filename
stringlengths
4
100
text
stringlengths
0
254k
bolivia.txt
Bolivia (phiên âm tiếng Việt: Bô-li-vi-a; tiếng Tây Ban Nha: [boˈliβi̯a]; tiếng Quechua: Buliwya [bʊlɪwja]; tiếng Aymara: Wuliwya [wʊlɪwja]; tiếng Guaraní: Mborivia [ᵐboˈɾiʋja]), tên chính thức Cộng hoà Đa dân tộc Bolivia (tiếng Tây Ban Nha: Estado Plurinacional de Bolivia),, được đặt theo tên nhà cách mạng Simón Bolívar, là một quốc gia nằm kín trong lục địa ở trung tâm Nam Mỹ. Nước này có biên giới với Brasil ở phía bắc và phía đông, Paraguay và Argentina ở phía nam, Chile và Peru ở phía tây. == Lịch sử == === Thời kỳ thuộc địa === Lãnh thổ hiện là Bolivia từng được gọi là "Thượng Peru" hay "Charcas" và nằm dưới quyền cai quản của Phó vương Lima. Chính phủ địa phương thuộc Audiencia de Charcas lỵ sở tại Chuquisaca (La Plata — Sucre hiện đại). Bolivia là nơi xuất xứ quặng mỏ bạc làm giàu có cho Đế chế Tây Ban Nha với nguồn nhân công thổ dân phục dịch đều đặn. Khi triều đình Tây Ban Nha suy yếu trong những cuộc chiến tranh Napoleon, tinh thần độc lập chống chế độ thuộc địa trỗi dậy. === Nền cộng hoà và bất ổn kinh tế (1809) === Phong trào độc lập manh nha từ năm 1809, nhưng phải sau mười sáu năm chiến tranh nền cộng hòa mới thực hiện được vào ngày 6 tháng 8 năm 1825 (xem Chiến tranh giành độc lập Bolivia). Tên chọn cho quốc gia là "Bolivia" để vinh danh nhà cách mạng Simón Bolívar, người đã góp công dẫn dắt đất nước này thoát khỏi trị thuộc của triều đình Tây Ban Nha. Năm 1836, Bolivia, dưới quyền cai quản của Thống chế Andres de Santa Cruz, xâm lược Peru để tái lập vị tổng thống, Tướng Luis Orbegoso, đã bị lật đổ. Peru và Bolivia thành lập Liên minh Peru-Bolivia, với Santa Cruz là Người bảo hộ Tối cao. Sau những căng thẳng giữa Liên minh và Chile, chiến tranh được Chile tuyên bố ngày 28 tháng 12 năm 1836. Argentina, đồng minh của Chile, tuyên chiến với Liên minh ngày 9 tháng 5 năm 1837. Các lực lượng Peru-Bolivia đã giành được nhiều thắng lợi quan trọng; đánh bại lực lượng viễn chinh Argentina, và đánh bại cuộc viễn chinh đầu tiên của Chile, trên các chiến trường Paucarpata, gần thành phố Arequipa. Cũng tại nơi này Hiệp ước Paucarpata được ký kết với sự đầu hàng vô điều kiện của lực lượng phiến loạn Chile và Peru. Hiệp ước đảm bảo việc rút quân đội Chile khỏi Peru-Bolivia, trả lại các con tàu của liên minh đã bị bắt giữ, bình thường hóa các quan hệ kinh tế, và Liên minh sẽ trả khoản nợ của Peru cho Chile. Sự tức giận của công chúng với hiệp ước buộc chính phủ phải hủy bỏ nó. Người Chile tổ chức một lực lượng viễn chinh tứ hai, và tấn công liên minh Peru-Bolivia, đánh bại Liên minh trong trận Yungay vẫn với những vũ khí và trang bị Santa Cruz đã cho phép họ giữ lại. Sau thất bại này, Santa Cruz bỏ chạy sang Ecuador, và Liên minh Peru-Bolivia tan vỡ. Sau khi Peru độc lập, Tướng Gamarra, tổng thống Peru, đã xâm lược Bolivia trong một nỗ lực nhằm tái thống nhất hai nước, dưới lá cờ Peru. Quân đội Peru đã thua một trận quyết định tại Ingaví ngày 20 tháng 11 năm 1841, với cái chết của chính tướng Gamarra. Quân đội Bolivia dưới sự chỉ huy của tướng José Ballivián sau đó tổ chức một cuộc phản công nhằm chiếm cảng Arica của Peru. Sau này, hai bên đã ký kết một hiệp ước hòa bình năm 1842 chấm dứt chiến tranh. Vì một giai đoạn bất ổn chính trị và kinh tế đầu thế kỷ mười chín, sự yếu kém của Bolivia đã được thể hiện trong cuộc Chiến tranh (1879–83), trong đó họ mất lối ra biển, và các mỏ nitrate giàu có, cùng cảng Antofagasta, cho Chile. Từ khi độc lập, Bolivia đã mất một nửa lãnh thổ cho các quốc gia láng giềng vì những cuộc chiến. Bolivia cũng mất Bang Acre (được đặt tên như vậy vì đây là nơi sản xuất cao su) khi Brazil thuyết phục bang này ly khai khỏi Bolivia năm 1903 (xem Hiệp ước Petrópolis). Sự tăng giá bạc trên thế giới đã mang lại cho Bolivia một sự ổn định chính trị và thịnh vượng đáng kể trong những năm 1800. Đầu thế kỷ mười chín, thiếc đã thay thế bạc trở thành nguồn tài nguyên mang lại sự thịnh vượng cho nước này. Các chính sách tự do tư bản và sự chuyển tiếp chính phủ với quyền quản lý kinh tế, chính trị trong tay tầng lớp ưu tú tiếp tục kéo dài trong ba mươi năm đầu thế kỷ hai mươi. Đời sống của người dân bản xứ, chiếm đa phần dân cư, vẫn còn tệ hại. Họ buộc phải làm việc dưới những điều kiện cổ lỗ tại các khu mỏ rộng lớn hầu như vẫn trong tình trạng phong kiến, họ bị cấm tiếp cận giáo dục, cơ hội kinh tế, hay tham gia vào hoạt động chính trị. Sự thất bại của Bolivia trong Chiến tranh Chaco (1932–35) với Paraguay đã đánh dấu một bước ngoặt. === Sự nổi lên của Phong trào Cách mạng Quốc gia (1951) === Phong trào Cách mạng Quốc gia (MNR) đã nổi lên với tư cách một đảng được ủng hộ rộng khắp đất nước, MNR đã lãnh đạo thành công cuộc cách mạng năm 1952. Ở thời Tổng thống Víctor Paz Estenssoro, Phong trào Cách mạng Quốc gia, dưới sức ép mạnh mẽ của công luận, đã đưa quyền Phổ thông đầu phiếu vào cương lĩnh chính trị của ông, và tiến hành một chiến dịch cải cách ruộng đất sâu rộng, thúc đẩy giáo dục nông thôn và quốc hữu hóa những mỏ thiếc lớn nhất của quốc gia. Hai mươi năm cầm quyền với tình trạng hỗn loạn khiến MNR bị chia rẽ. Năm 1964, một hội đồng quân sự đã lật đổ Tổng thống Paz Estenssoro khi ông này bắt đầu nhiệm kỳ thứ ba của mình. Cái chết năm 1969 của Tổng thống René Barrientos Ortuño, một cựu thành viên của hội đồng quân sự và được bầu làm Tổng thống năm 1966, đã dẫn tới sự tiếp nối của một loạt chính phủ yếu kém. Nhận thấy tình hình mất trật tự công cộng và sự nổi lên của Hội đồng Nhân dân, quân đội, MNR và các tổ chức khác đã đưa Đại tá (sau này là Tướng) Hugo Banzer Suárez lên làm tổng thống năm 1971. Banzer cầm quyền với sự ủng hộ của MNR từ năm 1971 tới năm 1974. Sau đó, không thể kiên nhẫn với tình trạng chia rẽ trong liên minh, ông đã thay thế các quan chức dân sự bằng những thành viên trong ccá lực lượng vũ trang và đình chỉ các hoạt động chính trị. Nền kinh tế đã có bước tăng trưởng ấn tượng trong hầu hết thời kỳ cầm quyền của Banzer, nhưng những vụ vi phạm nhân quyền và cuối cùng là những cuộc khủng hoảng thuế khóa khiến sự ủng hộ ông suy giảm. Ông buộc phải tổ chức bầu cử năm 1978, và Bolivia một lần nữa lại rơi vào thời kỳ bất ổn chính trị. === Các chính phủ quân sự: García Meza và Siles Zuazo (1978) === Những cuộc bầu cử năm 1979 và 1981 không có kết quả cuối cùng và bị ảnh hưởng bởi những mánh khóe gian lận. Các cuộc đảo chính, phản đảo chính và các chính phủ lâm thời thay nhau xuất hiện. Năm 1980, Tướng Luis García Meza Tejada đã tiến hành một cuộc đảo chính vũ lực và không khoan nhượng không được lòng dân. Ông tìm cách lấy lòng họ bằng cách hứa hẹn chỉ nắm quyền lực trong vòng một năm. (Cuối năm, ông tiến hành một chiến dịch tuyên truyền trên TV để tự nhận mình đang được lòng dân, và tuyên bố: "Bueno, me quedo," hay, "Được rồi; Tôi sẽ ở lại [chức vụ]." Ông đã bị hạ bệ chỉ một thời gian ngắn sau đó.) Chính phủ của ông nổi tiếng về thành tích vi phạm nhân quyền, buôn lậu ma tuý, và quản lý kinh tế kém; trong thời tổng thống của ông tình hình lạm phát bắt đầu trở nên tồi tệ và sẽ gây ảnh hưởng nặng nề tới nền kinh tế Bolivia sau đó. Sau khi bị kết án vắng mặt vì các tội ác gồm cả giết người, García Meza đã bị dẫn độ từ Brazil và bắt đầu thụ án tù 30 năm năm 1995. Sau một cuộc nổi dậy quân sự buộc García Meza ra đi năm 1981, ba chính phủ quân sự khác tiếp nối trong vòng mười bốn tháng phải đối đầu với nhiều vấn đề ngày càng gay gắt tại Bolivia. Tình trạng bất ổn buộc quân đội phải triệu tập Nghị viện đã được bầu năm 1980 và cho phép họ lựa chọn một lãnh đạo hành pháp mới. Tháng 10 năm 1982, hai mươi hai năm sau khi chấm dứt nhiệm kỳ đầu tiên của mình (1956-60), Hernán Siles Zuazo một lần nữa được bầu làm Tổng thống. === Sánchez de Lozada và Banzer: Tự do hoá kinh tế (1993-2001) === Sánchez de Lozada theo đổi một chương trình cải cách kinh tế xã hội đầy tham vọng. Thay đổi quyết liệt nhất do chính phủ Sánchez de Lozada đề xướng là chương trình "tư bản hoá", theo đó các nhà đầu tư, chủ yếu là từ nước ngoài, được quyền sở hữu và điều khiển 50% doanh nghiệp công cộng như tập đoàn dầu mỏ quốc gia, hệ thống viễn thông, các công ty hàng không, đường sắt, và các cơ sở điện lực để đổi lấy nguồn vốn đầu tư của họ. Những cuộc cải cách và việc cơ cấu lại nền kinh tế bị một số thành phần trong xã hội phản đối mạnh mẽ, họ xúi giục các cuộc phản kháng, một đôi khi là phản kháng bạo lực, đặc biệt tại La Paz và vùng trồng cây coca Chapare, từ năm 1994 đến năm 1996. Chính phủ Sánchez de Lozada theo đuổi chính sách cung cấp bồi thường tiền mặt cho những người tự nguyện phá bỏ cây thuốc phiện trồng bất hợp pháp tại vùng Chapare. Chính sách này không khiến lượng sản xuất coca sút giảm nhiều, và vào giữa thập niên 1990 Bolivia chiếm một phần ba lượng canh tác coca để chế biến thành cocaine của thế giới. Trong thời gian này, tổ chức lao động của Bolivia, Central Obrera Boliviana (COB), ngày càng cho thấy sự bất lực trong việc đối đầu hiệu quả với thách thức từ chính sách của chính phủ. Một cuộc đình công của các giáo viên xảy ra năm 1995 và thất bại bởi COB không thể tổ chức sự ủng hộ từ phía các thành viên của mình, gồm cả các công nhân nhà máy và công nhân xây dựng. Nhà nước cũng sử dụng thiết quân luật làm vũ khí hạn chế tối đa ảnh hưởng của cuộc đình công này. Các giáo viên nằm dưới sự lãnh đạo của những người Trotskyist, và được coi là thành phần mang tính chiến đấu cao nhất trong COB. Thất bại của họ là cú đánh mạnh vào COB. Danh tiếng của COB cũng sụt giảm vì những vụ scandal tham nhũng và tranh giành nội bộ trong năm 1996. Trong cuộc bầu cử năm 1997, Tướng Hugo Banzer, lãnh đạo phe Quốc gia Hành động Dân chủ (ADN), và cũng là nhà cựu độc tài giai đoạn (1971-1978), thắng 22% số phiếu bầu, trong khi ứng cử viên của MNR chiếm 18%. Tướng Banzer thành lập một liên minh với các đảng ADN, MIR, UCS, và CONDEPA để chiếm đa số ghế trong Nghị viện Bolivia. Nghị viện bầu ông làm tổng thống và ông ta tuyên thệ nhậm chức ngày 6 tháng 8 năm 1997. Trong chiến dịch tranh cử, Tướng Banzer đã hứa hẹn ngừng cuộc tư nhân hóa công ty dầu khí nhà nước, YPFB. Dù với vị thế yếu ớt trong cuộc đối mặt với các tập đoàn quốc tế, hành động này của Bolivia dường như không thể xảy ra. Chính phủ Banzer về cơ bản vẫn tiếp tục các chính sách tự do hóa thị trường và tư nhân hóa của chính phủ tiền nhiệm, và đã đạt được mức độ tăng trưởng kinh tế khá từ giữa thập niên 1990 cho tới ba năm đầu cầm quyền. Sau đó, những yếu tố vùng, quốc tế và trong nước đã góp phần làm kinh tế sút giảm. Các cuộc khủng hoảng tài chính tại Argentina và Brazil, giá xuất khẩu hàng hóa trên thế giới giảm sút, và lượng nhân công làm việc trong khu vực trồng cấy bất hợp pháp cây coca cũng giảm khiến nền kinh tế Bolivia suy thoái. Trong lĩnh vực công cộng, một lượng lớn đầu tư cũng mất mát do tình trạng tham nhũng. Các yếu tố đó khiến những cuộc phản kháng xã hội ở nửa sau nhiệm kỳ chính phủ Banzer không ngừng gia tăng. Cuối nhiệm kỳ của mình, Tổng thống Banzer đưa ra chính sách sử dụng các đơn vị cảnh sát đặc biệt để trừ tiệt tình trạng trồng bất hợp pháp coca tại vùng Chapare. Chính sách này đã thành công trong việc làm sút giảm đột ngột và mạnh mẽ kéo dài bốn năm trong sản lượng trồng cấy coca tại Bolivia, tới mức nước này không còn là một nhà cung cấp cây coca để chiết xuất heroine lớn nữa. Những người thất nghiệp trong ngành trồng cấy đổ vào thành phố, đặc biệt tại El Alto, khu ổ chuột cạnh La Paz. Đảng MIR của Jaime Paz Zamora tiếp tục hợp tác với liên minh trong suốt thời gian cầm quyền của chính phủ Banzer, ủng hộ chính sách này (được gọi là Kế hoạch Phẩm giá). Ngày 6 tháng 8 năm 2001, Banzer từ chức sau khi được chẩn đoán ung thư. Ông chết chưa đầy một năm sau đó. Vị phó tổng thống của Banzer, người từng được đào tạo tại Mỹ, Jorge Fernando Quiroga Ramírez, lên làm tổng thống nốt năm đó. === Cuộc bầu cử năm 2002 === Hiến pháp Bolivia đã cấm Quiroga chạy đua vào các chức vụ nhà nước năm 2002. Trong cuộc bầu cử quốc gia tháng 6 năm 2002, cựu Tổng thống Gonzalo Sánchez de Lozada (MNR) về đầu với 22.5% số phiếu bầu, tiếp sau là người ủng hộ việc trồng cây coca và là lãnh đạo của những người nông dân bản xứ Evo Morales (Phong trào hướng tới Chủ nghĩa xã hội, MAS) với 20.9%. Morales chiến thắng ứng cử viên theo chủ nghĩa dân tuý Manfred Reyes Villa thuộc Lực lượng Cộng hòa Mới (NFR) với chỉ 700 phiếu bầu trên toàn quốc, kiếm được một vị trí trong cuộc chạy đua nghị viện với Sánchez de Lozada ngày 4 tháng 8 năm 2002. Một thỏa thuận vào tháng 7 giữa MNR và đảng MIR ở vị trí thứ tư, một lần nữa nằm dưới sự lãnh đạo của cựu tổng thống Paz Zamora, rõ ràng đã đảm bảo vị trí của Sánchez de Lozada trong cuộc tranh cử nghị viện, và vào ngày 6 tháng 8 ông tuyên thệ nhậm chức lần hai. Cương lĩnh của MNR nhấn mạnh ba mục tiêu: phục hồi kinh tế (và tạo việc làm), chống tham nhũng, phát triển xã hội. === Cuộc Khủng hoảng xã hội hiện tại và việc quốc hữu hoá các nguồn tài nguyên hydrocarbon (2000-2005) === === Tổng thống người bản xứ === Cuộc bầu cử tổng thống Bolivia năm 2005 được tổ chức ngày 18 tháng 12 năm 2005. Hai ứng cử viên chính là Juan Evo Morales Ayma thuộc đảng Phong trào hướng tới Chủ nghĩa Xã hội (MAS), và Jorge Quiroga, lãnh đạo Đảng Quyền lực Dân chủ và Xã hội (PODEMOS) và cựu lãnh đạo đảng Acción Democrática Nacionalista (ADN). Morales thắng cử với 53.740% số phiếu, một đại đa số ít thấy trong những cuộc bầu cử tại Bolivia. Ông tuyên thệ nhậm chức ngày 22 tháng 1 năm 2006 với nhiệm kỳ năm năm. Trước khi ông chính thức nhậm chức tại La Paz, ông đã nhậm chức tại địa điểm nghi lễ Aymara ở địa điểm khảo cổ Tiwanaku trước đám đông hàng nghìn người Aymara và các đại diện các phong trào cánh tả trên khắp Mỹ Latinh. Dù chỉ mang tính biểu tượng, nghi lễ này không phải xuất phát từ truyền thống và chủ yếu chỉ mang tính đại diện cho người thổ dân Aymaras — chứ không phải số dân nói tiếng Quechua đa số. Từ cuộc chinh phục của người Tây Ban Nha đầu những năm 1500, vùng Nam Mỹ này, với đa số dân bản xứ, từng chủ yếu nằm dưới sự cai trị của con cháu người di cư châu Âu, với một thiểu số nhỏ viên chức người mestizo (người lai châu Âu và bản xứ). Chính Morales cũng là một người Aymara, và ông đã cho rằng năm trăm năm thực dân đã trôi qua và một kỷ nguyên tự cường mới đã bắt đầu. Thắng lợi trong cuộc bầu cử tổng thống gần đây của ông đã mang lại xu hướng mới cho cuộc chiến chống ma túy của Mỹ tại Nam Mỹ bởi ông nhấn mạnh việc loại trừ việc trồng cây coca. "Plan Dignidad" (kế hoạch phẩm giá) được Mỹ hậu thuẫn, vốn tìm cách tiêu diệt nền công nghiệp sản xuất heroin, bị nhiều người Bolivia coi là sự tấn công vào sinh kế và phong cách sống của họ. Chính Morales, người từng là một lãnh đạo của những người trồng cây coca, đã nói rằng chính phủ của ông sẽ tìm cách ngăn chặn thuốc phiện, nhưng ông muốn giữ một thị trường hợp pháp cho lá coca và khuyến khích xuất khẩu những sản phẩm coca hợp pháp. Ngày 1 tháng 5 năm 2006, Morales thông báo kế hoạch của mình nhằm tái quốc hữu hóa các mỏ hydrocarbon của Bolivia. Tuy nói rằng ý tưởng quốc hữu hóa sẽ không phải là một hành động chiếm đoạt, Morales đã gửi quân đội Bolivia đồng thời tới chiếm năm mươi sáu cơ sở sản xuất khí gas. Quân đội cũng được gửi tới hai nhà máy lọc dầu thuộc sở hữu của Petrobras tại Bolivia, chiếm tới hơn 90% năng lực lọc dầu Bolivia. Một thời hạn chót 180 ngày được công bố, theo đó mọi công ty năng lượng nước ngoài bị yêu cầu ký kết các hợp đồng mới trao cho Bolivia quyền sở hữu tới 82% nguồn thu. Thời hạn chót này đã trôi qua và tất cả các công ty đó đều đã ký hợp đồng. Các báo cáo từ chính phủ Bolivia và các công ty liên quan rất trái ngược nhau về các kế hoạch đầu tư tương lai. Brazil từng là khách hàng hydorcarbon lớn nhất của Bolivia, nước này nhập khẩu hai phần ba lượng khí gas Bolivia qua các đường ống do công ty bán tư nhân Petrobras (PBR) điều hành. Bởi vì gas chỉ có thể được xuất khẩu nước Bolivia nằm kín trong lục địa thông qua các đường ống lớn (và đắt đỏ) của PBR, bên cung cấp và bên mua hàng liên kết với nhau rất chặt chẽ. Quá trình tư nhân hóa sẽ đi tới đâu là một vấn đề còn chưa chắc chắn bởi PBR đã thông báo các kế hoạch sản xuất thay thế đủ số lượng khí gas hiện phải nhập khẩu từ Bolivia vào năm 2011. Vị thế của Bolivia càng trở nên quan trọng khi biết rằng trữ lượng hydrocarbon hiện được đánh giá cao hơn rất nhiều so với thời điểm trước khi diễn ra cuộc tư nhân hóa cũng như sự hỗ trợ nước này có được từ Hugo Chávez ở Venezuela. Thực hiện lời hứa khi tranh cử, Morales đã thành lập một hội đồng ngày 6 tháng 8 năm 2006 để soạn thảo một hiến pháp mới với mục tiêu trao nhiều quyền lực hơn cho cộng đồng bản xứ đa số [1]. Các vấn đề lập tức này sinh khi, vì không thể có được hai phần ba số phiếu cần thiết để dàn xếp những tranh cãi trong việc soạn thảo hiến pháp, đảng của Morales đã đơn phương thông báo rằng chỉ cần đa số (50%+1) là đủ cho việc đảm bảo soạn thảo hiến pháp. Những cuộc phản kháng bạo lực diễn ra trên khắp đất nước tháng 12 năm 20066, chủ yếu tại vùng phía đông đất nước, nơi ẩn chứa đa số nguồn tài nguyên hydrocarbon. Nhiều nhóm tại vùng này đe dọa ly khai khỏi quốc gia nếu Morales không để họ tham gia vào quá trình soạn thảo hiến pháp. == Chính trị == Hiến pháp năm 1967, được sửa đổi năm 1994, quy định sự cân bằng giữa các quyền hành pháp, lập pháp và tư pháp. Tuy nhiên, nhánh hành pháp luôn có nhiều sức mạnh và thường tìm cách có được tiếng nói quyết định trong Nghị viện, vai trò của cơ quan này chủ yếu chỉ giới hạn trong việc tranh luận và phê chuẩn các sáng kiến lập pháp của phe hành pháp. Tư pháp, gồm Toà án tối cao và các toà án cấp khu vực và cấp thấp khác, từ lâu đã tai tiếng với nạn tham nhũng và thiếu hiệu quả. Qua các lần sửa đổi hiến pháp năm 1994, và pháp luật, chính phủ đã đề xuất các biện pháp cải cách trong hệ thống tư pháp và công việc đang được thực hiện. Chín khu vực tại Bolivia có nhiều quyền tự trị lớn hơn theo luật Phi trung ương hoá Hành chính năm 1995. Quyền tự trị của khu vực còn tăng hơn nữa khi lần đầu tiên các Thống đốc (prefectos) khu được bầu cử trực tiếp ngày 18 tháng 12 năm 2005, sau những cuộc phản kháng kéo dài của lãnh đạo khu Santa Cruz, người ủng hộ quyền tự trị cao của các khu. Các thành phố và thị trấn Bolivia được điều hành bởi các vị thị trưởng và hội đồng do dân trực tiếp bầu ra. Những cuộc bầu cử thành phố được tổ chức ngày 5 tháng 12 năm 2004, và các hội đồng được bầu với nhiệm kỳ năm năm. Luật về sự tham gia của dân chúng tháng 4 năm 1994, trao một tỷ lệ lớn những nguồn thu quốc gia cho các thành phố tự do chi tiêu, việc này đã giúp nhiều cộng đồng thực hiện tốt những chương trình cải thiện cơ sở hạ tầng và dịch vụ. Tổng thống được bầu với nhiệm kỳ năm năm theo phương thức phổ thông đầu phiếu. Vị tổng thống được bầu Gonzalo Sánchez de Lozada đã từ chức tháng 10 năm 2003, và được thay thế bởi phó tổng thống Carlos Mesa. Tới lượt mình Mesa lại được Thẩm phán Toà án tối cao Eduardo Rodríguez thay tháng 6 năm 2005. Sáu tháng sau, ngày 18 tháng 12 năm 2005, lãnh đạo phe xã hội người bản xứ, Evo Morales, được bầu làm tổng thống. === Nhánh lập pháp === Congreso Nacional (Nghị viện Quốc gia) có hai viện. Cámara de Diputados (Viện đại biểu) có 130 thành viên được bầu với nhiệm kỳ năm năm, 70 người thuộc các quận được bầu một đại biểu (circunscripciones) và 60 người bầu theo tỷ lệ đại diện. Thượng viện Cámara de Senadores (Viện Thượng nghị sĩ) có 27 thành viên (ba người mỗi khu), được bầu với nhiệm kỳ năm năm. Theo Sách kỷ lục Guinness, tổng cộng đã diễn ra 192 cuộc đảo chính tại Bolivia trong lịch sử nước này, cao nhất thế giới. == Các khu và các tỉnh == Bolivia được chia thành chín khu vực (departamentos); thủ phủ trong ngoặc đơn: Beni (Trinidad) Chuquisaca (Sucre) Cochabamba (Cochabamba) La Paz (La Paz) Oruro (Oruro) Pando (Cobija) Potosí (Potosí) Santa Cruz (Santa Cruz de la Sierra) Tarija (Tarija) Ngoài ra, các khu được chia tiếp thành 100 tỉnh (provincias), các tỉnh lại được chia thành nhiều tổng (cantones), và khu đô thị (municipalidades), xử lý các công việc địa phương. == Địa lý == Với diện tích 1.098.580 km² (424.135 mi² [2]), Bolivia là nước lớn thứ 28 thế giới (sau Ethiopia). Nước này có diện tích tương đương Mauritanie, và lớn gấp 1.5 lần bang Texas Hoa Kỳ. Bolivia có rất nhiều vùng đa dạng sinh thái trong lãnh thổ Bolivia. Các cao nguyên phía tây đất nước nằm trong dãy núi Andes và gồm cả Altiplano Bolivia. Những vùng đất thấp phía đông bao gồm nhiều vùng rừng nhiệt đới Amazon và Chaco. Điểm cao nhất là Nevado Sajama ở độ cao 6.542 mét (21.463 ft) trong khu Oruro. Hồ Titicaca nằm ở biên giới giữa Bolivia và Peru. Salar de Uyuni, sông muối lớn nhất thế giới, nằm ở góc cực tây nam đất nước, trong khu vực Potosí. Các thành phố lớn gồm La Paz, El Alto, Santa Cruz de la Sierra và Cochabamba. Cộng hòa Bolivia không có đường bờ biển, nhưng lại có đường biên giới quốc tế trên bộ với 5 quốc gia thuộc Nam Mỹ: Bolivia - Brasil: 3.400 km. Bolivia - Peru: 900 km. Bolivia - Chile: 861 km. Bolivia - Argentina: 832 km. Bolivia - Paraguay: 750 km. == Tranh chấp bờ biển với Chile == Bolivia đã trở thành quốc gia nằm kín trong lục địa từ năm 1879 khi nước này mất khu ven biển Litoral cho Chile trong cuộc chiến tranh. Tuy nhiên, nước này thực sự có đường thông ra Đại Tây Dương qua sông Paraguay. Tranh chấp giữa Chile và Bolivia bắt nguồn từ cuộc chiến tranh (1879-1883), trong đó Bolivia và đồng minh Peru bị thất bại, phải ký Hiệp ước hòa bình và hữu nghị, theo đó Bolivia mất 400 km bờ biển và 120.000km2 đất cho Chile. Bolivia sau đó tìm cách đòi lại lãnh thổ và đã nhiều lần cắt đứt quan hệ với Chile khi các nỗ lực không thành. Ngày 24.4 chính phủ của Tổng thống Bolivia Evo Morales đã kiện Chile ra Tòa án Công lý Quốc tế ở The Hague (Hà Lan) nhằm đòi lại đường ra biển Thái Bình Dương bị mất trong cuộc chiến với Chile hồi thế kỷ 19. == Kinh tế == Bolivia là một trong những nước nghèo nhất Nam Mỹ sau Guyana. Đây một phần vì tình trạng tham nhũng cao và vai trò thực dân của các cường quốc nước ngoài từ thời thực dân hóa. Nước này rất giàu tài nguyên thiên nhiên, và từng được gọi là một chú "lừa ngồi trên mỏ vàng". Ngoài các khu mỏ nổi tiếng, từng được biết tới từ thời Inca và sau đó bị những kẻ thực dân Tây Ban Nha khai thác, Bolivia sở hữu mỏ khí gas tự nhiên có trữ lượng lớn thứ hai Nam Mỹ sau Venezuela. Hơn nữa, El Mutún tại khu Santa Cruz chiếm 70% lượng sắt và magnesium thế giới. Tổng sản phẩm quốc nội (GDP) năm 2016 của Bolivia đạt 35.699 tỷ dollar Mỹ, đứng thứ 95 thế giới và đứng thứ 15 khu vực Mỹ Latin. Tăng trưởng kinh tế khoảng 2.5% mỗi năm và lạm phát được cho ở mức 3% tới 4% năm 2002 (tỷ lệ này năm 2001 dưới 1%). Tình thế kinh tế trì trệ hiện tại của Bolivia có liên quan tới nhiều yếu tố từ hai thập niên trước đây. Tai hoạ lớn đầu tiên với kinh tế Bolivia xảy ra khi giá bạc giảm mạnh trong thập niên 1980, đây là một trong những nguồn thu chính của Bolivia và cũng là một trong những ngành công nghiệp mỏ chính của họ. Tai hoạ thứ hai là sự chấm dứt của cuộc Chiến tranh lạnh cuối thập niên 1980 và đầu thập niên 1990 khi viện trợ kinh tế từ các quốc gia phương tây, những nước từng muốn giữ một chế độ thị trường tự do tại nước này thông qua hoạt động hỗ trợ tài chính, rút đi. Tai hoạ kinh tế thứ ba là chương trình xoá bỏ cây coca tại Bolivia do Hoa Kỳ hỗ trợ, cây coca Bolivia từng chiếm tới 80% nguyên liệu thô để sản xuất heroin trên thế giới ở thời đỉnh điểm. Cùng với việc sút giảm diện tích trồng coca, một nguồn thu lớn cho kinh tế Bolivia mất đi, đặc biệt cho tầng lớp nông dân. Từ năm 1985, chính phủ Bolivia đã đưa ra một chương trình ổn định kinh tế vi mô và cải cách cơ cấu đầy tham vọng nhằm mục tiêu duy trì sự ổn định giá cả, tạo ra các điều kiện cần thiết cho sự tăng trưởng bền vựng, và giảm bớt tình trạng khan hiếm. Một cuộc cải cách khu vực hải quan lớn trong những năm gần đây cũng đã góp phần tăng tính minh bạch trong khu vực này. Những thay đổi cơ cấu quan trọng nhất trong nền kinh tế Bolivia liên quan tới việc tư bản hoá nhiều doanh nghiệp trong lĩnh vực công cộng (Tư bản hoá trong hoàn cảnh Bolivia là một hình thức tư nhân hoá theo đó những nhà đầu tư được 50% cổ phần và quyền quản lý các doanh nghiệp công cộng nếu đồng ý đầu tư trực tiếp vào doanh nghiệp với thời hạn nhiều năm chứ không phải trả tiền trực tiếp cho chính phủ). Những cuộc cải cách lập pháp diễn ra cùng thời gian đã cho phép các chính sách tự do hoá thị trường được áp dụng, đặc biệt trong lĩnh vực hydrocarbon và viễn thông, và khuyến khích đầu tư tư nhân. Các nhà đầu tư nước ngoài được đối xử bình đẳng và quyền sở hữu công ty của nước ngoài không bị hạn chế tại Bolivia. Tuy chương trình tư bản hoá đã thành công trong việc làm tăng vọt con số đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) tại Bolivia (1.7 tỷ dollar vốn trong giai đoạn 1996-2002), Dòng chảy FDI đã giảm bớt trong những năm gần đây khi các nhà đầu tư hoàn thành các nghĩa vụ tư bản hoá theo hợp đồng. Năm 1996, ba đơn vị thuộc tập đoàn dầu khí nhà nước Bolivia (YPFB) liên quan tới khai thác hydrocarbon, sản xuất và vận tải đã được tư bản hoá, khuyến khích họ xây dựng một đường ống dẫn khí tới Brasil. Chính phủ có thoả thuận bán khí gas dài hạn cho Brazil tới tận năm 2019. Đường ống của Brazil chuyển khoảng 12 triệu mét khối (424 triệu cu. ft) mỗi ngày năm 2002. Bolivia có nguồn dữ trữ khí gas tự nhiên lớn thứ hai Nam Mỹ, và hiện lượng khí gas đang được sử dụng trong nước và xuất khẩu tới Brazil chỉ chiếm một phần nhỏ trong sản lượng khai thác tiềm năng. Chính phủ hy vọng tổ chức một cuộc trưng cầu dân ý bắt buộc năm 2004 về các kế hoạch xuất khẩu khí tự nhiên. Những cuộc phản kháng lan rộng phản đối việc xuất khẩu khí qua Chile đã buộc Tổng thống Sánchez de Lozada từ chức tháng 10 năm 2003. Tháng 4 năm 2000, Bechtel đã ký một hợp đồng với Hugo Banzer, cựu tổng thống Bolivia, để tư nhân hoá nguồn cấp nước cho thành phố lớn thứ ba Bolivia, Cochabamba. Hợp đồng này đã được chính thức trao cho công ty con của Bechtel là Aguas del Tunari, được thành lập chuyên biệt cho dự án này. Một thời gian ngắn sau đó, công ty đã tăng gấp ba giá nước cung cấp cho thành phố, một hành động dẫn tới những cuộc biểu tình và bạo động trong số những thành phần dân cư không thể tiếp tục tiếp cận nguồn nước sạch. Thiết quân luật được tuyên bố, và cảnh sát Bolivia đã giết chết ít nhất sáu người và làm bị thương hơn 170 người biểu tình khác. Giữa tình trạng suy sụp kinh tế và bất ổn gia tăng trong nước, chính phủ Bolivia buộc phải rút lại hợp đồng nước đó. Tháng 11 năm 2001, Bechtel và đối tác đầu tư chính của họ, công ty Abengoa Tây Ban Nha, đã đưa vụ việc ra trước Trung tâm giải quyết tranh chấp đầu tư quốc tế thuộc Ngân hàng thế giới. Họ đòi chính phủ Bolivia bồi thường 50 triệu dollar (25 triệu vì những hư hại và 25 triệu cho những thiệt hại lợi nhuận). Cuộc chiến pháp lý đã thu hút sự chú ý và áp lực từ nhiều nhóm chống toàn cầu hoá và chủ nghĩa tư bản. Giữa những cuộc tuần hành phản đối và áp lực, một thoả thuận đã được ký kết tại Bolivia ngày 19 tháng 1 năm 2006. Bechtel và Abengoa Tây Ban Nha đồng ý thôi theo kiện chống Bolivia để đồi lấy khoản bồi thường 2 Bolivianos (khoảng 30 cent Mỹ). Xuất khẩu của Bolivia đạt 1.3 tỷ dollar năm 2002, từ mức thấp 652 triệu năm 1991. nhập khẩu ở mức 1.7 tỷ dollar năm 2002. Các thuế suất tại Bolivia đều ở mức thấp 10%, với phí tư bản ở mức 5%. Thâm hụt thương mại Bolivia ở mức 460 triệu dollar năm 2002. Thương mại của Bolivia với các nước láng giềng đang tăng trưởng, một phần nhờ nhiều thoả thuận khuyến khích thương mại cấp vùng họ đang tham gia. Bolivia là một thành viên của Cộng đồng Andean và về danh nghĩa được hưởng quyền tự do thương mại với các thành viên khác (Peru, Ecuador, Colombia, và Venezuela.) Bolivia đã bắt đầu áp dụng một thoả thuận liên hiệp với Mercosur tháng 3 năm 1997. Thoả thuận này cho phép hình thành dần dần một khu vực tự do thương mại với ít nhất 80% mặt hàng thương mại giữa các bên trong giai đoạn mười năm, dù những cuộc khủng hoảng kinh tế trong vùng đã ảnh hưởng tới tiến trình này trong một số thời điểm. Luật ưu tiên thương mại Andean và luật dược phẩm (ATPDEA) Hoa Kỳ cho phép nhiều sản phẩm của Bolivia được tự do vào nước này dựa trên cơ sở đơn phương, gồm các sản phẩm len alpaca và llama, và phải chịu hạn ngạch là các sản phẩm bông, dệt. Hoa Kỳ vẫn là đối tác thương mại lớn nhất của Bolivia. Năm 2002, Hoa Kỳ xuất khẩu 283 triệu dollar hàng hóa tới Bolivia và nhập khẩu 162 triệu. Các sản phẩm xuất khẩu chính của Bolivia tới Hoa Kỳ gồm các sản phẩm thiếc, vàng, đá quý, và gỗ. Những món hàng nhập khẩu chính của họ từ Hoa Kỳ là máy tính, phương tiện, bột mì, và máy móc. Một hiệp ước đầu tư song phương giữa Hoa Kỳ và Bolivia đã bắt đầu có hiệu lực năm 2001. Nông nghiệp chiếm khoảng 15% GDP Bolivia. Diện tích đất được canh tác bằng kỹ thuật hiện đại gia tăng nhanh chóng tại vùng Santa Cruz, nơi cho phép canh tác hai mùa mỗi năm. Đậu nành là loại cây trồng chủ yếu, được bán vào thị trường Cộng đồng Andean. Khai thác khoáng sản và hydrocarbons chiếm 10% GDP khác và chế tạo dưới 17%. Chính phủ Bolivia vẫn phụ thuộc lớn vào viện trợ nước ngoài để cung cấp tài chính cho các dự án phats triển. Cuối năm 2002, chính phủ nợ các chủ nợ nước ngoài 4.5 tỷ dollar, 1.6 tỷ trong số này thuộc các chính phủ và đa phần số còn lại thuộc các ngân hàng phát triển đa phương. Đa số các khoản chi trả cho các chủ nợ là chính phủ đã bị trì hoãn nhiều lần từ năm 1987 thông qua cơ cấu Câu lạc bộ Paris. Những chủ nợ nước ngoài đồng ý điều này bởi Chính phủ Bolivia nói chung đã hoàn thành các mục tiêu tiền tệ và tài chính do các chương trình của IMF đưa ra từ năm 1987, dù các cuộc khủng hoảng kinh tế trong những năm gần đây đã làm sụt giảm thành tích kinh tế của Bolivia. Những thỏa thuận tái cơ cấu nợ do Câu lạc bộ Paris trao cho đã cho phép từng quốc gia chủ nợ cung cấp cho họ những khoản nợ tái cơ cấu với lãi suất khá thấp. Nhờ thế, một số quốc gia đã xóa bỏ nhiều khoản nợ song phương đáng kể của Bolivia. Chính phủ Hoa Kỳ đã đạt được một thỏa thuận tại cuộc họp tháng 12 năm 1995 của Câu lạc bộ Paris giảm 67% số nợ của nước này. Chính phủ Bolivia tiếp tục trả các khoản nợ cho các ngân hàng phát triển đa phương đúng hẹn. Bolivia là một nước được hưởng lợi từ chương trình Các quốc gia nợ nần nặng nề và chương trình giảm bớt gánh nặng nợ nần, vốn không cho phép họ tiếp cận các khoản vay với lãi suất thấp mới. Bolivia từng là một trong ba nước ở Tây Bán Cầu đủ tư cách được lựa chọn cho Đánh giá Thách thức Thiên niên kỷ (Millennium Challenge Account) và đang tham gia với tư các quan sát viên tại các cuộc đàm phán Thỏa thuận thương mại tự do (FTA). Năm 2004, chính phủ đã đặt trọng tâm lớn cho chương trình phát triển các cơ sở cảng biển tại Puerto Busch trên sông Paraguay. Cách xa nữa về phía bắc Puerto Suarez và Puerto Aguirre, hiện đang được nối với sông Paraguay qua kênh tamengo, đi xuyên qua Brazil, nơi các tàu chở container cỡ trung bình đi lại. Năm 2004 khoảng một nửa lượng hàng xuất khẩu của Bolivia đi qua sông Paraguay. Khi Puerto Busch hoàn thành, những tàu biển lớn hơn có thể cập cảng tại Bolivia. Việc này sẽ giúp gia tăng mạnh tính cạnh tranh của Bolivia, theo đó họ sẽ không lệ thuộc quá nhiều vào các cảng biển nước ngoài (Peru và Chile) nữa, giảm chi phí xuất nhập khẩu. Thuốc lá do các nông dân Bolivia trồng – năm 1992, hơn 1.000 triệu tấn – thậm chí không đủ cho nhu cầu trong nước và nước này vẫn phải nhập khẩu thêm. == Nhân khẩu == Tỷ lệ phân bố sắc tộc Bolivia được ước tính như sau: 30% người nói tiếng Quechua và 25% người nói tiếng Aymara. Nhóm ngôn ngữ lớn nhất trong khoảng ba chục nhóm ngôn ngữ bản xứ là Quechuas (2.5 triệu), Aymara (2 triệu), Chiquitano (180.000), và Guaraní (125.000). 30% còn lại là Mestizo (lai châu Âu và châu Mỹ bản xứ), và khoảng 15% được coi là người da trắng. Người da trắng chủ yếu là người criollo, tộc người này chủ yếu gồm các dòng họ Tây Ban Nha hầu như chưa lai tạp, con cháu của những người Tây Ban Nha thực dân thời trước. Đây là nhóm người hầu như nắm giữ quyền quản lý đất nước từ khi nước này giành được độc lập. Các nhóm da trắng nhỏ khác là người Đức nhóm thành lập lên công ty hàng không quốc gia Lloyd Aereo Boliviano, người Italia, người Mỹ, người xứ Basque, Croatia, người Nga, người Ba Lan và các nhóm thiểu số khác, nhiều người trong số họ là hậu duệ của những gia đình đã sống tại Bolivia trong nhiều thế hệ. Tương tự một nhóm đáng chú ý khác là cộng đồng Bolivia gốc Phi chiếm 0.5% dân số, hậu duệ của những nô lệ châu Phi đã được đưa tới làm việc tại Brazil và sau đó đã di cư xuống phía nam Bolivia. Họ chủ yếu tập trung tại vùng Yungas (các tỉnh Nor Yungas và Sud Yungas) tại khu La Paz, cách khoảng ba giờ xe từ thành phố La Paz. Cũng có một cộng đồng người Nhật Bản tập trung chủ yếu tại Santa Cruz de la Sierra, và người Trung Đông rất thành công trong hoạt động thương mại. Bolivia là một trong những nước kém phát triển nhất Nam Mỹ. Tới hai phần ba dân số, thường là nông dân, sống trong nghèo khổ. Mật độ dân số thay đổi từ mức chưa tới một người trên kilômét vuông ở các đồng bằng phía đông nam tới khoảng mười người trên kilômét vuông (hai nhăm người trên dặm vuông) ở các cao nguyên trung tâm. Năm 2006, mức tăng dân số khoảng 1.45% mỗi năm. Đại đa số người Bolivia theo Giáo hội Công giáo Rôma (tôn giáo chính thức), dù số người theo Tin lành cũng đang phát triển nhanh chóng. Hồi giáo với những tín đồ chủ yếu là người Trung Đông hầu như không tồn tại. Cũng có một cộng đồng Do Thái nhỏ hầu như đều có nguồn gốc Ashkenazi. Hơn 1% người Bolivia theo Đức tin Bahá'í (khiến Bolivia trở thành một trong những quốc gia có tỷ lệ người theo Đức tin Bahá'ís lớn nhất thế giới). Cũng có những cộng đồng dòng Mennonite tại khu Santa Cruz Nhiều cộng đồng bản xứ đã hòa trộn các biểu tượng tôn giáo thời tiền Columbo và Thiên chúa giáo vào trong tín ngưỡng của họ. Khoảng 80% dân số nói tiếng Tây Ban Nha như tiếng mẹ đẻ, dù các ngôn ngữ Aymara và Quechua cũng thường gặp. Khoảng 90% trẻ em theo học tiểu học nhưng thường chỉ kéo dài một năm hoặc chưa tới một năm. Tỷ lệ biết chữ thấp tại các vùng nông thôn, nhưng theo CIA tỷ lệ biết chữ toàn quốc là 87%, tương đương với Brazil, nhưng dưới mức trung bình của Nam Mỹ. Sự phát triển văn hóa tại Bolivia ngày nay được chia thành ba giai đoạn riêng biệt: tiền Columbo, thuộc địa, và cộng hoà. Những tàn tích khảo cổ quan trọng, những đồ trang sức vàng bạc, những đền đài đá, những hiện vật gốm sứvà những mảnh vải dệt đã được tìm thấy trong nhiều nền văn hóa quan trọng thời tiền Colombo. Các tàn tích chính gồm Tiwanaku, Samaipata, Incallajta, và Iskanawaya. Quốc gia này cũng sở hữu rất nhiều di sản khác tại những địa điểm khó tiếp cận và ít được nghiên cứu khảo cổ thực sự. Người Tây Ban Nha đã mang tới đây nghệ thuật tôn giáo truyền thống của riêng họ, dưới bàn tay những người dân địa phương, các công nhân xây dựng người mestizo và những người thợ thủ công nó đã trở nên phong phú và phát triển thành một phong cách kiến trúc, hội hoạ, và điêu khắc khác biệt, được gọi là "Mestizo Baroque". Giai đoạn thuộc địa không chỉ để lại những bức hoạ của Pérez de Holguín, Flores, Bitti, và những người khác mà còn cả những tác phẩm xuất sắc của những người thợ đá, thợ chạm gỗ, thợ kim hoàn vô danh. Một phần quan trọng trong âm nhạc tôn giáo baroque truyền thống thời kỳ thuộc địa đã được tái hiện trong những năm gần đây và từng được biểu diện và hoan nghênh trên khắp thế giới từ năm 1994. Các nghệ sĩ điêu khắc Bolivia trong thế kỷ hai mươi gồm Guzmán de Rojas, Arturo Borda, María Luisa Pacheco, và Marina Núñez del Prado. Bolivia có một truyền thống dân gian phong phú. Âm nhạc dân gian của họ đặc trưng và đa dạng. "Những điệu múa ma quỷ" tại carnival Oruro hàng năm là một trong những sự kiện dân gian nổi tiếng nhất Nam Mỹ, và tại một lễ hội khác ít được biết hơn là Tarabuco. == Văn hoá == Văn hóa Bolivia từng bị ảnh hưởng mạnh mẽ bởi văn hóa Quechua, Aymara, cũng như những nền văn hóa thường thấy khác tại Mỹ Latinh. Lễ hội nổi tiếng nhất trong số nhiều lễ hội tại quốc gia này là "carnaval de Oruro", được UNESCO tuyên bố tháng 5 năm 2001 là một trong số 19 "Kiệt tác Di sản Truyền khẩu và Phi vật thể của Nhân loại". Các thể thao gồm bóng đá, môn thể thao quốc gia, cũng như foosball, được cả người lớn và trẻ em chơi trên những góc phố. Các vườn thú cũng là nơi có nhiều khách tham quan với nhiều loài động thực vật độc đáo nhưng không được đầu tư đầy đủ. == Ghi chú và tham khảo == Jennifer Hattam, Who Owns Water?, Sierra, Sept 2001, v.86, iss.5, p. 16. PBS Frontline/World, Leasing the Rain (video, tháng 6 năm 2002). Bolivia [3] == Liên kết ngoài == === Chính phủ === Agencia Para el Desarrollo de la Sociedad de la Informacion en Bolivia Agency for the Development of the Society of Information in Bolivia. Official web portal of the Bolivian Government. Presidencia de la Republica de Bolivia Office of the President of the Republic of Bolivia. Vicepresidencia de la Republica de Bolivia, Presidencia del Congreso Nacional Official web portal of the Office of the Vice-President of the Republic of Bolivia, President of the Senate and President of the Commission of Congress. Poder Judicial de la Republica de Bolivia Official web portal of the Bolivian Judicial Branch, which includes the Supreme Court of Bolivia, Constitutional Court, Agrarian Tribunal, Superior Courts and Judicial Council. Congreso Nacional de la Republica de Bolivia Official web portal of the Bolivian National Congress, which includes the Presidency of the National Congress, the National Senate and the House of Representatives. Corte Nacional Electoral Official web portal of the National Electoral Court of Bolivia. Electoral Organism of Bolivia. Asamblea Constituyente de la Republica de Bolivia Official web portal of the Constituent Assembly of Bolivia. Instituto Nacional de Estadistica Official web portal of the Statistics National Institute of Bolivia. === Thông tin chung === Public Opinion in Bolivia Election Tracker-Bolivia Encyclopaedia Britannica - Bolivia's Country Page Congressional Research Service (CRS) Reports regarding Bolivia === Truyền thông === Agencia Boliviana de Información (ABI) Energy Press El Diario - La Paz La Razón - La Paz La Prensa - La Paz La Jornada - La Paz El Deber - Santa Cruz El Mundo - Santa Cruz El Nuevo Día - Santa Cruz Los Tiempos - Cochabamba Opinión - Cochabamba La Patria - Oruro Correo Del Sur - Sucre El País - Tarija Nuevo Sur - Tarija El Potosí - Potosí La Palabra del Beni - Beni Bolivia Web Tv === Quân đội === Ministerio de Defensa de Bolivia Ministry of Defense. Ejercito piooop === Văn hoá bản xứ === Lots of photos of Natives fiestas, clothing, daily life etc in the different provinces 'Coca is a way of life' (The Guardian's article) === Ảnh === Bolivian Slow Picture Gallery People and landscapes from the Altiplano Photos of Bolivia Variety of photos free for personal use Photos of Bolivia === Sức khoẻ === Virtual Library of Public Health Bản mẫu:Mercosur Bản mẫu:OAS
football manager.txt
Football Manager là 1 series trò chơi mô phỏng việc quản lý bóng đá, được phát triển bởi Sports Interactive và phân phối bởi SEGA. Trò chơi này được bắt đầu năm 1992 dưới tên gọi Championship Manager, tuy nhiên cùng với việc chia tay với nhà phát hành đầu tiên Eidos, Sports Interactive đã không còn giữ được cái tên Championship Manager và tiếp tục phát hành trò chơi Football Manager với nhà phát hành mới là Sega. == Football Manager 2005 == Ngày 12 tháng 2 năm 2004, sau khi tách khỏi nhà phát hành Eidos Interactive, có thông báo rằng Sports Interactive, hãng phát triển trò chơi Championship Manager vẫn sở hữu mã nguồn, nhưng không có quyền sở hữu tên gọi Championship Manager, đã được gắn với Eidos (trước đó đã có quyền sở hữu thương hiệu từ Domark sau cuộc hợp nhất năm 1995). Những sự thay đổi này cũng dẫn đến một thông báo khác rằng trong tương lai, trò chơi quản lý bóng đá của Sports Interactive sẽ được phát hành dưới tên gọi Football Manager. Trong khi đó, nếu dòng game Championship Manager tiếp tục được phát triền, Eidos sẽ không còn mã nguồn, và dĩ nhiên không còn nhà sản xuất cho Championship Manager. Ra đi mà không có nhà phát hành cho dòng game quản lý bóng đá của mình, Sports Interactive bắt tay với Sega để rồi sau đó, vào tháng 4 năm 2006, Sports Interactive đã có được 1 nhà phát hành nhằm tiếp tục củng cố một xu hướng trong ngành công nghiệp game. Phiên bản đầu tiên được ra mắt dưới cái tên mới Football Manager là Football Manager 2005. Được biết đến rộng rãi với tên gọi "FM 2005", nó cạnh tranh trực tiếp với Championship Manager 5 từ Beautiful Game Studios được Eidos tài trợ. Football Manager 2005 bao gồm một giao diện được cải tiến cho người chơi, một engine được cải tiến, dữ liệu được cập nhật, thông tin trước và sau trận đấu, thông tin về các cầu thủ quốc tế, tin tức tổng hợp về các giải đấu, (engine) trận đấu 2D,báo cáo của HLV về đội bóng, trung tâm việc làm cho những HLV "thất nghiệp", điều khoản kết thúc hợp đồng, tùy chọn cho mượn cầu thủ được cải tiến, những cuộc đấu trí giữa các HLV, và nhiều tính năng khác. Football Manager 2005 được phát hành ở Vương quốc Anh vào ngày 4 tháng 11 năm 2004, ngay sau đó cũng được phát hành ở nhiều quốc gia khác, và trở thành game bán nhanh thứ 5 mọi thời đại (theo Eurogamer). == Football Manager 2006 == Football Manager 2006 dành cho Windows và Mac OS được phát hành vào ngày 21 tháng 10 năm 2005 ở Vương quốc Anh (sớm hơn 2 tuần so với ngày phát hành dự kiến 4 tháng 11). Cùng ngày ra mắt game, Sports Interactive cũng cho ra mắt bản vá (patch) nhằm sữa một số lỗi phát hiện được trong quá trình thử nghiệm. Ngay trong tuần đầu ra mắt, nó đã trở thành game PC bán chạy thứ hai mọi thời đại ở Vương quốc Anh. Bên cạnh việc cập nhật một mùa giải mới so với FM 2005, FM 2006 còn bao gồm rất nhiều sự điều chỉnh cũng như sự cải tiến đối với gameplay. Những sự điều chỉnh này bao gồm chế độ nói chuyện với cầu thủ (team-talks), đơn giản hóa việc tập luyện, và màn hình trợ giúp trong game. Cùng với đó, game cũng được cập nhật bởi rất nhiều tình nguyện viên (những người hâm mộ tình nguyện cộng tác) Dữ liệu thường xuyên được cập nhật 2 lần trong suốt quá trình phát hành. Bản thứ nhất khi phát hành game, và bản thứ hai thường có thể download vào tháng 2, như một bản cập nhật miễn phí nhằm cập nhật thị trường chuyển nhượng mùa đông. Như thường lệ, một bản demo ra mắt ngày 2 tháng 9 năm 2005, và sau đó ngày 30 tháng 9 là bản gold demo. Đó là một phiên bản giới hạn thời gian của bản chính thức. === Football Manager 2006 - Xbox 360 === Phiên bản dành cho Xbox 360 ra mắt ngày 13 tháng 4 năm 2006 và là phiên bản đầu tiên dành cho thiết bị chơi game trong nhà của series Football Manager, bao gồm hệ thống 50 giải đấu có thể chơi được, cùng với dữ liệu đồ sộ gồm 250.000 cầu thủ (rất gần với con số của phiên bản PC), nhưng do đó dung lượng file lưu trữ cũng lớn, đòi hỏi ổ cứng của Xbox. Game cũng được miễn phí rộng rãi. Phiên bản này cũng sử dụng chức năng Xbox Live, cho phép người chơi tạo các giải đấu trực tuyến gồm tối đa 16 đội bóng có thể sử dụng dữ liệu khi chơi ngoại tuyến. Chức năng trao đổi qua giọng nói cũng được hỗ trợ đầy đủ khi chơi. SI cũng đã xác nhận rằng sẽ phát hành nội dung mới thông qua hệ thống Marketplace. == Football Manager 2007 == Vào ngày 8 tháng 6 năm 2006, Sports Interactive công bố một vài chi tiết của Football Manager 2007. "Gồm hơn 100 sự cải tiến, Football Manager 2007 sẽ được phát hành trên PC, Mac và Intel Mac, cũng như Xbox và hệ thống giải trí của Microsoft. Football Manager Handheld trên hệ thống giải trí cầm tay PlayStation của Sony (PSP) sẽ được phát hành vào Giáng sinh năm 2006." Ngày 24 tháng 9 năm 2006, có thông báo rằng Football Manager 2007 sẽ ra mắt vào ngày 20 tháng 10 năm 2006. Ngày 1 tháng 10 năm 2006, Sports Interactive phát hành bản gold demo của FM 2007, gồm 2 phiên bản, vanilla và strawberry. Cả 2 bản đều cho phép người chơi quản lý 6 tháng trong mùa giải. Bản strawberry gồm nhiều lựa chọn quickstart hơn do đó người chơi có thể thử sức ở nhiều giải đấu hơn. Nó cũng gồm nhiều hiệu ứng hình ảnh hơn bản vanilla. Thực tế thì Football Manager 2007 đã ra mắt vào ngày 18 tháng 10 năm 2006 khi một số cửa hàng bán lẻ lờ đi ngày phát hành chính thức. Những nét mới ở phiên bản 2007 bao gồm hình ảnh của bạn khi làm HLV, tăng đáng kể khả năng tương tác với các phương tiện truyền thông như tiếp cận với các phóng viên báo chí địa phương về trận đấu sắp tới hoặc bình luận về màn trình diễn của các học trò trong những trận đấu gần đây; các mức độ phê phán hay khen ngợi cầu thủ khác nhau (hạnh phúc hay rất hài lòng về phong độ cầu thủ thay vì chỉ một thuật ngữ chung chung như trước kia), một vài điểm tương tự cũng được bổ sung như bày tỏ sự ngưỡng mộ đối với cầu thủ hay cố gắng làm mục tiêu chuyển nhượng bối rối. Những yêu cầu đối với ban lãnh đạo cũng được cải tiến đáng kể. Nhưng sự cải tiến rõ rệt nhất được SI ca ngợi là hệ thống tuyển trạch viên. Kinh nghiệm của tuyển trạch viên cũng như HLV sẽ được thể hiện một cách trực quan thông qua các biểu đồ thanh và các tuyển trạch viên sẽ có thêm thông tin từ khu vực mà họ đã quan sát trước đó. Cùng với đó người chơi cũng có thể nhận CLB con hay được CLB khác đỡ đầu, nhằm cho mượn cầu thủ đến các giải đấu thấp hơn giúp họ có thêm kinh nghiệm, dễ dàng có giấy phép lao động hơn, hoặc trao đổi cầu thủ…, hoặc đối với các CLB hạng dưới, được tăng viện miễn phí, tạo ra khoản phụ thu thông qua chi phí lien quan và đá giao hữu. Theo hướng ngược lại, các tuyển trạch viên của CLB đỡ đầu sẽ có thêm thông tin từ khu vực của CLB con nếu CLB con ở quốc gia khác. Một bản vá đã được phát hành để sửa một số lỗi chính trong game, như các bản báo cáo không thực tế, hay số lượng các ca chấn thương đáng kể khi đang diễn ra trận đấu. Bản vá cuối cùng là 7.0.2 94768. Ngày 27 tháng 7, trang web của Football Manager được cập nhật với một mục mới: [Football Manager 2008]. == Football Manager 2008 == Ngày 3 tháng 10 năm 2007, SEGA Europe Ltd và Sports Interactive thông báo Football Manager 2008 sẽ được phát hành vào ngày 19 tháng 10. Tuy nhiên, ngày phát hành đã được đẩy lên sớm hơn 1 ngày, 18 tháng 10. Đã có một vài nét mới: một màn hình radar nhỏ xuất hiện trong quá trình thực hiện những sự thay đổi chiến thuật giúp HLV dễ dàng nắm bắt tình hình trận đấu, việc quản lý ở cấp độ quốc gia được cài thiện, giao diện mới, hệ thống trợ giúp tư vấn, hệ thống ghi chú được cải thiện, sự lựa chọn đội trưởng được sửa chữa, hệ thống sự tin cậy của ban lãnh đạo và người hâm mộ được cải tiến, engine trận đấu được cải thiện. Người chơi có thể thay đổi kích thước sân bóng. Hệ thống giải thưởng được nâng cấp. Xuất hiện đội hình hay nhất mọi thời đại. Hệ thống tài chính được sửa chữa. Hệ thống FaceGen cho các cầu thủ thế hệ sau. == Football Manager 2009 == Ngày 3 tháng 9 năm 2008, Sports Interactive tung ra một bản video xem thử và thông báo Football Manager 2009 sẽ ra mắt ngày 14 tháng 11. Sự khác biệt lớn nhất so với các phiên bản cũ là sự xuất hiện của engine trận đấu 3D lần đầu tiên trong lịch sử dòng game. Các điểm đáng chú ý khác có thể kể ra như sự xuất hiện của phái yếu trong hàng ngũ HLV, hệ thống họp báo mới, các bản báo cáo chi tiết hơn của trợ lý HLV và hệ thống chuyển nhượng thực thế hơn. Điểm nhấn cuối cùng của FM 09 là lần đầu tiên được phát hành qua đĩa DVD. Ngày 17 tháng 12 năm 200, Sports Interactive thông báo đã đạt được thỏa thuận với CLB Arsenal nhằm phát hành một phiên bản FM 09 độc quyền, bao gồm hình ảnh của tất cả các cầu thủ chính thức trong đội hình Arsenal và giao diện độc quyền với màu sắc truyền thống của CLB. Không lâu sau thông báo trên, Sports Interactive cũng cố việc bán hàng qua mạng với việc rao bán FM 09 thông qua eSellerate dành cho hệ điều hành Mac OS vào ngày 23 tháng 12. Đó là dấu hiệu đầu tiên của dòng game này nhằm phổ cập đến người chơi trên toàn cầu thông qua hệ thống phân phối trực tuyến. == Football Manager 2010 == Ngày 12 tháng 8 năm 2009, Sports Interactive và SEGA Europe Ltd. thông báo rằng Football Manager 2010 cho PC và Apple Macintosh, và Football Manager Handheld 2010 cho Sony PSP sẽ ra mắt vào ngày 30 tháng 10 năm 2009. Game bao gồm Cúp Challenge AFC và vòng loại, giải vô địch Caribe. Football Manager đã là một thành công lớn, giành vị trí số 1 trên rất nhiều bảng xếp hạng game. Đã có rất nhiều cải tiến trong bản FM10, trong đó phải kể đến:- Giao diện người dùng được thay đổi hoàn toàn giúp người chơi dễ dàng và nhanh chóng tìm kiếm thông tin. Công cụ phân tích trận đấu được áp dụng cho từng cầu thủ trên sân giúp người chơi có thể dễ dàng tìm ra điểm mạnh cũng như điểm yếu của mọi đội bóng. Dễ dàng thay đổi chiến thuật từ ngoài đường biên. Thêm hai đội tuyển quốc gia, Zanzibar và Tuvalu. == Football Manager 2011 == FM12 được ra mắt vào ngày 5 tháng 11 năm 2010. Ngày 23 tháng 7 năm 2010, một vài điểm đáng chú ý cũng như thiết kế của hộp đĩa đã bị rò rỉ trước khi có một thông báo chính thức. Cải thiện những tùy chọn về tập luyện Thêm nhiều tổ hợp dành cho tìm kiếm cầu thủ Cải thiện hình ảnh cũng như hiệu ứng 3D Xuất hiện những người môi giới cầu thủ Chơi game vào buổi tối (còn gọi là hiệu ứng ban đêm) Hiệu ứng thời tiết == Football Manager 2012 == Football Manager 2012 ra mắt vào ngày 21 tháng 10 năm 2011. Chuyển nhượng - những thay đổi quan trọng trong hệ thống chuyển nhượng và hợp đồng Cải tiến trong hệ thống tuyển trạch Cải tiến về hiệu ứng 3D - chuyển động mới, hệ thống cổ động viên mới, thêm sân vận động Quản lý mọi lúc mọi nơi - khả năng thêm bớt giải đấu Hệ thống mới cho phép người chơi chỉ rõ ý định nói Giao diện mới, bộ lọc mới và nhiều thứ khác == Football Manager Handheld == FMH lần đầu ra mắt vào ngày 13 tháng 4 năm 2006. Đây là phiên bản đầu tiên của SI dành cho hệ máy chơi game cầm tay. Do sự hạn chế về phần cứng của [PSP] nên FM Handheld chỉ là phiên bản rút gọn của FM 2009 với chỉ 9 quốc gia bạn có thể chơi được và tổng cộng 27 giải đấu. Dưới đây là danh sách các giải đấu bạn có thể chơi được trong FMH 2009. Australia - A League England - Premier Division, Championship, League One, League Two, Blue Square Premier France - Ligue 1, Ligue 2, National Germany - Bundesliga 1, Bundesliga 2, Bundesliga 3 Netherlands - Eredivisie, Eerste Divisie Italy - Serie A, Serie B, Serie C1, Serie C2 Portugal - Liga Sagres, Liga Vitalis Scotland - Premier League, First Division, Second Division, Third Division Spain - Primera División, Segunda División == Football Manager Live == Ngày 20 tháng 4 năm 2007, SEGA Europe Ltd và Sports Interactive đã công bố một số thông tin về Football Manager Live, một thương hiệu game trực tuyến nhiều người chơi. Dự kiến sẽ ra vào tháng 10 năm 2008, Football Manager Live có nền tảng là dòng game Football Manager, nhưng được thiết kế đặc biệt dành riêng cho thể loại game trực tuyến nhiều người chơi. == Chú thích == == Liên kết ngoài == Football Manager - Trang web chính thức của Football Manager. Diễn đàn Football Manager Việt Nam Football Manager FOCI - Football Manager blog
di truyền.txt
Di truyền là hiện tượng chuyển những tính trạng của cha mẹ cho con cái thông qua gen của cha mẹ. Trong sinh học và di truyền học, di truyền chuyển những đặc trưng sinh học từ một sinh vật cha mẹ đến con cái và nó đồng nghĩa với di chuyển gen, gen thừa nhận mang thông tin sinh học (hay thông tin di truyền). Ngoài ra, các đặc điểm về tính cách, nhận thức và tư duy của con cái có thể được tiếp nhận từ cha mẹ thông qua môi trường sinh hoạt gia đình (các thói quen, quy định của gia đình gọi là gia phong, nề nếp). Ở con người, xác định đặc trưng nào phụ thuộc vào di truyền và đặc trưng nào phụ thuộc vào môi trường thường gây tranh cãi; đặc biệt là đối với những đặc tính phức tạp như trí thông minh và màu da; giữa tự nhiên và nuôi dưỡng. == Lịch sử == Từ thời thượng cổ, người ta đã nhận thức được rằng mọi sinh vật từ thực vật đến động vật đều thể hiện ít nhiều những đặc tính từ cha và mẹ; và khác biệt giữa con và cha mẹ cũng thường được truyền lại cho thế hệ cháu. Từ đó, con người dò đoán và tìm được phương pháp tuyển chọn và phát triển giống tốt cho gia súc cũng như rau cải, lúa gạo, v.v.... Hiện tượng di truyền được con người chấp nhận như chuyện hiển nhiên cho đến cuối thế kỷ 19 mới có giải thích khoa học hơn. Nhóm nghiên cứu di truyền theo chủ thuyết Lamarck cho rằng ngoài di truyền của những biểu hiện bẩm sinh còn có di truyền của những biểu hiện mắc phải (gây nên) bởi môi trường. Charles Darwin đưa lên giả thuyết về tiến hoá vào năm 1859 nhưng gặp một số khúc mắc - khó khăn nhất là giải thích phương thức của di truyền. Darwin cho rằng có pha trộn giữa di truyền bẩm sinh và di truyền của những biểu hiện gây nên bởi môi trường. Nhưng nếu thật sự có sự pha trộn này, chỉ sau một vài thế hệ sẽ nảy sinh ra hiện tượng đồng dạng của toàn chủng và sẽ không có đủ biến dị để sự tuyển chọn tự nhiên có thể xảy ra. Do đó, Darwin phải tiếp thu phần nào giả thuyết của Lamarck vào công trình nghiên cứu của ông. Cách trình bày của Darwin về di truyền là cho thấy nó xảy ra như thế nào và người ta có thể dự đoán hướng di truyền trong thế hệ tới (thí dụ những đặc tính được di truyền nhưng không biểu hiện ở cha hay mẹ vào lúc thụ thai, nhiều cá tính di truyền phân biệt theo giống đực hay cái). Phương thức của di truyền thì Darwin không giải thích được. Khái niệm di truyền của Darwin được người anh em bà con của ông Francis Galton cải tiến, từ đó tạo cơ sở cho nền khoa học di truyền. Tuy nhiên Galton không chấp nhận thuyết tiến hóa toàn diện của Darwin (pangenesis: dựa trên di truyền của các tính trạng mắc phải trong cuộc sống). Năm 1880, August Weismann cắt đuôi của nhiều thế hệ chuột trong phòng thử nghiệm, và cho thấy các con chuột trong thế hệ sau vẫn có đuôi. Từ đó, ông chứng minh rằng không có sự di truyền của các tính trạng mắc phải trong cuộc sống. Tu sĩ Áo Gregor Mendel khám phá ra "di truyền từng phần" khi ông cho thấy các giống đậu có thể được "pha trộn" để cho ra nhiều loại giống khác nhau nhưng vẫn còn một ít tính trạng từ thế hệ trước. Tuy ông tìm ra hiện tượng này năm 1865, mãi cho đến 1901 khoa học mới chú ý đến khám phá này. Ban đầu người ta cho rằng di truyền dạng Mendel chỉ cho tác dụng trên những tính trạng đơn thuần (như kích thước). Nhưng sau đó, năm 1918 Ronald Fisher chứng minh được rằng di truyền còn có thêm tác dụng hòa hợp (như pha hai loài hoa khác màu, cho loại thứ ba có cả hai màu). Từ năm 1930 công trình của Fisher và các bậc nghiên cứu di truyền tiền bối như Mendel và Darwin được phối hợp vào ngành di truyền học hiện đại. Trong thập niên 1960 Trofim Lysenko tái thiết lập lối suy nghĩ của Lamarck (nghĩa là di truyền của các tính trạng mắc phải trong cuộc sống) và đem vào nghiên cứu nông nghiệp của Liên Xô. Vài năm sau nông nghiệp Liên Xô suy sụp, thức ăn thiếu thốn, vì các cuộc canh tân nông nghiệp thất bại. == Hình ảnh == == Xem thêm == Di truyền học ADN == Tham khảo == == Đọc thêm == Sinh học 9, Nhà xuất bản Giáo dục, Nguyễn Quang Vinh - Tổng Chủ biên kiêm Chủ biên Sổ tay kiến thức Sinh học THCS, Nhà xuất bản Giáo dục, Nguyễn Quang Vinh - Chủ biên == Liên kết ngoài == Stanford Encyclopedia of Philosophy entry on Heredity and Heritability Lamarck Revisited
william wordsworth.txt
William Wordsworth (07 tháng 4 năm 1770 - 23 tháng 4 năm 1850) là nhà thơ lãng mạn Anh, người cùng với Samuel Taylor Coleridge khởi xướng trào lưu lãng mạn) trong văn học tiếng Anh với tác phẩm Thơ trữ tình (Lyrical Ballads, 1798). Trong làng thi ca Anh, ông được xếp ngồi chiếu trên, cùng mâm với William Shakespeare và John Milton. William Wordsworth được bầu làm Nhà thơ Hoàng gia (Poet Laureate) của Anh từ năm 1843 cho đến khi ông qua đời vào năm 1850. == Tiểu sử == William Wordsworth sinh ngày 7 tháng 4 năm 1770 ở Cockermouth, Cumberland. Là con thứ hai trong một gia đình có 5 người con. Wordsworth xuất hiện lần đầu như là một nhà thơ vào năm 1787 khi ông in một bài thơ trong Tạp chí châu Âu (The European Magazine). Cũng trong năm đó ông vào học trường Cao đẳng St John, Cambridge, chuyên ngành văn học Anh và tiếng Ý. Ông nhận bằng Cử nhân năm 1791. Trong những kỳ nghỉ ông thường đi du ngoạn ở nhiều nơi và viết trường ca Cuộc dạo chơi buổi chiều (An Evening Walk) với nhiều câu thơ tả phong cảnh thiên nhiên nổi tiếng. Mùa hè năm 1790 ông cùng với một người bạn đi bộ dọc nước Pháp, qua Thụy Sĩ rồi sang Ý. Thời gian ở Pháp ông yêu một cô gái Pháp tên là Annette Vallon, cô gái này sinh cho ông một đứa con gái đặt tên là Caroline. William Wordsworth thừa nhận mình là cha của đứa bé nhưng từ chối việc cưới mẹ nó. Trở về Anh, ông xuất bản Cuộc dạo chơi buổi chiều cùng với một số truyện viết ở Pháp. Năm 1794 một người bạn của William Wordsworth chết, trước đó người này đã di chúc cho ông được hưởng số tiền 900 bảng. Món quà này giúp cho William Wordsworth có thể dành tất cả thời gian cho thơ ca. Từ năm 1795 đến năm 1797 ông viết bi kịch thơ Dân biên giới (The Borderers) về những xung đột giữa những người ở vùng biên Anh và Scotland. Trường ca Ngôi nhà đổ nát (The Ruined Cottage) – về số phận bất hạnh của những phụ nữ, sau đó trường ca này trở thành phần đầu của tác phẩm Chuyến tham quan (The Excursion). Năm 1802 bá tước William Lowther chết, người thừa kế của bá tước đồng ý trả cho William Wordsworth 4000 bảng, là số tiền mà William Lowther ngày trước nợ cha của ông. Số tiền này là một tài sản lớn đối với William Wordsworth và em gái của ông, giúp cho William Wordsworth có thể cưới vợ. Tháng 8 năm 1802 William Wordsworth cùng vợ sắp cưới là Mary Hutchinson và em gái Dorothy sang Pháp thăm Annette Vallon và con gái Caroline. Tháng 10 năm này William Wordsworth và Mary Hutchinson làm đám cưới. Cuộc hôn nhân của họ hạnh phúc và họ có 5 người con. Năm 1843, sau cái chết của nhà thơ Robert Southey, William Wordsworth được bầu làm Nhà thơ Hoàng gia (Poet Laureate). Những năm cuối đời, mà đặc biệt sau cái chết của đứa con gái, William Wordsworth bỏ làm thơ. William Wordsworth mất ngày 23 tháng 4 năm 1850. == Tác phẩm chính == Lyrical Ballads, with a Few Other Poems (1798) "Simon Lee" "We are Seven" "Lines Written in Early Spring" "Expostulation and Reply" "The Tables Turned" "The Thorn" "Lines Composed A Few Miles above Tintern Abbey" Lyrical Ballads, with Other Poems (1800) Preface to the Lyrical Ballads "Strange fits of passion have I known" "She Dwelt among the Untrodden Ways" "Three years she grew" "A Slumber Did my Spirit Seal" "I travelled among unknown men" "Lucy Gray" "The Two April Mornings" "Nutting" "The Ruined Cottage" "Michael" "The Kitten At Play" Poems, in Two Volumes (1807) "Resolution and Independence" "I Wandered Lonely as a Cloud" Also known as "Daffodils" "My Heart Leaps Up" "Ode: Intimations of Immortality" "Ode to Duty" "The Solitary Reaper" "Elegiac Stanzas" "Composed upon Westminster Bridge, ngày 3 tháng 9 năm 1802" "London, 1802" "The World Is Too Much with Us" Guide to the Lakes (1810) " To the Cuckoo " The Excursion (1814) Laodamia (1815, 1845) The Prelude (1850) == Một số bài thơ == == Chú thích == == Tham khảo == Hunter Davies, William Wordsworth: A Biography, Frances Lincoln Ltd, London,2009 ISBN 978-0-7112-3045-3 Stephen Gill, William Wordsworth: A Life, Oxford University Press, 1989 ISBN 978-0192827470 Emma Mason, The Cambridge Introduction to William Wordsworth (Cambridge University Press, 2010)“The Cambridge Introduction to William Wordsworth - Academic and Professional Books - Cambridge University Press”. Cup.cam.ac.uk. Truy cập ngày 18 tháng 10 năm 2012. Mary Moorman, William Wordsworth, A Biography: The Early Years, 1770-1803 v. 1, Oxford University Press, 1957 ISBN 978-0198115656 Mary Moorman, William Wordsworth: A Biography: The Later Years, 1803-1850 v. 2, Oxford University Press, 1965 ISBN 978-0198116172 M.R. Tewari, One Interior Life—A Study of the Nature of Wordsworth's Poetic Experience, (New Delhi: S. Chand & Company Ltd, 1983) Report to Wordsworth, Written by Boey Kim Cheng, as a direct reference to his poems Composed Upon Westminster Bridge and The World is too Much with us
xã wells, quận wells, bắc dakota.txt
Xã Wells (tiếng Anh: Wells Township) là một xã thuộc quận Wells, tiểu bang Bắc Dakota, Hoa Kỳ. Năm 2010, dân số của xã này là 100 người. == Tham khảo == == Xem thêm == American FactFinder
lilium auratum.txt
Lilium auratum là loài bản địa của Nhật Bản, được gọi trong tiếng Nhật với các tên: 山百合 (yamayuri, ly núi), Bồ bồ hay Bồng bồng, thuộc họ Liliaceae. Loài này được Lindl. miêu tả khoa học đầu tiên năm 1862. == Miêu tả == Chiều cao cây 1-1,5m. Hoa nở vào khoảng tháng 7-8. == Trồng trọt == Loài hoa này sống khỏe ở vùng đất bằng phẳng hoặc axit; đất giàu phân sẽ gây hại cho cây. Củ nên được trồng trong lỗ có kích thước lớn gấp ba lần về cả chiều sâu và chiều rộng ở vùng thoát nước tốt. Nơi trồng loài này tốt nhất là trên đỉnh nơi nhận nhiều ánh sáng trong khi gốc của nó vẫn nằm trong bóng râm. Loài hoa ly này có thể trồng bằng hạt, nhưng những việc sinh sản quy mô lớn cần được khuyến khích. Thời gian sống cua nó khoảng 3-4 năm. Loài này đã được trồng trọt rộng rãi và nhiều giống hiện đại có nguồn gốc từ loài này. == Hóa học == L. auratum chứa các glyceride phenol như 1,2-O-diferuloylglycerol, 1-O-feruloyl-2-O-p-coumaroylglycerol, 1-O-p-coumaroyl-2-O-feruloylglycerol, 1-O-feruloylglycerol, 1,3-O-diferuloylglycerol, 1-O-feruloyl-3-O-p-coumaroylglycerol và 1-O-p-coumaroylglycerol. == Thông tin khác == Tại hội chợ triển lãm năm 1873 tại Vienna, loài này đã được giới thiệu cùng nhiều loài ly khác từ Nhật Bản đã gây được sự chú ý ở châu Âu. Kể từ đó, củ của loài này là một trong những mặt hàng xuất khẩu chủ yếu sang châu Âu thời kỳ Taisho. Nó được sử dụng chủ yếu như một dòng mẹ của các giống ở phương Tây. Loài ly này là biểu tượng của tỉnh Kanagawa. == Chú thích == == Liên kết ngoài == Phương tiện liên quan tới Lilium auratum tại Wikimedia Commons Dữ liệu liên quan tới Lilium auratum tại Wikispecies Vườn thực vật hoàng gia Kew; Đại học Harvard; Australian Plant Name Index (biên tập). “Lilium auratum”. International Plant Names Index. Truy cập ngày 16 tháng 7 năm 2013.
thiên mệnh anh hùng.txt
Thiên mệnh anh hùng là một bộ phim điện ảnh Việt Nam do đạo diễn Việt kiều Victor Vũ thực hiện. Phim có sự tham gia của Huỳnh Đông, Midu, Vân Trang, Khương Ngọc, Kim Hiền và Minh Thuận. Thiên mệnh anh hùng công chiếu vào Tết năm 2012, dựa trên tác phẩm Nguyễn Trãi phần 2 - Bức huyết thư của nhà văn Bùi Anh Tấn. == Nội dung == Sau vụ thảm án Lệ Chi viên, gia tộc Nguyễn Trãi chỉ còn một số người may mắn sống sót. Trong số đó có một đứa bé 8 tuổi, cháu nội (Con theo đúng lịch sử) Nguyễn Trãi, được một gia nhân đem đi trốn thật xa để tránh sự truy sát của phe đảng Tuyên Từ Thái hậu. 12 năm sau, đứa bé năm xưa may mắn thoát chết, nay đã là một thanh niên 20 tuổi khôi ngô, cường tráng và tinh thông võ nghệ mang tên Trần Nguyên Vũ (Nguyễn Anh Vũ theo đúng lịch sử). Sau khi được ân sư cho biết thân thế thật sự, Nguyên Vũ đã xuống núi và bắt đầu cuộc phiêu lưu hấp dẫn vào sâu trong triều đình với quyết tâm trả thù kẻ đã hại gia đình và minh oan cho dòng tộc. Càng dấn sâu vào chốn quan trường, Nguyên Vũ càng hiểu rõ những chuyện cơ mật, những mưu toan tranh giành quyền lực giữa các thế lực, phe phái trong triều đình. Tuy nhiên, các phe đều dè chừng lẫn nhau vì lời đồn đại về sự tồn tại của một bức huyết thư cho biết sự thật đằng sau vụ án Lệ Chi Viên. Trong không gian đầy thù địch ấy, Nguyên Vũ gặp Hoa Xuân, một nữ hiệp xinh đẹp có cùng một mối thâm thù và cùng chí hướng với mình. Định mệnh đưa họ đến với nhau trên con đường truy tìm bức huyết thư. Cùng nhau họ trải qua bao nhiêu âm mưu nguy hiểm của các phe phái, những cuộc tàn sát, những trận đối đầu nảy lửa giữa các sát thủ và các hiệp khách. == Diễn viên == Huỳnh Đông vai Nguyên Vũ Midu vai Hoa Xuân Vân Trang vai Tuyên Từ Thái hậu Khương Ngọc vai Trần Tướng quân Kim Hiền vai Hoa Hạ Minh Thuận vai Sư phụ Jayvee Mai Thế Hiệp vai Lê Đại nhân Lê Văn Anh vai Vương gia Bá Cường vai Vương Thiên Lê Dũng Nhi vai Nguyễn Trãi Nguyễn Vân Anh vai Nguyễn Thị Lộ Lê Ngọc Hân vai Lê Thái Tông Phùng Quang Tùng vai Lê Nhân Tông Phi Thanh Vân vai Gái lầu xanh Tuấn Bình vai Nguyên Vũ lúc nhỏ Phùng Hoa Hoài Linh vai Hoa Xuân lúc nhỏ Lê Ngọc Huỳnh vai Lão già điên Mai Anh vai Cô gái điên Hoàng Văn Huy vai Cha Hoa Hạ Phạm Minh Nguyệt vai Mẹ Hoa Hạ Thế Hưng vai Cha Nguyên Vũ Thu Hằng vai Mẹ Nguyên Vũ Ngọc Thân vai Nhật Nam Nguyên Mạnh Quang vai Đinh Phúc Hoàng Văn Thạnh vai Đinh Thắng Mạnh Sinh vai Sư trụ trì Thanh Tùng vai Sư trẻ Lê Văn Học vai Thầy thuốc giàu Lý Thanh Kha vai Thầy thuốc nghèo Nguyễn Châu vai Ông chủ quán nước Anh Duy vai Cháu bé == Giải thưởng == Phim đã đoạt 5 giải trong lễ trao giải thưởng Cánh diều vàng 2012: Phim điện ảnh xuất sắc nhất: Thiên mệnh anh hùng Đạo diễn xuất sắc nhất thể loại phim điện ảnh: Victor Vũ Nam diễn viên chính xuất sắc nhất thể loại phim điện ảnh: Huỳnh Đông Âm thanh xuất sắc nhất: Trần Đức Quang - Trần Anh Khoa Quay phim xuất sắc nhất: Nguyễn K'Linh Tại Liên hoan phim Việt Nam lần thứ 18 diễn ra vào năm 2013, đạo diễn Victor Vũ đã đem hai phim Thiên mệnh anh hùng và Scandal: Bí mật thảm đỏ của mình đi tranh giải, Thiên mệnh anh hùng lại tiếp tục nhận được giải Bông sen bạc trong khi giải Bông sen vàng thuộc về phim kinh dị Scandal: Bí mật thảm đỏ. == Thông tin thêm == Người chỉ đạo võ thuật cho bộ phim chính là nam diễn viên Johnny Trí Nguyễn Đây là bộ phim thứ 5 Vân Trang và Khương Ngọc đóng chung với nhau Diễn viên Khương Ngọc có sáng tác một bài hát mang tên "Thiên mệnh anh hùng" để làm nhạc chủ đề cho bộ phim Các cảnh quay của phim được thực hiện tại Ninh Bình, Hà Nội và Củ Chi == Tham khảo == == Liên kết ngoài == Thiên mệnh anh hùng tại Internet Movie Database Thiên mệnh anh hùng tại Facebook Thiên mệnh anh hùng tại Allmovie Trailer phim.
