Tên === === Địa điểm === === Quốc gia và thành phố === == Tham khảo == == Xem thêm == Tiếng Nhật Kana Kanji Hiragana Rōmaji Hentaigana Man'yōgana Furigana Okurigana == Liên kết ngoài == Katakana code chart at Unicode.org Real Kana Practice katakana using different typefaces. katakana stroke order diagrams on nihongoresources.com Animations showing how to write katakana Learn Katakana, simple game to learn Katakana alphabet.
.edu.txt
.edu (education - giáo dục) là một tên miền cấp cao nhất dùng chung dùng cho các tổ chức giáo dục, đào tạo, được sử dụng ban đầu tại Hoa Kỳ. == Lịch sử == Ra đời vào tháng 1, năm 1985, .edu là một trong những tên miền cấp cao nhất ra đời sớm nhất, nguyên với mục đích làm tên miền cho các tổ chức, cơ sở giáo dục - đào tạo bất kỳ đâu trên thế giới. Ngày 24 tháng 4, năm 1985, những tên miền: cmu.edu, berkeley.edu, columbia.edu, purdue.edu, rice.edu, và ucla.edu trở thành 6 tên miền đầu tiên được đăng ký sử dụng .edu. Ngoại trừ một số ít ngoại lệ, chỉ có các tổ chức giáo dục tại Hoa Kỳ mới đăng ký các tên miền như vậy; những tổ chức giáo dục ở các nước khác thường sử dụng tên miền .edu đi liền với tên miền quốc gia cấp cao nhất tương ứng với quốc gia đó (Ví dụ: edu.vn ở Việt Nam, edu.cn ở Trung Quốc...). Một số quốc gia sử dụng tên miền cấp 2 để làm tên miền cho các tổ chức giáo dục (Ví dụ như: .edu.mx tại México, .edu.au tại Úc, .ac.uk và .sch.uk và .ed.uk tại Anh) và một số quốc gia khác thậm chí chỉ sử dụng tên miền quốc gia (Ví dụ như: Canada, Đức, Pháp). Tại Đức, tên miền cấp 2 thường được gán thêm một tiền tố ở trước cho biết tính chất của tổ chức (Ví dụ: uni chỉ Universität, fh chỉ Fachhochschule, do đó các tên miền có dạng www.uni-erfurt.de hay www.fh-erfurt.de...) Một số tên miền .edu không thuộc Mỹ ví dụ như polytechnique.edu của Pháp, tên miền solvay.edu của Bỉ, tên miền kit.edu của Đức, marianopolis của Canada, korteboskolan.edu của Thụy Điển, tên miền của Đại học Công Catalan upc.edu, uni-pr.edu của Kosovo, au.edu của Thái Lan.... Nhiều tổ chức giáo dục có tên miền gốc là một tên miền cấp 2 nhưng có một trang nhân bản có tên miền .edu, ví dụ như tên miền oxford.edu liên kết đến ox.ac.uk, open.edu liên kết đến open.ac.uk,... == Xem thêm == Tên miền cấp cao nhất. Tên miền quốc gia cấp cao nhất. .com .net .org .vn - tên miền quốc gia Việt Nam. == Tham khảo ==
bẫy chuột.txt
Bẫy chuột là một loại bẫy thú, được thiết kế để chuyên bắt chuột, một loài động vật thường phá hoại lúa, hoa màu và các đồ vật trong gia đình. Bẫy chuột có nhiều loại, mỗi loại đều có những ưu, nhược điểm riêng. == Các loại bẫy chuột == Với mục đích được tạo ra là để bắt chuột, Bẫy chuột có nhiều loại. Loại bẫy giữ chặt lấy con chuột, loại bẫy nhử chuột chui vào lồng. Với loại bẫy đơn giản, gồm một miếng gỗ làm nền, ở trên có bộ phận chính là cái nẹp bằng kim loại, có thể bật ngược để giữ chặt lấy chuột khi chuột đụng vào bẫy. Con chuột có thể bị giết chết vì bị kẹp nát thân thể. Với loại bẫy lồng, đó là cái lồng để mở, khi chuột chui vào thì cửa lồng sẽ tự sập xuống để nhốt chuột trong đó. Loại bẫy này không giết chết chuột ngay. Người ta thường lấy lồng nhốt chuột dìm xuống nước hoặc đốt cho chuột chết. Cả hai loại bẫy này đều cần có mồi, là một miếng thức ăn để lôi kéo con chuột đụng vào bẫy hoặc chui vào lồng bẫy. Người ta còn chế ra loại bẫy khác không cần dùng mồi, hình bán nguyệt, thường để tại chỗ chuột hay chạy qua, khi chạy qua đụng phải sẽ bị sập bẫy kẹp chặt không thể chạy được. Một hình thức đơn giản hơn nữa là những miếng bìa có gắn một loại keo để làm dính chân chuột khi chuột chạy qua. Chuột không bị giết chết ngay nhưng bị dính chân không thể gỡ ra. Loại này gọi là keo dính chuột. == Đặc điểm công dụng == Muốn diệt chuột có thể dùng nhiều cách: đánh bả chuột, dùng bẫy và dùng điện dăng ra. Nhưng đánh bả chuột xong chuột không chết ngay mà thường chạy vào những khe ngách đồ đạc trong nhà, sẽ mất công tìm kiếm và kê dọn đồ đạc để lấy đi xác chuột chết, dùng điện có thể nguy hiểm cho tính mạng con người nếu người khác không biết chạm phải điện. Dùng bẫy chuột có thể giữ chuột tại chỗ đã đặt bẫy, tuy nhiên vẫn phải lưu ý phải để tại nơi ít có người qua lại, nếu không có thể làm sập bẫy vào chân, vào tay người qua chỗ đặt bẫy gây thương tích. == Tham khảo ==
drachma.txt
Drachma (có thể dịch là đracma) còn có tên khác drachmas hoặc drachmae (δραχμή, pl. δραχμές hoặc δραχμαί) là đơn vị tiền tệ của Hy Lạp được sử dụng trước khi đồng Euro được thay thế và hiện nay đồng Drachma có thể sẽ quay trở lại nếu Hy Lạp không có biện pháp giải quyết khủng hoảng nợ và chính sách cứu trợ của Liên minh châu Âu. Các bên trong Liên minh châu Âu cố gắng giải quyết vấn đề Hy Lạp và đưa ra một quyết định cứng rắn "Sẽ không để Hy Lạp rời khỏi Liên minh châu Âu" == Hình ảnh == == Xem thêm == == Liên kết ngoài == History of Greek Banknotes Overview of the modern Greek drachma from the BBC The Greek currency history Complete presentation of the Greek modern coins Greek Drachma Coin Information A History of Measures The Use of Obeliskoi Bản mẫu:Euro topics Bản mẫu:Symbols of Greece
kim loại quý.txt
Kim loại quý hay kim khí quý tức quý kim là các kim loại có giá trị cao và hiếm trong tự nhiên, đó là những nguyên tố hóa học có giá trị kinh tế. Các kim loại được xem là quý khi số lượng của chúng ít và hiếm, có tầm quan trọng đối với kinh tế xã hội. Trong khi vàng và bạc đang thu hút sự quan tâm của các nhà đầu tư, còn có một số kim loại rất quý hiếm khác có những tính năng sử dụng quý giá đặc biệt. == Đặc điểm và giá trị == Kim loại quý bao gồm các kim loại nhóm bạch kim: ruthenium, rhodium, palladium, osmium, iridium, và bạch kim. Thường thì loại kim khí này có độ bóng cao, mềm hơn hoặc dễ uốn hơn so với các kim loại bình thường khác và có điểm nóng chảy cao hơn so với các kim loại khác. Trong lịch sử, kim loại quý được sử dụng như một loại tiền tệ, ngày nay nó là tài sản đầu tư. Các mặt hàng công nghiệp như vàng, bạc, bạch kim và palladium có một mã tiền tệ ISO 4217. Các kim loại quý được sử dụng để đúc tiền (tiền xu hoặc thành từng thỏi, nén, miếng, khối) là vàng và bạc. Ngoài ra cả hai đều cả hai đều được sử dụng công nghiệp, thủ công nghiệp, là nguyên vật liệu để chế tác những loại hình vật chất nghệ thuật, đồ trang sức và tiền đúc....Các kim loại quý dưới hình thức số lượng lớn được gọi là vàng thỏi và được giao dịch trên thị trường. Vàng thỏi có thể được đúc thành từng thỏi, hoặc đúc thành tiền xu. Đơn vị đo lường dùng cho kim loại quý là "troy ounce" – tương đương với 1,1 ounce thường hay bằng 0,031 kg (1 ounce = 28,35g). == Một số loại == === Bạc === Bạc đã được dùng trong buôn bán từ lâu và làm cơ sở cho nhiều hệ thống tiền tệ. Ngày nay, ngoài việc được sử dụng làm các đồ trang trí có giá trị, bạc còn được sử dụng trong nhiều lĩnh vực khác như làm răng giả, linh kiện điện tử hay sản xuất gương cần độ phản xạ cao. Đặc biệt, các muối halôgen của nó có vai trò quan trọng và được ứng dụng rộng rãi trong đời sống như bạc bromua được sử dụng rộng rãi trong công nghệ lưu phim ảnh; hay Iốtđua bạc có thể làm tụ mây để tạo mưa nhân tạo. === Vàng === Vàng là sự thể hiện giàu có và có vẻ đẹp lộng lẫy. Vàng là kim loại có màu vàng khi thành khối, nhưng khi cắt nhuyễn cũng có khi có màu đen, hồng ngọc hay tía; mềm, dễ uốn, dễ dát mỏng, và chiếu sáng. Ở Việt Nam, khối lượng của vàng được tính theo đơn vị là cây (lượng hay lạng) hoặc chỉ. Một cây vàng nặng 37,50 g. Trên thị trường thế giới, vàng thường được đo lường theo hệ thống khối lượng troy, trong đó 1 troy ounce (ozt) tương đương 31,103 476 8 g. Tuổi (hay hàm lượng) vàng được tính theo thang độ K (Karat). Một Karat tương đương 1/24 vàng nguyên chất. Vàng 99,99% tương đương với 24K. Ở Việt Nam người ta thường kinh doanh vàng dưới dạng các bánh, thỏi, nhẫn, dây chuyền, vòng, lắc với hàm lượng vàng chủ yếu là 99,999% hay 99,99%, 99,9%, 99% hay 98%. === Bạch kim === Bạch kim là một trong các kim loại quý hiếm nhất trên hành tinh, có màu trắng xám, khó bị ăn mòn, nhiệt độ nóng chảy lên tới 3215 °F. Bạch kim được dùng trong ngành trang sức, thiết bị thí nghiệm, các điện cực, thiết bị y tế và nha khoa, các thiết bị xúc tác hóa học, điều khiển mức độ phát thải khí trong xe hơi. === Rodi === Rodi (Rhodium) Là kim loại được William Hyde Wollaston phát hiện sau khi ông tìm ra paladi trong năm 1803, là một kim loại trắng bạc, cứng nhưng dễ kéo sợi. Nó có hệ số phản xạ cao và có tính dẫn điện/dẫn nhiệt cao nhất trong tất cả các kim loại thuộc nhóm platin (PGM). Rodi không bị gỉ trong hầu như tất cả các dung dịch ngậm nước, bao gồm cả axít vô cơ ngay cả ở nhiệt độ cao. Công dụng chính của Rodi là được sử dụng như một chất pha chế để tạo hợp kim với bạch kim và ở dạng hợp kim đó thì nó có một vài ứng dụng trong công nghiệp điện và công nghiệp chế tạo thủy tinh. Do nguồn cung cấp rất khan hiếm nên giá của nó rất cao, có thời điểm trong năm 2008 giá đạt trên 10.000USD/oz. Sản lượng Rodi hàng năm trên thế giới rất nhỏ, và chủ yếu đến từ Nam Phi. Để so sánh, khoảng 2.500 tấn vàng được sản xuất mỗi năm, trong khi đó sản lượng Rodii hàng năm chỉ bằng khoảng 1% sản lượng vàng, và giá thì cao hơn gấp rưỡi giá vàng. === Indi === Indi (Indium) là một kim loại khá hiếm, mềm, dễ uốn và dễ nóng chảy, ở dạng kim loại tinh khiết được nhiều nguồn tài liệu cho là không độc hại, được hai nhà hóa học người Đức là Ferdinand Reich và Hieronymous Theodor Richter phát hiện năm 1863. Khi ở dạng kim loại nguyên chất và bị uốn cong thì nó phát ra các tiếng kêu răng rắc. Ứng dụng chủ yếu của nó hiện nay là để tạo ra các điện cực trong suốt dùng trong các màn hình tinh thể lỏng (LCD). Nó cũng được sử dụng rộng rãi trong các màng mỏng để tạo ra các lớp bôi trơn. == Chú thích ==
nhà hát lớn hà nội.txt
Nhà hát Lớn Hà Nội là một công trình kiến trúc phục vụ biểu diễn nghệ thuật tọa lạc trên quảng trường Cách mạng tháng Tám, vị trí đầu phố Tràng Tiền, không xa hồ Hoàn Kiếm và Bảo tàng Lịch sử Việt Nam. Công trình được người Pháp khởi công xây dựng năm 1901 và hoàn thành năm 1911, theo mẫu Nhà hát Opéra Garnier ở Paris nhưng mang tầm vóc nhỏ hơn và sử dụng các vật liệu phù hợp với điều kiện khí hậu địa phương. Tác phẩm của hai kiến trúc sư Harlay và Broyer mang nhiều màu sắc, đường nét kiến trúc của các nhà hát ở miền Nam nước Pháp, có cách tổ chức mặt bằng, không gian biểu diễn, cầu thang, lối vào sảnh... giống với các nhà hát ở châu Âu đầu thế kỷ 20. Mặc dù là một công trình kiến trúc mang tính chiết trung, được pha trộn nhiều phong cách, nhưng Nhà hát Lớn Hà Nội vẫn mang đậm dáng vẻ Tân cổ điển Pháp, đặc biệt ở kết cấu kiến trúc, kiểu mái hai mảng lợp ngói đá đen cùng các họa tiết trang trí bên trong. Ra đời muộn hơn các nhà hát ở Sài Gòn và Hải Phòng, nhưng Nhà hát Lớn Hà Nội có kiến trúc hoàn chỉnh nhất và trở thành một hình ảnh quen thuộc, đặc trưng của thành phố Hà Nội. Ngay từ khi hoàn thành, Nhà hát Lớn đã giữ vai trò một trong những trung tâm văn hóa quan trọng của thủ đô, nơi diễn ra thường xuyên các hoạt động văn hóa, biểu diễn nghệ thuật. Nhà hát Lớn là nơi khai sinh và tôn vinh kịch nghệ cùng sân khấu Việt Nam, cũng như các loại hình nghệ thuật giao hưởng, hợp xướng, nhạc kịch, vũ kịch. Không chỉ vậy, nhà hát còn là một địa điểm mang đậm những dấu ấn lịch sử, từng là nơi Quốc hội đầu tiên của nước Việt Nam độc lập nhóm họp và thông qua Hiến pháp năm 1946, bản Hiến pháp đầu tiên của Việt Nam cũng như danh sách chính phủ Liên hiệp Kháng chiến Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (Hồ Chí Minh đứng đầu); Toàn quốc Kháng chiến Ủy viên Hội (Võ Nguyên Giáp làm chủ tịch); Quốc gia Cố vấn đoàn (Vĩnh Thụy làm đoàn trưởng). Sau một thời gian dài bị xuống cấp, công trình lấy lại được vẻ đẹp xưa cũ sau đợt trùng tu từ năm 1995 đến năm 1997, chuẩn bị cho Hội nghị thượng đỉnh của Cộng đồng Pháp ngữ. Ngày nay, Nhà hát Lớn là một trong những địa điểm biểu diễn quan trọng bậc nhất ở Hà Nội, được những người làm nghệ thuật coi như một "ngôi đền" dành cho nghệ thuật cổ điển. Cũng như nhiều công trình kiến trúc và cả những loại hình văn hóa phi vật thể khác, Nhà hát Lớn Hà Nội trở thành minh chứng cho một giai đoạn lịch sử của thành phố, thời kỳ mà các nền văn hóa giao thoa lẫn nhau. == Lịch sử == Vị trí của Nhà hát Lớn Hà Nội xưa kia là một vùng đầm lầy thuộc đất của hai làng Thạch Tần và Tây Luông, giáp gianh với làng Cựu Lâu, thuộc tổng Phúc Lân (hay tổng Hữu Túc), huyện Thọ Xương. Năm 1808, một trường đúc tiền (tên chữ Hán: Bảo truyền cục) được thành lập tại khu vực này, với phía bắc là phố Tràng Tiền ngày nay, nam là phố Phạm Sư Mạnh, Đông là phố Phan Chu Trinh và tây là phố Ngô Quyền. Phía đông bắc của đầm lầy nhà hát ngày xưa là cửa ô tên Tây Long (hay Tây Luông), lấy theo tên của bến đò thời Lê đậu ở bãi sông cùng tên. Ngày 20/7/1786, quân Tây Sơn tiến vào thành Thăng Long qua bến sông và cửa ô này đã đánh vào trận địa của chúa Trịnh Khải ở hai bên lầu Ngũ Long (trung tâm Bưu điện Hà Nội ngày nay). Bến sông này cũng là nơi chứng kiến cuộc rút chạy ngày 30 tháng 1 năm 1789 (mùng 5 Tết Kỷ Dậu) của quân nhà Thanh do Tôn Sĩ Nghị chỉ huy sau thất bại đồn Khương Thượng trước đô đốc Long. Ngay từ khi mới tới Hà Nội vào năm 1883, người Pháp đã sớm có ý định xây dựng ở thành phố này một địa điểm dành cho trình diễn nghệ thuật. Rạp hát đầu tiên được mang tên rạp Chùa Bút nằm ở khoảng đất trống trước cửa đền Ngọc Sơn, ảnh hưởng bởi công trình Tháp Bút ở gần đó. Vào năm 1887, nhân dịp hội chợ trên phố Tràng Thi, một hiệu buôn Hoa kiều đã cho xây dựng ở đầu phố Hàng Cót – khi đó mang tên phố Takou – một rạp hát chuyên diễn tuồng Tàu. Mặc dù vậy, rạp hát này lại được một bác sĩ người Pháp tên Nico đứng tên và đôi khi cũng dành cho các đoàn nghệ thuật từ Pháp sang trình diễn. Rạp Takou, tuy không phù hợp cho các hoạt động nghệ thuật Tây phương, nhưng chính là rạp hát đầu tiên ở Hà Nội theo kiểu Tây phương. Vào năm 1899, Hội đồng thành phố dưới sự chủ tọa của Công sứ Hà Nội Richard đã đề nghị lên Toàn quyền Đông Dương, xin xây dựng một nhà hát cho thành phố. Vị trí lựa chọn là khu vực đầm lầy thuộc hai làng Thạch Tần và Tây Luông. Đồ án thiết kế được xét duyệt là của hai kiến trúc sư người Pháp Broyer và V. Harley, họa theo hình dáng nhà hát Opéra Garnier nổi tiếng ở Paris. Trong công đoạn xây cất thì có sự tham gia của kiến trúc sư François Lagisquet chỉnh trang sửa chữa thêm họa đồ. Với kinh phí lên đến 2 triệu franc, dự án Nhà hát thành phố ở Hà Nội đã gây nên tranh cãi trên một số báo chí tại Pháp thời đó. Ngày 7 tháng 6 năm 1901 thì khởi công xây dựng do hai hãng thầu Travary và Savelon đứng thầu, kiến trúc sư Harley giám sát. Harley lúc bấy giờ cũng là thanh tra đô thị của Hà Nội. Vì xây dựng trên một vũng lầy nên việc san lấp mặt bằng gặp khá nhiều khó khăn. 35 nghìn cây cọc tre được đóng xuống trước khi đổ lớp bê tông dày 0,9 mét làm nền tòa nhà. Phần móng được xây bằng đá tảng; khu vực sân khấu sử dụng gạch chịu lửa để đề phòng hỏa hoạn, phần mái nhà lợp bằng phiến thạch trang trí kẽm thếp vàng, đường vòng quanh mái trang trí gạch tráng men. Công trình sử dụng tới 12.000 m³ vật liệu, gần 600 tấn gang thép, với khoảng 300 công nhân tham gia thi công mỗi ngày. Sau 10 năm xây dựng, Nhà hát thành phố được khánh thành. Để gắn tên mình với sự kiện này, nhóm kịch nghiệp dư Philarmonique của những người Pháp tại Hà Nội khi đó đã tập một vở hài kịch. Công trình tuy đã hoàn thành nhưng sân khấu lúc bấy giờ vẫn thiếu màn kéo, phông cảnh. Để khắc phục, đoàn kịch đã lấy vải thô may lại rồi vẽ hình hồ Gươm cùng tháp Rùa để làm màn kéo. Nhà hát dùng tấm màn này 16 năm cho đến khi được thay thế bằng một tấm màn vải sa tanh, và tới năm 1932, nhà hát mới trang bị màn nhung theo kiểu sân khấu của Ý. Tối ngày 9 tháng 12 năm 1911, lễ khai trương nhà hát bắt đầu với vở hài kịch bốn hồi Le Voyage de monsieur Perrichon (Chuyến đi của ông Perrichon) của Eugène Labiche và Édouard Martin. Số tiền thu được từ buổi biểu diễn được nhóm kịch Philarmonique ủng hộ cho những trẻ em lai sống lang thang trên phố. Khi hoàn thành với 870 chỗ ngồi, Nhà hát Lớn Hà Nội là một công trình quy mô rất lớn nếu so với dân số Hà Nội khi đó. Nhà hát trở thành trung tâm các sự kiện văn hóa, nghệ thuật dành cho người Pháp và một số ít người Việt thượng lưu ở Hà Nội. Đây cũng là địa điểm biểu diễn lý tưởng cho các đoàn kịch, ban nhạc từ Pháp và châu Âu tới lưu diễn. Khoảng thời gian về sau, một số buổi trình diễn của các nghệ sĩ người Việt với mục đích từ thiện như quyên góp cứu nạn các vùng lụt lội, xây dựng nhà tế bần... cũng bắt đầu được trình diễn ở đây. Từ năm 1940, nhiều đoàn kịch nói Việt Nam đã có thể thuê lại nhà hát để biểu diễn. Từ đó Nhà hát Lớn Hà Nội không còn là địa điểm chỉ dành cho người Pháp. Sự hình thành tầng lớp thị dân cùng trí thức mới đã biến nơi đây thành cái nôi cho nhiều sinh hoạt nghệ thuật của người Việt. Không chỉ là một địa điểm văn hóa, Nhà hát Lớn Hà Nội cùng quảng trường Nhà hát còn là nơi diễn ra nhiều sự kiện lịch sử quan trọng. Vào ngày 17 tháng 8 năm 1945, trên quảng trường Nhà hát đã diễn ra cuộc mít tinh ra mắt Mặt trận Việt Minh. Ngày 28 tháng 8 năm 1945 đã diễn ra một trong những cuộc duyệt binh đầu tiên của Việt Nam Giải phóng quân, tiền thân của Quân đội Nhân dân Việt Nam. Ngày 16 tháng 9 năm 1945, Hồ Chí Minh đã phát động Tuần lễ vàng quyên góp ủng hộ Chính phủ tại Nhà hát Lớn. Quốc hội nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa khóa I họp phiên đầu tiên ở nhà hát vào ngày 2 tháng 3 năm 1946 và tiếp tục ở đây cho đến năm 1963, khi Hội trường Ba Đình được xây dựng. Cuối thế kỷ 20, Nhà hát Lớn Hà Nội sau hơn 80 năm tồn tại đã rơi vào tình trạng xuống cấp trầm trọng. Phần chân tường nhà hát phủ đầy rêu phong, nhiều chỗ mái ngói bị thay thế bằng mái tôn. Bên trong, các trang trí, vật liệu, màu sắc, tiện nghi phục vụ và thiết bị kỹ thuật quan trọng đều quá cũ kỹ, lạc hậu. Nhiều hoa văn bị quét vôi phủ kín trong những lần sửa chữa trước đó. Xung quanh quảng trường ngày càng xuất hiện nhiều các công trình không phù hợp, khiến phá vỡ không gian kiến trúc của nhà hát. Giữa thập niên 1990, để chuẩn bị cho Hội nghị thượng đỉnh Cộng đồng Pháp ngữ lần thứ 7 diễn ra tại Hà Nội vào tháng 11 năm 1997, Chính phủ Việt Nam đã quyết định trùng tu Nhà hát Lớn với kinh phí 156 tỷ đồng, tương đương khoảng 14 triệu đô la. Dự án được bắt đầu năm 1995 và hoàn thành 2 năm sau đó với sự tham gia của 100 nhân công và dưới sự giám sát của kiến trúc sư người Pháp gốc Việt Hồ Thiệu Trị, tác giả đồ án trùng tu. Năm 2011, Nhà hát Lớn Hà Nội cùng quảng trường Cách mạng tháng Tám đã được Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch công nhận di tích lịch sử và kiến trúc quốc gia. Ngày 9 tháng 12 năm 2011, Nhà hát Lớn Hà Nội kỷ niệm 100 năm ngày nhà hát ra đời. == Kiến trúc == Nhà hát Lớn Hà Nội nằm trên quảng trường Cách mạng tháng Tám, nhìn thẳng ra phố Tràng Tiền, vị trí xưa nay vẫn là khu vực sầm uất bậc nhất của thành phố. Công trình có chiều dài 87 mét, bề ngang trung bình 30 mét, phần đỉnh mái cao nhất cao 34 mét so với nền đường, và diện tích xây dựng khoảng 2.600 mét vuông. Bên phải nhà hát, khách sạn Hilton Opera nằm hơi uốn cong, cũng là một công trình do kiến trúc sư người Pháp thiết kế. Mang những đường nét cổ điển – như hàng cột cao, bộ mái Mansard... – khách sạn hiện đại Hilton Opera không những không phá vỡ không gian kiến trúc của quảng trường mà còn giúp tôn thêm vẻ đẹp của nhà hát. Mặt bằng Nhà hát Lớn Hà Nội được chia thành ba phần tương đối rõ rệt. Không gian đầu tiên ngay lối vào là chính sảnh với một cầu thang hình chữ T bằng đá dẫn lên tầng hai. Đây là nơi đầu tiên đón khách tới nhà hát, gạch lát nền sử dụng loại đá vân thạch kết hợp với những họa tiết trang trí theo tinh thần cổ điển, đem lại cảm giác sang trọng. Hệ thống đèn chùm nhỏ treo trên tường được mạ đồng theo lối cổ, còn đèn chùm phía trên cao được mạ một lớp vàng bằng công nghệ hiện đại. Ở tầng hai, phòng gương là nơi diễn ra các nghi lễ quan trọng, lễ ký kết các văn kiện của Chính phủ hay đón tiếp các nhân vật cao cấp. Căn phòng này còn dành cho các chương trình nghệ thuật thính phòng, các cuộc họp báo hay những hội nghị mang tính chất nhỏ. Sàn phòng gương được phục chế theo kỹ thuật Mozaic với đá mang đến từ Ý. Trên tường, xen giữa các cửa đi mở rộng là những tấm gương lớn. Các đèn treo, đèn chùm pha lê cùng bàn ghế mang phong cách cổ điển Pháp. Không gian tiếp theo của nhà hát là phòng khán giả kích thước 24 x 24 mét với sân khấu lớn, ba tầng ghế, tổng cộng 598 chỗ ngồi. Căn phòng được trang trí cầu kỳ với những hàng cột thức Corinth đỡ một vòm tràn đầy màu sắc bởi những bức bích họa, xen kẽ những hình đắp nổi cùng một đèn chùm pha lê lớn dát vàng. Sàn phòng lát gạch và trải thảm, các ghế ngồi thiết kế theo phong cách cổ điển Pháp thế kỷ 19. Không gian nội thất nhà hát như một sự tổng hòa của các yếu tố ánh sáng, màu sắc và âm thanh. Cuối cùng, phía sau sân khấu là 18 phòng trang điểm dành cho diễn viên, 2 phòng tập, cùng các phòng làm việc, thư viện, phòng họp... Có thể tìm thấy ở bề ngoài của công trình nhiều phong cách kiến trúc khác nhau. Mặt chính nhà hát nổi bật nhờ hàng cột theo thức Ionic La Mã, phía trên nhấn bởi các mái chóp cong lợp ngói đá. Dường như những nguyên tắc kiến trúc Phục Hưng được nhấn mạnh phía mặt ngoài này. Tuy vậy, những đường cong uốn lượn của các ban công kết hợp với hình thức cuốn vòm phía trên lối vào lại làm nổi bật những yếu tố Baroque. Ở cả mặt bên lẫn mặt chính giữa, các trang trí cầu kỳ, các thanh đỡ uốn lượn, các cửa sổ hình chữ nhật hay cuốn vòm, tất cả đều giàu tính điêu khắc và mang nét Baroque nổi trội. Riêng phần mái đón lối vào cho người đi xe hơi ở hai mặt bên lại theo phong cách Art Nouveau. Ở phía trên nhà hát, hệ mái lợp ngói đá đen được tổ chức rất kỳ công với sự kết hợp của nhiều hình thức, đem lại cảm giác về tinh thần Tân cổ điển Pháp. Tất cả những hòa trộn này đưa đến ấn tượng về một công trình kiến trúc Tân cổ điển kiểu chiết trung với những giá trị không chỉ về mặt kiến trúc mà còn về nghệ thuật trang trí. Bao quanh có khá nhiều điểm vui chơi giải trí: vườn hoa nhà hát lớn chếch phía nam tây nam, cà phê Highland ngay sát sườn và quán Nineteen11 (lấy tên theo năm nhà hát khánh thành) nằm ở tầng hầm.. Khoảng sân trước mặt nhà hát lớn và đoạn vườn về phía nam nối với khách sạn Hilton là một địa điểm lý tưởng của các đôi cô dâu chú rể đến chụp ảnh đám cưới và kỷ niệm. Xa xa về phía đông bắc là viện bảo tàng cách mạng Việt Nam và Bảo tàng Lịch sử Việt Nam (Viện Viễn Đông Bác cổ ngày xưa). Phía bắc của quảng trường Cách mạng tháng Tám là một loạt các khu trung tâm thương mại, văn phòng cao cấp của các cơ quan quốc tế như đại sứ quán New Zealand, Câu lạc bộ Báo chí Hà Nội == Hoạt động == Kể từ khi hoàn thành sau đợt trùng tu từ năm 1995 đến năm 1997, Nhà hát Lớn Hà Nội tiếp tục vai trò trong quá khứ, là nơi diễn ra thường xuyên các hoạt động văn hóa, biểu diễn nghệ thuật của các đoàn nghệ thuật Việt Nam và nước ngoài. Ban quản lý Nhà hát Lớn Hà Nội, với tên giao dịch quốc tế Hanoi Opera House, được thành lập ngày 17 tháng 9 năm 1997 theo quyết định thành lập số 765 của Thủ tướng Chính phủ, có chức năng và nhiệm vụ: Tổ chức các hoạt động văn hóa, nghệ thuật phục vụ nhiệm vụ chính trị, xã hội quan trọng của Đảng và Nhà nước. Tổ chức các hoạt động văn hóa, nghệ thuật, hội nghị, hội thảo, họp báo chiêu đãi quốc gia và quốc tế theo kế hoạch của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch. Tổ chức các hoạt động văn hóa nghệ thuật chất lượng cao phù hợp với chức năng, nhiệm vụ. Quan hệ và hợp tác với các tổ chức trong nước và quốc tế có liên quan để trao đổi nghiệp vụ và tổ chức các hoạt động văn hóa nghệ thuật theo sự phân công của Bộ và theo quy định của pháp luật. Tổ chức các hoạt động dịch vụ phù hợp với chức năng và nhiệm vụ của Nhà hát Lớn Hà Nội và theo quy định của pháp luật. Với danh tiếng, vẻ đẹp kiến trúc, vị trí ở trung tâm thành phố và giá cho thuê thấp so với các địa điểm khác vì được Nhà nước bao cấp một phần, Nhà hát Lớn là một địa điểm biểu diễn lý tưởng ở Hà Nội. Từ con số chỉ 17 buổi diễn vào năm 2000, đến đầu thập niên 2010, Nhà hát Lớn Hà Nội thực hiện trung bình 400 buổi biểu diễn mỗi năm, đón hơn 140 đoàn nghệ thuật quốc tế. Giá thuê nhà hát được áp dụng theo "Quy định về mức thu trong khai thác sử dụng Nhà hát Lớn Hà Nội" của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, trong đó ưu tiên các buổi trình diễn nghệ thuật dân gian và âm nhạc truyền thống. Bên cạnh các hoạt động nghệ thuật, Nhà nước cũng như nhiều tổ chức, doanh nghiệp thuê nhà hát để tổ chức các sự kiện, hội họp hay những cuộc gặp gỡ quan trọng. == Tham khảo == Nguyễn Thụy Kha: Nhà hát Lớn Hà Nội - vẻ đẹp tròn thế kỷ, Nhà xuất bản Hội Nhà văn, 2011 == Liên kết ngoài == Trang chính thức của Nhà hát Lớn Hà Nội. 19 bức ảnh về nhà hát của ông Chaplain Phillippe, chủ tịch Liên đoàn Di sản Quốc gia Pháp
carlos moyà.txt
Carlos Moyá Llompart (sinh ngày 27 tháng 8 năm 1976) là vận động viên quần vợt chuyên nghiệp đã giải nghệ người Tây Ban Nha.Anh là tay vợt cựu số 1 thế giới. == Cuộc đời == Moya sinh ra ở Palma, Mallorca, Tây Ban Nha. Anh bắt đầu chơi quần vợt năm 6 tuổi với bố mẹ của mình.Anh bắt đầu sự nghiệp quần vợt của mình năm 1995 và giành danh hiệu đầu tiên tại Buenos Aires, Argentina. Anh từng có quãng thời gian tình cảm với tay vợt người Ý Flavia Pennetta. Hiện giờ anh đã kết hôn với nữ diễn viên người Tây Ban Nha Carolina Cerezuela và có 3 đứa con gồm 2 con gái và 1 con trai. == Sự nghiệp quần vợt == Moya là 1 chuyên gia sân đất nện.Anh từng 2 lần lọt vào các trận chung kết Grand Slam và một trong số đó là chức vô địch Roland Garros năm 1998 sau khi đánh bại tay vợt người đồng hương Alex Corretja. == Chung kết Major == === Chung kết Grand Slam === ==== Đơn: 2 (1–1) ==== === Chung kết Masters Series === ==== Đơn: 6 (3–3) ==== == Chung kết sự nghiệp == === Đơn: 44 (20–24) === == Chức vô địch đồng đội == 2004 – Davis Cup vô địch với đội tuyển Tây Ban Nha == Tham khảo ==
rafael nadal.txt
Rafael "Rafa" Nadal Parera (IPA: [rafa'el na'ðal], sinh ngày 3 tháng 6 năm 1986 tại Manacor, Majorca) là một vận động viên quần vợt chuyên nghiệp người Tây Ban Nha, hiện đang giữ vị trí số 5 thế giới. Nadal được xem như một trong những vận động viên tennis xuất sắc nhất mọi thời đại. Hiện tại thì anh đã giành được 14 Grand Slam ở nội dung đánh đơn (trong đó Rafa đã 11 lần tham dự Roland Garros và 9 lần đăng quang, nhiều hơn tất cả các tay vợt khác về số danh hiệu giành được tại một giải Grand Slam), huy chương vàng đơn nam tại Olympic 2008, một thành tích kỷ lục là 27 chức vô địch ATP World Tour Masters 1000, 4 chức vô địch Davis Cup cùng đội tuyển Tây Ban Nha vào các năm 2004, 2008, 2009, 2011, cùng một số danh hiệu khác. Sau chức vộ địch Mỹ Mở rộng 2010, Nadal đã trở thành tay vợt thứ 7 trong lịch sử hoàn tất Grand Slam sự nghiệp, và nếu là người trẻ nhất trong Kỷ nguyên Mở rộng làm được điều này. Anh cũng là tay vợt nam thứ hai sau Andre Agassi hoàn tất được Grand Slam Vàng sự nghiệp (vô địch cả 4 Grand Slam và giành huy chương vàng Olympic). Những thành công trên mặt sân đất nện đã mang đến cho Nadal danh hiệu "Vua đất nện", và anh được nhiều chuyên gia đánh giá là tay vợt chơi sân đất nện hay nhất mọi thời đại. Nadal có một thành tích kỷ lục là 9 chức vô địch ở giải Pháp Mở rộng (Roland Garros) từ 2005-2008 và 2010-2014 (trong 11 lần tham dự, anh chỉ thua hai trận vào năm 2009 và năm 2015). Với thành tích này thì anh cũng là người có nhiều lần vô địch một Grand Slam nhất trong lịch sử (hơn Pete Sampras với 7 lần vô địch Wimbledon). Với chức vô địch Monte Carlo 2012 thì Nadal là tay vợt duy nhất trong lịch sử vô địch một giải đấu thuộc ATP 8 năm liên tiếp. Anh đang giữ kỉ lục có chuỗi trận thắng dài nhất trên sân đất nện trong kỉ nguyên mở rộng của quần vợt với 81 chiến thắng (từ tháng 4 năm 2005 đến tháng 5 năm 2007). Nadal giữ một kỷ lục là đã có 160 tuần xếp thứ 2 sau Federer trên bảng xếp hạng ATP trước khi giành lấy vị trí số 1 từ ngày 18 tháng 8 năm 2008 đến 5 tháng 7 năm 2009. Sau đó anh đã lấy lại vị trí số 1 thế giới vào ngày 7 tháng 6 năm 2010 và giữ cho đến ngày 3 tháng 7 năm 2011. Nadal cũng là tay vợt duy nhất sau Rod Laver giành được 3 danh hiệu Grand Slam liên tục trong cùng một năm (Pháp Mở rộng, Wimbledon và Mỹ Mở rộng 2010). Năm 2008, Nadal nhận giải thưởng thể thao Prince of Asturias vì những thành tích của mình. Vào ngày 21/11 năm 2010, ở London, Nadal lần đầu tiên giành giải thưởng Stefan Edberg Sportsmanship. Ngày 7/2/2011, Nadal vinh dự được nhận giải thưởng Laureus World Sportsman of the Year lần đầu tiên trong sự nghiệp. == Thời niên thiếu == Nadal sinh ra tại Manacor, Mallorca, có cha là Sebastian và mẹ là Ana Maria; anh có một cô em gái tên Maria Isabel. Cha anh làm chủ một nhà hàng và một xưởng làm kính. Mẹ anh là một bà nội trợ. Người chú Miguel Ángel Nadal là một cầu thủ bóng đá đã nghỉ hưu, từng chơi cho đội RCD Mallorca, FC Barcelona và đội tuyển bóng đá quốc gia Tây Ban Nha. Cho đến giờ, Nadal vẫn là một cổ động viên cho đội RCD Mallorca và Real Madrid. Một người chú khác, Toni Nadal, đã dạy anh bài học quần vợt đầu tiên khi anh được 3 tuổi. Cho tới giờ thì ông vẫn là HLV của Nadal và luôn sát cánh cùng anh trong mọi giải đấu. Mặc dù chơi tay trái, Nadal bẩm sinh là người thuận tay phải. Khi còn nhỏ, Toni Nadal thấy rằng những cú revers hai tay sẽ được hưởng nhiều lợi ích từ một cánh tay phải mạnh mẽ, vì vậy ông đã dạy cho Nadal chơi bằng tay trái. Khi Nadal 12 tuổi, anh giành chiến thắng ở giải quần vợt U12 trong vùng và cũng là một cầu thủ bóng đá triển vọng. Cha Nadal muốn anh chọn lựa dứt khoát giữa quần vợt và bóng đá, và cuối cùng anh đã quyết định theo đuổi sự nghiệp quần vợt. Khi Nadal được 14 tuổi, liên đoàn tennis Tây Ban Nha muốn anh chuyển tới Barcelona để thuận tiện hơn cho việc tập luyện, nhưng gia đình Nadal đã khước từ lời đề nghị này, như Toni Nadal đã nói "Tôi không muốn tin là bạn phải tới Mỹ, hay nơi nào đó, để trở thành một vận động viên giỏi. Bạn có thể làm được điều đó ngay tại quê nhà." Sự lựa chọn này cũng có nghĩa là Nadal sẽ nhận được ít hỗ trợ tài chính hơn. Tháng 5/2001, khi Nadal được 14 tuổi, anh được thi đấu một trận giao hữu trân sân đất nện với tay vợt nổi tiếng Pat Cash. Ban đầu Cash được xếp lịch chơi với Boris Becker, nhưng đã phải miễn cưỡng đấu với Nadal. Cash để thua sát nút trận đấu này. Nadal có một số thành tích đáng khâm phục từ khi còn thi đấu ở các giải trẻ. Năm 16 tuổi, anh vào tới bán kết giải trẻ Wimbledon và cùng đội tuyển Tây Ban Nha giành chiến thắng tại giải trẻ Davis Cup. Ở tuổi 17, anh đã lọt vào top 50 thế giới. Vào năm 2003, Nadal giành giải Tay vợt triển vọng trong năm của ATP. Hình ảnh cắn cúp, sau này trở này một nét đặc trưng của Nadal, cũng đã được bắt đầu từ khi anh còn rất trẻ. == Sự nghiệp quần vợt == === 2002-2004 === Năm 2002, Nadal, 15 tuổi và xếp hạng 762 thế giới, thắng trận đấu ATP đầu tiên của mình, đánh bại Ramon Delgado tại Mallorca để trở thành tay vợt thứ 9 trong kỷ nguyên mở rộng thắng một trận đấu ATP trước sinh nhật lần thứ 16 của mình. Năm 2003, Nadal trở thành tay vợt trẻ thứ hai trong lịch sử lọt vào bảng xếp hạng Top 100. Anh kết thúc năm 2003 ở hạng 49, giành hai danh hiệu Challenger. Tại Wimbledon đầu tiên của mình, khi 17 tuổi, Nadal đã trở thành tay vợt trẻ nhất lọt vào vòng 3 giải này kể từ năm 1984 với Boris Becker lúc 16 tuổi. Năm 2004, Nadal lần đầu tiên đụng độ Federer tại Miami Masters 2004, từ đó bắt đầu một cuộc đối đầu giữa hai kỳ phùng địch thủ mà sau này được các nhà bình luận xem là cuộc đối đầu vĩ đại nhất trong lịch sử quần vợt thế giới. Ở thời điểm diễn ra trận đấu này, Federer đã là tay vợt số 1 thế giới trong khi Nadal vẫn chỉ ở dạng tiềm năng. Thế nhưng Nadal đã gây bất ngờ lớn khi giành chiến thắng, và là một trong 6 tay vợt đánh bại được Federer trong năm đó (cùng Tim Henman, Albert Costa, Gustavo Kuerten, Dominik Hrbatý và Tomáš Berdych). Tuy nhiên đáng tiếc là sau đó anh lại bỏ lỡ hầu hết mùa giải sân đất nện vì chấn thương. Cũng trong năm này, Nadal trở thành tay vợt trẻ nhất trong lịch sử giành chiến thắng trong một trận đánh đơn tại chung kết Davis Cup. Anh đã đánh bại tay vợt số 2 thế giới là Andy Roddick để mang về chức vô địch cho đội tuyển Tây Ban Nha. Cuối mùa giải này, anh xếp thứ 51 thế giới. === 2005 === Đây là một năm đánh dấu sự tiến bộ vượt bậc của Nadal. Tại Úc Mở Rộng, anh vào đến vòng 4 và buộc Lleyton Hewitt, á quân lần đó, đấu với mình những 5 ván. Hai tháng sau, anh vào đến trận chung kết Miami Masters - mặc dù chỉ thiếu 2 điểm nữa là đoạt chức vô địch – nhưng đó là thất bại trong 5 ván với tay vợt số 1 thế giới Roger Federer. Tiếp đó, Nadal thống trị mùa giải đất nện. Tay vợt người Tây Ban Nha đã giành 24 trận thắng liên tiếp trên sân đất nện và đó là chuỗi trận thắng dài nhất của một tay vợt tuổi "teen", trên cả 23 trận của Andre Agassi năm 1988. Anh giành chiến thắng tại 2 sự kiện ATP Master Series của năm là Monte Carlo và Rome (đều đánh bại Guillermo Coria trong trận chung kết). Với thành tích này, vào tháng 5/2005, Nadal lọt vào top 5 tay vợt hàng đầu và được nhiều người đánh giá cao trước khi bước vào Roland Garros. Nadal tham dự giải Pháp Mở rộng, một trong những giải anh yêu thích nhất, lần đầu tiên trong đời. Anh đã đánh bại Sebastien Grosjean và Richard Gasquet, hai niềm hi vọng của người Pháp. Vào ngày sinh nhật thứ 19 của mình, anh đánh bại Roger Federer trong trận bán kết, ngăn không cho tay vợt người Thụy Sĩ giành giải Grand Slam này. Hai ngày sau, anh trở thành nhà vô địch Pháp Mở rộng trẻ thứ 4 trong lịch sử sau khi thắng Mariano Puerta trong trận chung kết, trở thành tay vợt thứ hai sau Mats Wilander giành thắng lợi tại đây ngay từ lần tham gia đầu tiên. Nadal là tay vợt vị thành niên đầu tiên thắng một Grand Slam từ năm 1990 khi Pete Sampras thắng giải Mỹ Mở rộng, và cũng là tay vợt vị thành niên đầu tiên có ít nhất 6 danh hiệu, kể từ khi Andre Agassi làm được điều này vào năm 1988, lúc 18 tuổi. Ba ngày sau khi đăng quang, chuỗi bất bại của anh bị chặn đứng khi để thua tay vợt Đức Alexander Waske tại vòng 1 giải Halle ở Đức (sân cỏ). Anh lại một lần nữa phải thất vọng khi dừng bước tại vòng 2 giải Wimbledon, để thua Gilles Muller đến từ Luxembourg. Nadal khởi đầu mùa giải trên mặt sân cứng bằng việc đánh bại Andre Agassi tại chung kết Canada Masters. Sau đó anh được xếp hạt giống ở Mỹ Mở rộng, nhưng đã để thua James Blake trong 4 ván tại vòng 3. Sau đó, anh còn giành thêm 2 danh hiệu trên mặt sân đất nện. Tháng 9, anh đánh bại Guillermo Coria tại giải Trung Quốc Mở rộng. Tháng 10, anh giành Madrid Masters sau khi đánh bại Ivan Ljubičić. Sau đó, Nadal bị chấn thương bàn chân nên không tham dự được giải Tennis Masters Cup vào cuối năm và kéo sang đầu 2006, khiến anh phải bỏ luôn giải Úc Mở rộng. Tổng kết, anh giành được 11 danh hiệu ATP (trong đó có 4 Master Series), bằng tay vợt số 1 Roger Federer. Anh cũng giành 79 trận thắng, chỉ xếp sau 81 trận của Roger Federer. 8 danh hiệu của Nadal là trên mặt sân đất nện, còn lại là trên sân cứng. Nadal vươn lên thành tay vợt số 2 thế giới, và đương nhiên, giành giải Tay vợt tiến bộ nhất năm của ATP. === 2006 === Nadal bỏ lỡ giải Úc Mở rộng vì chấn thương chân. Tới tháng 2, anh để thua tại bán kết giải Open 13 ở Marseille. Sự ganh đua dữ dội giữa Nadal và Roger Federer tiếp tục ở năm 2006. Tháng 3, Nadal cho Federer nếm mùi thất bại đầu tiên trong năm tại chung kết giải Dubai (2-6, 6-4, 6-4). Nhưng ở các giải còn lại của mùa giải sân cứng mùa xuân thì anh không có thêm danh hiệu nào. Ở mùa giải đất nện, Nadal giành chức vô địch ở tất cả các giải mà anh tham dự với thành tích 24 trận toàn thắng. Nadal đánh bại Federer thêm một lần nữa tại Monte Carlo Masters với tỉ số 6-2, 6-7, 6-3, 7-6. Tuần sau đó, anh hạ Tommy Robredo để giành giải ở Barcelona. Tiếp theo, Federer và Nadal lại chạm trán tại trận chung kết Rome Masters trên sân đất nện trong một trận đấu 5 set với phần thắng nghiêng về Nadal 6-7, 7-6, 6-4, 6-2, 7-6. Sau danh hiệu này thì anh đã cân bằng được thành tích của Björn Borg: vô địch 16 giải ATP khi vẫn còn là thiếu niên. Chiến thắng tại vòng 1 ở Pháp Mở rộng, Nadal đã phá được kỷ lục 53 trận thắng liên tiếp trên mặt sân đất nện của huyền thoại người Argentina là Guillermo Vilas. Với thắng lợi này, Nadal được trao một chiếc cúp mang hình dáng của một sân đấu đất nện. Villas là người trao cúp cho Nadal, mặc dù anh không thừa nhận kỳ tích của Nadal là ấn tượng hơn của mình vì cho rằng thành tích của Nadal trải dài trên 2 năm và gồm cả nhiều trận ở các giải dễ dàng. Trận chung kết Pháp Mở rộng được háo hức mong chờ, diễn ra giữa Federer số 1 và Nadal số 2 thế giới. Đối với Federer, đây là danh hiệu còn thiếu duy nhất để anh hoàn thành Career Grand Slam. Còn với Nadal, là việc anh phải bảo vệ chức vô địch của mình, đồng thời duy trì ưu thế chạm trán giữa anh và Federer. Nadal dẫn 2-1 và rồi nắm quyền giao bóng để kết thúc trận đấu trong set 4. Nhưng rồi Federer bẻ được game đó và kéo trận đấu vào loạt tie-break. Nadal giành chiến thắng trong loạt tie-break và trở thành người đầu tiên đánh bại Federer tại một trận chung kết Grand Slam. Trong bài phát biểu sau trận đấu, anh đã ca ngợi màn trình diễn của Federer, nhưng bị thông dịch sang tiếng Pháp nhầm, và mọi người tưởng rằng anh đang ca ngợi bản thân mình. Vì vậy trong suốt phần còn lại của bài phát biểu, anh bị đám đông huýt sáo chế giễu. Ở mùa giải sân cỏ, Nadal thất bại trước Lleyton Hewitt tại giải đấu ở Queen's Club nhằm chuẩn bị cho Wimbledon. Tại Wimbledon, Nadal vượt qua huyền thoại Andre Agassi ở vòng 3, đó cũng là trận cuối cùng của Agassi ở Wimbledon. Nadal không để mất set nào trong 3 trận tiếp đó để tiến vào chung kết gặp Federer, người đã 3 năm liên tiếp vô địch. Anh là người Tây Ban Nha đầu tiên từ sau Manuel Santana vào năm 1966 lọt vào tới chung kết Wimbledon, nhưng Federer cuối cùng đã giành chiến thắng trong 4 set 6–0, 7–6(5), 6(2)–7, 6–3 để lần thứ 4 liên tiếp đăng quang. Quay trở lại với sân cứng để chuẩn bị cho US Open, Nadal đã tham gia hai giải Masters Series là Rogers Cup ở Toronto và Western & Southern Financial Group Masters ở Cincinnati, Ohio, nhưng đều bị loại khá sớm. Ở giải Mỹ Mở rộng, Nadal được xếp hạt giống số 2, nhưng cuối cùng bị loại ở tứ kết dưới tay Mikhail Youzhny sau 4 set. Nadal chỉ chơi thêm 3 giải nữa trong phần còn lại của năm. Ở Stockholm Open, anh gây sốc khi bị tay vợt hạng 690 thế giới là Joachim Johansson loại ở vòng 2. Tuần sau đó, Nadal thua Tomáš Berdych ở tứ kết giải Mutua Madrileña Masters ở Madrid. Lần đầu tiên đánh ở giải đấu tổng kết năm dành cho 8 tay vợt xuất sắc nhất (lúc đó gọi là Tennis Masters Cup), trong vòng bảng, Nadal thua James Blake nhưng thắng Nikolay Davydenko và Robredo để lọt vào bán kết. Tại đây anh để thua Federer 6–4, 7–5. Nadal là tay vợt đầu tiên kể từ Andre Agassi vào các mùa 1994-1995 kết thúc mùa giải ở vị trí thứ 2 hai lần liên tiếp. === 2007 === Nadal mở đầu năm 2007 bằng việc lọt đến bán kết giải Chennai Open, Ấn Độ. Tiếp sau đó, tại giải Sydney, anh đã bỏ cuộc trong trận đấu đầu tiên do chấn thương háng. Tại giải Úc Mở rộng, Nadal đánh bại Andy Murray, lọt đến vòng tứ kết, nhưng lại thua Fernado Gonzalez, á quân của giải. Sau Úc Mở rộng, Nadal tham gia thêm 3 giải sân cứng nữa. Anh vô địch ở Indian Wells Masters và bị loại ở tứ kết hai giải Dubai và Miami Masters. Trở lại mặt sân đất nện, Nadal đánh bại Roger Federer trong trận chung kết giải Monte Carlo Masters 6-4, 6-4. Đây là lần thứ 3 liên tiếp anh vô địch giải này, lần đầu tiên kể từ Illie Năstase vào năm 1971-1973. Nadal tiếp tục cú hat-trick khi thắng giải Open Seat ở Barcelona và giải Rome Masters. Đến Hamburg Masters, anh đã để thua Roger Federer 2-6, 6-2, 6-0. Trận thua này chấm dứt chuỗi 81 trận bất bại trên mặt sân đất nện của anh. Thành tích này là chuỗi trận bất bại dài nhất trên một mặt sân của một tay vợt nam trong kỷ nguyên mở rộng. Tuy vậy, Nadal nhanh chóng trở lại ở Pháp Mở rộng và vượt qua chính Roger Federer trong trận chung kết để giành danh hiệu này lần thứ 3 liên tiếp. Với chiến thắng này, anh trở thành tay vợt đầu tiên giành 3 chức vô địch giải Pháp Mở rộng trong 3 năm liên tiếp kể từ sau Bjorn Borg (1978-1981). Để chuẩn bị cho Wimbledon, anh đến thi đấu tại Queen’s Club và để thua Nicolas Mahut trong trận tứ kết. Tại Wimbledon, anh lần thứ hai trong đời lọt vào đến chung kết và lại tái đấu với Federer. Trên con đường đến chung kết, anh đã vượt qua Robin Soderling 6-4, 6-4, 6(7)-7, 4-6, 7-5 ở vòng 3 (trận đấu bị hoãn đi hoãn lại tới vài ngày vì trời mưa), Mikhail Youhzny 4-6, 3-6, 6-2, 6-2, 6-2 ở vòng 4, Tomáš Berdych 7-6(1), 6-4, 6-2 ở tứ kết, Novak Djokovic (bỏ cuộc) ở bán kết. Ở chung kết, Nadal để thua ván đầu 7-6(7), thắng ván hai 4-6. Sau đó, lại để thua trong loạt tie-break ở ván ba 7-6(3). Lúc đang dẫn trước 4-1 ở ván 4, anh đã phải rời khỏi sân một lúc để băng đầu gối, nhưng vẫn thắng ván này 6-2. Sang ván 5, ván quyết định, anh để thua 6-2. Sau trận đấu này, tỉ số những lần đối đầu giữa Federer và Nadal đã là 5-8. Trên mặt sân đất nện, Nadal thắng 6 thua 1; sân cứng là 2-2; sân cỏ thua 2 trận và không thắng trận nào. Tháng 7, Nadal giành thêm một danh hiệu đất nện nữa ở Mercedes Cup (Stuttgart), và đó cũng là danh hiệu cuối cùng của anh trong năm. Mùa giải sân cứng ở Bắc Mỹ của anh diễn ra không thật sự ấn tượng. Nadal bị loại ở bán kết Rogers Cup và vòng 1 Western & Southern Financial Group Masters (hai giải chuẩn bị cho giải Mỹ Mở rộng). Ở Mỹ Mở rộng, Nadal bị loại sớm khi thua người đồng hương David Ferrer ở vòng 4. Sau một tháng nghỉ ngơi, Nadal tiếp tục ghi tên tham dự các giải Mutua Madrileña Masters ở Madrid và BNP Paribas Masters ở Paris, nhưng cả hai lần đều bị đánh bại bởi David Nalbandian ở tứ kết và chung kết. Ở giải đấu 8 tay vợt cuối năm, Nadal lọt vào bán kết nhưng thua khá chóng vành trước Federer 6–4, 6–1 Chấn thương trong trận chung kết Wimbledon đã hành hạ Nadal trong nửa cuối mùa giải. Có những tin đồn đó là do chấn thương chân vào năm 2005 đã gây nên những hậu quả kéo dài. Tuy nhiên sau đó Nadal đã bác bỏ thông tin này. Anh lần thứ 3 liên tiếp kết thúc năm với vị trí số 2 thế giới. ==== Trận đấu trên các mặt sân ==== Vào ngày 2 tháng 5 năm 2007, một trận đấu biểu diễn được tổ chức giữa hai tay vợt số 1 và số 2 thế giới tại đảo Majorca, trên một mặt sân độc nhất vô nhị: nửa sân là cỏ và nửa sân là đất nện. Sân thi đấu đặc biệt này tiêu tốn 1,63 triệu bảng và 19 ngày để xây dựng. Ở thời điểm đó, Federer là bá chủ trên mặt sân cỏ với 48 trận toàn thắng còn Nadal là vua sân đất nện với 72 trận toàn thắng. Nadal cuối cùng giành chiến thắng 7–5, 4–6, 7–6 (12–10). Trong trận đấu, Federer giành được số điểm bằng nhau ở cả hai mặt sân, Nadal thì giành ít hơn Federer 7 điểm trên sân cỏ nhưng nhiều hơn 12 điểm trên sân đất nện. === 2008 === Mùa giải 2008 đánh dấu bước nhảy vọt của Nadal. Từ chỗ bị đánh giá là một tay vợt chỉ mạnh ở mặt sân đất nện, Nadal đã vươn lên để gặt hái được thành công ở mặt sân cỏ, vốn được xem là lãnh địa tuyệt đối của Federer nhiều năm qua. Qua đó anh cũng đã lần đầu tiên lật đổ được Federer để giành lấy ngôi vị số 1 thế giới. Nadal đã khởi đầu mùa giải bằng việc tham dự giải Chennai mở rộng với tư cách là hạt giống số 1. Ở bán kết, anh đã loại người đồng hương Carlos Moya trong 3 giờ 54 phút với tỉ số là 6-7(3), 7-6(8), 7-6(1). Trận đấu này đã san bằng kỉ lục cho một trận đấu 3 set dài nhất trong lịch sử các giải đấu ATP mà trước đây được giữ bởi Andrei Chersakov và Andrea Gaudenzi. Trong trận chung kết, anh đã thất bại trước Mikhail Youzhny 6-0, 6-1. Tại Úc mở rộng, Nadal đã đánh bại Jarkko Nieminen trong trận tứ kết và qua đó lọt vào bán kết lần đầu tiên trong sự nghiệp. Anh đã thất bại trước đối thủ không được xếp hạt giống Jo-Wilfried Tsonga 6-2, 6-3, 6-2, mặc dù đã không để thua một set nào trong năm trận trước đó. Sau đó, Nadal vào tới chung kết giải Miami Masters (thua Nikolay Davydenko). Tại giải Rotterdam, Nadal đã để thua Andreas Seppi với tỉ số 3-6, 6-3, 6-4 ở vòng hai. Tại giải Dubai Tennis Championships, Nadal đã vào được tứ kết, và đã thua Andy Roddick 7-6, 6-2, tay vợt sau đó đã giành chức vô địch. Tại giải Pacific Life Open, Nadal, người đang bảo vệ chức vô địch của mình, đã bị Novak Djokovic đánh bại trong trận bán kết 6-2, 6-3, sau khi đã vượt qua được Jo-Wilfried Tsonga và James Blake, đều cùng với ba set. Tuần tiếp theo, tại giải Sony Ericsson Open, Nadal đã thất bại trước Nikolay Davydenko trong trận chung kết, 6-4, 6-2. Ở mùa giải sân đất nện, Nadal khởi đầu bằng chức vô địch tại giải Monte Carlo Masters lần thứ tư liên tiếp, khi đánh bại Roger Federer, 7-5, 7-5. Cùng với giải đơn, anh cũng đã vô địch giải đôi cùng với người bạn đồng hương Tommy Robredo, 6-3, 6-3, 6-2. Qua đó, anh cũng là người thứ hai trong lịch sử đã vô địch cả nội dung đơn lẫn đôi trong một giải đấu Masters Series, người còn lại là Jim Courier tại giải Indian Wells năm 1991. Sau đó anh tiếp tục đà thắng lợi bằng chức vô địch một tuần sau đó, tại giải Barcelona, cũng là lần thứ tư liên tiếp. Tại giải Hamburg Masters, Nadal đã đánh bại Novak Djokovic 7-5, 2-6, 6-2 trong một trận đấu kéo dài hơn ba tiếng đồng hồ. Vào ngày 18 tháng 5, Nadal đã giành chức vô địch giải đấu này khi đánh bại Roger Federer 7-5, 6-7, 6-3, sau khi đã bị dẫn trước 5-1 ở set thứ nhất. Anh trở thành người thứ ba trong lịch sử giành được cả ba danh hiệu Masters Series trên sân đất nện: Monte Carlo, Hamburg, và Rome. Hai người còn lại là Gustavo Kuerten và Marcelo Rios. Ở giải Pháp Mở rộng, Nadal lần lượt đánh bại Thomas Bellucci 7-5, 6-3, 6-1; Nicolas Devilder 6-4, 6-0, 6-1; Jarkko Nieminen 6-1, 6-3, 6-1. Sau đó anh đã lần lượt đánh bại hai tay vợt người đồng hương trong trận vòng 4 và tứ kết: Fernando Verdasco 6-1, 6-0, 6-2 và Nicolas Almagro 6-1, 6-1, 6-1. Anh mới chỉ thua 25 game cho đến thời điểm này, số game thấp nhất, tính đến trận tứ kết, trong một giải Grand Slam kể từ Kỉ nguyên Mở rộng, trung bình 5 game một trận. Ở trận bán kết, Nadal đã có được chiến thắng trước Novak Djokovic, 6-4, 6-2, 7-6(3), để giành quyền vào chung kết và gặp lại Roger Federer. Anh là người thứ 3 trong lịch sử (sau Bjorn Borg và Ivan Lendl) có mặt trong trận chung kết giải Pháp Mở rộng 4 lần liên tiếp. Nadal lần này giành chiến thắng khá dễ dàng trước Federer với tỉ số 6-1, 6-3, 6-0, qua đó san bằng kỉ lục của Bjorn Borg với 4 lần liên tiếp vô địch giải đấu này. Chung kết Pháp Mở rộng 2008 là trận đấu chênh lệch nhất giữa Federer và Nadal, với lần đầu tiên Federer phải nếm mùi một set trắng kể từ năm 1999. Nadal cũng là người thứ 5 vô địch một giải Grand Slam mà không để thua một set nào, sau Bjorn Borg, Ken Rosewall, Ilie Nastase, và Roger Federer. Mới chỉ có ba người khác đã từng vô địch một giải Grand Slam bốn lần liên tiếp trong Kỉ nguyên Mở rộng: Borg (Pháp mở rộng 1978-81 và Wimbledon 1976-80), Pete Sampras (Wimbledon 1997-2000); và Federer (Wimbledon 2003-2007 và US Open 2004-2008). Bắt đầu mùa giải sân cỏ ngắn ngủi, Nadal đã giành chức vô địch giải Queen's Club Championships, một giải đấu khởi động cho Wimbledon, sau khi giành chiến thắng trước Novak Djokovic 7-6(6), 7-5. Anh là người Tây Ban Nha đầu tiên vô địch Queen's Club, và là người thứ hai, sau Ilie Nastase, đã vô địch giải Pháp Mở rộng cùng với giải đấu này. Sau đó, Nadal bắt đầu chiến dịch chinh phục giải đấu danh giá Wimbledon. Anh lần lượt vượt qua các đối thủ Andreas Beck 6-4, 6-4, 7-6(0); Ernests Gulbis 5-7, 6-2, 7-6(2), 6-3; Nicolas Kiefer 7-6(3), 6-2, 6-3. Đối thủ ở vòng 4 của anh là Mikhail Youzhny, người đã từng giành chiến thắng trước Nadal tại giải Chennai mở rộng. Tuy nhiên, lần này Nadal đã giành chiến thắng 6-3, 6-3, 6-1. Trong trận tứ kết, Nadal đối mặt với tay vợt số 1 nước Anh Andy Murray, và giành chiến thắng 6-3, 6-2, 6-4. Sau khi đánh bại tay vợt không được xếp hạt giống Rainer Schuettler 6-1, 7-6, 6-4, Nadal một lần nữa gặp tay vợt số một thế giới Roger Federer trong trận chung kết. Khác với hai lần trước, có một số nhà phân tích cho rằng lần này Nadal sẽ thắng. Cả hai chơi một trận chung kết tuyệt vời và cũng là trận chung kết dài nhất trong lịch sử Wimbledon (tính theo thời gian), kết thúc khi trời đã gần tối. Cuối cùng thì lần đầu tiên Nadal đã đánh bại được Federer trên mặt sân cỏ, 6-4, 6-4, 6-7(5), 6-7(8), 9-7 và giành được chức vô địch Wimbledon đầu tiên trong sự nghiệp. Qua đó anh cũng đã chấm dứt chuỗi 65 trận bất bại trên sân cỏ của Federer. Nadal trở thành người thứ hai (sau Bjorn Borg) giành được chức vô địch ở cả Wimbledon lẫn Pháp Mở rộng chỉ trong vòng một năm. Có những ý kiến cho rằng trận chung kết tuyệt vời giữa Nadal và Federer ngày hôm đó là trận tennis hay nhất trong lịch sử. Nadal sau đó vô địch giải Toronto Masters (Rogers Cup) và vào tới bán kết giải Cincinnati Masters. Djokovic là người chấm dứt chuỗi bất bại dài nhất của anh trên mọi mặt sân (32 trận). Vào ngày 18 tháng 8, Nadal chính thức vượt qua Federer để lần đầu tiên vươn tới ngôi vị số 1 thế giới. Anh trở thành người Tây Ban Nha thứ 3 từng giữ vị trí số 1 thế giới, cùng với Carlos Moya (1999) và Juan Carlos Ferrero (2003). Tiếp nối những thành công, ở Olympic Bắc Kinh 2008, Nadal vượt qua Novak Djokovic của Serbia và Fernando González của Chile để giành huy chương vàng nội dung tennis đơn nam. Anh lần đầu tiên được xếp hạt giống số một trong một giải Grand Slam ở Mỹ Mở rộng 2008. Tại đây, Nadal đã bị Andy Murray đánh bại tại bán kết. Sau đó, mặc dù Nadal chỉ vào tới bán kết tại giải Master ở Madrid nhưng điều này cũng đủ giúp anh đảm bảo vị trí số 1 khi kết thúc năm. Hai tuần sau đó, anh vào tới tứ kết giải Master ở Paris và bỏ cuộc trước Nikolay Davydenko vì chấn thương. Sau đó anh tiếp tục bỏ cuộc tại giải đấu cuối năm là Tennis Masters Cup và trận chung kết Davis Cup. === 2009 === Nửa đầu năm 2009 tiếp nối phong độ đỉnh cao của Rafael Nadal, nhưng nửa năm sau đó thì anh phải vật lộn với những chấn thương, cuối cùng mất ngôi số 1 về lại tay Federer. Nadal khởi đầu như mơ với chức vô địch Úc Mở rộng. Ở bán kết, anh giành chiến thắng nghẹt thở và đẹp mắt trước tay vợt đồng hương Fernando Verdasco 6-7(4), 6-4, 7-6(2), 6-7(1), 6-4 (đây là trận đấu dài nhất trong lịch sử Australian Open với 5h14’). Trong trận chung kết Nadal đánh bại Roger Federer sau 5 set với tỉ số các set 7-5, 3-6, 7-6(3), 3-6, 6-2 để lần đầu tiên vô địch Grand Slam trên mặt sân cứng. Sau trận chung kết này thì Federer đã bật khóc trong lễ trao giải và Nadal đã động viên anh. Nadal cũng trở thành người thứ 4 sau Jimmy Connors, Mats Wilander, và Andre Agassi, giành Grand Slam trên cả ba mặt sân (Federer cũng sẽ làm được điều tương tự vài tháng sau đó). Tiếp nối thành công, Nadal giành chức vô địch tại Indian Wells, nơi anh đánh bại Andy Murray 6-1, 6-2 trong trận chung kết. Ở giải Miami Masters, anh đã thua Juan Martín del Potro ở tứ kết. Nadal bắt đầu mùa giải sân đất nện với chức vô địch tại Monte Carlo (chung kết thắng Djokovic 6-3, 2-6, 6-1), qua đó trở thành tay vợt đầu tiên thắng một giải trong khuôn khổ ATP Master Series 5 năm liên tục. Sau đó Nadal thắng giải ATP 500 tại Barcelona (đánh bại Ferrer 6-2, 7-5 trong trận chung kết). Ở Rome Masters, Nadal tiếp tục thắng Djokovic để đăng quang lần thứ 4 tại đây. Những chiến thắng như chẻ tre này đã giúp anh là người đầu tiên có mặt tại ATP World Tour Finals dành cho 8 tay vợt hàng đầu tại các giải ATP trong năm. Tại Madrid, một giải ATP 1000 khởi động cho Pháp mở rộng, trong trận bán kết thì anh và Novak Djokovic đã làm nên trận đấu 3 set dài nhất trong lịch sử, kết thúc với thắng lợi 3-6, 7-6(5), 7-6(9) sau 4h11’. Nhưng cũng từ đây, do lịch thi đấu dày đặc khiến Nadal tái phát chấn thương đầu gối, anh để thua Federer 6-4, 6-4 trong trận chung kết. Lần đầu tiên kể từ năm 2007, Rafael Nadal mới lại để thua Roger Federer. Tại Pháp mở rộng anh bất ngờ để thua tay vợt Robin Söderling 6–2, 6–7 (2), 6–4, 7–6 (2) ngay tại vòng 4. Trận đấu này cũng đã chấm dứt chuỗi trận thắng kỷ lục 31 trận của Nadal ở Pháp Mở rộng, và cũng là lần đầu tiên Nadal phải nếm mùi thất bại tại đây. Với chấn thương ở cả hai đầu gối, Nadal không thể tham dự Wimbledon 2010, qua đó đánh mất vị trí số 1 thế giới về tay Federer. Giải đấu đầu tiên của Nadal khi trở lại sau chấn thương là Rogers Cup (thất bại ở tứ kết trước Juan Martín del Potro). Với thất bại này thì Nadal tiếp tục mất luôn vị trí thứ 2 về tay Andy Murray. Lần đầu tiên kể từ ngày 25 tháng 7 năm 2005, Nadal mới lại lọt ra khỏi Top 2 thế giới. Ở Mỹ Mở rộng 2009, Nadal đã lọt vào đến bán kết trước khi một lần nữa để thua trước Juan Martín del Potro với tỷ số khá cách biệt là 2–6, 2–6, 2–6. Juan Martín del Potro sau đó đánh bại luôn Federer để giành ngôi vô địch. Mặc dù bại trận nhưng Nadal lấy lại được vị trí số 2 thế giới do Murray bị loại từ sớm. Tới tháng 10, anh còn lọt vào chung kết giải Thượng Hải 1000 nhưng lại để thua Nicolay Davydenko 7-6(3), 6-3. Tại ATP World Tour Finals, Nadal đã bị loại ngay từ vòng bảng sau 3 trận thua trước Soderling, Davydenko và Djokovic mà không thắng nổi set nào. Nadal kết thúc năm với vị trí số 2 thế giới. === 2010 === 2010 được xem là một năm hoàng kim trong sự nghiệp thi đấu của Nadal. Anh đã trở lại để giành lấy ngôi vị số 1 thế giới, và đáng chú ý hơn, hoàn tất Career Grand Slam (sưu tập 4 chức vô địch Grand Slam) và Career Golden Slam (4 chức vô địch Grand Slam và HCV Olympic). Nadal đã khởi đầu năm 2010 một cách khá chậm chạp, anh đã để thua Nikolay Davydenko trong trận chung kết giải Qatar mở rộng trước khi bước vào chiến dịch bảo vệ chức vô địch Australian Open. Tuy nhiên Nadal đã bị chặn đứng ở tứ kết khi thất bại trước Andy Murray; khi tỷ số set 3 đang là 3-0 cho Murray thì Nadal phải xin dừng cuộc chơi vì chấn thương. Ngay sau đó anh tiếp tục thất bại tại 2 giải ATP World Tour 1000 tại Indian Wells và Miami, đều ở vòng bán kết (lần lượt trước Ivan Ljubičić và Andy Roddick, sau đó đều trở thành nhà vô địch). Nadal có lúc tụt xuống vị trí thứ 4 trên bảng xếp hạng ATP. Nhưng rồi khi bước vào mùa giải đất nện, Rafa đã trở lại mạnh mẽ, anh chấm dứt 11 tháng không danh hiệu bằng thắng lợi tại Monte Carlo sau khi hạ gục người đồng hương Fernando Verdasco trong trận chung kết với tỷ số 6-0, 6-1; nước mắt đã rơi sau 11 tháng không danh hiệu nối dài với các chấn thương. Nadal trở thành tay vợt đầu tiên vô địch liên tiếp 6 lần trong một giải đấu, điều mà chưa tay vợt nào làm được. Ngay sau chức vô địch lần thứ 6 liên tiếp tại Monte Carlo, Nadal tiếp tục gặt hái thêm thành công khi vô địch giải ATP World Tour 1000 ở Rome sau khi hạ David Ferrer 7-5, 6-2 qua đó cân bằng kỉ lục 17 lần đoạt danh hiệu ATP World Tour 1000 (còn gọi là ATP Master Series) của Andre Agassi. Sau khi vô địch ở Rome, Nadal đã quyết định không tham dự giải quần vợt Barcelona, nơi anh đang có 5 lần liên tiếp vô địch, để tập trung cho Madrid Master và Roland Garros. Nadal bước vào Madrid Master với kì vọng đánh đổ kỉ lục của Agassi và trả món nợ với Federer trong trận chung kết năm 2009, và anh đã làm rất tốt khi hạ chính Federer trong trận chung kết với tỷ số 6-4, 7-6(5). Nadal chính thức trở thành ông vua của các giải Master Series với 18 lần vô địch, hơn Agassi (17 lần) và Federer (16 lần). Với 3 chức vô địch ATP 1000 liên tiếp trên mặt sân đất nện, Nadal hướng tới Pháp Mở rộng với mục tiêu đòi lại chức vô địch từ tay Roger Federer và để khẳng định danh hiệu "Vua đất nện" của mình. Với quyết tâm rất cao Nadal đã đi thẳng một mạch tới trận chung kết và tái ngộ lại Robin Soderling, người đã hạ gục anh tại vòng 4 năm ngoái. Nếu đánh bại Soderling trong trận chung kết, Nadal cũng sẽ chính thức giành lại ngôi vị số 1 của làng banh nỉ từ tay Federer sau khi tay vợt này đã gục ngã trước chính Soderling tại tứ kết. Ngày 6 tháng 6 năm 2010, Nadal đã giành chiến thắng trước Robin Soderling trong trận chung kết với tỷ số 6-4, 6-2, 6-4 để lần thứ 5 đứng lên bục cao nhất tại Roland Garros qua 6 năm. Lần thứ hai sau năm 2008, Nadal lại vô địch Roland Garros mà không thua một set đấu nào (thậm chí là không phải đối mặt với một set point nào). Nadal đã trở lại vị trí số 1 trên bảng xếp hạng của ATP được công bố ngay sau đó, điều này đã ngăn Federer lập kỷ lục mọi thời đại về số tuần giữ ngôi số 1 thế giới (chỉ còn đúng 1 tuần nữa là thiết lập được). Thành tích vô địch 3 giải Master đất nện cộng thêm Pháp Mở rộng của Nadal được các nhà bình luận gọi là "Clay Slam". Nadal trở lại với các sân cỏ sau khi hoàn toàn không chơi trên mặt sân này suốt 1 năm vừa qua. Tại giải đấu chuẩn bị cho Wimbledon ở Queen's Club, Nadal dừng bước ở tứ kết trước Feliciano López 6–7(5), 4–6. Sau đó anh tham gia Wimbledon và đánh bại Kei Nishikori 6–2, 6–4, 6–4 ở vòng 1 và Robin Haase 5–7, 6–2, 3–6, 6–0, 6–3 ở vòng 2. Sau trận đấu khó khăn kéo dài 5 set 6–4, 4–6, 6–7, 6–2, 6–3 trước Philipp Petzschner ở vòng 3, có một sự kiện thú vị là Nadal đã bị phạt 2000 bảng khi ban tổ chức cho rằng chú của anh là Toni Nadal đã có những chỉ đạo chiến thuật từ trên khán đài. Sau đó anh tiếp tục vượt qua Paul-Henri Mathieu ở vòng 4 và Robin Soderling ở tứ kết để gặp niềm hy vọng số một của nước chủ nhà là Andy Murray ở bán kết. Nadal đánh bại Murray 6–4, 7–6(8–6), 6–4. Trong trận chung kết, Nadal đối mặt với Tomas Berdych, người đã bất ngờ loại đương kim vô địch Federer ở tứ kết. Thế nhưng hạt giống số 12 đã không thể tiếp tục gây sốc trước Nadal. Trận đấu chỉ kéo dài trong 2 tiếng 13 phút, với kết quả 6-3, 7-5, 6-4 thuộc về ông hoàng Nadal. Chiến thắng đầy thuyết phục này đã đem về cho anh danh hiệu Grand Slam thứ 8 trong sự nghiệp thi đấu. Chuyển qua mùa giải sân cứng, như thường lệ, Nadal tham dự hai giải khởi động cho US Open là Rogers Cup và Cincinnati Masters. Ở Rogers Cup, Nadal đã gác vợt trước Andy Murray với tỷ số 6–3, 6–4 tại bán kết. Ở Cincinnati Masters, Marcos Baghdatis đã đánh bại Nadal ở tứ kết. Ở Mỹ Mở rộng 2010, hạt giống số 1 Rafael Nadal đã thi đấu một cách hoàn hảo với sự nỗ lực đáng kể trong cú giao bóng, vốn luôn bị xem là điểm yếu của anh. Nadal đã lần lượt đánh bại Teymuraz Gabashvili, Denis Istomin, Gilles Simon, Feliciano Lopez, Fernando Verdasco, và Mikhail Youzhny mà không để mất set nào trước khi đối mặt với Djokovic ở chung kết. Ngày 14/9/2010 là ngày đi vào sự nghiệp quần vợt của "Ông vua sân đất nện". Với chiến thắng trong trận chung kết kéo dài 3h43' trước Novak Djokovic với tỷ số 6-4, 5-7, 6-4, 6-2, Nadal đã giành được Grand Slam thứ 3 liên tiếp trong cùng năm, sau Roland Garros và Wimbledon, lần đầu tiên vô địch giải Mỹ Mở rộng và trở thành người thứ 7 trong lịch sử quần vợt hoàn tất được Career Grand Slam. Nadal đã được vinh danh trong ngôi đền cùng 6 huyền thoại là Fred Perry, Don Budge, Rod Laver, Roy Emerson, Andre Agassi, và Roger Federer. Ở tuổi 24, anh cũng là người trẻ tuổi nhất trong Kỷ nguyên Mở rộng làm được điều này. Cùng với Agassi, anh là một trong hai tay vợt có được Career Golden Slam (4 chức vô địch Grand Slam và HCV Olympic). Chiến thắng ở US Open cũng giúp Nadal có được đủ điểm để chính thức đảm bảo việc sẽ kết thúc năm 2010 với vị trí số một trên bảng xếp hạng ATP. Sau US Open, Nadal tham gia vào 3 giải đấu ở châu Á, bao gồm PTT Thailand Open (vào tới bán kết trước khi để thua người đồng hương Guillermo Garcia-Lopez), Rakuten Japan Open Tennis Championships ở Tokyo (vô địch sau khi hạ Gael Monfils 6-1, 7-5) và Thượng Hải Masters (thua tay vợt hạng 12 thế giới là Jurgen Melzer ở vòng 3). Vào ngày 5 tháng 11, Nadal thông báo do chấn thương nên anh sẽ rút lui khỏi Paris Masters, giải Master cuối cùng trong năm. Ở giải đấu cuối cùng trong năm là ATP World Tour Finals (dành cho 8 tay vợt có thứ hạng cao nhất trên bảng xếp hạng ATP), Nadal nằm chung bảng với Novak Djokovic, Thomas Berdych và Andy Roddick. Anh đã giành quyền vào bán kết sau khi toàn thắng 3 trận vòng bảng trước Roddick (3-6, 7-6(5), 6-4), Djokovic (7–5, 6–2) và Berdych (7-6(3), 6-1). Ở bán kết, anh tiếp tục vượt qua tay vợt nước chủ nhà là Murray với tỷ số 7-6(5), 3-6, 7-6(6) để lần đầu tiên lọt vào chung kết ATP World Tour Finals. Thế nhưng ở trận chung kết thì Federer đã đánh bại Nadal với tỷ số 6–3, 3–6, 6–1. Mặc dù đang có vị thế của tay vợt số một thế giới nhưng Nadal phát biểu khá khiêm tốn sau thất bại: "Chiều nay tôi đã cố gắng hết sức mình, nhưng Roger đơn giản là đã chơi tốt hơn tôi." === 2011 === Nadal bắt đầu năm 2011 bằng việc vô địch giải đấu biểu diễn ở Abu Dhabi sau khi đánh bại Federer 7–6(4), 7–6(3) trong trận chung kết. Ở giải Qatar ExxonMobil Open ATP 250, anh vào tới bán kết trước khi để thua Nikolay Davydenko 3-6, 2-6. Tại giải Úc Mở rộng, Nadal hướng tới việc vô địch Grand Slam thứ tư liên tiếp (bốn chức vô địch liên tục này sẽ được giới truyền thông gọi là "Rafa Slam"). Tuy nhiên anh đã không làm được chuyện đó. Mặc dù có khởi đầu khá ấn tượng là không thua set nào trong bốn trận đấu đầu tiên nhưng ở tứ kết thì Nadal đã chấn thương gân khoeo và để thua dễ dàng trước người đồng hương David Ferrer 4–6, 2–6, 3–6. Ngày 7/2/2011, Nadal vinh dự được nhận giải thưởng Laureus World Sportsman of the Year lần đầu tiên trong sự nghiệp. Để đứng trên bục cao nhất, anh đã vượt qua một loạt những tên tuổi lớn của làng thể thao như Lionel Messi, Sebastian Vettel, Andres Iniesta, Kobe Bryant và Manny Pacquiao. Sau một tháng dưỡng thương thì Nadal trở lại vào tháng 3 và giúp đội Tây Ban Nha đánh bại Bỉ trong trận đấu thuộc khuôn khổ Davis Cup. Tiếp sau đó anh tham gia hai giải Masters 1000 là BNP Paribas Open tại Indian Wells và Sony Ericsson Open tại Miami. Nadal lần lượt vượt qua Juan Martin del Potro và Roger Federer tại 2 trận bán kết. Tuy vậy anh đã chịu thúc thủ trước Djokovic ở cả 2 trận chung kết với các tỷ số là 6-4, 3-6, 2-6 và 6-4, 3-6, 6(3)-7. Bắt đầu mùa giải đất nện, Nadal tham dự Monte Carlo Masters. Anh lần lượt vượt qua lão tướng Ivan Ljubicic ở tứ kết và Andy Murray ở bán kết trước khi đánh bại David Ferrer 6-4, 7-5 tại trận chung kết, qua đó bảo vệ thành công danh hiệu vô địch và trở thành người đầu tiên đoạt một danh hiệu trong khuôn khổ ATP 7 năm liên tục. Sau Monte Carlo, Nadal trở lại với Barcelona Open, giải đấu mà anh đã 5 lần thống trị (2005-2009) trước khi không tham dự vào năm ngoái. Trong trận chung kết, Nadal một lần nữa vượt qua David Ferrer với tỉ số 6-2, 6-4 để có chức vô địch thứ hai trong năm. Chiến thắng trước tay vợt Ivan Dodig ở bán kết Barcelona Open cũng đánh dấu trận thắng thứ 500 trong khuôn khổ các giải ATP của Nadal, và anh là người trẻ thứ hai trong lịch sử đạt tới cột mốc này, chỉ sau có huyền thoại Bjorn Borg. Ở Madrid Masters, Nadal một lần nữa đánh bại Federer để vào tới trận chung kết và cũng lại để thua 7-5, 6-4 trước Djokovic. Đây đã là trận thua thứ 3 liên tiếp của Nadal trước Djokovic, và sau trận đấu Nadal đã khẳng định rằng anh không còn cơ hội bảo vệ ngôi số 1 của mình trước tay vợt người Serbia. Một tuần sau đó, Nadal tiếp tục bại trận 6-4, 6-4 trước Djokovic tại chung kết Rome Masters. Đó cũng là lần đầu tiên Nadal để thua hai trận chung kết trên mặt sân đất nện trong cùng một mùa giải. Tại Roland Garros (Pháp Mở rộng), giải Grand Slam thứ hai trong năm, Nadal khởi đầu cực kỳ chật vật bằng chiến thắng 6-4, 6(2)-7, 6(2)-7, 6-2, 6-4 trước John Isner. Trận đấu này cũng là lần đầu tiên ở Pháp Mở rộng mà Nadal phải thi đấu tới 5 set mới có thể giành thắng lợi. Sau đó anh lần lượt vượt qua Pablo Andujar 7-5, 6-3, 7-6(4), Antonio Veic 6-1, 6-3, 6-0, và Ivan Ljubicic 7-5, 6-3, 6-3 ở 3 vòng đấu tiếp theo. Tại tứ kết, Nadal giành chiến thắng 6-4, 6-1, 7-6(3) trước Robin Soderling, tay vợt đã thua anh trong trận chung kết năm ngoái. Nadal tiếp tục vượt qua Andy Murray 6-4, 7-5, 6-4 tại bán kết để đối mặt với Roger Federer trong trận đấu cuối cùng. Tại trận chung kết, Nadal đánh bại Federer với tỉ số 7-5, 7-6(3), 5-7, 6-1 để bảo vệ thành công danh hiệu vô địch. Với chiến thắng này thì Nadal cũng đã cân bằng được kỷ lục 6 lần vô địch Roland Garros của Bjorn Borg. Tổng cộng anh đã có 10 danh hiệu Grand Slam, và là người trẻ tuổi thứ hai trong lịch sử đạt tới cột mốc này (sau Bjorn Borg). Ngoài ra, do Djokovic đã để thua trước Federer ở bán kết nên Nadal vẫn tạm thời bảo vệ được ngôi vị số 1 thế giới sau giải đấu. Nadal tham dự giải Queen's Club và vào đến tứ kết trước khi bị Tsonga đánh bại. Ở Wimbledon, anh lần lượt vượt qua Michael Russell, Ryan Sweeting, và Gilles Müller để tiến vào vòng 4. Tại đây anh đã đánh bại Juan Martin del Potro 7-6(6), 3-6, 7-6(4), 6-4 dù gặp phải một chấn thương ở gót chân trong set đầu. Ở tứ kết, Nadal hạ Mardy Fish 6-3, 6-3, 5-7, 6-4. Anh tiếp tục đánh bại Andy Murray trong trận bán kết với tỉ số 5-7, 6-2, 6-2, 6-4. Trong trận chung kết Nadal đã để thua Novak Djokovic với tỉ số 6-4, 6-1, 1-6, 6-3, qua đó đánh mất ngôi vị số 1 thế giới vào tay tay vợt người Serbia. Trở lại sau kỳ nghỉ ngắn ngày, Nadal không đạt phong độ cao tại hai giải Masters 1000 khi bị đánh bại bởi Ivan Dodig ngay tại vòng 2 Rogers Cup và bị Mardy Fish loại ở tứ kết Cincinnati Masters. Tuy nhiên ở giải Mỹ mở rộng thì Nadal đã đạt phong độ thuyết phục và lần lượt chiến thắng Andrey Golubev 6-3, 7-6, 7-5, Nicolas Mahut 6-2, 6-2 (bỏ cuộc), David Nalbandian 7-6, 6-1, 7-5, Gilles Müller 7-6, 6-1, 6-2. Có một sự kiện nhỏ là sau trận đấu với Nalbandian thì Nadal đã té khỏi ghế trong cuộc họp báo vì bị chuột rút nặng. Ở tứ kết anh vượt qua Andy Roddick 6-2, 6-2, 6-3, và sau đó là chiến thắng 6-4, 6-2, 3-6, 6-2 trước Andy Murray ở bán kết. Tuy nhiên ở trận chung kết thì Nadal đã không thể bảo vệ chức vô địch trước chướng ngại vật lớn nhất của anh từ đầu năm là Novak Djokovic, với tỉ số bốn set lần lượt là 2-6, 4-6, 7-6(3), 1-6. Ngay sau giải Mỹ Mở rộng, Nadal quay trở về Cordoba để giúp đội tuyển Tây Ban Nha vượt qua đội Pháp tại bán kết Davis Cup. Anh đã giành chiến thắng trong cả hai trận đánh đơn trước Richard Gasquet và Jo-Wilfried Tsonga. Ở giải Nhật Bản Mở rộng, Nadal đã lọt vào chung kết và gặp tay vợt số 4 thế giới Andy Murray nhưng anh đã để thua với tỉ số 6-3, 2-6, 0-6 trước tay vợt người Scotland. Sau đó, anh tham dự giải Thượng Hải Masters, nhưng để thua Florian Mayer 6-7(5), 3-6. Thất bại này đã khiến Nadal chính thức không thể đòi lại vị tri số 1 thế giới của Novak Djokovic trong năm 2011. Không góp mặt tại Paris Masters vì chấn thương, Nadal tới London tham dự ATP World Tour Finals. Mặc dù có thắng lợi trước Mardy Fish nhưng sau đó Nadal đã bị loại từ vòng bảng sau hai trận thua trước Roger Federer (3–6, 0–6) và Jo-Wilfried Tsonga (6–7, 6–4, 3–6) Trong trận chung kết Davis Cup vào đầu tháng 12 giữa hai đội Tây Ban Nha và Argentina, Nadal giành thắng lợi chóng vánh 6-1, 6-1, 6-2 trước Juan Monaco trong trận mở màn. Khi tỷ số đang là 2-1 nghiêng về phía đội Tây Ban Nha sau hai ngày thi đấu đầu tiên, Nadal đã chiến thắng Juan Martin del Potro với tỷ số 1-6, 6-4, 6-1, 7-6(0) để giúp đội nhà lần thứ năm đoạt chức vô địch Davis Cup, và là lần thứ ba trong bốn năm qua. === 2012 === Nadal bắt đầu mùa giải tại ATP Doha, nhưng anh đã bất ngờ dừng bước tại bán kết trước Gael Molfils trong 2 set. Sau đó không lâu, tại Úc mở rộng. Nadal đã thẳng tiến vào trận chung kết để gặp Djokovic. Anh đã thua trong 5 sét với tổng thời gian thi đấu là 5 giờ 53 phút. Trận đấu tuy đã lập kỷ lục là trận chung kết Grand Slam kéo dài nhất nhưng đây là thất bại thứ 7 liên tiếp trước Djokovic trong các trận chung kết. Tại Indian Wells và Miami Nadal thi đấu không mấy thành công, đều dừng lại tại vòng bán kết vì đầu gối tái phát chấn thương. Bắt đầu mùa đất nện, Nadal phải bảo vệ danh hiệu tại Monte Carlo Masters. Trong trận chung kết lại đối đầu với Djokovic. Nhưng lần này Nadal đã giành thắng lợi để kết thúc chuỗi 7 trận toàn thua trước đó khi gặp Djokovic. Đây cũng là danh thứ 8 liên tiếp tại Monte Carlo của anh. Nadal tiếp tục có được danh hiệu thứ 7 tại Barcelona nhưng lại bất ngờ gục ngã trước Verdasco tại vòng 3 giải Master Madrid. Sau đó tại chung kết Rome Masters, Nadal giành thắng lợi trước Djokovic để có được danh hiệu thứ 6 tại đây sau 7 trận chung kết. Tại Pháp mở rộng, Nadal dễ dàng lọt vào chung kết để tranh đấu với tay vợt số 1 thế giới Novak Djokovic. Đây là trận chung kết grand slam thứ 4 liên tiếp giữa 2 người. Kết quả Nadal thắng lợi sau 4 set để xác lập kỷ lục mới 7 lần vô địch Pháp mở rộng. Sau thành công tại Paris, Nadal bước vào mùa sân cỏ với bao hi vọng. Thế nhưng anh lại gây sốc khi thất bại tại tứ kết giải Halle trước Philipp Kohlschreiber rồi gục ngã ngay tại vòng 2 Wimbledon trước Rosol sau 5 set. Sau khi bị loại khỏi Wimbledon, Nadal đi kiểm tra y tế và phát hiện ra đầu gối tái phát chấn thương nghiêm trọng. Chấn thương lần này, đã làm Nadal không thể bảo vệ được huy chương vàng Olympic và cũng không kịp hồi phục để tham dự các giải đấu còn lại trong năm như Roger Cup, Cincinnati, đặc biệt là US Open và ATP World Tour Finals. Kết thúc năm 2012 Nadal rớt xuống vị trí thứ tư của bảng xếp hạng ATP. === 2013 === 2013 là một mùa giải không tưởng của Nadal. Anh đã trở lại sau chấn thương và giành lại vị trí số 1 thế giới cùng rất nhiều các danh hiệu khác, trong đó có 2 danh hiệu vô địch Grand Slam lại Pháp mở rộng và Mỹ mở rộng. Hai tuần trước khi tham gia giải Úc mở rộng, Nadal đã rút khỏi giải đấu vì bị virus dạ dày, anh rơi xuống vị trí thứ 4 trên bảng xếp hạng ATP lần đầu tiên kể từ năm 2005. Tham gia giải đấu đầu tiên của mình ở Nam Mỹ kể từ năm 2005, Nadal trở lại ở series Golden Swing của khu vực Nam Mỹ, bắt đầu mùa giải 2013 ở giải ATP Tour 250 tại Viña del Mar, Chile mở rộng, anh tiến tới trận chung kết mà không thua một set nào, nhưng đã bị đánh bại bởi tay vợt số 73 thế giới Horacio Zeballos. Cũng tại giải sân cát Viña del Mar anh ta đã tham dự đánh đơn lẫn đánh đôi và trong cả 2 giải này đã được vào vòng chung kết. Ở giải đánh đôi anh đã chơi cùng với tay vợt người Argentina Juan Mónaco. Đến giải giải ATP Tour 250 tại São Paulo, Bra-xin mở rộng, vào ngày 17 tháng hai Nadal đã thắng tay vợt người Argentina David Nalbandian trong trận chung kết. Đây là chức vô địch đầu tiên Nadal đoạt được sau giải Pháp mở rộng năm 2012 và cũng là chức vô địch đầu tiên của anh trong năm 2013. Và giải ATP Tour 500 tại Acapulco, México mở rộng anh cũng giành chức vô địch sau khi thắng tay vợt đồng hương David Ferrer của Tây Ban Nha. Anh còn vô địch Indian Wells Masters. Một sự chuẩn bị rất kỹ càng cho mùa đất nện 2013. Nơi mà Nadal sẽ phải bảo vệ số điểm khổng lồ khi năm 2012 anh vô địch Monte Carlo Masters, Rome Masters và cả Roland Garros. Ở giải Monte Carlo 2013 Nadal vào chung kết và gặp kỳ phùng địch thủ Djokovic với hy vọng sẽ lập nên kỷ lục 9 lần vô địch liên tiếp tại giải đấu này. Trong khi đó Djokovic là người duy nhất mà làng banh nỉ có thể hi vọng chặn đứng Nadal. Kết quả Novak Djokovic đã giành chiến thắng thuyết phục sau hai set. Tưởng như sau thất bại này Nadal sẽ gục ngã. Nhưng bằng 1 phong độ chói sáng và tinh thần thi đấu kiên cường RAFA đã chinh phục liên tiếp các giải Barcelona Open, Mutua Madrid Open, Rome và Roland Garros. Trong đó đáng chú ý nhất là bán kết Roland Garros 2013: Nadal đã vượt qua Djokovic trong 1 trận đấu nghẹt thở sau 5 set. Sau đó Nadal đã thua ở vòng 1 Wimbledon trong vòng 3 set đấu trước tay vợt không được xếp hạng hạt giống người Bỉ Steve Darcis(hạng 135 thế giới). Đây là lần thứ hai liên tiếp anh không thể vào đến vòng 3 của Wimbledon và cũng là lần đầu tiên anh bị loại ở vòng đấu đầu tiên của một giải Grand Slam. Nadal lại tiếp tục thăng hoa ở các giải đấu chuẩn bị cho Grand Slam cuối cùng của năm 2013 tại Rogers Cup, Cincinnati Masters và lấy lại vị trí thứ 2 từ Murray, thiết lập kỷ lục 5 masters 1000 trong 1 năm ngang bằng với Djokovic. Tại giải Mỹ mở rộng, Nadal tiếp tục thể hiện phong độ tuyệt vời trên mặt sân cứng khi lần lượt vượt qua các đối thủ, trước trận chung kết gặp Djokovic, Nadal chỉ để thua 1 set duy nhất trước tay vợt người Đức Philipp Kohlschreiber tại vòng 4. Trong vòng tứ kết cũng như bán kết, Nadal đều dễ dàng khuất phục Tommy Robredo cũng như Richard Gasquet để đi đến trận chung kết cũng Novak Djokovic, tay vợt đã vượt qua Stanislas Wawrinka ở trận bán kết sau 5 set đấu. Trong trận chung kết, Nadal đã giành chiến thắng 3-1 trước Djokovic (6-2, 3-6, 6-4, 6-1) để giành chức vô địch Grand Slam lần thứ 13 trong sự nghiệp. Đây cũng là lần thứ hai anh vô địch US Open, lần đầu tiên vào năm 2010. Sau giải Mỹ mở rộng, Nadal tham dự giải ATP Tour 500 tại Bắc Kinh, Trung Quốc với hi vọng giành lại ngôi vị số 1 thế giới. Kết quả Nadal thất bại trong trận chung kết trước Djokovic với tỷ số 3-6, 4-6, nhưng đã đủ điểm vươn lên số 1 ATP kể từ ngày 7/10/2013. Giải Masters thứ 8 trong năm Shanghai Masters tại Thượng Hải, Trung Quốc, Nadal dừng bước tại vòng bán kết trước tay vợt người Argentina: Juan Martín del Potro. Master cuối cùng trong năm, tại Paris, Nadal bất ngờ thất thủ trước tay vợt đồng hương David Ferrer, cũng tại vòng bán kết. Tại ATP world tour finals, Nadal đã xuất sắc lọt vọt vào trận chung kết gặp Djokovic, tuy nhiên thêm 1 lần nữa anh lại lỗi hẹn với danh hiệu này khi thất bại sau 2 set. Nadal cũng không quá buồn khi anh đã có một mùa giải 2013 rất thành công và kết thúc năm với vị trí số 1 thế giới. === 2014 === Tại giải đầu tiên của năm, Nadal đã có danh hiệu tại Qatar lần đầu tiên trong sự nghiệp, sau khi đánh bại Gael Monfils trong trận chung kết trong 3 set(6-1,6-7,6-2). Giải grand slam đầu tiên trong năm Úc mở rộng, Nadal đã vào đến trận chung kết. Nhưng rất tiếc đã thất bại trước một Stanislas Wawarinka đang có phong độ đỉnh cao. Sau vài tuần nghĩ nghơi và đang trong quá trình phục hồi cái lưng đau trong trận chung kết Úc mở rộng, Nadal vẫn tham dự giải đấu ATP 500 lần đầu tiên tổ chức tại RIO Brazil. Kết quả Nadal đã vô địch để có được danh hiệu thứ 62 sự nghiệp, sau khi đánh bại Dolgopolov tại chung kết. Tham dự Master series đầu tiên trong năm ở Indian Wells Masters, Nadal có nhiệm vụ phải bảo vệ danh hiệu vô địch nhưng rơi vào nhánh đấu vô cùng khó khăn nên đã bị loại ngay vòng 3 bởi Dolgobolov. Giải Master tiếp theo tại Miami, Hoa Kỳ. Nadal lọt vào chung kết gặp Djokovic nhưng lại thất bại chóng vánh sau 2 set. Vậy là Nadal vẫn chưa thể có được danh hiệu tại Miami sau 4 lần vào chung kết. Bắt đầu mùa giải đất nện, Nadal lại tiếp tục thi đấu thất vọng khi thất bại ở tứ kết ở cả 2 giải đấu ưa thích là Monte Carlo và Barcelona. Sau đó, Nadal đã vô địch ở giải đấu Madrid Open sau khi Kei Nishikori đã bỏ cuộc ở set thứ 3. Tại giảm Rome Master, Nadal vào chung kết lại gặp Djokovic và đã thua đại kình địch trong 3 set. Báo hiệu ngai vàng tại Roland Garros lung lay hơn bao giờ hết. Tuy nhiên, ngày 8 tháng 6 năm 2014, Nadal đã đánh bại Djokovic trong trận chung kết đơn Nam của Pháp Mở rộng để giành danh hiệu thứ 9 và cũng là danh hiệu thứ 5 liên tiếp tại Roland Garros sau chiến thắng (3-6, 7-5, 6-2, 6-4). Với chức vô địch tại Roland Garros, Nadal đã cân bằng thành tích vô địch Grand Slam 14 lần của huyền thoại Pete Sampras, đứng thứ 2 sau tay vợt người Thụy Sĩ Roger Federer. === 2015 === Năm 2015 đánh dấu bước ngoặt xuống dốc của Nadal, anh khởi đầu bằng trận thua Berrer tại giải doha open, tiếp tục anh bị loại ở tứ kết Rio open tại Barxin trên mặt sân đất nện sở trường, sau đó anh vô địch giải nhỏ ATP 250 ở Argentina, tiếp tục giải Grand Slam đầu năm Australia open anh bị loại ở tứ kết bởi Berdych, phong độ tệ hại của anh nối tiếp đến hai giải Master 1000 sân cứng tại Mỹ là Indian Well và Miami Master anh đều bị loại sớm. Bước vào mùa giải trên sân đất nện, anh bị loại ở tứ kết Monte Carlo bởi tay vợt số 1 thế giới Djokovic, tiếp tục anh bị forgini loại ở tứ kết Barcelona open 500, anh tham dự Madrid Master với tư cách là đương kim vô địch và hy vọng tràn trề về cơ hội bảo vệ thành công chức vô địch do tay vợt số 1 thế giới là Djokovic không tham dự tuy nhiên trong trận chung kết anh đã thua Andy Murray người trước đó chưa thắng anh lấy nổi một lần trên sân đất nện và toàn thua trong hai năm gần nhất, tiếp giải Madrid anh đến giải Rome Master anh bị wanrinka loại ở tứ kết, như vậy anh không thể dành bất cứ danh hiệu nào của các giải sân đất nện trước thềm Roland garros điều chưa từng xảy ra trong vòng 10 năm trước đó. Nadal tham dự giải Pháp mở rộng với sự hoài nghi về phong độ và kết quả bốc thăm phân nhánh đen đủi do phải đụng Djokovic ở tứ kết, trong trạn tứ kết anh đã thua tâm phục 5-7; 3-6; 1-6 chính thức nói lời chia tay Roland Garros, giải đấu mà anh đã vô địch 9 lần trong 10 năm và chỉ để thua duy nhất 1 trận trước khi thua Djokovic. Nối tiếp phong đô tệ hại anh đã để thua Distin Brown một tay vợt không tên tuổi đang đứng ngoài top 100 ATP tại vòng 2 wimbledon 2015, anh tham dự và vô địch giải ATP 500 trên mặt sân đất nện tại Hamburg sau khi đánh bại tay vợt người Italia Forgini sau hai set với các tỷ số 7-5, 7-5. Đến giải Grand Slam cuối cùng trong năm anh bị loại bởi Forgini tại vòng 4 sau khi dẫn trước đến 2-0 sau hai set đầu tiên, tiếp tục anh bị Stonga loại tại bán kết giải quần vợt Master THượng Hải, anh cũng bị loại sớm tại giải Paris Master nhưng vào được bán kết giải ATP Word tour Fianal dành cho 08 tay vợt xuất sắc nhất năm trước khi bị Djokovic vùi dập với tỷ số 6-3; 6-3 Anh kết thúc năm với vị trí số 5 và không giành được bất cứ giải Grand Slam hay Master 1000 nào, điều chưa từng xảy ra trong 10 năm trước đó. == Các số liệu thống kê == === Grand Slam === ==== Bảng thành tích tại các Grand Slam ==== ==== Vô địch (14) ==== ==== Á quân (7) ==== === ATP World Tour Finals === ==== Về nhì: 2 ==== === Olympic === ==== Vô địch: 1 lần ==== === ATP Masters Series (40) === ==== Vô địch (28) ==== ==== Á quân (14) ==== === Tỷ số các trận chung kết ở mọi giải đấu (104) === ==== Đơn (92) ==== ===== Vô địch (64) ===== ===== Thua trận chung kết (28) ===== ==== Đánh đôi (12) ==== ===== Vô địch (8) ===== ===== Về nhì (4) ===== == Các kỷ lục == === Kỷ lục ở các giải Grand Slam === Những kỷ lục này chỉ xét trong Kỷ nguyên Mở rộng. === Kỷ lục ở các giải Master === == Đối đầu với Federer == Nadal và Federer đã có trận đấu đầu tiên giữa họ từ năm 2004, và những cuộc đối đầu giữa họ là một phần quan trọng trong sự nghiệp của cả hai. - Họ là cặp đôi duy nhất trong kỷ nguyên mở rộng đã đấu với nhau trong 8 trận chung kết Grand Slam, với Nadal thắng 6 trên 8 trận. 4 trong 6 trận đó là trên mặt sân đất nện sở trường của Nadal (Pháp Mở rộng các năm 2006, 2007, 2008, 2011), hai trận còn lại là ở Wimbledon 2008 và Úc Mở rộng 2009. - Trận chung kết Wimbledon 2008 của họ được nhiều nhà bình luận xem là trận đấu hay nhất mọi thời đại. - Nhiều nhà bình luận cho rằng cuộc đối đầu giữa Federer và Nadal là cuộc đối đầu vĩ đại nhất trong lịch sử quần vợt. - Trên sân đất nện, Nadal dẫn 13-2 và 6-2 trên sân cứng. Federer dẫn 2-1 trên sân cỏ và 4-1 trên sân cứng trong nhà - Trận đấu gần nhất của 2 tay vợt là trận bán kết Úc mở rộng 2014. Nadal đánh bại Federer với tỉ số 7-6, 6-3, 6-3. Đây là lần thứ 33, 2 tay vợt này đối đầu nhau (không tính các trận biểu diễn). - Anh được xem như là khắc tinh của federer cũng như nhiều tay vợt đánh trái một tay khác khi đối đầu với Nadal luôn nhận thất bại nhiều hơn thắng, quả thuận tay bóng cồng xoáy này lên cao khi ép trái Federer được ví như diều hâu đi săn mồi, khi ép trái như vậy Federer chỉ biết đỡ bóng qua lưới và làm mồi ngon cho anh dứt điểm == Đối đầu với Djokovic == Nadal và Djokovic đã gặp nhau 47 lần. Đây là hai tay vợt đối đầu với nhau nhiều thứ một trong lịch sử kể từ kỷ nguyên Open với tỷ số rất cân bằng 23-24 nghiêng về Djokovic một chút. Nadal dẫn 2-1 trên sân cỏ và 14-7 trên sân đất nện. Djokovic dẫn 16-7 trên sân cứng. Djokovic là tay vợt duy nhất thắng Nadal với trên 20 lần và cũng là người duy nhất đánh bại Nadal 7 lần liên tiếp và 2 lần liên tiếp trên mặt sân đất nện. Hai tay vợt này tưng giữ kỷ lục trận đấu 3 set dài nhất tại Mutua Madrid Open 2009 (kỷ lục này bị Federer và Del Potro phá tại Olympic London 2012). Trong trận chung kết Wimbledon 2011, Djokovic đã đánh bại Nadal trong 4 set với tỷ số 6-4, 6-1, 1-6, 6-3. Sau đó anh còn đánh bại Nadal ở trận chung kết Mỹ Mở rộng 2011. Năm 2012, Djokovic tiếp tục đánh bại Nadal trong trận chung kết Úc Mở rộng để lên ngôi lần thứ 3 tại đây. Đây là trận chung kết Grand Slam dài nhất kể từ kỷ nguyên Open (5giờ 53 phút). Sau đó Nadal giành được 2 danh hiệu Master 1000 đó là Monte Carlo và Rome sau khi đánh bại Djokovic ở hai trận chung kết và ở Pháp Mở rộng để giành danh hiệu thứ 7 tại đây, đồng thời chấm dứt chuỗi 3 trận chung kết Grand Slam toàn thua trước Djokovic. Trong năm 2013, Djokovic đánh bại Nadal sau hai set để chấm dứt chuỗi 8 chức vô địch liên tiếp tại Monte Carlo. Nhưng Nadal đã trả món nợ tại bán kết giải Pháp Mở rộng với tỷ số 3-2, trong đó cuộc đấu trí căng thẳng ở set đấu thứ 5 với tỷ số 9-7 nghiêng về Nadal. Nadal tiếp tục giành chiến thắng trên mặt sân cứng trước Djokovic ở trận bán kết tại Motreal và chung kết US open. Tại trận tứ kết Roland Garros 2015, Nadal đã bị Djokovic đánh bại sau ba set với các tỷ số 5-7, 3-6, 1-6. Đây là trận thua duy nhất của anh trước Djokovic tại giải Pháp mở rộng. == Đối đầu với Murray == Nadal và Andy Murray đã gặp nhau 18 lần kể từ năm 2007, với lợi thế dẫn trước dành cho Nadal với tỷ số 13-5. Nadal dẫn 4-0 trên sân đất nện, 3-0 trên sân cỏ và 6-5 trên sân cứng. Hai tay vợt này thường xuyên gặp nhau tại các giải Grand Slam với 8 trên tổng số 18 lần 2 tay vợt này gặp nhau với tỷ số 6-2 nghiêng về tay vợt người Tây Ban Nha (3-0 tại Wimbledon, 1-0 tại Pháp Mở rộng, 1-1 tại Úc Mở rộng và 1-1 tại Mỹ Mở rộng). 7 trong 8 lần hai tay vợt đối đầu với nhau tại các giải Grand Slam là ở vòng tứ kết và bán kết. Hai tay vợt chưa bao giờ gặp nhau tại một trận chung kết Grand Slam tuy nhiên Murray lại dẫn 2-1 tại các trận chung kết ATP (Nadal với chiến thắng tại Indian Wells năm 2009, Murray giành chiến thắng tại Rotterdam cùng năm và tại Tokyo năm 2011). Murray thua liên tiếp 3 trận Bán Kết Grand Salm trước Nadal từ Pháp mở rộng đến Mỹ mở rộng. Thật ngạc nhiên khi qua 19 lần bốc thăm tại các giải Grand Slam thì hai tay vợt này chung nhánh đấu với nhau tới 16 lần. Cặp đôi này đã không thể gặp nhau tại trận bán kết của giải Miami Masters vì Nadal phải rút lui vì chấn thương == Lối chơi == Nhìn chung thì Nadal chơi một lối chơi chủ động từ sau vạch cuối sân, dựa nhiều vào những cú topspin đều tay và khả năng di chuyển hợp lý. Với thể lực dồi dào và tốc độ di chuyển cao, Nadal là một tay vợt phòng thủ tuyệt vời và có khả năng giành những điểm số từ những tình huống bị dồn ép phải phòng ngự liên tục. Mặc dù Nadal thường đứng sau vạch cuối sân, một số chuyên gia nhận định rằng anh cũng có khả năng lên lưới rất tốt, mỗi khi có cơ hội, Những cú thuận tay của Nadal là khá khác biệt so với các tay vợt khác, tay trái anh đánh bóng rồi vòng lên phía trên vai phải - thay vì kết thúc ở vị trí ngang thân người hay ngang vai đối diện theo kiểu truyền thống. Kiểu đánh thuận tay của Nadal giúp anh thực hiện được những cú topspin cực nặng có độ xoáy rất cao, trung bình bóng xoay 3200 vòng/phút và có cú lên đến 4900 vòng/phút (Federer là khoảng 2700 vòng/phút còn Sampras và Agassi là khoảng 1,800-1,900 vòng/phút). Cú trái tay được Nadal thực hiện bằng hai tay. Lúc trước thì những cú giao bóng của Nadal luôn bị xem là điểm yếu của anh và anh rất ít khi giành được những cú ace. Mặc dù vậy, trong mùa giải 2010, anh đã có những thay đổi trong cách giao bóng để cải thiện tình hình. Sự tiến bộ trong cú giao bóng giúp Nadal rất nhiều ở giải Mỹ Mở rộng 2010. Hiện tại tốc độ giao tối đa của anh khoảng 135 dặm/giờ (217 km/giờ), và anh đã giành được nhiều điểm số hơn từ cú giao bóng. Một điểm mạnh quan trọng nữa của Nadal là tinh thần thi đấu kiên cường và khả năng tính toán chiến thuật hợp lý. Nadal có khả năng phớt lờ đi những bất lợi về mặt tỷ số hay khán giả để chỉ tập trung vào tình huống đang đánh. Anh có thể ăn mừng rất hưng phấn sau một điểm số giành được, nhưng luôn giữ được bình tĩnh trong những lúc khó khăn. Hầu như rất hiếm khi người ta được chứng kiến những khoảnh khắc nóng nảy của anh trên sân. Nadal cũng có khả năng thích ứng tốt để thay đổi chiến thuật cho phù hợp với tình hình thời tiết, sân bãi hay chiến thuật của đối phương. Mặc dù từng bị xem là chỉ mạnh trên sân đất nện, thời gian gần đây thì Nadal đã chứng tỏ rằng anh cũng chơi tốt trên các mặt sân khác. Anh đã thắng Grand Slam trên mọi mặt sân cùng các danh hiệu lớn nhỏ khác. Thế nhưng, bên cạnh những lời khen ngợi cho tài năng của Nadal thì cũng có nhiều chuyên gia đặt câu hỏi về khả năng thi đấu lâu dài của anh, cho rằng lối chơi của anh có thể sẽ dễ dẫn đến chấn thương. == Bên ngoài sân đấu == Tuy không phải là một cầu thủ chuyên nghiệp nhưng Nadal tham gia khá nhiều vào các hoạt động bóng đá. Anh là một trong những CĐV lớn nhất của CLB Real Madrid và đội tuyển Tây Ban Nha. Vào đầu năm 2011, Nadal được kết nạp vào CLB thành viên danh dự của Real Madrid cùng các tên tuổi lẫy lừng như Alfredo Di Stefano, Sepp Blatter và Vicente del Bosque. Khi Tây Ban Nha vô địch World Cup 2010, Nadal là một trong 6 người ngoài duy nhất được vào phòng thay đồ để ăn mừng cùng các thành viên của đội bóng (5 người còn lại gồm hai phóng viên, hoàng hậu Tây Ban Nha cùng thái tử Tây Ban Nha và vợ). Vào ngày 7 tháng 8 năm 2010, Nadal trở thành một cổ đông của đội bóng quê nhà RCD Mallorca để giúp CLB thoát khỏi cảnh nợ nần. Anh nắm giữ 10% cổ phần của CLB cho đến khi quyết định bán lại vào cuối năm 2011. Nadal hiện tại cũng là người mẫu quảng cáo đồ lót và quần jeans cho hãng Armani, có một hợp đồng tài trợ với hãng trang phục thể thao Nike và hãng đồng hồ Richard Mille. Chiếc đồng hồ trị giá 525,000 đôla mà anh thường đeo khi ra sân thi đấu chính là từ hãng Richard Mille. Tháng 2 năm 2010, Nadal xuất hiện trong video ca nhạc "Gypsy" của Shakira. Tên anh cũng được đặt cho thiên thạch 128036 Rafaelnadal. Rafa Nadal Foundation là tổ chức từ thiện của Nadal. Anh từng cho biết rằng sau khi giải nghệ sẽ tập trung vào việc điều hành tổ chức từ thiện này. == Chú thích ==
samsung galaxy tab 4 10.1.txt
Samsung Galaxy Tab 4 10.1 là máy tính bảng 10.1-inch chạy hệ điều hành Android công bố bởi Samsung Electronics. Nó thuộc thế hệ thứ tư của dòng Samsung Galaxy Tab, bao gồm phiên bản 7-inch và 8-inch, Galaxy Tab 4 7.0 và Galaxy Tab 4 8.0. Nó được công bố vào 1 tháng 4 2014, và phát hành vào ngày 1 tháng 5 2014 cùng với Samsung Galaxy Tab 4 8.0. == Lịch sử == Galaxy Tab 4 10.1 được công bố vào ngày 1 tháng 4 2014, cùng với Galaxy Tab 4 7.0 và Galaxy Tab 4 8.0. == Tính năng == Galaxy Tab 4 10.1 sẽ phát hành với Android 4.4.2 Kit Kat. Samsung tùy biến giao diện người dùng với TouchWiz UX. Cũng như ứng dụng từ Google, bao gồm Google Play, Gmail và YouTube, nó cho phép truy cập trực tiếp vào ứng dụng Samsung như ChatON, S Suggest, S Voice, S Translator, S Planner, Smart Remote (Peel), Smart Stay, Multi-Window, Group Play, và All Share Play. Galaxy Tab 4 10.1 chỉ công bố phiên bản WiFi, biến thể 3G và 4G/LTE không được nhắc đến. Bộ nhớ trong sẽ là 16 GB, với khe thẻ nhớ mở rộng microSDXC. Nó có màn hình 10.1-inch WXGA TFT với độ phân giải 1.280x800 pixel. Nó có máy ảnh truớc 1.3 MP không flash và 3.15 MP máy ảnh chính. Nó có khả năng quay video HD. == Tham khảo ==
trúng số (phim 2015).txt
Trúng số là một bộ phim hài Việt Nam của đạo diễn Dustin Nguyễn sản xuất năm 2015. Phim đại diện cho Việt Nam ở hạng mục Giải Oscar cho phim ngoại ngữ hay nhất của Giải Oscar lần thứ 88. == Nội dung == Dựa trên một câu chuyện có thật, Nguyễn Mạnh Tuấn đã viết kịch bản phim. Đầu tiên là ông Tư (Chí Tài), người vừa mãn hạn tù, đang loay hoay tái hòa nhập cộng đồng thì bỗng dưng trúng số độc đắc 9 tỷ đồng. Đây là sự kiện gây xôn xao khắp cả một vùng thôn quê. Với bản tính tốt bụng và hào phóng có thừa, ông Tư cho tiền hết người này đến người khác. Cô Thơm (Ninh Dương Lan Ngọc), người bán tấm vé số độc đắc cho ông Tư, một bà mẹ đơn thân phải sống trong căn nhà tồi tàn dột nát. Cô vốn là một người tốt bụng, thậm chí tốt đến mức bị người đời chửi là "ngu". Nhưng cô chưa bao giờ chịu buông xuôi hay làm điều gì trái với bản chất lương thiện của mình. Nhưng số phận run rủi khiến cô đứng trước cơ hội đổi đời bằng chính những tấm vé số mà cô hàng ngày vẫn đi rao bán cho thiên hạ. == Diễn viên == Chí Tài vai ông Tư Phi Ninh Dương Lan Ngọc vai Thơm Dustin Nguyễn vai Tư Nghĩa Thu Trang vai Chín Cúc Kim Xuân vai bà Mười Lài Thanh Bình vai Đông Phi Thanh Vân vai Hường Tuyền Mập vai Năm Mị Ngọc Tưởng vai Hai Lức Jayvee Mai Thế Hiệp vai Đại úy công an Tiểu Bảo Quốc vai Hai Tần Tiến Thành vai Sáu Thạo Lê Khâm vai Tư Tèo Hoài Minh vai Ba Ngọng Đạt Doremon vai thằng mập Quốc Tân vai bác sĩ Thụy Mười vai bà Hai Tung == Xem thêm == Danh sách phim của Việt Nam được đệ trình lên Giải Oscar cho Phim ngoại ngữ hay nhất == Tham khảo == == Liên kết ngoài == Trúng số tại Internet Movie Database
dell.txt
Dell Inc là một công ty đa quốc gia của Hoa Kỳ về phát triển và thương mại hóa công nghệ máy tính có trụ sở tại Round Rock, Texas, Hoa Kỳ. Dell được thành lập năm 1984 do chủ quản gia Michael Dell đồng sáng lập. Đây là công ty có thu nhập lớn thứ 28 tại Hoa Kỳ. == Lịch sử == === Những năm đầu khởi nghiệp === Khi còn là sinh viên năm thứ nhất của Đại học Tổng hợp Texas, Michael S. Dell đã bắt đầu tập kiếm tiền bằng cách lắp ráp và bán những máy tính tương tự như máy tính của hãng IBM ngay trong phòng trọ của ký túc xá sinh viên. Sử dụng những linh kiện mua với giá bán buôn, Dell lắp ráp những máy tính tương đương với máy tính của IBM và bán cho những người sử dụng máy tính cá nhân với giá rẻ hơn nhiều so với giá bán của các công ty danh tiếng. Nhận thấy rằng cái công việc mà mình ưa thích, hàng tháng đem về tới $80.000, có thể dễ dàng chuyến đổi thành một ngành kinh doanh lớn trong tương lai, Michael Dell rời bỏ đại học Texas và thành lập Dell Computer Corp, mang chính tên ông vào tháng 4 năm 1984. Với niềm tin chắc chắn rằng những người sử dụng máy tính có kinh nghiệm sẽ đánh giá được chất lượng của những loại máy tính do ông lắp ráp theo từng yêu cầu riêng của khách hàng, Dell bắt đầu đăng quảng cáo trong các tạp chí về công nghệ thông tin. Vào thời gian này khách hàng có thể sử dụng tới 800 số điện thoại để đặt mua máy tính do công ty Dell lắp ráp và giao hàng qua bưu điện. Bằng cách mua tận gốc, bán tận ngọn này, Dell có thể bán cho khách hàng với giá thấp hơn nhiều so với các công ty khác. Dell nhanh chóng trở thành nhà phân phối lớn nhất về máy tính cá nhân qua bưu điện. Với doanh số khá khiêm tốn khoảng $6 triệu trong năm 1985, Dell nhanh chóng đẩy doanh số lên gần $40 triệu vào ngay năm sau đó. Dell cũng nhanh chóng nhận ra rằng ông cần có các công sự có kinh nghiệm để quản lý công ty đang phình ra với tốc độ chóng mặt. Vì vậy ông chiêu mộ ngay một loạt các chuyên viên marketing từ chính đối thủ cạnh tranh của mình là công ty Tandy Corp., cũng như mời chuyên gia về ngân hàng là E. Lee Walker về làm chủ tịch tập đoàn. Bản thân Michael Dell nắm giữ vị trí Tổng giám đốc và cho đến nay ông là người giữ cương vị Tổng giám đốc có thâm niên lâu nhất trong các công ty máy tính của Hoa Kỳ. Vào năm 1987, Dell bắt đầu phát triển hệ thống các nhà máy chế tạo của riêng mình. Hãng Dell cũng bắt đầu xây dựng hệ thống hỗ trợ khách hàng trong cả nước Mỹ và bắt đầu cung cấp các dịch vụ lắp đặt, sửa chữa, bảo hành, bảo dưỡng ngay tại nhà cho các sản phẩm của chính mình Cũng vào năm 1987 hãng Dell đã mở văn phòng đầu tiên của mình tại Anh, mở đầu cho công cuộc chinh phục thế giới. Hãng cũng bắt đầu cho xuất bản cuốn catalog đầu tiên của mình. Đội ngũ marketing mới của hãng đã nhanh chóng hướng các sản phẩm của Dell vào các thương vụ lớn. Nó đồng thời cũng mở rộng lực lượng bán hàng và làm cho chi phí quảng cáo lên khá cao. Cảm nhận thấy công ty của mình đã đi quá xa so với ý định ban đầu về mô hình bán trực tiếp đến tay người tiêu dùng, Dell bắt đầu cảnh cáo những giám đốc marketing của mình về việc chi phí quá nhiều cho quảng cáo và sử dụng những chiến thuật marketing truyền thống. Vào cuối năm 1987, phần lớn các chuyên viên marketing lôi kéo được từ công ty Tandy đã bị buộc phải thôi việc hoặc tự rút lui. Dell nhanh chóng cải tổ lại và nâng cấp hệ thống dịch vụ khách hàng của mình vào cuối năm 1988. Đồng thời hãng cũng cho ra đời 3 model PC mới của mình, mở thêm văn phòng tại Canada và bắt đầu mở dịch vụ cho thuê máy tính. Hãng cũng tập trung nhiều hơn vào các khách hàng lớn như công sở, các trường đại hoc, các cơ sở giáo dục và các công ty lớn. Cũng trong năm 1988 Dell trở thành công ty đại chúng, bắt đầu bán cổ phiếu trên thị trường chứng khoán với giá $ 8,5 một cổ phiếu. Để có thể cạnh trạnh được với các công ty của Nhật Bản luôn tung ra thị trường các sản phẩm rẻ hơn, Dell bắt đầu chiến dịch củng cố bộ máy của mình. Nhằm mục đích đó, Dell thuê Glenn Henry nguyên là kỹ sư của hãng IBM Corp. vào năm 1989, để phụ trách phần phát triển sản phẩm mới. Hãng cũng bắt đầu sản xuất những server đầu tiên trên cơ sở UNIX và hợp tác với Intel để đưa bộ vi xử lý 486 vào máy tính của minh ngay sau khi nó được xuất xưởng. Dell cũng bắt đầu tham gia bán máy in kim do hãng Epson sản xuất và vào năm 1990 doanh số bán máy in kim Epson đã lên tới $ 546 triệu bằng 40% của doanh số toàn hãng. Mặc dù mức tăng trưởng hai con số trong doanh thu nhưng lợi nhuận của hãng lại giảm 64% chủ yếu do chi phí nghiên cứu phát triển cao và tồn kho với số lượng lớn các loại chíp nhớ. Hãng lần đầu tiên đã phải sử dụng hệ thống bán lẻ sau khi ký hợp đồng với Soft Warehouse Inc., hãng bán lẻ máy tính hàng đầu tại Mỹ. Hoạt động trên thương trường thế giới cũng tăng mạnh sau khi hãng đưa cơ sở sản xuất tại Ireland vào hoạt động và mở các văn phòng mới tại Pháp, Ý và Thụy Điển. === Phát triển bền vững === Với phương châm: phương thức bán hàng cũng góp phần quan trọng vào thành công của hãng như là sản phẩm mà hãng bán ra, Dell đã dành khá nhiều công sức vào việc đào tạo các nhân viên phục vụ khách hàng của mình bằng việc bắt buộc tất cả các nhân viên phải qua một khóa huấn luyện 6 tuần để trả lời các câu hỏi của khách, giải quyết các khiếu nại, nhận đơn đặt hàng và giúp đỡ các khách hàng lựa chọn sản phẩm theo đúng yêu cầu trước khi đưa họ ra bán hàng. Các khiếu nại của khách luôn được đưa ra thảo luận tập thể trong buổi họp nhân viên hàng tuần nhằm giúp nhân viên tìm ra cách giải quyết tốt nhất. Những cố gắng này đã được trả giá xứng đáng khi vào năm 1990 J.D. Powers & Associates, văn phòng điều tra xã hội học xếp Dell đứng thứ nhất trong số các hãng cung cấp máy tính trong việc đáp ứng tốt nhu cầu của khách hàng. Cũng trong năm 1990 hãng đã dành vị trí thứ sáu trong số những công ty sản xuất máy tính lớn nhất ở Mỹ so với vị trị thứ 22 mà hãng đã có trong năm 1989. Vào năm 1991, Dell bắt đầu xuất xưởng chiếc máy laptop đầu tiên với mục tiêu trở thành nhà cung cấp hàng đầu trong thị trường mới mở đầy hưa hẹn này. Các hoạt động nhằm mở rộng ảnh hưởng ra toàn thế giới cũng được tiến hành với tốc độ chóng mặt. Các chi nhánh được nhanh chóng thiết lập tại Bỉ, Phần Lan, Luxembourg, Na Uy và Bồ Đào Nha; một trung tâm phục vụ khách hàng lớn đã được thiết lập tại Hà Lan; các văn phòng bán hàng được mở tại Ireland và Bỉ; và hệ thống bán hàng trực tiếp và chương trình phục vụ khách hàng tại nhà đã được thiết lập tại México. Với mong muốn trở thành công ty đứng đầu trong việc hỗ trợ khách hàng, Dell đã đi tiên phong trong việc cài đặt các phần mền ứng dụng không tính tiền cho khách hàng của mình. Không giống như các đối thủ cạnh tranh khác, Dell đã giành được lợi thế từ suy thoái kinh tế trong những năm 90 của thế kỷ trước. Mặc dù các công ty và người tiêu dùng phải thắt lưng buộc bụng nhưng nó không đủ chặt để gây cản trở cho việc mua bán máy tính cá nhân mà chỉ làm cho khách hàng trở nên khó tính hơn trong việc lựa chọn nhà cung cấp. Dell lúc này trở thành nhà cung cấp được lựa chọn đầu tiên do những đặc tính nổi trội trong việc phục vụ khách hàng. Kết quả là số lượng khách hàng của Dell ngày một tăng cao. Tuy nhiên thành công của Dell cũng kéo theo sự cạnh tranh ngày càng khốc liệt của các công ty khác học theo phương thức bán hàng trực tiếp của Dell. Hãng Gateway 2000 đã xếp Dell đứng đầu trong các hãng bán máy tính cá nhân trực tiếp tại Mỹ trong năm 1992. Cũng trong năm này Dell đã thực thi chương trình giảm thời gian phục vụ khách hàng xuỗng dưới 4 giờ kể từ khi nhận yêu cầu qua điện thoại. Hãng cũng thành lập Ban Năng lực Phục vụ Chuyên nghiệp nhằm tăng cường mối liên kết với các chi nhành, văn phòng, cơ sở sản xuất trên toàn cầu của Dell. Trong năm 1992, Dell đã mở các chi nhánh mới tại Ba Lan, Tiệp Khắc và Thụy Sĩ. Dell cũng ký thỏa thuận hợp tác với Pertech Computer Ltd. của New Delhi để xây dựng hệ thống bán hàng tại đất nước đông dân thứ hai trên thế giới này. Doanh số bán ra trong năm 1992 đã đạt mức $890 triệu và cũng trong năm 1992 Dell lần đầu tiên lọt vào danh sách 500 công ty lớn nhất của Fortune. Vào cuối năm 1993, Dell trở thành công ty lớn thứ năm trên toàn thế giới về sản xuất và bán máy tính cá nhân với doanh số lên đến hơn $ 2 tỷ. Hãng cũng thiết lập một chương trình mới về phục vụ khách hàng cho phép khách hàng lựa chọn những mức độ phục vụ mà họ mong muốn.Một số vướng mắc về kỹ thuật với một model máy tính xách tay đã buộc Dell dừng hẳn cả một dây chuyền sản xuất và chịu thiệt $ 20 triệu. Để phản công chiến thuật giảm giá lớn của Compaq Computer Corp., Dell đã cho ra đời dòng máy tính Dimensions giá thấp cũng như một loạt dòng máy tính khác có giá thấp để cạnh tranh lại. Các hãng máy tính khác rất khó cạnh tranh lại được với Dell trên thị trường vì chi phí bán của Dell chỉ chiếm 18%, chỉ bằng một nửa so với chi phí bán hàng của các hãng khác. Một trong những nguyên nhân là do dư lượng tồn kho của Dell thường được giữ ở mức thấp hơn nhiều so với các đối thủ cạnh tranh. Khách hàng thường thông báo cho Dell biết cụ thể loại máy tính nào là loại họ mong muốn, điều này làm giảm đáng kể chi phí thử nghiệm mà các hãng khác không sử dụng phương pháp bán hàng trực tiếp thường phải chiu. Ngay vào năm 1995, Dell đã chiếm 3% thị phần máy tính cá nhân trên toàn thế giới.ect... === Tác động của internet === Phương pháp bán hàng trực tiếp của Dell cực kỳ phù hợp với các phương tiện truyền thông như Internet. Dell đã bắt đầu bán các sản phẩm máy tính cá nhân thông qua internet ngay từ năm 1996. Thay vì đặt hàng thông qua điện thoại, khách hàng có thể đặt hàng thông qua Dell's Web site. Kho hàng của hãng trên mạng internet cho phép khách hàng lựa chọn các cấu hình, chọn giá và đặt hàng cho tất cả các đơn hàng từ bé đến lớn. Trang web của hãng cũng cho phép khách hàng có thể theo dõi việc thực hiện đơn đặt hàng của mình cũng như chọn các dịch vụ phục vụ khách hàng mà mình mong muốn. Chỉ trong vòng một năm Dell đã đạt được doanh số bán hàng 1 triêu USD một ngày qua mạng internet và 80% số khách hàng là khách mua lần đầu. Cũng nhờ internet, quá trình mua bán máy tính cá nhân được tự động hóa hoàn toàn, vì vậy mặc dù khối lượng hàng hóa bán ra tăng lên rất nhanh nhưng Dell không phải tuyển thêm nhiều nhân viên. Điều này cũng làm giảm đáng kể chi phí bán hàng song song với việc cắt giảm phí điện thoại. Vào cuối năm 1997, khoảng một phần ba số đơn đặt hàng của Dell được làm thông qua internet, tuy nhiên phần lớn nó là của các khách hàng cá nhân hoặc các doanh nghiệp nhỏ nên Dell phải tìm cách lôi kéo các doanh nghiệp lớn cũng đặt hàng trên mạng. Nhằm mục đích đó hãng cho thiết kế các website riêng cho các khách hàng lớn. Ngoài các thông tin chung như cấu hình và loại giá mà Dell có thể chiết khấu, trang web này còn cũng cho phép khách hàng yêu cầu thêm các dịch vụ và theo dõi ngay trên mạng đơn hàng của mình. Nhiều công ty trong đó có Detroit Edison Co. đã bắt đầu mua máy tính của Dell trên mạng nhằm giảm thời gian mà nhân viên của họ phải bỏ ra để tìm chọn máy tính cũng như các thủ tục giấy tờ trong quá trình mua sắm và giảm thời gian giao hàng. Tờ BusinessWeek Online, ngày 14 tháng năm 2001 đã viết: "Michael Dell là người làm thương mại điện tử ngay từ khi thương mại điện tử vừa mới hình thành. Trong thời gian thương mại điện tử phát triển đến đỉnh cao, ông đã dùng internet để giao tiếp với khách hàng và bán được USD 50 triệu máy tính mỗi ngày." Tuy nhiên Internet không chỉ là phương tiện bán hàng mạnh nhất của Dell vào những năm cuối thế kỷ 20 mà còn do việc phát triển internet đã kích thích thị trường máy server mà Dell đã nhằm tới vào năm 1996 nhằm giảm bớt sự phụ thuộc vào máy tính cá nhân. Vào năm 1997, Dell bắt đầu tập trụng vào sản xuất và buôn bán workstations. Vào năm 1998, thị phần máy servers chiếm đến 16% trong $12 tỷ doanh số của Dell. Một năm sau đó Dell trở thành nhà cung cấp server lớn thứ hai tại thị trường Mỹ chỉ sau Compaq Computer Corp. Cũng vào năm đó khi các đối thủ cạnh tranh giảm giá máy tính cá nhân, Dell đã phản công lại bằng cách cho sản xuất loại máy tính cá nhân có giá rẻ hơn USD 1.000. Doanh số trong năm này đạt tới $25.3 tỷ và cổ phiếu của Dell tăng 140% trong 4 năm liên tục. Do nền công nghiệp chế tạo máy tính cá nhân dần dần suy giảm khi bước vào thế kỷ 21, Dell bắt đầu định hướng lại chiến lược phát triển bằng việc để mắt đến các thiết bị cho công nghệ Internet và hệ thống lưu trữ dữ liệu. Doanh số bán ra trong năm này tăng 38,5%, kém hơn so với năn trước 10% và giá cổ phiếu bắt đầu tụt giảm. Theo tờ BusinessWeek Online, mạng Internet đã giúp Dell thoát khỏi cơn suy thoái đang đến "Nhờ vào hệ thống tiêu thụ hữu hiệu dựa trên nền Internet, hãng vẫn giữ được mức lợi nhuận cần thiết ngay cả khi nó tiến hành cuộc chiến đẫm máu trong việc giảm giá máy tính cá nhân". Bởi Dell có phần lớn khách hàng đặt trên mạng nên Dell có thể kiểm tra được nhu cầu của thị trường và vì vậy Dell có thể giảm số lượng hàng dự trữ trong kho xuống chỉ còn độ 65% so với các đối thủ cạnh tranh của mình. Riêng khoản này đã giúp Dell tiết kiệm được tới $50 triêu trong một năm. Vào tháng 4 năm 2001 Dell vượt qua Compaq Computer để trở thành nhà cung cấp máy tính cá nhân hàng đầu trên thế giới. Mặc dù Dell đã thành công trong cuộc chiến máy tính cá nhân, nhiều nhà phân tích cũng chỉ ra rằng hơn một nửa doanh số của Dell vẫn phụ thuộc vào thị trường máy tính cá nhân đang suy giảm. Hơn thế nữa, vào năm 2006 DELL đã phải nhường vị trí nhà cung cấp máy tính cá nhân đứng đầu thế giới cho HP. Dell trong thế kỷ 20 được biết đến như là một nhà buôn bán các công nghệ mới hơn là một nhà phát triển công nghệ. Vì vậy những cố gắng của hãng nhằm phát triển những thiết bị cho thị trường Internet mới nổi dậy được xem là những định hướng mới của Dell. Tuy nhiên để giữ vững vai trò là nhà cung cấp đứng thứ hai trong thị trường server và thứ sáu trong thị trường thiệt bị lưu trữ dữ liệu Dell sẽ phải đối mặt với những đối thủ lớn như Sun Microsystems Inc., IBM, và EMC— đều là những bậc anh tài trong làng phát triển công nghệ mới. == Các sản phẩm == Máy tính xách tay Pocket PC Máy tính bàn Màn hình máy tính Chip xử lý == Xem thêm == Microsoft == Tham khảo == == Liên kết ngoài == Trang nhà của Dell
dân tộc trung hoa.txt
Dân tộc Trung Hoa (giản thể: 中华民族; phồn thể: 中華民族; bính âm: Zhōnghuá Mínzú, âm Hán Việt: Trung Hoa Dân tộc) là một thuật từ chính trị gắn liền với lịch sử Trung Quốc về chủng tộc và xây dựng dân tộc. Từ cuối thập niên 1980, thay đổi thiết yếu nhất trong số các chính sách về dân tộc và người thiểu số là việc thay thế thuật từ "Nhân dân Trung Quốc" (tiếng Trung: 中国人民, Zhongguo Renmin) thành "Dân tộc Trung Hoa", thể hiện sự dịch chuyển từ một quốc gia cộng sản mà người dân thuộc nhiều dân tộc khác nhau thành một quốc gia dân tộc dựa trên một dân tộc duy nhất. Trong suốt thời Dân Quốc giai đoạn đầu (1912–27) và thời Quốc dân (1928–49), thuật từ Dân tộc Trung Hoa bao gồm sắc dân Hán và bốn sắc dân khác là Mãn, Mông, Hồi, Tạng, ý niệm "Ngũ tộc cộng hòa" này được Tôn Trung Sơn và Quốc dân Đảng cổ xúy. Trong suốt thời cộng sản hậu Mao Trạch Đông, thuật từ Dân tộc Trung Hoa được hồi sinh trở lại để bao gồm người Hán chiếm đa số và 55 dân tộc khác như là một đại gia đình Trung Hoa. == Xem thêm == Trung Quốc bản thổ Hán hóa Chủ nghĩa Trung Quốc trung tâm Chủ nghĩa dân tộc Trung Quốc Chủ nghĩa Tam dân == Chú thích == === Tham khảo === Cassel, Par Kristoffer (2011). Grounds of Judgment: Extraterritoriality and Imperial Power in Nineteenth-Century China and Japan. Oxford University Press. ISBN 0199792127. Truy cập ngày 10 tháng 3 năm 2014. Cassel, Par Kristoffer (2012). Grounds of Judgment: Extraterritoriality and Imperial Power in Nineteenth-Century China and Japan . Oxford University Press. ISBN 0199792054. Truy cập ngày 10 tháng 3 năm 2014. Bảo trì CS1: Văn bản dư (link) Dvořák, Rudolf (1895). Chinas religionen... Volume 12; Volume 15 of Darstellungen aus dem Gebiete der nichtchristlichen Religionsgeschichte . Aschendorff (Druck und Verlag der Aschendorffschen Buchhandlung). ISBN 0199792054. Truy cập ngày 10 tháng 3 năm 2014. Bảo trì CS1: Văn bản dư (link) Dunnell, Ruth W.; Elliott, Mark C.; Foret, Philippe; Millward, James A (2004). New Qing Imperial History: The Making of Inner Asian Empire at Qing Chengde. Routledge. ISBN 1134362226. Truy cập ngày 10 tháng 3 năm 2014. Elliott, Mark C. (2001). The Manchu Way: The Eight Banners and Ethnic Identity in Late Imperial China . Stanford University Press. ISBN 0804746842. Truy cập ngày 10 tháng 3 năm 2014. Hauer, Erich (2007). Corff, Oliver, biên tập. Handwörterbuch der Mandschusprache. Volume 12; Volume 15 of Darstellungen aus dem Gebiete der nichtchristlichen Religionsgeschichte . Otto Harrassowitz Verlag. ISBN 3447055286. Truy cập ngày 10 tháng 3 năm 2014. Bảo trì CS1: Văn bản dư (link) Perdue, Peter C (2009). China Marches West: The Qing Conquest of Central Eurasia . Harvard University Press. ISBN 0674042026. Truy cập ngày 10 tháng 3 năm 2014. Wu, Shuhui (1995). Die Eroberung von Qinghai unter Berücksichtigung von Tibet und Khams 1717 - 1727: anhand der Throneingaben des Grossfeldherrn Nian Gengyao. Volume 2 of Tunguso Sibirica . Otto Harrassowitz Verlag. ISBN 3447037563. Truy cập ngày 10 tháng 3 năm 2014. Zhao, Gang (tháng 1 năm 2006). “Reinventing China Imperial Qing Ideology and the Rise of Modern Chinese National Identity in the Early Twentieth Century” (PDF) 32 (Number 1). Sage Publications. doi:10.1177/0097700405282349. JSTOR 20062627. Bản gốc lưu trữ ngày 25 tháng 3 năm 2014.