united states navy ships.txt
Tên của tàu chiến Hải quân Hoa Kỳ bắt đầu với cái tên USS hay U.S.S (tiếng Anh: United States Ship) có nghĩa là tàu Hoa Kỳ. Tên của một chiếc tàu được đặt theo sự lựa chọn của Bộ trưởng Hải quân Hoa Kỳ. Người ta thường gặp cụm từ USS ở trước tên của bất cứ một con tàu nào của Hải quân Hoa Kỳ. == Hàng không mẫu hạm == Tàu sân bay là cánh tay chiến lược quan trọng của Hải quân Hoa Kỳ, họ có hạm đội tàu sân bay lớn nhất thế giới. Các tàu sân bay cho phép không lực của Hoa Kỳ đạt đến bất cứ nơi nào trên thế giới. Do khả năng của dặt hầu hết vào các quốc gia trong sự nổi bật của không quân Mỹ, tàu sân bay là nên tảng cho việc chuyển tiếp và chiến lược răn đe của Hoa Kỳ. Nhiều nhà khai thác đang triển khai trên thế giới để cung cấp sự hiện diện quân sự, đáp ứng nhanh chóng các cuộc khủng hoảng, tập trận với các đồng minh; Lớp Enterprise (Ban đầu có sáu kế hoạch, nhưng chỉ một được thực hiện) USS Enterprise (CVN-65) — Norfolk, Virginia Lớp Nimitz (10 chiếc) USS Nimitz (CVN-68) — Everett, Washington USS Dwight D. Eisenhower (CVN-69) — Norfolk, Virginia USS Carl Vinson (CVN-70) — San Diego, California USS Theodore Roosevelt (CVN-71) — Norfolk, Virginia USS Abraham Lincoln (CVN-72) — Everett, Washington USS George Washington (CVN-73) —Yokosuka, Japan USS John C. Stennis (CVN-74) — Bremerton, Washington USS Harry S. Truman (CVN-75) — Norfolk, Virginia USS Ronald Reagan (CVN-76) — Naval Air Station North Island in San Diego, California USS George H. W. Bush (CVN-77) — Norfolk, Virginia Lớp Ford (Đang xây dựng, có nhiều kế hoạch) USS Gerald R. Ford (CVN-78) — Đang xây dựng, sẽ thay thế USS Enterprise USS John F. Kennedy (CVN-79) — Theo kế hoạch, sẽ thay thế USS Nimitz USS Enterprise CVN-80 — Theo kế hoạch, sẽ thay thế USS Dwight D. Eisenhower == Tham khảo ==
nam âu.txt
Nam Âu là một khu vực địa lý thuộc châu Âu. Khái niệm này có thể thay đổi tùy cách nhìn nhận theo lĩnh vực khí hậu (khí hậu Địa Trung Hải), địa lý hay ngôn ngữ - văn hóa. Nam Âu bao gồm những nước châu Âu bao quanh biển Địa Trung Hải, kể cả Bồ Đào Nha, nước chỉ có bờ biển Đại Tây Dương, gồm các bán đảo Balkan, Ý, và Iberia. Nam Âu còn được chia nhỏ theo văn hóa: Nam Tây Âu, theo truyền thống Công giáo Rôma và ngôn ngữ Rôman, tương ứng phần phía Nam của Tây Âu. Nam Đông Âu, phần phía Nam của Đông Âu, nằm ở điểm giao của các hệ Hy Lạp, Slav, La tinh và các tôn giáo Tin Lành (chính thống), Công giáo và Đạo Hồi. == Định nghĩa theo địa lý == Rất nhiều định nghĩa được sử dụng để chỉ phần phía Nam của châu Âu. Các bản đồ dưới đây chỉ những các phân chia đó. == Định nghĩa địa lý chính trị của Liên Hiệp Quốc == Theo phân chia của Liên Hợp Quốc, Nam Âu gồm 16 nước: Bồ Đào Nha Tây Ban Nha Gibraltar Andorra Ý San Marino Thành Vatican Malta Slovenia Croatia Montenegro Serbia Hy Lạp Macedonia Albania Bản mẫu:Country data Kypros Kypros == Các nước khác == Ngoài 16 nước được phân chia bởi Liên Hiệp Quốc, Nam Âu còn có thể xem như gồm cả: Bulgaria România == Phân chia theo khí hậu == Khí hậu Địa Trung Hải, ảnh hường phần Nam của châu Âu gồm bán đảo Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha, một phần bán đảo Ý, các nước Balkan và Hy Lạp tạo nên sự tương đồng về mặt văn hóa giữa các vùng này: về lối sống, thức ăn (rượu vang, lúa mỳ, dầu ô liu...) == Phân chia theo ngôn ngữ và văn hóa == Về văn hóa và ngôn ngữ, Nam Âu gồm hai phần. Thức nhất, các nước nhóm ngôn ngữ Rôman, tức các nước La Tinh. Thứ hai, các nước Balkan chịu ảnh hưởng bởi sự pha trộn văn hóa La Tinh (Romania), Hy Lạp (Hy Lạp) Slav (Slovenia, Croatia, Montenegro, Serbia, Macedonia, Bulgaria) == Tham khảo ==
cupertino, california.txt
Cupertino, California là một thành phố thuộc quận Santa Clara trong tiểu bang California, Hoa Kỳ. Thành phố có tổng diện tích km², trong đó diện tích đất là km². Theo điều tra dân số Hoa Kỳ năm 2010, thành phố có dân số 58.302 người. Cupertino nằm ngay phía tây của San Jose trên rìa phía tây của thung lũng Santa Clara với các phần mở rộng vào các chân đồi của dãy núi Santa Cruz. Forbes xếp hạng là một trong những người có học vấn hầu hết các thành phố nhỏ. Thành phố là nơi đóng trụ sở của Apple Inc.. == Tham khảo == == Liên kết ngoài ==
sóc trăng.txt
Sóc Trăng là một tỉnh ven biển thuộc đồng bằng sông Cửu Long thuộc Việt Nam, nằm ở cửa Nam sông Hậu, cách thành phố Hồ Chí Minh khoảng 231 km, cách Cần Thơ 62 km. Tỉnh Sóc Trăng nằm ở hạ nguồn của sông Hậu, là nơi sông Hậu đổ vào biển Đông tại hai cửa Định An và Trần Đề, với dân số và diện tích điều đứng thứ 6 trong khu vực Đồng bằng sông Cửu Long. Sóc Trăng là một vùng đất được người Việt đến khai khẩn trong khoảng hơn 200 năm nay. Vào thế kỷ XVII, Sóc Trăng thuộc vùng Ba Thắc của Chân Lạp. Năm 1757, vua Chân Lạp là Nặc Thuận cắt đất Ba Thắc dâng cho chúa Nguyễn. Chúa Nguyễn đặt Ba Thắc thuộc dinh Long Hồ và vận động người Việt vào khai hoang. Năm 1900, Pháp lập tỉnh Sóc Trăng. Năm 1956, tỉnh Sóc Trăng hợp nhất với tỉnh Bạc Liêu thành tỉnh Ba Xuyên. Sau ngày 30 tháng 04 năm 1975, tỉnh Ba Xuyên giải thể, địa bàn Sóc Trăng thuộc tỉnh Hậu Giang. Ngày 26 tháng 11 năm 1991, tỉnh Sóc Trăng được tái lập. Tên gọi Sóc Trăng do từ Srok Kh'leang của tiếng Khmer mà ra. Srok tức là "xứ", "cõi", Kh'leang (ឃ្លាំង) là "kho", "vựa", "chỗ chứa bạc". Srok Kh'leang là xứ có kho chứa bạc của nhà vua. Tiếng Việt phiên âm ra là "Sốc-Kha-Lang" rồi sau đó thành Sóc Trăng. Dưới triều Minh Mạng, Sóc Trăng bị đổi là Nguyệt Giang tỉnh (chữ Sóc biến thành chữ Sông, Trăng thành Nguyệt nên Sóc Trăng biến thành Sông Trăng rồi bị đổi thành Nguyệt Giang) Đại Nam nhất thống chí viết về sông Ba Xuyên thuộc địa bàn tỉnh An Giang nhà Nguyễn như sau: "... Sông Ba Xuyên ở phía Nam hạ lưu sông Hậu Giang, cách huyện Vĩnh Định 8 dặm về phía Bắc, trước là sông Ba Thắc, rộng 15 trượng sâu 8 thước, đi về phía Nam 15 dặm, đổ ra cửa biển Ba Xuyên, đi về phía Tây 60 dặm đến trường Tàu, tức là chỗ tàu biển đỗ. Ở đây người Trung Quốc và người Cao Miên ở lẫn lộn, chợ phố liên tiếp, lại 65 dặm đến ngã ba sông Nguyệt, tục gọi là Sóc Trăng,... Năm Kỷ Dậu (1789) hồi đầu thời trung hưng đặt bảo Trấn Di ở phía Bắc sông Ba Thắc, tức sông này." == Vị trí địa lý == Tỉnh Sóc Trăng nằm ở cửa Nam sông Hậu, cách thành phố Hồ Chí Minh khoảng 231 km, cách Cần Thơ 62 km, nằm trên tuyến Quốc lộ 1A nối liền các tỉnh Hậu Giang, Thành phố Cần Thơ, Bạc Liêu, Cà Mau. Tỉnh Sóc Trăng có vị trí tọa độ 9012’ - 9056’ vĩ Bắc và 105033’ - 106023’ kinh Đông. Đường bờ biển dài 72 km và 03 cửa sông lớn là Định An, Trần Đề, Mỹ Thanh đổ ra Biển Đông. Địa giới hành chính của Sóc Trăng ở phía Bắc và Tây Bắc giáp tỉnh Hậu Giang, phía Tây Nam giáp tỉnh Bạc Liêu, phía Đông Bắc giáp tỉnh Trà Vinh, Phía Đông và Đông Nam giáp Biển Đông. == Địa lý tự nhiên == === Khí hậu === Sóc Trăng nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới chịu ảnh hưởng gió mùa, chia thành mùa là mùa khô và mùa mưa, trong đó mùa mưa bắt đầu từ tháng 5 đến tháng 10, mùa khô kéo dài từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau. Nhiệt độ trung bình hàng năm của Sóc Trăng khoảng 26,80C, ít khi bị bão lũ, Lượng mưa trung bình trong năm là 1.864 mm, tập trung chủ yến vào các tháng 8,9,10, độ ẩm trung bình là 83%, thuận lợi cho cây lúa và các loại hoa màu phát triển. === Đất đai, thổ nhưỡng === Đất đai của Sóc Trăng có độ màu mỡ cao, thích hợp cho việc phát triển cây lúa nước, cây công nghiệp ngắn ngày như mía, đậu nành, bắp, các loại rau màu như hành, tỏi và các loại cây ăn trái như bưởi, xoài, sầu riêng... Hiện đất nông nghiệp chiếm 82,89%, trong đó, đất sản xuất nông nghiệp chiếm 62,13%, đất lâm nghiệp có rừng 11.356 ha chiếm 3,43%, đất nuôi trồng thuỷ sản 54.373 ha chiếm 16,42%, đất làm muối và đất nông nghiệp khác chiếm 0,97%. Đất nông nghiệp trong địa bàn tỉnh chủ yếu sử dụng cho canh tác lúa, cây hàng năm khác và diện tích đất còn lại dùng trồng cây lâu năm và cây ăn trái, ngoài ra cũng có nhiều diện tích đất tự nhiên chưa được sử dụng. Đất đai tại Sóc Trăng có thể chia thành 4 nhóm chính là nhóm đất cát, nhóm đất phù sa, nhóm đất mặn, nhóm đất nhân tác??. Điều kiện tự nhiên trong địa bàn tỉnh nhìn chung cũng đang gặp phải khó khăn như thiếu nước ngọt và bị xâm nhập mặn trong Mùa khô, một số khu vực bị nhiễm phèn, nhưng việc sử dụng đất ở Sóc Trăng lại có nhiều thuận lợi cơ bản để phát triển nông, ngư nghiệp đa dạng và trên cơ sở đó hình thành những khu du lịch sinh thái phong phú. Đặc biệt, Sóc Trăng còn có dải cù lao thuộc huyện Kế Sách, Long Phú và Cù Lao Dung chạy dài ra tận cửa biển với nhiều cây trái nhiệt đới, không khí trong lành như cồn Mỹ Phước, Khu du lịch Song Phụng, Cù Lao Dung... là địa điểm lý tưởng để phát triển loại hình du lịch sinh thái. === Địa hình === Địa hình trong tỉnh Sóc Trăng thấp và tương đối bằng phẳng, có dạng lòng chảo, cao ở phía sông Hậu và biển Đông thấp dần vào trong, vùng thấp nhất là phía Tây và Tây Bắc, với Độ cao cốt đất tuyệt đối từ 0,4 - 1,5 mét, độ dốc thay đổi khoảng 45 cm/km chiều dài. Tiểu địa hình có dạng gợn sóng không đều, xen kẽ là những giồng cát địa hình tương đối cao và những vùng thấp trũng nhiễm mặn, phèn. Sóc Trăng có hệ thống kinh rạch chịu ảnh hưởng của chế độ thủy triều ngày lên xuống 2 lần, mực triều dao động trung bình từ 0,4 m đến 1 m. Thủy triều vùng biển gắn liền với các hoạt động sản xuất, sinh hoạt của cư dân địa phương, đồng thời còn mang lại nhiều điều kỳ thú cho du khách khi đến tham quan, du lịch và tìm hiểu hệ sinh thái rừng tự nhiên. === Sông ngòi === Sóc Trăng có hệ thống kinh rạch chịu ảnh hường của chế độ thủy triều ngày lên xuống 2 lần, mực triều dao động trung bình từ 0,4 m đến 1 m. Thủy triều vùng biển không những gắn liền với các hoạt động sản xuất, sinh hoạt của cư dân địa phương, mà còn mang lại nhiều điều kỳ thú cho du khách khi đến tham quan, du lịch và tìm hiểu hệ sinh thái rừng tự nhiên. Nhờ vào địa thế đặc biệt, nơi dòng sông Hậu đổ ra biển Đông, vùng có nhiều trữ lượng tôm cá, Sóc Trăng có đủ điều kiện thuận lợi để cũng như phát triển kinh tế biển tổng hợp. === Tài nguyên === Sóc Trăng còn có nguồn tài nguyên rừng với các loại cây chính như Tràm, bần, giá, vẹt, đước, dừa nước. Rừng của Sóc Trăng thuộc hệ rừng ngập mặn ven biển và rừng tràm ở khu vực đất nhiễm phèn. Sóc Trăng còn có 72 km bờ biển với 02 cửa sông lớn là sông Hậu và sông Mỹ Thanh, có nguồn hải sản đáng kể bao gồm cá đáy, cá nổi và tôm. Sóc Trăng có nhiều thuận lợi trong phát triển kinh tế biển tổng hợp, thuỷ hải sản, nông - lâm nghiệp biển, công nghiệp hướng biển, thương cảng, cảng cá, dịch vụ cảng biển, xuất nhập khẩu, du lịch và vận tải biển. == Lịch sử == === Thời phong kiến === Vùng Sóc Trăng tiền thân vốn là đất Ba Thắc, mà vào nửa cuối thế kỷ 18 đã bắt đầu được sáp nhập vào lãnh thổ xứ Đàng Trong của Việt Nam. Ban đầu vùng Sóc Trăng (Ba Thắc) thuộc dinh Vĩnh Trấn, (sau đổi thành trấn Vĩnh Thanh), phủ Gia Định của Đàng Trong. Đại Nam nhất thống chí viết rằng: Đất Ba Thắc (sau là phủ Ba Xuyên tỉnh An Giang) nguyên là đất Cao Miên, đến đầu thời trung hưng cơ nghiệp chúa Nguyễn của Nguyễn Ánh (tức là khoảng sau năm 1788, sau khi lấy lại được vùng đất Nam Hà (Miền Nam Việt Nam) từ tay nhà Tây Sơn), Nguyễn Ánh lập đất đó thành phủ An Biên và cho người Man (người Cao Miên) lập đồn điền ở đây. Đến năm Nhâm Tý (1792) Nặc Ấn (Ang Eng tức Narayanaraja III (1779-1796)) từ Xiêm La trở về Cao Miên. Nguyễn Ánh cắt đất Ba Thắc trả về cho Nặc Ấn. Năm Minh Mạng thứ 16 (1835), quan phiên (người Cao Miên) là Trà Long xin đặt quan cai trị [đất ấy], Minh Mạng liền đổi tên phủ là Ba Xuyên và cho đặt chức an phủ sứ để quản phủ này. (Phủ An Biên (thuộc dinh Vĩnh Trấn (Long Hồ)) này là khác với phủ An Biên của tỉnh Hà Tiên nhà Nguyễn chỉ mới đặt ra vào năm Minh Mạng thứ 7 (1826).) Đại Việt địa dư toàn biên của Nguyễn Văn Siêu viết: "....Con Tôn là Ấn thay lên làm vua, nước Trà Và đến xâm lược, Ấn chạy sang nước Xiêm ở bên ấy. Sai Chiêu Trùy Biện giữ nước. Đến lúc Ấn về lập tức sai sứ đem phương vật sang cống ta. Vua cho đất Ba Thắc (năm Minh Mạng thứ 16 lại đặt chỗ này làm phủ Ba Xuyên)...". Như vậy, đất Ba Thắc của Cao Miên, bắt đầu thuộc chúa Nguyễn (do Nặc Ong Nhuận (Ang Tong tức vua Ramathipadi II), (khoảng năm 1756-1757) dâng cho chúa Nguyễn Phúc Khoát cùng với đất Trà Vinh) giai đoạn 1757-1792; rồi lại về Cao Miên giai đoạn 1792-1835 (cuối thế kỷ 18 đầu thế kỷ 19); từ sau năm 1835 vùng đất Ba Thắc (tiền thân của Sóc Trăng) mới hoàn toàn thuộc vào lãnh thổ Đại Nam (tức Việt Nam) (giai đoạn 1835-1867 đất Ba Thắc trở thành phủ Ba Xuyên thuộc tỉnh An Giang nhà Nguyễn). Năm 1840, vua Minh Mạng đổi chức An phủ sứ thành Tri phủ, cử người Kinh đảm trách. Phủ Ba Xuyên lúc này tục gọi là Sóc Trăng, có 3 huyện Phong Nhiêu, Phong Thạnh và Vĩnh Định. Trong Lịch sử khẩn hoang miền Nam, Sơn Nam viết: "Vùng Ba Thắc (Sóc Trăng, Kế Sách). Vua Gia Long khi còn ở đất Gia Định thì cho người Miên (người Khmer) ở địa phương lập đồn điền mỗi năm nạp lúa sưu thuế. Năm 1792, Nặc Ấn ở Xiêm về, vua đem đất ấy cho lại; năm 1835, các quan lại người Miên ở địa phương yêu cầu ta giúp đỡ, vua Minh Mạng cho người Miên hưởng chế độ tự trị rộng rãi với quan phủ coi việc nội an, mãi đến khi người Pháp đánh nước ta, quan phủ vẫn là người Miên." === Thời Pháp thuộc === Đầu thời Pháp thuộc, phủ Ba Xuyên đổi thành hạt thanh tra Ba Xuyên. Ngày 15 tháng 07 năm 1867, Pháp đổi hạt thanh tra Ba Xuyên thành hạt thanh tra Sóc Trăng, gồm 11 tổng; do Bertaux Levillain làm Chủ hạt đầu tiên (1867 - 1868). Ngày 05 tháng 06 năm 1871, Chủ hạt Sóc Trăng là Lahagre đồng ý nhận thêm hạt Long Xuyên tách ra từ hạt Rạch Giá. Ngày 18 tháng 12 năm 1871, hạt Long Xuyên được trả về cho hạt Rạch Giá. Từ ngày 05 tháng 01 năm 1876, các hạt thanh tra được đổi thành hạt tham biện, các thôn được gọi là làng. Chủ tỉnh lúc đó là Rossigneux. Theo Nghị định ngày 20 tháng 12 năm 1899 của Toàn quyền Đông Dương đổi tất cả các hạt tham biện thành tỉnh thì từ ngày 1 tháng 1 năm 1900 hạt tham biện Sóc Trăng trở thành tỉnh Sóc Trăng.. Tỉnh lỵ Sóc Trăng đặt tại làng Khánh Hưng thuộc tổng Nhiêu Khánh, quận Châu Thành. Viên chủ tỉnh đầu tiên là Gustave H. Delanoue (1900 - 1901). Ngày 10 tháng 09 năm 1906, tỉnh Sóc Trăng có 3 quận là Phú Lộc, Kế Sách, Bàng Long; chủ tỉnh là Laffont. Ngày 30 tháng 08 năm 1916, quận Châu Thành thuộc tỉnh Sóc Trăng được thành lập. Ngày 01 tháng 03 năm 1926, quận Bàng Long được đổi tên thành quận Long Phú. Ngày 10 tháng 12 năm 1926, Chủ tỉnh Sóc Trăng là Maurice Esquivillon đổi tên quận Phú Lộc thành quận Thạnh Trị. Ngày 19 tháng 11 năm 1929, Pháp hủy bỏ tất cả các Nghị định thành lập quận trước đó, giao cho một ban nghiên cứu chia lại các quận. Ngày 1 tháng 1 năm 1930, tỉnh Sóc Trăng được chia thành 3 quận là Châu Thành, Kế Sách và Long Phú. Năm 1941, Thống đốc Nam Kỳ quyết định thành lập lại quận Thạnh Trị thuộc tỉnh Sóc Trăng. Sau Cách mạng tháng Tám 1945, Ủy ban Kháng chiến Hành chánh Nam bộ chủ trương bỏ cấp tổng, bỏ đơn vị làng, thống nhất gọi là xã, đồng thời bỏ danh xưng quận, gọi thay thế bằng huyện. Năm 1948, tỉnh Sóc Trăng nhận thêm huyện Vĩnh Châu do tỉnh Bạc Liêu giao cho. Chính quyền Việt Minh nhập huyện Vĩnh Châu vào địa bàn huyện Thạnh Trị. Trong kháng chiến chống Pháp, tỉnh Sóc Trăng còn nhận thêm một số xã của tỉnh Rạch Giá và tỉnh Cần Thơ giao qua như: Mỹ Qưới, Hương Qưới, Vĩnh Qưới, Lộc Hòa, Long Trị, Long Tân, Tân Long, Long Phú, Phương Bình, Phương Phú (của tỉnh Rạch Giá) và Tân Phước Hưng (của tỉnh Cần Thơ). Năm 1954, tỉnh Sóc Trăng lại trao trả huyện Vĩnh Châu về cho tỉnh Bạc Liêu quản lý trở lại như trước. === Giai đoạn 1954-1975 === ==== Việt Nam Cộng hòa ==== Ban đầu, chính quyền Quốc gia Việt Nam và sau đó là Việt Nam Cộng hòa vẫn duy trì tên gọi tỉnh Sóc Trăng và tỉnh lỵ Sóc Trăng như thời Pháp thuộc. Năm 1955, chính quyền Việt Nam Cộng hòa chia tỉnh Sóc Trăng thành 8 quận: Châu Thành, Kế Sách, Long Phú, Thạnh Trị, Long Mỹ, Bãi Xàu, Bố Thảo và Lịch Hội Thượng. Trong đó, quận Long Mỹ được tỉnh Sóc Trăng nhận từ tỉnh Rạch Giá. Tuy nhiên, không lâu sau quận Long Mỹ lại được giao cho tỉnh Cần Thơ quản lý. Ngày 22 tháng 10 năm 1956, Tổng thống Việt Nam Cộng hòa Ngô Đình Diệm ra Sắc lệnh số 143-NV để "thay đổi địa giới và tên Đô thành Sài Gòn – Chợ Lớn cùng các tỉnh và tỉnh lỵ tại Việt Nam". Địa giới và địa danh các tỉnh ở miền Nam thay đổi nhiều, một số tỉnh mới được thành lập. Theo Sắc lệnh này, địa phận Nam Phần của Việt Nam Cộng hòa gồm Đô thành Sài Gòn và 22 tỉnh. Lúc này, tỉnh Ba Xuyên được thành lập bao gồm phần đất tỉnh Sóc Trăng và tỉnh Bạc Liêu trước đó, tỉnh lỵ đặt tại Sóc Trăng nhưng lúc này lại đổi tên là Khánh Hưng. Tỉnh lỵ Khánh Hưng lấy theo tên xã Khánh Hưng thuộc quận Châu Thành (sau năm 1958 là quận Mỹ Xuyên) vốn là nơi đặt tỉnh lỵ tỉnh Ba Xuyên. Năm 1957, tỉnh Ba Xuyên gồm 8 quận: Châu Thành, Thạnh Trị, Long Phú, Lịch Hội Thượng, Bố Thảo (cùng thuộc tỉnh Sóc Trăng cũ), Vĩnh Lợi, Vĩnh Châu, Giá Rai, Phước Long (cùng thuộc tỉnh Bạc Liêu cũ). Ngày 23 tháng 2 năm 1957, tỉnh trưởng Ba Xuyên là Huỳnh Văn Tư giao quận Kế Sách cho tỉnh Phong Dinh (tức tỉnh Cần Thơ trước đó) quản lý. Ngày 13 tháng 1 năm 1958, theo Nghị định số 9-BNV/NC/NP của chính quyền Việt Nam Cộng hòa, địa giới hành chính tỉnh Ba Xuyên có sự điều chỉnh. Theo đó, quận Châu Thành đổi tên thành quận Mỹ Xuyên, quận Bố Thảo đổi tên thành quận Thuận Hoà, giải thể quận Lịch Hội Thượng và quận Vĩnh Châu. Các tổng và xã của các quận cũng có sự điều chỉnh quận Thạnh Trị còn 2 tổng Thạnh An, Thạnh Lộc, quận Long Phú có thêm tổng Định Phước. Ngày 16 tháng 9 năm 1958, tỉnh trưởng Ba Xuyên là Trần Thanh Bền nhận lại quận Kế Sách từ tỉnh Phong Dinh. Ngày 5 tháng 12 năm 1960, tái lập quận Vĩnh Châu. Ngày 21 tháng 12 năm 1961, quận Phước Long được chính quyền Việt Nam Cộng hòa giao cho tỉnh Chương Thiện. Lúc này, quận Phước Long cũng bị chia ra thành hai quận có tên là quận Phước Long và quận Kiến Thiện cùng thuộc tỉnh Chương Thiện. Sắc lệnh số 245-NV ngày 8 tháng 9 năm 1964 của Thủ tướng Việt Nam Cộng hòa quy định kể từ ngày 1 tháng 10 năm 1964 tái lập tỉnh Bạc Liêu, trên cơ sở tách các quận Vĩnh Lợi, Giá Rai, Vĩnh Châu của tỉnh Ba Xuyên và quận Phước Long của tỉnh Chương Thiện. Phần đất còn lại tương ứng với tỉnh Sóc Trăng trước năm 1956, tuy nhiên Việt Nam Cộng hòa vẫn giữ tên tỉnh Ba Xuyên cho vùng đất này đến năm 1975. Ngày 11 tháng 12 năm 1965, tái lập quận Lịch Hội Thượng. Ngày 11 tháng 7 năm 1968, lập quận Hòa Tú. Ngày 16 tháng 6 năm 1969, lập quận Ngã Năm. Năm 1973, tỉnh Ba Xuyên gồm 8 quận: Mỹ Xuyên, Thuận Hòa, Long Phú, Thạnh Trị, Kế Sách, Ngã Năm, Lịch Hội Thượng, Hòa Tú. Tỉnh lỵ tỉnh Ba Xuyên vẫn giữ nguyên tên là "Khánh Hưng" cho đến năm 1975. Các viên Chủ tỉnh Ba Xuyên (1950 - 1975): Lê Văn Thọ: Đốc Phủ Sứ Đặc hạng được bổ nhiệm từ ngày 23.02.1950 đến ngày 04.03.1953. Lương Khắc Nhạc: Đốc Phủ Sứ Đặc hạng, từ ngày 04.03.1953 đến 18.05.1954. Nguyễn Văn Ngân: Đốc Phủ Sứ Đặc hạng, từ ngày 18.05.1954 đến 12.04.1955. Dương văn Đức: Đại tá, từ 122.04.1955 đến ngày 12.03.1956. Huỳnh Văn Tư: Trung tá, từ ngày 12.03.1956 đến 05.03.1957. Lê Quang Hiền: Trung tá, từ 05.03.1957 đến 24.03.1958. Trần Thanh Bền: Thiếu tá, từ 24.03.1958 đến 20.01.1959. Hoàng Mạnh Thường: Thiếu tá, từ 20.01.1959 đến 12.10.1961. Nguyễn Ngọc Tháng: Thiếu tá, từ ngày 12.10.1961 đến 17.07.1962. Nguyễn Linh Chiêu: Trung tá, từ ngày 17.07.1962 đến 27.11.1963. Nguyễn Thanh Hoàng: Trung tá,từ 27.01.1963 đến 14.04.1964. Đào Ngọc Diệp: Thiếu tá, từ ngày 14.04.1964 đến 29.10.1964. Phạm Văn Út: Đại tá, từ 29.10.1964 đến 08.07.1965. Nguyễn Ngọc Điệp: Trung tá, từ 08.07.1965 đến 11.11.1965. Huỳnh Thao Lược: Trung tá, từ 11.11.1965 đến 11.03.1968. Quách Huỳnh Hà: Trung tá, từ 11.03.1968 đến 1972. Liêu Quang Nghĩa: Đại tá, từ 1972 đến 30.04.1975. ==== Chính quyền Cách mạng ==== Tuy nhiên, chính quyền Mặt trận Dân tộc Giải phóng Miền Nam Việt Nam và sau này là Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa Miền Nam Việt Nam cùng với Việt Nam Dân chủ Cộng hòa không công nhận tên gọi tỉnh Ba Xuyên mà vẫn gọi theo tên cũ là tỉnh Sóc Trăng. Năm 1957, Liên Tỉnh uỷ miền Tây giải thể tỉnh Bạc Liêu, đồng thời đưa các huyện Giá Rai, Vĩnh Lợi, Vĩnh Châu, Hồng Dân, thị xã Bạc Liêu về tỉnh Sóc Trăng quản lý. Tỉnh uỷ Sóc Trăng quyết định hợp nhất huyện Vĩnh Châu và huyện Vĩnh Lợi, lấy tên là huyện Vĩnh Lợi - Vĩnh Châu. Năm 1958, huyện Kế Sách của tỉnh Sóc Trăng được giao về cho tỉnh Cần Thơ quản lý đến năm 1976. Đầu năm 1961, chính quyền Cách mạng thành lập thêm huyện Mỹ Xuyên trên cơ sở tách một số xã của huyện Thạnh Trị và huyện Châu Thành. Năm 1962, huyện Giá Rai được giao cho tỉnh Cà Mau. Năm 1963, Tỉnh uỷ Sóc Trăng quyết định giải thể huyện Vĩnh Lợi - Vĩnh Châu, tái lập huyện Vĩnh Châu và huyện Vĩnh Lợi. Tháng 8 năm 1966, huyện Long Phú được chia thành 2 huyện: Long Phú và Lịch Hội Thượng. Trong giai đoạn 1964-1973, địa bàn tỉnh Bạc Liêu của chính quyền Việt Nam Cộng hòa vẫn do tỉnh Sóc Trăng của chính quyền cách mạng quản lý. Tháng 11 năm 1973, Khu uỷ Tây Nam Bộ quyết định tái lập tỉnh Bạc Liêu, gồm 4 đơn vị hành chính cấp huyện: Vĩnh Lợi, Giá Rai, Hồng Dân và thị xã Bạc Liêu. Tuy nhiên, chính quyền Cách mạng vẫn đặt huyện Vĩnh Châu thuộc tỉnh Sóc Trăng cho đến năm 1976. Sau ngày 30 tháng 04 năm 1975, chính quyền quân quản Cộng hòa miền Nam Việt Nam ban đầu vẫn duy trì tỉnh Sóc Trăng cho đến đầu năm 1976. Lúc này, chính quyền Cách mạng cũng bỏ danh xưng "quận" có từ thời Pháp thuộc và lấy danh xưng "huyện" (quận và phường dành cho các đơn vị hành chánh tương đương khi đã đô thị hóa). Ngày 20 tháng 9 năm 1975, Bộ Chính trị ra Nghị quyết số 245-NQ/TW về việc bỏ khu, hợp tỉnh trong toàn quốc "nhằm xây dựng các tỉnh thành những đơn vị kinh tế, kế hoạch và đơn vị hành chính có khả năng giải quyết đến mức cao nhất những yêu cầu về đẩy mạnh sản xuất, tổ chức đời sống vật chất, văn hóa của nhân dân, về củng cố quốc phòng, bảo vệ trị an, và có khả năng đóng góp tốt nhất vào sự nghiệp chung của cả nước". Theo Nghị quyết này, tỉnh Vĩnh Long, tỉnh Trà Vinh, tỉnh Cần Thơ, tỉnh Sóc Trăng và thành phố Cần Thơ sẽ hợp nhất lại thành một tỉnh, tên gọi tỉnh mới cùng với nơi đặt tỉnh lỵ sẽ do địa phương đề nghị lên. Nhưng đến ngày 20 tháng 12 năm 1975, Bộ Chính trị lại ra Nghị quyết số 19/NQ điều chỉnh lại việc hợp nhất tỉnh ở miền Nam Việt Nam cho sát với tình hình thực tế, theo đó tỉnh Cần Thơ, tỉnh Sóc Trăng và thành phố Cần Thơ được tiến hành hợp nhất lại thành một tỉnh. === Từ năm 1976 đến nay === Theo Nghị định số 03/NĐ-76 ngày 24 tháng 2 năm 1976 và Quyết định số 17/QĐ-76 ngày 24 tháng 3 năm 1976, Chính phủ Việt Nam quyết định hợp nhất ba đơn vị hành chính cấp tỉnh ngang bằng nhau là tỉnh Sóc Trăng, tỉnh Cần Thơ và thành phố Cần Thơ để thành lập một tỉnh mới có tên là tỉnh Hậu Giang. Lúc này, huyện Châu Thành (thuộc tỉnh Sóc Trăng cũ) được đổi tên thành huyện Mỹ Tú, do tỉnh Hậu Giang lúc này đã có huyện Châu Thành vốn trước đó thuộc tỉnh Cần Thơ. Tỉnh Hậu Giang lúc này gồm có thành phố Cần Thơ (tỉnh lị), thị xã Sóc Trăng và 12 huyện: Châu Thành, Kế Sách, Long Mỹ, Long Phú, Mỹ Tú, Mỹ Xuyên, Ô Môn, Phụng Hiệp, Thạnh Trị, Thốt Nốt, Vị Thanh, Vĩnh Châu. Tỉnh lị tỉnh Hậu Giang lúc đó là thành phố Cần Thơ. Ngày 26 tháng 12 năm 1991, Quốc hội Việt Nam ban hành Nghị quyết chia tỉnh Hậu Giang thành tỉnh Cần Thơ và tỉnh Sóc Trăng. Tỉnh Sóc Trăng có 7 đơn vị hành chính gồm thị xã Sóc Trăng và 6 huyện: Kế Sách, Long Phú, Mỹ Tú, Mỹ Xuyên, Thạnh Trị, Vĩnh Châu. Tỉnh lị là thị xã Sóc Trăng. Ngày 11 tháng 1 năm 2002, Chính phủ Việt Nam ban hành Nghị định số 04/2002/NĐ-CP, về việc điều chỉnh địa giới hành chính huyện Long Phú để thành lập huyện Cù Lao Dung, tỉnh Sóc Trăng. Huyện Cù Lao Dung chính thức đi vào hoạt động từ ngày 30 tháng 4 năm 2002. Ngày 31 tháng 10 năm 2003, Chính phủ Việt Nam ban hành Nghị định số 127/2003/NĐ-CP, về việc thành lập huyện Ngã Năm thuộc tỉnh Sóc Trăng. Huyện Ngã Năm chính thức đi vào hoạt động từ ngày 1 tháng 1 năm 2004. Ngày 8 tháng 2 năm 2007, Chính phủ Việt Nam ban hành Nghị định số 22/2007/NĐ-CP, về việc thành lập thành phố Sóc Trăng thuộc tỉnh Sóc Trăng trên cơ sở toàn bộ diện tích tự nhiên, dân số và các đơn vị hành chính trực thuộc của thị xã Sóc Trăng trước đó. Ngày 24 tháng 9 năm 2008, Chính phủ Việt Nam ban hành Nghị định số 02/NĐ-CP, thành lập huyện Châu Thành thuộc tỉnh Sóc Trăng.Huyện Châu Thành chính thức đi vào hoạt động từ ngày 1 tháng 1 năm 2009. Tỉnh Sóc Trăng có 10 đơn vị hành chính trực thuộc là: thành phố Sóc Trăng, huyện Châu Thành, huyện Long Phú, huyện Cù Lao Dung, huyện Mỹ Tú, huyện Thạnh Trị, huyện Vĩnh Châu, huyện Ngã Năm, huyện Kế Sách, huyện Mỹ Xuyên. Ngày 23 tháng 12 năm 2009, Chính phủ ra Nghị quyết số 64/NQ-CP quyết định thành lập huyện Trần Đề. Huyện Trần Đề chính thức đi vào hoạt động kể từ ngày 1 tháng 4 năm 2010. Ngày 25 tháng 8 năm 2011, Chính phủ ra Nghị quyết số 90/NQ-CP thành lập thị xã Vĩnh Châu và các phường thuộc thị xã Vĩnh Châu, tỉnh Sóc Trăng. Ngày 29 tháng 12 năm 2013, Chính phủ ra Nghị quyết 133/NQ-CP quyết định chuyển huyện Ngã Năm thành thị xã Ngã Năm thuộc tỉnh Sóc Trăng. Tỉnh Sóc Trăng có 331.164,25 ha diện tích tự nhiên, 1.326.740 nhân khẩu, 11 đơn vị hành chính cấp huyện (gồm thành phố Sóc Trăng, thị xã Vĩnh Châu, thị xã Ngã Năm và 8 huyện: Châu Thành, Cù Lao Dung, Kế Sách, Long Phú, Mỹ Tú, Mỹ Xuyên, Thạnh Trị, Trần Đề) và 109 đơn vị hành chính cấp xã (gồm 80 xã, 17 phường, 12 thị trấn). == Hành chính == Tỉnh Sóc Trăng có 11 đơn vị hành chính cấp huyện gồm 1 Thành phố, 2 thị xã, 08 huyện, trong đó có 17 phường, 12 thị trấn và 80 xã: Long Phú: là huyện có 2 lần chia tách (tách một phần phía Đông để thành lập huyện Cù Lao Dung và phía Nam để thành lập huyện Trần Đề). Nếu giữ nguyên huyện Long Phú cũ (tính cả huyện Cù Lao Dung và phần địa giới nay thuộc huyện Trần Đề) thì: Long Phú là huyện có số thị trấn nhiều nhất nước với 5 thị trấn (Long Phú, Đại Ngãi, Trần Đề, Lịch Hội Thượng, Bến Bạ), là huyện đa dạng với nhiều lĩnh vực kinh tế như: trồng trọt, chăn nuôi, thủy sản, lúa nước, đánh bắt, công nghiệp và các ngành dịch vụ phát triển khác) và là huyện có số đơn vị hành chính nhiều nhất tỉnh. Ngã Năm, Vĩnh Châu là 2 huyện có khoảng cách xa với trung tâm tỉnh nhất nhưng lại là hai huyện phát triển thành thị xã sớm nhất, là tiền đề để tỉnh Sóc Trăng phát triển nhiều thị xã hơn nữa (trong giai đoạn từ năm 2010 đến năm 2020 cơ bản sẽ phát triển thêm 3 đến 4 thị xã nữa: Kế Sách, Cù Lao Dung, Mỹ Tú và Long Phú) nâng số thị xã lên 5 hoặc 6. Vĩnh Châu: từ một huyện có số dân ít nhất và diện tích nhỏ thứ hai tỉnh (năm 2000) nay đã đứng đầu tỉnh về diện tích và thứ 4 về dân số khi các huyện khác lần lượt được chia tách, và đến tháng 8 năm 2011 đã trở thành thị xã trực thuộc tỉnh Sóc Trăng. Ngã Năm trước kia chỉ là một trong hai thị trấn của huyện Thạnh Trị (không phải là trung tâm huyện lị) sau khi chia tách đã phát triển vượt bậc về cơ sở hạ tầng của như kinh tế năng động đã giúp thị trấn non trẻ sớm trở thành thị xã của tỉnh vào tháng 12 năm 2013. Thạnh Trị, Mỹ Tú: các tên thị trấn đều không trùng tên với huyện. Thạnh Trị: Phú Lộc, - Mỹ Tú: Huỳnh Hữu Nghĩa. == Bộ máy chính quyền == Cơ cấu bộ máy chính quyền của tỉnh Sóc Trăng thống nhất với các tỉnh khác tại Việt Nam. Trong đó, Đảng ủy cấp tỉnh (Tỉnh ủy) thực sự là cơ quan quyền lực cao nhất trong tỉnh. Bí thư Tỉnh ủy thường kiêm nhiệm chức vụ Chủ tịch Hội đồng Nhân dân tỉnh, tương đương cơ quan lập pháp cấp tỉnh. Chủ tịch Ủy ban Nhân dân là người đứng đầu ngành hành pháp của tỉnh, cũng do một Phó bí thư Tỉnh ủy nắm giữ. == Văn hóa xã hội == Với một nền văn hóa đặc sắc và khá riêng biệt mà có thể gọi là: "văn hoá xứ giồng", thể hiện qua các mặt trong đời sống hằng ngày của người Sóc Trăng, từ ngôn ngữ, mối quan hệ xã hội, tên đất, tên làng đến tín ngưỡng tôn giáo, ẩm thực và lễ hội của người Kinh, Hoa, Khmer và số ít người Chăm. === Lễ hội: === Lễ hội Ooc Om Boc - Đua Ghe Ngo (Cúng trăng), được tổ chức đua ghe vào Rằm tháng 10 Âm lịch hàng năm, cùng với lễ hội Loi -Pro tip - lễ hội thả đèn nước trên sông Nguyệt (sông Maspero) tại trung tâm thành phố Sóc Trăng. Năm 2013 là Festival Đua Ghe Ngo Đồng bằng sông Cửu Long được tổ chức 2 năm một lần. Lễ Sen Đôlta (thờ cúng tổ tiên của người Khmer) Lễ Chol Chnăm Thmây (Vào năm mới),... Thanh minh (của người Kinh và Hoa). Lễ hội thí vàng (tháng 7), chủ yếu là tại các khu vực có nhiều người Hoa sinh sống. Lễ kỳ yên ở các đình chùa. Mỗi làng xã người Việt, người Hoa thường có đình chùa và được tổ chức vào khoảng 3 ngày liên tiếp trong năm tùy đình chùa đó. Lễ hội chính là cúng thần và trình diễn cải lương. === Di tích === Sóc Trăng là tỉnh có hơn 200 ngôi chùa của cả ba dân tộc Kinh, Hoa, Khmer. Nổi tiếng thì phải kể đến Chùa Dơi (chùa Mã Tộc, Mahatup), Chùa Đất Sét (Bửu Sơn tự), Chùa Khléang, chùa Chén Kiểu (chùa Salon), chùa La Hán, chùa Bốn Mặt (chùa Barai), chùa Phật Học, Chùa Khánh Sơn, chùa Hương Sơn, chùa Đại Giác... Ngoài ra còn còn có đền thờ, đình, miếu, nhà thờ,... Bửu Sơn tự (hay chùa Đất Sét): Đây là một am thờ đã qua nhiều đời của dòng tộc họ Ngô, có tất cả tượng Phật đến linh thú, bảo tháp, đỉnh trầm đều được làm từ đất sét. Phần lớn do ông Ngô Kim Tòng sáng tạo trong suốt 42 năm (1928-1970). Ngoài ra, trong chùa còn có 6 cây nến lớn hai cây nặng 200 kg hai cây nến nhỏ nặng 100 kg và 3 cái đỉnh bằng đất mỗi cái cao 2m. Hai cây nến nhỏ đã đốt liên tục trong 40 năm kể từ năm 1970 khi ông Ngô Kim Tòng qua đời. Sáu cây nến lớn chưa đốt, mỗi cây sẽ có thời gian cháy liên tục khoảng 70 năm. Chùa Mã Tộc (hay chùa Dơi): Chùa được xây dựng cách đây hơn 400 năm . Chùa còn có tên là chùa Dơi vì ngôi chùa này từ lâu đã là nơi trú ẩn của khoảng 1 triệu con dơi, phần lớn có sải cánh 1-1h,2 m, những con lớn nhất có sải cánh lên tới 1,5 m. chúng treo mình trên những cành cây chung quanh chùa để ngủ suốt ngày,đến chiều tối mới bắt đầu lần lượt bay đi kiếm ăn ở những nơi có nhiều vườn trái cây cách xa Hòa An Hội Quán (chùa Ông Bổn): Chùa được xây dựng vào năm 1875, chùa thờ ông bổn(Bổn Đầu Công).Chùa được xây dựng với kiến trúc độc đáo của người hoa chất liệu toàn bằng đá, gỗ quý từ Trung Quốc chở qua. Di tích này được trải qua 7 đợt trùng tu nhưng vẫn giữ được những giá trị nghệ thuật kiến trúc.Rằm tháng giêng hàng năm nhân tết nguyên tiêu chùa đều có tổ chức lễ hội đấu đèn lồng. Khu căn cứ tỉnh ủy Sóc Trăng, xã Mỹ Phước, huyện Mỹ Tú. Đền thờ Bác Hồ, xã An Thạnh Đông, huyện Cù Lao Dung === Ẩm thực === Sóc Trăng có nền văn hóa ẩm thực hết sức phong phú và đa dạng, trong đó có thể kể đến như: Bánh pía Lạp xưởng Bánh phồng tôm Bún nước lèo là đặc sản nổi tiếng của Sóc Trăng Bánh cống ở xã Đại Tâm, huyện Mỹ Xuyên. Bánh ống Bánh dứa Cốm dẹp Bò nướng ngói đặc sản của huyện Mỹ Xuyên: thịt bò được nướng trên tấm ngói, gói rau bún chấm với nước mắm nêm pha với ít khóm. Bánh trên cành: Đây là một món ăn độc đáo của người Khmer. Theo tín ngưỡng người Khmer, hàng năm bà con đều làm chay cầu siêu cho tổ tiên hoặc các vong hồn chết oan ức. Vào các những ngày này, từ sáng sớm các vị sư sãi ra đồng tìm những mồ mả để đọc kinh cầu nguyện. Theo quy định của nhà Phật, các vị sư chỉ được dùng cơm một lần duy nhất vào ngày hôm đó. Chính vì vậy các cô gái giúp các sư một bữa ăn gọi là "làm phước". Các cô gái dùng xuồng ba lá bơi ra giữa đồng tìm các cây điên điển có nhiều bông để dùng làm bánh. Các cô chọn những nhánh hoa tươi, đẹp rồi kéo xuống nhúng các chùm bông điên điển vào bột đã chuẩn bị sẵn. Sau đó kéo chùm bông sang chảo mỡ nóng để chiên cho chín vàng. Xong, họ buông nhẹ nhánh hoa trở về vị trí cũ. Ngoài ra còn một số món như: Bún gỏi già, bún xào Thạnh Trị, bún xào và khô heo ở Lịch Hội Thượng...và mắm chiên ở Ngã Năm == Du lịch == Ngoài chùa chiền và các lễ hội đặc sắc. Sóc Trăng còn có những địa điểm tham quan như: Hồ Nước Ngọt: khu công viên văn hóa này rộng khoảng 20ha, trên đường Hùng Vương, thành phố Sóc Trăng. Bao gồm 2 hồ: hồ nhỏ còn được gọi là Hồ Tịnh Tâm từ những năm 60 theo nguyên bản Hồ Tịnh Tâm ở Đại hội Huế (vì ông tỉnh trưởng Ba Xuyên bấy giờ người Huế), hồ lớn được đào năm 1982 là công trình thủy lợi do hàng ngàn người dân Sóc Trăng đào thủ công. Năm 2000, trong nỗ lực tạo một sân chơi lành mạnh cho sinh hoạt giải trí của người dân đồng thời cũng làm cơ sở tổ chức các sự kiện quan trọng của địa phương, Ủy ban Nhân dân tỉnh Sóc Trăng đã cho thành lập Ban quản lý dự án Khu văn hóa Hồ Nước Ngọt, tiến hành nâng cấp cải tạo, xây bờ kè, tráng nhựa đường nội bộ, lắp đặt hệ thống chiếu sáng, xây dựng các trung tâm hội chợ, triển lãm… và mở rộng diện tích đến 20ha, biến nơi đây thành một địa chỉ văn hóa thực sự trong đời sống tinh thần của người dân địa phương. Hồ Nước Ngọt đã trở thành điểm đến thân quen của mọi người khi mỗi sáng nhiều bà con vào đây đi bộ, tập thể dục, lớp thanh, thiếu niên đến đây chơi thể thao, các em thiếu nhi đến đây giải trí sau giờ học với nhiều trò chơi hấp dẫn, người lao động đến đây để thư giản, hưởng chút không khí trong lành sau một ngày làm việc cật lực… Hiện đang có đề án mở rộng khu công viên này và đào thêm hồ Vườn cò Tân Long: Vườn cò này do gia đình ông Huỳnh Văn Mười ở Thị xã Ngã Năm quản lý. Vườn rộng khoảng 1,5ha, được che phủ bởi những tán dừa, lùm tre, hàng bình bát xanh um tạo nên vẻ đẹp chân quê. Đến với vườn cò này, bạn sẽ bước chân trên cát lối đi được tráng xi măng, rợp mát, xinh đẹp giữa hai hàng hoa cảnh. Đã 31 năm qua, dưới sự chăm nom của ông Mười, nơi này hình thành một sân chim với hàng vạn con cò, vạc sinh sống hòa thuận. Đại gia đình chim gồm: cò gà, cò trắng tinh, cò đầu đỏ, cò trâu, cồng cộc, vạc… Cồn Mỹ Phước: nằm gần cuối hạ lưu sông Hậu, thuộc địa phận xã Nhơn Mỹ, huyện Kế Sách. Với khí hậu, thổ nhưỡng, sông nước đặc thù khu vực đồng bằng sông Cửu Long nên cồn Mỹ Phước là môi trường thích hợp để các loại cây ăn trái phát triển. Thời điểm cồn Mỹ Phước đón nhiều du khách nhất là dịp diễn ra Lễ hội Sông nước Miệt vườn (trong 2 ngày mồng 4 và mồng 5 tháng 5 (âm lịch) hàng năm), với các hoạt động hấp dẫn như: nghi thức, nghi lễ cúng Tết Đoan Ngọ, hội thi làm bánh xèo, hội chợ đưa hàng Việt về nông thôn, hội thảo về cây ăn trái, hội thảo sông nước miệt vườn, đua thuyền rồng, đua ca nô, đua vỏ lãi, nhảy bao, đập nồi... Chợ nổi Ngã Năm: nằm tại trung tâm thị xã Ngã Năm. Hồ Bể: Thuộc xã Vĩnh Hải, thị xã Vĩnh Châu, Hồ Bể là một bãi biển vừa được khai phá giữa vùng trồng rừng phòng hộ ven biển. Bãi biển dài 5 cây số, vẫn còn mộc mạc, hoang sơ, cát mịn màng và sóng hiền hòa, rất thích hợp cho những chuyến thư giãn cuối tuần. Khu vực Hồ Bể còn là nơi trú ngụ và sinh sản của nhiều giống loài thủy sản có giá trị. Từ lâu, khu vực này đã hình thành nên những bãi cua biển, nghêu, sò huyết giống... đem lại nguồn thu nhập đáng kể cho người dân địa phương. Sự phong phú về nguồn lợi thủy sản nơi đây luôn được gắn liền với công tác trồng và bảo vệ rừng phòng hộ ven biển. Du khách sẽ càng thích thú hơn khi được đi trong những cánh rừng xanh mát, được thỏa thích hít thở không khí trong lành và được tự tay mình bắt những con cua biển hay nghêu, sò huyết… Điểm du lịch sinh thái Mỏ Ó cách trung tâm tỉnh lỵ Sóc Trăng khoảng 30 km về phía Đông Nam, nằm gần cửa sông Mỹ Thanh và Trần Đề thuộc khu vực biển Đông, thuộc xã Trung Bình, huyện Trần Đề, nơi đây có diện tích rừng tự nhiên trên 260 ha, là nơi trú ngụ của nhiều loài chim chóc, bò sát và hải sản quý hiếm (rắn, rùa, cua, cò, cá...). Đến Mỏ Ó, du khách có thể tung tăng đi trên bãi cát mịn màn trải dài hàng cây số hay thả hồn mênh mang theo con sóng dập dìu hoặc tắm nắng theo sở thích. Du khách có thể phóng tầm mắt nhìn những con thuyền nhấp nhô xa xa đang giăng lưới chập chờn bên sóng biển mênh mông xa tít chân trời... Biển có bờ cát thoai thoải với nhiều cây xanh che bóng mát, du khách có thể tổ chức các môn thể thao biển như lướt ván, bóng chuyền, bóng đá, bi sắt, chạy việt dã thỏa sức... ngư trường nơi đây dồi dào tôm cá có thể giăng lưới, đẩy sịp bắt những con cá biển bằng thủ công hoặc khi nước rút có thể rượt bắt những con ba khía mập mạp, cá thòi lòi sần sùi nhưng ăn rất ngon và bổ dưỡng.... Du khách cũng có thể khám phá Mỏ Ó trên những chiếc xuồng ba lá luồn sâu trong khu rừng kỳ thú để chiêm ngưỡng phong cảnh hoang sơ của rừng thiên nhên miền nhiệt đới ven biển. Ngồi trên xuồng, du khách sẽ được thư giãn dưới những tán cây xanh và ngắm nhìn thỏa thích hàng cây lớp lớp, với màu tím sặc sỡ của hoa bần trong không gian mát mẻ trong lành, tận tay hái trái bần chín mọng đem về nấu canh chua cơm mẻ, cá ngát, ăn rồi sẽ nhớ mãi.... == Dân cư == Tính đến năm 2011, dân số toàn tỉnh Sóc Trăng đạt gần 1.303.700 người, mật độ dân số đạt 394 người/km² Trong đó dân số sống tại thành thị đạt gần 339.300 người, dân số sống tại nông thôn đạt 964.400 người. Dân số nam đạt 647.900 người, trong khi đó nữ đạt 655.800 người. Tỷ lệ tăng tự nhiên dân số phân theo địa phương tăng 9,4 ‰ Sóc Trăng là địa bàn cư trú của các dân tộc Kinh, Hoa, Khmer cùng với người Chăm bản địa. == Y tế == Tình hình y tế tại Tỉnh Sóc Trăng nhìn chung cũng tương đối hầu hết ở các đơn vị hành chính cấp huyện điều có xây dựng các bệnh viện hay những trung tâm y tế, trạm y tế, để phục vụ cho cuộc sống của người dân, các bệnh viện lớn như Bệnh viện Đa khoa Sóc Trăng, Bệnh viện 30/4, Bệnh viện Quân Dân Y Sóc Trăng, Bệnh viện đa khoa Kế Sách, Bệnh viện đa khoa Long Phú,... Năm 2008, Trên địa bàn toàn tỉnh có 128 cơ sở khám chữa bệnh trực thuộc Sở Y tế. Trong đó có 11 bệnh viện, 12 phòng khám đa khoa khu vực và 105 trạm y tế phường xã, tổng số giường bệnh là 2.231 giường, trong đó các bệnh viện có 1.460 giường, phòng khám đa khoa khu vực có 190 giường, trạm y tế có 581 giường. == Giáo dục == Nhìn chung hệ thống giáo dục tại Sóc trăng, có cơ sở hạ tầng khá đấy đủ, đáp ứng giảng dạy cho nhiều đối tượng khác nhau. Tính đến ngày 30 tháng 09 năm 2008, toàn tỉnh Sóc Trăng có 422 trường học ở các cấp phổ thông, đứng thứ 4 ở khu vực Đồng bằng Sông Cửu Long. Đến thời điểm 31 tháng 12 năm 2008, Tổng số học sinh phổ thông đạt 206.550 học sinh, trong đó, cấp tiểu học là 114.639 học sinh, cấp trung học cơ sở là 64.216 học sinh, cấp trung học phổ thông là 27.695 học sinh. Tổng số giáo viên phổ thông trực tiếp giảng dạy đạt 12.286 người, trong đó, giáo viên tiểu học là 6.373 người, giáo viên trung học cơ sở là 4.091 người, giáo viên trung học phổ thông là 1.822 người. Các trường Cao đẳng ở Sóc Trăng gồm: Cao đẳng Cộng đồng Sóc Trăng Cao đẳng Nghề Sóc Trăng Cao đẳng Sư phạm Sóc Trăng == Giao thông == Sóc Trăng là tỉnh có vị trị địa lý khá thuận lợi cho việc giao thương và phát triển kinh tế, xã hội. Toàn tỉnh có 72 km bờ biển, có 3 cửa sông lớn là Định An, Trần Đề của Sông Hậu và Mỹ Thanh của Sông Mỹ Thanh đổ ra biển Đông rất thuận lợi cho giao thông đường thủy, đường bộ và phát triển kinh tế du lịch. trên địa bàn tỉnh có 4 tuyến Quốc lộ và 14 tuyến tỉnh lộ với tổng chiều dài hơn 600 km, hệ thống đường huyện, đường giao thông nông thôn có hơn 3.700 km. Các tuyến đường giao thông huyết mạch trong tỉnh gồm có Quốc lộ 1A, Quốc lộ 60, Quốc lộ Nam Sông Hậu, Quốc lộ Quản Lộ - Phụng Hiệp...Mạng lưới đường ô tô khá dài chiếm khoảng 129 km. Toàn tỉnh hiện có 8 tuyến xe buýt, trong đó các tuyến gồm: Tuyến 1: Thành phố Sóc Trăng - Thạnh Trị - Ngã Năm. Tuyến 2: Thành phố Sóc Trăng - Châu Thành - Thị xã Ngã Bảy (Hậu Giang). Tuyến 3: Thành phố Sóc Trăng - Long Phú - Đại Ngãi. Tuyến 4: Thành phố Sóc Trăng - Mỹ Xuyên - Kinh Ba (Trần Đề). Tuyến 5: Thành phố Sóc Trăng - Kế Sách. Tuyến 6: Thành phố Sóc Trăng - Mỹ Tú. Tuyến 7: Thành phố Sóc Trăng - Vĩnh Châu. Tuyến 8: Thành phố Sóc Trăng - Đại Ngãi - An Lạc Thôn. == Hình Ảnh == == Chú thích == == Tham khảo ==
funk.txt
Funk là một thể loại âm nhạc bắt nguồn từ giữa thập niên 1960 khi những nhạc sĩ người Mỹ gốc Phi sáng tạo ra một hình thực âm nhạc nhịp điệu và khiêu vũ được bằng cách pha trộn các dòng nhạc soul music, jazz, và rhythm and blues (R&B). == Chú thích == == Tham khảo == Vincent, Rickey (1996). Funk: The Music, The People, and The Rhythm of The One. St. Martin's Press. ISBN 0-312-13499-1. Thompson, Dave (2001). Funk. Backbeat Books. ISBN 0-87930-629-7. Wermelinger, Peter (2005). Funky & Groovy Music Records Lexicon. -. ISBN 3-9522773-1-2.
ngân hàng quốc gia campuchia.txt
Ngân hàng Quốc gia Campuchia là ngân hàng trung ương của Campuchia. Ngân hàng này đóng tại Phnôm Pênh, Campuchia. Ngân hàng này được thành lập năm 1954 sau khi Campuchia giành được độc lập khỏi Pháp. Ngân hàng Quốc gia Campuchia hiện là ngân hàng phát hành tiền tệ riel Campuchia và quản lý tiền tệ của quốc gia này. Ngân hàng này còn có tên gọi khác là Ngân hàng Đỏ hay Banque Rouge == Tham khảo == == Liên kết ngoài == Ngân hàng Quốc gia Campuchia Ngân hàng Lịch sử Ngân hàng Bản đồ (Branch Map) Ngân hàng Duties & Functions
fifa football 2004.txt
FIFA Football 2004 là một trò chơi bóng đá do hãng EA Sports phát hành vào tháng 10 năm 2003. FIFA Football 2004 là phiên bản thứ 11 của FIFA Series. Các cầu thủ được chọn quảng cáo Alessandro Del Piero, Thierry Henry và Ronaldinho. Đoạn phim đầu game diễn ra tại sân St James' Park của CLB Newcastle United cùng với bài hát Red Morning Light do Kings of Leon trình bày. Với việc có thêm 7 giải đấu trong FIFA Football 2004 nên số CLB tại phần Rest of World đã giảm xuống còn có 16 đội. Trong đó có 6 đội đầu tiên có mặt thuộc Nam Mỹ mà không đến từ Brasil, đó là Club America, Toluca, C.F. Monterrey, U.N.A.M từ (México) và Boca Juniors, River Plate (từ Argentina). == Các giải đấu trong FIFA Football 2004 == == Các đội tuyển quốc gia trong FIFA Football 2004 == == Danh sách các bài hát == The Dandy Warhols: "We Used to Be Friends" Asian Dub Foundation: "Rise To The Challenge" Babamania: "Wanna Rock" Café Tacuba: "Eo" (El Sonidero) The Cooper Temple Clause: "Promises, Promises" DJ Sensei: "Musica Grande" Kasabian: "L.S.F" Kings Of Leon: "Red Morning Light" Caesars: "Jerk It Out" Goldfrapp: "Train" Paul van Dyk: "Nothing But You" The Jam: "Town Called Malice" Kane: "Rain Down on Me" (Tiesto Remix) Radiohead: "Myxomatosis" Junior Senior: "Rhythm Bandits" The Stone Roses: "Fools Gold" Tosca: "Gute Laune" Lostprophets: "Burn Burn" The Raveonettes: "That Great Love Sound" Suburbia: "Always" The Clones: "Crazy Boys" The Individuals: "Take A Ride" Timo Maas: "Unite" Tribalistas: "Já Sei Namorar" Underworld: "Two Months Off" Vicentico: "Se Despierta La Ciudad" Wir sind Helden: "Guten Tag " Zeca Pagodinho: "Deixa A Vida Me Levar" == Các sân vận động trong FIFA Football 2004: == == Tham khảo == == Liên kết ngoài == Trang chủ của hãng EA Danh sách các bản FIFA trên GameSpot FIFA Series tại DMOZ
geoje.txt
Geoje là một thành phố ở tỉnh Gyeongsang Nam, Hàn Quốc. Daewoo Shipbuilding & Marine Engineering (tên cũ là Daewoo Shipyard) ở Okpo và Samsung Heavy Industries (SHI) ở Gohyeon đều nằm ở đảo Geoje. Thành phố gồm nhiều đảo, trong đó đảo lớn nhất là đảo Geoje. == Phân chia hành chính == == Tham khảo == == Liên kết ngoài == Trang mạng chính quyền thành phố Geoje
quân cờ đen.txt
Quân Cờ Đen (黑旗軍, Hán Việt: Hắc Kỳ quân) là một nhóm đảng cướp có quân số đa số xuất thân từ quân đội người Tráng, di chuyển từ vùng Quảng Tây của Trung Quốc băng qua biên giới vào hoạt động ở miền núi phía Bắc Kỳ thuộc triều đình Huế vào năm 1865, được biết đến nhiều chủ yếu do những trận đánh với lực lượng Pháp theo như thỏa hiệp với cả triều đình Việt Nam và Trung Quốc. Đội quân này mang tên Cờ Đen là do thủ lĩnh của họ, Lưu Vĩnh Phúc, ra lệnh dùng cờ hiệu màu đen. == Thành lập == Năm 1857, Lưu Vĩnh Phúc xin làm thuộc hạ của Ngô Lăng Vân, người tự xưng là Ngô Vương, và là dư đảng Thái Bình Thiên quốc, bản doanh đóng gần Nam Ninh, Quảng Tây (Trung Quốc). Lưu được Ngô Lăng Vân trợ giúp rồi sau đã trở thành một nhân vật quyền thế dưới trướng của Ngô Vương. Khi Ngô Lăng Vân bị giết (1863), Lưu đem bộ hạ theo Vương Sĩ Lâm và Hoàng Tư Nùng ở châu Thượng Tư (Quảng Tây) cướp phá ở nhiều nơi, sau mới gia nhập lại với Ngô Côn, con trai và là người kế nghiệp Ngô Vương. Là một người có nhiều tham vọng, cộng thêm hoàn cảnh thiếu thốn, Lưu xin với Ngô Á Chung (tức Ngô Côn) đem quân vượt biên giới sang cướp bóc bên Đại Nam. Cuộc quân hành này cũng tránh được quan quân nhà Thanh đang càn quét, tái lập quyền kiểm soát vùng Lưỡng Quảng. Với 200 đồng đảng thân tín, trương một lá cờ màu đen làm kỳ hiệu, Lưu Vĩnh Phúc vượt biên giới vào Đại Nam năm 1865. Lưu vừa đi vừa tuyển thêm quân từ các toán thổ phỉ khác mà không bị ai chặn lại hay ngăn trở gì. Đến gần Sơn Tây, quân Cờ Đen khi đó đã lên tới 500 người dừng lại lập doanh trại. Sự hiện diện của một đội quân vũ trang trong lãnh thổ của các bộ tộc Mông miền núi là một sự đe dọa với họ, nên xung đột vũ trang đã nổ ra. Quân Cờ Đen phục kích và đánh bại cuộc tấn công của thổ dân, đồng thời giết chết một thủ lĩnh của họ. Viên thủ lĩnh này chống đối chính quyền nhà Nguyễn, nên nhân cơ hội đó nhà Nguyễn chính thức ban cho Lưu chức vị Cửu phẩm bách hộ để tiếp tục công việc bình định vùng này. Tuy vậy, đánh nhau với người thiểu số không phải là mối quan tâm chính của Lưu, nên năm 1868, Lưu quay ra tranh giành khu vực thị trấn Lào Cai, tức châu Bảo Thắng, một món mồi béo bở, lúc bấy giờ đang nằm dưới sự kiểm soát của các thương gia có vũ trang người Quảng Đông. Quân Cờ Đen tự tiện thu thuế, khai khoáng, cướp bóc khắp nơi, quan quân nhà Nguyễn cũng không ngăn cản được. Quân Cờ Đen còn thiết lập một hệ thống bảo kê, đánh thuế 10% cho các hoạt động thương mại đường thủy dọc sông Hồng. Nguồn lợi từ các hoạt động này lớn tới mức quân Cờ đen nhanh chóng gia tăng lực lượng, với cả một số sĩ quan là các lính đánh thuê châu Âu hay Mỹ, và Lưu sử dụng kinh nghiệm của số người này để biến lực lượng của mình thành một đạo quân đáng gờm.: == Giải tán == Theo một trong các điều kiện hòa ước giữa Pháp và Thanh để chấm dứt cuộc chiến tranh Pháp-Thanh, Lưu Vĩnh Phúc phải rời Bắc Kỳ. Tới giai đoạn cuối cuộc chiến này, quân Cờ Đen chỉ còn khoảng 2.000 người, và không có khả năng chống lại Đường Cảnh Tùng và các chỉ huy quân Vân Nam khác. Lưu về lại Trung Quốc với một số thuộc hạ thân tín, bỏ lại phần lớn quân Cờ Đen giải tán ngay tại Bắc Kỳ trong mùa hè năm 1885. Không được trả lương trong vòng mấy tháng, và có sẵn vũ khí, số quân này quay lại làm giặc cướp, đội danh quân Cần Vương kháng Pháp. Người Pháp phải mất hàng tháng để đánh dẹp các nhóm này, và đường từ Hưng Hóa cho tới Lào Cai phải tới tháng 2 năm 1886 mới an toàn trở lại. == Nhận định == Đương thời, quân Cờ Đen tuy có công gây tổn thương cho lực lượng viễn chính của Pháp đang xâm chiếm Đông Dương, nhưng chính quân Cờ Đen cũng gây nhiều ta thán, tàn hại thường dân. Một võ tướng bấy giờ là Ông Ích Khiêm không đồng tình khi triều đình Huế mượn sức quân Cờ Đen chống chọi với Pháp. Ông cũng chê trách các quan Việt bất tài, nên khi hữu sự phải nhờ vào người Tàu để đánh giặc. Ông có làm bài thơ trách cứ tinh thần ỷ lại của các quan trong triều: Áo chúa cơm vua hưởng bấy lâu Đến khi có giặc phải thuê Tàu Từng phen võng giá mau chân nhẩy Ðến buớc chông gai thấy mặt đâu Tiền bạc quyên hoài dân xác mướp Trâu dê ngày hiến đứa răng bầu Ai ôi hãy chống trời Nam lại Kẻo nửa dân ta phải cạo đầu == Chú thích == == Xem thêm == Lưu Vĩnh Phúc Quân Cờ Trắng Quân Cờ Vàng
1802.txt
Bản mẫu:C19YearInTopicX Năm 1802 (MDCCCII) là một năm thường bắt đầu vào thứ Sáu theo lịch Gregory hay một năm thường bắt đầu vào thứ Tư theo lịch Julius. == Sự kiện trong năm 1802 == === Tháng 2 === Ngày 3: bắt đầu trận Trấn Ninh === Tháng 3 === Ngày 16 - West Point được thành lập. Ngày 25 - Hiệp ước Amiens giữa Pháp và Anh quốc đã chấm dứt cuộc chiến tranh Napoleon. Ngày 28 - H. W. Olbers phát hiện ra tiểu hành tinh Pallas. === Tháng 6 === Ngày 1: Nguyễn Ánh xưng đế tại Phú Xuân (Huế) lập ra nhà Nguyễn. Ngày 18: Nguyễn Ánh đánh chiếm Thăng Long. === Tháng 12 === Ngày 1: Nguyễn Ánh giết Cảnh Thịnh đế và cựu thần Tây Sơn. == Sinh 1802 == Niels Henrik Abel Alexandre Dumas Victor Hugo David Hunter Aleksandr Ivanovich Odoyevsky == Mất == Bùi Thị Xuân Nguyễn Quang Toản Trần Quang Diệu Trịnh Thất Đô đốc Bảo == Tham khảo ==
trung á.txt
Trung Á là một vùng của châu Á không tiếp giáp với đại dươAng. Có nhiều định nghĩa về Trung Á, nhưng không có định nghĩa nào được chấp nhận rộng rãi. Các tính chất chung của vùng đất này có thể kể ra như: vùng này trong lịch sử có Con đường Tơ lụa và có những người dân du mục, từng là điểm trung chuyển hàng hóa giữa Đông Á, Nam Á, Trung Đông và châu Âu. Đôi khi người ta còn gọi nó là vùng Nội Á. == Dân cư == Có tổng cộng hơn 80 triệu người sống tại Trung Á, chiếm 2% số dân châu Á. Vùng Bắc Á dân cư thưa thớt, mật độ dân số chỉ vào khoảng 9 người trên một cây số vuông, thấp hơn rất nhiều so với mật độ trung bình của châu Á là 80.5 người trên một cây số vuông. == Lịch sử Trung Á == Vào trung kỳ đồ đá cũ, cách đây 100.000 đến 35.000 năm, cư dân Trung Á bị những đầm lầy, biển, những mảng băng,… cô lập với châu Âu và những vùng khác. Những di cốt của người tinh khôn Neandertal tìm thấy ở hang Aman Kutan gần Samarkand có niên đại cách đây khoảng 100.000 đến 40.000 năm, và là di cốt con người cổ nhất đã phát hiện được ở Trung Á. Lịch sử Trung Á bắt đầu ghi lại từ thế kỷ thứ 6 TCN, khi đế quốc Ba tư Achemenid rộng lớn bao gồm 3 vương quốc chư hầu bên kia sông Amu-Darya: Sogdiana, Khorezm, Saka. Sogdiana là vùng đất giữa 2 sông Amu-Darya và Syr-Darya, người Hy Lạp gọi là Transoxiana, người Ả rập gọi là Movarannahr. Khorezm nằm ở vùng đất thấp giữa nhánh Amu-Darya với nam biển Aral. Saka là quê hương của những chiến binh du mục, trải dài vô tận qua những thảo nguyên bên kia sông Syr-Darya, bao gồm cả rặng Thiên Sơn. Vào năm 330 TCN, Alexander Đại đế đã đánh thắng vị vua Achemenid cuối cùng Darius III. Vào năm 329 TCN ông ta băng qua sông Amu-Darya và chiếm Trung Á. Năm 138 TCN, Đại tướng Trung Quốc Trương Kiên đã đến Fergana mong muốn mua được những con ngựa thiên đường Fergana nổi tiếng, những con ngựa này mồ hôi đẫm máu. Những thương nhân địa phương mà ông gặp rất ưa thích chiếc áo dài lụa ông mặc. Parthia là khách hàng nước ngoài tiêu thụ nhiều nhất lụa Trung Quốc vào cuối thế kỷ thứ II TCN. Sau Parthia lụa được đưa sang Rome. Vào khoảng 105, Parthia và Trung Quốc trao đổi sứ thần và trao đổi buôn bán song phương dọc theo tuyến đường bộ hành giữa 2 nước. Từ đó, Con đường Tơ lụa ra đời. Vào thế kỷ thứ 1 TCN, Kushans Phật giáo (con cháu của bộ lạc Nguyệt Chi, Trung Quốc) điều khiển Bắc Ấn Độ, Afghanistan và Sogdiana từ vùng gốc ở Ghandara. Với sự hùng mạnh của họ trong 3 thế kỷ đầu sau Công nguyên, họ là một trong 4 lực lượng mạnh của thế giới cùng với Rome, China and Parthia. Khoảng 1000 năm sau Công nguyên, Trung Á là một khung cảnh về sự tranh giành quyền lực (giống như con lắc) giữa những bộ lạc du cư trên lưng ngựa Heartland (nam Siberia) và những nền văn minh cố định chung quanh Á – Âu, để thu lợi nhuận từ con đường thương mại Trung Á. Trong chính lúc đó người Turks, mà ngày nay là Turkistan xuất hiện. Vào thế kỷ thứ III Samanids Iran xâm chiếm Sogdiana. Vào thế kỷ thứ IV người Huns lại chiếm được quyền lợi này. === Các dân tộc và ngôn ngữ === Ngôn ngữ của phần lớn cư dân tại các nước Cộng hòa Trung Á Xô viết cũ thuộc nhóm ngôn ngữ Thổ Nhĩ Kỳ của hệ Altai. Tiếng Turkmen, gần giống với tiếng Thổ Nhĩ Kỳ (đều thuộc nhánh phía Nam của nhóm ngôn ngữ Thổ Nhĩ Kỳ), được nói chủ yếu ở Turkmenistan, Afghanistan, Iran và Thổ Nhĩ Kỳ. Tiếng Kazakh, Kyrgyz và Tatar, thuộc nhánh phía Tây của nhóm ngôn ngữ Thổ Nhĩ Kỳ, được sử dụng tại Kazakhstan, Kyrgyzstan và Tajikistan cũng như Afghanistan, Tân Cương và Thanh Hải. Tiếng Uzbek và Duy Ngô Nhĩ (Uighur) được nói tại Uzbekistan, Tajikistan và Tân Cương. Tiếng Nga là ngôn ngữ của người Nga sống tại Trung Á, là một lingua franca tại các nước Cộng hòa Trung Á Sô viết cũ. Tiếng Hán cũng có một vị trí quan trọng tại Nội Mông Cổ, Thanh Hải và Tân Cương. Các ngôn ngữ Thổ Nhĩ Kỳ thuộc hệ Altai, bao gồm tiếng Mông Cổ. Tiếng Mông Cổ được nói khắp các vùng Mông Cổ, Thanh Hải và Tân Cương. Nhóm ngôn ngữ Ba Tư từng một thời được dùng khắp Trung Á, tuy vậy các ngôn ngữ một thời được dùng nhiều như tiếng Sogdiana, Bactria và Scythia ngày nay không còn nữa. Tuy nhiên, tiếng Ba Tư vẫn được nói trong vùng này, và được biết dưới tên gọi Dari hay Tajik. Tiếng Pushto được nói tại Afghanistan và Tây Pakistan. Nhóm ngôn ngữ Tạng có khoảng 6 triệu người sử dụng khắp cao nguyên Thanh Tạng và Thanh Hải. == Giáo dục == Cơ sở giáo dục đại học danh tiếng nhất tại các quốc gia Trung Á. == Cơ quan lập pháp == Cơ quan lập pháp tại các quốc gia Trung Á tập trung theo hai hệ thống, đơn viện gồm các quốc gia Turkmenistan và Kyrgyzstan, lưỡng viện gồm các quốc gia Kazakhstan, Uzbekistan và Tajikistan.Quốc hội Uzbekistan được xem là quốc hội có nhiều nhất thành viên tại Trung Á,với 250 thành viên.Quốc hội của Tajikistan có ít thành viên nhất,chỉ có 96 nghị sĩ. == Các tôn giáo chính == Những tôn giáo chính tại vùng Trung Á gồm có, theo thứ tự số: Hồi giáo (nhất là giáo phái Sunni và giáo phái Sufi), Phật giáo (hầu hết là phái Mật tông; hay Phật giáo Tây Tạng), và Cơ Đốc giáo (còn gọi là "Thiên chúa giáo"; hầu hết là phái Chính thống). == Các nước Cộng hòa Trung Á == Các nước Cộng hòa Trung Á là năm nước nằm tại khu vực Trung Á trước đây thuộc Liên Xô, bao gồm: Kazakhstan Kyrgyzstan Tajikistan Turkmenistan Uzbekistan == Tham khảo ==
nhóm nguyên tố 5.txt
Nhóm nguyên tố 5 là nhóm gồm 4 nguyên tố vanađi (V), niobi (Nb), tantali (Ta) và dubni (Db) trong bảng tuần hoàn, nhóm này còn có tên gọi khác là nhóm vanađi. == Tham khảo ==
victoria, seychelles.txt
Victoria (đôi khi gọi là Port Victoria) là thủ đô Cộng hoà Seychelles và toạ lạc ở phía đông bắc của đảo Mahé, đảo chính của quần đảo. Thành phố đã được lập ban đầu làm trụ sở cho chính quyền thuộc địa Anh. Dân số năm 2002 là 24.970 người, chiếm 1/3 dân số Seychelles. Victoria có Sân bay quốc tế Seychelles (hoàn thành năm 1971.) Vùng đại đô thị Victoria có 8 trong 25 huyện của Seychelles: La Riviere Anglaise (English River) Mont Buxton Saint Louis Bel Air Mont Fleuri Roche Caiman Les Mamelles Plaisance == Tham khảo == == Liên kết ngoài == Bản đồ từ from Multimap hoặc GlobalGuide hoặc Google Maps Hình ảnh từ trên không trung lấy từ TerraServer Hình ảnh chụp từ vệ tinh lấy từ WikiMapia Seychelles Port Authority Seychelles Realg Estate
thủ phủ.txt
Thủ phủ là trung tâm hành chính của một đơn vị hành chính cấp địa phương, như tiểu bang, vùng, tỉnh, huyện, xã, tổng... Trong tiếng Việt, thủ phủ của một tỉnh được gọi là tỉnh lị, thủ phủ của một huyện được gọi là huyện lị. Dưới chính thể Việt Nam Cộng hòa, vốn không dùng "huyện" mà dùng "quận" nên thủ phủ của một quận được gọi là quận lỵ. Dưới thời phong kiến, người ta cũng dùng từ lị sở với nghĩa tương tự như thủ phủ. "Thủ phủ" là một từ Hán Việt, có lẽ ban đầu được dùng để chỉ trung tâm hành chính của một phủ. Từ "thủ phủ" trong tiếng Anh là "capital" có nguồn gốc từ tiếng Latin có nghĩa là "đầu" (head) hay "thủ" (Hán Việt). == Xem thêm == Thủ đô Tỉnh lỵ == Tham khảo ==
13 tháng 1.txt
Ngày 13 tháng 1 là ngày thứ 13 trong lịch Gregory. Còn 352 ngày trong năm (353 ngày trong năm nhuận). == Sự kiện == 827 – Lý Ngang tức hoàng đế vị, tức Đường Văn Tông, ngày Ất Tị (12) tháng 12 năm Bính Ngọ. 888 – Eudes, Bá tước xứ Paris trở thành Quốc vương của Người Frank. 1822 – Quốc hội khóa đầu của Hy Lạp thông qua thiết kế Quốc kỳ Hy Lạp. 1898 – Nhà văn Émile Zola đăng thư ngỏ J'accuse trên báo L'Aurore, phanh phui vụ bê bối Dreyfus, gây ra một cuộc xung đột chính trị-xã hội nghiêm trọng trong nền Đệ tam cộng hòa Pháp. 1934 – Cấp bậc phó tiến sĩ được thiết lập tại Liên Xô. 1940 – Chiến tranh thế giới thứ hai: Chiến đấu cơ Yakovlev Yak-1 của Liên Xô tiến hành chuyến bay đầu tiên 1942 – Chiến tranh thế giới thứ hai: Một phi công người Đức trở thành người đầu tiên thử nghiệm ghế phóng trên một chiếc máy bay tiêm kích phản lực Heinkel He 280. 1942 – Henry Ford được cấp bằng sáng chế một chiếc ô tô được làm bằng nhựa, nhẹ hơn 30% so với ô tô thông thường. 1945 – Chiến tranh thế giới thứ hai: Quân đội Liên Xô mở màn Chiến dịch Đông Phổ chống quân đội Đức. 1951 – Chiến tranh Đông Dương: Quân đội Nhân dân Việt Nam bắt đầu tiến công quân Liên hiệp Pháp tại khu vực Vĩnh Yên, song buộc triệt thoái vài ngày sau đó. 1992 – Vườn quốc gia Cát Tiên nằm trên địa bàn ba tỉnh Đồng Nai, Bình Phước và Lâm Đồng do Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng Việt Nam Võ Văn Kiệt ra nghị quyết thành lập 2012 – Tàu du lịch Costa Concordia gặp nạn ngoài khơi bờ biển Ý, khiến 31 người thiệt mạng và 1 người mất tích. == Người sinh == 1777 – Élisa Bonaparte, em của Napoléon Bonaparte (m. 1820) 1832 – Horatio Alger, tác gia người Mỹ (m. 1899 1833 – Alfred von Keßler, tướng lĩnh Phổ (m. 1907) 1864 – Wilhelm Wien, nhà vật lý học người Đức, đoạt giải Nobel (m. 1928) 1878 – Trần Quýnh Minh, quân phiệt người Trung Quốc, tức 11 tháng 12 năm Đinh Sửu (m. 1933) 1889 – Lev Zakharovich Mekhlis, chính trị gia Liên Xô, tức 1 tháng 1 theo lịch Julius (m. 1953) 1927 – Sydney Brenner, nhà sinh vật học người Nam Phi, đoạt giải Nobel 1932 – Lý Hương Cầm, diễn viên người Trung Quốc 1934 – Robin Milner, nhà khoa học máy tính người Anh Quốc (m. 2010) 1955 – Huh Jung-Moo, cầu thủ và huấn luyện viên bóng đá người Hàn Quốc 1957 – Thôi Thế An, chính trị gia người Ma Cao 1961 – Julia Louis, diễn viên người Mỹ 1969 – Suzumoto Yūichi, tiểu thuyết gia người Nhật Bản 1977 – Orlando Bloom, diễn viên người Anh Quốc 1982 – Barri Griffiths, đô vật người Anh Quốc 1984 – Hirayama Aya, diễn viên người Nhật Bản 1987 – Lee Seung Gi, ca sĩ và diễn viên người Hàn Quốc 1988 – Tomás Rincón, cầu thủ bóng đá người Venezuela 1991 – Gu Ha-ra, ca sĩ, vũ công, diễn viên người Hàn Quốc (Kara) 2003 – Phương Mỹ Chi, ca sĩ người Việt Nam == Người chết == 888 – Charles Béo, hoàng đế của Carolingi, quốc vương của Ý (s. 839) 1599 – Edmund Spenser, thi sĩ người Anh (s. 1552) 1717 – Maria Sibylla Merian, nhà côn trùng học, họa sĩ tranh minh họa người Đức (s. 1647) 1936 – Gabriel Veyre, đạo diễn,, nhiếp ảnh gia người Pháp (s. 1871) 1941 – James Joyce, tác gia người Ireland (s. 1882) 1979 – Trần Trinh Huy, doanh nhân người Việt Nam (s. 1900) 1988 – Tưởng Kinh Quốc, chính trị gia người Trung Quốc, Tổng thống Trung Hoa Dân Quốc (s. 1910) == Những ngày lễ và kỷ niệm == Thụy Điển - Tjugondedag jul (Mùa Giáng sinh) chấm dứt == Tham khảo ==
hoàng mai, hà nội.txt
Hoàng Mai là một quận của thành phố Hà Nội. Quận được thành lập theo Nghị định số 132/2003/NĐ-CP ngày 6 tháng 11 năm 2003 của Chính phủ Việt Nam, dựa trên diện tích và dân số của toàn bộ 9 xã: Định Công, Đại Kim, Hoàng Liệt, Thịnh Liệt, Thanh Trì, Lĩnh Nam, Trần Phú, Vĩnh Tuy, Yên Sở và 55 ha diện tích của xã Tứ Hiệp thuộc huyện Thanh Trì cộng với diện tích và dân số của 5 phường Mai Động, Tương Mai, Tân Mai, Giáp Bát, Hoàng Văn Thụ thuộc quận Hai Bà Trưng. == Lịch sử == Hoàng Mai vốn trước là vùng đất thuộc huyện Thanh Trì.Vùng Hoàng Mai có tên Nôm là Kẻ Mơ và tên chữ là Cổ Mai,vì mai là tiếng Hán của mơ, do trước kia nơi đây người dân sinh sống chủ yếu bằng trồng cây mai.Lại có rất nhiều các giống mai được trồng nên ta có thể giải thích lại có một loạt các địa danh như: Tương Mai,Thanh Mai,Hồng Mai,Bạch Mai,Hoàng Mai... Năm 1390,danh tướng Trần Khát Chân sau khi có công giết chết vua Chiêm là Chế Bồng Nga và đánh tan quân Chiêm Thành đã được ban thái ấp ở vùng đất Cổ Mai. Việc thành lập quận Hoàng Mai đã nằm trong quy hoạch đến năm 2020 của thành phố Hà Nội, đã đ­ược Thủ t­ướng Việt Nam phê duyệt. Từ ngày 1 tháng 1 năm 2004, bộ máy hành chính và các thiết chế t­ương ứng của chính quyền và đoàn thể cũng đ­ược thành lập và chính thức đi vào hoạt động. Về tổ chức Đảng, Đảng bộ quận Hoàng Mai đã đ­ược thành lập với 26 uỷ viên Ban chấp hành lâm thời do Thành uỷ chỉ định với 53 chi Đảng bộ trực thuộc. Hiện nay, Hoàng Mai là một quận có tốc độ đô thị hoá nhanh, với các công trình nhà chung cư­ cao tầng và các khu đô thị mới đang hoàn thiện như: Định Công, Bắc Linh Đàm, Nam Linh Đàm, Đại Kim, Kim Văn- Kim Lũ, Đền Lừ, Đồng Tầu, Pháp Vân Tứ Hiệp, Thịnh Liệt. == Hành chính == Quận Hoàng Mai có diện tích 4.104,10 ha (41,04 km²), dân số 365000 người (cuối năm 2013), gồm 14 phường: Đại Kim, Định Công, Giáp Bát, Hoàng Liệt, Hoàng Văn Thụ, Lĩnh Nam, Mai Động, Tân Mai, Thanh Trì, Thịnh Liệt, Trần Phú, Tương Mai, Vĩnh Hưng, Yên Sở. Quận Hoàng Mai là quận có tốc độ đô thị hóa và xây dựng cơ sở hạ tầng mạnh nhất trong số các quận huyện mới của thủ đô, với hàng loạt khu đô thị như Linh Đàm, Bắc Linh Đàm, Định Công, Đại Kim, Đền Lừ, Kim Văn - Kim Lũ, Vĩnh Hoàng, Hoàng Văn Thụ, Ao Sao, Thịnh Liệt, Đại Kim - Định Công, Tây nam hồ Linh Đàm, Tây Nam Kim Giang… cùng hàng loạt chung cư trên đường Lĩnh Nam, đường Tam Trinh, đường Pháp Vân, đường Nghiêm Xuân Yêm như Gamuda City, Hateco Yên Sở, khu đô thị Pháp Vân - Tứ Hiệp, The Manor Central Park… Các dự án đường sắt đi qua địa bàn quận là các tuyến số 1 (Ngọc Hồi - Yên Viên), tuyến số 3 (Trôi - Nhổn - Ga Hà Nội), tuyến số 4 (Liên Hà - Bắc Thăng Long), tuyến số 8 (An Khánh - Dương Xá); trong đó tuyến số 1 hiện đang được đầu tư xây dựng. == Đường phố == == Địa lý == Quận Hoàng Mai là một vùng đất nằm ở phía đông nam thành phố Hà Nội, có diện tích tự nhiên là 4.104,1 ha (41 km²) với tổng số dân là 365.759 ng­ười. Quận Hoàng Mai phía đông giáp quận Long Biên và huyện Gia Lâm qua sông Hồng, phía tây và nam giáp huyện Thanh Trì, bắc giáp quận Thanh Xuân và quận Hai Bà Trưng với 14 đơn vị hành chính trực thuộc là 14 ph­ường đ­ược hình thành trên cơ sở toàn bộ 9 xã và một phần xã Tứ Hiệp của huyện Thanh Trì, cùng với 5 ph­ường của quận Hai Bà Trư­ng. Quận Hoàng Mai có đư­ờng giao thông thuỷ trên sông Hồng. Quận có các đ­ường giao thông quan trọng đi qua gồm: Quốc lộ 1A, đ­ường vành đai 2,5, đ­ường vành đai 3, đường cao tốc Pháp Vân – Cầu Giẽ, đường cao tốc Hà Nội – Lạng Sơn, cầu Thanh Trì. == Văn hóa == Quận Hoàng Mai có nhiều làng nghề ẩm thực nh­ư làng nghề bánh cuốn Thanh Trì (ph­ường Thanh Trì), rượu Hoàng Mai, làng bún Tứ Kỳ, bún ốc Pháp Vân (ph­ường Hoàng Liệt), đậu phụ Mơ (phường Mai Động). Ngoài ra, ph­ường Vĩnh Hư­ng và phường Lĩnh Nam có nghề trồng hoa, rau sạch; phường Yên Sở có làng cá Yên Sở. == Danh nhân == Nguyễn Văn Siêu Nguyễn Trọng Hợp Bùi Huy Bích == Tham khảo == == Liên kết ngoài == Trang chủ - Cổng thông tin điện tử Quận Hoàng Mai
sony alpha.txt
Sony Alpha hay Sony α (alpha trong bảng chữ cái tiếng Hy Lạp) là dòng sản phẩm máy ảnh DSLR và SLT được Sony công bố vào ngày 5 tháng 6 năm 2006. Sony α được thành lập và mở rộng dựa trên công nghệ máy ảnh của Konica Minolta và hệ thống ngàm ống kính của Minolta AF. Sony sở hữu 11.08% cổ phần của Tamron, công ty ống kính máy ảnh Nhật Bản đang hợp tác sản xuất với Sony và Konica Minolta. Trước Sony, Minolta đã sử dụng thương hiệu α cho hệ thống máy ảnh AF của họ tại thị trường Nhật Bản ("Dynax" tại châu Âu, "Maxxum" tại Bắc Mỹ). Khi thành lập Sony Alpha, Sony cũng giữ lại hệ thống ngàm ống kính đã được Minolta sử dụng ("ngàm A"). Sony tham gia vào thị trường máy ảnh DSLR từ tháng 7 năm 2005, bắt đầu với sự kiện công ty này liên doanh với Konica Minolta. Từ 2006 đến 2008, Sony là công ty phát triển nhanh nhất trên thị trường DSLR, đạt 13% thị phần trong năm 2008 và trở thành công ty DSLR lớn thứ ba trên thế giới. Tháng 5 năm 2010, Sony giới thiệu hai máy ảnh ống kính rời không gương lật Alpha NEX và hệ thống ngàm E. Tháng 8 năm 2011, Sony xác nhận đang sản xuất các máy ảnh full-frame. == Thân máy ảnh == Các máy ảnh Sony Alpha được thiết kế và sản xuất theo nguyên tắc, mẫu máy cao hơn trong dòng sản phẩm thì có thêm tính năng so với mẫu bên dưới, ví dụ mẫu Alpha 330 có các tính năng của Alpha 230 nhưng có thêm màn hình LCD xoay và chức năng "Quick AF Live View"; trong khi Alpha 380 có các tính năng của Alpha 330 nhưng tăng độ phân giải lên 14.2 megapixel. Tất cả các máy DSLR cảm biến APS-C của Sony, trừ dòng Alpha 100, Alpha 200 và Alpha 700, đều có tính năng "Live View" (xem trực tiếp). Chế độ Live View có tính năng "1.4x/2x Smart Teleconverter" cho phép phóng to khung hình đồng thời giảm độ phân giải hình theo tỉ lệ 1:1, mà không làm giảm chất lượng của hình. Máy ảnh "SLT" ("Single Lens Translucent" - ống kính đơn mờ) là máy ảnh có gương bán mạ cố định, cho phép một phần ánh sáng đi qua gương để đến cảm biến ảnh, phần còn lại được phản xạ đến cảm biến lấy nét của máy. Các máy Sony SLT có thể quay phim Full HD 1080p AVCHD với hệ thống lấy nét tự động liên tục theo pha. == Ống kính và kính chuyển đổi tele == Máy ảnh Sony sử dụng hệ thống ngàm A là hệ thống tự động lấy nét đầu tiên trên thế giới, được Minolta giới thiệu năm 1985. Nhờ sử dụng ngàm này, tất cả các ống kính Minolta AF đều hoạt động được trên các máy DSLR của Sony, và nhiều ống kính Sony có thể hoạt động trên máy ảnh phim và máy DSLR của Minolta. Vào thời điểm ra mắt dòng sản phẩm Alpha năm 2006, Sony cũng công bố 19 ống kính và 2 kính chuyển đổi tele, phần lớn dùng lại các thiết kế ống kính của Konica Minolta. Ngày 18 tháng 5 năm 2009, Sony giới thiệu ống kính ngàm A đầu tiên có sử dụng công nghệ "SAM" ("Smooth Auto-focus Motor" - motor tự động lấy nét mượt mà) với motor tự động lấy nét đặt trong ống kính để tăng tốc độ lấy nét của các ống kính. === Các thiết kế === === Ống kính === == Tham khảo == == Liên kết ngoài == Bản mẫu:Công ty Sony
bit.txt
Bit viết tắt của Binary digIT là đơn vị thông tin. Một bit có thể nhận một trong hai giá trị: 0 hoặc 1. Nó có thể được biểu diễn theo nhiều cách khác nhau. Có thể là trạng thái đóng hay mở của mạch điện, một vệt khắc bằng tia laser trên bề mặt đĩa CD v.v... Các bit có thể dùng để thể hiện số tự nhiên trong hệ nhị phân. == Xem thêm == byte octet nibble Hệ nhị phân qubit == Tham khảo ==
clo.txt
Clo (Chlorine) (từ tiếng Hy Lạp χλωρος Chloros, có nghĩa là "lục nhạt") là nguyên tố hóa học trong bảng tuần hoàn nguyên tố có ký hiệu Cl và số nguyên tử bằng 17. Nó là một halôgen, nằm ở ô số 17, thuộc chu kì 3 của bảng tuần hoàn. Ion Clo, là một thành phần của muối ăn và các hợp chất khác, nó phổ biến trong tự nhiên và chất cần thiết để tạo ra phần lớn các loại hình sự sống, bao gồm cả cơ thể người. Clo có ái lực điện tử cao nhất và có độ âm điện đứng thứ 3 trong tất cả các nguyên tố. Ở dạng khí, nó có màu vàng lục nhạt, nó nặng hơn không khí khoảng 2,5 lần, có mùi hắc khó ngửi, và là chất độc cực mạnh. Ở dạng nguyên tố trong điều kiện chuẩn, nó là một chất ôxi hóa mạnh, được sử dụng làm chất tẩy trắng và khử trùng rất mạnh, cũng như là thuốc thử cần thiết trong ngành công nghiệp hóa chất. Là một chất khử trùng thông thường, các hợp chất clo được sử dụng trong các bể bơi để giữ sạch sẽ và vệ sinh. Ở thượng tầng khí quyển, clo chứa trong phân tử chlorofluorocarbons, ký hiệu CFC, có liên quan trong việc gây hại tầng ôzôn. == Lịch sử == Clo (tiếng Hy Lạp: χλωρος, khí màu vàng lục) được phát hiện năm 1774 bởi Carl Wilhelm Scheele, là người đã sai lầm khi cho rằng nó chứa ôxy. Clo được đặt tên năm 1810 bởi Humphry Davy, là người khẳng định nó là một nguyên tố. == Tính chất == === Tính chất vật lý === Clo, khí hóa lỏng dưới áp suất 8 bar ở nhiệt độ phòng. Kích thước cột chất lỏng là ca. 0.3x 3 cm. Ở nhiệt độ và áp suất tiêu chuẩn, hai nguyên tử clo hình thành các phân tử có hai nguyên từ Cl2. Đây là một chất khí màu vàng xanh có mùi đặc biệt mạnh mẽ của nó, mùi thuốc tẩy. Sự gắn kết giữa hai nguyên tử là tương đối yếu (chỉ 242,58 ± 0,004 kJ/ mol), mà làm cho phân tử Cl2 phản ứng cao. Điểm sôi bầu không khí thường xuyên là khoảng -34˚C, nhưng nó có thể được hóa lỏng ở nhiệt độ phòng với áp lực trên 8 atm. Nguyên tố này là thành viên của nhóm halôgen tạo ra một loạt các muối và được tách ra từ các clorua thông qua quá trình ôxi hóa hay phổ biến hơn là điện phân. Clo là một khí có khả năng phản ứng ngay lập tức gần như với mọi nguyên tố. Ở 10 °C một lít nước hòa tan 3,10 lít clo và ở 30 °C chỉ là 1,77 lít. === Tính chất hóa học === Ngoài những tính chất hóa học của một phi kim như tác dụng với hầu hết kim loại tạo thành muối Clorua, tác dụng với Hiđro tạo khí hiđro clorua. Phương pháp Clo hóa là sử dụng khí Clo mới sinh (khí Clo mới sinh có khả năng hoạt hóa rất cao hơn hẳn khí Clo đã được cất giữ trong các bình chứa một thời gian) tác dụng trực tiếp với đối tượng cần Clo hóa như các kim loại, oxit kim loại hoặc các hợp chất hữu cơ (benzen, toluen...), với nước, bazơ,... Clo thể hiện một số hóa tính trong phản ứng Clo hóa như sau: a)Tác dụng với nước tạo dung dịch nước clo: Cl2 (k) + H2O (l) ↔ HCl (dd) + HClO (dd) Dung dịch nước Clo là dung dịch hỗn hợp giữa Cl2, HCl và HClO nên có màu vàng lục, mùi hắc của Clo; dung dịch axit lúc đầu làm giấy quỳ chuyển sang màu đỏ nhưng nhanh chóng bị mất màu ngay sau đó do tác dụng oxi hóa mạnh của Axit Hipoclorơ HClO. b)Tác dụng với dung dịch Natri Hiđroxit NaOH tạo dung dịch nước Giaven: Cl2 (k) + 2NaOH (dd) → NaCl (dd) + NaClO (dd) + H2O (l) Dung dịch nước Javen là hỗn hợp hai muối Natri Clorua NaCl và Natri Hipoclorit NaClO, có tính tẩy màu vì tương tự như Axit Hipoclorơ HClO, Natri Hipoclorit NaClO là chất oxi hóa mạnh. c)Ngoài ra, Cl2 còn có thể tác dụng với kiềm dạng rắn ở nhiệt độ cao: 3Cl2 (k) + 6KOH (r) −(t°)-> 5KCl (dd) + KClO3 (dd) + 3H2O (l) == Thuộc tính == Ở nhiệt độ và áp suất tiêu chuẩn, hai nguyên tử clo hình thành các phân tử có hai nguyên từ Cl. Đây là một chất khí màu vàng xanh có mùi đặc biệt mạnh mẽ của nó, mùi thuốc tẩy. Sự gắn kết giữa hai nguyên tử là tương đối yếu (chỉ 242,580 ± 0,004 kJ / mol), mà làm cho phân tử Cl2 phản ứng cao. Điểm sôi bầu không khí thường xuyên là khoảng -34 ˚ C, nhưng nó có thể được hóa lỏng ở nhiệt độ phòng với áp lực trên 8 atm. Ở dạng nguyên tố, clo có dạng khí (ở điều kiện tiêu chuẩn) nhị nguyên tử (phân tử) có màu vàng lục nhạt. Nguyên tố này là thành viên của nhóm halôgen tạo ra một loạt các muối và được tách ra từ các clorua thông qua quá trình ôxi hóa hay phổ biến hơn là điện phân. Clo là một khí có khả năng phản ứng ngay lập tức gần như với mọi nguyên tố. Ở 10 °C một lít nước hòa tan 3,10 lít clo và ở 30 °C chỉ là 1,77 lít. == Đồng vị == Có hai đồng vị chính ổn định của clo, với khối lượng 35 và 37, tìm thấy trong tự nhiên với tỷ lệ 3:1, tạo ra các nguyên tử clo trong tự nhiên có khối lượng nguyên tử chung xấp xỉ 35.453. Clo có 9 đồng vị với khối lượng nguyên tử trong khoảng 32 đến 40. Chỉ có ba đồng vị là có trong tự nhiên: Cl35 (75,77%) và Cl37 (24,23%) là ổn định, và đồng vị phóng xạ Cl36. Tỷ lệ của Cl36 tới Cl ổn định trong môi trường là khoảng 700 E -15: 1. Cl36 được sản xuất trong khí quyển bằng va đập của Ar36 bởi các tương tác với tia prôton vũ trụ. Trong môi trường dưới bề mặt, Cl36 được sinh ra chủ yếu như kết quả của việc bắt nơtron của Cl35 hay bắt muon của Ca40. Cl36 phân rã thành S36 và thành Ar36, với chu kỳ bán rã tổ hợp là 308.000 năm. Chu kỳ bán rã của đồng vị ưa nước này làm nó trở thành phù hợp cho việc đánh giá niên đại trong địa chất học trong khoảng từ 60.000 đến 1 triệu năm. Bổ sung thêm, một lượng lớn Cl36 đã được tạo ra bởi sự chiếu xạ của nước biển trong quá trình thử nghiệm các vũ khí nguyên tử trong không khí từ năm 1952 đến 1958. Thời gian tồn tại của Cl36 trong khí quyển khoảng 1 tuần. Vì thế, như là chất đánh dấu của nước những năm thập niên 1950 trong đất và nước ngầm, Cl36 còn có ích để đánh giá tuổi của các loại nước ít hơn 50 năm trước ngày nay. Cl36 cũng được sử dụng trong các lĩnh vực khác nhau của địa chất, bao gồm đánh giá niên đại băng và các trầm tích. == Ứng dụng == Clo là một hóa chất quan trọng trong làm tinh khiết nước, trong việc khử trùng hay tẩy trắng và là khí gây ngạt (mù tạc). Clo được sử dụng rộng rãi trong sản xuất của nhiều đồ vật sử dụng hàng ngày. Sử dụng (trong dạng axít hipoclorơ HClO) để diệt khuẩn từ nước uống và trong các bể bơi. Thậm chí một lượng nhỏ nước uống hiện nay cũng là được xử lý với clo. Sử dụng rộng rãi trong sản xuất giấy, khử trùng, thuốc nhuộm, thực phẩm, thuốc trừ sâu, sơn, sản phẩm hóa dầu, chất dẻo, dược phẩm, dệt may, dung môi và nhiều sản phẩm tiêu dùng khác. Trong hóa hữu cơ chất này được sử dụng rộng rãi như là chất ôxi hóa và chất thế vì clo thông thường tạo ra nhiều thuộc tính có ý nghĩa trong các hợp chất hữu cơ khi nó thây thế hiđrô (chẳng hạn như trong sản xuất cao su tổng hợp). Clo cũng được sử dụng trong sản xuất các muối clorat, clorofom, cacbon tetraclorua và trong việc chiết xuất brôm. == Sự phổ biến == Trong tự nhiên clo chỉ được tìm thấy trong dạng các ion clorua (Cl-). Các clorua tạo ra các loại muối hòa tan trong nước biển — khoảng 1,9% khối lượng của nước biển là các ion clorua. Trong nước của biển Chết và các mỏ nước mặn ngầm thì nồng độ của các ion clorua còn cao hơn nữa. Phần lớn các muối clorua hòa tan trong nước, vì thế các clorua rắn thông thường chỉ tìm thấy trong những vùng khí hậu khô hoặc ở sâu dưới đất. Trong lớp vỏ Trái Đất, clo có giá trị trung bình khoảng 126 ppm,, chủ yếu ở dạng halit (muối mỏ) (natri clorua), sylvit (kali clorua) và cacnalit (magiê clorua, kali clorua ngậm sáu phân tử nước). Có hơn 2000 hợp chất của clo vô cơ tồn tại trong tự nhiên. Trong vũ trụ, clo được tạo ra trong các vụ nổ siêu tân tinh. Về công nghiệp, clo nguyên tố được sản xuất bằng cách điện phân dung dịch natri clorua bão hòa. Cùng với clo, quy trình khử clo của kim loại kiềm sinh ra khí hiđrô và hiđrôxít natri, theo phản ứng sau: 2NaCl + 2H2O → Cl2 + H2 + 2NaOH == Hợp chất == ===== Hợp chất clo hữu cơ: ===== ====== 1.Cloflocacbon (Chlorofluorocarbons) hay CFC: ====== 1.Giới thiệu: Chlorofluorocarbons (CFC) là một nhóm các hợp chất hóa học sản xuất có chứa clo, flo, và carbon. Nhóm này bao gồm CFC-11, CFC-12, CFC-113, CFC- 114, CFC-115, và nhiều hình thức của Freon. 2. Thuộc tính: Nó không màu, không mùi, không độc hại, nonflammable, và ổn định khi phát ra. Khi nó được phát ra và đạt đến tầng bình lưu, nó phá vỡ và giải phóng nguyên tử clo, phá hủy tầng ozone của trái đất. CFC có thể kéo dài hơn 100 năm trong tầng bình lưu. Bởi vì nó phá hủy tầng ozone, CFC đã bị cấm từ sản xuất tại Hoa Kỳ kể từ 31 tháng 12- 1995. Chỉ tái chế CFC dự trữ có thể được sử dụng trên cơ sở hạn chế. CFCs cũng là một "khí nhà kính" bởi vì chúng hấp thụ nhiệt trong khí quyển, gửi một số lượng nhiệt hấp thụ trở lại bề mặt của trái đất và góp phần vào sự nóng lên toàn cầu và khí hậu thay đổi. 3. Ứng dụng: Trước khi CFC đã bị cấm, nó đã được sử dụng làm khí sinh hàn trong các bình xịt, tủ lạnh, điều hòa không khí trong nhà, xe và các doanh nghiệp, bình chữa cháy, bọt cách điện, bao bì thực phẩm xốp, làm sạch và điện tử dung môi. CFC vẫn được sử dụng trong thuốc hít để kiểm soát hen suyễn, nhưng điều này sẽ không được phép sử dụng sau năm 2008. Nó cũng có thể được sử dụng trong nghiên cứu. 4. Cơ chế tác động: a)Con đường tiếp xúc vào cơ thể: Bạn có thể được tiếp xúc với CFCs nếu bạn sử dụng một ống hít trước năm 2008 có chứa CFC, sử dụng máy điều hòa không khí có chứa CFC, hoặc ổ đĩa một chiếc xe cũ với một máy điều hòa không khí có chứa CFC. Nếu bạn sử dụng một tủ lạnh chứa CFC, bạn có thể tiếp xúc nếu các phân tử CFC rò rỉ ra ngoài tủ lạnh. Tại nơi làm việc, bạn có thể được tiếp xúc với CFCs nếu bạn làm việc trong một cơ sở tái chế CFC trong điều hòa không khí. Bạn có thể được tiếp xúc nếu bạn làm việc tại một cơ sở có sự cho phép sử dụng CFCs tái chế, dự trữ, hoặc tiến hành nghiên cứu sử dụng chúng. Các hợp chất của clo bao gồm các muối clorua, muối hipoclorit, muối clorit, muối clorat, muối peclorat. == Quy trình sản xuất clo == Clo có thể sản xuất thông qua điện phân dung dịch clorua natri, tức nước biển. Có ba phương pháp để tách clo bằng điện phân được sử dụng trong công nghiệp. Điện phân tế bào thủy ngân: Là phương pháp đầu tiên được sử dụng để sản xuất clo ở mức công nghiệp. Anốt bằng titan nằm phía trên catốt bằng thủy ngân lỏng, dung dịch clorua natri nằm ở giữa các điện cực. Khi có dòng điện chạy qua, clo được giải phóng ở cực dương, còn natri hòa tan trong catốt thủy ngân tạo thành một hỗn hống. Hỗn hống có thể tái tạo lại thủy ngân bằng cách cho phản ứng với nước tạo ra hiđrô và hiđrôxít natri. Chúng là những sản phẩm phụ có ích. Phương pháp này tiêu hao nhiều năng lượng và có vấn đề về sự thất thoát thủy ngân. Điện phân màng ngăn: Màng ngăn amiăng được bọc lấy catốt là một lưới sắt để ngăn không cho clo và hiđrôxít natri tạo ra có thể tái phản ứng. Phương pháp này tiêu hao ít năng lượng hơn phương pháp tế bào thủy ngân, nhưng hiđrôxít natri không dễ cô lập và kết lắng thành chất có ích. Điện phân màng tế bào: Các tế bào điện phân được chia thành hai bởi màng có vai trò như nơi trao đổi ion. Dung dịch clorua natri bão hòa được đưa vào ngăn của anốt còn nước cất đưa vào ngăn của catốt. Phương pháp này có hiệu quả gần bằng phương pháp màng ngăn và sản xuất được hiđrôxít natri rất nguyên chất. == Cảnh báo == Clo kích thích hệ hô hấp, đặc biệt ở trẻ em và người cao tuổi. Trong trạng thái khí, nó kích thích các màng nhầy và khi ở dạng lỏng nó làm cháy da. Chỉ cần một lượng nhỏ (khoảng 3,5 ppm) để có thể phát hiện ra mùi riêng đặc trưng của nó nhưng cần tới 1.000 ppm trở lên để trở thành nguy hiểm. Vì thế, clo đã là một trong các loại khí được sử dụng trong Chiến tranh thế giới thứ nhất như một vũ khí hóa học. (Xem: Sử dụng khí độc trong Đại chiến thế giới lần thứ nhất) Sự phơi nhiễm khí này không được vượt quá 0,5 ppm (8-giờ-trọng lượng trung bình - 40 giờ trong tuần). Sự phơi nhiễm cấp trong môi trường có nồng độ clo cao (chưa đến mức chết người) có thể tạo ra sự phồng rộp phổi, hay tích tụ của huyết thanh trong phổi. Mức độ phơi nhiễm thấp kinh niên làm suy yếu phổi và làm tăng tính nhạy cảm của các rối loạn hô hấp. Các loại hơi độc có thể sinh ra khi thuốc tẩy trộn với nước tiểu, amôniắc hay sản phẩm tẩy rửa khác. Các khí này bao gồm hỗn hợp của khí clo và triclorua nitơ; vì thế cần phải tránh các tổ hợp này. Xem thêm: Cloroflorocacbon == Tham khảo == == Liên kết ngoài == Los Alamos National Laboratory – Chlorine WebElements.com – Chlorine EnvironmentalChemistry.com – Chlorine
đảng cộng sản trung quốc.txt
Đảng Cộng sản Trung Quốc (tiếng Hoa giản thể: 中国共产党; tiếng Hoa phồn thể: 中國共産黨; bính âm: Zhōngguó gòngchǎndǎng; Hán-Việt: Trung Quốc Cộng sản Đảng) là chính đảng lãnh đạo nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa hiện nay. Vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Trung Quốc được quy định trong Hiến pháp Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa. Đảng Cộng sản Trung Quốc được thành lập 7/1921 và đánh thắng Quốc dân Đảng trong cuộc Nội chiến tại Trung Quốc sau Chiến tranh thế giới thứ hai. Tính đến 2014 Đảng Cộng sản Trung Quốc có 86.7 triệu đảng viên. == Bộ Chính trị == Bộ Chính trị Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc khóa 18, được bầu tại Đại hội Đảng lần thứ 18 (năm 2012) gồm có: 25 ủy viên chính thức: Tập Cận Bình, Mã Khải, Vương Kỳ Sơn, Vương Hộ Ninh, Lưu Vân Sơn, Lưu Diên Đông, Lưu Kỳ Bảo, Hứa Kỳ Lượng, Tôn Xuân Lan, Tôn Chính Tài, Lý Khắc Cường, Lý Kiến Quốc, Lý Nguyên Triều, Uông Dương, Trương Xuân Hiền, Trương Cao Lệ, Trương Đức Giang, Phạm Trường Long, Mạnh Kiến Trụ, Triệu Lạc Tế, Hồ Xuân Hoa, Du Chính Thanh, Lật Chiến Thư, Quách Kim Long, Hàn Chính. Ban Thường vụ Bộ Chính trị gồm có 7 ủy viên: Tập Cận Bình, Lý Khắc Cường, Trương Đức Giang, Du Chính Thanh, Lưu Vân Sơn, Vương Kỳ Sơn, Trương Cao Lệ. Ban Bí thư gồm 7 ủy viên: Lưu Vân Sơn, Lưu Kỳ Bảo, Triệu Lạc Tế, Lật Chiến Thư, Đỗ Thanh Lâm, Triệu Hồng Chúc và Dương Tinh Bộ Chính trị Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc khóa 17, được bầu tại Đại hội Đảng lần thứ 17 (năm 2007) gồm có 25 ủy viên. Ban Thường vụ Bộ Chính trị gồm có 9 ủy viên: Hồ Cẩm Đào, Ngô Bang Quốc, Ôn Gia Bảo, Giả Khánh Lâm, Lý Trường Xuân, Tập Cận Bình, Lý Khắc Cường, Hạ Quốc Cường, Chu Vĩnh Khang. Bộ Chính trị Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc khóa 16, được bầu tại Đại hội Đảng lần thứ 16 (năm 2002) gồm có: 24 ủy viên chính thức: Vương Lạc Tuyền, Vương Triệu Quốc, Hồi Lương Ngọc, Lưu Kì, Lưu Vân Sơn, Ngô Nghi (nữ), Ngô Quan Chính, Trương Lập Xương, Trương Đức Giang, Trần Lương Vũ (đến tháng 9 năm 2006), La Cán, Du Chính Thanh, Quách Bá Hùng, Hoàng Cúc, Tào Cương Xuyên, Tăng Khánh Hồng, Tăng Bồi Viêm, Chu Vĩnh Khang, Hồ Cẩm Đào, Hạ Quốc Cường, Giả Khánh Lâm, Ôn Gia Bảo, Lý Trường Xuân, Ngô Bang Quốc. 1 ủy viên dự khuyết: Vương Cương Ban Thường vụ Bộ Chính trị gồm có 9 ủy viên: Hồ Cẩm Đào, Ngô Bang Quốc, Ôn Gia Bảo, Giả Khánh Lâm, Tằng Khánh Hồng, Hoàng Cúc, Ngô Quan Chính, Lý Trường Xuân, La Cán. == Các Đại hội Đảng == Ngày 1 tháng 7 năm 1921 được lấy làm ngày thành lập Đảng Cộng sản Trung Quốc vì trước đây cho rằng Đại hội lần thứ nhất thành lập Đảng Cộng sản Trung Quốc họp từ ngày 1 đến ngày 5 tháng 7 năm 1921. Tuy nhiên Đại hội lần thứ nhất sau này được xác minh là diễn ra từ ngày 23 đến 31 tháng 7 năm 1921, nhưng ngày kỉ niệm thành lập Đảng Cộng sản Trung Quốc vẫn giữ nguyên. Trong tình hình bình thường, các Đại hội được tổ chức cách nhau 5 năm. Hai Đại hội cách nhau lâu nhất là Đại hội VI (1928) và Đại hội VII (1945) khi có nội chiến ác liệt và Vạn lý Trường chinh. Thời gian từ Đại hội VIII (1956) đến Đại hội IX (1969) cũng khá lâu khi đấu tranh nội bộ trong Đảng gay gắt, đi kèm cuộc Cách mạng Văn hóa do Mao Trạch Đông phát động làm hỗn loạn xã hội, tê liệt các cơ quan Đảng và chính quyền. === Đại hội I (1921) === Đại hội lần thứ nhất họp từ ngày 23 đến 31 tháng 7 năm 1921, ban đầu tại nhà 106 đường Vọng Chí thuộc tô giới của Pháp (ngày nay là số nhà 76, đường Hưng Nghiệp, Thượng Hải), sau chuyển đến một chiếc thuyền trên hồ Nam Hồ, huyện Gia Hưng, tỉnh Chiết Giang. Tham dự Đại hội có 12 đại biểu, thay mặt cho khoảng 57 đảng viên Đảng Cộng sản Trung Quốc: Lý Đạt, Lý Hán Tuấn (đại biểu Thượng Hải); Trương Quốc Đào, Lưu Nhân Tĩnh (đại biểu Bắc Kinh); Mao Trạch Đông, Hà Thúc Hành/Hoành (đại biểu Hồ Nam); Đổng Tất Vũ, Trần Đàm Thu (đại biểu Hồ Bắc); Vương Tận Mĩ, Đặng Ân Minh (đại biểu Sơn Đông); Trần Công Bác (đại biểu Quảng Đông, đến dự tại hồ Nam Hồ); Chu Phật Hải (đại biểu từ Nhật về). Ngoài ra còn có Bao Huệ Tăng, được Trần Độc Tú (đang trốn tránh phái hữu ở Quảng Châu) cử làm đại diện cho mình và 2 đại diện của Quốc tế Cộng sản là Maring (tức Henk Sneevliet, người Hà Lan) và Nikolsky (người Nga). Đại hội đã cử ra Trung ương Cục (中央局) gồm 3 người: Trần Độc Tú, Trương Quốc Đào và Lý Đạt, cử Trần Độc Tú làm Bí thư Trung ương (中央书记, Trung ương thư ký). Trương Quốc Đào phụ trách tổ chức, Lý Đạt phụ trách tuyên truyền../. === Đại hội II (1922) === Đại hội lần thứ hai họp từ ngày 16 đến 23 tháng 7 năm 1922, tại Thượng Hải. Tham dự Đại hội có 12 đại biểu, thay mặt cho 195 đảng viên. Đại hội bầu ra Ban Chấp hành Trung ương (中央执行委员会, Trung ương Chấp hành Ủy viên Hội) gồm 5 người: Trần Độc Tú, Trương Quốc Đào, Lý Đại Chiêu, Thái Hoà Sâm, Cao Quân Vũ, (sau này bổ sung thêm Đặng Trung Hạ và Hướng Cảnh Dư). Trần Độc Tú làm Ủy viên trưởng Ban Chấp hành Trung ương (tương đương Tổng Bí thư). === Đại hội III (1923) === Đại hội lần thứ ba họp từ ngày 12 đến 20 tháng 6 năm 1923, tại Quảng Châu. Tham dự Đại hội có hơn 30 đại biểu, thay mặt cho 432 đảng viên. Đại hội bầu ra Ban Chấp hành Trung ương gồm 9 người, hạt nhân của Ban Chấp hành Trung ương là Trung ương Cục gồm 5 người: Trần Độc Tú, Mao Trạch Đông, La Chương Long, Sái Hoà Sâm, Đàm Bình Sơn. Đến tháng 9 cùng năm, khi Đàm Bình Sơn được cử làm đại diện ở Quảng Đông, thì bổ nhiệm Vương Hà Ba thay thế. Trần Độc Tú làm Ủy viên trưởng Ban Chấp hành Trung ương. === Đại hội IV (1925) === Đại hội lần thứ tư họp từ ngày 11 đến 22 tháng 1 năm 1925, tại Thượng Hải. Tham dự Đại hội có 20 đại biểu, thay mặt cho 994 đảng viên. Đại hội bầu ra Trung ương Cục, hạt nhân của Ban Chấp hành Trung ương gồm 5 người: Trần Độc Tú, Bành Thuật Chi, Trương Quốc Đào, Sái Hoà Sâm, Cù Thu Bạch. Trần Độc Tú được bầu làm Tổng Bí thư (总书记). === Đại hội V (1927) === Đại hội lần thứ năm họp từ ngày 27 tháng 4 đến ngày 9 tháng 5 năm 1927, tại Hán Khẩu (nay là Vũ Hán). Tham dự Đại hội có 80 đại biểu, thay mặt cho 57.967 đảng viên. Đại hội bầu ra Ủy ban Trung ương (中央委员会, Trung ương Ủy viên Hội) gồm 29 người. Bộ Chính trị (政治局, Chính trị Cục) gồm 7 người: Trần Độc Tú, Sái Hoà Sâm, Lý Lập Tam, Lý Duy Hán, Cù Thu Bạch, Đàm Bình Sơn, Trương Quốc Đào. Trần Độc Tú được bầu làm Tổng Bí thư. Chu Ân Lai làm Bí thư trưởng. Do đường lối hữu khuynh, Trần Độc Tú bị cách chức Tổng Bí thư vào tháng 7 năm 1927. Từ tháng 8 năm 1927 đến tháng 7 năm 1928, Cù Thu Bạch phụ trách Trung ương lâm thời. === Đại hội VI (1928) === Đại hội lần thứ sáu họp từ ngày 18 tháng 6 đến ngày 11 tháng 7 năm 1928, tại Moskva, Liên Xô. Tham dự Đại hội có 84 đại biểu chính thức, 34 đại biểu dự thính, đại diện cho hơn 40.000 đảng viên. Đại hội bầu ra Ủy ban Trung ương gồm 23 ủy viên chính thức, 13 ủy viên dự khuyết. Bộ Chính trị gồm 7 ủy viên: Hướng Trung Phát, Chu Ân Lai, Tô Triệu Chinh (mất vì bệnh tật năm 1929), Hạng Anh, Sái Hoà Sâm, Cù Thu Bạch và Trương Quốc Đào. Hướng Trung Phát được bầu làm Tổng Bí thư. Sau một thời gian, bổ sung vào Bộ Chính trị Lý Lập Tam, Từ Tích Căn, Cố Thuận Chương, Viên Bỉnh Huy. Lý Lập Tam giữ chức Trưởng ban Tuyên truyền, ủy viên Thường vụ Bộ Chính trị nắm thực quyền lãnh đạo Đảng cho đến tháng 9 năm 1930. Tháng 9 năm 1930, Hội nghị toàn thể Ủy ban Trung ương Đảng họp, phê phán đường lối tả khuynh của Lý Lập Tam. Bộ Chính trị gồm: Hướng Trung Phát, Chu Ân Lai, Cù Thu Bạch, Hạng Anh, Trương Quốc Đào, Quan Hướng Ứng, Lý Lập Tam. Từ tháng 9 năm 1930 đến tháng 1 năm 1931, Cù Thu Bạch, ủy viên Thường vụ Bộ Chính trị chủ trì công tác. Từ tháng 1 năm 1931, Vương Minh (tức Trần Thiệu Vũ) được Quốc tế Cộng sản phái về, vào Bộ Chính trị và nắm quyền lãnh đạo từ tháng 6 đến 18 tháng 10 năm 1931 thì lại đi Liên Xô. Bác Cổ (tức Tần Bang Hiến) thay thế Vương Minh làm Tổng Bí thư. Tháng 1 năm 1935 tại Hội nghị Tuân Nghĩa, Trương Văn Thiên (tức Lạc Phủ) lên làm Tổng Bí thư. Bộ Chính trị gồm: Trương Văn Thiên, Mao Trạch Đông, Chu Ân Lai, Bác Cổ, Hạng Anh. Trên thực tế Mao Trạch Đông là người nắm vai trò quyết định. Tại Hội nghị Bộ Chính trị ngày 20 tháng 3 năm 1943 tại Diên An, Mao Trạch Đông giữ chức Chủ tịch Ủy ban Trung ương Đảng, Chủ tịch Bộ Chính trị, Chủ tịch Ban Bí thư. Trương Văn Thiên vẫn là Tổng Bí thư nhưng chỉ bó hẹp trong lĩnh vực nghiên cứu lý luận, không có thực quyền. === Đại hội VII (1945) === Đại hội lần thứ bảy họp từ ngày 23 tháng 4 đến ngày 11 tháng 6 năm 1945, tại Diên An. Tham dự Đại hội có 544 đại biểu chính thức, 208 đại biểu dự thính, đại diện cho 1.210.000 đảng viên. Đại hội bầu ra Ủy ban Trung ương gồm 44 ủy viên chính thức, 33 ủy viên dự khuyết. Bộ Chính trị gồm 13 ủy viên: Mao Trạch Đông, Chu Đức, Lưu Thiếu Kỳ, Nhậm Bật Thời (mất tháng 10 năm 1950), Chu Ân Lai, Trần Vân, Khang Sinh, Cao Cương (năm 1955 mất chức và được công bố là tự sát trong tù), Bành Chân, Đổng Tất Vũ, Lâm Bá Cừ, Trương Văn Thiên, Bành Đức Hoài. Từ năm 1955 bổ sung Lâm Bưu và Đặng Tiểu Bình vào Bộ Chính trị. Ban Bí thư gồm 5 ủy viên: Mao Trạch Đông, Chu Đức, Lưu Thiếu Kỳ, Nhậm Bật Thời (mất tháng 10 năm 1950), Chu Ân Lai. Từ tháng 6 năm 1950 bổ sung Trần Vân vào Ban Bí thư thay thế Nhậm Bật Thời. Ban Bí thư, được gọi không chính thức là "bộ ngũ", đóng vai trò quan trọng như Thường vụ Bộ Chính trị sau này. Chủ tịch Ủy ban Trung ương Đảng: Mao Trạch Đông. === Đại hội VIII (1956) === Đại hội lần thứ tám họp từ ngày 15 đến ngày 27 tháng 9 năm 1956, tại Bắc Kinh. Tham dự Đại hội có 1026 đại biểu chính thức, 107 đại biểu dự thính, đại diện cho 10.734.384 đảng viên. Đại hội bầu ra Ủy ban Trung ương gồm 97 ủy viên chính thức, 73 ủy viên dự khuyết. Bộ Chính trị gồm 17 ủy viên chính thức: Mao Trạch Đông, Lưu Thiếu Kỳ, Chu Ân Lai, Chu Đức, Trần Vân, Đặng Tiểu Bình, Lâm Bưu, Lâm Bá Cừ, Đổng Tất Vũ, Bành Chân, La Vinh Hoàn, Trần Nghị, Lý Phú Xuân, Bành Đức Hoài, Lưu Bá Thừa, Hạ Long, Lý Tiên Niệm; và 6 ủy viên dự khuyết: Ô Lan Phu, Trương Văn Thiên, Lục Định Nhất, Trần Bá Đạt, Khang Sinh, Bạc Nhất Ba. Thường vụ Bộ Chính trị gồm 6 người: Mao Trạch Đông, Lưu Thiếu Kỳ, Chu Ân Lai, Chu Đức, Trần Vân, Đặng Tiểu Bình. Chủ tịch Ủy ban Trung ương Đảng: Mao Trạch Đông. Phó Chủ tịch Ủy ban Trung ương Đảng: Lưu Thiếu Kỳ (đến năm 1966), Chu Ân Lai (đến năm 1966), Chu Đức (đến năm 1966), Trần Vân (đến năm 1966). Tổng Bí thư: Đặng Tiểu Bình (đến năm 1966) Tại Hội nghị toàn thể Trung ương Đảng lần thứ 5 khóa 8 (từ ngày 5 đến ngày 23 tháng 5 năm 1958), bổ sung 3 ủy viên chính thức Bộ Chính trị: Kha Khánh Thi (mất năm 1965), Lý Tỉnh Tuyền và Đàm Chấn Lâm, nâng tổng số ủy viên Bộ Chính trị lên 20 người. Lâm Bưu giữ chức Phó Chủ tịch Đảng và trong Thường vụ Bộ Chính trị, xếp trên Đặng Tiểu Bình. Tại Hội nghị toàn thể Trung ương Đảng lần thứ 11 khóa 8 (tháng 8 năm 1966), Bộ Chính trị được mở rộng, gồm 25 ủy viên chính thức và 7 ủy viên dự khuyết. Ban Thường vụ Bộ Chính trị mới gồm 11 người, xếp theo thứ tự như sau: Mao Trạch Đông, Lâm Bưu, Chu Ân Lai, Đào Chú (đến năm 1967, mất năm 1969), Trần Bá Đạt, Đặng Tiểu Bình (đến năm 1967), Khang Sinh, Lưu Thiếu Kỳ (đến năm 1968, mất trong tù năm 1969), Chu Đức, Lý Phú Xuân, Trần Vân. Nhưng chỉ một hai năm sau, nhiều ủy viên Bộ Chính trị, thậm chí ủy viên Thường vụ Bộ Chính trị bị vô hiệu hóa, thậm chí bị giam cầm, bức hại. === Đại hội IX (1969) === Đại hội lần thứ chín họp từ ngày 1 đến ngày 24 tháng 4 năm 1969, tại Bắc Kinh. Tham dự Đại hội có 1512 đại biểu, đại diện cho 22 triệu đảng viên. Đại hội thông qua điều lệ mới, bầu Ủy ban Trung ương gồm 170 ủy viên chính thức, 109 ủy viên dự khuyết. Bộ Chính trị gồm 21 ủy viên chính thức: Mao Trạch Đông, Lâm Bưu (mất năm 1971), Chu Ân Lai, Trần Bá Đạt, Khang Sinh, Diệp Quần (mất năm 1971), Diệp Kiếm Anh, Lưu Bá Thừa, Hoàng Vĩnh Thắng, Giang Thanh, Chu Đức, Hứa Thế Hữu, Trần Tích Liên, Lý Tiên Niệm, Đổng Tất Vũ, Lý Tác Bằng, Ngô Pháp Hiến, Trương Xuân Kiều, Khâu Hội Tác, Diêu Văn nguyên, Tạ Phú Trị (mất năm 1972); và 4 ủy viên dự khuyết: Kỉ Đăng Khuê, Lý Tuyết Phong, Lý Đức Sinh, Uông Đông Hưng. Thường vụ Bộ Chính trị gồm 5 người: Mao Trạch Đông, Lâm Bưu, Chu Ân Lai, Trần Bá Đạt, Khang Sinh Chủ tịch Đảng: Mao Trạch Đông Phó Chủ tịch Đảng: Lâm Bưu (kế vị) == Bị phê phán == Sai lầm trong cách mạng văn hóa, Đại nhảy vọt, cải cách ruộng đất. Thảm sát sinh viên trong sự kiện Thiên An Môn năm 1989 Đàn áp bất hợp pháp môn phái Pháp Luân Công == Thông tin thêm == === Đảng kỳ và Đảng huy === Khi Đảng Cộng sản Trung Quốc được thành lập tháng 7 năm 1921, bấy giờ chưa có quy định nào về Đảng kỳ. Các tổ chức Đảng tự chế ra hiệu kỳ Đảng mô phỏng theo mẫu gần giống Đảng kỳ của Đảng Cộng sản Nga, nhưng các thông số kỹ thuật không thống nhất. Mãi đến ngày 28 tháng 4 năm 1942, Trung ương Chính trị Cục mới ra quyết định thông qua thông số kĩ thuật của Đảng kỳ "Búa liềm ở vị trí góc trái chiếm 3/2 lá cờ, không có ngôi sao năm cánh" và giao cho Văn phòng Trung ương Đảng chế tạo sản xuất theo thông số cho tất cả các tổ chức của Đảng. Lá cờ sản xuất ở Diên An (Thiểm Tây) được xem là lá cờ tiêu chuẩn đầu tiên. Sau khi chiến thắng Quốc Dân Đảng thống trị Trung Quốc đại lục vào năm 1949. Tổng cục Chính trị Quân Giải phóng Nhân dân Trung Quốc đã ra một quy định tạm thời về Đảng kỳ. Sau đó ngày 11 tháng 10 năm 1949, Ban Tuyên truyền Trung ương quyết định đồng ý với Tổng cục Chính trị về sự thống nhất quy định tạm thời Đảng kỳ và bắt đầu cho thử dùng. Ngày 17 tháng 6 năm 1951, Văn phòng Trung ương Đảng đã phê duyệt "Trung ương Đảng chính thức quy định thống nhất hình dạng Đảng kỳ, để sử dụng kỷ niệm 30 năm thành lập Đảng. Đồng ý sử dụng Hồng kỳ với Búa liềm trên đầu lá cờ". Ban đầu, ý nghĩa của Đảng kỳ được giải thích là lá cờ đỏ thể hiện cho sự cách mạng, búa liềm màu vàng thể hiện cho ánh sáng và công cụ lao động của công nông. Ngày 21 tháng 9 năm 1996, Trung ương Đảng đã chính thức thiết lập tiêu chuẩn cho Đảng kỳ. Cùng ngày, Văn phòng Trung ương Đảng đã ban hành "Quy định việc chế tác sử dụng Đảng kỳ Đảng huy Đảng Cộng sản Trung Quốc". Ý nghĩa của Đảng kỳ cũng được giải thích như sau: hồng kỳ tượng trưng cho cách mạng, búa liềm vàng đại diện cho người nông dân và công nhân, là đội tiền phong cho giai cấp công nhân lao động. Đảng huy biểu tượng cho sự đại diện quyền lợi nhân dân của Đảng Cộng sản Trung Quốc. Ngày 14 tháng 11 năm 2002, Đại hội Đảng Cộng sản Trung Quốc lần thứ 16 đã thông qua nghị quyết "Điều lệ Đảng Cộng sản Trung Quốc" và có chương XI là chương viết riêng về Đảng kỳ Đảng huy, trong đó Điều 51 quy định Đảng kỳ Đảng Cộng sản Trung Quốc là cờ có biểu tượng búa liềm màu vàng trên nền cờ đỏ và Điều 52 quy định Đảng huy Đảng Cộng sản Trung Quốc quy định Đảng huy là hình búa liềm màu vàng. Điều 53 của Điều lệ Đảng quy định Đảng kỳ và Đảng huy Đảng Cộng sản Trung Quốc là biểu tượng tượng trưng cho quy phạm. Các tổ chức và mỗi cá nhân Đảng viên phải sử dụng Đảng kỳ Đảng huy một cách tôn nghiêm, phù hợp với việc sử dụng Đảng kỳ Đảng huy. === Các lãnh đạo tối cao qua các thời kỳ === Từ 1921 đến 1943, chức danh Tổng bí thư là vị trí cao nhất của Đảng Cộng sản Trung Quốc: Trần Độc Tú năm 1921-1927 (Tại Đại hội I, năm 1921, Trần Độc Tú giữ chức Trung ương thư ký (中央书记); Đại hội II, năm 1922 và Đại hội III, năm 1923 Trần Độc Tú giữ chức Ủy viên trưởng Ban Chấp hành Trung ương. Các chức danh này tương đương với chức danh Tổng bí thư (总书记). Tại Đại hội IV, năm 1925, Trần Độc Tú giữ chức Tổng bí thư) Cù Thu Bạch từ 7/1927 đến 7/1928 và từ tháng 9/1930 đến 1/1931 Hướng Trung Phát 1928-1930 Lý Lập Tam năm 1929-1930 (Trong thời gian này mặc dù Hướng Trung Phát đang nắm chức vụ Tổng bí thư nhưng Lý Lập Tam giữ chức Ủy viên Thường vụ Bộ Chính trị là người nắm thực quyền lãnh đạo Đảng) Vương Minh (tên thật Trần Thiệu Vũ) năm 1931 Bác Cổ (tên thật Tần Bang Hiến) năm 1931-1935 Lạc Phủ (tên thật Trương Văn Thiên) năm 1935-1943 Năm 1943, chức danh Chủ tịch đảng được lập ra và là vị trí cao nhất của Đảng Cộng sản Trung Quốc: Mao Trạch Đông năm 1943-1976 Hoa Quốc Phong năm 1976-1981 Hồ Diệu Bang năm 1981-1982 Năm 1982, chức danh Chủ tịch đảng bị bãi bỏ, Tổng bí thư là vị trí cao nhất của Đảng Cộng sản Trung Quốc: Hồ Diệu Bang năm 1982-1987 Triệu Tử Dương năm 1987-1989 Giang Trạch Dân năm 1989-2002 Hồ Cẩm Đào năm 2002-2012 Tập Cận Bình năm 2012- == Xem thêm == Các thế hệ lãnh đạo của Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa == Chú thích == == Tham khảo == Chiếc khung ảnh để trống 86 năm và lai lịch của một nhân vật tham dự Bài nói về đại diện thứ hai của Quốc tế Cộng sản tại Đại hội lần I Đảng Cộng sản Trung Quốc trên báo An Ninh Thế giới.
michael faraday.txt
Michael Faraday, FRS (ngày 22 tháng 9 năm 1791 – ngày 25 tháng 8 năm 1867) là một nhà hóa học và vật lý học người Anh (hoặc là nhà triết học tự nhiên, theo thuật ngữ của thời đó) đã có công đóng góp cho lĩnh vực Điện từ học và Điện hóa học. Faraday nghiên cứu về trường điện từ xung quanh một dây dẫn có dòng điện một chiều chạy qua. Khi nghiên cứu những vấn đề này, Faraday đã thành lập khái niệm cơ bản về trường điện từ trong vật lý, rồi sau đó được phát triển bởi James Maxwell. Ông ta cũng khám phá ra cảm ứng điện, nghịch từ, và định luật điện phân. Ông chứng minh rằng từ học có thể tác động lên các tia của ánh sáng. Những sáng chế của ông ta về những thiết bị có điện trường quay đã đặt nền móng cho công nghệ động cơ điện, và ông có công lớn khi làm cho điện có thể sử dụng trong ngành công nghệ. Về mặt hóa học, Michael Faraday phát hiện ra benzene, nghiên cứu về clathrate hydrate, sáng chế ra hình dạng đầu tiên của đèn Bunsen và hệ thống chỉ số oxi hóa, và công bố các thuật ngữ như anode, cathode, electrode, và ion. Mặc dù Faraday được đào tạo ở trường rất ít và biết ít về toán cao cấp, như phép giải tích, nhưng ông ta là một trong những nhà khoa học có uy tín trong lịch sử. Các nhà nghiên cứu về lịch sử của khoa học cho rằng ông là người chủ nghĩa thực nghiệm tốt nhất trong lịch sử khoa học. Đơn vị SI của tụ điện, farad, được đặt theo tên của ông, cũng như hằng số Faraday, điện tích trong một đơn vị mole của electron (khoảng 96,485 coulomb). Định luật cảm ứng Faraday nói rằng luồng điện từ thay đổi trong thời gian nhất định tạo ra một lực điện động tỷ lệ. Faraday là vị giáo sư hóa học Fullerian đầu tiên và lỗi lạc nhất của Viện Hoàng Gia Anh Quốc, đã giữ vị trí trong suốt cuộc đời. Albert Einstein đã dán tấm hình của Faraday lên phòng học của mình cùng với những tấm hình của Isaac Newton và James Clerk Maxwell. Faraday là người sùng đạo; ông là thành viên của nhà thờ Sandemanian, một giáo phái cơ đốc được thành lập vào năm 1730 đòi hỏi sự trung thành tuyệt đối. Người viết tiểu sử về ông đã kết luận rằng "một cảm giác mãnh liệt về Chúa và tự nhiên đã tràn ngập khắp cuộc đời và công việc của Faraday." == Những năm đầu == Faraday được sinh ra ở Newington Butts, bây giờ là một phần của khu phố Southwark ở Luân Đôn; nhưng sau đó là phần ngoại ô của Surrey, một dặm về phía nam của cầu Luân Đôn. Gia đình ông không được sung túc. Bố của ông, James, là thành viên của giáo phái cơ đốc Glassite. James Faraday chuyển vợ và hai con rời khỏi Outhgill, Westmorland (nơi ông đã học việc ở làng rèn) đến Luân Đôn trong suốt mùa đông của năm 1790-1791. Michael được sinh ra trong mùa thu năm đó. Cậu nhóc Michael Faraday, là người con thứ ba trong bốn người con, chỉ có được những kiến thức cơ bản nhất từ nhà trường, phải tự nỗ lực giáo dục mình. Lúc 14 tuổi, ông học việc ở cửa hiệu đóng sách và bán sách George Riebau ở Blandford St và, trong suốt 7 năm học việc, ông đã đọc được rất nhiều sách, trong đó có sách của Isaac Watts, quyển Mở mang trí tuệ, và ông say mê tiến hành các nguyên lý và quan điểm trong quyển sách. Ông đã biểu lộ niềm đam mê với khoa học, nhất là lĩnh vực điện năng. Đặc biệt, ông được truyềnn cảm hứng bởi quyển sách Đàm thoại với Hóa Học viết bởi Jane Marcet. Ở tuổi 20, vào năm 1812, khi kết thúc học việc, Faraday đã tham dự các buổi thuyết giảng của nhà hoác học nổi tiếng người Anh Humphry Davy của Học viện Hoàng Gia và Hội hoàng gia Luân Đôn, và của John Tatum, người sáng lập Hội triết học Thành phố. Các vé của những buổi thuyết giảng này được trao cho Faraday bởi William Dance (một trong những người sáng lập Hội yêu nhạc của Hoàng Gia). Sau đó, Faraday gửi cho Davy một quyển sách dày 300 trang mà ông đã ghi chép những điều trong buổi thuyết giảng. Davy trả lời ngay lập tức, một cách ân cần và hào hứng. Khi Davy bị giảm thị lực trong tai nạn với nitrogen trichloride, ông quyết định thuê Faraday làm thư ký. Khi John Payne, một trong những phụ tá trong Học viện Hoàng Gia, bị sa thải, Sir Humphry Davy được yêu cầu tìm người thay thế. Ông đã chỉ định Faraday làm người phụ tá hóa học tại Học viện Hoàng Gia vào ngày 1 tháng 3 năm 1813. Trong tầng lớp người Anh thời đó, Faraday không được xem thuộc giới thượng lưu. Khi Davy đi thuyết giảng ở toàn châu lục trong các năm 1813–15, người giúp việc của ông không muốn đi cùng. Faraday được gọi làm phụ tá khoa học cho Davy, và được yêu cầu làm công việc như người giúp việc của Davy cho tới khi vị trí này có thể được tìm thấy ở Paris. Faraday buộc phải làm tròn bổn phận là người giúp việc cũng như phụ tá trong suốt hành trình. Vợ của Davy, Jane Apreece, từ chối đối xử với Faraday như tầng lớp ngang hàng (đưa ông đi cùng ra ngoài bãi biển, ăn với các người hầu, v.v..) và nói chung làm cho Faraday cảm thấy quá khổ sở đến nỗi ông lẳng lặng bỏ về Anh Quốc một mình và từ bỏ tất cả khoa học. Dù sao, chuyến đi đã cho ông đường đến với khoa học ưu tú của Âu Châu và làm chủ nguồn cảm hứng sáng tạo. Faraday là một người sùng đạo Cơ đốc giáo. Chi nhánh Sandemanian của ông là một chi nhánh của hệ thống nhà thờ Scotland. Sau khi kết hôn, ông ta phụng sự nhà thờ trong nhà hội nghị. Nhà thờ của ông nằm ở Paul's Alley tại Barbican. Nhà hội nghị này lại chuyển đến Barnsbury Grove, Islington vào năm 1862. Chỗ Bắc Luân Đôn này là nơi mà Faraday phụng sự 2 năm cuối cùng của mình trước khi xin trao lại chức vụ. Faraday cưới Sarah Barnard (1800–1879) vào ngày 12 tháng 6 năm 1821, Họ không có con. Họ gặp toàn thể gia đình tại nhà thờ Sandemanian. Ông đã xưng tội với giáo đoàn Sandemanian một tháng sau khi kết hôn. == Thành tựu khoa học == === Hóa học === Công việc hóa học đầu tiên của Faraday là làm phụ tá cho Humphry Davy. Faraday nghiên cứu riêng biệt về clo, ông đã phát hiện ra hai clorua của cacbon. Ông cũng làm thí nghiệm gian khổ đầu tiên về sự khuếch tán khí, một hiện tượng đã được biết đến bởi John Dalton, tầm quan trọng của hiện tượng vật lý này đã được Thomas Graham và Joseph Loschmidt đưa ra ngoài ánh sáng. Ông đã thành công trong việc hóa lỏng một vài loại khí; nghiên cứu về hợp chất của thép, và tạo ra những loại thủy tinh mới dùng cho mục đích quang học. Một mẫu vật trong những miếng thủy tinh nặng nề này sau đó đã làm nên lịch sử khi mà Faraday đã phát hiện ra hiện tượng xoay mặt phẳng ánh sáng phân cực khi đưa miếng thủy tinh này vào trường điện từ, và nó cũng là vật liệu đầu tiên bị đẩy bởi các cực của từ trường. Ông đã sáng chế ra thứ mà sau này gọi là đèn Bunsen, loại đèn này đã được sử dụng hầu hết trong các phòng thí nghiệm vì tính tiện lợi của nguồn nhiệt. Faraday nghiên cứu bao trùm trong lĩnh vực hóa học, khám phá ra các chất hóa học như benzene, và hóa lỏng các khí ví dụ như clo. Sự hóa lỏng khí chứng minh rằng khí chỉ là dạng hơi của chất lỏng có điểm sôi rất thấp, và đưa ra quan điểm chắc chắn về sự kết hợp phân tử. Vào năm 1820 Faraday công bố hợp chất tổng hợp đầu tiên làm từ cacbon và clo, C2Cl6 và C2Cl4, và xuất bản các kết quả nghiên cứu trong các năm tiếp theo. Faraday cũng xác định được cấu tạo của chlorine clathrate hydrate, chất đã được khám phá bởi Humphry Davy vào năm 1810. Faraday cũng đã khám phá ra các định luật điện phân và đưa ra công chúng các thuật ngữ như anode, cathode, electrode, và ion, các thuật ngữ này phần lớn xuất phát bởi William Whewell. Faraday là người đầu tiên công bố cái mà sau này được gọi là metallic nanoparticles. Vào năm 1847 ông khám phá ra rằng quang tính của nước vàng (gold colloid) khác với quang tính của các kim loại thông thường khác. Đây có thể là xuất bản đầu tiên về sự khảo sát tác động ở mức lượng tử, và có thể được xem là đã khai sinh ra ngành công nghệ nano. === Điện và Từ === Faraday được biết đến nhiều nhất vì những thành quả trong lĩnh vực Điện và Từ học. Thí nghiệm được ghi chép đầu tiên của ông là làm nên pin volta bằng 7 đồng xu, xếp chồng lên 7 tấm kẽm và 7 miếng giấy được tẩm nước muối. Với cái pin này, ông đã phân tích hợp chất Magie sulphat. Vào năm 1821, ngay sau khi nhà hóa học, vật lý học người Đan Mạch, Hans Christian Ørsted khám phá ra hiện tượng điện từ trường, Davy và một nhà khoa học người Anh William Hyde Wollaston cố gắng làm ra một động cơ điện nhưng bất thành. Faraday, đã thảo luận vấn đề động cơ điện với hai ông này, tiến hành chế tạo hai thiết bị phát ra điện từ trường xoay: chuyển động xoay liên tục xuất phát từ lực từ xoay xung quanh dây điện và dây điện được nhúng vào cốc nước thủy ngân có thỏi nam châm bên trong sẽ xoay xung quanh thỏi nam châm nếu được cấp dòng điện từ nguồn pin hóa học. Thiết bị sau này được biết đến với cái tên homopolar motor. Những thí nghiệm và phát minh này hình thành ra nền tảng của công nghệ điện từ hiện đại. Quá hứng thú, Faraday đã công bố các kết quả này mà không đề cập đến phần việc làm với Wollaston và Davy. Từ đó dẫn đến cuộc tranh cãi trong Hội hoàng gia Luân Đôn, nó làm căng thẳng mối quan hệ thâm niên của ông với Davy và có thể đã góp phần bổ nhiệm ông sang lĩnh vực khác, vì thế ông đã bị đưa ra khỏi hoạt động nghiên cứu điện từ trường trong vài năm. Từ phát hiện đầu tiên về điện từ vào năm 1821, Faraday tiếp tục công việc ở phòng thí nghiệm để khám phá tính chất của vật liệu và tiến hành các thí nghiệm cần thiết. Vào năm 1824, Faraday làm một mạch điện để tìm hiểu liệu một từ trường có thể tác động lên dòng điện của dây điện đặt gần nhau, nhưng không tìm ra kết quả nào. Ông theo đuổi các nghiên cứu với ánh sáng và điện từ trong ba năm mà không có kết quả nào mới. Trong suốt bảy năm tiếp theo, Faraday dành phần lớn thời gian vào việc hoàn thiện công thức cho chất lượng kính quang học, hợp chất chì boro-silicate, thứ mà ông đã sử dụng cho nghiên cứu sau này về việc kết hợp giữa ánh sáng và điện từ. Trong khi nhàn rỗi, Faraday tiếp tục xuất bản các kết quả thí nghiệm (một số liên quan tới điện từ) và đã trao đổi thư từ với các nhà khoa học nước ngoài (cũng làm việc với điện từ) mà ông đã gặp trước đây ở các chuyến đi châu Âu với Davy. Sau khi Davy mất được 2 năm, vào năm 1831, ông bắt đầu công bố một loạt các thí nghiệm mà ông đã khám phá về cảm ứng điện từ. Joseph Henry dường như đã khám phá ra hiện tượng tự cảm ứng sớm hơn vài tháng và kết quả của cả hai muộn hơn của Francesco Zantedeschi ở Ý đã được công bố vào năm 1829 và 1830. Thành quả lớn nhất của Faraday đến khi ông quấn hai cuộn dây cách điện xung quanh một vòng kim loại, và phát hiện rằng, mỗi khi cho dòng điện chạy qua cuộn dây này thì lập tức có một dòng điện được sinh trong cuộn dây kia. Hiện tượng này được gọi là hỗ cảm. Dụng cụ cuộn dây - vòng kim loại này vẫn còn được trưng bày tại Học viện Hoàng Gia. Trong các thí nghiệm tiếp theo, ông thấy rằng, nếu ông di chuyển thanh nam châm qua cuộn dây, một dòng điện sẽ chạy trong cuộn dây. Dòng điện cũng sẽ xuất hiện nếu cuộn dây di chuyển qua thanh nam châm đứng yên. Thí nghiệm của ông cho thấy rằng sự thay đổi từ trường tạo ra dòng điện. Mối quan hệ này được toán học hóa bởi James Clerk Maxwell với tên Định luật cảm ứng Faraday, một trong bốn Phương trình Maxwell. Những phương trình này ngày nay được biết đến với tên gọi lý thuyết trường. Sau này Faraday sử dụng nguyên lý này để tạo ra dynamo, nguồn gốc của máy phát điện ngày nay. Vào năm 1839, ông hoàn thành loạt sách về các thí nghiệm nghiên cứu bản chất cơ bản của điện học. Faraday đã sử dụng tĩnh điện, pin, và điện sinh học để tạo ra lực hút tĩnh điện, điện phân, điện từ trường, v.v.. Ông kết luận rằng, trái ngược với quan điểm khoa học thời đó, ranh giới giữa "các loại" điện là hư cấu. Faraday thay vì kết luận rằng chỉ có một loại điện tồn tại, thì ông nói sự thay đổi về số lượng và cường độ (dòng và thế) sẽ tạo ra nhiều hiện tượng khác nhau. Khi gần kết thúc sự nghiệp của mình, Faraday cho rằng lực điện từ trường tồn tại ở khoảng không gian trống xung quanh cuộn dây. Ý tưởng này đã bị phản đối bởi những nhà khoa học sau ông, và Faraday đã không sống đến lúc nhìn thấy ý tưởng được chứng minh là đúng. Những khái niệm của Faraday về đường từ phát ra từ nam châm đã chỉ ra cách quan sát dòng điện và từ trường. Kiến thức này đã góp phần quan trọng tạo nên sự phát triển thành công của các thiết bị điện cơ mà nó đã chiếm lĩnh trong lĩnh vực công nghệ và công nghiệp trong những năm còn lại thế kỷ 19. === Nghịch từ === Vào năm 1845, Faraday khám phá ra rằng nhiều vật liệu tồn tại một lực đẩy nhỏ bởi từ trường, một hiện tượng ông gọi là nghịch từ. Faraday cũng phát hiện ra rằng mặt phân cực của ánh sáng phân cực tuyến tính có thể bị đảo bởi một từ trường ngoài tác động lên đường đi của ánh sáng. Ngày nay cái này được biết đến với thuật ngữ Hiệu ứng Faraday. Ông viết rằng, "I have at last succeeded in illuminating a magnetic curve or line of force and in magnetising a ray of light". ("Cuối cùng tôi đã thành công trong việc chiếu sáng đường cong của điện từ hoặc đường lực và trong việc từ hóa các tia sáng") Lúc cuối đời (năm 1862), Faraday sử dụng kính quang phổ để tìm sự biến đổi khác nhau của ánh sáng, sự thay đổi quang phổ ánh sáng vì từ trường. Tuy nhiên, những thiết bị ông dùng không đủ tốt để phát hiện ra sự thay đổi quang phổ. Pieter Zeeman sau này đã sử dụng thiết bị cải tiến hơn để nghiên cứu hiện tượng này, công bố kết quả vào năm 1897 và nhận giải Nobel vật lý vào năm 1902 vì thành công này. Trong cả bản nghiên cứu năm 1897 và bản thuyết trình nhận giải Nobel, Zeeman đều đề cập tới thí nghiệm của Faraday. === Lồng Faraday === == Thư mục == Faraday's books, with the exception of Chemical Manipulation, were collections of scientific papers or transcriptions of lectures. Since his death, Faraday's diary has been published, as have several large volumes of his letters and Faraday's journal from his travels with Davy in 1813–1815. Faraday, Michael (1827). Chemical Manipulation, Being Instructions to Students in Chemistry. John Murray. 2nd ed. 1830, 3rd ed. 1842 Faraday, Michael (11 tháng 5 năm 1844). Experimental Researches in Electricity, vols. i. and ii. Richard and John Edward Taylor. ; vol. iii. Richard Taylor and William Francis, 1855 Faraday, Michael (1859). Experimental Researches in Chemistry and Physics. Taylor and Francis. ISBN 0850668417. Faraday, Michael (1861). W. Crookes, biên tập. A Course of Six Lectures on [[the Chemical History of a Candle]]. Griffin, Bohn & Co. ISBN 1425519741. Faraday, Michael (1873). W. Crookes, biên tập. On the Various Forces in Nature. Chatto and Windus. Faraday, Michael (1932–1936). T. Martin, biên tập. Diary. ISBN 0713504390. - published in eight volumes; see also the 2009 publication of Faraday's diary Faraday, Michael (1991). B. Bowers and L. Symons, biên tập. Curiosity Perfectly Satisfyed: Faraday's Travels in Europe 1813-1815. Institution of Electrical Engineers. Faraday, Michael (1991). F. A. J. L. James, biên tập. The Correspondence of Michael Faraday 1. INSPEC, Inc. ISBN 0863412483. - volume 2, 1993; volume 3, 1996; volume 4, 1999 Faraday, Michael (2008). Alice Jenkins, biên tập. Michael Faraday's Mental Exercises: An Artisan Essay Circle in Regency London. Liverpool, UK: Liverpool University Press. Course of six lectures on the various forces of matter, and their relations to each other London; Glasgow: R. Griffin, 1860. The liquefaction of gases Edinburgh: W. F. Clay, 1896. The letters of Faraday and Schoenbein 1836-1862. With notes, comments and references to contemporary letters London: Williams & Norgate 1899. == Xem thêm == Faraday rotator Homopolar generator Faraday's law of induction Faraday (Unit of electrical charge) Farad (Unit of electrical capacitance) Forensic engineering Lines of force Zeeman effect Timeline of hydrogen technologies Timeline of low-temperature technology Faraday paradox Hans Christian Ørsted Faraday cage == Chú thích == == Đọc thêm == === Biographies === Bence Jones, Henry (1870). The Life and Letters of Faraday. Philadelphia: J. B. Lippincott and Company. Cantor, Geoffrey (1991). Michael Faraday, Sandemanian and Scientist. Macmillian. ISBN 0-333-55077 . Gladstone, J. H. (1872). Michael Faraday. London: Macmillan. Hamilton, James (2002). Faraday: The Life. London: Harper Collins. ISBN 0-00-716376-2. Hamilton, James (2004). A Life of Discovery: Michael Faraday, Giant of the Scientific Revolution. New York publisher = Random House: Random House. ISBN 1-4000-6016-8. Hirshfeld, Alan W. (2006). The Electric Life of Michael Faraday. Walker and Company. ISBN 978-0802714701. Thompson, Silvanus (1901). Michael Faraday, His Life and Work. London: Cassell and Company. ISBN 1-4179-7036-7. Tyndall, John (1868). Faraday as a Discoverer. London: Longmans, Green, and Company. Williams, L. Pearce (1965). Michael Faraday: A Biography. New York: Basic Books. The British Electrical and Allied Manufacturers Association (1931). Faraday. R. & R. Clark, Ltd., Edinburgh, 1931. Agassi, Joseph (1971). Faraday as a Natural Philosopher. Chicago: University of Chicago Press. Ames, Joseph Sweetman (Ed.) (11 tháng 5 năm 2017). The Discovery of Induced Electric Currents 2. New York: American Book Company. Gooding, David (Ed.) (1985). Faraday Rediscovered: Essays on the Life and Work of Michael Faraday, 1791-1867. London/New York: Macmillan/Stockton. Thomas, John Meurig (1991). Michael Faraday and the Royal Institution: The Genius of Man and Place. Bristol: Hilger. ISBN 0-7503-0145-7. Russell, Colin A. (Ed. Owen Gingerich) (2000). Michael Faraday: Physics and Faith (Oxford Portraits in Science Series). New York: Oxford University Press. ISBN 0-19-511763-8. == Liên kết ngoài == === Biographies === Biography at The Royal Institution of Great Britain Faraday as a Discoverer by John Tyndall, Project Gutenberg (downloads) The Christian Character of Michael Faraday Michael Faraday on the British twenty-pound banknote The Life and Discoveries of Michael Faraday by J. A. Crowther, London: Society for Promoting Christian Knowledge, 1920 === Others === Michael Faraday's announcement of ether as an anesthetic in 1818 Interactive Java Tutorial on Faraday's 1821 Motor National High Magnetic Field Laboratory Interactive Java Tutorial on Faraday's Ice Pail Experiment National High Magnetic Field Laboratory "Faraday" at LoveToKnow 1911 Britannica Online Encyclopedia Michael Faraday tại DMOZ Các tác phẩm của Michael Faraday tại Dự án Gutenberg (downloads) "Experimental Researches in Electricity" by Michael Faraday Original text with Biographical Introduction by Professor John Tyndall, 1914, Everyman edition. Video Podcast with Sir John Cadogan talking about Benzene since Faraday The letters of Faraday and Schoenbein 1836-1862. With notes, comments and references to contemporary letters (1899) full download PDF Bản mẫu:Scientists whose names are used as SI units Bản mẫu:Scientists whose names are used in physical constants Bản mẫu:Copley Medallists 1801-1850
sân vận động thuwunna.txt
Sân vận động Trung tâm đào tạo trẻ Thuwunna là một sân vận động đa năng tại Yangon, Myanmar. Với 32.000 chỗ ngồi, sân có sức chứa nhỏ hơn nhưng hiện đại hơn sân vận động Aung San và thường tổ chức các trận đấu bóng đá cấp quốc gia, quốc tế và các cuộc thi điền kinh. == Tổng quan == Sân có 8 làn chạy đạt tiêu chuẩn quốc tế (IAAF) đầu tiên tại Myanmar. Sân từng được chọn tổ chức các trận đấu tại bảng G, Vòng loại giải vô địch bóng đá U-22 châu Á 2013 từ ngày 23 tháng 6 đến ngày 3 tháng 7 năm 2012. Sân cũng tổ chức các trận đấu vòng bảng của Giải vô địch bóng đá Đông Nam Á 2016. == Tham khảo ==
sóng thần.txt
Sóng thần (tiếng Nhật: 津波 tsunami) là một loạt các đợt sóng tạo nên khi một thể tích lớn của nước đại dương bị chuyển dịch chớp nhoáng trên một quy mô lớn. Động đất cùng những dịch chuyển địa chất lớn bên trên hoặc bên dưới mặt nước, núi lửa phun và va chạm thiên thạch đều có khả năng gây ra sóng thần. Hậu quả tai hại của sóng thần có thể ở mức cực lớn, giết chết bằng nhấn chìm trong nước đến hàng trăm ngàn người trong vài giờ. Thuật ngữ tsunami (sóng thần) bắt nguồn từ tiếng Nhật có nghĩa "bến" (津 tsu, âm Hán Việt: "tân") và "sóng" (波 nami, "ba"). Thuật ngữ này do các ngư dân đặt ra dù lúc đó họ không biết nguyên do là sóng xuất phát ở ngoài xa khơi. Cơn sóng thần khởi phát từ dưới đáy biển sâu; khi còn ngoài xa khơi, sóng có biên độ (chiều cao sóng) khá nhỏ nhưng chiều dài của cơn sóng lên đến hàng trăm kilômét. Vì vậy khi ở xa bờ chúng ta khó nhận diện ra nó, mà chỉ cảm nhận là một cơn sóng cồn trải dài. Ở Tây phương sóng thần trước kia từng được coi là sóng thuỷ triều (tiếng Anh: tidal wave) vì khi tiến vào bờ, sóng tác động như một đợt thuỷ triều mạnh dâng lên, khác hẳn loại sóng thường gặp ngoài biển tạo bởi gió. Tuy nhiên, vì không đúng với thực tế cho nên thuật ngữ này không còn dùng nữa. == Nguyên nhân == Các trận sóng thần có thể hình thành khi đáy biển, đột ngột bị biến dạng theo chiều dọc, chiếm chỗ của lượng nước nằm trên nó. Những sự di chuyển lớn theo chiều dọc như vậy của vỏ Trái Đất có thể xảy ra tại các rìa mảng lục địa. Những trận động đất do nguyên nhân va chạm mảng đặc biệt hay tạo ra các cơn sóng thần. Khi một mảng đại dương va chạm với một mảng lục địa, đôi khi nó làm rìa mảng lục địa chuyển động xuống dưới. Cuối cùng, áp suất quá lớn tác dụng lên rìa mảng khiến nó nhảy giật lùi lại (snaps back) tạo ra các đợt sóng chấn động vào vỏ Trái Đất, khiến xảy ra cơn địa chấn dưới lòng biển, được gọi là động đất tại đáy biển. Những vụ lở đất dưới đáy biển (thỉnh thoảng xảy ra vì nguyên nhân động đất) cũng như những vụ sụp đổ của núi lửa cũng có thể làm chấn động cột nước khiến trầm tích và đá trượt xuống theo sườn núi rơi xuống đáy biển. Tương tự như vậy, một vụ phun trào núi lửa mạnh dưới biển cũng có thể tung lên một cột nước để hình thành sóng thần. Các con sóng được hình thành khi khối lượng nước bị dịch chuyển vị trí chuyển động dưới ảnh hưởng của trọng lực để lấy lại thăng bằng và tỏa ra trên khắp đại dương như các gợn sóng trên mặt ao. Trong thập kỷ 1950 người ta đã khám phá ra rằng những cơn sóng thần lớn có thể xuất hiện từ các vụ lở đất, hoạt động phun trào núi lửa và các vụ va chạm thiên thạch. Những hiện tượng đó khiến một lượng nước lớn nhanh chóng bị chuyển chỗ, khi năng lượng từ một thiên thạch hay một vụ nổ chuyển vào trong nước nơi xảy ra va chạm. Các cơn sóng thần với xuất hiện từ những nguyên nhân đó, khác với những trận sóng thần do động đất gây ra, thường nhanh chóng tan rã và hiếm khi lan tới những bờ biển quá xa vì diện tích xảy ra sự kiện nhỏ. Các hiện tượng đó có thể gây ra các cơn sóng địa chấn lớn chỉ trong một khu vực, như vụ lở đất ở Vịnh Lituya tạo ra một sóng nước ước tính tới 50–150 m và tràn tới độ cao 524 m trên các ngọn núi ở đó. Tuy nhiên, một vụ lở đất cực lớn có thể gây ra một trận sóng thần cực lớn gây ảnh hưởng trên toàn bộ đại dương. == Các đặc điểm == Sóng thần diễn biến rất khác biệt tùy theo kiểu sóng: chúng chứa năng lượng cực lớn, lan truyền với tốc độ cao và có thể vượt khoảng cách lớn qua đại dương mà chỉ mất rất ít năng lượng. Một trận sóng thần có thể gây ra thiệt hại trên bờ biển cách hàng nghìn cây số nơi nó phát sinh, vì thế chúng ta có thể có nhiều tiếng đồng hồ chuẩn bị từ khi nó hình thành tới lúc ập vào một bờ biển, nó xuất hiện một thời gian khá dài sau khi sóng địa chấn hình thành từ nơi xảy ra sự kiện lan tới. Năng lượng trên mỗi mét dài trong sóng tỷ lệ với nghịch đảo của khoảng cách từ nguồn phát. Thậm chí một trận sóng thần riêng biệt có thể liên quan tới một loạt các đợt sóng với những độ cao khác nhau. Ở vùng nước rộng, các cơn sóng thần có chu kỳ rất dài (thời gian để đợt sóng sau tới vị trí một điểm sau đợt sóng trước), từ nhiều phút tới nhiều giờ, và chiều dài sóng dài lên tới hàng trăm kilômét. Điều này rất khác biệt so với các con sóng hình thành từ gió bình thường trên mặt đại dương, chúng thường có chu kỳ khoảng 10 giây và chiều dài sóng 150 mét. Chiều cao thực của một đợt sóng thần trên đại dương thường không tới một mét. Điều này khiến những người ở trên tàu giữa đại dương khó nhận ra chúng. Bởi vì chúng có chiều dài sóng lớn, năng lượng của một cơn sóng thần điều khiển toàn bộ cột nước, hướng nó xuống phía đáy biển. Các cơn sóng đại dương ở vùng nước sâu thường xuất hiện do chuyển động của nước tính từ bề mặt đến một độ sâu bằng một nửa chiều dài sóng. Điều này có nghĩa rằng sự di chuyển của sóng bề mặt đại dương chỉ đạt tới độ sâu khoảng 100 m hay ít hơn. Trái lại, những cơn sóng thần hoạt động như những con sóng vùng nước nông giữa biển khơi (bởi chiều dài của chúng ít nhất lớn gấp 20 lần chiều sâu nơi chúng hoạt động), bởi sự phân tán chuyển động của nước ít xảy ra nơi nước sâu. Con sóng đi qua đại dương với tốc độ trung bình 500 dặm một giờ. Khi tiến tới đất liền, đáy biển trở nên nông và con sóng không còn di chuyển nhanh được nữa, vì thế nó bắt đầu "dựng đứng lên"; phần phía trước con sóng bắt đầu dựng đứng và cao lên, và khoảng cách giữa các đợt sóng ngắn lại. Tuy một người ở ngoài đại dương có thể không nhận thấy dấu hiệu sóng thần, nhưng khi vào bờ nó có thể đạt chiều cao một tòa nhà sáu tầng hay hơn nữa. Quá trình dựng đứng lên này tương tự như khi ta vẩy một chiếc roi da. Khi sóng tiến từ phía cuối ra đầu roi, cùng một lượng năng lượng phân bố trong khối lượng vật liệu ngày càng nhỏ, khiến chuyển động trở nên mãnh liệt hơn. Càng đi vào đất liền, tốc độ di chuyển sẽ chậm lại nhưng ngọn sóng cao. Một con sóng trở thành một con "sóng nước nông" khi tỷ lệ giữa độ sâu mặt nước và chiều dài sóng của nó rất nhỏ, và bởi vì sóng thần có chiều dài sóng rất lớn (hàng trăm kilômét), các cơn sóng thần hoạt động như những cơn sóng nước nông ngay bên ngoài đại dương. Những con sóng nước nông di chuyển với tốc độ bằng căn bậc hai của tích giữa gia tốc trọng trường (9.8 m/s2) và chiều sâu nước. Ví dụ, tại Thái Bình Dương, với độ sâu trung bình 4000 m, một cơn sóng thần di chuyển với tốc độ khoảng 200 m/s (720 km/h hay 450 dặm/giờ) và mất ít năng lượng, thậm chí đối với những khoảng cách lớn. Ở độ sâu 40 m, tốc độ sẽ là 20 m/s (khoảng 72 km/h hay 45 dặm/giờ), nhỏ hơn tốc độ trên đại dương nhưng rõ ràng con người không thể chạy nhanh hơn tốc độ này. Sóng thần lan truyền từ nguồn phát (tâm chấn), vì thế những bờ biển trong vùng bị ảnh hưởng bởi chấn động thường lại khá an toàn. Tuy nhiên, các cơn sóng thần có thể gây nhiễu xạ xung quanh các mảng lục địa (như thể hiện trong hoạt hình này). Đặc trưng riêng của điều kiện địa lý địa phương có thể dẫn tới hiện tượng triều giả hay sự hình thành các đợt sóng dừng, có thể gây thiệt hại lớn hơn trên bờ biển. Ví dụ, cơn sóng thần lan tới Hawaii ngày 1 tháng 4 năm 1946 có thời gian ngắt quãng mười lăm phút giữa các đợt sóng. Chu kỳ cộng hưởng tự nhiên của Vịnh Hilo là khoảng mười ba phút. Điều đó có nghĩa mỗi đợt sóng tiếp theo trùng pha với chuyển động của Vịnh Hilo, tạo ra một đợt triều giả trong vịnh. Vì thế, Hilo bị thiệt hại nặng nền nhất so với tất cả các địa điểm khác tại Hawaii, đợt sóng thần/triều giả có độ cao lên tới 14 m giết hại 159 người. Sóng biển được chia làm 3 loại, căn cứ vào độ sâu: Tầng nước sâu Tầng nước trung bình Tầng nước nông Dù được tạo ra ở tầng nước sâu (khoảng 4000 m dưới mực nước biển), sóng thần được xem là sóng ở tầng nước nông. Khi sóng thần tiến vào tầng nước nông gần bờ, khoảng thời gian của nó không đổi, nhưng chiều dài sóng thì giảm liên tục, điều này làm cho nước tích tụ thành một mái vòm khỏng lồ, gọi là hiệu ứng "bị cạn". == Dấu hiệu của một đợt sóng thần sắp tới == Những dấu hiệu sau đây thường báo trước một cơn sóng thần: [2]: Cảm thấy động đất. Nếu cảm thấy nền đất rung lắc mạnh đến mức không còn đứng vững được, thì nhiều khả năng sẽ xảy ra một trận sóng thần. Các bong bóng chứa khí gas nổi lên mặt nước làm ta có cảm giác như nước đang bị sôi. Nước trong sóng nóng bất thường. Nước có mùi trứng thối (khí hyđro sulfua) hay mùi xăng, dầu. Nước làm da bị mẩn ngứa. Nghe thấy một tiếng nổ như là: - tiếng máy nổ của máy bay phản lực - hay tiếng ồn của cánh quạt máy bay trực thăng, hay là - tiếng huýt sáo. Biển lùi về sau một cách đáng chú ý. Mây đen vần vũ đầy trời. Vệt sáng đỏ ở đường chân trời. Khi sóng thần ập vào bờ, sẽ có tiếng gầm rú giống như chuyến tàu hỏa đang đến gần. Hàng triệu con chim hải âu bay ngược biển. Nhiều đất nước khi có sóng thần, thường hay có những tiếng còi cảnh báo rú lên. == Cảnh báo và ngăn chặn == Sóng thần không thể được dự đoán một cách hoàn toàn chính xác, nhưng có những dấu hiệu có thể báo trước một đợt sóng thần sắp xảy ra, và nhiều hệ thống đang được phát triển và được sử dụng để giảm thiểu những thiệt hại do sóng thần gây ra. Ở những khoảnh khắc khi lưỡi đợt sóng thần là vùng lõm của nó, nước biển sẽ rút khỏi bờ với khoảng cách bằng nửa chu kỳ sóng trước khi đợt sóng tràn tới. Nếu đáy biển có độ nghiêng thấp, sự rút lui này có thể lên tới hàng trăm mét. Những người không nhận thức được về sự nguy hiểm có thể vẫn ở lại trên bãi biển vì tò mò, hay để nhặt những con cá trên đáy biển lúc ấy đã trơ ra. Ở những khoảnh khắc khi lưỡi sóng của cơn sóng thần đạt mức đỉnh lần thứ nhất, những đợt sóng tiếp theo có thể khiến nước dâng cao hơn. Một lần nữa, việc hiểu biết về hoạt động của sóng thần rất quan trọng, để có thể nhận thức rằng khi mực nước rút xuống lần đầu tiên, nguy hiểm chưa hề qua. Ở những vùng bờ biển có độ cao thấp, một trận động đất mạnh là dấu hiệu cảnh báo chính rằng một cơn sóng thần có thể đã được tạo ra. Những vùng có nguy cơ sóng thần cao có thể sử dụng những hệ thống cảnh báo sóng thần để xác định và cảnh báo người dân trước khi sóng đi tới đất liền. Tại một số cộng đồng ở bờ biển phía tây nước Mỹ, vốn có nguy cơ đối mặt với các cơn sóng thần Thái Bình Dương, những dấu hiệu cảnh báo hướng dẫn người dân đường thoát hiểm khi một cơn sóng thần tràn tới. Các mô hình trên máy tính có thể dự đoán phỏng chừng khoảng thời gian tràn tới và sức mạnh của sóng thần dựa trên thông tin về sự kiện gây ra nó và hình dạng của đáy biển (bathymetry) và vùng đất bờ biển theo địa hình học.[3] Một trong những dấu hiệu cảnh báo sớm nhất là từ những loài động vật ở gần. Nhiều loài vật cảm giác được sự nguy hiểm và bỏ chạy lên vùng đất cao trước khi những con sóng tràn tới. Vụ động đất Lisbon là trường hợp đầu tiên được ghi lại về hiện tượng đó tại châu Âu. Hiện tượng này cũng đã được nhận thấy tại Sri Lanka trong trận Động đất Ấn Độ Dương 2004 ([4]). Một số nhà khoa học có thể suy luận rằng các loài vật có thể có một khả năng cảm nhận được sóng hạ âm (sóng Rayleigh) từ một trận động đất nhiều phút hay nhiều giờ trước khi một cơn sóng thần tấn công vào bờ (Kenneally, [5]). Trong khi vẫn chưa có khả năng ngăn chặn sóng thần, tại một số quốc gia thường phải hứng chịu thảm họa thiên nhiên này, một số biện pháp đã được tiến hành nhằm giảm thiệt hại do sóng thần gây ra. Nhật Bản đã áp dụng một chương trình lớn xây dựng các bức tường chắn sóng thần với chiều cao lên tới 4.5 m (13.5 ft) trước những vùng bờ biển nhiều dân cư sinh sống. Những nơi khác đã xây dựng các cửa cống và kênh để dẫn dòng nước từ những cơn sóng thần đi hướng khác. Tuy nhiên, hiệu quả của chúng vẫn còn là một vấn đề tranh cãi, bởi vì các cơn sóng thần thường cao hơn tường chắn. Ví dụ, đợt sóng thần tràn vào đảo Hokkaido ngày 12 tháng 7 năm 1993 tạo ra những đợt sóng cao tới 30 m (100 ft) - tương đương một tòa nhà 10 tầng. Thị trấn cảng Aonae đã được trang bị một bức tường chắn sóng thần bao kín xung quanh, nhưng các cơn sóng đã tràn qua tường và phá hủy toàn bộ cấu trúc xây dựng bằng gỗ trong vùng. Bức tường có thể có tác dụng trong việc làm chậm và giảm độ cao sóng thần nhưng nó không ngăn cản được tính phá hủy và gây thiệt hại nhân mạng của sóng thần. Những hiệu ứng của một cơn sóng thần có thể giảm bớt nhờ những yếu tố thiên nhiên như cây trồng dọc bờ biển. Một số vị trí trên đường đi của cơn sóng thần Ấn Độ Dương 2004 hầu như không bị thiệt hại gì nhờ năng lượng sóng thần đã bị một dải cây như dừa và đước hấp thụ. Một ví dụ khác, làng Naluvedapathy tại vùng Tamil Nadu Ấn Độ bị thiệt hại rất ít khi những con sóng thần tan vỡ trong khu rừng 80.244 cây được trồng dọc bờ biển năm 2002 để được ghi tên vào Sách kỷ lục Guinness. [6] Những nhà môi trường đã đề xuất việc trồng cây dọc theo những vùng bờ biển có nguy cơ sóng thần cao. Tuy có thể mất vài năm để cây lớn đạt tới kích cỡ cần thiết, những công cuộc trồng rừng như vậy có thể mang lại những công cụ hữu hiệu, rẻ tiền cũng như có tác dụng lâu dài trong việc ngăn chặn sóng thần hơn những biện pháp đắt tiền, gây hại đến môi trường như các bức tường chắn sóng. == Ứng phó với sóng thần == a. Khi đang ở trên biển, ven biển: - Khi đang ở trên tàu thuyền trên biển, ven biển mà nhận được tin cảnh báo sóng thần thì không nên cho tàu thuyền trở về cảng, mà nên di chuyển tàu thuyền đến những vùng nước sâu ít nhất là trên 150m, vì sóng thần có thể gây ra sự thay đổi nhanh chóng mực nước biển và tạo ra những dòng chảy nguy hiểm ở cảng và bến tàu; - Khi tàu thuyền còn neo đậu trong bờ mà nhận được tin cảnh báo sóng thần thì chủ tàu thuyền có thể đưa tàu thuyền của mình ra biển nếu có đủ thời gian và được sự thông báo của chính quyền, cơ quan chức năng; - Không được ở lại trên tàu thuyền neo đậu tại bến cảng vì sóng thần có mức phá hoại rất lớn. b. Khi ở trên đất liền: - Đang ở khu vực bãi biển: khi nhận được tin sóng thần phải ngay lập tức chạy đến nơi an toàn ở các bãi đất cao hoặc xa bờ biển từ 500m trở lên; - Đang ở nơi đông người: khi nhận được tin sóng thần phải ngay lập tức báo với những người khác cùng chạy đến nơi an toàn ở các bãi đất cao hoặc xa bờ biển từ 500m trở lên, đặc biệt là giúp đỡ trẻ em, người già, phụ nữ có thai đi sơ tán; - Đang ở trong nhà trệt, nhà thấp tầng: trong phạm vi dưới 500m so với bờ biển phải sơ tán vào sâu trên đất liền, chỉ mang theo các vật dụng, tài sản, giấy tờ quan trọng khi sơ tán; Đang ở trong nhà cao tầng: phải di chuyển lên các tầng cao, không ở lại tầng 1 cho đến tầng 3; mở trống các cửa ở các tầng thấp để hạn chế sự tác động của sóng.Đang đi trên đường: không được đi ra hướng bờ biển. Nguồn: Sóng thần và một số biện pháp phòng tránh, ứng phó == Các trận sóng thần lịch sử == Xem thêm Danh sách những trận sóng thần lịch sử theo số lượng thiệt hại nhân mạng. Sóng thần xảy ra thường xuyên nhất ở Thái Bình Dương nhưng là một hiện tượng toàn cầu; sóng thần có thể xảy ra ở bất kì nơi nào có khối nước lớn, bao gồm cả những hồ nằm trong đất liền, có khả năng xảy ra sự dịch chuyển của khối đất bên dưới. Những cơn sóng thần nhỏ, không gây thiệt hại và không thể nhận biết được nếu không có thiết bị chuyên môn, xảy ra thường xuyên như kết quả của những trận động đất nhẹ và các địa chấn khác. === Trận sóng thần ở Đảo Vancouver, Canada năm 1700 === Ngày 26 tháng 1, trận động đất Cascadia, một trong những trận động đất mạnh nhất trong lịch sử, làm gián đoạn Cascadia Subduction Zone offshore từ đảo Vancouver đến bắc California, tạo nên một cơn sóng thần được ghi lại trong lịch sử Nhật Bản cũng như trong lịch sử truyền khẩu của người thổ dân châu Mỹ. === Trận sóng thần ở Lisboa, Bồ Đào Nha năm 1755 === Hàng vạn người sống sót qua trận động đất ở Lisboa năm 1755 đã thiệt mạng trong đợt sóng thần xảy ra sau đó nửa giờ. Nhiều cư dân thành phố chạy ra bờ biển, tin rằng nơi này có thể tránh khỏi các đám cháy và mảnh vỡ do động đất. Trước khi cơn sóng thần ập vào cảng, nước rút rất nhanh, để lộ những hàng hóa bị rơi xuống biển và những chiếc tàu đắm bị lãng quên. Động đất, sóng thần và hỏa hoạn sau đó đã giết chết hơn một phần ba dân số Lisboa trước trận động đất. Những văn lịch sử ghi chép lại các cuộc thám hiểm của Vasco da Gama và những nhà hàng hải trước đó bị mất, rất nhiều ngôi nhà bị phá hủy (gồm cả đa số những kiến trúc Manueline Bồ Đào Nha). Những người châu Âu ở thế kỷ 18 đã tìm cách giải thích thảm họa này trong tôn giáo và các hệ thống đức tin lý trí. Các nhà triết học Thời khai sáng, nổi tiếng nhất là Voltaire, đã viết về sự kiện này. Quan niệm triết học về sự siêu phàm, như được nhà triết học Immanuel Kant miêu tả trong cuốn Beobachtungen über das Gefühl des Schönen und Erhabenen (Những quan sát về Cảm giác của Cái đẹp và sự Siêu phàm), có một phần cảm hứng trong nỗ lực tìm hiểu tầm cỡ của trận động đất và sóng thần Lisboa. === 1883 - Vụ nổ phun trào Krakatoa === Hòn đảo núi lửa Krakatoa ở Indonesia đã nổ tung với sức mạnh hủy diệt năm 1883, thổi tung một phần buồng magma dưới chân nó khiến vùng đất nằm phía trên đó và đáy biển sụp đổ. Một loạt những cơn sóng thần đã hình thành sau vụ sụp đổ, một số cơn đạt tới độ cao hơn 40 mét trên mực nước biển. Các cơn sóng thần được quan sát thấy trên khắp Ấn Độ Dương, Thái Bình Dương, bờ biển phía tây nước Mỹ, Nam Mỹ và thậm chí xa tới cả Kênh Anh Quốc. Ở bờ biển phía đối diện tại Java và Sumatra nước lụt tràn sâu nhiều dặm vào trong bờ gây ra thiệt hại to lớn về nhân mạng tới mức một vùng dân cư đã không bao giờ được khôi phục và trở thành rừng rậm và hiện là khu dự trữ sinh quyển Ujung Kulon Vụ nổ Halifax xảy ra ngày thứ Năm, 6 tháng 12 năm 1917 lúc 9:04:35 sáng giờ địa phương tại Halifax, Nova Scotia ở Canada, khi chiếc tàu chở vũ khí cho Chiến tranh thế giới thứ nhất Mont-Blanc của Pháp va chạm với chiếc tàu thủy Na Uy Imo được thuê chở đồ trợ cấp cho Bỉ. Hậu quả của vụ va chạm làm chiếc Mont-Blanc bốc cháy và nổ tung. Vụ nổ gây ra một cơn sóng thần, và một làn sóng sung kích trong không khí. === 1929 - Trận sóng thần Newfoundland === Ngày 18 tháng 11 năm 1929, một trận động đất mạnh 7.2 độ xảy ra bên dưới Dốc Laurentian tại Grand Banks. Chấn động được cảm nhận thấy tại khắp các tỉnh bang vùng Atlantic ở Canada và đến tận Ottawa ở phía tây cũng như Claymont, Delaware ở phía nam. Hậu quả là sau 2½ giờ một cơn sóng thần cao hơn 7 mét tràn vào bán đảo Burin trên bờ biển phía nam Newfoundland, 28 người thuộc nhiều cộng đồng dân cư đã thiệt mạng. === 1946 - Trận sóng thần Thái Bình Dương === Ngày 1 tháng 4 trận sóng thần do vụ Động đất quần đảo Aleut gây ra giết hại 165 người tại Hawaii và Alaska dẫn tới việc hình thành hệ thống cảnh báo sóng thần (cụ thể là Trung tâm Cảnh báo sóng thần Thái Bình Dương), được thành lập năm 1949 giám sát cho các quốc gia vùng Thái Bình Dương. Tại Hawaii cơn sóng thần được gọi là "Sóng thần Ngày Nói dối" vì mọi người đã tin rằng cảnh báo sóng thần là một trò đùa Ngày Nói dối. === 1960 - Trận sóng thần Chile === Trận Động đất Lớn Chile với cường độ 9.5 độ Richter là trận động đất mạnh nhất từng được ghi lại. Tâm chấn nằm ngoài khơi Trung Nam Chile, gây ra một trong những trận sóng thần có sức tàn phá lớn nhất thế kỷ 20. Cơn sóng trải dài khắp Thái Bình Dương, với những con sóng đo được tới 25 mét. Đợt sóng đầu tiên ập tới Hilo, Hawaii sau khoảng 14.8 giờ từ khi nó được hình thành ngoài khơi Trung Nam Chile. Đợt sóng cao nhất tại Vịnh Hilo đo được khoảng 10,7 m (35 ft.). 61 người thiệt mạng với nguyên nhân được cho là do không để ý tới những hồi còi báo động. Khi sóng thần tràn vào Onagawa, Nhật Bản, 22 giờ sau trận động đất, chiều cao sóng đạt 3 mét trên mực thủy triều đang dâng cao. Số lượng người chết do vụ động đất và cơn sóng thần sau đó được ước lượng trong khoảng 490 tới 2.290. === 1963 - Thảm họa Đập Vajont === Hồ chứa nước phía sau Đập Vajont phía bắc Ý đã bị một trận lở đất lớn lao xuống. Một cơn sóng thần phát sinh quét qua đỉnh đập (nhưng không làm vỡ nó) lao xuống thung lũng bên dưới. Gần 2.000 người thiệt mạng. === 1964 - Trận sóng thần Ngày thứ Sáu Tuần thánh === Sau Trận động đất Ngày thứ Sáu Tuần thánh cường độ 9.2 độ, một cơn sóng thần đã tấn công Alaska, British Columbia, California và các thị trấn ven bờ biển tây bắc Thái Bình Dương, khiến 121 người chết. Những cơn sóng cao tới 6 mét, và giết hại 6 người ở Crescent City, California. === 1976 - Trận sóng thần Vịnh Moro === Ngày 16 tháng 8 năm 1976 lúc 12:11 sáng, một trận động đất 7.9 độ xảy ra ở đảo Mindanao, Philippines. Nó tạo ra một cơn sóng thần tàn phá hơn 700 km bờ biển quanh Vịnh Moro ở phía Bắc biển Celebes. Ước lượng số người chết trong thảm họa này lên tới 5.000 người, 2.200 người mất tích hay được cho đã chết, hơn 9.500 người bị thương và tổng cộng 93.500 trở thành vô gia cư. Nó cũng đã tàn phá các thành phố và thị trấn như Thành phố Pagadian, Zamboanga del Sur, Thành phố Zamboanga, Basilan, Sulu, Sultan Kudarat, Maguindanao, Thành phố Cotabato, Lanao del Sur và Lanao del Norte. === 1979 - Trận sóng thần Tumaco === Một trận động đất mạnh 7.9 độ đã xảy ra ngày 12 tháng 12 năm 1979 lúc 7:59:4.3 (UTC) dọc theo bờ biển Thái Bình Dương của Colombia và Ecuador. Trận động đất và cơn sóng thần do nó gây ra đã phá hủy ít nhất năm làng cá và cái chết của hàng trăm người tại tỉnh Nariño Colombia. Chấn động được cảm nhận thấy tại Bogotá, Cali, Popayán, Buenaventura và nhiều thành phố khác tại Colombia và tại Guayaquil, Esmeraldas, Quito cũng như nhiều vùng khác tại Ecuador. Khi Sóng thần Tumaco tràn lên bờ, nó phá hủy trầm trọng thành phố Tumaco, cũng như các thị trấn El Charco, San Juan, Mosquera và Salahonda trên bờ biển Thái Bình Dương của Colombia. Tổng số nạn nhân trong thảm họa này là 259 người chết, 798 người bị thương 95 người mất tích hoặc được cho là đã chết. === 1993 - Trận sóng thần Okushiri === Một trận sóng thần có sức tàn phá lớn đã xảy ra ngoài khơi Hokkaido Nhật Bản sau một trận động đất ngày 12 tháng 7 năm 1993. Kết quả, 202 người trên hòn đảo nhỏ Okushiri thiệt mạng và hàng trăm người mất tích hay bị thương. Thêm nữa, hàng trăm triệu chú chim cảnh, mèo và chó cũng thiệt mạng. === 2004 - Trận sóng thần Ấn Độ Dương === Trận động đất Ấn Độ Dương 2004, với cường độ được ước lượng khoảng từ 8.90-9.30 trên thang độ Richter (cường độ hiện vẫn chưa được thống nhất, nhưng đa số cho rằng là lớn hơn 9.0 Richter), đã gây ra một loạt những cơn sóng thần khủng khiếp ngày 26 tháng 12 năm 2004 giết hại khoảng 230.000 người (gồm 168.000 người tại riêng Indonesia), biến nó trở thành trận sóng thần gây nhiều thiệt hại nhân mạng nhất trong lịch sử [7]. Cơn sóng thần giết hại người dân ở cả vùng lân cận trận động đất tại Indonesia, Thái Lan và bờ biển tây bắc Malaysia cho tới những nơi cách xa hàng nghìn kilômét tại Bangladesh, Ấn Độ, Sri Lanka, Maldives và thậm chí tới cả Somalia, Kenya và Tanzania ở Đông Phi. Thảm họa đã dẫn tới một chiến dịch quyên góp toàn cầu hỗ trợ cho các nạn nhân, với hàng tỷ dollar đã được quyên góp. Không giống như Thái Bình Dương, không hề có một trung tâm cảnh báo sóng thần nào đặt tại Ấn Độ Dương. Một phần do nguyên nhân là do từ vụ phun trào Krakatoa năm 1883 (giết hại 36.000 người) tới năm 2004 không một trận sóng thần nào xảy ra ở khu vực này. Sau trận sóng thần Ấn Độ Dương năm 2004, UNESCO và các tổ chức quốc tế khác đã kêu gọi thiết lập một hệ thống giám sát sóng thần toàn cầu. === 2006 - Trận sóng thần nam Đảo Java === Một trận động đất mạnh 7.7 độ Richter làm rung chuyển Ấn Độ Dương ngày 17 tháng 7 năm 2006 tại địa điểm cách 200 km phía nam Pangandaran, một bãi biển đẹp nổi tiếng về những đợt sóng thích hợp cho những người ưa thích môn lướt sóng. Trận động đất này đã gây ra một cơn sóng thần với nhiều độ cao khác nhau từ 2 mét tại Cilacap tới 6 mét tại bãi biển Cimerak cuốn và phạt bằng những ngôi nhà ở sâu tới 400 mét bên trong bờ biển. Số lượng nạn nhân được thông báo gồm 600 người chết và khoảng 150 người vẫn đang mất tích. === 2010 - Trận sóng thần Chile === Trận động đất lớn ở Chile với cường độ 8.8 độ Richter xảy ra ngày 27 tháng 2 năm 2010 gần thành phố Concepción, cách thủ đô Santiago 500 km về phía nam. Trận động đất này gây ra những trận sóng thần tàn phá nhiều thành phố dọc bờ bể Chile và những sóng thần nhỏ ở Hawaii và Nhật Bản. === 2011 - Trận sóng thần Sendai === Trận động đất mạnh 9.0 độ Richter xảy ra ngày 11 tháng 3 năm 2011 gần thành phố Sendai, cách thủ đô Tokyo 373 km về phía nam. Trận động đất này gây ra sóng thần dọc bờ biển Thái Bình Dương của Nhật Bản và hơn 20 quốc gia khác tại Châu Đại Dương, Châu Á, Bắc Mỹ và Nam Mỹ. === Các trận sóng thần khác ở Nam Á === === Các trận sóng thần lịch sử khác === Các cơn sóng thần khác đã xảy ra gồm: Khoảng năm 500 trước Công nguyên: Poompuhar, Tamil Nadu, Ấn Độ, Maldives 1541: một cơn sóng thần đã tấn công những khu định cư đầu tiên của người châu Âu tại Brasil, São Vicente. Không có ghi chép về số người chết và bị thương, nhưng thị trấn hầu như bị phá hủy hoàn toàn. 20 tháng 1 năm 1606/1607: dọc bờ biển Kênh Anh Quốc hàng nghìn người chết đuối, nhà cửa và những ngôi làng bị cuốn bay, đất trồng trọt bị tràn ngập và các đàn gia súc bị một cơn lũ có thể là sóng thần cuốn trôi. Nguyên nhân của trận lụt còn đang bị tranh cãi, có lẽ nó xuất hiện do sự cộng hưởng của các điều kiện khí hậu và triều cường(tranh luận). 26 tháng 1, 1700: trận Động đất Cascadia (ước đạt 9.0 độ) đã gây ra những đợt sóng thần lớn trên vùng Tây bắc Thái Bình Dương. Một trong những thảm họa sóng thần tồi tệ nhất đã nhận chìm toàn bộ các ngôi làng dọc Sanriku, Nhật Bản, năm 1896. Một cơn sóng cao hơn tòa nhà bảy tầng (khoảng 20 m) đã làm khoảng 26.000 người chết đuối. 1946: Một trận động đất tại Quần đảo Aleutian gây ra một cơn sóng thần tràn tới Hawaii, giết hại 159 người (năm người chết tại Alaska). 9 tháng 7 năm 1958: Một trận lở đất lớn gây ra một cơn sóng tần tại fjord ở Vịnh Lituya, Alaska, Hoa Kỳ. Nó di chuyển với tốc độ hơn 150 km/h. 26 tháng 5 năm 1983: 104 ở phía Tây Nhật Bản đã thiệt mạng khi một cơn sóng thần xuất hiện từ một trận động đất ở gần đó. 17 tháng 7 năm 1998: Một cơn sóng thần tại Papua New Guinea giết hại khoảng 2200 người [9]. Một trận động đất 7.1 độ ngoài khơi 24 km sau đó 11 phút là một cơn sóng thần cao 12 m. Tuy cường độ trận động đất không đủ lớn để trực tiếp tạo ra các cơn sóng thần, mọi người tin rằng nó đã gây ra một vụ lở đất dưới đáy biển, dẫn tới sóng thần. Những làng mạc tại Arop và Warapu bị phá huỷ. 17 tháng 7 năm 2006: Một cơn sóng thần cao 1.8 m tràn vào bờ biển phía nam đảo Java, Indonesia lúc gần 11:20 UTC. Giết hại ít nhất 500 người và làm hư hại nhà cửa, tàu bè và khách sạn tại hay ở gần bờ biển Pangandaran. Cơn sóng thần do một trận động đất mạnh 7.7 độ ngoài khơi Ấn Độ Dương trực tiếp gây nên. Xem Trận động đất tháng 7 năm 2006 Java. === Sóng thần tại Bắc Mỹ và Caribe === 1690 - Nevis 14 tháng 11 năm 1840 - Great Swell trên Sông Delaware 18 tháng 11 năm 1867 - Quần đảo Virgin 17 tháng 11 năm 1872 - Maine 11 tháng 10 năm 1918 - Puerto Rico 18 tháng 11 năm 1929 - Newfoundland 9 tháng 1 năm 1926 - Maine 4 tháng 8 năm 1946 - Cộng hòa Dominica 18 tháng 8 năm 1946 - Cộng hòa Dominica Có thể coi là sóng thần 35 triệu năm trước - Thiên thạch Vịnh Chesapeake, Vịnh Chesapeake 9 tháng 6 năm 1913 - Longport, New Jersey 6 tháng 8,1923 - Rockaway Park, Queens, New York 8 tháng 8 năm 1924 - Đảo Coney, New York 19 tháng 8 năm 1931 - Thành phố Atlantic, New Jersey 21 tháng 9 năm 1938 - Hurricane, Bờ biển New Jersey 19 tháng 5 năm 1964 - Đông bắc Hoa Kỳ 4 tháng 7 năm 1992 - Bãi biển Daytona, Florida Nguồn: NOAA Văn phòng Dự báo Thời tiết Quốc gia === Sóng thần tại châu Âu === Ngày 16 tháng 10 năm 1979 - 23 người đã chết khi bờ biển Nice, Pháp, bị một cơn sóng thần tấn công. Đây có thể là một trận sóng thần do con người gây ra vì việc xây dựng một sân bay mới ở Nice đã gây ra một trận lở đất dưới đáy biển [10]. == Xem thêm == Núi lửa Động đất Hệ thống cảnh báo sóng thần Thảm họa Sóng thần Ấn Độ Dương Danh sách những cơn sóng thần trong lịch sử và số lượng người chết Dự án Vùng đất cao Danh sách các trận động đất Meteotsunami Megatsunami Sóng kì dị (Freak wave) Sóng lén lút (Sneaker wave) Thủy triều Hội Sóng thần Danh sách các thảm họa theo con số thiệt hại nhân mạng#Sóng thần Động đất == Tham khảo == Dudley, Walter C. & Lee, Min (1988: 1st edition) Tsunami! ISBN 0-8248-1125-9 link Kenneally, Christine (ngày 30 tháng 12 năm 2004). "Surviving the Tsunami". Slate. link Macey, Richard (ngày 1 tháng 1 năm 2005). "The Big Bang that Triggered A Tragedy", The Sydney Morning Herald, p 11 - quoting Dr Mark Leonard, seismologist at Geoscience Australia. Lambourne, Helen (ngày 27 tháng 3 năm 2005). "Tsunami: Anatomy of a disaster". BBC News. link abelard.org. tsunamis: tsunamis travel fast but not at infinite speed. Website, retrieved ngày 29 tháng 3 năm 2005. link What about the famous image of a great canyon of water? Could this have any basis in reality? == Ghi chú == == Liên kết ngoài == Toàn cảnh động đất & sóng thần hơn 10m ập vào Nhật Bản ngày 11/3/2011 Bài học địa lý về sóng thần, báo Tuổi trẻ Chủ nhật === Bài viết và website === Tsunami Information — Thông tin về sóng thần bằng tiếng Bồ Đào Nha. Tsunami Information from the Coastal Ocean Institute, Woods Hole Oceanographic Institution Tsunami Forums NOVA: Wave That Shook The World — Site and special report shot within days of the 2004 Indian Ocean tsunami. Biggest Tsunami Countdown — Description of the five largest historical tsunamis. NOAA Tsunami — General description of tsunamis and the United States agency NOAA's role in Tsunami hazard assessment, preparedness, education, forecasts & warnings, response and research. Can HF Radar detect Tsunamis? — University of Hamburg HF-Radar. Development Gateway Tsunami Special The Higher Ground Project — Stories of children who survived the tsunami. The International Centre for Geohazards (ICG) ITIC tsunami FAQ NOAA PMEL Tsunami Research Program (United States) USGS: Surviving a tsunami (United States) ITSU — Coordination Group for the Pacific Tsunami Warning System. Pacific Tsunami Museum Tsunamis and Earthquakes Tsunami Centers — United States National Weather Service. Science of Tsunami Hazards journal The International Centre for Geohazards (ICG) The Indian Ocean tsunami and what it tells us about tsunamis in general. Tsunami: Magnitude of Terror General Tsunami Resources Natural Disasters - Tsunami — Great research site for kids. Envirtech Tsunami Warning System — Based on seabed seismics and sea level gauges. Indian Ocean Disaster Relief Benfield Hazard Research - Mega Tsunamis - Cumbre Vieja volcano on the Canary Island of La Palma Risk What Causes a Tsunami? Scientific American Magazine (January 2006 Issue) Tsunami: Wave of Change What we can learn from the Indian Ocean tsunami of December 2004. Sóng thần trên VnExpress — Thông tin về sóng thần bằng trên VnExpress. === Hình ảnh và video === Xem thêm: Hình ảnh và video, động đất Ấn Độ Dương năm 2004 Large Collection of Amateur Tsunami Videos with Thunbnail Images and Detailed Descriptions [11] 5 Amateur Camcorder Video Streams of the ngày 26 tháng 12 năm 2004 tsunami that hit Sri Lanka, Thailand and Indonesia (search on tsunamis). 2004 Asian Tsunami Satellite Images (Before and After) Satellite Images of Tsunami Affected Areas High resolution satellite images showing the effects of the 2004 tsunami on the affected areas in Indonesia, Thailand and Nicobar island of India. Computer-generated animation of a tsunami Animation of 1960 tsunami originating outside coast of Chile The Survivors - A moving travelogue full of stunning images along the tsunami ravaged South-Western Coast of India Tsunamis are Dangerous- A site for about tsunamis for everyone Origin of a Tsunami - animation showing how the shifting of continental plates in the Indian Ocean created the catastrophe of December 26th 2004. CBC Digital Archives – Canada's Earthquakes and Tsunamis === Viễn tưởng === Michael Crichton's State of Fear (2004) explored unintended consequences of human intervention with natural forces. [12]
dante gabriel rossetti.txt
Dante Gabriel Rossetti ( /ˈdænti ˈɡeɪbriəl rəˈzɛti/; 12 tháng 5 năm 1828 – 9 tháng 4 năm 1882) – nhà thơ, dịch giả, họa sĩ Anh gốc Ý, một trong những người sáng lập trào lưu Tiền Raphael (Pre-Raphaelites) nổi tiếng trong hội họa và thi ca Anh nửa cuối thế kỷ XIX. == Tiểu sử == Dante Gabriel Rossetti sinh ở London trong một gia đình trí thức, là con trai cả của Gabriel Pasquale Giuseppe Rossetti và Frances Polidori, là anh trai của Christina Rossetti, William Michael Rossetti và Maria Francesca Rossetti – cả bốn anh em đều là những nhà thơ, nhà văn, nhà phê bình, họa sĩ nổi tiếng của nước Anh. Năm 1848 Dante Gabriel Rossetti làm quen với William Holman Hunt ở triển lãm của Viện Nghệ thuật Hoàng gia. Hunt giúp Rosseti vẽ xong bức tranh "Tuổi thơ của Đức mẹ Đồng Trinh Maria" và giới thiệu Rosseti với họa sĩ John Everett Millais. Thế rồi họ cùng nhau lập ra trào lưu Tiền Raphael và công bố tuyên ngôn nghệ thuật của mình. Năm 1850 Dante Gabriel Rossetti in bài thơ đầu tiên The blessed damozel (Cô gái linh thiêng) lấy cảm hứng từ The Raven (Con quạ) của Edgar Poe. Năm 1870 ông in tập Poems by D. G. Rossetti (Thơ D. G. Rosseti). Toàn bộ thơ của ông tập hợp thành cuốn Ballads and sonnets (Thơ ballad và thơ sonnet) in năm 1881. Dante Gabriel Rossetti phủ nhận chức năng xã hội của văn học, chỉ thừa nhận mỗi giá trị thẩm mỹ. Thơ ông là thơ phi đạo đức, mang nội dung thần bí và đề cao tình dục, lý tưởng hóa quá khứ, thi vị hóa tôn giáo, né tránh những vấn đề chính trị và xã hội, phủ nhận những cải cách của thập niên 30 – 50 thế kỷ XIX. Ông đi tìm những hình tượng lãng mạn của John Keats và Samuel Taylor Coleridge. == Một bài thơ == == Tham khảo == == Liên kết ngoài == The Rossetti Archive—Online scholarly archive of Rossetti's works, including text, manuscripts, paintings, etc. Birmingham Museums and Art Gallery's Pre-Raphaelite Online Resource Large online collection of the works of Dante Gabriel Rossetti ArtRenewal.org gallery Các tác phẩm của Dante Gabriel Rossetti tại Dự án Gutenberg Project Gutenberg e-text of Dante Gabriel Rossetti's The House Of Life Ten Dreams Galleries Major Rossetti exhibition with nearly 200 works Website about Rossetti's wife, Elizabeth Siddal Rossetti in the "History of Art" “The Day Dream”. Victoria and Albert Museum. Truy cập ngày 19 tháng 11 năm 2007. The Pre-Raph Pack Discover more about the artists, the techniques they used and a timeline spanning 100 years. Dante Gabriel Rossetti at WikiGallery.org
giải vô địch bóng đá tây á.txt
Giải vô địch bóng đá Tây Á (tiếng Anh: WAFF Championship hay West Asian Football Federation Championship) là giải đấu dành cho các đội tuyển quốc gia của các nước và vùng lãnh thổ tại khu vực Tây Á. Giải thường được Liên đoàn bóng đá Tây Á (WAFF) tổ chức hai năm một lần. == Giải đấu ==
kinh tế iceland.txt
Kinh tế Iceland là nền kinh tế nhỏ nhưng rất phát triển, với tổng sản phẩm quốc nội ước tính 19.444 tỉ USD đứng thứ 112 trong năm 2016 và GDP bình quân đầu người 50,425 USD là một trong những nước có thu nhập bình quân đâu người cao nhất trên thế giới Giống như các nước Bắc Âu khác, Iceland có nền kinh tế hỗn hợp, chủ yếu là các nhà tư bản nhưng hỗ trợ một hệ thống phúc lợi xã hội lớn. Nền kinh tế phát triển cộng với hệ thống phúc lợi xã hội tốt đã khiến cho chỉ số phát triển con người của Iceland rất cao, xếp thứ nhất thế giới (xem Danh sách quốc gia theo chỉ số phát triển con người). Iceland là nước có điều kiện sống tốt nhất trên thế giới. Nền kinh tế Iceland phụ thuộc chủ yếu vào ngành công nghiệp đánh cá, ngành này cung cấp tới 70% lượng xuất khẩu và sử dụng 4% lực lượng lao động; do đó kinh tế nước này vẫn nhạy cảm với giá của sản phẩm cá trên thị trường thế giới. == Chú thích ==
giải quần vợt pháp mở rộng 2011 - vòng loại đơn nữ.txt
== Hạt giống == == Các tay vợt vượt qua vòng loại == == Lucky Losers == Anastasia Pivovarova == Bốc thăm == === Chú giải === === Nhánh 1 === === Nhánh 2 === === Nhánh 3 === === Nhánh 4 === === Nhánh 5 === === Nhánh 6 === === Nhánh 7 === === Nhánh 8 === === Nhánh 9 === === Nhánh 10 === === Nhánh 11 === === Nhánh 12 === == Liên kết khác == Qualifying Draw == Tham khảo ==
1775.txt
1775 (MDCCLXXV) là một năm thường bắt đầu vào Chủ Nhật của lịch Gregory (hay một năm thường bắt đầu vào thứ Năm, chậm hơn 11 ngày, theo lịch Julius). == Sự kiện == === Tháng 1 === 17 tháng 1 - James Cook giành quyền sở hữu South Georgia cho Anh. 30 tháng 1 - Hoàng Ngũ Phúc đánh chiếm thành Phú Xuân, kinh đô Đàng Trong. === Tháng 2 === 9 tháng 2 - Cách mạng Hoa Kỳ: Nghị viện Anh tuyên bố Massachusetts là một khu vực nổi loạn. 15 tháng 2 - Giáo hoàng Pius VI kế vị Giáo hoàng Clement XIV làm vị Giáo hoàng thứ 250. === Thang 3 === 9 tháng 3 - Quân Trịnh đánh chiếm đồn Trung Sơn. 22 tháng 3 - Quân Trịnh đánh chiếm đồn Cẩm Lệ. === Tháng 4 === Hoàng Ngũ Phúc vượt đèo Hải vân đánh bại Tây Sơn tại Cẩm Sa. === Tháng 5 === Tống Phúc Hiệp đánh bại Tây Sơn tái chiếm Phú Yên, === Tháng 7 === Nguyễn Huệ chiến thắng quân Nguyễn và đánh chiếm Phú Yên. == Sinh == == Mất == == Xem thêm == == Tham khảo ==
đào lộn hột.txt
Điều hay còn gọi là đào lộn hột (danh pháp khoa học: Anacardium occidentale L.; đồng nghĩa: Anacardium curatellifolium A.St.-Hil.) là một loại cây công nghiệp dài ngày thuộc họ Xoài. Cây này có nguồn gốc từ đông bắc Brasil, nơi nó được gọi bằng tiếng Bồ Đào Nha là Caju (nghĩa là "quả") hay Cajueiro ("cây"). Ngày nay nó được trồng khắp các khu vực khí hậu nhiệt đới để lấy nhân hạt chế biến làm thực phẩm. == Miêu tả == Cây cao từ khoảng 3m đến 9m. Lá mọc so le, cuống ngắn. Hoa nhỏ, màu trắng có mùi thơm dịu. Quả khô, không tự mở, hình thận, dài 2–3 cm, vỏ ngoài cứng, mặt hõm vào, cuống quả phình to thành hình trái lê hay đào, màu đỏ, vàng hay trắng. Do vậy người ta thường có cảm tưởng phần cuống quả phình ra là quả, còn quả thật đính vào là hạt, do dó mà có tên đào lộn hột (tức đào có hột nằm ngoài quả). Do đó nhiều người thường nhầm đào lộn hột (điều) là thực vật hạt trần, nhưng đào lộn hột (điều) chính xác là thực vật hạt kín. Hạt hình thận, có chứa dầu béo. == Sử dụng == Quả giả (cuống quả) rất giàu vitamin C, có thể ăn tươi, hoặc ép lấy dịch cho lên men làm rượu nhẹ, nước giải khát lên men. Tuy nhiên không nên ăn nhiều trái tươi vì gây tưa lưỡi. Rượu chế biến từ quả giả này có thể dùng xoa bóp khi đau nhức? súc miệng chữa viêm họng, chống nôn mửa. Nhân là sản phẩm chính của cây Điều do có giá trị cao, sử dụng đa dạng, sau khi loại hết vỏ, được rang hoặc dùng tươi hoặc dùng trong chế biến bánh, kẹo. Bôm đào lộn hột dùng chữa chai, loét, nẻ chân. Dầu nhân dùng để chế thuốc. == Ở Việt Nam == Việt Nam là nước có sản lượng hạt điều xuất khẩu lớn nhất thế giới. Năm 2015, Việt Nam có thị phần chiếm trên 50% tổng giá trị thương mại nhân điều toàn cầu (khoảng 5 tỉ USD) và cũng là năm thứ 10 liên tiếp, ngành điều Việt Nam giữ vị trí hàng đầu thế giới về xuất khẩu nhân điều. Cây điều được trồng rất nhiều ở các tỉnh miền núi phía nam như Đắk Lắk, Đắk Nông và Bình Phước... == Hình ảnh == == Tham khảo == == Liên kết ngoài == Phương tiện liên quan tới Anacardium occidentale tại Wikimedia Commons
khí hiếm.txt
Khí hiếm, hay khí quý hoặc khí trơ, là nhóm các nguyên tố hóa học trong nhóm nguyên tố 18, (trước đây gọi là nhóm 0) trong bảng tuần hoàn. Chuỗi nguyên tố hóa học này chứa heli, neon, argon, krypton, xenon, radon và ununocti (có thể không phải khí hiếm) Ngoài ra, ununquadi nhóm 14 cũng thể hiện các đặc điểm giống khí hiếm. Khí hiếm trước đây được gọi là khí trơ, nhưng thuật ngữ này không chính xác một cách chặt chẽ do các nguyên tố này cũng tham gia vào một số phản ứng hóa học. Thuật ngữ khí hiếm cũng là một tên gọi cũ, mặc dù trên thực tế agon tạo thành một phần đáng kể (0,93% theo thể tích hay 1,29% theo khối lượng) của khí quyển Trái Đất. Tên gọi khí quý chỉ tới danh nghĩa quý tộc vì những nguyên tố trong nhóm không tham gia trong những phản ứng hóa học với các loại nguyên tố ngoại tộc cũng như các vị quý tộc không nối dòng với bình dân. Mà cũng có lẽ là có liên quan tới các kim loại quý kém hoạt động hóa học, chúng được gọi như thế là do sự quý báu, khả năng chống ăn mòn cao và có một sự gắn kết lâu dài với tầng lớp quý tộc, nhưng các khí quý thì không thấy có liên quan gì đến các yếu tố đã nói như kim loại quý, ngoại trừ một số trong chúng là đắt tiền. Như vậy, trên thực tế cả ba tên gọi đều không thực sự chặt chẽ và không phản ánh đầy đủ các tính chất hóa-lý hay lịch sử của nhóm các nguyên tố này. Do độ hoạt động hóa học cực kỳ yếu của chúng, các khí hiếm đã không được phát hiện cho đến tận năm 1868, khi heli được phát hiện ra trong quang phổ của Mặt trời. Trên Trái đất, mãi đến năm 1895 thì người ta mới cô lập được heli. Các khí hiếm có các lực tương tác nội nguyên tử cực kỳ yếu, kết quả là chúng có điểm nóng chảy và điểm sôi rất thấp. Điều này giải thích tại sao tất cả chúng đều ở dạng khí trong các điều kiện bình thường, thậm chí ngay cả các nguyên tố có nguyên tử lượng lớn hơn so với nhiều chất rắn thông thường khác. Bảng tuần hoàn chứa một ô trống phía dưới radon, với số nguyên tử bằng 118. Điều này gián tiếp chỉ ra sự tồn tại, mặc dù có thể chu kỳ tồn tại rất ngắn, của một nguyên tố khí hiếm vẫn chưa được phát hiện ra, mà hiện nay người ta tạm thời đặt tên là ununocti. Mặc dù các khí hiếm nói chung là không hoạt động hóa học, nhưng trong một số điều kiện cụ thể thì chúng vẫn tạo ra các hợp chất (hợp chất của khí hiếm). Khí hiếm không phải là tên gọi riêng cho nhóm nguyên tố 18 vì ununocti thực tế có thể không phải là khí hiếm, trong khi ununquadi(nhóm nguyên tố 14) lại là một khí hiếm. == Thuộc tính vật lý == == Tham khảo == == Liên kết ngoài == Bài tuyên bố của Trường Đại học Ohio phát cho báo chí về các hợp chất của urani với các khí hiếm Khí hiếm – Neon, Krypton, Xenon – Tính chất, sử dụng và ứng dụng Agon (Ar) Tính chất, sử dụng và ứng dụng
1968.txt
1968 (số La Mã: MCMLXVIII) là một năm nhuận bắt đầu vào thứ Hai trong lịch Gregory. Bản mẫu:Tháng trong năm 1968 == Sự kiện == === Tháng 1 === 30 tháng 1: Quân giải phóng mở chiến dịch tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân Mậu Thân 1968 đợt 1. === Tháng 2 === 8 tháng 2: Hoa Kỳ và quân Sài Gòn phản công quân giải phóng. 12 tháng 2: Xảy ra thãm sát Phong Nhất và Phong Nhị. 25 tháng 2: Xảy ra thảm sát Hà My === Tháng 3 === 16 tháng 3: Xảy ra thảm sát Mỹ Lai 28 tháng 3: Kết thúc đợt tấn công Mậu Thân lân thứ 1. === Tháng 5 === 5 tháng 5: Quân giải phóng mở đợt tấn công Mâu Thân lần 2. 29 tháng 5: Manchester United đánh bại Benfica, vô địch European Cup. 30 tháng 5: Tại Pháp xảy ra biểu tình phản đối chính phủ trên toàn quốc === Tháng 6 === 1 tháng 6: được chọn là ngày khởi đầu tiến trình tham gia ký kết Hiệp ước Cấm phổ biến Vũ khí Hạt nhân 15 tháng 6: Kết thúc đợi tấn công Mậu Thân lần 2. 19 tháng 6: Nguyễn Văn Thiệu ban bố lệnh tổng động viên. === Tháng 7 === 1 tháng 7: Hoa Kỳ rút quân khỏi Khe Sanh. 25 tháng 7: Thường trực Quân uỷ Trung ương họp bàn kế hoạch tác chiến Đông Xuân 1968 - 1969 === Tháng 8 === 17 tháng 8: Quân giải phóng mở đợt tấn công Mậu Thân lần 3. 21 tháng 8: Liên Xô tiến quân vào Praha. === Tháng 9 === 30 tháng 9: Kết thúc đợt tiến công Mậu Thân lần 3. === Tháng 10 === 30 tháng 10: Tại Nam Kinh thông xe cầu nối liền 2 bờ Trường Giang. === Tháng 11 === 1 tháng 11: Hoa Kỳ tuyên bố ngừng ném bom Bắc Việt Nam == Sinh == 30 tháng 3: Céline Dion, nữ ca sĩ, nhạc sĩ nhạc pop người Pháp-Canada 5 tháng 8: Marine Le Pen, chính trị gia Pháp 12 tháng 10: Hugh Michael Jackman, nam ca sĩ, vũ công, diễn viên trong nhà hát, đồng thời là nhà sản xuất phim người Australia == Mất == 3 tháng 4: Yuri Alekseievich Gagarin, phi hành gia Liên Xô, người đầu tiên bay vào vũ trụ (sinh 1934). 1 tháng 6: Helen Keller, nhà văn, nhà hoạt động xã hội (sinh 1880). == Xem thêm == == Tham khảo ==
vịnh thái lan.txt
Vịnh Thái Lan (tên gọi cũ: Vịnh Chân Lạp, Vịnh Xiêm La) là một vịnh nằm ở biển Đông (thuộc Thái Bình Dương), được bao bọc bởi các quốc gia như Malaysia, Thái Lan, Campuchia và Việt Nam. Đỉnh phía bắc của vịnh này là vùng lõm Băng Cốc ở cửa sông Chao Phraya, gần Băng Cốc. Vịnh này có diện tích khoảng 320.000 km². Ranh giới của vịnh này được xác định theo đường nối từ mũi Cà Mau ở miền nam Việt Nam tới thành phố Kota Baru trên bờ biển Malaysia. Vịnh Thái Lan tương đối nông, độ sâu trung bình của nó chỉ khoảng 45 m, và độ sâu lớn nhất là 80 m. Điều này làm cho sự đối lưu nước tương đối chậm, và dòng chảy mạnh của nước các con sông làm cho nước vịnh tương đối nhạt (3,05–3,25%) và giàu trầm tích. Chỉ ở những vùng nước sâu thì nước biển có độ mặn cao hơn (3,4%) từ biển Đông chảy vào vịnh và chiếm lĩnh các chỗ trũng có độ sâu hơn 50 m. Các sông chính chảy vào vịnh này là Chao Phraya (bao gồm cả sông nhánh của nó là Ta Chin) và Maeklong ở vùng lõm Băng Cốc, và ở mức độ thấp hơn là sông Tapi vào vịnh Bandon ở phía tây nam của vịnh này. Ở vào giai đoạn đỉnh điểm của thời kỳ băng hà cuối cùng, thì vịnh Thái Lan không tồn tại do mực nước biển xuống thấp, nó khi đó là một phần của thung lũng sông Chao Phraya. Do nhiệt độ của vùng nhiệt đới là tương đối cao nên trong các vùng nước của vịnh Thái Lan có nhiều bãi đá san hô ngầm, vì thế nó tạo tiền đề cho một số nhà nghỉ ven biển phục vụ cho du khách có sở thích bơi lặn. Nổi tiếng nhất đối với du khách là đảo Ko Samui ở tỉnh Surat Thani, trong khi Ko Tao là trung tâm của du lịch bơi lặn ngầm. Vịnh này có chứa một số nguồn dầu mỏ và ở mức độ lớn hơn là khí đốt. == Tranh chấp lãnh thổ == Vịnh Thái Lan cũng là nơi diễn ra các mâu thuẫn về việc phân chia lãnh hải giữa các quốc gia Malaysia, Thái Lan, Việt Nam và Campuchia. Malaysia và Thái Lan đã đạt được các thỏa thuận chung nhằm hợp tác khai thác vùng lãnh thổ tranh chấp giữa hai quốc gia này. == Tham khảo ==
ôn gia bảo.txt
Ôn Gia Bảo (chữ Hán giản thể: 温家宝; phồn thể: 溫家寶; bính âm: Wēn Jiābǎo; sinh tháng 9 năm 1942) là Thủ tướng thứ sáu, người đứng đầu Quốc vụ viện nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa. Ông gia nhập Đảng Cộng sản Trung Quốc tháng 4 năm 1965. Tháng 9 năm 1967, ông tham gia công tác, tốt nghiệp khoa cấu tạo địa chất Học viện Địa chất Bắc Kinh (nay là Đại học Địa chất Trung Quốc), tham gia nghiên cứu sinh, công trình sư. Hiện ông là Ủy viên Thường vụ Bộ Chính trị Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc. == Tiểu sử == Ông sinh tháng 9 năm 1942, dân tộc Hán, người Thiên Tân. Từ năm 1960 đến 1965 học ngành tìm kiếm đo đạc địa chất khoáng sản, Học viện Địa chất Bắc Kinh. Năm 1965 đến năm 1968 làm nghiên cứu sinh ngành cấu tạo địa chất thuộc Học viện Địa chất Bắc Kinh. Năm 1968 đến 1978 làm kỹ thuật viên, cán sự chính trị viên của đội địa chất lực học thuộc Cục địa chất tỉnh Cam Túc. Năm 1978 đến năm 1979 đảm nhận chức đội phó kiêm thường vụ Đảng ủy Đội địa chất lực học Cục địa chất Cam Túc. Năm 1982 đến năm 1983 làm chủ nhiệm Phòng nghiên cứu chính sách Bộ Địa chất Khoáng sản. Năm 1983 đến năm 1985 đảm nhiệm chức Thứ trưởng Bộ Địa chất Khoáng sản. Năm 1985 đến 1986 làm Phó Chủ nhiệm Văn phòng trung ương Đảng. Năm 1986 đến năm 1987 làm Chủ nhiệm Văn phòng trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc. Năm 1987 đến 1992 ông là ủy viên Trung ương Đảng, dự khuyết Ban Bí thư, kiêm Chủ nhiệm Văn phòng trung ương Đảng. Năm 1992 đến 1993 là ủy viên dự khuyết Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, Chủ nhiệm Văn phòng trung ương. Năm 1998 đến năm 2002 là ủy viên Bộ chính trị, Phó Thủ tướng, Chủ nhiệm Văn phòng trung ương Đảng. Năm 2002 là ủy viên thường vụ Bộ chính trị, Phó Thủ tướng. Tháng 3 năm 2003 đảm nhiệm chức Thủ tướng Quốc vụ viện. Phu nhân của thủ tướng Ôn Gia Bảo là Trương Bồi Lợi. == Sự nghiệp == == Kinh tế == Ngày 24 tháng 8 năm 2009, Ôn Gia Bảo lên tiếng cảnh cáo là Trung Quốc đang phải đối phó với các vấn đề mới và Bắc Kinh sẽ tiếp tục duy trì việc kích thích kinh tế vì sự hồi phục vẫn còn yếu đuối. Ông cảnh giác mọi người là không nên "lạc quan mù quáng" dù rằng đã có một số cải thiện trong nền kinh tế, theo một bản thông cáo đưa ra trên trang nhà của chính phủ. Nền kinh tế "hiện đang phải đối phó với nhiều khó khăn và vấn đề mới," ông nói trong chuyến viếng thăm khu vực Ðông Nam Trung Quốc vừa chấm dứt ngày 24/8, 2009. "Hiện vẫn còn nhiều bất ổn và nhiều vấn đề không rõ ràng trước mặt và nền kinh tế vẫn còn trầm trọng dù rằng cả nền kinh tế thế giới và quốc gia đang có những thay đổi tích cực." Ảnh hưởng của một số biện pháp của chính phủ có thể tan biến trong khi các biện pháp cần có thời gian để tạo kết quả. Ông trong thời gian qua đã liên tiếp cảnh cáo rằng không nên có thái độ tự mãn nhưng điều này đi ngược với sự lạc quan ngày càng gia tăng trong giới phân tích gia, cho rằng Trung Quốc đang có những bước tiến lớn trong nỗ lực phục hồi. Ông cũng hứa sẽ duy trì chính sách đẩy mạnh nhu cầu của thị trường nội địa và tiếp tục đổ thêm tín dụng. Bắc Kinh lúc này thi hành chính sách hai năm trị giá khoảng 4 ngàn tỉ nhân dân tệ (chừng 586 tỉ Mỹ kim) có mục đích đẩy mạnh nhu cầu trong thị trường nội địa, đổ thêm tiền vào nền kinh tế qua việc chi tiêu nhiều hơn cho các kế hoạch xây cất công cộng. Nhờ sự chi tiêu này, mức phát triển kinh tế Trung Quốc đã lên đến 7,9% trong tam cá nguyệt vừa qua, so với mức 6,1% cho tam cá nguyệt trước đó. Nhiều nhà phân tích nói rằng Trung Quốc sẽ là cường quốc kinh tế đầu tiên ra khỏi cuộc khủng hoảng toàn cầu trầm trọng nhất từ thập niên 1930 đến nay. == Xem thêm == Hồ Cẩm Đào == Tham khảo == == Liên kết ngoài == Thủ tướng Ôn Gia Bảo xin lỗi dân
ben jonson.txt
Ben Jonson (tên đầy đủ: Benjamin Jonson, 11 tháng 6 năm 1572 – 6 tháng 8 năm 1637) – nhà viết kịch, nhà thơ Anh. Cùng với William Shakespeare và Christopher Marlowe, được coi là một trong những nhà viết kịch lớn nhất của thời đại Elizabeth. == Tiểu sử == Cũng giống như William Shakespeare, tiểu sử của Ben Jonson ít có những chi tiết xác thực mà chủ yếu mang tính chất truyền thuyết. Ta biết rằng Ben Jonson sinh ở Westminster, London. Bố mất trước khi Ben Jonson ra đời. Học ở trường St. Martin's Lane, sau đó là trường Westminster School, được William Camden đỡ đầu. Học xong trường Westminster Ben Jonson làm nghề thợ xây rồi làm lính, làm diễn viên và bắt đầu viết kịch. Không có nhiều tư liệu về những cuộc đời diễn viên của Ben Jonson. Người đời cho rằng ông không thành công với những vai diễn, bởi thế ông đóng kịch không lâu và sau đó chỉ sáng tác. Cuối năm 1597 vở kịch đầu tiên của Ben Jonson được dàn dựng, The Case Is Altered (Hoàn cảnh thay đổi). Tiếp đến là vở Every Man in his Humour (Mỗi người với tâm trạng của mình). Những bi kịch Sejanu, Catiline không có được những thành công vang dội trong lòng khán giả nhưng cho thấy kiến thức triết học cũng như lịch sử La Mã rất sâu rộng của Ben Jonson. Các vở Volpone (Volpone, 1606), Người phụ nữ im lặng (The Silent Woman, 1609) Nhà giả kim (The Alchemist, 1610), Hội chợ Bartholomew (Bartholomew Fair", 1614) – là những vở kịch thành công nhất của ông. Là một bậc thầy kịch nghệ cũng như ngôn ngữ (văn xuôi và thơ), Ben Jonson có sự ảnh hưởng đến nhiều thế hệ các nhà thơ, các nhà soạn kịch. Các nhà thơ, nhà soạn kịch như John Milton, Robert Herrick, Richard Lovelace, Sir John Suckling, John Dryden, Alexander Pop chịu sự ảnh hưởng sâu sắc của ông. Ben Jonson mất ngày 6 tháng 8 năm 1637 và mai táng tại nghĩa trang Westminster. Trên phần mộ của ông có khắc dòng chữ "O Rare Ben Johnson" (Ôi Ben Jonson không ai có thể sánh bằng). == Tác phẩm == Kịch: A Tale of a Tub, comedy (ca. 1596? revised? performed 1633; printed 1640) The Case is Altered, comedy (ca. 1597–98; printed 1609), with Henry Porter and Anthony Munday? Every Man in His Humour, comedy (performed 1598; printed 1601) Every Man out of His Humour, comedy (performed 1599; printed 1600) Cynthia's Revels (performed 1600; printed 1601) The Poetaster, comedy (performed 1601; printed 1602) Sejanus His Fall, tragedy (performed 1603; printed 1605) Eastward Ho, comedy (performed and printed 1605), a collaboration with John Marston and George Chapman Volpone, comedy (ca. 1605–06; printed 1607) Epicoene, hoặc the Silent Woman, comedy (performed 1609; printed 1616) The Alchemist, comedy (performed 1610; printed 1612) Catiline His Conspiracy, tragedy (performed and printed 1611) Bartholomew Fair, comedy (performed 31 tháng 10 năm 1614; printed 1631) The Devil is an Ass, comedy (performed 1616; printed 1631) The Staple of News, comedy (performed Feb. 1626; printed 1631) The New Inn, hoặc The Light Heart, comedy (licensed 19 tháng 1 năm 1629; printed 1631) The Magnetic Lady, hoặc Humors Reconciled, comedy (licensed 12 tháng 10 năm 1632; printed 1641) The Sad Shepherd, pastoral (ca. 1637, printed 1641), unfinished Mortimer his Fall, history (printed 1641), a fragment The Coronation Triumph, hoặc The King's Entertainment (performed 15 tháng 3 năm 1604; printed 1604); with Thomas Dekker A Private Entertainment of the King and Queen on May-Day (The Penates) (1 tháng 5 năm 1604; printed 1616) The Entertainment of the Queen and Prince Henry at Althorp (The Satyr) (25 tháng 6 năm 1603; printed 1604) The Masque of Blackness (6 tháng 1 năm 1605; printed 1608) Hymenaei (5 tháng 1 năm 1606; printed 1606) The Entertainment of the Kings of Great Britain and Denmark (The Hours) (24 tháng 7 năm 1606; printed 1616) The Masque of Beauty (10 tháng 1 năm 1608; printed 1608) The Masque of Queens (2 tháng 2 năm 1609; printed 1609) The Hue and Cry after Cupid, hoặc The Masque at Lord Haddington's Marriage (9 tháng 2 năm 1608; printed ca. 1608) The Speeches at Prince Henry's Barriers, hoặc The Lady of the Lake (6 tháng 1 năm 1610; printed 1616) Oberon, the Faery Prince (1 tháng 1 năm 1611; printed 1616) Love Freed from Ignorance and Folly (3 tháng 2 năm 1611; printed 1616) Love Restored (6 tháng 1 năm 1612; printed 1616) A Challenge at Tilt, at a Marriage (27 tháng 12 năm 1613/1 tháng 1 năm 1614; printed 1616) The Irish Masque at Court (29 tháng 12 năm 1613; printed 1616) Mercury Vindicated from the Alchemists (6 tháng 1 năm 1615; printed 1616) The Golden Age Restored (1 tháng 1 năm 1616; printed 1616) Christmas, His Masque (Christmas 1616; printed 1641) The Vision of Delight (6 tháng 1 năm 1617; printed 1641) Lovers Made Men, hoặc The Masque of Lethe, hoặc The Masque at Lord Hay's (22 tháng 2 năm 1617; printed 1617) Pleasure Reconciled to Virtue (6 tháng 1 năm 1618; printed 1641) The masque was a failure; Jonson revised it by placing the anti-masque first, turning it into: For the Honour of Wales (17 tháng 2 năm 1618; printed 1641) News from the New World Discovered in the Moon (7 tháng 1 năm 1620: printed 1641) The Entertainment at Blackfriars, hoặc The Newcastle Entertainment (May 1620?; MS) Pan's Anniversary, hoặc The Shepherd's Holy-Day (19 tháng 6 năm 1620?; printed 1641) The Gypsies Metamorphosed (3 and 5 tháng 8 năm 1621; printed 1640) The Masque of Augurs (6 tháng 1 năm 1622; printed 1622) Time Vindicated to Himself and to His Honours (19 tháng 1 năm 1623; printed 1623) Neptune's Triumph for the Return of Albion (26 tháng 1 năm 1624; printed 1624) The Masque of Owls at Kenilworth (19 tháng 8 năm 1624; printed 1641) The Fortunate Isles and Their Union (9 tháng 1 năm 1625; printed 1625) Love's Triumph Through Callipolis (9 tháng 1 năm 1631; printed 1631) Chloridia: Rites to Chloris and Her Nymphs (22 tháng 2 năm 1631; printed 1631) The King's Entertainment at Welbeck in Nottinghamshire (21 tháng 5 năm 1633; printed 1641) Love's Welcome at Bolsover (30 tháng 7 năm 1634; printed 1641) Các thể loại khác: Epigrams (1612) The Forest (1616), including To Penshurst A Discourse of Love (1618) Barclay's Argenis, translated by Jonson (1623) The Execration against Vulcan (1640) Horace's Art of Poetry, translated by Jonson (1640), with a commendatory verse by Edward Herbert Underwood (1640) English Grammar (1640) On My First Sonne (1616), elegy To Celia (Drink to Me Only With Thine Eyes), poem == Thư mục == Bentley G. Е. Shakespeare and Jonson. Their reputations in the seventeenth century compared, v. 1—2, Chi. Chute М. Ben Jonson of Westminster. N. Y., 1953. Knoll R. Е. Ben Jonson’s plays: An introduction. Lincoln: Univ. of Nebraska press, 1964. — 206 p. Herford, Simpson. The Life of Ben Johnson. 1925. Mésières. Prèdècesseurs et contemporains de Shakespeare. Smith, Gregory. Ben Johnson. L., 1919 (в серии «Men of Letters»); L.: Macmillan, 1926. — 310 p. Swinburne A. A Study of Ben Johnson. Symonds. Ben Johnson, L., 1889 Tannenbaum S. A. Ben Jonson: A concise bibliography. N. Y., 1938. == Một số bài thơ == == Tham khảo == == Liên kết ngoài == Video interview with scholar David Bevington The Collected Works of Ben Jonson Poems by Ben Jonson at PoetryFoundation.org Các tác phẩm của Ben Jonson tại Dự án Gutenberg Works of Ben Jonson Ben Jonson at Find-A-Grave Audio: Robert Pinsky reads "His Excuse For Loving" by Ben Jonson Audio: Robert Pinsky reads "My Picture Left in Scotland" by Ben Jonson
boeing 787 dreamliner.txt
Boeing 787 Dreamliner (hay Boeing Y2) là một loại máy bay phản lực hai động cơ phản lực, cỡ vừa, thân rộng, hiện đang được chế tạo bởi hãng Boeing's Commercial Airplanes division và đã đi vào hoạt động thương mại vào tháng 10 năm 2011, do hãng All Nippon Airways sử dụng. Máy bay có sức chở từ 210-330 hành khách tùy theo biến thể và cấu hình bố trí chỗ ngồi. Boeing đã tuyên bố rằng máy bay này có hiệu suất nhiên liệu cao hơn các loại máy bay Boeing khác trước đó. Nó cũng là chiếc máy bay lớn đầu tiên sử dụng vật liệu composite cho phần lớn cấu trúc xây dựng lên nó. Dòng máy bay này đã bị một loạt sự cố ở Hoa Kỳ và Nhật, điển hình là sự cố một chiếc 787 Dreamliner của hãng Japan Airlines bất ngờ bốc cháy khi đang đậu ở sân bay quốc tế Boston. Dòng máy bay này đã bị Cục hàng không Dân dụng Hoa Kỳ yêu cầu đình bay vì lý do an toàn. Hai hãng hàng không hàng đầu Nhật Bản là All Nippon Airways (ANA) và Japan Airlines cũng quyết định tạm dừng sử dụng dòng máy bay này. Ngày 16 tháng 1 năm 2013, Cục quan Hàng không Liên bang Mỹ đã yêu cầu hãng Boeing phải chứng minh được rằng, loại pin ion lithium sử dụng trên 787 Dreamliner là an toàn và phù hợp với các tiêu chuẩn. Hầu hết các quốc gia khác trên thế giới đều đi theo Cục quan Hàng không Liên bang Mỹ trong các vấn đề về an toàn hàng không. == Bối cảnh == Cuối thập niên 1990, Boeing bắt đầu xem xét một thay thế cho loại 767 khi tình hình tiêu thụ đã yếu đi do cạnh tranh của loại máy bay do Airbus sản xuất là A330-200. Khi sự tiêu thụ Boeing 747-400 cũng chậm lại, công ty này cũng đã kiến nghị hai loại máy bay mới: Sonic Cruiser và 747X. Dòng Sonic Cruiser sẽ có tốc độ cao hơn (khoảng 0,98 Mach) trong khi mức độ đốt nhiên liệu ngang với các máy bay hiện hữu là 767 và A330. Chiếc 747X, cạnh tranh với Airbus A380, sẽ nới thêm chiều dài của chiếc 747-400 và cải tiến tầm năng bằng cách chế tạo cánh bằng hỗn chất composite "siêu tới hạn" (supercritical). Thị trường có thái độ quan tâm hờ hững đối với loại 747X nhưng dòng Sonic Cruiser thì đã có một triển vọng sáng sủa hơn. Nhiều hãng hàng không lớn ở Hoa Kỳ, bao gồm hãng Continental, ban đầu đã tỏ ra nhiệt tình đối với ý tưởng Sonic Cruiser, dù họ tỏ ra quan ngại về chi phí vận hành. Bằng cách giảm thời gian đi lại, dòng máy bay này sẽ có thể tăng sự thỏa mãn của khách hàng và tăng hiệu suất sử dụng máy bay. Vụ Tấn công 11 tháng 9 năm 2001 đã làm đảo lộn thị trường hàng không toàn cầu. Các hãng hàng không không thể biện hộ cho chi phí vốn lớn và việc giá dầu mỏ gia tăng đã khiến họ quan tâm đến hiệu quả hơn là tốc độ. Các hãng hàng không bị ảnh hưởng nặng nhất ở Hoa Kỳ đã được Boeing xem là các khách hàng khả dĩ nhất của dòng Sonic Cruiser. Boeing đã chào một lựa chọn sử dụng khung máy bay nhằm tăng tốc độ hoặc tăng hiệu quả nhưng chi phí cho dự án khung máy bay này đã khiến cầu giảm sút hơn. Boeing đã hủy bỏ 747X một khi Airbus bắt đầu sản xuất máy bay khổng lồ Airbus A380, và chuyển hướng qua một sản phẩm thay thế, đó là 7E7. Cho đến ngày 28 tháng 1 năm 2005, các hình ảnh ý tưởng được công bố ban đầu của mẫu 7E7 cho thấy một thiết kế với bề mặt có độ cong cao. Vào ngày 26 tháng 4 năm 2005, một năm sau ngày công bố chương trình, dáng vẻ bề ngoài của thiết kế 7E7 đã được ổn định, với một mũi kém thon hơn và một cánh đuôi đứng (vertical stabilizer) khác thường hơn. Mẫu cũng bắt đầu được gọi với tên gọi 787. Boeing đã hoàn thành việc lắp ráp cuối cùng chiếc 787 đầu tiên và chiếc này đã lăn bánh ra buổi lễ vào ngày 8 tháng 7 năm 2007. Ngay từ ngày 26 tháng 4 năm 2004, hãng hàng không Nhật Bản All Nippon Airways (ANA) đã trở thành khách hàng đầu tiên của 787, lúc đó vẫn còn mang tên 7E7, bằng cách công bố một đơn hàng chắc chắn mua 50 chiếc với thời gian giao hàng bắt đầu từ tháng 4 năm 2008. Đơn hàng của ANA bao gồm 30 chiếc 787-3, 290–330 chỗ, máy bay nội địa một hạng và 20 chiếc 787-8, đường dài, 210–250 chỗ ngồi, hai hạng ghế cho các tuyến khu vực và quốc tế như Tokyo Narita–Bắc Kinh. Loại máy bay này sẽ cho phép ANA mở các tuyến mới đến các thành phố cỡ vừa mà trước đây chưa được phục vụ như Denver và Montreal. Là một thông lệ cho các khách hàng khởi đầu, người ta đồn đại rằng ANA đã được giảm giá từ 40-50% giá bán niêm yết. Các dòng 787-3 và 787-8 sẽ là các biến thể cùng với 787-9 đi vào hoạt động năm 2010, bất chấp các đồn đại trong ngành rằng sẽ có chậm trễ do các đơn hàng đối với 787-3 và 787-8 đã bán hết các lô hàng trong đợt sản xuất ban đầu. Boeing ban đầu báo giá biến thể 787-8 với giá 120 triệu dollar Mỹ, một con số thấp làm kinh ngạc ngành hàng không và kể từ đó hãng đã hai lần tăng giá. Đến thời điểm 2007, giá niêm yết là 146–151,5 triệu USD đối với 787-3, 157–167 triệu USD đối với 787-8 và 189–200 triệu USD đối với 787-9. Các đơn hàng đã thông báo khách hàng và các cam kết mua 787 đã đạt mức 237 chiếc trong năm bán hàng đầu tiên, với các đơn hàng chắc chắn đạt con số 677 vào thời điểm sơ diễn của 787 vào ngày 8 tháng 7 năm 2007 và lâu trước khi máy bay này đi vào hoạt động (EIS). Điều này khiến cho chiếc Boeing 787 là loại máy bay thân rộng được tiêu thụ nhanh nhất từ trước đến nay trước khi đi vào sử dụng. Cập nhật mới nhất tính đến tháng 3 năm 2008 là số đơn đặt hàng đã lên đến 885 chiếc, với 857 chiếc chắc chắn. == Triển khai dự án == Việc thay thế cho dự án Sonic Cruiser đã được mệnh danh là 7E7 (với một tên mã triển khai Y2.) Chữ "E" được người ta cho rằng viết tắt của nhiều thứ khác nhau, tùy theo người xem. Đối với vài người, nó là viết tắt của chữ "hiệu quả" (efficiency), đối với người khác thì nó là "thân thiện với môi trường" (environmentally friendly). Tóm lại, Boeing tuyên bố nó chỉ là viết tắt của "Tám" (Eight), sau khi máy bay này cuối cùng đã được đặt tên lại là "787". Máy bay 787 sử dụng công nghệ như công nghệ đã đề xuất cho Sonic Cruiser bằng một cấu hình thông thường hơn (xem Features). Boeing tuyên bố chiếc 787 sẽ tiết kiệm ít nhất 20% nhiên liệu hơn các máy bay cạnh tranh hiện hữu. 1/3 hiệu suất thu được là do động cơ mang lại, 1/3 nữa từ những cải tiến khí động lực và việc gia tăng sử dụng các vật liệu composite nhẹ hơn và 1/3 cuối cùng mang đến việc tăng hiệu suất nhiên liệu là các hệ thống tiên tiến. Nhân tố đóng góp đáng kể nhất cho hiệu suất là kiến trúc điện thay thế bleed air và sức thủy lực bằng các máy nén và bơm chạy điện. Công nghệ từ Sonic Cruiser và 787 sẽ được sử dụng như một phần của dự án Boeing thay thể cả dây chuyền sản phẩm máy bay, một nỗ lực được gọi là Yellowstone Project (mà 787 là giai đoạn 1 của nó). Boeing đã lựa chọn hai loại động cơ là General Electric GEnx và Rolls-Royce Trent 1000, để đẩy chiếc Boeing 787, cả hai đều được lắp đặt ở trong vỏ động cơ. Điều đáng kể này đã bỏ rơi Pratt & Whitney, thường tham gia cung cấp cho thị trường, không có khả năng tạo ra các đông cơ cho các khách hàng của 787. Theo giám đốc điều hành UTC George David, Pratt & Whitney "không thể tạo ra sản phẩm kinh doanh cho động cơ đó." Cũng theo các nguồn tin trong ngành, Boeing cũng có thể đã muốn dựa vào các phiên bản cải tiến của các loại động cơ hiện hữu hơn là lựa chọn có rủi ro cao hơn từ một loại động cơ hoàn toàn mới từ Pratt & Whitney. Lần đầu tiên trong lịch sử hàng không thương mại, cả hai loại động cơ sẽ có một giao diện tiêu chuẩn với máy bay này, cho phép 787 có thể đồng thời hợp với một động cơ GE hoặc Rolls-Royce. Tính có thể thay thế lẫn nhau của động cơ khiến cho 787 là một tài sản linh hoạt hơn cho các hãng hàng không, cho phép các hãng có thể thay đổi dễ dàng từ một nhà sản xuất động cơ này sang nhà sản xuất động cơ khác nếu cần. Thị trường động cơ cho 787 ước tính sẽ có trị giá 40 tỷ USD trong 25 năm tới. Động cơ ban đầu cho ba loại biến thể hiện nay của 787 là Rolls-Royce Trent 1000. Việc cho ra đời một máy bay thương mại mới có thể dẫn đến các bình phẩm cay độc từ các đối thủ cạnh tranh. Sự hoài nghi của Boeing đối với Airbus A380 và các nhận xét chế nhạo của Airbus đối với Sonic Cruiser là các ví dụ gần đây. 787 cũng không phải là trường hợp ngoại lệ khi John Leahy của Airbus đã cố gắng bác lại tất cả các yêu sách của Boeing. Leahy công khai chỉ trích việc Boeing sử dụng composite với quy mô lớn trong 787 là "hấp tấp và lố bịch" dù Boeing đã chế tạo và thử nghiệm bộ phận làm bằng composite đầu tiên trong khi kiểm tra ý tưởng Sonic Cruiser gần 5 năm trước, giúp cho 787 là một sản phẩm thanh lịch đáng kể. Airbus đã đưa ra dòng máy bay cạnh tranh A350 sử dụng dẫn xuất của động cơ phản lực cánh quạt đầy Rolls Royce được phát triển cho 787. 787 đã trải qua thử nghiệm trong ống khí động tại Transonic Wind Tunnel của Boeing, QinetiQ's five-meter wind tunnel at Farnborough, UK, and NASA Ames Research Center's wind tunnel, as well as at the French aerodynamics research agency, ONERA. Boeing đã công bố hãng đang có khả năng phát triển một phiên bản "kéo dài", 787-10, với sức chứa ghế ngồi từ 290-310 ghế. Phiên bản đề xuất này được dành để cạnh tranh với dòng máy bay Airbus A350-900. Chiếc 787-10 sẽ thany thế 777-200ER trong catalog hiện nay của Boeing và có thể cạnh tranh lại Airbus A330-300 và A340-300. Emirates Airlines và Qantas đã bày tỏ mối quan tâm đối với các phiên bản biến thể có thể đưa vào vận hành năm 2013 như thế. Biến thể này vẫn chưa được Boeing chính thức công bố nhưng Mike Bair, người đứng đầu chương trình 787 đã tuyên bố rằng "Đó không thành vấn đề, nhưng chúng tôi đang sắp thực hiện chương trình… Phiên bản 787-10 sẽ là một phiên bản kéo dài của 787-9 và sẽ phải hy sinh về mặt tầm xa để bổ sung thêm ghế và sức chứa hàng vận chuyển." Boeing đã cho công diễn chiếc 787 lần đầu vào ngày 8 tháng 7 năm 2007, ngày trung với tên của 787 theo cách ghi lịch của Hoa Kỳ là tháng-ngày-năm (7/08/07). == Các thông số kỹ thuật == == Tham khảo == == Liên kết ngoài ==
cung điện westminster.txt
51°29′57,5″B 00°07′29,1″T Cung điện Westminster, cũng gọi là Tòa nhà Nghị viện, ở London, Anh là nơi Lưỡng viện Quốc hội (Viện Quý tộc và Viện Thứ dân) nhóm họp. Lâu đài nằm ở bờ Bắc sông Thames, thuộc Thành phố Westminster, gần các tòa nhà chính phủ ở Whitehall. Phần cổ nhất của tòa cung điện là Westminster Hall, vẫn còn tồn tại, có niên đại từ 1097. Cung điện ban đầu là nơi ở của vua nhưng không có vị vua nào ở đó từ thế kỷ 16. Phần lớn cấu trúc của cung điện này được xây từ thế kỷ 19 khi nó được xây lại sau một trận hỏa hoạn thiêu rụi hầu như hoàn toàn năm 1834. Kiến trúc sư chịu trách nhiệm xây lại cung điện là Sir Charles Barry và Augustus Welby Pugin. Phần nhà Hạ viện được xây lại vào thập niên 1940 vì đã bị đánh bom trong Chiến tranh thế giới thứ hai. Tòa nhà là một ví dụ của phong cách kiến trúc Gothic revival. Một trong những nét nổi bật của cung điện là tháp chuông đồng hồ Big Ben. Cung điện có 1100 phòng, các phòng quan trọng nhất là phòng của Hạ viện và Thượng viện. Cung điện cũng có phòng ủy ban, hành lang, phòng ăn, bar, phòng tập thể dục. Đây là nơi cử hành các đại lễ quốc gia, nổi bật nhất là lễ Khai mạc Quốc hội. Tòa nhà này gắn liền với lưỡng viện quốc hội, do đó, người ta dùng từ "Westminster" để chỉ Quốc hội. == Tham khảo ==
hạch bạch huyết.txt
Hạch bạch huyết hay hạch lympho là một trong vô số các cấu trúc trơn, hình bầu dục dẹp, rải rác dọc theo các mạch bạch huyết, là một phần của hệ bạch huyết. Các hạch bạch huyết có mặt ở khắp cơ thể, tập trung nhiều ở một số vùng như cổ, nách, bẹn. Hạch bạch huyết đóng vai trò quan trọng đối với hoạt động của hệ miễn dịch. Chúng chứa các tế bào bạch huyết và có chức năng làm bộ lọc hoặc bẫy giữ lại các phần tử ngoại lai, có thể bị viêm và sưng khi làm nhiệm vụ này. Các hạch bạch huyết cũng có ý nghĩa quan trọng trong việc chẩn đoán bệnh. Chúng nóng hoặc sưng lên trong những tình trạng khác nhau, từ nhẹ như viêm họng đến nguy hiểm như ung thư. Ở bệnh nhân ung thư, tình trạng của hạch bạch huyết đáng chú ý đến mức nó được dùng để xác định ung thư đang ở giai đoạn nào. == Cấu trúc == Hạch bạch huyết có hình bầu dục và có kích thước từ vài mm đến khoảng 1–2 cm. Mỗi hạch bạch huyết được bao quanh bởi một lớp vỏ dạng sợi, cái mà mở rộng bên trong hạch bạch huyết để hình thành sợi xương. Hạch bạch huyết được chia thành vỏ ngoài và miền tuỷ ở bên trong. Vỏ bao bọc xung quanh miền tuỷ trừ nơi tuỷ trực tiếp tiếp xúc với rốn hạt. Sợi lưới mỏng của mô liên kết dạng lưới, và sợi chun hình thành một mạng lưới hỗ trợ bằng chất reticulin bên trong hạch. Tế bào B, chủ yếu được tìm thấy ở vỏ ngoài nơi chúng tụ tập lại thành tế bào nang B ở nang lympho và tế bào T chủ yếu ở cận vỏ. Hạch bạch huyết được chia thành các khoang gọi là nang bạch huyết, mỗi nang có một vùng vỏ tạo thành từ tế bào nang B, một vùng cận vỏ tế bào T, và một vùng đế của nang ở miền tuỷ. Số lượng và thành phần của nang có thể thay đổi đặc hiệu khi gặp phải kháng nguyên, khi chúng hình thành tâm phôi. Các nơi khác trong hạch, đôi khi có tế bào bạch cầu. Một phần của mạng lưới có tế bào hình sao vùng nang ở tế bào nang B và tế bào lưới nguyên bào sợi ở vỏ tế bào T. Mạng tế bào lưới không chỉ giúp hỗ trợ cấu trúc, mà còn là bề mặt kết dính của tế bào tua, đại thực bào và tế bào lympho. Nó cho phép trao đổi vật chất với máu qua tiểu tĩnh mạch nội mô cao và cung cấp yếu tố phát triển và tuần hoàn cần thiết cho việc kích hoạt và phát triển tế bào miễn dịch. == Y học == === Ung thư === Hạch bạch huyết có thể bị ảnh hưởng bởi ung thư mô lymphô, và ung thư cấp độ hai ảnh hưởng đến các bộ phận khác trên cơ thể. Ung thư mô lymphô cấp độ một gọi là Ung thư hạch bạch huyết bao gồm Ung thư hạch bạch huyết Hodgkin và Ung thư hạch bạch huyết không Hodgkin. Ung thư hạch bạch huyết có nhiều triệu chứng từ những vết sưng không đau phát triển chậm trong thời gian dài đến vết sưng phát triển nhanh và lớn trong vòng vài ngày hoặc vài tuần. Ung thư hạch bạch huyết được chữa trị bởi bác sĩ chuyên khoa huyết học và bác sĩ khoa ung thư học == Hình ảnh == == Tham khảo == == Liên kết ngoài == Hạch bạch huyết
tokushima.txt
Tokushima (Nhật: 徳島県 (Đức Đảo Huyện), Tokushima-ken) là một tỉnh của Nhật Bản nằm ở đảo Shikoku. Trung tâm hành chính là thành phố Tokushima. == Địa lý == == Lịch sử == == Hành chính == === Thành phố === Có 8 thành phố đặt ở tỉnh Tokushima. Anan Awa Komatsushima Mima Miyoshi Naruto Tokushima (thủ phủ) Yoshinogawa Thị trấn và làng mạc ở mỗi gun: === Những vụ sáp nhập === == Kinh tế == == Nhân khẩu == == Văn hóa == == Thể thao == Các đội thể thao thuộc tỉnh Tokushima. Đội bóng đá Tokushima Vortis Đội bóng chày Tokushima Indigo Socks == Du lịch == Naruto whirlpools Awa Odori Kaikan Hal Tokushima Handcraft Village Iya Valley Oboke Valley Koboke Valley == Biểu tượng của tỉnh == == Các vấn đề liên quan == Lễ hội nhảy Awa == Tham khảo == == Liên kết ngoài == Website chính thức của tỉnh.