sơn tùng m-tp.txt
Nguyễn Thanh Tùng hay được biết đến với nghệ danh Sơn Tùng M-TP (sinh ngày 5 tháng 7 năm 1994 tại Thái Bình) là một ca sĩ, nhạc sĩ nhạc pop Việt Nam. Sơn Tùng từng đoạt hai giải Bài hát yêu thích với các ca khúc "Cơn mưa ngang qua" và "Em của ngày hôm qua". Anh cũng hai lần là khách mời biểu diễn của chương trình Thần tượng âm nhạc Việt Nam. Năm 2015, Sơn Tùng M-TP đã nhận được giải Diễn viên trẻ triển vọng tại lễ trao giải Cánh diều vàng cho phần diễn xuất của mình trong phim Chàng trai năm ấy. Trong danh sách Top 10 tìm kiếm nhiều nhất trên Google Việt Nam năm 2015 có đến 4 từ khóa liên quan đến nam ca sĩ Sơn Tùng M-TP. Ba bài hát, một bộ phim của Sơn Tùng đó là các ca khúc "Âm thầm bên em" được tìm kiếm nhiều thứ 2 trong năm. Bài hát "Không phải dạng vừa đâu" xếp thứ 3, "Khuôn mặt đáng thương" xếp thứ 6 và bộ phim Chàng trai năm ấy có vai diễn của Sơn Tùng xếp thứ 10. Trưởng thành từ nhạc underground, Sơn Tùng M-TP bị "nghi ngờ" đạo nhạc nhiều lần. Các ca khúc của Tùng được cho là đã lấy phần beat (nhạc nền) từ các bài hát nổi tiếng ở Hàn Quốc, Nhật Bản hay Mỹ. Sơn Tùng M-TP đã có 2 lần giúp ca khúc Việt Nam đứng trong top 10 ca khúc nhiều lượt xem trong một ngày trên YouTube. Đặc biệt ca khúc "Nơi này có anh" phát hành năm 2017 đã đứng vị trí thứ nhất với hơn 9 triệu lượt xem trong ngày 14/2. == Quá trình hoạt động và phát triển == === 2012-2014: Bắt đầu nổi tiếng === Năm 2012, khi đang học năm cuối bậc phổ thông trung học, tên tuổi của M-TP được biết đến rộng rãi hơn với ca khúc "Cơn mưa ngang qua" sau khi anh chia sẻ bài hát lên một trang nghe nhạc trực tuyến. Với giai điệu bắt tai, trẻ trung, sôi động, "Cơn mưa ngang qua" đã gây được sự chú ý của các khán giả trẻ và nhờ đó, M-TP có cơ hội được biểu diễn chính thức trên một sân khấu lớn. Cũng trong năm này, M-TP đỗ thủ khoa hệ trung cấp khoa Thanh nhạc của Nhạc viện Thành phố Hồ Chí Minh, sau đó anh chuyển vào miền Nam học tập và phát triển sự nghiệp. Tháng 11 năm 2012, với việc ký hợp đồng và trở thành ca sĩ độc quyền của Văn Production, anh đổi nghệ danh thành Sơn Tùng M-TP và bước vào con đường hoạt động nghệ thuật chuyên nghiệp. Đầu năm 2014, Sơn Tùng M-TP trình làng ca khúc "Em của ngày hôm qua" và rất nhanh chóng, ca khúc này đã trở thành một hiện tượng với những kỷ lục hiếm có của làng nhạc Việt. Có thể nói, với ca khúc này, sự nghiệp của Sơn Tùng M-TP đã bước sang một trang mới. Tháng 6 năm 2014, Sơn Tùng M-TP tham gia bộ phim điện ảnh Chàng trai năm ấy trong vai trò là diễn viên chính. Lấy cảm hứng từ một câu chuyện có thật, bộ phim kể về chàng ca sĩ trẻ Đình Phong mắc phải một căn bệnh hiểm nghèo, thời gian sống còn lại là rất ít. Mặc dù vậy, Đình Phong vẫn luôn giữ được tinh thần lạc quan, tin tưởng vào cuộc sống. Bộ phim gửi gắm những tình cảm trong sáng, chân thành và truyền tải thông điệp sống tích cực đến mọi người, đặc biệt là những người trẻ. Sau khi ra rạp, Chàng trai năm ấy đã thu hút hàng triệu lượt xem, tạo ra cơn sốt phòng vé trên toàn quốc và thắng lớn trên mặt trận doanh thu. Cùng với đó, hai ca khúc nhạc phim do Sơn Tùng M-TP sáng tác và thể hiện là "Chắc ai đó sẽ về" và "Không phải dạng vừa đâu" cũng đạt được những thành công nhất định. Đặc biệt, với vai diễn chạm ngõ này, anh đã đoạt giải Diễn viên trẻ triển vọng tại Lễ trao giải Cánh diều vàng năm 2014 của Hội Điện ảnh Việt Nam. Cuối năm 2014, Sơn Tùng M-TP chấm dứt hợp đồng với Văn Production, sau đó anh đầu quân về Công ty Thế giới Giải Trí (Wepro Entertainment JSC). === 2015: Liveshow M-TP Ambition - Chuyến bay đầu tiên === Đầu năm 2015, Sơn Tùng M-TP tham gia chương trình thực tế The Remix - Hòa âm Ánh sáng. Qua từng đêm thi, anh khẳng định được tài năng và thực lực của bản thân với các tiết mục đầu tư nghiêm túc, những màn trình diễn độc đáo, cùng khả năng sáng tác cực ổn với các ca khúc như "Thái Bình mồ hôi rơi", "Khuôn mặt đáng thương", "Cơn mưa ngang qua"... Tháng 7 năm 2015, kỷ niệm sinh nhật lần thứ 21 của mình, Sơn Tùng M-TP đã tổ chức một mini-show kết hợp buổi fan-meeting đầu tiên trong sự nghiệp mang tên “M-TP and Friends”. Chỉ trong vòng 2 tuần sau khi mở bán, 8.000 vé đã được bán hết. Sang đầu tháng 8 năm 2015, Sơn Tùng M-TP tổ chức buổi ra mắt ca khúc pop ballad mới mang tên "Âm thầm bên em" bằng hình thức trình diễn live cùng ban nhạc và được truyền trực tiếp "live streaming" trên internet thông qua kênh Youtube chính thức. Buổi giới thiệu tuy chỉ diễn ra trong 20 phút nhưng đã thu hút hơn 15.000 người theo dõi trực tuyến. Ngay sau đó, MV "Âm thầm bên em" ra mắt và lập tức thu về hàng triệu lượt xem. Trung tuần tháng 8 năm 2015, sau khi nhận được số phiếu bình chọn cao nhất của khán giả, Sơn Tùng M-TP trở thành gương mặt đại diện của Việt Nam tham gia vòng bình chọn Nghệ sĩ quốc tế xuất sắc nhất khu vực Đông Nam Á (Best Southeast Asia Act) trong khuôn khổ giải thưởng MTV Europe Music Awards 2015. Anh tiếp tục vượt qua 5 đại diện của các nước trong khu vực và bước vào vòng bình chọn tiếp theo là Worldwide Act: Asia. Tuy nhiên, anh đã không giành chiến thắng ở hạng mục này. Tại lễ trao giải Làn Sóng Xanh 2015 diễn ra tối 18/12 tại sân khấu Lan Anh TP HCM, Sơn Tùng M-TP đã đạt được 3 giải thưởng: "Top 10 nhạc sĩ được yêu thích", "Top 5 ca sĩ được yêu thích - bảng trẻ", và "Single của năm" cho đĩa đơn Âm thầm bên em. Trong đêm đó anh cũng biểu diễn bài hát "Buông đôi tay nhau ra" của mình. Vào cuối năm 2015 đầu 2016 anh đã tổ chức một liveshow của mình tại Sài Gòn và Hà Nội với tên gọi M-TP Ambition - Chuyến bay đầu tiên. === 2016: "Một năm mới bình an" và "Chúng ta không thuộc về nhau" === Ngày 24 tháng 1 năm 2016, Sơn Tùng M-TP tung ra MV " Một năm mới bình an". Ngày 2 tháng 8 năm 2016, Sơn Tùng M-TP tung ra MV "Chúng ta không thuộc về nhau". MV này đã bị cộng đồng mạng nghi ngờ đạo bài "We don't talk anymore" của Charlie Puth. === 2017: Rời khỏi WePro, thành lập M-TP Entertainment. "Lạc trôi" và "Nơi này có anh" === Ngày 1 tháng 1 năm 2017, Sơn Tùng M-TP tung ra video "Lạc trôi".. "Lạc trôi" lọt top 10 những MV nhiều lượt xem nhất trong 24 giờ tại YouTube với 4,4 triệu lượt xem. Đây là ca khúc đầu tiên Tùng ra mắt với M-TP Entertainment. Ngày 14 tháng 2 năm 2017, để kỷ niệm ngày lễ tình yêu, Sơn Tùng M-TP đã tung ra MV "Nơi này có anh" với nhiều cảnh quay ở Hàn Quốc. Ca khúc tiếp tục đứng thứ nhất trong top 10 những MV nhiều lượt xem nhất trong 24 giờ tại YouTube với hơn 9 triệu lượt xem. Tuy nhiên "Nơi này có anh" lại tiếp tục bị nghi đạo bài "I'll give you galaxy" trong một bộ phim hoạt hình Nhật Bản. Ngày 22 tháng 2 năm 2017, anh ra mắt ca khúc Bình yên những phút giây. Chỉ trong một ngày ca khúc đã đạt gần 1 triệu lượt xem. Ngày 1 tháng 4 năm 2017, anh ra mắt album m-tp M-TP tập hợp 18 ca khúc đã làm nên tên tuổi M-TP. == Phong cách == Dòng nhạc chủ đạo mà Sơn Tùng M-TP đang theo đuổi là electronic và Dance-pop. Các tác phẩm của anh luôn tạo ra được chất riêng với sự hòa hợp từ nhiều dòng nhạc khác nhau: một chút dance, một chút R&B, một chút rap, hip-hop và một chút âm hưởng dân ca Bắc Bộ. Phong cách của Sơn Tùng nhiều lần bị nghi đạo G-Dragon (nhóm Big Bang). Theo Sơn Tùng, M-TP nghĩa là Music (Âm nhạc) - Tài năng - Phong cách. == Tranh cãi == Ngoài việc có phong cách bị coi là giống với ông hoàng thời trang G-Dragon, Sơn Tùng M-TP còn bị "nghi ngờ" đạo nhạc nhiều lần. Các ca khúc được cho đã được lấy beat sẵn từ các bài hát nổi tiếng Hàn Quốc, Nhật Bản hay nhạc US (Hoa Kỳ). Dưới đây là danh sách các bài hát do Sơn Tùng M-TP trình bày bị nghi là đạo từ các ca khúc của những ca sĩ khác: "Cơn mưa ngang qua" - "Sarangi Mareul Deutjianha" của Namolla Family và "Remember" của Bang Yong Guk (B.A.P). "Nắng ấm xa dần" - "Monologue" của As One. "Em của ngày hôm qua" - "Every Night" của EXID. "Anh sai rồi" - "Loveless" của Yamashita Tomohisa, Ren Nuest. "Chắc ai đó sẽ về" - "Because I miss you" của Jung Yong Hwa. Tuy nhiên, theo phía Hàn Quốc xác nhận là Sơn Tùng không đạo nhạc vì vậy Cục nghệ thuật biểu diễn Việt Nam cho biết không có cơ sở để không cho phép phổ biến bài hát này. Ngày 5/12, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch ra kết luận cuối cùng rằng bài hát "Chắc ai đó sẽ về" bị ảnh hưởng từ ca khúc của Hàn Quốc về hòa âm, và ra quyết định cấm lưu hành bài hát cho tới khi sửa lại phần beat. Cuối cùng, ca khúc tiếp tục được lưu hành và bộ phim Chàng trai năm ấy được công chiếu sau khi bài hát được hòa âm lại bằng một bản phối mới. "Không phải dạng vừa đâu" - "Set fire to the rain" của Adele. "Chúng ta không thuộc về nhau" - "We don't talk anymore" của Charlie Puth và ''Fire'' của BTS. "Nơi này có anh" - "I'll give you galaxy" của phim hoạt hình Nhật Bản. == Danh sách đĩa nhạc == === Hát chính === === Hợp tác === == Danh sách album == == Phim tham gia == === Phim điện ảnh === == Giải thưởng == == Sức ảnh hưởng == Một số ca khúc của anh đã được đưa vào đề thi môn Ngữ văn của lớp 12, tiêu biểu là "Lạc trôi". Học kì II năm 2016 - 2017, đề thi tính số học sinh hâm mộ Sơn Tùng M-TP được đưa vào đề thi môn toán của lớp 6 ở quận Ba Đình, thành phố Hà Nội. == Tham khảo == == Liên kết ngoài == Sơn Tùng M-TP trên Facebook Sơn Tùng M-TP trên Instagram
đặc sản.txt
Đặc sản là tên gọi chỉ chung về những sản vật, sản phẩm, hàng hóa (thường là nông sản) mang tính đặc đặc thù hoặc có nhiều điểm đặc biệt, riêng có mà xuất xứ từ những vùng, miền, địa phương và tạo nên những nét đặc trưng của một vùng, miền hay một địa phương nào đó. Khái niệm đặc sản cũng không nhất thiết chỉ về những sản phẩm, sản vật được ra đời đầu tiên tại vùng, miền hay địa phương nhưng nó mang tính chất thông dụng, phổ biến tại địa phương hay có chất lượng cao hơn hẳn những sản phẩm cùng loại và được nhân dân địa phương coi như sản phẩm truyền thống của địa phương mình. == Thuật ngữ == Trong tiếng Việt, đặc sản thường dùng để chỉ về lĩnh vực ẩm thực đặc biệt là những món ăn, thức uống, nguyên liệu, hương liệu, gia vị trong ẩm thực mang tính đặc thù của một địa phương, đặc sản thường được dùng là quà biếu trong mỗi chuyến đi, đến từ một vùng miền nổi tiếng về một loại đặc sản nào đó, nó còn có ý nghĩa trong hoạt động du lịch. Ở phương Tây, khái niệm đặc sản (Local food) là một phần của khái niệm mua bán hàng hóa địa phương và nền kinh tế địa phương, và thường được những chế độ ưu đãi để mua hàng hoá sản xuất trong nước, vùng miền sản xuất. Đặc sản cũng không chỉ đơn thuần là một khái niệm địa lý dù những sản phẩm này có chứa những chỉ dẫn địa lý về vùng, miền, quốc gia nó xuất xứ. Trong ẩm thực, đặc sản có thể là những món ăn, thức uống, thông dụng, phổ biến và có thương hiệu toàn cầu nhưng cũng có thể là những món ăn, thức uống gia truyền, bí truyền hay mang tính độc đáo chẳng hạn như những món ăn từ côn trùng, sâu bọ, ấu trùng hoặc từ những bộ phận, phủ tạng hoặc được chế biến bằng những phương pháp đặc biệt. == Một số loại đặc sản == Một số loại đặc sản nổi tiếng trên thế giới từ nhiều nước khác nhau như: Cà ri, cà ri gà và sa tế của Ấn Độ Mía của Cuba (được Tố Hữu mô tả là "ngọt lịm đường" và xì gà La Habana Hủ tiếu Nam Vang xuất phát từ Camphuchia của những người gốc Hoa. Spaghetti món Mì Ý, loại mì sợi nổi tiếng ở Ý Bánh mì Pháp, bánh sừng bò nổi tiếng tại nước Pháp Các món đặc sản truyền thống của Trung Hoa như: Há cảo, sủi cảo, hoành thánh, màn thầu, điểm sấm, xíu mại, trà sữa Trân Châu, bánh bao hấp…. Cùng các món ăn gắn với các địa danh như vịt quay Bắc Kinh, cơm chiên Dương Châu, ngoài ra còn có các loại rượu Mao Đài, Nữ nhi hồng…. Xúc xích ở Đức Sữa chua Koumis của Mông Cổ Sushi, rượu Sake ở Nhật Bản Món Lẩu Thái của Thái Lan Sa lát Nga, một món Sa lát nổi danh Dầu ô liu ở vùng Địa Trung Hải Tóp mỡ và bo bo, đặc sản trong thời kỳ bao cấp Nhãn lồng ở Hưng Yên, ngoài ra còn các món chế biến từ thịt gà Đông Cảo Bánh đậu xanh ở Hải Dương (Bánh đậu xanh Rồng Vàng) Cốm làng Vòng Các loại Phở như phở Bắc, phở bò, phở gà… ở Hà Nội Bún bò Huế ở Huế, cùng với các loại bánh bèo, bánh nậm, bánh bột lọc (bộ ba bèo, nậm, lọc), bánh in, kẹo mè xửng…. Hủ tiếu Mỹ Tho ở Tiền Giang Mỳ Quảng ở vùng Quảng Nam Muối tôm, bánh canh Trảng Bàng ở Tây Ninh Nước mắm Phú Quốc (đặc biệt là nước mắm nhĩ) ở vùng đảo Phú Quốc Nước mắm Phan Thiết ở Phan Thiết Trà xanh (trà móc câu) ở Thái Nguyên Kẹo dừa, đặc sản của xứ dừa Bến Tre, ngoài ra xứ này còn có các sản phẩm là từ dừa Bánh hỏi ở vùng Bình Định Bánh mì Sài Gòn (bánh mì kẹp (Việt Nam)), hủ tiếu gõ ở thành phố Hồ Chí Minh Mực một nắng ở Bình Thuận Rượu cần ở vùng Tây Nguyên, cà phê ở Ban Mê Thuột Mứt hạt bàng ở vùng Côn Đảo Nem chua Thanh Hóa Nem Lai Vung ở vùng Đồng Tháp Bánh cuốn thịt nướng ở Hà Nam Chả cá Lã Vọng ở Hà Nội Bánh cuốn Thanh Trì ở Thanh Trì, Hà Nội Kẹo cu đơ ở Hà Tĩnh Bánh đa cua và Chả chìa ở Hải Phòng Gạo nàng thơm chợ Đào, rượu đế Gò Đen ở Long An Mực nhảy ở Cửa Lò, Nghệ An Dê núi Ninh Bình ở vùng Ninh Bình Kẹo mạch nha và đường phổ ở Quảng Ngãi Thịt lợn Móng Cái ở Quảng Ninh Bánh pía ở vùng Sóc Trăng Rượu Kim Long ở Quảng Trị Bò sữa ở Mộc Châu, tỉnh Sơn La Chả chìa và bánh mì cay ở Hải Phòng. Bê thui Cầu Mống của Quảng Nam Bò tơ Củ Chi == Tham khảo == McWilliams, James. Just Food: Where Locavores Get It Wrong and How We Can Truly Eat Responsibly. New York: Little, Brown and Company, 2010. Wilk, Richard, ed. Fast Food/Slow Food: The Cultural Economy of the Global Food System. Walnut Creek: Altamira Press, 2006. Stănescu, Vasille. "€œGreen€ Eggs and Ham? The Myth of Sustainable Meat and the Danger of the Local - ngày 10 tháng 12 năm 2010." €œGreen€ Eggs and Ham? The Myth of Sustainable Meat and the Danger of the Local. N.p., n.d. Web. 11 Feb. 2013. Raloff, Janet. "AAAS: Climate-friendly Dining... Meats | Environment | Science News."AAAS: Climate-friendly Dining... Meats | Environment | Science News. N.p., n.d. Web. 11 Feb. 2013. Christopher L. Weber and H. Scott Matthews, "Food-Miles and the Relative Climate Impacts of Food Choices in the United States " Environ. Sci. Technol., 42, no.10 (2008): 3508. Caroline Saunders, Andrew Barber, and Greg Taylor, "Food Miles – Comparative Energy/Emissions Performance of New Zealand’s Agriculture Industry" Research Report No. 285 Lincoln University, New Zealand, July 2007. 93. == Xem thêm == Đặc sản Thái Bình Ẩm thực Ẩm thực Việt Nam
đế quốc nhật bản.txt
Đế quốc Nhật Bản hay Đại Nhật Bản Đế quốc (Kanji mới: 大日本帝国, Kanji cũ: 大日本帝國, だいにっぽんていこく, だいにほんていこく, Dai Nippon Teikoku) là một quốc gia dân tộc trong lịch sử Nhật Bản tồn tại từ cuộc cách mạng Minh Trị năm 1868 cho đến khi Hiến pháp Nhật Bản được ban hành vào năm 1947 Quá trình công nghiệp hóa và quân phiệt hóa nhanh chóng dưới khẩu hiệu Fukoku Kyōhei (富國強兵, phú quốc cường binh) đã giúp Nhật Bản nổi lên như một cường quốc và kèm theo đó là sự thành lập của một đế quốc thực dân. Tình hình kinh tế và chính trị hỗn loạn trong thập niên 1920 đã dẫn tới sự trỗi dậy của chủ nghĩa quân phiệt, và đỉnh điểm là việc Nhật Bản gia nhập phe Trục rồi đi chinh phạt phần lớn vùng châu Á-Thái Bình Dương. Sau một vài thắng lợi lớn trong Chiến tranh Trung-Nhật (1937-1945) và Chiến tranh Thái Bình Dương, đế quốc cũng đã phải đón nhận tai tiếng vì những tội ác chiến tranh gây ra đối với nhân dân các lãnh thổ xâm chiếm. Tuy nhiên, giai đoạn thành công trôi qua là hàng loạt thất bại kéo đến. Theo sau sự kiện Liên Xô tuyên chiến và xâm lược Mãn Châu, cùng hai vụ ném bom nguyên tử xuống Hiroshima và Nagasaki, đế quốc đã phải đầu hàng trước quân Đồng minh vào ngày 15 tháng 8 năm 1945. Tiếp đến là thời kỳ Đồng minh chiếm đóng, và với việc hiến pháp mới được tạo lập vào năm 1947, Đế quốc Nhật Bản chính thức tan rã. == Bối cảnh và Danh hiệu == Khoảng thời gian bao gồm các thời kỳ lịch sử Minh Trị (明治時代), Đại Chính (大正時代) và Chiêu Hòa (昭和時代). Những Thiên hoàng trong giai đoạn này gồm có Thiên hoàng Minh Trị, Thiên hoàng Đại Chính và Thiên hoàng Chiêu Hòa. Những biến cố quan trọng của thời kỳ này: 3 tháng 1 năm 1868: Phục hồi quyền lực của thiên hoàng (王政復古の大号令) 3 tháng 5 năm 1868: Sự sụp đổ của chế độ Đức Xuyên Mạc phủ (Tokugawa Bakufu - 徳川幕府) 29 tháng 8 năm 1871: Hủy bỏ giai cấp lãnh chúa địa phương (廃藩置県) 29 tháng 11 năm 1890: Ban hành Hiến pháp Đế quốc Nhật Bản Nhật Bản phát triển nhanh chóng về mặt kỹ nghệ và quân sự, trở thành một cường quốc Chiến tranh thế giới thứ hai: Đế quốc Nhật Bản tham chiến theo ký kết liên hiệp với khối Trục, xâm chiếm nhiều nước, lãnh thổ khắp châu Á và Thái Bình Dương. 2 tháng 9 năm 1945: Nhật Bản đầu hàng khối Đồng Minh và chấm dứt thể chế đế quốc. 3 tháng 5 năm 1947: Ban hành Hiến pháp của Nhà nước Nhật Bản (giải thể Đế quốc Nhật Bản). Theo hiến pháp, Đế quốc Nhật Bản khởi đầu từ 29 tháng 11 năm 1890 - sau cuộc cải cách chính trị phục hưng đem quyền lực cai trị cả nước Nhật về tay Thiên hoàng Minh Trị - và giải thể hệ thống Mạc phủ Tokugawa. Tuy vậy, chính sách đế quốc bắt đầu trước đó, từ năm 1871, khi Nhật chú trọng việc bảo vệ lãnh thổ và đồng thời phát huy quân sự dòm ngó các nước láng giềng. Thời đại đế quốc kéo dài qua ba triều đại: Minh Trị (1868 - 1912), Đại Chính (1912 - 1926) và 21 năm đầu (1927 - 1945) của Chiêu Hòa (Thiên hoàng Hirohito trị vì cho đến 1989). Đế quốc Nhật Bản, Phát xít Ý và Đức Quốc xã nằm trong khối Trục trong Chiến tranh thế giới thứ hai, cả ba đều có chủ trương làm bá chủ toàn cầu. Trước cuộc chiến này, hải quân Nhật thuộc hạng mạnh nhất nhì thế giới, đủ sức đánh bại Liên Xô và Trung Quốc. Sau năm 1940, khi kỹ nghệ phát triển vượt bực và quân lực tăng cường tối đa, Nhật bắt đầu đặt kế hoạch xâm lăng các nước láng giềng - Trung Quốc, Triều Tiên và Đông Nam Á. == Lịch sử == Cội nguồn của Đại Nhật Bản Đế quốc có từ cuộc khôi phục hoàng quyền vào thời kỳ Minh Trị. Đây là một cuộc thay đổi chính trị rất lớn trong lịch sử Nhật Bản. Trước đó, Mạc phủ Togukawa lấn át Thiên hoàng, nắm mọi quyền hạn trong tay cai trị các đảo của Nhật Bản, bế môn tỏa cảng, chú tâm trùng tu xây dựng văn hóa, nghệ thuật. Lúc bấy giờ, các thế lực đế quốc Tây phương như Hoa Kỳ, Anh Quốc, Đức và Hà Lan đang nỗ lực lấn chiếm các nước châu Á. Do sức ép của thay đổi bên ngoài, chính quyền Nhật Bản phải chịu ký hiệp ước "bất bình đẳng" với Hoa Kỳ tại Kanagawa. Dân chúng Nhật lấy làm bất mãn khi thấy Nhật chịu yếu thế. Fukuzawa Yukichi, một nhà tư tưởng Nhật, đưa ra kế hoạch cải tiến Nhật Bản bằng cách thay đổi hoàn toàn hệ thống chính trị, bỏ những tư tưởng Á châu hủ lậu, dồn sức canh tân kỹ nghệ để theo kịp Tây phương, và đồng thời mở rộng tầm ảnh hưởng Nhật đối với các nước láng giềng. Fukuzawa Yukichi thúc đẩy Nhật Bản vào đường lối chính trị thực tiễn, xa rời những tư tưởng có tính chất tình cảm hay lý tưởng không thực. Ông kêu gọi dân Nhật thoát khỏi vòng suy nghĩ Á châu, học hỏi theo Tây phương, biện minh rằng xã hội muốn theo kịp văn minh phải thay đổi theo thời gian và hoàn cảnh. Ông viết: "Văn minh lây giống như bệnh sởi. Nó còn hay hơn bệnh sởi vì nó đem lại nguồn lợi". Ông đòi hỏi dân Nhật phải ráng "nếm mùi văn minh" - đó là văn minh Tây phương - và chấp nhận thay đổi. Fukuzawa Yukichi phát huy tinh thần tự tin, tự tạo sức mạnh thể chất và giáo dục của từng cá nhân. Trong vòng 30 năm, nước Nhật thay đổi nhanh chóng và trở thành một trong các đại cường quốc trên thế giới. == Chính trị == === Hiến pháp === Đại Nhật Bản Đế quốc Hiến pháp được ban hành năm 1889, chính thức trao nhiều quyền hạn chính trị vào tay Thiên hoàng. Tuy nhiên cho đến 1936, từ "Đại Nhật Bản Đế quốc" mới được chính thức sử dụng. Những từ khác để chỉ Nhật Bản lúc bấy giờ gồm có: 日本 Nhật Bản, 大日本 Đại Nhật Bản, 日本國 Nhật Bản Quốc, 日本帝國 Nhật Bản Đế quốc. Trong bản thảo hiến pháp 1946, một năm sau khi đầu hàng, Nhật thiết lập hệ thống chính trị và tên hiệu của nước trở thành: 日本国 Nhật Bản Quốc. == Kinh tế == Trước Chiến tranh thế giới thứ hai, Nhật mở rộng vòng đai đế quốc, cai quản Đài Loan, Triều Tiên, Mãn Châu và vùng Bắc Trung Hoa. Nhật xem vòng đai này là một yếu tố quan trọng để bảo vệ quyền lợi và an ninh, đề phòng các thế lực bên ngoài chận khóa đường biển bóp nghẹt kinh tế của mình. Nhận thức được tài nguyên của mình hạn chế, Nhật ra sức vơ vét tài nguyên từ các thuộc địa để tăng cường quân lực và làm hậu thuẫn cho việc tiếp tục mở rộng lãnh thổ đế quốc. Sau 1868, kinh tế Nhật Bản tiến triển qua hai giai đoạn. Giai đoạn đầu chú trọng phát triển nông nghiệp để cung cấp cho cải tiến kỹ nghệ. Trong Chiến tranh Nga-Nhật bắt đầu năm 1904, Nhật có 68% dân có việc làm và 38% tổng sản phẩm quốc dân vẫn từ nông nghiệp. Đến giai đoạn thứ nhì trong thập niên 1920 lượng sản xuất kỹ nghệ và mỏ khoáng lên đến 23% GDP so 21% của với sản xuất nông nghiệp. Kỹ thuật giao thông và liên lạc cũng phát triển nhanh để kịp mức tiến của kỹ nghệ. == Quân sự == Vào thời điểm này, các gia tộc kỹ nghệ đại tư bản như Mitsubishi, Mitsui, Sumitomo, Yasuda bắt đầu phát triển và nhận thức được sự cần thiết của nguyên liệu và tài nguyên mà Nhật Bản không có sẵn. Quan niệm về xâm lăng nước láng giềng dần dần lớn mạnh với nhiều mục đích: tạo vòng đai quân sự bảo vệ an ninh lãnh thổ Nhật Bản, lấy tài nguyên phát triển kỹ nghệ và tạo thị trường tiêu thụ hàng Nhật. Trong khi đó, các thế lực Tây phương như Hoa Kỳ, Anh Quốc, Pháp cũng đang cố gắng bành trướng ảnh hưởng kinh tế vào châu Á - nhất là Trung Hoa. Nhận thấy nguy cơ thua kém các thế lực "mọi da trắng" ngay trên địa bàn của mình, Nhật Bản ra sức củng cố phát huy kỹ nghệ - đặc biệt là vũ khí quân sự và trong vòng vài năm tạo dựng được một lực lượng quân sự hùng mạnh. Araki Sadao là một lãnh tụ khuynh hữu đảng quân phiệt Nhật, từng lãnh đạo Hội Hoạt động Từ thiện Đế quốc (Kōdōha) đối lập với Nhóm Kiểm soát (Tōseiha) của tướng Kazushige Ugaki. Ông gắn liền cổ học Nhật (võ sĩ đạo - bushidō) với chủ thuyết phát xít đang thịnh hành tại châu Âu, đưa đến phong trào hoạt động dưới dạng phát xít Nhật (Quốc xã shōwa). Từ 1932, Nhật Bản lọt vào thế buộc phải đi đến chiến tranh theo hướng dẫn của Araki. Chủ nghĩa độc tài, quân phiệt và bành trướng được chấp nhận như lời giải duy nhất cho tình huống bấy giờ của Nhật Bản và ít có ai lên tiếng phản đối. Trong cuộc họp báo ngày 23 tháng 9 năm 1932, Araki đưa ra khái niệm Kodoha (Đạo đế quốc), gắn liền Thiên hoàng, người Nhật, đất Nhật và tinh thần Nhật vào một khối không thể tách rời. Từ đó nảy ra một loại "giáo đạo" mới tôn sùng Thiên hoàng trong lòng người Nhật. Nước Nhật trở thành một công cụ phục vụ cho quân đội và Thiên hoàng Nhật Bản. Gươm Nhật (katana) được đem ra làm phù hiệu cho lý tưởng đế quốc, súng Nambu được dùng để biểu hiện tinh thần cận chiến của quân đội Nhật. Một mơ ước của giới quân phiệt cực hữu là làm sống lại hệ thống Mạc phủ khi xưa, nhưng dưới dạng quân trị hiện đại - nghĩa là Thiên hoàng chỉ là long trọng viên và quyền hạn chỉ huy cả nước nằm trong tay lãnh tụ quân sự với danh nghĩa phụ chính - tương tự như chức Duce của Benito Mussolini ở Ý và quyền Führer của Adolf Hitler ở Đức. Tuy nhiên một số nhà quân sự Nhật thời này ra sức ngăn cản lối suy nghĩ này, quyết giành quyền lực hoàn toàn vào tay Thiên hoàng. === Hải quân === Hải quân Đế quốc Nhật Bản (kanji cổ: 大日本帝國海軍, kanji mới: 大日本帝国海軍, romaji: Dai-Nippon Teikoku Kaigun, phiên âm Hán-Việt: Đại Nhật Bản đế quốc hải quân), thường gọi tắt là Hải quân Nhật, là lực lượng hải quân của Đế quốc Nhật Bản từ năm 1869 khi thành lập cho đến năm 1947 khi nó bị giải tán theo điều 9 của Hiến pháp Nhật Bản từ bỏ việc sử dụng vũ lực như là phương cách để giải quyết các tranh chấp quốc tế. Đây là lực lượng hải quân lớn thứ ba trên thế giới vào năm 1920 sau Hải quân Hoa Kỳ và Hải quân Hoàng gia Anh, và có lẽ là lực lượng hải quân hiện đại nhất thời điểm cận kề Chiến tranh Thế giới II. Những chiến hạm trong lực lượng này còn được hỗ trợ bằng máy bay và hoạt động không kích từ Không lực Hải quân Đế quốc Nhật Bản. == Trước Chiến tranh thế giới thứ nhất == === Chiến tranh Trung-Nhật lần thứ nhất === Trước khi tham dự vào Chiến tranh thế giới thứ nhất, sau khi được thành lập sau cuộc Minh Trị Duy tân, Đế quốc Nhật Bản đã tham gia 2 cuộc chiến quan trọng. Cuộc chiến thứ nhất là Chiến tranh Nhật-Trung thứ nhất xảy ra giữa thời kỳ 1894 và 1895. Cuộc chiến này chủ yếu là xung quanh việc tranh giành quyền kiểm soát và ảnh hưởng đối với nhà Triều Tiên. Một cuộc nổi loạn của nông dân đã dẫn tới việc triều đình Triều Tiên thỉnh cầu Trung Quốc gửi quân qua Triều Tiên để ổn định tình hình. Đế quốc Nhật Bản đáp trả bằng cách gửi quân Nhật qua Triều Tiên và dựng nên một triều đình bù nhìn ở kinh đô Seoul. Trung Quốc phản đối, và chiến tranh nổ ra. Quân Nhật đánh bại quân Trung Quốc ở bán đảo Liêu Đông và gần như phá tan hải quân Trung Quốc tại Trận chiến sông Nha Lục. Trung Hoa bị buộc phải ký vào Hiệp ước Shimonoseki, nhường nhiều phần của Mãn Châu và đảo Đài Loan cho Nhật Bản (xem Đài Loan dưới sự cai trị của Nhật Bản). Hiệp ước cũng thiết lập quyền tối cao của Nhật Bản tại Trung Hoa trong 50 năm sau. === Chiến tranh Nga-Nhật === Chiến tranh Nga-Nhật là một cuộc xung đột tranh giành quyền kiểm soát Triều Tiên và một số vùng của Mãn Châu giữa Đế quốc Nhật Bản với Đế quốc Nga xảy ra trong giai đoạn 1904-1905. Cuộc chiến này có ý nghĩa quan trọng do đây là cuộc chiến hiện đại đầu tiên mà một nước châu Á đánh bại một cường quốc châu Âu và đã giúp nâng cao hình ảnh và vị thế nước Nhật trên chính đàn quốc tế. Cuộc chiến được đánh dấu bằng việc Nhật xóa bỏ được quyền lợi của Nga tại Triều Tiên, Mãn Châu và Trung Quốc. Đáng kể là bán đảo Liêu Đông, bị kiểm soát bởi thành phố cảng Lữ Thuận (旅順口, cảng Arthur). Thoạt đầu, trong hiệp ước Shimonseki, cảng Lữ Thuận đã được nhượng cho Nhật. Phần này của hiệp ước bị các nước lớn ở phương Tây bác bỏ, cảng được chuyển cho Đế quốc Nga, tăng thêm quyền lợi của Nga trong khu vực. Những quyền lợi này xung đột với quyền lợi của Nhật Bản. Cuộc chiến bắt đầu với một cuộc tấn công bất ngờ của Nhật vào hạm đội Đông Nga đóng ở cảng Lữ Thuận, tiếp theo là Trận Hải chiến cảng Lữ Thuận. Các đơn vị Nga cố gắng trốn chạy đã bị đánh bại thê thảm tại trận chiến Hoàng Hải bởi lực lượng hải quân Nhật do Đô đốc Togo Heihachiro chỉ huy. Một năm sau, hạm đội Baltic của Nga đã đến đây nhưng cũng bị tiêu diệt ở Hải chiến Đối Mã. Tuy đối với Nga, chiến trận trên bộ không có kết quả thảm hại đến như vậy và quân Nga đông hơn người Nhật, 300.000 so với 220.000 nhưng quân đội Nhật đã đánh mạnh hơn nhiều so với đối phương Nga và giành được một lợi thế chính trị mà lợi thế này kết hợp với Hiệp ước Portsmouth được đàm phán với Tổng thống Theodore Roosevelt ở Hoa Kỳ. Kết quả là, đế quốc Nga mất một nửa đảo Sakhalin, cũng như nhiều quyền khai khoáng tại Mãn Châu. == Chiến tranh thế giới thứ nhất == Nhật Bản tham gia Chiến tranh thế giới thứ nhất năm 1914 theo phe Entente nhân cơ hội Đế quốc Đức đang bận rộn với chiến tranh ở châu Âu và Nhật muốn mở rộng phạm vi ảnh hưởng ở Trung Quốc. Nhật Bản tuyên chiến với Đức ngày 23 tháng 8 năm 1914 và nhanh chóng chiếm những lãnh thổ: Sơn Đông, và Mariana, Caroline và Quần đảo Marshall ở Thái Bình Dương (lúc đó gọi là Tân Guinea thuộc Đức). Trận Thanh Đảo là một cuộc đổ bộ chớp nhoánh vào thuộc địa Giao Châu của Đức tại Trung Quốc và toàn bộ quân Đức tại đây đầu hàng vào ngày 7 tháng 11 năm 1914. Đối với đồng minh phương Tây, đặc biệt là Anh đang đương đầu chiến tranh nặng nề tại châu Âu, Nhật Bản tìm cách bám lấy vị thế của mình tại Trung Quốc bằng việc đưa ra 21 điều đòi hỏi áp đặt lên Trung Quốc vào năm 1915. Ngoài việc nới rộng tầm kiểm soát của họ lên các tô giới của Đức ở Mãn Châu và Nội Mông, Nhật Bản còn muốn chia phần làm chủ một cơ sở chính khai thác và luyện kim ở miền trung Trung Quốc, cấm đoán Trung Quốc nhường hay cho thuê các khu duyên hải cho một cường quốc thứ ba, kiểm soát các thứ linh tinh từ quân sự, chính trị và kinh tế. Nếu những điều đó được thành công thì Trung Quốc đã trở thành nước bảo hộ của Nhật Bản. Tuy nhiên phải đối mặt với những thương lượng chậm chạp với chính phủ Trung Quốc, thái độ chống Nhật đang lan rộng tại Trung Quốc và những chỉ trích của quốc tế, Nhật Bản rút lại một số đòi hỏi và các hiệp ước đã được ký vào ngày 7 tháng 5 năm 1915. == Chiến tranh thế giới thứ hai == Đế quốc Nhật Bản liên minh quân sự với Đức quốc xã và phát xít Ý vì có chung mục đích là chia sẻ vùng ảnh hưởng của mình; phát xít Đức và Ý bành trướng ở châu Âu và đế quốc Nhật bành trướng ở châu Á. Liên minh quân sự này được hình thành để tăng cường sức mạnh quân sự của họ và sự hợp tác trong quan hệ với các quốc gia khác, được biết với tên gọi là phe Trục. Sau khi các hiệp ước bất bình đẳng bị hủy bỏ khi đế quốc Nhật đã hùng mạnh về quân sự và bắt đầu tranh chấp các lãnh thổ của các quốc gia khác (như Trung Quốc, Nga), các nước phe Đồng Minh, đặc biệt là Hoa Kỳ và Anh, liền hạn chế giao thương với Nhật. Liên minh phe Trục được Đức quốc xã đem ra để gây áp lực với Anh và Hoa Kỳ và như lời cảnh cáo với Hoa Kỳ là hãy đứng ngoài cuộc trong Chiến tranh thế giới thứ hai còn nếu như không sẽ bị lôi kéo vào cuộc chiến từ hai mặt trận - phía đông và phía tây. Vào ngày 4 tháng 9 năm 1941, nội các Nhật Bản họp để xem xét về kế hoạch chiến tranh và ra quyết định: Đế quốc của chúng ta vì mục đích tự vệ và tự bảo tồn sẽ hoàn tất sự chuẩn bị chiến tranh… [và] … giải quyết bằng chiến tranh với Hoa Kỳ, Anh và Hà Lan nếu thấy cần thiết. Đế quốc của chúng ta sẽ cố gắng tìm mọi hình thức ngoại giao có thể có, mặt đối mặt với Hoa Kỳ và Anh Quốc để đạt được mục tiêu của mình … Trong trường hợp những đòi hỏi của chúng ta không có triển vọng được đáp ứng trong 10 ngày đầu tháng 10 qua thương lượng ngoại giao được nói ở trên, chúng ta sẽ phải quyết định đối đầu với Hoa Kỳ, Anh và Hà Lan. === Thành viên của khối Trục === Ngày 27 tháng 9 năm 1940, Nhật, Đức, Ý ký hiệp định Đồng Minh, lập Trục phát xít Âu-Á. Hitler có dự lễ ký ở Berlin, Mussolini không đánh giá cao việc này. Nhật Bản đã tham dự cùng Đức quốc xã dưới thời Adolf Hitler và phát xít Ý dưới thời Benito Mussolini trong một liên minh quân sự gọi là phe Trục để "thiết lập và gìn giữ trật tự mới" và bảo vệ lẫn nhau trong trường hợp một trong 3 nước bị tấn công, đây là kết quả của hiệp định 3 bên và một liên minh. Điều 1 Hiệp định viết: Nhật thừa nhận "sự lãnh đạo của Đức và Ý trong việc lập lại trật tự mới tại châu Âu". Điều 2, Đức và Ý thừa nhận vai trò tương ứng của Nhật tại châu Á. 3 nước thoả thuận sẽ giúp nhau nếu một trong 3 nước bị Mỹ tấn công. Hiệp định có thời hạn 10 năm. Ngày 31 tháng 12 năm 1940, Matsuoka Yosuke đã phát biểu với một nhóm các nhà kinh doanh Do Thái rằng ông ta là người "chịu trách nhiệm cho liên minh với Hitler nhưng trong đó tôi đã không hứa hẹn rằng tôi sẽ thi hành các chính sách bài Do Thái ở Nhật. Đây không đơn giản là ý kiến cá nhân của tôi, đây là ý kiến của Nhật Bản, và tôi không hối hận khi thông báo điều này ra toàn thế giới." === Xâm lăng và các trận chiến === ==== Trung Quốc ==== Nhật Bản hiện diện tại Trung Quốc, Triều Tiên và các quốc gia khác tại Đông Nam Á là vì thiếu các nguồn tài nguyên một cách trầm trọng. Nhật cần các nguồn tài nguyên này để tiếp tục phát triển và đẩy mạnh công nghiệp hóa nhanh chóng. Sau khi chiếm các vùng lãnh thổ của các nước này, Nhật bắt đầu tranh chấp lãnh thổ viễn đông của Nga và khởi sự xâm chiếm phía đông Mông Cổ. Nhật chuyển sang thể thức chính quyền tương tự như chính quyền phát xít vì kết quả của thời kỳ Đại khủng hoảng. Mặc dù kiểu chính quyền dị biệt này giống như kiểu phát xít nhưng có nhiều điểm khác nhau với chính quyền phát xít nên được đặt tên là chủ nghĩa quốc gia Nhật Bản. Không giống chế độ của Adolf Hitler và Benito Mussolini, Nhật Bản có hai mục tiêu kinh tế trong phát triển đế quốc. Trước tiên, ngành công nghiệp quân sự nội địa được kiểm soát chặt chẽ được dùng để khởi động kinh tế quốc gia trong suốt thời kỳ Đại khủng hoảng. Nhật buộc phải nhập cảng các nguyên liệu như sắt, dầu hoả và than đá vì thiếu các tài nguyên thiên nhiên ở trong nước để duy trì tăng trưởng mạnh trong ngành công nghiệp. Đa số các nguyên liệu đến từ Hoa Kỳ. Kết quả là vì kế hoạch phát triển công nghiệp quân sự này và vì sự tăng trưởng công nghiệp của Nhật, các lý thuyết về trọng thương thắng thế. Người Nhật cảm thấy rằng các thuộc địa giàu tài nguyên cần bị giành lại từ tay các cường quốc châu Âu. Trước đây Triều Tiên (1910) và Đài Loan (1895) đã bị sát nhập chính yếu như các thuộc địa nông nghiệp. Ngoài Triều Tiên và Đài Loan, Nhật đặt mục tiêu chính vào các mỏ sắt và than của Mãn Châu, cao su của Đông Dương và nguồn tài nguyên nông nghiệp của Trung Hoa. Nhật Bản xâm lược Trung Quốc vào năm 1937. Đảng Cộng sản của Mao Trạch Đông đã đề nghị Quốc dân đảng của Tưởng Giới Thạch ngừng nội chiến, và thành lập Quốc - Cộng hợp tác chống Nhật. Trong năm đó, thủ đô Quốc dân đảng là Nam Kinh rơi vào tay quân Nhật. Biến cố được biết đến với cái tên là thảm sát Nam Kinh xảy ra trong mùa đông năm 1937 và ước lượng có đến gần 300.000 người, đa số là dân thường bị giết chết. ==== Mãn Châu ==== Trước sự kháng cự yếu ớt, Nhật xâm lược và thôn tính được Mãn Châu năm 1931. Nhật tuyên bố cuộc xâm lăng đó là sự giải phóng Mãn Châu khỏi người Trung Quốc cũng như họ từng tuyên bố sự sát nhập Triều Tiên là hành động bảo hộ. Nhật liền khi đó dựng lên một chính quyền bù nhìn gọi là Mãn Châu quốc và đưa cựu hoàng đế Trung Quốc là Phổ Nghi làm quốc trưởng. Nhiệt Hà, lãnh thổ giáp ranh Mãn Châu quốc cũng bị chiếm vào năm 1933. ==== Malaysia ==== Trận chiến Malaya (hiện thời là Malaysia) là cuộc xung đột giữa quân đội Khối Liên hiệp Anh bao gồm Anh, Ấn Độ, Úc và Malaya từ lực lượng liên bang Malaya và quân đội Thiên hoàng bắt đầu từ ngày 8 tháng 12 năm 1941 cho đến ngày 31 tháng 1 năm 1942 trong Chiến tranh thế giới thứ hai. Kết quả là Nhật giành thắng lợi và bắt đầu chiếm đóng Malaya. ==== Thái Lan ==== Tháng 6 năm 1940, Nhật ký hiệp ước hữu hảo với Thái Lan, kích động Thái Lan mâu thuẫn với Pháp và tạo nên nguy cơ chiến tranh Xiêm-Pháp (năm 1940). ==== Việt Nam ==== Lợi dụng tình hình chiến tranh đang nổ ra ở châu Âu, đế quốc Anh, Pháp đang phải tập trung lực lượng ở mẫu quốc nên những lãnh thổ thuộc địa ở Đông Nam Á là miếng mồi ngon cho Nhật để gạt tầm ảnh hưởng. Ngày 14 tháng 4, Nhật gửi thông điệp cho Pháp đòi chiếm 8 sân bay ở Đông Dương. Ngày 14 tháng 7, Nhật đòi Pháp để Nhật dùng 8 sân bay ở Nam Việt Nam và sử dụng cảng Sài Gòn và Cam Ranh. Nhật mở cuộc tấn công Đông Dương ngày 22 tháng 9 quân Nhật tràn qua biên giới từ Long Châu vào Việt Nam và giao tranh quyết liệt với quân Pháp qua ngả Đồng Đăng. Giao tranh lan ra các đồn binh Pháp dọc biên giới. Quân Pháp bỏ chạy về Hà Nội. Nhật dần chiếm các vị trí trọng yếu như sân bay, trạm xe lửa, Hải Phòng và Hà Nội. Ngày 23 tháng 7, Nhật ký với chính quyền Pháp tại Đông Dương hiệp định cho Nhật chiếm Việt Nam. Mỹ phản ứng bằng cách ngừng đàm phán bí mật với Nhật và đóng băng tài sản Nhật. Về sau, máy bay Nhật cất cánh từ Sài Gòn đã tiêu diệt hạm đội Anh tại Singapore; từ sân bay Gia Lâm máy bay Nhật thường xuyên sang ném bom Côn Minh cắt đường tiếp tế của Mỹ sang Trung Quốc qua Miến Điện. ==== Singapore ==== Trận chiến Singapore (Tân Gia Ba) là trận chiến xảy ra tại chiến trường Đông nam Á trong Chiến tranh thế giới thứ hai khi Đế quốc Nhật xâm lược thành trì phe Đồng Minh ở Singapore. Chiến sự kéo dài từ 7 tháng 2 đến 15 tháng 2 năm 1942 và kết quả là Singapore rơi vào tay quân Nhật sau khi tướng Anh là Arthur Percival đầu hàng. Đây là cuộc đầu hàng lớn nhất trong lịch sử của lực lượng quân sự chỉ huy bởi Anh, khoảng 80.000 quân Ấn Độ, Úc và Anh trở thành tù binh chiến tranh cùng với 50.000 bị bắt trong cuộc xâm chiếm Malaysia của Nhật. ==== Miến Điện ==== ==== Đông Ấn (Nam Dương thuộc Hà Lan) ==== ==== Liên Xô ==== Ngày 13 tháng 4 năm 1941, Nhật và Liên Xô ký Hiệp ước Trung lập không xâm phạm lẫn nhau, nhờ đó Nhật rảnh tay đối phó với Mỹ, Anh. ==== Mông Cổ ==== Biến cố bắt đầu vào ngày 11 tháng 5 năm 1939 khi một đơn vị kị binh Mông Cổ khoảng 70-90 người tiến vào vùng tranh chấp để tìm cỏ cho ngựa ăn thì gặp kị binh Mãn Châu quốc tìm cách đuổi họ ra khỏi vùng tranh chấp. Hai ngày sau lực lượng này của Mông Cổ trở lại và người Mãn Châu bất lực không thể đuổi họ ra khỏi vùng này. Ngay thời điểm này quân đội Quan Đông Nhật bắt đầu nhập cuộc - một đơn vị trinh sát dưới quyền chỉ huy của Trung tá Yaozo Azuma - được phái đến để giao chiến với người Mông Cổ ngày 14 tháng 5, nhưng quân Mông Cổ rút lui về hướng tây sau một ít mất mát. Iosif Stalin ra lệnh cho STAVKA, chỉ uy cao cấp của Hồng quân, vạch ra một kế hoạch phản công chống lại quân Nhật. Georgi Konstantinovich Zhukov, một sĩ quan đầy hứa hẹn, được chọn để chỉ huy cuộc phản công. ==== Philippines ==== Nhật tiến hành các vụ oanh kích vào các vị trí quân sự Mỹ trên đất Philippines tiếp sau vụ oanh tạc Trân Châu Cảng ngày 7 tháng 12 năm 1941. Ngày 10 tháng 12 Nhật đổ bộ vào bờ biển Philippines mở màn trận chiến Philippines. Đến lượt trận chiến này gây ra thêm hai trận chiến khác là trận Bataan và trận Corregidor. Khoảng tháng 1 năm 1942 tướng Douglas MacArthur và tổng thống Manuel Quezon bị buộc phải tháo chạy trước mũi tiến công của Nhật. Sự kiện này đã đánh dấu một trong những cuộc bại trận tệ hại nhất trong quân sử Hoa Kỳ và bỏ lại trên 70.000 tù nhân chiến tranh Mỹ và Philippines trong tay Nhật. Hàng chục ngàn tù binh chết sau đó trên đường áp giải được biết sau này với cái tên Đường tử thần Bataan. Quân luật Đế quốc Nhật tồn tại trên hai năm. Nó được đánh dấu với cuộc kháng chiến của một số quân nổi dậy và sự thống khổ to lớn của nhân dân Philippines. Các lực lượng nổi dậy nhập cuộc với quân đội của tướng MacArthur ngày 19 tháng 10 năm 1944, và chiến dịch Philippines 1944-45 thành công tốt đẹp. Chiến sự kết thúc với sự ký kết đầu hàng của Nhật ngày 2 tháng 9 năm 1945. ==== Úc ==== Không quân Nhật Bản oanh tạc thành phố Darwin ngày 19 tháng 2 năm 1942. Đây là lần đầu tiên nước Úc bị một quốc gia khác tấn công và là một sự kiện quan trọng trên chiến trường Thái Bình Dương trong Chiến tranh thế giới thứ hai. Biến cố này thường được gọi là "Trân Châu Cảng của Úc". Mặc dù nó chỉ là mục tiêu không mấy đáng kể nhưng số bom được thả xuống Darwin nhiều hơn số bom được sử dụng trong cuộc tấn công Trân Châu Cảng. Tương tự như Trân Châu Cảng, thành phố Úc nầy cũng chưa sẵn sàng và bị tấn công bất ngờ. Mặc dù thành phố này bị Nhật Bản không kích thêm 63 lần nữa trong năm 1942 và 1943, cuộc không kích vào ngày 19 tháng 2 gây nhiều thiệt hại nhất. ==== Hoa Kỳ và trận Trân Châu Cảng ==== Sự kiện Đức gây chiến ở châu Âu thúc đẩy Nhật nam tiến. Mỹ là cản trở chính đối với Nhật tại mặt trận Thái Bình Dương. Mỹ luôn gây sức ép để cản trở Nhật vươn tầm ảnh hưởng. Mỹ viện trợ cho Trung Quốc qua đường Đông Dương và Miến Điên để Nhật càng sa lầy tại Trung Quốc. Tính đến tháng 11 năm 1939, Mỹ đã gửi 382 công hàm kháng nghị Nhật. Mỹ tăng viện trợ cho Chính phủ Tưởng Giới Thạch chống Nhật và không thừa nhận Chính phủ Uông Tinh Vệ thân Nhật. Đồng thời Mỹ chiếm Philippines làm thuộc địa và quan tâm đến tài nguyên vùng Đông Nam Á, và việc Nhật Nam tiến sẽ đe doạ lợi ích của Mỹ. Ngoài ra, Mỹ còn tăng gấp đôi lực lượng hải quân ở vùng này và tuyên bố Mỹ sẽ không để yên cho Nhật nam tiến. Để đối phó với chính sách xâm lược của Nhật, Mỹ ngày càng hạn chế xuất khẩu sang Nhật, gây khó khăn lớn cho chính sách nam tiến với hướng chính là Đông Dương và Indonesia. Phản ứng lại Nhật lập quan hệ đồng minh với Đức, Ý để nhằm vào Mỹ, đồng thời Nhật chuẩn bị phối hợp với Đức chiếm Singapore, thuộc địa của Anh, đồng minh thân cận của Mỹ. Tháng 11 năm 1940, Tư lệnh Hạm đội Liên hợp, đại tướng hải quân đô đốc Isoroku Yamamoto, nhân vật số ba ở Nhật (sau Thiên Hoàng và Thủ tướng), cùng Bộ trưởng Hải quân bàn kế hoạch đánh úp Trân Châu Cảng, một dự định tuyệt mật chỉ hai người này biết. Ngày 13 tháng 4 năm 1941, Nhật và Liên Xô ký Hiệp ước trung lập không xâm phạm lẫn nhau, nhờ đó Nhật rảnh tay đối phó với Mỹ, Anh trong việc Nam tiến. 10 ngày sau khi Đức tấn công Liên Xô, Chính phủ Nhật thông qua quyết định chiếm Đông Nam Á dù phải đánh nhau với Mỹ. Nhưng để che mắt Mỹ, Nhật bày trò đàm phán bí mật với Mỹ. Sự kiện Nhật ép Pháp nhượng Đông Dương khiến Mỹ phản ứng bằng cách ngừng đàm phán bí mật với Nhật và đóng băng tài sản Nhật, ngừng bán dầu cho Nhật. Anh và Hà Lan cũng làm theo. Việc Mỹ cấm vận tuy không lập tức gây khó khăn vì Nhật đã dự trữ dầu đủ dùng trong 2 năm, nhưng về lâu dài là bất lợi. Tháng 9 năm 1941, Chính phủ Nhật thông qua quyết định phát động chiến tranh Thái Bình Dương. Ngày 5 tháng 11 năm 1941, Nhật quyết định phải chuẩn bị chiến tranh với Mỹ, Anh và Hà Lan nếu trước ngày 1 tháng 12 năm 1941 các yêu cầu của Nhật không được đáp ứng. Các yêu cầu Nhật nêu ra trong cuộc đàm phán với Mỹ từ tháng 4 năm 1941: Để Nhật chiếm Trung Quốc và Đông Nam Á Mỹ và Anh không được tăng cường lực lượng trong vùng châu Á - Thái Bình Dương Mỹ bán cho Nhật các thứ hàng Nhật cần. Rõ ràng, Mỹ không thể đồng ý với các yêu cầu đó. Vì vậy ngày 1 tháng 12, Nội các Nhật chính thức quyết định khai chiến với Mỹ, Anh, Hà Lan. Thật ra, ngay từ ngày 26 tháng 11, một hạm đội hùng hậu đã bí mật rời Nhật Bản tiến về Trân Châu Cảng (cách Nhật 6000 km, cách bờ biển phía Tây nước Mỹ 3000 km). Hải quân Đế quốc Nhật Bản đã bất ngờ tấn công Trân Châu Cảng ở Oahu, Hawaii sáng ngày 7 tháng 12 năm 1941. Lực lượng gồm 6 tàu sân bay, 2 thiết giáp hạm, 3 tàu tuần dương, 11 tàu khu trục, 3 tàu ngầm cùng 423 máy bay hải quân, ngoài ra còn 27 tàu ngầm đi trước trinh sát. Hạm đội Thái Bình Dương của Hải quân Hoa Kỳ và các lực lượng Không lực Hoa Kỳ và Thủy quân lục chiến bảo vệ đã chịu thất bại nặng nề. Mục đích đầu tiên của cuộc tấn công là nhằm vô hiệu hóa Hoa Kỳ đủ lâu để Nhật Bản có thể thiết lập đế quốc Đông Nam Á đã được trù tính từ lâu và tạo ra vùng đệm phòng thủ. Dư luận Mỹ coi cuộc tấn công của Nhật là một hành động xảo trá và đã đồng lòng chống lại đế quốc Nhật, dẫn tới việc Hoa Kỳ tham chiến cùng phe Đồng Minh trong Chiến tranh thế giới thứ hai. == Tội ác chiến tranh == === Thảm sát Túc Thanh === Khi quân Nhật chiếm được Singapore, các sĩ quan của quân đội Nhật Bản đã lo ngại về số người Hoa địa phương. Quân đội Đế quốc Nhật đã ý thức được rằng Hoa kiều rất trung thành với Anh hoặc Trung Quốc với việc những người Hoa giàu có đã cung cấp tài chính cho Tưởng Giới Thạch trong Chiến tranh Trung-Nhật lần thứ hai sau khi Nhật Bản xâm chiếm Trung Quốc tháng 7 năm 1937. Thẩm quyền quân sự dưới quyền chỉ huy của tướng Tomoyuki Yamashita đã quyết định một chính sách loại trừ những thành phần có đầu óc chống Nhật. Ngay sau khi Singapore thất thủ, Trung tá Masayuki Oishi chỉ huy trưởng đơn vị hiến binh số hai chiếm dụng các văn phòng của dinh thự tòa án tối cao. Singapore bị chia ra thành những tiểu phân khu, mỗi phân khu được kiểm soát bởi một sĩ quan hiến binh. Người Nhật thiết lập các trung tâm thanh lọc cố định khắp các nơi trên thuộc địa. Mục đích là để thu thập và thanh lọc các nam nhân gốc Trung Quốc từ 18 đến 50 tuổi và loại trừ những ai mà họ cho là chống Nhật. Những ai vượt qua được thanh lọc sẽ nhận được một mẫu giấy có ghi "Đã thanh lọc" hoặc được đóng dấu mực vào tay và áo của họ. Những ai không qua được thanh lọc sẽ bị đóng dấu các hình tam giác. Có sẵn xe cam nhông gần các trung tâm thanh lọc để đưa những thành phần chống Nhật đến với thần chết. Quân đội Nhật chọn những địa điểm xa xôi như Changi, Punggol, Blakang Mati và Bedok để thực hiện việc hành quyết. Có những nạn nhân bị quăng ra khỏi boang tàu hoặc bị bắn chết bằng súng máy rơi xuống bến cảng. === Thảm sát Nam Kinh === Vụ Thảm sát Nam Kinh là tội ác chiến tranh ghê tởm nhất của quân Nhật trong Chiến tranh thế giới thứ hai. Quân Nhật đã tiến hành một cuộc thảm sát đẫm máu ở xung quanh và trong Nam Kinh, Trung Quốc vào ngày 13 tháng 12 năm 1937. Thời gian kéo dài của cuộc thảm sát thì không rõ lắm dù sự tàn sát này đã kéo dài suốt đến 6 tuần sau đến đầu tháng 2 năm 1938. Quy mô của sự tàn ác đang được tranh cãi gay gắt từ tuyên bố của quân đội Nhật tại Tòa án quân sự quốc tế Viễn Đông rằng những người bị giết là quân nhân và rằng "không có sự tàn sát nào" cho đến con số của Trung Quốc tuyên bố là số nạn nhân dân sự lên đến 300.000 người. Phương Tây có xu hướng tin theo con số thống kê do phía Trung Quốc công bố với nhiều nguồn trích dẫn phương Tây đưa ra con số 300.000 nạn nhân. Điều này một phần là do sự thành công về mặt thương mại của cuốn sách Thảm sát Nam Kinh của Iris Chang, đã dựng lên vũ đài cho các cuộc tranh cãi về vấn đề này tại phương Tây; và tồn tại nhiều tư liệu ghi chép bằng ảnh chụp phong phú khác về những cơ thể bị cắt xẻo của phụ nữ và trẻ em. === Đơn vị 731 === Đơn vị 731 là một đơn vị thí nghiệm y khoa của hoàng quân Nhật Bản hoạt động trong bóng tối tiến hành nghiên cứu chiến tranh sinh học qua thí nghiệm trên con người trong Chiến tranh Trung-Nhật lần thứ hai (1937-1945) và Chiến tranh thế giới thứ hai. Trá hình là một đơn vị làm tinh khiết nước uống, có bản doanh ở khu Bình Phòng thành phố đông bắc Cáp Nhĩ Tân, phần đất thuộc quốc gia bù nhìn Mãn Châu. Đơn vị 731 chính thức được biết đến với tên gọi bộ chính trị hiến binh và phòng nghiêm cứu ngăn ngừa dịch bệnh. Hơn chục ngàn người cả dân sự lẫn quân sự gốc Trung Hoa, Triều Tiên, Mông Cổ, Liên Xô là đối tượng thí nghiệm của đơn vị 731. Một số tù binh chiến tranh phe Đồng Minh cũng chết về tay của đơn vị 731. Ngoài ra, cuộc nghiên cứu về vũ khí sinh học của đơn vị 731 gây hậu quả là cả chục ngàn người chết ở Trung Hoa – có thể lên đến 200.000 qua vài ước tính. Đơn vị 731 là một trong nhiều đơn vị được sử dụng để nghiên cứu chiến tranh sinh học; các đơn vị khác như đơn vị 516 (Tề Tề Cáp Nhĩ), đơn vị 543 (Hải Lạp Nhĩ), Đơn vị 773 (Songo), Đơn vị 100 (Trường Xuân), Đơn vị 1644 (Nam Kinh), Đơn vị 1855 (Bắc Kinh), Đơn vị 8604 (Quảng Châu), Đơn vị 200 (Mãn Châu quốc) và Đơn vị 9420 (Singapore). Nhiều nhà khoa học từng cộng tác với đơn vị 731 thăng tiến nhanh chóng nghiệp vụ trong chính trị, học tập và thương mại. Một số bị quân Xô Viết bắt được và bị truy tố tại các phiên xử tội ác chiến tranh Khabarovsk; Một số khác đầu hàng quân đội Mỹ và được ân xá để đổi lấy những tài liệu quan trọng. Vì tính tàn bạo của nó, những hành động của đơn vị 731 được xem là tội ác chiến tranh. === Các tội ác khác === Nạn đói năm Ất Dậu xảy ra tại miền Bắc Việt Nam trong khoảng từ tháng 10 năm 1944 đến tháng 5 năm 1945 làm khoảng từ 400.000 đến 2 triệu người dân chết đói. Phụ nữ giải khuây (ủy an phụ): ước tính có đến 200.000 phụ nữ bị bắt từ Triều Tiên, Trung Quốc, Philippines và các nước châu Á khác làm nô lệ tình dục cho quân đội Nhật trong Chiến tranh thế giới thứ hai. Đường tử thần Bataan: là tội ác quân đội Nhật gây ra lúc quân Nhật chiếm được Bataan, Philippines và áp giải tù binh Mỹ và Philippines từ Bataan về trại O'Donnell. Tù binh bị áp giải đi bộ, bị ngược đãi, đánh đập và bị bỏ đói trên đoạn đường dài trên 100 km. Ước tính có từ 5.000-10.000 tù binh Philippines và từ 600-650 tù binh Mỹ chết trước khi đến được trại O'Donnell. == Con đường đến thất bại == === Những chiến bại quan trọng === Các chiến lược gia quân sự Nhật Bản biết rất rõ sự không cân xứng bất lợi về phía họ giữa tiềm năng kỹ nghệ của họ và của Hoa Kỳ. Vì lý do này người Nhật cho rằng sự thành công của họ là khả năng chiếm ưu thế chiến lược bằng cách chiến thắng mang tính chiến lược tại Trân Châu cảng. Chỉ khi nào Hạm đội Thái Bình Dương Hoa Kỳ bị tiêu diệt và người Nhật chiếm được các tiền đồn xa xôi của Hoa Kỳ thì mới có hy vọng là đế quốc Nhật Bản không bị sức mạnh kỹ nghệ của Hoa Kỳ đè bẹp. Tuy nhiên vào tháng 5 năm 1942, sự thất bại trong nỗ lực có tính cách quyết định đánh bại Đồng Minh ở trận biển Coral, mặt dù chiếm ưu thế hơn về lực lượng, đã đưa đến kết cuộc thảm bại chiến lược cho Đế quốc Nhật Bản. Tiếp theo đó là một cuộc bại trận thảm khốc hơn nữa vào tháng 6 năm 1942 khi Nhật mất đến 4 hàng không mẫu hạm tại trận Midway. Trận Midway là một sự bại trận mang tính quyết định cho Hải quân Đế quốc Nhật Bản và là một bước ngoặt của cuộc chiến. Những cuộc bại trận trước Đồng Minh tiếp theo diẽn ra ở chiến dịch Guadalcanal vào tháng 9 năm 1942 và New Guinea năm 1943 khiến Đế quốc Nhật chuyển sang thế phòng thủ cho đến kết thúc cuộc chiến. Đến năm 1944 quân Đồng Minh đã chiếm hoặc chế ngự được nhiều căn cứ chiến lược của Nhật bằng những cuộc đổ bộ và oanh tạc quy mô. Thêm vào đó, tàu ngầm của Đồng Minh cũng gây thiệt hại nặng cho đường hàng hải Nhật nên bắt đầu làm tê liệt nền kinh tế Nhật và khả năng tiếp tế cho quân đội Nhật. Vào đầu 1945 thủy quân lục chiến Hoa Kỳ cố giành quyền kiểm soát quần đảo Ogasawa trong nhiều trận đánh sinh tử như trận Iwo Jima đã đánh dấu sự khởi đầu một loạt các đảo của Nhật bị thất thủ. === Kamikaze === Trong năm 1943-44, lực lượng Đồng Minh được hậu thuẫn bởi sức mạnh kỹ nghệ và tài nguyên phong phú của Hoa Kỳ đã dần dần tiến công về phía đất Nhật Bản. Chỉ huy trưởng Asaiki Tamai kêu gọi một nhóm 23 học viên phi công xuất sắc mà Tamai trực tiếp đào tạo tình nguyện vào lực lượng xung kích đặc biệt. Tất cả các học viên đều đưa cả hai tay để tình nguyện vào chiến dịch. Sau đó Tamai yêu cầu Trung úy Yukio Seki làm chỉ huy cho lực lượng này. Theo lời kể lại thì Seki nhắm nghiền hai mắt lại, cúi đầu và suy nghĩ vài giây trước khi nói với Tamai: "xin cho tôi làm điều đó." Như vậy Seki trở thành thần phong thứ 24 được chọn cho sứ mạng cảm tử. Phi đội Kamikaze đầu tiên do Phó đô đốc Takijiro Onishi thành lập và trận đánh chính thức đầu tiên có sự tham gia của phi đội này là trận Hải chiến vịnh Leyte vào tháng 10 năm 1944. Sau đó chiến thuật này được sử dụng trong nhiều trận đánh khác ở Thái Bình Dương nhưng nó được đưa lên hàng "quốc sách" là trong trận Okinawa từ tháng 4 đến tháng 6 năm 1945. Tại Okinawa, Nhật Bản đã sử dụng khoảng 4000 Thần phong để đánh đắm hơn 30 tàu các loại của hải quân Mỹ và làm 223 tàu khác bị thương. Tuy nhiên, chiến công ấy tuy lớn vẫn không xoay chuyển được tình hình tại Okinawa và cả cuộc chiến. Các cuộc tấn công Thần phong chính thức chấm dứt vào ngày 15 tháng 8 năm 1945, ngày Nhật Bản đầu hàng Đồng Minh. === Bom nguyên tử === Sau khi kiểm soát được các sân bay ở Saipan và Guam vào mùa hè 1944, Hoa Kỳ đã thực hiện một chiến dịch oanh tạch trải thảm quy mô vào các thành phố của Nhật trong một nỗ lực hủy hoại kỹ nghệ và làm lung lay tinh thần của người Nhật. Những chiến dịch này gây ra thiệt hại nặng nề về nhân mạng cho hàng trăm ngàn người dân nhưng không khiến nước Nhật đầu hàng. Ngày 6 tháng 8 năm 1945, quả bom nguyên tử thứ nhất đã được thả xuống thành phố Hiroshima, Nhật Bản. Sau đó 3 hôm, ngày 9 tháng 8 năm 1945, quả bom thứ hai đã phát nổ trên bầu trời thành phố Nagasaki. Theo ước tính, 140.000 người dân Hiroshima và 74.000 người dân Nagasaki đã chết bởi hai vụ nổ cũng như bởi hậu quả của chúng. Các vụ ném bom nguyên tử này là lần đầu tiên và cũng hy vọng là lần cuối được sử dụng để chống một nước thù địch khác trong thời chiến. == Bại trận, đầu hàng và thay đổi chính thể == Bảy ngày sau vụ ném bom nguyên tử xuống Hiroshima và Nagasaki, Đế quốc Nhật Bản ký giấy đầu hàng vô điều kiện và kết thúc chiến tranh với phe Đồng Minh bằng tuyên bố Potsdam. Thiên hoàng Hirohito nói: Thiên hoàng còn nói tiếp rằng: === Thay đổi chính thể === Thời kỳ Nhật Bản bị chiếm đóng, chính quyền được gọi là Đế quốc Nhật Bản bị chính thức giải thể. Hoa Kỳ chiếm đóng Nhật Bản cùng với sự trợ giúp về kinh tế và chính trị tiếp tục tiến triển tốt đẹp cho đến thập niên 1950. Sau khi Đế quốc Nhật Bản bị giải thể, nước Nhật áp dụng một hệ thống chính trị nghị viện trong đó Thiên hoàng chỉ có quyền lực tượng trưng. Nhật Bản trở thành đồng minh thân thiện của Hoa Kỳ, Anh,… và là đồng minh kinh tế của nhiều quốc gia khác trên thế giới. Tướng quân đội Hoa Kỳ Douglas MacArthur, tư lệnh tối cao lực lượng Đồng Minh tại tây nam Thái Bình Dương trong Chiến tranh thế giới thứ hai sau nầy có phát biểu về chính quyền mới và thời kỳ mới của Nhật Bản như sau: == Những lãnh tụ chính trị nổi bật == Trong việc điều hành Nhật Bản vốn bị phong trào chính trị của quân đội kiểm soát suốt Chiến tranh thế giới thứ hai chính quyền dân sự trung ương được đặt dưới quyền quản trị của các quân nhân, các đảng viên dân sự cánh hữu, trong đó có thành viên quý tộc và hoàng gia. Đứng đầu là Thiên hoàng - tổng chỉ huy tối cao các lực lượng vũ trang đế quốc, người đứng đầu quốc gia và chính quyền trung ương, là đại diện "dòng giống mặt trời", là Thiên hoàng của mọi người và chủ hoàng gia. Trung tâm quyền lực chính trị tiếp theo sau Thiên hoàng, như các phong trào chính trị khác, là một nhóm người đại diện của quân đội. Vị trí cao nhất là tổng bí thư và lãnh tụ đảng tối cao cùng với nhóm nhân sự tiên phong được cất nhắc bởi những sáng lập viên quan trọng nhất của đảng. Mối liên hệ giữa các cơ quan quan trọng là với chính phủ: hội thanh niên quốc gia với "giới chính trị" lực lượng hiến binh. Trong các hội bí mật khép kín là nguồn cung cấp nhân sự trung thành. Các đoàn thể dân phố, liên đoàn lao động và hội nông dân địa phương tất cả được đoàn thể hóa. Các tổ chức giáo dục và tôn giáo cũng là mục tiêu của đoàn thể hóa. Những mối liên hệ trực tiếp tới giới chính trị của lực lượng quân sự giúp hình thành những phong trào cánh hữu tương tự tại các vùng đất bị chiếm đóng trong chiến cuộc Thái Bình Dương ban đầu. Nhóm chính trị quân sự đại diện phong trào chính trị cánh hữu chính yếu trong đế quốc Nhật Bản đã có từ thời điểm nào đó trong thập niên 1930, là từ các nhóm hỗn tạp và các hội bí mật. Năm 1941, họ giống như một đảng phái chính trị và nhóm của họ đã đạt được mục tiêu là nắm được thực quyền. Các thành viên của họ đã lãnh đạo các nỗ lực quân sự và chính trị suốt cuộc chiến Thái Bình Dương. == Các nhân sự quân đội nổi bật == Quân đội Đế quốc Nhật Bản được chia thành hai binh chủng chính dưới quyền của Đế quốc Nhật Bản Đại bản doanh có trách nhiệm tiến hành tất cả các cuộc hành quân bao gồm các chỉ huy trưởng và người lãnh đạo quân sự. Các tướng lãnh và người lãnh đạo nổi bật: Hải quân Đế quốc Nhật Bản - Hải quân của Nhật Đô đốc Bá tước Sukeyuki Ito (1843-1914) Đô đốc Tử tước Yoshika Inoue (1845-1929) Đô đốc Hầu tước Tōgō Heihachirō (1847-1934) Đô đốc Hoàng tử Takahito Arisugawa (1862-1913) Đô đốc Nam tước Goro Ijuin (1852-1921) Đô đốc Hoàng tử Yorihito Higashi-Fushimi (1867-1922) Đô đốc Nam tước Hayao Shimamura (1858-1923) Đô đốc Nam tước Tomozaburo Kato (1861-1923) Đô đốc Hoàng tử Hiroyasu Fushimi (1876-1946) Đô đốc Isoroku Yamamoto (1884-1943) Trận chiến Midway, Trận Trân Châu Cảng Đô đốc Osami Nagano (1880-1947) Đô đốc Mineichi Koga (1885-1944) Phó đô đốc Chuichi Nagumo - Trận chiến Midway, Trận Trân Châu Cảng Lục quân Đế quốc Nhật Bản - Bộ binh của Nhật Nogi Maresuke - Chiến tranh Nga-Nhật Iwane Matsui - Chiến tranh Trung-Nhật (lần 2) Tadamichi Kuribayashi - Trận Iwo Jima Tomoyuki Yamashita - Trận Malaya và Trận Singapore Kuniaki Koiso - Thủ tướng Nhật Bản Hideki Tojo - Thủ tướng Nhật Bản Mitsuru Ushijima - Trận Okinawa == Biến cố lịch sử == 1926: Thiên hoàng Đại Chính qua đời (25/12). 1927: Tanaka Giichi trở thành thủ tướng (20/4). 1928: Hirohito chính thức lên ngôi Thiên hoàng (10/11). 1929: Hamaguchi Osachi trở thành Thủ tướng (2/7). 1930: Hamaguchi bị thương trong một âm mưu mưu sát (14/11). 1931: Hamaguchi mất và Wakatsuki Reijiro trở thành thủ tướng (14/4). Nhật chiếm Mãn Châu sau biến động Mukden (18/9). Inukai Tsuyoshi trở thành thủ tướng (13/12) và tăng ngân quỹ chiến tranh tại Trung Hoa. 1932: Sau vụ tấn công sư sải Nhật ở Thượng Hải (18/1), quân Nhật pháo kích thành phố (29/1). Mãn Châu quốc được thành lập với Phổ Nghi là vua (29/2). Inukai bị ám sát trong cuộc đảo chính và Saito Makoto trở thành thủ tướng (15/5). Nhật Bản bị Hội quốc liên chỉ trích (7/12). 1933: Nhật Bản rời Hội quốc liên (27/3). 1934: Okada Keisuke trở thành thủ tướng (8/7). Nhật Bản rút khỏi hiệp ước hải quân Washington (29/12). 1936: Cuộc đảo chính (biến động 26/2) đưa Hirota Koki thành thủ tướng (9/3). Nhật Bản ký hiệp ước đầu tiên với Đức (25/11) và chiếm đóng Thanh Đảo (3/12). Mông Cương quốc được thành lập ở nội Mông. 1937: Hayashi Senjuro trở thành thủ tướng (2/2). Hoàng tử Konoe Fumimaro trở thành thủ tướng (4/6). Biến cố Lư Câu Kiều (7/7). Nhật Bản chiếm được Bắc Kinh (31/7). Quân Nhật chiếm Nam Kinh (13/12), bắt đầu cho vụ Thảm sát Nam Kinh. 1938: Trận chiến Đài Nhi Trang (24/3). Quảng Châu rơi vào tay quân Nhật (21/10). 1939: Hiranuma Kiichiro trở thành thủ tướng (5/1). Abe Nobuyuki trở thành thủ tướng(30/8). 1940: Yonai Mitsumasa trở thành thủ tướng (16/1). Konoe trở thành thủ tướng nhiệm kỳ hai (22/7). Bách đoàn đại chiến (8/1940–9/1940). Nhật chiếm Đông Dương trong lúc Paris sắp thất thủ, và ký hiệp ước ba bên (27/9). 1941: Tướng Tojo Hideki trở thành thủ tướng (18/10). Trận tấn công Trân Châu cảng, Hawaii (7/12), khiến Hoa Kỳ tuyên chiến với Nhật (8/12). Nhật tiến chiếm Hồng Kông (25/12). 1942: Singapore đầu hàng Nhật (15/2). Nhật dội bom Úc (19/2). Mỹ không tập Đông Kinh (18/4). Trận chiến Coral Sea (4/5–8/5). Lực lượng Mỹ và Phi tại chiến trường Philippines đầu hàng (8/5). Nhật bại trận tại trận chiến Midway (6/6). Đồng Minh chiến thắng trong trận vịnh Milne (5/9). 1943: Đồng Minh chiến thắng trong trận Guadalcanal (9/2). Nhật bại trận tại trận Tarawa (23/11). 1944: Tojo từ chức và Koiso Kuniaki trở thành thủ tướng (22/7). 1945: Oanh tạc cơ Hoa Kỳ bắt đầu đánh bom các thành phố chính của Nhật Bản. Nhật bại trận tại trận Iwo Jima (26/3). Đô đốc Suzuki Kantaro trở thành thủ tướng (7/4). Nhật bại trận tại trận Okinawa (21/6). Hoa Kỳ thả bom nguyên tử xuống thành phố Hiroshima (6/8) và Nagasaki (9/8). Nhật đầu hàng (14/8) và Đồng minh bắt đầu chiếm đóng Nhật. === Thiên hoàng === == Đọc thêm == thuộc địa Chiến tranh thế giới thứ nhất Chiến tranh thế giới thứ hai == Chú thích == == Liên kết ngoài == Đế chế Nhật Bản Cái chết của Người Khai Phá: Hirohito & Đế chế Nhật Bản
chi san hô đỏ.txt
San hô đỏ là tên thường dùng để chỉ Corallium rubrum và một số loài san hô có quan hệ họ hàng gần. Đặc điểm nổi bật của san hô đỏ là độ bền và màu đỏ đậm, thường được dùng làm đồ trang sức và mĩ nghệ cao cấp. San hô đỏ có phân bố ở Thái Bình Dương, Ấn Độ Dương. Ở Việt Nam có hai loài san hô đỏ Nhật Bản và san hô đỏ Ko-noi, đều là các loài cần được bảo vệ. == Nơi sinh trưởng == San hô đỏ sống ở đáy biển nhiều đá với trầm tích thấp, thường ở môi trường tối—hoặc ở dưới sâu hoặc trong các hang hốc tối. Loài nguyên thủy C. rubrum được tìm thấy chủ yếu ở Địa Trung Hải. San hô đỏ sống ở độ sâu từ 10 đến 300 m, trong đó những quần thể ở vùng nước nông gần như đã tuyệt diệt do sự khai thác của con người. Loài san hô này còn được tìm thấy ở một số vùng thuộc Đại Tây Dương ở gần eo biển Gibraltar và các đảo của Cabo Verde. Các loài Corallium là giống địa phương của vùng Tây Thái Bình Dương, đặc biệt nổi tiếng là vùng quanh Nhật Bản (Corallium japonicum) và Đài Loan; những loài này sống ở độ sâu từ 350 đến 1500 m trong những vùng có dòng biển mạnh. == Danh sách loài == == Cấu tạo == Giống như các loài khác thuộc bộ San hô sừng (Gorgonacea), san hô đỏ giống như những bụi cây không lá cao đến 1 mét. Bộ xương quý giá của nó có cấu tạo từ các gai cacbonat canxi cứng đan vào nhau, có màu ở các sắc đỏ do các sắc tố carotenoid. Khi còn sống, các nhánh xương san hô được phủ một lớp mềm màu đỏ tươi, trên đó thò ra vô số thể polip màu trắng có thể co lại được.. == San hô đỏ làm đá quý == Xương cứng của các cành san hô đỏ có màu óng ánh (matte) tự nhiên, nhưng có thể được đánh bóng để có độ sáng như thủy tinh. San hô đỏ có các sắc độ ấm của màu đỏ từ hồng nhạt đến đỏ thẫm; từ màu đỏ san hô cũng được dùng để chỉ những màu này. Do có màu bền, đẹp và độ bóng, từ thời cổ đại xương san hô đỏ đã được khai thác để làm đồ trang trí. Đồ trang sức bằng san hô đỏ đã được tìm thấy trong các ngôi mộ Ai Cập cổ và mộ thời tiền sử ở châu Âu,. Ngày nay, người ta vẫn tiếp tục chế tác đồ trang sức từ san hô đỏ. San hô đỏ có tỷ trọng riêng (relative density) là 3,86 và độ cứng 3,5 theo thang độ cứng Mohs. Do đặc điểm mềm và không trong suốt, san hô đỏ thường được mài thành mặt tròn (en cabochon), hoặc làm hạt cườm. == Chú thích == == Tham khảo == www.arkive.org Hình ảnh san hô đỏ sống và xương san hô đỏ International Colored Gemstone Association Extensive info on gemstone coral and jewelry photos (Accessed 02 February 2007) American Gem Trade Association Information on coral as a gemstone (Accessed 02 February 2007) Organic Gems: Red Coral Jewelry Photos of raw coral material and coral jewelry (Accessed 02 February 2007) Mediterranean red coral: research team International Research Team on Mediterranean red coral (Accessed 15 March 2007)
denali.txt
Denali (tiếng Koyukon: Deenaalee), từng có tên chính thức là núi McKinley (tiếng Anh: Mount McKinley) từ 1917 đến 2015, là đỉnh núi cao nhất ở Bắc Mỹ có độ cao 6.190 mét (20.310 ft) trên mực nước biển. Từ "Denali" là danh từ phiên âm qua tiếng Anh từ tên gọi "Diinaalii", có nghĩa là "Người cao lớn" theo ngôn ngữ Athabaskan của tộc người bản địa sinh sống lâu đời ở Alaska. Denali thuộc dãy núi Alaska ở phía trong tiểu bang Alaska của Hoa Kỳ. Nó là tiêu điểm của Vườn quốc gia và khu bảo tồn Denali. Vì đỉnh này cao hơn chân núi vào khoảng 5.500 mét (18.000 ft), nó được coi là ngọn núi cao nhất nằm trên mực nước biển. Tính theo phần lồi địa hình, nó là đỉnh hạng ba sau các núi Everest và Aconcagua. Người châu Âu đầu tiên ghi chép về việc nhìn thấy núi này là George Vancouver năm 1794. Năm 1903, James Wickersham ghi nhận nỗ lực leo núi lần đầu tiên tại Denali, nhưng không thành công. Năm 1906, Frederick Cook tuyên bố là người đầu tiên leo lên đỉnh núi, mà sau này được chứng minh là không phải. Người leo lên đỉnh núi này đầu tiên được kiểm chứng đã leo đến đỉnh vào ngày 7 tháng 6 năm 1913, họ gồm các nhà leo núi Hudson Stuck, Harry Karstens, Walter Harper, và Robert Tatum, người đã leo lên bằng đỉnh phía Nam. Năm 1951, Bradford Washburn đi tiên phong theo tuyến đường Tây bạnh vè (West Buttress), được coi là tuyến đường dễ nhất và an toàn nhất và do đó là tuyến này hiện được người ta sử dụng phổ biến nhất. == Về tên gọi núi McKinley == Năm 1896, thợ tìm vàng William Dickey ở tiểu bang Ohio là người Mỹ đầu tiên đặt chân lên ngọn núi Denali, rồi tự quyết định đặt tên mới là "núi McKinley" khi hay tin ứng viên đồng hương William McKinley (1843-1901) đắc cử tổng thống thứ 25 của nước Mỹ. Tháng 3/1917, đỉnh núi Denali được Hiệp hội Địa lý Mỹ chính thức đặt theo tên gọi mới, để tưởng nhớ 20 năm ngày Tổng thống W. McKinley bước chân vào Nhà Trắng rồi bị ám sát chết giữa nhiệm kỳ. Suốt 40 năm qua kể từ năm 1975, các chính quyền kế tiếp nhau tại tiểu bang Alaska luôn yêu cầu Chính phủ trung ương phải trả lại tên cũ cho ngọn núi Denali, thể theo nguyện vọng của tuyệt đại đa số dân chúng trong vùng, nhưng đều vấp phải sự phản đối từ tiểu bang Ohio quê nhà của cố Tổng thống W. McKinley. Tháng 8 năm 2015, theo sự dẫn đầu của tiểu bang Alaska, chính quyền liên bang Hoa Kỳ đã công bố núi này được đổi tên từ núi McKinley, theo tên cựu Tổng thống William McKinley, sang tên gốc Koyukon là Denali. Theo luật Mỹ hiện hành, Bộ Nội vụ Liên bang là cơ quan duy nhất có thẩm quyền đặt tên các địa danh trên toàn quốc. Do vậy bà Sally Jewell, Bộ trưởng Bộ Nội vụ có mặt trong phái đoàn của Tổng thống B. Obama đã trịnh trọng công bố quyết định xóa bỏ tên gọi hiện nay, trả lại danh xưng cũ cho ngọn núi Denali. == Thay đổi độ cao == Cục Khảo sát Địa chất Hoa Kỳ công bố độ cao của núi là 6.190 mét (20.310 ft) do Cục Quản lý Đại dương và Khí quyển Quốc gia (NOAA) và Đại học Alaska tại Fairbanks đo bằng cách xử lý dữ liệu chính xác từ Hệ thống Định vị Toàn cầu. Trước đó, độ cao của núi đã được đo là 6.194 mét (20.320 ft) vào năm 1952 bằng phép quan trắc và 6.168 mét (20.237 ft) vào 2013 bằng phép ra đa khẩu độ tổng hợp giao thoa (interferometric synthetic aperture radar). == Xem thêm == Danh sách các núi cao nhất thế giới GMC Denali == Tham khảo ==
tổng tuyển cử nhật bản, 2012.txt
Một cuộc tổng tuyển cử đã được tổ chức tại Nhật Bản vào ngày 16 tháng 12 năm 2012. Các kết quả công bố cho thấy Đảng Dân chủ Tự do đã giành được ít nhất 294 ghế trong hạ viện 480 ghế, trong khi đồng minh của họ, Đảng Tân Komeito, giành 31 ghế. Kết quả này giúp liên minh cầm quyền sẽ có đa số hai phần ba cần thiết để thông qua gần như mọi quyết định quan trọng. Đảng Dân chủ Nhật Bản của Thủ tướng đương nhiệm Yoshihiko chỉ giành được khoảng 57 ghế. Kết quả bầu cử đã khiến Đảng Dân chủ phải từ bỏ quyền lực chỉ sau ba năm. Đó là thất bại chính trị tồi tệ nhất trong lịch sử Nhật Bản. Theo các chuyên gia, cử tri Nhật thất vọng vì Đảng Dân chủ Nhật Bản đã không thực hiện được các lời hứa của họ, cũng như không còn tin tưởng ông Noda vì kế hoạch tăng thuế. Các đảng mới, bao gồm Đảng Duy tân Nhật Bản của thị trưởng thành phố Osaka Toru Hashimoto giành được 54 ghế. Tỉ lệ cử tri đi bỏ phiếu chỉ khoảng 59%. Phát biểu trong buổi họp báo được truyền hình trực tiếp trên toàn quốc, Thủ tướng Yoshihiko Noda đã tuyên bố từ chức chủ tịch Đảng Dân chủ Nhật Bản để nhận hoàn toàn trách nhiệm về thất bại nặng nề này của đảng này. == Bối cảnh == Sau cuộc tổng tuyển cử năm 2009, Đảng Dân chủ Nhật Bản, lãnh đạo bởi Yukio Hatoyama, đã nắm quyền lần đầu tiên kể từ thế chiến II. Do tính chất của chế độ bầu cử Nhật Bản, các ứng cử viên đảng Dân chủ Nhật Bản đã giành được 308 ghế trong Hạ viện (64,2% số ghế), khiến Hatoyama đủ điều kiện trở thành thủ tướng. Kể từ đó, Nhật Bản đã có hai thủ tướng khác, Naoto Kan và Yoshihiko Noda. Ngày 16 tháng 11, Noda giải tán Quốc hội, do đó cho phép một cuộc bầu cử mới trong thời gian một tháng. Ông viện cớ thiếu ngân quỹ để chính phủ hoạt động và sự cần thiết phải có một ngân sách khẩn cấp. Sau sự bất mãn đối với chính phủ do đảng Dân chủ Nhật Bản lãnh đạo và chính phủ cũ do đảng Dân chủ Tự do lãnh đạo, nhiều phong trào ở cơ sở đã cố gắng để giành được ảnh hưởng chính trị, các phong trào này được gọi là "cực thứ ba" để tranh giành ảnh hưởng với hai đảng chính. Ngày 14 tháng 11 năm 2012, cựu thống đốc Tokyo Shintarō Ishihara đã thông bảo đảng Thái dương đã được đổi tên và đã cải tổ, đảng này do Ishihara và Takeo Hiranuma đồng lãnh đạo. Ngày 17 tháng 11 năm 2012, thị trưởng Osaka Tōru Hashimoto và cựu thống đốc TokyoShintarō Ishihara đã thông báo hợp nhất đảng Duy tân Nhật Bản và đảng Thái dương thành lực lượng thứ ba tranh cử trong cuộc tổng tuyển cửa ngày 16 tháng 12 năm 2012. Đây là chính đảng quốc gia đầu tiên của Nhật Bản đóng trụ sở bên ngoài thủ đô Tokyo. Ngày 23 tháng 11 năm 2012, thị trưởng Nagoya Takashi Kawamura, cựu quốc vụ khanh Shizuka Kamei vạ cựu bộ trưởng nông nghiệp Masahiko Yamada đã hợp lực với nhau để tung ra chiến dịch cắt giảm thuế đảng Giảm thuế Nhật Bản - chống TPP – Không hạt nhân thành một đảng chính trị quốc gia "trụ cột thứ ba" nữa. Ngày 28 tháng 11 năm 2012, thống đốc Shiga Yukiko Kada ở Ōtsu đã thông báo sự thành lập một chính đảng theo chủ trương bình đẳng giới và chống hạt nhân với tên gọi đảng Nhật Bản Tương lai trở thành đảng quốc gia thứ nhì đóng trụ sở bên ngoài Tokyo. Đồng thời với nhóm chia rẽ đảng Dân chủ, chủ tịch Đời sống Nhân dân Trên hết Ichirō Ozawa đã giải thể đảng và nhập vào đảng Nhật Bản Tương lai. đảng Giảm thuế Nhật Bản - chống TPP – Không hạt nhân và đảng Tương lai đang đàm phán để sáp nhập các đảng để tranh giành với các đảng chính và các đảng ủng hộ hạt nhân. Ngày 27 tháng 11, đảng Giảm thuế Nhật Bản - chống TPP – Không hạt nhân đã chính thức thông báo họ sẽ sáp nhập với đảng Tương lai, đồng lãnh đạo đảng Mashahiko Yamada phát biểu "Chúng tôi muốn bắt tay với nhau bởi vì đường lối của chúng tôi tương đồng." == Phân tích kết quả bầu cử và Phản ứng == === Tại Nhật Bản === Đảng Dân chủ Tự do trước đó đã có chiến dịch về lập trường cứng rắn của Nhật Bản đối với tranh chấp quần đảo Senkaku.. Abe cho rằng "Trung Quốc đang thách thức một thực tế rằng quần đảo là lãnh thổ vốn có của Nhật Bản. Mục tiêu của chúng ta là phải ngăn chặn ngay những thách thức ấy",. Việc bầu đảng Dân chủ Tự do cánh hữu và dân tộc chủ nghĩa đã làm dấy lên lo ngại quan hệ Nhật Bản với các quốc gia láng giềng - Trung Quốc và Hàn Quốc - sẽ trở nên căng thẳng, với việc trước đây ông Abe đã viếng thăm đền Yasukuni và phủ nhận tội ác chiến tranh của Nhật Bản trong thế chiến 2 và việc tu chính Hiến pháp Nhật Bản để tăng quyền lực cho Lực lượng Phòng vệ Nhật Bản. Về chính sách đối với kinh tế Nhật Bản, đảng Dân chủ Tự do sẽ cố gắng kết thúc sự giảm phát, nâng cao giá trị đồng yên và thúc đẩy kinh tế phát triển. Ngược với chủ trương của Yoshihiko Noda chủ trương tăng thuế để chi trả khối nợ công khổng lồ, Abe cam kết sẽ nới lỏng một cách "không hạn chế" chính sách tiền tệ, đồng thời tăng chi tiêu công. Đối với điện hạt nhân, một trong những vấn đề quan trọng được người dân Nhật quan tâm, đảng Dân chủ Tự do sẽ ủng hộ việc phát triển nguồn năng lượng hạt nhân bất chấp thảm họa nhà máy điện Fukushima I năm 2011. Ông Abe cũng thể hiện mong muốn Nhật Bản đóng góp một vai trò quan trọng hơn trong vấn đề an ninh toàn cầu. Phản ứng lại kết quả bầu cử, chỉ số Nikkei 225 tăng 1%, còn đồng yên Nhật giảm 84,48/1 USD, tỷ lệ thấp nhất trong 20 tháng. Ngoài ra, lợi suất trái phiếu chính phủ Nhật Bản 20 năm (JCB) tăng lên 1,710% một ngày sau bầu cử. Điều này đánh dấu mức cao nhất trong gần 8 tháng. === Quốc tế === Tổng thống Hoa Kỳ đã nhanh chóng chúc mừng ông Abe, cho rằng "Quan hệ đồng minh Mỹ - Nhật là hòn đá tảng với hòa bình và thịnh vượng ở khu vực châu Á - Thái Bình Dương và tôi chờ đợi được hợp tác chặt chẽ với chính quyền tiếp theo và với người dân Nhật Bản", Tân Hoa Xã, cơ quan ngôn luận chính thức của Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa có bài viết kêu gọi các nhà lãnh đạo Nhật Bản nên duy trì "chính sách ngoại giao ôn hòa" thay vì "cố thỏa mãn lập trường cứng rắn và gây hấn với các quốc gia láng giềng". Bài báo của Tân Hoa xã cũng cảnh báo "nền kinh tế yếu kém và những đường lối chính trị tức giận không những ảnh hưởng tới Nhật mà còn làm tổn hại đến khu vực và thế giới nói chung". == Tham khảo ==
trò chơi điện tử.txt
Trò chơi điện tử là trò chơi sử dụng thiết bị điện tử để tạo ra một hệ thống tương tác mà người chơi có thể chơi. Hình thức phổ biến nhất hiện giờ của trò chơi điện tử là trò chơi video (video game) và vì lý do này các thuật ngữ thường bị nhầm lẫn khi sử dụng. Các hình thức phổ biến khác của trò chơi điện tử bao gồm cả những thiết bị không dùng cho việc tạo ra hình ảnh như các loại trò chơi điện tử cầm tay, các hệ thống độc lập và các sản phẩm cụ thể không tạo ra hình ảnh trực quan. == Tham khảo ==
dayton, ohio.txt
Dayton (phát âm như "đây-tân") là một thành phố ở Quận Montgomery, Ohio, Hoa Kỳ. Theo Thống kê Dân số Hoa Kỳ năm 2000, thành phố có dân số 166.179. Thành phố này được đặt tên theo Jonathan Dayton. == Địa lý == Dayton nằm tại tọa độ 39°45′32″B 84°11′30″TTọa độ: 39°45′32″B 84°11′30″T (39,758889, −84,191667). Theo Cục Thống kê Dân số Hoa Kỳ, thành phố này có tổng diện tích là 146,6 km² (56,6 sq mi). Trong đó, 144,3 km² (55,7 sq mi) là đất và 2,3 km² (0,9 sq mi) là nước. Diện tích mặt nước chiếm 1,59% tổng diện tích. Thành phố này nằm 225 m (738 ft) trên mực nước biển. == Nhân khẩu == Theo Thống kê Dân số Hoa Kỳ năm 2000, thành phố có dân số 166.179 người, 67.409 gia hộ, và 37.614 gia đình sống trong thành phố. Mật độ dân số là 1.150,3 người/km² (2.979,3 người/sq mi). Có 77.321 đơn vị nhà ở với mật độ trung bình 535,2 người/km² (1.386,3 người/sq mi). Trong dân số thành phố này, 53,40% là người da trắng, 43,10% là người da đen hay Mỹ gốc Phi, 0,30% là người Mỹ bản thổ, 0,65% là người gốc Á, 0,04% là người gốc Thái Bình Dương, 0,70% từ các chủng tộc khác, và 1,83% từ hơn một chủng tộc. 1,58% dân số là người Hispanic hay Latinh thuộc một chủng tộc nào đó. (Xem Chủng tộc và dân tộc trong Thống kê Dân số Hoa Kỳ.) Trong số 67.409 gia hộ ở trong thành phố có 27,3% hộ có trẻ em dưới 18 tuổi sống chung với họ, 30,2% là đôi vợ chồng sống với nhau, 20,6% có một chủ hộ nữ không có mặt chồng, và 44,2% không phải gia đình. 36,8% gia hộ có cá nhân sống riêng và 11,3% có người sống một mình 65 tuổi trở lên. Cỡ hộ trung bình là 2,30 người và cỡ gia đình trung bình là 3,04 người. Trong thành phố, 25,1% dân số chưa 18 tuổi, 14,2% từ 18–24 tuổi, 29,0% từ 25–44 tuổi, 19,6% từ 45–64 tuổi, và 12,0% từ 65 tuổi trở lên. Thu nhập trung bình của một gia hộ trong thành phố là 27.523 đô la mỗi năm và thu nhập trung bình của một gia đình là 34.978 đô la. Phái nam có thu nhập trung bình 30.816 đô la so với 24.937 đô la của phái nữ. Thu nhập bình quân đầu người là 34.724 đô la. Có 18,2% của các gia đình và 23,0% dân số sống dưới mức nghèo khổ, trong đó có 32,0% những người chưa 18 tuổi và 15,3% của những người 65 tuổi trở lên. === Lịch sử dân số === Dân số của thành phố này là 2.950 năm 1830, 6.067 năm 1840, 10.977 năm 1850, 20.081 năm 1860, 30.473 năm 1870, 38.678 năm 1880, 61.220 năm 1890, 85.333 năm 1900, 116.577 năm 1910, 152.559 năm 1920, 200.982 năm 1930, 210.718 năm 1940, 243.872 năm 1950, 262.332 năm 1960, 243.601 năm 1970, 193.536 năm 1980, 182.044 năm 1990, và 166.179 năm 2000. == Tham khảo == == Liên kết ngoài == Thành phố Dayton (tiếng Anh)
bộ ngoại giao (việt nam).txt
Bộ Ngoại giao Việt Nam là cơ quan thuộc Chính phủ Việt Nam thực hiện chức năng quản lý nhà nước về đối ngoại gồm: công tác ngoại giao, biên giới lãnh thổ quốc gia, cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài, ký kết và thực hiện điều ước quốc tế, quản lý Cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài; quản lý nhà nước các dịch vụ công và thực hiện đại diện chủ sở hữu phần vốn của nhà nước tại doanh nghiệp có vốn nhà nước trong các lĩnh vực quản lý nhà nước của Bộ theo quy định của pháp luật. Bộ được thành lập ngày 28 tháng 8 năm 1945. Bộ trưởng hiện nay là ông Phạm Bình Minh. == Cơ cấu tổ chức == === Bộ trưởng === Phạm Bình Minh, Ủy viên Bộ Chính trị khóa XII, Phó Thủ tướng Chính phủ. === Thứ trưởng === Bùi Thanh Sơn, Ủy viên Trung ương Đảng, Thứ trưởng Thường trực. Lê Hoài Trung, Ủy viên Trung ương Đảng, Bí thư Đảng ủy Ngoài nước. Hà Kim Ngọc Vũ Hồng Nam Đặng Đình Quý Nguyễn Quốc Dũng Nguyễn Bá Hùng === Tổ chức bộ máy === 1. Vụ ASEAN 2. Vụ Châu Âu 3. Vụ Châu Mỹ 4. Vụ Đông Bắc Á 5. Vụ Đông Nam Á- Nam Á- Nam Thái Bình Dương 6. Vụ Trung Đông - Châu Phi 7. Vụ Chính sách đối ngoại 8. Vụ các Tổ chức quốc tế 9. Vụ Luật pháp và Điều ước quốc tế 10. Vụ Hợp tác kinh tế đa phương 11. Vụ Tổng hợp kinh tế 12. Ban Thư ký APEC 2017 13. Vụ Ngoại giao Văn hóa và UNESCO 14. Vụ Thông tin Báo chí 15. Vụ Thi đua- khen thưởng và Truyền thống ngoại giao 16. Vụ Tổ chức cán bộ 17. Văn phòng Bộ 18. Văn phòng Đảng ủy- Đoàn thể 19. Thanh tra Bộ 20. Cục Cơ yếu 21. Cục Ngoại vụ 22. Cục Lãnh sự 23. Cục Lễ tân Nhà nước 24. Cục Quản trị tài vụ 25. Sở Ngoại vụ thành phố Hồ Chí Minh 26. Ủy ban Nhà nước về người Việt Nam ở nước ngoài 27. Ủy ban Biên giới quốc gia 28. Học viện Ngoại giao Việt Nam 29. Cục Phục vụ ngoại giao đoàn 30. Nhà khách Chính phủ 31. Báo Thế giới và Việt Nam 32. Trung tâm Hướng dẫn báo chí nước ngoài 33. Trung tâm Biên phiên dịch quốc gia 34. Trung tâm Thông tin/ Information Center 35. Ban quản lý dự án trụ sở Bộ 36. Trung tâm vận tải đối ngoại V75 37. Các Cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài == Bộ trưởng Bộ Ngoại giao qua các thời kỳ == Bộ trưởng Bộ Ngoại giao là thành viên chính phủ Việt Nam đứng đầu Bộ Ngoại giao. Từ năm 2007, Bộ trưởng thường là Ủy viên Bộ Chính trị, Ủy viên Hội đồng Quốc phòng và An ninh, Phó Thủ tướng Chính phủ. Ngoại trừ những trường hợp sau không phải là ủy viên Bộ Chính trị: Hoàng Minh Giám, Ung Văn Khiêm, Xuân Thủy, Nguyễn Dy Niên. === Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Việt Nam === Hồ Chí Minh (từ 2/9/1945 đến 2/3/1946, và từ 3/11/1946 đến tháng 3/1947) Nguyễn Tường Tam (từ 2/3/1946 đến tháng 5/1946) Hoàng Minh Giám (từ tháng 3/1947 đến tháng 4/1954) Phạm Văn Đồng (từ tháng 4/1954 đến tháng 2/1961) Ung Văn Khiêm (từ tháng 2/1961 đến 30/4/1963) Xuân Thủy (từ 30/4/1963 đến tháng 4/1965) Nguyễn Duy Trinh (từ tháng 4/1965 đến tháng 2/1980) Nguyễn Cơ Thạch (từ tháng 2/1980 đến tháng 7/1991) Nguyễn Mạnh Cầm (từ tháng 8/1991 đến 28/1/2000) Nguyễn Dy Niên (từ 28/1/2000 đến tháng 6/2006) Phạm Gia Khiêm (từ tháng 6/2006 đến 03 tháng 08/2011) Phạm Bình Minh (từ 03 tháng 08/2011 đến nay) === Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Việt Nam Cộng hòa === Vũ Văn Mẫu (từ 1955 đến 1963) Phạm Đăng Lâm (từ 1963 đến 1964) (lần 1) Phan Huy Quát (1964) Phạm Đăng Lâm (từ 1964 đến 1965) (lần 2) Trần Văn Đỗ (từ 1965 đến 1968) (lần 2) Trần Chánh Thành (từ 1968 đến 1969) Trần Văn Lắm (từ 1969 đến 1973) Nguyễn Phú Đức (1973) Vương Văn Bắc (từ 1973 đến 1975) === Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam === Nguyễn Thị Bình === Quốc vụ khanh hàm Bộ trưởng === Nguyễn Cơ Thạch (từ 5-1979 đến 2-1980) === Bộ trưởng Biệt phái Bộ Ngoại giao === Võ Đông Giang (từ tháng 3/1983 đến 1987) == Chú thích == == Liên kết ngoài == Trang web chính thức của Bộ Ngoại giao Việt Nam
conquistador.txt
Conquistador là một danh hiệu tiếng Tây Ban Nha có nghĩa là người chinh phục, cũng được dịch là Chinh phục Tướng công hay Chinh tướng. Danh hiệu này được dùng cho một số nhân vật lãnh đạo thám hiểm, khai phá và xâm chiếm châu Mỹ sau khi Cristoforo Colombo khám phá ra Tân Thế giới vào năm 1492. Những tên tuổi lớn gắn bó với danh hiệu "Chinh phục Tướng công" là Hernán Cortés, Pedro de Alvarado, và Francisco Pizarro. == Tham khảo == John Charles Chasteen. Born In Blood And Fire: A Concise History of Latin America. New York, W. W. Norton & Co., 2001. ISBN 9780393976137 Hammond Innes. The Conquistadors. London, Penguin, 2002. ISBN 9780141391229 F. A. Kirkpatrick. The Spanish Conquistadores. London, A. & C. Black, 1934. Michael Wood. Conquistadors. London, BBC Books, 2000. ISBN 9780563487067 == Tham khảo ==
trang phục.txt
Trang phục hay y phục là những đồ để mặc như quần, áo, váy,... để đội như mũ, nón, khăn,... và để đi như giày, dép, ủng,... Ngoài ra, trang phục còn có thể thêm thắt lưng, găng tay, đồ trang sức,... Chức năng cơ bản nhất của trang phục là bảo vệ thân thể. Tiếp đó, trang phục cũng có chức năng thẩm mỹ, làm đẹp cho con người. Vì những khác biệt văn hóa, trang phục của từng quốc gia, địa phương có những điểm khác nhau. Lý do xuất phát từ những khác biệt về lịch sử, trình độ văn minh, kinh tế, địa lý, khí hậu, tín ngưỡng, phong tục, tập quán... Trang phục cũng là thứ có thể giúp nhận biết đẳng cấp, giai cấp của người mặc. Trang phục có thể chia thành nhiều loại: Trang phục truyền thống (như áo dài là trang phục truyền thống của người Việt) Trang phục dân tộc Trang phục thể thao Trang phục tôn giáo Trang phục lễ hội Trang phục sân khấu Trang phục trẻ em quân phục Trang phục công an Trang phục theo mùa (như Trang phục mùa đông, Trang phục mùa hè) == Tham khảo == == Liên kết ngoài == International Textile and Apparel Association, scholarly publications German Hosiery Museum (English language) Molecular Evolution of Pediculus humanus and the Origin of Clothing by Ralf Kittler, Manfred Kayser and Mark Stoneking (.PDF file) Home Economics Archive: Research, Tradition, History (HEARTH) An e-book collection of over 1,000 books on home economics spanning 1850 to 1950, created by Cornell University's Mann Library. Includes several hundred works on clothing and textiles in this period, itemized in a specific bibliography.
andes.txt
Dãy Andes (Quechua: Anti(s)) là dãy núi dài nhất thế giới, gồm một chuỗi núi liên tục chạy dọc theo bờ tây lục địa Nam Mỹ. Dãy Andes dài hơn 7000 km, và có chỗ rộng đến 500 km (khoảng từ 18° đến 20° vĩ độ nam). Dãy Andes có chiều cao trung bình khoảng 4000 m. Dãy Andes về cơ bản bao gồm 2 dãy núi lớn: Cordillera Oriental và dãy Cordillera Occidental, cách nhau bởi một bình nguyên hẹp thấp hơn. Xen vào đó là các dãy núi nhỏ tách ra ra từ hai bên hông của hai dãy núi lớn. Dãy Cordillera de la Costa là trường hợp điển hình, xuất phát từ cực nam của châu Mĩ và chạy theo hướng bắc-nam, song song với bờ biển. Miền nam rặng núi này bị biển lấn vào, tạo ra một số hải đảo. Khi nhập vào đất liền thì Cordillera de la Costa tạo nên ranh giới phía tây của thung lũng lớn của Chile. Về phía bắc, dãy núi duyên hải này tiếp tục bằng một số dãy núi nhỏ, có khi chỉ là rặng đồi lẻ dọc theo bờ Thái Bình Dương cho đến tận Venezuela, tạo ra một thung lũng dài dọc suốt sườn tây của dãy Cordillera Occidental. Dãy Andes trải dài qua 7 quốc gia: Argentina, Bolivia, Chile, Colombia, Ecuador, Peru và Venezuela. Trong số đó một vài quốc gia được mệnh danh là "Những xứ Andes". Tên Andes vốn từ chữ anti tiếng Quechua có nghĩa là đỉnh cao. Dãy Andes là dãy núi cao nhất bên ngoài châu Á với đỉnh cao nhất Aconcagua cao đến 6.962 m trên mực nước biển. Đỉnh núi Chimborazo (núi lửa) thuộc Ecuador là cao điểm trên mặt đất xa nhất nếu tính từ trung tâm địa cầu vì vị trí của núi ở trên đai "phình" xích đạo. Dãy Andes không cao như Himalaya nhưng dài gấp đôi Himalaya. == Địa lý == Andes có thể được chia thành 3 khu vực: Nam Andes (phía nam của Llullaillaco) ở Argentina và Chile; Trung Andes ở Ecuador, Peru và Bolivia Bắc Andes (phía bắc của Nudo de Pasto) ở Venezuela và Colombia gồm 3 dải chạy song song nhau, phía tây, trung và đông. Ở phần phía bắc Andes, dải núi tách biệt Sierra Nevada de Santa Marta thường được xem là một phần của Andes. Dải phía đông này thuộc Colombia là dải duy nhất kéo dài đến Venezuela. Dải Andes rộng khoảng 200 km (124 mi) trên suốt chiều dài của nó, trừ đoạn qua Bolivi có bề rộng lên đến 640 kilômét (398 mi). Các đảo của Hà Lan trong vùng Caribe như Aruba, Bonaire, và Curaçao, từ lâu đã được cho là các đỉnh bị nhấn chìm của đầu múc phía bắc của dải Andes, nhưng các nghiên cứu địa chất hiện tại chỉ ra rằng các cấu trúc đơn giản như vậy không phù hợp với ranh kiến tạo phức tạp giữa hai mảng Nam Mỹ và Carribe. == Địa chất == Andes là một đai tạo núi hình thành trong Đại Trung Sinh – Đệ tam dọc theo vành đai lửa Thái Bình Dương. Andes là kết quả của quá trình kiến tạo khi vỏ đại dương của mảng Nazca và Nam Cực bị hút chìm bên dưới mảng Nam Mỹ. Về phía đông, dải Andes có ranh giới với các bồn trầm tích như Orinoco, Amazon Basin, Madre de Dios và Gran Chaco, các cấu trúc này chia cách Andes với các khiên nền cổ ở phía đông Nam Mỹ. Ở phía nam, Andes có ranh giới với thềm Patagonia trước đây. Ở phía tây, Andes kết thúc tại Thái Bình Dương, mặc dù rãnh Peru-Chile có thể được xem là giới hạn tận cùng phía tây của nó. Về mặt địa lý, Andes được xem là có ranh giới phía tây của nó là các vùng đất thấp ven biển và các địa hình ít phân dị. === Kiến tạo sơn === Rìa phía tây của mảng Nam Mỹ từng là nơi có nhiều giai đoạn kiến tạo sơn tiền Andes ít nhất là trong Proterozoic muộn và Paleozoic sớm, trong khi một số địa hình thềm và các vi tiểu lục địa đã va chạm nhau và bị tách ra cùng với các nền cổ của miền đông Nam Mỹ, sau đó phần Nam Mỹ thuộc Gondwana. Sự hình thành dải Andes hiện đại đã bắt đầu bằng các sự kiện trong kỷ Trias khi siêu lục địa Pangea bắt đầu tan vỡ và sự trôi dạt bắt đầu diễn ra. Các sự kiện này vẫn tiếp tục trong kỷ Jura. Trong suốt kỷ Creta Andes bắt đầu đã hình thành nên hình dạng ngày nay do hoạt động nâng kiến tạo, hình thành đứt gãy và uốn nếp trên các đá trầm tích và đá biến chất của các khiên nền cổ ở phía đông. Sự nâng lên của Andes diễn ra không liên tục và các khu vực khác nhau chịu lực kiến tạo khác nhau, có tốc độ nâng và bóc mòn khác nhau. Các lực kiến tạo trên đới hút chìm dọc theo toàn bộ bờ biển phía tây của Nam Mỹ nơi mảng Nazca và một phần của mảng Nam Cực đang trượt bên dưới mảng Nam Mỹ và quá trình kiến tạo núi này vẫn đang tiếp diễn nên gây ra nhiều trận động đất lớn nhỏ và hoạt động núi lửa ngày nay. Ở đầu tận cùng phía nam, một đứt gãy biến dạng chia cách Tierra del Fuego với mảng nhỏ hơn là mảng Scotia. === Hoạt động núi lửa === Hoạt động núi lửa tại Andes là kết quả của sự hút chìm của mảng Nazca và mảng Nam Cực bên dưới mảng Nam Mỹ. Dải Andes có nhiều núi lửa đang hoạt động, gồm 4 khu vực tách biệt nhau xem kẽ với các khu vực không có hoạt động núi lửa. Các núi lửa ở đây đa dạng về phương thức hoạt động, sản phẩm và hình thái. Ngoài việc có sự khác biệt về các đới núi lửa còn có những khác biệt đáng kể bên trong đới và thậm chí giữa các núi lửa lân cận. Mặc dù có vị trí kiểu núi lửa calc-alkalic và núi lửa ở vị trí hút chìm, đai núi lửa Andes có môi trường núi lửa kiến tạo hình thành trên phạm vi rộng lớn như hệ thống rift và các đới căng giãn, đứt gãy chuyển dạng, hút chìm của các sống núi giữa đại dương và các dãi núi lửa dưới đáy biển ngăn cách với một dải lớn trên bề dày của vỏ Trái Đất và các đường đi lên của mácma, và mức độ đồng hóa của vỏ Trái Đất khác nhau. === Tích tụ quặng và đá evaporit === Dải núi Andes sở hữu các mỏ quặng và muối và một số mỏ nằm ở phía đông của đai uốn nếp có vai trò như các bẫy có thể khai thác hydrocarbon thương mại. Về phía đất liền của sa mạc Atacama, một đới khoáng hóa đồng porphyr lớn nhất đã làm cho Chile và Peru trở thành các nhà sản xuất đồng lớn thứ nhất và thứ 2 trên thế giới. Đồng porphyr ở các sườn phía tây của Andes sinh ra từ nhiệt dịch trong quá trình nguội lạnh mácma xâm nhập hoặc núi lửa. Khoáng hóa porphyr tiếp tục được hỗ trợ bởi khí hậu khô làm cho chúng nằm ngoài các hoạt động phân bố của nước khí quyển. Khí hậu khô ở miền trung-tây Andes cũng dẫn đến sự hình thành các tích tụ muối natri nitrat trên phạm vi rộng mà đã và đang được khai thác rộng rãi cho đến khi con người phát hiện ra nitrat tổng hợp. Một kết quả khác do khí hậu khô là các hồ khô Atacama và Uyuni, hồ thứ nhất là một nguồn cung cấp lithi lớn nhất ngày nay và hồ thứ 2 là nguồn dự trữ kim loại này lớn nhất trên thế giới. Hoạt động mácma xâm nhập Mesozoic sớm và Neogene ở Bolivias Cordillera Central đã hình thành các vành khoáng thiếc ở Bolivia cũng như mỏ thiếc nổi tiếng thế giới Cerro Rico de Potosí mà hiện nay đã cạn kiệt. == Khí hậu và thủy văn == Khí hậu ở Andes thay đổi lớn tùy theo độ vĩ độ, độ cao và khoảng cách đến biển. Nhiệt độ, áp suất khí quyển và độ ẩm giảm ở những độ cao lớn hơn. Đoạn phía nam đặc trưng bởi mưa và lạnh, trung Andes thì khô. Trong khi đó bắc Andes thì đặc trưng bởi mưa và ấm với nhiệt độ trung bình 18 °C (64 °F) ở Colombia. Khí hậu có thể thay đổi đáng kể trong một khoảng cách ngắn. Rừng mưa tồn tại chỉ cách khu vực đỉnh Cotopaxi bị tuyết bao phủ chỉ vào dặm. Các núi chịu ảnh hưởng lớn về nhiệt độ của các khu vực xung quanh. Đường ranh tuyết phụ thuộc vào vị trí, nó nằm ở độ cao giữa 4.500 và 4.800 m (14.800–15.800 ft) ở khu vực thuộc Ecuadoria, Colombia, Venezuela, và bắc Peru, đến độ cao 4.800–5.200 m (15.800–17.060 ft) ở các khu vực khô hơn thuộc miền nam Nam Peru đến miền nam Nam Chile khoảng 30° Nam, sau đó giảm xuống 4.500 m (14.760 ft) thuộc Aconcagua ở 32°Nam, 2.000 m (6.600 ft) ở 40°Nam, 500 m (1.640 ft) ở 50°Nam, và chỉ 300 m (980 ft) thuộc Tierra del Fuego ở 55°Nam; từ 50°Nam, nhiều sông băng lớn hơn trải dài xuống mực nước biển. Andes thuộc Chile và Argentina có thể được chia thành 2 khu vực khí hậu và các vùng sông băng; Andes khô và Andes ướt. Vì Andes khô kéo dài từ các vĩ độ thuộc sa mạc Atacama đến khu vực thuộc sông Maule, giáng thủy rải rác và có sự dao động mạnh về nhiệt độ. Đường cân bằng có thể dao động mạnh theo các chu kỳ ngắn, để lại toàn bộ sông băng trong khu vực bị tan chảy hoặc trong khu vực đóng băng. Ở vùng cao của Andes thuộc trung Chile và tỉnh Mendoza, các sông băng đá lớn hơn và phổ biến hơn sông băng thường; điều này là do chúng tiếp xúc nhiều với bức xạ mặt trời. Mặc dù giáng thủy tăng theo độ cao, cũng có khu vực bán khô cằn ở độ cao gần 7000 m nằm chót vót trên các đỉnh của Andes. Khí hậu thảo nguyên khô này được xem là điển hình của khí hậu cận nhiệt đới ở vĩ độ 32-34°N. Dù vậy ở cacd9a11y thung lũng không phát triển cây thân gỗ mà chỉ có các cây bụi lùn. Các sông băng lớn như sông băng Plomo và Horcones thậm chí không đạt đến chiều dài 10 km và có bề dày không đáng kể. Tuy nhiên, trong thời kỳ băng hà cách đây 20.000 năm, các sông băng từng dài hơn gấm 10 lần hiện tại. Ở phía đông của đoạn núi Andes thuộc Mendozina, chúng chảy xuống đến cao độ 2060 m và ở phía tây đến cao độ 1220 m. Các khối núi Cerro Aconcagua (6962 m), Cerro Tupungato (6550 m) và Nevado Juncal (6110 m) nằm cách xa nhau hàng chục km và được liên kết với nhau bởi các mạng sông băng. Mạng nhánh của mạng sông băng, như các hợp phần của thung lũng sông băng, đã kéo dài 112.5 km, dày hơn 1020 m, và kéo dài theo chiều thẳng đứng 5150 m. Đường ranh sông băng (climatic glacier snowline) hiện đã bị hạ thấp từ 4600 m xuống 3200 m vào thời gian băng hà. == Hệ thực vật == Andes cắt qua nhiều khu vực sinh thái thực vật và tự nhiên kéo dài từ Venezuela thuộc Caribbe đến khu vực Cape Horn lạnh, gió và ẩm ướt băng qua sa mạc cực kỳ khô hạn. Rừng mưa bao bọc nhiều khu vực của miềm bắc Andes nhưng hiện tại đã suy giảm, đặc biệt ở Chocó và các thung lũng nội Andes ở Colombia. Phần đối diện trực tiếp của các sườn Andes ẩm là các sườn Andes tương đối khô ở hầu hết miền tây của Peru, Chile và Argentina. Dọc theo một số Interandean Valles, chúng đặc trưng bởi các rừng cây rụng lá, cây bụi và xeric, kéo dài đến tận cùng trong các sườn núi gần sa mạc Atacama không có sự sống. Có khoảng 30.000 loài thực vật có mạch sống trong Andes với gần phân nửa là loài đặc hữu của vùng này, vượt lên trên bất kỳ điểm nóng đa dạng sinh học khác. Loài cây nhỏ Cinchona pubescens là nguồn cung cấp quinine, một chất được dùng để điều trị bệnh sốt rét, được tìm thấy khắp nơi ở Andes kéo dài đến tận phía nam của Bolivia. Các loài nông sản quan trọng khác có xuất xứ từ Andes như thuốc lá và khoai tây. Các rừng cây Polylepis ở độ cao lớn được tìm thấy ở một số khu vực của Andes thuộc Colombia, Ecuador, Peru, Bolivia và Chile. Các cây này, địa phương gọi là Queñua, Yagual và nhiều tên khác, có thể được tìm thấy ở các cao độ 4.500 m (14.760 ft) trên mực nước biển. Vẫn là điều chưa rõ ràng rằng liệu sự phân bố loang lổ của những rừng cây này là tự nhiện hay là kết quả của quá trình phá rừng bắt đầu trong suốt thời kỳ Inca. Bất kể điều đó, sự phá rừng trong thời kỳ hiện đã tăng tốc, và các loài cây này hiện được xem là có nguy cơ tuyệt chủng cao, với khoảng ít nhất là 10% các loại rừng cây gỗ nguyên thủy còn tồn tại. == Hệ động vật == Hệ động vật của Andes rất phong phú với khoảng 3.500 loài trong đó gần 2/3 là loài đặc hữu, đặc biệt Andes là môi trường sống quan trọng nhất của các loài lưỡng cư trên thế giới. Andes có gần 600 loài thú (13% là đặc hữu), hơn 1.700 loài chim (khoảng 1/3 là đặc hữu), hơn 600 loài bò sát (khoảng 45% là đặc hữu), và khoảng 400 loài cá (khoảng 1/3 là đặc hữu). Vicuña và Guanaco có thể tìm thấy chúng sống ở Altiplano, trong khi các loài đã được thuần hóa có quan hệ họ hàng gần với chúng là Llama và Alpaca được chăn thả theo địa phương ở dạng đàn và được nuôi để lấy thịt và len. Các loài chinchilla sống về đêm, hai trong số các loài bị đe dọa tuyệt chủng trong bộ Gặm nhấm, sống ở các khu vực núi cao của Andes. Thần ưng Andes, loài chim lớn nhất ở Tây Bán Cầu, có mặt khắp Andes nhưng nhìn chung có mật độ rất thấp. Các loài động vật khác được tìm thấy ở các môi trường tương đối mở của các vùng cao thuộc Andes như hươu nai Hippocamelus, báo sư tử, cáo trong chi Pseudalopex, và đối với chim, một số loài tinamou (đặc biệt là chi Nothoprocta), Andean Goose, Giant Coot, flamingo (có quan hệ mật thiết với các hồ siêu mặn), Lesser Rhea, Andean Flicker, Diademed Sandpiper-plover, Geositta, Phrygilus và Diuca. Hồ Titicaca là nơi sinh sống của nhiều loài đặc hữu, trong số đó chim lặn rollandia microptera và ếch telmatobius culeus bị đe dọa cao nhất. Một vài loài chim ruồi, nổi trội như Oreotrochilus, có thể bắt gặp ở các độ cao hơn 4.000 m (13.100 ft), nhưng sự đa dạng sinh học cao hơn có thể được tìm thấy ở các độ cao thấp hơn, đặc biệt trong các khu rừng Andes ẩm ("cloud forest") phát triển trên các sườn núi thuộc Colombia, Ecuador, Peru, Bolivia và xa về miền đông bắc Argentina. Các loại rừng này rất phong phú về hệ động-thực vật, mặc dù một vài loài thú lớn tồn tại, trừ các loài lợn vòi núi, gấu bốn mắt và khỉ đuôi vàng Oreonax flavicauda bị đe dọa tuyệt chủng. Chim ở các khu rừng Andes ẩm gồm Andigena, Trogonidae và Rupicola peruvianus, trong khi các đàn chim nhiều loài chiếm chủ yếu là Thraupidae và Furnariidae thường xuất hiện - trái ngược với một số loài chim biết hót như các loài có cơ quan phát ra âm thanh đặc trưng là hồng tước, Rhinocryptidae và chim trèo cây. Nhiều loài như Cinclodes aricomae và Leptasthenura xenothoraxl có quan hệ với Polylepis cũng bị đe dọa tuyệt chủng. == Các đỉnh núi thuộc dãy Andes == Dưới đây là một số đỉnh núi chủ yếu của dãy Andes đi qua các quốc gia: === Argentina === Aconcagua, 6.962 m (22.841 ft) Cerro Bonete, 6.759 m (22.175 ft) (not 6.872 m) Galán, 5.912 m (19.396 ft) (not 6.600 m) Mercedario, 6.720 m (22.047 ft) Pissis, 6.795 m (22.293 ft) (not 6.882 m) === Giữa Argentina và Chile === Cerro Bayo, 5.401 m (17.720 ft) Cerro Chaltén, 3.375 m (11.073 ft) or 3.405 m, Patagonia, also known as Cerro Fitz Roy Cerro Escorial, 5.447 m (17.871 ft) Cordón del Azufre, 5.463 m (17.923 ft) Falso Azufre, 5.890 m (19.324 ft) Incahuasi, 6.620 m (21.719 ft) Lastarria, 5.697 m (18.691 ft) Llullaillaco, 6.739 m (22.110 ft) Maipo, 5.264 m (17.270 ft) Marmolejo, 6.110 m (20.046 ft) Ojos del Salado, 6.893 m (22.615 ft) Olca, 5.407 m (17.740 ft) Sierra Nevada de Lagunas Bravas, 6.127 m (20.102 ft) Socompa, 6.051 m (19.852 ft) Nevado Tres Cruces, 6.749 m (south summit) (III Region) Tronador, 3.491 m (11.453 ft) Tupungato, 6.570 m (21.555 ft) Nacimiento, 6.492 m (21.299 ft) === Bolivia === Ancohuma, 6.427 m (21.086 ft) Cabaray, 5.860 m (19.226 ft) Chacaltaya, 5.421 m (17.785 ft) Huayna Potosí, 6.088 m (19.974 ft) Illampu, 6.368 m (20.892 ft) Illimani, 6.438 m (21.122 ft) Macizo de Larancagua, 5.520 m (18.110 ft) Macizo de Pacuni, 5.400 m (17.720 ft) Nevado Anallajsi, 5.750 m (18.865 ft) Nevado Sajama, 6.542 m (21.463 ft) Patilla Pata, 5.300 m (17.390 ft) Tata Sabaya, 5.430 m (17.815 ft) === Giữa Bolivia và Chile === Acotango, 6.052 m (19.856 ft) Cerro Minchincha, 5.305 m (17.405 ft) Irruputuncu, 5.163 m (16.939 ft) Licancabur, 5.920 m (19.423 ft) Olca, 5.407 m (17.740 ft) Parinacota, 6.348 m (20.827 ft) Paruma, 5.420 m (17.782 ft) Pomerape, 6.282 m (20.610 ft) === Chile === See also List of mountains in Chile Monte San Valentin, 4.058 m (13.314 ft) (Patagonia) Cerro Paine Grande, c.2.750 m (9.022 ft) (Patagonia) (not 3.050 m) Cerro Macá, c.2.300 m (7.546 ft) (Patagonia) (not 3.050 m) Monte Darwin, c.2.500 m (8.202 ft) (Patagonia) Volcan Hudson, c.1.900 m (6.234 ft) (Patagonia) Cerro Castillo Dynevor, c.1.100 m (3.609 ft) (Patagonia) Mount Tarn, c.825 m (2.707 ft) (Patagonia) === Colombia === Galeras, 4.276 m (14.029 ft) Nevado del Huila, 5.365 m (17.602 ft) Nevado del Ruiz, 5.321 m (17.457 ft) Ritacuba Blanco, 5.410 m (17.749 ft) Snow Mountain of Quindio, 5.215 m (17.110 ft) === Ecuador === Antisana, 5.753 m (18.875 ft) Cayambe, 5.790 m (18.996 ft) Chimborazo, 6.268 m (20.564 ft) Corazón, 4.790 m (15.715 ft) Cotopaxi, 5.897 m (19.347 ft) El Altar, 5.320 m (17.454 ft) Illiniza, 5.248 m (17.218 ft) Pichincha, 4.784 m (15.696 ft) Quilotoa, 3.914 m (12.841 ft) Reventador, 3.562 m (11.686 ft) Sangay, 5.230 m (17.159 ft) Tungurahua, 5.023 m (16.480 ft) === Peru === Alpamayo, 5.947 m (19.511 ft) Artesonraju, 6.025 m (19.767 ft) Carnicero, 5.960 m (19.554 ft) El Misti, 5.822 m (19.101 ft) El Toro, 5.830 m (19.127 ft) Huascarán, 6.768 m (22.205 ft) Jirishanca, 6.094 m (19.993 ft) Pumasillo, 5.991 m (19.656 ft) Rasac, 6.040 m (19.816 ft) Rondoy, 5.870 m (19.259 ft) Sarapo, 6.127 m (20.102 ft) Seria Norte, 5.860 m (19.226 ft) Siula Grande, 6.344 m (20.814 ft) Yerupaja, 6.635 m (21.768 ft) Yerupaja Chico, 6.089 m (19.977 ft) === Venezuela === Pico Bolívar, 4.981 m (16.342 ft) Pico Humboldt, 4.940 m (16.207 ft) Pico La Concha, 4.870 m (15.978 ft) Pico Piedras Blancas, 4.740 m (15.551 ft) == Tham khảo == == Đọc thêm == John Biggar, The Andes: A Guide For Climbers, 3rd. edition, 2005, ISBN 0-9536087-2-7 Tui de Roy, The Andes: As the Condor Flies. 2005, ISBN 1-55407-070-8 Fjeldså, J., & N. Krabbe (1990). The Birds of the High Andes. Zoological Museum, University of Copenhagen, Copenhagen. ISBN 87-88757-16-1 Fjeldså, J. & M. Kessler. 1996. Conserving the biological diversity of Polylepis woodlands of the highlands on Peru and Bolivia, a contribution to sustainable natural resource management in the Andes. NORDECO, Copenhagen. == Liên kết ngoài == PhotoGlobe: Andes around Mt. Mercedario Andes geology (University of Arizona) Climate and animal life of the Andes Civilizations of Ancient Peru Complete list of separate mountains in the Andes over 6000 m [1] Famous Andes peaks http://www.peaklist.org/WWlists/ultras/southamerica.html Complete list of mountains in South America with a prominence of at least 1500 m
cử nhân (học vị).txt
Cử nhân (tiếng Anh: Bachelor's degree) là một học vị dành cho những người đã tốt nghiệp chương trình đại học tùy theo quy định của mỗi quốc gia. Ở Việt Nam, bằng cử nhân được cấp cho sinh viên tốt nghiệp đại học thuộc các ngành khoa học tự nhiên và khoa học xã hội và nhân văn, sư phạm, luật, kinh tế (cử nhân khoa học, cử nhân kinh tế, cử nhân luật...). Thời gian đào tạo của chương trình đào tạo cử nhân thường là 4 năm. Trong khi đó, sinh viên tốt nghiệp đại học thuộc các ngành kỹ thuật được cấp bằng kỹ sư; ngành kiến trúc "bằng cử nhân"; ngành dược cấp "bằng dược sĩ" hoặc "bằng cử nhân". == Bằng cử nhân ở các nước nói tiếng Anh == Chỉ riêng có hai trường Oxford và Cambridge ở vương quốc Anh là trao bằng cử nhân gọi tắt là BA (Bachelor of Art) cho sinh viên sau khi tốt nghiệp. Các trường ở Hoa Kỳ thường trao bằng BA và BS (Bachelor of Science - BS), trong khi có một số trường cao đẳng nghệ thuật trao bằng BA. Tuy nhiên, trên phạm vi toàn cầu, các trường đại học có hơn trăm năm tuổi đang mở rộng phạm vi bằng cấp cử nhân, đặc biệt ở các nước như Úc, New Zealand, Pakistan, Ấn Độ và châu Phi. ==== BA, AB, BS, BAAS, BSc, SB, ScB ==== Ngày nay, hầu hết những bằng tốt nghiệp đại học được trao là bằng BA (Bachelor of Arts/Artium Baccalaureus - BA/AB) hoặc BS (Bachelor of Science/Scientiæ Baccalaureus - BS, BSc, SB, ScB). Về cơ bản thì ở các trường nổi tiếng như Oxford, Cambridge và trường Dublin, những người tốt nghiệp các ngành khoa học cơ bản mới có bằng BA. Những người tốt nghiệp các ngành khoa học ứng dụng được cấp bằng BAAS (Bachelor of Applied Arts and Sciences). Kể từ cuối thế kỷ 19, hầu hết các trường đại học trong Khối thịnh vượng chung đã theo trường Đại học London phân chia các chuyên ngành đại học (trừ Luật, Y khoa, và Kỹ thuật) thành hai loại lớn là nghệ thuật và khoa học nhằm phân biệt bằng BA - cử nhân về nghệ thuật và bằng BS - cử nhân về khoa khoa học. Tại Hoa Kỳ, nhiều trường cao đẳng (đặc biệt là các trường cao đẳng nghệ thuật độc lập) trao bằng cử nhân nghệ thuật BA cho tất cả các ngành học thuật. Trong các trường này, sinh viên theo học các chuyên ngành học thuật như tiếng Anh, Hóa học,... sẽ nhận được nhận bằng BA trong khi sinh viên theo học các ngành như Khoa học Cảnh sát, Tài chính, Điều dưỡng sẽ được nhận bằng BS. Một số trường trao bằng BA cho các ngành thuộc nhóm khoa học về nhân văn và bằng BS cho khoa học tự nhiên và khoa học xã hội. Ba trường đại học của Hoa Kỳ: Viện Công nghệ California, Viện Công nghệ Georgia, và Viện Công nghệ Massachusetts, sáu Học viện Hàng hải cũng như trong năm học viện khác như Hậu cần Quân sự, Hải quân, Không quân, Vận tải biển và Cảnh sát biển cấp bằng BS cho mọi ngành học, bao gồm các ngành mà tại các cơ sở đào tạo khác bằng được cấp là bằng BA. Trường Đại học Harvard chỉ cấp bằng BA và BLA (bằng cử nhân Nghệ thuật mở rộng, Bachelor of Liberal Arts), ngoại trừ những sinh viên kỹ thuật có thể được trao bằng SB như là một bằng cấp bổ sung cho bằng BA được yêu cầu phải có trước. ==== Bằng kỹ sư ==== Bằng Kỹ sư (Baccalaureus trong Arte Ingeniaria), cử nhân Khoa học ứng dụng là một văn bằng được trao cho sinh viên đã hoàn thành khóa học ba hay bốn năm về các ngành kỹ thuật. Các từ viết tắt thường gặp bao gồm Beng, BE, BSE, BESc, BSEng, BASc, BTech, BSc (Eng), Amie, GradIETE. Baccalaureus trong Arte Ingeniaria được cấp bởi Trường Đại học Dublin (Trinity College Dublin), một số trường đại học Nam Phi gọi bằng kỹ sư của họ là BIng (Baccalaureus Ingeniaria). Tại mỗi phân ngành, có thể có các tên gọi cụ thể hơn, chẳng hạn như BSEE là bằng Kỹ sư Kỹ thuật điện hoặc bằng BSE và BSEng (kỹ sư Công nghệ Phần mềm), được cấp bởi Trường Đại học Waterloo và Trường Đại học Victoria. Ở Ấn Độ, bằng Kỹ sư và bằng AMIE, với tên chuyên ngành được viết trong dấu ngoặc đơn thí dụ như BE (computer) được cấp cho sinh viên tốt nghiệp ở các chuyên ngành kỹ thuật: Máy tính, Điện,, Cơ khí, Thông tin, Xây dựng, Chất dẻo, Hóa chất,... Bằng cử nhân Khoa học về Kỹ thuật Công nghệ (BSET) được trao cho sinh viên đã hoàn thành một khóa học bốn năm nghiên cứu về công nghệ kỹ thuật. Thể bao gồm cả công nghệ kỹ thuật nói chung, công nghệ cơ khí, công nghệ kỹ thuật điện và công nghệ kỹ thuật dân dụng. ==== Bằng về Kinh doanh và Quản lý ==== Bằng cử nhân Quản trị Kinh doanh (BBA, Bachelor of Business Administration) được trao cho những sinh viên hoàn tất chương trình học 3-4 năm ngành Quản trị kinh doanh. Người có bằng BBA không nhất thiết phải luôn luôn có chuyên môn chính trong một lĩnh vực cụ thể như Kế toán, Tài chính, Nguồn nhân lực/Nhân sự, Marketing, Quản lý, Quản lý Hệ thống Thông tin, Bất động sản, Quản lý Chiến lược,... Các chương trình đào tạo tương tự bao gồm: Khoa học Quản trị Kinh doanh, Khoa học trong Kinh doanh, Quản lý Khoa học và Quản trị học. Tương tự, bằng cử nhân Thương mại (Bachelor of Commerce, BCom hoặc BComm ở Canada) là một văn bằng đại học trong Quản trị Kinh doanh nói chung, với chương trình chủ yếu thiên về lý thuyết và thường kết hợp một chuyên ngành chính. Sau này, sự khác biệt giữa BComm và BBA là cho phép sinh viên áp dụng lý thuyết vào các tình huống kinh doanh thực tế trong cuộc sống trong khi trước đây chương trình đào tạo 3 năm thường tập trung vào những ý tưởng và khái niệm. Bằng cử nhân Khoa học Kinh doanh (BBusSc, Bachelor of Business Science) tương tự như BCom nhưng khóa học kéo dài bốn năm và chủ yếu tập trung vào lĩnh vực này. Chương trình gồm có lý thuyết quản lý nhưng ở mức độ chuyên sâu hơn và sinh viên phải theo một khóa học toàn thời gian về Toán học ở năm học đầu tiên. Bằng cử nhân Kế toán (Bachelor of Accountancy, B. Acy hoặc B. Acc.. hay B. Accty) là một văn bằng chuyên ngành Kế toán, chủ yếu (hoặc chỉ) được công nhận để hành nghề sau này. Văn bằng này khác biệt với BBA hoặc BComm ở chỗ toàn bộ chương trình chỉ tập trung vào Kế toán. Các cử nhân Kinh tế (Bachelor of Economics, BA Econ, BEC, BEconSc, BSc (Econ)) là những người có trình độ chuyên môn trong lĩnh vực kinh tế, được đào tạo qua các khóa học kéo dài từ 3 đến 6 năm, và thường tập trung vào lý thuyết và Toán học hơn BBA hoặc BComm. Bằng cử nhân Tổ chức Quản lý (Bachelor of Arts in Organizational Management, BAOM) được trao cho những sinh viên hoàn tất khóa học bốn năm với nội dung cơ bản là nghiên cứu, tìm hiểu chức năng tổ chức, truyền thông, nhóm hành vi, quyết định, nguồn nhân lực quản lý, đạo đức,... nhằm phát triển và triển khai các kỹ năng hiệu quả trong việc quản lý và lãnh đạo. ==== Bằng cử nhân về Khoa học Máy tính và Hệ thống thông tin ==== Các chương trình đào tạo về công nghệ thông tin khác nhau gồm: lập trình, thiết kế cơ sở dữ liệu, phần mềm kỹ thuật, mạng và hệ thống thông tin. Trọng tâm của chương trình có thể về các khía cạnh kỹ thuật hoặc lý thuyết. Chương trình đào tạo về Khoa học Máy tính tập trung chủ yếu hướng về lý thuyết, bao gồm: cử nhân Toán (Bachelor of Computing, BComp) và cử nhân Khoa học Máy tính (Bachelor of Computer Science, BCompSc). Các chương trình đào tạo hướng về ứng dụng bao trùm các lĩnh vực của ngành công nghiệp Công nghệ thông tin (CNTT): Phần mềm, Hệ thống Thông tin và Truyền thông dữ liệu,... cấp các bằng cử nhân Toán ứng dụng (Bachelor of Computer Applications, BCA), cử nhân Công nghệ thông tin (Bachelor of Information Technology), cử nhân Khoa học về Công nghệ thông tin (Bachelor of Science in Information Technology, BSc IT) và cử nhân Khoa học ứng dụng về Công nghệ thông tin (Bachelor of Applied Science (Information Technology), BAppSc (IT)). Chuyên ngành kết hợp CNTT với kinh doanh cũng được nhiều trường đại học giảng dạy, chẳng hạn như cử nhân Kinh doanh và Hệ thống thông tin gồm chương trình cử nhân kinh doanh, như BBA hoặc BComm, kết với hệ thống thông. == Xem thêm == Kỹ sư Thạc sĩ Tiến sĩ == Tham khảo == == Xem thêm ==
suzuki ichirō.txt
Suzuki Ichirō (铃木 一 朗, Suzuki Ichirō Linh Mộc Nhất Lãng) thường được gọi với tên Ichirō (イチロー, Ichirō) (sinh ngày 22 tháng 10 năm 1973) là một cầu thủ bóng chày Nhật Bản từng chơi cho đội Seattle Mariners. Suzuki Ichiro hiện đang chơi cho Miami. == Đọc thêm == Allen, Jim. Ichiro Magic. New York: Kodansha America, 2001. ISBN 4-7700-2871- Christopher, Matt, and Glenn Stout. At the Plate With... Ichiro. New York: Little, Brown, 2003. ISBN 0-316-13679-4. Dougherty, Terri. Ichiro Suzuki. ?: Checkerboard Books, 2003. ISBN 1-59197-483-6. Johnson, Daniel (2006). Bóng chày Nhật Bản: Sổ tay thống kê. McFarland & Company. ISBN 0786428414. Komatsu, Narumi, and Philip Gabriel. Ichiro on Ichiro: Conversations with Narumi Komatsu. Seattle: Sasquatch Books, 2004. ISBN 1-57061-431-8. Leigh, David S. Ichiro Suzuki. Minneapolis: Twenty-First Century Books, 2004. ISBN 0-8225-1792-2. Levin, Judith. Ichiro Suzuki. New York: Chelsea House Publications, 2007. ISBN 0-7910-9440-5. Rappoport, Ken. Super Sports Star Ichiro Suzuki. Berkeley Heights, N.J.: Enslow Elementary, 2004. ISBN 0-7660-2137-8. Rosenthal, Jim. Ichiro's Art of Playing Baseball: Learn How to Hit, Steal, and Field Like an All-Star. New York: St. Martin's Griffin, 2006. ISBN 0-312-35831-8. Savage, Jeff. Ichiro Suzuki. Minneapolis: Lerner Publications, 2003. ISBN 0-8225-1344-7. Savage, Jeff. Ichiro Suzuki, revised ed. Minneapolis: Lerner Publications, 2007. ISBN 0-8225-7266-4. Shields, David. "Baseball Is Just Baseball": The Understated Ichiro: An Unauthorized Collection Compiled by David Shields. Seattle: TNI Books, 2001. ISBN 0-9678703-1-3. Stewart, Mark. Ichiro Suzuki: Best in the West. Minneapolis: Millbrook Press, 2002. ISBN 0-7613-2616-2. Whiting, Robert. The Meaning of Ichiro: The New Wave from Japan and the Transformation of Our National Pastime. Warner Books, 2004; retitled for the 2005 paperback to The Samurai Way of Baseball: The New Wave from Japan and the Transformation of Our National Pastime. ISBN 0-446-53192-8, ISBN 0-446-69403-7. == Tham khảo == == Liên kết ngoài == "The Ichiro Paradox", S.L. Price, Tạp chí Time, 8 tháng 7 năm 2002 "Collecting Ichiro" Non-profit site with comprehensive coverage of Ichiro collectibles, especially sports cards. "Ichiro Suzuki Fan" A non-profit fan site on Ichiro Suzuki from the Seattle Mariners. THE GOLDEN PLAYERS CLUB (tiếng Nhật)
samsung galaxy s ii.txt
Samsung Galaxy S II là điện thoại thông minh cảm ứng dạng thanh, chạy hệ điều hành Android. Nó được thiết kế, phát triển, và bán ra bởi Samsung Electronics. Nó có đủ ác tính năng bổ sung, mở rộng phần cứng, và hình dáng tổng thể được thiết kế lại so với người tiền nhiệm Samsung Galaxy S, kế thừa thành công vang dội của nó là Samsung Galaxy S III vào tháng 5 năm 2012. S II chạy HĐH Android 2.3 "Gingerbread", có thể nâng cấp lên Android 4.0.4 "Ice Cream Sandwich", và hiện tại bản nâng cấp cao nhất là Android 4.1.2 "Jelly Bean". Samsung công bố SII vào 13 tháng 2 năm 2011 tại Mobile World Congress (MWC). Nó là một trong những điện thoại mỏng nhất lúc đó, với độ dày ở điểm mỏng nhất là 8,49 mm, ngoài hai chỗ nhô lên có độ mỏng là 9,91 mm. Galaxy S II sử dụng vi xử lý 1,2 GHz lõi-kép "Exynos" (SoC), 1 GB RAM, màn hình WVGA Super AMOLED Plus 10,8 cm (4,3 in) và máy ảnh 8-megapixel kèm đèn flash, có thể quay video chất lượng cao 1080p. Nó là một trong những thiết bị đầu tiên có MHL, có thể xuất video 1080p không nén đến MHL đến TV hoặc MHL đến thiết bị HDMI. USB On-The-Go (USB OTG) cũng được hỗ trợ trên SII. Pin người dùng lên đến 10 giờ sử dụng liên tục, hoặc 2 ngày cho tác vụ nhẹ. Theo Samsung, Galaxy S II có thể cho 9 giờ trò chuyện với mạng 3G và 18,3 giờ với mạng 2G. Galaxy S II được kế nhiệm bởi chiếc Samsung Galaxy S III vào tháng 5 năm 2012. == Phát hành == Galaxy S II được phát hành chính thức trên toàn thế giới bắt đầu từ tháng năm 2011, từ hơn 140 nhà cung cấp trong khoảng 120 quốc gia. Vào ngày 9 tháng 5 năm 2011, Samsung thông báo rằng họ đã nhận được lượng đơn đặt hàng trước cho 3 triệu chiếc Galaxy SII trên toàn cầu. Một thời gian sau khi phát hành của thiết bị, Samsung cũng đã phát hành một biến thể của Galaxy SII, đó là Galaxy R sử dụng chipset Nvidia Tegra 2. Samsung cũng báo cáo vận chuyển miễn phí Galaxy SII cho một số nhà phát triển CyanogenMod (đặc biệt là những người duy trì các phương thức cho phép Galaxy S khả năng chạy CyanogenMod). == Tính năng == === Phần mềm và dịch vụ === Galaxy S II đã được phát hành với Android 2.3 "Gingerbread". Các nhà phát hành ở Mỹ bắt đầu giao hàng với các phiên bản cập nhật nhẹ như Android 2.3.5. Phiên bản chạy Android 2.3.6 đã sẵn có trên toàn cầu vào ngày 12 tháng 12 năm 2011. Ngày 13 tháng 3 năm 2012, Samsung bắt đầu tung ra bản nâng cấp lên Android 4.0.3 "Ice Cream Sandwich" [23] thông qua phần mềm quản lý điện thoại KIES của họ để sử dụng tại Hàn Quốc, Hungary, Ba Lan và Thụy Điển. người Nga nhận được bản cập nhật vào ngày 05 tháng 7 năm 2012, trong khi phần còn lại của châu Âu nhận bản cập nhật vào ngày 01 tháng 8 năm 2012. Vào tháng 02 năm 2013, Samsung đã bắt đầu tung ra bản cập nhật Android 4.1.2 "Jelly Bean" cho thiết bị. Galaxy SII sử dụng giao diện người dùng TouchWiz 4.0, theo nguyên tắc tương tự như TouchWiz 3.0 trên Galaxy S, với những cải tiến mới, chẳng hạn như tăng tốc phần cứng. Nó cũng hỗ trợ cử chỉ tương tác dựa trên tùy chọn gọi là "chuyển động" (trong số những thứ khác) cho phép người dùng phóng to thu nhỏ bằng cách đặt hai ngón tay lên màn hình và hoặc nghiêng về phía thiết bị hoặc ra khỏi chính họ để phóng to hoặc thu nhỏ. Tính năng cử chỉ hoạt động trên cả trình duyệt web và hình ảnh trong bộ sưu tập được sử dụng trong thiết bị này. "Xoay" trên TouchWiz 4.0 cho phép sự chuyển động của các widget và các phím tắt biểu tượng giữa các màn hình, bằng cách cho chúng được tổ chức và di chuyển từ bên này sang bên kia màn hình chính. Quản lý cử chỉ dựa trên các widget là một phương pháp lựa chọn mới bên cạnh các phương pháp hiện có của cách cách sắp xếp hoặc vuốt giữa các màn hình chính. Các bản cập nhật Android 4.1 mang lại cho SII những tính năng của TouchWiz Nature và các tính năng khác của Galaxy S III, như Direct Call, Pop-up Play, Smart Stay, và chế độ Easy. Bốn ứng dụng Samsung Hub mới được tiết lộ vào năm 2011 MWC: Social Hub, được tích hợp các dịch vụ mạng xã hội phổ biến thành một nơi khá hơn trong các ứng dụng riêng biệt, Readers Hub cung cấp khả năng truy cập, đọc và tải báo điện tử, sách điện tử hoặc tạp chí từ một lựa chọn trên toàn thế giới, Music Hub (hợp tác với 7Digital) là một cửa hàng ứng dụng để tải về và mua các bài nhạc trên các thiết bị, và Game Hub (hợp tác với Gameloft, [28]) là một cửa hàng ứng dụng để tải về và mua trò chơi. các ứng dụng bổ sung bao gồm Kies 2.0, Kies Air, AllShare (đối với DLNA), Voice Recognition, Google Voice Translator, [30] Google Maps với tính năng Latitude, Places, Navigation (beta) và quản lý điện thoại thất lạc, Adobe Flash 10.2, ứng dụng QuickOffice và 'QuickType' bởi Swype. Trước khi ra mắt, đã có thông báo rằng Samsung đã tiến hành các bước để kết hợp phần mềm doanh nghiệp cho người dùng doanh nghiệp, trong đó bao gồm On Device Encryption, AnyConnect VPN của Cisco, quản lý thiết bị, Cisco WebEx, Juniper, và quản lý thiết bị từ xa từ Sybase. Galaxy SII đi kèm với hỗ trợ nhiều định dạng tập tin đa phương tiện và các bộ codec. Đối với âm thanh nó hỗ trợ FLAC, WAV, Vorbis, MP3, AAC, AAC +, eAAC +, WMA, AMR-NB, AMR-WB, MID, AC3, XMF. Đối với các định dạng video và codec nó hỗ trợ MPEG-4, H.264, H.263, DivX HD / XviD, VC-1, 3GP (MPEG-4), WMV (ASF) cũng như AVI (DivX)), MKV, FLV và Sorenson codec. Để phát video H.264, các thiết bị hữu hỗ trợ mã hóa 8-bit cùng với video lên đến 1080p HD. === Phần cứng và thiết kế === Galaxy S II sở hữu bộ xử lý lõi kép ARM Cortex-A9 1,2 GHz sử dụng trên một chip (SoC) Exynos 4210 của Samsung mà trước đây có tên mã là "Orion". Thương hiệu Exynos là nguồn gốc của nhiều đồn đoán liên quan đến thương hiệu "Hummingbird" SoC lõi đơn trước đây của Samsung Galaxy S. Exynos 4 lõi kép 45 nm (trước đây Exynos 4210) sử dụng GPU Mali-400 MP của ARM. GPU đồ họa này được cung cấp bởi ARM, là một động thái đến từ PowerVR GPU của Samsung Galaxy S. Các chip Exynos 4210 hỗ trợ công nghệ SIMD ARM (còn được biết đến như là Media Processing Engine hoặc tập lệnh 'NEON'), và cho một lợi thế đáng kể về hiệu suất trong các tình huống thực hiện quan trọng như giải mã tăng tốc cho nhiều codec đa phương tiện và các định dạng (ví dụ, On2 của VP6 / 7 / 8 hoặc các định dạng Real). GPU Mali 400 trong Exynos 4210 SoC là một trong những GPU chỉ cung cấp năng lượng thiết bị Android mà không hỗ trợ GL_RGB đệm Objects (FBOs), chỉ GL RGBA. Những chiếc Galaxy S II mới hơn (9100G) chạy trên PowerVR SGX540, không bị vấn đề này. Vào năm 2011 đại diện game Hội nghị phát triển ARM đã chứng minh việc phát video với tốc độ khung hình 60fps trong môi trường lập thể 3D chạy trên cùng một Mali-400 MP và Exynos SoC. Họ nói rằng tốc độ khung hình sẽ có thể tăng lên 70fps nếu sử dụng cổng HDMI 1.4. Những uảng cáo cho chiếc điện thoại Motorola Atrix trong tháng 6 năm 2011 nói rằng Atrix là "điện thoại thông minh mạnh mẽ nhất thế giới". Vào tháng 8 năm 2011, Cơ quan Tiêu chuẩn Quảng cáo Anh phán quyết rằng Atrix là không mạnh mẽ được như Galaxy SII do bộ vi xử lý của chiếc SII nhanh hơn. Một phiên bản mới hơn của Samsung Galaxy S II với tên mã i9100G sử dụng chip xử lý lõi kép 1,2 GHz TI OMAP 4430 với bộ xử lý đồ họa PowerVR SGX540. Galaxy S II có 1 GB RAM và 16 GB bộ nhớ trong. Trong ngăn chứa pin có một khe cắm thẻ nhớ ngoài microSD có khả năng dạng và sử dụng thẻ nhớ 64 GB microSDXC. Samsung Galaxy S II sử dụng màn hình cảm ứng điện dung 108,5 mm (4,27 in) WVGA (800 x 480) Super AMOLED Plus được bao phủ bởi kính cường lực chống thấm dầu Gorilla Glass. Màn hình là một bản nâng cấp của người tiền nhiệm của nó, và "Plus" có nghĩa là màn hình hiển thị đã được nâng cấp với ma trận PenTile để hiển thị khung ma trận RGB với kết quả là các sub-pixel được gia tăng thêm 50%. Điều này được thực hiện để giảm đi sự vỡ hình ảnh và làm sắc nét văn bản. Ngoài ra, Samsung đã tuyên bố rằng Super AMOLED Plus tiết kiệm năng lượng hơn 18% hơn so với các màn hình Super AMOLED cũ hơn. Một số chiếc SII gặp vấn đề hiển thị, một vài người sử dụng báo cáo màn hình bị ám "màu vàng" trên cạnh dưới bên trái của màn hình khi màn hình đang hiển thị nền màu xám trung tính. Galaxy S II sử dụng phần cứng âm thanh của Yamaha, trong khi người tiền nhiệm Galaxy S sử dụng WM8994 DAC của Wolfson. Các phản hồi từ người dùng trên các diễn đàn Internet cũng như một đánh giá chuyên sâu tại trang Clove đã thể hiện chất lượng âm thanh kém của chip Yamaha so với các chip Wolfson đặc trưng trong bản gốc Galaxy S. Trên mặt sau của thiết bị là một camera 8-megapixel với cảm biến ánh sáng, đi kèm là đèn flash LED đơn, có thể ghi video ở độ phân giải độ nét cao 1080p với 30 khung hình mỗi giây. Ngoài ra còn có một camera 2-megapixel cho các cuộc gọi video, chụp ảnh selfie cũng như quay video nói chung, với độ phân giải tối đa 640x480 (VGA). Galaxy SII là một trong những thiết bị Android đầu tiên hỗ trợ nguyên bản NFC. Ngay sau chiếc Google Nexus S là thiết bị điện thoại thông minh có NFC đầu tiên. Người ta được biết là phiên bản SII tại Anh Quốc không có chip NFC, sau đó vào cuối năm 2011 người ta đã ra một phiên bản SII khác có trang bị NFC. Samsung cũng đã có một công nghệ kết nối độ nét cao mới được gọi là di động độ nét cao Link (MHL). Các điểm mạnh chính của MHL là nó được tối ưu hóa cho các thiết bị di động bằng cách cho phép pin của thiết bị được sạc trong lúc đang chơi nội dung đa phương tiện. Ở Galaxy SII, Cổng micro-USB theo chuẩn công nghiệp được bố trí phía dưới của thiết bị có thể được sử dụng để một kết nối MHL xuất hình ảnh ra TV, kết nối với một màn hình bên ngoài, chẳng hạn như một TV độ nét cao. Các chuẩn micro USB trên thiết bị này cũng hỗ trợ chuẩn USB OTG có nghĩa là Galaxy S II có thể hoạt động như một thiết bị 'host' theo cùng một cách như các máy tính để bàn trong việc cho phép các thiết bị USB bên ngoài được cắm vào và sử dụng. Những thiết bị USB bên ngoài thường bao gồm các ổ đĩa flash USB và các ổ đĩa cứng gắn ngoài (được cấp nguồn riêng). Đã có một cuộc biểu tình video trên YouTube yêu cầu chức năng OTG phải có sẵn với một micro USB thông thường (B-type) OTG adapter. Các video trên YouTube cùng đi vào để đề cập đến một thử nghiệm thành công hoàn thành trên một ổ đĩa cứng 2 TB USB bên ngoài (yêu cầu nguồn điện riêng), tuy nhiên người ta đã thất bại khi cố gắng để kết nối chiếc SII với bàn phím hoặc chuột USB. Hiện tại thì chỉ các ổ cứng với định dạng FAT32 là được Galaxy SII hỗ trợ. Chiếc SII có một lỗ cắm tai nghe 3.5 mm TRRS nằm ở bên trên và một cổng kết nối micro USB nằm ở phía dưới. Con chip Broadcom BCM4330 kết hợp tích hợp 802.11n Wi-Fi, Bluetooth 4.0 + HS và FM radio. Những chiếc SII phát hành cho thị trường Mỹ không có tính năng FM. BCM4330 hỗ trợ Wi-Fi Direct cho phép các thiết bị giao tiếp trực tiếp với nhau mà không cần phải tương tác qua các điểm truy cập. Tuy chip BCM4330 hỗ trợ Bluetooth 4.0, Galaxy S2 bị giới hạn sử dụng Bluetooth 3.0 vì khi đó phiên bản ROM Android 4.1.2 phát hành bởi Samsung chỉ hỗ trợ Bluetooth 3.0 (chuẩn Bluetooth 4.0 được giới thiệu trong phiên bản Android 4.3), tuy nhiên việc nâng cấp lên firmware thay thế là thực sự cần thiết. Các phụ kiện có sẵn cho Samsung Galaxy SII bao gồm: Một dock kết nối để sạc pin và xuất âm thanh nghe-nhìn. Một cáp MHL tận dụng cổng micro USB của thiết bị để xuất HDMI. Bộ chuyển đổi USB OTG để sử dụng với các thiết bị USB bên ngoài như ổ đĩa flash USB. Bút Stylus để sử dụng trên màn hình điện dung của thiết bị. Việc hỗ trợ bút stylus trên Galaxy SII là một ý tưởng tiền thân của Samsung Galaxy Note. Một số nhà sản xuất đã phát hành một loạt các vỏ ốp lưng cho Galaxy SII. Một tai nghe Samsung mang nhãn hiệu Bluetooth cho thực hiện cuộc gọi điện thoại. Một cặp loa cầm tay chạy bằng cổng USB của điện thoại. Một bộ công cụ để gắn xe hơi để sử dụng bảng điều khiển của điện thoại, cho phép định vị GPS sử dụng điện thoại. == Các biến thể == === Galaxy S II - Model GT-I9100G === Samsung Galaxy S II GT-I9100G được phát hành vào cuối năm 2011, và thường được bán thay vì bản gốc GT-I9100 tại một số thị trường nhất định (chủ yếu là ở châu Á và một bộ phận châu Âu). Tổng quan về Samsung Galaxy S II GT-I9100G có thể được nhìn thấy trên trang web chính thức của Samsung. Nó được nổi bật với SoC Texas Instruments OMAP4430 thay vì Exynos 4210 trong GT-I9100. Còn lại thì về tổng thế nó giống với GT-I9100, vì có cùng vi xử lý lõi kép tốc độ 1.2 GHz, công nghệ vi xử lý ARM Cortex A9. Tuy nhiên, các SoC có thiết kế khác nhau và GPU Mali-400 đã được thay thế bởi GPU PowerVR SGX 540. Sự khác biệt trong SoC này làm cho biến thể này không tương thích với ROM tùy chỉnh dành cho I9100, nhưng nó đã đạt được hỗ trợ hậu mãi riêng một cách đều đặn (chẳng hạn như hỗ trợ từ CyanogenMod) do sự phát triển dễ dàng và sự cởi mở của nền tảng TI OMAP. === Australia === ==== Telstra and Vodafone Australia - Models GT-I9100T ==== Galaxy S II (Model GT-I9100T) được bán bởi Telstra, Vodafone Australia và một lượng nhất định các hãng khác ngoài nước Úc và hầu như giống với phiên bản I9100 về thiết kế cũng như tính năng. ==== Telstra and Optus - Model GT-I9210T ==== Ở Australia Galaxy thì S II 4G (Model GT-I9210T) sử dụng bộ vi xử lý Qualcomm và hỗ trợ mạng Telstra và Optus '4G. Tuy nhiên, phiên bản này không hỗ trợ radio analog và truyền thông kỹ thuật số. === Canada === ==== Bell Mobility - Models GT-I9100M and SGH-I757M ==== Bell Galaxy S II (Model GT-I9100M) giống hệt với phiên bản quốc tế, ngoại trừ mã của nó là GT I9100M. Tất cả các ROM tùy chỉnh chạy trên các phiên bản quốc tế đều có thể được flash lên model Galaxy S II này. Samsung Galaxy S II HD LTE Bell (Model SGH-I757M) giống hệt với chiếc Galaxy SII Skyrocket HD của AT&T do đó tạo ra một biến thể của model Hàn Quốc là Galaxy S II HD LTE. Một sự khác biệt giữa model của Hàn Quốc và các model Bell là không có nút home vật lý, thay vào đó, model này sử dụng bốn nút cảm ứng điện dung. Đặc điểm kỹ thuật của model này giống với model của Hàn Quốc. Tuy nhiên, thiết bị này được cài đặt để chạy với nhiều tần số sóng khác nhau. ==== Rogers - Models SGH-I727R and SGH-I927 ==== Những chiếc Galaxy S II LTE của Rogers (Model SGH-I727R) giống hệt với Skyrocket của AT&T, và cũng đi kèm với một màn hình 4,52 inch, dung lượng pin lớn hơn (1.850 mAh), kèm theo đó là bộ vi xử lý Qualcomm 1,5 GHz. Galaxy S Glide Rogers (Model SGH-I927) là model với các thông số kỹ thuật tương tự như Captivate Glide của AT & T, ngoại trừ logo hãng ở mặt sau thay vì ở phía trên mặt trước. Rogers ra mắt Samsung Galaxy S II LTE, ra mắt vào mùa thu năm 2011, ngay sau khi ra mắt mạng LTE của mình ở Toronto. Lưu ý rằng Galaxy S II LTE có một số model khác nhau: I9210 và ra sau đó và chỉ trong thị trường lựa chọn, bao gồm Canada và Hàn Quốc. ==== Telus Mobility - Model SGH-T989D ==== Chiếc Galaxy S II X sử dụng mạng 4G của Telus Mobility (Model SGH-T989D) có sử dụng vi xử lý Qualcomm 1,5 GHz lõi kép, màn hình lớn hơn (4,52 inch) và viên pin dung lượng 1.850 pin mAh, dày 9,4 mm và có thiết kế khác so với bản quốc tế. Có một đai viền chrome xung quanh mép và nhựa giả da ở mặt sau thiết bị. Thay vì nút Home cứng, nó cũng có bốn nút điện dung chuẩn. Các bộ vi xử lý Qualcomm cho phép sử dụng mạng tốc độ cao 42 Mbit/s HSPA + với tốc độ tải nhanh trong khi các mẫu sử dụng vi xử lý Samsung Exynos không thể. Nó được phát hành vào ngày 28 Tháng mười 2011. Một công ty con của Telus, Koodo Mobile, cũng cung cấp các mẫu riêng với mã SGH-T989D. === Trung Quốc === ==== Trung Quốc - Model GT-I9108 (China Mobile), GT-i9100G, SCH-i919 (Duos) ==== Samsung Galaxy S II (Model GT-I9108) được phát hành tại Trung Quốc vào cuối năm 2011 và được bán tại China Mobile. Nó giống hệt với GT-I9100G, đều có Soc Texas Instruments OMAP4430 với bộ xử lý lõi kép ARM Cortex A9 1,2 GHz cùng bộ xử lý đồ họa PowerVR SGX 540. Tuy nhiên, GT-I9108 có hỗ trợ TD-SCDMA thay cho WCDMA trong các biến thể khác. GT-I9108 là một model dạng địa phưong và có sẵn vài ROM tùy chỉnh riêng. China Telecom thiết kế bởi LTE Design, Ap Qualcomm Snapdragon MSM8660 & hai sim GSM + CDMA. === Châu Âu - Model GT-I9100P === Samsung Galaxy S II (Model GT-I9100P) được phát hành vào cuối năm 2011. Nó sở hữu phần cứng tương tự như GT-I9100 kèm theo chip NFC và pin (pin trên model này đặc biệt hơn bởi nó tích hợp ăng ten). Để kích hoạt NFC, người dùng phải cập nhật firmware sử dụng phiên bản P. Bất kỳ firmware I9100 nào cũng đều có thể được sử dụng, nhưng sẽ không hỗ trợ NFC trên model này. === India === ==== Model: GT-i9100 ==== GT-i9100 là một model không sim phát hành vào ngày 2 tháng 5 năm 2011 và chỉ hỗ trợ 2G/3G. === Japan === ==== KDDI AU - Model: ISW11SC ==== Những chiếc Galaxy S II WiMAX của KDDI Au (Model: ISW11SC) được phát hành lần đầu vào ngày 20 Tháng 1 năm 2012 với chỉ một phiên bản màu Noble Black. Sau đó, model màu Trắng Gốm cũng được phát hành ngày 24 tháng 3 và cuối cùng là model màu Shiny Magenta ngày 20 tháng 7 năm 2012. Các Galaxy SII model ISW11SC hiện đang chạy Android 4.0.4 thông qua bản cập nhật OTA từ firmware gốc 2.3.6. Chúng sử dụng CPU Exynos 4210 lõi kép 1,4 GHz và chipset modem Qualcomm QSC6085 hoạt động ở băng tần 192 MHz. Nó có 1 GB RAM và 16 GB bộ nhớ trong (tuy nhiên khi bán ra người dùng chỉ còn 11 GB trống), hỗ trợ mở rộng bộ nhớ lên đến 64 GB thông qua khe cắm microSD. Thiết bị sở hữu viên pin 1850mAh. Các ISW11SC có màn hình HD 1280x720 Samsung SUPER AMOLED rộng 4,7 inch. Kết nối bao gồm CDMA 800 MHz / 2100 MHz; 3G EV-DO Rev A; Wi-Fi 802.11 chuẩn a/b/g/n 2,4 GHz / 5 GHz; 3.0 và một modem WiMAX tích hợp với tốc độ lên đến 40Mbit/s download và 15.4Mbit/s upload. Giống như hầu hết các mẫu điện thoại nội địa Nhật Bản, ISW11SC bán ra với nhiều ứng dụng Nhật Bản cài sẵn. Điện thoại hỗ trợ tính năng NFC tương thích về mặt kỹ thuật với FeliCa RFID (chẳng hạn như với PASMO và hệ thống thanh toán SUICA) Tuy nhiên, các phần mềm không hỗ trợ ví tiền di động "Osaifu Keitai"của Nhật Bản và do đó điện thoại không thể được sử dụng để thực hiện các giao dịch với NFC Ở Nhật. ==== NTT DoCoMo - Model SC-02C ==== NTT DoCoMo ra mắt nhiều biến thể của Galaxy S II (Model SC-02C) vào ngày 23 tháng 6 năm 2011 để tiếp nối chiếc DoCoMo Galaxy S (Model SC-02B). The SC-02C hỗ trợ truyền hình sóng mặt đất 1seg, cũng như các phần mềm i-mode cho các tiết bị DoCoMo, như là i-channel, BeeTV, MelodyCall và tiện ích điều hướng bản đồ DoCoMo. The SC-02C chạy bằng vi xử lý lõi kép Samsung Exynos 4210 Orion 1.2 GHz (S5PC210). The SC-02C sử dụng hệ thống nhập liệu Wnn Japanese. === Hàn Quốc === Tất cả các biến thể được tối ưu hóa để sử dụng với các nhà mạng Hàn Quốc do có hệ thống nhập liệu Hàn Quốc dành cho các điện thoại cơ bản, layout bàn phím ảo Dubeolsik và một bộ thu sóng T-DMB ở vị trí anten FM. ==== KT - Model SHW-M250K ==== Các biến thể KT, Galaxy S II KT (Model SHW-M250K) sử dụng Wi-Fi CM KT thay vì Wi-Fi CM của Android để kết nối với mạng Wi-Fi. Các tính năng bổ sung cho người dùng KT được cài đặt sẵn theo mặc định. ==== LG U+ - Model SHW-M250L ==== Thay vì WCDMA và HSPA, biến thể LG U+ của Galaxy S II (Model SHW-M250L) sử dụng EV-DO Rev.B (KPCS 1,8 GHz) để thích ứng với công nghệ mạng được triển khai bởi LG U+. Các SHW-M250L hơi dày (9,4 mm) so với biến thể của SK Telecom và các biến thể của KT (8.89 mm). Các tính năng bổ sung cho người dùng LG U+ được cài đặt sẵn theo mặc định. ==== SK Telecom - Model SHW-M250S ==== Biến thể của SK Telecom (Model SHW-M250S) sử dụng hệ thống SK-MMS thay cho hệ thống OMA-MMS để gửi tin nhắn đa phương tiện. Các tính năng bổ sung cho người dùng SK Telecom được cài đặt theo mặc định. === Hoa Kỳ === ==== AT&T - Models SGH-I777, SGH-I727 and SGH-I927 ==== AT & T Mobility bắt đầu cung cấp phiên bản đầu tiên của Galaxy S II (Model SGH-I777) vào ngày 02 tháng 10 năm 2011. Trước khi phát hành, tên mã của phiên bản đầu tiên của AT & T Mobility là "Attain" (từ Samsung). Các biến thể AT & T Mobility duy trì màn hình hiển thị 4,3 inch như phiên bản quốc tế, nhưng có bốn nút điện dung thay vì hai nút điện dung và một phím home cứng. Nó cũng có khả năng kết nối NFC. AT & T Mobility giới thiệu một biến thể thứ hai của thiết bị được gọi là Galaxy S II Skyrocket (Model SGH-I727) vào 6 tháng 11 năm 2011. Trước khi phát hành, phiên bản thứ hai này đã có tên mã là "Skyrocket" (từ Samsung). Model này cũng tương tự như Samsung Galaxy S II LTE quốc tế và đáng chú ý là nó có một anten thu sóng LTE. Sự tích hợp này khiến nhà mạng đã phải thay đổi vi xử lý của thiết bị từ Exynos thành Snapdragon MSM8660 của Qualcomm vì khi đó các chip Exynos không hỗ trợ LTE. Model này có màn hình 4,52 inch như biến thể của Sprint. Skyrocket hỗ trợ Near Field Communications (NFC). AT & T Mobility cũng đã giới thiệu một biến thể thứ ba gọi là Captivate Glide (Model SGH-I927) vào 20 tháng 11 năm 2011. Các Captivate Glide khác với hai model còn lại của AT & T Mobility chủ yếu là do có thêm bàn phím vật lý QWERTY dạng trượt. Các Captivate Glide cũng bao gồm vi xử lý lõi kép Tegra 2 1 GHz thay vì một bộ xử lý Exynos 1,2 GHz. Màn hình của biến thể thứ ba này là Super AMOLED thay vì Super AMOLED Plus và kích thước màn hình bị giảm xuống còn 4 inch. ==== Sprint - Model SPH-D710 ==== Các biến thể Galaxy S II của Sprint (Model SPH-D710) ban đầu được phát hành với tên gọi Galaxy S II Epic 4G Touch và sau đó được đổi tên thành Galaxy S II 4G. Trước khi phát hành, phiên bản của Sprint có tên mã là "Within" của Samsung. Những chiếc SPH-D710 đầu tiên lên kệ Sprint vào ngày 16 Tháng 9 năm 2011, điều đó giúp Sprint trở thành nhà mạng đầu tiên tại Hoa Kỳ cung cấp một biến thể của S II. SPH-D710 có sẵn cho khách hàng Sprint với ba màu: đen, xám titan hoặc màu trắng. Các biến thể của Sprint có những khác biệt quan trọng so với các phiên bản quốc tế. Chúng bao gồm radio WiMax 2500 MHz. Màn hình hiển thị trên biến thể của Sprint là 4,52 inch. Các biến thể của Sprint có bốn nút cảm ứng điện dung thay vì hai nút điện dung và phím home cứng trên các phiên bản quốc tế. Những khác biệt khác bao gồm một đèn thông báo LED và viên pin 6,66 pin Wh. Biến thể của Sprint không được trang bị NFC, không giống như các biến thể bên T-Mobile và AT & T Mobility. Galaxy S II 4G là một thiết bị màn hình cảm ứng duy nhất, không giống như chiếc Epic 4G, sở hữu thêm một bàn phím QWERTY vật lý. Ngày 28 tháng 3 năm 2013, bản cập nhật Android 4.1.2 Jelly Bean (GB27) được phát hành thông qua phần mềm Samsung Kies. Tính đến tháng 02 năm 2014, không có thêm bất kỳ thông tin nào xác nhận việc cập nhật cho biến thể này. Tính đến nay, chiếc Galaxy S II 4G đã nhận được 7 bản cập nhật của Samsung kể từ khi được phát hành đầu tiên vào ngày 16 tháng 9 năm 2011. Sprint đã thông báo rằng vào ngày 6 tháng 11 năm 2015 thì mạng Sprint WiMAX sẽ ngừng hoạt động có hiệu quả và loại bỏ chức năng 4G trên model SPH-D710. Người dùng vẫn có thể truy cập dịch vụ dữ liệu bằng cách sử dụng mạng 3G. ==== Boost Mobile and Virgin Mobile USA ==== Các công ty con của Sprint là Boost Mobile cung cấp một biến thể Sprint SPH-D710 4G với hai tùy chọn màu: xám titan hoặc màu trắng. Virgin Mobile cũng ra mắt một biến thể là chiếc Galaxy S II (Model i9210). Boost Mobile bắt đầu bán Samsung Galaxy S II 4G vào ngày 6 tháng 9 năm 2012 với giá $369,99. Virgin Mobile USA bắt đầu phát hành 4G Galaxy S II ngày 15 Tháng 10 năm 2012 với giá $369,99. Vào tháng 3 năm 2013, các biến thể của Boost Mobile và Virgin Mobile cũng được cập nhật Android 4.1.2 Jelly Bean cùng với các biến thể của Sprint. ==== T-Mobile - Model SGH-T989 ==== T-Mobile USA đã bắt đầu lấy đơn đặt hàng trước cho biến thể của mình (Model SGH-T989) kể từ ngày 11 tháng 10 năm 2011 và bắt đầu bán nó tại các cửa hàng vào ngày 12 Tháng 10 năm 2011. Trước khi phát hành, biến thể của thiết bị T-Mobile là có tên mã là "Hercules" của Samsung. Các biến thể T-Mobile có sự khác biệt quan trọng quan trọng so với phiên bản quốc tế của Galaxy S II. Các biến thể T-Mobile sử dụng bộ xử lý lõi kép Qualcomm Snapdragon APQ8060 (S3) 1,5 GHz, trái ngược với xử lý lõi kép Exynos 1,2 GHz của phiên bản quốc tế vì bộ xử lý Exynos không tương thích với mạng HSPA+ 42Mbit/s của T-Mobile. Radio trên biến thể này hỗ trợ UMTS băng tần I (2100 MHz), II (1900 MHz), IV (1700 MHz) và V (850 MHz). Màn hình hiển thị của các biến thể T-Mobile rộng 4,52 inch, lớn hơn so với phiên bản quốc tế. Các biến thể T-Mobile cũng dùng bốn nút cảm ứng điện dung, tương tự như các biến thể của Sprint và AT&T. Biến thể này sử dụng GPU Adreno 220 mạnh mẽ và hỗ trợ bản ROM Android 4.4.4 phiên bản T-Mobile, giống như các phiên bản AT & T, cũng hỗ trợ Near Field Communications (NFC) vì chip NFC đã được tích hợp trong pin. Tính đến ngày 8 tháng 3 năm 2013, model của T-Mobile có thể được cập nhật cho Android 4.1.2 Jelly Bean thông qua Samsung Kies. ==== U.S. Cellular - Model SCH-R760 ==== Biến thể của US Cellular (Model SCH-R760) tương đương với biến thể của Sprint, ngoại trừ một vài đặc điểm kỹ thuật; các biến thể US Cellular không bao gồm radio Wimax 2500 MHz MHz. == Galaxy S II Plus - Model GT-I9105/P == Galaxy S II Plus được công bố tại CES 2013. Chiếc điện thoại này có SoC Broadcom BC28155 với bộ vi xử lý lõi kép 1,2 GHz và một GPU VideoCore IV HW thay vì Mali 400MP trong bản gốc Galaxy S II. Thiết bị sở hữu 1GB bộ nhớ RAM, nhưng chỉ có 8Ghuwxbooj nhớ trong. Nó có thân máy dẻo kiểu hyperglazed (giống như Samsung Galaxy S III) và được bán ra với hai màu: Chic White và Dark Blue. Chiếc điện thoại này ban đầu chạy trên Android 4.1.2 "Jelly Bean" với TouchWiz Nature UX của Samsung. Bản cập nhật Android 4.2.2 có sẵn ở một số nước. Cũng phát hành là một mô hình I9105P, hỗ trợ NFC. == Đón nhận == Các bài đánh giá về Galaxy S II thực sự là rất tích cực trên toàn thế giới. Nó đã được vinh danh bằng giải thưởng Global Mobile MWC là "Smartphone của năm 2012". Engadget cho Galaxy SII điểm 9/10, gọi đó là "điện thoại thông minh chạy Android tốt nhất " và "có thể là điện thoại thông minh tốt nhất". CNET UK cho Galaxy SII một đánh giá khả quan là điểm 4,5/5, và mô tả nó là "một trong những điện thoại di động mỏng nhất, nhẹ nhất mà chúng tôi từng có đặc quyền để giữ." TechRadar đánh giá Galaxy SII là 5/5 sao và mô tả các thiết bị như một mà "thiết lập một quán bar mới cho điện thoại thông minh trong năm 2011." Pocketnow đã bị "ấn tượng" bởi tốc độ của trình duyệt web. SlashGear rằng các thiết bị "đặt mốc cho điện thoại thông minh nói chung." GSMArena chỉ ra nhược điểm nhỏ là "làm hoàn toàn bằng nhựa" và là thiết bị cầm tay có "không có phím máy ảnh chuyên dụng", nhưng vẫn gọi điện thoại "mạnh mẽ một cách cực độ" và kết luận: "Chúng ta không thể tìm ra chiếc điện thoại nào tốt hơn flagship mới của Samsung nếu chúng ta phải tìm ra điện thoại thông minh tốt nhất." Sau khoảng hơn một tháng kể từ khi ra mắt, hơn 1 triệu chiếc Samsung Galaxy S II đã được kích hoạt tại Hàn Quốc. Trên thế giới, 3 triệu chiếc đã được bán ra trong 55 ngày. Sau 85 ngày kể từ ngày phát hành đầu tiên, Samsung tuyên bố lô hàng toàn cầu của Galaxy S II là 5 triệu chiếc và 10 triệu chiếc sau 5 tháng. Do sức bán mạnh mẽ của loạt Galaxy, Samsung đã vượt Apple trong doanh số bán điện thoại thông minh trong quý 3 năm 2011, với tổng thị phần 23,8%, so với của Apple 14,6%. == Kế nhiệm == Chiếc điện thoại kế nhiệm Galaxy S II là chiếc Galaxy S III, được công bố tại London vào ngày 3 tháng 5 năm 2012 và được bán ra từ ngày 29 tháng 5 năm 2012 với 10 triệu đơn đặt hàng trước. == Tham khảo == == Liên kết == Phương tiện liên quan tới Samsung Galaxy S II I9100 tại Wikimedia Commons Website chính thức
hội nghị cấp cao đông á lần thứ nhất.txt
Hội nghị cấp cao Đông Á là hội nghị cấp cao của các gia thuộc khu vực Đông Á mà trọng tâm là khu vực Đông Nam Á cùng với các quốc gia liên quan và khách mời. Nó diễn ra sau khi cuộ họp thường niên của các quốc gia Đông Nam Á. Hội nghị cấp cao Đông Á được tổ chức lần thứ nhất ở thủ đô Kuala Lumpur, Malaysia == Các nước tham dự == Hội nghị cấp cao Đông Á lần thứ nhất diễn ra ở Kuala Lumpur, Malaysia vào ngày 14 tháng 12 năm 2005. Các quốc gia tham dự: 10 quốc gia thành viên ASEAN Các quốc gia Đông Bắc Á Thêm Quan sát viên == Chú thích ==
philadelphia.txt
Philadelphia (tên thông tục Philly) là một thành phố tại Hoa Kỳ có diện tích 369 km², có nghĩa theo tiếng Hy Lạp là "tình huynh đệ" (Φιλαδέλφεια), là thành phố lớn thứ năm tại Hoa Kỳ và là thành phố lớn nhất trong Thịnh vượng chung Pennsylvania. Dân số thành phố năm 2005 là khoảng 1,56 triệu người , là thành phố lớn thứ 2 ở bờ Đông Hoa Kỳ, là trung tâm thương mại, giáo dục, văn hóa của Hoa Kỳ. Thành phố cách Thành phố New York 46 dặm (trung tâm cách New York 80 dặm), là khoảng cách gần nhất giữa 2 thành phố có dân số trên 1 triệu dân. Vùng đô thị Philadelphia lớn thứ tư Hoa Kỳ với dân số 5,8 triệu người. Philadelphia là một trong những thành phố quan trọng và cổ xưa nhất của Hoa Kỳ. Trong một giai đoạn của Thế kỷ 18, đây là thủ đô thứ 2 và là thành phố đông dân nhất của Hoa Kỳ và là thành phố nói tiếng Anh lớn thứ 2 trên thế giới, sau London. Vào thời kỳ đó, thành phố này hơn hẳn Boston và Thành phố New York về tầm quan trọng về chính trị và xã hội với vai trò đóng góp của Benjamin Franklin. == Khí hậu == == Xem thêm == Nha học chánh Philadelphia == Chú thích == == Liên kết ngoài == Philadelphia (tiếng Anh)
thế kỷ 10.txt
Thế kỷ 10 là khoảng thời gian tính từ thời điểm năm 901 đến hết năm 1000, nghĩa là bằng 100 năm, trong lịch Gregory. == Tham khảo ==
rutheni.txt