tháng năm.txt
Tháng năm là tháng thứ năm theo lịch Gregorius, có 31 ngày. == Những sự kiện trong tháng 5 == 1 tháng 5 - Ngày Quốc tế Lao động 3 tháng 5 - Ngày Tự do Báo chí thế giới (World Press Freedom Day) theo Liên Hiệp Quốc 15 tháng 5 - Ngày thành lập Đội Thiếu niên Tiền phong Hồ Chí Minh 19 tháng 5 - Ngày sinh của Hồ Chí Minh 7 tháng 5 năm 1954 - Kết thúc chiến dịch Điện Biên Phủ 13 tháng 5 năm 1955 - Giải phóng Hải phòng 29 tháng 5 - Ngày Quốc tế Gìn giữ hòa bình Liên Hiệp Quốc (International Day of United Nations Peacekeepers) 31 tháng 5 - Ngày Quốc tế không thuốc lá. == Xem thêm == Những ngày kỷ niệm == Tham khảo ==
đền solomon.txt
Đền thờ Solomon, còn được gọi là Đền thờ Thứ nhất, là một ngôi đền ở thành Jerusalem thời cổ đại, nằm trên một ngọn đồi có tên là Núi Zion hay Núi Đền, được cho là xây dựng từ thời vua Solomon (thế kỉ 10 trước Công nguyên) để thờ Thượng đế của người Do Thái và bị phá hủy bởi vua Nebuchadnezzar II sau trận vây hãm thành Jerusalem năm 537 trước Công nguyên. Ngoài các bằng chứng văn học, không có bất cứ bằng chứng khảo cổ đáng tin cậy nào về sự tồn tại của ngôi đền này bởi mọi hoạt động khai quật ở Núi Đền bị hạn chế do tính nhạy cảm về tôn giáo và chính trị của di chỉ này. == Tham khảo == De Vaux, Roland (1961). John McHugh, biên tập. Ancient Israel: Its Life and Institutions. NY: McGraw-Hill. Draper, Robert (tháng 12 năm 2010). “Kings of Controversy”. National Geographic: 66–91. ISSN 0027-9358. Truy cập ngày 18 tháng 12 năm 2010. Finkelstein, Israel; Neil Asher Silberman (2006). David and Solomon: In Search of the Bible's Sacred Kings and the Roots of the Western Tradition. Free Press. ISBN 0-7432-4362-5. Finkelstein, Israel; Neil Asher Silberman. The Bible Unearthed: Archaeology's New Vision. Glueck, Nelson (tháng 2 năm 1944). “On the Trail of King Solomon's Mines”. National Geographic 85 (2): 233–256. ISSN 0027-9358. Goldman, Bernard (1966). The Sacred Portal: a primary symbol in ancient Judaic art. Detroit: Wayne State University Press. It has a detailed account and treatment of Solomon's Temple and its significance. Hamblin, William; David Seely (2007). Solomon's Temple: Myth and History. Thames and Hudson. ISBN 0-500-25133-9. Mazar, Benjamin (1975). The Mountain of the Lord. NY: Doubleday. ISBN 0-385-04843-2. Young, Mike. “Temple Measurements and Photo recreations”. == Đọc thêm == Tài liệu hiện đại Margaret Barker, "Temple Theology", London: SPCK 2004 (ISBN 028105634X) Andrew G. Vaughn, Ann E. Killebrew (eds), "in Bible and Archaeology: The First Temple Period" (Society of Biblical Literature, 2003) Marty E. Stevens, "Temples, Tithes and Taxes: The Temple and the Economic Life of Ancient Israel (Hendrickson, 2006) William G. Dever, "What Did The Biblical Writers Know and When Did They Know It?" (Eerdman's, 2001) Floyd Nolen Jones, "The Chronology Of The Old Testament" (New Leaf Publishing Group, 1993–2004) tài liệu sau 1945 Elizabeth Bloch-Smith, Who is the King of Glory?: Solomon's Temple and its Symbolism in Michael D. Coogan, J. Cheryl Exum, Lawrence E. Stager (eds), "Scripture and Other Artifacts: Essays in Honor of Philip J. King" (Westminster John Knox, 1994) Gershon Galil, "The Chronology of the Kings of Israel and Judah" (Brill, 1996) Joseph Blenkinsopp, "Sage, Priest, Prophet: Religious and Intellectual Leadership in Ancient Israel" (Westminster John Knox Press, 1995) Jeremy Hughes, "Secrets of the times: myth and history in biblical chronology" (Sheffield Academic Press, 1990) Edwin R. Thiele, "The Mysterious Numbers of the Hebrew Kings" (Zondervan, 1983) Watson E. Mills, Roger Aubrey Bullard (eds), "Mercer dictionary of the Bible" (Mercer University Press, 1990) Tài liệu trước 1945 Paine, T. O. (1870). S olomon's temple: Including the tabernacle; first temple; house of the king, or house of the forest of Lebanon; idolatrous high places; the city on the mountain... the oblation of the holy portion; and the last temple. Boston: H.H. & T.W. Carter
giải vô địch bóng đá nữ u-17 châu phi.txt
Giải vô địch bóng đá nữ U-17 châu Phi tiếng Anh: African U-17 Cup of Nations for Women) là giải bóng đá nữ do Liên đoàn bóng đá châu Phi (CAF) tổ chức dành cho các đội tuyển bóng đá nữ U-17 quốc gia tại châu Phi, đóng vai trò là vòng loại Giải vô địch bóng đá nữ U-17 thế giới. Giải tổ chức lần đầu tiên vào năm 2008 với 12 đội tham gia nhưng rất nhiều đội bỏ cuộc trước khi các trận đấu diễn ra, điều thường xuyên diễn ra trong lịch sử của giải. == Kết quả == == Tham khảo == == Liên kết ngoài == Vòng loại Giải U-17 thế giới 2016 KV châu Phi
biên hòa.txt
Biên Hòa là thành phố công nghiệp và là tỉnh lỵ của tỉnh Đồng Nai, nằm ở khu vực Đông Nam Bộ, Việt Nam. Thành phố Biên Hòa là đô thị loại I, là đầu mối giao thông lớn trong vùng kinh tế phía Nam, hiện là thành phố trực thuộc tỉnh có dân số đông nhất cả nước với hơn 1 triệu người, có dòng sông Đồng Nai chảy qua, cách trung tâm Thành phố Hồ Chí Minh 30 km, cách thành phố Vũng Tàu 90 km. == Điều kiện tự nhiên == Thành phố Biên Hòa nằm ở phía tây tỉnh Đồng Nai, phía Bắc giáp huyện Vĩnh Cửu, phía Nam giáp huyện Long Thành, phía Đông giáp huyện Trảng Bom, phía Tây giáp Thị xã Tân Uyên, thị xã Dĩ An tỉnh Bình Dương và Quận 9 - Thành phố Hồ Chí Minh. Do chịu ảnh hưởng của khí hậu nhiệt đới gió mùa chính vì vậy thời tiết thành phố Biên Hòa chia thành 2 mùa rõ rệt gồm mùa mưa và mùa khô. Mùa mưa thường bắt đầu từ tháng 5 và kéo dài đến tháng 10, mùa khô thường bắt đầu từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau. Nhiệt độ trung bình trong năm từ khoảng 25,4 °C đến 27,2 °C. == Lịch sử == Đại Nam nhất thống chí của Quốc sử quán nhà Nguyễn cho là đất Biên Hòa xưa là lãnh thổ nước Bà Lỵ (Bà Lị) và nước Thù Nại, những tiểu quốc cổ nằm ở phía Đông Nam nước Chiêm Thành, nay là vùng đất Bà Rịa - Vũng Tàu và Đồng Nai. Về sau, khi Chân Lạp lớn mạnh đều bị Chân Lạp thôn tính. Trước khi bị thực dân Pháp đô hộ, Biên Hòa là trung tâm của toàn bộ miền Nam với tên gọi Trấn Biên. Năm 1808, dinh Trấn Biên đổi tên thành Trấn Biên Hòa. Năm 1832, Trấn Biên Hòa được đổi thành tỉnh Biên Hòa. Năm 1975, tỉnh Biên Hòa bị giải thể và thành lập tỉnh Đồng Nai, tỉnh lỵ đặt tại thị xã Biên Hòa. Năm 1976, Thị xã Biên Hòa được nâng cấp thành thành phố Biên Hòa - đô thị loại 3, trực thuộc tỉnh Đồng Nai, gồm 11 phường: An Bình, Hòa Bình, Quang Vinh, Quyết Thắng, Tam Hiệp, Tam Hòa, Tân Mai, Tân Tiến, Thanh Bình, Thống Nhất, Trung Dũng và 9 xã: Bửu Hòa, Bửu Long, Hiệp Hòa, Hóa An, Long Bình Tân, Tân Hạnh, Tân Phong, Tân Thành, Tân Vạn. Ngày 23 tháng 10 năm 1978, chuyển 2 xã Hố Nai 1 và Hố Nai 2 thuộc huyện Thống Nhất về thành phố Biên Hòa quản lý và đổi thành 2 phường có tên tương ứng. Ngày 17 tháng 1 năm 1984, chia phường Hố Nai 2 thành 2 phường: Tân Biên và Tân Hòa; hợp nhất 2 xã: Bửu Long và Tân Thành thành xã Tân Bửu; chuyển 2 xã Tân Phong và Tân Vạn thành 2 phường có tên tương ứng. Ngày 28 tháng 12 năm 1984, chuyển xã Bửu Hòa thành phường Bửu Hòa. Ngày 8 tháng 6 năm 1988, chia phường Tam Hòa thành 2 phường: Tam Hòa và Bình Đa. Ngày 10 tháng 5 năm 1993, thành phố Biên Hòa được công nhận là đô thị loại 2. Ngày 29 tháng 8 năm 1994, chuyển xã Tân Bửu thành phường Bửu Long; chuyển xã Long Bình Tân thành phường Long Bình Tân; chia phường Tam Hòa thành 2 phường: Tam Hòa và Long Bình; thành lập 2 phường Tân Hiệp và Trảng Dài. Năm 1996, đổi tên phường Hố Nai 1 thành phường Hố Nai. Ngày 5 tháng 2 năm 2010, thành phố Biên Hòa mở rộng địa giới hành chính và sáp nhập thêm 4 xã An Hòa, Long Hưng, Phước Tân, Tam Phước từ huyện Long Thành. Ngày 30 tháng 12 năm 2015, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 2488/QĐ-TTg công nhận Biên Hòa là đô thị loại I trực thuộc tỉnh Đồng Nai. Như vậy tính đến thời điểm này, Biên Hòa là đô thị loại I thứ hai của khu vực Đông Nam Bộ, sau thành phố Vũng Tàu. == Hành chính == Ghi chú: Nguồn từ Bộ TTTTĐơn vị có diện tích lớn nhất là xã Tam Phước với 42,76 km², nhỏ nhất là Phường Thanh Bình với 0,35 km² Đơn vị có dân số cao nhất là phường Long Bình với 89.990 người, thấp nhất là xã Long Hưng với 5.900 người Đơn vị có mật độ dân số cao nhất là phường Trung Dũng với 37.048 người/km², thấp nhất là xã Long Hưng 0.503 người/km² == Dân cư == Dân số năm 2015 ước có 1.104.495 người, mật độ 4.182 người/km². Theo ước tính tháng 10 năm 2013, dân số thành phố khoảng 1 triệu người (chưa tính khoảng 300.000 công nhân đang làm việc trong các khu công nghiệp). Mật độ dân số 3.788 người/Km², Nguyên nhân của sự gia tăng dân số thành phố là do số dân di cư rất lớn từ các nơi khác đến để làm tại các khu công nghiệp. Thành phần dân cư thành phố Biên Hòa phần lớn là người Kinh, ngoài ra còn có một bộ phận người gốc Hoa sinh sống chủ yếu ở xã Hiệp Hòa và phường Thanh Bình. Có thể nói dân cư thành phố Biên Hòa quá đông từ các tỉnh phía Bắc đến tận miền Tây Nam Bộ tập ở đây rất đông và khó kiểm soát. Số người có tôn giáo là rất lớn, chủ yếu là 4 tôn giáo (Phật giáo, Thiên Chúa giáo, Tin Lành và Hòa Hảo) và các tôn giáo khác; trong đó đạo Thiên Chúa giáo tập trung đông ở các phường, xã (Tân Mai, Hố Nai, Tam Hiệp, Tân Hòa, Tân Biên...). Hiện nay, thành phố Biên Hòa là thành phố thuộc tỉnh có dân số cao nhất Việt Nam và là thành phố có dân số đô thị cao thứ 4 Việt Nam (sau TP.Hồ Chí Minh, Hà Nội và Hải Phòng). == Kinh tế == Biên Hòa có tiềm năng to lớn để phát triển để phát triển công nghiệp với nền đất lý tưởng, thuận lợi cho việc xây dựng kết cấu hạ tầng khu công nghiệp, có nguồn tài nguyên khoáng sản với trữ lượng khai thác đáng kể, nhất là tài nguyên khoáng sản về vật liệu xây dựng, thuận lợi về nguồn cung cấp điện, có nguồn nước dồi dào đủ cung cấp nhu cầu sản xuất và sinh hoạt (sông Đồng Nai), ngoài ra nguồn nhân lực với trình độ cao đã tăng cường nguồn lực con người cho yêu cầu phát triển công nghiệp hóa - hiện đại hóa.Về cơ cấu kinh tế, năm 2015 công nghiệp - xây dựng chiếm 61,68%; dịch vụ chiếm 38,17% và nông lâm nghiệp chiếm 0,15% === Công nghiệp === Thành phố này cũng là trung tâm công nghiệp quan trọng của cả nước. Biên Hòa có thế mạnh về công nghiệp và cũng là nơi đi tiên phong trong lĩnh vực Công nghiệp đầu tiên của cả nước với việc hình thành sớm KCN Biên Hòa I (năm 1967) - Khu kĩ nghệ Biên Hòa - Khu công nghiệp đầu tiên của cả nước sau ngày đất nước Thống Nhất. Thành phố Biên Hòa hiện có 5 khu công nghiệp được Chính phủ phê duyệt đã đi vào hoạt động với cơ sở hạ tầng được xây dựng đồng bộ: diện tích hơn 2000 ha Khu công nghiệp Biên Hòa 1 (Chuẩn bị chuyển thành Khu Trung tâm Hành chính - Thương mại Biên Hòa): 335 ha Khu công nghiệp Biên Hòa 2: 365 ha Khu công nghiệp Amata: 494 ha Khu công nghiệp Loteco: 100 ha Khu công nghiệp Agtex Long Bình: 43 ha Bên cạnh ngành công nghiệp hiện đại, hiện thành phố vẫn còn một vài cụm công nghiệp truyền thống, thủ công mĩ nghệ như: Cụm công nghiệp Gốm sứ Tân Hạnh: 32ha Cụm công nghiệp Dốc 47: 97ha Cụm công nghiệp chế biến gỗ Tân Hòa: 39ha Vùng thủ công mĩ nghệ đá Bửu Long Vùng sản xuất gốm Tân Vạn, Bửu Long, Hiệp Hòa Vùng sản xuất đồ gỗ và trang trí nội thất gồm Tân Hòa, Tân Biên === Thương mại, dịch vụ === Hiện nay, hoạt động tài chính ngân hàng trên địa bàn thành phố rất sôi động. Thành phố hiện có 1 ngân hàng có trụ sở chính đặt thành phố là Ngân hàng TMCP Đại Á (68 Cách mạng tháng Tám, P. Quyết Thắng), nhưng hiện nay ngân hàng này đã sáp nhập với ngân hàng HD Bank, tuy vậy hệ thống chi nhánh và phòng giao dịch của HD Bank vẫn là nhiều nhất (Ngân hàng Đại Á cũ). Biên Hòa có hơn 40 hệ thống ngân hàng của các ngân hàng trong nước,ngân hàng 100% vốn nước ngoài,liên doanh,chi nhánh ngân hàng nước ngoài tại Việt Nam. Với hơn 56 chi nhánh (CN), 92 phòng giao dịch (PGD), 168 quỹ tiết kiệm (QTK), trên 300 máy ATM. Về Du lịch, hiện tại thành phố có nhiều điểm tham quan du lịch, giải trí khá hấp dẫn, tuy nhiên thành phố hiện chưa có đề án phát triển du lịch nên trong nhiều năm qua thành phố chưa thu hút được nhiều du khách.Có một số khu du lịch nổi tiếng như: Khu du lịch Bửu Long Khu du lịch Vườn Xoài Khu du lịch Câu lạc bộ Xanh Khu du lịch Sơn Tiên (Đang xây dựng) === Nông lâm ngư nghiệp === Biên Hòa có những hợp tác xã cung cấp rau xanh cho thị trường thành phố và lân cận. Còn về lâm nghiệp, hiện thành phố chỉ có một vài xã, phường vùng ven phát triển lâm nghiệp vì thế mà cơ câu kinh tế nông, lâm nghiệp chỉ chiếm chưa tới 0,5%. Về thủy sản, thành phố cũng còn một vài phường xã ven sông có bè cá. Do tốc độ đô thị hóa cao, nên hiện thành phố hầu như không còn trồng cây lương thực (lúa, bắp, khoai mì). Và do vấn đề về môi trường nên thành phố hầu như đã cấm chăn nuôi gia súc trên toàn địa bàn thành phố. == Giao thông: == Biên Hòa là đầu mối giao thông quan trọng của quốc gia và là nơi có những con đường lớn. Trong tương lai, khi Thành phố Biên Hòa trở thành Thành phố Trực thuộc Trung ương thì thành phố này sẽ là đầu mối giao thông cực kì quan trọng của cả nước, đầu tàu về giao thông đường bộ, đường sắt, đường hàng không, đường thủy, có 2 sân bay dân sự và quân sự lớn nhất Việt Nam (Sân bay Quân sự Biên Hòa, Sân bay Quốc tế Long Thành), Ga đường sắt lớn và tương đương với Ga Sài Gòn (nối tuyến đường sắt Thống Nhất và tuyến đường sắt Đông Tây), Mạng lưới cao tốc liên vùng, liên tỉnh, tuyến đường thủy phục vụ cho các cảng sông,... === Đường bộ === Thành phố Biên Hòa có hệ thống đường bộ với nhiều con đường huyết mạch của Đồng Nai và cả nước như: quốc lộ 1A (Xa lộ Hà Nội), Quốc lộ 1 tránh Biên Hòa (Võ Nguyên Giáp), quốc lộ 1K (Nguyễn Ái Quốc), quốc lộ 15 (Phạm Văn Thuận), quốc lộ 51, tỉnh lộ 768 (Huỳnh Văn Nghệ), Tỉnh lộ 16 (Bùi Hữu Nghĩa),... Khi Chính phủ quy hoạch vùng thành phố Hồ Chí Minh, đã có nhiều câu hỏi đặt ra cho sự phát triển thật sự của Biên Hòa cũng như tỉnh Đồng Nai về hạ tầng giao thông do việc hình thành đô thị của Thành phố quá sớm (Thành phố được quy hoạch từ thời pháp thuộc với quy mô dân số khoảng 200.000-300.000 người, tuy nhiên dân số Biên Hòa đã đạt ngưỡng 1 triệu người). Chính vì vậy, xác định được tầm quan trọng của giao thông Biên Hòa trong vai trò kinh tế cả nước. Đồng Nai bắt đầu quan tâm nhiều hơn các dự án giao thông tầm cỡ và đồng thời phát triển giao thông nội bộ từ đô thị về đến nông thôn và đặc biệt là Thành phố Biên Hòa. Vì vậy mà Thành phố trong nhiều năm qua đã có rất nhiều dự án giao thông lớn và quan trọng phục vụ cho sự phát triển quá nhanh của thành phố Biên Hòa. Cụ thể, Các dự án đang được đầu tư và xây dựng như: Cao Tốc Biên Hòa-Vũng Tàu (kết nối Biên Hòa với Sân bay Long Thành và Thành phố Vũng Tàu; giảm tải cho QL51 sẽ mãn tải vào năm 2020) Đường Hương Lộ 2 (kết nối Ngã 4 Vũng Tàu và trung tâm thành phố với Đường cao tốc TP.HCM - Long Thành - Dầu Giây), Tuyến đường Chống ùn tắc QL1A đoạn qua phường Tân Hòa Tuyến đường nối 3 quốc lộ huyết mạch (QL1A, QL1K & QL51) Hầm chui ngã tư Tân Phong Nút giao thông ngã tư Kẻ Sặc - Bệnh viện Thống Nhất, Ngã tư Phát triển, Ngã tư Bồn Nước Nâng cấp mở rộng đường Phạm Văn Thuận, Bùi Văn Hòa Nâng cấp cải tạo xây dựng mới các tuyến đường trong trung tâm thành phố Các cầu bắc qua Cù lao Phố (cù lao Hiệp Hòa): cầu An Hảo, cầu Thống Nhất, cầu An Bình,..; Bờ kè & đường ven sông Đồng Nai - đường Trần Phú Các dự án đã hoàn thành như: Cầu Hóa An mới Cầu Bửu Hòa Cầu Hiệp Hòa Đường Quốc lộ 1A tuyến tránh thành phố Biên Hòa (Võ Nguyên Giáp) Cầu vượt và hầm chui ngã Tư Vũng Tàu Hầm chui ngã Tư Tam Hiệp Cầu vượt ngã Tư Amata, Cầu vượt Ngã tư Cầu Mới Cầu vượt Ngã tư vòng xoay Hóa An Cầu vượt nút giao Tân Vạn Đường chui dạ cầu Đồng Nai Hầm chui ngã tư Vũng Tàu Cầu An Hảo Đường Đặng Văn Trơn Hiện tại, Biên Hòa những cây cầu đã hoàn thành việc xây mới và cải tạo như: Cầu Đồng Nai mới, cầu Đồng Nai cũ, Cầu Hóa An mới, cầu Hóa An cũ, cầu Bửu Hòa, cầu Hiệp Hòa, cầu An Hảo và hiện đang tiếp tục đầu tư mới và cải tạo các cầu: cầu Thống Nhất (xây mới, kết nối trung tâm Hành chính chính trị Thành phố với Cù lao Hiệp Hòa), cầu Suối Linh (quốc lộ 1A), 5 cây cầu trong dự án đường Trần Phú,... Các tuyến đường có ý nghĩa lớn, liên kết thành phố Biên Hòa với các địa phương khác: Quốc lộ 1A (Xa lộ Hà Nội) xuyên qua thành phố và huyết mạch của cả nước - kết nối phía Đông và phía Tây thành phố với trung tâm thành phố. Quốc lộ 1K (đường Nguyễn Ái Quốc) là tuyến đường xuyên tâm của thành phố và là tuyến đường dài và rộng nhất của thành phố - kết nối phía Đông và phía Tây với trung tâm thành phố. Quốc lộ 51 là tuyến đường nối thành phố công nghiệp Biên Hòa với thành phố biển du lịch Vũng Tàu - kết nối trung tâm thành phố với phía Nam thành phố. Quốc lộ 15 (đường Phạm Văn Thuận và đường Bùi Văn Hòa) nối trung tâm thành phố Biên Hòa với Quốc lộ 1A và Quốc lộ 51.(Điểm đầu tại Ngã ba Vườn Mít- Điểm giữa tại Ngã tư Tam Hiệp- Điểm cuối tại Cổng 11) ĐT768 (đường Huỳnh Văn Nghệ) là tuyến đường nối thành phố Biên Hòa với huyện Vĩnh Cửu (Đồng Nai) - kết nối trung tâm thành phố Biên Hòa với phía Bắc thành phố. Đường Đồng Khởi nối KCN Amata, Quốc lộ 1A vào thành phố. Đường Võ Nguyên Giáp làm tuyến tránh cho Quốc lộ 1A. Điểm đầu tại phường Long Bình, điểm cuối xã Bắc Sơn, huyện Trảng Bom. Đường Tỉnh lộ 16 (Bùi Hữu Nghĩa) nối từ quốc lộ 1A tại Thị xã Dĩ An (tỉnh Bình Dương) đến ranh giới Thị xã Tân Uyên (tỉnh Bình Dương). === Đường sắt === Thành phố có hệ thống đường sắt Thống Nhất chạy ngang qua thành phố với 2 ga chính là: ga Hố Nai, ga Biên Hòa. Với 2 cầu đường sắt là cầu Ghềnh và cầu Rạch Cát; hai cầu này được xây dựng từ thời Pháp Thuộc đến nay và hiện tại 2 cầu này chỉ lưu thông 1 chiều cho xe máy, hạn chế dần và có thể sẽ cấm xe qua cầu trong gian tới Thành phố Biên Hòa đang thiết kế và xây dựng ga Biên Hòa mới tại xã An Hòa để kết nối vào dự án đường sắt Biên Hòa - Vũng Tàu. Trong tương lai, thành phố Biên Hòa sẽ xây dựng Hệ thống đường sắt đô thị chạy trong thành phố cũng như liên kết với hệ thống đường sắt đô thị thành phố Hồ Chí Minh. Ngoài dự án đường sắt đô thị, thành phố Biên Hòa hiện nay đang được đầu tư như: đường sắt cao tốc Biên Hòa - Vũng Tàu và hệ thống đường sắt kết nối hệ thống đường sắt Biên Hòa Vũng Tàu với đường sắt Thống Nhất. === Đường hàng không === Sân Bay Biên Hòa là một trong những sân bay quân sự lớn nhất nước. Cách Thành phố Hồ Chí Minh 30 km. Sân bay Biên Hòa đã từng là căn cứ không quân của Quân lực Việt Nam Cộng Hòa và Không lực Hoa Kỳ trong giai đoạn Chiến tranh Việt Nam. Sau ngày 30 tháng 4 năm 1975, sân bay Biên Hòa được Không quân Nhân dân Việt Nam tiếp quản sử dụng quân sự. Đơn vị đóng quân: Trung đoàn không quân tiêm kích 935 (Đoàn Biên Hòa) thuộc sư đoàn 370 Biên chế trang bị sẵn sàng chiến đấu: Su 30 MK2V (đóng vai trò chủ lực), một số cường kích A37, tiêm kích F5. === Đường thủy === Với hệ thống sông Đồng Nai chảy qua và hệ thống kênh rạch lớn ăn sâu vào đất liền nên hoạt đường thủy tại đây cũng khá thuận tiện. Hệ thống cảng Đồng Nai là hệ thống cảng nội địa lớn nhất trên lưu vực sông Đồng Nai. == Giáo dục == Do vị trí gần thành phố Hồ Chí Minh - trung tâm giáo dục của cả nước nên vì vậy mà thành phố Biên Hòa khá ít trường đại học và thêm nữa là trung tâm hành chính, chính trị, văn hóa, kinh tế, giáo dục của tỉnh Đồng Nai nên các trường đại học, cao đẳng và trung cấp chuyên nghiệp của Đồng Nai hầu như đều nằm ở Biên Hòa. Ngược Lại, thành phố Biên Hòa có rất nhiều trường THPT, THCS, TH nổi bật, chất lượng cao và phân bố rất nhiều khu vực trong thành phố và cho nhu cầu dân số quá tải của thành phố Biên Hòa. Tuy nhiên hiện nay do dân số tăng đột biến nên những năm gần đây có một số trường tiểu học phải học ca 3, đây là vấn đề nan giải của ngành giáo dục Biên Hòa. Dân số như hiện nay đang là thách thức không chỉ của ngành giáo dục mà còn là vấn đề cho các ban ngành và Ủy ban Nhân dân Thành phố. Thành phố ngày càng phát triển đã sinh ra nhiều Hệ thống trường dân lập liên cấp theo tiêu chuẩn chất lượng đào tạo tương đương các trường công lập và theo chuẩn quốc tế để đáp ứng cho nhu cầu học tập cho học sinh trên địa bàn thành phố Biên Hòa. Trường TH-THCS-THPT Lê Quý Đôn Trường TH-THCS-THPT Bùi Thị Xuân Trường TH-THCS-THPT Nguyễn Khuyến Trường TH-THCS-THPT Đinh Tiên Hoàng Trường TH-THCS-THPT Song Ngữ Lạc Hồng Trường TH-THCS-THPT Quốc tế IPS Đồng Nai Hiện thành phố có trường Đại học: Đại học Đồng Nai Đại học Lạc Hồng Đại học Công nghệ Đồng Nai Đại học Nguyễn Huệ Đại học Mở TP.HCM (Cơ sở Biên Hòa) Đại học Tài nguyên và Môi trường TP.HCM (Cơ sở Biên Hòa) Ngoài ra thành phố có các trường Cao đẳng lớn: Cao đẳng nghề Đồng Nai Cao đẳng Y tế Đồng Nai (Đề án nâng cấp lên Đại học Y dược Đồng Nai) Cao đẳng Mỹ thuật Trang trí Đồng Nai (Đề án nâng cấp lên Đại học Mỹ thuật Đồng Nai) Cao đẳng Công nghệ và quản trị Sonadezi (Đề án nâng cấp lên Đại học Sonadezi) Cao đẳng nghề Số 8 == Y tế: == Hiện nay thành phố có 30 trạm y tế của 30 phường xã được xây dựng và trang bị hiện đại phục vụ nhân dân tại các phường xã trong thành phố và Trung tâm y tế Thành phố Biên Hòa với hơn 8000 giường bệnh. Bên cạnh đó, một số Bệnh viện lớn của nhà nước đã hình thành và phát triển: Đa Khoa Đồng Nai (tầm cỡ Đông Nam Á): 1400 giường Đa Khoa Thống Nhất: 1000 giường Nhi Đồng Đồng Nai: 800 giường Đa Khoa Biên Hòa: 100 giường Y Dược Cổ Truyền Đồng Nai: 150 giường Da Liễu Đồng Nai: 100 giường Phổi Đồng Nai: 150 giường Đa Khoa 7B: 600 giường Tâm thần Trung ương 2: 1200 giường Ngoài ra, một số Bệnh viện ngoài công lập đã hình thành và phát triển: Quốc tế Hoàn Mỹ Đồng Nai (Tập đoàn Y Khoa Hoàn Mỹ): 400 giường Quốc tế Chấn Thương Chỉnh Hình Itô Sài Gòn-Đồng Nai: 160 giường Đa Khoa Tâm Hồng Phước: 120 giường Phụ sản Âu Cơ Biên Hòa: 80 giường Phụ sản Nhi Đa Khoa Sài Gòn-Đồng Nai: Chuyên Khoa Răng Hàm Mặt Việt Anh Đức: 21 giường Đa Khoa SingMark (đang xây dựng): 1500 giường Đa Khoa Lê Quý Đôn (đang xây dựng): 500 giường Các phòng khám đa khoa có mặt trên toàn địa bàn. Hoàng Anh Đức Tâm An Ái Nghĩa Y Đức ... == Du lịch, thắng cảnh, văn hóa, lễ hội, truyền thống == === Văn hóa, lễ hội, truyền thống === Truyền thống văn hóa tín ngưỡng của thành phố 1 triệu dân đã có từ lâu và cụ thể hiện nay thành phố có đến cả trăm ngôi chùa lớn nhỏ, nhà thờ, giáo xứ, lâu đời được người dân đến rất đông. Nhiều ngôi chùa và giáo xứ lớn tại đây như: Chùa Long Thiền (xây dựng năm 1664) - P. Bửu Hòa Chùa Đại Giác (xây dựng năm 1665) - X. Hiệp Hòa Chùa Bửu Phong (xây dựng năm 1679) - P. Bửu Long Chùa Ông (xây dựng năm 1684) - X. Hiệp Hòa Chùa Long Ẩn (xây dựng năm 1675) - P. Bửu Long Nhà thờ - Giáo xứ Tân Mai - P. Tân Mai Nhà thờ - Giáo xứ Biên Hòa - P.Quyết Thắng Nhà thờ - Giáo xứ Kẻ Sặt - P.Hố Nai Nhà thờ - Giáo xứ Phúc Hải - P.Tân Phong Nhà thờ - Giáo xứ Ngọc Đồng - Tân Hoà Do việc hình thành sớm nên thành phố Biên Hòa đến ngày nay vẫn còn giữ gìn một số nét văn hóa truyền thống tại các Đình làng xưa của thành phố. Các nghi thức cúng bái cũng vẫn được giữ nguyên và thành phố vẫn tiếp tục duy trì các lễ cúng thành hoàng của các làng xã để tránh bị mai một nét văn hóa truyền thống của nhân dân Biên Hòa. Các lễ hội văn hóa của thành phố như: Lễ Bắn Pháo Hoa Giao Thừa hàng năm tại Văn Miếu Trấn Biên, trung tậm hội nghị và tổ chức sự kiện Đồng Nai hoặc cầu mới Lễ hội Đua thuyền rồng vào đêm Mùng 4 tết ÂL trên sông Đồng Nai đoạn trước Đình Tân Lân. Lễ hội chùa Ông. Lễ hội Đền Hùng Biên Hòa vào Mùng 10 tháng 3 ÂL hàng năm tại Đền Hùng - Biên Hòa (P. Bình Đa). Lễ hội Kỳ Yên, Nghinh đón Đức Ông Trần Thượng Xuyên vào Mùng 23 tháng 10 ÂL tại Đình Tân Lân. Các lễ rước, sắc phong thành hoàng các làng xã của thành phố Biên Hòa vào các ngày trong năm. Lễ Giáng Sinh (Noel) ở các xứ đạo == Định hướng == Với những định hướng, tiềm năng và sự phát triển về kinh tế, Đồng Nai đang định hướng để nâng cấp thành phố Biên Hòa và xây dựng những đô thị vệ tinh phát triển xung quanh thành phố này ở các huyện lân cận như Trảng Bom và Long Thành, Vĩnh Cửu, Nhơn Trạch. Hiện nay, thành phố này là một trong những thành phố đông dân, hiện đại và phát triển nhất cả nước. Trong tương lai thành phố Biên Hòa sẽ là một đô thị vệ tinh độc lập trực thuộc trung ương trong vùng đô thị thành phố Hồ Chí Minh.Trong thời gian tới, thành phố tiếp tục thực hiện các dự án khu dân cư tại các phường, xã (Bửu Long, Quang Vinh, An Bình, Long Bình, Long Bình Tân, Trảng Dài, Tân Phong, Hóa An, Tam Phước, An Hòa); phát triển và cải tạo cảnh quan, khuyến khích phát triển xã Hiệp Hòa (Cù lao Phố); phát triển hệ thống đường sá nối thành phố Biên Hòa với cù lao Hiệp Hòa; tập trung phát triển Công nghiệp và dịch vụ, giảm tỉ trọng nông - lâm nghiệp; hoàn thiện về mặt kiến trúc và cảnh quan đô thị. Nhanh chóng đầu tư, cải tạo và xây dựng khu công nghiệp Biên Hòa I thành khu Trung tâm tài chính - thương mại Biên Hòa. Mặc dù đã đạt mục tiêu đô thị loại I với nhiều dự án chỉnh trang đô thị, cơ sở hạ tầng xã hội, tuy nhiên theo lãnh đạo Ủy ban Nhân dân Thành phố Biên Hòa thì việc mức sống của người chưa được cao thì việc trở thành đô thị loại I sẽ không có ý nghĩa. == Tỉnh, Thành phố kết nghĩa == Thành phố Phủ Lý, Việt Nam Tỉnh Gyeongsangnam-do, Hàn Quốc tỉnh Champasak, Lào == Tham khảo == == Liên kết ngoài == Trang thông tin chính thức
đường tròn.txt
Trong hình học phẳng, đường tròn (hoặc vòng tròn) là quỹ tích của tất cả những điểm trên một mặt phẳng, cách đều một điểm cho trước bằng một khoảng cách cho trước. Điểm cho trước gọi là tâm của đường tròn, còn khoảng cho trước gọi là bán kính của đường tròn. Một đường tròn đồng dạng với mọi đường tròn khác. == Công thức == Trong hệ tọa độ x-y, vòng tròn có tâm tại (a, b) và bán kính r là tất cả các điểm (x, y) thỏa mãn: (x- a)2 + (y - b)2 = r2 và công thức: x2 + y2 - 2ax - 2by + c = 0 Khi tâm nằm tại tâm của hệ tọa độ, (a, b) = (0, 0), ta có: x2 + y2 = r2 Đường tròn có tâm tại tâm của hệ tọa độ và bán kính bằng 1 gọi là đường tròn đơn vị. Ở dạng phương trình tham số, (x, y) có thể được viết: x = a + R cos(t) y = b + R sin(t). Với t là tham số, có ý nghĩa như góc. Độ dốc tiếp tuyến tại điểm (x, y) trên đường tròn có tâm tại tâm hệ tọa độ có thể được viết: y ′ = − x y . {\displaystyle y'=-{\frac {x}{y}}.} Diện tích hình tròn (O,R) S = π R2 == Chu vi == Chu vi của đường tròn được gọi là viên chu, là độ dài của đường tròn, bằng tích của 2 lần số pi với bán kính của đường tròn. Hay nói khác đi là độ dài của đường tròn bằng đường kính của nó nhân với số pi, do đường kính bằng 2 lần bán kính. C = D π = 2 R π {\displaystyle C=D\pi =2R\pi } == Hình tròn == Trong hình học phẳng, đường tròn và hình tròn là hai khái niệm khác nhau. Hình tròn là tập hợp tất cả các điểm nằm trong và nằm trên đường tròn hay tạp hợp các điểm cách tâm một khoảng nhỏ hơn hoặc bằng bán kính Đường tròn không có diện tích như hình tròn mà chỉ có chu vi. == Cung tròn == Cung tròn là phần của đường tròn giới hạn bởi hai điểm, là quỹ tích-tập hợp các điểm thuộc đường tròn nằm giữa hai điểm. Đoạn thẳng nối hai đầu mút của cung tròn được gọi là dây cung của cung tròn đó. Dây cung không thuộc đường tròn (vì nó chỉ chung với đường tròn tại hai điểm mút đó, còn các điểm khác thì không), mà thuộc hình tròn. == Xem thêm == Đường elip Mặt cầu Hình tròn Hình cầu Cung tròn Đường cong bậc hai == Tham khảo == == Liên kết ngoài == Bài giảng về đường tròn tại Đại học Cần Thơ
tochigi.txt
Tochigi (Nhật: 栃木県 (Giẻ Mộc Huyện), Tochigi-ken) là một tỉnh của Nhật Bản nằm ở vùng Kantō trên đảo Honshū. Thủ phủ là thành phố Utsunomiya. Utsunomiya là nơi nổi tiếng với loại bánh gyoza thơm ngon. == Địa lý == == Lịch sử == == Hành chính == 14 thành phố ở tỉnh Tochigi. == Kinh tế == == Văn hóa == == Giáo dục == Đại học Utsunomiya == Thể thao == == Dulịch == Nikkō, nơi có ngôi đền cổ đạo Shinto và những ngôi chùa của đạo Phật đã được UNESCO công nhận là di sản thế giới. Nikkō cách Tokyo 1 giờ đi tàu. Những nơi nổi tiếng khác của tỉnh bao gồm một vùng được gọi là Nasu được biết đến với suối nước nóng và rượu sake địa phương cũng như những khu trượt tuyết. Gia đình Nhật hoàng có một dinh thự tại Nasu. Nasu Shiobara là một nhà ga Shinkansen lớn. Khu resort nước nóng Onsen nổi tiếng khác là Kinugawa. == Tham khảo == == Liên kết ngoài == Website chính thức của tỉnh (tiếng Nhật) TochigiGaijin.Com - The Official Homepage for Foreigners Living & Working in Tochigi Prefecture Bell Mall Website Japanese
guillermo coria.txt
Guillermo Sebastián Coria (sinh ngày 13 tháng 2 năm 1982) là cựu vận động viên tennis người Argentina, biệt danh là El Mago (Ảo thuật gia trong tiếng Tây Ban Nha). Anh từng đạt vị trí số 3 thế giới tại bảng xếp hạng của ATP vào tháng 5 năm 2004. Sau vô cùng nhiều chấn thương rải rác, anh tuyên bố giải nghệ vào tháng 4 năm 2009 khi đang xếp hạng 672 thế giới. == Chung kết == === Grand Slam === ==== Đơn ==== === Masters Series === ==== Đơn ==== == Thống kê sự nghiệp == === Đơn: 20 (9 danh hiệu, 11 á quân) === == Kết quả với top 10 == == Tham khảo == == Liên kết ngoài == Guillermo Coria trên trang chủ ATP (tiếng Anh) Guillermo Coria trên ITF Guillermo Coria tại Davis Cup
tiếng trung quốc tiêu chuẩn.txt
Tiếng Trung Quốc Tiêu chuẩn hay tiếng Hán Tiêu chuẩn (tiếng Trung: 標準漢語, âm Hán Việt: Tiêu chuẩn Hán ngữ) là một dạng tiếng Trung được chuẩn hóa và được chấp nhận là ngôn ngữ chính thức của Trung Quốc và Đài Loan. Đây cũng là một trong 4 ngôn ngữ chính thức tại Singapore và là một trong các ngôn ngữ chính thức tại Malaysia. Cách phát âm của tiếng Trung Quốc Tiêu chuẩn dựa trên tiếng Bắc Kinh, nhưng từ vựng được lấy rộng khắp từ các phương ngữ được nói ở miền Bắc, Trung và Tây Nam của Trung Quốc (là khu vực đa dạng các phương ngữ được biết đến dưới tên chung là Quan thoại). Ngữ pháp của tiếng Trung Quốc Tiêu chuẩn dựa trên các tác phẩm văn học hiện đại xác định nên bạch thoại (dạng văn viết tiếng Hán dựa trên văn nói hiện đại). Tiếng Trung Quốc Tiêu chuẩn tại Trung Quốc đại lục được gọi là tiếng Phổ thông (普通話 Phổ thông thoại), tại Đài Loan được gọi là Quốc ngữ (國語), tại Singapore và nhiều nơi khác tại Đông Nam Á được gọi là tiếng Hoa (華語 Hoa ngữ). == Sự khác biệt giữa Hán ngữ tiêu chuẩn với tiếng Bắc Kinh và quan thoại == Hiện nay, tại Trung Quốc, “quan thoại” được dùng làm tên gọi của một phương ngôn của tiếng Hán. Phương ngôn này còn được gọi là tiếng phương Bắc, phương ngôn phương Bắc. Nội bộ phương ngôn quan thoại không hoàn toàn đồng nhất mà có sự khác biệt về ngữ âm, ngữ pháp, từ vựng, phương ngôn quan thoại lại có thể chia ra thành các phương ngôn khác nhau. Tiếng Bắc Kinh là một trong số các phương ngôn của tiếng quan thoại. Mặc dù ngữ âm của Hán ngữ tiêu chuẩn là dựa trên ngữ âm của tiếng Bắc Kinh, từ vựng của Hán ngữ tiêu chuẩn chủ yếu là được lấy từ từ vựng của tiếng quan thoại nhưng Hán ngữ tiêu chuẩn không phải là tiếng Bắc Kinh, Hán ngữ tiêu chuẩn cũng không phải là một phương ngôn khác của tiếng quan thoại. Ngữ âm của Hán ngữ tiêu chuẩn dựa trên ngữ âm của tiếng Bắc Kinh nhưng không phải toàn bộ ngữ âm của tiếng Bắc Kinh đều được thu nhận làm ngữ âm của Hán ngữ tiêu chuẩn, một bộ phận ngữ âm của tiếng Bắc Kinh không được đưa vào trong Hán ngữ tiêu chuẩn. Từ vựng của Hán ngữ tiêu chuẩn chủ yếu là lấy từ từ vựng của tiếng quan thoại nhưng không phải toàn bộ từ vựng của tiếng quan thoại đều được thu nhận làm từ vựng của Hán ngữ tiêu chuẩn, có những từ của tiếng quan thoại không được chọn làm từ ngữ của Hán ngữ tiêu chuẩn. Từ vựng của Hán ngữ tiêu chuẩn không chỉ được lấy tiếng quan thoại, có một số từ của Hán ngữ tiêu chuẩn được lấy từ các phương ngôn khác của tiếng Hán. == Tham khảo == == Xem thêm == Danh sách ngôn ngữ Danh sách các nước theo ngôn ngữ nói == Liên kết ngoài ==
eth.txt
Eth hay edh (phát âm như "ét-tờ"; chữ hoa: Ð; chữ thường: ð) là một chữ cái trong các tiếng Anh cổ, Anh trung cổ, tiếng Iceland, tiếng Faroe (gọi chữ này là edd), và tiếng Älvdalen. Nó từng được sử dụng trong Scandinavia vào thời Trung Cổ nhưng về sau được thay thế bằng dh rồi d. Chữ eth vẫn được sử dụng tại Iceland và quần đảo Faroe. Dạng viết hoa là chữ D hoa có dấu gạch ngang vào nét dọc, vì thế dễ bị nhầm lẫn với chữ Đ của tiếng Việt. Dạng viết thường là chữ D thường viết theo kiểu chữ hòn đảo (insular script) có dấu gạch ngang qua cuống của chữ. Dạng viết thường của eth cũng có nghĩa âm tắc quặt lưỡi hữu thanh trong Bảng mẫu tự phiên âm quốc tế (IPA) và đôi khi xuất hiện trong sách vở toán học và kỹ sư để tượng trưng cho phép đạo hàm riêng có trọng lượng xoay. Dạng viết hoa của eth là ký hiệu của đơn vị tiền tệ mật mã Dogecoin. == Tham khảo ==
nội mông.txt
Nội Mông Cổ (tiếng Mông Cổ: , Öbür Monggol; tiếng Trung: 内蒙古; bính âm: Nèi Měnggǔ), tên chính thức là Khu tự trị Nội Mông Cổ, thường được gọi tắt là Nội Mông, là một khu tự trị nằm ở phía bắc của Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa. Nội Mông có biên giới quốc tế với nước Mông Cổ độc lập và Nga. Thủ phủ của Nội Mông là Hô Hòa Hạo Đặc. Các thành phố lớn khác bao gồm Bao Đầu, Xích Phong, và Ngạc Nhĩ Đa Tư. Khu tự trị Nội Mông Cổ được thành lập vào năm 1947 từ một số tỉnh cũ của Trung Hoa Dân Quốc: Tuy Viễn, Sát Cáp Nhĩ, Nhiệt Hà, Liêu Bắc và Hưng An cùng các khu vực phía bắc của Cam Túc và Ninh Hạ. Nội Mông nằm ở phía nam sa mạc Gobi, phía bắc Vạn Lý Trường Thành, Khu tự trị Nội Mông Cổ là đơn vị hành chính cấp tỉnh có diện tích lớn thứ ba tại Trung Quốc với trên 1,2 triệu km². Đa số cư dân của khu tự trị Nội Mông Cổ là người Hán, trong khi người Mông Cổ là một thiểu số đáng kể. Tiếng Mông Cổ tại khu tự trị Mông Cổ sử dụng chữ cái Mông Cổ truyền thống, thay vì dùng chữ cái Kirin như ở nước Mông Cổ. == Tên gọi == Sau khi nhà Thanh chinh phục toàn cõi Mông Cổ, các bộ lạc chịu quy phục ở Mạc Nam (phía nam sa mạc Gobi) được gọi là "Nội Trát Tát Khắc Mông Cổ (内札萨克蒙古). Còn các bộ lạc thuộc phân nhóm Khách Nhĩ Khách (Khalka) và Vệ Lạp Đặc (Oirat) ở Mạc Bắc thì được gọi là Ngoại Trát Tát Khắc Mông Cổ (外札薩克蒙古). "Trát tát khắc" (扎薩克, Jasagh) là một chức quan của quý tộc Mông Cổ vào thời nhà Thanh. Đến cuối thời Thanh thì "Nội Trát Tát Khắc Mông Cổ" trở thành "Nội Mông Cổ". Trong tiếng Mông Cổ, khu vực Mạc Nam vào thời nhà Thanh được gọi là ᠳᠣᠲᠤᠭᠠᠳᠤ ᠮᠣᠩᠭᠣᠯ (chuyển tự Latinh: dotuγadu mongγol), có ý nghĩa tương tự như trong tiếng Hán. Năm 1947, chính quyền khu tự trị đã đổi tên tiếng Mông Cổ của khu vực thành ᠥᠪᠥᠷ ᠮᠣᠩᠭᠣᠯ (chuyển tự Latinh: öbör mongγol), "öbör" có nghĩa là hướng đón ánh mặt trời, tức hướng nam (vì Nội Mông nằm cách xa chí tuyến bắc nên mặt trời luôn ở phía nam) của một ngọn núi. == Lịch sử == === Thời Tiên Tần === Trên 5.000 năm trước, một bộ phận của Nội Mông nằm trong phạm vi ảnh hưởng của văn hóa Ngưỡng Thiều. Các di chỉ của nền văn hóa Hồng Sơn nằm trải dải trong lưu vực Liêu Hà từ Nội Mông đến Liêu Ninh và có niên đại từ khoảng 4700 TCN đến 2900 TCN Trước thời Xuân Thu, khu vực Nội Mông hiện nay là nơi sinh sống của các dân tộc du mục như Hung Nô ở phía tây và Đông Hồ ở phía đông. Theo Sử ký, sau khi nhà Hạ bị tiêu diệt, một người con trai của vua Kiệt là Thuần Duy (淳維) đã chạy lên phía bắc và lập nên Hung Nô. Cuối thời Chiến Quốc, lãnh thổ của các nước chư hầu như Yên, Triệu và Tần đã phát triển đến khu vực Nội Mông ngày nay. Dân tộc Hoa Hạ bắt đầu đến định cư tại phía nam dãy núi Âm Sơn. Triệu Vũ Linh vương (trị vì 325 TCN-299 TCN) của nước Triệu đã tiến hành truyền bá "hồ phục kị xạ", theo đó binh sĩ nước Triệu phải ăn mặc giống như quân Hung Nô và các cỗ chiến xa được thay thế bằng các cung thủ kị binh. Năm 306 TCN, quân Triệu đánh lên phía bắc, hàm phục nhiều tiểu quốc. Năm 304 TCN, Vũ Linh vương phát động chiến tranh với các bộ lạc ở thượng nguồn Hoàng Hà, mở mang lãnh thổ. Sau khi đánh bại hai dân tộc du mục là Lâm Hồ (林胡) và Lâu Phiền (樓煩), Triệu đã xây dựng Vân Trung thành ở khu vực huyện Thác Khắc Thác của Hô Hòa Hạo Đặc ngày nay. Từ đó, người Hoa Hạ ở Trung Nguyên bắt đầu đến Hô Hòa Hạo Đặc định cư. "Triệu Trường Thành" đi qua Đại Thanh Sơn ở phía bắc của Hô Hòa Hạo Đặc. Thời kỳ Yên Chiêu vương, có tướng Tần Khai (秦开), phải sang Đông Hồ làm con tin. Sau khi về nước, Tần Khai khởi binh tập kích, đại phá Đông Hồ. Sau đó, Yên cho xây dựng "Yên Bắc Trường Thành". Yên cũng lập ra Bắc Bình bộ ở phía nam Xích Phong ngày nay, trị sở tại Ninh Thành. Sau đó, Đông Hồ phải thiên di về phía bắc. === Thời Tần, Hán, Hung Nô === Sau khi thống nhất Trung Quốc, Tần Thủy Hoàng đã cho xây dựng Vạn Lý Trường Thành, kết nối các đoạn Trường Thành của các nước chư hầu trước đây nhằm phòng thủ Hung Nô. Các khu vực ở phía nam dãy núi Âm Sơn như Vân Trung quận là các trọng trấn về biên phòng. Năm 209 TCN, người Hung Nô đã liên kết lại với nhau thành một liên minh hùng mạnh dưới quyền của một thiền vu mới có tên gọi là Mặc Đốn (冒顿). Người ta cho rằng sự thống nhất Trung Quốc đã thúc đẩy các bộ lạc du cư tập hợp lại xung quanh một trung tâm chính trị nhằm củng cố vị thế của họ.. Một giả thuyết khác là sự tái cơ cấu này là cách thức phản ứng của họ đối với khủng hoảng chính trị đã diễn ra đối với họ khi vào năm 215 TCN, quân đội nhà Tần do Mông Điềm chỉ huy đã xua đuổi họ ra khỏi các thảo nguyên bên Hoàng Hà. Năm 206 TCN, Hung Nô tiêu diệt Đông Hồ, thống nhất thảo nguyên Mông Cổ, lập ra đế quốc Hung Nô với lãnh thổ rộng lớn, trải rộng đến lưu vực Liêu Hà ở cực đông, cực tây đến Thông Lĩnh (tức dãy núi Pamir), nam đến Trường Thành của Tần. Khi đó, khu vực Nội Mông trở thành tiêu điểm tranh đoạt giữa Hung Nô và triều đại Trung Nguyên, giữa Hung Nô và nhà Hán đã xảy ra hàng trăm cuộc chiến tranh. Năm 158 TCN, Quân Thần thiền vu đã đem 3 vạn quân tấn công nhà Hán ở Vân Trung thuộc Nội Mông Cổ ngày nay. Năm 127 TCN, quân Hán tấn công và trục xuất bộ lạc Lâu Phiền (楼烦, 樓煩) và Bạch Dương (白羊) của người Hung Nô từ Ngạc Nhĩ Đa Tư, và sau đó cho xây các công sự và thành để phòng ngự vùng lãnh thổ mới chiếm được. Năm 125 TCN, dưới thời Y Trĩ Tà thiền vu, quân Hung Nô với 3 đội quân, mỗi đội có 30.000 kị binh đã tiến đánh các quận của Trung Quốc. Tả Cốc Lễ vương tức giận trước việc nhà Hán đã lấy đi Ngạc Nhĩ Đa Tư và cho lập Sóc Phương quận (朔方郡), đã vài lần tấn công biên giới với Trung Quốc; và khi tiến vào Ngạc Nhĩ Đa Tư, đã cướp bóc Sóc Phương, giết và bắt giữ nhiều quan lại cũng như dân chúng. Sau khi bị Mạc Đốn thiền vu đánh bại, tàn dư của Đông Hồ tụ cư ở Ô Hoàn Sơn và Tiên Ti Sơn, về sau hình thành tộc Ô Hoàn và tộc Tiên Ti. Từ đó, tên gọi Đông Hồ biến mất trong lịch sử. Ô Hoàn Sơn và Tiên Ti Sơn nằm ở khu vực Nội Mông ngày nay. Năm 207, Tào Tháo đem quân tiến sâu vào lãnh thổ của người Ô Hoàn, đánh bại họ tại trận núi Bạch Lang (白狼山), giết chết thủ lĩnh Đạp Đốn. Khoảng 20 vạn người Ô Hoàn đã hàng Tào Tháo. Nhiều kỵ binh Ô Hoàn đã gia nhập đội quân của Tào Tháo và trở thành "thiên hạ đệ nhất kỵ đội". Năm 53 TCN, Hô Hàn Tà thiền vu (呼韓邪單于) đã chấp thuận triều cống cho nhà Hán, tuy nhiên người Hung Nô vẫn duy trì được chủ quyền chính trị và độc lập hoàn toàn về lãnh thổ. Vạn Lý Trường Thành vẫn tiếp tục là đường ranh giới giữa nhà Hán và nhà nước Hung Nô. Năm 48, Hung Nô phân thành hai bộ phận là Nam và Bắc, Nam Hung Nô lập Nhật Trục Vương Bỉ làm thiền vu, dựng nên triều đình tại Bao Đầu, Nội Mông ngày nay, xưng thần với Đông Hán, được Hán Quang Vũ Đế cho an trí tại khu vực Hà Sáo. Nam Hung Nô sau đó dần dần di chuyển vào Trung Nguyên. Vào thời kỳ toàn thịnh, triều đình Hán đã thiết lập quận huyện ở Mạc Nam. Năm 127 TCN, triều đình đã thiết lập Ngũ Nguyên quận và Sóc Phương quận, địa hạt bao gồm khu vực Ba Ngạn Náo Nhĩ, Bao Đầu và Ngạc Nhĩ Đa Tư ngày nay. === Thời Tiên Ti và Nhu Nhiên === Tộc Tiên Ti sau đó chủ yếu hoạt động tại phía đông Nội Mông Cổ, trong khu vực phụ cận sông Cáp Cổ Lặc (哈古勒河) thuộc hữu dực trung kì Khoa Nhĩ Thấm ngày nay. Thời Lưỡng Tấn-Nam Bắc triều trong lịch sử Trung Quốc, Nội Mông là một trong những bàn đạp để các tộc người Hồ xâm nhập Trung Nguyên. Sau khi Tấn Tấn diệt vong, người Tiên Ti đã lập ra nhiều nước ở phía bắc Trung Quốc như Tiền Yên, Đại, Hậu Yên, Tây Yên, Tây Tần, Nam Lương, Nam Yên và Bắc Ngụy. Trong khi người Tiên Ti xâm nhập Trung Nguyên, người Nhu Nhiên (một nhánh của người Tiên Ti còn ở lại vùng thảo nguyên Mông Cổ) đã nổi lên, lập quốc ở khu vực Hô Luân phía đông Nội Mông ngày nay. Năm 439, nước Bắc Ngụy của bộ lạc Thác Bạt tộc Tiên Ti thống nhất phương Bắc Trung Quốc. Sau đó, Bắc Ngụy và Nhu Nhiên thường phát sinh xung đột. Để phòng thủ trước Nhu Nhiên, Bắc Ngụy đã lập ra Lục trấn ở biên cảnh phía bắc, nay là phía đông khu vực Hà Sáo và phía nam dãy Âm Sơn thuộc Nội Mông. Sau đó, do triều Bắc Ngụy tích cực thực hiện chính sách Hán hóa, một số tướng sĩ đã tiến hành loạn Lục Trấn. Sau loạn Lục Trấn, Bắc Ngụy bị phân thành Đông Ngụy và Tây Ngụy, sau lại bị Bắc Tề và Bắc Chu thay thế tương ứng. Cuối cùng, Bắc Chu thống nhất phương Bắc Trung Quốc. Sau đó, Dương Kiến soán vị Bắc Chu, lập ra nhà Tùy. Ở Tái Bắc, Nhu Nhiên hãn quốc bị Đột Quyết hãn quốc tiêu diệt vào năm 552. Đột Quyết cùng Bắc Tề và Bắc Chu đều kiểm soát một phần Nội Mông === Thời Tùy, Đường, Đột Quyết, Hồi Cốt === Đến thời Tùy, Nội Mông bị phân chia giữa Đột Quyết và triều đại Trung Nguyên. Năm Khai Hoàng thứ 19 (599) thời Tùy Văn Đế, Đột Lợi khả hãn của Đông Đột Quyết do thất bại trong nội chiến đã đi xuống phía nam quy phục triều đình nhà Tùy, được Tùy Văn Đế sách phong là Khải Dân khả hãn. Sau đó Khải Dân khả hãn kiến lập chính quyền tại Nội Mông, lệ thuộc vào triều đình trung ương Tùy. Triều đình nhà Tùy và chính quyền Khải Dân duy trì quan hệ tông phiên mật thiết và cử sứ thần qua lại. Tùy Dạng Đế trước sau đã hai lần tự mình tuần thú vùng Tái Bắc, mở đầu cho tiền lệ các hoàng đế Trung Nguyên đích thân tuần thú chính quyền phiên thuộc Tái Bắc. Năm Đại Nghiệp thứ 7 (611), Xử La khả hãn của Tây Đột Quyết đã quy phục triều đình nhà Tùy, từ đó toàn bộ vùng Nội Mông và Ngoại Mông thuộc quyền quản lý của triều đình Tùy. Thời Đường Thái Tông, Hiệt Lợi khả hãn của Đông Đột Quyết dựng lều dã chiến tại Định Tương (nay thuộc huyện Thanh Thủy Hà của Nội Mông), gây chiến với Đường. Tháng 1 năm Trinh Quán thứ 4 (630), Đường sai Lý Tĩnh suất ba nghìn kị binh tinh nhuệ lợi dụng đêm tối tấn công vào nơi dựng lều của Hiệt Lợi, buộc Hiệt Lợi phải chạy đến Thiết Sơn (nay là khoáng khu Bạch Vân Ngạc Bác của Nội Mông). Tháng 3 năm Trinh Quán thứ 4 (630), Hiệt Lợi khả hãn bị bắt. Quân Đường đưa Hiệt Lợi khả hãn đến Trường An, về sau Hiệt Lợi khả hãn chịu đầu hàng nhà Đường, mất vì tuổi già tại Trường An. Trên vùng đất cũ của Đột Lợi khả hãn (tiểu khả hãn của Đông Đột Quyết), triều đình nhà Đường thiết lập bốn châu đô đốc phủ là Thuận, Hữu, Hóa và Trường; còn vùng đất cũ của Hiệt Lợi khả hãn thì lập Định Tương đô đốc phủ và Vân Trung đô đốc phủ. Năm 646, Đường liên hiệp với bộ lạc Hồi Hột và Thiết Lặc để tiêu diệt Tiết Diên Đà. Yên Nhiên đô hộ phủ quản lý vùng đất của người Thiết Lặc, trị sở đặt tại chân núi Âm Sơn (nay thuộc hậu kỳ Hàng Cẩm của Nội Mông). Năm 650, tướng Cao Khản (高侃) chỉ huy quân Đường bắt được Xa Tị khả hãn, từ đó đất cũ của Đông Đột Quyết nằm dưới quyền cai quản của triều đình nhà Đường. Đường Cao Tông đã thiết lập Hãn Hải đô hộ phủ (sau cải thành Thiền Vu đô hộ phủ), trị sở đặt tại Vân Trung cố thành (nay thuộc Hòa Lâm Cách Nhĩ của Nội Mông) và ba đô đốc Lĩnh Lang Sơn, Vân Trung, Tang Can. Những năm đầu Ngũ Đại Thập Quốc, người Khiết Đan xâm nhập, đến năm 916 thì họ đã chiếm được Vân Trung cố thành, Thiền Vu đô hộ phủ bị phế trừ. Năm 742, các bộ tộc người Duy Ngô Nhĩ (Uyghur), Cát La Lộc (Karluk), và Bạt Tất Mật (Basmyl) đã nổi dậy chống lại quyền thống trị của Đông Đột Quyết. Lãnh đạo Duy Ngô Nhĩ trở thành khả hãn tại cao nguyên Mông Cổ và lập ra Hồi Cốt. Theo các thư tịch Trung Hoa, lãnh thổ của Hồi Cốt sau đó đạt đến "ở cực đông đến lãnh thổ của người Thất Vi, phía tây đến dãy núi Altai, ở phía nam kiểm soát sa mạc Gobi, do vậy bao trùm toàn bộ lãnh thổ Hung Nô cổ". Cuộc nổi loạn của An Lộc Sơn vào năm 755 đã buộc Đường Túc Tông phải đề nghị Anh Vũ khả hãn của Hồi Cốt giúp đỡ vào năm 756. Khả hãn đồng ý, ra lệnh cho con trai cả đem quân hỗ trợ Hoàng đế nhà Đường. Kết quả, Hồi Cốt đã nhận được tặng phẩm của Đường vào năm 757 với 20.000 cuộn lụa và Anh Vũ khả hãn được Hoàng đế nhà Đường gả cho một người cháu gái là Ninh Quốc công chúa. Cuối cùng, quân Kiên Côn từ phía bắc đã xâm lược và phá hủy đế chế của người Duy Ngô Nhĩ, dẫn đến việc người Duy Ngô Nhĩ phải sống lưu vong khắp Trung Á. Minh giáo là quốc giáo của Hồi Cốt. Ngoài ra, ở phía đông của Nội Mông, người Khiết Đan cũng bắt đầu nổi lên. === Thời Liêu, Kim, Tây Hạ === Cuối thời Đường, khi mà Trung Nguyên bắt đầu bị chiến tranh loạn lạc thì tộc Khiết Đan nhân cơ hội này nổi lên, trở thành một thế lực rất hùng mạnh ở vùng Nội Mông. Họ thường bắt người Hán về làm ruộng và thu thuế. Đầu thời Ngũ Đại Thập Quốc tại Trung Nguyên, người Khiết Đan dưới sự lãnh đạo của Da Luật A Bảo Cơ đã sáng lập nên chính quyền Khiết Đan vào năm 907, kiến lập Khiết Đan quốc vào năm 916, đến năm 947 thì đổi quốc hiệu thành Liêu. Lúc đầu, A Bảo Cơ lập quốc đô tại Hoàng Đô (sau đổi là Thượng Kinh, nay là thành Ba La, phía nam tả kỳ Ba Lâm thuộc Nội Mông). Sau đó, người Khiết Đan lại định đô ở Lâm Hoàng (nay cũng thuộc tả kỳ Ba Lâm của Nội Mông), gọi là Thượng Kinh. Thời Liêu, Nội Mông Cổ phân thuộc Thượng Kinh đạo với trị sở tại Lâm Hoàng phủ (tả kì Ba Lâm ngày nay), Trung Kinh đạo với trị sở tại Đại Định phủ (Ninh Thành ngày nay) và Tây Kinh đạo với trị sở tại Đại Đồng phủ (nay thuộc Đại Đồng, tỉnh Sơn Tây). Người Nữ Chân ở vùng Đông Bắc Trung Quốc đã nổi dậy và cuối cùng đã tiêu diệt triều Liêu của người Khiết Đan vào năm 1125. Tàn dư của triều Liêu đã lập ra Bắc Liêu ở khu vực Bắc Kinh và Ninh Thành của Nội Mông hiện nay, tuy nhiên cũng sớm bị Kim tiêu diệt. Khi đó, đại bộ phận trung bộ và đông bộ Nội Mông thuộc quyền kiểm soát của Kim. Trong thời gian này, khu vực tây nam Nội Mông thuộc quyền kiểm soát của nước Tây Hạ- do người Đảng Hạng thành lập nên. Sau khi thành lập, Tây Hạ liên minh với Liêu chống lại Tống, đôi khi cho quân tiến vào lãnh thổ Tống. Năm 1044, Tây Hạ và Tống hòa hoãn, Tây Hạ chịu thần phục Tống, song Hạ và Liêu lại trở nên đối địch. Sau khi Lý Nguyên Hạo chết, Tây Hạ chịu nhiều thất bại quận sự trước Liêu, nên cũng phải thần phục Liêu. === Thời Mông Nguyên, Bắc Nguyên === Thành Cát Tư Hãn đã thống nhất các bộ lạc Mông Cổ vào năm 1206 và lập ra đế quốc Mông Cổ, người Mông Cổ tiêu diệt Tây Hạ vào năm 1227, và tiêu diệt Kim vào năm 1234. Năm 1271, cháu nội của Thành Cát Tư Hãn là Hốt Tất Liệt đã lập ra nhà Nguyên. Năm 1260, Hốt Tất Liệt đã đăng cơ tại Khai Bình, nằm gần Đa Luân của Nội Mông ngày nay. Năm 1263, Hốt Tất Liệt hạ chiếu thăng Khai Bình thành Thượng Đô. Năm 1267, Hốt Tất Liệt đã thiên đô về Trung Đô của Kim trước đây (tức Bắc Kinh ngày nay), Thượng Đô trở thành bồi đô của nhà Nguyên. Trong thời gian này, các bộ tộc Uông Cổ (Ongud) và Hoằng Cát Lạt (Onggirat) là các sắc dân thống trị khu vực nay là Nội Mông. Thời Nguyên, bắc bộ Nội Mông thuộc Lĩnh Bắc đẳng xứ hành trung thư tỉnh, tỉnh hội đặt tại Hòa Lâm (Karakorum, nay thuộc nước Mông Cổ). Khu vực Hô Luân Bối Nhĩ và Thông Liêu ở đông bộ thuộc Liêu Dương đẳng xứ hành trung thư tỉnh, một bộ phận tây bộ Nội Mông thuộc Cam Túc đẳng xứ hành trung thư tỉnh, một bộ phận nhỏ ở trung bộ Nội Mông thuộc Trung thư tỉnh (chịu sự quản lý trực tiếp của triều đình trung ương Nguyên). Ngày 8 tháng 1 năm 1359, Hồng cân quân (紅巾軍) đã công nhập Thượng Đô, đốt phá cung điện. Ngày 20 tháng 7 năm 1369, quân Minh công chiếm Thượng Đô. Sau khi trục xuất được người Mông Cổ ra khỏi Trung Nguyên, nhà Minh đã cho tái thiết Vạn Lý Trường Thành, gần tương ứng với ranh giới phía nam của khu tự trị Nội Mông hiện nay. Còn người Mông Cổ sau khi để mất Trung Nguyên đã rút về Tái Ngoại, phía bắc sa mạc Gobi và tái lập Bắc Nguyên. Nội Mông trở thành nơi đối kháng giữa Bắc Nguyên và Minh. Trong sự biến Thổ Mộc bảo năm 1449, thủ lĩnh người Ngõa Lạt (Oirat) là Dã Tiên (也先) đã bắt được hoàng đế nhà Minh là Minh Anh Tông. Sau đó, người Mông Cổ lại di chuyển từ phía bắc xuống phía nam. Từ đó đến năm 1635, Nội Mông là trung tâm chính trị và văn hóa của Bắc Nguyên. Trên thực tế, không lâu sau khi thành lập, Bắc Nguyên đã phân liệt thành các nhóm Thát Đát, Ngõa Lạt và Ngột Lương Cáp. Cuối thế kỉ 15, Đạt Diên Hãn (达延汗) của đông bộ Mông Cổ đã thống nhất Mạc Nam và thực hiện "Trung hưng". Đạt Diên Hãn đã tổ chức lại người Mông Cổ Đông thành 6 tümen (nghĩa là "vạn"). Mặc dù việc này đã làm suy yếu hệ thống quyền lực của dòng dõi hậu duệ Thành Cát Tư Hãn song nó đã tạo ra một tình hình hòa bình và người Mông Cổ Đông có thể mở rộng phạm vi ra bên ngoài. Năm 1572, A Lặc Thản Hãn (阿勒坦汗)-cháu của Đạt Diên Hãn, đã đưa Thổ Mặc Đặc bộ đến địa phận Hô Hòa Hạo Đặc ngày nay, xây dựng thành "Khố Khố Hòa Đồn" trong địa phận Ngọc Tuyền, từ đó, Thổ Mặc Đặc bộ bắt đầu thay đổi phương thức sinh hoạt từ du mục trên thảo nguyên sang định cư. Nền hoà bình tản quyền của người Mông Cổ được dựa trên sự thống nhất tôn giáo và văn hóa tạo ra bởi các hệ thống nghi lễ thờ cúng. A Lặc Thản Hãn thiết lập quan hệ phiên thuộc với nhà Minh, được triều Minh phong là "Thuận Nghĩa vương". Một loại bệnh dịch đậu mùa cùng việc không có thương mại đã khiến người Mông Cổ tràn sang cướp bóc tại các huyện của Trung Quốc. Năm 1571, nhà Minh đã mở cửa giao thương với 3 Tumen Hữu của Đông bộ Mông Cổ. Việc cải sang Phật giáo với quy mô lớn trong Ba Tumen Hữu diễn ra từ năm 1575. Triều đình nhà Minh đã từng thiết lập trên 20 vệ sở Mông Cổ ở tây bộ Liêu Đông, nam bộ Mạc Nam, bắc bộ Cam Túc và Cáp Mật, đứng đầu các vệ sở này là các thủ lĩnh phong kiến Mông Cổ. === Thời Thanh === Các bộ lạc Mông Cổ Đông chủ yếu thuộc nhánh Khoa Nhĩ Thấm (Khorchin) và Khách Nhĩ Khách (Khalkha) Nam ở khu vực đông bộ Nội Mông đã tiến hành thông hôn, lập liên minh với nhau và từng chiến đầu với người Nữ Chân. Những năm cuối thế kỷ 16 và đầu thế kỉ 17, Nỗ Nhĩ Cáp Xích đã thành lập nên nước Hậu Kim và dần kiểm soát được các bộ lạc Mông Cổ tại Mãn Châu. Người Mãn tiếp tục giành được quyền kiểm soát đối với các bộ lạc Mông Cổ ở xa hơn tại khu vực Nội Mông vào năm 1635, khi con trai của Lâm Đan Hãn (林丹汗) là Ngạch Triết (额哲) đã hạ lệnh các bộ lạc Sát Cáp Nhĩ của người Mông Cổ đầu hàng người Mãn. Người Mãn sau đó đã xâm nhập Trung Nguyên, lập ra nhà Thanh, tiêu diệt Nam Minh và thống trị toàn cõi Trung Quốc. Trong thời nhà Thanh (1636–1912), các khu vực khác nhau của Mông Cổ được quản lý theo các cách khác nhau: "Ngoại Trát Tát Khắc Mông Cổ": Tương ứng với nước Mông Cổ độc lập hiện nay, cộng thêm vùng Đường Nỗ Ô Lương Hải nay thuộc về Nga, và một phần phía bắc Tân Cương. Ngoại Mông bao gồm 4 bộ của nhánh Khách Nhĩ Khách (Khalkha) của người Mông Cổ ở phía bắc sa mạc Gobi, cũng như Đường Nỗ Ô Lương Hải và khu vực Khoa Bố Đa (Khovd) ở phía tây bắc, thuộc quyền quản lý của Ô Lý Nhã Tô Thai tướng quân (乌里雅苏台将军) từ thành Ô Lý Nhã Tô Thai (Uliastai). "Nội Trát Tát Khắc Mông Cổ": Tương ứng với Nội Mông ngày nay cộng thêm các khu vực lân cận của các tỉnh Liêu Ninh và Cát Lâm. Các kì và bộ trong khu vực này phân thuộc sáu minh: Triết Lý Mộc minh (哲里木盟), Chiêu Ô Đạt minh (昭乌达盟), Trác Tát Đồ minh (卓索图盟), Tích Lâm Quách Lặc minh (锡林郭勒盟), Ô Lan Sát Bố minh (乌兰察布盟), Y Khắc Chiêu minh (伊克昭盟) "Tây Sáo Mông Cổ": gồm A Lạp Thiện Ách Lỗ Đặc kỳ (阿拉善厄鲁特旗, Alashan Öölüd) và Ngạch Tể Nạp Thổ Nhĩ Hỗ Đặc kỳ (额济纳土尔扈特旗, Ejine Torghuud) tách biệt so với các bộ của Ngoại Mông và các minh của Nội Mông. Lãnh thổ hai kỳ này gần tương ứng với minh A Lạp Thiện ở cực tây Nội Mông hiện nay. "Bát Kỳ Sát Cáp Nhĩ: được quản lý bởi chỉ huy quân sự tại Sát Cáp Nhĩ (nay là Trương Gia Khẩu). Phạm vi của nó tương ứng với nam bộ Ô Lan Sát Bố và Ba Ngạn Náo Nhĩ của Nội Mông hiện nay, cộng thêm khu vực quanh Trương Gia Khẩu thuộc tỉnh Hà Bắc. Đương thời, Bát kỳ Sát Cáp Nhĩ cũng quản lý một số khu vực giáp giới của Trực Lệ và Sơn Tây. Quy Hóa thành Thổ Mặc Đặc kỳ (归化城土默特): thuộc quyền kiểm soát của chỉ huy quân sự tại Tuy Viễn (nay là Hô Hòa Hạo Đặc). Phạm vi của kỳ này tương ứng với vùng phụ cận thành phố Hô Hòa Hạo Đặc hiện nay. Đương thời, Quy Hóa thành Thổ Mặc Đặc kỳ cũng quản lý các vùng giáp ranh của tỉnh Sơn Tây ngày nay. Vùng Hô Luân Bối Nhĩ ở Đông Bắc Nội Mông thuộc quyền quản lý của Hắc Long Giang tướng quân, một trong ba tướng quân nha môn tại Mãn Châu. Thông thường thì người Mông Cổ không được phép để người ngoài vào minh của mình. Tuy nhiên, trong suốt thế kỷ 18, người Hán bắt đầu định cư bất hợp pháp với số lượng ngày càng tăng trong vùng thảo nguyên Nội Mông Cổ. Năm 1791, đã có rất nhiều người Hán định cư tại Tiền Quách Nhĩ La Tư kỳ (nay thuộc Cát Lâm) đến nỗi trát tắc khắc (扎萨克, jasak, quan chức Mông Cổ bản địa) đã thỉnh cầu triều đình nhà Thanh hợp pháp hóa tình trạng của những nông dân đã định cư tại kỳ của mình. Trong thế kỷ 19, người Mãn ngày càng bị Hán hóa, họ cũng phải đối mặt với mối đe dọa đến từ Nga, vì thế triều đình nhà Thanh bắt đầu cho phép và khuyến khích các nông dân người Hán đến định cư cả ở Mông Cổ lẫn Mãn Châu. Các tuyến đường sắt được xây dựng trong khu vực đặc biệt hữu ích đối với những người Hán định cư. Đất đai của người du mục hoặc là được bán cho các thân vương Mông Cổ, hoặc cho các nông dân người Hán thuê, đôi khi điều này chỉ đơn giản là lấy đất của người du mục và trao cho nông dân người Hán. === Thời Dân Quốc === Ngoại Mông đã giành được độc lập vào năm 1911, khi Triết Bố Tôn Đan Ba Hô Đồ Khắc Đồ (Jebtsundamba Khutuktu, lãnh tụ tinh thần Cách-lỗ phái của Mông Cổ) thứ tám trở thành hãn của Mông Cổ, tức Bogd Khan. Mặc dù hầu hết các kỳ ở Nội Mông công nhận Bogd Khan là lãnh tụ tối cao của người Mông Cổ, tuy nhiên xung đột nội bộ trong khu vực đã ngăn cản một sự thống nhất hoàn chỉnh. Các cuộc nổi dậy của người Mông Cổ tại Nội Mông đã gặp phải trở ngại khi các thân vương Mông Cổ hy vọng vào việc nhà Thanh phục hồi tại Mãn Châu và Mông Cổ do họ nhận định sự cai trị thần quyền của Bogd Khan sẽ làm cản trở mục tiêu hiện đại hóa Mông Cổ. Trung Hoa Dân Quốc ra đời và hứa hẹn về một quốc gia mới của năm dân tộc (Hán, Mãn, Mông, Tạng và Hồi), và tiến hành đàn áp các cuộc nổi dậy của người Mông Cổ trong khu vực, buộc các thân vương tại Nội Mông phải công nhận Trung Hoa Dân Quốc. Sau đó, chính phủ Quốc dân tái tổ chức Nội Mông thành 5 tỉnh: Nhiệt Hà bao gồm các minh Chiêu Ô Đạt và Trác Tát Đồ, cộng thêm khu vực Thừa Đức thuộc tỉnh Hà Bắc hiện nay. Sát Cáp Nhĩ bao gồm minh Tích Lâm Quách Lặc cũng như phần lớn của Bát kỳ Sát Cáp Nhĩ trước đây. Tuy Viễn bao gồm minh Ô Lan Sát Bố, Y Khắc Chiêu và khu vực Hà Sáo (Quy Hóa thành Thổ Mặc Đặc kỳ trước đó) Hô Luân Bối Nhĩ nằm trong địa phận của tỉnh Hắc Long Giang. Hầu hết minh Triết Lý Mộc thuộc về tỉnh Phụng Thiên. Tây Sáo Mông Cổ, tức hai kỳ A Lạp Thiện và Ngạch Tể Nạp được hợp nhất vào tỉnh Cam Túc. Sau khi Ninh Hạ tách khỏi Cam Túc, Tây Sáo Mông Cổ thuộc về tỉnh Ninh Hạ. === Thời Mãn Châu Quốc và Mông Cương === Sau sự biến Mãn Châu vào năm 1931, vùng Mãn Châu bao gồm cả đông bộ Nội Mông (Hô Luân Bối Nhĩ và Triết Lý Mộc) bị Nhật Bản chiếm đóng. Ngày 18 tháng 2 năm 1932, người Nhật đã tuyên bố thành lập Mãn Châu Quốc, người đứng đầu Mãn Châu Quốc trên danh nghĩa là cựu hoàng đế Phổ Nghi của nhà Thanh. Ban đầu, Mãn Châu Quốc thành 5 tỉnh, trong đó hai tỉnh Hưng An và tỉnh Nhiệt Hà thuộc địa bàn Nội Mông hiện nay. Sau đó, tỉnh Hưng An được thành bốn tỉnh là Hưng An Bắc, Hưng An Đông, Hưng An Tây và Hưng An Nam. Đến năm 1943 thì lại hợp lại thành tổng tỉnh Hưng An. Trong thời gian diễn ra Chiến tranh Trung-Nhật, vương gia Mông cổ là Đức Quận vương Demchugdongrub đã hợp tác với người Nhật và tuyên bố độc lập tại phần còn lại của Nội Mông (tức tại Tuy Viễn và Sát Cáp Nhĩ). Đến tháng 10 năm 1937, nó được đổi tên thành Mông Cổ Liên minh Tự trị Chính phủ (蒙古聯盟自治政府). Vào ngày 1 tháng 9 năm 1939, các chính quyền chủ yếu là người Hán ở Nam Sát Cáp nhĩ và Bắc Sơn Tây được hợp nhất với Mông Cổ Liên minh Tự trị Chính phủ, hình thành Mông Cương Liên hiệp Tự trị Chính quyền (蒙疆聯合自治政府). Thủ phủ của chính quyền này nằm gần Khách Lạp Can (Trương Gia Khẩu), quyền kiểm soát trải rộng đến tận khu vực quanh Hohhot. Sau khi Uông Tinh Vệ thành lập chính quyền mới của Trung Hoa Dân Quốc ở Nam Kinh, Mông Cương được đặt dưới sự kiểm soát của thế lực này mặc dù vẫn hoàn toàn tự trị. Trong Chiến dịch Mãn Châu (1945), Hồng quân Liên Xô đã đánh bại quân Nhật, chiếm đóng cả Mãn Châu Quốc lẫn Mông Cương. Liên Xô đã sử dụng Mông Cổ làm căn cứ cho chiến dịch Mãn Châu và đã đánh bại được quân Nhật. Quân đội Nhân dân Mông Cổ đóng vai trò giới hạn trong xung đột, nhưng nó đã giúp Stalin có phương tiện để buộc phía Trung Hoa Dân Quốc phải công nhận nền độc lập của Mông Cổ. Hiệp ước Trung-Xô đã đánh dấu việc phân chia vĩnh viễn Mông Cổ thành nước Cộng hòa Nhân dân Mông Cổ độc lập và vùng Nội Mông thuộc Trung Quốc. === Sau Thế chiến II === Vào cuối Chiến tranh thế giới thứ hai, phe cộng sản đã có một lực lượng dân quân, tích cực chống đối nỗ lực độc lập của các thân vương người Mông Cổ thuộc dòng dõi Thành Cát Tư Hãn với danh nghĩa chống chế độ phong kiến. Sau khi kết thúc chiến tranh, Cộng sản đảng đã giành được quyền kiểm soát Mãn Châu cũng như Nội Mông với sự hỗ trợ của Liên Xô. Tháng 4 năm 1947, tại Vương Da miếu (王爺廟) thuộc Ô Lan Hạo Đặc ngày nay, đã diễn ra hội nghị Đại biểu Nhân dân Nội Mông Cổ, hội nghị này đã thông qua việc thành lập chính phủ tự trị Nội Mông Cổ, cử Ô Lan Phu (乌兰夫) làm chủ tịch chính phủ tự trị. Ban đầu, khu tự trị Mông Cổ chỉ bao gồm khu vực Hô Luân Bối Nhĩ, sau đó nó được mở rộng về phía tây khi quân Cộng sản thành lập Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa và kiểm soát hoàn toàn Trung Quốc đại lục. Nội Mông cuối cùng bao gồm lãnh thổ 5/6 minh từ thời nhà Thanh (riêng minh Trác Tác Đồ vẫn thuộc tỉnh Liêu Ninh), phần phía bắc của khu vực Sát Cáp Nhĩ (khu vực phía nam thuộc tỉnh Hà Bắc), vùng Hà Sáo. Năm 1954, chính phủ nhân dân khu tự trị Nội Mông Cổ dời đến thành phố Quy Tuy, đổi tên thành Hohhot. Cùng năm, tỉnh Ninh Hạ bị bãi bỏ, các kì A Lạp Thiện và Ngạch Tể Nạp quy thuộc khu tự trị Nội Mông. Năm 1955, tỉnh Nhiệt Hà bị bãi bỏ, ba huyện Xích Phong, Ô Đan, Ninh Thành cùng ba kì Ngao Hán, Khách Lạt Thấm, Ông Ngưu Đặc quy thuộc minh Chiêu Ô Đạt của khu tự trị Nội Mông. Trong Cách mạng văn hóa, chính phủ của Ô Lan Phu bị thanh lọc, và một làn sóng đàn áp đã được khởi xướng để chống lại người Mông Cổ trong khu tự trị. Năm 1969, một phần lớn lãnh thổ của Nội Mông bị phân chia cho các tỉnh xung quanh, Hô Luân Bối Nhĩ bị phân chia giữa Hắc Long Giang và Cát Lâm, Triết Lý Mộc sáp nhập và Cát Lâm, Chiêu Ô Đạt bị sáp nhập vào Liêu Ninh, còn khu vực A Lạp Thiện và Ngạc Tể Nạp bị phân chia giữa Cam Túc và Ninh Hạ. Đến năm 1979, các vùng đất này lại được chuyển về cho Nội Mông. Nội Mông Cổ đã phát triển đáng kể kể từ khi Đặng Tiểu Bình khởi xướng cải cách kinh tế vào năm 1978. Trong thập niên đầu của thế kỷ 21, tăng trưởng GDP của Nội Mông đã vươn lên xếp vào hàng cao nhất tại Trung Quốc, chủ yếu là nhờ ngành công nghiệp tài nguyên thiên nhiên trong khu vực. == Địa lý == Khu tự trị Nội Mông có lãnh thổ trải dài từ đông sang tây, lần lượt tiếp giáp với các tỉnh Hắc Long Giang, Cát Lâm, Liêu Ninh, Hà Bắc, Sơn Tây, Thiểm Tây, Cam Túc và Khu tự trị dân tộc Hồi Ninh Hạ. Nội Mông có 4.200 km đường biên giới quốc tế với Nga (vùng Zabaykalsky) ở phía tây của địa cấp thị Hulunbuir và với Mông Cổ (các tỉnh Dornod, Sukhbaatar, Dornogovi, Omnogovi, Bayankhongor và một đoạn nhỏ với tỉnh Govi-Altai) ở phía bắc. Nội Mông trải dài 2.400 km theo chiều đông tây, 1.700 km theo chiều bắc nam và nằm trên ba khu vực lớn của Trung Quốc là: Đông Bắc, Hoa Bắc và tây bắc. Tổng diện tích của khu tự trị Mông Cổ là 1,183 triệu km², chiếm 12,3% tổng diện tích toàn Trung Quốc, đứng thứ ba trong số các đơn vị hành chính cấp tỉnh tại Trung Quốc. === Địa hình === Nhìn chung, khu tự trị Nội Mông Cổ có địa mạo cao nguyên, phần lớn các khu vực có cao độ trên 1.000 mét. Cao nguyên Nội Mông Cổ là cao nguyên cao thứ hai trong bốn cao nguyên lớn của Trung Quốc (cùng với cao nguyên Thanh Tạng, cao nguyên Hoàng Thổ và cao nguyên Vân-Quý). Ngoài ra, một số bộ phận nhỏ ở cực nam của Nội Mông cũng thuộc về cao nguyên Hoàng Thổ. Ngoài cao nguyên, Nội Mông còn có các vùng núi, gò đồi, bình nguyên, sa mạc, mặt nước. === Khí hậu === Do ảnh hưởng của vị trí địa lý và địa hình, Nội Mông có các vùng khí hậu phức tạp và đa dạng song chủ yếu là khí hậu ôn đới gió mùa lục địa. Vào mùa xuân, nhiệt độ tăng lên, có nhiều gió lớn; mùa hè ấm và rất ngắn, lượng giáng thủy tập trung vào mùa này; nhiệt độ giảm rõ rệt vào mùa thu, sương giá thường đến sớm; mùa đông có nhiệt độ lạnh khắc nghiệt và kéo dài, có nhiều đợt sóng lạnh ập đến. Lượng giáng thủy hàng năm của Nội Mông dao động từ 100–500 mm, mỗi năm có từ 80-150 ngày không có sương giá, số giờ nắng hàng năm là trên 2.700 giờ. Đại Hưng An lĩnh và dãy núi Âm Sơn là các giới tuyến phân chia khí hậu tự nhiên trọng yếu của Nội Mông. === Tài nguyên nước === Nội Mông có hàng nghìn sông và gần một nghìn hồ lớn nhỏ, trong đó có 107 sông có diện tích lưu vực trên 1000 km², 258 sông có diện tích lưu vực 300 km². Sông lớn nhất tại Nội Mông là Hoàng Hà, chảy vào Nội Mông ở phụ cận Thạch Chủy Sơn thuộc Ninh Hạ. Trên địa phận Nội Mông, ban đầu Hoàng Hà chảy từ nam lên bắc sau đó lại chuyển hướng đông-tây (từ Bayan Nur) và bắc-nam (từ Hohhot), quanh cao nguyên Ordos, hình thành một hình móng ngựa. Khu vực quanh đoạn hình móng ngựa này của Hoàng Hà được gọi là Hà Sáo (河套) và được chia tiếp thành hai phần đông và tây, trong đó phần thuộc Nội Mông chủ yếu thuộc Đông Sáo. Lượng tài nguyên nước bề mặt của toàn Nội Mông là 40,66 tỉ m³, nếu không tính Hoàng Hà thì hạ xuống còn 37,1 tỉ m³, chỉ chiếm 1,67% so với toàn Trung Quốc; lượng tài nguyên nước ngầm của Nội Mông là 13,925 tỉ m³, chiếm 2,9% so với toàn Trung Quốc; sau khi khấu trừ, tổng tài nguyên nước của Nội Mông là 54,595 tỉ m³. Tính trung bình mỗi năm, một người dân Nội Mông có 2.370 m³ nước, một ha đất canh tác có khoảng một vạn m³ nước. Tuy vậy, tài nguyên nước ở Nội Mông phân bố không đồng đều và cũng không thuận lợi cho con người cũng như hoạt động canh tác. Lưu vực Hắc Long Giang ở Hulunbuir và Hưng An ở đông bộ chiếm 27% diện tích toàn Nội Mông, tuy nhiên tổng tài nguyên nước lại chiếm 65% của toàn khu tự trị. Hồ Hô Luân ở Hunlunbuir là một trong các hồ nước ngọt có diện tích bề mặt lớn nhất Trung Quốc với diện tích 2.339 km². Hồ bị đóng băng từ đầu tháng 11 tới đầu tháng 5 năm sau và lớp băng có thể dày tới 1 mét. Đổ nước vào hồ Hô Luân là sông Khắc Lỗ Luân có tổng chiều dài 1.254 km, chảy từ nước Mông Cổ sang và sông Ô Nhĩ Tốn (乌尔逊河) dài 223 km chảy từ hồ Bối Nhĩ trên biên giới giữa Nội Mông và nước Mông Cổ, chảy vào hồ Bối Nhĩ là sông Khalkhyn Gol nổi tiếng. Thông qua một hệ thống sông nhỏ và kênh rạch, nước từ hồ Hô Luân chảy vào sông Ngạch Nhĩ Cổ Nạp. Sông Ngạch Nhĩ Cổ Nạp bắt nguồn từ sườn tây của Đại Hưng An lĩnh, sau đó sông tạo thành 944 km đường biên giới tự nhiên giữa Trung Quốc (Nội Mông) với Nga (vùng Zabaykalsky). Sông Ngạch Nhĩ Cổ Nạp sau đó hợp lưu với sông Shilka để tạo thành Hắc Long Giang. Sườn đông Đại Hưng An lĩnh của Nội Mông thuộc lưu vực Nộn Giang, một số chi lưu của Nộn Giang chảy trên địa phận Nội Mông là Cam Hà (甘河), sông Hoắc Lâm (霍林河), sông Nhã Lỗ (雅鲁河), sông Nặc Mẫn (诺敏河), sông Thao Nhi (洮儿河). Một bộ phận Nội Mông thuộc lưu vực Tây Liêu Hà của Liêu Hà, và sông Vĩnh Định của Hải Hà, Loan Hà. Tổng diện tích Liêu Hà, Hải Hà, Loan Hà, Hoàng Hà chiếm 26% tổng diện tích của Nội Mông, chiếm 25% tổng lượng tài nguyên nước của Nội Mông.. Sông Tây Nạp Mộc Luân (西拉木伦河) hợp lưu với sông Lão Cáp (老哈河) tại Thông Liêu để hình thành nên Tây Liêu Hà, sau đó Tây Liêu Hà còn nhận thêm nước từ Tân Khai Hà trước khi hợp lưu với Đông Liêu Hà, Đông Liêu Hà tạo thành một đoạn ranh giới tự nhiên ngắn giữa Nội Mông và Liêu Ninh. Các hồ lớn khác tại Nội Mông là Đạt Lý Nặc Nhĩ (达里诺尔) ở Xích Phong và Ô Lương Tố Hải (乌梁素海) ở tiền kỳ Ô Lập Đặc. === Sa mạc === Sa mạc Gobi trải trên một diện tích lớn lãnh thổ Nội Mông và phía nam của nước Mông Cổ. Sa mạc Gobi là sa mạc có diện tích lớn thứ 4 trên thế giới. Phần tây nam của sa mạc Gobi thuộc tây bộ Nội Mông còn được gọi với cái tên Tiểu Gobi được giới hạn bởi Hoàng Hà ở phía đông, sông Ngạch Tể Nạp (额济纳河) ở phía tây và phía tây nam là dãy Kỳ Liên Sơn với cao độ 3.200 đến 3.500 m (10.500 đến 11.500 ft). Sa mạc Ordos bao trùm phần Đông Bắc của cao nguyên Ordos, tại đoạn uốn khúc cực bắc của Hoàng Hà, là một bộ phận của vùng sinh thái này. Sa mạc Badain Jaran ở minh Alxa của Nội Mông cũng là một trong các sa mạc lớn nhất Trung Quốc với diện tích vào khoảng 44.300 km², đây cũng là sa mạc có đỉnh cát cao nhất thế giới với cao độ 1609,597 m so với mực nước biển. Sa mạc Tengger nằm ở tây bộ Nội Mông và trung bộ Cam Túc, kéo dài từ Hạ Lan Sơn (贺兰山) ở phía đông đến Nhã Bố Lại Sơn (雅布赖山) ở phía tây cũng là một trong các sa mạc lớn nhất Trung Quốc. Chính quyền trung ương Trung Quốc và chính quyền Nội Mông cũng tích cực chống hoang mạc hóa và sa hóa, năm 2009 toàn khu tự trị có 926 triệu mẫu bị hoang mạc hóa, giảm 3.100 mẫu so với năm 1999; diện tích bị sa hóa của Nội Mông vào năm 2009 là 622 triệu mẫu, giảm 9,18 triệu mẫu so với năm 1999. === Sinh vật === Nội Mông có 2.718 loài thực vật hoang dã, chủ yếu gồm các loại cây cao, cây bụi, thực vật nửa thân gỗ, thực vật thân cỏ, trong đó thực vật thân cỏ phân bố trên diện tích rộng lớn nhất. Theo phân loại sinh học, Nội Mông có 2.208 loài thực vật có hạt, 62 loài quyết, 511 loài rêu. Về động vật, Nội Mông có 712 loài động vật hoang dã, chủ yếu bao gồm 138 loại thú, 436 loại chim, 28 loài bò sát, 9 loài lưỡng cư. Trong đó có 116 loài động vật được liệt vào danh sách bảo hộ trọng điểm cấp quốc gia và khu vực, với 26 loài động vật được bảo hộ cấp 1, 90 loài động vật được bảo hộ cấp 2. == Nhân khẩu == Khi thành lập khu tự trị Nội Mông Cổ vào năm 1947, người Hán đã chiếm 83,6% tổng dân số, trong khi người Mông Cổ chiếm 14,8%. Đến năm 2000, tỷ lệ người Hán giảm xuống còn 79,17%. Khu vực Hà Sáo dọc theo Hoàng Hà từ xa xưa đã có sự xen kẽ giữa những người nông dân ở phía nam và dân du mục ở phía bắc, những thế hệ người Hán nhập cư gần đây bắt đầu từ thế kỷ 18 với sự khuyến khích của nhà Thanh và tiếp tục cho đến thế kỷ 20. Người Hán sinh sống chủ yếu tại vùng Hà Sáo cũng như các trung tâm dân cư khác ở trung và miền đông Nội Mông Cổ. Người Mông Cổ là nhóm dân tộc đông thứ hai tại Nội Mông, chiếm khoảng 17% dân số. Họ bao gồm nhiều bộ tộc nói tiếng Mông Cổ khác nhau; các nhóm như người Buryat và người Oriat cũng được chính thức coi là người Mông Cổ tại Trung Quốc. Nhiều nhóm người Mông Cổ du mục truyền thống nay đã định cư và hình thành các xã hội nông thôn và tập thể hóa từ thời Mao Trạch Đông. Các dân tộc khác là Daur (Đạt Oát Nhĩ), Evenk (Ngạc Ôn Khắc), Oroqin (Ngạc Xuân Luân), Hồi, Mãn và Triều Tiên. === Ngôn ngữ === Người Hán tại Nội Mông Cổ khá đa dạng về phương ngữ và tùy thuộc theo vùng. Phần phía đông nói phương ngữ Đông Bắc, còn khu vực miền trung, như thung lũng Hoàng Hà, sử dụng tiếng Tấn, một phương ngữ khác của Quan thoại, do có vị trí gần các khu vực nói tiếng Tấn tại Trung Quốc như tỉnh Sơn Tây. Các thành phố như Hohhot và Bao Đầu đều nói tiếng Tấn và thỉnh thoảng không hiểu các phương ngữ khác được sử dụng ở khu vực Đông Bắc của khu tự trị như là ở Hailar. Người Mông Cổ tại Nội Mông Cổ nói nhiều phương ngữ khác nhau của tiếng Mông Cổ, bao gồm Chahar, Bairin, Ordos, Ejin-Alxa, Barghu-Buryat… Tiếng Mông Cổ chuẩn tại Trung Quốc là phương ngữ Chahar của kỳ Chính Lam ở miền trung Nội Mông Cổ. Điều này khác biệt với tiếng Mông Cổ tại Mông Cổ, vốn lấy phương ngữ Khalkha làm chuẩn. Người người Daur, Evenk và Oroqin nói các ngôn ngữ tương ứng của dân tộc mình. Theo luật, tất cả các ký hiệu đường phố, cửa hàng thương mại và các văn bản chính quyền đều được thể hiện bằng song ngữ Mông Cổ và Hán. Hiện có ba kênh truyền hình tiếng Mông Cổ của mạng Truyền hình vệ tinh Nội Mông Cổ. Gần đây, điều này cũng áp dụng cho các phương tiện giao thông công cộng, và tất cả các cáo thị đều viết bằng song ngữ. Nhiều người Mông Cổ, đặc biệt là giới trẻ hiện có thể nói tiếng Trung lưu loát, và tiếng Mông Cổ đang dần trở nên vắng bóng trong cuộc sống thường nhật tại các khu vực đô thị. Tuy vậy, người Mông Cổ ở khu vực nông thôn vẫn duy trì các truyền thống văn hóa của mình. Về chữ viết, Nội Mông Cổ vẫn sử dụng chữ cái Mông Cổ truyền thống trong khi nước Mông Cổ độc lập ngày nay sử dụng bảng chữ cái Kirin. == Hành chính == == Kinh tế == Theo hạch toàn sơ bộ, năm 2011, tổng GDP của Nội Mông là 1,424611 nghìn tỉ NDT, theo giá cả so sánh thì tăng trưởng 14,3% so với năm trước đó. Nếu chỉ tính số người thường trú thì GDP bình quân đầu người là 57.515 NDT, theo tỷ giá hối đoái trung bình năm thì tương đương với 8.950 USD. Năm 2011, tỷ lệ giữa ba khu vực trong nền kinh tế của Nội Mông là 9,2:56,8:34. Nội Mông có 7.149.000 ha đất canh tác, 86.667.000 ha đồng cỏ. Theo số liệu năm 2008 thì toàn khu tự trị có 659 triệu mẫu đất rừng, diện tích rừng là 355 triệu mẫu, tỷ lệ che phủ rừng đạt 20%. Năm 2011, tổng sản lượng lương thực của Nội Mông đạt 47,75 tỉ cân, toàn khu có 107,62 triệu đầu gia súc, liên tục bảy năm có trên 100 triệu đầu gia súc. Trong đó có 83,4747 triệu con cừu, 9,5633 triệu con bò. Tuy nhiên, lượng cừu và bò chăn nuôi thuần mục tại Nội Mông đang giảm xuống, kiểu chăn nuôi bán nông bán mục và ở các khu vực nông nghiệp đang tăng lên. Năm 2011, sản lượng thịt, sữa bò, trứng gia cầm của Nội Mông lần lượt đạt 2,55 triệu tấn, 9,6 triệu tấn và 530.000 tấn. Sáu ngành công nghiệp có ưu thế và chiếm vị trí chủ đạo là năng lượng, luyện kim, chế biến nông sản và mục sản, công nghiệp hóa học, chế tạo thiết bị và các ngành công nghệ cao. Năm 2011, sáu ngành này chiếm tới 94,4% giá trị công nghiệp của Nội Mông. Trung tâm Phóng vệ tinh Tửu Tuyền nằm ở kì Ejin ở tây bộ Nội Mông. Đây là nơi đã phóng một số vệ tinh của Trung Quốc, bao gồm cả Đông Phương Hồng 1 vào năm 1970 và các tàu Thần Châu về sau này. Tính đến cuối năm 2010, người ta đã phát hiện ra 143 chủng loại khoáng sản tại Nội Mông, trong đó đã xác minh được trữ lượng của 97 loại. Nội Mông đứng đầu tại Trung Quốc về trữ lượng 12 loại khoáng sản, và có trữ lượng 30 loại đứng vào hàng ba địa phương cao nhất tại Trung Quốc. Trữ lượng đất hiếm đã được xác minh của Nội Mông đứng ở vị trí đầu tiên trên thế giới, tổng lượng quặng ô xít của chúng là 106.654.100 tấn. Trữ lượng than đá theo ước tính của toàn Nội Mông là 760,142 tỉ tấn, trong đó đã xác minh được trữ lượng 362,981 tỉ tấn, đứng đầu tại Trung Quốc. Cũng đã xác minh được tại Nội Mông có trữ lượng 1,474663 nghìn tỉ m³ khí thiên nhiên và 556.712.000 tấn dầu mỏ, 504,46 tấn vàng và 31.500 tấn bạc. == Du lịch == Nội Mông có sự đa dạng về các cảnh quan du lịch như thảo nguyên, rừng, sa mạc, sông, hồ, suối nước nóng, băng tuyết, biên giới, tập quán dân tộc, di tích lịch sử. Lăng Thành Cát Tư Hãn tại Ordos là một điểm du lịch tầm cỡ của Nội Mông, tuy nhiên đây thực chất là một bảo tàng chứ không có di cốt của vị đại hãn này, và người ta cũng chưa phát hiện được di cốt của đại hãn. Chiêu Quân mộ ở thủ phủ Hohhot được cho là nơi yên nghỉ của Vương Chiêu Quân, một trong Tứ đại mỹ nhân Trung Hoa. Nội Mông cũng sở hữu nhiều đoạn Trường Thành cổ. Ở Đông Bắc Âm Sơn trên địa phận Bao Đầu có Ngũ Đang Triệu (五當召), một tu viện Phật giáo Tây Tạng có tuổi đời hàng trăm năm. Ngoài ra, Nội Mông còn có còn có chùa Đại Chiêu (大召) ở Hohhot được xây dựng từ năm 1579, miếu Bối Tử (贝子庙) ở Xilinhot được xây từ năm 1743, chùa Ngũ Tháp (五塔寺) ở Hohhot được xây từ thế kỷ 15. Thảo nguyên Hulunbuir là đồng cỏ tự nhiên đẹp nhất Trung Quốc. Công viên địa chất quốc gia kì Hexigten (克什克腾旗国家地质公园), công viên địa chất quốc gia suối nước nóng và núi lửa Arxan (阿尔山火山温泉国家地质公园) có cảnh quan độc đáo, có giá trị cao về mặt khoa học. Tính đến cuối năm 2011, khu tự trị Nội Mông Cổ có trên 300 điểm du lịch có quy mô nhất định. Ngoài ra, lễ hội Naadam hay lễ hội nghệ thuật trang phục dân tộc Mông Cổ, lễ hội du lịch ba nước Trung-Nga-Mông ở Mãn Châu Lý cũng là các sản phẩm du lịch đem đến sự đặc sắc cho du lịch Nội Mông. == Giao thông == Các tuyến đường sắt Kinh-Thông, Kinh-Bao và Bao-Lan chạy từ đông sang tây Nội Mông, kết nối các khu vực Đông Bắc, Hoa Bắc và tây bắc của Trung Quốc. Mãn Châu Lý và Erenhot là hai cửa khẩu đường sắt lớn, kết nối hệ thống đường sắt Trung Quốc với hệ thống đường sắt của Nga và Mông Cổ, từ đó có thể đi đến các nước châu Âu. Hệ thống đường sắt tại Nội Mông phân thuộc sự quản lý của cục đường sắt Hohhot, cục đường sắt Cáp Nhĩ Tân và cục đường sắt Thẩm Dương. Tính đến cuối năm 2011, hệ thống công lộ toàn khu tự trị Nội Mông đạt tổng lý trình 160.995 km, trong đó có 2.874 km đường công lộ cao tốc. Về cơ bản, các thôn và ca tra (嘎查) hành chính đều đã thông công lộ. Năm 2011, các doanh nghiệp thông qua hệ thống công lộ của Nội Mông đã vận chuyển được 218 triệu lượt hành khách và 1,037 tỉ tấn hàng hóa. Trên địa bàn Nội Mông có một số sân bay như: sân bay Ulanhot, sân bay Ô Hải, sân bay quốc tế Saiwusu Erenhot, sân bay Bao Đầu, sân bay Đông Sơn Hailar, sân bay quốc tế Bạch Tháp Hohhot, sân bay Mãn Châu Lý, sân bay Xích Phong, sân bay Thông Liêu, sân bay Ordos, sân bay Xilinhot, sân bay Arxan, sân bay Bayannur == Các trường đại học == Tại Hohhot Đại học Nội Mông Cổ (内蒙古大学) Đại học Công nghiệp Nội Mông Cổ (内蒙古工业大学) Đại học Nông nghiệp Nội Mông Cổ (内蒙古农业大学) Đại học Sư phạm Nội Mông Cổ (内蒙古师范大学) Đại học Y Nội Mông Cổ (内蒙古医科大学) Đại học Tài chính-Kinh tế Nội Mông Cổ (内蒙古财经学院) Học viện Dân tộc Hohhot (呼和浩特民族学院) Tại Bao Đầu Đại học Khoa học-Kỹ thuật Nội Mông Cổ (内蒙古科技大学) Tại Thông Liêu Đại học Dân tộc Nội Mông Cổ (内蒙古民族大学) Tại Hailar Học viện Hulunbuir (呼伦贝尔学院) Tại Xích Phong Học viện Xích Phong (赤峰学院) Tại Tập Ninh Học viện Sư phạm Tập Ninh (集宁师范学院) Tại Bayannur Học viện Hà Sáo (河套学院) == Tham khảo == == Liên kết ngoài ==
chiến lược chuỗi ngọc trai.txt
Chuỗi Ngọc Trai dùng để chỉ các tuyến giao thông hàng hải Trung Quốc kéo dài đến Port Sudan. Đường biển chạy qua eo biển chiến lược điểm nút thắt của eo biển Mandab, eo biển Malacca, eo biển Hormuz và eo biển Lombok cũng như các lợi ích hải quân chiến lược quan tâm khác như Pakistan, Sri Lanka, Bangladesh, Maldives và Somalia. Thuật ngữ này được sử dụng trong một báo cáo nội bộ của Bộ Quốc phòng Hoa Kỳ có tiêu đề "Năng lượng tương lai ở châu Á". "Chiến lược "Chuỗi Ngọc Trai" mô tả các biểu hiện ảnh hưởng địa chính trị đang gia tăng của Trung Quốc tăng thông qua các nỗ lực để tăng sự tiếp cận vào các cảng và sân bay, phát triển các mối quan hệ đặc biệt ngoại giao, và hiện đại hoá lực lượng quân sự mà mở rộng từ biển Nam Trung Hoa thông qua eo biển Malacca, qua Ấn Độ đại dương, và đến vịnh Ba Tư. Chủ tịch Trung Quốc Hồ Cẩm Đào đã tuyên bố là mục tiêu của chiến lược hải quân của Trung Quốc, một "đại dương hài hòa" và "Trung Quốc không bao giờ tìm kiếm sự bá quyền, cũng như không biến mình thành một thế lực bành trướng quân sự hay các cuộc đua vũ trang với các quốc gia khác ". Một số người Ấn Độ lo sợ rằng Chuồi Ngọc Trai có thể đưa Ấn Độ vào thế bất lợi quân sự, và thiếu một chiến lược lớn của Ấn Độ cho phép Trung Quốc phát triển các mối quan hệ với các nước khác trong khu vực. == An ninh năng lượng == Tuyến giao thông đường biển từ Hồng Kông đến Port Sudan đã trở thành một nguồn của cuộc xung đột đối với an ninh năng lượng trong tương lai của Trung Quốc. Trung Quốc là quốc gia tiêu thụ dầu mỏ lớn thứ nhì thế giới và là nước nhập khẩu dầu mỏ lớn thứ ba thế giới. Trung Quốc nhập khẩu 15% lượng dầu từ Tây Phi, và là khách hàng tiêu thụ dầu mỏ lớn nhất của Sudan, và đã ký các hợp đồng dài hạn để phát triển các mỏ dầu Iran. Với một làn sóng cướp biển ngoài khơi Somalia in late 2008, the ongoing war in Darfur and the continued oppression by the Robert Mugabe regime in Zimbabwe, chính sách đối ngoại của Trung Quốc đã thay đổi theo hướng một cách tiếp cận trực tiếp hơn để đối phó với các hành động thù địch như vậy. == Căn cứ quân sự == === Biển Đông === David Eshel cho rằng các cơ sở hải quân ở đảo Hải Nam (căn cứ tàu ngầm Hải Nam) ở biển Đông là viên ngọc trai thứ nhất trong Chuỗi Ngọc Trai. Hạt ngọc thứ nhì là Sihanoukville nếu Campuchia đồng ý hợp tác. === Ấn Độ Dương === Bên Ấn Độ Dương thì hạt trai thứ ba là quân cảng trên đảo Coco thuộc Miến Điện; tiếp theo là Chittagong, Bangladesh; Hambantota, Sri Lanka rồi đến Gwadar, Pakistan, trọn hải lộ từ Trung Đông sang Trung Hoa. Ngoài ra là các hải cảng Sittwe, Miến Điện; Marao, Maldives và Lamu, Kenya cũng là những khâu trong chuỗi quân cảng chiến lược của Trung Quốc. == Phản ứng quốc tế == Dean Cheng thuộc Heritage Foundation cho rằng Hoa Kỳ nên tìm cách hợp tác với Ấn Độ để đối phó với ảnh hưởng của Trung Quốc ở Ấn Độ Dương. Đối với Ấn Độ thì hải cảng Hambantota gây chú ý như trong bài phân tích Asian Security của Nilanthi Samaranayake thuộc CNA. Daniel Kostecka thì lại cho rằng các cơ sở Trung Quốc lập nên trên Ấn Độ Dương là có mục đích thương mại chứ không phải quân sự. Ngoài tầm vóc quân sự, chuỗi ngọc trai của Trung Quốc cũng tác động đến bố cục Cuộc chơi vĩ đại mới ở Trung Á. Với nguồn năng lượng dầu mỏ và khí đốt dồi dào khiến các nước Hoa Kỳ, Vương quốc Anh, khối NATO, Nga và Trung Quốc đều muốn tiếp cận, Trung Á có nhiều hứa hẹn. Tuy nhiên địa thế khó khăn hiểm trở của Trung Á là một thử thách. Hơn nữa khu vực này là cứ điểm của các nhóm khủng bố như Al-Qaeda khiến việc vận chuyển dầu và khí tự nhiên bằng đường ống dễ bị gián đoạn. Kể từ khi sự kiện của 11 tháng 9 xảy ra thì Hoa Kỳ đã trực tiếp tham chiến ở Afghanistan. Trong khi đó Nga cũng tiến quân xâm lăng Gruzia, đe dọa đường ống Baku-Tbilisi-Ceyhan. Trung Quốc đã đề ra chiến lược chuỗi ngọc trai để đối phó với nguồn năng lượng Trung Á bằng cách mở một thông lộ khác qua ngả Pakistan mà trọng điểm là cảng nước sâu quy mô ở Gwadar. Từ Gwadar Trung Quốc sẽ có căn cứ chiến lược chắc chắn để hoạt động ở Ấn Độ Dương và Vịnh Ba Tư. Gwadar cũng là trung tâm hạ nguồn cho các đường ống nối các mỏ khí thiên nhiên ở Trung Á qua Afghanistan để thông ra biển. Trung Quốc đã hoàn thành thiết lập ống dẫn dầu Kazakhstan-Trung Quốc năm 2009. Ống dẫn này chạy từ biên giới Trung Quốc-Kazakhstan đến phía bắc biển Caspi hầu khai thác nguồn dầu lửa khổng lồ ở khu vực Tengiz đầy tiềm lực. == Chú thích == Hoàng Dung. Chiến tranh Đông Dương III, cuộc chiến Việt-Hoa-Miên 1979-1989. Falls Church, VA: Tiếng Quê hương, 2013. == Tham khảo == Chiến lược Chuỗi Ngọc Trai và việc bảo vệ chủ quyền VN trên Biển Đông
frédéric chopin.txt
Frédéric François Chopin (phiên âm tiếng Việt: Phơ-rê-đê-rích Phơ-răng-xoa Sô-panh; IPA: [fʁedeʁik fʁɑ̃swa ʃɔpɛ̃]; 1810–1849) là một nhà soạn nhạc người Ba Lan. == Tiểu sử == Ông sinh ngày 1 tháng 3 năm 1810 tại làng Żelazowa Wola (Ba Lan) dưới tên Fryderyk Franciszek Chopin; bố là Mikołaj Chopin, một nhạc sĩ gốc Pháp, mẹ là Tekla Justyna Krzyzanowska, một người Ba Lan. Tài năng của Chopin nảy nở từ rất sớm, và được so sánh với thần đồng âm nhạc Mozart. Khi mới 7 tuổi, Chopin đã là tác giả của 2 bản polonaise cung Sol thứ và Si giáng trưởng. Ông cũng đã tham gia một số buổi hòa nhạc từ thiện. Những buổi học piano chuyên nghiệp của ông bắt đầu từ năm 1816 đến năm 1822, khi mà tài năng của cậu bé đã vượt qua cả người thầy Wojciech Zywny của mình. Sự phát triển tài năng của Chopin được theo dõi bởi Wilhelm Würfel, giáo sư, nghệ sĩ piano danh tiếng tại Nhạc viện Warszawa, người đã cho cậu một số lời khuyên có giá trị trong biểu diễn đàn piano và organ. Từ năm 1823 đến năm 1826, Chopin học tại Warsawa Lyceum, nơi bố cậu là một trong những người giảng dạy. Cậu bé đã dành những kì nghỉ ở những căn nhà của gia đình những người bạn học ở nhiều nơi trên khắp đất nước. Nhà soạn nhạc trẻ tuổi đã nghe và ghi lại những bài hát dân ca, tham gia vào những đám cưới của những người nông dân và những lễ hội đồng quê, đồng thời chơi một thứ nhạc cụ dân gian giống như cây đàn contrabass. Và tất cả những hoạt động này đã được cậu bé miêu tả trong những lá thư của mình. Chopin đã trở nên gắn bó với âm nhạc dân gian của vùng đồng bằng Ba Lan, với sự thanh khiết, đặc sắc, giàu tính giai điệu và âm hưởng dân vũ. Khi sáng tác những bản mazurka đầu tiên và một số bản khác sau này, Chopin đã dựa vào nguồn cảm hứng được ông lưu giữ đến cuối đời này. Mùa thu năm 1826, Chopin bắt đầu học lý thuyết âm nhạc và sáng tác âm nhạc tại trường trung học phổ thông về âm nhạc tại Warszawa, một bộ phận của Nhạc viện Warsawa và Đại học Warsawa. Tuy nhiên, Chopin đã không theo học lớp piano. Nhận thấy tài năng xuất chúng của Chopin, Józef Elsner - nhà soạn nhạc và hiệu trưởng của trường - đã cho phép Chopin tập trung vào piano nhưng vẫn buộc ông học các môn lý thuyết. Chopin, vốn có khả năng trời phú về sáng tác âm nhạc, đã học được ở trường sự kỉ luật và chính xác trong kết cấu tác phẩm, cũng như hiểu được ý nghĩa và logic của từng nốt nhạc. Đây là thời gian ra đời của những tác phẩm có tầm cỡ đầu tiên của Chopin, ví dụ như bản Sonata cung Đô thứ, những khúc biến tấu opus số 2 dựa trên một chủ đề trong vở Don Giovanni của Mozart, bản Rondo á la Krakowiak op. 14 và bản tam tấu cung Sol thứ, opus 8 cho piano, violin và cello. Chopin kết thúc quá trình học tập của mình tại trường phổ thông vào năm 1829 và sau 3 năm học tại trường, Elsner đã viết trong một bản báo cáo: "Chopin, Fryderyk, học sinh năm thứ 3, một tài năng lớn, thiên tài âm nhạc". Khi trở về Warszawa, Chopin cống hiến cho sự nghiệp sáng tác và đã viết một số tác phẩm, trong đó có 2 bản concerto cho piano và dàn nhạc cung Fa thứ và Mi thứ. Bản Concerto số 1 đã được gợi cảm hứng rất lớn từ cảm xúc của nhà soạn nhạc đối với Konstancja Gladkowska, sinh viên thanh nhạc tại nhạc viện. Đây cũng là thời kì Chopin cho ra đời những bản nocturne, étude, waltz, mazurka đầu tiên. Trong những tháng cuối cùng trước ngày Chopin dự định ra nước ngoài sinh sống, Chopin đã có một số buổi biểu diễn trước công chúng, chủ yếu là ở Nhà hát quốc gia Warsawa, nơi 2 bản concerto lần đầu tiên được biểu diễn. Vào ngày 11 tháng 10 năm 1830, ông đã có một buổi hòa nhạc chia tay tại Nhà hát quốc gia Warsawa, trong đó ông đã biểu diễn bản concerto cung Mi thứ, và K. Gladkowska đảm nhiệm vai trò ca sĩ. Ngày 2 tháng 11, cùng với người bạn Tytus Woyciechowski, Chopin đã đến nước Áo, với dự định đi tiếp sang Ý. Mùa thu năm 1831, ông đến Paris. Ở Paris, ông chọn nghề chơi và dạy đàn cùng lúc soạn nhạc, và ông lấy tên tiếng Pháp là Frédéric-François Chopin. Cả cuộc đời, sức khoẻ ông không được tốt. Ông có mối quan hệ gần gũi nhưng đầy trắc trở với nhà văn Pháp George Sand trong suốt 10 năm trước khi ông qua đời do lao phổi ngày 17 tháng 10 năm 1849 tại Paris, thọ 39 tuổi. Khi Ba Lan bị phát xít xâm chiếm vào năm 1939, những người yêu nước đã tìm cách cất giấu trái tim của Chopin để không bị lọt vào bàn tay nhơ nhuốc của chúng. Mùa thu năm 1949, trái tim được bí mật mang về Ba Lan, trong một chiếc hộp gỗ sồi. Ngày nay trái tim được đặt sau một phiến đá hoa cương tại nhà thờ Holy Cross,Warszawa. == Cái chết và tang lễ == Tháng Sáu năm 1849, Ludwika, chị gái của ông đến Paris cùng với chồng và con gái. Và vào tháng Chín,ông dời đến căn hộ ở Place Vendôme 12 nhờ vào sự giúp đỡ và khoản vay từ Jame Stirling (bạn của ông). Đến sau ngày 15 tháng Mười, tình trạng sức khỏe của ông trở nên ngày một tồi tệ. Các bạn của ông đến thăm và quyết định ở lại với ông. Nằm trên giường bệnh, ông nhờ các bạn của ông chơi nhạc cho ông. Ông yêu cầu mọi người hãy để xác của ông được thông thoáng (vì ông sợ mình bị chôn) và đưa trái tim của ông về Warszawa. Ông để lại những ghi chú còn dang dở (Projet de méthode) cho Alkan hoàn thành nó. Vào nửa đêm 17, bác sĩ nghiêng đầu hỏi ông có đau lắm không, Chopin thì thào trả lời: "Không lâu nữa đâu". Còn vài phút nữa là đến hai giờ sáng, ông âm thầm ra đi. Bên giường bệnh lúc đó có chị gái ông, công chúa Marcelina Czartoryska, Solange con gái của Sand và Thomas Albrecht. == Sự nghiệp sáng tác == === Polonaise === 18 bản polonaise: Polonaise cung Si giáng trưởng Op. posth. Polonaise cung Sol thứ Op. posth. Polonaise cung La giáng trưởng Op. posth. Polonaise cung Sol thăng thứ Op. posth. Polonaise cung Re thứ Op. 71 số 1 Polonaise cung Si giáng trưởng Op. 71 số 2 Polonaise cung Fa thứ Op. 71 số 3 Polonaise cung Si giáng thứ Op. posth. Les Adieux Polonaise cung Sol giáng trưởng Op. posth. Polonaise cung Đô thăng thứ Op. 26 số 1 Polonaise cung Mi giáng thứ Op. 26 số 2 Polonaise cung La trưởng Op. 40 số 1 Polonaise cung Đô thứ Op. 40 số 2 Polonaise cung Fa thăng thứ Op. 44 Polonaise cung La giáng trưởng Op. 53 Polonaise-Fantaisie cung La giáng trưởng Op. 61 Andante spianato and Grand Polonaise cung Mi giáng trưởng Op. 22 Introduction and Polonaise cung Đô trưởng cho piano và cello Op. 3 === Mazurka === 4 Mazurka Op. 6, các cung: fa thăng thứ, đô thăng thứ, mi trưởng, mi giáng thứ 5 Mazurka Op. 7, các cung: si giáng trưởng, la thứ, fa thứ, la giáng trưởng, đô trưởng 4 Mazurka Op. 17, các cung: si giáng trưởng, mi thứ, la giáng trưởng, la thứ 4 Mazurka Op. 24, các cung: sol thứ, đô trưởng, la giáng trưởng, si thứ 4 Mazurka Op. 30, các cung: đô thứ, si thứ, re giáng trưởng, đô thăng thứ 4 Mazurka Op. 33, các cung: sol thăng thứ, đô trưởng, re trưởng, si thứ 4 Mazurka Op. 41, các cung: mi thứ, si trưởng, la giáng trưởng, đô thăng thứ 3 Mazurka Op. 50, các cung: sol trưởng, la giáng trưởng, đô thăng thứ 3 Mazurka op. 56, các cung: si trưởng, đô trưởng, đô thứ 3 Mazurka op. 59, các cung: la thứ, la giáng trưởng, fa thăng thứ 3 Mazurka op. 63, các cung: si trưởng, fa thứ, đô thăng thứ 4 Mazurka op. 67, các cung: sol trưởng, sol thứ, đô trưởng, la thứ 4 Mazurka op. 68, các cung: đô trưởng, la thứ, fa trưởng, fa thứ Mazurka cung Si giáng trưởng Mazurka cung Sol trưởng Mazurka cung Re trưởng Mazurka cung Đô trưởng Mazurka cung Si giáng trưởng === Waltz === 17 bản waltz: Grande Valse Brillante cung Mi giáng trưởng Op. 18 Grande Valse Brillante cung La giáng trưởng Op. 34 số 1 Grande Valse Brillante cung La thứ Op. 34 số 2 Grande Valse Brillante cung Fa trưởng Op. 34 số 3 Grande Valse cung La giáng trưởng Op. 42 Waltz cung Re giáng trưởng Op. 64 số 1 Waltz cung Đồ thăng thứ Op. 64 số 2 Waltz cung La giáng trưởng Op. 64 số 3 Waltz cung La giáng trưởng Op. 69 số 1 Waltz cung Si thứ Op. 69 số 2 Waltz cung Sol giáng trưởng Op. 70 số 1 Waltz cung Fa thứ Op. 70 số 2 Waltz cung Re giáng trưởng Op. 70 số 3 Waltz cung Mi thứ Op. posth. Waltz cung Mi trưởng Op. posth. Waltz cung La giáng trưởng Op. posth. Waltz cung Mi giáng trưởng Op. posth. === Rondo === Rondo cung Đô thứ Op. 1 Rondo a la Mazur cung Fa trưởng Op. 5 Rondo cung Mi giáng trưởng Op. 16 Rondo cung Đô trưởng cho song piano Op. 73 Rondo cung Đô trưởng Op. posth. === Những khúc biến tấu === Những khúc biến tấu cung Mi trưởng trên chủ đề bài dân ca Đức Der Schweitzerbub Op. posth. Những khúc biến tấu cung Re trưởng trên chủ đề các bài hát của T. Moore Op. posth (bốn tay) Những khúc biến tấu cung Si giáng trưởng dựa trên bản La ci darem la mano từ vở Don Juan của Mozart Op. 2 (cho piano và dàn nhạc) Những khúc biến tấu cung La trưởng Những khúc biến tấu cung Si giáng trưởng dựa trên bản rondo Je vends des scapulaires từ vở opera Ludovic của Hérold và Halévy Những khúc biến tấu cung Mi trưởng từ tập Hexameron trên chủ đề hành khúc từ vở opera Puritans của Bellini === Étude === 12 Etude Op. 10 các cung: đô trưởng, la thứ, mi trưởng, đô thăng thứ, sol giáng trưởng, mi giáng thứ, đô trưởng, fa trưởng, fa thứ, la giáng trưởng, mi giáng trưởng, đô thứ 12 Etude Op. 25 các cung: la giáng trưởng, fa thứ, fa trưởng, la thứ, mi thứ, sol thăng thứ, đô thăng thứ, re giáng trưởng, sol giáng trưởng, si thứ, la thứ, đô thứ Trois Nouvelles Etudes các cung: fa thứ, la giáng trưởng, re giáng trưởng === Prelude === 24 Prelude Op. 28 các cung: đô trưởng, la thứ, sol trưởng, mi thứ, re trưởng, si thứ, la trưởng, fa thăng thứ, mi trưởng, đô thăng thứ, si trưởng, sol thăng thứ, fa thăng trưởng, mi giáng thứ, re giáng trưởng, si giáng thứ, la giáng trưởng, fa thứ, mi giáng trưởng, đô thứ, si giáng trưởng, sol thứ, fa trưởng, re thứ. Prelude cung Đô thăng thứ Op. 45 Prelude cung La giáng trưởng Op. posth === Impromptu === Impromptu cung La giáng trưởng Op. 29 Impromptu cung Fa thăng trưởng Op. 36 Impromptu cung Sol giáng trưởng Op. 51 Impromptu-Fantasie cung Đô thăng thứ Op. posth. 66 === Nocturne (dạ khúc) === 3 Nocturne Op. 9 các cung: si giáng thứ, mi giáng trưởng, si trưởng 3 Nocturne Op.15 các cung: fa trưởng, fa thăng trưởng, son thứ 2 Nocturne Op.27 các cung: đô thăng thứ, re giáng trưởng 2 Nocturne Op.32 các cung: si trưởng, la giáng trưởng 2 Nocturne Op.37 các cung: sonl thứ, sol trưởng 2 Nocturne Op.48 các cung: đô thứ, fa thăng thứ 2 Nocturne Op.55 các cung: fa thứ, mi giáng trưởng 2 Nocturne Op.62 các cung: si trưởng, mi trưởng Nocturne cung Mi thứ Op.72 số 1 Nocturne cung Đô thăng thứ Op.posth. Nocturne cung Đô thứ Op.posth. === Ballade === Ballade cung Sol thứ Op. 23 Ballade cung Fa trưởng Op. 38 Ballade cung La giáng trưởng Op. 47 Ballade cung Fa thứ Op. 52 === Scherzo === Scherzo cung Si thứ Op. 20 Scherzo cung Si giáng thứ Op. 31 Scherzo cung Đô thăng thứ Op. 39 Scherzo cung Mi trưởng Op. 54 === Sonata === Sonata cung Đô thứ Op. 4 Sonata cung Si giáng thứ Op. 35 Sonata cung Si thứ Op. 58 Sonata cung Sol thứ Op. 65 cho piano và cello === Các nhạc phẩm cho piano và dàn nhạc === Những khúc biến tấu cung Si giáng trưởng Op. 2 trên chủ điểm La ci darem la mano từ vở opera Don Juan của Mozart Concerto số 1 cung Mi thứ Op. 11 Fantasy on Polish Airs cung La trưởng Op. 13 Rondo a la krakowiak cung Fa thứ Op. 14 Concerto số 2 cung fa thứ Op. 21 Andante spianato và Grand Polonaise cung Mi giáng trưởng Op. 22 === Các bài hát === Jakież kwiaty, jakie wianki Op. posth. Życzenie (A Young Girl's Wish) Op. 74 số 1 Gdzie lubi (A Girl's Desire) Op. 74 số 5 Czary (Witchcraft) Op. posth. Hulanka (A Drinking Song) Op. 74 số 4 Precz z moich oczu (Out of My Sight) Op. 74 số 6 Poseł (The Messenger) Op. 74 số 7 Wojak (The Warrior) Op. 74 số 10 Piosnka litewska (A Lithuanian Song) Op. 74 số 16 Smutna rzeka (Sad River) Op. 74 số 3 Narzeczony (The Betrothed) Op. 74 số 15 Leci liście z drzewa (Leaves are Falling) Op.74 số 17 Pierścień (The Ring) Op.74 số 14 Moja pieszczotka (My Sweetheart) Op. 74 số 12 Wiosna (Spring Song) Op. 74 số 2 Śliczny chłopiec (The Handsome Lad) Op. 74 số 8 Dwojaki koniec (Death's Divisions) Op. 74 số 11 Nie ma, czego trzeba (Faded and Vanished) Op. 74 số 13 Z gór, gdzie dźwigali Op. 74 số 9 Frédéric Chopin – Sách Wikipedia === Các tác phẩm khác === Trio cung Sol thứ Op. 8 cho piano, violon và cello Bolero cung La thứ Op. 19 Tarantella cung La giáng trưởng Op. 43 Allegro de Concert cung La trưởng Op. 46 Fantasy cung Fa thứ Op. 49 Berceuse cung Re giáng trưởng Op. 57 Barcarolle cung Fa thăng trưởng Op. 60 Funeral March cung Đô thứ Op. posth. Trois Ecossaises Op. 72 các cung: Re trưởng, Sol trưởng, Re giáng trưởng Allegretto Op. posth. Grand duo concertant cung Mi trưởng Op. posth. trên chủ đề Meyerbeer's Robert Le Diable cung Mi trưởng cho piano và cello Cantabile cung Si giáng trưởng Op. posth. Presto con leggierezza cung La giáng trưởng Op. posth. Andantino cung Sol thứ Op. posth. Sostenuto cung Mi giáng trưởng Op. posth. Moderato cung Mi trưởng Op. posth. Largo cung Mi giáng trưởng Op. posth. == Chú thích == == Tham khảo == Salon Frédéric Chopin in Paris
centavo.txt
Centavo là đơn vị đếm dành cho các tiền kim loại do Nhà nước Đông Timor phát hành từ năm 2003 để bổ sung cho tiền giấy và tiền kim loại đô la Mỹ lưu thông chính thức tại Đông Timor. 1 centavo bằng 1 cent Mỹ. Hiện có các loại tiền kim loại mệnh giá 1, 5, 10, 25, 50 centavo có trang trí hình các loài thực vật và động vật đặc hữu của Đông Timor. Tiền do Xưởng đúc tiền Bồ Đào Nha đúc. Đông Timor không phát hành tiền giấy. Phương tiện liên quan tới Tiền Đông Timor tại Wikimedia Commons == Tham khảo ==
lệ thủy (nghệ sĩ).txt
Lệ Thủy (sinh năm 1948) là nghệ sĩ lớn của sân khấu cải lương Việt Nam. == Sự nghiệp == Bà tên thật là Dương Thị Lệ Thủy, về sau đổi thành Trần Thị Lệ Thủy, sinh ngày 20 tháng 5 năm 1948, trong một gia đình nông dân nghèo tại làng Đông Thành, huyện Bình Minh, tỉnh Vĩnh Long. Gia đình bà có 8 chị em, trong đó bà là chị cả. Do cuộc sống khó khăn, từ nhỏ, bà đã theo gia đình lên Sài Gòn để mưu sinh. Năm lên 10 tuổi, nghệ sĩ nghiệp dư là Tư Long làm ở ban văn nghệ xóm bên tỉnh cờ nghe bà ca vọng cổ, đã mời bà tham gia và gửi theo học ca cổ với thầy Năm Truyền làm thợ hớt tóc ở Khánh Hội. Sau đó, Lệ Thủy được gửi sang học bài bản cải lương 3 Nam, 6 Bắc với nhạc sĩ Tám Đen. Lúc đó các em của Lệ Thủy liên tục đau ốm, gia đình nợ nần tứ phía. Không tiếp tục đến trường được do không có khai sinh, Lệ Thủy đã phải làm việc sớm để phụ giúp gia đình và quyết, Lệ Thủy đã phải làm việc sớm để phụ giúp gia đình và quyết định xin đi theo làm việc ở gánh Trâm Vàng (Biên Hòa, Đồng Nai) để đỡ gánh nặng cho ba má. Với bài ca cổ "Cô gái bán đèn hoa giấy", đầu tiên qua việc ngâm thơ hậu trường, đóng những vai kép con trên sân khấu... 13 tuổi, Lệ Thủy thế vai kép con trên đoàn Trâm Vàng, 14 tuổi Lệ Thủy đóng các vai đào nhì. Một thời gian sau, Lệ Thủy rời Trâm Vàng để về Công ty Kim Chung của ông bầu Trần Viết Long, một đại bang có 7 đoàn hát. Tại sân khấu này Lệ Thủy đã được soạn giả Ngọc Văn nhận làm con nuôi, ông viết nhiều kịch bản đưa Lệ Thủy vào đóng từ vai phụ cho đến vai chính .. Sau những bước đi đầu tiên tạo được ấn tượng, ông bầu Trần Viết Long lập đoàn Kim Chung 3. Lệ Thủy chuyển sang đây diễn chung với nghệ sĩ Thanh Hải trong vở "Bẽ bàng duyên mới" của soạn giả Ngọc Văn. Tên tuổi của Lệ Thủy bắt đầu nổi lên, trở thành cô đào chính sáng giá lúc vừa tròn 15 tuổi. Sau đó Lệ Thủy hát ở đoàn Kim Chung 5, tại đây Lệ Thủy đóng cặp với Minh Phụng tạo thành một cặp đào - kép ăn ý, được báo chí thời đó phong tặng là cặp Bão biển vì mang lại doanh thu cao cho đoàn qua các vở Xin một lần yêu nhau, Đêm lạnh chùa hoang, Kiếp nào có yêu nhau... Năm 1975, Lệ Thủy gắn bó với Đoàn văn công Thành phố Hồ Chí Minh qua các vở diễn Cây sầu riêng trổ bông, Tiếng sóng Rạch Gầm, Khi bình minh trở lại... Tháng 2 năm 1984, nghệ sĩ Lệ Thủy được vinh dự tham gia Đoàn nghệ sĩ lưu diễn Tây Âu cùng với nghệ sĩ Bạch Tuyết, Diệp Lang, Ngọc Giàu, Minh Vương,....với các vở diễn Đời cô Lựu, Câu thơ yên ngựa,.. Báo chí thời đó gọi là đem chuông đi đánh xứ người đầu tiên sau ngày miền Nam thống nhất. Sau chuyến đi về các nghệ sĩ trong đoàn đã hợp lại và thành lập nên Đoàn nghệ thuật 2-84. Vở tuồng Tô Ánh Nguyệt và Đời cô Lựu là hai vở tuồng khai trương cho đoàn 2-84. Ở sân khấu này, nghệ sĩ Lệ Thủy đã làm say đắm bao khán giả qua các vở tuồng Tô Ánh Nguyệt, Áo cưới trước cổng chùa, Trắng hoa mai, Kiếp chồng chung, Lôi vũ,... Những năm đầu 1990s Lệ Thủy chủ yếu hoạt động ở lĩnh vực video cải lương. Một số vở cải lương từng gắn với tên tuổi nghệ sĩ Lệ Thủy khi hát ở đoàn Kim Chung 5 trước năm 1975 cũng được quay video như Đêm lạnh chùa hoang, Tây Thi, Máu nhuộm sân chùa, Kiếp nào có yêu nhau, Băng Tuyền nữ chúa,....Những năm sau 1990s, nghệ sĩ Lệ Thủy đi lưu diễn thường xuyên ở các tỉnh miền Tây, các vùng sâu, đem tiếng hát của mình gần hơn với khán giả nông thôn. Sân khấu cải lương ngày càng gặp nhiều khó khăn. Nghệ sĩ Lệ Thủy cùng NSND Diệp Lang và Minh Vương thành lập chương trình "Những dấu ấn không phai" trực thuộc Nhà hát Cải lương Trần Hữu Trang quy tụ các nghệ sĩ tham gia biểu diễn các vở tuồng kinh điển ngày xưa. Một số vở diễn của chương trình như Giẫc mộng đêm xuân, Tình mẫu tử, Một ngày làm vua, Đêm giao thừa... Năm 2008, chương trình được hoạt động với tên gọi là nhóm xã hội hóa "Sân khấu vàng" trực thuộc Nhà hát Trần Hữu Trang nhằm tập hợp các nghệ sĩ tham gia biểu diễn đồng thời doanh thu từ chương trình dành vào cho hoạt động xây tặng nhà tình thương. Đến nay, "Sân khấu vàng" do Lệ Thủy và Minh Vương thành lập đã dựng các vở diễn như Sông dài, Lá sầu riêng, Một ông hai bà, Đêm lạnh chùa hoang... và đã trao tặng hơn 30 căn nhà tình thương cho các gia đình khó khăn. Hiện tại, NSND Lệ Thủy vẫn cộng tác thường xuyên với Nhà hát Trần Hữu Trang trong những chương trình biểu diễn phục vụ công chúng và tham gia đi show ở các tỉnh. == Danh hiệu, giải thưởng == Giải Thanh Tâm (năm 1964) cùng với Thanh Sang, Lệ Thủy cũng là nữ nghệ sĩ trẻ nhất đoạt giải này sau 10 lần tổ chức. Giải Kim Khánh (1974) Giải A1 Hội diễn sân khấu chuyên nghiệp toàn quốc (1980). Nghệ sĩ được yêu thích nhất năm 1989, hạng nhất trong top 10 với 4565 phiếu bầu chọn của đọc giả báo Sân khấu Thành phố Hồ Chí Minh tổ chức. Danh ca vọng cổ được yêu thích nhất năm 1990, hạng nhì trong top 10 (xếp sau Minh Vương) do báo Sân khấu Thành phố Hồ Chí Minh tổ chức. Nghệ sĩ được yêu thích nhất năm 1990, hạng 4 trong top 10 với 2664 phiếu bầu chọn của độc giả báo Sân khấu Thành phố Hồ Chí Minh tổ chức. Giải Đôi nam – nữ diễn viên cải lương được yêu thích nhất năm 1992 (cùng NSƯT Minh Vương), hạng 1 với 7993 phiếu bầu chọn do báo Sân khấu Thành phố Hồ Chí Minh tổ chức. Nghệ sĩ đóng Video cải lương được yêu thích nhất năm 1992, hạng nhì trong top 10 (xếp sau Vũ Linh) với 4286 phiếu bầu chọn của đọc giả báo Sân khấu Thành phố Hồ Chí Minh tổ chức. Danh hiệu Nghệ sĩ Ưu tú đợt 3 năm 1993. Kỷ lục Guinness Việt Nam 2008 cho Đôi bạn diễn lâu năm và ưng ý nhất (cùng NSƯT Minh Vương). Giải Mai vàng cho hạng mục Nữ diễn viên cải lương được yêu thích nhất do báo Người lao động tổ chức năm 2008. Giải Mai vàng cho hạng mục Nữ diễn viên cải lương được yêu thích nhất do báo Người lao động tổ chức năm 2009. Danh hiệu Nghệ sĩ Nhân dân đợt 7 năm 2012 . Giải thưởng truyền hình HTV Awards 2013 cho Nữ nghệ sĩ cải lương được yêu thích nhất == Gia đình == Năm 1973, Lệ Thủy lập gia đình với 1 cử nhân kinh tế và đến nay 2 người đã có 3 người con đều học hành đến nơi đến chốn. Người con trai thứ hai của nghệ sĩ Lệ Thủy, sau khi tốt nghiệp đại học ở Úc đã về Việt Nam nối nghiệp mẹ làm ca sĩ, lấy nghệ danh là Dương Đình Trí. Anh cũng là tác giả của hơn 60 bài ca cổ, tân cổ giao duyên mà nữ nghệ sĩ Lệ Thủy đã có dịp trình bày trong các chương trình Vầng trăng cổ nhạc như Mẹ tôi, Tha hương, Giấc ngủ đầu nôi, Ngợi ca quê hương em, Lòng của biển,.... Năm 2009, Dương Đình Trí tổ chức liveshow Bước chân hai thế hệ nhân dịp sinh nhật lần thứ 61 của mẹ mình và cũng chính thức khẳng định con đường đi hát chuyên nghiệp của mình. Đến nay, loạt chương trình Bước chân hai thế hệ đã ra mắt khản giả đến số 19 với chủ đề Dương Đình Trí & Top Hits Night. == Nhận xét == Soạn giả Viễn Châu lý giải: "Lệ Thủy có một giọng ca hiếm hoi trong làng cổ nhạc, với chất giọng kim pha thổ, đã từng được báo giới Sài Gòn trước đây phong tặng là giọng ca chuông ngân" . Năm 1964, khi soạn giả Viễn Châu kết hợp tân nhạc và cổ nhạc để tạo nên bản tân cổ giao duyên, ông đã chọn giọng ca Lệ Thủy thể hiện cho thử nghiệm này, với bài hát Chàng là ai. Bản tân cổ giao duyên đến ngày nay vẫn còn làm say mê bao khán thính giả mộ điệu cải lương với những giọng ca vàng của cải lương như Minh Phụng, Minh Cảnh, Minh Vương, Lệ Thủy, Mỹ Châu, Thanh Kim Huệ, Phượng Liên,... Diệp Lang nhận xét: Lệ Thủy là "cô đào ngoại hạng" của sân khấu cải lương. == Một số tác phẩm vọng cổ nổi danh == Cô gái bán đèn hoa giấy Cô hàng chè tươi Lương Sơn Bá - Chúc Anh Đài Bánh bông lan Hương cau quê ngoại Tiền và Lá Cau Hà Châu têm trầu Xuân Mỹ Con gái của mẹ Còn tìm đâu nữa Trái tim Đồ Chiểu Cô gái bán sầu riêng Nấu bánh đêm xuân Chàng là ai Mưa trên phố Huế Duyên quê Em bé đánh giày Cô gái đồ long == Các vai diễn == Bảo Xuyên (trong vở Đêm lạnh chùa hoang) Quế Minh (trong vở Kiếp nào có yêu nhau) Hồ Như Thủy (trong vở Xin một lần yêu nhau) Bạch Thiên Hương (trong vở Mùa xuân ngủ trong đêm) Tây Thi (trong Tây Thi Gái Nước Việt) Mạnh Lệ Quân (trong vở Tái sanh duyên) Hoa Mộc Lan (trong vở Hoa Mộc Lan tùng chinh) Chung Vô Diệm (trong vở Dạ Xoa Hoàng Hậu) Công chúa (trong vở Tiêu Anh Phụng) Hạnh (trong vở Cây sầu riêng trổ bông); Nguyệt (trong vở Tô Ánh Nguyệt); Kim Anh (trong vở Đời cô Lựu); Diệu (trong vở Nửa đời hương phấn); Lan (trong Lan và Điệp) Huệ (trong Vị đắng lá sầu đâu) Hương (trong vở Kiếp chồng chung) Thiên Kiều (trong vở Thiên Kiều Công Chúa); Xuân Tự (trong vở Áo cưới trước cổng chùa) Bạch Thiên Nga (Trong vở Máu nhuộm sân chùa) Cát Mộng Thiên Lan (Trong vở Người phu khiêng kiệu cưới) Xuyên Đảo Phương Tử (Trong vở Dốc sương mù) Lỗ Tứ Phượng (Trong vở Lôi vũ) Diệu (Trong vở Lá Sầu Riêng) Thánh cô (Trong vở Quán khuya sầu viễn khách) Lan (Trong vở Lan và Điệp) Mai Đình (Trong vở Hàn Mặc Tử) Chu Chỉ Nhược (Trong vở Cô Gái Đồ Long) == Tham khảo == == Liên kết ngoài == Chân dung NS Lệ Thủy
bảng anh.txt
Bảng Anh (ký hiệu £, mã ISO: GBP) tức Anh kim là đơn vị tiền tệ chính thức của Vương quốc Anh và các lãnh thổ hải ngoại, thuộc địa. Một bảng Anh gồm 100 xu (pence hoặc penny). Ký hiệu của đồng bảng ban đầu có hai gạch trên thân (₤), sau này mới chuyển thành một gạch (£), ký hiệu này xuất xứ từ ký tự L trong LSD – tên viết tắt của các đơn vị trong hệ đếm 12 – librae, solidi, denarii, chuyển sang tiếng Anh là Pound, shilling và pence (hoặc penny). Đồng bảng Anh là đồng tiền lâu đời nhất còn được sử dụng sau khi một số quốc gia thuộc khối EU chuyển sang dùng đồng Euro (€). Nó là đồng tiền được lưu trữ trong các quỹ dự trữ ngoại tệ toàn cầu, mức phổ biến chỉ sau đồng đô la Mỹ và đồng Euro. Đồng bảng đứng thứ tư về khối lượng giao dịch ngoại tệ toàn cầu sau đồng đô la Mỹ, đồng Euro và đồng Yên Nhật. Trước năm 1971, một bảng là 20 shilling, một shilling là 12 xu (pence). Như vậy một bảng là 240 xu. Ngày nay, đơn vị shilling không tồn tại nữa, một bảng Anh (£1) bằng một trăm xu (100p). Đồng xu kim loại kiểu cũ rút ra khỏi hệ thống thanh toán năm 1980. == Phát hành == Bảng Anh được phát hành bằng tiền mặt dưới dạng tiền kim loại và tiền giấy. === Tiền kim loại === Tiền kim loại do Xưởng đúc tiền Hoàng gia (Royal Mint) phát hành, bao gồm các mệnh giá: 1 xu, 2 xu, 5 xu, 10 xu, 20 xu, 50 xu, 1 bảng, và 2 bảng. Có cả đồng 5 bảng, nhưng ít được sử dụng. Trên đồng 1 xu có hình một cổng thành. Trên đồng 2 xu có hình biểu tượng của Huân tước xứ Wales. Trên đồng 5 xu có hình hoa Thistle, quốc hoa của xứ Scotland. Trên đồng 10 xu có hình một con sư tử, tượng trưng cho nước Anh (một trong những nước cấu thành của Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland) . Đồng 20 xu có hình hoa hồng Tudor. Đồng 50 xu có hình Britannia, nữ thần tượng trưng cho đại đế quốc Anh và hình một con sư tử. Đồng 1 bảng (hình trên) có biểu tượng của cây thánh giá Celtic xứ Northern Ireland. Đồng 2 bảng có in câu nói của Isaac Newton "Standing on the Shoulders of Giants" (đứng trên vai những người khổng lồ). === Tiền giấy === Tiền giấy do Ngân hàng Anh và các ngân hàng ở Scotland, Bắc Ireland phát hành, bao gồm các loại mệnh giá: 5 bảng, 10 bảng, 20 bảng và 50 bảng. Việc phát hành tiền giấy của các ngân hàng ở Scotland và Bắc Ireland tuân thủ nghiêm ngặt yêu cầu là phải đặt thế chấp tại Ngân hàng Anh cho toàn bộ lượng tiền giấy đưa vào lưu thông. Loạt tiền giấy hiện đang sử dụng gọi là loạt E phát hành từ tháng 7 năm 2005. Mặt sau có in hình một số nhân vật lịch sử: Trên tờ 5 bảng có in hình Elizabeth Fry, một nhà hoạt động xã hội đã có công cải cách chế độ giam tù. Trên tờ 10 bảng có in hình Charles Darwin, nhà khoa học tự nhiên, người đề xuất Thuyết Tiến hóa. Tờ 20 bảng có hình Edward Elgar, một nhà văn. Tờ 50 bảng có hình John Houblon, người sáng lập Ngân hàng Anh và là thống đốc đầu tiên. Có cả tiền giấy mệnh giá 100 bảng, nhưng không lưu thông trên thị trường.[1] Tiền giấy mệnh giá 1 bảng được dùng ở quần đảo Channels và Scotland. == Tỷ giá hối đoái == Tỷ giá giao dịch của đô la Mỹ với đồng bảng Anh(USD/GBP) qua các năm: 1.23 (2016) Yahoo.com 0.5418 (2006), 0.5493 (2005), 0.5462 (2004), 0.6125 (2003), 0.6672 (2002). Tỷ giá giao dịch với đồng Việt Nam (GBP/VND) cập nhật ngày 24/12/2016 là: 28,068 Tỷ giá Ngân hàng Vietcombank 27,954 Yahoo.com == Lịch sử đồng bảng Anh == === Trước thời đồng bảng === Thời Anglo-Saxon, những đồng xu bạc gọi là đồng sceat được sử dụng trong thương mại và nặng 20 grain (xấp xỉ 1,3 gram). Vua Offa ở vùng Merica giữa nước Anh ngày nay (khoảng năm 790) phát hành đồng penny bạc nặng 22,5 grain (xấp xỉ 1.5 gram). 240 đồng penny bạc nặng tương đương một đơn vị bạc gọi là Tower pound, tổng cộng 5.400 grain (349,9 gram) Năm 1526, đơn vị pound bạc được nâng lên 373,242 gram gọi là Troy pound. Là một đơn vị tiền tệ, đồng bảng Anh xuất xứ từ giá trị của khối lượng bạc trong đồng Tower pound. === Đồng bảng (pound sterling) === Tên gọi đồng bảng (pound) bắt nguồn từ đồng Tower pound có hàm lượng bạc tinh khiết khá cao đạt 92,5% (đồng chiếm phần còn lại 7,5%). Đồng bảng Anh ngày nay (pound sterling) được xác lập bởi Nữ hoàng Elizabeth I và các cố vấn của bà. Những năm trước đó từ 1543-1551, nước Anh dưới thời vua Tudor trải qua biến động tài chính, đồng xu bạc – tiền của nước Anh giảm hàm lượng bạc rất nhiều. Tới năm 1551, hàm lượng bạc trong đồng penny của nước Anh chỉ còn một phần ba. Dưới thời Nữ hoàng Elizabeth I, những đồng xu bạc cũ được thu về để đúc lại hoặc đổi đồng xu mới theo một tỷ lệ có khấu trừ. Kể từ đó, đồng pound sterling giữ ổn định giá trị nội tại của nó bất kể các đồng tiền khác của Châu Âu thay đổi ra sao, qua các khủng hoảng tài chính năm 1621, 1694-96, 1774 và 1797 và thậm chí là sau khi nước Anh chuyển sang bản vị vàng. Ngay cả những loạn lạc của Nội chiến nước Anh cũng không làm đồng bảng mất giá. Có ý kiến cho rằng nhờ đồng tiền vững giá trong nhiều thế kỷ, nước Anh xây dựng được nền tảng tài chính ưu việt, hệ thống tín dụng an toàn, uy tín trong suốt thế kỷ 18. Đồng bảng là đồng tiền chính thức của Ngân hàng Anh ngay khi nó thành lập năm 1694. === Bản vị vàng === Đồng bảng chuyển sang bản vị vàng một cách không chính thức từ bản vị bạc nhờ sự định giá vàng quá cao ở Anh khiến vàng chảy về nước Anh đối lại cho dòng xuất khẩu bạc đều đặn. Thực tế này xảy ra dù có việc tái định giá vàng năm 1717 của Ngài Isaac Newton lúc đó là người đứng đầu Xưởng đúc tiền hoàng gia (Royal Mint). Bản vị vàng được lập lại sau khi Chiến tranh Napoleon cho đến sau Chiến tranh thế giới thứ nhất. Cho đến trước Chiến tranh thế giới lần thứ nhất, nước Anh là một trong những nền kinh tế mạnh nhất thế giới, chiếm 40% luồng xuất ngoại đầu tư của toàn cầu. Thế nhưng, sau chiến tranh, nó vay nợ 850 triệu bảng chủ yếu là từ Hoa Kỳ, với lãi suất lên tới 40% chi tiêu của chính phủ. Trong một nỗ lực lấy lại sự ổn định tiền tệ, bản vị vàng được khôi phục năm 1925, theo đó bảng Anh quay lại nội dung vàng ở mức trước chiến tranh, dẫu rằng người ta chỉ có thể đổi đồng bảng lấy vàng thỏi chứ không phải xu vàng. Bản vị vàng bị từ bỏ ngày 21 tháng 09 năm 1931 trong thời gian Đại khủng hoảng và bảng Anh mất giá 25%. Ngày nay, việc đảm bảo quy đổi tiền tệ ra kim loại quý không còn nữa. Dollar Mỹ là đồng tiền cuối cùng duy trì bản vị vàng tới năm 1971. Bảng Anh đã từng là đồng tiền của nhiều khu vực của Đế quốc Anh. Khi Đế quốc Anh trở thành Khối thịnh vượng chung, các quốc gia tự phát hành đồng tiền riêng như đồng bảng Australia (1910-1966) và đồng bảng Ireland (1928-1999). Những đồng tiền này nằm trong ảnh hưởng của đồng bảng và tỷ giá gắn với bảng Anh. === Gắn chặt với đô la Mỹ === Kể từ khi từ bỏ cam kết quy đổi trực tiếp đồng bảng ra vàng (bản vị vàng), có một số nỗ lực để cố định giá trị của bảng Anh với một số ngoại tệ khác, đặc biệt là với đô la Mỹ. Dưới những áp lực kinh tế liên tiếp và mặc dù luôn từ chối phá giá đồng bảng, cuối cùng, ngày 19 tháng 9 năm 1949, chính phủ Anh buộc phải phá giá tiền tê 40% từ tỷ giá với đô la Mỹ là £1 = US$4 xuống US$2,80. Động thái này kéo theo sự phá giá so với đô la Mỹ của đồng tiền các quốc gia khác gồm Úc, Đan Mạch, Ireland, Ai Cập, Ấn Độ, Israel, New Zealand, Na Uy, và Nam Phi. Đến giữa những năm 1960, đồng bảng lại đứng trước áp lực phá giá so với đồng đô la Mỹ. Mùa hè năm 1966, giá trị bảng Anh tụt xuống trên thị trường tiền tệ. Chính phủ của thủ tướng Wilson buộc phải thắt chặt kiểm soát giao dịch ngoại tệ. Ngày 18 tháng 11 năm 1967, đồng bảng Anh mất giá tới 14,3% xuống mức £1 = US$2,41. Trong nhiều biện pháp quản lý, có cả những biện pháp cực đoan như cấm khách du lịch mang ra khỏi nước Anh quá £50. Sự cấm đoán được dỡ bỏ năm 1970. Cùng với sự sụp đổ của Hệ thống tiền tệ Bretton Woods, đồng tiền của nước Anh được thả nổi, để tự thị trường quyết định giá trị. Khu vực ảnh hưởng của đồng bảng Anh chấm dứt sự tồn tại cùng quyết định này, các thành viên của khu vực cũng thả nổi tỷ giá tiền tệ. Một cuộc khủng hoảng tài chính nữa diễn ra năm 1976 khi có tin tiết lộ rằng Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF) cho rằng tỷ giá của đồng bảng nên ở tỷ giá £1 = US$1,50. Kết quả là tỷ giá thị trường của bảng Anh sa xuống mức £1 = US$1,57 và chính phủ Anh quyết định phải vay £2,3 tỷ từ IMF để cứu vãn tỷ giá đồng tiền. Đầu thập kỷ 1980, đồng tiền nước Anh tăng dần giá trị lên trên US$2 nhờ lãi suất tăng lên khi chính sách tiền tệ hướng đến sử dụng công cụ nguồn cung tiền tệ. Tỷ giá cao của đồng bảng bị chỉ trích là một nguyên nhân của sự suy thoái kinh tế của nước Anh năm 1981. Tỷ giá tụt xuống mức thấp nhất là tháng 2 năm 1985 với giá £1 =US$1,05. Nó nhanh chóng lấy lại sức mạnh vào đầu những năm 1990, trở về ngưỡng US$2. === Gắn chặt với đồng Mác Đức === Năm 1988, Bộ trưởng Tài chính Nigel Lawson dưới thời thủ tướng Margaret Thatcher quyết định rằng đồng bảng sẽ "theo bóng" đồng Mác Tây Đức. Hậu quả là lạm phát gia tăng nhanh chóng trong khi kinh tế bùng nổ ngắn hạn bởi lãi suất quá thấp. Chính phủ của Đảng Bảo thủ Anh từ chối sử dụng các cơ chế bổ sung khác nhằm kiểm soát bùng nổ tín dụng. Cựu thủ tướng Ted Health mô tả Bộ trưởng Tài chính Nigel Lawson là "tay chơi gôn chỉ có một gậy". === Gắn với đồng tiền chung châu Âu === Một thay đổi chính sách tỷ giá khác là vào ngày 08 tháng 10 năm 1990 khi chính phủ của thủ tướng Thatcher gia nhập Cơ chế tỷ giá châu Âu (European Exchange Rate Mechanisim - ERM) ở tỷ giá £1 = DM2,95. Tuy vậy, sau ngày thứ Tư đen tối (16 tháng 09 năm 1992), nước Anh ra khỏi cơ chế này bởi nền kinh tế Anh làm cơ chế này không thể duy trì được. Tỷ phú George Soros kiếm được khoảng 1 tỷ đô la Mỹ nhờ đầu cơ bán trước mua sau đồng bảng Anh. Sự kiện "thứ Tư Đen" chứng kiến tỷ lệ lãi suất nhảy vọt từ 10% lên 12% và cuối cùng là 15% trong một nỗ lực vô ích nhằm cứu vãn tỷ giá đồng bảng không bị rớt khỏi các mức giới hạn của Cơ chế tỷ giá châu Âu. Tỷ giá ngoại hối sa xuống £1 = DM2,20. Những người ủng hộ giá trị thấp của đồng bảng cho rằng đồng tiền Anh rẻ hơn đã thúc đẩy xuất khẩu và góp phần vào sự thịnh vượng kinh tế của nước Anh thập kỷ 1990. Ngân hàng trung ương của Malaysia (Bank Negara Malaysia) tiết lộ rằng nó bị lỗ hơn 4 tỷ đô la Mỹ khi đồng bảng Anh bị phá giá. === Theo đuổi mục tiêu kiểm soát lạm phát === Chính phủ của Công Đảng đắc cử năm 1997 đã làm một quyết định gây ngạc nhiên khi bộ trưởng tài chính Gordon Brown chuyển giao công việc kiểm soát lãi suất cho Ngân hàng Anh. Ngày nay, Ngân hàng Anh chịu trách nhiệm ấn định các lãi suất cơ bản sao cho tỷ lệ lạm phát ở sát mức 2% hàng năm. Nếu tỷ lệ lạm phát (là chỉ số giá tiêu dùng) dao động quá 1% trên hoặc dưới mức 2%, thống đốc Ngân hàng Anh phải viết thư ngỏ giải trình với Bộ trưởng Tài chính và báo cáo các biện pháp sẽ được thực hiện để đưa tỷ lệ lạm phát trở lại 2%. Ngày 17 tháng 4 năm 2007, báo cáo chỉ số lạm phát cho thấy con số này đã là 3,1% (chỉ số tăng giá bán lẻ là 4,8%). Theo đó, lần đầu tiên kể từ khi được giao kiểm soát lạm phát, thống đốc Ngân hàng Anh phải giải trình trước chính phủ Anh về thực tế này. === Với đồng tiền chung châu Âu - Euro (€) === Là một thành viên của Liên minh châu Âu, nước Anh có quyền chấp nhận euro (€) là đồng tiền chính thức của nó. Song, do còn nhiều tranh cãi về mặt chính trị không chỉ là bởi nước Anh đã từng bị buộc phải ra khỏi Cơ chế Tỷ giá châu Âu khi mà sự yếu kém của kinh tế Anh làm cho cơ chế này không duy trì được. Cùng với Đan Mạch và Thụy Điển, Anh chưa gia nhập đồng hệ thống đồng tiền chung châu Âu. Đứng về mặt lý thuyết, các quốc gia thuộc Liên minh châu Âu phải gia nhập hệ thống này và chấp nhận đồng euro, tuy nhiên có quyền trì hoãn không xác định thời gian. Việc thay thế đồng bảng bằng đồng euro gặp phải trở ngại còn bởi lý do đồng bảng là biểu tượng tự hào quốc gia của Anh. === Đầu thế kỷ 21 === Mặc dù bảng Anh và Euro (€) không gắn chặt với nhau, hai đồng tiền này đã có một thời gian dài lên xuống cùng nhau. Cho đến giữa năm 2006, sự song hành này mới chấm dứt. Những lo ngại về lạm phát khiến Ngân hàng Anh hai lần nâng tỷ lệ lãi suất ngoài dự kiến vào cuối năm 2006 và đầu 2007, kết quả là đồng bảng chạm mức tỷ giá so với Euro (€) cao nhất kể từ tháng 1 năm 2003. Ngày 18 tháng 04 năm 2007, đồng bảng Anh nhảy lên mức tỷ giá cao nhất trong vòng 26 năm so với đô la Mỹ. Trước đó một ngày, nó đã vượt qua ngưỡng US$2 của năm 1992. == Giá trị của đồng bảng == Năm 2006, thư viện của Hạ Nghị viện Vương quốc Anh phát hành một ấn bản [2] thống kê giá trị của bảng Anh từng năm từ 1750 đến 2005 với giá trị của năm 1974 (là năm bỏ bản vị vàng của nền kinh tế Mỹ) là 100. Tài liệu này là bản cập nhật của những ấn bản phát hành năm 1998 và 2003. Về giai đoạn 1750-1914, tài liệu nhận xét: "Mặc dù giá cả có những biến động đáng kể theo từng năm trước năm 1914 (phản ánh tình hình mùa màng, chiến tranh, v.v..) nhưng trong thời gian dài mức tăng giá không thể so sánh với giai đoạn sau 1945". Bản nhận xét tiếp tục, "từ năm 1945, giá cả tăng hàng năm tổng cộng đến 2005 là hơn 27 lần mức giá năm 1945". Chỉ số giá trị đồng bảng năm 1750 là 5,1, tăng đến đỉnh cao ở con số 16,3 năm 1813, và sau đó nhanh chóng giảm xuống quanh 10,0 ngay sau kết thúc chiến tranh Napoleon. Cho đến hết thế kỷ 19, chỉ số dao động trong khoảng 8,5 đến 10,0. Chỉ số đồng bản năm 1914 là 9,8; lên đỉnh cao 25,3 năm 1920 để rồi giảm xuống 15,8 năm 1933 và 1934. Như vậy giá cả thời điểm này đã gấp ba lần so với 180 năm trước đó. Lạm phát đã có ảnh hưởng to lớn trong và sau Chiến tranh thế giới thứ hai: - chỉ số 20,2 năm 1940 và 757,3 năm 2005 == Giá trị so với các đồng tiền khác == Hiện nay, bảng Anh là đồng tiền được mua bán tự do trên toàn thế giới và do đó, giá trị của nó so với các đồng tiền khác biến động hàng ngày. Đây là một trong những đồng tiền có giá trị cao nhất trên thế giới. Tại thời điểm ngày 22 tháng 4 năm 2007, một bảng Anh bằng hai đô la Mỹ. == Tỉ giá hối đoái hiện thời của đồng GBP == == Tham khảo == == Liên kết ngoài == Đồng tiền Anh lên giá trị Tờ tiền £20 mới sắp được lưu hành Lạm phát ở Anh quốc thời gian 1750 - 2005 Giấy bạc của Vương Quốc Anh (tiếng Anh) (tiếng Đức) Giấy bạc của Vương Quốc Anh (Scotland) (tiếng Anh) (tiếng Đức) Giấy bạc của Vương Quốc Anh (Bắc Ai-Len) (tiếng Anh) (tiếng Đức) == Xem thêm ==
cựu thế giới.txt
Cựu thế giới bao gồm các phần của Trái Đất được người châu Âu biết đến trước khi Christophe Colombe trong chuyến hải hành của mình phát hiện ra châu Mỹ vào năm 1492, nó bao gồm: châu Âu, châu Á và châu Phi (một cách tổng thể gọi là đại lục Phi-Á-Âu) và các đảo bao quanh. Thuật ngữ này là khác biệt với thuật ngữ Tân thế giới, có nghĩa là châu Mỹ. Mặc dù các phần đất sâu bên trong nội địa của châu Á và châu Phi thì người châu Âu vào thời kỳ đó cũng không biết rõ, nhưng sự tồn tại của chúng thì họ đã biết, thậm chí xa đến tận Nhật Bản và Cộng hòa Nam Phi, vì thế chúng được cho là Cựu thế giới. Châu Đại Dương và châu Nam Cực không được xác định như là Tân thế giới mà cũng chẳng như là Cựu thế giới, do các thuật ngữ "Cựu thế giới" và "Tân thế giới" xuất hiện trước khi người châu Âu phát hiện ra các châu này. Trong sử dụng sinh học, các sinh vật Cựu thế giới là các loài tìm thấy ở châu Á, châu Âu và châu Phi (đôi khi là ở cả châu Đại Dương), còn các sinh vật Tân thế giới là những loài tìm thấy ở châu Mỹ. Rượu Cựu thế giới cũng được sử dụng để chỉ các khu vực sản xuất rượu truyền thống và rượu được sản xuất ở đó, ngược lại với rượu Tân thế giới. == Xem thêm == Đông bán cầu Đại lục Phi-Á-Âu Tân thế giới == Tham khảo ==
oxford advanced learner's dictionary.txt
Oxford Advanced Learner's Dictionary là cuốn từ điển đầu tiên dành cho người học tiếng Anh cao cấp, xuất bản lần đầu năm 1948. Đây là cuốn từ điển tiếng Anh đồ sộ nhất của Nhà xuất bản Đại học Oxford dành cho độc giả không phải người bản xứ. == Những lần xuất bản == Từ điển này được xuất bản lần đầu năm 1948 và ấn bản hiện hành là lần in thứ 9. Ngày nay từ điển này có cả phiên bản giấy và CD-ROM (ISBN 0-19-479900-X). Từ điển trong đĩa CD-ROM có chứa nhiều từ nguyên. Ấn bản thứ nhất xuất bản lần đầu năm 1948 (12 bản in) Ấn bản thứ hai xuất bản lần đầu năm 1963 (19 bản in) Ấn bản thứ ba xuất bản lần đầu năm 1974 (28 bản in) Ấn bản thứ tư xuất bản lần đầu năm 1989 (50 bản in) Ấn bản thứ năm xuất bản lần đầu năm 1995 (65 bản in) Ấn bản thứ sáu xuất bản lần đầu năm 2000 (117 bản in) Ấn bản thứ bảy xuất bản lần đầu năm 2005 Ấn bản thứ tám xuất bản lần đầu năm 2010 Ấn bản thứ chín xuất bản ngày 19 tháng 1 năm 2015 == Tham khảo ==
windows live mail.txt
Windows Live Mail (trước đây có tên Windows Live Mail Desktop) là một chương trình đọc e-mail trong nhóm sản phẩm Windows Live của Microsoft. Microsoft dự định dùng nó để thay thế cho Outlook Express trên Windows XP và Windows Mail trên Windows Vista. Nó sẽ có nhiều tính năng bao gồm cả các tính năng của Windows Mail và khả năng tích hợp với Windows Live Hotmail. == Tổng quan == Windows Live Mail đang được phát triển bởi đội ngũ đã viết Windows Mail. Theo bài viết trên blog của một nhân viên Microsoft vào ngày 3 tháng 3, 2006 nó sẽ gồm tất cả các tính năng mới trong Windows Mail, đồng thời còn có các tính năng sau: Phong cách trình bày đồng nhất với Windows Live Đồng bộ hóa với Windows Live Contacts Hỗ trợ feed RSS, tính năng này đòi hỏi phải sử dụng tính tương thích RSS của Internet Explorer 7, bao gồm khả năng trả lời trực tiếp thông qua email đến tác giả của mục xuất hiện trong RSS feed, cũng như kết hợp nhiều feed vào trong một thư mục Danh sách thư nhiều dòng, giống như trong Outlook Sử dụng biểu tượng vui trong email và các chức năng khác Kiểm tra chính tả Những thư mục thư đến khác nhau cho những tài khoản POP khác nhau Hỗ trợ thư có hình ảnh tốt hơn (PhotoMail) Phiên bản công cộng của Windows Live Mail đã được phát hành cho các nước Hoa Kỳ, Anh, Ấn Độ, Pháp, Nhật, Đức, Trung Quốc và Tây Ban Nha. == Bản mới nhất == Bản beta công cộng hiện nay của phần mềm là 12.0.1184. Giao diện đã có nhiều tiến bộ, bao gồm cửa sổ đăng nhập mới. Cũng có những thay đổi so với bản thử nghiệm trước và có thể sẽ có mặt trong phiên bản chính thức, bao gồm: Hỗ trợ Windows Aero trong Windows Vista Cài đặt và tích hợp Windows Live mới Giống với Outlook Express và Windows Mail hơn Hiệu suất và độ ổn định đã được tăng cường Không có quảng cáo (Active Search vẫn kèm theo nhưng có thể tắt kích hoạt) == Xem thêm == Windows Live Windows Live Hotmail == Tham khảo == == Liên kết ngoài == "More than mail" — Nhóm viết blog Windows Live Mail Các ảnh chụp màn hình khác của Windows Live Mail TECH REVIEW - Windows Live Mail Desktop Review
đội tuyển bóng đá quốc gia hungary.txt
Đội tuyển bóng đá quốc gia Hungary là đội tuyển cấp quốc gia của Hungary do Liên đoàn bóng đá Hungary quản lý. Trận thi đấu quốc tế đầu tiên của đội tuyển Hungary là trận gặp đội tuyển Áo vào năm 1902. Thành tích tốt nhất của cho đến nay là hai lần á quân của World Cup 1938, World Cup 1954 cùng với vị trí thứ ba của Euro 1964. == Danh hiệu == Vô địch thế giới: 0 Á quân: 1938; 1954 Vô địch châu Âu: 1 Hạng ba: 1964 Hạng tư: 1972 Bóng đá nam tại Olympic: 1952; 1964; 1968 1972 1960 == Thành tích == === Giải vô địch bóng đá thế giới === === Thành tích tại giải vô địch châu Âu === == Các kỷ lục == === Số lần khoác áo đội tuyển Quốc gia === === Ghi nhiều bàn thắng === == Đội hình Hungary == === Đội hình hiện tại === Đội hình dưới đây được triệu tập tham dự vòng loại World Cup 2018 gặp Bồ Đào Nha vào ngày 25 tháng 3 năm 2017.Số liệu thống kê tính đến ngày 25 tháng 3 năm 2017 sau trận gặp Bồ Đào Nha. === Triệu tập gần đây === Đội hình dưới đây được triệu tập trong vòng 12 tháng. INJ Cầu thủ rút lui vì chấn thương.PRE Đội hình sơ bộ.RET Đã chia tay đội tuyển quốc gia. == Tham khảo == == Liên kết ngoài == Đội tuyển bóng đá quốc gia Hungary trên trang chủ của FIFA
1860.txt
1860 (số La Mã: MDCCCLX) là một năm nhuận bắt đầu vào Chủ Nhật trong lịch Gregory. Bản mẫu:Tháng trong năm 1860 == Sự kiện == === Tháng 3 === 24 tháng 3: Tại Nhật Bản phát sinh sự kiện Anh Điền Môn === Tháng 7 === 11 tháng 7: Nhật Hoàng Minh Trị kế vị === Tháng 8 === 2 tháng 8: Lý Tú Thành đại phá quân Thanh tại Giang Tô Thanh Phụ === Tháng 10 === 6 tháng 10: Liên quân Anh Pháp giải phóng Viên Minh Viên 13 tháng 10: Liên quân Anh Pháp vây đánh Bắc Kinh == Sinh == == Mất == == Xem thêm == == Tham khảo ==
782.txt
Năm 782 là một năm trong lịch Julius. == Sự kiện == == Sinh == == Mất == == Tham khảo ==
nhận biết thương hiệu.txt
Nhận biết thương hiệu (tiếng Anh: brand awareness) là một khái niệm tiếp thị dùng để đo lường mức độ nhận biết của khách hàng về một thương hiệu nào đó. Nhận biết thương hiệu là giai đoạn đầu tiên trong tiến trình tiến trình mua sắm và là một tiêu chí quan trọng để đo lường sức mạnh của thương hiệu. Một thương hiệu có độ nhận biết càng cao thì càng nổi tiếng và có cơ hội cao hơn được khách hàng lựa chọn. == Các mức độ nhận biết == Top of mind: Đây là mức độ nhận biết cao nhất. Khách hàng luôn nhớ ngay đến một thương hiệu nhất định trong một lĩnh vực nào đó. Ví dụ: ở Việt Nam, khi nói về xe máy, người ta thường nghĩ ngay đến Honda; hoặc khi nói về search engine thì Google là thương hiệu đầu tiên người ta nghĩ ngay đến. Spontaneous: Khách hàng không cần nhắc nhưng vẫn nhớ được thương hiệu. Prompt: Khách hàng chỉ nhớ đến thương hiệu khi được gợi ý. == Đo lường mức độ nhận biết thương hiệu == Gợi nhớ (brand recall) Khách hàng thường được yêu cầu liệt kê những thương hiệu mà họ biết trong một lĩnh vực nào đó, ví dụ như xe hơi, bột giặt, kem đánh răng... Một số nhà nghiên cứu phân loại gợi nhớ thành 2 nhóm: Có gợi ý và không gợi ý. Gợi ý được sử dụng để đo lường xem khách hàng có nhận ra khi thương hiệu được nhắc đến hay không. Câu hỏi thường dùng nhất là "Bạn có biết thương hiệu Honda không?" Xét về mức độ phổ biến của thương hiệu, các công ty thường cố gắng đạt mức độ gợi nhớ cao nhất mà không cần đến gợi ý. Thương hiệu được nhớ đến đầu tiên (top of mind) sẽ có được lợi thế cạnh tranh to lớn so với các đối thủ khác và dễ được khách hàng ưu tiên lựa chọn hơn. Đoán nhận (brand recognition) Đây là cách đo lường mức độ thương hiệu được nhận dạng khi đã nêu ra các thuộc tính, đặc điểm, sản phẩm hoặc các thông điệp quảng cáo. Kiểm tra mức độ nhận diện logo và slogan cũng là một cách phương pháp đo lường. Một số thương hiệu thường có logo hoặc slogan rất dễ nhận biết như Nike - Just do it hay logo quả táo của Apple. == Tham khảo ==
cầu dẫn nước.txt
Cầu dẫn nước hoặc Cầu máng tên tiếng Anh là Aqueduct ('a-kwe-,dekt), là 1 hệ thống dẫn và cung cấp nước. Vào thời kỳ cổ đại, người xưa sử dụng những phương thức như cầu, hoặc cầu cạn, để đưa nước vượt 1 quãng đường trên không trung (thường là băng qua 1 thung lũng). Thời hiện đại, chúng ta sử dụng những hệ thống ống dẫn, rãnh, kênh đào, đường hầm... để phục vụ cho mục đích này. Những cầu dẫn nước lớn thậm chí còn được dùng để lưu chuyển thuyền bè. Từ Aqueduct bắt nguồn từ tiếng Latin aqua (nước) và ducere (nghĩa là dẫn đi) == Cầu dẫn nước thời cổ đại == Mặc dù được gắn với thời kỳ của người La Mã cổ đại, ít ai biết rằng cầu dẫn nước đã được xây dựng từ rất lâu trước đó ở Hy Lạp, Trung Á và tiểu lục địa Ấn Độ, nơi người Ai Cập và Ấn Độ cổ đại xây dựng những hệ thống tưới tiêu phức tạp. Cầu dẫn nước kiểu La Mã đã được sử dụng vào khoảng thế kỷ thứ 7 TCN, đó là cầu dẫn nước bằng đá vôi của người Assyria ở vùng Tiểu Á - dài tương đương 3 sân bóng đá, rộng bằng đường cao tốc 4 làn - băng qua 1 thung lũng dẫn đến thủ đô của họ, Nineveth. === Người Aztec === Ở Tân Thế giới, vào khoảng thế kỷ thứ 2, khi thủ đô của người Aztec, Tenochtítlan được khám phá, người ta thấy nó được cung cấp nước bởi 2 cầu dẫn nước dẫn nước từ núi vào. === Ấn Độ Cổ Đại === Tiểu Ấn được xem là nơi có các cầu dẫn nước sớm nhất. Những bằng chứng có thể được tìm thấy ở nơi ngày nay là Hampi, Karnataka. Những cầu dẫn nước khổng lồ gần sông Tungabhadra cung cấp nước tưới tiêu, từng dài đến 24 km. Có đường dẫn nước cung cấp cho những nhà tắm hoàng gia. === Người Oman & Ba Tư (Persian) === Ở Oman từ thời kỳ đồ sắt đã có 1 hệ thống đường dẫn nước ngầm được gọi là Falaj (người Ba Tư thì gọi là Quanat). Falaj là 1 hệ thống gồm những đường hầm ngầm, hơi dốc thoải, đưa nước ngầm từ dưới sâu trung các dãy núi dẫn ra những nơi trồng trọt chăn nuôi. Dọc theo đường ống ngầm là các giếng đào để lấy nước sinh hoạt. Hệ thống này giúp dẫn nước qua sa mạc khô cằn mà hạn chế thoát nước tối đa do nước chảy dưới đất sâu, không chịu ảnh hưởng bởi cái nóng. Có 3 loại Falaj Daudi (داوودية) với cống dẫn nước ngầm Ghaili (الغيلية) có 1 con đập để thu nhận nước Aini (العينية) có nguồn là 1 con suối Những hệ thống này giúp phát triển 1 ngành nông nghiệp vĩ mô ở những nơi khô cằn === La Mã cổ đại === Người La Mã xây dựng các đường ống dẫn nước hầu hết khắp nơi trong lãnh thổ của mình, từ những vùng đất của người Đức ngày nay cho đến Bắc Phi, đặc biệt là ở thành Roma, với các đường dẫn nước dài tổng cộng 415 km. Với việc xây dựng các hệ thống cầu dẫn nước như Pont du Gard, Cầu máng Segovia, người La Mã cũng đã thiết lập nên 1 nền tảng kỹ thuật mà hơn 1000 năm sau vẫn chưa ai vượt qua được. === Nam Mỹ === Gần ngôi làng Nazca của người Peru có 1 hệ thống dẫn nước (aqueduct) được xây dựng vào thời Tiền Columbus mà đến ngày nay vẫn còn được sử dụng. Chúng được xây bằng đá đặt phức tạp, một loại vật liệu được dùng phổ biến bởi văn minh Nazca. Thời gian xây dựng thì ước tính vào khoảng 540-552 sau CN, nhưng vẫn còn đang tranh cãi. == Cầu dẫn nước thời hiện đại == Ở thời hiện đại, những cầu dẫn nước lớn nhất được xây dựng ở Mỹ để cung cấp nước cho những thành phố khổng lồ ở đó. Catskill Aqueduct mang nước đến thành phố New York từ khoảng cách hơn 190 km. Colorado River Aqueduct mang nước từ con sông Colorado đến thành phố Los Angeles cách đó 400 km. California Aqueduct dài 714.5 km từ châu thổ sông Sacramento-San Joaquin đến hồ Perris. Central Arizona Project là hệ thống aqueduct lớn nhất và tốn kém nhất ở Mỹ, dài 336 dặm (531 km) từ một nơi gần Parker, Arizona đến khu dân cư Phoenix và Tuscon. Cầu dẫn nước thời hiện đại là những đường ống dẫn nước trên những cây cầu đỡ. == Sử dụng == Trong lịch sử, những nền văn minh nông nghiệp xây dựng những đường dẫn nước (aqueduct) để tưới tiêu đồng ruộng. Một mục đích khác là để cung cấp nước uống. Một vài cầu dẫn nước của người La Mã đến nay vẫn cung cấp nước cho thành Roma. Ở California, Mỹ, 3 cầu dẫn nước cung cấp nước cho thành phố. 2 dẫn nước từ sông Owens, 1 từ sông Colorado. Hiện nay cầu dẫn nước dùng để vận chuyển, chủ yếu là cho những tàu lan can vượt khe núi hoặc thung lũng. Trong cuộc cách mạng Công nghiệp vào TK 18, cầu dẫn nước được xây dựng như một phần của sự bùng nổ trong xây dựng kênh đào. Các dự án xây dựng công trình dân dụng hiện nay thường yêu cầu nghiên cứu chi tiết và phân tích việc mở các dòng chảy để kiểm soát lũ. 1 hệ thống lớn cung cấp nước sẽ được xem xét. Trong quá khứ, cầu dẫn nước thường được xây bằng đất hoặc các vật liệu xốp khác, do đó một số lượng lớn nước thất thoát. Khi nước càng trở nên khan hiếm, những hệ thống này mới được xây dựng bằng bê tông, polyme hoặc đất không thấm nước. Trong một số trường hợp, 1 đường dẫn nước mới (aqueduct) sẽ được xây song song vì hệ thống cũ không thể ngừng hoạt động trong lúc xây dựng. == Các cầu dẫn nước đáng chú ý == === Hy Lạp === Eupalinian cầu dẫn nước trên đảo Samos. === La Mã === Pont du Gard miền nam nước Pháp Barbegal aqueduct, Pháp Aqueduto de São Sebastião, Coimbra, Bồ Đào Nha Santa Clara Aqueduct, Vila do Conde, Bồ Đào Nha Eifel aqueduct, Đức Caesarea Maritima, Israel Kavala, Hy Lạp Patras, Hy Lạp Segovia Aqueduct, Tây Ban Nha Acueducto de los Milagros, Mérida, Tây Ban Nha Tarragona, Tây Ban Nha Almuñécar, Tây Ban Nha (5 aqueducts – 4 vẫn đang sử dụng) Valens Aqueduct, Istanbul, Thổ Nhĩ Kỳ Aqua Augusta, Ý Aqua Claudia và Anio Novus, là một phần của Porta Maggiore, Roma, ý Skopje Aqueduct, Skopje, Cộng Hòa Macedonia === Những cầu dẫn nước khác === Wignacourt Aqueduct, Malta. Xây dựng vào thế kỷ 16 để vận chuyển nước từ thủ đô cũ của Malta, Mdina đến thủ đô mới Valletta. Ngày nay, chỉ còn lại một phần ở các địa phương Balzan, Birkirkara và Santa Venera. Aqueduct St-Clément, Montpellier, Pháp – thế kỷ 17th Águas Livres Aqueduct, Lisboa, Bồ Đào Nha (xây vào năm 1731–1748) Aqueduto de Óbidos, Óbidos, Bồ Đào Nha (xây vào năm 1570) Aqueduto da Amoreira, Amoreira, Bồ Đào Nha (xây vào năm 15370) Aqueduto de Setúbal, Setúbal, Bồ Đào Nha (xây vào năm 1696) Aqueduto dos Pegões, Tomar, Bồ Đào Nha (xây vào năm 1593) Água de Prata Aqueduct, Évora, Bồ Đào Nha (xây vào năm 1531–1537) Carioca Aqueduct, Rio de Janeiro, Brasil (xây vào năm 1744–1750) Aqueduct of Teruel, Tây Ban Nha Roquefavour aqueduct, Pháp – xây vào khoảng năm 1842 và 1847 Winnipeg Aqueduct, Manitoba, Canada – xây vào khoảng năm 1915 và 1919 Canal de l'Aqueduc, Quebec, Canada Päijänne Water Tunnel, 1 aqueduct dài 120 km dưới lòng đất (nối tiếp đường hầm) nối hồ Päijänne đến Greater Helsinki. Wan Mat Saman Aqueduct, Kedah, Malaysia – xây vào khoảng năm 1900 và 1909 Mathur Aqueduct ở bang Tamilnadu, India cầu dẫn nước kiểu Tây Ban Nha còn tồn tại ở Mexico: o Querétaro aqueduct, México – xây vào khoảng năm 1726 và 1738, dài 1.3 km và gồm 74 cổng vòm. o Morelia aqueduct, Michoacán, xây vào khoảng năm 1735 và 1738. o Acámbaro aqueduct, Guanajuato, xây vào năm 1528 [4]. o Chapultepec aqueduct, Mexico D.F Levadas, 1,350 miles (2,170 km) của aqueducts TK 17 trên đảo Madeira của Bồ Đào Nha. Espada Aqueduct, xây vào năm 1735, San Antonio, Texas, Hoa Kỳ. Quabbin Aqueduct, đường hầm dài 24.6 miles (39.6 km), ở Massachusetts, Hoa Kỳ. Aqueduct thung lũng Chicopee, dài 13.1 miles (21.1 km), Massachusetts, Hoa Kỳ. Central Arizona Project Aqueduct California Aqueduct, dài 444 miles (khoảng 714.5 km) 1 sự kết hợp của kênh đào,ống dẫn vàđường hầm, Hoa Kỳ. Delaware Aqueduct, bang New York, Hoa Kỳ – dài 85 dặm (137 km), đường hầm nối tiếp dài nhất thế giới. High Bridge, một phần của Croton Aqueduct cũ, xây vào năm 1848, là cây cầu lâu đời nhất vẫn tồn tại ở thành phố New York. Sooke Flowline nằm trên đảo Vancouver, Canada, dài 44 km, đường ống bê tông trọng lực, cung cấp nước cho thành phố Victoria trong 55 năm. National Water Carrier of Israel ở Israel, là 1 hệ thống dài 130 km gồm những ống dẫn khổng lồ, kênh đào mở, đường hầm, bể chứa nước và những trạm bơm lớn để vận chuyển nước từ Biển Galilee ở phía Bắc đất nước đến khu đông dân cư ở trung tâm và khu đất khô cằn phía Nam, xây vào khoảng 1953 và 1964. == Tham khảo == == Liên kết ngoài == Imperial Rome Water Systems 600 Roman aqueducts with 25 descriptions in detail
nhạc dance.txt
Nhạc dance, nhạc vũ trường, là một loạt các thể loại nhạc có âm mạnh thường được dùng trong các tụ điểm vũ trường, hộp đêm, phát triển từ thể loại nhạc disco thập niên 1970 và, ở một vài chừng mực, là từ dòng Experimental Rock. Thể loại nhạc này xuất hiện và phát triển từ các hộp đêm trong thập niên 1980. Đầu thập niên 1990, sự xuất hiện của dòng nhạc vũ trường trong văn hóa đương thời được biết đến rộng rãi trong công chúng. Nhạc dance thường dễ nhận ra qua âm trầm, mạnh và liên tục. == Các thể loại == Allemande Baltimore Club Bebop Bossa nova Can can Cha-cha-cha Courante Disco Eurodance Jazz Nhạc cổ truyền Ireland Nhạc điện tử Nhạc House Nhạc khiêu vũ dân gian Scotland Nhạc Techno Nhạc Trance Drum and bass Flamenco Foxtrot Funk Gavotte Gigue, còn gọi là Jig Habanera Hardcore Techno Hip hop Ländler Loure Mambo Minuet Passodoble Polka Polonaise Rapper sword Reel Reggae Reggaeton Rumba Salsa Samba Sarabande Swing Tango Waltz - Waltz Boston, Waltz Wien (van nhanh), Slow Waltz (van chậm) == Chú thích == == Đọc thêm == dancecult.net uk-clubbing-directory.co.uk
wi-fi.txt
Wi-Fi viết tắt từ Wireless Fidelity hay mạng 802.11 là hệ thống mạng không dây sử dụng sóng vô tuyến, giống như điện thoại di động, truyền hình và radio. Hệ thống này đã hoạt động ở một số sân bay, quán café, thư viện hoặc khách sạn. Hệ thống cho phép truy cập Internet tại những khu vực có sóng của hệ thống này, hoàn toàn không cần đến cáp nối. Ngoài các điểm kết nối công cộng (hotspots), WiFi có thể được thiết lập ngay tại nhà riêng. Tên gọi 802.11 bắt nguồn từ viện IEEE (Institute of Electrical and Electronics Engineers). Viện này tạo ra nhiều chuẩn cho nhiều giao thức kỹ thuật khác nhau, và nó sử dụng một hệ thống số nhằm phân loại chúng; 6 chuẩn thông dụng của WiFi hiện nay là 802.11a/b/g/n/ac/ad. == Hoạt động == Truyền thông qua mạng không dây là truyền thông vô tuyến hai chiều. Cụ thể: Thiết bị adapter không dây (hay bộ chuyển tín hiệu không dây) của máy tính chuyển đổi dữ liệu sang tín hiệu vô tuyến và phát những tín hiệu này đi bằng một ăng-ten. Thiết bị router không dây nhận những tín hiệu này và giải mã chúng. Nó gởi thông tin tới Internet thông qua kết nối hữu tuyến Ethernet. Quy trình này vẫn hoạt động với chiều ngược lại, router nhận thông tin từ Internet, chuyển chúng thành tín hiệu vô tuyến và gởi đến adapter không dây của máy tính. == Sóng WiFi == Các sóng vô tuyến sử dụng cho WiFi gần giống với các sóng vô tuyến sử dụng cho thiết bị cầm tay, điện thoại di động và các thiết bị khác. Nó có thể chuyển và nhận sóng vô tuyến, chuyển đổi các mã nhị phân 1 và 0 sang sóng vô tuyến và ngược lại. Tuy nhiên, sóng WiFi có một số khác biệt so với các sóng vô tuyến khác ở chỗ: Chúng truyền và phát tín hiệu ở tần số 2.4 GHz hoặc 5 GHz. Tần số này cao hơn so với các tần số sử dụng cho điện thoại di động, các thiết bị cầm tay và truyền hình. Tần số cao hơn cho phép tín hiệu mang theo nhiều dữ liệu hơn. Chúng dùng chuẩn 802.11: Chuẩn 802.11b là phiên bản đầu tiên trên thị trường. Đây là chuẩn chậm nhất và rẻ tiền nhất, và nó trở nên ít phổ biến hơn so với các chuẩn khác. 802.11b phát tín hiệu ở tần số 2.4 GHz, nó có thể xử lý đến 11 megabit/giây, và nó sử dụng mã CCK (complimentary code keying). Chuẩn 802.11g cũng phát ở tần số 2.4 GHz, nhưng nhanh hơn so với chuẩn 802.11b, tốc độ xử lý đạt 54 megabit/giây. Chuẩn 802.11g nhanh hơn vì nó sử dụng mã OFDM (orthogonal frequency-division multiplexing), một công nghệ mã hóa hiệu quả hơn. Chuẩn 802.11a phát ở tần số 5 GHz và có thể đạt đến 54 megabit/ giây. Nó cũng sử dụng mã OFDM. Những chuẩn mới hơn sau này như 802.11n còn nhanh hơn chuẩn 802.11a, nhưng 802.11n vẫn chưa phải là chuẩn cuối cùng. Chuẩn 802.11n cũng phát ở tần số 2.4 GHz, nhưng nhanh hơn so với chuẩn 802.11a, tốc độ xử lý đạt 300 megabit/giây. Chuẩn 802.11ac phát ở tần số 5 GHz Chuẩn 802.11ad phát ở tần số 60 GHz. WiFi có thể hoạt động trên cả ba tần số và có thể nhảy qua lại giữa các tần số khác nhau một cách nhanh chóng. Việc nhảy qua lại giữa các tần số giúp giảm thiểu sự nhiễu sóng và cho phép nhiều thiết bị kết nối không dây cùng một lúc. == Adapter == Các máy tính nằm trong vùng phủ sóng WiFi cần có các bộ thu không dây, adapter, để có thể kết nối vào mạng. Các bộ này có thể được tích hợp vào các máy tính xách tay hay để bàn hiện đại. Hoặc được thiết kế ở dạng để cắm vào khe PC card hoặc cổng USB, hay khe PCI. Khi đã được cài đặt adapter không dây và phần mềm điều khiển (driver), máy tính có thể tự động nhận diện và hiển thị các mạng không dây đang tồn tại trong khu vực./. == Router == Nguồn phát sóng WiFi là máy tính với: Một cổng để nối cáp hoặc modem ADSL Một router (bộ định tuyến) Một hub Ethernet Một firewall Một access point không dây Hầu hết các router có độ phủ sóng trong khoảng bán kính 30,5 m về mọi hướng. == Xem thêm == Bluetooth == Tham khảo == == Liên kết ngoài == WiFi tại DMOZ Wi-Fi Alliance How Municipal WiFi Works.