Rutheni (tiếng Latinh: Ruthenium) là một nguyên tố hóa học có ký hiệu Ru và số nguyên tử 44. Là một kim loại chuyển tiếp trong nhóm platin của bảng tuần hoàn, rutheni được tìm thấy trong các quặng platin và được sử dụng như là chất xúc tác trong một số hợp kim platin. == Lịch sử == Rutheni được nhà khoa học Nga là Karl Klaus phát hiện và cô lập năm 1844 tại Đại học Kazan, Kazan. Klaus chỉ ra rằng ôxít rutheni chứa một kim loại mới và thu được 6 gam rutheni từ phần platin thô không hòa tan trong nước cường toan. Jöns Berzelius và Gottfried Osann gần như đã phát hiện ra rutheni năm 1827. Hai người này đã kiểm tra phần cặn bã còn lại sau khi hòa tan platin thô từ dãy núi Ural trong nước cường toan. Berzelius không tìm thấy bất kỳ kim loại không thông thường nào nhưng Osann thì cho rằng ông đã tìm ra ba kim loại mới và đặt tên một trong ba kim loại này là ruthenium (cùng pluranium và polinium). Tên gọi có nguồn gốc từ Ruthenia, một từ La tinh để chỉ Rus, một khu vực lịch sử mà ngày nay là miền tây Nga, Ukraina, Belarus, một phần Slovakia và Ba Lan. Karl Klaus đặt tên cho nguyên tố như vậy để vinh danh quê hương ông, do ông sinh ra tại Tartu, Estonia, khi đó là một phần của đế quốc Nga. Cũng có thể là nhà hóa học Ba Lan Jędrzej Śniadecki đã cô lập được nguyên tố số 44 (ông gọi là vestium) từ quặng platin vào năm 1807. Tuy nhiên, công trình của ông đã không bao giờ được xác nhận và sau đó ông đã tự rút yêu cầu về phát kiến của mình. == Đặc trưng == Là một kim loại màu trắng, cứng, nhiều hóa trị, rutheni là thành viên của nhóm platin, có 4 biến thể kết tinh và không bị xỉn đi ở nhiệt độ bình thường, nhưng bị ôxi hóa dễ dàng trong không khí để tạo thành tetraôxít rutheni (RuO4), một tác nhân ôxi hóa mạnh với các tính chất tương tự như của tetraôxít osmi. Rutheni hòa tan trong kiềm nóng chảy, không bị các axít ăn mòn nhưng bị các halogen ăn mòn ở nhiệt độ cao. Một lượng nhỏ rutheni có thể làm tăng độ cứng của platin và paladi. Khả năng chống ăn mòn của titan tăng lên đáng kể nhờ bổ sung một lượng nhỏ rutheni. Kim loại này có thể mạ thông qua mạ điện hay bằng các phương pháp phân hủy nhiệt. Một hợp kim của rutheni với molypden có tính siêu dẫn ở 10,6 K. Các trạng thái ôxi hóa của rutheni nằm trong khoảng từ +1 tới +8, và trạng thái -2 cũng đã được biết đến, mặc dù các trạng thái +2, +3 và +4 là phổ biến nhất. == Phổ biến == === Khai thác thông thường === Nguyên tố này nói chung được tìm thấy trong các loại quặng với các kim loại khác thuộc nhóm platin trong khu vực dãy núi Ural cũng như ở Bắc và Nam Mỹ. Những lượng nhỏ nhưng có tầm quan trọng thương mại cũng được tìm thấy trong pentlandit tách ra ở Sudbury, Ontario, Canada và trong các trầm tích pyroxenit ở Nam Phi. Rutheni là cực hiếm và nó đứng thứ 74 về độ phổ biến trong số các kim loại trên Trái Đất. Khoảng 12 tấn rutheni được khai thác mỗi năm với tổng trữ lượng toàn thế giới khoảng 5000 tấn. Kim loại này được cô lập ở quy mô thương mại thông qua công nghệ hóa học phức tạp trong đó hiđrô được dùng để khử ammoni rutheni clorua để sinh ra một chất bột. Chất bột đó được làm đặc chắc bằng các kỹ thuật luyện kim bột hay bằng hàn hồ quang agon. === Từ nhiên liệu hạt nhân đã sử dụng === Cũng có thể tách ra rutheni từ nhiên liệu hạt nhân đã sử dụng. Mỗi kilôgam các sản phẩm phân hạch của U235 chứa khoảng 63,44 gam các đồng vị rutheni với chu kỳ bán rã dài hơn 1 ngày. Do nhiên liệu hạt nhân đã sử dụng điển hình chứa khoảng 3% các sản phẩm phân hạch nên 1 tấn nhiên liệu hạt nhân đã sử dụng chứa khoảng 1,9 kg rutheni. Ru103 và Ru106 sẽ làm cho rutheni phân hạch có tính phóng xạ cao. Nếu như sự phân hạch diễn ra ngay lập tức thì rutheni được tạo thành từ đó sẽ có độ hoạt hóa cho Ru103 là 109 TBq g−1 và cho Ru106 là 1,52 TBq g−1. Ru103 có chu kỳ bán rã khoảng 39 ngày nghĩa là trong phạm vi 390 ngày thì nó sẽ phân rã gần như tới trạng thái nền, đủ tốt để cho việc tái chế có thể diễn ra. Ru106 có chu kỳ bán rã khoảng 373 ngày, nghĩa là nếu nhiên liệu đã qua sử dụng để nguội trong 5 năm trước khi tái chế thì chỉ còn khoảng 3% lượng ban đầu còn đọng lại, phần còn lại đã phân rã tới trạng thái nền. Xem thêm Khoáng vật rutheni. == Hợp chất == Các hợp chất của rutheni thường tương tự về tính chất như các hợp chất của osmi và thể hiện ít nhất 8 trạng thái ôxi hóa, nhưng các trạng thái +2, +3, +4 là phổ biến nhất. Các ví dụ là ôxít rutheni (IV) (Ru(IV)O2, trạng thái ôxi hóa +4), ruthenat dikali (K2Ru(VI)O4, +6), perruthenat kali (KRu(VII)O4, +7) và tetrôxít rutheni (Ru(VIII)O4, +8). Các hợp chất của rutheni với clo là clorua rutheni (II) (RuCl2) và clorua rutheni (III) (RuCl3). Xem thêm Hợp chất của rutheni. == Đồng vị == Rutheni nguồn gốc tự nhiên là hỗn hợp của 7 đồng vị. Đồng vị phóng xạ ổn định nhất là Ru106 với chu kỳ bán rã 373,59 ngày, Ru103 với chu kỳ bán rã 39,26 ngày và Ru97 có chu kỳ bán rã 2,9 ngày. Mười lăm đồng vị phóng xạ khác cũng được nêu đặc trưng với nguyên tử lượng nằm trong khoảng từ 89,93 (Ru90) tới 114,928 (Ru115). Phần lớn trong số này có chu kỳ bán rã nhỏ hơn 5 phút, ngoại trừ Ru95 (1,643 giờ) và Ru105 (4,44 giờ). Phương thức phân rã chủ yếu của các đồng vị nhẹ hơn đồng vị phổ biến nhất (Ru102) là bắt điện tử còn phương thức phân rã chủ yếu của các đồng vị nặng hơn là bức xạ beta. Sản phẩm phân rã chủ yếu của các đồng vị nhẹ hơn Ru102 là tecneti còn sản phẩm phân rã chủ yếu của các đồng vị nặng hơn là rhodi. == Hóa hữu cơ kim loại == Rutheni là kim loại rất linh hoạt, có thể dễ dàng tạo ra các hợp chất với các liên kết cacbon-rutheni, do vậy các hợp chất này có xu hướng sẫm màu hơn và phản ứng nhanh hơn so với các hợp chất của osmi. Gần đây, Anthony Hill và đồng nghiệp đã tạo ra các hợp chất của rutheni trong đó các nguyên tử bo liên kết với nguyên tử kim loại. Hợp chất hữu cơ kim loại của rutheni dễ dàng tạo ra là RuHCl(CO)(PPh3)3. Hợp chất này có 2 dạng (màu vàng và màu hồng) là đồng nhất khi chúng hòa tan nhưng khác biệt khi ở trạng thái rắn. Hợp chất hữu cơ kim loại tương tự như ruthenocen, bis(2,4-dimethylpentadienyl)rutheni, dễ dàng tổng hợp ở khối lượng gần định lượng được và có ứng dụng trong ngưng đọng rutheni kim loại pha hơi cũng như trong xúc tác, bao gồm tổng hợp Fischer-Tropsch đê tạo ra nhiên liệu lỏng cho ngành vận tải từ mônôxít cacbon và hiđrô. Các chất xúc tác quan trọng dựa trên rutheni là xúc tác Grubbs và phức chất Roper. == Ngưng đọng hơi hóa học rutheni == Thách thức duy nhất phát sinh trong cố gắng phát triển các màng rutheni tinh khiết để làm chất xúc tác. Rutheni kim loại hoạt hóa các liên kết C-H và C-C, hỗ trợ sự phân cắt liên kết C-H và C-C. Nó tạo ra con đường phân hủy xúc tác tiềm năng cho mọi tiền chất ngưng đọng hơi hóa học (CVD) hữu cơ kim loại mà có thể nhất dẫn tới sự hợp nhất cacbon đáng kể. Platin, một chất xúc tác tương tự về mặt hóa học, xúc tác quá trình khử hiđrô của các hydrocacbon mạch vòng 5- và 6-thành viên thành benzen. Các dải d của rutheni nằm cao hơn các dải d của platin, nói chung dự báo các liên kết hút bám-rutheni mạnh hơn so với platin. Vì thế, rất có thể là rutheni cũng xúc tác cho quá trình khử hiđrô của các vòng hydrocacbon 5- và 6-thành viên thành benzen. Benzen bị khử hiđrô tiếp trên bề mặt rutheni thành các đoạn hydrocacbon tương tự như những gì tạo thành bởi axetylen và ethen trên bề mặt rutheni. Ngoài benzen, axetylen và ethen thì pyridin cũng bị phân hủy trên bề mặt rutheni, để lại các đoạn đã liên kết trên bề mặt. Rutheni cũng được nghiên cứu kỹ trong khoa học bề mặt và trong các tài liệu về xúc tác do tầm quan trọng của nó như là một chất xúc tác trong công nghiệp. Có nhiều nghiên cứu về hành vi của các phân tử đơn lẻ trên rutheni trong khoa học bề mặt. Tuy nhiên, việc hiểu bản chất hành vi của mỗi phối thể một cách riêng lẻ không tương đương với việc hiểu bản chất hành vi của chúng khi đồng hút bám với nhau và cùng với tiền chất. Trong khi không có khác biệt về áp suất một cách đáng kể giữa các nghiên cứu khoa học bề mặt và CVD, nhưng thường có khoảng trống nhiệt độ giữa các nhiệt độ được báo cáo trong các nghiên cứu khoa học bề mặt và nhiệt độ phát triển CVD. Mặc cho các phức tạp này, rutheni là ứng viên tiềm năng cho việc hiểu CVD và thiết kế tiền chất của các màng xúc tác. Các phối thể là các hợp chất ổn định theo đúng nghĩa, thời gian tiếp xúc phối thể-rutheni ngắn và nhiệt độ chất nền vừa phải giúp tối thiểu hóa sự phân hủy phối thể không mong muốn trên bề mặt. Sự hoạt hóa liên kết C-H và C-C là phụ thuộc nhiệt độ. Sự khử hút thấm bề mặt của sản phẩm cũng phụ thuộc nhiệt độ, nếu như sản phẩm không liên kết vào bề mặt rutheni. Điều này gợi ý rằng có một nhiệt độ tối ưu nào đó, mà tại đó phần lớn các phối thể ổn định độc lập có vừa đủ năng lượng nhiệt để khử hút thấm từ bề mặt màng rutheni trước khi sự hoạt hóa C-H có thể xảy ra. Ví dụ, benzen bắt đầu phân hủy trên bề mặt rutheni ở 87 °C. Tuy nhiên, phản ứng khử hiđrô không dẫn tới phân đoạn cho đến khi đạt 277 °C và sự phân đoạn trọn vẹn không quan sát thấy ở các độ bao phủ bề mặt thấp. Điều này gợi ý rằng các phân tử benzen hút bám đã cung cấp là không gần với nhau trên bề mặt và khi nhiệt độ dưới 277 °C thì phần lớn các phân tử benzen có thể không góp phần vào sự hợp nhất cacbon trên màng xúc tác. Vì thế, lưu ý cơ bản trong phát triển các màng xúc tác kim loại cho CVD, như rutheni, là sự kết hợp của thiết kế phân tử và các khía cạnh động lực học của sự phát triển theo cách thức thuận lợi nhất. Trước khi các tiền chất hữu cơ-kim loại được khảo sát, trirutheni dodecacacbonyl (Ru3(CO)12) đã được thử nghiệm như là tiền chất CVD. Trong khi tiền chất này tạo ra các màng chất lượng tốt thì áp suất hơi lại kém, làm phức tạp hóa việc sử dụng trên thực tế của nó trong công nghệ CVD. Ruthenocen và bis(ethylcyclopentadienyl)rutheni (II) và beta-diketonat rutheni (II) đã được khảo sát tương đối kỹ. Mặc dù các tiền chất này cũng có thể tạo ra các màng tinh khiết với suất kháng thấp khi phản ứng với ôxy, nhưng tốc độ phát triển lại rất thấp hay không được thông báo. Một tiền chất phát triển nhanh, cyclopentadienyl-propylcyclopentadienylrutheni (II) (RuCp(i-PrCp)), đã được nhận dạng. RuCp(i-PrCp đạt được tốc độ phát triển từ 7,5 nm/phút tới 20 nm/phút cũng như có suất kháng thấp. Tuy nhiên, nó không tạo nhân trong các ôxít, loại bỏ việc sử dụng nó trong mọi ứng dụng, ngoại trừ trong các lớp hoạt động nối liền nhau bằng đồng. Một mô hình thiết kế tiền chất nguồn đơn lẻ mới, hóa trị 0 đã được Schneider và ctv đề ra với (1,5-cyclooctadien)(toluen)Ru(0) ((1,5-COD)(toluen)Ru) và (1,3-cyclohexadien)(benzen)Ru(0) ((1,3-CHD)(benzen)Ru), cũng được thử nghiệm độc lập bởi Choi và ctv. Sử dụng (1,5-COD)(toluen)Ru, Schneider phát hiện thấy các liên kết C-H dễ dàng hoạt hóa trong 1,5-COD. Mặc dù mức hợp nhất cacbon là thấp (1-3%), nhưng tốc độ phát triển chỉ ở mức khoảng 0,28 nm/phút khi tốt nhất. Sử dụng (1,3-CHD)(benzen)Ru thì 1,3-CHD bị khử hiđrô thành benzen như dự kiến, nhưng sự đa dạng lớn của các phản ứng bề mặt có thể với sự tham dự của 2 phối thể được tạo ra trong cửa sổ quy trình hẹp, trong đó hàm lượng cacbon là thấp. == Ứng dụng == Do khả năng làm cứng platin và paladi nên rutheni được dùng trong các hợp kim platin và paladi để chế tạo các tiếp điểm điện chống mài mòn. Đôi khi nó được tạo hợp kim với vàng trong nghề kim hoàn. 0,1% rutheni được bổ sung vào titan để cải thiện khả năng chống ăn mòn của nó lên hàng trăm lần. Rutheni cũng được sử dụng trong một số các siêu hợp kim đơn tinh thể chịu nhiệt độ cao, với các ứng dụng như các cánh của tuabin trong các động cơ phản lực. Ngòi của bút máy cũng hay được bịt đầu bằng hợp kim chứa rutheni. Từ năm 1944 trở đi, bút máy Parker 51 có ngòi làm bằng "RU", là ngòi bằng vàng 14K với mũi bịt hợp kim chứa 96,2% rutheni và 3,8% iridi. Rutheni cũng là chất xúc tác đa năng. Sulfua hiđrô có thể bị phân tách bằng ánh sáng với xúc tác là thể vẩn lỏng chứa các hạt CdS cùng điôxít rutheni. Điều này có thể là có ích để loại bỏ H2S từ các thiết bị tinh lọc dầu mỏ và từ các quy trình công nghệ khác trong công nghiệp. Rutheni là thành phần của các anôt ôxít kim loại hỗn hợp (MMO) được dùng để bảo vệ catôt cho các kết cấu ngầm dưới nước hay dưới đất và cho các điện cực điện phân trong các công nghệ sản xuất hóa chất như clo từ nước muối. Các phức chất kim loại hữu cơ của rutheni như cacben và allenyliden gần đây được phát hiện như là các chất xúc tác hiệu suất cao cho hoán vị olefin với các ứng dụng quan trọng trong hóa hữu cơ và hóa dược phẩm. Một vài phức chất rutheni hấp thụ ánh sáng trong cả dải phổ nhìn thấy và đang được nghiên cứu tích cực trong nhiều công nghệ tiềm năng trong năng lượng mặt trời. Các chất nhuộm gốc rutheni được sử dụng như là nguồn tạo điện tử trong các tế bào năng lượng mặt trời nhạy thuốc nhuộm, một hệ thống tế bào năng lượng mặt trời mới đầy triển vọng với giá thành thấp. Sự phát huỳnh quang của một vài phức chất gốc rutheni bị ôxy làm tắt, vì thế chúng được dùng làm các bộ phận trong thiết bị cảm biến quang học nhận diện ôxy. Rutheni đỏ, [(NH3)5Ru-O-Ru(NH3)4-O-Ru(NH3)5]6+, là chất biến màu sinh học được sử dụng để biến màu các phân tử nhiều anion như pectin và các axít nucleic cho kính hiển vi quang và kính hiển vi điện tử. Đồng vị phân rã beta 106 của rutheni được sử dụng trong liệu pháp phóng xạ đối với các khối u mắt, chủ yếu là u ác tính hắc tố của lớp phủ màng mạch. Các phức chất tâm rutheni đang được nghiên cứu để tìm kiếm các tính chất chống ung thư. Các phức chất này của rutheni, khác với các phức chất truyền thống của platin, thể hiện sự kháng lại thủy phân cao hơn và tác động chọn lọc hơn đối với các khối u. NAMI-A và KP1019 là hai loại dược phẩm đang được thử nghiệm và đánh giá lâm sàng về tác đụng chống các khối u di căn và ung thư ruột già. === Ứng dụng của màng mỏng rutheni trong vi điện tử === Gần đây, rutheni được gợi ý như là vật liệu có thể thay thế hữu ích cho các kim loại khác và các silicit trong các thành phần vi điện tử. Tetrôxít rutheni (RuO4) dễ bay hơi, giống như triôxít rutheni (RuO3). Bằng cách ôxi hóa rutheni (ví dụ bằng dòng ôxy plasma) thành các ôxít dễ bay hơi, rutheni có thể dễ dàng tạo ra các khuôn mẫu. Các tính chất của các ôxít thông thường của rutheni làm cho nó là kim loại tương thích với các kỹ thuật xử lý bán dẫn cần thiết để sản xuất các loại thiết bị vi điện tử. Nhằm tiếp tục thu nhỏ kích thước của thiết bị vi điện tử, các vật liệu mới là cần thiết do có sự thay đổi về kích thước. Có ba ứng dụng chính cho các màng rutheni mỏng trong vi điện tử học. Thứ nhất là sử dụng các màng mỏng rutheni như là các điện cực ở cả hai bên của pentôxít tantal (Ta2O5) hay titanat stronti bari ((Ba, Sr)TiO3, còn gọi là BST) trong các thế hệ sau của bộ nhớ truy cập ngẫu nhiên động (DRAM) ba chiều. Các điện cực màng mỏng rutheni cũng có thể được phủ trên zirconat titanat chì (Pb(ZrxTi1-x)O3, hay PZT) trong kiểu khác của RAM, bộ nhớ truy cập ngẫu nhiên sắt từ (FeRAM). Platin cũng được sử dụng như là các điện cực trong RAM trong các môi trường phòng thí nghiệm, nhưng rất khó tạo khuôn mẫu. Rutheni về mặt hóa học rất giống với platin, bảo tồn các chức năng của RAM, nhưng ngược lại với Pt ở chỗ dễ tạo khuôn mẫu hơn. Thứ hai là sử dụng các màng mỏng rutheni như là các cổng kim loại trong các transitor hiệu ứng trường kim loại-ôxít-bán dẫn kích thích kiểu p (p-MOSFET). Khi thay thế cho các cổng silicit bằng các cổng kim loại trong các MOSFET, tính chất quyết định của kim loại là hàm số công của nó. Hàm số công cần phù hợp với các vật liệu bao quanh. Đối với các p-MOSFET, hàm số công của rutheni là thuộc tính vật liệu tốt nhất phù hợp với các vật liệu bao quanh như HfO2, HfSiOx, HfNOx, HfSiNOx, để thu được các tính chất điện học mong muốn. Ứng dụng ở thang độ lớn thứ ba của màng rutheni là làm tác nhân hoạt hóa tổ hợp bám dính và lớp mầm mạ điện giữa TaN và Cu trong quy trình nạm đồng đối ngẫu. Đồng có thể mạ trực tiếp trên rutheni, trái ngược với ni0trua tantal (TaN). Đồng cũng bám dính kém với TaN, nhưng tốt với Ru. Bằng cách trầm lắng một lớp rutheni trên lớp cản TaN, sự kết dính của đồng có thể được cải thiện và sự lắng đọng của lớp mầm đồng sẽ không còn là cần thiết. Cũng có những ứng dụng khác. Năm 1990, các nhà khoa học của IBM phát hiện thấy một lớp mỏng các nguyên tử rutheni tạo ra sự móc nối phản song song mạnh giữa các lớp sắt từ cận kề, mạnh hơn so với bất kỳ nguyên tố tạo lớp không gian phi từ nào khác. Vì thế lớp rutheni đã được dùng trong thành phần đọc từ điện trở khổng lồ đầu tiên cho các đĩa cứng. Năm 2001, IBM thông báo một lớp dày 3 nguyên tử của rutheni, một cách không chính thức gọi là bụi yêu tinh, có thể cho phép tăng gấp 4 lần mật độ lưu trữ dữ liệu của các thiết bị đĩa cứng hiện tại. == Phòng ngừa == Hợp chất tetrôxít rutheni (RuO4), tương tự như tetrôxít osmi, là dễ bay hơi, có độc tính cao và có thể gây nổ nếu như nó tiếp xúc được với các vật liệu dễ cháy. Rutheni không đóng vai trò sinh học gì nhưng có thể làm sạm màu da người, và có thể là chất gây ung thư và tích lũy sinh học trong xương. == Tham khảo == Phòng thí nghiệm quốc gia Los Alamos – Rutheni == Liên kết ngoài == Nano-layer of ruthenium stabilizes magnetic sensors WebElements.com – Ruthenium
mẻ.txt
Mẻ hay cơm mẻ là một gia vị truyền thống trong ẩm thực Việt Nam có vị chua dịu và thơm đặc trưng, thường được làm từ cơm nguội hoặc bún và có xuất xứ từ miền Bắc Việt Nam. Cơm mẻ bổ dưỡng, giàu đạm, vitamin, acid lactic, không chỉ tương trợ cho một số món ăn trở nên thơm ngon, đặc biệt, mà còn có những lợi ích nhất định đối với sức khỏe con người. Mẻ được bày bán theo dạng làm sẵn ở chợ tại các hàng bán đủ thứ đồ khô, rau dưa, gia vị; hoặc như một gia vị kèm theo khi người đi chợ mua thịt chó sơ chế về nấu nhựa mận hay thịt chân giò lợn thui về làm giả cầy. Người nội trợ cũng không quá khó khăn để có thể làm một hũ mẻ và nuôi tại nhà cho sử dụng lâu dài. Là một vị trong 5 vị cơ bản của ẩm thực người Việt, mẻ luôn khẳng định được giá trị khác biệt của nó so với những thứ gia vị quả chua khác. == Thành phần và đặc điểm == Cơm mẻ bao gồm một số thành phần gồm con mẻ, nấm men, vi khuẩn lên men acid lactic. Con mẻ là một loại tuyến trùng hữu ích mang tên nematode rất nhỏ nhưng có thể nhìn thấy bằng mặt thường, bò ngọ nguậy trên bề mặt cơm trong hũ mẻ và thành dụng cụ chứa đựng. Thức ăn của con mẻ là nấm men. Chúng có hàm lượng protein rất cao, có vai trò hỗ trợ dinh dưỡng. Trong khi hầu hết mọi người đều chú ý đến con mẻ, thực chất con mẻ lại không đóng vai trò cốt yếu đối với tiến trình lên men cơm hay bún thành cơm mẻ mà chỉ báo hiệu cho người sử dụng biết chất lượng của cơm mẻ. Nấm men là thành phần thứ hai trong cơm mẻ, có dạng hình chùm, cung cấp nhiều vitamin và đạm, hỗ trợ dinh dưỡng. Vi khuẩn lactic là thành phầm thứ ba và thành phần chính của cơm mẻ. Đây là trực khuẩn Gram dương lên men kỵ khí, có khả năng chuyển hóa tinh bột thành đường và từ đường chuyển thành acid lactic. Chính nhờ acid lactic mà tạo thành vị chua của cơm mẻ. Vi khuẩn này còn kích thích hệ tiêu hóa, tận dụng được chất bột, đường nên có nhà khoa học nghĩ rằng có thể dùng nó để nghiên cứu trị bệnh tiểu đường. Vi khuẩn này cũng tạo điều kiện cho môi trường có pH thấp làm ức chế các vi khuẩn có hại cho đường ruột như Escherichia coli, Salmonella. == Làm mẻ và nuôi mẻ == Gây mẻ không cần nhiều công đoạn nhưng đòi hỏi người làm phải có kinh nghiệm. Mẻ thường được nuôi trong các hũ mẻ, là các lọ thủy tinh hay hũ sành, sứ, vừa đảm bảo sạch sẽ vừa thẩm mỹ. Tuy nhiên, lọ thủy tinh được ưa chuộng hơn do dễ dàng kiểm tra mẻ bằng mắt thường. Nếu chọn hũ sành, sứ thì phải múc lên mỗi lần kiểm tra, dễ khiến mẻ nhiễm khuẩn, bị hư, mốc và không bảo quản được lâu. Có rất nhiều cách để gây một hũ mẻ và nuôi hũ mẻ làm gia vị lâu dài, nếu không bỏ đói con mẻ và biết cách chăm sóc, giữ gìn vệ sinh thật tốt. Cách đơn giản nhất là xin được một ít cơm mẻ (mẻ cái) đã ngấu cho vào đáy keo, đáy thố, đáy lọ rồi dầm cơm tẻ để nguội xới rời phủ lên phía trên, nhiều hay ít tùy theo lượng mẻ cái đã có. Sau đó đậy nắp lại (nhưng không được đậy chặt kín tuyệt đối) trong khoảng trên dưới một tuần tùy điều kiện thời tiết, cơm sẽ nát từ từ và chua cho tới khi phân hủy hoàn toàn. Khi thấy cơm có màu trắng đục như sữa và mùi chua dịu nhẹ, tức mẻ đã ngấu, người nội trợ có thể đem ra sử dụng. Lúc này, nếu tinh mắt ta sẽ thấy trên thành hũ đựng có nhiều con mẻ nhúc nhích, khi múc ra cho lên ngón tay sẽ cảm nhận được sự nhồn nhột trên mặt da tiếp xúc. Người nội trợ có thể ngửi và nhìn để nhận biết chất lượng và độ ngấu của mẻ. Tuy nhiên, nếu chưa có kinh nghiệm người ta thường múc một ít ra chén, rây nhẹ và nếm thử. Trong trường hợp không có con mẻ để gây hũ mẻ thì người nội trợ buộc phải làm mẻ từ ban đầu. Có thể làm theo cách nấu cơm, cho nước nhiều hơn một chút, lúc nước cơm sôi lên thì chắt lấy bát nước cơm để riêng cho nguội. Lại đợi cơm chín tới, múc một bát vừa đủ cho cái hũ sành và để nguội. Sau đó cho nước cơm vào hũ sành sao cho lượng nước sâm sấp mặt cơm, đậy kín nắp và bọc kín hũ để tạo môi trường thuận lợi cho vi sinh vật phát triển. Đặt hũ vào nơi kín gió, đủ ấm cho lên men nhanh hơn và chỉ sau một hai tuần nguyên liệu trong hũ sẽ chuyển hóa thành cơm mẻ. Cơm mẻ nếu không bị hỏng do nhiễm khuẩn, giòi bọ, nấm mốc, bằng cảm quan người dùng sẽ thấy hạt cơm nát bấy, trắng đục như sữa, nhiều nước, có mùi vị thơm chua đặc trưng hơi phảng phất mùi bỗng rượu, nhưng không gắt như dấm hay chanh. Thường khi sử dụng mẻ, người dùng sẽ lấy cơm mẻ ở đáy của hũ và/hoặc bên thành hũ, nơi cơm mẻ chín ngấu nhất. Khi lấy ra một phần tương đối nhiều trong hũ mẻ, hoặc khi thấy mẻ đã rất ngấu và các con mẻ bò hết lên thành dụng cụ chứa đựng, là khi cần tiếp tục bổ sung một phần cơm nguội để tiếp tục nuôi hũ mẻ. Mẻ có thể được làm với bún. Cách làm mẻ từ bún có thể nói là nhanh nhất và cho thành phẩm ngon, khó hư vì tự bản thân bún là bột gạo để trở chua nhẹ rồi lại được làm chín trong nước sôi. Tuy nhiên do nhiều lý do (có thể cả vấn đề cảm giác, nếu nhìn sợi bún chưa phân hủy hết trong cơm mẻ), việc làm mẻ bằng bún không được thông dụng như bằng cơm nguội. Một số địa phương còn bổ sung thêm riềng (hay nghệ), xương lợn, chân gà giúp gia tăng hương vị cho hũ mẻ. == Ứng dụng == === Các món ăn sử dụng cơm mẻ === Cơm mẻ được lấy ra khỏi hũ đựng, tán mịn với chút muối ăn để giết con mẻ (Lê Tân trong Ẩm thực Trà Vinh cho rằng phải giết mẻ bằng muối vì nước sôi không làm con mẻ chết được), lọc qua rây bỏ xác (có thể thêm chút nước khuấy lên trước cho dễ lọc) để lấy được thành phẩm dạng nước sánh đặc, trắng đục, chua thơm, sử dụng trong vô số các món ăn của ẩm thực Việt Nam trải khắp ba miền. Một danh sách có thể không bao giờ đầy đủ thường được biết đến bao gồm các món thịt chó, các món om, lẩu, chả nướng, canh chua v.v. Trong ẩm thực người Việt, thịt chó với công thức gia vị nổi tiếng gồm riềng-mẻ-mắm tôm được sử dụng tẩm ướp hoặc pha chế bát nước chấm cho hầu hết các món như nhựa mận, chả chó, xáo chó, chân chó hầm, thịt chó hấp. Các biến thể giả thịt chó (giả cầy) cũng sử dụng những gia vị này có thể kể đến gồm thịt chân giò nấu giả cầy, vịt/ngan nấu giả cầy, thịt bò giả cầy. Riềng và mẻ là hai loại gia vị có tính đối ngược trong đó riềng thì thơm, cay nồng thuộc tính nóng; mẻ lại thanh, chua thuộc tính mát, khi kết hợp với nhau chúng lại tạo ra một sự hòa quyện bất ngờ, được dùng trong nhiều món ăn khác nhau như các món chả nướng, món om, món gỏi. Điển hình trong đó là chả cá kiểu chả cá Lã Vọng, chả thịt heo nướng riềng mẻ, vịt nướng riềng mẻ, cá trắm, cá quả nướng riềng mẻ, lươn om riềng mẻ. Các món lẩu, canh lấy mùi vị chua thơm của cơm mẻ có thể kể đến tôm càng nhúng lẩu chua cơm mẻ, lẩu cua đồng, lẩu ốc bươu cơm mẻ, ốc nấu đậu phụ chuối xanh (ốc nấu giả ba ba), thịt trâu cơm mẻ, chuột đồng nấu chua cơm mẻ, lẩu gà cơm mẻ, canh mồng tơi nấu chua. Các món canh cá nấu chua sử dụng cơm mẻ, rất thường được biết đến với tên gọi canh cá giấm mẻ, canh chua cá linh, canh cá dọc mùng, canh chua cơm mẻ bông so đũa, cá lóc nấu mẻ, canh chua cá rô cơm mẻ, canh chua cá đuối cơm mẻ. Mẻ cũng được sử dụng để pha chế thành nước chấm cho các món ăn, thường kết hợp với sả, ớt, riềng, tỏi. Các món sử dụng nước chấm cơm mẻ phổ biến bao gồm gỏi nhệch chấm cơm mẻ, cá lăng nướng chấm cơm mẻ dầm ớt, cá chạch nướng chấm cơm mẻ, ốc luộc trong nước cơm mẻ hoặc luộc chấm cơm mẻ sả ớt. === Ứng dụng khác === Mẻ còn thường được sử dụng làm thức ăn nuôi cá bột (nhưng không sử dụng cơm mẻ mà chỉ lấy con mẻ), kết hợp với một vài nguyên liệu khác làm mồi câu cá tra) v.v. == Sản phẩm thay thế == Trong những thời điểm bất khả kháng (chẳng hạn tại cộng đồng người Việt hải ngoại) khi không thể có cơm mẻ làm gia vị cho các món ăn đặc trưng cần cơm mẻ (như món giả cầy), sữa chua không đường có thể được sử dụng để thay thế. == Hình ảnh == == Chú thích ==
samsung galaxy core.txt
Samsung Galaxy Core GT-I8262 là một điện thoại thông minh sản xuất bởi Samsung chạy hệ điều hành Android. Được công bố bởi Samsung vào đầu tháng 5 năm 2013, bản hai SIM được phát hành vào giữa tháng 5 năm 2013, và bản SIM vào tháng 7 năm 2013 (bản một SIM không được bán ra tại một số quốc gia). == Tính năng == Thiết bị có thông số kỹ thuật tương tự Samsung Galaxy S II, và một máy ảnh tương tự như Samsung Galaxy Ace và thiết kế giống Samsung Galaxy S III. Điện thoại có S Voice, một tính năng trên thiết bị cao cấp Samsung Galaxy S4. Điểm đặc biệt của thiết bị là có khả năng sử dụng hai SIM cùng lúc – một tính năng Samsung đã công bố. == Biến thể == === Galaxy Core Plus (SM-G350) === Phiên bản của Samsung Galaxy Core chỉ có sẵn ở một số quốc gia châu Âu. Nó có mã tương tự như Galaxy Trend 3, Galaxy Star 2 Plus hoặc Galaxy Star Advance (SM-G350L, G350M và G350E). === Galaxy Core Safe (SHW-M580D) === === Trung Quốc === ==== Galaxy Trend 3 (SM-G3502) ==== Phiên bản hai SIM cho Trung Quốc, nhưng không có flash. ==== Galaxy Core 4G (SM-G3518) ==== Bản TD-LTE của China Mobile. ==== Galaxy Style Duos (GT-I8262D) ==== ==== Galaxy Style (GT-I8268) ==== Bản một SIM của China Mobile. ==== Galaxy Style (SCH-I829) ==== == Xem thêm == Samsung Galaxy Ace Samsung Galaxy S II == Tham khảo ==
moskva.txt
Moskva (tiếng Nga: Москва; phiên âm: Mát-xcơ-va; Hán-Việt: Mạc Tư Khoa, phiên theo chữ Hán 莫斯科; tiếng Anh: Moscow; tiếng Pháp: Moscou), ngày nay là thủ đô của Liên bang Nga, nằm trên bờ sông Moskva, giữa lưu vực của hai con sông lớn là Volga và Oka, có diện tích 878,7 km² thuộc khu Trung tâm Nga (trên thực tế khu vực này nằm ở phía Tây của nước Nga thuộc khu vực châu Âu). Dân số thành phố này tăng lên rất nhanh, đến năm 2004 đã là 11,2 triệu người. Thị trưởng hiện nay của thành phố là Sergey Sobyanin. Moskva cũng là trung tâm hành chính của tỉnh Moskva (chữ Kirill: Московскaя область). Trước đây, Moskva đã từng là thủ đô của Liên bang Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Xô viết (tức Liên Xô) cho đến năm 1991 khi chính quyền Liên bang sụp đổ và sớm hơn nữa là của các công quốc và đại công quốc Moskva (chữ Kirill: Московское княжество). Các địa điểm, địa danh lịch sử nổi tiếng nhất của Moskva phải kể đến là: điện Kremli (Кремль) trụ sở của Nhà nước Liên bang Nga, bên cạnh nó là Quảng trường Đỏ (Красная площадь), nhà thờ lớn Vasily Blazhenny (храм Василия Блаженного) với mái vòm hình củ tỏi. Giáo chủ Moskva cũng đồng thời là người đứng đầu Chính thống giáo Nga. == Lịch sử == Những tài liệu nói về Moskva có từ năm 1147 khi nó còn là một thị trấn ít người biết đến trong một tỉnh nhỏ, với phần lớn dân cư thuộc nhóm ngôn ngữ Phần Lan-Ural, người Merya. Năm 1156, công tước Yury Dolgoruky (Юрий Долгорукий) cho xây tường gỗ và đào hào sâu bao quanh thành phố để chống lại sự trộm cắp, cướp bóc. Do đó dân chúng được bảo vệ rất tốt cho đến tận năm 1177 thì thành phố bị thiêu hủy hoàn toàn và dân cư đã bị chết rất nhiều. Sau cuộc cướp phá năm 1237-1238, khi mà quân Mông Cổ thiêu hủy hoàn toàn thành phố và giết chóc dân cư, Moskva đã được phục hồi và trở thành thủ đô của một công quốc độc lập. Năm 1300, Moskva được quản lý bởi Daniil Aleksandrovich (Даниил Александрович), con trai của Aleksandr Yaroslavich Nevsky (Александр Ярославич Невский) và là thành viên của triều đại nhà Rurik. Vị trí thuận lợi trên đầu nguồn sông Volga góp phần vào việc mở rộng vững chắc. Moskva được ổn định và phát triển rực rỡ trong nhiều năm và là điểm thu hút của nhiều người tỵ nạn trên toàn lãnh thổ Nga. Năm 1304, Yury của Moskva (Юрий Данилович) giao tranh với Mikhail của Tver (Михаил Ярославич) để giành ngôi vị công tước Vladimir. Ivan I (Иван I Данилович Калита) cuối cùng đánh bại quân Tver (Тверь) để trở thành chủ của công quốc Vladimir, và là người thu thuế duy nhất cho các nhà vua Mông Cổ. Do cống nộp nhiều nên Ivan giành được nhiều sự nhân nhượng của các Hãn (Khan). Không giống như các công quốc khác, Moskva không được phân chia cho các con trai mà truyền cho con trai lớn nhất. Kim Trướng hãn quốc (hay Hãn quốc Kipchak) thoạt tiên cố gắng giới hạn ảnh hưởng của Moskva, nhưng do sự lớn mạnh của Đại công quốc Litva đã đe dọa toàn Nga nên vị Hãn lúc đó đã phải tăng cường sức mạnh cho Moskva để cân bằng với Litva. Điều này đã cho phép nó trở thành một trong những thành phố hùng mạnh nhất tại Nga. Năm 1480, Ivan III cuối cùng đã giải phóng Nga khỏi sự thống trị của người Tarta (Xem Trận chiến trên sông Ugra) và Moskva trở thành thủ đô của đế chế bao gồm toàn Nga và Siberia và một phần các lãnh thổ khác. Sự chuyên chế của các Sa hoàng cuối thời kỳ đó như Ivan Hung đế (Иван IV Грозный) đã dẫn đến sự tan rã của đế chế, mặc dù nó đã được mở rộng. Năm 1571, người Tarta từ Hãn quốc Krym đã chiếm và thiêu hủy Moskva. Từ 1610 đến 1612, quân đội của Liên bang Ba Lan-Litva xâm chiếm Moskva, và vua Sigismund III của Ba Lan đã có những cố gắng để chiếm đoạt ngôi báu và sau đó hợp nhất hai quốc gia Slav. Tuy nhiên, sự cố gắng của quân đội Ba Lan-Litva chỉ nhận được sự ủng hộ nửa vời từ trong nước họ và sự can thiệp đã bị chỉ trích mạnh mẽ từ hạ viện Liên bang. Vì vậy năm 1612, nhân dân Moskva đã nổi dậy chống lại lực lượng Ba Lan-Litva và chiếm Kremli từ tay họ. Năm 1613, hội nghị đế chế đã bầu Mikhail Fyodorovich Romanov (Михаил Фёдорович Романов) làm Sa hoàng nước Nga, thiết lập triều đại nhà Romanov. Moskva không phải là kinh đô nước Nga từ năm 1703 khi Pyotr Đại đế (Пётр I Великий) xây dựng Sankt-Peterburg trên sông Neva gần bờ biển Baltic làm kinh đô. Khi Napoléon Bonaparte xâm lược Nga vào năm 1812, người dân Moskva đã di tản và tự đốt cháy thành phố vào ngày 14 tháng 9, khi quân đội của Napoléon tiến vào. Quân đội của Napoléon, do thiếu thốn lương thực, thực phẩm và giá lạnh đã phải rút lui. Tháng 1 năm 1905, người dân Moskva đi bầu thị trưởng thành phố và Aleksandr Adrianov đã trở thành thị trưởng chính thức đầu tiên của Moskva. Sau cuộc Cách mạng tháng Mười năm 1917, Lenin đã chuyển thủ đô từ Sankt-Peterburg về Moskva vào ngày 5 tháng 3 năm 1918 do lo ngại sự xâm lăng từ nước ngoài. Là đầu mối quan trọng trong hệ thống đường sắt của Liên Xô cùng với Kiev và Leningrad, thành phố này là mục tiêu xâm chiếm chiến lược của Đức năm 1941. Tháng 11 năm 1941, tập đoàn quân trung tâm của Đức đã phải dừng bước trước ngoại ô thành phố và sau đó bị đẩy lui trong Trận Moskva. == Dân số == == Khí hậu == == Văn hóa, nghệ thuật == Moskva là trung tâm của ba lê (ballet) và các nghệ thuật múa Nga. Các nhà hát và studio ba lê rải rác khắp Moskva. Những cái nổi tiếng nhất là Nhà hát Lớn (Bolshoi) và Nhà hát Nhỏ (Malyi). Trong thời kỳ Xô viết giá vé khá rẻ thường là dưới $1, nhưng hầu hết vé được phân phối theo đặc quyền, người dân chỉ có thể mua vé chợ đen. Sau này giá thay đổi rất nhiều. Mặc dù ít hơn một phần tư dân số Nga sống ở nông thôn nhưng những người Moskva cũng giống như những người dân các thành phố khác vẫn gắn liền với nông thôn. Rất nhiều người có nhà ở khu vực nông thôn (tiếng Nga: дача, phát âm "đacha") để dành cho những ngày nghỉ cuối tuần và hội hè. Những ngôi nhà này cũng được sử dụng làm nhà nghỉ cho những người cao tuổi. Có rất nhiều công viên và vườn hoa trong thành phố. Những năm sau chiến tranh là cuộc khủng hoảng về nhà ở đã được giải quyết bằng các ngôi nhà lắp ghép. Khoảng 13.000 các ngôi nhà được tiêu chuẩn hóa và đúc sẵn như thế phục vụ cho phần lớn dân cư Moskva. Chúng được xây cao 9, 12, 17, 21 hay 24 tầng. Các căn hộ được xây dựng và trang bị một phần đồ đạc tại nhà máy trước khi được xây dựng và sắp xếp vào các cột cao. Bộ phim hài nổi tiếng thời kỳ Xô viết là Số phận trớ trêu, hay Chúc xông hơi nhẹ nhõm ! nhại lại phương pháp kết cấu xây dựng vô hồn này. Nội dung của phim như sau: Một sinh viên vừa mới tốt nghiệp đại học trở về nhà mình sau buổi dạ hội tốt nghiệp cử nhân với trạng thái say mềm ngoài sân bay và thức dậy ở Leningrad do những bạn bè của anh ta lại gửi anh đến đó một cách ngẫu nhiên. Anh bắt taxi đến địa chỉ nhà mình, địa chỉ này cũng tồn tại ở Leningrad và sử dụng chìa khóa của mình để mở cửa. Mọi đồ đạc và tài sản được chuẩn hóa đến nỗi anh ta cũng không thể nhận ra đó không phải là nhà mình cho đến tận khi chủ thực sự của căn hộ trở về. Bộ phim đã đánh vào tình cảm của những người Nga đang xem bộ phim qua những chiếc ti vi tiêu chuẩn hóa trong căn hộ cũng tiêu chuẩn hóa của mình. Bộ phim này được trình chiếu trên ti vi trong mọi buổi đêm trước năm mới. Nói như vậy không có nghĩa là văn hóa, nghệ thuật của nước Nga nói chung và của người Moskva nói riêng là đơn điệu và nghèo nàn. Trái lại, nền văn hóa-nghệ thuật của người dân Moskva trong gần 900 năm qua cực kỳ phát triển. Tại Moskva hiện nay có hơn 70 viện bảo tàng. Trong đó có rất nhiều viện bảo tàng nổi tiếng thế giới như Viện bảo tàng lịch sử (Исторический музей), Viện bảo tàng quốc gia Tretyakov (Государственный Третьяковская галерея), Viện bảo tàng kiến trúc Shchusev (Музей архитектуры им. А.В. Щусева) v.v. Các nhà văn lớn của Nga cho dù có thể không phải là người Moskva nhưng đã có thời gian dài sống ở đó như Tolstoy, Bunin, Chekhov v.v. đã cho ra đời nhiều tác phẩm nổi tiếng thế giới như Chiến tranh và Hòa bình. == Giáo dục == Tại Moskva có rất nhiều trường đại học. Lớn nhất và nổi tiếng nhất là Đại học Tổng hợp quốc gia Moskva mang tên Lomonosov (tiếng Nga: Московский Государственный Университет имени М.В.Ломоносова, viết tắt: МГУ, hay MGU) nằm trên Đồi Chim sẻ (Vorobyovy Gory) trong một tòa nhà cao 240m. Hiện nay trường này có 30.000 sinh viên và 7.000 nghiên cứu sinh. Trường Đại học kỹ thuật quốc gia Moskva mang tên Bauman là trường đại học kĩ thuật hàng đầu của nước Nga, nơi đây là cái nôi đào tạo nên các nhà bác học, các tổng công trình sư, các kỹ sư trưởng nổi tiếng về vũ trụ, hàng không và kĩ thuật quân sự (tên lửa, máy bay chiến đấu, xe tăng, xe thiết giáp, lò phản ứng hạt nhân, siêu máy tính, vũ khí công nghệ cao). Xem thêm: Danh sách các trường đại học ở Nga == Du lịch == Những điểm du lịch thu hút du khách là các di sản thế giới được UNESCO công nhận như điện Kremli, Quảng trường Đỏ và nhà thờ ở Kolomenskoye, đều là những công trình được xây dựng trong khoảng thế kỷ 14 đến thế kỷ 17. Các điểm thu hút khác bao gồm vườn bách thú, được mở rộng vào thập niên 1990. Moskva cũng là điểm cuối cùng của tuyến đường sắt xuyên Xi-bê-ri dài 9.300 km tới Vladivostok. Thành phố này đẹp nhất khi đến thăm vào giữa mùa đông khi mà các đường phố bị bao phủ bởi tuyết và cảnh tranh tối tranh sáng của mùa đông lục địa. Tuy nhiên do nhiệt độ thường xuyên xuống đến dưới -25 °C nên mùa hè hoặc mùa thu đến sớm có thể cho những cuộc thăm viếng thuận tiện hơn nếu như du khách không phải là người quá lãng mạn. == Giá cả sinh hoạt == Giá cả một số hàng hóa, dịch vụ đối với người ngoại quốc cao hơn so với người trong nước. Sự nghiên cứu giá cả sinh hoạt do Mercer Human Resource Consulting tiến hành đã đặt Moskva vào vị trí thứ hai sau Tokyo, làm nó trở thành thành phố đắt đỏ nhất châu Âu. Đối với dân bản địa, những căn hộ nhỏ được chu cấp bởi chính quyền trong thời kỳ Xô viết, cùng với các chi phí tiện nghi ở mức cực kỳ thấp và những khoản thuế thu nhập có thể tránh được đã làm giá cả sinh hoạt thấp xuống rất nhiều. Nhìn vào giá cả vận chuyển, đi lại sẽ cho ra một minh họa tốt. Một chuyến taxi từ sân bay quốc tế Sheremetyevo-2 sẽ có giá đối với người nước ngoài không biết tiếng Nga là $60; với người nước ngoài biết tiếng Nga là $30–$40. Những người dân Moskva bản địa sẽ mặc cả giá xuống mức $15–20 hoặc sẽ tránh không đi taxi riêng mà đi chung với nhau đến ga metro gần nhất với giá 50 xu Mỹ. == Ăn uống == Trong thời gian gần đây tại Moskva xuất hiện rất nhiều các nhà hàng ăn uống với giá cả dao động nhiều. Giá đồ ăn trung bình trên một người trong các nhà hàng trung và cao cấp sẽ từ $30 đến $200, đặc biệt nếu có gọi rượu vang nổi tiếng. Những đồ ăn kiểu "căng tin" trong các stolovaya (tiếng Nga: столовая - nhà ăn tự phục vụ) có giá khoảng ba đôla Mỹ (47.000 đ tiền Việt). Hệ thống các nhà hàng, như "Moo-Moo", cung cấp đồ ăn kiểu căng tin có chất lượng theo thực đơn kiểu Anh có giá khoảng 5 đô la Mỹ cho mỗi người. Mặc dù phần đông người Moskva không thường xuyên ăn uống thậm chí trong các nhà hàng ăn rẻ tiền nhất, nhưng rất nhiều nhà hàng "bậc trung" mới vẫn xuất hiện và mở cửa, nhắm vào các gia đình trong những ngày nghỉ cuối tuần. Một loạt các cửa hàng bán đồ ăn nhanh mọc xung quanh các nhà ga xe lửa và metro. Hệ thống này bao gồm cả các cửa hàng khắp mọi nơi của McDonald's và các hệ thống khác, đáng kể nhất là Rostiks, chuyên bán các đồ ăn làm từ gà. Ngoài ra hàng loạt các cửa hàng bán cà phê cũng mọc ra xung quanh thành phố này. == Các địa điểm du lịch đáng chú ý == Tổ hợp Nhà hát Lớn và Nhà hát Nhỏ. (Большой и Mалый театры) Kolomenskoye (Коломенское) Điện Kremli Trang viên Kuskovo (Кусково) Manezh (Mанеж) Tháp Ostankino, tháp truyền hình cao nhất châu Âu Trang viên Ostankino (Останкино) Trang viên Tsaritsyno (Царицыно) Trang viên Kuzminki (Кузьминки) Viện bảo tàng Pushkin - bảo tàng mỹ thuật Quảng trường Đỏ, lăng Lenin Nhà thờ lớn Vasily Blazhenny Tháp phát thanh Sukhov Nhà thờ Chúa Cứu thế (Храм Христа Спасителя) Viện bảo tàng Tretyakov Trung tâm triển lãm toàn Nga (VĐNKha) Vườn bách thú Moskva Tòa nhà trường Lomonosov và phong cảnh. == Giao thông và vận tải == Moskva có bốn sân bay là: sân bay quốc tế Sheremetyevo, sân bay quốc tế Domodedovo, sân bay Bykovo và sân bay quốc tế Vnukovo. Giao thông trong thành phố có thể kể đến hệ thống tàu điện ngầm (metro) Moskva, là một hệ thống metro tuyệt vời, các nhà ga được trang trí bằng các bức tranh treo tường hay khảm vào tường có giá trị nghệ thuật. Bắt đầu hoạt động vào ngày 15 tháng 5 năm 1935, hiện nay hệ thống này có 11 tuyến đường với tổng chiều dài 278 km và hơn 170 ga. Tại các ga rất phổ biến các loại hình đèn chùm pha lê chiếu sáng. Hệ thống này là bận rộn nhất thế giới với hơn 9 triệu lượt hành khách mỗi ngày và tại giờ cao điểm cứ mỗi 90 giây lại có một chuyến tàu. Hệ thống metro Moskva được thiết kế là các tuyến đường "thẳng" giao nhau tại khu vực gần trung tâm thành phố. Ngoài ra còn có một tuyến đi theo đường "tròn" liên kết tất cả các tuyến kia. Do các ga metro đặt tương đối xa nhau (so sánh với các thành phố khác), có thể tới 4 km, nên hệ thống xe buýt rất phát triển. Các tuyến xe buýt chạy qua các ga metro và bao phủ toàn bộ khu vực dân cư. Thông thường cứ mỗi phút lại có một chuyến xe buýt và giá cả khá rẻ so với các thành phố lớn khác của châu Âu (khoảng 1USD / 1 chuyến). Mỗi một phố chính trong thành phố đều có ít nhất một tuyến xe buýt phục vụ và không có một khu nhà chung cư nào trong số 13.000 chung cư lại phải mất hơn vài phút đi bộ. Ở đây cũng có các hệ thống xe điện trên đường ray (Трамвай-tramvai) và xe điện bánh hơi (Троллейбус-trolleybus). Trước đây rất ít người sử dụng ô tô cá nhân để đi lại do thường xuyên xảy ra tắc nghẽn giao thông. Tuy nhiên, phần lớn các gia đình trung lưu có ô tô để đi lại trong những ngày nghỉ cuối tuần và lễ hội. Theo một số ước tính, có trên 2,5 triệu ô tô lưu thông trên địa bàn thành phố trong ngày (2004). 3 năm trở lại đây (từ 2004) do sự phát triển mạnh mẽ của nền kinh tế Liên Bang Nga, đặc biệt là Moskva, số lượng xe hơi cá nhân đã bùng nổ với sự đa dạng về chủng loại, nguồn gốc, tắc đường đã trở thành "chuyện thường ngày ở huyện". Rất nhiều công chức đến công ty bằng xe riêng đã phải đi trước giờ làm việc buổi sáng (8-9 giờ) cả tiếng đồng hồ. Tắc đường trên diện rộng từ sáng đến đêm khuya. == Thể thao == Bóng đá là môn thể thao phổ biến nhất trong giới trẻ. Các câu lạc bộ bóng đá thủ đô như Dinamo, Spartak, Lokomotiv, CSKA là các câu lạc bộ có tên tuổi tại châu Âu. Tuy nhiên gần đây tệ nạn hooligan đã phát triển ở Nga và gây không ít ảnh hưởng xấu tới hình ảnh của bóng đá Nga. Các môn thể thao khác như bóng ném, bóng nước, bóng rổ cũng rất phát triển ở đây. Các môn thể thao mùa đông thì có rất nhiều. Phần lớn người Nga đều có ván trượt tuyết và giày trượt băng và có rất nhiều công viên lớn có khu vực để tập luyện các môn trượt tuyết, trượt băng. Có một số công viên cho thuê ván/giày trượt với giá từ $1 đến $5 cho một giờ thuê. Moskva cũng có các đội khúc côn cầu trên băng có tên tuổi ở châu Âu. Moskva là chủ nhà của Thế vận hội mùa hè 1980, lúc đó môn đua thuyền buồm được tổ chức tại Tallinn (Estonia). == Nhân khẩu == Mặc dù dân số của Liên bang Nga giảm mỗi năm khoảng 700.000 người (143,8 triệu * 0.5% tỷ lệ giảm) vì tỷ lệ sinh đẻ thấp, di cư, chết sớm và AIDS, nhưng dân số Moskva thì vẫn đạt tỷ lệ tăng cao, chủ yếu do nhập cư (mặc dù các giấy tờ tùy thân trong nước không cho phép dân không phải người thành phố này ở thủ đô quá 90 ngày mà không phải đăng ký). Những người Moskva mới này đã góp phần làm nền kinh tế thủ đô tăng trưởng đến 20%, ngược lại với sự đình trệ hoặc suy thoái trên phần lớn lãnh thổ Nga, kết quả là nó tạo ra sự phân hóa rõ nét trong những năm gần đây. Hiện nay, Moskva là một trong những thành phố lớn nhất châu Âu. Theo số liệu của báo Forbes vào ngày 22 tháng 7 năm 2004, Moskva là thành phố có đông các nhà tỷ phú nhất trên thế giới. Hiện nay Moskva có 33 tỷ phú, hơn Thành phố New York hai người. == Vấn đề khủng bố == Khủng bố là mối đe dọa diễn ra gần đây cho Moskva. Cuộc chiến tranh kéo dài giữa Nga với những phần tử cực hữu của Chechnya đã dẫn đến tình trạng những nhóm người này sử dụng biện pháp khủng bố để chống lại chính quyền liên bang. Vào ngày 6 tháng 2 năm 2004 một quả bom đã phát nổ trong một chiếc ô tô trong đường hầm gần ga metro Avtozavodskaya làm chết ít nhất 40 người và làm thương nhiều người khác. Các hành động khủng bố khác có thể kể đến là vụ phá hủy hai tòa nhà chung cư tháng 9 năm 1999 (Xem Vụ đánh bom nhà chung cư ở Nga), vụ nổ trong đường hầm dành cho người đi bộ dưới quảng trường Pushkinskaya trong tháng 8 năm 2000 cũng như việc chiếm giữ nhà hát ở Dubrovka trong tháng 10 năm 2002 mà hơn 100 người đã chết khi các nhân viên của lực lượng an ninh Nga sử dụng khí gây mê để tấn công bọn khủng bố. == Thành phố kết nghĩa == == Tham khảo == == Đọc thêm == Caroline Brooke. Moscow: A Cultural History. 2006 (Oxford University Press) William Craft Brumfield. A History of Russian Architecture (Seattle: Univ. of Washington Press, 2004) ISBN 978-0-295-98394-3 Karel Neubert. "Portrait of Moscow". 1964 Albert J. Schmidt. The Architecture and Planning of Classical Moscow: A Cultural History. 1989 Kathleen Berton. Moscow: An Architectural History. St. Martin's, 1991 Marcel Girard. "Splendours of Moscow and Its Surroundings", trans. from French. 1967 John Bushnell. "Moscow Graffiti: Language and Subculture". Unwin Hyman, 1990 S.S. Hromov et al. (eds.). "History of Moscow: An Outline", trans. from Russian. 1981 Galina Dutkina. "Moscow Days: Life and Hard Times in the New Russia". Trans. Catherine Fitzpatrick. Kodansha America, 1995. "Mosca 1990-1993" by Giuseppe D'Amato in Il Diario del Cambiamento. Urss 1990 – Russia 1993. Greco&Greco editori, Milano, 1998. ISBN 88-7980-187-2 (The Diary of the Change. USSR 1990 – Russia 1993) Book in Italian. == Liên kết ngoài == Moscow.ru - Trang chính thức (tiếng Nga), (tiếng Anh), (tiếng Tây Ban Nha), (tiếng Đức), (tiếng Pháp) Tiếng Anh: Lịch sử Moskva Moscowcity.com – chỉ dẫn đến những khách sạn, nhà hàng, và viện bảo tàng Thư mục khách sạn Moskva Dự báo thời tiết cho Moskva Giờ địa phương ở Moskva Moscow
hiệu ứng mờ viền.txt
Trong nhiếp ảnh và quang học, hiệu ứng mờ viền ( /vɪnˈjɛtɪŋ/; French: "vignette") là hiện tượng giảm độ sáng hoặc bão hòa màu tại viền ngoài so với trọng tâm của bức ảnh. Từ "vignette", có nguồn gốc từ từ "vine", có nghĩa là rìa trang trí của một cuốn sách. Sau đó, thuật ngữ này được sử dụng cho các bức ảnh chân dung mà chụp rõ phần giữa, và làm mờ phần rìa. Hiện tượng tương tự cũng xảy ra khi khi chiếu hình ảnh hoặc video ra ngoài màn chiếu. Đó gọi là hiệu ứng "hotspot" ở các bộ phim gia đình (phân biệt với phim phòng chiếu) giá rẻ không được áp dụng các kỹ thuật chuyển đổi video thích hợp. Hiệu ứng mờ viền thường là tác động không mong muốn do cách cài đặt thông số máy ảnh và do giới hạn của ống kính. Tuy nhiên, thỉnh thoảng nó cũng được sử dụng một cách có chủ đích, nhằm thu hút sự chú ý của người xem vào trọng tâm của bức ảnh. Nhiếp ảnh gia có thể tạo hiệu ứng này bằng cách chủ động sử dụng ống kính hoặc bộ lọc thích hợp, cũng có khi bằng các biện pháp xử lý hậu kì. == Nguyên nhân == Dựa theo các nguyên lý của hiệu ứng mờ viền, Sidney F. Ray đã chia hiệu ứng mờ viền thành các loại sau: Hiệu ứng mờ viền cơ học Hiệu ứng mờ viền quang học Hiệu ứng mờ viền tự nhiên Riêng với ảnh kỹ thuật số, còn có thêm: Hiệu ứng mờ viền điểm ảnh Riêng với ảnh chụp bằng máy cơ còn có thêm: Hiệu ứng mờ viền phim nhựa === Hiệu ứng mờ viền cơ học === Hiệu ứng mờ viền cơ học xuất hiện khi chùm sáng lệch trục phát ra từ vật chụp bị các vật khác như bộ lọc, ống kính thứ cấp, nắp ống kính không thích hợp...chắn một phần, khiến thay đổi kích thước ảnh tới độ dừng khẩu độ tương ứng góc đến lệch trục (nguyên nhân xuất phát từ đường đi của tia sáng bị chắn một phần). Hiệu ứng có thể xảy ra từ từ hoặc đột ngột – khẩu độ càng nhỏ, hiệu ứng xảy ra càng đột ngột tương ứng sự thay đổi của góc lệch trục. Nếu xuất hiện một phần nào đó không nhận được một tia sáng nào chiếu đến do hiệu ứng mờ viền cơ học (đường đi của tia sáng đến phần đó bị chắn hoàn toàn), thì đó gọi là giới hạn thị trường (FOV: field of view) và phần đó sẽ có màu đen. === Hiệu ứng mờ viền quang học === Xảy ra ở các ống kính cấu tạo bởi nhiều thấu kính, do sự khác nhau về kích thước vật lý của các thấu kính. Thấu kính rìa bị hạn chế bởi các thấu kính đằng trước, làm giảm góc mở của ống kính đối với các tia sáng lệch trục. Kết quả của hiện tượng này là cường độ ánh sáng chiếu đến giảm dần ở rìa bức ảnh. Mờ viền quang học phụ thuộc chủ yếu vào khẩu độ ống kính và thường thì có thể điều chỉnh bằng cách giảm từ 2–3 mức đóng khẩu độ. (tăng chỉ số khẩu độ tương đối.) === Hiệu ứng mờ viền tự nhiên === Không giống như trường hợp trước, mờ viền tự nhiên (còn gọi là nhòe sáng tự nhiên) không bắt nguồn từ việc hạn chế tia sáng chiếu đến. Độ nhòe xấp xỉ cos4, tuân theo luật nhòe sáng "cos mũ 4". Tức là, độ nhòe sáng tỉ lệ với bậc 4 cosine góc đến của tia sáng chiếu lên phim hoặc mảng sensor. Ống kính quan trắc góc rộng và ống kính ở các máy ảnh ngắm chụp (máy ảnh compact) rất hay gặp tình trạng mờ viền tự nhiên. Ống kính tele (ống kính chụp xa), ống kính góc rộng Angenieux (sử dụng một thấu kính tele lật ngược) dùng trên các máy ảnh SLR (ở Việt Nam được biết đến với tên gọi thông dụng là máy ảnh cơ), và ống kính viễn tâm nói chung ít chịu ảnh hưởng của hiện tượng mờ viền. Kính lọc GND (graduated neutral density hay gradual grey filter) và các kĩ thuật xử lý hậu kì có thể được sử dụng để chữa lỗi mờ viền tự nhiên, bởi hiện tượng này không thể sửa chữa bằng cách điều chỉnh ống kính. Một số ống kính hiện đại được đặc chế để ánh sáng chiếu đến phim là ánh sáng song song hay gần như vậy giúp loại bỏ hoặc làm giảm đáng kể hiện tượng mờ viền. Hầu hết các ống kính chế tạo cho hệ thống 4/3 là loại ống kính này, chủ yếu là ống kính viễn tâm. === Hiệu ứng mờ viền điểm ảnh === Hiệu ứng mờ viền điểm ảnh chỉ xảy ra ở các máy ảnh kỹ thuật số do đặc tính phụ thuộc góc chiếu đến của các bộ cảm biến số và cường độ ánh sáng thẳng góc bao giờ cũng mạnh hơn theo phương xiên. Hầu hết máy ảnh kỹ thuật số đều tích hợp bên trong một bộ xử lý ảnh để khắc phục hiệu ứng mờ viền quang học và mờ viền điểm ảnh khi chuyển đổi dữ liệu gốc nhận được từ các bộ cảm biến sang định dạng ảnh chuẩn như JPEG or TIFF. Việc tích hợp thêm một ống kính điều chỉnh siêu nhỏ ngay trước các bộ cảm biến ảnh cũng có thể khắc phục hiện tượng mờ viền điểm ảnh. == Hậu kỳ == Vì nhiều mục đích nghệ thuật, hiệu ứng mờ viền có thể được áp dụng vào các bức ảnh vốn không bị mờ viền bằng cách sử dụng kỹ thuật Dodging and burning ở viền ngoài bức ảnh (nếu sử dụng phim) hoặc các kỹ thuật xử lý ảnh kỹ thuật số, như sử dụng một lớp phủ mờ viền. Bộ lọc Lens Correction trong Photoshop cũng có thể được tận dụng để thực hiện thủ thuật này. Đối với xử lý ảnh kỹ thuật số, kỹ thuật này được áp dụng khi muốn tạo ra một khung cảnh mờ ảo trên bức ảnh. == Xem thêm == Dodging and burning Flat-field correction == Tham khảo ==
nho giáo.txt
Nho giáo (儒教), còn gọi là đạo Nho hay đạo Khổng là một hệ thống đạo đức, triết học xã hội, triết lý giáo dục và triết học chính trị do Khổng Tử đề xướng và được các môn đồ của ông phát triển với mục đích xây dựng một xã hội thịnh trị. Nho giáo rất có ảnh hưởng tại ở các nước châu Á là Trung Quốc, Đài Loan, Nhật Bản, Triều Tiên, Hàn Quốc và Việt Nam. Những người thực hành theo các tín điều của Nho giáo được gọi là các nhà Nho, Nho sĩ hay Nho sinh. == Quá trình hình thành và phát triển == Trong lịch sử Trung Hoa cổ đại, Nho giáo, Nho gia (đạo Nho) là một thuật ngữ bắt đầu từ chữ Nho, theo Hán tự từ "Nho" gồm từ "Nhân" (người) đứng gần chữ "Nhu". Nho gia còn được gọi là nhà Nho người đã học sách thánh hiền, có thể dạy bảo người đời ăn ở hợp luân thường, đạo lý…Nhìn chung "Nho" là một danh hiệu chỉ người có học thức, biết lễ nghĩa. Tại Trung Quốc, Nho giáo độc tôn từ thời Hán Vũ Đế, trở thành hệ tư tưởng chính thống cả về chính trị và đạo đức của Trung Hoa trong hơn 2.000 năm. Từ thế kỷ thứ 4, Nho giáo lan rộng và cũng rất phát triển ở các nước châu Á khác như Nhật Bản, Triều Tiên và Việt Nam. === Nho giáo nguyên thủy === Cơ sở của Nho giáo được hình thành từ thời Tây Chu, đặc biệt với sự đóng góp của Chu Công Đán, còn gọi là Chu Công. Đến thời Xuân Thu, xã hội loạn lạc, Đức Khổng Tử (sinh năm 551 trước Công nguyên) phát triển tư tưởng của Chu Công, hệ thống hóa và tích cực truyền bá các tư tưởng đó. Chính vì thế mà người đời sau coi Khổng Tử là người sáng lập ra Nho giáo. Thời Xuân Thu, Đức Khổng Tử đã san định, hiệu đính và giải thích bộ Lục kinh gồm có Kinh Thi, Kinh Thư, Kinh Lễ, Kinh Dịch, Kinh Xuân Thu và Kinh Nhạc. Về sau Kinh Nhạc bị thất lạc nên chỉ còn năm bộ kinh thường được gọi là Ngũ kinh. Sau khi Đức Khổng Tử mất, học trò của ngài tập hợp các lời dạy để soạn ra cuốn Luận ngữ. Học trò xuất sắc nhất của Khổng Tử là Tăng Sâm, còn gọi là Tăng Tử, dựa vào lời thầy mà soạn ra Đại Học. Sau đó, cháu nội của Khổng Tử là Khổng Cấp, còn gọi là Tử Tư viết ra cuốn Trung Dung. Đến thời Chiến Quốc, Mạnh Tử đưa ra các tư tưởng mà sau này học trò của ông chép thành sách Mạnh Tử. Bốn sách sau được gọi là Tứ Thư và cùng Ngũ Kinh hợp lại làm 9 bộ sách chủ yếu của Nho giáo và còn là những tác phẩm văn chương cổ điển của Trung Quốc. Từ Khổng Tử đến Mạnh Tử hình thành nên Nho giáo nguyên thủy, còn gọi là Nho giáo tiền Tần (trước đời Tần), Khổng giáo hay "tư tưởng Khổng-Mạnh". Từ đây mới hình thành hai khái niệm, Nho giáo và Nho gia. Nho gia mang tính học thuật, nội dung của nó còn được gọi là Nho học. Nho giáo bị biến thành tôn giáo thì Văn Miếu trở thành nơi dạy học kiêm chốn thờ phụng, và Khổng Tử trở thành giáo chủ, giáo lý chính là các tín điều mà các nhà Nho cần phải thực hành. Mục tiêu của Nho giáo là phát huy tính thiện của con người, khiến người dân biết bỏ ác theo thiện, giúp mọi người đạt đến trình độ đạo đức cao nhất. Để làm được điều này mỗi người phải không ngừng rèn luyện nhân cách và đạo đức của bản thân. Sách Đại Học viết: "Đạo học lớn cốt để phát huy đức sáng, đức tốt đẹp của con người, đổi mới khiến lòng dân bỏ cũ theo mới, bỏ ác theo thiện, khiến mọi người đạt đến mức độ đạo đức hoàn thiện nhất. Có hiểu được phải đạt đến mức độ đạo đức hoàn thiện nhất thì mới kiên định chí hướng. Chí hướng kiên định rồi, tâm mới yên tĩnh. Tâm yên tĩnh rồi, lòng mới ổn định. Lòng ổn định rồi, suy nghĩ sự việc mới có thể chu toàn. Suy nghĩ sự việc chu toàn rồi, mới có thể xử lý, giải quyết công việc được thỏa đáng. Vạn vật đều có đầu có đuôi, có gốc có ngọn. Vạn sự đều có bắt đầu và kết thúc. Biết làm cái gì trước cái gì sau, tức là đã tiếp cận nguyên tắc của đạo rồi.". Nho giáo chủ trương giáo hóa mọi tầng lớp trong xã hội từ bậc quân vương đến kẻ thứ dân sao cho ai ai cũng thấm nhuần đạo học của thánh hiền, phát huy tính thiện sẵn có của bản thân, tự mình sửa đổi, rèn luyện cho tốt đẹp hơn. Nho giáo khuyến khích người có học dạy cho người ít học, người có đạo đức cảm hóa kẻ vô đạo, cải tạo xã hội, đem văn minh truyền bá khắp nơi. Khổng Tử muốn đến đất Cửu Di để ở, có người nói "Ở đó quá lạc hậu, làm sao mà ở được.". Khổng Tử nói "Có người quân tử ở đó, làm gì còn lạc hậu nữa". Đây là tư tưởng nhập thế của Nho gia, mà có ý kiến cho là đối lập với tư tưởng "xuất thế lánh đời" của Phật gia hay Đạo gia (mặc dù Phật giáo thực ra cũng là một nền triết lý nhập thế: bản thân Phật Thích-ca đã dành 49 năm đi thuyết pháp, khuyến thiện cho các giai tầng xã hội Ấn Độ và có giáo lý Thập vương pháp yêu cầu vua chúa phải tận tụy thương dân). Khổng Tử nói: "Đạo không thể xa lánh người. Nhưng có người muốn thực hành đạo mà lại xa lánh người, như vậy thì không thể thực hành được đạo... Cho nên người quân tử dùng cái đạo lý vốn sẵn có ở người để giáo dục người, lấy cải sửa làm chính, giáo dục mãi cho đến khi thành người mới thôi. Cũng như ta trau chuốt cán rìu vậy, trau chuốt đến mức thành cán rìu mới thôi. Người ta có lỗi mà biết sửa là được rồi, không xa lánh họ nữa.". Thật ra, tính chất tôn giáo của Nho giáo rất mờ nhạt so với những tôn giáo khác, những lời dạy của Nho giáo không phải là từ thánh kinh mà được đúc kết từ chính những sự kiện trong lịch sử hoặc từ những tấm gương có thật trong cuộc sống. Khổng Tử nói "Ta chỉ thuật lại mà không sáng tác. Ta tin tưởng và hâm mộ văn hóa cổ. Ta trộm ví mình như Lão Bành.". Nho giáo khuyên thế hệ sau cần biết học hỏi những thành công và tránh lặp lại những thất bại của thế hệ trước, là một học thuyết hướng dẫn về quan hệ xã hội và tu dưỡng bản thân. === Tống Nho === === Phong trào phục hưng Nho giáo === Đến thế kỷ 20, với sự sụp đổ của chế độ quân chủ, Nho giáo mất vị thế độc tôn, thậm chí bị bài trừ ở ngay tại Trung Quốc trong thập niên 1960-1970 khi Mao Trạch Đông làm chủ tịch Đảng Cộng sản Trung Quốc. Đến đầu thế kỷ 21, đứng trước sự suy thoái của đạo đức xã hội, những giá trị của Nho giáo về tu dưỡng, giáo dục con người dần được coi trọng trở lại và được thúc đẩy thành phong trào tại các nước Đông Á. Phục hưng Nho giáo trong thế kỷ XXI là phong trào đang lên ở Đông Á, nó xuất phát từ Trung Quốc và lan truyền ra các khu vực lân cận. Nhiều hội thảo quốc tế về phục hưng nền Nho học đã được tổ chức ở Trung Quốc, Hàn Quốc và Nhật Bản. Tập hợp các nhà nghiên cứu Nho giáo trong khu vực và trên thế giới đã kiến lập Hiệp hội nghiên cứu Nho giáo quốc tế. Trong buổi Hội thảo quốc tế về Nho giáo ở Hàn Quốc 2010, một số báo cáo ghi nhận "mặt trái của quá trình Tây phương hóa (nói cách khác là hiện đại hóa) đã làm cho xã hội Đông Á mất dần tôn ti trật tự, tinh thần cộng đồng và đoàn kết xã hội. Lớp trẻ dần chạy theo những thứ hào nhoáng của văn minh hiện đại mà bỏ xa dần các quan niệm hiếu nghĩa, trung chính, tiết độ". Các báo cáo này nhấn mạnh giá trị tinh thần của Nho giáo sẽ là công cụ hữu hiệu nhằm khôi phục lại giá trị đạo đức của xã hội Từ năm 2005, chương trình Bách gia Giảng đường của Đài Truyền hình Trung ương Trung Quốc (CCTV) đã khởi xướng phong trào đọc lại Luận ngữ nhằm phục hồi đạo đức truyền thống. Ban Quốc học Đại học Thanh Hoa tính học phí 26.000 nhân dân tệ cho một khóa học về đạo đức Nho gia, Đại học Phục Đán thu mỗi người 38.000 nhân dân tệ, và khóa học cổ văn ngoài giờ cho trẻ em cũng có học phí rất cao. Từ 2004 cho tới năm 2020, Chính phủ Trung Quốc có kế hoạch thành lập hơn 1.000 Học viện Khổng Tử trên khắp thế giới để quảng bá văn hóa truyền thống Trung Hoa. Chính phủ Trung Quốc đã chi hàng triệu USD cho hai chương trình nghiên cứu và biên soạn Nho tạng tại Đại học Nhân dân và Đại học Bắc Kinh. Bộ Nho tạng tinh hoa của Đại học Bắc Kinh với tổng số 500 tập dự kiến sẽ hoàn thành vào năm 2015. Hai chương trình biên soạn Nho tạng nói trên là một hoạt động quy mô lớn chưa từng có để hiệu chỉnh và kết tập điển tịch Nho học lớn nhất trong lịch sử Trung Quốc. Đồng thời đây cũng là một lần tổng kiểm kê di sản điển tịch Nho học trên quy mô toàn thế giới. Tại Hàn Quốc và Nhật Bản, hai đại học hàng đầu là Đại học Seoul và Đại học Tokyo cũng đều đã thành lập các trung tâm biên soạn Nho tạng riêng với kế hoạch hoạt động quy mô lớn. Trong xu hướng nghiên cứu Nho giáo đang diễn ra rất mạnh mẽ trên thế giới hiện nay, nghiên cứu kinh điển Nho gia có vị trí đặc biệt quan trọng. Tại Hàn Quốc, rất nhiều người nhận thấy rõ những giá trị đạo đức lâu đời của dân tộc đang mất dần đi. Sau cuộc chiến liên Triều 1950-1953, Hàn Quốc áp dụng hệ thống giáo dục chịu nhiều ảnh hưởng của giáo dục phương Tây, Nho giáo bị công kích và bị coi là lỗi thời. Ông Pak Seok-hong nhấn mạnh sự sai lầm của hệ thống giáo dục đó: việc quá nhấn mạnh vào học tiếng Anh và toán đã chiếm chỗ của các môn học như đạo đức và lịch sử. Ông thấy đất nước "đang biến thành vương quốc đầy súc vật": người trẻ chửi người già trên tàu, những đứa trẻ tự tử để khỏi bị bắt nạt... Sự hòa hợp, kính trọng người cao tuổi và lòng trung thành với Tổ quốc - những đức tính đó nay đã phai nhạt trong giới trẻ Hàn Quốc. Pak Seok-hong nói: "Chúng ta đã xây dựng được nền kinh tế mạnh mẽ, nhưng đạo đức của dân tộc đang trên bờ vực của sự sụp đổ. Chúng ta phải khôi phục lại nó và các Seowon (học viện Nho giáo) là nơi chúng ta có thể tìm thấy câu trả lời". Hiện nay, số lượng học sinh Hàn Quốc đến các học viện Nho giáo để học tập ngoại khóa ngày càng tăng, lên tới hàng trăm ngàn học sinh mỗi năm. Tại đây, học sinh được dạy những lễ giáo đạo đức từ lâu đã không còn xuất hiện tại trường học, từ việc ăn tối, uống trà đến việc thưa chuyện lễ phép với cha mẹ. Theo ông Pak Sung-jin - giám đốc điều hành của Hiệp hội Seowon quốc gia Hàn Quốc, có khoảng 150 học viện Nho giáo ở khắp Hàn Quốc đã mở trở lại các chương trình ngoại khóa tương tự. Ông tin rằng người Hàn Quốc đương đại cần từ bỏ cách nghĩ thiển cận coi Nho giáo là "lỗi thời" và cần nghiêm túc học hỏi lại nhiều giá trị tinh thần, cách đối nhân xử thế từ xã hội xưa. Đại diện cho học giả Hàn Quốc, giáo sư An Bỉnh Chu, Đại học Thành Quân Quán đã nêu lên lời cảnh báo: “Ngày nay, xã hội­ đầy tiếng kêu cứu phản ánh nỗi lo lắng về sự hoang tàn của nhân tâm. Môi trường bị ô nhiễm, luân lý bị suy đồi, con người phơi trần nỗi khát khao truy cầu lợi ích và dục vọng. Nội tâm con người hoang tàn, giá lạnh. Quan hệ giữa người và người chỉ còn là cạnh tranh vì lợi ích. Tất cả loài người đang đứng trước nguy cơ diệt vong“. Và chính từ những báo động trên, ông đã nêu lên nên trở lại những nguyên lý đạo đức cuộc sống mà Lý Hoảng (1501-1570), đại sư Nho gia Hàn Quốc đã từng nhắc nhở trong vấn đề tâm học đạo đức. Ở hội nghị quốc tế “Nho giáo với xã hội tương lai” ở An Đông - Hàn Quốc (10-2001), các giáo sư Pháp, Nga, Mỹ, Anh v.v... đều có ý muốn nghiên cứu tư tưởng Nho giáo nhằm tìm con đường giải quyết những bế tắc trong quan hệ con người, xã hội và đặc biệt là gia đình ở phương Tây trong giai đoạn hiện tại. Họ đều đề cao đạo đức “Nhân”, “Lễ”, "Nghĩa" của Nho giáo. == Nội dung cơ bản == === Tổ chức xã hội === Học thuyết về quản lý quốc gia và làm lợi cho dân của Nho giáo là một phần của truyền thống văn hóa Trung Quốc rất sâu sắc. Nó đã thiết lập cho mình những lý tưởng đạo đức và hệ thống giá trị tiêu chuẩn xác lập nền tảng cho xã hội Đông Á trong hàng ngàn năm. Nho giáo giúp các xã hội này có tính tổ chức cao, duy trì trật tự xã hội, giúp gìn giữ các tiêu chuẩn đạo đức của xã hội ở một mức khá cao, giúp xã hội văn minh và ổn định lâu dài. Nho giáo tiến hành tất cả những điều đó không phải bằng vũ lực mà bằng chủ trương giáo dục toàn diện từ vua quan đến nhân dân để mỗi người đều tự giác thực hiện tùy theo vai trò của mình, đó cũng là lý do tại sao những nước sùng đạo Nho đều rất coi trọng giáo dục. Sách Đại học có câu: "Làm vua thì hết mình thực hiện đức nhân. Làm bề tôi thì hết mình thực hiện đức kính. Làm con thì hết mình thực hiện đức hiếu. Làm cha thì hết mình thực hiện đức từ. Cùng người trong nước quan hệ với nhau phải hết mình thực hiện đức tín." Trong thế giới quan Nho giáo, cả 3 yếu tố Quốc gia - Gia đình - Cá nhân đều có liên hệ chặt chẽ với nhau. Nho giáo xem cá nhân là yếu tố căn bản nhất cấu thành nên gia đình và xã hội. Mỗi cá nhân có đức hạnh tốt thì gia đình, xã hội sẽ tốt và ngược lại. Sách Đại học viết "Muốn trị quốc tốt trước hết phải chỉnh đốn tốt gia đình, gia tộc mình. Người trong gia đình, gia tộc mình mà không giáo dục được thì sao có thể giáo dục được người khác... Một nhà thực hiện nhân ái có thể dấy lên cả nước một phong trào nhân ái. Một nhà thực hiện khiêm nhường, có thể dấy lên cả nước một phong tục khiêm nhường. Còn nếu một người tham lam tàn bạo, tất dấy lên cả nước phạm thượng, làm loạn... Nếu bản thân mình che giấu những hành vi không hợp với đạo trung thứ thì sao có thể giáo dục được người khác làm theo đạo trung thứ. Cho nên muốn trị nước tốt, trước hết phải chỉnh đốn tốt gia đình, gia tộc mình." Nho giáo đề cao lòng trung thành của cấp dưới với lãnh đạo. Tuy nhiên, lòng trung thành đó không phải là sự mù quáng tuân lệnh như đời nay vẫn hiểu lầm. Khổng Tử nói "Yêu con mà không dạy con phải chịu khó nhọc được ư ? Trung với vua mà không khuyên can vua theo đường chính ư ?". Khổng Tử dạy rằng bề tôi chỉ trung thành với bậc minh quân đáng cho mình thờ; nếu vua tàn ác vô đạo thì có thể bỏ mà thờ ông vua khác, như Khổng tử đã bỏ vua nước Lỗ. Nghĩa Quân – Thần trong Nho giáo có định phận rõ ràng như Khổng tử đã viết: “Vua lấy lễ mà đãi bề tôi, bề tôi lấy trung mà thờ vua”. Mạnh Tử đã bảo Tề Tuyên Vương rằng: “Vua xem bề tôi như tay chân, thì bề tôi xem vua như bụng như lòng. Vua xem bề tôi như chó ngựa, thì bề tôi xem vua như người lạ trong nước. Vua xem bề tôi như đất như cỏ thì bề tôi xem vua như giặc như thù", “Kẻ làm hại đức nhân gọi là tặc; kẻ làm hại đức nghĩa gọi là tàn. Kẻ tàn, kẻ tặc chẳng qua là một người thường mà thôi. Tôi từng nghe vua Võ vương chỉ giết một người thường là Trụ mà thôi, chứ tôi chưa hề nghe Vũ vương giết vua”. Tuân tử cũng nói: “Tru bạo quốc chi quân, nhược tru độc phu” (Giết một ông vua tàn bạo cũng như giết một kẻ ác độc). Quan niệm của Khổng Tử về một vị quan tốt là người đó có giúp ích cho xã hội hay không chứ không phải người đó có trung thành mù quáng với quân vương hay không. Tử Cống hỏi "Quản Trọng không phải là người có nhân chăng ? Vua Tề Hoàn Công giết công tử Củ, Quản Trọng không tự sát lại còn làm tể tướng cho Tề Hoàn Công.". Khổng Tử nói "Quản Trọng làm tể tướng cho Tề Hoàn Công, giúp Tề Hoàn Công bá chủ chư hầu, làm cho thiên hạ thái bình, đến đời nay dân vẫn còn chịu ơn. Nếu không có Quản Trọng, sợ chúng ta hôm nay còn đầu bù tóc rối, áo quần rách rưới lang thang khắp đây đó. Quản Trọng đâu có như người thường, vì việc nhỏ mà tự sát ở khe núi để cho chẳng ai biết đến.". Về sau, một số người dẫn ra những câu như “Trung thần không thờ hai chúa”, "Quân sử thần tử, thần bất tử bất trung"... để chỉ trích Nho giáo đã khuyến khích lòng trung thành mù quáng, tạo điều kiện cho vua chúa nô dịch người dân. Thực ra, những câu nói này là của phái Pháp gia (một luồng tư tưởng khác cùng thời với Khổng Tử) chứ không phải của Nho gia. Nhà nghiên cứu Kim Định viết: “…cái bổn gốc của Nho giáo là “chí trung”, mà trung là không cậy dựa, “trung lập nhi bất ỷ cường tai kiểu”. Đó là cốt yếu những bài học dạy học của Khổng tử. Đừng đem những câu Hán học như “trung thần bất sự nhị quân” hay “quân sử thần tử, thần bất tử bất trung” mà gán vào miệng ông. Làm thế là thiếu óc khoa học. Cha ông ta tuy về phê bình chưa đạt cao lắm nhưng không để cho những câu tầm gửi kiểu trên làm thui chột chí bất khuất” Lý giải điều này, trong bài Cái ảnh hưởng của Khổng giáo ở nước ta, học giả Phan Khôi có nói: "Ở Nam kỳ đây, hạng tầm thường, hay lặp đi lặp lại cái câu “Quân sử thần tử, thần bất tử, bất trung; phụ sử tử vong, tử bất vong, bất hiếu”, họ cho là lời thánh nói ra. Nhiều người đem hỏi tôi, tôi phải lấy làm lạ. Hoặc giả có, mà tôi lâu nay ít hay ôn nhuần lại sách cũ rồi quên đi chăng, chớ theo như cái trí nhớ trong đầu tôi, thì câu nầy chẳng có trong sách nào hết, chẳng ông thánh nào nói hết, mà chừng như là lời của Lê Tử Trình nói trong tuồng Sơn hậu hồi thứ ba ! Đó, một hạng người nữa, cứ ù ù cạc cạc, hễ nghe câu chữ nho, thấy cuốn sách chữ nho, thì cho là đạo Khổng Tử ở đó.". Để theo đuổi mục tiêu lý tưởng xây dựng xã hội an hòa, Nho giáo nêu nguyên tắc quản lý xã hội như sau: Thực hiện nguyên tắc tập quyền: Trong phạm vi quốc gia chỉ có 1 chế độ chính trị thống nhất, xây dựng chế độ công hữu về đất đai (đất đai thuộc nhà nước) và chia ruộng đất cho nông dân. Khổng Tử rất phê phán chế độ tư hữu ruộng đất, bởi ông nhận ra chế độ này tất yếu dẫn tới việc đất đai tập trung vào một nhóm nhỏ địa chủ, phần đông nông dân không có đất canh tác sẽ không còn sinh kế, oán hận tích tụ lâu dần thì nông dân sẽ nổi dậy gây bạo loạn. Thực hiện "Chính danh": nghĩa là mỗi người cần phải nhận thức và hành động theo đúng cương vị, địa vị của mình: vua phải theo đạo vua, tôi phải theo đạo tôi, cha phải theo đạo cha, con phải theo đạo con, chồng phải theo đạo chồng, vợ phải theo đạo vợ... Nếu như mọi người không chính danh thì xã hội ắt trở nên hỗn loạn. Thực hiện "Văn trị - Lễ trị - Nhân trị": Đây là nguyên tắc có tính chất đường lối căn bản của Nho giáo. Văn trị là đề cao cai trị bằng hiểu biết để mọi người tự giác tuân theo. Lễ trị là dùng tổ chức, thiết chế xã hội để trị quốc, đề cao nghi lễ giao tiếp trong trị quốc. Nhân trị là trị quốc bằng lòng nhân ái. Đề cao nguyên lý công bằng xã hội: Khổng Tử đã nói: "Không lo thiếu mà lo không đều, Không lo nghèo mà lo dân không yên". Sự không công bằng là mầm mống của rối loạn xã hội. Quan niệm công bằng của Nho giáo không phải là cào bằng, mà là công bằng trên cơ sở "chính danh". Từ thời nhà Hán, Nho giáo đã trở thành trung tâm cho việc quản lý xã hội, duy trì đạo đức tại Trung Hoa trong suốt hơn 2000 năm. Năm 1397, Minh Thái Tổ ra lệnh mỗi làng phải dán một tờ ghi sáu điều Đạo Nho để dân noi theo: "Phải hiếu thảo với cha mẹ, phải kính trọng người già, phải thờ phụng tổ tiên, phải dạy con nên người, phải yên ổn làm ăn". Năm 1670, vua Khang Hi nhà Thanh cũng ra một sắc lệnh gồm 16 điểm, dạy dân phải hiếu lễ, cần kiệm, nộp thuế đúng kì... và ra lệnh các hương chức và kẻ sĩ trong làng cứ nửa tháng một lần đọc và giảng cho dân nghe. Những kẻ bất hiếu, ăn cắp ăn trộm, cưỡng hiếp gian dâm... phải ghi tên vào một cái bảng treo trước cổng làng để nhân dân lấy đó làm răn. Nhờ đạo Nho, các triều đình ít phải can thiệp vào đời sống của dân, cho các làng tự lập hương ước mà gần như tự trị. Một học giả châu Âu khen người Trung Hoa tổ chức xã hội giỏi hơn người La Mã và mọi đế chế khác. Các kẻ sĩ ở mỗi làng, tổng, huyện (một vị trưởng lão trong làng, một thầy đồ hay một vị khoa bảng)... được dân tin, giúp chính quyền được nhiều việc cai trị, giáo dục, hòa giải các vụ kiện, trị bệnh, giữ an ninh. Họ được dân coi trọng hơn cả các quan lại, mà quan lại cũng phải nể họ. Vì vậy, Trung Hoa đất đai mênh mông mà số quan lại khá ít (cuối đời Thanh, Trung Quốc có 450 triệu dân mà chỉ cần 100.000 quan lại), triều đình không tốn nhiều lương bổng mà vẫn duy trì được xã hội ổn định suốt hàng trăm năm. Đặc biệt là cứ mỗi lần đất nước bị họa vong quốc thì lại có hàng trăm kẻ sĩ Nho giáo sẵn sàng liều mình chống ngoại xâm, nếu chẳng may thất bại thì họ liền tuẫn quốc chứ không chịu sống nhục. Đã vậy, không chỉ nam giới liều thân hộ quốc nơi tiền tuyến mà phụ nữ ở hậu phương cũng một lòng chung thủy để người nam nhi an tâm ra đi gánh vác mệnh nước, nếu chồng hy sinh họ sẵn sàng tuẫn tiết để giữ lòng son. Đó là đặc điểm của những dân tộc thấm nhuần đạo Khổng. Trong lịch sử Việt Nam, Trung Hoa, Nhật Bản... có hàng trăm tấm gương như vậy (Đặng Dung, Nguyễn Cảnh Dị, Lê Tuấn Mậu, Văn Thiên Tường, Dương gia tướng,...). Đó là nguồn gốc tinh thần chống ngoại xâm bền bỉ của các dân tộc Á Đông chịu ảnh hưởng của Nho giáo. Theo Tommy Koh, Giám đốc Viện nghiên cứu chính sách Singapore, dưới ảnh hưởng của Nho giáo và Phật giáo, tất cả các xã hội Đông Á đều không ưa chủ nghĩa cá nhân cực đoan, không thích tự do báo chí theo kiểu lá cải, thổi phồng công luận, mặc cho báo chí thoả mãn cả những thị hiếu tầm thường, lảng tránh hoặc xem nhẹ chức năng giáo dục, hướng thiện cần thiết đối với xã hội. Không phải người Đông Á phản đối tự do báo chí, tự do ngôn luận, song nếu báo chí - ngôn luận tự do đến mức phá vỡ những ranh giới đạo đức và lẽ phải, trở thành diễn đàn của những kẻ bất lương, cổ súy những hành vi băng hoại đạo đức xã hội... thì không thể nhân danh tự do mà chấp nhận được. Thái độ này nằm trong logic chung của các giá trị gia đình, cộng đồng, đạo đức và trách nhiệm. Văn hoá Nho giáo và cả Phật giáo đều không chấp nhận lý lẽ của việc con cái kiện tụng cha mẹ, trừ những trường hợp hãn hữu khi cha mẹ không còn xứng đáng. Với các nền văn hoá này, mọi chuyện thuộc quan hệ cha mẹ - con cái đều cần phải xử lý trong khuôn khổ giá trị huyết thống. Vượt ra ngoài khuôn khổ này, quan hệ cha con sẽ không còn. Thực tế cho thấy, trong các xã hội Đông Á, một khi quan hệ huyết thống đã bị đưa ra Tòa án để xét xử, thì dẫu mọi chuyện có được giải quyết ổn thoả, tình nghĩa cũng chẳng còn hoặc chẳng còn là bao. === Lễ nghi === Nho giáo rất xem trọng Lễ nghi vì nó là biểu hiện của một xã hội văn minh và có trật tự. "Lễ" là những quy tắc mang tính hình thức được xã hội thừa nhận để bày tỏ sự tôn trọng đối với người khác, với cộng đồng hoặc với những định chế xã hội và để nhận được sự tôn trọng của xã hội. Việc giữ Lễ là một cách tu thân và chứng tỏ con người biết tuân thủ những nguyên tắc đạo đức trong quan hệ với người xung quanh. Một xã hội không biết giữ Lễ là xã hội hỗn loạn, kém văn minh và suy đồi. Lễ giáo phai nhạt cũng là biểu hiện các mối quan hệ giữa con người trong xã hội đã xấu đi, trật tự xã hội đã suy yếu. Lễ nghi sẽ tạo ra một xã hội hài hòa trong đó mọi người đều tự tiết chế trong mối quan hệ giữa người với người, không để những cảm xúc tiêu cực biến thành hành động mạo phạm, bất kính với người khác. Hữu Tử nói: "Tác dụng của lễ đạt được sự thống nhất, hài hòa mới là đáng quý. Phương pháp trị nước của những bậc vua hiền thời cổ đại có đúng đắn là ở chỗ này: việc lớn việc nhỏ đều tuân thủ nguyên tắc hài hòa. Nhưng có điều không nên làm: chỉ biết hài hòa là quý, rồi trong mọi việc chỉ biết hài hòa, không lấy lễ nghĩa để tiết chế thì việc gì cũng không xong.". Khổng Tử nói "Người quân tử học rộng về văn chương lại biết dùng lễ để chế ước, ràng buộc mình sẽ không bao giờ xa Kinh phản Đạo.". Mỗi xã hội, mỗi thời đại đều có những nghi thức của riêng nó nhưng chung quy không xã hội văn minh nào có thể bỏ đi những lễ nghi mà chỉ thay đổi đối tượng, mục đích hoặc hình thức. Nho giáo chủ trương lễ nghi phải phù hợp với địa vị xã hội, công lao, đức độ, tài năng, tuổi tác của người hành lễ và người nhận lễ. Ví dụ như "Nếu cha là quan đại phu, con là kẻ sĩ, khi cha chết thì dùng lễ của quan đại phu mà chôn cất cha, dùng lễ của kẻ sĩ thờ cúng cha." hoặc "Khi cử hành tế lễ ở tông miếu, phải biết sắp xếp bài vị đúng thứ tự, theo đẳng cấp thứ bậc tước vị đã được ông cha quy định, nhằm phân biệt rõ công lao, đức độ, tài năng. Khi mọi người cùng uống rượu thì người ít tuổi, thứ bậc thấp mời người nhiều tuổi, thứ bậc cao trước. Mục đích là đem lễ nghĩa về chữ hiếu quán triệt đến người ít tuổi.". Tuy nhiên cũng có những quy tắc chung mà từ quân vương đến thứ dân đều phải tuân thủ như "Phép để tang ba năm thực hiện từ thứ dân cho đến thiên tử (vua). Để tang cha mẹ phải là ba năm, không phân biệt giàu nghèo sang hèn, tất cả đều như nhau (bởi con người trong 3 năm đầu đời đều "đói không thể tự ăn, rét không thể tự mặc", tất cả đều phải nhờ do cha mẹ khổ công nuôi nấng)". Lễ phải bắt nguồn từ sự tôn trọng chân thành của người hành lễ đối với người nhận lễ thì mới có giá trị. Khổng Tử nói: "Một người không có lòng nhân sao có thể hành được lễ ?". Khổng Tử phê phán những lễ nghi hình thức giả dối. Ông nói "Người đời trước đối với lễ nhạc, coi trọng phối hợp thích đáng giữa nội dung và hình thức thì bị coi là lạc hậu quê mùa. Người đời sau đối với lễ nhạc, coi trọng hình thức hơn nội dung thì lại bảo là người quân tử. Nếu sử dụng lễ nhạc, ta tình nguyện đi theo các bậc tiền bối.". Trái với tập quán của người đời thích những lễ nghi phô trương để chứng tỏ sự giàu sang, quyền lực của bản thân, khi được hỏi về gốc của lễ, Khổng Tử trả lời: "Vấn đề của ngươi hỏi thật quá lớn! Lễ nói chung đi kèm với xa hoa lãng phí thì không bằng tiết kiệm. Nghi thức mai táng mà cầu kỳ, lòe loẹt thì không bằng trong lòng thật sự đau buồn.". Trong các loại lễ nghi, hai lễ nghi phổ biến nhất, từ đấng quân vương cho đến kẻ thứ dân ai cũng thực hiện, được Nho giáo rất xem trọng là tang lễ và việc cúng tế tổ tiên. Tăng Tử nói: "Phải cẩn thận làm tốt tang lễ cho cha mẹ khi qua đời; thành tâm, thành ý khi cúng tế tổ tiên. Được như vậy, dân chúng được cảm hóa, phong tục đạo đức của dân chúng ngày một tốt đẹp và thuần hậu.". Ngày nay, tại các nước Đông Á tang lễ và cúng tế tổ tiên vẫn là các lễ nghi quan trọng nhất, được tổ chức chu đáo nhất. Việc không tổ chức các lễ nghi này, không tham dự hoặc làm qua loa có thể bị xem là bất kính. === Quan hệ xã hội === Theo Nho giáo, trong xã hội có 5 mối quan hệ cơ bản là: vua - tôi, cha - con, vợ - chồng, anh - em, bạn bè. Để thực hiện tốt 5 mối quan hệ này cần có 3 đức tính: trí, dũng, nhân. Trong các mối quan hệ xã hội, con người phải đối xử tốt với người khác, "mình không muốn bị người khác đối xử thế nào thì cũng không nên đối xử với người khác như vậy". Người chỉ biết làm việc vì lợi ích của mình nhất định sẽ chuốc lấy nhiều oán hận. Đối với người lãnh đạo thì càng phải ghi nhớ và thực hành điều này, như sách Đại Học viết "Người quân tử phải hiền hòa, nhân đức, yêu thích điều dân yêu thích, ghét điều dân ghét. Đó mới gọi là làm cha mẹ của dân.". Nhân chi sơ, tính bổn thiện vì vậy mỗi người hãy đối nhân xử thế phù hợp với tính thiện trời ban cho mình, xử thế phải hết sức cẩn thận, chu toàn, thành thật. Sách Trung Dung viết "Phải hết sức răn mình cẩn thận về những điều không ai nhìn thấy, e sợ những việc không ai nghe thấy. Không gì dễ hiện ra bằng điều giấu giếm, không gì dễ lộ ra bằng điều nhỏ nhặt. Cho nên người quân tử khi xử thế một mình, từ lời ăn tiếng nói đến việc làm cụ thể càng phải cẩn thận, chu đáo hơn bao giờ hết.". Trong quan hệ vua tôi, Khổng Tử chủ trương "Vua sử dụng bề tôi phải theo lễ, bề tôi phụng thờ vua phải theo trung.". Nho giáo đề cao sự trung thành đối với nhà nước quân chủ vì đó là nhân tố góp phần vào sự ổn định của xã hội. Khổng Tử nói "... Vua Vũ vương được hai phần ba thiên hạ, vẫn giữ khí tiết của một trung thần phụng thờ triều Ân. Đức của vua Vũ vương có thể nói là đức cao quý nhất.". Trong mọi hoàn cảnh, con người cần kiềm chế cảm xúc, làm chủ bản thân, không biểu hiện cảm xúc ra ngoài một cách thái quá, đó gọi là trung hòa. Biết trung hòa cảm xúc thì con người ta mới cư xử đúng mực. Sách Trung Dung viết "Khi tình cảm như: vui mừng, hờn giận, đau thương, khoái lạc chưa biểu hiện ra thì gọi là trung; biểu hiện ra rồi nhưng phù hợp, đúng mức thì gọi là hòa. Trung là điều cơ bản lớn nhất trong thiên hạ. Hòa là chuẩn tắc phổ biến nhất trong thiên hạ. Trung hòa mà đạt đến tột cùng thì mọi cái trong trời đất đều ở vị trí thỏa đáng, vạn vật sẽ sinh sôi nảy nở." Nho giáo quan niệm Trung dung là sự ôn hòa, cân bằng, không thái quá, không thiên lệch về bên này hoặc bên kia. Trong đối nhân xử thế, Trung dung là không quá cương cũng không quá nhu, không thái quá cũng không bất cập. Trong chính trị, Trung dung là không quá khích, cực đoan; không cực tả cũng không cực hữu, không nhảy từ thái cực này sang thái cực kia: "Lời nói và việc làm của người quân tử thì phù hợp với chuẩn tắc trung dung, còn kẻ tiểu nhân thì phản lại trung dung. Người quân tử luôn giữ được trạng thái trung hòa, không để thái quá hay bất cập. Kẻ tiểu nhân thì không hề lo sợ, nể nang hay e dè ai hết, nên cách nói năng của và hành động của kẻ tiểu nhân không thái quá thì cũng bất cập.". Đạo Trung dung không chỉ dành cho nhà cầm quyền, người có học thức, bậc quân tử mà phổ biến khắp thiên hạ, ai ai cũng có thể hiểu và thi hành kể cả những người ngu dốt, nhưng để đạt đến mức độ cao sâu thì thánh nhân cũng chưa làm nổi: "Đạo sở dĩ không được thực hành, ấy là vì người thông minh có trí tuệ thì nhận thức và thực hành thái quá, người kém hiểu biết thì nhận thức bất cập...... Đạo của người quân tử vừa to lớn bao la, vừa vô cùng nhỏ bé. Những người ngu dốt kém cỏi cũng có thể hiểu và làm theo được, nhưng đạt tới chỗ cao sâu nhất thì đến thánh nhân cũng có điều chưa thể làm nổi.". Để giữ được đạo Trung dung, con người vừa phải sống hòa đồng với mọi người vừa phải có tư duy độc lập, luôn giữ chính kiến của mình, luôn giữ đạo Trung dung, không bị lôi cuốn theo đám đông, không bị hoàn cảnh lung lạc. Đây là sức mạnh chân chính của người quân tử: "Người quân tử sống hòa khí với mọi người, nhưng không buông trôi theo thói tục của người đời. Giữ trọn đạo Trung dung, không hề thiên lệch bên nào, khi quốc gia yên ổn cũng như khi loạn lạc, có chết cũng không thay đổi chí hướng của mình, đấy mới là sức mạnh chân chính.". Khổng tử nói "Người quân tử phải theo đạo mà đi, không được nửa đường thì bỏ dở. Người quân tử chỉ một lòng theo đạo Trung dung mà thôi. Còn như phải trốn đời ở ẩn nơi rừng sâu núi thẳm cũng không hối hận, chỉ có thánh nhân mới làm được như vậy."". Tuy nhiên, người đời vô minh, không nhận thức được tính chất minh triết, tốt đẹp của đạo Trung dung nên luôn hành động thái quá hay bất cập khiến xã hội hỗn loạn, suy đồi, xung đột nảy sinh; tạo ra vô số bi kịch trong cuộc sống đời thường cũng như trong đời sống chính trị. Khổng Tử từng than thở "Đạo Trung dung này rất mực tốt đẹp. Từ lâu dân chúng đã thiếu hẳn đạo này.". Khổng Tử nói "Người quân tử hòa hợp nhưng không cùng quan điểm. Kẻ tiểu nhân cùng quan điểm nhưng không hòa hợp. (Quân tử hòa nhi bất đồng, tiểu nhân đồng nhi bất hòa)". Điều này cho thấy Nho giáo nguyên thủy đề cao tự do tư tưởng, tự do ngôn luận, chấp nhận sự khác biệt. Nếu thiếu khả năng chấp nhận sự khác biệt, con người rất dễ nảy sinh xung đột với nhau. Sự hiểu lầm cũng có thể dẫn đến xung đột. Khi bị người khác hiểu lầm thì không nên oán giận họ vì sẽ làm xung đột càng trầm trọng hơn. Khổng Tử nói: "Người không hiểu ta mà ta chẳng oán giận họ, như vậy không phải là người quân tử ư?", "Không sợ người không hiểu ta mà chỉ sợ ta không hiểu người.". Khi xảy ra mâu thuẫn, xung đột, nếu biết khoan dung, tha thứ cho những lỗi lầm của người khác; những thiệt hại, khổ đau người khác gây ra cho mình thì thù hận sẽ chấm dứt. Ngược lại nếu tìm mọi cách trả thù thì thù hận kéo dài không bao giờ chấm dứt. Khổng Tử nói "Bá Di, Thúc Tề, hai người này thường cho qua những thù hận cũ nên người oán hận họ rất ít.". Kinh Pháp Cú của Phật giáo cũng có ý tương tự "Với hận diệt hận thù, đời này không có được. Không hận diệt hận thù, là định luật ngàn thu.". Trong xã hội có nhiều hạng người: người giàu, người nghèo, người lãnh đạo, người thừa hành... Nho giáo khuyên con người nên làm việc theo chức trách, có cách sống phù hợp với hoàn cảnh và địa vị xã hội của mình. Ai làm như vậy sẽ luôn thấy thoải mái, không so đo mình với người khác cũng không nảy sinh bất mãn. Nghèo mà không oán hận là rất khó làm. Giàu mà không kêu ngạo là rất dễ làm. Người thích dũng cảm mà lại căm ghét sự nghèo hèn của mình thì rất dễ làm loạn. Sách Trung Dung viết: "Người quân tử nên dựa vào địa vị hiện tại của mình mà làm việc, không nên ham những cái ngoài bổn phận của mình... Người quân tử ở bất kỳ hoàn cảnh nào đều có thể điềm nhiên tự tại, bình tĩnh tự đắc, không kêu ca phàn nàn.". Theo Nho giáo, mỗi người làm trọn chức phận của mình, sống có đạo đức thì xã hội sẽ trở nên tốt đẹp. Bản thân chưa tốt mà muốn mọi người xung quanh mình tốt, muốn người cai trị mình tốt, muốn xã hội tốt là điều không tưởng. Nếu mỗi người không cố gắng hoàn thiện bản thân, sống có đạo đức, tuân thủ luật pháp, làm tốt công việc của mình mà chỉ nhìn thấy nhược điểm, sai lầm, tệ hại của người khác rồi nảy sinh bất mãn, hận thù thì xã hội hỗn loạn, xung đột nảy sinh. Vua Tề Cảnh Công hỏi về việc cai trị quốc gia, Khổng Tử thưa "Làm vua phải trọn đạo vua, làm tôi phải trọn đạo tôi, làm cha phải trọn đạo cha, làm con phải trọn đạo con". Vua Tề Cảnh Công nói "Nói như vậy hay quá ! Nếu vua chẳng trọn đạo vua, tôi chẳng trọn đạo tôi, cha chẳng trọn đạo cha, con chẳng trọn đạo con thì tuy có lúa gạo đó ta có thể ăn được ư"." Mỗi người đều có vị trí riêng trong hệ thống phân công lao động xã hội phù hợp với năng lực, trí tuệ và hiểu biết của mình. Những người ở địa vị cao phải trải qua quá trình học tập, rèn luyện, thử thách, va chạm lâu dài; từng thành công và thất bại nhiều lần mới đảm nhận được chức trách mà họ đang nắm giữ. Người lãnh đạo cấp cao có đội ngũ cố vấn, giúp việc có trình độ nên mới xử lý nổi những vấn đề trong phạm vi trách nhiệm của họ. Nếu mỗi người không tập trung làm tốt phận sự của mình mà cứ lo những chuyện vượt quá tầm hiểu biết, khả năng nhận thức, năng lực và trách nhiệm của mình thì chỉ dẫn xã hội đến hỗn loạn. Khổng Tử nói "Không ở vào chức vị nào thì đừng bàn tính về chính sự của chức vị ấy.". Chính vì thế, con người nên gắng làm tốt công việc hiện tại của mình chứ không cần phải theo đuổi, cầu cạnh chức tước, địa vị. Việc thăng tiến là điều tự nhiên nếu người đó làm tốt. Kẻ tiểu nhân ngược lại luôn theo đuổi hư danh, địa vị ngoài khả năng của mình. Sách Trung Dung viết "Khi ở địa vị cao, không lăng mạ chèn ép người dưới; khi ở địa vị dưới, không nịnh bợ cầu cạnh người trên; lúc nào cũng giữ bản thân ngay thẳng, chẳng cầu mong xin xỏ người khác, được như vậy thì trên không oán trời, dưới không trách người, luôn ở địa vị ổn định để chờ mệnh trời. Còn kẻ tiểu nhân buộc phải mạo hiểm để theo đuổi chức vụ, địa vị ngoài khả năng của mình.". Tử Hạ nói "Người quân tử chỉ cần làm việc nghiêm túc cẩn thận, đối xử với người cung kính lễ độ, thì người bốn biển đều là anh em.". Theo quan niệm đạo đức Nho giáo thì con người sống trong xã hội không nên tranh chấp vì danh lợi. Điều đáng để mọi người thi đua là sống sao cho hợp đạo lý, đối xử nhau sao cho có tình có lý, có lễ nghĩa. Khổng Tử nói: "Người quân tử không việc gì phải tranh đua. Nếu có việc đáng tranh đua thì chỉ có ở cuộc thi bắn cung. Khi đọ tài bắn cung cũng phải giữ lễ, vái chào lẫn nhau trước rồi sau đó mới bắn cung. Bắn cung xong ngồi nâng chén chúc mừng lẫn nhau. Đây là điều đáng tranh đua của người quân tử.". Khi chưa có chức vụ, địa vị thì "Không sợ buồn vì không có chức vụ địa vị, chỉ buồn vì không có tài đức để làm tròn chức vụ địa vị ấy. Không sợ người khác không biết mình, mà phải cầu mong làm sao có năng lực làm cho người khác hiểu mình.". Nếu hoàn cảnh sống, chức tước, địa vị không được như ý thì phải xem lại bản thân mình chứ không nên trách trời, oán người hay đổ lỗi cho nhà nước. Khổng Tử nói: "Phép bắn cung cũng giống như đạo người quân tử vậy. Khi bắn mũi tên không trúng đích, phải trở lại tìm nguyên nhân ở chính bản thân mình."... người có chức lớn tất có địa vị, danh tiếng xứng đáng và hưởng thọ lâu dài... người có đức lớn, nhất định được trời ban cho chức vụ để làm việc có ích cho đời.". Trong tất cả mọi mối quan hệ xã hội như với cha mẹ, với cấp trên, với bạn bè, Nho giáo rất đề cao sự thành thật. Người thành thật sẽ được mọi người tin cậy. Con người trước hết phải thành thật với bản thân mới có thể thành thật với mọi người. Theo sách Trung Dung "Muốn bản thân thành thật cũng có cách của nó: nếu không hiểu rõ thế nào là đức thiện, tính thiện thì cũng không thể bồi dưỡng cho mình có lòng thành thật với bản thân.". Theo Nho giáo, có một số người vốn dĩ tự nhiên đã thành thật, một số khác phải rèn luyện bản thân để trở nên thành thật: "Thành thật tự nhiên vốn là đạo trời. Còn tự mình nỗ lực đạt đến thành thật là đạo người. Bậc thành thật tự nhiên không phải cố gắng cũng tự nhiên thích hợp với đạo, không phải suy nghĩ cũng hiểu được đạo, cứ ung dung mà hợp với đạo trung dung, đó là bậc thánh nhân. Còn người tu tập để đạt tới thành thật thì phải chọn lấy điều thiện mà kiên trì theo đuổi. Muốn vậy, phải học tập cho sâu rộng, hỏi han cho kỹ lưỡng, suy nghĩ cho thận trọng, phân biệt cho sáng tỏ, thực hành cho thấu đáo.". Muốn đạt đến thành thật thì "Đối với việc nhỏ mà dám bỏ công sức học hỏi, suy nghĩ, xem xét và thi hành đạo lý thì cũng xem như đã đạt đến thành thật. Có lòng thành thật thì sẽ biểu hiện ra ngay. Hiện rõ ra rồi thì sẽ sáng chói. Sáng chói thì sẽ cảm động đến lòng người.". Theo sách Trung Dung, người đã đạt đến đức thành thật cao cả thì "dẫu không biểu hiện ra mà vẫn sáng rõ, dẫu không động mà vẫn biến hóa, dẫu không làm mà cũng thành công.". Việc nịnh hót người khác, giả bộ hiền lành, cung kính thái quá, đem oán hận giấu kín trong lòng nhưng bề ngoài vẫn giả bộ hữu hảo bị Nho giáo đánh giá là hành vi xấu. Khổng Tử nói: "Dùng những lời lẽ hay ho để nịnh hót, làm vừa lòng người và tỏ vẻ hiền lành, như vậy không phải là người có lòng nhân."... "Những người dùng lời lẽ trau chuốt ngọt xớt, giả bộ hiền lành, cung kính thái quá, loại người này theo Tả Khâu Minh là rất đáng sỉ nhục. Khâu ta cũng cho là rất đáng sỉ nhục. Đem oán hận giấu kín ở trong lòng nhưng bề ngoài vẫn giả bộ hữu hảo với người, loại người như vậy Tả Khâu Minh cũng cho là đáng sỉ nhục. Khâu ta cũng cho là đáng sỉ nhục.: Tuy nhiên, người đời lại thích những lời ngọt ngào, giả dối. Sự thật thì khó nghe và dễ làm mất lòng người. Khổng Tử nói "Nếu không có mồm mép nói dễ nghe như Chúc Đà và vẻ đẹp như công tử Triều nước Tống thì đời nay khó mà tránh được người ta ghét bỏ, xa rời.". Vì vậy phải làm sao giữ được sự thành thật mà vẫn không làm mất lòng người, không bị đánh giá là thô lỗ, thiếu tế nhị. Đó là nghệ thuật ứng xử cần khổ công rèn luyện. Khổng Tử nói "Chất phác mà bỏ qua văn vẻ thì thô tục. Văn vẻ mà bỏ qua chất phác thì phù phiếm. Văn vẻ và chất phác hài hòa với nhau mới là người quân tử.". Nếu làm được như vậy có thể sống ngay thẳng giữa cuộc đời. Khổng Tử nói "Con người ta sống được là nhờ ngay thẳng. Kẻ không ngay thẳng tuy nhiên cũng sống được, nhưng chẳng qua nhờ may mắn mới tránh được tai họa đó thôi.". Người ngay thẳng không sợ bị kẻ khác hãm hại, cây ngay không sợ chết đứng. Khi quan tư mã nước Tống là Hoàn Đồi âm mưu giết Khổng Tử bằng cách chặt cây mà ông thường ngồi dạy học trò về đạo làm người, Khổng Tử nói "Trời đã phú cho ta phẩm đức, Hoàn Đồi kia còn có thể làm gì được ta ?". Trong quan hệ bạn bè, Tăng Tử nói "Người quân tử dùng tri thức văn chương để tập hợp bạn bè, dùng sự giúp đỡ của bạn bè để bồi dưỡng nhân đức". Tử Cống hỏi về cách đối đãi với bạn bè. Khổng Tử nói "Thành tâm thành ý khuyên bạn, nhẫn nại chỉ rõ mọi điều hơn lẽ thiệt, mà bạn vẫn không nghe thì thôi, đừng tự mình chuốc lấy nhục nhã". Tử Trương hỏi về sự sáng suốt, Khổng Tử trả lời "Những lời gièm pha nói xấu ngấm dần, cũng như những lời vu cáo đau nhức đến tận da thịt đều không làm ảnh hưởng gì đến mình, được như vậy có thể nói là người sáng suốt, nhìn xa trông rộng". Tử Trương lại hỏi cách thức để phân biệt sự mê hoặc "Yêu ai thì mong cho họ sống, ghét ai thì mong cho họ chết. Vừa mong cho người này sống lại muốn cho người khác chết, như vậy là sự mê hoặc". Người khôn ngoan là người hành động hợp tình, hợp lý, hợp nghĩa, đúng nơi, đúng lúc. Công Minh Giả nói về Công Thúc Văn Tử "Công Thúc Văn Tử chỉ nói lúc đáng nói nên người ta nghe mà không chán, khi vui mới cười nên người ta thấy cười mà không chê, của hợp nghĩa mới nhận nên người ta thấy nhận mà không khinh bỉ". Khi đánh giá người khác, đừng đánh giá qua lời nói mà hãy đánh giá qua hành động của người đó. Khổng Tử nói: "Nhìn kỹ cách người ta làm, xét người ta làm vì cái gì, rồi xét kỹ người ta có vui lòng mà làm hay không. Như vậy người ta không có cái gì có thể giấu được, làm sao mà giấu được ?". Mỗi người hãy chứng tỏ bản thân mình bằng việc làm chứ không phải bằng lời nói. Như vậy mới là người quân tử. Tử Cống hỏi: "Thế nào là người quân tử ?". Khổng Tử nói: "Trước hết thực hành lời mình nói đã, sau mới nói ra.". Năng lực mỗi người khác nhau nên không thể đòi hỏi kết quả giống nhau được. Chỉ cần người đó toàn tâm, toàn ý là được. Khổng Tử nói: "Thi bắn cung, không nhất thiết phải xuyên qua bia, bởi vì sức lực của mỗi người không giống nhau, đây là quy tắc bắn cung thời cổ.". Trong xã hội không ai hoàn hảo. Từ người lãnh đạo cao nhất cho đến người dân bình thường đều có thể mắc sai lầm. Sai lầm của người lãnh đạo nếu không bị chỉ ra có thể biến thành sai lầm của tập thể hoặc cả một quốc gia. Vua Lỗ Định Công hỏi "Một lời nói có thể làm cho nước suy bại có phải vậy không ?". Khổng Tử trả lời "Lời nói chưa thể có hiệu quả nhanh như vậy. Nhưng cũng đã có người từng nói: 'Ta làm vua chẳng có gì sung sướng, chỉ sướng là khi ta nói ra không có ai dám trái lời'. Nếu vua nói phải không có ai phản đối, như vậy không phải là tốt quá sao ? Nhưng nếu vua nói không phải mà chẳng có ai phản đối, đây chẳng phải giống như một lời nói có thể làm cho mất nước đó sao ?". Sai lầm có thể bị che giấu khiến nó ăn sâu vào đời sống xã hội, truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác. Chính vì thế muốn xã hội ngày càng tốt đẹp hơn, tránh được những hậu quả tiêu cực do sai lầm của con người gây ra thì sai lầm của cá nhân hoặc cộng đồng phải được phơi bày ra ánh sáng để người mắc sai lầm, những người khác và các thế hệ tương lai thấy để sửa sai và tránh lặp lại. Ở đâu thiếu minh bạch, ở đó cái xấu, cái ác sẽ sinh sôi nảy nở và ngày càng lớn mạnh. Khổng Tử nói: "Dám mạnh dạn đấu tranh, phê bình, chỉ trích tệ hại, thói hư tật xấu thì tự nhiên họa hại sẽ tiêu tan.". Tuy nhiên việc phê bình, góp ý người khác cũng cần tinh tế để ý kiến đóng góp được tiếp thu mà người nghe cũng không khó chịu hoặc cảm thấy bị xúc phạm. Phải biết kết hợp giữa khen và chê vì ai cũng có ưu điểm và nhược điểm. Nếu chỉ thấy nhược điểm của một người rồi tìm mọi cách phê bình, chỉ trích mà lờ đi ưu điểm của người đó là cách đối xử thiếu tế nhị thậm chí là ác ý. Tử Du nói: "Phụng thờ vua nếu chỉ biết luôn can gián vua thì sẽ chuốc lấy nhục nhã. Đối đãi với bè bạn, nếu cứ luôn luôn góp ý kiến cho bạn thì bạn sẽ xa mình.". Ngược lại, người mắc sai lầm cũng phải dũng cảm, cầu thị nhận sai lầm và sửa sai. Khổng Tử nói "Lời nói đúng đắn có thể không tiếp thu ư ? Nhưng chỉ tiếp thu chưa đủ, mà còn phải sửa chữa sai lầm nữa mới là điều đáng quý. Lời nói mềm dẻo, nhẹ nhàng, từ tốn thì có thể không vui sướng chăng ? Nhưng chỉ vui sướng chưa đủ, mà còn phải suy nghĩ mới là điều đáng quý. Chỉ biết vui sướng mà không biết suy nghĩ, chỉ biết tiếp thu mà không chịu sửa chữa, loại người như vậy ta chẳng còn cách nào nữa.". Một lần có người chỉ ra sai lầm của Khổng Tử, ông nói "Ta thật may mắn, giả dụ có sai lầm thì người ta cũng biết được". Nho giáo cũng phê phán tệ bè phái, chia rẽ trong xã hội, xem tinh thần đoàn kết là một phẩm chất đạo đức của người quân tử còn óc bè phái là đặc tính của kẻ tiểu nhân. Khổng Tử nói: "Người quân tử đoàn kết rộng rãi với mọi người, chứ không phải chỉ câu kết phe cánh. Kẻ tiểu nhân chỉ biết câu kết phe cánh, chứ không biết đoàn kết rộng rãi với mọi người.". === Thuật lãnh đạo === Nho giáo chủ trương: "Dân vi quý, xã tắc thứ chi, quân vi khinh (Dân là quý nhất, rồi đến đất nước, cuối cùng mới là vua)". Người lãnh đạo chân chính phải xem việc cai trị thiên hạ là bổn phận, trách nhiệm của mình chứ không phải vì lợi ích cá nhân hay là thứ giúp bản thân mình trở nên cao quý. Khổng Tử nói "Cao quý thay vua Thuấn và vua Vũ! Được cả thiên hạ mà vẫn cảm thấy việc này không có gì đáng vui hoặc kiêu hãnh cả.". Đây là một tư tưởng rất mới mẻ trong thời quân chủ chuyên chế đang thịnh hành. Vua không có quyền coi nhân dân là của riêng mà phải lo cho dân và vì dân. Muốn vậy, phải có luật pháp công bằng, dẫu vua quan cũng không được vượt ra ngoài pháp luật đó. Người trị dân, trị nước phải chăm lo việc dân việc nước, làm cho đời sống của dân được sung túc, phải lo giáo dục dân để hiểu rõ luật pháp mà tuân theo, lấy nhân nghĩa làm cơ bản để thi hành. Chủ trương chính trị của Nho giáo vào thời kỳ đó rất táo bạo nhưng rất hợp lý, làm cho nền quân chủ thời đó cũng như các nền chính trị thời nay cũng không thể nào bắt bẻ được. Nho giáo xem nhân dân là yếu tố quyết định đối với sự tồn vong của chế độ chính trị. Nếu một nhà nước nhận được sự ủng hộ của nhân dân thì vững bền, nếu mất lòng dân thì sụp đổ. Sách Đại học viết: "Kinh Thi có câu: Khi nhà Ân chưa để mất lòng dân thì còn xứng đáng để thụ mệnh thiên tử. Nên soi vào tấm gương của nhà Ân để biết rằng, giữ được thiên hạ không phải là dễ. Đây là muốn nói đạo trị dân: nếu được lòng dân là được nước, mất lòng dân là mất nước.". Tử Cống hỏi Khổng Tử về quản lý chính sự quốc gia. Khổng Tử nói "Phải đầy đủ lương thực, đầy đủ binh lực, được nhân dân tín phục". Nếu bỏ đi hai trong ba điều thì có thể bỏ binh lực rồi đến lương thực nhưng nếu nhân dân không tín phục nữa thì nước không thể đứng vững nổi. Muốn có được sự tín phục của nhân dân nhà cầm quyền phải biết đặt lợi ích của dân lên trên lợi ích bản thân. Hữu Nhược nói "Nếu dân đủ ăn thì vua làm sao lại không đủ ? Nếu dân không đủ ăn thì vua làm sao mà đủ được ?". Muốn giữ được lòng dân, giữ vững chế độ thì người lãnh đạo phải có đức thiện vì "có đức thiện mới có được mệnh trời, nếu không có đức thiện thì sẽ mất mệnh trời ngay". Chính vì thế "Làm người cai trị quốc gia không thể không cẩn thận. Nếu để sơ suất một phân ly, không noi theo khuôn phép, tất sẽ bị nhân dân loại bỏ ngay."... lãnh đạo phải có sự chuẩn bị thì mới thành công, không chuẩn bị sẽ thất bại. Nếu chuẩn bị thì nói không vấp váp, làm không khó khăn. Nếu có phép tắc thì hành động không mắc sai lầm, việc hành đạo luôn thông suốt.". Khổng Tử nói: "Quản lý, lãnh đạo một quốc gia có nghìn cỗ xe phải xử lý nghiêm túc, cẩn thận, chu đáo tất cả mọi công việc, phải đặc biệt giữ điều tín với dân, tiết kiệm chi tiêu, yêu mến dân, sử dụng sức dân trong thời gian thích hợp.". Người lãnh đạo cẩn thận trong mọi việc nhưng cũng cần quyết đoán để không đánh mất thời cơ. Quý Tử Văn làm việc gì đều nghĩ đi nghĩ lại rất nhiều lần. Khổng Tử nghe vậy nói "Nghĩ hai lần là đủ rồi". Nho giáo xem tư cách, đạo đức con người luôn quan trọng hơn tài sản. Ở tầm vóc quốc gia, nhân nghĩa mới thật sự là lợi ích chứ không phải của cải vật chất. Người lãnh đạo phải coi trọng nhân nghĩa, đặt nhân nghĩa lên trên cái lợi trước mắt thì xã hội mới ổn định. Xã hội ổn định thì quốc gia phát triển, quốc khố mới được sung túc. Sách Đại Học viết: "Người nhân dùng của cải của mình để hoàn thiện phẩm đức. Kẻ bất nhân dùng sinh mệnh của mình để vơ vét thêm của cải. Chưa từng có bậc vua nào yêu điều nhân mà dân chúng lại không yêu điều nghĩa. Chưa từng có người nào hiểu điều nghĩa mà lại làm việc không hết lòng... Điều này nói lên rằng: người trị quốc không nên xem tài sản là vốn quý, mà nên xem nhân nghĩa là vốn quý.". Người lãnh đạo quốc gia hoặc tổ chức luôn là tấm gương để cấp dưới và dân chúng noi theo. Người lãnh đạo có đạo đức tốt thì cấp dưới, nhân dân mới noi gương tu dưỡng đạo đức. Ngược lại, thượng bất chính, hạ tất loạn - Cấp trên không quang minh chính đại, không tuân thủ nguyên tắc, vi phạm luật pháp, có hành động vô đạo thì cấp dưới và quần chúng cũng bắt chước làm bậy. Khổng Tử nói "Nếu có thể sửa mình ngay thẳng thì lãnh đạo quốc gia có khó gì ? Không sửa được mình ngay thẳng làm sao có thể làm cho người khác ngay thẳng ?". Nước Lỗ rất nhiều trộm cướp, Quý Khang tử lo lắng hỏi Khổng Tử về cách giải quyết. Khổng Tử nói "Nếu ngài không quá tham lam thì có ban thưởng cho họ, họ cũng không dám ăn trộm nữa". Quý Khang tử hỏi Khổng Tử về vấn đề quản lý chính sự rằng "Giết kẻ vô đạo để dân biết mà tiến tới có đạo làm như vậy có được không ?". Khổng Tử nói "Ngài quản lý quốc gia cần gì đến việc chém giết ? Ngài thực sự làm điều thiện, dân sẽ làm điều thiện. Đức hạnh người quân tử giống như gió, đức hạnh kẻ tiểu nhân giống như cỏ. Gió thổi trên cỏ, cỏ nhất định rạp theo chiều gió". Lần khác Quý Khang tử lại hỏi Khổng Tử về quản lý chính sự, Khổng Tử nói "Ý nghĩa chữ chính là chính trực. Ngài gương mẫu giữ đạo chính thì ai không dám chính ?". Sách Đại Học có đoạn viết "Nếu người trên có hiếu với cha mẹ, tôn trọng bậc huynh trưởng, thật lòng thương xót kẻ côi cút cô đơn góa bụa, thì nhân dân cũng tự mà noi theo như vậy. Người quân tử phải nắm vững đạo noi theo khuôn phép này.".... "Vua Nghiêu, vua Thuấn dùng nhân ái để quản lý thiên hạ, nhân dân theo đó mà làm thiện. Vua Kiệt, vua Trụ dùng bạo lực để quản lý thiên hạ, dân chúng cũng theo đó mà làm loạn. Ra lệnh cho dân chúng thực hành nhân ái nhưng mình lại tàn bạo, thì dân nhất định chẳng nghe theo. Người quân tử, trước hết nên yêu cầu mình làm thiện và tránh làm ác, sau đó mới răn dạy người khác.". "Người bề trên ngay thẳng, dù không ra lệnh, người dưới vẫn làm theo. Người bề trên không ngay thẳng, tuy có mệnh lệnh rất nghiêm, người dưới cũng chẳng theo.". Người lãnh đạo có đạo đức thì không cần ban thưởng, mọi người đều tín nhiệm, tin theo khiến thiên hạ thái bình, vô sự. Khổng Tử nói: "Cầm quyền lãnh đạo quốc gia cần phải dựa vào đạo đức thì dân chúng đều quy thuận. Tự mình giống như sao Bắc Đẩu vậy, ở cố định một nơi còn các sao khác đều chầu quay quanh nó., không cần ban thưởng mà dân chúng vẫn cảm thấy như được động viên, được cảm hóa, đua nhau làm theo điều thiện; không cần phẫn nộ mà dân chúng vẫn đã kính sợ hơn cả hình phạt bằng búa rìu... người quân tử giữ mình một cách thành thật, thì tự nhiên thiên hạ sẽ thái bình vô sự.". "Người xưa bảo nếu bậc thiện nhân nối nhau trị nước, sau một trăm năm có thể cảm hóa kẻ tàn bạo thành lương thiện, không cần gì đến hình phạt chém giết nữa.". Tử Lộ hỏi về quản lý chính sự. Khổng Tử nói "Tự mình làm gương cho dân noi theo. Chịu khó nhọc cùng những công việc khó nhọc của dân". Tử Lộ xin Khổng Tử dạy thêm, Khổng Tử giảng tiếp "Phải bền bỉ, không được mỏi mệt". Đó là nghệ thuật lãnh đạo chân chính có thể áp dụng từ tổ chức nhỏ nhất cho đến cấp độ quốc gia. Khổng Tử nói: "Nếu gào thét và nghiêm sắc mặt để giáo hóa dân chúng đó là hạ sách, là điều ngọn vậy." vì "có thể cướp cờ, đoạt tướng giữa ba quân, nhưng không thể cướp đoạt được chí khí của một người dân bình thường.". Chính vì vậy Nho giáo là một học thuyết chính trị đề cao Nhân trị. Dù hình thức chính trị, tổ chức nhà nước, hệ thống luật pháp có hoàn hảo đến mức nào mà người lãnh đạo thiếu đạo đức, không vì dân thì dân cũng chịu khổ, xã hội hỗn loạn. Dù hình thức chính trị lỗi thời, tổ chức nhà nước không chặt chẽ, luật pháp thiếu sót mà nhà cầm quyền có phẩm hạnh tốt, biết tôn trọng và hết lòng vì dân thì dân vẫn tin tưởng, xã hội ổn định. Sách Đại Học có câu: "Đức là gốc, tài sản là ngọn. Nếu như bỏ gốc mà lấy ngọn, thì sẽ tranh lợi với dân, cướp bóc dân. Nếu ở trên phản lại lòng dân, chỉ biết phát ra những mệnh lệnh trái lẽ, chỉ lo tích tụ tài sản châu báu ngọc ngà, thì dân chúng sẽ đối xử lại bằng những điều phản nghịch, khiến cho triều đình ngày một khánh kiệt".". Việc cai trị bằng nhân nghĩa, bằng cách giáo dục quần chúng để họ tự giác sẽ tốt hơn dùng hình pháp ép buộc người dân tuân thủ luật pháp. Khổng Tử nói: "Dùng mệnh lệnh pháp luật để hướng dẫn chỉ đạo dân, dùng hình phạt để quản lý dân, làm như vậy có thể giảm được phạm pháp, nhưng người phạm pháp không biết xấu hổ, sỉ nhục. Dùng đạo đức để hướng dẫn, dùng lễ nghĩa để giáo hóa dân thì dân sẽ hiểu được thế nào là nhục nhã khi phạm tội, sẽ cam tâm tình nguyện sửa chữa sai lầm của mình tận gốc từ tư tưởng.". Khi muốn người dân làm điều gì đó, nếu dân đồng ý thì để cho họ làm, nếu dân không đồng ý thì phải giảng giải cho họ hiểu chứ không cưỡng ép họ. Khi quan hệ giữa con người trong xã hội tốt đẹp thì không cần đến sự can thiệp của luật pháp. Khổng Tử nói: "thẩm tra xét xử công án thì năng lực của ta cũng như người khác thôi. Điều mà ta mong muốn tâm đắc là người ta đừng có đi kiện tụng nữa. Phải để cho những kẻ giấu giếm sự thật không dám khua môi múa mép, không dám cậy thế đè người, ức hiếp hãm hại người hiền; khiến cho dân chúng hoàn toàn tâm phục. Thế mới gọi là hiểu được cái gốc của đạo lý.. Đây là quan niệm cai trị mang tính nhân bản của Khổng Tử tuy rằng trên thực tế đến ngày nay lý tưởng của ông nhân loại vẫn chưa thực hiện được bao nhiêu. Để thi hành Nhân trị khiến dân kính trọng, trung thành với nhà nước và tự động viên nhau làm điều tốt thì nhà cầm quyền phải "Có thái độ nghiêm túc, đoan chính đối với mọi việc của dân chúng thì dân chúng kính trọng. Hiếu thuận với cha mẹ, hiền từ với già trẻ, gái trai thì dân chúng sẽ trung thành. Sử dụng cất nhắc người tốt, giáo dục người không có năng lực thì dân chúng sẽ tự động viên, cổ vũ nhau làm điều tốt.". "Nếu có bậc thánh nhân chịu mệnh trời mà cai trị thiên hạ thì cũng phải sau ba chục năm mới thực hiện được nhân chính". Người lãnh đạo không cần phải biết làm những việc cụ thể của dân hay của những nhà chuyên môn dưới quyền mà chỉ cần có đạo đức, biết cách đối nhân xử thế, biết cách lấy lòng người để thu hút sự ủng hộ của dân chúng và người tài trong thiên hạ. Khổng Tử nói "Người bề trên coi trọng lễ thì dân chẳng ai dám coi thường, khinh mạn. Người bề trên coi trọng nghĩa thì dân chẳng ai dám không phục tùng. Người bề trên coi trọng chữ tín thì dân chẳng ai dám giả dối. Nếu làm được như vậy thì dân bốn phương nhất định cõng con đến theo mình hết. Cần gì mình phải học việc trồng cấy ?". Diệp Công là quan huyện nước Sở hỏi về quản lý chính sự. Khổng Tử nói "Khiến cho người ở gần vui lòng, khiến cho người ở xa đến quy phục". Người lãnh đạo phải có học vấn mới thực hiện tốt công việc của mình. Khổng Tử phản đối quan niệm của học trò ông là Tử Lộ "Làm quan thì có dân để cai trị, có thần xã tắc để tế lễ, không cần phải chọn kẻ có học làm huyện trưởng, sau làm mới là học.". Người lãnh đạo còn phải thấm nhuần đạo Trung dung mới không đưa ra những chính sách, những quyết định mang tính bất cập hoặc thái quá gây hại cho quốc gia. Khi còn ở nước Trần, Khổng Tử nói "Về đi! Về đi! Những học trò của quê hương ta, chí hướng thì rất cao xa mà việc làm thì rất giản lược, không câu nệ tiểu tiết; về văn chương đều có thể có thành tích khả quan. Nhưng họ chẳng biết xem xét, sửa mình theo đạo Trung dung.". Thuật lãnh đạo của Nho giáo đề cao những lãnh đạo biết quý trọng tài năng, biết dùng người. Lãnh đạo thiếu tài năng nhưng biết dùng người vẫn thành công. Ngược lại, lãnh đạo dù tài năng nhưng không biết dùng người cũng thất bại. Trọng Cung hỏi về quản lý chính sự, Khổng Tử nói "Trước là giao và kiểm soát công việc của những người dưới quyền. Tha thứ cho những sai lầm nhỏ của họ. Cử người hiền tài ra làm việc.". Sách Đại học viết "Một vị đại thần dù chẳng có tài gì khác, nhưng có tấm lòng quảng đại, bao dung; thấy người khác có tài năng, hiền đức, đại thần đó kính phục từ trong tâm, thì vị đó có thể dung nạp người hiền tài, nên có thể che chở con cháu, xã tắc và nhân dân của ta. Đại thần đó đối với ta rất có ích lắm thay! Còn kẻ làm tôi thấy người khác có tài năng thì đem lòng đố kỵ, ghen ghét; làm điều khó dễ, khiến cho người ấy không được vua biết tới, không thành công trong mọi việc, thì loại người này hết sức nguy hiểm cho con cháu, xã tắc và nhân dân của ta!". Dụng nhân như dụng mộc. Phải biết dùng người vào công việc phù hợp với năng lực, đạo đức, tính cách của người đó. Khổng Tử nói "Mạnh Công Xước nếu làm gia thần cho họ Triệu, họ Ngụy thì tài năng có dư; còn làm đại thần nước Đằng, nước Tiết thì không đủ năng lực.". Khi dùng người, nên chọn người nghiêm túc, cẩn thận, biết lo lắng khi đối mặt với công việc, biết mưu tính để đạt thành công. Tử Lộ hỏi Khổng Tử nếu ông thống lĩnh quân đội đi đánh giặc, ông sẽ chọn ai theo. Khổng Tử trả lời "Kẻ tay không mà dám đấu với hổ, không dùng thuyền mà dám lội qua sông, chết mà không tiếc thân thì ta chẳng thể chọn người như vậy theo giúp ta. Người theo giúp ta phải là người nghiêm túc, cẩn thận, biết lo lắng khi đối mặt với công việc, biết mưu tính để đạt thành công.". Một người có trí tuệ, tài năng và kỹ thuật tài nghệ như Chu Công nhưng nếu kêu ngạo và keo kiệt, bủn xỉn thì không thể sử dụng các mặt khác của người ấy được. Nho giáo xem hiền tài là nguyên khí quốc gia, vì vậy "Phát hiện người có tài đức mà không đề bạt cất nhắc hoặc không trọng dụng, đây là khinh rẻ người có tài đức vậy. Phát hiện kẻ bất lương làm sai trái mà không bãi chức, bãi chức rồi mà không đuổi ra nơi xa xôi hẻo lánh, đây gọi là dung túng cho kẻ bất lương vậy. Ưa thích cái mà mọi người ghét bỏ, ghét bỏ cái mà mọi người ưa thích, thế gọi là làm trái bản tính con người, tai họa nhất định giáng xuống kẻ ấy. Cho nên, làm người quân tử cần nhớ kỹ đạo lý lớn này: phải dựa vào trung tín mới được thiên hạ, còn nếu kiêu ngạo, phóng túng thì nhất định mất thiên hạ.". Khổng Tử nói "Cất nhắc người ngay thẳng để trên kẻ tà ác thì có thể biến kẻ tà ác thành ngay thẳng". Nho giáo chủ trương người lãnh đạo phải biết lắng nghe ý kiến mọi người rồi chọn ra quan điểm đúng đắn nhất để thi hành. Sách Trung Dung có câu: "Vua Thuấn là người có trí tuệ cao siêu nhất: ngài ham hỏi han, lại để tâm suy xét cả những lời thiển cận bình thường. Có ai bày tỏ làm điều gì xấu thì vua bỏ qua cho, ai nêu lên được điều gì tốt thì vua tán dương phát huy triệt để. Trong số những ý kiến ấy, vua Thuấn nắm chắc hai thái cực, chọn lấy cái đúng đắn, hợp lý để lãnh đạo, quản lý dân chúng.". Người lãnh đạo mà tự ý làm càn, chuyên quyền độc đoán hay bảo thủ thì nhất định gặp tai họa. Khổng Tử nói "Kẻ ngu dốt ngoan cố, tự phụ mà hay tự ý làm càn; kẻ ty tiện mà lại hay chuyên quyền độc đoán; kẻ sống trong thời đại ngày nay mà lại muốn quay về theo lễ chế ngày xưa, ba hạng người như vậy nhất định sẽ gặp tai họa.". Khổng Tử không bao giờ mắc phải bốn sai lầm: không dựa vào ý riêng; không phán đoán khẳng định, áp đặt; không cố chấp; không tự cho mình là đúng cả. Trong quan hệ cấp trên với cấp dưới thì quan điểm của Khổng Tử là "Người bề trên đối với kẻ dưới không khoan dung rộng lượng, chấp hành lễ không nghiêm túc kính cẩn, cử hành tang lễ không đau buồn, thương xót, làm sao ta có thể chịu được ?". Ngược lại người dưới cũng phải biết chọn cành mà đậu, chọn chúa mà thờ, chọn người mà hợp tác. Ai phụng sự, hợp tác với kẻ bạo ngược, tàn ác, vô đạo một ngày nào đó sẽ trở thành nạn nhân của kẻ đó. Khổng Tử nói: "Cư trú ở nơi có nhân đức mới tốt. Chọn nơi không có nhân đức để ở, làm sao có thể nói là người có đức trí được ?". Điều quan trọng nhất trong việc cai trị thiên hạ là lễ nhạc, luật lệ và văn tự. Nếu nắm vững ba điều này thì ít phạm sai lầm. Sách Trung Dung đưa ra 9 nguyên tắc lớn trong đạo trị quốc là : Tu dưỡng bản thân thì đạo đức được xác lập. Tôn trọng hiền tài thì không bị mê hoặc, ngu tối. Yêu quý thân tộc thì chú bác, anh em không oán hận. Kính trọng đại thần thì công việc ít phạm sai lầm. Săn sóc quần thần thì kẻ sĩ tận lực báo đáp. Quan tâm đến dân thì dân chúng thực hiện tốt mọi điều bề trên đề ra. Khuyến khích bách nghệ phát triển thì vật dụng, hàng hóa buôn bán đủ đầy, sung túc. Trọng đãi người nước ngoài đến nước mình làm ăn sinh sống thì bốn phương quy thuận. Vỗ về chư hầu thì khắp thiên hạ sẽ kính phục. Nhiễm Hữu đánh xe đưa Khổng Tử sang nước Vệ. Khổng Tử nói "Dân đông quá !". Nhiễm Hữu hỏi "Dân đã quá đông, nên làm như thế nào ?". Khổng Tử nói "Phải làm cho họ giàu lên". Nhiễm Hữu lại hỏi "Dân đã giàu lên rồi thì nên làm như thế nào nữa ?". Khổng Tử nói "Phải giáo hóa dân". Thiện nhân nắm quyền giáo hóa dân bảy năm thì có thể bảo họ ra trận được. Muốn cai trị thiên hạ, theo Khổng Tử người lãnh đạo phải chính danh. Tử Lộ hỏi "Nếu vua nước Vệ mời thầy đi làm quan quản lý chính sự, thầy làm việc gì trước tiên ?". Khổng Tử nói "Việc trước tiên nhất định phải là chính danh đã". Tử Lộ chưa hiểu nên được Khổng Tử giải thích "Danh phận không rõ ràng thì nói sẽ không thuận. Nói không thuận thì việc không thành. Việc không thành thì lễ nhạc mất đi trật tự. Lễ nhạc mất đi trật tự thì hình phạt sẽ không thỏa đáng. Hình phạt không thỏa đáng khiến dân không biết làm thế nào cho đúng. Cho nên người quân tử khi được định danh phù hợp với thực thì có thể nói ra được, mà nói ra là có thể thực hành thông suốt. Người quân tử đối với lời mình nói thì không bao giờ để sơ suất". Đây là thuyết chính danh trong triết học chính trị của Nho giáo. Nho giáo là một học thuyết chính trị với lý tưởng an bang định quốc nhưng không hề mang tính bảo thủ. Nho giáo khuyên người cầm quyền luôn tự đổi mới cách cai trị của mình cho hợp thời và khuyến khích dân chúng đổi mới để ngày càng văn minh, tiến bộ hơn. Sách Đại học viết "Trên chậu tắm của vua Thành Thang có khắc mấy chữ: Mỗi ngày nếu có thể làm cho mình được mới hơn, thì ngày nào cũng nên tự đổi mới. Nên khuyến khích nhân dân đổi mới.". Đối với người có chí hướng làm quan, tiến thân lập nghiệp, Khổng Tử khuyên: "Phải nghe nhiều, có điều gì nghi ngờ thì phải giữ lại, những điểm nào thấy minh bạch chắc chắn thì nói một cách thận trọng, như vậy sẽ giảm được oán trách. Phải quan sát nhiều, nếu có điều gì nguy hại thì dẹp lại một bên đừng làm; còn những điều gì xét thấy chắc chắn, đảm bảo thì làm một cách thận trọng, như vậy nhất định giảm được nhiều điều hối hận. Nói ít phạm sai lầm, không có ai oán trách; làm không để xảy ra điều gì phải hối hận thì quan tước, bổng lộc đã tự có ở trong đó rồi.". Tử Cống hỏi "Giả dụ có một người đưa lại nhiều điều tốt đẹp cho dân chúng, lại có thể giúp đỡ mọi người có cuộc sống ấm no, người như vậy có thể xem là người có đức nhân không ?". Khổng Tử nói "Người như vậy không chỉ là người có đức nhân mà còn là bậc thánh nhân nữa ! Vua Nghiêu, vua Thuấn cũng khó mà làm được như vậy !". Theo Tăng Tử, người quân tử là người có thể ủy thác vị vua còn nhỏ tuổi, có thể giao phó vận mệnh của quốc gia; trong giờ phút nguy hiểm, sống chết gần kề vẫn giữ được khí tiết. Tử Trương hỏi về quản lý chính sự, Khổng Tử nói "Giữ chức vụ gì không trễ nãi, làm việc gì cốt giữ trung thực". Tử Hạ làm huyện trưởng Cử Phụ, hỏi Khổng Tử về quản lý chính sự. Khổng Tử nói "Đừng muốn nhanh được việc, đừng tham lợi nhỏ mà làm. Muốn nhanh thì việc làm không đến nơi. Tham lợi nhỏ thì việc lớn không thành". Tuy nhiên không phải lúc nào cũng có thể làm quan. Nguyên Hiến hỏi về sự hổ thẹn. Khổng Tử nói "Nước có đạo thì làm quan hưởng thụ bổng lộc; nước không có đạo cũng làm quan hưởng thụ bổng lộc: như vậy là hổ thẹn". Chính quan niệm này đã tạo ra những vị quan có tư cách cao thượng thời quân chủ sẵn sàng từ quan nếu thấy nhà vua vô đạo, không biết nghe lời trung thần, tin dùng gian thần hoặc thấy không thể giúp nước giúp đời trong một nền chính trị thối nát. Khổng Tử đánh giá cao người lãnh đạo nghĩ đến lợi ích chung, không tham quyền cố vị, biết rút lui nhường chỗ cho người tài đức hơn mình và xem đó là điều nên làm chứ không phải để lấy danh tiếng. Ông nói "Thái Bá là con người có đức hết mực. Nhiều lần ông ta đem thiên hạ nhường cho người khác, nhưng không để dân chúng biết mà ca ngợi công đức của mình.". Điều này cho thấy Nho giáo nguyên thủy muốn xây dựng xã hội hài hòa, thiết lập quan hệ tốt đẹp giữa người cai trị và dân chúng, đào tạo ra người lãnh đạo tài đức chứ không phải là công cụ của giai cấp thống trị bảo vệ chế độ chính trị của họ, thậm chí Nho giáo rất gần với tư tưởng về nhà nước dân chủ. Đại thần Triệu Phổ thời Bắc Tống đã khuyên Tống Thái Tổ: "Chỉ cần đọc nửa bộ Luận ngữ là có thể cai trị thiên hạ (半部 “论语” 治天下). Câu nói ấy phản ánh tác dụng và ảnh hưởng đối với đạo trị quốc của văn hoá Nho gia trong lịch sử Trung Quốc. Vì thế trong suốt cuộc đời, Tống Thái Tổ luôn thực hành nhân nghĩa thương dân, khoan dung với kẻ thù, là sự trái ngược tích cực với những nhà cai trị khác như Tần Thủy Hoàng, Tùy Dạng Đế... Tống Thái Tổ cũng cho cải cách khoa cử, tăng cường đãi ngộ cho văn nhân để tuyển dụng người tài vào triều làm quan, tránh tình trạng quan chức bị cha truyền con nối bởi việc lũng đoạn của sĩ tộc. Nhờ vậy, Nhà Tống do ông đặt nền móng đã kéo dài đến 320 năm. Vua Khang Hi là một ví dụ tiêu biểu. Dù là người Mãn, ông rất quan tâm tới truyền thống văn hóa cổ của người Hán, đã học qua các sách Tứ Thư, Ngũ Kinh, Sử ký, Hán thư, Tư trị thông giám... Khang Hi xem những tư tưởng cơ bản của Nho giáo như Tam cương ngũ thường, trung hiếu tiết nghĩa là nền tảng trị quốc. Việc áp dụng mạnh tư tưởng đó giúp ông thống nhất quốc gia, khiến mâu thuẫn dân tộc Mãn-Hán tương đối hòa dịu, nhờ thế mà thiết lập được sự thịnh trị dài trên 130 năm của nhà Thanh, được đời sau khen ngợi là "Khang Càn thịnh thế". === Chữ hiếu và xã hội === Nho giáo khẳng định rằng sự giáo dục từ trong gia đình có tác động mạnh mẽ, thậm chí quyết định sự thành công của việc trị nước. Nếu mọi người đều yêu thương cha mẹ, bà con mình, kính trọng trưởng thượng của mình, thì tự nhiên thiên hạ sẽ được thái bình. Người biết hiếu thuận với cha mẹ, kính trọng người lớn tuổi hơn mình thì khó lòng làm những chuyện phản loạn, đại nghịch bất đạo. Do vậy hiếu đễ là gốc của đạo nhân. Hữu Tử nói: "Người biết hiếu thuận với cha mẹ, có nết đễ với người lớn tuổi hơn mình mà lại thích cãi cọ, va chạm, xung đột, mạo phạm cấp trên là hiếm thấy. Người không mạo phạm cấp trên mà lại thích làm loạn là không có. Người quân tử là người chuyên tâm nắm vững cái gốc của tu thân. Nắm vững được cái gốc của tu thân thì đạo lập thân xử thế tự nhiên phát sinh ra trong lòng mình. Hiếu đễ là cái gốc của đạo nhân.". Chính vì thế, nếu muốn xã hội ổn định, dân chúng nghiêm chỉnh chấp hành luật pháp của nhà nước, không manh tâm bạo động phá hoại trật tự xã hội thì trẻ em ngay từ nhỏ phải được giáo dục yêu thương, kính trọng ông bà, cha mẹ và anh chị em trong nhà. Trong chương đầu Khai tông minh nghĩa của Hiếu Kinh, thuật lại lời Khổng Tử nói với Tăng Tử: Việc kính trọng cha mẹ được đặt lên hàng đầu trong quan niệm về đạo hiếu của Nho gia vì như Khổng Tử nói: "Ngày nay, thấy ai có thể nuôi dưỡng được cha mẹ, thì người ta gọi là có hiếu. Nhưng đến như giống chó ngựa thì người ta cũng nuôi được vậy. Cho nên nếu không có lòng hiếu kính cha mẹ trong khi nuôi dưỡng, thì nuôi cha mẹ và nuôi chó ngựa có gì khác nhau? Cha mẹ lúc còn sống, phải theo lễ mà đối xử phụng sự. Cha mẹ chết, phải theo lễ mà an táng, cúng tế, đó mới là hiếu. Chứ còn như có việc gì cần làm, con cái làm thay cho cha mẹ, có gì ngon thì mời cha mẹ ăn, đây chắc gì đã là có hiếu?". Để thể hiện sự kính trọng đối với cha mẹ thì "Phụng dưỡng cha mẹ phải nhẹ nhàng khuyên giải, can ngăn. Nếu cha mẹ không chịu nghe thì vẫn phải cung kính, không được trái ý nguyện của cha mẹ, đừng để cha mẹ bận tâm gây nên oán hận.". Đạo hiếu còn thể hiện qua những điều đơn giản như "Cha mẹ già còn sống không được đi chơi xa, nếu có đi phải nói rõ nơi nào cụ thể... Tuổi tác của cha mẹ không thể không nhớ kỹ trong lòng. Một là vì cha mẹ trường thọ mà vui mừng, hai là biết lo toan chuẩn bị hậu sự khi cha mẹ về già.". Khổng Tử nói: "Khi người cha còn sống thì quan sát chí hướng của người con, khi người cha chết thì quan sát hành vi của người con. Nếu ba năm sau khi cha mất, người con không thay đổi những quy tắc của đạo làm con đối với cha, đó là người con có hiếu vậy.". Tăng Tử tóm lược: "Hiếu đạo có 3 điều: Đại hiếu là tôn kính cha mẹ, thứ đến là không làm gì gây tai tiếng cho cha mẹ, sau cùng là nuôi dưỡng cha mẹ". Mạnh Tử bàn về chi tiết chữ “Hiếu” như sau: “Việc phụng sự cha mẹ của người con hiếu là: Cư xử hết lòng kính trọng, dưỡng nuôi cố làm đẹp lòng, bệnh đau tận tâm lo lắng, ma chay hết sức xót thương, tế lễ nghiêm trang rất mực”. Diệp Công thưa với Khổng Tử "Nơi chúng con có một người rất ngay thẳng. Cha ăn trộm dê, con ra làm chứng". Khổng Tử nói "Người ngay thẳng ở chỗ ta khác với người ngay thẳng ở nơi ngươi. Cha che giấu cho con, con che giấu cho cha. Làm như vậy sự ngay thẳng vẫn ở trong đó". Sách Nhị thập tứ hiếu (24 tấm gương hiếu thảo) đã khái quát: Người tai mắt đứng trong trời đất, Ai là không cha mẹ sinh thành, Chữ hiếu niệm cho tròn một tiết, Thì suy ra trăm nết đều nên, Chẳng xem thuở trước Thánh Hiền, Thảo hai mươi bốn, thơm nghìn muôn thu. === Vai trò của gia đình === Ngay từ 2.500 năm trước, Khổng Tử đã thấy rõ vai trò của gia đình như một tế bào của xã hội. Nếu mỗi gia đình được yên ấm thì mỗi thành viên của nó mới có điều kiện tu dưỡng bản thân, đạo đức mới được đề cao, xã hội mới được thịnh trị. Ngược lại, nếu mỗi gia đình lục đục thì con người sẽ bị tha hóa, kỷ cương xã hội sẽ dần rối loạn. Vua Tề Cảnh Công đã hỏi Đức Khổng về cách cai trị, Ngài đáp: "Phải làm sao cho mọi người làm tròn chức vụ của mình. Vua ở cho hết phận vua, tôi ở cho hết phận tôi, cha ở cho hết phận cha, con ở cho hết phận con." Vua Cảnh Công khen rằng: "Ngài nói phải thay! Nghĩ như vua chẳng ra vua, tôi chẳng ra tôi, cha chẳng ra cha, con chẳng ra con, ở trong tình cảnh hỗn loạn như thế, dẫu là ta có lúa thóc đầy kho, có chắc được ngồi yên mà ăn được không?" Sách Đại Học đề cao tầm quan trọng của gia đình đối với quốc gia xã hội: "Nếu trong một nhà mà mọi người đều nhân hậu, lần ra cả nước đều nhân hậu. Nếu trong một nhà mà mọi người đều lễ nhượng thì lần ra cả nước đều lễ nhượng. Một người mà tham lam, trái ngược, lần ra cả nước đều rối loạn. Cái cơ là như vậy đó. Bởi đó, người xưa có truyền lại rằng: Một lời làm hại cả công việc, một người làm yên cả nước." hay "Một nhà hòa thuận mới có thể giáo dục cả nước hòa thuận." Do vậy, Nho giáo quy định rất rõ tôn ti trật tự và vai trò trong gia đình: Người đứng đầu gia đình là người có trách nhiệm lớn lao nhất trong sự duy trì, phát triển gia đình. Trong gia đình nhiều thế hệ, vị trí người gia trưởng thuộc về người cụ, người ông hay người cha thuộc ngành trưởng. Tôn ti trật tự gia đình này tuân thủ các quy định về trưởng - thứ, nam - nữ, nội - ngoại hết sức chặt chẽ tạo nên chế độ gia trưởng tông tộc bền vững. Chính vì vậy người đứng đầu gia đình phải có đạo đức tốt vì "tự bản thân mình không tu dưỡng tốt thì không lấy gì chỉnh đốn tốt gia đình, gia tộc được". Việc chỉnh đốn gia đình (tề gia) là việc không dễ dàng vì "... con người ta đối với người mình thân thích thì thường có sự thiên lệch... Cho nên ưa thích ai lại biết được khuyết điểm của người ấy, khi ghét bỏ ai lại biết được ưu điểm của người ấy, người làm được như vậy là hiếm có trong thiên hạ". Nho giáo coi trọng nguồn gốc con người, coi gia đình gắn chặt với họ hàng, coi tuyệt tự, quên mất tổ tiên là tội lỗi với tổ tiên. Do đó, việc ghi chép gia phả, cúng tế tổ tiên, họp mặt họ tộc... là việc đặc biệt quan trọng, không được bỏ bễ. Nho giáo đề cao chữ Hiếu, đề cao lễ nghĩa, tiết hạnh, bảo vệ gia đình, gia tộc, tông tộc. Con cái phải hiếu thảo với cha mẹ, cha mẹ mất thì phải chôn cất chu đáo, cư tang để đền đáp ân nghĩa. Trong hôn nhân, Nho giáo đề cao tình nghĩa vợ chồng, không cho phép ngoại tình sau khi kết hôn. Người vợ phải biết Tam tòng, tứ đức, ngược lại người chồng cũng không được lạm dụng uy quyền để hành hạ vợ (bởi như thế là hành vi "Bất nhân, bất nghĩa"). Nho giáo coi trọng trinh tiết, đối với việc quan hệ tình dục trước hôn nhân hoặc sống thử, đạo Nho rất phê phán, xem đó là hành động vô đạo đức, làm nhục gia quy. Nhiều người thời hiện đại phê phán tư tưởng này là "cổ hủ, chà đạp quyền tự do", nhưng nếu suy nghĩ sâu xa thì quy định này đảm bảo sự bền vững của mỗi gia đình cũng như xã hội: con gái biết quý trọng trinh tiết nên không lo bị Sở Khanh lừa gạt, con trai thì có ý thức giữ gìn bản thân không sa đọa vào nữ sắc, nạn mại dâm không thể lan tràn, bệnh hoa liễu và nạo phá thai được giảm thiểu tối đa (điều này đặc biệt có ý nghĩa trong bối cảnh y học thời xưa còn lạc hậu). Trái với cách nghĩ của nhiều người cho rằng Nho giáo "chà đạp phụ nữ", thực sự chính Nho giáo đã bảo vệ quyền lợi vật chất cũng như tinh thần của người phụ nữ trong một xã hội luôn bị thiên tai, dịch bệnh đe dọa (đàn ông không được ngoại tình, đánh mắng vợ vì lo sợ bậc trưởng thượng và gia tộc của anh ta phê phán, người mẹ già không lo bị con cái bỏ rơi, kẻ cưỡng hiếp phụ nữ bị luật pháp trừng trị rất nghiêm khắc). Ngược lại, Nho giáo cho rằng người phụ nữ cũng phải tu dưỡng bản thân, rèn luyện những mỹ đức như Công-Dung-Ngôn-Hạnh, chăm sóc gia đình chu đáo, làm đẹp lòng họ tộc, có như vậy gia đình và dòng tộc mới được yên ấm. Ở quy mô rộng, xây dựng gia đình êm ấm không chỉ là để cho bản thân và các thành viên khác có hạnh phúc mà còn là việc quan trọng để xây dựng xã hội thịnh trị. Do vậy, các triều đình luôn có những phần thưởng nhằm tuyên dương những gia đình mẫu mực, lấy họ làm gương cho xã hội. Những người phụ nữ thực hiện xuất sắc Tam tòng tứ đức được phong danh hiệu "Liệt nữ". Làng xã nào có nhiều tấm gương về đạo Hiếu sẽ được phong tặng danh hiệu “Làng hiếu thảo”. Những phần thưởng này có giá trị không kém gì việc đỗ đạt Khoa bảng, là niềm tự hào không chỉ của mỗi gia tộc mà còn của cả địa phương đó. Sách Đại học có đoạn "Muốn trị quốc tốt trước hết phải chỉnh đốn tốt gia đình, gia tộc mình. Bởi vì người trong gia đình, gia tộc mình giáo dục không được, mà lại có thể giáo dục được người khác thì đây là điều không thể có. Cho nên người quân tử không cần ra khỏi nhà mà vẫn giáo dục tốt dân một nước.". Đối với bậc quân vương thì "Bậc vua hiền xử sự ở địa vị một người làm cha, làm con, làm anh, làm em đề trở thành tấm gương cho cả gia tộc noi theo, thì nhân dân mới noi theo. Như vậy là muốn nói trị quốc tốt trước hết là ở chỗ chỉnh đốn tốt gia đình, gia tộc mình". Tại những nơi Nho giáo có ảnh hưởng, việc thờ cúng tổ tiên, chăm sóc phần mộ tổ tiên, viết gia phả dòng họ, cúng giỗ theo nghi lễ rất được chú trọng. Việc cúng giỗ, các buổi họp họ hay các dịp mừng thọ là để bày tỏ lòng hiếu thảo đối với tổ tiên, cầu mong tiên tổ phù hộ cho con cháu có được thành công trong cuộc sống, nhắc nhở lại lịch sử và chiến công của tổ tiên, cũng là dịp khen thưởng động viên cho những thành viên gương mẫu, tài năng trong dòng họ. Gia phả họ Đặng (Đặng Tộc Đại Tông Phả) do Yên Quận công Đặng Đình Thự biên tập năm 1683 khái quát tầm quan trọng của gia phả: "Vì sao phải lập phả? Vì rằng mọi vật sinh thành đều có gốc ở trời, con người sinh ra đều có cội nguồn từ tổ tiên. Các đời tổ tiên xa dần thì con người dễ quên. Cổ lễ đặt ra tôn tổ, kính tông là để con cháu nhớ họ hàng vậy. Các đời truyền xa dần, sự tích mờ nhạt đi thì ai còn biết được công đức của tổ tông? Mỗi nhà lẽ nào lại không có phả riêng để ghi lại sao? Sợ rằng cuốn phả cũ của gia tiên không được tu bổ thì nề nếp tốt đẹp của tổ tông không được kế thừa, còn ai biết được cội nguồn của gốc nhân nền nghĩa? Điều đáng sợ chính là con cháu phóng đãng, lãng quên không biết noi theo đức hạnh của tổ tiên. Ta không muốn tiếng tăm của gia đình như ngọc lành mang vết, cho nên trình bày khái lược công đức to lớn của các cụ thủy tổ tiếp đến công nghiệp của liệt tổ liệt tông, chính là để làm gương cho con cháu muôn đời, để con cháu hàng ngàn năm sau vẫn còn ngợi ca công lao vất vả cũng như khí tiết giản dị, cương nghị của tổ tiên. Những con cháu thành đạt có thể chiêm ngưỡng mà noi theo; những con cháu hư hỏng cũng biết mà lấy đó làm răn" Có thể nói Nho giáo đề cao gia đình hơn bất cứ một học thuyết nào khác. Quan hệ gia đình theo Nho giáo là quan hệ đặc biệt chặt chẽ, phải được tái sinh, tái lập, và mở rộng theo trách nhiệm nghĩa vụ, và đồng thời giữ gìn trật tự kỷ cương. Chúng ta thường nghe nói "Nước có quốc pháp, nhà có gia phong", là câu nói răn dạy con người sống có phép tắc, đồng thời còn là biểu tượng tự hào về truyền thống văn hóa dân tộc là nguyên khí tinh thần độc lập, tự cường của một dân tộc, là bản sắc riêng về truyền thống văn hóa Hiện nay, mô hình gia đình ở Đông Á chuyển mình mạnh mẽ từ truyền thống sang hiện đại. Sự tác động mạnh mẽ của cơ chế thị trường tới gia đình đã làm cho lối sống, nếp sống, chuẩn mực của gia đình truyền thống đã bị mai một. Bên cạnh đó, nhiều hiện tượng tiêu cực về đạo đức, văn hoá gia đình đã xuất hiện như: cha mẹ vô trách nhiệm với con cái, con cái vô lễ ông bà cha mẹ, anh em bất hoà, vợ chồng mâu thuẫn, ngoại tình… khiến các giá trị gia đình bị suy thoái nặng nề, ảnh hưởng nghiêm trọng tới sự phát triển của mỗi cá nhân cũng như toàn xã hội. Trước nguy cơ các nét đẹp về trật tự và đạo đức của gia đình truyền thống bị mất mát, khuynh hướng nuối tiếc các tập quán gia đình tốt đẹp mà Nho giáo đã tạo dựng, hy vọng phục hồi trở lại các trật tự gia đình "cha ra cha, con ra con, chồng ra chồng, vợ ra vợ"… cũng trở nên ngày một mạnh mẽ. Nhiều nghiên cứu gần đây đã khẳng định đạo đức gia đình Nho giáo vẫn còn nhiều điều hữu ích cần được nuôi dưỡng trở lại để giáo dục trẻ em, tạo dựng gia đình nề nếp, góp phần làm lành mạnh xã hội. === Vai trò của cá nhân === Nho giáo là một học thuyết chính trị nhằm cai trị xã hội đồng thời là một học thuyết đạo đức với lý tưởng đào tạo ra con người kiểu mẫu được gọi là quân tử. (Khổng Tử dùng từ "quân tử" để chỉ người giàu phẩm chất đạo đức: "Quân tử sở tính Nhân nghĩa lễ trí", phân biệt với "tiểu nhân" là những người thiếu đạo đức). Để trở thành người quân tử, con người ta trước hết phải "tự đào tạo", phải "tu thân". Tu thân là tự rèn luyện, tu dưỡng đạo đức bản thân. Sau khi tu thân xong, người quân tử phải có bổn phận phải "hành đạo" (Đạo không đơn giản chỉ là đạo lý. Đạo ở đây là con đường để hoàn thiện chính mình, hoà hợp đất trời để trở về bản ngã "bổn thiện" từ đó giúp nước, giúp đời.). Nho giáo đặc biệt coi trọng con người, coi con người cùng với Trời và Đất là “Tam tài”. Con người có vai trò tham phối với Trời Đất, góp phần vào sự hóa dục (vạn vật) của Trời Đất (Trung dung). Xã hội được tạo ra từ nhiều cá nhân. Cá nhân là căn bản của xã hội. Vì vậy từ Khổng Tử, Nho giáo đã coi trọng cõi người, quan hệ giữa người và người, việc tu dưỡng thành người. Nhân tính và đạo đức là linh thiêng, không có đạo đức thì con người chẳng khác gì cầm thú và các vật vô tri. Đã là người thì phải học, phải tu dưỡng, đặc biệt người cầm quyền phải biết lo giáo hóa, phải làm cho thuần phong mỹ tục trở nên tốt đẹp. Học thuyết chính trị - đạo đức mà trung tâm là tư tưởng nhân nghĩa của Nho giáo, được xây dựng trên cơ sở khuynh hướng nhân bản đó. Nho giáo xem đạo đức của con người quan trọng hơn tài sản. Chỉ có đạo đức mới có thể làm nên giá trị chân chính của một con người. Khổng Tử nói "Người quân tử quan tâm đến đạo đức, kẻ tiểu nhân khao khát ruộng vườn nhà cửa. Người quân tử quan tâm đến phép tắc, kẻ tiểu nhân mong cầu ân huệ.". Sách Đại Học (một trong những kinh điển của Nho giáo) thuộc Tứ thư có ghi: "Phàm những thánh nhân muốn phát huy tính thiện của con người đến khắp thiên hạ, trước hết phải lãnh đạo tốt nước mình. Muốn lãnh đạo tốt nước mình, trước hết cần chỉnh đốn tốt gia đình, gia tộc mình. Muốn chỉnh đốn tốt gia đình, gia tộc thì phải tu dưỡng tốt bản thân mình. Muốn tu dưỡng tốt bản thân mình thì phải làm cho tâm tư mình ngay thẳng, đoan chính. Muốn cho tâm tư mình ngay thẳng, đoan chính thì phải có ý nghĩ thành thật. Muốn có ý nghĩ thành thật thì phải có nhận thức đúng đắn. Mà con đường nhận thức đúng đắn là nghiên cứu đến nơi đến chốn, lĩnh hội được cái nguyên lý của sự vật... Muốn tu dưỡng phẩm cách đạo đức, trước hết phải giữ cho lòng mình ngay thẳng. Một khi lòng mình chẳng được ngay thẳng thì có nhìn cũng không thấy, có nghe cũng không hay, có ăn gì cũng không biết mùi vị. Đạo lý tu dưỡng phẩm đức trước hết cần phải giữ lòng mình ngay thẳng là vậy... Từ thiên tử đến bình dân, ai ai cũng phải lấy tu dưỡng phẩm đức làm gốc. Một cây mà gốc đã mục nát rồi thì ngọn còn tốt tươi là điều không thể có. Ai xem nhẹ cái căn bản quan trọng, lại đi coi trọng cái chi tiết thứ yếu, xưa nay chưa từng thành công bao giờ.". Khi đã nhận thức đúng đắn, sâu sắc và toàn diện thế giới, con người được giải phóng khỏi sự vô minh đi kèm với nó là những cảm xúc tiêu cực để hướng tới sự hoàn thiện trí tuệ và đạo đức, hướng tới Chân Thiện Mỹ. Đó chính là cái gốc của tu thân làm nền tảng để tề gia, trị quốc, bình thiên hạ. Những kẻ trong lòng đầy những cảm xúc tiêu cực, những định kiến do hiểu biết hạn hẹp, phiến diện; đầy những suy nghĩ xấu xa về người khác; những kẻ thiếu lòng bao dung, không biết tha thứ cho sai lầm, không biết thông cảm cho khó khăn, nhược điểm của người khác, thiếu khả năng chấp nhận sự khác biệt không thể nào đánh giá khách quan thế giới xung quanh, không thể tự hoàn thiện bản thân, hướng tới Chân Thiện Mỹ mà dễ nảy sinh hành động cực đoan hại người hại mình. Quan điểm này của Nho giáo cũng tương đồng với triết lý của nhà Phật về từ bi và trí tuệ, sự phá chấp, sự giác ngộ cũng như quan điểm của triết học phương Tây hiện đại về lý tính và tự do. Đức Khổng Tử nêu lên ngũ thường (ngũ luân) với thuyết chính danh và chữ "Nhân" để làm chuẩn mực cho mọi sinh hoạt chính trị và an sinh xã hội. Ngũ thường: ngũ là năm; thường là bình thường, thông thường, vĩnh hằng. Ngũ thường nghĩa là năm phẩm chất đạo đức thông thường của con người. Người ta phải giữ năm đạo đó làm thường, không nên để rối loạn. Ngũ thường gồm: Nhân, Nghĩa, Lễ, Trí, Tín. Nhân: Là tính thiện sẵn có của con người, là tình yêu thương đồng loại, khoan dung độ lượng. Theo Luận ngữ, Nhân là sự phô bày rất thực tiễn và ngoại tại các phẩm tính của con người. Khổng Tử nói: "Khi ở nhà giữ gìn dung mạo khiêm cung; khi ra làm việc thi hành một cách kính cẩn; khi giao thiệp với người, giữ lòng trung thành. Dẫu đi tới các đoàn rợ phương đông và phương bắc, cũng chẳng bỏ ba đức hạnh cung, kính và trung ấy, như vậy là người có đức nhân". "Đi ra ngoài làm việc phải giống như gặp khách quý. Sai khiến dân phải giống như đang làm lễ tế lớn vậy. Việc mình không muốn thì đừng ép người khác muốn. Ở trong nước, ở trong nhà đừng để có ai oán hận mình.". Nhân là đức tính quan trọng nhất trong ngũ thường. Khổng Tử nói "Muốn tu thân phải tuân theo đạo lý. Muốn tuân theo đạo lý, phải thực hiện nhân. Nhân tức là tính người, là kính yêu người trong thân tộc, yêu nhân dân của mình. Đó là điều lớn nhất trong chữ nhân.". Người có tính cương trực, chí quyết đoán, lòng chất phác, nói cẩn thận, có đủ bốn phẩm đức này đã gần với đạo nhân. Người thích điều nhân sẽ coi điều nhân trên hết, ghét điều bất nhân, trong thực tế sẽ luôn làm điều nhân, không bao giờ chịu ảnh hưởng xấu của điều bất nhân. Người đã mong muốn làm điều nhân thì không thể làm điều gì xấu. Chỉ người có đức nhân mới có thể đánh giá người khác một cách khách quan, không bị những cảm xúc tiêu cực bóp méo nhận thức về con người và xã hội. Khổng Tử nói: "Chỉ có người có đức nhân mới có thể hay yêu người và hay ghét người.". Người có nhân nhất định dũng cảm nhưng người dũng cảm chưa chắc đã có nhân. Người có đức nhân không bao giờ ưu lo. Để đánh giá người có đức nhân hay không hãy nhìn vào sai lầm của người đó. Khổng Tử nói: "Sai lầm người ta mắc phải có quan hệ đến loại người. Loại người như thế nào thì sẽ phạm sai lầm như thế ấy. Xem sai lầm của một người đã phạm, có thể biết người đó có đức nhân hay không.". Người quân tử chẳng may lỡ làm việc bất nhân là có nhưng chưa có kẻ tiểu nhân nào mà làm được một việc có nhân. Nguyên Hiến hỏi "Nếu một người tự kìm nén được bốn tật xấu như hiếu thắng, phô trương, oán hận, tham lam thì người đó có thể xem là người có nhân không ?". Khổng Tử nói "Như thế có thể cho là làm được việc khó. Nhưng có thể xem là người có nhân hay không thì ta không biết.". Người lãnh đạo phải nhân đức thì dân chúng mới hăng hái theo điều nhân. Khổng Tử nói "Người quân tử ở ngôi trên nếu biết đối đãi nồng hậu với anh em họ tộc của mình, ắt dân chúng trăm họ sẽ hăng hái theo điều nhân. Người quân tử ở ngôi trên nếu không bỏ bạn bè thân thiết cũ, thì dân chúng cũng không đối xử với nhau bạc bẽo vô tình.". Tuy nhiên người đời lại thích tiền tài, địa vị, nhan sắc hơn là làm điều nhân đức. Khổng Tử từng cảm thán "Ta chưa từng nhìn thấy ai thích đức nhân như thích sắc đẹp.". Đối với người bất nhân cũng không nên ghét bỏ quá mức vì nếu bị ghét bỏ quá mức họ dễ trở thành kẻ làm loạn. Nhân là phẩm chất đạo đức đầu tiên mà người đạo đức phải có. Khổng Tử nói: "Người quân tử xa rời đạo nhân làm sao có thể xứng danh quân tử được. Người quân tử không bao giờ xa rời đạo nhân dù chỉ trong khoảng thời gian một bữa ăn. Dù cho ở hoàn cảnh bức bách khốn cùng, phải phiêu bạt nơi đất khách quê người cũng không bao giờ xa rời đạo nhân.". Để trở thành con người nhân đức thì phải không ngừng tu dưỡng bản thân. Theo Khổng Tử, muốn làm người nhân đức không khó. Ông nói "Không lẽ điều nhân xa chúng ta như vậy ư ? Ta nghĩ muốn đạt được điều nhân thì điều nhân sẽ đến". Tuy nhiên theo ông: "Ta chưa thấy người nào đạt đến điều nhân mà không tốn sức tốn công rèn dũa. Người không mất sức mà đạt đến nhân, đại khái cũng có thể có, nhưng ta chưa gặp bao giờ.". Tăng Tử, học trò của Khổng Tử, lại cho rằng "Kẻ sĩ không thể không có hoài bão lớn lao, ý chí kiên cường, tinh thần kiên nghị. Bởi vì trách nhiệm gánh vác của kẻ sĩ rất nặng mà đường lại còn xa. Gánh điều nhân làm trọng trách của mình chẳng lẽ không phải là quá nặng nề ư ? Chỉ đến khi chết rồi mới ngừng nghỉ, chẳng lẽ không phải đường dài lắm đó ư ?". Người có đức nhân là người trước hết biết chịu đựng gian khổ, làm những việc khó khăn, rồi sau mới thu hoạch. Người có đức nhân là người biết mình đã lập nên sự nghiệp cũng muốn người khác lập nên sự nghiệp; mình thành đạt cũng muốn người khác thành đạt; phàm làm việc gì cũng lấy mình ra đối chiếu, thử áp dụng lên mình để hiểu biết ý muốn của người. Việc gì mình không thích, có hại cho mình thì không làm cho người. Người có đức nhân không nói chuyện một cách tùy tiện, phải nhẫn nại. Người có đức nhân, luôn mong muốn làm điều nhân đức sẽ không lấy của cải vật chất làm thước đo mình và mọi người, không thất chí trong hoàn cảnh khó khăn. Khổng Tử nói: "Kẻ sĩ lập chí vì đạo nhân mà cảm thấy nhục nhã khi ăn đói, mặc rách, người như vậy không đáng để cùng bàn luận đạo nhân.". Tuy nhiên nhân đức không có nghĩa là hành động nông nổi, thiếu suy nghĩ, vì người mà hại mình. Khi được Tể Ngã hỏi người có đức nhân có nên nhảy xuống giếng cứu người hay không, Khổng Tử trả lời "Người quân tử là người tìm cách cứu người, chứ không thể nhảy xuống giếng mà hại thân. Người quân tử có thể bị lừa bởi những điều có lý nhưng không thể bị hại bởi những điều xằng bậy vô lý.". Đối với bậc thức giả, nếu quân vương sáng suốt, nhân nghĩa thì phò tá; quân vương vô đạo thì ở ẩn, như vậy là người nhân đức. Tử Cống hỏi Khổng Tử khi Bá Di, Thúc Tề ở ẩn họ có oán hận gì không ? Ông trả lời "Theo đuổi điều nhân mà được điều nhân, còn phải oán hận gì nữa ?". Nghĩa: Là cư xử cho hợp lẽ phải, đường hoàng, hào hiệp. Hành vi của con người phải chính đáng, chú trọng quy tắc, tiêu chuẩn, trọng tâm là nghĩa vụ và trách nhiệm. Trước khi làm gì phải xem xét hành vi đó có hướng đến điều "thiện" hay không, có thể hiện tiêu chuẩn đạo nghĩa, ý thức trách nhiệm với cộng đồng hay không. Nghĩa là cơ sở để con người hành động. Người có đạo đức chỉ làm những việc hợp nghĩa. Chuyện gì không hợp nghĩa thì không làm. Khổng Tử nói "Người quân tử đối với mọi việc trên thế gian, không nhất định phải làm việc này hoặc không làm việc kia, mà xem việc đó có hợp nghĩa hay không, nếu hợp nghĩa thì làm.". Ông cũng cho rằng "... Nhìn thấy việc chính nghĩa không dám làm, là không có dũng khí.". Tinh thần trọng nghĩa khinh tài của Nho giáo được thể hiện trong câu nói của Khổng Tử "Người quân tử chỉ biết điều nghĩa, kẻ tiểu nhân chỉ biết điều lợi.". Một số người cho rằng quan niệm coi trọng đạo nghĩa hơn lợi ích vật chất là điểm lạc hậu của Nho giáo kiềm hãm sự phát triển kinh tế. Đó là sự ngộ nhận vì Nho giáo không phản đối làm giàu mà chỉ phản đối làm giàu bằng mọi giá, thấy lợi quên nghĩa cũng như nền văn minh phương Tây với nền sản xuất tư bản chủ nghĩa mang tính vị lợi cao độ cũng không hề chấp nhận việc làm giàu gây hại cho người khác hoặc cho cộng đồng; gây ô nhiễm môi trường; vi phạm đạo đức, nhân quyền và các quy tắc xã hội. Khổng Tử nói "Nước nhà thái bình mà mình lại nghèo hèn, như vậy là đáng sỉ nhục. Nước nhà loạn lạc mà mình giàu có như vậy cũng là đáng sỉ nhục.". Lễ: Sự tôn trọng, hòa nhã trong khi cư xử với mọi người, mở rộng ra là việc tuân thủ các quy tắc, nguyên tắc đạo đức xã hội và pháp luật. Một cách căn bản, chính nghi lễ và nghi thức làm cho cuộc sống quân bình. Lễ làm bền vững nền văn hiến của một nước, lễ mà bại hoại thì văn hiến cũng tiêu tan, xã hội hỗn loạn, xung đột nảy sinh. Khổng Tử nói: "Cung kính mà thiếu lễ thì làm thân mình lao nhọc. Cẩn thận mà thiếu lễ thì trở thành nhút nhát. Dũng cảm mà thiếu lễ sẽ trở thành loạn nghịch. Ngay thẳng mà thiếu lễ sẽ trở nên thô lỗ.". Trong ứng xử, lễ thể hiện qua điệu bộ, cử chỉ, phong thái. Trước khi chết Tăng Tử dặn dò học trò "Người quân tử giữ đạo lý nên đặc biệt coi trọng 3 điều: Cử chỉ, dung mạo điềm đạm, dáng điệu khoan thai, đàng hoàng sẽ giữ cho mình tránh thô bạo và phóng túng. Giữ sắc mặt đoan trang sẽ giúp mình giữ được chân thật và thành thực với mọi người. Nói năng chú ý giữ được điệu bộ, giọng điệu sẽ giúp mình tránh được thô bỉ và sai sót.". Trí: Óc khôn ngoan, sáng suốt. Cảm giác đúng và sai. Biết tiên liệu, tính toán để hành động hợp đạo lý. Người có đức trí không bao giờ nhầm lẫn. Khổng Tử nói "Người có trí lực bậc trung trở lên có thể dạy cho họ những đạo lý cao sâu. Người có trí lực từ bậc trung trở xuống không thể dạy cho họ những đạo lý cao sâu.". Người có trí không phung phí tiền bạc vào những chuyện mê tín dị đoan, xa hoa, vô ích. Khổng Tử nói "Tang Văn Trọng dựng riêng một ngôi nhà để nuôi một con rùa lớn, quanh cột nhà chạm núi non, xà nhà có khắc hình rong biển. Con người như vậy sao gọi là người trí ?". Bậc trí giả tùy thời mà sống, thời trị thì ra giúp nước, thời loạn thì lánh xa chính trị để gìn giữ thiên lương và bảo toàn sinh mạng. Khổng Tử nói: "Ninh Vũ Tử, khi nước nhà yên ổn thái bình được tiếng là người có đức trí, khi nước nhà loạn lạc bị mang tiếng là ngu đần. Trí như Ninh Vũ Tử thì người khác có thể theo kịp, chứ còn giả ngu đần như Ninh Vũ Tử thì thiên hạ không có cách nào đuổi kịp.". Người lãnh đạo có trí là người dùng hết tâm trí, sức lực làm mọi việc cho dân. Tín: Giữ đúng lời, đáng tin cậy. Chữ tín vốn nằm trong 4 điều trên, sau này được tách ra để thành Ngũ thường. Tín là thước đo, là sự phản ánh 4 giá trị trên. Khổng Tử nói: "Một người không có chữ tín, không biết có thể làm gì được. Cũng giống như xe lớn không có chốt, xe nhỏ cũng không có chốt, thì làm sao có thể đi được ?". Để giữ được chữ tín thì phải cẩn thận trong lời nói, không hứa hẹn những điều vượt quá khả năng của mình vì như Khổng Tử nói "Người xưa không để khinh suất khi nói ra, bởi sợ xấu hổ vì không thực hiện được lời mình đã nói.". Những phẩm chất đạo đức này đều có liên hệ với nhau. Hữu Tử nói: "Giữ được chữ tín là đã tiếp cận với nghĩa, có như vậy lời hứa mới thực hiện được. Giữ được cung kính là đã tiếp cận với lễ, có như vậy mới tránh xa được điều sỉ nhục.". Khổng Tử cho rằng "... Người có đức nhân luôn yên tâm làm điều nhân. Người có đức trí ham muốn làm điều nhân.". Khi Nhan Uyên hỏi về đức nhân, Khổng Tử trả lời "Khắc phục ham muốn của mình, nói và làm phù hợp với lễ. Một ngày làm được như thế, người trong thiên hạ sẽ cùng theo về đức nhân. Thực hiện đức nhân hoàn toàn ở mình, không lẽ dựa vào người khác hay sao ?". Theo Khổng Tử, để thực hiện đức nhân thì "những việc không hợp lễ chớ xem, không hợp lễ chớ nghe, không hợp lễ chớ nói, không hợp lễ chớ làm". Khổng Tử chia con người thành ba hạng: Thánh nhân: Bậc hiền giả, người thể hiện và chuyển giao minh triết. Quân tử: Người có đạo đức, cao nhã, luôn phấn đấu để làm điều chân chính. Tiểu nhân: Kẻ "hèn mọn", hành động không màng tới đạo đức. Khổng Tử nói: "Người quân tử sợ ba điều: sợ mệnh trời, sợ bậc đại nhân, sợ lời nói của thánh nhân. Kẻ tiểu nhân không biết mệnh trời, nên không sợ, (mà còn) khinh nhờn bậc đại nhân, giễu cợt lời nói của thánh nhân. Người quân tử ung dung mà không kiêu căng, kẻ tiểu nhân kiêu căng mà không ung dung. Người quân tử luôn thẳng thắn, vô tư. Kẻ tiểu nhân lúc nào cũng lo lắng, u sầu.". "Người quân tử thì chẳng lo, chẳng sợ" vì "tự xét mình chẳng có tội ác thì có điều gì phải lo lắng sợ hãi nữa". Muốn trở thành quân tử tức là người có trí tuệ và đạo đức, trí dũng song toàn thì phải học tập không ngừng suốt cả đời. Học được điều gì thì phải thường xuyên ôn tập. Nho giáo đặc biệt coi trọng học vấn, xem học vấn mang mục đích tự thân để nâng cao phẩm giá con người, để hướng tới Chân Thiện Mỹ chứ không phải là thứ dùng để mưu cầu danh lợi. Chỉ có học vấn mới nâng cao trình độ trí tuệ và đạo đức của con người, giúp con người tư duy và hành động đúng đắn. Khổng Tử nói: "Ta đi học là học cho ta, để gây cái phẩm giá của ta, chứ không phải là để khoe với người. Ta chỉ lo không làm được những việc đáng cho người ta biết, chứ không lo người ta không biết mình". "Muốn nhân mà không muốn học thì bị cái che mờ là ngu, muốn trí mà không muốn học thì bị cái che mờ là cao kỳ, muốn tín mà không muốn học thì bị cái che mờ là hại nghĩa, muốn trực mà không muốn học thì bị cái che mờ là ngang ngạnh, muốn dũng mà không muốn học thì bị cái che mờ là loạn, muốn cương mà không muốn học thì bị cái che mờ là táo bạo khinh suất.". Cùng học với nhau nhưng chưa chắc cùng đạt đến đạo như nhau. Có thể cùng đạt đến đạo như nhau nhưng chưa chắc kiên định đạo lý như nhau. Có thể kiên định đạo lý như nhau nhưng chưa chắc xử trí cho hợp hoàn cảnh như nhau. Nước có đạo thì lời nói ngay thẳng, việc làm đúng đắn. Nước không có đạo thì việc làm phải đúng đắn còn lời nói phải nhún nhường. Người quân tử học tập sâu rộng về văn chương, biết lấy lễ để ràng buộc mình, sẽ không bao giờ trái với đạo lý. Học thì phải thông qua Văn. Văn là kiến thức được lưu truyền dưới dạng thành vǎn hoặc ở dạng truyền ngôn, bất thành văn. Cức Tử Thành nói "Người quân tử chỉ cần có chất tốt là được rồi, cần gì đến văn nữa". Tử Cống nói "Ngài bàn về quân tử như vậy thật đáng tiếc là không đúng rồi. Một lời nói ra xe bốn ngựa khó mà đuổi kịp (Nhất ngôn ký xuất, tứ mã nan truy). Văn cũng quan trọng như chất, chất cũng quan trọng như văn. Da hổ, da báo nếu nhổ mất lông đẹp thì làm sao phân biệt được với da chó và da dê ?". Con người không chỉ học tri thức mà còn học các quy tắc xã hội, các giá trị sống do đó vai trò của người thầy là rất quan trọng, đặc biệt là ở tư cách đạo đức. Không chỉ học từ sách vở, trường lớp mà con người còn phải học từ cuộc sống, từ những người xung quanh. Khổng Tử nói "Ba người cùng đi với nhau, trong hai người thế nào cũng có một người đáng làm thầy ta. Ta chọn điều tốt để học theo, còn điều không tốt thì biết để sửa chữa.". Trong sự hình thành trí tuệ và đạo đức của con người, nghệ thuật đóng vai trò tích cực. Khổng Tử nói "Thơ có thể gây hứng khởi tấm lòng ham điều thiện, ghét điều ác. Lễ có thể khiến cho ta lập thân ở xã hội. Âm nhạc có thể giúp ta hoàn thành việc tu dưỡng nhân cách.". Chính vì vậy Khổng Tử đã san định Kinh Thi, Kinh Lễ, Kinh Nhạc để lưu truyền văn hóa cổ cho muôn đời sau. Chính những tác phẩm này làm nền tảng cho nền văn học cổ đại và trung đại, góp phần hình thành nên tâm hồn và cảm xúc của các dân tộc Đông Á trong suốt hàng ngàn năm. Người có học được xem là kẻ sĩ. Tử Lộ hỏi Khổng Tử "Như thế nào mới được gọi là kẻ sĩ ?". Khổng Tử nói "Sống chân thành, khuyên bảo nhẹ nhàng, biết vui vẻ hòa thuận, như vậy được xem là kẻ sĩ. Giữa bạn bè biết chân thành khuyên bảo nhau, anh em biết vui vẻ hòa thuận nhau.". Tử Trương hỏi "Kẻ sĩ như thế nào mới gọi là đạt ?". Khổng Tử trả lời "Đó gọi là văn chứ không phải đạt. Được gọi là đạt phải có phẩm hạnh chính trực, ham làm việc nghĩa, giỏi phân tích lời nói và giỏi quan sát sắc mặt của người khác, đối xử với người khiêm tốn nhường nhịn. Người như vậy làm quan ở triều đình nhất định đạt, ở nhà cũng đạt. Chứ gọi là văn thì bề ngoài tỏ vẻ yêu đức nhân, mà khi làm lại trái đạo nhân, thế mà cứ tưởng mình là người có đức nhân. Loại người này làm quan ở triều đình nhất định có danh tiếng, ở nhà cũng có danh tiếng". Kẻ sĩ chỉ biết tìm cách cho được an nhàn thì không đủ tư cách làm kẻ sĩ. Đây chính là tư tưởng nhập thế của Nho giáo xem kẻ sĩ có nghĩa vụ dùng học vấn và tài năng của mình giúp nước giúp đời. Sách Trung Dung đã tổng kết lại những điều mà người quân tử, mẫu người tài đức vẹn toàn theo quan điểm Nho giáo, nên làm: "Người quân tử vừa ra sức coi trọng đạo đức vốn có của mình, vừa ra sức chăm lo học tập; vừa phấn đấu đạt đến tầm rộng lớn của đạo, vừa nắm hết chỗ tinh vi tận cùng của đạo. Muốn có được đạo đức cao minh, phải thông hiểu đạo lý trung dung, ôn tập những kiến thức đã nắm chắc, từ đó mà thu hoạch thêm những kiến thức mới; trung hậu, chất phác, giản dị lại ham chuộng lễ nghi nghiêm túc. Khi ở ngôi cao thì không kiêu ngạo, khi làm kẻ dưới thì chẳng dám gây điều trái nghịch, bất chấp lễ nghĩa. Khi nước có đạo, người quân tử có thể ra giúp nước, nghĩ mưu kế để khiến nước nhà hưng thịnh. Khi nước không có đạo, người quân tử có thể dựa vào trí sáng suốt của mình, tránh cho mình khỏi bị tai ương họa hại.". Vậy nên "người quân tử nhất cử nhất động đều làm gương cho thiên hạ đời đời noi theo, mọi hành vi đều trở thành phép tắc cho thiên hạ đời đời ngưỡng mộ, mọi lời nói đều trở thành khuôn vàng thước ngọc cho thiên hạ đời đời học tập. Kẻ ở xa nghe nói thì đem lòng ngưỡng vọng. Người ở gần thì nhìn mãi không biết chán." "Đạo người quân tử là che đậy đức hạnh đi, không để lộ ra ngoài, nhưng nó càng ngày càng tỏa sáng thêm. Đạo của kẻ tiểu nhân thì sặc sỡ, cố để lộ ra ngoài, nhưng nó mỗi ngày một mất dần, mỗi ngày một lu mờ đi. Đạo người quân tử bình dị nhưng không làm cho người ta chán, tuy giản dị nhưng có văn nhã, tuy ôn hòa nhưng có lý lẽ. Nếu hiểu đạo lý muốn đi xa phải bắt đầu từ nơi gần, hiểu phong tục được sinh ra là có nguồn gốc, hiểu rõ sâu kín nhất vẫn có ngày hiện lộ ra, được như vậy là có thể tiến vào cõi chí thiện của thánh nhân rồi.". Phàn Trì theo Khổng Tử đi dạo dưới chân đài cầu mưa Vũ Vu, hỏi rằng "Dám hỏi làm thế nào để tu dưỡng đạo đức, diệt trừ lòng ác, phân biệt mê hoặc". Khổng Tử nói "Câu hỏi hay quá ! Làm việc thiện trước mà không nghĩ lợi về sau, đây không phải là tu dưỡng đạo đức ư ? Phê bình điều sai của mình, không chỉ trích điều sai của người khác, đây không phải là trừ bỏ lòng ác ư ? Chỉ vì nhất thời phẫn nộ mà quên mất chính mình, thậm chí liên lụy đến cả cha mẹ, đây không phải là mê hoặc ư ?". Không những phải có đầy đủ phẩm chất đạo đức nhân, lễ, nghĩa, trí, tín mà con người còn phải luôn thành thật với chính mình, biết tiết chế, kiểm soát hành vi và ý nghĩ của mình. Sách Đại học viết: "Thành ý khiến cho ý niệm được thành thật. Muốn cho ý niệm được thành thật, trước hết mình không được lừa dối mình... người quân tử khi ở một mình cũng cần phải giữ mình hết sức cẩn thận, tự kiểm tra, chất vấn và làm chủ bản thân... Tài sản có thể làm đẹp nhà cửa. Đức hạnh có thể làm đẹp bản thân. Tâm tư quảng đại thì cử chỉ, thái độ thong dong, thoải mái. Cho nên, người quân tử lúc nào cũng phải làm cho ý niệm của mình được thành thật.". Ai làm được như vậy sẽ ít phạm sai lầm. Khổng Tử nói "Người biết ràng buộc gìn giữ mình mà phạm sai lầm là rất ít thấy.". Trong mối quan hệ với mọi người, con người cần giữ phép lịch sự, trang trọng mà thành thật, cần tránh kết giao với kẻ tiểu nhân để không bị lây nhiễm thói xấu và để tự bảo vệ mình không bị kẻ khác hãm hại. Người quân tử có sai lầm cũng không ngại sửa chữa. Khổng Tử nói: "Người quân tử nếu không có thái độ trang trọng thì không giữ được uy nghiêm, có học tập cũng không củng cố được thành quả đã học. Làm người phải lấy trung tín làm chính. Không kết giao bạn bè với người chẳng như mình. Có sai lầm không sợ sửa chữa.". Người quân tử luôn khiêm tốn, cầu thị và không chấp nhặt những lời cuồng ngôn của kẻ tiểu nhân vì người quân tử không hành động để thỏa mãn cái tôi của mình. Tăng Tử nói "Mình làm được lại đi hỏi người không làm được, mình biết nhiều mà lại đi hỏi người biết ít. Có tài học mà lại giống như không, tri thức đầy đủ mà lại như không có