thuật toán xấp xỉ.txt
Trong khoa học máy tính và vận trù học, thuật toán xấp xỉ là các thuật toán tìm lời giải xấp xỉ cho các bài toán tối ưu hóa. Thuật toán xấp xỉ thường được sử dụng cho các bài toán NP-khó, hoặc các bài toán có thuật toán đa thức nhưng quá chậm cho dữ liệu lớn. Từ góc độ tính xấp xỉ, các bài toán NP-khó có độ khó rất khác nhau. Có những bài toán như bài toán xếp ba lô có thuật toán xấp xỉ với bất kì tỉ lệ nào lớn hơn 1 (những thuật toán như vậy gọi là PTAS). Có những bài toán khác như clique không thể tính xấp xỉ với tỉ lệ n 1 − ϵ {\displaystyle n^{1-\epsilon }} với mọi ϵ > 0 {\displaystyle \epsilon >0} trừ phi một giả thuyết phổ biến trong lý thuyết độ phức tạp tính toán là sai. Nhiều bài toán NP-khó có thể được biểu diễn dưới dạng quy hoạch nguyên và giải trong thời gian lũy thừa. Nhiều thuật toán xấp xỉ xuất phát từ việc nới lỏng điều kiện nguyên và đưa về giải bài toán quy hoạch tuyến tính/quy hoạch xác định không âm/quy hoạch lồi tương ứng. Chứng minh không xấp xỉ được là một lĩnh vực nghiên cứu có nhiều kết quả trong lý thuyết độ phức tạp tính toán, đặc biệt là từ sau kết quả năm 1991 của Feige, Goldwasser, Lovasz, Safra, và Szegedy cho bài toán clique. == Các đảm bảo cho thuật toán xấp xỉ == Với nhiều thuật toán xấp xỉ, ta có thể chứng minh một số tính chất của lời giải thu được so với kết quả tối ưu. == Ghi chú ==
trận đồn sumter.txt
Trận đồn Sumter là một cuộc pháo kích đã bức hàng đồn quân sự Sumter, là trận đánh đầu tiên chính thức mở màn cuộc Nội chiến Hoa Kỳ. Sau khi 7 tiểu bang miền Nam Hoa Kỳ tuyên bố ly khai tách khỏi Liên bang, Nam Carolina đã yêu cầu quân đội miền Bắc rút khỏi các căn cứ của mình tại cảng Charleston. Ngày 26 tháng 12 năm 1860, thiếu tá miền Bắc Robert Anderson đã bí mật dời bộ chỉ huy của mình từ đồn Moultrie vốn không thể phòng thủ tại thị trấn Sullivan's Island đến đồn Sumter, một pháo đài trọng yếu kiểm soát lối ra vào cảng Charleston. Tổng thống James Buchanan đã cố gắng tăng viện và tiếp tế cho Anderson bằng con tàu buôn không vũ trang mang tên Ngôi sao miền Tây, nhưng thất bại khi tàu này bị các khẩu đội pháo binh bờ biển miền Nam tấn công vào ngày 9 tháng 1 năm 1861. Chính quyền Nam Carolina sau đó đã chiếm đóng tất cả các căn cứ của Liên bang trong khu vực Charleston, ngoại trừ đồn Sumter. Trong những tháng đầu năm 1861, tình hình xung quanh đồn Sumter ngày càng trở nên giống với một cuộc bao vây. Đến tháng 3, P.G.T. Beauregard, vị chuẩn tướng đầu tiên của Liên minh miền Nam Hoa Kỳ mới thành lập, được bổ nhiệm làm chỉ huy các lực lượng miền Nam tại Charleston. Beauregard đã hăng hái chỉ đạo việc tăng cường các khẩu đội pháo quanh cảng Charleston hướng vào đồn Sumter. Tình thế trong đồn trở nên đáng sợ khi quân miền Bắc cũng gấp rút hoàn thành việc lắp đặt thêm các khẩu đại bác. Anderson lâm vào tình trạng bị thiếu người, lương thực và đồ tiếp tế. Việc tái tiếp tế cho đồn Sumter đã trở thành cuộc khủng khoảng đầu tiên cho chính quyền Tổng thống Abraham Lincoln. Lincoln đã thông báo cho Thống đốc Nam Carolina, Francis W. Pickens rằng ông đã điều đi các tàu tiếp tế, kết quả là Liên minh miền Nam đã hạ một bức tối hậu thư đòi: rút khỏi đồn Sumter ngay lập tức. Thiếu tá Anderson từ chối không đầu hàng tướng P.G.T. Beauregard, và từ 4h30 sáng ngày 12 tháng 4, quân miền Nam bắt đầu pháo kích vào trong đồn bằng những khẩu đội đại bác chung quanh cảng. Mặc dù quân đồn trú miền Bắc có bắn trả, nhưng họ bị áp đảo rõ rệt về hỏa lực, và sau 34 tiếng đồng hồ, Anderson đã đồng ý rút đi. Không có tổn thất về nhân mạng cho cả hai bên trong cuộc chiến, nhưng một vụ nổ pháo trong buổi lễ đầu hàng vào ngày 14 tháng 4 đã khiến 2 lính miền Bắc bị chết. Sau trận này, ở cả hai miền Nam Bắc đều tăng cường ủng hộ việc leo thang chiến tranh. Lincoln đã ngay lập tức kêu gọi 75.000 quân tình nguyện đi trấn áp cuộc nổi loạn, và dẫn đến việc có thêm 4 tiểu bang khác ly khai để gia nhập Liên minh miền Nam. Cuộc nội chiến Hoa Kỳ đã bắt đầu. == Bối cảnh == === Ly khai === Ngày 20 tháng 12 năm 1860, một thời gian ngắn sau chiến thắng của Abraham Lincoln trong cuộc bầu cử tổng thống Hoa Kỳ năm 1860, tiểu bang Nam Carolina đã thông qua sắc lệnh tuyên bố sự ly khai của tiểu bang này ra khỏi Hợp chúng quốc Hoa Kỳ, và cho đến tháng 2 năm 1861, có thêm sáu bang miền Nam cũng thông qua các sắc lệnh ly khai tương tự. Ngày 7 tháng 2, bảy bang này đã cùng thông qua một hiến pháp lâm thời cho Liên minh miền Nam Hoa Kỳ và thiết lập thủ đô tạm thời của họ tại Montgomery, Alabama. Một hội nghị hoà bình được tổ chức trong tháng 2 ở Washington, D.C. nhưng đã không thành công trong việc giải quyết cuộc khủng hoảng. Tám bang có duy trì chế độ nô lệ còn lại đã khước từ lời đề nghị gia nhập Liên minh miền Nam. == Đầu hàng == == Hậu quả == Cuộc pháo kích đồn Sumter là hoạt động quân sự đầu tiên của Nội chiến Hoa Kỳ. Sau trận này, người miền Bắc đã tập hợp theo lời kêu gọi của Lincoln tới tất cả các bang về việc gửi quân đi chiếm lại các đồn quân sự và bảo vệ Liên bang. Hai ngày sau, vào ngày 15 tháng 4 năm 1861, trước quy mô của cuộc nổi loạn cho tới lúc này có vẻ vẫn còn nhỏ, Lincoln đã ra tuyên cáo tuyển mộ 75.000 quân tình nguyện trong vòng 90 ngày chuẩn bị cuộc chinh phạt chính quyền phản nghịch của miền Nam. Một số bang ở miền Bắc đã nhanh chóng đáp ứng chỉ tiêu được giao cho họ. Có rất nhiều quân tình nguyện tại Ohio đến nỗi chỉ trong vòng 16 ngày bang này đã có thể tự mình đạt đến con số 75.000 người. Tronng khi đó, một số thống đốc Các bang Biên giới đã phản ứng tiêu cực trước sự việc này. Thống đốc Claiborne Jackson đã viết: "Không một người dân bang Missouri nào sẽ được cung cấp để tiến hành một chiến dịch xấu xa như vậy", còn Thống đốc Beriah Magoffin thì viết: "Kentucky sẽ không cung cấp quân để phục vụ cho mục đích xấu xa nhằm khuất phục các bang miền Nam anh em của mình"." Các bang nô lệ vẫn còn lại trong Liên bang cũng tỏ thái độ bất hợp tác tương tự. Sau đó, lời kêu gọi của Lincoln đã dẫn đến việc có thêm 4 tiểu bang ly khai và gia nhập Liên minh miền Nam, bắt đầu là Virginia ngày 17 tháng 4 năm 1861, tiếp theo đến Arkansas, Tennessee, và Bắc Carolina - tạo khối 11 tiểu bang, gồm 9 triệu dân, trong đó có 4 triệu nô lệ. Chính phủ miền Bắc Hoa Kỳ chỉ còn 21 tiểu bang và 20 triệu dân. Chiến tranh sau đó đã kéo dài 4 năm, và kết thúc vào tháng 4 năm 1865, khi Đại tướng Robert E. Lee cùng Binh đoàn Bắc Virginia ra đầu hàng. Cảng Charleston đã hoàn toàn nằm trong tay miền Nam phần lớn thời gian 4 năm chiến tranh, tạo nên một lỗ hổng trong cuộc phong tỏa đường biển của miền Bắc đối với miền Nam. Lực lượng miền Bắc đã tiến hành nhiều chiến dịch lớn trong các năm 1862, 1863 nhằm đánh chiếm Charleston, đầu tiên là bằng đường bộ trong trận James Island tháng 6 năm 1862, rồi bằng hải quân trong trận Charleston Harbor thứ nhất vào tháng 4 năm 1863, và sau đó là bằng cách chiếm đóng các vị trí pháo binh của miền Nam trên đảo Morris (mở màn bằng trận đồn Wagner thứ hai tháng 7 năm 1863, tiếp diễn bằng một cuộc bao vây cho đến tháng 9). Sau khi nã tan nát đồn Sumter bằng hỏa lực pháo binh, một chiến dịch đổ bộ cuối cùng được tiến hành nhằm chiếm đóng nó trong trận đồn Sumter thứ hai tháng 9 năm 1863, nhưng đã bị đẩy lui và quân miền Bắc không cố gắng thêm nữa. Quân miền Nam rút khỏi đồn Sumter và cảng Charleston vào tháng 2 năm 1865 khi thiếu tướng miền Bắc William T. Sherman tấn công thành phố trong chiến dịch Carolinas. Ngày 14 tháng 4 năm 1865, đúng 4 năm sau khi đồn Sumter đầu hàng, Robert Anderson (giờ đã là thiếu tướng, mặc dù đang ốm và đã nghỉ hưu) đã trở lại đồn Sumter đổ nát để treo lại lá cờ miền Bắc bị rách mà chính ông đã hạ xuống khi trước. 2 khẩu đại bác sử dụng tại đồn Sumter sau này được đem trưng bày tại trường Đại học bang Louisiana bởi tướng William Tecumseh Sherman, viên hiệu trưởng cũ của trường trước chiến tranh. == Chú thích == == Thư mục == Burton, E. Milby. The Siege of Charleston 1861–1865. Columbia: University of South Carolina Press, 1970. ISBN 0-87249-345-8. Davis, William C., and the Editors of Time-Life Books. Brother against Brother: The War Begins. Alexandria, VA: Time-Life Books, 1983. ISBN 0-8094-4700-2. Detzer, David. Allegiance: Fort Sumter, Charleston, and the Beginning of the Civil War. New York: Harcourt, 2001. ISBN 0-15-100641-5. Eicher, David J. The Longest Night: A Military History of the Civil War. New York: Simon & Schuster, 2001. ISBN 0-684-84944-5. Eicher, John H., and David J. Eicher. Civil War High Commands. Stanford, CA: Stanford University Press, 2001. ISBN 0-8047-3641-3. Kennedy, Frances H., ed. The Civil War Battlefield Guide. 2nd ed. Boston: Houghton Mifflin Co., 1998. ISBN 0-395-74012-6. McPherson, James M. Battle Cry of Freedom: The Civil War Era. Oxford History of the United States. New York: Oxford University Press, 1988. ISBN 0-19-503863-0. Ripley, Warren. "War's First Death Accidental." In The Civil War at Charleston, edited by Arthur M. Wilcox and Warren Ripley. 16th ed. Charleston, SC: Evening-Post Publishing Co., 1992. OCLC 636046368. Ward, Geoffrey C., Ken Burns, and Ric Burns. The Civil War, an Illustrated History. New York: Alfred A. Knopf, 1990. ISBN 978-0-394-56285-8. Welcher, Frank J. The Union Army, 1861–1865 Organization and Operations. Vol. 1, The Eastern Theater. Bloomington: Indiana University Press, 1989. ISBN 0-253-36453-1. National Park Service battle description == Đọc thêm == Burgess, John William. The Civil War and the Constitution, 1859-1865. 2 vols. New York: C. Scribner's Sons, 1901. OCLC 1956430. Chesnut, Mary, Diary of Mary Chesnut. Fairfax, VA: D. Appleton and Company, 1905. OCLC 287696932. Doubleday, Abner. Reminiscences of Forts Sumter and Moultrie in 1860–61. New York: Harper and Brothers, 1876. OCLC 1320168. Hatcher, Richard W. "The Problem in Charleston Harbor: Fort Sumter and the Opening Shots of the Civil War." Hallowed Ground Magazine (Civil War Trust), Winter 2010. Hendrickson, Robert. Sumter: The First Day of the Civil War. New York: Promontory Press, 1996. ISBN 0-88394-095-7. Klein, Maury. Days of Defiance: Sumter, Secession, and the Coming of the Civil War: New York: Alfred A. Knopf, 1997. ISBN 0-679-44747-4. == Liên kết ngoài == Fort Sumter National Monument National Park Service Historical Handbook Battle of Fort Sumter: Maps, histories, photos, and preservation news (CWPT) Crisis at Fort Sumter Details of requests for surrender prior to the battle Discussion of transfer of federal property within state boundaries Newspaper coverage of the Battle of Fort Sumter
giải vô địch bóng đá đông nam á 2014.txt
Giải vô địch bóng đá Đông Nam Á 2014 là Giải vô địch bóng đá Đông Nam Á lần thứ 10 do 2 nước đồng chủ nhà Việt Nam và Singapore đăng cai tổ chức. Đây đều là lần thứ 4, cả Việt Nam và Singapore đăng cai giải đấu này, với Việt Nam là vào các năm 1998, 2004 và 2010, còn Singapore là vào các năm 1996, 2002 và 2007. Thái Lan giành chức vô địch lần thứ 4, trong lịch sử, sau khi vượt qua Malaysia với tổng tỷ số 4–3 sau 2 lượt trận chung kết và chính thức cân bằng thành tích 4 lần vô địch của Singapore. Còn Singapore trở thành đội đương kim vô địch thứ hai của giải bị loại ngay từ vòng bảng sau Thái Lan năm 2004. == Các nước chủ nhà == Singapore và Việt Nam đã được thông báo là đồng chủ nhà tại hội đồng AFF ngày 3 tháng 4 năm 2013. Philippines và Indonesia cũng được xép xét trở thành đồng chủ nhà. == Các sân vận động == == Vòng loại == Ban đầu có thông báo rằng sẽ không tổ chức vòng loại tại giải đấu năm 2014, Tuy vậy, cuộc họp hội đồng tại Naypyidaw, Myanmar đã ra quyết định tiếp tục tổ chức vòng loại và nước chủ nhà sẽ là Lào (dự kiến diễn ra từ 13 – 19 tháng 10 năm 2014). Vào tháng 8 năm 2013, Liên đoàn bóng đá Úc trở thành một thành viên đầy đủ của AFF, do đó làm cho họ đủ điều kiện để tham gia giải đấu này. Tuy nhiên, Úc đã không tham dự giải đấu. === Các đội giành quyền vào vòng chung kết === == Bốc thăm chia bảng == Buổi lễ bốc thăm cho vòng chung kết cũng như vòng loại AFF Championship 2014 được tổ chức vào ngày 5 tháng 8 năm 2014 tại Hà Nội. == Danh sách cầu thủ == == Vòng chung kết == === Vòng bảng === ==== Tiêu chí xếp hạng ==== Thứ hạng ở từng bảng được quyết định như sau: Điểm số đạt được cao hơn trong các trận vòng bảng; Hiệu số bàn thắng cao hơn trong các trận vòng bảng; Ghi nhiều bàn thắng hơn trong các trận vòng bảng. Trường hợp 3 tiêu chí trên bằng nhau, thứ hạng sẽ được quyết định như sau: Kết quả đối đầu trực tiếp giữa các đội liên quan; Đá luân lưu 11m nếu các đội liên quan vẫn còn trên sân; Bốc thăm. ==== Bảng A ==== Tất cả các trận đấu được tổ chức tại Việt Nam. Giờ thi đấu tính theo giờ địa phương UTC+7. ==== Bảng B ==== Tất cả các trận đấu được tổ chức tại Singapore. Giờ thi đấu tính theo giờ địa phương UTC+8. Do gặp vấn đề tại sân vận động quốc gia, Liên đoàn bóng đá Đông Nam Á đã quyết định cho hai trận đấu của bảng B diễn ra ở 2 địa điểm cho phù hợp. Ghi chú === Vòng đấu loại trực tiếp === ==== Bán kết ==== Lượt đi Lượt về Thái Lan thắng với tổng tỷ số 3–0. Malaysia thắng với tổng tỷ số 5–4. ==== Chung kết ==== Lượt đi Lượt về Thái Lan thắng với tổng tỷ số 4–3. == Sự cố và tranh cãi == Trong trận đấu vòng bảng giữa Singapore và Malaysia tại sân vận động Quốc gia Singapore, một số cổ động viên Singapore giận dữ đã ném chai nước và cuộn giấy vệ sinh vào sân và cửa hầm ở cuối trận đấu do cổ động viên nước này phản đối trọng tài Ahmed Al-Kaf khi cho Malaysia được hưởng quả phạt đền. Trong trận đấu bán kết lượt đi giữa Malaysia và Việt Nam tại sân vận động Shah Alam, sự cố đã xảy ra khi một số cổ động viên Malaysia quá khích tràn qua khán đài để hành hung cổ động viên Việt Nam, trong đó có các cổ động viên nữ. Kết quả là một số cổ động viên Việt Nam bị chảy máu đầu. Sự việc diễn ra quá nhanh khiến cảnh sát Hoàng gia Malaysia không kịp phản ứng. Tiền vệ Phạm Thành Lương đã bất chấp nguy hiểm ném cuộn băng gạc lên khán đài để giúp cổ động viên Việt Nam cầm máu. Sau trận bán kết lượt đi AFF Cup 2014, hacker đã tấn công và làm sập trang thông tin điện tử của Hiệp hội bóng đá Malaysia (FAM) cũng như Liên đoàn bóng đá Việt Nam (VFF). Sau đó, Bộ trưởng thể thao Malaysia Khairy Jamaluddin chính thức gửi lời xin lỗi đến cổ động viên Việt Nam vì đã để xảy ra bạo loạn. Sau thất bại bất ngờ 2–4 của đội tuyển Việt Nam trước Malaysia ở sân vận động quốc gia Mỹ Đình, chủ tịch Liên đoàn Bóng đá Việt Nam (VFF) Lê Hùng Dũng ngày 12 tháng 12 bày tỏ với giới truyền thông về sự nghi ngờ của ông là có thể có ai bán độ và đề nghị công an điều tra về việc này. Tuy nhiên lãnh đạo Tổng cục Cảnh sát Phòng chống Tội phạm vào ngày 26 tháng 12 đã tuyên bố đình chỉ cuộc điều tra vì không thấy có dấu hiệu vi phạm nào cả. == Thống kê == === Vô địch === === Giải thưởng === === Kỷ luật === Trong giải đấu này, một cầu thủ bị treo giò trong trận đấu tiếp theo do nhận thẻ đỏ trực tiếp hoặc nhận đủ hai thẻ vàng trong hai trận đấu khác nhau. * Cầu thủ chơi nhận được 1 thẻ trong trận bán kết và trận chung kết không bao gồm ở đây. === Cầu thủ ghi bàn === 6 bàn Mohd Safiq Rahim 4 bàn 3 bàn Kroekrit Thaweekarn 2 bàn 1 bàn Phản lưới nhà == Bảng xếp hạng giải đấu == == Phát sóng == Nước chủ nhà == Chú thích == == Liên kết ngoài == Trang web giải đấu AFF Championship Trang web giải đấu chính thức Trang chủ của Liên đoàn bóng đá Đông Nam Á
vòng loại cúp bóng đá châu á 2011.txt
Vòng loại Cúp bóng đá châu Á 2011 diễn ra theo thể thức mới của Liên đoàn bóng đá châu Á (AFC), giữa 25 đội bóng mạnh nhất của châu lục nhằm xác định 10 suất giành quyền tham dự vòng chung kết Cúp bóng đá châu Á 2011 được tổ chức tại Qatar. Trong số 25 đội bóng này, đội chủ nhà Qatar, với ba đội giành huy chương tại Cúp bóng đá châu Á 2007 là Iraq, Ả Rập Saudi và Hàn Quốc, cùng nhà vô địch Cúp Challenge AFC 2008 Ấn Độ đã chính thức đoạt vé đi dự vòng chung kết mà không cần qua vòng loại. 20 đội bóng còn lại được chia làm 5 bảng đấu, thi đấu 2 trận lượt đi-lượt về theo thể thức sân nhà-sân khách, chọn lấy hai đội đứng đầu mỗi bảng giành quyền tới Qatar. Đội bóng còn lại sẽ tham dự vòng chung kết Cúp bóng đá châu Á 2011 được tổ chức tại quốc gia vùng Vịnh này là đội vô địch Cúp Challenge AFC 2010, nếu Ấn Độ bảo vệ thành công danh hiệu của mình tại giải đấu thì đội á quân sẽ giành chiếc vé cuối cùng để tới Qatar này. == Các đội vượt qua vòng loại == == Hạt giống == Ngày 6 tháng 12 năm 2007, Liên đoàn bóng đá châu Á đã công bố xếp hạng hạt giống cho vòng loại Cúp bóng đá châu Á 2011: == Thể thức thi đấu == Hai đội xếp hạng 23 và 24 sẽ đã một trận play-off sơ loại, theo thể thức lượt đi-lượt về sân nhà-sân khách, xác định một đội giành quyền vào chơi ở vòng bảng. Đội thắng cuộc tại vòng sơ loại, cùng với 19 đội bóng xếp hạng từ thứ 4 cho đến thứ 22 sẽ được chia làm 5 bảng 4 đội đấu vòng tròn hai lượt đi và về, theo thể thức sân nhà-sân khách. Hai đội đứng đầu mỗi bảng được giành tấm vé tới Qatar năm 2011. == Vòng sơ loại ==
quần đảo senkaku.txt
Quần đảo Senkaku (尖閣諸島 (Tiêm Các chư đảo), Senkaku Shotō, các biến thể: Senkaku-guntō và Senkaku-rettō), cũng gọi là quần đảo Điếu Ngư hay quần đảo Điếu Ngư Đài (phồn thể: 釣魚台群島; bính âm: Diàoyútái Qúndǎo) tại Đài Loan,đảo Điếu Ngư cùng các đảo phụ thuộc (giản thể: 钓鱼岛及其附属岛屿; bính âm: Diàoyúdǎo jí qí fùshǔ dǎoyǔ) tại Trung Quốc đại lục, hay cũng gọi đơn giản là đảo Điếu Ngư (钓鱼岛) hay quần đảo Pinnacle, là một nhóm gồm các đảo không người ở do Nhật Bản kiểm soát ở biển Hoa Đông. Các đảo nằm về phía đông của Trung Quốc đại lục, về phía đông bắc của Đài Loan, về phía tây của đảo Okinawa, và ở phía bắc cực tây nam của quần đảo Ryukyu (đảo Yonaguni). Từ khi Hoa Kỳ trao quyền quản lý các đảo cho Nhật Bản năm 1971, quyền sở hữu các đảo bị tranh chấp giữa Nhật Bản với Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa và Trung Hoa Dân Quốc (Đài Loan). Trung Quốc tuyên bố rằng họ đã phát hiện và kiểm soát các đảo từ thế kỷ 14. Nhật Bản đã kiểm soát các đảo từ năm 1895 cho đến khi đầu hàng kết thúc Chiến tranh thế giới thứ hai. Hoa Kỳ quản lý quần đảo như là một phần của Chính quyền dân sự Hoa Kỳ tại quần đảo Ryukyu từ năm 1945 đến năm 1972, khi chúng được trao cho Nhật Bản theo Hiệp ước trao trả Okinawa giữa Hoa Kỳ và Nhật Bản. Quần đảo là một vấn đề trong quan hệ giữa Nhật Bản và CHND Trung Hoa, cũng như giữa Nhật Bản và THDQ. Mặc dù có sự phức tạp giữa quan hệ hai bờ eo biển Đài Loan, CHND Trung Hoa và THDQ đều chấp thuận rằng các đảo là một phần của huyện Nghi Lan thuộc tỉnh Đài Loan. Nhật Bản không công nhận Đài Loan là một quốc gia có chủ quyền, và coi quần đảo là một phần của thành phố Ishigaki, tỉnh Okinawa và không thừa nhận tuyên bố chủ quyền của CHND Trung Hoa và THDQ đối với các đảo. == Lịch sử == === Thời kỳ ban đầu === Các ghi chép về những hòn đảo này đã có từ thế kỷ 15. Chúng được gọi là Điếu Ngư trong các thư tịch như Thuận phong tương tống (順風相送) (1403) và sứ Lưu Cầu lục (使琉球錄) (1534). Cả tên tiếng Trung của nhóm đảo (Diaoyu, Điếu Ngư) và tên tiếng Nhật của đảo chính (Uotsuri, Ngư Điếu) đều có nghĩa là "câu cá". Mô tả được công bố đầu tiên về quần đảo tại châu Âu là trong một cuốn sách do Isaac Titsingh nhập khẩu vào năm 1796. Thư viện sách Nhật văn nhỏ bé của ông có quyển Sangoku Tsūran Zusetsu (三国通覧図説, Tam quốc thông lãm đồ thuyết) của Hayashi Shihei. Văn bản này được lưu hành tại Nhật Bản vào năm 1785, mô tả về vương quốc Lưu Cầu. Năm 1832, Quỹ Phiên dịch Đông phương của Anh và Ireland đã hỗ trợ xuất bản di cảo tóm tắt bản dịch tiếng Pháp của Titsingh. Tư liệu đầu tiên về quần đảo trong một cuốn sách tiếng Anh là tại miêu tả năm 1848 của Edward Belcher trong chuyến hành trình dài ngày của thuyền Sammarang. Thuyền trưởng Belcher đã quan sát thấy rằng "các tên gọi được ấn định trong vùng này được thừa nhận quá vội vàng." Belcher tường thuật là đã bỏ neo ngoài khơi đảo Pinnacle trong tháng 3 năm 1845. Vào thập niên 1870 và 1880, tên tiếng Anh "Pinnacle Islands" được hải quân Anh Quốc sử dụng để gọi các đá liền kề với đảo lớn nhất Uotsuri Jima/Diaoyu Dao (khi đó gọi là Hoa-pin-su); Kuba Jima/Huangwei Yu (khi đó gọi là Ti-a-usu); và Taishō Jima/Chiwei Yu. Tên gọi "Pinnacle Islands" được một số nguồn tiếng Anh sử dụng tương đương với "Senkaku" hay "Điếu Ngư". Năm 1900, khi Tsune Kuroiwa, một giáo viên tại tỉnh Okinawa, đến thăm các đảo, ông đã đặt cho chúng tên gọi Senkaku Retto (尖閣列島 (Tiêm Các liệt đảo), Senkaku Retto), nghĩa là dãy đảo gác nhọn, để đề cập đến nhóm đảo, dựa trên tên tiếng Anh. Tài liệu chính thức đầu tiên ghi tên Senkaku Retto là của Bộ Ngoại giao Nhật Bản trong Nihon Gaiko Monjo (日本外交文書, Nhật Bản Ngoại giao văn thư) vào thập niên 1950. Trong tiếng Nhật, Sentō Shosho (尖頭諸嶼 (Tiêm Đầu chư tự), Sentō Shosho) và Senkaku Shosho (尖閣諸嶼 (Tiêm Các chư tự), Senkaku Shosho) cũng là các tên gọi được một số nguồn dùng để dịch "Pinnacle Islands". Sau đó, toàn bộ nhóm đảo được gọi là Senkaku Rettō, rồi trở thành Senkaku Shotō. Việc sử dụng tên gọi "Senkaku" để chỉ toàn bộ nhóm đảo trong tiếng Anh bắt đầu cùng với sự khởi đầu cho các tranh cãi về chủ quyền vào thập niên 1970. === Nhật Bản và Hoa Kỳ kiểm soát === Chính quyền trung ương Nhật Bản chính thức sáp nhập quần đảo vào ngày 14 tháng 1 năm 1895. Khoảng năm 1900, doanh nhân người Nhật Koga Tatsushirō (古賀 辰四郎, Koga Tatsushirō) đã xây dựng một nhà máy chế biến cá ngừ tại quần đảo với 200 công nhân. Việc kinh doanh đã thất bại vào năm 1940 và quần đảo từ đó vẫn bị bỏ hoang. Đến thập niên 1970, các hậu duệ của Koga Tatsushirō đã bán bốn hòn đảo nhỏ cho gia tộc Kurihara ở tỉnh Saitama. Kurihara Hiroyuki sở hữu các đảo Uotsuri, Kita Kojima, và Minami Kojima. Còn một người chị/em gái của Hiroyuki thì sở hữu đảo Kuba. Hòn đảo nằm dưới sự chiếm đóng của Hoa Kỳ vào năm 1945. Năm 1969, Ủy ban Kinh tế Xã hội châu Á và Viễn Đông của Liên Hiệp Quốc (ECAFE) đã xác định tiềm năng dự trữ dầu mỏ và khí đốt trong vùng lân cận quần đảo Senkaku. Năm 1971, Hiệp ước trao trả Okinawa đã được Thượng viện Hoa Kỳ thông qua, trong khi chính quyền Đài Loan và Trung Quốc cũng bắt đầu chính thức tuyên bố quyền sở hữu các hòn đảo. Kể từ khi quần đảo trở lại dưới quyền kiểm soát của Nhật Bản vào năm 1972, thị trưởng Ishigaki đã được trao quyền quản lý dân sự đối với lãnh thổ này. Tuy nhiên, chính quyền trung ương Nhật Bản đã cấm thành phố Ishigaki thực hiện công việc trắc địa hay phát triển quần đảo. Năm 1979, một phái đoàn chính thức của chính phủ Nhật Bản gồm 50 học giả, quan chức chính quyền từ các bộ Ngoại giao và Giao thông, các quan chức đến từ Cơ quan Phát triển Okinawa (nay không còn tồn tại), và Kurihara Hiroyuki, đã viếng thăm quần đảo và cắm trại tại Uotsuri trong khoảng bốn tuần. Phái đoàn nghiên cứu hệ sinh thái địa phương, tìm kiếm chuột chũi và dê, nghiên cứu sinh vật biển địa phương, và khảo sát xem các đảo này có hỗ trợ cho cuộc sống của con người hay không. Từ năm 2002, Bộ Nội vụ và Truyền thông (Tổng vụ tỉnh) đã trả cho gia đình Kurihara 25 triệu Yên mỗi năm để thuê Uotsuri, Minami Kojima và Kita Kojima. Bộ Quốc phòng (Phòng vệ tỉnh) đã thuê đảo Kuba với một số tiền chưa được tiết lộ. Chính quyền trung ương Nhật Bản đã hoàn toàn sở hữu đảo Taisho. Ngày 11 tháng 9 năm 2012, nội các Nhật Bản đã quyết định đã quyết định dùng ngân sách dự trữ để chi trả số tiền là 2,05 tỷ Yên (khoảng 26,15 triệu USD) cho gia đình Kurihara để "quốc hữu hóa" ba hòn đảo. Quyết định này đã bị phía Trung Quốc phản đối, thủ tướng Trung Quốc Ôn Gia Bảo tuyên bố rằng nước ông sẽ "không lùi một tấc nào" trong cuộc tranh chấp chủ quyền này. Ngày 17 tháng 12 năm 2010, thành phố Ishigaki tuyên bố ngày 14 tháng 1 là "ngày Tiên phong". Trung Quốc đã phản đối hành động này của thành phố Ishigaki. Năm 2012, cả chính quyền thủ đô Tokyo và chính quyền trung ương Nhật Bản đều tuyên bố có kế hoạch mua lại các đảo Uotsuri, Kita Kojima, và Minami Kojima từ gia đình Kurihara. == Địa lý == Quần đảo có năm đảo nhỏ không có người ở và ba đá cằn cỗi. Quần đảo nằm trên biển Hoa Đông, cách xấp xỉ 120 hải lý về phía đông bắc Đài Loan, 200 hải lý về phía đông Trung Quốc đại lục và cách 200 hải lý về phía tây nam của đảo Okinawa của Nhật Bản. Theo thứ tự tăng dần: 140 kilômét (76 nmi; 87 mi) về phía đông đảo nhỏ Bành Giai, Đài Loan 170 kilômét (92 nmi; 110 mi) về phía bắc của đảo Ishigaki, Nhật Bản 186 kilômét (100 nmi; 116 mi) về phía đông bắc của Cơ Long, Đài Loan 410 kilômét (220 nmi; 250 mi) về phía tây của đảo Okinawa, Nhật Bản Ngày 3 tháng 3 năm 2012, Cục Hải dương Nhà nước Trung Quốc đã công bố 71 tên tiêu chuẩn của đảo Điếu Ngư cùng đảo phụ thuộc khác. Độ sâu vùng nước xung quanh thềm lục địa của quần đảo là xấp xỉ 100–150 mét (328–492 ft) ngoại trừ máng Okinawa ở phía nam. Sự tồn tại của bồn trũng sau cung làm phức tạp thêm vấn đề mô tả. Theo giáo sư Quý Quốc Hưng (季国兴) của Ban châu Á-Thái Bình Dương tại Đại học Ngoại quốc ngữ Thượng Hải, Giải thích của Trung Quốc là "...Máng Okinawa chứng minh rằng thềm lục địa của Trung Quốc và Nhật Bản là không kết nối, Máng phục vụ như là ranh giới tự nhiên giữa chúng, và rằng không nên bỏ qua Máng này...." Giải thích của Nhật Bản là "...Máng chỉ là một vùng lõm ngẫu nhiên trong một rìa lịc địa liên tục giữa hai nước... [và] máng nên được bỏ qua...." === Động thực vật === Việc cho phép thu nhập các thảo mộc trên ba hòn đảo của nhóm đã được ghi lại trong một chiếu chỉ của nhà Thanh vào năm 1893. Uotsuri Jima, hòn đảo lớn nhất, có một số loài đặc hữu như chuột chũi Senkaku (Mogera uchidai) và kiến Okinawa-kuro-oo-ari. Chuột chũi Senkaku là một loài có nguy cơ tuyệt chủng; sự tồn tại của nó bị đe dọa bởi những con dê được đưa đến đảo vào năm 1978. Chim hải âu lớn được theo dõi trên quần đảo. Trong tất cả các đảo, Minami Kojima là một trong số ít những nơi sinh sản của Hải âu lớn đuôi ngắn (Phoebastria albatrus). == Chú thích == == Tham khảo == == Đọc thêm == == Liên kết ngoài ==
trần đức lương.txt
Trần Đức Lương (sinh ngày 5 tháng 5 năm 1937 tại xã Phổ Khánh, huyện Đức Phổ, tỉnh Quảng Ngãi), là một chính khách Việt Nam. Ông là Chủ tịch nước thứ sáu của Việt Nam (nhiệm kỳ từ 24 tháng 9 năm 1997 cho đến 26 tháng 6 năm 2006), là Ủy viên Bộ Chính trị (khóa VIII, IX) và Ủy viên Thường vụ Bộ Chính trị (khóa VIII) Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam. == Tóm tắt quá trình công tácSửa đổi == Các thông tin trong phần này lấy được trích dẫn tại Tháng 2 năm 1955: Tập kết ra Bắc; học sơ cấp, học bổ túc trung cấp địa chất; kĩ thuật viên, đội trưởng, đoàn phó kĩ thuật địa chất; bí thư chi đoàn, chi uỷ viên; bí thư chi bộ, liên chi uỷ viên. Từ tháng 9 năm 1966 đến tháng 1 năm 1970: học Đại học Mỏ - Địa chất Hà Nội, hệ chuyên tu; đảng uỷ viên, bí thư đoàn trường. Từ tháng 2 năm 1970 đến tháng 8 năm 1975: phó cục trưởng Cục Bản đồ Địa chất, uỷ viên Thường vụ Đảng uỷ cục. Từ tháng 9 năm 1975 đến tháng 7 năm 1977: học trường Nguyễn Ái Quốc Trung ương; Bí thư Chi bộ lớp. Từ tháng 8 năm 1977 đến tháng 2 năm 1987: Phó Liên đoàn trưởng, Liên đoàn trưởng Liên đoàn Bản đồ Địa chất; Tổng cục trưởng Tổng cục Địa chất (sau đổi là Tổng cục Mỏ Địa chất); Bí thư Đảng uỷ Liên đoàn, Ủy viên Ban Chấp hành Tổng Công đoàn Việt Nam, Bí thư Ban cán sự Đảng Tổng cục; Đại biểu Quốc hội khoá VII, Phó Chủ nhiệm rồi Chủ nhiệm Uỷ ban Khoa học và Kỹ thuật của Quốc hội; Phó Chủ tịch Hội hữu nghị Việt-Xô; Ủy viên dự khuyết Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá V. Từ tháng 8 năm 1987 đến tháng 2 năm 1997: Phó Thủ tướng; Đại biểu Quốc hội khoá VIII; Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa khoá VI, khóa khoá VII; đại diện thường trực CHXHCN Việt Nam tại Hội đồng Tương trợ Kinh tế (SEV). Từ tháng 6 năm 1996 đến 2006: Ủy viên Bộ Chính trị, sau đó Ủy viên Thường vụ Bộ Chính trị Trung ương Đảng khoá VIII; Ủy viên Bộ Chính trị khoá IX, Đại biểu Quốc hội khoá X, khoá XI; Chủ tịch nước CHXHCN Việt Nam. Năm 2005, ông và các đồng sự trong Cục Đo đạc Bản đồ được tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh về khoa học công nghệ với 2 công trình: Bản đồ khoáng sản Việt Nam tỉ lệ 1/500.000 (do Tổng cục Địa chất xuất bản năm 1981) Bản đồ địa chất Việt Nam tỉ lệ 1/500.000 (do Tổng cục Mỏ và Địa chất xuất bản năm 1988) Năm 2007, ông được tặng thưởng Huân chương Sao vàng. == Gia đìnhSửa đổi == Con trai ông là Trần Tuấn Anh đã giữ chức vụ Tổng Lãnh sự Việt Nam trong 4 năm tại San Francisco. Sau đó Trần Tuấn Anh về làm Phó Chủ tịch UBND thành phố Cần Thơ, phụ trách kế hoạch đầu tư, và văn hóa xã hội. Hiện tại là Ủy viên Trung ương Đảng khóa XII, Bộ trưởng Bộ Công thương Việt Nam. == Tham khảoSửa đổi == == Liên kết ngoàiSửa đổi ==
tam kỳ.txt
Tam Kỳ là thành phố trung tâm tỉnh lỵ của tỉnh Quảng Nam. Tam Kỳ từ một thị xã trở thành thành phố trực thuộc tỉnh theo Nghị định số 113/2006/NĐ-CP ngày 29 tháng 9 năm 2006. Năm 2016, thành phố Tam Kỳ đạt tiêu chuẩn đô thị loại 2 == Hành chính == Thành phố Tam Kỳ có 100.26 km² diện tích tự nhiên và 148.000 nhân khẩu (2014), gồm 13 đơn vị hành chính là: 9 phường: An Mỹ, An Phú, An Sơn, An Xuân, Hòa Hương, Hòa Thuận, Phước Hòa, Tân Thạnh, Trường Xuân và 4 xã: Tam Ngọc, Tam Phú, Tam Thăng, Tam Thanh. Địa giới hành chính thành phố Tam Kỳ: phía bắc giáp huyện Thăng Bình, phía nam giáp huyện Núi Thành, phía tây giáp huyện Phú Ninh, phía đông giáp biển Đông. Thành phố gồm có các đường phố chính như: Hùng Vương, Phan Chu Trinh, Trần Cao Vân, Huỳnh Thúc Kháng, Nguyễn Hoàng, Phan Bội Châu, Trưng Nữ Vương, Nguyễn Chí Thanh. Tam Kì là nơi đặt các cơ sở hành chính của tỉnh Quảng Nam và các cơ quan chỉ huy quân sự chính của tỉnh Quảng Nam. == Lịch sử == Trước kia, từ vị trí một ngã ba, nay trở thành thành phố với nhiều giao lộ lớn. Hạ tầng phố phường đã xây dựng khá nhiều và quy mô, nhất là khu hành chánh, quảng trường,... Thị xã Tam Kỳ là một đô thị được hình thành từ lâu, có bề dày lịch sử. Trải qua nhiều thời kỳ lịch sử, Tam Kỳ luôn có sự phát triển không ngừng, gắn liền với vùng đất Quảng Nam giàu truyền thống cách mạng kiên cường, bất khuất trong công cuộc đấu tranh giành độc lập dân tộc và xây dựng đất nước. Sau Cách mạng tháng Tám năm 1945, huyện Tam Kỳ có huyện lỵ là thị trấn Tam Kỳ. Đến ngày 30 tháng 1 năm 1951 thị xã Tam Kỳ được thành lập và được chọn là tỉnh lỵ của tỉnh Quảng Nam. Sau Hiệp định Genève năm 1954, dưới chính quyền Việt Nam Cộng hòa, huyện Tam Kỳ được gọi là quận Tam Kỳ và trực thuộc tỉnh Quảng Tín. Sau khi đất nước được thống nhất, ngày 20 tháng 11 năm 1976 huyện Tam Kỳ, thuộc tỉnh Quảng Nam-Đà Nẵng, được lập lại trên cơ sở sát nhập huyện Bắc Tam Kỳ, Nam Tam Kỳ và thị xã Tam Kỳ, gồm 2 thị trấn: Tam Kỳ (huyện lị), Núi Thành và 22 xã: Tam An, Tam Anh, Tam Dân, Tam Giang, Tam Hải, Tam Hiệp, Tam Hòa, Tam Lãnh, Tam Mỹ, Tam Nghĩa, Tam Phú, Tam Ngọc, Tam Phước, Tam Quang, Tam Sơn, Tam Thái, Tam Thăng, Tam Thanh, Tam Thành, Tam Thạnh, Tam Tiến, Tam Xuân. Ngày 13 tháng 3 năm 1979, sáp nhập xã Trà Thượng của huyện Trà My vào huyện Tam Kỳ; hợp nhất xã Trà Thượng và xã Tam Sơn thuộc huyện Tam Kỳ thành một xã lấy tên là xã Tam Trà. Ngày 1 tháng 12 năm 1983, chia xã Tam Trà thành hai xã lấy tên là xã Tam Trà và xã Tam Sơn. Từ đó, huyện Tam Kỳ có 2 thị trấn: Tam Kỳ, Núi Thành và 23 xã: Tam An, Tam Anh, Tam Dân, Tam Giang, Tam Hải, Tam Hiệp, Tam Hòa, Tam Lãnh, Tam Mỹ, Tam Nghĩa, Tam Phú, Tam Ngọc, Tam Phước, Tam Quang, Tam Sơn, Tam Thái, Tam Thăng, Tam Thanh, Tam Thành, Tam Thạnh, Tam Tiến, Tam Trà, Tam Xuân. Đến tháng 12 năm 1983, theo Quyết định số 144 của Hội đồng Bộ trưởng nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam, huyện Tam Kỳ được chia thành 2 đơn vị hành chính là: thị xã Tam Kỳ và huyện Núi Thành; thị xã Tam Kỳ có 7 phường: An Mỹ, An Sơn, An Xuân, Hòa Hương, Phước Hòa, Tân Thạnh, Trường Xuân và 10 xã: Tam Phú, Tam Thanh, Tam Thăng, Tam An, Tam Dân, Tam Thành, Tam Phước, Tam Ngọc, Tam Thái, Tam Lãnh. Ngày 12 tháng 4 năm 1985, chia xã Tam Phước thành 2 xã: Tam Phước và Tam Lộc; chia xã Tam Dân thành 2 xã: Tam Dân và Tam Vinh. Ngày 28 tháng 9 năm 1994, thành lập xã Tam Đàn. Năm 1997, khi tỉnh Quảng Nam được tái lập, Tam Kỳ trở lại là tỉnh lỵ của tỉnh Quảng Nam, gồm 7 phường: Trường Xuân, An Sơn, Tân Thạnh, An Mỹ, An Xuân, Hòa Hương, Phước Hòa và 13 xã: Tam Thăng, Tam Thanh, Tam Phú, Tam Ngọc, Tam Lãnh, Tam Thái, Tam Dân, Tam Đàn, Tam An, Tam Lộc, Tam Vinh, Tam Thành, Tam Phước. Ngày 21 tháng 3 năm 2002, chia xã Tam Phú thành xã Tam Phú và phường An Phú. Cuối năm 2004, thị xã Tam Kỳ có 8 phường: An Mỹ, An Phú, An Sơn, An Xuân, Hòa Hương, Phước Hòa, Tân Thạnh, Trường Xuân và 13 xã: Tam An, Tam Dân, Tam Đàn, Tam Lãnh, Tam Lộc, Tam Phú, Tam Ngọc, Tam Phước, Tam Thái, Tam Thăng, Tam Thanh, Tam Thành, Tam Vinh. Ngày 5 tháng 1 năm 2005, thành lập phường Hòa Thuận và xã Tam Đại; thị xã Tam Kỳ được chia tách thành hai đơn vị hành chính là thị xã Tam Kỳ và huyện mới Phú Ninh theo Nghị định số 01/2005/NĐ-CP của Chính phủ. Thị xã Tam Kỳ lúc này bao gồm các phường: Trường Xuân, An Sơn, Tân Thạnh, An Mỹ, An Xuân, An Phú, Hòa Hương, Phước Hòa, Hòa Thuận và các xã Tam Thăng, Tam Thanh, Tam Phú, Tam Ngọc. Ngày 26 tháng 10 năm 2005, thị xã Tam Kỳ được công nhận là đô thị loại 3. Ngày 29 tháng 9 năm 2006 theo Nghị định số 113/2006/NĐ-CP, thị xã Tam Kỳ được nâng cấp lên thành phố loại 3 trực thuộc tỉnh Quảng Nam.. Ngày 15 tháng 2 năm 2016, thành phố Tam Kỳ được công nhận là đô thị loại II. == Giao thông == === Đường sắt === đường sắt đi qua địa phận thành phố Tam Kỳ song song với trục quốc lộ 1A. Với ga Tam Kỳ nằm ở đường Nguyễn Hoàng, phường An Xuân === Đường bộ === Xe buýt Tam Kỳ - Núi Thành (số hiệu tuyến 05): thời gian chạy từ 5h30 tới 17h,tần suất 45 phút/chuyến. Lộ trình tuyến gồm 22 điểm dừng: Trường Cao đẳng Phương Đông, đường Hùng Vương - 12 Nguyễn Chí Thanh - Trung tâm xúc tiến việc làm Quảng Nam - Trường Đại học Quảng Nam - Nhà khách Tỉnh ủy Quảng Nam - Số 321 Trần Cao Vân - Khách sạn Đông Á,540 Phan Chu Trinh - Trung tâm mua bán, bảo hành ôtô, môtô Nam cầu Tam Kỳ - Quầy tạp hóa Tam Xuân 2, Km999+200 - Phía Bắc cầu Bà Bầu, Km 1002+100 - UBND xã Tam Anh Bắc - Hiệu buôn Việt, chợ Kỳ Chánh, km 1008+700 - Nhà máy ô tô Chu Lai, Trường Hải - Chợ Trạm, nhà nghỉ Anh Minh - Ngã tư Tam Giang - Ngã 3 Kỳ Hà - 03 vị trí trên đường ĐT 618 (đầu đường ĐT 618; ngã 3 xe đổ- ngã rẽ biển Rạng; Chi cục Hải quan- Cảng Kỳ Hà) - 01 vị trí trên đường Lê Lợi, thị trấn Núi Thành (khách sạn Trùng Dương, biển Rạng) và ngược lại Xe buýt Tam Kỳ- Đại Lộc (số hiệu tuyến 08):Thời gian chạy từ 5h đến 17h, tần suất 30 phút/chuyến. Lộ trình tuyến gồm: Lý Thường Kiệt - Lê Lợi - Nguyễn Du - Nguyễn Chí Thanh - Trưng Nữ Vương -Phan Bội Châu - QL1A - Vĩnh Điện (huyện Điện Bàn) - ĐT609 - thị trấn Ái Nghĩa - cầu Hà Nha - UBND xã Đại Hồng và ngược lại. Xe buýt Tam Kỳ- Hiệp Đức (số hiệu tuyến 07):Bãi tắm Tam Thanh (TP Tam Kỳ) - Đường Tam Kỳ Tam Thanh - Đường Duy Tân - Đường Tôn Đức Thắng - Đường Hùng Vương - Đường Trần Cao Vân - Đường Nguyễn Hoàng - Đường Huỳnh Thúc Kháng - Đường Hùng Vương - Đường Lê Lợi - Đường Nguyễn Du- Đường Phan Bội Châu- QL1A- Ngã tư Hà Lam- QL14E- Hiệp Đức- xã Sông Trà và ngược lại. Xe buýt Tam Kỳ- Đà Nẵng (số hiệu tuyến 04): Thời gian chạy từ 5h đến 18h, tần suất 15 phút/chuyến. Lộ trình tuyến: cây xăng Hoà Hương - Phan Chu Trinh - Phan Bội Châu - Quốc lộ 1A - Cầu Cẩm Lệ - Ông Ích Đường - Cách mạng Tháng Tám - Nguyễn Hữu Thọ - Nguyễn Tri Phương - Điện Biên Phủ - Hà Huy Tập - Trần Cao Vân - Quang Trung - Đống Đa - Đường 3/2 - Nguyễn Tất Thành và ngược lại. Xe buýt Tam Kỳ- Bắc Trà My (số hiệu tuyến 02): thời gian chạy từ 5 giờ tới 17 giờ, tần suất 45 phút/chuyến. Lộ trình tuyến như sau: bến xe Quảng Nam - đường Phan Bội Châu - đường Nguyễn Du - đường Lê Lợi - đường Hùng Vương - đường Huỳnh Thúc Kháng - đường Phan Chu Trinh - đường Trần Cao Vân - Lê Tấn Trung (TP.Tam Kỳ)- Quốc lộ 40B - ngã 3 Trà Đốc (huyện Bắc Trà My) và ngược lại. Xe buýt Tam Kỳ- Hội An (chạy hằng ngày) === Hàng không === Sân bay quốc tế Chu Lai (cách trung tâm thành phố 25 km) == Làng nghề truyền thống == Làng hến (Địa chỉ: thôn Tân Phú, xã Tam Phú) Làng dệt chiếu cói (Địa chỉ: thôn Thạch Tân, xã Tam Thăng) == Các cơ sở y tế == === Các cơ sở công cộng === Bệnh viên đa khoa Quảng Nam Bệnh viện Nhi Quảng Nam Trung tâm y tế Tam Kỳ Bệnh viên đa khoa trung ương Quảng Nam (cách trung tâm thành phố 10 km) Trung tâm da liễu Bệnh viện tâm thần === Các cơ sở tư nhân === Bệnh viện Đa khoa Minh Thiện Bệnh viện Đa khoa Thái Bình Dương == Các cơ sở giáo dục tại Tam Kỳ == === Đại học - Cao đẳng === Trường Đại học Quảng Nam Trường Cao đẳng nghề Quảng Nam Trường Cao đẳng kinh tế kỹ thuật Quảng Nam Trường Cao đẳng Y tế Quảng Nam Trường CĐ Công kỹ nghệ Đông Á Trường CĐ Tư thục Phương Đông - Quảng Nam Trường trung cấp Bách Khoa Quảng Nam === Trung học Phổ Thông === Trường chuyên Nguyễn Bỉnh Khiêm Trường Trần Cao Vân Trường Lê Quý Đôn Trường Phan Bội Châu Trường Hà Huy Tập Trường Duy Tân === Trung học cơ sở === Trường Nguyễn Du♧ Trường Lý Tự Trọng Trường Lê Hồng Phong Trường Lê Lợi Trường Nguyễn Huệ Trường Huỳnh Thúc Kháng Trường Lý Thường Kiệt Trường Chu Văn An Trường Thái Phiên Trường Nguyễn Khuyến === Tiểu học === Trường Trần Quốc Toản Trường Kim Đồng Trường Võ Thị Sáu Trường Nguyễn Hiền Trường Nguyễn Văn Trỗi Trường Lê Văn Tám Trường Trần Quý Cáp Trường Ngô Quyền Trường Ngô Gia Tự Trường Hùng Vương Trường Nguyễn Thị Minh Khai Trường Nguyễn Viết Xuân Trường Phan Thanh Trường Lê Thị Hồng Gấm === Mầm non - Mẫu giáo === Mầm non Sơn Ca Mẫu giáo Tuổi Thần Tiên Mẫu giáo Hoa Mai Mẫu giáo Măng Non Mẫu giáo Ánh Dương Mầm non 24/3 Mẫu giáo Vành Khuyên Mẫu giáo Hải Âu Mẫu giáo Bình Minh Mẫu giáo Hoa Sen Mẫu giáo Hương Sen Mẫu giáo Rạng Đông Mẫu giáo Tuổi thơ Mầm non Thánh Gióng Mẫu giáo Họa Mi Mẫu giáo Anh Đào Mẫu giáo tư thục Doreamon Mẫu giáo tư thục Tuổi Hồng == Đặc sản == Cơm gà Tam Kỳ Trà lài Mít hông Mì Quảng Bánh chập Bánh ướt ram == Các địa điểm vui chơi giải trí == === Các địa điểm công cộng === Trung tâm thanh thiếu niên miền Trung Trung tâm thể thao văn hóa tỉnh Sân vận động Tam Kỳ Trung tâm văn hóa thiếu nhi tỉnh Quảng trường tỉnh Thư viện tỉnh Quảng Nam Bảo tàng tỉnh Quảng Nam == Di tích lịch sử và du lịch == === Di tích lịch sử === Văn Thánh Khổng Miếu (Địa chỉ: đường Phan Bội Châu, thuộc khối phố Mỹ Thạch Bắc, phường Tân Thạnh) Tháp Chiên Đàn (Địa chỉ: làng Chiên Đàn, xã Tam An) Địa Đạo Kỳ Anh(Địa chỉ: thôn Vĩnh Bình và Thạch Tân, xã Tam Thăng) === Khu du lịch === Hồ chứa nước Phú Ninh Tượng đài Mẹ Việt Nam Anh Hùng Làng Bích Họa Tam Thanh Bãi biển Tam Thanh (cách trung tâm thành phố 5 km) == Giải thưởng == Ngày 27/10/2015, tại thành phố Fukuoka, Nhật Bản, Tổ chức Định cư con người Liệp Hiệp Quốc tại châu Á (UN Habitat châu Á) đã trao tặng giải thưởng "Phong cảnh thành phố châu Á năm 2015" cho thành phố Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam. Giải thưởng "Phong cảnh thành phố châu Á" (gọi tắt là ATA) là giải thưởng quốc tế được thành lập vào năm 2010 bởi sự phối hợp của 4 tổ chức: Văn phòng Tổ chức định cư con người Liên Hiệp Quốc vùng châu Á – Thái Bình Dương, Ủy ban định cư châu Á, Tổ chức thiết kế phong cảnh châu Á và Trung tâm nghiên cứu đô thị thành phố Fukuoka, (Nhật Bản) với mục tiêu công nhận một môi trường sống thoải mái, hạnh phúc cho người dân châu Á. Có 9 thành phố của các nước Nhật Bản, Hàn Quốc, Trung Quốc và vùng Đông Nam Á nhận giải thưởng danh giá này. == Hình ảnh == == Ghi chú == == Liên kết ngoài == Trang điện tử UBND Thành phố Tam Kỳ
chính phủ.txt
Chính phủ là một chủ thể có quyền lực để thi hành luật pháp trong một tổ chức quốc gia hay một nhóm người ở tầm quốc gia. Trong ý nghĩa rộng, chính phủ có nghĩa là quản lý hoặc chỉ đạo trong một khu vực, trong một nhóm người hay bộ sưu tập tư sản. Thông thường, chính phủ là một cơ quan hành pháp của một cơ cấu nhà nước hoặc tương tự nhà nước. == Từ nguyên == Xưng vị "chính phủ" (Trung văn: 政府) trong tiếng Việt bắt nguồn từ Trung Quốc. Thời Đường và Tống, nơi tể tướng xử lý chính vụ gọi là "chính phủ". Về sau từ "chính phủ" được dùng để chỉ cơ quan thi hành quyền lực quốc gia, tức cơ quan hành chính quốc gia. Từ "chính phủ" trong các ngôn ngữ phương Tây như tiếng Anh (government), tiếng Pháp (gouvernement), tiếng Đức (Regierung) từ này có gốc từ tiếng Hy Lạp là Κυβερνήτης (kubernites) với nghĩa "thuyền trưởng" (steersman), chủ quản (governor), phi công hoặc bánh lái (rudder) == Bản đồ == == Chính phủ ở một số quốc gia == === Chính phủ Việt Nam === Theo Hiến pháp 1992 (sửa đổi năm 2001), Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là cơ quan chấp hành của Quốc hội, cơ quan hành chính cao nhất của nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Chính phủ là cơ quan thực hiện quyền hành pháp tối cao của Nhà nước. Chính phủ do Chủ tịch nước thành lập và Quốc hội phê chuẩn, có nhiệm kỳ theo nhiệm kỳ của Quốc hội (5 năm). Khi Quốc hội hết nhiệm kỳ, Chính phủ tiếp tục làm nhiệm vụ cho đến khi Quốc hội khóa mới bầu Chủ tịch nước và phê chuẩn chính phủ mới. Chính phủ gồm Thủ tướng Chính phủ, các Phó Thủ tướng, các bộ trưởng và các thành viên khác. Ngoài Thủ tướng, các thành viên khác không nhất thiết phải là đại biểu Quốc hội. Quốc hội bầu Thủ tướng theo đề nghị của Chủ tịch nước trong số các đại biểu Quốc hội và chỉ có Quốc hội mới có quyền miễn nhiệm, bãi nhiệm Thủ tướng trước khi kết thúc nhiệm kỳ. Thủ tướng Chính phủ đề nghị Quốc hội phê chuẩn việc bổ nhiệm các Phó Thủ tướng, các Bộ trưởng và các thành viên khác của Chính phủ. Căn cứ vào nghị quyết phê chuẩn của Quốc hội, Chủ tịch nước bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức các Phó Thủ tướng, Bộ trưởng và các thành viên khác của Chính phủ. Chính phủ chịu sự giám sát của Quốc hội, chịu trách nhiệm trước Quốc hội, báo cáo công tác trước Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Chủ tịch nước. Theo Điều 112 Hiến pháp 1992, Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam có những nhiệm vụ và quyền hạn sau đây: Lãnh đạo công tác của các Bộ, các cơ quan ngang Bộ và các cơ quan thuộc Chính phủ, Uỷ ban nhân dân các cấp, xây dựng và kiện toàn hệ thống thống nhất bộ máy hành chính Nhà nước từ trung ương đến cơ sở; hướng dẫn, kiểm tra Hội đồng nhân dân thực hiện các văn bản của cơ quan Nhà nước cấp trên; tạo điều kiện để Hội đồng nhân dân thực hiện nhiệm vụ và quyền hạn theo luật định; đào tạo, bồi dưỡng, sắp xếp và sử dụng đội ngũ viên chức Nhà nước; Bảo đảm việc thi hành Hiến pháp và pháp luật trong các cơ quan Nhà nước, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội, đơn vị vũ trang và công dân; tổ chức và lãnh đạo công tác tuyên truyền, giáo dục Hiến pháp và pháp luật trong nhân dân; Trình dự án luật, pháp lệnh và các dự án khác trước Quốc hội và Uỷ ban thường vụ Quốc hội; Thống nhất quản lý việc xây dựng, phát triển nền kinh tế quốc dân; thực hiện chính sách tài chính, tiền tệ quốc gia; quản lý và bảo đảm sử dụng có hiệu quả tài sản thuộc sở hữu toàn dân; phát triển văn hoá, giáo dục, y tế, khoa học và công nghệ, thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội và ngân sách Nhà nước; Thi hành những biện pháp bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, tạo điều kiện cho công dân sử dụng quyền và làm tròn nghĩa vụ của mình, bảo vệ tài sản, lợi ích của Nhà nước và của xã hội; bảo vệ môi trường; Củng cố và tăng cường nền quốc phòng toàn dân, an ninh nhân dân; bảo đảm an ninh quốc gia và trật tự, an toàn xã hội; xây dựng các lực lượng vũ trang nhân dân; thi hành lệnh động viên, lệnh ban bố tình trạng khẩn cấp và mọi biện pháp cần thiết khác để bảo vệ đất nước; Tổ chức và lãnh đạo công tác kiểm kê, thống kê của Nhà nước; công tác thanh tra và kiểm tra Nhà nước, chống quan liêu, tham nhũng trong bộ máy Nhà nước; công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo của công dân; Thống nhất quản lý công tác đối ngoại của Nhà nước; ký kết, tham gia, phê duyệt điều ước quốc tế nhân danh Chính phủ; chỉ đạo việc thực hiện các điều ước quốc tế mà Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam ký kết hoặc tham gia; bảo vệ lợi ích của Nhà nước, lợi ích chính đáng của tổ chức và công dân Việt Nam ở nước ngoài; Thực hiện chính sách xã hội, chính sách dân tộc, chính sách tôn giáo; Quyết định việc điều chỉnh địa giới các đơn vị hành chính dưới cấp tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương; Phối hợp với Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các đoàn thể nhân dân trong khi thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của mình; tạo điều kiện để các tổ chức đó hoạt động có hiệu quả. Để thực hiện chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn của mình, Chính phủ có quyền ban hành các Nghị quyết, Nghị định. Các quyết định của Chính phủ phải được quá nửa tổng số thành viên Chính phủ biểu quyết tán thành, trong trường hợp biểu quyết ngang nhau thì thực hiện theo phía có ý kiến của Thủ tướng Chính phủ. == Chú thích ==
hampshire.txt
Hampshire là một hạt bên bờ biển phía nam của Anh. Hạt có diện tích 3.769 km², dân số 1.286.000 người. Thủ phủ hạt đóng ở Winchester, một thành phố nhà thờ lịch sử đã từng là thủ đô của nước Anh. Hampshire là đáng chú ý cho nhà ở khai sinh của Hải quân Hoàng gia, quân đội Anh, và Không quân Hoàng gia. Hạt nghi lễ này giáp giới Dorset về phía tây, Wiltshire phía tây bắc, Berkshire, phía bắc Surrey từ phía đông bắc, và West Sussex sang đông. Nó là một phần giới hạn ở phía nam bờ biển của các kênh tiếng Anh và Solent. Hampshire là hạt lớn nhất trong khu vực Đông Nam nước Anh và lớn thứ ba shire quận ở Vương quốc Anh. Hampshire cũng đã bị mất số tiền nhất của đất trong các Đạo luật Chính phủ địa phương thay đổi ranh giới năm 1972 khắp nước Anh. Lúc cao điểm kích thước của nó vào năm 1889, Hampshire là quận lớn thứ năm ở Anh. Hạt có tổng diện tích 3.700 km vuông (1.400 sq mi), với điểm của nó rộng nhất là khoảng 86 km (53 dặm) phía đông-tây và 76 km (47 dặm) Bắc-Nam. Điểm thu hút khách du lịch Hampshire của bao gồm khu nghỉ mát ven biển, các bảo tàng động cơ tại Beaulieu, với công viên quốc gia New Forest cả hai và South Downs (bao gồm khoảng 45% của quận). Hampshire có một lịch sử lâu dài hàng hải và hai cảng lớn nhất của nước Anh, Southampton và Portsmouth, nằm trên bờ biển của nó. Hạt nổi tiếng là quê hương của nhà văn như Jane Austen và Charles Dickens, cũng như nơi sinh của kỹ sư Isambard Kingdom Brunel. == Tham khảo ==
tây nguyên.txt
Vùng Tây Nguyên, một thời gọi là Cao nguyên Trung phần Việt Nam là khu vực cao nguyên bao gồm 5 tỉnh, xếp theo thứ tự vị trí địa lý từ bắc xuống nam gồm Kon Tum, Gia Lai, Đắk Lắk, Đắk Nông và Lâm Đồng. Tây Nguyên là một trong 3 tiểu vùng của miền trung Việt Nam. Tây Nguyên cùng với Bắc Trung Bộ Việt Nam và Nam Trung Bộ Việt Nam hợp thành miền trung của Việt Nam. == Địa lý == === Vị trí địa hình === Tây Nguyên là vùng cao nguyên, phía bắc giáp tỉnh Quảng Nam, phía đông giáp các tỉnh Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên, Khánh Hòa, Ninh Thuận, Bình Thuận, phía nam giáp các tỉnh Đồng Nai, Bình Phước, phía tây giáp với các tỉnh Attapeu (Lào) và Ratanakiri và Mondulkiri (Campuchia). Trong khi Kon Tum có biên giới phía tây giáp với cả Lào và Campuchia, thì Gia Lai, Đắk Lắk và Đắk Nông chỉ có chung đường biên giới với Campuchia. Còn Lâm Đồng không có đường biên giới quốc tế. Nếu xét diện tích Tây Nguyên bằng tổng diện tích của 5 tỉnh ở đây, thì vùng Tây Nguyên rộng 54.641,0 km². Thực chất, Tây Nguyên không phải là một cao nguyên duy nhất mà là một loạt cao nguyên liền kề. Đó là các cao nguyên Kon Tum cao khoảng 500 m, cao nguyên Kon Plông, cao nguyên Kon Hà Nừng, Plâyku cao khoảng 800 m, cao nguyên M'Drăk cao khoảng 500 m, cao nguyên Buôn Ma Thuột cao khoảng 500 m, Mơ Nông cao khoảng 800–1000 m, cao nguyên Lâm Viên cao khoảng 1500 m và cao nguyên Di Linh cao khoảng 900–1000 m. Tất cả các cao nguyên này đều được bao bọc về phía Đông bởi những dãy núi và khối núi cao (chính là Trường Sơn Nam). Tây Nguyên lại có thể chia thành ba tiểu vùng địa hình đồng thời là ba tiểu vùng khí hậu, gồm Bắc Tây Nguyên (tương ứng với các tỉnh Kon Tum và Gia Lai, trước là một tỉnh), Trung Tây Nguyên (tương ứng với các tỉnh Đắk Lắk và Đắk Nông), Nam Tây Nguyên (tương ứng với tỉnh Lâm Đồng). Trung Tây Nguyên có độ cao thấp hơn và nền nhiệt độ cao hơn hai tiểu vùng phía Bắc và Nam. Với đặc điểm thổ nhưỡng đất đỏ bazan ở độ cao khoảng 500 m đến 600 m so với mặt biển, Tây Nguyên rất phù hợp với những cây công nghiệp như cà phê, ca cao, hồ tiêu, dâu tằm. Cây điều và cây cao su cũng đang được phát triển tại đây. Cà phê là cây công nghiệp quan trọng số một ở Tây Nguyên. Tây Nguyên cũng là vùng trồng cao su lớn thứ hai sau Đông Nam Bộ. Và đang tiến hành khai thác Bô xít. Tây Nguyên cũng là khu vực ở Việt Nam còn nhiều diện tích rừng với thảm sinh vật đa dạng, trữ lượng khoáng sản phong phú hầu như chưa khai thác và tiềm năng du lịch lớn, Tây nguyên có thể coi là mái nhà của miền trung, có chức năng phòng hộ rất lớn. Tuy nhiên, nạn phá rừng, hủy diệt tài nguyên thiên nhiên và khai thác lâm sản bừa bãi chưa ngăn chặn được tại đây có thể dẫn đến nguy cơ làm nghèo kiệt rừng và thay đổi môi trường sinh thái. === Khí hậu === Nằm trong vùng nhiệt đới xavan, khí hậu ở Tây Nguyên được chia làm hai mùa: mùa mưa từ tháng 5 đến hết tháng 10 và mùa khô từ tháng 11 đến tháng 4, trong đó tháng 3 và tháng 4 là hai tháng nóng và khô nhất. Do ảnh hưởng của độ cao nên trong khi ở các cao nguyên cao 400–500 m khí hậu tương đối mát và mưa nhiều, riêng cao nguyên cao trên 1000 m thì khí hậu lại mát mẻ quanh năm, đặc điểm của khí hậu núi cao. == Lịch sử == === Lịch sử hình thành === ==== Trước thế kỷ 19 ==== Vùng đất Tây Nguyên từ xưa vốn là vùng đất tự trị, địa bàn sinh sống của các bộ tộc thiểu số, chưa phát triển thành một quốc gia hoàn chỉnh, chỉ có những quốc gia mang tính chất sơ khai của người Ê Đê, Gia Rai, Mạ... Tháng 2 năm Tân Mão niên hiệu Hồng Đức thứ 2 (1471), vua Lê Thánh Tông thân chinh đi đánh Chiêm Thành, phá được thành Chà Bàn, bắt sống vua Champa là Trà Toàn, sáp nhập 3 phần 5 lãnh thổ Champa thời đó vào Đại Việt. Hai phần Champa còn lại, được Lê Thánh Tông chia thành các tiểu quốc nhỏ thuần phục Đại Việt. Phần đất Phan Lung (tức Phan Rang ngày nay) do viên tướng Chăm là Bồ Trì trấn giữ, được vua Lê coi là phần kế thừa của vương quốc Chiêm Thành. Một phần đất nay là tỉnh Phú Yên, Lê Thánh Tông phong cho Hoa Anh vương tạo nên nước Nam Hoa. Vùng đất phía Tây núi Thạch Bi, tức miền bắc Tây Nguyên ngày nay được lập thành nước Nam Bàn, vua nước này được phong là Nam Bàn vương. Sau khi Chúa Nguyễn Hoàng xây dựng vùng cát cứ phía Nam, các chúa Nguyễn ra sức loại trừ các ảnh hưởng còn lại của Champa và cũng phái một số sứ đoàn để thiết lập quyền lực ở khu vực Tây Nguyên. Các bộ tộc thiểu số ở đây dễ dàng chuyển sang chịu sự bảo hộ của người Việt. Tuy nhiên, các bộ tộc ở đây vẫn còn manh mún và mục tiêu của các chúa Nguyễn nhắm trước đến các vùng đồng bằng, nên chỉ thiết lập quyền lực rất lỏng lẻo ở đây. Trong một số tài liệu vào thế kỷ 16, 17 đã có những ghi nhận về các bộ tộc Mọi Đá Vách (Hré), Mọi Hời (Hroi, Kor, Bru, Ktu và Pacoh), Mọi Đá Hàm (Djarai), Mọi Bồ Nông (Mnong) và Bồ Van (Rhadé Epan), Mọi Vị (Raglai) và Mọi Bà Rịa (Mạ) để chỉ các bộ tộc thiểu số sinh trú ở vùng Nam Tây Nguyên ngày nay. Tuy sự ràng buộc lỏng lẻo, nhưng về danh nghĩa, vùng đất Tây Nguyên vẫn thuộc phạm vi bảo hộ của các chúa Nguyễn. Thời nhà Tây Sơn, rất nhiều chiến binh thuộc các bộ tộc thiểu số Tây Nguyên gia nhập quân Tây Sơn, đặc biệt với đội tượng binh nổi tiếng trong cuộc hành quân của Quang Trung tiến công ra Bắc xuân Kỷ Dậu (1789). Tây Sơn thượng đạo, vùng đất phía Tây đèo An Khê là một căn cứ chuẩn bị lực lượng cho quân Tây Sơn thuở ban đầu. Người lãnh đạo việc hậu cần này của quân Tây Sơn là người vợ dân tộc Ba Na của Nguyễn Nhạc. ==== Thời nhà Nguyễn ==== Sang đến triều nhà Nguyễn, quy chế bảo hộ trên danh nghĩa dành cho Tây Nguyên vẫn không thay đổi nhiều, mặc dù vua Minh Mạng có đưa phần lãnh thổ Tây Nguyên vào bản đồ Việt Nam (Đại Nam nhất thống toàn đồ - 1834). Người Việt vẫn chú yếu khai thác miền đồng bằng nhiều hơn, đặc biệt ở các vùng miền Đông Nam Bộ ngày nay, đã đẩy các bộ tộc thiểu số bán sơn địa lên hẳn vùng Tây Nguyên (như trường hợp của bộ tộc Mạ). Trong cuốn Đại Việt địa dư toàn biên, Phương Đình Nguyễn Văn Siêu có viết: Thủy Xá, Hỏa Xá ở ngoài cõi Nam Bàn nước Chiêm Thành. Bấy giờ trong Thượng đạo tỉnh Phú An có núi Bà Nam rất cao. Thủy Xá ở phía Đông núi ấy,... Hỏa Xá ở phía Tây núi ấy, phía Tây tiếp giáp với xứ Sơn Bốc sở nam nước Chân Lạp, phía Nam thì là Lạc man (những tộc người du cư). Phía trên là sông Đại Giang, phía dưới là sông Ba Giang làm giới hạn bờ cõi hai nước ấy..... Năm 1863 vua Tự Đức lập đơn vị sơn phòng để củng cố và bình định vùng sơn cước của ba tỉnh Quảng Nam, Quảng Ngãi và Bình Định. Tuy mục đính chính là quân sự nhưng cơ sở sơn phòng sau biến thành mạch giao thương giữa miền xuôi và miền núi qua trung gian các thuộc lái trong khi quan lại kiểm soát việc thu thuế. Việc nhũng nhiễu của lái buôn và lạm thu của giới quan liêu khiến người Thượng vì bị bức bách, đã tràn xuống miền xuôi cướp phá nhiều đợt. Quan quân phải truy đuổi đánh dẹp. Hệ thống sơn phòng tồn tại sang thời Pháp thuộc đến năm 1905 thì chính quyền Bảo hộ ra lệnh bãi bỏ và người Pháp trực tiếp cai trị vùng Cao nguyên. ==== Thời Pháp thuộc ==== Sau khi người Pháp nắm được quyền kiểm soát Việt Nam, họ đã thực hiện hàng loạt các cuộc thám hiểm và chinh phục vùng đất Tây Nguyên. Trước đó, các nhà truyền giáo đã đi tiên phong lên vùng đất còn hoang sơ và chất phác này. Năm 1888, một người Pháp gốc đảo Corse tên là Mayréna sang Đông Dương, chọn Dakto làm vùng đất cát cứ và lần lượt chinh phục được các bộ lạc thiểu số. Ông thành lập Vương quốc Sedang có quốc kỳ, phát hành giấy bạc, có cấp chức riêng và tự mình lập làm vua xưng là Marie đệ nhất. Nhận thấy được vị trí quan trọng của vùng đất Tây Nguyên, nhân cơ hội Mayréna về châu Âu vận động xin viện trợ từ các cường quốc Tây phương, chính phủ Pháp đã đưa công sứ Quy Nhơn lên tiếp thu. Mayréna trên đường trở lại Đông Dương khi quá cảnh Tân Gia Ba thì bị nhà chức trách giữ lại. Chính phủ Pháp cũng ra lệnh cấm Mayréna nhập cảnh. Mayréna mất không lâu sau đó ở Mã Lai. Vùng Tây Nguyên kể từ năm 1889 được đặt dưới quyền quản lý của Công sứ Quy Nhơn và vương quốc Sedang cũng bị giải tán. Năm 1891, bác sĩ Alexandre Yersin mở cuộc thám hiểm và phát hiện ra cao nguyên Lang Biang. Ông đã đề nghị với chính phủ thuộc địa xây dựng một thành phố nghỉ mát tại đây. Nhân dịp này, người Pháp bắt đầu chú ý khai thác kinh tế đối với vùng đất này. Tuy nhiên, về danh nghĩa, vùng đất Tây Nguyên vẫn thuộc quyền kiểm soát của triều đình Huế. Vì vậy, ngày 16 tháng 10 năm 1896, khâm sứ Trung Kỳ là Léon Jules Pol Boulloche đề nghị Cơ mật viện triều Nguyễn giao cho Pháp trực tiếp phụ trách an ninh tại các cao nguyên Trung Kỳ. Năm 1898, khi vương quốc Sedang bị giải tán thì ngay năm sau, tức 1899, thực dân Pháp buộc vua Đồng Khánh ban dụ ngày 16 Tháng 10 trao cho họ Tây Nguyên để họ có toàn quyền tổ chức hành chính và trực tiếp cai trị các dân tộc thiểu số ở đây. Triều đình Huế chỉ giữ việc bổ nhiệm một viên quan Quản đạo có tính cách tượng trưng. Năm 1900, Toàn quyền Paul Doumer đích thân thị sát Đà Lạt và quyết định chọn Đà Lạt làm thành phố nghỉ mát, bắt đầu sự can thiệp trực tiếp trên cao nguyên. ===== Hành chính thời Pháp thuộc ===== Về mặt hành chánh năm 1901 người Pháp đặt sở đại lý ở Trà Mi, tỉnh Quảng Ngãi để quản lý toàn vùng sơn cước bốn tỉnh Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định và Phú Yên. Tuy đây chưa phải là đất Cao nguyên nhưng được dùng làm cơ sở tiếp quản dần, tách rời vùng mạn ngược với miền xuôi. Năm 1907, tòa đại lý ở Kontum đổi thành tòa Công sứ Kontum, cùng với việc thành lập các trung tâm hành chính Kontum và Cheo Reo. Tiếp theo là tỉnh lỵ Pleiku ra đời. Thực dân người Pháp bắt đầu lên đây xây dựng các đồn điền đồng thời cũng ngăn cấm người Việt lên theo, trừ số phu họ mộ được. Năm 1917, thị xã Đà Lạt được thành lập. Năm 1923 thành lập tỉnh Darlac dưới quyền công sứ Pháp. Sau Chiến tranh thế giới thứ hai, người Pháp áp dụng chính sách "chia để trị" triệt để khi thấy tình thế ngày càng bất lợi cho chế độ thực dân. Ngày 27 Tháng Năm năm 1946, Cao ủy Đông Dương Georges d’Argenlieu ký văn bản thành lập Xứ Thượng Nam Đông Dương (tiếng Pháp: Pays Montagnards Du Sud Indochinois, PMSI) với quyền tự trị cho sắc dân Thượng cách biệt khỏi quyền quản lý của người Kinh ở miền xuôi. ==== Quốc gia Việt Nam ==== Sang thời Quốc gia Việt Nam, Xứ Thượng Nam Đông Dương được trao lại cho Quốc trưởng Bảo Đại dưới tên gọi Hoàng triều Cương thổ. Theo đó thì việc cai trị ở năm tỉnh vùng núi theo một quy chế riêng vẫn bị cách ly khỏi vùng đồng bằng. Thủ tướng Ngô Đình Diệm đã vận động xóa bỏ đơn vị này và sát nhập Đồng Nai Thượng, Lang Biang, Pleiku, Darlac, và Kontum vào lại Trung phần. ==== Việt Nam Cộng hòa ==== Chính quyền Việt Nam Cộng hòa đổi tên tỉnh Lang Biang và sát nhập với một phần tỉnh Đồng Nai Thượng thành tỉnh Lâm Đồng, đồng thời tách một phần đất sáp nhập với thành phố Đà Lạt, thành lập tỉnh Tuyên Đức. Chính quyền Việt Nam Cộng hòa chia Cao nguyên Trung Phần thành bảy tỉnh: Kontum, Pleiku, Phú Bổn, Darlac, Quảng Đức, Tuyên Đức và Lâm Đồng với tổng cộng gần một triệu dân với 50% dân số tập trung vào hai tỉnh Darlac và Tuyên Đức. ==== Sau khi thống nhất ==== Sau khi thống nhất năm 1976 sau khi chấm dứt chiến tranh Việt Nam, nhà nước Việt Nam gọi chung vùng này là Tây Nguyên, gồm ba tỉnh Đắk Lắk (hình thành từ các tỉnh Darlac, Phú Bổn và Quảng Đức), tỉnh Gia Lai - Kon Tum (tỉnh Kon Tum sáp nhập với tỉnh Gia Lai) và tỉnh Lâm Đồng (sáp nhập tỉnh Lâm Đồng và tỉnh Tuyên Đức). Chính quyền có chính sách di dân một số sắc dân từ vùng Tây Bắc lên Tây Nguyên cũng như thành lập nhiều khu kinh tế mới tại đây. Ngày 21 tháng 8 năm 1991, tỉnh Kon Tum được tái lập trên cơ sở chia tách tỉnh Gia Lai - Kon Tum thành hai tỉnh mới là Gia Lai và Kon Tum. Ngày 26 tháng 11 năm 2003, Quốc hội ra Nghị quyết số 22/2003/QH.11, tỉnh Đăk Lăk tách thành hai tỉnh mới là Đăk Lăk và Đăk Nông Hiện tại, địa bàn Tây Nguyên có 5 tỉnh là Kon Tum, Gia Lai, Đắk Lắk, Đắk Nông, Lâm Đồng. === Các tên gọi trong lịch sử === Theo Nguyễn Đình Tư trong bài Tây Nguyên xưa và nay, tạp chí Xưa và nay, số 61B, tháng 3 năm 1999, thì địa danh Tây Nguyên được biết đến từ năm 1960, khi công bố Hiến pháp 1959 của Việt Nam Cộng hòa, trong đó có điều khoản về các khu tự trị của các sắc tộc thiểu số và có nhắc đến Tây Nguyên. Trước đó, từ thời Pháp thuộc, vùng đất này chưa có tên gọi riêng mà chỉ là đơn vị hành chính trực thuộc Khâm sứ Trung Kỳ, nên có tên là vùng Cao nguyên Trung Kỳ. Ngoài ra, người Pháp còn gọi nơi này là Les Hauts Plateaux du Sud (Cao nguyên miền Nam). Thời nhà Nguyễn, vùng đất này được thuộc về châu Thượng Nguyên (bao gồm Thủy Xá, Hỏa Xá là vùng đất cư trú của người Êđê, Gia Rai, Ba Na và là một phần Tây Nguyên ngày nay) Sau khi Nhật đảo chính Pháp, chính phủ Trần Trọng Kim đã đổi tên đơn vị hành chính cấp Kỳ thành cấp Bộ. Từ đó vùng đất này được gọi là Cao nguyên Trung Bộ trong khi người Pháp thành lập Xứ Thượng Nam Đông Dương (Pays Montagnard du Sud-Indochinois) năm 1946. Khi Quốc gia Việt Nam thành lập, Quốc trưởng Bảo Đại đã đổi tên đơn vị hành chính cấp Bộ thành cấp Phần. Riêng khu vực cao nguyên được tách ra và được hưởng quy chế hành chính đặc biệt có tên là Hoàng triều Cương thổ kể từ năm 1950. Tại vùng này thì Quốc trưởng Bảo Đại vẫn giữ vai trò là Hoàng đế. Đến năm 1955, chính phủ Ngô Đình Diệm chấm dứt chế độ Bảo đại và thành lập nền Đệ nhất Cộng hòa. Hoàng triều cương thổ lại được sát nhập vào Trung phần và được gọi là vùng Cao nguyên Trung phần. Tên gọi này được chế độ Việt Nam Cộng hòa sử dụng mãi cho đến năm 1975. == Dân cư == Thời Pháp thuộc người Kinh bị hạn chế lên vùng Cao nguyên nên các bộ tộc người Thượng sinh hoạt trong xã hội truyền thống. Mãi đến giữa thế kỷ 20 sau cuộc di cư năm 1954 thì số người Kinh mới tăng dần. Trong số gần một triệu dân di cư từ miền Bắc thì chính phủ Quốc gia Việt Nam đưa lên miền cao nguyên 54.551 người, đa số tập trung ở Đà Lạt và Lâm Đồng. Từ đó nhiều dân tộc thiểu số chung sống với dân tộc Việt (Kinh) ở Tây Nguyên như Ba Na, Gia Rai, Ê đê, Cơ Ho, Mạ, Xơ Đăng, Mơ Nông.. Chính quyền Việt Nam Cộng hòa gọi chung những dân tộc này là "đồng bào sắc tộc" hoặc "người Thượng"; "Thượng" có nghĩa là ở trên, "người Thượng" là người ở miền cao hay miền núi, một cách gọi đặc trưng để chỉ những sắc dân sinh sống trên cao nguyên miền Trung. Danh từ này mới phổ biến từ đó thay cho từ ngữ miệt thị cũ là "mọi". Tính đến năm 1976, dân số Tây Nguyên là 1.225.000 người, gồm 18 dân tộc, trong đó đồng bào dân tộc thiểu số là 853.820 người (chiếm 69,7% dân số). Năm 1993 dân số Tây Nguyên là 2.376.854 người, gồm 35 dân tộc, trong đó đồng bào dân tộc thiểu số là 1.050.569 người (chiếm 44,2% dân số). Năm 2004 dân số Tây Nguyên là 4.668.142 người, gồm 46 dân tộc, trong đó đồng bào dân tộc thiểu số là 1.181.337 người (chiếm 25,3% dân số) . Riêng tỉnh Đắc Lắc, từ 350.000 người (1995) tăng lên 1.776.331 người (1999), trong 4 năm tăng 485% . Kết quả này, một phần do gia tăng dân số tự nhiên và phần lớn do gia tăng cơ học: di dân đến Tây nguyên theo 2 luồng di dân kế hoạch và di dân tự do. Người dân tộc đang trở thành thiểu số trên chính quê hương của họ. Sự gia tăng gấp 4 lần dân số và nạn nghèo đói, kém phát triển và hủy diệt tài nguyên thiên nhiên (gần đây, mỗi năm vẫn có tới gần một nghìn héc-ta rừng tiếp tục bị phá ) đang là những vấn nạn tại Tây Nguyên và thường xuyên dẫn đến xung đột. Theo kết quả điều tra dân số 01 tháng 04 năm 2009 dân số Tây Nguyên (gồm 05 tỉnh) là 5.107.437 người, như thế so với năm 1976 đã tăng 3,17 lần, chủ yếu lả tăng cơ học. Đến năm 2011, tổng dân số của 5 tỉnh Tây Nguyên là khoảng 5.282.000 người. == Các đơn vị hành chính == Trước 1975, Chính quyền Việt Nam Cộng hòa chia Cao nguyên Trung Phần thành bảy tỉnh: Kontum, Pleiku, Phú Bổn, Darlac, Quảng Đức, Tuyên Đức và Lâm Đồng với tổng cộng gần một triệu dân với 50% dân số tập trung vào hai tỉnh Darlac và Tuyên Đức. Từ 1976 đến đầu thập niên 1990, Tây Nguyên bị gom lại thành 3 tỉnh là Gia Lai-Công Tum, Đắc Lắc, Lâm Đồng. Sau đó tỉnh Gia Lai-Công Tum được chia thành hai tỉnh: Gia Lai và Kon Tum (thay đổi cả cách viết chính thức tên tỉnh). Tỉnh Đắc Lắc chia thành hai tỉnh: Đắk Lắk và Đắk Nông. Hiện tại, địa bàn Tây Nguyên có 5 tỉnh là Kon Tum, Gia Lai, Đắk Lắk, Đắk Nông, Lâm Đồng. === Danh sách === Theo Cục Thống kê Việt Nam == Văn hóa == Ba Na là nhóm sắc tộc đầu tiên, sau người Kinh, có chữ viết phiên âm dựa theo bộ ký tự Latin do các giáo sĩ Pháp soạn năm 1861. Đến năm 1923 hình thành chữ viết Ê Đê. Sử thi được biết đến đầu tiên là Đam San được sưu tập và xuất bản bằng tiếng Pháp tại Paris (Le Chanson de DamSan). Đến 1933, tạp chí của học viện Viễn Đông bác cổ tại Hà Nội in lại dưới hình thức song ngữ Êđê - Pháp. Vào tháng 2 năm 1949, phát hiện một bộ đàn đá mang tên Ndút Liêng Krak tại Đắc Lắc và bộ nhạc cụ thời tiền sử vô giá này hiện được lưu giữ tại Viện Bảo tàng Con người - Paris. Vào ngày 15 tháng 11 năm 2005, Không gian văn hóa Cồng Chiêng Tây Nguyên được UNESCO công nhận là Kiệt tác truyền khẩu và phi vật thể của nhân loại. == Kinh tế, tài nguyên, xã hội và môi trường == So với các vùng khác trong cả nước, điều kiện kinh tế - xã hội của Tây Nguyên có nhiều khó khăn, như là thiếu lao động lành nghề, cơ sở hạ tầng kém phát triển, sự chung đụng của nhiều sắc dân trong một vùng đất nhỏ và với mức sống còn thấp. Tuy nhiên, Tây Nguyên có lợi điểm về tài nguyên thiên nhiên. Tây Nguyên có đến 2 triệu hecta đất bazan màu mỡ, tức chiếm đến 60% đất bazan cả nước, rất phù hợp với những cây công nghiệp như cà phê, ca cao, hồ tiêu, dâu tằm, trà. Cà phê là cây công nghiệp quan trọng số một ở Tây Nguyên. Diện tích cà phê ở Tây Nguyên hiện nay là hơn 290 nghìn ha, chiếm 4/5 diện tích cà phê cả nước. Đắk Lắk là tỉnh có diện tích cà phê lớn nhất (170 nghìn ha) và cà phê Buôn Ma Thuột nổi tiếng có chất lượng cao. Tây Nguyên cũng là vùng trồng cao su lớn thứ hai sau Đông Nam Bộ, chủ yếu tại Gia Lai và Đắk Lắk. Tây Nguyên còn là vùng trồng dâu tằm, nuôi tằm tập trung lớn nhất nước ta, nhiều nhất là ở Bảo Lộc Lâm Đồng. Ở đây có liên hiệp các xí nghiệp ươm tơ xuất khẩu lớn nhất Việt Nam. Việc phân bổ đất đai và tài nguyên không đồng đều cũng gây ra nhiều tranh chấp. Trước đây, chính quyền có chủ trương khai thác Tây Nguyên bằng hệ thống các nông lâm trường quốc doanh (thời kỳ trước năm 1993 là các Liên hiệp xí nghiệp nông lâm công nghiệp lớn, đến sau năm 1993 chuyển thành các nông, lâm trường thuộc trung ương hoặc thuộc tỉnh). Các tổ chức kinh tế này trong thực tế bao chiếm gần hết đất đai Tây Nguyên. Ở Đắk Lắk, đến năm 1985, ba xí nghiệp Liên hiệp nông lâm công nghiệp quản lý 1.058.000 hecta tức một nửa địa bàn toàn tỉnh, cộng với 1.600.000 hecta cao su quốc doanh, tính chung quốc doanh quản lý 90% đất đai toàn tỉnh. Ở Gia Lai-Kon Tum con số đó là 60%. Tính chung, đến năm 1985, quốc doanh đã quản lý 70% diện tích toàn Tây Nguyên. Sau năm 1993, đã có sự chuyển đổi cơ chế quản lý, nhưng con số này cũng chỉ giảm đi được 26% . Tài nguyên rừng và diện tích đất lâm nghiệp ở Tây Nguyên đang đứng trước nguy cơ ngày càng suy giảm nghiêm trọng do nhiều nguyên nhân khác nhau, như là một phần nhỏ diện tích rừng sâu chưa có chủ và dân di cư mới đến lập nghiệp xâm lấn rừng để ở và sản xuất (đất nông nghiệp toàn vùng tăng rất nhanh) cũng như nạn phá rừng, khai thác lâm sản trái phép chưa kiểm soát được. Do sự suy giảm tài nguyên rừng nên sản lượng khai thác gỗ giảm không ngừng, từ 600 – 700 nghìn m3 vào cuối thập kỉ 80 - đầu thập kỉ 90, nay chỉ còn khoảng 200 – 300 nghìn m3/năm. Hiện nay, chính quyền địa phương đang có thử nghiệm giao đất, cho thuê đất lâm nghiệp cho các tổ chức, hộ gia đình, cá nhân sử dụng ổn định và giao rừng, khoán bảo vệ rừng cho hộ gia đình và cộng đồng trong buôn, làng . Nhờ địa thế cao nguyên và nhiều thác nước, nên tài nguyên thủy năng của vùng lớn và được sử dụng ngày càng có hiệu quả hơn. Trước đây đã xây dựng các nhà máy thủy điện Đa Nhim (160.000 kW) trên sông Đa Nhim (thượng nguồn sông Đồng Nai), Đray H'inh (12.000 kW) trên sông Serepôk. Mới đây, công trình thủy điện Yaly (700.000 kW) đưa điện lên lưới từ năm 2000 và đang có dự kiến xây dựng các công trình thủy điện khác như Bon Ron - Đại Ninh, Plây Krông. Tây Nguyên không giàu tài nguyên khoáng sản, chỉ có bôxit với trữ lượng hàng tỉ tấn là đáng kể . Theo tài liệu cũ của Liên Xô để lại, Tây Nguyên có trữ lượng Bô xít khoảng 8 tỉ tấn . Ngày 1 tháng 11 năm 2007, Thủ tướng Chính phủ đã ký quyết định 167 phê duyệt quy hoạch phân vùng, thăm dò, khai thác, chế biến, sử dụng quặng bô xít từ giai đoạn 2007-2015, có xét đến năm 2025 và hiện nay, Tập đoàn Than Khoáng sản Việt Nam cũng đã thăm dò, đầu tư một số công trình khai thác bô xít, luyện alumin tại Tây Nguyên. Tuy nhiên, việc làm này đã vấp phải sự phản đối quyết liệt của các nhà khoa học và dân cư bản địa vì nguy cơ hủy hoại môi trường và tác động tiêu cực đến văn hóa - xã hội Tây Nguyên và có thể tổn thương cả một nền văn hóa bản địa . == Danh lam thắng cảnh == === Đắk Lắk === Nằm trên cao nguyên Đắk Lắk, một trong 3 cao nguyên lớn của Tây Nguyên, có độ cao trung bình 400 - 800m so với mực nước biển, phía bắc và đông bắc giáp với Gia Lai, phía nam giáp với Lâm Đồng, phía tây giáp với Cam-pu-chia và tỉnh Đắk Nông, phía đông giáp với Phú Yên và Khánh Hòa. Đắk Lắk có thác Thủy Tiên và những hồ nước thơ mộng như hồ Lắk, hồ Buôn Triết, hồ Ea Kao. Có các khu rừng nguyên sinh, vườn quốc gia Yok Đôn, khu lâm viên Ea Kao. Buôn Đôn nổi tiếng với nghề săn bắt và thuần dưỡng voi, các di tích lịch sử như tháp Chàm thế kỷ 13, biệt điện của cựu hoàng Bảo Đại, nhà tù Buôn Ma Thuột. === Ðắk Nông === Tỉnh Đắk Nông nằm ở phía tây nam Trung Bộ, đoạn cuối của dãy Trường Sơn, trên một vùng cao nguyên, độ cao trung bình 500m so với mực nước biển. Đắk Nông có phong cảnh thác hùng vĩ, có tổ chức những đêm lửa trại với tiếng cồng chiêng và rượu cần. Dòng Sêrepok tạo nên nhiều thác ghềnh đẹp, lúc hiền hòa, lúc dữ dội, hơn cả là thác Gia Long tựa như nàng sơn nữ ngủ quên với dáng vẻ hoang sơ và thác Dray Nur tựa bức tường thành khổng lồ. Ngoài ra còn có thác Diệu Thanh, Ba Tầng, Dray Sáp hay còn gọi là thác Khói vì nơi đây quanh năm có khói nước bay. === Gia Lai === Là một tỉnh miền núi, Gia Lai nằm ở phía bắc Tây Nguyên trên độ cao 600 – 800m so với mực nước biển. Phía bắc Gia Lai giáp với tỉnh Kon Tum, phía nam giáp tỉnh Đắk Lắk, phía tây giáp với Cam-pu-chia, phía đông giáp với các tỉnh Quảng Ngãi, Bình Định và Phú Yên. Gia Lai là vùng đất có bề dày lịch sử với nền văn hóa cổ xưa mang bản sắc các dân tộc thiểu số, chủ yếu là Gia Rai và Ba Na, thể hiện qua kiến trúc nhà rông, nhà sàn, nhà mồ, qua lễ hội truyền thống, qua y phục và nhạc cụ. Gia Lai có nhiều suối hồ, ghềnh thác, đèo và những cánh rừng nguyên sinh có cảnh quan thiên nhiên mang đậm nét hoang sơ nguyên thủy của núi rừng Tây Nguyên như rừng nhiệt đới Kon Ka Kinh và Kon Cha Rang. Thác Xung Khoeng ở huyện Chư Prông, thác Phú Cường ở huyện Chư Sê. Nhiều con suối đẹp như suối Đá Trắng, suối Mơ và các danh thắng khác như bến đò "Mộng" trên sông Pa, Biển Hồ (hồ Tơ Nưng) trên núi mênh mông và phẳng lặng. Núi Hàm Rồng cao 1.092m mà đỉnh là miệng của một núi lửa đã tắt. === Kon Tum === Kon Tum là tỉnh ở phía bắc cao nguyên Gia Lai - Kon Tum, một trong 3 cao nguyên lớn của Tây Nguyên. Thành phố Kon Tum được xây bên bờ sông Đắk Bla, một nhánh của sông Pơ Kô là trung tâm hành chính cũ của Pháp ở Tây Nguyên. Các cố đạo Pháp đã đến đây từ năm 1851. Có núi Ngoc Linh, khu rừng nguyên sinh Chư Môn Ray, Sa Thầy, khu du lịch Đắk Tre ở huyện Kon Plông, suối nước nóng Đắk Tô. Có nhà tù Kon Tum, ngục Đắk GLei, đường mòn Hồ Chí Minh, chiến trường Đắk Tô - Tân Cảnh. Có hơn 20 dân tộc sinh sống, nhiều nhất là Ba Na, Xơ Đăng, Giẻ Triêng, Gia Rai, B' Râu, Rơ Mân... Phần lớn các dân tộc thiểu số sống bằng nghề làm nương rẫy và săn bắn. Có một nền văn hóa đa dạng, nhiều màu sắc của cộng đồng các dân tộc Tây Nguyên. == An ninh - Quốc phòng == Hiện nay Quân khu 5 đảm nhiệm chức năng quản lý nhà nước về mặt quốc phòng trên địa bàn Tây Nguyên. Quân đoàn 3, còn gọi là Binh đoàn Tây Nguyên, là một trong những quân đội chủ lực cơ động của Quân đội Nhân dân Việt Nam, được thành lập ngày 26 tháng 3 năm 1975 tại Tây Nguyên.Trụ sở: phường Trà Bá, Thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai. Binh đoàn 15 là một đơn vị kinh tế quốc phòng của Quân đội Nhân dân Việt Nam. thành lập: Ngày 20 tháng 2 năm 1985. Trụ Sở: phường Yên Thế thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai == Vấn đề Tây Nguyên == Sự gia tăng dân số nhanh chóng và nạn nghèo đói, kém phát triển và hủy diệt tài nguyên thiên nhiên đang là những vấn nạn tại Tây Nguyên và thường xuyên dẫn đến xung đột. Theo nhà dân tộc học Nguyễn Từ Chi viết cách đây 25 năm, việc thi hành chính sách dân tộc từ sau thống nhất năm 1975 đã có những mặt tích cực như: Trường cấp I dần dà mọc lên gần khắp các xã. Ở huyện lỵ nào, cũng có trường cấp II, đôi khi cấp III. Con cháu người bản xứ đã được có nhiều cơ hội học tập hơn. Sự giao thông được mở rộng, tạo điều kiện tốt cho du lịch, trao đổi hàng hóa. Thị trường cũng được mở rộng. Đã có mặt người dân tộc trong cơ cấu các cấp ủy, ủy ban, cơ quan. Người dân tộc được góp phần có tiếng nói riêng của mình. Gia tăng sản xuất, chẳng hạn như việc đưa lúa nước mà năng suất cao hơn để thay thế lúa rẫy, nhưng đồng thời cũng thay đổi phương pháp canh tác từ lâu đời. Tuy nhiên cũng theo ông Chi, bên cạnh mặt tích cực, cũng có những mặt tiêu cực có thể là mầm mống gây nên những xung đột Kinh-Thượng thường trực nén sâu trong tâm tư người dân tộc: Nạn phá rừng, khai thác gỗ quý không được kiểm soát chặt chẽ và không quan tâm đến việc trồng mới và bảo vệ rừng. Rừng Tây Nguyên sẽ sớm bị phá trụi. Sự di dân không được kế hoạch chu đáo. Người Việt lên Tây Nguyên ngày càng đông (78-80%) đã và sẽ chiếm hết những vùng đất thuận lợi của người dân tộc, đẩy họ vào sâu trong rừng thẳm và gây nên hiềm khích kéo dài. Phá hỏng hoặc thay đổi cơ cấu cổ truyền làng xã và đời sống tâm linh của người dân tộc. Bên cạnh đó, thái độ của những cán bộ và người Kinh đối với phong tục, tập quán cổ truyền của các dân tộc chưa tương xứng.. Đến nay những cảnh báo trên đã có phần thành hiện thực. Trong Hội nghị phát triển kinh tế - xã hội Tây nguyên giai đoạn 2006-2010 tổ chức vào tháng 7 năm 2006, thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đánh giá rằng Tây Nguyên "phát triển chưa tương xứng với tiềm năng". Theo ông Mai Văn Năm, Phó Ban thường trực Ban chỉ đạo Tây Nguyên, nói rằng chính phủ "vẫn chưa xây dựng được chính sách tổng thể nhằm giải quyết toàn diện vùng dân tộc thiểu số" và "Còn thiếu sự chặt chẽ giữa Trung ương và địa phương trong việc giải quyết một số vấn đề cấp bách". Thêm vào đó, việc khai thác Bô xít được tiến hành vào năm 2009, mặc dù đã vấp phải sự phản đối quyết liệt của các nhà khoa học và dân cư bản địa vì nguy cơ hủy hoại môi trường và tác động tiêu cực đến văn hóa - xã hội Tây Nguyên và có thể tổn thương cả một nền văn hóa bản địa . Trong thư của cựu đại tướng Võ Nguyên Giáp gửi thủ tường có viết "Cần nhắc lại rằng, đầu những năm 1980 Chính phủ đã đưa chương trình khảo sát khai thác bô-xít trên Tây Nguyên vào chương trình hợp tác đa biên với khối COMECON... Sau khảo sát đánh giá hiệu quả tổng hợp của các chuyên gia Liên Xô, khối COMECON đã khuyến nghị Chính phủ Việt Nam không nên khai thác bô-xít trên Tây Nguyên do những nguy cơ gây tác hại sinh thái lâu dài rất nghiêm trọng, không thể khắc phục được đối với dân cư chẳng những tại chỗ mà còn cả dân cư và vùng đồng bằng Nam Trung Bộ. Chính phủ khi đó đã quyết định không khai thác bô-xít mà gìn giữ thảm rừng và phát triển cây công nghiệp (cao su, cà phê, chè...) trên Tây Nguyên..." . == Hình ảnh Tây Nguyên == == Xem thêm == Vùng Tây Bắc (Việt Nam) Vùng Đông Bắc (Việt Nam) Đồng bằng sông Hồng Bắc Trung Bộ (Việt Nam) Nam Trung Bộ (Việt Nam) Đông Nam Bộ (Việt Nam) Đồng bằng sông Cửu Long == Tham khảo và chú thích == === Tham khảo === Lê Bá Thảo (2001), Việt Nam - Lãnh thổ và Địa lý, Nhà xuất bản Thế giới, Hà Nội. === Ghi chú === == Liên kết ngoài == Sự hình thành cộng đồng người Thượng trên cao nguyên miền Trung (Nguyễn Văn Huy) Nguyễn Từ Chi, Những tiêu cực lộ ra qua nếp sống ở Tây Nguyên trên BBC, 2006 Về hai vấn đề văn hóa quan trọng trong phát triển bền vững ở Tây Nguyên, 2005 Lê Minh, Tây Nguyên Dậy Sóng trên Đàn Chim Việt, 2005. Chiến lược bảo vệ sự đa dạng sinh học ở Tây Nguyên Khai thác bô-xít Tây Nguyên và bài toán về sự đánh đổi, Tuần Tin Tức 14/2/2008
tổng tuyển cử vương quốc liên hiệp, 2015.txt
Tổng tuyển cử Vương quốc Liên hiệp, 2015 được tổ chức ngày 7 tháng 5 năm 2015 để bầu Quốc hội lần thứ 56 của Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland. Tổng tuyển cử đã diễn ra ở tất cả 650 khu vực của Vương quốc Liên hiệp, mỗi khu vực bầu 1 nghị sĩ cho Viện Thứ Dân (hạ nghị viện), còn được gọi hạ nghị sĩ. Bên cạnh tổng tuyển cử, các cuộc bầu cử địa phương diễn ra ở hầu hết nước Anh trong cùng một ngày, ngoại trừ Đại Luân Đôn. Các cuộc thăm dò dư luận trong thời gian tranh cử cho rằng hai đảng Bảo thủ và Công Đảng sẽ không chiếm được tuyệt đối để thành lập chính phủ dẫn đến Quốc hội treo, với cuộc bầu cử được xem là khó lường nhất trong nhiều thập niên. Các cuộc thăm dò đã cho thấy là không lường trước được sự chiến thắng tuyệt đối của Đảng Bảo thủ, tương tự chiến thắng bất ngờ của họ như trong cuộc tổng tuyển cử năm 1992. David Cameron, Thủ tướng đương nhiệm hiện đang liên minh với Đảng Dân chủ Tự do năm 2010 đã được bầu với nhiệm kỳ thứ 2 với 36,9% số phiếu và có số ghế 331, thắng tuyệt đối và thừa ghế quá bán (vì các nghị sĩ thuộc đảng Sinn Féin không tính và Chủ tịch Hạ viện không được bỏ phiếu theo cách thông thường, số ghế thực tế cần thiết chỉ cần 323). Chính phủ Cameron nhiệm kỳ 2 sẽ được thành lập với đa số đảng viên Bảo thủ, lần đầu tiên từ năm 1992. Công Đảng do Ed Miliband lãnh đạo đứng thứ 2 chiếm 30,4% số phiếu và 232 ghế, kết quả xấu nhất của họ từ năm 1987. Đảng Quốc gia Scotland có sự đột biến đáng kể sau cuộc trưng cầu dân ý Scotland độc lập năm 2014, với chiến thắng chưa từng có chiếm 56/59 ghế tại Scotland, trở thành Đảng lớn thứ 3 trong Viện Thứ Dân. Đảng Dân chủ Tự do do Phó Thủ tướng Nick Clegg lãnh đạo mất 49 ghế trong tổng số 57 ghế khóa trước, còn giữ lại 8 ghế và cùng với Đảng Dân chủ Thống nhất của Bắc Ireland trở thành 2 Đảng lớn thứ 4 trong Viện Thứ Dân. Đảng Xanh có 1 ghế duy nhất là của Brighton Pavilion. Trong khi đó Đảng Quốc gia Anh mất sạch số ghế. Cuộc tổng tuyển cử cũng đánh dấu sự đi lên của Đảng Độc lập Anh tuy chỉ có 1 ghế nhưng có số phiếu được bầu lớn thứ 3 (12,9%), lãnh đạo Đảng Nigel Farage không giành chiến thắng thêm tại đơn vị bầu cử Thanet Nam. Sau khi cuộc bầu cử kết thúc, Miliband, Clegg và Farage đều từ chức lãnh đạo Đảng của mình. == Quá trình bầu cử == Đạo luật Kỳ hạn Quốc hội 2011 quy định cứ 5 năm tổ chức tổng tuyển cử một lần. Vào lúc kết thúc kỳ hạn năm năm, một Hạ viện mới phải được bầu chọn. Viện Thứ Dân khóa 54 bị giải thể vào ngày 30/3/2015 và lịnh trình bầu cử vào ngày 7/5/2015. Các cuộc bầu cử địa phương diễn ra đồng thới với ngày tổng tuyển cử trừ Đại London. Không có cuộc bầu cử khác được dự kiến diễn ra ở Scotland, Wales hay Bắc Ireland, ngoài các địa phương bất kỳ theo cuộc bầu cử. Trong cuộc tổng tuyển cử các khu vực bỏ phiếu Nghị viện bầu ra hạ nghị sĩ hay được gọi đại biểu Viện Thứ Dân. Mỗi khu vực bỏ phiếu Nghị viện bầu ra 1 đại biểu bằng hệ thống bầu cử đa nguyên. Nếu một đảng có quyền đa số ghế thì có thể thành lập chính phủ. Trong trường hợp không có đảng đa số, Quốc hội sẽ treo. Trong trường hợp này tùy chọn thành phần hình thành chính phủ hoặc thành lập chính phủ thiểu số, hoặc chính phủ liên minh. Mặc dù Đảng Bảo thủ lên kế hoạch giảm số ghế trong Hạ viện từ 650 xuống 600, qua cuộc họp thường kỳ xem xét cử tri của Westminster lần thứ 6 thuộc Luật hệ thống bầu cử và cử tri năm 2011, việc giảm số ghế bị trì hoàn do luật đăng ký bầu cử và quản lý năm 2013 về việc sửa đạo luật năm 2011. Việc rà soát sửa đổi ranh giới sẽ được tiến hành vào năm 2018, do đó tổng tuyển cử 2015 bị tranh cãi sử dụng ranh giới khu vực bầu cử năm 2010. Trong số 650 khu vực bầu cử, 533 là ở Anh, 59 ở Scotland, 40 ở xứ Wales và 18 ở Bắc Ireland. Ngoài ra đạo luật 2011 bắt buộc một cuộc trưng cầu ý dân năm 2011 về việc thay đổi cách bỏ phiếu từ hệ thống đa nguyên sang hệ thống bầu cử thay thế trong cuộc bầu cử hạ viện. Liên minh Bảo thủ-Dân chủ Tự do cam kết thành lập chính phủ liên minh để trưng cầu ý dân. Cuộc trưng cầu diễn ra tháng 5/2011 và vẫn giữ nguyên hệ thống bầu cử đa nguyên. Cuộc tổng tuyển cử năm 2010 Đảng Dân chủ Tự do cam kết sẽ thay đổi hệ thống bầu cử, và Công Đảng hứa sẽ trưng cầu ý dân về hệ thống bầu cử. Đảng Bảo thủ thì sẽ hứa sẽ thông qua hệ thống bầu cử nhưng cắt giảm 10% khu vực bầu cử. Đảng Dân chủ Tự do lên kế hoạch giảm số ghế xuống còn 500 để cân bằng hệ thống. Chính phủ cho tăng tiền mà các Đảng và ứng viên tranh cử được phép chi lên 23%, một động thái chống lại lời khuyên cửa Ủy ban bầu cử. Tại mỗi khu vực bầu cử các Đảng chi trong suốt 100 ngày từ khi Hạ viện giải thể ngày 30/3 là £30,700, cộng thêm mỗi khoản trơ cấp cử tri trong thành phố và tỉnh là 6 bảng và 9 bảng. Một khoản hỗ trợ bổ sung là hơn £ 8700 có sẵn khi Hạ viện giải tán. Đảng chính trị đã bỏ khoảng £ 31.1 triệu trong cuộc tổng tuyển cử năm 2010, trong đó Đảng Bảo thủ đã dành 53%, Công Đảng đã dành 25% và Tự do Dân chủ 15%. Đây là cuộc tổng tuyển cử đầu tiên đăng ký theo cá nhân chứ không phải theo hộ gia đình. Mặc dù Đảng Bảo thủ lên kế hoạch giảm số ghế trong Hạ viện từ 650 xuống 600, qua cuộc họp thường kỳ xem xét cử tri của Westminster lần thứ 6 thuộc Luật hệ thống bầu cử và cử tri năm 2011, việc giảm số ghế bị trì hoàn do luật đăng ký bầu cử và quản lý năm 2013 về việc sửa đạo luật năm 2011. Việc rà soát sửa đổi ranh giới sẽ được tiến hành vào năm 2018, do đó tổng tuyển cử 2015 bị tranh cãi sử dụng ranh giới khu vực bầu cử năm 2010. Trong số 650 khu vực bầu cử, 533 là ở Anh, 59 ở Scotland, 40 ở xứ Wales và 18 ở Bắc Ireland. Ngoài ra đạo luật 2011 bắt buộc một cuộc trưng cầu ý dân năm 2011 về việc thay đổi cách bỏ phiếu từ hệ thống đa nguyên sang hệ thống bầu cử thay thế trong cuộc bầu cử hạ viện. Liên minh Bảo thủ-Dân chủ Tự do cam kết thành lập chính phủ liên minh để trưng cầu ý dân. Cuộc trưng cầu diễn ra tháng 5/2011 và vẫn giữ nguyên hệ thống bầu cử đa nguyên. Cuộc tổng tuyển cử năm 2010 Đảng Dân chủ Tự do cam kết sẽ thay đổi hệ thống bầu cử, và Công Đảng hứa sẽ trưng cầu ý dân về hệ thống bầu cử. Đảng Bảo thủ thì sẽ hứa sẽ thông qua hệ thống bầu cử nhưng cắt giảm 10% khu vực bầu cử. Đảng Dân chủ Tự do lên kế hoạch giảm số ghế xuống còn 500 để cân bằng hệ thống. Chính phủ cho tăng tiền mà các Đảng và ứng viên tranh cử được phép chi lên 23%, một động thái chống lại lời khuyên cửa Ủy ban bầu cử. Tại mỗi khu vực bầu cử các Đảng chi trong suốt 100 ngày từ khi Hạ viện giải thể ngày 30/3 là £30,700, cộng thêm mỗi khoản trơ cấp cử tri trong thành phố và tỉnh là 6 bảng và 9 bảng. Một khoản hỗ trợ bổ sung là hơn £ 8700 có sẵn khi Hạ viện giải tán. Đảng chính trị đã bỏ khoảng £ 31.1 triệu trong cuộc tổng tuyển cử năm 2010, trong đó Đảng Bảo thủ đã dành 53%, Công Đảng đã dành 25% và Tự do Dân chủ 15%. Đây là cuộc tổng tuyển cử đầu tiên đăng ký theo cá nhân chứ không phải theo hộ gia đình. == Ngày bầu cử == Một cuộc bầu cử được diễn ra ngay sau khi Hạ viện bị giải thể. Tổng tuyển cử 2015 được tổ chức theo Đạo luật Kỳ hạn Quốc hội 2011 lần đầu tiên. Trước đó quyền lực giải tán Hạ viện là 1 đặc quyền của Hoàng gia, được Nữ hoàng thực hiện theo lời khuyên của Thủ tướng. Theo quy định của Luật bảy năm một lần 1716 được sửa đổi theo Luật Quốc hội năm 1911, một cuộc bầu cử được công bố vào ngày hoặc trước ngày kỉ niệm 5 năm thành lập Quốc hội khóa trước, trừ trường hợp ngoại lệ. Không vua hay nữ hoàng nào từ chối việc giải thể Quốc hội kể từ đầu thế kỷ XX, và thủ tướng thường thực hiện sẽ định cuộc tổng tuyển cử được tổ chức tại thời gian tiện lợi cho chiến thuật trong 2 năm cuối của nhiệm kỳ Quốc hội, để tăng khả năng thắng lợi bầu cử cho Đảng của mình. Trước cuộc tổng tuyển 2010, Công Đảng và Dân chủ Tự do đã cầm cố để giới thiệu ngày tổng tuyển cử định kỳ. Liên minh Bảo thủ-Dân chủ Tự do đã thỏa thuận và chính phủ Cameron đã đồng ý với ngày tổng tuyển cử ngày 7/5/2015. Theo Đạo luật Kỳ hạn Quốc hội 2011 trong đó có quyền truất phế Thủ tướng và tư vấn Nữ hoàng tiến hành tổng tuyển cử sớm. Các dự thảo chỉ cho phép giải thể sớm nếu Quốc hội bỏ phiếu chiếm đa số 66%, hoặc chính phủ thất bại trong cuộc bỏ phiếu tín nhiệm và không có chính phủ mới được hình thành sau 14 ngày. Tuy nhiên Thủ tướng không có quyền theo Văn kiện Quốc hội ở phần 1 (5) Đạo luật Kỳ hạn Quốc hội 2011 quy định rằng ngày bầu cử sẽ được trễ hơn 2 tháng ngày 7/5/2015. Văn kiện như vậy phải được chấp thuận bởi Quốc hội. Theo luật đăng ký bầu cử và quản lý năm 2013, Đạo luật kỳ hạn năm 2011 đã được sửa đổi kéo dài thời hạn giữa ngày giải thể và bầu cử sau 17-25 ngày. Điều này áp dụng cho việc Quốc hội giải thể ngày 30/3/2015. === Thời khóa biểu === Các ngày quan trọng là: == Nghị sĩ không tái tranh cử == Cuộc bầu cử trước đây có số lượng nghị sĩ không tái tranh cử kỷ lục là 148 người, tại bầu cử lần này có 90 nghị sĩ. Gồm 38 Bảo thủ, 37 Công đảng, 10 Dân chủ tự do, 3 Độc lập, 1 Sinn Féin và 1 Plaid Cymru. Các nghị sĩ các cấp trong Quốc hội không tái tranh cử là: Gordon Brown,cựu Thủ tướng, lãnh đạo Công đảng (2007–2010) và Bộ trưởng Tài chính (1997–2007); và William Hague, Quốc vụ khanh thứ nhất, Lãnh đạo Hạ nghị viện và cựu Ngoại trưởng Vương quốc Liên hiệp (2010–2014), Lãnh đạo Đảng Bảo thủ và lãnh đạo phe đối lập (1997–2001). Cùng Brown và Hague, 17 cựu bộ trưởng khác không tái tranh cử, gồm Stephen Dorrell, Jack Straw, Alistair Darling, David Blunkett, ngài Malcolm Rifkind và bà Tessa Jowell. Cá nhân cấp cao nhất của Đảng Dân chủ Tự do cựu lãnh đạo ngài Menzies Campbell cũng không tranh cử, trong khi đó nghị sĩ có thời gian lâu nhất ("Cha của Viện") ngài Peter Tapsell liên tục từ 1959–1964 và từ tổng tuyển cử năm 1966 cũng chính thức nghỉ. == Đảng phái và ứng viên == Tính đến hết ngày 9/4/2015 hạn chót cho đảng chính trị đăng ký thì có 428 đảng chính trị tại Anh, 36 ở Bắc Ireland đăng ký với Ủy ban bầu cử, những ứng viên không thuộc đảng phái đăng ký được xét là độc lập hoặc không ghi gì. Đảng Bảo thủ và Công Đảng là 2 đảng lớn nhất từ năm 1922, và đã cung cấp toàn bộ Thủ tướng kể từ ngày đó. Thăm dò ý kiến 2 đảng số phiếu bầu cùng nhau nhận khoản 65-75% và giành chiến thắng 80-85% ghế và lãnh đạo của 2 đảng sẽ có người làm Thủ tướng. Đảng Dân chủ Tự do được xếp thứ 3 trong nhiều năm, theo các nhà bình luận số ghế các đảng khác đã tăng tương đối so với Dân chủ tự do kể tự tổng tuyển cử 2010. Báo The Economist đã mô tả "hệ thống quen thuộc 2 và nửa đảng" (Bảo thủ, Công Đảng, Dân chủ Tự do) gần như "không còn tiền lệ" bởi các đảng mới nổi như Đảng Độc lập Anh (UKIP), Đảng Xanh, Đảng Quốc gia Scotland (SNP). Newsnight và the economist đã mô tả quốc gia như dịch chuyển sang hệ thống 6 đảng, với Dân chủ Tự do, UKIP, SNP và đảng xanh tất cả đang được chú ý. Ofcom trong vai trò điều tiết theo dõi bầu cử tại Vương quốc Liên hiệp đã nhận xét rằng các cuộc tổng tuyển cử địa phương thang 5/2015 các chính đảng lớn tại Vương quốc Liên hiệp là Bảo thủ, Công Đảng và Tự do Dân chủ, với UKIP một đảng ở Anh và xứ Wales, SNP đảng lớn ở Scotland, Plaid Cymru (PC) ở xứ Wales, và đảng xanh không phải chính đảng lớn. 7 đảng (Bảo thủ, Công đảng, Tự do Dân chủ, UKIP, SNP, PC và đảng xanh) tham gia tranh luận bầu cử lãnh đạo. === Ứng viên === Hạn chót cho các Đảng và cá nhân nộp ứng cử là 16:00 ngày 9/4/2015. Tổng số ứng viên đăng ký là 3.971, cao thứ 2 trong lịch sử giảm nhẹ so với kỷ lục là 4.150 tổng tuyển cử 2010. Có một kỷ lục khác là số ứng viên nữ tăng tỉ lệ % kỷ lục: 1020 (26.1%) năm 2015, tăng 854 (21.1%) năm 2010. Tỷ lệ nữ ứng viên dao động từ 41% Liên minh Đảng Bắc Ireland đến 12% UKIP. Các đảng có người da đen và dân tộc thiểu số: Bảo thủ 11%, Tự do Dân chủ 10%, Công đảng 9%, UKIP 6%, Đảng xanh 4%. Tuổi trung bình của các ứng cử viên cho 7 đảng lớn là 45. Các ứng viên trẻ tuổi nhất trong 18 tuổi và ứng viên cao tuổi nhất là 84 tuổi. == Tranh luận trên truyền hình == Cuộc tranh luận đầu tiên trên truyền hình các nhà lãnh đạo vương quốc liên hiệp đã diễn ra tổng tuyển cử khóa trước. Sau nhiều cuộc thảo luận và đề xuất khác nhau, 1 cuộc tranh luận 7 lãnh đạo đảng gồm Công đảng, Bảo thủ, Dân chủ Tự do, UKIP, Xanh, SNP và Plaid Cymru đã được tổ chức, với một loạt các chương trình liên quan. Chiến dịch này không có các áp phích trên đường. Nhiều ý kiến cho rằng năm 2015 là "cái chết của các áp phích chiến dịch". == Kết quả == Sau khi kiểm phiếu tại 650 khu vực bầu cử, kết quả công bố là: === Kết quả === Mặc dù dự đoán trước tổng tuyển cử cho rằng 2 đảng Bảo thủ và Công đảng có số phiếu sít sao, nhưng đảng Bảo thủ đã chiến thắng một cách thuyết phục. Lãnh đạo đảng Bảo thủ đương kim thủ tướng David Cameron đã thành lập chính phủ độc đảng, trong khi đó đảng liên minh Dân chủ Tự do đã thất bại nặng nề kể từ cuộc tổng tuyển cử 1970. Công đảng đạt mức dưới mức thăm dò trước tổng tuyển cử, giành được 232 ghế mất 24 ghế. Sự thất bại nằm ở Scotland nơi Đảng Quốc gia Scotland chiếm đa số ghế tại khu vực này, không những vậy Đảng Quốc gia Scotland còn chiếm được các ghế ở vị trí then chốt của Đảng Lao động Scotland và lãnh đạo Đảng Jim Murphy có nguy cơ buộc phải từ chức sau khi đảng này chỉ được có 1 ghế tại Scotland đây là thất bại nặng nề nhất sau cuộc tổng tuyển cử 1987. Lãnh đạo Công đảng Ed Miliband đã từ chức sau sự thất bại. Mối đe dọa của chính phủ là đảng Độc lập Anh (UKIP) sẽ thành lập chính phủ Công đảng, nhưng UKIP chỉ giành được 1 ghế. Mặc dù có số phiếu đứng thứ 3 12,9%, nhưng UKIP chỉ có 1 ghế và lãnh đạo đảng Nigel Farage không thể giành chiến thắng tại khu vực Nam Thanet và đã từ chức sau cuộc tổng tuyển cử. Nhưng Hội đồng điều hành đảng UKIP đã từ chối sự từ chức và ông tiếp tục đảm nhiệm lãnh đạo đảng. === Bình đẳng giới === Cuộc tổng tuyển cử cho thấy sự gia tăng nghị sĩ là nữ, từ 147 (23% tổng số, trong đó có 87 Công đảng, 47 Bảo thủ, 7 Dân chủ Tự do, 1 SNP, 5 khác) lên 191 (29% tổng số, trong đó có 99 Công đảng, 68 Bảo thủ, 20 SNP, 4 khác). Vùng có tị trọng nghị sĩ lớn nhất là Đông Bắc nước Anh. == Hậu quả == Vào ngày 8/5 lãnh đạo 3 đảng công bố từ chức vào mỗi giờ khác nhau. Ed Miliband (Công đảng) và Nick Clegg (Dân chủ Tự do) từ chức do kết quả của Đảng mình tồi tệ hơn dự kiến trong cuộc bầu cử, mặc dù cả hai đã được bầu lại ghế trong Quốc hội. Nigel Farage (UKIP) từ chức vì ông đã không được bầu làm nghị sĩ tại Nam Thanet, tuy nhiên ngày 11 đảng UKIP đã từ chối việc từ chức của Nigel, vì các thành viên cho rằng chiến dịch tranh cử "đã thành công lớn" và Nigel tiếp tục là lãnh đạo UKIP. == Tham khảo == === Chú thích ===
monica seles.txt
Monica Seles (tiếng Hungary: Szeles Mónika, Tiếng Serbia: Моника Селеш, chuyển tự Monika Seleš, phát âm: [/sɛlɛʃ/], sinh ngày 2 tháng 12 năm 1973 là tay vợt nữ hàng đầu thế giới trước đây. Cô sinh tại Novi Sad, Nam Tư (sau đó là Serbia, có cha mẹ là người Hungary và trở thành một công dân Hoa Kỳ vào năm 1994. Theo những báo cáo chính thức từ các kênh thông tin truyền thông Canada và Hungary, cô đã được gia nhập quốc tịch Hungary vào tháng 6 năm 2007. Cô đã giành chức vô địch 9 lần ở các giải Grand Slam đơn. Cô từng là nhà vô địch trẻ tuổi nhất của giải Pháp mở rộng vào năm 1990 khi mới chỉ 16 tuổi. Cô đã là người thống trị quần vợt nữ trong năm 1991 và 1992. Năm 1993, cô bắt buộc phải rời xa thể thao trong một thời gian sau khi bị tấn công bằng dao vào lưng bởi một cổ động viên ngay trên sân. Sau khi trở lại vào năm 1995, cô cũng đạt được một số thành công, trong đó có vô địch giải Úc mở rộng 1996. Tuy nhiên, sau đó thì cô cũng vẫn không thể nào tìm lại được thời vàng son lúc trước. Seles đã có trận đấu chuyên nghiệp cuối cùng vào năm 2003 tại giải Pháp mở rộng. Tuy nhiên, quyết định gác vợt của cô không được thông báo chính thức cho đến tháng 2 năm 2008. == Tiểu sử == === Những năm đầu tiên === Seles đã có được chức vô địch Grand Slam đầu tiên trong sự nghiệp ở giải Pháp mở rộng năm 1990. Phải đương đầu với Steffi Graf trong trận chung kết, cô đã lật ngược được thế trận thành công khi đối thủ đã có 4 set point trong bàn tie-break của set thứ nhất, và sau đó là giành chiến thắng 8-6 trong bàn tie-break. Cô tiếp tục giành chiến thắng ở set thứ hai và cũng là chiến thắng chung cuộc 7-6(6), 6-4. Sau đó, cô đã trở thành tay vợt trẻ nhất từ trước đến nay đoạt được chức vô địch của một giải Grand Slam, khi mới chỉ 16 tuổi 6 tháng. Cô cũng đã giành chức vô địch giải Virginia Slims Championships khi đánh bại Gabriela Sabatini trong năm set đấu. Cô đã kết thúc năm này với vị trí thứ 2 trên bảng xếp hạng WTA. === Năm 1990-1992 === === Bước ngoặt trong sự nghiệp: Nhát dao năm 1993 === === Sự trở lại === === Thời điểm gián đoạn === === Cách chơi === === Đánh giá sự nghiệp === === Công việc từ thiện === == Tham khảo ==
bộ chính trị ban chấp hành trung ương đảng cộng sản việt nam.txt
Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam, thường gọi tắt là Bộ Chính trị là cơ quan lãnh đạo và kiểm tra việc thực hiện nghị quyết Ðại hội Đại biểu toàn quốc, nghị quyết của Ban Chấp hành Trung ương; quyết định những vấn đề về chủ trương, chính sách, tổ chức, cán bộ; quyết định triệu tập và chuẩn bị nội dung các kỳ họp của Ban Chấp hành Trung ương; báo cáo công việc đã làm trước hội nghị Ban Chấp hành Trung ương hoặc theo yêu cầu của Ban Chấp hành Trung ương. Các thành viên trong Bộ Chính trị do Ban Chấp hành Trung ương bầu ra. Bộ Chính trị gồm các ủy viên chính thức và có thể có các ủy viên dự khuyết. Trong lĩnh vực nhân sự, Bộ Chính trị có quyền quyết định hay giới thiệu nhân sự cho các chức vụ quan trọng trong bộ máy đảng, Nhà nước và các đoàn thể, không kể các chức danh do Ban Chấp hành Trung ương hay Ban Bí thư quyết định theo phân cấp. Các phiên họp của Bộ Chính trị đều là họp kín, biểu quyết của Đảng. Các thành viên Ban Bí thư không phải Ủy viên Bộ Chính trị được tham dự các phiên họp Bộ Chính trị đối với các vấn đề liên quan Ban Bí thư. == Thành viên == Số ủy viên trong Bộ Chính trị không nhất định nên có thể thay đổi. Vì nội quy thay đổi không được công bố nên quyết định số ủy viên được xem là quyết định kín. Bộ Chính trị có 13 thành viên vào năm 1976 khi thành lập nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Đến năm 1996 và 2016 thì tăng lên thành 19. Trong số ủy viên Bộ Chính trị, Ban Chấp hành Trung ương bầu ra Tổng Bí thư. Trước đây Ban Chấp hành Trung ương còn bầu ra chức Chủ tịch Ban Chấp hành Trung ương, nhưng hiện nay không còn chức vụ này nữa, người giữ chức vụ này duy nhất là Hồ Chí Minh. Ngoài ra, một ủy viên Bộ Chính trị đảm nhận chức danh Thường trực Ban Bí thư. Theo cơ cấu trong Đảng, các ủy viên Bộ Chính trị giữ tất cả những cương vị chủ chốt trong bộ máy chính quyền: Chủ tịch nước, Thủ tướng Chính phủ, Chủ tịch Quốc hội, Phó Thủ tướng thường trực, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, Bộ trưởng Bộ Công an, Bộ trưởng Bộ Ngoại giao (nhưng không phải trong mọi trường hợp: như các ông Hoàng Minh Giám, Ung Văn Khiêm, Xuân Thủy, Nguyễn Dy Niên không ở trong Bộ Chính trị). Các ủy viên Bộ Chính trị khác giữ những cương vị chủ chốt của bộ máy đảng: Trưởng Ban Tổ chức Trung ương Đảng (đảm nhiệm công tác tổ chức, cán bộ), Chủ nhiệm Ủy ban Kiểm tra Trung ương Đảng (kiểm tra tổ chức đảng, tư cách đảng viên, chống tham nhũng), Trưởng Ban Tuyên giáo, Bí thư Thành ủy Hà Nội, Bí thư Thành ủy Thành phố Hồ Chí Minh. Trưởng Ban Dân vận Trung ương cũng khá thường xuyên xuất hiện trong Bộ Chính trị. Hiện nay, các ủy viên Bộ Chính trị giữ các cương vị Tổng Bí thư, Chủ tịch nước, Thủ tướng, Chủ tịch Quốc hội và Thường trực Ban Bí thư được gọi là "các cán bộ chủ chốt của Đảng, Nhà nước". Các ủy viên Bộ Chính trị này được gọi là các ủy viên Bộ Chính trị phụ trách chung, để phân biệt với các ủy viên Bộ Chính trị phụ trách lĩnh vực. Quyền hạn uỷ viên Bộ Chính trị (cũng như quyền hạn ủy viên Trung ương, ủy viên Ban Bí thư) được quy định trong văn bản quy chế của Đảng. Các ủy viên Bộ Chính trị giữ các cương vị Chủ tịch nước, Thủ tướng, Chủ tịch Quốc hội có quy định riêng. Quyền hạn của Tổng Bí thư và Thường trực Ban Bí thư được quy định riêng. Tổng Bí thư là người đứng đầu toàn Đảng, là cấp trên của Bí thư cấp ủy, Tổ chức đảng, là người đứng đầu Ban Chấp hành Trung ương, Trưởng ban Chỉ đạo Phòng chống tham nhũng và thay mặt Ban Chấp hành Trung ương chủ trì công việc ba cơ quan quan trọng nhất trong hệ thống quyền lực: Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị và Ban Bí thư, đồng thời là Bí thư Quân ủy Trung ương, là nhân vật quyền lực cao nhất. Chủ tịch nước kiêm Trưởng ban Chỉ đạo Cải cách Tư pháp Trung ương, đồng thời là Chủ tịch Hội đồng Quốc phòng và an ninh, là nhân vật quyền lực đứng ở vị trí thứ hai trong Đảng. Thủ tướng kiêm Bí thư Ban Cán sự đảng Chính phủ, đồng thời là Phó Chủ tịch Hội đồng Quốc phòng và an ninh. Chủ tịch Quốc hội (kiêm Bí thư Đảng đoàn Quốc hội, và là Chủ tịch Ủy ban Thường vụ Quốc hội). Các chức danh này ngoài nhiệm vụ theo Hiến pháp (chịu sự lãnh đạo của các cơ quan Đảng), quyền hạn do Ban Chấp hành Trung ương giao theo quy chế và phân công công tác của Bộ Chính trị. Các chức danh Chủ tịch nước, Thủ tướng, Chủ tịch Quốc hội thường không kiêm nhiệm trong Ban Bí thư (thiết chế quyết định một số vấn đề quan trọng và giám sát bộ máy Nhà nước). Bộ trưởng Bộ Quốc phòng kiêm Phó Bí thư Quân ủy Trung ương Bộ trưởng Bộ Công an đồng thời là Trưởng ban Chỉ đạo Tây Nguyên kiêm Bí thư Đảng ủy Công an Trung ương Bộ trưởng Bộ Ngoại giao đồng thời là Phó Thủ tướng phụ trách về lĩnh vực đối ngoại, kiêm Bí thư Ban Cán sự Đảng Bộ Ngoại giao Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, Bộ trưởng Bộ Công an và Bộ trưởng Bộ Ngoại giao là bộ ba các viên chức chính phủ quan trọng trong Chính phủ Theo quy định hiện hành thì Tổng Bí thư do Ban Chấp hành Trung ương bầu trong số các ủy viên Bộ Chính trị. Các chức danh Chủ tịch nước, Thủ tướng, Chủ tịch Quốc hội là các ủy viên Bộ Chính trị, do Ban Chấp hành Trung ương đề cử, Quốc hội phê chuẩn. Thường trực Ban Bí thư do Bộ Chính trị phân công. Theo quy định của đảng năm 2011, đối với các chức danh thuộc Nhà nước và các đoàn thể cấp trung ương, Ban Chấp hành Trung ương giới thiệu 3 chức danh: Chủ tịch nước, Chủ tịch Quốc hội, Thủ tướng Chính phủ để Quốc hội bầu; "tham gia ý kiến" về nhân sự Phó Chủ tịch nước, Phó Chủ tịch Quốc hội, Phó Thủ tướng Chính phủ, Chánh án Toà án Nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân tối cao, Chủ tịch Hội đồng Dân tộc, Chủ nhiệm các Ủy ban của Quốc hội và các thành viên Chính phủ. Trong khi Bộ Chính trị giới thiệu các chức danh thuộc diện Bộ Chính trị quản lý để Chính phủ trình Quốc hội bầu hoặc phê chuẩn, Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị - xã hội bầu. Ban Bí thư giới thiệu các chức danh thuộc diện Ban Bí thư quản lý để Chủ tịch nước, Thủ tướng Chính phủ bổ nhiệm; Quốc hội, Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị - xã hội bầu. Cán bộ thuộc diện Bộ Chính trị quản lý hầu hết là ủy viên trung ương trở lên, còn cán bộ Ban Bí thư quản lý thường dưới một cấp hoặc thủ trưởng thuộc cơ quan, tổ chức ít quan trọng hơn. Do nhiều cán bộ đảm nhiệm nhiều cương vị nên nhiều cán bộ vừa thuộc Bộ Chính trị vừa thuộc Ban Bí thư quản lý. Điều lệ Đảng sửa đổi, bổ sung năm 2011 ngoài có quy định mới quyền Ban Chấp hành trung ương, cũng quy định về Quân ủy Trung ương, phân định rạch ròi quyền Quân ủy Trung ương (do Tổng Bí thư đứng đầu), với cơ quan Nhà nước (Hội đồng Quốc phòng và an ninh - do Chủ tịch nước đứng đầu, Chính phủ...) trong lĩnh vực quốc phòng. Theo quy định hiện nay nhân sự Quân ủy Trung ương và Đảng ủy Công an Trung ương gồm một số cán bộ trong ngành và ngoài ngành do Bộ Chính trị chỉ định. Điều lệ cũng quy định rõ Tổng Bí thư và Bí thư cấp ủy đảng địa phương đứng đầu đảng ủy quân sự cùng cấp, thể hiện sự lãnh đạo tuyệt đối của đảng. Các tổ chức đảng quan trọng như Đảng đoàn Quốc hội, Ban cán sự đảng Chính phủ, Quân ủy Trung ương, Đảng ủy công an Trung ương, Đảng đoàn Ủy ban trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Ban cán sự đảng Tòa án nhân dân tối cao, Ban cán sự đảng Viện Kiểm sát nhân dân tối cao,...và một số tổ chức đảng quan trọng khác do Bộ Chính trị, Ban Bí thư quản lý. Bí thư và các thành viên Đảng đoàn Quốc hội, Ban Cán sự Chính phủ do Bộ Chính trị chỉ định, Bí thư và các thành viên Đảng đoàn Mặt trận, Tòa án, Viện Kiểm sát tối cao, các bộ ngành do Ban Bí thư chỉ định. Một số ban chỉ đạo được thành lập giúp Bộ Chính trị, Ban Bí thư về một số lĩnh vực, như các Ban Chỉ đạo Tây Bắc, Tây Nguyên, Tây Nam Bộ,... == Lịch sử == === Ban Thường vụ Trung ương 1930-1951 === Cơ cấu tổ chức Bộ Chính trị xuất hiện từ Đại hội II của Đảng Cộng sản Việt Nam (lúc đó là Đảng Lao động Việt Nam) họp năm 1951. Tiền thân của nó là Ban Thường vụ Trung ương. Ban Thường vụ Trung ương đầu tiên xuất hiện từ sau Hội nghị thành lập đảng thành lập Ban Chấp hành Trung ương lâm thời có Trịnh Đình Cửu (phụ trách Ban Chấp hành trung ương lâm thời), Trần Văn Lan, Nguyễn Hới. Ban Thường vụ Trung ương chính thức sau Hội nghị lần thứ 1 (tháng 10 năm 1930) gồm Trần Phú,Ngô Đức Trì, Nguyễn Trọng Nhã. Ban Thường vụ Trung ương do Đại hội I (1935) bầu ra có 5 người: Lê Hồng Phong, Đinh Thanh, Hoàng Đình Giong, Ngô Tuân, Nguyễn Văn Dựt. Tại các Hội nghị Trung ương năm 1936, 1937, 1938, 1939 và 1940 điều chỉnh, bổ sung nhân sự Ban Thường vụ Trung ương. Hội nghị TW tháng 10 năm 1937 bầu Ban Thường vụ gồm: Hà Huy Tập, Lê Hồng Phong, Nguyễn Văn Cừ, Nguyễn Chí Diểu, Võ Văn Tần. Hội nghị TW tháng 3 năm 1938 bầu Ban Thường vụ có cơ cấu như cũ: Nguyễn Văn Cừ, Hà Huy Tập, Võ Văn Tần, Nguyễn Chí Diểu, Lê Hồng Phong. Các hội nghị năm 1939 bổ sung Lê Duẩn, và năm 1940 cơ cấu gồm Trường Chinh, Hoàng Văn Thụ, Hoàng Quốc Việt. Ban Thường vụ Trung ương được bầu ra tại Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương lần thứ 8, khóa I (họp từ ngày 10 đến ngày 19 tháng 5 năm 1941), gồm Trường Chinh, Hoàng Văn Thụ và Hoàng Quốc Việt, đứng đầu là Tổng Bí thư Trường Chinh. Sau Cách mạng Tháng Tám 1945, Ban Thường vụ Trung ương gồm Hồ Chí Minh, Trường Chinh, Võ Nguyên Giáp, Lê Đức Thọ, Hoàng Quốc Việt, sau bổ sung thêm Nguyễn Lương Bằng. === Thường vụ Bộ Chính trị 1996-2001 === Đại hội VIII của Đảng Cộng sản Việt Nam họp vào năm 1996 bỏ cơ cấu Ban Bí thư và tạo ra cơ cấu Thường vụ Bộ Chính trị. Mô hình tổ chức này chỉ tồn tại trong 5 năm, đến Đại hội IX (năm 2001) thì bị bãi bỏ, trở lại mô hình Ban Bí thư. Bộ Chính trị bầu ra số thành viên thường trực, tạo thành Ban Thường vụ Bộ Chính trị. Thường vụ Bộ Chính trị thay mặt Bộ Chính trị lãnh đạo và kiểm tra việc thực hiện các nghị quyết của đảng; chuẩn bị các vấn đề trình Bộ Chính trị xem xét, quyết định; chỉ đạo thực hiện các chủ trương về kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh, đối ngoại, công tác đảng, công tác cán bộ, công tác quần chúng; giải quyết công việc hàng ngày của Đảng. Thường trực Bộ chính trị (1 người) có vai trò tương tự Thường trực Ban Bí thư ở các khóa khác, thay mặt Tổng Bí thư khi cần. Ban Thường vụ Bộ Chính trị được bầu ra tại Đại hội VIII gồm 5 người: Đỗ Mười, Lê Đức Anh, Võ Văn Kiệt, Lê Khả Phiêu, Nguyễn Tấn Dũng. Thường trực Bộ chính trị: Lê Khả Phiêu. Hội nghị lần thứ 4 khoá VIII họp từ ngày 22 đến 29-12-1997 đã bầu ra Ban Thường vụ Bộ Chính trị mới gồm: Lê Khả Phiêu, Nông Đức Mạnh, Trần Đức Lương, Phan Văn Khải, Phạm Thế Duyệt. Thường trực Bộ chính trị: Phạm Thế Duyệt, Nguyễn Phú Trọng (tham gia Thường trực Bộ Chính trị từ tháng 8 năm 1999). Về sơ bản quyền hạn, nhiệm vụ của Thường vụ Bộ Chính trị giống với Ban Bí thư các khóa trước và sau này, nhưng thể hiện sự tập trung quyền lực và cũng có một số khác biệt nhỏ. Khác với Ban Bí thư hiện có nhiệm vụ quan trọng là cơ quan chỉ đạo hoặc kiểm tra việc chuẩn bị các vấn đề đưa ra Bộ Chính trị, Thường vụ Bộ Chính trị chuẩn bị các vấn đề trình Bộ Chính trị, tuy nhiên theo phân cấp quản lý cán bộ hiện nay, thì Ban Bí thư đã được mở rộng quyền quản lý tới cấp Thứ trưởng, Phó Bí thư, Chủ tịch HĐND và UBND cấp tỉnh, Phó Chủ tịch HĐND và UBND hai thành phố lớn. == Tổ chức == Các ban chỉ đạo trung ương trực thuộc Bộ Chính trị bao gồm: Ban Chỉ đạo Tây Bắc Ban Chỉ đạo Tây Nam Bộ Ban Chỉ đạo Tây Nguyên Ban Chỉ đạo Cải cách Tư pháp Ban Chỉ đạo Phòng chống Tham nhũng == Danh sách cụ thể == === Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XII === === Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI === === Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X === === Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX === === Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VIII === ==== Hội nghị Trung ương lần thứ 4 ==== === Đại hội Đảng lần thứ VII === === Đại hội Đảng lần thứ VI === === Đại hội Đảng lần thứ V === === Đại hội Đảng lần thứ IV === === Đại hội Đảng lần thứ III === === Đại hội Đảng lần thứ II === === Đại hội Đảng lần thứ I === ==== Ban Thường vụ Trung ương Đảng sau Cách mạng tháng 8 ==== ==== Hội nghị Trung ương lần thứ 8 ==== == Chế độ đãi ngộ == === Y tế === Các chức danh ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, ủy viên Trung ương Đảng, Bí thư Tỉnh ủy, Thành ủy trực thuộc trung ương, Trưởng các đoàn thể ở Trung ương, Phó Trưởng ban của Đảng ở Trung ương, Phó chủ nhiệm Ủy ban Quốc hội, Phó Chủ tịch Hội đồng Dân tộc, Thứ trưởng và các chức danh tương đương cấp Nhà nước... khi ốm đau hoặc sức khoẻ bị giảm sút nhiều được khám, chữa bệnh, nằm điều trị ở bệnh viện Trung ương, hoặc điều trị tại nước ngoài nơi an dưỡng và được hưởng các chế độ ăn uống, bồi dưỡng, thuốc men đặc biệt do Ban Bảo vệ và chăm sóc sức khỏe cán bộ Trung ương quyết định. Các khoản chi về viện phí, phụ cấp do ngân sách nhà nước chi trả. Các Ủy viên Trung ương Đảng và các chức danh tương đương thường trú tại địa phương sẽ do Ban Bảo vệ và chăm sóc sức khỏe cán bộ tại địa phương phụ trách. Ban Bảo vệ chăm sóc sức khỏe cán bộ Trung ương có trách nhiệm phối hợp cùng các bệnh viện Trung ương theo dõi sức khỏe các cán bộ Nhà nước. === Nhà ở công vụ === Ủy viên Bộ chính trị được bố trí sử dụng biệt thự loại A có diện tích đất từ 450 - 500 m2, diện tích sử dụng là 300 – 350 m2. === Xe công === Các Ủy viên Bộ Chính trị được sử dụng thường xuyên một xe ô tô trong thời gian công tác. Căn cứ tình hình thực tế tại từng thời điểm, Thủ tướng Chính phủ quyết định chủng loại xe trang bị cho Ủy viên Bộ Chính trị này theo đề nghị của Bộ Tài chính. Xe ô tô trang bị cho các chức danh trên được thay thế theo yêu cầu công tác. Trị giá xe công của Ủy viên Bộ Chính trị phù hợp với thị trường tại thời điểm mua sắm. === Tiền lương === Theo quy định Nhà nước, hệ số tiền lương áp dụng cho ủy viên Bộ Chính trị từ 11,1 đến 11,7 (năm 2016 là 12.765.000 đến 13.455.000 đồng), chỉ thua có lương Tổng Bí thư, Chủ tịch nước, Chủ tịch Quốc hội, Thủ tướng Chính phủ, Thường trực Ban Bí thư, tương đương lương của Chủ tịch Mặt trận Tổ quốc và Phó chủ tịch nước. == Xem thêm == Danh sách các thành viên của Bộ chính trị Việt Nam bị kỷ luật == Chú thích == == Liên kết ngoài ==
thực dân châu âu tại châu mỹ.txt
Người châu Âu đã bắt đầu thực dân hóa châu Mỹ kể từ năm 1492. Tuy nhiên, di chỉ L'Anse aux Meadows nằm ở tỉnh bang Newfoundland và Labrador của Canada đã bị thực dân hóa từ rất lâu trước đó. Kể từ năm 1000 SCN, nó là địa điểm duy nhất được biết đến là một ngôi làng của người Viking và Norse nằm ở Canada cũng như Bắc Mỹ ngoại trừ Greenland. L'Anse aux Meadows là trường hợp duy nhất được công nhận rộng rãi về sự giao lưu xuyên đại dương thời kỳ tiền Columbus. Vào năm 1492, một đoàn thám hiểm Tây Ban Nha dẫn đầu bởi Christopher Columbus đã đi tàu đến châu Mỹ để buôn bán những gia vị đắt tiền và các mặt hàng khác. Ngay sau đó là các cuộc xâm chiếm, thám hiểm, đại thám hiểm cùng với thực dân hóa của người châu Âu. Các hoạt động đầu tiên diễn ra dọc theo bờ biển Caribbe trên các hòn đảo của Hispaniola, Puerto Rico và Cuba, và sau năm 1500 đã mở rộng sau vào lục địa ở cả Bắc và Nam Mỹ. Vào năm 1497, nhân danh nước Anh, John Cabot đã đặt chân đến bờ biển Bắc Mỹ và sau đó 1 năm, chuyến hải hành thứ ba cũng đã đưa Columbus đến bờ biển Nam Mỹ. Pháp tìm kiếm thuộc địa nhiều nơi ở phía đông Bắc Mỹ, trên một số đảo ở Caribbe và ở Nam Mỹ, Bồ Đào Nha thực dân hóa Brazil. Rốt cuộc, toàn bộ Tây bán cầu đã nằm dưới quyền cai trị của các nước châu Âu, dẫn đến những thay đổi sâu sắc về cảnh quan, dân cư và đời sống động thực vật ở những nơi đó. Trong thế kỷ 19, đã có trên 50 triệu người rời châu Âu để tới châu Mỹ. Thời kỳ sau năm 1492 được biết đến như là thời kỳ trao đổi Columbus (Columbian Exchange). == Các cuộc xâm lược, tuyên bố và những thuộc địa đầu tiên == Các cuộc thám hiểm và chinh phục đầu tiên đã được thực hiện bởi người Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha, ngay sau cuộc tái chiếm bán đảo Iberia năm 1492. Theo Hiệp ước Tordesillas năm 1494 được phê chuẩn bởi Giáo hoàng, hai vương quốc này đã chia toàn bộ thế giới ngoài châu Âu thành hai khu vực thám hiểm và thuộc địa hóa với một đường ranh giới bắc nam cắt xuyên Đại Tây Dương và phần phía đông Brazil ngày nay. Dựa trên hiệp ước này cũng như những tuyên bố đầu tiên của nhà thám hiểm Tây Ban Nha Vasco Núñez de Balboa, người đã khám phá ra Thái Bình Dương năm 1513, người Tây Ban Nha đã xâm chiếm những vùng lãnh thổ rộng lớn ở cả Bắc, Trung và Nam Mỹ. Chinh tướng Tây Ban Nha Hernán Cortés đã tiếp quản đế chế Aztec và Francisco Pizarro đã chinh phục đế chế Inca. == Những thực dân đầu tiên dưới sự bảo hộ quốc gia == Giai đoạn sớm nhất trong các hoạt động của người châu Âu tại châu Mỹ bắt đầu với những chuyến vượt Đại Tây Dương của Christopher Columbus (1492–1504), dưới sự bảo hộ của Tây Ban Nha, với mục tiêu ban đầu là tìm ra một tuyến đường mới dẫn đến Ấn Độ và Trung Quốc. Theo sau ông là những nhà thám hiểm khác như Giovanni Caboto, người đã đặt chân đến Newfoundland dưới sự bảo hộ của Anh. Pedro Álvares Cabral đã tới Brazil và tuyên bố nó thuộc về Bồ Đào Nha. Amerigo Vespucci, làm việc cho Bồ Đào Nha trong các chuyến hải hành từ 1497 đến 1513, đã chứng minh rằng Columbus đã đặt chân tới những lục địa mới. Các nhà bản đồ học vẫn dùng tên La Tinh hóa là America để chỉ hai lục địa (Bắc Mỹ và Nam Mỹ). Những nhà thám hiểm khác bao gồm Giovanni da Verrazzano, được Pháp bảo trợ; João Vaz Corte-Real người Bồ Đào Nha ở Newfoundland và Samuel de Champlain (1567–1635) đã khám phá ra Canada. Năm 1513, Vasco Núñez de Balboa đã băng qua eo đất Panama và dẫn dắt đoàn thám hiểm người châu Âu đầu tiên nhìn thấy Thái Bình Dương từ bờ biển phía tây Tân Thế giới. Balboa đã tuyên bố Thái Bình Dương và tất cả các vùng đất ven Thái Bình Dương là thuộc về Vua Tây Ban Nha, đó là năm 1517, trước khi một đoàn thám hiểm khác từ Cuba đến Trung Mỹ, cụ thể là bờ biển Yucatán nhằm tìm kiếm nô lệ. == Các thuộc địa của châu Âu tại châu Mỹ == Anh Mỹ thuộc Anh (1607– 1783) Mười ba thuộc địa Bắc Mỹ thuộc Anh (1783 – 1907) Lãnh địa người Anh Điêng (1763–1783) British West Indies Courland New Courland (Tobago) (1654–1689) Đan Mạch Tây Indies thuộc Đan Mạch (1754–1917) Greenland (1814 - nay) Hà Lan New Netherland (1609–1667) Essequibo (1616–1815) quần đảo Virgin thuộc Hà Lan (1625–1680) Berbice (1627–1815) New Walcheren (1628–1677) Brazil thuộc Hà Lan (1630–1654) Pomeroon (1650–1689) Cayenne (1658–1664) Demerara (1745–1815) Suriname (1667–1954) Curaçao và Dependencies (1634–1954) Sint Eustatius và Dependencies (1636–1954) Pháp New France (1604–1763) Acadia (1604–1713) Canada (1608–1763) Louisiana (1699–1763, 1800–1803) Newfoundland (1662–1713) Île Royale (1713–1763) French Guiana (1763-nay) French West Indies Saint-Domingue (1659–1804, giờ là Haiti) Tobago Quần đảo Virgin France Antarctique (1555–1567) Equinoctial France (1612–1615) Bồ Đào Nha Colonial Brazil (1500–1815) became a Kingdom, United Kingdom of Portugal, Brazil and the Algarves. Cisplatina (1808–1822, today Uruguay) Barbados (1536–1620) French Guiana (1809–1817) Nga Russian America (giờ là Alaska, 1799–1867) Tây Ban Nha Cuba (cho đến 1898) Phó vương quốc Tân Granada (1717–1819) Captaincy General of Venezuela Tân Tây Ban Nha (1535–1821) Nueva Extremadura Nueva Galicia Nuevo Reino de León Nuevo Santander Nueva Vizcaya Las Californias Santa Fe de Nuevo México Peru (1542–1824) Puerto Rico (cho đến 1898) Rio de la Plata (1776–1814) Santo Domingo (last Spanish rule 1861-1865) Thụy Điển Tân Thụy Điển (1638–1655) Saint Barthélemy (1785–1878) Guadeloupe (1813–1815) == Xem thêm == == Tham khảo ==
năng lượng ion hóa.txt
Năng lượng ion hóa của một nguyên tử hay một phân tử là năng lượng cần thiết để tách một điện tử từ nguyên tử hay phân tử đó ở trạng thái cơ bản. Một cách tổng quát hơn, năng lượng ion hóa thứ n là năng lượng cần thiết để tách điện tử thứ n sau khi đã tách (n-1) điện tử đầu tiên. Theo từ điển Giáo khoa Vật lý của các tác giả Vũ Thanh Khiết,..., Nhà Xuất bản Giáo dục- năm 2007 thì năng lượng ion hoá được định nghĩa như sau: Năng lượng ion hóa của một nguyên tử, phân tử hoặc ion là năng lượng cần thiết để tách êlectron liên kết yếu nhất ra khỏi một hạt ở trạng thái cơ bản sao cho ion dương được tạo thành cũng ở trạng thái cơ bản. Đó là năng lượng ion hoá thứ nhất. Các giai đoạn ion hoá tiếp theo sẽ ứng với các năng lượng ion hoá thứ hai, thứ ba,... == Tham khảo ==
cúp fifa world cup.txt
Cúp vàng Giải vô địch Bóng đá Thế giới là một cúp vàng trao cho đội vô địch giải đấu này (FIFA World Cup). Từ khi World Cup diễn ra năm 1930, đã có hai cúp tượng trưng cho chiến thắng: Cúp Jules Rimet được trao từ 1930 đến 1970, và Cúp FIFA World Cup được trao từ 1974 đến nay. Tên gọi ban đầu của cúp là Chiến thắng (Victory), nhưng sau đó được đổi tên để tôn vinh cựu chủ tịch của FIFA Jules Rimet. Nó được làm từ vàng mạ bạc nguyên chất (sterling silver) và đá màu xanh da trời (lapis lazuli), cúp mang biểu tượng thần Nike, vị thần chiến thắng của Hy Lạp. Brazil đã giành được quyền giữ cúp vàng năm 1970, dẫn đến nhiệm vụ phải thay thế bằng cái khác. Cúp Jules Rimet đã bị đánh cắp năm 1983 và chưa tìm thấy lại được. Cúp được thay thế, cúp FIFA World Cup, lần đầu tiên được sử dụng trong kỳ World Cup 1974. Nó được làm từ vàng 18 carat với đế bằng malachite (đá lông công), trên cúp có hình ảnh hai người đang giữ Trái Đất. Đội bóng hiện nay đang giữ cúp đó là Đức, đã giành chức vô địch tại giải đấu gần nhất - World Cup 2014. == Cúp Jules Rimet == Cúp Jules Rimet là giải thưởng chính thức cho đội vô địch bóng đá World Cup. Ban đầu tên gọi của nó là Chiến thắng, nhưng thường được biết đến nhiều hơn là World Cup hay Coupe du Monde, nó được chính thức đặt tên lại vào năm 1946 để tôn vinh chủ tịch FIFA Jules Rimet người đã chiến thắng cuộc bỏ phiếu năm 1929 để bắt đầu tổ chức giải đấu này. Do Abel Lafleur thiết kế và làm từ vàng khối trên đế bằng đá xanh da trời, nó cao 35 cm (14 in) và nặng 3,8 kg (8,4 lb)). Nó gồm một chén bát giác, được đỡ bởi chiếc cánh biểu tượng của thần Nike, vị thần chiến thắng của Hy Lạp. Cúp Jules Rimet được đưa đến Uruguay trong lần FIFA World Cup đầu tiên trên tàu Conte Verde, nhổ neo từ cảng Villefranche-sur-Mer, phía nam của Nice, vào ngày 21 tháng 6 năm 1930. Trên cùng con thuyền này đã từng trở có chủ tịch Jules Rimet và các cầu thủ của các đội tuyển Pháp, Rumani và Bỉ, những đội tham gia vòng đấu trong năm này. Đội đầu tiên được trao cúp là Uruguay, đội vô địch World Cup 1930. Trong chiến tranh thế giới lần thứ 2, đội vô địch năm 1938 là Italy giữ chiếc cúp này. Ottorino Barassi, phó chủ tịch của FIFA và là chủ tịch của FIGC, đã bí mật vận chuyển từ một ngân hàng ở Roma và giấu nó trong một hộp đựng giày dưới gầm giường của ông để bảo vệ nó khỏi bị Đức quốc xã lấy đi. Vào ngày 20 tháng 3 năm 1966, bốn tháng trước khi khai mạc vòng chung kết World Cup 1966 tại Anh, chiếc cúp Jules Rimet đã bị lấy trộm trong một cuộc triển lãm công cộng tại Quảng trường Trung tâm Westminster. Rất may là nó đã được tìm thấy chỉ 7 ngày sau đó, nó được gói trong một tờ báo chôn dưới chân bờ rào một khu vườn ở ngoại ô Upper Norwood, phía nam Luân Đôn, do chú chó tên là Pickles đã tìm ra. Vì lý do an ninh, Hiệp hội bóng đá Anh đã bí mật sản suất một bản sao của chiếc cúp để ăn mừng sau trận chung kết. Bản sao này đã được bán đấu giá vào năm 1997 với giá là £254.500, khi nó được mua bởi FIFA. Với giá bán của phiên đấu giá cao như vậy, gấp nhiều lần so với giá khởi điểm £20.000-£30.000, dẫn đến những nghi ngờ rằng chiếc cúp đem bán đấu giá không phải là bản sao. FIFA sau đó đã kiểm tra và xác nhận cúp đưa ra bán đấu giá chính là chiếc bản sao. Sau phiên bán đấu giá, FIFA đã trưng bày cúp bản sao tại Bảo tàng Bóng đá Quốc gia Anh ở Preston. Đội tuyển bóng đá quốc gia Brazil giành chức vô địch lần thứ ba vào năm 1970, làm cho họ có quyền giữ cúp thật mãi mãi, như đã được quy ước bởi Jules Rimet ở năm 1930. Nó đã được đặt trưng bày tại trụ sở của Liên đoàn Bóng đá Brazil ở Rio de Janeiro trong tủ kính chống được tên lửa. Vào ngày 19 tháng 12 năm 1983, tấm gỗ phía sau của tủ đã bị cạy ra bởi một thanh sắt và chiếc cúp đã bị lấy cắp một lần nữa. Bốn người đàn ông đã bị nghi ngờ và kết án vắng mặt. Chiếc cúp từ đó tới nay vẫn chưa tìm lại được. Ủy ban bóng đá của Brazil đã đề nghị một bản sao khác cho họ, do Eastman Kodak chế tác, sử dụng 1,8 kg (3,97 lb) vàng. Bản sao này đã được trình lên tổng thống Brazil năm 1984. Cuộc thi lựa chọn chiếc cúp thay thế đã được tổ chức bởi FIFA để chuẩn bị cho World Cup 1974. 53 mẫu do các nghệ sĩ điêu khắc tạo ra được gửi về từ 17 nước. Tác phẩm của họa sĩ người Italy Silvio Gazzaniga đã được ủy ban bầu chọn. Chiếc cúp cao 36,5 cm (14,4 in), được làm từ 5 kg (11 lb) vàng 18 carat (tỷ lệ 75% vàng) với đế có đường kính 13 cm (5,1 in) gồm hai lớp đá xanh (malachit). Chiếc cúp được yêu cầu làm rỗng; do nếu nó được làm đặc, nó sẽ nặng tới 70–80 kg và quá nặng để có thể giương cao chiếc cúp. Bertoni, Milano là người chế tác chiếc cúp, với tổng khối lượng là 6,175 kg (13,6 lb), trị giá 200.000 USD với biểu tượng hai người đang giữ Trái Đất. Gazzaniga đã miêu tả cúp như các đường bật lên từ đáy, vươn lên theo đường xoắn ốc, mở rộng ra để đón lấy thế giới. Nghệ thuật điêu khắc làm nổi bật lên hình người nhỏ gọn vươn lên thanh thoát, hiện ra hình ảnh hai vận động viên trong thời khắc tưng bừng của chiến thắng. Thủ quân của đội tuyển Tây Đức, Franz Beckenbauer là người đầu tiên giương cao chiếc cúp tại World Cup 1974. Chiếc cúp có khắc chữ nổi "FIFA World Cup" tại đế của nó. Tên của nước có đội tuyển giành chức vô địch tại mỗi kỳ World Cup được khắc tại mặt đáy của cúp, nên sẽ không nhìn thấy được khi đặt chiếc cúp thẳng đứng. Câu ghi năm giải đấu diễn ra và tên của đội tuyển quốc gia vô địch đều được khắc bằng tiếng của quốc gia đó, ví dụ "— 1990 Deutschland" và "— 1994 Brasil". Cho đến năm 2014, mười một nhà vô địch đã được khắc ở đế. Chưa rõ FIFA sẽ dừng sử dụng chiếc cúp này như thế nào sau khi tên đội tuyển và năm giải đấu đã diễn ra được khắc đầy lên đáy của cúp; điều này sớm nhất sẽ không xảy ra sau World Cup 2030. Nghị quyết hiện nay của FIFA khẳng định rằng chiếc cúp này không giống như cái đầu tiên, không thể giữ được mãi mãi: đội vô địch chỉ nhận được bản sao mạ vàng chứ không phải chiếc cúp bằng vàng nguyên khối như chiếc cúp thật. == Các đội vô địch == === Cúp Jules Rimet === Brazil - 1958, 1962, 1970 Italy - 1934, 1938 Uruguay - 1930, 1950 Đức - 1954 Anh - 1966 === Cúp FIFA World Cup === Argentina - 1978, 1986 Brazil - 1994, 2002 Italy - 1982, 2006 Đức - 1974, 1990, 2014 Pháp - 1998 Tây Ban Nha - 2010 === Tổng số === == Tham khảo == == Liên kết ngoài == The story of the 1966 theft The Observer FIFA Trophies (PDF)
chợ đồng xuân.txt
Chợ Đồng Xuân là một trong những chợ lớn nhất tại Hà Nội, Việt Nam; là chợ lớn nhất trong khu phố cổ Hà Nội. Chợ có lịch sử tồn tại hàng trăm năm từ thời phong kiến nhà Nguyễn. == Vị trí == Chợ Đồng Xuân nằm trong khu phố cổ, phía tây là phố Đồng Xuân, phía bắc là phố Hàng Khoai, phía nam là phố Cầu Đông, phía đông là ngõ chợ Đồng Xuân. Cổng chợ nhìn sang phía tây, phía trước là một khoảng trống nhỏ. Phía Bắc có quán Huyền Thiên - sau đổi thành chùa Huyền Thiên. Ngay sát sau chợ là chợ Bắc Qua. Vì vậy nhiều người gọi cả hai là chợ Đồng Xuân - Bắc Qua. Ở góc tây bắc của chợ có đài Cảm Tử để kỉ niệm ngày Toàn quốc kháng chiến diễn ra vào năm 1946. == Lịch sử == Trong thời gian xây dựng lại thành Thăng Long vào mùa hạ năm Giáp Tí (1804), Tổng trấn Nguyễn Văn Thành dưới triều đại Nguyễn đã cho đặt ngôi chợ lớn ở cửa chính đông, hay còn gọi là chợ Đồng Xuân ngày nay. Chợ Đồng Xuân tuy nằm trong khu phố cổ nhưng có tuổi đời trẻ hơn rất nhiều so với các phố xung quanh. Trước kia đây là khu đất trống thuộc phường Đồng Xuân, huyện Thọ Xương nằm trước quán Huyền Thiên (sau đổi thành chùa Huyền Thiên). Người dân họp chợ trên hai khu đất ở cạnh chùa Cầu Đông ở phố Hàng Đường và cạnh đền Bạch Mã ở phố Hàng Buồm vì hai khu đất đó gần bến sông, tiện cho thuyền đi lại. Năm 1889, khi những dấu tích cuối của sông Tô Lịch và hồ Thái Cực bị lấp hoàn toàn, người Pháp quy hoạch lại đã giải tỏa hai chợ trên và dồn tất cả các hàng quán vào khu đất trống của phường Đồng Xuân, tạo thành chợ Đồng Xuân. Trong năm đầu tiên chợ họp ngoài trời, hoặc có che mái lá giống như hai chợ cũ. Năm 1890 chính quyền Pháp mới bắt đầu xây dựng chợ Đồng Xuân, tạo thành năm vòm cửa và năm nhà cầu dài 52m, cao 19m. Mặt tiền theo kiến trúc Pháp, gồm năm phần hình tam giác có trổ lỗ như tổ ong, lợp mái tôn. Tại đây đã diễn ra các trận chiến ác liệt giữa Vệ quốc quân chống lại lính Lê dương của Pháp, rất nhiều Vệ quốc quân đã hi sinh tại đây trước khi rút khỏi Hà Nội. Từ sau ngày quân Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tiếp quản Hà Nội, chợ Đồng Xuân là chợ lớn nhất thành phố này. Vào khoảng năm 1990, chợ được xây dựng lại, phá bỏ hai dãy hai bên, ba dãy giữa xây lên ba tầng. Hai tấm cửa hai bên cũng bị dỡ, nhưng vẫn còn giữ hai cột ngoài cùng. Năm 1994, chợ Đồng Xuân đã bị hỏa hoạn, lửa thiêu trụi gần như toàn bộ các gian hàng trong chợ. Đây là vụ cháy chợ lớn nhất tại Hà Nội cho đến nay. == Hàng hóa == Chợ Đồng Xuân là chợ đầu mối chủ yếu dành cho bán buôn. Tuy nhiên dạo quanh trong chợ, người mua vẫn tìm được cho mình những quầy hàng bán lẻ. Bên trong, chợ được chia làm 3 tầng chủ yếu với đầy đủ các mặt hàng thiết yếu. Tầng trệt: Ngay từ cửa vào là những hàng bán quần áo, kính râm, giày dép, vali cho đến đồ điện tử như điện thoại, cáp xạc, pin sạc, đèn pin siêu sáng, loa, đài radio...nhưng chủ yếu là những mặt hàng xuất xứ từ Trung Quốc. Tầng 2: Là khu vực bán buôn bán lẻ quần áo cho người lớn và các loại vải vóc, gấm, lụa,.... Tầng 3: Chủ yếu người ta bán đồ dành cho trẻ sơ sinh.... Phía sau chợ có các hàng bán chim thú cảnh. Hàng thực phẩm và ăn uống chủ yếu bán ở chợ Bắc Qua. Phía Bắc của chợ, là các hàng ăn, phục vụ khách cả ăn đêm. Xung quanh chợ lúc nào cũng đông đúc nhộn nhịp. Hàng hóa từ đây vận chuyển đi khắp các tỉnh phía Bắc. == Xem thêm == Quận Hoàn Kiếm Chợ Hàng Bè == Tham khảo == == Liên kết ngoài == Phố Đồng Xuân Chợ Đồng Xuân
giáo dục và khoa cử thời trần.txt
Giáo dục và khoa cử thời Trần trong lịch sử Việt Nam phản ánh hệ thống trường học và chế độ khoa cử nước Đại Việt từ năm 1226 đến năm 1400. == Hệ thống giáo dục == Khi Phật giáo được nhà Trần coi trọng và thịnh hành, Nho giáo đóng vai trò thứ yếu. Tuy nhiên Nho học cũng từng bước thâm nhập vào xã hội qua hệ thống giáo dục. Sách học chính được quy định gồm có Ngũ Kinh, Tứ Thư, Bắc sử. Ban đầu chỉ có nhà chùa là nơi dạy chữ Nho và các sách sử. Sau này, nhiều nhà nho và thái học sinh không làm quan, về nhà dạy học. Hệ thống trường lớp tại các địa phương được hình thành. Một trong những người thầy xuất sắc nhất là Chu Văn An. == Chế độ khoa cử == Sau khi thành lập không lâu, nhà Trần bắt đầu thực hiện chế độ khoa cử để chọn người tài giúp nước. Năm 1232, nhà Trần mở khoa thi đầu tiên. Năm 1247, triều đình đặt lệ thi lấy Tam khôi gồm 3 người đỗ đầu là trạng nguyên, bảng nhãn, thám hoa và quy định cứ 7 năm mở 1 khoa thi. Năm 1255, nhà Trần đặt lệ lấy 2 trạng nguyên: 1 kinh trạng nguyên dành cho các lộ phía bắc và 1 trại trạng nguyên dành cho Thanh Hóa và Nghệ An để khuyến khích việc học của phương nam. Năm 1275 lệ này bãi bỏ vì không cần thiết nữa. Năm 1304, triều đình quy định rõ nội dung thi 4 trường: Trường 1: thi ám tả cổ văn Trường 2: thi kinh nghi, kinh nghĩa, thơ phú Trường 3: thi chế, chiếu, biểu Trường 4: thi đối sách Sau đó triều đình mở kỳ thi Đình để phân hạng cao thấp cho thái học sinh. Từ khoa thi năm 1304 có danh hiệu "hoàng giáp" trong thi cử. Năm 1396, Trần Thuận Tông ban chiếu quy định cách thức thi Hương, thi Hội bằng thể văn 4 kỳ, và định rõ: "Cứ năm trước thi Hương thì năm sau thi Hội, người đỗ thì vua ra một bài văn sách để xếp bục". Lệ thi 4 trường được quy định lại như sau: Trường 1: thi kinh nghĩa (bỏ thi ám tả cổ văn) Trường 2: thi thơ phú (một bài Đường luật, một bài phú thể ly tao hoặc văn tuyển) Trường 3: thi chế, chiếu, biểu (dùng thể văn chữ Hán) Trường 4: thi văn sách Khoa cuối cùng chưa kịp yết bảng tên người đỗ thì nhà Trần bị nhà Hồ giành ngôi (1400). Những người đỗ đạt được bổ nhiệm vào chức vụ ở viện Hàn lâm, các cơ quan hành khiển, sung vào các phái bộ sứ thần hoặc tiếp sứ phương Bắc. Họ trở thành bộ phận quan trọng trong bộ máy nhà nước, có những đóng góp quan trọng trọng lĩnh vực chính trị, ngoại giao như Nguyễn Hiền, Mạc Đĩnh Chi, Nguyễn Trung Ngạn, Phạm Sư Mạnh, Lê Quát… == Các kỳ thi == Trong 175 năm tồn tại, nhà Trần đã tổ chức 14 khoa thi (10 khoa chính thức và 4 khoa phụ), lấy 283 người đỗ. Có 2 khoa thi 1256 và 1266 lấy 2 trạng nguyên là Kinh trạng nguyên và Trại trạng nguyên nên tổng số có 12 người đỗ đầu trong các kỳ thi. == Xem thêm == Nhà Trần Khoa bảng Việt Nam Giáo dục khoa cử thời Lê Sơ Giáo dục khoa cử thời Mạc == Tham khảo == Lê Quý Đôn (2007), Kiến văn tiểu lục, Nhà xuất bản Văn hóa thông tin Trương Hữu Quýnh, Đinh Xuân Lâm, Lê Mậu Hãn chủ biên (2008), Đại cương lịch sử Việt Nam, Nhà xuất bản Giáo dục Trần Xuân Sinh (2006), Thuyết Trần, Nhà xuất bản Hải Phòng Mai Hồng (1989), Các trạng nguyên nước ta, Nhà xuất bản Giáo dục == Chú thích ==
macedonia (vùng).txt
Macedonia ( /ˌmæsɪˈdoʊniə/) là miền địa lý và lịch sử trên bán đảo Balkan ở Nam Âu, biên giới thay đổi vào đầu thế kỷ 20. Tiếng Hán phiên âm là Mã Cơ Đốn. Nó chiếm khoảng 67.000 km² và có dân số 4,76 triệu người. Không ai chính thức chấp nhận những biên giới này, nhất là vì bao gồm những phần Bulgaria, Serbia, và Albania mà không được gọi "Macedonia". Lãnh thổ này ứng với lưu vực các sông (từ phía tây sang phía đông) Aliákmon, Vardar/Axios, và Struma/Strymon (trong đó, sông Axios/Vardar rút nước khỏi vùng đất lớn nhất) và đồng bằng chung quanh Thessaloniki và Serres. Cả miền này bao gồm năm quốc gia Balkan: Hy Lạp, Cộng hòa Macedonia, Bulgaria, và những phần nhỏ của Albania, Kosovo và Serbia. == Tham khảo ==
tống bình.txt
Tống Bình(宋平) là địa danh cũ ở đồng bằng Bắc Bộ có từ thời Nam Bắc Triều tới khoảng giữa thời nhà Đường của Trung Quốc. Địa bàn bao gồm nam Hà Nội (phần phía nam sông Hồng và sông Đuống), đông tỉnh Hà Tây cũ, bắc Hưng Yên và nam Bắc Ninh. == Lịch sử == Trong thời kỳ cai trị của người Trung Quốc nó từng có tên là huyện Tống Bình thuộc quận Giao Chỉ, đặt ra từ thời Hiếu Vũ Đế nhà Lưu Tống (454-464), tách ra từ huyện Long Biên đời Tấn. Sau đó, huyện Tống Bình được nâng cấp lên quận Tống Bình, gồm 3 huyện: Nghĩa Hoài, Tuy Ninh ở bờ nam sông Hồng (đoạn Từ Liêm, Hoài Đức ngày nay), còn Xương Quốc ở bờ bắc (Đông Anh, Gia Lâm ngày nay). Quận trị là vùng nội thành Hà Nội hiện nay. Sau khi nhà Tùy thống nhất Trung Quốc (năm 589) và chiếm nước Vạn Xuân (602) đã đặt lại Tống Bình làm huyện. Từ thời Đại Nghiệp (605-616), Tống Bình là quận trị quận Giao Chỉ. Năm Vũ Đức thứ 4 nhà Đường (621), đổi tên thành Tống Châu, năm thứ 6 thành châu Nam Tống. Năm Trinh Quán thứ nhất (627), bỏ châu, tách một phần khôi phục lại Tống Bình. Từ năm Bảo Lịch thứ 1 (725) là phủ trị của An Nam đô hộ phủ. Năm 767, Trương Bá Nghi cho xây thành đất tại Tống Bình, sau được Cao Biền củng cố (866), gọi là La Thành. Tên gọi Tống Bình tồn tại khoảng hơn 400 năm. Trong lịch sử Việt Nam thời Bắc thuộc, cái tên này gắn với chiến thắng mang tính quyết định của Bố Cái Đại Vương Phùng Hưng, vị anh hùng đã khởi nghĩa chống lại ách thống trị nhà Đường (đánh chiếm thành Tống Bình năm 791). Ngoài ra còn phải kể đến cuộc khởi nghĩa chống thuế của Lý Tự Tiên và Đinh Kiến chiếm thành Tống Bình, chém chết quan đô hộ là Lưu Diên Hựu năm 687; và cuộc tấn công chiếm thành Tống Bình của Mai Thúc Loan năm 714. == Xem thêm == Hà Nội Giao Chỉ Giao Châu Phùng Hưng == Tham khảo ==
emmanuel macron.txt
Emmanuel Macron (tiếng Pháp: [ɛmanɥɛl makʁɔ̃]; sinh 21 tháng 12 năm 1977) là đương kim Tổng thống Pháp. Ông từng là công chức cao cấp, cựu chuyên viên ngân hàng đầu tư. Sinh ra tại Amiens, ông học triết học tại Đại học Paris-Nanterre, và sau đó tốt nghiệp tại École nationale d'administration (ENA) vào năm 2004. Ông trở thành một thanh tra tài chính tại Tổng cục Thanh tra Tài chính Pháp (IGF) trước khi trở thành một chuyên viên ngân hàng đầu tư tại Ngân hàng Rothschild & Cie Banque. Từng là một thành viên của Đảng Xã hội Pháp (PS) 2006-2009, ông được bổ nhiệm làm Phó tổng thư ký thuộc chính phủ đầu tiên của François Hollande trong năm 2012, trước khi được bổ nhiệm làm Bộ trưởng Bộ Kinh tế, Công nghiệp và Kỹ thuật số vào năm 2014 thuộc Chính phủ Valls thứ hai, nơi ông thúc đẩy thông qua cải cách thuận lợi cho các doanh nghiệp. Ông từ chức vào tháng 8 năm 2016, để khởi động một phong trào tự do xã hội trong cuộc bầu cử tổng thống năm 2017. Tháng 11 năm 2016, Macron tuyên bố, ông sẽ đứng ra tranh cử Tổng thống Pháp dưới ngọn cờ của Tiến bước!, một phong trào chính trị trung dung "không thuộc cánh Hữu lẫn cánh Tả" mà ông thành lập vào tháng 4 năm 2016. Những người ủng hộ ông cho ông là "Kennedy của Pháp'". Về lý tưởng, ông đã được mô tả là một người theo chủ nghĩa trung dung và chủ nghĩa tự do. Ông đạt được nhiều phiếu nhất trong vòng đầu cuộc Bầu cử tổng thống Pháp 2017, thắng tiếp vòng hai trước Marine Le Pen với tỉ lệ phiếu ủng hộ 66,1% trong cuộc bỏ phiếu ngày 7 tháng 5 năm 2017 và nhậm chức tổng thống Cộng hòa Pháp từ ngày 14 tháng 5 năm 2017, trở thành tổng thống Pháp trẻ nhất trong lịch sử. == Thuở nhỏ và học vấn == Sinh ra tại Amiens, Emmanuel Jean-Michel Frédéric Macron là con trai của Jean-Michel Macron, một giáo sư Thần kinh học tại đại học Picardy, và Françoise Macron-Noguès, cũng là một bác sĩ. Ông được đào tạo chủ yếu là ở trường trung học La Providence ở Amiens, trước khi cha mẹ ông gửi ông đến trường trung học ưu tú Lycée Henri IV tại Paris để kết thúc năm cuối. Ông học Triết học tại Đại học Paris-Ouest Nanterre La Défense, được bằng DEA. Ông cũng được bằng cử nhân về quan hệ công chúng tại Sciences Po, trước khi được đào tạo cho một sự nghiệp công chức cao cấp tại École nationale d'administration (ENA), tốt nghiệp năm 2004. == Sự nghiệp công và tư == === Thanh tra tài chính === Tại ENA, Macron tốt nghiệp chuyên ngành Thanh tra tài chính (IGF). Ông tham gia chủ yếu vào các vụ việc "đánh giá nghiên cứu", "gian lận khoản hoàn trả bắt buộc và kiểm toán" và "phân loại các khoản hoàn trả bắt buộc giữa các đối tác và những vấn đề hợp pháp về mối quan hệ giữa các bên". Macron làm thanh tra tài chính tại Bộ Kinh tế Pháp từ năm 2004 đến năm 2008. Năm 2007, ông làm Phó báo cáo viên cho Ủy ban để cải thiện tốc độ tăng trưởng của Pháp (Ủy ban Attali) do Jacques Attali lãnh đạo. Ngày 30 tháng 6 năm 2008, Macron kiêm chức báo cáo viên về các vấn đề luật pháp. Năm 2016, ông xin nghỉ chức vụ thanh tra thuế. Tổng cộng, ông có 10 năm phục vụ cho Nhà nước, nhưng thực chất chỉ phục vụ 6 năm (do 2 năm làm Bộ trưởng cùng 2 năm làm cố vấn chính phủ được miễn nhiệm). === Nhân viên ngân hàng === Tháng 9 năm 2008, Macron sau đó chuyển sang làm việc như một nhân viên ngân hàng đầu tư tại Rothschild & Cie Banque. Dưới sự giới thiệu của Attali và Serge Weinberg, Macron được tuyển dụng bởi giám đốc François Henrot. Sau này ông nói việc thất bại trong việc tranh cử ở địa phương cũng như việc Nicolas Sarkozy đắc cử Tổng thống Pháp đã giúp ông có quyết tâm làm công việc ở đây. Năm 2010, Macron làm tình nguyện viên cho công ty Société des rédacteurs du Monde (SRM) trong phi vụ bán lại tờ báo lớn nhất nước Pháp, Le Monde. Ông thiết lập quan hệ với Alain Minc, người đang vận động lấy lời đề nghị từ Perdriel-Prisa-Orange trong khi bản thân lời đề nghị này "vô cùng nguy hiểm" cho tòa báo. Cuối cùng ông bị bắt gặp tại tầng 6 của một tòa nhà bởi Adrien de Tricornot, phó chủ tịch của SRM, người sau đó quyết định cho ông nghỉ việc khỏi công ty. Tới cuối năm 2010, Macron trở thành một cổ đông của ngân hàng Rothschild. Tháng 2 năm 2012, ông làm trợ lý cho Philippe Tillous-Borde, giám đốc của Sofiprotéol và sở hữu 41% vốn của Lesieur Cristal. Cùng năm, ông thực hiện một trong những thỏa thuận lớn nhất của năm khi Nestlé mua lại một phần của Pfizer. Phi vụ trị giá tới 9 tỉ € trực tiếp biến Macron thành triệu phú. Tháng 5 năm 2012, khi được đề bạt làm Phó tổng thư ký điện Élysée, ông khai báo tài khoản cá nhân với 2 triệu € trước thuế. Theo báo cáo từ Cao ủy về sự trong sạch chính trị, Macron đã kiếm được hơn 2,8 triệu € trước thuế trong giai đoạn 2009-2013. == Sự nghiệp chính trị == Macron là một thành viên của Đảng Xã hội Pháp (PS) từ năm 2006 đến năm 2009. Từ năm 2012 đến năm 2014, ông giữ chức Phó tổng thư ký của điện Élysée, một vai trò cao cấp trong đội ngũ nhân viên của Tổng thống Hollande. Ông được bổ nhiệm làm Bộ trưởng Bộ Kinh tế, Công nghiệp và Kỹ thuật số trong Nội các thứ hai của thủ tướng Valls vào ngày 26 tháng 8 năm 2014, thay thế Arnaud Montebourg. Làm Bộ trưởng Bộ Kinh tế, Macron đi đầu trong việc thúc đẩy thông qua cải cách thuận lợi cho doanh nghiệp. Vào tháng 2 năm 2015, ông cam kết rằng chính phủ sẽ thúc đẩy thông qua cải cách bất chấp sự phản đối của quốc hội. Tuyên bố được đưa ra để đáp ứng với áp lực Ủy ban châu Âu về các mục tiêu thâm hụt công nhiều lần bỏ lỡ. Trong năm 2015, trong một cuộc phỏng vấn trên đài truyền hình BFM, ông nói rằng ông đã không còn là một thành viên của PS và bây giờ là một chính trị gia độc lập. === Sáng lập đảng và tranh cử tổng thống === Vào ngày 30 tháng 8 năm 2016, Macron từ chức bộ trưởng trước cuộc bầu cử tổng thống năm 2017, với dự định phát động một cuộc tranh cử của khối tự do xã hội cho chức tổng thống. Điều này xảy ra ngay sau khi ông thành lập phong trào chính trị tiến bộ của riêng mình, Tiến Bước !, một đảng chính trị độc lập, vì lý do này mà ông đã bị Tổng thống Hollande khiển trách. Ngày 16 tháng 11 năm 2016, Macron chính thức tuyên bố ứng cử chức tổng thống Pháp sau khi dân chúng suy đoán nhiều tháng. Trong bài phát biểu thông báo, Macron kêu gọi một "cuộc cách mạng dân chủ" và hứa sẽ "khai thông Pháp". Trong tháng 2 năm 2017 các cuộc thăm dò ý kiến cho thấy, Macron sẽ đạt được trong vòng đầu tiên 21-23% số phiếu bầu và trong vòng nhì sẽ đánh bại Marine Le Pen (25-27%). Tại thời điểm này, Tiến bước! có khoảng 136.000 thành viên và có được đóng góp tổng cộng 4.000.000 €. Theo các nhà quan sát chính trị, chương trình của Macron được phân loại là tự do về kinh tế, tự do xã hội và ủng hộ Liên minh châu Âu. Cũng trong tháng 2, ông bị nhiều chỉ trích vì những tuyên bố của ông về quá khứ thực dân Pháp - Macron cho việc đô hộ của Pháp đối với Algeria trong chuyến thăm tới nước này như là một "tội ác chống lại loài người" - và mất nhiều phần trăm số phiếu trong một số cuộc thăm dò. Vào ngày 22, Francois Bayrou thuộc cánh Giữa tuyên bố ủng hộ cho Macron, điều này một lần nữa làm tăng số phiếu trong các cuộc thăm dò ý kiến. Ngày 02 tháng 3 năm 2017, Macron trình bày chương trình của mình cho cuộc bầu cử tổng thống Pháp vào ngày 07 Tháng 5 năm 2017 rằng, trong số những thứ khác, cải tổ bảo hiểm hưu trí và thất nghiệp, thêm nhiều giáo viên và cảnh sát ở các khu vực có nhiều vấn đề xã hội, dân chủ hóa Liên minh châu Âu, các tổ chức chung cho khu vực đồng Euro và các điều kiện tốt hơn cho các doanh nghiệp mới khởi nghiệp. Theo các thăm dò ý kiến mới nhất (đầu tháng 3) Macron lần đầu tiên trong vòng đầu qua mặt Le Pen. Theo Odoxa, Macron được 27%, Le Pen 25,5%. Ứng cử viên của đảng Bảo thủ Francois Fillon, chỉ được 19%. Macron tập hợp được rất nhiều người ủng hộ, nhận được sự tán thành từ François Bayrou của Phong trào Dân chủ, đại biểu nghị viện châu Âu Daniel Cohn-Bendit, ứng cử viên sinh thái Francois de Rugy của đảng primary of the left, và đại biểu xã hội chủ nghĩa Richard Ferrand, tổng thư ký của Tiến Bước !, cũng như nhiều người khác - nhiều người trong số họ từ đảng PS, ngoài ra còn một số đáng kể các chính trị gia trung tâm và trung hữu. == Vị trí chính trị == Emmanuel Macron được mô tả bởi một số nhà quan sát như một người tự do xã hội và những người khác như là một nhà dân chủ xã hội. Trong suốt thời gian của ông trong Đảng Xã hội Pháp, ông ủng hộ cánh bảo thủ của đảng, có lập trường chính trị gắn liền với "con đường thứ ba", chính sách tiên tiến của Bill Clinton, Tony Blair và Gerhard Schröder, mà phát ngôn viên hàng đầu là cựu thủ tướng Manuel Valls. Macron đặc biệt chủ trương ủng hộ thị trường tự do và giảm thâm hụt tài chính công. Macron công khai sử dụng thuật ngữ "tự do" để mô tả bản thân mình lần đầu tiên vào năm 2015 trong một cuộc phỏng vấn với tờ Le Monde. Ông nói thêm rằng, ông chắc chắn là "không phải là người tự do quá mức", "không thuộc cánh Hữu lẫn cánh Tả", và ông chủ trương "một tập thể đoàn kết." Trong một chuyến thăm viếng Vendée trong tháng 8 năm 2016, ông nói, " Thành thật mà nói tôi không phải là một người theo xã hội chủ nghĩa". Ông giải thích, ông là một phần của "chính phủ cánh tả" vào thời điểm đó bởi vì ông muốn "phục vụ lợi ích công cộng" như bất kỳ bộ trưởng nào cũng sẽ làm. Trong cuốn sách của ông, Cách mạng, được công bố vào tháng 11 năm 2016, Macron giới thiệu mình, vừa là một người theo "cánh tả" và vừa theo "tự do... nếu tự do có nghĩa là tin tưởng vào con người." Với đảng Tiến Bước ! của ông, mục đích của Macron là để vượt qua sự chia rẽ Tả-Hữu trong một cách tương tự như François Bayrou hoặc Jacques Chaban-Delmas, khẳng định rằng, "sự phân chia thực sự ở nước ta... là giữa cấp tiến và bảo thủ". Với tuyên bố ứng cử độc lập và sử dụng tài hùng biện của mình chống lại nhóm có thế lực chính trị (anti-establishment rhetoric), Macron được một số nhà quan sát, đặc biệt là Manuel Valls, dán nhãn là một người theo "chủ nghĩa dân túy", nhưng ông bác bỏ thuật ngữ này. Về lý tưởng, ông đã được mô tả là một người theo chủ nghĩa trung dung và chủ nghĩa tự do. === Môi trường === Trước thềm Hội nghị Liên Hiệp Quốc về Biến đổi Khí hậu 2015, Macron kêu gọi đẩy nhanh quá trình chuyển đổi sinh thái và chủ trương một "cân bằng giữa cần thiết về sinh thái và các nhu cầu kinh tế", một mục tiêu mà chính phủ Pháp tìm cách đạt được qua các trận đánh trên "năm mặt trận": "Sáng tạo"," Đơn giản hóa "," tăng cường hiệu quả năng lượng của chúng ta và [...] giảm sử dụng nhiên liệu hóa thạch "," khả năng cạnh tranh năng lượng " và " hành động ở châu Âu và trên toàn thế giới ". Trong mùa hè năm 2016, ông bảo vệ việc sử dụng nhiên liệu diesel mà ông tin rằng không nên "săn đuổi" vì nó "vẫn là trung tâm của các chính sách công nghiệp Pháp". Macron bày tỏ quan điểm này sau hậu quả của vụ bê bối khí thải Volkswagen mà ông bị đảng mình chỉ trích nặng nề. Ngoài ra, Macron ủng hộ việc sử dụng năng lượng hạt nhân mà ông cho là "một sự lựa chọn của Pháp và một sự lựa chọn cho tương lai". Trong mùa hè năm 2016, Macron đề xuất rằng, Pháp "đảm bảo nguồn cung cấp các vật liệu chiến lược nhất của nó sử dụng ba đòn bẩy: nền kinh tế tuần hoàn và sự phục hồi của vật liệu chứa trong các sản phẩm khi nó hết được dùng [...]; Sự đa dạng hóa các nguồn cung cấp để vượt qua địa chính trị rủi ro [...] và tăng thêm tính cạnh tranh; tạo ra các mỏ có kích thước hợp lý mới tại Pháp, trong khi theo các tiêu chuẩn "xã hội và môi trường tốt nhất". Mặc dù ông hoài nghi về việc xây dựng Aéroport du Grand Ouest, Macron tin rằng việc xây dựng nên bắt đầu từ khi dự án được ủng hộ trong cuộc trưng cầu dân ý địa phương 2016. === Liên minh châu Âu === Emmanuel Macron đã được mô tả bởi một số người như thân liên minh châu Âu (europhile) và theo chủ nghĩa liên bang Nhưng ông mô tả mình là "không ủng hộ liên minh châu Âu, không chỉ trích nó, cũng không theo chủ nghĩa liên bang theo nghĩa cổ điển", và đảng của ông là "lực lượng chính trị ở Pháp duy nhất ủng hộ liên minh châu Âu ". Trong tháng 6 năm 2015, Macron và người đồng nhiệm Đức Sigmar Gabriel công bố một nền tảng ủng hộ việc tiếp tục hội nhập châu Âu. Họ ủng hộ việc tiếp tục "cải cách cơ cấu (như thị trường lao động), cải cách thể chế (bao gồm các lĩnh vực quản trị kinh tế)", nhưng cũng là một sự hòa giải của 'thuế và hệ thống xã hội (như phối hợp tốt hơn hay hài hòa các loại thuế đánh vào các công ty thông qua, ví dụ, mức lương tối thiểu). " Ông cũng ủng hộ việc tạo ra một chức vụ Ủy viên EU chịu trách nhiệm cho khu vực đồng euro (Eurozone) và nghị viện Eurozone và một ngân sách chung Ngoài ra, Macro nói:" tôi đang ủng hộ việc tăng cường các biện pháp chống bán phá giá mà phải nhanh hơn và mạnh mẽ hơn như những biện pháp ở Hoa Kỳ. Chúng ta cũng cần phải thiết lập một cơ sở giám sát các khoản đầu tư nước ngoài trong các lĩnh vực chiến lược ở cấp EU nhằm bảo vệ một ngành công nghiệp quan trọng và để đảm bảo chủ quyền của chúng ta và sự vượt trội của châu Âu. " Vào tháng 7 năm 2015, trong khi thách thức "câu hỏi được đặt ra" trong cuộc trưng cầu dân ý của Hy Lạp năm 2015, Macron kêu gọi không gây ra "cuộc tách rời tự động" của Hy Lạp từ Eurozone và "không làm Hòa ước Versailles của Eurozone" trong trường hợp bên nói "không" thắng. Ông tin rằng các nhà lãnh đạo Hy Lạp và châu Âu cùng gây ra cuộc khủng hoảng nợ chính phủ Hy Lạp, và các thỏa thuận đạt được trong mùa hè 2015 giữa Hy Lạp và các chủ nợ, đặc biệt được François Hollande thúc đẩy, sẽ không giúp đỡ Hy Lạp trong việc đối phó với món nợ, trong khi cùng lúc chỉ trích Quỹ Tiền tệ Quốc tế. Vào tháng 6 năm 2016, ông chỉ trích các chính sách thắt lưng buộc bụng đối với Hy Lạp, coi chúng là không bền vững và kêu gọi thành lập "những cơ chế tài chính và tinh thần đoàn kết tài chính" chung và một cơ chế để tái cơ cấu nợ của các quốc gia thành viên Eurozone. Yanis Varoufakis, Bộ trưởng Bộ Tài chính trong nội các đầu tiên của Alexis Tsipras, ca ngợi Macron, gọi ông là "bộ trưởng Pháp duy nhất trong chính quyền Francois Hollande dường như hiểu được những gì đang bị đe dọa trong khu vực đồng euro", và là người, theo ông ta, "cố gắng để đóng vai trò trung gian giữa chúng tôi [Hy Lạp] và Troika chủ nợ của chúng tôi [EC, IMF, ECB], thậm chí nếu họ không cho phép anh ta đóng vai trò này ". Ông hỗ trợ Hiệp định Thương mại tự do EU-Canada (CETA) thiết lập giữa Canada và Liên minh châu Âu, chỉ trích chính phủ Wallonie vì cố gắng ngăn chặn nó. Ông cho rằng CETA không nên được xác nhận bởi quốc hội quốc gia vì "nó làm xói mòn EU". Về Hiệp định thương mại tự do xuyên Đại Tây Dương (TTIP), Macron bày tỏ trong tháng 6 năm 2016 rằng, "các điều kiện [ký hiệp ước] không được đáp ứng", và thêm rằng chúng ta "không nên đóng cửa hoàn toàn" và "cần một liên kết mạnh mẽ với Mỹ". === Chính sách đối ngoại === Về Syria, Macron cho biết quan điểm: "theo con đường chính giữa giữa việc tẩy chay chính trị của chế độ Assad và hỗ trợ độc quyền cho các phiến quân," phù hợp với chính sách chính phủ Pháp theo đuổi từ năm 2011. Ông cũng chống lại phong trào BDS chống Israel (Boycott, Divestment and Sanctions Movement), và từ chối nêu một quan điểm về việc công nhận Nhà nước Palestine. === Di dân === Không giống như nhiều đảng viên đảng Xã hội Pháp, bao gồm Manuel Valls, Macron hỗ trợ các chính sách mở cửa đối với những người nhập cư và người tị nạn theo đuổi bởi Angela Merkel ở Đức. Macron bày tỏ sự tin tưởng vào khả năng của Pháp để hấp thụ nhiều hơn những người nhập cư và chào đón họ vào châu Âu, khẳng định rằng dòng người đi vào sẽ có tác động tích cực về kinh tế. Tuy nhiên, ông tin rằng Frontex "không phải là một chương trình đầy đủ tham vọng" và kêu gọi đầu tư nhiều hơn ở quân đội bờ biển và biên phòng ", bởi vì bất cứ ai bước vào [Châu Âu] tại Lampedusa hay ở nơi khác là một mối quan tâm cho tất cả các nước châu Âu." Về chính sách tị nạn, ông tin rằng "thời gian đánh giá cần được rút ngắn đáng kể" và rằng "tất cả những ai không được công nhận tị nạn, phải bị trục xuất ngay lập tức." === Chủ nghĩa thế tục === Vào tháng 7 năm 2016, tại cuộc họp đầu tiên của Tiến bước !, Macron bày tỏ sự phản đối việc cấm khăn trùm đầu Hồi giáo ở các trường đại học, nói, "Cá nhân tôi không tin rằng chúng ta nên phát minh ra các văn bản mới, luật mới, tiêu chuẩn mới, để săn lùng khăn che mặt tại các trường đại học và đi theo những người mặc biểu tượng tôn giáo trong các chuyến đi thực địa." Trong một cuộc phỏng vấn với tạp chí tin tức Pháp Marianne, Macron khẳng định rằng "chủ nghĩa thế tục không được thiết kế để thúc đẩy một tôn giáo cộng hòa", và trả lời ý kiến ​​của Manuel Valls và Jean-Pierre Chevènement liên quan đến việc thực hành của Hồi giáo trong xã hội Pháp bằng cách lên án quan điểm cho rằng công dân cần phải "kín đáo" trong thực hành tôn giáo của họ, nói rằng "tiền lệ lịch sử cho thấy khi chúng ta đòi hỏi kín đáo trong vấn đề tôn giáo đã không mang lại danh dự cho nền Cộng hòa." Trong cùng cuộc phỏng vấn, Macron nói về người Pháp theo đạo Hồi, "tôi hỏi một điều: hoàn toàn tôn trọng các quy tắc trong khi ở nơi công cộng. Các mối quan hệ tôn giáo là về sự siêu nghiệm, và tôi không yêu cầu mọi người vừa phải - đó không phải là những gì tôi đang tranh cãi. Đức tin sâu xa của tôi là một người công giáo có thể tin rằng pháp luật.. tôn giáo của mình vượt lên trên pháp luật của nước cộng hoà. Tôi chỉ đơn giản tin rằng, khi một người bước vào khu vực công cộng, pháp luật của nước cộng hoà phải thắng thế hơn pháp luật tôn giáo. " Cũng trong cùng cuộc phỏng vấn, Macron lên án "các trường tôn giáo mà dạy hận thù đối với nước Cộng hòa, với sự hướng dẫn chủ yếu trong tiếng Ả Rập hoặc, trong trường hợp khác, mà dạy Torah hơn nguyên tắc cơ bản." Tuyên bố này gây ra một phản ứng tiêu cực mạnh mẽ từ Fonds Juif xã hội Unifié (FSJU), một tổ chức vận hành các trường tôn giáo của người Do Thái tại Pháp. === An ninh và khủng bố === Macron tin rằng dự luật cải cách được đề xuất về tước quyền công dân cho công dân sinh ra ở Pháp và vào quốc tịch bị kết án về tội khủng bố không phải là một "giải pháp cụ thể" và tin rằng "sự kéo dài vô tận của tình trạng khẩn cấp đặt ra các câu hỏi chính đáng". Ông chủ trương tăng quỹ nhà nước cho các cơ quan tình báo. Macron kêu gọi sự phục hồi chính sách cảnh sát làm việc chặc chẽ với cộng đồng và cho rằng "việc quản lý một số rủi ro lớn phải được giao cho các hiệp hội hoặc khu vực tư nhân". Ông cũng cho rằng, đề nghị của mình, cung cấp cho mỗi người tuổi thành niên mới lớn một " Thẻ Văn hóa" trị giá 500 € có thể khuyến khích những người trẻ tuổi khám phá văn hóa của Pháp và ngăn chặn chủ nghĩa khủng bố. == Gia đình == Macron kết hôn với Brigitte Trogneux, người lớn hơn ông 24 tuổi và là cô giáo cũ của ông tại trường trung học La Providence, Amiens, dạy tiếng Latin và tiếng Pháp. Hai người gặp nhau lần đầu khi ông còn là một học sinh 15 tuổi trong lớp của bà, nhưng họ chỉ chính thức hẹn hò khi ông được 18 tuổi. Cha mẹ của ông ban đầu cố gắng tách rời hai người bằng cách gửi ông đến Paris để hoàn tất năm cuối cùng của bậc trung học do họ nhận thấy ông còn trẻ và mối quan hệ này không phù hợp. Tuy nhiên, cả hai vẫn ở với nhau sau khi ông tốt nghiệp rồi kết hôn vào năm 2007. Vợ chồng ông sống cùng với ba người con riêng (cả hai chưa có con chung) từ cuộc hôn nhân trước đây của Trogneux, trong đó một người con gái Tiphaine Auziere, sinh năm 1984 và hiện là một luật sư. Tiphaine hiện có 2 người con và thôi làm việc để giúp Macron thành lập đảng Tiến bước! Laurence, người con gái lớn tuổi hơn, bây giờ là bác sĩ về tim, chuyên về các bệnh tim mạch, không những sinh cùng năm với Macron (1977) mà hóm hỉnh thay còn học chung cùng một lớp. Bà có lần kể về một học sinh cùng lớp:"Trong lớp tôi có một anh chàng mà không thể tưởng tượng được. Cái gì hắn cũng biết". Macron, người được nhắc đến, trong khi tập trình diễn kịch vào năm 1993 đã yêu phải cô giáo mà cũng là huấn luyện viên về kịch và là mẹ của Laurence. Laurence tuyên bố, trong tương lai sẽ cổ vũ cho những mục tiêu chính trị của Macron. Còn Sébastien Auzière, người con trai lớn tuổi nhất, lại lớn hơn Macron tới 3 tuổi, là kỹ sư, chuyên viên về thống kê, làm việc về vấn đề nghiên cứu thị trường. Trong thời gian tranh cử của Macron, ông chăm sóc về sự hiện diện của ông ta trong các mạng xã hội. == Chú thích ==
danh sách quốc gia.txt
Danh sách quốc gia này bao gồm các quốc gia độc lập chính danh (de jure) và độc lập trên thực tế (de facto). Theo Điều 1, Công ước Montevideo năm 1933, một quốc gia có chủ quyền phải có những đặc điểm sau: (a) dân số ổn định, (b) lãnh thổ xác định, (c) chính phủ, và (d) khả năng quan hệ với các quốc gia khác. Thực tế có một vài quốc gia tuy tuyên bố là "độc lập" nhưng không được quốc tế công nhận là một thực thể chính trị (không đáp ứng điểm d). Ngược lại có vài nước đã được công nhận rộng rãi (chính danh) nhưng chính phủ không có đủ quyền hạn (điểm c bị hạn chế). Danh sách này gồm cả các quốc gia đó, với chú thích cho từng trường hợp. == Các mục tương ứng == 193 quốc gia thành viên Liên Hiệp Quốc 2 quan sát viên tại Liên Hiệp Quốc: Thành Vatican, Palestine. 2 quốc gia được nhiều nước thừa nhận, độc lập trên thực tế: Trung Hoa Dân quốc (Đài Loan), Kosovo. 1 quốc gia được nhiều nước thừa nhận, nhưng thực tế không độc lập: Tây Sahara. 6 quốc gia tuy tuyên bố là độc lập nhưng không được cộng đồng quốc tế thừa nhận: Abkhazia (quốc gia này duy nhất Nga công nhận), Bắc Síp (riêng nước này được duy nhất Thổ Nhĩ Kỳ công nhận), Nagorno-Karabakh, Nam Ossetia (quốc gia này duy nhất Nga công nhận), Somaliland, Transnistria. == A == == Â == == B == == C == == D == == Đ == == E == == F == == G == == H == == I == == J == == K == == L == == M == == N == == O == == P == == Q == == R == == S == == T == == U == == V == == Y == == Z == == Xem thêm == Danh sách quốc gia không còn tồn tại Danh sách quốc gia được công nhận hạn chế Danh sách quốc gia theo diện tích Danh sách quốc gia theo số dân Địa danh thế giới trong tiếng Việt == Chú thích == == Tham khảo == == Liên kết ngoài == Cách gọi tên các nước theo Bộ Ngoại giao Việt Nam Quyết định tạm thời về tên gọi của Bộ Giáo dục và Đạo tạo Việt Nam Địa phương hóa ra tiếng Việt tên các quốc gia dùng trong Dự án Thư mục Dữ liệu Địa phương hóa chung (Common Locale Data Repository) trên trang chính thức của Unicode
đảng cộng sản nhật bản.txt
Đảng Cộng sản Nhật Bản (tiếng Nhật:日本共産党 Nihon kyosantō) ra đời tháng 7 năm 1922 với tư cách một hội chính trị hoạt động dưới sự dẫn dắt trực tiếp của Quốc tế cộng sản (Comintern), nhằm thực hiện chủ trương xây dựng chủ nghĩa cộng sản tại Nhật Bản thông qua cách mạng dân chủ và đấu tranh nghị trường, bảo vệ quyền lợi người lao động và chống chủ nghĩa tư bản. Giai đoạn hậu Chiến tranh thế giới thứ nhất (1918) đến năm 1923 được gọi là thời kỳ dân chủ Đại Chính, theo tên kỷ nguyên và các chính sách tương đối tự do của chính phủ. Trong năm 1918, chính quyền đảng phái đa số đầu tiên được hình thành. Sau trận động đất ghê gớm ở đồng bằng Kantō năm 1923, nội các gồm nhiều chính đảng này đã áp dụng những biện pháp cực kỳ hà khắc triệt thoái các hoạt động của đảng cộng sản bằng cách tuyên truyền cho việc duy trì đạo luật trật tự công cộng năm 1925. Theo đạo luật có tính trấn áp Chủ nghĩa Cộng sản này, Đảng Cộng sản Nhật Bản bị đẩy ra khỏi vòng pháp luật và buộc phải rút vào hoạt động bí mật. Tan rã, nhưng các mầm mống của nó vẫn duy trì bền bỉ trong giới cần lao. Trào lưu vô sản bắt đầu chuyển vào giai đoạn phát triển mang tính chất chính trị và giáo điều hơn, đồng thời ảnh hưởng của chủ nghĩa Marx và Cách mạng tháng Mười Nga lan ra từ đảng cộng sản bí mật đã tác động mạnh mẽ đến số lớn học giả đương thời. Năm 1926, Đảng Cộng sản Nhật Bản hình thành trở lại. Sau năm 1945 đảng được ra hoạt động công khai và trở thành một trong 5 đảng phái lớn trong nội các Nhật Bản. Sau rất nhiều thập niên sử dụng một đường lối không đổi mới, Đảng Cộng sản Nhật Bản đã thất bại lớn trong cuộc bầu cử Hạ viện tháng 11 năm 2003 (mất 11 ghế). Tại đại hội lần thứ 23 năm 2004, Đảng Cộng sản Nhật Bản đã sửa đổi cương lĩnh, từ bỏ đấu tranh cách mạng và chuyên chính vô sản, thừa nhận Nhật Hoàng và lực lượng phòng vệ, tranh thủ lôi kéo các đảng đối lập để tiến tới lập chính quyền liên hiệp dân chủ. == Phương hướng cải cách của Đảng Cộng sản Nhật Bản == Đảng Cộng sản Nhật Bản đánh giá: triển vọng xã hội nhân loại sẽ vượt qua tư bản chủ nghĩa, tiến lên chủ nghĩa xã hội - chủ nghĩa cộng sản. Về quá trình này, Đảng Cộng sản Nhật Bản cho rằng: Xã hội sẽ "phát triển theo từng giai đoạn" thông qua giải quyết từng vấn đề. Sự phát triển đó phải được thực hiện bằng sự đồng thuận và ủng hộ. Trên quan điểm cơ bản này, Đảng Cộng sản Nhật Bản đặt mục tiêu nhiệm vụ trước mắt là "cải cách dân chủ trong khuôn khổ chủ nghĩa tư bản", phấn đấu thành lập chính phủ liên minh dân chủ bằng việc Đảng Cộng sản Nhật Bản và lực lượng mặt trận thống nhất chiếm đa số ổn định trong Quốc hội. Trong cải cách dân chủ, Đảng đặt ra mục tiêu: nước Nhật Bản độc lập, dân chủ, hoà bình và một nước thực sự là "nhân dân làm chủ". Nội dung cải cách có ba điểm chính: Thoát khỏi sự lệ thuộc vào nước Mỹ, huỷ bỏ đồng minh quân sự Nhật-Mỹ và các căn cứ quân sự Mỹ để khôi phục lại toàn bộ chủ quyền, xây dựng nước Nhật Bản độc lập, hoà bình, trung lập, không liên minh. Xây dựng "nền kinh tế có quy chế" để bảo vệ cuộc sống và quyền lợi của nhân dân. Đặc điểm của nền kinh tế Nhật Bản là các doanh nghiệp lớn, giới kinh doanh xây dựng cơ chế để chi phối về mặt kinh tế. Chính quyền lâu năm của Đảng Dân chủ Tự do Nhật Bản (LDP) đã bảo vệ và hỗ trợ cơ chế này. Các quy chế để bảo vệ nhân dân và người lao động thiếu hụt một cách trầm trọng trong những năm gần đây, thậm chí còn bị đẩy lùi hơn nữa. Đảng Cộng sản Nhật Bản chủ trương chuyển đổi chính sách kinh tế một cách căn bản sang chính sách vì lợi ích của nhân dân; xây dựng quy chế bảo vệ cuộc sống nhân dân và các doanh nghiệp vừa và nhỏ, bảo đảm sức mạnh tiêu dùng nhằm phát triển kinh tế lành mạnh. Bảo vệ tất cả các điều khoản hiến pháp Nhật Bản để xây dựng nước Nhật Bản dân chủ vững chắc, không còn nỗi lo lắng về chủ nghĩa quân phiệt. == Quan hệ quốc tế, chính sách đối ngoại == Đảng Cộng sản Nhật Bản đứng trên nguyên tắc độc lập tự chủ, ủng hộ việc tôn trọng độc lập dân tộc, chủ quyền, bình đẳng, hữu nghị, hợp tác giữa các quốc gia, dân tộc và ủng hộ trật tự quốc tế hoà bình theo Hiến chương Liên Hợp Quốc. Đảng Cộng sản Nhật Bản coi trọng hợp tác vì "thế giới không có vũ khí hạt nhân", hợp tác vì trật tự kinh tế thế giới - tôn trọng chủ quyền kinh tế và cơ cấu dân chủ, trong đó có việc quy chế dân chủ đối với doanh nghiệp xuyên quốc gia. Dù chưa phải là đảng cầm quyền, song Đảng Cộng sản Nhật Bản đã và đang đẩy mạnh quan hệ hữu nghị, giao lưu với chính phủ, chính đảng các nước trên nguyên tắc độc lập tự chủ, bình đẳng, không can thiệp nội bộ. Đối với Đảng Cộng sản Việt Nam, Đảng Cộng sản Nhật Bản có quan hệ hữu nghị, đoàn kết truyền thống suốt từ thời kỳ Chiến tranh Việt Nam. Hai Đảng đang hợp tác vì hoà bình châu Á và thế giới. Bên cạnh đó, hai Đảng cũng đang tiến hành giao lưu lý luận mang ý nghĩa quan trọng về chủ nghĩa xã hội (Việt Nam gọi là chủ nghĩa Mác Lênin). == Tình hình hiện nay == Đảng Cộng sản Nhật Bản hiện nay có 406.000 đảng viên và 22.000 chi bộ trong cả nước. Báo Akahata (Cờ Đỏ) có số phát hành 1.450.000 tờ (gồm cả báo hàng ngày và báo Chủ nhật). Phát hành, quảng bá phổ biến báo Akahata là một trong những hoạt động chính của hoạt động xây dựng Đảng. Đảng Cộng sản Nhật Bản từ chối quyên góp của doanh nghiệp và hỗ trợ của nhà nước bằng tiền thuế. Nguồn tài chính của Đảng thu từ đảng phí, quyên góp của người ủng hộ, doanh thu của báo Akahata và các hoạt động kinh tế khác. Báo Akahata hiện có phóng viên tại 6 thành phố trên thế giới là Hà Nội, Washington, D.C, Bắc Kinh, Luân Đôn, Cairo và Mexico City. Trong bầu cử hạ viện tháng 8 năm 2009, Đảng đã giành được 9/480 ghế hạ viện với 4.944.000 phiếu (chiếm 7,03%). Đảng có 7/242 ghế trong thượng viện. Tại cuộc bầu cử thượng viện năm 2007, Đảng đã thu được 4.400.000 phiếu (chiếm 7,5%). Đảng có khoảng 3000 nghị sĩ, trong các nghị viện địa phương. Đảng có ghế nghị viện địa phương tại khoảng 80% chính quyền địa phương các cấp. == Tham khảo ==
giải vô địch bóng đá nữ thế giới.txt
Cúp bóng đá nữ thế giới hay Giải vô địch bóng đá nữ thế giới (tiếng Anh: FIFA Women's World Cup) là giải đấu bóng đá do Liên đoàn bóng đá thế giới (FIFA) tổ chức cho tất cả các đội tuyển bóng đá nữ quốc gia của những nước hội viên FIFA. Giải đấu được đăng cai bốn năm một lần kể từ năm 1991 khi giải đấu đầu tiên, khi đó được gọi là Women's World Championship, được tổ chức ở Trung Quốc. Theo thể thức hiện nay, các đội tuyển quốc gia tranh nhau 23 suất trong thời gian thi đấu vòng loại kéo dài ba năm (đội chủ nhà nghiễm nhiên được trao suất còn lại). Vòng chung kết chính thức được diễn ra tại các địa điểm thi đấu của nước chủ nhà trong khoảng thời gian gần một tháng. Bảy kì World Cup đã qua chứng kiến sự lên ngôi của bốn đội tuyển quốc gia khác nhau, trong đó đội đoạt chức vô địch nhiều lần nhất là Hoa Kỳ (ba lần). Hoa Kỳ cũng là đội đương kim vô địch sau chiến thắng tại Giải vô địch bóng đá nữ thế giới 2015 ở Canada. == Lịch sử == Vào năm 1988 – 58 năm sau World Cup đầu tiên của nam vào năm 1930 — FIFA tổ chức giải đấu khách mời tại Trung Quốc với tính chất thử nghiệm để xem liệu việc tổ chức một kì World Cup nữ có khả thi hay không. Mười hai đội tuyển đã góp mặt trong giải đấu – bốn đội châu Âu, ba đội châu Á, hai đội Bắc Trung Mỹ và Caribe, còn lại Nam Mỹ, châu Phi và châu Đại Dương mỗi khu vực có một đội tham dự. Đội đương kim vô địch châu Âu Na Uy đánh bại Thụy Điển với tỉ số 1–0 trong trận chung kết trong khi Brasil giành vị trí thứ ba sau khi chiến thắng trước đội chủ nhà trong loạt luân lưu. Sự thành công của giải đấu là tiền để để FIFA chính thức phê chuẩn cho sự ra đời của World Cup bóng đá nữ, tổ chức lần đầu năm 1991 một lần nữa tại Trung Quốc. Giải đấu có sự tham gia của 12 đội với nhà vô địch là đội tuyển Mỹ khi đánh bại Na Uy 2-1 trong trận đấu cuối cùng. Ở giải đấu thứ ba năm 1999, một trong những khoảnh khắc đáng nhớ trong lịch sử giải đấu là màn ăn mừng của hậu vệ đội Mỹ Brandi Chastain sau khi thực hiện thành công quả sút luân lưu quyết định trước Trung Quốc. Cô đã cởi bỏ chiếc áo thi đấu và vẫy chiếc áo vòng quanh đầu (giống như nam giới hay làm), để lộ ra cơ bắp và áo nịt ngực vận động của cô. Trận chung kết năm 1999 trên sân Rose Bowl ở Pasadena, California thu hút lượng khán giả kỉ lục 90.185 người cho một sự kiện thể thao nữ. Vào năm 2003 ban đầu Trung Quốc là nước được lựa chọn tổ chức, tuy nhiên giải đấu phải rời sang Hoa Kỳ do dịch SARS hoành hành tại khu vực châu Á. Bù lại, Trung Quốc được giữ quyền đăng cai 2007. Đức tổ chức kì giải tiếp theo vào năm 2011, sau khi được trao quyền đăng cai vào tháng 10 năm 2007. Vào tháng 3 năm 2011, FIFA trao cho Canada quyền tổ chức Giải vô địch bóng đá nữ thế giới 2015, giải đấu đầu tiên có 24 đội tham dự vòng chung kết. Trong giải đấu này Formiga của Brasil và Sawa Homare của Nhật Bản lập kỷ lục sáu lần tham dự các kì World Cup, thành tích mà chưa từng một cầu thủ nào (cả nam hay nữ) từng làm được. Christie Rampone là cầu thủ nữ lớn tuổi nhất từng thi đấu trong một trận đấu khi cô 39 tuổi, 11 tháng, 23 ngày. == Thể thức == === Vòng loại === Để có mặt trong vòng chung kết World Cup, các đội tuyển quốc gia phải tham gia thi đấu loại. Hầu hết các liên đoàn châu lục trực thuộc FIFA đều lấy các giải vô địch nữ châu lục làm vòng loại World Cup, ngoại trừ Liên đoàn bóng đá châu Âu tổ chức vòng loại riêng kể từ vòng chung kết 1999. Nước chủ nhà sẽ được đặc cách vào thẳng vòng chung kết. Số suất dự vòng chung kết phụ thuộc vào trình độ và thành tích của các châu lục: châu Âu có 8 suất châu Á 5 suất; Bắc, Trung Mỹ và Caribe 3,5 suất; châu Phi 3 suất; Nam Mỹ 2,5 suất và châu Đại Dương chỉ có một suất duy nhất. Đội xếp thứ tư tại Cúp Vàng nữ CONCACAF (Bắc, Trung Mỹ và Caribe) sẽ gặp đội thứ ba Copa América Femenina (Nam Mỹ) trong trận play-off tranh vé vớt hai lượt đi và về. === Vòng chung kết === Vòng chung kết có sự góp mặt của 24 đội tuyển quốc gia, thi đấu trong vòng một tháng tại quốc gia chủ nhà. Giải gồm hai giai đoạn: vòng bảng và vòng loại trực tiếp. Tại vòng bảng, các đội được phân thành 6 bảng, mỗi bảng 4 đội. Các bảng thi đấu vòng tròn một lượt tính điểm. Ba điểm cho một trận thắng (tại vòng chung kết đầu tiên là hai điểm cho một trận thắng), hòa được một điểm, thua không được điểm nào. Các trận cuối vòng bảng được thi đấu cùng giờ để tránh tiêu cực và tạo sự công bằng khi thi đấu. Hai đội đứng đầu mỗi bảng và 4 đội xếp thứ ba có thành tích tốt nhất được quyền vào vòng knock-out 16 đội. Các tiêu chí xếp hạng vòng bảng theo thứ tự ưu tiên sau: Tổng số điểm Hệ số bàn thắng bại Số bàn thắng ghi được Nếu các tiêu chí trên không đủ để phân hạng các đội, thứ hạng sẽ được xác định như sau: Số điểm khi các đội đối đầu với nhau Hiệu số bàn thắng bại khi các đội đối đầu với nhau Số bàn thắng ghi được khi các đội đối đầu với nhau Nếu tất cả các tiêu chí trên vẫn không thể xác định thứ hạng các đội thì sẽ tiến hành bốc thăm Trong vòng loại trực tiếp, các đội sẽ thi đấu một trận duy nhất xác định đội vào vòng sau; hiệp phụ và loạt luân lưu sẽ lần lượt được sử dụng để quyết định đội thắng nếu thời gian chính thức kết thúc với tỉ số hòa. Giai đoạn bắt đầu bằng vòng knock-out 16 đội, sau đó đến tứ kết, bán kết, trận tranh hạng ba (giữa hai đội thua bán kết) và cuối cùng là trận chung kết. == Các trận chung kết và tranh hạng ba == A Không thi đấu hiệp phụ. Chú thích: h.p. — sau hiệp phụ b.t.v. — sau bàn thắng vàng trong hiệp phụ pen — luân lưu 11m == Bảng thành tích == == Giải thưởng == Sau khi mỗi kì World Cup kết thúc, các giải thưởng sẽ được trao cho các cầu thủ và đội tuyển với màn trình diễn xuất sắc nhất. Hiện nay có năm giải thưởng: Giải thưởng Quả bóng vàng (Golden Ball) cho cầu thủ xuất sắc nhất, được xác định bởi phiếu bầu của các phóng viên truyền thông; Quả bóng bạc và Quả bóng đồng được trao lần lượt cho các cầu thủ xếp thứ hai và thứ ba trong cuộc bầu chọn. Giải thưởng Chiếc giày vàng (Golden Boot hay Golden Shoe) cho cầu thủ ghi nhiều bàn thắng nhất. Các giải Chiếc giày bạc và Chiếc giày đồng lần lượt được trao cho các cầu thủ ghi bàn nhiều thứ hai và thứ ba. Giải thưởng Găng tay vàng cho thủ môn xuất sắc nhất, được quyết định bởi Nhóm nghiên cứu kĩ thuật của FIFA Giải thưởng Cầu thủ trẻ xuất sắc nhất (Best Young Player Award) cho cầu thủ trẻ dưới 21 tuổi. Giải thưởng Giải Fair Play (FIFA Fair Play Award) cho đội có tinh thần fair play nhất, dựa trên số điểm và tiêu chí của Tiểu ban Fair Play của FIFA. Đội hình tiêu biểu (All-Star Team) bao gồm 23 cầu thủ xuất sắc giải đấu. == Kỷ lục và thống kê == === Cầu thủ ghi nhiều bàn thắng nhất mọi thời đại === === Thi đấu nhiều vòng chung kết nhất (cầu thủ) === *Không thi đấu nhưng có tên trong danh sách đăng ký. === Thi đấu nhiều trận nhất (cầu thủ) === === Huấn luyện viên và đội trưởng đội vô địch === == Xem thêm == Giải vô địch bóng đá nữ U-17 thế giới Giải vô địch bóng đá nữ U-20 thế giới Giải vô địch bóng đá nữ thế giới các câu lạc bộ == Chú thích == == Liên kết ngoài == Liên đoàn bóng đá thế giới (FIFA) Giải vô địch bóng đá nữ thế giới trên trang chủ của Liên đoàn bóng đá châu Âu Giải vô địch bóng đá nữ thế giới trên trang chủ của RSSSF
franklin d. roosevelt.txt
Franklin Delano Roosevelt (tiếng Việt là Rudơven) (30 tháng 1 năm 1882 – 12 tháng 4 năm 1945, thường được gọi tắt là FDR) là Tổng thống Hoa Kỳ thứ 32 và là một khuôn mặt trung tâm của các sự kiện thế giới trong giữa thế kỷ 20 khi ông lãnh đạo Hoa Kỳ suốt thời gian có cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu và chiến tranh thế giới. Là tổng thống Hoa Kỳ duy nhất được bầu hơn hai nhiệm kỳ, ông tạo ra một liên minh bền vững giúp tái tổ chức nền chính trị Hoa Kỳ trong nhiều thập niên. FDR đánh bại đương kim tổng thống Cộng hòa là Herbert Hoover trong cuộc bầu cử tổng thống vào tháng 11 năm 1932 ở thời điểm tệ hại nhất của cuộc Đại khủng hoảng. Chính nhờ vào chủ nghĩa lạc quan và sự năng nổ hoạt động của ông đã làm cho tinh thần quốc gia sống dậy. Tuy nhiên các sử gia và kinh tế gia vẫn còn đang tranh luận về tính thông thái trong các chính sách của ông. Ông lãnh đạo Hoa Kỳ qua Chiến tranh thế giới thứ hai, mất khi đang bắt đầu nhiệm kỳ thứ tư của mình khi chiến thắng Đức và Nhật gần kề một bên. Trong một trăm ngày đầu tiên với vai trò tổng thống, bắt đầu từ ngày 4 tháng 3 năm 1933, Roosevelt đã khởi động rất nhiều chương trình lớn khác nhau. Trong nhiệm kỳ đầu tiên (1933–36), FDR đã hướng dẫn Quốc hội Hoa Kỳ thông qua chương trình kinh tế Kinh tế Mới. Đây là một loạt gồm nhiều chương trình phức hợp lớn có liên quan với nhau nhằm giải cứu khủng hoảng (đặc biệt là tạo ra các việc làm của chính phủ dành cho người thất nghiệp) và cải cách kinh tế (theo ông có nghĩa là lập ra quy định kiểm soát đối với Phố Wall, ngân hàng và giao thông). Nền kinh tế cải thiện nhanh chóng từ năm 1933 đến 1937 nhưng lúc đó cũng đang rơi vào một tình trạng khủng hoảng sâu. Liên minh bảo thủ lưỡng đảng hình thành vào năm 1937 đã ngăn cản ông "đưa người" vào Tối cao Pháp viện Hoa Kỳ hoặc thông qua quá nhiều luật mới; liên minh này cũng đã hủy bỏ phần lớn các chương trình trợ cấp khi tình trạng thấp nghiệp thực tế chấm dứt trong suốt Chiến tranh thế giới thứ hai. Phần lớn các quy định kiểm soát thương nghiệp chấm dứt vào khoảng thời gian từ năm 1975–85, trừ quy định kiểm soát đối với Phố Wall do Ủy ban Giao dịch và Chứng khoán Hoa Kỳ đảm trách vẫn còn tồn tại đến ngày nay. Cùng với một số chương trình nhỏ hơn, chương trình lớn còn tồn tại đến ngày nay là chương trình An sinh Xã hội được quốc hội thông qua năm 1935. Vào lúc Chiến tranh thế giới thứ hai sắp bùng nổ sau năm 1938 khi Nhật Bản xâm lược Trung Hoa và Đức Quốc xã trở nên hiếu chiến, FDR đã giang tay hỗ trợ tài chính và ngoại giao mạnh mẽ cho Trung Hoa và Anh Quốc trong lúc vẫn duy trì chính thức tình trạng trung lập. Mục tiêu của ông là phải tạo cho nước Mỹ thành "kho vũ khí dân chủ" — cung cấp đạn dược vũ khí trong khi các quốc gia khác thực hiện việc chiến đấu. Tháng 2 năm 1941, với sự chấp thuận của Quốc hội Hoa Kỳ thông qua Đạo luật Lend-Lease, Roosevelt cung cấp viện trợ cho các quốc gia chiến đấu chống Đức Quốc xã bên cạnh Anh Quốc. Ông được Quốc hội Hoa Kỳ gần như nhất trí cho phép tuyên chiến với Nhật Bản sau khi Nhật Bản tấn công Trân Châu Cảng vào ngày 7 tháng 12 năm 1941. Ông trông coi việc tổng động viên toàn lực nền kinh tế Hoa Kỳ để hỗ trợ cho những nỗ lực chiến tranh của đồng minh, bị chỉ trích vì lúng túng lúc ban đầu nhưng chứng kiến tình trạng thất nghiệp biến mất và nền kinh tế phát triển lên đỉnh cao chưa từng có trước đó. Roosevelt đã chi phối nền chính trị Mỹ, không chỉ trong suốt 12 năm làm tổng thống mà còn nhiều thập niên về sau. Ông là nhạc trưởng của việc tái phối trí cử tri mà sau đó hình thành nên Hệ thống đảng phái lần thứ 5. Liên minh New Deal của ông đã qui tụ được các công đoàn lao động, những cỗ máy thành phố lớn (?), các sắc tộc da trắng, những người nhận trợ cấp xã hội, người Mỹ gốc châu Phi và những người nông dân da trắng ở miền Nam Hoa Kỳ. Ảnh hưởng ngoại giao của Roosevelt cũng vang dội trên sân khấu thế giới rất lâu sau khi ông qua đời trong đó phải kể đến Liên Hiệp Quốc và Hệ thống Bretton Woods là những thí dụ về sức ảnh hưởng rộng lớn của chính phủ ông. Roosevelt từ trước đến nay luôn được các học giả đánh giá là một trong số các tổng thống vĩ đại của Hoa Kỳ. == Thiếu thời == Franklin Delano Roosevelt chào đời ngày 30 tháng 1 năm 1882 tại thị trấn Hyde Park trong thung lũng sông Hudson, tiểu bang New York. Cha của Franklin, James Roosevelt, Sr. và mẹ, Sara Ann Delano đều xuất thân từ những gia đình giàu có lâu đời ở tiểu bang New York. Họ nội của Franklin là người gốc Hà Lan trong khi họ ngoại đến từ Pháp. Franklin là người con duy nhất của gia đình. Họ Roosevelt có nguồn gốc từ tiếng Hà Lan "van Rosevelt", nghĩa là "cánh đồng hoa hồng". Roosevelt lớn lên trong một môi trường sống với nhiều đặc quyền. Bà nội của Franklin, Mary Rebecca Aspinwall, là chị em họ với Elizabeth Kortright Monroe, phu nhân tổng thống thứ năm của Hoa Kỳ, James Monroe. Còn ông ngoại của Franklin, Warren Delano, Jr., là hậu duệ của những nhà lập quốc đến đất Mỹ trên tàu Mayflower, Richard Warren, Isaac Allerton, Degory Priest, và Francis Cooke, từng làm giàu nhờ buôn nha phiến tại Trung Hoa. Sara là bà mẹ độc đoán, trong khi James là ông bố xa cách (James đã 54 tuổi khi Franklin chào đời). Sara có nhiều ảnh hưởng trên chàng thanh niên Franklin. Các chuyến đi thường xuyên đến Âu châu giúp Franklin thông thạo tiếng Đức và tiếng Pháp. Cậu cũng học cách cưỡi ngựa, bắn súng, chèo thuyền, chơi pô-lô và tennis trên sân cỏ. Roosevelt đến học tại trường nội trú Groton thuộc giáo hội Anh giáo tại tiểu bang Massachusetts. Tại đây, Franklin tiếp nhận ảnh hưởng của hiệu trưởng Endicott Peabody, người đã dạy cho cậu hiểu rằng nghĩa vụ của người tín hữu Cơ Đốc là giúp đỡ người kém may mắn, ông cũng khuyến khích học sinh tham gia tích cực vào các hoạt động cộng đồng. Roosevelt hoàn tất chương trình cử nhân tại trường đại học Harvard (Harvard College là một trường thuộc viện Đại học Harvard). Đang lúc học ở Harvard, người anh em họ năm đời của Franklin là Theodore Roosevelt đắc cử tổng thống; chính phong thái lãnh đạo cương quyết của Theodore và nhiệt tâm cải cách đã biến ông thành hình mẫu lý tưởng và nhân vật anh hùng trong mắt FDR. Năm 1902, Franklin gặp vợ tương lai của mình là Anna Eleanor Roosevelt, cháu gái của Theodore trong một buổi tiếp tân tại Nhà Trắng. Eleanor là cháu gái họ năm đời của FDR. Cả hai đều là hậu duệ của một người Hà Lan tên Claes Martensz van Rosenvelt (Roosevelt) đến vùng đất New Amsterdam (nay là Manhattan của thành phố New York) từ Hà Lan trong thập niên 1640. Hai người cháu của Rosenvelt (Roosevelt), Johannes và Jacobus, là tổ phụ của hai chi tộc họ Roosevetl tại Long Island và sông Hudson theo thứ tự vừa kể. Eleanor và Theodore là hậu duệ của tộc Johannes trong khi FDR thuộc tộc Jacobus. Franklin và Eleanor kết hôn năm 1905, hai năm sau lần gặp gỡ đầu tiên. Năm 1905, FDR vào trường luật Columbia nhưng không bao giờ tốt nghiệp. Sau khi qua được kỳ thi sát hạch của Luật sư đoàn tiểu bang New York năm 1907, Roosevelt quyết định bỏ học. Năm 1908, Roosevelt đến làm việc cho một tập đoàn nhiều uy tín ở Wall Street – Carter, Ledyard and Milburn – chuyên về luật công ty. === Hôn nhân và Gia đình === Roosevelt quyết định kết hôn với Eleanor trước sự chống đối quyết liệt của mẹ FDR. Hôn lễ tổ chức ngày 17 tháng 3 năm 1905 có sự hiện diện của Theodore Roosevelt như là người thay mặt người cha đã quá cố của cô dâu. Cặp vợ chồng mới cưới dọn đến sống trong ngôi nhà do mẹ của Roosevelt mua tặng. Bà thường xuyên đến thăm họ, nhiều đến nỗi khiến Eleanor mệt mỏi. Roosevelt là một chàng trai tuấn tú, tài hoa và giỏi giao tiếp. Ngược lại, Eleanor kín đáo và không thích đời sống xã hội, lúc đầu cô chỉ muốn chăm sóc nhà cửa và nuôi dạy con cái. Họ có sáu người con: Anna Eleanor (1906–1975), James (1907–1991), Franklin Delano, Jr. (3 tháng 3 năm 1909– 7 tháng 11 năm 1909), Elliott (1910–1990), Franklin Delano, Jr. (1914–1988), và John Aspinwall (1916–1981). Một người con mất khi chưa tròn 1 tuổi. Năm người con còn lại trải qua cuộc sống xáo trộn, bị lu mờ vì sự nổi tiếng của ông bố và bà mẹ. Năm người này có cả thảy 19 lần kết hôn, 15 lần ly dị và sinh 29 người con. Cả bốn người con trai đều là sĩ quan quân đội tham gia Chiến tranh thế giới thứ hai, tất cả đều được tặng thưởng huân chương biểu dương sự dũng cảm của họ trên chiến trường. Hai người được bầu vào Hạ viện Hoa Kỳ: FDR, Jr. phục vụ ba nhiệm kỳ, đại diện khu vực phía tây Thượng Manhattan. Còn James phục vụ 6 nhiệm kỳ, đại diện khu quốc hội số 26 của tiểu bang California. Tuy nhiên không có ai đắc cử vào chức vụ cao hơn mặc dù nhiều lần thử sức. Roosevelt còn có những mối quan hệ lãng mạn bên ngoài hôn nhân. Một trong những mối quan hệ này là với cô thư ký của Eleanor, Lucy Mercer, chỉ một thời gian ngắn sau khi Mercer đến nhận việc vào đầu năm 1914. Tháng 9 năm 1918, nhờ những bức thư tình tìm thấy trong hành lý của Franklin mà Eleanor phát hiện ra mối quan hệ này. Eleanor đến gặp chồng với những bức thư trên tay và yêu cầu ly dị. Qua trung gian của Louis Howe, một cố vấn của Franklin, hai người hòa giải với nhau, nhưng trong thời gian còn lại của cuộc hôn nhân, Eleanor đến sống một mình trong một ngôi nhà ở Hyde Park tại Valkill." == Sự nghiệp chính trị ban đầu == === Thượng nghị sĩ Tiểu bang New York === Năm 1910, Roosevelt tranh cử vào Thượng viện tiểu bang New York, đại diện cho một khu vực thuộc Quận Dutchess. Đây là một khu vực bao quanh thị trấn Hyde Park mà từ năm 1884 chưa có một ứng viên đảng Dân chủ nào đắc cử ở đây. Tham gia cuộc đua, Roosevelt là hình ảnh gắn kết với sự giàu có, đặc quyền và ảnh hưởng tại Hudson Valley. Chiến thắng vang dội của đảng Dân chủ năm ấy đã đưa Roosevelt đến thủ phủ tiểu bang là Albany. Roosevelt nhậm chức ngày 1 tháng 1 năm 1911 và trở thành thủ lĩnh nhóm "phản loạn" chống đối bộ máy chính trị "Tammany Hall" (nhóm chính trị thuộc đảng Dân chủ luôn đóng vai trò chính kiểm soát chính trường thành phố New York) là nhóm đang chi phối đảng Dân chủ của tiểu bang. Cuộc bầu cử Thượng viện Hoa Kỳ được bắt đầu với việc bầu cử sơ bộ của đảng Dân chủ vào ngày 16 tháng 1 năm 1911 có kết quả bế tắc vì sự tranh giành của hai phe phái trong 74 ngày. Ngày 31 tháng 3, James A. O'Gorman được bầu và Roosevelt đạt được mục tiêu của mình: đó là chọc giận bộ máy chính trị Tammany Hall bằng cách ngăn chặn người mà nhóm này chọn lựa làm ứng cử viên là William F. Sheehan. Chẳng bao lâu sau đó, Roosevelt trở nên một khuôn mặt quen thuộc đối với các đảng viên Dân chủ New York. Ông tái đắc cử nhiệm kỳ hai trong cuộc bầu cử tiểu bang năm 1912 nhưng từ chức thượng nghị sĩ tiểu bang vào ngày 17 tháng 3 năm 1913 để nhận bổ nhiệm làm Trợ tá Bộ trưởng Hải quân Hoa Kỳ. === Trợ tá Bộ trưởng Hải quân === Năm 1913, Woodrow Wilson bổ nhiệm Roosevelt vào chức vụ Phụ tá Bộ trưởng Hải quân Hoa Kỳ, phục vụ dưới quyền của Bộ trưởng Josephus Daniels. Năm 1914, Roosevelt thất bại trước James W. Gerard, một người được nhóm Tammany Hall ủng hộ, trong cuộc bầu cử sơ bộ của đảng Dân chủ tìm ứng viên cho cuộc chạy đua vào Thượng viện Hoa Kỳ. Trong vai trò trợ tá, Roosevelt tích cực hoạt động nhằm mở rộng quân chủng Hải quân và thành lập lực lượng Hải quân Trù bị. Tổng thống Wilson gửi lực lượng Hải quân và Thủy quân Lục chiến can thiệp vào các quốc gia vùng Trung Mỹ và Caribbe. Trong một loạt các bài diễn văn đọc trong chiến dịch vận động tranh cử chức vụ Phó Tổng thống vào năm 1920, Roosevelt tuyên bố rằng, với tư cách Phụ tá Bộ trưởng Hải quân, chính ông đã soạn bản hiến pháp mà Hoa Kỳ áp đặt cho Haiti năm 1915. Tình cảm đặc biệt của Roosevelt đối với Hải quân dần dần phát triển và kéo dài suốt cuộc đời ông. Tại Bộ Hải quân, ông đã thể hiện tài năng lớn trong kỹ năng quản trị cũng như mau chóng học biết cách đàm phán với giới lãnh đạo Quốc hội và các bộ ngành khác trong chính phủ để vận động thông qua ngân sách. Ông là người nhiệt tình ủng hộ phương sách sử dụng tàu ngầm như là một loại công cụ hữu hiệu nhằm đối phó với hiểm họa bị tấn công bởi tàu ngầm Đức nhắm vào tàu thủy của phe Đồng minh: ông đề xuất việc xây dựng hàng rào thủy lôi ở Biển Bắc từ Na Uy đến Scotland. Năm 1918, Roosevelt đến thăm hai nước Anh và Pháp để thị sát các căn cứ hải quân của Mỹ tại đây; cũng là lần đầu tiên ông có cơ hội gặp gỡ với Winston Churchill. Khi Chiến tranh thế giới thứ nhất kết thúc tháng 11 năm 1918, Roosevelt được giao nhiệm vụ giải ngũ quân nhân mặc dù ông chống lại kế hoạch giải thể hoàn toàn lực lượng Hải quân. Tháng 7 năm 1920, vì vụ tai tiếng tình dục ở Newport xảy ra giữa các thủy thủ Hải quân và dân đồng tình luyến ái địa phương được đăng tải trên Thời báo New York và Nhật báo Providence, Roosevelt từ chức trợ tá Bộ trưởng Hải quân để ra tranh cử chức vụ Phó Tổng thống Hoa Kỳ. === Vận động tranh cử Phó Tổng thống Hoa Kỳ === Đại hội đảng toàn quốc năm 1920 của Đảng Dân chủ chọn Roosevelt là ứng viên Phó Tổng thống Hoa Kỳ trong liên danh tranh cử tổng thống của Thống đốc tiểu bang Ohio là James M. Cox. Tuy nhiên liên danh tranh cử của Cox-Roosevelt bị liên danh tranh cử của phe Cộng hòa là Warren G. Harding đánh bại thảm hại trong cuộc bầu cử tổng thống. Lúc đó Roosevelt trở về hành nghề pháp lý tại New York và gia nhập Câu lạc bộ Civitan New York vừa mới được thành lập, nhưng ít có ai nghĩ rằng một ngày không xa ông sẽ quay trở lại tranh cử vào một chức vụ công. === Bệnh Bại liệt === Tháng 8 năm 1921, trong lúc đang đi nghỉ phép ở Đảo Campobello, tỉnh New Brunswick của Canada, Roosevelt bị nhiễm bệnh mà theo các bác sĩ của ông tin là bệnh bại liệt, dẫn đến tình trạng bị bại liệt hoàn toàn và vĩnh viễn từ thắt lưng trở xuống. Trong quãng đời còn lại, ông không bao giờ chấp nhận mình bị bại liệt vĩnh viễn. Ông cố thử nhiều cách trị liệu vật lý, kể cả thủy liệu pháp (hydrotherapy). Trong năm 1926, ông mua một khu nghỉ dưỡng ở Warm Springs, Georgia. Tại đây ông thành lập một trung tâm thủy liệu pháp cho bệnh nhân bại liệt. Trung tâm này vẫn còn hoạt động cho đến ngày nay với tên gọi Viện Phục hồi Roosevelt Warm Springs. Sau khi trở thành Tổng thống Hoa Kỳ, Roosevelt giúp thành lập Quỹ Quốc gia cho Trẻ em bại liệt, ngày nay được gọi là "March of Dimes" (tạm dịch: cuộc đi bộ của tiền kim loại 10 xu). Chính vì sự lãnh đạo của ông trong tổ chức này nên hình ông được khắc trên đồng tiền kim loại 10 xu (tại Hoa Kỳ gọi là dime). Thời ấy, cuộc sống riêng tư của các nhân vật của công chúng không bị soi mói cặn kẽ như ngày nay nên ông có thể thuyết phục nhiều người nghĩ rằng sức khỏe của ông đã khá hơn nhiều, cũng như tin rằng ông có thể gánh vác trọng trách quốc gia lần nữa. Với những thanh sắt kẹp vào hông và chân, Roosevelt tự mình tập bước đi trong những khoảng cách ngắn với sự trợ giúp của một cây gậy. Trong chỗ riêng tư ông sử dụng một chiếc xe lăn, nhưng không bao giờ để công chúng thấy hình ảnh ông ngồi trên xe lăn. Roosevelt thường xuất hiện trước công chúng trong tư thế đứng thẳng người với một phụ tá hoặc một trong các con trai của ông đứng kế bên. Chiếc xe hơi của ông có bộ điều khiển tay được thiết kế đặc biệt giúp ông dễ dàng lái xe. Năm 2003, một cuộc nghiên cứu chuyên ngành cho thấy căn bệnh của Roosevelt rất có thể là hội chứng Guillain-Barré, chứ không phải là bệnh bại liệt. Tuy nhiên, vì tủy sống của Roosevelt không được kiểm nghiệm nên nguyên nhân gây ra căn bệnh bại liệt của ông có thể chẳng bao giờ được xác định rõ ràng. == Thống đốc Tiểu bang New York, 1928-1932 == Roosevelt duy trì liên lạc và hàn gắn rào cản cách biệt với Đảng Dân chủ trong suốt thập niên 1920, đặc biệt là tại New York. Mặc dù ông vẫn có tên trong thành phần chống đối bộ máy chính trị Tammany Hall của Thành phố New York nhưng ông giảm nhẹ thái độ của mình. Ông giúp Alfred E. Smith đắc cử thống đốc tiểu bang New York năm 1922, và thậm chí ông còn là một người ủng hộ tích cực cho Smith chống lại người cháu họ của mình là đảng viên Cộng hòa Theodore Roosevelt, Jr. năm 1924. Roosevelt đã đọc diễn văn đề cử Smith trong các đại hội toàn quốc của Đảng Dân chủ năm 1924 và 1928. Với tư cách là ứng viên tổng thống của Đảng Dân chủ trong cuộc bầu cử tổng thống vào năm 1928, Smith đáp lại bằng cách yêu cầu Roosevelt ra tranh cử chức thống đốc tiểu bang New York năm 1928. Trong khi Smith thất cử tổng thống một cách thảm bại, thậm chí thua tại ngay tiểu bang nhà của mình thì Roosevelt đắc cử thống đốc với tỉ lệ sít sao. Trong vai trò một thống đốc cải cách, ông lập ra một số chương trình xã hội mới, được Frances Perkins và Harry Hopkins cố vấn. Trong cuộc vận động tái tranh cử năm 1930, Roosevelt cần sự thiện chí của nhóm Tammany Hall ở Thành phố New York; Tuy nhiên, đối thủ của ông thuộc Đảng Cộng hòa là Charles H. Tuttle đã nêu chuyện tham nhũng của nhóm Tammany Hall ra làm vấn đề tranh cử. Khi bầu cử sắp đến, Roosevelt ra lệnh điều tra việc mua bán các chức vụ tư pháp. Ông đắc cử nhiệm kỳ hai với con số cách biệt khoảng 700.000 phiếu. == Bầu cử Tổng thống năm 1932 == Nhờ hậu thuẫn của tiểu bang đông dân nhất mà Roosevelt trở nên ứng viên sáng giá trong cuộc chạy đua tranh sự đề cử của Đảng Dân chủ. Song cuộc đua trở nên quyết liệt hơn khi có những dấu hiệu cho thấy tổng thống đương nhiệm, Herbert Hoover, sẽ thất bại trong kỳ bầu cử tổng thống năm 1932. Al Smith được một số đại gia thành phố hậu thuẫn nhưng mất quyền kiểm soát đảng Dân chủ tại tiểu bang New York vào tay Roosevelt. Roosevelt tự xây dựng một liên minh toàn quốc với những đồng minh riêng của mình như trùm báo chí William Randolph Hearst, lãnh tụ cộng đồng Ái Nhĩ Lan Joseph P. Kennedy và nhà lãnh đạo tiểu bang California William G. McAdoo. Khi nhà lãnh đạo tiểu bang Texas John Nance Garner quay sang ủng hộ FDR thì vị lãnh đạo này được đề cử vào chức vụ phó tổng thống trong liên danh tranh cử của Roosevelt. Trong bài diễn văn nhận đề cử của Đảng Dân chủ, ông tuyên bố: Cuộc vận động tranh cử được tiến hành dưới cái bóng của Đại khủng hoảng và cái liên minh mới mà cuộc vận động tranh cử đã tạo nên. Roosevelt và Đảng Dân chủ tổng động viên một phạm vi rộng lớn các tầng lớp xã hội bao gồm người nghèo cũng như các công đoàn lao động, sắc dân thiểu số, người thành thị, và người da trắng miền Nam Hoa Kỳ để tạo nên liên minh New Deal. Trong suốt thời gian tranh cử, Roosevelt thường nói: "Tôi xin cam kết với các bạn, Tôi xin cam kết với bản thân mình một đối sách mới ( a new deal) cho nhân dân Mỹ". Câu nói này đã tạo ra một khẩu hiệu mà sau đó được dùng làm tên cho chương trình hành động của chính phủ ông cũng như liên minh mới của ông. Nhà kinh tế học Marriner Eccles quan sát thấy rằng "Trong các giai đoạn phát triển sau đó của cuộc vận động tranh cử, các bài diễn văn tranh cử đọc giống như có nhiều chỗ sai sót mà trong đó cả Roosevelt và Hoover thường đọc các hàng chữ của nhau." Roosevelt tố cáo Hoover thất bại phục hồi thịnh vượng hoặc thậm chí thất bại trong việc kìm hãm đà xuống dốc của nền kinh tế. Ông mỉa mai con số thâm thủng ngân sách khổng lồ của Hoover. Roosevelt vận động tranh cử theo cương lĩnh của Đảng Dân chủ với chủ trương "cắt giảm mạnh và ngay tức khắc tất cả chi tiêu công cộng", "bãi bỏ các cơ quan và các ủy ban vô dụng, kết hợp lại các cơ quan văn phòng và loại trừ lãng phí quan liêu." Ngày 23 tháng 9, Roosevelt đưa ra nhận định u ám rằng "bộ máy công nghiệp của chúng ta được xây dựng; vấn đề hiện nay là có phải chăng dưới những điều kiện hiện tại nó được xây quá mức hay không. Giới hạn cuối cùng của chúng ta đã đến đích từ lâu rồi." Hoover chê trách chủ nghĩa bi quan đó như là một sự phủ nhận "triển vọng của cuộc sống Mỹ... đó là chỉ dẫn đầy tuyệt vọng." Vấn đề cấm rượu cồn củng cố thêm số phiếu mới cho Roosevelt vì ông cho rằng việc bãi bỏ cấm rượu cồn sẽ mang lại thêm tiền thu nhập mới qua đánh thuế. Roosevelt chiến thắng với 57% số phiếu phổ thông và thắng tại tất cả trừ 6 tiểu bang. Các sử gia và khoa học gia chính trị cho rằng các cuộc bầu cử năm 1932-36 là cuộc bầu cử tái phối trí cử tri (realigning election) tạo ra một liên minh lớn mới cho Đảng Dân chủ, vì thế chuyển đổi nền chính trị Mỹ và khởi sự cái gọi là "Hệ thống Đảng New Deal" hay (theo các nhà khoa học chính trị) Hệ thống Đảng phái lần thứ 5. Sau cuộc bầu cử, Roosevelt từ chối lời