gì. Người khác xúc phạm mình mà mình cũng không tranh biện. Bạn của ta từ trước đã từng làm được như vậy.". Khổng Tử nói "Người quân tử ung dung, khoan thai nhưng không kiêu ngạo, phóng túng. Kẻ tiểu nhân ngạo mạn, phóng túng nhưng không có tác phong đàng hoàng.". Cách sống thanh cao của con người mà Nho giáo khuyến khích là không màng danh lợi, làm việc hết lòng, lời nói thanh nhã, luôn tu tâm dưỡng tính, gần gũi với người có đạo đức. Khổng Tử nói: "Người quân tử có chí học đạo, không theo đuổi việc ăn uống no say mà cầu được thoải mái và sống cuộc đời an nhàn, làm việc với tinh thần mẫn cán, lời nói hết sức cẩn thận, luôn gần gũi người có đức để không ngừng sửa chữa khuyết điểm của mình. Làm được như vậy, có thể nói là người ham học và học đạt kết quả tốt.". Người quân tử phải giữ tư cách đạo đức của mình; luôn giữ tinh thần lạc quan, yêu đời, yêu người; luôn tĩnh tâm để đánh giá khách quan con người và cuộc đời; thắng không kiêu bại không nản; nghèo hèn không bất mãn, không bi quan yếm thế, không buông xuôi, không quy lụy; giàu sang không kiêu căng khinh người. Đó là sức mạnh tinh thần chân chính của người quân tử. Tử Cống hỏi: "Nghèo hèn mà không nịnh bợ người, giàu có mà không kiêu căng khinh người, như vậy đã được chưa ?". Khổng Tử nói: "Có thể được, nhưng không bằng nghèo hèn mà vẫn lạc quan, giàu có mà lại chuộng lễ nghĩa.". Tử Trương hỏi cách thức để đề cao được phẩm đức, Khổng Tử nói "Lấy trung hậu và tín thật làm chính, tận lực làm việc nghĩa, làm được như vậy là đề cao phẩm đức.". Nho giáo khuyến khích lối sống tiết kiệm, không phô trương vì phô trương giàu sang không làm nên phẩm giá con người. Khổng Tử nói "Xa xỉ rộng rãi quá thì không thuận mắt. Tiết kiệm quá thì trở nên keo kiệt bủn xỉn. Nếu không có đủ để rộng rãi thì thà tiết kiệm còn hơn.". Người quân tử không tham lam, phải biết thế nào là đủ, biết hài lòng với những gì mình có. Khổng Tử khen công tử Kinh nước Vệ là người khéo cư xử việc nhà. Vừa mới có của ông ấy đã bảo "Như vậy là phù hợp rồi". Vừa có thêm được một ít ông ấy đã bảo "Như vậy là đầy đủ rồi". Về sau giàu có ông ấy bảo "Thế là sướng quá rồi". Để giữ được sự tín nhiệm của mọi người, con người hàng ngày phải tự xét xem mình đã làm việc hết lòng và giữ chữ tín với mọi người chưa. Tăng Tử nói: "Tôi mỗi ngày tự xét mình ba điều. Mưu việc cho người khác đã dốc hết sức lực, tâm trí chưa? Cùng kết giao với bạn bè đã thật giữ điều tín chưa? Tri thức thầy truyền cho đã ôn tập cẩn thận, chu đáo chưa?". Con người phải không ngừng tự vấn lương tâm, trừ bỏ những suy nghĩ, ý định xấu xa ngay khi vừa nhen nhóm chứ không để nó biến thành hành động để mọi người đều tôn kính tin theo. Sách Trung Dung viết "người quân tử tự xét nơi lương tâm của mình, nếu thấy có ma tà quỷ ám, có đến làm điều ác, thì tự biết hổ thẹn. Người quân tử khi sửa mình mà thấy điều bất cập thì chỉ mình biết, chứ người bình thường không thể nhìn thấy được... Cho nên người quân tử chưa hành động mà vẫn được người ta tôn kính, chưa nói ra mà người ta đã tin theo.". Không những vậy "Nhìn thấy người hiền tài liền nghĩ đến noi gương phấn đấu kịp bằng họ, nhìn thấy người chẳng hiền tài thì phải tự kiểm tra lại mình.". Tuy nhiên, không phải ai cũng làm được điều này. Khổng Tử có lần cảm thán "Hết rồi, chẳng còn gì nữa! Ta chưa từng thấy người nào có thể phát hiện sai lầm của mình, lại còn biết tự kiểm điểm sai lầm của mình từ tâm can.". Khổng Tử nói "Làm việc với người quân tử thì dễ còn muốn được lòng người quân tử thì rất khó. Nếu dùng cách không chính đạo để lấy lòng người quân tử thì người quân tử chẳng thích. Còn khi dùng người thì người quân tử lại theo tài năng đạo đức mà giao việc. Làm việc với kẻ tiểu nhân thì rất khó nhưng muốn được lòng kẻ tiểu nhân lại rất dễ. Để tranh thủ được lòng kẻ tiểu nhân dù cho có dùng cách không chính đạo thì kẻ tiểu nhân vẫn thích. Còn khi dùng người thì kẻ tiểu nhân lại đòi cho được hoàn hảo.". Chính vì khéo cư xử nên người có đạo đức không bao giờ bị cô lập, nhất định có bè bạn gần gũi thân thiết. Tử Cống hỏi "Người cả làng đều khen thì người ấy là người như thế nào ?". Khổng Tử nói "Chưa hẳn là người tốt". Tử Cống lại hỏi "Người cả làng đều ghét thì người này là người như thế nào ?". Khổng Tử nói "Chưa hẳn là người xấu. Không bằng người thiện trong làng khen, kẻ ác trong làng ghét, mới có thể cho là người tốt.". Tuy nhiên người bàn luận đạo lý nhiều cũng phải kiểm tra xem người này có phải là quân tử chân chính hay không hay chỉ là người có vẻ ngoài trang trọng ? Người có đức nói đều có đạo lý nhưng người nói có đạo lý chưa chắc đã có đức. Để có thể hoàn thiện bản thân, đạt đến tầm cao trí tuệ và đạo đức, mỗi cá nhân phải nỗ lực không ngừng với một nghị lực lớn lao. Khổng Tử dạy học trò "Ví như lấy đất đắp núi, nếu thêm một sọt nữa liền thành núi, nhưng đột nhiên ta dừng không thêm vào nữa, như vậy là do ta tự dừng lại. Lại ví như đắp núi ở nơi bằng, dù vừa đổ xuống một sọt đất, nếu ta tiếp tục tiến lên đắp cho thành núi, đó là tự mình muốn tiến đến thành công vậy.". Nhiễm Cầu thưa "Không phải con không thích đạo của thầy, mà là sức lực của con không đủ đấy thôi.". Khổng Tử nói "Nếu sức lực không đủ, nửa đường sẽ phải bỏ dở. Như vậy ngươi đã tự vạch ra mốc giới hạn để hạn chế mình, về cơ bản là không muốn tiến lên nữa.". Tuổi trẻ phải biết phấn đấu học tập, rèn luyện, tu dưỡng bản thân, tiến thân lập nghiệp, làm điều có ích cho xã hội. Khổng Tử nói "Những người sinh sau rất đáng sợ (hậu sinh khả úy), biết đâu tương lai của họ không bằng hiện nay ? Nếu họ đến chừng bốn mươi, năm mươi tuổi rồi mà vẫn chưa có tiếng tăm gì trong thế gian, như vậy không có điều gì phải sợ họ nữa.". Tuy nhiên, việc theo đuổi những dục vọng cá nhân mà quên đi đạo lý, không màng đến tu tâm dưỡng tính là sự buông thả của người thiếu ý thức hướng thiện, thiếu nghị lực hoàn thiện bản thân. Khổng Tử nói "Thân Trành, con người này dục vọng quá nhiều, làm sao có thể xếp vào loại người kiên cường được ?". Kinh Pháp Cú của Phật giáo cũng có ý tương tự "Dầu tại bãi chiến trường thắng ngàn ngàn quân địch, tự thắng mình tốt hơn, thật chiến thắng tối thượng. Tự thắng mình còn vẻ vang hơn thắng kẻ khác. Muốn thắng mình phải luôn luôn tiết chế lòng tham dục.". Người có đạo đức và trí tuệ cao hơn quân tử là thánh nhân. Quân tử là người thực hành các đạo lý do thánh nhân truyền dạy còn thánh nhân là người thông hiểu đạo lý trời đất; người có thể soạn ra cương lĩnh, biện pháp lớn để quản lý thiên hạ. Sách Trung Dung viết: "Chỉ có bậc chí thánh trong thiên hạ mới có đủ: Tài trí thông minh, nhìn xa thấy rộng, đủ sức để cai trị thiên hạ. Có lòng khoan dung độ lượng đủ để bao dung dân chúng và vạn vật. Tính tình cương nghị quyết đoán đủ để cầm nắm việc chính sự. Thái độ đoan chính ngay thẳng để mọi người kính nể. Văn chương điển lý tinh tế, xét đoán minh bạch đủ để phân biệt phải trái. Đạo đức của bậc chí thánh rộng lớn, sâu xa vô bờ bến, bao la rộng lớn như trời cao, sâu như vực thẳm. Hễ xuất hiện, dân chúng không ai không mến phục. Hễ nói ra, dân chúng không ai không tin cậy. Hễ hành động, dân chúng không ai không thích thú, hài lòng... Chỉ có bậc thánh nhân có đức thật cao cả mới có thể soạn ra được cương lĩnh, biện pháp lớn để quản lý thiên hạ, xây dựng bồi đắp cái gốc lớn cho thiên hạ, thông hiểu hết đạo lý trời đất nuôi dưỡng vạn vật. Bậc thánh nhân chỉ dựa vào sức mình, không nương nhờ ai cả. Nhân ái của bậc thánh nhân cao cả thuần khiết, trí tuệ xiết bao uyên bác thâm thúy, thiên tính đàng hoàng cao rộng như trời. Nếu không phải là người vốn đủ thông minh, thánh trí, thông đạt thiên đức, thì ai có thể hiểu được đạo thành thật cao cả này?". Giáo sư Vũ Khiêu đã nhận xét: "Nho giáo đã nhận thức được thực tế là những người trong bộ máy nhà nước mà mất đạo đức thì không thể cai trị được nhân dân. Đạo đức người cầm quyền có ảnh hưởng lớn đến sự hưng vong của một triều đại. Vì vậy, Khổng Tử khuyên người cầm quyền phải "tu thân" để làm tấm gương cho người dưới. Với việc đề cao tu thân, Nho giáo đã tạo nên một lớp người sống có đạo đức. Trong lịch sử dân tộc Việt nam đã có nhiều tấm gương sáng ngời về đạo đức Nho giáo của các vị vua, các anh hùng hào kiệt. Theo Nho giáo, người làm quan phải có đức, phải lấy nhân nghĩa, lấy chữ tín làm mục tiêu để cảm hóa lòng người, để cai trị. Muốn vậy, phải đặt lợi ích của thiên hạ lên trên lợi ích của vua quan. Thiết nghĩ, ngày nay tư tưởng nêu trên vẫn còn nguyên giá trị. Người cán bộ trong bộ máy nhà nước phải có đức, đó là điều kiện đầu tiên để dân tin yêu, kính phục. Nho giáo coi những người làm quan mà hà hiếp dân là độc ác, để dân đói rét là nhà vua có tội. Nho giáo đã đề cao việc cai trị dân bằng đạo đức, bằng nhân nghĩa, bằng lễ giáo. Muốn thực hiện được đường lối đức trị, người cầm quyền phải luôn "tu, tề, trị, bình"". Trong Nho giáo, "nhân, lễ, nghĩa, trí, tín" được đặt ra trong quan hệ của con người với chính bản thân mình để tu thân, còn chính danh là yêu cầu đạo đức được đặt ra trong quan hệ với người khác (với xã hội) để làm cho xã hội ổn định, phát triển. Những quan niệm này của Nho giáo cho đến nay vẫn còn nguyên giá trị và có ý nghĩa thời sự của nó. Trong điều kiện hiện nay, khi mối quan hệ của con người với con người càng được mở rộng, khi xã hội đang có những biểu hiện xuống cấp về mặt đạo đức, tệ quan liêu, hối lộ, tham nhũng đang diễn biến phức tạp, thì tư tưởng về đạo làm người trong mối quan hệ với xã hội của Nho giáo lại càng có ý nghĩa, góp phần điều chỉnh hành vi của mỗi người để xây dựng xã hội ngày càng tốt đẹp hơn === Tư tưởng về Thế giới đại đồng === Khổng Tử đã khởi xướng thuyết đại đồng và truyền bá sự bình đẳng về tài sản là nền móng của xã hội ổn định. Ông từng nói: "Thiên hạ sẽ thái bình khi thế giới đại đồng. Người ta không sợ thiếu chỉ sợ có không đều". Học trò của Khổng Tử là Mạnh Tử tiếp tục tư tưởng này và đề ra một kế hoạch chi tiết để tổ chức sản xuất và tiêu thụ, bảo vệ sự phát triển lành mạnh của trẻ em, sự giáo dục và lao động đối với người lớn, sự nghỉ ngơi của người già. Tư tưởng này được nói rõ trong thiên Lễ vận thuộc Kinh Lễ: "Đạo đức lớn được thực hành thì thiên hạ là của chung. Kén chọn kẻ có tài đức ra làm việc. Giảng giải điều tín nghĩa, sửa trị điều hoà mục. Cho nên mọi người không riêng thân cha mẹ mình, không riêng yêu con cái mình, khiến người già cả có chỗ sử dụng năng lực, các thiếu niên được nuôi dạy khôn lớn. Thương người goá bụa, thương kẻ mồ côi và những người già không nơi nương tựa. Người tàn tật phải có chỗ nuôi dưỡng, con trai đều có nghề nghiệp, con gái đều có chồng con. Như vậy thì của cải vứt bỏ dưới đất cũng không ai nhặt mà cũng không cần thiết phải cất giữ cho riêng mình. Còn về năng lực thì e không có cách gì để thi thố mà không cần phải giữ làm của riêng. Do đó mọi âm mưu đều bị mai một mà không thể xảy ra, mọi hành vi trộm cắp, gây rối, giặc cướp đều không thể nổi dậy, cửa ngõ không cần đóng. Như thế gọi là Đại đồng." Nho giáo đã trình bày tương đối hoàn chỉnh, có hệ thống về thuyết đại đồng: “Thiên hạ vi công” (Thiên hạ là của chung mọi người), “Tuyển hiền nhiệm năng” (Lựa chọn người hiền, sử dụng người tài), “Các tận kỳ năng” (Ai nấy dốc hết năng lực của mình), “Giảng tín tu mục” (Trọng điều tín, chăm lo sự hòa mục), “Các tận kỳ sở” (Ai nấy đều được nhận tương xứng với công sức của mình). Nhà cách mạng Hồ Chí Minh từng tổng kết: "Những người An nam chúng ta hãy tự hoàn thiện mình về mặt tinh thần bằng cách đọc các tác phẩm của Khổng Tử, và về cách mạng thì cần đọc các tác phẩm của Lenin” === Triết lý giáo dục === Đạo trị quốc của Nho giáo rất xem trọng hiền tài chính vì thế các triều đại quân chủ tôn sùng Nho giáo chủ trương tuyển dụng nhân tài cho đất nước qua các kỳ Khoa bảng (科榜). Các thí sinh đỗ đạt học vị trong các kỳ thi cử này, phần lớn được tuyển chọn làm quan chức cho triều đình. Một trong những điểm tiến bộ của Nho giáo là chủ trương khuyến khích giáo dục, coi trọng người hiền tài:. Nho giáo có nhiều yếu tố tiến bộ khi quan niệm rằng giáo dục là cần thiết cho tất cả mọi người, "hữu giáo vô loại" (việc dạy dỗ không phân biệt loại người) nên ai cũng có cơ hội được học tập và giáo dục, đây là biện pháp để hướng con người tới những phẩm chất cao quý như "nhân, nghĩa, lễ, trí, tín". Nho giáo cho rằng, giáo hóa con người là một trong những nhiệm vụ cơ bản của nhà cầm quyền và cũng là phương tiện hữu hiệu để đưa xã hội từ loạn lạc thành "thái bình thịnh trị". Trước thế kỷ 5, cách tuyển chọn quan chức chủ yếu là theo “cửu phẩm trung chính chế”, tức là chủ yếu dựa vào hoàn cảnh xuất thân, vì thế, con em của các nhà quý tộc luôn được chọn vào các bậc quan cao, gây lũng đoạn chính sách địa phương. Chế độ khoa cử đã đánh đổ điều này, thúc đẩy một số đông người từ tầng lớp bình dân chuyển lên tầng lớp trên, từ đó đảm bảo được sự đổi mới của đội ngũ quan lại. Một là tầng lớp nhà nho kinh điển bước vào hệ thống quan lại để thực hiện lý tưởng "trị quốc bình thiên hạ", mặt khác, do xuất thân ở tầng lớp dưới của xã hội, họ có thể hiểu được nỗi khổ của nhân dân và những cái xấu tốt, lợi hại trong việc cai trị, trong một mức độ có thể giảm bớt những sự hư hỏng, hạn chế hủ bại của chế độ. Do đã tiếp thu giáo dục văn hoá có hệ thống, nắm vững những tri thức lý luận về phương pháp quản lý quốc gia, được bồi dưỡng đạo đức tương đối tốt, đội ngũ quan lại có trình độ tương đối cao, có lợi cho việc nâng cao hiệu suất hành chính. Chế độ khoa cử bắt đầu từ nhà Tuỳ, định kỳ tiến hành những cuộc thi, thông qua những cuộc thi mà tuyển chọn quan chức, biện pháp này cũng gọi là “khai khoa cử sĩ” (mở khoa thi, chọn quan lại), kết thúc vào đời Thanh, tồn tại trong xã hội Đông Á hơn 1400 năm, nó đã có ảnh hưởng to lớn với sự phát triển của xã hội Đông Á. Chế độ khoa cử có tính cạnh tranh bình đẳng nhất định về trình độ, có ích cho sự thống nhất và phổ cập văn hoá, cho việc ổn định và củng cố sự thịnh trị của các vương triều nên nó rất được coi trọng, bất kỳ hành vi gian lận nào đều bị trừng phạt rất nghiêm khắc. Nhiều triều đình còn cho dựng bia đá, chép sách lưu danh Tiến sĩ để nêu gương muôn thuở. Những người đố đạt được triều đình ban thưởng rất hậu và cho làm quan, gia đình dòng họ thì tự hào vì đã làm rạng rỡ tông môn. Người không đỗ đạt thì ở nhà dạy học, bốc thuốc, trở thành những người truyền bá văn hoá, tạo thành một xã hội có phong tục tốt đẹp và truyền thống hiếu học. Do giáo dục được coi trọng, người có kiến thức và văn hóa được xã hội tôn trọng. Từ xưa đến nay, dù là quý tộc hay dân thường, dù giàu hay nghèo thì đều tìm mọi cách đưa con cháu đi học để thành người có đạo đức và tri thức. Địa vị của người thầy rất cao, dân gian có nhiều cách nói về tôn trọng người thầy, ví dụ như “Tôn sư bất luận quý tiện bần phú” (bất kể giàu nghèo sang hèn đều phải tôn trọng người thầy), “nhất nhật vi sư, chung thân vi phụ” (Một ngày làm thầy, cả đời làm cha)... Từ thường dân đến hoàng đế đều rất tôn trọng người thầy, thể hiện trong mọi mặt cuộc sống xã hội. Hiện nay, một số nước như Trung Quốc chọn ngày 10/9, Đài Loan chọn ngày 28/9, Việt Nam chọn ngày 20/11... làm Ngày Nhà giáo để thể hiện sự tôn trọng đối với nghề giáo. Ví dụ, Ngày Nhà giáo tại Đài Loan là một ngày lễ rất lớn, được tổ chức ở hầu khắp các đền thờ Khổng Tử, lễ này còn được gọi là Tế Khổng Đại Điển (祭孔大典), được chỉ đạo tổ chức bởi hậu duệ đứng đầu dòng họ Khổng của Khổng Tử (người này được chính quyền Đài Loan tặng chức vụ danh dự "Đại thành chí thánh tiên sư phụng tự quan" và cấp ngân sách cho việc tế tự Khổng Tử). Trong buổi lễ luôn có phần trao giải thưởng cho các nhà giáo có nhiều cống hiến quý giá cho nền giáo dục. Khổng Tử là nhà giáo dục vĩ đại. Ông tin rằng giáo dục có sức mạnh thay đổi thế giới chẳng kém gì quyền lực chính trị. Có người hỏi ông tại sao không ra làm quan, tham dự hoạt động chính trị. Khổng Tử trả lời: "Sách Kinh Thi có nói: Chỉ có hiếu thuận với cha mẹ, thân ái với anh em, đem tinh thần này phổ biến ra nơi chính trường. Như vậy cũng là đã tham dự chính trị rồi, sao cứ phải ra làm quan mới là tham dự chính trị ?". Trên thực tế chính trị gia dùng quyền lực của mình bắt xã hội đi theo con đường họ cho là đúng với mong muốn xây dựng xã hội tốt đẹp hơn nhưng cái họ tạo ra có khi là thứ tồi tệ hơn. Không quyền lực chính trị nào đủ mạnh, không bộ máy nhà nước nào đủ hiệu quả để có thể buộc cả xã hội phải sống theo những tiêu chuẩn do người lãnh đạo đề ra. Trong khi đó chính bản thân người lãnh đạo lại không sống đúng theo những chuẩn mực mà ông ta muốn người khác tuân thủ. Khi người dân từ chối sống theo cách nhà nước áp đặt, họ sẽ dùng mọi biện pháp gian dối để đối phó, để sống theo cách phù hợp với họ. Đạo đức xã hội suy đồi. Trong khi đó chính giáo dục sẽ khiến dân chúng giác ngộ và tự thay đổi cho tốt đẹp hơn. Mỗi người tốt hơn thì xã hội tốt hơn. Triết lý giáo dục của Nho giáo chủ trương giáo dục toàn diện để tạo ra con người hoàn thiện, tài đức vẹn toàn chứ không phải đào tạo thiên lệch để tạo ra loại người chuyên làm một công việc nào đó. Khổng Tử nói: "Người quân tử không thể giống như khí cụ là chỉ có một tác dụng.". Quan niệm giáo dục này tương đồng với quan niệm giáo dục khai phóng của phương Tây. Điều này trái ngược với ngộ nhận của nhiều người cho rằng nền giáo dục Nho giáo có mục đích tạo ra những người cai trị quốc gia còn người học chỉ có mong muốn duy nhất là làm quan. Đó là hiện tượng do cách tuyển dụng quan lại thông qua khoa cử của các triều đình quân chủ tạo ra chứ không bắt nguồn từ triết lý giáo dục Nho giáo. Khổng Tử nói "Học ba năm mà chẳng để chí vào việc cầu bổng lộc, chẳng dễ mà có được người như vậy.". Ông khuyên học trò của mình "Dốc lòng tin tưởng vào đạo và ham học, biết dùng sinh mệnh để bảo vệ sự hoàn thiện của đạo. Không đến những nước đang có nguy hiểm, không ở những nước đang có loạn lạc. Thiên hạ có đạo thì ra làm quan, thiên hạ vô đạo thì về ở ẩn.". Đó cũng là nghệ thuật sống của các bậc danh Nho, hiền sĩ ở các nước Đông Á thời quân chủ. Điều này cho thấy Nho giáo nguyên thủy không chủ trương đào tạo ra những kẻ trung thành mù quáng với nhà cầm quyền, xu phụ kẻ quyền thế để trục lợi mà tạo ra những người có tư cách biết dùng tài năng của mình giúp nước giúp đời, biết xa lánh những kẻ quyền thế nhưng vô đạo. Nho giáo là một hệ thống quy tắc đạo đức nên quan điểm giáo dục Nho giáo luôn đề cao Đức dục. Đức dục phải được đặt lên trên Trí dục. Trẻ em cần phải học đạo đức trước rồi mới học kiến thức về tự nhiên và xã hội. Khổng Tử nói: "Tuổi trẻ muốn nên người, ở nhà cần phải hiếu thuận với cha mẹ, ra ngoài phải tôn kính người hơn tuổi mình, hành vi phải cẩn thận, lời nói phải giữ điều tín, yêu thương rộng rãi mọi người, biết gần gũi người có đức nhân. Làm được vậy rồi, nếu còn dư năng lực, thời gian thì học tập tri thức.". Học phải đi đôi với hành. Người có học nếu không sống có đạo đức theo những gì đã được dạy thì việc học có ích gì? Khổng Tử nói: "Ta cả ngày dạy Nhan Hồi học. Nhưng từ trước đến nay, Nhan Hồi chưa hề thắc mắc một ý nào trái với ý ta, nó giống như một kẻ ngu đần vậy. Nhưng ta đã quan sát điều ăn nết ở riêng của trò Hồi, phát hiện thấy trò Hồi phát huy hết mức những điều ta đã giảng. Nhan Hồi đâu phải là kẻ ngu đần!". Đối với đạo, hiểu đạo lý không bằng ham thích đạo lý, ham thích đạo lý không bằng thi hành đạo lý mà lấy đó làm niềm vui. Nhà Nho đánh giá một người có giáo dục tốt hay không trước hết là qua tư cách đạo đức người đó (còn kiến thức có thể học sau), như Tử Hạ nói: "Biết tôn trọng người hiền tài thay cho tôn trọng nữ sắc, biết đối đãi với cha mẹ tận tâm tận lực, biết thờ vua với tinh thần liều chết quên mình, giao lưu cùng bạn bè biết nói lời tín thật. Những người như vậy tuy không được học vẫn xem như là người đã có học rồi.". Phương pháp học tập mà Nho giáo đề cao không phải là học thuộc lòng, tầm chương trích cú mà là nghiên cứu, nghiền ngẫm thấu đáo để thấu hiểu đạo lý nhân sinh, nguyên lý của vạn vật. Khổng Tử nói: "Học mà không suy nghĩ sẽ chẳng có thu hoạch gì, chỉ suy nghĩ mà không học sẽ rất nguy hiểm.". Người không học không thể phân biệt đúng sai, phải trái nên sẽ dùng trí thông minh của mình làm chuyện vô đạo, hại người hại mình. Học phải có sự trao đổi, tranh luận để đi đến chân lý, học phải đi đôi với hành và phải luôn luôn kiên trì, nỗ lực. Sách Trung Dung có đoạn "Trừ khi không chịu học, đã học mà chưa hiểu thì chưa dừng lại, nếu đã chịu hỏi mà chưa rõ, đã chịu suy nghĩ mà chưa tìm ra giải pháp, đã tranh luận mà chưa ra nhẽ, đã chịu làm theo mà chưa tốt, thì đều chưa dừng lại. Người khác làm một lần, mười lần mà có thể đạt được, mình hãy bỏ công một trăm lần, một nghìn lần. Nếu chịu làm theo phương pháp này, thì dù cho có ngu độn đến mấy cũng trở thành thông minh, dù cho có nhu nhược đến mấy cũng trở nên cứng rắn.". Người học phải biết ứng dụng kiến thức lĩnh hội được từ sách vở vào cuộc sống. Khổng Tử nói "Học thuộc Kinh Thi ba trăm bài, khi được giao giải quyết chính sự thì làm không nổi; đi sứ nước ngoài thì không ứng đối nổi. Học nhiều như vậy có ích gì ?". Khổng Tử đề cao tinh thần dân chủ trong giáo dục. Học sinh không được thụ động nghe thầy giảng, không hiểu cũng không dám hỏi mà phải biết thắc mắc, thậm chí phản biện lại thầy. Ông nói "Kẻ nào không ấm ức vì chưa hiểu được, thì ta chẳng gợi mở cho mà thông hiểu được. Kẻ nào không hậm hực vì không bày tỏ ý kiến ra được, thì ta chẳng hướng dẫn cho mà nói được. Người học đã biết rõ một góc mà chẳng biết xét để biết ba góc kia thì ta chẳng dạy cho kẻ ấy nữa.". Trong quá trình thảo luận, cả thầy lẫn trò sẽ học hỏi lẫn nhau để cùng tiến bộ. Ông nhận xét về Nhan Hồi "Nhan Hồi không phải là người có thể giúp ta mở mang kiến thức. Không có lời nào ta nói mà trò ấy không thích". Phương pháp này có thể áp dụng với mọi môn học trong mọi thời đại mà không lo bị lạc hậu. Thực chất, những nhược điểm của nền giáo dục Nho giáo tại một số nước châu Á như giáo điều, tầm chương trích cú, mang tính hình thức không phải bắt nguồn từ triết lý đào tạo của Nho giáo mà bắt nguồn từ nội dung khoa cử chuộng cổ văn do chính quyền quân chủ đặt ra, nếu áp dụng nội dung thi mới thì nhược điểm này sẽ không còn. Quan niệm giáo dục của Khổng Tử cách đây hàng ngàn năm tương đương với quan niệm giáo dục dân chủ hiện nay. Không những vậy, người học còn phải thường xuyên ôn luyện những điều đã học, tự suy ngẫm để tìm ra những chân lý mới mà thầy chưa dạy. Đây gọi là học một hiểu mười. Ai làm được vậy có thể làm thầy. Khổng Tử nói: "Ôn tập những tri thức đã học mà có thêm hiểu biết mới, như vậy là có thể làm thầy được rồi.". Trong việc học tập phải luôn có thái độ cầu thị, không giấu dốt, sẵn sàng tiếp thu chân lý. Chỉ như vậy mới có thể không ngừng tiến bộ. Khổng Tử nói: "Trò Do ! Ta dạy ngươi đạo lý như thế nào được gọi là biết, ngươi đã hiểu chưa ? Biết thì nói biết, không biết thì nói không biết, như thế cũng là người thông minh có hiểu biết rồi vậy.". Không được cái gì cũng không biết mà cứ tỏ vẻ ra cái gì cũng biết. Phải biết lắng nghe nhiều phía, nhiều mặt, chọn điều hợp lý mà làm; phải quan sát nhiều phía, nhiều mặt, ghi nhớ kỹ trong tâm can, như vậy mới có được tri thức. Khổng Tử nói "Khi học tập tri thức thì phải giống như đang đuổi theo một cái gì, sợ đuổi không kịp, và dù cho có đuổi kịp cũng lại sợ mất đi.". Tinh thần học tập của Nho giáo có thể khái quát trong câu nói của Khổng Tử "Buổi sáng biết được chân lý thì dù cho buổi chiều có chết cũng cam tâm.". Việc bãi bỏ chế độ khoa cử, bên cạnh mặt tích cực là tiếp thu kiến thức khoa học công nghệ, song cũng đã tạo nên sự bại hoại đạo đức tác phong trong xã hội. Trong chế độ khoa cử, tầng lớp thân sĩ luôn nghĩ đến “trị quốc bình thiên hạ”, “thiên hạ hưng vong sĩ phu hữu trách”. Họ trọng nghĩa khinh lợi, hành vi cầu nhân, cầu trí của họ có tác dụng gương mẫu trong xã hội. Nhưng sau khi chế độ khoa cử bị bãi bỏ, việc thi cử bị buông lỏng ky cương, dẫn tới nạn gian lận học vấn, bằng cấp trở nên phổ biến. Cùng với sự phát triển của chủ nghĩa tư bản thời kỳ cận đại, địa vị của thương nhân dần được nâng cao, chế độ tư bản ngày càng khuyến khích tư lợi, trở thành tiêu chuẩn hành vi trong xã hội. Thân phận của thân sĩ không còn được coi trọng, những quan niệm giá trị “trọng nghĩa hơn lợi” truyền thống ngày càng bị thay thế bằng lối sống “vì lợi quên nghĩa”, do đó, sự hủ bại trong hệ thống quan lại càng nghiêm trọng thêm, quan hệ xã hội ngày càng bị đảo lộn, ảnh hưởng của nó ở Trung Quốc và Đông Á đến nay còn thấy rõ. == Ảnh hưởng tại các quốc gia == === Trung Quốc === Lịch sử Trung Quốc ghi lại nhiều tấm gương các Nho sĩ tận tâm với đất nước như vậy. Tiêu biểu là thừa tướng Văn Thiên Tường, người lãnh đạo Nam Tống chống lại sự xâm chiếm của Mông Cổ. Lúc còn nhỏ, Văn Thiên Tường chăm học, đọc nhiều sách và thích nhất là những câu chuyện nói về "Trung thần nghĩa sĩ", tư tưởng yêu nước đã ăn sâu vào tâm hồn ông. Sau khi bị bắt, vua Mông Cổ ra sức đem cả quyền thế và vũ lực để ép ông đầu hàng nhưng ông vẫn không khuất phục. Sau khi bị hành quyết, mọi người đã phát hiện có một tờ giấy quấn quanh đai lưng của thi thể ông, tờ giấy đã được viết thay cho lời trăn trối: "Chức vụ tôi là Tể tướng, mà không cứu được xã tắc, ổn định thiên hạ, quân bại nước nhục, tội đáng chết từ lâu. Từ ngày bị bắt đến nay, không làm điều gì gian dối. Ngày nay cơ sự thế này, xin hướng về phương Nam lạy trăm lạy. Xin được nói: Khổng Tử nói muốn có nhân đức phải giữ nghĩa, tôi giữ nghĩa đến cùng nên có nhân. Đọc sách thánh hiền, học được chuyện gì? Đó là làm gì cũng đừng để ngày nay, ngày sau phải hổ thẹn. Tống thừa tướng Văn Thiên Tường tuyệt bút". Bài "Chính khí ca" cũng là một tác phẩm hết sức nổi tiếng của ông, được Văn Thiên Tường làm khi đang ở trong nhà tù của quân Nguyên, bốn câu kết là: Thánh hiền khuất lâu rồi Khuôn phép vẫn không mất Hiên gió mở sách coi Gương xưa soi trước mặt. Khí tiết của Văn Thiên Tường ảnh hưởng rất nhiều đến sĩ phu Nho giáo đời sau, nhất là hai câu thơ: Sau khi nhà Thanh sụp đổ vào năm 1911, Nho giáo tại Trung Quốc bị bài xích, coi là tàn dư lạc hậu của chế độ phong kiến. Học giả Trần Trọng Kim, tác giả cuốn Nho giáo có nhận xét về sự suy yếu của Nho học ở Trung Quốc vào đầu thế kỷ 20 như sau: Báo Asia Times Online viết về sự thay đổi cái nhìn của đảng Cộng sản Trung Quốc. Khi họ mới lên nắm quyền, dưới thời Mao Trạch Đông Khổng Giáo được xem là một hệ tư tưởng phong kiến, còn bây giờ được coi là có vai trò quan trọng trong quan hệ ngoại giao của Trung Quốc. Báo Economist nhận xét, Mao cho là Khổng tử là một biểu hiệu cổ hủ so với nước Cộng sản Trung Quốc, nhưng bây giờ triết gia này được cho là người truyền bá hòa bình và sự hòa đồng. Tại Đài Loan vẫn duy trì Nho giáo đặc biệt trong quan hệ truyền thống gia đình, họ tộc và mối quan hệ công sở, đặc biệt thời Quốc dân đảng theo xu hướng bảo thủ nắm độc quyền lãnh đạo chính trị ở đảo này. Cuối thập niên 1980, Đài Loan cho thi hành dân chủ, nhưng truyền thống Nho giáo khá đậm nét trong văn hóa (Quốc dân đảng coi trọng văn hóa dân tộc, đối lập là đảng Dân tiến coi trọng hội nhập). Ngược lại tại Hồng Kông thì văn hóa tự do phương Tây chiếm ưu thế. Đến cuối thế kỷ 20, Nho giáo bắt đầu được quan tâm trở lại, nhiều người Trung Quốc muốn phục hưng lại Nho giáo để làm phương châm khôi phục lại đạo đức xã hội và truyền thống dân tộc. Năm 1989, trên tờ "Nga Hồ Nguyệt san" trong bài "Ý nghĩa hiện thực và các vấn đề cấp thiết của phục hưng Nho học Trung quốc đại lục", Tưởng Khánh đã chỉ ra rằng: "Vấn đề lớn nhất trước mắt của Trung Quốc đại lục là vấn đề phục hưng Nho học" và tuyên xưng "Nho học lý luận phải là chủ nghĩa, cần được khôi phục lại địa vị cao nhất như trong lịch sử, là tư tưởng chính thống của tinh thần và sinh mệnh của dân tộc Trung Hoa" Cuộc thi Hoa hậu Thế giới người Trung Quốc đã loại bỏ phần thi áo tắm kể từ năm 2015. Ban tổ chức cho biết: "Việc yêu cầu các thí sinh mặc trang phục áo tắm thiếu vải, phô diễn cơ thể trước đông đảo khán giả để câu khách là sự thiếu tôn trọng đối với phụ nữ và đây cũng là quan niệm sai lầm tại các cuộc thi nhan sắc, đưa ra những thông điệp sai lầm về cái Đẹp". Ban tổ chức sẽ loại bỏ phần thi áo tắm để cuộc thi trở nên gần gũi với thuần phong mỹ tục Trung Quốc, thay vào đó họ sẽ tập trung chủ yếu vào việc phô diễn tài năng về nghệ thuật, văn hóa truyền thống, đặc biệt là đạo Khổng. Trọng tâm của cuộc thi năm 2015 là việc tập đọc văn bản cổ “Đệ tử quy” được viết dưới triều Hoàng đế Khang Hi nhà Thanh (trị vì 1661-1722), với nội dung dựa trên những bài giáo huấn của Khổng Tử, nhấn mạnh vào tiêu chí cơ bản để trở thành một người tốt, cùng với những định hướng để con người sống hài hòa với những người xung quanh. Ủy ban đặt ra tiêu chí rằng các thí sinh phải hiểu biết sâu về văn hóa Trung Hoa để góp phần mở rộng sự truyền bá văn hóa Trung Quốc ra thế giới Theo Dror Poleg, Thạc sĩ về Lịch sử kinh tế của Trường Kinh tế London, làm việc tại Trung Quốc: thực tế là di sản Nho giáo đã được sử dụng có hệ thống để biện minh cho những hạn chế về tự do cá nhân nếu sự tự do này vi phạm kỷ cương xã hội và giá trị đạo đức cộng đồng, từ Tokugawa của Nhật Bản, thông qua Lý Quang Diệu của Singapore, và cho đến thế kỷ 21 tại Trung Quốc. === Nhật Bản === Ở Nhật Bản, Nho giáo bắt đầu được truyền vào từ thế kỷ thứ 5. Năm 604, Thái tử Shotoku đã dùng lý tưởng Nho học để xây dựng pháp luật. Đến thời Nara (710 – 794) và và giai đoạn đầu của thời Heian (794 – 1185) Nho học phát triển mạnh mẽ trong tầng lớp quí tộc và tăng sĩ Tại Nhật, chữ Trung của Nho giáo là đức mục được đề cao nhất – ngưòi Nhật gọi nó là "Trung thành tâm" (忠誠心chùseishin), và quan hệ bề tôi với chủ ấy gọi là "Quan hệ chủ tòng" (主従関係shujù kankei). Người Nhật ai cũng biết đến câu chuyện về 47 Ronin trong sự kiện Akô thời Nguyên Lộc (1748). Đội trưởng Ôishi và các võ sĩ của mình đã hy sinh bản thân báo thù cho chủ: Ôshi thấy đám tang mẹ đã gạt nước mắt ra đi không về chịu tang, rồi đuổi vợ đi để che mắt kẻ thù. Một võ sĩ khác - Hara, đã chia tay mẹ già, vợ trẻ, con thơ để báo thù cho chủ. Bà mẹ của Hara đã cư xử như một liệt nữ Nhật Bản: bà thắt cổ tự tử để cho con yên lòng thực hiện nghĩa vụ cao cả nhất của người con trai. Câu chuyện ấy được ghi trong Trung thần tàng (忠臣蔵Chùshingura), được nhiều thế hệ người Nhật từ xưa đến nay say mê. Lòng trung thành trong một cấu trúc xã hội đến nay vẫn còn tiếp tục được phát huy trong xã hội Nhật Bản hiện đại. Đến giữa thế kỷ 19, đứng trước họa thực dân phương Tây, tại Nhật Bản xuất hiện các ý kiến chỉ trích nền giáo dục Nho học tại nước này. Fukuzawa Yukichi trong bài Thoát Á luận đã chỉ trích nền giáo dục chú trọng cổ văn nhưng coi thường kiến thức thực tế của Trung Hoa và Triều Tiên. Ông cho rằng 2 nước này "suốt hàng nghìn năm không hề thay đổi và vẫn quyến luyến với những phong tục tập quán cũ kĩ, khi bàn luận về giáo dục thì lên tiếng giữ gìn nền giáo dục Nho học, chỉ biết trích dẫn những lời giáo huấn “Nhân, Nghĩa, Lễ, Trí”, chỉ coi trọng hình thức bên ngoài giả tạo mà coi thường chân lý và nguyên tắc, mê tín hủ lậu không biết khoa học là gì, lại còn kiêu căng tự phụ" Tuy nhiên, việc đả kích Nho học ở Nhật thời kỳ này cũng có hạn chế: nó bắt đầu từ cái nhìn "sùng bái một chiều về nền văn minh vật chất phương tây cũng như cái nhìn phủ nhận một chiều những giá trị thực sự của dân tộc mình", đi tới nguy cơ đánh mất chính mình trong công cuộc “văn minh Âu hóa” đầy rẫy bi kịch. Ánh hào quang của các tiêu chí phương Tây tuy có nhiều giá trị gợi mở nhưng cũng không ít hiểm họa mà đáng sợ nhất là tinh thần sùng bái vật chất, là kiểu sống nhân danh “đấu tranh sinh tồn”, “chủ nghĩa tinh hoa”, chủ nghĩa dân tộc cực đoan vốn có quan hệ khá nhiều với các chính sách xâm lược thực dân, chế độ phát xít". Triều đình và những trí thức Nhật Bản, một mặt thấy được hạn chế của nền giáo dục Nho giáo trong thời kỳ mới, mặt khác họ vẫn thấy được giá trị của Nho giáo trong việc giáo dục đạo đức, nhất là giáo dục lòng trung thành, xây dựng một nước Nhật Bản theo chủ trương “Nước giàu binh mạnh”. Nhà nghiên cứu Yoshiharu Tsuboi nhận xét rằng “Ở Nhật Bản, Trung Hoa và Triều Tiên lúc này đều có những khẩu hiệu tương tự nhau như Hòa hồn dương tài (Tinh thần Nhật và kỹ thuật Tây Âu), Đông đạo tây khí (đạo lý phương đông và thực hành phương tây), Trung thể tây dụng (Thể chất Trung Hoa và công dụng phương tây)", tất cả đều nhằm mục tiêu: học hỏi kỹ thuật phương Tây nhưng vẫn duy trì được nền tảng đạo đức Nho giáo trong xã hội. Yoshiharu Tsuboi xác nhận cộng đồng Đông Á “có cùng một vấn đề đã đặt ra cho Trung Hoa, Triều Tiên, Nhật Bản là làm sao bảo vệ được dân tộc và bản sắc dân tộc chống xâm lược phương Tây mà vẫn giữ gìn các giá trị truyền thống đặt trên cơ sở Nho giáo". Năm 1880, tại Nhật Bản, cải cách Minh Trị thực thi nền giáo dục mới nhằm chú trọng học hỏi kiến thức khoa học kỹ thuật phương Tây. Bên cạnh đó, triều đình Nhật vẫn khuyến khích nhân dân không được quên nền tảng đạo đức Nho giáo xưa, tuyên dương tinh thần thượng võ cổ truyền vốn có của người Nhật. Trong vấn đề điều hành xã hội, triều đình Minh Trị không học theo Tây Âu mà vẫn tiếp tục duy trì tư tưởng Nho giáo với nền tảng trị quốc mà giới tinh hoa thấm nhuần "Nhân, nghĩa, lễ, trí, tín"; cách gạn lọc này được gọi là "hồn Nhật Bản, tài Tây Âu". Theo chủ trương đó, năm 1885, Mori Arinori (Sâm Hữu Lễ 森有礼, 1847 - 1889), Văn Bộ khanh (Bộ trưởng Giáo dục) đã ban bố quy chế giáo dục đạo đức Nho giáo cho học sinh. Sau đó, Nam tước Motoda Nagazane/Nguyên Điền Vĩnh Phu 元田永孚 (1818 - 1891), Thị giảng Cung Nội tỉnh công bố bộ sách ghi những lời chỉ dụ về giáo dục của Thiên hoàng gọi là Sắc chỉ giáo dục (教育勅語). Trong đó phần đầu ghi lại những lời dạy của các Thiên hoàng trong lịch sử xác lập quan hệ giữa đạo đức và quốc gia: Lòng trung hiếu của thần dân là "tinh hoa của quốc thể", là "ngọn nguồn của giáo dục"… Tiếp theo trình bày 12 đức mục: Hiếu với cha mẹ, Hoà vợ chồng, Tôn trọng pháp luật, Tinh thần xả thân khi quốc gia hữu sự… Tinh thần ấy về cơ bản chịu ảnh hưởng tư tưởng Nho giáo truyền thống Trong Sắc chỉ giáo dục, Motoda Nagazane, nhà giáo dục hàng đầu Nhật Bản thời ấy, xác định phương châm của giáo dục Nhật Bản: Theo quan điểm của Motoda Nagazane, giáo dục cần chú trọng đến truyền thống và đạo đức trước khi dạy về khoa học và thế giới, ông chủ trương phát triển các giá trị truyền thống của dân tộc Nhật Bản. Theo ông, việc hội nhập với văn hoá phương Tây chỉ tạo ra một môi trường mà theo đó, nhiều người Nhật Bản đã quên mất các tập tục của cha ông và kết quả trực tiếp là đánh mất truyền thống dân tộc. Ông cho rằng, cải cách giáo dục cần phải "tập trung vào học tập luân lý theo Khổng giáo dựa trên cơ sở những lời dạy của tổ tiên” Triều đình Thiên hoàng tập trung phổ biến, truyền bá tư tưởng Nho giáo cho các học sinh. Sắc lệnh giáo dục năm 1880 quy định nhà trường đối với môn lịch sử phải đặt trọng tâm vào thể chế kiến quốc, tức "Chủ nghĩa hoàng gia là trung tâm". Năm 1890, Thiên hoàng Minh Trị đích thân ban bố "Sắc chỉ giáo dục", lấy việc "phò tá hoàng vận", "chí trung chí hiếu" làm căn bản, mỗi học sinh phải thuộc lòng "Sắc chỉ giáo dục" của Thiên hoàng và "Di huấn của Hoàng tổ Hoàng tông". Một đoạn trong "Giáo viên Tiểu học cần biết" soạn thảo năm 1881 có ghi: Nhà nước Nhật Bản từ thời cải cách Minh trị kết hợp cả Thần giáo (thuyết duy tâm, được cho là nguyên nhân đưa đến chủ nghĩa quân phiệt Nhật), Khổng giáo (du nhập từ Trung Quốc) và văn minh phương Tây. Chính thể là quân chủ nhị nguyên, đề cao vai trò Hoàng đế. Từ triết lý giáo dục bình đẳng và quan điểm xem trọng hiền tài bất kể xuất thân của Nho giáo, Chính phủ Minh Trị có chính sách không phân biệt hoàn cảnh, giai tầng của bất cứ thành phần nào trong vấn đề tuyển chọn nhân tài để đưa sang các nước phương Tây du học, tạo cho người dân Nhật niềm tin rằng nguồn gốc xuất thân, tài sản thừa kế không quan trọng bằng sự cố gắng bản thân. Công cuộc cải tổ của Thiên hoàng Minh Trị đã đạt được những thành tựu đáng kể. Nhật Bản đã có một nền giáo dục có xu hướng mới, nhưng họ vẫn không quên đi văn hóa cổ truyền của đất nước, vẫn đề cao tinh thần đạo đức và chủ nghĩa dân tộc của người Nhật Bản, đề cao truyền thống dân tộc theo tinh thần Khổng giáo nguyên thuỷ. Các tư tưởng Nho giáo ngày nay vẫn là một thành tố rất quan trọng trong cấu trúc xã hội Nhật Bản hiện đại, người Nhật đã khéo léo sử dụng các ưu điểm của Nho giáo trong việc phát triển đất nước, cụ thế: Tinh thần hiếu học mà Nho giáo đề cao đã giúp tạo nên trình độ giáo dục cao của nhân dân Nhật. Mỗi gia đình Nhật bản dành tới 40% thu nhập cho việc học tập. Đối với người Nhật, vấn đề giảng dạy đạo đức luôn được nhìn nhận như một điều kiện tiên quyết để hiện đại hóa đất nước từ khía cạnh xã hội. Người Nhật thấm nhuần truyền thống tiết kiệm của Nho giáo, họ dành tới 18% thu nhập để tiết kiệm (tỷ lệ cao gấp đôi Mỹ), họ hiếm khi tiêu xài tiền bạc cho những đồ xa xỉ phẩm, nhờ vậy nước Nhật đã huy động được nguồn vốn lớn trong dân cư để phát triển kinh tế. Chủ nghĩa cộng đồng, quan niệm về xã hội hài hòa, về trách nhiệm của các thành viên trong xã hội với nhau của Nho giáo được người Nhật phát huy rất tốt. Người Nhật tôn trọng các quy tắc xã hội, tinh thần trách nhiệm, tinh thần đoàn kết, ý thức tập thể, lòng trung thành và tôn kính bề trên. Nhân viên thường gắn bó với công ty và có tinh thần tập thể cao. Ngược lại công ty cũng có chính sách nâng cao trình độ học vấn và kỹ năng lao động; chăm lo phúc lợi cho nhân viên. Người dân Nhật rất tôn trọng luật pháp, các quy tắc xã hội cũng như phép lịch sự trong quan hệ với nhau như: xếp hàng, cúi chào nhau, dừng đèn đỏ... Tỷ lệ tội phạm hình sự nghiêm trọng như giết người, hãm hiếp cũng thấp hơn Âu Mỹ. Người Nhật đã đưa cả những lời dạy Nho giáo vào đạo đức kinh doanh, coi đó là "luật bất thành văn". Các doanh nghiệp Nhật thường rất có trách nhiệm với đối tác ngay cả khi họ không chịu ràng buộc về pháp lý, điều này trái hẳn với các doanh nghiệp Âu-Mỹ luôn chỉ muốn chịu trách nhiệm nếu pháp luật bắt buộc. Thành công của Nhật Bản cho thấy Nho giáo không đối nghịch với sự phát triển trong thời kỳ hiện đại. Trái lại, nền tảng đạo đức Nho giáo lại trở thành động lực to lớn thúc đẩy phát triển kinh tế. Sau 1945, Nhật Bản có một Hiến pháp mới, Thần đạo không còn là quốc giáo, Nho giáo cũng giảm vai trò, tuy nhiên đảng Dân chủ Tự do theo xu hướng bảo thủ nắm quyền liên tục vẫn tiếp thu các truyền thống cũ cùng với văn hóa phương Tây. Đối lập là Đảng Xã hội có xu hướng quốc tế hơn, cởi mở hơn với văn hóa bên ngoài và có tư duy bình đẳng. === Triều Tiên và Hàn Quốc === Nho giáo đã trở thành quốc giáo ở Triều Tiên từ triều đại Chósun. Trong xã hội hiện đại ngày nay ở Triều Tiên cũng như Hàn Quốc (2 nửa của vương quốc Triều Tiên trước kia), tư tưởng Nho giáo vẫn có ảnh hưởng rất lớn. Giống như Trung Quốc và Việt Nam, Nho học đã tạo ra một lớp trí thức được đánh giá cao trong xã hội Triều Tiên thời Trung Cận đại (Khoa bảng). Vì thế nếu một cá nhân nào đó đi thi và đỗ Tiến sĩ được cả huyện làm đại lễ, đỗ Cử nhân được làm Trung lễ để đón tiếp. Sự kiện thi đỗ được coi trọng hơn là được thăng chức, điều này đã được ghi trong Hương ước Hải Châu như sau: "Nếu như đỗ Tiến sĩ cập đệ thì làm đại lễ, đỗ Cử nhân thì làm trung lễ. Còn lại các loại lễ như lễ đội mũ cho con trai, lễ thăng quan chức lên một bậc đều làm tiểu lễ... và tặng vật cho người đỗ Tiến sĩ là 5 sấp vải bông, đỗ Cử nhân tặng 3 sấp vải bông". Tư tưởng Nho giáo ở Triều Tiên biểu hiện rõ nhất trong mối quan hệ giữa con cái và cha mẹ, quan hệ vợ chồng, anh em, quan hệ với bạn bè người thân. Trong các mối quan hệ này, quan hệ và trách nhiệm đối với cha mẹ là cao nhất. Con không được bất hiếu với cha mẹ, nếu như vi phạm phải chịu hình phạt cao nhất. Bản Mật Dương hương ước soạn năm 1648 đã ghi: "Làm con cốt ở sự thành thật, thành thật là cái gốc của sự hiếu kính". Khi cha mẹ còn sống phải có trách nhiệm phụng dưỡng chu đáo, khi cha mẹ qua đời phải lo tang tế theo đúng lễ tục. Cha mẹ là đấng tối thượng, những người làm con phải luôn ghi nhớ để chăm sóc và phụng dưỡng suốt đời. Ý thức này khiến cho con người sống nhân bản hơn, có giá trị giáo dục cao. Tư tưởng Nho giáo còn thể hiện ở tinh thần "Tôn kính trưởng thượng" - tôn trọng và kính nể bậc trên, người cao tuổi. Tư tưởng Nho giáo đề cập trong Hương ước Triều Tiên còn dạy dân có tính trung tín, đôn hậu với bạn bè người thân, cư xử với nhau có tình nghĩa trước sau. Theo các học giả Triều Tiên-Hàn Quốc, khi gia đình và đạo đức gia đình được chấn chỉnh và phát huy sẽ khiến cho thuần phong mỹ tục được trở nên tốt đẹp; như thế cũng sẽ góp phần làm ổn định xã hội. Trong lời tựa cho "Hương ước Tây Nguyên", tác giả đã viết: "Người trong một Hương (Huyện) khi khó khăn phải giúp đỡ lẫn nhau, khi có bệnh tật phải cứu giúp nhau, khi có việc phải ra ngoài thì phải hỗ trợ nâng đỡ nhau. Vả lại, khiến cho con em chịu sự giáo dục của gia đình, của trường làng, trường huyện, để đôn đốc nâng cao ý nghĩa của hiếu đễ, khiến cho xã tắc thịnh trị đến muôn đời, phong tục tốt đẹp, thuần lương cũng từ đó mà ra". Tác giả của Lễ An hương lập ước điều cũng viết trong bài tựa như sau: "Bậc đại phu trong làng lấy đức để hành đạo, làm kẻ sĩ tất phải tu chính trong gia đình, làm rạng rỡ nơi làng xóm, sau đó có thể chấn hưng được quốc gia... Huống chi, cái tốt cái xấu có thể xen nhau, Hiếu Đễ Trung Tín nếu bị chậm hoặc không được thi hành thì khiến cho cái xấu, cái ác có thể quay về. Như thế thật là đại họa cho xã tắc." Như vậy, những nhà Nho Triều Tiên đã mang tư tưởng Nho giáo của Trung Hoa để áp dụng vào việc dạy cho dân có những phong tục đẹp theo quan niệm Nho gia. Nho giáo được coi là một chuẩn mực để định ra những giá trị đạo đức và các hành vi ứng xử cho dân. Tư tưởng Nho giáo được các nhà Nho Triều Tiên tiếp thu và phát triển theo xu hướng dân tộc, coi trọng tình cảm gia đình, yêu kính cha mẹ, thương yêu anh em, nhân hậu với người thân, quý trọng tình bằng hữu, hoà mục với xóm làng, trọng nghĩa lý, biết cứu giúp người trong khó khăn hoạn nạn, ứng xử đúng với vị trí của mình. ở Hàn Quốc và Triều Tiên, vấn đề học vấn được giải quyết một cách đáng khâm phục chính bởi truyền thống Nho giáo hiếu học. Người Hàn Quốc và Triều Tiên, cũng như­ các nước đạo Khổng, luôn tuân thủ nếp sống cần kiệm, nghị lực đeo đuổi học vấn “học không biết mỏi, dạy không biết chán”. Từ truyền thống hiếu học của mình, người Hàn Quốc có đức tính tôn sư trọng đạo rất cao. Ai đó từng dạy học sinh Hàn Quốc đều thấy rõ tinh thần đó. Dân tộc Triều Tiên có một câu cách ngôn giáo dục đáng kính là: “Không được giẫm lên, dù chỉ là cái bóng của thầy”. Lực lượng lao động được đào tạo một cách nghiêm túc và hiếu học là nguyên nhân chính tạo nên sự phát triển kinh tế nhanh chóng của Hàn Quốc trong thế kỷ 20. Ở Triều Tiên cũng vậy, dù kinh tế còn khó khăn nhưng nước này có những thành tựu về khoa học công nghệ ngang hàng với các cường quốc thế giới: họ có thể tự chế tạo từ điện thoại di động, máy tính bảng cho tới máy bay không người lái, xe tăng, tàu ngầm, tên lửa đạn đạo... và cả bom nguyên tử. Từ năm 1910, Nho giáo đã không còn là quốc giáo, hệ tư tưởng chính thức của Nhà nước tuy nhiên nó vẫn có ảnh hưởng các mối quan hệ gia đình, thái độ chính trị, phương pháp tiếp cận để giải quyết vấn đề và nhiều các khía cạnh khác của cuộc sống ở Hàn Quốc và Triều Tiên. Tại Hàn Quốc ngày nay, Nho giáo vẫn ảnh hưởng rất sâu đậm. Chuyển sang thời hiện đại, vào những năm 1970, có những thời kỳ mà người Hàn Quốc nhân “phong trào xây dựng làng mới” đã đập phá, bãi bỏ những thứ mà họ cho là tàn dư, tàn tích của chế độ phong kiến. Những gì truyền thống đều bị coi là “cổ hủ”, lỗi thời, lạc hậu, cần phải gạt bỏ nhanh chóng để tiến lên hiện đại hóa. Thế là rất nhiều những di vật, di sản văn hóa có giá trị bị đập phá, nhiều sách vở tư liệu cổ quý giá bị thiêu hủy. Thời kỳ này do Tổng thống Park Chung Hee nắm quyền, ông ta định dẹp bỏ tất cả những gì gọi là truyền thống để nhanh chóng đạt được cái gọi là hiện đại hóa. Nhưng, về tư tưởng, Park Chung Hee không đưa ra được một học thuyết chính trị nào phù hợp mà nhận ra rằng, không thể không sử dụng những yếu tố tích cực của Nho giáo, trong đó, Trung (trung thành) và Hiếu (hiếu thảo) là giá trị quan xuyên suốt nhiều thế kỷ ở Hàn Quốc. Vào thời kỳ đó, đã xảy ra nhiều cuộc tranh luận nóng bỏng giữa các học giả Hàn Quốc về tính hữu dụng của truyền thống, của yếu tố tích cực trong Nho giáo mà kết quả cuối cùng là Park Chung Hee đã đi đến quyết định: Giá trị quan của Nho giáo về Trung và Hiếu được ông ra chỉ thị tiếp tục dạy trong nhà trường và truyền bá trong nhân dân. Từ đó cho đến tận ngày hôm nay, vấn đề chữ Hiếu vẫn được nêu cao và được coi là truyền thống tốt đẹp của người Hàn Quốc. Trong quan hệ vợ chồng dù không còn khắt khe như thời phong kiến nhưng trách nhiệm của người đàn ông đối với kinh tế vẫn là chính, đa số phụ nữ sau khi lấy chồng đều ở nhà chăm lo việc nhà, nuôi dạy con cái, họ chấp nhận bỏ việc để ở nhà làm hậu phương cho sự nghiệp của chồng. Họ vẫn nêu cao đức hạnh "dâu thảo, vợ hiền" thực hiện "Nghĩa vợ chồng" như một bộ luật bất thành văn. Vấn đề chữ Hiếu vẫn được nêu cao và được coi là truyền thống tốt đẹp của người dân Hàn Quốc. Đời sống người Hàn Quốc càng khá giả thì việc cúng giỗ tổ tiên chẳng những không mất đi mà lại càng trang trọng, càng giống như phương thức mà các qúy tộc thời xưa đã làm. Tết Trung thu ở Hàn Quốc không phải là Tết thiếu nhi như ở Việt Nam mà là ngày lễ lớn, người Hàn Quốc dù ở xa cũng trở về đoàn tụ gia đình để lễ bái ông bà cha mẹ, cúng lễ và quỳ lạy trước phần mộ tổ tiên. Về phía nhà nước, Chính phủ quy định kỳ nghỉ dài ngày trong dịp lễ này và Tổng thống Hàn Quốc luôn có bài phát biểu chúc Tết Trung thu nhằm nhắc nhở người dân cần ghi nhớ truyền thống của tổ tiên. Đại học Thành Quân Quán, trường đại học lâu đời nhất Hàn Quốc được thành lập năm 1398 để thờ cúng và đào tạo Đạo Khổng. Sau 600 năm, hiện nay trường vẫn là một trong những đại học lớn nhất Hàn Quốc và vẫn giữ nguyên khẩu hiệu là "Nhân, Nghĩa, Lễ, Trí" (仁, 義, 禮, 知), thể hiện tinh thần của Khổng Giáo về bốn phẩm chất quan trọng của con người: tinh thần, hành động, lương tâm, và trí tuệ. "Nhân" thể hiện tình yêu thương, "Nghĩa" giúp phân biệt đúng sai, "Lễ" thể hiện lòng kiên nhẫn và đúng mực, "Trí" thể hiện khả năng lĩnh hội, tư duy, thể hiện Triết lý của Khổng Tử hướng con người đến sự nhận thức và nuôi dưỡng điều thiện. Bốn yếu tố đó ảnh hưởng đến triết lý phát triển của trường, và là những tiêu chí để xây dựng nền nghiên cứu đề cao sự thật và công bằng xã hội. Biểu tượng của trường là hai cây bạch quả lớn (Di tích quốc gia Hàn Quốc số 59). Mặc dù bây giờ đã không còn, hai cây bạch quả này được coi là biểu tượng quan trọng của đại học Sungkyunkwan. Được trồng vào năm 1519 bởi Yun Tak, hiệu trưởng của học phủ Sungkyunkwan, cây bạch quả còn là biểu trưng của Nho giáo bởi có truyền thuyết cho rằng, Khổng Tử thường ngồi đọc sách, đàm đạo hoặc dạy học trò dưới tán cây. Loài cây này cũng thể hiện sự trường thọ và thông thái, hai yếu tố quan trọng trong văn hóa Triều Tiên. === Singapore === Singapore là đất nước có lịch sử non trẻ nên không có truyền thống Nho giáo hàng ngàn năm như Trung Quốc, Triều Tiên, Nhật Bản... Tuy nhiên, do 70% người Singapore là người gốc Hoa, do đó Nho giáo vẫn là thành tố quan trọng ảnh hưởng tới xã hội nước này. Giành độc lập từ thập niên 1950, Singapore đã trải qua quá trình phát triển kinh tế nhanh chóng, đô thị hóa khiến bộ mặt đất nước thay đổi nhanh chóng. Tuy nhiên bên cạnh những thành công, các nhà lãnh đạo Singapore sớm nhận ra những nhân tố mới tiềm ẩn nguy cơ với đất nước: Đô thị hóa khiến các dòng tộc bị xé nhỏ. Tinh thần vì cộng đồng và dòng tộc trong thế hệ trẻ sinh ra ở thành phố đã giảm đi rất nhiều Vai trò cá nhân được đề cao, nhưng nếu đề cao thái quá thì sẽ dẫn đến tình trạng con người chỉ biết tư lợi cho bản thân, coi thường các giá trị nhân văn, các giá trị cộng đồng. Các nhà lãnh đạo Singapore nhận thấy đó là nguy cơ cho một cuộc "Khủng hoảng về đạo đức" mà nếu xảy ra thì hậu quả sẽ rất tai hại. Các nhà nghiên cứu khẳng định: khi những giá trị truyền thống bị phá vỡ quá nhanh mà các chuẩn mực mới chưa định hình, xã hội sẽ rơi và một tình trạng "mê loạn về giá trị sống". Việc du nhập lối sống phương Tây đã sinh ra những tác động tiêu cực, làm tăng tỷ lệ tội phạm, ly hôn, quan hệ tình dục trụy lạc... trong khi văn hóa phương Đông ngày càng mất đi. Đó là điều đã manh nha ở Singapore từ thập niên 1970 và ngày càng trở nên rõ rệt. Sự phát triển kinh tế mà không đi kèm bảo lưu giá trị văn hóa thì sẽ dẫn tới kết quả tai hại. Gia đình truyền thống bị xáo trộn, con người sống thiếu đạo đức thì xã hội không thể nào ổn định chứ chưa nói đến phát triển. Muốn khôi phục các giá trị phương Đông, đương nhiên Nho giáo được coi trọng hàng đầu. Do đó, trong thập niên 1970, chính quyền Singapore đã phát động chiến dịch "Chấn hưng đạo đức Nho gia" trong cộng đồng người gốc Hoa nước này, coi Nho giáo là công cụ hữu hiệu chặn đứng sự suy thoái đạo đức đang có nguy cơ lan rộng trong xã hội. Phong trào này được đông đảo người dân ủng hộ. Nó đi vào ý thức người dân, được ca tụng là "Công cuộc tái sinh văn hóa" nhằm bảo tồn các giá trị truyền thống tốt đẹp và loại bỏ những ảnh hưởng xấu, lai căng từ bên ngoài. Các phong trào được cụ thể hóa như: Tháng 6/1976, phong trào "Một tháng lễ phép", sau này đưa hẳn vào chương trình giáo dục. Tháng 11/1979, phong trào "Kính trọng người già", sau này tiến hành đều đặn hàng năm. Tháng 2/1982, Singapore quyết định đưa các môn luân lý Nho giáo vào chương trình khóa học tôn giáo để các học sinh năm ba và bốn trung học lựa chọn. Tháng 6/1982, Phó Thủ tướng kiêm Bộ trướng giáo dục Ngô Khánh Thụy sang Mỹ bàn với các học giả người Mỹ gốc Hoa về những nguyên tắc và kế hoạch nhằm thúc đẩy luân lý Nho giáo trong xã hội. Chính phủ Singapore cũng tận dụng truyền thông như tivi, báo đài... để tuyên truyền rầm rộ cho phong trào, trên truyền hình thường xuyên có các học giả Nho giáo nổi tiếng tiến hành diễn thuyết. Mặt khác, chính phủ thành lập hẳn một cơ quan chuyên nghiên cứu triết học phương Đông, đó là Viện triết học Đông Á. Viện này đã đóng vai trò quan trọng trong việc khởi xướng các phong trào phục hưng Nho học tại các nước Đông Á. Nhà lãnh đạo Singapore nổi tiếng, Lý Quang Diệu, luôn phát biểu nhấn mạnh tầm quan trọng của đạo Nho đối với xã hội Singapore. Bản thân ông năm 1985 đã được bầu làm Chủ tịch Hội Khổng học thế giới. Trả lời phỏng vấn trên Foreign Affairs năm 1995, ông Lý Quang Diệu nói về tầm quan trọng của văn hóa và đạo đức truyền thống đối với sự phát triển của Đông Á, điều mà các nước phương Tây đã đánh mất: Tôi thấy có những điều không chấp nhận được trong xã hội Mỹ: súng ống, thuốc phiện, tội phạm bạo lực, người vô gia cư, các hành vi lố lăng ngoài đường, nói tóm lại là xã hội đổ vỡ. Sự mở rộng quyền tự do cá nhân thích hành động hay phá phách thế nào tuỳ ý gây ra tổn thất với trật tự xã hội. Ở phương Đông, mục đích chính luôn là trật tự xã hội ổn định để mọi người có thể có hưởng tự do của mình. Sự tự do này chỉ tồn tại trong xã hội ổn định chứ không phải ở đất nước của tranh cãi và vô chính phủ. Tại Singapore, nếu nước tiểu dương tính, anh ta phải đi cai nghiện ngay. Ở Mỹ anh làm vậy thì lại bị coi là xâm phạm quyền tự do cá nhân và bị kiện ngay tức khắc. Quyền cá nhân ở Mỹ được coi là bất khả xâm phạm. Nhưng chẳng ai quan tâm khi quân đội Mỹ bắt tổng thống của một nước khác rồi đưa đến Florida và ném ông ta vào tù. Tôi chẳng thể nào hiểu được. Con người cần những ý thức đạo đức nhất định về đúng và sai. Có những thứ là xấu xa. Anh đơn giản là xấu xa, dễ làm những việc xấu thì phải chặn anh không làm những việc xấu vậy. Người phương Tây từ bỏ những nền tảng đạo đức của xã hội, tin rằng mọi vấn đề có thể giải quyết bằng một chính phủ tốt – đây là điều mà phương Đông chúng tôi không bao giờ tin. Xã hội phương Đông tin rằng cá nhân tồn tại trong khuôn khổ gia đình. Anh ta không tách rời ra bối cảnh đó. Gia đình là một phần của gia đình rộng lớn hơn, rồi bạn bè rồi xã hội. Người lãnh đạo hay chính quyền không cố cung cấp cho cá nhân những gì mà gia đình có thể. Có câu thành ngữ của Trung Quốc khái quát vấn đề này: "tu thân, tề gia, trị quốc, bình thiên hạ". Tu thân nghĩa là tự lo bản thân, tự rèn luyện, làm mọi việc để mình trở nên có ích; tề gia là lo lắng cho gia đình; trị quốc là lo lắng cho đất nước; bình thiên hạ là tất cả dưới bầu trời đều thái bình. Đó là quan niệm cơ bản của văn minh chúng tôi. Chính quyền lên rồi chính quyền xuống, nhưng quan điểm này vẫn duy trì. Chúng tôi bắt đầu bằng sự tự túc của bản thân. Mặt nữa, chúng tôi may mắn là chúng tôi có nền văn hoá tràn đầy niềm tin vào sự tiết kiệm, làm việc chăm chỉ, kính trọng cha mẹ, tôn kính gia đình, và trên hết, là tôn trọng trí thức và sự học. === Việt Nam === Nho Giáo ở Việt Nam cũng để lại dấu ấn rất lớn trong quá trình giáo dục và lịch sử dựng nước ở các triều đình phong kiến thời trung đại. Tín ngưỡng truyền thống Việt Nam đã tiếp nhận Phật giáo, Đạo giáo, Nho giáo để làm nên "Tam giáo đồng nguyên" (cả ba tôn giáo có cùng một gốc) và "Tam giáo đồng quy" (cả ba tôn giáo có cùng một mục đích). Ba tôn giáo đã trợ giúp lẫn nhau: Nho giáo chăm lo tổ chức xã hội, Đạo giáo chăm lo thể xác con người, Phật giáo chăm lo đời sống tâm linh con người. Trong nhiều thế kỷ, hình ảnh "Tam giáo tổ sư" với Phật Thích Ca Mâu Ni ở giữa, Lão Tử ở bên trái, Khổng Tử ở bên phải đã in sâu vào tâm thức mọi người Việt. Lịch sử Việt Nam ghi lại tên tuổi của nhiều bậc nhà Nho tài đức: Chu Văn An (1292-1370); Nguyễn Bỉnh Khiêm (1409-1595), Nguyễn Thiếp (1723-1804)... học trò của họ, dẫu có quyền lực rất cao đi nữa cũng không bỏ rơi lễ nghĩa, đạo đức với thầy. Sử chép rằng, Chu Văn An đã dâng sớ xin vua chém 7 tên gian thần, vua không nghe, tức khắc ông từ quan về quê. Một hôm, học trò ông là Phạm Sư Mạnh, đang làm quan to ở triều, về thăm thầy (tức Chu Văn An), dọc đường qua khu chợ đang họp, Phạm Sư Mạnh sai lính thét dân dẹp đường, làm huyên náo. Biết được sự việc, Chu Văn An giận học trò mình quên Lễ Nghĩa với dân, bèn đóng cửa nhà không cho Phạm Sư Mạnh gặp mặt. Vị quan lớn triều đình đã phải quỳ trước cửa cả buổi thầy mới tha lỗi. Nho giáo đã tạo nên những người thầy can trực, đạo đức, như thế mới có thể đào tạo nên những học trò hữu ích cho đất nước. Nho giáo thịnh hành nhất vào thời Lê sơ, với nhà nước phong kiến Trung ương tập quyền. Nhờ Đạo Nho, người Việt Nam rất coi trọng sự học hành. Văn Miếu - Quốc Tử Giám lập năm 1076 có thể coi đây là trường đại học đầu tiên ở Việt Nam. Nơi đây còn lưu giữ nhiều tấm bia ghi lại tên tuổi các Nho sĩ đỗ đạt trong các kỳ thi Khoa bảng Việt Nam cùng nhiều bài văn bia nêu lên triết lý giáo dục: mở đầu là ca ngợi công đức của các minh quân, ca ngợi đạo Nho và bậc thánh nhân quân tử; phần tiếp theo nói về việc mở khoa thi và liệt kê họ tên, quê quán những người thi đỗ đại khoa; phần cuối là những lời bình về ý nghĩa của việc tuyên dương đạo Nho, trách nhiệm và nghĩa vụ của người đỗ đạt trước giang sơn đất nước. Nhiều hoàng đế, danh nhân Việt Nam đã để lại những bài thơ ca ngợi tầm quan trọng của Nho giáo tại đây, ví dụ như: Giáo hoá lan tràn khắp nước ta, Đạo Thánh đứng đầu cả bách gia, Nghe nói Bắc phương văn vật thịnh, Thảo nào Văn Miếu vẫn nguy nga. Thời trung đạo ấy tới Viêm đô, Trăm thủa đề cao nhất đạo Nho, Triều Lý vẫn còn lưu dấu cũ, Kinh thành riêng để một quy mô. Một số câu đối như: Nước lớn trong giáo dục, giữ thuần phong, đạo được tôn sùng, tin tưởng tư văn nguyên có gốc. Nhà Nho phải thông kinh, phải thức thời, chớ nên cố chấp, những lời thánh huấn phải ghi lòng. Sĩ phu có nhiều báo đáp, ơn triều đình đào tạo, ý nước nhà tôn sùng. Thế đạo nhờ đó duy trì, chốn lễ nhạc y quan, nơi thanh danh văn vật. Một số mặt tiến bộ của Nho giáo tại Việt Nam: Tạo được truyền thống ham học, truyền thống tôn sư trọng đạo, truyền thống coi trọng người có học. Từ đó các kiến thức học tập được tích lũy, có điều kiện để duy trì và phát triển. Ngoài ra còn tạo cho con người biết đạo ăn ở, biết quan tâm đến người khác, biết sống có văn hóa và đạo đức. Tạo được cơ chế tuyển dụng người tài qua thi cử. Bất kể xuất thân ra sao (nông dân, người thợ, lính tráng...) nếu học giỏi đỗ đạt thì có thể ra làm quan giúp nước (ở phương Tây thời kỳ này, chức tước chỉ được chuyển giao nội bộ trong các gia đình quý tộc, dân thường hầu như không thể có được chức vị). Từ đó tạo nên một tâm lý xã hội: "Không tham ruộng cả ao liền, tham vì cái bút, cái nghiên anh đồ". Nhiều thanh niên, trai tráng lấy việc học tập, thi cử làm mục tiêu cao nhất trong cuộc đời mình. Xã hội nhờ vậy coi trọng sự học tập cần cù. Câu châm ngôn "Tiên Học Lễ, Hậu Học Văn" đã ghi khắc sâu đậm vào dân tộc Việt Nam suốt hàng ngàn năm, chữ "Lễ" luôn nhắc nhở người dân rằng phải học lễ độ, thân ái, hòa thuận với mọi người, tôn trọng trật tự, lễ kính với người già và phải có trên dưới rõ ràng. Còn chữ "Văn" nhắc nhở con người phải học hành để thành người tài đức. Câu này được phổ biến ở khắp các trường học tại Việt Nam. Tuy nhiên Nho giáo Việt Nam còn có những mặt hạn chế. Về nội dung học tập, Nho giáo chỉ nói đến "trí dục" và "đức dục" mà không xét đến mặt "thể dục" là mặt cũng rất cần cho sự phát triển toàn diện con người. Những kiến thức về giới tự nhiên và về sản xuất vật chất không được Nho giáo đề cập (bởi ở thời của Khổng Tử, khoa học kỹ thuật và nền sản xuất chưa phát triển). Do vậy, người học tuy thấm nhuần tư tưởng Nho học về đạo đức, tinh thông cổ văn, nhưng kiến thức về khoa học tự nhiên, sản xuất thực tiễn thì lại không phát triển. Cả hai mặt tiến bộ và hạn chế của Nho giáo đều để lại dấu ấn trên Nho sĩ. Khi tiếp xúc với nền văn minh phương Tây mạnh về khoa học kỹ thuật, nếu người xuất thân Nho học biết tiếp thu những kiến thức khoa học và sản xuất thì sẽ khắc phục được mặt hạn chế, trở nên "Vừa có tài vừa có đức". Ngược lại nếu không tiếp thu được những tinh hoa tri thức phương Tây mà chỉ bắt chước lối sống, du nhập chủ nghĩa tiêu dùng của phương Tây; mô phỏng các hình thức nhà nước phương Tây mà không hiểu rõ triết lý, ưu nhược điểm và điều kiện tồn tại của những hình thức đó hoặc tiếp thu những học thuyết chính trị cực đoan, vô chính phủ, kích động bạo lực, đề cao sức mạnh phá hủy của đám đông thiếu trí tuệ, phủ định các giá trị truyền thống, gây chia rẽ xã hội; xem thường Nho giáo vì cho rằng nó lỗi thời, không phù hợp với điều kiện xã hội hiện đại thì không những không khắc phục được hạn chế vốn có mà những giá trị đạo đức của nền Nho học, những giá trị văn hóa dân tộc cũng bị đánh mất. Đạo đức suy đồi, văn hóa thui chột thì xã hội hỗn loạn, xung đột nảy sinh. Đó là bi kịch của những nước bị "cưỡng ép" phương Tây hóa thiếu định hướng và thiếu chiều sâu như Việt Nam, Trung Quốc. Nó tương phản với Nhật Bản: do chủ động phương Tây hóa một cách có ý thức, có chọn lọc, có hệ thống nên vừa tiếp thu được hệ thống tư tưởng tiến bộ, tri thức khoa học, công nghệ tiên tiến của phương Tây để hiện đại hóa quốc gia mà vẫn bảo tồn được đạo đức xã hội, sự đoàn kết quốc gia và bản sắc dân tộc dựa trên nền tảng Nho giáo. Nhược điểm nghiêm trọng nữa là Nho giáo Việt Nam thiếu sự xuất hiện các trường phái học thuật nên khá đơn điệu và một chiều, chứ không được phong phú và đa dạng như Nho giáo Trung Quốc. Nho giáo Việt Nam thiếu sự vận động bên trong, thiếu sự phản tỉnh nên trì trệ. Đa số nhà Nho Việt Nam chỉ đặt cho mình mục đích học là để đi thi, thi đỗ thì ra làm quan để vinh thân phì gia. Đạt được mục đích đó thì xem như việc học tập đã kết thúc. Ít người có chí cao xa, như học để tham gia tranh luận những vấn đề học thuật, học để kinh bang tế thế hoặc để phát triển văn hoá, đạt đến những tầm cao tư tưởng. Cũng có một số Nho sĩ quan tâm đến học thuật, nhưng thường là các vấn đề chính trị và đạo đức, ít bàn đến vấn đề siêu hình, một lĩnh vực thuần túy triết học làm nền tảng cho khả năng nhận thức sâu sắc thế giới và hành động sáng tạo. Thậm chí, họ còn biến những vấn đề siêu hình thành cái thực tế, thực dụng. Vì học tập và tư duy như thế nên Nho giáo Việt Nam ít có cống hiến to lớn trong lĩnh vực học thuật có thể so sánh với các nước Nho giáo khác. Một số nhà Nho uyên thâm của Việt Nam khi đứng trước kho tàng đồ sộ và uyên bác của Nho giáo Trung Quốc thường tóm lược lấy những điều cốt yếu, biên soạn lại thành những tài liệu đơn giản và ngắn gọn để dạy học trò. Có thể liệt kê các sách như “Tứ thư tập chú” của Chu Hy, “Tứ thư đại toàn” của Tống, Nguyên, Minh, Thanh Nho, sang Việt Nam chỉ còn là “Thuyết ước” (tóm lược học thuyết) và “Ước giải” (giải thích tóm tắt); hoặc như cuốn “Tính lý đại toàn” của Hồ Quảng thời Minh, sang Việt Nam chỉ còn “Tiết yếu”. Đây là hiện tượng chung của nhiều triều đại quân chủ Việt Nam. Nếu ở triều Trần có “Tứ thư thuyết ước” của Chu Văn An, thì ở triều Lê - Trịnh có “Tứ thư ước giải” của Lê Quý Đôn, triều Nguyễn có “Tứ thư trích giảng” của Nguyễn Văn Siêu; nếu ở triều Lê - Trịnh có cuốn “Tính lý tiết yếu” của Bùi Huy Bích, thì ở triều Nguyễn cuốn đó vẫn còn được xem là cuốn sách giáo khoa mẫu mực. Các sách này dễ học nhưng đã lược bớt rất nhiều điều, nhiều điểm có khả năng gợi mở, giản đơn hoá nội dung phong phú và súc tích của học thuyết, khiến người học không lĩnh hội được chiều sâu của Nho giáo. Người được truyền đạt cũng hài lòng với cách làm đó thì mọi lối tư duy, mọi đường sáng tạo đều bị thu hẹp lại. Bên cạnh đó, hạn chế lớn nhất là tập quán sùng bái thánh hiền, giáo điều và máy móc của giới Nho sĩ Việt Nam. Trong khi đó bên cạnh Nho giáo còn có nhiều trường phái tư tưởng khác như Đạo gia, Mặc gia, Pháp gia... Giữa các trường phái này luôn có sự tranh luận, phản bác nhau. Điều này khiến sự phát triển của Nho giáo Việt Nam hạn chế. Nó chỉ đạt đến mức độ tiếp thu một số tín điều từ Nho giáo Trung Hoa, chưa tạo được lý luận riêng, chưa xuất hiện các học phái khác nhau. Phương pháp tư duy của nó thiên về bảo thủ, giáo điều. Theo ông Nguyễn Đức Sự: Bước sang thế kỷ XIX, trước sự phát triển và thâm nhập của chủ nghĩa tư bản vào các nước châu Á lạc hậu, cùng sự lan toả trên phạm vi toàn thế giới của nền văn minh phương Tây, chế độ phong kiến Việt Nam thời Nguyễn và hệ tư tưởng của nó là Nho giáo trở nên lỗi thời. Do đó, nhà nước phong kiến triều Nguyễn đã trở thành lực cản sự phát triển của xã hội Việt Nam. Nó đẩy xã hội Việt Nam vào cảnh nghèo nàn, lạc hậu, không đủ sức chống lại sự xâm lăng của chủ nghĩa đế quốc. Còn Nho giáo, do là hệ tư tưởng nhằm bảo vệ cái chế độ phong kiến suy tàn ấy nên tất nhiên nó có tính phản động, đi ngược lại xu thế phát triển của lịch sử. Lúc này, Nho giáo đã bộc lộ rõ rệt những nhược điểm và yếu kém của nó. Các nhà chủ trương cải cách ở Việt Nam, đứng đầu là Nguyễn Trường Tộ, đã phê phán những mặt lạc hậu và yếu kém của Nho giáo không những trên phương diện chính trị, như tổ chức nhà nước, củng cố quốc phòng, mà cả trên phương diện kinh tế, tài chính, nhất là trên phương diện văn hoá, giáo dục. Như vậy, ở thế kỷ XIX, Nho giáo đã cản trở sự phát triển của xã hội Việt Nam không những trên phương diện chính trị - văn hoá, mà cả trên phương diện kinh tế - xã hội. Sau khi thực dân Pháp xâm chiếm Việt Nam, xã hội Việt Nam đã trở thành xã hội thuộc địa nửa phong kiến. Cùng với đó, văn hoá phương Tây và hệ tư tưởng tư sản tràn vào Việt Nam. Đồng thời, nền giáo dục Nho học bị bãi bỏ. Nho giáo ở Việt Nam tiếp tục suy tàn và đổ vỡ. Tuy nhiên, thực dân Pháp thống trị vẫn muốn duy trì ở Việt Nam những quan hệ phong kiến và những yếu tố của hệ tư tưởng phong kiến để củng cố chế độ thuộc địa. Vì thế, thực dân Pháp đã sử dụng Nho giáo vào việc cai trị dân bản xứ Trong những tàn dư đó có chứa đựng những giá trị văn hoá truyền thống của dân tộc,đồng thời cũng mang theo những “bệnh hoạn” của chế độ phong kiến. Nó đã để lại dấu ấn rõ rệt ở tác phong gia trưởng, ở quan niệm tôn ti đẳng cấp trong các cơ quan xí nghiệp, ở sự thiếu bình đẳng trong quan hệ nam nữ và quan hệ gia đình, ở sự rập khuôn, giáo điều trong công tác nghiên cứu và công tác tổ chức, ở sự coi thường công tác chuyên môn mà chỉ lo tiến thân bằng con đường quan chức…. Theo sách Lịch sử châu Á, văn hóa Nho giáo thích hợp với kinh tế nông nghiệp, nơi con người có xu hướng thích sống dựa dẫm, khép kín, chủ nghĩa cá nhân không có điều kiện phát triển. Nó biến các quốc gia phong kiến chịu ảnh hưởng dần trở nên lạc hậu và đầy mặc cảm với các đế quốc phương Tây. Báo Phụ nữ Tân văn thời Pháp thuộc viết Nho giáo tồn tại trong một thời kỳ còn chế độ đại gia tộc... Những thuyết trong Nho giáo không biết tới quyền lợi của cá nhân, mà chỉ biết có họ, có làng, có "nước". Mà "nước" trong thời kỳ phong kiến vẫn khác với nước trong thời kỳ tư bản. Tờ báo cũng phê phán một người tôn sùng đạo Nho "ông vừa ao ước cho nhân dân được những quyền lợi của nhân dân ở các xứ tư sản dân trị, lại dựa vào những thuyết rất phong kiến, trái hẳn với chế độ tư bản... Ông thuộc về hạng người thanh niên chiêm nghiệm những lý tưởng "quân tử", "chí sĩ" mà quên rằng cái thực tế mới trong xã hội mâu thuẫn hẳn với những đạo lý rất xưa ấy. Ông quá mê mệt với những danh từ "cao quý" mà không nhìn thấy cái thực tế. Nếu ông biết thoát ra ngoài những chữ hay ho mà nhận rõ cái ý bảo thủ hàm ở trong sách xưa, cái ý bảo thủ đã gây hại cho đại đa số nhân dân... Đừng có ai lợi dụng những đạo lý phong kiến để "vinh thân phì gia"." Bài báo phê phán Nho giáo là hệ tư tưởng phong kiến trung quân, không có lợi cho "dân quyền, giải phóng đẳng cấp và phụ nữ", và thuyết đạo đức không phù hợp với sự thay đổi của kinh tế - xã hội. Đề cương văn hoá Việt Nam năm 1943 của Đảng Cộng sản Đông Dương do Trường Chinh khởi thảo chủ trương đập tan những quan niệm cũ kỹ của Nho giáo gây ảnh hưởng tai hại ở Việt Nam làm cho thuyết duy vật biện chứng và duy vật lịch sử thắng. Cách mạng Tháng Tám năm 1945 đã làm cho Nho giáo ở Việt Nam suy sụp hoàn toàn cùng với sự sụp đổ của chế độ quân chủ. Từ đây, Nho giáo không còn là hệ tư tưởng chính thống của tầng lớp lãnh đạo xã hội. Nho giáo không còn tồn tại nữa nhưng nó vẫn ảnh hưởng lâu dài trong các mối quan hệ xã hội, trong ứng xử giữa người và người, trong phong tục tập quán và cả trong những nghi thức thờ cúng, tín ngưỡng cổ truyền của người Việt. Trong thời kỳ hiện đại, nhiều nhà Cách mạng Việt Nam nổi bật như Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh, Hồ Chí Minh, Võ Nguyên Giáp, và tổng thống Việt Nam Cộng hòa Ngô Đình Diệm... đều xuất thân từ những gia đình nhà Nho có truyền thống khoa bảng hoặc dạy học. Tuy nhiên Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh đều lựa chọn dân chủ phương Tây, Hồ Chí Minh lựa chọn chủ nghĩa cộng sản, Ngô Đình Diệm lựa chọn chủ nghĩa nhân vị. Nhà sử học Pháp, ông Pierre Brocheux tin rằng nhà cách mạng Hồ Chí Minh là một người theo Khổng giáo, ông luôn cố gắng kết hợp những ý tưởng của Khổng Giáo, một truyền thống Đông Á với các dòng tư tưởng châu Âu, từ Mác-xít đến Lênin-nít, và cố gắng đưa vào thực tế tính nhân bản và tính công bằng xã hội theo kiểu Khổng Giáo. Tổng kết 30 năm tiếp thu các dòng tư tưởng của mình, nhà cách mạng Hồ Chí Minh đúc kết: “Học thuyết của Khổng Tử có ưu điểm là sự tu dưỡng đạo đức cá nhân. Tôn giáo Giêsu có ưu điểm là lòng nhân ái cao cả. Chủ nghĩa Marx có ưu điểm là phương pháp biện chứng. Chủ nghĩa Tôn Dật Tiên có ưu điểm là chính sách thích hợp với điều kiện của nước ta… Khổng Tử, Giêsu, Karl Marx, Tôn Dật Tiên chẳng phải có những điểm chung đó sao? Họ đều muốn mưu cầu hạnh phúc cho nhân loại, mưu cầu hạnh phúc cho xã hội. Nếu hôm nay, họ còn sống trên đời này, nếu họ ở một chỗ, tôi tin rằng họ nhất định chung sống với nhau rất tốt đẹp như những người bạn thân thiết. Tôi cố gắng làm người học trò nhỏ của họ.” Theo lời của Linh mục Vũ Ngọc Long, cố Tổng thống Ngô Đình Diệm chịu ảnh hưởng sâu đậm của nền giáo dục Nho Giáo và Thiên Chúa Giáo. Vậy nếu Nho Giáo đã hun đúc ông thành một con người trung với nước, hiếu với dân, thì nền giáo dục Thiên Chúa Giáo đã làm cho cố tổng thống trở thành một con người kính mến Thiên Chúa và yêu thương mọi người. Trên thực tế ngay từ thời Pháp thuộc, chủ nghĩa tư bản và lối sống phương Tây thiên về chủ nghĩa cá nhân manh nha phát triển, nhất là các đô thị, trí thức theo đuổi học chữ Quốc ngữ thay vì chữ Nho, mặc Âu phục, thay vì trang phục truyền thống... Nho giáo suy yếu. Đảng Cộng sản khi nắm quyền ở miền Bắc ảnh hưởng bài Nho từ Trung Quốc, do đó Nho giáo bị bài trừ (Mao Trạch Đông từng coi Nho giáo là tư tưởng phong kiến, làm phục hưng đẳng cấp quý tộc, trái ngược chủ nghĩa cộng sản nguyên gốc coi trọng tự do, bình đẳng và tính cộng đồng). Các sinh hoạt văn hóa ở miền Bắc lúc đó theo hướng hòa hợp tập thể, các sản phẩm văn hóa được xem là phong kiến, tư sản, văn hóa lai căng hay văn hóa thực dân mới, văn hóa thị trường tiêu dùng đều bị bài trừ, như cấm thời trang, các quầy bar, sàn nhảy, phòng trà, cấm ả đào, chầu văn, nhạc trẻ, nhạc vàng, tiểu thuyết dâm ô, kinh dị, kiếm hiệp, "tâm lý xã hội",..., nhưng các sản phẩm văn hóa được xem là tinh hoa của nhân loại như opera, giao hưởng thính phòng, hay đậm chất dân tộc có lợi cho việc xây dựng xã hội chủ nghĩa thì vẫn được cho phép. Áo đại cán thời đó được ưa thích nhưng cán bộ và quần chúng bình dân thường may áo khác nhau (mẫu áo đại cán có từ thời Tôn Trung Sơn, vì Mao Trạch Đông tôn trọng Tôn Trung Sơn nên chấp thuận). Luật Hôn nhân và gia đình năm 1959 xóa bỏ những tàn tích của chế độ hôn nhân và gia đình phong kiến, lạc hậu. Ngược lại ở miền Nam, dưới thời Đệ nhất cộng hòa, do Ngô Đình Diệm chịu ảnh hưởng của Nho giáo nên ông cũng cấm các vũ trường, sàn nhảy, coi trọng ăn mặc nề nếp... tuy nhiên các hoạt động này vẫn ẩn nấp ở các phòng trà. Sang thời kỳ Đệ nhị Cộng hòa thì các hoạt động văn hóa tự do hơn, các truyện chưởng, tâm lý xã hội của Hồng Kông, Đài Loan pha trộn ảnh hưởng văn hóa Nho, Lão và tư bản chủ nghĩa chiếm ưu thế trong giải trí. Pháp luật thời kỳ này quy định nhiều điều cấm đoán, xử phạt khắt khe đối với việc vi phạm nghĩa vụ vợ chồng, giải quyết ly hôn dựa trên cơ sở lỗi của người chồng, thậm chí Bộ luật gia đình năm 1959 còn cấm vợ chồng không được ly hôn... Nhiều lĩnh vực của hôn nhân và gia đình bị bỏ khuyết như vấn đề thừa kế tài sản giữa vợ và chồng... Cả ba bộ luật 1959, 1964, 1972 đã bãi bỏ chế độ đa thê song vẫn thừa nhận nguyên tắc bất bình đẳng giữa vợ và chồng, phân biệt đối xử giữa các con, quyền gia trưởng của người chồng vẫn tiếp tục được duy trì.... Sau 1975, Nhà nước chủ trương quét sạch các tàn dư "văn hóa thực dân mới", "phản động", "đồi trụy", văn hóa thị trường, màu sắc cá nhân chủ nghĩa, hưởng thụ, "trụy lạc" nên các sàn nhảy, quầy bar,... đều bị đóng cửa; người dân ăn mặc nề nếp, vắng bóng thời trang, như khuyến khích (không ép buộc) đàn ông để tóc ngắn, phụ nữ để tóc dài. Luật Hôn nhân và gia đình năm 1959 của Việt Nam Dân chủ cộng hòa có hiệu lực trên toàn quốc. Từ khi Đổi mới, Nho giáo ít nhiều có điều kiện khôi phục, tuy nhiên những năm gần đây văn hóa phương Tây ngày càng chiếm ưu thế, đặc biệt ở các đô thị, trong giới trẻ. Tự do cá nhân có điều kiện phát triển, phá vỡ nhiều truyền thống cũ. Ở Việt Nam những người ảnh hưởng nhiều của Nho giáo chủ yếu là những người lớn tuổi, theo tâm lý sinh lý của người lớn tuổi thích sống chậm, hoài niệm, ít chấp nhận và cập nhật cái mới, xem trọng lễ nghĩa truyền thống. Công chức, giáo viên,... cũng hay chịu ảnh hưởng của Nho giáo, tính năng động thường kém hơn doanh nhân. Phần nhiều nông dân do quen sống an phận, nếp sống cộng đồng gắn kết ở nông thôn, ít tiếp xúc văn hóa phương Tây, cũng chịu ảnh hưởng nhiều của Nho giáo (thể hiện trong lối ứng xử, sở thích ăn mặc, nghe nhạc xem phim,...). Nông dân chịu ảnh hưởng nhiều của Nho giáo thường rất ngưỡng mộ những người có học, nhưng thường là những người có học để làm công chức (làm quan) hay công tác xã hội chứ không phải làm kinh tế "chạy theo lợi ích cá nhân". Do Nho giáo đề cao lối sống tập thể theo huyết thống, đại gia đình, và đẳng cấp, nên trong dân gian hay có các châm ngôn như "con ông cháu cha" (chỉ việc con quan rồi lại làm quan theo nếp phong kiến), "một người làm quan cả họ được nhờ" hay truyền thống "cha mẹ đặt đâu con ngồi đó", chỉ sự áp đặt của cha mẹ lên con cái mang tính gia trưởng, và sự thụ động ỷ lại của con cái với cha mẹ, "môn đăng hộ đối" chỉ hôn nhân do cha mẹ sắp đặt, phải cùng đẳng cấp "quân tử", không cho con lấy kẻ "tiểu nhân", ở các gia đình "quân tử" (đẳng cấp trên về địa vị, học vấn hay tài sản). Nho giáo cũng như nhiều tôn giáo không ủng hộ tự do tình yêu, tự do hôn nhân, coi trọng trinh tiết của phụ nữ, cấm quan hệ tình dục trước hôn nhân,...đến nay vẫn có ảnh hưởng nhưng cũng bị phai lạt đi do lối sống hiện đại của phương Tây chiếm ưu thế. Đặc điểm nữa của Nho giáo là rất coi trọng quan hệ gia đình, các bộ luật thời phong kiến và phong tục hương ước quy định rất chi tiết, khắt khe tang cha, mẹ, chồng,...phải tổ chức thế nào, để tang bao lâu, ăn mặc trong tang lễ thế nào, khóc lóc ra làm sao. Các nhà kinh doanh phim, nhạc đánh vào tâm lý tầng lớp ảnh hưởng đạo Nho, cho ra các sản phẩm phim, nhạc chủ đề gia đình mang màu sắc bi lụy để thu lợi nhuận . Mặc dù có một số điểm chung giữa Nho giáo và chủ nghĩa xã hội như coi trọng nếp sống cộng đồng, nhưng trong Nho giáo coi trọng gia đình, thì chủ nghĩa xã hội muốn mở lòng hơn với những người khác, Nho giáo coi trọng tu thân còn chủ nghĩa xã hội coi trọng cải tạo xã hội. Nho giáo không cổ súy cho tự do tình dục, tự do hôn nhân, thì chủ nghĩa cộng sản lại đề cao tự do tình dục và tình yêu, nhưng tình yêu và tình dục không bị chi phối bởi tiền bạc, địa vị, không thể trở thành hàng hóa, ngược lại xã hội tư bản coi trọng tự do tình dục, tình yêu, hôn nhân nhưng trong thời kinh tế tư bản thường thấy nhiều quan hệ tình yêu hay hôn nhân không xuất phát từ tình cảm đích thực mà vì lợi ích toan tính cá nhân, thường là vật chất và dễ đổ vỡ, và nạn mại dâm tăng nhanh. Trong xưng hô, những người cộng sản hay gọi nhau là đồng chí, từ này một thời lan rất rộng trong xã hội, vào cả nhiều gia đình, không phân biệt tuổi tác, chức phận, còn những người ảnh hưởng của Nho giáo thì hay xưng hô theo chức phận, tuổi tác (như trong công sở, doanh nghiệp hay gọi ông chủ, tổng giám đốc,...), còn ảnh hưởng của văn hóa tư bản phương Tây thì hay gọi cấp trên là sếp, hay ngài,... chung chung. Từ cuối thế kỷ 20, việc Việt Nam chuyển đổi sang kinh tế thị trường và hội nhập thế giới đã làm nảy sinh những nguy cơ lớn đối với Văn hóa Việt Nam. Nguy cơ bên trong là sự xói mòn và băng hoại giá trị văn hoá truyền thống. Nguy cơ bên ngoài là việc văn hoá, lối sống phương Tây xâm lấn văn hoá bản địa, tạo ra sự tiêu diệt bản sắc văn hoá dân tộc. Nếu dân tộc Việt Nam bị "hoà tan" bởi văn hóa ngoại lai, đó sẽ là một thảm hoạ lớn và cũng là một loại diệt vong, ghê gớm không kém gì họa mất nước. Trước nguy cơ đó, nhiều người Việt Nam tìm cách hướng về bảo lưu các giá trị truyền thống, tạo ra những cơ hội cho Nho giáo tái sinh. Nho giáo là thành phần quan trọng hàng đầu đã kiến tạo nên bản sắc văn hoá Việt Nam, do đó bảo vệ truyền thống văn hóa Việt Nam sẽ là điều không thể thực hiện được nếu gạt bỏ những gì thuộc về Nho giáo. Theo nhận định của Hồ Sĩ Quý (Viện Thông tin Khoa học Xã hội Việt Nam), "thời gian gần đây ở Việt Nam, trong xu hướng chung của việc thực hiện tư tưởng giữ gìn bản sắc văn hoá truyền thống, nhiều yếu tố văn hoá Nho giáo đã được khôi phục và đề cao, thậm chí trong các trường học, khẩu hiệu "Tiên học lễ, hậu học văn" đã được coi như một phương châm ứng xử nền tảng của giáo dục. Mặc dù thực hiện thì chưa được bao nhiêu, nhưng trong tư tưởng, cả xã hội đều thấy các giá trị văn hoá truyền thống mà trong đó những nét tích cực của văn hoá Nho giáo là một bộ phận, đang cần phải được tôn vinh và khôi phục như là một trong các phương thức để ứng xử với các dạng văn hoá ngoại sinh, ngoại lai đang du nhập từ làn sóng toàn cầu hóa. Những giá trị mà Phan Ngọc khái quát, trên những nét lớn là phù hợp với tâm lý chung của cả cộng đồng trên con đường tiến tới mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh." Nhìn chung trong dư luận có nhiều quan điểm khác nhau. Những người theo quan điểm dân tộc chủ nghĩa có hai hướng, một hướng coi Nho giáo là một thành tố của văn hóa dân tộc, có nhiều điểm tích cực, cần bảo tồn, hướng thứ hai coi Nho giáo là hệ tư tưởng phong kiến Trung Quốc du nhập sang Việt Nam để cai trị người Việt nên cần bài trừ. Một số người theo hướng chủ nghĩa bảo thủ xem Nho giáo là một thành tố văn hóa dân tộc, có lợi cho phát triển kinh tế, ổn định xã hội; những người theo hướng chủ nghĩa tự do chủ trương Nho giáo nên bình đẳng với các hệ tư tưởng khác, bên trong lẫn du nhập từ bên ngoài, tức sự đa nguyên về văn hóa. Một số người thích chủ nghĩa tư bản, coi trọng hội nhập quốc tế, kể cả văn hóa, xem trọng cạnh tranh văn hóa, chủ yếu là văn hoá thị trường. Những người khác quan niệm xã hội chủ nghĩa không loại trừ văn hóa đại chúng và đa dạng văn hóa trong thời kỳ quá độ, cũng như các mặt mà họ xem là tích cực của văn hóa phong kiến, tư bản, nhưng vẫn có sự định hướng theo hướng xã hội chủ nghĩa, hiểu theo nghĩa xây dựng "con người xã hội chủ nghĩa", có đủ trình độ, ý thức để tiếp nhận tinh hoa văn hóa nhân loại kể cả phương Đông và phương Tây như phim nghệ thuật, nhạc giao hưởng, opera, các phim, tác phẩm văn học đoạt giải thưởng cao của quốc tế (như Nobel văn học, giải Oscar, Cành Cọ vàng...), và bảo tồn văn hóa dân tộc không trái tôn chỉ xã hội chủ nghĩa; do đó sự tiếp thu Nho giáo ở họ là "gạn đục, khơi trong". Trong khi bảo tồn văn hóa nước nhà, tiếp thu văn hóa nước ngoài thì phải đồng thời chống cả hai xu hướng cực đoan là sùng ngoại lẫn sùng cổ. == Ảnh hưởng lên các tôn giáo khác == === Hồi giáo === Từ cuối thế kỷ 17 trở đi toàn bộ văn học được gọi là Han Kitab đã phát triển trong các tín đồ Hồi giáo ở Trung Quốc những người đã truyền tư tưởng Hồi giáo đến Khổng giáo. Đặc biệt là các tác phẩm của Lưu Trí (劉智) như "Thiên Phương điển lễ" (天方典禮) tìm cách hài hòa Hồi giáo với không chỉ Nho giáo mà còn với Đạo giáo và được coi là một trong những thành tựu tột đỉnh của các nền văn hóa Hồi giáo Trung Quốc. === Đạo giáo === === Phật giáo === Tại Đông Á, Phật giáo phải đối diện với Nho giáo và Đạo giáo. Sự va chạm gần tiến đến sự dung hợp và kéo dài từ thế kỉ 1 đến thế kỉ 13, khi Tam giáo đã làm xong quá trình thấm quyện vào nhau, tự điều chỉnh, hình thành các xu hướng mới – và ba phái đều xác định được vai trò xã hội của mình, phân công phân vùng với nhau trong đời sống văn hóa xã hội. Nho giáo chi phối cách tổ chức nhà nước, tổ chức xã hội, giáo dục thi cử, có tác dụng quyết định đến luân lý. Phật giáo và Đạo giáo chi phối trong đời sống hàng ngày và sinh hoạt kinh tế nông nghiệp. Người dân tin ở Trời, bái Thần linh và thờ cúng tổ tiên, Đức Phật cùng với những bậc thánh hiền của Nho giáo. Cả Phật giáo và Đạo giáo đều khuyến thiện, mà “thiện” thì tức là hiếu với cha mẹ, tôn kính bề trên và trung với vua với nước, yêu thương, cứu giúp, tránh không làm điều tham lam độc ác với người khác. Nói cách khác, làm điều thiện cũng có nghĩa là tôn trọng thể chế và quy phạm đạo lý của Nho giáo. === Công giáo === Thuyết “tam phụ” hay thần học “tam phụ”: Thiên chúa là Cha do Alexandre de Rhodes khởi xướng chịu ảnh hưởng của tư tưởng tam cương (ba mối ràng buộc): quân thần, phụ tử, phu phụ của Nho giáo. Trong phép giảng tám ngày A.Rhodes viết: “Bây giờ ta phải có ba đấng bề trên gọi là ba cha, ta phải thờ, ở đấng nào cho nên đấng ấy. Đấng dưới là cha mẹ sinh thân xác cho ta; đấng giữa là vua chúa trị nước; đấng trên tức đức chúa trời đất, làm chúa thật trên hết mọi sự. Có ba đấng này ta mới được sống, được ở. Vì chúng ta có cha mẹ, thì mới được thân xác thịt này sinh ra mà chớ… Vua Chúa cũng gọi là cha cả và nước cùng các dân. Chẳng có vua chúa, thì nước ở an lành chẳng được… Ắt thật thượng phụ là cha cả, chúa cả trên hết mọi sự, có thưởng có phạt trọng.”. Tư tưởng tam cương, ngũ thường còn được Công giáo vận dụng để hướng dẫn tín đồ sống đạo theo tín lý đề cao hôn nhân một vợ một chồng. Thư của giám mục Hermosilla (Liêm) viết: “Các quân tử cứ lẽ tự nhiên đã suy đến sự ấy đã kể phép nhất phu, nhất phụ trong ba giềng mối can hệ nhất trong thiên hạ quen gọi là tam cương… Ví bằng người ta cẩn thận giữ cho phải miễn trong việc nhất phu, nhất phụ thì các việc khác liền được an.”. Tại Việt Nam, một thời gian dài cho đến tận đầu thế kỷ XX kinh, bổn, giáo lý... được soạn, in bằng chữ Hán - Nôm (chữ Nho). Tín đồ được xem là có hiểu biết trong xứ, họ đạo, làng Công giáo cho đến trước năm 1945 là những người biết chữ Nho, những người Nho học. Họ học chữ Nho từ các “thầy đồ” ở làng lương. Họ được phép mang đồ lễ tặng thầy, chỉ không được thờ cúng, bái lạy Khổng Tử. Các xứ, họ đạo, làng Công giáo nào có người Công giáo biết chữ Nho thì giáo dân phải học người đó, không được học thầy đồ là lương dân. Một trong những họ (hội đoàn) ra đời sớm là hội Nho gia tập hợp những thầy đồ là tín đồ Công giáo. Chính vì vậy mà Công giáo đã để lại cho Việt Nam một di sản Hán - Nôm quen gọi là Nôm đạo khá đồ sộ. Tư tưởng Nho giáo thể hiện ở một số công trình kiến trúc Công giáo và cả trong những câu đối ở nhà thờ Công giáo. Nhà thờ chính toà Phát Diệm (Kim Sơn - Ninh Bình) mặt bằng kiến trúc theo hướng Bắc - Nam. Giữa ao hồ dựng tượng chúa Giêsu làm vua nhìn về hướng Nam, hai tay giang rộng. Hướng Nam là hướng của Thánh nhân theo quan niệm: Thánh nhân nam diện nhi thính thiên hạ (Thánh nhân nhìn về hướng nam nghe thiên hạ giãi bày). Nhà thờ đá trong khu quần thể nhà thờ chính toà tạc biểu tượng lưỡng nghi/âm dương phía mặt sau hình sư tử và phượng hoàng. Chấn song phương đình là hình thân trúc. Trúc là biểu hiện tính ngay thẳng của người quân tử. == Giá trị của Nho giáo == === Trong lịch sử === Trong tác phẩm Sử Trung Quốc, Nguyễn Hiến Lê nhận xét: "Khổng Tử chủ trương vua phải là người có tài, đức; nhưng thời ông, sự truyền tử đã có từ lâu đời, không thể bỏ được; ông chỉ có thể cải thiện chế độ, đào tạo những kẻ sĩ có tài, để giúp quý tộc và lần lần thay họ mà trị nước. Những kẻ sĩ đó đều được tuyển trong dân chúng, và từ nhà Hán, nhà Đường trở đi, chế độ quân chủ Trung Hoa có tính cách sĩ trị, không còn giai cấp quý tộc cha truyền con nối nắm hết các chức vụ lớn ở trong triều, ngoài quận nữa. Đó là một tiến bộ rất lớn, người phương Tây phải khen. Ông lại giảm bớt quyền chuyên chế của vua bằng cách đề cao nhiệm vụ, tư cách của sử quan, gián quan; dạy cho vua, quan, kẻ sĩ và thường dân rằng vua phải thương dân như con, phải tôn trọng nguyện vọng của dân...; phải chăm lo cho dân đủ ăn, tài sản trong nước phải quân bình, đừng có kẻ nghèo quá, kẻ giàu quá. Suốt thời quân chủ, ông vua sáng lập một triều đại nào cũng nghĩ ngay đến vấn đề quân điền, chia đất cho dân cày trước hết. Sau cùng Khổng Tử có tinh thần nhân bản rất cao. Ông hiếu hoàn trọng trung dung, rất ghét sự tàn bạo, và đa số các vua chúa Trung Hoa theo ông." Khổng giáo bao hàm lời dạy của các bậc hiền nhân Nho gia, mà là những chỉ dẫn về cách sống thuận theo đạo đức để con người được an vui, xã hội được vững mạnh. Những lời dạy này không được xem là những lời của Thượng đế mặc khải như Thánh Kinh của Thiên Chúa giáo hoặc Hồi giáo, tùy hoàn cảnh mỗi nước mà sẽ có những cách diễn giải khác nhau song không hề xung đột với nhau về ý tưởng chung và đều hướng con người đến đạo đức mẫu mực. Do đó, không hề có cuộc chiến tranh nào vì lý do tôn giáo trong lịch sử Trung Quốc, Việt Nam, Nhật Bản hay Triều Tiên. Đó là một điều mà các học giả phương Tây rất ca ngợi các quốc gia Đông Á. Dân tộc Trung Hoa đã nhiều lần bị ngoại tộc (Mông Cổ, Mãn Thanh...) xâm chiếm, nhưng văn hiến của họ thì không gươm giáo nào hủy hoại được, ngược lại còn đồng hóa luôn những kẻ đã chinh phục họ, ấy là nhờ một phần lớn ở những tư tưởng sâu xa của Nho giáo đã trui rèn nên một tầng lớp Nho sĩ thông thuộc kinh sử và giàu phẩm chất đạo đức. Nhờ Nho giáo, người Trung Quốc không ai không xem trọng giáo dục. Khi nhà Hán lập quốc, chính sách của quốc gia có tám chữ "Dựng nước an dân, giáo dục làm đầu". "Tu thân, tề gia, trị quốc, bình thiên hạ", hoàn toàn dùng giáo dục. Do vậy Trung Hoa trải qua hơn 2.000 năm, dù thịnh suy mỗi lúc khác nhau, nhưng đất nước của họ vẫn không hề lụn bại, trong khi các đế chế khác như La Mã, Ba Tư... cứ lần lượt xuất hiện rồi sụp đổ. Việc này ngay đến người ngoại quốc cũng khen ngợi. Không phải chính trị, không phải vũ lực của Trung Quốc, cũng không phải là kinh tế khoa học kỹ thuật của Trung Quốc, mà chính văn hiến của Trung Quốc mới là vũ khí mạnh nhất của họ, giúp đất nước họ trường tồn. Mà gây dựng nên nền văn hiến đó, công đầu thuộc về Nho giáo. Will Durant thì khen ngợi chế độ giáo dục đạo đức sĩ phu mà Khổng Tử chủ trương. Ông viết: "Một xã hội mà nghĩ rằng phải thử dùng vào việc trị nước những người được đào tạo bằng triết học và cổ điển học, nội điều đó cũng đáng phục rồi. Chế độ ấy và tất cả nền văn minh làm cơ bản cho nó ngày nay bị lật đổ, tiêu diệt vì sức mạnh khốc liệt của sự tiến triển và của lịch sử, điều đó đáng kể là một tai họa cho nhân loại... giá Platon biết được chế độ đó chắc phải thích lắm." === Hiện nay === Học giả Nguyễn Hiến Lê nhận xét: "Đạo Nho quy định nhất cử nhất động của cá nhân trong gia đình và xã hội để giữ tình cảm được trung hoà. Trẻ em năm, sáu tuổi đã phải vào khuôn phép nghiêm ngặt, phải nén bản tính ham chạy nhảy, la hét, mà đứng ngay ngắn nghe chuyện đạo lý của người lớn. Tám tuổi, đã phải khăn áo chỉnh tề đứng chắp tay bên bàn thờ những ngày giỗ tết... Nhiều nhà nho có được một tư cách cao, một nhân phẩm quý phần lớn là nhờ được đào luyện trong khuôn khổ lễ nghi ấy." Thời nay chúng ta hiểu tâm lý trẻ em một cách khác, không uốn nắn tre non mà để cho nó tự nhiên phát triển; trẻ được tự do, có khi phóng túng, tha hồ đùa giỡn, hét la. Nhiều khi những cử chỉ hỗn xược, những lời vô lễ của chúng lại được khen là tinh ranh, là ngây thơ. Trẻ muốn gì được nấy, thành những bạo chúa tí hon trong nhà. Ở trường, người ta chỉ chú trọng đến trí dục, cốt dạy thanh niên biết nhiều khoa học. Luân lý trở thành một môn học phụ và giáo sư luân lý thì bị học sinh chê là cổ hủ. Vậy là cả nhà và trường đều không lo đào luyện tư cách thanh niên, nên phần đông nhà trí thức bây giờ xét về nhân phẩm kém xa các nhà Nho. Họ họp thành một bọn trưởng giả hãnh tiến, không phải là hạng thượng lưu được quốc dân trọng vọng như các cụ cử, cụ nghè thời trước. Ai cũng nhận thấy nhiều ông tiến sĩ, bác sĩ, kỹ sư tư cách không bằng một chú thợ, một anh bếp." Phan Ngọc là người có nhiều công trình hơn cả bàn đến ưu thế của các giá trị châu Á trong sự phát triển của xã hội hiện đại. Trước sau ông đều đề cao giá trị Nho giáo, giá trị văn hoá dân tộc và tin tưởng vào ảnh hưởng tích cực của nó trong sự phát triển của xã hội hiện đại. Phan Ngọc viết: "Khổng học tồn tại được 2.000 năm ở một phần ba nhân loại, dù có bị xuyên tạc, cũng là một giá trị của châu Á. Không những thế, nó không chỉ là một giá trị của châu Á mà của cả nhân loại trong giai đoạn mới này khi thế giới cần phải hiểu những giá trị của châu Á cũng như châu Á cần phải hiểu những giá trị của thế giới". Về những giá trị châu Á cụ thể, trong "Bản sắc văn hoá Việt Nam", Phan Ngọc coi những giá trị ưu trội của văn hóa châu Á là: Ham học, thông minh và tháo vát, nhạy bén với mọi thay đổi. Cần cù, chịu khó, thích nghi với hoàn cảnh. Gắn bó với tổ quốc, họ hàng, gia đình. Thích sống một cuộc sống giản dị, không bị những đòi hỏi vật chất dày vò, lo cho con cháu còn hơn lo cho chính mình. Phan Ngọc coi những phẩm chất nói trên là ưu thế của Nho giáo trong thời đại ngày nay. Khái quát từ thực tế các quốc gia có văn hoá Nho giáo, viện dẫn chính Khổng Tử và quan điểm của Hồ Chí Minh, Tôn Dật Tiên... nói về ưu thế của Nho giáo, Phan Ngọc đã trình bày rất ấn tượng về những phẩm chất này. Ông viết: "Tâm thức là cái không cần học cũng biết. Việt kiều hầu như không biết gì tới Nho giáo, ngoài miệng đả kích Nho giáo kịch liệt, nhưng họ vẫn vươn lên từ những địa vị thấp kém nhất để trở thành những người làm chủ kinh tế, khoa học kỹ thuật chính nhờ truyền thống ham học mà Khổng Tử đề xướng. Số ngoại kiều ở các nước hết sức đông đảo, nhưng ngoài các nước theo văn hoá này, chỉ thấy có người Do Thái là sánh được với họ mà thôi... Những người theo Khổng giáo thích sống một cuộc sống giản dị, không bị những đòi hỏi vật chất giày vò, trái lại tìm thấy niềm vui trong cuộc sống hài hoà với mọi người chung quanh, đặc biệt họ gắn bó với gia đình, lo cho con cháu còn hơn lo cho chính mình". Nhà nghiên cứu Trần Phong Lâm cho rằng, các nhà doanh nghiệp Đông và Tây đều giống nhau ở chỗ chạy theo lợi nhuận, nhưng nhà doanh nghiệp có văn hoá Nho giáo thì vẫn chạy theo lợi nhưng không được (hoặc không dám) bỏ Nghĩa, bởi "Quân thị thần như thủ túc, tác thần sự quân như phúc tâm". Trần Phong Lâm khẳng định mạnh mẽ và tôn vinh rất cao các giá trị Đông Á mà trong đó giá trị văn hoá Nho giáo là trụ cột: Trước sự tha hoá và lộn xộn của quan niệm giá trị toàn cầu, quan niệm giá trị Đông Á cần đảm đương lấy trách nhiệm nặng nề của thời đại là vực dậy sự băng hoại của tinh thần loài người... Nhân dân Đông Á chiếm khoảng một phần ba nhân loại đã tạo ra cho loài người những di sản vô cùng quý giá trong mọi lĩnh vực, làm cho tương lai loài người tràn đầy hy vọng. Đông Á nhất định sẽ bước vào hàng ngũ những người quyết định số phận chung của loài người... Nếu trong thời kỳ tới đây văn hoá phương Tây không tạo ra được một cuộc phục hưng văn nghệ mới thì hoàn toàn có thể sẽ xuất hiện một thế kỷ mới, trong đó văn hoá phương Đông sẽ thống lĩnh trào lưu văn hoá thế giới. Có những ý kiến chỉ trích Khổng giáo là lỗi thời, kìm hãm xã hội. Nhưng tác giả Nguyễn Văn Ngọc nhận xét: "Các học giả Pháp, Mĩ và cả Nga nữa, nay đều thấy tác dụng của Khổng giáo đối với sự phát triển kinh tế của Nhật Bản. Đối với người Nhật hay đối với một số nước mà họ gọi là "Hán hóa" khác thì truyền thống đã không cản trở sự phát triển, trái lại các nước ấy đã biết biến truyền thống lễ giáo thành một thứ "mùn" để ươm trồng lên đó những cây cố tươi tốt... Liệu sau này chúng ta có sửa đổi gì được cái định kiến ngốc nghếch của chúng ta về Hán học, và nói chung về nền văn minh phương Đông mà vì "Bụt chùa nhà không thiêng", chúng ta quá coi thường. Những câu chuyện thường ngày mà chúng ta hằng quan tâm đồng thời cũng là những vấn đề đạo đức muôn thuở, ôn lại những lễ giáo cổ xưa của nhân loại lại giúp ta suy ngẫm chuyện đời nay." Học nhiều tri thức không có nghĩa là có đạo đức. Tri thức rất cần cho phát triển nhân loại nhưng thiếu đạo đức thì xã hội sẽ rối loạn, nhân loại sẽ suy đồi. Khoa học kỹ thuật tiến bộ rất nhanh trong thế kỷ 20, nên đời sống vật chất cải thiện rất nhiều. Nhưng đời sống vật chất càng tiến bộ, thì mặt trái của xã hội tiêu dùng càng bộc lộ rõ, nền đạo đức và quan hệ giữa người với người càng xấu đi, nhất là làm cho mọi người mất niềm tin với nhau. Nho giáo từ hơn 2.500 năm trước đã thấy rõ được điều này. Cổ nhân từ xưa đã có câu "Ôn có tri tân" (Nhắc lại việc cũ để ngẫm về chuyện thời nay), việc ôn lại các giá trị, lời dạy của Nho giáo vẫn còn nguyên giá trị trong thời đại ngày nay. Robert D. Kaplan, chuyên gia cao cấp tại Trung tâm An ninh Mỹ Mới (CNAS), nhận xét: Sự trỗi dậy của châu Á trong thời hiện đại có liên quan mật thiết với việc sự ổn định xã hội mà Nho giáo khích lệ đã tương tác với chủ nghĩa tư bản hiện đại như thế nào... Những nhà lập quốc của nhiều nước châu Á – Phác Chính Hy của Hàn Quốc, Tưởng Giới Thạch của Đài Loan, Lý Quang Diệu của Singapore – tất cả đều chủ ý theo Nho giáo trong khi chèo lái qua những khó khăn trên con đường tạo lập xã hội hiện đại. Đối với Trung Quốc, một trong những yêu cầu để thoát khỏi tình trạng tham nhũng và sự thiếu hiệu quả chính là khôi phục lại các giá trị nền tảng của Đạo Khổng. Không có gì là ủy mị hay ngây thơ trong những lời răn như: "Mọi người phải hướng đến một tiêu chuẩn cao bình đẳng, tất cả dựa trên sự tôn trọng đối với kinh nghiệm của thế hệ đi trước". Trong đạo Khổng, quá khứ không phải là thứ để chê bai là cổ hủ hay lạc hậu; quá khứ tạo nên kinh nghiệm cho con người, và hiện tại phụ thuộc vào lịch sử. Đặc biệt trong thời đại thay đổi xã hội và công nghệ sâu sắc, các Nho sĩ nhận ra thứ bảo vệ tốt nhất chống lại sự hỗn loạn chính là truyền thống, "trung" và "hiếu". Khổng giáo nói về việc bảo tồn sự cân bằng tinh tế giữa người với người và giữa các cá nhân bên trong các tổ chức chính trị và xã hội. Thế giới nói chung vẫn đang trong quá trình chuyển tiếp hỗn loạn, khi lối sống và cấu trúc gia đình truyền thống đang bị băng hoại trên khắp các châu lục. Trong thử thách này, sự sống sót về mặt xã hội và chính trị sẽ đến với các nền văn hóa có thể bảo tồn một nền tảng đạo đức như một lá chắn trước sự thay đổi mang tính hủy diệt. Đông Á đã viết nên những câu chuyện lịch sử thành công không thể phủ nhận trong 4 thập niên qua, cho dù có vẻ giai đoạn tăng trưởng mạnh mẽ nhất đã qua rồi. Tôi dám cược rằng thời khắc của Nho giáo sẽ tiếp tục đến trong thời gian tới. == Hạn chế, ảnh hưởng, hậu quả tiêu cực của Nho giáo với xã hội == === Tư duy bảo thủ, trì trệ, giáo điều, lạc hậu === Lễ trong Nho giáo là sợi dây ràng buộc suy nghĩ và hành động của con người trở nên cứng nhắc theo một khuôn phép cũ. Điều này nói lên rằng, tư tưởng Nho giáo mang tính bảo thủ, tiêu cực, phản lịch sử. Chính mặt hạn chế này của Nho giáo đã để lại tàn dư cho đến tận ngày nay, nó trở thành phong tục, lối sống, nó thấm sâu vào suy nghĩ và hành động của không ít người ở các nước phương Đông, nơi tiếp nhận và chịu ảnh hưởng của Nho giáo Tư tưởng chính danh trong Nho giáo kìm hãm tự do của nhân cách tới mức không chấp nhận bất kì sáng kiến mới nào của con người, làm cho con người luôn ở trạng thái nhu thuận, chỉ biết phục tùng theo chủ trương “thuật nhi bất tác” (chỉ thuật lại mà không sáng tác gì thêm). Có quan điểm cho rằng trong Nho giáo, "đạo cương" là nội dung cơ bản, là nguyên tắc chi phối mọi suy nghĩ, hành động và là chuẩn mực để đánh giá phẩm hạnh của con người. Đạo cương - thường với nội dung “quân xử thần tử, thần bất tử bất trung”, “phụ xử tử vong, tử bất vong bất hiếu” (vua xử bề tôi chết, nếu bề tôi không chết là không có lòng trung, cha xử con chết, con không chết là không có hiếu). Cương - thường là nhân tố quan trọng làm cho xã hội Nho giáo ổn định theo thứ bậc, là cơ sở đảm bảo quyền thống trị của thiên tử, góp phần điều chỉnh hành vi của con người, đưa con người vào khuôn phép trong các triều đại phong kiến. Đạo cương là sợi dây trói buộc con người, làm cho con người thụ động trong cả suy nghĩ và hành động. Tư tưởng này là lực cản sự phát triển của xã hội và là một trong những nguyên nhân làm cho xã hội phương Đông trì trệ. Nho giáo không giải đáp được vấn đề số phận và yêu cầu giải phóng con người vì nó đã sớm loại bỏ con đường phát triển tư duy trừu tượng, nó làm cho chủ nghĩa giáo điều và bệnh khuôn sáo phát triển mạnh trong lĩnh vực tư tưởng và trong giáo dục khoa học.. Một đặc điểm nội trội của Nho giáo là lối tư duy quay về quá khứ, ít chú ý đến hiện tại và không hướng tới tương lai. Tư tưởng Nho giáo thường bê nguyên xi cách hành xử của cha ông, của quá khứ làm mẫu mực, làm "khuôn vàng thước ngọc" để áp dụng trong xử lý các vấn đề đương đại. Vì vậy khi xử lý các vấn đề, tư duy Nho giáo thường hạn hẹp, tầm nhìn ngắn, hạn chế trên nhiều phương diện. Lối tư duy này cũng hình thành nên suy nghĩ, tâm lý và hành động của con người là khi tiếp xúc với cái mới thì tự thu mình lại, tự cô lập và cách biệt, ngại hòa nhập và khó hòa hợp. Lối tư tưởng đóng cửa, khép kín đã tạo dựng nên các thiết chế văn hóa, tư tưởng bảo thủ vững chãi để ngăn cản, loại bỏ, tiêu diệt những cái mới xâm nhập, củng cố và tăng cường những cái cũ, tự đóng khung mình trong những khuôn khổ cũ có sẵn do thế hệ trước tạo dựng. Hệ thống chính quyền dựa trên tư tưởng Nho giáo thường "dị ứng" với những biến đổi nội tại và ảnh hưởng của ngoại lai, từ đó sẽ cản trở việc tiếp thu cái mới và hậu quả là cản trở sự phát triển của chính hệ thống. === Tư tưởng chạy theo danh vọng === Tư tưởng chính danh của Nho giáo quá đề cao danh phận, làm cho con người luôn có tư tưởng hám danh, chạy theo danh, theo chức đến mức nhiều người vì hám danh quên phận mà quên cả luân thường đạo lý. === Bất bình đẳng xã hội === Mục đích của chính danh mà Nho giáo đề cao là sự ổn định xã hội, suy cho cùng là để bảo vệ quyền của thiên tử, duy trì sự phân biệt đẳng cấp. Nho giáo khuyên tầng lớp lãnh đạo phải biết nắm lấy dân, tranh thủ được dân, phải làm cho dân tin mình để dễ sai khiến. Nghĩa vụ của người dân chỉ là làm thế nào trở nên dễ sai khiến là được. Nước thịnh hay suy, hưng hay vong, vận mệnh của nước gắn với nhà này hay nhà khác do mệnh trời quyết định. Nhân dân lao động chỉ có số phận và nghĩa vụ phục tùng, phụng sự và bảo vệ gia tộc đang trị vì cả nước, trị vì thiên hạ. Suốt cuộc đời của người dân, rồi từ đời này sang đời khác, người “dân đen” cứ phải bán mặt cho đất, bán lưng cho trời để nuôi những kẻ cai trị, bóc lột mình. Những thành quả lao động của người dân không chỉ bị chiếm hữu bởi giai cấp cai trị. Dù suốt đời lao động cần cù, cực khổ và cũng đầy sáng tạo nhưng người dân lao động vẫn không thể cống hiến được nhiều cho bản thân, cho đất nước mà chủ yếu là cung phụng cho những kẻ đang thống trị mình. Mặc dù Nho giáo đã từng coi “dân là gốc nước”, “vua lấy dân làm trời”... nhưng không có nghĩa là trong Nho giáo có tư tưởng dân chủ, đấu tranh cho dân chủ. Nho giáo không bao giờ rời bỏ đạo lý “quân thần”, không hề nghĩ đến một xã hội mà lại không có vua để người dân làm chủ. Với Nho giáo, người dân chỉ là người sinh ra để cho người ta sai khiến và dân phải dễ sai khiến mới là hợp đạo. Nhân dân, nhất là những người mà Nho giáo gọi là người dân “lao lực” chỉ có nghĩa vụ “nuôi người” và “bị người trị” mà thôi. Nho giáo chỉ chú trọng đến phương diện đạo đức nên nó mang tính phiến diện, không hướng con người đến sự phát triển đầy đủ, toàn diện. Hơn nữa, mặc dù vẫn khẳng định tu thân là nhiệm vụ của tất cả mọi người, từ thiên tử cho đến dân thường, song thực chất nó chỉ quan tâm đến việc học tập, tu dưỡng của những con người thuộc về giai cấp thống trị, vạch ra những tiêu chí phấn đấu cụ thể cho giai tầng này - mà mục đích tối cao là nhằm để “bình thiên hạ”. Chỉ có những người thuộc tầng lớp đó đó mới có đủ điều kiện và khả năng để làm “toả sáng những đức sáng” của mình trong thiên hạ. Mặt khác, trên thực tế giai cấp phong kiến qua các triều đại thường đề ra những quy tắc, chuẩn mực khắt khe để gò ép thần dân của mình vào khuôn khổ của lễ giáo nhưng bản thân mình lại thường phớt lờ những yêu cầu đạo đức do chính nó đề ra. Do đứng trên lập trường của giai cấp thống trị, bảo vệ cho lễ giáo và trật tự của xã hội phong kiến, nên Nho giáo chưa thật sự nhận thức được vai trò và sức mạnh “cải tạo xã hội” của những con người và gia đình, gia tộc thuộc tầng lớp bị áp bức, bóc lột. === Trọng nam khinh nữ, bất bình đẳng giới === Bất bình đẳng giới là điểm yếu lớn nhất của Nho giáo. Một mặt, Nho giáo đề cao chữ hiếu nhưng mặt khác Nho giáo lại phân biệt, hạ thấp thân phận phụ nữ. Mâu thuẫn này khiến những quan điểm về giới của Nho giáo là một điển hình của chủ nghĩa gia trưởng, sự vô lý và thiếu nhân đạo của chủ thuyết về đạo làm người. Tư tưởng “nam tôn nữ ti” trọng nam khinh nữ của Nho giáo rất nặng nề và khắc nghiệt. Ðây là tư tưởng sai lầm, tiêu cực dẫn tới những thái độ và hành vi phân biệt đối xử bất bình đẳng giữa phụ nữ và nam giới. Nho giáo đánh giá thấp vai trò, khả năng và phẩm chất của phụ nữ. Chính Khổng Tử và học trò của ông đã cho rằng: “phụ nhân nan hoá”; “đàn bà và tiểu nhân là hai hạng người khó dạy”; “đàn bà khó giáo dục vì gần họ thì họ nhờn, xa họ thì họ giận”. Tư tưởng này đã xúc phạm phụ nữ và kìm hãm người phụ nữ trong mọi lĩnh vực hoạt động xã hội Bên cạnh đó, Nho giáo quy định ngặt nghèo sự phụ thuộc tuyệt đối của phụ nữ vào đàn ông theo đạo tam tòng: “tại gia tòng phụ, xuất giá tòng phu, phu tử tòng tử”. Trong quan hệ vợ chồng thì “phu xướng phụ tuỳ”, người phụ nữ không có quyền chủ động, chỉ làm việc “tề gia nội trợ”, nâng khăn sửa túi cho chồng, không được tham gia vào việc họ, việc làng, việc nước; khi goá chồng sớm thì không nên tái giá mà phải biết “thủ tiết chờ chồng”, thờ chồng đến trọn đời để dành lấy danh hiệu “tiết hạnh khả phong”. Ðây là thành kiến trái với nhu cầu tự do và quyền của người phụ nữ. Phụ nữ bị ngăn cách không được gần gũi tự nhiên với nam giới bởi vì “nam nữ thụ thụ bất thân”; phụ nữ không được học hành, thi cử, không được làm quan; phụ nữ làm nghề hát xướng bị coi là “xướng ca vô loài” không được lấy quan. Trong xã hội mới quan niệm này đã bị đẩy lùi nhưng nó vẫn ảnh hưởng và để lại dấu ấn trong việc đánh giá vị trí, vai trò của phụ nữ trong hoạt động xã hội. Trong hôn nhân, phụ nữ không được tự do yêu đương mà bị ép duyên theo kiểu gả bán, do cha mẹ quyết định “đặt đâu ngồi đấy”. Với chế độ đa thê, phụ nữ phải “lấy chồng chung” vợ lẽ, không có quyền bình đẳng với chồng và với vợ cả. Việc vi phạm các điều trong cái gọi là “thất xuất” sẽ bị chồng đuổi về nhà. Trong nho giáo, đàn ông dù có hèn kém thì vẫn được coi trọng hơn phụ nữ, dù có nhỏ tuổi cũng được tôn trọng hơn và được hưởng nhiều quyền lợi hơn người con gái lớn tuổi; người vợ dù có đảm đang nuôi nấng chăm lo gia đình thì cũng phải phụ thuộc vào người chồng dù lười biếng, bất tài, người đàn ông có thể lấy nhiều vợ cũng là chuyện thường tình, còn người phụ nữ “chỉ thờ một chồng”, dù trong hoàn cảnh nào cũng không được tái giá. Ngoài ra, tư tưởng trọng nam khinh nữ còn thể hiện ở quan niệm coi trọng việc sinh con trai nối dõi tông đường. Tư tưởng nho giáo cho rằng: “nhất nam viết hữu, thập nữ viết vô” (sinh được một con trai thì coi là có con, sinh được mười con gái thì cũng coi là không), hoặc: “Bất hiếu hữu tam, vô hậu vi đại” (Tội bất hiếu thì có ba, song không có con trai nối dõi là lớn nhất) Nho giáo chia các thành viên trong gia đình thành hai loại người: “sử “và “sự”. “Sử” là người bề trên có quyền giáo dục người khác, đó là: ông, cha, anh, con trai, còn “sự” là những người thứ bậc dưới như cháu, con, em, phụ nữ, con gái. Người đàn ông trong gia đình khi sinh ra thì thuộc hàng “sự” nhưng đến khi lớn lên có gia đình riêng, anh ta sẽ thuộc hàng Sử còn mọi người phụ nữ trong suốt cuộc đời chỉ thuộc hàng "sự". Nho giáo dạy phụ nữ: đói chết là việc cực nhỏ, giữ gìn trinh tiết mới là việc cực lớn (Nhiên ngạc tử sự cực tiểu, thất tiết sự cực đại). Các nguyên tắc này đã trở thành luật, phong tục và đã chôn vùi nhiều thế hệ phụ nữ trong nhà tù của gia đình và xã hội trước kia. Với thời kì rất dài trong lịch sử Nho giáo thống trị đời sống xã hội, những tư tưởng Nho giáo vẫn tiếp tục tác động đến tận ngày nay ảnh hưởng rất lớn đối với việc thực hiện quyền bình đẳng của phụ nữ === Sự gia trưởng, quan liêu, cửa quyền === Quan niệm về “gia” (nhà) của Nho giáo có một sức mạnh khống chế to lớn đối với con người, có muôn nghìn sợi dây trói buộc con người một cách nghiệt ngã. Nho giáo đề ra các chuẩn mực mối quan hệ cha - con, chồng - vợ, anh - em. Ngoài những chuẩn mực đạo đức cho từng mối quan hệ, còn có những quy định cụ thể, tỉ mỉ, hà khắc và phức tạp khác trói buộc con người vào lưới đạo của Nho giáo, nhằm bắt họ ngoan ngoãn phục tùng và tự giác thực hiện những quy phạm đạo đức ấy. Thực chất các phạm trù đạo đức này hiện mối quan hệ mật thiết giữa “sự” và “sử”, giữa bề trên với kẻ dưới. Ngoài ra, luận điểm “nước gốc ở nhà” của Nho giáo thể hiện rõ ràng tính giai cấp. Nho giáo không quan tâm tới mọi nhà, mọi gia đình trong nước, mà chủ yếu là nói đến nhà của những người thuộc giai cấp thống trị. Đó là những gia đình và gia tộc lớn, có thế lực của vua chúa, các cự thất, đại gia, thế gia, đại tộc là gia thất của các tầng lớp quan lại và những người giàu có, quyền quý. Những tổ chức ấy có quyền áp bức, bóc lột đối với những gia đình, gia tộc thuộc các giai tầng bị trị... Sự đề cao quá mức gia đình, gia tộc theo quan niệm của Nho giáo đã dẫn đến các hệ lụy lâu dài. Đó là hiện tượng đặt tình cảm gia đình quá nặng; sự tính toán cho danh lợi riêng của gia đình mình quá lớn. Ngoài ra, việc đề cao gia đình, gia tộc quá mức đã dẫn đến sự ra đời và tồn tại dai dẳng của chế độ gia đình trị, đó là các gia đình thuộc tầng lớp thống trị sẽ dùng sức mạnh gia đình riêng của mình để thống trị cả nước và thiên hạ. Mặc dù chế độ phong kiến bị xóa bỏ, nhưng chế độ gia đình trị vẫn còn tồn tại dưới nhiều hình thức biến tướng, biến dạng khác nhau. Trong phạm vi một tổ chức, một cơ quan, nhất là ở các địa phương và khu vực nông thôn vẫn còn nhiều kiểu biến dạng của chế độ gia đình trị. Hiện tượng đó dẫn đến sự vi phạm quyền làm chủ của dân, bóp nghẹt dân chủ, kéo bè kéo cánh, tham ô, móc ngoặc, cửa quyền, gây thiệt hại tài sản chung, cản trở và làm chậm bước tiến đổi mới. Sự đề cao yếu tố gia đình và tình cảm gia đình như của Nho giáo cũng dẫn đến hậu quả là tình trạng “nhà hóa” các cơ quan nhà nước, các đoàn thể xã hội, các công việc chung, của công, các quan hệ đồng nghiệp đang trở nên phổ biến. Ảnh hưởng nữa rất rõ của biểu hiện này đó là tác phong gia trưởng trong các tổ chức và cơ quan công quyền. Ở nhiều nơi, thủ trưởng được coi như người gia trưởng và cơ quan được coi như là một gia đình. Thủ trưởng có thể ban ơn hay quở trách tùy theo sự yêu mến hay ghét bỏ của mình. Tác phong gia trưởng ấy bắt nguồn từ lối sống và lối làm việc gia đình chủ nghĩa đã tồn tại lâu dài trong nhiều thế kỷ. Hậu quả của nó là sự trì trệ, bảo thủ, quan liêu trong tư duy và hành động.. Việc cai trị của Nho giáo gắn liền với tam cương, ngũ thường, tam tòng, tứ đức, chính danh..., những biến thái của lối cai trị, quản lý xã hội một cách tùy tiện, chuyên quyền, chủ quan, không dân chủ đã nhiều năm thấm vào hệ thống quyền lực xã hội, hệ thống giáo dục, vào suy nghĩ và hành xử của con người..., ngày nay vẫn tạo ra tàn dư trở thành vướng mắc, cản trở sự phát triển của xã hội. == Xem thêm == Khổng Tử Văn hóa Việt Nam Nho giáo Việt Nam == Tham khảo == == Liên kết ngoài == Nguyễn Ước, Nho Giáo đại cương Nho giáo tại Từ điển bách khoa Việt Nam Confucianism tại Encyclopædia Britannica (tiếng Anh)
antimon.txt
Antimon (tiếng Latinh: Stibium, nghĩa là "dấu chữ thập", và Latinh trung cổ: Antimonium) là một nguyên tố hóa học với ký hiệu Sb) có số nguyên tử 51. Là một á kim, antimon có 4 dạng thù hình. Dạng ổn định nhất của antimon là dạng á kim màu trắng-lam. Các dạng màu vàng và đen là các phi kim không ổn định. Antimon được sử dụng trong mái lợp chống cháy, sơn, gốm, men, một loạt các hợp kim, công nghiệp điện tử, cao su. == Tính chất == Antimon ở dạng nguyên tố là một chất rắn kết tinh dễ nóng chảy, cứng màu trắng bạc có tính dẫn điện và dẫn nhiệt kém và bay hơi ở nhiệt độ thấp. Là một á kim, antimon tương tự như kim loại ở bề ngoài và nhiều tính chất cơ lý, nhưng không phản ứng như các kim loại về mặt hóa học. Nó cũng bị tấn công bởi các axít và các halogen theo phản ứng ôxi hóa-khử. Antimon và một số hợp kim của nó là bất thường ở chỗ chúng giãn nở ra khi nguội đi. Antimon về mặt hóa địa lý được phân loại như là ưa đồng (chalcophile), thường xuất hiện cùng lưu huỳnh và các kim loại nặng như chì, đồng và bạc. Ước tính về độ phổ biến của antimon trong lớp vỏ Trái Đất nằm trong khoảng 0,2-0,5 ppm. == Ứng dụng == Antimon được sử dụng ngày càng gia tăng trong công nghiệp bán dẫn để sản xuất các điốt, các thiết bị phát hiện bằng tia hồng ngoại và các thiết bị dùng hiệu ứng Hall. Ở dạng hợp kim, nó tăng mạnh độ cứng và sức bền cơ học của chì. Ứng dụng quan trọng nhất của antimon là tác nhân làm cứng trong chì để làm các loại ắc quy. Các ứng dụng bao gồm: Ắc quy Hợp kim chống ma sát Hợp kim đúc chữ in Đạn cho các vũ khí cầm tay và đạn lửa Lớp bọc cho sợi cáp Diêm Các loại thuốc phòng trừ sinh vật nguyên sinh ký sinh Hàn chì Hàn thiếc – một vài loại thiếc hàn "không chì" chứa 5% Sb Các vòng bi chính và lớn trong động cơ đốt trong (dưới dạng hợp kim) Đã từng được dùng để điều trị bệnh sán màng (hay bệnh Schistosoma, ngày nay Praziquantel là loại thuốc thay thế được sử dụng rộng khắp) Được dùng trong các máy in kiểu linô Các hợp chất của antimon trong dạng các ôxít, sulfua, antimonat natri, triclorua antimon được dùng làm các vật liệu chống cháy, men gốm, thủy tinh, sơn, sứ. Triôxít antimon là hợp chất quan trọng nhất của antimon và sử dụng chủ yếu trong các vật liệu ngăn lửa. Các ứng dụng ngăn lửa bao gồm các thị trường như quần áo và đồ chơi trẻ em, các lớp bọc ghế ngồi trong ô tô và máy bay. Nó cũng được dùng trong công nghiệp sản xuất composit sợi thủy tinh như là phụ gia cho nhựa polyeste cho các mặt hàng như lớp che bọc động cơ máy bay hạng nhẹ. Nhựa này sẽ bắt cháy khi có lửa nhưng nõ sẽ bị dập tắt ngay khi lửa bị loại bỏ. Sulfua antimon là một trong các thành phần của diêm an toàn. Trong thập niên 1950, các hạt nhỏ hợp kim chì-antimon được sử dụng làm cực phát và cực thu cho các tranzito biên hợp kim kiểu NPN. Sulfua tự nhiên của antimon, gọi là stibnit, đã được biết đến và sử dụng từ thời kỳ cổ đại như là thuốc và mỹ phẩm. Stibnit vẫn còn được sử dụng ở một vài quốc gia đang phát triển như là thuốc. Antimon đã từng được sử dụng để điều trị bệnh sán màng. Antimon tự gắn nó với các nguyên tử lưu huỳnh trong một vài loại enzym nhất định mà cả cơ thể người lẫn sinh vật ký sinh đều cần. Một lượng nhỏ có thể giết chết sinh vật ký sinh mà không gây ra các thương tổn cho bệnh nhân. Antimon và các hợp chất của nó được sử dụng trong một vài loại thuốc thú y như Anthiomalin hay thiomalat antimon liti, được dùng như là tác nhân điều hòa và làm mượt lông ở động vật nhai lại (trâu, bò). Antimon có hiệu ứng nuôi và điều hòa các mô keratin (sừng) hóa, ít nhất là ở động vật. Thuốc gây nôn Tartar là một loại thuốc có chứa antimon được dùng như là thuốc chống sán màng. Các diều trị chủ yếu có sự tham gia của antimon gọi là thuốc antimon. Các loại dược phẩm dựa trên antimon như Allopurinol, Meglumin, cũng được coi là các loại thuốc cần dùng để điều trị sốt ruồi cát (do sinh vật nguyên sinh chi Leishmania gây ra) ở gia súc. Không may, mặc dù có chỉ dẫn điều trị thấp, nhưng thuốc này thẩm thấu kém qua xương ống, nơi mà một số sinh vật gây bệnh Leishmania sống, và vì thế việc chữa trị bệnh – đặc biệt khi ở nội tạng – là rất khó. Đồng tiền làm từ antimon do tỉnh Quý Châu (Trung Quốc) phát hành năm 1931. Loại tiền này không phổ biến, do quá mềm và nhanh mòn khi lưu thông. Sau lần phát hành đầu tiên người ta không sản xuất nó nữa. == Lịch sử == Hợp chất sulfua của antimon, trisulfua antimon (III) (Sb2S3) được biết đến từ thời cổ đại, ít nhất là khoảng năm 3000 TCN. Dạng bột nhão của Sb2S3 trong chất béo hay trong các vật liệu khác đã được sử dụng kể từ khi có hóa mỹ phẩm dành cho mắt ở khu vực Trung Đông và một số nơi khác, Sb2S3 được gọi là phấn Kohl (phấn côn). Nó được dùng để làm sẫm lông mày và lông mi hay để vẽ đường viền quanh mắt. Đồ tạo tác làm từ antimon có niên đại khoảng 3000 TCN được tìm thấy ở Tello, Chaldea (ngày nay thuộc Iraq), và vật làm từ đồng có bọc antimon có niên đại khoảng 2500-2200 TCN tìm thấy ở Ai Cập. Có sự không chắc chắn nhất định trong miêu tả về đồ tạo tác thu được từ Tello. Mặc dù đôi khi nó được coi là một phần của cái bình hay vò, hũ nhưng thảo luận chi tiết gần đây lại coi nó là một mảnh của vật với mục đích không xác định. Mảnh vật tạo tác này đã được trưng bày trong buổi thuyết trình năm 1892. Một bình luận thời đó cho rằng, "chúng ta chỉ biết về antimon ngày nay như là kim loại kết tinh và có độ cứng cao, rất khó có thể tạo hình thành chiếc bình hữu ích, và vì thế 'phát hiện' đáng chú ý này đại diện cho nghệ thuật đã mất về việc làm cho antimon thành dễ uốn." Theo lịch sử nghề luyện kim, miêu tả đầu tiên về thủ tục cô lập antimon nằm trong cuốn sách De la pirotechnia năm 1540 của Vannoccio Biringuccio, viếy bằng tiếng Italia. Cuốn sách này có trước cuốn sách nổi tiếng hơn viết năm 1556 bằng tiếng Latinh của Agricola, De re metallica, mặc dù Agricola thường được coi (một cách nhầm lẫn) là người phát hiện ra antimon dạng kim loại. Theo lịch sử truyền thống của thuật giả kim phương Tây, antimon kim loại được giả định là do giáo trưởng Basilius Valentinus miêu tả (trước Biringuccio) trong bản thảo viết tay bằng chữ Latinh, Currus Triumphalis Antimonii, có khoảng năm 1450. Bản viết tay này được công bố năm 1604 với bản dịch sang tiếng Anh là The Triumphal Chariot of Antimony của Johann Thölde (1565–1614). Sự phát hiện kỳ diệu ra toàn bộ bản viết tay của Valentinus, bao gồm cả các chuyện giả kim, được Jean-Jacques Manget miêu tả đầy đủ trong cuốn Bibliotheca chemica curiosa của ông (năm 1702): bản viết tay này được cất giấu trên 1 thế kỷ trong một cột trụ của tu viện St. Peter tại Erfurt, cho đến khi cột này bị vỡ do sét đánh. Nhiều học giả coi Basilius Valentinus như là một nhân vật huyền bí. Gottfried Wilhelm Leibniz (1646–1716) sau khi điều tra cẩn thận, đã tuyên bố rằng không có giáo trưởng Valentinus nào tồn tại trong tu viện ở Erfurt, mà tên gọi này có lẽ chỉ là bút danh – có lẽ của chính Thölde – sử dụng để pha trộn các tài liệu được phiên dịch kém với các nguồn gốc khác nhau. Theo lịch sử truyền thống của giả kim thuật Trung Đông, antimon tinh khiết đã được Geber, người đôi khi được gọi là "Ông tổ của hóa học", biết đến từ thế kỷ 8. Tuy nhiên vẫn còn một số mâu thuẫn đang để ngỏ. Marcellin Berthelot, người phiên dịch một số sách của Geber, thông báo rằng antimon đã chưa bao giờ được đề cập tới trong các cuốn sách đó, nhưng các tác giả khác lại cho rằng Berthelot chỉ dịch một vài cuốn ít quan trọng, trong khi những quyển đáng quan tâm hơn (một số trong chúng có thể có miêu tả về antimon) vẫn chưa được dịch và người ta hoàn toàn không biết rõ nội dung của chúng. == Từ nguyên == Các từ cổ để chỉ antimon chủ yếu có (như nghĩa chính của chúng, phấn kohl) sulfua antimon. Tuy nhiên Pliny Già phân biệt giữa dạng đực và cái của antimon; dạng đực của ông có lẽ là sulfua còn dạng cái tốt hơn, nặng hơn và ít vụn hơn thì có lẽ là antimon kim loại. Người Ai Cập cổ đại gọi antimon là mśdmt; trong kiểu chữ tượng hình thì các nguyên âm là không chắc chắn, nhưng theo truyền thống Ả Rập thì từ này sẽ là mesdemet. Từ trong tiếng Hy Lạp, stimmi, có lẽ là từ vay mượn từ tiếng Ả Rập hay tiếng Ai Cập và được những nhà thơ bi kịch thành Athena sử dụng trong thế kỷ 5 TCN; sau này người Hy Lạp còn sử dụng từ stibi, như Celsus và Pliny, để viết bằng tiếng Latinh, trong thế kỷ 1. Pliny còn đưa ra tên gọi stimi [nguyên văn], larbaris, thạch cao tuyết hoa, và "rất phổ biến" platyophthalmos, "mắt mở to" (từ hiệu ứng của mỹ phẩm). Muộn hơn, các tác giả Latinh đã làm thích ứng từ này bằng từ Latinh dưới dạng stibium. Từ Ả Rập cho chất, chứ không phải mỹ phẩm, có thể xuất hiện dưới dạng ithmid, athmoud, othmod, hay uthmod. Littré gợi ý rằng dạng thứ nhất và là sớm nhất, có nguồn gốc từ stimmida, (từ) đối cách của stimmi. Việc sử dụng Sb như là ký hiệu hóa học tiêu chuẩn cho antimon là do nhà hóa học Jöns Jakob Berzelius trong thế kỷ 18 đã sử dụng cách viết tắt này để chỉ tên gọi stibium. Dạng chữ Latinh thời Trung cổ và sau đó là người Hy Lạp ở Byzantin (mà từ đó có tên gọi hiện nay) gọi nguyên tố này là antimonium. Nguồn gốc của từ này không chắc chắn; tất cả mọi gợi ý đều gặp khó khăn hoặc là ở dạng viết ra hoặc là ở cách diễn giải. Từ nguyên phổ biến, từ anti-monachos hay từ tiếng Pháp antimoine, vẫn có quan hệ chặt chẽ; thì nó có nghĩa là "kẻ giết thầy tu", và được giải thích là do nhiều nhà giả kim thuật thời kỳ đầu là các thầy tu, còn antimon thì là chất độc. Vì thế từ giả thuyết trong tiếng Hy Lạp antimonos, "chống lại ai đó", được giải thích như là "không được thấy như là kim loại" hay "không được thấy ở dạng không tạo hợp kim". Lippmann phỏng đoán từ Hy Lạp anthemonion, có nghĩa là "hoa nhỏ" và ông trích dẫn một vài ví dụ về các từ Hy Lạp tương ứng (nhưng không có từ này) trong đó miêu tả sự nở hoa hóa học hay sinh học. Những sử dụng sớm của từ antimonium bao gồm các kiểu dịch trong giai đoạn 1050-1100 của Constantinus Africanus cho các luận thuyết Ả Rập thời Trung cổ. Một vài tài liệu có uy tín cho rằng antimonium là sự sửa chữa sai lệch trong sao chép của dạng chữ Ả Rập nào đó; Meyerhof chuyển hóa nó từ ithmid; Meyerhof được trích dẫn trong Sarton, trang 541, cho rằng ithmid hay athmoud bị sửa sai lạc trong "các phiên dịch Latinh thô sơ" Trung cổ OED cho rằng một vài dạng Ả Rập là nguồn gốc và nếu ithmid là từ gốc thì nó sẽ ấn định athimodium, atimodium, atimonium là các dạng trung gian. Các khả năng khác có Athimar, tên gọi tiếng Ả Rập để chỉ kim loại và từ giả thuyết *as-stimmi, có nguồn gốc từ hay song song với tiếng Hy Lạp. Một trong các ưu thế của as-stimmi là ở chỗ nó có âm tiết tổng thể chung với antimonium. == Nguồn == Mặc dù nguyên tố này không phổ biến nhưng nó được tìm thấy trong trên 100 loại khoáng vật. Antimon đôi khi được tìm thấy ở dạng tự nhiên, nhưng nói chung hay được tìm thấy trong khoáng vật sulfua stibnit (Sb2S3) cũng là loại quặng chủ lực có chứa antimon. Các dạng thương mại của antimon nói chung là các thỏi, các miếng vỡ, hạt và các bánh đúc khuôn. Các dạng khác có bột, các tinh thể đơn lẻ v.v. Năm 2005, Trung Quốc là nhà sản xuất hàng đầu về antimon với thị phần chiếm khoảng 84% toàn thế giới. Tiếp theo là Nam Phi, Bolivia và Tajikistan, con số thống kê lấy theo báo cáo của Cục Khảo sát địa chất Anh. Chiffres de 2003, métal contenue dans les minerais et concentrés, source: L'état du monde 2005 Mỏ lớn nhất tại Trung Quốc là mỏ Xikuangshan ở tỉnh Hồ Nam. Xem thêm Khoáng vật antimonua, Khoáng vật antimonat. == Nguy cơ == Antimon và nhiều hợp chất của nó là độc hại. Về mặt lâm sàng, ngộ độc antimon tương tự như ngộ độc asen. Ở các liều lượng nhỏ, antimon gây ra đau đầu, hoa mắt, trầm cảm. Các liều lượng lớn gây ra buồn nôn nhiều và thường xuyên và có thể gây tử vong sau vài ngày. Xem thêm Ngộ độc asen. Một nghiên cứu [1][2] phát hiện thấy antimon có thể thẩm thấu từ các chai đựng nước bằng PET, nhưng ở mức thấp hơn các chỉ dẫn dành cho nước uống. Các chỉ dẫn phổ biến là: WHO, 20 µg l−1 Nhật Bản, 15 µg l−1 EPA Hoa Kỳ, Ytế Canada và Bộ Môi trường Ontario, 6 µg l−1 Bộ Môi trường Liên bang Đức, 5 µg l−1 == Hợp chất == Các hợp chất quan trọng của antimon là: Pentaflorua antimon SbF5 Triôxít antimon Sb2O3 Stibin (trihiđrua antimon SbH3) Antimonua indi (InSb) Axít floroantimonic (HSbF6) Xem thêm Hợp chất antimon. == Xem thêm == Thuốc antimon Bộ nhớ thay đổi pha (PRAM) == Ghi chú == == Tham khảo == == Liên kết ngoài == Phòng thí nghiệm quốc gia Los Alamos – Antimon Thông cáo về sức khỏe công cộng đối với antimon NPI - Antimon và hợp chất WebElements.com – Antimon Sản lượng antimon bằng khai thác mỏ theo từng quốc gia AntimonyNet (tin tức, giá cả, quặng, phân tích, v.v)
chỉ số khủng bố toàn cầu.txt
Chỉ số Khủng bố Toàn cầu là chỉ số kết hợp các yếu tố liên quan đến các cuộc tấn công khủng bố để xây dựng bức tranh rõ ràng tác động của khủng bố trong khoảng 10 năm, minh họa các xu hướng và cung cấp một loạt dữ liệu cho phân tích của các nhà nghiên cứu và hoạch định chính sách của Viện Kinh tế và Hòa bình (IEP) và được dựa trên dữ liệu từ Cơ sở Dữ liệu Khủng bố Toàn cầu (GTD) và đối chiếu bởi Hội Quốc gia về Nghiên cứu Khủng bố và Phản ứng với Khủng bố (START) tại Đại học Maryland, College Park. Chỉ số đã lấy dữ liệu từ hơn 125.000 vụ khủng bố. Chỉ số Khủng bố Toàn cầu 2014 là ấn bản thứ 2 sau một ấn bản năm 2012. == Chỉ số Khủng bố Toàn cầu 2015 == == Xem thêm == Chỉ số hòa bình toàn cầu Khủng bố == Chú thích == == Liên kết ngoài == START - Hội Quốc gia về Nghiên cứu Khủng bố và Phản ứng với Khủng bố.
liechtenstein.txt
Thân vương quốc Liechtenstein (Lích-tên-xtanh, tiếng Đức: Fürstentum Liechtenstein), (IPA: [ˈfʏʁstəntuːm ˈlɪçtənʃtaɪn]) là một quốc gia vùng Alps nhỏ bao quanh bởi các nước không giáp biển ở Tây Âu, giáp với Thụy Sĩ ở phía tây và Áo ở phía đông, có thủ đô là Vaduz, thành phố lớn nhất là Schaan. Liechtenstein có tổng sản phẩm quốc nội GDP trên đầu người cao nhất thế giới khi được điều chỉnh bởi sức mua tương đương và có nợ nước ngoài thấp nhất thế giới. Liechtenstein cũng có tỉ lệ thất nghiệp thấp thứ nhì thế giới là 1,5% (thấp nhất là Monaco). == Lịch sử == === Thời tiền sử === Những dấu vết đầu tiên về sự hiện diện của con người ở Liechtenstein là vào thời kỳ Giữa Đồ Đá Cũ. Những khu vực định cư nông nghiệp thời đại đồ đá mới được tìm thấy ở các thung lũng khoảng 5300 năm trước Công Nguyên. Hai nền Văn hóa Hallstatt và La Tène phát triển nở rộ vào cuối thời kỳ Đồ Sắt trong khoảng 450 năm trước công nguyên có thể do ảnh hưởng từ Hi Lạp và Văn minh Etruscan. Một trong những nhóm bộ lạc quan trọng nhất ở vùng Alpine là Helvetii. Năm 58 trước Công Nguyên BC, tại trận đánh Bibracte, Julius Caesar đã đánh bại các bộ lạc Alpine và đặt vùng này dưới sự cai trị chặt chẽ của Đế quốc La Mã. Đến năm 15 trước Công Nguyên, Tiberius, người được chọn làm Hoàng Đế La Mã, và người em Drusus đã chinh phục toàn bộ vùng Alpine. Liechtenstein được sát nhập vào tỉnh Raetia của Đế quốc La Mã. Khu vực này được kiểm soát bởi quân đội La Mã đóng tại một trại lính viễn chinh lớn mang tên Brigantium (Áo) gần Hồ Constance và tại Magia (Thụy Sĩ). Một con đường La Mã chạy xuyên qua vùng lãnh thổ. Vào năm 259/60 Brigantium bị phá hủy bởi Alemanni, một tộc người Đức định cư ở vùng này khoảng năm 450. Vào sơ kỳ Trung Cổ, người Alemanni đã định cư ở phía đông cao nguyên Thụy Sĩ vào Thế kỷ thứ 5 và tại các thung lũng của dãy Alp vào cuối thế kỷ thứ 8. Liechtenstein nằm ở phía đông của khu vực người Alemannia sinh sống. Đến thế kỷ thứ 6, toàn bộ khu vực này trở thành một phần của Đế quốc Frankish sau chiến thắng của Clovis I trước người Alemanni tại Tolbiac vào năm 504. Vùng này sau đó mang tên Liechtenstein dưới sự cai trị của Frankish (các triều đại Merovingian và Carolingian) cho đến khi Đế quốc này bị chia cắt bởi Hiệp ước Verdun năm 843 sau Công Nguyên sau cái chết của Charlemagne. Vùng lãnh thổ mà ngày nay là Liechtenstein thuộc về Đông Frank cho đến khi nó được tái hợp với Trung Frank thuộc Đế quốc La Mã Thần thánh khoảng năm 1000 sau Công Nguyên. Cho đến khoảng năm 1100, ngôn ngữ chính trong vùng là tiếng Romansh, nhưng sau đó tiếng Đức chiếm ưu thế, và vào năm 1300 một bộ phận dân cư Alemann được gọi dưới cái tên người Walser (bắt nguồn từ Valais) di cư đến đây. Đến thế kỷ 21, các làng mạc trên núi ở Triesenberg vẫn bảo tồn được phương ngữ Walser. === Thành lập Vương triều === Đến năm 1200, các lãnh địa trên cao nguyên Alpine đều thuộc quyền kiểm soát của nhà Savoy, Zähringer, Habsburg, và Kyburg. Cùng với những khu vực khác, vương quốc này chiếm được các con đường đi qua dãy núi. Khi triều Kyburg sụp đổ vào năm 1264, triều Habsburgs do Vua Rudolph I (Hoàng Đế La Mã Thần Thánh năm 1273) bành trướng lãnh thổ đến phía đông cao nguyên Alpine bao gồm cả lãnh thổ Liechtenstein. Vùng này sau đó được cấp cho Bá tước Hohenems cho đến khi thành lập Vương triều Liechtenstein năm 1699. Năm 1396 Vaduz (vùng phía nam Liechtenstein) được nâng cấp thành "lãnh địa đế quốc" và nắm dưới sự cai quản trực tiếp duy nhất từ Hoàng Đế La Mã Thần Thánh. Gia đình Liechtenstein, bắt nguồn từ Lâu đài Liechtenstein ở Hạ Áo mà họ đã sở hữu từ ít nhất năm 1140 đến thế kỷ 13 (và một lần nữa từ 1807 đến sau này). Dòng họ Liechtensteins có được các vùng đất, chủ yếu ở Moravia, Lower Austria, Silesia, và Styria. Tất cả những lãnh thổ này đều được dòng họ này thuê sử dụng từ thời phong kiến do các lãnh chúa mạnh hơn làm chủ, đặc biệt là từ những lãnh chúa Habsburgs, triều Liechtenstein không thể hội đủ điều kiện có một ghế trong nghị viện của Đế quốc, được gọi là Reichstag. Ngay cả khi vài Thái tử Liechtenstein phục tùng các nhà cầm quyền Habsburg với tư cách cố vấn thân cận, và không có lãnh thổ nào chịu sự chi phối trực tiếp từ Hoàng đế, họ giữ những quyền hành ít ỏi trong Đế quốc La Mã Thần Thánh. Vì lý do này, gia đình nãy đã tìm cách có thêm đất đai để liên kết các vùng đất nhỏ manh múng, độc lập khỏi ảnh hưởng của các lãnh chúa và nắm dưới sự cai quản trực tiếp của Hoàng Đế La Mã. Trong suốt đầu thế kỷ 17 Karl I của Liechtenstein được phong làm Fürst (hoàng tử) bởi Hoàng Đế La Mã Thần Thánh Matthias sau khi đứng về phe ông trong một trận chiến chính trị. Hans-Adam I được phép mua Herrschaft ("quyền làm lãnh chúa") của Schellenberg và thủ phủ Vaduz (vào năm 1699 và 1712) từ Hohenems. Những vùng lãnh thổ Schellenberg và Vaduz đã giúp cho Gia đình này đạt được vị thế chính trị cần thiết. === Thân vương quốc === Ngày 23 tháng 1, 1719, sau khi các đất đai đã được mua, Charles VI, Hoàng Đế La Mã Thần Thánh, ra một đạo luật cho phép Vaduz và Schellenberg được sát nhập và thành lập một vùng lãnh thổ mới dưới danh nghĩa Fürstentum (thân vương quốc) với cái tên "Liechtenstein" nhằm vinh danh tùy tùng trung thành, Anton Florian của Liechtenstein". Đây chính là ngày Liechtenstein trở thành một nhà nước có chủ quyền trong Đế quốc La Mã Thần Thánh. Đây chỉ là kết quả của một sự tính toán thuần túy về chính trị nên các Hoàng tử Liechtenstein không thăm công quốc của họ trong suốt 100 năm. Đến đầu thế kỷ 19, do kết quả của Các cuộc chiến tranh của Napoléon ở châu Âu, Đế quốc La Mã Thần Thánh bị kiểm soát bởi nước Pháp, sau chiến thắng vang dội tại Austerlitz trước Napoleon năm 1805. Hoàng Đế Francis II thoái vị, kết thúc hơn 960 năm chính quyền phong kiến. Napoleon đã tái tổ chức phần lớn của Đế quốc thành Liên bang Rhein. Sự thay đổi về chính trị này đã ảnh hưởng nhiều đến Liechtenstein: các vị thế chính trị, pháp luật, và lịch sử trong đế quốc biến mất. Thân vương quốc này đã dừng các nghĩa vụ đối với bất kỳ lãnh chúa nào ngoài biên giới của nó. Những tài liệu hiện đại đều ghi nhận chủ quyền của Liechtenstein được xác lập từ những sự kiện này. Hoàng tử của Vương quốc đã dừng các nghĩa vụ đối với bất kỳ thế lực nào. Từ 25 tháng 7 năm 1806, khi Liên bang Rhine được thành lập, mà trong đó Hoàng tử Liechtenstein là một thành viên, trên thực tế là một nước chư hầu, nằm dưới sự bảo trợ của Hoàng Đế Pháp Napoleon I, cho đến khi Liên Bang giải thể vào ngày 19 tháng 9 năm 1813. Ngay sau đó, Liechtenstein gia nhập Liên minh các quốc gia Đức (20 tháng 6 năm 1815 – 24 tháng 8 năm 1866), do Hoàng đế Áo nắm quyền. Năm 1818, Hoàng tử Johann I ban hành một hiến pháp hạn chế cho vùng đất này. Cùng năm đó Hoàng tử Aloys trở thành thành viên đầu tiên của Nhà Liechtenstein đặt chân lên Thân Vương quốc mang tên gia đình họ. Chuyến viếng thăm tiếp theo là năm 1842. Nhưng công trình được xây dựng ở thế kỷ 19 bao gồm: 1836, nhà máy gốm sứ đầu tiên được mở. 1861, Ngân hàng Tiết kiệm và Cho vay được thành lập cùng với nhà máy dệt vải cotton đầu tiên. 1868, Quân đội Liechtenstein bị giải thể vì lý do tài chính. 1872, một đường xe lửa nối Thụy Sĩ và Đế quốc Áo-Hung được xây dựng xuyên qua Liechtenstein. 1886, hai cây cầu bắc qua sông Rhine nối với Thụy Sĩ được xây dựng. === Thế kỷ 20 === Cho đến cuối Thế chiến I, Liechtenstein có mối liên hệ chặt chẽ với Đế quốc Áo và sau là Đế quốc Áo-Hung; các hoàng thân tiếp tục kiếm được nhiều của cải từ các bất động sản ở lãnh thổ Habsburg, và họ trải qua phần lớn thời gian ở hai cung điện ở Vienna. Sự tàn phá về kinh tế gây ra bởi chiến tranh buộc nước này phải tham gia vào liên minh tiền tệ và liên minh hải quan với quốc gia láng giềng, Thụy Sĩ. Vào thời điểm giải thể Đế quốc Áo-Hung, có những tranh cãi rằng Liechtenstein, là một thái ấp của Đế quốc La Mã Thần Thánh, không còn liên kết với nhà nước Áo, do đó không được coi là phần kế thừa chính thức của Đế quốc. Điều đó đối lập với nhận thức của Liechtenstein rằng Hoàng Đế Áo-Hung đã thoái vị vẫn còn mang di sản tinh thần của Đế quốc La Mã Thần Thánh. Năm 1929, Hoàng tử Franz I 75 tuổi kế thừa ngai vàng. Franz vừa mới cưới Elisabeth von Gutmann, một phụ nữ đến từ Vienna, một người giàu có vì ba bà là một doanh nhân Do Thái đến từ Moravia. Mặc dù Liechtenstein không có đảng Phát xít chính thức nào, một phong trào có cảm tình với Phát xít nổi lên trong đảng Liên Minh Quốc gia. Những kẻ Phát xít Liechtenstein ở địa phương xác định Elisabeth là "vấn đề" Do Thái của họ. Tháng 3, 1938, ngay sau sự kiện Phát xít Đức sát nhập Áo, Hoàng tử Franz nhiếp chính và Hoàng tử Franz Joseph bị rời ngôi vị lần hai. Franz mất tháng 7 cùng năm, và Franz Joseph thừa hưởng ngai vàng. Franz Joseph II đến Liechtenstein lần đầu tiên vào năm 1938, một vài ngày sau sự kiện sát nhập. Trong suốt Thế chiến II, Liechtenstein vẫn giữ vị trí trung lập, và dựa vào quốc gia Thụy Sĩ láng giềng để được trợ giúp và hướng dẫn, trong khi các kho tàng của gia đình hoàng gia từ các vùng đất Bohemia, Moravia, và Silesia được đưa về Liechtenstein để cất giữ. Khi cận kề với chiến tranh, Tiệp Khắc và Ba Lan, đã phong tỏa các tài sản mà họ cho là của Đức, và tước đoạt gần như toàn bộ tài sản của gia đình hoàng gia Liechtenstein trong ba vùng trên. Việc này (dẫn đến tranh chấp đến hiện nay tại Tòa án Công lý Quốc tế) đã lấy đi 1.600 km2 (618 sq mi) đất rừng và nông nghiệp (nổi tiếng nhất là một khu thắng cảnh Lednice–Valtice được UNESCO công nhận), và một vài cung điện và lâu đài của hoàng tộc. Liechtenstein ban quy chế tị nạn cho 500 lính thuộc Quân đội Quốc gia Nga Thứ Nhất (một lực lượng của Nga đồng minh với quân đội Đức Wehrmacht) khi sắp kết thúc Chiến tranh thế giới lần II. Khoảng 200 trong số đó tình nguyện trở về Liên bang Sô Viết. Họ khởi hành trong một chuyến tàu hỏa đến Vienna và sau đó không có một tin tức nào về nhóm người này. Số còn lại ở lại Liechtenstein thêm một năm nữa, được chu cấp bởi Liechtenstein, sau đó do áp lực từ chính quyền Sô Viết trong một chương trình hồi hương. (Ngược lại, do các điều khoản đã ký trong Hội nghị Yalta, Lực lượng Đồng Minh phương Tây chủ trương hồi hương cư dân Xô viết.) Cuối cùng chính phủ Argentina đề nghị quy chế tị nạn cho khoảng 100 người còn lại. Sự kiện này được ghi lại bởi một tượng đài tại thị trấn biên giới Hinterschellenberg. Nó cũng là đề tài cho bộ phim tài liệu Pháp Le dernier secret de Yalta (bí mật Yalta cuối cùng) bởi Nicolas Jallot. Tuy nhiên, đến năm 2005 một câu truyện được công bố là những lao động Do Thái từ trại tập trung Strasshof, do SS lập nên, đã làm việc tại cái bất động sản ở Áo thuộc sở hữu Nhà Hoàng tử Liechtenstein. Cư dân Liechtenstein bị cấm vào Czechoslovakia trong suốt Chiến tranh Lạnh. Và gần đây là do các mâu thuẫn liên quan đến Đạo luật Beneš gây tranh cãi khiến cho Liechtenstein không thiết lập quan hệ với Cộng hòa Czech hay Slovakia. Quan hệ ngoại giao được thiết lập giữa Liechtenstein và Cộng hòa Czech ngày 13 tháng 7 năm 2009, và với Slovakia ngày 9 tháng 12 năm 2009. === Trung tâm tài chính === Liechtenstein ở trong tình trạng khánh kiệt sau khi chiến tranh kết thúc ở châu Âu. Hoàng gia Liechtenstein buộc phải bán các kho tàng nghệ thuật của gia đình, bao gồm các bức "Ginevra de' Benci" của Leonardo da Vinci, được mua lại bởi Phòng tranh Nghệ thuật Quốc gia của Hoa Kỳ vào năm 1967 với giá 5 triệu dollar ($36 triệu dollar vào năm 2017), một giá kỷ lục cho một bức tranh. Tuy nhiên, vào cuối thập niên 1970 nước này sử dụng chính sách thuế tập đoàn thấp để thu hút nhiều công ty, và trở thành một trong những quốc gia thịnh vượng nhất. Hoàng tử Liechtenstein là một trong sáu vị vua giàu nhất với giá trị tài sản ước lượng khoảng 5 tỉ USD. Dân cư tại đây có mức sống thuộc hàng cao nhất thế giới. == Chính trị == === Thể chế nhà nước === Liechtenstein theo chế độ Quân chủ lập hiến. Đứng đầu nhà nước là Hoàng thân. Quốc hội có nhiệm kỳ 4 năm, gồm một viện với 25 nghị sĩ được bầu trực tiếp. Liechtenstein không có quân đội, chỉ có lực lượng cảnh sát với 26 người. === Các đảng phái chính trị === Từ khi tuyên bố độc lập đến nay, Liechtenstein có 2 đảng chính, đó là Đảng Nhân dân tiến bộ (FBPL) và Đảng Liên minh yêu nước (VU). Trong lịch sử, hai đảng này luôn liên minh với nhau trong Quốc hội, thành lập Chính phủ đoàn kết dân tộc để chống lại ý đồ sát nhập Liechtenstein vào Áo của Hitler. Chính phủ liên minh này tồn tại gần 60 năm, cho đến sau cuộc bầu cử Quốc hội năm 1997. Tại cuộc bầu cử tháng 2 năm 2009, Đảng Liên minh yêu nước đạt 47,6% số phiếu, tương đương 13 ghế trong Quốc hội, lên cầm quyền. Đảng Nhân dân tiến bộ chỉ đạt 43,5% số phiếu và được 11 ghế. 1 ghế còn lại thuộc về Đảng tự do. === Hiến pháp mới === Trong một cuộc trưng cầu dân ý toàn quốc vào tháng 3 năm 2003, gần hai phần ba số cử tri đã bỏ phiếu ủng hộ hiến pháp mới do Hoàng thân Hans-Adam II đề xuất để thay thế Hiến pháp 1921. Hiến pháp được đề xuất đã bị chỉ trích bởi nhiều người, bao gồm cả Hội đồng châu Âu về nhiều khoản của Hiến pháp mới như mở rộng quyền hạn của chế độ quân chủ (tiếp tục quyền phủ quyết luật pháp, và cho phép Hoàng thân có quyền giải tán chính phủ hoặc bất kỳ bộ trưởng nào). === Chính sách đối ngoại === Trước 1989, Liechtenstein chỉ có quan hệ ngoại giao chính thức với Thụy Sĩ, Áo và Toà thánh Vatican. Sau khi Hoàng thân Hans-Adam II lên nắm quyền (tháng 11 năm 1989), quan hệ ngoại giao của Liechtenstein được mở rộng đáng kể và cho đến nay, Liechtenstein đã thiết lập quan hệ ngoại giao với gần 100 nước trên thế giới. Năm 1990, Liechtenstein trở thành thành viên chính thức của Liên Hiệp Quốc. Ngoài ra, Liechtenstein còn là thành viên của Hội đồng châu Âu, Tổ chức An ninh và Hợp tác châu Âu (OSCE), Khu vực kinh tế châu Âu (EEA) và nhiều tổ chức quốc tế khác. Kể từ sau Thế chiến thứ 2, Liechtenstein phụ thuộc vào Thụy Sĩ cả về đối nội và đối ngoại. Đại diện ngoại giao của Liechtenstein ở nước ngoài do các đại sứ Thụy Sĩ kiêm nhiệm và qua đó Bộ Ngoại giao Thụy Sĩ thông báo mọi thông tin cho Chính phủ Liechtenstein biết. == Địa lý == Liechtenstein là quốc gia nói tiếng Đức nhỏ nhất thế giới với diện tích 160 km², nằm ở Trung Âu, xen giữa Thụy Sĩ và Áo. Lãnh thổ gồm một phần đất nhỏ ở vùng trung tâm dãy Alpes và vùng đất bồi, phía bờ phải sông Rhine và có dân số hơn 35.000 người. Liechtenstein nằm ở thượng lưu sông Rhine thuộc thung lũng dãy Alps miền trung của châu Âu, có chung biên giới phía đông với Áo, phía nam và phía tây với Thụy Sĩ. Toàn bộ biên giới phía tây của Liechtenstein được hình thành bởi sông Rhine. Chiều dài từ nam tới bắc đất nước là khoảng 24 km (15 dặm). Điểm cao nhất của Liechtenstein là đỉnh Grauspitz cao 2.599 m (8.527 ft). == Hành chính == Liechtenstein được chia thành 11 công xã gồm: Balzers, Eschen, Gamprin, Mauren, Planken, Ruggell, Schaan, Schellenberg, Triesen, Triesenberg, Vaduz. == Kinh tế == Nền kinh tế của Liechtenstein chủ yếu là công nghiệp, nhưng công nghiệp theo cách nhập nguyên liệu về gia công chế biến. Liechtenstein sản xuất những phụ tùng lắp ráp (chủ yếu dùng để xuất khẩu), điện tử, gốm sứ, tân dược, máy in, văn phòng phẩm, làm răng giả. Cả nước có 35 xí nghiệp phần lớn là các chi nhánh của các công ty Thụy Sĩ với số nhân công khoảng 4.000 người. Nông nghiệp tự cung tự cấp 14%, chủ yếu là chăn nuôi, trồng nho và lúa mì. Nguồn thu nhập của đất nước chủ yếu từ xuất khẩu sản phẩm công nghiệp, thuế (của 15.000 công ty nước ngoài đăng ký ở Vaduz), sản xuất tem phục vụ khách du lịch. Kinh tế du lịch mang lại cho cư dân nước này nguồn thu nhập cao nhất thế giới. == Nhân khẩu học == Liechtenstein là quốc gia nhỏ thứ tư của châu Âu, sau Vatican, Monaco, San Marino. Dân số Liechtenstein chủ yếu nói tiếng Alemanni. Ngôn ngữ chính thức là tiếng Đức, tiếng Alemanni, một số phương ngữ của tiếng Đức như tiếng Triesenberg, một phương ngữ được nói tại các đô thị. Theo cuộc điều tra dân số 2000, 87,9% dân số là Kitô hữu, trong đó 78,4% theo Công giáo La Mã, trong khi khoảng 8% là Tin Lành. So với cuộc điều tra dân số năm 1990, tỷ lệ phần trăm của các Kitô hữu đã giảm, trong khi người Hồi giáo và không tôn giáo tăng gấp đôi kích thước. Theo một báo cáo 2009 của Trung tâm Nghiên cứu Pew, người Hồi giáo chiếm khoảng 4,8% dân số. == Giáo dục - Y tế == Ở Liechtenstein, giáo dục là bắt buộc và miễn phí trong 8 năm học (từ 7 đến 16 tuổi). Học sinh tốt nghiệp có thể vào dự bị đại học hoặc trường hướng nghiệp. Trình độ giáo dục ở Liechtenstein khá cao đối với mọi bậc học. Nhiều sinh viên đi du học ở Áo và Thụy Sĩ. Y tế: Chăm sóc sức khỏe cộng đồng khá tốt. Liechtenstein chỉ có một bệnh viện nhỏ. Chính phủ cung cấp bảo hiểm để người dân có thể sang Áo và Thụy Sĩ chữa bệnh. Ngoài ra, còn có chương trình bảo hiểm dành cho người già, người tàn tật; chương trình trợ cấp xã hội và thất nghiệp. Mọi người dân Liechtenstein đều bắt buộc phải đóng bảo hiểm y tế. == Văn hóa == == Xem thêm == The Principality of Liechtenstein The Princely House of Liechtenstein Statistics Liechtenstein (tiếng Đức) Parliament Tourism Liechtenstein National Art Museum of Liechtenstein Mục “Liechtenstein” trên trang của CIA World Factbook. Liechtenstein tại DMOZ Wikimedia Atlas của Liechtenstein, có một số bản đồ liên quan đến Liechtenstein. Bản mẫu:Osmrelation-inline
yên bái (thành phố).txt
Thành phố Yên Bái là một thành phố ở phía Bắc Việt Nam, là tỉnh lỵ của tỉnh Yên Bái, được thành lập vào năm 2002. Đây là một đô thị loại III của Việt Nam. == Điều kiện tự nhiên == Nằm cạnh sông Hồng, phía đông và đông bắc giáp huyện Yên Bình, phía tây và tây nam giáp huyện Trấn Yên. Thành phố rộng 108,155 km² và có 95.892 người (năm 2008) của gồm 18 dân tộc trong đó Kinh chiếm đa số. == Lịch sử == Thành phố Yên Bái trong suốt chiều dài lịch sử đã trải qua nhiều lần thay đổi về địa danh và địa giới hành chính. Thời các Vua Hùng, mảnh đất này nằm trong bộ Tân Hưng, thời phong kiến Bắc thuộc nằm trong vùng đất Tượng Quân, Giao Chỉ rồi Phong Châu. Đến thế kỷ XI (thời nhà Lý) thuộc Châu Đăng. Thế kỷ XVI (đời Lê Thánh Tông) nằm trong lộ Quy Hoá thuộc tỉnh Hưng Hoá. Cuối thế kỷ XVI là một làng nhỏ bé trong tổng Bách Lẫm, phủ Quy Hoá thuộc tỉnh Hưng Hoá. Ngày 15 tháng 4 năm 1888, thực dân Pháp phân chia các địa bàn từ Thanh Hoá trở ra Bắc thành 14 quân khu. Địa bàn thành phố Yên Bái ngày nay thuộc Quân khu Yên Bái. Sau một thời gian, toàn quyền Đông Dương Jean-Marie de Lanessan đã ra Nghị định bãi bỏ các quân khu để thiết lập các đạo quan binh hoàn toàn nằm trong chế độ quân quản. Dưới đạo quan binh là các tiểu quân khu. Ngày 9 tháng 9 năm 1891, toàn quyền Đông Dương quy định đạo lỵ quan binh Yên Bái đặt tại xóm Đồng Thị, xóm Gò Cau tại làng Yên Bái, tổng Bách Lẫm huyện Trấn Yên. Đứng đầu đạo quan binh là một viên trung tá. Ngày 11 tháng 4 năm 1900, toàn quyền Đông Dương ra Nghị định thành lập tỉnh Yên Bái, tỉnh lỵ được đặt tại làng Yên Bái thuộc tổng Bách Lẫm, huyện Trấn Yên. Thị xã Yên Bái được hình thành là trung tâm của tỉnh nằm ở chân đồn Cao - khu vực quân sự của thực dân Pháp (phường Nguyễn Phúc ngày nay) với diện tích chưa đầy 2km2. Năm 1905, một số làng thuộc tổng Bách Lẫm được đưa vào thị xã. Thị xã Yên Bái lúc đầu chỉ là một phố thuộc phủ Trấn Yên rồi dần dần hình thành 4 khu phố nhỏ là phố Hội Bình, Yên Lạc, Yên Hoà, Yên Thái (khu vực phường Hồng Hà ngày nay). Tháng 7 năm 1954, hoà bình lập lại trên miền Bắc, thị xã Yên Bái được khôi phục và mở rộng. Ngày 7 tháng 4 năm 1956 theo Nghị định số 72/TTg của Thủ tướng Chính phủ đã quyết định tái lập thị xã Yên Bái. Thôn Lò Vôi thuộc xã Minh Bảo và xóm nhà thờ thuộc xã Nam Cường được đưa vào thị xã Yên Bái. Ngày 27 tháng 12 năm 1975, ba tỉnh Yên Bái, Nghĩa Lộ (trừ 2 huyện Bắc Yên và Phù Yên nhập vào tỉnh Sơn La) và Lào Cai hợp nhất thành tỉnh Hoàng Liên Sơn, thị xã Yên Bái được chọn làm tỉnh lỵ tỉnh Hoàng Liên Sơn, gồm 4 phường: Hồng Hà, Minh Tân, Nguyễn Thái Học, Yên Thịnh. Ngày 16 tháng 1 năm 1979, do yêu cầu của nhiệm vụ chính trị, thị xã Yên Bái được mở rộng, Hội đồng Bộ trưởng đã có Quyết định số 15-CP/HĐBT quyết định sáp nhập các xã Tuy Lộc, Nam Cường, Tân Thịnh và Minh Bảo của huyện Trấn Yên vào thị xã Yên Bái. Ngày 6 tháng 6 năm 1988, tại Quyết định số 101-HĐBT của Hội đồng Bộ trưởng đã quyết định phát triển từ 4 phường của thị xã Yên Bái là phường Hồng Hà, Nguyễn Thái Học, Minh Tân, Yên Thịnh lên thành 7 phường cụ thể như sau: chia phường Hồng Hà thành 2 phường lấy tên là phường Hồng Hà và phường Nguyễn Phúc; chia phường Nguyễn Thái Học ra thành 2 phường lấy tên là phường Nguyễn Thái Học và phường Yên Ninh; chia phường Minh Tân thành 2 phường là phường Minh Tân và phường Đồng Tâm. Ngày 12 tháng 8 năm 1991, tỉnh Hoàng Liên Sơn được tách thành 2 tỉnh là Yên Bái và Lào Cai, thị xã Yên Bái trở lại là tỉnh lỵ tỉnh Yên Bái. Năm 2001, thị xã Yên Bái được công nhận là đô thị loại III. Ngày 11 tháng 1 năm 2002, Thủ tướng Chính phủ ra Nghị định số 05/2002/NĐ-CP thành lập thành phố Yên Bái trên cơ sở toàn bộ diện tích và dân số của thị xã Yên Bái. Theo Nghị định số 87/2008/NĐ-CP/ ngày 4 tháng 8 năm 2008 của Chính phủ, sáp nhập 6 xã: Văn Phú, Văn Tiến, Hợp Minh, Giới Phiên, Phúc Lộc, Âu Lâu thuộc huyện Trấn Yên vào thành phố Yên Bái. Ngày 12 tháng 12 năm 2013, chuyển 2 xã Nam Cường và Hợp Minh thành 2 phường có tên tương ứng. == Hành chính == Thành phố Yên Bái gồm 17 đơn vị hành chính trực thuộc, đó là 9 phường: Đồng Tâm, Hồng Hà, Hợp Minh, Minh Tân, Nam Cường, Nguyễn Phúc, Nguyễn Thái Học, Yên Ninh, Yên Thịnh và 8 xã: Âu Lâu, Giới Phiên, Minh Bảo, Phúc Lộc, Tân Thịnh, Tuy Lộc, Văn Phú, Văn Tiến. == Địa lý nhân văn == Dân cư của thành phố Yên Bái mang đặc trưng của cư dân thành thị vùng cao. Những năm đầu thế kỷ XX dân cư của thị xã Yên Bái thưa thớt. Người Kinh chiếm hầu như đa số, họ tập trung ở Bách Lẫm, Giới Phiên và thị xã Yên Bái với mật độ dân số là trên 10 người/1km2. Tuy nhiên, khi thực dân Pháp mở tuyến đường sắt Hải Phòng - Hà Nội - Lào Cai và do chính sách tiểu đồn điền nên các luồng cư dân theo đường sông Hồng lên ngày một gia tăng, vì vậy dân số ở thị xã được tăng khá nhanh. Họ từ mạn Phú Thọ, Nam Định, Hà Nam, Hà Đông, Thái Bình lên sinh sống tại các vùng Bách Lẫm, Nam Cường. Trong dòng người nhập cư này phải kể thêm một số người từ các tỉnh miền xuôi lên đây khai thác lâm sản, buôn bán rồi ở lại luôn. Ở vị trí nằm trên các tuyến đường giao thông huyết mạch thuỷ, bộ nên thành phố Yên Bái trở thành một trong những đầu mối thông thương quan trọng giữa miền ngược và miền xuôi. Đạo Phật, Đạo Thiên Chúa đã thâm nhập vào đây từ rất sớm chứng tỏ đây là một vùng đất mở để đón nhận những khả năng và tiềm thức mới để thúc đẩy sinh hoạt và đời sống cộng đồng. == Chú thích == == Tham khảo == == Liên kết ngoài == Website chính thức
cartago (tỉnh).txt
Cartago là một tỉnh của Costa Rica. Tỉnh này nằm ở trung bộ quốc gia này. Các tỉnh giáp ranh là: Limón về phía đông và San José về phía tây. Tỉnh lỵ là Cartago nguyên là thủ đô của Costa Rica. Tỉnh có diện tích 3.124,61 km² (1) và dân số 461.163 người (2). Về mặt hành chính, tỉnh được chia thành 8 tổng. Tỉnh này được kết nối với San Jose băng một tuyến xa lộ 4 làn xe. == Liên kết ngoài == Hình ảnh Cartago Thông tin về Cartago == Tham khảo == (1) Instituto Geográfico Nacional (IGN), 2001. (2) Estimates of Instituto Nacional de Estadística y Censos (INEC), tháng 5 năm 2003.
phạm chí dũng.txt
Phạm Chí Dũng (sinh năm 1966) là một nhà báo, chủ tịch Hội Nhà báo Độc lập Việt Nam, hội viên Hội Nhà văn TP HCM, từng là đảng viên đảng Cộng sản và cán bộ tại Ban An ninh Nội chính Thành ủy TP HCM. Ông có học vị Tiến sĩ Kinh tế. Ông là người viết báo và viết văn nhiều năm nay, với nhiều bút danh khác nhau như Việt Thắng, Viết Lê Quân, Thường Sơn. == Tiểu sử == Phạm Chí Dũng là con trai của ông Phạm Văn Hùng, cựu Trưởng ban tổ chức Thành Ủy thành phố HCM. Sau khi tốt nghiệp Học viện Kỹ thuật Quân sự, ông Phạm Chí Dũng về công tác tại Ban An ninh Nội chính Thành ủy TP HCM. Ông Phạm Chí Dũng theo đuổi văn chương từ 1986 và trong những năm gần đây viết nhiều bài dưới các bút danh khác nhau cho tạp chí Phía Trước, bàn về một số chủ đề bị cho là tế nhị ở Việt Nam như tự do báo chí, tham nhũng, nhóm lợi ích cũng như kiểm soát của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng trong nền kinh tế. Ngày 5 tháng 12 năm 2013, ông Dũng làm đơn xin ra khỏi đảng, sau 20 năm làm đảng viên, vì cho là:"Đảng Cộng sản không còn đại diện và phục vụ cho quyền lợi của đại đa số nhân dân". Nhân Ngày Tự do Báo chí Thế giới 3 tháng 5, tổ chức Phóng viên Không biên giới (RSF) có trụ sở tại Paris, lần đầu tiên đã công bố danh sách « 100 anh hùng thông tin » năm 2014, gồm các nhà báo và blogger ở 65 quốc gia trên thế giới. Trong số ba người Việt Nam được vinh danh lần này, có nhà báo tự do Phạm Chí Dũng. Khi ra ra phi trường Tân Sơn Nhất để tham dự cuộc hội thảo về vấn đề dân chủ và nhân quyền cùng buổi kiểm điểm nhân quyền UPR do Liên Hiệp Quốc tổ chức mà Việt Nam là một trong những nước phải trả lời việc này vào ngày 05.02. 2014 ở Geneva, do tổ chức UN Watch mời, Phạm Chí Dũng đã bị công an tịch thu hộ chiếu. UN Watch, một tổ chức giám sát về nhân quyền và dân chủ của Liên Hiệp Quốc, là một trong những tổ chức chính xây dựng nên cuộc hội thảo này. Ngày 04 tháng 7 năm 2014, Hội Nhà báo Độc lập Việt Nam tuyên bố thành lập mà chủ tịch là Phạm Chí Dũng. == Dính líu pháp luật == Ngày 17 tháng 7 năm 2012 ông bị bắt khẩn cấp vì nghi biên soạn tài liệu 'nhằm lật đổ chính quyền nhân dân'. Sau đó, ông bị khởi tố hai tội danh "Âm lưu lật đổ chính quyền" (theo Điều 79 Bộ luật hình sự) và "Tuyên truyền chống nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (theo Điều 88 Bộ luật hình sự). Có tin cho là thiệt ra vì những loạt bài phơi bày sự thật về tình trạng tham nhũng và các nhóm lợi ích tại Việt Nam. Khi bị bắt, ông Dũng là một cán bộ công tác tại ban An ninh Nội chính Thành ủy TP HCM. Tuy nhiên sau sáu tháng tạm giữ, công an đã thông báo cho ông về việc đình chỉ điều tra và kết thúc vụ án. Ngày 5 tháng 12 năm 2013, Phạm Chí Dũng đã viết đơn xin ra khỏi đảng cộng sản Việt Nam. Ngày 25/06/2015, Phạm Chí Dũng, chủ tịch Hội Nhà báo Độc lập Việt Nam đã bị đưa đến cơ quan an ninh điều tra để « hỏi về các vấn đề liên quan đến vụ án ông Nguyễn Quang Lập». Trong 8 giờ bị câu lưu và thẩm vấn, công an cũng đã yêu cầu ông Phạm Chí Dũng chấm dứt hoạt động trang "Việt Nam Thời Báo" của Hội Nhà báo Độc lập. == Tác phẩm == Truyện ngắn: "Những bông hoa hoang dã" (1993), "Tự thú" (1994), "Những chiếc bồn tắm định mệnh" (2005) Tiểu thuyết: "Cuộc phiêu lưu của linh hồn cầm cố" (2005) và "Ngài nghị sĩ" (2006)... == Chú thích ==
stoke city f.c..txt
Câu lạc bộ bóng đá Stoke City là một câu lạc bộ bóng đá ở Stoke-on-Trent, Anh. Thành lập từ năm 1863, Stoke là câu lạc bộ lâu đời nhất ở Premier League, và là CLB chuyên nghiệp lâu đời thứ hai trên thế giới, sau Notts County. Sân nhà của Stoke là sân Britannia, có sức chứa 28.000 chỗ ngồi. Sân được mở cửa vào năm 1997; trước đó Stoke chơi ở sân Victoria, nơi được coi là sân nhà của họ từ năm 1878 (một quãng thời gian 119 năm chung sân với Wolverhampton Wanderers). Biệt danh của đội bóng là The Potters (nghĩa là thợ gốm, do ngành công nghiệp gốm ở Stoke-on-Trent) và màu áo truyền thống của họ là màu đỏ sọc trắng cùng quần và tất trắng. Trước khi được thăng hạng năm 2008, Stoke chưa được chơi ở giải đấu cao nhất nước Anh từ mùa giải 1984-1985, mùa giải mà họ chỉ giành được 17 điểm, số điểm thấp thứ 2 trong vòng 20 năm trước đó. Danh hiệu đầu tiên của Stoke là Carling Cup vào năm 1972, khi họ đã thắng Chelsea 2–1. Câu lạc bộ đã 2 lần vô địch giải hạng nhất Anh, đầu tiên vào năm 1992 và gần đây nhất là năm 2000. == Cầu thủ == Số liệu thống kê chính xác tới 28 tháng 10 năm 2015 === Đội hình chính thức === Ghi chú: Quốc kỳ chỉ đội tuyển quốc gia được xác định rõ trong điều lệ tư cách FIFA. Các cầu thủ có thể giữ hơn một quốc tịch ngoài FIFA. ==== Cầu thủ cho mượn ==== Ghi chú: Quốc kỳ chỉ đội tuyển quốc gia được xác định rõ trong điều lệ tư cách FIFA. Các cầu thủ có thể giữ hơn một quốc tịch ngoài FIFA. === Các cựu cầu thủ đáng chú ý === Mặc dù có được thành tích không cao và không được chơi ở giải đấu cao nhất trong nhiều năm, CLB vẫn có được những tên tuổi nổi tiếng, những người dưới đây, có cả Sir Stanley Matthews, người đã chơi cho CLB trong hai giai đoạn từ khi còn là cầu thủ trẻ cho tới khi giải nghệ ở tuổi 50. == Tham khảo == == Liên kết ngoài == Website chính thức Official PFA Team Page Why Delilah - The Sentinels News Coverage 2009/2010 fixture list and reports Stoke City on BBC Sport Stoke City News - Sky Sports Stoke City BlogsFC - Football Journalists Club Blog with NewsNow approved blogger Alec Vještica
montana.txt
Montana là một tiểu bang nằm ở miền tây bắc Hoa Kỳ, là bang thứ 41 gia nhập liên bang vào ngày 8 tháng 11 năm 1889. Thủ phủ của Montana là thành phố Helena, còn thành phố lớn nhất là Billings và Great Falls. Tiểu bang Montana nổi tiếng với những vùng đồi núi rộng lớn và hùng vĩ thuộc phía bắc dãy núi Rocky. Là tiểu bang đứng thứ 4 về diện tích nhưng dân số lại đứng hàng 44 nên Montana là một trong những tiểu bang dân cư thưa thớt nhất Hoa Kỳ. Nền kinh tế của tiểu bang này chủ yếu dựa trên hoạt động nông nghiệp, khai thác gỗ, khoáng sản và du lịch. Tên gọi Montana của tiểu bang bắt nguồn từ montaña (trong tiếng Tây Ban Nha có nghĩa là "núi"). Montana còn được gọi là Tiểu bang Kho báu ("The Treasure State") do có nhiều tài nguyên thiên nhiên to lớn hoặc Bang có bầu trời rộng ("Big Sky Country") bởi phong cảnh rừng núi hoang sơ kỳ vĩ tại đây. Montana có nhiều khu công viên quốc gia đẹp nổi tiếng. == Địa lý == Với tổng diện tích lên đến 376.978 km², Montana là tiểu bang đứng hàng thứ tư Hoa Kỳ về diện tích (chỉ sau Alaska, Texas và California). Về phía bắc, Montana chia sẻ chung đường biên giới quốc tế với Canada, bao gồm các tỉnh là British Columbia, Alberta, Saskatchewan. Về phía đông, Montana giáp với hai bang Bắc và Nam Dakota, về phía nam giáp với Wyoming và về phía tây và tây nam với Idaho. Địa hình của Montana rất đa dạng. Dãy núi Rocky chạy hơi chếch qua tiểu bang Montana từ phía tây bắc xuống trung nam chia tiểu bang này thành hai vùng. Phần phía tây chiếm một phần ba diện tích có những vùng đồi núi cao thuộc dãy núi Rocky và các thung lũng rộng là cảnh quan tiêu biểu của Montana. Trong khi đó phần phía đông chiếm hai phần ba còn lại thuộc vùng Những Đồng bằng lớn ("Great Plains") với nhiều đồng bằng, thảo nguyên xen lẫn một số dãy núi nhỏ. Montana có rất nhiều sông. Hệ thống sông ngòi tại đây có vai trò quan trọng trong cung cấp nước uống và điện năng cho cư dân của vùng. Montana là tiểu bang duy nhất tại Mỹ có các sông chảy ra ba biển khác nhau: Thái Bình Dương, Vịnh Hudson và Vịnh Mexico. Địa hình có ảnh hưởng quan trọng đến thời tiết và khí hậu của Montana. Vùng đồng bằng phía đông của Montana có khí hậu lục địa tương đối khắc nghiệt với mùa hè nóng, mùa đông rất lạnh và có nhiều trận gió lớn. Miền đồi núi phía tây nhờ chịu ảnh hưởng của Thái Bình Dương nên có khí hậu ôn hòa hơn đôi chút với mùa hè mát, mùa đông không lạnh lắm và ít gió bão hơn. Hầu hết diện tích tiểu bang Montana có tuyết rơi khá dày, đặc biệt là mùa đông. == Lịch sử == Những chủ nhân đầu tiên của vùng đất Montana là các bộ tộc thổ dân da đỏ. Họ bao gồm người Crow sống ở phía trung nam tiểu bang, người Cheyenne ở miền đông nam, các bộ lạc Blackfeet, Assiniboine, Gros Ventres ở miền trung, trung bắc và cuối cùng là người Kootenai và người Salish ở phía tây. Bên cạnh đó, còn có các nhóm nhỏ người Pend d'Oreilles và người Kalispel sống gần hồ Flathead và phía tây. Những bộ tộc da đỏ này có đời sống du mục nhờ săn bắn bò rừng bison. Phần phía đông của tiểu bang Montana nằm trong vùng đất mua Louisiana mà Pháp bán cho Mỹ năm 1803. Sau khi đoàn thám hiểm của Lewis và Clark khám phá ra những mỏ vàng và đồng tại Montana cuối thập niên 1850, vùng đất này trở thành một vùng lãnh thổ do nước Mỹ kiểm soát (Montana Teritory) vào ngày 26 tháng 5 năm 1864 rồi trở thành tiểu bang thứ 41 của Hoa Kỳ vào ngày 8 tháng 11 năm 1889. Các đạo luật Homestead Act được ban hành vào các năm 1862 và đầu thế kỉ 20 để cung cấp đất cho những người dân nhập cư vào Montana khai khẩn trồng trọt. Các dòng người da trắng đổ vào Montana đã dẫn tới những xung đột với thổ dân da đỏ bản địa. Năm 1876, toàn bộ một trung đoàn kỵ binh của quân đội Mỹ do tướng George Custer đã bị thổ dân da đỏ tiêu diệt trong trận Little Bighorn nổi tiếng. Đây là một trong những trận chiến nổi tiếng nhất trong lịch sử nước Mỹ và tượng trưng cho sự cố gắng bảo vệ quê hương và giữ gìn bản sắc văn hóa của người da đỏ tại đây. == Nhân khẩu == Dân số của Montana hiện nay xấp xỉ 1 triệu người. Đây là bang có mật độ dân số thưa thứ ba ở Hoa Kỳ với mật độ dân số chỉ có 2,39 người/km². Tại Montana, phần lớn người dân là người da trắng có nguồn gốc từ các di dân châu Âu như Đức, Bắc Âu, Anh, Ireland, Đông Âu... Đứng thứ nhì là cộng đồng thổ dân da đỏ bản địa. Ngoài ra các sắc tộc khác như người da đen, người gốc Á chiếm một tỉ lệ khá khiêm tốn. Người hispanic, tức người gốc latinh chiếm tỉ lệ 2,56% trên mọi sắc tộc. Năm 2006, tổng dân số của Montana là 997.650 người, tăng thêm 0,9% so với năm trước. Dự báo dân số Montana sẽ tiếp tục tăng trưởng đều trong thời gian tới. Phân bố các sắc tộc của Montana vào năm 2005 như sau: Người da trắng: 92,52% Người da đen: 0,62% Người da đỏ: 7,47% Người gốc Á: 0,82% Người các đảo Thái Bình Dương: 0,11% Người hispanic thuộc mọi sắc tộc trên: 2,56% == Kinh tế == Năm 2003, tổng sản phẩm quốc dân của Montana là 23 tỉ USD. Thu nhập bình quân của người dân Montana cùng năm đó là 25.406 USD, đứng hàng thứ 47 nước Mỹ tuy nhiên mức thu nhập này sẽ gia tăng nhanh chóng trong các năm tới. Kinh tế Montana chủ yếu dựa trên nông nghiệp, chăn nuôi, khai khoáng và du lịch. Tại Montana, các loại cây trồng chủ yếu là lúa mì, lúa mạch, yến mạch, lúa mạch đen, củ cải đường, khoai tây. Về chăn nuôi thì cừu là chủ yếu. Montana có nhiều cánh rừng rộng lớn với một nguồn tài nguyên khoáng sản phong phú đã tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động khai thác lâm sản và các loại khoáng sản như vàng, bạc, đồng... hay các mỏ than có trữ lượng lớn. Du lịch là hoạt động kinh tế quan trọng của Montana. Mỗi năm có hàng triệu lượt khách du lịch tới Montana để tham quan Công viên quốc gia Glacier, hồ Flathead, vùng thượng nguồn con sông Missouri, đài tưởng niệm trận chiến Little Bighorn và một phần công viên quốc gia Yellowstone cùng chung sở hữu với bang láng giềng Wyoming. == Chính trị == Trong lịch sử, Montana được coi là một "Swing state" giữa hai Đảng Cộng hòa Hoa Kỳ và Đảng Dân chủ Hoa Kỳ với truyền thống chọn "người bảo thủ đến Helena và người cấp tiến đến Washington". Mỗi đảng đều có một thời gian cầm quyền khá lâu dài tại Montana trước khi bị đảng kia thay thế. Suốt thập niên 1970, Montana là một bang ủng hộ đảng Dân chủ với vị thống đốc Dân chủ có nhiệm kỳ kéo dài tới 20 năm và các đại diện của đảng Dân chủ chiếm đa số tại cả quốc hội tiểu bang lẫn cơ quan lập pháp. Nhưng đến năm 1988, Montana lại bầu lên một thống đốc Đảng Cộng hòa và gửi các đại đại diện Cộng hòa đến thượng viện liên bang. Trong những năm gần đây, Montana được xếp vào nhóm các bang thiên đảng Cộng hoà, khi tổng thống George W. Bush đã giành được thắng lợi lớn tại Montana trong cuộc bầu cử tổng thống các năm 2000 và 2004. Tuy nhiên, năm 2004, người dân Montana lại bầu Brian Schweitzer, một ứng cử viên Dân chủ vào vị trí thống đốc và đưa các đại diện của Đảng Dân chủ đến thượng viện liên bang. == Tham khảo ==
chi cá sấu caiman.txt
Chi Cá sấu caiman (tên khoa học Caiman) là một chi cá sấu trong họ Cá sấu mõm ngắn (Alligatoridae). Có ba loài vẫn còn tồn tại và hai loài đã tuyệt chủng thuộc chi này. Chúng là các loài cá sấu tương đối nhỏ, chỉ dài khoảng một vài mét và cân nặng khoảng vài chục kg. Các loài cá sấu caiman chính là con mồi ưa thích của báo đốm Mỹ, dù là cá sấu nhưng với kích thước khá nhỏ, chúng dễ dàng bị báo đốm tấn công với một cú cắn thủng sọ. == Các loài == Caiman crocodilus (Cá sấu caiman đeo kính): Là một loài cá sấu được tìm thấy trong nhiều vùng ở Trung và Nam Mỹ. Nó sống trong một loạt các vùng đất thấp ẩm và các loại môi trường sống ven sông và có thể chịu được nước mặn cũng như ngọt; một phần do khả năng thích ứng này, nó là loài phổ biến nhất trong tất cả các loài cá sấu. Caiman latirostris (Cá sấu Caiman mõm rộng): Được tìm thấy ở miền đông và miền Trung Nam Mỹ, bao gồm cả Đông Nam Brasil, Bắc Argentina, Uruguay, Paraguay và Bolivia.[1] Nó được tìm thấy chủ yếu ở đầm nước ngọt, đầm lầy, và rừng ngập mặn. Caiman yacare (Cá sấu caiman Yacare): Loài này được Daudin mô tả khoa học đầu tiên năm 1802. Cá sấu Yacare nặng khoảng 60 kg, dài 2 mét. Loài cá sấu này có chiều dài trung bình từ 2-2,5 mét, nặng 60 kg. Cá sấu Yacare được gọi là sát thủ vùng sông nước Trung Nam Mỹ. Chúng thường ăn cá, chim, bò sát, động vật có vú nhỏ. Tuy nhiên, kích cỡ nhỏ cũng khiến chúng thường trở thành miếng mồi ngon cho loài báo và trăn châu Mỹ. Caiman lutescans là loài đã bị tuyệt chủng Caiman venezuelensis là loài đã bị tuyệt chủng) == Chú thích == == Tham khảo == Dữ liệu liên quan tới Caiman tại Wikispecies
urani.txt
Urani hay uranium là nguyên tố hóa học kim loại màu trắng thuộc nhóm Actini, có số nguyên tử là 92 trong bảng tuần hoàn, được ký hiệu là U. Trong một thời gian dài, urani là nguyên tố cuối cùng của bảng tuần hoàn. Các đồng vị phóng xạ của urani có số neutron từ 144 đến 146 nhưng phổ biến nhất là các đồng vị urani-238, urani-235 và urani-239. Tất cả đồng vị của urani đều không bền và có tính phóng xạ yếu. Urani có khối lượng nguyên tử nặng thứ 2 trong các nguyên tố tự nhiên, xếp sau plutoni-244. Mật độ của urani lớn hơn mật độ của chì khoảng 70%, nhưng không đặc bằng vàng hay wolfram. Urani có mặt trong tự nhiên với nồng độ thấp khoảng vài ppm trong đất, đá và nước, và được sản xuất thương mại từ các khoáng sản chứa urani như uraninit. Trong tự nhiên, urani được tìm thấy ở dạng urani 238 (99,284%), urani 235 (0,711%), và một lượng rất nhỏ urani 234 (0,0058%). Urani phân rã rất chậm phát ra hạt anpha. Chu kỳ bán rã của urani 238 là khoảng 4,47 tỉ năm và của urani 235 là 704 triệu năm, do đó nó được sử dụng để xác định tuổi của Trái Đất. Hiện tại, các ứng dụng của urani chỉ dựa trên các tính chất hạt nhân của nó. Urani-235 là đồng vị duy nhất có khả năng phân hạch một cách tự nhiên. Urani 238 có thể phân hạch bằng neutron nhanh, và là vật liệu làm giàu, có nghĩa là nó có thể được chuyển đổi thành plutoni-239, một sản phẩm có thể phân hạch được trong lò phản ứng hạt nhân. Đồng vị có thể phân hạch khác là urani-233 có thể được tạo ra từ thori tự nhiên và cũng là vật liệu quan trọng trong công nghệ hạt nhân. Trong khi urani-238 có khả năng phân hạch tự phát thấp hoặc thậm chí bao gồm cả sự phân hạch bởi neutron nhanh, thì urani 235 và đồng vị urani-233 có tiết diện hiệu dụng phân hạch cao hơn nhiều so với các neutron chậm. Khi nồng độ đủ, các đồng vị này duy trì một chuỗi phản ứng hạt nhân ổn định. Quá trình này tạo ra nhiệt trong các lò phản ứng hạt nhân và tạo ra vật liệu phân hạch dùng làm các vũ khí hạt nhân. Urani nghèo (U-238) được dùng trong các đầu đạn đâm xuyên và vỏ xe bọc thép. Trong lĩnh vực dân dụng, urani chủ yếu được dùng làm nhiên liệu cho các nhà máy điện hạt nhân. Ngoài ra, urani còn được dùng làm chất nhuộm màu có sắc đỏ-cam đến vàng chanh cho thủy tinh urani. Nó cũng được dùng làm thuốc nhuộm màu và sắc bóng trong phim ảnh. Martin Heinrich Klaproth được công nhận là người đã phát hiện ra urani trong khoáng vật pitchblend năm 1789. Ông đã đặt tên nguyên tố mới theo tên hành tinh Uranus (Sao Thiên Vương). Trong khi đó, Eugène-Melchior Péligot là người đầu tiên tách kim loại này và các tính chất phóng xạ của nó đã được Antoine Becquerel phát hiện năm 1896. Nghiên cứu của Enrico Fermi và các tác giả khác bắt đầu thực hiện năm 1934 đã đưa urani vào ứng dụng trong công nghiệp năng lượng hạt nhân và trong quả bom nguyên tử mang tên Little Boy, quả bom này là vũ khí hạt nhân đầu tiên được sử dụng trong chiến tranh. Từ cuộc chạy đua vũ trang trong thời chiến tranh lạnh giữa Hoa Kỳ và Liên Xô đã cho ra hàng chục ngàn vũ khí hạt nhân sử dụng urani được làm giàu và plutoni có nguồn gốc từ urani. Việc an toàn của các vũ khí này và các vật liệu phân hạch của chúng sau sự tan rã của Liên Xô năm 1991 là một mối quan tâm đối với sức khỏe và an toàn của cộng đồng. == Lịch sử == === Phân hạch tự nhiên thời tiền sử === Năm 1972, nhà vật lý người Pháp, Francis Perrin, phát hiện ra 15 lò phản ứng phân hạch hạt nhân tự nhiên cổ không còn hoạt động trong 3 khoáng sàng quặng riêng biệt ở mỏ Oklo tại Gabon, Tây Phi, hay còn gọi là các lò phản ứng hạt nhân hóa thạch Oklo. Một trong 3 khoáng sàng có tuổi 1,7 tỉ năm; vào thời điểm đó, urani-235 chiếm khoảng 3% tổng lượng urani trên Trái Đất. Hàm lượng này lớn đủ để một phản ứng dây chuyền duy trì phân hạch hạt nhân xảy ra, là yếu tố chứng minh cho các điều kiện tồn tại của chúng. Khả năng lưu giữ các sản phẩm chất thải hạt nhân bởi lớp bao bọc trầm tích đã được chính quyền liên bang Hoa Kỳ trích dẫn để chứng minh cho các điều kiện bảo quản của kho chứa chất thải hạt nhân núi Yucca. === Sử dụng trước khi được phát hiện === Việc sử dụng urani ở dạng ôxit tự nhiên được xác định vào khoảng năm 79 TCN, khi đó nó được dùng để tạo màu vàng cho men gốm. Năm 1912, ông R. T. Gunther thuộc Trường Đại học Oxford đã tìm thấy thủy tinh màu vàng có hàm lượng 1% urani ôxit trong một biệt thự La Mã ở mũi Posillipo, Vịnh Napoli, Ý. Từ cuối thời Trung cổ, uranit được tách từ các mỏ bạc Habsburg ở Joachimsthal, Bohemia (nay là Jáchymov thuộc Cộng hòa Séc) và được dùng làm chất tạo màu trong công nghiệp chế tạo thủy tinh ở địa phương. Vào đầu thế kỷ 19, đây là các mỏ quặng urani duy nhất được biết đến trên thế giới. === Phát hiện === Việc phát hiện ra nguyên tố này được ghi công cho nhà hóa học Đức Martin Heinrich Klaproth. Trong khi đang làm các thí nghiệm trong phòng ở Berlin năm 1789, Klaproth đã tạo ra hợp chất kết tủa màu vàng (giống natri diuranat) bằng cách hòa tan pitchblend trong axit nitric và sau đó trung hòa dung dịch bằng natri hydroxit. Klaproth cho rằng chất màu vàng đó là ôxit của một nguyên tố chưa được phát hiện và nung nó với than gỗ để thu một loại bột màu đen mà ông nghĩ rằng nó là một kim loại mới được phát hiện (nhưng thực chất là bột của một ôxit urani). Ông đặt tên nguyên tố mới theo tên hành tinh Uranus, một hành tinh vừa được William Herschel phát hiện trước đó 8 năm. Năm 1841, Eugène-Melchior Péligot, giáo sư hóa phân tích thuộc Trường Kỹ Nghệ Quốc gia Pháp (Conservatoire National des Arts et Métiers) ở Paris đã tách được mẫu urani kim loại đầu tiên bằng cách nung urani tetraclorua với kali. Antoine Henri Becquerel phát hiện ra tính phóng xạ khi sử dụng urani vào năm 1896. Becquerel phát hiện ra tính chất này tại Paris bằng cách cho một mẫu muối urani K2UO2(SO4)2 trên một tấm phim để trong ngăn kéo và sau đó ông thấy tấm phim bị mờ giống như 'bị phủ sương mù'. Ông cho rằng có một dạng ánh sáng không nhìn thấy được hoặc các tia phát ra từ urani tiếp xúc với tấm phim. === Nghiên cứu phân hạch === Năm 1934 một nhóm nghiên cứu do Enrico Fermi lãnh đạo đã phát hiện thấy việc bắn phá urani bằng neutron sẽ sản sinh ra các tia beta (electron hoặc positron sinh ra từ các nguyên tố; xem hạt beta). Các sản phẩm phân hạch đầu tiên bị nhầm lẫn là các nguyên tố mới có số nguyên tử là 93 và 94, theo đó, trưởng khoa Roma, ông Orso Mario Corbino tin rằng đó là ausoni và hesperi. Các thí nghiệm của Otto Hahn và Fritz Strassmann đã đưa đến việc phát hiện ra khả năng mà urani phân hạch thành các nguyên tố nhẹ hơn và giải phóng năng lượng liên kết, trong phòng thí nghiệm của Hahn ở Berlin. Tháng 2 năm 1939, Lise Meitner cùng người cháu là nhà vật lý Otto Robert Frisch đã công bố các giải thích về mặt vật lý, đồng thời đặt tên quá trình này là 'phản ứng phân hạch hạt nhân'. Không lâu sau đó, Fermi giả thuyết rằng sự phân hạch của urani có thể giải phóng đủ số neutron để duy trì một phản ứng phân hạch. Năm 1939, giả thuyết này được xác nhận, và nghiên cứu sau đó phát hiện rằng trung bình có khoảng 2,5 neutron được giải phóng từ mỗi lần phân hạch của đồng vị hiếm của urani là urani-235. Nghiên cứu tiếp theo phát hiện rằng đồng vị phổ biến hơn là urani-238 có thể bị chuyển đổi thành plutoni, và đồng vị này, giống như urani-235, cũng có khả năng phân hạch bằng các neutron nhiệt. Các phát hiện này đã thúc đẩy việc chế tạo vũ khí hạt nhân và điện hạt nhân ở một số quốc gia. Ngày 2 tháng 12 năm 1942, một nhóm nghiên cứu thuộc dự án Manhattan do Enrico Fermi lãnh đạo đã có thể bắt đầu thực hiện phản ứng hạt nhân dây chuyền nhân tạo đầu tiên tại lò phản ứng Chicago Pile-1. Tiến hành nghiên cứu trong phòng thí nghiệm dưới sự phụ trách của Stagg Field ở Đại học Chicago, nhóm này đã tạo ra những điều kiện cần thiết để một phản ứng xảy ra bằng cách lấp 360 tấn than thỏi, 53 tấn urani ôxit và 5,5 tấn urani kim loại. === Chế tạo bom === Hai loại bom nguyên tử chính được Hoa Kỳ chế tạo trong chiến tranh thế giới lần thứ 2 là: loại dựa trên nguyên liệu urani (tên "Little Boy") mà vật liệu phân hạch của nó là urani làm giàu rất cao, và loại dựa trên nguyên liệu plutoni (xem thử nghiệm Trinity và "Fat Man") theo đó plutoni được sản xuất từ urani-238. Loại bom dùng urani là vũ khí hạt nhân đầu tiên được sử dụng trong chiến tranh khi được thả xuống thành phố Hiroshima, Nhật Bản ngày 6 tháng 8 năm 1945. Vụ nổ tương đương với 12.500 tấn thuốc nổ TNT, sức công phá và làn sóng nhiệt của quả bom phá hủy gần 50.000 tòa nhà và gây thiệt mạng gần 75.000 người (xem Vụ ném bom nguyên tử xuống Hiroshima và Nagasaki). Ban đầu người ta tin rằng urani khá hiếm, và sự phổ biến vũ khí hạt nhân có thể tránh được bằng cách đơn giản là mua tất cả urani trên thị trường, nhưng chỉ trong vòng 1 thập kỉ có nhiều mỏ urani được phát hiện ở nhiều nơi trên thế giới. === Dùng trong lò phản ứng hạt nhân === Lò phản ứng hạt nhân than chì X-10 ở Phòng thí nghiệm Oak Ridge (ORNL) ở Oak Ridge, Tennessee, trước đây còn gọi là Clinton Pile và X-10 Pile, là lò phản ứng hạt nhân thứ 2 trên thế giới (sau lò phản ứng Chicago Pile của Enrico Fermi) và là lò phản ứng hạt nhân đầu tiên được thiết kế và xây dựng để vận hành liên tục. Lò phản ứng tái sinh thí nghiệm I thuộc Phòng thí nghiệm quốc gia Hoa Kỳ Idaho gần Arco, Idaho là lò phản ứng hạt nhân đầu tiên sản xuất điện vào ngày 20 tháng 12 năm 1951. Ban đầu, bốn bóng đèn 150 W được thấp sáng từ lò phản ứng, sau đó những cải tiến đã nâng sản lượng điện lên hết công suất thiết kế (sau đó, thị trấn Arco trở thành thị trấn đầu tiên trên thế giới sử dụng toàn bộ điện phát ra từ năng lượng hạt nhân). Nhà máy điện hạt nhân thương mại đầu tiên trên thế giới, Obninsk ở Liên Xô, bắt đầu phát điện bằng lò phản ứng AM-1 vào ngày 27 tháng 6 năm 1954. Các nhà máy điện hạt nhân khác vào thời đó gồm: Calder Hall ở Anh phát điện ngày 17 tháng 10 năm 1956 và nhà máy điện hạt nhân Shippingport ở Pennsylvania phát điện ngày 26 tháng 5 năm 1958. Năng lượng hạt nhân được dùng đầu tiên vào năm 1954 cho tàu ngầm năng lượng hạt nhân USS Nautilus. === Ô nhiễm và di sản từ thời chiến tranh lạnh === Các vụ thử nghiệm hạt nhân trên mặt đất do Liên Xô và Hoa Kỳ thực hiện vào thập niên 1950 và đầu thập niên 1960, và Pháp thực hiện vào thập niên 1979 và 1980 đã làm gia tăng đáng kể lượng bụi hạt nhân từ những đồng vị con của urani trên toàn thế giới. Thêm vào đó là bụi và ô nhiễm gây ra từ các vụ tai nạn hạt nhân. Những người khai thác mỏ urani có khả năng bị ung thư cao hơn. Ví dụ, nguy cơ ung thư phổi vượt trội ở những thợ mỏ urani người Navajo đã được ghi nhận và xác định có liên hệ với nghề nghiệp của họ. Đạo luật bồi thường phơi nhiễm phóng xạ (Radiation Exposure Compensation Act) của Hoa Kỳ năm 1990 yêu cầu trả phí bồi thường 100.000 USD cho các thợ mỏ urani được chẩn đoán là mắc bệnh ung thư hoặc các bệnh đường hô hấp khác. Trong thời kỳ chiến tranh lạnh giữa Hoa Kỳ và Liên Xô, những kho dự trữ urani khổng lồ chứa hàng chục ngàn vũ khí hạt nhân dùng urani làm giàu và plutoni sản xuất từ urani. Từ khi Liên Xô sụp đổ năm 1991, ước tính 540 tấn vũ khí dùng urani được làm giàu cao (đủ để sản xuất khoảng 40.000 đầu đạn hạt nhân) được cất giữ trong các cơ sở thiếu an toàn ở Nga và một số nước thuộc Liên Xô trước kia. Từ năm 1993 đến 2005, cảnh sát ở châu Á, châu Âu, và Nam Mỹ đã có ít nhất 16 lần ngăn chặn các chuyến hàng cung cấp urani hay plutoni nhập lậu, đa số trong đó có nguồn gốc từ các nước thuộc Liên Xô cũ. Từ năm 1993 đến 2005, chương trình kiểm toán, kiểm soát và bảo vệ vật liệu (Material Protection, Control, and Accounting Program) do chính phủ liên bang Hoa Kỳ điều phối đã tiêu tốn khoảng 550 triệu USD để hỗ trợ an ninh cho các kho vũ khí urani và plutoni ở Nga. Phần ngân sách này được sử dụng để cải tiến, tăng cường an ninh tại các cơ sở nghiên cứu và thiết bị lưu trữ. Tháng 2 năm 2006, tờ báo Scientific American tường thuật rằng một số an ninh thiết bị bao gồm chuỗi tường chắn liên hợp đang trong tình trạng tồi tệ do không được sửa chữa. Theo một cuộc phỏng vấn từ bài báo trên, có một thiết bị trước đó được dùng để lưu trữ các mẫu urani được làm giàu (cấp độ vũ khí) trong một buồng riêng trước dự án cải tiến; một thiết bị khác theo dõi trữ lượng đầu đạn hạt nhân đang lưu trữ bằng cách sử dụng thẻ danh mục. == Tính chất == Khi được tách ra, urani là kim loại có màu trắng bạc, phóng xạ yếu, mềm hơn thép một chút, độ dương điện mạnh và độ dẫn điện kém. Nó dẻo, dễ uốn và có tính thuận từ. Kim loại urani có mật độ rất lớn, đặc hơn chì khoảng 70%, nhưng nhẹ hơn vàng. Urani kim loại phản ứng với hầu hết các nguyên tố phi kim và các hợp chất phi kim với mức phản ứng tăng theo nhiệt độ. Axit clohidric và axit nitric hòa tan urani, nhưng các axit không có khả năng ôxy hóa phản ứng với nguyên tố này rất chậm. Khi chia nhỏ, urani có thể phản ứng với nước lạnh; khi tiếp xúc với không khí, kim loại urani bị phủ một lớp ôxit urani màu đen. Urani trong quặng được tách bằng phương pháp hóa học và chuyển đổi thành urani ôxit hoặc các dạng khác có thể dùng trong công nghiệp. Urani-235 là đồng vị đầu tiên được tìm thấy có thể tự phân hạch. Các đồng vị khác có mặt trong tự nhiên có thể phân hạch nhưng không thể tự phân hạch. Tùy thuộc vào việc bắn phá bằng các neutron chậm, đồng vị urani-235 sẽ luôn phân chia thành 2 hạt nhân nhỏ hơn, giả phóng năng lượng liên kết hạt nhân và sinh nhiều neutron hơn. Nếu các neutron này được hấp thụ bởi các hạt nhân urani-235 khác, thì chuỗi phân hạch hạt nhân sẽ diễn ra và có thể gây nổ trừ khi phản ứng được làm chậm lại bởi việc điều hòa neutron, bằng cách hấp thụ chúng. Ít nhất 7 kg uranium-235 có thể sử dụng để tạo thành một quả bom nguyên tử. Little Boy là quả bom hạt nhân đầu tiên được sử dụng trong chiến tranh dựa vào sự phân hạch urani, còn vụ nổ hạt nhân đầu tiên và quả bom phá hủy Nagasaki (Fat Man) đều là bom plutoni. Kim loại urani có 3 dạng thù hình: α (trực thoi) bền với nhiệt độ lên đến 660 °C β (bốn phương) bền ở nhiệt độ từ 660 °C đến 760 °C γ (lập phương tâm khối) bền từ 760 °C đến điểm nóng chảy đây là trạng thái dẻo và dễ uốn nhất. == Phân bố == === Các môi trường === Urani là một nguyên tố tự nhiên, có thể tìm thấy trong tất cả các loại đất đá và nước với hàm lượng thấp. Urani cũng là một nguyên tố có số nguyên tử cao nhất được tìm thấy trong tự nhiên với hàm lượng nhất định trong vỏ Trái Đất và luôn ở dạng hợp chất với các nguyên tố khác. Cùng với tất cả các nguyên tố khác có khối lượng nguyên tử cao hơn sắt, urani chỉ được tạo ra một cách tự nhiên trong các vụ nổ siêu tân tinh. Phân rã của urani, thori, và Kali-40 trong vỏ Trái Đất được xem là nguồn cung cấp nhiệt chính. điều này giữ cho lõi ngoài ở dạng lỏng và tạo ra các dòng đối lưu manti. Hàm lượng urani trung bình trong vỏ Trái Đất (tùy theo quy chiếu) là từ 2 đến 4 ppm, tương đương gấp 40 lần so với nguyên tố phổ biến là bạc. Theo tính toán thì vỏ Trái Đất từ bề mặt đến độ sâu 25 km chứa 1017 kg urani trong khi ở các đại dương có thể chứa 1013 kg. Hàm lượng urani trong đất thay đổi từ 0,7 đến 11 ppm (đến 15 ppm trong đất trồng trọt do có phốt phát từ phân bón), và hàm lượng của urani trong nước biển là 3 ppm. Urani phong phú hơn antimon, thiếc, cadmi, thủy ngân, hay bạc và phổ biến như arsenic hay molybden. Urani được tìm thấy trong hàng trăng mỏ khoáng uraninit (loại quặng urani phổ biến nhất), carnotit, autunit, uranophan, torbernit, và coffinit. Hàm lượng urani nhiều nhất trong các mỏ đá có phốt phát, các khoáng như lignit và cát monazit trong các quặng giàu urani (hàm lượng thương mại của các nguồn tối thiểu là 0,1% urani). Một số vi khuẩn như S. putrefaciens và G. metallireducens có khả năng khử U(VI) thành U(IV). Ở một số sinh vật như Trapelia involuta hoặc vi sinh vật như vi khuẩn Citrobacter có thể hấp thụ nồng độ urani cao gấp 300 lần so với môi trường xung quanh. Loài citrobacter hấp thụ các ion uranyl vào gốc glycerol phosphate (hay các phốt phát vô cơ tương tự khác). Sau một ngày, 1 gram vi khuẩn có thể tạo quanh nó một lớp vỏ 9 gram tinh thể uranyl phosphate; đều này tạo ra khả năng cho việc sử dụng các sinh vật này trong việc xử lý nước bị nhiễm phóng xạ urani bằng phương pháp sinh học. Trong tự nhiên, urani (VI) tạo thành các phức cacbonat có khả năng hòa tan cao trong môi trường kiềm. Điều này làm tăng khả năng di chuyển và khả năng tồn tại của urani trong đất và nước ngầm, có nguồn gốc từ các chất thải hạt nhân, gây nguy hiểm đối với sức khỏe con người. Tuy nhiên, khó có thể kết tủa urani như phốt phát khi có nhiều cacbonat trong môi trường pH kiềm. Đã có phát hiện rằng một con Sphingomonas sp. chủng BSAR-1 có thể có tác dụng như phốt phát kiềm hoạt tính cao (PhoK). Loài này đã được đưa vào ứng dụng để kết tủa sinh học urani như các loài tổng hợp phốt phát uranyl từ các dung dịch kiềm. Khả năng kết tủa được tăng cường bởi protein PhoK trong E. coli. Thực vật hấp thụ một số urani trong đất. Nồng độ khối lượng khô của urani trong thực vật thay đổi từ 5 đến 60 ppb, và tro của gỗ có thể có hàm lượng lên đến 4 ppm. Nồng độ khối lượng khô của urani trong thực phẩm từ thực vật mà con người ăn vào đặc biệt thấp, với khoảng từ 1 đến 2 microgram/ngày. === Khai thác và sản xuất === Sản lượng urani trên toàn thế giới năm 2009 là 50.572 tấn, trong đó 27,3% được khai thác từ các mỏ ở Kazakhstan. Các quốc gia khai thác urani khác đáng kể gồm Canada (20,1%), Úc (15,7%), Namibia (9,1%), Nga (7,0%), và Niger (6,4%). Quặng urani được khai thác theo nhiều cách như đào mỏ lộ thiên, tách từ đất đá và khoan mỏ (xem khai thác mỏ urani). Quặng urani cấp thấp chứa từ 0,01 đến 0,25% urano ôxít. Cần tiến hành một số đo đạc để áp dụng phương pháp phù hợp để tách kim loại từ các quặng trên. Các quặng cấp cao được tìm thấy ở bồn trũng Athabasca, Saskatchewan, Canada trung bình có thể chứa tới 23% các ôxít urani. Quặng urani được nghiền mịn thành bột, sau đó được lọc qua axít hoặc kiềm. Quá trình lọc gồm một số công đoạn như kết tủa, tách dung môi, và trao đổi ion. Hỗn hợp sau cùng được gọi là bánh vàng (yellowcake) chứa ít nhất 75% urani ôxít. Bánh vàng sau đó được xử lý nhiệt để loại bỏ các tạp chất trước khi tinh chế và chuyển đổi. Urani cấp thương mại có thể được tạo ra bằng cách khử các muối urani halua với các kim loại kiềm hoặc kim loại kiềm thổ. Urani kim loại cũng có thể được tạo ra bằng các điện phân của KU5 hoặc UF4, được hòa tan trong dung dịch canxi clorua (CaCl2) và natri clorua (NaCl) nóng chảy. Urani có độ tinh khiết cao được tạo ra thông qua quá trình nhiệt phân urani halua trong điện cực nóng. === Tài nguyên và trữ lượng === Ước tính có khoảng 5,5 triệu tấn quặng urani dự trữ có thể khai thác một cách kinh tế ở mức giá 130 USD/kg, trong khi có 35 tấn được xếp vào tài nguyên khoáng sản (có khả năng khai thác mang lại lợi nhuận). Ngoài ra, còn một lượng khoảng 4,6 tỉ tấn urani ước tính có mặt trong nước biển (trong thập niên 1980, các nhà khoa học Nhật Bản đã cho thấy cách khai thác urani từ nước biển bằng phương pháp trao đổi ion là có tính khả thi về mặt kỹ thuật). Đã có nhiều cuộc thí nghiệm để chiết xuất urani từ nước biển, nhưng sản phẩm thu được thấp do trong nước biển có nhiều cacbonat. Trong năm 2005, việc thăm dò urani trên thế giới tăng vọt gây tốn chi phí khoảng 200 triệu USD, tăng 54% so với năm trước nhờ vào việc giá urani tăng trên thị trường. Xu hướng này tiếp tục tăng trong năm 2006, khi việc chi tiêu cho quá trình thăm dò tăng kỷ lục hơn 774 triệu USD, hơn 250% so với năm 2004. Úc có trữ lượng quặng urani chiếm 23% trữ lượng thế giới và có mỏ urani riêng biệt lớn nhất thế giới nằm ở mỏ Olympic Dam, Nam Úc. Một số nhiên liệu hạt nhân có nguồn gốc từ các vũ khí hạt nhân. === Cung ứng === Năm 2005, có 17 quốc gia sản xuất urani ôxít, trong đó Canada (27,9% sản lượng thế giới) và Úc (22,8%) là các nước sản xuất nhiều nhất, theo sau là Kazakhstan (10,5%), Nga (8,0%), Namibia (7,5%), Niger (7,4%), Uzbekistan (5,5%), Hoa Kỳ (2,5%), Argentina (2,1%), Ukraina (1,9%) và Trung Quốc (1,7%). Kazakhstan tiếp tục tăng sản lượng, năm 2009 sản lượng đạt 12.826 tấn, so với Canada là 11.100 tấn và Úc là 9.430 tấn. Urani hiện có thể được sử dụng trong ít nhất 80 năm tới, mặc dù một số nghiên cứu cho biết việc đầu tư vào cuối thế kỉ 20 có thể tạo ra các vấn đề về lượng cung trong thế kỉ 21. == Các hợp chất == === Trạng thái ôxi hóa và ôxit === ==== Ôxit ==== Bánh urani vàng (yellowcake) đã được nhiệt phân là sản phẩm được sản xuất công nghiệp chứa các nhóm urani có trạng thái ôxi hóa khác nhau từ thấp nhất đến cao nhất. Các hạt có thời gian lưu giữ ngắn trong lò nung sẽ ít bị ôxi hóa hơn những hạt có thời gian lưu giữ dài hơn. Hàm lượng urani thường được tính theo U3O8, kể từ những ngày thực hiện dự án Manhattan, khi đó U3O8 đã được sử dụng làm tiêu chuẩn báo cáo trong hóa phân tích. Các mối quan hệ pha trong tổ hợp urani-ôxi mang tính phức tạp. Các trạng thái ôxi hóa quan trọng nhất của urani là urani(IV) và urani(VI) với hai ôxit tương ứng là urani điôxit (UO2) và urani triôxit (UO3). Các urani ôxit khác gồm urani monoxit (UO), diurani pentoxit (U2O5) và urani peroxit (UO4·2H2O) đều tồn tại. Các dạng urani ôxit phổ biến nhất là triurani octaoxit (U3O8) và UO2. Cả hai ôxit nay đều ở dạng rắn, ít hoàn tan trong nước và tương đối bền trong nhiều kiểu môi trường. Triurani octaoxit là hợp chất urani ổn định nhất và là dạng thường gặp trong tự nhiên (tùy thuộc vào các điều kiện). Urani điôxit là dạng được dùng làm nhiên liệu hạt nhân phổ biến. Ở nhiệt độ thường, UO2 sẽ chuyển một cách từ từ thành U3O8. Do tính ổn định, các urani ôxit thường được xem là dạng hợp chất dùng để lưu trữ hoặc loại bỏ. ==== Dịch hóa học ==== Các muối của tất cả bốn trạng thái ôxi hóa là dung dịch hòa tan trong nước và có thể được nghiên cứu ở dạng dung dịch nước. Các trạng thái ôxi hóa gồm U3+ (đỏ), U4+ (lục), UO+2 (không bền) và UO22+ (vàng). Một vài hợp chất bán kim loại và rắn như UO và US tồn tại trong urani ở trạng thái ôxi hóa thông thường (II), nhưng không có các ion đơn tồn tại trong dung dịch ở trạng thái đó. Các ion U3+ giải phóng hydro từ nước vì vậy được xem là trạng thái không bền. Ion UO2+2 đặc trưng cho trạng thái ôxi hóa (VI) và tạo thành các hợp chất như uranyl cacbonat, uranyl clorua và uranyl sulfat. UO2+2 cũng tạo phức với các chất tạo phức hữu cơ, chất thường gặp nhất là uranyl axetat. ==== Cacbonat ==== Các tương tác của các ion cacbonat với urani(VI) làm cho biểu đồ Pourbaix thay đổi mạnh khi giá trị trung bình bị thay đổi từ nước sang dung dịch chứa cacbonat. Trong khi một lượng lớn cacbonat không hòa tan trong nước, urani cacbonat thỉnh thoảng hòa tan trong nước. Điều này xảy ra là do cation U(VI) có thể liên kết hai ôxit và 3 cacbonat hoặc nhiều hơn để tạo thành các phức anion. ==== Ảnh hưởng của pH ==== Các biểu đồ thành phần của urani minh họa cho đặc điểm này: khi pH của dung dịch urani(VI) tăng thì urani bị chuyển thành urani ôxit ngậm nước và với giá trị pH cao nó chuyển thành phức hydroxit anion. Khi cho thêm cacbonat vào, urani bị chuyển thành một dãy các phức cacbonat nếu pH tăng. Một ảnh hưởng của các phản ứng này là tăng độ hòa tan của urani khi giá trị pH nằm trong khoảng 6 đến 8, điều này có ảnh hưởng trực tiếp đến sự ổn định lâu dài của các nhiên liệu hạt nhân urani ôxit đã qua sử dụng. === Hydrua, cacbic và nitrit === Kim loại urani nung ở nhiệt độ 250 đến 300 °C (482 đến 572 °F) phản ứng với hydro tạo thành urani hydrua. Thậm chí ở nhiệt độ cao hơn có thể loại bỏ hydro. Tính chất này khiến cho urani hydrua trở thành một loại vật liệu tiện lợi để tạo ra bột urani phản ứng, cùng với các hợp chất khác như cacbic, nitrit, và halua. Hai dạng tinh thể của urani hydrua tồn tại là: dạng α tồn tại ở nhiệt độ thấp còn dạng β được tạo ra ở nhiệt độ trên 250 °C. Urani cacbic và urani nitrit là các hợp chất bán kim loại tương đối trơ, tan rất ít trong các loại axit, phản ứng với nước, và có thể đốt cháy trong không khí tạo thành U3O8. Các cacbic của urani gồm urani monocacbic (UC), urani đicacbic (UC2), và điurani tricacbic (U2C3). Cả hai hợp chất UC và UC2 được tạo thành bằng cách thêm cacbon vào urani nóng chảy hoặc urani kim loại tiếp xúc với cacbon monoxit ở nhiệt độ cao. U2C3, ổn định dưới 1800 °C, được điều chế bằng cách pha trộn hỗp hợp nóng của UC và UC2 dưới áp lực cơ học. Urani nitrit được điều chế bằng cách cho kim loại tác dụng với nitơ bao gồm urani mononitrit (UN), urani đinitrit (UN2) và điurani trinitrit (U2N3). === Halua === Tất cả urani florua được tạo ra từ urani tetraflorua (UF4); bản thân UF4 được điều chế bằng cách hydroclorua hóa urani điôxit. UF4 được khử bằng hydro ở 1000 °C tạo ra urani triflorua (UF3). Trong các điều kiện nhiệt độ và áp suất thích hợp, phản ứng của UF4 rắn với urani hexaflorua (UF6) khí có thể tạo thành các florua trung gian nhử U2F9, U4F17, và UF5. Ở nhiệt độ phòng, UF6 có áp suất hơi cao, nên nó được dùng vào quá trình khuếch tán khí để tách urani-235 từ đồng vị urani-238. Hợp chất này có thể được điều chế từ urani đioxit và urani hydrua theo phản ứng: UO2 + 4 HF → UF4 + 2 H2O (500 °C, thu nhiệt) UF4 + F2 → UF6 (350 °C, thu nhiệt) Kết quả tạo ra UF6, là chất rắn màu trắng, có tính hoạt động cao (bởi quá trình florua hóa), dễ thăng hoa (gần như ở dạng hơi lý tưởng), và là hợp chất dễ bay hơi nhất của urani. Một phương pháp điều chế urani tetraclorua (UCl4) là kết hợp trực tiếp clo với hoặc là kim loại urani hoặc urani hydrua. Sự khử UCl4 bởi hydro tạo ra urani triclorua (UCl3) trong khi các urani chứa số clo cao hơn được điều chế bởi phản ứng với clo bổ sung. Tất cả urani clorua phản ứng với nước và không khí. Các muối urani bromua và iôtua được tạo ra từ phản ứng trực tiếp của brom và iốt với urani hoặc bằng cách thêm UH3 vào các axit của nguyên tố này. Ví dụ như: UBr3, UBr4, UI3, và UI4. Urani oxyhalua có thể hòa tan trong nước, gồm UO2F2, UOCl2, UO2Cl2, và UO2Br2. Sự ổn định của các oxyhalua này giảm khi khối lượng nguyên tử của thành phần halua tăng. == Đồng vị == === Nồng độ trong tự nhiên === Urani tự nhiên bao gồm ba đồng vị chính: urani-238 (99,28%), urani-235 (0,71%), và urani 234 (0,0054%). Tất cả 3 đồng vị này đều phóng xạ, phát ra các hạt anpha với ngoại lệ là ba đồng vị trên đều có xác suất phân hạch tự nhiên nhỏ hơn là phát xạ anpha. Urani-238 là đồng vị ổn định nhất của urani, có chu kỳ bán rã khoảng 4,468 tỉ năm, gần bằng tuổi của Trái Đất. Urani-235 có chu kỳ bán rã khoảng 7,13 triệu năm và urani-234 có chu kỳ bán rã khoảng 2,48×105 năm. Đối với urani tự nhiên, khoảng 49% tia anpha được phát ra từ mỗi U-238, 49% tương tự đối với U-234U (do sản phẩm sau được tạo thành từ sản phẩm trước) và khoảng 2% trong số đó do U-235 phát ra. Khi Trái Đất còn trẻ, có thể 1/5 urani của Trái Đất là urani-235, nhưng tỷ lệ U-234 có thể thấp hơn nhiều so với hiện nay. Urani-238 thường phát hạt α — trừ khi trải qua phân hạch tự nhiên — phân rã theo phân rã hạt nhân urani, với tổng cộng 18 nguyên tố, tất cả chúng cuối cùng đều phân rã thành chì-206 theo nhiều cách phân rã khác nhau. Chuỗi phân rã phóng xạ của U-235 có 15 nguyên tố, tất cả chúng phân rã đến cuối cùng đều tạo ra chì-207. Các hằng số phân rã trong các chuỗi này có ích để so sánh về các tỉ số của hạt nhân mẹ và hạt nhân con trong việc định tuổi bằng đồng vị phóng xạ. Urani-234 là nguyên tố trong chuỗi phóng xạ Urani, và phân rã thành chì-206 thông qua một chuỗi phân rã của các đồng vị có thời gian tồn tại tương đối ngắn. Urani-233 được tạo ra từ thori-232 khi bị bắn phá bằng neutron, thông thường trong các lò phản ứng hạt nhân, và U-233 cũng có thể phân hạch. Chuỗi phân rã của nó kết thúc bằng tali-205. Urani-235 là một đồng vị quan trọng được dùng trong các lò phản ứng hạt nhân và trong vũ khí hạt nhân, do nó là đồng vị urani duy nhất tồn tại ở dạng tự nhiên trên Trái Đất có khả năng tự phân hạch tạo ra các sản phẩm phân hạch bằng các neutron nhiệt. Urani-238 không thể phân hạch nhưng nó là một fertile isotope, bởi vì sau khi kích hoạt neutron nó có thể tạo ra plutoni-239, là một đồng vị có thể phân hạch khác. Do đó, các hạt nhân U-238 có thể hấp thụ một neutron để tạo ra đồng vị phóng xạ urani-239. U-239 phân rã beta tạo ra neptuni-239, đồng vị này cũng phân rã beta, sau đó phân rã thành plutoni-239 chỉ trong vài ngày. Pu-239 được dùng làm vật liệu phân hạch trong quả bom nguyên tử đầu tiên trong vụ thử Trinity ngày 15 tháng 7 năm 1945 ở New Mexico. === Làm giàu === Tách đồng vị là cách thức làm giàu urani-235, loại được dùng trong các vũ khí hạt nhân và trong hầu hết các nhà máy điện hạt nhân, ngoại trừ các lò phản ứng hạt nhân được làm lạnh bằng khí và các lò phản ứng hạt nhân nước nặng được điều áp. Trong các ứng dụng nói trên, việc làm giàu là để cho hầu hết các neutron được giải phóng từ sự phân hạch nguyên tử urani-235 phải ảnh hưởng đến các nguyên tử urani-235 khác để duy trì chuỗi phản ứng hạt nhân. Nồng độ và số lượng urani-235 cần thiết để đạt được yêu cầu này được gọi là khối lượng tới hạn (critical mass). Khi đề cập đến urani được làm giàu, tỉ lệ urani-235 thường nằm trong khoảng 3% đến 5%. Quá trình làm giàu tạo ra một lượng rất lớn urani nghèo (depleted urani) do đã tách hết urani-235, tức tỉ lệ urani-238 được gia tăng tương ứng. Khi đề cập đến việc làm nghèo urani, tức nồng độ đồng vị urani-235 không quá 0,3%. Giá của urani đã tăng kể từ năm 2001, vì thế các sản phẩm thải ra sau quá trình làm giàu chứa hơn 0,35% urani-235 được xem xét tái làm giàu. Giá của urani hexaforit nghèo vượt trên ngưỡng 130 USD/kg vào thời điểm tháng 7 năm 2007 so với 5 USD vào năm 2001. Quá trình xử lý ly tâm khí dùng máy ly tâm vận tốc lớn tách khí Urani hexaflorua (UF6) dựa trên sự khác biệt về khối lượng phân tử giữa 235UF6 và 238UF6 là quá trình rẻ nhất và được sử dụng rộng rãi nhất cho việc làm giàu. Quá trình khuếch tán khí từng là phương pháp hàng đầu làm giàu urani và được sử dụng trong dự án Manhattan. Trong quá trình này, urani hexaflorua được khuếch tán một cách riêng biệt thông qua lớp màng bạc-kẽm, và các đồng vị khác nhau của urani được tách ra dựa trên tốc độ khuếch tán (vì urani-238 nặng hơn nên khuếch tán chậm hơn urani-235). Phương pháp tách đồng vị laser phân tử ứng dụng tia laser có năng lượng nhất định để cắt đứt liên kết giữa urani-235 và flo. Quá trinh này làm cho urani-238 liên kết với flo và cho phép kim loại urani-235 kết tủa từ dung dịch. Một phương pháp làm giàu bằng laser khác là tách đồng vị hơi nguyên tử bằng laser (atomic vapor laser isotope separation) và ứng dụng các tia laser điều hưởng được như laser màu nhuộm. Một phương pháp khác được sử dụng là khuếch tán nhiệt chất lỏng. == Ứng dụng == === Quân sự === Ứng dụng chính của urani trong lĩnh vực quân sự là làm các đầu đạn tỉ trọng cao. Loại đạn này bao gồm hợp kim urani làm nghèo (DU) với 1–2% các nguyên tố khác. Ở vận tốc tác động cao, mật độ, độ cứng và tính tự bốc cháy của đạn bắn ra có thể làm tăng sức phá hủy các mục tiêu bọc sắt hạng nặng. Xe tăng bọc sắt và các loại xe bọc thép khác có thể di chuyển cũng được làm từ các mảnh urani nghèo. Việc sử dụng DU trở thành vấn đề gây tranh cãi về chính trị và môi trường sau khi các loại đạn DU được các nước như Hoa Kỳ, Anh và nhiều nước khác sử dụng trong suốt cuộc chiến tranh vịnh Ba Tư và Balkans. Việc này đã đặt ra câu hỏi rằng liệu còn bao nhiêu hợp chất urani tồn tại trong đất (xem Hội chứng chiến tranh vùng Vịnh). Urani làm nghèo cũng được sử dụng làm vật liệu chống đạn, dùng trong các container để chứa và vận chuyển các vật liệu phóng xạ. Trong khi bản thân kim loại urani có tính phóng xạ, mật độ cao của urani làm cho nó có khả năng bắt giữ phóng xạ hiệu quả hơn chì từ các nguồn phóng xạ mạnh như radi. Các ứng dụng khác của DU là dùng làm đối tượng cho các bề mặt kiểm soát của phi thuyền, bệ phóng cho các phương tiện phóng trở lại (Trái Đất) và vật liệu làm khiên. Do có tỉ trọng cao, vật liệu này được tìm thấy trong các hệ thống truyền động quán tính và trong các la bàn dùng con quay hồi chuyển. DU còn được ưa chuộng hơn so với các kim loại nặng khác do khả năng dễ gia công và chi phí tương đối thấp. Trong giai đoạn cuối của chiến tranh thế giới thứ 2, trong chiến tranh lạnh và các cuộc chiến sau đó, urani đã được dùng làm nguyên liệu chất nổ để sản xuất vũ khí hạt nhân. Có hai loại bom phân hạch chính đã được sản xuất: một thiết bị tương đối đơn giản sử dụng urani-235 và loại phức tạp hơn sử dụng plutoni-239 gốc urani-238. Sau đó, các loại bom nhiệt hạch phức tạp hơn và mạnh hơn sử dụng plutoni trong vỏ bọc urani để tạo ra hỗn hợp triti và deuteri để chịu được phản ứng nhiệt hạch đã ra đời. === Dân dụng === Ứng dụng chủ yếu của urani trong lĩnh vực dân dụng là làm nhiên liệu cho các nhà máy điện hạt nhân. Một kg urani-235 về lý thuyết có thể tạo ra một năng lượng 80 teraJun (8×1013 Jun), giả thiết rằng chúng phân hạch hoàn toàn; mức năng lượng này tương đương 3000 tấn than. Các nhà máy điện hạt nhân thương mại sử dụng nhiên liệu urani đã được làm giàu với hàm lượng urani-235 khoảng 3%. Lò phản ứng CANDU là lò thương mại duy nhất có thể sử dụng nhiên liệu urani chưa được làm giàu. Nhiên liệu được sử dụng cho các lò phản ứng của Hải quân Hoa Kỳ là urani-235 đã được làm giàu rất cao. Trong lò phản ứng tái sinh (breeder-reactor), urani-238 cũng có thể được chuyển đổi thành plutoni qua phản ứng sau: 238U (n, gamma) → 239U -(beta) → 239Np -(beta) → 239Pu. Trước khi phát hiện ra phóng xạ, urani được sử dụng chủ yếu với một lượng nhỏ trong thủy tinh vàng và đồ gốm, như thủy tinh urani và trong Fiestaware. Việc Marie Curie phát hiện và tách radi trong các quặng urani (pitchblend) đã thúc đẩy việc khai thác mỏ để tách radi, dùng để làm các loại sơn dạ quang trên các con số của đồng hồ và bàn số trên máy bay. Điều này làm cho một lượng lớn urani trở thành chất thải, vì mỗi 3 tấn urani chỉ tách ra được 1 gram radi. Lượng chất thải này đã được chuyển hướng đến ngành công nghiệp thủy tinh, làm cho thủy tinh urani rất rẻ và phổ biến. Bên cạnh thủy tinh gốm, còn có gạch urani được sử dụng phổ biến trong nhà tắm và bếp, các loại này có thể được sản xuất với nhiều màu khác nhau như lục, đen, lam, đỏ và các màu khác. Urani cũng được sử dụng làm hóa chất nhiếp ảnh (đặc biệt là urani nitrat để làm toner). Việc phát hiện ra tính phóng xạ của urani mở ra những ứng dụng thực tế và khoa học của nguyên tố này. Chu kỳ bán rã dài của đồng vị urani-238 (4,51×109 năm) làm cho nó trở nên thích hợp trong việc sử dụng để định tuổi các đá macma cổ nhất và các phương pháp định tuổi phóng xạ khác, như định tuổi urani-thori và định tuổi urani-chì. Kim loại urani được sử dụng trong máy X-quang để tạo ra tia X năng lượng cao. == Urani và sức khỏe con người == Một người có thể tiếp xúc với urani (hoặc các hạt nhân con của nó như radon) qua việc hít bụi trong không khí hoặc qua các thực phẩm hoặc nước bị nhiễm chúng. Hàm lượng urani trong không khí thường rất nhỏ; tuy nhiên, đối với những người làm việc trong các nhà máy sản xuất phân phốt phát, hoặc sống gần các nhà máy sản xuất hoặc thử nghiệm vũ khí hạt nhân, hoặc sống hay làm việc gần những nơi từng có các trận đánh sử dụng vũ khí hạt nhân, hay gần nhà máy nhiệt điện dùng than, các cơ sở khai thác hoặc xử lý quặng urani, hoặc làm giàu urani, có thể tăng nguy cơ phơi nhiễm urani. Những ngôi nhà hoặc các công trình trên các mỏ urani (tự nhiên hoặc nhân tạo) có thể chịu nhiều tăng ảnh hưởng phơi nhiễm khí radon. Hầu hết urani đi vào cơ thể qua đường thực phẩm được bài tiết qua đường tiêu hóa. Chỉ có 0,5% được hấp thụ khi ở các dạng không hòa tan như các ôxit urani, ngược lại việc hấp thụ các ion uranyl có thể nhiều hơn lên đến 5%. Tuy nhiên, các hợp chất urani hòa tan có khuynh hướng đi qua cơ thể một cách nhanh chóng trong khi các hợp chất không hòa tan đặc biệt khi đi vào cơ thể ở dạng bụi trong phổi sẽ gây những biến chứng nghiêm trọng. Sau khi vào máu, urani đã được hấp thụ có khuynh hướng tích tụ sinh học và tồn tại nhiều năm trong các tế bào xương do liên hệ của urani với phốt phát. Urani không liên kết ở dạng các ion uranyl, các ion này tích tụ trong xương, gan, thận và các tế bào sinh sản. Urani có thể được làm sạch từ các bề mặt thép và các tầng chứa nước. === Ảnh hưởng === Chức năng thông thường của thận, não, gan, tim và các hệ cơ quan khác trong cơ thể có thể bị ảnh hưởng khi tiếp xúc với urani, bởi vì ngoài các phóng xạ rất yếu, urani còn là kim loại độc. Urani cũng là chất độc có khả năng tái sản xuất. Các ảnh hưởng phóng xạ phổ biến ở mức độ địa phương là phóng xạ anpha, một kiểu phân rã ban đầu của U-238, có thời gian tồn tại rất ngắn, và sẽ không xuyên qua da. Các ion uranyl (UO+2), như ở dạng uranium trioxit hay uranyl nitrate và các hợp chất hóa trị sáu khác có thể gây ra những dị tật bẩm sinh và phá hủy hệ miễn dịch của các con thú trong phòng thí nghiệm. Khi CDC xuất bản một nghiên cứu cho thấy không có dấu hiệu ung thư ở người được ghi nhận khi tiếp xúc với urani tự nhiên hoặc urani đã làm nghèo, tiếp xúc với urani và các sản phẩm phân rã của nó, đặc biệt là radon, được cho là gây ra những mối đe dọa đáng kể về sức khỏe. Mặc dù phơi nhiễm urani tình cờ qua đường hô hấp với urani hexafluorua nồng độ cao sẽ gây tử vong ở người, nguyên nhân chính gây tử vong liên quan đến việc tạo ra axit flohydric có độc tính cao và các muối uranyl fluorua hơn là do bản thân urani. Urani là một chất tự bốc cháy nên khi ở dạng hạt mịn nó có nguy cơ cháy trong không khí ở nhiệt độ phòng. == Xem thêm == Viện Năng lượng nguyên tử Việt Nam Viện Nghiên cứu Hạt nhân Đà Lạt == Tham khảo == == Tài liệu == Emsley, John (2001). “Uranium”. Nature's Building Blocks: An A to Z Guide to the Elements. Oxford: Oxford University Press. tr. 476–482. ISBN 0198503407. Truy cập ngày 13 tháng 4 năm 2011. Seaborg, Glenn T. (1968). “Uranium”. The Encyclopedia of the Chemical Elements. Skokie, Illinois: Reinhold Book Corporation. tr. 773–786. LCCCN 68-29938. == Liên kết ngoài == (tiếng Anh) Uranium (U) tại Encyclopædia Britannica (tiếng Anh) Uranium Resources and Nuclear Energy: Nguồn urani và năng lượng hạt nhân. Energy Watch Group, 12/2006 bản lưu 6/5/2013 Uranium EPA-Hoa Kỳ: Thông tin phóng xạ của urani Giá urani Ux Consulting Company Uranium Maps and Statistics Bản đồ phân bố các mỏ urani trên Thế giới, 18/8/2012 World Nuclear News Tin tức hạt nhân thế giới (tiếng Việt) Urani tại Từ điển bách khoa Việt Nam
roboto.txt
Roboto là bộ phông chữ không chân (sans-serif) loại neo-grotesque phát triển bởi Google để trở thành phông chữ hệ thống cho hệ điều hành Android. Google miêu tả đây là một phông chữ "hiện đại, dễ dàng tiếp cận" và "giàu xúc cảm". Toàn bộ họ phông chữ Roboto được cấp phép dưới giấy phép Apache và chính thức cho phép tải xuống miễn phí từ ngày 12 tháng 1 năm 2012, trên website Android Design vừa mới hoạt động. Bộ phông này bao gồm sáu kiểu in đậm (weight) theo mức độ đậm dần là Thin, Light, Regular, Medium, Bold và Black cùng với kiểu dáng in xiên (oblique style) kèm theo. Roboto cũng bao gồm kiểu dáng in đặc (condensed style) theo ba mức độ in đậm là Light, Regular và Bold, tất nhiên là cũng kèm theo kiểu dáng in xiên. == Ngôn ngữ hỗ trợ == Roboto hỗ trợ những ký tự Latin, Hy Lạp (một phần) và Kirin. Trên Android, phông chữ Noto được sử dụng để hiển thị những ngôn ngữ mà Roboto không hỗ trợ, bao gồm chữ Hán (phồn thể và giản thể), Nhật, Hàn, Thái và Hindi. == Phát triển == Roboto được thiết kế hoàn toàn nội bộ tại Google bởi Christian Robertson, nhà thiết kế giao diện của Google, ông là người từng phát hành phông Ubuntu Titling thông qua xưởng in chữ Betatype. Roboto được phát hành lần đầu tiên vào năm 2011 cùng với phiên bản Android 4.0 "Ice Cream Sandwich". So với phông chữ hệ thống Android trước đó là Droid–một phông không chân loại nhân văn (sans-serif humanist), thì phông Roboto có một thiết kế grotesque mạnh mẽ hơn với kiểu dáng in xiên ngã hơn kiểu dáng in nghiêng thực sự (true italic style), và một phạm vi rộng lớn những mức độ in đậm. === Thiết kế lại === Ngày 25 tháng 6 năm 2014, Matias Duarte công bố tại sự kiện Google I/O rằng phông chữ Roboto đã được tái thiết kế đáng kể trong phiên bản Android 5.0 "Lollipop". Những thay đổi quan trọng nhất có thể thấy trong các nét chữ (glyph): B (co lại), R, P, a (mở rộng bụng chữ), D, O, e, g (vát cong), k và những số: 1, 5, 6, 7 và 9. Bộ dấu chấm và dấu chấm đỉnh (trong ký tự i, j) đã chuyển đổi từ dạng chấm vuông sang chấm tròn. == Đánh giá == Phông chữ Roboto nhận được những đánh giá đa dạng khi nó phát hành. Joshua Topolsky, chủ bút của cổng tin tức và truyền thông trực tuyến The Verge, miêu tả phông chữ này "sạch sẽ và hiện đại, nhưng không quá vị lai – không phải là một phông chữ khoa học viễn tưởng [dẫn đầu xu thế]". Còn nhà bình luận typography Stephen Coles của trang typographica.org cho rằng phiên bản đầu tiên của Roboto như "một Frankenfont bốn đầu", mô tả nó như một "hỗn hợp" của nhiều phong cách typography khác nhau mà không hỗ trợ hiệu quả cho nhau. Những chuyên gia thiết kế typography khác chỉ ra một lỗi sai rõ ràng trong các nét của dấu thanh, trong khi John Gruber chỉ trích Roboto là một phiên bản "ăn cướp" của phông Helvetica. == Sử dụng == Bên cạnh là phông chữ tiêu chuẩn hệ thống cho hệ điều hành Android, thì đến năm 2013, Roboto cũng là phông chữ mặc định trong các dịch vụ khác của Google như Google+, Google Play, YouTube và Google Maps. Roboto Bold là phông mặc định trong game engine Unreal 4. Đồng thời, Roboto cũng được loan báo sẽ trở thành phông chữ mặc định trong Kodi, một phần mềm phát media miễn phí và nguồn mở. == Roboto Slab == Roboto Slab là bộ phông chữ chân lớn (slab serif) dựa trên Roboto. Nó được ra mắt vào tháng 3 năm 2013, đây là phông mặc định trong dịch vụ ghi chú Google Keep của Google. Bộ phông này gồm có bốn mức độ in đậm theo hướng tăng dần là: Thin, Light, Regular và Bold. Không giống như Roboto, Roboto Slab không kèm theo kiểu dáng in xiên. == Chú thích == == Liên kết ngoài == Trang tải xuống chính thức phông Roboto Trang tải xuống chính thức phông Roboto Condensed Trang tải xuống chính thức phông Roboto Slab
ban chỉ đạo tây nguyên.txt
Ban Chỉ đạo Tây Nguyên là cơ quan chịu trách nhiệm chỉ đạo, hướng dẫn và giám sát, đôn đốc các tỉnh thuộc khu vực Tây Nguyên và vùng phụ cận thực hiện các nhiệm vụ của Đảng và Nhà nước giao các địa phương về phát triển kinh tế-xã hội, an ninh-quốc phòng... Ban Chỉ đạo Tây Nguyên có trụ sở đặt tại: Thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đăk Lăk. Ban Chỉ đạo Tây Nguyên hoạt động trên địa bàn các tỉnh: Gia Lai, Kon Tum, Đăk Lăk, Lâm Đồng, Đăk Nông và các huyện miền núi của các tỉnh: Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên, Khánh Hoà, Bình Phước, Ninh Thuận, Bình Thuận. Ban Chỉ đạo Tây Nguyên là một trong 3 Ban Chỉ đạo thuộc quyền quản lý của Bộ Chính trị, Ban Bí thư, Ban Chấp hành Trung ương Đảng; 2 Ban còn lại là Ban Chỉ đạo Tây Bắc, Ban Chỉ đạo Tây Nam Bộ. Ủy viên Bộ Chính trị, Bộ trưởng Bộ Công an giữ chức vụ Trưởng ban Chỉ đạo Tây Nguyên. == Ban Chỉ đạo Tây Nguyên (2016 - 2021) == Trưởng ban Tô Lâm - Ủy viên Bộ Chính trị, Bộ trưởng Bộ Công an. Phó Trưởng ban Thường trực Điểu K'Ré Phó Trưởng ban H'Ngăm Niê KĐăm Nguyễn Đức Phong - Ủy viên Chuyên trách kiêm Vụ trưởng Vụ Kinh tế Trần Đình Thu - Ủy viên Chuyên trách == Tổ chức == Ban Chỉ đạo Tây Nguyên gồm: Thường trực Trưởng ban Phó Trưởng ban Thường trực Phó Trưởng ban Ủy viên chuyên trách Cơ quan thường trực Văn phòng Vụ Kinh tế Vụ Văn hoá - Xã hội Vụ An ninh - Quốc phòng Vụ Dân tộc - Tôn giáo Vụ Xây dựng hệ thống chính trị. == Chức năng và nhiệm vụ == === Nhiệm vụ === Ban Chỉ đạo Tây Nguyên là cơ quan trực thuộc Bộ Chính trị, Ban Bí thư, giúp Bộ Chính trị, Ban Bí thư, Thủ tướng Chính phủ chỉ đạo thực hiện các nhiệm vụ: Chỉ đạo, kiểm tra, đôn đốc các bộ, ngành, địa phương triển khai thực hiện nghị quyết, chỉ thị, quyết định của Bộ Chính trị, Ban Bí thư và Thủ tướng Chính phủ về phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm an ninh, quốc phòng, công tác dân tộc, tôn giáo, công tác xây dựng hệ thống chính trị trên địa bàn. Nghiên cứu, tham mưu, đề xuất với Đảng và Chính phủ về cơ chế, chính sách cùng các giải pháp cần chỉ đạo để thực hiện có hiệu quả nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm an ninh, quốc phòng, công tác dân tộc, tôn giáo, xây dựng hệ thống chính trị; về liên kết vùng trong phát triển kinh tế - xã hội, xây dựng, củng cố thế trận quốc phòng toàn dân, an ninh nhân dân trên các tuyến, trong từng vùng, về biến đổi khí hậu… Chỉ đạo và tổ chức phối hợp các lực lượng, cơ quan chức năng của Trung ương và địa phương đấu tranh ngăn chặn âm mưu, hoạt động chống phá của các thế lực thù địch; chỉ đạo xử lý kịp thời những tình huống đột xuất về an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội, giữ vững ổn định chính trị - xã hội trên địa bàn. Tổ chức sơ kết, tổng kết và định kỳ báo cáo Bộ Chính trị, Ban Bí thư và Thủ tướng Chính phủ về việc thực hiện các nhiệm vụ công tác của Ban Chỉ đạo. === Quyền hạn === Ban Chỉ đạo Tây Nguyên có quyền hạn sau: Ban Chỉ đạo được yêu cầu các bộ, ban, ngành Trung ương liên quan, cấp uỷ và chính quyền các tỉnh, thành phố trên địa bàn báo cáo tình hình thực hiện nghị quyết, chỉ thị, quyết định của Đảng và Chính phủ về phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm an ninh, quốc phòng, công tác dân tộc, tôn giáo, xây dựng hệ thống chính trị trên địa bàn. Được tham dự các hội nghị sơ kết, tổng kết các chuyên đề của Trung ương, Chính phủ, các bộ, ban, ngành Trung ương và địa phương có liên quan tới sự phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm an ninh, quốc phòng, công tác dân tộc, tôn giáo, công tác xây dựng hệ thống chính trị trên địa bàn. Được cung cấp thông tin và tham gia ý kiến đối với các văn bản của các ban, bộ, ngành Trung ương về phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm an ninh, quốc phòng, công tác dân tộc, tôn giáo, công tác xây dựng hệ thống chính trị trên địa bàn. Được tham mưu, đề xuất với Bộ Chính trị, Ban Bí thư và Thủ tướng Chính phủ các chủ trương, chính sách có tính đặc thù trên địa bàn về các lĩnh vực kinh tế - xã hội, an ninh, quốc phòng, dân tộc, tôn giáo, xây dựng hệ thống chính trị. Được mời tham dự và đóng góp ý kiến tại một số cuộc họp, hội nghị quan trọng của cấp uỷ, chính quyền các tỉnh, thành phố liên quan đến quy hoạch tổng thể, phát triển kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh, các dự án đầu tư các công trình trọng điểm, kế hoạch sử dụng đất đai thuộc thẩm quyền của Thủ tướng Chính phủ. == Nguyên tắc làm việc == 1- Ban Chỉ đạo chịu sự chỉ đạo trực tiếp của Bộ Chính trị, Ban Bí thư, Thủ tướng Chính phủ. 2- Ban Chỉ đạo làm việc theo nguyên tắc tập thể thảo luận, Trưởng ban kết luận và chỉ đạo thực hiện. == Chế độ làm việc == 1- Ban Chỉ đạo họp 6 tháng một lần, họp bất thường khi cần. 2- Các thành viên kiêm nhiệm của Ban Chỉ đạo phải dành thời gian cần thiết để nắm tình hình và tổ chức thực hiện những nhiệm vụ thuộc lĩnh vực được phân công. 3- Cơ quan Thường trực Ban Chỉ đạo do Phó trưởng ban Thường trực trực tiếp chỉ đạo và quản lý. 4- Cơ quan Thường trực của Ban Chỉ đạo mỗi tháng họp một lần; 6 tháng một lần lãnh đạo Ban Chỉ đạo đến làm việc với lãnh đạo các tỉnh uỷ, thành uỷ trên địa bàn và họp 3 tháng một lần với các cơ quan có liên quan của Trung ương đóng trên địa bàn để thống nhất nội dung phối hợp và chỉ đạo các mặt công tác thuộc nhiệm vụ của Ban Chỉ đạo. == Thành viên == === 2002 - 2011 === Trưởng ban Nguyễn Tấn Dũng - Ủy viên Bộ Chính trị, Thủ tướng Chính phủ. Lê Hồng Anh - Ủy viên Bộ Chính trị, Bộ trưởng Bộ Công an. Trần Đại Quang - Ủy viên Bộ Chính trị, Bộ trưởng Bộ Công an. Phó Trưởng ban Thường trực Mai Văn Năm Nguyễn Văn Nên Trần Việt Hùng === 2011 - 2016 === Trưởng ban Trần Đại Quang - Ủy viên Bộ Chính trị, Bộ trưởng Bộ Công an. Phó Trưởng ban Triệu Xuân Hòa H'Ngăm Niê KĐăm Niê Thuật Nguyễn Đức Phong - Ủy viên Chuyên trách Trần Đình Thu - Ủy viên Chuyên trách === 2016 - 2021 === Trưởng ban Tô Lâm - Ủy viên Bộ Chính trị, Bộ trưởng Bộ Công an. Phó Trưởng ban Điểu Kré - Phó Trưởng ban Thường trực H'Ngăm Niê KĐăm Nguyễn Đức Phong - Ủy viên Chuyên trách kiêm Vụ trưởng Vụ Kinh tế Trần Đình Thu - Ủy viên Chuyên trách == Tham khảo == http://thuvienphapluat.vn/van-ban/Bo-may-hanh-chinh/Quyet-dinh-907-QD-TTg-bo-nhiem-ba-H-Ngam-Nie-KDam-kiem-nhiem-chuc-vu-Uy/107392/noi-dung.aspx http://cand.com.vn/thoi-su/Cao-Ban-Chi-da-o-Tay-Nguyen-so-ke-t-6-tha-ng-da-u-nam-2015-357756/ http://vov.vn/tags/ban-chi-dao-tay-nguyen.vov
châu mỹ.txt
Châu Mỹ là một châu lục nằm ở Tây Bán Cầu. == Từ nguyên == Tên gọi trong tiếng Việt của châu Mỹ bắt nguồn từ tên gọi tiếng Trung “美洲” (âm Hán Việt: Mỹ châu). Chữ “Mỹ” 美 trong “Mỹ châu” 美洲 là gọi tắt của “Á Mỹ Lợi Gia” 亞美利加. “Á Mỹ Lợi Gia” 亞美利加 là phiên âm tiếng Trung của danh xưng tiếng Bồ Đào Nha “América”. Việc sử dụng lần đầu tiên cái tên America cho vùng đất rộng lớn này được biết đến là vào ngày 25 tháng 4 năm 1507, và được sử dụng để chỉ nơi mà ngày nay là Nam Mỹ. Nó xuất hiện lần đầu tiên trên một bản đồ thế giới với 12 múi giờ, cùng với một bản đồ treo tường lớn nhất thực làm ra từ trước đến nay, cả hai đều do người chuyên vẽ bản đồ người Đức là Martin Waldseemüller vẽ tại Saint-Dié-des-Vosges ở Pháp. Đây là bản đồ đầu tiên thể hiện châu Mỹ như là một vùng đất lớn tách biệt với châu Á. Một cuốn sách đi kèm, Cosmographiae Introductio, vô danh những rõ ràng được viết bởi cộng tác viên của Waldseemüller là Matthias Ringmann, đã thuật rằng, "Tôi không thấy bất kỳ một điều gì để phản đối việc gọi phần này [đại lục Nam Mỹ], theo Americus là người đã khám phá ra nó và ông là một người đàn ông thông minh, Amerigen, là Vùng đất của Americus, hay America: do cả châu Âu (Europa) và châu Á (Asia) đều mang tên có gốc từ một phụ nữ". Americus Vespucius là tên gọi Latinh hóa của nhà thám hiểm Florentine tên là Amerigo Vespucci, và America là dạng giống cái của Americus. Amerigen được giải thích là Amerigo cộng với gen, tân cách trong tiếng Hi Lạp của từ 'Trái Đất', và có nghĩa là 'vùng đất của Amerigo'.. Amerigo là một từ tiếng Ý có gốc từ tiếng Latin cổ Emericus. Vespucci dường như đã không biết được việc tên của mình đã được dùng để đặt cho vùng đất mới, do bản đồ của Waldseemüller đã không được đưa đến Tây Ban Nha Spain cho đến vào năm sau khi ông mất. Ringmann may have been misled into crediting Vespucci khi cho đăng tải rộng rãi Bức thư Soderini, một phiên bản đã được biên tập từ một trong các bức thư thật của Vespucci ghi chép về việc vạch bản vẽ bờ biển Nam Mỹ, trong đó tán dương khám phá này và ngụ ý rằng ông công nhận Nam Mỹ là một lục địa tách biệt với châu Á. Tây Ban Nha chính thức từ chối chấp thuận tên gọi America trong suốt hai thế kỷ, nói rằng Colombo nên được tán dương, và các bản đồ cuối cùng của Waldseemüller, sau khi ông đã ngừng hợp tác với Ringmann, không bao gồm tên gọi đó; tuy nhiên, việc sử dụng lại bắt đầu khi Gerardus Mercator áp dụng tên gọi này cho bản đồ Thế giới Mới của ông năm 1538. == Khái quát == === Vị trí địa lý === (71°57' Bắc - 53°54' Nam) Nằm hoàn toàn ở bán cầu Tây. Phía Bắc giáp Bắc Băng Dương. Phía Tây giáp Thái Bình Dương. Phía Đông giáp Đại Tây Dương. === Một lãnh thổ rộng lớn === Châu Mỹ rộng hơn 42 triệu km2, đứng thứ hai trên thế giới. So với các châu lục khác, châu Mĩ nằm trải dài trên nhiều vĩ độ hơn cả, từ vùng cực Bắc đến tận vùng cận cực Nam. Nơi hẹp nhất của châu Mỹ là eo đất Panama rộng không đến 50 km. Kênh đào Panama đã cắt qua eo đất này, nối liền Thái Bình Dương & Đại Tây Dương châu Mỹ trải rộng trên 2 lục địa: lục địa Bắc Mỹ và Nam Mỹ. == Lịch sử == Trong tác phẩm "Luận thuyết thứ hai về chính quyền dân sự", John Locke đã viết "Ở thời kỳ khởi đầu thì cả thế giới đều như châu Mỹ". Locke đã dùng phép ẩn dụ nêu trên chỉ để miêu tả một xã hội tự nhiên từng tồn tại trước khi xuất hiện một xã hội công dân. Tuy nhiên lối nói ẩn dụ của ông còn gợi lên một hình ảnh của một châu Mỹ lần đầu tiên được người châu Âu phát hiện. === Định cư === Các chi tiết về việc những người Indien cổ đã di cư đến và tỏa ra khắp châu Mỹ vào khoảng thời gian và bằng tuyến đường nào vẫn còn là chủ đề tranh luận. Các lý thuyết truyền thống cho rằng những người này đã đến châu Mỹ bằng cầu lục địa Beringia giữa đông Siberi và Alaska ngày nay vào khoảng từ 40.000–17.000 năm trước, khi mực nước biển bị giám xuống đáng kể do ảnh hưởng của kỷ băng hà Đệ tứ. Những người này được cho là đã đi theo các loài động vật cực to lớn mà nay đã tuyệt chủng theo các hành lang không bị đóng băng kéo dài giữa các phiến băng Laurentide và Cordillera. và rồi họ tiếp tục đi bộ hoặc sử dụng các tàu thuyền nguyên sơ để di cư từ Tây Bắc Thái Bình Dương (phía tây Bắc Mỹ) đến bờ biển Nam Mỹ. Bằng chứng của sự kiện về sau có được khi mực nước biển dâng lên hàng trăn mét sau kỉ băng hà cuối cùng. Các nhà khảo cổ cho rằng những người Indien cổ đã di cư ra khỏi Beringia (Đông Alaska), đến một nơi nào đó trong khoảng từ 40.000 đến 16.500 năm trước. Một vài đồng thuận đạt được cho đến nay là những người này có nguồn gốc từ Trung Á, và đã cư trú rộng rãi ở châu Mỹ vào cuối của kỷ băng hà cuối cùng, khoảng 16.000–13.000 năm trước. Người Inuit di cư đến phần Bắc Cực của Bắc Mỹ theo một làn sóng di cư khác, và họ đến vào khoảng năm 1000 SCN. Cùng với thời điểm người Inuit di cư đến Bắc Mỹ, những người định cư Viking bắt đầu tới Greenland vào năm 982 và Vinland một thời gian ngắn sau đó,lập nên một khu định cư tại L'Anse aux Meadows, gần điểm cực bắc của Newfoundland. Những người định cư Viking nhanh chóng rời bỏ Vinland, và biến mất khỏi Greenland vào năm 1500. === Thời kỳ tiền Colombo === Thời kỳ tiền Colombo bao gồm tất cả các phân tầng thời gian của lịch sử châu Mỹ trước khi sự xuất hiện của người châu Âu gây nên ảnh hưởng đáng kể cho châu lục, kéo dài từ thời từ các khu định cư Thượng Cổ đến thời kỳ thực dân châu Âu. "Tiền Colombo" đặc biệt được sử dụng trong các ngữ cảnh để chỉ về nền văn minh bản địa lớn của châu Mỹ, như Mesoamerica (Olmec, Toltec, Teotihuacano, Zapotec, Mixtec, Aztec, Maya) và Andes (Inca, Moche, Muisca, Cañaris). Nhiều nền văn minh thời kỳ Tiền-Colombo được hình thành dựa trên các đặc điểm và dấu hiệu như các điểm định cư lâu dài hay đô thị, nông nghiệp, các kiến trúc đô thị và tưởng niệm, cùng các hệ thống thứ bậc xã hội phức tạp. Một số nền văn minh từ lâu đời đã tàn phai khi những người châu Âu đầu tiên đến (cuối thế kỷ 15-đầu thế kỷ 16), và chỉ được biến đến thông qua khảo cổ. Nhưng cũng có những nền văn minh và thời điểm đó. Một vài nền văn minh như Maya, có các tư liệu bằng chữ viết. Tuy nhiên, hầu hết những người châu Âu khi đó coi các văn bản này là dị giáo, và nhiều trong số đó đã bị tiêu hủy trên những giàn thiêu Thiên Chúa giáo. Chỉ còn một số ít tài liệu còn lại đến ngày nay, giúp cho các sử gia hiện đại có cái nhìn khái quát về văn hóa và các kiến thức cổ. Theo cả các ghi chép của dân bản địa châu Mỹ và người châu Âu, các nền văn minh châu Mỹ vào thời điểm tiếp xúc với người Âu đã đạt được nhiều thành tựu ấn tượng. Chẳng hạn, người Aztec đã xây dựng nên một trong những thành phố nguy nga nhất thế giới là Tenochtitlan, tại nơi mà nay là thành phố México, với dân số ước tính là 200.000 người. Các nền văn minh châu Mỹ cũng có những thành tựu ấn tượng về thiên văn học và toán học. === Thực dân hóa === Quá trình thực dân hóa của người châu Âu đã bắt đầu ngay sau chuyến đi đầu tiên của Cristoforo Colombo vào năm 1492. Điểm định cư đầu tiên của người Tây Ban Nha tại châu Mỹ là La Isabela ở miền bắc Hispaniola. Đô thị này đã bị bỏ hoang sớm sau đó khi thành lập Santo Domingo de Guzmán năm 1496, thành phố cổ nhất do người châu Âu lập nên tại châu Mỹ. Nơi này trở thành căn cứ và từ đó chế độ quân chủ Tây Ban Nha quản lý các thuộc địa và mở rộng lãnh địa của mình. Trên lục địa, thành phố Panama bên bờ biển Thái Bình Dương được hình thành vào ngày 5 tháng 8 năm 1519, đóng một vai trò quan trọng, và là cơ sở để thực dân Tây Ban Nha xâm chiếm Nam Mỹ. Theo nhà nhân chủng học R. Thornton, sự lây lan của các bệnh dịch mới do người châu Âu và châu Phi đem tới đã giết chết nhiều cư dân tại châu Mỹ, Người bản địa và thực dân châu Âu xảy ra xung đột trên diện rộng, kết quả dẫn đến điều mà David Stannard gọi là một cuộc diệt chủng dân bản địa. Những người di cư châu Âu đầu tiên là một phần của nỗ lực cấp nhà nước nhằm thành lập các thuộc địa tại châu Mỹ. Những người di cư tiếp tục di cư đến châu Mỹ nhắm trốn tránh các cuộc đàn áp tôn giáo hoặc tìm kiếm cơ hội về kinh tế. Trong khi đó, hàng triệu người đã bị buộc đưa đến châu Mỹ với thân phận nô lệ, tù nhân hay lao động giao kèo. == Địa chất == Nam Mỹ bị vỡ ra từ phần phía tây của siêu lục địa Gondwanaland vào khoảng 135 triệu năm trước, tạo thành một lục địa riêng. Khoảng 15 triệu năm trước, sự va chạm của mảng Caribe và Mảng Thái Bình Dương dẫn đến sự nổi lên của hàng loạt các núi lửa dọc theo ranh giới giữa chúng và tạo ra các hòn đảo. Những kẽ hở của quần đảo tại Trung Mỹ được lấp đầy từ vật liệu bị xói mòn đất của Nam Mỹ và Bắc Mỹ, cộng thêm vùng đất mới được tạo nên bởi hiện tượng núi lửa tiếp diễn. Khoảng 3 triệu năm trước, lục địa Bắc Mỹ và Nam Mỹ được nối với nhàu bằng Eo đất Panama, do đó tạo nên một vùng đất châu Mỹ duy nhất. == Địa lý == Điểm cực bắc của châu Mỹ nằm trên đảo Kaffeklubben, cũng là điểm trên mặt đất ở cực bắc của Thế giới. Điểm cực nam nằm trên quần đảo Nam Thule, mặc dù đôi khi chúng được coi là một phần của châu Nam Cực. Lục địa châu Mỹ có chiều bắc nam dài nhất trong số các châu lục. Khoảng cách từ hai cực của nó, bán đảo Boothia ở phía bắc Canada và Mũi Froward tạiPatagonia của Chile là gần 14.000 km (8.700 mi). Điểm cực tây của phần lục địa nằm trên bán đảo Seward tại Alaska; đảo Attu, xa hơn về phía tây bờ biển Alaska, được coi là cực tây của châu Mỹ. Ponta do Seixas ở Đông Bắc Brasil là điểm cực đông của lục địa, trong khi Nordostrundingen tại Greenland, là điểm cực đông của toàn châu lục. === Địa hình === Địa hình phía tây châu Mỹ bị chi phối bởi dãy Cordillera châu Mỹ, với dãy Andes chạy ở vùng ven biển phía tây Nam Mỹ và dãy núi Rocky cùng các dãy Cordillera Bắc Mỹ khác chạy dọc theo phần phía tây của Bắc Mỹ. The Dãy Appalachian dài 2300 km (1429 mile) chạy dọc theo bờ biển phía đông của Bắc Mỹ từ Alabama đến Newfoundland. Phía bắc của dãy Appalachian, Dãy Bắc Cực chạy dọc bờ biển phía đông của Canada. Các dãy núi có các đỉnh cao nhất là Andes và Rocky. Trong khi các đỉnh cao thuộc Sierra Nevada và Dãy Cascade, không có nhiều đỉnh cao trên 4.000 feet. Tại Bắc Mỹ, một lượng lớn dãy núi cao trên 14.00 ft (4.267,2 m) xuất hiện tại Hoa Kỳ và cụ thể là tiểu bang Colorado. Đỉnh cao nhất của châu Mỹ nằm trên dãy Andes, Aconcagua thuộc Argentina; tại Bắc Mỹ Denali tại Alaska là đỉnh cao nhất. Giữa các dãy núi ven biển tại Bắc Mỹ là một khu vực bằng phẳng. Đồng bằng Nội địa trải rộng trên lục địa với dộ cao thấp. Khiên Canadia chiếm 5 triệu km² ở Bắc Mỹ và nói chung là khá bằng phẳng. Tương tự như vậy, đông bắc của Nam Mỹ là vùng đất bằng phẳng của bồn địa Amazon. Cao nguyên Brasil ở phía đông khá bằng song có một số biến đổi trong địa hình, trong khi xa hơn về phía nam là các vùng đất thấp rộng lớn Gran Chaco và Pampas. === Thủy văn === Với các dãy núi ven biển và đồng bằng nội địa, châu Mỹ có một số lưu vực sông lớn. Lưu vực sông lớn nhất tại Bắc Mỹ là Mississippi, đây cũng là lưu vực sông lớn thứ hai thế giới. Hệ thống sông Mississippi-Missouri chảy trên địa phận 31 tiểu bang của nước Mỹ, hầu hết thuộc Đại Bình nguyên Bắc Mỹ, nằm giữa dãy núi Rocky và Appalachian. Đây là sông dài thứ 4 trên thế giới. Tại Bắc Mỹ, phía đông của dãy Appalachian không có các con sông lớn song có nhiều dòng chảy theo hướng đông ra Đại Tây Dương. Các con sông chảy từ vùng trung tâm của Canada ra vịnh Hudson. Ở bờ biển phía tây Bắc Mỹ, các dòng sông chính bao gồm sông Colorado, sông Columbia, sông Yukon, và sông Sacramento. Lưu vực sông lớn nhất tại Nam Mỹ là Amazon, đây cũng là hệ thống sông có dung tích dòng chảy lớn nhất thế giới. Hệ thống sông lớn thứ hai của Nam Mỹ là sông Paraná, bao phủ một diện tích 2,5 triệu km². === Khí hậu === Khí hậu châu Mỹ thay đổi đáng kể giữa các khu vực. Khí hậu rừng mưa nhiệt đới xuất hiện ở những nơi gần xích đạo như rừng Amazon, rừng sương mù châu Mỹ, Florida và Darien Gap. Tại dãy núi Rocky và Andes, các ngọn núi cao thường có tuyết phủ. Vùng Đông Nam của Bắc Mỳ thường xuất hiện nhiều cơn bão và lốc xoáy, trong đó phần lớn lốc xoáy xảy ra tại thung lũng Tornado ở Hoa Kỳ. Nhiều khu vực tại Caribe cũng phải hứng chịu các ảnh hưởng từ bão. Các hình thế thời tiết này được tạo ra do sự va chạm của khối không khí khô và mát từ Canada và khối không khí ẩm và ấp từ Đại Tây Dương. == Nhân khẩu == === Dân tộc === Dân cư châu Mỹ nói chung có nguồn gốc từ 5 nhóm sắc tộc và 3 nhóm lai. Người bản địa châu Mỹ: Người da đỏ, Inuit, và Aleut. Gốc Châu Âu, chủ yếu là người Tây Ban Nha, người Anh, người Ireland, người Ý, người Bồ Đào Nha, người Pháp, người Ba Lan, người Đức, người Hà Lan, và người Scandinavia. Gốc da đen châu Phi, chủ yếu là từ Tây Phi. Người châu Á, bao gồm các nhóm Đông Á, Nam Á và Đông Nam Á. Những người có nguồn gốc từ Trung Đông Mestizo, lai giữa người Âu và da đỏ. Mulatto, lai giữa người Âu và người da đen. Zambo (tiếng Tây Ban Nha) hay Cafuso (tiếng Bồ Đào Nha), lai giữa người da đen và da đỏ. Phần lớn cư dân sống tại Mỹ Latinh chịu ảnh hưởng của các nền văn hóa Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha và tương phản với Mỹ Anglo, nơi tiếng Anh, một ngôn ngữ German chiếm ưu thế. === Tôn giáo === Các đức tin lớn nhất tại châu Mỹ là: Kitô giáo (Bắc Mỹ: 85%; Nam Mỹ: 93%)Công giáo Rôma (88% người Mexico theo; xấp xỉ 74% cư dân tại Brasil, với 182 triệu người theo đạo và là nước có tín đồ Công giáo Rôma lớn nhất thế giới; khoảng 24% cư dân Hoa Kỳ; và trên 40% cư dân Canada Tin Lành (tín đồ chủ yếu tại Hoa Kỳ, nơi chiếm một nửa dân số, và Canada, khoàng trên một phần tư dân số; các phong trào Ngũ Tuần và Tin Lành cũng đang phát triển tại khu vực Mỹ Latinh vốn do Công giáo chiếm ưu thế) Chính Thống giáo Đông phương (chủ yếu tại Hoa Kỳ và Canada) Phong trào Cơ Đốc Liên phái và các nhóm Kitô giáo khác Không tôn giáo (bao gồm vô thần và người theo thuyết bất khả tri, cũng như những người tin vào các điều tâm linh song không phải là thành viên của các đoàn thể tôn giáo) Hồi giáo (khoảng 2% dân cư Canada [580.000 người] và 0,6% cư dân Hoa Kỳ [1.820.000 người]). Argentina có một số lượng lớn dân cơ theo Hồi giáo với khoảng 600.000 người, hay 1,9%) Do Thái giáo (khoảng 2% cư dân Bắc Mỹ, trong đó xấp xỉ 2,5% cư dân Hoa Kỳ và 1,2% dân cư Canada—và 0,23% dân cư Mỹ Latinh—Argentina là nước co số người theo Do Thái giáo lớn nhất khu vực này với 200.000 người) Các đức tin khác bao gồm đạo Sikh; Phật giáo; Ấn Độ giáo; Bahá'í; tôn giáo bản địa, tôn giáo truyền thống châu Phi, duy linh hay các tôn giáo mới. === Ngôn ngữ === Có nhiều ngôn ngữ được sử dụng tại châu Mỹ. Một số trong đó có nguồn gốc từ châu Âu, một số khác là ngôn ngữ bản địa hay pha trộn giữa nhiều ngôn ngữ khác nhau. Ngôn ngữ chiếm ưu thế tại Mỹ Latinh là tiếng Tây Ban Nha, tuy vậy, đất nước lớn nhất Mỹ Latinh là Brasil sử dụng tiếng Bồ Đào Nha. Có một số vùng đất nhỏ sử dụng tiếng Pháp, Hà Lan và Anh tại Mỹ Latinh, tương ứng là Guyane thuộc Pháp, Suriname và Belize, Creole Haiti, một ngôn ngữ có nguồn gốc từ tiếng Pháp, chiếm ưu thế tại Haiti. Các ngôn ngữ bản địa có ảnh hửng tại Mỹ Latinh hơn là tại Mỹ Anglo, với các ngôn ngữ thông dụng nhất là Nahuatl, Quechua, Aymara và Guaraní. Ngôn ngữ chiếm ưu thế tịa Mỹ Anglo là tiếng Anh. Tiếng Pháp cũng là một ngôn ngữ chính thức của Canada, và là ngôn ngữ chiếm ưu thế tại Québec và là một ngôn ngữ chính thức tại New Brunswick cùng với tiếng Anh. Tiếng Pháp cũng là một ngôn ngữ quan trọng tại tiểu bang Louisiana, và một phần các tiểu bang New Hampshire, Maine, và Vermont của Hoa Kỳ. Tiếng Tây Ban Nha đã giữ sự hiện diện liên tục tại vùng Tây Nam Hoa Kỳ, vốn là một phần của Phó vương quốc Tân Tây Ban Nha, đặc biệt là California và New Mexico, nơi một thứ tiếng Tây Ban Nha được biến đổi từ thế kỷ 17 vẫn còn tồn tại. Tiếng Tây Ban Nha cũng phát triển mạnh tại Hoa Kỳ do dòng người nhập cư từ các nước Mỹ Latinh. Các quốc gia Guyana, Suriname, và Belize không được coi là thuộc Mỹ Anglo hay Mỹ Latinh do khác biệt về mặt ngôn ngữ với Mỹ Latinh và khác biệt về mặt địa lý với Mỹ Anglo, còn văn hóa và lịch sử thì khác biệt với cả hai khu vực; tiếng Anh là ngôn ngữ chính tại Guyana và Belize, và tiếng Hà Lan là ngôn ngữ chính thức và ngôn ngữ văn bản tại Suriname. Tiếng Tây Ban Nha: được khoảng 310 triệu người nói tại khắp các quốc gia trên châu lục. Tiếng Anh: được khoảng 300 triệu người nói tại Hoa Kỳ, Canada, Jamaica, Trinidad và Tobago, Bahamas, Bermuda, Belize, Guyana, quần đảo Falkland và nhiều quốc đảo tại Caribe. Tiếng Bồ Đào Nha: được khoảng 185 triệu người nói tại Nam Mỹ, chủ yếu tại Brasil, Tiếng Pháp: được khoảng 12 triệu người nói tại Canada (phần lớn trong số 7 triệu dân của Québec cùng các cộng đồng Acadian tại New Brunswick và Nova Scotia); Caribe (Haiti, Guadeloupe, Martinique); Guyane thuộc Pháp; các hòn đảo tộc Pháp như Saint Pierre và Miquelon; và Acadiana (khu vực Pháp ngữ tại nam Louisiana, Hoa Kỳ). Quechua: là ngôn ngữ bản địa của khoảng 10–13 triệu người tại Ecuador, Peru, Bolivia, bắc Chile, và tây bắc Argentina. Creole Haiti: một ngôn ngữ dựa trên cơ sở tiếng Pháp và các ngôn ngữ châu Phi, trên 10 triệu người tại Haiti và những người Haiti hải ngoại tại Canada và Hoa Kỳ nói. Guaraní (avañe'ẽ): ngôn ngữ bản địa của khoảng 6 triệu người tại Paraguay, và một số vùng tại Argentina, Bolivia, và Brazil. Tiếng Trung Quốc được ít nhất 5 triệu người sử dụng, chủ yếu tại Hoa Kỳ, Canada, Peru, Brasil và Panama. Tiếng Ý: được khoảng 4 triệu người nói, chủ yếu tại Argentina, Brasil, và vùng New England/Trung-Đại Tây Dương tại Hoa Kỳ. Tiếng Đức: Khoảng 2,2 triệu người. Trong đó, khoảng 1,1 triệu tại Hoa Kỳ. Tiếng Aymara: ngôn ngữ bản địa của khoảng 2,2 triệu người tại Bolivia, Peru và Chile. Hầu hết các ngôn ngữ phi bản địa, ở một mức độ nào đó, đã có sự biến đổi với ngôn ngữ tại quốc gia bắt nguồn, nhưng thường vẫn hiểu lẫn nhau. Tuy nhiên, có một số ngôn ngữ được kết hợp, và tại nên những thứ tiếng hoàn toàn mới, chẳng hạn như Papiamento, một sự kết hợp giữa tiếng Bồ Đào Nha, tiếng Tây Ban Nha, tiếng Hà Lan, tiếng bản địa của người Arawak, các ngôn ngữ châu Phi và tiếng Anh. Portuñol, pha trộn giữa tiếng Bồ Đào Nha và Tây Ban Nha, được sử dụng ở khu vực biên giới giữa Brasil và các quốc gia nói tiếng Bồ Đào Nha láng giềng. == Các quốc gia ở châu Mỹ == == Vùng lãnh thổ == == Đọc thêm == Danh sách các quốc gia châu Mỹ theo ngôn ngữ chính thức Danh sách các quốc gia châu Mỹ theo diện tích Danh sách các quốc gia châu Mỹ theo GDP danh nghĩa 2009 Danh sách các quốc gia châu Mỹ theo GDP danh nghĩa 2012 == Tham khảo == == Đọc thêm == == Liên kết ngoài == United Nations population data by latest available Census: 2008-2009 Organization of American States Council on Hemispheric Affairs
câu đố thiếu hình vuông.txt
Câu đố thiếu hình vuông là một ảo ảnh (quang học) được sử dụng trong toán học sơ cấp để giúp học sinh tranh luận về các hình vẽ trong môn hình học. Nó miêu tả hai cách sắp xếp các hình, mỗi cách sắp xếp tạo ra một tam giác vuông cạnh 13×5, nhưng một tam giác bị khuyết một hình vuông cạnh 1×1 trong nó. == Lời giải == Chìa khóa để giải câu đố này là thực chất không một tam giác 13×5 nào được ghép từ các hình nhỏ có cùng tổng diện tích với tổng diện tích các hình ghép lại. Bốn hình (màu vàng, đỏ, xanh và xanh lá cây) có tổng diện tích là 32 đơn vị diện tích, nhưng các tam giác cạnh đáy 13 và chiều cao 5 lại có diện tích là S = 13 ⋅ 5 2 = 32.5 {\displaystyle S={\frac {13\cdot 5}{2}}=32.5} đơn vị diện tích. Mặt khác tam giác màu xanh da trời có tỉ số hai cạnh là 5:2 (=2.500:1), trong khi tam giác màu đỏ có tỉ số 8:3 (≈2.667:1), và rõ ràng là hai tam giác này không đồng dạng với nhau. Vì thế khi kết hợp lại trong tam giác 13×5, cạnh huyền của tam giác này bị lệch đi, không thẳng. Lượng bị lệch đi được làm tròn bằng 1/28 đơn vị, và rất khó có thể nhìn thấy trên hình vẽ của câu đố này. Chú ý tới điểm lưới nơi hai cạnh huyền đỏ và cạnh huyền màu xanh da trời gặp nhau, và so sánh nó với cùng điểm này trên hình của tam giác 13×5 kia; cạnh huyền của nó hơi nằm bên trên điểm lưới này. Khi ghép hai hình 13×5 này đè lên nhau, nhìn ở phía cạnh huyền ta sẽ thấy 1 hình bình hành rất dẹt tạo bởi các cạnh huyền của hai tam giác đỏ và xanh da trời với diện tích đúng bằng diện tích của hình vuông 1×1, bằng với diện tích bị "thiếu" từ hình 13×5 thứ hai. Theo Martin Gardner, câu đố này được Paul Curry, một nhà ảo thuật nghiệp dư ở thành phố New York, nghĩ ra năm 1953. Tuy vậy, nguyên lý của nghịch lý phân chia hình đã được biết đến từ thập niên 1860. Các kích thước nguyên của các hình nhỏ trong câu đố (2, 3, 5, 8, 13) là các số liên tiếp trong dãy Fibonacci. Nhiều câu đố chia hình hình học khác dựa trên cơ sở của một vài tính chất đơn giản của dãy số Fibonacci nổi tiếng. == Câu đố tương tự == Một phiên bản khác của câu đố này là (miêu tả trong ảnh động) sử dụng bốn hình tứ giác có diện tích bằng nhau và một hình vuông nhỏ, để tạo thành một hình vuông lơn hơn. Khi bốn tứ giác nội tiếp này quanh xung quanh tâm đường tròn nội tiếp của chúng, chúng phủ kín lên hình vuông nhỏ, mặc dù dường như tổng diện tích các hình là không thay đổi. Nghịch lý này được giải thích là thực ra các cạnh của hình vuông lớn sau khi quay 4 hình là hơi nhỏ hơn so với hình vuông lớn ban đầu. Nếu a {\displaystyle a} là độ dài cạnh hình vuông lớn và θ {\displaystyle \theta } là góc giữa hai cạnh đối diện của mỗi tứ giác, thì tỉ số diện tích giữa hình vuông lớn và tổng diện tích 4 hình tứ giác là sec 2 ⁡ θ − 1 {\displaystyle \sec ^{2}\theta -1} . Với θ = 5°, tỉ số này xấp xỉ 1.00765, hay tương ứng với sự khác nhau 0.8%. == Tham khảo == == Liên kết ngoài == A printable Missing Square variant with a video demonstration. Curry's Paradox: How Is It Possible? at cut-the-knot Triangles and Paradoxes at archimedes-lab.org The Triangle Problem or What's Wrong with the Obvious Truth Jigsaw Paradox The Eleven Holes Puzzle
đồng bằng sông hồng.txt
Đồng bằng sông Hồng (hay châu thổ sông Hồng) là một vùng đất rộng lớn nằm quanh khu vực hạ lưu sông Hồng thuộc miền Bắc Việt Nam, vùng đất bao gồm 10 tỉnh và thành phố như: Bắc Ninh, Hà Nam, Hà Nội, Hải Dương, Hải Phòng, Hưng Yên, Nam Định, Ninh Bình, Thái Bình và Vĩnh Phúc. Gần như đồng nghĩa với đồng bằng sông Hồng là vùng trung châu, khác với vùng chân núi trung du và núi cao thượng du. Không giống như vùng đồng bằng sông Cửu Long, các tỉnh trong vùng đồng bằng sông Hồng chỉ có 2 tỉnh Thái Bình và Hưng Yên là không có núi, do đó khu vực này thường được gọi là châu thổ sông Hồng. Danh từ trung châu từng được dùng trong sử sách ngày xưa để chỉ định vùng bình nguyên này của miền Bắc. Công nghiệp đồng bằng hình thành sớm nhất Việt Nam và phát triển mạnh trong thời kì đất nước công nghiệp hóa và hiện đại hóa. == Vị trí, diện tích == Đồng bằng sông Hồng trải rộng từ vĩ độ 21°34´B (huyện Lập Thạch) tới vùng bãi bồi khoảng 19°5´B (huyện Kim Sơn), từ 105°17´Đ (huyện Ba Vì) đến 107°7´Đ (trên đảo Cát Bà). Toàn vùng có diện tích: 15.000 km², chiếm 4,6% diện tích của cả nước. Phía bắc và đông bắc là Vùng Đông Bắc (Việt Nam), phía tây và tây nam là vùng Tây Bắc, phía đông là vịnh Bắc Bộ và phía nam vùng Bắc Trung Bộ. Đồng bằng thấp dần từ Tây Bắc xuống Đông Nam, từ các thềm phù sa cổ 10 - 15m xuống đến các bãi bồi 2 - 4m ở trung tâm rồi các bãi triều hàng ngày còn ngập nước triều. == Lịch sử == == Đặc điểm tên gọi == Các nhà nghiên cứu như Giáo sư Trần Quốc Vượng gọi vùng này là châu thổ sông Hồng mà không gọi đồng bằng sông Hồng vì lý do: Châu thổ Bắc bộ là sản phẩm chính của phù sa hệ sông Hồng và cả hệ sông Thái Bình. Châu thổ Bắc bộ không bằng phẳng nên không nên gọi là đồng bằng. Trừ tỉnh Thái Bình và tỉnh Hưng Yên không có núi, tất cả các tỉnh khác của châu thổ Bắc bộ đều có địa hình núi đồi xen kẽ châu thổ và thung lũng. Ngoài ra châu thổ Bắc bộ có nhiều "trũng" (ô trũng Hà Nam Ninh, ô trũng Hải Hưng, ô trũng Nho Quan, ô trũng Chương Mỹ - Mỹ Đức, v.v.). Không nhấn mạnh điểm này, coi như không hiểu sự phân bố các làng ở châu thổ Bắc bộ và nền nông nghiệp kèm theo nó. == Địa chất == Toàn bộ miền đồng bằng sông Hồng nằm trên một lớp đá kết tinh cổ, loại giống nền đá ở vùng Đông Bắc. Cách đây 200 triệu năm, vào cuối đại Cổ sinh, lớp đá này bị sụt xuống. Vào thời đó, biển lên đến quá Việt Trì ngày nay, tiến sát các vùng đồi Bắc Giang, Bắc Ninh, Phúc Yên, Nho Quan. Cửa sông Hồng lúc đó ở Việt Trì. Chế độ biển kéo dài trên 170 triệu năm. Các trầm tích Neogen lắng xuống làm cho vịnh biển thu hẹp lại. Lớp trầm tích này có nơi dày đến 3000 mét. Trên cùng là lớp phù sa Holocen dày từ 80 đến 100 mét ở trung tâm vùng đồng bằng sông Hồng, và càng xa trung tâm thì càng mỏng dần. Trong đồng bằng sông Hồng có nhiều ô trũng tự nhiên, điển hình là ô trũng Hà Nam Ninh, ô trũng Hải Hưng và ô trũng Nho Quan. Ngoài ra còn có rất nhiều đầm lầy. Trầm tích và phù sa do các sông vận chuyển ra khỏi lòng sông mỗi mùa lũ đã không lấp được các ô trũng và đầm lầy này do chúng quá xa sông hoặc do bị đê điều nhân tạo ngăn cản. Việc các sông đổi dòng cũng tạo ra nhưng đầm lầy và ao hồ. == Dân số == Dân số là 19.577.944 người (thời điểm 1/4/2009), chiếm 22,82% dân số cả nước. Đa số dân số là người Kinh, một bộ phận nhỏ thuộc Ba Vì (Hà Nội) và Nho Quan (Ninh Bình) có thêm dân tộc Mường. Dân cư đông nên có lợi thế: Có nguồn lao động dồi dào, nguồn lao động này có nhiều kinh nghiệm và truyền thống trong sản xuất, chất lượng lao động cao. Tạo ra thị trường có sức mua lớn. Chính sách: có sự đầu tư nhiều của Nhà nước và nước ngoài. Có lịch sử khai phá lâu đời, là nơi tập trung nhiều di tích, lễ hội, làng nghề truyền thống… với 2 trung tâm KT-XH là Hà Nội và Hải Phòng. == Quân sự == Vùng đồng bằng sông Hồng có vị trí chiến lược trong an ninh-quốc phòng. Hiện nay, vùng đồng bằng sông Hồng do Bộ tư lệnh Thủ đô Hà Nội và Quân khu 3, Quân khu 1 bảo vệ. Quân đoàn 1, còn gọi là Binh đoàn Quyết Thắng, được thành lập ngày 24 tháng 10, đóng tại thành phố Tam Điệp, Ninh Bình là một trong 4 binh đoàn chủ lực ở Việt Nam. == Tài nguyên thiên nhiên == Diện tích đất nông nghiệp khoảng 760.000 ha, trong đó 70% là đất phù sa màu mỡ, có giá trị lớn về sản xuất nông nghiệp. Đất nông nghiệp chiếm 51,2% diện tích vùng. Khí hậu cận nhiệt đới ẩm, có mùa hè nóng ẩm nhưng mùa đông phi nhiệt đới lạnh và khô, làm cho cơ cấu cây trồng đa dạng. Tài nguyên nước phong phú, có giá trị lớn về kinh tế là hệ thống sông Hồng và sông Thái Bình. Ngoài ra còn có nước ngầm, nước nóng, nước khoáng. Tài nguyên biển: bờ biển dài 400 km, vùng biển có tiềm năng lớn để phát triển nhiều ngành kinh tế (đánh bắt và nuôi trồng thuỷ sản, giao thông, du lịch) Khoáng sản không nhiều, đáng kể nhất là trữ lượng than nâu trữ lượng dự tính là 8,8 tỉ tấn. Khí thiên nhiên được thăm dò và khai thác ở Tiền Hải – Thái Bình. Tuy nhiên, khoáng sản làm vật liệu xây dựng khá phong phú như đá vôi hàng tỉ tấn… == Kinh tế == === Cơ sở hạ tầng === Kết cấu hạ tầng phát triển mạnh (giao thông, điện, nước…), Hệ thống đường cao tốc đường cao tốc Cầu Giẽ - Ninh Bình; đường cao tốc Ninh Bình - Thanh Hóa; đường cao tốc Hà Nội - Hải Phòng và đang xây dựng tuyến Đường cao tốc Ninh Bình - Hải Phòng - Quảng Ninh. Hệ thống đường quốc lộ có quốc lộ 1A xuyên Việt, quốc lộ 5 nối Hà Nội tới Hải Phòng; quốc lộ 10 nối từ Ninh Bình đi Hải Phòng; quốc lộ 18 nối Hà Nội - Bắc Ninh - Hải Dương; quốc lộ 21 nối Hà Nam đi Thịnh Long; quốc lộ 21B nối Hà Nội - Hà Nam - Nam Định - Ninh Bình; quốc lộ 38 nối Bắc Ninh tới Hà Nam; Quốc lộ 38B nối Hải Dương tới Ninh Bình; Quốc lộ 39 từ phố Nối tới cảng Diêm Điền; quốc lộ 45 nối Ninh Bình - Thanh Hóa; các quốc lộ khác như 2, 3, 6, 32, 35, 37... Tuyến đường sắt Bắc – Nam và toả đi các thành phố khác; các sân bay quốc tế Nội Bài, sân bay Cát Bi, Hải Phòng; Các cảng lớn như cảng Hải Phòng, cảng Cái Lân, cảng Diêm Điền, cảng Ninh Cơ... Cơ sở vật chất kỹ thuật cho các ngành ngày càng hoàn thiện: hệ thống thuỷ lợi, các trạm, trại bảo vệ cây trồng, vật nuôi, nhà máy chế biến… Khu vực có nhiều tuyến đường sông quốc gia được đưa vào danh sách Hệ thống đường sông Việt Nam như: Sông Hồng, Sông Đuống, Sông Luộc, Sông Đáy, Sông Hoàng Long, Sông Nam Định, Sông Ninh Cơ, Kênh Quần Liêu, Sông Vạc, Kênh Yên Mô, Sông Thái Bình, Sông Cầu, Sông Kinh Thầy, Sông Kinh Môn, Sông Kênh Khê, Sông Lai Vu, Sông Mạo Khê, Sông Cầu Xe, Sông Gùa, Sông Mía, Sông Hoá, Sông Trà Lý, Sông Cấm, Sông Lạch Tray, Sông Phi Liệt, Sông Văn Úc,... === Công nghiệp === Các ngành công nghiệp mà đồng bằng sông Hồng có là: luyên kim, cơ khí, hóa chất, vật liệu xây dựng, chế biến thực phẩm, sản xuất hàng tiêu dùng, nhiệt điện. Các ngành công nghiệp khai thác: khai thác khí dầu, khai thác đá vôi, khai thác sét cao lanh. Giá trị sản xuất công nghiệp tăng mạnh từ 18,3 nghìn tỷ đồng (1995) lên 55,2 nghìn tỷ đồng, chiếm 21% cả nước. Những nơi có nhiều ngành công nghiệp tập trung nhất là Hà Nội,Hải Phòng, Bắc Ninh. Tính đến cuối năm 2009, vùng Đồng bằng sông Hồng có 61 Khu công nghiệp được thành lập với tổng diện tích đất tự nhiên trên 13.800 ha, trong đó có 9.400 ha đất công nghiệp có thể cho thuê. So với cả nước, vùng Đồng bằng sông Hồng chiếm 26% về số lượng KCN và 23% về diện tích đất tự nhiên các KCN. === Nông nghiệp === Đồng bằng sông Hồng là khu vực có đất đai trù phú, phù sa màu mỡ. Sản lượng lúa của khu vực tăng từ 44,4 tạ/ha (1995) lên là 58,9 tạ /ha (2008) Không chỉ có sản lượng lúa tăng mà còn có một số lương thực khác như ngô, khoai tây, cà chua, cây ăn quả... cũng tăng về mặt sản lượng và cả chất lượng. Đem lại hiệu quả cho ngành kinh tế của vùng. Vụ đông trở thành vụ sản xuất chính. Nuôi lợn, bò và gia cầm cũng phát triển mạnh của vùng Vùng duyên hải Bắc Bộ gồm Hải Phòng, Thái Bình, Nam Định và Ninh Bình nằm giáp biển, có nhiều cửa sông lớn đổ ra, thuận lợi phát triển nghề nuôi trồng và đánh bắt thủy hải sản. === Dịch vụ === Đồng bằng sông Hồng là vùng có hạ tầng giao thông đồng bộ và thuận lợi, hoạt động vận tải sôi nổi nhất. Có nhiều đường sắt nhất đi qua các nơi khác nhau trong vùng. Đồng bằng sông Hồng có nhiều địa danh du lịch như Tam Đảo, Hồ Tây, Chùa Hương, chùa Phật Tích, Tam Cốc-Bích Động, Côn Sơn, Phố Hiến, Cúc Phương, Tràng An, Chùa Bút Tháp, Cát Bà, Đền Trần, Phủ Dầy, Đền Trần, Chùa Keo, Chùa Dâu, Đền Đô,Vườn quốc gia Xuân Thủy, biển Quất Lâm… Sân bay: sân bay lớn nhất nằm ở Nội Bài (Hà Nội). Cảng: có cảng Hải Phòng lớn nhất nên Hà Nội và Hải Phòng là 2 đầu mối quan trọng. Cảng sông quan trọng là cảng Ninh Phúc và cảng Nam Định. Bưu chính viễn thông phát triển mạnh của vùng. Hà Nội là trung tâm thông tin, tư vấn, chuyển giao công nghệ, có nhiều tài chính, ngân hàng lớn nhất Việt Nam. == Những hạn chế và khó khăn == Dân số đông, mật độ dân số cao (1.225 ng/km2 – cao gấp 4,8 lần mật độ dân số trung bình Việt Nam)gây áp lực lên tài nguyên:nước, rừng... Thời tiết thất thường và thường có thiên tai: bão từ biển vào, lũ lụt do nước đổ về hạ lưu(Ngày nay do có hệ thống đê điều nên hiện tượng lũ lụt ít khi xảy ra. Sông bị lấp đầy do phù sa Ô nhiễm môi trường == Hình ảnh == == Xem thêm == Vùng kinh tế trọng điểm Bắc bộ Vùng Tây Bắc (Việt Nam) Vùng Đông Bắc (Việt Nam) Bắc Trung Bộ (Việt Nam) Nam Trung Bộ (Việt Nam) Tây Nguyên Đông Nam Bộ (Việt Nam) Đồng bằng sông Cửu Long == Tham khảo ==
người thái (việt nam).txt
Bài này nói về nhóm Người Thái của Việt Nam. Những khái niệm cùng tên xem bài người Thái ꫛ ꪼꪕ/ꪠꪴ꫁ ꪼꪕ Người Thái còn được gọi là ꪼꪕ ꪄꪱꪫ Tày Khao (Thái Trắng), ꪼꪕ ꪒꪾ Tày Đăm (Thái Đen), ꪼꪕ ꪹꪣꪥ Tày Mười, ꪼꪕ ꪵꪖꪉ Tày Thanh (Man Thanh), ꪼꪕ ꪹꪣꪉ Hàng Tổng (Tày Mường), Pu Thay, Thổ Đà Bắc. Họ đã có mặt ở miền Tây Bắc Việt Nam trên 1200 năm, là con cháu người Thái di cư từ vùng đất thuộc tỉnh Vân Nam, Trung Quốc bây giờ. == Lịch sử == Dựa trên các chứng cứ về di truyền, Jerold A. Edmondson cho rằng tổ tiên của các cư dân nói ngôn ngữ Tai-Kadai di cư từ Ấn Độ tới Myanmar, rồi sau đó tới Vân Nam (Trung Quốc) khoảng 20.000 - 30.000 năm trước. Từ đó họ đến đông bắc Thái Lan và sau đó di cư dọc vùng duyên hải Hoa Nam lên phía bắc đến cửa sông Trường Giang, gần Thượng Hải khoảng 8-10.000 năm trước.. Vào thời kỳ vương quốc Nam Chiếu và Đại Lý tồn tại từ Tk 8 đến Tk 13, cũng như sau đó, họ từ đó chiếm lĩnh Thái Lan và Lào. Theo David Wyatt, trong cuốn "Thailand: A short history (Thái quốc: Lịch sử tóm lại)", người Thái xuất xứ từ phía nam Trung Quốc, có cùng nguồn gốc với các nhóm dân ít người bây giờ như Choang, Tày, Nùng. Dưới sức ép của người Hán và người Việt ở phía đông và bắc, người Thái dần di cư về phía nam và tây nam. Người Thái di cư đến Việt Nam trong thời gian từ thế kỉ 7 đến thế kỉ 13. Trung tâm của họ khi đó là Điện Biên Phủ (Mường Thanh). Từ đây, họ tỏa đi khắp nơi ở Đông Nam Á bây giờ như Lào, Thái Lan, bang Shan ở Miến Điện và một số vùng ở đông bắc Ấn Độ cũng như nam Vân Nam. Theo sách sử Việt Nam, vào thời nhà Lý, đạo Đà Giang, man Ngưu Hống (tức người Thái, đây là âm Hán Việt phiên từ tiếng Thái: "ngù háu" tức là rắn Hổ mang) đến từ Vân Nam, đã triều cống lần đầu tiên vào năm 1067. Trong thế kỷ 13, người Ngưu Hống kết hợp với người Ai Lao chống lại nhà Trần và bị đánh bại năm 1280, lãnh tụ Trịnh Giác Mật đầu hàng, xứ Ngưu Hống bị đặt dưới quyền quản lý trực tiếp của quan quân nhà Trần. Năm 1337 lãnh tụ Xa Phần bị giết chết sau một cuộc xung đột, xứ Ngưu Hống bị sáp nhập vào lãnh thổ Đại Việt và đổi tên thành Mương Lễ, hay Ninh Viễn (Lai Châu ngày nay) và giao cho họ Đèo cai quản. Năm 1431 lãnh tụ Đèo Cát Hãn, người Thái Trắng tại Mương Lễ (tức Mường Lay, nổi lên chống triều đình, chiếm hai lộ Qui Hóa (Lào Cai) và Gia Hưng (giữa sông Mã và sông Đà), tấn công Mương Mỗi (tức Mường Muổi, Sơn La), Đèo Mạnh Vương (con của Đèo Cát Hãn) làm tri châu. Năm 1466, lãnh thổ của người Thái được tổ chức lại thành vùng (thừa tuyên) Hưng Hóa, gồm 3 phủ: An Tây (tức Phục Lễ), Gia Hưng và Qui Hóa, 4 huyện và 17 châu. Những lãnh tụ Thái được gọi là phụ tạo, được phép cai quản một số lãnh địa và trở thành giai cấp quý tộc của vùng đó, như dòng họ Đèo cai quản các châu Lai, Chiêu Tấn, Tuy Phụ, Hoàng Nham; dòng họ Cầm các châu Phù Hoa, Mai Sơn, Sơn La, Tuần Giáo, Luân, Ninh Biên; dòng họ Xa cai quản châu Mộc; dòng họ Hà cai quản châu Mai, dòng họ Bạc ở châu Thuận; họ Hoàng ở châu Việt... Năm 1841, trước sự đe dọa của người Xiêm La, triều đình nhà Nguyễn kết hợp ba châu Ninh Biên, Tuần Giáo và Lai Châu bên bờ tả ngạn sông Mekong thành phủ Điện Biên. Năm 1880, phó lãnh sự Pháp là Auguste Pavie nhân danh triều đình Việt Nam phong cho Đèo Văn Trị chức tri phủ cha truyền con nối tại Điện Biên; sau khi giúp người Pháp xác định khu vực biên giới giữa Việt Nam với Trung Quốc và Lào, Đèo Văn Trị được cử làm quan của đạo Lai Châu, cai quản một lãnh thổ rộng lớn từ Điện Biên Phủ đến Phong Thổ, còn gọi là xứ Thái. Tháng 3, 1948 lãnh thổ này được Pháp tổ chức lại thành Liên bang Thái tự trị, qui tụ tất cả các sắc tộc nói tiếng Thái chống lại Việt Minh. Sau chiến thắng Điện Biên Phủ, để lấy lòng các sắc tộc thiểu số miền Bắc, Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa thành lập Khu tự trị Thái Mèo ngày 29 tháng 4 năm 1955, Khu tự trị Tày Nùng và vùng tự trị Lào Hạ Yên, nhưng tất cả các khu này đều bị giải tán năm 1975. == Dân cư == === Dân số và địa bàn cư trú === Tại Việt Nam, theo Tổng điều tra dân số năm 1999, người Thái có số dân là 1.328.725 người, chiếm 1,74% dân số cả nước, cư trú tập trung tại các tỉnh Lai châu (ꪹꪣꪉ ꪼꪩ꪿), Điện Biên (ꪹꪣꪉ ꪵꪖꪉ), Lào Cai (ꪹꪣꪉ ꪎꪱꪒ), Yên Bái (ꪹꪣꪉ ꪩꪷ), Sơn La (ꪹꪣꪉ ꪩꪱ꪿), Hòa Bình, Thanh Hóa, Nghệ An (số lượng người Thái tại 8 tỉnh này chiếm 97,6% tổng số người Thái ở Việt Nam)và một số ở Tỉnh Lâm Đồng và Đaklak. Trong đó tại Sơn La có 482.485 người (54,8 % dân số), Nghệ An có 269.491 người (9,4 % dân số), Thanh Hóa có 210.908 người (6,1 % dân số), Lai Châu cũ (nay là Lai Châu và Điện Biên) có 206.001 người (35,1 % dân số). Theo Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009, người Thái ở Việt Nam có dân số 1.550.423 người, là dân tộc có dân số đứng thứ 3 tại Việt Nam, có mặt trên tất cả 63 tỉnh, thành phố. Người Thái cư trú tập trung tại các tỉnh: Sơn La [Mương La] (572.441 người, chiếm 53,2% dân số toàn tỉnh và 36,9% tổng số người Thái tại Việt Nam), Nghệ An (295.132 người, chiếm 10,1% dân số toàn tỉnh và 19,0% tổng số người Thái tại Việt Nam), Thanh Hóa (225.336 người, chiếm 6,6% dân số toàn tỉnh và 14,5% tổng số người Thái tại Việt Nam), Điện Biên [Mương Thèng ] (186.270 người, chiếm 38,0% dân số toàn tỉnh và 12,0% tổng số người Thái tại Việt Nam), Lai Châu [ Mương Lay ] (119.805 người, chiếm 32,3% dân số toàn tỉnh và 7,7% tổng số người Thái tại Việt Nam), Yên Bái [ Mương Lo ] (53.104 người), Hòa Bình (31.386 người), Đắk Lắk (17.135 người), Đắk Nông (10.311 người)... === Các nhóm người Thái === Nhóm Thái Đen (ꪼꪕ ꪒꪾ / Táy Đăm/Taidam/ไทดำ) cư trú ở khu vực tỉnh Sơn La và Điện Biên (ꪹꪣꪉ ꪩꪱ꪿ Mương La & ꪹꪣꪉ ꪵꪖꪉ Mương Thèng). Các nhóm Tày Thanh (Man Thanh), Tày Mười, Tày Khăng ở miền Tây Thanh Hóa, Nghệ An cũng mới từ mạn Tây Bắc chuyển xuống cách đây vài ba trăm năm và bị ảnh hưởng bởi văn hóa và nhân chủng của cư dân địa phương và Lào. Nhóm Tày Thanh từ Mường Thanh (Điện Biên) đi qua Lào vào Thanh Hóa và tới Nghệ An định cư cách đây hai, ba trăm năm, nhóm này gần gũi với nhóm Thái Yên Châu (Sơn La) và chịu ảnh hưởng văn hóa Lào. Dân số của nhóm Thái Đen tại Việt Nam năm 2002 ước tính khoảng 699.000 người trong tổng số 763.950 người Thái Đen trên toàn thế giới. Ngoài ra còn có khoảng 50.000 người Thái Đen hay Tày Mười sinh sống tại tỉnh Khăm Muộn, Lào (số liệu 1995); 10.000 người Thái Đen (một phần của dân tộc Thái theo phân loại của CHND Trung Hoa) sinh sống tại tỉnh Vân Nam, Trung Quốc (số liệu 1995) và 700 người Thái Đen sinh sống tại tỉnh Loei, Thái Lan (số liệu 2004, nhóm này đến Thái Lan vào năm 1885). Nhóm Thái Trắng (Táy Đón/Táy Khao/ไทขาว) cư trú chủ yếu ở tỉnh Lai Châu, Điện Biên và một số huyện tỉnh Sơn La (Quỳnh Nhai, Bắc Yên, Phù Yên). Ở Đà Bắc thuộc tỉnh Hòa Bình, có nhóm tự nhận là Táy Đón, được gọi là Thổ. Ở xã Dương Quỳ, huyện Văn Bàn, tỉnh Lào Cai, có một số Thái Trắng chịu ảnh hưởng đậm của văn hóa Tày. Ở Sapa, Bắc Hà, nhiều nhóm Thái Trắng đã Tày hóa. Người Thái Trắng đã có mặt dọc hữu ngạn sông Hồng và tỉnh Lai Châu, Điện Biên từ thế kỷ 13 và làm chủ Mường Lay (địa bàn chính là huyện Mường Chà ngày nay) thế kỷ 14, một bộ phận di cư xuống Đà Bắc và Thanh Hóa thế kỷ 15. Có thuyết cho rằng họ là con cháu người Bạch Y ở Trung Quốc. Dân số của nhóm Thái Trắng tại Việt Nam năm 2002 ước tính khoảng 280.000 người trong tổng số 490.000 người Thái Trắng trên toàn thế giới. Ngoài ra còn có khoảng 200.000 người Thái Trắng sinh sống tại Lào (thống kê năm 1995); 10.000 người Thái Trắng (một phần của dân tộc Thái theo phân loại của CHND Trung Hoa) sinh sống tại tỉnh Vân Nam, Trung Quốc (số liệu 1995). Nhóm Thái Đỏ, gồm nhiều nhóm khác nhau cư trú chủ yếu ở một số huyện như Mộc Châu (Sơn La), Mai Châu (Hòa Bình) và các huyện miền núi như Bá Thước (Thanh Hóa) và Quỳ Châu, Quỳ Hợp, Con Cuông, Tương Dương (Nghệ An). Dân số của nhóm Thái Đỏ tại Việt Nam năm 2002 ước tính khoảng 140.000 người trong tổng số 165.000 người Thái Đỏ trên toàn thế giới. Ngoài ra còn có khoảng 25.000 người Thái Đỏ sinh sống tại tỉnh Sầm Nưa, Lào (số liệu 1991). Một số nhóm có dân số ít hoặc chưa được phân định rõ ràng như Tày Mười(sống xen kẽ với nhóm Tày Thanh và Tày Mường ở Nghệ An) có khoảng 300 người (2002), Tày Mường (Thái Hàng Tổng,Thái Do) có khoảng 10.000 người (2002), Tày Thanh có khoảng 20.000 người (2002), Phu Thai (hay Phutai, Putai, Puthai, Puthay) với dân số 209.000 người (2002) (ngoài ra tại Thái Lan có khoảng 470.000 người (2006), tại Lào có 154.000 người (2001) và tổng số người Phu Thai trên thế giới là 833.000)... Ngoài ra còn có chừng 20.000 người Thái gốc Việt Nam sinh sống tại nước ngoài, chủ yếu là Pháp và Hoa Kỳ. === Họ của người Thái === Người Thái sử dụng các họ chủ yếu như: Bạc, Bế, Bua, Bun, Cà (Hà, Kha, Mào, Sa), Cầm, Chẩu, Chiêu, Đèo, Điều, Điêu, Hà, Hoàng, Khằm Leo, Lèo, Lềm (Lâm, Lịm), Lý, Lò (Lô, La,Lo), Lộc(Lục), Lự, Lường (Lương), Manh, Mè, Nam, Nông, Ngần, Ngưu, Nho, Nhật, Panh, Pha, Phia, Phìa, Quàng (Hoàng, Vàng), Quảng, Sầm (Cầm Bá, Phạm Bá), Tạ, Tày, Tao (Đào), Tạo, Tòng (Toòng), Lang (Vi), Vì (Vi), Xa (Sa), Xin. == Ngôn ngữ == Người Thái nói các thứ tiếng thuộc nhóm ngôn ngữ gốc Thái của hệ ngôn ngữ Thái-Kadai. Trong nhóm này có tiếng Thái của người Thái (Thái Lan), tiếng Lào của người Lào, tiếng Shan ở Myanmar và tiếng Choang ở miền nam Trung Quốc. Tại Việt Nam, 8 sắc tộc ít người gồm Bố Y, Giáy, Lào, Lự, Nùng, Sán Chay, Tày, Thái được xếp vào nhóm ngôn ngữ Thái. == Đặc điểm kinh tế == Người Thái có nhiều kinh nghiệm đắp phai, đào mương, dựng con, bắc máng lấy nước làm ruộng. Lúa nước là nguồn lương thực chính, đặc biệt là lúa nếp. Người Thái cũng làm nương để trồng lúa, hoa màu và nhiều thứ cây khác. Từng gia đình chăn nuôi gia súc, gia cầm, đan lát, dệt vải, một số nơi làm đồ gốm... Sản phẩm nổi tiếng của người Thái là vải thổ cẩm, với những hoa văn độc đáo, màu sắc rực rỡ, bền đẹp. == Văn hóa == === Hôn nhân === - Người Thái có tục ở rể, vài năm sau, khi đôi vợ chồng đã có con mới về ở bên nhà chồng, nhưng bây giờ hầu như không có trừ vài trường hợp gia đình bên gái khó khăn quá. - Cô gái thái khi lấy chồng phải búi tóc (tẳng cẩu) === Tục lệ ma chay === Người Thái quan niệm chết là tiếp tục "sống" ở thế giới bên kia. Vì vậy, đám ma là lễ tiễn người chết về "mường trời". === Văn hóa dân gian === Thần thoại, cổ tích, truyền thuyết, truyện thơ, ca dao... là những vốn quý báu của văn học cổ truyền người Thái. Những tác phẩm thơ ca nổi tiếng của dân tộc Thái là: Xống chụ xon xao, Khun Lú Nàng Ủa. Người Thái sớm có chữ viết nên nhiều vốn cổ (văn học, luật lệ, dân ca) được ghi chép lại trên giấy bản và lá cây. Người Thái rất thích ca hát, đặc biệt là khắp tay. khắp là lối ngâm thơ hoặc hát theo lời thơ, có thể đệm đàn và múa. Nhiều điệu múa như múa xòe, múa sạp đã được trình diễn trên sân khấu trong và ngoài nước, hấp dẫn đông đảo khán giả. Hạn khuống, ném còn là hai đặc trưng văn hóa nổi tiếng của người Thái. === Nhà cửa === Điểm khác biệt nhất của nhà cửa người Thái so với người Việt và Hán là họ xây nhà sàn. Nhà người Thái trắng có khá nhiều điểm gần với nhà Tày-Nùng. Còn nhà người Thái Đen lại gần với kiểu nhà của các cư dân Môn-Khmer. Tuy vậy, nhà người Thái Đen lại có những đặc trưng không có ở nhà của cư dân Môn-Khmer: nhà người Thái Đen nóc hình mai rùa, chỏm đầu đốc có khau cút với nhiều kiểu khác nhau. Hai gian hồi để trống và có lan can bao quanh. Khung cửa ra vào và cửa sổ có nhiều hình thức trang trí khác nhau. Bộ khung nhà Thái có hai kiểu cơ bản là khứ tháng và khay điêng. Vì khay điêng là vì khứ kháng được mở rộng bằng cách thêm hai cột nữa. Kiểu vì này dần gần lại với kiểu vì nhà người Tày-Nùng. Cách bố trí trên mặt bằng sinh hoạt của nhà Thái Đen khá độc đáo: các gian đều có tên riêng. Trên mặt sàn được chia thành hai phần: một phần dành làm nơi ngủ của các thành viên trong gia đình, một nửa dành cho bếp và còn là nơi để tiếp khách nam. == Tham khảo == == Xem thêm == Danh sách ngôn ngữ Danh sách các nước theo ngôn ngữ nói Các dân tộc Việt Nam Nguồn gốc các dân tộc Việt Nam Wyatt, David K, Thailan: A short History, Yale University Press, New Haven and London, 1984 == Liên kết ngoài == Người Thái trắng Người Thái Hỏa táng
2009.txt
2009 (số La Mã: MMIX) là một năm bắt đầu vào ngày thứ năm trong lịch Gregory. Theo âm lịch Trung Hoa, phần lớn thời gian của năm 2009 thuộc năm Kỷ Sửu. Liên hiệp quốc đã chọn năm 2009 là năm thiên văn quốc tế để kỷ niệm 400 năm nhà thiên văn học người Italia, Galileo Galilei, khám phá bầu trời bằng kính thiên văn do chính ông cải tiến, đem lại những thay đổi to lớn cho con người về nhận thức thế giới. == Sự kiện == === Tháng 1 === 1 tháng 1 - Áo, Nhật Bản, Mexico, Thổ Nhĩ Kỳ, & Uganda nhận ghế ủy viên không thường trực Hội đồng Bảo an Liên Hiệp Quốc. 1 tháng 1 - Cộng hòa Séc nhận ghế chủ tịch luân phiên Hội đồng Liên minh châu Âu từ Pháp. 1 tháng 1 - Ít nhất 64 người chết trong vụ cháy hộp đêm ở Băng Cốc vào lễ đón năm mới. 1 tháng 1 - Vilnius và Linz trở thành thủ đô văn hóa châu Âu. 1 tháng 1 - Slovakia chấp nhận đồng euro và trở thành thành viên thứ 16 của Khu vực đồng Euro. 15 tháng 1 - Chuyến bay 1549 của US Airways bị buộc phải đáp khẩn cấp xuống sông Hudson ở Thành phố New York sau khi cất cánh khoảng 3 phút vì bị chim đâm vào các động cơ. Toàn bộ hành khách và nhân viên phi hành đoàn đều sống sót sau tai nạn. 17 tháng 1 - Israel tuyên bố lệnh ngừng bắn đơn phương kết thúc 22 ngày tấn công Hamas ở Gaza. 20 tháng 1 - Lễ nhậm chức của Barack Obama, tổng thống thứ 44 của Hoa Kỳ. 26 tháng 1 - Nhật thực hình khuyên . 28 tháng 1 - Diễn đàn kinh tế thế giới tổ chức tại Davos, Thụy Sĩ. 31 tháng 1 - Phát biểu tại Diễn đàn Kinh tế Thế giới đang diễn ra tại Davos, Thụy Sĩ, Thủ tướng Nhật Bản Taro Aso đã cam kết chi 17 tỷ USD viện trợ cho châu Á dưới dạng vốn cho vay ưu đãi ODA. === Tháng 2 === 2 tháng 2 - Iran phóng thành công vệ tinh nhân tạo Omid. 15 tháng 2 - Trưng cầu dân ý hiến pháp tại Venezuela. === Tháng 3 === 28 tháng 3 - Sự kiện giờ Trái Đất bắt đầu lúc 20h30 và kết thúc 21h30 (giờ địa phương) trên toàn thế giới. === Tháng 4 === 2 tháng 4 - Hội nghị thượng đỉnh G20 tại Luân Đôn. 16 tháng 4 - Tổng tuyển cử tại Ấn Độ. 17 tháng 4 - Động đất Nangarhâr, Afghanistan, làm chết ít nhất 20 người. 21 tháng 4 - Oracle chính thức mua Sun Microsystems với giá 7,4 tỷ USD. 22 tháng 4 - Hiệp hội Hang động Hoàng gia Anh đã công bố tìm ra Hang Sơn Đoòng tại Việt Nam, được xem là hang lớn nhất thế giới. === Tháng 5 === 17 tháng 5 - Đại học Sư phạm Kỹ thuật Thành phố Hồ Chí Minh vô địch Robocon 2009 === Tháng 6 === 8 tháng 6 - Tổ chức Giải vô địch bóng đá trong nhà Đông Nam Á 2009 tại TP.HCM (Việt Nam). 11 tháng 6 - Tổ chức Y tế Thế giới công bố Dịch cúm A/H1N1 (2009) thành Đại dịch cúm toàn cầu và nâng cấp báo động lên cấp 6. 12 tháng 6 - Bầu cử tổng thống Iran, 2009 tại Iran với bạo loạn & biểu tình. 14 tháng 6 - FIFA Confederations Cup 2009 bắt đầu diễn ra tại Nam Phi. === Tháng 7 === 5 tháng 7 - Bạo động tại Urumqi, Tân Cương, CHND Trung Hoa. 13 tháng 7 - Yahoo! 360° chấm dứt hoạt động. 24 tháng 7 Khoảng 30.000 công nhân xưởng thép Thông Hóa giận dữ đụng độ với công an trong cuộc biểu tình tại Tập đoàn sắt thép Thông Hóa ở Thông Hóa, Cát Lâm, CHND Trung Hoa để phản đối kế hoạch sát nhập hãng Thông Hóa vào Công ty Jianlong, một Công ty đang bị thua lỗ nặng nề. Khoảng 100 người bị thương khi vụ đụng độ xảy ra. Một viên chức điều hành doanh nghiệp bị đánh đến chết. === Tháng 8 === 2 tháng 8 - Bão Morakot hình thành ở phía Đông Đài Loan. 10 tháng 8 - Ngày Da cam (Orange day) 21 tháng 8 - Sự cố tràn dầu Montara trên biển Timor, được xem là thảm họa tràn dầu tồi tệ nhất của Australia. 23 tháng 8 - Chung kết Hoa hậu Hoàn vũ 2009 tại Bahamas. === Tháng 9 === 29 tháng 9 - Trận động đất Samoa 2009 có độ lớn 8.0 Mw xảy ra ở khu vực quần đảo Samoa. === Tháng 10 === 20 tháng 10 - Microsoft tung ra phiên bản hệ điều hành Windows 7. 25 tháng 10 - Đại học Y Dược Huế & Học viện Tài chính vô địch Rung chuông vàng. 30 tháng 10 - Khai mạc AIGs 3 tại Hà Nội, Việt Nam. === Tháng 11 === 5 tháng 11 - Vụ nổ súng tại Fort Hood, Texas, Hoa Kỳ làm chết 13 người, bị thương 30 người, nghi can số một là Thiếu tá Nidal Malik Hasan. 15 tháng 11 - Tổng thống Barack Obama gặp 10 nhà lãnh đạo ASEAN - cuộc gặp đầu tiên giữa một Tổng thống Mỹ với các nhà lãnh đạo ASEAN 16 tháng 11 - Người dùng Facebook tại Việt Nam không thể truy cập vào trang này, trừ khi biết cách vượt tường lửa. 20 tháng 11 - Tổ chức Cúp cờ vua thế giới 2009 tại Khanty-Mansiysk, Nga. 22 tháng 11 - Chung kết cuộc thi Hoa hậu Trái Đất 2009 được tổ chức tại Philippines. 22 tháng 11 - Chung kết cuộc thi Hoa hậu Quý bà Thế giới 2009 được tổ chức tại Cung trình diễn Bà Rịa-Vũng Tàu, Việt Nam. 23 tháng 11 - Vụ thảm sát Maguindanao xảy ra tại đảo Mindanao của Philippines. 28 tháng 11 - Chung kết cuộc thi Hoa hậu Quốc tế 2009 tại Tứ Xuyên, CHND Trung Hoa. === Tháng 12 === 9 tháng 12 - Khai mạc SEA Games 25 tại thủ đô Viêng Chăn, Lào 11 tháng 12 - Chủ tịch nước Việt Nam Nguyễn Minh Triết gặp Giáo hoàng Biển Đức XVI tại Tòa thánh Vatican. 12 tháng 12 - Chung kết Hoa hậu Thế giới 2009 tại Johannesburg, Nam Phi. 15 tháng 12 - Mạng di động 4G đầu tiên ra mắt bởi hãng viễn thông TeliaSonera ở Oslo (Na Uy) và Stockholm (Thụy Điển). == Sinh == == Mất == 22 tháng 2 - Phaolô Giuse Phạm Đình Tụng, Hồng Y - Tổng giáo phận Hà Nội (sinh 1919) 7 tháng 3- Jang Ja Yeon, diễn viên Hàn Quốc 31 tháng 5 - Bảo Phúc, nhạc sĩ Việt Nam (s. 1958) 25 tháng 6 - Michael Jackson, ca-nhạc sĩ Mỹ (s. 1958) 30 tháng 6 - Huỳnh Phúc Điền, đạo diễn người Việt (s. 1970) 5 tháng 7 - Phùng Há, Nghệ sĩ Nhân dân Việt Nam (s. 1911) 6 tháng 7 - Robert McNamara, bộ trưởng quốc phòng Hoa Kỳ (s. 1916) 8 tháng 7 - Đoàn Trọng Truyến, Giáo sư Nhà giáo Nhân dân Việt Nam 8 tháng 8 - Daniel Jarque, cầu thủ người Tây Ban Nha (s. 1983) 18 tháng 8 - Kim Dae-jung, nhà hoạt động chính trị người Nam Hàn, Tổng thống Nam Hàn, đoạt giải Nobel (sinh 1925). 7 tháng 9 - Phaolô Lê Đắc Trọng, Giám mục phụ tá Tổng giáo phận Hà Nội (sinh 1918) 20 tháng 9 - Thanh Thanh Hoa, nghệ sĩ sân khấu cải lương Việt Nam (sinh 1943) == Giải Nobel == Giải Nobel Hóa học - Venkatraman Ramakrishnan (Hoa Kỳ), Thomas Steitz (Hoa Kỳ) và Ada Yonath (Israel) Giải Nobel Kinh tế - Elinor Ostrom và Oliver Williamson (Ostrom là phụ nữ đầu tiên giành giải, cả 2 là người Hoa Kỳ) Giải Nobel Văn học - Herta Mueller (người Đức) Giải Nobel Hòa bình - B. Obama - Tổng thống Hoa Kỳ Giải Nobel Vật lý - Charles Kao, Willard Boyle và George Smith (cả 3 là người Hoa Kỳ) Giải Nobel Y học - Elizabeth Blackburn, Carol Greider và Jack Szostak (cả 3 là người Hoa Kỳ) == Chú thích ==
ngày valentine.txt
Ngày Valentine ("Va-len-thai"/"Va-lên-tin", tiếng Anh: Valentine's Day, Saint Valentine's Day, còn gọi là Ngày lễ tình yêu hay là Ngày lễ tình nhân) Nó được đặt tên theo thánh Valentine, - một trong số những vị thánh tử vì đạo Kitô giáo đầu tiên - và cũng là ngày mà cả thế giới tôn vinh tình yêu đôi lứa, tình cảm giữa các đôi tình nhân, và bạn bè khác phái, họ bày tỏ tình cảm của mình bằng cách gửi cho nhau thiệp Valentine, hoa hồng, sô-cô-la và một số loại quà tặng đặc biệt khác. Trước đây ngày Valentine (hiện nay là ngày 14 tháng 2 hàng năm) là ngày lễ chỉ ở Bắc Mỹ và Châu Âu, nhưng ngày nay nó được phổ biến ở hầu hết các quốc gia. Theo văn hóa phương Đông (Trung Quốc, Nhật Bản và các nước lân cận) là ngày lễ tình yêu được tổ chức vào ngày Thất tịch (7 tháng 7 Âm lịch). == Giả thiết về nguồn gốc == Đã có nhiều vị thánh tử vì đạo của Kitô giáo tên là Valentine. Valentines có vinh dự vào ngày 14 Tháng hai là Valentine thành Roma (Valentinus presb. M. Romae) và Valentine của Terni (Valentinus ep. Interamnensis m. Romae). Valentine của Rome là một linh mục ở Rome, người đã chịu tử đạo khoảng năm 269 và được chôn cất trên con đường Via Flaminia. Di hài của ông hiện nay đặt tại nhà thờ của thánh Praxed tại Rome và nhà thờ Whitefriar dòng Cát Minh, ở Dublin, Ireland. Valentine thành Terni đã trở thành giám mục của Interamna (hiện nay là Terni) khoảng năm 197 và được cho là đã tử vì đạo trong cuộc đàn áp dưới thời hoàng đế Aurelianus. Ông cũng được chôn cất trên đường Via Flaminia, nhưng ở một vị trí khác so với Valentine của Rome. Di hài của ông hiện nay đặt tại Vương cung thánh đường Thánh Valentine ở Terni (Basilica di San Valentino) Bách khoa toàn thư Công giáo cũng nói về một vị thánh thứ ba có tên là Valentine đã được đề cập trong danh sách những người tử vì đạo trong ngày 14 tháng hai. Ông đã chịu tử đạo ở châu Phi với một số đồng đạo, nhưng không có thông tin nào khác. Không có yếu tố lãng mạn nào có mặt trong tiểu sử của các vị thánh tử đạo này vào đầu thời trung cổ. Vào thời điểm một vị thánh Valentine liên quan đến chuyện tình lãng mạn vào thế kỷ 14, thì sự phân biệt giữa Valentine thành Rome và Valentine thành Terni đã hoàn toàn bị mất. Vào năm 1969, trong việc sửa đổi Lịch các thánh, ngày lễ Thánh Valentine vào ngày 14 tháng 2 đã được đưa ra khỏi Lịch chung và được đưa vào hạng đặc biệt (lịch địa phương hoặc thậm chí quốc gia). == Truyền thuyết == Có rất nhiều thông tin về nguồn gốc của ngày lễ này, giả thuyết mà nhiều người chấp nhận nhất là: Valentine là một linh mục dưới thời Hoàng đế La Mã Claudius II. Lúc bấy giờ là thế kỷ thứ 3, Đế quốc La Mã phải tham gia nhiều cuộc chiến tranh đẫm máu và không được dân ủng hộ. Do gặp phải khó khăn khi kêu gọi các chàng trai trẻ gia nhập vào quân đội, Claudius II cho rằng nguyên nhân chính là đàn ông La Mã không muốn rời xa gia đình hay người yêu của họ và hôn nhân chỉ làm người đàn ông yếu mềm; do đó, Claudius II ra lệnh cấm tổ chức các đám cưới hoặc lễ đính hôn để tập trung cho các cuộc chiến. Linh mục Valentine ở thành La Mã, cùng Thánh Marius đã chống lại sắc lệnh của vị hoàng đế hùng mạnh và tiếp tục cử hành lễ cưới cho các đôi vợ chồng trẻ trong bí mật. Khi bị phát hiện, linh mục Valentine đã bị bắt và kết án tử hình bằng hình thức kéo lê và bị ném đá cho đến chết. Buổi chiều trước khi ra pháp trường, ông gửi tấm "thiệp Valentine" đầu tiên cho cô con gái của viên cai tù Asterius, người thiếu nữ mù lòa bẩm sinh đã được ông chữa lành bằng phép lạ trước đó, và ký tên "dal vostro Valentino" - from your Valentine ("Từ Valentine của em"). Cho đến nay, các cặp tình nhân vẫn có truyền thống ký tên bằng cụm từ "From your Valentine" của ngày xưa thay vì tên mình trong các tấm thiệp Valentine. Dần dần, ngày 14 tháng 2 hàng năm đã trở thành ngày trao đổi các bức thông điệp của tình yêu và Thánh Valentine đã trở thành vị Thánh bổn mạng của những lứa đôi. Người ta kỷ niệm ngày này bằng cách gửi cho nhau những bài thơ và tặng cho nhau những món quà truyền thống là hoa hồng và sô cô la. == Các truyền thống được công nhận == === Lễ Lupercalia === Tuy các nguồn tài liệu thời hiện đại nói không rõ về ngày lễ về và tình yêu của Greco-Roman nằm vào tháng hai, giáo sư Jack Oruch của viện khoa học của Kansas cho là không có sự liên kết nào của vị thánh tên Valentinus và tình yêu lãng mạn. Những nguồn liên kết trước đó nhắm vào sự hy sinh thay vì tình yêu lãng mạn. Trong lịch Attic, thời kỳ giữa tháng giêng đến giữa tháng hai trong lịch của lịch Hy Lạp, là thời gian tưởng nhiệm về đám cưới linh thiêng của Zeus và Hera. Trong thời kỳ La Mã cổ đại, ngày lễ Lupercalia được tổ chức vào ngày 13-15 tháng hai, là một nghi thức cổ xưa về sinh sản. Lupercalia là ngày lễ của riêng về thành phố của Rome. Ngày lễ được tổ chức với quy mô quốc gia là lễ Juno Februa, nghĩa là "Juno, đấng trong sạch "or "Juno, đấng đồng trinh" được tổ chức vào ngày 13–14 tháng hai. Đức giáo hoàng Gelasius I (492–496) đã xóa bỏ ngày lễ lupercalia. Một số nhà sử học đoán rằng ngày lễ Candlemas (nhằm vào ngày 14 tháng hai, nhưng sau này chuyển thành ngày 2 tháng hai) được đưa ra thay thế cho lễ Lupercalia, nhưng lễ Candlemas đã được bắt đầu từ thành phố Jerusalem vào năm 381 trước công nguyên. Vào năm 500 sau công nguyên, đức Giáo hoàng chuyển ngày lễ Valentine vào ngày 15 tháng hai. === Những cánh chim tình của Chaucer === Năm 1382, nhà thơ Geoffrey Chaucer viết một bài thơ Nghị hội của đám đông (Parlement of Foules), trong đó có những câu sau: For this was on saint Valentine's day When every birds came there to chose his make... Vì thế, Vào ngày Thánh Valentine, Những cánh chim bay về đây Để chọn những bạn đời... Bài thơ này được viết để tôn vinh kỷ niệm một năm lễ đính hôn của Vua Richard II của Anh với Anne của Bohemia. Một hiệp ước hôn nhân đã được ký kết vào ngày 02 tháng 5 năm 1381, và hôn lễ được cử hành 8 tháng sau đó. Người đọc cho rằng Chaucer đã đề cập đến ngày 14 tháng 2 là ngày Thánh Valentine, tuy nhiên, giữa tháng hai không phải là thời điểm thích hợp cho các loài chim bắt cặp và làm tổ ở Anh. Henry Ansgar Kelly đã chỉ ra rằng Chaucer có thể đã đề cập đến ngày 3 tháng năm, trong lịch phụng vụ là lễ kỷ niệm của Valentine của Genova, một giám mục đầu tiên của Genova, người đã qua đời khoảng năm 307. Jack B. Oruch cho rằng ngày đó là bắt đầu của mùa xuân và đã bị thay đổi từ khi áp dụng lịch Gregory vào năm 1582. Thời tiết sẽ tương ứng với ngày 23 tháng 2 hiện đại, thời điểm một số loài chim đã bắt đầu cặp đôi để giao phối và làm tổ ở Anh. Dường như những vần thơ của Chaucer trong "Nghị hội của đám đông" nhắc đến một truyền thống cổ, nhưng trong thực tế, không có dấu hiệu nào cho thấy có truyền thống như vậy trước đó. Lời giải thích những phong tục cổ như là sự kiện lịch sử, có nguồn gốc trong ngành khảo cổ học thế kỷ 18, đặc biệt là Alban Butler, tác giả của sách "Đời sống các Thánh của Butler", và đã được cả các học giả đáng kính hiện đại truyền lại. Đáng chú ý nhất "ý tưởng là ngày Valentine bắt nguồn từ ngày lễ Lupercalia của La Mã đã được chấp nhận không phê phán và lặp đi lặp lại, trong các hình thức khác nhau, cho đến ngày nay". Có ba tác giả khác cũng đã làm bài thơ về các loài chim cặp đôi trong ngày Thánh Valentine trong cùng một năm: Otton de Grandson từ Savoy, John Gower từ Anh, và một hiệp sĩ được gọi là Pardo từ Valencia. Chaucer có lẽ là nổi bật hơn cả, nhưng do thiếu dữ liệu để xác minh với các tác phẩm thời trung cổ, chúng ta không thể biết chắc chắn trong bốn người đó, ai là người có ý tưởng đầu tiên và ảnh hưởng đến những người khác. === Thời hiện đại === Vào năm 1797, một nhà báo Anh ra một cuốn sách The Young Man’s Valentine Writer, bao gồm một số câu mẫu tình cảm dành cho những người trẻ tuổi không thể tự sáng tác. Các máy in bắt đầu sản xuất một số các thiệp với lời và hình ảnh tình cảm, còn gọi là "máy valentine," và sự hạ giá của giá tem bưu chính và các mặt hàng thơ từ trong thế kỷ sau đó đã làm phong trào gửi thư, thiệp trong ngày lễ tình nhân tăng cao. Điều đó cũng tạo ra những cơ hội gửi thiệp ẩn danh, và sự phát triển mạnh mẽ của thiệp Valentine cũng bất ngờ làm xuất hiện những vần thơ tình ái đặc sắc trong thời đại hoàng kim của nữ hoàng Victoria. Giấy trang trí Valentine trở thành rất phổ biến ở Anh từ đầu thế kỷ 19, tới mức đã có một số xưởng in được ra đời để phục vụ nhu cầu. Các thiệp Valentine nghệ thuật được làm từ ren thật và ruy băng, với sự ra đời đầu tiên của ren giấy vào giữa thế kỷ 19. Sự sống lại ngày lễ của thánh Valatine từ năm 1840 được phát động bởi Leigh Eric Schmidt. Là một nhà báo trong Graham's American Monthly viết trong năm 1849, "Ngày Thánh Valentine"... đã dần dần trở thành, ngày lễ quốc gia." Ở Hoa Kỳ, đợt bán thiệp Valentine với số lượng lớn vào năm 1847 sau khi được phát động bởi cô Esther Howland (1828–1904) người xứ Worcester, Massachusetts. Cha của cô là chủ của một tiệm sách lớn, nhưng cô lấy nguồn cảm hứng từ một người bạn thương gia buôn bán thiệp valentine bên nước Anh của ba cô. Cô lên kế hoạch để tổ chức ngày lễ Valentine giống như vậy, Howland bắt đầu cơ nghiệp của mình với việc mua các mặt hàng làm thiệp valentine từ Anh. Thói quen gửi thiệp Valentine bên nước Anh trở thành quen thuộc tới nỗi nó là nội dung cho tác phẩm của nhà viết văn tiểu thuyết Elizabeth Gaskell, cuốn tiểu thuyết Mr. Harrison's Confessions (1851). Từ năm 2001, Hội Thiệp Chào Đón bắt đầu trao tặng giải "Esther Howland Award" mỗi năm cho người có chí sáng tạo hay. Từ thế kỷ 19, thiệp viết bằng tay được phổ biến với sự sản xuất hàng loại của các loại thiệp. Vào giữa thế kỷ 19 ngày lễ Valentine được nhiều nhà kinh doanh dùng để kiếm lợi nhuận, và làm cầu nối cho nhiều thị trường thương mại của các lễ hội khác ở Hoa Kỳ. Trong nửa thập kỷ sau của thế kỷ 20, thói quen gửi thiệp đã trở thành quà lịch sự trong Hoa Kỳ. Những món quà như vậy bao gồm hoa hồng và sô cô la được gói bằng giấy satin đỏ, hộp trái tim. Vào những năm của thập niên 1980, những tập đoàn bán kim cương đã dùng ngày lễ Valentine để đẩy mạnh thương mại kim cương, bằng cách khuyến khích tặng đồ nữ trang thay vì thiệp. Trong Hoa Kỳ, Hội Thiệp Mừng (U.S. Greeting Card Association) ước tính khoảng 190 triệu thiệp valentine được gửi tặng mỗi năm trong Hoa Kỳ. Một nửa trong số ấy được tặng cho những người thân ngoài vợ với chồng, thường thì cho các đứa con. Nếu tính luôn những thiệp làm trong trường thì có thể lên tới 1 tỉ thiệp, và các thầy cô là người nhận được thiệp nhiều nhất. Trong một số nước trên thế giới, các học sinh tiểu học làm thiệp và gửi cho nhau và thầy cô. Trong thiệp của các em cũng bày tỏ cảm xúc yêu mến đến các bạn khác giới. Vào thiên niên kỷ mới, mới sự ra đời và lớn mạnh của Internet đã dần dần tạo thành những truyền thống tặng thiệp mới. Hàng triệu người trên thế giới bắt đầu sử dụng thiệp in ra được trên mạng hoặc gửi thiệp bằng mạng như thiệp điện tử. Ước tính khoảng 15 triệu thiệp điện tử được gửi vào năm 2010. == Valentine trong chiến tranh == Valentine là ngày lễ của tình yêu trong sáng và thật thà của tuổi trẻ thơ mộng mới biết yêu. Nó còn có ý nghĩa quan trọng đối với những người thân trong gia đình. Những người đã trải qua ngày này khi còn trẻ này đã thành vợ chồng. Nhưng tiếc thay chiến tranh đã làm tan tác những ý niệm đẹp trong ngày valentine. == Ngày tình nhân tại các quốc gia == Theo hiệp hội U.S. Greeting Card Association Mỹ, mỗi năm có hơn 1 tỷ thiệp Valentine được trao tay trong ngày lễ này trên thế giới, chỉ xếp hạng sau ngày Lễ Giáng Sinh. Tổ chức này ước lượng khoảng 85% khách hàng mua thiệp Valentine là phụ nữ. Tại các trường tiểu học tại Bắc Mỹ, các giáo viên thường cho các em học sinh tự làm thủ công thiệp Valentine cho bạn bè trong lớp, các tấm thiệp đơn sơ do các em tự cắt vẽ và tô màu này phản ảnh những điều mà các em cảm kích về mỗi người bạn khác phái của mình trong lớp học. Người Anh và Pháp đã tổ chức lễ này từ thời Trung cổ, nhưng đến thế kỷ 17, tập tục tặng thiệp làm bằng tay cho người yêu mới phổ biến. Hình ảnh thường thấy là hình trái tim, hoa hồng, mũi tên và vị thần tình yêu Cupid. Tại Nhật Bản, nhiều nữ nhân viên có bổn phận phải tặng chocolate, bánh kẹo, hoa quả cho các nam đồng nghiệp. Tục lệ này mang tên giri-choko (義理チョコ); giri có nghĩa là "bổn phận", choko là chocolate. Đúng một tháng sau đó, trong ngày 14 tháng 3, tức ngày White Day, phía nam có bổn phận phải tặng quà lại cho các nữ đồng nghiệp đã chiếu cố đến mình trong ngày Valentine, những món quà này thông thường phải mang màu trắng. Tại Iran, Ả Rập Saudi, Malaysia và vài quốc gia theo Hồi giáo, cấm tổ chức các hoạt động kỷ niệm, mừng và bán những món quà ngày lễ tình nhân, kể cả hoa hồng đỏ vì họ cho rằng ngày Valentine là khuyến khích các quan hệ ngoài hôn nhân, nên bị cấm "nhằm ngăn chặn sự lây lan của văn hóa phương Tây". Tại Việt Nam, lễ tình nhân mới du nhập vào thời gian gần đây. Ngày 14 tháng 2 của năm 2008, nhiều cặp tình nhân đã tổ chức cưới tập thể dưới nước tại Hòn Mun, Nha Trang. Một hội thi hôn tập thể tại Đà Lạt cũng được tổ chức vào ngày này. Tại Brasil, ngày Dia dos Namorados (Ngày của các tình nhân) được tổ chức vào ngày 12 tháng 6. Trong khi đó, tại Trung Quốc và vài quốc gia châu Á, ngày truyền thống tình yêu là ngày 7 tháng 7 âm lịch, còn gọi là "Thất tịch". == Hình ảnh một số thiệp xưa == === Thiệp không rõ năm === === Thiệp Valentines vào giữa thế kỷ 19 đầu thế kỷ 20 === === Bưu thiếp, máy Valentines, thiệp nổi vào khoảng 1900–1930 === === Thiệp valentine cho em bé === == Bánh & Sô cô la == == Liên quan == == Xem thêm == Valentine Trắng Thánh Valentine Ngày lễ tình yêu Thất tịch: Theo văn hóa phương Đông (Trung Quốc và các nước lân cận) là ngày lễ tình yêu được tổ chức vào ngày 7 tháng 7 Âm lịch. Claudius II Ngày lễ quốc tế == Chú thích == == Liên kết ngoài == Valentine - Lễ hội tình yêu, Thy Nga, Radio RFA Quà "tình nhân" lên ngôi trong dịp Valentine
trượt tuyết tự do tại thế vận hội mùa đông 2006.txt
Trượt tuyết tự do tại Thế vận hội Mùa đông 2006 (frestyle skiing) được tổ chức tại Sauze d'Oulx (gần Torino). Trong Thế vận hội này trượt tuyết tự do bao gồm các bộ môn Aerial và Mogul cho cả hai phái nam và nữ. == Bảng huy chương == == Nam == == Nữ == == Chú thích == == Tham khảo ==
xeri.txt
Xeri (tiếng Latinh: Cerium) là một nguyên tố hóa học với ký hiệu Ce và số nguyên tử 58. Xeri không có vai trò sinh học nào đã biết. == Lịch sử == Xeri được Jöns Jakob Berzelius và Wilhelm Hisinger phát hiện tại Bastnäs, Thụy Điển và độc lập với họ là Martin Heinrich Klaproth tại Đức, đều vào năm 1803. Xeri được Berzelius đặt tên theo hành tinh lùn Ceres, phát hiện hai năm trước đó (1801). Như ban đầu được cô lập, xeri thực ra ở dạng ôxít của nó, và được gọi là Xeria, một thuật ngữ hiện nay vẫn còn dùng. Bản thân kim loại này là quá dương điện để có thể cô lập bằng công nghệ nung chảy khi đó, một đặc trưng của các kim loại đất hiếm nói chung. Tuy nhiên, sự phát triển của điện hóa học do Humphry Davy chỉ sau đó 5 năm và khi đó thì các loại đất hiếm này đã đi đúng vào con đường để sinh ra các kim loại chúng chứa bên trong. Xeria, như được cô lập năm 1803, chứa tất cả các nguyên tố nhóm Lantan có mặt trong quặng xerit từ Bastnäs, Thụy Điển và vì thế chỉ chứa khoảng 45% của cái mà ngày nay gọi là xeria tinh khiết. Cho tới tận khi Carl Gustaf Mosander thành công trong việc loại bỏ lantana và "didymia" vào cuối thập niên 1830 thì xeria mới thu được ở dạng tinh khiết. Wilhelm Hisinger là một chủ mỏ giàu có, một nhà khoa học nghiệp dư và là người tài trợ cho Berzelius. Ông sở hữu hoặc kiểm soát mỏ tại Bastnäs và trong nhiều năm đã cố gắng để tìm ra thành phần của loại đá nặng bị bỏ đi sau khi lấy quặng ("Tungstein của Bastnäs") với số lượng lớn, mà hiện nay gọi là xerit, mà ông có trong các khu mỏ của mình. Mosander và gia đình ông đã sinh sống nhiều năm trong cùng một ngôi nhà với Berzelius và có lẽ ông đã được Berzelius thuyết phục để tiếp tục nghiên cứu xeria. Khi các loại đất hiếm lần đầu tiên được phát hiện, do chúng là các bazơ mạnh tương tự như các ôxít của canxi hay magiê nên người ta cho rằng chúng có hóa trị +2. Vì thế, "xeric" xeri được coi là có hóa trị +3 và tỷ lệ trạng thái ôxi hóa được coi là bằng 1,5. Berzelius cực kỳ khó chịu khi phải giữ tỷ lệ đó là 1,33. Trên tất cả những điều này thì ông là nhà hóa học phân tích giỏi bậc nhất tại châu Âu thời đó. Nhưng ông đã là nhà phân tích giỏi hơn là ông nghĩ, do 1,33 là tỷ lệ chính xác. == Đặc trưng == Xeri là kim loại màu trắng bạc, thuộc về nhóm Lantan. Nó tương tự như sắt ở màu sắc và ánh, nhưng mềm, dẻo và dễ uốn. Xeri có khoảng nhiệt độ ở thể lỏng dài nhất trong số các nguyên tố có đồng vị không có tính phóng xạ: 2.648 °C (từ 795 °C tới 3.443 °C) hay 4.766 °F (từ 1.463 °F tới 6.229 °F). (Thori có khoảng nhiệt độ ở thể lỏng dài hơn (2.946 °C hay 5.302 °F), nhưng là nguyên tố chỉ có các đồng vị phóng xạ.) Mặc dù xeri thuộc về nhóm các nguyên tố gọi chung là kim loại đất hiếm, nhưng trên thực tế nó còn phổ biến hơn chì. Xeri có sẵn ở lượng tương đối lớn (68 ppm trong lớp vỏ Trái Đất). Nó được sử dụng trong một số hợp kim của kim loại đất hiếm. Trong số các nguyên tố đất hiếm chỉ có europi là hoạt động hóa học mạnh hơn. Nó nhanh chóng bị xỉn màu trong không khí. Các dung dịch kiềm cũng như axít đặc và loãng nhanh chóng ăn mòn kim loại này. Xeri bị ôxi hóa chậm trong nước lạnh nhưng nhanh trong nước nóng. Kim loại nguyên chất có thể bốc cháy khi cào xước. Các muối của xeri (IV) (xeric) có màu đỏ cam hay ánh vàng, trong khi các muối xeri (III) (xerơ) thông thường màu trắng hay không màu. Cả hai trạng thái ôxi hóa đều hấp thụ mạnh ánh sáng cực tím. Xeri (III) có thể sử dụng để làm thủy tinh không màu và hấp thụ tia cực tím gần như hoàn toàn. Xeri có thể dễ dàng phát hiện trong các hỗn hợp đất hiếm bằng thử nghiệm định tính rất nhạy: bổ sung ammoniac và perôxít hiđrô vào dung dịch các hỗn hợp nhóm lantan sẽ sinh ra màu nâu sẫm đặc trưng nếu có mặt xeri. == Phổ biến == Xeri là nguyên tố phổ biến nhất trong số các nguyên tố đất hiếm, chiếm khoảng 0,0046% trọng lượng lớp vỏ Trái Đất. Nó được tìm thấy trong một số khoáng vật như allanit (còn gọi là orthit)—(Ca, Ce, La, Y)2(Al, Fe)3(SiO4)3(OH), monazit (Ce, La, Th, Nd, Y)PO4, bastnasit (Ce, La, Y)CO3F, hydroxylbastnasit (Ce, La, Nd)CO3(OH, F), rhabdophan (Ce, La, Nd)PO4-H2O, zircon (ZrSiO4), và synchysit Ca(Ce, La, Nd, Y)(CO3)2F. Monazit và bastnasit hiện nay là hai nguồn cung cấp xeri quan trọng nhất. Xeri thông thường được điều chế thông qua công nghệ trao đổi ion sử dụng cát monazit như là nguồn xeri của nó. Các trầm tích lớn chứa monazit, allanit, bastnasit sẽ cung cấp xeri, thori và nhiều kim loại đất hiếm khác trong nhiều năm tới. Xem thêm Thể loại:Khoáng vật nhóm Lantan == Hợp chất == Xeri có hai trạng thái ôxi hóa phổ biến là +3 và +4. Hợp chất phổ biến nhất của nó là ôxít xeri (IV) (CeO2), được dùng như là "phấn sáp của thợ kim hoàn" cũng như trong thành tường của một số lò tự làm sạch. Hai tác nhân ôxi hóa được sử dụng phổ biến trong chuẩn độ là sulfat xeri (IV) amoni ((NH4)2Ce(SO4)3) và nitrat xeri (IV) amoni (hay CAN, (NH4)2Ce(NO3)6). Xeri cũng tạo ra các clorua như CeCl3 tức clorua xeri (III), được sử dụng để tạo thuận lợi cho các phản ứng ở các nhóm cacbonyl trong hóa hữu cơ. Các hợp chất khác còn bao gồm cacbonat xeri (III) (Ce2(CO3)3), florua xeri (III) (CeF3), ôxít xeri (III) (Ce2O3), cũng như sulfat xeri (IV) (sulfat xeric, Ce(SO4)2) và triflat xeri (III) (Ce(OSO2CF3)3). Hai trạng thái ôxi hóa của xeri khác nhau khá nhiều về độ bazơ: xeri (III) là một bazơ mạnh khi so sánh với các trạng thái hóa trị ba của các nguyên tố khác cũng thuộc nhóm Lantan, nhưng xeri (IV) lại là bazơ yếu. Khác biệt này là cơ sở cho phép dễ dàng tách và tinh chế xeri nhất trong số các nguyên tố nhóm Lantan, một nhóm các nguyên tố nổi tiếng vì sự khó khăn trong việc tách rời chúng khỏi nhau. Một loạt các biện pháp đã được đề ra theo thời gian để khai thác sự khác biệt này. Trong số các biện pháp tốt nhất có: Trộn các hiđrôxít hỗn hợp với axít nitric loãng: các nguyên tố nhóm Lantan hóa trị 3 sẽ hòa tan trong môi trường không có xeri còn xeri hóa trị 4 còn lại trong cặn không hòa tan để sau đó dùng các biện pháp khác tinh chế. Một biến thái khác là dùng axít clohiđric và các ôxít thu được từ bastnasit đã nung khô, nhưng sự chia tách theo kiểu này ít hoàn hảo hơn. Kết tủa xeri từ dung dịch nitrat hay clorua bằng cách dùng permanganat kali và cacbonat natri theo tỷ lệ mol là 1:4. Đun sôi dung dịch nitrat của các kim loại đất hiếm với bromat kali và mạt đá hoa (cẩm thạch). Sử dụng các phương pháp cổ điển trong chia tách đất hiếm có một số ưu thế đáng kể trong chiến lược loại bỏ xeri từ hỗn hợp ngay từ lúc bắt đầu. Xeri thông thường chiếm 45% trong các loại đất hiếm xerit hay monazit và việc loại bỏ nó ra sớm sẽ làm giảm đáng kể những gì cần xử lý tiếp (hay giá thành của các tác nhân gắn liền với các công đoạn đó). Tuy nhiên, không phải mọi phương pháp tinh chế xeri đều dựa trên độ bazơ. Sự kết tinh nitrat amoni xeric [hexanitratoxerat (IV) amoni] từ axít nitric là một phương pháp tinh chế. Nitrat xeri (IV) (axít hexanitratoxeric) có thể dễ dàng tách ra hơn trong một số dung môi nhất định (ví dụ tri-n-butyl phốtphat) so với các nguyên tố nhóm Lantan hóa trị +3. Tuy nhiên, thực tế hiện tại ở Trung Quốc dường như người ta tinh chế xeri bằng phương pháp chiết dung môi ngược dòng, ở dạng hóa trị +3 của nó, tương tự như các nguyên tố khác trong nhóm Lantan. Xeri (IV) là chất ôxi hóa mạnh trong các điều kiện axít nhưng ổn định trong các điều kiện kiềm. Nhưng điều kiện kiềm lại là điều kiện mà xeri (III) trở thành chất khử mạnh, dễ dàng bị ôxi hóa bởi ôxy có trong không khí. Điều kiện kiềm làm dễ dàng cho sự ôxi hóa này dẫn tới sự chia tách địa hóa học đôi khi xảy ra đối với xeri trong hỗn hợp với các nguyên tố hóa trị +3 của nhóm Lantan trong một số điều kiện phong hóa nhất định, dẫn tới "bất thường xeri âm tính" hay tới sự hình thành của khoáng vật xerianit. Ôxi hóa bằng không khí cho xeri (III) trong môi trường kiềm là cách thức kinh tế nhất để nhận được xeri (IV) để sau đó có thể xử lý tiếp bằng dung dịch axít. Xem thêm Hợp chất xeri == Đồng vị == Xeri nguồn gốc tự nhiên là hỗn hợp của 4 đồng vị ổn định; bao gồm Ce136, Ce138, Ce140, Ce142 với Ce140 là phổ biến nhất (88,48%). Ce136 và Ce142 được dự đoán là có hoạt động phân rã beta kép nhưng người ta vẫn chưa ghi nhận được dấu hiệu nào của hoạt động này (đối với Ce142 thì giới hạn dưới về chu kỳ bán rã là 5×1016 năm hay 50 triệu tỷ năm). Hai mươi sáu đồng vị phóng xạ khác đã được nêu đặc trưng với các đồng vị tồn tại lâu nhất là Ce144 (chu kỳ bán rã 284,893 ngày), Ce139 (137,64 ngày), Ce141 (32,501 ngày). Tất cả các đồng vị còn lại có chu kỳ bán rã dưới 4 ngày và phần lớn là dưới 10 phút. Nguyên tố này cũng có 2 trạng thái đồng phân hạt nhân. Các đồng vị đã biết của xeri có nguyên tử lượng nằm trong khoảng từ 123 (Ce123) tới 152 (Ce152). Ce144 là sản phẩm sinh ra với hiệu suất cao từ phân hạch hạt nhân; FPPP tại ORNL đã tách ra được một lượng đáng kể Ce144 từ chất thải lò phản ứng hạt nhân và nó được sử dụng trong các chương trình ANP, SNAP của Hoa Kỳ. == Ứng dụng == Ứng dụng của xeri bao gồm: Trong luyện kim: Xeri được dùng để sản xuất các hợp kim nhôm. Bổ sung xeri vào gang sẽ ngăn ngừa quá trình graphit hóa và sinh ra gang mềm. Trong thép, xeri khử khí và hỗ trợ làm giảm các sulfua và ôxít. Xeri cũng được dùng trong thép không gỉ như là tác nhân làm cứng phân tán. 3 tới 4% xeri thêm vào hợp kim magiê, cùng 0,2 tới 0,6% zirconi, hỗ trợ việc làm mịn các hạt tinh thể và tạo ra sản phẩm đúc hoàn hảo với các hình dáng phức tạp. Nó cũng bổ sung khả năng chịu nhiệt cho các sản phẩm đúc chứa magiê. Xeri được dùng trong các hợp kim để chế tạo nam châm vĩnh cửu. Xeri được dùng làm thành phần tạo hợp kim trong các điện cực vonfram cho hàn hồ quang vonfram khí. Xeri là thành phần chính của ferrocerium, còn gọi là "đá lửa". Mặc dù các hợp kim hiện nay của kiểu này nói chung sử dụng Mischmetal chứ không phải xeri tinh khiết, nhưng nó vẫn là thành phần hợp thành phổ biến nhất. Xeri được sử dụng trong chiếu sáng hồ quang cacbon, đặc biệt trong công nghiệp điện ảnh. Oxalat xeri là thuốc chống gây nôn. Ôxít xeri (IV) Ôxít được dùng trong các măng sông nóng sáng, chẳng hạn trong măng sông Welsbach, trong đó nó kết hợp với các ôxít của thori, lantan, magiê hay yttri. Làm chất xúc tác cho hydrocacbon trong các lò tự làm sạch trong tường thành lò. Ôxít xeri (IV) đã thay thế phần lớn cho phấn kim hoàn trong công nghiệp thủy tinh/kính như là chất đánh bóng. Ôxít xeri (IV) dùng làm chất xúc tác trong cracking dầu mỏ. Các phụ gia xeri (IV) vào nhiên liệu diesel làm cho chúng cháy hoàn toàn hơn, giảm gây ô nhiễm môi trường. Trong thủy tinh, ôxít xeri (IV) cho phép hấp thụ có tính chọn lựa các tia cực tím. Sulfat xeri (IV) được sử dụng rộng rãi trong phân tích định lượng như là một tác nhân ôxi hóa. Nitrat amoni xeric là một chất ôxi hóa một electron hữu ích trong hóa hữu cơ, được dùng để khắc axít có tính ôxi hóa cho các bộ phận cấu thành trong công nghiệp điện tử cũng như là tiêu chuẩn cơ bản trong phân tích định lượng. Các hợp chất xeri được sử dụng trong thủy tinh như là một thành phần hay như là chất khử màu. Xeri kết hợp với titan tạo ra màu vàng kim đẹp cho thủy tinh. Các hợp chất xeri được dùng để tạo màu cho men gốm sứ. Các hợp chất xeri (III) và xeri (IV) như clorua xeri (III) được sử dụng làm chất xúc tác trong tổng hợp hữu cơ. == Phòng ngừa == Xeri, tương tự như các kim loại đất hiếm khác, có độc tính từ thấp tới vừa phải. Xeri là tác nhân khử mạnh và bắt cháy ngay lập tức trong không khí ở 65-80 °C (150-175 °F). Hơi từ lửa cháy chứa xeri là độc hại. Không được dùng nước để dập cháy xeri, do nó phản ứng mạnh với nước để sinh ra khí hiđrô. Những người bị phơi nhiễm xeri có thể bị ngứa, mẫn cảm với nhiệt, thương tổn da. Động vật bị têm một lượng lớn xeri sẽ chết do trụy tim mạch. Ôxít xeri (IV) là tác nhân ôxi hóa mạnh ở nhiệt độ cao và phản ứng với các vật liệu hữu cơ dễ cháy. Trong khi xeri tự nhiên không có tính phóng xạ nhưng các cấp độ thương mại không tinh khiết có thể chứa thori là chất phóng xạ. == Tham khảo == == Liên kết ngoài == Phòng thí nghiệm quốc gia Los Alamos – Xeri Lattice and spin dynamics of gamma-Ce WebElements.com – Xeri Xeri Tính chất và ứng dụng của Xeri
đồng xu.txt
Đồng xu là một mảnh kim loại có hình tròn, rất cứng, thường có màu trắng hoặc màu vàng,được chuẩn hoá về trọng lượng,kích thước chúng được sản xuất với số lượng lớn để làm phương tiện trao đổi trong thương mại, và chủ yếu có thể được sử dụng và có giá trị thương mại trong khu vực nhất định, như quốc gia, vùng lãnh thổ. == Đọc thêm == Denis R. Cooper: The art and craft of coinmaking. A history of Mining Technology. London: Spink, 1988. ISBN 0-907605-27-3. A Case for the World's First Coin: The Lydian Lion == Chú thích == == Tham khảo == == Liên kết ngoài == ANA American Numismatics Association. American Numismatic Society Atlantic Provinces Numismatic Association providing news, events, latest releases from around the world, forums, and much more. CoinFacts.com - The Internet Encyclopedia of US Coins Free information on United States Coins. Includes pricing, rarity, and historical information. Coin catalog 19,214 coins cataloged with pictures. The Coin Page Informational coin image database. Silver Coins How to identify counterfeit silver coins. NumisWiki Digital Library Numis (DLN) Online numismatic literature.