thỉnh cầu họp bàn với Hoover để thảo ra một chương trình phối hợp nhằm chấm dứt chiều hướng đi xuống của nền kinh tế và trấn an giới đầu tư. Lý do từ chối của ông là điều đó có thể sẽ trói buộc ông. Nền kinh tế lao xuống vực thẳm cho đến khi hệ thống ngân hàng bắt đầu ngưng hoạt động hoàn toàn trên toàn quốc khi nhiệm kỳ tổng thống của Hoover kết thúc. Tháng 2 năm 1933, Roosevelt thoát chết trong một vụ có thể là mưu sát bởi tay súng Giuseppe Zangara (vụ này làm chết Thị trưởng thành phố Chicago là Anton Cermak đang ngồi kế bên ông). Roosevelt gửi thác sự tin cậy của mình vào nhiều nhóm cố vấn khoa bảng của mình, đặc biệt là Raymond Moley khi ông soạn thảo các chính sách. == Nhiệm kỳ thứ nhất, 1933-1937 == Khi Roosevelt tuyên thệ nhậm chức vào ngày 4 tháng 3 năm 1933 (32 ngày sau khi Hitler được bổ nhiệm làm Thủ tướng Đức), nước Mỹ đang ở thời điểm tồi tệ nhất của cuộc khủng hoảng lớn nhất trong lịch sử. Một phần tư lực lượng lao động mất việc làm. Nông dân đang khốn đốn vì nông phẩm hạ giá 60%. Sản xuất công nghiệp chỉ còn hơn một nửa so với cùng kỳ năm 1929. Hai triệu người trở thành vô gia cư. Vì thiếu việc làm nên các tổ chức tội phạm và giới sống ngoài pháp luật ngày càng gia tăng. Chiều ngày 4 tháng 3, tất cả ngân hàng tại 32 trên 48 tiểu bang cũng như Đặc khu Columbia đều đóng cửa. Ngày 5 tháng 3, Ngân hàng Dự trữ Liên bang tại New York không thể mở cửa, do khách hàng hốt hoảng rút một khối lượng lớn tiền mặt trong những ngày trước đó. Khởi đầu bài diễn văn nhậm chức, Roosevelt quy kết trách nhiệm cuộc khủng hoảng kinh tế lên giới ngân hàng và doanh nhân tài chính, lòng hám lợi, và nền tảng vị kỷ của chủ nghĩa tư bản: Các sử gia xếp loại chương trình của Roosevelt là "cứu nguy, hồi phục và cải cách". Cứu nguy là vấn đề cấp bách vì có đến hàng chục triệu người thất nghiệp. Hồi phục có nghĩa là thúc đẩy nền kinh tế quay trở về trạng thái bình thường. Cải cách có nghĩa là sửa chữa dài hạn những gì sai trái, đặc biệt là với hệ thống ngân hàng và tài chính. Trong 30 lần nói chuyện buổi tối trên sóng phát thanh, được biết đến là "fireside chats", Roosevelt đã giới thiệu những đề nghị của ông trực tiếp đến công chúng Mỹ. === New Deal lần thứ nhất, 1933-1934 === "Một trăm ngày đầu tiên" của Roosevelt tập trung vào phần đầu của chiến lược: cứu trợ khẩn cấp. Từ ngày 9 tháng 3 đến 16 tháng 6 năm 1933, ông đệ trình Quốc hội con số kỷ lục các dự luật, và tất cả đều được thông qua. Tổng thống phải dựa vào những thượng nghị sĩ như George Norris, Robert F. Wagner và Hugo Black cũng như nhóm cố vấn chuyên môn được tuyển chọn từ giới trí thức khoa bảng để thiết kế các chương trình hành động. Giống Hoover, Roosevelt xem cuộc Đại Suy thoái một phần là do khủng hoảng niềm tin vì người dân cảm thấy e ngại khi quyết định chi tiêu hoặc đầu tư. Lễ nhậm chức của Roosevelt vào ngày 4 tháng 3 năm 1933 diễn ra khi nước Mỹ đang trong tình trạng hốt hoảng vì sự sụp đổ của hệ thống ngân hàng. Tình huống này cho ra đời câu nói nổi tiếng của ông: "Điều duy nhất mà chúng ta nên sợ hãi là nỗi sợ của chính mình". Ngay hôm sau, Quốc hội Hoa Kỳ thông qua Đạo luật Ngân hàng Khẩn cấp (Emergency Banking Act) tuyên bố một "ngày lễ ngân hàng" và thông báo một chương trình cho phép các ngân hàng mở cửa lại. Tuy nhiên, con số các ngân hàng mở cửa sau "ngày lễ" ít hơn con số ngân hàng từng mở cửa trước đây. Đây là bước đề nghị đầu tiên của ông về phục hồi kinh tế. Để tạo lòng tin của dân chúng Mỹ đối với hệ thống ngân hàng, Roosevelt ký Đạo luật Glass-Steagall để lập ra Federal Deposit Insurance Corporation gọi tắt là FDIC (tạm dịch là Công ty Bảo hiểm Tiền gửi ngân hàng Liên bang). Kế hoạch cứu trợ của Roosevelt gồm có việc tiếp tục chương trình cứu trợ của Hoover nhưng mang một tên mới, Cơ quan Cứu trợ Khẩn cấp Liên bang. Cơ quan nổi bật nhất trong số các cơ quan thuộc kế hoạch New Deal và cũng là cơ quan tâm đắc của Roosevelt là Đoàn Bảo trì Dân sự (Civilian Conservation Corps – CCC). Cơ quan này tuyển dụng 250.000 thanh niên thất nghiệp để làm việc cho các đề án địa phương tại vùng nông thôn. Quốc hội cũng dành cho Ủy ban Thương mại Liên bang quyền lực nới rộng nhằm lập ra các quy định kiểm soát và cung cấp cứu nguy tài chính cho hàng triệu nông gia và chủ sở hữu nhà. Roosevelt cho mở rộng Tập đoàn Tài chính Tái thiết do Hoover thành lập để biến nó thành nguồn cung cấp vốn chính cho ngành đường sắt và công nghiệp. Roosevelt xem việc cứu trợ nông nghiệp là ưu tiên cao, ông cho thiết lập Cơ quan Điều chỉnh Nông nghiệp với nhiệm vụ nâng cao giá nông sản bằng cách trả tiền cho nông gia ngưng canh tác và cắt giảm số thú nuôi. Cải cách nền kinh tế là mục tiêu của Đạo luật Khôi phục Công nghiệp Quốc gia (National Industrial Recovery Act – NIRA) năm 1933 nhằm chấm dứt tình trạng cạnh tranh khốc liệt bằng cách buộc các ngành công nghiệp phải tuân thủ bộ quy tắc ấn định cơ chế vận hành cho mọi công ty trong ngành như giá sàn, thỏa hiệp tránh cạnh tranh và định mức sản xuất. Các lãnh đạo công nghiệp thương thảo bộ quy tắc mà sau đó được các giới chức NIRA chấp thuận. Theo điều kiện để được NIRA chấp thuận, ngành công nghiệp phải tăng tiền lương. Những điều khoản này đã làm phấn chấn các công đoàn và đình chỉ các luật lệ chống cạnh tranh. Ngày 27 tháng 5 năm 1935, một phán quyết với sự đồng thuận của Tối cao Pháp viện Hoa Kỳ tuyên bố NIRA là vi hiến. Phản ứng chống lại phán quyết này, Roosevelt nói, "Mục tiêu và nguyên lý căn bản của NIRA là đúng đắn. Hủy bỏ đạo luật là điều không thể tưởng tượng được. Nó có nghĩa là quay trở lại tình trạng hỗn loạn trong công nghiệp và lao động." Năm 1933, những quy định mới về ngân hàng được thông qua. Năm 1934, Ủy ban Giao dịch và Chứng khoán Hoa Kỳ được thành lập để kiểm soát Phố Wall với sự lãnh đạo của người vận động gây quỹ tranh cử năm 1932 là Joseph P. Kennedy. Chính sách phục hồi kinh tế được theo đuổi bằng phương sách "bơm vào tiền mồi" (chính là chi tiêu của liên bang). NIRA chi tiêu 3,3 tỷ USD cho Cơ quan Công chính do Bộ trưởng Nội vụ Hoa Kỳ Harold Ickes đảm trách nhằm kích thích nền kinh tế. Roosevelt cộng tác với Thượng nghị sĩ đảng Cộng hòa George Norris để thành lập doanh nghiệp quốc doanh lớn nhất trong lịch sử nước Mỹ là Cơ quan Thung lũng Tennessee (gọi tắt tiếng Anh là TVA) nhằm quản lý các đề án xây dựng đập nước, nhà máy điện, kiểm soát lũ, hiện đại hóa nông nghiệp và gia cư ở Thung lũng Tennessee nghèo khó. Việc bãi bỏ luật cấm rượu cồn cũng mang đến một nguồn thu nhập mới từ thuế và giúp ông giữ lời hứa trong lúc vận động tranh cử. Sắc lệnh Hành chính số 6102 đặt toàn bộ vàng cá nhân của công dân Hoa Kỳ thành tài sản ngân khố Hoa Kỳ. Mục đích là để đối phó tình trạng lạm phát đang hoành hành nền kinh tế. Roosevelt cố gắng thực thi những điều ông đã hứa lúc tranh cử bằng cách cắt giảm ngân sách liên bang, bao gồm việc cắt giảm 40% phúc lợi dành cho cựu chiến binh và cắt giảm tổng thể chi tiêu quân sự. Ông cắt khỏi danh sách hưu bổng khoảng 500.000 cựu chiến binh và quả phụ cũng như cắt giảm phúc lợi đối với những người còn lại. Các cuộc biểu tình phản đối của các cựu chiến binh bùng phát. Roosevelt vẫn giữ vững lập trường của mình nhưng vào năm 1936 vì sức ép của các cựu chiến binh, đạo luật tiền thưởng khồng lồ được thông qua mặc dù bị ông phủ quyết. Ông thành công trong nỗ lực cắt giảm tiền lương chính phủ và ngân sách dành cho lục quân và hải quân. Ông giảm chi tiêu về nghiên cứu và giáo dục. Roosevelt cũng giữ lời hứa xúc tiến việc bãi bỏ luật cấm rượu cồn. Tháng 4 năm 1933, ông ra chỉ thị hành chính định nghĩa nồng độ cồn 3,2% được phép tiêu dùng. Sắc lệnh này theo sau hành động của Quốc hội nhằm thảo ra và thông qua tu chính án hiến pháp số 21 mà sau đó được thông qua vào cùng năm đó. === New Deal lần thứ hai, 1935 – 1936 === Cuộc bầu cử quốc hội năm 1934 đã mang lại thuận lợi cho Roosevelt khi Đảng Dân chủ nắm đa số ghế áp đảo tại cả hai viện lập pháp. Đó cũng là lúc hình thành một cao trào mới cho New Deal trong quy trình lập pháp. Các quy trình lập pháp này gồm có việc thành lập ra Cơ quan Quản trị Tiến trình Xây dựng Công chánh (Works Progress Administration), viết tắt là WPA. Cơ quan quản lý này thiết lập ban cứu nguy quốc gia để thuê mướn 2 triệu gia trưởng trên toàn quốc. Tuy nhiên vào lúc đỉnh điểm thuê mướn của WPA năm 1938, tỉ lệ thất nghiệp vẫn cao khoảng 12,5% theo con số thống kê của Michael Darby. Đạo luật An sinh Xã hội thiết lập nên hệ thống an sinh xã hội và hứa hẹn nền an ninh kinh tế cho người già, người nghèo và người bệnh. Thượng nghị sĩ Robert Wagner thảo ra Đạo luật Wagner mà sau đó chính thức trở thành Đạo luật Quan hệ Lao động Quốc gia. Đạo luật này thiết lập quyền liên bang của công nhân được quyền thành lập công đoàn, quyền thương thuyết tập thể và quyền tham gia đình công. Trong khi New Deal lần thứ nhất năm 1933 được đa số thành phần xã hội rộng rãi ủng hộ, New Deal lần thứ hai phải đối mặt với cộng đồng thương mại. Các đảng viên Dân chủ bảo thủ, do Al Smith lãnh đạo, đánh trả bằng cách thành lập Liên đoàn Tự do Mỹ (American Liberty League). Họ tấn công Roosevelt một cách điên cuồng và so sánh ông với Marx và Lênin. Ngược lại, các công đoàn, được thêm năng lực nhờ vào Đạo luật Wagner, đã ký tên hàng triệu thành viên mới và trở thành lực lượng hậu thuẫn lớn cho các cuộc tái tranh cử của Roosevelt vào năm 1936, 1940 và 1944. === Môi trường Kinh tế === Chi tiêu của chính phủ tăng từ 8,0% tổng sản lượng quốc gia dưới thời Tổng thống Hoover năm 1932 lên 10,2% tổng sản lượng quốc gia năm 1936. Vì khủng hoảng, nợ quốc gia tính theo phần trăm tổng sản lượng quốc gia tăng gấp đôi dưới thời Hoover từ 16% lên đến 33,6% tổng sản lượng quốc gia năm 1932. Mặc dù Roosevelt đã quân bình ngân sách "thường lệ" nhưng ngân sách khẩn cấp được tài trợ bằng tiền nợ đang tăng lên đến 40,9% năm 1936, và sau đó vẫn nằm ở mức đó cho đếnChiến tranh thế giới thứ hai thì tăng vọt nhanh chóng. Nợ quốc gia tăng dưới thời Hoover, duy trì ở mức đều đặn dưới thời FDR cho đến khi chiến tranh bắt đầu như được trình bày trong biểu đồ số 1. Chi tiêu thâm thủng được một số nhà kinh tế học đề nghị, nổi bật là đề nghị của John Maynard Keynes từ Vương quốc Anh. Tổng sản lượng quốc gia năm 1936 là 34% cao hơn so với năm 1932 và 58% cao hơn trong năm 1940, trong đêm trước chiến tranh. Điều đó có nghĩa là nền kinh tế phát triển 58% từ năm 1932 đến năm 1940 trong khoảng thời gian 8 năm hòa bình, và rồi phát triển 56% từ 1940 đến 1945 trong khoảng thời gian 5 năm chiến tranh. Tuy nhiên, sự phục hồi kinh tế đã không làm nạn thất nghiệp mà Roosevelt thừa hưởng biến mất hoàn toàn. Thất nghiệp giảm đáng kể trong nhiệm kỳ đầu của Roosevelt từ 25% khi ông nhậm chức xuống còn 14,3% năm 1937. Tuy nhiên sau đó, nó lại gia tăng lên đến 19,0% năm 1938 ('khủng hoảng trong khủng hoảng') và 17,2% năm 1939, và vẫn giữ tỉ lệ cao này cho đến khi nó hoàn toàn biến mất trong suốt Chiến tranh thế giới thứ hai khi những người thất nghiệp trước đây được tuyển mộ quân dịch. Suốt thời gian chiến tranh, nền kinh tế hoạt động dưới những điều kiện khác biệt nên việc so sánh với thời bình là không phù hợp. Tuy nhiên, Roosevelt coi các chính sách New Deal là tâm điểm di sản của ông. Trong bài Diễn văn về Tình trạng Liên bang năm 1944, ông chủ trương rằng người Mỹ nên coi quyền lợi kinh tế cơ bản như là một đạo luật nhân quyền thứ hai. Nền kinh tế phát triển nhanh trong nhiệm kỳ của Roosevelt. Tuy nhiên, sự phát triển này được theo sau là tình trạng thất nghiệp liên tục ở mức độ cao; tỉ lệ thất nghiệp trung bình trong thời New Deal là 17,2%. Suốt cả các nhiệm kỳ của ông, bao gồm những năm chiến tranh, tỉ lệ thất nghiệp trung bình là 13%. Tổng số thất nghiệp trong suốt nhiệm kỳ của ông nới rộng khoảng 18,31 triệu việc làm bị mất trong khi tỉ lệ gia tăng việc làm trung bình hàng năm dưới thời chính phủ của ông là 5,3%. Roosevelt không tăng thuế thu nhập trước khi Chiến tranh thế giới thứ hai bắt đầu; tuy nhiên thuế sổ lương (payroll tax) cũng bắt đầu được đưa ra nhằm gây quỹ cho chương trình mới là An sinh Xã hội năm 1937. Ông cũng được Quốc hội Hoa Kỳ cho phép chi tiêu thêm cho nhiều chương trình và kế hoạch khác nhau mà chưa từng có trước đây trong lịch sử Hoa Kỳ. Tuy nhiên, dưới sức ép tài chính do Đại suy thoái gây ra, đa số các tiểu bang đều đưa ra thêm nhiều loại thuế hay tăng thuế trong đó có thuế thu nhập cũng như thuế gián thu. Việc Roosevelt đề nghị thu các loại thuế mới đối với tiền tiết kiệm của các công ty đã gây ra tranh cãi lớn trong 1936–37 nhưng cuối cùng chúng bị Quốc hội bác bỏ. Trong thời gian chiến tranh, ông thúc ép tăng tỉ lệ thuế thu nhập thậm chí cao hơn đối với cá nhân (lên đến một tỉ lệ thuế cận biên là 91%) và đại công ty, giới hạn mức lương cao đối với các viên chức lãnh đạo các công ty. Ông cũng phát Lệnh Hành pháp số 9250 vào tháng 10 năm 1942 nhằm tăng tỉ lệ thuế cận biên lên đến 100% đối với những ai có tiền lương vượt trên 25.000 đô la (sau thuế). Điều đó có nghĩa là giới hạn mức lương cao nhất là lên đến 25.000 đô la (khoảng chừng 334.000 đô la năm 2008). Tuy nhiên lệnh hành pháp này bị Quốc hội hủy bỏ sau đó. Để tài trợ chiến tranh, Quốc hội mở rộng thu thuế đối với hầu hết những ai đi làm đều phải trả thuế thu nhập liên bang. Thuế trả trước (thuế được trừ ra trước khi tiền lương được phát) được giới thiệu vào năm 1943. === Chính sách ngoại giao, 1933–37 === Việc không ký vào hiệp ước tham gia Hội Quốc Liên năm 1919 đã đánh dấu sự trỗi dậy mạnh mẽ của chủ nghĩa biệt lập trong chính sách ngoại giao của Hoa Kỳ, không tham gia vào các tổ chức thế giới. Mặc dù Roosevelt có nền tảng chủ nghĩa Wilson, ông và bộ trưởng ngoại giao của ông là Cordell Hull đã hành động rất cẩn thận, tránh kích động chủ nghĩa biệt lập. Thông điệp gây xôn xao của Roosevelt gởi đến hội nghị tiền tệ thế giới năm 1933 thực sự kết thúc tất cả những nỗ lực lớn của các cường quốc nhằm hợp tác trong công cuộc kết thúc cuộc khủng hoảng thế giới, tạo cơ hội cho Roosevelt rảnh tay thực hiện chính sách kinh tế riêng của Hoa Kỳ. Sáng kiến chính về chính sách ngoại giao trong nhiệm kỳ đầu tiên của Roosevelt là "Chính sách lân bang tốt". Đây là một sự tái định lượng chính sách của Hoa Kỳ đối với châu Mỹ La Tinh. Kể từ khi Học thuyết Monroe ra đời vào năm 1823, khu vực này đã từng được xem như là một vùng ảnh hưởng của Hoa Kỳ. Các lực lượng Mỹ rút khỏi Haiti. Các hiệp ước mới được ký kết với Cuba và Panama đã kết thúc tình trạng của họ là quốc gia được Hoa Kỳ bảo hộ. Tháng 12 năm 1933, Roosevelt ký văn kiện Hội nghị Montevideo về quyền lợi và nghĩa vụ của các quốc gia, từ bỏ quyền can thiệp đơn phương vào công việc nội bộ của các quốc gia châu Mỹ La Tinh. === Tái thắng cử lớn, 1936 === Trong cuộc bầu cử tổng thống năm 1936, Roosevelt vận động tranh cử dựa vào các chương trình New Deal của ông chống lại đối thủ Alf Landon, Thống đốc tiểu bang Kansas, là người chấp nhận phần lớn chương trình New Deal nhưng phản bác rằng nó không có lợi cho doanh nghiệp và quá nhiều lãng phí. Roosevelt và Garner chiến thắng với tỉ lệ 60,8% phiếu bầu phổ thông và chiến thắng gần như ở tất cả các tiểu bang, trừ Maine và Vermont. Các đảng viên Dân chủ cũng thắng lớn, thậm chí trở thành khối đa số lớn hơn tại cả hai viện lập pháp của Quốc hội. Roosevelt được hậu thuẫn bởi một liên minh cử tri gồm các đảng viên Dân chủ truyền thống trên toàn quốc, các nông gia nhỏ, cư dân miền Nam Hoa Kỳ, người công giáo La Mã, các cỗ máy thành phố lớn, các liên đoàn lao động, người Mỹ gốc châu Phi ở miền bắc, người Do Thái, giới trí thức và người theo chủ nghĩa tự do chính trị. Liên minh này thường được gọi là Liên minh New Deal, phần lớn không thay đổi sự hậu thuẫn cho đảng Dân chủ cho đến thập niên 1960. == Nhiệm kỳ hai, 1937–1941 == Tương phản đầy kịch tính so với nhiệm kỳ đầu tiên, có rất ít quy trình lập pháp lớn được thông qua trong nhiệm kỳ hai. Trong nhiệm kỳ này, Hoa Kỳ có được một Cơ quan đặc trách Gia cư Hoa Kỳ, một Đạo luật Điều chỉnh Nông nghiệp thứ hai và Đạo luật Tiêu chuẩn Lao động Công bằng năm 1938 cho ra đời lương tối thiểu. Khi nền kinh tế bắt đầu tồi tệ trở lại vào cuối năm 1937, Roosevelt đưa ra một chương trình kích cầu cấp tiến, xin Quốc hội chi 5 tỷ đô la cho công chánh và giải cứu Cơ quan Quản trị Tiến trình Xây dựng Công chánh (WPA). Sự kiện này giúp tạo ra đỉnh điểm 3,3 triệu việc làm do WPA quản lý vào năm 1938. Tối cao Pháp viện Hoa Kỳ là rào cản chính đối với những chương trình của Roosevelt trong suốt nhiệm kỳ hai vì nó lật ngược nhiều chương trình của ông. Đặc biệt là vào năm 1935, tối cao pháp viện đồng thanh phán quyết rằng Đạo luật Phục hồi Quốc gia (NRA) là một sự ủy thác quyền lực một cách vi hiến của ngành lập pháp trao cho tổng thống. Roosevelt làm sửng sốt Quốc hội vào đầu năm 1937 khi đề nghị một luật mới cho phép ông bổ nhiệm 5 thẩm phán tối cao pháp viện mới Kế hoạch "lấp đầy tòa án" này bị phản đối kịch liệt từ chính đảng của ông, dẫn đầu là Phó Tổng thống Garner vì nó dường như làm đảo lộn tam quyền phân lập và trao cho tổng thống cả quyền kiểm soát ngành tư pháp. Đề nghị của Roosevelt bị thất bại. Tòa án cũng rút lại cuộc đối đầu với hành pháp bằng cách phán quyết rằng các Đạo luật An sinh Xã hội và Quan hệ Lao động là hợp hiến. Chẳng bao lâu sau đó, một số thẩm pháp Tối cao Pháp viện Hoa Kỳ mất hoặc về hưu đã tạo cơ hội cho Roosevelt bổ nhiệm người của mình thay thế mà chỉ gặp phải một ít tranh cãi. Giữa năm 1937 và 1941, ông bổ nhiệm đến 8 thẩm phán tối cao pháp viện. Roosevelt từng có hậu thuẫn rất lớn từ các công đoàn đang phát triển nhanh nhưng đến thời điểm này thì họ chia rẽ thành hai thành phần đối nghịch cay cú là Liên đoàn Lao động Mỹ (AFL) và Hội nghị Các tổ chức Công nghiệp (CIO). Thành phần thứ hai được John L. Lewis lãnh đạo. Roosevelt cảnh báo là có một "đại dịch lan tràn trong cả hai mái nhà của các bạn" nhưng sự chia rẽ vẫn tiếp tục và làm suy yếu đảng Dân chủ trong các cuộc bầu cử từ năm 1938 đến năm 1946. Vì quyết tâm vượt qua sự chống đối của các đảng viên Dân chủ bảo thủ (đa số từ miền Nam Hoa Kỳ), Roosevelt tự dấn thân vào các cuộc bầu cử sơ bộ đảng Dân chủ năm 1938, tích cực vận động cho các ứng viên có thái độ ủng hộ hơn dành cho chương trình cải cách New Deal. Những người mà ông nhắm mục tiêu triệt hạ đã tố cáo ông là tìm cách thâu tóm đảng Dân chủ và dùng chiêu thức thuyết phục cử tri rằng họ độc lập để được tái đắc cử. Roosevelt bị thất bại chua cay, chỉ đánh gục được một mục tiêu, đó là một đảng viên Dân chủ bảo thủ từ Thành phố New York. Trong cuộc bầu cử tháng 11 năm 1938, đảng Dân chủ mất 6 ghế thượng viện và 71 ghế hạ viện. Các ghế mất phần nhiều tập trung trong số các đảng viên Dân chủ ủng hộ New Deal. Khi Quốc hội nhóm họp năm 1939, đảng Cộng hòa dưới sự lãnh đạo của Thượng nghị sĩ Robert Taft lập ra một liên minh Bảo thủ cùng với các đảng viên Dân chủ miền Nam Hoa Kỳ. Sự ra đời của liên minh bảo thủ này gần như kết thúc khả năng của Roosevelt đưa các đề nghị của mình lên quốc hội để được thông qua thành luật. Luật lương tối thiểu năm 1938 là một đạo luật cải cách New Deal đáng kể cuối cùng được quốc hội thông qua. === Chính sách ngoại giao, 1937–1941 === Sự kiện Adolf Hitler lên nắm quyền tại Đức dấy lên nỗi e sợ bùng nổ một cuộc thế chiến mới. Năm 1935, thời điểm Ý xâm lăng Ethiopia, Quốc hội Hoa Kỳ thông qua Đạo luật Trung lập, ra lệnh cấm vận chuyển vũ khí từ Mỹ đến các nước tham chiến. Roosevelt chống đối đạo luật dựa trên lập luận rằng đạo luật đang trừng phạt nạn nhân của sự xâm lược, trong trường hợp này là Ethiopia, đạo luật cũng hạn chế quyền hạn tổng thống trong nỗ lực trợ giúp các quốc gia thân thiện, song sự ủng hộ của công chúng dành cho đạo luật quá lớn nên Roosevelt bị buộc phải ký ban hành. Năm 1937, Quốc hội thông qua một đạo luật thậm chí còn nghiêm ngặt hơn nhưng khi chiến tranh Trung-Nhật năm 1937 bùng nổ thì công luận ủng hộ Trung Hoa do đó Roosevelt được rộng tay giúp đỡ nước này. Tháng 10 năm 1937, Roosevelt đọc "Bài diễn văn Cách ly" với chủ đích kiềm chế các quốc gia xâm lược. Ông đề nghị rằng các quốc gia hiếu chiến nên bị đối xử như một căn bệnh y học chung và cần phải bị "cách ly". Trong khi đó ông bí mật thiết lập một chương trình chế tạo tàu ngầm có tầm hoạt động xa có thể phong tỏa Nhật Bản. Tháng 5 năm 1938, một cuộc đảo chính bất thành nổ ra do phong trào phát xít Integralista tại Brasil thực hiện. Sau cuộc đảo chính bất thành, chính phủ Brasil cho rằng Đại sứ Đức, Tiến sĩ Karl Ritter, có nhúng tay vào cuộc đảo chính này và tuyên bố rằng ông ta là persona non grata. Sự việc Brasil tố cáo Đức hậu thuẫn cho cuộc đảo chính Integralista có một ảnh hưởng khích động đối với chính phủ Roosevelt vì nó gây hoang mang rằng tham vọng của người Đức không chỉ giới hạn trong khu vực châu Âu mà trên toàn thế giới. Điều này khiến cho chính phủ Roosevelt thay đổi cách nhìn trước đây về chế độ Đức Quốc xã: một chế độ khó ưa, tuy nhiên trên cơ bản không phải là vấn đề đáng lo đối với Mỹ. Ngày 4 tháng 9 năm 1938 giữa lúc có cuộc khủng hoảng lớn tại châu Âu lên đến đỉnh điểm bằng Hiệp ước München, trong lúc vén mở một tấm bảng vinh danh tình hữu nghị Pháp-Mỹ tại Pháp, Đại sứ Mỹ và cũng là bạn thân của Roosevelt, William C. Bullitt, đã phát biểu rằng "Pháp và Hoa Kỳ đoàn kết với nhau trong chiến tranh và hòa bình" khiến cho trong giới báo chí có nhiều đồn đoán rằng nếu chiến tranh bùng nổ vì Tiệp Khắc thì Hoa Kỳ sẽ tham chiến bên cạnh phe Đồng minh. Roosevelt bác bỏ lời đồn đoán trong một cuộc họp báo ngày 9 tháng 9. Ông nói rằng lời đồn đoán là sai 100%, và rằng Hoa Kỳ sẽ không gia nhập một "khối ngăn chặn Hitler" nào trong bất cứ hoàn cảnh nào. Ông cũng nhấn mạnh rõ rằng trong trường hợp Đức có hành động xâm lược chống Tiệp Khắc thì Hoa Kỳ vẫn giữ lập trường trung lập. Ngay khi Neville Chamberlain trở về London sau Hội nghị München, Roosevelt gởi cho ông một bức điện tín chỉ có hai chữ "Good Man" (nghĩa thông thường là "tốt lắm") mà cho đến nay vẫn còn là chủ đề gây nhiều tranh cãi. Phần đông ý kiến cho rằng bức điện tín mang ý nghĩa chúc mừng trong khi nhóm thiểu số thì phản bác lời giải nghĩa đó. Tháng 10 năm 1938, Roosevelt mở các buổi hội đàm bí mật với Pháp để xem có cách nào khắc phục được các luật lệ trung lập của Mỹ và cho phép Pháp mua các phi cơ Mỹ để lấp khoảng trống sản xuất trong ngành công nghiệp chế tạo phi cơ Pháp. Bản thân Roosevelt cũng bị nhiều tác động ảnh hưởng vì một bản báo cáo vào tháng 10 năm 1938 của Đại sứ Mỹ tại Pháp, William Bullitt rằng Thủ tướng Pháp Édouard Daladier có nói với ông rằng "Nếu tôi có ba hoặc bốn ngàn phi cơ thì Hội nghị München đã không bao giờ xảy ra". Tháng 11 năm 1938, Jean Monnet bí mật đến Washington cùng với một ủy ban và ngay lập tức đặt mua 1.000 phi cơ chiến đấu Mỹ cho Không quân Pháp. Một vấn đề chính trong các cuộc hội đàm Pháp-Mỹ là làm sao người Pháp trả tiền mua phi cơ Mỹ và làm sao để người Mỹ khắc phục được các đạo luật trung lập của Mỹ Ngoài ra, Đạo luật Johnson 1934, cấm cho các quốc gia vỡ nợ tiền mượn trong thời Chiến tranh thế giới thứ nhất mượn thêm tiền, cũng là một yếu tố phức tạp hơn (Pháp đã vỡ nợ năm 1934 vì không trả nổi tiền nợ mượn trong thời Chiến tranh thế giới thứ nhất). Ngày 28 tháng 1 năm 1939, một sĩ quan Không quân Pháp bị thương trong một vụ rớt máy bay tại Los Angeles. Vụ tai nạn này có liên quan đến một nguyên mẫu máy bay đầu tiên của loại oanh tạc cơ DB-7 khiến làm lộ bí mật các cuộc hội đàm bí mật Pháp-Mỹ. Chuyện bại lộ này dấy lên một làn sóng lớn của chủ nghĩa biệt lập chống lại Roosevelt và dẫn đến việc Ủy ban Quân vụ Thượng viện Hoa Kỳ tiến hành điều tra các cuộc hội đàm Pháp-Mỹ. Vì sự chống đối của chủ nghĩa biệt lập tại Quốc hội nên Roosevelt đã thực hiện một loạt những phát biểu trái ngược đến dân chúng Mỹ vào mùa đông năm 1939. Qua những phát biểu này, ông cảnh báo rằng Pháp và Anh Quốc là "phòng tuyến đầu tiên" của Mỹ cần viện trợ Mỹ và ông còn nói thêm rằng ông chỉ đang theo đuổi chính sách ngoại giao biệt lập mà sẽ không đẩy Hoa Kỳ vào bất cứ một cuộc chiến nào. Những phát biểu trái ngược của Roosevelt càng khiến Hitler càng thêm khinh thường Roosevelt vì cho rằng ông là một lãnh tụ yếu thế, hay dao động và vì thế làm tăng thêm tính chủ quan của Hitler trong việc đánh giá Hoa Kỳ. Tháng 2 năm 1939, để trả tiền mua phi cơ chiến đấu, người Pháp đã đề nghị nhượng lại tất cả các thuộc địa của họ tại vùng biển Caribe và Thái Bình Dương với giá 10 tỉ franc, đánh đổi bằng quyền mua theo tín dụng không giới hạn các phi cơ Mỹ. Sau các cuộc thương thuyết căng thẳng, một cuộc dàn xếp được thỏa thuận vào mùa xuân năm 1939, cho phép Pháp thực hiện các đơn đặt hàng khổng lồ với ngành công nghiệp chế tạo phi cơ Mỹ; tính đến năm 1940, tuy phần lớn các phi cơ được đặt mua đã không được giao hàng tại Pháp nhưng Roosevelt đã sắp xếp đổi hướng giao hàng các phi cơ này cho người Anh vào tháng 6 năm 1940. Vào tháng 4 năm 1940, Đức xâm chiếm Đan Mạch và Na Uy, theo sau là xâm chiếm Hà Lan, Bỉ, Luxembourg, và Pháp vào tháng 5. Các chiến thắng của Đức tại Tây Âu khiến cho Anh Quốc trở nên suy yếu, dễ bị xâm chiếm. Vì quyết không để cho Anh Quốc bại trận, Roosevelt tận dụng ngay sự chuyển đổi nhanh chóng thái độ của công chúng. Paris sụp đổ gây hoang mang cho công luận Mỹ và tiếng nói của chủ nghĩa biệt lập cũng gần như tắt tiếng. Một sự đồng thuận cho thấy rằng chi tiêu quân sự phải được nới rộng một cách ngoạn mục. Không có sự đồng thuận rằng nguy cơ lâm chiến của Hoa Kỳ là bao nhiêu khi trợ giúp Anh Quốc. Tháng 7 năm 1940, FDR bổ nhiệm hai lãnh tụ theo chủ nghĩa can thiệp thuộc Đảng Cộng hòa, Henry L. Stimson và Frank Knox, làm bộ trưởng chiến tranh và bộ trưởng hải quân theo thứ tự vừa kể. Cả hai đảng ủng hộ các chương trình của ông nhanh chóng xây dựng các lực lượng quân sự Mỹ, nhưng những người theo chủ nghĩa biệt lập cảnh báo rằng Roosevelt sẽ đưa quốc gia lâm vào một cuộc chiến không cần thiết với Đức. Ông thành công trong việc hối thúc Quốc hội thông qua luật tuyển mộ quân dịch thời bình đầu tiên trong lịch sử Hoa Kỳ năm 1940 (luật này được gia hạn năm 1941 bằng một phiếu ở Quốc hội). Roosevelt được "Ủy ban Phòng vệ Mỹ bằng cách Trợ giúp Đồng minh" ủng hộ nhưng bị "Ủy ban Mỹ trên hết" phản đối. Roosevelt dùng uy tín cá nhân của mình để xây dựng sự ủng hộ cho việc can thiệp của Hoa Kỳ. Nước Mỹ phải là "Kho thuốc đạn dân chủ", đó là lời phát biểu của ông trên sóng truyền thanh đến dân chúng Mỹ trong chương trình "fireside chats". Ngày 2 tháng 9 năm 1940, Roosevelt công khai thách thức các đạo luật trung lập bằng việc ký hiệp ước trao 50 chiếc khu trục hạm cho Anh Quốc để đổi lấy quyền sử dụng các căn cứ hải quân của Anh Quốc tại các đảo thuộc Anh Quốc trong vùng biển Caribe và Newfoundland. Đây là một dấu hiệu báo trước sự ra đời của Hiệp ước Lend-Lease vào tháng 3 năm 1941, khởi sự cuộc viện trợ kinh tế và quân sự khổng lồ trực tiếp cho Anh Quốc, Trung Hoa và sau đó là Liên Xô. Để nhận ý kiến cố vấn về chính sách ngoại giao, Roosevelt nhờ đến Harry Hopkins, người sau đó trở thành cố vấn chính của ông trong thời chiến. Họ tìm những phương sách mới để giúp Anh Quốc vì các nguồn tài chính của Anh Quốc đã cạn kiệt vào cuối năm 1940. Quốc hội Hoa Kỳ, nơi mà tiếng nói của chủ nghĩa biệt lập đã tắt tiếng, thông qua Đạo luật Lend-Lease vào tháng 3 năm 1941, cho phép Hoa Kỳ cung cấp vũ khi quân trang cho Anh Quốc, Trung Hoa và sau đó là Liên Xô. Quốc hội bỏ phiếu tán thành việc chi tiêu $50 tỷ đô la quân viện từ năm 1941–45. Có sự tương phản lớn so với tiền mà Hoa Kỳ cho vay mượn trong thời Chiến tranh thế giới thứ nhất, viện trợ quân sự này không phải trả lại sau chiến tranh. Roosevelt là một người suốt đời ủng hộ sự tự do mậu dịch và chống đối chủ nghĩa đế quốc cho nên việc kết thúc chủ nghĩa thuộc địa của châu Âu là một trong những mục tiêu của ông. === Bầu cử năm 1940 === Truyền thống hai nhiệm kỳ đã là một luật bất thành văn (cho đến khi có tu chính án hiến pháp 22 ra đời quy định rõ mỗi tổng thống chỉ được phục vụ hai nhiệm kỳ) từ khi tổng thống George Washington từ chối ra tranh cử nhiệm kỳ thứ ba vào năm 1796. Sau này, hầu như các vị tổng thống kế nhiệm đều theo truyền thống hai nhiệm kỳ này mà không ra tái tranh cử thêm một nhiệm kỳ thứ ba. Cả hai tổng thống Ulysses S. Grant và Theodore Roosevelt đã bị chỉ trích khi tìm cách ra ứng cử một nhiệm kỳ thứ ba không liên tục sau khi rời chức tổng thống một thời gian. FDR lần lượt chiếm ưu thế hơn các đảng viên Dân chủ nổi bật khác đang tìm cách nhận sự đề cử của đảng Dân chủ. Trong số các đảng viên Dân chủ này là hai thành viên nội các của ông: một là Bộ trưởng Ngoại giao Cordell Hull và hai là James Farley, bộ trưởng bưu điện và chủ tịch Đảng Dân chủ, từng là giám đốc điều hành chiến dịch vận động tranh cử của Roosevelt trong hai lần bầu cử tổng thống năm 1932 và 1936. Roosevelt dời đại hội đảng về Chicago nơi ông có sự hậu thuẫn mạnh mẽ từ cơ cấu chính trị thành phố (cơ cấu này kiểm soát hệ thống chính trị). Tại đại hội đảng, phe đối lập với ông thiếu tổ chức nhưng Farley cũng tập trung được nhiều người ủng hộ. Roosevelt liền gửi một thông điệp rằng ông sẽ không ra tranh cử trừ khi ông bị đảng bắt buộc ra tranh cử và rằng tất cả các đại biểu có quyền tự do bầu chọn cho bất cứ ai. Các đại biểu kinh ngạc; rồi bỗng dưng loa phóng thanh la to "Chúng tôi cần Roosevelt... Thế giới cần Roosevelt!" Các đại biểu như cuồng dại và ông được đề cử với tỉ lệ 946 - 147. Người mới được đề cử ra tranh cử phó tổng thống là Henry A. Wallace, một trí thức cấp tiến tự do và đang là bộ trưởng nông nghiệp. Trong chiến dịch tranh cử chống đảng viên Cộng hòa Wendell Willkie, Roosevelt nhấn mạnh ý định của ông là sẽ làm mọi việc như có thể để giữ Hoa Kỳ ngoài cuộc chiến. Ông thắng bầu cử tổng thống năm 1940 với tỉ lệ 55% phiếu bầu phổ thông, thắng 38 trong số 48 tiểu bang. Chính phủ của ông có một sự chuyển dịch sang phía tả vì sự hiện diện của Henry A. Wallace trong vai trò Phó Tổng thống Hoa Kỳ, thay thế nhân vật bảo thủ từ tiểu bang Texas, John Nance Garner, nhân vật đã trở thành kẻ thù cay cú của Roosevelt sau năm 1937. == Nhiệm kỳ thứ ba, 1941–1945 == === Các chính sách === Nhiệm kỳ thứ ba của Roosevelt bị chi phối nhiều bởi Chiến tranh thế giới thứ hai tại châu Âu và tại Thái Bình Dương. Năm 1938, Roosevelt bắt đầu từng bước tiến hành tái vũ trang Hoa Kỳ vì đang phải đối mặt với sự phản đối mạnh mẽ của chủ nghĩa biệt lập từ các lãnh tụ Quốc hội chống đối tái vũ trang như Thượng nghị sĩ William Borah và Thượng nghị sĩ Robert Taft. Đến năm 1940, thời điểm thuận lợi vì có sự ủng hộ của lưỡng đảng nên Hoa Kỳ một mặt nới rộng và tái vũ trang Lục quân Hoa Kỳ và Hải quân Hoa Kỳ, một mặt trở thành "kho thuốc súng của dân chủ" bằng cách trợ giúp Anh Quốc, Pháp, Trung Hoa và (sau tháng 6 năm 1941) Liên Xô. Khi Roosevelt có lập trường cứng rắn hơn đối phó với phe Trục thì những người theo chủ nghĩa biệt lập trong đó có Charles Lindbergh và "Ủy ban Mỹ trên hết" (America First Committee) công kích tổng thống một cách dữ dội, tố cáo ông là một kẻ hiếu chiến. Không đếm xỉa gì đến những lời chỉ trích đó và tự tin với những sáng kiến ngoại giao của mình, FDR tiếp tục song song hai chính sách: chuẩn bị sẵn sàng tham chiến và viện trợ cho Đồng minh. Ngày 29 tháng 12 năm 1940, ông gửi tới công chúng Mỹ bài diễn văn "Kho thuốc súng của dân chủ" trong một buổi nói chuyện trên sóng phát thanh. Qua đó ông đưa vấn đề Hoa Kỳ trợ giúp Đồng minh trực tiếp đến công chúng Mỹ. Một tuần sau đó vào tháng 1 năm 1941, ông đọc bài phát biểu nổi tiếng "Bốn tự do" (Four Freedoms), nêu thêm vấn đề Hoa Kỳ phải bảo vệ các quyền cơ bản trên toàn thế giới. Việc xây dựng lực lượng quân sự kích thích sự phát triển kinh tế. Vào năm 1941, thất nghiệp rơi xuống dưới 1 triệu người. Vì khan hiếm nhân công lao động tại các khu vực trung tâm sản xuất chính trên toàn quốc nên có những dòng di dân lớn gồm những người Mỹ gốc châu Phi từ các nông trại ở miền Nam cũng như các nông gia nhỏ và các công nhân từ các vùng nông thôn và thị trấn nhỏ khắp nơi trên toàn quốc. Mặt trận trong nước có sự thay đổi xã hội rất năng động trong suốt thời chiến trong khi đó các vấn đề trong nước không còn là những mối quan tâm cấp thiết nhất của chính phủ Roosevelt. Khi Đức Quốc xã xâm lược Liên Xô vào tháng 6 năm 1941, Roosevelt mở rộng áp dụng Đạo luật Lend-Lease dành cho Liên Xô. Trong suốt năm 1941, Roosevelt cũng đồng ý rằng Hải quân Hoa Kỳ sẽ hộ tống các đoàn tàu của Đồng minh xa tận đến Anh Quốc và sẽ bắn vào tàu chiến và tàu ngầm của Hải quân Đức (U-boat) nếu chúng tấn công đường hàng hải của Đồng minh trong vùng mà Hải quân Hoa Kỳ hoạt động. Như thế vào giữa năm 1941, Roosevelt đã đưa Hoa Kỳ đứng về phe Đồng minh với một chính sách "tất cả là viện trợ, không tham chiến." Roosevelt gặp Thủ tướng Anh Quốc Winston Churchill ngày 14 tháng 8 năm 1941 để phác thảo ra Hiến chương Đại Tây Dương. Đây là hội nghị đầu tiên trong số các cuộc hội nghị xảy ra trong thời chiến. Tháng 7 năm 1941, Roosevelt ra lệnh cho Bộ trưởng Chiến tranh Henry Stimson bắt đầu lập kế hoạch cho sự tham chiến hoàn toàn của Hoa Kỳ. Kết quả là "Kế hoạch Chiến thắng" được đưa ra dưới sự chỉ đạo của Albert Wedemeyer cung cấp cho tổng thống ước tính cần thiết về con số tổng động viên nhân lực, công nghiệp và tiếp vận để đánh bại "kẻ thù tiềm năng" của Hoa Kỳ. Kế hoạch cũng dự tính gia tăng viện trợ cho các quốc gia Đồng minh và cần đến 10 triệu binh sĩ phục vụ. Phân nửa trong số 10 triệu binh sĩ phải sẵn sàng triển khai ở ngoại quốc vào năm 1943. Roosevelt quyết định cứng rắn đứng về phe Đồng minh và các kế hoạch vừa nói đã được lập sẵn trước khi Đế quốc Nhật Bản tấn công Trân Châu Cảng. === Trân Châu Cảng === Sau khi Nhật Bản chiếm miền bắc Đông Dương thuộc Pháp vào cuối năm 1940, Roosevelt ra lệnh gia tăng viện trợ cho Trung Hoa Dân Quốc. Tháng 7 năm 1941, sau khi Nhật Bản chiếm hết phần còn lại của Đông Dương, ông ngưng bán dầu cho Nhật Bản. Như thế Nhật Bản mất đến hơn 95% nguồn dầu cung ứng. Roosevelt tiếp tục các cuộc hội đàm với chính phủ Nhật Bản. Trong lúc đó, ông bắt đầu chuyển lực lượng oanh tạc cơ tầm xa B-17 đến Philippines. Ngày 4 tháng 12 năm 1941, tờ báo The Chicago Tribune tiết lộ "Rainbow Five", một kế hoạch chiến tranh tối mật được phác thảo theo lệnh của Tổng thống Franklin Roosevelt. Kế hoạch "Rainbow Five" kêu gọi tập hợp một lực lượng lục quân gồm 10 triệu binh sĩ nhằm tiến công vào châu Âu trong năm 1943, chiến đấu bên cạnh Anh Quốc và Nga. Ngày 25 tháng 11, Bộ trưởng Chiến tranh Hoa Kỳ Henry L. Stimson có viết trong nhật ký rằng ông đã thảo luận với Roosevelt về khả năng lớn xảy ra chiến tranh không thể tránh khỏi với Nhật Bản và rằng "chúng ta nên phải làm sao để đưa họ [người Nhật] vào thế khai hỏa trước mà không gây nhiều tổn thất và nguy hiểm cho chúng ta.'" Trợ tá hành chính của Roosevelt vào lúc đó, Jonathan Daniels, đã ghi lại phản ứng của Roosevelt sau vụ tấn công của Nhật Bản vào Trân Châu Cảng như sau - "Cú đánh nặng hơn những gì mà ông (Roosevelt) từng hy vọng đến sự cần thiết của nó.... Nhưng những rủi ro này được đền bù; thậm chí mất mát cũng đáng giá...." Ngày 6 tháng 12 năm 1941, Tổng thống Roosevelt đọc được mật tin đã được giải mã của Nhật Bản và nói với trợ tá của ông là Harry Hopkins, "Điều này có nghĩa là chiến tranh." Cảnh báo được gửi đến các tư lệnh Lục quân và Hải quân Hoa Kỳ tại Hawaii nhưng tin tức này không được nhận đúng lúc vì lỗi của bộ máy hành chính. Thông điệp được gửi qua dịch vụ điện tín "Western Union Telegram" đến Tây Duyên hải Hoa Kỳ và sau đó qua dịch vụ vô tuyến "RCA Radio" đến thành phố Honolulu với nội dung đã được mã hóa. Đây là cách thức chuẩn liên lạc thông tin với các đảo của Hawaii vào thời đó khi điều kiện không gian không cho phép liên lạc thông tin trực tiếp như đã xảy ra vào ngày hôm đó. Tuy nhiên thông điệp này không được đánh dấu "khẩn cấp" nào vì thế nó được gửi đi theo thứ tự nhận được như các thông điệp khác. Chuyện này là do chủ ý của các vị tướng lãnh ở thủ đô Washington vì họ cho rằng nếu thông điệp được đánh dấu "khẩn cấp" và được gởi đến các vị tư lệnh tại Hawaii thì có thể gây sự chú ý của các điệp viên Nhật Bản ở Tây Duyên hải. Theo kế hoạch, thông điệp này là để cảnh báo cho lục quân và hải quân tại Hawaii để họ giăng sẵn bẫy đối phó với một cuộc tấn công của người Nhật. Tuy nhiên thông điệp được Bộ tư lệnh Hải quân Hoa Kỳ tại Hawaii nhận được mấy tiếng đồng hồ sau khi cuộc tấn công đã kết thúc. Theo hồ sơ cuộc điều trần tại Quốc hội Hoa Kỳ về Trân Châu Cảng thì: [1] Sau khi nhận được thông điệp, Đại tá French đích thân nhận trách nhiệm gửi nó đi. Khi biết hệ thống liên lạc vô tuyến của Bộ Chiến tranh Hoa Kỳ đã không còn liên lạc được với Honolulu kể từ khoảng 10:20 sáng, ông liền quyết định rằng cách nhanh nhất để gửi nó đến Hawaii là bằng các phương tiện dịch vụ thương mại; có nghĩa là dùng dịch vụ điện tín "Western Union" đến San Francisco, và từ đó dùng sóng vô tuyến thương mại đến Honolulu. Thông điệp được lưu trữ tại trung tâm truyền tin Lục quân lúc 12:01 trưa (6:31 sáng, giờ Hawaii); được chuyển tải bằng điện tín đến dịch vụ Western Union xong vào lúc 12:17 trưa (6:47 sáng, Hawaii); được dịch vụ RCA Honolulu nhận được vào lúc 1:03 trưa (7:33 sáng, Hawaii); được phòng truyền tin, Đồn Shafter tại Hawaii nhận được vào khoảng 5:15 chiều (11:45 sáng, Hawaii) sau vụ tấn công. Thì ra việc liên lạc điện tín giữa dịch vụ RCA ở Honolulu và Đồn Shafter đã không thực hiện được vào giờ đặc biệt đó nên thông điệp được giao bằng xe đạp và người đưa tin bằng xe đạp này đã phải giao tin vòng vo vì tránh đợt bom nổ đầu tiên. Ngày 7 tháng 12 năm 1941, Nhật Bản tấn công Hạm đội Thái Bình Dương của Hoa Kỳ tại Trân Châu Cảng, phá hủy hoặc làm hư hại 16 chiến hạm trong đó phần lớn là các thiết giáp hạm của hạm đội và giết chết gần 3000 binh sĩ và nhân viên dân sự Mỹ. Trong những tuần sau đó, người Nhật chiếm Philippines và các thuộc địa của Hà Lan và Anh Quốc ở Đông Nam Á, chiếm được Singapore vào tháng 2 năm 1942 và tiến công qua Miến Điện đến biên giới Ấn Độ thuộc Anh vào tháng 5, cắt đứt đường tiếp tế trên bộ đến Trung Hoa Dân Quốc. Thái độ phản chiến tại Hoa Kỳ biến mất trong đêm và Hoa Kỳ đoàn kết đằng sau Roosevelt. Chính vào thời điểm này, Roosevelt đã đọc bài "Diễn văn Ghê tởm" nổi tiếng trong đó ông nói rằng:"Ngày hôm qua, 7 tháng 12 năm 1941 — một ngày mà đáng ghê tởm (vì hành động bất ngờ và tàn bạo của Nhật) — Hoa Kỳ bị lực lượng hải quân và không lực Đế quốc Nhật Bản cố ý và bất ngờ tấn công." Tuy làn sóng giận dữ lan khắp Hoa Kỳ sau vụ tấn công Trân Châu Cảng nhưng từ đầu Roosevelt đã quyết định rằng việc đánh bại Đức Quốc xã là ưu tiên hàng đầu của Hoa Kỳ. Ngày 11 tháng 12 năm 1941, quyết định chiến lược "châu Âu trước tiên" của Hoa Kỳ được triển khai một cách dễ dàng hơn khi Đức và Ý tuyên chiến với Hoa Kỳ. Roosevelt gặp Churchill vào cuối tháng 12 và hoạch định ra một liên minh không chính thức rộng lớn hơn giữa Hoa Kỳ, Anh Quốc, Trung Hoa và Liên Xô với các mục tiêu như sau: ngăn chặn sự tiến công của Đức vào Liên Xô và Bắc Phi, mở một cuộc xâm nhập vào Tây Âu với mục tiêu đè bẹp Đức Quốc xã giữa hai mặt trận, và cứu Trung Hoa rồi đánh bại Nhật Bản. === Giam cầm người Đức, Nhật và Ý tại Hoa Kỳ === Khi chiến tranh bắt đầu, nguy cơ bị Nhật Bản tấn công vào Tây Duyên hải đã khiến Hoa Kỳ buộc phải di dời những người gốc Nhật ra khỏi vùng duyên hải. Áp lực di dời này càng gia tăng vì mối lo sợ khủng bố, gián điệp và phá hoại. Ngày 19 tháng 2 năm 1942, Tổng thống Roosevelt ký Lệnh Hành pháp số 9066, di dời tất cả những người Nhật thuộc thế hệ di dân thứ nhất không có quốc tịch Mỹ và con cháu của họ, những người có hai quốc tịch. Sau khi Đức Quốc xã và Phát xít Ý tuyên chiến với Hoa Kỳ vào tháng 12 năm 1941, các công dân Ý và Đức không có quốc tịch Mỹ và ủng hộ Hitler và Mussolini thường bị bắt và giam giữ. === Chiến lược chiến tranh === "Bộ ba đại gia" (Roosevelt, Churchill, và Joseph Stalin) cùng với Đặc cấp Thượng tướng Tưởng Giới Thạch cùng hợp tác không chính thức mà theo đó quân Mỹ và Anh Quốc tập trung lực lượng tại phía Tây, quân Liên Xô chiến đấu ở mặt trận phía Đông, và quân Trung Hoa, Anh Quốc, Mỹ chiến đấu tại vùng Thái Bình Dương. Đồng minh hoạch định chiến lược bằng một loạt các hội nghị cấp cao cũng như liên lạc qua các kênh quân sự và ngoại giao. Roosevelt bảo đảm rằng Hoa Kỳ sẽ là "Kho thuốc súng của Dân chủ" bằng việc gởi $50 tỷ đô-la hàng viện trợ theo Đạo luật Lend Lease, chủ yếu đến Anh Quốc sau đó là Liên Xô, Trung Hoa và các lực lượng Đồng minh khác. Roosevelt nhận thức rằng Hoa Kỳ có một ác cảm truyền thống đối với Đế quốc Anh. Trong tác phẩm One Christmas in Washington (Một giáng sinh ở thủ đô Washington), một buổi gặp mặt ăn tối giữa Roosevelt và Churchill được mô tả lại mà trong đó Roosevelt được trích dẫn nói như sau: "Chính trong truyền thống Mỹ, sự ngờ vực này, sự không ưa thích này và thậm chí sự thù ghét Anh Quốc - Cuộc cách mạng, bạn biết đó, và năm 1812 (năm bắt đầu xảy ra đại chiến giữa Anh và Hoa Kỳ); và Ấn Độ và Chiến tranh Boer, và tất cả như thế. Dĩ nhiên cũng có nhiều thứ của người Mỹ, nhưng với tư cách là một dân tộc, một quốc gia, chúng tôi chống đối chủ nghĩa đế quốc—chúng tôi không thể dung thứ nó." Các giới chức trong Bộ Chiến tranh Hoa Kỳ tin rằng cách nhanh nhất để đánh bại Đức là tiến công xâm nhập Pháp ngang qua Eo biển Anh (English Channel). Churchill, vì sợ cuộc xâm nhập này có thể gây nhiều thiệt hại, lại muốn cách tiến công gián tiếp hơn từ Địa Trung Hải về hướng bắc. Roosevelt bác bỏ kế hoạch này. Stalin thì chủ trương mở một mặt trận ở phía Tây vào thời điểm sớm nhất có thể vì phần lớn cuộc chiến trên bộ trong những năm 1942–44 xảy ra trên đất của Liên Xô. Đồng minh tiến hành xâm chiếm Maroc và Algérie thuộc Pháp (Chiến dịch Torch) vào tháng 11 năm 1942, xâm chiếm Sicilia (Chiến dịch Husky) vào tháng 7 năm 1943, và xâm chiếm lục địa Ý (Chiến dịch Avalanche) vào tháng 9 năm 1943. Chiến dịch ném bom chiến lược leo thang vào năm 1944 đã cày nát tất cả các thành phố chính của Đức và cắt đứt các nguồn tiếp tế dầu. Đây là một chiến dịch Anh-Mỹ phối hợp 50-50% lực lượng. Roosevelt chọn Dwight D. Eisenhower chứ không phải George Marshall để chỉ huy cuộc tiến công xâm chiếm của Đồng minh ngang eo biển với tên gọi là Chiến dịch Overlord bắt đầu vào ngày D-Day, 6 tháng 6 năm 1944. Một số trận đánh đẫm máu nhất trong cuộc chiến đã xảy ra theo sau cuộc tiến công ngang qua eo biển. Quân Đồng Minh gặp một số thất bại khi quân Đức phản kích đánh Ardennes và Alsace tháng 12 năm 1944 – tháng 1 năm 1945. Tuy nhiên, lực lượng Anh-Mỹ-Pháp đã chặn được đà tiến công của quân Đức và tràn vào lãnh thổ Đức. Roosevelt qua đời ngày 12 tháng 4 năm 1945 vào lúc các lực lượng Đồng Minh gần tiến vào Berlin. Trong khi đó tại Thái Bình Dương, cuộc tiến công của Nhật Bản đã lên đến phạm vi cực điểm vào tháng 6 năm 1942 khi Hải quân Hoa Kỳ đã ghi được một chiến thắng mang tính định đoạt trong Trận Midway. Khi đó, các lực lượng Úc và Mỹ bắt đầu có tiến bộ tuy đắt giá và chậm chạp bằng chiến thuật được gọi là "nhảy đảo" trong vùng Thái Bình Dương. Mục tiêu của chiến thuật này là giành lấy các căn cứ mà từ đó không lực chiến lược có thể được đưa vào phục vụ để oanh tạc đất Nhật Bản, và từ đó có thể tiến công xâm chiếm Nhật Bản sau này. Roosevelt đã nhượng bộ một phần đối với những đòi hỏi trước sau như một của công chúng và Quốc hội là phải tận lực hơn trong việc chống Nhật Bản trong khi ông luôn một mực muốn đánh bại Đức trước. === Kế hoạch hậu chiến === Cuối năm 1943, thời điểm rõ ràng cho thấy rằng Đồng minh cuối cùng sẽ đánh bại hoặc ít nhất kìm chế được Đức Quốc xã. Mỗi ngày càng cho thấy những quyết định chính trị cấp cao càng trở nên quan trọng đối với diễn biến của cuộc chiến và tương lai của châu Âu thời hậu chiến. Roosevelt họp mặt với Churchill và lãnh tụ Trung Quốc Quốc dân đảng Tưởng Giới Thạch tại Hội nghị Cairo vào tháng 11 năm 1943, và rồi sau đó đến Tehran để bàn thảo với Churchill và Stalin. Trong lúc Churchill xem Stalin là một bạo chúa khi ông cảnh báo về một mối thống trị tiềm năng độc tài của Stalin đối với châu Âu thì Roosevelt đáp lời bằng một lời tuyên bố tóm tắt lý lẽ quan hệ của ông đối với Stalin như sau: "Tôi thì có một linh cảm rằng Stalin không phải là hạng người như thế.... Tôi nghĩ rằng nếu tôi cho ông ta mọi thứ mà tôi có thể cho và không đòi hỏi ông ta cho lại cái gì, theo nghĩa vụ quý phái, ông ta sẽ không tìm cách thôn tính bất cứ mọi thứ và sẽ làm việc với tôi vì một thế giới dân chủ và hòa bình." Tại Hội nghị Tehran, Roosevelt và Churchill nói với Stalin về kế hoạch xâm chiếm nước Pháp năm 1944. Roosevelt cũng thảo luận các kế hoạch của ông nhằm thành lập một tổ chức quốc tế thời hậu chiến. Về phần mình, Stalin cứ khăng khăng đòi vẽ lại các ranh giới của Ba Lan. Stalin ủng hộ kế hoạch của Roosevelt về việc thành lập Liên Hiệp Quốc và hứa tham chiến chống Nhật Bản 90 ngày sau khi Đức bị đánh bại. Tuy nhiên vào đầu năm 1945, khi quân đội Đồng minh tiến vào Đức và lực lượng Xô Viết kiểm soát được Ba Lan, các vấn đề phải được đem ra thảo luận minh bạch. Tháng 2 năm 1945, mặc dù sức khỏe sa sút trầm trọng, Roosevelt vẫn đi đến Yalta, vùng Krym của Liên Xô, để họp bàn với Stalin và Churchill. Trong khi Roosevelt vẫn tự tin rằng Stalin sẽ giữ lời hứa cho phép các cuộc bầu cử tự do tại Đông Âu, một tháng sau khi Hội nghị Yalta kết thúc thì Đại sứ của Roosevelt tại Liên Xô là Averill Harriman điện tín cho Roosevelt biết rằng "chúng ta phải thừa nhận rõ ràng rằng chương trinh của Liên Xô là thiết lập chủ nghĩa toàn trị, chấm dứt tự do cá nhân và dân chủ như chúng ta đã biết." Hai ngày sau, Roosevelt bắt đầu thừa nhận rằng quan điểm của ông về Stalin là quá lạc quan và rằng "Averell đã nói đúng." Người Mỹ gốc Đông Âu chỉ trích Hội nghị Yalta vì đã thất bại trong việc ngăn chặn sự thành lập Khối Đông Âu. === Bầu cử 1944 === Roosevelt bắt đầu tuổi 62 vào năm 1944. Sức khỏe của ông càng xuống thấp, ít nhất là từ năm 1940. Trạng thái căng thẳng của bệnh bại liệt và sự gắng sức chịu đựng của ông trong suốt trên 20 năm cộng thêm những năm làm việc căng thẳng và cả đời hút thuốc đã làm hao mòn sức khỏe của ông. Vào thời gian này, Roosevelt bị nhiều thứ bệnh tật trong đó có bệnh cao máu, phổi thủng, xơ vữa động mạch và các bệnh về tim mạch. Mặc dù chưa được xác nhận và công chúng không hề hay biết, có tin lan truyền rằng ông cũng bị mổ để lấy khối u ác tính phía trên mắt trái. Bác sĩ Emanuel Libman, lúc đó là phụ tá nghiên cứu bệnh học ở Bệnh viện Núi Sinai tại Thành phố New York có nói như sau vào năm 1944: "Không cần biết Roosevelt có được tái đắc cử hay không thì ông cũng sẽ chết vì chảy máu vỏ não trong vòng 6 tháng" (đúng như vậy ông mất chỉ 5 tháng sau đó). Biết rõ nguy cơ là Roosevelt sẽ chết trong nhiệm kỳ thứ tư nên các đảng viên thường trực của Đảng Dân chủ cứ một mực muốn bỏ Phó Tổng thống Henry A. Wallace vì ông được cho là thân Liên Xô. Sau khi xem xét qua James F. Byrnes của tiểu bang Nam Carolina, rồi bị Thống đốc Indiana là Henry F. Schricker từ chối, Roosevelt thay thế Wallace bằng một thượng nghị sĩ ít tiếng tăm là Harry S. Truman. Trong cuộc bầu cử tổng thống năm 1944, liên danh Roosevelt và Truman thắng 53% phiếu bầu phổ thông và thắng tại 36 tiểu bang chống lại đối thủ là Thống đốc New York, Thomas E. Dewey. == Nhiệm kỳ thứ tư và từ trần, 1945 == === Những ngày cuối, từ trần và tưởng niệm === Tổng thống Hoa Kỳ rời Hội nghị Yalta ngày 12 tháng 2 năm 1945, bay đến Ai Cập và lên chiến hạm USS Quincy đang hoạt động trên Hồ Great Bitter gần Kênh đào Suez. Ngày hôm sau, trên chiến hạm Quincy, ông gặp Quốc vương Ai Cập là Farouk I và Hoàng đế Ethiopia là Haile Selassie. Vào ngày 14 tháng 2, ông mở một cuộc họp lịch sử với vua Abdulaziz - vị vua khai quốc của Ả Rập Saudi. Đây là một cuộc họp mang ý nghĩa trọng đại trong quan hệ ngoại giao giữa Hoa Kỳ và Ả Rập Saudi thậm chí cho đến ngày nay. Sau một cuộc họp cuối cùng giữa F. D. Roosevelt và Thủ tướng Anh Quốc Winston Churchill, chiến hạm Quincy khởi hành đi Algérie và đến nơi ngày 18 tháng 2. Ngày hôm đó, Roosevelt hội ý với các đại sứ Mỹ đặc trách Anh Quốc, Pháp và Ý. Tại Yalta, Lord Moran, y sĩ của Winston Churchill, nói về bệnh tình của Roosevelt như sau: "Bệnh tình của ông rất là nặng. Ông có tất cả triệu chứng của bệnh xơ cứng mạch máu não trong thời kỳ cuối, vì vậy tôi cho rằng ông chỉ còn sống vài tháng". Khi ông trở về Hoa Kỳ, ông đọc diễn văn trước Quốc hội ngày 1 tháng 3 về Hội nghị Yalta, và nhiều người đã phải giật mình khi nhận thấy ông trông rất già và ốm yếu. Ông phải ngồi để đọc diễn văn trong Quốc hội. Đây là một điều nhượng bộ của ông chưa từng có trước đây đối với sự bất lực của cơ thể mình (ông mở đầu bài diễn văn bằng lời nói như sau: "Tôi hy vọng mọi người sẽ tha thứ cho tôi vì phải ngồi đây một cách bất thường để diễn thuyết những gì tôi muốn nói, nhưng...nó giúp cho tôi dễ dàng hơn khi không phải đeo khoảng 10 pound thép quanh phía dưới chân tôi." Đây là lần duy nhất ông nhắc đến sự tàn phế của mình trước đám đông). Nhưng tinh thần của ông vẫn hoàn toàn tỉnh táo. "Hội nghị Crimean", ông nhấn mạnh, "phải nêu rõ mục tiêu kết thúc một hệ thống hành động đơn phương, những liên minh biệt lập, những khu vực ảnh hưởng, những cán cân quyền lực, và tất cả những mưu mô khác đã được thử nghiệm hàng thế kỷ qua – và luôn bị thất bại. Chúng ta đề nghị thay thế tất cả những thứ này bằng một tổ chức toàn cầu mà ở đó tất cả các quốc gia yêu chuộng hòa bình cuối cùng có cơ hội tham gia vào." Suốt tháng 3 năm 1945, ông gửi các thông điệp đến Stalin với những lời lẽ đanh thép, tố cáo Stalin phá vỡ những thỏa thuận thực thi của vị lãnh tụ Liên Xô tại Hội nghị Yalta về Ba Lan, Đức, tù binh, và các vấn đề khác. Khi Stalin tố cáo Đồng minh phương Tây đang mưu toan tìm kiếm hòa bình riêng với Hitler phía sau lưng vị lãnh tụ này, Roosevelt trả lời rằng: "Tôi không thể nào mà không có một cảm giác tức giận đối với những người chỉ điểm cho ông, bất cứ họ là ai, vì đã diễn đạt lại sai một cách đê hèn như thế về những hành động của tôi hay hành động của những thuộc cấp đáng tin của tôi." Ngày 29 tháng 3 năm 1945, Roosevelt đến Warm Springs để nghỉ ngơi trước khi ông xuất hiện tại hội nghị thành lập Liên Hiệp Quốc. Vào trưa ngày 12 tháng 4, Roosevelt nói, "Tôi hơi bị đau phía sau đầu". Ông liền ngồi sụp xuống chiếc ghế của mình, bất tỉnh, và được mang vào phòng ngủ của ông. Bác sĩ tim trực bên cạnh tổng thống là Howard Bruenn đã chẩn đoán cho ông và cho biết là tổng thống bị chứng chảy máu não (đột quy). Lúc 3:35 chiều cùng ngày, Roosevelt qua đời. Giống như sau này Allen Drury có nói, "như thế là kết thúc một thời đại, vì thế bắt đầu một thời đại mới." Sau khi Roosevelt qua đời, một bài xã luận của tờ Thời báo New York tuyên bố, "Con người sẽ quỳ gối để cảm ơn Thượng đế một trăm năm kể từ bây giờ vì Franklin D. Roosevelt đã ở trong Nhà Trắng". Vào lúc ngã bất tỉnh, Roosevelt đang ngồi cho họa sĩ Elizabeth Shoumatoff vẽ chân dung ông. Bức họa này được biết với cái tên nổi tiếng là Chân dung chưa hoàn chỉnh của Franklin D. Roosevelt. Trong những năm sau cùng của ông tại Nhà Trắng, Roosevelt ngày càng làm việc quá sức và con gái ông, Anna Roosevelt Boettiger phải dọn vào ở gần bên ông để hỗ trợ. Anna cũng sắp xếp cho cha của bà gặp mặt người tình cũ của ông là bà Lucy Mercer Rutherfurd, lúc đó đang là quả phụ. Shoumatoff, người duy trì mối quan hệ thân với cả Roosevelt và Mercer, đã vội vã đưa Mercer đi khỏi để tránh tai tiếng. Khi Eleanor biết chồng của bà mất, bà cũng nghe được tin tức nói rằng Anna đã sắp xếp các cuộc gặp gỡ cho Roosevelt gặp Mercer và rằng Mercer đã ở bên cạnh ông lúc ông mất. Vào ngày 13 tháng 4, xác của Roosevelt được đặt trong một cỗ quan tài có quấn quốc kỳ Mỹ và được đưa lên xe lửa tổng thống. Sau lễ tang tại Nhà Trắng ngày 14 tháng 4, Roosevelt được đưa về thị trấn Hyde Park bằng xe lửa, được bốn binh sĩ của Lục quân, Hải quân, Thủy quân lục chiến và Tuần duyên canh giữ. Theo di chúc của ông, Roosevelt được chôn cất trong vườn hồng của ngôi nhà gia đình Roosevelt (nay được gọi là Home of Franklin D. Roosevelt National Historic Site, tạm dịch là Di tích Lịch sử Quốc gia Nhà của Franklin D. Roosevelt) ở thị trấn Hyde Park ngày 15 tháng 4. Sau khi vợ ông qua đời tháng 11 năm 1962, bà được chôn cất bên cạnh ông. Cái chết của Roosevelt đã gây sốc và thương tiếc khắp toàn quốc Hoa Kỳ cũng như khắp thế giới. Công chúng đã không hay biết gì về sức khỏe ngày càng sa sút của ông trước đó. Roosevelt đã làm tổng thống trên 12 năm, dài hơn hẳn bất cứ vị tổng thống nào. Ông đã dẫn dắt Hoa Kỳ vượt qua một số các cuộc khủng hoảng lớn nhất của Hoa Kỳ cho đến khi Đức Quốc xã gần như bị đánh bại và sự bại trận của Nhật Bản cũng đang trong tầm nhìn thấy được. Khi hay tin Roosevelt qua đời thì Bộ trưởng Bộ Tuyên truyền Đức Quốc xã là Paul Joseph Göbbels trở nên vui sướng, ông ta nghĩ rằng năm 1945 sẽ là năm phát xít Đức lấy lại thế thượng phong (xem thêm bài Phép lạ của Nhà Brandenburg). Ông ta ra lệnh cho mang rượu sâm-banh đến và còn gọi điện đến Quốc trưởng Adolf Hitler: Nhưng gần 1 tháng sau khi F. D. Roosevelt mất, vào ngày 8 tháng 5, cái giây phút mà ông tranh đấu đã đến: đó là Ngày chiến thắng. Tổng thống Harry Truman, bước sang tuổi 61 vào ngày hôm đó, đã dành trọn Ngày Chiến thắng và các buổi lễ mừng của nó để hồi tưởng về Roosevelt cũng như ra lệnh toàn quốc treo cờ rủ suốt những ngày còn lại của khoảng thời gian 30 ngày tang để tỏ lòng tôn kính đến sự đóng góp của Roosevelt trong việc kết thúc chiến tranh tại châu Âu. Cái chết của Roosevelt đã miễn trừ cho ông cái khoảng khắc quyết định là có nên sử dụng bom nguyên tử hay không và việc quyết định này bây giờ được đặt lên người của Tổng thống Truman. Có nhiều yếu tố đã gây ảnh hưởng đến quyết định sử dụng bom nguyên tử của Tổng thống Truman trong đó có sự cố vấn của các nhà lãnh đạo quân sự và chính trị. Họ đại diện một tiếng nói chung của công chúng Mỹ đang trông mong kết thúc chiến tranh và sự khả dĩ giành một chiến thắng nhanh chóng chống Đế quốc Nhật Bản. == Vấn đề nhân quyền == Hồ sơ nhân quyền của Roosevelt đã và đang là đề tài của nhiều tranh cãi. Đối với những nhóm người thiểu số lớn, đặc biệt là người Mỹ gốc châu Phi, người Công giáo, và người Do Thái, ông là người hùng và ông đã thành công cao độ trong việc lôi cuốn đa số cử tri từ các nhóm vừa kể thành liên minh New Deal của ông. Người Mỹ gốc châu Phi và người bản thổ Mỹ có cuộc sống ổn định nhờ vào các chương trình cứu trợ New Deal. Sitkoff (1978) tường trình rằng Cơ quan Quản trị Tiến triển Xây dựng Công chánh (WPA) "đã cung cấp một sàn kinh tế cho toàn cộng đồng người da màu trong thập niên 1930, có thể nói đáng so sánh với cả ngành nông nghiệp và dịch vụ giúp việc nhà trong vai trò là nguồn thu nhập chính". Vì Roosevelt cần sự ủng hộ của các đảng viên Dân chủ miền Nam Hoa Kỳ cho các chương trình thuộc New Deal nên ông đã quyết định không hối thúc đưa ra quy trình làm luật chống "lynching" (là hình thức giết người không qua xét xử, được thực hiện bởi một nhóm người, thường là treo cổ nạn nhân). Ông sợ một hành động như thế có thể đe dọa đến khả năng thông qua các chương trình ưu tiên cao nhất của ông - cho dù ông đã lên án "lynching" như là một hình thức hợp tác giết người hèn hạ". Sử gia Kevin J. McMahon cho rằng các bước dài tiến triển trong thời kỳ này đã là nền tảng cho phong trào nhân quyền của người Mỹ gốc châu Phi. Trong Bộ Tư pháp của chính phủ Roosevelt, Bộ phận Nhân quyền cùng làm việc bên cạnh với Hội Quốc gia vì Tiến bộ của Người da màu (NAACP). Roosevelt làm việc với các nhóm nhân quyền khác trong các trường hợp đối phó với sự hung bạo của cảnh sát, các vụ hợp tác hành quyết nạn nhân, và các vụ vi phạm quyền đầu phiếu. Người ta cho rằng các hành động này đã gởi một thông điệp mãnh liệt đến những kẻ theo chủ nghĩa da trắng ưu việt (white supremacist) ở miền Nam Hoa Kỳ và các đồng minh chính trị của bọn họ ở thủ đô Washington. Bắt đầu vào thập niên 1960, FDR bị buộc tội là đã không hành động đủ quyết đoán để đề phòng hoặc ngăn chặn được cái mà người ta gọi là Holocaust (hủy diệt con người). Những người chỉ trích kể ra một số trường hợp, thí dụ như tình tiết năm 1939 mà qua đó có 936 người tỵ nạn Do Thái trên chiếc tàu SS St. Louis bị từ chối nhận vào nương náu tại Hoa Kỳ vì các luật hạn chế mà Quốc hội thông qua. Roosevelt đã không sẵn lòng bãi bỏ lệnh cách ly chủng tộc trong quân đội. Tuy nhiên vào ngày 25 tháng 6 năm 1941, Roosevelt ký ban hành Lệnh Hành pháp số 8802, nghiêm cấm kỳ thị dựa vào "chủng tộc, tín ngưỡng, màu da, hay nguồn gốc quốc gia" trong việc thê mướn công nhân làm việc trong các ngành công nghiệp có liên quan đến quốc phòng. Những công dân thuộc quốc gia thù địch đang sống tại Hoa Kỳ và những người có tổ tiên Nhật Bản có cuộc sống rất bấp bênh. Ngày 19 tháng 2 năm 1942, Roosevelt đưa ra Lệnh Hành pháp số 9066, được áp dụng đối với mọi người bị xếp loại là những người thuộc quốc gia thù địch, bao gồm những người có hai quốc tịch đang sống trong những vùng được cho là có nguy cơ cao mà bao trùm phần lớn các thành phố tại Tây Duyên hải Hoa Kỳ. Khi Hoa Kỳ đang có chiến tranh với Ý, khoảng 600.000 thường trú nhân gốc Ý (công dân Ý không có quốc tịch Mỹ) bị giới hạn việc đi lại; sự giới hạn này được bãi bỏ vào tháng 10 năm 1942. Khoảng 120.000 người gốc Nhật bị buộc phải rời Tây Duyên hải. Từ năm 1942 đến 1945, họ sống trong các trại tập trung phía bên trong đất liền. Những người gốc Nhật khác sống bên ngoài Tây Duyên hải và tại Lãnh thổ Hawaii không bị ảnh hưởng. == Chính phủ, nội các, và bổ nhiệm thẩm phán Tối cao Pháp viện Hoa Kỳ, 1933–1945 == Tổng thống Roosevelt đã bổ nhiệm 8 thẩm phán Tối cao Pháp viện Hoa Kỳ, nhiều hơn bất cứ vị tổng thống Mỹ nào, trừ George Washington đã bổ nhiệm 10 vị. Vào năm 1941, 8 trong số 9 thẩm phán đương thời là người được Roosevelt bổ nhiệm. Harlan Fiske Stone được Roosevelt cất nhắc lên thành Thẩm phán trưởng từ chức vụ thẩm phán viên. Hugo Black– 1937 Stanley Forman Reed– 1938 Felix Frankfurter– 1939 William O. Douglas– 1939 Frank Murphy– 1940 Harlan Fiske Stone (Thẩm phán trưởng)– 1941 James Francis Byrnes– 1941 Robert H. Jackson– 1941 Wiley Blount Rutledge– 1943 Những thẩm phán được Roosevelt bổ nhiệm không có cùng chung hệ tư tưởng. Một số người như Hugo Black và Felix Frankfurter trở thành "những kình phùng địch thủ truyền kiếp." Frankfurter thậm chí gán cho các đồng liêu cấp tiến tự do hơn của ông ta, như Rutledge, Murphy, Black, và Douglas, là thành phần của một "phe Trục" vì họ chống đối chương trình nghị sự tư pháp bảo thủ của ông. == Di sản == Một cuộc thăm dò, được kênh truyền hình cáp C-SPAN tiến hành năm 1999, cho thấy rằng có một số đông các sử gia khoa bảng xem Abraham Lincoln, George Washington và Franklin Roosevelt là ba tổng thống vĩ đại nhất, giống như kết quả của các cuộc thăm dò khác. Roosevelt là nhân vật thế giới được công dân Hoa Kỳ kính phục đứng hạng sáu tính từ thế kỷ 20 theo cuộc thăm dò của Gallup. Cả trong suốt và sau các nhiệm kỳ của ông, những người chỉ trích Roosevelt đã đặt ra nhiều câu hỏi không chỉ gồm các chính sách và lập trường của ông mà còn có sự củng cố quyền lực của ông vì thời gian dài làm tổng thống, sự phục vụ của ông qua hai cuộc khủng hoảng lớn, và sự ủng hộ lớn lao của công chúng dành cho ông. Việc mở rộng nhanh chóng các chương trình của chính phủ xảy ra trong nhiệm kỳ của Roosevelt đã tái định nghĩa vai trò của chính phủ tại Hoa Kỳ, và chủ trương của Roosevelt về các chương trình xã hội của chính phủ là công cụ trong việc tái định nghĩa chủ nghĩa tự do cho các thế hệ kế tục. Roosevelt đã thiết lập vững chắc vị thế lãnh đạo của Hoa Kỳ trên sân khấu thế giới với những tuyên ngôn như trong diễn văn "Bốn Tự do" của ông, tao ra một nền tảng cơ bản cho vai trò tích cực của Hoa Kỳ trongChiến tranh thế giới thứ hai và sau đó. Năm 1945, Roosevelt được sử gia Na Uy, Halvdan Koht nhắc đến là một trong số 7 người hội đủ điều kiện để được đề cử nhận Giải Nobel Hòa bình. Tuy nhiên, sử gia này lại không đề cử bất cứ ai. Người thật sự được đề cử là Cordell Hull. Sau khi Franklin qua đời, Eleanor Roosevelt tiếp tục hiện diện miễn cưỡng trong nền chính trị thế giới và Hoa Kỳ, phục vụ với tư cách một đại biểu dự hội nghị thành lập Liên Hiệp Quốc và tiên phong tranh đấu cho nhân quyền. Nhiều thành viên chính phủ của ông đã đóng vai trò lãnh đạo trong các chính phủ tiếp theo của các tổng thống Truman, Kennedy và Johnson. Mỗi vị tổng thống này đều tiếp tục ôm ấp di sản chính trị của Roosevelt. Ngôi nhà của Roosevelt tại thị trấn Hyde Park hiện nay là một di tích lịch sử quốc gia và là thư viện tổng thống. Nơi nghỉ ngơi miền quê của ông ở Warm Springs, tiểu bang Georgia hiện nay là một bảo tàng do tiểu bang Georgia điều hành. Nơi nghỉ ngơi mùa hè của ông trên Đảo Campobello được cả hai chính phủ Hoa Kỳ và Canada bảo trì, có tên gọi là Công viên Quốc tế Roosevelt Campobello; hòn đảo này có lối vào qua ngã Cầu Franklin Delano Roosevelt. Đài tưởng niệm Franklin Delano Roosevelt nằm ở thủ đô Washington, D.C. bên cạnh Đài tưởng niệm Jefferson trên Hồ nước Tidal. Hình của Roosevelt có in trên tiền kim loại 10 xu đô-la. Nhiều công viên, trường học cũng như một hàng không mẫu hạm, một trạm xe điện ngầm ở Paris và hàng trăm con đường hay quảng trường khắp nước Mỹ và thế giới được đặt tên ông để vinh danh. Phản ánh về những năm tháng Roosevelt làm tổng thống, người viết tiểu sử về ông, Jean Edward Smith vào năm 2007 có nói: "Điều gì đã đưa Hoa Kỳ qua Đại khủng hoảng và Chiến tranh thế giới thứ hai đến tương lai thịnh vượng", "Ông đã tự nhấc người lên khỏi chiếc xe lăn để nhấc bổng quốc gia này lên khi nó đang ở trong tư thế quỳ gối." == Ủng hộ viên của Hướng đạo == Roosevelt là một người rất tích cực ủng hộ hướng đạo, bắt đầu từ năm 1915. Năm 1924, ông trở thành chủ tịch Quỹ hội Hướng đạo Thành phố New York và lãnh đạo việc thành lập Trại Hướng đạo Sông Ten Mile từ năm 1924–1928 để phục vụ các hướng đạo sinh của Thành phố New York. Khi làm thống đốc năm 1930, Hội Nam Hướng đạo Mỹ (BSA) đã vinh danh ông bằng giải thưởng cao nhất của họ dành cho người lớn, đó là Giải Trâu Bạc được tặng thưởng để ghi công sự đóng góp ủng hộ xuất sắc mà người được tặng thưởng dành cho giới trẻ trên cấp bậc quốc gia. Sau này, khi làm tổng thống, Roosevelt là chủ tịch vinh dự của Hội Nam Hướng đạo Mỹ và tham dự trại họp bạn toàn quốc đầu tiên được tổ chức tại Washington, D.C. năm 1937. == Nhà sưu tầm tem == Roosevelt là một người rất thích sưu tầm tem. Sự việc giới truyền thông đăng tải tin các hoạt động sưu tầm tem của ông đã giúp phổ biến nó thành một sở thích. Trong suốt thời làm tổng thống, chính Roosevelt đã đích thân chấp thuận các mẫu tem mới của Hoa Kỳ, tổng cộng khoảng 200 mẫu tem. Một số tem được in từ các hình vẽ của chính cá nhân ông. Một số tem được phát hành để đánh dấu những sự kiện và ngày lễ công cộng. Roosevelt bổ nhiệm James Farley làm Bộ trưởng Bưu điện Hoa Kỳ, và chính Farley đã gia tăng con số phát hành tem kỷ niệm hàng năm và tạo ra nhiều bộ tem khác, giúp phổ biến rộng rãi hơn môn giải trí sưu tầm thú vị này. Bản thân Roosevelt đã được Bưu điện Hoa Kỳ vinh danh bằng một con tem giá 6 xu đô-la thuộc bộ tem phát hành vinh danh những người Mỹ nổi tiếng (1965-1978). == Tư liệu == == Xem thêm == Eleanor Roosevelt Đại Suy thoái Chiến tranh thế giới thứ hai == Chú thích == == Tham khảo == === Nguồn chính === === Tiểu sử === === Nguồn học thuật === === Chính sách ngoại giao và Chiến tranh thế giới thứ hai === === Phê phán === == Liên kết ngoài == Detailed Quick Facts about President Roosevelt from AmericanHeritage.com President Roosevelt White House Biography Hyde Park NY Home of FDR Campobello Island Summer Home of FDR Warm Springs GA FDR Retreat FDR Memorial Washington DC The Franklin D. Roosevelt Presidential Library and Museum Academic Data Related to the Roosevelt Administration FDR cartoon archive === Diễn văn và Trích dẫn === famous quotes The American Presidency Project at University of California at Santa Barbara Public Papers of the Presidents: Franklin D. Roosevelt State of the Union Addresses 1934, 1935, 1936, 1937, 1938, 1939, 1940, 1941, 1942, 1943, 1944 State of the Union Written Messages 1945 Inaugural Addresses 1933, 1937, 1941, 1945 Fireside Chats Presidential Elections 1932, 1936, 1940, 1944 32 Audio/Video Clips of FDR Roosevelt's Secret White House Recordings via Đại học Virginia Audio clips of speeches First Inaugural Address, via Đại học Yale Second Inaugural Address, via Đại học Yale Third Inaugural Address, via Đại học Yale Fourth Inaugural Address, via Đại học Yale Court "Packing" Speech 9 tháng 3 năm 1937 University of Virginia graduating class speech ("Stab in the Back" speech) 10 tháng 6 năm 1940 === Liên kết khác === IPL POTUS — Franklin Delano Roosevelt Encyclopedia Americana: Franklin D. Roosevelt An archive of political cartoons from the presidency of Franklin D. Roosevelt Warm Springs and FDR's Polio Treatment Dutch Martin's review of FDR's folly FDR at the Atlantic Conference Franklin D. Roosevelt Links On Franklin Roosevelt's progressive vision from the Roosevelt Institution, a student think tank inspired in part by Franklin Roosevelt. Các tác phẩm của Franklin D. Roosevelt tại Dự án Gutenberg The FDR Society
koshiba masatoshi.txt
Masatoshi Koshiba (小柴 昌俊, Masatoshi Koshiba), sinh ngày 19 tháng 9 năm 1926 tại Toyohashi, Nhật Bản) là một nhà vật lý học người Nhật Bản. Ông là một trong 3 nhà vật lý nhận giải Nobel vật lý trong năm 2002. Ông bây giờ là Cố vấn cao cấp của Trung tâm Quốc tế Vật lý Hạt cơ (ICEPP) và Giáo sư danh dự của Đại học Tokyo. == Tiểu sử == Masatoshi Koshiba tốt nghiệp Đại học Tokyo năm 1951 và lấy bằng Tiến sĩ Vật lý tại trường Đại học Rochester, New York, Hoa Kỳ trong năm 1955. Từ tháng 7 năm 1955 đến tháng 2 năm 1958 ông là Nghiên cứu viên, Khoa Vật lý, Đại học Chicago. Từ tháng 3 năm 1958 đến tháng 10 năm 1963, Koshiba là Phó Giáo sư, Viện Nghiên cứu hạt nhân, Đại học Tokyo, mặc dù từ tháng 11 năm 1959 đến tháng 8 năm 1962, ông được cho nghỉ với chức danh Senior Research Associate với cấp bậc danh dự là Phó Giáo sư và là Giám đốc Điều hành của Phòng thí nghiệm Vật lý năng lượng cao và vũ trụ xạ, Khoa Vật lý, Đại học Chicago. Tại Đại học Tokyo, Koshiba trở thành Phó giáo sư tháng 3 năm 1963 và sau đó trở thành Giáo sư tháng 3 năm 1970 tại Khoa Vật lý, phân ban Khoa học, và cuối cùng thành Giáo sư danh dự vào năm 1987. Từ năm 1987 đến năm 1997, Koshiba dạy tại Đại học Tokai. Trong năm 2002, ông chia sẻ Giải Nobel Vật lý "cho các đóng góp tiên phong cho vật lý thiên văn, đặc biệt cho những phát hiện của neutrino vũ trụ." (hai nhà vật lý đồng nhận giải với ông là Raymond Davis, Jr., và Riccardo Giacconi của Hoa Kỳ) == Xuất bản == Koshiba, M.; Fukuda, Y và đồng nghiệp (1998). “Evidence for Oscillation of Atmospheric Neutrinos”. Physical Review Letters 81 (8): 1562. arXiv:hep-ex/9807003. Bibcode:1998PhRvL..81.1562F. doi:10.1103/PhysRevLett.81.1562. Koshiba, M.; Fukuda, Y và đồng nghiệp (1999). “Constraints on Neutrino Oscillation Parameters from the Measurement of Day-Night Solar Neutrino Fluxes at Super-Kamiokande”. Physical Review Letters 82 (9): 1810. arXiv:hep-ex/9812009. Bibcode:1999PhRvL..82.1810F. doi:10.1103/PhysRevLett.82.1810. == Tham khảo == == Liên kết ngoài == Giáo sư Koshiba đã đoạt giải thưởng Nobel Nobelprize.org Birography Ảnh, Tiểu sử và Nguồn thư mục, từ Văn phòng của Khoa học Kỹ thuật Thông tin, Cục năng lượng Hoa Kỳ Xem video 'Một cuộc Phỏng vấn với Masatoshi Koshiba' do Vega Science Trust thực hiện
james madison.txt
James Madison Jr. (16 tháng 3 năm 1751 - 28 tháng 6 năm 1836) là một chính khách và là tổng thống thứ tư của Hoa Kỳ. Ông bắt đầu nhiệm kỳ tổng thống từ năm 1809 cho đến năm 1817 thì rời khỏi cương vị này. Ông sinh ngày 16 tháng 3 năm 1751 tại Port Conway, Virginia và mất ngày 28 tháng 6, năm 1836 tại Montpelier, Virginia. Hưởng thọ 85 tuổi. == Thời trẻ và giáo dục == James Madison, Jr. sinh ngày 16/3/1751 (5/3/1751, theo lịch cũ - lịch Julian) tại Belle Grove Plantation gần Port Conway, bang Virginia. Cha ông là James Madison, Sr. và mẹ ông là Nelly Conway Madison. Trong gia đình, ông là người lớn nhất trong số mười hai người con.[4] Nelly và James Sr. đã có thêm bảy con trai và bốn con gái. Ba người em của James Jr. mất khi còn sơ sinh, trong đó một người chết lưu thai. Vào mùa hè năm 1775, em gái ông, Elizabeth(7 tuổi) và em trai ông, Reuben(3 tuổi) đã chết vì bệnh lỵ quét qua Orange County do dòng nước nơi này bị ô nhiễm.[5] Cha của ông, James Madison, Sr.(1723-1801) là người trồng thuốc lá trên một đồn điền lớn với tên gọi sau này là Mount Pleasant mà ông được thừa hưởng khi đến tuổi trưởng thành. Sau đó, ông mua lại được tài sản và nô lệ, cùng hơn 5.000 mẫu Anh(2.000 ha) khiến ông trở thành chủ đất lớn nhất và là công dân hàng đầu ở Piedmont. Mẹ của James Jr. là Nelly Conway Madison(1731-1829) sinh ra tại Cảng Conway, là con gái một thương gia trồng thuốc lá nổi tiếng.[6] Vào những năm sau này, các thuộc địa miền Nam trở thành xã hội nô lệ, trong đó lao động nô lệ trợ nền kinh tế và chủ nô hình thành các tầng lớp chính trị. [7] Từ 11 đến 16 tuổi, cậu bé "Jemmy" Madison được gửi theo học Donald Robertson, một giảng viên tại Innes Plantation ở Quận King And Queen, Virginia, trong khu vực Tidewater. Robertson là giáo viên người Scotland dạy kèm cho một số gia đình trồng thuốc lá nổi tiếng ở miền Nam. Madison được Robertson dạy toán học, địa lý, ngôn ngữ hiện đại và cổ xưa, ông trở nên đặc biệt thành thạo tiếng Latinh. Bản năng siêng học của ông "phần lớn là nhờ người ấy [Robertson]"[8][9] Năm 16 tuổi, ông trở về đồn điền Montpelier, nơi ông bắt đầu một khóa học hai năm nghiên cứu với giáo sư Thomas Martin để chuẩn bị cho đại học. Không giống hầu hết những người bạn khác cùng bang Virginnia vào thời ấy, Madison không học Đại Học William&Mary, nơi đất thấp Williamsburg, khí hậu khiến ông dễ ​​bị nhiễm bệnh và không tốt cho sức khỏe yếu ớt của ông. Thay vào đó, năm 1769, ông theo học Đại Học New Jersey(là Đại Học Princeton sau này), nơi ông là bạn cùng phòng và là bạn thân thiết với nhà thơ Philip Freneau. Madison cũng từng vô vọng cầu hôn chị gái của Freneau là Maria.[10] == Quân dịch và sự nghiệp chính trị ban đầu == Sau khi tốt nghiệp ở Princeton, Madison quan tâm đến mối quan hệ dần xấu đi giữa Anh và các thuộc địa Mỹ vì vấn đề Anh đánh thuế. Năm 1774, Madison có chỗ đứng trong Ủy ban Bảo An ở địa phương, do một nhóm người yêu nước ủng hộ cuộc cách mạng thành lập để giám sát các lực lượng dân quân địa phương. Đây là bước đầu trong cuộc đời phục vụ cộng đồng của ông mà chính sự giàu có của gia đình đã tạo điều kiện cho ông.[19] Tháng 10/1775, ông được giao nhiệm vụ làm đại tá lực lượng dân quân Orange, nhưng ông đã không nhận nhiệm vụ chiến đấu nào vì lý do sức khỏe.[20] Trong Chiến tranh Cách mạng Mỹ, Madison phục vụ trong cơ quan lập pháp bang Virginia (1776-1779) và trở thành người bảo trợ đồng bào đại biểu của Thomas Jefferson. Trước đó, ông chứng kiến ​​sự đàn áp các nhà truyền giáo Baptist ở Virginia, những người đã bị bắt giữ vì rao giảng mà không có giấy phép thành lập của Giáo hội Anh. Ông đã hợp tác với nhà truyền giáo Baptist khác là Elijah Craig để thúc đẩy đảm bảo hiến pháp cho tự do tôn giáo tại Virginia.[21] Điều này đã giúp cho thời trang ý tưởng của mình về tự do tôn giáo mà ông áp dụng vào Hiến pháp và Tuyên Ngôn Nhân quyền. Madison trở nên nổi bật trong giới chính trị ở Virginia. Ông cùng Jefferson soạn thảo Điều Lệ Virginia Về Tự Do Tôn Giáo, được thông qua vào năm 1786. Nó siết Giáo hội Anh và loại bỏ quyền lực nhà nước trong vấn đề tôn giáo. Ông cũng loại bỏ kế hoạch của Patrick Henry là bắt dân nộp thuế để họ có thể đến một công đoàn theo sự lựa chọn của họ. Năm 1777, Quyền Sư James Madison(1749-1812), anh họ của Madison, trở thành chủ tịch Đại Học William & Mary. Nhờ ảnh hưởng của Madison và Jefferson, Đức Giám mục Madison đã lãnh đạo trường thông qua các thay đổi liên quan đến tách từ cả Anh và Giáo hội Anh. [Cần dẫn nguồn] Là đại biểu trẻ nhất Quốc hội Lục Địa (1780-1783), Madison được coi là nhân lực chính trong lập pháp và một bậc thầy về xây dựng liên minh quốc hội.[19] Ông thuyết phục Virginia từ bỏ tuyên bố chủ quyền lãnh thổ, bao gồm phần tây bắc của hầu hết bang Ohio ngày nay, và các điểm phía tây cho Quốc hội Lục Địa. Nó tạo ra vùng lãnh thổ Tây Bắc vào năm 1783, là vùng lãnh thổ liên bang giám sát từ đó bang mới đã được hình thành và kết nạp vào công đoàn. Tuyên bố đất của Virginia đã một phần chồng chéo với những người của bang Connecticut, Pennsylvania và Maryland; họ cũng nhượng lại vùng đất phía tây của họ cho chính quyền nhà nước, với sự hiểu biết rằng các bang mới có thể được hình thành từ đất. Pháp lệnh Tây Bắc cấm chế độ nô lệ trong các lãnh thổ mới ở phía bắc sông Ohio, nhưng không kết thúc được chế độ nô lệ bởi những người định cư sở hữu nô lệ đã ở trong lãnh thổ từ trước khi có pháp lệnh. Madison được bầu làm đại biểu Virginia lần hai và làm từ năm 1784 đến năm 1786, những năm đầu của nền độc lập. Trong những năm cuối làm đại biểu, Madison ngày càng thất vọng với những gì ông thấy là dân chủ quá đáng. Ông chỉ trích các đại biểu có xu hướng phục vụ lợi ích cụ thể cho các thành phần của họ, ngay cả khi các lợi ích đó là phá hoại nhà nước nói chung. Đặc biệt, ông gặp rắc rối bởi một đạo luật dẫn đến bị từ chối miễn trừ ngoại giao đến các đại sứ từ các nước khác, và một đạo luật hợp pháp hóa tiền giấy.[22] Ông nghĩ rằng các nhà lập pháp nên "vô tư" và hành động vì lợi ích của nhà nước của họ tại lớn, thậm chí nếu điều này mâu thuẫn với mong muốn của cử tri. Madison tin rằng "dân chủ quá mức" là nguyên nhân của một xã hội phân rã rộng lớn mà ông và những người khác (chẳng hạn như Washington) nghĩ đã được nối lại sau cuộc cách mạng và đã gần một tipping point- Cuộc Nổi Loạn Shay là một ví dụ. == Bầu cử năm 1808 == Khi Jefferson nghỉ hưu sau nhiệm kỳ thứ hai, Madison được đảng chọn làm tổng thống vào năm 1808. Ông bị Rep. John Randolph phản đối, người từng xung đột trước đó với Jefferson và Madison. Các phiên họp kín của Quốc hội đảng Cộng Hòa khi chọn ứng cử viên đều đồng lòng chọn Madison hơn là James Monroe.[70] Đảng Liên Bang trong thời gian này phần lớn đã sụp đổ bên ngoài vùng Tân Anh Quốc nên Madison dễ dàng đánh bại ứng cử viên của đảng này là Cotesworth Charles Pinckney. [71] == Cuộc sống về già == Khi Madison rời chức tổng thống năm 1817 ở tuổi 65, ông về đồn điền Montpelier nghỉ hưu, vườn thuốc lá của ông ở Orange County, Virginia, cách không xa với đồn điền Monticello của Jefferson. Dolley, lúc này 49 tuổi, nghĩ rằng cuối cùng họ sẽ có cơ hội để du lịch Paris. Nhưng như Washington và Jefferson, Madison rời chức tổng thống trong cảnh nghèo khổ hơn so với lúc được bầu. Nông trại của ông đã trải qua sự sụp đổ tài chính ổn định do thuốc lá liên tục giảm giá và cũng do con trai riêng của vợ ông quản lý yếu kém. Insight vào Madison được cung cấp bởi cuốn hồi ký đầu tiên, Hồi ký tưởng niệm James Madison của một người da màu (1865) mà tác giả là Paul Jennings, nô lệ trước đây của ông, từng hầu hạ tổng thống từ năm 10 tuổi đã và làm suốt phần đời còn lại của Madison. Sau khi Madison mất, Dolley Madison bán Jennings vào năm 1845 cho thượng nghị sĩ Daniel Webster, người đã cho Jennings làm việc để trả lại số tiền Webster đã bỏ ra mua anh, đổi lại anh được tự do. Jennings công bố tài khoản ngắn của mình vào năm 1865.[111] Jennings dành sự tôn trọng lớn nhất cho Madison và nói rằng cựu tổng thống không bao giờ đánh nô lệ, và cũng không cho phép một thợ giám sát nô lệ nào làm vậy. Jennings nói nếu một nô lệ cư xử không tốt, Madison sẽ gặp riêng người đó và trao đổi về hành vi ấy.[111] Một số sử gia cho rằng nợ nần là một trong những lý do Madison từ chối cho phép những ghi chép của mình về Hội nghị Lập Hiến, hoặc hồ sơ chính thức của ông được công bố khi ông còn sống. "Ông ấy biết các ghi chép của mình có giá trị, và vì các vựa trồng của ông đều thua lỗ nên ông muốn các ghi chép mang lại số tiền cho các bất động sản của mình, và để Dolley dùng số tiền ấy để sống. Ông hy vọng các giấy tờ bán được hơn một trăm ngàn đô, trong số đó có những ghi chú rất quý giá."[112] Gánh nặng tài chính đã làm sức khỏe tinh thần và thể chất của Madison ngày càng xấu đi. Những năm sau này, Madison rất quan tâm di sản lịch sử của mình. Ông đã chỉnh sửa thư từ và các tài liệu khác thuộc sở hữu của mình, thêm và xóa các câu chữ, thay đổi ngày tháng và các nhân vật trong các lá thư. Khi đã gần tám muơi tuổi, điều này nói "thẳng ra" gần như là nỗi ám ảnh của ông. Ví dụ, ông chỉnh sửa một lá thư gửi Jefferson với nội dung chỉ trích Lafayette. Madison không chỉ ký ra đoạn ban đầu, thậm chí giả tốt chữ viết tay của Jefferson.[113] Sử gia Drew R. McCoy nói: "Trong sáu năm cuối đời, giữa một biển rắc rối [tài chính] cá nhân đã đe dọa nhấn chìm ông... Những lúc kích động về tinh thần đã làm suy sụp thể chất của ông. Những khi đỡ hơn vào năm 1831 và 1832, ông đã nằm liệt giường, nếu không nói là bất động... Chắc chắn đã ốm vì lo lắng, ông bắt đầu tuyệt vọng về khả năng làm những người đồng chí hiểu mình." [114] Năm 1826, sau khi Jefferson mất, Madison được Đại Học Virginia bổ nhiệm làm hiệu trưởng ("Chủ tịch") thứ hai. Ông giữ cương vị này khoảng mười năm đến khi qua đời vào năm 1836. Năm 1829, ở tuổi 78, Madison được chọn làm đại diện bang Virginia tham dự Hội nghị Lập Hiến Virginia. Đó là lần xuất hiện cuối cùng của ông với vai trò chính khách. Các vấn đề quan trọng lớn nhất tại hội nghị này đã được phân bổ. Các huyện miền Tây Virginia than phiền việc thiếu đại diện vì hiến pháp nhà nước phân bổ các huyện có quyền biểu quyết của quận. Dân số tăng ở Piedmont và phần phía tây của bang không cân xứng đại diện bởi các đại biểu trong cơ quan lập pháp. Cải cách phía Tây cũng muốn mở rộng quyền bầu cử cho tất cả những người đàn ông da trắng, ở vị trí của yêu cầu quyền sở hữu tài sản hiện hành. Madison đã cố gắng trong vô vọng để thực hiện một sự thỏa hiệp. Cuối cùng, các quyền phổ thông đầu phiếu được mở rộng để người thuê nhà cũng như chủ đất, nhưng người trồng đông từ chối áp dụng công dân phân bổ dân số. Họ nói thêm nô lệ tổ chức như là tài sản để tính dân số, để duy trì đa số thường trú ở cả hai viện của cơ quan lập pháp, lập luận rằng phải có một sự cân bằng giữa dân số và tài sản đại diện. Madison đã thất vọng về thất bại của Virginia trong việc giải quyết vấn đề công bằng hơn. [115] Madison cũng quan tâm việc tiếp tục chế độ nô lệ ở Virginia nói riêng và miền Nam nói chung. Ông tin rằng việc di dời người Mỹ da đen tự do về châu Phi là một giải pháp và được thúc đẩy bởi Hiệp Hội Thực Dân Mỹ(ACS).[116] Ông nói với Lafayette tại thời điểm quy ước rằng thực dân sẽ tạo ra một "tẩy xoá nhanh chóng của các blot trên nhân vật đảng Cộng Hòa của chúng tôi."[117] Harriet Martineau, nhà xã hội học người Anh Harriet Martineau viếng thăm Madison trong tour du lịch của các nước Mỹ của cô trong năm 1834. Cô đặc trưng của mình niềm tin vào các giải pháp thực dân nô lệ là "kỳ lạ và phi lý." [117] Madison có thể đã bán hoặc tặng cối xay lúa mì của mình trong hỗ trợ của ACS.[116] Sử gia McCoy tin rằng "Công ước của năm 1829... đẩy Madison dần đến bờ vực của ảo tưởng, nếu không nói là tuyệt vọng. Các vấn đề của chế độ nô lệ đã phá hoại nó." [117] [118] Giống hầu hết người Mỹ gốc Phi thời ấy, nô lệ của Madison muốn ở lại Mỹ, nơi họ được sinh ra, tin rằng công việc của họ kiếm được họ công dân, và chống việc "hồi hương". [116] William R. Denslow cho là tìm được bằng chứng chứng minh James Madison có thể là một Mason[119] khi vào năm 1795, John Francis Mercer được cho đã viết cho Madison "Tôi đã không có cơ hội chúc mừng anh trước khi về của anh trở thành một Mason tự do -a rất cổ xưa & vinh tình huynh đệ. "[120] Tuy nhiên, trong bức thư gửi Stephen Bates năm 1832, Madison viết rằng ông không bao giờ là một Mason, và là "người xa lạ với các nguyên tắc" của hội này.[121] == Di sản == Sử gia Garry Wills đã viết: "Tuyên bố về sự ngưỡng mộ của chúng tôi dành cho Madison không dựa trên sự nhất quán hoàn hảo, bất quá nó dựa trên nhiệm kỳ tổng thống của ông. Ông có đức tính khác... Là người định hình và đỡ đầu Hiến pháp, không người nào như ông... phần hiệu suất tốt nhất của Madison khi làm tổng thống là mối quan tâm bảo tồn Hiến pháp... không người nào làm mọi thứ cho đất nước mình, thậm chí Washington cũng vậy. Nhưng Madison làm nhiều hơn ai hết, và làm tốt hơn bất kỳ ai. Vậy cũng đủ rồi." [124] George F. Will viết rằng nếu người Mỹ tin ngòi bút mạnh hơn thanh kiếm thì thủ đô nước Mỹ sẽ được gọi là "Madison, DC" thay vì Washington, DC. [125] Madison đã viết trong Giấy Tờ Người Liên Bang, mục số 51 về chế độ liên bang: "Nó rất quan trọng với một nước cộng hòa không chỉ để bảo vệ xã hội chống lại sự đàn áp của nhà cầm quyền của nó, nhưng để bảo vệ một phần của xã hội chống lại sự bất công của một phần khác... trong một xã hội dưới hình thức mà phe mạnh hơn dễ dàng có thể đoàn kết và đàn áp phe yếu, tình trạng hỗn loạn có thể là thực sự được biết đến ngự trị như trong một trạng thái tự nhiên, nơi mà cá nhân yếu không được bảo đảm chống lại bạo lực của người mạnh hơn." Năm 1986, Quốc hội thành lập Đài Tưởng niệm James Madison Foundation Fellowship như một phần của lễ kỷ niệm hai trăm năm Hiến pháp ra đời. Quỹ học bổng cao học 24.000$ cung cấp giáo viên trung học để thực hiện bằng thạc sĩ trong đó nhấn mạnh việc nghiên cứu Hiến pháp. Montpelier, địa phần của gia đình và nhà của ông ở Orange, Virginia, đã được chỉ định là Di Tích Lịch sử Quốc gia. Nhiều bang, thị trấn, thành phố, các tổ chức giáo dục, một dãy núi và một con sông được đặt theo tên Madison: Madison County - danh sách các quận đặt theo tên ông Các thành phố: ví dụ: Madison, Wisconsin. Đại học công lập James Madison bang Michigan được đặt theo tên ông để vinh danh. Đại học James Madison ở Harrisonburg, Virginia; Viện James Madison tôn vinh những đóng góp của ông cho Hiến pháp. Công Trình Tưởng niệm James Madison là một tòa nhà của Liên Hiệp Thư Viện Quốc hội Hoa Kỳ ở Washington, DC và được coi như đài tưởng niệm chính thức Madison. Khi đi qua bang Montana vào năm 1805, Meriwether Lewis, một trong hai người trong Chuyến Thám Hiểm Của Lewis Và Clark đã đặt tên một dãy núi là Dãy Madison để vinh danh Madison khi ông còn là Ngoại Trưởng dưới thời Jefferson. Sông Madison ở phía tây nam Montana được Lewis&Clark đặt tên vào năm 1805. Núi Madison trong dãy Tổng thống của núi White ở bang New Hampshire, được đặt theo tên ông. Hai tàu Hải Quân Hoa Kỳ được đặt tên là USS James Madison và USS Madison. Chân dung của Madison trên tờ tiền $5000 của Hoa Kỳ. [127] Madison Cottage ở thành phố New York đã có tên trong danh dự của ông ngay sau khi ông chết. Nó đã là một trạm cách quan trọng ở rìa phía bắc của thành phố New York. Các căn cứ nơi căn nhà tọa lạc đã trở thành công viên Madison Square. Công viên lần lượt đưa ra các tên cho Madison Square Gardens mà ban đầu nằm tiếp giáp với công viên. Madison Square Gardens là một địa điểm quan trọng đua xe đạp và các máy chủ tiếp theo của một loại xe đạp được gọi là Madison xe đạp. [128] Madison cũng được nam diễn viên Okieriete Onaodowan vô vai trong vở nhạc kịch Hamilton trên sân khấu Broadway từ năm 2015. Madison được miêu tả là đồng minh của Thomas Jefferson và là kẻ thù của Alexander Hamilton trong màn 2 của vở kịch. == Tham khảo ==
thảm sát wounded knee.txt
Thảm sát Wounded Knee xảy ra vào ngày 29 tháng 12 năm 1890, gần rạch Wounded Knee (tiếng Lakota: Čhaŋkpé OPI Wakpála) trên vùng đất dành riêng cho người Da Đỏ Lakota Pine Ridge ở bang South Dakota. Ngày trước đó, một biệt đội của Trung đoàn 7 Kỵ binh Mỹ dưới sự chỉ huy của Thiếu tá Samuel M. Whitside đã chặn nhóm Spotted Elk của Miniconjou Lakota và 38 Hunkpapa Lakota gần Porcupine Butte Elk và hộ tống họ 5 dặm (8,0 km) về phía tây tới rạch Wounded Knee, nơi họ cắm trại. Phần còn lại của Kỵ đoàn 7, dưới sự chỉ huy của Đại tá James W. Forsyth, đã đến và bao quanh trại giam. Trung đoàn được hỗ trợ bởi một cụm pháo bốn sơn pháo Hotchkiss. Vào sáng ngày 29 tháng 12, các đội quân đã đi vào trại để giải giới Lakota. Một phiên bản ghi chép khác về sự kiện tuyên bố rằng trong quá trình giải giáp các Lakota, một người trong bộ lạc bị điếc có tên là Coyote Đen là miễn cưỡng từ bỏ súng, tuyên bố ông đã phải trả rất nhiều tiền cho nó. Một vụ ẩu đả về khẩu súng trường leo thang, và súng đã nổ khiến cho Trung đoàn kỵ binh 7 nổ súng bữa bãi từ mọi phía, giết chết những người đàn ông, phụ nữ và trẻ em, cũng như một số đồng đội của họ. Các chiến binh Lakota mà vẫn có vũ khí bắt đầu bắn trả lại các binh sĩ tấn công, nhưng những binh sĩ đã nhanh chóng đè bẹp những người Lakota. Những người Lakota còn sống sót chạy trốn, nhưng kỵ binh theo đuổi và giết nhiều người đã không mang vũ khí. Tại thời điểm vụ đụng độ kết thúc, hơn 200 người đàn ông, phụ nữ và trẻ em của Lakota đã bị thiệt mạng và 51 người bị thương (4 người đàn ông và 47 phụ nữ và trẻ em, một số người trong số họ đã chết sau đó); một con số ước tính đưa ra con số người chết lên đến 300. Hai mươi lăm người lính thiệt mạng, và 39 người bị thương (6 người bị thương sau đó đã chết) Có ít nhất hai mươi binh sĩ đã được trao tặng Huân chương Danh dự. Năm 2001, Đại hội toàn quốc của người Mỹ bản địa đã thông qua hai nghị quyết lên án các giải thưởng và kêu gọi chính phủ Mỹ huỷ bỏ chúng. Chiến trường Wounded Knee đã được đưa vào danh mục danh lam lịch sử quốc gia. == Chú thích ==
danh sách các hệ điều hành của microsoft.txt
Sau đây là danh sách các hệ điều hành của Microsoft. Về các tên mã Microsoft đặt cho các hệ điều hành của họ, xem Các tên mã của Microsoft. == Xenix == Xem Xenix == Linux == Microsoft Linux == MS-DOS == Xem Các phiên bản MS-DOS để xem danh sách đầy đủ. == Windows == Windows 1.0 (1985) Windows 2.0 (1987) Windows 3.x (1990, 1992) Windows 95 (1995) Windows 98 (1998) Windows 2000 (2000) Windows ME (2000) Windows XP (2001) Windows Vista (2006) Windows 7 (2009) Windows 8 (2012) Windows 8.1 (2013) Windows 10 (2015) Windows 10 (Anniversary Update) (2016) == Windows NT == Windows NT 3.12 (1993) Windows NT 3.5 (1994) Windows NT 3.51 (1995) Windows NT 4.0 (1996) Windows NT 5.0 (1997) Tất cả các phiên bản phát hành sau Windows 2000 đều nằm trong họ Windows NT. == Windows CE == Windows CE AutoPC Pocket PC 2000 Pocket PC 2002 Windows Mobile 2003 Windows Mobile 2003 SE Windows Mobile 5 Windows Mobile 6 Smartphone 2002 Smartphone 2003 Portable Media Center Zune Windows Mobile == Windows Phone == Windows Phone 7 (2010) Windows Phone 8 (2012) Windows Phone 8.1 (2014) Windows Mobile 10 (2015) == Trò chơi trên Xbox == Phần mềm hệ thống Xbox Phần mềm hệ thống Xbox 360 Phần mềm hệ thống Xbox One == OS/2 == OS/2 1.0 (1987) OS/2 1.1 (1988) OS/2 1.2 (1989) OS/2 1.3 (1990) == Các hệ điều hành khác đang phát triển == Singularity (hệ điều hành) MIDAS (hệ điều hành) Zune == Thời biểu các hệ điều hành Microsoft == == Xem thêm == Danh sách các chủ đề về Microsoft Danh sách các hệ điều hành == Tham khảo == == Liên kết ngoài == Concise Microsoft O.S. Timeline, by Bravo Technology Center
viễn đông nga.txt
Viễn Đông Nga (tiếng Nga: Да́льний Восто́к; phát âm [ˈdalʲnʲɪj vʌˈstok]) hay Transbaikalia là một thuật ngữ chỉ những vùng của Nga ở Viễn Đông, ví dụ, những vùng cực đông của Nga, giữa Hồ Baikal ở Trung Siberia, và Thái Bình Dương. Quận Viễn Đông Liên bang của Nga, bao phủ vùng này, không nên bị nhầm lẫn với Quận Liên bang Siberia. == Thuật ngữ == === Tại Nga === Tại Nga, vùng thường được gọi là "Viễn Đông", dễ gây nhầm lẫn với ý nghĩa quốc tế của Viễn Đông khi phiên dịch. Viễn Đông thường được gọi trong tiếng Nga là "Vùng châu Á Thái Bình Dương" (Азиатско-тихоокеанский регион, viết tắt theo АТР), hay "Đông Á" (Восточная Азия). == Các đặc điểm địa lý == Miệng núi lửa Beyenchime-Salaatin Núi lửa Klyuchevskaya Sopka Rãnh Kuril-Kamchatka == Lịch sử == === Buổi đầu lịch sử === Nga đã mở ra tới bờ biển Thái Bình Dương năm 1647 với việc thành lập Okhotsk, và củng cố sự kiểm soát của họ với Viễn Đông Nga vào thế kỷ 19. === Lãnh thổ === Cho tới năm 2000, Viễn Đông Nga vẫn không có các biên giới được quy định chính thức. Một thuật ngữ duy nhất "Siberia và Viễn Đông" (Сибирь и Дальний Восток) thường được dùng để chỉ các vùng của Nga nằm ở phía đông dãy Ural mà không chỉ ra một sự phân biệt rõ ràng giữa "Siberia" và "Viễn Đông." Nhiều thực thể với cái tên "Viễn Đông" đã tồn tại ở nửa đầu thế kỷ 20, tất cả với các biên giới hoàn toàn khác biệt: 1920–1922: Cộng hoà Viễn Đông (bao gồm Transbaikalia, Amur Oblast, Primorskaya Oblast, Sakhalin Oblast, và Kamchatka); 1922–1926: Quận Viễn Đông (gồm Pribaykalskaya, Amurskaya, Primorskaya, Sakhalinskaya, và Kamchatskaya guberniya); 1926–1938: Krai Viễn Đông (gồm Primorsky Krai và Khabarovsk Krai ngày nay). Từ năm 1938 tới năm 2000, không có thực thể chính thức với cái tên này và thuật ngữ "Viễn Đông" được sử dụng một cách lỏng lẻo, giống như "miền Tây" ở Hoa Kỳ. Năm 2000, các thực thể liên bang của Nga được gộp vào trong các các quận liên bang, và Quận Viễn Đông Liên bang được thành lập, gồm Amur Oblast, Chukotka Autonomous Okrug, Jewish Autonomous Oblast, Kamchatka Oblast, Koryak Autonomous Okrug, Khabarovsk Krai, Magadan Oblast, Primorsky Krai, Cộng hoà Sakha (Yakutia), và Sakhalin Oblast. Từ năm 2000, thuật ngữ "Viễn Đông" ngày càng được dùng nhiều ở Nga để chỉ quận này, dù nó cũng thường được dùng một cách lỏng lẻo hơn. Các biên giới được xác định của quận liên bang, Viễn Đông có diện tích 6.2 triệu km² — chiếm một phần ba tổng diện tích của Nga. == Nhân khẩu == === Dân số === Theo cuộc Điều tra dân số năm 2002, Quận Viễn Đông Liên bang có dân số 6,692,865 người. Hầu hết số này tập trung ở các vùng phía nam. Với diện tích rất to lớn của lãnh thổ Viễn Đông Nga, 6.7 triệu người người ở đây có mật độ dân số chỉ hơn 1 người trên 1 km², khiến Viễn Đông Nga là một trong những nơi có dân cư thưa thớt nhất thế giới. Dân số Viễn Đông Nga đã suy giảm nhanh chóng từ sự sụp đổ của Liên xô (thậm chí nhanh hơn mức trung bình của toàn nước Nga), giảm 14% trong 15 năm qua. Chính phủ Nga đã thảo luận một loạt các chương trình tái cấu trúc dân số để tránh sự dự báo dân số sẽ chỉ còn 4.5 triệu người vào năm 2015, hy vọng thu hút số dân cư Nga từ các quốc gia lân cận. Sắc tộc Nga và Ukraina chiếm đa số dân cư. 75% dân số sống tại đô thị. Các thành phố lớn nhất là (tất cả các con số đều lầy theo cuộc điều tra dân số năm 2002): Vladivostok (dân số 594,701); Khabarovsk (dân số 583,072); Komsomolsk-on-Amur (dân số 281,035); Blagoveshchensk (dân số 219,221); Yakutsk (dân số 210,642); Petropavlovsk-Kamchatsky (dân số 198,028); Yuzhno-Sakhalinsk (dân số 177,682); Nakhodka (dân số 177,133); Ussuriysk (dân số 157,759). === Các nhóm sắc tộc truyền thống === Các nhóm sắc tộc truyền thống của Viễn Đông Nga gồm (được gộp theo nhóm ngôn ngữ): Turk: người Sakha Eskimo-Aleut: người Aleut, người Yupik Siberia (Yuit) Chukotko-Kamchadal: người Chukchi, người Koryak, người Alutor, người Kerek, người Itelmen Tungus: người Evenk, người Even, người Nanai, người Oroch, người Ul'chs, người Udegey, người Orok Tách biệt: người Yukaghir, người Nivkh, người Ainu == Xem thêm == Viễn Bắc (Nga) Cộng hoà Viễn Đông Kolyma Ngoại Mông Danh sách các nhà thám hiểm Nga == Tham khảo == == Liên kết ngoài == Meeting of Frontiers: Siberia, Alaska, and the American West (includes materials on Russian Far East) Дальневосточный федеральный округ at WGEO