.us.txt
.us là tên miền quốc gia cấp cao nhất (ccTLD) của Hoa Kỳ, được thành lập năm 1985. Những người đăng ký tên miền.us phải là công dân, tổ chức Hoa Kỳ, hoặc cơ quan nước ngoài có mặt ở Hoa Kỳ. Phần lớn người đăng ký trong nước đã đăng ký .com, .net, .org và những gTLD khác, ngoài.us, tên miền mà theo truyền thống chủ yếu được dùng bởi nhiều chính phủ liên bang và tiểu bang (mặc dù bất kỳ cơ quan nào cũng có quyền lựa chọn đăng ký tên miền.us). Cụ thể hơn, tên miền .gov và .mil đã được dùng riêng cho Mỹ. Những người quản lý ban đầu của.us là Jon Postel của Viện Khoa học Thông tin tại Đại học Nam California. Ông quản lý.us theo hợp đồng con USC/ISI ký với SRI Quốc tế (người giữ hợp đồng.us và Tên miền cấp cao nhất dùng chung với Bộ Quốc phòng Hoa Kỳ) và sau đó là Giải pháp Mạng (người giữ hợp đồng.us và tên miền cấp cao nhất dùng chung với Tổ chức Khoa học Quốc gia). Người đăng ký chỉ có thể đăng ký tên miền cấp 3 hoặc cao hơn theo nhánh địa lý và tổ chức. Đại đa số tên miền con địa lý ở.us được ủy quyền cho nhiều cơ quan tư nhân khác nhau và người đăng ký.us sẽ đăng ký với cơ quan ủy quyền tại cấp mà họ muốn đăng ký, chứ không trực tiếp với cơ quan quản lý.us. Tuy nhiên, từ tháng 4 năm 2002, tên miền cấp 2 đã được mở để đăng ký. Tên miền.us hiện được quản lý bởi NeuStar Inc. dưới hợp đồng với Bộ Thương mại Hoa Kỳ. Từ khi ban hành chính thức tên miền.us là tên cấp 2, nó đã được sử dụng và phát triển bởi một số công ty tư nhân và cư dân địa phương. Mã quốc gia.us không còn dành riêng cho các cơ quan chính phủ. == Tên miền cấp hai quản lý bởi tiểu bang == Những tên sau là lấy từ tên viết tắt bưu chính dành cho tiểu bang: .ak.us: Alaska .al.us: Alabama .ar.us: Arkansas .az.us: Arizona .ca.us: California .co.us: Colorado .ct.us: Connecticut .dc.us: Đặc khu Columbia .de.us: Delaware .fl.us: Florida .ga.us: Georgia .hi.us: Hawaii .ia.us: Iowa .id.us: Idaho .il.us: Illinois .in.us: Indiana .ks.us: Kansas .ky.us: Kentucky .la.us: Louisiana .ma.us: Massachusetts .md.us: Maryland .me.us: Maine .mi.us: Michigan .mn.us: Minnesota .mo.us: Missouri .ms.us: Mississippi .mt.us: Montana .nc.us: Bắc Carolina .nd.us: Bắc Dakota .ne.us: Nebraska .nh.us: New Hampshire .nj.us: New Jersey .nm.us: New Mexico .nv.us: Nevada .ny.us: New York .oh.us: Ohio .ok.us: Oklahoma .or.us: Oregon .pa.us: Pennsylvania .ri.us: Rhode Island .sc.us: Nam Carolina .sd.us: Nam Dakota .tn.us: Tennessee .tx.us: Texas .ut.us: Utah .va.us: Virginia .vt.us: Vermont .wa.us: Washington .wi.us: Wisconsin .wv.us: Tây Virginia .wy.us: Wyoming === Lãnh thổ phụ thuộc === .as.us: American Samoa (cũng có mã quốc gia .as) .gu.us: Guam (cũng có mã quốc gia .gu) .pr.us: Puerto Rico (cũng có mã quốc gia .pr) .vi.us: U.S. Virgin Islands (cũng có mã quốc gia .vi) == Những tên miền cấp 2 khác == .dni.us: học viện quốc gia phân bố .fed.us: cơ quan chính phủ liên bang (thay thế khác cho .gov) .isa.us: interstate agency (only used for the Interstate Mining Compact Commission, www.imcc.isa.us) .kids.us: content suitable for children under 13 .nsn.us: Native sovereign nations (federally recognized Native American tribes) == Xem thêm == Tên miền quốc gia cấp cao nhất == Tham khảo == == Liên kết ngoài == Domain Registry Expiring Lists and Information IANA.us whois information Management of.us Domain Name (U.S. Department of Commerce) usTLD Nexus Requirements - Requirements for registrants of.us domains, Portable Document Format Kids.us Content Policies RFC 1480: The US Domain (tháng 6 năm 1993) locality-based namespaces
quê hương tan rã.txt
"Quê hương tan rã" là tên tiếng Việt của tiểu thuyết nổi tiếng "Things fall apart" của nhà văn Nigeria, Chinua Achebe. Tác phẩm nguyên gốc viết bằng tiếng Anh và đã được dịch ra 50 thứ tiếng. Tại Việt Nam, tác phẩm được Hoài Khanh và Nguyễn Hiến Lê dịch sang tiếng Việt. == Tác giả == Chinua Achebe là người dân tộc Igbo. Ông sinh năm 1930 ở làng Ogidi, trong một gia đình có ba thuộc lớp nhà giáo đầu tiên của Nigeria và mẹ là con của một gia đình thợ rèn, một nghề cao quý ở Nigeria. Sau khi tốt nghiệp đại học Ibadan, ông làm ở đài phát thanh Nigeria và bắt đầu viết tiểu thuyết. == Tác phẩm == Tác phẩm ra đời vào năm 1958 và là tác phẩm đầu tay của Chinua Achebe. == Nội dung tác phẩm == Okonkwo, một người có thế lực của người Igbo ở làng Umuofia, sau khi rời khỏi quê hương vì một tội nặng do vô ý gây nên, đã trở về và thất vọng chua chát khi chứng kiến mọi thứ đã thay đổi: quê hương đã tan rã. Mới đầu chỉ là những nhà truyền giáo đến và được đón nhận. Nhưng sau đó, người Anh thiết lập chính quyền và vơ vét của cải. Quê hương đã tan rã, sự đoàn kết của mọi người trong làng cũng tan rã. Đau đớn nhất là chính con trai của Okonkwo đã rời bỏ cha mình. Bế tắc vì không ai cùng mình đứng lên chống người da trắng, Okonkwo treo cổ lên cây mà chết, một cái chết ai oán và ghê tởm nhất theo phong tục của người Igbo. == Xem thêm == Nigeria
ariel ortega.txt
Arnaldo Ariel Ortega (đọc tiếng Việt: A-ri-en Óc-tê-ga, sinh ngày 4 tháng 3 năm 1974) là một cầu thủ bóng đá người Argentina chơi ở vị trí tiền vệ tấn công. Ortega có biệt hiệu là "Chú lừa nhỏ" (El Burrito). Ortega từng kinh qua các câu lạc bộ như Fenerbahçe, Parma, Sampdoria, Valencia và Newell's Old Boys. Ortega bắt đầu chơi bóng cho đội tuyển quốc gia vào năm 1994 và từng 3 lần góp mặt tại các kỳ World Cup 1994, 1998 và 2002 cùng Argentina nhưng chưa gặt hái được bất cứ thành tích gì. Anh cũng cùng đội tuyển Olempic Argentina đoạt huy chương bạc tại Olempic Atlanta năm 1996 tại Mỹ. Đây là một cựu cầu thủ của đội tuyển Argentina với lối chơi quái kiệt, đầy kỹ thuật và nhiều tiểu xảo. Ariel Ortega rất nổi tiếng với những pha ăn vạ trên sân cỏ mà nổi bật là vụ va chạm với thủ môn Edwin van der Sar của đội tuyển Hà Lan tại World Cup 1998. == Sự nghiệp == Ortega từng đến Tây Ban Nha thi đấu cho Valencia CF trước khi qua Ý đầu quân cho Sampdoria vào 1998 với giá 23 triệu lire (khoảng 8 triệu bảng Anh), sau khi câu lạc bộ này rơi xuống giải Serie B, Ortega đến câu lạc bộ Parma cùng với Hernán Crespo và Juan Verón. Nhưng sau đó vài mùa, anh lại trở về River Plate. Một thời gian sau, anh rời River Plate và qua Thổ Nhĩ Kỳ đầu quân cho Fenerbahce. === Fenerbahce === Ortegar chuyển từ River Plate tới Fenerbahce tháng 6 năm 2002, theo bản hợp đồng 4 năm trị giá 14 triệu USD. Đây là câu lạc bộ châu Âu thứ tư của Ortega sau Valencia, Sampdoria và Parma. Tuy nhiên, Ariel Ortega chỉ chơi 17 trận, ghi được 5 bàn thắng trong màu áo của Fenerbahce. Do có những mâu thuẫn với một số cầu thủ của Fenerbahce và không hoà nhập được với cuộc sống ở Thổ Nhĩ Kỳ, Ortega đã tự ý bỏ về nước, không chịu thi đấu cho câu lạc bộ này từ đầu tháng 2 năm 2004. Mặc dù River Plate dự định đưa anh về theo bản hợp đồng cho mượn 6 tháng. Tuy nhiên, thương vụ bất thành khi Fenerbahce đòi River Plate phải trả khoản tiền 2 triệu đô la mà cầu lạc bộ này mất cho người môi giới khi mua Ortega. FIFA ra quyết định cấm anh thi đấu cho bất cứ câu lạc bộ nào cho đến hết năm 2002. Ortega cũng sẽ phải bồi thường cho Fenerbahce khoản tiền 11 triệu USD do đơn phương phá vỡ hợp đồng có thời hạn tới 2006. === Trở lại Đội tuyển quốc gia === Vào năm 2009, lần đầu tiên trong 6 năm qua, Ariel Ortega đã được triệu tập trở lại đội tuyển Argentina để chuẩn bị cho trận đấu giao hữu với Ghana. Lúc này Argentina lâm vào tình cảnh khó khăn khi liên tục bại trận trong những trận đấu ở vòng loại World Cup 2010. Maradona đã gọi lên tuyển những cầu thủ đang thi đấu tại giải quốc nội trong đó có cả Ariel Ortega. Dù vậy trong chiến dịch này, anh chỉ đóng vai trò dự bị. == Thành tích đội tuyển == == Tai tiếng == Ngoài đời Ariel Ortega là người lắm tài, nhiều tật. Anh ăn chơi trác táng, trở thành gã bợm nhậu, say xỉn tối ngày và phải nhập trại để cai nghiện rượu. Anh đã được chuyển đến một trại phục hồi chức năng, nằm tại ngoại ô Buenos Aires. Lúc đầu, Ortega giữ kín chuyện mình bị nghiện rượu nặng. Nhưng dần dần, chính bộ dạng bơ phờ, thất thiểu, bệ rạc của Ortega đã khiến anh ta phải đưa ra lời thú nhận. Nhiều đồng đội của anh nhiều lần phải ca thán, phàn nàn về cung cách sinh hoạt, tập luyện bê tha. Hàng xóm của Ortega cũng không khỏi ngao ngán khi thường xuyên chứng kiến cảnh anh trở về nhà với bộ dạng rũ rượi, luôn mồm lảm nhảm, sẵn sàng gây gổ. Sự rạn nứt trong hạnh phúc gia đình đã khiến anh tìm tới rượu bia để giải khuây. Khi đang trong thời gian cai rượu, Ariel Ortega cũng đã gặp rắc rối khi gây ra tai nạn giao thông. Chiếc BMW M3 do anh điều khiển va vào chiếc Wolkswagen Golf của Cristina Uranga khiến người phụ nữ này bị thương nhẹ nhưng anh còn lớn tiếng quát mắng và bị cảnh sát triệu tập. Cầu thủ này còn có tiền sử gây tai nạn giao thông mất lái trên một con phố ở Buenos Aires ngày 12 năm 2008 và va chạm với xe của một người đàn ông 50 tuổi ở Palermo ngày 1 tháng 8 năm 2008. == Chú thích ==
hiệp định genève, 1954.txt
Hiệp định Genève 1954 (tiếng Việt: Hiệp định Giơ-ne-vơ năm 1954) là hiệp định đình chiến được ký kết tại thành phố Genève, Thụy Sĩ để khôi phục hòa bình ở Đông Dương. Hiệp định dẫn đến chấm dứt sự hiện diện của quân đội Pháp trên bán đảo Đông Dương, chính thức chấm dứt chế độ thực dân Pháp tại Đông Dương. Nguyên ủy, Hội nghị Genève khai mạc ngày 26 tháng 4 năm 1954 để bàn về vấn đề khôi phục hoà bình tại Triều Tiên và Đông Dương. Do vấn đề Triều Tiên không đạt được kết quả nên từ ngày 8 tháng 5 vấn đề Đông Dương được đưa ra thảo luận. == Bối cảnh == Tháng 7 năm 1953, chỉ huy mới của quân Pháp, tướng Henri Navarre, đến Đông Dương. Được sự hứa hẹn về việc Mỹ tăng viện trợ quân sự, Navarre chuẩn bị cho một cuộc tổng phản công mà báo chí Pháp và Mỹ gọi là "Kế hoạch Navarre". Ngày 18 tháng 7 năm 1953, Navarre mở cuộc hành quân Hirondelle ("Con én") vào Lạng Sơn và cuộc hành binh "Camargue" vào Quảng Trị nhằm phá hủy được một số dụng cụ và máy móc của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Ở Lạng Sơn, quân Pháp lùng sục các kho tàng rồi vội vã rút chạy. Sau đó truyền thông Pháp loan tin quân đội đã diệt được hai tiểu đoàn, một số căn cứ trong khu tam giác là mối đe dọa trên quốc lộ số 1. Liên tiếp với hai cuộc hành quân này, ngày 9 tháng 8 năm 1953 Pháp rút quân ra khỏi Nà Sản bằng không vận. Trước đây, năm 1952, Pháp đặt cứ điểm Na Sản để ngăn Quân đội Nhân dân Việt Nam tiến công quân Pháp ở Lào. Ngày 15 tháng 10 năm 1953, Navarre mở Cuộc hành quân Moutte vào Ninh Bình và Thanh Hóa hòng giành lại thế chủ động trên chiến trường chính. Mục đích chính lại là phá các căn cứ hậu cần tiền duyên của Quân đội Nhân dân Việt Nam trong cuộc tiến công 1953-1954 được cho là sẽ diễn ra ở đồng bằng. Nhưng thực sự trong kế hoạch Quân đội Nhân dân Việt Nam được đề ra hồi tháng 9, đồng bằng Bắc Bộ chỉ là chiến trường phối hợp. Cuộc hành quân Moutte diễn ra là sự suy đoán sai của Navarre cùng sự xuất sắc của bộ đội mật mã Việt Nam. Tháng 11 năm 1953, Navarre mở cuộc hành quân Castor đánh chiếm Điện Biên Phủ - Khu vực mà ông cho rằng có vị trí chiến lược chặn giữa tuyến đường chính của Quân đội Nhân dân Việt Nam sang Lào. Navarre xem căn cứ này vừa là một vị trí khóa chặn, vừa là một cái bẫy để nhử đối phương vào một trận đánh lớn theo kiểu kinh điển và có tính chất quyết định mà tại đó Quân đội Nhân dân Việt Nam sẽ bị tiêu diệt bởi pháo binh và hỏa lực không quân vượt trội của Pháp. Navarre đã chọn Điện Biên Phủ - vùng đất nằm trong một thung lũng lớn, cách Hà Nội 200 dặm đường không, với sự chi viện của khoảng 400 máy bay. Quân Pháp sau những trận đánh nống thất bại đã nhường các điểm cao xung quanh cho Quân đội Nhân dân Việt Nam, Navarre cho rằng khi đó Quân đội Nhân dân Việt Nam không đủ khả năng đưa pháo lên Điện Biên Phủ nên sẽ không có nguy hiểm gì từ các điểm cao. Điện Biên Phủ được Navarre xem như là một "cái nhọt tụ độc", hút hết phần lớn chủ lực của Quân đội Nhân dân Việt Nam và đảm bảo an toàn cho đồng bằng Bắc Bộ. Khi đó, Đại tướng Võ Nguyên Giáp đang nghĩ tới một cuộc tấn công, hy vọng sẽ mở được một con đường xuyên Lào thọc qua Campuchia. Sau đó đưa lực lượng Quân đội Nhân dân Việt Nam tại miền Bắc vào chi viện bổ sung cho lực lượng sẵn có ở Nam Bộ. Trong cuộc họp tháng 11 năm 1953 của Bộ Quốc phòng Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, các chỉ huy quân sự quyết định mở Chiến cục đông-xuân 1953-1954 để xé lẻ khối quân chủ lực của Pháp đang co cụm đồng bằng Bắc Bộ. Các vị trí tiến công được xác định ở Lai Châu, Trung-Hạ Lào và Tây Nguyên. Ý tưởng tuyến đường chiến lược xuyên Lào sẽ được thực hiện một phần trong tương lai thông qua con đường mòn Hồ Chí Minh. Chiến dịch Lai Châu và Chiến dịch Trung Lào tháng 12 năm 1953 đến tháng 1 năm 1954 đã giúp Quân đội Nhân dân Việt Nam nắm giữ mảng lớn còn lại của vùng Tây Bắc (Điện Biên Phủ chỉ là một thung lũng nhỏ) và phần lớn vùng Trung và Nam Lào. Để đối phó, Navarre tăng cường cho Điện Biên Phủ khiến nó trở thành một "pháo đài bất khả xâm phạm" trong con mắt phương Tây. Nhưng Navarre không hề biết rằng bản thân đã rơi vào một cái "bẫy" của Võ Nguyên Giáp khi "đặt bẫy" đối thủ của mình. Việc xây dựng một tập đoàn cứ điểm ở vùng núi Tây Bắc hiểm trở hút đi của Pháp những đơn vị thiện chiến nhất. Điều đó tạo nên khoảng trống không thể bù vào ở đồng bằng Bắc Bộ. Đại tướng Võ Nguyên Giáp quyết định vào "bẫy", và đưa vào Điện Biên Phủ 4 sư đoàn với một số lượng lớn pháo xấp xỉ quân Pháp ở Điện Biên Phủ, dù cơ số đạn hạn chế (chủ yếu là thu được của Pháp; phần Trung Quốc viện trợ rất hạn chế do nước này tham chiến tại Triều Tiên). Những cuộc tiến công trên toàn Đông Dương không cho Pháp tập hợp một đội quân cơ động ứng cứu. Những đơn vị phòng không đầu tiên của Quân đội Nhân dân Việt Nam được huấn luyện ở Liên Xô về nước tham chiến. Một lực lượng khổng lồ dân công làm công tác vận tải. Các đơn vị mạnh nhất của Quân đội Nhân dân Việt Nam bao vây quân Pháp ở Điện Biên Phủ. Cuộc vây hãm Điện Biên Phủ diễn ra từ ngày 13 tháng 3 đến ngày 7 tháng 5 khi quân Pháp đầu hàng. Ở Washington đã có cuộc tranh luận về việc Mỹ có nên trực tiếp can thiệp bằng quân sự, nhưng tổng thống Eisenhower đã quyết định loại bỏ khả năng này do chính quyền Anh sẽ không ủng hộ. Cục diện chiến trường Đông Dương, tại thời điểm trong và sau Chiến dịch Điện Biên Phủ, Việt Nam Dân chủ Cộng hòa kiểm soát khoảng 2/3 lãnh thổ Việt Nam, nhưng chủ yếu là các vùng nông thôn và rừng núi, một số thị xã nhỏ, chưa kiểm soát được các thành phố lớn, Pháp kiểm soát một số tỉnh đồng bằng và các thành phố lớn đông dân cư, một số tỉnh đồng bằng nằm trong vùng tranh chấp. Việt Minh kiểm soát gần như toàn bộ miền Bắc Việt Nam nhưng tại miền Nam Việt Nam, Quân đội Quốc gia Việt Nam và quân đội Pháp chiếm ưu thế, quân đội riêng của các giáo phái tự trị cũng khá mạnh nên Việt Minh chỉ kiểm soát được một số vùng tại Nam Trung Bộ, Đông Nam Bộ và Tây Nam Bộ. Sau 56 ngày đêm, cứ điểm Điện Biên Phủ thất thủ, toàn bộ 16000 quân Pháp bị tiêu diệt hoặc bị bắt làm tù binh. Điện Biên Phủ là chiến thắng quân sự lớn nhất của Quân đội Nhân dân Việt Nam trong toàn bộ chiến tranh Đông Dương. Trên phương diện quốc tế trận này có một ý nghĩa rất lớn: lần đầu tiên quân đội của một quốc gia thuộc địa châu Á đánh thắng bằng quân sự một quân đội của một cường quốc châu Âu. Trận Điện Biên Phủ đã đánh bại ý chí duy trì Đông Dương là lãnh thổ thuộc Liên hiệp Pháp của Pháp và buộc nước này ra khỏi Đông Dương. Ngày 8 tháng 5, hội nghị Geneva bắt đầu họp bàn về vấn đề khôi phục hòa bình ở Đông Dương. == Triệu tập hội nghị == Ngày 25/1/1954, bốn nước Anh, Pháp, Mỹ, Liên Xô gặp nhau tại khu vực do Mỹ kiểm soát ở Berlin nhằm giải quyết việc thống nhất nước Đức. Tại Hội nghị này ngoại trưởng Pháp Georges Bidault gặp riêng ngoại trưởng Liên Xô Molotov, ngoại trưởng Anh Eden và ngoại trưởng Mỹ Dulles để thuyết phục các nước này đưa vấn đề Đông Dương ra thảo luận tại một hội nghị sẽ được tổ chức trong tương lai. Trước đó, Molotov đã đề nghị với Bidault rằng Liên Xô sẽ giúp Pháp thu xếp đình chiến tại Đông Dương với điều kiện Pháp rút khỏi Cộng đồng Phòng thủ châu Âu nhưng Pháp từ chối. Hội nghị ở Berlin kết thúc ngày 18/2/1954 mà không mang lại kết quả nào về việc thống nhất nước Đức tuy nhiên các bên tham dự đồng ý lời đề nghị của Ngoại trưởng Liên Xô Molotov mở cuộc đàm phán bao gồm 5 nước lớn tại Genève vào ngày 26/4/1954 để bàn về việc hòa giải và tái lập hòa bình tại Triều Tiên và Đông Dương. Bộ trưởng Quốc phòng Pháp René Pleven cho rằng tình hình chính trị và quân sự tại Việt Nam hoàn toàn không có lợi cho Pháp. Việt Minh không được dân chúng ưa chuộng nhưng khiến người ta sợ và tôn trọng. Lãnh thổ do Việt Minh kiểm soát ngày càng tăng. Pleven cho rằng phải cố gắng hết sức ở Hội nghị Genève để tìm một giải pháp có thể chấp nhận được nhưng ông cũng khuyên phải tránh tiếp xúc trực tiếp với Hồ Chí Minh để Quốc gia Việt Nam không coi đó là việc Pháp phản bội đồng minh. Ngày 10/3/1954, Việt Nam Dân chủ Cộng hòa chấp thuận tham dự Hội nghị Genève theo đề nghị của Pháp. == Thành phần tham dự == Phái đoàn Anh, do Anthony Eden làm trưởng đoàn. Phái đoàn Hoa Kỳ, do Bedell Smith làm trưởng đoàn. Phái đoàn Liên bang Xô viết, do Viacheslav Molotov làm trưởng đoàn. Phái đoàn Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa, do Chu Ân Lai làm trưởng đoàn. Phái đoàn Pháp, do Georges Bidault làm trưởng đoàn. Phái đoàn Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, do Phạm Văn Đồng làm trưởng đoàn. Phái đoàn Quốc gia Việt Nam, do Nguyễn Quốc Định làm trưởng đoàn sau thay thế bởi Nguyễn Trung Vinh rồi Trần Văn Đỗ. Phái đoàn Vương quốc Lào, do Phumi Sananikone làm trưởng đoàn. Phái đoàn Vương quốc Campuchia, do Tep Than, làm trưởng đoàn. Hai phái đoàn Pathet Lào và Khmer Issarak không được chính thức tham gia hội nghị mà chỉ có quan hệ với phái đoàn Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Tất cả các nguyện vọng của hai đoàn này được Việt Nam Dân chủ Cộng hòa trình bày trước hội nghị. Hai đồng chủ tịch Hội nghị là Liên Xô và Anh. == Lập trường và quan điểm của các bên tham dự == === Lập trường của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa === Phía Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Phó Thủ tướng Phạm Văn Đồng đề ra lập trường 8 điểm: Pháp công nhận độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam, Lào và Campuchia. Ký một hiệp định về việc rút quân đội nước ngoài ra khỏi 3 nước trong thời hạn do các bên tham chiến ấn định. Trước khi rút quân, đạt thỏa thuận về nơi đóng quân của lực lượng Pháp hay Việt Nam trong một số khu vực hạn chế. Tổ chức tổng tuyển cử tự do trong 3 nước nhằm thành lập chính phủ duy nhất cho mỗi nước. Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tuyên bố ý định xem xét việc tự nguyện gia nhập Liên hiệp Pháp và những điều kiện của việc gia nhập đó. 3 nước thừa nhận các quyền lợi kinh tế, văn hóa của Pháp tại mỗi nước. Sau khi chính phủ duy nhất được thành lập, các quan hệ kinh tế và văn hóa được giải quyết theo đúng các nguyên tắc bình đẳng và củng cố. Hai bên cam kết không truy tố những người hợp tác với đối phương trong thời gian chiến tranh. Trao đổi tù binh và dân thường bị bắt trong chiến tranh Các biện pháp nói trên sẽ được thực hiện sau khi đình chỉ chiến sự . === Lập trường của Pháp === Ban đầu phái đoàn Pháp tham dự Hội nghị giữ lập trường khá cứng rắn: đàm phán với Việt Nam Dân chủ Cộng hòa để xoa dịu dư luận và để chính phủ của Thủ tướng Laniel tránh bị mất tín nhiệm, đồng thời tranh thủ thời gian cứu nguy cho quân đội Pháp ở Đông Dương. Sau một thời gian giữ lập trường cứng rắn thì Pháp gánh chịu thất bại lớn ở trận Điện Biên Phủ, nội các của thủ tướng Laniel bị nhân dân Pháp lên án, buộc phải từ chức ngày 12 tháng 6. Phe chủ chiến ở Pháp bị đánh đổ, Mendès France thuộc phái chủ hòa lập chính phủ mới. Ngày 18 tháng 6, khi nhậm chức, Mendès France tuyên bố sẽ từ chức nếu trong vòng một tháng không đạt được ngừng bắn ở Đông Dương. Pháp muốn rút khỏi chiến tranh Đông Dương trong danh dự đồng thời duy trì những lợi ích kinh tế và ảnh hưởng văn hoá tại Lào, Campuchia và miền Nam Việt Nam. === Lập trường của Quốc gia Việt Nam === Ngày 4/6/1954, trước khi Hiệp định Geneve được ký kết 6 tuần, thủ tướng Pháp đã ký Hiệp ước Matignon (1954) với Thủ tướng Quốc gia Việt Nam công nhận Quốc gia Việt Nam hoàn toàn độc lập khỏi Chính phủ Pháp và là thành viên của khối Liên hiệp Pháp. Theo đó chính phủ Quốc gia Việt Nam sẽ tự chịu trách nhiệm với những hiệp định quốc tế được ký bởi Chính phủ Pháp trước đó nhưng có liên quan tới họ, cũng như không còn bị ràng buộc bởi bất cứ hiệp ước nào do Chính phủ Pháp ký sau này. Tuy nhiên, có quan điểm cho rằng Quốc gia Việt Nam vẫn bị ràng buộc bởi Hiệp định Genève, bởi vì chính phủ này chỉ sở hữu một vài thuộc tính của một chủ quyền đầy đủ, và đặc biệt là* nó phụ thuộc vào Pháp về quốc phòng. Theo Bernard B. Fall Quốc gia Việt Nam không đủ thực quyền để ký kết Hiệp định do lực lượng quân sự của chính quyền này quá nhỏ. Mặt khác, Hiệp ước Matignon chỉ được ký dưới dạng ghi nhớ giữa 2 Thủ tướng chứ không phải nguyên thủ cao nhất của 2 bên (Tổng thống Pháp René Coty và Quốc trưởng Bảo Đại). Nhiều người đổ lỗi cho Quốc gia Việt Nam vì họ không có chữ ký trong Hiệp định, nhưng chính Pháp cũng từ chối ký vào Hiệp ước đã được thương thảo xong. Bảo Đại đã đến Pháp từ tháng 4 và dự định rằng vấn đề chữ ký chính thức sẽ được giải quyết trong 2-3 tuần, nhưng dự định này đã tắt ngấm khi Hiệp định Geneve diễn tiến quá nhanh. Sau khi Hiệp định Geneva được ký, Hiệp ước Matignon đã trở nên không bao giờ được hoàn thành. Ông Trần Văn Đỗ, trưởng đoàn đại diện của Quốc gia Việt Nam tuyên bố sẽ không ký vào Hiệp định Genève với lý do hiệp định gây chia cắt Việt Nam và đẩy Quốc gia Việt Nam vào thế nguy hiểm. Đại diện phái đoàn Quốc gia Việt Nam ra một tuyên bố riêng: "Việc ký hiệp định giữa Pháp và Việt Minh có những điều khoản gây nguy hại nặng nề cho tương lai chính trị của Quốc gia Việt Nam. Hiệp định đã nhường cho Việt Minh những vùng mà quân đội quốc gia còn đóng quân và tước mất của (Quốc gia) Việt Nam quyền tổ chức phòng thủ. Bộ Tư lệnh Pháp đã tự ấn định ngày tổ chức tuyển cử mà không có sự thỏa thuận với phái đoàn quốc gia Việt Nam... chính phủ Quốc gia Việt Nam yêu cầu Hội nghị ghi nhận một cách chính thức rằng Việt Nam long trọng phản đối cách ký kết Hiệp định cùng những điều khoản không tôn trọng nguyện vọng sâu xa của dân Việt. Chính phủ Quốc gia Việt Nam yêu cầu Hội nghị ghi nhận rằng Chính phủ tự dành cho mình quyền hoàn toàn tự do hành động để bảo vệ quyền thiêng liêng của dân tộc Việt Nam trong công cuộc thực hiện Thống nhất, Độc lập, và Tự do cho xứ sở." Tuy vậy, lời phản kháng và đề nghị của đại diện Quốc gia Việt Nam đã không được Hội nghị bàn tới. Ngoại trưởng Trần văn Đỗ từ Genève tuyên bố với các báo chí như sau: "Từ khi đến Genève, phái đoàn không bao giờ được Pháp hỏi về ý kiến về điều kiện đình chiến, đường phân ranh và thời hạn Tổng tuyển cử. Tất cả nhưng vấn đề đó đều được thảo luận ngoài Hội nghị, thành ra phái đoàn Việt Nam không làm thế nào bầy tỏ được quan niệm của mình" Tuy lên tiếng phản đối, nhưng sau khi hiệp định được ký kết, Chính phủ và quân đội Quốc gia Việt Nam vẫn cùng quân Pháp tập kết về phía nam vĩ tuyến 17, bởi họ vẫn là thành viên của Liên hiệp Pháp. Ngày 28/4/1954, Uỷ ban Bảo vệ Bắc Việt Nam của Quốc gia Việt Nam tìm cách kêu gọi dân chúng di cư vào Nam. Một kế hoạch di cư được đặt ra và một Uỷ ban di cư được thành lập. Ngày 30/7/1954, Thủ tướng Ngô Đình Diệm phát biểu cổ vũ dân chúng miền Bắc di cư vào miền Nam. Sau đó, hậu thân của Quốc gia Việt Nam là Việt Nam Cộng hòa, với sự hậu thuẫn của Hoa Kỳ đã từ chối tổ chức tuyển cử thống nhất Việt Nam, trái với Tuyên bố chung của Hiệp định. === Lập trường của Vương quốc Campuchia === Chính phủ Hoàng gia Campuchia mong muốn hoàn toàn độc lập đồng thời chấm dứt chiến tranh trên lãnh thổ Campuchia. Lực lượng Khmer Issarak phải giải giáp, đổi lại Chính phủ Hoàng gia Campuchia chấp nhận một cuộc tổng tuyển cử tự do bầu ra Chính phủ mới, trong đó những thành viên Khmer Issarak có thể tham gia với tư cách là ứng cử viên hoặc cử tri. Những thành viên Khmer Issarak sẽ không bị phân biệt đối xử dưới bất cứ hình thức nào. Campuchia cam kết trung lập, không tham gia vào bất cứ liên minh quân sự nào trái Hiến chương Liên Hợp Quốc trừ khi an ninh của Campuchia bị đe doạ. === Lập trường của Vương quốc Lào === Lập trường của Chính phủ Hoàng gia Lào tương tự Chính phủ Hoàng gia Campuchia. Lào mong muốn hoàn toàn độc lập và chấm dứt chiến tranh trên lãnh thổ Lào. Lực lượng quân sự Pathet Lào phải tập kết về hai tỉnh Phongsaly và Xamneua dưới sự giám sát quốc tế, đổi lại Chính phủ Hoàng gia Lào chấp nhận một cuộc tổng tuyển cử tự do bầu ra Chính phủ mới trong đó những thành viên Pathet Lào có thể tham gia với tư cách là ứng cử viên hoặc cử tri. Những thành viên Pathet Lào sẽ không bị phân biệt đối xử dưới bất cứ hình thức nào. Lào cam kết trung lập, không tham gia liên minh quân sự và hạn chế việc cho phép nước ngoài xây dựng căn cứ quân sự trên lãnh thổ của mình trừ khi an ninh của Lào bị đe doạ. === Lập trường của Anh === Nước Anh không muốn dính líu vào chiến tranh Đông Dương cùng với Mỹ nhưng cũng không muốn gây tổn hại đến quan hệ đồng minh với Mỹ. Anh kiên trì khuyên Mỹ trì hoãn những hành động quân sự tại Đông Dương bao gồm việc thành lập khối SEATO cho đến khi "lực lượng cộng sản đưa ra giải pháp hoà bình" được Mỹ chấp thuận do đó không phải lựa chọn ủng hộ hay không ủng hộ Mỹ. Ngoài ra, Anh chủ trương ủng hộ Pháp thương lượng trên thế mạnh. === Lập trường của Hoa Kỳ === Phái đoàn Hoa Kỳ từ chối ký và không công nhận Hiệp định Genève nhưng ra Tuyên bố nước này "sẽ coi mọi sự tái diễn của các hành động bạo lực vi phạm Hiệp định là điều đáng lo ngại và là mối đe dọa nghiêm trọng đối với hòa bình và an ninh quốc tế". Trong Tuyên bố của mình, đối với sự chia cắt Việt Nam trái nguyện vọng của hai miền Nam - Bắc, chính phủ Mỹ cũng nêu rõ quan điểm "tiếp tục cố gắng đạt được sự thống nhất thông qua những cuộc tuyển cử tự do được giám sát bởi Liên Hiệp Quốc để bảo đảm chúng diễn ra công bằng". Kết thúc Hội nghị Genève, trưởng phái đoàn Chính phủ Mỹ tuyên bố ghi nhận và cam kết tôn trọng quyết định của chín nước thành viên Hội nghị Genève. Nhưng liền sau đó, chính Tổng thống Mỹ lại tuyên bố: "Hoa Kỳ không tham dự vào những quyết định của Hội nghị Genève và không bị ràng buộc vào những quyết định ấy". Cũng như Tổng thống của mình, thượng nghị sĩ (4 năm sau trở thành Tổng thống) John F. Kennedy tuyên bố: "Nó (Quốc gia Việt Nam) là con đẻ của chúng ta. Chúng ta không thể từ bỏ nó" === Lập trường của Liên Xô === Mục tiêu của Liên Xô là ngăn chặn nguy cơ chiến tranh vượt ra khỏi phạm vi Đông Dương khiến phương Tây đoàn kết lại ủng hộ Mỹ và buộc Liên Xô phải cam kết bảo vệ Trung Quốc. Liên Xô cũng muốn ngăn ngừa việc quốc hội Pháp thông qua kế hoạch thành lập Cộng đồng Phòng thủ châu Âu. Đồng thời Liên Xô muốn tạo dựng hình ảnh là người bảo vệ hoà bình thế giới và nâng đỡ vị thế của Trung Quốc trên trường quốc tế. === Lập trường của Trung Quốc === Hội nghị Geneve là cơ hội quan trọng để đưa Trung Quốc thành một thế lực chính tại châu Á mà không nước nào có thể bỏ qua. Trung Quốc không quan tâm đến lợi ích của những người cộng sản và dân tộc chủ nghĩa tại ba nước Đông Dương. Trung Quốc thoả hiệp với các nước phương Tây trong giải pháp phân chia lãnh thổ bất lợi đối với lực lượng bản xứ chống Pháp tại các nước này. Mục tiêu cao nhất của Trung Quốc là mong muốn các bên ký kết một hiệp định về Đông Dương để tránh mọi sự can thiệp của Mỹ. Trưởng đoàn đại biểu Trung Quốc Chu Ân Lai ra tuyên bố: "Ba nước Đông Dương sẽ không tham gia vào bất cứ khối liên minh quân sự nào và không một nước ngoài nào được phép thành lập căn cứ quân sự trên lãnh thổ của họ." Tuyên bố của Trung Quốc kết thúc bằng câu "Chúng ta hãy hết sức tin tưởng và tiếp tục đấu tranh để bảo vệ hoà bình thế giới." Trong cuộc đàm phán giữa các bên, Trung Quốc giờ đây lại giữ vai trò thúc đẩy phía Việt Nam nhân nhượng, đặc biệt từ ngày 10-7-1954, Trung Quốc ngày càng thúc ép Việt Nam chịu thiệt thòi. Họ yêu cầu Việt Nam đưa những điều kiện công bằng và hợp lý để Chính phủ Pháp có thể chấp nhận được để đi đến Hiệp định. Họ cho rằng điều kiện đưa ra nên giản đơn, rõ ràng để dễ đi đến hiệp thương, không nên làm phức tạp để tránh thảo luận mất thì giờ, rườm rà, kéo dài đàm phán khiến Hoa Kỳ có lý do phá hoại. == Diễn biến hội nghị == Vào ngày 26 tháng 4 năm 1954, hội nghị Genève về Đông Dương chính thức được khai mạc. Từ ngày 8 tháng 5 đến ngày 23 tháng 6, các bên trình bày lập trường của mình về cách giải quyết vấn đề Việt Nam và Đông Dương. Do lập trường giữa các đoàn có một khoảng cách khá lớn nên các cuộc đàm phán tiến triển rất chậm chạp. Tuy nhiên, sự nhân nhượng lẫn nhau chỉ xuất hiện trong các cuộc thảo luận riêng. Cuối cùng, Pháp và Trung Quốc đã thỏa thuận một giải pháp chung cho vấn đề Đông Dương: giải quyết vấn đề quân sự trước, tách rời giải pháp chính trị tại ba nước Đông Dương. Từ ngày 24 tháng 6 đến ngày 20 tháng 7, phái đoàn Pháp và Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đàm phán trực tiếp để giải quyết các vấn đề cụ thể, xoay quanh các vấn đề: quyền tham gia hội nghị của các đại biểu chính phủ kháng chiến Lào và chính phủ kháng chiến Campuchia; chọn vĩ tuyến để khẳng định giới tuyến quân sự tạm thời và thời hạn tổ chức tổng tuyển cử tự do để thống nhất Việt Nam. Ngay từ đầu, Pháp đã đưa ra đề nghị tạm chia đôi Việt Nam và lập một chính phủ Liên hiệp. Việt Nam Dân chủ Cộng hòa chấp nhận ý kiến và đưa ra những đề nghị về làn phân ranh. Hai bên mặc cả với nhau, Pháp thì đề nghị ở vĩ tuyến 18, Việt Nam Dân chủ Cộng hòa thì muốn ở vĩ tuyến 13. Ngày 9-7-1954, phái đoàn Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đưa ra đề nghị hạ xuống vĩ tuyến 14, Pháp vẫn giữ vững vĩ tuyến 18. Ngày 13-7, phái đoàn Việt Nam Dân chủ Cộng hòa lại hạ yêu cầu xuống vĩ tuyến 16 và đến ngày 19-7 thì hai bên thoả thuận ranh giới tạm thời sẽ ở độ vĩ tuyến 17, phù hợp với ý kiến của Anh và Mỹ. Người Pháp sợ cuộc thảo luận với Việt Minh bị phá vỡ nên họ tránh gặp đại diện của Quốc gia Việt Nam và chỉ thông qua Mỹ báo cho Quốc gia Việt Nam biết thỏa thuận giữa Pháp và Việt Minh. Việc chia đôi Việt Nam đã được thảo luận riêng giữa Pháp, Việt Minh, Trung Quốc và Mỹ nhưng chỉ đến cuối Hội nghị Genève phái đoàn Quốc gia Việt Nam mới biết về vấn đề này. Chính vì thế họ từ chối ký Hiệp định Genève và có những tuyên bố cứng rắn đối với việc phân chia Việt Nam. Cho đến khi kết thúc Hội nghị Genève, cả Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Quốc gia Việt Nam đều không chịu đối thoại với nhau. Ngày 20 tháng 7 năm 1954, Hiệp định Genève về Đông Dương bắt đầu được ký kết với nhiều văn kiện, chủ yếu là: Ba hiệp định đình chỉ chiến sự tại Việt Nam, Lào và Campuchia Bản tuyên bố cuối cùng của hội nghị (không có chữ ký) Ngoài ra còn những tuyên bố riêng và những văn kiện ngoại giao riêng giữa các nước tham gia như: Bản tuyên bố riêng ngày 21 tháng 7 của Mỹ tại Hội nghị Genève Bản tuyên bố của chính phủ Pháp ngày 21 tháng 7, trong đó nêu rõ Pháp sẵn sàng rút quân ra khỏi lãnh thổ Việt Nam, Lào, Campuchia theo lời yêu cầu của chính phủ những nước có liên quan trong một thời gian do các bên thoả thuận. Các công hàm trao đổi giữa Trưởng đoàn Việt Nam Dân chủ Cộng hòa Phạm Văn Đồng và Thủ tướng Pháp Pierre Mendès-France. Hiệp định đình chỉ chiến sự tại Việt Nam và Lào được ký bởi đại diện của hai lực lượng quân sự chính có liên quan, đó là Thiếu tướng Delteil, thay mặt cho Tổng Tư lệnh Quân đội Liên hiệp Pháp ở Đông Dương, và Tạ Quang Bửu, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, thay mặt cho Tổng Tư lệnh Quân đội Nhân dân Việt Nam. Phái đoàn Hoa Kỳ từ chối công nhận Hiệp định Genève nhưng tuyên bố rằng nước này "sẽ coi mọi sự tái diễn của các hành động bạo lực vi phạm hiệp định là điều đáng lo ngại và là mối đe dọa nghiêm trọng đối với hòa bình và an ninh quốc tế". Chính phủ Quốc gia Việt Nam từ chối ký và theo Bernard B. Fall không đủ thực quyền để ký kết Hiệp định. == Các hoạt động có liên quan == Trong khi Hội nghị Genève đang tiến hành, thì tại miền Bắc Việt Nam, Hội nghị Trung Giá đã khai sinh từ 1 cuộc họp sơ bộ ngày 29 tháng 5/1954. Hơn 1 tháng sau, hội nghị chính đã khai diễn ngày 4 tháng 7/1954 và bế mạc ngày 27/7/1954. Tham gia Hội nghị gồm: Phái đoàn Quốc gia Việt Nam gồm có Trung tá Trang Văn Chính (trưởng phái đoàn), sau đó Trung tá Lâm Ngọc Huấn thay thế, Thiếu tá Nguyễn Phước Đàng, Đại úy Nguyễn Bửu, sau thay thế bởi Đại úy Trần Ngọc Huyến. Phái đoàn Quân đội Nhân dân Việt Nam do Văn Tiến Dũng (Thiếu tướng) làm trưởng đoàn, Lê Linh, Lê Quang Đạo (Đại tá), Song Hào, Nguyễn Văn Lung (Trung tá), thông dịch viên tên Lê (thiếu tá). Phái đoàn Pháp do Đại tá Lennuyeux làm trưởng đoàn, Trung tá Le Roy, Thiếu tá Le Flahec, Sanani, Sacquin và Đại uý Lohmann thông dịch viên. Hội viên chính thức của Hội nghị là 2 đoàn Pháp và Quân đội Nhân dân Việt Nam (đại diện cho bên Việt Nam Dân chủ Cộng hòa). Đại diện của Quân đội Quốc gia Việt Nam chỉ là bộ phận thứ yếu bên cạnh phái đoàn Pháp và theo giao kết thì chỉ có các trưởng phái đoàn Pháp và Quân đội Nhân dân Việt Nam phát biểu ý kiến. Mọi vấn đề đem ra thảo luận để quyết định với Việt Minh hoàn toàn do Pháp đưa ra, phái đoàn Quốc gia Việt Nam chỉ được thông báo sau đó. Trong các buổi họp thu hẹp, chỉ có các trưởng phái đoàn Pháp và Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tham dự, đại biểu của Quốc gia Việt Nam không được mời dù với tính cách quan sát viên. Tại hội nghị chỉ treo 2 lá cờ Pháp và cờ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Trong khi Pháp có thái độ vội vã trong buổi họp, thì Việt Nam Dân chủ Cộng hòa lại tỏ ra ung dung thong thả để tạo thêm lợi thế khi thảo luận. Hội nghị Trung Giá đã thỏa thuận và quyết định "đại diện các Bộ Tư lệnh tối cao hai bên phải gặp nhau tại Genève và các cuộc tiếp xúc cũng phải được thực hiện tại chỗ. Quyết định này cũng định rõ vai trò của các đại diện Bộ Tư lệnh tối cao phải nghiên cứu tình trạng quân sự để thiết lập ngay sau khi đình chiến các dữ kiện đình chỉ mọi hoạt động chiến đấu. Hội nghị tại chỗ phải thông báo càng sớm càng tốt cho Hội nghị tại Genève các kết quả rút tiả được cùng những đề nghị của họ." Hội nghị quân sự tại chỗ là hội nghị quân sự địa phương (tức là Hội nghị Trung Giá) có nhiệm vụ phối hợp chặt chẽ với các phái đoàn tại Hội nghị Genève. Trong hơn 3 tuần, từ 4/7 đến 27/7/1954, Hội nghị Trung Giá đã thảo luận các vấn đề tù binh, ngưng bắn, và thiết lập các tiểu ban hỗn hợp về tù binh, tiểu ban nghiên cứu thủ tục thi hành ngưng bắn và các tiểu ban hỗn hợp lãnh thổ. Cuối cùng có những thỏa hiệp được ký kết nhằm "làm cho các đơn vị đối lập cách biệt nhau ra, trở về các căn cứ, hoặc tập trung ở những địa điểm trú quân tạm thời cốt để tránh mọi giao tiếp có thể gây ra xung đột giữa hai bên." Hội nghị Trung Giá bị ràng buộc bởi các điều khoản của Hiệp định Genève nên việc tổ chức kiểm soát các thỏa hiệp và quyết định bởi các ban hỗn hợp đã không mang lại kết quả. Trong thực tế, các ban hỗn hợp cũng không có quyền hạn gì ngoài những nhận xét, báo cáo và trình cấp trên của mỗi bên để xin giải quyết. == Nội dung cơ bản của Hiệp định Genève == === Hiệp định đình chỉ chiến sự tại Việt Nam === Hiệp định Genève có nội dung cơ bản như sau: Các nước tham dự hội nghị cam kết tôn trọng độc lập chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của 3 nước Việt Nam, Lào, Campuchia, không can thiệp vào công việc nội bộ 3 nước. Các bên tham chiến thực hiện ngừng bắn, lập lại hòa bình trên toàn Đông Dương Các bên tham chiến thực hiện cam kết, chuyển quân, chuyển giao khu vực, trao trả tù binh Dân chúng mỗi bên có quyền di cư sang lãnh thổ do bên kia kiểm soát trong thời gian quân đội hai bên đang tập kết Cấm đưa quân đội, nhân viên quân sự,vũ khí nước ngoài vào Đông Dương. Nước ngoài không được đặt căn cứ quân sự tại Đông Dương Thành lập Ủy hội Quốc tế Kiểm soát Đình chiến Đông Dương (tiếng Anh: International Control Commission, ICC; tiếng Pháp: Commission Internationale pour la Surveillance et le Contrôle, CISC) gồm Ấn Độ, Ba Lan và Canada, với Ấn Độ làm chủ tịch. Sông Bến Hải, vĩ tuyến 17, được dùng làm giới tuyến quân sự tạm thời chia Việt Nam làm hai vùng tập kết quân sự tạm thời. Chính quyền và quân đội Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tập trung về miền Bắc; Chính quyền và quân đội khối Liên hiệp Pháp tập trung về miền Nam. Khoản a, điều 14 ghi rõ: "Trong khi đợi tổng tuyển cử thống nhất Việt Nam, bên nào có quân đội của mình tập hợp ở vùng nào theo quy định của Hiệp định này thì bên ấy sẽ phụ trách quản lý hành chính ở vùng ấy." Điều 6 Bản Tuyên bố chung ghi rõ: "Đường ranh giới quân sự tạm thời này không thể diễn giải bằng bất cứ cách nào rằng đó là một biên giới phân định về chính trị hay lãnh thổ." Hiệp định Genève không có điều khoản nào quy định chi tiết về thời điểm cũng như cách thức tổ chức Tổng tuyển cử thống nhất hai miền Nam-Bắc Việt Nam. Nhưng Bản tuyên bố cuối cùng của Hội nghị Genève ghi rõ cuộc Tổng tuyển cử sẽ được tổ chức vào tháng 7/1956. === Hiệp định đình chỉ chiến sự tại Lào === === Hiệp định đình chỉ chiến sự tại Campuchia === == Tuyên bố cuối cùng ngày 21 tháng 7 năm 1954 == Tuyên bố cuối cùng ngày 21 tháng 7 năm 1954 có nội dung như sau: Các đại biểu tham dự hội nghị đã ký hiệp định đình chiến tại Việt Nam, Lào và Campuchia; tổ chức cơ quan quốc tế giám sát việc thực hiện các điều khoản trong hiệp định. Hội nghị bày tỏ sự hài lòng trước việc chấm dứt chiến sự tại 3 nước Việt Nam, Lào và Cạmpuchia. Hội nghị tin rằng việc thực hiện những điều khoản trình bày trong tuyên bố này và trong những hiệp định đình chiến sẽ tạo điều kiện giúp Việt Nam, Lào, Campuchia có được nền độc lập, tự chủ hoàn toàn. Tại hội nghị, chính phủ Lào và Campuchia đã đưa ra các tuyên bố về việc áp dụng quy tắc cho phép công dân tham gia kỳ tổng tuyển cử dự kiến được tổ chức trong năm 1955 phù hợp với hiến pháp của mỗi nước, thông qua hình thức bỏ phiếu kín và với điều kiện tôn trọng quyền tự do cơ bản. Hội nghị ghi nhận các điều khoản trong hiệp định đình chiến tại Việt Nam, cấm các nước đưa quân đội và nhân viên quân sự cũng như tất cả các loại vũ khí, đạn dược vào Việt Nam. Hội nghị cũng ghi nhận các tuyên bố chung của chính phủ Lào và Campuchia về việc không yêu cầu viện trợ nước ngoài, cả thiết bị chiến tranh, nhân viên hay người hướng dẫn, trừ trường hợp yêu cầu được đưa ra vì mục đích phòng thủ lãnh thổ của họ. Hội nghị ghi nhận những điều khoản trong hiệp định đình chiến tại Việt Nam: không thiết lập căn cứ quân sự mới tại vùng tập kết, mỗi bên có trách nhiệm canh chừng những khu vực tập kết của mình để đảm bảo không tham gia bất cứ liên minh quân sự nào và không sử dụng khu tập kết vì mục đích tiếp tục chiến sự hoặc phục vụ cho một chính sách hiếu chiến. Hội nghị ghi nhận tuyên bố của chính phủ Lào và Campuchia về việc không tham gia bất kì hiệp định nào với nước khác nếu hiệp định này bao gồm điều khoản phải tham gia liên minh quân sự trái với Hiến chương Liên Hiệp Quốc. Hội nghị công nhận mục đích chính của hiệp định liên quan tới Việt Nam là để giải quyết vấn đề quân sự theo hướng chấm dứt xung đột và đường ranh giới quân sự tạm thời này không thể diễn giải bằng bất cứ cách nào rằng đó là một biên giới phân định về chính trị hay lãnh thổ. Hội nghị bày tỏ sự tin tưởng rằng việc thực hiện những điều khoản đề ra trong hiệp định đình chiến sẽ tạo cơ sở cho việc đạt được một giải pháp chính trị tại Việt Nam trong tương lai gần. Hội nghị tuyên bố, giải pháp cho những vấn đề chính trị ở Việt Nam dựa trên cơ sở tôn trọng độc lập, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ sẽ cho phép người dân Việt Nam được hưởng nền tự do cơ bản thông qua kết quả tổng tuyển cử tự do sẽ được tổ chức vào tháng 7/1956. Những điều khoản trong hiệp định đình chiến nhằm đảm bảo sự an toàn cho người dân và tài sản phải được tuân thủ một cách nghiêm túc và phải cho phép mỗi người dân Việt Nam được quyền tự do quyết định nơi họ sinh sống. Các bên không được phép trả thù những cá nhân đã hợp tác với đối phương trong thời chiến cũng như gia đình của những người này. Hội nghị ghi nhận tuyên bố của chính phủ Pháp về việc sẵn sàng rút quân khỏi lãnh thổ Việt Nam, Lào và Campuchia theo yêu cầu của chính phủ những nước liên quan trong thời gian do các bên lựa chọn. Hội nghị ghi nhận tuyên bố của chính phủ Pháp về giải pháp khôi phục và củng cố hoà bình tại Việt Nam, Lào và Campuchia. Chính phủ Pháp sẽ tôn trọng sự tự do, thống nhất, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của 3 nước. Trong quan hệ với Việt Nam, Lào, Campuchia, mỗi thành viên tham dự Hội nghị Genève sẽ tôn trọng chủ quyền, độc lập, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của 3 nước; không can thiệp vào công việc nội bộ của 3 nước. Các thành viên tham dự hội nghị đồng ý hỏi ý kiến nhau về bất kỳ vấn đề nào Uỷ ban Giám sát quốc tế đưa ra. Bản tuyên bố cuối cùng về việc lập lại hòa bình ở Đông Dương không có chữ ký của bất cứ phái đoàn nào tham dự hội nghị. Tuy nhiên văn bản này đã được các nước dự hội nghị chấp thuận cam kết chính thức. Đại diện Mỹ ra tuyên bố riêng trong đó thừa nhận tôn trọng Hiệp định Genève. == Thái độ của các bên sau khi ký hiệp định == Một ngày sau khi Hiệp định được ký kết, tức ngày 22 Tháng Bảy, Thủ tướng Ngô Đình Diệm ra lệnh treo cờ rủ toàn Miền Nam từ vĩ tuyến 17 trở vào để bày tỏ quan điểm chống đối sự chia đôi đất nước. Ngoại trưởng của chính phủ Bảo Đại, Trần Văn Đỗ rơi nước mắt, nhưng trưởng đoàn đại biểu Việt Nam Dân chủ Cộng hoà đã lên tiếng: "Những ai yêu nước Việt Nam, những ai yêu sự thống nhất Việt Nam thì không cần phải khóc hôm nay. Hãy thực hiện tốt những gì đã ký kết hôm nay, thì 2 năm nữa sẽ có một nước Việt Nam thống nhất, độc lập, hoà bình và giàu mạnh. Những gì Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hoà làm trong những năm qua chính là vì mục đích đó. Nước mắt của chúng tôi đổ ra trong cuộc đấu tranh cho sự nghiệp đó nhiều hơn rất nhiều so với những giọt lệ mà quý vị (Quốc gia Việt Nam) nhỏ ra ở đây". Ngay sau khi Hiệp định Geneva được ký kết, trả lời Thông tấn xã Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đoán trước Mỹ sẽ tìm cách phá bỏ Hiệp định để chia cắt Việt Nam: "Theo đúng lập trường của ta từ trước đến nay, nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà sẽ tiếp tục cố gắng đấu tranh cho hoà bình, độc lập, thống nhất, dân chủ của Tổ quốc. Đồng thời, chúng ta phải có tinh thần cảnh giác rất cao đối với âm mưu của đế quốc Mỹ định cản trở hai bên đi đến hiệp định đình chiến và mưu mô lập khối liên minh quân sự có tính chất xâm lược, chia châu Á thành những tập đoàn đối lập để dễ xâm lược và khống chế Đông Dương cùng Đông Nam Á." Ngày 22-7-1954. Chủ tịch Hồ Chí minh ra lời kêu gọi đồng bào cả nước: "Đấu tranh để củng cố hoà bình, thực hiện thống nhất, hoàn thành độc lập dân chủ cũng là một cuộc đấu tranh lâu dài và gian khổ"., và khẳng định: "Trung, Nam, Bắc đều là bờ cõi của nước ta, nước ta nhất định thống nhất, đồng bào cả nước nhất định được giải phóng". Trong bài chính luận "Sách Trắng của Mỹ" đăng trên báo Nhân dân (số 3992) nhằm phản đối việc Mỹ đổ quân vào Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh nhắc lại: "Hiệp định Giơnevơ 1954, trong Điều 17, 18, 19 và trong điểm 4, 6 đã quy định rõ ràng: Cấm không được đưa vào Việt Nam các thứ vũ khí nước ngoài. Cấm không được xây dựng cǎn cứ quân sự mới trên lãnh thổ Việt Nam. Cấm nước ngoài không được lập cǎn cứ quân sự ở Việt Nam. Cấm đưa binh lính, nhân viên quân sự và vũ khí đạn dược nước ngoài vào Việt Nam. Giới tuyến 17 là tạm thời, không phải là giới tuyến chính trị, hoặc giới tuyến lãnh thổ; Việt Nam sẽ thống nhất bằng một cuộc tổng tuyển cử tự do khắp cả nước vào nǎm 1956." Trước những thỏa hiệp giữa Pháp với Trung Quốc về một giải pháp khung cho Đông Dương, Hoa Kỳ tuy chấp nhận Hiệp định theo hướng không tham gia vào bản Tuyên bố cuối cùng của hội nghị. Hai ngày sau Hiệp định được ký kết, ngoại trưởng Mĩ đã tuyên bố hỗ trợ Quốc gia Việt Nam để "Ngăn chặn sự bành trướng của Chủ nghĩa cộng sản ở Đông Nam Á". Ngày 14/5/1956, Chính phủ Pháp thông báo sẽ rút hết quân viễn chinh ở miền Nam Việt Nam về nước, trút bỏ tránh nhiệm thi hành nhiều điều khoản còn lại của Hiệp định, trong đó có việc tổ chức Tổng tuyển cử ở cả hai miền Nam Bắc cho chính quyền Quốc gia Việt Nam. Vương quốc Anh thì không muốn dính líu đến chiến tranh Đông Dương, nhưng ở thế đồng minh với Hoa Kỳ và Pháp, nên cũng chủ trương ủng hộ Pháp đàm phán trên thế mạnh. Còn mục tiêu của Liên Xô là khoanh vùng chiến tranh Đông Dương để giảm nguy cơ phương Tây đoàn kết ủng hộ Hoa Kỳ và buộc Liên Xô phải cam kết bảo vệ Trung Quốc, đồng thời để nâng đỡ vị thế của Trung Quốc trên trường quốc tế và tạo dựng hình ảnh là người bảo vệ hòa bình thế giới, nên cũng ủng hộ sự bắt tay giữa Trung Quốc và Pháp. == Các sự kiện hậu hiệp định == === Vấn đề tạm thời lấy vĩ tuyến 17 làm giới tuyến quân sự === Hai bên Việt Nam và Pháp ngừng bắn, tập kết chuyển quân và chuyển giao khu vực, lấy vĩ tuyến 17 là giới tuyến quân sự tạm thời cùng với một khu vực phi quân sự hai bên giới tuyến. Việt Nam sẽ thực hiện thống nhất bằng một cuộc tổng tuyển cử tự do trong cả nước vào tháng 7 năm 1956, dưới sự kiểm soát của ủy ban quốc tế (Ấn Độ, Ba Lan và Canada) Việt Nam Dân chủ Cộng hòa miễn cưỡng chấp nhận giới tuyến tạm thời dù đã có chiến thắng ở trận Điện Biên Phủ và mục tiêu mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đặt ra với đoàn đàm phán Việt Nam Dân chủ Cộng hòa là quyết tâm đạt được điều khoản mà trong đó Việt Nam được thống nhất về mọi mặt === Lực lượng vũ trang tập kết và dân chúng di cư === Việc tập kết dân sự và chính trị được tiến hành theo nguyên tắc tự nguyện. Quân đội Nhân dân Việt Nam, lực lượng vừa giành được thắng lợi quan trọng tại chiến dịch Điện Biên Phủ, tập kết về miền Bắc. Tuy không ký kết Hiệp định Genève và hoàn toàn độc lập trước khi Pháp ký hiệp định này nhưng lực lượng Quốc gia Việt Nam vẫn theo quân đội Pháp tập kết về miền Nam. Trên 1 triệu người dân từ miền Bắc được sự trợ giúp cũng như ảnh hưởng tuyên truyền của Mỹ đã di cư vào Nam (trong đó có khoảng 800.000 người Công giáo, chiếm khoảng 2/3 số người Công giáo ở miền Bắc), và 140.000 người từ miền Nam (phần lớn là lực lượng kháng chiến của Việt Minh) tập kết ra Bắc. Quân đội Pháp dần dần rút khỏi miền Nam trong 2 năm và trao quyền lực cho chính quyền Quốc gia Việt Nam. === Quốc gia Việt Nam từ chối tổng tuyển cử === Mỹ không công nhận kết quả Hiệp định Genève tuy nhiên vẫn tuyên bố ủng hộ nền hòa bình tại Việt Nam và thúc đẩy sự thống nhất hai miền Nam Bắc Việt Nam bằng các cuộc bầu cử tự do dưới sự giám sát của Liên Hiệp Quốc. Tuy nhiên, những nguồn tin khác nhau chỉ ra cho Tổng thống Mỹ Eisenhower thấy khoảng 80% dân số Việt Nam sẽ bầu cho Hồ Chí Minh nếu cuộc tổng tuyển cử được thi hành., do đó Mỹ thực tế lại ủng hộ việc Việt Nam Cộng Hòa từ chối tổ chức Tổng tuyển cử tự do thống nhất Việt Nam. Sau khi Hiệp định Genève được ký kết, Thủ tướng Quốc gia Việt Nam Ngô Đình Diệm tuyên bố: "Chúng tôi không từ chối nguyên tắc tuyển cử tự do để thống nhất đất nước một cách hoà bình và dân chủ", "thống nhất đất nước trong tự do chứ không phải trong nô lệ" nhưng đồng thời Ngô Đình Diệm còn nói thêm là ông "nghi ngờ về việc có thể bảo đảm những điều kiện của cuộc bầu cử tự do ở miền Bắc". Theo Tuyên bố cuối cùng của Hiệp định Genève thì tổng tuyển cử ở cả hai miền được dự trù vào tháng 7 năm 1956 nhưng Tổng thống Ngô Đình Diệm bác bỏ mọi cuộc thảo luận sơ khởi, hành động này khiến Ngô Đình Diệm bẽ mặt ở phương Tây. Theo nhận xét của Tây phương thì Ngô Đình Diệm là kẻ ngoan cố và khao khát quyền lực chuyên chế, nhưng theo Duncanson thì sự thật phức tạp hơn. Miền Bắc có dân số đông hơn miền Nam 2 triệu người (tính cả gần 1 triệu người miền Bắc di cư vào Nam). Hơn nữa, vào thời điểm 1955 – 1956, trước sự hỗn loạn gây ra bởi các giáo phái và do hoạt động bí mật của Việt Minh tại miền Nam, cuộc Cải cách ruộng đất tại miền Bắc Việt Nam tạo ra bầu không khí căng thẳng dẫn đến cuộc nổi dậy của nông dân tại các vùng lân cận Vinh, những tình hình diễn ra ở cả hai miền khiến Ủy hội Quốc tế Kiểm soát Đình chiến Đông Dương không có hy vọng đảm bảo một cuộc bầu cử thật sự tự do trong đó cử tri có thể bỏ phiếu theo ý muốn mà không sợ bị trả thù chính trị. Theo Mark Woodruff, những quan sát viên của các nước Ấn Độ, Ba Lan và Canada thuộc Ủy hội Quốc tế Kiểm soát Đình chiến đồng ý với quan điểm của Quốc gia Việt Nam rằng miền Bắc không đủ điều kiện tổ chức bầu cử công bằng, đồng thời báo cáo rằng cả 2 miền đều không thi hành nghiêm chỉnh thỏa thuận ngừng bắn. Tuy nhiên, Clark Clifford đã dẫn các báo cáo của Ủy hội Quốc tế Kiểm soát Đình chiến cho biết: trong giai đoạn 1954-1956, họ chỉ nhận được 19 đơn khiếu nại về việc trả thù chính trị trên toàn lãnh thổ miền Bắc Việt Nam. Năm 1956, Allen Dulles đệ trình lên Tổng thống Mỹ Eisenhower báo cáo tiên đoán nếu bầu cử diễn ra thì "thắng lợi của Hồ Chí Minh sẽ như nước triều dâng không thể cản nổi". Ngô Đình Diệm chỉ có một lối thoát là tuyên bố không thi hành Hiệp định Genève. Được Mỹ khuyến khích, Ngô Đình Diệm kiên quyết từ chối tuyển cử. Mỹ muốn có một chính phủ chống Cộng tồn tại ở miền Nam Việt Nam, bất kể chính phủ đó có tôn trọng nền dân chủ hay không Như vậy, Cuộc tổng tuyển cử tự do cho việc thống nhất Việt Nam đã không được tổ chức. === Mỹ hỗ trợ cho Quốc gia Việt Nam === Mỹ từ lâu đã coi miền Nam Việt Nam là địa bàn quan trọng trong chiến lược chống sự lan rộng của chủ nghĩa cộng sản tại Đông Nam Á và đã viện trợ tích cực cho Pháp chống lại Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Sau khi Pháp thất bại, Mỹ đẩy mạnh các hoạt động tại Việt Nam. Kế hoạch của Mỹ là viện trợ cho chính phủ Ngô Đình Diệm để giúp miền Nam Việt Nam hoàn toàn độc lập với Pháp (đó là cách duy nhất để lôi kéo những người dân tộc chủ nghĩa rời xa Việt Minh và ủng hộ Quốc gia Việt Nam); Mỹ cũng thúc đẩy Ngô Đình Diệm thành lập một chính quyền đoàn kết quốc gia đại diện cho những xu hướng chính trị chính tại Việt Nam, ổn định miền Nam Việt Nam, bầu ra Quốc hội, soạn thảo Hiến pháp rồi sau đó phế truất Quốc trưởng Bảo Đại một cách hợp pháp; cuối cùng do Ngô Đình Diệm là một người quốc gia không có liên hệ gì trong quá khứ với Việt Minh và Pháp do đó miền Nam Việt Nam sẽ trở nên chống Cộng mạnh mẽ. Cuối cùng, công thức này đòi hỏi một sự hợp tác từ cả Pháp và Mỹ để hỗ trợ Ngô Đình Diệm. Tuy nhiên, Pháp không có thiện cảm với Ngô Đình Diệm, Ngoại trưởng Pháp Faure cho rằng Diệm "không chỉ không có khả năng mà còn bị tâm thần... Pháp không thể chấp nhận rủi ro với ông ta", và sau đó Mỹ đã tiến hành kế hoạch một mình mà không có Pháp trợ giúp. Năm 1954, đội bán quân sự của Mỹ do Edward Lansdale, người của CIA và đã làm cố vấn cho Pháp tại Việt Nam từ 1953, chỉ huy đã thực hiện các hoạt động tuyên truyền tâm lý chiến để kêu gọi và vận động dân chúng miền Bắc di cư vào Nam. Hội đồng Tham mưu Liên quân Mỹ trước đây phản đối việc Mỹ đảm nhận huấn luyện cho Quân đội Quốc gia Việt Nam thì nay bằng lòng gửi cố vấn quân sự đến Việt Nam và nhấn mạnh phải bảo vệ Quốc gia Việt Nam chống lại sự can thiệp của Pháp. Do quân đội Pháp còn ở Đông Dương nên việc gửi người đến huấn luyện cho Quân đội Quốc gia Việt Nam phải tuân theo thể thức ngoại giao do đó tướng J. Lauton Collins được cử làm đại sứ tại Quốc gia Việt Nam. Collins ít tin tưởng vào việc Ngô Đình Diệm có thể ổn định Chính phủ và đề xuất mời Bảo Đại về nước chấp chính. Nếu điều đó không được thực hiện ông sẽ đặt vấn đề Mỹ nên rút lui khỏi Việt Nam. Pháp ủng hộ quan điểm này. Ngược lại, Ngoại trưởng Mỹ John Foster Dulles lại cho rằng Diệm là nhà lãnh đạo phù hợp và nói rằng Quốc hội Mỹ sẽ không đồng ý viện trợ cho Việt Nam nếu không có Diệm. Cuối cùng Collins đồng ý với quan điểm của Dulles và để làm yên lòng Pháp, Collins cho biết Mỹ sẽ tiếp tục viện trợ quân sự cho Pháp ít nhất 100 triệu USD cho tới tháng 12/1955 để Pháp duy trì sự hiện diện quân sự của mình tại miền Nam Việt Nam trong lúc Hiệp ước Manila (SEATO) chưa thể hành động. Ngày 12/2/1955, Pháp rút các sĩ quan huấn luyện khỏi Việt Nam, trong khi Mỹ bắt đầu giúp huấn luyện sĩ quan Việt Nam tại các căn cứ quân sự Mỹ ở Thái Bình Dương; huấn luyện các lực lượng vũ trang của Quốc gia Việt Nam (sau là Việt Nam Cộng hòa); xây dựng các cơ sở hạ tầng phục vụ quân sự tại Philippines; bí mật đưa một lượng lớn vũ khí và thiết bị quân sự vào Việt Nam; giúp đỡ phát triển các kế hoạch "bình định Việt Minh và các vùng chống đối" Việc Hoa Kỳ viện trợ quân sự cho Việt Nam Cộng hòa bị người Cộng sản ở cả hai miền cho rằng đó là hành vi vi phạm Hiệp định do tại Chương III Hiệp định cấm tất cả các bên được tăng quân, tăng vũ khí, thành lập mới các căn cứ quân sự. Phía Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã thực hiện rất nghiêm túc điều này, thậm chí số cơ sở bán vũ trang của họ còn bị thu hẹp sau các biện pháp đàn áp của chính quyền Ngô Đình Diệm. Tới năm 1959 (quá hơn 01 năm thời hạn tổ chức Tổng tuyển cử), miền Bắc mới bắt đầu có những hoạt động hỗ trợ mang tính vũ trang đầu tiên cho lực lượng kháng chiến ở miền Nam nhằm đáp trả các hành vi vi phạm Hiệp định từ phía Hoa Kỳ và Việt Nam Cộng hòa. === Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đề nghị tổng tuyển cử === Ngày 22-7-1954. Chủ tịch Hồ Chí minh ra Lời kêu gọi sau khi hội nghị Giơnevơ thành công ngày 22 tháng 7 năm 1954: "Từ nay, chúng ta phải ra sức đấu tranh để củng cố hoà bình, thực hiện thống nhất, hoàn thành độc lập và dân chủ trong toàn quốc...Đấu tranh để củng cố hoà bình, thực hiện thống nhất, hoàn thành độc lập dân chủ cũng là một cuộc đấu tranh lâu dài và gian khổ"...Để thực hiện hoà bình, bước đầu tiên là quân đội hai bên phải ngừng bắn. Để ngừng bắn, thì cần phải tách quân đội hai bên ra hai vùng khác nhau: tức là điều chỉnh khu vực. Điều chỉnh khu vực là việc tạm thời, là bước quá độ để thực hiện đình chiến, lập lại hoà bình, và tiến đến thống nhất nước nhà bằng cách tổng tuyển cử. Điều chỉnh khu vực quyết không phải là chia xẻ đất nước ta, quyết không phải là phân trị....Trung, Nam, Bắc đều là bờ cõi của nước ta, nước ta nhất định thống nhất, đồng bào cả nước nhất định được giải phóng. Chúng ta phải ra sức đấu tranh để thực hiện tổng tuyển cử tự do trong toàn quốc đặng thống nhất nước nhà. Chúng ta phải ra sức khôi phục và xây dựng, củng cố và phát triển lực lượng của ta về mọi mặt, để thực hiện quyền độc lập hoàn toàn của nước ta. Chúng ta củng cố tình hữu nghị vĩ đại giữa ta với Liên Xô, Trung Quốc và các nước bạn khác. Chúng ta đoàn kết hơn nữa với nhân dân Pháp, nhân dân châu á và nhân dân toàn thế giới để giữ gìn hoà bình. Tôi thiết tha kêu gọi tất cả những người thật thà yêu nước không phân biệt tầng lớp nào, tín ngưỡng nào, chính kiến nào và trước đây đã đứng về phe nào, chúng ta hãy thật thà cộng tác, vì dân vì nước mà phấn đấu để thực hiện hoà bình, thống nhất, độc lập, dân chủ trong nước Việt Nam yêu quý của chúng ta". Trong cuộc phỏng vấn với nhà báo Regards vào ngày 18/11/1954, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: "Chúng tôi thi hành triệt để các điều khoản đình chiến. Chúng tôi tiếc rằng các lực lượng Pháp không thi hành được như thế, mà còn làm trái nhiều là khác...Chúng tôi hết sức làm việc để củng cố hoà bình, thực hiện thống nhất, hoàn thành độc lập và dân chủ trong cả nước Việt Nam...Chúng tôi phải ra sức xây dựng lại nền kinh tế của nước chúng tôi bị chiến tranh tàn phá và nâng cao đời sống của đồng bào chúng tôi, trước hết là của nhân dân lao động thành thị và thôn quê...Tôi nghĩ rằng tình hình hiện nay (vấn đề di cư của người Công giáo sau khi Hiệp định được ký) ở miền Nam Việt Nam đáng lo ngại, vì bọn can thiệp Mỹ ngày càng nhúng vào một cách trắng trợn. Chắc chắn là đồng bào của chúng tôi ở miền Nam sẽ kiên quyết phản đối...Tất nhiên là chúng tôi có quan hệ anh em với các nước trong Mặt trận dân chủ. Đồng thời, chúng tôi muốn lập quan hệ hữu nghị với tất cả các nước khác, trước hết là với các nước châu Á".. Trong cuộc phỏng vấn với phóng viên Hãng Thông tấn Press Trust of India vào ngày 05 tháng 01 năm 1955, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: "Một trong các nhiệm vụ cấp bách của chúng tôi là Thi hành đúng đắn Hiệp định Giơnevơ và Củng cố hoà bình, thực hiện thống nhất, độc lập, dân chủ trong toàn quốc. Trong sự thi hành nhiệm vụ đó, chúng tôi sẵn sàng hợp tác thành thật với tất cả những nhân vật hoặc nhóm Việt Nam nào tán thành ủng hộ những mục đích đó, bất kể xu hướng chính trị và tín ngưỡng khác nhau...Việc thi hành hiệp định đình chiến một phần nào kết quả tốt đẹp, một phần nào không có kết quả tốt đẹp (coi bản giác thư của Ngoại trưởng và Tổng tư lệnh chúng tôi gửi Chủ tịch Hội nghị Giơnevơ và Uỷ ban Quốc tế). Uỷ ban Quốc tế thành thực đôn đốc việc thi hành hiệp định và có thể có kết quả hơn nếu đối phương cũng thi hành hiệp định một cách lương thiện." Trong cuộc trả lời phỏng vấn với phóng viên Anh Rốt Xenxpô, báo Tin nhanh hàng ngày vào ngày 26/04/1956 Chủ tịch Hồ Chí Minh nói: "Hoà bình ở Việt Nam đang bị đe doạ vì Hiệp định Giơnevơ đang bị Chính quyền miền Nam vi phạm nghiêm trọng...Chúng tôi sẽ dùng mọi biện pháp đấu tranh bằng đường lối hoà bình để Hiệp định Giơnevơ được thực hiện triệt để" Trong cuộc trả lời phỏng vấn với phóng viên Hãng thông tin Mỹ U.P vào ngày 13/07/1956, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: "Nhân dân cả nước Việt Nam sẽ tiếp tục đấu tranh và đấu tranh mạnh hơn nữa để cho có tổng tuyển cử tự do trong khắp cả nước; vì đó là nguyện vọng tha thiết của toàn dân Việt Nam đã được Hiệp định Giơnevơ 1954 thừa nhận...Đó là lời vu khống (Những bình phẩm cho rằng: Trong trường hợp tổng tuyển cử toàn quốc, thì sẽ không có tuyển cử tự do ở miền Bắc) của những người không muốn thống nhất Việt Nam bằng tổng tuyển cử tự do. Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hoà bảo đảm tổng tuyển cử sẽ được hoàn toàn tự do ở miền Bắc Việt Nam...Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hoà chủ trương tổ chức tổng tuyển cử tự do theo đúng ý nguyện của toàn dân Việt Nam". Năm 1956, Việt Nam Cộng hòa được thành lập trên cơ sở Quốc gia Việt Nam. Dưới sự hậu thuẫn của Hoa Kỳ, Việt Nam Cộng hòa tiếp tục theo đuổi chính sách của Quốc gia Việt Nam là từ chối tổng tuyển cử với lý do "nghi ngờ về việc có thể bảo đảm những điều kiện của cuộc bầu cử tự do ở miền Bắc". Trong khi chính phủ Việt Nam Cộng hòa từ chối hiệp thương tổng tuyển cử tự do, đồng thời ra sức củng cố quyền lực, đàn áp khốc liệt những người kháng chiến cũ, cùng những Đảng viên Đảng Lao động trung thành còn lại ở miền Nam bằng những chiến dịch "tố cộng"-"diệt cộng", thì Việt Nam Dân chủ Cộng hòa vẫn chuẩn bị cho tổng tuyển cử và cố gắng theo đuổi các giải pháp hòa bình.. Nghị quyết tháng 3 năm 1955 của Ủy ban Trung ương Đảng Lao động chính thức tuyên bố chính sách đặt ưu tiên cao nhất cho việc xây dựng miền Bắc trong khi sử dụng ngoại giao để kêu gọi một giải pháp hòa bình cho miền Nam. Hà Nội tìm kiếm hỗ trợ quốc tế, kêu gọi các đồng chủ tịch hội nghị Genève, nhắc nhở Pháp về trách nhiệm đối với việc thống nhất hai miền Việt Nam thông qua Tổng tuyển cử tự do theo đúng tinh thần của Bản Tuyên bố cuối cùng tại Hội nghị Genève. Tháng 6 năm 1955 Hà Nội tuyên bố sẵn sàng mở hội nghị hiệp thương với Sài Gòn nhưng không được đáp ứng, đã gửi thư cho hai đồng chủ tịch hội nghị (Anh- Liên Xô) yêu cầu ứng phó và vạch rõ chính quyền Sài gòn bị ràng buộc, hai đồng chủ tịch sao các bức thư của chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa gửi các nước tham dự hội nghị và các nước trong Ủy ban quốc tế, yêu cầu nhận xét và mở lại hội nghị Genève. Chính quyền Hà Nội đồng ý mở lại hội nghị. Tháng 4 năm 1956 hai chủ tịch hội nghị hội đàm, gửi ba thư cho chính quyền 2 miền Việt Nam, chính quyền Pháp và ủy ban quốc tế, xác nhận giá trị pháp lý của hiệp nghị. Miền Bắc cũng ra sách trắng "Tài liệu về việc thi hành Hiệp nghị Genève". Trong bài chính luận "Sách Trắng của Mỹ" đăng trên báo Nhân dân (số 3992, ngày 8-3-1965) nhằm phản đối việc Mỹ đổ quân vào Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh nhắc lại: "Hiệp định Giơnevơ 1954, trong Điều 17, 18, 19 và trong điểm 4, 6 đã quy định rõ ràng: Cấm không được đưa vào Việt Nam các thứ vũ khí nước ngoài. Cấm không được xây dựng cǎn cứ quân sự mới trên lãnh thổ Việt Nam. Cấm nước ngoài không được lập cǎn cứ quân sự ở Việt Nam. Cấm đưa binh lính, nhân viên quân sự và vũ khí đạn dược nước ngoài vào Việt Nam. Giới tuyến 17 là tạm thời, không phải là giới tuyến chính trị, hoặc giới tuyến lãnh thổ; Việt Nam sẽ thống nhất bằng một cuộc tổng tuyển cử tự do khắp cả nước vào nǎm 1956." Trong khi tiến trình yêu cầu và từ chối đàm phán vẫn tiếp diễn, Việt Nam Dân chủ Cộng hòa còn cố tái lập quan hệ thương mại giữa 2 miền, để giúp "nhân dân hai vùng trao đổi kinh tế, văn hóa và xã hội, nhằm tạo thuận lợi cho việc khôi phục cuộc sống bình thường của người dân." Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương lần thứ tám (khoá II) dự kiến: "Muốn thống nhất nước nhà bằng phương pháp hoà bình, cần phải tiến hành thống nhất từng bước; từ chỗ tạm thời chia làm hai miền tiến đến chỗ thống nhất chưa hoàn toàn, từ chỗ thống nhất chưa hoàn toàn sẽ tiến đến chỗ thống nhất hoàn toàn." Nhưng cũng như vấn đề bầu cử, chính quyền Việt Nam Cộng hòa thậm chí còn từ chối cả việc thảo luận. Về mặt ngoại giao, theo giáo sư Ilya Gaiduk của Viện Hàn lâm Khoa học Nga, vào ngày 25/01/1956, Trung Quốc và Việt Nam Dân chủ Cộng hòa nhắc lại đề nghị tái triệu tập Hội nghị Geneva để tổ chức Tổng tuyển cử. Tới 18/02/1956, phía Liên Xô đạt được thống nhất với Trung Quốc và Việt Nam Dân chủ Cộng hòa trong việc tái triệu tập Hội nghị Geneva. Sau đó, Trường Chinh khi sang Moskva họp đại hội Đảng Cộng sản Liên Xô năm 1956 đã nói với Vasilii Kuznetzov, thứ trưởng ngoại giao Liên Xô rằng miền Bắc chưa hội tụ đủ tất cả điều kiện nhưng đã có đủ các điều kiện chủ chốt để tổ chức Tổng tuyển cử thống nhất đất nước và đề nghị Liên Xô giúp đỡ do việc Hội nghị Cố vẫn của ICC vẫn chưa diễn ra đã gây cản trở cho việc tổ chức Tổng tuyển cử như kế hoạch. Trường Chinh đề nghị tổ chức cuộc họp giữa 9 bên tham gia Hội nghị và 3 bên tham gia ICC để thúc đẩy Tổng tuyển cử. Đáp lại, phía Liên Xô khẳng định chỉ có thể tác động tới phái đoàn Ấn Độ và cũng cảnh báo với Trường Chinh rằng sẽ không có việc tái triệu tập Hội nghị, Việt Nam Dân chủ Cộng hòa phải chấp nhận rằng không có Tổng tuyển cử và Việt Nam phải tự chuẩn bị phương án cho chính mình. Bất chấp việc không được Liên Xô và Trung Quốc ủng hộ, thậm chí Liên Xô đã nhắm mắt trước những gì đang xảy ra tại Đông Dương, Việt Nam Dân chủ Cộng hòa vẫn tiếp tục có những nỗ lực ngoại giao.. Theo cuốn Việt Nam - Liên Xô, 30 năm quan hệ 1950-1980, thì Trường Chinh khẳng định với Vasilii Kuznetzov rằng Việt Nam Dân chủ Cộng hòa chắc chắn đủ khả năng tổ chức Tổng tuyển cử ở khu vực đồng bằng và các thành phố lớn nhưng đối với một số khu vực miền núi phía bắc thì thực sự gặp những khó khăn nhất định nhưng đây là lại là khu vực chắc chắn cho Việt Nam Dân chủ nhiều ủng hộ tuy ít dân do đã có truyền thống ủng hộ Việt Minh từ thời kháng chiến chống Pháp. Do đó, Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đề nghị Liên Xô có những trợ giúp về mặt hậu cần và kỹ thuật tại các khu vực đó cũng như gây áp lực quốc tế để cuộc Tổng tuyển cử được tổ chức theo đúng như Hiệp định (vào tháng 7 năm 1956). Các cường quốc đã không ủng hộ lời kêu gọi tổ chức tuyển cử của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa mà muốn hiện trạng chia cắt Việt Nam được giữ nguyên. Tháng 5/1956, một nhà ngoại giao Hungary tên József Száll đã nói chuyện với một trợ lý thứ trưởng của Bộ Ngoại giao Trung Quốc, rằng theo ý kiến ​​của Chính phủ Trung Quốc thì "các nghị quyết của hiệp định Genève, tức là, việc tổ chức bầu cử tự do và thống nhất Việt Nam, không thể được thực hiện trong thời gian này... với tình trạng hiện nay tại miền Nam Việt Nam cần một thời gian dài để đạt được những mục tiêu này do đó thật vô lý nếu những nước từng tham gia Hội nghị Geneva như Liên Xô hoặc Trung Quốc đòi triệu tập một hội nghị quốc tế về giải pháp đã được thông qua năm 1954". Nói cách khác, những cường quốc của khối Xã hội chủ nghĩa đã không cung cấp cho Việt Nam Dân chủ Cộng hòa sự hỗ trợ quốc tế mà họ kêu gọi. Tới ngày 11/04/1956, trong cuộc gặp giữa Đại sứ Liên Xô tại Hà Nội Mikhail Zyminanin, Ủy viên TW Đảng Phạm Hùng tiếp tục khẳng định Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tiếp tục theo đuổi biện pháp hòa bình để thực thi nghiêm chỉnh Hiệp định, thậm chí sẵn sàng đàm phán trực tiếp với Ngô Đình Diệm bất chấp việc thực thi Hiệp định ở miền Nam đang rất bấp bênh. Tháng 7 năm 1956, sau khi yêu cầu đàm phán không được chính quyền Ngô Đình Diệm trả lời, Hà Nội yêu cầu các đồng chủ tịch hội nghị Genève tổ chức một cuộc hội nghị mới, yêu cầu này lại được lặp lại vào tháng 8. Các yêu cầu đàm phán với chính phủ Ngô Đình Diệm tiếp tục được gửi vào tháng 6 và tháng 7 năm 1957, tháng 3 và tháng 12 năm 1958, tháng 7 năm 1959, và tháng 7 năm 1960, nhưng đều bị từ chối . Đầu năm 1961, Bộ trưởng Ngoại giao Việt Nam Dân chủ cộng hòa gửi công hàm cho hai Chủ tịch hội nghị Genève. Công hàm của Bộ trưởng Ngoại giao gửi hai Chủ tịch hội nghị Genève năm 1954 về tình hình thi hành Hiệp nghị Genève ở miền Nam Việt Nam công bố trong họp báo 17 tháng 3 năm 1961, cuối bức điện có đoạn: "Về phần mình, Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa luôn luôn chủ trương tôn trọng và nghiêm chỉnh thi hành Hiệp nghị Giơnevơ vì lợi ích của nhân dân Việt Nam đồng thời vì lợi ích của hòa bình ở Đông Dương và Đông Nam Á." === Chiến tranh tiếp diễn === Lo ngại trước việc những người kháng chiến cũ của chính quyền Việt Nam Dân chủ Cộng hòa hoạt động bí mật tại miền Nam tiến hành hoạt động tuyên truyền và tổ chức quần chúng đấu tranh chính trị, chính phủ Việt Nam Cộng hoà mở Chiến dịch "tố cộng, diệt cộng" từ mùa hè năm 1955. Chiến dịch này đã dẫn đến hàng nghìn người kháng chiến cũ bị bắt, bị giết, số còn lại phải chạy về các vùng chiến khu chống Pháp cũ để sống sót. Những người kháng chiến cũ đáp trả bằng cách ám sát các viên chức Việt Nam Cộng hòa qua các chiến dịch "diệt ác ôn" và tập hợp lại thành các đơn vị vũ trang quy mô trung đội, đại đội hoặc tiểu đoàn tấn công vào quân đội Việt Nam Cộng hoà. Đến cuối năm 1959, Những người kháng chiến cũ ở miền Nam đã thay đổi từ phương thức đấu tranh chính trị với sự hỗ trợ của đấu tranh vũ trang sang đấu tranh vũ trang kết hợp với đấu tranh chính trị. Cũng trong năm 1959, đoàn cán bộ đầu tiên của Việt Nam Dân chủ Cộng hoà dưới tên gọi Đoàn 559 bí mật vượt Trường Sơn vào chi viện cho miền Nam. Đặc biệt, Luật 10-59 đã buộc Việt Nam Dân chủ Cộng hòa có những hỗ trợ cho những người Cộng sản ở miền nam Việt Nam. Tháng 9 năm 1960, Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ ba của Đảng Lao động Việt Nam quyết định cho chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa chính thức ủng hộ các hoạt động đấu tranh vũ trang và chính trị của những người kháng chiến cũ ở miền Nam (với nòng cốt là các Đảng viên Đảng Lao động), mở ra một giai đoạn mới của Chiến tranh Việt Nam. == Sự kế thừa của Hiệp định Paris 1973 đối với Hiệp định Genève, 1954 == Hiệp định Paris 1973 kế thừa Hiệp định Genève, 1954 khi tiếp tục khẳng định Việt Nam là một quốc gia độc lập, có chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, giới tuyến quân sự tạm thời không được coi là biên giới quốc gia. Đồng thời, Hiệp định Paris 1973 cũng quy định Việt Nam được thống nhất thông qua Hiệp thương Tổng tuyển cử. Để hoàn thành nốt các điều khoản trong Hiệp định Paris vốn kề thừa từ Hiệp định Genève, 1954 liên quan đến Tổng tuyển cử, Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Cộng hòa miền Nam Việt Nam tiến hành cuộc Tổng tuyển cử năm 1976 để thống nhất thành Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam. == Nguồn tham khảo == == Liên kết ngoài == Tiếng Anh: Toàn văn hiệp định Genève 1954 Nguồn: U.S. Congress, Senate, Committee on Foreign Relations, 90th Congress, 1st Session, Background Information Relating to Southeast Asia and Vietnam (3d Revised Edition) (Washington, DC: U.S. Government Printing Office, tháng 7 năm 1967), pp. 50–62 Negotiations and Vietnam: A Case Study of the 1954 Geneva Conference (Các thương thuyết và Việt Nam: Nghiên cứu tình huống của cuộc đàm phán Geneva năm 1954), Melvin Gurtov. Tiếng Pháp: Toàn văn hiệp định Genève 1954 Tiếng Việt: Toàn văn HIỆP ĐỊNH GENÈVE, 20-7-1954 & Toàn văn TUYÊN BỐ CUỐI CỦA HỘI NGHỊ GENÈVE, 21-7-1954 (bản tạm dịch tiếng Việt của Trần Xuân An - có đối chiếu song ngữ)
hệ thống lưỡng đảng.txt
Hệ thống lưỡng đảng (hay còn gọi là hệ thống hai đảng hay hệ thống chính trị hai đảng) là 1 hệ thống đảng phái chứa 2 đảng chính cầm quyền chính phủ. Một trong 2 đảng sẽ giữ quyền chủ yếu trong quốc hội và thường được xem là đảng cầm quyền và đảng còn lại được gọi là đảng đối lập. Một số quốc gia có hệ thống lưỡng đảng là Hoa Kỳ, Jamaica, và Malta. == Các ví dụ == === Hoa Kỳ === === Ấn Độ === === Malta === == Tham khảo == == Liên kết ngoài == Video explaining why America is a two-party system == Xem thêm == Hệ thống đa đảng Hệ thống đơn đảng
tu chính án hiến pháp.txt
Một tu chính án hiến pháp (sửa đổi hiến pháp) là một sự thay đổi trong hiến pháp của một quốc gia hay của một bang (Ví dụ các tiểu bang của Mỹ). Trong các nền pháp lý có hiến pháp "cứng rắn" hay "vững chắc", các sửa đổi cần có một quy trình đặc biệt khác với quy trình được dùng để ban hành luật thông thường. == Các quy trình sửa đổi hiến pháp == === Hiến pháp mềm dẻo === Một hiến pháp mềm dẻo là một hiến pháp có thể được tu chính (sửa đổi) bằng một hành động đơn giản của ngành lập pháp, giống như cách được dùng để thông qua các luật thông thường. Hiến pháp "không pháp điển hóa" của Vương quốc Anh gồm có một phần là các luật quan trọng và một phần là các tục lệ không thành văn. Các luật tạo nên hiến pháp Vương quốc Anh có thể được sửa đổi qua một hành động đơn giản của Quốc hội Vương quốc Anh. Các hội nghị hiến pháp của Vương quốc Anh (nơi các nghị quyết không thành văn được thảo luận) được triệu tập để tiến hóa về mặt tổ chức theo thời gian. Luật cơ bản của Israel (Hiến pháp Israel) có thể được tu chính một cách đơn giản tại Knesset (Quốc hội) của Israel. === Đa số đặc biệt === Hiến pháp của đa số các quốc gia quy định rằng hiến pháp có thể được sửa đổi bởi quốc hội (nghị viện), nhưng với điều kiện là phải qua một cuộc biểu quyết với kết quả đa số. Thông thường là một đa số 2/3 tổng số phiếu bầu. Trong một quốc hội lưỡng viện, nó có thể cần phải có đa số thông qua tại cả hai viện lập pháp. Ngoài ra, nhiều hiến pháp đòi hỏi sự sửa đổi phải được số phiếu của một thiểu số "tuyệt đối" con số thành viên quốc hội hơn là chỉ đơn giản sự ủng hộ của các thành viên "hiện diện" tại một buổi họp của nghị viện. Ví dụ, Hiến pháp của Đức (Grundgesetz) có thể được sửa đổi với sự đồng thuận của một đa số 2/3 thành viên tại cả hạ viện và thượng viện. Hiến pháp của Brasil có thể được sửa đổi với sự đồng thuận của cả hai viện quốc hội với số phiếu đa số là 3/5. Một sự sửa đổi của Hiến pháp Úc đòi hỏi cả đa số cử tri toàn quốc và đa số cử tri tại đa số các tiểu bang. Điều đó có nghĩa là một sửa đổi phải được thông qua với đa số phiếu tại 4 trong 6 tiểu bang của Úc và cũng như đa số phiếu trên toàn quốc. === Trưng cầu dân ý === Một số hiến pháp chỉ có thể được sửa đổi bằng sự ưng thuận trực tiếp toàn cử tri trong một cuộc trưng cầu dân ý. Tại một số quốc gia, một quyết định đưa một sửa đổi hiến pháp ra trưng cầu toàn cử tri trước tiên phải qua quốc hội. Tại các quốc gia khác, trưng cầu dân ý có thể được công dân đề xướng qua một thỉnh nguyện thư được ký bởi một tối thiểu con số cử tri có đăng ký đi bầu. Hiến pháp của Cộng hòa Ireland, Đan Mạch, Nhật Bản và Úc được tu chính qua cách phương pháp của một cuộc trưng cầu dân ý, đầu tiên phải được quốc hội đề nghị. Hiến pháp của Thụy Sĩ và của một số tiểu bang của Mỹ có thể được tu chính qua sự đề xướng của công dân. === Đa số liên tiếp === Một số nền pháp lý đòi hỏi một tu chính án hiến pháp phải được ngành lập pháp chấp thuận vào hai dịp khác nhau trong khoảng thời gian của hai nhiệm kỳ liên tiếp và khác nhau, cùng với một cuộc tổng tuyển cử trong thời gian quá độ. Dưới một số các hiến pháp như vậy sẽ có một cuộc giải tán quốc hội và một cuộc tổng tuyển cử ngay lập tức vào thời gian mà một tu chính án được áp dụng lần đầu tiên. Ví dụ gồm có hiến pháp của Iceland, Đan Mạch, Hà Lan và Na Uy. Phương pháp này cũng rất phổ biến tại cấp bậc hành chính thấp hơn quốc gia, ví dụ như tiểu bang Wisconsin của Mỹ. === Điều kiện cần thiết đặc biệt trong các liên bang === Một tu chính án của Hiến pháp Mỹ phải được thông qua bởi 3/4 tổng số các lập pháp tiểu bang hay hội thảo hiến pháp, đặc biệt được bầu lên tại mỗi tiểu bang trước khi nó có hiệu lực . Tại Canada các loại tu chính án khác nhau đòi hỏi một sự kết hợp khác nhau các chính quyền tỉnh bang để đại diện một tỷ lệ nào đó dân số quốc gia tán thành. === Các hệ thống phức tạp === Trong thực tế, nhiều nền pháp lý kết hợp lại nhiều hơn một loại các quy trình tu chính thông thường. Ví dụ, Hiến pháp của Pháp có thể được tu chính bởi một trong hai cách sau: hoặc là bằng cách đa số đặc biệt hoặc là bằng một cuộc trưng cầu dân ý. Mặt khác, một tu chính án hiến pháp của tiểu bang Massachusetts đầu tiên phải được tán thành bởi đa số đặc biệt tại lập pháp trong thời gian hai nhiệm kỳ liên tiếp và rồi sau đó được đưa ra để trưng cầu dân ý. Có một số hiến pháp quy định rằng các điều khoản khác nhau của chúng phải được tu chính trong những cách khác nhau. Đa số các điều khoản trong hiến pháp của Litva có thể được tu chính theo thể thức đa số đặc biệt tại quốc hội nhưng một sự thay đổi tình trạng quốc gia ví dụ như "cộng hòa dân chủ độc lập" thì phải được tán thành bởi 3/4 đa số trong một cuộc trưng cầu dân ý. Không như những điều khoản khác của nó, một cuộc trưng cầu dân ý bắt buộc phải có để tu chính một phần của hiến pháp Iceland nói về quan hệ của nhà thờ và nhà nước. == Xem thêm == Các tu chính án hiến pháp của Canada Các tu chính án hiến pháp của Ireland Các tu chính án hiến pháp của Mỹ Danh sách hiến pháp quốc gia Các cuộc trưng cầu dân ý tại Úc == Ghi chú == == Tham khảo == "Amendment", by Peter Suber. From Philosophy of Law: An Encyclopedia, edited by Christopher Berry Gray, Garland Pub. Co., 1999, vol. I, pp. 31–32. The Paradox of Self-Amendment: A Study of Logic, Law, Omnipotence, and Change, by Peter Suber. Full-text of the book, now out of print. Peter Lang Publishing, 1990. For an essay-length synopsis, see "The Paradox of Self-Amendment in American Constitutional Law", Stanford Literature Review, 7, 1–2 (Spring–Fall 1990) 53–78. "Population Changes and Constitutional Amendments: Federalism versus Democracy", by Peter Suber. University of Michigan Journal of Law Reform, 20, 2 (Winter 1987) 409–490. "Unamendments", by Jason Mazzone, Iowa Law Review, Vol. 90, p. 1747–1855, 2005.
dòng chiến sĩ toàn quyền malta.txt
Dòng Chiến sĩ Toàn quyền Malta (tên đầy đủ là Dòng Chiến sĩ Toàn quyền Cứu tế Thánh Gioan của Jerusalem, Rhodes và Malta, tiếng Ý: Sovrano Militare Ordine Ospedaliero di San Giovanni di Gerusalemme di Rodi e di Malta, cũng được gọi tắt là Dòng Hiệp sĩ Malta) là một dòng tu Công giáo Rôma được tổ chức như một lực lượng quân sự. Họ là các hiệp sĩ châu Âu lâu đời nhất trên thế giới và được đánh giá là lực lượng hào hiệp và thượng võ. Dòng Hiệp sĩ Malta đương đại là kế thừa của Dòng Thánh Gioan Jerusalem từ thời trung cổ, (còn gọi là Hiệp sĩ Cứu tế - Fraternitas Hospitalaria) khởi đầu là bệnh viện được thành lập ở Jerusalem vào năm 1080 nhằm chăm sóc những người hành hương nghèo và bệnh tật đến Đất Thánh. Sau khi chinh phục được Jerusalem hồi năm 1099 trong cuộc Thập tự chinh thứ nhất, họ đã trở thành một dòng tu quân sự có điều lệ riêng với nhiệm vụ chăm sóc và bảo vệ Đất Thánh. Kể từ sau khi các vùng lãnh thổ ở Đất Thánh rơi vào tay người Hồi giáo thì dòng này rút quân về hoạt động ở đảo Rhodes (1310-1523), và sau đó là đảo Malta (1530-1798) để tuyên bố chủ quyền. Năm 1798, Napoléon Bonaparte chiếm được Malta thì dòng này rút về Roma nhưng vẫn duy trì tính độc lập chủ quyền đối với mọi nhà nước thế tục. Hiện tại, trụ sở của dòng đặt tại Roma và được coi là một thực thể có chủ quyền theo luật pháp quốc tế. Dù không thực sự có một vùng lãnh thổ xác định nhưng họ được cấp tư cách quan sát viên thường trực tại Liên Hiệp Quốc. được phát hành tem bưu chính, có hộ chiếu đi quốc tế, có quốc kỳ và quốc huy như một nhà nước. Dòng Hiệp sĩ Malta chọn Đức Mẹ Maria, với danh hiệu "Đức Mẹ Núi Philermos" làm thánh quan thầy và cầu bầu của mình. Dòng hiện có khoảng 13.000 thành viên, 80.000 tình nguyện viên thường trực và 20.000 nhân viên y tế (bao gồm bác sĩ, y tá, trợ tá) hiện diện tại hơn 120 quốc gia Mục đích hoạt động của họ là giúp đỡ trẻ em, người già, người khuyết tật, người vô gia cư, người bị bệnh hiểm nghèo và bệnh phong ở tất cả các nơi trên thế giới, không phân biệt chủng tộc hay tôn giáo. Ở một số quốc gia như Pháp, Đức và Ireland, dòng là tổ chức đào tạo quan trọng về sơ cứu và cấp cứu y tế. Thông qua tổ chức thành viên là Malteser International, Dòng Hiệp sĩ Malta cũng tham gia cứu trợ các nạn nhân của thiên tai, dịch bệnh và các cuộc xung đột vũ trang. == Lịch sử == Khởi sự từ năm 1048 từ các nhà buôn từ quốc gia cổ Amlfi được chính quyền tại Ai Cập cho phép xây nhà thờ, tu viện và bệnh viện tại Jerusalem, với mục đích chăm lo cho khách hành hương đến từ mọi chủng tộc không phân biệt tôn giáo. Dòng Thánh Gioan tại Giêrusalem trở thành một cộng đoàn đan tu điều hành và mở các bệnh viện cho khách hành hương tại Đất Thánh, trở thành độc lập và dưới sự điều khiển của vị sáng lập là Chân Phước Gérard. Giáo hoàng Pascalê II chuẩn y trong một sắc Lệnh ký ngày 15 tháng 11 năm 1113. Lúc đó tất cả các thành viên là tu sĩ với ba lời khấn: vâng lời, khiết tịnh và khó nghèo. Về sau vì để bảo vệ cho khách hành hương, dòng đã biến thành lực lượng bảo vệ và tham chiến trong những cuộc Thập Tự Chinh, từ đó biến thành Đoàn Hiệp Sĩ. Các hiệp sĩ dòng này đã đeo một biểu tưởng là cây Thánh Giá tám cạnh tượng trưng cho tám mối phúc thật và huy hiệu ấy vẫn còn sử dụng cho đến ngày nay. === Rhodes === Năm 1291, khi lực lượng trấn thủ Thánh Địa cuối cùng của dòng bị quân Hồi giáo đánh bại, họ đã quyết định rút quân về đảo Síp vào năm sau đó rồi đi chuyển đến với vị thủ lĩnh Fra Fouques de Villare tại đảo Rhodes. Tại đây, các hiệp sĩ đã tổ chức thành lực lượng hải quân và xây dựng một thành trì kiên cố bên bờ biển phía đông Địa Trung Hải để bảo vệ Kitô hữu trước các cuộc tấn công của các tàu chiến từ biển vào. Lực lượng này không chịu sự chỉ huy của bất kỳ quốc gia nào trong vùng, họ chỉ phục tùng lệnh của Giáo hoàng. Họ đã đánh nhiều trận ác liệt và nổi danh nhất trong thời kỳ bắt bớ và tử đạo, ví dụ như Thập tự chinh tại Syria và tại Ai Cập. Đến đầu thế kỷ 14, tất cả các hiệp sĩ của dòng từ khắp châu Âu đã quy tụ về Rhodes để lập thành nhóm theo ngôn ngữ của họ. Ban đầu chỉ có bảy nhóm ngôn ngữ là Provence, Aubengne, Pháp, Ý, Aragon, Anh (gồm cả Scotland và Ireland), Đức. Đến năm 1492, nhóm Aragon chia làm hai nhóm là Castille và Bồ Đào Nha. Mỗi nhóm đều có vị thủ lĩnh riêng nhưng tất cả đều dưới quyền thủ lĩnh của Đại thống lĩnh tước hiệu là Thái tử thành Rhodes. Họ được Giáo hoàng cấp quy chế tổ chức quân lực, được đúc tiền và ngoại giao với các quốc gia khác. === Malta === Năm 1523, đoàn hiệp sĩ thất thủ trước lực lượng Sultan sau sáu tháng giao chiến ác liệt và phải rời đảo Rhodes. Họ bị phân tán vì không có đất dụng võ, mãi cho tới năm 1530, khi Đại thống lĩnh Fra Philippe de Villiers de I'Isle Adam chiếm được đảo Malta thì họ mới được quy tụ lại. Cuộc Cải cách Kháng Cách xảy ra làm phân rẽ thành Giáo hội Công giáo và Tin Lành khiến cho dòng bị giải thể tại những quốc gia ủng hộ cải cách như Anh, Scotland. Còn tại Hà Lan, Đức và Thụy Điển, dòng phải biến đổi thành chi dòng trung lập trong bất kỳ cuộc chiến tranh nào giữa các quốc gia Kitô giáo. Năm 1565, Đại thống lĩnh Fra 'Jean de la Vallette (thủ đô của Valletta của Malta ngày nay được đặt theo tên ông) chỉ huy các hiệp sĩ bảo vệ hòn đảo này trước cuộc vây hãm của quân Ottoman trong suốt hơn ba tháng. Trong trận Lepanto năm 1571, đoàn hiệp sĩ Malta đã góp quân vào liên minh hùng mạnh nhất ở Địa Trung Hải dưới sự chỉ huy của Don Juan nước Áo để đánh bại hoàn toàn lực lượng hải quân Ottoman. === Lưu vong === Sau hai thế kỷ thành lập, vào năm 1798, Napoleon Bonaparte chiếm được hòn đảo Malta trong chiến lược tiến tới Ai Cập. Mặc dù Hiệp ước Amiens 1802 có điều khoản cho Anh sơ tán Malta để khôi phục dòng Hiệp sĩ Malta, chủ quyền đảo này thuộc về các cường quốc châu Âu nhưng Bonaparte không thực hiện. Anh tuyên chiến với Pháp vào ngày 18 tháng 5. Vì luật của các hiệp sĩ là không được dùng vũ khí để sát hại Kitô hữu nên họ buộc phải rời Malta. === Roma === Sau khi tạm thời rút về Messina, Catania và Ferra, năm 1834, đoàn Hiệp sĩ về đóng quân vĩnh viễn tại Roma trên đồi Aventine. Kể từ đó, tổ chức này gần như không còn có các hoạt động quân sự mà chuyên tâm hoạt động bác ái, từ thiện. Đoàn đã hoạt động mạnh mẽ hơn trong Thế chiến thứ I và II dưới quyền thủ lĩnh của Fra Ludovico Chigi Alban delă Rovere và dưới thời của Fra Angelo de Mojana di Cologna (1962-1988) == Vị thế trên quốc tế == Bởi lịch sử độc đáo và tình trạng khá đặc biệt, vị thế của Dòng Hiệp sĩ Malta đang là chủ đề tranh luận trên trường quốc tế. Họ tự nhận là một "đối tượng có chủ quyền theo luật pháp quốc tế". Không giống như Tòa Thánh có chủ quyền đối với thành Vatican để phân biệt lãnh thổ của họ với Ý, Dòng Hiệp sĩ Malta đã không còn lãnh thổ nào kể từ khi họ mất đảo Malta hồi năm 1798, ngoại trừ hai cơ sở vật chất hiện nay là: trụ sở chính tại Roma là Palazzo Malta (nơi cư trú của Đại thống lĩnh) cùng Villa del Priorato di Malta trên đồi Aventine (cơ quan chính phủ); và Lâu đài Saint Angelo trên đảo Malta. Những nơi này có tòa đại sứ quán của Tòa Thánh và nước Ý được cấp đặc quyền ngoại giao. Liên Hiệp Quốc không coi Dòng Hiệp sĩ Malta như là một "nhà nước phi thành viên" hoặc "tổ chức liên chính phủ" nhưng coi họ là một trong kiểu đơn vị khác được nhận tư cách làm quan sát viên. Tuy nhiên, Liên minh Viễn thông Quốc tế đã không cấp cho họ mã nhận dạng vô tuyến và đuôi tên miền riêng. Hiện nay, Dòng Hiệp sĩ Malta có quan hệ ngoại giao với 104 quốc gia và quan hệ chính thức với sáu quốc gia và Liên minh châu Âu. Ngoài ra, họ còn có quan hệ với Ủy ban Hội Chữ thập đỏ Quốc tế và một số tổ chức quốc tế khác. Vị thế quốc tế này đã mang lại cho họ sự thuận lợi trong việc thực hiện các hoạt động nhân đạo. Chủ quyền của họ cũng được thể hiện trong việc họ phát hành hộ chiếu, biển số xe, tem bưu chính, và tiền xu riêng. == Thành viên == Cấp 1: gồm các Hiệp sĩ Công lý là các tu sĩ với 3 lời khấn: Vâng lời, Khiết tịnh và Khó nghèo. Các tu sĩ này không buộc phải sống trong Cộng đoàn của dòng. Cấp 2: gồm những người nam nữ khấn hứa vâng lời và cam kết sống theo nguyên tắc của người Kitô hữu và sống theo những nguyên tắc được linh hứng bởi dòng. Cấp này chia làm 3 hạng: Hiệp sĩ Danh Dự tận hiến sống vâng lời Hiệp sĩ Ân Sủng tận hiến sống vâng lời Hiệp sĩ Ấn Giáo Huấn tận hiến sống vâng lời Cấp 3: gồm những giáo dân không buộc phải khấn những lời khấn tu trì hay tuân giữ những lời hứa, nhưng buộc phải sống theo nguyên tắc giảng dạy của Giáo hội Công giáo và của dòng, một lần nữa cấp này lại chia làm 6 loại: Hiệp Sĩ Danh Dự và Tận Hiến, Các Tuyên Úy, Hiệp Sĩ Ân Sủng và Tận Hiến, Tuyên úy Giảng Dạy, Hiệp Sĩ Ân Giáo Huấn, Những người nam nữ sống Tận Hiến. == Vụ căng thẳng 2016 == Ngày 22 tháng 12 năm 2016, Giáo hoàng Phanxicô đã thiết lập một ủy ban đặc biệt để điều tra những bất hòa trong Dòng Malta sau khi vị Hiệp sĩ Tối cao ra quyết định sa thải Chưởng ấn đương nhiệm là Albrecht von Boeselager. Ông này bị cách chức vì liên quan đến một chương trình phân phối bao cao su mà Giáo hội vốn có quan điểm không khuyến khích sử dụng nhằm mục đích tránh thai. Tuy nhiên sau đó, Dòng Malta thông cáo nói rằng việc lật đổ Albrecht von Boeselager là một “hành động hành chính nội bộ thuộc chủ quyền nhà nước của Dòng Hiệp Sĩ Malta và do đó hoàn toàn thuộc phạm vi thẩm quyền của Dòng” và rằng dù bày tỏ lòng trung thành với giáo hoàng nhưng phía Dòng Malta vẫn bác bỏ khả năng Vatican can thiệp vào “chủ quyền nhà nước” của Dòng này. == Chú thích == == Tham khảo == Thủ Lãnh Đoàn Hiệp Sĩ Malta, Cụ Fra Andrew Bertie đã từ trần tại Roma - VietCatholic
dung dịch rắn.txt
Dung dịch rắn là những pha tinh thể có thành phần bao gồm thêm các nguyên tử của nguyên tố chất hòa tan, phân bố ở trong mạng tinh thể dung môi. Các nguyên tử của chất hòa tan thay thế các nguyên tử ở các nút mạng hay xen kẽ vào chỗ trống giữa các nút mạng. Trong trường hợp đầu tiên người ta gọi các tinh thể là các dung dịch rắn thay thế còn trong trường hợp thứ hai là dung dịch rắn xen kẽ. Nói một cách khác, dung dịch rắn là một thể rắn đồng nhất hình thành từ các pha rắn của dung dịch. == Đặc tính của dung dịch rắn == Về mặt cấu trúc dung dịch rắn của hợp kim có kiểu mạng tinh thể vẫn là kiểu mạng của kim loại dung môi. Đặc tính cơ bản này quyết định các đặc trưng cơ lý hóa tính của dung dịch rắn, về cơ bản vẫn giữ được các tính chất cơ bản của kim loại chủ hay nền. Như vậy dung dịch rắn trong hợp kim có các đặc tính cụ thể như sau: Liên kết vẫn là liên kết kim loại, do vậy dung dịch rắn vẫn giữ được tính dẻo giống như kim loại nguyên chất Thành phần hoá học thay đổi theo phạm vi nhất định mà không làm thay đổi kiểu mạng. Tính chất biến đổi nhiều: Độ dẻo, độ dai, hệ số nhiệt độ điện trở giảm, điện trở độ bền, độ cứng tăng lên. Do các đặc tính trên nên dung dịch rắn là cơ sở của hợp kim kết cấu dùng trong cơ khí. Trong hợp kim này pha cơ bản là dung dịch rắn, nó chiếm xấp xỉ đến 90% có trường hợp đến 100%. == Dung dịch rắn thay thế == Ở các dung dịch rắn thay thế, các nguyên tử của chất tan thông thường được phân bố thống kê trong mạng dung môi. Mạng không gian xung quanh nguyên tử chất tan xuất hiện những sai lệch cục bộ. Những sai lệch này dẫn tới sự thay đổi tính chất và sự thay đổi thông số mạng trung bình. Sự hình thành các dung dịch rắn luôn luôn kèm theo việc tăng điện trở và giảm hệ số nhiệt điện trở. Các kim loại ở dạng dung dịch rắn thường kém dẻo, luôn luôn cứng hơn và bền hơn so với các kim loại nguyên chất. == Dung dịch rắn xen kẽ == Trong kim loại, các dung dịch rắn loại này xuất hiện khi hợp kim hóa các kim loại chuyển tiếp bằng các á kim có bán kính nguyên tử nhỏ như H, N, C, B. Những xô lệch mạng xuất hiện khi tạo thành dung dịch rắn xen kẽ vượt quá những xô lệch mạng khi tạo thành dung dịch rắn thay thế, do vậy các tính chất cũng thay đổi mạnh hơn. Theo mức độ tăng nồng độ của nguyên tố hòa tan trong dung dịch rắn mà điện trở, lực kháng từ, độ cứng và độ bền tăng, nhưng độ dẻo và độ dai giảm đi rõ rệt. == Tham khảo == Vật liệu học, B.N.Arzamaxov, Nhà xuất bản Giáo dục, 2000. == Xem thêm == Hệ keo Dung dịch lỏng (khái niệm thường dùng)
phan thiết.txt
Phan Thiết là tỉnh lỵ, trung tâm chính trị, kinh tế, văn hóa và khoa học kỹ thuật của tỉnh Bình Thuận. Phan Thiết nằm trên quốc lộ 1A (chiều dài quốc lộ 1A đi qua là 7 km), trung tâm hành chính Thành phố Phan Thiết cách trung tâm hành chính Thành phố Hồ Chí Minh 183 km về hướng đông bắc. Phan Thiết là đô thị Duyên Hải Cực Nam Trung Bộ, thuộc khu vực Nam Trung Bộ, tuy nhiên, theo quy hoạch phát triển đến năm 2025, nó sẽ là đô thị cấp vùng Đông Nam Bộ. Diện tích tự nhiên là 206,45 km², bờ biển trải dài 57,40 km. == Địa lý == === Vị trí === Thành phố Phan Thiết hình cánh cung trải dài từ: 10°42'10" đến 11° vĩ độ bắc. Phía đông giáp biển Đông. Phía tây giáp huyện Hàm Thuận Nam - tỉnh Bình Thuận. Phía nam giáp biển Đông và huyện Hàm Thuận Nam - tỉnh Bình Thuận. Phía bắc giáp huyện Hàm Thuận Bắc và huyện Bắc Bình - tỉnh Bình Thuận. Giữa trung tâm thành phố có sông Cà Ty chảy ngang, chia Phan Thiết thành 2 ngạn: Phía nam sông: khu thương mại, điển hình là Chợ Phan Thiết. Phía bắc sông: gồm các cơ quan hành chính và quân sự trung tâm mới của Phan Thiết đang được xây dựng tại khu vực phường Phú Thủy và Xuân An trên một diện tích 300ha gồm các tòa cao ốc hành chính mới, liên hợp trung tâm thương mại, nhà thi đấu mới Tỉnh Bình Thuận, khu dân cư mới sức chứa 50,000 người cùng nhiều công viên, các khu dịch vụ và trường học. === Mở rộng hành chính thành phố === Sau khi được chính phủ công nhận đô thị loại 2 cuối năm 2009. Thành phố Phan Thiết tiếp tục quy hoạch, định hướng phát triển không gian đô thị theo 6 hướng. Hướng tây phát triển theo QL1A tiếp giáp với khu đô thị Ngã Hai và khu công nghiệp Hàm Kiệm; hướng đông bắc phát triển ra trung tâm xã Hàm Thắng và thị trấn Phú Long; hướng bắc phát triển theo QL28; hướng tây bắc phát triển theo tỉnh lộ 718; hướng đông phát triển theo tỉnh lộ 706B, tỉnh lộ 716 và khu vực Hàm Tiến - Mũi Né; hướng tây nam phát triển theo tỉnh lộ 719 hình thành khu đô thị du lịch Tiến Thành. Cơ bản đến năm 2020, sát nhập một số đơn vị hành chính của huyện Hàm Thuận Bắc và huyện Hàm Thuận Nam vào thành phố, dân số đạt trên 350.000 người. Diện tích tự nhiên tăng lên 276,260 km² (tăng 69,8 km² so với hiện nay), phấn đấu trở thành đô thị loại 1. Đến năm 2030 Phan Thiết trở thành cửa ngõ của vùng kinh tế trọng điểm phía nam, Tây nguyên và Nam Trung bộ với quy mô dân số nội thành Phan Thiết đạt trên 400.000 người === Địa hình === Phan Thiết có địa hình tương đối bằng phẳng, có cồn cát, bãi cát ven biển, đồi cát thấp, đồng bằng hẹp ven sông. Có 3 dạng chính: Vùng đồng bằng ven sông Cà Ty. Vùng cồn cát, bãi cát ven biển. Có địa hình tương đối cao. Vùng đất mặn: ở Thanh Hải, Phú Thủy, Phú Trinh và Phong Nẫm. === Khí tượng-Thủy văn === Thành phố Phan Thiết nằm trong vùng khô hạn, khí hậu nhiệt đới điển hình, nhiều gió, nhiều nắng, ít bão, không có sương muối, có nhiệt độ trung bình hàng năm từ 26 °C đến 27 °C. Tháng 1, tháng 2 và tháng 12 (nhiệt độ trung bình 25,5 °C) mát hơn so với các tháng khác trong năm. Tháng 4 và tháng 5 là những tháng nóng nhất ở Phan Thiết, nhiệt độ có khi lên đến 29 °C. Độ ẩm tương đối trung bình hàng năm từ 78 đến 80,7%. Phan Thiết có số giờ nắng mỗi năm từ 2500 đến trên 3000 giờ. Lưu lượng mưa hàng năm dao động từ 890,6 mm đến trên 1335 mm. Ttb - Nhiệt độ trung bình (°C) tgn - Tổng số giờ nắng (giờ) Atb - Độ ẩm tương đối trung bình (%) Mtb - Lưu lượng mưa trung bình (mm) Các sông sau chảy qua thành phố: Sông Cà Ty: 7,2 km Sông Cát (Suối Cát): 3,3 km Sông Cái: 1,1 km Sông Cầu Ké: 5,4 km == Lịch sử == === Nguồn gốc tên gọi === Có một số giả thiết về tên gọi của Phan Thiết và phần lớn đều chấp nhận rằng, "Phan Thiết" không phải là một cái tên thuần Việt: Khi chưa có người Việt định cư, người Chăm gọi vùng đất này là "Hamu Lithít" - "Hamu" là xóm ruộng bằng, "Lithít" là ở gần biển. Khi bắt đầu có người Việt định cư, vẫn chưa ai có ý định đặt ngay cho vùng đất này một tên gọi mới bằng tiếng Việt. Lâu dần, âm cuối "Lithit" lại được gắn liền với âm "Phan" tách từ phiên âm của tên hai vùng Phan Rang, Phan Rí mà thành ra Phan Tiết (tên gọi ngày xưa) và sau này người ta gọi chuẩn với cái tên là Phan Thiết. Người Việt đã phiên âm lại cách gọi tên của người Chăm trước đó: Mang-lang (Phan Rang), Mang-lý (Phan Rí), Mang-thít (Phan Thiết). Ba địa danh này được gọi chung là "Tam Phan". Po Thit (hoàng tử em của công chúa Po Sah Inư, con của vua Chăm Par Ra Chanh, tức Trà Chanh) đóng đồn trấn ngữ vùng đất này vào thế kỷ XIV được người Việt đọc trại ra mà thành Phan Thiết. Ngày nay, yếu tố "Phan" còn xuất hiện nhiều trong các địa danh ở tỉnh Bình Thuận như: Sông Phan, Phan Rí Cửa, Phan Rí Thành, Phan Lâm, Phan Sơn... === Hình thành === Vùng đất này khi xưa thuộc vương quốc Chămpa, sau này sáp nhập vào Đại Việt. Hành chính được xác lập cùng thời gian hình thành tỉnh Bình Thuận ngày nay, nhưng khi ấy nó chưa được xác định địa giới và cấp hành chính gì. Năm 1697, Bình Thuận lần lượt được đổi từ một trấn lên thành phủ, rồi lên thành dinh, thì Phan Thiết chính thức được công nhận là một đạo (cùng một lượt với các đạo Phan Rang, Phố Hài, Ma Ly vùng Tam Tân). Tuy nhiên, đạo Phan Thiết lập ra nhưng chẳng có văn bản nào chỉ rõ phạm vi lãnh thổ. Từ năm 1773 đến năm 1801, nơi đây thường diễn ra các cuộc giao tranh ác liệt giữa các lực lượng quân nhà Nguyễn và quân nhà Tây Sơn. Năm 1825, thời Minh Mạng, khi Bình Thuận chính thức trở thành tỉnh, đạo Phan Thiết bị cắt một phần đất nhập vào một huyện thuộc Hàm Thuận (năm 1854, thời Tự Đức, huyện này được đặt tên là huyện Tuy Lý). 1835, tuần vũ Dương Văn Phong thỉnh cầu vua Minh Mạng chuyển tỉnh lỵ của Bình Thuận ở gần Phan Rí (huyện Hoà Đa) lập từ thời Gia Long về đóng ở vùng Phú Tài - Đại Nẫm, huyện Hàm Thuận nhưng vua chưa đồng ý. Năm 1836 (năm Minh Mạng thứ 17), Thị Lang Bộ Hộ là Đào Tri Phủ được cử làm việc đo đạc, lập địa bạ trong số trên 307 xã, thôn thuộc hai phủ, bốn huyện và mười lăm tổng của tỉnh Bình Thuận để chuẩn định và tiến hành đánh thuế. Đo đạc xong ước định vùng Phan Thiết (thuộc tổng Đức Thắng) có chín địa danh trực thuộc. Bên hữu ngạn sông (sông Cà Ty ngày nay) là các xã Đức Thắng, Nhuận Đức, Lạc Đạo và các thôn Thành Đức, Tú Long. Bên tả ngạn là xã Trinh Tường và các thôn Long Khê, Long Bình, Minh Long. Qua nhiều lần thay đổi các đơn vị hành chính, một số thôn nhỏ sáp nhập thành làng lớn, một số địa danh cũ biến mất như Minh Long, Long Bình (thuộc phường Bình Hưng ngày nay), Long Khê (thuộc phường Phú Trinh ngày nay). Một số thôn, xã khác của tổng Đức Thắng như Phú Tài, Phú Hội, Xuân Phong, Đại Nẫm được xem là ngoại vi của Phan Thiết. Một số địa danh thuộc khu vực Phố Hài (phường Phú Hài ngày nay) như Tân Phú, An Hải, An Hoà, Tú Lâm, Sơn Thủy, Thiện Chính, Ngọc Lâm... thuộc về tổng Hoa An (sau đổi lại là tổng Lại An) của huyện Tuy Định. Một số thôn, xã dọc bờ biển như Khánh Thiện, Thạch Long, Long Sơn (thuộc khu vực Rạng - Mũi Né ngày nay) thuộc tổng Vĩnh An của huyện Hòa Đa. Gần cuối thế kỷ 19, Phan Thiết vẫn chưa được công nhận chính thức là một đơn vị hành chính (cấp dưới) trực thuộc tỉnh Bình Thuận. Năm 1898 (năm Thành Thái thứ muời), tỉnh lỵ Bình Thuận được dời về đặt tại làng Phú Tài ở ngoại vi Phan Thiết. Ngày 20 tháng 10 cùng năm, vua Thành Thái ra đạo dụ xác lập thị xã (centre urban) Phan Thiết, tỉnh lỵ của Bình Thuận (cùng ngày thành lập các thị xãHuế, Hội An, Quy Nhơn, Thanh Hoá, Vinh). Năm 1905, thị xã Phan Thiết cũng vẫn chưa xác định rõ ranh giới. Tòa sứ Bình Thuận (bộ máy thống trị của Pháp) do một công sứ (résident) đứng đầu đặt thường trực tại Phan Thiết. Ngày 4 tháng 11 năm 1910, viên toàn quyền Đông Dương A.Klobukowski ra quyết định về Phan Thiết. Lúc này Phan Thiết chính thức bao gồm 16 làng xã. Bên hữu ngạn sông: Đức Thắng, Thành Đức, Nhuận Đức, Nam Nghĩa, Lạc Đạo, Tú Long; bên tả ngạn sông: Long Khê, Phú Trinh, Trinh Tường, Đảng Bình, Quảng Bình, Thiện Mỹ, Thiện Chánh, Xuân Hoà, An Hải, Sơn Thuỷ (năm làng sau trước đây là thuộc khu vực Phố Hài). Có thêm địa danh mới như Nam Nghĩa, Quảng Bình (dân Quảng Nam, Quảng Nghĩa, Quảng Bình di cư vào Phan Thiết). Ngày 6 tháng 1 năm 1918, Khâm Sứ Trung Kỳ Charles quyết định Phú Hài (tên gọi mới của Phố Hài) tách ra khỏi Phan Thiết để nhập về lại tổng Lại An của huyện Hàm Thuận. Pháp bắt đầu thiết lập bộ máy chính quyền ở Phan Thiết. Thị xã Phan Thiết liên tục làm tỉnh lỵ của tỉnh Bình Thuận từ đó. === Phát triển === Sau khi Việt Nam thống nhất (1975), thị xã Phan Thiết được chọn làm tỉnh lỵ của tỉnh Thuận Hải, gồm 9 phường: Bình Hưng, Đức Long, Đức Nghĩa, Đức Thắng, Hưng Long, Lạc Long, Phú Thủy, Phú Trinh, Thanh Hải. Ngày 15 tháng 12 năm 1977, chuyển xã Hàm Hải thuộc huyện Hàm Thuận về thị xã Phan Thiết quản lý, sau đổi tên thành xã Phú Hải. Ngày 13 tháng 3 năm 1979, thành lập 2 xã Tiến Lợi và Phong Nẫm. Ngày 30 tháng 12 năm 1982, sau khi chia huyện Hàm Thuận thành 2 huyện Hàm Thuận Bắc và Hàm Thuận Nam, chuyển xã Hàm Tiến và thị trấn Mũi Né (nay trở thành phường Hàm Tiến và phường Mũi Né) thuộc huyện Hàm Thuận cũ về thị xã Phan Thiết quản lý. Ngày 28 tháng 11 năm 1983, thành lập xã Tiến Thành. Sau khi chia tách tỉnh Thuận Hải đầu năm 1992, thị xã Phan Thiết vẫn giữ là tỉnh lỵ của tỉnh Bình Thuận ngày nay. Ngày 25 tháng 8 năm 1999, chính phủ Việt Nam quyết định nâng cấp thị xã Phan Thiết thành thành phố Phan Thiết trực thuộc tỉnh Bình Thuận. Ngày 22 tháng 11 năm 2001, chia xã Phong Nẫm thành ba đơn vị hành chính là xã Phong Nẫm, phường Phú Tài và phường Xuân An; chia xã Hàm Tiến thành hai đơn vị là phường Hàm Tiến và xã Thiện Nghiệp; chuyển xã Phú Hải thành phường Phú Hài. Ngày 24 tháng 6 năm 2009, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định 890/QĐ-TTg công nhận thành phố Phan Thiết là đô thị loại 2 trực thuộc tỉnh Bình Thuận. Tuy là một thành phố trẻ nhưng theo các nhà nghiên cứu thì "phố cổ" Phan Thiết hình thành trước Nha Trang và Phan Rang. == Dân cư == Dân cư Phan Thiết chủ yếu là người Việt, có một bộ phận người gốc Hoa sinh sống trong trung tâm thành phố, tập trung nhiều ở phường Đức Nghĩa và Lạc Đạo. Dân số của Phan Thiết theo thống kê của Cục thống kê tỉnh Bình Thuận năm 2015 là 283.457 người. Mật độ dân số là 1.373 người/km² toàn thành phố, đặc biệt khu vực trung tâm, như Đức Nghĩa, Đức Thắng, Lạc Đạo, Hưng Long, Bình Hưng mật độ dân số trên 30.000 người/ km². Nếu tính cả cư dân vãng lai đang tạm trú làm ăn sinh sống và học tập tại Phan Thiết thì đông hơn, vào khoảng trên 300.000 dân. Tỉ lệ gia tăng dân số tự nhiên toàn thành phố đạt 1.2% Hiện nay trên địa bàn thành phố Phan Thiết đã và đang hình thành một số khu đô thị cao cấp như khu đô thị Ocean Dunes, khu đô thị Acenza Villas... == Các đơn vị hành chính trực thuộc == Sau khi được chính phủ công nhận là thành phố vào năm 1999, Phan Thiết được chia thành 18 đơn vị hành chính gồm 14 phường: Bình Hưng, Đức Long, Đức Nghĩa, Đức Thắng, Hàm Tiến, Hưng Long, Lạc Đạo, Mũi Né, Phú Hài, Phú Tài, Phú Thủy, Phú Trinh, Thanh Hải, Xuân An và 4 xã: Phong Nẫm, Thiện Nghiệp, Tiến Lợi, Tiến Thành. = Diện tích và Dân số Các Đơn Vị Hành chính = Thành phố Phan Thiết có 18 phường, xã trực thuộc, bao gồm: Ghi chú: đơn vị diện tích: km²; mật độ: người/km²; số liệu năm 2015. == Kinh tế == Khoảng cuối thế kỷ 19 đầu thế kỷ 20, về mặt dân số cũng như kinh tế, Phan Thiết đã là một đô thị lớn của vùng duyên hải Trung kỳ. Phố Hài, Mũi Né là những cửa biển sầm uất với ghe thuyền từ Trung Kỳ, Nam Kỳ đến chở nước mắm, cá khô, dầu rái, trầm hương... vào Sài Gòn, ra Đà Nẵng buôn bán. Thậm chí có cả tàu thuyền Trung Quốc từ Quảng Đông, Hải Nam - qua đường biển từ Hội An - đến giao thương. Trong những năm đầu thế kỷ 21, nền kinh tế thành phố Phan Thiết tăng trưởng với nhịp độ khá (tốc độ tăng trưởng bình quân mỗi năm là 14.04%). Cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng công nghiệp, dịch vụ du lịch, ngư, nông lâm nghiệp, tiềm năng kinh tế từng bước khai thác có hiệu quả, các thành phần kinh tế được khuyến khích đầu tư phát triển sản xuất kinh doanh. === Tài nguyên-Khoáng sản === Phan Thiết với 57,4 km bờ biển có nhiều tiềm năng để phát triển nghề làm muối, du lịch. Tài nguyên sinh vật biển rất phong phú và đa dạng có khả năng khai thác 60 nghìn tấn/năm; ngoài ra còn có nguồn lợi thủy sản có giá trị hàng năm có thể khai thác 600-700 tấn tôm các loại, 3.200 - 3.500 tấn mực, 10.000-12.000 tấn sò điệp, sò lông và các loại hải sản khác. Phan Thiết có 260 hécta mặt nước có thể đưa vào nuôi tôm, làm ruộng muối, trong đó diện tích có khả năng nuôi tôm là 140 ha. Ven biển Phan Thiết có các bãi biển bờ thoải, cát trắng mịn, môi trường trong sạch, bãi tắm tốt như Đồi Dương - Vĩnh Thủy, Rạng, Mũi Né... cùng với các phong cảnh đẹp: tháp Po Sah Inư, Lầu Ông Hoàng, Suối Tiên (Hàm Tiến), rừng dừa Rạng - Mũi Né, Tiến Thành và khu di tích Dục Thanh có điều kiện thu hút khách du lịch. Với diện tích 19.180 ha, Phan Thiết có 4 loại đất chính: Cồn cát và đất cát biển, diện tích 15.300 ha (79,7% diện tích tự nhiên). Cồn cát trắng 990 ha; cồn cát xám vàng 1450 ha; đất cồn cát đỏ 8.920 ha; đất cát biển 3940 ha. Trên loại đất này có thể khai thác để trồng dưa, đậu, điều, dừa. Đất phù sa, diện tích 2.840 ha (14,8% diện tích tự nhiên). Gồm đất phù sa được bồi 1.140 ha; đất phù sa không được bồi 1.400 ha; đất phù sa có tầng loang lổ đỏ vàng 300 ha. Hầu hết diện tích đất này đã được khai thác trồng lúa nước, hoa màu, cây ăn quả... Đất vàng trên đá Mácmaxít-granít, diện tích 540 ha (2,82% diện tích tự nhiên). Đất thung lũng do sản phẩm dốc tụ, diện tích 350 ha (1,82% diện tích tự nhiên). Trên các loại đất này có thể sử dụng xây dựng cơ bản và các mục đích nông, lâm nghiệp. Khoáng sản: có mỏ Imenít-Zircon ven biển Hàm Tiến - Mũi Né có trữ lượng 523,5 ngàn tấn. Mỏ đá Mico-granít ở Lầu Ông Hoàng với trữ lượng 200.000 tấn có thể sản xuất men sứ. Mỏ cát thủy tinh dọc theo các đồi cát ven biển Nam Phan Thiết có trữ lượng khoảng 18 triệu tấn. Tại vùng biển ngoài khơi thành phố Phan Thiết đã phát hiện ra mỏ dầu và đang được tiến hành khai thác thử nghiệm. === Công nghiệp === Khu công nghiệp phát triển nằm kề ngay trung tâm thành phố Phan Thiết, trên giao lộ Quốc lộ 1A (xuyên Việt) và Quốc lộ 28 (Phan Thiết - Lâm Đồng), cách Thành phố Hồ Chí Minh 200 km, cách Nha Trang 250 km, cách Vũng Tàu 150 km và Đà Lạt 165 km. Ngoài ra, trong nội thành còn có các cơ sở công nghiệp thực phẩm, chế biến thủy hải sản, các cơ sở thủ công mỹ nghệ. === Ngư nghiệp và nghề sản xuất nước mắm === Ngư nghiệp là ngành nghề lâu đời của người Phan Thiết. Cùng với La Gi và Phú Quý, Phan Thiết là ngư trường lớn của tỉnh Bình Thuận. Song song đó, Phan Thiết là nơi được thiên nhiên ưu đãi một khí hậu tự nhiên phù hợp với nghề sản xuất nước mắm. Biến thiên nhiệt độ giữa các tháng không lớn, ít mưa, nhiều nắng và gió là những điều kiện tự nhiên lý tưởng cho quá trình cá chín trong muối. Nhờ đó, nước mắm Phan Thiết có hương vị đặc trưng mà nước mắm ở những nơi khác không thể có. === Đặc sản ẩm thực === == Lễ hội văn hóa == === Đua thuyền mừng xuân === Cứ vào mùng 2 tết Nguyên Đán hằng năm, trên sông Cà Ty lại diễn ra lễ hội đua thuyền truyền thống mừng xuân. Những thuyền đua được trang trí bằng cờ, hoa và biểu ngữ rực rỡ sắc màu hòa lẫn trong tiếng trống, tiếng nhạc cùng tiếng reo hò cổ vũ của người dân và du khách tạo nên một không khí rộn ràng, sôi động mang đậm nét văn hóa truyền thống của địa phương. Đây là giải đua thể hiện tinh thần đoàn kết và sức mạnh của ngư dân vạn chài Phan Thiết. Giải truyền thống này có từ hàng trăm năm nay. === Rước đèn trung thu === == Di tích lịch sử == == Danh lam thắng cảnh - Du lịch == === Đặc trưng === ==== Phố Tây ở Phan Thiết ==== Con đường Nguyễn Đình Chiểu - khu Hàm Tiến tại Phan Thiết đang dần hình thành một mô hình "phố Tây". Con đường tuy nhỏ, nhưng bên phải là bờ biển trong vắt với hệ thống resort, nhà nghỉ, khách sạn cao cấp nằm san sát nhau; còn bên trái thì có khoảng vài chục cơ sở kinh doanh dịch vụ ăn uống, hàng lưu niệm, internet, giặt ủi, cho thuê xe đạp đôi, xe máy để giải trí với những bảng hiệu được viết bằng hai ngôn ngữ: tiếng Việt và tiếng Nga Nhiều nhất ở con phố này là các nhà hàng phục vụ thức ăn nhanh, hải sản kiểu Việt Nam, Ý, Mỹ, các quán bar thiết kế phong cách châu Âu và do chính người nước ngoài phục vụ. Tuy không sầm uất bằng các khu phố Tây ở Thành phố Hồ Chí Minh hay Nha Trang, nhưng hầu hết du khách nước ngoài đều thích thú với không khí ở đây. Những resort hiện đại ở Mũi Né, không gian yên tĩnh, cung cấp đầy đủ các trò chơi, giải trí cho du khách, đặc biệt là du khách nước ngoài như xuồng cao su, ván lướt sóng, phao bơi với đội ngũ cứu hộ chuyên nghiệp. ==== Xích lô du lịch ==== Khi đến muốn thong thả dạo chơi và tham quan vòng quanh thành phố, du khách có thể thuê xe xích lô. == Hình ảnh == Ga Phan Thiết == Chú thích == == Liên kết ngoài == Bản mẫu:Các đơn vị hành chính thuộc thành phố Phan Thiết
tenor.txt
Tenor hay "giọng nam cao" là giọng nam hát được cao nhất, phạm vi giọng dưới giọng Alto (Contralto) khoảng 1 quãng năm và được xem là giọng chủ chốt nếu xuất hiện trong 1 nhóm hát. Nam cao có khả năng hát cao bằng giọng chính (giọng ngực) của mình một cách thoải mái nên thường được dành cho hát những khúc cao trào trong kịch opera, những bài hát với những nốt thật cao. == Tham khảo ==
kagoshima (thành phố).txt
Thành phố Kagoshima (鹿児島市, Kagoshima-shi, Lộc Nhi Đảo thị) là thủ phủ của tỉnh Kagoshima tại mũi tây nam của đảo Kyūshū Nhật Bản, là thành phố lớn nhất trong tỉnh này. Thành phố thường được ví là 'Napoli của thế giới phương Đông' do vị trí của nó bên vịnh (Aira Caldera), khí hậu nóng và núi lửa tầng ấn tượng Sakurajima. Thành phố rộng 547,2 km² và có 605.614 dân. == Tham khảo == == Liên kết ngoài == Website chính thức của Kagoshima 鹿児島市 (tiếng Nhật) Official Tourism Website of Kagoshima City Kagoshima Convention & Visitors Bureau (tiếng Anh)
santos f.c..txt
Câu lạc bộ bóng đá Santos (tiếng Bồ Đào Nha: Santos Futebol Clube, phát âm tiếng Bồ Đào Nha: [ˈsɐ̃tus futʃiˈbɔw ˈklubi]), viết tắt là Santos F.C., hoặc đơn giản là Santos, là câu lạc bộ bóng đá chuyên nghiệp có trụ sở tại Santos, São Paulo (Brasil). Thành lập năm 1912, Santos F.C. chơi tại giải Campeonato Paulista và Campeonato Brasileiro Série A giải bóng đá cao nhất Brasil. == Lịch sử == == Danh hiệu == === Châu lục === Campeonato Paulista (19): 1935, 1955, 1956, 1958, 1960, 1961, 1962, 1964, 1965, 1967, 1968, 1969, 1973, 1978, 1984, 2006, 2007, 2010, 2011 Copa Paulista de Futebol (1): 2004 === Quốc nội === Campeonato Brasileiro Série A (8): 1961, 1962, 1963, 1964, 1965, 1968, 2002, 2004 Copa do Brasil (1): 2010 Torneio Rio-São Paulo (5): 1959, 1963, 1964, 1966, 1997 === Quốc tế === Copa Libertadores (3): 1962, 1963, 2011 Copa CONMEBOL (1): 1998 Intercontinental Cup (2): 1962, 1963 Recopa Sudamericana (1): 1968 Intercontinental Supercup (1): 1968 === Các cú Ăn hai và Ăn ba === Ăn hai Quốc nội (5) State và Cup: 2010 State và League: 1961, 1964, 1965, 1968 Quốc tế (2) State và Copa Libertadores: 2011 League và Copa Libertadores: 1963 Ăn ba Continental Treble (1) State, League và Copa Libertadores: 1962 == Cầu thủ == === Đội hình hiện tại === Số liệu thống kê chính xác tới 7 tháng 9, 2015 Ghi chú: Quốc kỳ chỉ đội tuyển quốc gia được xác định rõ trong điều lệ tư cách FIFA. Các cầu thủ có thể giữ hơn một quốc tịch ngoài FIFA. === Cho mượn === Ghi chú: Quốc kỳ chỉ đội tuyển quốc gia được xác định rõ trong điều lệ tư cách FIFA. Các cầu thủ có thể giữ hơn một quốc tịch ngoài FIFA. Pelé == Chú thích == == Xem thêm == São Paulo F.C. Santos FC (women) Santos FC Caratê Santos FC Futebol de mesa Santos FC Futsal Santos FC Golbol Santos FC Judô Santos FC Taekwondo Santos FC Tênis de mesa Santos FC Tsunami Santos FC Voleibol SC Corinthians == Tham khảo == == Liên kết ngoài == Website chính thức (tiếng Bồ Đào Nha) Kênh Santos Futebol Clube trên YouTube (tiếng Anh)(tiếng Bồ Đào Nha) Santos Futebol Clube at FIFA (tiếng Anh)(tiếng Pháp)(tiếng Đức)(tiếng Bồ Đào Nha)(tiếng Tây Ban Nha) Santos Futebol Clube at Sempre Peixe, the official club encyclopedia (tiếng Bồ Đào Nha) Santos Futebol Clube at Wikia (tiếng Bồ Đào Nha) Santos Futebol Clube at Globo Esporte (tiếng Bồ Đào Nha) Santos Futebol Clube at ESPN Soccernet (tiếng Anh)
bibliothèque de la pléiade.txt
Bibliothèque de la Pléiade (Tủ sách Pléiade) là một bộ sưu tập văn học của nhà xuất bản Pháp Gallimard. Bộ sưu tập này bao gồm các tác phẩm của những tác gia hàng đầu nước Pháp và thế giới, chúng được in trong các tập sách khổ nhỏ có bìa bọc da, chữ mạ vàng, giấy kinh thánh với nội dung trau chuốt và phần phụ lục, tham khảo được biên tập rất kĩ lưỡng. Có tác phẩm được chọn vào Tủ sách Pléiade thường được coi là một cách vinh danh đặc biệt đối với các tác gia. Cho đến nay Tủ sách Pléiade đã có trên 550 tập sách của 195 tác giả. == Lịch sử == Năm 1931, một biên tập viên trẻ của nhà xuất bản La Pléiade/J. Schiffrin & Cie là Jacques Schiffrin đã đưa ra ý tưởng về một bộ sưu tập sách đặc biệt có tên Bibliothèque de la Pléiade nhằm mục đích in những tác phẩm của các tác gia kinh điển thành sách khổ bỏ túi. Tác gia đầu tiên được chọn vào Tủ sách là Baudelaire, tập sách đầu tiên của nhà thơ được xuất bản ngày 10 tháng 9 năm 1931. Ấn tượng vì thành công ban đầu của Schiffrin, André Gide và Jean Schlumberger, hai người sáng lập tờ Nouvelle Revue française (NRF), đã đưa Tủ sách này vào nhà xuất bản Gallimard. Tới năm 1953, Tủ sách Pléiade đạt được thành công vang dội với bộ tác phẩm của Antoine de Saint-Exupéry và từ năm 1960 thì biên tập viên của Pléaide quyết định mở rộng phạm vi của Tủ sách ra các tác phẩm nước ngoài. Tính cho cuối tới thập niên 2000, Tủ sách Pléiade đã xuất bản tác phẩm của 20 ngôn ngữ khác nhau trong đó có 22 tác gia Anh và 14 tác gia Nga, trung bình mỗi năm có khoảng 11 đầu sách mới được xuất bản. Dưới đây là danh sách các đầu sách bán chạy nhất của Pléiade tính cho đến tháng 3 năm 2007. == Hình thức tủ sách == Kể từ ngày ra đời, hình thức của mỗi đầu sách thuộc Tủ sách Pléiade đã được chú trọng đặc biệt. Khổ sách Pléiade thuộc loại bỏ túi 11 x 17,5 cm, giấy dùng để in sách là giấy kinh thánh loại 36 g/m², bìa sách được bọc da thật, ngoài bìa sách không có chữ mà chỉ có chữ in trên gáy sách được mạ vàng. Bìa sách có màu thay đổi ứng với giai đoạn ra đời của từng tác phẩm. Chữ in tiêu chuẩn của sách là kiểu Garamond cỡ 9. == Tham khảo == == Liên kết ngoài == Le Cercle de la Pléiade La Bibliothèque de la Pléiade trên trang của Éditions Gallimard
berlin.txt
Berlin (phát âm tiếng Đức: [bɛɐ̯ˈliːn] ( nghe)) cũng còn gọi với tên tiếng Việt là Bá Linh là thủ đô, và cũng là một trong 16 tiểu bang của Liên bang Đức. Với hơn 3.45 triệu người dân, đây là thành phố lớn nhất của Đức. Nếu so với cả Liên minh châu Âu, Berlin là thành phố lớn thứ nhì, sau Luân Đôn. Nằm ở miền Đông Bắc nước Đức, Berlin là trung tâm của khu vực đô thị Berlin-Brandenburg, trong đó có khoảng 4.5 triệu người đến từ hơn 190 quốc gia trên thế giới. Nằm trong vùng Đồng bằng châu Âu, Berlin bị ảnh hưởng bởi khí hậu ôn đới theo mùa. Khoảng 1/3 diện tích của thành phố là rừng, công viên, vườn, sông và hồ, do đó thành phố này luôn có một bầu không khí trong lành. Được ghi nhận lần đầu tiên vào thế kỷ 13, Berlin từng là thủ đô của Vương quốc Phổ (1701-1918), Đế chế Đức (1871-1918), Cộng hòa Weimar (1919-1933) và Đệ Tam Quốc xã (1933-1945). Vào những năm 1920, Berlin là thành phố lớn thứ ba trên thế giới. Sau khi chiến tranh thế giới thứ hai kết thúc, thành phố đã bị liên quân bốn nước chiếm đóng, và sau đó các khu vực do Anh, Pháp, Hoa Kỳ chiếm đóng được hợp nhất và trở thành Tây Berlin, được bao quanh bởi Bức tường Berlin và phần còn lại do Liên Xô chiếm đóng trở thành Đông Berlin (thủ đô của Cộng hòa Dân chủ Đức). Sau khi nước Đức thống nhất ngày 3 tháng 10 năm 1990, Berlin trở thành thủ đô của toàn liên bang Đức, lưu trữ 147 đại sứ quán nước ngoài. Sau Quyết nghị Thủ đô của Quốc hội liên bang Đức (Deutsche Bundestag) vào năm 1991 thành phố cũng thực thi chức năng của mình là trụ sở của chính phủ và quốc hội từ năm 1999. Berlin là một trung tâm chính trị, văn hóa, khoa học quan trọng của châu Âu. Đô thị lớn này là một điểm nút giao thông và một trong những thành phố thu hút được nhiều khách du lịch nhất của lục địa này. Nhiều trường đại học, viện nghiên cứu, nhà hát và viện bảo tàng tại Berlin có danh tiếng quốc tế. == Địa lý == === Vị trí địa lý === Berlin nằm ở phía Đông Bắc nước Đức và được bao quanh bởi tiểu bang Brandenburg. Berlin cách biên giới với Ba Lan 70 km và là một trong những khu vực đông dân cư nhất nước Đức. Khu vực Berlin ngày nay nằm giữa hai vùng cao Barnim và Teltow. Trung tâm lịch sử của Berlin trước đây bé hơn rất nhiều và được hình thành trong một thung lũng, ở bên bờ sông Spree tại nơi hẹp nhất của sông này. Sông Spree chảy từ hướng Đông sang Tây và đổ vào sông Havel ở tận cùng phía tây của quận Spandau. Sông Havel chảy theo hướng Bắc-Nam này tạo nên các hồ lớn ở Berlin như hồ Tegeler hay hồ Wannsee. Phần lớn khu vực Berlin ngày nay nằm ở trên hai vùng cao này: phần lớn các quận Reinickendorf và Pankow nằm trên Barnim, trong khi phần chính của các quận như Charlottenburg-Wilmersdorf, Steglitz-Zehlendorf, Tempelhof-Schöneberg và Neukölln thì nằm trên Teltow. Điểm cao nhất của Berlin là điểm cao nhân tạo Teufelsberg (114,7 m trên mực nước biển) được đắp lên từ những đống đổ nát sau Chiến tranh thế giới thứ hai và điểm cao tự nhiên Müggelberge (115,4 m) trong quận Treptow-Köpenick. Chiều dài nhất từ Đông sang Tây vào khoảng 45 km, theo hướng Bắc-Nam khoảng 38 km === Khí hậu === Thành phố nằm trong vùng khí hậu ôn hòa. Nhiệt độ trung bình cả năm ở Berlin-Dalem là 9,2 °C và lượng mưa trung bình hằng năm là 579 mm. Các tháng nóng nhất trong năm là tháng 7 và tháng 8 với nhiệt độ bình quân là 18,4 hay 17,8 °C, tháng lạnh nhất trong năm: tháng 1 và tháng 2, nhiệt độ trung bình là 0,5 và 1,2 độ Celsius. Tháng 7 là tháng có mưa nhiều nhất, trung bình là 67 mm, tháng có mưa ít nhất là tháng 2, trung bình 36 mm. == Lịch sử == Cölln, phần của thành phố đôi Berlin-Cölln được nhắc đến lần đầu tiên vào năm 1237, tiếp theo đó là Berlin vào năm 1244. Hai thành phố nằm hai bên bờ của sông Spree được nối liền bởi chiếc cầu bắc qua sông Spree đó là điểm hẹp nhất của sông. Vào năm 1307, hai thành phố có tòa thị chính chung. Từ năm 1415 Friedrich I lên làm Tuyển hầu tước (Kürfürst) của xứ Brandenburg, trị vì lãnh địa cho đến năm 1440. Dòng dõi nhà Hohenzollern đóng đô tại thành Berlin cho đến năm 1918, đầu tiên là Tuyển hầu tước của xứ Brandenbrg, rồi là Vua của Vương quốc Phổ và cuối cùng là Hoàng đế của Đế chế Đức. Cuộc Chiến tranh Ba mươi năm từ năm 1618 đến năm 1648 đã mang lại hậu quả nặng nề cho Berlin: 1/3 nhà cửa bị hư hỏng, dân số giảm chỉ còn một nửa. Friedrich Wilhelm (Brandenburg), được biết dưới danh hiệu đại tuyển hầu (Großer Kurfürst), kế tục sự nghiệp của cha vào năm 1640. Ông bắt đầu một chính sách nhập cư và khoan dung về tôn giáo. Từ năm sau đó các thành phố vùng ngoại ô Friedrichswerder, Dorotheenstadt và Friedrichstadt được thành lập. Ở thế kỷ 17, Berlin được mở rộng thêm ra các khu vực ngoại thành. Năm 1701, Friedrich I được tấn phong làm vua Phổ và đóng đô tại Berlin. Ông ta xây dựng một số cung điện lớn như Oranienburg, Charlottenburg và Vương cung (Stadtschloss) Đồng thời Friedrich I cho lập đại lộ Unter den Linden trên hướng tây thành phố Từ năm 1710 các thành phố Cölln, Friedrichswerder, Dorotheenstadt và Friedrichstadt được sáp nhập vào kinh đô Berlin. Môi trường văn hóa của Berlin cũng được mở rộng với việc Viện Hàn lâm Nghệ thuật Berlin và Viện Hàn lâm Khoa học Berlin lần lượt được thành lập vào các năm 1696 và 1700. Sang thời vua Friedrich II, Berlin đã trở thành một trong nhửng trung tâm của trào lưu triết học Khai sáng châu Âu, nhưng thành phố cũng từng bị quân đội Nga và Áo chiếm đóng trong Chiến tranh Bảy năm. Sau khi người Pháp đánh bại Phổ trong Chiến tranh Liên minh thứ tư năm 1806, hoàng đế Pháp Napoléon Bonaparte đã diễu binh tại Berlin nhưng không chiếm đóng thành phố. Đến năm 1815 Berlin trở thành thủ phủ tỉnh Brandenburg tân lập. Cuộc cách mạng Công nghiệp đã thay đổi bộ mặt thành phố vào thế kỷ 19; kinh tế và dân số Berlin được mở rộng đáng kể và thành phố trở thành trọng điểm kinh tế và trung tâm đường sắt của Đức. Các vùng ngoại ô mới đã được hình thành làm gia tăng diện tích và dân số Berlin. Vào năm 1861, các khu vực ngoại ô Wedding, Moabit, Tempelhofer và Schöneberger được sát nhập thêm vào Berlin.. Vào năm 1871 Berlin trở thành thủ đô của đế chế Đức mới được hình thành. Đến năm 1881 thành phố được tách khỏi tỉnh Brandenburg. Sau Đại chiến thế giới lần thứ nhất, vào năm 1918 nước Cộng hòa Weimar được thành lập tại Berlin. Với Luật Berlin Lớn năm 1920, thành phố này được mở rộng thêm các thành phố lân cận, cũng như các quận, huyện xung quanh Berlin. Khi đó dân số Berlin vào khoảng 4 triệu người. Sau khi đảng Quốc xã lên nắm quyền năm 1933, Berlin trở thành thủ đô của Đế chế thứ ba. Thế vận hội mùa hè năm 1936 được tổ chức tại Berlin. Đảng Quốc xã có lập nên các kế hoạch xây dựng Berlin thành thủ đô Germania của toàn thế giới. Tuy nhiên ý định này bị thất bại do thua trong Đại chiến thế giới lần thứ hai. Bom đạn chiến tranh đã phá hủy phần lớn các khu vực ở Berlin. Vào ngày 16 tháng 4 năm 1945, khi Hồng quân Liên Xô phát động chiến dịch Berlin. Quốc trưởng Adolf Hitler tự sát vào ngày 30 tháng 4, và thủ đô thất thủ vào ngày 2 tháng 5 năm 1945. Sau khi Đức Quốc xã đầu hàng, Berlin bị chia giống như toàn thể nước Đức thành 4 phần. Các khu vực đóng chiếm của quân liên minh phương tây: Mỹ, Anh và Pháp tạo thành Tây Berlin, còn khu vực đóng chiếm của Liên Xô tạo thành Đông Berlin. Tuy nhiên một bộ lãnh đạo cho cả Berlin được thành lập bởi 4 quân liên minh này. Sự khác biệt về đường lối chính trị giữa quân đội đồng minh phương tây và Liên Xô dẫn đến việc phong tỏa Tây Berlin vào năm 1948/1949. Quân đội đồng minh phương tây đã trả lời hành động này bằng cách tiếp tế Berlin bằng đường không. Sau khi nước Cộng hòa Liên bang Đức được thành lập ở Tây Đức với nền kinh tế thị trường, và nước Cộng hòa Dân chủ Đức được thành lập ở Đông Đức với nền kinh tế kế hoạch tập trung, cuộc Chiến tranh lạnh trở nên sâu sắc hơn ngay cả ở Berlin. Trong khi nước Cộng hòa Liên bang Đức dời thủ đô về Bonn, lúc đầu được xem như là một giải pháp tạm thời, thì Đông Berlin thành thủ đô của nước Cộng hòa Dân chủ Đức. Cao điểm của cuộc phân tranh Đông-Tây được đạt tới với việc nước Cộng hòa Dân chủ Đức dựng lên Bức tường Berlin vào ngày 13 tháng 8 năm 1961 chia cách Đông và Tây Berlin. Sự đi lại giữa hai khu vực này chỉ có thể xảy ra ở một số điểm kiểm tra nhất định. Mãi đến năm 1989, dưới áp lực đấu tranh của nhân dân Đông Đức bức tường thành ngăn cách mới bị phá bỏ. Vào năm 1990, hai nước Đức tái thống nhất thành nước Cộng hòa Liên bang Đức, và theo Hiệp ước Thống nhất Berlin trở thành thủ đô của nước Đức. Năm 1991 quốc hội Đức quyết định Berlin cũng là trụ sở chính phủ của Đức. Bắt đầu từ ngày 1 tháng 9 năm 1999 quốc hội và chính phủ bắt đầu làm việc tại Berlin. == Dân số == Theo thống kê, Berlin có tất cả 3.402.312 nhân khẩu vào tháng 9 năm 2006. Trong số đó có 327.870 người được báo cáo là thất nghiệp vào tháng 1 năm 2005, chiếm tỉ lệ 19,4%. Vào tháng 11 năm 2006 có 463.723 (13.9%) người nước ngoài từ 185 nước sống tại Berlin. Độ tuổi trung bình của người Berlin trong năm 2004 là 41,7 tuổi. Điều này tương ứng với một sự gia tăng ở mức 2,5 tuổi trong vòng 12 năm. === Sự phát triển dân số === Những số liệu trước năm 1860 đều là dự đoán. Các số liệu sau này do thống kê ghi lại. == Chính trị == Sau khi nước Đức tái thống nhất tái thống nhất vào ngày 3 tháng 10 năm 1990, Berlin trở thành một tiểu bang thành phố độc lập của Đức. Berlin được chia ra thành 12 quận. Bên cạnh đó, Berlin còn là thủ đô và trụ sở chính phủ của nước Cộng hòa Liên bang Đức từ ngày 20 tháng 6 năm 1991. === Thủ đô === Nghị quyết Thủ đô của Quốc hội Liên bang Đức lần thứ nhất sau tái thống nhất vào năm 1991 quyết định Berlin, thủ đô của liên bang, sẽ là trụ sở của Quốc hội Liên bang, của chính phủ liên bang và của Hội đồng Liên bang. Từ năm 1994, trụ sở của tổng thống liên bang cũng ở tại Berlin. Trong năm 1999 một phần lớn chính phủ liên bang đã chuyển từ Bonn về Berlin. Nhưng Berlin không phải là thủ đô tập trung vì phần lớn các cơ quan liên bang nằm ở thành phố Bonn trực thuộc liên bang hay là trong các thành phố khác. === Tiểu bang Berlin === Từ khi tái thống nhất hai quốc gia Đức vào ngày 3 tháng 10 năm 1990, Berlin là một tiểu bang của nước Cộng hòa Liên bang Đức. Số quận trực thuộc Berlin được giảm từ 23 xuống còn 12. Trong quốc hội tiểu bang Berlin, theo Hiến pháp của Berlin là quyền lực lập pháp, hiện nay bao gồm nghị sĩ của các đảng SPD, CDU, Đảng Cánh tả (tiếng Đức: Linkspartei), Đảng Xanh (Büdnis 90/Die Grüne) và FDP. Chính phủ tiểu bang, quyền lực hành pháp, bao gồm thị trưởng và đến 8 nghị sĩ. Thị trưởng đương nhiệm đồng thời cũng là người đại diện cho tiểu bang và thành phố. === Các quận === Sau cuộc cải cách vào ngày 10. tháng năm 1998 23 quận lẻ của Berlin trước đây được gộp lại thành 12 quận chính như hiện tại, bao gồm: Mitte, Friedrichshain-Kreuzberg, Pankow, Charlottenburg-Wilmersdorf, Spandau, Steglitz-Zehlendorf, Tempelhof-Schöneberg, Neukölln, Treptow-Köpenick, Marzahn-Hellersdorf, Lichtenberg và Reinickendorf. === Hành chính === Vì Berlin là một đơn vị hành chính thống nhất nên các quận không phải là một đơn vị hành chính độc lập và vì thế mà phụ thuộc nhiều vào quốc hội tiểu bang và các cơ quan hành chính dưới quyền của quốc hội tiểu bang giám sát các quận trên bình diện hành chính. Mặc dù vậy, mỗi quận đều có đại diện nhân dân riêng, hội đồng nhân dân quận (Bezirksverordnetenversammlung) bầu ra ủy ban quận (Bezirksamt) bao gồm quận trưởng và 5 thành viên. Các quận trưởng họp thành Hội đồng quận trưởng, có chủ tịch là người thị trưởng đương nhiệm, cố vấn cho quốc hội tiểu bang. === Huy hiệu và cờ === Biểu tượng của Berlin là một con gấu màu đen đang đứng với lưỡi màu đỏ và móng vuốt màu đỏ, còn được gọi là Con gấu Berlin. Nguồn gốc của con gấu biểu tượng không được biết rõ. Người ta phỏng đoán rằng biểu tượng này có thể xuất phát từ người thành lập hầu quốc Brandenburg: Albrecht Gấu hay xuất phát từ diễn đạt cách phát âm của tên thành phố. Con gấu được nhìn thấy lần đầu tiên trên con dấu vào năm 1280. Tuy vậy, mãi đến thế kỷ 19 Con gấu Berlin mới vượt qua được chim đại bàng Brandenburg trở thành huy hiệu của thành phố. Cờ tiểu bang Berlin có hình con gấu trên nền trắng và 2 vạch đỏ ờ phía trên và phía dưới. Huy hiệu tiểu bang là con gấu trên khiên bạc phía trên có một vương miện vàng. === Thành phố kết nghĩa === == Kinh tế == Tổng sản phẩm quốc nội của Berlin trong năm 2006 là 80,3 tỉ Euro. Để so sánh: thành phố Hamburg đạt 73,7 tỉ Euro tổng sản phẩm quốc nội với dân số chỉ vào khoảng gần một nửa, tiểu bang Brandenburg đạt 42,3 tỉ Euro với khoảng 2/3 dân số (Nguồn: Báo cáo của IHK 2000/2001). Trên 80% doanh nghiệp thuộc vào khu vực thứ ba. Động cơ kinh tế chính hiện nay là khu vực dịch vụ với 591.000 lao động chiếm 41% trong tổng số lao động ở Berlin. === Truyền thông === Berlin là trụ sở của rất nhiều đài phát thanh và truyền thông địa phương cũng như toàn liên bang. Bên cạnh các đài truyền hình như MTV, Nick, VIVA, VIVA Plus, Sat.1, N24, TV.Berlin hay FAB tại Berlin còn có nhiều đài phát thanh tư nhân. Các đài phát thanh và truyền hình thuộc nhà nước như RBB, Deutsche Welle TV và DeutschlandRadio cũng có trụ sở tại Berlin. Góp phần vào tầm quan trọng chính trị của thủ đô là các "studio thủ đô" của các đài phát sóng trên toàn liên bang như ARD, ZDF hay RTL. Đa số nhật báo được phát hành tại Berlin. Các báo lớn nhất là Berliner Zeitung, Berliner Morgenpost cũng như là Tagesspiegel, cả ba đều có một phần lớn chuyên về Berlin. Có tầm quan trọng trên toàn liên bang là tờ taz tự do cánh tả, tờ Welt bảo thủ, tuần báo bảo thủ cánh tả Junge Freiheit, tờ Neues Deutschland thiên về Đảng Cánh tả và tờ Neue Welt xã hội chủ nghĩa. Ngoài ra ở Berlin còn có các tờ báo khổ nhỏ B.Z., Bild Berlin và Berliner Kurier. Bên cạnh đó là có nhiều báo chuyên đăng quảng cáo như Berliner Woche, Berliner Abendblatt hay Zweite Hand; ngoài ra còn có nhiều tạp chí thành phố như der Tip, 030 hay Zitty. Berlin cũng là trụ sở của nhà xuất bản Walter de Gruyter và Stringer. == Tôn giáo == Trong số khoảng 3,4 triệu người ở Berlin có 23% theo Tin Lành, 9% là Công giáo, 6% theo đạo Hồi, 0,4% theo đạo Do Thái và 60% không có tôn giáo. Berlin là trụ sở của giáo khu tổng Giám mục Công giáo cũng như là của tổng Giám mục Tin Lành. Ngoài ra Berlin còn có 11 đền thờ đạo Hồi và 2 ngôi chùa Phật giáo. == Văn hóa và danh lam thắng cảnh == === Nhà hát, hòa nhạc và hợp xướng === Berlin nổi tiếng với rất nhiều sân khấu. Nổi tiếng nhất là Berliner Ensemble, Volksbühne (Sân khấu Nhân dân) ở Rosa-Luxemburg-Platz (Quảng trường Rosa Luxembourg), Friedrichstadt-Palast, Schaubühne am Lehniner Platz, Theater des Westens (Nhà hát Phương Tây), Renaissance-Theater (Nhà hát Phục Hưng) và Deutsches Theater Berlin (Nhà hát Đức Berlin). Ngoài ra Berlin còn có 3 nhà hát opera: Staatsoper Unter den Linden (Nhà hát opera quốc gia Unter den Linden), Deutsche Oper Berlin (Nhà hát opera Đức ở Berlin) và Komische Oper Berlin (Nhà hát opera hài Berlin). Được tổ chức hằng năm ở Berlin là Liên hoan phim quốc tế Berlin Berlinade với giải thưởng Con Gấu Vàng. Bên cạnh đó Berlin cũng có nhiều đoàn hòa nhạc và hợp xướng. Ngoài Berliner Philharmoniker, Staatskapelle Berlin và Berliner Sinfonie Orchester, ở Berlin còn có nhiều đoàn hòa nhạc và hợp xướng của công ty Rundfunk Orchester und Chöre GmbH. === Viện bảo tàng === Berlin có nhiều viện bảo tàng. Ngay từ năm 1841, hòn đảo viện bảo tàng (Museuminsel) được bao bọc bởi sông Spree và kênh đào Kupfergraben đã được quy định trở thành "một quận cống hiến cho nghệ thuật và khoa học nghiên cứu thời Cổ đại" qua một sắc lệnh của vua. Trong thời gian sau đó nhiều viện bảo tàng đã được thành lập như Altes Museum (Viện bảo tàng Cũ) trong Lustgarten, Neues Museum (Viện bảo tàng Mới), Alte Nationalgalerie (Phòng trưng bày tranh Quốc gia Cũ), Bodenmuseum và Pergamonmuseum. Các viện bảo tàng này chủ yếu trưng bày hiện vật của thời Cổ đại. Đảo viện bảo tàng đã được đưa vào danh sách di sản văn hóa thế giới của UNESCO năm 1999. Ngoài hòn đảo viện bảo tàng này Berlin còn có nhiều viện bảo tàng khác với nhiều chủ đề đa dạng. Gemäldegalerie (Phòng trưng bày tranh), Neue Nationalgalerie (Phòng trưng bày tranh Quốc gia Mới) là các viện bảo tàng nghệ thuật, Bauhaus-Archiv là một viện bảo tàng kiến trúc. Viện bảo tàng Lịch sử Đức (Deutsches Historisches Museum) trong Zeughaus trên đường Unter den Linden minh họa 2000 năm lịch sử Đức. Viện Bảo tàng Do Thái (Jüdisches Museum) trưng bày trong một phòng triển lãm cố định lịch sử Do Thái-Đức trong khoảng thời gian tương tự. Lâu đài đi săn Grunewald chứa đựng một bộ sưu tập tranh được lựa chọn của thời gian từ thế kỷ 15 đến thế kỷ 19. Tập trung trong Berlin-Dahlem là nhiều viện bảo tàng về dân tộc học. Viện bảo tàng về Bộ An ninh Quốc gia ngày xưa của nước Cộng hòa Dân chủ Đức được thành lập trong khu Lichtenberg, trên khu đất của Bộ An ninh Quốc gia ngày xưa. Viện bảo tàng tại Checkpoint Charlie trưng bày các khoảng khắc từ lịch sử chia cắt nước Đức. Từ năm 2005, ở gần Potsdamer Platz (Quảng trường Potsdam) là tượng đài kỷ niệm những người Do Thái ở châu Âu đã bị giết chết của tác giả Peter Eisenman. Quỹ về Nghệ thuật Phổ do liên bang và tất cả các tiểu bang cùng tài trợ có trụ sở chính tại Berlin. Quỹ ủng hộ cho Lâu đài và Vườn hoa Phổ Berlin-Brandenburg cũng có nhiều trụ sở quan trọng ở Berlin. Cả hai quỹ quản lý, gìn giữ, chăm sóc và bổ sung hiện vật văn hóa của vương quốc Phổ ngày xưa trong các cơ sở có tầm quan trọng quốc tế. Quỹ bảo tàng thành phố Berlin hợp nhất các viện bảo tàng có nhiều truyền thống khác của Berlin. Quỹ được thành lập vào ngày 23 tháng 6 năm 1995 này là viện bảo tàng thành phố lớn nhất Đức. Là Viện bảo tàng Tiểu bang về Nghệ thuật và Lịch sử Berlin, viện bảo tàng này hình thành chủ yếu là từ việc sáp nhập Märkisches Museum – thành lập năm 1974 – và Berlin Museum (Viện bảo tàng Berlin) – thành lập năm 1962. Nhiều bộ sưu tập, một phần đã thành hình ngay từ thế kỷ 19, là tư liệu cho tất cả các lĩnh vực phát triển của Berlin một cách rất đa dạng, từ những dấu vết định cư đầu tiên của con người trong Thời kỳ Đồ đá cho đến hiện nay. === Kiến trúc === Cổng Brandenburg (Brandenburger Tor) được xây dựng trong khoảng thời gian từ 1788 đến 1791 là biểu trưng của Berlin và cũng là tượng trưng của sự chia cắt nước Đức trong quá khứ. Cổng này dựa theo cổng Propylaea của Acropolis ở Athena, phía trên có một cỗ xe tứ mã với nữ thần chiến thắng Victoria. Thật ra người sáng tạo ra cổng Brandenburg Johann Gottfried Schadow đã nghĩ đến nữ thần hòa bình Eirene khi xây dựng công trình này. Cổng nằm ở cuối đường Unter den Linden về phía tây, con đường chạy dài cho đến đảo viện bảo tàng trên sông Spree và Nhà thờ chính tòa Berlin. Ranh giới giữa hai nước Đức chạy qua đây cho đến khi tái thống nhất Đức vào ngày 3 tháng 10 năm 1990. Nằm trong khu vực này là Nhà hát Quốc gia Unter den Linden (Staatsoper Unter den Linden) được xây dựng năm 1743 theo phong cách Rococo, Thư viện Quốc gia Berlin (Staatsbibliothek zu Berlin) được kiến tạo trong khoảng từ 1774 đến 1780, Zeughaus Berlin kiểu Baroque được xây dựng từ 1695 cho đến 1706 theo bản vẽ của Andreas Schlüter và Nhà thờ thánh Hedwig, nhà thờ chính của giáo khu công giáo Berlin. Nhà thờ Pháp (Französicher Dom) trên Gendarmenmarkt đã là trung tâm của Khu phố Pháp trong thế kỷ 17. Trường Đại học Humbolt Berlin khánh thành năm 1809, nơi nhà triết học Wilhelm Friedrich Hegel đã từng giảng dạy và là nơi đã đào tạo 27 người nhận giải thưởng Nobel. Tại đường Unter der Linden, kiến trúc sư Christian Daniel Rauch đã dựng nên một bức tượng tuyệt hảo, cho thấy vua Friedrich II Đại Đế (trị vì: 1740 - 1786) trên lưng ngựa. Một con đường mua sắm được ưa chuộng ở Berlin là Kürfürstendam với rất nhiều khách sạn, cửa hàng và nhà hàng. Nhà thờ Tưởng niệm Hoàng đế Wilhelm (Kaiser-Wilhelm-Gedächtniskirche) được xây dựng từ 1891 đến 1895, bị phá hủy trong Chiến tranh thế giới thứ hai. Nhà thờ này nằm ở cuối đại lộ về hướng đông. Phần tháp đổ nát còn lại được giữ nguyên như đài kỷ niệm. Ngay bên cạnh đó là một nhà thờ mới được xây dựng theo thiết kế của Egon Eiermann từ 1959 đến 1961, nằm trên một mặt bằng hình bát giác với một tháp nhà thờ hình lục giác đứng riêng lẻ. Đường nối dài Kurfürstendamm về phía đông là Tauentzienstraße, nơi có Trung tâm mua sắm phương Tây (Kaufhaus des Westens - KaDeWe), trung tâm mua sắm lớn nhất trên lục địa châu Âu, và Europa-Center được xây dựng từ 1963 cho đến 1965. Trong ngôi nhà 22 tầng này là rất nhiều cửa hàng, nhà hàng, văn phòng, một rạp chiếu phim và một tầng để ngắm cảnh quang. Trải dài về hướng đông bắc với chiều dài 3 km là công viên lớn nhất Berlin: Vườn thú Lớn (Großer Tiergarten). Gần Cổng Brandenburg là hội trường Kongresshalle (Berlin) được kiến tạo năm 1957 và Nhà Quốc hội Đế chế (Reichtagsgebäude) được xây trong khoảng thời gian từ 1884 cho đến 1894. Tòa nhà này bị hư hại nặng trong cuộc hỏa hoạn vào ngày 27 tháng 2 năm 1933 và cũng bị hư hại nhiều trong Chiến tranh thế giới thứ hai. Từ năm 1999 tòa nhà này là trụ sở của Quốc hội Liên bang Đức. Cũng đáng đến thăm là Lâu đài Bellevue được xây dựng năm 1785, nơi ở mùa hè của hoàng tử August Ferdinand, em trai của vua Friedrich II Đại đế (Friedrich der Großen), ngày nay là dinh tổng thống liên bang Đức. Orianienburger Straße (Đường Orianienburg) trước Chiến tranh thế giới lần thứ hai là trung tâm của Khu phố Do Thái. Nằm trong những nỗ lực tái kiến thiết là việc tái tạo Hội Đường Do Thái Mới (Neue Synagoge) đã bị hư hại nặng do bom trong Chiến tranh thế giới thứ hai. Tái khánh thành vào năm 1995, Hội Đường Do Thái này là trung tâm của nghiên cứu và gìn giữ văn hóa Do Thái. Nằm về hướng bắc là nghĩa trang Do Thái lâu đời nhất của thành phố: Nghĩa trang Do Thái Berlin-Mitte. Nghĩa trang được biết đến nhiều hơn rất nhiều là Nghĩa trang Do Thái Berlin-Weißensee, là nghĩa trang Do Thái lớn nhất châu Âu. Nằm về phía đông của hai nhánh sông Spree bao bọc lấy đảo Spree là Quảng trường Alexander (Alexanderplatz) với nhiều cửa hàng và nhà hàng, ngay gần đấy là Tháp truyền hình Berlin cao 368 m, công trình kiến trúc cao nhất Berlin, Nhà thờ Đức bà (Berlin) (Marienkirche (Berlin)) và Tòa thị chính Berlin (Rotes Rathaus). Đáng đến tham quan trong trung tâm phía đông Berlin là khu phố cổ Prenzlauer Berg và các con đường mua sắm Schönhauser Alle và Kastanienalle. Từ năm 2006 Cung điện Cộng hòa (Palast der Republik) bị đập bỏ. Theo kế hoạch, Cung điện Thành phố Berllin (Berlliner Stadtschloss) sẽ được tái xây dựng tại đây cho đến năm 2015. Thời điểm này cũng không chắc chắn vì hiện nay đang thiếu tiền. Quảng trường Potsdam (Potsdamer Platz) là một trọng điểm giao thông trong trung tâm Berlin với nhiều đường lớn tỏa ra từ đây. Quảng trường được xây dựng theo lệnh chiếu chỉ của vua Phổ Friedrich Wilhelm I vào năm 1741. Vào năm 1923, lịch sử truyền thanh ở Đức bắt đầu trong Nhà Vox (Vox-Haus) ở ngay gần đấy. Cho đến năm 1940, Quảng trường Potsdam là quảng trường có mật độ giao thông cao nhất châu Âu. Sau nhiều cuộc bỏ bom của quân đội Đồng minh trong Chiến tranh thế giới thứ hai quảng trường chỉ còn là đống gạch vụn. Năm 1961 Quảng trường Potsdam bị chia cắt bởi Bức tường Berlin và vì thế khu vực này suy sụp. Từ vài năm nay, nơi Bức tường Berlin trước kia được xây cắt ngang qua quảng trường được đánh dấu bằng cách lót đá. Việc xây dựng các nhà cao tầng ở Quảng trường Potsdam sau ngày tái thống nhất với rất nhiều cửa hàng và quán ăn đã phát triển nơi đây trở thành chiếc cầu nối giữa 2 nửa thành phố đã từng bị chia cắt. Trong khu Berlin-Charlottenburg là Sân vận động Olympia Berlin được xây dựng cho Thế vận hội mùa hè năm 1936 cũng như là Tháp truyền thanh Berlin cao 150 m, được xây dựng trong khoảng thời gian 1924-1925 nhân dịp Triển lãm Truyền thanh Quốc tế (Internationale Funkausstellung Berlin - IFA) lần thứ ba và đã nhanh chóng trở thành biểu tượng cho Berlin. Các thắng cảnh khác của thành phố là Lâu đài Charlottenburg (Schloss Charlottenburg) được bắt đầu xây dựng năm 1695, một công trình xây dựng tiêu biểu theo kiểu Baroque của dòng họ Hohenzollern với bộ sưu tập tranh có tầm quan trọng lớn, Thành Spandau và Lâu dài Tegel (cũng được gọi là Lâu đài Humbolt) được xây dựng theo phong cách cổ điển, đã từng là cơi cư ngụ của nhà nghiên cứu tự nhiên và địa lý Alexander von Humbolt. === Công viên === Berlin là một thành phố xanh: Bên cạnh nhiều khu rừng rộng trong vùng phía tây và đông nam thuộc thành phố, Berlin còn có một loạt công viên lớn và hầu như toàn bộ đường phố đều có cây trồng dọc theo. Hơn 2.500 vườn hoa, khu nghỉ ngơi và công viên xanh có diện tích tổng cộng trên 5.500 hecta tạo nên nhiều khả năng nghỉ ngơi và sử dụng thời gian rảnh rỗi đa dạng. Ngay trong trung tâm thành phố là Vườn thú Lớn (Großer Tiergarten). Công viên này là công viên lâu đời nhất và với 210 hecta cũng là công viên lớn nhất và quan trọng nhất của Berlin, đã được tạo dáng trong tiến trình của hơn 500 năm qua. Nguyên thủy ngày xưa là một khu rừng rộng trước thành phố, được giới quý tộc vương quốc Phổ dùng để săn bắn và cưỡi ngựa, công viên dần dần bị bao bọc bởi thành phố liên tục phát triển. Ngày nay công viên trải dài từ Nhà ga Vườn thú Berlin cho đến Cổng Brandenburg và nằm ngay cạnh khu vực của quốc hội và chính phủ. Một vài đường lớn cắt xuyên qua Vườn thú Lớn, trong đó là Đường ngày 17 tháng 6 là trục đông-tây. Các đường này gặp nhau tại Ngôi sao Lớn (Großer Stern), ở chính giữa là Đài Chiến thắng (Siegessäule) được xây dựng từ năm 1939. Vườn thú Lớn được tạo dáng theo quang cảnh công viên tự nhiên: Đặc trưng của công viên này là các bãi cỏ rộng lớn có nhiều cụm cây và nhiều đường nước xuyên qua cũng như là hồ với đảo nhỏ và nhiều cầu cũng như đại lộ. Nhiều vườn hoa như Vườn Anh, đảo Luisen và Vườn Hồng tạo thành các điểm nhấn về mặt vườn cây cảnh. Công viên Treptow (Treptower Park) trong vùng đông nam Berlin, bên cạnh Vườn Thú, là một trong những công viên quan trọng nhất của thành phố. Công viên được kiến tạo từ 1876 đến 1882 bởi giám đốc xây dựng công viên đầu tiên của Berlin Gustav Mayer và là địa điểm trưng bày của Triển lãm Nghề nghiệp Berlin Lớn năm 1896. Công viên nằm cạnh sông Spree này là một trong những địa điểm dạo chơi được người dân Berlin ưa thích nhất, không những chỉ vì Nhà hàng Zenner được Carl Ferdinand Langhans xây năm 1821/1822, thời đấy có tên là Quán ăn cạnh sông Spree (Gasthaus an der Spree). Một điểm đặc biệt trong các công viên là Vườn Thực vật Berlin (Botanischer Garten Berlin). Nằm trong khu vực tây nam của thành phố, bên cạnh mục đích chính là phục vụ khoa học (vườn thuộc về trường Đại học Tự do Berlin), vườn cũng được sử dụng như công viên nghỉ ngơi. Tiền thân của vườn trước đây đã có từ năm 1697 trên khu đất của Kleinstpark ngày nay trong Schöneberg. Việc xây dựng công viên mới tại Dahlem bắt đầu từ năm 1897. Với một diện tích trên 43 hecta và vào khoảng 22.000 loại cây khác nhau, vườn thực vật này thuộc vào trong số các vườn thực vật lớn nhất và quan trọng nhất trên toàn thế giới và lớn nhất châu Âu. Nhà Nhiệt đới cao 25 m, rộng 30 m và dài 60 m là nhà kính trồng cây lớn nhất thế giới. Ngoài ra Berlin có hai vườn bách thú: Vườn Bách thú Berlin (Zoologischer Garten Berlin) và Vườn Thú Berlin (Tierpark Berlin). Vườn bách thú Berlin ở Charlottenburg được khánh thành ngay từ năm 1844 là vườn bách thú lâu đời nhất của Đức và đồng thời cũng là vườn có nhiều loài thú nhất trên thế giới (khoảng 14.000 con thú của 1.500 loài). Vườn Thú Berlin trẻ tuổi hơn rất nhiều và việc thành lập vườn bách thú này hàm ơn sự chia cắt nước Đức sau Chiến tranh thế giới thứ hai: Vì Vườn Bách thú Berlin nằm trong khu vực của quân đội Anh nên thủ đô của nước Cộng hòa Dân chủ Đức không có một cơ sở bách thú riêng. Vì thế mà Vườn thú Berlin được thành lập năm 1954 ở Friedrichsfelde. Với diện tích 160 hecta, vườn bách thú này là vườn bách thú lớn nhất châu Âu. Nhiều vườn hoa khác có ảnh hưởng lớn đến gương mặt xanh của Berlin: bên cạnh các vườn hoa trong lâu đài Charlottenburg, lâu đài Glienicke và trên Đảo Công (Pfaueninsel) (hai địa điểm cuối là di sản văn hóa của UNESCO) là các vườn hoa lịch sử Lustgarten, Công viên Viktoria (Viktoriapark), Công viên Rudolph Wilde (Rudolph-Wilde-Park) và Công viên Schiller (Schillerpark) cũng như nhiều công viên nhân dân lớn khác. Ngoài ra ở phía nam của thành phố là Vườn Britz (Britzer Garten), đã là nơi Triển lãm Vườn Liên bang năm 1985. Đối trọng về phía đông là Công viên Marzahn (Erholungspark Marzahn) rộng 20 hecta, được khánh thành năm 1987 cho Triển lãm Vườn Berlin. Mới được kiến tạo là Công viên Bức tường (Mauerpark) trên dãi đất tử thần ngày xưa dọc theo Bức tường Berlin, Công viên Tự nhiên Südgelände (Natur-Park Südgelände), Công viên Ga Görlitz và Công viên Vòng cung Spree (Spreebogenpark) gần Nhà ga Chính và khu vực các cơ quan của chính phủ. === Thời gian nhàn rỗi và nghỉ ngơi === Vào khoảng 18% diện tích của thành phố Berlin là rừng. Phòng lâm nghiệp của thành phố quản lý diện tích rừng trong thành phố lớn nhất Đức (khoảng 29.000 hecta). Được biết đến nhiều nhất chính là Grunewald chạy dài từ chuỗi hồ Grunewald cho đến sông Havel về phía tây. Hồ Wann Lớn (Große Wannsee) có sông Havel chảy xuyên qua chiếm một diện tích 260 hecta. Với hồ này, khu Zehlendorf, một khu dân cư được ưa chuộng, có khu nghỉ ngơi được yêu thích nhất Berlin bao gồm các loại thể thao trên mặt nước, đi thuyền du ngoạn và bãi tắm Warnsee. Hồ Müggel (Müggelsee) và đồi Müggel nằm trong vùng đông nam của Berlin là điểm du ngoạn được yêu thích trong suốt cả năm. Bãi tắm Rahnsdorf là điểm thu hút khách trong mấy tháng mùa hè. Hồ Müggel là hồ lớn nhất của Berlin. Hồ chiếm diện tích 7,4 km² (dài nhất 4,3 km, rộng nhất 2,6 km) và sâu đến 8 m. Hồ thường được gọi là Hồ Mügel Lớn và nó có người anh em là Hồ Müggel Nhỏ chỉ có diện tích 0,16 km². Hồ này và các ngọn đồi Müggel nằm ở rìa phía nam, với độ cao 115,4 m là điểm cao nhất Berlin, thành hình trong kỷ Pleistocene. Tháp Müggel trên sườn đồi phía nam của đồi Müggel Nhỏ được xây mới từ 1959 đến 1961 sau khi tháp cũ đã bị cháy trong năm 1958. Đứng trên tháp này có thể nhìn thấy bao quát từ các hồ và các khu rừng trong vùng phụ cận cho đến hình dáng thành phố Berlin ở chân trời. === Thể thao === Ở Berlin có rất nhiều đội thể thao, nhưng phần lớn đều mang tính nghiệp dư. Tuy nhiên cũng có các đội thể thao chuyên nghiệp như đội bóng đá Hertha BSC và Union Berlin, đội khúc côn cầu trên băng Eisbären Berlin (dịch: "Bầy gấu trắng Berlin"), và đội bóng rổ Alba Berlin hay đội bóng bầu dục Berlin Thunder. Có đến ba đội bóng đại diện cho Berlin trong Giải vô địch bóng chuyền liên bang. Nổi tiếng nhất có lẽ là SCC Charlotteburg. Các vận động viên bóng nước của đội Wasserfreunde Spandau 04 thường xuyên là vô địch bóng nước Đức từ 1979 cho đến 2005, chỉ với một ngoại lệ duy nhất trong năm 1993. Hàng năm, ở Berlin được tổ chức giải Ma-ra-tông nổi tiếng thế giới Berlin-Marathon. Trận chung kết của Giải vô địch bóng đá thế giới 2006 đã diễn ra tại đây vào ngày 9 tháng 7 năm 2006. Sân vận động Olympia đã được sửa chữa lại toàn bộ nhân dịp này. Trong năm 2009 Giải vô địch điền kinh thế giới 2009 sẽ được tổ chức tại đấy. == Hạ tầng cơ sở == === Giao thông công cộng === Phục vụ cho giao thông công cộng nội thành là 15 đường S-Bahn (do Công ty TNHH S-Bahn Berlin vận hành) cũng như là 9 đường tàu điện ngầm, 22 đường tàu điện, 150 tuyến xe buýt và 6 tuyến phà (tất cả đều được vận hành bởi Công ty Các Xí nghiệp Giao thông Berlin Berliner Verkehrsbetriebe – BGV). Nội thành được cắt xuyên theo hướng đông – tây bởi đường tàu điện được xây dựng trên cao, chạy song song với S-Bahn cũng như với giao thông khu vực và xa giao thông xa. Đường tàu điện này nối Nhà ga Berlin Wetskreuz với Nhà ga Berlin Ostkreuz, chạy qua các nhà ga Berlin-Charlottenburg, Berlin Zoologischer Garten, Nhà ga Chính Berlin, Friedrichstraße, Quảng trường Alexander và Nhà ga Đông (Ostbahnhof). Tuyến tàu điện ngầm số 9 đảm nhận phần lớn nhất của lượng hành khách giao thông trên trục bắc – nam, được bổ sung bởi tuyến S-Bahn bắc – nam một phần chạy ngầm dưới đất. Tuyến S-Bahn cắt tuyến tàu điện nói trên tại Nhà ga Friedrichstraße. Bao bọc nội thành là tuyến tàu điện vòng đai. Tất cả các tuyến khác đều cắt ngang tuyến này. Vào ngày 28 tháng 5 năm 2006 Nhà ga Chính Berlin được đưa vào sử dụng. Với nhà ga này, giao thông tàu hỏa vùng và xa lần đầu tiên có một nhà ga trung tâm ở Berlin theo cái gọi là Phương án Nấm. Từ thời điểm đấy, giao thông xa phần lớn được dẫn từ Nhà ga Südkreuz Berlin dưới Đường hầm Vườn thú qua Nhà ga Chính berin cho đến Nhà ga Gesundbrunnen Berlin. Nhà ga nối toa tàu Seddin ở phía nam gần Potsdam cũng là một giao điểm đường tàu hỏa. Các tuyến đường tàu hỏa của Công ty Tàu hỏa Đức (Deutsche Bahn) và 2 tuyến đường của InterConnex phục vụ cho giao thông vùng. === Đường cao tốc === Nội thành được bao bọc từ phía tây bởi một vòng cung xa lộ (A 100 – vòng đai thành phố Berlin), trong tương lai sẽ được bổ sung thành một vòng tròn vành đai và sẽ là một vành đai xa lộ thành phố. Từ A 100 có các đường cao tốc sau đây trong phạm vi thành phố di về hướng Vòng đai Berlin: A 111 đi hướng tây-bắc (hướng Hamburg và Rostock) A 113 đi hướng đông-nam (hướng Dresden và Cottbus). Đường cao tốc này hiện nay chỉ mới bắt đầu ở Ngã ba Treptow, ở phía cực đông-nam của thành phố. Cho đến năm 2007 khoảng đường từ giao lộ với A 100 (bắt đầu từ Ngã ba Neuköln) cho đến ranh giới thành phố Berlin sẽ được xây dựng xong). A 115 đi hướng tây-nam (hướng đi Hanover và Leipzig). Thêm vào đó còn có đường cao tốc A 114 từ phía bắc thành phố đi hướng ra đường cao tốc A 10 (đi Stettin). === Cảng hàng không === Thuộc về Berlin là ba sân bay Tegel, Tempelhof và Schönefeld, mặc dù sân bay Schönefeld nằm trên lãnh thổ của bang Brandenburg. Hiện tại Berlin và Brandenburg đang mở rộng sân bay Schönefeld, xây dựng Sân bay quốc tế Berlin-Brandenburg để trở thành sân bay lớn nhất nước Đức, (sân bay lớn nhất nước Đức hiện nay là Cảng hàng không Frankfurt-Main), một mặt để giảm tải cho sân bay Tegel và Tempelhof nằm trong trung tâm thành phố và cũng như đóng cửa hai sân bay này, mặt khác để tăng thêm sức cạnh trạnh nội địa và quốc tế của sân bay Schönefeld và đem lại lợi nhuận cho Berlin và Brandenburg, sân bay này đã khởi công xạy dựng từ cuối năm 2006 với tổng diện tích là 1470 ha. Với Phi trường Johannisthal khánh thành vào năm 1909, Berlin đã có phi trường đầu tiên của nước Đức (đóng cửa vào năm 1995). === Giao thông đường thủy nội địa === Berlin nằm trong trung tâm của khu vực đường nước liên bang phía Đông. Giao thông thủy có ba đường thủy từ và đến Berlin, trong đó quan trọng nhất là đường liên kết thông qua sông Havel, kênh đào Elbe-Havel và kênh đào Mittelland đi đến sông Elbe và Biển Bắc hay sông Weser và sông Rhein. Chỉ được mở rộng có giới hạn và có mật độ giao thông ít hơn là đường thủy Spree-Oder như là đường liên kết qua sông Spree đến sông Oder và đến Schlesien. Bốn cảng có thể sử dụng để chuyển tải: Cảng Đông (Osthafen), Cảng Kölln Mới (Neukölln), Cảng Nam cũng như Cảng Tây. Cảng cuối cùng nằm trong vùng Berlin-Moabit, vùng ranh của nội thành Berlin và là cảng lớn và quan trọng nhất trong số bốn cảng. Cảng bao gồm một trung tâm hàng hóa và tiếp vận (logistics) tạo khả năng chuyển tải giữa tàu thủy nội địa, tàu hỏa và xe tải. === Điện lực === Việc cung cấp điện ở Berlin có một vài tính đặc biệt. Trong Chiến tranh thế giới thứ hai đã có kế hoạch cung cấp điện cho Berlin từ nhà máy điện Dessau thông qua một đường dây điện cao thế một chiều ngầm dưới đất. Công việc xây dựng được bắt đầu vào năm 1943 nhưng không còn có thể đưa vào sử dụng. Trong thời gian chia cắt, Tây-Berlin bị cắt khỏi mạng lưới điện của vùng chung quanh. Thực hiện việc cung cấp điện là các nhà máy nhiệt điện nằm trong khu vực của thành phố như nhà máy điện Rueter-West, Wilmersdorf và các nhà máy phát điện khác. Để làm đệm cho những lúc cao tải, nhiều ắc quy đã được lắp đặt trong một số nhà máy điện từ những năm 1980. Thông qua máy đổi chiều chúng được nối với mạng lưới điện và trong thời gian thấp tải được nạp điện, trong thời gian cao tải sẽ phát điện. Mãi đến 1993 đường dây điện kết nối với vùng chung quang bị cắt vào năm 1952 mới được tái kết nối. Trong các quận phía tây của Berlin gần như tất cả các đường dây điện đều được chôn ngần dưới đất,chỉ có một đường dây 380 kV và một đường dây 110 kV là đường dây trên cao, dẫn từ nhà máy điện Rueter ra đến đường cao tốc thành phố. Xuyên qua Berlin là đường dây điện xoay chiều 380 kV dài nhất Đức và có nhiều khả năng là đường dây điện đắt tiền nhất Đức. == Nghiên cứu và đào tạo == === Đại học và nghiên cứu === Berlin là nơi tập trung các cơ sở khoa học và nghiên cứu đông nhất châu Âu. Trong thành phố tròn 140.000 sinh viên học tại tổng cộng 4 trường đại học tổng hợp (Universität), 3 trường đại học nghệ thuật, 7 trường đại học thực hành (Fachhochschule) và 10 trường đại học tư nhân. Chỉ riêng 4 trường đại học tổng hợp Berlin đã có 112.000 sinh viên. Đó là các trường: Đại học Tự do Berlin (Freie Universität Berlin) với 40.840 sinh viên Đại học Humbolt Berlin (Humbolt-Universität zu Berlin) với 36.423 sinh viên Đại học Kỹ thuật Berlin (Technische Universität Berlin) với 31.547 sinh viên và Đại học Nghệ thuật Berlin (Universität der Künste Berlin) với 3.800 sinh viên Khoa Y của trường Đại học Tổng hợp Tự do và của trường Đại học Humbolt được sáp nhập vào năm 2003 trở thành Charité – Universitätsmedizin Berlin, là khoa Y lớn nhất châu Âu với 4 cơ sở. Hơn 50.000 nhân viên giảng dạy, nghiên cứu và làm việc tại hơn 70 cơ sở nghiên cứu độc lập với các trường đại học và do nhà nước tài trợ. Các tổ chức nghiên cứu lớn trên bình diện quốc gia cũng có nhiều viện tại Berlin như Viện Fraunhofer, Helmholtz, Leibnitz và Max Plack cũng như là nhiều bộ liên bang khác nhau với tổng cộng 8 viện nghiên cứu. Phần lớn các cơ sở nghiên cứu đều tập trung ở Berlin-Buch, Berlin-Charlottenburg, Berlin-Dahlem, Berlin-Mitte cũng như là ở địa điểm tập trung dành cho khoa học và kinh tế ở Adlershof: WISTA. Hằng năm có tròn 1,8 tỉ Euro tiền nhà nước được đầu tư hỗ trợ, hơn 13% trong số các đăng ký bằng phát minh ở Đức đến từ Berlin. === Hệ thống trường phổ thông === Trường phổ thông cơ sở ở Berlin bao gồm 6 lớp, tiếp theo đó là hệ thống trường phổ thông trung học được chia làm ba loại: Hauptschule (hết lớp 9), Realschule (hết lớp 10) và Gymnasium (hết 12). Trong tháng 2 năm 2004 một đạo luật giáo dục mới được thông qua. Một số cải cách chính bao gồm: Rút ngắn thời gian học hết phổ thông từ 13 năm xuống còn 12 năm Giảm tuổi nhập học xuống còn năm tuổi rưỡi Thi tốt nghiệp phổ thông (Zentralabitur) bao gồm tiếng Đức (văn), toán và ngoại ngữ thứ nhất Tự do báo chí cho các loại báo của học sinh == Tham khảo == == Liên kết ngoài == Trang chính thức của tiểu bang Berlin Berlin City Panoramas - Hình ảnh từ Berlin (tiếng Anh) (tiếng Đức)
châu phi.txt
Châu Phi (hay Phi Châu) là châu lục đứng thứ ba trên thế giới về dân số, sau châu Á và Châu Mỹ, và lớn thứ ba trên thế giới, theo diện tích sau châu Á và châu Mỹ. Với diện tích khoảng 30.221.532 km² (11.668.599 mi²) bao gồm cả các đảo cận kề thì nó chiếm 20,4% tổng diện tích đất đai của Trái Đất. Với 800 triệu dân sinh sống ở 54 quốc gia, nó chiếm khoảng 1/7 dân số thế giới. == Từ nguyên == Tên gọi trong tiếng Việt của châu Phi bắt nguồn từ tên gọi tiếng Trung “非洲” (âm Hán Việt: Phi châu). Chữ “Phi” 非 trong “Phi châu” 非洲 là gọi tắt của “A Phi Lợi Gia” 阿非利加. “A Phi Lợi Gia” 阿非利加 là phiên âm tiếng Trung của danh xưng tiếng Bồ Đào Nha “África”. Từ “África” trong tiếng Bồ Đào Nha bắt nguồn từ tên gọi tiếng La-tinh “Africa”. Tên gọi Africa được người châu Âu sử dụng thông qua người La Mã cổ đại, là những người sử dụng tên gọi Africa terra - "vùng đất Afri" (số nhiều, hay "Afer" ở dạng số ít) - để chỉ phần miền bắc của châu lục này, như là tỉnh Africa với thủ đô của nó là Carthage, tương ứng với Tunisia ngày nay. Nguồn gốc của Afer có thể có từ: Trong tiếng Phoenicia `afar - tức là "bụi"; Afri, một bộ lạc - có thể là Berber - là những người sống ở Bắc Phi trong khu vực Carthage; Trong tiếng Hy Lạp từ aphrike có nghĩa là "không có lạnh" (xem thêm Danh sách các tên gọi khu vực truyền thống của người Hy Lạp); hoặc từ chữ aprica trong tiếng Latinh có nghĩa là "có nhiều nắng". Nhà sử học Leo Africanus (1495-1554) cho là nguồn gốc của từ phrike có nghĩa là "lạnh và sự khiếp sợ" trong tiếng Hy Lạp khi tổ hợp với tiền tố phủ định a-, có nghĩa là vùng đất không có lạnh và sự khủng khiếp. Nhưng sự thay đổi của âm từ ph sang f trong tiếng Hy Lạp có thể chỉ có từ thế kỷ 1, vì thế trên thực tế nó khó có thể là nguyên gốc của tên gọi. Ai Cập đã từng được những người cổ đại coi như là một phần của châu Á, và lần đầu tiên nó được gắn với châu Phi nhờ công của nhà địa lý Ptolemy (85-165), là người đã chấp nhận Alexandria như là kinh tuyến gốc và coi kênh đào Suez và Hồng Hải như là ranh giới giữa châu Á và châu Phi. Khi người châu Âu có thể hiểu ra quy mô thực sự của châu lục này thì ý tưởng về Africa cũng đã được mở rộng cùng với hiểu biết của họ. == Lịch sử == Bài chính: Lịch sử châu Phi Châu Phi là cái nôi của loài người. Trong suốt thời kỳ tiền sử của loài người thì châu Phi giống như các châu lục khác đã không có các quốc gia và chủ yếu là các nhóm người săn bắn theo bầy đàn sinh sống. Khoảng năm 3300 TCN nhà nước Ai Cập cổ đại đã ra đời và phát triển, nó đã tồn tại với các mức độ ảnh hưởng khác nhau cho đến khoảng năm 343 TCN. Các nền văn minh khác bao gồm Ethiopia, vương quốc Nubia, các vương quốc Sahel Ghana, Mali và Songhai và Đại Zimbabwe. Năm 1482 người Bồ Đào Nha đã thiết lập trạm thương mại đầu tiên (trong số nhiều trạm như thế) dọc theo bờ biển Guinée ở Elmina. Sự phát hiện ra châu Mỹ năm 1492 đã tạo ra sự phát triển mạnh mẽ trong buôn bán nô lệ mà trước thời kỳ của người Bồ Đào Nha thì việc buôn bán này trên đất liền gần như chỉ là những trường hợp hãn hữu. Nhưng cùng vào thời điểm này thì chế độ nông nô đã đi vào giai đoạn kết thúc ở châu Âu và trong đầu thế kỷ 19 thì các lực lượng thực dân châu Âu đã tiến hành sự "tranh giành châu Phi" vô cùng khủng khiếp và đã chiếm đóng nhiều vùng đất của châu lục này, tạo ra nhiều quốc gia thuộc địa, chỉ để sót lại 2 quốc gia độc lập là Liberia, thuộc địa của người Mỹ da đen và Ethiopia. Sự chiếm đóng này còn tiếp diễn cho đến tận sau khi kết thúc Chiến tranh thế giới thứ hai, khi các nước thuộc địa dần dần giành được quy chế độc lập hình thức. Ngày nay, châu Phi là quê hương của trên 50 quốc gia độc lập, tất cả trong số đó có đường biên giới được tạo ra trong thời kỳ chủ nghĩa thực dân của người châu Âu. == Vị trí == Châu Phi là phần lớn nhất trong số 3 phần nổi trên mặt nước ở phía nam của bề mặt Trái Đất. Nó bao gồm khu vực bao quanh một diện tích khoảng 30.221.532 km² (11.668.599 mi²) tính cả các đảo. Đại bộ phận diện tích nằm giữa chí tuyến Bắc và chí tuyến Nam nên có khí hậu nóng quanh năm. Bị ngăn cách khỏi châu Âu bởi Địa Trung Hải, nó nối liền với châu Á về phía tận cùng đông bắc bằng eo đất Suez (bị cắt ngang bởi kênh đào Suez) có bề rộng 130 km (80 dặm). Về mặt địa lý thì bán đảo Sinai của Ai Cập nằm về phía đông kênh đào Suez (thông thường cũng được coi như là thuộc châu Phi). Từ điểm xa nhất về phía bắc là Ras ben Sakka ở Tunisia, nằm về phía tây mũi Blanc, ở vĩ độ 37°21' bắc, tới điểm xa nhất về phía nam là mũi Agulhas ở Nam Phi, 34°51′15″ nam, có khoảng cách khoảng 8.000 km (5.000 dặm); từ Cabo Verde, 17°33′22″ tây, tức điểm xa nhất về phía tây tới Ras Hafun ở Somalia, 51°27′52″ đông, có khoảng cách xấp xỉ 7.400 km (4.600 dặm). Độ dài của bờ biển là 26.000 km (16.100 dặm). Sự thiếu vắng các chỗ lõm sâu dọc theo bờ biển được so sánh thể hiện theo thực tế bằng tầm cỡ châu Âu, nơi có diện tích chỉ 9.700.000 km² (3.760.000 dặm vuông) nhưng lại có đường bờ biển tới 32.000 km (19.800 dặm). Các đường cấu trúc chính của châu lục này được thể hiện theo cả hai hướng tây-đông (ít nhất là ở phần bán cầu bắc) của những phần nằm về phía bắc nhiều hơn và hướng bắc-nam ở các bán đảo miền nam. châu Phi vì thế có thể coi là tổ hợp của hai phần vuông góc với nhau, phần phía bắc chạy theo hướng từ đông sang tây, phần phía nam chạy theo hướng bắc-nam. === Địa hình === Địa hình châu Phi khá đơn giản. Có thể coi toàn bộ lục địa là một khối cao nguyên khổng lồ, cao trung bình 750m; trên đó chủ yếu là các sơn nguyên xen các bồn địa thấp. Phần đông của lục địa được nâng lên mạnh, nền đá bị nứt vỡ và đổ sụp, tạo thành nhiều thung lũng sâu, nhiều hồ hẹp và dài. châu Phi có rất ít núi cao và đồng bằng thấp. == Khoáng sản == Châu Phi có nguồn khoáng sản phong phú: vàng, kim cương, uranium, crom, đồng, phốt phát... Ngoài ra, còn có nhiều dầu mỏ và khí đốt. == Khí hậu == Châu Phi có khí hậu nóng, nhiệt độ trung bình nằm trên 20 °C, thời tiết ổn định. Lượng mưa tương đối ít và giảm dần về phía hai chí tuyến, hình thành những hoang mạc lớn, lan sát ra biển. Sa mạc Xa-ha-ra là hoang mạc cát lớn nhất thế giới. Các môi trường tự nhiên của châu Phi nằm đối xứng qua xích đạo: - Môi trường xích đạo ẩm với thảm thực vật rừng rậm xanh quanh năm, gồm bồn địa Công-gô và miền duyên hải phía bắc vịnh Ghi-nê. - Hai môi trường nhiệt đới:càng xa Xích đạo lượng mưa càng giảm, rừng rậm nhường chỗ cho rừng thưa & xavan cây bụi. Nhờ nguồn thức ăn phong phú, xavan là nơi tập trung nhiều động vật ăn cỏ (ngựa vằn, sơn dương, hươu cao cổ...) & động vật ăn thịt (sư tử, báo gấm...) - Hai môi trường hoang mạc, gồm sa mạc Sahara ở phía bắc & hoang mạc Kalahari, hoang mạc Namib ở phía nam. Khí hậu khắc nghiệt, mưa rất hiếm, biên độ nhiệt giữa ngày và đêm lớn. Thực vật, động vật nghèo nàn. -Hai môi trường địa trung hải ở phần cực Bắc và phần cực Nam châu Phi. Mùa đông mát mẻ và có mưa, mùa hạ nóng & khô. Thảm thực vật là rừng cây bụi lá cứng. == Chính trị == === Châu Phi thuộc địa === Chủ nghĩa thực dân đã tạo ra những hậu quả gây mất ổn định trên tất cả những điều mà các bộ tộc châu Phi ngày nay còn cảm nhận được trong hệ thống chính trị của châu Phi. Trước khi có ảnh hưởng của người châu Âu thì các ranh giới quốc gia đã không phải là những điều đáng quan tâm nhất, trong đó người Phi châu nói chung theo các thực tiễn trong các vùng khác của thế giới, chẳng hạn như ở bán đảo Ả Rập, mà ở đó lãnh thổ của các nhóm dân cư là trùng khít với khu vực có ảnh hưởng về quân sự và thương mại của họ. Sự cố tình của người châu Âu trong việc vạch ra các ranh giới xung quanh các lãnh thổ để chia tách họ ra khỏi các quyền lực khác tại thuộc địa thông thường có ảnh hưởng tới việc chia cắt các nhóm dân cư hay chính trị liền kề hoặc cưỡng ép các kẻ thù truyền thống phải sống cạnh nhau mà không có khu vực đệm giữa họ. Ví dụ, sông Congo, mặc dù nó dường như là ranh giới địa lý tự nhiên, đã có các nhóm sắc tộc sống trên hai bờ sông chia sẻ cùng một ngôn ngữ và văn hóa hay các điều gì đó tương tự. Sự phân chia đất đai giữa Bỉ và Pháp dọc theo con sông này đã cô lập các nhóm sắc tộc này khỏi nhau. Những người sống ở khu vực Sahara hay Hạ Sahara là những người buôn bán xuyên châu lục này trong nhiều thế kỷ, thông thường hay vượt qua các "biên giới" mà thông thường chỉ tồn tại trên các bản đồ của người châu Âu. Trong các quốc gia có dân cư là người châu Âu chính gốc như Rhodesia (Zambia và Zimbabwe ngày nay) và Cộng hòa Nam Phi, các hệ thống công dân hạng hai thông thường được lập ra để đảm bảo cho quyền lực chính trị của người gốc Âu vượt qua hạn chế về số lượng của họ (nếu tính theo phổ thông đầu phiếu). Tuy nhiên, các đường vạch ra thông thường không thể hiện chính xác các ranh giới về chủng tộc. Tại Liberia, những công dân là hậu duệ của nô lệ Mỹ đã thống trị các hệ thống chính trị trên 100 năm, làm cho các cựu nô lệ và người bản địa trong khu vực cân bằng tương đối về quyền lập pháp mặc dù thực tế là những cựu nô lệ này chỉ chiếm khoảng 10% dân số nói chung. Ý tưởng kỳ quặc cho hệ thống này là của Thượng viện Hoa Kỳ, nó làm cân bằng quyền lực của các khu vực dân tự do và nô lệ một cách buồn cười cho dù dân số của dân tự do bản địa là nhiều hơn. Những người châu Âu thông thường thay đổi cán cân quyền lực, tạo ra các sự phân chia dân tộc mà trước đó đã không tồn tại, và tạo ra sự phân chia văn hóa gây hại cho những người dân sống trong khu vực họ kiểm soát được. Ví dụ, trong khu vực ngày nay là Rwanda và Burundi, hai sắc tộc Hutu và Tutsi đã bị trộn lẫn trong một nền văn hóa trong thời gian những kẻ thực dân người Bỉ kiểm soát khu vực này trong thế kỷ 19. Không còn sự phân chia sắc tộc do sự hòa trộn, hôn nhân lai tạp và sự hòa trộn của các tục lệ văn hóa trong hàng thế kỷ đã xóa bỏ các dấu hiệu đáng kể để phân biệt về văn hóa, người Bỉ thực hiện chính sách phân loại theo sắc tộc trong thời gian kiểm soát khu vực này, do sự phân loại và các triết lý dựa theo sắc tộc đã là những điều không đổi trong văn hóa châu Âu trong thời gian đó. Thuật ngữ Hutu nguyên thủy nói tới các bộ tộc nói tiếng Bantu sinh sống bằng nông nghiệp đã di cư từ phía tây tới Rwandan và Burundi ngày nay, và thuật ngữ Tutsi là nói tới các bộ tộc sinh sống bằng chăn nuôi bò từ miền đông bắc tới khu vực này muộn hơn. Các thuật ngữ đối với người bản xứ cuối cùng đã được dùng để chỉ đẳng cấp kinh tế của một người. Các cá nhân sở hữu từ 10 con bò hoặc nhiều hơn được coi là người Tutsi, và những người sở hữu ít hơn thì bị coi là người Hutu, không phụ thuộc vào lịch sử tổ tiên. Điều này không phải là ranh giới chính xác nhưng nó là quy luật chung cho cách gọi, vì thế một người có thể chuyển từ người Hutu sang thành người Tutsi hay ngược lại. Người Bỉ đã đưa vào hệ thống phân biệt chủng tộc. Những cá nhân nào có nhiều đặc trưng giống người châu Âu khi nhìn - da sáng màu, cao lớn, mũi hẹp v.v. - được giao cho quyền lực trong số những người dân thuộc địa. Người Bỉ xác định các đặc trưng này là lý tưởng hơn cả ở người Hamit, người Hamit theo đó là gần giống với người châu Âu và thuộc về nhóm người có quan hệ gần với người Tutsi theo trực hệ. Họ đã thực hiện chính sách làm thẻ căn cước dựa trên triết lý này. Những người gần giống với mô hình lý tưởng này được coi là người Tutsi còn những người còn lại là người Hutu. === Châu Phi hậu thuộc địa === Kể từ khi độc lập, các nước châu Phi đã thường xuyên bị cản trở bởi sự bất ổn định, nạn tham nhũng, bạo lực và chủ nghĩa độc tài. Phần lớn các nước châu Phi là các nước cộng hòa hoạt động theo một số kiểu của chế độ tổng thống. Có một ít quốc gia ở châu Phi có chính thể dân chủ, nhưng bị nối tiếp bởi những vụ đảo chính tàn bạo hay các chế độ độc tài quân sự. Có không ít thủ lĩnh chính trị của châu Phi hậu thuộc địa là những người ít học và dốt nát trong việc điều hành công việc nhà nước; nguyên nhân chính gây bất ổn chủ yếu là do kết quả của sự cách ly của các nhóm sắc tộc và sự tham nhũng của các thủ lĩnh này. Ngoài ra, nhiều thủ lĩnh chính trị còn sử dụng vị trí quyền lực để kích động các mâu thuẫn sắc tộc, làm cho nó trầm trọng hơn, hay thậm chí là tạo ra những luật lệ thuộc địa. Tại nhiều nước, lực lượng quân sự đã từng là các nhóm duy nhất có thể đảm báo duy trì ổn định và trật tự ở phần lớn các nước châu Phi trong thập niên 1970 và đầu những năm thập niên 1980. Trong giai đoạn từ đầu thập niên 1960 tới cuối thập niên 1980 ở châu Phi đã có trên 70 vụ đảo chính và 13 vụ ám sát tổng thống. Các mâu thuẫn chiến tranh lạnh giữa Hoa Kỳ và Liên Xô cũng đóng vai trò trong sự bất ổn này. Khi các quốc gia giành được độc lập, thông thường nó sẽ nghiêng về một trong hai siêu cường. Nhiều nước ở Bắc Phi nhận sự trợ giúp quân sự của Liên Xô, trong khi nhiều nước ở Trung và Nam Phi đã được Hoa Kỳ và/hoặc Pháp hỗ trợ. Trong thập niên 1970 đã có sự leo thang do các quốc gia mới giành độc lập như Angola và Mozambique nghiêng về phía Liên Xô còn vùng Tây và Nam Phi tìm kiếm sự ngăn cản ảnh hưởng của Xô viết. Các tranh cãi về biên giới và lãnh thổ là phổ biến với các biên giới do người châu Âu áp đặt đối với nhiều quốc gia bị tranh giành thông qua các vụ xung đột vũ trang. Các chính sách nhà nước sai lầm và sự mục nát của hệ thống chính trị đã tạo ra hậu quả là nhiều nạn đói lan tràn và một phần đáng kể châu Phi vẫn còn các hệ thống phân phối không có khả năng cung cấp đủ lương thực hay nước uống cho dân cư để sống sót. Sự lan tràn của bệnh tật cũng rất phổ biến, đặc biệt là sự lan tràn của HIV và bệnh AIDS, nó đã trở thành một đại dịch nguy hiểm đối với châu lục này. Mặc dù còn nhiều khó khăn, nhưng đã có một số dấu hiệu cho thấy châu lục này còn có hy vọng ở tương lai. Các nhà nước dân chủ dường như bắt đầu mở rộng, mặc dù vẫn chưa phải là chủ yếu (National Geographic cho rằng có tới 13 quốc gia châu Phi có thể coi là dân chủ thực sự). Ngoài ra, nhiều quốc gia đã có ít nhất là các nền tảng được công nhận trên danh nghĩa của quyền con người cho mọi công dân, mặc dù trên thực tế những quyền này không phải lúc nào cũng được thừa nhận, và đã tạo ra hệ thống tư pháp độc lập tương đối hợp lý. Có các dấu hiệu rõ ràng của sự gia tăng quan hệ giữa các tổ chức hay quốc gia châu Phi. Trong nội chiến ở Cộng hòa Dân chủ Congo (tên cũ Zaire), không phải là các nước giàu, ngoài châu Phi can thiệp vào mà là khoảng một nửa tá các quốc gia châu Phi láng giềng đã tham gia (xem thêm Chiến tranh Congo lần 2). Số người bị chết ước tính lên tới 3,5 triệu kể từ khi xung đột mới nổ ra năm 1998. Nó thể hiện những gì tương tự như những điều đã diễn ra trong giai đoạn đầu của Chiến tranh thế giới thứ hai ở châu Âu, mà sau đó người dân ở các nước láng giềng quyết định tham dự vào theo những cách thức mà cuộc chiến giữa họ trở nên không giống như cuộc chiến giữa Pháp và Đức (nếu có ngày nay). Các liên minh chính trị như Liên minh châu Phi cũng là một niềm hi vọng cho hợp tác và hòa bình lớn hơn giữa nhiều nước của châu lục này. Sự lạm dụng trong quyền con người vẫn còn diễn ra ở nhiều nơi của châu Phi, thông thường là dưới sự giám sát của nhà nước. Phần lớn các vi phạm như thế diễn ra vì các lý do chính trị, như là 'hiệu ứng phụ' của nội chiến. Các nước bị liệt kê là có nhiều vi phạm lớn bao gồm (nhưng không bị giới hạn chỉ có vậy): Cộng hòa Dân chủ Congo, Sierra Leone, Liberia, Sudan, Côte d'Ivoire. Các vi phạm được báo cáo gồm có tục ăn thịt người, các hình phạt gây tổn thương cho cơ thể và nạn hãm hiếp. === Châu Phi hiện đại === Phần lớn các nước phương Tây sử dụng các giới hạn trong việc trợ giúp các quốc gia châu Phi. Các hạn chế này chủ yếu được sử dụng để kiểm soát chính phủ các quốc gia Phi châu này; kết quả là các quốc gia này phải đi tìm các nguồn trợ giúp tài chính truyền thống. Trung Quốc ngày càng tăng sự trợ giúp tài chính cho châu Phi để đảm bảo an toàn cho các hợp đồng khai thác và sử dụng tài nguyên thiên nhiên. Các sự trợ giúp này thường không có hiệu lực chính trị. == Kinh tế == Bài chính: Kinh tế châu Phi Châu Phi là châu lục có người sinh sống nghèo khổ nhất thế giới, và sự nghèo khổ này về trung bình là tăng lên so với 25 năm trước. Báo cáo phát triển con người của Liên hiệp quốc năm 2003 (về 175 quốc gia) đã cho thấy các vị trí từ 151 (Gambia) tới 175 (Sierra Leone) đã hoàn toàn thuộc về các nước châu Phi. Tại châu Phi, tình trạng đã và đang trong giai đoạn chuyển tiếp không ổn định từ chủ nghĩa thực dân sang giai đoạn mới thuộc thời kỳ hậu Chiến tranh lạnh, sự gia tăng của tham nhũng và chế độ chuyên quyền là những yếu tố chính để lý giải nền kinh tế yếu kém. Việc Trung Quốc và hiện nay là cả Ấn Độ có sự tăng trưởng nhanh chóng, hay các nước Nam Mỹ có sự tăng trưởng vừa phải đã nâng mức sống của hàng triệu người thì châu Phi đã bị đình đốn, thậm chí thụt lùi trong thương mại, đầu tư và thu nhập trên đầu người. Sự nghèo đói này có ảnh hưởng rộng lớn, bao gồm tuổi thọ trung bình thấp, bạo lực và sự mất ổn định - các yếu tố bện vào nhau và có liên quan với sự nghèo đói của châu lục. Trong nhiều thập niên một loạt các giải pháp đã được đưa ra và nhiều trong số đó đã được thực hiện, nhưng chưa có giải pháp nào thu được sự thành công đáng kể. Một phần của vấn đề là sự viện trợ của nước ngoài nói chung được sử dụng để khuyến khích trồng các loại cây công nghiệp như bông, cô ca và cà phê trong các khu vực của nền nông nghiệp tự cung tự cấp. Tuy nhiên, cũng vào thời gian này thì các nước công nghiệp lại theo đuổi chính sách nhằm hạ giá các sản phẩm từ các loại cây này. Ví dụ, giá thành thực sự của bông trồng ở Tây Phi là nhỏ hơn khoảng một nửa giá thành của bông trồng tại Mỹ nhờ giá nhân công rẻ mạt. Tuy nhiên, bông của Mỹ được bán ra với giá thấp hơn bông châu Phi do việc trồng bông ở Mỹ được trợ cấp rất nhiều. Kết quả là giá cả của các mặt hàng này hiện nay chỉ xấp xỉ với giá của thập niên 1960. Châu Phi cũng phải hứng chịu sự chảy vốn liên tục. Nói chung, thu nhập đến với các nước châu Phi lại nhanh chóng ra đi, hoặc là do các tài sản được bán ra đều là sở hữu của ngoại quốc (dầu mỏ là một ví dụ điển hình) và tiền thu về lại được chuyển cho các chủ nước ngoài, hoặc là các khoản tiền đó phải sử dụng để thanh toán các khoản vay của các nước công nghiệp hay Ngân hàng thế giới (WB). Người ta ước tính rằng châu Phi có thể giảm sự phụ thuộc vào viện trợ của nước ngoài một cách đáng kể nếu mọi lợi nhuận thu được tại các nước châu Phi được tái đầu tư vào khu vực trong ít nhất 12 tháng. Botswana, một trong những quốc gia nghèo của châu Phi mà không đi theo các sự kiểm soát do Ngân hàng thế giới (WB) hay Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF) đề xuất, là một trong những ngoại lệ đối với quy luật chung của sự đình đốn nền kinh tế châu Phi, và đã thu được sự phát triển vững chắc trong những năm gần đây cho dù họ không có cả đầu tư nước ngoài, tự do luân chuyển vốn hay tự do hóa thương mại. Nước thành công kinh tế nhiều nhất là Cộng hòa Nam Phi, đây là một quốc gia phát triển về công nghiệp và kinh tế như bất kỳ nước công nghiệp châu Âu hay Bắc Mỹ nào, nước này còn có thị trường chứng khoán riêng rất hoàn thiện. Nam Phi đạt được điều này một phần là nhờ sự giàu có đáng ngạc nhiên về các nguồn tài nguyên thiên nhiên, nước này là nước dẫn đầu thế giới về sản xuất vàng và kim cương. Nigeria nằm trên một trong những nguồn dầu mỏ lớn nhất đã được công nhận trên thế giới và cũng là nước có dân số lớn nhất trong số các quốc gia châu Phi, cũng là một quốc gia phát triển nhanh. Tuy nhiên, phần lớn ngành công nghiệp dầu mỏ thuộc sở hữu của nước ngoài, và trong ngành này thì sự tham nhũng là lan tràn, ngay ở cấp độ quốc gia, vì thế rất ít tiền thu được từ dầu mỏ còn lại trong nước, và số tiền đó chỉ đến với một phần trăm ít ỏi của dân số. == Dân cư == Dân cư châu Phi có thể nhóm một cách thuận tiện theo khu vực mà họ sinh sống ở phía bắc hay phía nam của sa mạc Sahara; các nhóm này được gọi là người Bắc Phi và người Phi hạ Sahara một cách tương ứng. Người Ả Rập-Berber nói tiếng Ả Rập chi phối khu vực Bắc Phi, trong khi khu vực châu Phi hạ Sahara được chi phối bởi một lượng lớn dân cư tạp nham, nói chung được nhóm cùng nhau như là 'người da đen' do nước da sẫm màu của họ. Ở đây có một sự đa dạng về các loại hình dáng cơ thể trong số những người Phi hạ Sahara—dao động từ người Masai và Tutsi, được biết đến nhờ vóc người cao lớn của họ, tới người Pygmy, là những người có tầm vóc nhỏ nhất thế giới. Ngoài các nhóm người gốc sông Nil ở miền nam Sudan, một số nhóm người gốc sông Nil có ở Ethiopia, và các tộc người Phi thiểu số Bantu ở Somalia, người Phi từ các phần đông bắc của châu lục này nói chung có hình dáng bên ngoài khác với những người này ở các khu vực khác. Những người nói tiếng Bantu là đa số ở miền nam, trung tâm và đông châu Phi; nhưng cũng có vài nhóm người gốc sông Nil ở Đông Phi, và chỉ còn rất ít người Khoisan ('San' hay 'Busmmen') và Pygmy bản địa ở miền nam và trung châu Phi. Người Phi nói tiếng Bantu cũng chiếm ưu thế ở Gabon và Guinea Xích đạo, cũng như có sinh sống ở miền nam của hai nước Cameroon và Somalia. Tại sa mạc Kalahari ở miền nam châu Phi, những người được gọi là Bushmen ("San", có quan hệ gần với người "Hottentot", nhưng khác biệt rõ) đã sống ở đó lâu đời. Người San về mặt bề ngoài là khác biệt với những người châu Phi khác và là dân bản địa ở miền nam châu Phi. "Pygmy" là người bản địa của miền trung châu Phi. Người Phi ở Bắc Phi, chủ yếu là Ả Rập-Berber, là những người Ả Rập đã đến đây từ thế kỷ 7 và đồng hóa với người Berber bản địa. Người Phoenicia (Semit), và người Hy Lạp và người La Mã cổ đại từ châu Âu cũng đã định cư ở Bắc Phi. Người Berber là thiểu số đáng kể ở Maroc và Algérie cũng như có mặt ở Tunisia và Libya. Người Tuareg và các dân tộc khác (thường là dân du mục) là những người sinh sống chủ yếu của phần bên trong Sahara ở Bắc Phi. Người Nubia da đen cũng đã từng phát triển nền văn minh của mình ở Bắc Phi thời cổ đại. Một số nhóm người Ethiopia và Eritrea (tương tự như Amhara và Tigray, gọi chung là người "Habesha") có tổ tiên là người Semit (Sabaea). Người Somali là những người có nguồn gốc từ các cao nguyên ở Ethiopia, nhưng phần lớn các bộ tộc Somali cũng có tổ tiên là người gốc Ả Rập. Sudan và Mauritanie được phân chia giữa phần lớn người gốc Ả Rập ở phía bắc và người Phi da đen ở phía nam (mặc dù nhiều người gốc "Ả Rập" ở Sudan có tổ tiên rõ ràng là người châu Phi, và họ khác rất nhiều so với người gốc Ả Rập ở Iraq hay Algérie). Một số khu vực ở Đông Phi, cụ thể là ở đảo Zanzibar và đảo Lamu của Kenya, có những người dân và thương nhân gốc Ả Rập và Hồi giáo châu Á sinh sống từ thời Trung Cổ. Bắt đầu từ thế kỷ 16, người châu Âu như Bồ Đào Nha và Hà Lan bắt đầu thiết lập các điểm thương mại và pháo đài dọc theo bờ biển tây và nam châu Phi. Cuối cùng thì một lượng lớn người Hà Lan, cùng với người Pháp Huguenot và người Đức đã định cư lại tại khu vực gọi là Cộng hòa Nam Phi ngày nay. Hậu duệ của họ, người Phi da trắng (Afrikaan), là nhóm dân da trắng lớn nhất ở Nam Phi ngày nay. Trong thế kỷ 19, giai đoạn thứ hai của quá trình thuộc địa hóa đã đem một lượng lớn người Pháp và người Anh tới định cư ở châu Phi. Người Pháp sống chủ yếu ở Algérie, còn một lượng nhỏ khác sống ở các khu vực khác thuộc Bắc và Tây Phi. Người Anh định cư ở Nam Phi cũng như ở Rhodesia thuộc địa và ở các vùng cao nguyên của Kenya ngày nay. Một lượng nhỏ binh lính, thương nhân và viên chức gốc Âu cũng sinh sống ở các trung tâm hành chính như Nairobi và Dakar. Sự tan rã của các thuộc địa trong thập niên 1960 thường tạo ra sự di cư hàng loạt các hậu duệ gốc Âu ra khỏi châu Phi—đặc biệt là ở Algérie, Kenya và Rhodesia (nay là Zimbabwe). Tuy nhiên, ở Nam Phi thì người da trắng thiểu số (10% dân số) vẫn ở lại rất nhiều tại nước này kể cả sau khi sự cai trị của người da trắng chấm dứt năm 1994. Nam Phi cũng có cộng đồng người hỗn hợp về chủng tộc (người da màu). Sự thực dân hóa của người châu Âu cũng đem tới đây nhiều nhóm người châu Á, cụ thể là những người từ tiểu lục địa Ấn Độ tới các thuộc địa của Anh. Các cộng đồng lớn người Ấn Độ có ở Nam Phi và các nhóm nhỏ hơn có ở Kenya và Tanzania cũng như ở một vài nước thuộc nam và đông châu Phi. Một cộng đồng khá lớn người Ấn Độ ở Uganda đã bị nhà độc tài Idi Amin trục xuất năm 1972, mặc dù nhiều người kể từ đó đã quay trở lại. == Ngôn ngữ == Bài chính: Các ngôn ngữ châu Phi Theo phần lớn các ước tính thì châu Phi có trên cả ngàn ngôn ngữ. Có 4 hệ ngôn ngữ chính có gốc bản địa ở châu Phi. Hệ ngôn ngữ Phi-Á là hệ ngôn ngữ của khoảng 240 thứ tiếng và 285 triệu người sử dụng trải khắp Bắc Phi, Đông Phi, Sahel và Tây Nam Á. Hệ ngôn ngữ Nil-Sahara bao gồm hơn 100 thứ tiếng được khoảng 30 triệu người sử dụng. Các tiếng Nil-Sahara chủ yếu sử dụng ở Tchad, Sudan, Ethiopia, Uganda, Kenya và bắc Tanzania. Hệ ngôn ngữ Niger-Congo bao phủ phần lớn châu Phi hạ Sahara và có lẽ là họ ngôn ngữ lớn nhất thế giới khi nói đến như là có nhiều thứ tiếng khác nhau. Một điều đáng chú ý trong số đó là các tiếng Bantu được nói nhiều nhất ở khu vực hạ Sahara. Hệ ngôn ngữ Khoisan có số lượng trên 50 thứ tiếng và được khoảng 120.000 người nói ở miền nam châu Phi. Nhiều thứ tiếng trong họ ngôn ngữ này đang ở trong tình trạng mai một. Người Khoi và San được coi là những cư dân nguyên thủy của vùng này. Các ngôn ngữ châu Âu cũng có một số ảnh hưởng đáng kể; tiếng Anh, tiếng Pháp, tiếng Bồ Đào Nha và tiếng Tây Ban Nha là các ngôn ngữ chính thức tại một số nước do kết quả của quá trình thực dân hóa. Tại Cộng hòa Nam Phi, nơi có một lượng đáng kể người gốc châu Âu sinh sống, thì tiếng Anh và tiếng Afrikaan là ngôn ngữ bản địa của một bộ phận đáng kể dân chúng. == Văn hóa == Thay vì có một nền văn hóa, châu Phi có một lượng lớn các nền văn hóa pha tạp lẫn nhau. Sự khác biệt thông thường rõ nhất là giữa châu Phi hạ Sahara và các nước còn lại ở phía bắc từ Ai Cập tới Maroc, những nước này thường tự gắn họ với văn hóa Ả Rập. Trong sự so sánh này thì các quốc gia về phía nam sa mạc Sahara được coi là có nhiều nền văn hóa, cụ thể là các nền văn hóa trong nhóm ngôn ngữ Bantu. Sự phân chia còn có thể thực hiện bằng cách chia châu Phi nói tiếng Pháp với phần còn lại của châu Phi, cụ thể là các cựu thuộc địa của Anh ở miền nam và miền đông châu Phi. Một cách phân chia có khuyết điểm khác nữa là sự phân chia thành những người Phi theo lối sống truyền thống với những người có lối sống hoàn toàn hiện đại. Những "người truyền thống" đôi khi lại được chia ra thành những người nuôi gia súc và những người làm nông nghiệp. Nghệ thuật châu Phi phản ánh tính đa dạng của nền văn hóa châu Phi. Nghệ thuật có tuổi cao nhất còn tồn tại ở châu Phi là những bức chạm khác 6000 năm tuổi tìm thấy ở Niger, trong khi Đại kim tự tháp Giza ở Ai Cập là tổ hợp kiến trúc cao nhất thế giới trong khoảng 4000 năm cho đến khi người ta xây dựng tháp Eiffel. Tổ hợp các nhà thờ xây bằng đá ở Lalibela, Ethiopia, trong đó Nhà thờ St. George là đại diện, được coi là một kỳ công khác của ngành công trình. Âm nhạc châu Phi là một trong các dạng nghệ thuật năng động nhất. Ai Cập đã có một lịch sử lâu đời gắn liền với sự trung tâm văn hóa của thế giới Ả Rập, trong khi các giai điệu âm nhạc của châu Phi hạ Sahara, cụ thể là của Tây Phi, đã được truyền thông qua buôn bán nô lệ xuyên Đại Tây Dương thành các loại nhạc blues, jazz, reggae, rap và rock and roll hiện đại. Âm nhạc hiện đại của châu lục này bao gồm các bài hát hợp xướng tổ hợp cao của miền nam châu Phi và các điệu nhảy soukous, chi phối bởi âm nhạc của Cộng hòa Dân chủ Congo. Sự phát triển gần đây trong thế kỷ 21 là sự nổi lên của hip hop châu Phi, cụ thể là dạng ở Sénégal là pha trộn với mbalax truyền thống. Gần đây ở Nam Phi, một dạng âm nhạc liên quan tới nhạc house (thể loại nhạc sử dụng các thiết bị âm nhạc điện tử - là sự phối trộn của disco và pop, tên gọi có từ câu lạc bộ Warehouse ở Mỹ) được biết dưới tên gọi kwaito đã được phát triển, mặc dù nước này là quê hương của các dạng nhạc jazz Nam Phi, trong khi âm nhạc của người Afrikaan là hoàn toàn khác biệt và chủ yếu là âm nhạc Boere truyền thống và các dạng của âm nhạc dân tộc hay Rock. Danh sách các nhạc sĩ châu Phi Danh sách các nhà văn châu Phi Điện ảnh châu Phi == Tôn giáo == Người Phi châu theo nhiều loại tôn giáo, với Kitô giáo và Hồi giáo là phổ biến nhất. Khoảng 40% dân số châu Phi là người theo Kitô giáo và 40% theo Hồi giáo. Khoảng 20% còn lại chủ yếu theo các tôn giáo châu Phi bản địa. Một lượng nhỏ người Phi cũng theo các tín ngưỡng của Do Thái giáo, chẳng hạn như các bộ lạc Beta Israel và Lemba. Các tôn giáo châu Phi bản địa có xu hướng tiến hóa quanh thuyết vật linh và tục thờ cúng tổ tiên. Tư tưởng chung của các hệ thống tín ngưỡng truyền thống là sự phân chia thế giới tâm linh thành "có ích" và "có hại". Thế giới tâm linh có ích thông thường được cho là bao gồm linh hồn tổ tiên giúp đỡ cho con cháu của họ hay các thần linh có sức mạnh để bảo vệ toàn bộ cộng đồng tránh khỏi các thảm họa tự nhiên hoặc sự tấn công của kẻ thù; trong khi đó thế giới tâm linh có hại bao gồm linh hồn của các nạn nhân bị sát hại - là những người được chôn cất mà không có các nghi thức mai táng đúng cách và các loại ma quỷ mà các ông đồng, bà cốt sử dụng để tạo ra bệnh tật cho kẻ thù của họ. Trong khi tác động của các dạng nghi lễ thờ cúng nguyên thủy này vẫn còn tiếp diễn và có ảnh hưởng sâu sắc thì các hệ thống tín ngưỡng đó cũng tiến hóa nhờ sự tiếp xúc với các loại tôn giáo khác. Sự hình thành của vương quốc cổ đại ở Ai Cập trong thiên niên kỷ 3 TCN đã đánh dấu tổ hợp tín ngưỡng tôn giáo đầu tiên được biết trên châu lục này. Vào khoảng thế kỷ 9 TCN, Carthage (ngày nay là Tunisia) đã được người Phoenicia thành lập, và trở thành trung tâm vũ trụ lớn của thế giới cổ đại, trong đó các thần thánh từ Ai Cập, La Mã cổ đại và nhà nước-thành phố Etruscan đã được thờ cúng. Nhà thờ của Chính thống giáo Ethiopia có niên biểu chính thức từ thế kỷ 4, và vì thế là một trong các nhà thờ đầu tiên của Kitô giáo đã được xây dựng ở một nơi nào đó. Ở giai đoạn đầu thì tính chất chính thống của Kitô giáo đã có ảnh hưởng tới các vùng là Sudan ngày nay và các khu vực lân cận khác; tuy nhiên sau sự phổ biến của Hồi giáo thì sự phát triển của Kitô giáo đã bị chậm lại và bị hạn chế chỉ ở những vùng cao nguyên. Hồi giáo vào châu Phi khi người theo đạo này xâm chiếm Bắc Phi vào khoảng giữa các năm từ 640 tới 710, bắt đầu từ Ai Cập. Họ đã thành lập ra Mogadishu, Melinde, Mombasa, Kilwa và Sofala, tiếp theo là việc buôn bán theo đường biển dọc theo bờ biển Đông Phi và phổ biến xuyên qua sa mạc Sahara tới phần châu Phi nội địa - theo con đường thương mại của người Hồi giáo. Người Hồi giáo cũng là những người châu Á sau đó định cư ở các vùng châu Phi là thuộc địa của Anh. Nhiều người Phi đã chuyển sang theo dạng châu Âu của Kitô giáo trong thời kỳ thuộc địa. Trong những thập niên cuối của thế kỷ 20 các giáo phái khác nhau của Kitô giáo đã phát triển nhanh. Một số các giáo chủ người Phi của Giáo hội Công giáo La Mã đã được nói đến như là các ứng viên cho chức vụ Giáo hoàng. Những người theo Kitô giáo ở châu Phi dường như là bảo thủ hơn so với những người đồng tôn giáo ở phần lớn các nước công nghiệp, điều này gần đây dẫn tới những rạn nứt trong các giáo phái, chẳng hạn như giữa Anh giáo và Phong trào Giám lý. == Lãnh thổ == == Các quốc gia độc lập == Đông Phi Đông Phi bao gồm Burundi (đôi khi được coi là một phần của khu vực Trung Phi) Kenya Mozambique (đôi khi được coi là một phần của khu vực Nam Phi) Rwanda (đôi khi được coi là một phần của khu vực Trung Phi) Tanzania Uganda Đông Bắc Phi Djibouti Eritrea Ethiopia Somalia (bao gồm cả Somaliland) Sudan Nam Sudan Trung Phi Angola (đôi khi được coi là một phần của khu vực Nam Phi) Burundi (đôi khi được coi là một phần của khu vực Đông Phi) Cameroon (đôi khi được coi là một phần của khu vực Tây Phi) Cộng hòa Congo Cộng hòa Dân chủ Congo Cộng hòa Trung Phi Guinea Xích đạo (đôi khi được coi là một phần của khu vực Tây Phi) Gabon (đôi khi được coi là một phần của khu vực Tây Phi) Rwanda (đôi khi được coi là một phần của khu vực Đông Phi) Tchad (đôi khi được coi là một phần của khu vực Tây Phi) Zambia (đôi khi được coi là một phần của khu vực Nam Phi) Bắc Phi Algérie Ai Cập (bao gồm cả phần lãnh thổ ở châu Á) Libya Maroc Mauritanie (đôi khi được coi là một phần của khu vực Tây Phi) Tunisia Nam Phi Angola (đôi khi được coi là một phần của khu vực Trung Phi) Botswana Lesotho Malawi Mozambique (đôi khi được coi là một phần của khu vực Đông Phi) Namibia Cộng hòa Nam Phi Swaziland Zambia (đôi khi được coi là một phần của khu vực Trung Phi) Zimbabwe Tây Phi Bénin Burkina Faso Cameroon (đôi khi được coi là một phần của khu vực Trung Phi) Côte d'Ivoire Gabon (đôi khi được coi là một phần của khu vực Trung Phi) Gambia Ghana Guinea Xích đạo (đôi khi được coi là một phần của khu vực Trung Phi) Guinée Guinée-Bissau Liberia Mali Mauritanie (đôi khi được coi là một phần của khu vực Bắc Phi) Niger Nigeria Sénégal Sierra Leone Tchad (đôi khi được coi là một phần của khu vực Trung Phi) Togo Các quốc gia châu Phi quần đảo Cabo Verde (khu vực Tây Phi) Comoros (khu vực Nam Phi) Madagascar (khu vực Nam Phi) Mauritius (khu vực Nam Phi) São Tomé và Príncipe (khu vực Trung hoặc Tây Phi) Seychelles (khu vực Đông Phi) == Các lãnh thổ ngoại vi == Açores (Bồ Đào Nha) Quần đảo Canary (Tây Ban Nha/Maroc) Ceuta và Melilla (Tây Ban Nha/Maroc) Madeira (Bồ Đào Nha) Mayotte (Pháp) Réunion (Pháp) Saint Helena (bao gồm cả đảo Ascension và Tristan da Cunha trực thuộc) (Anh Quốc) == Lãnh thổ đang tranh cãi == Tây Sahara (Maroc đòi chủ quyền) == Chú thích == == Xem thêm == Danh sách các quốc gia châu Phi theo ngôn ngữ chính thức Danh sách các quốc gia châu Phi theo diện tích Danh sách các quốc gia châu Phi theo GDP danh nghĩa 2012 Hội nghị thượng đỉnh G8 lần thứ 31 AIDS tại châu Phi Chủ nghĩa vô chính phủ ở châu Phi Triết học châu Phi Liên minh châu Phi Ẩm thực châu Phi Sinh thái học châu Phi Giáo dục ở châu Phi Các khu vực châu Phi Hạ Sahara Các trường đại học ở châu Phi Danh sách các nước châu Phi theo mật độ dân số Danh sách các nước châu Phi theo dân số Danh sách các nước châu Phi theo GDP Danh sách các thị trường chứng khoán châu Phi == Liên kết ngoài == Tin tức allAfrica.com Tin tức/sự kiện, thông tin, thống kê kinh tế, v.v. BBC News In Depth - châu Phi 2005: Thời điểm để thay đổi? Guardian Unlimited - Báo cáo đặc biệt: Lắng nghe châu Phi 05 Thư mục Cơ sở dữ liệu về châu Phi ngày nay Chỉ số về châu Phi-Thư mục của Quốc hội Na Uy về châu Phi LookSmart.com - châu Phi, thư mục thể loại MBendi thông tin kinh doanh chung, ở Nam Phi Dự án thư mục mở - châu Phi thư mục thể loại Yahoo! - châu Phi thư mục thể loại Các nguồn nghiên cứu châu Phi Đại học Columbia - Các nghiên cứu về châu Phi Thư viện Quốc hội Mỹ - Phòng đọc về châu Phi và Trung Đông Đại học Stanford - châu Phi nam Sahara Đại học Chicago - Thư viện Joseph Regenstein: Các nghiên cứu về châu Phi Đại học Pennsylvania - Trung tâm nghiên cứu châu Phi Chính trị Africa Action Africa Action là tổ chức lâu đời nhất ở Mỹ nghiên cứu về các vấn đề của châu Phi. Đây là tổ chức nhà nước nghiên cứu về các hoạt động pháp lý trong chính trị, kinh tế và xã hội ở châu Phi. Chủ nghĩa vô chính phủ ở châu Phi: Lịch sử của phong trào Nhà hoạt động vô chính phủ người Ai Len tại châu Phi, Tây Phi từ viễn cảnh vô chính phủ. Ủy ban châu Phi Ảnh và thông tin Jungle Photos Jungle Photos Africa cung cấp các hình ảnh và thông tin về một số nước vùng hạ Sahara.
lịch sử nhân khẩu trung quốc.txt
Trung Quốc hiện là quốc gia có dân số đông nhất trên thế giới. Từ thời Chu Tuyên Vương, đã có điều tra nhân khẩu tại Trung Quốc, có thống kê nhân khẩu chi tiết vào đầu thời Chiến Quốc, song tài liệu không được truyền lại đến ngày nay. Tuy nhiên, từ khi Ban Cố soạn Hán thư trở đi, trong các chính sử đại đa số đều có ghi chép về nhân khẩu trong thiên địa lý. Tư liệu nhân khẩu phần lớn dựa vào chính sử, vốn ghi con số nhân khẩu nộp thuế, song vì nhiều nguyên nhân khác nhau nên có một lượng dân cư không nhỏ phải lưu tán, họ không được tính đến trong chính sử, ngoài ra còn có rất nhiều tăng ni, đạo sĩ, nô tì, quân nhân cũng không được tính, nên kết quả thống kê có phần sai lệch. Trong thời gian chiến tranh, triều đình và quan phủ không thể kiểm soát địa phương, nhân dân chạy trốn hình thành lưu dân, do vậy trong trường hợp này cần phải có sự ước lượng để đưa ra một con số gần với thực tế. == Thời kỳ Chiến Quốc == Thời kỳ Chiến Quốc (453 TCN- 221 TCN) là thời kỳ nông nghiệp Trung Quốc phát triển nhanh chóng và đặt cơ sở cho nền văn minh nông canh sau này. Trong thời gian này, số dân của các nước chư hầu tăng trưởng mau lẹ. Ước tính vào trung kỳ Chiến Quốc, tổng nhân khẩu các nước chư hầu đạt khoảng 35-40 triệu người. Trong khi đó, tổng nhân khẩu thế giới ước tính vào năm 1000 TCN đạt 50 triệu; vào năm 500 TCN ước đạt 100 triệu, vào năm 200 TCN ước đạt 190,5 triệu; Đế quốc Achaemenes ở Tây Á đạt 18 triệu vào năm 500 TCN và 18,7 triệu vào năm 340 TCN; Đế quốc Khổng Tước ở tiểu lục địa Ấn Độ đạt 26,5 triệu người vào năm 265 TCN. == Thời Tần == Năm 26 dưới quyền trị vì của Tần Thủy Hoàng, tức 221 TCN, nước Tần hoàn thành việc tiêu diệt sáu nước, sau đó tiếp tục mở mang lãnh thổ, đến năm 37 thời Tần Thủy Hoàng, tức 210 TCN, tổng nhân khẩu toàn quốc là 30 triệu người, trong khi nhân khẩu thế giới ước tính khoảng 190 triệu. Giáo sư Cát Kiếm Hùng tại Đại học Phúc Đán trong cuốn "Trung Quốc nhân khẩu phát triển sử" suy tính rằng nhân khẩu Đại Tần vào năm 213 vào khoảng trên dưới 25 triệu. == Thời Tây Hán == Trong thời kỳ ban đầu của lịch sử Trung Quốc, phát triển nông nghiệp tập trung ở khu vực trung hạ du Hoàng Hà, do vậy nhân khẩu có tình trạng bắc đông nam ít. Lấy Tần Lĩnh và Hoài Hà làm ranh giới, nhân khẩu Hoa Bắc vượt quá 85%, nhân khẩu Hoa Nam không đến 15%. Năm châu có nhân khẩu vượt quá 5 triệu là: Dĩnh, Dự, Ký, Duyện, Thanh đều nằm ở khu vực trung hạ du Hoàng Hà, tổng nhân khẩu của 5 châu này chiếm 55% tổng nhân khẩu toàn quốc. Mật độ nhân khẩu khu vực xung quanh thủ đô Trường An đạt trên dưới 1.000 người/km². Bốn châu có nhân khẩu dưới 2 triệu là Giao, Lương, Tịnh, Sóc Phương (U châu). Ba châu: Ích, Kinh, Dương có nhân khẩu phân bố chủ yếu tại bình nguyên Thành Đô, bồn địa Nam Dương, bình nguyên Thái Hồ và bình nguyên Ninh Thiệu. Khởi nghĩa nông dân cuối thời Tần và chiến tranh Hán-Sở khiến một lượng lớn dân chúng tử vong, Tư Mã Thiên cảm thán trong Sử ký: "Ban đầu Trần Thiệp khởi đầu tai họa, họ Hạng tàn ác diệt Tần, dẹp loạn trừ bạo, bình định hải nội, tốt lên ngôi đế, trở thành Hán gia. Trong vòng 5 năm, ba lần đổi hiệu lệnh. Từ khi con người sinh ra đến nay, chưa từng thụ mệnh gấp như vậy" Năm 202 TCN, Hán vương Lưu Bang xưng đế, nhân khẩu khi đó ước tính vào khoảng từ 15 đến 18 triệu người. Sau khi triều Hán được thành lập, theo đuổi Hoàng Lão chính trị, để dân chúng nghỉ ngơi phục hồi, sau Văn Cảnh chi trị đến năm Nguyên Quang thứ 6 (129 TCN) thời Hán Vũ Đế, nhân khẩu đạt đến 36 triệu người, trong khoảng 60 năm này nhân khẩu vùng trung hạ du Hoàng Hà tăng trưởng rõ rệt, xuất hiện cảnh tượng phồn vinh. Từ năm 129 TCN trở đi, do chiến tranh liên miên (như 11 lần đánh Hung Nô và lao dịch thu thuế cùng hình phạt ngày càng nặng, cho nên từ trung kỳ thời Hán Vũ Đế trở đi, số lượng nhân khẩu trở nên đình trệ và suy giảm trong nhiều năm, đến năm Chinh Hòa thứ 2 (91 TCN) thời Hán Vũ Đế thì chỉ còn 32 triệu. Sau đó, trong Chiêu Tuyên trung hưng, cuộc sống người dân lại được an định, quốc lực Đại Hán cơ bản khôi phục, trong thời gian này nhân khẩu khôi phục việc tăng trưởng. Theo "Hán thư- Địa lý chí" ghi chép: "Năm Nguyên Thủy thứ 2 (2) thời Hán Bình Đế, có 12.233.062 hộ, 59.594.978 người." Năm Hán Cao Tổ thứ 1 (202 TCN): khoảng 15-18 triệu Năm Nguyên Quang thứ 6 (129 TCN) thời Hán Vũ Đế: 36 triệu Năm Chính Hòa thứ 2 (91 TCN) thời Hán Vũ Đế: 32 triệu Năm Địa Tiết thứ 3 (67 TCN) thời Hán Tuyên Đế: 40 triệu Năm Nguyên Thủy thứ 2 (2) Thời Hán Bình Đế:12.366.470 hộ, 57.671.401 người; có thuyết nói là 12.233.062 hộ, 59.594.978 người) Học giả Vương Dục Dân ước tính nhân khẩu thực tế dưới 65 triệu. Ước tính vào năm 1, tổng nhân khẩu thế giới là 272,27 triệu, tỷ lệ người Hán vào năm này là 21,18%. == Thời Tân == Vương Mãng cải chế thất bại, cộng thêm thiên tai thường xuyên xảy ra và Hoàng Hà đổi dòng ở hạ du vào năm Thiên Phượng thứ 1 (14), kết quả là năm 17, bùng phát khởi nghĩa Lục Lâm, Xích Mi, sau đó chiến hỏa khắp nơi, quân phiệt cát cứ và hỗn chiến, khiến một lượng lớn người dân ở lưu vực Hoàng Hà phải dời đi lưu tán hoặc tử vong, hay chạy đến lưu vực Trường Giang tránh chiến tranh. Thời kỳ nhà Tân, không có điều tra nhân khẩu cụ thể, ước tính vào năm Thiên Phượng thứ 5 (17), toàn quốc có 56 triệu người. == Thời Đông Hán == Đến năm Kiến Vũ Trung Nguyên thứ 2 (57), nhân khẩu toàn quốc đạt gần 21.007.820, so với năm Nguyên Thủy thứ 2 (2) thời Tây Hán thì chỉ bằng 36,427%. Sau đó, nhân khẩu bắt đầu khôi phục tăng trưởng. Căn cứ theo "Hán thư-quận quốc chí ngũ" chép, năm Vĩnh Hòa thứ 5 (140) thời Hán Thuận Đế, toàn quốc có 9.698.630 hộ, 49.150.220 người. Đến năm Vĩnh Thọ thứ 3 (157) thời Hán Hoàn Đế, toàn quốc có 10.677.960 hộ, 56.476.856 khẩu, khôi phục đáng kể so với thời kỳ hoàng kim của Tây Hán. Phân bổ nhân khẩu thời Đông Hán cũng có sự biến hóa. Vào cuối Tân và đầu Đông Hán, có một lượng lớn người dân Trung Nguyên để tránh ngọn lửa chiến tranh nên đã chuyển đến lưu vực Trường Giang, nhân khẩu vùng phương nam chiếm đến 4/10 toàn quốc. Bốn châu: Dự, Kinh, Dương, Ích có số nhân khẩu vượt quá 5 triệu người. Hai châu Kinh và Ích đều có nhân khẩu tăng gấp đôi, nhân khẩu Dương châu cũng tăng thêm khoảng 1/4. Trong khi nhân khẩu phương nam tăng trưởng, đại bộ phận quận quốc ở phương bắc đều có nhân khẩu giảm thiểu. Cuối thời Đông Hán, chiến tranh không ngừng, đến năm Thái Khang thứ 3 (282) thời Tấn Vũ Đế, nhân khẩu toàn quốc chỉ còn 18,85 triệu, chỉ bằng 1/3 so với 125 năm trước đó. Sau loạn Hoàng Cân, khu vực Trung Nguyên xảy ra thiên tai mất mùa đói kém và có ghi chép như "tháng 1 mùa xuân năm Kiến Ninh thứ 3, người Hà Nội vợ ăn chồng, người Hà Nam chồng ăn vợ". Sau khi Đổng Trác nắm quyền, cho binh sĩ hiếp dâm phụ nữ, cướp vật tư. Khi phải đối mặt với việc liên quân Quan Đông thảo phạt, Đổng Trác lại "di chuyển toàn bộ vài triệu dân Lạc Dương đến Trường An; đốt hết cung, miếu, quan phủ, cư gia; trong vòng 200 lý không bỏ sót thứ gì". Khi Tào Tháo đánh Từ Châu, chôn sống hàng chục vạn nam nữ, gà chó cũng không bỏ sót, Tứ Thủy do vậy không chảy được". Lý Quyết tại Quan Trung "đương thời dân Tam Phụ vẫn còn vài chục vạn hộ, bọn Lý Quyết phát binh đi cướp đoạt, cộng thêm việc mất mùa, trong hai năm, người dân ăn thịt nhau". Do chiến tranh mà Ích châu của Lưu Yên và Lưu Chương, Kinh châu của Lưu Biểu, Dương châu của bọn Tôn Sách đều suy giảm nhân khẩu. Đương thời, nhân dân di chuyển theo ba dòng: từ Quan Trung về phía tây để đến Lương châu hoặc về phía nam để đến Ích châu, theo Hán Thủy dời đến Kinh châu, mỗi hướng khoảng 10 vạn hộ. Từ khu vực Trung Nguyên dời về phía đông bắc để đến Ký châu hoặc U châu, rồi lại chuyển đến Liêu Đông, người Tiên Ti và Ô Hoàn tiếp nhận làn sóng lưu dân này mà trở nên lớn mạnh. Dòng lớn nhất là từ khu vực Trung Nguyên dời đến Bành Thành Từ châu, rồi lại dời về phía nam đến khu vực Giang Nam. Đương thời, có rất nhiều sĩ đại phu tứ phương đến Giang Nam tị nạn, Đông Ngô lập quốc dựa trên cơ sở này. Năm Kiến Vũ thứ 1 (25) thời Hán Quang Vũ Đế, tước tính tổng nhân khẩu toàn quốc là 28 triệu người. Năm Kiến Vũ Trung Nguyên thứ 2 (57) thời Hán Quang Vũ Đế: 4,279,634户 21,007,820人 Năm Vĩnh Bình thứ 18 thời Hán Minh Đế (75): 5.860.573 hộ, 34.125.021 người Năm Chương Hòa thứ 2 (88) thời Hán Chương Đế: 7.456.784 hộ, 43.356.367 người Năm Nguyên Hưng thứ 1 (105) thời Hán Hòa Đế: 9.237.112 hộ, 53.256.229 người Năm Diên Quang thứ 4 (125) thời Hán An Đế: 9.647.838 hộ, 48.690.789 người Năm Vĩnh Hòa thứ 3 (138) thời Hán Thuận Đế: 10.780.000 hộ, 53.869.588 người Năm Vĩnh Hòa thứ 5 (140) thời Hán Thuận Đế: 9.698.630 hộ, 49.150.220 người Năm Kiến Khang thứ 1 (144) thời Hán Thuận Đế: 9.946.919 hộ, 49.730.550 người Năm Vĩnh Gia thứ 1 (145) thời Hán Xung Đế: 9.937.680 hộ, 49.524.183 người, có thuyết cho là năm này có 10.677.401 hộ, 56.366.856 người Năm Bản Sơ thứ 1 (146) thời Hán Chất Đế: 9.348.227 hộ, 47.566.772 người Năm Vĩnh Thọ thứ 3 (157) thời Hán Hoàn Đế: 10.677.960 hộ, 56.486.856 người Năm Quang Hòa thứ 7 (184) thời Hán Linh Đế: ước tính có 11 triệu hộ, 50 triệu người Năm Kiến An thứ 22 (217) thời Hán Hiến Đế: ước tính có 3 triệu hộ, khoảng 15 triệu người Học giả hiện đại Vương Dục Dân ước tính nhân khẩu Đông Hán vào thời tối thịnh vượt xa nhân khẩu Tây Hán (65 triệu) vào thời tối thịnh. Ước tính tổng nhân khẩu thế giới vào năm 200 đạt 223 triệu người, năm này nhân khẩu Đông Hán chiếm 18,2% tổng nhân khẩu thế giới. == Thời Tam Quốc == Sau khi dần hình thành thế cục Tam Quốc, nhân dân buộc phải thiên di do chiến tranh hay theo lệnh của người thống trị. Sau khi Tào Tháo đánh bại Trương Lỗ, một bộ phận cư dân Xuyên Đông và Hán Trung dời đến Quan Trung. Sau khi Tào Phi kiến đô ở Lạc Dương, đã cho dời 5 vạn binh hộ đến Hà Nam. Sau khi Ngụy diệt Thục, đã dời ba vạn gia đình người Thục đến Lạc Dương và Quan Trung. Sau khi Lưu Bị có được Ích châu, nhiều lần dời dân đến bình nguyên Thành Đô. Sau khi Gia Cát Lượng bắc phạt lần thứ nhất thất bại, đã cho dời cư dân Lũng Tây đến bổ sung cho Hán Trung. Tôn Quyền đánh bại Giang Hạ thái thú Hoàng Tổ, bắt được hàng vạn nam nữ. Sau khi kiến quốc, Tôn Quyền đề xướng gia tăng nhân khẩu, sau khi bình định Sơn Việt thì lấy "người yếu sung hộ, người khỏe bổ binh", đồng thời tiến công Hoài Nam để bắt người. Từ cuối thời Đông Hán đến khi Tây Tấn thống nhất toàn quốc, nhân khẩu suy giảm 35,3% so với thời kỳ đỉnh cao của Đông Hán. Đáng chú ý là nhân khẩu bị quân sự hóa cao độ, đương thời Tam Quốc còn có binh hộ, lại hộ, đồn điền hộ. Tào Tháo sáng lập ra đồn điền chế. Nhân khẩu Thục Hán tuy chỉ có 90 vạn, song quân đội có đến hơn 10 vạn, Đồn điền hộ có số lượng lớn, có vai trò quyết định đối với việc khôi phục và phát triển kinh tế-xã hội đương thời. Vào thời điểm Thục Hán bị diệt (263), nhân khẩu theo tư liệu văn hiến còn lưu truyền lại thì tổng số nhân khẩu nộp thuế của ba nước đạt trên dưới 8,2 triệu người. Căn cứ theo "Trung Quốc nhân khẩu phát triển sử" do giáo sư Cát Kiếm Hùng thuộc Đại học Phúc Đán chủ biên, nhân khẩu thực tế thời kỳ Tam Quốc là khoảng 16-20 triệu người. == Thời Lưỡng Tấn- Thập Lục Quốc == Sau khi Tây Tấn thống nhất toàn quốc, nhân khẩu vẫn chưa khôi phục lại mức vào thời Đông Hán. Loạn bát vương và Ngũ Hồ loạn Hoa lại khiến cho nhân khẩu giảm mạnh. Trong thời kỳ Ngũ Hồ loạn Hoa, nhiều lần xảy ra đồ sát, như Lưu Thông, Lưu Diệu, Thạch Lặc và Thạch Hổ tiến hành đồ sát tại Hoa Bắc. Chiến loạn cũng gây ra dịch bệnh và mất mùa đói kém, khiến cho một lượng lớn cư dân tử vong, thậm chí xảy ra thảm cảnh "người ăn thịt nhau; người chết đói đến năm, sáu phần". Ngoài nhân tố chiến loạn ra, số nhân khẩu Lưỡng Tấn cũng vì nhiều nhân tố khác mà bị che giấu. Chính quyền trưng thu thuế nặng nề, khiến cho bách tính trốn vào nương nhờ đại tộc hoặc chùa miếu để trốn thuế; ngoài ra vì chiến loạn nên một lượng lớn nhân khẩu sau khi di dời đã che giấu hộ tịch. Do phương Bắc chiến loạn không kham nổi, xuất hiện một dòng chảy nhân khẩu lớn. Đương thời có sáu hướng lưu vong chủ yếu: năm 296 thời Tấn Huệ Đế, Quan Trung xảy ra loạn Tề Vạn Niên, có vài vạn người từ Quan Trung qua Hán Trung để đến đất Thục, sau đó hiệp trợ Lý Đặc và Lý Lưu lập quốc Thành Hán. Một hướng khác là qua Hán Thủy, Uyển đến lưu vực Hoài Hà, sau được Thạch Lặc dung nạp. Sau khi Ba Thục bất ổn, nhân dân chạy đến khu vực Kinh Tương, song bị cường hào địa phương áp bức nên tiến hành nổi loạn, cuối cùng bị Vương Đôn và Đào Khản bình định. Dân đói Tịnh châu (trị sở nay thuộc Sơn Tây) đến khu vực Ký, Dự khất thực, sau do Điền Chân thống lĩnh, được gọi là "khất hoạt tặc". Lương châu ít chịu cảnh chiến loạn nên nhân dân đến đó tị nạn, do bảo lưu được một lượng lớn chế độ văn vật của người Hán nên tại khu vực này hình thành "văn hóa Hà Tây". Trong khi Hoa Bắc rối loạn, có nhiều người chạy đến Liêu Đông, được Mộ Dung Hoảng tiếp nhận, sau đó những kiều dân này hiệp trợ Mộ Dung Hoảng kiến lập Tiền Yên. Cuối cùng, sau loạn Vĩnh Gia xuất hiện một dòng chuyển cư lớn nhất, hướng từ Trung Nguyên đến Giang Nam, sử gọi là "Vĩnh Gia chi loạn, y quan nam độ". Vào thời Đông Tấn có tổng cộng năm đợt: thời kỳ Tư Mã Duệ di trấn Giang Đông; thời kỳ Tổ Địch và Tổ Ước bắc phạt thất bại, phải triệt thoát về nam; thời kỳ Hậu Triệu diệt vong, Hoàn Ôn bắc phạt; thời kỳ sau trận Phì Thủy, Tiền Tần sụp đổ; thời kỳ Lưu Dụ bắc phạt thất bại. Các thế tộc di cư đến phương nam trở thành trụ cột trong triều đình Đông Tấn và Nam triều sau đó. Kiều dân sau khi vượt Trường Giang chủ yếu phân bố tại bốn châu: Kinh, Dương, Lương, Ích; cũng có một số ít thâm nhập vào khu vực Mân Quảng. Kiều dân đầu tiên chủ yếu an trí tại "Kiều châu, quận, huyện", nhập bạch tịch, để có thể được giảm miễn thuế và lao dịch. Do "Kiều châu, quận, huyện" thay đổi không ổn định, kiều dân và dân bản địa sống hỗn tạp, gây khó khăn trong việc quản lý hộ tịch, ảnh hưởng đến việc thu thuế của chính quyền. Do vậy, sau khi an định thì triều đình thi hành "thổ đoạn", cho kiều dân nhập "hoàng tịch" (nhập hộ tại địa phương) nhằm dụ tài thực binh, đồng thời phái quan cai trị- tước đi đặc quyền miễn thuế của kiều dân. Trong thời Đông Tấn thực thi bốn lần "thổ đoạn". Đương thời nhân dân là một tài sản quan trọng, khi chiến tranh thì bất luận là kẻ xâm lược hay người bị xâm lược đều buộc nhân dân thiên di để đề phòng họ giúp đỡ cho đối phương, đặc biệt là tại khu vực Hoa Bắc và Giang Hoài. Trong thời kỳ Ngũ Hồ thập lục quốc, ở phương bắc, giữa ngoại tộc và tộc Hán mở ra dung hợp về mặt dân tộc và văn hóa. Cuối thời Đông Hán đến thời Ngụy-Tấn, các tộc người phương bắc dần tiến vào Trung Nguyên, sống cùng với người Hán, chịu ảnh hưởng từ văn hóa Hán, song thường chịu áp bức từ quan lại người Hán hoặc chịu sự kỳ thị của người Hán. Như tộc Hung Nô và Đê đổi sang dùng họ người Hán, đồng thời học tiếng Hán và kinh thư. Ở Trung Nguyên cũng lưu hành văn hóa Hồ tộc, cảm thấy hứng thú với các dụng cụ sinh hoạt, phục trang và âm nhạc của các dân tộc phương bắc; đồng thời tại Trung Nguyên cũng phổ biến việc uống sữa bò dê. Sang thời Ngũ Hồ thập lục quốc, các tộc người phương bắc xâm nhập hơn nữa vào Trung Nguyên, hoạt động tại Trung Nguyên có các ngoại tộc: Tiên Ti, Ô Hoàn, Cao Câu Ly, Đinh Linh, Yết, Nam Hung Nô, nhánh Thiết Phất và Lô Thủy Hồ của tộc Hung Nô; các tộc ở phía tây như Đê, Khương, Ba cũng xâm nhập. Các quốc gia do những tộc người này lập nên được gọi là "vương triều thâm nhập". Các tộc người thâm nhập và người Hán còn ở lại phương bắc chọn lọc và vay mượn văn hóa của nhau, hai bên dần tiến hành giao lưu văn hóa và dung hợp dân tộc, trong đó phép tắc chế độ và pháp luật lễ nghi của các nước phương bắc gần như đều giao cho người Hán chế định. Trong khi giao lưu, do các nhân tố như xung đột tư tưởng, phân tranh chủng tộc hay đấu tranh chính trị, tại Thập Lục Quốc thường xảy ra các xung đột như phá hoại hay đồ sát. Cô Tang ở Hà Tây trở thành một trọng trấn mậu dịch trên Con đường tơ lụa, người Hán còn lưu lại Trung Nguyên thì tìm sự che chở giúp đỡ tại các ổ bảo hoặc quý tộc bộ lạc. Ổ bảo đại đa số đều do thế tộc cường hào lập ra, chủ yếu nhằm phòng vệ quân sự. Các hộ nương nhờ thế tộc cường hào không phải nộp thuế và lao dịch cho quốc gia, họ chỉ có nghĩa vụ với ổ chủ. Để đảm bảo thu nhập quốc khố và lao dịch, quân chủ Thập Lục Quốc thường kiểm tra hộ khẩu, đưa "ấm hộ" (hộ được che chở) trở về "biên hộ" (bình dân). Sau khi ngoại tộc để mất nước, do thảo nguyên cố hương đã bị các tộc người khác như Nhu Nhiên chiếm cứ, tuyệt đại bộ phận lưu lại Trung Nguyên, chuyển sang thích ứng với văn hóa và lối sinh hoạt của Trung Nguyên, hợp nhất với người Hán. Quá trình dung hợp dân tộc đến thời Bắc Chu và Tùy thì hoàn thành. Tại Đông Tấn, sau khi người Hán ở phương bắc "y quan nam độ" cũng xảy ra xung đột và dung hợp với người Hán địa phương, các tộc người Bách Việt và các dân tộc khác. Sau khi Tùy thống nhất Trung Quốc, giới tuyến người Hán nam-bắc dần bị xóa mờ, hòa lẫn thành một thể. Năm Thái Khang thứ 1 (280), sau khi diệt Ngô, Đại Tấn có 2.459.840 hộ, 16.163.863 người. Năm Thái Khang thứ 2 (282), Đại Tấn có 3.770.000 hộ, khoảng 22.620.000 người. Thời Lưu Thông (310-318), khu vực do nước Hán Triệu kiểm soát có 63 vạn hộ người Hồ. Theo "Thập lục quốc Xuân Thu- Tiền Tần lục" ghi lại thì vào năm Kiến Hy thứ 11 (370) thời Tiền Yên U Đế, nước Tiền Yên có 2.458.669 hộ, 9.987.935 người. == Thời Nam-Bắc triều == Tình hình xã hội và nhân khẩu vào thời Nam-Bắc triều rất phức tạp, nhìn chung có thể phân thành 4 tầng lớp: thứ nhất là thế tộc danh môn hào tộc; thứ hai là "biên hộ tề dân" tự làm nông nghiệp, tiểu thủ công nghiệp hay thương nghiệp; thứ ba là "y phụ nhân" phụ thuộc thế tộc cường hào như "bộ khúc" "điền khách" hay "y thực khách", những người chịu sự cai quản của chính quyền thuộc tạp hộ-bách công hộ-binh hộ-doanh hộ cũng được định là "y phụ nhân"; cuối cùng là các nô lệ như "nô tì", "sinh khẩu", "lệ hộ" và các thành dân bị bắt làm tù binh rồi bị buộc phải thiên di. Ngụy-Tấn-Nam-Bắc triều là thời kỳ chính trị thế tộc, mặc dù hào tộc ở phương bắc có địa vị và quyền lực thấp hơn ở Nam triều, song vẫn ở địa vị rất cao. Số nhân khẩu do thế tộc khống chế gồm "bộ khúc", "điền khách" và "nô lệ" nếu không thể "tự thục" (tự chuộc thân) hoặc "phóng khiển" (phóng thích) thì không thể có được tự do. "Bộ khúc" chủ yếu được sử dụng vào việc tác chiến, do chiến sự giảm thiểu nên tham gia vào hoạt động sản xuất. Do tại Nam triều, "đại gia tộc chế" suy vong khiến "bộ khúc" dần chịu sự khống chế của quốc gia. Nô lệ chủ yếu bắt nguồn từ các nông dân phá sản hoặc là lưu dân, họ là tài sản của địa chủ, do vậy có thể bị địa chủ dùng làm vật thế chấp hoặc để giao dịch. Để ngăn chặn nô lệ chạy trốn, các nô lệ đều bị "kình diện" (Thích chữ bôi mực vào mặt). Nhờ các phương thức như "mi nam vi khách" hay " phát nô vi binh" mà nô lệ có thể chuyển thành điền khách của địa chủ hoặc binh sĩ của quốc gia. Những người tự cày cấy trồng trọt là lực lượng trọng yếu trong hoạt động sản xuất nông nghiệp đương thời. Họ phải thực hiện các nghĩa vụ tô điều, tạp thuế, lao dịch và binh dịch cho triều đình; vì thế mà nhiều nông dân tự canh đã phá sản và phải lưu vong, trở thành bộ khúc hoặc điền khách của thế tộc. Thời Nam-Bắc triều vẫn tiếp tục thi hành "thế binh chế" có từ thời Tam Quốc, các "binh hộ" truyền đời đảm nhiệm việc binh, thời bình cũng phải nộp tô điều. Do thợ thủ công nghiệp rất ít, cho nên quan phủ khống chế hết sức nghiêm ngặt với "tạp hộ" hoặc "bách công hộ", "bách công hộ" sau khi chuyển sang khu vực sản xuất của quan phủ thì hình thành nên các phố xưởng, truyền nghề cho thế hệ sau. Nếu như quý tộc và quan lại tự chiếm bách công hộ thì thường sẽ bị trừng trị. Tại Bắc triều còn có "tân dân" và "thành dân"; "tân dân" là những người dân hoặc thợ thủ công thuộc các dân tộc di dời quy mô lớn đến khu vực thủ đô dưới thời Bắc Ngụy Đạo Vũ Đế nhằm tăng cường quốc lực, xét theo số khẩu mà được nhận ruộng; "thành dân" là những người dân bị chinh phục, bị buộc phải thiên di, được bố trí đến sống tại các châu và có thân phận giống như nô lệ; thành dân có cấu trúc dân tộc phức tạp và phân bố trên quy mô rộng. Ở phương nam, vào khoảng thời Tấn mạt-Tống sơ, mô hình đại gia đình chuyển thành tiểu gia đình, người trong cùng một gia tộc không làm chung nghề phải lên đến bảy phần, lạnh nhạt với nhau. Điều này là do sau khi tông tộc phát triển, các gia đình giàu nghèo khác biệt, nếu như không cùng chung hoạn nạn từ bên ngoài thì sẽ dễ dàng phân ly; do đó phương thức đánh thuế dựa trên đại gia tộc trở nên vô dụng. Ở phương bắc, do ngoại tộc cần đoàn kết hợp tác nên vẫn duy trì được chế độ đại gia tộc. Do người Hán có cơ hội được tham gia chính quyền của người Hồ, truyền thống văn hóa và thể chế của Trung Quốc dần dần tiếp nhận các yếu tố ngoại tộc, song vẫn còn thịnh hành các phong tục như "tài hôn". Thời Nam-Bắc triều, các dân tộc du mục và dân tộc nông nghiệp diễn ra Hồ-Hán dung hợp văn hóa, các dân tộc du mục trên thảo nguyên phương bắc không ngừng Hán hóa trong quá trình tiến vào Trung Nguyên, trong khi các thế tộc người Hán do muốn tránh chiến loạn nên đem gia đình dời đến phương nam, xúc tiến việc người Hán và các dân tộc khác ở phương nam tiến hành tiếp xúc và dung hợp. Do đó, người Hán vào thời Tùy-Đường không giống như người Hán vào thời Tần-Hán, các dân tộc ở hai lưu vực Hoàng Hà và Trường Giang lấy người Hán làm chủ thể mà dụng hợp và hình thành nên "tân Hán tộc". Thời Nam triều, chính quyền 5 lần lần tiến hành "thổ đoạn", trong đó "Nghĩa Hy thổ đoạn" do Tống Vũ Đế Lưu Dụ tiến hành vào năm 413 là đáng kể nhất, khiến cho các châu huyện của kiều dân dần dần biến mất. Bắc Ngụy Hiếu Văn Đế thúc đẩy phong trào Hán hóa, dung hợp hoàng tộc Tiên Ti với thế tộc người Hán, đổi họ của hoàng tộc từ "Thác Bạt" sang "Nguyên", cấm dùng tiếng Tiên Ti; Thượng trụ Tây Ngụy là Vũ Văn Thái nghe theo kiến nghị của Tô Xước mà lập chính sách Quan Trung bản vị. Tuy nhiên, quá trình dung hợp không thể tránh khỏi sản sinh xung đột tư tưởng, đấu tranh chính trị hoặc xung đột chủng tộc. Ví dụ như Bắc Ngụy Thái Vũ Đế nhân "sự kiện tu quốc sử" mà diệt tông tộc của trọng thần Thôi Hạo và các họ khác có liên hệ. Bắc Ngụy Hiếu Văn Đế thúc đẩy phong trào Hán hóa khiến cho quý tộc Tiên Ti ở Lạc Dương và người Tiên Ti ở Lục trấn xảy ra mâu thuẫn, phát sinh phong trào Tiên Ti hóa để phản kháng văn hóa Hán, cuộc cùng dẫn đến loạn Lục trấn. Đông Ngụy và Bắc Tề do người Tiên Ti Lục trấn và người Hán bị Tiên Ti hóa làm chủ, duy trì tinh thần thượng võ, đề xướng văn hóa Tiên Ti, cực lực bài xích văn hóa Hán. Cuối cùng triều Bắc Chu dung hợp văn hóa Hồ-Hán và triều Tùy Hán hóa tiêu diệt triều Bắc Chu và Nam triều Trần, khởi đầu cho đế quốc Tùy-Đường mang tính chất "Thiên hạ một nhà". == Thời Tùy == Thời Ngũ Hồ thập lục quốc và Nam-Bắc triều, các dân tộc du mục và dân tộc nông nghiệp có sự giao thoa về văn hóa, đến Tùy triều thì hình thành Hán-Hồ dung hợp văn hóa, các dân tộc ở lưu vực Hoàng Hà và Trường Giang dung hợp, lấy tộc Hán làm chủ thể, tạo thành tộc Hán mới. Thời kỳ Ngụy-Tấn-Nam-Bắc triều, do chiến tranh kéo dài nên số hộ khẩu trên thực tế suy giảm; do chiến tranh và thuế nặng nên người dân che giấu về hộ khẩu, dẫn đến số hộ điều tra được ít hơn so với thực tế; thế tộc có nhu cầu sử dụng một lượng lớn nhân lực để sản xuất nông nghiệp, bao gồm những người trốn tránh việc nộp thuế. Xuất hiện hiện tượng "bách thất hợp hộ, thiên đinh cộng tịch" (trăm nhà hợp thành một hộ, nghìn đinh cùng chung hộ tịch), khiến số hộ khẩu mà triều đình thống kê được ít hơn nhiều con số thực tế. Đến thời Tùy, số hộ khẩu bắt đầu tăng lên nhanh chóng, chủ yếu là do thuế nhẹ và lao dịch ít, cộng thêm việc chính trị thế tộc và chế độ trang viên bị suy yếu, nhân dân tình nguyện thoát ly sự bảo hộ của thế tộc để tự lập môn hộ. Do thống kê chính xác số khẩu sẽ đảm bảo được nguồn thu thuế, Cao Quýnh lệnh cho các quan châu huyện đều phải kiểm tra hộ khẩu mỗi năm, do vậy địa phương không thể che giấu nhân khẩu. Năm Khai Hoàng thứ 5 (585) thời Tùy Văn Đế, Hoàng đế hạ lệnh cho quan châu huyện kiểm tra hộ khẩu, thân thuộc có quan hệ xa từ "đường huynh đệ" (anh em con chú con bác) trở đi đều phải tách hộ tịch, đồng thời mỗi năm thống kê một lần, do vậy phương bắc thống kê được thêm hơn 1,64 triệu khẩu. Thời Tùy, nhân khẩu gia tăng nhanh chóng, diện tích đất canh tác được mở rộng và kho lương quốc gia dồi dào. Theo "Tùy thư-Địa lý chí", theo số liệu từ các quận thì toàn quốc có 9.073.926 hộ, khôi phục số hộ dưới thời Đông Hán trước đó 4 thế kỷ, năm 613 có 44,5 triệu người. Trong vòng 26-27 năm, quốc gia tăng thêm 428 vạn hộ, nhân khẩu tăng thêm hơn 17 triệu người. Cùng với việc lực lượng lao động tăng thêm, kinh tế-xã hội cũng xuất hiện cảnh tượng phồn vinh, thu nhập của triều đình tăng lên. Năm 592, dự trữ lương thực và lụa hoa chất cao như núi, sử tịch thuật lại là phủ khố đều đầy ắp, buộc phải tích trữ ở dưới hiên, ở một mức độ nhất định đã phản ánh sự phát triển của nền nông nghiệp thời Tùy. == Thời Đường == Triều Đường từ đầu những năm Vũ Đức (618-626) đến cuối những năm Thiên Bảo (742-756) théo thống kê thì có số nhân khẩu và hộ khẩu thấp hơn triều Tùy, có khả năng là do pháp lệnh không được thi hành, người dân giấu giếm hộ khẩu không báo cáo, như vậy số liệu do sử tịch ghi lại ít hơn so với con số thực tế. Theo "Cựu Đường thư", vào năm Đức Nguyên thứ 1 (618), Đại Đường có 1,8 triệu hộ; đến năm Vũ Đức thứ 7 (624) có 2,19 triệu hộ; đến năm Trinh Quán thứ 13 (639) có 3,04 triệu hộ; đến năm Trinh Quán thứ 22 (648) có 3,6 triệu hộ; năm Vĩnh Huy thứ 3 (652) có 3,8 triệu hộ. Căn cứ theo "Thông điển- quyển 7- thực hóa" thì vào năm Thiên Bảo 13 (754), toàn quốc có 9.069.154 hộ, 52.880.488 khẩu. Theo sử liệu thì triều Đường phải mất 100 năm thì mới phục hồi qua mức hộ khẩu vào thời cực thịnh của triều Tùy. Đương thời, toàn quốc có 15 đạo, nhân khẩu khu vực phía bắc Tần Lĩnh-Hoài Hà là 30 triệu, các khu vực đông dân nhất là hai đạo Hà Nam và Hà Bắc cùng với khu vực Hoài Bắc; tổng nhân khẩu các khu vực còn lại là gần 20 triệu. Thủ đô Kinh Triệu phủ Trường An có 1,96 triệu người, đông đô Hà Nam phủ Lạc Dương có 1,18 triệu người. Ngụy Châu với 1,1 triệu người là một đầu mối giao thông nằm ven Đại Vận Hà vào thời Tùy-Đường. Nhân khẩu của Hà Đông đạo đạt 3,72 triệu, Quan Nội đạo có 1,5 triệu, Lũng Hữu đạo có số nhân khẩu thấp nhất với chỉ 53 vạn. Trong số các đạo ở phương nam, Giang Nam Đông đạo có số nhân khẩu đông nhất với 6,61 triệu, kế đến là Kiếm Nam đạo với 4,09 triệu, trong đó Thành Đô phủ có 92 vạn nhân khẩu, Giang Nam Tây đạo có 3,72 triệu nhân khẩu, Hoài Nam đạo có 2,27 triệu, Lĩnh Nam đạo có 1,16 triệu, Kiềm Trung đạo là đạo ít dân nhất toàn quốc với chỉ 16 vạn. Trong loạn An Sử, tình hình xã hội và sản xuất ở phương bắc bị phá hoại, nhân khẩu phương bắc dời về phương nam hoặc tử vong. Sau khi kết thúc loạn An Sử, theo sử sách thì số nhân khẩu chỉ còn lại một phần ba so với trước loạn An Sử, từ đó số nhân khẩu của triều Đường không khôi phục được nữa, theo ước lượng thì vào trung kỳ triều Đường, toàn quốc có khoảng 4-5 triệu hộ. Phân bổ nhân khẩu cũng có sự biến hóa, vào thời sơ Đường khu vực Hoa Bắc chiếm 75% tổng số nhân khẩu, còn Hoa Nam chiếm 25%; song đến khi triều Đường diệt vong thì mỗi khu vực chiếm một nửa tổng số nhân khẩu. Phương nam thu hút di dân phương bắc, như Thanh Hà quận ở Hà Bắc trước loạn An Sử có 80 vạn nhân khẩu song sau đó giảm xuống còn 10 vạn. Hậu kỳ triều Đường xảy ra tình trạng phiên trấn cát cứ và loạn Hoàng Sào, tình trạng nhân dân dời về phương nam tị nạn trở nên nghiêm trọng hơn. Từ sau loạn An Sử đến cuối thời Đường là làn sóng lớn dời về phương nam thứ hai trong lịch sử nhân khẩu Trung Quốc, kéo theo đó là phương nam trên các phương diện kinh tế-văn hóa đều vượt qua phương bắc. Trong thời Ngũ Đại Thập Quốc, trong số 9 nước ở phương nam thì có sáu nước có quân chủ là di dân từ phương bắc. Năm Vũ Đức thứ 1 (618) thời Đường Cao Tông: 1.800.000 hộ Năm Vũ Đức thứ 5 (623) thời Đường Cao Tông: 2.190.000 hộ Năm Trinh Quán thứ 2 (628) thời Đường Thái Tông: 2.900.000 hộ Năm Trinh Quán thứ 13 (639) thời Đường Thái Tông: 3.041.871 hộ, 12.351.681 người. Năm Trinh Quán thứ 20 (646) thời Đường Thái Tông: 3.600.000 hộ. Năm Vĩnh Huy thứ 3 (652) thời Đường Cao Tông: 3.800.000 hộ Năm Thần Long thứ 1 (705) thời Đường Trung Tông: 6.156.141 hộ, 37.140.000 người Năm Khai Nguyên thứ 14 (726) thời Đường Huyền Tông: 7.069.565 hộ, 41.419.712 người. Năm Khai Nguyên thứ 20 (732) thời Đường Huyền Tông: 7.861.236 hộ, 45.431.265 người. Năm Khai Nguyên thứ 22 (734) thời Đường Huyền Tông: 8.018.710 hộ, 46.285.161 người. Năm Khai Nguyên thứ 28 (740) thời Đường Huyền Tông: 8.412.871 hộ, 48.143.609 người. Năm Thiên Bảo thứ 1 (742) thời Đường Huyền Tông: 8.525.763 hộ, 48.909.800 người. Năm Thiên Bảo thứ 13 (754) thời Đường Huyền Tông: 9.619.254 hộ, 52.880.488 người. Năm Thiên Bảo thứ 14 (755) thời Đường Huyền Tông: 8.914.709 hộ, 52.919.309 người. Sử gia đương thời Đỗ Hựu ước tính vào năm này Đại Đường có trên dưới 14 triệu hộ, nhân khẩu đạt từ 75-80 triệu người. Căn cứ theo "Trung Quốc nhân khẩu phát triển sử" của Cát Kiếm Hùng, vào những năm Thiên Bảo thời Đường Huyền Tông là thời điểm nhân khẩu triều Đường đạt cực thịnh với khoảng 80-90 triệu người. Năm Càn Nguyên thứ 3(760) thời Đường Túc Tông: 2.933.174 hộ, 16.993.806 người. (chỉ có 169 châu báo cáo số hộ khẩu, không bằng một nửa số đơn vị trước loạn An Sử) Năm Quảng Đức thứ 2 (764) thời Đường Đại Tông: 2.933.125 hộ, 16.900.000 người. Năm Kiến Trung thứ 1 (780) thời Đường Đức Tông: 3.805.076 hộ (có thuyết nói là hơn 3,1 triệu hộ) Năm Nguyên Hòa thứ 2 (807) thời Đường Hiến Tông: 2.473.963 hộ. (71 châu chưa báo cáo) Năm Nguyên Hòa thứ 15 (820) thời Đường Hiến Tông: 2.375.400 hộ, 15.760.000 người. Năm Trường Khánh (824) thời Đường Mục Tông: 3.944.595 hộ. Năm Bảo Lịch (826) thời Đường Kính Tông: 3.978.982 hộ Năm Khai Thành thứ 4 (839) thời Đường Văn Tông: 4.996.752 hộ. Năm Hội Xương thứ 1 (845) thời Đường Vũ Tông: 4.955.151 hộ. Năm Đại Trung thứ 13 (859) thời Đường Tuyên Tông: ước lượng toàn quốc có 33.000.000 người. Năm Thiên Phục thứ 3 (907) thời Đường Ai Đế: toàn quốc có tổng cộng 20.000.000 người. == Thời Ngũ Đại Thập Quốc == Từ hậu kỳ triều Đường đến thời Ngũ Đại Thập Quốc, do chiến loạn kéo dài và thiên tai nên kinh tế khu vực Trung Nguyên bị tàn phá rất nặng. Sau loạn Hoàng Sào, trong suốt 60-70 năm, chiến sự lớn nhỏ không dừng. Binh dịch và các loại lao dịch ở khu vực Hoa Bắc rất nặng nhọc, quần chúng thường bị thảm sát. Chiến tranh và lao dịch nặng nhọc khiến hàng vạn người chết đói hoặc lưu tán tha hương. Giả dụ như vào hậu kỳ triều Đường, Tần Tông Quyền từ Thái châu đánh ra tứ phía, từng đánh chiếm Đông Đô, hình thành tình huống "nhìn xa nghìn lý, không thấy khói lửa". Khi Chu Ôn giao chiến với Thì Phổ ở Từ châu, nông nghiệp ba châu Từ, Tứ và Hào bị phá hoại. Khi Chu Ôn giao chiến với Lưu Nhân Cung ở Hà Bắc, một dải từ Ngụy châu đến Thương châu bị phá hoại, trận chiến ở Định châu khiến cho hơn 6 vạn người tử thương. Khu vực Trường An, Lạc Dương vốn là nơi tập trung tinh hoa của triều Đường, song khi Chu Ôn buộc Đường Chiêu Tông đông thiên, ông ta cũng buộc người dân phải thiên di, đồng thời phá bỏ phòng ốc, đốt cháy hoàn toàn, không đầy 100 hộ trở về. Sau đó, xảy ra chiến sự giữa Hậu Lương và Tấn, khiến cho vùng Tấn Nam-Dự Bắc có không ít địa phương "làng không thóc lúa, ấp không khói lửa". Để ngăn chặn quân Tấn, Hậu Lương từng vài lần làm vỡ đê Hoàng Hà, khiến vùng Hà Nam và Sơn Đông nước lụt tràn ngập, dân không kham nổi. Đến giữa thời kỳ Hậu Đường và Hậu Tấn, khu vực Hoa Bắc bị Khiết Đan Quốc tiến đánh và quấy nhiễu; đất Yên châu Lô Long nhiều lần bị kị binh Khiết Đan cướp bóc đốt phá, trong vài nghìn lý "dân vật đãi tận". Đặc biệt là sau khi quân Khiết Đan nam hạ đánh chiếm Biện châu, trong phạm vi hàng trăm lý giữa Khai Phong và Lạc Dương, dân cư chỉ còn rất ít, bách tính Tương châu có đến hơn vạn người bị giết chết. Thời Hậu Hán, các phiên trấn như Hà Trung và Phượng Tường phản lại triều đình, thi thể người chết trận và chết đói có trên 20 vạn. 12 châu của Bắc Hán vào thời thịnh Đường có đến 28 vạn hộ, song vào lúc Bắc Hán mất nước vào tay Bắc Tống thì chỉ có hơn 3 vạn hộ, tức là chỉ còn lại 1/8 so với thời thịnh Đường. Năm 838, thời Đường Văn Tông, Đại Đường có 4,99 triệu hộ, đến khi triều Tống thống nhất Trung Quốc thì có 3,79 triệu hộ, tức trong vòng 140 năm giảm đi 120 vạn hộ, qua đó có thể thấy thời Đường mạt và Ngũ Đại, chiến loạn kịch liệt còn dân sinh thì thống khổ. Hậu kỳ triều Đường, phương nam chịu ảnh hưởng từ biến Bàng Huân và loạn Hoàng Sào, tuy nhiên sang đến thời Thập Quốc thì có tương đối ít các cuộc chiến tranh lớn, chính cục tương đối ổn định, có lợi cho việc khôi phục và phát triển kinh tế- xã hội. Lại thêm việc sau khi triều Đường suy yếu, Trung Nguyên bất ổn định, có không ít người nối tiếp nhau tiến về phương nam để đến Giang Nam, Hồ Quảng và Ba Thục, xa nhất đến tận đất Lưỡng Quảng. Quan Nội đạo, Hà Nam đạo, Hà Bắc đạo đều có hộ khẩu giảm sút rất nhiều; song ở các nơi phương nam như Tô châu, Ngạc châu, Hồng châu, Nhiêu châu, Cát châu, Tương châu, Dĩnh châu, Đường châu, Hành châu, Quảng châu đều có hộ khẩu tăng đáng kể. Theo cách nói đương thời, thì trong số hộ khẩu tại Tô châu, một phần ba là từ phương bắc đến; ở Vũ Xương số hộ khẩu tăng gấp ba lần chỉ trong vòng hai năm, đều phản ánh việc có nhiều người di cư về phương nam, khiến phân bổ nhân khẩu khá tập trung ở phương nam. Việc ổn định lâu dài có lợi cho phát triển sản xuất, khiến phủ khố của Thập Quốc dần trở nên đầy đủ. Mạt kỳ Ngũ Đại Thập Quốc, hộ khẩu Hậu Chu và Bắc Hán không quá 100 vạn, các nước phương nam thì lại đạt đến trên 270 vạn hộ. Trong số các nước, đông nhất là Nam Đường với khoảng 65 vạn hộ, tiếp đến là Ngô Việt với khoảng 55 vạn hộ, Hậu Thục có khoảng 53 vạn hộ. Tổng nhân khẩu của ba nước này đương thời chiếm một nửa dân số toàn Trung Quốc. Đến khi triều Tống thống nhất Trung Quốc, khu vực Hoa Bắc nguyên thuộc Hậu Chu và Bắc Hán có khoảng 100 vạn hộ, song khu vực phương nam nguyên thuộc chín nước thì có 230 vạn hộ. Những năm đầu Bắc Tống, tỉ lệ nhân khẩu nam bắc đại ước là 6:4. Năm 958, Nam Đường cắt đất Giang Bắc (tức Hoài Nam) với 226.574 hộ cho Hậu Chu. Hậu Chu (959): 2.309.812 hộ. Kinh Nam (963): 142.300 hộ. Vũ Bình (963): 97.388 hộ. Hậu Thục (965): 534.029 hộ. Nam Hán (971): 170.263 hộ. Nam Đường (975): 655.065 hộ. Bắc Tống (976): 3.090.504 hộ (chủ hộ) Thanh Nguyên (978): 151.918 hộ. Ngô Việt (978): 550.680 hộ. Bắc Hán (979): 35.250 hộ. == Thời Tống-Liêu-Hạ-Kim == Theo ghi chép trong "Thái bình hoàn vũ ký", năm Thái Bình Hưng Quốc thứ 5 (980), toàn Đại Tống có 6.499.145 hộ với khoảng 32,5 triệu người. Theo ghi chép trong "Nguyên Phong cửu vực chí", vào những năm Nguyên Phong (1078-1085), toàn quốc có 16 triệu hộ. Căn cứ theo "Tống sử-Địa lý chí", năm Sùng Ninh thứ 1 (1102) thời Tống Huy Tông, toàn quốc có 17,3 triệu hộ. Năm Đại Quan thứ 5 (1110) thời Tống Huy Tông, Tống có 20.882.258 hộ, nhân khẩu khoảng 112,75 triệu. Ước tính vào năm Tuyên Hòa thứ 2 (1120), có 22 triệu hộ, nhân khẩu khoảng 118,8 triệu. Sau "họa Tĩnh Khang", lại xuất hiện hiện tượng cư dân Trung Nguyên dời về phương nam với số lượng lớn, có hai làn sóng: làn sóng thứ nhất là từ "sự kiện Tĩnh Khang" (1125-1127) đến "hòa nghị Thiệu Hưng" (1141), làn sóng thứ hai là trong thời gian hoàng đế Kim Hoàn Nhan Lượng xâm chiếm phương nam. Nhân khẩu phương nam do vậy tăng thêm rất nhiều, theo ước tính, vào năm Gia Định thứ 11 (1218) tức thời điểm đỉnh cao của Nam Tống, toàn quốc có 13,6 triệu hộ. Năm Thiệu Hưng thứ 32 (1162) so với năm Sùng Ninh thứ 1, Lưỡng Chiết lộ tăng thêm thêm 26 vạn hộ, Giang Nam Tây lộ tăng thêm 42 vạn hộ, Phúc Kiến lộ tăng thêm 33 vạn hộ, Đồng Xuyên Phủ lộ tăng thêm 24 vạn hộ, Quỳ Châu Phủ lộ tăng thêm 14 vạn hộ. Thời Tống, nhân khẩu thành thị tăng mạnh, có 50 thành thị có trên 10 vạn hộ, trong đó nhân khẩu Lâm An vượt 1,24 triệu hộ (1274), nhân khẩu Biện Lương trên 1,8 triệu hộ (1125), đương thời là một trong số các thành thị đông nhất trên thế giới. Trong những năm Sùng Ninh thời Tống Huy Tông, trong số các lộ ở phương bắc thì Kinh Kỳ lộ có nhân khẩu tập trung nhất, năm Nguyên Phong thứ 6 (1083) có 23 vạn hộ, năm Sùng Ninh thứ nhất có 26 vạn hộ; song Vĩnh Hưng quân lộ có 100 vạn hộ, Kinh Triệu phủ với trung tâm là Trường An có 23 vạn hộ, nguyên nhân do đây là tiền tuyến trong chiến tranh giữa Tống và Tây Hạ. Nhân khẩu phương nam tập trung chủ yếu tại các lộ: Lưỡng Chiết, Giang Nam Đông-Tây, Phúc Kiến, Xuyên Thiểm. Hộ khẩu của năm lộ này đạt 5,71 triệu hộ, tức một nửa số hộ của phương nam. Trong đó, Lưỡng Chiết lộ là đông nhất với 1,97 triệu hộ, tiếp đến là Giang Nam Tây lộ với 1,66 triệu hộ, Giang Nam Đông lộ với 1,01 triệu hộ, Phúc Kiến lộ với 1,06 triệu hộ, hai lộ Hoài Nam Đông-Tây có tổng cộng khoảng 1,3 triệu hộ, bốn lộ Xuyên-Hiệp có tổng cộng 2 triệu hộ (năm 1231 có 5 triệu hộ), hai lộ Kinh Hồ Nam-Bắc có tổng cộng 1,4-1,5 triệu hộ, hai lộ Quảng Nam Đông-Tây có tổng cộng hơn 80 vạn hộ, Kinh Tây-Nam có tổng cộng 40 vạn hộ. Mặc dù người Hán đến định cư trên đảo Hải Nam từ trước Công nguyên, song phải đến thời Tống thì mới có các nỗ lực nhằm đồng hóa người Lê sống trên vùng núi - những người này khi đó đang chiến đấu chống lại và đẩy lui người Hán nhập cư. Căn cứ theo Liêu sử được học giả hiện đại khảo đính, vào năm Càn Thống thứ 10 (1110) thời Liêu Thiên Tộ Đế, nhân khẩu Liêu quốc đạt mức tối đa là hơn 1,5 triệu hộ, 10.569.288 người. Phong tục xã hội của người Khiết Đan khác biệt với người Hán, người Khiết Đan cai trị người Hán ở Yên Vân thập lục châu giống như cách thức ở Trung Nguyên, người Khiết Đan ở phương bắc vẫn sinh hoạt theo tục cũ, hai tộc người cũng hỗn tạp ở những vùng ranh giới. Do Tây Hạ áp dụng chế độ toàn dân đều là binh lính nên có thể dựa vào số lượng binh lực để suy ra lượng nhân khẩu. Ngày nay có nhận định rằng nhân khẩu Tây Hạ không thấp hơn 30 vạn hộ, không cao hơn 2 triệu hộ. Theo "Tống sử" ghi lại thì Tây Hạ có 50 vạn đại quân Tây Hạ cũng là một triều đại đa dân tộc, với chủ thể là tộc Đảng Hạng, cùng với tộc Hán, Hồi Cốt và Thổ Phồn. Theo "Trung Quốc nhân khẩu sử" của Ngô Tùng Đệ thì nhân khẩu Tây Hạ vào những năm Sùng Tông (1100) thời Sùng Tông đạt mức tối đa là khoảng 3 triệu người. Sau Nghị hòa Thiệu Hưng năm 1141, tình trạng nhân khẩu giảm thiểu ở phương bắc từ sau sự biến Tĩnh Khang bắt đầu được khắc phục ở mức độ nhất định, đến năm 1207 thời Kim Chương Tông thì đạt 53.532.151 người, cũng là mức tối đa của Đại Kim. Đương thời, tổng nhân khẩu của Kim, Nam Tống, Tây Hạ ước tính là khoảng 136 triệu người. Trong lần thống kê nhân khẩu chuẩn xác thứ tư của triều Kim, mỗi hộ bình quân có trên 6 khẩu, quy mô hộ dưới triều Kim đông đảo, có quan hệ nhất định với việc các quý tộc và mãnh an-mưu khắc sử dụng một lượng lớn nô bộc. Kim Thái Tổ và Kim Thái Tông khi thống trị Trung Nguyên đã đưa hơn 1 triệu người Nữ Chân đến vùng đất hạ du Hoàng Hà vỗn đã có nhân khẩu đông đúc, dùng biện pháp hy sinh lợi ích của người Hán phục vụ cho người Nữ Chân, mục đích là để đáp ứng cho sinh hoạt và quân sự của họ. Cùng lúc với việc đưa những di dân mới người Nữ Chân đến chiếm lĩnh đất đai Trung Nguyên, người Khiết Đan và người Hán bị đưa đến nội địa của triều Kim (tức vùng Mãn Châu ngày nay). Trong cuộc chiến tranh chống Liêu, quân Kim từng bắt được một lượng lớn người Khiết Đan và người Hán làm nô lệ. Sau đó, Kim Thái Tổ từng hạ chiếu cấm chỉ giam giữ bách tính chịu đầu hàng, cấm chỉ nhà quyền thế mua dân nghèo làm nô lệ, lại quy định những người từng bán thân làm nô lệ có thể dùng công lao động để chuộc thân, song trên thực tế khả năng nô lệ có thể tự chuộc thân là rất thấp. Cư dân người Hán bị buộc phải thiên di không thể không trở thành nô lệ với số lượng lớn. Triều đình Kim đối với nhân dân khu vực chịu đầu hàng tuân phục thì áp dụng biện pháp cưỡng bách thiên di đến nội địa. Như cư dân các châu huyện Sơn Tây bị buộc phải thiên di với số lượng lớn đến Hồn Hà lộ thuộc Thượng Kinh của Kim. Cư dân địa khu Thượng Kinh lại được dời đến Ninh Giang châu. Nhân dân Bình châu nổi dậy phản kháng, sau khi bị trấn áp thì phải cùng với cư dân Nhuận châu, Tháp châu, Lai châu, Thiên châu dời đến đông đô Thẩm Dương. Những cư dân này không thể vượt qua khó khăn để tồn tại, buộc phải bán thân làm bô lệ, khiến người Hán hận thù sâu sắc. == Thời Mông-Nguyên == Nhân khẩu thời Nguyên có điểm đặc trưng, ngay từ thời đế quốc Mông Cổ, dân phương bắc đã không ngừng chạy xuống nam, hiện tượng này đến thời Nguyên Huệ Tông vẫn tiếp tục xảy ra, triều đình Nguyên luôn cấm đoán song không thể chấm dứt được. Trong thời gian đế quốc Mông Cổ chinh phục Tây Hạ, Kim và Nam Tống, quân Mông Cổ thường hay tiến hành đồ sát và cướp bóc trên quy mô lớn Sau đó, do dịch bệnh và mất mùa đói kém nên một lượng lớn nhân khẩu khu vực Đông Á cũng biến mất, trong đó khu vực Hoa Bắc nguyên thuộc Kim và khu vực Xuyên-Thiểm tứ lộ nguyên thuộc Nam Tống hết sức nghiêm trọng. Đây được xem là tai họa thảm khốc nhất trong lịch sử Trung Quốc, cũng là nguyên nhân chính dẫn đến phong trào di dân "Hồ Quảng điền Tứ Xuyên". Sau khi Kim diệt vong năm 1234, khu vực Hoa Bắc ước tính có 1,1 triệu hộ với 6 triệu người, chỉ bằng 13% so với mức 53,53 triệu người vào năm 1208. Trong thời gian chiến tranh Tống-Mông, số người thiệt mạng trong biên cảnh Nam Tống là khoảng 15 triệu người, chủ yếu tập trung tại khu vực Xuyên Thiểm tứ lộ. Sau khi quân Nguyên hoàn toàn tiêu diệt thế lực kháng Nguyên tại Tứ Xuyên vào năm 1279, theo điều tra thì khu vực chỉ còn hơn 9 vạn hộ và hơn 50 vạn người, chỉ bằng 4% so với mức năm 1231 tức trước khi quân Mông Cổ xâm lược Xuyên-Thiểm tứ lộ. Thời Đại Mông Cổ Quốc có 2 lần tiến hành thống kê hộ khẩu, lần thứ nhất là vào năm 1235 khi Oa Khoát Đài Hãn thi hành "Ất Mùi tịch hộ", có tư liệu về nhân khẩu của khu vực Hoa Bắc; lần sau là vào năm 1252 khi Mông Kha Hãn hoàn thành "Nhâm Tý tịch hộ", cho thấy nhân khẩu Hoa Bắc có sự gia tăng ở mức thấp. Năm 1271, Hốt Tất Liệt Hãn cải quốc hiệu thành "Đại Nguyên", kiến lập triều Nguyên. Tuy nhiên, trong thời gian từ thời Nguyên Thành Tông đến những năm đầu Chí Chính thời Nguyên Huệ Tông, chính cục triều Nguyên khổng ổn định, mỗi năm đều phải ứng phó với rất nhiều cuộc khởi nghĩa của nông dân, tuy nhiên về mặt xã hội thì cơ bản có tình trạng ổn định, kinh tế nhìn chung cũng thể hiện tăng trưởng, khiến nhân khẩu gia tăng, theo ước tính vào năm Chí Chính thứ 10 (1351) thì ở mức cao nhất. Những năm Chí Chính (1341-1370) thời Nguyên Huệ Tông, toàn quốc nhiều lần xảy ra mất mùa đối kém và dịch bệnh trên quy mô lớn, cuối cùng bùng phát thành khởi nghĩa Hồng Cân quân, sau cuộc khởi nghĩa này thì nhân khẩu suy giảm rất lớn. Sau khi Minh Thái Tổ kiến quốc có luận: "trong cuộc cách mạng đời trước, tùy tiện tiến hành giết chóc, làm trái ý trời mà hại dân, Trẫm thực không thể nhịn". Thống kê nhân khẩu vào thời Nguyên không hoàn toàn chuẩn xác, bỏ mất những hộ chạy trốn, đi nương nhờ ở nơi khác. Triều đình không thống kê hộ khẩu của Lĩnh Bắc đẳng xứ hành trung thư tỉnh (vùng Nội Mông-Mông Cổ-nam Siberi), Vân Nam đẳng xứ hành trung thư tỉnh, các cư dân ở những khu vực thổ ty Tây Nam và Tuyên Chính viện (Tây Tạng); nhân khẩu thuộc sở hữu riêng của chư vương, quý tộc, quân tướng Mông Cổ; ngoài "chức sắc hộ kế" ở các châu huyện. Các học giả hiện đại chỉ có thể căn cứ theo số liệu nguyên thủy trong sách sử lưu giữ được để suy đoán, do vậy số liệu có thể sai khác lớn. Hiện tượng nhân khẩu chạy trốn hết sức nghiêm trọng, như vào năm 1241, trong số 1.004.656 hộ có nguyên tịch ở các lộ do Hốt Đô Hổ cai quản, thì có đến 280.746 hộ bỏ trốn, chiếm 28%. Ngoài ra, mối quan hệ dân tộc ngày càng mật thiết, hiện tượng vãng lai và tạp cư tương đối phổ biến. Từ thời kỳ chiến tranh Mông-Kim, một lượng lớn người Hán không ngừng bị buộc phải dời đến thảo nguyên Mông Cổ hay khu vực nam bắc Thiên Sơn, Liêu Dương đẳng xứ hành trung thư tỉnh và Vân Nam đẳng xứ hành trung thư tỉnh; Các quan viên, quân hộ hay thương nhân người Mông Cổ và Sắc Mục di cư với số lượng lớn đến nội địa Trung Nguyên; khu vực Vân Nam có khoảng trên dưới 10 vạn người Mông Cổ cư trú; các thành thị chính trị như Thượng Đô và Đại Đô, các thành thị thương nghiệp như Hàng Châu, Tuyền Châu, Trấn Giang đều có nhiều người Mông Cổ, người Duy Ngô Nhĩ, người Hồi giáo, người Đảng Hạng, người Nữ Chân hay người Khiết Đan cư trú, giữa các dân tộc có sự giao lưu kinh tế và văn hóa, bang trợ lẫn nhau. Do tỷ lệ người Mông Cổ và người Hán hết sức chênh lệch, văn hóa và chế độ của người Hán cũng ưu việt hơn so với người Mông Cổ, triều đình Nguyên do vậy bảo hộ địa vị của người Mông Cổ, chủ trương Mông Cổ chí thượng chủ nghĩa, thi hành chính sách phân chia chế độ với bốn tầng lớp dân cư: Mông Cổ nhân, Sắc Mục nhân (người Tây Vực và Tây Hạ), Hán nhân (người Hán nguyên thuộc Kim), Nam nhân (người Hán nguyên thuộc Nam Tống). Triều đình Nguyên trao cho Mông Cổ nhân và Sắc Mục nhân quyền lợi rất lớn, bắt Hán nhân và Nam nhân phải chịu thuế và lao dịch nặng, áp bức dân tộc và áp bức giai cấp rất trầm trọng. == Thời Minh == Sau khi Đại Minh thành lập và thống nhất Trung Hoa, Minh Thái Tổ Chu Nguyên Chương thi hành chính sách "hưu dưỡng sinh tức" (phục hồi và phát triển), nông nghiệp thời Mông-Nguyên vốn chịu sự phá hoại từ chiến tranh nay khôi phục ở mức độ lớn, những năm Hồng Vũ tiến hành khẩn hoang vùng đất phía bắc Hoài Hà và Tứ Xuyên trên quy mô lớn, nhân khẩu do vậy tăng trưởng ổn định. Đến năm Hồng Vũ thứ 26 (1393), toàn quốc có 63 triệu người, trong đó 61,75 triệu người thuộc dân hộ, 3,25 triệu người thuộc quân hộ. Bắc ngũ tỉnh (Bắc Bình, Sơn Tây, Sơn Đông, Hà Nam, Thiểm Tây) có 17,55 triệu nhân khẩu, chiếm 27% toàn quốc; trong đó Sơn Đông là đông dân nhất với 5.462.850 người, kế đến là Sơn Tây (3.790.760 người), Hà Nam (2.825.300 người), Thiểm Tây (2.646.450 người), Bắc Bình (2.619.500 người). Trung ngũ tỉnh (Kinh Sư, Chiết Giang, Giang Tây, Hồ Quảng, Tứ Xuyên) có 33,8 triệu người, chiếm 52% toàn quốc; trong đó Nam Trực Lệ có 11.291.460 người, mật độ nhân khẩu cao nhất là ở lực vực Tô Nam Thái Hồ với tổng số 6.320.300 người và đạt 220 người/km²; tiếp đến là Chiết Giang tỉnh với 9.959.270 người; Giang Tây có 7.260.000 người, Hồ Quảng có 4.318.420 người, Tứ Xuyên có 1.314.260 người. Nam ngũ tỉnh (Phúc Kiến, Quảng Tây, Quảng Đông, Vân Nam, Quý Châu) có tổng cộng 10,40 triệu người, chiếm 16% toàn quốc. Nhân khẩu triều Minh đạt đỉnh cao vào hậu kỳ, song các học giả bất đồng về thời gian và số lượng cụ thể. Dịch Trung Thiên nhận định vào thời Minh mạt toàn quốc có trên 60 triệu người, Hàn Văn Lâm và Tạ Thục Quân nhận định năm 1626 thì Đại Minh đạt đỉnh cao về nhân khẩu, với khoảng 99,873 triệu người, Vương Dục Dân nhận định vào những năm Vạn Lịch (1573-1620) thì nhân khẩu triều Minh đạt mức tối đa, nhân khẩu thực tế là từ 130-150 triệu người; Cát Kiếm Hùng nhận định vào năm 1600 triều Minh thực tế có 197 triệu dân, vào thời đỉnh cao là sát 200 triệu người; Tào Thụ Cơ nhận định nhân khẩu triều Minh lên đến đỉnh cao vào năm 1630 với nhân khẩu thực tế là khoảng 192,51 triệu người, sang năm 1644 thì số nhân khẩu thực tế giảm còn khoảng 152,47 triệu người; nhà kinh tế học Anh Quốc Angus Maddison thì nhận định vào năm 1600 nhân khẩu thực tế của triều Minh đạt khoảng 160 triệu người. Cuối năm năm Gia Tĩnh thời Minh Thế Tông, các loại cây trồng cao sản đến từ châu Mỹ bắt đầu được truyền bá đến Trung Quốc, trở nên phổ biến tại những vùng có mật độ dân cư cao nhất như Giang-Chiết hay Lĩnh Nam. Đặc biệt là qua Vạn Lịch trung hưng, nhân khẩu tăng trưởng nhanh và ổn định, có học giả ước tính thì đạt đến mức chưa từng có là 150 triệu người, phân bổ vẫn không đổi. Từ Sùng Trinh thứ 11 (1640) thời Minh Tư Tông đến năm Thuận Trị thứ 7 (1650) thời Thanh Thế Tổ, do chiến tranh cùng mất mùa và dịch bệnh nên số người tử vong gia tăng, đặc biệt là bùng phát dịch hạch và hạn hán ở phương bắc, quân Bát kỳ nhập quan tiến hành giết hại và buộc người Hán phải thiên di để đề phòng họ phản kháng, khiến nhân khẩu giảm thiểu rất nhiều, chưa bằng một nửa so với trước đó, riêng phương bắc giảm xuống chỉ chưa bằng 20%. Kế tục triều Nguyên, triều Minh phân cư dân thành "dân hộ", "quân hộ", "tượng hộ", những người làm thủ công nghiệp nhập tượng tịch. Tượng tịch và quân tịch có địa vị thấp hơn so với dân tịch, không được ứng thí, đồng thời phải kế thừa nghề của đời trước. Việc thoát khỏi hộ tịch ban đầu là khó khăn, cần phải được Hoàng đế đặc chỉ phê chuẩn. == Thời Thanh == Thời Minh mạt Thanh sơ, do cướp bóc lan tràn, chiến tranh Thanh binh nhập Tắc và nhập Quan, loạn Tam Phiên, sinh mạng và tài sản của nhân dân chịu tổn thất. Cùng với đó là mất mùa đói kém, dịch bệnh khiến cho nhân khẩu Trung Quốc suy giảm nhanh chóng. Nhà sử học Cát Kiếm Hùng nhận định giao thời Minh-Thanh, nhân khẩu ước tính suy giảm 40%, cuối những năm Thuận Trị là ở mức thấp nhất. Ý kiến khác cho rằng số lượng nhân khẩu che giấu hộ tịch lớn hơn nhiều so với số lượng nhân khẩu bị tổn thất, và số lượng nhân khẩu tổn thất lớn nhất thực sự vẫn là trong thời kỳ chiến loạn sau khi quân Mãn nhập Quan, cùng các cuộc đồ sát mang tính tận diệt tộc họ. Kể từ sau năm Khang Hy thứ 20 (1681), do nay triều đình Thanh hoàn thành bình định Tam Phiên đồng thời chiếm lĩnh Đài Loan, trải qua thịnh thế thời Khang Hy-Ung Chính-Càn Long, sinh hoạt được an định và khôi phục, nhân khẩu gia tăng nhanh chóng. Đầu thời Thanh, số liệu nhân khẩu còn chưa chính xác, nhà sử học Khương Đào ước lượng vào khoảng trước sau năm Khang Hy thứ 19 (1680), nhân khẩu tăng lên đến 100 triệu; Triệu Văn Lâm suy đoán vào năm Khang Hy thứ 24 (1685), nhân khẩu vượt quá 100 triệu. Ngoài việc quốc gia an định, nhu cầu lương thực được đáp ứng với việc trồng cấy rộng rãi các cây trồng mới như gạo Chiêm Thành, ngô, lạc, khoai tây. Đến thời kỳ Càn Long, nhân khẩu toàn quốc chính thức vượt quá 200 triệu, đến năm Đạo Quang thứ 13 (1833) trước chiến tranh Nha phiến thì tăng mạnh lên mức 400 triệu. Tăng trưởng nhân khẩu dưới triều Thanh hoàn toàn trái nhược với hình thái tăng trưởng dạng sóng trong quá khứ của Trung Quốc, thể hiện bằng đường chéo tăng lên. Trong thế kỷ 19, do cuộc nổi dậy Thái Bình Thiên Quốc, Niệp loạn và Hồi loạn, số nhân khẩu tổn thất là không nhỏ; trong những năm Quang Tự lại xảy ra không ít thiên tai: năm Quang Tự thứ 3 (1877) xảy ra hạn hán ở Sơn Tây và Thiểm Tây, số người chết vì nạn đói và bạo loạn lên tới trên 10 triệu người. Cuối cùng, cùng với việc di cư ra hải ngoại trở nên phổ biến, nên đến khi triều Thanh diệt vong, nhân khẩu Trung Quốc duy trì ở mức 430 triệu người, không khác nhiều so với những năm Đạo Quang (1821-1850). Do nhiều năm chiến loạn và đồ sát, khiến nhiều khu vực biến thành vô chủ, sau đó vì nhân khẩu gia tăng với số lượng lớn, một số nơi xảy ra tình trạng dư thừa nhân khẩu, dẫn đến làn sóng di dân. Như thủ lĩnh nổi dậy Trương Hiến Trung vào thời Minh mạt vào năm 1646 bại trận rút đến Thành Đô, tiến hành thiêu sát phá hoại chưa từng có tại Tứ Xuyên: 40 vạn người ở Thành Đô chỉ còn 20 hộ, nhân khẩu Tứ Xuyên từ ít nhất 3 triệu giảm mạnh chỉ còn 8 vạn người. Về sau, triều đình Thanh thúc đẩy việc đưa dân các tỉnh Hồ Quảng, Thiểm Tây bù đắp nhân khẩu cho khu vực Tứ Xuyên, sử gọi là "Hồ Quảng điền Tứ Xuyên" lần thứ hai. Xu thế di dân đến Tứ Xuyên trải qua 1 thế kỷ, Tứ Xuyên do vậy trở thành một khu vực thu hút quá nhiều đến nỗi dư thừa nhân khẩu. Để bảo hộ vùng đất phát tường là Mãn Châu, triều đình Thanh thiết lập "Liều điều biên" ở Phụng Thiên (nay là Liêu Ninh), cấm chỉ người Hán di dân về phía bắc, tuy nhiên dân nghèo Hoa Bắc vì sinh kế vẫn lén di dân. Những năm Hàm Phong-Quang Tự, triều đình Thanh xét thấy Nga và Nhật Bản có ý định thâm nhập Mãn Châu, vì vậy dần dần mở cửa cho người Hán di dân về phía đông bắc, và hoàn toàn mở cửa từ sau Chiến tranh Nga-Nhật 1904-1905 Các tỉnh Phúc Kiến và Quảng Đông do núi nhiều dân đông, lại sát biển, do vậy có nhiều người di dân ra hải ngoại. Đài Loan ngay từ thời kỳ Hà Lan-Tây Ban Nha và sau là Minh Trịnh thống trị đã thu hút di dân từ Mân Nam, Việt Đông; ước tính có hơn 10 vạn dân. Vào đầu thời Thanh, để ngăn chặn việc xảy ra các rối loạn như của Chu Nhất Quý, triều đình từng có hạn chế nghiêm ngặt về việc di dân đến Đài Loan. Những năm cuối thời Đồng Trị xảy ra sự kiện Mẫu Đơn Xã, quân Nhật xâm chiếm Đài Loan, điều này khiến triều đình Thanh mở cửa việc di dân đến Đài Loan. Vào thời điểm trước khi Đài Loan bị cắt nhượng cho Nhật Bản, hòn đảo này có hơn 3 triệu nhân khẩu di dân. Ngay từ thế kỷ 15, 16, nhân dân Phúc Kiên và Quảng Đông đã thường di dân đến các nơi ở khu vực Đông Nam Á, người Hoa hải ngoại còn thành lập nên Lan Phương Cộng hòa Quốc. Sau Chiến tranh Nha phiến, có thêm nhiều người Hán di cư ra hải ngoại, chủ yếu là đến Đông Nam Á, miền Tây Hoa Kỳ, quần đảo Caribe Đến khi triều Thành diệt vong, tại hải ngoại có 7 triệu Hoa kiều. Hậu kỳ Khang Hy, sau một thời gian dài khôi phục và phát triển, xã hội trở nên an định hơn, song nhân đinh và địa mẫu ghi trong sổ sách vẫn tăng chậm. Một mặt là do việc thanh tra nhân khẩu và thổ địa không triệt để, hơn nữa địa chủ phần nhiều cố tình báo ít đi, người nghèo bị đánh thuế nặng nên buộc phải chạy trốn, thống kê số nhân đinh do vậy không xác thực. Để nắm được số nhân khẩu xác thực, Khang Hy Đế vào năm 1712 hạ chiếu "thịnh thế tư sinh nhân đinh vĩnh bất gia phú", lấy số nhân đinh ghi trong sổ sách năm 1711 để định ra mức tổng cố định cho việc trưng thu thuế đinh, đem số người tăng mới sau đó liệt vào "thịnh thế tư sinh nhân đinh", từ trung ương đến địa phương không được vì gia tăng nhân khẩu mà thêm thuế. Tuy nhiên, việc này vẫn có hạn chế, do vậy triều đình lại chọn chính sách "than đinh nhập địa", phế trừ "nhân đầu thuế" tức thuế định, nhập vào trong thuế thổ địa. Điều này khiến cho giai cấp vô sản không phải nộp thuế, song phần nộp thuế của địa chủ lại tăng thêm, đối với triều đình khiến cho nhân khẩu tiếp tục gia tăng, giảm hoãn việc tích tụ đất đai, có tác dụng nhất định trong việc phát triển công thương nghiệp. == Thời Trung Hoa Dân Quốc == == Thời Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa == == Tham khảo ==
thế kỷ 4.txt
Thế kỷ 4 là khoảng thời gian tính từ thời điểm năm 301 đến hết năm 400, nghĩa là bằng 100 năm, trong lịch Gregory. == Tham khảo ==
joseph john thomson.txt
Sir Joseph John "J.J." Thomson (18 tháng 12 năm 1856 - 30 tháng 8 năm 1940) là nhà vật lý người Anh, người đã công phát hiện ra điện tử (electron) và chất đồng vị đồng thời phát minh ra phương pháp phổ khối lượng. Ông được trao giải thưởng Nobel vật lý năm 1906 cho công trình khám phá ra điện tử. == Cuộc đời == J.J. Thomson sinh 1856 tại đồi Cheetham, Manchester, Anh trong một gia đình gốc Scotland. Năm 1870, ông học kỹ sư tại trường Đại học Manchester (được biết đến là Cao đẳng Owens thời đó), sau đó Thomson chuyển tới học ở trường Cao đẳng Trinity, Cambridge năm 1876. Năm 1880 ông giành được bằng cử nhân toán và tới năm 1883 thì giành được bằng thạc sĩ. Năm 1884, Thomson trở thành giáo sư vật lý tại đại học Cambridge. Một trong những học trò nổi tiếng của ông là Ernest Rutherford. Năm 1890, Thomson kết hôn với Rose Elisabeth Paget, con gái của Sir George Edward Paget, giáo sư vật lý của đại học Cambridge. Ông có hai người con với Paget là George Paget Thomson và Joan Paget Thomson. Một trong những thành tựu lớn nhất của Thomson cho khoa học hiện đại chính là tài năng giảng dạy thiên tài của ông, bảy người trợ lý nghiên cứu của ông cũng như con trai ông đều giành được giải Nobel vật lý. Con trai của J.J. Thomson là George Paget Thomson giành giải Nobel vật lý năm 1937 vì đã phát hiện ra tính chất của sóng điện tử. J.J. Thomson được phong tước hiệp sĩ năm 1908 và nhận huân chương danh dự năm 1912. Năm 1914, ông có một bài thuyết trình Romanes tại Đại học Oxford về thuyết nguyên tử. Năm 1918, ông trở thành hiệu trưởng trường cao đẳng Trinity, Cambridge, ông giữ chức vụ này cho tới lúc mất. Ông cũng từng được bầu làm viện sĩ Xã hội Hoàng gia ngày 12 tháng 6 năm 1884 và trở thành chủ tịch của hội từ 1916 tới 1920. Thomson qua đời năm 30 tháng 8 năm 1940 và được chôn tại thánh đường Westminster cạnh Sir Isaac Newton. == Tìm ra electron == Năm 1897, Thomson khi nghiên cứu hiện tượng phóng điện trong chân không đã phát hiện ra tia âm cực, mà bản chất là chùm các hạt nhỏ bé mang điện tích âm, gọi là các electron. Thomson cho phóng điện với hiệu điện thế 15 000 vôn qua hai điện cực gắn vào đầu một ống kín đã rút gần hết không khí (áp suất chỉ còn 0,001 mmHg) thì thấy màn huỳnh quang trong ống thuỷ tinh phát sáng. Màn huỳnh quang phát sáng do sự xuất hiện các tia không nhìn thấy được đi từ cực âm đến cực dương. Tia này được gọi là tia âm cực, tia âm cực bị lệch về phía cực dương khi đặt ống thuỷ tinh trong một điện trường. Tia âm cực là chùm hạt mang điện tích âm và mỗi hạt đều có khối lượng gọi là electron, kí hiệu là e. == Tham khảo ==
luan vieira.txt
Luan Guilherme de Jesus Vieira (sinh ngày 27 tháng 3 năm 1993), thường được gọi là Luan là một cầu thủ bóng đá người Brazil hiện đang chơi bóng tại câu lạc bộ Grêmio. Luan sinh ra tại São José do Rio Preto, São Paulo. Sau khi chơi futsal cho các câu lạc bộ futsal nghiệp dư. Sau đó Luan chuyển qua chơi bóng đá và gia nhập câu lạc bộ trẻ Tanabi tại giải Campeonato Paulista Segunda Divisão vào năm 2012. Ngày 8 tháng 2 năm 2013, Luan chuyển đến thi đấu tại câu lạc bộ Catanduvense cho đến hết năm. Anh có trận đấu đầu tiên của mình cho câu lạc bộ 8 ngày sau đó, khi vào sân hiệp hai trong trận đấu với câu lạc bộ Santo André. == Sự nghiệp == === Grêmio === Ngay sau khi chơi cho Catanduvense, Luan chuyển đến thi đấu chuyên nghiệp tại câu lạc bộ Gremio. Luan có trận thi đấu đầu tiên cho câu lạc bộ vào ngày 19 tháng 1 năm 2014 tại giải Campeonato Gaúcho. Anh ghi bàn thắng đầu tiên cho câu lạc bộ vào ngày 29 tháng 1 năm 2014 trong trận đấu 1-1 tại Brasil de Pelotas Tại đây Luan có 14 lần ra sân và ghi 3 bàn thắng, chuộc cuộc câu lạc bộ Grêmio kết thúc ở vị trí thứ hai. Anh có trận thi đấu chính thức đầu tiên chơi tại giải Série A vào ngày 27 tháng 4 năm 2014, trong chiến thắng 2-1 trước câu lạc bộ Atlético Mineiro == Sự nghiệp quốc tế == Luan đã có tên trong đội hình tạm thời của Brazil chuẩn bị cho giải đấu Copa América Centenario nhưng đã bị loại khỏi đội hình chính thức. Luan được chọn là một thành viên của đội tuyển quốc gia Brasil cho Thế vận hội Mùa hè 2016 . Trong trận đấu với Colombia, Luan ghi bàn thắng đấu tiên cũng là bàn thắng thứ hai cho Brasil trong trận đấu, chung cuộc Brasil giành chiến thắng 2-0. == Thống kê == == Danh hiệu == === Đội tuyển quốc gia === U-23 Brasil Huy chương Vàng Olympic: 2016 U-20 Brasil Toulon Tournament: 2014 === Cá nhân === Campeonato Gaúcho XI: 2014 Tân binh Campeonato Gaúcho xuất sắc nhất: 2014 == Tham khảo == == Liên kết == Luan profile at Portal Oficial do Grêmio (tiếng Bồ Đào Nha) Luan tại thefinalball.com Luan tại Soccerway
thay lời muốn nói.txt
Thay lời muốn nói là một chương trình ca nhạc theo yêu cầu của Đài Truyền hình Thành phố Hồ Chí Minh (HTV). Chương trình này được phát sóng trên truyền hình mỗi tháng một lần với các chủ đề khác nhau từ năm 2000 cho đến tận nay, với biên tập viên kiêm người dẫn chương trình chủ chốt là Lê Đỗ Quỳnh Hương. == Định dạng == Thay lời muốn nói được sản xuất dựa trên những lá thư chia sẻ, tâm sự của khán giả gửi đến, biên tập viên sẽ xâu chuỗi lại thành một mạch nội dung thống nhất và chọn các bài hát để phát sóng. Trước mỗi bài hát, người dẫn chương trình sẽ đọc một vài đoạn chọn lọc trong số các lá thư gửi về phù hợp với bài hát đó. Cuối mỗi kỳ, người dẫn chương trình sẽ công bố tên chủ đề ở kỳ kế tiếp để khán giả định hướng nội dung mà viết thư. Format đầu tiên: Thay lời muốn nói được sản xuất trong phim trường của HTV. Các bài hát được thu âm sẵn, các ca sĩ hát diễn xuất trong phim trường được dựng cảnh phù hợp với chủ đề. Tất cả chương trình được ghi hình và phát sóng sau đó. Format hiện tại: Từ năm 2004, Thay lời muốn nói được sản xuất như một sân khấu ca nhạc truyền hình trực tiếp (ban đầu gọi là "Live trên sóng"), phần lớn khán giả trong nhà hát chính là tác giả của những lá thư gửi về. Chương trình được ghi hình và phát vào ngày hôm sau trên mạng internet hoặc một số kênh truyền hình như: VTV4, HTVC Ca nhạc, HTV7... Một sự kiện quan trọng với Thay lời muốn nói là giải "Mai Vàng 2009 - Báo Người Lao động" với hạng mục "Người dẫn chương trình truyền hình được yêu thích nhất" đã được trao cho người dẫn chương trình Lê Đỗ Quỳnh Hương của Thay lời muốn nói. Hạng mục "Chương trình truyền hình được yêu thích nhất" cũng được trao cho Thay lời muốn nói. == Các chủ đề == Năm 2012 Năm 2010 Năm 2009 Năm 2008 Năm 2007 Năm 2000-2006 chưa rõ == Chú thích == == Liên kết ngoài == Website chính thức tại trang của HTV
orson welles.txt
George Orson Welles (6 tháng 5 năm 1915 - 10 tháng 10 năm 1985) là một đạo diễn, nhà biên kịch, diễn viên, nhà sản xuất phim từng đoạt giải Oscar người Mỹ. Welles giành được sự chú ý đầu tiên khi làm phát thanh đọc cuốn tiểu thuyết The War of the Worlds của H. G. Wells trên đài CBS. Nhờ giọng đọc nhập tâm, bài phát thanh đã thu hút được một lượng lớn thính giả khắp Bắc Mỹ. Vào giữa thập niên 1930, các vở kịch tái hiện lại vở Macbeth và Julius Caesar của Welles cho Nhà hát New York đã trở thành huyền thoại. Welles còn được biết đến như là một nhà ảo thuật từng đi biểu diễn nhiều nơi trong thời gian chiến tranh. Trong suốt thời gian chiến tranh, Welles trở thành một nhà hoạt động chính trị và bình luận viên qua báo chí, radio và các buổi xuất hiện trước công chúng cùng với Franklin D. Roosevelt. Năm 1941, ông đồng sáng tác, chỉ đạo, sản xuất và đóng vai chính trong bộ phim Citizen Kane, một bộ phim thường được các nhà phê bình đánh giá là một trong những bộ phim xuất sắc nhất mọi thời đại. Phần còn lại trong sự nghiệp, Welles gặp phải nhiều khó khăn do thiếu vốn và nhiều vấn đề khác trong suốt thời gian tới châu Âu rồi trở lại Hollywood. Bất chấp khó khăn, bộ phim Othello vẫn giành được giải Cành cọ vàng tại Liên hoan phim Cannes năm 1952 và bộ phim Touch of Evil cũng giành được giải thưởng cao nhất tại Brussels World Fair, dù vậy thì Welles lại coi The Trial và Chimes at Midnight mới là hai bộ phim xuất sắc nhất của ông. Những năm sau này, Welles gặp phải các khó khăn với những hệ thống phức tạp của Hollywood từ chối tài trợ cho các dự án làm phim độc lập của ông, điều này khiên Welles chủ yếu phải kiếm sống qua việc đóng phim, làm quảng cáo và lồng tiếng. Welles nhận được giải thưởng thành tựu trọn đời của Viện phim Mỹ năm 1975 và trở thành người thứ ba vinh dự nhận được giải thưởng sau John Ford và James Cagney. Thành tựu của Welles ngày càng được đánh giá cao bởi giới phê bình sau khi ông qua đời. Orson Welles hiện được xem như là một trong những nghệ sĩ điện ảnh quan trọng nhất của thế kỷ 20, trong cuộc bầu chọn top 10 đạo diễn BFI của Viện phim Anh, ông được bình bầu là đạo diễn vĩ đại nhất mọi thời đại. == Chú thích == == Tham khảo == == Liên kết ngoài == Orson Welles tại Internet Movie Database Orson Welles trên trang Internet Broadway Database Wellesnet The Orson Welles Web Resource Orson Welles bibliography (via UC Berkeley Media Resources Center) Orsonwelles.co.uk a British site devoted to the work of Orson Welles War of the Worlds history of the War of the Worlds radio broadcast and additional historical material on War of the Worlds Mercury Theatre on the Air website provides MP3 and Real Audio files of Welles's radio dramas Nazi Eyes On Canada, starring Orson Welles, 1942 CBC war loan series The Magnificent Ambersons a site that details the strange saga of Welles's second film The Unseen Welles a guide to Welles's unfinished and unreleased projects The Orson Welles collection at the Lilly Library, Đại học Indiana Senses of Cinema: Great Directors Critical Database (tiếng Pháp) Orson Welles biography 1985 interview from The Times Obituary, New York Times UBU Web's 365 Days Project Outtake from Welles's Frozen Peas commercial. Orson Welles - The One Man Band (German documentary, 1995) Full.avi download Orson Welles The Wisconsin Historical Society The Museum of Orson Welles comprehensive collection of radio shows A Film Maker with a Sound Backgound An essay on Welles' extensive radio work and its innovative influence on filmmaking via Citizen Kane.
monty python và cái chén thánh.txt
Monty Python và cái chén thánh là một bộ phim hài năm 1975 của Anh được viết và trình diễn bởi nhóm hài Monty Python (Graham Chapman, John Cleese, Terry Gilliam, Eric Idle, Terry Jones và Michael Palin), do Gilliam và Jones đạo diễn. Bộ phim được phát hành khá thành công. == Nội dung == Arthur -Vua nước Anh đi tìm các hiệp sĩ để tham gia Hội nghị Bàn Tròn do Vua chủ trì tại Camelot. Ông tìm được nhiều hiệp sĩ như Hiệp sĩ Galahad Thuần Khiết, Hiệp sĩ Lancelot Dũng Cảm, Hiệp sĩ Bedevere Ít Nói, và Hiệp sĩ Robin Không hoàn toàn dũng cảm như Hiệp sĩ Lancelot. Qua vài cảnh châm biếm các sự kiện lịch sử (như các phiên tòa xử phù thủy, dịch bệnh hoành hành, đói kém...) họ tới Camelot, nhưng cuối cùng lại quyết định không vô thành. Khi bỏ đi, họ được Đức Chúa trời hiện ra và lệnh cho họ đi tìm Cái Chén Thánh, và họ bắt đầu lên đường đi tìm... == Đánh giá == Năm 2000, độc giả của tạp chí Total Film bình chọn Monty Python và cái chén thánh là một trong 5 bộ phim hài hay nhất mọi thời đại. == Chú thích và tham khảo == Monty Python and The Holy Grail, Methuen, 1977, ISBN 0 458 92970 0. Contains screenplay, photographs, and other material. The Pythons Autobiography by the Pythons, St.Martin's Press, 2003 The First 200 Years of Monty Python by Kim "Howard" Johnson, St. Martin's Press, 1989
đội bóng đá tổng cục đường sắt.txt
Đội bóng đá Tổng cục Đường sắt, hay đội Đường sắt Việt Nam, là một đội bóng đá bán chuyên nghiệp nổi tiếng tại Việt Nam từ năm 1956 đến khi bị giải thể vào năm 2000. Đội bóng được đặt dưới sự chủ quản của Tổng cục Đường sắt Việt Nam và có tổng hành dinh tại Hà Nội, từng đoạt chức vô định quốc gia lần đầu tiên tại Giải bóng đá vô địch quốc gia Việt Nam 1980. Nhiều tuyển thủ của đội hiện đang là huấn luyện viên bóng đá nổi tiếng tại Việt Nam như Lê Thụy Hải, Mai Đức Chung, Lê Khắc Chính... == Quá trình thi đấu == Đội bóng đá Tổng cục Đường sắt được thành lập vào năm 1956, là một trong những đội bóng được thành lập đầu tiên của miền Bắc nói chung và của Hà Nội nói riêng. Trong suốt thời gian chiến tranh, đội lừng danh, chỉ xếp sau đội Thể Công về thành tích và mức độ hâm mộ của khán giả. Ngày 7 tháng 11 năm 1976, đội với tư cách là đội bóng hàng đầu đại diện cho miền Bắc Việt Nam, đã có trận thi đấu lịch sử với đội bóng hàng đầu đại diện cho miền Nam Việt Nam bấy giờ là Cảng Sài Gòn. Năm 1980, đội trở thành đội bóng đầu tiên đoạt chức vô địch Giải bóng đá vô địch toàn quốc lần thứ nhất. Trong giải này, đội bóng mạnh nhất Việt Nam bấy giờ là Thể Công xin rút không thi đấu. Tại mùa bóng 1985, đội thi đấu không thành công, xếp cuối cùng trong vòng chung kết ngược, phải xuống thi đấu ở hạng A2. Năm 1989, Tổng cục Đường sắt giải thể, chuyển thành một Doanh nghiệp Nhà nước với tên là Liên hiệp Đường sắt Việt Nam, hoạt động trên nguyên tắc thị trường mở. Đội bóng cũng được đổi tên thành Đội bóng đá Đường sắt Việt Nam, tuy nhiên các khán giả vẫn quen gọi là đội bóng Tổng cục Đường sắt. == Giải thể == Trong thời kỳ kinh tế thị trường, đội bóng gặp nhiều khó khăn trong việc duy trì. Đầu năm 2000, phiên hiệu Đội bóng đá Đường sắt Việt Nam bị giải thể, toàn đội được chuyển sang cho Ngân hàng Á Châu quản lý dưới tên gọi mới Câu lạc bộ bóng đá Ngân hàng Á Châu. == Chú thích == == Xem thêm == Câu lạc bộ bóng đá Ngân hàng Á Châu == Liên kết ngoài == Hồi ức về trận cầu lịch sử Đội bóng Đường sắt - Một thời để nhớ
đông bắc á.txt
đông bắc Á là một khu vực phía đông bắc của châu Á. == Vị trí == Về địa chính trị, Council on Foreign Relations (Hoa Kỳ) định nghĩa đông bắc Á bao gồm Nhật Bản, Hàn Quốc và Bắc Hàn. Trung Quốc và Nga thường được bao gồm trong các thảo luận liên quan đến địa chính trị của khu vực thể hiện sự mở rộng quan tâm và chính sách của họ đối với Triều Tiên và Nhật Bản. Biển Nhật Bản, và Hoàng Hải, và đôi khi Đông Hải và biển Okhotsk cũng được đề cập đến trong khu vực này. Trong cách sử dụng thông thường, đông bắc Á cũng bao gồm Trung Quốc. Trong trường hợp này, các quốc gia trung tâm trong vùng đông bắc Á là Trung Quốc, Nhật Bản, Nam Hàn và Bắc Hàn. Về địa sinh học, đông bắc Á nhìn chung đề cập đến khu vực mở rộng của Nhật Bản, bán đảo Triều Tiên, đông bắc Trung Quốc, và vùng viễn đông Nga giữa hồ Baikal ở Trung Siberia và Thái Bình Dương. == Xem thêm == Ngữ hệ Altaic Châu Á EALC Đông Á Đông Á học Turan == Chú thích == == Tham khảo == Center for Northeast Asian Policy Studies - Brookings Institution Kimura, Takeatsu - International Collation of Traditional and Folk Medicine - Northeast Asia - Unesco
trạng thái vật chất.txt
Trạng thái vật chất là những hình thức khác nhau của pha của vật chất. Trạng thái rắn có đặc điểm bởi tính chất phản kháng lại sự thay đổi hình dạng; Chất lỏng là một chất lưu mà các phân tử cấu tạo nên nó có liên kết không chặt so với liên kết rắn và có hình dạng phụ thuộc vào vật chứa nó.; chất khí là tập hợp các nguyên tử hay phân tử hay các hạt nói chung trong đó các hạt có thể tự do chuyển động trong không gian. == 4 trạng thái thường gặp == === Rắn === === Lỏng === === Khí === Ngưng tụ Bose–Einstein Ngưng tụ Bose-Einstein === Plasma === == Phản vật chất == == Trạng thái nhiệt độ thấp == == Trạng thái năng lượng cao == == Trạng thái đề xuất == == Chú thích == == Liên kết ngoài == 2005-06-22, MIT News: MIT physicists create new form of matter Citat: "... They have become the first to create a new type of matter, a gas of atoms that shows high-temperature superfluidity." 2003-10-10, Science Daily: Metallic Phase For Bosons Implies New State Of Matter 2004-01-15, ScienceDaily: Probable Discovery Of A New, Supersolid, Phase Of Matter Citat: "...We apparently have observed, for the first time, a solid material with the characteristics of a superfluid...but because all its particles are in the identical quantum state, it remains a solid even though its component particles are continually flowing..." 2004-01-29, ScienceDaily: NIST/University Of Colorado Scientists Create New Form Of Matter: A Fermionic Condensate Short videos demonstrating of States of Matter, solids, liquids and gases by Prof. J M Murrell, University of Sussex
napoléon bonaparte.txt
Napoléon Bonaparte (tiếng Pháp: Napoléon Bonaparte [napoleɔ̃ bɔnɑpaʁt], tiếng Ý: Napoleone Buonaparte;tiếng Việt: Na-pô-lê-ông; 15 tháng 8 năm 1769 – 5 tháng 5 năm 1821) là một nhà quân sự và nhà chính trị tiêu biểu của Pháp trong và sau cuộc cách mạng Pháp cũng như các cuộc chiến tranh liên quan ở châu Âu. Với đế hiệu Napoléon I, ông là Hoàng đế của người Pháp từ năm 1804 đến năm 1815. Cuộc cải cách pháp luật của ông, Bộ luật Napoléon, đã có những ảnh hưởng lớn lên nhiều bộ luật dân sự trên toàn thế giới, nhưng ông được nhớ đến nhất bởi vai trò của mình trong các cuộc chiến tranh mà Pháp phải đương đầu với hàng loạt liên minh, được gọi là các cuộc chiến tranh Napoléon. Ông đã thiết lập quyền bá chủ trên phần lớn lục địa châu Âu và tìm cách truyền bá những lý tưởng của cách mạng Pháp, đồng thời củng cố nền đế chế làm phục hồi những nét của chế độ cũ Pháp (Ancien Régime). Nhờ thắng lợi trong những cuộc chiến này, thường là chống lại đối phương có ưu thế về quân số, ông được coi là một trong những nhà chỉ huy quân sự tài ba nhất mọi thời đại, và các chiến dịch của Napoléon được nghiên cứu tại các học viện quân sự trên khắp thế giới. Napoléon được sinh ra ở Ajaccio thuộc Corse, trong một gia đình thuộc dòng dõi quý tộc Genova (Ý). Ông được đào tạo thành một sĩ quan pháo binh ở Pháp. Bonaparte trở nên nổi tiếng dưới thời Đệ nhất Cộng hòa Pháp khi chỉ huy thành công nhiều chiến dịch chống lại Liên minh thứ nhất và thứ hai chống Pháp. Ông cũng tiến hành cuộc chinh phạt bán đảo Ý. Năm 1799, ông đã tổ chức một cuộc đảo chính và tự đưa mình trở thành vị Tổng tài thứ nhất; năm năm sau đó Thượng viện Pháp tuyên xưng ông là Hoàng đế Pháp. Trong thập niên đầu tiên của thế kỷ 19, Đệ nhất Đế chế Pháp dưới quyền Napoléon đã tham gia vào một loạt xung đột — những cuộc chiến tranh Napoléon — lôi kéo mọi cường quốc chính ở châu Âu tham gia. Sau một loạt thắng lợi, Pháp đạt được vị trí thống trị ở lục địa châu Âu, và Napoléon duy trì phạm vi ảnh hưởng của Pháp thông qua việc thành lập của những mối đồng minh rộng lớn và bổ nhiệm bạn bè và người thân cai trị các quốc gia châu Âu khác như những chư hầu của Pháp. Cuộc chiến kéo dài ở bán đảo Iberia và cuộc xâm lược nước Nga năm 1812 đánh dấu bước ngoặt trong cơ đồ của Napoléon. Quân đội chủ lực của Pháp, Grande Armée, bị tổn thất nặng nề trong chiến dịch và không bao giờ có thể khôi phục lại hoàn toàn. Năm 1813, Liên minh thứ sáu đã đánh bại quân đội của ông tại Leipzig, năm sau đó Liên minh xâm lược Pháp, buộc Napoléon phải thoái vị và đày ông đến đảo Elba. Chưa đầy một năm sau, ông thoát khỏi Elba và trở lại nắm quyền, nhưng đã bị đánh bại trong trận Waterloo vào tháng 6 năm 1815. Napoléon trải qua sáu năm cuối cùng của cuộc đời trong sự giam cầm của người Anh trên đảo Saint Helena. Cái chết của ông gây ra nhiều tranh cãi về sau, chẳng hạn một số học giả cho rằng ông là nạn nhân của một vụ đầu độc bằng arsen. == Dòng dõi và việc học tập == Napoléon Bonaparte là đứa con thứ hai trong một gia đình có tám người con, ra đời tại dinh thự Casa Buonaparte ở thị trấn Ajaccio, đảo Corse vào ngày 15 Tháng Tám năm 1769, một năm sau khi hòn đảo này được Cộng hòa Genova chuyển giao cho Pháp. Ông được đặt tên thánh là Napoleone di Buonaparte, theo tên một người chú (trước đó ông bà Bonaparte đã có một con trai đặt tên Napoleone nhưng đã mất sớm). Vào tuổi hai mươi, ông lấy tên là Napoléon Bonaparte cho có vẻ Pháp hơn. Dòng họ Bonaparte ở Corse bắt nguồn từ giới quý tộc nhỏ Ý ở Lombardia, những người đã đến Corse từ Liguria từ thế kỷ 16. Cha của ông là Nobile Carlo Buonaparte, một luật sư, từng được chỉ định làm đại diện của đảo Corse đối với triều đình vua Louis XVI. Người có ảnh hưởng quyết định trong thời thơ ấu của Napoléon là mẹ ông, Letizia Ramolino, kỉ luật nghiêm khắc của bà đã kiềm chế đứa bé ngỗ nghịch. Ông có một anh trai Joseph và sáu người em là Lucien, Elisa, Louis, Pauline, Caroline và Jérôme. Có hai đứa trẻ khác, một trai một gái được sinh trước Joseph nhưng chết yểu. Napoléon được rửa tội như một người Công giáo ngay trước sinh nhật hai tuổi của mình, vào ngày 21 tháng 7 năm 1771 tại nhà thờ Ajaccio. Nền tảng quý tộc và tương đối khá giả cùng các mối quan hệ của gia đình giúp Napoléon có cơ hội học tập lớn hơn nhiều so với một người Corse thông thường thời đó. Tháng Một năm 1779, Napoléon đã ghi danh vào một trường tôn giáo ở Autun trên đất liền để học tiếng Pháp. Đến tháng Năm, ông được nhận vào một học viện quân sự tại Brienne-le-Château. Ông nói giọng Corse và không thể đánh vần đúng cách, điều khiến ông bị bạn bè trêu chọc và do đó chuyên tâm vào việc đọc. Nhưng một viên giám thị quan sát thấy Napoléon "luôn luôn nổi trội trong sự chăm chú đối với toán học. Anh tương đối thuần thục với lịch sử và địa lý... Chàng trai này sẽ làm nên một thủy thủ xuất sắc". Khi hoàn thành việc học ở Brienne năm 1784, Napoléon được nhận vào trường quân sự danh tiếng École Militaire ở Paris. Điều này đã kết thúc tham vọng hải quân từng khiến ông cân nhắc một đơn xin vào Hải quân Hoàng gia Anh. Ông được đào tạo để trở thành một sĩ quan pháo binh và, khi cái chết của người cha làm giảm thu nhập, đã buộc phải hoàn thành khóa học hai năm trong một năm. Ông là người Corse đầu tiên tốt nghiệp từ École Militaire. Ông được sát hạch bởi nhà khoa học nổi tiếng Pierre-Simon Laplace, người sau này Napoléon bổ nhiệm vào Thượng viện. == Khởi đầu sự nghiệp == Khi tốt nghiệp tháng Chín 1785, Bonaparte được phong hàm thiếu úy ở trung đoàn pháo binh La Fère. Ông từng đóng ở Valence, Drôme và Auxonne cho đến trước khi bùng nổ Cách mạng năm 1789, và nghỉ phép gần hai năm ở Corse và Paris trong giai đoạn này. Là một người theo chủ nghĩa dân tộc nhiệt thành, ông viết cho lãnh đạo Corse Pasquale Paoli vào tháng 5 1789: "Tôi đã được sinh ra khi dân tộc suy vong. Ba mươi nghìn người Pháp được tung tới bờ biển của chúng ta, nó nhấn chìm ngôi báu của tự do vào những làn sóng máu. Chính cảnh tượng đó là thứ ghê tởm đầu tiên đập vào mắt tôi". Ông trải qua những năm đầu Cách mạng ở Corse, chiến đấu trong một cuộc xung đột phức tạp ba bên giữa những người bảo hoàng, những người cách mạng, và những người dân tộc chủ nghĩa Corse. Ông ủng hộ phái cách mạng Jacobin, nhận hàm trung tá trong đoàn dân quân Corse, và chỉ huy một tiểu đoàn quân tình nguyện. Mặc dù quá thời gian nghỉ phép vắng mặt và lãnh đạo một cuộc bạo động chống lại quân đội Pháp ở Corse, ông vẫn được thăng hàm đại úy trong quân đội chính quy Pháp tháng Bảy 1792. Ông trở lại quê hương và bắt đầu mẫu thuẫn với Paoli, người quyết định chia tách Corse khỏi Pháp và phá hoại một cuộc tấn công của Pháp trên đảo Sardegna, nơi Bonaparte là một trong các viên chỉ huy chính. Bonaparte và gia đình phải bỏ trốn vào đất liền Pháp vào tháng Sáu 1793 bởi sự cắt đứt quan hệ với Paoli. === Cuộc vây hãm Toulon === Tháng Sáu 1793, Napoléon đã xuất bản một cuốn sách nhỏ có khuynh hướng thân cộng hòa, Le Souper de Beaucaire (Bữa tối ở Beaucaire), thứ đem lại cho ông sự khâm phục và ủng hộ của Augustin Robespierre, em trai nhà lãnh đạo cách mạng Maximilien Robespierre. Với sự giúp đỡ của một đồng đội người Corse là Antoine Christophe Saliceti, Bonaparte được bổ nhiệm làm chỉ huy pháo binh của quân đội cộng hòa trong cuộc vây hãm Toulon. Thành phố này nổi dậy chống chính phủ cộng hòa và được quân Anh đóng giữ. Ông tiến hành một kế hoạch chiếm một quả đồi nơi các khẩu pháo của quân cộng hòa có thể bao quát cảng thành phố và buộc các chiến thuyền Anh phải rút lui. Cuộc đột kích lên vị trí trên, trong đó Bonaparte bị thương ở đùi, đã dẫn tới việc chiếm được thành phố sau đó, nhờ vậy ông được thăng hàm Thiếu tướng ở tuổi 24. Ủy ban An ninh Công cộng (chính phủ de facto của Pháp đương thời) chú ý đến Napoléon, ông được cử đảm trách pháo binh của Tập đoàn quân Ý của Pháp. Trong lúc chờ sự xác nhận bổ nhiệm, Napoléon dành thời gian để khảo sát các công sự duyên hải trên bờ biển Địa Trung Hải gần Marseille. Ông thảo ra kế hoạch tấn công Vương quốc Sardegna như một phần của chiến dịch chống lại Liên minh thứ nhất. Tư lệnh Tập đoàn quân Ý, Pierre Jadart Dumerbion, đã chứng kiến quá nhiều viên tướng bị xử tử do không đủ hay do có quan điểm chính trị sai lầm. Do đó, ông chiều theo ý các ủy viên đặc trách của Quốc Ước (représentant en mission) là Augustin Robespierre và Saliceti, những người đến lượt họ sẵn lòng lắng nghe viên tướng pháo binh mới được thăng chức. Thực hiện kế hoạch của Bonaparte trong trận Saorgio tháng Tư 1794, quân đội Pháp tiến lên phía đông bắc tới vùng Riviera thuộc Ý sau đó ngoặt sang phía bắc để chiếm đóng Ormea trong vùng núi. Từ Ormea, họ đột phá phía tây để thọc sườn các vị trí Áo-Sardegna xung quanh Saorge. Kết quả là, các thành thị duyên hải Oneglia và Loano, cũng như con đèo Tenda chiến lược, bị chiếm bởi quân Pháp. Sau đó, Augustin Robespierre gửi Bonaparte tới một nhiệm vụ ở Cộng hòa Genova để xác định các toan tính của quốc gia này đối với nước Pháp. === Ngày 13 tháng Hái Nho === Theo sau sự sụp đổ của chính quyền Jacobin vào tháng Bảy 1794 Chính biến Thermidor, một báo cáo vạch tội khiến Bonaparte bị quản chế tại gia ở Nice vì mối liên hệ với anh em Robespierre. Thư ký của Napoleon, Bourrienne, phản kháng cáo buộc này trong hồi ký của ông. Theo Bourrienne, sự đố kị giữa Tập đoàn quân Alps và Tập đoàn quân Ý (mà Napoléon đứng vị trí thứ hai lúc đó) chịu trách nhiệm về cáo buộc này. Sau một lời biện hộ sôi nổi trong một lá thư mà Bonaparte gửi gấp tới các đặc phái viên Saliceti và Albitte, ông được tha bổng mọi tội. Ông được thả trong vòng hai tuần, và do năng lực của mình, được yêu cầu thảo kế hoạch tấn công các vị trí Ý trong bối cảnh cuộc chiến Pháp-Áo. Ông cũng tham gia vào một cuộc viễn chinh nhằm chiếm lại Corse từ tay người Anh, nhưng quân Pháp đã bị đẩy lùi bởi Hải quân Hoàng gia. Tháng Bốn 1795, Bonaparte đính hôn với Désirée Clary, em gái của Julie Clary, người đã cưới anh trai của Bonaparte là Joseph; nhà Clary là một gia đình thương nhân giàu có đến từ Marseilles. Cùng thời gian này, ông được chỉ định tới Tập đoàn quân phía Tây, lúc này đang tham gia Chiến tranh Vendée — một cuộc nội chiến kéo dài do phe bảo hoàng chống cách mạng gây ra ở vùng Vendée phía tây miền trung nước Pháp. Làm một tư lệnh bộ binh, đó là một sự giáng cấp từ tướng pháo binh — mà quân đội đã có đủ hạn ngạch — và ông viện cớ sức khỏe yếu để từ chối nhậm chức. Ông được chuyển tới Văn phòng Trắc địa của Ủy ban An ninh Công cộng và tìm kiếm cơ hội được gửi tới Constantinople để phục vụ cho Sultan nhưng không thành. Trong thời kì này, ông viết một tiểu thuyết lãng mạn ngắn mang tựa đề Clisson et Eugénie kể về một người lính và tình nhân của anh ta, một so sánh rõ ràng mối quan hệ của chính Bonaparte với Désirée. Ngày 15 tháng Chín, Bonaparte bị loại khỏi danh sách các tướng của quân đội chính quy do việc từ chối nhận nhiệm vụ ở chiến dịch Vendée. Ông đối diện với một tình trạng tài chính khó khăn và thu hẹp những tham vọng về tiền đồ của mình. Mùng 3 tháng Mười, những người bảo hoàng ở Paris tuyên bố một cuộc nổi loạn chống lại Quốc Ước sau khi họ bị loại khỏi chính phủ mới, nội các Đốc chính. Paul Barras, một lãnh đạo của Chính biến Thermidor, biết đến thành tích quân sự của Bonaparte ở Toulon và trao cho ông quyền chỉ huy các lực lượng ứng biến phòng thủ trụ sở Quốc Ước ở Cung điện Tuileries. Chứng kiến vụ thảm sát đội Cận vệ Thụy Sĩ của nhà vua ba năm trước đó, ông nhận ra pháo binh có thể là chìa khóa để kháng cự. Ông lệnh cho một sĩ quan kị binh trẻ, Joachim Murat, chiếm các khẩu đại bác lớn và dùng chúng để đẩy lui các đợt tấn công vào mùng 5 tháng Mười 1795—13 tháng Vendémiaire (Hái Nho) năm IV theo Lịch Cách mạng Pháp. Sau khi 1400 người bảo hoàng chết, số còn lại rút lui. Sự thất bại của cuộc nổi dậy phe bảo hoàng đã dập tắt mối đe dọa với Quốc Ước và giúp Bonaparte đột nhiên gặt hái được danh vọng, tiền tài cùng với sự bảo trợ của nội các mới. Murat cưới một trong số các em gái và trở thành em rể cũng như tiếp tục phục vụ Napoléon như một vị tướng. Bonaparte được thăng hàm Trung tướng, đảm nhiệm chức Tư lệnh Tập đoàn quân Nội địa (Commandand de l'armée de l'Intérieur) và sau đó Tập đoàn quân Ý được trao cho ông. Trong vòng vài tuần ông đã gắn bó với nhân tình cũ của Barras, Joséphine de Beauharnais. Họ cưới nhau vào mùng 9 tháng Ba 1796 sau khi ông hủy đính ước với Désirée Clary. === Chiến dịch Ý thứ nhất (1796–1797) === Hai ngày sau hôn lễ, Bonaparte rời Paris để nắm quyền chỉ huy Tập đoàn quân Ý và dẫn dắt một cuộc chinh phạt thắng lợi nước Ý. Ở trận Lodi ông đã đánh bại quân đội Áo và đẩy họ ra khỏi Lombardia. Ông thất bại trong trận Caldiero bởi sự tăng viện của Áo, chỉ huy bởi József Alvinczi, tuy nhiên Bonaparte lấy lại thế chủ động trong trận đánh có tính quyết định ở Arcole tiến tới chinh phục địa phận của Giáo hoàng. Bonaparte đã bác bỏ mong muốn của những người vô thần ở Hội đồng Đốc chính là hành quân vào Roma và phế truất Giáo hoàng vì ông cho rằng điều này sẽ tạo ra một khoảng trống quyền lực sẽ bị Vương quốc Napoli lợi dụng. Thay vào đó, tháng Ba 1797, Bonaparte chỉ huy quân đội tiến vào Áo và buộc nước này thương lượng một hòa ước. Hiệp ước Leoben đã cho Pháp quyền cai quản hầu hết Bắc Ý và các miền đất phía dưới châu thổ sông Rhine (Pays-Bas, gồm Bỉ, Hà Lan và một phần lãnh thổ Đức, Pháp hiện nay), trong khi một điều khoản bí mật hứa hẹn Cộng hòa Venezia cho Áo. Bonaparte hành quân tới Venezia và buộc nó đầu hàng, kết thúc 1100 năm nền độc lập của thành phố thương mại này; ông cũng lấy cớ cho quân Pháp cướp bóc những báu vật như những bức tượng ngựa bằng đồng ở Giáo đường Thánh Máccô. Áp dụng những ý tưởng quân sự thông thường vào các tình huống thực tế đã làm nên những vinh quang quân sự của ông, chẳng hạn như việc sử dụng sáng tạo pháo binh như một lực lượng linh hoạt để hỗ trợ cho bộ binh. Ông nói về chiến thuật của mình như sau: "Tôi đã đánh sáu mươi trận và tôi không học được điều gì mà tôi chưa biết vào lúc bắt đầu. Nhìn Caesar xem; ông ta đánh trận đầu giống như trận cuối". Ông tinh thông trong việc sử dụng gián điệp và mưu trá và có thể thắng trận chiến bằng cách che đậy việc triển khai quân và tập trung quân vào điểm mấu chốt của mặt trận bị suy yếu của đối phương. Nếu ông không thể sử dụng chiến lược bao vây ưa thích của mình (Mouvement en tenaille, chuyển quân sang hai cánh và hợp vây kẻ địch), ông sẽ nắm lấy vị trí trung tâm và tấn công hai lực lượng phối hợp ở điểm mấu chốt của họ, tung quân đánh một cánh cho đến khi nó rút lui, sau đó quay lại đương đầu với cánh kia. Trong chiến dịch Ý này, quân đội của Bonaparte bắt được 150 000 tù binh, 540 khẩu đại bác và 170 cờ hiệu. Quân đội Pháp đã đánh 67 trận và thắng 19 trận chính quy (pitched battles, trong đó hai bên chọn một địa điểm dàn quân trước khi đánh) nhờ kĩ thuật pháo binh áp đảo và các chiến thuật của Bonaparte. Trong khi chiến dịch diễn ra, Bonaparte trở nên ngày càng có ảnh hưởng trong chính trị Pháp; ông thành lập hai tờ báo: một cho quân đội của ông và một phát hành ở Pháp. Những người bảo hoàng đả kích Bonaparte vì cướp phá Ý và cảnh báo rằng ông có thể trở thành một kẻ độc tài. Bonaparte gửi tướng Pierre Augereau tới Paris để lãnh đạo một cuộc đảo chính và thanh lọc những người bảo hoàng vào mùng 4 tháng Chín — sau được gọi là Đảo chính ngày 18 Fructidor. Điều này đem Barras và các đồng minh phe Cộng hòa trở lại nắm quyền nhưng phụ thuộc vào Bonaparte, người bấy giờ đang tiến hành đàm phán hòa ước mới với Áo. Những thương lượng này dẫn tới Hiệp ước Campo Formio, và Bonaparte trở lại Paris tháng 12 như một anh hùng. Ông gặp Talleyrand, Bộ trưởng Ngoại giao mới của Pháp — người về sau phục vụ ở cùng cương vị cho đế chế của Napoléon — và họ bắt đầu chuẩn bị cho một cuộc xâm lược nước Anh. === Viễn chinh tới Ai Cập (1798-1801) === Sau hai tháng lên kế hoạch, Bonaparte quyết định rằng lực lượng hải quân Pháp chưa đủ mạnh để đối diện với Hải quân Hoàng gia ở Eo biển Anh và đề xuất một cuộc viễn chinh để chiếm Ai Cập và do đó phá sự tiếp cận của người Anh với những nguồn lợi thương mại ở Ấn Độ. Bonaparte mong mỏi thiết lập một sự hiển hiện của Pháp ở Trung Đông, với giấc mộng tối hậu về việc liên kết với một kẻ thù Hồi giáo của Anh ở Ấn Độ, Tippu Sultan. Napoléon đảm bảo với Hội đồng Đốc chính rằng "ngay khi ông chinh phục được Ai Cập, ông sẽ thành lập những mối quan hệ với các hoàng thân Ấn Độ, và cùng với họ, tấn công người Anh tại các thuộc địa của họ". Theo một bản tường trình tháng Hai 1798 bởi Talleyrand: "Khi đã chiếm giữ và củng cố Ai Cập, chúng ta sẽ gửi một lực lượng 15000 người từ Suez tới Ấn Độ, kết hợp với Tipu-Sahib và đánh đuổi người Anh". Hội đồng đồng ý với kế hoạch để bảo đảm tuyến giao thương tới Ấn Độ. Tháng Năm 1798, Bonaparte được bầu làm thành viên của Viện Hàn lâm Khoa học Pháp. Chuyến viễn chinh Ai Cập của ông có sự tham gia của 167 nhà khoa học bao gồm các nhà toán học, tự nhiên học, hóa học và trắc địa; trong những khám phá của họ có Phiến đá Rosetta, và công trình của họ được xuất bản thành cuốn Description de l'Égypte năm 1809. Trên đường tới Ai Cập, Bonaparte tới Malta vào ngày 9 tháng Sáu 1798, khi đó dưới quyền kiểm soát của dòng Hiệp sĩ Cứu tế. Hai trăm hiệp sĩ gốc Pháp không ủng hộ vị Đại trưởng lão, Ferdinand von Hompesch zu Bolheim, và bày tỏ rằng họ sẽ không chiến đấu chống lại đồng bào. Hompesch đầu hàng sau một sự kháng cự yếu ớt, và Bonaparte chiếm được một căn cứ hải quân quan trọng với tổn thất chỉ ba binh sĩ. Tướng Bonaparte cùng đoàn quân của ông đã phải né tránh cuộc truy đuổi của Hải quân Hoàng gia và cập cảng ngày 1 tháng Bảy ở Alexandria. Ông đánh trận Shubra Khit chống lại Mamluk, giới quân sự thống trị Ai Cập bấy giờ. Điều này giúp những người Pháp thực hành chiến thuật phòng thủ cho trận Kim Tự Tháp diễn ra ngày 21 tháng Bảy, cách các kim tự tháp 24 km. Lực lượng của Bonaparte vào khoảng 25000, xấp xỉ bằng quân số kỵ binh Mamluk, nhưng ông đã lập những khối quân hình vuông rỗng với quân nhu được giữ an toàn bên trong. Kết quả, chỉ có 29 người Pháp chết, so với xấp xỉ 2000 người Ai Cập. Chiến thắng này đã củng cố tinh thần cho quân đội Pháp. Ngày 1 tháng Tám, hạm đội Anh dưới quyền Horatio Nelson đã bắt hoặc tiêu diệt hầu như tất cả chỉ trừ hai chiếc tàu Pháp trong trận sông Nile, và mục tiêu của Bonaparte về một vị thế tăng cường của người Pháp ở Địa Trung Hải tan vỡ. Quân đội của ông thành công trong sự gia tăng ngắn hạn quyền lực của Pháp ở Ai Cập, tuy nhiên sau đó đối mặt với những cuộc nổi dậy liên tiếp. Đầu năm 1799, ông chuyển quân tới tỉnh Damascus thuộc đế quốc Ottoman (Syria và Galilea). Bonaparte chỉ huy 13000 lính Pháp trong cuộc chinh phục các thành thị duyên hải Arish, Gaza, Jaffa, và Haifa. Cuộc tấn công vào Jaffa đặc biệt đẫm máu: Bonaparte, khi khám phá ra phần nhiều trong những người bảo vệ thành phố là cựu tù nhân chiến tranh từng hứa danh dự không trả thù để được tha, đã ra lệnh cho quân phòng thủ cùng 1.400 khác bị xử tử bằng lưỡi lê hoặc dìm chết đuối để tiết kiệm đạn. Đàn ông, đàn bà và trẻ con bị cướp và giết trong ba ngày. Với đội quân bị suy yếu bởi bệnh dịch — chủ yếu là dịch hạch — và nguồn quân nhu nghèo nàn, Bonaparte không thể hạ các pháo đài ở Akko và trở lại Ai Cập vào tháng Năm. Để tăng tốc cuộc hành quân, ông ra lệnh bỏ lại những người lính ốm yếu vì dịch hạch và bắt họ uống thuốc độc. (Tuy nhiên, những người Anh sau này chứng kiến đã ghi chép lại rằng hầu hết những người này sống sót và không bị đầu độc). Những người ủng hộ ông lập luận rằng điều này là cần thiết để đối phó với các trận tập hậu của quân Ottoman, và thực tế những người bỏ lại còn sống thường bị tra tấn và chặt đầu bởi kẻ địch. Trở lại Ai Cập, vào ngày 25 tháng Bảy, Bonaparte đánh bại cuộc tấn công đổ bộ của Ottoman trong trận Abukir. == Nhà cai trị nước Pháp == Khi ở Ai Cập, Bonaparte vẫn nhận được thông báo về sự vụ châu Âu thông qua các báo chí và thông điệp được chuyển tới không đều đặn. Ông biết rằng Pháp đã phải chịu một chuỗi những thất bại trong Chiến tranh Liên minh thứ hai. Ngày 24 tháng Tám 1799, ông lợi dụng sự rút lui tạm thời các tàu Anh khỏi các cảng Pháp để giong buồm về nước, bất chấp sự kiện là ông không nhận được mệnh lệnh rõ ràng nào từ Paris. Quân đội ở lại được giao phó cho tướng Jean Baptiste Kléber. Hội đồng Đốc chính đã gửi ông những mệnh lệnh quay về để ngăn ngừa những cuộc xâm lược vào đất Pháp, nhưng đường dây liên lạc nghèo nàn khiến cho các thông điệp không đến được với ông. Vào lúc ông tới được Paris vào tháng Mười, tình hình nước Pháp đã được cải thiện bởi một chuỗi những thắng lợi. Tuy nhiên nền Cộng hòa đã phá sản, và Hội đồng bất lực không được lòng dân Pháp. Hội đồng đã thảo luận về việc "đào ngũ" của Bonaparte nhưng quá yếu ớt để trừng phạt ông. Bonaparte được một trong các viên Đốc chính, Emmanuel Joseph Sieyès, tiếp cận để hỗ trợ cho một cuộc đảo chính lật đổ chính phủ hợp hiến. Những người đứng đầu kịch bản này bao gồm người em trai ông là Lucien; phát ngôn viên của Hội đồng Năm trăm (tức Hạ nghị viện), Roger Ducos; một viên Đốc chính khác, Joseph Fouché; và Talleyrand. Vào ngày 9 tháng 11 — hay 18 tháng Brumaire (Sương mù) theo lịch Cộng hòa Pháp — Bonaparte được trao nhiệm vụ bảo đảm an ninh cho hai viện lập pháp, những người bị thuyết phục rời về Lâu đài Saint-Cloud ở phía Tây Paris, sau một tin đồn về một cuộc nổi loạn của phe Jacobin được lan truyền bởi những người âm mưu. Ngày hôm sau, các nghị sĩ nhận ra họ đang đối mặt với một cuộc đảo chính. Trước sự phản kháng của họ, Bonaparte chỉ huy quân đội nắm quyền và giải tán họ, kế đó một nghị viện thu nhỏ (rump legislature) chỉ định Bonaparte, Sieyès, và Ducos làm các Tổng tài lâm thời quản lý chính quyền. === Chế độ Tổng tài Pháp === Mặc dù Sieyès hi vọng sẽ cầm đầu trong chính quyền mới, ông sớm bị vượt mặt bởi Bonaparte, người thảo ra Hiến pháp Năm VIII và bảo đảm việc bầu chọn bản thân làm Tổng tài thứ nhất, và ông dọn đến ở điện Tuileries. Điều này khiến cho Bonaparte trở thành con người quyền lực nhất ở Pháp. Năm 1800, Bonaparte và quân đội của ông vượt dãy Alps tới Ý, nơi quân đội Pháp đã hầu như bị đánh bật hoàn toàn bởi quân Áo trong lúc ông đang ở Ai Cập. Chiến dịch khởi đầu tệ hại cho người Pháp khi Bonarpate có những sai lầm chiến lược; một lực lượng đã bị vây hãm ở Genova nhưng cuối cùng phá được vây và do đó chiếm được tài nguyên của quân Áo. Nỗ lực này, và sự tăng viện kịp thời của tướng Louis Desaix, đã cho phép Bonaparte quay lại với chuỗi thắng lợi vào tháng Sáu trong trận Marengo có tính quyết định. Anh trai Joseph của Bonaparte tiến hành thương lượng hòa bình ở Lunéville và thông báo rằng Áo, được khuyến khích bởi người Anh, sẽ không công nhận những lãnh thổ Pháp vừa mới chiếm được. Khi cuộc thương lượng trở nên ngày càng căng thẳng, Bonaparte trao quyền cho tướng Moreau tấn công đất Áo thêm một lần nữa. Moreau đã lãnh đạo quân Pháp tới chiến thắng trong trận Hohenlinden. Kết quả là, Hiệp ước Lunéville được ký vào tháng hai 1801; những chiến quả của Pháp từ Hiệp ước Campo Formio được tái xác nhận và tăng cường. ==== Nền hòa bình tạm thời cho châu Âu ==== Cả Pháp lẫn Anh đã trở nên mệt mỏi với chiến tranh và ký với nhau Hiệp ước Amiens vào tháng 10 năm 1801 và tháng 3 năm 1802. Điều này đòi hỏi sự triệt thoái quân đội Anh khỏi hầu hết các thuộc địa họ chiếm gần đó. Sự hưu chiến này không dễ dàng và ngắn ngủi. Người Anh không chịu rút khỏi Malta như đã hứa và chống lại việc Bonaparte thôn tính Piedmont và Đạo luật Hòa giải của ông đã thiết lập nên một Liên bang Thụy Sĩ mới phụ thuộc vào Pháp, mặc dù không lãnh thổ nào kể trên nằm trong phạm vi của hiệp ước. Sự tranh cãi đạt đến đỉnh điểm và kết thúc bằng một tuyên bố chiến tranh của người Anh vào tháng 5 năm 1803, và Napoléon tái lập căn cứ xâm lược ở Boulougne. Bonaparte cũng đứng trước sự thất thế và cuối cùng là thảm bại trong đàn áp Cách mạng Haiti. Bằng Luật 20 tháng 5 năm 1802 ông tái thiết lập chế độ nô lệ trong các vùng thuộc địa Pháp vốn đã bị bãi trừ sau Cách mạng. Đáp trả một cuộc nổi dậy của nô lệ, ông gửi một đạo quân viễn chinh để tái chiếm Saint-Dominique và thiết lập một căn cứ. Tuy nhiên lực lượng này bị hủy diệt bởi dịch sốt vàng và sức kháng cự mãnh liệt bởi những viên tướng Haiti Toussaint Louverture và Jean-Jacques Dessalines. Nước Pháp đứng trước tình trạng phá sản tài chính và một cuộc chiến tranh cận kề với người Anh, Bonaparte nhận thấy những sở hữu của Pháp ở đất liền thuộc Bắc Mĩ là không thể bảo vệ được và bán chúng cho Hợp chúng quốc Hoa Kỳ — Vụ mua bán Louisiana — với giá hơn ba cent mỗi mẫu Anh (acre) (tức khoảng 7,4 cent mỗi hecta). === Đế chế Pháp === Napoléon phải đương đầu với những âm mưu của phe bảo hoàng và Jacobin, bao gồm các ‘’Âm mưu dao găm’’ vào tháng 10 năm 1800 và ‘’Âm mưu Phố Saint-Nicaise’’ hai tháng sau, đều nhắm vào ám sát cá nhân ông. Tháng Một 1804, cảnh sát khám phá một kế hoạch ám sát ông có can dự tới Moreau và dường như được nhà Bourbon thúc đẩy. Theo lời khuyên của Talleyrand, Napoléon ra lệnh bắt cóc Louis Antoine, Công tước Enghien trong một cuộc đột nhập vào lãnh thổ Baden láng giềng. Sau một phiên xử bí mật Công tước bị hành hình, mặc dù ông không tham dự vào âm mưu. Napoléon sử dụng âm mưu trên để biện hộ cho sự tái lập của nền quân chủ cha truyền con nối ở Pháp, mà chính ông là Hoàng đế, với lập luận rằng sự phục hồi đáng lo ngại của nhà Bourbon sẽ khó khăn hơn nếu sự thừa kế nhà Bonaparte được ghi nhận bởi hiến pháp. Trong một cử chỉ có tính hình thức, Thượng viện yêu cầu ông lên ngôi Hoàng đế để "bảo vệ nền Cộng hòa". Napoléon tự đội đế miện với hiệu Hoàng đế Napoléon I vào ngày 2 tháng 12 năm 1804 ở Nhà thờ Đức Bà Paris và sau đó trao miện Hoàng hậu cho Joséphin dưới sự chứng kiến của Giáo hoàng Piô VII. Ludwig van Beethoven, một người hâm mộ từ lâu của ông, đã thất vọng vì sự quay sang chủ nghĩa đế quốc này và xóa lời đề tặng Napoléon trong Giao hưởng số 3 của mình. Tại Nhà thờ Milano vào ngày 26 tháng 5 năm 1805, Napoléon đăng quang ngôi Vua của Ý với Vương miện Sắt của Lombardia. Ông lập nên cấp Thống chế của Đế chế từ những vị tướng hàng đầu của mình, để đảm bảo lòng trung thành của quân đội. ==== Chiến tranh liên minh thứ ba ==== Nước Anh phá vỡ Hòa ước Amiens và tuyên chiến với Pháp vào tháng 5 năm 1803. Napoléon thiết lập doanh trại ở Boulogne-sur-Mer để chuẩn bị cho cuộc xâm lược nước Anh. Tới năm 1805, Anh đã thuyết phục được Áo và Nga tham gia vào một Liên minh thứ ba chống Pháp. Napoléon biết rằng hạm đội Pháp không thể đánh bại Hải quân Hoàng gia trong một trận chiến mặt đối mặt và lập kế hoạch nhử họ ra khỏi Eo biển Anh. Theo đó, Hải quân Pháp sẽ thoát khỏi sự bao vây của quân anh ở Toulon và Brest rồi đe dọa tấn công Tây Ấn, do đó sẽ loại bỏ được sự phòng thủ phía Tây quần đảo Anh, với hi vọng một hạm đội Pháp-Tây Ban Nha có thể đoạt được eo biển đủ lâu để quân đội Pháp băng qua từ Boulogne và xâm lược nước Anh. Tuy nhiên, sau thất bại trong trận hải chiến ở Mũi Finisterre vào tháng 7 năm 1805 và cuộc rút lui của Đô đốc Villeneuve về Cádiz, xâm lược đất Anh không bao giờ còn là một lựa chọn hiện thực đối với Napoléon nữa. Khi quân đội Áo được triển khai tới Bayern, ông ngừng triển khai xâm lược Anh và ra lệnh cho đạo quân đóng ở Boulogne, Grande Armée của ông, hành quân bí mật trong một cuộc di chuyển thọc sâu vào hậu phương địch — chiến dịch Ulm. Điều này bao vây lực lượng Áo sắp sửa tấn công Pháp và cắt đứt các đường liên lạc của họ. Ngày 20 tháng 10 năm 1805, quân Pháp bắt được 30 000 tù binh trong trận Ulm, tuy nhiên ngày hôm sau chiến thắng của người Anh ở Trafalgar đồng nghĩa với việc Hải quân Hoàng gia hoàn toàn chiếm lĩnh các vùng biển. Sáu tuần sau, trong lần kỉ niệm một năm ngày đăng quang, Napoléon đã đánh bại liên quân Áo-Nga trong trận Austerlitz nổi tiếng với tổn thất của phe Liên minh vào khoảng 27 000 người, gấp 3 lần quân Pháp. Trận này đã bẻ gãy Liên minh thứ ba, khiến cho Aleksandr I phải than thở: "Chúng ta là những em bé trong bàn tay của một gã khổng lồ" . Napoléon trở về Paris nhận sự hưởng ứng nhiệt liệt, cho khánh thành Khải Hoàn Môn để tưởng niệm chiến thắng. Áo phải chịu nhường một phần lãnh thổ; Hòa ước Pressburg dẫn tới sự giải thể Đế quốc La Mã Thần thánh và lập nên Liên bang sông Rhine với Napoléon giữ vị trí Bảo hộ Công. Napoléon sau này nhắc lại "trận Austerlitz là trận đánh đẹp nhất trong mọi trận đánh tôi từng thực hiện". Frank McLynn cho rằng Napoléon đã quá thành công ở Austerlitz tới mức ông mất sự liên hệ với thực tiễn, và thứ từng là chính sách ngoại giao Pháp trở thành "một thứ của riêng Napoléon". Vincent Cronin không tán thành, cho rằng Napoléon không tự mãn quá mức về bản thân, mà "ông là hiện thân cho lòng tự mãn của ba mươi triệu người Pháp". ==== Các mối đồng minh Trung Đông ==== Ngay cả sau chiến dịch ở Ai Cập, Napoléon vẫn tiếp tục ấp ủ một kế hoạch lớn lao là thành lập một sự hiện diện của Pháp ở Trung Đông. Một mối đồng minh với các cường quốc Trung Đông sẽ là lợi thế chiến lược gây sức ép cho Nga ở biên giới phía Nam của nước này. Từ 1803, Napoléon tiến những bước đáng kể trong cố gắng thuyết phục Đế quốc Ottoman chiến đấu chống lại Nga ở bán đảo Balkan và gia nhập liên minh chống Nga của ông. Napoléon gửi tướng Horace Sebastiani sang làm đặc sứ, hứa hẹn sẽ giúp đỡ Đế quốc Ottoman khôi phục những lãnh thổ đã mất. Tháng Hai năm 1806, sau chiến thắng của Napoléon ở Austerlitz và sự chia cắt sau đó của Đế quốc Habsburg, Hoàng đế Ottoman Selim III cuối cùng thừa nhận ngôi Hoàng đế của Napoléon, chính thức chọn liên minh với Pháp như "người đồng minh thân thiết và tự nhiên của chúng ta", đồng thời tuyên chiến với Nga và Anh. Một liên minh Pháp-Ba Tư cũng được hình thành, trong thời gian từ 1807 tới 1809, giữa Đế quốc Ba Tư của Fat′h-Ali Shah Qajar chống Nga và Anh. Liên minh này chấm dứt khi Pháp bắt tay với Nga và chuyển trọng tâm sang các chiến dịch châu Âu. ==== Chiến tranh với Liên minh thứ tư ==== Liên minh thứ tư được thành lập năm 1806, và Napoléon đánh bại quân Phổ trong trận Jena-Auerstedt vào tháng Mười. Ông hành quân vượt Ba Lan để đương đầu với quân Nga đang tiến sang và hai bên có đụng độ đẫm máu tại trận Eylau ngày 6 tháng 2 năm 1807 nhưng bất phân thắng bại. Sau một thắng lại quyết định tại trận Friedland, ông ký các Hiệp ước Tilsit bao gồm một văn bản với Nga hoàng Aleksandr I phân chia lục địa giữa hai cường quốc này; một văn bản khác với Phổ tước một nửa lãnh thổ nước này. Napoléon đặt các nhà cai trị lên ngai vàng các bang nước Đức, bao gồm người em Jérôme làm vua của Vương quốc Westfalen mới lập. Trong vùng Ba Lan mà Pháp kiểm soát, ông lập nên Công quốc Warszawa dưới quyền Vua Friedrich August I của Sachsen. Với các chiếu chỉ Milano và chiếu chỉ Berlin, Napoléon nỗ lực tăng cường một sự tẩy chay thương mại khắp châu Âu đối với Anh mang tên Hệ thống Lục địa. Đạo luật chiến tranh kinh tế này không thành công, bởi nó khuyến khích các thương gia Anh buôn lậu vào châu Âu lục địa, và nhân viên cưỡng bách thuế quan độc quyền của Napoléon không thể ngăn họ lại. ==== Chiến tranh Bán đảo ==== Vì Bồ Đào Nha không tuân theo lệnh phong tỏa lục địa nên Napoléon phải cất quân chinh phạt vào năm 1807 với sự hỗ trợ của Tây Ban Nha. Dưới chiêu bài tăng cường cho quân đội Pháp - Tây Ban Nha chiếm đóng Bồ Đào Nha, Napoléon xâm lược luôn cả Tây Ban Nha, phế Carlos IV rồi đưa anh trai của mình là Joseph Bonaparte lên ngôi, đồng thời đặt em vợ là Joachim Murat lên cầm quyền thay Joseph ở Napoli. Điều này đã dẫn đến sự kháng cự mạnh mẽ của quân đội và thường dân Tây Ban Nha gây nên cuộc khởi nghĩa Dos de Mayo. Ở Tây Ban Nha, Napoléon còn phải đối mặt với một loại hình chiến tranh mới, chiến tranh du kích , trong đó cư dân địa phương, hưởng ứng chủ nghĩa ái quốc và tinh thần tôn giáo, tham gia vào cuộc chiến. Loại hình bước đầu của chiến tranh nhân dân này bao gồm nhiều hình thức chiến đấu cường độ thấp (quấy rối, phá hoại, nổi dậy vũ trang...) và trợ giúp cho quân đội chính quy những nước đồng minh với Tây Ban Nha. Sau khi quân Pháp đồn trú buộc phải rút khỏi nhiều phần đất nước này, Napoléon nắm quyền chỉ huy trực tiếp, đánh bại quân Tây Ban Nha. Ông chiếm lại Madrid, đánh bật một đội quân Anh tới cứu viện và đẩy lui họ khỏi bờ biển . Tuy vậy, trước khi người dân Tây Ban Nha chịu khuất phục hoàn toàn, nước Áo lại đe dọa chiến tranh, buộc Napoléon phải quay về Pháp.. Cuộc chiến tranh trên bán đảo Iberia tốn kém và thường đẫm máu vẫn tiếp tục khi Napoléon vắng mặt. Trong cuộc vây hãm Zaragoza lần thứ hai, gần như toàn bộ thành phố bị phá hủy và hơn 5 vạn người bỏ mạng. Mặc dù Napoléon để 30 vạn quân tinh nhuệ ở lại Tây Ban Nha để chống lại quân du kích cũng như liên quân Anh-Bồ Đao Nha dưới sự chỉ huy của Công tước Wellington, nhưng sự kiểm soát của Pháp ngày một suy yếu. Sau khi phía đồng minh giành thắng lợi, cuộc chiến kết thúc sau khi Napoléon thoái vị vào năm 1814. Napoléon mô tả cuộc chiến tranh Bán đảo là trung tâm của sự thất bại chung cuộc của mình. Ông đã viết trong hồi ký: "Cuộc chiến tranh bất hạnh đó đã hủy diệt tôi...Tất cả...những tai họa của tôi bị buộc chặt với nút thắt định mệnh đó". ==== Chiến tranh Liên minh thứ năm và tái hôn ==== Tháng Tư 1809, Áo bất ngờ phá vỡ liên minh với Pháp, tham gia vào Liên minh thứ năm chống Pháp. Napoléon buộc phải nắm quyền chỉ huy các lực lượng ở mặt trận Danube và Đức. Sau những thắng lợi ban đầu, quân Pháp vấp phải khó khăn trong việc vượt qua sông Donau và thất bại vào tháng Năm trong trận Aspern-Essling gần Viên. Người Áo đã bỏ lỡ lợi dụng tình thế, để cho Napoléon có thể tập hợp lại lực lượng. Ông đánh bại quân Áo trong trận Wagram, và Hiệp ước Schönbrunn được ký giữa Pháp và Áo. Tuy thắng lợi nhưng thiệt hại nặng nề trong trận Wagram đã chứng tỏ những suy sút của quân đội Pháp. Vương quốc Anh vẫn chống Pháp và có vài trận thắng trên biển. Trên lục địa châu Âu, Anh chỉ hỗ trợ cuộc chiến trên bán đảo Iberia và gửi một đoàn quân viễn chinh gồm 40.000 người tới Walcheren (vùng Zeeland, Hà Lan) từ 30 tháng 7 tới 10 tháng 12 năm 1809 để tấn công căn cứ hải quân Antwerpen của Pháp và để chia cắt lực lượng Pháp nhằm giúp Áo nhưng cuối cùng phải rút lui khi Napoléon đem quân tăng viện. Ông đồng thời sáp nhập lãnh thổ của Giáo hoàng bởi Giáo hội từ chối ủng hộ Hệ thống Lục địa; Giáo hoàng Piô VII đáp trả bằng cách rút phép thông công vị hoàng đế Pháp. Sau đó một số sĩ quan của Napoléon bắt cóc Giáo hoàng, Napoléon tuy không ra lệnh trên nhưng khi biết sự việc cũng không cho thả Piô. Giáo hoàng bị chuyển đi khắp các lãnh thổ của Napoléon và Napoléon đã gửi các phái đoàn tới gây áp lực buộc ông trên các vấn đề bao gồm thỏa thuận về một giáo ước mới với nước Pháp, điều Piô từ chối. Năm 1810 Napoléon kết hôn với nữ Đại công tước Marie Louise của Áo, sau khi ông ly dị với Joséphine; điều này gây thêm căng thẳng với Giáo hội, và mười ba Hồng y đã bị tống giam do vắng mặt tại lễ cưới. Giáo hoàng tiếp tục bị giam cầm trong 5 năm và không trở về Roma cho đến tháng 5 năm 1814. Napoléon chấp nhận việc Bernadotte, một trong các thống chế của ông được bầu làm người thừa kế ngai vàng Thụy Điển vào tháng 11 năm 1810. Ông thường chiều Bernadotte bất chấp những sơ suất của viên tướng này vì Bernadotte cưới hôn thê cũ của ông là Désirée Clary nhưng về sau hối hận cả đời khi Bernadotte đem Thụy Điển liên minh với các kẻ thù của Pháp trong Liên minh thứ sáu và trở thành một trong những đối thủ đáng ngại nhất của ông ==== Xâm lược nước Nga ==== Hội nghị Erfurt được tổ chức nhằm bảo vệ mối đồng minh Nga-Pháp, và các hoàng đế Pháp và Nga đã có một mối quan hệ cá nhân thân thiện sau cuộc họp đầu tiên ở Tilsit năm 1807. Tuy nhiên tới năm 1811, căng thẳng gia tăng và Alexander chịu sức ép từ giới quý tộc Nga đòi phá vỡ đồng minh. Dấu hiệu ban đầu rằng mối quan hệ đã biến đổi là sự chối bỏ trên thực tế Hệ thống Lục địa, điều khiến Napoléon đe dọa Aleksandr nhiều hậu quả thảm khốc nếu ông lập quan hệ đồng minh với người Anh. Tới 1812, các cố vấn của Aleksandr đề xuất khả năng tiến hành xâm lược Đế quốc Pháp và tái chiếm Ba Lan. Nhận được báo cáo tình báo về những sự chuẩn bị chiến tranh của Nga, Napoléon tăng cường mở rộng đạo quân Grande Armée của mình lên hơn 450 000 lính. Ông phớt lờ lời khuyên lặp lại chống một cuộc xâm lược vào trung tâm nước Nga và chuẩn bị cho một chiến dịch tấn công; và ngày 23 tháng 6 năm 1812 cuộc chinh phạt bắt đầu. Trong một nỗ lực nhằm thu được sự hỗ trợ hơn nữa từ những người yêu nước dân tộc chủ nghĩa Ba Lan, Napoléon gọi cuộc chiến là Chiến tranh Ba Lan lần thứ hai — Chiến tranh Ba Lan lần thứ nhất là cuộc nổi dậy Liên bang Bar của quý tộc Ba Lan chống lại Nga năm 1768. Những người yêu nước Ba Lan muốn khu vực Ba Lan thuộc Nga sáp nhập vào Công quốc Warszawa và một nhà nước Ba Lan độc lập được tạo ra. Điều này bị từ chối bởi Napoléon đã hứa với đồng minh Áo không cho phép như vậy. Napoléon cũng từ chối giải phóng cho nông nô Nga bởi lo ngại điều này có thể tạo nên những chống đối trong miền hậu phương của quân đội ông. Những nông nô này về sau đã đối xử khốc hại đối với lính Pháp khi họ rút chạy. Người Nga từ chối mục tiêu của Napoléon về một trận giao chiến quyết định, thay vào đó thoái lui ngày càng sâu vào lãnh thổ Nga. Một nỗ lực kháng cự ngắn ngủi được thực hiện ở Smolensk vào tháng Tám; người Nga bị đánh bại trong một loạt trận, và Napoléon tiếp tục tiến công. Người Nga vẫn trì hoãn đánh nhau, mặc dù trong một vài trường hợp điều này chỉ đạt được do sự ngần ngừ ít thấy ở Napoléon khi cơ hội tới. Do chiến thuật tiêu thổ của quân Nga, người Pháp cảm thấy ngày càng khó để tìm kiếm thức ăn cho bản thân và cho ngựa. Người Nga bấy giờ mới tung ra những trận đánh ở ngoại vi Moskva ngày 7 tháng Chín: trận Borodino khiến cho 44 000 quân Nga và 35 000 quân Pháp tử vong, bị thương hoặc bị bắt, và có lẽ là ngày chiến sự đẫm máu nhất trong lịch sử từ trước tới thời điểm đó. Mặc dù quân Pháp thắng, quân đội Nga đã đương đầu, và đứng vững, trong trận chiến trực diện mà Napoléon đã hi vọng sẽ mang tính quyết định. Napoléon đã ghi chép lại: "Trận khủng khiếp nhất trong mọi trận đánh của tôi là trận trước Moskva. Người Pháp đã chứng tỏ họ xứng đáng với chiến thắng, nhưng người Nga đã chứng tỏ họ bất khả chiến bại". Quân đội Nga rút xa khỏi Moskva. Napoléon tiến vào thành phố, giả định rằng sự thất thủ của nó sẽ kết thúc chiến tranh và Aleksandr sẽ đàm phán hòa bình. Tuy nhiên, dưới lệnh của tổng đốc thành phố Feodor Rostopchin, thay vì một sự đầu hàng, Moskva bị đốt cháy. Sau một tháng, lo lắng mất quyền kiểm soát ở Pháp, Napoléon và quân đội rút lui. Người Pháp chịu tổn thất to lớn trong quá trình rút quân tai hại, mà một phần là do Mùa Đông Nga . Quân đội Pháp bắt đầu với hơn 400 000 quân tiền phương, nhưng vào lúc kết thúc chỉ có ít hơn 40 000 người vượt sông Berezina tháng 11 năm 1812. Phía Nga mất 150 000 lính trong trận chiến và hàng trăm nghìn người dân khác thiệt mạng. ==== Chiến tranh Liên minh thứ sáu ==== Có một thời gian tạm lắng chiến sự trong mùa đông 1812–1813 khi cả người Nga lẫn người Pháp đang tái xây dựng lực lượng; Napoléon sau đó có thể tung ra chiến trường 350 000 quân. Được cổ vũ bởi thất bai của Pháp tại Nga, Phổ liên hợp với Áo, Thụy Điển, Nga, Anh, Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha trong một liên minh mới. Napoléon nắm quyền chỉ huy ở mặt trận Đức và giáng cho Liên minh một chuỗi trận thua bao gồm thảm bại ở trận Dresden vào tháng 8 năm 1813. Bất chấp những thắng lợi này, các con số tiếp tục ngày càng chống lại Napoléon, và quân Pháp bị khóa chặt bởi một lực lượng đông gấp đôi và do đó thua trong trận Leipzig. Đây có lẽ là trận chiến lớn nhất trong toàn bộ các cuộc chiến tranh của Napoléon và nó gây cho 90 000 người thương vong. Napoléon rút về Pháp với đội quân giảm xuống còn 70 000 lính và 40 000 người tụt khỏi đội hình, chống lại đội quân Liên minh đông gấp hơn ba lần. Nước Pháp bị bao vây: quân Anh dồn ép từ phía nam, các đạo quân Liên minh khác đang nhắm vào tấn công các bang chư hầu Đức. Napoléon thắng một loạt trận xuất sắc trong Chiến dịch Sáu ngày, tuy nhiên chúng không đủ ý nghĩa để thay đổi cục diện. Quân Liên minh đã đánh bại Napoléon trong những trận đánh quan trọng tại Laon và Arcis-sur-Aube, và tiến chiếm Paris vào tháng 3 năm 1814. Khi Napoléon đề xuất hành quân tới thủ đô, các thống chế của ông quyết định gây binh biến. Ngày 4 tháng Tư, đứng đầu bởi Thống chế Ney, họ phản kháng Napoléon. Napoléon khẳng định rằng quân đội sẽ theo ông, và Ney đáp lại rằng quân đội sẽ theo những vị tướng của nó. Napoléon không có lựa chọn nào ngoài thoái vị. Ông quyết định nhường ngôi cho con; tuy nhiên, Liên minh từ chối điều này, và Napoléon buộc phải thoái vị không điều kiện vào ngày 11 tháng Tư. ==== Lưu đày tới Elba ==== Các Lực lượng Liên minh đã tuyên bố rằng Hoàng đế Napoléon là trở ngại duy nhất cho sự khôi phục nền hòa bình ở châu Âu, Hoàng đế Napoléon, trung thành với lời thề của mình, nay tuyên bố rằng ông từ bỏ, về phần ông cũng như những người thừa kế của ông, ngai vàng của nước Pháp và Ý, và rằng không sự hy sinh nào, ngay cả mạng sống của mình, mà ông không sẵn lòng làm vì lợi ích của nước Pháp. Thảo ở Cung điện Fontainebleau, 11 tháng 4 năm 1814. Trong Hiệp ước Fontainebleau, những người chiến thắng đày ông tới Elba, một hòn đảo 12 000 dân ở Địa Trung Hải, cách bờ biển Toscana 20 km. Họ cho ông quyền cai trị hòn đảo và cho phép ông giữ lại danh hiệu hoàng đế. Napoléon đã định tự tử bằng viên thuốc mà ông mang theo mình kể từ một lần suýt bị người Nga bắt được trong đợt rút lui khỏi Moskva. Tuy nhiên độc tính của nó đã giảm sau vài năm, và Napoléon sống sót. Ông chấp nhận lưu đày, trong khi vợ và con trai tìm sự nương náu ở nước Áo. Trong vài tháng đầu ở Elba ông đã tạo dựng một đội quân và cả một lực lượng hải quân nhỏ trên đảo, phát triển các mỏ sắt, và ra những sắc lệnh liên quan đến phương thức canh tác nông nghiệp hiện đại. ==== Triều đại Một trăm ngày ==== Dù bị chia cắt khỏi vợ và con trai, những người đã chịu sự kiểm soát của nước Áo, bị cắt khoản trợ cấp được đảm bảo cho ông bởi Hiệp ước Fontainebleau, và dấy lên những tin đồn ông dường như bị trục xuất tới một hòn đảo xa xôi ở Đại Tây Dương, Napoléon trốn khỏi Elba ngày 26 tháng 2 năm 1815. Ông cập bến ở Golfe-Juan trên đất liền Pháp, hai ngày sau đó. Trung đoàn số 5 được gửi tới để ngăn chặn ông và nối lại tuyến đường tới nam Grenoble vào mùng 7 tháng 3 năm 1815. Napoléon tiếp cận đội quân một mình, xuống ngựa và khi đứng trong tầm đạn, ông hét lên: "Ta ở đây. Giết Hoàng đế của các người đi, nếu các người muốn". Những người lính đáp lại bằng tiếng hô "Hoàng đế Vạn tuế!" ("Vive L'Empereur!") và hành quân cùng Napoléon tới Paris; Louis XVIII bỏ chạy. Ngày 13 tháng Ba, các cường quốc tại Hội nghị Viên đã tuyên bố Napoléon là kẻ ngoài vòng pháp luật, và bốn ngày sau Anh, Nga, Áo và Phổ kết hợp một lần nữa để gửi mỗi nước 15 vạn quân tới chiến trường để chấm dứt nền cai trị của ông. Napoléon đến Paris ngày 20 tháng Ba và cầm quyền trong một thời kì mà ngày nay gọi là Triều đại Một trăm ngày. Đến đầu tháng Sáu lực lượng vũ trang mà ông tập hợp được đạt con số 200 000, và ông quyết định chọn tấn công để đánh bật gọng kìm của quân đội Anh và Phổ. Tập đoàn quân phía Bắc băng qua biên giới tới Vương quốc Liên hiệp Hà Lan, nay là Bỉ. Quân đội Napoléon chiến đấu với quân liên minh, chỉ huy bởi Wellington và Gebhard Leberecht von Blücher, trong trận Waterloo ngày 18 tháng 6 năm 1815. Quân đội Wellington chịu đựng các đợt tấn công liên tiếp của người Pháp và đẩy lùi họ trên chiến trường trong khi quân Phổ tới tăng viện và phá vỡ sườn phải của đội hình quân Napoléon. Napoléon bị đánh bại bởi ông phải chiến đấu một chọi hai, tấn công một đội quân chiếm được vị trí phòng ngự tuyệt vời trên địa hình ẩm ướt lầy lội. Sức khỏe của ông ngày hôm đó có thể đã ảnh hưởng tới sự hiện diện và sự hăng hái của ông trên chiến trường, thêm vào sự kiện là cấp dưới có thể đã khiến ông ngã. Một sự kiện khác có ảnh hưởng quan trọng tới kết cục là lực lượng kị binh do tướng Grouchy đã không tiếp ứng kịp thời. Dù vậy, Napoléon đã tiến rất gần tới một chiến thắng chớp nhoáng. Bị áp đảo về số lượng, quân đội Pháp rút khỏi chiến trường trong hỗn loạn, điều cho phép lực lượng Liên minh tiến vào nước Pháp và khôi phục ngai vàng nước Pháp cho Louis XVIII. Ở ngoài cảng Rochefort, Charente-Maritime, sau khi cân nhắc một cuộc đào thoát sang Hợp chúng quốc, Napoléon chính thức yêu cầu tị nạn chính trị từ đại tá người Anh Frederick Lewis Maitland trên chiến hạm HMS Bellerophon ngày 15 tháng 7 năm 1815. == Lưu đày ở Saint Helena == Napoléon bị tống giam và sau đó lưu đày tới đảo Saint Helena trên Đại Tây Dương, cách bờ biển Tây Phi 1 870 km. Trong hai tháng đầu tiên ở đây, ông sống trong một căn lều ở khu đất Briars thuộc về một người tên William Balcombe. Napoléon trở nên gần gũi với gia đình này, đặc biệt với cô con gái út tên Lucia Elizabeth người về sau viết cuốn Những hồi ức về Hoàng đế Napoléon. Tình bạn này bị chia cắt vào năm 1818 khi chính quyền Anh bắt đầu nghi ngờ rằng Balcombe đóng vai một người trung gian giữa Napoléon và Paris và đuổi ông này khỏi đảo. Napoléon chuyển tới Longwood House vào tháng 12 năm 1815; nó đã rơi vào tình trạng hư nát, ẩm ướt và gió lùa, hại cho sức khỏe. Tờ The Times đã xuất bản những bài báo ám chỉ rằng chính phủ Anh đang cố gắng làm ông chết mau, và ông thường phàn nàn về điều kiện sống trong những bức thư gửi cho tổng đốc và là người canh giữ ông Hudson Lowe. Với sự đỡ đần của một ít người đi theo, Napoléon viết hồi ký và lên án những người giam giữ ông — đặc biệt là Lowe. Sự đối xử của Lowe với Napoléon bị xem là tồi tệ bởi các học giả như Frank MacLynn. Lowe đã gia tăng thêm tình trạng khổ cực của ông bằng những biện pháp bao gồm sự hạn chế việc đi lại của Napoléon, một quy định yêu cầu không món quà nào được gửi cho ông nếu nó đề cập đến danh hiệu hoàng đế của ông, và một văn bản mà những người ủng hộ phải ký đòi hỏi rằng họ sẽ phải ở lại với người tù thời gian không xác định. Năm 1818, The Times tường thuật một tin đồn thất thiệt về sự đào thoát của Napoléon và nói rằng tin tức được chào đón bởi sự thắp nến đồng thời ở nhiều gia đình London. Có một sự thông cảm cho ông ở Nghị viện Anh:Nam tước Holland có một diễn văn trước Nghị viện yêu cầu tù nhân phải được đối xử mà không chịu sự tàn nhẫn không cần thiết nào. Napoléon tiếp tục theo dõi thời sự qua tờ The Times và từng hi vọng được thả khi Holland trở thành Thủ tướng. Ông cũng nhận sự giúp đỡ của Nam tước Cochrane, người tham dự vào các cuộc đấu tranh của Chile và Brasil giành độc lập và muốn cứu Napoléon và giúp ông lập nên một đế chế mới ở Nam Mỹ, một viễn cảnh bị sụp đổ bởi cái chết của Napoléon vào năm 1821. Có những âm mưu khác để cứu thoát Napoléon khỏi sự giam cầm bao gồm một âm mưu từ Texas, nơi những người lính lưu đày của Grande Armée muốn một sự phục hưng Đế quốc Napoléon ở Mỹ. Có cả một kế hoạch cứu ông bằng một tàu ngầm sơ khai. Trong thời kì Napoléon bị giam cầm, Nam tước Byron đã viết những vần thơ xem Napoléon như hiện thân của anh hùng lãng mạn, thiên tài bất toàn, cô độc và bị ngược đãi. Tin tức rằng Napoléon khởi sự làm vườn ở Longwood cũng làm dậy lên sự đồng cảm với nhiều gia đình Anh. === Qua đời và an táng === Ngay từ cuối năm 1817, đã xuất hiện nhiều dấu hiệu bệnh tật nơi vị cựu Hoàng Đế, một phần cũng vì ông thiếu vận động. Napoléon có triệu chứng bị ung thư bao tử. Bác sĩ riêng của Napoléon, Barry O'Meara, cảnh báo chính quyền về tình trạng sức khỏe suy giảm của người tù mà nguyên nhân chính, theo ông, là sự đối xử khắc nghiệt của viên "cai ngục", Lowe, buộc Napoléon giam thân hàng tháng trời trong nơi cư trú hư nát và ẩm ướt Longwood. O'Meara có một liên lạc thư từ bí mật với một thư ký ở Bộ Hải quân Anh, được biết rằng những lá thư này được đọc bởi lãnh đạo cao cấp: ông hi vọng, bằng cách này, cảnh báo chính phủ, nhưng thực tế không đem lại điều gì. Đã vậy, O'Meara còn bị thuyên chuyển đi nơi khác, thay thế bằng một bác sĩ gốc đảo Corse tên là Francesco Antommarchi. Tháng Hai 1821, sức khỏe Napoléon trở nên suy sụp nhanh chóng, ông phải nằm liệt trên giường. Tháng 4, Napoléon Bonaparte đã đọc lời di chúc cuối cùng, gồm có câu: "Tôi ước muốn nắm xương tàn của tôi nằm bên bờ sông Seine, ở giữa những người dân Pháp mà tôi rất yêu mến. Tôi chết trước thời hạn, bị giết bởi thể chế hoạt đầu Anh và do các kẻ sát nhân được thuê mướn". Ngày 2 tháng Năm hai bác sĩ Anh, những người vừa tới gần đó, chăm sóc cho ông nhưng chỉ có thể kê những liều giảm đau. Ông mất hai ngày sau đó, sau khi trải qua lễ thú tội, xức dầu thánh và ban thánh thể với sự hiện diện của Giám mục Ange Vignali. Những lời cuối cùng của ông là "France, armée, tête d'armée, Joséphine" (Nước Pháp, quân đội, chỉ huy quân đội, Joséphine). Napoléon đã qua đời lúc 5 giờ 49 phút giờ chiều ngày hôm đó, khi chưa tròn 52 tuổi. Thi thể của ông được mặc bộ quân phục mà ông ưa thích và được phủ lên bằng tấm áo choàng màu xám, tấm áo trận mà ông đã khoác trong trận Marengo. Trái với di nguyện của ông, tổng đốc người Anh cho rằng ông nên được chôn ở St. Helena, trong Thung lũng Willows. Hudson Lowe khăng khăng đòi câu khắc trên bia mộ phải đề "Napoleon Bonaparte"; những thuộc hạ theo đi đày, Montholon và Bertrand muốn Đế hiệu "Napoleon" phải được viết chỉ bằng tên đầu. Kết quả là tấm bia mộ để trống tên. Năm 1840, Louis Philippe I nhận được sự cho phép của Anh để đem di hài Napoléon về Pháp. Di hài được vận chuyển bằng chiến hạm Belle-Poule, được sơn đen trong dịp này, và ngày 29 tháng 11 nó cập bến ở Chebourg. Di hài tiếp đó được mang bởi tàu hơi nước Normandie tới Le Havre., ngược sông Seine tới Rouen và dừng ở Paris. Ngày 15 tháng Mười hai, tang lễ quốc gia được cử hành. Xe tang di chuyển từ Khải Hoàn Môn xuống đại lộ Champs-Élysées, băng qua Quảng trường Concorde tới Les Invalides (Điện Phế binh) và tới mái vòm ở nhà nguyện St Jérôme nơi nó nằm lại cho đến khi ngôi mộ thiết kế bởi Louis Visconti hoàn thành. Năm 1861, thi hài được táng trong một chiếc quách làm từ đá tràng thạch (porphyry) trong hầm mộ dưới mái vòm của Điện Invalides. ==== Nguyên nhân cái chết ==== Cuộc khám nghiệm tử thi chỉ ra rằng nguyên nhân cái chết là ung thư dạ dày. Tuy nhiên, François Carlo Antommarchi, bác sĩ riêng của Napoléon và là người chỉ đạo cuộc khám nghiệm, đã không ký vào báo cáo chính thức. Cha của Napoléon cũng qua đời vì ung thư dạ dày nhưng điều này dường như không được biết vào thời điểm mổ tử thi. Antommarchi tìm thấy bằng chứng về một vết loét dạ dày, và đây là cách giải thích tiện lợi nhất đối với chính phủ Anh, những người muốn tránh sự chỉ trích về việc chăm sóc vị hoàng đế Pháp. Năm 1955, nhật ký của người hầu phòng của Napoléon, Louis Marchand, xuất hiện trên báo chí. Bản mô tả về Napoléon những tháng trước khi mất khiến cho Sten Forshufvud đề xuất những nguyên nhân khác cho cái chết, bao gồm sự đầu độc arsen từ từ, trong một bài báo trên tờ Nature năm 1961. Arsen được dùng làm thuốc độc vào thời kì đó bởi khi ấy nó không thể bị phát hiện khi áp dụng trong một thời gian dài. Forshufvud, trong một cuốn sách năm 1978 với Ben Weider, lưu ý rằng cơ thể vị hoàng đế được thấy là được bảo quản tốt một cách đáng ngạc nhiên khi di chuyển vào năm 1840. Arsen là một chất có tính bảo quản mạnh, và do đó điều này củng cố giả thuyết đầu độc. Forshufvud và Weider nhận xét rằng Napoléon từng cố hạ bớt cơn khát bất thường bằng uống nhiều si-rô nước mạch ướp hoa cam (orgeat syrup) chứa các hợp chất xianua trong quả hạnh dùng để tạo mùi. Họ khẳng định rằng kali tactrat, được sử dụng để ngăn dạ dày đào thải các chất này và cơn khát là triệu chứng của đầu độc. Giả thuyết của họ là calomen (thủy nhân clorua HgCl2, xưa kia được dùng làm thuốc nhuận tràng) được áp dụng quá liều cho Napoléon, đã giết ông và để lại những tổn thương mô rộng khắp. Một bài báo năm 2007 đã khẳng định loại arsen tìm thấy trên thân tóc Napoléon là loại vô cơ, độc tính cao nhất, và theo nhà độc dược học Patrick Kintz, điều này ủng hộ kết luật rằng cái chết của ông là một vụ ám sát. Giấy dán tường được dùng ở Longwood chứa nồng độ cao hợp chất arsen được sử để nhuộm màu bởi những nhà sản xuất Anh. Chất kết dính, vốn vô hại ở điều kiện nước Anh, có lẽ đã bị mốc trong khí hậu ẩm hơn nhiều ở St. Helena và nhả ra khí arsin (arsen hidrua, AsH3) độc hại. Lý thuyết này đã được loại trừ do nó không giải thích được số liệu về nồng độ hấp thụ arsen tìm thấy trong các phân tích khác. Dù sao, những nghiên cứu hiện đại tỏ ra nghiêng về chứng cớ giải phẫu ban đầu. Các nhà nghiên cứu năm 2008 đã phân tích các mẫu tóc Napoléon khác nhau từ suốt cuộc đời ông, từ gia đình và những người đương thời. Tất cả các mẫu đều có nồng độ arsen rất cao, xấp xỉ gấp 100 lần con số trung bình. Theo các nhà nghiên cứu này, cơ thể Napoléon đã bị nhiễm độc arsen nặng khi còn là một cậu bé, và nồng độ arsen cao trong tóc không phải do sự đầu độc có chủ ý nào; người ta có thể phơi nhiễm liên tục với arsen từ các loại keo và chất nhuộm trong suốt cuộc đời họ == Những cải cách lớn == Napoléon đã tiến hành những cải cách lâu dài, liên quan đến giáo dục bậc cao, một đạo luật thuế, hệ thống đường sá và cống thoát nước, và thiết lập nên Ngân hàng Pháp (Banque de France — ngân hàng trung ương của Pháp). Ông thương lượng Giáo ước 1801 với Giáo hội Công giáo, tìm cách hòa giải với dân chúng hầu hết theo Công giáo với nền cai trị của ông. Nó được ban hành song song với Bộ Điều khoản Cơ bản (Les Articles Organiques), bộ luật chỉnh đốn tín ngưỡng dân chúng ở Pháp. Cùng năm đó, Bonaparte trở thành Chủ tịch Viện Hàn lâm Khoa học Pháp và bổ nhiệm Jean Baptiste Joseph Delambre làm Thư ký Thường trực. Tháng Năm 1802, ông lập nên Bắc Đẩu Bội tinh (tiếng Pháp là Légion d'honneur, nghĩa là "Binh đoàn danh dự"), một sự thay thế cho các huân chương hoàng gia và tước hiệu hiệp sĩ cũ, để khuyến khích các thành tích quân sự lẫn dân sự; huân chương này hiện vẫn là phần thưởng danh dự cao nhất ở Pháp ngày nay. Quyền lực ông được tăng cường nhờ Hiến pháp Năm X do ông chỉ đạo biên soạn: "Điều 1. Nhân dân Pháp chỉ đinh, và Thượng viện tấn phong Napoléon-Bonaparte là Tổng tài Thứ nhất suốt đời. Chính sau văn bản này mà ông thường được gọi là Napoléon thay vì Bonaparte. Bộ luật dân sự của Napoléon, Code Civil — nay thường được biết dưới tên Bộ luật Napoléon — được chuẩn bị bởi hai viện lập pháp dưới sự giám sát của Jean Jacques Régis de Cambacérès, vị Tổng tài thứ hai. Napoléon tham gia tích cực vào các phiên họp của Hội đồng Nhà nước để sửa chữa bản thảo. Sự phát triển bộ luật là một thay đổi căn bản về bản chất của hệ thống luật dân sự với sự nhấn mạnh rõ ràng lên các luật phải được viết rõ ràng và có thể tiếp cận được. Các bộ luật khác do Napoléon ấn định nhằm hệ thống hóa luật thương mại và luật hình sự; một Hướng dẫn Luật Hình sự thiết lập lần đầu tiên một cách quy củ các quy trình tố tụng. Trong số các cải cách của Napoléon, đáng kể nhất là luật pháp và hệ thống đo lường. Về ý nghĩa các cải cách của Napoléon, xem phần Di sản. === Bộ luật Napoléon === Bộ luật Napoléon được tiếp nhận trên phần lớn châu Âu, dù chỉ trong những vùng đất ông chinh phục được, và được duy trì ngay cả sau thất bại của ông. Napoléon từng nói: "Vinh quang thực sự của tôi không phải là thắng 40 trận chiến...Waterloo sẽ xóa sạch ký ức về rất nhiều chiến thắng như vậy.... Nhưng...thứ sẽ tồn tại mãi mãi, đó là Bộ luật Dân sự của tôi". Bộ luật vẫn có tầm quan trọng ngày nay trên một phần tư hệ thống luật thế giới bao gồm ở châu Âu, châu Mỹ và châu Phi. Đánh giá tầm ảnh hưởng của nó tới Đức, Dieter Langewiesche mô tả bộ luật như một "dự án cách mạng" khuyến khích sự phát triển của một xã hội tư sản ở miền Đức bằng việc mở rộng quyền đối với tài sản tư hữu và một sự đẩy nhanh kết thúc của chế độ phong kiến. Napoléon đã tái cấu trúc thứ từng là Đế quốc La Mã Thần thánh, tạo nên từ hơn một nghìn lãnh địa lớn nhỏ, thành một Liên bang sông Rhine gồm bốn mươi bang; điều này cung cấp cơ sở cho Liên bang Đức và sự thống nhất nước Đức năm 1871. Phong trào hướng tới thống nhất dân tộc ở Ý cũng được thúc đẩy một cách tương tự bởi sự cầm quyền của Napoléon. Những sự thay đổi này góp phần vào sự phát triển nói chung của chủ nghĩa dân tộc và quốc gia dân tộc. === Hệ thống đo lường === Việc ban hành chính thức hệ thống đo lường vào tháng Chín 1799 không được biết đến nhiều trong nhiều tầng lớp xã hội Pháp, và nền cai trị của Napoléon đã khuyến khích mạnh mẽ sự tiếp nhận những tiêu chuẩn mới không chỉ trên nước Pháp mà cả những lãnh thổ trong phạm vi ảnh hưởng của Pháp. Napoléon rốt cục lại có một bước đi thụt lùi vào 1812 khi ông thông qua đạo luật giới thiệu mesures usuelles (những đơn vị đo lường truyền thống) cho các giao dịch bán lẻ — một hệ thống đo lường tương tự những đơn vị trước Cách mạng nhưng dựa trên kilôgam và mét; chẳng hạn như "bảng hệ mét" (livre metrique) bằng 500 g thay vì 489.5 g—giá trị livre du roi (bảng nhà vua). Các đơn vị khác quay trở lại theo cách tương tự. Dù vậy điều này ít nhất đã thiết lập cơ sở để đưa ra dứt khoát hệ mét trên khắp châu Âu vào giữa thế kỉ 19. == Napoléon và tôn giáo == Lễ rửa tội của Napoléon diễn ra ở Ajaccio ngày 21 tháng Bảy 1771; ông được nuôi dưỡng trong một gia đình ngoan đạo và nhận một nền giáo dục Công giáo. Tuy nhiên, các thầy giáo của ông đã thất bại trong việc đem lại niềm tin tôn giáo cho ông khi còn nhỏ. Khi trưởng thành, Napoléon được miêu tả như một người "hữu thần với niềm tin và sự tôn kính không tự nguyện với Công giáo". Ông chưa bao giờ tin vào một vị Chúa hiện hữu; thượng đế với ông là một vị Chúa vắng mặt và xa xôi nhưng ông thừa nhận một cách thực dụng rằng những tôn giáo có tổ chức là yếu tố then chốt của trật tự xã hội và đặc biệt là Giáo hội Công giáo Rôma, mà theo ông, có "những nghi lễ tráng lệ và luân lý cao cả hơn là các đạo luật có ảnh hưởng lên trí tưởng tượng của dân chúng tốt hơn những tôn giáo khác". Napoléon có một hôn lễ dân sự với Joséphine de Beauharnais mà không cử hành nghi lễ tôn giáo nào, vào ngày 9 tháng Ba 1796. Trong chiến dịch Ai Cập, ông thể hiện nhiều sự khoan dung đối với tôn giáo hơn so với bất kì một vị tướng cách mạng nào khác, và thảo luận với các học giả Hồi giáo và cho phép các buổi lễ tôn giáo, nhưng tướng Dupuy, người tham gia chiến dịch cùng ông, về sau tiết lộ sau cái chết của Giáo hoàng Piô VI, về những lý do chính trị cho cách đối xử như vậy: "Chúng ta đang lừa gạt những người Ai Cập với mối quan tâm giả vờ của chúng ta đối với tôn giáo của họ; chẳng phải Bonaparte lẫn chúng ta tin vào tôn giáo này hơn chúng ta đã từng tin vào tôn giáo của ngài Piô quá cố". Trong hồi ký của mình, thư ký của Bonaparte là Bourienne viết về mối quan tâm tôn giáo của Bonaparte theo những lời lẽ tương tự. Chủ nghĩa cơ hội về tôn giáo của ông được tóm tắt trong câu nói nổi tiếng của chính ông: "Chính bằng việc làm cho mình thành người Cơ đốc giáo ta đã đem hòa bình cho Bretagne và Vendée. Chính bằng việc làm cho mình thành người Ý ta đã chinh phục tinh thần ở Ý. Chính bằng việc làm cho mình thành một người Hồi giáo ta đã thiết lập quyền lực ở Ai Cập. Nếu ta cai trị một quốc gia Do Thái, ta hẳn nên cho xây lại Đền Solomon". Napoléon đã tự đội vương miện cho mình làm Hoàng đế Napoléon I vào ngày 2 tháng 12 năm 1804 ở Nhà thờ Đức Bà Paris với sự ban phúc của Giáo hoàng Piô VII. Ngày 1 tháng 4 năm 1810, Napoléon kết hôn theo giáo lễ với công chúa nước Áo Marie Louise. Trong một cuộc thảo luận riêng tư với tướng Gourgaud khi đang lưu đày ở St. Helena, Napoléon bộc lộ các quan điểm duy vật về nguồn gốc con người và nghi ngờ tính thần thánh của Giê-su, khẳng định rằng thật là ngu xuẩn để tin rằng Sokrates, Platon, Muhammad và Anh giáo cần bị nguyền rủa vì không thuộc Giáo hội Công giáo Rôma. Tuy nhiên, Napoléon vẫn nhận xức dầu bởi một linh mục khi sắp từ trần. === Giáo ước === Tìm kiếm một sự hòa giải dân tộc giữa những người Cách mạng và những người Công giáo, Giáo ước 1801 được ký vào ngày 15 tháng 7 năm 1801 giữa Napoléon và Giáo hoàng Piô VII. Nó củng cố vai trò của Giáo hội Công giáo Rôma như giáo hội đa số của Pháp và mang trở lại hầu hết vị thế thế tục của nó. Trong Cách mạng Pháp, Quốc hội Pháp đã đoạt lấy các tài sản của Giáo hội và ban bố Luật Tổ chức dân sự của Tăng lữ, biến Giáo hội thành một bộ phận của Nhà nước, tách nó khỏi quyền lực của Giáo hoàng. Điều này gây nên sự thù địch của những người vùng Vendée đối với sự thay đổi trong mối quan hệ giữa Giáo hội Công giáo và chính phủ Pháp. Các đạo luật sau đó hủy bỏ lịch Gregorius truyền thống và các ngày lễ Công giáo. Trong khi Giáo ước phục hồi một số liên hệ với Giáo hoàng, nó chủ yếu có lợi cho chính quyền; cán cân mối quan hệ nhà nước-nhà thờ nghiêng hẳn theo hướng có lợi cho Napoléon. Giờ đây, Napoléon có thể thu được lợi ích của giới Công giáo trong nước Pháp đồng thời kiểm soát Roma về mặt chính trị. Napoléon từng nói với người em Lucien vào tháng 4 năm 1801, "Những nhà chinh phục khéo léo không bị vướng víu bởi những thầy tu. Họ có thể vừa kiềm chế chúng vừa sử dụng chúng". Như một phần của Giáo ước, ông giới thiệu một bộ luật song song mang tên Những Điều khoản Cơ bản. === Giải phóng tôn giáo === Napoléon đã giải phóng những người Do Thái, cũng như những người Tin Lành ở các quốc gia Công giáo và những người Công giáo trong các quốc gia Tin Lành, khỏi các đạo luật hạn chế họ trong các khu biệt lập, và ông đã mở rộng quyền của họ đối với tài sản, tín ngưỡng và nghề nghiệp. Bất chấp phản ứng bài Do Thái đối với các chính sách của Napoléon từ các chính phủ nước ngoài và một bộ phận dư luận bên trong nước Pháp, ông tin rằng sự giải phóng đó sẽ làm lợi cho Pháp nhờ việc thu hút người Do Thái tới đất nước mình nơi không có những hạn chế như những nơi khác. Ông từng tuyên bố: "Tôi sẽ không bao giờ chấp nhận một đề xuất nào bắt buộc dân tộc Do Thái phải rời Pháp, bởi đối với tôi người Do Thái giống như bất kì công dân nào khác trên đất nước chúng ta. Đẩy người Do Thái khỏi đất nước sẽ làm suy yếu, nhưng đồng hóa họ sẽ làm tăng thêm sức mạnh cho đất nước". Ông được người Do Thái mến mộ tới mức Giáo hội Chính thống Nga kết tội ông là "kẻ chống lại Giê-su và kẻ thù của Chúa Trời". == Hình ảnh trong văn hóa == Napoléon đã trở thành một biểu tượng văn hóa thế giới, hiện thân của thiên tài quân sự và quyền lực chính trị. Sử gia Martin van Creveld mô tả ông như "con người tài ba nhất từng sống". Kể từ khi ông qua đời, rất nhiều thành thị, con đường, tàu và cả các nhân vật hoạt hình được đặt theo tên ông. Ông được minh họa trong hàng trăm bộ phim và được thảo luận trong hàng nghìn cuốn sách và bài báo. Trong thời kì Chiến tranh Napoléon ông bị báo chí Anh quốc xem như một bạo chúa nguy hiểm, rình rập xâm lược. Một khúc hát cho trẻ em cảnh báo trẻ nhỏ rằng Bonaparte ăn ngấu nghiến những đứa trẻ hư; một "ông ba bị". Báo chí phái Bảo thủ Anh đôi khi mô tả Napoléon lùn hơn nhiều chiều cao trung bình của con người, và hình ảnh này kéo dài dai dẳng. Sự ngộ nhận về chiều cao của ông cũng là kết quả của sự khác biệt giữa các đơn vị đo là pouce của Pháp (2.71 cm) và inch của Anh (2.54 cm); ông cao khoảng 1,7 mét, chiều cao trung bình thời bấy giờ. Napoléon thường được bao quanh bởi các cận vệ cao lớn và biệt hiệu le petit caporal (hạ sĩ bé) là một tiếng thân mật thể hiện sự thân thiết được ghi nhận giữa ông với những người lính hơn là chiều cao của ông. Năm 1908, nhà phân tâm học Alfred Adler lấy Napoléon để mô tả một phức cảm thấp kém (inferiority complex) trong đó những người lùn có cư xử hiếu chiến để bù đắp cho sự thiếu chiều cao; điều này gợi cảm hứng cho thuật ngữ Phức cảm Napoléon. Nhân vật hình mẫu về Napoléon là một "bạo chúa bé nhỏ" lùn một cách tức cười và điều này đã trở thành một sáo ngữ (cliché) trong văn hóa đại chúng. Ông thường được minh họa mang một mũ nồi rộng với cử chỉ tay đưa lên áo gi-lê — liên hệ với bức tranh năm 1812 của Jacques-Louis David. == Di sản == === Quân sự === Trong lĩnh vực tổ chức quân đội, Napoléon đã vay mượn nhiều từ các nhà lý thuyết trước đó như Jacques Hippolyte, và từ các cuộc cải cách của những chính phủ Pháp tiền nhiệm, đồng thời phát triển nhiều thứ đã có sẵn. Ông tiếp tục chính sách, ra đời từ thời Cách mạng, về thăng chức dựa trên công trạng. Quân đoàn thay thế sư đoàn làm đơn vị quân đội lớn nhất, và pháo tự hành được tích hợp vào các khẩu đội dự bị, hệ thống nhân sự trở nên linh hoạt hơn và kỵ binh trở lại làm một đội hình quan trọng trong lý thuyết quân sự Pháp. Các phương pháp này ngày nay được xem là các đặc điểm chủ yếu của học thuyết quân sự Napoléon. Mặc dù ông đã củng cố việc thực hành chế độ tòng quân cưỡng bức hiện đại được đưa ra bởi Hội đồng Đốc chính, một trong các chiếu chỉ đầu tiên của nhà Bourbon phục hưng là chấm dứt nó. Các đối thủ của Napoléon học tập từ các cách tân của ông. Tầm quan trọng được tăng cường của hỏa lực pháo sau 1807 bắt nguồn từ việc ông tạo nên một lực lượng pháo có tính cơ động cao, tăng cường số lượng pháo và thay đổi trong cách vận dụng chúng. Kết quả của những yếu tố này là Napoléon, thay vì dựa vào bộ binh làm xói mòn sức phòng thủ của kẻ địch, giờ có thể sử dụng hỏa lực tập trung như một mũi nhọn để khoét một lỗ thủng trong phòng tuyến của kẻ địch và sau đó khai thác lỗ thủng đó bằng bộ binh và kỵ binh hỗ trợ. McConachy bác bỏ lập luận cho rằng sự phụ thuộc tăng lên vào pháo binh bởi quân đội Pháp bắt đầu từ 1807 là một sản phẩm tự nhiên của chất lượng suy giảm của bộ binh Pháp và sau này là sự yếu thế của Pháp về số lượng kỵ binh. Vũ khí và các loại kĩ thuật quân sự khác nhìn chung không đổi trong kỷ nguyên Cách mạng và thời Napoléon, nhưng sự vận động tác chiến của thế kỉ 18 đã chứng kiến những thay đổi đáng kể. Ảnh hưởng lớn nhất của Napoléon là trong cách ông chỉ đạo chiến tranh. Antoine-Henri Jomini đã giải thích các phương pháp của Napoléon trong một cuốn sách giáo khoa được sử dụng rộng rãi đã ảnh hướng tới tất cả các quân đội châu Âu và Mỹ. Napoléon được nhà lý thuyết quân sự đầy ảnh hưởng Carl von Clausewitz xem như một thiên tài trong nghệ thuật tiến hành chiến tranh, và các nhà sử học xếp ông vào một trong những chỉ huy quân sự vĩ đại nhất. Wellington, khi được hỏi ai là vị tướng vĩ đại nhất thời đó, đã trả lời: "Trong thời đại này, trong những thời đại đã qua, [cũng như] trong bất kỳ thời đại nào, [đó là] Napoléon". Dưới thời Napoléon, đã xuất hiện một sự nhấn mạnh mới vào sự hủy diệt, chứ không phải ưu thế chiến thuật, đối với kẻ thù. Các cuộc xâm lược và lãnh thổ địch xảy ra trên những mặt trận rộng lớn hơn, thứ làm cho các cuộc chiến tranh hao tiền tốn của hơn và có tính dứt điểm hơn. Hệ quả chính trị của chiến tranh tăng lên rõ rệt; sự thất trận đối với một cường quốc châu Âu đáng kể hơn nhiều việc mất các nước vùng đệm cô lập. Những nền hòa bình tựa Hòa bình Carthago (nền hòa bình khắc nghiệt với phe bại trận) bện chặt với toàn thể các nỗ lực dân tộc, làm khuếch trương hiện tượng Cách mạng của chiến tranh tổng lực. === Chủ nghĩa Bonaparte === Trong lịch sử chính trị Pháp, chủ nghĩa Bonaparte (Bonapartisme) có hai ý nghĩa. Thuật ngữ này có thể chỉ những người muốn khôi phục Đế chế Pháp dưới sự cai trị của Nhà Bonaparte bao gồm gia tộc của Napoléon ở Corse và cháu ông Louis. Tâm lý luyến tiếc thời đại Napoléon trong dân chúng đã giúp Louis trở thành Tổng thống Pháp đầu tiên rồi thành Napoléon III, Hoàng đế của Đệ nhị Đế chế Pháp. Theo một nghĩa rộng hơn, chủ nghĩa Bonaparte liên hệ với một phong trào chính trị trung hữu hoặc ôn hòa rộng rãi có chủ trương chính là ủng hộ một nhà nước mạnh, tập quyền dựa trên chủ nghĩa dân túy. === Chỉ trích === Napoléon đã chấm dứt thời kì vô luật pháp và hỗn loạn hậu Cách mạng Pháp. Tuy nhiên, ông bị các đối thủ xem là một tên bạo chúa, một kẻ cướp ngôi. Những người chỉ trích ông cáo buộc rằng ông không hề băn khoăn lắm khi đối mặt với viễn cảnh chiến tranh và cái chết của hàng ngàn người, biến việc tìm kiếm một nền thống trị đồng thuận sang một chuỗi những xung đột trên khắp châu Âu và phớt lờ các hòa ước và hiệp định. Vai trò của ông trong Cách mạng Haiti và quyết định phục hồi chế độ nô lệ ở các thuộc địa hải ngoại của Pháp gây nên tranh cãi và làm ảnh hưởng tới hình ảnh của ông. Napoléon đã thể chế hóa sự cướp bóc ở các lãnh thổ chinh phục được: các bảo tàng Pháp chứa đựng những tác phẩm nghệ thuật vơ vét bởi quân đội của ông trên khắp châu Âu. Các vật tạo tác được đem tới Bảo tàng Louvre để tạo nên một bảo tàng trung ương vĩ đại; ví dụ của ông về sau thành nguồn cảm hứng cho những kẻ bắt chước khét tiếng hơn. Ông bị đem so sánh với Adolf Hitler, nổi tiếng nhất bởi nhà sử học Pieter Grey năm 1947. Tuy nhiên David G. Chandler, chuyên gia về lịch sử Napoléon chỉ trích so sánh trên: "Không gì có thể hạ cấp người trước [Napoléon] và làm tăng giá trị cho kẻ sau [Hitler] hơn" . Những người chỉ trích cũng lập luận rằng di sản thực sự của Napoléon phải phản ánh sự mất mát vị thế của nước Pháp và những cái chết vô ích do nền cai trị của ông đem lại: sử gia Victor Davis Hanson viết, "Xét cho cùng, kỷ lục quân sự là không phải tranh cãi - 17 năm chiến tranh, chừng sáu triệu người chết, nước Pháp khánh kiệt, các thuộc địa hải ngoại bị mất". McLynn lưu ý với độc giả rằng, "Ông có thể xem như người đã kéo chậm đời sống kinh tế châu Âu cả một thế hệ bởi những biến động do những cuộc chiến tranh của ông. Tuy nhiên, Vincent Cronin đáp lại rằng những chỉ trích như vậy dựa vào một tiền đề không đầy đủ rằng Napoléon chịu hoàn toàn trách nhiệm cho những cuộc chiến mang tên ông, trong khi thực tế nước Pháp là nạn nhân của một loạt những mối liên minh nhằm hủy diệt những lý tưởng của Đại Cách mạng Pháp. Mặt khác, một cuộc thăm dò ý kiến xuất bản trên báo Le Figaro năm 2005 cho thấy gần 40% người Pháp coi ông là "một tay độc tài đã dùng mọi cách để thỏa mãn sự thèm khát quyền lực của mình". === Tuyên truyền và tưởng niệm === Khả năng vận dụng tuyên truyền bậc thầy của Napoléon đóng góp nhiều vào sự nổi lên nắm quyền của ông, hợp thức hóa nền cai trị của ông, và thiết lập hình ảnh ông cho hậu thế. Chính sách kiểm duyệt nghiêm ngặt, kiểm soát sự thể hiện của sách, báo, sân khấu, mỹ thuật, chỉ là một phần trong kế hoạch tuyên truyền của ông, nhằm vào việc mô tả ông như liều mình mang lại một nền hòa bình và ổn định mà nhân dân Pháp mong mỏi. Thuật hùng biện thay đổi theo những sự kiện chính trị và theo không khí uy quyền của Napoléon, tập trung trước hết vào vai trò của ông như một vị tướng lĩnh quân đội và sự đặc tả như một người lính, rồi chuyển sang vai trò của ông như một hoàng đế và lãnh tụ dân sự. Vì đặc biệt nhắm vào công chúng bình dân, Napoléon đã nuôi dưỡng một mối quan hệ quan trọng, nhưng không dễ dàng, với giới nghệ thuật đương thời, nắm vai trò tích cực trong việc đặt hàng và kiểm soát các sản phẩm nghệ thuật nhiều hình thức khác nhau để đảm bảo mục đích tuyên truyền của mình. Học giả Hazareesingh năm 2004 đã xem xét hình ảnh và sự tưởng niệm Napoléon trong ngữ cảnh chính trị-xã hội của nó. Theo đó, nó đóng một vai trò quan trọng trong những thách thức chính trị tập thể đối với nền quân chủ Bourbon những năm 1815-1830. Người dân ở mọi tầng lớp và mọi khu vực trên nước Pháp, đặc biệt là các cựu binh thời kì Napoléon, gợi đến di sản của Napoléon và những mối liên hệ của nó đối với những lý tưởng của cuộc cách mạng 1789. Những tin đồn lan nhanh về sự quay về của Napoléon từ đảo St. Helena và Napoléon như một cảm hứng cho chủ nghĩa ái quốc, sự tự do tập thể lẫn cá nhân, cùng với sự vận động chính trị đã tự thể hiện trong những chất liệu có tính nổi loạn, đáng chú ý là sự thể hiện các họa tiết ba màu (cách mạng) và hoa hồng (nhà Bonaparte), và những hoạt động tổ chức những ngày kỷ niệm cuộc đời và Triều đại Napoléon trong khi phá hoại những ngày lễ hoàng gia, và chứng tỏ mục tiêu thành công và thịnh hành của những người ủng hộ Napoléon các loại nhằm liên tục làm mất ổn định nền cai trị của nhà Bourbon. Datta (2005) chỉ ra rằng sau sự sụp đổ của chủ nghĩa quân phiệt Boulanger vào cuối những năm 1880, huyền thoại Napoléon đã tách li khỏi chính trị đảng phái và hồi sinh trong văn hóa đại chúng. Tập trung phân tích một số tác phẩm văn học thời Belle Époque, Datta xem xét cách các tác giả và nhà phê bình thời kì này khai thác huyền thoại Napoléon cho những mục đích chính trị và văn hóa đa dạng. Quy giảm về một nhân vật phụ, hình ảnh hư cấu mới về Napoléon không còn là một nhân vật lịch sử thế giới mà là một nhân vật gần gũi hơn, phỏng theo những nhu cầu của mỗi cá nhân và được tiếp nhận như sự giải trí đại chúng. Trong nỗ lực của các tác giả để thể hiện vị hoàng đế như một biểu tượng của sự thống nhất quốc gia, những người đề xướng lẫn đả kích Đệ tam Cộng hòa sử dụng huyền thoại này như một phương tiện để thăm dò những nỗi lo về giới và những nỗi sợ về quá trình dân chủ hóa đi kèm với kỉ nguyên của văn hóa và chính trị quần chúng. Các Hội nghị Napoléon Quốc tế được tổ chức thường xuyên và có sự tham gia của các thành viên của giới quân sự Pháp và Mỹ, các chính trị gia Pháp và các học giả đến từ nhiều quốc gia khác nhau. Được dự tính hoàn thành vào năm 2014, Công viên giải trí Napoleonland ở gần Montereau-Fault-Yonne trên vị trí diễn ra chiến thắng của Napoléon trong trận Montereau sẽ có nội dung hoạt động liên quan đến cuộc đời ông. === Di sản ngoài nước Pháp === Napoléon chịu trách nhiệm cho việc lật đổ nhiều Chế độ cũ (Ancien Régime) — những nền quân chủ điển hình ở châu Âu và lan truyền các giá trị chính thống của Cách mạng Pháp tới các quốc gia khác. Đặc biệt, chủ nghĩa dân tộc Pháp của Napoléon đã có ảnh hưởng lên sự phát triển của chủ nghĩa dân tộc ở những miền khác — thường là một cách không chủ ý. Một ví dụ là chủ nghĩa dân tộc Đức của Fichte đã thách thức sự chinh phục nước Đức của Napoléon. Napoléon cũng là tác giả tạo ra cơ sở cờ tam sắc xanh-trắng-đỏ của nước Ý trong thời kì ông cai trị đất nước này. Đạo luật Napoléon là sự hệ thống hóa luật pháp bao gồm luật dân sự, luật gia đình và luật hình sự mà ông áp đặt lên các lãnh thổ bị chinh phục. Sau sự sụp đổ của Napoléon, bộ luật này không những vẫn tồn tại ở nhiều quốc gia bao gồm Hà Lan, Bỉ, một phần của Ý và Đức, mà còn được dùng làm cơ sở cho nhiều phần của những bộ luật ngoài châu Âu bao gồm Cộng hòa Dominica, bang Lousiana của Hoa Kỳ và tỉnh Quebec của Canada. Ở Ba Lan hồi ức về Napoléon rất mạnh mẽ, do sự ủng hộ của ông với nền tự chủ và đối lập lại Nga, đạo luật của ông, sự kết thúc chế độ nông nô, và việc hình thành bộ máy quan liêu trung lưu hiện đại. Một số nhà lãnh đạo chịu ảnh hưởng bởi Napoléon. Muhammad Ali của Ai Cập tìm kiếm liên minh với nước Pháp của Napoléon và tìm cách hiện đại hóa Ai Cập theo các cách thức của chính quyền Pháp. Vào thế kỉ 20, Adolf Hitler từng bày tỏ sự tôn kính Napoléon bằng cách viếng mộ 3 ngày sau khi Đức chiếm được Pháp (1940) trong Chiến tranh thế giới thứ hai. Hitler được cho là đã nói rằng đây là "một trong những khoảnh khắc lớn nhất trong đời tôi". Hôm sau, Hitler lại thăm mộ Napoléon trong chuyến tham quan Paris, và trong suốt chiến tranh, vị lãnh tụ Đức Quốc xã đã đặt các túi cát quanh mộ Napoléon để tránh sự hư hại do bom đạn gây ra. == Hôn nhân và con cái == Napoléon kết hôn với Joséphine de Beauharnais năm 1796, khi ông 26 tuổi; còn bà là một góa phụ 32 tuổi mà người chồng trước bị xử tử trong Cách mạng. Khi bà gặp Bonaparte, bà được biết đến với tên "Rose", một cái tên mà ông không ưa. Ông gọi bà là "Joséphine", và từ đó bà mang tên này. Bonaparte thường gửi các bức thư tình trong các chiến dịch của mình. Ông chính thức thừa nhận con trai riêng của bà Eugène và em họ Stéphanie và sắp xếp các hôn lễ hoàng gia cho họ. Joséphine có một con gái riêng là Hortense, cưới em trai Bonaparte là Louis. Joséphine có nhiều nhân tình, bao gồm một trung úy người Hungary, Hippolyte Charles, trong chiến dịch Ý của Napoléon. Napoléon biết được đầy đủ mức độ mối quan hệ của bà với Charles khi ở Ai Cập, và một bức thư ông viết cho anh trai nói về chủ đề này bị người Anh chặn được. Lá thư xuất hiện trên các báo chí ở London và Paris, gây cho Napoléon nỗi xấu hổ to lớn. Napoléon cũng có những mối quan hệ của riêng mình: trong chiến dịch Ai Cập ông đã chiếm Pauline Bellisle Foures, vợ của một sĩ quan cấp thấp, làm nhân tình của mình. Trong khi các nhân tình của ông có những đứa con bởi ông, Joséphine không sinh được một người thừa kế, có thể vì hoặc những ám ảnh về sự bắt giam trong Thời kỳ Khủng bố hoặc lần bà từng phá thai ở tuổi 20. Napoléon sau cùng chọn lựa li dị để ông có thể tái hôn để tìm người thừa kế. Tháng Ba 1810, ông cưới Marie Louise, nữ Đại Công tước Áo, và cháu của Marie Antoinette thông qua một đám cưới vắng mặt; do đó ông đã kết hôn với một gia đình đế vương Đức. Họ duy trì hôn nhân cho tới khi ông mất, mặc dù bà không đi đày cùng ông ở Elba và do đó không nhìn thấy chồng lần nữa. Họ có một đứa con, Napoléon Francis Joseph Charles (1811–1832), từ lúc sinh ra đã được phong Vua của người La Mã. Đứa trẻ về sau trở thành Napoléon II năm 1814 và tại vị chỉ hai tuần. Ông hoàng được ban danh hiệu Công tước Reichstadt năm 1818 và chết do bệnh lao ở tuổi 21, mà không có con cái. Napoléon cũng công nhận hai đứa con ngoài giá thú khác: Charles Léon (1806–1881) sinh bởi Eléonore Denuelle de La Plaigne và Bá tước Alexandre Joseph Colonna-Walewski (1810–1868) bởi Nữ bá tước Marie Walewska. Ông có thể có bốn đứa trẻ ngoài giá thú không được thừa nhận nữa, như Karl Eugin von Mühlfeld bởi Victoria Kraus; Hélène Napoleone Bonaparte (1816–1910) bởi Albine de Montholon; và Jules Barthélemy-Saint-Hilaire, người mà mẹ hiện còn chưa rõ. == Tước hiệu và huy hiệu == == Phả hệ tổ tiên == == Chú thích == == Trích dẫn == == Tham khảo == == Liên kết ngoài == The Napoleonic Guide Napoleon Series International Napoleonic Society Memoirs of Napoleon tại Dự án Gutenberg John Holland Rose The Life of Napoleon I tại Dự án Gutenberg John Gibson Lockhart The History of Napoleon Buonaparte tại Dự án Gutenberg William Milligan Sloane The Life of Napoleon I. tại Dự án Gutenberg Vol. 1/4 William Milligan Sloane The Life of Napoleon I. tại Dự án Gutenberg Vol. 3/4
washington, d.c..txt
Washington, D.C. là thủ đô của Hoa Kỳ, được thành lập vào ngày 16 tháng 7 năm 1790. Địa danh này được vinh dự mang tên vị Tổng thống đầu tiên George Washington của Hợp chúng quốc, kết hợp với tên của người khám phá ra châu Mỹ Christopher Columbus thành tên chính thức Washington District of Columbia (viết tắt D.C.), có nghĩa Đặc khu Columbia, thành phố này còn thường được gọi là Washington the District, hoặc đơn giản hơn D.C. Trong tiếng Việt, District of Columbia cũng được dịch là Quận Columbia nhưng dễ nhầm lẫn vì có đến 8 quận tại Hoa Kỳ mang tên Columbia, đặc biệt nhất là quận Columbia, Washington, một quận nằm trong tiểu bang Washington. Về địa vị chính trị thì Washington, D.C. được xem là gần như tương đương với các tiểu bang của Hoa Kỳ. Thành phố Washington ban đầu là một đô thị tự quản riêng biệt bên trong Lãnh thổ Columbia cho đến khi một đạo luật của Quốc hội Hoa Kỳ năm 1871 có hiệu lực kết hợp thành phố và lãnh thổ này thành một thực thể duy nhất được gọi là Đặc khu Columbia. Đó là lý do tại sao thành phố này trong khi có tên gọi chính thức là Đặc khu Columbia lại được biết với tên gọi là Washington, D.C., có nghĩa là thành phố Washington, Đặc khu Columbia. Thành phố nằm bên bờ bắc sông Potomac và có ranh giới với tiểu bang Virginia ở phía tây nam và tiểu bang Maryland ở các phía còn lại. Tuy đặc khu này có dân số 672.228 người nhưng do nhiều người di chuyển ra vào từ các vùng ngoại ô lân cận nên dân số thực tế lên đến trên 1,1 triệu người trong suốt tuần làm việc. Vùng đô thị Washington, bao gồm cả thành phố, có dân số 6,1 triệu người là vùng đô thị lớn thứ 6 tại Hoa Kỳ. Điều một trong Hiến pháp Hoa Kỳ có nói đến việc lập ra một đặc khu liên bang, không phụ thuộc vào bất cứ tiểu bang nào, để phục vụ như thủ đô vĩnh viễn của quốc gia. Các trung tâm của ba ngành trong chính phủ liên bang Hoa Kỳ cùng nhiều đài tưởng niệm và bảo tàng quốc gia đều nằm trong đặc khu. Washington, D.C. là nơi tiếp nhận 173 đại sứ quán ngoại quốc cũng như các tổng hành dinh của Ngân hàng Thế giới, Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF), Tổ chức các quốc gia châu Mỹ (OAS), Ngân hàng Phát triển Liên Mỹ, và Tổ chức Y tế Liên Mỹ (PAHO). Ngoài ra còn có tổng hành dinh của các cơ quan khác như các liên đoàn lao động, các nhóm vận động hành lang, và các hội đoàn nghiệp vụ cũng đặt tại nơi đây. Quốc hội Hoa Kỳ có quyền hành tối cao đối với Washington, D.C. vì vậy cư dân của thành phố có ít quyền tự trị hơn cư dân của các tiểu bang Hoa Kỳ. Đặc khu có một đại biểu quốc hội chung nhưng không có quyền biểu quyết và cũng không có thượng nghị sĩ nào. Cư dân Đặc khu Columbia trước đây không thể tham gia bầu Tổng thống Hoa Kỳ cho đến khi Tu chính án 23 Hiến pháp Hoa Kỳ được thông qua năm 1961. Nếu Washington, D.C. là một tiểu bang thì nó sẽ đứng cuối cùng tính theo diện tích, hạng hai từ cuối nếu tính theo dân số, đứng đầu tính theo mật độ dân số, đứng thứ 35 tính theo tổng sản phẩm nội địa tiểu bang, và đứng hạng nhất về phần trăm dân số người Mỹ gốc châu Phi, khiến cho Washington, D.C. trở thành một tiểu bang có đa số dân thiểu số. == Lịch sử == Khi những người châu Âu đầu tiên đến đây vào thế kỷ 17, một sắc dân Algonquia với tên gọi Nacotchtank đã cư trú ở khu vực quanh sông Anacostia trong vùng Washington ngày nay. Tuy nhiên, phần lớn những người Mỹ bản thổ đã rời bỏ khu vực này vào đầu thế kỷ 18. Năm 1751, Georgetown được tỉnh Maryland cấp phép thành lập trên bờ bắc sông Potomac. Thị trấn này là một phần của lãnh thổ liên bang mới được thành lập gần 40 năm sau đó. Thành phố Alexandria, Virginia, thành lập năm 1749, ban đầu cũng nằm trong đặc khu. Trong bài phát biểu mang tên Federalist No. 43 vào ngày 23 tháng 1 năm 1788, James Madison, vị tổng thống tương lai, đã giải thích sự cần thiết của một đặc khu liên bang. Madison cho rằng thủ đô quốc gia cần phải là một nơi rõ ràng khác biệt, không phụ thuộc vào bất cứ tiểu bang nào để dễ quản lý và gìn giữ an ninh. Vụ tấn công chống quốc hội của một nhóm binh sĩ nổi giận tại thành phố Philadelphia, được biết với tên gọi vụ nổi loạn Pennsylvania năm 1783, đã cho chính phủ thấy cần thiết phải xem xét về vấn đề an ninh của chính mình. Vì thế, quyền thiết lập một thủ đô liên bang đã được ghi rõ trong Điều khoản một, Phần 8 của Hiến pháp Hoa Kỳ, cho phép lập một "Đặc khu (không quá mười dặm vuông) như có thể, bằng phần đất nhượng lại của các tiểu bang nào đó, và được Quốc hội nhận lấy để trở thành nơi đặt trụ sở của chính phủ Hoa Kỳ". Tuy nhiên Hiến pháp Hoa Kỳ không định rõ vị trí cho thủ đô mới. Trong một thỏa hiệp mà sau này được biết đến là "thỏa hiệp năm 1790", James Madison, Alexander Hamilton, và Thomas Jefferson đã đi đến một đồng thuận rằng chính phủ liên bang sẽ lãnh hết nợ chiến tranh mà các tiểu bang đã thiếu với điều kiện là thủ đô quốc gia mới sẽ được đặt tại miền nam Hoa Kỳ.[a] Ngày 16 tháng 7 năm 1790, Đạo luật Dinh cư (Residence Act) đã cho ra đời một thủ đô mới vĩnh viễn được đặt trên bờ sông Potomac, ngay tại khu vực mà Tổng thống George Washington đã chọn lựa.[b] Như đã được Hiến pháp Hoa Kỳ cho phép, hình dạng ban đầu của đặc khu liên bang là một hình vuông, mỗi cạnh dài 10 dặm Anh (16 km), tổng diện tích là 100 dặm vuông (260 km²). Trong suốt thời gian từ năm 1791–1792, Andrew Ellicott và một số phụ tá trong đó có Benjamin Banneker đã thị sát các ranh giới giữa đặc khu với cả Maryland và Virginia. Cứ mỗi một dặm Anh, họ đặt đá làm mốc ranh giới mà nhiều cột trong số đó vẫn còn lại cho đến ngày nay. Một "thành phố liên bang" mới sau đó được xây dựng trên bờ bắc sông Potomac, kéo dài về phía đông tại Georgetown. Ngày 9 tháng 9 năm 1791, thành phố liên bang được đặt tên để vinh danh George Washington và đặc khu được đặt tên Lãnh thổ Columbia. Columbia cũng là tên thi ca để chỉ Hoa Kỳ được dùng vào thời đó.[c] Ngày 17 tháng 11 năm 1800, Quốc hội mở phiên họp đầu tiên tại Washington. Đạo luật tổ chức Đặc khu Columbia năm 1801 (District of Columbia Organic Act of 1801) chính thức tổ chức Đặc khu Columbia và đưa toàn bộ lãnh thổ liên bang, bao gồm các thành phố Washington, Georgetown và Alexandria, dưới sự kiểm soát đặc biệt của Quốc hội Hoa Kỳ. Thêm vào đó, lãnh thổ chưa hợp nhất nằm trong Đặc khu được tổ chức thành hai quận: Quận Washington trên bờ bắc sông Potomac, và Quận Alexandria trên bờ nam. Theo đạo luật này, các công dân sống trong đặc khu không còn được xem là cư dân của Maryland hoặc Virginia, vì thế họ không có đại diện của mình tại quốc hội. Vào ngày 24–25 tháng 8 năm 1814, trong một cuộc càn quét mang tên vụ đốt phá Washington, các lực lượng Anh xâm nhập thủ đô để trả đũa vụ đốt phá thành phố York, tức Toronto ngày nay. Tòa Quốc hội Hoa Kỳ, Bộ Ngân khố Hoa Kỳ, và Tòa Bạch Ốc bị đốt cháy và phá hủy trong suốt cuộc tấn công. Phần lớn các dinh thự chính phủ được nhanh chóng sửa chữa trừ tòa nhà quốc hội. Lúc đó tòa quốc hội phần lớn còn đang xây dựng và chưa hoàn thành cho đến năm 1868. Kể từ năm 1800, cư dân của đặc khu đã liên tiếp chống đối việc họ thiếu đại diện biểu quyết tại quốc hội. Để sửa đổi, nhiều đề nghị đã được đưa ra nhằm trả lại phần đất được Maryland và Virginia nhượng lại để thành lập đặc khu. Diễn tiến này được biết đến với tên Hồi trả Đặc khu Columbia. Tuy nhiên, những nỗ lực tương tự đều thất bại trong việc giành lấy đủ sự ủng hộ cho đến thập niên 1830, khi quận miền nam là Alexandria của đặc khu lâm vào suy thoái kinh tế với sự thờ ơ của Quốc hội. Alexandria cũng là thị trường chính trong giao thương buôn bán nô lệ ở Mỹ, và có nhiều tin đồn được truyền đi khắp nơi rằng những người theo chủ nghĩa bãi nô tại quốc hội đang tìm cách chấm dứt chế độ nô lệ tại đặc khu; một hành động như vậy sẽ khiến cho nền kinh tế của Alexandria thêm suy thoái. Vào năm 1840, do không hài lòng với việc quốc hội kiểm soát Alexandria, dân chúng trong quận bắt đầu thỉnh cầu trao trả lãnh thổ miền nam của đặc khu về bang Virginia. Lập pháp tiểu bang Virginia đồng ý việc lấy lại Alexandria vào tháng 2 năm 1846, một phần vì việc trở lại của Alexandria sẽ cung cấp thêm hai đại diện ủng hộ chế độ nô lệ tại Hội đồng lập pháp Virginia. Ngày 9 tháng 7 năm 1846, quốc hội đồng ý giao trả lại tất cả lãnh thổ của đặc khu nằm ở phía nam sông Potomac về Khối thịnh vương chung Virginia. Đúng như những người Alexandria ủng hộ chế độ nô lệ lo lắng, Thỏa hiệp năm 1850 đã đưa đến việc đặt giao thương buôn bán nô lệ ngoài vòng pháp luật (mặc dù chưa bãi bỏ chính thức chế độ nô lệ) tại đặc khu. Năm 1860, khoảng 80% cư dân người Mỹ gốc châu Phi của thành phố là người da đen tự do. Việc bùng phát cuộc Nội chiến Hoa Kỳ năm 1861 đã mang đến sự phát triển dân số đáng kể trong đặc khu vì sự mở rộng hoạt động của chính phủ liên bang và một làn sóng di cư ồ ạt của những người nô lệ tự do mới đến. Năm 1862, Tổng thống Abraham Lincoln ký Đạo luật giải phóng và bồi thường nô lệ (Compensated Emancipation Act), kết thúc chế độ nô lệ tại Đặc khu Columbia và giải thoát khoảng 3.100 người đang bị cầm giữ làm nô lệ, vào 9 tháng trước khi Tuyên ngôn giải phóng nô lệ (Emancipation Proclamation) ban bố. Năm 1870, dân số của đặc khu phát triển lên đến gần 132.000 người. Mặc dù thành phố phát triển nhưng Washington vẫn còn các con đường đất và thiếu nền tảng vệ sinh căn bản. Tình hình tồi tệ đến nỗi một số thành viên quốc hội đã đề nghị di chuyển thủ đô đến một nơi khác. Bằng một đạo luật tổ chức đặc khu năm 1871, quốc hội đã thiết lập ra một chính quyền mới cho toàn bộ lãnh thổ liên bang. Đạo luật này có hiệu lực kết hợp các thành phố Washington, Georgetown, và Quận Washington thành một đô thị tự quản duy nhất có tên là Đặc khu Columbia. Mặc dù thành phố Washington chính thức kết thúc sau năm 1871 nhưng cái tên của nó vẫn tiếp tục được sử dụng và toàn bộ thành phố bắt đầu được biết đến rộng rãi là Washington, D.C.. Trong cùng đạo luật đó, quốc hội cũng bổ nhiệm một ban công chánh lo về việc hiện đại hóa thành phố. Năm 1873, Tổng thống Grant bổ nhiệm thành viên có ảnh hưởng nhất trong ban là Alexander Shepherd vào vị trí thống đốc mới. Năm đó, Shepherd chi ra 20 triệu đô la (tương đương 357 triệu đô la năm 2007) vào công chánh, để hiện đại hóa Washington nhưng cũng làm cho thành phố bị khánh kiệt. Năm 1874, quốc hội bãi bỏ văn phòng của Shepherd để trực tiếp quản lý. Các dự án khác nhằm thay hình đổi dạng thành phố cũng không được thực hiện cho đến khi có Kế hoạch McMillan năm 1901. Dân số đặc khu tương đối vẫn không mấy thay đổi cho đến thời Đại khủng hoảng trong thập niên 1930, khi chương trình cải tổ kinh tế mới gọi là New Deal của Tổng thống Franklin D. Roosevelt đã mở rộng bộ máy chính quyền tại Washington. Chiến tranh thế giới thứ hai làm gia tăng thêm hoạt động của chính phủ và kết quả là tăng thêm số nhân viên liên bang làm việc tại thủ đô; Vào năm 1950, dân số của đặc khu lên đến đỉnh điểm là 802.178 người. Tu chính án 23 Hiến pháp Hoa Kỳ được chấp thuận vào năm 1961, cho phép đặc khu ba phiếu bầu trong đại cử tri đoàn. Sau vụ ám sát nhà lãnh đạo tranh đấu cho nhân quyền, tiến sĩ Martin Luther King, Jr. ngày 4 tháng 4 năm 1968, các vụ bạo loạn bùng phát tại đặc khu, chủ yếu ở các hành lang ở Đường U, Đường số 14, Đường số 7, và Đường H. Đây là những khu trung tâm thương mại và khu vực cư ngụ của người da đen. Các vụ bạo động kéo dài khoảng ba ngày cho đến khi trên 13.000 binh sĩ liên bang và binh sĩ thuộc vệ binh quốc gia của Đặc khu Columbia được phái đến dẹp loạn. Nhiều cửa tiệm và tòa nhà khác bị thiêu cháy; đa số vẫn còn bị để hoang tàn và không được tái thiết cho đến cuối thập niên 1990. Năm 1973, quốc hội ban hành Đạo luật Nội trị Đặc khu Columbia (District of Columbia Home Rule Act), cho phép đặc khu được bầu lên một thị trưởng dân cử và một hội đồng thành phố. Năm 1975, Walter Washington trở thành thị trưởng dân cử đầu tiên và cũng là thị trưởng da đen đầu tiên của đặc khu. Tuy nhiên, trong suốt thời kỳ từ cuối thập niên 1980 và cả thập niên 1990, các chính quyền của thành phố bị chỉ trích vì sai phạm quản lý và hoang phí. Năm 1995, quốc hội thành lập Ban Giám sát Tài chính Đặc khu Columbia (District of Columbia Financial Control Board) để trông coi tất cả việc chi tiêu của và cải tổ chính quyền thành phố. Đặc khu lấy lại quyền kiểm soát tài chính của mình vào tháng 9 năm 2001 và các hoạt động của Ban giám sát bị đình chỉ. Ngày 11 tháng 9 năm 2001, một nhóm khủng bố cướp chuyến bay 77 của American Airlines và đâm thẳng chiếc máy bay vào Ngũ Giác Đài nằm ở thành phố Arlington, Virginia lân cận. Chuyến bay 93 của United Airlines, theo lộ trình đến Washington, D.C., rơi xuống Pennsylvania do nỗ lực ngăn chặn của hành khách. == Địa lý == Đặc khu Columbia có tổng diện tích là 68,3 dặm vuông (177 km²), trong đó diện tích mặt đất chiếm 61,4 dặm vuông (169 km²) và phần còn lại, 6,9 dặm vuông (18 km²) hay 10,16% là mặt nước. Do phần phía nam lãnh thổ đã được trao trả lại cho Thịnh vượng chung Virginia vào năm 1846, Washington, D.C. ngày nay không còn diện tích 100 dặm vuông (260 km²) như ban đầu. Vùng đất còn lại hiện tại của đặc khu chỉ là khu vực được tiểu bang Maryland nhượng lại. Vì thế Washington bị bao quanh bởi các tiểu bang Maryland ở phía đông nam, đông bắc, tây bắc và Virginia ở phía tây nam. Washington, D.C. có ba dòng chảy thiên nhiên chính là: sông Potomac, sông Anacostia, và lạch Rock. Sông Anacostia và lạch Rock là các nhánh của sông Potomac. Lạch Tiber, một dòng chảy trước kia đi ngang qua Khu dạo chơi Quốc gia (National Mall), đã hoàn toàn bị san lấp trong thập niên 1870. Washington không được xây trên những vùng đất lấn đầm lầy. Trong lúc vùng đất ngập nước bao phủ những khu vực dọc theo hai con sông và các suối thiên nhiên khác, phần lớn lãnh thổ của đặc khu bao gồm đất nông nghiệp và những ngọn đồi có cây. Địa điểm tự nhiên cao nhất của Đặc khu Columbia nằm tại Tenleytown, cao 409 ft (125 mét) so với mực nước biển. Điểm thấp nhất là mặt biển tại sông Potomac. Trung tâm địa lý của Washington nằm gần ngã tư Đường số 4 và Đường L Tây-Bắc (tên đường phố ở Hoa Kỳ thường gồm có tên khu định hướng như Đông Nam, Tây Nam, Đông Bắc, Tây Bắc). Khoảng 19,4% diện tích Washington, D.C. được dành cho công viên, đồng hạng với New York về tỉ lệ đất công viên cao nhất trong số các thành phố Hoa Kỳ có mật độ dân cư cao. Cục Công viên Quốc gia Hoa Kỳ quản lý phần lớn những môi trường sống thiên nhiên tại Washington, D.C., gồm có Công viên Rock Creek, Công viên Lịch sử Quốc gia Kênh Chesapeake và Ohio, Khu dạo chơi Quốc gia, Đảo Theodore Roosevelt, và Công viên Anacostia. Khu vực môi trường sống thiên nhiên nổi bật duy nhất không do Cục Công viên Quốc gia Hoa Kỳ quản lý là Vườn Thực vật Quốc gia Hoa Kỳ (United States National Arboretum), do Bộ Nông nghiệp Hoa Kỳ điều hành. Thác Lớn của sông Potomac nằm trên phía thượng nguồn (tức phía tây bắc) Washington. Trong thế kỷ 19, Kênh Chesapeake và Ohio bắt đầu từ Georgetown được dùng để cho phép các xà lan đi qua con thác. === Khí hậu === Washington có khí hậu nửa nhiệt đới, ẩm ướt (Phân loại khí hậu Köppen: Cfa), đây là khí hậu đặc trưng của khu vực các tiểu bang giữa duyên hải Đại Tây Dương (Mid-Atlantic states), có bốn mùa rõ rệt. Đặc khu nằm trong vùng chịu đựng nhiệt độ (Hardiness zone) cấp 8a gần trung tâm thành phố, và vùng chịu đựng nhiệt độ cấp 7b ở những nơi khác trong thành phố. Điều này chứng tỏ Washington, D.C. có một khí hậu ôn hòa. Mùa xuân và mùa thu khí hậu dịu, ít ẩm ướt trong khi mùa đông mang đến nhiệt độ khá lạnh và lượng tuyết rơi trung bình hàng năm là 16,6 in (420 mm). Nhiệt độ thấp trung bình vào mùa đông là quanh 30 °F (-1 °C) từ giữa tháng 12 đến giữa tháng 2. Những cơn bão tuyết gây ảnh hưởng cho Washington trung bình xảy ra cứ mỗi bốn đến sáu năm một lần. Những cơn bão mạnh nhất được gọi là "nor'easter" (bão đông bắc) thường có đặc điểm là gió mạnh, mưa nhiều và đôi khi có tuyết. Những cơn bão này thường ảnh hưởng đến phần lớn vùng ven biển Đông Hoa Kỳ. Mùa hè có chiều hướng nóng và ẩm, nhiệt độ trung bình hàng ngày trong tháng 7 và tháng 8 vào khoảng 80-89 °F (khoảng 26,7-31,7 °C). Sự kết hợp giữa nóng và ẩm trong mùa hè mang đến những cơn bão kèm sấm chớp rất thường xuyên. Một số cơn bão lớn đôi khi tạo ra lốc xoáy trong khu vực. Trong khi đó các cơn bão nhiệt đới (hurricane), hay tàn dư của nó, đôi khi hoành hành trong khu vực vào cuối hè và đầu thu. Thường thì chúng bị yếu dần khi đến Washington, một phần vì vị trí của thành phố nằm bên trong đất liền. Tuy nhiên lụt lội trên sông Potomac do sự kết hợp của thủy triều cao, sóng biển dâng lên cao lúc có bão được biết đến là đã nhiều lần gây thiệt hại tài sản nặng nề tại Georgetown. Nhiệt độ cao nhất kỷ lục tại Washington, D.C. là 106 °F (41 °C) được ghi nhận vào ngày 20 tháng 7 năm 1930 và ngày 6 tháng 8 năm 1918, trong khi nhiệt độ thấp nhất kỷ lục là −15 °F (−26.1 °C) được ghi nhận vào trong trận bão tuyết ngày 11 tháng 2 năm 1899. Trung bình, mỗi năm thành phố có 36,7 ngày nóng trên 90 °F (32 °C), và 64,4 đêm dưới độ đóng băng. == Cảnh quan thành phố == Washington, D.C. là một thành phố được quy hoạch ngay từ khi khởi thủy. Thiết kế cho thành phố phần lớn là công trình của Pierre Charles L’Enfant, một kỹ sư, kiến trúc sư và nhà quy hoạch đô thị người Pháp. Pierre Charles L’Enfant đến Vùng các thuộc địa Mỹ trong vai trò của một kỹ sư công binh cùng với Hầu tước Lafayette vào thời Cách mạng Hoa Kỳ. Năm 1791, Tổng thống Washington giao L'Enfant nhiệm vụ thiết kế thành phố thủ đô mới. Bản quy hoạch của L'Enfant dựa trên mẫu kiểu Baroque, theo đó các đường phố rộng hội tụ tại các điểm hình chữ nhật và hình tròn, tạo nên cảnh quan với nhiều khoảng không gian trống. Vào tháng 3 năm 1792, Tổng thống Washington bãi nhiệm L'Enfant vì ông nhất định theo dõi sát việc điều hành quy hoạch thành phố, gây ra xung đột với ba ủy viên do Washington bổ nhiệm giám sát xây dựng thủ đô. Andrew Ellicott, người từng làm việc với L'Enfant thị sát thành phố, được giao nhiệm vụ để hoàn thành các dự án sau đó. Tuy Ellicott có chỉnh sửa các bản quy hoạch gốc, trong đó bao gồm việc sửa đổi một số hình thể đường phố, nhưng L'Enfant vẫn được ghi nhận là người đã thiết kế tổng thể thành phố Washington, D. C. Ngày nay, thành phố Washington được giới hạn bởi Đường Florida ở phía bắc, lạch Rock ở phía tây, và sông Anacostia ở phía đông. Sang đầu thế kỷ 20, viễn cảnh của L'Enfant về một thủ đô có những công viên mở và đài tưởng niệm quốc gia lớn đã bị những căn nhà ổ chuột và các tòa nhà mọc ngang nhiên làm hoen ố, trong đó có trạm xe lửa trên National Mall (Khu dạo chơi Quốc gia). Năm 1900, quốc hội thành lập một ủy ban hỗn hợp dưới sự lãnh đạo của thượng nghị sĩ James McMillan, có trách nhiệm làm đẹp phần trung tâm nghi lễ của thành phố Washington. Dự án mang tên McMillan được hoàn thành vào năm 1901. Dự án đã tái phối trí quang cảnh khu vực đồi Capitol và Nation Mall, xây dựng các tòa nhà liên bang và đài tưởng niệm, san bằng các nhà ổ chuột, cũng như thiết lập một hệ thống công viên thành phố mới. Các kiến trúc sư do ủy ban tuyển mộ đã giữ mô hình gốc của thành phố và công việc của họ được xem như sự hoàn thành chính của bản đồ án mà L'Enfant dự định. Sau khi Tòa nhà Chung cư Cairo 12 tầng được xây dựng vào năm 1899, quốc hội thông qua Đạo luật về chiều cao của nhà cao tầng vào năm 1910 (Heights of Buildings Act of 1910) trong đó tuyên bố không có tòa nhà nào được phép xây cao hơn Tòa Quốc hội Hoa Kỳ. Đạo luật này được sửa đổi lại vào năm 1910 nhằm hạn chế chiều cao của nhà cao tầng bằng với độ rộng của đường phố gần bên cạnh cộng thêm 20 ft (6,1 mét). Ngày nay, đường chân trời của thành phố vẫn thấp và trải dài, giữ đúng ước nguyện của Thomas Jefferson: muốn biến Washington thành một "Paris của nước Mỹ" với các tòa nhà "thấp và tiện lợi" bên trên những đường phố "sáng sủa và thoáng khí". Kết quả là tượng đài Washington vẫn là tòa kiến trúc cao nhất đặc khu. Tuy nhiên, việc hạn chế chiều cao các tòa nhà của Washington, D.C. đã bị chỉ trích như một lý do chính khiến thành phố có ít nhà ở giá phải chăng, kèm theo các vấn đề về giao thông vì đô thị phải mở rộng ra xa. Để tránh hạn chế về chiều cao của đặc khu, các tòa nhà cao tầng gần trung tâm thành phố thường được xây cất bên kia sông Potomac tại Rosslyn, Virginia, không thuộc Washington D.C.. Thành phố Washington được chia thành bốn khu định hướng không đồng đều: Tây Bắc (NW); Đông Bắc (NE); Đông Nam (SE); và Tây Nam (SW). Các trục chia cắt khu định hướng tỏa ra từ Tòa nhà Quốc hội Hoa Kỳ. Tất cả tên các đường phố đều gồm có tên viết tắt khu định hướng để chỉ vị trí của nó trong thành phố. Trong phần lớn thành phố, các đường phố được ấn định theo định dạng đường kẻ ô với đường phố nằm theo trục đông-tây sẽ mang tên bằng mẫu tự (thí dụ như C Street SW có nghĩa là Đường C, khu tây nam) và đường phố năm theo trục bắc-nam sẽ mang tên bằng số (thí dụ 4th Street NW có nghĩa là Đường số 4, khu tây bắc). Các con đường tỏa ra từ các vòng quanh lưu thông từ ban đầu đã được đặt tên của các tiểu bang; tất cả 50 tiểu bang cũng như Puerto Rico và cả đặc khu đều được dùng làm tên đường trong thành phố. Một số đường phố của Washington đáng được chú ý đặc biệt như Đại lộ Pennsylvania nối Nhà Trắng với Tòa nhà Quốc hội Hoa Kỳ, và Đường K có nhiều văn phòng của nhiều nhóm vận động hành lang. Washington tiếp nhận 173 đại sứ quán ngoại quốc, 57 trong số đó nằm trên một đoạn của Đại lộ Massachusetts, có tên không chính thức là "Embassy Row" hay dãy phố đại sứ quán. === Kiến trúc === Thành phố Washington có một kiến trúc rất đa dạng. Sáu trong số mười tòa nhà xếp hạng đầu trong danh sách kiến trúc yêu thích nhất năm 2007 của Viện Kiến trúc sư Mỹ nằm trong Đặc khu Columbia, trong đó có: Tòa Bạch Ốc; Thánh đường Quốc gia Washington; Nhà tưởng niệm Thomas Jefferson; Tòa Quốc hội Hoa Kỳ; Nhà tưởng niệm Lincoln; và Đài tưởng niệm Cựu chiến binh tại Việt Nam. Các hình thái kiến trúc tân cổ điển, george, gothic, và hiện đại, tất cả được phản ánh trong sáu công trình kiến trúc đó và trong nhiều công trình kiến trúc nổi bật khác tại Washington. Những hình thái kiến trúc ngoại lệ nổi bật gồm có các tòa nhà được xây theo kiểu Đệ nhị đế chế Pháp như Tòa Cựu văn phòng Hành chánh (Old Executive Office Building) và Thư viện Quốc hội Hoa Kỳ. Bên ngoài trung tâm Washington, các kiểu kiến trúc thậm chí càng đa dạng hơn. Những tòa nhà lịch sử được thiết kế chính yếu theo kiểu kiến trúc Nữ hoàng Anne, Châteauesque, Richardsonian Romanesque, phục hưng George, Beaux-Arts, và đa dạng các kiểu Victoria. Loại nhà phố liền căn đặc biệt nổi bật trong những khu phát triển sau nội chiến và điển hình theo những kiểu thiết kế chủ nghĩa liên bang và cuối thời Victoria. Vì Georgetown được thành lập trước thành phố Washington, khu dân cư này có đặc điểm kiến trúc xưa cổ nhất trong đặc khu. Tòa nhà Old Stone của Georgetown được xây dựng năm 1765 là tòa nhà còn tồn tại lâu đời nhất trong thành phố. Tuy nhiên phần lớn nhà cửa hiện tại trong khu dân cư được xây vào thập niên 1870 và phản ánh kiểu thiết kế cuối thời Victoria. Đại học Georgetown được xây dựng vào năm 1789 khá khác biệt so với khu dân cư này và mang đặc điểm tổng hợp giữa hai nền kiến trúc Roman và kiến trúc Gothic Phục hưng. Tòa nhà Ronald Reagan là tòa nhà lớn nhất trong đặc khu với tổng diện tích khoảng 3,1 triệu ft² (288.000 m2). == Nhân khẩu == Năm 2015, Cục điều tra dân số Hoa Kỳ ước tính dân số của đặc khu là 672.228 người, tiếp tục chiều hướng gia tăng dân số trong thành phố kể từ cuộc điều tra dân số năm 2000, thời điểm dân số thành phố đạt 604.453 người. Tuy nhiên trong suốt tuần làm việc, số người ra vào thành phố từ các khu ngoại ô lân cận đã làm cho dân số của đặc khu tăng cao, ước tính khoảng 79,2% trong năm 2010, khiến số người tại thành phố vào ban ngày lên đến trên 1,1 triệu. Vùng đô thị Washington bao gồm các quận xung quanh nằm trong hai tiểu bang Maryland và Virginia là vùng đô thị lớn thứ sáu tại Hoa Kỳ với hơn 6,1 triệu người. Khi kết hợp với Baltimore cùng các khu ngoại ô của nó, Vùng đô thị Baltimore-Washington có dân số vượt hơn 9,6 triệu người, lớn thứ tư tại Hoa Kỳ. Năm 2007, thành phần dân số của thành phố gồm có 55,6% người Mỹ gốc Phi, 36,3% người Mỹ da trắng, 8,3% người nói tiếng Tây Ban Nha (tất cả chủng tộc), 5% khác (gồm có người bản thổ Mỹ, người bản thổ Alaska, người bản thổ Hawaii, và người Mỹ gốc đảo Thái Bình Dương), 3,1% người Mỹ gốc Á, và 1,6% hợp chủng (hai hoặc ba chủng tộc). Cũng có khoảng ước tính 74.000 di dân ngoại quốc sống tại Washington, D.C. trong năm 2007. Nguồn gốc di cư chính là từ El Salvador, Việt Nam, và Ethiopia. Trong đó những di dân từ Salvador sống tập trung tại khu dân cư Mount Pleasant. Duy nhất trong các thành phố có tỉ lệ cao người Mỹ gốc Phi, Washington có tỷ lệ dân số người da đen cao ngay từ khi thành lập thành phố. Đây là kết quả của việc giải phóng nô lệ tại nửa phía bắc miền Nam Hoa Kỳ (gọi là Upland South) sau Chiến tranh Cách mạng Mỹ. Dân số da đen tự do trong vùng vọt lên từ con số ước tính 1% trước chiến tranh đến 10% vào năm 1810. Trong đặc khu, cư dân da đen chiếm khoảng 30% dân số giữa năm 1800 và 1940. Dân số người da đen của Washington còn đạt tới 70% dân số thành phố vào năm 1970. Tuy nhiên kể từ đó dân số người Mỹ gốc Phi của Washington, D.C. dần hạ xuống vì có nhiều người rời thành phố để đến các khu ngoại ô lân cận. Một số cư dân cao tuổi hơn đã trở về miền Nam vì có sự liên hệ gia đình và chi phí nhà cửa thấp hơn. Cũng khoảng thời gian đó, dân số người da trắng của thành phố dần tăng lên, một phần vì sự ảnh hưởng của việc dời cư của người da màu tại những khu dân cư truyền thống của người da đen tại Washington. Đây là bằng chứng của sự sụt giảm 7,3% dân số người da đen, và sự gia tăng 17,8% dân số người da trắng kể từ năm 2000. Tuy nhiên, một số người Mỹ gốc Phi, đặc biệt là những sinh viên đại học vừa tốt nghiệp và những người trong giới chuyên gia trẻ, đang di chuyển đến thành phố từ các tiểu bang miền bắc và trung tây. Chiều hướng này được mệnh danh là "New Great Migration" (có nghĩa là cuộc đại di cư mới). Washington, D.C. là một điểm đến hàng đầu cho những người da đen như thế vì có nhiều cơ hội việc làm ngày gia tăng. Điều tra dân số năm 2000 cho thấy con số ước tính 33.000 người lớn trong Đặc khu Columbia nhận mình là đồng tính hoặc song tính, chiếm khoảng 8,1% dân số trưởng thành của thành phố. Bất chấp tỷ lệ cao này cùng không khí chính trị cởi mở, hôn nhân đồng tính không hợp pháp tại đặc khu, một phần vì sự chống đối của Quốc hội. Tuy nhiên, luật sống chung (domestic partnership law) của thành phố công nhận quyền pháp lý của các cặp đồng tính cũng giống như luật kết hợp dân sự được công nhận tại những khu vực pháp lý khác. Một báo cáo năm 2007 cho thấy khoảng một phần ba cư dân của thành phố Washington bị mù chữ chức năng, so với tỉ lệ quốc gia là khoảng một phần năm. Điều này một phần là do các di dân không rành tiếng Anh. Một cuộc nghiên cứu năm 2005 cho thấy rằng 85,16% cư dân Washington, D.C. trên năm tuổi chỉ nói tiếng Anh ở nhà và 8,78% nói tiếng Tây Ban Nha. Tiếng Pháp là ngôn ngữ nói xếp thứ ba với 1,35%. Ngược lại tỉ lệ mù chữ cao, gần 46% cư dân Đặc khu Columbia có ít nhất một bằng cấp đại học bốn năm. Theo dữ liệu từ năm 2000, hơn một nửa cư dân đặc khu theo Kitô giáo; 28% đạo Công giáo La Mã, 9,1% đạo Baptist Mỹ, 6,8% đạo Baptist miền Nam Hoa Kỳ, 1,3% đạo Chính Thống giáo Đông phương, và 13% thuộc khác chi phái khác của Kitô giáo. Cư dân theo Hồi giáo chiếm 10,6% dân số, Do Thái giáo 4,5%, và 26,8% cư dân có niềm tin khác hoặc không theo tôn giáo nào. === Tội phạm === Trong khoảng thời gian của làn sóng tội phạm bạo lực đầu thập niên 1990, Washington, D.C. được biết đến như là thủ đô của các vụ giết người ở Hoa Kỳ và thường được xếp ngang tầm với New Orleans về số lượng các vụ sát nhân. Con số các vụ giết người lên đỉnh điểm vào năm 1991 với 482 vụ, nhưng mức độ bạo lực giảm đáng kể trong suốt thập niên 1990. Năm 2006, con số các vụ giết người hàng năm tại thành phố giảm xuống còn 169 vụ. Tổng cộng, tội phạm bạo lực giảm gần 47% kể từ 1995 đến 2007. Tội phạm xâm phạm bất động sản gồm có trộm cắp, cướp bóc giảm chừng 48% trong cùng giai đoạn này. Cũng giống như đa số các thành phố lớn khác, các vụ phạm tội xảy ra nhiều nhất tại các khu vực có liên quan đến băng đảng và buôn bán ma túy. Các khu dân cư giàu có hơn của Tây Bắc Washington có mức độ tội phạm thấp nhưng phạm vi ảnh hưởng của tội phạm càng gia tăng khi đi xa về phía đông. Từng bị tội phạm hoành hành, hiện nay các khu dân cư của Đặc khu Columbia như Columbia Heights và Logan Circle đang dần trở nên các khu vực an toàn và nhộn nhịp vì ảnh hưởng của việc tái phân bố dân cư. Kết quả là tội phạm trong đặc khu đang có chiều hướng đi xa về phía đông và về phía bên kia ranh giới vào trong Quận Prince George của Maryland. Ngày 26 tháng 6 năm 2008, Tối cao Pháp viện Hoa Kỳ ra phán quyết vụ Đặc khu Columbia đối đầu với Heller rằng luật cấm súng ngắn năm 1976 của thành phố đã vi phạm tu chính án 2 quyền sở hữu súng. Tuy nhiên, phán quyết này không cấm tất cả các hình thức kiểm soát súng; những luật bắt buộc đăng ký súng vẫn có hiệu lực cũng như luật cấm vũ khí loại tấn công của thành phố. == Kinh tế == Washington có một nền kinh tế phát triển đa dạng với khuynh hướng thiên về dịch vụ thương mại và nghiệp vụ. Tổng sản phẩm nội địa của đặc khu năm 2007 là 93,8 tỷ đô la, xếp thứ 35 so với 50 tiểu bang của Hoa Kỳ. Năm 2008, chính phủ liên bang là nguồn cung cấp khoảng 27% việc làm tại Washington, D.C. Người ta cho rằng Washington không bị ảnh hưởng của cuộc suy thoái kinh tế quốc gia vì chính phủ liên bang vẫn tiếp tục các hoạt động thậm chí trong suốt những thời khủng hoảng. Tuy nhiên vào tháng 1 năm 2007, những nhân công liên bang tại vùng Washington chỉ chiếm 14% tổng số lực lượng lao động của chính phủ liên bang. Nhiều tổ chức như các hãng luật, những cơ sở làm việc theo hợp đồng độc lập (tính cả quốc phòng và dân sự), các tổ chức bất vụ lợi, các nhóm vận động hành lang, liên đoàn lao động, các nhóm trao đổi công nghiệp, và các hội đoàn nghiệp vụ có tổng hành dinh của họ bên trong hoặc gần Đặc khu Columbia để gần bên chính phủ liên bang. Cho đến tháng 11 năm 2008, Vùng đô thị Washington có một tỉ lệ thất nghiệp 4,4%, là một tỉ lệ thấp nhất trong số 49 vùng đô thị lớn nhất tại Hoa Kỳ. Tỉ lệ này cũng thấp hơn tỉ lệ thất nghiệp trung bình của quốc gia trong cùng kỳ thời điểm là 6,5%. Riêng Đặc khu Columbia có tỉ lệ thất nghiệp 7,4% tính đến tháng 10 năm 2008. Washington cũng có những ngành công nghiệp phát triển không liên quan trực tiếp đến chính phủ, đặc biệt trong lĩnh vực giáo dục, tài chính, chính sách công cộng, và nghiên cứu khoa học. Đại học George Washington, Đại học Georgetown, Trung tâm Bệnh viện Washington, Đại học Howard, và ngân hàng cho vay Fannie Mae là những nơi thuê mướn nhân công trong thành phố, không có liên hệ đến chính phủ. Có năm công ty nằm trong nhóm Fortune 1000 đóng tại Washington, và hai trong số này thuộc Fortune 500. Washington, D.C. đã trở thành một trong những nơi hàng đầu về lĩnh vực đầu tư bất động sản trên thế giới, xếp sau Luân Đôn, New York, và Paris. Năm 2006, tờ Expansion Magazine xếp Đặc khu Columbia trong số 10 khu vực hàng đầu ở Hoa Kỳ hấp dẫn mở rộng thương nghiệp. Washington có trung tâm thành phố lớn thứ ba tại Hoa Kỳ tính theo sức chứa văn phòng thương mại, đứng ngay sau New York và Chicago. Mặc dù khủng hoảng kinh tế quốc gia và giá nhà hạ giảm nhưng Washington được xếp thứ hai trên danh sách những thị trường nhà ở tốt nhất tại Hoa Kỳ của Forbes. Những nỗ lực di dời dân cư đang được tiến hành tại Washington, D.C., đáng nói là tại các khu dân cư Logan Circle, Shaw, Columbia Heights, hành lang Đường U, và Đường 14. Quá trình này đã diễn ra tại một số khu dân cư nhờ vào việc xây dựng tuyến đường xanh (green line) thuộc hệ thống xe điện ngầm "Metrorail" của Washington, nối liền các khu dân cư này với các khu vực của trung tâm thành phố vào cuối thập niên 1990. Tháng 3 năm 2008, một trung tâm bán hàng mới được mở cửa tại Columbia Heights, trở thành trung tâm bán lẻ lớn đầu tiên tại đặc khu trong vòng 40 năm. Như tại nhiều thành phố, sự di dời dân cư đang làm sống lại nền kinh tế của Washington, nhưng những lợi ích của nó không được phân bố đều trong thành phố và không trực tiếp giúp ích cho người nghèo. Năm 2006, cư dân Đặc khu Columbia có lợi tức tính theo đầu người là 55.755 đô la, cao hơn bất cứ 50 tiểu bang nào của Hoa Kỳ. Tuy nhiên 19% cư dân sống dưới mức nghèo vào năm 2005, cao hơn bất cứ tiểu bang nào, trừ Mississippi. Điều đó cho thấy sự chênh lệch kinh tế giữa các nhóm dân cư của thành phố. == Văn hóa == === Những địa điểm lịch sử và viện bảo tàng === Trong trung tâm thành phố, khu công viên National Mall, có nghĩa Khu dạo chơi Quốc gia, mở rộng với Tượng đài Washington giữa. Cũng nằm trong khu vực này còn có Nhà tưởng niệm Lincoln, Đài tưởng niệm Quốc giaChiến tranh thế giới thứ hai nằm ở cuối phía đông Hồ phản chiếu Tưởng niệm Lincoln, Đài tưởng niệm Cựu chiến binh Chiến tranh Triều Tiên, Đài tưởng niệm Cựu chiến binh Chiến tranh Việt Nam, và Đài tưởng niệm Albert Einstein. Cơ quan Quản lý Văn khố Quốc gia (National Archives and Records Administration) cất giữ hàng ngàn tài liệu quan trọng đối với lịch sử Mỹ trong đó có bản Tuyên ngôn độc lập Hoa Kỳ, Hiến pháp Hoa Kỳ, và Đạo luật nhân quyền Hoa Kỳ. Nằm ngay phía nam khu dạo chơi National Mall là Tidal Basin, một vịnh nước nhỏ, một phần do nhân tạo, có trồng những hàng cây hoa anh đào do Nhật Bản tặng cho thành phố. Khu tưởng niệm Franklin Delano Roosevelt, Nhà tưởng niệm Jefferson, và Đài tưởng niệm Chiến tranh Đặc khu Columbia nằm gần Tidal Basin. Viện Smithsonian là một cơ sở giáo dục được Quốc hội Hoa Kỳ ban hành hiến chương vào năm 1846 để trông coi, bảo quản phần lớn các phòng triển lãm nghệ thuật và viện bảo tàng chính thức của quốc gia tại Washington, D.C. Chính phủ Hoa Kỳ tài trợ một phần cho viện, vì thế các hiện vật trưng bày của viện được mở cửa cho công chúng xem miễn phí. Bảo tàng có nhiều người thăm viếng nhất trong số các bảo tàng của Viện Smithsonian trong năm 2007 là Bảo tàng Quốc gia Lịch sử Tự nhiên nằm trên Khu dạo chơi Quốc gia National Mall. Các viện bảo tàng và triển lãm khác của Smithsonian nằm trên khu dạo chơi National Mall là: Bảo tàng Quốc gia Không gian và Hàng không; Bảo tàng Quốc gia Nghệ thuật Phi châu; Bảo tàng Quốc gia Lịch sử Mỹ; Bảo tàng Quốc gia Người bản thổ Mỹ; Phòng triển lãm Arthur M. Sackler và Phòng triển lãm Nghệ thuật Freer. Cả hai phòng triển lãm này tập trung về văn hóa và nghệ thuật châu Á; Bảo tàng Hirshhorn và Vườn Điêu khắc; Tòa nhà Công nghiệp và Nghệ thuật; Trung tâm S. Dillon Ripley; và Tòa nhà Viện Smithsonian, cũng còn được biết tên là "The Castle", phục vụ với vai trò như tổng hành dinh của viện. Bảo tàng Nghệ thuật Mỹ Smithsonian (trước đây tên là Bảo tàng Quốc gia Nghệ thuật Mỹ) và Phòng triển lãm Hội họa Quốc gia nằm trong cùng tòa nhà, đó là Trung tâm Donald W. Reynolds, gần phố Tàu của Washington. Trung tâm Reynolds cũng còn được biết đến là "Old Patent Office Building". Phòng triển lãm Renwick chính thức là một phần của Bảo tàng Nghệ thuật Mỹ Smithsonian nhưng nằm trong một tòa nhà khác gần Tòa Bạch Ốc. Các viện bảo tàng và phòng triển lãm của Viện Smithsonian còn có: Bảo tàng Anacostia nằm ở đông nam Washington, Bảo tàng Bưu điện Quốc gia gần Trạm Union, và Công viên Vườn thú Quốc gia Smithsonian trong Công viên Woodley. Phòng triển lãm Nghệ thuật Quốc gia nằm trên Khu vui chơi Quốc gia gần Tòa Quốc hội Hoa Kỳ nhưng không phải là một phần của Viện Smithsonian. Thay vào đó nó do chính phủ Hoa Kỳ làm chủ hoàn toàn; do đó phòng triển lãm này cũng cho vào cửa tự do. Cánh tây của phòng triển lãm có chứa bộ sưu tập quốc về nghệ thuật châu Âu và Mỹ xuyên suốt thế kỷ 19. Cánh đông của phòng, do kiến trúc sư I. M. Pei thiết kế, có các tác phẩm nghệ thuật hiện đại. Bảo tàng Nghệ thuật Mỹ Smithsonian và Phòng triển lãm Hội họa Quốc gia thường bị lầm lẫn với Phòng triển lãm nghệ thuật Quốc gia trong khi chúng thực sự hoàn toàn là những cơ sở riêng biệt. Bảo tàng Xây dựng Quốc gia nằm gần Quảng trường Công Lý (Judiciary Square) được Quốc hội Hoa Kỳ bảo trợ, có triển lãm các hiện vật tạm thời và các hiện vật được luân chuyển. Có nhiều bảo tàng nghệ thuật tư nhân trong Đặc khu Columbia trình bày các hiện vật và bộ sưu tập lớn, mở cửa cho công chúng như: Bảo tàng Quốc gia Phụ nữ trong Nghệ thuật, Phòng triển lãm Nghệ thuật Corcoran là bảo tàng tư nhân lớn nhất tại Washington, và Bảo tàng Sưu tập Phillips (The Phillips Collection) ở Dupont Circle là bảo tàng nghệ thuật hiện đại đầu tiên tại Hoa Kỳ. Những bảo tàng tư nhân khác tại Washington còn có Newseum, Bảo tàng Điệp vụ Quốc tế, bảo tàng Hội Địa lý Quốc gia Hoa Kỳ, và Bảo tàng Khoa học Marian Koshland. Bảo tàng Tưởng niệm Holocaust Hoa Kỳ (United States Holocaust Memorial Museum) nằm gần Khu dạo chơi Quốc gia lưu giữ các hiện vật, tài liệu và các di vật có liên quan đến Holocaust. === Âm nhạc và nghệ thuật trình diễn === Washington, D.C. là một trung tâm nghệ thuật quốc gia. Trung tâm Nghệ thuật Trình diễn John F. Kennedy là nơi biểu diễn của Dàn nhạc Giao hưởng Quốc gia, Nhạc kịch Quốc gia Washington, và Đoàn múa Ba lê Washington. Giải thưởng vinh dự Trung tâm Kennedy (Kennedy Center Honors) được trao tặng mỗi năm cho những người hoạt động trong lĩnh vực nghệ thuật trình diễn mà đã góp phần to lớn đến đời sống nghệ thuật của Hoa Kỳ. Tổng thống và Đệ nhất phu nhân thường khi tham dự buổi lễ vinh danh này vì Đệ nhất phu nhân là chủ tịch danh dự của Ban ủy thác Trung tâm Kennedy. Washington cũng có một truyền thống kịch nghệ độc lập địa phương. Các đoàn kịch như Arena Stage, Đoàn kịch Shakespeare, và "Studio Theatre" trình diễn các tác phẩm cổ điển và kịch mới Mỹ. Hành lang Đường U trong vùng tây-bắc Đặc khu Columbia thường được biết đến như "Washington's Black Broadway" (có nghĩa là sân khấu Broadway da đen của Washington) là nơi tập trung các khu trình diễn nghệ thuật như Bohemian Caverns và Nhà hát Lincoln với các tài năng âm nhạc như Duke Ellington (s. trưởng tại Washington D.C.), John Coltrane, và Miles Davis. Những nơi trình diễn nhạc jazz khác có biểu diễn nhạc blues hiện đại như Madam's Organ Blues Bar tại Adams Morgan và Blues Alley tại Georgetown. Đặc khu Columbia có thể loại nhạc bản xứ của mình có tên là go-go. Người biểu diễn thành công nhất là trưởng nhóm ban nhạc D.C. là Chuck Brown. Ông đã mang nhạc go-go đến sát bờ công nhận quốc gia với album năm 1979 của ông mang tên Bustin' Loose. Washington cũng là một trung tâm quan trọng cho văn hóa và âm nhạc indie tại Hoa Kỳ. Hãng thu âm đĩa hát Dischord Records, do Ian MacKaye thành lập, là một trong những hãng thu âm đĩa hát độc lập quan trọng nhất đối với thể loại nhạc punk thập niên 1980 và dần dần là thể loại nhạc indie rock trong thập niên 1990. Lịch sử thu âm thể loại nhạc indie của Washington có thể kể tới các hãng TeenBeat Records, Dischord Records, Simple Machines, và ESL Music trong số nhiều hãng thu âm khác. Các tụ điểm âm nhạc indie và rock hiện đại như The Black Cat và 9:30 Club gần Đường U mang những hoạt động thân thiết đến với công chúng. == Truyền thông == Washington, D.C. là một trung tâm nổi bật đối với truyền thông quốc gia và quốc tế. Nhật báo The Washington Post, thành lập năm 1877, là nhật báo địa phương có nhiều độc giả nhất và lâu đời nhất tại Washington. Có lẽ tờ báo này được biết tới nhiều nhất nhờ đăng tải các đề tài nói về chính trị quốc tế và quốc gia cũng như từng phơi bày vụ bê bối chính trị Watergate. The Post, tên thường gọi của The Washington Post, tiếp tục chỉ phát hành ba phiên bản chính, mỗi phiên bản cho một khu vực là Đặc khu Columbia, Maryland, và Virginia. Mặc dù không có phiên bản mở rộng ra ngoài, tờ báo này đứng hạng sáu về số lượng phát hành của tất các nhật báo tại Hoa Kỳ tính đến tháng 9 năm 2008. USA Today, nhật báo lớn nhất quốc gia tính theo số lượng phát hành có tổng hành dinh đặt gần McLean, Virginia. Công ty Washington Post phát hành nhật báo miễn phí dành cho người di chuyển ra vào thành phố hàng ngày mang tên là Express. Tờ báo này tóm tắt các sự kiện, thể thao và giải trí cũng như tờ báo tiếng Tây Ban Nha El Tiempo Latino. Một nhật báo địa phương khác là tờ The Washington Times, và tờ tuần báo Washington City Paper cũng có số đọc giả đáng kể trong vùng Washington. Một số tờ báo chuyên đề và cộng đồng tập trung vào các vấn đề văn hóa và khu dân cư gồm có: tuần báo Washington Blade và Metro Weekly tập trung về các vấn đề đồng tính, dị tính; tờ Washington Informer và The Washington Afro American điểm qua các đề tài đáng quan tâm của cộng đồng người da đen; và các tờ báo khu dân cư được phát hành bởi The Current Newspapers. Các tờ báo The Hill và Roll Call đặc biệt tập trung vào các vấn đề có liên quan đến quốc hội và chính phủ liên bang. Vùng đô thị Washington là thị trường truyền thông truyền hình lớn thứ 9 tại Hoa Kỳ với con số 2.308.290 hộ, chiếm 2,05% dân số Hoa Kỳ. Một số công ty truyền thông và kênh truyền hình cáp có tổng hành dinh trong khu vực, có thể kể đến C-SPAN; Black Entertainment Television; National Geographic Channel; Hệ thống Smithsonian; XM Satellite Radio; National Public Radio; Travel Channel (tại Chevy Chase, Maryland); Discovery Channel (tại Silver Spring, Maryland); và PBS (tại Arlington, Virginia). Tổng hành dinh của Tiếng nói Hoa Kỳ được đặt gần Tòa Quốc hội Hoa Kỳ ở tây nam Washington. Vùng Đặc khu Columbia cũng là nơi đóng bản doanh của Radio One, tập đoàn phát thanh và truyền hình người Mỹ gốc Phi lớn nhất Hoa Kỳ do đại gia truyền thông Cathy Hughes thành lập. == Thể thao == Washington, D.C. là sân nhà của năm đội nam thể thao nhà nghề. Đội Washington Wizards thuộc Hội Bóng rổ Quốc gia và đội Washington Capitals thuộc Liên đoàn Khúc côn cầu Quốc gia đều chơi tại Trung tâm Verizon trong khu phố Tàu. Trung tâm có tên Nationals Park, được mở cửa ở đông nam Đặc khu Columbia năm 2008, là sân nhà của đội Washington Nationals thuộc liên đoàn bóng chày tên Major League Baseball. Đội D.C. United thuộc liên đoàn bóng đá có tên Major League Soccer chơi ở Sân vận động Tưởng niệm Robert F. Kennedy. Đội Washington Redskins thuộc Liên đoàn Bóng bầu dục Quốc gia (NFL) chơi gần FedExField ở Landover, Maryland. Vùng Washington cũng là sân nhà của một số đội thể thao nhà nghề của nữ. Đội Washington Mystics thuộc Hội Nữ Bóng rổ Quốc gia chơi ở Trung tâm Verizon. Đội Washington Freedom tái xuất vào mùa xuân năm 2009 thuộc liên đoàn nữ bóng đá nhà nghề.. Washington là một trong chỉ 13 thành phố tại Hoa Kỳ có các đội nhà nghề của bốn môn thể thao chính của nam: bóng bầu dục, bóng rổ, bóng chày, và khúc côn cầu trên băng. Khi bóng đá được đưa vào, Washington là một trong tám thành phố có tất cả 5 môn thể thao nhà nghề của nam. Các đội thể thao nhà nghề của Đặc khu Columbia đã giành được một con số tổng cộng là 11 giải quán quân: Đội bóng đá D.C. United đoạt được bốn giải (nhiều nhất trong lịch sử giải bóng đá "Major League Soccer" tại Hoa Kỳ); Đội Washington Redskins thắng ba; Đội Washington Bayhawks thắng hai; và đội Washington Wizards và đội Washington Glory mỗi đội thắng một lần duy nhất giải quán quân. Trung tâm Quần vợt William H.G. FitzGerald ở Công viên Rock Creek là nơi tổ chức giải Legg Mason Tennis Classic. Giải chạy Marathon của Thủy quân lục chiến Hoa Kỳ và giải Marathon Quốc gia được tổ chức hàng năm tại Washington. Khu vực Đặc khu Columbia là nơi có một hệ thống truyền hình thể thao vùng tên là Comcast SportsNet có bản doanh tại Bethesda, Maryland. == Chính quyền == Điều I, Đoạn 8 của Hiến pháp Hoa Kỳ đã dành cho Quốc hội quyền lực tối cao trên Washington, D.C. Đặc khu Columbia đã từng không có chính quyền dân cử thành phố cho đến khi Đạo luật Nội trị Đặc khu Columbia được quốc hội phê chuẩn vào năm 1973. Đạo luật này trao một số quyền lực của quốc hội trên Đặc khu Columbia cho một chính quyền địa phương được một thị trưởng dân cử, hiện tại là Adrian Fenty, và Hội đồng Đặc khu Columbia gồm 13 thành viên điều hành. Tuy nhiên, quốc hội vẫn giữ quyền xem xét và bãi bỏ các luật lệ mà hội đồng thành phố lập ra và cũng như có quyền can thiệp vào các vấn đề địa phương. Mỗi trong số tám phân khu của thành phố bầu lên một thành viên hội đồng duy nhất. Năm thành viên hội đồng khác kể cả chủ tịch hội đồng được cả thành phố bầu lên. Có 37 ủy ban tham vấn khu dân cư (Advisory Neighborhood Commission) được các khu dân cư bầu lên. Ủy ban tham vấn khu dân cư theo truyền thống có rất nhiều ảnh hưởng và chính quyền thành phố theo thường lệ nhận những lời khuyến nghị của họ một cách nghiêm túc. Thị trưởng và hội đồng trông coi ngân sách địa phương nhưng phải được quốc hội chấp thuận. Các thứ thuế địa phương, thuế bán hàng và thuế bất động sản cung ứng khoảng 67% tiền thu nhập để chi cho các dịch vụ và các ban ngành chính quyền thành phố. Giống như 50 tiểu bang, Đặc khu Columbia nhận được sự trợ giúp liên bang cho các chương trình trợ cấp như chăm sóc sức khỏe. Quốc hội cũng chi tiền thích ứng cho chính quyền thành phố để giúp bù lại một số khoản chi phí dành cho an ninh của thành phố; số tiền này tổng cộng lên đến 38 triệu đô la năm 2007, khoảng 0,5% ngân sách của thành phố. Chính phủ liên bang điều hành hệ thống tòa án của đặc khu. Tất cả cơ quan duy trì pháp luật liên bang, rõ ràng nhất là Cảnh sát Công viên Hoa Kỳ, có thẩm quyền tại thành phố và cũng giúp giữ an ninh cho thành phố. Tất cả các tội đại hình địa phương đều do biện lý Hoa Kỳ đặc trách Đặc khu Columbia xét xử. Các biện lý Hoa Kỳ do tổng thống bổ nhiệm và được Bộ Tư pháp Hoa Kỳ tài trợ. Tổng cộng, chính phủ liên bang cung cấp 28% tổng số tiền thu nhập của đặc khu. Tính theo trung bình, quỹ liên bang cung cấp khoảng 30% tiền thu nhập của mỗi tiểu bang trong năm 2007. Chính quyền thành phố, đặc biệt là dưới thời của thị trưởng Marion Barry, đã bị chỉ trích vì quản lý sai lầm và hoang phí. Barry được bầu làm thị trưởng năm 1978, phục vụ ba nhiệm kỳ bốn năm liên tiếp. Tuy nhiên, sau khi ở tù 6 tháng vì phạm tội có liên quan đến ma túy vào năm 1990, Barry không ra tái tranh cử. Năm 1991, Sharon Pratt Kelly trở thành phụ nữ da đen đầu tiên lãnh đạo một thành phố lớn của Hoa Kỳ. Barry được bầu lại vào năm 1994, và đến năm sau đó thì thành phố gần như khánh kiệt. Thị trưởng Anthony A. Williams thắng cứ năm 1998. Chính quyền của ông chứng kiến một thời kỳ thịnh vượng lớn hơn, thay đổi bộ mặt đô thị, và dư thừa ngân sách. Kể từ khi được bầu làm thị trưởng năm 2006, Adrian Fenty ưu tiên đặt trọng tâm vào việc cải cách giáo dục. Ngay sau khi nhậm chức, ông được hội đồng thành phố tán đồng cho phép trực tiếp điều hành và dẹp bỏ hệ thống trường công không hữu hiệu của thành phố. Washington, D.C. tôn trọng tất cả các ngày lễ liên bang. Đặc khu cũng tổ chức mừng ngày giải phóng nô lệ 16 tháng 4, là ngày kỷ niệm ký Đạo luật giải phóng và bồi thường nô lệ của tổng thống Abraham Lincoln năm 1862. === Thuế và đại biểu liên bang === Công dân của Đặc khu Columbia không có đại diện biểu quyết tại Quốc hội Hoa Kỳ. Họ chỉ có một đại biểu không quyền biểu quyết (non-voting delegate) tại Hạ viện Hoa Kỳ. Đại biểu duy nhất này có thể ngồi họp với các ủy ban trong quốc hội, tham gia tranh luận, và giới thiệu một dự luật nhưng không thể tham gia biểu quyết tại hạ viện. Đặc khu Columbia không có đại diện tại Thượng viện Hoa Kỳ. Không như các vùng quốc hải của Hoa Kỳ như Puerto Rico hay Guam cũng có các đại biểu không quyền biểu quyết, công dân của Đặc khu Columbia phải chịu các thứ thuế liên bang Hoa Kỳ trong khi công dân các vùng quốc hải thì không. Trong năm tài chánh 2007, các doanh nghiệp và cư dân Đặc khu Columbia đã trả 20,4 tỉ thuế liên bang; nhiều tiền thuế thu được hơn từ 19 tiểu bang gộp lại và đứng cao nhất tỉ lệ thu thuế liên bang tính theo đầu người. Một cuộc thăm dò năm 2005 cho thấy 78% người Mỹ không biết là các cư dân của Đặc khu Columbia có ít quyền đại diện tại Quốc hội Hoa Kỳ hơn cư dân của 50 tiểu bang. Những nỗ lực kêu gọi sự chú ý của mọi người về vấn đề này gồm có những chiến dịch vận động của các tổ chức tự nhóm lại cũng như việc đưa ra một khẩu hiệu không chính thức của thành phố là "Đóng thuế nhưng không có đại diện" (Taxation Without Representation) được in trên các bảng số đăng ký xe. Có bằng chứng cho thấy sự ủng hộ trên phạm vi quốc gia về quyền biểu quyết của Đặc khu Columbia; nhiều cuộc thăm dò khác nhau cho thấy 61 đến 82% người Mỹ tin rằng Đặc khu Columbia nên có đại diện có quyền biểu quyết tại quốc hội. Mặc dù có sự ủng hộ của công chúng, nhiều nỗ lực nhằm tranh thủ quyền có đại diện biểu quyết vẫn không thành công. Các nỗ lực nói trên gồm có Phong trào đòi quyền trở thành tiểu bang của Đặc khu Columbia và đề nghị một Tu chính án về quyền biểu quyết của Đặc khu Columbia. Những người phản đối quyền biểu quyết của Đặc khu Columbia cho rằng những nhân vật lập quốc của Hoa Kỳ chưa bao giờ có ý cho cư dân của đặc khu một phiếu bầu tại Quốc hội Hoa Kỳ vì Hiến pháp Hoa Kỳ có nói rõ là đại diện phải là từ các tiểu bang. Những người chống đối biến Đặc khu Columbia thành một tiểu bang cho rằng một hành động như thế sẽ phá vỡ khái niệm về một thủ đô quốc gia riêng biệt và rằng việc đặc khu thành một tiểu bang sẽ không công bằng khi nó có được đại diện trong Thượng viện Hoa Kỳ trong lúc chỉ là một thành phố đơn độc. == Giáo dục và y tế == Đặc khu Columbia có tổng cộng 167 trường và trung tâm giáo dục thuộc hệ thống công lập. Kể từ năm 1999, số học sinh của hệ thống trường công giảm đều đặn và năm học 2008–2009, có 46.208 học sinh ghi danh học trong hệ thống trường công lập. Hệ thống trường công của đặc khu là một trong những hệ thống trường công lập tốn kém nhất nhưng ít hiệu quả nhất tại Hoa Kỳ cả về mặt cơ sở vật chất và chất lượng giảng dạy. Tổng giám hiệu mới của hệ thống trường công lập dưới quyền của thị trưởng Adrian Fenty là Michelle Rhee, đã tạo những thay đổi lớn lao trong hệ thống trường công bằng cách đóng cửa các trường học, thay thế thầy cô giáo, sa thải các hiệu trưởng, và dùng các dịch vụ giáo dục tư nhân để giúp phát triển chương trình giáo dục. Vì hệ thống trường học công cộng của D.C. có nhiều vấn đề nên con số ghi danh theo học các trường bán công gia tăng 13% mỗi năm kể từ năm 2001. Ban đặc trách trường bán công Đặc khu Columbia quản lý 60 trường bán công trong thành phố. Tính đến mùa thu 2008, các trường bán công D.C. có tổng số học sinh ghi danh là 26.494. Đặc khu cũng là nơi có một số trường tư hàng đầu quốc gia. Năm 2006, khoảng 18.000 học sinh ghi danh trong 83 trường tư của thành phố. Washington là nơi có nhiều trường đại học tư nổi tiếng trong đó có Đại học George Washington (GW), Đại học Georgetown (GU), Đại học Mỹ (AU), Đại học Công giáo Mỹ (CUA), Đại học Howard, Đại học Gallaudet, và Đại học Johns Hopkins. Trường Nghiên cứu Quốc tế Cao cấp Paul H. Nitze (SAIS). Cao đẳng Nghệ thuật và Thiết kế Corcoran giảng dạy các môn nghệ thuật chuyên môn. Đại học Đặc khu Columbia (UDC) là một đại học công lập với giáo dục bậc cử nhân và sau đại học. Các viện giáo dục cấp cao khác có các chương trình giáo dục dành cho người lớn, giáo dục chuyển tiếp và giáo dục từ xa. Với 16 trung tâm y tế và bệnh viện, Washington, D.C. là một trung tâm chăm sóc bệnh nhân và nghiên cứu y tế quốc gia. Viện Y tế Quốc gia nằm trong Bethesda, Maryland lân cận. Trung tâm Bệnh viện Washington (WHC), khu bệnh viện lớn nhất trong đặc khu, vừa là bệnh viện bất vụ lợi lớn nhất và bệnh viện tư lớn nhất trong vùng Washington. Gần ngay Trung tâm Bệnh viện Washington là Trung tâm Nhi khoa Quốc gia. Đây là một trong những bệnh viện nhi khoa xếp hạng cao nhất tại Hoa Kỳ theo tạp chí U.S. News and World Report. Nhiều trường đại học nổi tiếng của thành phố trong đó có George Washington, Georgetown, và Howard có trường y khoa và bệnh viện dành cho giảng dạy. Trung tâm Quân y Walter Reed nằm ở tây bắc Washington và cung ứng dịch vụ y tế cho các quân nhân về hưu, quân nhân tại ngũ và những thân nhân phụ thuộc của họ. == Giao thông == Washington, D.C. thường được nói đến với những ùn tắc và lưu thông tồi tệ nhất Hoa Kỳ. Năm 2007, những người ra vào thành phố làm việc (commuter) phải tốn mất trung bình 60 giờ một năm ngồi chờ đợi trên đường. Điều này khiến thành phố bị xếp hạng lưu thông tồi tệ thứ hai sau Los Angeles. Tuy nhiên, 37,7% người ra vào thành phố làm việc ở Washington dùng phương tiện công cộng để đi làm, đứng hạng hai tỉ lệ cao nhất ở Hoa Kỳ. Cơ quan quản lý liên vận vùng đô thị Washington (Washington Metropolitan Area Transit Authority, WMATA) điều hành hệ thống trung chuyển nhanh của thành phố trong đó có Metrorail (thường được gọi nhất là the Metro) cũng như Metrobus. Hệ thống xe buýt và xe điện ngầm phục vụ cả Đặc khu Columbia và các khu ngoại ô lân cận nằm bên Maryland và Virginia. Metrorail khai trương vào ngày 27 tháng 3 năm 1976 và hiện thời có 86 trạm và 106,3 dặm (171,1 km) đường ray. Với trung bình 950.000 chuyến mỗi tuần làm việc năm 2008, Metrorail là hệ thống trung chuyển nhanh bận rộn thứ hai tại Hoa Kỳ, chỉ đứng sau hệ thống xe điện ngầm New York City Subway của Thành phố New York. Cơ quan quản lý liên vận Vùng đô thị Washington hiện kỳ vọng sẽ có trung bình một triệu người dùng hệ thống Metrorail mỗi ngày vào năm 2030. Nhu cầu gia tăng công suất phục vụ đã giúp tái tục các kế hoạch để tăng thêm 220 toa xe điện vào hệ thống và điều chỉnh lại các chuyến xe điện để đối phó với vấn đề quá tải tại các trạm bận rộn nhất. Sự phát triển dân số trong vùng đã làm sống lại những lời đề nghị trước đây xây thêm hai tuyến đường Metro phục vụ vùng phụ cận, cũng như một hệ thống xe điện nội thành mới nối các khu dân cư của thành phố. Tuyến xe điện nội thành đầu tiên được trông đợi mở vào cuối năm 2009. Các thẩm quyền khu vực lân cận trong vùng Washington có những hệ thống xe buýt như hệ thống Ride On của Quận Montgomery, Maryland bù khuyết những dịch vụ do Cơ quan quản lý liên vận vùng đô thị Washington phục vụ. Metrorail, Metrobus và tất cả các hệ thống xe buýt công cộng địa phương nhận thẻ thông minh tên SmarTrip, là thẻ thông hành trung chuyển có thể được nạp thêm tiền phí vào. Trạm Union là trạm xe lửa bận rộn thứ hai tại Hoa Kỳ sau Trạm Pennsylvania tại New York. Nó phục vụ như trạm miền nam cuối cùng của tuyến đường hành lang đông bắc và tuyến đường tốc hành Acela của hệ thống xe lửa Amtrak. Các xe điện dành cho người di chuyển hàng ngày vào thành phố như MARC Train của Maryland và Virginia Railway Express của Virginia, và tuyến đỏ của Metroline cũng có phục vụ đến Trạm Union. Dịch vụ xe buýt nội thành do xe buýt Greyhound, xe buýt Peter Pan, BoltBus, Megabus, và nhiều tuyến xe buýt của người Hoa phục vụ. Ba sân bay chính, một tại Maryland và hai tại Virginia, phục vụ Washington, D.C. Sân bay Quốc gia Ronald Reagan Washington, nằm trong Quận Arlington, Virginia ở phía bên kia sông Potomac từ trung tâm D.C., là sân bay duy nhất của vùng Washington có trạm xe điện Metrorail. Do nằm sát thành phố nên Sân bay Quốc gia Reagan có thêm nhiều quan tâm lưu ý về mặt an ninh bắt buộc vì đây là vùng nhận dạng phòng không D.C., cũng như giới hạn thêm về tiếng ồn. Sân bay Reagan không có Cục Quan thuế và Biên phòng Hoa Kỳ và vì thế chỉ có thể phục vụ các chuyến bay quốc tế đến các sân bay ngoại quốc cho phép Cục Quan thuế và Biên phòng của Hoa Kỳ kiểm tra trước trong đó có các điểm tại Canada và vùng Caribbe. Các chuyến bay quốc tế chính đến và đi từ Sân bay Quốc tế Washington Dulles, nằm cách thành phố khoảng 26,3 dặm (42,3 km) về phía tây trong quận Fairfax và Loudoun của Virginia. Sân bay Dulles là sân bay trung chuyển chính ở duyên hải miền đông của hãng hàng không United Airlines. Sân bay Thurgood Marshall Quốc tế Baltimore-Washington, nằm cách thành phố 31,7 dặm (51.0 km) về phía đông bắc trong Quận Anne Arundel, Maryland là một sân bay trung chuyển của các hãng hàng không Southwest Airlines và Airtran Airways. == Giáo dục == Khu học chánh đặc khu Columbia == Thành phố kết nghĩa == Washington, D.C. có 10 thành phố kết nghĩa chính thức. Paris là một thành phố đối tác (partner city) vì chính sách một thành phố kết nghĩa của Paris. == Ghi chú == == Tham khảo == Các tham khảo được ghi dưới đây đã được Việt hóa từ tiếng Anh. Tuy nhiên nội dung của các tài liệu tham khảo là bằng tiếng Anh và cũng có một số bằng tiếng Pháp. == Liên kết ngoài == Trang mạng chính thức của Washington D.C. (tiếng Anh) Hướng dẫn đến Washington, D.C., tài liệu từ Thư viện Quốc hội Hoa Kỳ (tiếng Anh)
pataca ma cao.txt
Pataca là đơn vị tiền tệ chính thức của Ma Cao. Nó có mã ISO 4217 là MOP và hay được ký hiệu là MOP$. Pataca được cố định theo đô la Hồng Kông.[1] Trong quá khứ, nó từng được cố định vào escudos Bồ Đào Nha. Đơn vị đếm bổ sung của pataca là avos; 1 pataca bằng 100 avos. Pataca có cả tiền giấy lẫn tiền kim loại. Tiền giấy gồm các loại có mệnh giá 10, 20, 50, 100, 500 và 1.000 pataca. Tiền kim loại gồm các loại có mệnh giá 10, 20, 50 avos và 1, 2, 5, 10 pataca. Pataca và avos là các từ tiếng Bồ Đào Nha. Pataca Macau còn được gọi bằng tiếng Trung là Áo Môn viên 澳門圓, pataca được gọi là Viên 圓, avos được gọi là tiên 仙 (phát âm như sin). Người Macau còn gọi 10 avos là hào 毫 (phát âm như hô). == Xem thêm == Tỷ giá MOP/USD qua Yahoo Finance Tỷ giá MOP/HKD qua Yahoo Finance Tỷ giá MOP/RMB qua Yahoo Finance Tỷ giá VND/MOP qua Yahoo Finance Phương tiện liên quan tới Tiền Macau tại Wikimedia Commons == Tỉ giá hối đoái hiện thời của đồng MOP == == Tham khảo ==